|
 |
| |
THƠ &
TRUYỆN Lê Cần Thơ ________________________________________________________________________________________________
NĂM MỚI NÓI CHUYỆN “MAI”
LÊ CẦN THƠ (Về Nguồn – Tây Đô) 
Trong bốn mùa Xuân, Hạ, Thu, Đông thì
mùa Xuân là mùa dậy thì của một năm. Mùa tình yêu
rực rỡ của bướm và hoa. Mùa khởi đầu của mỗi tuổi
con người và cũng là mùa tượng trưng cho những gì vui đẹp
nhất. Vào mùa nầy, cỏ cây cũng bắt đầu đâm chồi
nẩy lộc, trăm hoa đua sắc, phô trương nét duyên dáng nhằm
điểm tô cho cuộc đời thêm hương, thêm sắc. Ở nước Việt
Nam ta, vào mỗi độ Xuân về, đồng bào miền Bắc chú
trọng đến HOA ANH ĐÀO, nhân dân
miền Nam lại quí chuộng HOA MAI.
Trong bài viết nầy, tôi xin được nói đôi điều về
HOA MAI, vì đối với tôi hình ảnh HOA MAI rất thân
tình và gần gũi. HOA
MAI cực đẹp, lại trổ đúng trong tiết đông đầy
sương giá, nên thế nhân đã tôn tụng MAI là
hoàng hậu của các loài hoa. Không ai biết rõ MAI có
từ bao giờ, nhưng chắc chắn phải xuất hiện lâu lắm, có thể
từ thời mới tạo thiên lập địa, mặt đất có cỏ
cây là đã có loài MAI rồi. Sơ khai, chưa chắc
MAI đã nhiều, nhưng nhờ dài lâu, nhờ thiên di, thích
hợp với khí hậu, MAI phát triển thành rừng, và
con người đã khám phá rồi đem về nhân giống khắp nơi
như ngày nay. HOA MAI không những đẹp mà màu sắc lại
luôn tươi thắm, không phai nhạt, héo úa. Cả đến khi rơi
rụng, MAI vẫn giữ được sức cuốn hút diệu kỳ.
Trong bài Tự Thán 35, Nguyễn Trãi đã viết Ngắm hoa tàn xem ngọc rụng.
(Ông đã ví những cánh hoa mai rơi như ngọc rụng). Nhưng tại
sao đặt tên gọi là MAI? Và trong từng loại MAI, các
tên gọi đều phản ảnh đúng với kiểu dáng, màu sắc
của nó? Như chúng
ta đều biết, giống như mùa Xuân đứng đầu của bốn
mùa trong năm, ban mai là thời điểm bắt đầu của một ngày
mới, đầy tin tưởng và hy vọng. HOA MAI với đặc
tính trổ hoa giữa tiết đông, cho dù tiết trời đang lạnh
giá, vạn vật như đang run rẩy, co cụm, vẫn cố vận hành,
vươn lên để hoàn tất khâu khởi động, sẵn sàng
tươi cười khoe sắc ngay khi xuân đến! Bởi gan góc như vậy
nên mới được công nhận là hoàng hậu, là hoa nở trước
nhất so với nhiều loài hoa khác. HOA MAI được cấu tạo
bởi năm cánh đều nhau, hoặc nhiều hơn, có khi hàng chục,
kết dính vào tâm điểm, tạo thành một hình tròn thanh
nhã y như hình ảnh của mặt trời mọc, với những tia nắng
ấm chiếu tỏa lúc sáng sớm. MAI nở vào thời điểm
ấy như vầng dương ló dạng lúc bình minh trong ngày xuân
nhật, cũng là buổi ban mai của năm mới. Vì vậy hoa hậu ấy
mang tên MAI – một tên biểu trưng cho những gì cao đẹp,
tốt lành nhất, tuyệt nhất!
Tùy theo kiểu dáng và màu sắc đặc trưng của từng
loại mà MAI có những tên gọi khác nhau: Bạch mai, Huỳnh
mai, Tuyết mai, Mai chuỗi, Mai tứ quí, Mai chiếu thủy, ... mà người
đời thường khẳng định khi bắt gặp chúng. Ở đây,
do tài liệu không dồi dào, và cũng không phải là một
bài chuyên về nghiên cứu đặc tính của cây cỏ, nên xin các bậc cao niên và quí vị bạn đọc bỏ
qua cho những gì tôi viết ra đây có phần hạn chế về kiến
thức của mình. MAI CHIẾU THỦY: Lá nhỏ, hoa năm cánh
trắng tinh giống hình ngôi sao. Hoa nở thành chùm nhỏ, đong đưa
trong gió hết sức biểu cảm. Hoa trút xuống đất tỏa hương
nhè nhẹ. Buổi sáng đầu ngày ngắt một cánh hoa sát cuống
cho vào miệng hút nhẹ, ta cảm nhận một hương vị ngọt gắt
của sương đêm đọng vào trong nhụy. Đặc biệt, dáng
hoa nhỏ trông quí phái, khi hoa nở chếch nghiêng mình xuống nước
nên gọi tên Mai Chiếu Thủy. BẠCH .MAI: Lá dầy có gai nhỏ ở viền. Hoa nở năm cánh
màu trắng sữa tinh khôi. Cũng có người gọi Bạch Mai
là Chi Mai hoặc Mai Ngự Sử. Lê Qúy
Đôn chép trong Kiến văn tiểu lục, có đoạn: Thời vua họ
Trần nước Giao Chỉ, có tên Lê Quý Ly, quán tỉnh Giang Tây
qua nước đó buôn bán. Khi thuyền cặp bến, y bước lên
bỗng thấy trên bãi cát có câu rằng:
Quảng Hàn cung lý nhất chi mai
(Một cành mai trong cung Quảng Hàn)
Về sau Quý Ly di duyên được chức quan nước ấy. Một
hôm Trần Vương ra nghỉ mát ở điện Thanh Thử, trước sân
điện có hàng ngàn cây quế, Vua ra cho quần thần một câu
đối rằng :
Thanh Thử điện tiền thiên phụ quế
(Ngàn cây quế trước điện Thanh Thử)
Các quan bồi tùng chưa vị nào kịp đối thì Quý
Ly cũng trong hàng quan đó, chợt nhớ câu thơ đã thấy trên
bãi cát trước kia, liền đem đối. Nghe câu đối của Quý
Ly, Vua rất đỗi kinh ngạc, phán rằng: “Sao
ngươi lại biết việc riêng trong cung trẫm?”
Số là Vua có cô công chúa tên là Nhất Chi Mai. Vua dựng
riêng một cung cho cô ở, đặt tên là cung Quảng Hàn. Quý
Ly được vua hỏi, bèn đem sự thật tâu lên. Vua rằng: “Nếu vậy là số trời!” Bèn gả
Nhất Chi Mai cho Quý Ly. Từ sự tích nầy và phối kiểm với sử
cũ, rõ ràng Quý Ly là người nhà của vua Trần Nghệ Tông,
do đó được nhà vua trọng dụng, rồi tự xưng nhiều chức
và lộng quyền, hay tâu rỗi và đàn hặc các quan y như vai
trò của một ngự sử. Người thời ấy do không rõ việc
ở cung đình – cũng có thể do người thân tín Quý Ly
– nhân thấy công chúa có nét đẹp đài các, lại
có tên chữ MAI, nên đã mượn tên nàng đặt tên
cho một loài hoa mai cực đẹp là NHẤT CHI MAI.
Lại một loài hoa khác không kém vẻ kiêu sa, người ta cũng
mượn tên nàng để đặt gọi là Chi Mai (không có chữ
Nhất để phân biệt với Nhất Chi Mai) hoặc gọi gộp lại giữa
tên nàng với chức của chồng cho có đôi là MAI NGỰ SỬ! TUYẾT MAI: Lá nhỏ như Mai Chiếu Thủy,
mềm mỏng. Hoa nhỏ bằng mút đũa màu trắng tinh. Hoa nở lác
đác chừng vài ba cánh trên một thân cây.
MAI CHUỖI: Màu tím, có
trái màu vàng, cả hoa và trái đều kết thành chùm,
nhiều và dài như xâu chuỗi. MAI TỨ QUÝ: Lá dài,
có gai nhỏ ở viền. Hoa năm cánh màu vàng đậm, màu đỏ.
Khi hoa tàn để lại năm cánh màu đỏ đậm và những
hạt đen tuyền. Hoa nở suốt bốn mùa như tên gọi. Loại hoa
nầy có nhược điểm là cho rất ít hoa trên một thân
cây. Về Mai Tứ Quý, trong số những bài thơ của Nguyễn Trãi
viết về MAI, có bài mang tựa HOA TRƯỜNG AN mà
hầu hết những sách sưu tập thơ văn Nguyễn Trãi ở phần
chú thích đều ghi không rõ hoa gì. Bài thơ đó như
sau:
Ấy chẳng Tây Thi thì Thái Chân,
Trời cho tốt lạ mười phần, Ngày
chầy điểm đã phong quần đỏ, Rỡ
tư mùa một thức xuân.
Xin tìm hiểu vài điển tích:
Thời Xuân Thu, Tây Thi là người con gái nước Việt, Câu
Tiễn đem dâng vua Phù Sai là người đã đánh bại mình,
để xin hàng. Phù Sai mắc kế Câu Tiển, say đắm Tây Thi, không
lo việc nước khiến Ngô suy yếu. Câu Tiễn kéo quân đánh
diệt, trả được thù.
Thái Chân là hiệu của Dương Quý Phi, vợ của Đường
Minh Hoàng, cũng là trang quốc sắc của nước Trung Hoa ngày trước.
Rõ ràng nội dung bài thơ ca tụng HOA MAI.
Nhưng tại sao đầu đề không ghi HOA MAI
mà lại ghi HOA TRƯỜNG AN? Lại truy thêm
một điển tích: Trong sách
Kinh Châu Ký có đoạn chép Lục Khải ở Giang Nam, gặp lính
trạm bèn bẻ một cành MAI, gởi trạm đem về cho Phạm
Diệp là bạn thơ còn đương ở Trường An và kèm
theo một bài thơ:
Chiết mai phùng dịch sứ
Ký dữ Lũng đầu nhân
Giang Nam vô sở hữu
Liễu tặng nhất chi xuân
(Bẻ cành mai nhờ lính trạm đưa
Gởi cho người bạn ở Lũng đầu
Giang Nam không có đồ gì lạ
Mới tặng một cành xuân gọi là)
Từ điển tích nầy cho phép chúng ta suy luận,
từ Giang Nam, Lục Khải gởi một cành mai về tặng bạn là Phạm
Diệp ở Trường An. Nhận được cành mai do lính trạm đưa,
cảm động và do thấy đây là giống MAI lạ (vì
ở Trường An không có vật gì lạ hơn giống mai nầy), Phạm
Diệp đem trồng, bốn mùa đều nở hoa rất đẹp, tưởng
chừng như lúc nào cũng mùa xuân (nên cành ấy gọi là
cành xuân). Từ Trường An, loại MAI ấy được nhân giống
nhanh chóng vì dễ trồng nhờ có nhiều hạt. Do vậy MAI TỨ QUÍ còn có tên là HOA
TRƯỜNG AN, cũng có người gọi là HỒNG MAI, vì đế MAI màu vàng ấy, khi cánh đã
rụng thì biến sang sắc hồng ngọc, ôm lấy hạt màu đen tuyền.
Cũng có loại đế màu xanh, có cành đan cài giống hình
chữ Nữ (Chữ Hán) như sáu cái gạc nai thì gọi là MAI THANH ĐÀI LỤC NGẠC. (Cũng xin mở ngoặc nói
thêm: Ba chữ Nhất Chi Xuân ở câu thứ tư bài thơ trên đây
cũng còn gọi là Nhất Chi Mai. Tuy nhiên, ở Việt Nam ta, do điển
tích đời Trần kể trong Kiến văn tiểu lục, thì Nhất Chi Mai
là loài hoa hoàn toàn khác với Nhất Chi Mai xuất hiện ở đất
nước Trung Hoa). MAI VÀNG (HUỲNH MAI): là loại mai thông dụng và thường thấy nhất,
do trổ bông vào cuối tháng Chạp âm lịch nên cũng còn tên
gọi là LẠP MAI. Lá mỏng dài, có
gai nhỏ ở viền. Hoa thường nở năm hoặc sáu cánh hay nhiều
hơn nữa. Người ta có
thể trồng mai vàng bằng cách gieo hạt hay chiết cành. Nhưng tỷ
lệ sống của chiết cành thường thấp hơn gieo hạt. Nhựa của
hoa nầy rất mạnh để nuôi sống thân cây. Vì vậy khó
mà phân biệt nhánh mai ghim trong chậu là mai sống hay đã chết.
Chỉ một cành nhỏ cắm trong bình hay chậu hoặc giâm dưới
đất ẩm, nó có thể đâm chồi non cùng với những búp
xanh và nở hoa một cách dễ dàng. Cành hoa cứ sống như vậy
hằng nhiều tháng trời. Theo kinh nghiệm của các nghệ nhân chuyên
trồng cây kiểng, người ta thường bứng gốc mai vào mùa khô,
nắng thật gắt của những ngày hè. Vào thời điểm nầy,
rễ mai đang co lại kém phát triển để trồng. Hoặc họ bứng
vào những ngày giáp tết, vì đó là lúc chất nhựa
trong cây hoạt động mạnh để nuôi cành và lá.
MAI VÀNG là loại hoa thông
dụng nhất, hoa nở vào những lúc tiết trời lạnh đầy sương.
Thông thường lá mai sẽ vàng úa vào những tháng cuối
năm, một số tự rơi rụng, một số còn lại bám lấy cành,
để rồi những ngày Tết, chồi non và búp tươi sẽ nở
thành những đóa hoa vàng rực rỡ. Theo kinh nghiệm truyền trong dân
gian, hằng năm vào ngày mười ba hoặc mười bốn âm lịch
tháng Chạp, người ta lặt hết lá trên cây mai, sau đó tưới
nước thúc cho mai đâm nụ xanh đều khắp nhánh cành. Vào
chiều hai mươi chín hoặc ba mươi Tết, cành mai vẫn còn búp
xanh, đầu búp đã hé chấm sắc vàng trông đẹp mắt,
hoặc lác đác vài búp nở hoa vàng... vậy mà như một
phép mầu, vào đêm giao thừa rạng sáng mùng một, tất cả
các búp vụt bừng nở vàng tươi, rực rỡ. Người ta cũng
chú trọng đến việc tưng tiu các hoa trên cành, không đụng
chạm mạnh để chúng khỏi rơi rụng. Có người bỏ vào
bình nước cắm hoa mấy viên thuốc Aspirin, hoặc thui chỗ chặt cành,
vừa thúc cho mai nở đúng giao thừa, vừa giữ cho chúng tồn tại
trên cành, kể cả hoa đã nở và các búp sắp sửa
nở lâu tàn, ít rụng (?). Bà con còn giữ lại số hoa đã
rụng xuống nền nhà trong suốt mấy ngày Tết, như để giữ
lấy cái may mắn cho suốt năm mới, vì vậy phần đông không
ai quét nhà vào ngày đầu năm. Sở dĩ người ta quí
trọng mai như vậy, vì ông bà ta thường quan niệm tất cả
mọi việc bắt đầu từ mùa xuân, hoa mai vận hành và hoàn
tất khâu khởi động để sẵn sàng tươi cười khoe sắc
vào đúng thời điểm đầu năm, phải chăng là biểu
hiện của sự may mắn, của vạn sự lành và việc làm ăn
phát đạt, phát tài ?
Chúng ta đang sống tại HOA KỲ. Các chợ Việt Nam hầu như
cố kiếm tìm cho được một số cành mai thật để bày
bán cho những người yêu thích và quí chuộng hình ảnh
hoa mai. Tuy nhiên, do thời tiết và điều kiện, nên HOA MAI
trên đất HOA KỲ dù muốn hay không cũng khó mà đáp
ứng được những ai có óc thưởng thức mai xuân bằng cả
nghệ thuật rất Việt Nam của mình. HOA MAI giả trưng bày
nhiều nhất, người ta mua vào dịp Tết ở hải ngoại, có lẽ
cũng chỉ vì ý nghĩa mong muốn được may mắn đầu năm
trong cuộc sống nơi xứ lạ quê người? Nhân dịp Tết Nguyên
Đán cổ truyền của dân
tộc Việt Nam, người viết bài xin gởi đến quý
bạn đọc xa gần lời chúc mừng đầu năm Mua may bán đắt,
Sức khoẻ dồi dào, Gia đình hạnh phúc và Vạn sự như
ý.
____ Tham khảo: -
NGÀY XUÂN THỬ TRUY TÌM LÝ LỊCH MỘT LOÀI HOA của MẠNH XUÂN -
ĐẦU NĂM MỚI NÓI CHUYỆN MAI của
HUỲNH DUY LỘC
MÙA XUÂN NÓI CHUYỆN “ĂN” TẾT
LÊ CẦN THƠ (Về
Nguồn – Tây Đô) 
Thật tình tôi không dám lạm
ngôn khi Nói Chuyện Ăn Tết, bởi vì đã có rất nhiều
bậc thức giả, những nhà văn chuyên viết về phong tục, tập
quán, hay ít ra tuổi đời cao, có nhiều kinh nghiệm sống để
thực hiện điều nầy. Ở đây, tôi xin phép quí vị được
đóng góp chút ít những gì mình hiểu được, kể
lại cho vui trong những ngày sống xa quê hương – mà thời điểm
đó tại quê nhà, bà con mình đang đón nhận ngày
Tết cổ truyền bằng nhiều tâm trạng khác nhau do từng cuộc sống
đưa đến phải chấp nhận; có thể vui, buồn, hân hoan, và
cũng có thể tiếc nuối, ân hận cũng nên! Có điều, cái
giàu cái nghèo của vật chất một dịp nào đó sẽ
đổi thay; nhưng cái nghèo giàu trong tâm hồn thì khó mà
thay đổi nếu như bên cạnh cuộc sống có những ràng buộc
đau lòng. Người đông
phương, nói cụ thể là người Việt Nam chúng ta, theo sử sách
thì đã có hơn bốn ngàn năm văn hiến, có một lịch
sử hào hùng trong dựng nước và giữ nước. Những câu
ca dao, tục ngữ diễn tả phong tục, tập quán, sinh hoạt đời sống,
hay giáo dục con người... đã gắn liền trong tim của mỗi con người
Việt Nam ngay từ thuở mới lọt lòng, bằng những bài hát ru trên
võng, trên nôi của mẹ, của chị, mà lớn lên ít nhiều
trong chúng ta đều còn nhớ. Chẳng hạn mấy câu hát ru con trên
nhịp võng đu đưa buổi trưa hè ở thôn quê thường
nghe như:
Má ơi đừng đánh
con đau Để con bắt ốc hái rau
má nhờ... .
Má ơi đừng gả con xa Chim kêu vượn hu biết nhà má đâu... .
Gió đưa cây cải về trời Rau răm ở lại chịu lời đắng cay... .
Chim quyên ăn trái nhãn lồng Lia thia quen chậu vợ chồng quen hơi... .
Trồng trầu thì phải khai mương Làm trai hai vợ phải thương cho đồng...
Đại khái
như vậy. Những câu hát ru con tự nhiên ăn sâu trong tiềm thức
con người theo thời gian, đã tạo cho mỗi người dân Việt Nam
chúng ta có nguồn kiến thức văn hoá dân gian rất dồi dào.
Bởi vậy mới nảy sinh ra những truyện bằng thơ (bây giờ vẫn
ghi là Khuyết Danh hay Vô Danh) trong kho tàng văn học dân gian Việt Nam.
Tôi dài dòng, bởi muốn mượn câu tục ngữ Nhập gia tùy tục và Quá giang tuỳ khúc
mà thời đi học tôi có dịp được thầy cô cho làm
tập làm văn nhằm bình giải những câu này. Hiểu nôm na
là khi vào nhà ai phải tuân theo tục lệ của nhà đó;
đi trên khúc sông nào phải tuỳ theo tình huống ngay trên đoạn
sông đó mà đối phó với bao biến cố có thể xảy
ra. Nó không thể trùng lắp nhau để chúng ta dễ dàng ứng
xử như thói quen trong nhà mình, hay trên khúc sông mà mình
đã nằm lòng khi qua đó. Nói như vậy để cho thấy, phần
đông các bạn thanh thiếu niên định cư trên đất Hoa Kỳ
nhiều năm, đã quen với mọi sinh hoạt của xã hội nầy, trong
giao tiếp, ăn nói, suy nghĩ tại gia đình, ở trường học, ngoài
xã hội... như ta thường chứng kiến là lẽ thường tình.
Có thể thế hệ nầy đã không còn có dịp biết được
những phong tục tập quán tại đất tổ quê cha, bởi cuộc sống
không có điều kiện cho các bạn đủ thời gian nghiên cứu.
Một số người Việt mới sang định cư những năm sau nầy,
thành phần trẻ có bạn còn biết đôi chút chuyện quê
nhà do mình có dịp sống hay đọc trong sách báo..., có thể
một ngày nào đó rồi cũng phải quên đi. Chỉ có những
người lớn tuổi, dù cuộc sống vất vả cực nhọc thế nào,
chắc chắn phải có đôi lúc ngẫm nghĩ và nhớ lại –
nghĩ và nhớ trong tâm tưởng để xoa dịu phần nào nỗi
buồn xa cách quê hương của mình. Cho nên, nhân dịp TÊT CỔ TRUYỀN VIỆT NAM năm nay trên đất HOA KỲ, tôi xin phép quý vị được
nói về ĂN TẾT ở quê nhà –
gọi là nhắc nhớ cho tâm hồn mình được thư thả trước
bao công việc bề bộn mà mỗi người chúng ta phải làm. Chắc
chắn trên đất Hoa Kỳ nầy, chúng ta khó mà có được
cái không khí: “Cu kêu ba tiếng cu kêu.
Trông mau tới Tết dựng nêu ăn chè...” như ngày
xưa ở quê nhà đâu.
Hồi còn sống trong trại cải tạo, cứ mỗi dịp Tết đến,
chúng tôi cũng cố mà tổ chức ăn Tết với nhau vào đêm
giao thừa. Mỗi người một món như gói trà, phong kẹo đậu
phộng, thẻ đường... do gia đình thăm nuôi đem đến và
anh em cất giữ để dành ăn Tết. Thường ngày, ăn bắp,
khoai mì, khoai lang, bo bo... với muối bọt là chính; mỗi tuần được
phát cơm hai lần, mỗi lần khoảng một chén, ăn để cầm
hơi giữ sức. Anh em lại có óc khôi hài, cứ cầm trái bắp
cứng như đá lên ăn lại nói, đó là đùi gà
quay; cầm khúc khoai mì luộc mà không lột vỏ, mốc xanh thì
nói đó là bánh bông lan bắt chỉ... Sau nầy khi ra trại, tôi
có dịp nghe chính nhà thơ Trần Mạnh Hảo, tác giả tiểu
thuyết Ly Thân, vốn là đảng viên CS, đọc một bài thơ
nhân buổi đại hội “văn xuôi miền Trung” tổ chức tại
Đà Lạt năm 1987 đại ý diễn tả cái nghèo của gia đình
anh, bữa cơm thường ngày thiếu thốn lắm, các con anh thèm ăn
gà vịt, cá tôm mà vợ chồng anh không làm sao mua nổi, anh
nghĩ ra cách, xin bạn bè bức tranh vẽ gà vịt quay, cá tôm bày
trong dĩa màu sắc trông thật ngon lành, treo tại bàn ăn. Mỗi
bữa ăn, anh chỉ cho các con nhìn vào và giới thiệu từng món
ăn sang trọng... cho con mình được ăn tưởng tượng thế đó
cho qua ngày tháng. Dĩ nhiên bài thơ khó mà được chấp
nhận, thành ra tác giả bị trù dập! Nêu lên sự việc nầy,
tôi muốn nói đến cách khái quát của chữ ĂN, là
ĂN CỤ THỂ và ĂN
TRỪU TƯỢNG.!.
Quả thật, người Việt Nam chúng ta rất ưa chuộng cái ăn.
Có người lại nâng lên hàng cao hơn, đó là nghệ thuật ăn uống. Điều nầy cũng dễ
hiểu thôi, bởi trong tứ khoái của con người, chữ ăn lại đứng
hàng đầu. Ta thử truy tìm xem: ăn đầy tháng, ăn thôi nôi,
ăn tân gia, ăn lễ hỏi, ăn lễ cưới, ăn giỗ, ăn khao, ăn
tiệc, ăn mừng, ăn sinh nhật, ăn lục tuần, ăn Tết Trung Thu, ăn
Lễ Quốc Khánh.. . và quan trọng hơn hết lại là ăn Tết.
Ăn Cụ THỂ không cần dùng từ
hoa mỹ nào hay ho hơn, vì đó là ăn bằng miệng. Trong Từ
Điển Tiếng Việt (KHXH-VN 1992) từ trang 26 đến trang 30 có định
nghĩa tới 110 chữ ăn, nhưng xếp về tính chất thì có tới
13 loại. Trước hết họ định nghĩa: 1 Tự cho vào cơ thể
thức ăn nuôi sống. 2 Ăn uống nhân dịp gì. 3 (máy móc, phương
tiện vận tải) tiếp nhận cái cần thiết cho sự hoạt động.
4 (Kết hợp hạn chế) nhận lấy để hưởng. 5 Phải nhận lấy,
chịu lấy. 6 Giành về phần mình hơn, phần thắng (trong cuộc thi
đấu). 7 Hấp thu cho thấm vào, nhiễm vào trong bản thân. 8 Gắn,
dính chặt vào nhau, khớp với nhau. 9 (kết hợp hạn chế) Hợp với
nhau, tạo nên một cái gì hài hoà. 10 Làm tiêu hao, hủy hoại
dần từng phần. 11 Lan ra hoặc hướng đến nơi nào đó (nói
về khu vực hoặc phạm vi tác động của cái gì). 12 là một
phần ở ngoài phụ thuộc vào, thuộc về. 13 (đơn vị đo
lường, tiền tệ) có thể để ngang giá... Ở đây, chúng
ta chọn định nghĩa số 1 và 2 để nói về ĂN.
Miền Bắc Việt Nam, để thưởng
Xuân, người ta dùng nhiều món ăn tinh xảo, cầu kỳ. Nhưng
nói tới việc mừng ngày đầu năm, món đầu tiên người
miền Bắc phải có là BÁNH CHƯNG.
Đó là món quốc hồn quốc tuý, có từ thời Hùng
Vương dựng nước. Để có được bánh chưng, ngoài
kỹ thuật gói phúc tạp đầy kỹ xảo, người ta cần phải
có vật liệu: đậu xanh cà, gạp nếp, hành, tỏi cùng những
miếng thịt đùi, thịt mông tươi rói. Tất cả gói gọn
trong lá dong. Bánh gói bằng lá dong mới đạt yêu cầu, vì
nó tiết ra màu xanh ngọt mắt vào từng hạt nếp ninh nhừ, đồng
thời tạo cho chiếc bánh hương vị nhẹ nhàng, thanh thoát. Ăn
miếng bánh chưng là ăn cái thanh nhẹ lẫn cái đậm đà
trần tục của những miếng thiẹt thăn cùng tiêu nhành thơm
phúc kích thích dịch vị. Nấu bánh chưng là cơ hội để
người ta chờ đội giao thừa. Dịp nầy bao nhiêu câu chuyện trong
năm được kể ra, những u buồn uẩn khúc, những xui xẻo năm
qua sắp chấm dứt. Nó cũng là lúc cho các bà lão kể
chuyện cổ tích cho con cháu nghe – có lẽ nhờ vậy mà trong
kho tàng cổ tích nước nhà nhiều vô kể, được truyền
miệng mãi đến sau nầy? Nấu bánh chưng cũng là dịp để
người ta hưởng cái ấm áp trong đêm giá lạnh và cũng
thắm đượm nghĩa tình anh em họ hàng sau nhiều ngày xa cách.
Ngoài món bánh chưng độc đáo, người Bắc còn có
những món ăn khác ngon cũng không kém như chè kho, xôi gấc,
thịt đông. Ăn một miếng thịt đông lạnh ngắt kèm vài
miếng dưa chua, người ta nghe sự sảng khoái lan khắp cơ thể. Ngụm
thêm một chút rượu thì cuộc đời quả thật là sinh
thú. Ở miền Nam không có bánh chưng mà có BÁNH TÉT. Nó cùng chủng loại với bánh
chưng, nhưng cách gói khác nhau. Bánh chưng hình vuông gói
bằng lá dong, trong khi bánh tết hình tròn dài gói bằng lá
chuối xiêm. Bánh tét đa dạng hơn bánh chưng, ngoài loại
nhân thịt mỡ, đậu xanh, tôm khô, lạp xưỡng, lòng trứng
muối…, còn có bánh tét nhân ngọt bằng chuối xiêm chín
hay nhân dừa nạo sên đường. Có khi người ta nhuộm nếp
bằng lá cẩm cho tím rồi cán đậu xanh cà một lớp, bên
trong để nhân mặn cuốn lại rồi hấp. Khi cắt ra miếng bánh
có viền chỉ trông thật đẹp, ăn thật ngon… Ngoài bánh
tét, còn có thịt kho nước dừa, dưa giá. Thịt kho phải
kèm cá lóc và hột vịt mới đúng bài bản. Ăn miếnhg
thịt đùi mềm mụp, ngọt ngào, béo ngậy, người ta
dậm thêm miếng hột vịt béo bùi giòn rụm. Cái ngon chưa
kịp tiêu hoá, nhai thêm miếng cá lóc, cảm giác ngọt ngào
của loại cá đồng ở miệt sông nước ngọt, sẽ đẩy
tan hết cái ngán ngại của thịt mỡ ám ảnh. Gắp thêm đũa
dưa giá, người ta càng thấy dễ chịu và tưởng chừng
như chưa ăn một thức gì, cho nên cứ tiếp tục ăn… đến
quên thôi. Ba ngày kết, người miền Nam cón thích món ăn
tôm khô củ kiệu, nhâm nhi với ba xị đế hay chút la-de sẽ
thấy đời lên hương vô cùng.
Ăn Tết, dù nhà giàu hay nghèo, người miền Nam không thể
quên món ăn dân giả mà thắm đượm nghĩa tình của
hương đồng cỏ nội, đó là bánh
tráng và bánh phồng.
Bánh tráng ngọt và bánh phồng dùng để nướng trên
lửa rơm hay lửa than hồng, nhưng bánh tráng trắng dùng để
nhúng với nước, gói gỏi, rau sống, thịt ba rọi, tôm tép...
thành món gỏi cuốn; hoặc để cuốn với thịt bầm trộn
khoai cau, gia vị thả vô chảo chiên lên thành món chả giò.
Người Bắc gọi chả giò là nem, cuốn từng cuốn nhỏ và
dài cỡ ngón tay cái, rất thuận tiện và lịch sự trong ăn
nhậu. Người Nam cuốn chả giò to hơn, có khi gấp đôi, gấp
ba người Bắc cho xứng với danh hiệu ăn to nói lớn đặc trưng
của từng địa phương. Tuy nhiên, khi ăn, người ta cũng dùng
kéo cắt ra thành khúc để tiện đưa vào miệng. Chả
giò ăn với bún hay bánh hỏi mới ngon, nhưng phải cần nước
chấm cho ngon mới hợp khẩu. Các quán ăn Việt Nam thường tranh
nhau bán nem, bún chả giò và thu hút rất nhiều thực khách,
nếu như họ chế biến thật đặc sắc và hấp dẫn.
Ăn Tết cũng còn lấn sang đến hội trái cây vùng sông
nước Cửu Long. Ngoài quít, cam, đu đủ, mãng cầu ta, mãng
cầu xiêm, vú sữa, xoài, dừa, còn biết bao loại trái linh tinh
khác. Nhà nào cũng có những dĩa trái cây đầy ắp
chưng trên bàn thờ gia tiên, bên cạnh cặp dưa hấu tròn lũm
duyên dáng được chủ nhà lựa chọn khi mua cho đẹp nhà
đẹp cửa. Đáng nói ở đây là các loại trái cây
được các mẹ, các chị khéo tay làm ra các loại mứt
thật hấp dẫn trong dịp tết như mứt bí, mứt gừng, mứt dừa,
mận, hồng, cà, me, đu đủ, mảng cầu, khoai lang.. . Sau bữa ăn, ăn
thêm một miếng mứt, uống hớp trà thơm nóng sẽ thấy đời
hạnh phúc đến dường nào!
Chuyện ăn tết
nói bao giờ hết, bởi vì mỗi nơi, mỗi miền đều phong phú,
đa dạng, không đâu giống hệt đâu, do vậy ban đầu tôi
cũng cố tình mượn câu nhập gia tuỳ tục và quá giang tuỳ
khúc để nói trước vậy. Bây giờ tôi xin mời quí vị
ăn tết trừu tượng, nghĩa là ăn tết theo lối tưởng tượng bằng giác quan của
mình ngay tại xứ sở văn minh Hoa Kỳ rất xa rời phong tục
tập quán bản xứ Việt Nam của chúng ta. Cách ăn nầy là
ăn bóng, ăn hình, ăn hương, ăn vị. Bạn hãy thông cảm
cùng tôi đi vào thế giới kỳ ảo của loại ăn... hình
sương bóng khói nầy của quê nhà.
Lẫn vào dòng người ồ ạt chảy trong những ngày cận
tết ở quê nhà, vào đúng ba ngày tết, chúng ta hãy phóng mắt nhìn. Các cậu thanh niên đèo
nhau trên các xe CUB phóng bạt mạng trên những con đường đông
đúc chật chội như chốn không người, bỏ sau lưng những
đám bụi khói đen dầy đặc đến ngột ngạt khó thở.
Nhưng bên cạnh đó cũng có những cô cậu, các cặp tình
nhân thong thả lượn xe qua những dòng người cũng thong thả như
đang đi thưởng... xuân, dù thực tế họ đang bận tâm nghĩ
gì chúng ta làm sao hiểu được, bởi trên cuộc đời lắm
bể dâu nầy, có người sung sướng mãn nguyện, cũng phải
có người thất bại, buồn thảm chớ! Tuy nhiên, trong những ngày
nầy, ai cũng ăn mặc sạch sẽ, tươm tất như... ngày hội.
Ăn Tết bằng NHÃN vị, phải nói
đến màu sắc từ trong nhà ra ngoài phố. Quý vị sẽ thấy
rực rỡ sắc hoa tươi (chớ không phải hoa ny lông, hoa giả trong các
tiệm bán hoa thờ cúng quanh năm đâu!). Những bông cúc đại
đoá vàng rực hoặc trắng muốt to bằng cái chén ăn cơm,
nở tươi mát, bật vượt bên những chiếc lá xanh ngọc
thạch khiến ta mãi mê nhìn ngắm. Những đoá thược dược,
những chậu kim cúc chẳng thể nào khép mình nhường bước.
Những cành mai đầy đặc nụ xanh bên cạnh các cánh hoa vàng
rực rỡ, mầm lộc biêng biếc điểm xuyết một cách ưa nhìn.
Những cánh hoa mồng gà, hoa mống tay, những chùm trái hạnh vàng
tươi quyến rũ... xen với màu sắc áo quần của
các cô, các cậu thanh thiếu niên, tạo cho cái Tết trẻ trung,
tươi thắm. Ăn TẾT,
người ta còn ăn bằng MŨI nữa. Quí
vị có thể dùng mũi để ngửi được mùi hương
của các loại hoa, mùi thơm của các loại nước hoa và mùi
pháo nồng bay lan (từ nhiều năm trước ở VN đã cấm đốt
pháo rồi, chưa biết năm nay thế nào?) trong gió, đi thẳng một
lèo vào khứu giác ta. Mùi nhang trầm ở các chùa, đền,
miễu cũng khiến tâm hồn ta thanh thoát. Mùi những miếng thịt
chiên trên chão nóng mỡ hay nướng trên vĩ lò, mùi của
những cuốn chả giò vàng rượm, mùi những cục mỡ trắng
tinh mềm béo và mùi của hàng bao nhiêu thức ăn bắt ta trở
về trần tục, ép buộc môi, hàm răng, quai hàm chúng ta làm
việc quá chừng. Ăn Tết mà thiếu mùi rượu, dù rượu
nhập hay rượu đế, rượu quốc doanh, kể cả rượu lậu,
rượu.. . dỏm trong nước, thì kể như chẳng còn gì lạc
thú trong đời. Tuy nhiên, nhấp chút rượu cho đời lên hương
chớ không phải để say sỉn rồi quậy quạng, làm mất nhân
cách đâu.
Đã nói ăn bằng mắt, bằng mũi mà không nói tới
TAI thì chưa đủ bộ. Những ngày
sắp tết, nhiều năm về trước, thỉnh thoảng quí vị nghe những tiếng đì đùng, lạch tạch của
pháo. Tiếng pháo nhắc nhở quí vị là đã cận kề
tết, phải nhanh chóng lo toan mọi thứ để ăn tết. Ở thôn quê
như Trường Long quê tôi, có lúc không tiền mua pháo, các
bạn trẻ lại lấy ống tre, ống đu đủ để đốt pháo...
bằng hơi khí đá, cũng nổ ì ầm đến điếc cả
tai chớ chẳng phải chơi. Các gian hàng chợ tết thì vang dội
đủ loại âm thanh phát qua loa, nào là kêu lô tô, hét
hò quảng cáo đủ loại đủ kiểu, họ giành nhau nói
mà không cần biết người xung quanh có nghe hết nội dung không,
thành thử.. . TAI nhận hết mọi tạp âm ngày Tết ở thành
phố thật đáng tội nghiệp! Sang Hoa Kỳ nầy, trong mỗi hội chợ
Tết, cái tạp âm nầy cũng tái diễn, nhưng vẫn có nhiều
người chẳng than phiền, bởi đồng hương muốn đến nơi
“đông mà vui” để gặp bạn bè đồng hương hơn
là để nghe!
Trên đây tôi mới lạm
bàn vài chuyện ăn tết cụ thể và trừu tượng. Nghĩ rằng
nó chỉ loáng thoáng đôi chút thực tế trong cuộc sống
ngày tết ở quê nhà, nhưng có còn hơn không, bởi vì
chúng ta chỉ còn sống trong cõi nhớ mà thôi. Dù ăn tết
cụ thể hay trừu tượng, cái gì cũng có giới hạn của
nó, nếu đi quá đà có thể đưa con người vào con
đường tội lỗi bằng cách ăn trộm, ăn cướp
khi thua bài bạc, hút xách, hay ăn xài quá mạng
phải nợ nần mất uy tín (bad credit). Mấy tiêu chuẩn trên còn
dẫn đến tình trạng ăn gian nói dối, đồng
thời có người uống thuốc liều chơi cái trò ăn
quịt, ăn chận v.v.. . Ăn nhậu say sưa no cơm rửng mỡ
trong ba ngày tết cũng khuyến khích mấy ông thuộc dòng họ Trư
Bát Giới, ra tay làm bậy kiểu ăn vụng ái tình
thì xấu xa lắm! Tết cũng là dịp để các quan viên lớn
bé, từ trung ương xuống hạ tầng, có người đút lót,
đóng góp vào sự nghiệp ăn tết cho xôm trò, sẽ rơi
vào vũng lầy là ăn hối lộ. Dộng ba thứ nầy
nếu không khéo sẽ vô nhà lao gỡ lịch dài dài và.. .
mặc sức mà ăn bánh bột mì luộc, khoai mì, khoai lang, bo bo, bắp
khô, ăn đủ loại cây cỏ, rắn rít bắt được trong
trại, ăn đến trào máu họng!
Và, thưa quí vị, sống trên đất Hoa
Kỳ văn minh nầy, những điều trước
đây xảy ra trong nước Việt Nam mà chúng ta cho là không được,
không thể chấp nhận vì đạo lý, thì ở đây chắc
chúng ta cũng không ngại gì mà tiếp tục giữ gìn cái
nhận thức đó. Bởi vì, dù nhập
gia tùy tục, nhưng chúng ta không thể làm điều gì sai trái
với luân lý và đạo đức vốn tiềm ẩn trong dòng máu
dân Việt của chúng ta. Hãy nhớ những truyền thống tốt đẹp
của quê hương đất nước, có dịp giới thiệu và nói
cho con cháu chúng ta biết, và nếu được, làm cho những thế
hệ nầy yêu được cái đẹp của cội nguồn dân tộc.
Tết nguyên đán là tết cổ truyền của Việt Nam, trong lịch
Hoa Kỳ không có ghi, nhưng chắc chắn trong lòng của mỗi người
dân Việt Nam chúng ta đã tự ghi sâu đậm rồi. Rất mong được
như vậy.
LÊ CẦN THƠ (Về Nguồn – Tây Đô) __________ Tham khảo:
QUẨN QUANH CHUYỆN.. .. ăn tết của Lương Vỵ
(VNCT xuân Tân Mùi 1991)
(Ký tên SONG LÊ in trong SỔ TAY VĂN HỌC tạp chí
VHVN tại Houston TX – USA, số ba mươi hai – mùa Xuân 2006, tr 4 – 12)
________________________________________________________________________________________________________________________
NỖI NHỚ VÀO XUÂN (* tặng bạn tôi, ghi lại một chuyện
tình chôn kín tại quê nhà sau cuộc chiến tang
thương) truyện LÊ CẦN
THƠ 
Cánh đồng
Trường Long không lớn lắm, nhưng vào thời tuổi trẻ, Ba Hoanh cảm
thấy nó quá rộng lớn, mênh mông và bát ngát vô cùng.
Từ bờ vườn của dòng Sông Cái thuộc ấp Trường Thuận,
nhìn sang phía bờ rạch Cai Cẩm thuộc ấp Trường Khương, có
lằn ranh đất chạy dài từ hướng vàm rạch vô tới
cuối rạch giáp với Xẻo Lá, đã thấy xa vời vợi. Những
giồng cỏ chia ranh các thửa ruộng của hai phía đan thành những
ô đất hình chữ nhật, nếu đứng trên cao nhìn xuống
như bàn cờ. Có những con kinh, con mương xẻ ngang, xẻ dọc để
dẫn nước từ Sông Cái, từ rạch Cai Cẩm vào đất ruộng,
lúc nước lớn lên có thể chống xuồng để đi sâu
vào các thửa ruộng, đây cũng là phương tiện dẫn nước
phù sa để bồi đắp chất màu mỡ lên mặt ruộng đồng,
nên những năm 1950 – 1960 của thế kỷ trước, cánh đồng
nầy năm nào ruộng lúa cũng trúng mùa, bà con nông dân
không cần sử dụng phân bón hoá học và thuốc trừ sâu.
Mỗi công ruộng có thể cho năng suất hai ba chục giạ lúa mà
sau nầy dù phương tiện kỹ thuật tân tiến cũng chưa đạt
được như vậy. Mỗi năm người dân chỉ làm một mùa
lúa theo chu kỳ: tháng năm gieo mạ, tháng bảy cấy giâm, tháng
chín cấy liền và tháng chạp, tháng giêng gặt lúa. Sau khi
gặt lúa, đất ruộng để trống “nghỉ ngơi” chờ những
cơn mưa đầu mùa đổ xuống, tháng năm âm lịch mới
bắt đầu vào mùa. Khoảng thời gian trống nầy, người dân
thường dành một hai công đất biền để tỉa đậu, bắp,
hay lên giồng trồng khoai lang, khoai mì… Năm nào cũng vậy, dù
miền quê nầy thời đó không có điện, nhà nhà phải
xài đèn dầu, nhà nào khá giả thì mua đèn măng-sông
để thắp trong các đêm có khách hay chuẩn bị cúng giỗ
quy tụ con cháu khắp nơi về.
Ba Hoanh là con trai thứ hai trong gia đình. Người anh cả thời kháng
chiến chống Pháp đã theo thanh niên tiền phong và đã đi
tập kết ra Bắc năm 1954, gia đình không còn tin tức gì hết.
Hai đứa em gái thứ Tư và thứ Năm, ba thằng em trai là Sáu
Già, Bảy Đoàn và Út Kết còn nhỏ sống với cha làm
nghề hớt tóc. Mẹ của Ba Hoanh đã mất sau khi sanh ra thằng Út
Kết được mấy tháng do bạo bệnh. Những năm sau đình chiến
1954, gia đình quây quần sống với bao nhiêu nhân sự đó trong
một căn nhà lá ba gian hai chái khá ngăn nắp dưới sự chăm
sóc của người cha “gà trống nuôi con”, mà Ba Hoanh bây
giờ trở thành cánh tay “trụ cột” bên cạnh ba mình.
Mười lăm công đất ruộng thuê mướn của chủ điền
Tư Quản do chính bàn tay của Ba Hoanh chăm lo thay cho ba, bởi vì ba hằng
ngày còn phải xách tông-đơ đi hớt tóc dạo cho người
lớn và trẻ em trong xóm, khi không có ai kêu hớt tóc, ba mới
ra đồng tiếp con lo việc ruộng nương. Người ta nói tuổi “mười
bảy bẻ gảy sừng trâu”, nhưng Ba Hoanh đã hai mươi mốt
vẫn chưa tính chuyện lập gia đình bởi đàn em nhỏ dại
như vậy. Những cô bạn gái cùng trang lứa với Ba Hoanh như cô
Láng, cô Dung, cô Thu, cô Mười, cô Út… đều thường
xuyên gặp gỡ nhau trên cánh đồng vào mùa cấy, gặt. Họ
đều vui vẻ, chuyện trò thân thiện với nhau, trong đó Ba Hoanh
có để ý đến một cô mà chưa dám mở lời. Chuyện
tình cảm trai gái vào thời đó không phải như bây giờ,
kín đáo, dè dặt và ngại sợ người lớn biết được
sẽ cản ngăn, bởi quan niệm “môn đăng hộ đối”, hay
tư tưởng “nam nữ bất tương thân”. Dù vậy, tình
cảm riêng tư khó mà che giấu nhau, nhất là với các bạn
nam nữ cùng gặp gỡ nhau trong công việc đồng áng.
Một hôm, từ con đường đất nhỏ hẹp dẫn ra đám
ruộng của mình, Ba Hoanh đã “bị” Tám Sơn gạn hỏi:
- Chuyện mầy với con Láng tới đâu rồi?
- Tới đâu là sao? -
Là... hai người có gì với nhau chưa?
- Đừng nghĩ bậy. Chưa ai nói với ai câu nào hết. Đồn
rùm beng lên, chết cả đám!
- Đồn cái gì. Hai đứa thương nhau thì nói thương
chớ đồn cái gì? -
Ba má cô Láng khó tính lắm. Nghe nói, gia đình của cô
Láng là gốc người Tàu, không gả con cho người Việt...
- Ai nói? - Thì tao nghe
vậy! - Để tao
dọ hỏi cho... - Đừng có
tào lao nghe mậy! Cô Láng mà nghe được thì mầy bị “chửi
tắt bếp” à nghen! -
Nhưng tao hỏi thiệt, mầy có thương con Láng không?
- Mầy hỏi để làm gì?
- Để mừng cho mầy. Tao thấy hai đứa xứng đôi lắm...
- Xạo hoài. Chỉ
đối đáp tới đó là đã thu gần khoảng cách với
đám ruộng sẽ cấy vào ngày mai của Ba Hoanh. Hôm nay, Tám Sơn
tiếp Ba Hoanh dọn xong phần đất để buổi chiều hai người gánh
mạ ra bỏ khắp mấy công đất cho khuya sớm nhóm bạn trong tổ
vần công đổi công cùng nhau cấy hết phần đất của Ba
Hoanh. Cứ theo cách sắp xếp như vậy, chỉ trong vòng nửa tháng,
tất cả phần đất ruộng của ấp Trường Thuận sẽ cấy
xong, màu mạ non rồi sẽ bén rễ và vươn xanh lên cả cánh
đồng để tạo nên mầm sống truyền đời của người
dân nơi đây.
Khi tiếng gà gáy
rộ cũng là giờ báo thức cho bà con trong ấp Trường Thuận
thức dậy chuẩn bị ra đồng. Ba Hoanh có dặn Ba đừng thức sớm,
để anh lo “xôi” nồi cơm nếp và “chưn” tô mắm
cá trê trắng cho tổ vần công ăn sáng sớm trước khi xuống
ruộng cấy là được. Bởi vậy, buổi tối trước khi đi
ngủ, Ba Hoanh đã ngâm nếp trong cái thau lớn; cắt lá chuối lót
cái xửng đặt lên trên cái nồi lớn đổ đầy nước
để nấu “xôi”. Củi cũng được chuẩn bị
sẵn, để nửa khuya anh thức dậy làm việc bếp núc mà không
gây tiếng động cho cả nhà ngủ. Anh cũng đã giở khạp
gắp mấy con mắm trê để vô cái tô lớn, xắt củ hành
phủ lên mặt, chế một chút mỡ heo, thêm chút đường
và rắc tiêu hột lên sẵn, đặt trong cái nồi để chưn
cách thủy tô mắm nầy ăn với xôi. Vô mùng giăng trên
chiếc chõng tre, Ba Hoanh chun vô nằm cố ngủ một giấc khi nghe tiếng
gà gáy canh hai là anh thức dậy cuốn mùng, xếp chiếu cẩn thận
rồi vào chái nhà bếp.
Đang lui cui nhóm bếp, chợt Ba Hoanh nghe tiếng gọi nho nhỏ ngoài
hè: - Anh Ba, anh Ba...
- Ai vậy? - Tui, Láng
nè... - Trời, sao cô
đến sớm vậy? -
Mở cửa đi, tui vô nấu nướng tiếp cho. Anh làm “mình ên”
sao kịp... Ba Hoanh bước
lại cửa rút cây “xông hồng” gài chận ngang cánh cửa,
giở lên cho cô Láng bước vô. Anh lúng túng nhìn Láng,
muốn hỏi điều gì thì Láng cười:
- Đừng có nhìn tui như vậy. Hôm trước, tui có nghe nói
anh định cho mấy Cô Chú, mấy anh chị em ăn xôi nếp với mắm
chưn, tui mới đi sớm qua tiếp với anh cho mau. Tui biết, trong nhà chỉ
có “mình ên” anh lo mọi chuyện, phụ giúp anh hổng được
sao? - Phiền cô quá.
Cô còn phải đi cấy nữa, thức sớm ra đồng buồn ngủ làm
sao cấy được. -
Được chớ sao không? Thôi, chuyện nấu bếp anh để tui lo. Vô
nằm ngủ thêm một chút đi. Cần gì thì tui kêu...
- Bỏ cô nấu bếp, tôi đi ngủ coi sao được.
- Bây giờ hổng nghe lời tui phải không?
Ba Hoanh chống chế: -
Đâu phải không nghe. Nhưng tôi với cô cùng nấu, để cô
một mình buồn chết. -
Bảo không là không. Anh không nghe, tui dìa liền bây giờ.
Ba Hoanh đành phải bước nằm lên chiếc võng giăng giữa
hai cây cột ngăn qua chái nhà bếp, cứ thao thức không sao nhắm
mắt được. Láng
nhóm bếp xong, một bếp nấu xôi, một bếp chưn mắm. Cô lấy
cái ghế đẩu đặt chỗ bếp, ngồi chụm củi và chờ
cho xôi chín. Cô lan man suy nghĩ đủ điều. Chuyện mình qua nhà của anh Ba Hoanh để phụ cho anh ấy nấu bữa ăn sáng
cho tổ vần công đổi công là cô đã có xin phép mẹ,
với lý do là hoàn cảnh gia đình anh Ba Hoanh đơn chiếc, sang
giúp đỡ chớ không có tình ý gì. Mẹ của cô nghe
thấy vậy cũng không ngăn cấm, nhưng bà dặn, “con gái,
làm gì làm nhưng phải giữ gìn, đừng làm điều gì
không tốt mang tiếng cả đời nghe con!”. Thật tình, mẹ của
cô cũng thấy được con gái mình có cảm tình với Ba
Hoanh, bà cũng mong cho con có được tấm chồng để an phận sau
nầy, nhưng trong lòng bà cũng lo là không biết chồng bà gốc
người Quảng Đông có chấp nhận hay không? Bởi vì, dù
bà là người Việt, con gái mình là con Việt lai Tàu, bà
con nói nó là người “minh hương”, không lẽ duyên nợ
bị trớ trêu do chủng tộc như vậy? Ba của cô Láng có phần
đất ruộng phía sau nhà nhưng mọi việc ông để cho con gái
chăm lo. Phần ông hàng ngày trông coi bán đồ tạp hoá cho
bà con trong xóm xài. Một cái chòi cất góc trái phía trước
nhà gie ra, ba bề dừng kín bằng lá, trước mặt nhìn ra sông
bên dưới đóng bằng thiếc mỏng, bên trên đóng mặt
cáo ô vuông cho ánh sáng rọi vào. Dọc theo vách là các
kệ hai ba tầng, bên trên để đủ loại hàng hoá để
nấu ăn, có đường, đậu, tiêu hột, muối bọt, muối
cục, tương hột, các keo chao, tôm khô, cá khô; có các
loại thuốc cao đơn huờn tán, dầu gió. Phía dưới đất
có dầu lửa, nước mắm, nước tương... Có các loại
bánh kẹo cho con nít thích ăn. “Chệt Hai” là tên mà
bà con ở đây gọi ba của Láng. Còn mẹ Láng, bà con cũng
gọi thân mật là “Bà Chệt Hai”, gọi theo chồng chớ bà
là người Việt chánh tông, tên bà là Nguyễn Thị Thân.
Chệt Hai và cô Thân ăn ở với nhau có 4 mặt con, thằng con trai
lớn chết sớm sau cơn bệnh ngặt nghèo lúc mới lên năm tuổi,
nếu còn sống cũng đã 23 tuổi. Láng là con gái kế tiếp,
năm nay vừa tròn 18 tuổi. Hai đứa sau cùng là thằng Hối 12 tuổi
và con Muối 8 tuổi đang đi học tại lớp của thầy giáo Thuật.
Bà Thân phụ lo buôn bán với chồng, nhưng cũng thường ra đồng
tiếp với con gái chăm lo mười công ruộng thuê mướn của
chủ điền từ trước khi Chệt Hai mở tiệm tạp hoá. Cuộc
sống gia đình tương đối, không phải chật vật như một
số gia đình nghèo khó khác trong ấp.
Cô Láng ngồi chụm củi nồi xôi và nồi mắm chưn, suy
nghĩ đủ điều, vá víu hết chuyện nầy đến chuyện
khác nên không thấy buồn ngủ. Thỉnh thoảng cô quay lại nhìn
Ba Hoanh đang đong đưa trên chiếc võng mắc giữa hai cây cột
nhà, chẳng biết có ngủ được hay không. Việc cô Láng
xin phép mẹ qua lo phần ăn của đội vần công cấy trên phần
đất Ba Hoanh là một việc tự nguyện, thành thật chớ cô không
có tình ý gì riêng. Ba Hoanh cũng chẳng nghi ngờ, nhưng có
lẽ anh ngại bạn bè biết được thì đồn đại bất
lợi cho việc giao tiếp lối xóm. Bất ngờ, Ba Hoanh ngồi nhỏm dậy,
nhìn quanh quất một chút, anh rón rén bước lại đứng sau
lưng cô Láng: -
Buồn ngủ lắm không? Bước lại nằm đỡ trên võng một
chút, khi gà gáy rộ tôi kêu.
- Được rồi, tui ngồi đây cũng được. Gà sắp
gáy rồi... - Thiệt, tôi
cám ơn cô nhiều lắm. Nhưng tôi thấy ái ngại. Biết trả
công cô cách nào đây?
- Công cán gì. Tui tiếp anh cũng như làm việc gia đình
hàng ngày chớ có khó khăn gì...
- Cô Láng nè... -
Gì vậy anh Ba? - Tôi muốn
hỏi cô điều nầy? -
Điều gì? - Bác... Hai
trai có “khó” lắm không?
- Khó chuyện gì? -
Tôi nghe người lớn nói...
- Nói Ba tui không gả con gái cho người Việt chớ gì!
- Sao cô biết? -
Ai cũng “đồn” như vậy. Nhưng hổng có đâu, Ba tui ổng
dễ lắm. Má tui cũng dễ nữa...
- Vậy à! Khi
gà gáy rộ trong xóm thì nồi xôi đã chín. Ba Hoanh và
cô Láng chỉ nói chuyện tới đó thì ông Bá Hộ thức
giấc, từ trong buồng bước ra chỗ bàn thờ bật quẹt cháy
ngọn đèn ống khói, chiếu sáng cả gian phòng. Ông hỏi
vọng vô chái nhà bếp:
- Hoanh à, con thức rồi hả?
- Dạ! Con đã nấu xôi và chưn mắm xong rồi Tía. Sao Tía
không ngủ, thức chi sớm vậy.
- Bữa nay cấy phần đất của mình, Tía phải ra ngoải tiếp
với con chớ. - Không cần
đâu Tía. Với lại, hồi khuya tới giờ, có cô Láng lại
làm bếp tiếp với con nên mọi việc xong xuôi hết rồi.
- Ủa, có cháu Láng đến sớm vậy hả?
- Thưa Bác, cháu qua làm bếp tiếp anh Ba.
- Cảm ơn cháu nghe Láng.
Ông Bá Hộ vói tay lấy ba cây nhang, đưa vô ống khói
mồi rồi xá ba xá, cắm lên 3 cái lư hương trên bàn
thờ gia tiên theo thói quen mỗi khuya thức sớm.
- Bác uống trà để con nấu.
Nghe Láng hỏi, ông Ba cảm động.
- Được rồi cháu, để một chút nữa Bác nấu.
- Lẹ lắm Bác. Cháu nấu liền cho Bác đây...
Từ trong chái bếp, Ba Hoanh và Láng đã lo dỡ xôi vô
thúng và tô mắm chưn với muỗng, đũa đem theo, chờ các
anh chị, cô chú trong đội vần công đến thì cùng ra đồng
cấy lúa và hừng đông sáng sẽ cùng ăn. Ông Bá Hộ
ngồi hút thuốc, uống trà, hỏi han Ba Hoanh với cô Láng việc
đồng áng, về nhiều chuyện linh tinh khác. Ông cũng hỏi han việc
bán buôn của tiệm tạp hoá nhà Láng, về việc chuẩn bị
dọn đất để cấy sắp tới. Tuyệt nhiên, ông tế nhị
không tỏ vẻ gì thắc mắc sự có mặt của cô Láng qua
nhà giúp thằng con trai mình lo nấu phần ăn cho đội vần công.
Chiến tranh càng lúc
càng khốc liệt. Làng quê của nhóm bạn trong đội vần công
bị bom đạn cày xới khắp nơi. Nhà thờ Ông Hào thuộc
ấp Trường Thọ bên kia sông bị bom B52 san bằng vì Tiểu Đoàn Tây Đô của VC đặt
khẩu súng phòng không chỗ tháp chuông để bắn máy bay.
Sau trận nầy, bà con trong hai ấp Trường Thọ và Trường Thuận
đã tản cư đi khắp nơi. Ông Bá Hộ đã cho Ba Hoanh lên
chợ Kỳ Son thuộc tỉnh Tân An để ở với gia đình bà
con bên vợ và nhờ lo việc giấy tờ lính tráng vì ngại
ở đây bị bọn du kích “rù quến” theo chúng. Trước
hôm ông Bá Hộ đưa Ba Hoanh đi Tân An, cô Láng và Ba Hoanh
có gặp nhau và hai người nói lời chia tay trong ngậm ngùi.
- Anh Ba đi mạnh giỏi... -
Ờ, cô cũng vậy nghe. Dù đi xa, nhưng lúc nào tôi cũng nhớ
tới cô. - Nhớ
thiệt hông? - Thiệt mà!
Tại hoàn cảnh tôi phải đi. Nếu tình hình an ninh ở đây
không tốt, cô với Hai Bác cùng mấy đứa em cũng phải tản
cư nghe. Đi tới đâu cũng nhớ tìm cách nhắn tin cho tôi biết...
- Anh Ba... Láng như
muốn nói điều gì nhưng ngập ngừng. Ba Hoanh nhìn thẳng vào
mặt cô Láng, chợt nhiên nghe lòng xao xuyến lạ lùng. Muốn nói
lời yêu thương nhưng không dám nói. Hứa hẹn gì đây?
Bày tỏ gì đây? Hình như trong lòng hai người có sự
đồng cảm nào đó? Bất chợt, Ba Hoanh nói trước:
- Cô Láng, tôi nói câu nầy, nếu cô không đồng ý
thì đừng giận nghe! -
Chuyện gì vậy anh Ba? -
Tôi... thương cô nhiều lắm!
- Anh Ba, đừng nói, tui sợ... !
- Sợ gì? -
Sợ chuyện mình không thành...
- Môn đăng hộ đối?
- Không! Sợ chiến tranh ác nghiệt!
- Đừng sợ. Nhưng cô hứa với tôi, chờ tôi...
- Anh Ba cũng hứa với tui như vậy nghe...
Nói xong, cô Láng đâm đầu bỏ chạy như sợ có
người nghe được chuyện hứa hẹn của hai người. Ba Hoanh nhìn
theo mà nghe trong tim rộn ràng khó tả. Vậy là từ bấy lâu
nay, cô Láng cũng đã ngầm yêu mình cũng như mình thầm
thương trộm cô gái láng giềng, mà Tám Sơn đã có
lần nói như vậy. Sáng
hôm sau, khi chiếc tàu đò của cậu Mười Lố chạy chậm
và quay mũi ghé vào cặp bến nhà ông Bá Hộ, Ba Hoanh tay xách
cái rương cây trong đựng mấy bộ quần áo, đi theo ba bước
xuống đò, trong khi các đứa em chạy theo, đứng trên bờ vẫy
tay. Ông Bá Hộ quay lại bảo mấy đứa con trở vô nhà và
dặn tối ngủ nhớ gài cửa cẩn thận. “Hai
bữa nữa Tía về!”. Ba Hoanh cố nhìn về phía nhà
Chệt Hai, anh thấy dáng cô Láng đứng nhìn chăm chăm chiếc
tàu đò, anh thầm nghĩ, chắc cô buồn nhiều lắm và đang
chảy nước mắt cũng nên!.
Ngồi trên tàu, Ba Hoanh mới thì thầm với ba:
- Tía ơi, con với cô Láng thương nhau. Hoàn cảnh con phải
đi. Ở nhà nếu có gì xảy ra cho gia đình cô Láng, Tía
giúp đỡ giùm. Nếu có gặp riêng cô Láng, tía cũng
an ủi cô ấy, tội nghiệp.
- Tía cũng đoán biết chuyện hai đứa. Giữ gìn nhau như
vậy là tốt lắm. Qua tới Kỳ Son, cậu mợ Năm lo giúp giấy
tờ xong, một thời gian trở về, tiá sẽ lo làm lễ hỏi cưới
cho hai đứa. Nhưng,
thời chiến tranh đâu ai lường trước được những biến
cố xảy ra quanh cuộc sống. Chưa đầy sáu tháng thì lại có
chiến trận lớn xảy ra. Cả làng Trường Long phải bỏ làng
quê chèo chống đi tản cư để tránh bom đạn. Một số
gia đình chạy ra tạm trú ngoài Cần Thơ như rạch Đầu
Sấu, Bình Thủy, Xóm Chài, hoặc xuống Cái Tắc, Rạch Gòi.
Gia đình ông Bá Hộ cùng nhiều gia đình chạy xuống tới
miệt Thứ hay Chắc Băng, Cạnh Đền bằng chiếc ghe muôi với mấy
đứa con nhỏ dại. Gia đình Chệt Hai cũng chèo chống vô miệt
Bà Đầm Thác Lác gì đó. Những gia đình từng sống
thân thiết nhau nay đã đi tứ tán bởi tránh bom đạn chiến
tranh. Đâu ai nghĩ rằng cuộc chiến kéo dài, sự chia cách thân
tình thôn xóm dài đằng đẵng những năm sau đó.
Ba Hoanh sang chợ Kỳ Son, cậu mợ Năm đã nhờ người lo hồ
sơ hộ tịch mà trước đây anh không hợp lệ tuổi tác
đi quân dịch. Rồi cuộc sống ở đây đã cuốn hút
mọi sinh hoạt thường ngày, Ba Hoanh mất đường dây liên lạc
với gia đình, nên đã không biết tin “tản cư” lớn
tại quê nhà Trường Long. Ba Hoanh đã vào làm lính Dân
Vệ (sau nầy là Nghĩa Quân) đóng đồn cách chợ Kỳ Son
gần một cây số, nhưng không làm sao liên lạc được với
gia đình ở quê nhà. Cậu mợ Năm có dọ hỏi thì được
biết dân làng nầy phần đông tản cư từ lâu lắm chưa
trở lại. Số người trở về thì không có gia đình ông
Bá Hộ cũng như gia đình ông Chệc Hai.
Khi Ba Hoanh bị thương trong một trận bị VC tấn công đồn,
anh bị cụt một chân trái và được xuất ngũ, Ba Hoanh quyết
định về lại làng xưa vào sau Tết Mậu Thân năm 1968. Làm
một thương binh với chiếc nạng chống đi khập khiễng chỗ bến
đò Phong Điền, Ba Hoanh cố hình dung lại ngôi chợ xã ngày
xưa, bây giờ đã trở thành Quận lỵ tấp nập ghe xuồng,
anh xuống một chiếc “võ lãi” để về vàm Ông Hào
với hy vọng gặp lại gia đình. May mắn Ba Hoanh đã gặp lại
người bạn cũ, anh Tám Sơn là người lái chiếc võ lãi
đưa khách. Rồi
chuyện quê nhà, chuyện những người thân của Ba Hoanh được
Tám Sơn kể chi tiết lúc hai người uống cà phê trong quán
bà Tư Ựng để chờ khách. Ông Bá Hộ đã về lại
nền nhà cũ và đang ở với hai đứa con trai út là thằng
Bảy Đoàn và thằng Út Kết. Hai người em gái Ba Hoanh đã
có gia đình, cô Tư Hướng và chồng ở trong Trà Ếch;
cô Năm Lầu và chồng ở trong ngọn rạch Cai Cẩm. Thằng Sáu
Già đã chết vì cãi cha theo du kích. Gia đình ông bà
Chệc Hai, cô Láng và mấy đứa em nghe nói khi tản cư đã
qua vùng Bà Đầm Thác Lác tạm ở dưới ghe một thời
gian thì bị tai nạn; một đêm có một trái đạn pháo
binh từ hướng Thới Lai bắn vào vùng Bà Đầm, rớt gần
chiếc ghe và giết chết cả gia đình cô Láng. Ba Hoanh lắng nghe
mà hai hàng nước mắt ràn rụa. Thảm nạn chiến tranh đã
đổ ập lên những người thân yêu nhất của mình. Sự
trở về của một thương binh với nỗi buồn thảm như thế
đó.
Biến cố Tết Mậu Thân khắp nhiều
đô tỉnh thị miền Nam do bọn Cộng Sản phản bội cam kết hưu
chiến, đã gây nhiều thương tích lớn trong lòng mọi người.
Ba Hoanh về lại gặp người cha ốm đau còm cõi với hai đứa
em trai út trong nỗi bùi ngùi xúc động. Cánh đồng Trường
Long cũng đã vào mùa gặt, nhưng cảnh trí ngoài đồng
đã khác lạ hơn xưa. Đồng cỏ bỏ hoang nhiều, những thửa
ruộng có người trồng cấy lúa lỏm bỏm trông thật buồn
bã. Ba Hoanh đã theo hai đứa em trai ra đồng, nhìn cảnh cắt gom
lúa chín đã gợi hình ảnh ngày xưa của tổ vần công
đổi công mà chính Ba Hoanh đã có mặt nơi đó. Những
hình ảnh của Hai Phát, Tư Em, Năm Vu, Năm Nghĩa, Bảy Có, Mười
Lùn, hay của cô Láng, cô Dung, cô Thu, cô Mười, cô Út,
... bây giờ đâu còn nữa. Chỉ còn Tám Sơn thì bỏ
ruộng để làm lái đò đưa rước khách; Ba Hoanh là
thương phế binh không còn năng động được như xưa. Ba
Hoanh nhớ và nhớ quay quắt hình ảnh hiền lành, thơ mộng của
một thời tuổi trẻ trên một miền quê những năm đầu của
thập niên 1960. Ba Hoanh nhớ quay quắt đến những cử chỉ rụt rè,
e ấp chuyện tình yêu của chính mình với cô Láng, yêu
thương nhau, gần gũi nhau thường ngày mà không ai dám nói
với ai dù một lời thật đơn giản. Khi ấp úng hứa hẹn
nhau chưa tròn vẹn thì đã cách chia và mãi mãi đi vão
cõi vĩnh hằng. Cuộc đời có bất công và cay nghiệt lắm
không đối với thân phận của mỗi con người? Bây giờ một
nách tay trái chống gậy, một chân phải đứng nhìn mấy công
đất cũ năm xưa, lúa đã chín vàng lã ngọn, anh nghĩ
đến công sức vun bón của hai đứa em trai cũng như ngày xưa
anh cùng các bạn trong tổ vần công đổi công đã thân
thiết bên nhau của một thuở thanh bình thời đệ nhất cộng
hoà. Bây giờ Ba Hoanh không còn khả năng làm gì được
bởi thương tích chiến tranh đã gây cho mình nghiệt ngã
quá. Tình yêu đầu đời trên cánh đồng quê hương
cũng đã mù tăm theo dòng thời gian nhiều đổi thay đau xót.
Có lẽ quãng đời còn lại của một thương binh, Ba Hoanh thắm
thía với tâm trạng của một con người mãi mãi sống hoài
niệm và mang nỗi nhớ vào xuân mà
thôi.
Houston, tháng
01-2011 15 tháng 10-2011 LÊ
CẦN THƠ __________________________________________________
BỘ
NGỰA GÕCỦA BA
TÔI
truyện ngắn LÊ CẦN THƠ(Houston, Texas, Hoa Kỳ)
Vậy
là bộ ngựa gõ của ba tôi vĩnh viễn không còn trong ngôi
nhà của ba nữa - bộ ngựa mà ba trân trọng giữ gìn như
một báu vật trong đời, kể từ khi ông bà ngoại cho ba má
“làm của hồi môn” lúc cưới nhau đầu
thập niên 1930 - khi đó ba vừa tròn 25 tuổi và má nhỏ hơn
năm tuổi. Bộ ngựa gõ gồm có ba miếng ván gõ mun ghép
khít nhau, mỗi tấm có độ dầy đến một tấc hai phân,
đặt trên hai con bọ ngựa cũng bằng gõ được trổ mộng
rất nghệ thuật, không thấy bất cứ dấu đinh nào. Mặt bộ
ngựa có viền khảm xa cừ xung quanh thật đẹp, được lau chùi
thường xuyên nên lên nước bóng ngời, những buổi trưa
nắng mà nằm lên đó cảm thấy mát lạnh. Ông ngoại
tôi trước đây làm trong ban viên chức hội tề của xã
và có dịp mua bộ ngựa đó về đặt ngay trong phòng khách
của ngôi nhà ba gian hai chái, mà giàn cột kèo bằng gỗ tốt,
các cột đều bào tròn bóng lộn. Mái nhà thay vì lợp
ngói âm dương, ngoại tôi lại lợp bằng lá tàu tách
bẹ chớ không phải lá chầm. Ngoại nói cách lợp đó
trong nhà mát mẻ quanh năm và cũng vài ba năm mới lợp lại
một lần. Ðúng ra khi cưới vợ thì ba tôi vào ở rể như
nhiều gia đình khá giả vào thời đó, nhưng ông bà
ngoại tránh những điều tiếng không hay nên cho cất một căn
nhà nhỏ phía bên kia con mương để con gái và rể ra riêng
liền sau đám cưới, trên vuông đất hai công có thể trồng
trọt đôi ba cây ăn trái, nên ba má không đem bộ ngựa
về, phải gởi lại nhà của ông bà ngoại. Ban đầu ông
bà ngoại rầy, cứ đem về nhà, vì đó là “tài sản” mà ba má tặng vợ chồng con. Nhưng ba
má cứ nài nỉ gởi lại, nêu lý do chờ khi nào “ăn nên làm ra”, có nhà lớn sẽ đem về. Bởi
vậy bộ ngựa gõ vẫn còn ở lại nhà ông bà ngoại
đến nhiều năm sau đó. Rồi chiến tranh xảy ra, nhất là lúc
quân đội viễn chinh Pháp chiếm đóng nhiều nơi, tổ chức
những cuộc càn quét Việt Minh trong vùng nông thôn, thì nhà
của ông ngoại trước sau bị đốt đến ba lần. Mặt bộ
ngựa gõ bị cháy sém nhiều chỗ, và ngôi nhà ba gian hai chái
của ông bà ngoại không còn nữa, phải cất lại căn nhà
nhỏ hơn để ở, ba má mới khiêng về đặt bên nhà
nhỏ của mình. Như trên tôi có nói, bộ ngựa như một báu vật trong
đời của ba, bởi hai lý do, thứ nhất là suốt cuộc đời
trai trẻ cho đến ngày lập gia đình, ba là một thanh niên nghèo,
trôi giạt từ miệt Ba Vát Mỏ Cày ở Bến Tre qua tới làng
Trường Long “khỉ ho cò gáy” ở đậu
đạc để làm thuê làm mướn sinh nhai thì làm sao có
đủ khả năng để mua nổi một bộ ngựa gõ quý giá
đó; hơn nữa chưa có gia đình nhà cửa thì mua để
làm gì. Trong một buổi chiều mưa dầm tháng sáu năm một
ngàn chín trăm sáu mươi lăm, cái năm mà bom B52 ném sập
ngôi giáo đường của nhà thờ Ông Hào bởi tiểu đoàn
Tây Ðô của Việt cộng đặt khẩu pháo phòng không tại
ngay tháp chuông bắn phi cơ bay qua đó, tôi ngồi hỏi chuyện ba
tôi về nghề đăng cá để viết bài cho nhật báo Miền
Tây trên mục “Tấc Ðất Ngọn Rau”
do thi sĩ Kiên Giang phụ trách, vui miệng ba tôi kể luôn chuyện lưu
lạc từ Bến Tre qua Cần Thơ rồi cưới được vợ với
bộ ngựa gõ làm “của hồi môn” như
vậy... Thứ hai là, nhờ bộ ngựa gõ “làm
vật che thân” cho cả gia đình tôi trong một đêm đạn
pháo binh mà thời đó tuổi trẻ chúng tôi gọi là “ô buýt” từ chợ Phong Ðiền bắn vào
miệt Trường Long rớt ngay căn chòi che ngoài bờ vườn của
gia đình gồm có Má, anh trai, tôi và đứa em gái đang nằm
ngủ trong “trảng xê” năm 1953, tức là trước năm đình
chiến. Ðêm đó ba đi đăng cá trong kinh Chệt Thợ, sáng
ra chèo ghe về, nhìn cảnh tượng kinh hoàng mới thất vía kinh
tâm. May mắn là tất cả gia đình tôi vẫn còn sống sót
nhờ ngủ trong hầm “trảng xê” bên trên
lót bằng bộ ngựa gõ dày một tấc hai, đắp đất vun
cao cả thước. Trái đạn chạm xuống nổ tung, hất hết lớp
đất phía trên để lòi mặt ngựa gõ ra ngoài, trong hầm
má con chúng tôi như bị hất tung lên nhưng chẳng thương tích
gì, thật là điều kỳ diệu. Bộ ngựa gõ quá nặng,
mỗi tấm ván tới mấy người khiêng mới nổi. Có lẽ nhờ
nặng như vậy nên suốt nhiều năm chiến tranh, bao nhiêu lần lính
Tây lính ta cùng vô bố ráp quê tôi vẫn “tha”
không thèm chở đi, trong khi những tô chén dĩa kiểu của ông
bà ngoại cho mỗi lần “chạy Tây” ba má
tôi đều bỏ xuống mương vườn để giấu, hoặc bị
xom bể, hoặc bị mò lên lấy đi mất tiêu, mỗi lần một
số cho đến sau nầy chẳng còn cái nào cả. Mười lăm
cái lu mái dầm dùng đựng lúa giống và nước mưa để
uống, nếu không bị lấy đi thì cũng bị giộng báng súng
lủng đít hết, ba má tôi phải tìm cách trét vá lại
để xài. Thuở đó, chạy Tây liên tục như ăn cơm bữa,
và giống như chuyện đùa giỡn, vì lính chỉ đi dọc
theo con đường đất hai bên bờ sông chớ không đi lùng
sục ngoài vườn ruộng như thời chiến tranh sau nầy. Cứ mỗi
đêm, khoảng ba bốn giờ sáng, dân làng ai nấy đều thức
dậy nấu nồi cơm với kho nồi cá rồi thúc giục con cái xuống
xuồng chèo chống vào Kinh Mới, Chệt Thợ, Hội Ðồng Quỳ...
chỉ cách bờ sông ngã cái chừng ba bốn cây số đường
chim bay, xuồng đậu ken nhau trên dòng kinh bề ngang chưa đầy mười
mét để “trốn Tây”. Phần đông chạy
Tây là đàn bà và trẻ con, còn trai tráng và đàn
ông thì ở lại chạy sau cùng bằng đường bộ, hoặc theo
vào khu vực trốn Tây với đoàn xuồng ghe đi trước, hoặc
“chém vè” ngoài bờ ruộng hay lung đìa
nơi đồng trống có nhiều sậy, đế chằng chịt, vì biết
chắc lính Tây chẳng bao giờ bén mảng lục soát ngoài đó.
Dòng kinh Chệt Thợ cũng như kinh Hội Ðồng Quỳ đều băng
qua cánh đồng trống bạt ngàn thỉnh thoảng mới có bóng
mát của rặng trâm bầu. Buổi trưa nắng chang chang như thiêu như
đốt cũng ráng chịu đựng và mong đợi có cơn gió
hiếm hoi vụt thổi qua cho đỡ oi bức. Theo dõi bước chân của
lính Tây bằng cách nhìn những bựng khói với các tàn
tro bụi lá quyện lên cao do những căn nhà bị đốt là biết
chúng đã đi tới đâu. Thường thì khoảng ba bốn giờ
chiều lính đi bố ráp bắt đầu rút về Phong Ðiền. Bà
con lại lục tục chèo chống trở về căn nhà của mình thì
trời chạng vạng tối. Không phải nhà nào cũng bị đốt,
nhưng chắc chắn một điều, cuộc bố ráp nào cũng có
một vài căn nhà làm mồi cho “bà hoả”,
và dĩ nhiên “màn trời chiếu đất”
sẽ đến với những gia đình bất hạnh đó. Bây giờ
nhắc lại chuyện “chạy Tây”, tôi cảm
thấy buồn cười cho sự hiểu biết hết sức ngây ngô của
bà con quê tôi thời đó. Bởi vì, tôi còn nhớ có
lần đoàn ghe xuồng chạy Tây của dân làng đậu dọc dài
trên Kinh Chệt Thợ, giữa trưa nắng thì trên đầu có máy
bay “đầm già” - mà sau nầy lớn lên
tôi mới biết đó là máy bay quan sát L19 - bay qua đảo lại
trên đầu. Dưới nầy nhiều tiếng kêu hú inh ỏi của người
lớn, bảo chúng tôi hãy im lặng, đừng cười giỡn lớn
tiếng trên máy bay nghe sẽ bỏ bom chết hết! Chúng tôi còn nhỏ,
xem chạy Tây như là chuyện chơi chẳng biết gì là nguy hiểm,
nên cứ cởi quần áo nhào xuống dòng kinh lặn hụp, đùa
giỡn bởi trời quá nóng, rồi vò đất sét chọi nhau khiến
người lớn phải từng chặp rầy la, hết đầu nầy tới đầu
kia... Sau nầy hiểu ra, máy bay quần trên đầu quan sát thấy hết,
biết bên dưới là thường dân trẻ nít nên chúng để
yên không huy hiếp, chớ nếu cần thì đã giết hết chúng
tôi rồi. Một hôm chạy Tây trở về, bà con ai về nhà nấy.
Má và mấy anh em tôi đậu xuồng tại mương ranh đất giáp
nhà thím Ba Xuồng, sau khi cột dây cẩn thận, mẹ con lục tục
bước lên bờ với nồi niêu và tấm đệm, đi vào nhà.
Mới vừa tới sân trong bóng tối chập chờn thì nghe tiếng hét
lơ lớ giọng “Việt Minh... phơ” cùng
lúc với tiếng lách cách (về sau mới biết đó là tiếng
kéo cơ bẩm lên đạn). Lập tức có tiếng người Việt
Nam la lên: “Ðứng lại, đứng lại, giơ tay lên
đầu, đừng đi nó bắn!”. Mấy mẹ con chúng tôi
hoảng quá làm theo lời của người kia. “Tất
cả ngồi xuống”. Rồi người đó bước tới trước
mặt chúng tôi, bấm cái đèn xẹt qua xẹt lại hỏi: “Có tất cả mấy người? Ðàn ông đâu?”.
Má tôi nói: “Bốn người, tôi với ba đứa
con”. “Còn chồng bà đâu? Có làm Việt Minh không?”.
“Dạ hổng có. Chồng tôi đi đăng cá vài bữa mới
về một lần”. “Thiệt vậy không?”. “Dạ thiệt mà”.
“Nhà bà ở đâu?”. “Dạ nhà nầy của tôi”.
Vừa nói, má vừa đưa tay chỉ vào căn nhà trước mặt.
“Cứ ngồi đó, chờ tôi thưa lại cho quan
biết”. Người lính Việt Nam bước lại nói gì
với thằng Tây mà anh ta bảo là quan. Chút sau quay lại nói: “Quan Một bảo cho vô nhà nhưng ở trong đó không
được mở cửa ra ngoài sẽ bị bắn chết. Ðể sáng ra
quan tập họp bà con lại nói chuyện, nhớ chưa?”. “Dạ nhớ!”.
Ðó là lần sau cùng của những trận đốt nhà do lính
Tây đi bố ráp vào làng Trường Long của chúng tôi, bởi
vì bà con lầm tưởng là Tây đi bố rồi rút về như
những lần trước, nào ngờ chúng ở lại để đóng
đồn tại vàm Ông Hào. Tôi nhớ đó là đầu mùa
đông năm 1953. Những ngày kế tiếp cả lính Tây lẫn lính
Việt đi tới đi lui, kêu gọi đàn ông thanh niên phải đến
tham gia phát quang xung quanh chỗ nền làm đồn trên đất mợ Năm
Hơn phía bên kia sông thuộc ấp Trường Thọ. Phía bên nầy
sông cái đối diện nền đồn thuộc ấp Trường Thuận
có đám cây bố dầy đặc của đất cậu Sáu Ðường
Láng thì phải dùng dao phảng chặt hết để nhìn ra tới
cánh đồng. Nói chung là tất cả cây cối xung quanh chỗ đóng
đồn phải san bằng cho tầm nhìn được xa. Ðàn ông thanh
niên khoẻ mạnh thì đào đất đấp nền, làm bờ thành
của đồn, rào kẽm gai...; nhà nào không có đàn ông
thì đàn bà phải làm thế nhưng công việc nhẹ. Ba tôi
ở trong kinh Hội Ðồng Quỳ gần một tuần, thấy tình thế quá
kẹt, phải chèo ghe đăng trở về đậu dưới mé sông.
Buổi chiều đó người lính Việt Nam dẫn ba tôi tới chỗ
quan Một của Tây nói gì đó, hắn ta gục gặt đầu bảo
“Nông Việt Minh, tre-ven, tre-ven”. Người lính
Việt giải thích cho ba hiểu, Quan Một nói “Không
phải Việt Minh, tốt lắm, tốt lắm”. Và anh ta dặn ba, mỗi
ngày phải đến làm đồn với bà con trong làng cho mau rồi,
lính sẽ rút đi chỉ để một đơn vị ở lại giữ
đồn, bảo vệ cho bà con làm ăn, không cho bọn Việt Minh về
phá phách và vơ vét thuế má nữa! Bởi tới lui đóng
đồn suốt mấy tuần lễ, ba mới thấy cái dĩa kiểu con cá
thật lớn của ông bà ngoại cho khi trước chỗ thằng Tây quan
Một ở mà lúc chạy Tây ba đã ném giấu dưới mương
phía sau vườn. Có một lần ba nói với người lính Việt
Nam: “Cái dĩa con cá của tôi, nhờ Ông đội
hỏi xin lại giùm tôi”. Người lính Việt Nam nói với
thằng Quan Tây, nó gục gặc đầu, khiến ba mừng thầm trong bụng
nghĩ là nó bằng lòng trả. Nhưng người lính Việt mà
có lần ba nghe có người gọi thầy đội cho biết: “Quan nói để khi đóng đồn xong rút đi quan sẽ cho lại!”.
Ba tin là sẽ xin lại được nên không nhắc tới nhắc lui nữa.
Một hôm, thầy đội Việt nọ lại nói: “Quan
rất thích bộ ngựa gõ nhà anh, nhưng nó nói nặng quá
chắc không đem đi được đâu!”. Ba lại chưng hửng,
vì “nếu thằng quan Tây mà lấy bộ ngựa
gõ thì vật kỷ niệm quý báu của ông bà ngoại tặng
cho xem như mất tiệt mà chắc gì trong đời ba mua lại được”.
Rồi ba thầm van vái trong bụng “ba má sống khôn
thác thiêng, phù hộ cho vợ chồng con, xui khiến cho thằng Tây đừng
lấy mất bộ ngựa gõ quý báu đó!”.
Ðồn làm xong. Hôm lính rút đi, ba có nhắc cái dĩa
kiểu con cá, thầy đội Việt nói là khi đưa ra tới chợ
Phong Ðiền, quan sẽ trả lại. Ba chèo ghe chở đồ đạc lỉnh
kỉnh, chẳng biết của quan Tây hay của thầy đội Việt Nam, có
nhiều đồ kiểu, mà cái dĩa con cá thật lớn nằm lẫn
lộn trong đó. Ra tới cầu tàu Phong Ðiền, chỗ mà lính Tây
thường giết người ném xuống sông trôi lềnh bềnh những
năm trước, thầy đội Việt bảo ghé lại và tiếp chuyển
đồ lên bờ. Ba tôi nhắc lại cái dĩa, thầy đội bảo:
“Anh cần thì tìm mua cái khác. Quan nói rất
thích muốn giữ cái nầy!”. Từ lúc dọn đồ xuống
xuồng cho đến khi ra tới bến Tàu nầy, ba chẳng thấy mặt thằng
quan Một của Tây lần nào cả. Ba tiu nghỉu bước xuống xuồng
chèo về mà không dám quay lại nhìn, với lòng vừa tức
vừa buồn rười rượi.
Ðất nhà ba cách đồn mấy trăm thước phía bên kia
sông, nhưng lại nằm trong tầm súng phúng lựu của đồn. Bởi
vậy rất sợ ban đêm Việt Minh về bắn phá, lính sẽ bắn
trả nguy hiểm, ba mới đắp đất tu bổ lại cái hầm “trảng
xê”, nhưng sau đó lính đồn bảo phải phá bỏ, lý
do tụi Việt Minh có thể núp trong đó đánh phá đồn.
Sau ba lần ông bà ngoại bị Tây đốt nhà, rồi vì
tuổi già cũng lần lượt qui tiên, ba má đem bộ ngựa về
nhà mình. Ðồn Ông Hào cất xong, việc đi lại chợ búa
dễ dàng, bởi cái trạm của Việt Minh đặt chỗ vàm Ông
Hào đâu còn nữa. Hồi trước, ai muốn ra chợ Phong Ðiền
hay Cái Răng, khi bơi xuồng ngang phải ghé trình giấy cho phép của
ủy ban kháng chiến địa phương. Khi đi chợ về phải ghé
cho cán bộ gác trạm xuống kiểm soát đồ đạc mới được
đi. Nhiều khi họ gởi mua món nầy món kia.... nhưng ít khi đưa
tiền. Mà đi chợ thì phải xài tiền xanh (tiền đông dương,
tiền giấy con voi?), trong khi trong vùng thì xài tiền của kháng chiến,
tiền có in hình Cụ Hồ, giá trị xài như lõm chuối. Ai
có nhiều tiền phải đựng bằng bao bố tời! Bộ ngựa bây
giờ đã loang lổ vết cháy sém trên mặt, mấy hình khảm
xa cừ chỗ còn chỗ mất, ba mới mướn ghe lớn chở ra trại cưa
ở Cái Răng mướn cưa xẻ làm ba bộ, mỗi bộ có bề
dầy khoảng hơn 3 phân. Như vậy nhà ba má bây giờ tới ba
bộ ngựa gõ chớ không phải một bộ. Thấy không có chỗ
kê, phần vì gia đình cần phải mua sắm đồ đạc trong
nhà, ba má kêu người ta bán đi một bộ, có người lại
đòi mua bộ có mặt khảm xa cừ dù đã bị cháy sém.
Suy đi nghĩ lại, ba bằng lòng, vì để lại chắc ba không thể
có khả năng mướn người “phục chế”
lại đẹp như xưa được. Còn lại hai bộ kê tại phòng
khách, từ ngoài bước vô nhà, bên trái kê một bộ,
bên phải kê một bộ, chính giữa là bàn thờ gia tiên và
có một bàn tròn với mấy cái ghế đẩu để ngồi
uống nước. Năm 1965, khi nhà
thờ Ông Hào bị máy bay B52 ném bom sập thính đường và
gác chuông, cả họ đạo trong rạch Ông Hào nhà nào cũng
có người chết, bà con lần lượt bỏ xứ để ra chợ
sinh sống. Ba má thấy không khí chiến tranh bắt đầu tái diễn
trên quê hương mình nên cũng bàn nhau gồng gánh ra Xóm
Chài Cần Thơ tìm chỗ cất nhà để ở. Ba đã khiêng
một bộ ngựa gõ ngâm dưới một cái mương sau vườn,
hy vọng hết chiến tranh thì về lại moi lên xài, chắc không bị
mục đâu? (Ba nghĩ đơn giản là chiến tranh không kéo dài).
Còn một bộ thì chở theo ra Cần Thơ. Sau đó, vùng quê Trường
Long trở nên địa bàn hoạt động của tổ chức mệnh danh
là mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam. Ðồn bót bị
phá sập không còn nữa, nên ba má cũng không có dịp đặt
chân trở lại vườn quê. Sau biến cố Mậu Thân, quân lực
VNCH phát triển mạnh khi luật tổng động viên ban hành, nhiều
đơn vị địa phương quân tân lập được hình thành
tại các tỉnh thì đồn bót được dựng lên khắp
nơi. Trường Long cũng có mấy đồn. Ðầu thập niên bảy
mươi công cuộc cải tổ hành chánh công vụ của chánh
quyền diễn ra, các viên chức xã ấp lần lượt được
bầu lên. Dân chúng tản cư những năm trước rủ nhau trở
về ngày càng đông. Ba Má cũng theo dòng người đó
trở về quê cũ. Công việc đầu tiên sau khi cất lại cái
nhà một gian một chái để hai ông bà ở (vì lúc đó
mấy anh em chúng tôi đã đi lính và lập gia đình hết
rồi) mà chăm lo sửa sang vườn tược với mấy công ruộng.
Việc thứ hai là vét mương để mang bộ ngựa gõ lên,
nhưng tìm hoài không thấy đâu. Sau nầy biết được là
trong thời chiến tranh, nhiều gia đình ở lại trong đó có một
gia đình “bám trụ” đã giúp đem
lên giùm! Ba má dò la hỏi thăm, thì được biết, họ
không xài mà đã bán rồi lấy tiền chi tiêu “giùm” từ lâu. Ba má tôi chẳng biết phải làm
sao, đành tiu nghỉu lặng thinh như hồi thầy đội Việt Nam nói
thằng quan Tây bảo cần thì mua cái dĩa kiểu con cá khác xài
vậy. Sau cùng thì
ba còn một bộ ngựa gõ duy nhất đã mang ra Cần Thơ trong lần
tản cư năm 1965 để ở Xóm Chài. Ba chở về quê cũ kê
trong căn nhà nhỏ trên phần đất của ông bà ngoại cho năm
xưa. Sau biến cố tháng tư đen 1975, hai người anh của tôi - một
đi BCH 3 Tiếp Vận, một đi Quân Vận 412 và đứa em gái tôi
có chồng đi lính quận Phong Phú cũng lục tục từ thành
phố trở về quê nhà. Gia đình hai người anh được ba má
tôi chia cho cái nền nhà với mấy bờ vườn, công ruộng, xúm
xít nhau cấy trồng mà sống. Ðứa em gái thì về quê chồng
ở Rạch Nhum Ô Môn làm ruộng. Thằng em trai Út của tôi có
vợ là gia đình người Hoa ở chợ Cần Thơ, được “chánh
quyền cách mạng” cho đi vùng kinh tế mới ở Ngã Tư
Cây Dương sau khi bị đánh tư sản mại bản. Còn tôi thì
quá nhẹ dạ, tình nguyện vào trường “đại học tổng
hợp” đến sáu bảy năm trời, học hỏi quá nhiều
điều đắng cay tủi nhục của kiếp con người mà bọn cán
cối nói là “tay sai Mỹ Ngụy”. Tôi lưu
lạc từ trại nầy đến trại khác của thời quân quản,
nghe biết bao lời mắng nhiếc của cán bộ quản giáo, những tên
lính vệ binh cầm AK lăm le chỉ bằng tuổi con cháu mình, mà
mỗi khi mở miệng là muốn lên lớp dạy cho “tay
sai Mỹ Ngụy” những bài học nặc mùi chủ nghĩa Mác
Lê rặp khuôn nhau, như đã nói sẵn trong một cuồn băng cát
sét. Rồi đến khi bọn Pôn Pốt hoành hành ở vùng biên
giới Tây Nam, các trường “đại học tổng hợp”
được chuyển đi và giao cho chế độ “quản
lý trại giam” của ngành công an. Và, thời điểm nầy,
những tên nhẹ dạ “trình diện mang theo một tháng
tiền ăn” như tôi mới biết là mình ở tù chẳng
có bản án ngoài danh từ hết sức hoa mỹ “cải
tạo không giam giữ”. Tôi
đã “trình diện” tại trường Phan Thanh
Giản Cần Thơ trong hai tháng, chuyển lên trung tâm huấn luyện Chi Lăng
Châu Ðốc để học 10 bài, làm tổng kiểm thảo xong để
nghe cán bộ chửi lên chửi xuống có lúc thấy mình như
đã chìm xuống tận cùng của đáy xã hội; sau đó
đưa đi lao động ở trại Mê Linh Long Xuyên; lại trở về
Chi Lăng học tiếp 8 bài nữa, bởi họ nói học chưa tốt. Học
thêm 8 bài vàng ngọc rồi lại cho đi lao động ở Nông trường
Thắng Lợi tại Ngã Ba Lò Gạch Tri Tôn. Khi bọn Pôn Pốt tấn
công rồi đốt phá làng Ba Chúc một thời gian, tình hình
quá phức tạp, chúng gom bi lại, chuyển hết lên trại Mỹ Phước
Tây ở Vườn Ðào Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang. Mấy năm sau thấy
chế độ quân quản không đủ sức “tẩy
não” tụi “nguỵ quân ngoan cố” như
chúng tôi, bọn chúng thẩy qua cho ngành công an quản lý trại
giam. Thế là chúng tôi chánh thức được “hành
quân” (nói theo danh từ CS mỗi khi chúng cho tù cải tạo chuyển
trại)... tới tận rừng sâu Xuyên Mộc, chính khu rừng nầy lúc
chúng tôi được chuyển đến, trước đó đã chôn
81 người tù cải tạo, trong số có nhà văn Nguyễn Mạnh Côn
mà thời chưa đi lính tôi đã biết tên trên báo chí
. Hồi còn ở Vườn
Ðào, ba lặn lội đi thăm tôi. Hôm đó ba đi với đứa
em trai út của tôi, nhưng vì thằng em bỏ vùng Kinh Tế Mới trở
về tánh hơi ngang tàng, khi cán bộ kiểm soát giấy tờ gạn
hỏi nó điều gì đó (có tính cách điều tra để
biết thêm về tôi), nó bảo “không biết”, cứ hai chữ
“không biết” mà nói nên nó đành cho thằng nhỏ...
đứng ngoài rào chơi suốt hai tiếng đồng hồ ba được
vào gặp tôi. Năm đó ba tuổi cũng gần thất thập rồi,
tóc muối nhiều hơn tiêu, con người gầy xuống trông thật đáng
thương. Có lẽ ba đã thức quá nhiều đêm, trằn trọc
lo lắng đủ điều. Tôi nói, “ba đừng
lặn lội đi thăm con nữa. Một vài tháng, vợ con đi một lần
gặp con cho biết tin tức gia đình cũng được rồi, ba đi làm
chi”. Ba cứ chớp mắt nhìn tôi như muốn nói điều
gì đó mà nghe chừng trong cuống họng ông nghẹn lại. Chợt
nhiên, hai hàng nước mắt lăn xuống đôi gò má nhăn nheo
của ba, tôi sững sờ. “Trong người ba thế nào?
Ba có bị bệnh gì không?”. “Nhớ con quá, ba cố gắng đi
để gặp mặt con. Thằng Tâm đi theo ba, nhưng họ không cho nó
vô. Con cố giữ gìn sức khoẻ, ba biết con có nghị lực nên
ba luôn luôn tin con sẽ vượt qua được. Ba bị bệnh... nhưng chắc
không sao đâu. Con đừng lo cho ba...”. Bàn thăm nuôi xếp
dài trong lán trại, dãy bên nầy là tù cải tạo, dãy
đối diện là thân nhân, ngồi đối mặt nhau nói chuyện
qua lại như vậy. Mấy anh cải tạo viên làm trật tự thì đi
tới đi lui nhắc nhở sắp hết giờ thăm để chia tay, dành chỗ
cho đợt khác vào. Các cán binh mang súng đi tới đi lui nghe
ngóng để “răn đe” không cho “phát biểu linh tinh” và dặn “nói
chuyện phải lớn tiếng, không được xầm xì”...
Khi đưa ba ra tới khu vực “cách ly” gần
cổng trại, tôi nhìn ra hàng rào thấy thằng Út Tâm đứng
ngoài đó, đưa tay vẫy vẫy, tôi ứa nước mắt rồi
cũng vẫy tay lại với nó, vừa nhìn dáng ba đi liêu xiêu
qua đoạn đường bị ngập của mùa nước nổi năm 1978
tại trại Vườn Ðào Cai Lậy. Tôi mải miết nhìn dáng
ba và thằng em phía ngoài cổng rào thì tên vệ binh hét lớn:
“Anh kia, trở về đội, hết giờ
thăm nuôi rồi! Muốn kỳ sau bị cúp không cho thăm hay sao?”. Chuyển
ra trại Xuyên Mộc mỗi tháng cán bộ của trại thông báo
cho viết thư về thăm nhà và báo ngày được thăm nuôi
với dặn dò “qui định” số kí lô đồ được
mang vào thăm. Nhiều tháng liên tiếp tôi đều dặn gia đình
đừng đi thăm nuôi vì biết đường sá quá xa xôi,
nhất là vào rừng sâu không tiện lợi chút nào. Qua năm
thứ hai ở Xuyên Mộc, đột nhiên có một hôm cán bộ
trực trại xuống gọi tôi đi gặp thân nhân không phải vào
ngày trại tổ chức cho thăm. Tôi quá bất ngờ chẳng biết
ai đến thăm mình, nhưng cũng phải đi theo tên cán bộ. Bước
vào khu thăm nuôi, tôi sửng sốt thấy người anh cả của tôi
trước làm ở đại đội tổng hành dinh Bộ chỉ huy 3 Tiếp
Vận căn cứ Long Bình ngồi bên túi đồ, nhìn tôi mỉm
cười. Cán bộ bảo tôi ngồi bên nầy, anh tôi ngồi bên
kia rồi bảo anh mở túi đồ moi ra từng món để kiểm tại
chỗ, xong đâu đó anh ta bảo bỏ trở vô, anh tôi đẩy gói
đồ sang cho tôi khi cán bộ trực trại bước ra đứng ngoài
cửa canh chừng. “Anh chị có khoẻ không? Mấy
đứa nhỏ ra sao rồi? Ba Má sức khoẻ năm nay có tốt không?
Hai năm trước khi đi thăm em, trông ba yếu lắm...”. Tôi
cứ hỏi dồn dập, mà anh tôi thì cứ ngồi lắng nghe, muốn
nói điều gì, nhưng đôi mắt cứ đảo qua lại sợ cán
bộ đứng kia nghe. Anh nói lớn tiếng “Chị với
các cháu của chú cũng khoẻ. Ba Má năm nay già rồi, nay đau
mai ốm, nhưng chẳng sao đâu... Chú yên tâm đi, anh nghe lén đài
BBC nói thành phần như chú chắc sẽ có nhiều thuận lợi...
(mấy câu đó anh lại nói rất nhỏ). Ba bệnh sạn thận, bác sĩ ngoài bệnh viện khám và cho
toa mua thuốc. Hiện ba đang uống thuốc... Ba nhớ chú muốn đi thăm
nhưng đường sá xa xôi, má không cho đi. Ba bảo anh thay ba lên
thăm chú để về kể lại cho ba nghe...”. “Mấy năm nay về quê có làm ăn được gì đâu
mà có tiền đi thăm em như vậy? Cả anh nữa, mười mấy
năm lính, con đùm con đề, quen sống ở Sài Gòn, đùng
một cái về vườn có ai quen đâu, rồi làm sao sống?”.
“Thời gian và thực tế tập cho tụi nó thói quen chớ biết
sao chú”. Ngừng một chút, anh tôi nói:
“Nhiều đêm trằn trọc, ba đi đến quyết định là bảo
anh kêu người bán bộ ngựa gõ sau cùng để đi thăm chú,
anh không chịu, nhưng Má bảo, ba con muốn con bán để lấy tiền
mua chút ít đồ lên thăm thằng V., con cứ làm theo, đừng
để ba con buồn. Ổng đau nhiều lắm, ổng sợ ngày nó về
không gặp được mặt ổng?”. Nghe anh tôi nói, mắt
tôi bỗng hoa đi bởi những dòng nước mắt tự nhiên lăn
dài xuống má. Vậy là một phần ba của món quà vô giá
mà ba tôi nâng niu gìn giữ suốt cả đời mình, mãi tới
thời điểm nầy ông mới chịu buông xuôi, chịu để mất
đi... chỉ vì thằng con trai mà ông từng nói là “ba biết con có nghị lực” như tôi. Thời gian thăm
nuôi không nhiều, anh em cũng chẳng dám nói gì bởi sợ cán
bộ nghe ngóng. Anh tôi nói nhỏ: “Thằng Tâm
vượt biên thất bại, đang bị giam ở trại Cái Nước Cà
Mau”. “Ba biết không?”. “Không, gia đình đang giấu, vì
bệnh ba trở nặng. Anh lo cho ba...”. “Sao không để dành tiền lo
thuốc men cho ba, đi lên đây làm chi cho tốn kém như vầy?, ở
nhà mình còn gì quý giá để bán có tiền nữa
đâu?”. “Không đi ba đâu có chịu. Ba nói bán hết
gia sản để lo cho chú ba cũng vui lòng...”. Câu nói mà
tôi nghe đó, có lẽ là câu nói được lặp lại
sau cùng của ba đối với thằng con tù tội như tôi. Bởi vì,
nhìn dáng anh tôi lủi thủi bước ra đường mòn để
đón xe rời khỏi trại Xuyên Mộc trong buổi xế chiều hôm đó,
tôi có linh cảm là tôi đang mất tất cả những tình thương
trân quý nhất của cuộc đời mình.
Mấy tháng sau, tự nhiên có một đêm ngủ chập chờn,
tôi chợt thấy ba. Lúc thì ông đang lặn ngụp dưới
lòng rạch sâu để trải đăng, đặt từng chiếc lọp
bắt cá. Lúc thì tôi thấy ông đang cầm phảng phát cỏ
trên cánh đồng ruộng nước lên tới ống quyển để
chuẩn bị cho mùa cấy sắp tới. Lúc thì tôi thấy ông đang
cầm gàu tát nước trên mấy bờ vườn trồng quít đang
hồi ra bông trắng xoá. Lúc thì tôi thấy ba đang đi liêu
xiêu từ chỗ thăm nuôi băng qua đoạn đường ngập nước
tại trại giam Vườn Ðào Cai Lậy mà ngoài kia hàng rào kẽm
gai, thằng Út Tâm em tôi đang đứng vẫy tay... Lúc thì tôi
thấy ba đang lặn mò bộ ván ngựa gõ dưới chiếc mương
vườn mà cách đó mấy năm ông đã giấu bên dưới...
với vẻ mặt buồn bã tuyệt vọng. Lúc thì tôi thấy ông
hai tay cầm cái dĩa kiểu con cá thật to, với vẻ mặt tươi
cười mừng rỡ... rồi đột nhiên ông buông tay rớt xuống
đất bị bể nát, mặt ông tái đi, biến dần, biến dần
trong màn sương trắng... Tôi giựt mình khi anh bạn tù kế bên
thò tay qua lay nhẹ tôi: “Làm gì mà ú ớ vậy”. Tôi
mở mắt định thần một chút rồi thở dài. “Nằm chiêm
bao, thấy ba tôi, nhớ ông già quá chừng...”.
Trong một lá thư gởi cho tôi báo tin tức gia đình, bà
con và cuộc sống ở quê nhà để tôi an tâm, vợ tôi
có viết mấy chữ mà tôi cứ suy nghĩ mãi: “Ba
bây giờ ít nói. Tụi con cháu làm gì, la lối ồn ào
ba cũng ngồi nhìn mà lặng thinh, ba thương tụi con cháu lắm. Ba
thương anh nhiều nhứt, ngồi đâu, nói chuyện với ai ba cũng
nhắc anh, ba nói nhớ anh. Ba cứ kể, hồi trước anh có ý định
hết chiến tranh anh sẽ học cái nghề đăng cá của ba, ba bảo,
đừng học nghề nầy lạnh lẽo lắm, lo học chữ đi, làm
thầy làm thợ với người ta, theo nghề hạ bạc nầy làm gì.
Ba nói...”. Tôi suy nghĩ hoài, vợ tôi viết “ba bây
giờ ít nói” rồi tự dưng lại “ba cứ
kể, ba nói, ba nói...” liên tục, phải chăng có điều
gì xảy ra? Tháng đó viết thư gởi về, tôi chỉ hỏi
thăm bệnh tình của ba tôi ra sao? Nhưng... câu hỏi về ba cũng không
được vợ tôi hay bất cứ người thân nào trả lời.
Ngày tôi ra trại về tới quê nhà thì đúng là ngày
cả gia đình anh em chúng tôi gom lại để cúng tuần 49 ngày
cho ba. Nghe kể, ba tôi mất, chôn đúng một tuần thì thằng Út
Tâm được thả ra từ trại giam Cái Nước. Nó lập tức
cùng hai anh và đứa em gái út của tôi lo xây cho ba tôi một
cái mả xi măng đàng hoàng trước khi nó tiếp tục làm
một chuyến vượt biên khác. Tôi về để quấn vành khăn
tang và lạy ba tôi trong ngày cúng tuần đó, mới ngẫm nghĩ
câu văn đơn giản của vợ tôi viết mà lúc còn trong
trại tù tôi ngờ ngợ không nghĩ ra được: “Ba bây giờ ít nói. Tụi con cháu làm gì, la lối ồn
ào, ba cũng ngồi nhìn mà lặng thinh...”. Và, tôi đột
nhiên cúi mọp lạy ba tôi rất nhiều lạy, khi nhớ đến bộ
ngựa gõ mà ba bảo anh tôi bán để lấy tiền đi thăm
nuôi tôi, một thằng con ở tù mà những ngày cuối đời
ông muốn đi thăm tận mặt cũng không thể nào đi được,
bởi, ngày anh xách đồ đi thăm tôi, căn bệnh sạn thận
và tiểu đường đã hoành hành ông đến cực độ,
ông chỉ nằm một chỗ chờ đợi anh tôi đi Xuyên Mộc trở
về, kể cho ông nghe những gì thấy được về tôi. “Ba ơi, xin ba tha lỗi cho con. Cả đời, con không bao giờ
quên được tấm lòng của ba dành cho con”. Tôi đã
quỳ lạy ba tôi với những câu chữ trên suốt mấy thời kinh
mà thầy cúng đã đọc trong ngày cúng tuần thất thứ
7 sau ngày ba tôi vĩnh viễn từ giã cõi đời năm 71 tuổi.
Nỗi ân hận và dày vò trong lòng tôi khi được nghe
kể chuyện về ba những ngày sau cuối. Trước khi biết mình không
còn sống bao lâu, ba đã lục lạo tất cả hồ sơ giấy
tờ, lấy ra những tấm ảnh mà ông đã chụp trước đây
đốt hết. Má tôi hay được giựt lại nhưng không kịp.
Ba nói, “chết là hết, để lại hình ảnh
làm gì cho con cháu nhìn thấy mà nhớ thương, tội nghiệp
tụi nó. Nhất là thằng V. ở tù trở về chẳng gặp mặt
tôi mà thấy tấm hình thờ chắc nó đau xót lắm, nằm
sâu dưới ba tấc đất tôi cũng chẳng yên lòng!”.
Ba thật đơn giản, nghĩ sao là làm vậy. Ông đâu nghĩ
rằng, không phải hình ảnh của ông từng cất giữ đem đốt
hết thì con cháu sẽ nhanh chóng quên đi. Cũng có thể suy nghĩ
nầy đúng một góc độ nào đó, nhưng “ba của con ơi, không có hình ảnh nào của ba bị xoá
mờ trong chính trái tim con đâu - ít nhất cũng là trong thời
gian con còn diễm phúc được hít thở không khí trên cõi
dương trần nầy”. Hôm nay khắp đất nước Hoa Kỳ
có ngày kỷ niệm “father's day”, các báo và chương trình
phát thanh đều nhắc đi nhắc lại ý nghĩa “ngày của
cha”, nói về công ơn người cha và họ cố tìm một
chữ nào đó để dịch cho đúng nghĩa: hiền phụ,
nghiêm phụ như ngày “mother's day” là ngày hiền mẫu...v.v...;
nhưng dù dịch bất cứ chữ nào thì hình ảnh người
cha vẫn ngời sáng trong câu ca dao bất hủ “công
cha như núi Thái Sơn” mà người Việt Nam nào thời
thơ ấu đều có học. Chỉ còn hai tháng nữa là đến
ngày cúng giỗ ba, con viết mấy dòng nầy để kính dâng
vong linh ba trong cõi vĩnh hằng. Con nhớ thuở ba còn sinh tiền và con còn
đi học, vào mỗi khuya giao thừa hằng năm, ba đều hỏi “con đã viết khai bút đầu năm chưa?”. Giao thừa
năm Mậu Thân 1968 con đã đưa ba xem bài thơ Về Sông Ăn Cá mới viết xong. “Tết nầy
ba có về quê cũ, Thăm mả mồ xưa viếng xóm
làng. Hưu chiến đôi ngày ôi ngắn
ngủi. Làm sao níu lại được thời gian?
Ví dầu về rẫy ăn còng
sữa. Ăn cá về sông thương tuổi thơ.
Ba hỡi điêu tàn vương xóm nội.
Tìm đâu đường nét đẹp
bây giờ?”.
Con thấy ba đọc xong bài thơ dài 32 câu, mà tám câu
cuối con viết như vậy, nét mặt ba buồn buồn rồi buông chuỗi
thở dài”.
Houston, 15 tháng 6 năm 2003 - Father's day
L Ê C Ầ N T H Ơ(Trong tập TRÔI NGANG PHẬN MÌNH, đã in trong BẢN THẢO LƯU
LẠI 2009) ________________________________________________
NHỚ… HÀNG PHƯỢNG THẮM 
truyện LÊ CẦN THƠ Nếu Hải Âu không nói chuyện
qua điện thoại: “Tôi và chị Ngọc Mai quyết
định nhận tổ chức Đại Hội gia đình Phan Thanh Giản & Đoàn
Thị Điểm vào mùa hè năm 2011 tại khu vực Tampa Bay tụi nầy
đang định cư, để quý Thầy Cô và quý niên trưởng
đồng môn, đồng hương có dịp sống và nhớ lại hình
ảnh quê nhà Cần Thơ của mình ngày xưa. Vào thời điểm
đó có nhiều khách về miền biển du lịch nổi tiếng nầy
nhờ không khí trong lành, mát mẻ, mà còn có dịp ghé
thăm các vườn cây ăn trái của miền nhiệt đới giống
như vườn cây trái quê mình như Bình Thủy, Long Tuyền, Phong
Điền, Trà Ếch…Đặc biệt, hình ảnh hoa phượng rực
rỡ giống như đường phố Cần Thơ vào dịp Hè…”... thì tôi đâu trằn trọc suy nghĩ nhiều về
những kỷ niệm đã chìm sâu trong tâm khảm mình hằng nửa
thế kỷ!
Tôi nhớ nhiều nhất
là kỷ niệm năm học Đệ Thất “D”, năm đầu tiên
của bậc trung học tại trường Phan Thanh Giản, vì lớp học có
52 bạn được thi đậu vào, xếp học tại phòng số 4/6 của
dãy lầu đối diện với Ty Cảnh Sát đường Ngô Quyền,
từ cầu thang gỗ phía bên phải đi lên gặp 3 lớp học sinh
ngữ Pháp văn Đệ Thất A, B và C; ba lớp học sinh ngữ Anh văn
Đệ Thất D, E, F. Những năm đó, theo tôi được biết, học
sinh thi vào Đệ Thất là tuổi 12 có giấy khai sinh chánh thức,
nếu không phải có giấy Án “Thế Vì Khai Sanh” trích lục
tại phòng lục sự Toà Hoà Giải Rộng Quyền Phong Dinh. Số bạn
có khai sanh án toà là phần đông đều giảm tuổi, do sinh
ra trong chiến tranh và ở thôn quê không có khai sanh, sau đình chiến
1954 mới có trường lớp đi học, phải lên án khai sanh tại
toà với độ tuổi giảm xuống cho phù hợp với tuổi đi
học. Chính vì sự giảm tuổi để đi học đó, nên
có bạn khi vào Đệ Thất ở tuổi 12 mà thực tế đã
15, 16 tuổi… Người đầu danh sách là bạn Nguyễn Ngọc Ẩn
nhà trong hẻm Rạch Côn, ngay góc cầu xi măng từ hướng đường
Cống Quỳnh (rạch Cái Khế) đi qua chùa Cây Bàng và trổ
ra đầu góc đường Võ Tánh – Ngô Quyền (chợ Cả
Đài). Người cuối danh sách là tôi Lê Hoàng Viện, nhưng
chỉ vài tuần sau có bạn Lý Vinh chuyển trường đến vì
ba của bạn là một sĩ quan chuyển công tác về Quân Đoàn
IV, nên bạn lãnh vị trí cuối lớp, còn tôi được đôn
lên “áp chót”. Cuối năm Đệ Thất “D” (1960-1961), bạn
Ẩn và tôi có điểm số dẫn đầu lớp, tôi lãnh
phần thưởng Ưu hạng, bạn Ẩn hạng Nhì và lãnh thưởng
tại rạp Minh Châu đường Phan Đình Phùng.
Năm đầu vào bậc trung học, đa số chúng tôi rất bỡ
ngỡ, bởi phải tiếp xúc từng môn học với từng giáo sư,
khác với bậc tiểu học mỗi năm học một Thầy hoặc Cô
với tất cả các môn Văn, Toán, Khoa học. Tôi nhớ các giáo
sư dạy lớp Đệ Thất “D” năm ấy: Cô Nguyễn Thị Lệ
Châu dạy Việt Văn (Chính tả, Tập làm văn, Giảng văn), cô
Trần Tú Quỳnh dạy Toán (Ðại số và Hình học), cô
Nguyễn Thị Loan Anh dạy Hoá học, thầy Trần Văn Dinh dạy Vật lý,
thầy Trương Văn Xướng dạy Anh Văn, thầy Nguyễn Văn Kiêm
dạy Vạn vật, thầy Nguyễn Hữu Danh dạy Công dân Giáo dục,
thầy Ngô Phước Phú dạy Sử Địa, thầy Dương Tự Tam
dạy Hán văn, thầy Huỳnh Thanh Khiết dạy Hội họa, thầy Phan Thanh
Thư dạy Âm nhạc, thầy Nguyện Văn Chơi dạy Thể dục Thể
thao. Thật tình tôi không nhớ Giáo sư nào làm Giáo sư
hướng dẫn, nhưng thầy Huỳnh Thanh Khiết đã trực tiếp hướng
dẫn lớp tôi mua bột sơn màu về tô vẽ trên tường một
cảnh thật đẹp do thầy phác thảo (nghe nói thầy chuyên về
vẽ phối cảnh, trong khi năm Đệ Lục thầy Nguyễn Văn Ẩn dạy
Họa chuyên vẽ đối xứng), và Thầy cũng thường xuyên trông
coi lớp chúng tôi chăm sóc một liếp đất để trồng rau
hoặc hoa ở khu “học đường viên”…
Tôi nhớ, thầy Trương Văn Xướng (các
bậc phụ huynh thường gọi là Bác Vật Xướng) dạy chúng
tôi môn Anh Văn. Bước vào lớp là Thầy bắt chúng tôi
đọc vài Động từ bất quy tắc “ To be – was – been”,
“to begin – began – begun”, “ To do – did – done”… Trước
khi rời khỏi lớp, thầy cũng cho đọc mấy chữ nhằm nhắc nhở
chúng tôi phải học thường xuyên “To go – went – gone”, “To
eat – ate – eaten”, “To leave – left – left” v.v.. để áp dụng
các bài học Anh Văn mà thầy sẽ dạy trong năm học nầy, cần
thiết cho việc dùng từ, đặt câu, phát âm khi đọc. Sang Hoa
Kỳ, sau khi thực hiện Giai phẩm PTG & ĐTĐ Cần Thơ số đầu
tiên tại Houston TX năm 1996, tôi có dịp liên lạc được với
ái nữ của Thầy là chị Trương Tố Hoa ở tiểu bang Maryland
miền Đông Bắc Hoa Kỳ, mới biết tin Thầy đã qua đời tại
Hoa Kỳ. Tôi nhớ cô Nguyễn Thị Lệ Châu, người Huế có
chiếc răng khểnh rất duyên dáng, dạy môn Quốc Văn. Cô thường
kể chuyện gia đình, Mẹ cô có cho Đặng Sỹ Hỷ thuê phòng
ở trọ đi học, trong phòng của ông ấy sách báo lúc nào
cũng bề bộn, vung vải, mỗi lần ông đi học, mẹ cô bảo
cô phải vào thu dọn lại ngăn nắp. Cô khen ông ấy siêng học,
học giỏi, và thích tham khảo sách báo... Do cách phát âm
của Cô hơi nặng giọng, đa số các bạn viết chính tả
hay viết bài giảng văn mẫu do cô đọc đều có sai lỗi
chính tả. Chẳng hiểu nhờ đâu mà tôi lại nghe và viết
đúng, thường xuyên không bị lỗi về môn nầy. Bài tập
làm văn, giảng văn của cô tôi cũng đều đạt điểm
tốt. Kết quả hai kỳ thi đệ nhất và đệ nhị bán niên
môn nào của cô tôi đều được điểm hạng nhất
lớp. Buổi học sau cùng, cô đã tặng tôi một gói quà
kỷ niệm là 3 quyển sách, Thế Rồi Một Buổi Chiều, Hai
Buổi Chiều Vàng (của Khái Hưng và Nhất Linh) và quyển
Tình Quê (sách dịch tác phẩm của nhà văn Đức).
Mỗi quyển cô đều viết câu “Tặng em LHV,
học sinh giỏi quốc văn của tôi, Hy vọng sau nầy em sẽ theo Ban Văn
Chương”. Kỷ niệm về Cô Lệ Châu, trước đây
tôi có kể qua bài “Ánh mắt cô giáo dạy Văn của
tôi”, trong đó tôi có nhắc lại ánh mắt thất vọng
của cô khi gặp tôi đi bên đường Trịnh Tấn Truyện vào
buổi chiều tối, năm đó tôi học Đệ Nhất, cô hỏi
“em theo ban văn chương phải không?”, tôi
trả lờỉ “thưa cô, em theo ban B”. Sau lần gặp đó cho mãi đến bây giờ tôi không
còn gặp và nghe biết tin tức gì của cô. Cô Nguyễn Thị
Lệ Châu ơi, hiện nay cô đang ở đâu?
Tôi nhớ cô Trần Tú Quỳnh dạy Toán,
mỗi khi cô phát âm chữ “chùng” bằng giọng Huế
nghe thật dễ thương khi cô chứng minh hình học “hai đường
thẳng song song không bao giờ “trùng” lên nhau”. Có một
thời gian cô mở văn phòng Luật sư tại Cần Thơ. Sau biến cố
30-4-1975, nghe nói vợ chồng cô vượt biên. Thầy Đàm Quang Đôn
đã chết trên biển. Cô được sang Mỹ và định cư
tại tiểu bang Minisota. Năm 2006 tại Đại Hội PTG& ĐTĐ lần thứ
X ở Washington DC cô có tham dự và đây cũng là lần đầu
tiên tôi gặp lại Cô sau mấy mươi năm xa cách. Bây giờ
cô chuyển sang định cư tại Houston TX, tôi có duyên may thường
gặp lại Cô trong những lần họp mặt gia đình PTG & ĐTĐ
tại đây. Tôi nhớ cô Nguyễn Thị Loan Anh dạy môn Hoá học. Cô
có khuôn mặt bầu tròn phúc hậu rất đẹp với nước
da trắng, nói chuyện thật duyên dáng. Cô có dáng đi dịu
dàng, đứng nhìn cô trong chiếc áo dài màu trắng tha thướt,
ai cũng trầm trồ khen là cô đẹp quá. Cách xa mấy chục năm,
dịp Đại hội lần thứ XI năm 2007 tại Houston, Cô đã từ
Kennett Square, PA cùng phu quân về dự, thầy trò gặp nhau bùi ngùi
xúc động. Sau đó cô có viết gởi cho tôi mấy dòng
khi cô tặng tôi bức ảnh lưu niệm của lần tham dự đại
hội mà cô lần đầu tham dự nầy .
Tôi nhớ thầy Trần Văn Dinh dạy Vật Lý,
sau mỗi lần giảng bài, thầy hỏi cả lớp với chữ
“phỏng” nghe là lạ. Chừng ngẫm nghĩ lại, mới biết
thầy hỏi “phải không?” Nghe riết rồi quen và nhớ mãi đến
đặc tính rất riêng về Thầy. - người mà mấy chục năm
sau, anh Lê Thiện Phúc đã viết một tin giật gân “Thầy Trần
Văn Dinh sống lại” trên trang nhà ptgdtd.com, khi anh bắt liên lạc được
với thầy, trái với tin đồn trước kia là thầy Dinh đã
chết trên đường vượt biển. Thầy đang định cư ở
Úc Châu. Tôi nhớ thầy Nguyễn Văn Kiêm dạy Vạn Vật. Mỗi bài
dạy, thầy đều vẽ hình trên bảng rất đẹp. Tôi có
dịp “ở tù cải tạo” chung với Thầy một thời gian tại
Chi Lăng. Thầy được về sớm và nghe nói thầy với bạn
Thái Văn Nhi cùng hùn nhau thầu vé số. Thầy đã tử nạn
trong chuyến đi Cà Mau nhận vé số. Lúc còn đi dạy học,
có lúc Thầy làm Tổng Giám Thị của trường Phan Thanh Giản,
gia đình thầy ở đường PTG và bán tiệm tạp hoá Văn
Hữu. Khi ở tù về thầy dời nhà ở trong hẻm đường Pasteur
(nay là Võ Thị Sáu) gần nhà Cảnh sát Lý.
Tôi nhớ thầy Nguyễn Hữu Danh, người Ô
Môn, dạy Công Dân Giáo Dục. Thầy rất hiền, mỗi tuẩn
lễ chỉ dạy có hai giờ môn học nầy. Từ ngày rời trường
đến giờ tôi không biết được tin tức của Thầy.
Tôi nhớ thầy Dương Tự Tam, một “cụ
đồ” rất tha thiết giảng dạy. Thầy dùng sách “Tam Tự
Kinh” để dạy chúng tôi. Những câu “thiệu” khi dạy
chữ, tôi nhớ “chim chích mà đậu cành tre, thập trên,
tứ dưới, nhứt đè chữ tâm”. “Lão dương khứ,
Ấu dương hồi”…Thầy Dương Tự Tam đã mất từ
lâu. Tôi nhớ thầy Ngô Phước Phú dạy Sử Địa.
Đây là môn học tạo cho tôi có được cái nhìn
khác lạ và sâu sắc hơn qua cách giảng dạy môn lịch sử
và môn địa lý mà lúc còn ở bậc tiểu học, phần
đông chú trọng vào phần toát yếu và học thuộc lòng.
Phải công nhận qua cách dạy Sử và Địa ở lớp Đệ
Thất, tôi đã hiểu được tầm quan trọng của môn học
nầy nên cảm thấy thích thú. Các năm về sau, tôi còn học
môn Sử Địa với các thầy Đoàn Văn Trương, Lê Thái
Khương, Trương Văn Hoằng và thầy Nguyễn Văn Hường. Mỗi
thầy dạy một phương pháp riêng, đều tạo cho tôi niềm
yêu thích đặc biệt. Thầy Ngô Phước Phú, sau mấy mươi
năm không có dịp gặp, mãi đến tháng 12 năm 1998 tôi có
chuyện gia đình phải về Việt Nam, khi đi trên đường Phan Đình
Phùng phía lề đường đối diện với phòng mạch BS Lê
Văn Thuấn ngày xưa, tình cờ hai thầy trò gặp nhau trong niềm
vui khôn tả. Thầy Ngô Phước Phú nói: “Thầy
mới tìm được địa chỉ của em, định viết thư thăm
hỏi thì gặp em ở đây, thầy mừng quá. Thầy có đọc
bài viết của em trên các Giai phẩm PTG & ĐTĐ ở hải ngoại
mà các em thực hiện, ở quê nhà ai cũng thích và khen các
bạn ở hải ngoại…”. Tôi hỏi thăm sức khoẻ và
gia đình Thầy, thầy cho biết cuộc sống cũng tạm ổn. Nhờ có
sự đổi mới và cởi trói VHVN nên dù không còn được
đi dạy ở trường nhà nước, nhưng thầy được phép
mở lớp dạy kèm môn Pháp Văn tại nhà, thu nhập cũng đỡ
khổ. Thầy mở bóp rút ra tờ danh thiếp bảo tôi giữ để
liên lạc với thầy thường xuyên. Nhà Thầy hiện ở trong con
hẻm trên đường Trương Định (tức Võ Tánh, gần lớp
luyện thi Minh Nhựt Văn Đạt ngày xưa).
Tôi còn nhớ những buổi học môn thể
dục thể thao với Thầy Nguyễn Văn Chơi. Các
môn chạy dài vòng quanh sân cờ, chạy nước rút 100m, 200m; nhảy
xa, nhảy cao, leo dây, v.v.. kể cả hít đất, đã tạo cho tôi
có được một sức khoẻ tương đối tốt, bởi tôi
vốn nhỏ người và ốm yếu hơn nhiều bạn trong lớp. Dù
có cố gắng luyện tập, nhưng mỗi kỳ thi, mỗi môn thể dục
tôi chỉ lấy được điểm trung bình mà thôi.
Tôi nhớ nhiều nhứt, vào giờ nhạc cuối
cùng của thầy Phan Thanh Thư, chương trình “văn
nghệ bỏ túi” của lớp khá hấp dẫn, nhưng tôi vẫn nhớ
hoài giọng ca của bạn Nguyễn Ngọc Ẩn qua nhạc phẩm NGÀY TẠM
BIỆT của Lam Phương. Thường ngày, bạn Ẩn nói chuyện hơi
“cà lăm”, nhưng khi bạn cầm cây đàn Guitare tự dạo
nhạc và hát bỗng nhiên thu hút sự chú ý của cả lớp.
Cả bầu không khí im phăng phắc, tiếng đàn và giọng ca của
bạn Ẩn càng quyến rũ thiết tha. Bạn đã dạo đầu những
nốt nhạc “la la la phà (pha) la sol sí (si) la…” rồi bạn cất
giọng: Hôm nay đây còn vui trông thấy nhau.
Bên tiếng ca tiếng đàn vượt trời cao…
Lời vui thắm thiết trao nhau như khi mới gặp nhau… Lời
ca ấy, giọng ca ấy, đã tròn năm mươi năm rồi, bây giờ
nhớ lại tôi vẫn không thấy xa lạ chút nào. Vóc dáng
cao ráo của bạn Ẩn, khuôn mặt chữ điền, đôi môi dầy,
mỗi lần nói chuyện với bạn bè hầu như hơi lặp bặp
trước khi nói suông câu, lại đeo kiếng cận trông “trí
thức” lắm. Cây đàn guitare có dây choàng qua cổ, tay trái
cầm cần đàn với những ngón tay nhấn phím, tay phải bạn
dùng những ngón tay lướt nhẹ qua các dây đàn rất điêu
luyện, không hiểu bạn đã học đàn từ bao giờ? Nhìn
phong cách chơi đàn của bạn Ẩn, tôi thấy thèm thuồng. “Nhưng anh ơi ngày mai ta cách xa. Anh kinh đô tôi phải
về miền xa. Biệt ly ai khéo gieo chi lên bao mái đầu xanh…” . Chợt nhiên, lòng tôi chùng xuống khi nghe những
lời ca nầy qua sự diễn đạt của bạn. “Anh
kinh đô tôi phải về miền xa…”. Đúng tâm
trạng sắp chia tay nghỉ hè đối với tôi trong những ngày sắp
tới, mà có lẽ cũng đúng tâm trạng của một số bạn
cùng lớp có hoàn cảnh sống như tôi! Tôi lia mắt nhìn
qua các bạn, trong khi thầy Thư ngồi trên bàn nhìn xuống mà
đôi mắt thầy cũng đăm chiêu trước phong cách biểu diễn
“bất ngờ” của đứa học trò Đệ Thất mà chơi
đàn xuất sắc như vậy. Bỗng cả lớp đồng loạt vỗ
tay “cổ võ”, thì bạn Ẩn hướng mắt lên trần nhà
qua dáng điệu xúc cảm hơn lúc nào, lớp lại im lặng nghe
giọng hát “điệp khúc” của bạn: “Nhớ…
hàng phượng thắm ven đường, mỗi lúc chiều buông, tan tác
rơi cài lên mái tóc xanh. Nhớ… bóng dáng ai chiều ấy,
nâng niu tà áo, biết nói gì khi chia tay”.
Chợt nhiên, bạn Trương Quan Tư ngồi cạnh bên nghiêng đầu
sang nói nhỏ với tôi: “Ẩn ca hay quá. Lời nhạc
nầy nghe buồn và tha thiết làm sao. Tôi nghe mà muốn khóc đây
nầy…”. Tôi cũng phụ họa: “Ờ, hay
và buồn quá. Nhưng gia đình bạn ở tại Cần Thơ, chắc
không thắm thía bằng tôi đâu. Tôi phải về quê Trường
Long thật xa, xa lắm, chốn khỉ ho gà gáy mà!. Không biết khai giảng
năm học tới có còn điều kiện để tiếp tục đi học
với các bạn nữa hay không?”. “Thôi
chia tay cạn ly vui chúc đi. Ta chúc nhau những gì đẹp lòng nhau.
Dù thời gian có phôi pha nhưng ta không bao giờ quên…Dù thời
gian có phôi pha nhưng ta không bao giờ quên.”.
Bạn Ẩn đã ca hết bản nhạc NGÀY TẠM BIỆT
với câu lặp lại như vậy rồi cúi đầu chào cả lớp.
Những tràng pháo tay tán thưởng nhiệt liệt, khiến cho bạn ấy
xúc động để hai hàng nước mắt chảy dài xuống đôi
gò má. Giọt nước mắt sung sướng bởi vì trên môi của
bạn đang mỉm cười trông thật dễ thương.
Chờ bạn Ẩn về chỗ ngồi xong, thầy Thư mới nói:
- Hay lắm! Ẩn hát hay lắm. Em đệm
đàn và tự hát thật điêu luyện. Thầy không ngờ lớp
Đệ Thất D lại có một tài năng âm nhạc như vậy. Các
em hãy cố gắng trau giồi môn nhạc để đàn và hát
được như bạn Ẩn nghe. Có dám hứa không? - Dạ… không dám Thầy
ơi! Cả lớp cùng
đáp và cười vui vẻ. Thầy Thư cũng cười. Có lẽ
trong thâm tâm Thầy cũng biết được rằng, đàn hay, giọng
ca tốt phát triển từ một học sinh lớp Đệ Thất như Ẩn
là do năng khiếu đặc biệt chớ không phải ai muốn cũng được.
Ra hải ngoại nầy,
tôi có duyên may gặp lại thầy Phan Thanh Thư nhiều lần nhờ có
đại hội gia đình PTG & ĐTĐ Cần Thơ hải ngoại. Thầy
là hậu duệ đời thứ 5 của Cụ Phan Thanh Giản, nên hầu như
mỗi kỳ Đại Hội, thầy đều cố gắng tham dự để gặp
lại đồng nghiệp và môn sinh của mình. Đặc biệt, đại
hội lần thứ X tại vùng thủ đô Hoa Thịnh Đốn (gồm Washington
DC, Virginia, Maryland, New Jersey), Thầy đã nhận in cuốn Đặc San số 11 năm
2006 tại nhà in của Thầy ở Maryland để tiện đường chuyển
báo đến địa điểm đại hội, thay vì in ở Houston TX như
một vài kỳ đại hội trước. Và cái duyên may mới đây,
là năm vừa qua khi chùa Việt Nam tổ chức Lễ rước Phật Ngọc
Hoà Bình, tôi có đi xem và bất chợt một bàn tay vỗ vào
vai tôi từ phía sau lưng, “sao Viện và Nữ khoẻ
không”. Quay lại tôi sửng sốt gặp thầy Phan Thanh Thư. Mừng
vui khôn tả. “Thầy sang đây hồi nào? Cô
có đi cùng với Thầy không? Thầy đi với ai? Thầy nghỉ ở
đâu?..” Có lẽ do gặp bất ngờ quá tôi hỏi đủ
thứ không kịp để Thầy trả lời. Thầy nói “đi
với các “bạn già”, thuê xe buyt, sang đây được mấy
hôm và ở chung khách sạn với bạn. May quá, lại gặp được
em”. Tôi nói ý định muốn mời Thầy về nhà nhưng
Thầy bảo “phải đi theo đoàn với bạn, sáng
sớm mai phải lên đường về Maryland”. Tôi đành phải
ngậm ngùi chia tay với Thầy.
Từ lúc gặp lại Thầy
dạy nhạc Phan Thanh Thư, tôi suy nghĩ mãi đến những cuộc gặp
gỡ bất ngờ, có vui mà cũng đượm buồn. Ngồi lái xe
từ vùng Southwest trở về vùng Northwest Houston, tôi lan man suy nghĩ đủ
điều. Chợt nhiên hình ảnh người thầy dạy nhạc “đầu
đời” ở lớp Đệ Thất D cách nay vừa tròn 50 năm, cũng
là khoảng thời gian xa cách với rất nhiều bạn học cùng lớp
đối với Thầy, sao mà xa vời vợi, nhưng hình ảnh buổi học
sau cùng, bạn Nguyễn Ngọc Ẩn tự cầm đàn hát bản nhạc
NGÀY TẠM BIỆT của nhạc sĩ Lam Phương lại nhanh chóng nhắc
nhớ trong tôi như vừa mới xảy ra. Nhớ mà buồn. Bởi vì những
câu hỏi trong bài hát “nhưng anh ơi ngày
mai ta cách xa, anh kinh đô tôi phải về miền xa, biệt ly ai khéo gieo
chi lên bao mái đầu xanh?”, cho đến
giọng hát vút cao của bạn Ẩn ở đoạn điệp khúc nghe
sao mà tha thiết quá, não nùng quá… “nhớ…
hàng phương thắm ven đường, mỗi lúc chiều buông. Tan tác
rơi cài lên mái tóc xanh…”.
Hình ảnh “tan tác rơi…”
phải chăng nói đến cảnh sinh ly tử biệt của một đời
người, như bạn bè cùng lớp Đệ Thất D (năm học 1960-1961)
chúng tôi ở hải ngoại với những người bạn còn sống
nhục nhằn nơi quê nhà; với tất cả chúng tôi còn sống
trên cõi nhân sinh nầy phải chia biệt với những bạn Huỳnh Phước
Tăng, Nguyễn Minh Long, Dương Anh Tuấn, Nguyễn Văn Môn, Nguyễn Đức
Hiệp, Nguyễn Thành Tiễng, Trần Trung Trạng, Đỗ Thành Tây;
kể cả mấy bạn bỏ anh em để theo cộng sản và cũng đã
gục ngã trong chiến cuộc như Đặng Thái Sanh, Tô Thái Hiệp…
Và, nhớ lại
lời mời gọi của bạn Hải Âu về một lần hạnh ngộ ở
Florida vào dịp Hè năm 2011, tôi chợt nhiên hát lại nho nhỏ
đoạn nhạc “NHỚ… HÀNG PHƯỢNG THẮM
ven đường mỗi lúc chiều buông. Tan tác rơi cài lên mái
tóc xanh… Nhớ… bóng dáng ai chiều ấy, nâng niu tà áo,
biết nói gì khi chia ly!”... mà lòng vẫn còn nghe
man mác một nỗi buồn.
. Houston, một chiếu cuối hè buồn 2010 Chưa
biết năm 2011 có hạnh ngộ tại Florida?
LÊ CẦN THƠ (Houston, Texas
– USA)
NỐI
SỢI DÂY DÀI Ba
Còi chợt thức giấc khi nghe tiếng “tù và” thổi vang trong đêm
khuya. Anh nhanh chóng chui ra khỏi chiếc nóp, đứng
vung vai đôi ba lần trước khi đi súc miệng rồi thay bộ đồ,
vác phảng và cù nèo ra đồng. Con đường đất cặp theo bờ kinh có đôi chỗ ngoằn
ngoèo khó đi, nhưng Ba Còi đã quen lối nầy, đi trong ánh
trăng nhờ nhờ còn sót lại của những ngày cuối tháng sáu
âm lịch. Anh nhớ từng chỗ, từng nơi: chỗ cây trâm bầu, bên
tay phải có ngõ hẹp vào đất nhà chú Ba Thành và Tám
Lắm, tới cây bằng lăng, bên tay trái có lối dẫn vô nhà
chú Ba Chon và Bảy Đủ. Xa xa trong chòm cây phía trước mặt
là xóm nhà của ông Tư Giò, Hai Chấm, Ba Thôn, Mười Lùn,
Năm Du, Sáu Có… trong đó có căn nhà lá nghèo nàn
của anh Hai Lẹ … Và, Ba Còi đi thẳng tới sân nhà chú
Tư Thăng để họp cùng các chú, các bác, các anh đi
ra phần ruộng của Cậu Ba Kính phát mười công ruộng mà
đội vần công của dân xóm nầy đã bắt thăm. Mười
lăm gia đình lập đội vần công để phát đất, cấy
lúa, gặt lúa cho phần đất của mình vào mỗi mùa ruộng.
Chỉ có vần công với nhau mới có đủ nhân lực làm
hết phần ruộng mà mười lăm gia đình có được nằm
trong ba liên gia kế nhau thuộc địa phận ấp Trường Thuận nầy.
Vần công, đổi công là một tổ chức tự phát của bà
con chòm xóm, đã có từ lâu đời và vẫn tiếp tục
như vậy. Mười lăm gia đình sống thật thân thiết, ruột
rà. “Tối lửa tắt đèn” có nhau. Công việc của
nhà nầy cũng là công việc của các nhà khác và trái
lại, cứ liên tục khắng khít nhau như vậy, bởi vì họ quan
niệm “bà con xa không bằng láng giềng gần”.
Ba Còi gia nhập vào đội “vần công đổi công”
nầy, nhờ anh là “trụ cột” trong gia đình chỉ hai mẹ con:
bà Bảy “Gốc Tùng” và Ba Còi – sở dĩ bà có
tên nầy, là căn nhà chòi của bà cất chỗ gốc một
cây tùng cổ thụ từ đời nào, đến nay đã không
còn vết tích gì, nhưng bà con vẫn khẳng định ngày xưa
nơi đây có một cây tùng cổ thụ lớn lắm! Hai mẹ con
sống với nhau từ khi Bà Bảy trôi giạt từ miệt Tà Niên
của Rạch Giá lên tới xứ Trường Long nầy, rồi được
tá túc trên phần đất của ông quan Tảo, và sau đó,
thời cải cách ruộng đất của chính phủ Ngô Đình Diệm,
hai mẹ con Bà Bảy cũng được cấp nền nhà và ba mẫu
ruộng để canh tác và nuôi sống gia đình. Ban đầu người
ta hỏi về Ông Bảy, bà chỉ nói ông đã chết trong kháng
chiến chống Pháp. Thằng Ba Còi là đứa con “nuôi” mà
bà đã “lượm” được trong một đống rơm khi chạy
loạn của bà mẹ nào đó nhẫn tâm bỏ lại lúc còn
đỏ hỏn. Bà đã bồng bế và nuôi nấng, không có
sữa nên hàng ngày cho uống nước cơm pha muối hoặc đường
cả năm trời. Ban đầu bà đặt tên cho nó là “thằng
Lượm”, nhưng chợt nghĩ ra, nếu sau nầy biết được thân
thế nó sẽ tủi thân, nên đặt lại cho nó một cái tên
mang họ của bà “Trần Văn Hên, cha vô danh, mẹ Trần Thị
Bảy”, nhưng vì lúc còn nhỏ, do thiếu ăn nên thân hình
nó còm cõi lắm, mặc quần xà lỏn ở trần lòi mấy
cái ba sườn, bà con chòm xóm kêu nó bà Ba Còi dù
nó là đứa con độc nhất chớ không phải thứ ba, riết
rồi quen miệng cho mãi đến sau nầy.
Ba Còi có nghe Mẹ kể sơ lai lịch như vậy, nhưng không bao
giờ nó buồn tủi, mà xem như số mạng đã an bài như
vậy, nó càng thương và lo lắng săn sóc tuổi già cho Má
Bảy “Gốc Tùng” như mẹ ruột đã banh da xẻ thịt đẻ
ra mình. Ba Còi còn căn dặn Mẹ, đừng kể thêm cho ai biết
về lý lịch đời nó, xem như nó là con chính thức của
Bà cho hết cuộc đời nầy. Hai mẹ con nghèo, Ba Còi không có
diễm phúc cắp sách đến trường, nhưng nó đã học
được một số chữ nghĩa qua bạn bè trong xóm, nên cũng
biết đọc được chút đỉnh chớ không dốt hoàn toàn.
Chuyện có mặt trong cuộc đời của Ba Còi mà tôi vừa kể
qua, cũng tạm kết thúc không nhắc lại hay thêm thắt điều
gì nữa. Chuyện tôi kể sau đây là tình cảm riêng của
Ba Còi – tức Trần Văn Hên, để bạn đọc cùng chia sẻ
với một tình cảm đáng thương mà thôi, và cũng dùng
tên gọi hằng ngày theo cách gọi của chòm xóm với một
thanh niên có vóc dáng quen thân, dễ nhìn của miền quê sông
nước ấp Trường Thuận, xã Trường Long, tỉnh Cần Thơ cách
đây trên dưới năm mươi năm.
Khi Ba Còi đã mười bảy tuổi thì bà Bảy Gốc Tùng
qua đời. Ba Còi không còn ngủ nóp mà phải vô chiếc chõng
tre của Mẹ trong chòi để ngủ và thắp nhang đèn trên bàn
thờ hằng đêm. Tờ khai gia đình bây giờ chỉ còn mang tên
Trần Văn Hên là chủ, và bằng khoán đất của bà Trần
Thị Bảy (chết) được chánh quyền sở tại làm tờ trình
chuyển lên quận và tỉnh để sang tên lại cho Trần Văn Hên.
Tuổi vừa lớn,
ông bà nói “mười bảy bẻ gãy sừng trâu”
là nói đến sức vóc của một thanh niên, dù hồi nhỏ
ốm yếu còi cọc, nhưng bây giờ đã nên vóc nên hình
khoẻ mạnh, Ba Còi đã “trổ mả” và cũng có nhiều
mơ mộng trong cuộc đời. Những người bạn chơi thân với
Ba Còi trong xóm, phải kể thằng Hai Phát, thằng Năm Vinh, thằng Bảy
Cù, thằng Sáu Già, hay thường gặp gỡ chuyện trò với mấy
cô bạn gái như cô Tư Nguyên, cô Út Chạy, cô Hai Màu…
Trong mấy cô bạn gái nầy, Ba Còi để ý đến cô Nguyên,
con gái thứ tư của chú Ba Thành. Nhóm bạn chơi thân nầy
cũng đều phát hiện ra điều đó, nhưng không ai dám nói
ra sợ người lớn biết được thì ngăn cấm. Những đêm trăng sáng, vài
ba đứa bạn kéo nhau lại nhà anh Hai Lẹ để tập ca vọng cổ.
Anh Hai Lẹ có cây đàn guitare vọng cổ, và đàn rất hay.
Anh tập cho các bạn trẻ hát các bản vắn như Sơn Đông
Hướng Mã, Thủ Phong Nguyệt, Hướng Mã Hồi Thành…, sau đó
tập ca các bài thuộc ba Nam sáu Bắc, ca luôn sáu câu vọng
cổ. Mỗi tuần ít lắm cũng hai ba đêm họp mặt tập ca như
vậy, nhưng chẳng hiểu vì sao Ba Còi không ca được bài nào,
có lẽ vì anh “mắc cỡ” hay một lý do nào đó mà
ép cách nào cũng không được. Ca hay nhứt trong nhóm là
Năm Vinh, nó cất giọng ca bài Tần Huỳnh Khóc Bạn nghe thật hay:
(Nói lối):“Nghe hung tin Nhị Ca đà thọ tiễn. Hồng Đào Sơn em
quay ngựa trở về đây. Giữa pháp trường cát bụi mịt
mù bay. Quân đao phủ sắp ra tay hành quyết….(vô VC): Hãy
khoan đừng giết oan một trang hào kiệt, nghe lời anh đình thủ
bớ La… Thành – Thôi rồi một nhát gươm đưa đã
kết liễu mạng anh hùng – …”. Phần Sáu Già thì
chỉ mỗi một bản Sơn Đông Hướng Mã “Bắn con thỏ
nó quây xà quây, Cậu nhắm cho thật ngay…Nhìn kia bàn tay
đừng run. Đừng lụp chụp coi chừng nó chạy. Nhắm ngay cái
đầu. Trúng rồi cậu à”. Còn cô Tư Nguyên thì
hát bài Thủ Phong Nguyệt trong tuồng cải lương Cát Bụi Đô
Thành mà cô nghe Bạch Huệ ca trong ban ca kịch Cửu Long của Thành
Công trên đài phát thanh Sài Gòn rồi nhớ:“Thôi anh
ơi, tôi dân dã quê mùa. Đâu xứng đáng, người
yêu của anh. Mặt hoa, da phấn, môi đỏ, tóc quăn. Còn tôi
là kẻ đê hèn. Đâu xứng làm vợ hiền…”. Mỗi
khi cô Tư Nguyên hát bài đó thì mấy bạn ngồi kế
bên thúc cùi chõ vô hông của Ba Còi, ngầm biểu nó ca
đáp lại, nhưng Ba Còi vẫn ngồi im thin thít. Bảy Cù buộc
phải chen vô nói lối để ca bài vọng cổ “Trái Khổ
Qua”: (Nói lối):“Tôi với em là hai người
cùng một xóm. Nhà của em có trồng đám khổ qua. Cứ mỗi
buổi bình minh còn đọng giọt sương sa. Tôi đã thấy
em cầm gàu tưới nước….(Vô VC): Dây khổ qua nhụy
vàng bông trắng, trái khổ qua tuy đắng nhưng đượm thắm…
ân tình…”. Cứ mỗi lần ai vô vọng cổ xuống chữ
“hò” đầu là các bạn vỗ tay khen thưởng. Trên
chiếc đệm trải giữa nền đất của chòi anh Hai Lẹ, chính
giữa là cây đèn ống khói, có một bình trà và
mấy cái ly uống nước với dĩa “thèo lèo cứt chuột”.
Các bạn trẻ cùng xúm xít ngồi, nam một vòng bên, đối
diện với nữ, anh Hai Lẹ ngồi chỗ giáp mí hai bên nam nữ. Tất
cả đều vui vẻ và đứng đắn với nhau, không ai tỏ ra cợt
nhã sỗ sàng để anh Hai Lẹ phải rầy la. Tình bạn chòm
xóm ở một thôn ấp kéo dài như vậy, cha mẹ của các
bạn trẻ cũng không có điều gì để ngăn cấm con mình
hết. Gia đình
chú Ba Thành để ý đến sự thân tình của Ba Còi với
con gái Tư Nguyên, nhưng cả hai vợ chồng không ra mặt
cản ngăn, cũng không khuyến khích. Nhiều bữa, Ba Còi thấy Tư
Nguyên lấy thùng xách nước từ dưới kinh lên để đổ
vô lu mái dầm trước hiên nhà và phía sau chỗ rửa chén
bát, anh đã giành xách tiếp một cách tự nhiên khiến
cho Tư Nguyên cảm động. Họ cũng có nhiều dịp gặp riêng
nhau, ngoài những câu nói vui vẻ, họ còn nói bóng gió những
điều mà từ trong lòng mỗi người tự biết chớ không
lộ liễu nói chuyện yêu đương. Không phải đôi trai gái
nầy “cổ hũ”, nhưng ở một góc độ nào đó,
cho thấy cả hai đã tự kềm chế lòng mình để cho cha mẹ
Tư Nguyên và bạn bè xung quanh không có yếu tố gì để
ngăn cấm hay chen vào chọc ghẹo.
Cuộc đời nếu êm xuôi, bằng phẳng như vậy thì chắc
phần tiếp theo sau, không có gì cần phải nói. Nhưng, một hôm,
Ba Còi nhận giấy gọi thi hành quân dịch. Ba Còi phải trình
diện nhập ngũ vì đã đúng tuổi đi quân dịch mà
không có lý do xin hoãn dịch. Chính thời điểm phải từ
giã làng quê nhập ngũ, Ba Còi buồn lắm, tìm cách gặp
riêng Tư Nguyên bày tỏ lòng mình. Đó là lần đầu
tiên, Ba Còi nói thật với Tư Nguyên:
- Nguyên à, tui nói Nguyên đừng giận, thú thiệt tui…
Nguyên trố mắt nhìn Ba Còi, chợt nhiên cô lấy tay bụm
miệng anh lại: - Đừng nói
gì hết. Tui biết mà! -
Biết gì? - Anh nói đã
thương tui phải không? -
Ừ! - Tui cũng biết từ
lâu lắm rồi. Ngặt vì sợ mấy đứa bạn biết, tụi nó
chọc phá… -
Tui sắp đi lính rồi, bây giờ phải tính sao?
- Anh đi lính bao lâu?
- Đi quân dịch ba năm!
- Tui chờ anh! -
Thiệt hông? -
Tui thề sẽ chờ anh…
Lần gặp gỡ đó là lần đầu tiên hai người ôm
nhau, nước mắt ràn rụa. Cũng là lần đầu tiên Ba Còi
đã hôn lên mái tóc thơm mùi nước lá sả mà
Tư Nguyên đã gội đầu từ buổi chiều. Tình yêu của
hai người đã vượt qua giới hạn là cái hôn trên mái
tóc và ôm nhau trong giọt nước mắt buồn vui như vậy cho đến
khi Ba Còi khăn gói lên đường vào quân ngũ. Chính vì
tình yêu thật trong sáng đó đã đeo đuổi trong tâm
hồn của Ba Còi những nét đẹp, những nhớ thương trong cuộc
đời quân ngũ của mình. Chưa đầy ba năm, anh đã phải
trở về làng quê với thân phận một thương phế binh cụt
mất chân trái tới gần đầu gối, trong lần chạm súng ác
liệt với địch quân trong trận khi đơn vị hành quân trực
thăng vận diễn ra trên cánh đồng Chệt Thợ ngày 21 tháng
ba âm lịch năm một chín sáu mươi hai.
Chiến tranh đã lan tràn
đến làng quê năm xưa của anh. Nhiều gia đình đã tản
cư đi nhiều nơi khác nhau để tránh bom đạn. Ba Còi về
lại chốn cũ thì mái chòi của anh vẫn còn đó. Từ
khi anh nhập ngũ, cô Tư Nguyên thường xuyên đến ghé thắp
nhang lên bàn thờ Bà Bảy, trông coi “cơ ngơi” của Ba Còi,
nhưng chẳng nhận được chút tin tức gì của Ba Còi, vì
anh đâu có viết thơ gởi về. Bà con chòm xóm cũng chia nhau
lo phần đất ruộng của Ba Còi hàng năm, lúa bán được
thì gởi nhờ chú Ba Thành cất giùm để làm vốn liếng
khi Ba Còi giải ngũ trở về kết hôn với Tư Nguyên. Vậy mà
trong số những người tản cư đi có gia đình của chú
Ba Thành. Ngày Ba Còi chống nạng về quê cũ, chỉ còn gặp
được anh Hai Lẹ, Bảy Cù, Sáu Già, cô Út Chạy, Năm
Vinh. Còn nhớ,
những ngày sống gian khổ trong quân ngũ, Ba Còi nhớ thương Tư
Nguyên, cứ trằn trọc mong đợi ngày về hai người sẽ cưới
nhau như lời hứa hẹn đêm hai người chia tay. Cái may trong đời
binh nghiệp, Ba Còi có một người bạn biết đờn ca và đã
tập cho anh ca được vọng cổ. Những bài hát như Nhớ Mẹ,
Gánh Nước Đêm Trăng, Ghe Chiếu Cà Mau, Sầu Vương Biên
Ải, Mồ Em Phượng, Tu Là Cội Phúc, Lòng Dạ Đàn Bà…
lần lượt đã được Ba Còi học thuộc và ca nghe cũng
hay. Giọng ca của Ba Còi nghe buồn nhưng trầm và ấm lạ lùng.
Ba Còi định sau nầy nếu về lại làng quê, trong những đêm
họp mặt bạn bè, anh sẽ ca cho mọi người nghe để bù lại
trước đây anh không chịu tập ca hát với các bạn, nhất
là ca cho người yêu của mình nghe. Tư Nguyên mà nghe được
giọng ca của anh chắc cô ấy thích và thương anh nhiều lắm.
Vậy mà, ngày Ba Còi trở lại làng quê xưa thì hay tin
gia đình chú Ba Thành đã tản cư xuống Miệt Thứ Cà
Mau và cô Tư Nguyên cũng đã có chồng có con rồi.
Một đêm họp mặt tại nhà anh Hai Lẹ, cũng trên chiếc
đệm lót giữa nhà, dưới ánh ngọn đèn ống khói
vàng vọt, bình trà nóng, mấy cái ly uống nước, anh Hai Lẹ
cầm cây đờn Guitare cũ kỹ và các bạn trẻ Sáu Già,
Bảy Cù, Năm Vinh, Út Chạy, thương phế binh Ba Còi cùng ngồi
quây quần bên nhau. Mở đầu, Năm Vinh ca bản Nam Ai trích trong một
vở cải lương… “Đừng khóc nữa, Loan cô nương
đừng khóc nữa. Nếu cánh tay nầy có mất đi cũng là
một bài học cho ta ở… đời – Đừng ao ước đua đòi
– Đừng mơ tưởng xa vời…”. Bảy Cù cất giọng
hò rồi vô câu vọng cổ “Nhớ Mẹ” để tặng
Ba Còi: “Hò ơ… Lòng con thảo như giọt sương hạt
bụi. Công mẫu từ như ngọn núi Thái Sơn. Có cha có mẹ
thì hơn. Không cha không mẹ như đờn đứt dây… (Vô
VC): Rảo bước qua mấy nhịp cầu tre để trở về nơi mái
lá, con mới hay tin mẹ đã qua… đời –. Mẹ ơi lòng
của con tan nát tơi bời – (…). Trên bàn thờ cũ kỹ con chỉ
nhìn chiếc nhện giăng tơ…”. Cô Út Chạy thì ca bài
Nghe Em Hát Lý Giao Duyên “Ruộng lúa quê(-) em, Cánh cò bay(-)
mỏi, Năm cấy hai(-) mùa, Mưa nắng thuận (-) hoà, Đất ngát
thơm(-) hương, Hương lúa Ba(-) trăng, Ngậm sữa no(-) căng, Vụ
mùa sau nối vụ mùa đầu, Em hát về chàng trai trẻ đồng
quê, Chớ vội vàng chi chuyện trăm năm…” rồi Sáu Già
vô luôn mấy câu vọng cổ: “Nghe em hát lý giao duyên trên
cánh đồng hai vụ, câu hát ơi sao nghe hiền dịu gợi nhớ gợi
thương khi trời đã sang… mùa – Hương lúa lan xa thương
mến đậm đà – …”. Không khí tự nhiên trầm
xuống với hai giọng ca tài tử Út Chạy – Sáu Già qua một
sáng tác đượm tình yêu quê hương như vậy. Bỗng
thương phế binh Ba Còi tự giới thiệu sẽ ca bài vọng cổ Gánh
Nước Đêm Trăng, vì anh nhớ lại năm xưa anh đã từng
xách nước giúp cô Tư Nguyên dưới dòng kinh lên nhà
đổ vào các lu mái dầm chứa nước để lóng phèn
xài, và cũng để tỏ nỗi lòng của mình trước một
mối tình thật trong sáng năm xưa bây giờ trở thành nỗi
tiếc thương vô vọng. Nghe anh giới thiệu sẽ ca tặng mấy câu
vọng cổ, ai cũng ngạc nhiên. Anh Hai Lẹ bảo Ba Còi cất giọng để
anh so lại âm giọng của dây đàn, rồi anh tiếp tục dạo đầu.
Ba Còi mắt lơ đễnh nhìn lên mái lá của chòi anh Hai Lẹ,
mà hồn dõi theo một hình ảnh mờ ảo trong tâm hồn mình,
anh đang cố hình dung bóng dáng người yêu với mái tóc
vừa gội nước lá sả mà anh đã đặt lên đó
chiếc hôn đầu đời của tình yêu rồi sẽ sàng cất
giọng: Nói lối:
“Sương khuya lạnh
bao trùm khắp nẻo Trăng
đêm nay dìu dịu cả không gian
Tôi với em đi gánh nước cạnh đình làng Mùi cỏ dại mơ màng
trong đêm vắng… Vô
vọng cổ: “ Nước
giếng trong giữa đồi cát mịn, ánh nguyệt mờ soi đôi bóng
giao… kề –. Tôi với em quảy gánh ra về – Giữa không trung
tiếng sáo diều khoan nhặt, như tiếng hẹn hò của đôi mảnh
tình quê (–). Em trước tôi sau cùng sánh vai nhau đi giữa đường
mòn. Đến ngã ba đường là chỗ chia tay để trở về
xóm nhỏ (–). Ở
mấy nhịp cuối câu hai rớt vào chữ đờn “xang”, lời
hát mà giọng anh diễn dạt nghe như mỉa mai, cay đắng làm sao:
em cười em bảo với tôi, thề có đất trời em không phụ
anh đâu…”(–)!.
Rồi giọng hò của anh càng lắng đọng và chất chứa
niềm tiếc rẻ thật đáng thương ở đoạn cuối bài
vọng cổ: “Hò ơ… ai phụ tôi có đất trời chứng
giám. Phận tôi nghèo đâu xứng đáng cùng ai. Tưởng
giếng sâu tôi nối sợi dây dài.
Ngờ đâu giếng cạn ờ… Hò ơ… ngờ đâu giếng
cạn tôi tiếc hoài sợi dây…”.
Tiếng ca buồn não nuột hoà với những ngón tay nhấn phím
thật hoà cảm bất chợt của anh Hai Lẹ đã khiến mọi người
rơm rớm nước mắt. Cô Út Chạy thì đã để hai dòng
lệ chảy dài xuống đôi gò má ửng hồng của mình khi
liếc qua Sáu Già. Cô cũng như các bạn cùng nghĩ, nếu giờ
nầy mà Tư Nguyên nghe được giọng ca của Ba Còi, chắc cô
sẽ hối hận khóc ròng vì mình đã không giữ đúng
lời thề hẹn năm xưa với người mình yêu (?). Anh Hai Lẹ buông
đàn, vói tay cầm ly nước nguội uống “ực” một hơi,
khẽ nói: - Ba Còi, giọng
ca hay lắm. Không ngờ mầy đi lính chỉ mấy năm mà luyện được
giọng hay và ca chắc nhịp như vậy. Thôi đừng buồn. Cái gì
cũng do duyên số. Mầy với con Tư Nguyên không nên duyên phận
cũng do cái số trời đã định, tiếc làm gì nữa khi
biết mình đã một lần nối sợi dây dài. Bây
giờ, dù chiến tranh còn đang tiếp diễn trên quê hương đất
nước, nhưng mấy anh em mình còn sống và còn tình thương
yêu chòm xóm với nhau như vầy là quý lắm rồi đâu
cần phải nối dây dài dây ngắn. Thôi hãy vui vẻ tiếp tục
ca đi mấy đứa… Ngoài
trời, ánh trăng non đã chênh chếch ngã về phía tây. Văng
vẳng phía đồn Vàm Bi, vài tiếng súng canh nổ đì đùng
xé tan sự tĩnh lặng trong đêm. Mọi người ngưng cuộc vui và
chia tay. Anh Hai Lẹ bước lại chỗ bếp, vói rút cây đuốc
lá dừa để trên gác đưa cho Năm Vinh và nói: “Đốt
sáng để soi đường đưa Ba Còi về giùm anh”.
Ba Còi khập khiễng chống gậy đi bên cạnh Năm Vinh, trở về
căn chòi lá của mình chỗ gốc cây tùng cổ thụ năm
xưa, trong lòng vẫn chưa thấy nguôi ngoai hình ảnh Tư Nguyên. Bất
chợt Ba Còi thở dài thầm nghĩ, chưa chắc gì đêm nay mình
có được một giấc ngủ an lành.
Houston,
July 04-2010 LÊ CẦN THƠ
TẤM THẢM
truyện ngắn LÊ CẦN THƠ
(Houston, Texas, Hoa Kỳ) Cây bằng lăng phía ngoài
cổng rào trổ bông tim tím. Màu tím bằng lăng nhàn nhạt
như màu tím bông lục bình, gợi trong lòng người một niềm
dạt dào khó tả. Ðám học trò nhỏ tụ nhau thách đố
trèo lên bẻ hết một chùm bông bằng lăng thì thầy Vinh
bắt gặp, chúng hè nhau bỏ chạy. Thầy Vinh nhìn theo lắc đầu. Buổi trưa đứng gió.
Không khí như gay gắt hẳn lên. Ngôi nhà gạch, mái lợp
tôn, nằm cách hàng rào hơn mười lăm mét sân trống,
đặt mấy chậu cây kiểng, không tạo ra một chút bóng mát
nào. Cánh cửa mở rộng để lộ nền gạch bông xanh trắng
sạch bóng. Tấm thảm chùi chân bằng xơ dừa hình chữ nhật
có viền đỏ sậm chạy như hoa văn đặt ngay ngạch cửa, khi
bước chân vào nhà ai cũng phải giẫm chân lên tấm thảm
nầy.
Sống trong
gia đình thật êm ấm, bình lặng, thầy Vinh tìm được
niềm an ủi trong tuổi già. Công việc hàng ngày của thầy: Sáng
và chiều tưới mấy chậu cây kiểng trước sân nhà, sau
khi uống ly cà phê đen ngoài quán, thầy vào lau nền gạch bông.
Hôm nào trời nắng tốt, thầy đem tấm thảm ra xối nước
chà rửa rồi đem phơi trước sân. Nhiều lúc Hiền bảo:
"Ba để chiều con lau, đừng làm
quần quật như vậy, rủi bệnh hoạn thì khổ thân!”. Thầy cho là lời nói chí tình, nhưng thầy cũng
vẫn làm, vì đây là công việc nhẹ nhàng, vừa vận
động cơ thể, vừa đỡ cho con dâu sau một ngày mệt nhọc
ở tiệm may, còn phải đi chợ mua thức ăn về lo cơm nước
cho gia đình. Lúc mấy đứa nhỏ đi học chưa về, có khi
thầy còn tiếp con dâu nhóm bếp nấu nước để khi Hiền
vo gạo xong là có sẵn bếp lửa nấu cơm. Trong nhà chưa khi nào
có điều tiếng gì để bên ngoài có thể nghe biết.
Út Quang rất thương cha, dù công việc có nhiều vất vả,
nhưng lúc nào anh cũng nhớ và lo lắng sức khoẻ của cha. Anh mua
thuốc bổ, mua trà ngon, mua những thứ gì thầy Vinh ưa thích. Anh cũng
thường nhắc Hiền cố gắng đi chợ tìm mua thức ăn ngon, nấu
nướng cho vừa miệng cha... Hiền cũng đã quen tính của chồng
và cùng chồng lo cho cha thật chu đáo. Buổi tối, Út Quang thường
dành chút thời gian đọc báo, và anh luôn luôn dừng lại
ở các mục cáo phó, chia buồn. Những người lớn tuổi cứ
thay nhau từ bỏ cháu con, khiến Út Quang chạnh lòng nghĩ về cha -
về thầy Vinh! Bé Hậu, con trai út của
vợ chồng Quang mới sáu tuổi, mỗi khi đi học về là quấn
quít bên ông Nội. Chính thằng bé đã mang lại cho thầy
vinh tình thương yêu sâu đậm nhứt. Thầy đã sống bên
sự thơ ngây, dễ dạy, và đôi lúc như đã tìm thấy
lại quãng đời thơ trẻ của mình. "Nội dặn con hoài. Tấm thảm để lau chân, vậy mà con
cứ đem ra ngoài sân đất lót ngồi, dơ bẩn...”. Bé Hậu cười rồi mang trả vào chỗ cũ. Trưa nay, cả nhà đang ngủ,
thầy Vinh mở cửa ra hiên, thấy mấy đứa học trò trèo bẻ
bông bằng lăng, thầy lên tiếng rầy, chúng nó bỏ chạy. Thầy
chợt nghĩ, không biết bé Hậu có khi nào cùng lũ bạn chơi
trò "khỉ khọt" đó ở một nơi nào khác không?
Cứ như thời trai trẻ, chính thầy cũng có những trò chơi
tương tự. Nhưng ở cái tuổi thơ trẻ của thầy, mọi sinh
hoạt đã hoàn toàn khác xa bây giờ. Thầy sống trong đồng
ruộng, trò chơi có khi là hái trộm trái mận, lấy đất
ném xoài, hoặc dùng nạng giàn thun để bắn lén những
chùm trái cóc trên cành cao, bị chủ nhà đuổi chạy...;
có khi nhào nặn đất sét để làm chim cu, chim tu hú, phơi
khô, cạo gọt sạch bóng rồi thổi om sòm, khiến người lớn
chịu không được phải rầy la... - Ông ơi, cho cháu xin một chùm bông
nầy đi.
Thầy Vinh
đứng lên, bước lại cổng rào. Mấy đứa học trò
vẫn chưa chịu về, lục tục kéo lại để xin cho được
bông bằng lăng. - Mấy cháu bẻ bông
nầy để làm gì? - Dạ, bẻ về chơi nhà
chòi. Tụi cháu thích màu bông nầy lắm. - Cứ để nó trên
cây cho lâu tàn, bẻ xuống một hai buổi là héo đi, uổng
lắm. Nếu thích, mỗi ngày các cháu cứ đến ngồi ngắm
cho vui, không được sao? Ông cũng thích ngồi ngắm bông bằng
lăng nầy lắm...
Một đứa
bé nói chuyện rất lễ phép. Mấy đứa kia im lặng nghe. Có
một bé khác, tóc tai rối bù, đứng ở xa nói vọng lại:
"Không cho cũng bẻ" . "Tao thách
mầy!". Ðứa bé trai ra vẻ ngăn không
cho bạn mình làm bậy. Thầy Vinh lặng lẽ quay vào. Trong số học
trò có cháu ngoan ngoãn dễ dạy, cũng có cháu ngỗ nghịch
cần phải được cận kề uốn nắn khuyên răn. Những ngày
còn đứng trên bục giảng, thầy Vinh đã gần gũi với thế
giới tuổi thơ. Hết lớp nầy đến lớp khác, biết bao thế
hệ đã qua, và thầy Vinh vững vàng với thiên chức của một
người thầy đối với đám học sinh thân yêu. Những thế
hệ học sinh nối tiếp nhau, kẻ học nửa chừng, người theo đuổi
đến nơi đến chốn, có lúc trở lại thăm thầy, học
cũng là quân nhân, công chức, cũng là thầy cô giáo... . Những ngày nghỉ hưu, thầy Vinh có dịp rảnh
rỗi để ôn lại bao nhiêu kỷ niệm vui buồn của nghề "gõ
đầu trẻ". Hình ảnh học trò tôn kính thầy cô lúc
nào cũng đậm đà trong tâm tưởng thầy. Khi ra đường,
học trò giở nón cúi đầu chào thầy dạy mình từ
xa hàng năm mười thước với lòng "tôn sư trọng đạo"
thật sự, là hình ảnh thật đẹp trong tình cảm con người
mà thầy Vinh cho là niềm vui bất tận cần được tôn trọng,
giữ gìn. Nhiều khi thầy gật đầu chào lại, hoặc nở nụ
cười hiền dịu với học sinh hoặc với người vừa chào
mình, mà không nhớ đã dạy họ từ bao giờ, lớp nào,
ở đâu? Cũng trong đám học trò, vẫn có một số cá
biệt ương ngạnh, khinh thường người đã dày công dạy
dỗ mình, nhiều khi ra đường chạm mặt mà không một lời
chào hỏi thầy. Khi bắt gặp hình ảnh đó, lòng thầy thoáng
chút ngậm ngùi. Dạy học trò, người thầy nào cũng muốn
đào tạo cho ra đời những công dân tốt, những người có
đạo đức, phẩm hạnh, hữu ích cho đất nước. Ai mà
không đau buồn, xốn xang khi biết được từ trong đám học
trò do mình dạy, đã ra đời làm điều bất nghĩa bất
nhân.
Nghỉ ở nhà, thầy Vinh xoay qua cách
sống khác: thầy viết báo. Nói viết báo là nói theo thói
quen chớ thực ra thầy sáng tác thơ, truyện gởi cho các báo
xuất bản ở Sài Gòn. Một hôm, thầy Vinh nhận được thư
của toà soạn, nội dung mà tới nay thầy vẫn còn nhớ mang máng:
"Bạn Thế Vinh, chúng tôi nhận được nhiều
truyện ngắn và thơ của bạn gởi đến tòa soạn. Bài
chọn đăng sẽ có trả nhuận bút. Rất tiếc không thể
đăng được vì bài chưa hợp với chủ trương của
báo. Mong bạn cố gắng và tiếp tục gởi bài mới khác về
toà soạn. Ký tên: VŨ HÒA". Thầy Vinh biết chắc Vũ Hoà
là học trò cũ của mình. Hồi còn học, Vũ Hoà là
cây viết học sinh rất khá, xuất hiện thường xuyên trên các
đặc san, giai phẩm nhà trường. Cô Lệ Châu dạy Văn có
lần nói với thầy: "Em Vũ Hòa có khả năng,
sau nầy thế nào em cũng đi vào con đường văn chương, báo
chí”.. Thầy Vinh góp ý: "Cô cố
gắng trau giồi cho em xem sao! Biết đâu trường ta chẳng có một
cây viết tên tuổi?". Bởi không phải dạy môn Văn
nên thầy Vinh không để ý nhiều đến Vũ Hòa. Mãi sau
nầy thầy mới hay tin Vũ Hòa làm báo. Thầy đâu ngờ, những bài viết
của thầy không đăng ở tờ báo do Vũ Hòa chủ trương,
mà lại xuất hiện rải rác ở nhiều tờ báo khác. Cũng
nội dung và câu cú như vậy, có cắt xén, thêm bớt đôi
chút, đổi tựa, cả thơ lẫn truyện và tên tác giả là
VŨ HẢI. Bởi không đọc được nhiều báo nên thầy không
để ý, đến khi nghe có cuộc trao giải thưởng truyện ngắn
của một tờ báo nọ, thầy Vinh mua về xem. Bàng hoàng khi thấy
truyện ngắn ký tên Vũ Hải trúng giải nhì với tiền thưởng
ba chục ngàn đồng! Thầy Vinh viết thư hỏi tòa soạn nhưng
không được trả lời. Có lúc bực tức, thầy muốn viết
đơn khiếu nại và kiện tác giả Vũ Hải, nhưng thầy không
có bằng cớ chứng minh mình là chủ quyền, vì bản thảo
của thầy viết tay chỉ một bản, không còn lưu lại ở nhà.
Thầy buồn chán và bỏ viết. Thầy Vinh chợt nghe cay đắng trong
lòng: "Không lẽ, chuỗi ngày làm thầy, mình
giống như tấm thảm trải đường; bước sang lãnh vực sáng
tác, người ta cũng xem mình như tấm thảm hay sao?” Gió từ sông Hậu thổi
qua giữa trưa, mang hơi mát dịu trong nắng chói chang. Cành cây bằng
lăng lay động, mấy chùm hoa tím lung linh. Thầy Vinh ngồi trên tấm
thảm, dựa lưng vào cửa sổ, đưa mắt nhìn ra ngoài. Út
Quang thức dậy từ lúc nào, khi dẫn xe đạp từ lối đi bên
hông nhà sau ra cổng, thầy Vinh mới hay. "Tới giờ
rồi hả con?". "Dạ, sao ba không ngủ trưa một chút cho khoẻ
? Ba nhớ khóa cổng lại. Dòm chừng tụi nhỏ trèo bẻ bông
bằng lăng!”. Thầy Vinh gật gù bước theo Út Quang, vói
tay gài cổng. "Trưa nóng hầm quá ba ngủ không
được. Hồi nảy mấy đứa nhỏ bẻ bông, ba rầy, tụi
nó bỏ chạy...”. Quang lên xe đạp, nói vọng lại rất
khẽ: "Tụi nhỏ nầy khỉ khọt quá!”.
Thầy Vinh chợt mỉm cười khi nghe thằng con trai út của mình cũng
dùng tiếng "khỉ khọt" mà nghe lòng vui vui... Bé Hậu ra ngồi trên góc
thảm cạnh ông Nội. "Nội ơi, con mới ngủ
xong nè!”. "Giỏi lắm!”. Thầy Vinh một tay ôm cháu,
một tay vân vê tấm thảm xơ dừa. Thấy vậy, bé Hậu hỏi:
"Ông Nội ơi, người ta làm tấm thảm để
chi vậy?”. "Ðể lau chân khi bước vô nhà cho khỏi dơ”.
"Sao có lần ba dẫn con vào xin giấy tờ ở một cơ quan nọ,
con thấy họ treo lên tường?”. "Bậy nào ! Thảm để lót
chân, ai mà treo tường bao giờ?”. "Thiệt mà”. Thầy
Vinh vẫn còn ngờ ngợ sau câu khẳng định của bé hậu. Có
thể cháu lầm tranh treo tường với tấm thảm? Có ai lại trang trí
lên tường cơ quan bằng những tấm thảm xơ dừa như vậy?
Thầy Vinh giải thích ý trên, nhưng cháu cứ khăng khăng: "Thảm bằng xơ dừa thiệt mà! Treo mấy tấm lận!”.
Thầy Vinh thoáng nghĩ, có lẽ bé Hậu nói
đúng. Thời buổi nầy, trình độ nhận thức của một số
trưởng cơ quan hạn chế lắm, họ lại thích làm chuyện lạ
đời để cho thấy cái riêng biệt, nổi bật trước mọi
người, dù đó là điều hợm hĩnh cũng được! Nhưng
thầy không cho cháu mình biết được ý nghĩ
đó, vội vò đầu cháu: "Ðừng nghĩ
như vậy!”.
Thầy Vinh
chợt loé lên ý nghĩ: “Tấm thảm dùng để
lót chân, lót đường cho mọi người đi. Ai muốn bàn chân
mình sạch sẽ đều phải dẫm lên và bước qua tấm thảm
xơ dừa. Con người muốn đi lên trong cuộc sống, có nên bước
qua bạn bè, thầy cô, bước qua đồng nghiệp, anh em... như thản
nhiên bước qua tấm thảm đặt trước mỗi ngạch cửa nhà?”.
Thầy Vinh khẽ thở dài. Cánh bằng lăng tím vẫn lung linh trong
gió một cách tự nhiên, chúng không thể nào hiểu được
sự ra đời của chúng vừa làm đẹp mắt mọi người,
cũng vừa tạo cho tuổi thơ những ham thích đến nỗi có thể
bất chấp đến lẽ phải, làm điều sai quấy... Chợt nhiên
thầy se lòng. "Phải chi lúc nãy cứ cho tụi nhỏ
bẻ mấy cái bông, giữ lại làm chi, rồi nó cũng tàn héo?
Bởi trong cuộc sống nầy có gì bền vững đâu?"
Với riêng
mình, thầy Vinh tự cảm thấy, đã bảy mươi lăm tuổi đời,
mình chỉ là tấm thảm cho một số người thản nhiên bước
qua. Thật sự họ đã ung dung bước qua. . Cần Thơ 15 tháng 10 năm 1985
.LÊ CẦN THƠ (Trong tập TRÔI NGANG PHẬN MÌNH,
chưa xuất bản)
GIAN
KHỔ MỘT ĐỜI truyện LÊ CẦN THƠ . “Chiều qua gác giặc bên phòng
tuyến Thấy chiếc ghe đăng nhẹ mái chèo Bất
chợt con nghe hồn trống vắng Thương về quê cũ nhớ thôn
nghèo…” (thơ HVT - Chuyện Ghe Đăng – 1969)
Trời chiều. Ánh nắng vàng vọt
từ hướng Tây chiếu qua rặng cây xa hun hút bên kia cánh đồng
trống vắng tạo nên màu sắc đậm nhạt trông thật buồn.
Trên không, mấy chòm mây trắng lãng đãng trôi mà tận
chân trời màu xanh dương cũng bắt đầu ngã dần sang màu
thẫm hơn báo hiệu sắp hoàng hôn. Con kinh Lái Hiếu thẳng tắp
từ hướng Phụng Hiệp vào Ngã Tư Cây Dương nước lớn
đã đầy tới mấp mé hai bên bờ. Mấy mảng lục bình
lờ đờ trôi theo dòng nước, bên trên mảng lục bình,
những chùm bông màu tím nhạt hoà với sắc trời chiều
một nỗi buồn hiu hắt, xa vắng, bâng khuâng. Những đàn cò
trắng đang vỗ cánh bay về rặng cây trâm bầu phía xa xa chắn
qua hướng Kinh Ngang mà tầm nhìn đã nhạt nhoà như bức tranh
thủy mạc. Bất chợt,
Lê Vân Thanh đổi lại thế ngồi trên vọng gác hướng ra
mặt sông. Đồn trung đội nằm trên khu đất thuộc ấp Mỹ
Lợi B, cách đồn đại đội trừ ở ấp Mỹ Lợi
A chưa đầy hai cây số, hàng ngày phải hành quân mở đường
để bắt tay nhau lo an ninh thủy trình dọc kinh Lái Hiếu, ban đêm
phải lo xuất quân nằm các điểm “tiền đồn”, là
những chốt điểm mà Chi Khu Phụng Hiệp đã chấm tọa độ
để giữ an ninh cho đồn. Những năm cuối 1969 sang đầu 1970, tình
hình an ninh quanh vòng đai quận Phụng Hiệp còn khép chặt, tương
đối tốt chưa quá hai cây số. Vậy mà các đơn vị
Địa Phương Quân do Tiểu Khu đưa về xây dựng đồn trên
khắp địa bàn, rồi lần lượt giao cho lực lượng Nghĩa Quân
thuộc liên đội 313 mà anh Năm Tân là Liên Đội Trưởng
chỉ huy, phân nhiệm các Trung Đội, Tiểu Đội trấn giữ thật
hữu hiệu. Từ các đồn kề cận Chi Khu Phụng Hiệp như Rạch
Vông, Mang Cá, Ba Ngàn, Đất Sét, Xẻo Môn, Ranh Hạt… cho đến
các đơn vị “xung kích” chuyên đi đánh “đột
kích điểm” ban đêm trong các vùng xa xôi, phá hủy tiềm
năng của du kích các ấp đội, xã đội Đại Thành,
huyện đội VC trong địa bàn Phụng Hiệp thật chính xác, do
tin tình báo thu được qua chỉ điểm của hồi chánh viên.
Đánh rồi rút, gây thương vong cho đối phương, thu chiến
lợi phẩm rồi trở về hậu cứ tại Chi Khu an toàn, những “chiến
sĩ Nghĩa Quân của anh Năm Tân” đã làm chiến tích như
vậy. Vòng đai an ninh lan ra, nếu về hướng Kinh Cái Côn có đại
đội 489 ĐPQ của Thiếu Uý Lâm Đình Thảo (sau ngày 1 tháng
3/70 Thiếu Uý Thảo tử trận, Trung Úy Mai Quang Rít tạm thay, rồi
Trung Uý Nguyễn Văn Bá, Trung Úy Vũ Tiệp lần lượt thay làm
Đại Đội Trưởng), đóng đồn Bưng Thầy Tần (ấp
Đông An A), đóng thêm đồn Trung đội ở vàm Rọc Ngay (ấp
Đông An B) để bắt tay với đại đội 383 ĐPQ từ hướng
quận Phong Thuận (Cái Côn) đi vào thường xuyên lo an ninh thủy
trình dọc kinh Cái Côn cho đoàn xà lan chở đá từ sông
Hậu vào Ngã Bảy Phụng Hiệp, và hãng thầu RMK của Mỹ
làm Quốc Lộ 4 từ Cần Thơ xuống Cà Mau. Về hướng Kinh Lái
Hiếu có đại đội 385 ĐPQ của Thiếu Úy Vũ Đức Kim,
sau nầy đổi Trung Úy Nguyễn Văn Nhã làm Đại đội trưởng,
ban đầu đóng đồn Sậy Niếu, giao cho Nghĩa Quân, vào đóng
tiếp đồn Mỹ Lợi A, rồi đồn cấp Trung đội ở Mỹ Lợi
B… Sau đó lại tiến vô Ngã Tư Cây Dương, Mỹ Hoà,
Mỹ Chánh. Về hướng Kinh Búng Tàu đi về Ngã Năm có
đơn vị 295 ĐPQ của Trung Úy Nguyễn Thành Đức, đóng đồn
Lò Đường, rồi Búng Tàu. Các đơn vị ĐPQ nầy trực
thuộc Liên Đội 34 do Đại Úy Khâm làm Liên Đội Trưởng,
sau là Đại Úy Huỳnh Đồng Phước trông coi, đóng tại
Ngã Tư Cây Dương. Tình hình an ninh ngày càng tốt hơn,
vòng đai đã lan ra xa hơn, nhưng ban đêm du kích vẫn “lẻn”
về gài “mìn”, “lựu đạn” ở những khoảng đường
di chuyển giữa các đồn với nhau, gây bất an đáng kể. Mặc
dù hằng đêm, pháo binh Chi Khu Phụng Hiệp đã dành khá
nhiều trái đạn 105 ly bắn quấy rối khắp nơi. Những trái
đạn pháo “chiếu sáng” cũng “rót” vào canh chừng
như vậy, mà du kích và các đơn vị cấp cao hơn của
VC vẫn thỉnh thoảng di chuyển qua, chạm súng với các toán “tiền
đồn”, gây những trận đụng độ chết người liên
tục… Cuộc chiến trên địa bàn quận Phụng Hiệp cứ diễn
ra trong lằn ranh nghiệt ngã, không phân biệt ai bạn, ai thù. Có
thể ban ngày họ là nông dân, từng vào xã quận xin giấy
tờ đi làm ruộng, nhưng ban đêm chính họ đi gài mìn,
gài lựu đạn, cũng có thể chạm súng với những toán
tiền đồn. Đang miên
man suy nghĩ, Lê Vân Thanh chợt nhìn thấy trên mặt sông
từ hướng Phụng Hiệp một chiếc ghe chèo khẳm lừ từ từ
xuôi theo dòng nước vô miệt Ngã Tư Cây Dương. Người
đàn ông đứng chèo, dáng điệu thong thả như để
cho ghe trôi theo dòng nước, bởi đôi cánh tay cầm chèo đưa
lên hạ xuống thật chậm. Chiếc ghe chở đầy đăng và bên
trên để sáu cái lọp. Hình ảnh quá thân quen đã
làm cho Thanh bùi ngùi xúc động. Thanh lặng thinh dõi mắt trông
theo chiếc ghe đăng cho đến khi chiếc ghe mất hút trong tầm nhìn
trên dòng Kinh Lái Hiếu vô hướng Ngã Tư Cây Dương.
Có tiếng động bên dưới, Thanh quay nhìn mới biết, Nguyễn
Văn Đèo đang cầm súng bước lên đổi gác với mình.
Thanh nói với Đèo
mấy câu thông lệ rồi đi thẳng về chòi của mình và
lên nằm trên chiếc ghế bố nhà binh miên man suy nghĩ chuyện đâu
đâu, rồi thiếp đi trong giấc ngủ đầy mộng mị dù chưa
kịp ăn bữa cơm tối.
- Ba ơi, cho con hỏi đôi điều
về nghề nghiệp của Ba nghe...
- Sao bữa nay lại muốn hỏi Ba điều đó?
- Dạ, nhật báo Miền Tây có mục TẤC ĐẤT NGỌN RAU
do anh Kiên Giang phụ trách, con muốn hỏi Ba chút kinh nghiệm về nghề
đăng cá để viết lên cộng tác vậy mà.
- Nghề hạ bạc nầy lạnh lẽo lắm, đâu có gì hay ho
mà kể! - Sao Ba lại
nói vậy? Nghề nào cũng tốt cả, bởi nó làm nên chén
cơm manh áo cho cả gia đình...
Ba tôi ngồi trên chiếc ghế đẩu đặt nơi bàn tròn
kê giữa nhà, tay vân vê điếu thuốc rồi chậm rãi đưa
lên miệng, tay cầm hộp quẹt bật lửa mồi thuốc hút. Vừa
hút thuốc, Ba vừa đưa mắt nhìn ra dòng sông trước cửa
im lặng. Tôi vói tay giở nắp đậy cái vỏ dừa khô, lấy
bình tích đựng trà nóng trước mặt, rót cho Ba một ly
nước trà còn lên hơi và mời Ba uống. Cuốn sổ tay trước
mặt với cây viết nguyên tử cầm tay, tôi chuẩn bị ghi chép
những điều Ba sắp kể... Nhưng bất ngờ, Ba quay lại nhìn tôi:
- Con muốn biết chỗ nào Ba mới kể được.
- Ba bắt đầu từ lúc mới học nghề cho tới khi Ba đã
ra nghề... - Dài dòng
lắm, nhưng có thể tóm tắt thế nầy...
Tôi im lặng lắng tai nghe Ba nói, tay cầm viết ghi chép vào những
trang giấy trắng trước mặt. Ba tôi hít nhẹ một hơi thuốc
rồi đôi mắt nhìn ra dòng sông trước mặt, vẻ đăm
chiêu nghĩ ngợi, cứ cố bươi nhớ trong vùng ký ức xa xăm
của gần ba mươi năm trôi qua đời mình ...
“Khi rời Ba Vát - Mỏ Cày của xứ dừa Bến Tre, Ba trôi
nổi xuống tận vùng Trường Long “khỉ ho cò gáy” nầy
để lập nghiệp với đôi bàn tay trắng. Ba làm đủ mọi
công việc để kiếm miếng cơm manh áo. Người cưu mang Ba trong
giai đoạn nầy là Ông Bồi, sau nầy là Ông Ngoại của con.
Ông thấy Ba còn trai trẻ thì thương mới cho Ba cất một chòi
lá trên khoảnh đất chưa đầy một công, bên kia con mương
nhỏ để ở và đi làm mướn làm thuê kiếm sống:
việc đồng ruộng thì phát cỏ, cấy lúa, gặt lúa; sau mùa
ruộng thì lên giồng trồng khoai, tỉa đậu... cho các gia đình
khá giả trong vùng. Ngoài việc đồng áng, Ba còn tùy mùa
và theo con nước mà đi giăng câu, đặt lờ, đặt trúm
bắt lươn để bán kiếm tiền. Chuyện gia tộc bên Nội có
dịp Ba sẽ kể cho con nghe, để sau nầy con có thể hiểu được
nguồn cội của mình. Bây giờ Ba chỉ vắn tắt mấy điều
con muốn hỏi về nghề đăng cá của Ba..”
Cây có cội, nước có nguồn. Tôi cũng muốn biết đôi
chút về “gia phả” của một dòng họ trôi nổi từ miền
đất Bến Tre xa xôi qua tới vùng Trường Long “khỉ ho cò gáy”
nầy càng “nghèo” hơn nơi chốn cũ... là một điều
khó giải thích được, bởi vì người ta thường nói
“đất lành chim đậu”, nhưng quê Trường Long so với Bến
Tre có thật sự “lành” chưa mà Ba tôi đã chọn nơi
đậu? Nhưng, trọng tâm của lần gặp gỡ nầy, tôi buộc phải
lái trở về đề tài cần biết. Tôi nói:
- Hôm nay Ba kể về nghề đăng cá. Lần sau Ba kể cho con biết
rõ hơn về “gia phả” bên Nội mình nghe Ba...
Ba không trả lời tôi mà hít nhẹ hơi thuốc rê rồi
hớp một ly nước trà, hướng mắt nhìn ra dòng sông đang
đầy nước, những về lục bình lững lờ trôi, mấy cái
bông màu tím lung linh theo sóng gợn. Tôi đoán biết Ba đang
suy nghĩ lung lắm khi phải tìm một cách mở đầu cho hành trình
một nghề nghiệp mà ông đã đeo đuổi hơn 24 năm trên
sông nước quê nhà. Bất chợt, Ba quay lại nhìn tôi:
- Đăng cá là một nghề “hạ bạc” ít ai theo đuổi
lắm, chỉ có những người không có đất vườn, không
có vốn liếng cơ ngơi như ba mới lao vào mà thôi. Như con
biết miền quê mình đang sống đều là nhà nông, kẻ
từ xa đến không nghề nghiệp chuyên môn, chỉ tìm chỗ làm
thuê mướn nuôi sống bản thân. Ba cũng ở trong số người
đó. Còn “gia phả” dòng họ Lê của mình Ba chỉ có
dịp được nghe Bà Nội con kể đi kể lại rồi nhớ chớ
không có sách vở gì ghi chi tiết. Kể cho con nghe cũng như truyền
miệng mà thôi... Nó là chuyện kể, chuyện nhớ đâu kể
đó chẳng đầu đuôi ra làm sao cả...
Biết ý Ba chưa muốn gợi lại những điều cần thiết mà
tôi muốn, nên tôi ngồi im để tùy Ba muốn nói gì thì
nói. Tôi nghĩ, một dịp nào đó tôi cũng sẽ được
nghe mà thôi. Tôi đưa mắt nhìn ra dòng sông chảy ngang nhà
trong khi Ba vấn thêm điếu thuốc rê rồi kê vô đầu ống
khói cây đèn dầu trước mặt để mồi lửa. Ba phà
hơi khói đầu tiên lan toả che mờ khuôn mặt mình. Bất chợt
Ba nói: - Con người
ai cũng có số phần con à. Thật tình Ba đâu ngờ phải rời
bỏ quê hương nơi chôn nhau cắt rốn để trôi giạt qua đây
lập nghiệp. Con có biết thời trai trẻ, ba là một “công tử
miệt vườn”, chẳng làm gì động móng tay, ngày ngày
ăn mặc chỉnh tề, cầm lồng chim chìa vôi mà ở quê ba gọi
là chim chiền chiện để đi đá như người ta chơi đá
gà. Bởi ba thứ Chín, là con trai Út nên bà Nội thương
và nuông chiều dữ lắm. Cô Tám của con có chồng và cả
hai là diễn viên của một đoàn hát đi lưu diễn khắp
nơi dọc theo sông nước miền quê, và hai người đã bị
mất tích trong năm người Việt gốc Miên ở Trà Vinh nổi dậy
mà người Việt gọi là “cáp duồn”. Cô Mười của
con là con gái Út cuối cùng của Ông Bà Nội, đến tuổi
18 có người mai mối gả cho con trai một người Hoa. Ông Nội con
quyết định không gả, nhưng một thời gian sau... vì thương con
gái Út, Bà Nội thuyết phục được Ông Nội, nên lễ
cưới của cô dượng Mười của con cũng được tổ chức. Ít lâu sau Ông Nội mất. Có chồng
một thời gian, gia đình bên chồng Cô Mười dắt nhau trở về
Quảng Đông bên Tàu không cho Bà Nội biết. Và Cô Mười
đã mất liên lạc với gia đình bên mình mãi cho đến
bây giờ, không biết Cô Mười sống chết ra sao và chồng con
thế nào nữa. Phần Ba, trong một chuyến “ham vui” đã theo bạn
bè đi đường sông qua tới Cần Thơ, vô tận Phong Điền
rồi đến xã Trường Long... để lập nghiệp cho đến bây
giờ. Ba bỏ quê Ba Vát Mỏ Cày chưa đầy ba năm, Bà Nội
thăm dò tin tức và đã qua tới Trường Long gặp được
Ba, lúc đó Ba đã cưới được má con và ở vuông
đất phía bên kia con mương mà Ông Bà Ngoại đã cho
để cất nhà khi Ba mới chân ướt chân ráo sang tận nơi
nầy lập nghiệp. Bà Nội thương con trai Út, thương con dâu
Út... nên Bà quyết định ở lại Trường Long. Ba năm sau nữa,
Chú Chín của Ba là một thầy thuốc Bắc, thấy chị dâu mình
đi tìm con không trở về, ông cũng khăn gói sang thăm và cũng
quyết định ở lại quê nầy hành nghề thầy thuốc cho đến
khi mãn đời. Con thấy, bờ mả sau vườn mình bây giờ, ngoài
các ngôi mộ của Ông Bà Ngoại, của Dì Sáu, của Bà
Nội, của Ông Chín... nằm cạnh nhau, rồi sẽ tới Ba, tới Má
con nữa... Ba ngừng kể,
khẽ hớp một ngụm nước trà rồi lại say sưa với giọng
trầm buồn: Ba còn Bà
Con ở Ba Vát Mỏ Cày, một số người sang Vĩnh Long lập nghiệp
Ba cũng được biết, nhưng Ba không bao giờ có ý định trở
về quê cũ để thăm viếng bà con, một khi Ba vẫn còn sống
đời nghèo khổ như thế nầy. Ba nghĩ thà chết ở quê người
còn hơn trở về quê cũ mà vẫn đôi bàn tay trắng, còn
tệ hơn lúc chưa đi lập nghiệp...
Chợt nhiên tôi nghe tim mình se thắt. Ba tôi đã vì tự
ái của một con người, khi rời quê hương là muốn tiến
thân, muốn làm nên danh phận với đời, nhưng “con người
có số”, Ba tôi đã không giàu khá lên được nên
phải đành gạt bỏ mọi tình thân! Tự ái của Ba tôi
chắc khó thể lay chuyển được trong tâm khảm, bởi vậy tôi
thường bắt gặp Ba ngồi một mình, lặng lẽ vấn thuốc hút
rồi hướng mắt nhìn tận xa xăm...
Con có hiểu rằng những năm chiến tranh chống Pháp, quê Trường
Long cũng ngập tràn khói lửa. Giặc Pháp đóng ở Phong Điền
có làm một cây cầu cho tàu sắt cặp bến phía doi bên
phải chỗ ngả ba sông vào trong xã mình. Chính vị trí chiếc
cầu nầy là “pháp trường” để bọn lính Pháp
“xử bắn” rồi xô xuống dòng sông các người dân
vô tội mà chúng cho là Việt Minh, là bọn chống lại chánh
quyền do “mẫu quốc Pháp” lập nên. Cứ đôi ba ngày
là có xác người chết nổi lên và trôi tắp vào dòng
sông trước cửa nhà mình. Có xác nhìn mặt được
thì bà con thông báo cho thân nhân vớt xác về chôn; có
xác nhìn không ra, bà con đành phải cột dây kéo vào
chôn ở Đình Cũ, chôn mà không có hòm rương gì
hết, chỉ bọc bằng chiếc đệm rách mà thôi! Bà con ở
làng nầy nói chung là nghèo, nên giúp chôn được người
“vô danh” như vậy cũng là điều quý vô cùng. Chính
Ba cũng đã tham gia với bà con chôn nhiều “thây ma” bằng
cách đó... Nghĩ mà thương và tủi cho số phận những
con người bất hạnh trong thời chiến tranh giặc giã mà Ba đã
gặp trong những năm 30, 40 của thế kỷ 20... Ba thở
dài rồi tay bưng ly nước trà đưa lên miệng hớp một ngụm,
lặng lẽ để ly nước xuống mặt bàn, mắt đăm chiêu
hướng ra dòng sông trước mặt. Tôi im lặng nhìn Ba. Chợt
nhiên Ba nói với giọng ngậm ngùi:
Nhắc tới những người bất hạnh trong chiến tranh thời giặc
giã, không làm sao Ba quên được hình ảnh của Cậu Bảy
con đã bị giết oan và thả trôi trên dòng sông nầy hồi
năm 1945, lúc Mợ Bảy của con mới sanh đứa con gái Út chưa
đầy hai tháng tuổi. Làm sao Ba quên được hình ảnh những
thây người chết trôi lềnh bềnh trên sông mà không có
thân nhân nhận dạng, Ba và một số trai tráng trong làng cùng
thòng dây kéo xác lên bờ rồi quấn chiếc đệm đào
lỗ chôn trong khu Đình Cũ. Có được chiếc đệm để
chôn là quy lắm rồi, vì thời đó bà con trong làng quá
nghèo, không thể mua hòm hay ván gỗ đóng lại chôn người.
Quần áo người sống còn không đủ mặc, phải may bằng
bao bố để che kín thân mình thì làm sao lo chu toàn cho một
người chết không thân nhân quen thuộc. Thậm chí Bà Nội
con lúc đau bệnh căn dặn, nếu bà có chết, cho bà xin 8 miếng
vạt cau để chôn bà cho đỡ tốn kém! Làm sao Ba quên được
cảnh ruồng bố, đốt nhà, đập phá mọi vật dụng trong
nhà của người dân mỗi lần có bọn lính Tây tới vùng
nầy, mà tủi nhục hơn nữa, trong số lính Tây còn có người
Việt mình đi cùng, họ đã dùng nhiều âm mưu thủ đoạn
giúp cho bọn quan Tây, bọn Cai, Đội hãm hiếp đàn bà, phụ
nữ như trường hợp Cô Năm Mão, cô Tư Tuất… là
những nạn nhân hết sức thảm thương. Thời nào cũng vậy,
bọn Việt Gian đã ôm chân Pháp và nhúng tay làm điều
phi nhân khiến ai cũng đau lòng xót dạ. Ba không được may
mắn đi học chữ nghĩa thánh hiền như người ta, nhưng Ba có
dịp nghe kể những thủ đoạn gian ác của bọn Tàu phương
Bắc hàng ngàn năm rình rập khi xua quân xâm chiếm đất nước
ta, chúng đã dùng chính sách cai trị hà khắc đối với
dân mình như súc vật, đôi lúc còn xúi giục những
tên Việt Gian đàn áp dân mình… Bởi vậy mới có
xuất hiện những bậc anh hùng nữ lưu hào hùng khí tiết
như Bà Trưng, Bà Triệu, như các ông Đinh Bộ Lĩnh, ông
Ngô Quyền, ông Trần Hưng Đạo, ông Lê Lợi, ông Quang Trung
Nguyễn Huệ… phất cờ khởi nghĩa đánh đuổi quân thù.
Thời nào cũng vậy, hễ có bất công là có đấu tranh,
nổi dậy để chống lại. Các hương chức hội tề mà
hà khắc, cậy quyền lợi thế trước sau gì cũng phải trả
giá... Ngừng nói, Ba lại nhìn tôi:
- Tự nhiên trong đầu óc Ba nghĩ lung tung, nói năng chẳng đâu
vào đâu cả. -
Ba cứ nói nữa đi, nói những gì Ba đang suy nghĩ. Con cũng cần
muốn biết thêm những điều gì đã xảy ra và Ba đã
từng nghe biết, từng chứng kiến...
Ba đã chọn Trường Long là quê hương của mình,
nên lúc nào Ba cũng yêu thương gắn bó như nơi chôn nhau
cắt rún của Ba ở Ba Vát Mõ Cày. Ba nghĩ, có lẽ Ba không
còn trôi nổi một phương trời nào khác nữa cho đến
khi nhắm mắt xuôi tay. Từng dòng kinh, ngọn rạch, từng con mương,
đập nước, từng cái lung miệng đìa trên miền đất
nầy Ba không làm sao quên được những kỷ niệm trong đời
“trôi sông lạc chợ” của mình. Nó là duyên số cuộc
đời. Nó là sợi dây vô hình ràng buộc bước chân
của Ba. Ba cưới được Má con và sống ấm êm trong cả
quãng đời gian khó cũng chính nơi nầy. Nên Ba yêu quý và
lúc nào cũng sợ phải lìa xa nó!..
Tôi lặng yên nghe Ba nói, càng lúc gịọng của Ba như chìm
sâu trong vùng ký ức mà từ lâu lắm không có dịp phơi
trải ra… Ngày Ba
cưới Má con, ông bà Ngoại của con đã cho bộ ngựa gõ
làm “của hồi môn”. Ba Má giữ gìn nó như một báu
vật. Vậy mà qua những năm chiến tranh, tụi Tây ruồng bố, nhà
bị đốt tới ba lần. Lần sau cùng bộ ngựa gõ cháy sém
khiến cho mặt bộ ngựa loang lổ. Sau năm đình chiến, ba mới chở
ra chợ Cái Răng mướn trại cưa xẻ làm 3 để làm thành
ba bộ ngựa. Có một bà nhà giàu nào đó thấy bộ
ngựa gõ trên mặt cháy sém loang lổ nhưng xung quanh viền khảm
xa cừ vẫn còn, đã nài nỉ ba để bà ấy mua lại, chẳng
biết bà ấy mua để làm gì. Hai bộ ngựa gõ còn lại
Ba đang đặt trong phòng khách nầy, ba quý nó lắm, vì đây
là vật kỷ niệm trong đời của Ba Má. Hồi ông bà Ngoại
của con mất, phần đất mướn của ông Chủ đất Tư Quản,
Ba Má tiếp tục thuê mướn, hàng năm đong lúa ruộng cho gia
đình Ông Tư, từ chợ Phong Điền vô thâu sau mỗi mùa
gặt. Hồi trào Ngô Đình Diệm, có lần ông Quận Trưởng
Ô Môn (sau nầy đổi lại là Quận Phong Phú) là Đại
Uý Hoà đi công cán xuống xã Trường Long, ông đặt
“bản doanh” tại nhà của Ba, Ba cũng không hiểu tại sao? Có
phải do phía trước nhà có khoảng sân rộng và mấy cây
xoài thanh ca toả bóng rợp mát suốt ngày. Dịp nầy, ông có
giải thích và bảo Ba tham gia “Phong trào Cách Mạng Quốc Gia”
để được bảo đảm quyền lợi của một công dân
dưới sự lãnh đạo của Ngô Tổng Thống và chánh quyền
Quốc Gia. Sau đó mấy lần, mỗi khi ông Quận Trưởng đến
Trường Long là ghé nhà Ba gần suốt buổi. Có lần Má con
làm cơm đãi ông và những người lính cận vệ. Cũng
thời gian nầy, phần đất thuê mướn của Ba tôi với ông
Tư Quản đã được lập “Khế Ước”, chủ đất
bây giờ là con rể của Ông Tư tên Ngô Minh Thám, và người
thuê mướn là Ba với diện tích đất là 2 mẫu 6 sào
61 cao. Hàng năm đong 20 giạ lúa ruộng sau mỗi mùa gặt hái xong.
Sau nầy giặc giã nổi lên, do có VC xuất hiện, nên ruộng làm
bị thất mùa, Dượng Tám Thám cũng tự giảm phần lúa
ruộng hàng năm nên gia đình Ba Má tôi cũng đỡ khó
khăn. Ba là đoàn
viên của Phong Trào Cách Mạng Quốc Gia có giấy chứng nhận từ
Quận. Nhiều lần ông Quận Hoà muốn giới thiệu Ba
làm Trưởng Ấp Trường Thuận, nhưng Ba một lòng thoái thác,
viện lý do là Ba không có trình độ văn hoá, không thể
làm việc được. Lần lữa thì ông Quận Hoà cũng không
nhắc tới nữa. Bởi mỗi lần có lính quận xuống xã Trường
Long là có mặt tại nhà Ba Má, nên khi bọn VC nằm vùng lập
“Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam”, họ không ra mặt mà ban
đêm dán giấy cảnh cáo cho là Ba thân chánh quyền Mỹ Diệm
với lời “hăm doạ” chết người. Ba thấp thỏm lo âu. Ông
Ba Đại được cử làm Trưởng Ấp một thời gian thì
chúng ban đêm đến bao nhà và bắt đi mất tích. Một
thời gian sau mới tìm được chỗ chúng đào lỗ “chôn
đứng” chỉ để ló chiếc đầu lên trên mặt đất,
tại một bờ cây trâm bầu trong kinh Chệt Thợ với “bản án”
viết cắm cạnh đầu lâu: “trưởng ấp ác ôn, tay sai Mỹ
Diệm”. Tiếp theo sau vụ giết Trưởng ấp Đại, chúng còn
chận bắt Cậu Mười Lố chạy tàu đò bằng máy horbo đặt
sau lái ghe. Chúng đưa cậu vô tới bờ cây trâm
bầu và đã dùng nhánh trâm bầu có gai nhọn đập đầu
cậu chết tại chỗ, rồi dán tờ giấy trên ngực ghi là “điềm
điệp cho Mỹ Diệm”. Xã Trường Long đã bất an từ những
năm đầu 1960…
Tôi nghe Ba kể chợt nhiên cảm thấy lành
lạnh xương sống. Thì ra, có một thời Ba tôi đã sống
“bất an” mà chúng tôi đâu hay biết gì. May là nhà
tôi ở gần đồn Ông Hào, bọn VC ban đêm cũng ít xuất
hiện. Nhưng… họ là ai? Có phải là một số trai tráng
trong ấp, trong xã đã lén lút tham gia hoạt động với bọn
chúng? Khó mà hiểu được. Bây giờ tôi mới nhìn thẳng
vào Ba mà hỏi: -
Họ hăm doạ sao Ba không báo cho chánh quyền biết? Rủi ban đêm
chúng nó bắt Ba thì sao? -
Họ bắt ba lúc nào không được. Bởi vì hằng đêm
ba đi đăng cá hết kinh nầy qua rạch kia. Nhưng họ không bắt
vì Ba đâu có làm điều gì để họ phải giết? Còn
nói ba là đoàn viên Phong Trào Cách Mạng Quốc Gia, thì không
lẽ cả ấp nầy, xã nầy chúng đều giết hết hay sao? Nhà
nào, đàn ông cũng tham gia phong trào nầy, họ đều biết mà!
- Ba có nghĩ là mấy gia đình có chồng, có con đi tập
kết… là những điểm “khả nghi” không?
- Ba không nghĩ như vậy. Những gia đình nầy trong vùng mình
gồm ông Bá Hộ có thằng Hai Cấm, rồi thằng Ruộng con chệt
Hai, cậu Út Sắc con ông Sáu… đi tập kết, Ba thấy họ đều
làm ăn đàng hoàng, đâu có ai biểu hiện chống đối
chánh quyền quốc gia. Còn những ai theo chúng để chống phá
chánh quyền, rải truyền đơn đả đảo Mỹ Diệm, hay ban đêm
“phát loa” gây bất an trong ấp, trong xã… chỉ vài tiếng
đồng hồ rồi im. Thật tình ba không thể đoán được… Ba lại ngừng kể. Tay vấn điếu thuốc rồi kê đầu thuốc
vào ống khói đèn để mồi. Tôi rót thêm một ly nước
trà mời Ba. Phong trào
“Tố Cộng” với luật 10/59 của chánh quyền Ngô Đình
Diệm ban ra. Dân trong ấp, trong xã mình lần lượt có gia đình
bỏ nhà đi mất, chẳng biết đi đâu. Ba đoán chắc các
gia đình nầy có dính dấp với “phía bên kia” nên
sợ bị tố cáo, sợ bị bắt nên đã bỏ trốn đến
nơi khác sinh sống, hay bỏ vô bưng cũng nên! Rồi đồn Ông
Hào, đồn Vàm Bi liên tiếp bị bắn phá hằng đêm. Lại
có vụ chú Bảy Ý bị VC bắt và đưa vô ngọn Ông
Hào để xử “chặt đầu” bằng mã tấu với 22 bản
án mà chúng kết tội là làm “điềm điệp”, trong
đó có tội cuối cùng là ban đêm bơi xuồng vô đồn
Vàm Bi báo cáo nơi du kích xã Trường Long đang ngủ trong chòi
ở ngọn Cần Đước. Lính Dân Vệ (sau nầy là Nghĩa quân)
đồn Vàm Bi đã xuất đồn và lần đó đã bao
vây và giết chết 5 du kích đang ngủ trong chòi. Với tội nầy
chú Bảy Ý đã bị chém đầu trước sự chứng kiến
của vợ con và bà con trong ngọn Ông Hào. Trước khi tuyên án
xử tử hình chú Bảy Ý, có một bà cụ bị xử “tử
hình treo”, chúng bắt bà nằm xuống để tên VC đáng
tuổi cháu chắt đánh 100 roi. Khi thằng trẻ đánh, tên xử
án lớn tiếng rằng: “cách mạng đánh 100 roi nầy không phải
đánh một bà già Việt Nam, mà đánh vào đầu Mỹ Diệm”. Bà cụ
80 tuổi bị đánh đủ 100 roi đã không đứng lên nổi,
phải bị kéo lê ra ngoài cho thân nhân khiêng đi. Trường
hợp ông Ba Đạo đã bị chúng bắt và trói thúc ké
dính vào một cây dừa cạnh nền đồng Ông Hào đã
bị san bằng trên đất mợ Năm Hơn, rồi chúng bắn nhiều
phát đạn với lý do “làm điềm điệp cho Mỹ Diệm”…
Những hình ảnh nầy xảy ra mấy năm nay, nhưng Ba đã cố giấu
không cho con biết, sợ con hoang mang ảnh hưởng đến việc học. Bây
giờ thì chắc con đã hiểu, tại sao mỗi lần Má con bơi xuồng
ra Cần Thơ thăm con, Ba dặn con đừng về Trường Long, cứ ở ngoài
đó lo học…
Nghe Ba nhắc, tôi chợt nhớ, đúng là Má tôi có nói:
“Ba con dặn đừng về quê làm gì, cứ ở ngoài nầy
lo học hành đàng hoàng. Thỉnh thoảng Má sẽ ra thăm…”.
Tôi vô tư nên không thắc mắc làm gì lời nhắn đó.
Phần tôi suy nghĩ đến hoàn cảnh nghèo khổ của gia đình
nên tôi đã phải tự tìm chỗ dạy kèm lấy tiền đóng
tiền ăn ở tại nhà trọ, thỉnh thoảng có được chút
đỉnh tiền nhuận bút vài bài học sinh viết trên nhật báo
Tiếng Dân rồi Dân Tiến, một hai truyện ngắn trên báo Tiếng
Chuông, Ngày Mới, Thanh Việt… trang trải phần nào việc ăn học
khi xa nhà. Phải nói, Ba tôi là người “bám đất bám
ruộng” trước bao hiểm nguy kề cận bên mình mà không “hở
môi” cho con cái ở xa biết. Người anh cả của tôi đang đi
lính và phục vụ ở Đại đội Tổng Hành Dinh BCH 3 Tiếp
Vận tại Sài Gòn. Người anh kế là tài xế Quân Vận
412 Vận Tải tại Cần Thơ. Đứa em gái và thằng Út Tâm
còn nhỏ ở nhà với Ba Má tôi tại Trường Long. Thời còn
chiến tranh chống Pháp, Ba tôi cũng đã chứng kiến bao nhiêu thảm
họa trên vùng đất quê hương; đình chiến năm 1954 đến
hai ba năm sau, không khí thanh bình thật sự đến đúng sự
mơ ước của mọi người. Bỗng bọn cộng sản nằm vùng
đã dùng chiêu bài thành lập “mặt trận giải phóng
miền Nam” gây biết bao cảnh bắn giết thảm khốc ngay trên làng
quê mình ở, Ba như hụt hẫng, mất niềm tin… - Ba à, hay là mình “tản
cư” ra ngoài Cần Thơ tìm chỗ cất nhà, buôn bán kiếm
sống một thời gian xem sao? Chớ ở đây sao con lo quá… - Đi đâu bây
giờ con. Dù đất nầy là đất thuê mướn của chủ
điền, nhưng đã trải qua thời ông bà Ngoại, rồi tới
Ba Má, nó đã quá thân thuộc như của chính mình, bỏ
đi sao đành…
- Nhưng ở mà không an tâm, ngày đêm phập phồng lo sợ
thì làm sao sống nổi.
- Người ta sống được, mình sống được. Chỉ có
con người mới từ bỏ đất đai ruộng vườn chớ đất
đai ruộng vườn đâu bao giờ bỏ rơi con người… Ba tôi đã quan
niệm về đất và người như vậy, nên tôi im lặng nhìn
ba mà đôi mắt mình cảm thấy ươn ướt. Trong khi khuôn
mặt ba tôi như chìm sâu trong một vùng ký ức xa vời nào
đó. Nhìn lại chiếc đồng hồ rẻ tiền đeo trên tay, tôi
thấy đã quá mười giờ đêm, bên ngoài sân đã
tối đen không còn thấy gì, ngoài ánh sáng nhờ nhờ của
ngọn đèn dầu toả qua vuông mặt cáo phần trên cánh cửa
đã khép kín… Tiếng nổ đùng của trái đạn
pháo binh 105 ly bắn giải toả hàng đêm quanh các đồn, các
tọa độ cần thiết, đã đánh thức tôi lúc gần nửa
đêm. Vậy là tôi đã ngủ vùi và đã qua một cơn
mơ dài. Tôi quẹt diêm đốt ngọn đèn cầy, ngồi nhìn
bóng mình soi vào vách là thành bờ đất cao của đồn
Mỹ Lợi B. Chuyện ba tôi “bám trụ” đã không còn vững
nữa, khi Nhà thờ Ông Hào bị B52 ném bom sập tháp chuông và
nhà nguyện giáo đường khi đơn vị phòng không của tiểu
đoàn Tây Đô VC đặt khẩu sung bắn máy bay từ tháp chuông
nhà thờ năm 1965. Từ biến cố nầy, cả họ đạo Ông Hào
nhà nào cũng có người chết. Dân trong các ấp Trường
Thọ, Trường Thuận, kể cả Trường Phú, Trường Khương…
đã phải tản cư ra khỏi vùng lửa đạn. Ba Má tôi đã
ra Xóm Chài hỏi đất Chùa Tây Thiên của anh Ba Vĩ cất căn
nhà sàn nhỏ dưới mé sông để sống cho đến mười
năm sau mới quay về nền nhà cũ. Ba tôi đã bỏ nghề đăng
cá và đi làm thợ mộc cất nhà để tìm thu nhập trong
cuộc sống. Tôi đã
vào lính và đã có dịp trú đóng tại đồn Mỹ
Lợi B (trên bờ kinh Lái Hiếu) năm 1970. Buổi chiều bắt gặp chiếc
ghe chở đầy đăng và 6 cái lọp đăng cá của một
người đàn ông chèo ngang đồn, chợt nhiên tôi đã
nhớ về Ba tôi với một đời gian khổ mà ông đã gánh
lấy cho cuộc đời mình. Những dòng ghi nầy, tôi kính dâng
Ba tôi để tưởng nhớ một người Cha đã thật sự sống
một cuộc đời thầm lặng như bao nhiêu người Cha khác trong
cõi đời nầy, nhưng đối với tôi, ít nhất đó cũng
là một tấm gương đầy nghị lực, một con người có
cái nhìn thiết thực về đất và người… dọc theo một
đời gian khổ như Ba tôi. .
Houston, khởi viết 15-10-2006 viết xong lúc 01:04PM ngày 8 tháng 6-2009 Kỷ niệm ngày
quân lực VNCH 19 tháng 6 và kính viếng hương linh Ba tôi
nhân dịp Father’s Day 21 tháng 6 năm nay. .
LÊ CẦN THƠ
|
|
|