LCT gian kho

LeCanTho_NewPortrait.JPGTHƠ &

TRUYỆN

Lê Cần Thơ

________________________________________________________________________________________________

NĂM MỚI

NÓI CHUYỆN

“MAI”

LÊ CẦN THƠ

(Về Nguồn – Tây Đô)

Tailieu_HoaMai.jpg

         Trong bốn mùa Xuân, Hạ, Thu, Đông thì mùa Xuân là mùa dậy thì của một năm. Mùa tình yêu rực rỡ của bướm và hoa. Mùa khởi đầu của mỗi tuổi con người và cũng là mùa tượng trưng cho những gì vui đẹp nhất. Vào mùa nầy, cỏ cây cũng bắt đầu đâm chồi nẩy lộc, trăm hoa đua sắc, phô trương nét duyên dáng nhằm điểmlct_hoadao.jpg tô cho cuộc đời thêm hương, thêm sắc. Ở nước Việt Nam ta, vào mỗi độ Xuân về, đồng bào miền Bắc chú trọng đến HOA ANH ĐÀO, nhân dân miền Nam lại quí chuộng HOA MAI. Trong bài viết nầy, tôi xin được nói đôi điều về HOA MAI, vì đối với tôi hình ảnh HOA MAI rất thân tình và gần gũi.

         HOA MAI cực đẹp, lại trổ đúng trong tiết đông đầy sương giá, nên thế nhân đã tôn tụng MAI là hoàng hậu của các loài hoa. Không ai biết rõ MAI có từ bao giờ, nhưng chắc chắn phải xuất hiện lâu lắm, có thể từ thời mới tạo thiên lập địa, mặt đất có cỏ cây là đã có loài MAI rồi. Sơ khai, chưa chắc MAI đã nhiều, nhưng nhờ dài lâu, nhờ thiên di, thích hợp với khí hậu, MAI phát triển thành rừng, và con người đã khám phá rồi đem về nhân giống khắp nơi như ngày nay.

         HOA MAI không những đẹp mà màu sắc lại luôn tươi thắm, không phai nhạt, héo úa. Cả đến khi rơi rụng, MAI vẫn giữ được sức cuốn hút diệu kỳ. Trong bài Tự Thán 35, Nguyễn Trãi đã viết Ngắm hoa tàn xem ngọc rụng. (Ông đã ví những cánh hoa mai rơi như ngọc rụng). Nhưng tại sao đặt tên gọi là MAI? Và trong từng loại MAI, các tên gọi đều phản ảnh đúng với kiểu dáng, màu sắc của nó?

         Như chúng ta đều biết, giống như mùa Xuân đứng đầu của bốn mùa trong năm, ban mai là thời điểm bắt đầu của một ngày mới, đầy tin tưởng và hy vọng. HOA MAI với đặc tính trổ hoa giữa tiết đông, cho dù tiết trời đang lạnh giá, vạn vật như đang run rẩy, co cụm, vẫn cố vận hành, vươn lên để hoàn tất khâu khởi động, sẵn sàng tươi cười khoe sắc ngay khi xuân đến! Bởi gan góc như vậy nên mới được công nhận là hoàng hậu, là hoa nở trước nhất so với nhiều loài hoa khác. HOA MAI được cấu tạo bởi năm cánh đều nhau, hoặc nhiều hơn, có khi hàng chục, kết dính vào tâm điểm, tạo thành một hình tròn thanh nhã y như hình ảnh của mặt trời mọc, với những tia nắng ấm chiếu tỏa lúc sáng sớm. MAI nở vào thời điểm ấy như vầng dương ló dạng lúc bình minh trong ngày xuân nhật, cũng là buổi ban mai của năm mới. Vì vậy hoa hậu ấy mang tên MAI – một tên biểu trưng cho những gì cao đẹp, tốt lành nhất, tuyệt nhất!

         Tùy theo kiểu dáng và màu sắc đặc trưng của từng loại mà MAI có những tên gọi khác nhau: Bạch mai, Huỳnh mai, Tuyết mai, Mai chuỗi, Mai tứ quí, Mai chiếu thủy, ... mà người đời thường khẳng định khi bắt gặp chúng. Ở đây, do tài liệu không dồi dào, và cũng không phải là một bài chuyên về nghiên cứu đặc tính của cây lct_maichieuthuy.jpgcỏ, nên xin các bậc cao niên và quí vị bạn đọc bỏ qua cho những gì tôi viết ra đây có phần hạn chế về kiến thức của mình.

        MAI CHIẾU THỦY: Lá nhỏ, hoa năm cánh trắng tinh giống hình ngôi sao. Hoa nở thành chùm nhỏ, đong đưa trong gió hết sức biểu cảm. Hoa trút xuống đất tỏa hương nhè nhẹ. Buổi sáng đầu ngày ngắt một cánh hoa sát cuống cho vào miệng hút nhẹ, ta cảm nhận một hương vị ngọt gắt của sương đêm đọng vào trong nhụy. Đặc biệt, dáng hoa nhỏ trông quí phái, khi hoa nở chếch nghiêng mình xuống nước nên gọi tên Mai Chiếu Thủy.

     

lct_bachmaihoa.jpgBẠCH .MAI: Lá dầy có gai nhỏ ở viền. Hoa nở năm cánh màu trắng sữa tinh khôi. Cũng có người gọi Bạch MaiChi Mai hoặc Mai Ngự Sử.  Lê Qúy Đôn chép trong Kiến văn tiểu lục, có đoạn: Thời vua họ Trần nước Giao Chỉ, có tên Lê Quý Ly, quán tỉnh Giang Tây qua nước đó buôn bán. Khi thuyền cặp bến, y bước lên bỗng thấy trên bãi cát có câu rằng:

                Quảng Hàn cung lý nhất chi mai

               (Một cành mai trong cung Quảng Hàn)

       Về sau Quý Ly di duyên được chức quan nước ấy. Một hôm Trần Vương ra nghỉ mát ở điện Thanh Thử, trước sân điện có hàng ngàn cây quế, Vua ra cho quần thần một câu đối rằng :

                Thanh Thử điện tiền thiên phụ quế

               (Ngàn cây quế trước điện Thanh Thử)

       Các quan bồi tùng chưa vị nào kịp đối thì Quý Ly cũng trong hàng quan đó, chợt nhớ câu thơ đã thấy trên bãi cát trước kia, liền đem đối. Nghe câu đối của Quý Ly, Vua rất đỗi kinh ngạc, phán rằng: “Sao ngươi lại biết việc riêng trong cung trẫm?”

       Số là Vua có cô công chúa tên là Nhất Chi Mai. Vua dựng riêng một cung cho cô ở, đặt tên là cung Quảng Hàn. Quý Ly được vua hỏi, bèn đem sự thật tâu lên. Vua rằng: “Nếu vậy là số trời!” Bèn gả Nhất Chi Mai cho Quý Ly. Từ sự tích nầy và phối kiểm với sử cũ, rõ ràng Quý Ly là người nhà của vua Trần Nghệ Tông, do đó được nhà vua trọng dụng, rồi tự xưng nhiều chức và lộng quyền, hay tâu rỗi và đàn hặc các quan y như vai trò của một ngự sử. Người thời ấy do không rõ việc ở cung đình – cũng có thể do người thân tín Quý Ly – nhân thấy công chúa có nét đẹp đài các, lại có tên chữ MAI, nên đã mượn tên nàng đặt tên cho một loài hoa mai cực đẹp là NHẤT CHI MAI. Lại một loài hoa khác không kém vẻ kiêu sa, người ta cũng mượn tên nàng để đặt gọi là Chi Mai (không có chữ Nhất để phân biệt với Nhất Chi Mai) hoặc gọi gộp lại giữa tên nàng với chức của chồng cho có đôi là MAI NGỰ SỬ!

       TUYẾT MAI: Lá nhỏ như Mai Chiếu Thủy, mềm mỏng. Hoa nhỏ bằng mút đũa màu trắng tinh. Hoa nở lác đác chừng vài ba cánh trên một thân cây.

       MAI CHUỖI: Màu tím, có trái màu vàng, cả hoa và trái đều kết thành chùm, nhiều và dài như xâu chuỗi.

      lct_maituqui.jpg MAI TỨ QUÝ: Lá dài, có gai nhỏ ở viền. Hoa năm cánh màu vàng đậm, màu đỏ. Khi hoa tàn để lại năm cánh màu đỏ đậm và những hạt đen tuyền. Hoa nở suốt bốn mùa như tên gọi. Loại hoa nầy có nhược điểm là cho rất ít hoa trên một thân cây. Về Mai Tứ Quý, trong số những bài thơ của Nguyễn Trãi viết về MAI, có bài mang tựa HOA TRƯỜNG AN mà hầu hết những sách sưu tập thơ văn Nguyễn Trãi ở phần chú thích đều ghi không rõ hoa gì. Bài thơ đó như sau:

                 Ấy chẳng Tây Thi thì Thái Chân,

                 Trời cho tốt lạ mười phần,

                 Ngày chầy điểm đã phong quần đỏ,

                 Rỡ tư mùa một thức xuân.

        Xin tìm hiểu vài điển tích:

        Thời Xuân Thu, Tây Thi là người con gái nước Việt, Câu Tiễn đem dâng vua Phù Sai là người đã đánh bại mình, để xin hàng. Phù Sai mắc kế Câu Tiển, say đắm Tây Thi, không lo việc nước khiến Ngô suy yếu. Câu Tiễn kéo quân đánh diệt, trả được thù.

        Thái Chân là hiệu của Dương Quý Phi, vợ của Đường Minh Hoàng, cũng là trang quốc sắc của nước Trung Hoa ngày trước.

        Rõ ràng nội dung bài thơ ca tụng HOA MAI. Nhưng tại sao đầu đề không ghi HOA MAI mà lại ghi HOA TRƯỜNG AN? Lại truy thêm một điển tích:

        Trong sách Kinh Châu Ký có đoạn chép Lục Khải ở Giang Nam, gặp lính trạm bèn bẻ một cành MAI, gởi trạm đem về cho Phạm Diệp là bạn thơ còn đương ở Trường An và kèm theo một bài thơ:

                  Chiết mai phùng dịch sứ

                  Ký dữ Lũng đầu nhân

                  Giang Nam vô sở hữu

                  Liễu tặng nhất chi xuân

                 (Bẻ cành mai nhờ lính trạm đưa

                  Gởi cho người bạn ở Lũng đầu

                  Giang Nam không có đồ gì lạ

                  Mới tặng một cành xuân gọi là)

         Từ điển tích nầy cho phép chúng ta suy luận, từ Giang Nam, Lục Khải gởi một cành mai về tặng bạn là Phạm Diệp ở Trường An. Nhận được cành mai do lính trạm đưa, cảm động và do thấy đây là giống MAI lạ (vì ở Trường An không có vật gì lạ hơn giống mai nầy), Phạm Diệp đem trồng, bốn mùa đều nở hoa rất đẹp, tưởng chừng như lúc nào cũng mùa xuân (nên cành ấy gọi là cành xuân). Từ Trường An, loại MAI ấy được nhân giống nhanh chóng vì dễ trồng nhờ có nhiều hạt. Do vậy MAI TỨ QUÍ còn có tên là HOA TRƯỜNG AN, cũng có người gọi là HỒNG MAI, vì đế MAI màu vàng ấy, khi cánh đã rụng thì biến sang sắc hồng ngọc, ôm lấy hạt màu đen tuyền. Cũng có loại đế màu xanh, có cành đan cài giống hình chữ Nữ (Chữ Hán) như sáu cái gạc nai thì gọi là MAI THANH ĐÀI LỤC NGẠC. (Cũng xin mở ngoặc nói thêm: Ba chữ Nhất Chi Xuân ở câu thứ tư bài thơ trên đây cũng còn gọi là Nhất Chi Mai. Tuy nhiên, ở Việt Nam ta, do điển tích đời Trần kể trong Kiến văn tiểu lục, thì Nhất Chi Mai là loài hoa hoàn toàn khác với Nhất Chi Mai xuất hiện ở đất nước Trung Hoa).

       lct_maivang.jpg MAI VÀNG (HUỲNH MAI): là loại mai thông dụng và thường thấy nhất, do trổ bông vào cuối tháng Chạp âm lịch nên cũng còn tên gọi là LẠP MAI. Lá mỏng dài, có gai nhỏ ở viền. Hoa thường nở năm hoặc sáu cánh hay nhiều hơn nữa.

        Người ta có thể trồng mai vàng bằng cách gieo hạt hay chiết cành. Nhưng tỷ lệ sống của chiết cành thường thấp hơn gieo hạt. Nhựa của hoa nầy rất mạnh để nuôi sống thân cây. Vì vậy khó mà phân biệt nhánh mai ghim trong chậu là mai sống hay đã chết. Chỉ một cành nhỏ cắm trong bình hay chậu hoặc giâm dưới đất ẩm, nó có thể đâm chồi non cùng với những búp xanh và nở hoa một cách dễ dàng. Cành hoa cứ sống như vậy hằng nhiều tháng trời. Theo kinh nghiệm của các nghệ nhân chuyên trồng cây kiểng, người ta thường bứng gốc mai vào mùa khô, nắng thật gắt của những ngày hè. Vào thời điểm nầy, rễ mai đang co lại kém phát triển để trồng. Hoặc họ bứng vào những ngày giáp tết, vì đó là lúc chất nhựa trong cây hoạt động mạnh để nuôi cành và lá.

         MAI VÀNG là loại hoa thông dụng nhất, hoa nở vào những lúc tiết trời lạnh đầy sương. Thông thường lá mai sẽ vàng úa vào những tháng cuối năm, một số tự rơi rụng, một số còn lại bám lấy cành, để rồi những ngày Tết, chồi non và búp tươi sẽ nở thành những đóa hoa vàng rực rỡ. Theo kinh nghiệm truyền trong dân gian, hằng năm vào ngày mười ba hoặc mười bốn âm lịch tháng Chạp, người ta lặt hết lá trên cây mai, sau đó tưới nước thúc cho mai đâm nụ xanh đều khắp nhánh cành. Vào chiều hai mươi chín hoặc ba mươi Tết, cành mai vẫn còn búp xanh, đầu búp đã hé chấm sắc vàng trông đẹp mắt, hoặc lác đác vài búp nở hoa vàng... vậy mà như một phép mầu, vào đêm giao thừa rạng sáng mùng một, tất cả các búp vụt bừng nở vàng tươi, rực rỡ. Người ta cũng chú trọng đến việc tưng tiu các hoa trên cành, không đụng chạm mạnh để chúng khỏi rơi rụng. Có người bỏ vào bình nước cắm hoa mấy viên thuốc Aspirin, hoặc thui chỗ chặt cành, vừa thúc cho mai nở đúng giao thừa, vừa giữ cho chúng tồn tại trên cành, kể cả hoa đã nở và các búp sắp sửa nở lâu tàn, ít rụng (?). Bà con còn giữ lại số hoa đã rụng xuống nền nhà trong suốt mấy ngày Tết, như để giữ lấy cái may mắn cho suốt năm mới, vì vậy phần đông không ai quét nhà vào ngày đầu năm. Sở dĩ người ta quí trọng mai như vậy, vì ông bà ta thường quan niệm tất cả mọi việc bắt đầu từ mùa xuân, hoa mai vận hành và hoàn tất khâu khởi động để sẵn sàng tươi cười khoe sắc vào đúng thời điểm đầu năm, phải chăng là biểu hiện của sự may mắn, của vạn sự lành và việc làm ăn phát đạt, phát tài ?

        Chúng ta đang sống tại HOA KỲ. Các chợ Việt Nam hầu như cố kiếm tìm cho được một số cành mai thật để bày bán cho những người yêu thích và quí chuộng hình ảnh hoa mai. Tuy nhiên, do thời tiết và điều kiện, nên HOA MAI trên đất HOA KỲ dù muốn hay không cũng khó mà đáp ứng được những ai có óc thưởng thức mai xuân bằng cả nghệ thuật rất Việt Nam của mình. HOA MAI giả trưng bày nhiều nhất, người ta mua vào dịp Tết ở hải ngoại, có lẽ cũng chỉ vì ý nghĩa mong muốn được may mắn đầu năm trong cuộc sống nơi xứ lạ quê người? Nhân dịp Tết Nguyên Đán cổ  truyền  của  dân  tộc  Việt Nam, người viết bài xin gởi đến quý bạn đọc xa gần lời chúc mừng đầu năm Mua may bán đắt, Sức khoẻ dồi dào, Gia đình hạnh phúc và Vạn sự như ý.

____

Tham khảo:      - NGÀY XUÂN THỬ TRUY TÌM LÝ LỊCH MỘT LOÀI HOA của MẠNH XUÂN

-          ĐẦU NĂM MỚI NÓI CHUYỆN MAI của HUỲNH DUY LỘC

MÙA XUÂN

NÓI CHUYỆN “ĂN” TẾT

LÊ CẦN THƠ

(Về Nguồn – Tây Đô)

TL_Firecracking.gif

         Thật tình tôi không dám lạm ngôn khi Nói Chuyện Ăn Tết, bởi vì đã có rất nhiều bậc thức giả, những nhà văn chuyên viết về phong tục, tập quán, hay ít ra tuổi đời cao, có nhiều kinh nghiệm sống để thực hiện điều nầy. Ở đây, tôi xin phép quí vị được đóng góp chút ít những gì mình hiểu được, kể lại cho vui trong những ngày sống xa quê hương – mà thời điểm đó tại quê nhà, bà con mình đang đón nhận ngày Tết cổ truyền bằng nhiều tâm trạng khác nhau do từng cuộc sống đưa đến phải chấp nhận; có thể vui, buồn, hân hoan, và cũng có thể tiếc nuối, ân hận cũng nên! Có điều, cái giàu cái nghèo của vật chất một dịp nào đó sẽ đổi thay; nhưng cái nghèo giàu trong tâm hồn thì khó mà thay đổi nếu như bên cạnh cuộc sống có những ràng buộc đau lòng.

         Người đông phương, nói cụ thể là người Việt Nam chúng ta, theo sử sách thì đã có hơn bốn ngàn năm văn hiến, có một lịch sử hào hùng trong dựng nước và giữ nước. Những câu ca dao, tục ngữ diễn tả phong tục, tập quán, sinh hoạt đời sống, hay giáo dục con người... đã gắn liền trong tim của mỗi con người Việt Nam ngay từ thuở mới lọt lòng, bằng những bài hát ru trên võng, trên nôi của mẹ, của chị, mà lớn lên ít nhiều trong chúng ta đều còn nhớ. Chẳng hạn mấy câu hát ru con trên nhịp võng đu đưa buổi trưa hè ở thôn quê thường nghe như:

Má ơi đừng đánh con đau

Để con bắt ốc hái rau má nhờ...

.

Má ơi đừng gả con xa

Chim kêu vượn hu biết nhà má đâu...

.

Gió đưa cây cải về trời

Rau răm ở lại chịu lời đắng cay...

.

Chim quyên ăn trái nhãn lồng

Lia thia quen chậu vợ chồng quen hơi...

.

Trồng trầu thì phải khai mương

Làm trai hai vợ phải thương cho đồng...

         Đại khái như vậy. Những câu hát ru con tự nhiên ăn sâu trong tiềm thức con người theo thời gian, đã tạo cho mỗi người dân Việt Nam chúng ta có nguồn kiến thức văn hoá dân gian rất dồi dào. Bởi vậy mới nảy sinh ra những truyện bằng thơ (bây giờ vẫn ghi là Khuyết Danh hay Vô Danh) trong kho tàng văn học dân gian Việt Nam.

         Tôi dài dòng, bởi muốn mượn câu tục ngữ Nhập gia tùy tụcQuá giang tuỳ khúc mà thời đi học tôi có dịp được thầy cô cho làm tập làm văn nhằm bình giải những câu này. Hiểu nôm na là khi vào nhà ai phải tuân theo tục lệ của nhà đó; đi trên khúc sông nào phải tuỳ theo tình huống ngay trên đoạn sông đó mà đối phó với bao biến cố có thể xảy ra. Nó không thể trùng lắp nhau để chúng ta dễ dàng ứng xử như thói quen trong nhà mình, hay trên khúc sông mà mình đã nằm lòng khi qua đó. Nói như vậy để cho thấy, phần đông các bạn thanh thiếu niên định cư trên đất Hoa Kỳ nhiều năm, đã quen với mọi sinh hoạt của xã hội nầy, trong giao tiếp, ăn nói, suy nghĩ tại gia đình, ở trường học, ngoài xã hội... như ta thường chứng kiến là lẽ thường tình. Có thể thế hệ nầy đã không còn có dịp biết được những phong tục tập quán tại đất tổ quê cha, bởi cuộc sống không có điều kiện cho các bạn đủ thời gian nghiên cứu. Một số người Việt mới sang định cư những năm sau nầy, thành phần trẻ có bạn còn biết đôi chút chuyện quê nhà do mình có dịp sống hay đọc trong sách báo..., có thể một ngày nào đó rồi cũng phải quên đi. Chỉ có những người lớn tuổi, dù cuộc sống vất vả cực nhọc thế nào, chắc chắn phải có đôi lúc ngẫm nghĩ và nhớ lại – nghĩ và nhớ trong tâm tưởng để xoa dịu phần nào nỗi buồn xa cách quê hương của mình. Cho nên, nhân dịp TÊT CỔ TRUYỀN VIỆT NAM năm nay trên đất HOA KỲ, tôi xin phép quý vị được nói về ĂN TẾT ở quê nhà – gọi là nhắc nhớ cho tâm hồn mình được thư thả trước bao công việc bề bộn mà mỗi người chúng ta phải làm. Chắc chắn trên đất Hoa Kỳ nầy, chúng ta khó mà có được cái không khí: “Cu kêu ba tiếng cu kêu. Trông mau tới Tết dựng nêu ăn chè...” như ngày xưa ở quê nhà đâu.

         Hồi còn sống trong trại cải tạo, cứ mỗi dịp Tết đến, chúng tôi cũng cố mà tổ chức ăn Tết với nhau vào đêm giao thừa. Mỗi người một món như gói trà, phong kẹo đậu phộng, thẻ đường... do gia đình thăm nuôi đem đến và anh em cất giữ để dành ăn Tết. Thường ngày, ăn bắp, khoai mì, khoai lang, bo bo... với muối bọt là chính; mỗi tuần được phát cơm hai lần, mỗi lần khoảng một chén, ăn để cầm hơi giữ sức. Anh em lại có óc khôi hài, cứ cầm trái bắp cứng như đá lên ăn lại nói, đó là đùi gà quay; cầm khúc khoai mì luộc mà không lột vỏ, mốc xanh thì nói đó là bánh bông lan bắt chỉ... Sau nầy khi ra trại, tôi có dịp nghe chính nhà thơ Trần Mạnh Hảo, tác giả tiểu thuyết Ly Thân, vốn là đảng viên CS, đọc một bài thơ nhân buổi đại hội “văn xuôi miền Trung” tổ chức tại Đà Lạt năm 1987 đại ý diễn tả cái nghèo của gia đình anh, bữa cơm thường ngày thiếu thốn lắm, các con anh thèm ăn gà vịt, cá tôm mà vợ chồng anh không làm sao mua nổi, anh nghĩ ra cách, xin bạn bè bức tranh vẽ gà vịt quay, cá tôm bày trong dĩa màu sắc trông thật ngon lành, treo tại bàn ăn. Mỗi bữa ăn, anh chỉ cho các con nhìn vào và giới thiệu từng món ăn sang trọng... cho con mình được ăn tưởng tượng thế đó cho qua ngày tháng. Dĩ nhiên bài thơ khó mà được chấp nhận, thành ra tác giả bị trù dập! Nêu lên sự việc nầy, tôi muốn nói đến cách khái quát của chữ ĂN, là ĂN CỤ THỂĂN TRỪU TƯỢNG.!.   

         Quả thật, người Việt Nam chúng ta rất ưa chuộng cái ăn. Có người lại nâng lên hàng cao hơn, đó là nghệ thuật ăn uống. Điều nầy cũng dễ hiểu thôi, bởi trong tứ khoái của con người, chữ ăn lại đứng hàng đầu. Ta thử truy tìm xem: ăn đầy tháng, ăn thôi nôi, ăn tân gia, ăn lễ hỏi, ăn lễ cưới, ăn giỗ, ăn khao, ăn tiệc, ăn mừng, ăn sinh nhật, ăn lục tuần, ăn Tết Trung Thu, ăn Lễ Quốc Khánh.. . và quan trọng hơn hết lại là ăn Tết.

         Ăn Cụ THỂ không cần dùng từ hoa mỹ nào hay ho hơn, vì đó là ăn bằng miệng. Trong Từ Điển Tiếng Việt (KHXH-VN 1992) từ trang 26 đến trang 30 có định nghĩa tới 110 chữ ăn, nhưng xếp về tính chất thì có tới 13 loại. Trước hết họ định nghĩa: 1 Tự cho vào cơ thể thức ăn nuôi sống. 2 Ăn uống nhân dịp gì. 3 (máy móc, phương tiện vận tải) tiếp nhận cái cần thiết cho sự hoạt động. 4 (Kết hợp hạn chế) nhận lấy để hưởng. 5 Phải nhận lấy, chịu lấy. 6 Giành về phần mình hơn, phần thắng (trong cuộc thi đấu). 7 Hấp thu cho thấm vào, nhiễm vào trong bản thân. 8 Gắn, dính chặt vào nhau, khớp với nhau. 9 (kết hợp hạn chế) Hợp với nhau, tạo nên một cái gì hài hoà. 10 Làm tiêu hao, hủy hoại dần từng phần. 11 Lan ra hoặc hướng đến nơi nào đó (nói về khu vực hoặc phạm vi tác động của cái gì). 12 là một phần ở ngoài phụ thuộc vào, thuộc về. 13 (đơn vị đo lường, tiền tệ) có thể để ngang giá... Ở đây, chúng ta chọn định nghĩa số 1 và 2 để nói về ĂN.

         Miền Bắc Việt Nam, để thưởng Xuân, người ta dùng nhiều món ăn tinh xảo, cầu kỳ. Nhưng nói tới việc mừng ngày đầu năm, món đầu tiên người miền Bắc phải có là BÁNH CHƯNG. Đó là món quốc hồn quốc tuý, có từ thời Hùng Vương dựng nước. Để có được bánh chưng, ngoài kỹ thuật gói phúc tạp đầy kỹ xảo, người ta cần phải có vật liệu: đậu xanh cà, gạp nếp, hành, tỏi cùng những miếng thịt đùi, thịt mông tươi rói. Tất cả gói gọn trong lá dong. Bánh gói bằng lá dong mới đạt yêu cầu, vì nó tiết ra màu xanh ngọt mắt vào từng hạt nếp ninh nhừ, đồng thời tạo cho chiếc bánh hương vị nhẹ nhàng, thanh thoát. Ăn miếng bánh chưng là ăn cái thanh nhẹ lẫn cái đậm đà trần tục của những miếng thiẹt thăn cùng tiêu nhành thơm phúc kích thích dịch vị. Nấu bánh chưng là cơ hội để người ta chờ đội giao thừa. Dịp nầy bao nhiêu câu chuyện trong năm được kể ra, những u buồn uẩn khúc, những xui xẻo năm qua sắp chấm dứt. Nó cũng là lúc cho các bà lão kể chuyện cổ tích cho con cháu nghe – có lẽ nhờ vậy mà trong kho tàng cổ tích nước nhà nhiều vô kể, được truyền miệng mãi đến sau nầy? Nấu bánh chưng cũng là dịp để người ta hưởng cái ấm áp trong đêm giá lạnh và cũng thắm đượm nghĩa tình anh em họ hàng sau nhiều ngày xa cách. Ngoài món bánh chưng độc đáo, người Bắc còn có những món ăn khác ngon cũng không kém như chè kho, xôi gấc, thịt đông. Ăn một miếng thịt đông lạnh ngắt kèm vài miếng dưa chua, người ta nghe sự sảng khoái lan khắp cơ thể. Ngụm thêm một chút rượu thì cuộc đời quả thật là sinh thú.

         Ở miền Nam không có bánh chưng mà có BÁNH TÉT. Nó cùng chủng loại với bánh chưng, nhưng cách gói khác nhau. Bánh chưng hình vuông gói bằng lá dong, trong khi bánh tết hình tròn dài gói bằng lá chuối xiêm. Bánh tét đa dạng hơn bánh chưng, ngoài loại nhân thịt mỡ, đậu xanh, tôm khô, lạp xưỡng, lòng trứng muối…, còn có bánh tét nhân ngọt bằng chuối xiêm chín hay nhân dừa nạo sên đường. Có khi người ta nhuộm nếp bằng lá cẩm cho tím rồi cán đậu xanh cà một lớp, bên trong để nhân mặn cuốn lại rồi hấp. Khi cắt ra miếng bánh có viền chỉ trông thật đẹp, ăn thật ngon… Ngoài bánh tét, còn có thịt kho nước dừa, dưa giá. Thịt kho phải kèm cá lóc và hột vịt mới đúng bài bản. Ăn miếnhg thịt đùi mềm mụp, ngọt ngào, béo ngậy, người ta  dậm thêm miếng hột vịt béo bùi giòn rụm. Cái ngon chưa kịp tiêu hoá, nhai thêm miếng cá lóc, cảm giác ngọt ngào của loại cá đồng ở miệt sông nước ngọt, sẽ đẩy tan hết cái ngán ngại của thịt mỡ ám ảnh. Gắp thêm đũa dưa giá, người ta càng thấy dễ chịu và tưởng chừng như chưa ăn một thức gì, cho nên cứ tiếp tục ăn… đến quên thôi. Ba ngày kết, người miền Nam cón thích món ăn tôm khô củ kiệu, nhâm nhi với ba xị đế hay chút la-de sẽ thấy đời lên hương vô cùng.

         Ăn Tết, dù nhà giàu hay nghèo, người miền Nam không thể quên món ăn dân giả mà thắm đượm nghĩa tình của hương đồng cỏ nội, đó là bánh trángbánh phồng. Bánh tráng ngọt và bánh phồng dùng để nướng trên lửa rơm hay lửa than hồng, nhưng bánh tráng trắng dùng để nhúng với nước, gói gỏi, rau sống, thịt ba rọi, tôm tép... thành món gỏi cuốn; hoặc để cuốn với thịt bầm trộn khoai cau, gia vị thả vô chảo chiên lên thành món chả giò. Người Bắc gọi chả giò là nem, cuốn từng cuốn nhỏ và dài cỡ ngón tay cái, rất thuận tiện và lịch sự trong ăn nhậu. Người Nam cuốn chả giò to hơn, có khi gấp đôi, gấp ba người Bắc cho xứng với danh hiệu ăn to nói lớn đặc trưng của từng địa phương. Tuy nhiên, khi ăn, người ta cũng dùng kéo cắt ra thành khúc để tiện đưa vào miệng. Chả giò ăn với bún hay bánh hỏi mới ngon, nhưng phải cần nước chấm cho ngon mới hợp khẩu. Các quán ăn Việt Nam thường tranh nhau bán nem, bún chả giò và thu hút rất nhiều thực khách, nếu như họ chế biến thật đặc sắc và hấp dẫn.

         Ăn Tết cũng còn lấn sang đến hội trái cây vùng sông nước Cửu Long. Ngoài quít, cam, đu đủ, mãng cầu ta, mãng cầu xiêm, vú sữa, xoài, dừa, còn biết bao loại trái linh tinh khác. Nhà nào cũng có những dĩa trái cây đầy ắp chưng trên bàn thờ gia tiên, bên cạnh cặp dưa hấu tròn lũm duyên dáng được chủ nhà lựa chọn khi mua cho đẹp nhà đẹp cửa. Đáng nói ở đây là các loại trái cây được các mẹ, các chị khéo tay làm ra các loại mứt thật hấp dẫn trong dịp tết như mứt bí, mứt gừng, mứt dừa, mận, hồng, cà, me, đu đủ, mảng cầu, khoai lang.. . Sau bữa ăn, ăn thêm một miếng mứt, uống hớp trà thơm nóng sẽ thấy đời hạnh phúc đến dường nào!

         Chuyện ăn tết nói bao giờ hết, bởi vì mỗi nơi, mỗi miền đều phong phú, đa dạng, không đâu giống hệt đâu, do vậy ban đầu tôi cũng cố tình mượn câu nhập gia tuỳ tục và quá giang tuỳ khúc để nói trước vậy. Bây giờ tôi xin mời quí vị ăn tết trừu tượng, nghĩa là ăn tết theo lối tưởng tượng bằng giác quan của mình ngay tại xứ sở văn minh Hoa Kỳ rất xa rời phong tục tập quán bản xứ Việt Nam của chúng ta. Cách ăn nầy là ăn bóng, ăn hình, ăn hương, ăn vị. Bạn hãy thông cảm cùng tôi đi vào thế giới kỳ ảo của loại ăn... hình sương bóng khói nầy của quê nhà.

         Lẫn vào dòng người ồ ạt chảy trong những ngày cận tết ở quê nhà, vào đúng ba ngày tết, chúng ta hãy phóng mắt nhìn. Các cậu thanh niên đèo nhau trên các xe CUB phóng bạt mạng trên những con đường đông đúc chật chội như chốn không người, bỏ sau lưng những đám bụi khói đen dầy đặc đến ngột ngạt khó thở. Nhưng bên cạnh đó cũng có những cô cậu, các cặp tình nhân thong thả lượn xe qua những dòng người cũng thong thả như đang đi thưởng... xuân, dù thực tế họ đang bận tâm nghĩ gì chúng ta làm sao hiểu được, bởi trên cuộc đời lắm bể dâu nầy, có người sung sướng mãn nguyện, cũng phải có người thất bại, buồn thảm chớ! Tuy nhiên, trong những ngày nầy, ai cũng ăn mặc sạch sẽ, tươm tất như... ngày hội. Ăn Tết bằng NHÃN vị, phải nói đến màu sắc từ trong nhà ra ngoài phố. Quý vị sẽ thấy rực rỡ sắc hoa tươi (chớ không phải hoa ny lông, hoa giả trong các tiệm bán hoa thờ cúng quanh năm đâu!). Những bông cúc đại đoá vàng rực hoặc trắng muốt to bằng cái chén ăn cơm, nở tươi mát, bật vượt bên những chiếc lá xanh ngọc thạch khiến ta mãi mê nhìn ngắm. Những đoá thược dược, những chậu kim cúc chẳng thể nào khép mình nhường bước. Những cành mai đầy đặc nụ xanh bên cạnh các cánh hoa vàng rực rỡ, mầm lộc biêng biếc điểm xuyết một cách ưa nhìn. Những cánh hoa mồng gà, hoa mống tay, những chùm trái hạnh vàng tươi quyến rũ...  xen với màu sắc áo quần của các cô, các cậu thanh thiếu niên, tạo cho cái Tết trẻ trung, tươi thắm.

         Ăn TẾT, người ta còn ăn bằng MŨI nữa. Quí vị có thể dùng mũi để ngửi được mùi hương của các loại hoa, mùi thơm của các loại nước hoa và mùi pháo nồng bay lan (từ nhiều năm trước ở VN đã cấm đốt pháo rồi, chưa biết năm nay thế nào?) trong gió, đi thẳng một lèo vào khứu giác ta. Mùi nhang trầm ở các chùa, đền, miễu cũng khiến tâm hồn ta thanh thoát. Mùi những miếng thịt chiên trên chão nóng mỡ hay nướng trên vĩ lò, mùi của những cuốn chả giò vàng rượm, mùi những cục mỡ trắng tinh mềm béo và mùi của hàng bao nhiêu thức ăn bắt ta trở về trần tục, ép buộc môi, hàm răng, quai hàm chúng ta làm việc quá chừng. Ăn Tết mà thiếu mùi rượu, dù rượu nhập hay rượu đế, rượu quốc doanh, kể cả rượu lậu, rượu.. . dỏm trong nước, thì kể như chẳng còn gì lạc thú trong đời. Tuy nhiên, nhấp chút rượu cho đời lên hương chớ không phải để say sỉn rồi quậy quạng, làm mất nhân cách đâu.    

         Đã nói ăn bằng mắt, bằng mũi mà không nói tới TAI thì chưa đủ bộ. Những ngày sắp tết, nhiều năm về trước, thỉnh thoảng quí vị nghe những tiếng đì đùng, lạch tạch của pháo. Tiếng pháo nhắc nhở quí vị là đã cận kề tết, phải nhanh chóng lo toan mọi thứ để ăn tết. Ở thôn quê như Trường Long quê tôi, có lúc không tiền mua pháo, các bạn trẻ lại lấy ống tre, ống đu đủ để đốt pháo... bằng hơi khí đá, cũng nổ ì ầm đến điếc cả tai chớ chẳng phải chơi. Các gian hàng chợ tết thì vang dội đủ loại âm thanh phát qua loa, nào là kêu lô tô, hét hò quảng cáo đủ loại đủ kiểu, họ giành nhau nói mà không cần biết người xung quanh có nghe hết nội dung không, thành thử.. . TAI nhận hết mọi tạp âm ngày Tết ở thành phố thật đáng tội nghiệp! Sang Hoa Kỳ nầy, trong mỗi hội chợ Tết, cái tạp âm nầy cũng tái diễn, nhưng vẫn có nhiều người chẳng than phiền, bởi đồng hương muốn đến nơi “đông mà vui” để gặp bạn bè đồng hương hơn là để nghe!

         Trên đây tôi mới lạm bàn vài chuyện ăn tết cụ thể và trừu tượng. Nghĩ rằng nó chỉ loáng thoáng đôi chút thực tế trong cuộc sống ngày tết ở quê nhà, nhưng có còn hơn không, bởi vì chúng ta chỉ còn sống trong cõi nhớ mà thôi. Dù ăn tết cụ thể hay trừu tượng, cái gì cũng có giới hạn của nó, nếu đi quá đà có thể đưa con người vào con đường tội lỗi bằng cách ăn trộm, ăn cướp khi thua bài bạc, hút xách, hay ăn xài quá mạng phải nợ nần mất uy tín (bad credit). Mấy tiêu chuẩn trên còn dẫn đến tình trạng ăn gian nói dối, đồng thời có người uống thuốc liều chơi cái trò ăn quịt, ăn chận v.v.. . Ăn nhậu say sưa no cơm rửng mỡ trong ba ngày tết cũng khuyến khích mấy ông thuộc dòng họ Trư Bát Giới, ra tay làm bậy kiểu ăn vụng ái tình thì xấu xa lắm! Tết cũng là dịp để các quan viên lớn bé, từ trung ương xuống hạ tầng, có người đút lót, đóng góp vào sự nghiệp ăn tết cho xôm trò, sẽ rơi vào vũng lầy là ăn hối lộ. Dộng ba thứ nầy nếu không khéo sẽ vô nhà lao gỡ lịch dài dài và.. . mặc sức mà ăn bánh bột mì luộc, khoai mì, khoai lang, bo bo, bắp khô, ăn đủ loại cây cỏ, rắn rít bắt được trong trại, ăn đến trào máu họng!

         Và, thưa quí vị, sống trên đất Hoa Kỳ văn minh nầy, những điều trước đây xảy ra trong nước Việt Nam mà chúng ta cho là không được, không thể chấp nhận vì đạo lý, thì ở đây chắc chúng ta cũng không ngại gì mà tiếp tục giữ gìn cái nhận thức đó. Bởi vì, dù nhập gia tùy tục, nhưng chúng ta không thể làm điều gì sai trái với luân lý và đạo đức vốn tiềm ẩn trong dòng máu dân Việt của chúng ta. Hãy nhớ những truyền thống tốt đẹp của quê hương đất nước, có dịp giới thiệu và nói cho con cháu chúng ta biết, và nếu được, làm cho những thế hệ nầy yêu được cái đẹp của cội nguồn dân tộc. Tết nguyên đán là tết cổ truyền của Việt Nam, trong lịch Hoa Kỳ không có ghi, nhưng chắc chắn trong lòng của mỗi người dân Việt Nam chúng ta đã tự ghi sâu đậm rồi. Rất mong được như vậy.

LÊ CẦN THƠ

(Về Nguồn – Tây Đô)

__________

Tham khảo:  QUẨN QUANH CHUYỆN.. .. ăn tết của Lương Vỵ

                                             (VNCT xuân Tân Mùi 1991)  

(Ký tên SONG LÊ in trong SỔ TAY VĂN HỌC tạp chí VHVN tại Houston TX – USA, số ba mươi hai – mùa Xuân 2006, tr 4 – 12)

________________________________________________________________________________________________________________________

NỖI NHỚ VÀO XUÂN

(* tặng bạn tôi, ghi lại một chuyện tình

chôn kín tại quê nhà sau cuộc chiến tang thương)

truyện

LÊ CẦN THƠ

TL_HoaDienDien.jpg

         Cánh đồng Trường Long không lớn lắm, nhưng vào thời tuổi trẻ, Ba Hoanh cảm thấy nó quá rộng lớn, mênh mông và bát ngát vô cùng. Từ bờ vườn của dòng Sông Cái thuộc ấp Trường Thuận, nhìn sang phía bờ rạch Cai Cẩm thuộc ấp Trường Khương, có  lằn ranh đất chạy dài từ hướng vàm rạch vô tới cuối rạch giáp với Xẻo Lá, đã thấy xa vời vợi. Những giồng cỏ chia ranh các thửa ruộng của hai phía đan thành những ô đất hình chữ nhật, nếu đứng trên cao nhìn xuống như bàn cờ. Có những con kinh, con mương xẻ ngang, xẻ dọc để dẫn nước từ Sông Cái, từ rạch Cai Cẩm vào đất ruộng, lúc nước lớn lên có thể chống xuồng để đi sâu vào các thửa ruộng, đây cũng là phương tiện dẫn nước phù sa để bồi đắp chất màu mỡ lên mặt ruộng đồng, nên những năm 1950 – 1960 của thế kỷ trước, cánh đồng nầy năm nào ruộng lúa cũng trúng mùa, bà con nông dân không cần sử dụng phân bón hoá học và thuốc trừ sâu. Mỗi công ruộng có thể cho năng suất hai ba chục giạ lúa mà sau nầy dù phương tiện kỹ thuật tân tiến cũng chưa đạt được như vậy. Mỗi năm người dân chỉ làm một mùa lúa theo chu kỳ: tháng năm gieo mạ, tháng bảy cấy giâm, tháng chín cấy liền và tháng chạp, tháng giêng gặt lúa. Sau khi gặt lúa, đất ruộng để trống “nghỉ ngơi” chờ những cơn mưa đầu mùa đổ xuống, tháng năm âm lịch mới bắt đầu vào mùa. Khoảng thời gian trống nầy, người dân thường dành một hai công đất biền để tỉa đậu, bắp, hay lên giồng trồng khoai lang, khoai mì… Năm nào cũng vậy, dù miền quê nầy thời đó không có điện, nhà nhà phải xài đèn dầu, nhà nào khá giả thì mua đèn măng-sông để thắp trong các đêm có khách hay chuẩn bị cúng giỗ quy tụ con cháu khắp nơi về.

         Ba Hoanh là con trai thứ hai trong gia đình. Người anh cả thời kháng chiến chống Pháp đã theo thanh niên tiền phong và đã đi tập kết ra Bắc năm 1954, gia đình không còn tin tức gì hết. Hai đứa em gái thứ Tư và thứ Năm, ba thằng em trai là Sáu Già, Bảy Đoàn và Út Kết còn nhỏ sống với cha làm nghề hớt tóc. Mẹ của Ba Hoanh đã mất sau khi sanh ra thằng Út Kết được mấy tháng do bạo bệnh. Những năm sau đình chiến 1954, gia đình quây quần sống với bao nhiêu nhân sự đó trong một căn nhà lá ba gian hai chái khá ngăn nắp dưới sự chăm sóc của người cha “gà trống nuôi con”, mà Ba Hoanh bây giờ trở thành cánh tay “trụ cột” bên cạnh ba mình.

         Mười lăm công đất ruộng thuê mướn của chủ điền Tư Quản do chính bàn tay của Ba Hoanh chăm lo thay cho ba, bởi vì ba hằng ngày còn phải xách tông-đơ đi hớt tóc dạo cho người lớn và trẻ em trong xóm, khi không có ai kêu hớt tóc, ba mới ra đồng tiếp con lo việc ruộng nương. Người ta nói tuổi “mười bảy bẻ gảy sừng trâu”, nhưng Ba Hoanh đã hai mươi mốt vẫn chưa tính chuyện lập gia đình bởi đàn em nhỏ dại như vậy. Những cô bạn gái cùng trang lứa với Ba Hoanh như cô Láng, cô Dung, cô Thu, cô Mười, cô Út… đều thường xuyên gặp gỡ nhau trên cánh đồng vào mùa cấy, gặt. Họ đều vui vẻ, chuyện trò thân thiện với nhau, trong đó Ba Hoanh có để ý đến một cô mà chưa dám mở lời. Chuyện tình cảm trai gái vào thời đó không phải như bây giờ, kín đáo, dè dặt và ngại sợ người lớn biết được sẽ cản ngăn, bởi quan niệm “môn đăng hộ đối”, hay tư tưởng “nam nữ bất tương thân”. Dù vậy, tình cảm riêng tư khó mà che giấu nhau, nhất là với các bạn nam nữ cùng gặp gỡ nhau trong công việc đồng áng.

         Một hôm, từ con đường đất nhỏ hẹp dẫn ra đám ruộng của mình, Ba Hoanh đã “bị” Tám Sơn gạn hỏi:

         - Chuyện mầy với con Láng tới đâu rồi?

         - Tới đâu là sao?

         - Là... hai người có gì với nhau chưa?

         - Đừng nghĩ bậy. Chưa ai nói với ai câu nào hết. Đồn rùm beng lên, chết cả đám!

         - Đồn cái gì. Hai đứa thương nhau thì nói thương chớ đồn cái gì?

         - Ba má cô Láng khó tính lắm. Nghe nói, gia đình của cô Láng là gốc người Tàu, không gả con cho người Việt...

         - Ai nói?

         - Thì tao nghe vậy!

         - Để tao dọ hỏi cho...

         - Đừng có tào lao nghe mậy! Cô Láng mà nghe được thì mầy bị “chửi tắt bếp” à nghen!

         - Nhưng tao hỏi thiệt, mầy có thương con Láng không?

         - Mầy hỏi để làm gì?

         - Để mừng cho mầy. Tao thấy hai đứa xứng đôi lắm...

         - Xạo hoài.

         Chỉ đối đáp tới đó là đã thu gần khoảng cách với đám ruộng sẽ cấy vào ngày mai của Ba Hoanh. Hôm nay, Tám Sơn tiếp Ba Hoanh dọn xong phần đất để buổi chiều hai người gánh mạ ra bỏ khắp mấy công đất cho khuya sớm nhóm bạn trong tổ vần công đổi công cùng nhau cấy hết phần đất của Ba Hoanh. Cứ theo cách sắp xếp như vậy, chỉ trong vòng nửa tháng, tất cả phần đất ruộng của ấp Trường Thuận sẽ cấy xong, màu mạ non rồi sẽ bén rễ và vươn xanh lên cả cánh đồng để tạo nên mầm sống truyền đời của người dân nơi đây.

         Khi tiếng gà gáy rộ cũng là giờ báo thức cho bà con trong ấp Trường Thuận thức dậy chuẩn bị ra đồng. Ba Hoanh có dặn Ba đừng thức sớm, để anh lo “xôi” nồi cơm nếp và “chưn” tô mắm cá trê trắng cho tổ vần công ăn sáng sớm trước khi xuống ruộng cấy là được. Bởi vậy, buổi tối trước khi đi ngủ, Ba Hoanh đã ngâm nếp trong cái thau lớn; cắt lá chuối lót cái xửng đặt lên trên cái nồi lớn đổ đầy nước để  nấu “xôi”. Củi cũng được chuẩn bị sẵn, để nửa khuya anh thức dậy làm việc bếp núc mà không gây tiếng động cho cả nhà ngủ. Anh cũng đã giở khạp gắp mấy con mắm trê để vô cái tô lớn, xắt củ hành phủ lên mặt, chế một chút mỡ heo, thêm chút đường và rắc tiêu hột lên sẵn, đặt trong cái nồi để chưn cách thủy tô mắm nầy ăn với xôi. Vô mùng giăng trên chiếc chõng tre, Ba Hoanh chun vô nằm cố ngủ một giấc khi nghe tiếng gà gáy canh hai là anh thức dậy cuốn mùng, xếp chiếu cẩn thận rồi vào chái nhà bếp.

         Đang lui cui nhóm bếp, chợt Ba Hoanh nghe tiếng gọi nho nhỏ ngoài hè:

         - Anh Ba, anh Ba...

         - Ai vậy?

         - Tui, Láng nè...

         - Trời, sao cô đến sớm vậy?

         - Mở cửa đi, tui vô nấu nướng tiếp cho. Anh làm “mình ên” sao kịp...

         Ba Hoanh bước lại cửa rút cây “xông hồng” gài chận ngang cánh cửa, giở lên cho cô Láng bước vô. Anh lúng túng nhìn Láng, muốn hỏi điều gì thì Láng cười:

         - Đừng có nhìn tui như vậy. Hôm trước, tui có nghe nói anh định cho mấy Cô Chú, mấy anh chị em ăn xôi nếp với mắm chưn, tui mới đi sớm qua tiếp với anh cho mau. Tui biết, trong nhà chỉ có “mình ên” anh lo mọi chuyện, phụ giúp anh hổng được sao?

         - Phiền cô quá. Cô còn phải đi cấy nữa, thức sớm ra đồng buồn ngủ làm sao cấy được.

         - Được chớ sao không? Thôi, chuyện nấu bếp anh để tui lo. Vô nằm ngủ thêm một chút đi. Cần gì thì tui kêu...

         - Bỏ cô nấu bếp, tôi đi ngủ coi sao được.

         - Bây giờ hổng nghe lời tui phải không?

         Ba Hoanh chống chế:

         - Đâu phải không nghe. Nhưng tôi với cô cùng nấu, để cô một mình buồn chết.

         - Bảo không là không. Anh không nghe, tui dìa liền bây giờ.

         Ba Hoanh đành phải bước nằm lên chiếc võng giăng giữa hai cây cột ngăn qua chái nhà bếp, cứ thao thức không sao nhắm mắt được. 

         Láng nhóm bếp xong, một bếp nấu xôi, một bếp chưn mắm. Cô lấy cái ghế đẩu đặt chỗ bếp, ngồi chụm củi và chờ cho xôi chín. Cô lan man suy nghĩ đủ điều. Chuyện tl_hoalucbinh.jpgmình qua nhà của anh Ba Hoanh để phụ cho anh ấy nấu bữa ăn sáng cho tổ vần công đổi công là cô đã có xin phép mẹ, với lý do là hoàn cảnh gia đình anh Ba Hoanh đơn chiếc, sang giúp đỡ chớ không có tình ý gì. Mẹ của cô nghe thấy vậy cũng không ngăn cấm, nhưng bà dặn, “con gái, làm gì làm nhưng phải giữ gìn, đừng làm điều gì không tốt mang tiếng cả đời nghe con!”. Thật tình, mẹ của cô cũng thấy được con gái mình có cảm tình với Ba Hoanh, bà cũng mong cho con có được tấm chồng để an phận sau nầy, nhưng trong lòng bà cũng lo là không biết chồng bà gốc người Quảng Đông có chấp nhận hay không? Bởi vì, dù bà là người Việt, con gái mình là con Việt lai Tàu, bà con nói nó là người “minh hương”, không lẽ duyên nợ bị trớ trêu do chủng tộc như vậy? Ba của cô Láng có phần đất ruộng phía sau nhà nhưng mọi việc ông để cho con gái chăm lo. Phần ông hàng ngày trông coi bán đồ tạp hoá cho bà con trong xóm xài. Một cái chòi cất góc trái phía trước nhà gie ra, ba bề dừng kín bằng lá, trước mặt nhìn ra sông bên dưới đóng bằng thiếc mỏng, bên trên đóng mặt cáo ô vuông cho ánh sáng rọi vào. Dọc theo vách là các kệ hai ba tầng, bên trên để đủ loại hàng hoá để nấu ăn, có đường, đậu, tiêu hột, muối bọt, muối cục, tương hột, các keo chao, tôm khô, cá khô; có các loại thuốc cao đơn huờn tán, dầu gió. Phía dưới đất có dầu lửa, nước mắm, nước tương... Có các loại bánh kẹo cho con nít thích ăn. “Chệt Hai” là tên mà bà con ở đây gọi ba của Láng. Còn mẹ Láng, bà con cũng gọi thân mật là “Bà Chệt Hai”, gọi theo chồng chớ bà là người Việt chánh tông, tên bà là Nguyễn Thị Thân. Chệt Hai và cô Thân ăn ở với nhau có 4 mặt con, thằng con trai lớn chết sớm sau cơn bệnh ngặt nghèo lúc mới lên năm tuổi, nếu còn sống cũng đã 23 tuổi. Láng là con gái kế tiếp, năm nay vừa tròn 18 tuổi. Hai đứa sau cùng là thằng Hối 12 tuổi và con Muối 8 tuổi đang đi học tại lớp của thầy giáo Thuật. Bà Thân phụ lo buôn bán với chồng, nhưng cũng thường ra đồng tiếp với con gái chăm lo mười công ruộng thuê mướn của chủ điền từ trước khi Chệt Hai mở tiệm tạp hoá. Cuộc sống gia đình tương đối, không phải chật vật như một số gia đình nghèo khó khác trong ấp.

         Cô Láng ngồi chụm củi nồi xôi và nồi mắm chưn, suy nghĩ đủ điều, vá víu hết chuyện nầy đến chuyện khác nên không thấy buồn ngủ. Thỉnh thoảng cô quay lại nhìn Ba Hoanh đang đong đưa trên chiếc võng mắc giữa hai cây cột nhà, chẳng biết có ngủ được hay không. Việc cô Láng xin phép mẹ qua lo phần ăn của đội vần công cấy trên phần đất Ba Hoanh là một việc tự nguyện, thành thật chớ cô không có tình ý gì riêng. Ba Hoanh cũng chẳng nghi ngờ, nhưng có lẽ anh ngại bạn bè biết được thì đồn đại bất lợi cho việc giao tiếp lối xóm. Bất ngờ, Ba Hoanh ngồi nhỏm dậy, nhìn quanh quất một chút, anh rón rén bước lại đứng sau lưng cô Láng:

         - Buồn ngủ lắm không? Bước lại nằm đỡ trên võng một chút, khi gà gáy rộ tôi kêu.

         - Được rồi, tui ngồi đây cũng được. Gà sắp gáy rồi...

         - Thiệt, tôi cám ơn cô nhiều lắm. Nhưng tôi thấy ái ngại. Biết trả công cô cách nào đây?

         - Công cán gì. Tui tiếp anh cũng như làm việc gia đình hàng ngày chớ có khó khăn gì...

         - Cô Láng nè...

         - Gì vậy anh Ba?

         - Tôi muốn hỏi cô điều nầy?

         - Điều gì?

         - Bác... Hai trai có “khó” lắm không?

         - Khó chuyện gì?

         - Tôi nghe người lớn nói...

         - Nói Ba tui không gả con gái cho người Việt chớ gì!

         - Sao cô biết?

         - Ai cũng “đồn” như vậy. Nhưng hổng có đâu, Ba tui ổng dễ lắm. Má tui cũng dễ nữa...

         - Vậy à!

         Khi gà gáy rộ trong xóm thì nồi xôi đã chín. Ba Hoanh và cô Láng chỉ nói chuyện tới đó thì ông Bá Hộ thức giấc, từ trong buồng bước ra chỗ bàn thờ bật quẹt cháy ngọn đèn ống khói, chiếu sáng cả gian phòng. Ông hỏi vọng vô chái nhà bếp:

         - Hoanh à, con thức rồi hả?

         - Dạ! Con đã nấu xôi và chưn mắm xong rồi Tía. Sao Tía không ngủ, thức chi sớm vậy.

         - Bữa nay cấy phần đất của mình, Tía phải ra ngoải tiếp với con chớ.

         - Không cần đâu Tía. Với lại, hồi khuya tới giờ, có cô Láng lại làm bếp tiếp với con nên mọi việc xong xuôi hết rồi.

         - Ủa, có cháu Láng đến sớm vậy hả?

         - Thưa Bác, cháu qua làm bếp tiếp anh Ba.

         - Cảm ơn cháu nghe Láng.

         Ông Bá Hộ vói tay lấy ba cây nhang, đưa vô ống khói mồi rồi xá ba xá, cắm lên 3 cái lư hương trên bàn thờ gia tiên theo thói quen mỗi khuya thức sớm.

         - Bác uống trà để con nấu.

         Nghe Láng hỏi, ông Ba cảm động.

         - Được rồi cháu, để một chút nữa Bác nấu.

         - Lẹ lắm Bác. Cháu nấu liền cho Bác đây... 

         Từ trong chái bếp, Ba Hoanh và Láng đã lo dỡ xôi vô thúng và tô mắm chưn với muỗng, đũa đem theo, chờ các anh chị, cô chú trong đội vần công đến thì cùng ra đồng cấy lúa và hừng đông sáng sẽ cùng ăn. Ông Bá Hộ ngồi hút thuốc, uống trà, hỏi han Ba Hoanh với cô Láng việc đồng áng, về nhiều chuyện linh tinh khác. Ông cũng hỏi han việc bán buôn của tiệm tạp hoá nhà Láng, về việc chuẩn bị dọn đất để cấy sắp tới. Tuyệt nhiên, ông tế nhị không tỏ vẻ gì thắc mắc sự có mặt của cô Láng qua nhà giúp thằng con trai mình lo nấu phần ăn cho đội vần công.

         

         Chiến tranh càng lúc càng khốc liệt. Làng quê của nhóm bạn trong đội vần công bị bom đạn cày xới khắp nơi. Nhà thờ Ông Hào thuộc ấp Trường Thọ bên kia sông TL_HoaSenNo.gifbị bom B52 san bằng vì Tiểu Đoàn Tây Đô của VC đặt khẩu súng phòng không chỗ tháp chuông để bắn máy bay. Sau trận nầy, bà con trong hai ấp Trường Thọ và Trường Thuận đã tản cư đi khắp nơi. Ông Bá Hộ đã cho Ba Hoanh lên chợ Kỳ Son thuộc tỉnh Tân An để ở với gia đình bà con bên vợ và nhờ lo việc giấy tờ lính tráng vì ngại ở đây bị bọn du kích “rù quến” theo chúng. Trước hôm ông Bá Hộ đưa Ba Hoanh đi Tân An, cô Láng và Ba Hoanh có gặp nhau và hai người nói lời chia tay trong ngậm ngùi.

         - Anh Ba đi mạnh giỏi...

         - Ờ, cô cũng vậy nghe. Dù đi xa, nhưng lúc nào tôi cũng nhớ tới cô.

         - Nhớ thiệt hông?

         - Thiệt mà! Tại hoàn cảnh tôi phải đi. Nếu tình hình an ninh ở đây không tốt, cô với Hai Bác cùng mấy đứa em cũng phải tản cư nghe. Đi tới đâu cũng nhớ tìm cách nhắn tin cho tôi biết...

         - Anh Ba...

         Láng như muốn nói điều gì nhưng ngập ngừng. Ba Hoanh nhìn thẳng vào mặt cô Láng, chợt nhiên nghe lòng xao xuyến lạ lùng. Muốn nói lời yêu thương nhưng không dám nói. Hứa hẹn gì đây? Bày tỏ gì đây? Hình như trong lòng hai người có sự đồng cảm nào đó? Bất chợt, Ba Hoanh nói trước:

         - Cô Láng, tôi nói câu nầy, nếu cô không đồng ý thì đừng giận nghe!

         - Chuyện gì vậy anh Ba?

         - Tôi... thương cô nhiều lắm!

         - Anh Ba, đừng nói, tui sợ... !

         - Sợ gì?

         - Sợ chuyện mình không thành...

         - Môn đăng hộ đối?

         - Không! Sợ chiến tranh ác nghiệt!

         - Đừng sợ. Nhưng cô hứa với tôi, chờ tôi...

         - Anh Ba cũng hứa với tui như vậy nghe...

         Nói xong, cô Láng đâm đầu bỏ chạy như sợ có người nghe được chuyện hứa hẹn của hai người. Ba Hoanh nhìn theo mà nghe trong tim rộn ràng khó tả. Vậy là từ bấy lâu nay, cô Láng cũng đã ngầm yêu mình cũng như mình thầm thương trộm cô gái láng giềng, mà Tám Sơn đã có lần nói như vậy.

         Sáng hôm sau, khi chiếc tàu đò của cậu Mười Lố chạy chậm và quay mũi ghé vào cặp bến nhà ông Bá Hộ, Ba Hoanh tay xách cái rương cây trong đựng mấy bộ quần áo, đi theo ba bước xuống đò, trong khi các đứa em chạy theo, đứng trên bờ vẫy tay. Ông Bá Hộ quay lại bảo mấy đứa con trở vô nhà và dặn tối ngủ nhớ gài cửa cẩn thận. “Hai bữa nữa Tía về!”. Ba Hoanh cố nhìn về phía nhà Chệt Hai, anh thấy dáng cô Láng đứng nhìn chăm chăm chiếc tàu đò, anh thầm nghĩ, chắc cô buồn nhiều lắm và đang chảy nước mắt cũng nên!.

         Ngồi trên tàu, Ba Hoanh mới thì thầm với ba:

         - Tía ơi, con với cô Láng thương nhau. Hoàn cảnh con phải đi. Ở nhà nếu có gì xảy ra cho gia đình cô Láng, Tía giúp đỡ giùm. Nếu có gặp riêng cô Láng, tía cũng an ủi cô ấy, tội nghiệp.

         - Tía cũng đoán biết chuyện hai đứa. Giữ gìn nhau như vậy là tốt lắm. Qua tới Kỳ Son, cậu mợ Năm lo giúp giấy tờ xong, một thời gian trở về, tiá sẽ lo làm lễ hỏi cưới cho hai đứa. 

         Nhưng, thời chiến tranh đâu ai lường trước được những biến cố xảy ra quanh cuộc sống. Chưa đầy sáu tháng thì lại có chiến trận lớn xảy ra. Cả làng Trường Long phải bỏ làng quê chèo chống đi tản cư để tránh bom đạn. Một số gia đình chạy ra tạm trú ngoài Cần Thơ như rạch Đầu Sấu, Bình Thủy, Xóm Chài, hoặc xuống Cái Tắc, Rạch Gòi. Gia đình ông Bá Hộ cùng nhiều gia đình chạy xuống tới miệt Thứ hay Chắc Băng, Cạnh Đền bằng chiếc ghe muôi với mấy đứa con nhỏ dại. Gia đình Chệt Hai cũng chèo chống vô miệt Bà Đầm Thác Lác gì đó. Những gia đình từng sống thân thiết nhau nay đã đi tứ tán bởi tránh bom đạn chiến tranh. Đâu ai nghĩ rằng cuộc chiến kéo dài, sự chia cách thân tình thôn xóm dài đằng đẵng những năm sau đó.

         Ba Hoanh sang chợ Kỳ Son, cậu mợ Năm đã nhờ người lo hồ sơ hộ tịch mà trước đây anh không hợp lệ tuổi tác đi quân dịch. Rồi cuộc sống ở đây đã cuốn hút mọi sinh hoạt thường ngày, Ba Hoanh mất đường dây liên lạc với gia đình, nên đã không biết tin “tản cư” lớn tại quê nhà Trường Long. Ba Hoanh đã vào làm lính Dân Vệ (sau nầy là Nghĩa Quân) đóng đồn cách chợ Kỳ Son gần một cây số, nhưng không làm sao liên lạc được với gia đình ở quê nhà. Cậu mợ Năm có dọ hỏi thì được biết dân làng nầy phần đông tản cư từ lâu lắm chưa trở lại. Số người trở về thì không có gia đình ông Bá Hộ cũng như gia đình ông Chệc Hai.

         Khi Ba Hoanh bị thương trong một trận bị VC tấn công đồn, anh bị cụt một chân trái và được xuất ngũ, Ba Hoanh quyết định về lại làng xưa vào sau Tết Mậu Thân năm 1968. Làm một thương binh với chiếc nạng chống đi khập khiễng chỗ bến đò Phong Điền, Ba Hoanh cố hình dung lại ngôi chợ xã ngày xưa, bây giờ đã trở thành Quận lỵ tấp nập ghe xuồng, anh xuống một chiếc “võ lãi” để về vàm Ông Hào với hy vọng gặp lại gia đình. May mắn Ba Hoanh đã gặp lại người bạn cũ, anh Tám Sơn là người lái chiếc võ lãi đưa khách.

         Rồi chuyện quê nhà, chuyện những người thân của Ba Hoanh được Tám Sơn kể chi tiết lúc hai người uống cà phê trong quán bà Tư Ựng để chờ khách. Ông Bá Hộ đã về lại nền nhà cũ và đang ở với hai đứa con trai út là thằng Bảy Đoàn và thằng Út Kết. Hai người em gái Ba Hoanh đã có gia đình, cô Tư Hướng và chồng ở trong Trà Ếch; cô Năm Lầu và chồng ở trong ngọn rạch Cai Cẩm. Thằng Sáu Già đã chết vì cãi cha theo du kích. Gia đình ông bà Chệc Hai, cô Láng và mấy đứa em nghe nói khi tản cư đã qua vùng Bà Đầm Thác Lác tạm ở dưới ghe một thời gian thì bị tai nạn; một đêm có một trái đạn pháo binh từ hướng Thới Lai bắn vào vùng Bà Đầm, rớt gần chiếc ghe và giết chết cả gia đình cô Láng. Ba Hoanh lắng nghe mà hai hàng nước mắt ràn rụa. Thảm nạn chiến tranh đã đổ ập lên những người thân yêu nhất của mình. Sự trở về của một thương binh với nỗi buồn thảm như thế đó.

         Biến cố Tết Mậu Thân khắp nhiều đô tỉnh thị miền Nam do bọn Cộng Sản phản bội cam kết hưu chiến, đã gây nhiều thương tích lớn trong lòng mọi người. Ba TL_caylua.jpgHoanh về lại gặp người cha ốm đau còm cõi với hai đứa em trai út trong nỗi bùi ngùi xúc động. Cánh đồng Trường Long cũng đã vào mùa gặt, nhưng cảnh trí ngoài đồng đã khác lạ hơn xưa. Đồng cỏ bỏ hoang nhiều, những thửa ruộng có người trồng cấy lúa lỏm bỏm trông thật buồn bã. Ba Hoanh đã theo hai đứa em trai ra đồng, nhìn cảnh cắt gom lúa chín đã gợi hình ảnh ngày xưa của tổ vần công đổi công mà chính Ba Hoanh đã có mặt nơi đó. Những hình ảnh của Hai Phát, Tư Em, Năm Vu, Năm Nghĩa, Bảy Có, Mười Lùn, hay của cô Láng, cô Dung, cô Thu, cô Mười, cô Út, ... bây giờ đâu còn nữa. Chỉ còn Tám Sơn thì bỏ ruộng để làm lái đò đưa rước khách; Ba Hoanh là thương phế binh không còn năng động được như xưa. Ba Hoanh nhớ và nhớ quay quắt hình ảnh hiền lành, thơ mộng của một thời tuổi trẻ trên một miền quê những năm đầu của thập niên 1960. Ba Hoanh nhớ quay quắt đến những cử chỉ rụt rè, e ấp chuyện tình yêu của chính mình với cô Láng, yêu thương nhau, gần gũi nhau thường ngày mà không ai dám nói với ai dù một lời thật đơn giản. Khi ấp úng hứa hẹn nhau chưa tròn vẹn thì đã cách chia và mãi mãi đi vão cõi vĩnh hằng. Cuộc đời có bất công và cay nghiệt lắm không đối với thân phận của mỗi con người? Bây giờ một nách tay trái chống gậy, một chân phải đứng nhìn mấy công đất cũ năm xưa, lúa đã chín vàng lã ngọn, anh nghĩ đến công sức vun bón của hai đứa em trai cũng như ngày xưa anh cùng các bạn trong tổ vần công đổi công đã thân thiết bên nhau của một thuở thanh bình thời đệ nhất cộng hoà. Bây giờ Ba Hoanh không còn khả năng làm gì được bởi thương tích chiến tranh đã gây cho mình nghiệt ngã quá. Tình yêu đầu đời trên cánh đồng quê hương cũng đã mù tăm theo dòng thời gian nhiều đổi thay đau xót. Có lẽ quãng đời còn lại của một thương binh, Ba Hoanh thắm thía với tâm trạng của một con người mãi mãi sống hoài niệm và mang nỗi nhớ vào xuân mà thôi.

Houston, tháng 01-2011

15 tháng 10-2011

LÊ CẦN THƠ

__________________________________________________

BỘ NGỰA GÕ

CỦA

BA TÔI

truyện ngắn

LÊ CẦN THƠ

(Houston, Texas, Hoa Kỳ)

         Vậy là bộ ngựa gõ của ba tôi vĩnh viễn không còn trong ngôi nhà của ba nữa - bộ ngựa mà ba trân trọng giữ gìn như một báu vật trong đời, kể từ khi ông bà ngoại cho ba má “làm của hồi môn” lúc cưới nhau đầu thập niên 1930 - khi đó ba vừa tròn 25 tuổi và má nhỏ hơn năm tuổi. Bộ ngựa gõ gồm có ba miếng ván gõ mun ghép khít nhau, mỗi tấm có độ dầy đến một tấc hai phân, đặt trên hai con bọ ngựa cũng bằng gõ được trổ mộng rất nghệ thuật, không thấy bất cứ dấu đinh nào. Mặt bộ ngựa có viền khảm xa cừ xung quanh thật đẹp, được lau chùi thường xuyên nên lên nước bóng ngời, những buổi trưa nắng mà nằm lên đó cảm thấy mát lạnh. Ông ngoại tôi trước đây làm trong ban viên chức hội tề của xã và có dịp mua bộ ngựa đó về đặt ngay trong phòng khách của ngôi nhà ba gian hai chái, mà giàn cột kèo bằng gỗ tốt, các cột đều bào tròn bóng lộn. Mái nhà thay vì lợp ngói âm dương, ngoại tôi lại lợp bằng lá tàu tách bẹ chớ không phải lá chầm. Ngoại nói cách lợp đó trong nhà mát mẻ quanh năm và cũng vài ba năm mới lợp lại một lần. Ðúng ra khi cưới vợ thì ba tôi vào ở rể như nhiều gia đình khá giả vào thời đó, nhưng ông bà ngoại tránh những điều tiếng không hay nên cho cất một căn nhà nhỏ phía bên kia con mương để con gái và rể ra riêng liền sau đám cưới, trên vuông đất hai công có thể trồng trọt đôi ba cây ăn trái, nên ba má không đem bộ ngựa về, phải gởi lại nhà của ông bà ngoại. Ban đầu ông bà ngoại rầy, cứ đem về nhà, vì đó là “tài sản” mà ba má tặng vợ chồng con. Nhưng ba má cứ nài nỉ gởi lại, nêu lý do chờ khi nào “ăn nên làm ra”, có nhà lớn sẽ đem về. Bởi vậy bộ ngựa gõ vẫn còn ở lại nhà ông bà ngoại đến nhiều năm sau đó. Rồi chiến tranh xảy ra, nhất là lúc quân đội viễn chinh Pháp chiếm đóng nhiều nơi, tổ chức những cuộc càn quét Việt Minh trong vùng nông thôn, thì nhà của ông ngoại trước sau bị đốt đến ba lần. Mặt bộ ngựa gõ bị cháy sém nhiều chỗ, và ngôi nhà ba gian hai chái của ông bà ngoại không còn nữa, phải cất lại căn nhà nhỏ hơn để ở, ba má mới khiêng về đặt bên nhà nhỏ của mình.

        LHV_BaMa.jpg Như trên tôi có nói, bộ ngựa như một báu vật trong đời của ba, bởi hai lý do, thứ nhất là suốt cuộc đời trai trẻ cho đến ngày lập gia đình, ba là một thanh niên nghèo, trôi giạt từ miệt Ba Vát Mỏ Cày ở Bến Tre qua tới làng Trường Long “khỉ ho cò gáy” ở đậu đạc để làm thuê làm mướn sinh nhai thì làm sao có đủ khả năng để mua nổi một bộ ngựa gõ quý giá đó; hơn nữa chưa có gia đình nhà cửa thì mua để làm gì. Trong một buổi chiều mưa dầm tháng sáu năm một ngàn chín trăm sáu mươi lăm, cái năm mà bom B52 ném sập ngôi giáo đường của nhà thờ Ông Hào bởi tiểu đoàn Tây Ðô của Việt cộng đặt khẩu pháo phòng không tại ngay tháp chuông bắn phi cơ bay qua đó, tôi ngồi hỏi chuyện ba tôi về nghề đăng cá để viết bài cho nhật báo Miền Tây trên mục “Tấc Ðất Ngọn Rau” do thi sĩ Kiên Giang phụ trách, vui miệng ba tôi kể luôn chuyện lưu lạc từ Bến Tre qua Cần Thơ rồi cưới được vợ với bộ ngựa gõ làm “của hồi môn” như vậy... Thứ hai là, nhờ bộ ngựa gõ “làm vật che thân” cho cả gia đình tôi trong một đêm đạn pháo binh mà thời đó tuổi trẻ chúng tôi gọi là “ô buýt” từ chợ Phong Ðiền bắn vào miệt Trường Long rớt ngay căn chòi che ngoài bờ vườn của gia đình gồm có Má, anh trai, tôi và đứa em gái đang nằm ngủ trong “trảng xê” năm 1953, tức là trước năm đình chiến. Ðêm đó ba đi đăng cá trong kinh Chệt Thợ, sáng ra chèo ghe về, nhìn cảnh tượng kinh hoàng mới thất vía kinh tâm. May mắn là tất cả gia đình tôi vẫn còn sống sót nhờ ngủ trong hầm “trảng xê” bên trên lót bằng bộ ngựa gõ dày một tấc hai, đắp đất vun cao cả thước. Trái đạn chạm xuống nổ tung, hất hết lớp đất phía trên để lòi mặt ngựa gõ ra ngoài, trong hầm má con chúng tôi như bị hất tung lên nhưng chẳng thương tích gì, thật là điều kỳ diệu. Bộ ngựa gõ quá nặng, mỗi tấm ván tới mấy người khiêng mới nổi. Có lẽ nhờ nặng như vậy nên suốt nhiều năm chiến tranh, bao nhiêu lần lính Tây lính ta cùng vô bố ráp quê tôi vẫn “tha” không thèm chở đi, trong khi những tô chén dĩa kiểu của ông bà ngoại cho mỗi lần “chạy Tây” ba má tôi đều bỏ xuống mương vườn để giấu, hoặc bị xom bể, hoặc bị mò lên lấy đi mất tiêu, mỗi lần một số cho đến sau nầy chẳng còn cái nào cả. Mười lăm cái lu mái dầm dùng đựng lúa giống và nước mưa để uống, nếu không bị lấy đi thì cũng bị giộng báng súng lủng đít hết, ba má tôi phải tìm cách trét vá lại để xài. Thuở đó, chạy Tây liên tục như ăn cơm bữa, và giống như chuyện đùa giỡn, vì lính chỉ đi dọc theo con đường đất hai bên bờ sông chớ không đi lùng sục ngoài vườn ruộng như thời chiến tranh sau nầy. Cứ mỗi đêm, khoảng ba bốn giờ sáng, dân làng ai nấy đều thức dậy nấu nồi cơm với kho nồi cá rồi thúc giục con cái xuống xuồng chèo chống vào Kinh Mới, Chệt Thợ, Hội Ðồng Quỳ... chỉ cách bờ sông ngã cái chừng ba bốn cây số đường chim bay, xuồng đậu ken nhau trên dòng kinh bề ngang chưa đầy mười mét để “trốn Tây”. Phần đông chạy Tây là đàn bà và trẻ con, còn trai tráng và đàn ông thì ở lại chạy sau cùng bằng đường bộ, hoặc theo vào khu vực trốn Tây với đoàn xuồng ghe đi trước, hoặc “chém vè” ngoài bờ ruộng hay lung đìa nơi đồng trống có nhiều sậy, đế chằng chịt, vì biết chắc lính Tây chẳng bao giờ bén mảng lục soát ngoài đó. Dòng kinh Chệt Thợ cũng như kinh Hội Ðồng Quỳ đều băng qua cánh đồng trống bạt ngàn thỉnh thoảng mới có bóng mát của rặng trâm bầu. Buổi trưa nắng chang chang như thiêu như đốt cũng ráng chịu đựng và mong đợi có cơn gió hiếm hoi vụt thổi qua cho đỡ oi bức. Theo dõi bước chân của lính Tây bằng cách nhìn những bựng khói với các tàn tro bụi lá quyện lên cao do những căn nhà bị đốt là biết chúng đã đi tới đâu. Thường thì khoảng ba bốn giờ chiều lính đi bố ráp bắt đầu rút về Phong Ðiền. Bà con lại lục tục chèo chống trở về căn nhà của mình thì trời chạng vạng tối. Không phải nhà nào cũng bị đốt, nhưng chắc chắn một điều, cuộc bố ráp nào cũng có một vài căn nhà làm mồi cho “bà hoả”, và dĩ nhiên “màn trời chiếu đất” sẽ đến với những gia đình bất hạnh đó. Bây giờ nhắc lại chuyện “chạy Tây”, tôi cảm thấy buồn cười cho sự hiểu biết hết sức ngây ngô của bà con quê tôi thời đó. Bởi vì, tôi còn nhớ có lần đoàn ghe xuồng chạy Tây của dân làng đậu dọc dài trên Kinh Chệt Thợ, giữa trưa nắng thì trên đầu có máy bay “đầm già” - mà sau nầy lớn lên tôi mới biết đó là máy bay quan sát L19 - bay qua đảo lại trên đầu. Dưới nầy nhiều tiếng kêu hú inh ỏi của người lớn, bảo chúng tôi hãy im lặng, đừng cười giỡn lớn tiếng trên máy bay nghe sẽ bỏ bom chết hết! Chúng tôi còn nhỏ, xem chạy Tây như là chuyện chơi chẳng biết gì là nguy hiểm, nên cứ cởi quần áo nhào xuống dòng kinh lặn hụp, đùa giỡn bởi trời quá nóng, rồi vò đất sét chọi nhau khiến người lớn phải từng chặp rầy la, hết đầu nầy tới đầu kia... Sau nầy hiểu ra, máy bay quần trên đầu quan sát thấy hết, biết bên dưới là thường dân trẻ nít nên chúng để yên không huy hiếp, chớ nếu cần thì đã giết hết chúng tôi rồi. Một hôm chạy Tây trở về, bà con ai về nhà nấy. Má và mấy anh em tôi đậu xuồng tại mương ranh đất giáp nhà thím Ba Xuồng, sau khi cột dây cẩn thận, mẹ con lục tục bước lên bờ với nồi niêu và tấm đệm, đi vào nhà. Mới vừa tới sân trong bóng tối chập chờn thì nghe tiếng hét lơ lớ giọng “Việt Minh... phơ” cùng lúc với tiếng lách cách (về sau mới biết đó là tiếng kéo cơ bẩm lên đạn). Lập tức có tiếng người Việt Nam la lên: “Ðứng lại, đứng lại, giơ tay lên đầu, đừng đi nó bắn!”. Mấy mẹ con chúng tôi hoảng quá làm theo lời của người kia. “Tất cả ngồi xuống”. Rồi người đó bước tới trước mặt chúng tôi, bấm cái đèn xẹt qua xẹt lại hỏi: “Có tất cả mấy người? Ðàn ông đâu?”. Má tôi nói: “Bốn người, tôi với ba đứa con”. “Còn chồng bà đâu? Có làm Việt Minh không?”. “Dạ hổng có. Chồng tôi đi đăng cá vài bữa mới về một lần”. “Thiệt vậy không?”. “Dạ thiệt mà”. “Nhà bà ở đâu?”. “Dạ nhà nầy của tôi”. Vừa nói, má vừa đưa tay chỉ vào căn nhà trước mặt. “Cứ ngồi đó, chờ tôi thưa lại cho quan biết”. Người lính Việt Nam bước lại nói gì với thằng Tây mà anh ta bảo là quan. Chút sau quay lại nói: “Quan Một bảo cho vô nhà nhưng ở trong đó không được mở cửa ra ngoài sẽ bị bắn chết. Ðể sáng ra quan tập họp bà con lại nói chuyện, nhớ chưa?”. “Dạ nhớ!”.

         Ðó là lần sau cùng của những trận đốt nhà do lính Tây đi bố ráp vào làng Trường Long của chúng tôi, bởi vì bà con lầm tưởng là Tây đi bố rồi rút về như những lần trước, nào ngờ chúng ở lại để đóng đồn tại vàm Ông Hào. Tôi nhớ đó là đầu mùa đông năm 1953. Những ngày kế tiếp cả lính Tây lẫn lính Việt đi tới đi lui, kêu gọi đàn ông thanh niên phải đến tham gia phát quang xung quanh chỗ nền làm đồn trên đất mợ Năm Hơn phía bên kia sông thuộc ấp Trường Thọ. Phía bên nầy sông cái đối diện nền đồn thuộc ấp Trường Thuận có đám cây bố dầy đặc của đất cậu Sáu Ðường Láng thì phải dùng dao phảng chặt hết để nhìn ra tới cánh đồng. Nói chung là tất cả cây cối xung quanh chỗ đóng đồn phải san bằng cho tầm nhìn được xa. Ðàn ông thanh niên khoẻ mạnh thì đào đất đấp nền, làm bờ thành của đồn, rào kẽm gai...; nhà nào không có đàn ông thì đàn bà phải làm thế nhưng công việc nhẹ. Ba tôi ở trong kinh Hội Ðồng Quỳ gần một tuần, thấy tình thế quá kẹt, phải chèo ghe đăng trở về đậu dưới mé sông. Buổi chiều đó người lính Việt Nam dẫn ba tôi tới chỗ quan Một của Tây nói gì đó, hắn ta gục gặt đầu bảo “Nông Việt Minh, tre-ven, tre-ven”. Người lính Việt giải thích cho ba hiểu, Quan Một nói “Không phải Việt Minh, tốt lắm, tốt lắm”. Và anh ta dặn ba, mỗi ngày phải đến làm đồn với bà con trong làng cho mau rồi, lính sẽ rút đi chỉ để một đơn vị ở lại giữ đồn, bảo vệ cho bà con làm ăn, không cho bọn Việt Minh về phá phách và vơ vét thuế má nữa! Bởi tới lui đóng đồn suốt mấy tuần lễ, ba mới thấy cái dĩa kiểu con cá thật lớn của ông bà ngoại cho khi trước chỗ thằng Tây quan Một ở mà lúc chạy Tây ba đã ném giấu dưới mương phía sau vườn. Có một lần ba nói với người lính Việt Nam: “Cái dĩa con cá của tôi, nhờ Ông đội hỏi xin lại giùm tôi”. Người lính Việt Nam nói với thằng Quan Tây, nó gục gặc đầu, khiến ba mừng thầm trong bụng nghĩ là nó bằng lòng trả. Nhưng người lính Việt mà có lần ba nghe có người gọi thầy đội cho biết: “Quan nói để khi đóng đồn xong rút đi quan sẽ cho lại!”. Ba tin là sẽ xin lại được nên không nhắc tới nhắc lui nữa. Một hôm, thầy đội Việt nọ lại nói: “Quan rất thích bộ ngựa gõ nhà anh, nhưng nó nói nặng quá chắc không đem đi được đâu!”. Ba lại chưng hửng, vì “nếu thằng quan Tây mà lấy bộ ngựa gõ thì vật kỷ niệm quý báu của ông bà ngoại tặng cho xem như mất tiệt mà chắc gì trong đời ba mua lại được”. Rồi ba thầm van vái trong bụng “ba má sống khôn thác thiêng, phù hộ cho vợ chồng con, xui khiến cho thằng Tây đừng lấy mất bộ ngựa gõ quý báu đó!”.

         Ðồn làm xong. Hôm lính rút đi, ba có nhắc cái dĩa kiểu con cá, thầy đội Việt nói là khi đưa ra tới chợ Phong Ðiền, quan sẽ trả lại. Ba chèo ghe chở đồ đạc lỉnh kỉnh, chẳng biết của quan Tây hay của thầy đội Việt Nam, có nhiều đồ kiểu, mà cái dĩa con cá thật lớn nằm lẫn lộn trong đó. Ra tới cầu tàu Phong Ðiền, chỗ mà lính Tây thường giết người ném xuống sông trôi lềnh bềnh những năm trước, thầy đội Việt bảo ghé lại và tiếp chuyển đồ lên bờ. Ba tôi nhắc lại cái dĩa, thầy đội bảo: “Anh cần thì tìm mua cái khác. Quan nói rất thích muốn giữ cái nầy!”. Từ lúc dọn đồ xuống xuồng cho đến khi ra tới bến Tàu nầy, ba chẳng thấy mặt thằng quan Một của Tây lần nào cả. Ba tiu nghỉu bước xuống xuồng chèo về mà không dám quay lại nhìn, với lòng vừa tức vừa buồn rười rượi.

         Ðất nhà ba cách đồn mấy trăm thước phía bên kia sông, nhưng lại nằm trong tầm súng phúng lựu của đồn. Bởi vậy rất sợ ban đêm Việt Minh về bắn phá, lính sẽ bắn trả nguy hiểm, ba mới đắp đất tu bổ lại cái hầm “trảng xê”, nhưng sau đó lính đồn bảo phải phá bỏ, lý do tụi Việt Minh có thể núp trong đó đánh phá đồn.

         Sau ba lần ông bà ngoại bị Tây đốt nhà, rồi vì tuổi già cũng lần lượt qui tiên, ba má đem bộ ngựa về nhà mình. Ðồn Ông Hào cất xong, việc đi lại chợ búa dễ dàng, bởi cái trạm của Việt Minh đặt chỗ vàm Ông Hào đâu còn nữa. Hồi trước, ai muốn ra chợ Phong Ðiền hay Cái Răng, khi bơi xuồng ngang phải ghé trình giấy cho phép của ủy ban kháng chiến địa phương. Khi đi chợ về phải ghé cho cán bộ gác trạm xuống kiểm soát đồ đạc mới được đi. Nhiều khi họ gởi mua món nầy món kia.... nhưng ít khi đưa tiền. Mà đi chợ thì phải xài tiền xanh (tiền đông dương, tiền giấy con voi?), trong khi trong vùng thì xài tiền của kháng chiến, tiền có in hình Cụ Hồ, giá trị xài như lõm chuối. Ai có nhiều tiền phải đựng bằng bao bố tời! Bộ ngựa bây giờ đã loang lổ vết cháy sém trên mặt, mấy hình khảm xa cừ chỗ còn chỗ mất, ba mới mướn ghe lớn chở ra trại cưa ở Cái Răng mướn cưa xẻ làm ba bộ, mỗi bộ có bề dầy khoảng hơn 3 phân. Như vậy nhà ba má bây giờ tới ba bộ ngựa gõ chớ không phải một bộ. Thấy không có chỗ kê, phần vì gia đình cần phải mua sắm đồ đạc trong nhà, ba má kêu người ta bán đi một bộ, có người lại đòi mua bộ có mặt khảm xa cừ dù đã bị cháy sém. Suy đi nghĩ lại, ba bằng lòng, vì để lại chắc ba không thể có khả năng mướn người “phục chế” lại đẹp như xưa được. Còn lại hai bộ kê tại phòng khách, từ ngoài bước vô nhà, bên trái kê một bộ, bên phải kê một bộ, chính giữa là bàn thờ gia tiên và có một bàn tròn với mấy cái ghế đẩu để ngồi uống nước.

         Năm 1965, khi nhà thờ Ông Hào bị máy bay B52 ném bom sập thính đường và gác chuông, cả họ đạo trong rạch Ông Hào nhà nào cũng có người chết, bà con lần lượt bỏ xứ để ra chợ sinh sống. Ba má thấy không khí chiến tranh bắt đầu tái diễn trên quê hương mình nên cũng bàn nhau gồng gánh ra Xóm Chài Cần Thơ tìm chỗ cất nhà để ở. Ba đã khiêng một bộ ngựa gõ ngâm dưới một cái mương sau vườn, hy vọng hết chiến tranh thì về lại moi lên xài, chắc không bị mục đâu? (Ba nghĩ đơn giản là chiến tranh không kéo dài). Còn một bộ thì chở theo ra Cần Thơ. Sau đó, vùng quê Trường Long trở nên địa bàn hoạt động của tổ chức mệnh danh là mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam. Ðồn bót bị phá sập không còn nữa, nên ba má cũng không có dịp đặt chân trở lại vườn quê. Sau biến cố Mậu Thân, quân lực VNCH phát triển mạnh khi luật tổng động viên ban hành, nhiều đơn vị địa phương quân tân lập được hình thành tại các tỉnh thì đồn bót được dựng lên khắp nơi. Trường Long cũng có mấy đồn. Ðầu thập niên bảy mươi công cuộc cải tổ hành chánh công vụ của chánh quyền diễn ra, các viên chức xã ấp lần lượt được bầu lên. Dân chúng tản cư những năm trước rủ nhau trở về ngày càng đông. Ba Má cũng theo dòng người đó trở về quê cũ. Công việc đầu tiên sau khi cất lại cái nhà một gian một chái để hai ông bà ở (vì lúc đó mấy anh em chúng tôi đã đi lính và lập gia đình hết rồi) mà chăm lo sửa sang vườn tược với mấy công ruộng. Việc thứ hai là vét mương để mang bộ ngựa gõ lên, nhưng tìm hoài không thấy đâu. Sau nầy biết được là trong thời chiến tranh, nhiều gia đình ở lại trong đó có một gia đình “bám trụ” đã giúp đem lên giùm! Ba má dò la hỏi thăm, thì được biết, họ không xài mà đã bán rồi lấy tiền chi tiêu “giùm” từ lâu. Ba má tôi chẳng biết phải làm sao, đành tiu nghỉu lặng thinh như hồi thầy đội Việt Nam nói thằng quan Tây bảo cần thì mua cái dĩa kiểu con cá khác xài vậy.

         Sau cùng thì ba còn một bộ ngựa gõ duy nhất đã mang ra Cần Thơ trong lần tản cư năm 1965 để ở Xóm Chài. Ba chở về quê cũ kê trong căn nhà nhỏ trên phần đất của ông bà ngoại cho năm xưa. Sau biến cố tháng tư đen 1975, hai người anh của tôi - một đi BCH 3 Tiếp Vận, một đi Quân Vận 412 và đứa em gái tôi có chồng đi lính quận Phong Phú cũng lục tục từ thành phố trở về quê nhà. Gia đình hai người anh được ba má tôi chia cho cái nền nhà với mấy bờ vườn, công ruộng, xúm xít nhau cấy trồng mà sống. Ðứa em gái thì về quê chồng ở Rạch Nhum Ô Môn làm ruộng. Thằng em trai Út của tôi có vợ là gia đình người Hoa ở chợ Cần Thơ, được “chánh quyền cách mạng” cho đi vùng kinh tế mới ở Ngã Tư Cây Dương sau khi bị đánh tư sản mại bản. Còn tôi thì quá nhẹ dạ, tình nguyện vào trường “đại học tổng hợp” đến sáu bảy năm trời, học hỏi quá nhiều điều đắng cay tủi nhục của kiếp con người mà bọn cán cối nói là “tay sai Mỹ Ngụy”. Tôi lưu lạc từ trại nầy đến trại khác của thời quân quản, nghe biết bao lời mắng nhiếc của cán bộ quản giáo, những tên lính vệ binh cầm AK lăm le chỉ bằng tuổi con cháu mình, mà mỗi khi mở miệng là muốn lên lớp dạy cho “tay sai Mỹ Ngụy” những bài học nặc mùi chủ nghĩa Mác Lê rặp khuôn nhau, như đã nói sẵn trong một cuồn băng cát sét. Rồi đến khi bọn Pôn Pốt hoành hành ở vùng biên giới Tây Nam, các trường “đại học tổng hợp” được chuyển đi và giao cho chế độ “quản lý trại giam” của ngành công an. Và, thời điểm nầy, những tên nhẹ dạ “trình diện mang theo một tháng tiền ăn” như tôi mới biết là mình ở tù chẳng có bản án ngoài danh từ hết sức hoa mỹ “cải tạo không giam giữ”.

         Tôi đã “trình diện” tại trường Phan Thanh Giản Cần Thơ trong hai tháng, chuyển lên trung tâm huấn luyện Chi Lăng Châu Ðốc để học 10 bài, làm tổng kiểm thảo xong để nghe cán bộ chửi lên chửi xuống có lúc thấy mình như đã chìm xuống tận cùng của đáy xã hội; sau đó đưa đi lao động ở trại Mê Linh Long Xuyên; lại trở về Chi Lăng học tiếp 8 bài nữa, bởi họ nói học chưa tốt. Học thêm 8 bài vàng ngọc rồi lại cho đi lao động ở Nông trường Thắng Lợi tại Ngã Ba Lò Gạch Tri Tôn. Khi bọn Pôn Pốt tấn công rồi đốt phá làng Ba Chúc một thời gian, tình hình quá phức tạp, chúng gom bi lại, chuyển hết lên trại Mỹ Phước Tây ở Vườn Ðào Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang. Mấy năm sau thấy chế độ quân quản không đủ sức “tẩy não” tụi “nguỵ quân ngoan cố” như chúng tôi, bọn chúng thẩy qua cho ngành công an quản lý trại giam. Thế là chúng tôi chánh thức được “hành quân” (nói theo danh từ CS mỗi khi chúng cho tù cải tạo chuyển trại)... tới tận rừng sâu Xuyên Mộc, chính khu rừng nầy lúc chúng tôi được chuyển đến, trước đó đã chôn 81 người tù cải tạo, trong số có nhà văn Nguyễn Mạnh Côn mà thời chưa đi lính tôi đã biết tên trên báo chí .

         Hồi còn ở Vườn Ðào, ba lặn lội đi thăm tôi. Hôm đó ba đi với đứa em trai út của tôi, nhưng vì thằng em bỏ vùng Kinh Tế Mới trở về tánh hơi ngang tàng, khi cán bộ kiểm soát giấy tờ gạn hỏi nó điều gì đó (có tính cách điều tra để biết thêm về tôi), nó bảo “không biết”, cứ hai chữ “không biết” mà nói nên nó đành cho thằng nhỏ... đứng ngoài rào chơi suốt hai tiếng đồng hồ ba được vào gặp tôi. Năm đó ba tuổi cũng gần thất thập rồi, tóc muối nhiều hơn tiêu, con người gầy xuống trông thật đáng thương. Có lẽ ba đã thức quá nhiều đêm, trằn trọc lo lắng đủ điều. Tôi nói, “ba đừng lặn lội đi thăm con nữa. Một vài tháng, vợ con đi một lần gặp con cho biết tin tức gia đình cũng được rồi, ba đi làm chi”. Ba cứ chớp mắt nhìn tôi như muốn nói điều gì đó mà nghe chừng trong cuống họng ông nghẹn lại. Chợt nhiên, hai hàng nước mắt lăn xuống đôi gò má nhăn nheo của ba, tôi sững sờ. “Trong người ba thế nào? Ba có bị bệnh gì không?”. “Nhớ con quá, ba cố gắng đi để gặp mặt con. Thằng Tâm đi theo ba, nhưng họ không cho nó vô. Con cố giữ gìn sức khoẻ, ba biết con có nghị lực nên ba luôn luôn tin con sẽ vượt qua được. Ba bị bệnh... nhưng chắc không sao đâu. Con đừng lo cho ba...”. Bàn thăm nuôi xếp dài trong lán trại, dãy bên nầy là tù cải tạo, dãy đối diện là thân nhân, ngồi đối mặt nhau nói chuyện qua lại như vậy. Mấy anh cải tạo viên làm trật tự thì đi tới đi lui nhắc nhở sắp hết giờ thăm để chia tay, dành chỗ cho đợt khác vào. Các cán binh mang súng đi tới đi lui nghe ngóng để “răn đe” không cho “phát biểu linh tinh” và dặn “nói chuyện phải lớn tiếng, không được xầm xì”...

         Khi đưa ba ra tới khu vực “cách ly” gần cổng trại, tôi nhìn ra hàng rào thấy thằng Út Tâm đứng ngoài đó, đưa tay vẫy vẫy, tôi ứa nước mắt rồi cũng vẫy tay lại với nó, vừa nhìn dáng ba đi liêu xiêu qua đoạn đường bị ngập của mùa nước nổi năm 1978 tại trại Vườn Ðào Cai Lậy. Tôi mải miết nhìn dáng ba và thằng em phía ngoài cổng rào thì tên vệ binh hét lớn: “Anh kia, trở về đội, hết giờ thăm nuôi rồi! Muốn kỳ sau bị cúp không cho thăm hay sao?”.

         Chuyển ra trại Xuyên Mộc mỗi tháng cán bộ của trại thông báo cho viết thư về thăm nhà và báo ngày được thăm nuôi với dặn dò “qui định” số kí lô đồ được mang vào thăm. Nhiều tháng liên tiếp tôi đều dặn gia đình đừng đi thăm nuôi vì biết đường sá quá xa xôi, nhất là vào rừng sâu không tiện lợi chút nào. Qua năm thứ hai ở Xuyên Mộc, đột nhiên có một hôm cán bộ trực trại xuống gọi tôi đi gặp thân nhân không phải vào ngày trại tổ chức cho thăm. Tôi quá bất ngờ chẳng biết ai đến thăm mình, nhưng cũng phải đi theo tên cán bộ. Bước vào khu thăm nuôi, tôi sửng sốt thấy người anh cả của tôi trước làm ở đại đội tổng hành dinh Bộ chỉ huy 3 Tiếp Vận căn cứ Long Bình ngồi bên túi đồ, nhìn tôi mỉm cười. Cán bộ bảo tôi ngồi bên nầy, anh tôi ngồi bên kia rồi bảo anh mở túi đồ moi ra từng món để kiểm tại chỗ, xong đâu đó anh ta bảo bỏ trở vô, anh tôi đẩy gói đồ sang cho tôi khi cán bộ trực trại bước ra đứng ngoài cửa canh chừng. “Anh chị có khoẻ không? Mấy đứa nhỏ ra sao rồi? Ba Má sức khoẻ năm nay có tốt không? Hai năm trước khi đi thăm em, trông ba yếu lắm...”. Tôi cứ hỏi dồn dập, mà anh tôi thì cứ ngồi lắng nghe, muốn nói điều gì, nhưng đôi mắt cứ đảo qua lại sợ cán bộ đứng kia nghe. Anh nói lớn tiếng “Chị với các cháu của chú cũng khoẻ. Ba Má năm nay già rồi, nay đau mai ốm, nhưng chẳng sao đâu... Chú yên tâm đi, anh nghe lén đài BBC nói thành phần như chú chắc sẽ có nhiều thuận lợi... (mấy câu đó anh lại nói rất nhỏ). Ba bệnh sạn thận, bác sĩ ngoài bệnh viện khám và cho toa mua thuốc. Hiện ba đang uống thuốc... Ba nhớ chú muốn đi thăm nhưng đường sá xa xôi, má không cho đi. Ba bảo anh thay ba lên thăm chú để về kể lại cho ba nghe...”. “Mấy năm nay về quê có làm ăn được gì đâu mà có tiền đi thăm em như vậy? Cả anh nữa, mười mấy năm lính, con đùm con đề, quen sống ở Sài Gòn, đùng một cái về vườn có ai quen đâu, rồi làm sao sống?”. “Thời gian và thực tế tập cho tụi nó thói quen chớ biết sao chú”. Ngừng một chút, anh tôi nói: “Nhiều đêm trằn trọc, ba đi đến quyết định là bảo anh kêu người bán bộ ngựa gõ sau cùng để đi thăm chú, anh không chịu, nhưng Má bảo, ba con muốn con bán để lấy tiền mua chút ít đồ lên thăm thằng V., con cứ làm theo, đừng để ba con buồn. Ổng đau nhiều lắm, ổng sợ ngày nó về không gặp được mặt ổng?”. Nghe anh tôi nói, mắt tôi bỗng hoa đi bởi những dòng nước mắt tự nhiên lăn dài xuống má. Vậy là một phần ba của món quà vô giá mà ba tôi nâng niu gìn giữ suốt cả đời mình, mãi tới thời điểm nầy ông mới chịu buông xuôi, chịu để mất đi... chỉ vì thằng con trai mà ông từng nói là “ba biết con có nghị lực” như tôi. Thời gian thăm nuôi không nhiều, anh em cũng chẳng dám nói gì bởi sợ cán bộ nghe ngóng. Anh tôi nói nhỏ: “Thằng Tâm vượt biên thất bại, đang bị giam ở trại Cái Nước Cà Mau”. “Ba biết không?”. “Không, gia đình đang giấu, vì bệnh ba trở nặng. Anh lo cho ba...”. “Sao không để dành tiền lo thuốc men cho ba, đi lên đây làm chi cho tốn kém như vầy?, ở nhà mình còn gì quý giá để bán có tiền nữa đâu?”. “Không đi ba đâu có chịu. Ba nói bán hết gia sản để lo cho chú ba cũng vui lòng...”. Câu nói mà tôi nghe đó, có lẽ là câu nói được lặp lại sau cùng của ba đối với thằng con tù tội như tôi. Bởi vì, nhìn dáng anh tôi lủi thủi bước ra đường mòn để đón xe rời khỏi trại Xuyên Mộc trong buổi xế chiều hôm đó, tôi có linh cảm là tôi đang mất tất cả những tình thương trân quý nhất của cuộc đời mình.

         Mấy tháng sau, tự nhiên có một đêm ngủ chập chờn, tôi chợt thấy ba.  Lúc thì ông đang lặn ngụp dưới lòng rạch sâu để trải đăng, đặt từng chiếc lọp bắt cá. Lúc thì tôi thấy ông đang cầm phảng phát cỏ trên cánh đồng ruộng nước lên tới ống quyển để chuẩn bị cho mùa cấy sắp tới. Lúc thì tôi thấy ông đang cầm gàu tát nước trên mấy bờ vườn trồng quít đang hồi ra bông trắng xoá. Lúc thì tôi thấy ba đang đi liêu xiêu từ chỗ thăm nuôi băng qua đoạn đường ngập nước tại trại giam Vườn Ðào Cai Lậy mà ngoài kia hàng rào kẽm gai, thằng Út Tâm em tôi đang đứng vẫy tay... Lúc thì tôi thấy ba đang lặn mò bộ ván ngựa gõ dưới chiếc mương vườn mà cách đó mấy năm ông đã giấu bên dưới... với vẻ mặt buồn bã tuyệt vọng. Lúc thì tôi thấy ông hai tay cầm cái dĩa kiểu con cá thật to, với vẻ mặt tươi cười mừng rỡ... rồi đột nhiên ông buông tay rớt xuống đất bị bể nát, mặt ông tái đi, biến dần, biến dần trong màn sương trắng... Tôi giựt mình khi anh bạn tù kế bên thò tay qua lay nhẹ tôi: “Làm gì mà ú ớ vậy”. Tôi mở mắt định thần một chút rồi thở dài. “Nằm chiêm bao, thấy ba tôi, nhớ ông già quá chừng...”.

         Trong một lá thư gởi cho tôi báo tin tức gia đình, bà con và cuộc sống ở quê nhà để tôi an tâm, vợ tôi có viết mấy chữ mà tôi cứ suy nghĩ mãi: “Ba bây giờ ít nói. Tụi con cháu làm gì, la lối ồn ào ba cũng ngồi nhìn mà lặng thinh, ba thương tụi con cháu lắm. Ba thương anh nhiều nhứt, ngồi đâu, nói chuyện với ai ba cũng nhắc anh, ba nói nhớ anh. Ba cứ kể, hồi trước anh có ý định hết chiến tranh anh sẽ học cái nghề đăng cá của ba, ba bảo, đừng học nghề nầy lạnh lẽo lắm, lo học chữ đi, làm thầy làm thợ với người ta, theo nghề hạ bạc nầy làm gì. Ba nói...”. Tôi suy nghĩ hoài, vợ tôi viết “ba bây giờ ít nói” rồi tự dưng lại “ba cứ kể, ba nói, ba nói...” liên tục, phải chăng có điều gì xảy ra? Tháng đó viết thư gởi về, tôi chỉ hỏi thăm bệnh tình của ba tôi ra sao? Nhưng... câu hỏi về ba cũng không được vợ tôi hay bất cứ người thân nào trả lời.

         Ngày tôi ra trại về tới quê nhà thì đúng là ngày cả gia đình anh em chúng tôi gom lại để cúng tuần 49 ngày cho ba. Nghe kể, ba tôi mất, chôn đúng một tuần thì thằng Út Tâm được thả ra từ trại giam Cái Nước. Nó lập tức cùng hai anh và đứa em gái út của tôi lo xây cho ba tôi một cái mả xi măng đàng hoàng trước khi nó tiếp tục làm một chuyến vượt biên khác. Tôi về để quấn vành khăn tang và lạy ba tôi trong ngày cúng tuần đó, mới ngẫm nghĩ câu văn đơn giản của vợ tôi viết mà lúc còn trong trại tù tôi ngờ ngợ không nghĩ ra được: “Ba bây giờ ít nói. Tụi con cháu làm gì, la lối ồn ào, ba cũng ngồi nhìn mà lặng thinh...”. Và, tôi đột nhiên cúi mọp lạy ba tôi rất nhiều lạy, khi nhớ đến bộ ngựa gõ mà ba bảo anh tôi bán để lấy tiền đi thăm nuôi tôi, một thằng con ở tù mà những ngày cuối đời ông muốn đi thăm tận mặt cũng không thể nào đi được, bởi, ngày anh xách đồ đi thăm tôi, căn bệnh sạn thận và tiểu đường đã hoành hành ông đến cực độ, ông chỉ nằm một chỗ chờ đợi anh tôi đi Xuyên Mộc trở về, kể cho ông nghe những gì thấy được về tôi. “Ba ơi, xin ba tha lỗi cho con. Cả đời, con không bao giờ quên được tấm lòng của ba dành cho con”. Tôi đã quỳ lạy ba tôi với những câu chữ trên suốt mấy thời kinh mà thầy cúng đã đọc trong ngày cúng tuần thất thứ 7 sau ngày ba tôi vĩnh viễn từ giã cõi đời năm 71 tuổi.

         Nỗi ân hận và dày vò trong lòng tôi khi được nghe kể chuyện về ba những ngày sau cuối. Trước khi biết mình không còn sống bao lâu, ba đã lục lạo tất cả hồ sơ giấy tờ, lấy ra những tấm ảnh mà ông đã chụp trước đây đốt hết. Má tôi hay được giựt lại nhưng không kịp. Ba nói, “chết là hết, để lại hình ảnh làm gì cho con cháu nhìn thấy mà nhớ thương, tội nghiệp tụi nó. Nhất là thằng V. ở tù trở về chẳng gặp mặt tôi mà thấy tấm hình thờ chắc nó đau xót lắm, nằm sâu dưới ba tấc đất tôi cũng chẳng yên lòng!”.

         Ba thật đơn giản, nghĩ sao là làm vậy. Ông đâu nghĩ rằng, không phải hình ảnh của ông từng cất giữ đem đốt hết thì con cháu sẽ nhanh chóng quên đi. Cũng có thể suy nghĩ nầy đúng một góc độ nào đó, nhưng “ba của con ơi, không có hình ảnh nào của ba bị xoá mờ trong chính trái tim con đâu - ít nhất cũng là trong thời gian con còn diễm phúc được hít thở không khí trên cõi dương trần nầy”. Hôm nay khắp đất nước Hoa Kỳ có ngày kỷ niệm “father's day”, các báo và chương trình phát thanh đều nhắc đi nhắc lại ý nghĩa “ngày của cha”, nói về công ơn người cha và họ cố tìm một chữ nào đó để dịch cho đúng nghĩa: hiền phụ, nghiêm phụ như ngày “mother's day” là ngày hiền mẫu...v.v...; nhưng dù dịch bất cứ chữ nào thì hình ảnh người cha vẫn ngời sáng trong câu ca dao bất hủ “công cha như núi Thái Sơn” mà người Việt Nam nào thời thơ ấu đều có học. Chỉ còn hai tháng nữa là đến ngày cúng giỗ ba, con viết mấy dòng nầy để kính dâng vong linh ba trong cõi vĩnh hằng. Con nhớ thuở ba còn sinh tiền và con còn đi học, vào mỗi khuya giao thừa hằng năm, ba đều hỏi “con đã viết khai bút đầu năm chưa?”. Giao thừa năm Mậu Thân 1968 con đã đưa ba xem bài thơ Về Sông Ăn Cá mới viết xong.

“Tết nầy ba có về quê cũ,

Thăm mả mồ xưa viếng xóm làng.

Hưu chiến đôi ngày ôi ngắn ngủi.

Làm sao níu lại được thời gian?

Ví dầu về rẫy ăn còng sữa.

Ăn cá về sông thương tuổi thơ.

Ba hỡi điêu tàn vương xóm nội.

Tìm đâu đường nét đẹp bây giờ?”.

        LHV_TrungUy.jpg Con thấy ba đọc xong bài thơ dài 32 câu, mà tám câu cuối con viết như vậy, nét mặt ba buồn buồn rồi buông chuỗi thở dài”.

Houston, 15 tháng 6 năm 2003 - Father's day

L Ê  C Ầ N  T H Ơ

(Trong tập TRÔI NGANG PHẬN MÌNH, đã in trong BẢN THẢO LƯU LẠI 2009)

________________________________________________

NHỚ… HÀNG

PHƯỢNG THẮM

TL_PhuongHong_Branch2.jpg

truyện

LÊ CẦN THƠ

         Nếu Hải Âu không nói chuyện qua điện thoại: “Tôi và chị Ngọc Mai quyết định nhận tổ chức Đại Hội gia đình Phan Thanh Giản & Đoàn Thị Điểm vào mùa hè năm 2011 tại khu vực Tampa Bay tụi nầy đang định cư, để quý Thầy Cô và quý niên trưởng đồng môn, đồng hương có dịp sống và nhớ lại hình ảnh quê nhà Cần Thơ của mình ngày xưa. Vào thời điểm đó có nhiều khách về miền biển du lịch nổi tiếng nầy nhờ không khí trong lành, mát mẻ, mà còn có dịp ghé thăm các vườn cây ăn trái của miền nhiệt đới giống như vườn cây trái quê mình như Bình Thủy, Long Tuyền, Phong Điền, Trà Ếch…Đặc biệt, hình ảnh hoa phượng rực rỡ giống như đường phố Cần Thơ vào dịp Hè…”... thì tôi đâu trằn trọc suy nghĩ nhiều về những kỷ niệm đã chìm sâu trong tâm khảm mình hằng nửa thế kỷ!

         hieudoan_PTG2.JPGTôi nhớ nhiều nhất là kỷ niệm năm học Đệ Thất “D”, năm đầu tiên của bậc trung học tại trường Phan Thanh Giản, vì lớp học có 52 bạn được thi đậu vào, xếp học tại phòng số 4/6 của dãy lầu đối diện với Ty Cảnh Sát đường Ngô Quyền, từ cầu thang gỗ phía bên phải đi lên gặp 3 lớp học sinh ngữ Pháp văn Đệ Thất A, B và C; ba lớp học sinh ngữ Anh văn Đệ Thất D, E, F. Những năm đó, theo tôi được biết, học sinh thi vào Đệ Thất là tuổi 12 có giấy khai sinh chánh thức, nếu không phải có giấy Án “Thế Vì Khai Sanh” trích lục tại phòng lục sự Toà Hoà Giải Rộng Quyền Phong Dinh. Số bạn có khai sanh án toà là phần đông đều giảm tuổi, do sinh ra trong chiến tranh và ở thôn quê không có khai sanh, sau đình chiến 1954 mới có trường lớp đi học, phải lên án khai sanh tại toà với độ tuổi giảm xuống cho phù hợp với tuổi đi học. Chính vì sự giảm tuổi để đi học đó, nên có bạn khi vào Đệ Thất ở tuổi 12 mà thực tế đã 15, 16 tuổi… Người đầu danh sách là bạn Nguyễn Ngọc Ẩn nhà trong hẻm Rạch Côn, ngay góc cầu xi măng từ hướng đường Cống Quỳnh (rạch Cái Khế) đi qua chùa Cây Bàng và trổ ra đầu góc đường Võ Tánh – Ngô Quyền (chợ Cả Đài). Người cuối danh sách là tôi Lê Hoàng Viện, nhưng chỉ vài tuần sau có bạn Lý Vinh chuyển trường đến vì ba của bạn là một sĩ quan chuyển công tác về Quân Đoàn IV, nên bạn lãnh vị trí cuối lớp, còn tôi được đôn lên “áp chót”. Cuối năm Đệ Thất “D” (1960-1961), bạn Ẩn và tôi có điểm số dẫn đầu lớp, tôi lãnh phần thưởng Ưu hạng, bạn Ẩn hạng Nhì và lãnh thưởng tại rạp Minh Châu đường Phan Đình Phùng.

         Năm đầu vào bậc trung học, đa số chúng tôi rất bỡ ngỡ, bởi phải tiếp xúc từng môn học với từng giáo sư, khác với bậc tiểu học mỗi năm học một Thầy hoặc Cô với tất cả các môn Văn, Toán, Khoa học. Tôi nhớ các giáo sư dạy lớp Đệ Thất “D” năm ấy: Cô Nguyễn Thị Lệ Châu dạy Việt Văn (Chính tả, Tập làm văn, Giảng văn), cô Trần Tú Quỳnh dạy Toán (Ðại số và Hình học), cô Nguyễn Thị Loan Anh dạy Hoá học, thầy Trần Văn Dinh dạy Vật lý, thầy Trương Văn Xướng dạy Anh Văn, thầy Nguyễn Văn Kiêm dạy Vạn vật, thầy Nguyễn Hữu Danh dạy Công dân Giáo dục, thầy Ngô Phước Phú dạy Sử Địa, thầy Dương Tự Tam dạy Hán văn, thầy Huỳnh Thanh Khiết dạy Hội họa, thầy Phan Thanh Thư dạy Âm nhạc, thầy Nguyện Văn Chơi dạy Thể dục Thể thao. Thật tình tôi không nhớ Giáo sư nào làm Giáo sư hướng dẫn, nhưng thầy Huỳnh Thanh Khiết đã trực tiếp hướng dẫn lớp tôi mua bột sơn màu về tô vẽ trên tường một cảnh thật đẹp do thầy phác thảo (nghe nói thầy chuyên về vẽ phối cảnh, trong khi năm Đệ Lục thầy Nguyễn Văn Ẩn dạy Họa chuyên vẽ đối xứng), và Thầy cũng thường xuyên trông coi lớp chúng tôi chăm sóc một liếp đất để trồng rau hoặc hoa ở khu “học đường viên”…

         Tôi nhớ, thầy Trương Văn Xướng (các bậc phụ huynh thường gọi là Bác Vật Xướng) dạy chúng tôi môn Anh Văn. Bước vào lớp là Thầy bắt chúng tôi đọc vài Động từ bất quy tắc “ To be – was – been”, “to begin – began – begun”, “ To do – did – done”… Trước khi rời khỏi lớp, thầy cũng cho đọc mấy chữ nhằm nhắc nhở chúng tôi phải học thường xuyên “To go – went – gone”, “To eat – ate – eaten”, “To leave – left – left” v.v.. để áp dụng các bài học Anh Văn mà thầy sẽ dạy trong năm học nầy, cần thiết cho việc dùng từ, đặt câu, phát âm khi đọc. Sang Hoa Kỳ, sau khi thực hiện Giai phẩm PTG & ĐTĐ Cần Thơ số đầu tiên tại Houston TX năm 1996, tôi có dịp liên lạc được với ái nữ của Thầy là chị Trương Tố Hoa ở tiểu bang Maryland miền Đông Bắc Hoa Kỳ, mới biết tin Thầy đã qua đời tại Hoa Kỳ.

         Tôi nhớ cô Nguyễn Thị Lệ Châu, người Huế có chiếc răng khểnh rất duyên dáng, dạy môn Quốc Văn. Cô thường kể chuyện gia đình, Mẹ cô có cho Đặng Sỹ Hỷ thuê phòng ở trọ đi học, trong phòng của ông ấy sách báo lúc nào cũng bề bộn, vung vải, mỗi lần ông đi học, mẹ cô bảo cô phải vào thu dọn lại ngăn nắp. Cô khen ông ấy siêng học, học giỏi, và thích tham khảo sách báo... Do cách phát âm của Cô hơi nặng giọng, đa số các bạn viết chính tả hay viết bài giảng văn mẫu do cô đọc đều có sai lỗi chính tả. Chẳng hiểu nhờ đâu mà tôi lại nghe và viết đúng, thường xuyên không bị lỗi về môn nầy. Bài tập làm văn, giảng văn của cô tôi cũng đều đạt điểm tốt. Kết quả hai kỳ thi đệ nhất và đệ nhị bán niên môn nào của cô tôi đều được điểm hạng nhất lớp. Buổi học sau cùng, cô đã tặng tôi một gói quà kỷ niệm là 3 quyển sách, Thế Rồi Một Buổi Chiều, Hai Buổi Chiều Vàng (của Khái Hưng và Nhất Linh) và quyển Tình Quê (sách dịch tác phẩm của nhà văn Đức). Mỗi quyển cô đều viết câu “Tặng em LHV, học sinh giỏi quốc văn của tôi, Hy vọng sau nầy em sẽ theo Ban Văn Chương”. Kỷ niệm về Cô Lệ Châu, trước đây tôi có kể qua bài “Ánh mắt cô giáo dạy Văn của tôi”, trong đó tôi có nhắc lại ánh mắt thất vọng của cô khi gặp tôi đi bên đường Trịnh Tấn Truyện vào buổi chiều tối, năm đó tôi học Đệ Nhất, cô hỏi “em theo ban văn chương phải không?”, tôi trả lờỉ “thưa cô, em theo ban B”. Sau lần gặp đó cho mãi đến bây giờ tôi không còn gặp và nghe biết tin tức gì của cô. Cô Nguyễn Thị Lệ Châu ơi, hiện nay cô đang ở đâu?

         Tôi nhớ cô Trần Tú Quỳnh dạy Toán, mỗi khi cô phát âm chữ “chùng” bằng giọng Huế nghe thật dễ thương khi cô chứng minh hình học “hai đường thẳng song song không bao giờ “trùng” lên nhau”. Có một thời gian cô mở văn phòng Luật sư tại Cần Thơ. Sau biến cố 30-4-1975, nghe nói vợ chồng cô vượt biên. Thầy Đàm Quang Đôn đã chết trên biển. Cô được sang Mỹ và định cư tại tiểu bang Minisota. Năm 2006 tại Đại Hội PTG& ĐTĐ lần thứ X ở Washington DC cô có tham dự và đây cũng là lần đầu tiên tôi gặp lại Cô sau mấy mươi năm xa cách. Bây giờ cô chuyển sang định cư tại Houston TX, tôi có duyên may thường gặp lại Cô trong những lần họp mặt gia đình PTG & ĐTĐ tại đây.

         Tôi nhớ cô Nguyễn Thị Loan Anh dạy môn Hoá học. Cô có khuôn mặt bầu tròn phúc hậu rất đẹp với nước da trắng, nói chuyện thật duyên dáng. Cô có dáng đi dịu dàng, đứng nhìn cô trong chiếc áo dài màu trắng tha thướt, ai cũng trầm trồ khen là cô đẹp quá. Cách xa mấy chục năm, dịp Đại hội lần thứ XI năm 2007 tại Houston, Cô đã từ Kennett Square, PA cùng phu quân về dự, thầy trò gặp nhau bùi ngùi xúc động. Sau đó cô có viết gởi cho tôi mấy dòng khi cô tặng tôi bức ảnh lưu niệm của lần tham dự đại hội mà cô lần đầu tham dự nầy .

         Tôi nhớ thầy Trần Văn Dinh dạy Vật Lý,  sau mỗi lần giảng bài, thầy hỏi cả lớp với chữ “phỏng” nghe là lạ. Chừng ngẫm nghĩ lại, mới biết thầy hỏi “phải không?” Nghe riết rồi quen và nhớ mãi đến đặc tính rất riêng về Thầy. - người mà mấy chục năm sau, anh Lê Thiện Phúc đã viết một tin giật gân “Thầy Trần Văn Dinh sống lại” trên trang nhà ptgdtd.com, khi anh bắt liên lạc được với thầy, trái với tin đồn trước kia là thầy Dinh đã chết trên đường vượt biển. Thầy đang định cư ở Úc Châu.

         Tôi nhớ thầy Nguyễn Văn Kiêm dạy Vạn Vật. Mỗi bài dạy, thầy đều vẽ hình trên bảng rất đẹp. Tôi có dịp “ở tù cải tạo” chung với Thầy một thời gian tại Chi Lăng. Thầy được về sớm và nghe nói thầy với bạn Thái Văn Nhi cùng hùn nhau thầu vé số. Thầy đã tử nạn trong chuyến đi Cà Mau nhận vé số. Lúc còn đi dạy học, có lúc Thầy làm Tổng Giám Thị của trường Phan Thanh Giản, gia đình thầy ở đường PTG và bán tiệm tạp hoá Văn Hữu. Khi ở tù về thầy dời nhà ở trong hẻm đường Pasteur (nay là Võ Thị Sáu) gần nhà Cảnh sát Lý.

         Tôi nhớ thầy Nguyễn Hữu Danh, người Ô  Môn, dạy Công Dân Giáo Dục. Thầy rất hiền, mỗi tuẩn lễ chỉ dạy có hai giờ môn học nầy. Từ ngày rời trường đến giờ tôi không biết được tin tức của Thầy.

         Tôi nhớ thầy Dương Tự Tam, một “cụ đồ” rất tha thiết giảng dạy. Thầy dùng sách “Tam Tự Kinh” để dạy chúng tôi. Những câu “thiệu” khi dạy chữ, tôi nhớ “chim chích mà đậu cành tre, thập trên, tứ dưới, nhứt đè chữ tâm”. “Lão dương khứ, Ấu dương hồi”…Thầy Dương Tự Tam đã mất từ lâu.

         Tôi nhớ thầy Ngô Phước Phú dạy Sử Địa. Đây là môn học tạo cho tôi có được cái nhìn khác lạ và sâu sắc hơn qua cách giảng dạy môn lịch sử và môn địa lý mà lúc còn ở bậc tiểu học, phần đông chú trọng vào phần toát yếu và học thuộc lòng. Phải công nhận qua cách dạy Sử và Địa ở lớp Đệ Thất, tôi đã hiểu được tầm quan trọng của môn học nầy nên cảm thấy thích thú. Các năm về sau, tôi còn học môn Sử Địa với các thầy Đoàn Văn Trương, Lê Thái Khương, Trương Văn Hoằng và thầy Nguyễn Văn Hường. Mỗi thầy dạy một phương pháp riêng, đều tạo cho tôi niềm yêu thích đặc biệt. Thầy Ngô Phước Phú, sau mấy mươi năm không có dịp gặp, mãi đến tháng 12 năm 1998 tôi  có chuyện gia đình phải về Việt Nam, khi đi trên đường Phan Đình Phùng phía lề đường đối diện với phòng mạch BS Lê Văn Thuấn ngày xưa, tình cờ hai thầy trò gặp nhau trong niềm vui khôn tả. Thầy Ngô Phước Phú nói: “Thầy mới tìm được địa chỉ của em, định viết thư thăm hỏi thì gặp em ở đây, thầy mừng quá. Thầy có đọc bài viết của em trên các Giai phẩm PTG & ĐTĐ ở hải ngoại mà các em thực hiện, ở quê nhà ai cũng thích và khen các bạn ở hải ngoại…”. Tôi hỏi thăm sức khoẻ và gia đình Thầy, thầy cho biết cuộc sống cũng tạm ổn. Nhờ có sự đổi mới và cởi trói VHVN nên dù không còn được đi dạy ở trường nhà nước, nhưng thầy được phép mở lớp dạy kèm môn Pháp Văn tại nhà, thu nhập cũng đỡ khổ. Thầy mở bóp rút ra tờ danh thiếp bảo tôi giữ để liên lạc với thầy thường xuyên. Nhà Thầy hiện ở trong con hẻm trên đường Trương Định (tức Võ Tánh, gần lớp luyện thi Minh Nhựt Văn Đạt ngày xưa).

         Tôi còn nhớ những buổi học môn thể dục thể thao với Thầy Nguyễn Văn Chơi. Các môn chạy dài vòng quanh sân cờ, chạy nước rút 100m, 200m; nhảy xa, nhảy cao, leo dây, v.v.. kể cả hít đất, đã tạo cho tôi có được một sức khoẻ tương đối tốt, bởi tôi vốn nhỏ người và ốm yếu hơn nhiều bạn trong lớp. Dù có cố gắng luyện tập, nhưng mỗi kỳ thi, mỗi môn thể dục tôi chỉ lấy được điểm trung bình mà thôi.

         Tôi nhớ nhiều nhứt, vào giờ nhạc cuối cùng của thầy Phan Thanh Thư, chương trình “văn nghệ bỏ túi” của lớp khá hấp dẫn, nhưng tôi vẫn nhớ hoài giọng ca của bạn Nguyễn Ngọc Ẩn qua nhạc phẩm NGÀY TẠM BIỆT của Lam Phương. Thường ngày, bạn Ẩn nói chuyện hơi “cà lăm”, nhưng khi bạn cầm cây đàn Guitare tự dạo nhạc và hát bỗng nhiên thu hút sự chú ý của cả lớp. Cả bầu không khí im phăng phắc, tiếng đàn và giọng ca của bạn Ẩn càng quyến rũ thiết tha. Bạn đã dạo đầu những nốt nhạc “la la la phà (pha) la sol sí (si) la…” rồi bạn cất giọng: Hôm nay đây còn vui trông thấy nhau. Bên tiếng ca tiếng đàn vượt trời caoLời vui thắm thiết trao nhau như khi mới gặp nhau… Lời ca ấy, giọng ca ấy, đã tròn năm mươi năm rồi, bây giờ nhớ lại tôi vẫn không thấy xa lạ chút nào. Vóc dáng cao ráo của bạn Ẩn, khuôn mặt chữ điền, đôi môi dầy, mỗi lần nói chuyện với bạn bè hầu như hơi lặp bặp trước khi nói suông câu, lại đeo kiếng cận trông “trí thức” lắm. Cây đàn guitare có dây choàng qua cổ, tay trái cầm cần đàn với những ngón tay nhấn phím, tay phải bạn dùng những ngón tay lướt nhẹ qua các dây đàn rất điêu luyện, không hiểu bạn đã học đàn từ bao giờ? Nhìn phong cách chơi đàn của bạn Ẩn, tôi thấy thèm thuồng. “Nhưng anh ơi ngày mai ta cách xa. Anh kinh đô tôi phải về miền xa. Biệt ly ai khéo gieo chi lên bao mái đầu xanh…” . Chợt nhiên, lòng tôi chùng xuống khi nghe những lời ca nầy qua sự diễn đạt của bạn. “Anh kinh đô tôi phải về miền xa…”. Đúng tâm trạng sắp chia tay nghỉ hè đối với tôi trong những ngày sắp tới, mà có lẽ cũng đúng tâm trạng của một số bạn cùng lớp có hoàn cảnh sống như tôi! Tôi lia mắt nhìn qua các bạn, trong khi thầy Thư ngồi trên bàn nhìn xuống mà đôi mắt thầy cũng đăm chiêu trước phong cách biểu diễn “bất ngờ” của đứa học trò Đệ Thất mà chơi đàn xuất sắc như vậy. Bỗng cả lớp đồng loạt vỗ tay “cổ võ”, thì bạn Ẩn hướng mắt lên trần nhà qua dáng điệu xúc cảm hơn lúc nào, lớp lại im lặng nghe giọng hát “điệp khúc” của bạn: “Nhớ… hàng phượng thắm ven đường, mỗi lúc chiều buông, tan tác rơi cài lên mái tóc xanh. Nhớ… bóng dáng ai chiều ấy, nâng niu tà áo, biết nói gì khi chia tay”. Chợt nhiên, bạn Trương Quan Tư ngồi cạnh bên nghiêng đầu sang nói nhỏ với tôi: “Ẩn ca hay quá. Lời nhạc nầy nghe buồn và tha thiết làm sao. Tôi nghe mà muốn khóc đây nầy…”. Tôi cũng phụ họa: “Ờ, hay và buồn quá. Nhưng gia đình bạn ở tại Cần Thơ, chắc không thắm thía bằng tôi đâu. Tôi phải về quê Trường Long thật xa, xa lắm, chốn khỉ ho gà gáy mà!. Không biết khai giảng năm học tới có còn điều kiện để tiếp tục đi học với các bạn nữa hay không?”. “Thôi chia tay cạn ly vui chúc đi. Ta chúc nhau những gì đẹp lòng nhau. Dù thời gian có phôi pha nhưng ta không bao giờ quên…Dù thời gian có phôi pha nhưng ta không bao giờ quên.”.  Bạn Ẩn đã ca hết bản nhạc NGÀY TẠM BIỆT với câu lặp lại như vậy rồi cúi đầu chào cả lớp. Những tràng pháo tay tán thưởng nhiệt liệt, khiến cho bạn ấy xúc động để hai hàng nước mắt chảy dài xuống đôi gò má. Giọt nước mắt sung sướng bởi vì trên môi của bạn đang mỉm cười trông thật dễ thương.

         Chờ bạn Ẩn về chỗ ngồi xong, thầy Thư mới nói:

         - Hay lắm! Ẩn hát hay lắm. Em đệm đàn và tự hát thật điêu luyện. Thầy không ngờ lớp Đệ Thất D lại có một tài năng âm nhạc như vậy. Các em hãy cố gắng trau giồi môn nhạc để đàn và hát được như bạn Ẩn nghe. Có dám hứa không?

         - Dạ… không dám Thầy ơi!

         Cả lớp cùng đáp và cười vui vẻ. Thầy Thư cũng cười. Có lẽ trong thâm tâm Thầy cũng biết được rằng, đàn hay, giọng ca tốt phát triển từ một học sinh lớp Đệ Thất như Ẩn là do năng khiếu đặc biệt chớ không phải ai muốn cũng được.

         Ra hải ngoại nầy, tôi có duyên may gặp lại thầy Phan Thanh Thư nhiều lần nhờ có đại hội gia đình PTG & ĐTĐ Cần Thơ hải ngoại. Thầy là hậu duệ đời thứ 5 của Cụ Phan Thanh Giản, nên hầu như mỗi kỳ Đại Hội, thầy đều cố gắng tham dự để gặp lại đồng nghiệp và môn sinh của mình. Đặc biệt, đại hội lần thứ X tại vùng thủ đô Hoa Thịnh Đốn (gồm Washington DC, Virginia, Maryland, New Jersey), Thầy đã nhận in cuốn Đặc San số 11 năm 2006 tại nhà in của Thầy ở Maryland để tiện đường chuyển báo đến địa điểm đại hội, thay vì in ở Houston TX như một vài kỳ đại hội trước. Và cái duyên may mới đây, là năm vừa qua khi chùa Việt Nam tổ chức Lễ rước Phật Ngọc Hoà Bình, tôi có đi xem và bất chợt một bàn tay vỗ vào vai tôi từ phía sau lưng, “sao Viện và Nữ khoẻ không”. Quay lại tôi sửng sốt gặp thầy Phan Thanh Thư. Mừng vui khôn tả. “Thầy sang đây hồi nào? Cô có đi cùng với Thầy không? Thầy đi với ai? Thầy nghỉ ở đâu?..” Có lẽ do gặp bất ngờ quá tôi hỏi đủ thứ không kịp để Thầy trả lời. Thầy nói “đi với các “bạn già”, thuê xe buyt, sang đây được mấy hôm và ở chung khách sạn với bạn. May quá, lại gặp được em”. Tôi nói ý định muốn mời Thầy về nhà nhưng Thầy bảo “phải đi theo đoàn với bạn, sáng sớm mai phải lên đường về Maryland”. Tôi đành phải ngậm ngùi chia tay với Thầy.

         PTG_roof.JPGTừ lúc gặp lại Thầy dạy nhạc Phan Thanh Thư, tôi suy nghĩ mãi đến những cuộc gặp gỡ bất ngờ, có vui mà cũng đượm buồn. Ngồi lái xe từ vùng Southwest trở về vùng Northwest Houston, tôi lan man suy nghĩ đủ điều. Chợt nhiên hình ảnh người thầy dạy nhạc “đầu đời” ở lớp Đệ Thất D cách nay vừa tròn 50 năm, cũng là khoảng thời gian xa cách với rất nhiều bạn học cùng lớp đối với Thầy, sao mà xa vời vợi, nhưng hình ảnh buổi học sau cùng, bạn Nguyễn Ngọc Ẩn tự cầm đàn hát bản nhạc NGÀY TẠM BIỆT của nhạc sĩ Lam Phương lại nhanh chóng nhắc nhớ trong tôi như vừa mới xảy ra. Nhớ mà buồn. Bởi vì những câu hỏi trong bài hát “nhưng anh ơi ngày mai ta cách xa, anh kinh đô tôi phải về miền xa, biệt ly ai khéo gieo chi lên bao mái đầu xanh?”, cho đến giọng hát vút cao của bạn Ẩn ở đoạn điệp khúc nghe sao mà tha thiết quá, não nùng quá… “nhớ… hàng phương thắm ven đường, mỗi lúc chiều buông. Tan tác rơi cài lên mái tóc xanh…”. Hình ảnh “tan tác rơi…” phải chăng nói đến cảnh sinh ly tử biệt của một đời người, như bạn bè cùng lớp Đệ Thất D (năm học 1960-1961) chúng tôi ở hải ngoại với những người bạn còn sống nhục nhằn nơi quê nhà; với tất cả chúng tôi còn sống trên cõi nhân sinh nầy phải chia biệt với những bạn Huỳnh Phước Tăng, Nguyễn Minh Long, Dương Anh Tuấn, Nguyễn Văn Môn, Nguyễn Đức Hiệp, Nguyễn Thành Tiễng, Trần Trung Trạng, Đỗ Thành Tây;  kể cả mấy bạn bỏ anh em để theo cộng sản và cũng đã gục ngã trong chiến cuộc như Đặng Thái Sanh, Tô Thái Hiệp…

         Và, nhớ lại lời mời gọi của bạn Hải Âu về một lần hạnh ngộ ở Florida vào dịp Hè năm 2011, tôi chợt nhiên hát lại nho nhỏ đoạn nhạc “NHỚ… HÀNG PHƯỢNG THẮM ven đường mỗi lúc chiều buông. Tan tác rơi cài lên mái tóc xanh… Nhớ… bóng dáng ai chiều ấy, nâng niu tà áo, biết nói gì khi chia ly!”... mà lòng vẫn còn nghe man mác một nỗi buồn.

Houston, một chiếu cuối hè buồn 2010

Chưa biết năm 2011 có hạnh ngộ tại Florida?

LÊ CẦN THƠ

(Houston, Texas – USA)

NỐI SỢI DÂY DÀI

         Ba Còi chợt thức giấc khi nghe tiếng “tù và” thổi vang trong đêm khuya. Anh nhanh chóng chui ra khỏi chiếc nóp, đứng vung vai đôi ba lần trước khi đi súc miệng rồi thay bộ đồ, vác phảng và cù nèo ra đồng.

        TL_quangchai.jpg Con đường đất cặp theo bờ kinh có đôi chỗ ngoằn ngoèo khó đi, nhưng Ba Còi đã quen lối nầy, đi trong ánh trăng nhờ nhờ còn sót lại của những ngày cuối tháng sáu âm lịch. Anh nhớ từng chỗ, từng nơi: chỗ cây trâm bầu, bên tay phải có ngõ hẹp vào đất nhà chú Ba Thành và Tám Lắm, tới cây bằng lăng, bên tay trái có lối dẫn vô nhà chú Ba Chon và Bảy Đủ. Xa xa trong chòm cây phía trước mặt là xóm nhà của ông Tư Giò, Hai Chấm, Ba Thôn, Mười Lùn, Năm Du, Sáu Có… trong đó có căn nhà lá nghèo nàn của anh Hai Lẹ … Và, Ba Còi đi thẳng tới sân nhà chú Tư Thăng để họp cùng các chú, các bác, các anh đi ra phần ruộng của Cậu Ba Kính phát mười công ruộng mà đội vần công của dân xóm nầy đã bắt thăm. Mười lăm gia đình lập đội vần công để phát đất, cấy lúa, gặt lúa cho phần đất của mình vào mỗi mùa ruộng. Chỉ có vần công với nhau mới có đủ nhân lực làm hết phần ruộng mà mười lăm gia đình có được nằm trong ba liên gia kế nhau thuộc địa phận ấp Trường Thuận nầy. Vần công, đổi công là một tổ chức tự phát của bà con chòm xóm, đã có từ lâu đời và vẫn tiếp tục như vậy. Mười lăm gia đình sống thật thân thiết, ruột rà. “Tối lửa tắt đèn” có nhau. Công việc của nhà nầy cũng là công việc của các nhà khác và trái lại, cứ liên tục khắng khít nhau như vậy, bởi vì họ quan niệm “bà con xa không bằng láng giềng gần”.

         Ba Còi gia nhập vào đội “vần công đổi công” nầy, nhờ anh là “trụ cột” trong gia đình chỉ hai mẹ con: bà Bảy “Gốc Tùng” và Ba Còi – sở dĩ bà có tên nầy, là căn nhà chòi của bà cất chỗ gốc một cây tùng cổ thụ từ đời nào, đến nay đã không còn vết tích gì, nhưng bà con vẫn khẳng định ngày xưa nơi đây có một cây tùng cổ thụ lớn lắm! Hai mẹ con sống với nhau từ khi Bà Bảy trôi giạt từ miệt Tà Niên của Rạch Giá lên tới xứ Trường Long nầy, rồi được tá túc trên phần đất của ông quan Tảo, và sau đó, thời cải cách ruộng đất của chính phủ Ngô Đình Diệm, hai mẹ con Bà Bảy cũng được cấp nền nhà và ba mẫu ruộng để canh tác và nuôi sống gia đình. Ban đầu người ta hỏi về Ông Bảy, bà chỉ nói ông đã chết trong kháng chiến chống Pháp. Thằng Ba Còi là đứa con “nuôi” mà bà đã “lượm” được trong một đống rơm khi chạy loạn của bà mẹ nào đó nhẫn tâm bỏ lại lúc còn đỏ hỏn. Bà đã bồng bế và nuôi nấng, không có sữa nên hàng ngày cho uống nước cơm pha muối hoặc đường cả năm trời. Ban đầu bà đặt tên cho nó là “thằng Lượm”, nhưng chợt nghĩ ra, nếu sau nầy biết được thân thế nó sẽ tủi thân, nên đặt lại cho nó một cái tên mang họ của bà “Trần Văn Hên, cha vô danh, mẹ Trần Thị Bảy”, nhưng vì lúc còn nhỏ, do thiếu ăn nên thân hình nó còm cõi lắm, mặc quần xà lỏn ở trần lòi mấy cái ba sườn, bà con chòm xóm kêu nó bà Ba Còi dù nó là đứa con độc nhất chớ không phải thứ ba, riết rồi quen miệng cho mãi đến sau nầy.

         Ba Còi có nghe Mẹ kể sơ lai lịch như vậy, nhưng không bao giờ nó buồn tủi, mà xem như số mạng đã an bài như vậy, nó càng thương và lo lắng săn sóc tuổi già cho Má Bảy “Gốc Tùng” như mẹ ruột đã banh da xẻ thịt đẻ ra mình. Ba Còi còn căn dặn Mẹ, đừng kể thêm cho ai biết về lý lịch đời nó, xem như nó là con chính thức của Bà cho hết cuộc đời nầy. Hai mẹ con nghèo, Ba Còi không có diễm phúc cắp sách đến trường, nhưng nó đã học được một số chữ nghĩa qua bạn bè trong xóm, nên cũng biết đọc được chút đỉnh chớ không dốt hoàn toàn. Chuyện có mặt trong cuộc đời của Ba Còi mà tôi vừa kể qua, cũng tạm kết thúc không nhắc lại hay thêm thắt điều gì nữa. Chuyện tôi kể sau đây là tình cảm riêng của Ba Còi – tức Trần Văn Hên, để bạn đọc cùng chia sẻ với một tình cảm đáng thương mà thôi, và cũng dùng tên gọi hằng ngày theo cách gọi của chòm xóm với một thanh niên có vóc dáng quen thân, dễ nhìn của miền quê sông nước ấp Trường Thuận, xã Trường Long, tỉnh Cần Thơ cách đây trên dưới năm mươi năm.

         Khi Ba Còi đã mười bảy tuổi thì bà Bảy Gốc Tùng qua đời. Ba Còi không còn ngủ nóp mà phải vô chiếc chõng tre của Mẹ trong chòi để ngủ và thắp nhang đèn trên bàn thờ hằng đêm. Tờ khai gia đình bây giờ chỉ còn mang tên Trần Văn Hên là chủ, và bằng khoán đất của bà Trần Thị Bảy (chết) được chánh quyền sở tại làm tờ trình chuyển lên quận và tỉnh để sang tên lại cho Trần Văn Hên.

         Tuổi vừa lớn, ông bà nói “mười bảy bẻ gãy sừng trâu” là nói đến sức vóc của một thanh niên, dù hồi nhỏ ốm yếu còi cọc, nhưng bây giờ đã nên vóc nên hình khoẻ mạnh, Ba Còi đã “trổ mả” và cũng có nhiều mơ mộng trong cuộc đời. Những người bạn chơi thân với Ba Còi trong xóm, phải kể thằng Hai Phát, thằng Năm Vinh, thằng Bảy Cù, thằng Sáu Già, hay thường gặp gỡ chuyện trò với mấy cô bạn gái như cô Tư Nguyên, cô Út Chạy, cô Hai Màu… Trong mấy cô bạn gái nầy, Ba Còi để ý đến cô Nguyên, con gái thứ tư của chú Ba Thành. Nhóm bạn chơi thân nầy cũng đều phát hiện ra điều đó, nhưng không ai dám nói ra sợ người lớn biết được thì ngăn cấm.

         Những đêm trăng sáng, vài ba đứa bạn kéo nhau lại nhà anh Hai Lẹ để tập ca vọng cổ. Anh Hai Lẹ có cây đàn guitare vọng cổ, và đàn rất hay. Anh tập cho các bạn trẻ hát các bản vắn như Sơn Đông Hướng Mã, Thủ Phong Nguyệt, Hướng Mã Hồi Thành…, sau đó tập ca các bài thuộc ba Nam sáu Bắc, ca luôn sáu câu vọng cổ. Mỗi tuần ít lắm cũng hai ba đêm họp mặt tập ca như vậy, nhưng chẳng hiểu vì sao Ba Còi không ca được bài nào, có lẽ vì anh “mắc cỡ” hay một lý do nào đó mà ép cách nào cũng không được. Ca hay nhứt trong nhóm là Năm Vinh, nó cất giọng ca bài Tần Huỳnh Khóc Bạn nghe thật hay: (Nói lối):“Nghe hung tin Nhị Ca đà thọ tiễn. Hồng Đào Sơn em quay ngựa trở về đây. Giữa pháp trường cát bụi mịt mù bay. Quân đao phủ sắp ra tay hành quyết….(vô VC): Hãy khoan đừng giết oan một trang hào kiệt, nghe lời anh đình thủ bớ La… Thành – Thôi rồi một nhát gươm đưa đã kết liễu mạng anh hùng – …”. Phần Sáu Già thì chỉ mỗi một bản Sơn Đông Hướng Mã “Bắn con thỏ nó quây xà quây, Cậu nhắm cho thật ngay…Nhìn kia bàn tay đừng run. Đừng lụp chụp coi chừng nó chạy. Nhắm ngay cái đầu. Trúng rồi cậu à”. Còn cô Tư Nguyên thì hát bài Thủ Phong Nguyệt trong tuồng cải lương Cát Bụi Đô Thành mà cô nghe Bạch Huệ ca trong ban ca kịch Cửu Long của Thành Công trên đài phát thanh Sài Gòn rồi nhớ:“Thôi anh ơi, tôi dân dã quê mùa. Đâu xứng đáng, người yêu của anh. Mặt hoa, da phấn, môi đỏ, tóc quăn. Còn tôi là kẻ đê hèn. Đâu xứng làm vợ hiền…”. Mỗi khi cô Tư Nguyên hát bài đó thì mấy bạn ngồi kế bên thúc cùi chõ vô hông của Ba Còi, ngầm biểu nó ca đáp lại, nhưng Ba Còi vẫn ngồi im thin thít. Bảy Cù buộc phải chen vô nói lối để ca bài vọng cổ “Trái Khổ Qua”: (Nói lối):“Tôi với em là hai người cùng một xóm. Nhà của em có trồng đám khổ qua. Cứ mỗi buổi bình minh còn đọng giọt sương sa. Tôi đã thấy em cầm gàu tưới nước….(Vô VC): Dây khổ qua nhụy vàng bông trắng, trái khổ qua tuy đắng nhưng đượm thắm… ân tình…”. Cứ mỗi lần ai vô vọng cổ xuống chữ “hò” đầu là các bạn vỗ tay khen thưởng. Trên chiếc đệm trải giữa nền đất của chòi anh Hai Lẹ, chính giữa là cây đèn ống khói, có một bình trà và mấy cái ly uống nước với dĩa “thèo lèo cứt chuột”. Các bạn trẻ cùng xúm xít ngồi, nam một vòng bên, đối diện với nữ, anh Hai Lẹ ngồi chỗ giáp mí hai bên nam nữ. Tất cả đều vui vẻ và đứng đắn với nhau, không ai tỏ ra cợt nhã sỗ sàng để anh Hai Lẹ phải rầy la. Tình bạn chòm xóm ở một thôn ấp kéo dài như vậy, cha mẹ của các bạn trẻ cũng không có điều gì để ngăn cấm con mình hết.

         Gia đình chú Ba Thành để ý đến sự thân tình của Ba Còi với con gái Tư Nguyên, nhưng cả hai vợ chồng không  ra mặt cản ngăn, cũng không khuyến khích. Nhiều bữa, Ba Còi thấy Tư Nguyên lấy thùng xách nước từ dưới kinh lên để đổ vô lu mái dầm trước hiên nhà và phía sau chỗ rửa chén bát, anh đã giành xách tiếp một cách tự nhiên khiến cho Tư Nguyên cảm động. Họ cũng có nhiều dịp gặp riêng nhau, ngoài những câu nói vui vẻ, họ còn nói bóng gió những điều mà từ trong lòng mỗi người tự biết chớ không lộ liễu nói chuyện yêu đương. Không phải đôi trai gái nầy “cổ hũ”, nhưng ở một góc độ nào đó, cho thấy cả hai đã tự kềm chế lòng mình để cho cha mẹ Tư Nguyên và bạn bè xung quanh không có yếu tố gì để ngăn cấm hay chen vào chọc ghẹo.

         Cuộc đời nếu êm xuôi, bằng phẳng như vậy thì chắc phần tiếp theo sau, không có gì cần phải nói. Nhưng, một hôm, Ba Còi nhận giấy gọi thi hành quân dịch. Ba Còi phải trình diện nhập ngũ vì đã đúng tuổi đi quân dịch mà không có lý do xin hoãn dịch. Chính thời điểm phải từ giã làng quê nhập ngũ, Ba Còi buồn lắm, tìm cách gặp riêng Tư Nguyên bày tỏ lòng mình. Đó là lần đầu tiên, Ba Còi nói thật với Tư Nguyên:

         - Nguyên à, tui nói Nguyên đừng giận, thú thiệt tui…

         Nguyên trố mắt nhìn Ba Còi, chợt nhiên cô lấy tay bụm miệng anh lại:

         - Đừng nói gì hết. Tui biết mà!

         - Biết gì?

         - Anh nói đã thương tui phải không?

         - Ừ!

         - Tui cũng biết từ lâu lắm rồi. Ngặt vì sợ mấy đứa bạn biết, tụi nó chọc phá…

         - Tui sắp đi lính rồi, bây giờ phải tính sao?

         -  Anh đi lính bao lâu?

         -  Đi quân dịch ba năm!

         -  Tui chờ anh!

         -  Thiệt hông?

         -  Tui thề sẽ chờ anh…  

         Lần gặp gỡ đó là lần đầu tiên hai người ôm nhau, nước mắt ràn rụa. Cũng là lần đầu tiên Ba Còi đã hôn lên mái tóc thơm mùi nước lá sả mà Tư Nguyên đã gội đầu từ buổi chiều. Tình yêu của hai người đã vượt qua giới hạn là cái hôn trên mái tóc và ôm nhau trong giọt nước mắt buồn vui như vậy cho đến khi Ba Còi khăn gói lên đường vào quân ngũ. Chính vì tình yêu thật trong sáng đó đã đeo đuổi trong tâm hồn của Ba Còi những nét đẹp, những nhớ thương trong cuộc đời quân ngũ của mình. Chưa đầy ba năm, anh đã phải trở về làng quê với thân phận một thương phế binh cụt mất chân trái tới gần đầu gối, trong lần chạm súng ác liệt với địch quân trong trận khi đơn vị hành quân trực thăng vận diễn ra trên cánh đồng Chệt Thợ ngày 21 tháng ba âm lịch năm một chín sáu mươi hai.

         Chiến tranh đã lan tràn đến làng quê năm xưa của anh. Nhiều gia đình đã tản cư đi nhiều nơi khác nhau để tránh bom đạn. Ba Còi về lại chốn cũ thì mái chòi của anh vẫn còn đó. Từ khi anh nhập ngũ, cô Tư Nguyên thường xuyên đến ghé thắp nhang lên bàn thờ Bà Bảy, trông coi “cơ ngơi” của Ba Còi, nhưng chẳng nhận được chút tin tức gì của Ba Còi, vì anh đâu có viết thơ gởi về. Bà con chòm xóm cũng chia nhau lo phần đất ruộng của Ba Còi hàng năm, lúa bán được thì gởi nhờ chú Ba Thành cất giùm để làm vốn liếng khi Ba Còi giải ngũ trở về kết hôn với Tư Nguyên. Vậy mà trong số những người tản cư đi có gia đình của chú Ba Thành. Ngày Ba Còi chống nạng về quê cũ, chỉ còn gặp được anh Hai Lẹ, Bảy Cù, Sáu Già, cô Út Chạy, Năm Vinh. 

         Còn nhớ, những ngày sống gian khổ trong quân ngũ, Ba Còi nhớ thương Tư Nguyên, cứ trằn trọc mong đợi ngày về hai người sẽ cưới nhau như lời hứa hẹn đêm hai người chia tay. Cái may trong đời binh nghiệp, Ba Còi có một người bạn biết đờn ca và đã tập cho anh ca được vọng cổ. Những bài hát như Nhớ Mẹ, Gánh Nước Đêm Trăng, Ghe Chiếu Cà Mau, Sầu Vương Biên Ải, Mồ Em Phượng, Tu Là Cội Phúc, Lòng Dạ Đàn Bà… lần lượt đã được Ba Còi học thuộc và ca nghe cũng hay. Giọng ca của Ba Còi nghe buồn nhưng trầm và ấm lạ lùng. Ba Còi định sau nầy nếu về lại làng quê, trong những đêm họp mặt bạn bè, anh sẽ ca cho mọi người nghe để bù lại trước đây anh không chịu tập ca hát với các bạn, nhất là ca cho người yêu của mình nghe. Tư Nguyên mà nghe được giọng ca của anh chắc cô ấy thích và thương anh nhiều lắm.

         Vậy mà, ngày Ba Còi trở lại làng quê xưa thì hay tin gia đình chú Ba Thành đã tản cư xuống Miệt Thứ Cà Mau và cô Tư Nguyên cũng đã có chồng có con rồi.

         Một đêm họp mặt tại nhà anh Hai Lẹ, cũng trên chiếc đệm lót giữa nhà, dưới ánh ngọn đèn ống khói vàng vọt, bình trà nóng, mấy cái ly uống nước, anh Hai Lẹ cầm cây đờn Guitare cũ kỹ và các bạn trẻ Sáu Già, Bảy Cù, Năm Vinh, Út Chạy, thương phế binh Ba Còi cùng ngồi quây quần bên nhau. Mở đầu, Năm Vinh ca bản Nam Ai trích trong một vở cải lương… “Đừng khóc nữa, Loan cô nương đừng khóc nữa. Nếu cánh tay nầy có mất đi cũng là một bài học cho ta ở… đời – Đừng ao ước đua đòi – Đừng mơ tưởng xa vời…”. Bảy Cù cất giọng hò rồi vô câu vọng cổ “Nhớ Mẹ” để tặng Ba Còi: “Hò ơ… Lòng con thảo như giọt sương hạt bụi. Công mẫu từ như ngọn núi Thái Sơn. Có cha có mẹ thì hơn. Không cha không mẹ như đờn đứt dây… (Vô VC): Rảo bước qua mấy nhịp cầu tre để trở về nơi mái lá, con mới hay tin mẹ đã qua… đời –. Mẹ ơi lòng của con tan nát tơi bời – (…). Trên bàn thờ cũ kỹ con chỉ nhìn chiếc nhện giăng tơ…”. Cô Út Chạy thì ca bài Nghe Em Hát Lý Giao Duyên “Ruộng lúa quê(-) em, Cánh cò bay(-) mỏi, Năm cấy hai(-) mùa, Mưa nắng thuận (-) hoà, Đất ngát thơm(-) hương, Hương lúa Ba(-) trăng, Ngậm sữa no(-) căng, Vụ mùa sau nối vụ mùa đầu, Em hát về chàng trai trẻ đồng quê, Chớ vội vàng chi chuyện trăm năm…” rồi Sáu Già vô luôn mấy câu vọng cổ: “Nghe em hát lý giao duyên trên cánh đồng hai vụ, câu hát ơi sao nghe hiền dịu gợi nhớ gợi thương khi trời đã sang… mùa – Hương lúa lan xa thương mến đậm đà – …”. Không khí tự nhiên trầm xuống với hai giọng ca tài tử Út Chạy – Sáu Già qua một sáng tác đượm tình yêu quê hương như vậy. Bỗng thương phế binh Ba Còi tự giới thiệu sẽ ca bài vọng cổ Gánh Nước Đêm Trăng, vì anh nhớ lại năm xưa anh đã từng xách nước giúp cô Tư Nguyên dưới dòng kinh lên nhà đổ vào các lu mái dầm chứa nước để lóng phèn xài, và cũng để tỏ nỗi lòng của mình trước một mối tình thật trong sáng năm xưa bây giờ trở thành nỗi tiếc thương vô vọng. Nghe anh giới thiệu sẽ ca tặng mấy câu vọng cổ, ai cũng ngạc nhiên. Anh Hai Lẹ bảo Ba Còi cất giọng để anh so lại âm giọng của dây đàn, rồi anh tiếp tục dạo đầu. Ba Còi mắt lơ đễnh nhìn lên mái lá của chòi anh Hai Lẹ, mà hồn dõi theo một hình ảnh mờ ảo trong tâm hồn mình, anh đang cố hình dung bóng dáng người yêu với mái tóc vừa gội nước lá sả mà anh đã đặt lên đó chiếc hôn đầu đời của tình yêu rồi sẽ sàng cất giọng:

         Nói lối:

         “Sương khuya lạnh bao trùm khắp nẻo

          Trăng đêm nay dìu dịu cả không gian

          Tôi với em đi gánh nước cạnh đình làng

          Mùi cỏ dại mơ màng trong đêm vắng…

         Vô vọng cổ:

         “ Nước giếng trong giữa đồi cát mịn, ánh nguyệt mờ soi đôi bóng giao… kề –. Tôi với em quảy gánh ra về – Giữa không trung tiếng sáo diều khoan nhặt, như tiếng hẹn hò của đôi mảnh tình quê (–). Em trước tôi sau cùng sánh vai nhau đi giữa đường mòn. Đến ngã ba đường là chỗ chia tay để trở về xóm nhỏ (–).

         Ở mấy nhịp cuối câu hai rớt vào chữ đờn “xang”, lời hát mà giọng anh diễn dạt nghe như mỉa mai, cay đắng làm sao: em cười em bảo với tôi, thề có đất trời em không phụ anh đâu…”(–)!.        

         Rồi giọng hò của anh càng lắng đọng và chất chứa niềm tiếc rẻ thật đáng thương ở đoạn cuối bài vọng cổ: “Hò ơ… ai phụ tôi có đất trời chứng giám. Phận tôi nghèo đâu xứng đáng cùng ai. Tưởng giếng sâu tôi nối sợi dây dài. Ngờ đâu giếng cạn ờ… Hò ơ… ngờ đâu giếng cạn tôi tiếc hoài sợi dây…”.

         Tiếng ca buồn não nuột hoà với những ngón tay nhấn phím thật hoà cảm bất chợt của anh Hai Lẹ đã khiến mọi người rơm rớm nước mắt. Cô Út Chạy thì đã để hai dòng lệ chảy dài xuống đôi gò má ửng hồng của mình khi liếc qua Sáu Già. Cô cũng như các bạn cùng nghĩ, nếu giờ nầy mà Tư Nguyên nghe được giọng ca của Ba Còi, chắc cô sẽ hối hận khóc ròng vì mình đã không giữ đúng lời thề hẹn năm xưa với người mình yêu (?). Anh Hai Lẹ buông đàn, vói tay cầm ly nước nguội uống “ực” một hơi, khẽ nói:

         - Ba Còi, giọng ca hay lắm. Không ngờ mầy đi lính chỉ mấy năm mà luyện được giọng hay và ca chắc nhịp như vậy. Thôi đừng buồn. Cái gì cũng do duyên số. Mầy với con Tư Nguyên không nên duyên phận cũng do cái số trời đã định, tiếc làm gì nữa khi biết mình đã một lần nối sợi dây dài. Bây giờ, dù chiến tranh còn đang tiếp diễn trên quê hương đất nước, nhưng mấy anh em mình còn sống và còn tình thương yêu chòm xóm với nhau như vầy là quý lắm rồi đâu cần phải nối dây dài dây ngắn. Thôi hãy vui vẻ tiếp tục ca đi mấy đứa…

         Ngoài trời, ánh trăng non đã chênh chếch ngã về phía tây. Văng vẳng phía đồn Vàm Bi, vài tiếng súng canh nổ đì đùng xé tan sự tĩnh lặng trong đêm. Mọi người ngưng cuộc vui và chia tay. Anh Hai Lẹ bước lại chỗ bếp, vói rút cây đuốc lá dừa để trên gác đưa cho Năm Vinh và nói: “Đốt sáng để soi đường đưa Ba Còi về giùm anh”.

         Ba Còi khập khiễng chống gậy đi bên cạnh Năm Vinh, trở về căn chòi lá của mình chỗ gốc cây tùng cổ thụ năm xưa, trong lòng vẫn chưa thấy nguôi ngoai hình ảnh Tư Nguyên. Bất chợt Ba Còi thở dài thầm nghĩ, chưa chắc gì đêm nay mình có được một giấc ngủ an lành.

Houston, July 04-2010

LÊ CẦN THƠ      

        

        

        

 TẤM THẢM

          truyện ngắn 

      LÊ CẦN THƠ

                   (Houston, Texas, Hoa Kỳ)          

 Cây bằng lăng phía ngoài cổng rào trổ bông tim tím. Màu tím bằng lăng nhàn nhạt như màu tím bông lục bình, gợi trong lòng người một niềm dạt dào khó tả. Ðám học trò nhỏ tụ nhau thách đố trèo lên bẻ hết một chùm bông bằng lăng thì thầy Vinh bắt gặp, chúng hè nhau bỏ chạy. Thầy Vinh nhìn theo lắc đầu.        

 Buổi trưa đứng gió. Không khí như gay gắt hẳn lên. Ngôi nhà gạch, mái lợp tôn, nằm cách hàng rào hơn mười lăm mét sân trống, đặt mấy chậu cây kiểng, không tạo ra một chút bóng mát nào. Cánh cửa mở rộng để lộ nền gạch bông xanh trắng sạch bóng. Tấm thảm chùi chân bằng xơ dừa hình chữ nhật có viền đỏ sậm chạy như hoa văn đặt ngay ngạch cửa, khi bước chân vào nhà ai cũng phải giẫm chân lên tấm thảm nầy.        

Sống trong gia đình thật êm ấm, bình lặng, thầy Vinh tìm được niềm an ủi trong tuổi già. Công việc hàng ngày của thầy: Sáng và chiều tưới mấy chậu cây kiểng trước sân nhà, sau khi uống ly cà phê đen ngoài quán, thầy vào lau nền gạch bông. Hôm nào trời nắng tốt, thầy đem tấm thảm ra xối nước chà rửa rồi đem phơi trước sân. Nhiều lúc Hiền bảo: "Ba để chiều con lau, đừng làm quần quật như vậy, rủi bệnh hoạn thì khổ thân!”. Thầy cho là lời nói chí tình, nhưng thầy cũng vẫn làm, vì đây là công việc nhẹ nhàng, vừa vận động cơ thể, vừa đỡ cho con dâu sau một ngày mệt nhọc ở tiệm may, còn phải đi chợ mua thức ăn về lo cơm nước cho gia đình. Lúc mấy đứa nhỏ đi học chưa về, có khi thầy còn tiếp con dâu nhóm bếp nấu nước để khi Hiền vo gạo xong là có sẵn bếp lửa nấu cơm. Trong nhà chưa khi nào có điều tiếng gì để bên ngoài có thể nghe biết. Út Quang rất thương cha, dù công việc có nhiều vất vả, nhưng lúc nào anh cũng nhớ và lo lắng sức khoẻ của cha. Anh mua thuốc bổ, mua trà ngon, mua những thứ gì thầy Vinh ưa thích. Anh cũng thường nhắc Hiền cố gắng đi chợ tìm mua thức ăn ngon, nấu nướng cho vừa miệng cha... Hiền cũng đã quen tính của chồng và cùng chồng lo cho cha thật chu đáo. Buổi tối, Út Quang thường dành chút thời gian đọc báo, và anh luôn luôn dừng lại ở các mục cáo phó, chia buồn. Những người lớn tuổi cứ thay nhau từ bỏ cháu con, khiến Út Quang chạnh lòng nghĩ về cha - về thầy Vinh!        

 Bé Hậu, con trai út của vợ chồng Quang mới sáu tuổi, mỗi khi đi học về là quấn quít bên ông Nội. Chính thằng bé đã mang lại cho thầy vinh tình thương yêu sâu đậm nhứt. Thầy đã sống bên sự thơ ngây, dễ dạy, và đôi lúc như đã tìm thấy lại quãng đời thơ trẻ của mình. "Nội dặn con hoài. Tấm thảm để lau chân, vậy mà con cứ đem ra ngoài sân đất lót ngồi, dơ bẩn...”. Bé Hậu cười rồi mang trả vào chỗ cũ.         

Trưa nay, cả nhà đang ngủ, thầy Vinh mở cửa ra hiên, thấy mấy đứa học trò trèo bẻ bông bằng lăng, thầy lên tiếng rầy, chúng nó bỏ chạy. Thầy chợt nghĩ, không biết bé Hậu có khi nào cùng lũ bạn chơi trò "khỉ khọt" đó ở một nơi nào khác không? Cứ như thời trai trẻ, chính thầy cũng có những trò chơi tương tự. Nhưng ở cái tuổi thơ trẻ của thầy, mọi sinh hoạt đã hoàn toàn khác xa bây giờ. Thầy sống trong đồng ruộng, trò chơi có khi là hái trộm trái mận, lấy đất ném xoài, hoặc dùng nạng giàn thun để bắn lén những chùm trái cóc trên cành cao, bị chủ nhà đuổi chạy...; có khi nhào nặn đất sét để làm chim cu, chim tu hú, phơi khô, cạo gọt sạch bóng rồi thổi om sòm, khiến người lớn chịu không được phải rầy la...        

- Ông ơi, cho cháu xin một chùm bông nầy đi.        

Thầy Vinh đứng lên, bước lại cổng rào. Mấy đứa học trò vẫn chưa chịu về, lục tục kéo lại để xin cho được bông bằng lăng.        

 - Mấy cháu bẻ bông nầy để làm gì?        

 - Dạ, bẻ về chơi nhà chòi. Tụi cháu thích màu bông nầy lắm.        

 - Cứ để nó trên cây cho lâu tàn, bẻ xuống một hai buổi là héo đi, uổng lắm. Nếu thích, mỗi ngày các cháu cứ đến ngồi ngắm cho vui, không được sao? Ông cũng thích ngồi ngắm bông bằng lăng nầy lắm...        

Một đứa bé nói chuyện rất lễ phép. Mấy đứa kia im lặng nghe. Có một bé khác, tóc tai rối bù, đứng ở xa nói vọng lại: "Không cho cũng bẻ" . "Tao thách mầy!". Ðứa bé trai ra vẻ ngăn không cho bạn mình làm bậy. Thầy Vinh lặng lẽ quay vào. Trong số học trò có cháu ngoan ngoãn dễ dạy, cũng có cháu ngỗ nghịch cần phải được cận kề uốn nắn khuyên răn. Những ngày còn đứng trên bục giảng, thầy Vinh đã gần gũi với thế giới tuổi thơ. Hết lớp nầy đến lớp khác, biết bao thế hệ đã qua, và thầy Vinh vững vàng với thiên chức của một người thầy đối với đám học sinh thân yêu. Những thế hệ học sinh nối tiếp nhau, kẻ học nửa chừng, người theo đuổi đến nơi đến chốn, có lúc trở lại thăm thầy, học cũng là quân nhân, công chức, cũng là thầy cô giáo... 

. Những ngày nghỉ hưu, thầy Vinh có dịp rảnh rỗi để ôn lại bao nhiêu kỷ niệm vui buồn của nghề "gõ đầu trẻ". Hình ảnh học trò tôn kính thầy cô lúc nào cũng đậm đà trong tâm tưởng thầy. Khi ra đường, học trò giở nón cúi đầu chào thầy dạy mình từ xa hàng năm mười thước với lòng "tôn sư trọng đạo" thật sự, là hình ảnh thật đẹp trong tình cảm con người mà thầy Vinh cho là niềm vui bất tận cần được tôn trọng, giữ gìn. Nhiều khi thầy gật đầu chào lại, hoặc nở nụ cười hiền dịu với học sinh hoặc với người vừa chào mình, mà không nhớ đã dạy họ từ bao giờ, lớp nào, ở đâu? Cũng trong đám học trò, vẫn có một số cá biệt ương ngạnh, khinh thường người đã dày công dạy dỗ mình, nhiều khi ra đường chạm mặt mà không một lời chào hỏi thầy. Khi bắt gặp hình ảnh đó, lòng thầy thoáng chút ngậm ngùi. Dạy học trò, người thầy nào cũng muốn đào tạo cho ra đời những công dân tốt, những người có đạo đức, phẩm hạnh, hữu ích cho đất nước. Ai mà không đau buồn, xốn xang khi biết được từ trong đám học trò do mình dạy, đã ra đời làm điều bất nghĩa bất nhân.        

Nghỉ ở nhà, thầy Vinh xoay qua cách sống khác: thầy viết báo. Nói viết báo là nói theo thói quen chớ thực ra thầy sáng tác thơ, truyện gởi cho các báo xuất bản ở Sài Gòn. Một hôm, thầy Vinh nhận được thư của toà soạn, nội dung mà tới nay thầy vẫn còn nhớ mang máng: "Bạn Thế Vinh, chúng tôi nhận được nhiều truyện ngắn và thơ của bạn gởi đến tòa soạn. Bài chọn đăng sẽ có trả nhuận bút. Rất tiếc không thể đăng được vì bài chưa hợp với chủ trương của báo. Mong bạn cố gắng và tiếp tục gởi bài mới khác về toà soạn. Ký tên: VŨ HÒA".             

Thầy Vinh biết chắc Vũ Hoà là học trò cũ của mình. Hồi còn học, Vũ Hoà là cây viết học sinh rất khá, xuất hiện thường xuyên trên các đặc san, giai phẩm nhà trường. Cô Lệ Châu dạy Văn có lần nói với thầy: "Em Vũ Hòa có khả năng, sau nầy thế nào em cũng đi vào con đường văn chương, báo chí”.. Thầy Vinh góp ý: "Cô cố gắng trau giồi cho em xem sao! Biết đâu trường ta chẳng có một cây viết tên tuổi?". Bởi không phải dạy môn Văn nên thầy Vinh không để ý nhiều đến Vũ Hòa. Mãi sau nầy thầy mới hay tin Vũ Hòa làm báo.        

 Thầy đâu ngờ, những bài viết của thầy không đăng ở tờ báo do Vũ Hòa chủ trương, mà lại xuất hiện rải rác ở nhiều tờ báo khác. Cũng nội dung và câu cú như vậy, có cắt xén, thêm bớt đôi chút, đổi tựa, cả thơ lẫn truyện và tên tác giả là VŨ HẢI. Bởi không đọc được nhiều báo nên thầy không để ý, đến khi nghe có cuộc trao giải thưởng truyện ngắn của một tờ báo nọ, thầy Vinh mua về xem. Bàng hoàng khi thấy truyện ngắn ký tên Vũ Hải trúng giải nhì với tiền thưởng ba chục ngàn đồng! Thầy Vinh viết thư hỏi tòa soạn nhưng không được trả lời. Có lúc bực tức, thầy muốn viết đơn khiếu nại và kiện tác giả Vũ Hải, nhưng thầy không có bằng cớ chứng minh mình là chủ quyền, vì bản thảo của thầy viết tay chỉ một bản, không còn lưu lại ở nhà. Thầy buồn chán và bỏ viết. Thầy Vinh chợt nghe cay đắng trong lòng: "Không lẽ, chuỗi ngày làm thầy, mình giống như tấm thảm trải đường; bước sang lãnh vực sáng tác, người ta cũng xem mình như tấm thảm hay sao?”        

 Gió từ sông Hậu thổi qua giữa trưa, mang hơi mát dịu trong nắng chói chang. Cành cây bằng lăng lay động, mấy chùm hoa tím lung linh. Thầy Vinh ngồi trên tấm thảm, dựa lưng vào cửa sổ, đưa mắt nhìn ra ngoài. Út Quang thức dậy từ lúc nào, khi dẫn xe đạp từ lối đi bên hông nhà sau ra cổng, thầy Vinh mới hay. "Tới giờ rồi hả con?". "Dạ, sao ba không ngủ trưa một chút cho khoẻ ? Ba nhớ khóa cổng lại. Dòm chừng tụi nhỏ trèo bẻ bông bằng lăng!”. Thầy Vinh gật gù bước theo Út Quang, vói tay gài cổng. "Trưa nóng hầm quá ba ngủ không được. Hồi nảy mấy đứa nhỏ bẻ bông, ba rầy, tụi nó bỏ chạy...”. Quang lên xe đạp, nói vọng lại rất khẽ: "Tụi nhỏ nầy khỉ khọt quá!”. Thầy Vinh chợt mỉm cười khi nghe thằng con trai út của mình cũng dùng tiếng "khỉ khọt" mà nghe lòng vui vui...        

Bé Hậu ra ngồi trên góc thảm cạnh ông Nội. "Nội ơi, con mới ngủ xong nè!”. "Giỏi lắm!”. Thầy Vinh một tay ôm cháu, một tay vân vê tấm thảm xơ dừa. Thấy vậy, bé Hậu hỏi: "Ông Nội ơi, người ta làm tấm thảm để chi vậy?”. "Ðể lau chân khi bước vô nhà cho khỏi dơ”. "Sao có lần ba dẫn con vào xin giấy tờ ở một cơ quan nọ, con thấy họ treo lên tường?”. "Bậy nào ! Thảm để lót chân, ai mà treo tường bao giờ?”. "Thiệt mà”. Thầy Vinh vẫn còn ngờ ngợ sau câu khẳng định của bé hậu. Có thể cháu lầm tranh treo tường với tấm thảm? Có ai lại trang trí lên tường cơ quan bằng những tấm thảm xơ dừa như vậy? Thầy Vinh giải thích ý trên, nhưng cháu cứ khăng khăng: "Thảm bằng xơ dừa thiệt mà! Treo mấy tấm lận!”. Thầy Vinh  thoáng nghĩ, có  lẽ bé Hậu nói đúng. Thời buổi nầy, trình độ nhận thức của một số trưởng cơ quan hạn chế lắm, họ lại thích làm chuyện lạ đời để cho thấy cái riêng biệt, nổi bật trước mọi người, dù đó là điều hợm hĩnh cũng được! Nhưng  thầy  không cho cháu mình biết được ý nghĩ đó, vội vò đầu cháu: "Ðừng nghĩ như vậy!”.        

Thầy Vinh chợt loé lên ý nghĩ: “Tấm thảm dùng để lót chân, lót đường cho mọi người đi. Ai muốn bàn chân mình sạch sẽ đều phải dẫm lên và bước qua tấm thảm xơ dừa. Con người muốn đi lên trong cuộc sống, có nên bước qua bạn bè, thầy cô, bước qua đồng nghiệp, anh em... như thản nhiên bước qua tấm thảm đặt trước mỗi ngạch cửa nhà?”.  Thầy Vinh khẽ thở dài. Cánh bằng lăng tím vẫn lung linh trong gió một cách tự nhiên, chúng không thể nào hiểu được sự ra đời của chúng vừa làm đẹp mắt mọi người, cũng vừa tạo cho tuổi thơ những ham thích đến nỗi có thể bất chấp đến lẽ phải, làm điều sai quấy... Chợt nhiên thầy se lòng. "Phải chi lúc nãy cứ cho tụi nhỏ bẻ mấy cái bông, giữ lại làm chi, rồi nó cũng tàn héo? Bởi trong cuộc sống nầy có gì bền vững đâu?"        

Với riêng mình, thầy Vinh tự cảm thấy, đã bảy mươi lăm tuổi đời, mình chỉ là tấm thảm cho một số người thản nhiên bước qua. Thật sự họ đã ung dung bước qua.  

.

Cần Thơ 15 tháng 10 năm 1985

.LÊ CẦN THƠ

(Trong tập TRÔI NGANG PHẬN MÌNH, chưa xuất bản)        

GIAN

KHỔ

MỘT ĐỜI

truyện

LÊ CẦN THƠ

.

  “Chiều qua gác giặc bên phòng tuyến

  Thấy chiếc ghe đăng nhẹ mái chèo

  Bất chợt con nghe hồn trống vắng

  Thương về quê cũ nhớ thôn nghèo…”

  (thơ HVT - Chuyện Ghe Đăng – 1969)

         Trời chiều.

         Ánh nắng vàng vọt từ hướng Tây chiếu qua rặng cây xa hun hút bên kia cánh đồng trống vắng tạo nên màu sắc đậm nhạt trông thật buồn. Trên không, mấy chòm mây trắng lãng đãng trôi mà tận chân trời màu xanh dương cũng bắt đầu ngã dần sang màu thẫm hơn báo hiệu sắp hoàng hôn. Con kinh Lái Hiếu thẳng tắp từ hướng Phụng Hiệp vào Ngã Tư Cây Dương nước lớn đã đầy tới mấp mé hai bên bờ. Mấy mảng lục bình lờ đờ trôi theo dòng nước, bên trên mảng lục bình, những chùm bông màu tím nhạt hoà với sắc trời chiều một nỗi buồn hiu hắt, xa vắng, bâng khuâng. Những đàn cò trắng đang vỗ cánh bay về rặng cây trâm bầu phía xa xa chắn qua hướng Kinh Ngang mà tầm nhìn đã nhạt nhoà như bức tranh thủy mạc.

         Bất chợt, Lê Vân Thanh đổi lại thế ngồi trên vọng gác hướng ra mặt sông. Đồn trung đội nằm trên khu đất thuộc ấp Mỹ Lợi B, cách đồn đại đội trừ ở ấp Mỹ Lợi A chưa đầy hai cây số, hàng ngày phải hành quân mở đường để bắt tay nhau lo an ninh thủy trình dọc kinh Lái Hiếu, ban đêm phải lo xuất quân nằm các điểm “tiền đồn”, là những chốt điểm mà Chi Khu Phụng Hiệp đã chấm tọa độ để giữ an ninh cho đồn. Những năm cuối 1969 sang đầu 1970, tình hình an ninh quanh vòng đai quận Phụng Hiệp còn khép chặt, tương đối tốt chưa quá hai cây số. Vậy mà các đơn vị Địa Phương Quân do Tiểu Khu đưa về xây dựng đồn trên khắp địa bàn, rồi lần lượt giao cho lực lượng Nghĩa Quân thuộc liên đội 313 mà anh Năm Tân là Liên Đội Trưởng chỉ huy, phân nhiệm các Trung Đội, Tiểu Đội trấn giữ thật hữu hiệu. Từ các đồn kề cận Chi Khu Phụng Hiệp như Rạch Vông, Mang Cá, Ba Ngàn, Đất Sét, Xẻo Môn, Ranh Hạt… cho đến các đơn vị “xung kích” chuyên đi đánh “đột kích điểm” ban đêm trong các vùng xa xôi, phá hủy tiềm năng của du kích các ấp đội, xã đội Đại Thành, huyện đội VC trong địa bàn Phụng Hiệp thật chính xác, do tin tình báo thu được qua chỉ điểm của hồi chánh viên. Đánh rồi rút, gây thương vong cho đối phương, thu chiến lợi phẩm rồi trở về hậu cứ tại Chi Khu an toàn, những “chiến sĩ Nghĩa Quân của anh Năm Tân” đã làm chiến tích như vậy. Vòng đai an ninh lan ra, nếu về hướng Kinh Cái Côn có đại đội 489 ĐPQ của Thiếu Uý Lâm Đình Thảo (sau ngày 1 tháng 3/70 Thiếu Uý Thảo tử trận, Trung Úy Mai Quang Rít tạm thay, rồi Trung Uý Nguyễn Văn Bá, Trung Úy Vũ Tiệp lần lượt thay làm Đại Đội Trưởng), đóng đồn Bưng Thầy Tần (ấp Đông An A), đóng thêm đồn Trung đội ở vàm Rọc Ngay (ấp Đông An B) để bắt tay với đại đội 383 ĐPQ từ hướng quận Phong Thuận (Cái Côn) đi vào thường xuyên lo an ninh thủy trình dọc kinh Cái Côn cho đoàn xà lan chở đá từ sông Hậu vào Ngã Bảy Phụng Hiệp, và hãng thầu RMK của Mỹ làm Quốc Lộ 4 từ Cần Thơ xuống Cà Mau. Về hướng Kinh Lái Hiếu có đại đội 385 ĐPQ của Thiếu Úy Vũ Đức Kim, sau nầy đổi Trung Úy Nguyễn Văn Nhã làm Đại đội trưởng, ban đầu đóng đồn Sậy Niếu, giao cho Nghĩa Quân, vào đóng tiếp đồn Mỹ Lợi A, rồi đồn cấp Trung đội ở Mỹ Lợi B… Sau đó lại tiến vô Ngã Tư Cây Dương, Mỹ Hoà, Mỹ Chánh. Về hướng Kinh Búng Tàu đi về Ngã Năm có đơn vị 295 ĐPQ của Trung Úy Nguyễn Thành Đức, đóng đồn Lò Đường, rồi Búng Tàu. Các đơn vị ĐPQ nầy trực thuộc Liên Đội 34 do Đại Úy Khâm làm Liên Đội Trưởng, sau là Đại Úy Huỳnh Đồng Phước trông coi, đóng tại Ngã Tư Cây Dương. Tình hình an ninh ngày càng tốt hơn, vòng đai đã lan ra xa hơn, nhưng ban đêm du kích vẫn “lẻn” về gài “mìn”, “lựu đạn” ở những khoảng đường di chuyển giữa các đồn với nhau, gây bất an đáng kể. Mặc dù hằng đêm, pháo binh Chi Khu Phụng Hiệp đã dành khá nhiều trái đạn 105 ly bắn quấy rối khắp nơi. Những trái đạn pháo “chiếu sáng” cũng “rót” vào canh chừng như vậy, mà du kích và các đơn vị cấp cao hơn của VC vẫn thỉnh thoảng di chuyển qua, chạm súng với các toán “tiền đồn”, gây những trận đụng độ chết người liên tục… Cuộc chiến trên địa bàn quận Phụng Hiệp cứ diễn ra trong lằn ranh nghiệt ngã, không phân biệt ai bạn, ai thù. Có thể ban ngày họ là nông dân, từng vào xã quận xin giấy tờ đi làm ruộng, nhưng ban đêm chính họ đi gài mìn, gài lựu đạn, cũng có thể chạm súng với những toán tiền đồn.

         Đang miên man suy nghĩ, Lê Vân Thanh  chợt nhìn thấy trên mặt sông từ hướng Phụng Hiệp một chiếc ghe chèo khẳm lừ từ từ xuôi theo dòng nước vô miệt Ngã Tư Cây Dương. Người đàn ông đứng chèo, dáng điệu thong thả như để cho ghe trôi theo dòng nước, bởi đôi cánh tay cầm chèo đưa lên hạ xuống thật chậm. Chiếc ghe chở đầy đăng và bên trên để sáu cái lọp. Hình ảnh quá thân quen đã làm cho Thanh bùi ngùi xúc động. Thanh lặng thinh dõi mắt trông theo chiếc ghe đăng cho đến khi chiếc ghe mất hút trong tầm nhìn trên dòng Kinh Lái Hiếu vô hướng Ngã Tư Cây Dương. Có tiếng động bên dưới, Thanh quay nhìn mới biết, Nguyễn Văn Đèo đang cầm súng bước lên đổi gác với mình.

         Thanh nói với Đèo mấy câu thông lệ rồi đi thẳng về chòi của mình và lên nằm trên chiếc ghế bố nhà binh miên man suy nghĩ chuyện đâu đâu, rồi thiếp đi trong giấc ngủ đầy mộng mị dù chưa kịp ăn bữa cơm tối.

         - Ba ơi, cho con hỏi đôi điều về nghề nghiệp của Ba nghe...

         - Sao bữa nay lại muốn hỏi Ba điều đó?

         - Dạ, nhật báo Miền Tây có mục TẤC ĐẤT NGỌN RAU do anh Kiên Giang phụ trách, con muốn hỏi Ba chút kinh nghiệm về nghề đăng cá để viết lên cộng tác vậy mà.

         - Nghề hạ bạc nầy lạnh lẽo lắm, đâu có gì hay ho mà kể!

         - Sao Ba lại nói vậy? Nghề nào cũng tốt cả, bởi nó làm nên chén cơm manh áo cho cả gia đình...

         Ba tôi ngồi trên chiếc ghế đẩu đặt nơi bàn tròn kê giữa nhà, tay vân vê điếu thuốc rồi chậm rãi đưa lên miệng, tay cầm hộp quẹt bật lửa mồi thuốc hút. Vừa hút thuốc, Ba vừa đưa mắt nhìn ra dòng sông trước cửa im lặng. Tôi vói tay giở nắp đậy cái vỏ dừa khô, lấy bình tích đựng trà nóng trước mặt, rót cho Ba một ly nước trà còn lên hơi và mời Ba uống. Cuốn sổ tay trước mặt với cây viết nguyên tử cầm tay, tôi chuẩn bị ghi chép những điều Ba sắp kể... Nhưng bất ngờ, Ba quay lại nhìn tôi:

         - Con muốn biết chỗ nào Ba mới kể được.

         - Ba bắt đầu từ lúc mới học nghề cho tới khi Ba đã ra nghề...

         - Dài dòng lắm, nhưng có thể tóm tắt thế nầy...

         Tôi im lặng lắng tai nghe Ba nói, tay cầm viết ghi chép vào những trang giấy trắng trước mặt. Ba tôi hít nhẹ một hơi thuốc rồi đôi mắt nhìn ra dòng sông trước mặt, vẻ đăm chiêu nghĩ ngợi, cứ cố bươi nhớ trong vùng ký ức xa xăm của gần ba mươi năm trôi qua đời mình ...

         “Khi rời Ba Vát - Mỏ Cày của xứ dừa Bến Tre, Ba trôi nổi xuống tận vùng Trường Long “khỉ ho cò gáy” nầy để lập nghiệp với đôi bàn tay trắng. Ba làm đủ mọi công việc để kiếm miếng cơm manh áo. Người cưu mang Ba trong giai đoạn nầy là Ông Bồi, sau nầy là Ông Ngoại của con. Ông thấy Ba còn trai trẻ thì thương mới cho Ba cất một chòi lá trên khoảnh đất chưa đầy một công, bên kia con mương nhỏ để ở và đi làm mướn làm thuê kiếm sống: việc đồng ruộng thì phát cỏ, cấy lúa, gặt lúa; sau mùa ruộng thì lên giồng trồng khoai, tỉa đậu... cho các gia đình khá giả trong vùng. Ngoài việc đồng áng, Ba còn tùy mùa và theo con nước mà đi giăng câu, đặt lờ, đặt trúm bắt lươn để bán kiếm tiền. Chuyện gia tộc bên Nội có dịp Ba sẽ kể cho con nghe, để sau nầy con có thể hiểu được nguồn cội của mình. Bây giờ Ba chỉ vắn tắt mấy điều con muốn hỏi về nghề đăng cá của Ba..”

         Cây có cội, nước có nguồn. Tôi cũng muốn biết đôi chút về “gia phả” của một dòng họ trôi nổi từ miền đất Bến Tre xa xôi qua tới vùng Trường Long “khỉ ho cò gáy” nầy càng “nghèo” hơn nơi chốn cũ... là một điều khó giải thích được, bởi vì người ta thường nói “đất lành chim đậu”, nhưng quê Trường Long so với Bến Tre có thật sự “lành” chưa mà Ba tôi đã chọn nơi đậu? Nhưng, trọng tâm của lần gặp gỡ nầy, tôi buộc phải lái trở về đề tài cần biết. Tôi nói:

         - Hôm nay Ba kể về nghề đăng cá. Lần sau Ba kể cho con biết rõ hơn về “gia phả” bên Nội mình nghe Ba...

         Ba không trả lời tôi mà hít nhẹ hơi thuốc rê rồi hớp một ly nước trà, hướng mắt nhìn ra dòng sông đang đầy nước, những về lục bình lững lờ trôi, mấy cái bông màu tím lung linh theo sóng gợn. Tôi đoán biết Ba đang suy nghĩ lung lắm khi phải tìm một cách mở đầu cho hành trình một nghề nghiệp mà ông đã đeo đuổi hơn 24 năm trên sông nước quê nhà. Bất chợt, Ba quay lại nhìn tôi:

         - Đăng cá là một nghề “hạ bạc” ít ai theo đuổi lắm, chỉ có những người không có đất vườn, không có vốn liếng cơ ngơi như ba mới lao vào mà thôi. Như con biết miền quê mình đang sống đều là nhà nông, kẻ từ xa đến không nghề nghiệp chuyên môn, chỉ tìm chỗ làm thuê mướn nuôi sống bản thân. Ba cũng ở trong số người đó. Còn “gia phả” dòng họ Lê của mình Ba chỉ có dịp được nghe Bà Nội con kể đi kể lại rồi nhớ chớ không có sách vở gì ghi chi tiết. Kể cho con nghe cũng như truyền miệng mà thôi... Nó là chuyện kể, chuyện nhớ đâu kể đó chẳng đầu đuôi ra làm sao cả...

         Biết ý Ba chưa muốn gợi lại những điều cần thiết mà tôi muốn, nên tôi ngồi im để tùy Ba muốn nói gì thì nói. Tôi nghĩ, một dịp nào đó tôi cũng sẽ được nghe mà thôi. Tôi đưa mắt nhìn ra dòng sông chảy ngang nhà trong khi Ba vấn thêm điếu thuốc rê rồi kê vô đầu ống khói cây đèn dầu trước mặt để mồi lửa. Ba phà hơi khói đầu tiên lan toả che mờ khuôn mặt mình. Bất chợt Ba nói:

         - Con người ai cũng có số phần con à. Thật tình Ba đâu ngờ phải rời bỏ quê hương nơi chôn nhau cắt rốn để trôi giạt qua đây lập nghiệp. Con có biết thời trai trẻ, ba là một “công tử miệt vườn”, chẳng làm gì động móng tay, ngày ngày ăn mặc chỉnh tề, cầm lồng chim chìa vôi mà ở quê ba gọi là chim chiền chiện để đi đá như người ta chơi đá gà. Bởi ba thứ Chín, là con trai Út nên bà Nội thương và nuông chiều dữ lắm. Cô Tám của con có chồng và cả hai là diễn viên của một đoàn hát đi lưu diễn khắp nơi dọc theo sông nước miền quê, và hai người đã bị mất tích trong năm người Việt gốc Miên ở Trà Vinh nổi dậy mà người Việt gọi là “cáp duồn”. Cô Mười của con là con gái Út cuối cùng của Ông Bà Nội, đến tuổi 18 có người mai mối gả cho con trai một người Hoa. Ông Nội con quyết định không gả, nhưng một thời gian sau... vì thương con gái Út, Bà Nội thuyết phục được Ông Nội, nên lễ cưới của cô dượng Mười của con cũng được tổ chức. Ít lâu sau Ông Nội mất. Có chồng một thời gian, gia đình bên chồng Cô Mười dắt nhau trở về Quảng Đông bên Tàu không cho Bà Nội biết. Và Cô Mười đã mất liên lạc với gia đình bên mình mãi cho đến bây giờ, không biết Cô Mười sống chết ra sao và chồng con thế nào nữa. Phần Ba, trong một chuyến “ham vui” đã theo bạn bè đi đường sông qua tới Cần Thơ, vô tận Phong Điền rồi đến xã Trường Long... để lập nghiệp cho đến bây giờ. Ba bỏ quê Ba Vát Mỏ Cày chưa đầy ba năm, Bà Nội thăm dò tin tức và đã qua tới Trường Long gặp được Ba, lúc đó Ba đã cưới được má con và ở vuông đất phía bên kia con mương mà Ông Bà Ngoại đã cho để cất nhà khi Ba mới chân ướt chân ráo sang tận nơi nầy lập nghiệp. Bà Nội thương con trai Út, thương con dâu Út... nên Bà quyết định ở lại Trường Long. Ba năm sau nữa, Chú Chín của Ba là một thầy thuốc Bắc, thấy chị dâu mình đi tìm con không trở về, ông cũng khăn gói sang thăm và cũng quyết định ở lại quê nầy hành nghề thầy thuốc cho đến khi mãn đời. Con thấy, bờ mả sau vườn mình bây giờ, ngoài các ngôi mộ của Ông Bà Ngoại, của Dì Sáu, của Bà Nội, của Ông Chín... nằm cạnh nhau, rồi sẽ tới Ba, tới Má con nữa...

         Ba ngừng kể, khẽ hớp một ngụm nước trà rồi lại say sưa với giọng trầm buồn:

         Ba còn Bà Con ở Ba Vát Mỏ Cày, một số người sang Vĩnh Long lập nghiệp Ba cũng được biết, nhưng Ba không bao giờ có ý định trở về quê cũ để thăm viếng bà con, một khi Ba vẫn còn sống đời nghèo khổ như thế nầy. Ba nghĩ thà chết ở quê người còn hơn trở về quê cũ mà vẫn đôi bàn tay trắng, còn tệ hơn  lúc chưa đi lập nghiệp...

         Chợt nhiên tôi nghe tim mình se thắt. Ba tôi đã vì tự ái của một con người, khi rời quê hương là muốn tiến thân, muốn làm nên danh phận với đời, nhưng “con người có số”, Ba tôi đã không giàu khá lên được nên phải đành gạt bỏ mọi tình thân! Tự ái của Ba tôi chắc khó thể lay chuyển được trong tâm khảm, bởi vậy tôi thường bắt gặp Ba ngồi một mình, lặng lẽ vấn thuốc hút rồi hướng mắt nhìn tận xa xăm...

         Con có hiểu rằng những năm chiến tranh chống Pháp, quê Trường Long cũng ngập tràn khói lửa. Giặc Pháp đóng ở Phong Điền có làm một cây cầu cho tàu sắt cặp bến phía doi bên phải chỗ ngả ba sông vào trong xã mình. Chính vị trí chiếc cầu nầy là “pháp trường” để bọn lính Pháp “xử bắn” rồi xô xuống dòng sông các người dân vô tội mà chúng cho là Việt Minh, là bọn chống lại chánh quyền do “mẫu quốc Pháp” lập nên. Cứ đôi ba ngày là có xác người chết nổi lên và trôi tắp vào dòng sông trước cửa nhà mình. Có xác nhìn mặt được thì bà con thông báo cho thân nhân vớt xác về chôn; có xác nhìn không ra, bà con đành phải cột dây kéo vào chôn ở Đình Cũ, chôn mà không có hòm rương gì hết, chỉ bọc bằng chiếc đệm rách mà thôi! Bà con ở làng nầy nói chung là nghèo, nên giúp chôn được người “vô danh” như vậy cũng là điều quý vô cùng. Chính Ba cũng đã tham gia với bà con chôn nhiều “thây ma” bằng cách đó... Nghĩ mà thương và tủi cho số phận những con người bất hạnh trong thời chiến tranh giặc giã mà Ba đã gặp trong những năm 30, 40 của thế kỷ 20...  

         Ba thở dài rồi tay bưng ly nước trà đưa lên miệng hớp một ngụm, lặng lẽ để ly nước xuống mặt bàn, mắt đăm chiêu hướng ra dòng sông trước mặt. Tôi im lặng nhìn Ba. Chợt nhiên Ba nói với giọng ngậm ngùi:

         Nhắc tới những người bất hạnh trong chiến tranh thời giặc giã, không làm sao Ba quên được hình ảnh của Cậu Bảy con đã bị giết oan và thả trôi trên dòng sông nầy hồi năm 1945, lúc Mợ Bảy của con mới sanh đứa con gái Út chưa đầy hai tháng tuổi. Làm sao Ba quên được hình ảnh những thây người chết trôi lềnh bềnh trên sông mà không có thân nhân nhận dạng, Ba và một số trai tráng trong làng cùng thòng dây kéo xác lên bờ rồi quấn chiếc đệm đào lỗ chôn trong khu Đình Cũ. Có được chiếc đệm để chôn là quy lắm rồi, vì thời đó bà con trong làng quá nghèo, không thể mua hòm hay ván gỗ đóng lại chôn người. Quần áo người sống còn không đủ mặc, phải may bằng bao bố để che kín thân mình thì làm sao lo chu toàn cho một người chết không thân nhân quen thuộc. Thậm chí Bà Nội con lúc đau bệnh căn dặn, nếu bà có chết, cho bà xin 8 miếng vạt cau để chôn bà cho đỡ tốn kém! Làm sao Ba quên được cảnh ruồng bố, đốt nhà, đập phá mọi vật dụng trong nhà của người dân mỗi lần có bọn lính Tây tới vùng nầy, mà tủi nhục hơn nữa, trong số lính Tây còn có người Việt mình đi cùng, họ đã dùng nhiều âm mưu thủ đoạn giúp cho bọn quan Tây, bọn Cai, Đội hãm hiếp đàn bà, phụ nữ như trường hợp Cô Năm Mão, cô Tư Tuất… là những nạn nhân hết sức thảm thương. Thời nào cũng vậy, bọn Việt Gian đã ôm chân Pháp và nhúng tay làm điều phi nhân khiến ai cũng đau lòng xót dạ. Ba không được may mắn đi học chữ nghĩa thánh hiền như người ta, nhưng Ba có dịp nghe kể những thủ đoạn gian ác của bọn Tàu phương Bắc hàng ngàn năm rình rập khi xua quân xâm chiếm đất nước ta, chúng đã dùng chính sách cai trị hà khắc đối với dân mình như súc vật, đôi lúc còn xúi giục những tên Việt Gian đàn áp dân mình… Bởi vậy mới có xuất hiện những bậc anh hùng nữ lưu hào hùng khí tiết như Bà Trưng, Bà Triệu, như các ông Đinh Bộ Lĩnh, ông Ngô Quyền, ông Trần Hưng Đạo, ông Lê Lợi, ông Quang Trung Nguyễn Huệ… phất cờ khởi nghĩa đánh đuổi quân thù. Thời nào cũng vậy, hễ có bất công là có đấu tranh, nổi dậy để chống lại. Các hương chức hội tề mà hà khắc, cậy quyền lợi thế trước sau gì cũng phải trả giá...

         Ngừng nói, Ba lại nhìn tôi:

         - Tự nhiên trong đầu óc Ba nghĩ lung tung, nói năng chẳng đâu vào đâu cả.

         - Ba cứ nói nữa đi, nói những gì Ba đang suy nghĩ. Con cũng cần muốn biết thêm những điều gì đã xảy ra và Ba đã từng nghe biết, từng chứng kiến...

         Ba đã chọn Trường Long là quê hương của mình, nên lúc nào Ba cũng yêu thương gắn bó như nơi chôn nhau cắt rún của Ba ở Ba Vát Mõ Cày. Ba nghĩ, có lẽ Ba không còn trôi nổi một phương trời nào khác nữa cho đến khi nhắm mắt xuôi tay. Từng dòng kinh, ngọn rạch, từng con mương, đập nước, từng cái lung miệng đìa trên miền đất nầy Ba không làm sao quên được những kỷ niệm trong đời “trôi sông lạc chợ” của mình. Nó là duyên số cuộc đời. Nó là sợi dây vô hình ràng buộc bước chân của Ba. Ba cưới được Má con và sống ấm êm trong cả quãng đời gian khó cũng chính nơi nầy. Nên Ba yêu quý và lúc nào cũng sợ phải lìa xa nó!..

         Tôi lặng yên nghe Ba nói, càng lúc gịọng của Ba như chìm sâu trong vùng ký ức mà từ lâu lắm không có dịp phơi trải ra…

         Ngày Ba cưới Má con, ông bà Ngoại của con đã cho bộ ngựa gõ làm “của hồi môn”. Ba Má giữ gìn nó như một báu vật. Vậy mà qua những năm chiến tranh, tụi Tây ruồng bố, nhà bị đốt tới ba lần. Lần sau cùng bộ ngựa gõ cháy sém khiến cho mặt bộ ngựa loang lổ. Sau năm đình chiến, ba mới chở ra chợ Cái Răng mướn trại cưa xẻ làm 3 để làm thành ba bộ ngựa. Có một bà nhà giàu nào đó thấy bộ ngựa gõ trên mặt cháy sém loang lổ nhưng xung quanh viền khảm xa cừ vẫn còn, đã nài nỉ ba để bà ấy mua lại, chẳng biết bà ấy mua để làm gì. Hai bộ ngựa gõ còn lại Ba đang đặt trong phòng khách nầy, ba quý nó lắm, vì đây là vật kỷ niệm trong đời của Ba Má. Hồi ông bà Ngoại của con mất, phần đất mướn của ông Chủ đất Tư Quản, Ba Má tiếp tục thuê mướn, hàng năm đong lúa ruộng cho gia đình Ông Tư, từ chợ Phong Điền vô thâu sau mỗi mùa gặt. Hồi trào Ngô Đình Diệm, có lần ông Quận Trưởng Ô Môn (sau nầy đổi lại là Quận Phong Phú) là Đại Uý Hoà đi công cán xuống xã Trường Long, ông đặt “bản doanh” tại nhà của Ba, Ba cũng không hiểu tại sao? Có phải do phía trước nhà có khoảng sân rộng và mấy cây xoài thanh ca toả bóng rợp mát suốt ngày. Dịp nầy, ông có giải thích và bảo Ba tham gia “Phong trào Cách Mạng Quốc Gia” để được bảo đảm quyền lợi của một công dân dưới sự lãnh đạo của Ngô Tổng Thống và chánh quyền Quốc Gia. Sau đó mấy lần, mỗi khi ông Quận Trưởng đến Trường Long là ghé nhà Ba gần suốt buổi. Có lần Má con làm cơm đãi ông và những người lính cận vệ. Cũng thời gian nầy, phần đất thuê mướn của Ba tôi với ông Tư Quản đã được lập “Khế Ước”, chủ đất bây giờ là con rể của Ông Tư tên Ngô Minh Thám, và người thuê mướn là Ba với diện tích đất là 2 mẫu 6 sào 61 cao. Hàng năm đong 20 giạ lúa ruộng sau mỗi mùa gặt hái xong. Sau nầy giặc giã nổi lên, do có VC xuất hiện, nên ruộng làm bị thất mùa, Dượng Tám Thám cũng tự giảm phần lúa ruộng hàng năm nên gia đình Ba Má tôi cũng đỡ khó khăn.

         Ba là đoàn viên của Phong Trào Cách Mạng Quốc Gia có giấy chứng nhận từ Quận.  Nhiều lần ông Quận Hoà muốn giới thiệu Ba làm Trưởng Ấp Trường Thuận, nhưng Ba một lòng thoái thác, viện lý do là Ba không có trình độ văn hoá, không thể làm việc được. Lần lữa thì ông Quận Hoà cũng không nhắc tới nữa. Bởi mỗi lần có lính quận xuống xã Trường Long là có mặt tại nhà Ba Má, nên khi bọn VC nằm vùng lập “Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam”, họ không ra mặt mà ban đêm dán giấy cảnh cáo cho là Ba thân chánh quyền Mỹ Diệm với lời “hăm doạ” chết người. Ba thấp thỏm lo âu. Ông Ba Đại được cử làm Trưởng Ấp một thời gian thì chúng ban đêm đến bao nhà và bắt đi mất tích. Một thời gian sau mới tìm được chỗ chúng đào lỗ “chôn đứng” chỉ để ló chiếc đầu lên trên mặt đất, tại một bờ cây trâm bầu trong kinh Chệt Thợ với “bản án” viết cắm cạnh đầu lâu: “trưởng ấp ác ôn, tay sai Mỹ Diệm”. Tiếp theo sau vụ giết Trưởng ấp Đại, chúng còn chận bắt Cậu Mười Lố chạy tàu đò bằng máy horbo đặt sau lái ghe. Chúng  đưa cậu vô tới bờ cây trâm bầu và đã dùng nhánh trâm bầu có gai nhọn đập đầu cậu chết tại chỗ, rồi dán tờ giấy trên ngực ghi là “điềm điệp cho Mỹ Diệm”. Xã Trường Long đã bất an từ những năm đầu 1960… 

         Tôi nghe Ba kể chợt nhiên cảm thấy lành lạnh xương sống. Thì ra, có một thời Ba tôi đã sống “bất an” mà chúng tôi đâu hay biết gì. May là nhà tôi ở gần đồn Ông Hào, bọn VC ban đêm cũng ít xuất hiện. Nhưng… họ là ai? Có phải là một số trai tráng trong ấp, trong xã đã lén lút tham gia hoạt động với bọn chúng? Khó mà hiểu được. Bây giờ tôi mới nhìn thẳng vào Ba mà hỏi:

         - Họ hăm doạ sao Ba không báo cho chánh quyền biết? Rủi ban đêm chúng nó bắt Ba thì sao?

         - Họ bắt ba lúc nào không được. Bởi vì hằng đêm ba đi đăng cá hết kinh nầy qua rạch kia. Nhưng họ không bắt vì Ba đâu có làm điều gì để họ phải giết? Còn nói ba là đoàn viên Phong Trào Cách Mạng Quốc Gia, thì không lẽ cả ấp nầy, xã nầy chúng đều giết hết hay sao? Nhà nào, đàn ông cũng tham gia phong trào nầy, họ đều biết mà!

         - Ba có nghĩ là mấy gia đình có chồng, có con đi tập kết… là những điểm “khả nghi” không?

         - Ba không nghĩ như vậy. Những gia đình nầy trong vùng mình gồm ông Bá Hộ có thằng Hai Cấm, rồi thằng Ruộng con chệt Hai, cậu Út Sắc con ông Sáu… đi tập kết, Ba thấy họ đều làm ăn đàng hoàng, đâu có ai biểu hiện chống đối chánh quyền quốc gia. Còn những ai theo chúng để chống phá chánh quyền, rải truyền đơn đả đảo Mỹ Diệm, hay ban đêm “phát loa” gây bất an trong ấp, trong xã… chỉ vài tiếng đồng hồ rồi im. Thật tình ba không thể đoán được…

         Ba lại ngừng kể. Tay vấn điếu thuốc rồi kê đầu thuốc vào ống khói đèn để mồi. Tôi rót thêm một ly nước trà mời Ba.

         Phong trào “Tố Cộng” với luật 10/59 của chánh quyền Ngô Đình Diệm ban ra. Dân trong ấp, trong xã mình lần lượt có gia đình bỏ nhà đi mất, chẳng biết đi đâu. Ba đoán chắc các gia đình nầy có dính dấp với “phía bên kia” nên sợ bị tố cáo, sợ bị bắt nên đã bỏ trốn đến nơi khác sinh sống, hay bỏ vô bưng cũng nên! Rồi đồn Ông Hào, đồn Vàm Bi liên tiếp bị bắn phá hằng đêm. Lại có vụ chú Bảy Ý bị VC bắt và đưa vô ngọn Ông Hào để xử “chặt đầu” bằng mã tấu với 22 bản án mà chúng kết tội là làm “điềm điệp”, trong đó có tội cuối cùng là ban đêm bơi xuồng vô đồn Vàm Bi báo cáo nơi du kích xã Trường Long đang ngủ trong chòi ở ngọn Cần Đước. Lính Dân Vệ (sau nầy là Nghĩa quân) đồn Vàm Bi đã xuất đồn và lần đó đã bao vây và giết chết 5 du kích đang ngủ trong chòi. Với tội nầy chú Bảy Ý đã bị chém đầu trước sự chứng kiến của vợ con và bà con trong ngọn Ông Hào. Trước khi tuyên án xử tử hình chú Bảy Ý, có một bà cụ bị xử “tử hình treo”, chúng bắt bà nằm xuống để tên VC đáng tuổi cháu chắt đánh 100 roi. Khi thằng trẻ đánh, tên xử án lớn tiếng rằng: “cách mạng đánh 100 roi nầy không phải đánh một bà già Việt Nam, mà đánh vào đầu Mỹ Diệm”. Bà cụ 80 tuổi bị đánh đủ 100 roi đã không đứng lên nổi, phải bị kéo lê ra ngoài cho thân nhân khiêng đi. Trường hợp ông Ba Đạo đã bị chúng bắt và trói thúc ké dính vào một cây dừa cạnh nền đồng Ông Hào đã bị san bằng trên đất mợ Năm Hơn, rồi chúng bắn nhiều phát đạn với lý do “làm điềm điệp cho Mỹ Diệm”… Những hình ảnh nầy xảy ra mấy năm nay, nhưng Ba đã cố giấu không cho con biết, sợ con hoang mang ảnh hưởng đến việc học. Bây giờ thì chắc con đã hiểu, tại sao mỗi lần Má con bơi xuồng ra Cần Thơ thăm con, Ba dặn con đừng về Trường Long, cứ ở ngoài đó lo học…

         Nghe Ba nhắc, tôi chợt nhớ, đúng là Má tôi có nói: “Ba con dặn đừng về quê làm gì, cứ ở ngoài nầy lo học hành đàng hoàng. Thỉnh thoảng Má sẽ ra thăm…”. Tôi vô tư nên không thắc mắc làm gì lời nhắn đó. Phần tôi suy nghĩ đến hoàn cảnh nghèo khổ của gia đình nên tôi đã phải tự tìm chỗ dạy kèm lấy tiền đóng tiền ăn ở tại nhà trọ, thỉnh thoảng có được chút đỉnh tiền nhuận bút vài bài học sinh viết trên nhật báo Tiếng Dân rồi Dân Tiến, một hai truyện ngắn trên báo Tiếng Chuông, Ngày Mới, Thanh Việt… trang trải phần nào việc ăn học khi xa nhà. Phải nói, Ba tôi là người “bám đất bám ruộng” trước bao hiểm nguy kề cận bên mình mà không “hở môi” cho con cái ở xa biết. Người anh cả của tôi đang đi lính và phục vụ ở Đại đội Tổng Hành Dinh BCH 3 Tiếp Vận tại Sài Gòn. Người anh kế là tài xế Quân Vận 412 Vận Tải tại Cần Thơ. Đứa em gái và thằng Út Tâm còn nhỏ ở nhà với Ba Má tôi tại Trường Long. Thời còn chiến tranh chống Pháp, Ba tôi cũng đã chứng kiến bao nhiêu thảm họa trên vùng đất quê hương; đình chiến năm 1954 đến hai ba năm sau, không khí thanh bình thật sự đến đúng sự mơ ước của mọi người. Bỗng bọn cộng sản nằm vùng đã dùng chiêu bài thành lập “mặt trận giải phóng miền Nam” gây biết bao cảnh bắn giết thảm khốc ngay trên làng quê mình ở, Ba như hụt hẫng, mất niềm tin…

         - Ba à, hay là mình “tản cư” ra ngoài Cần Thơ tìm chỗ cất nhà, buôn bán kiếm sống một thời gian xem sao? Chớ ở đây sao con lo quá…

         - Đi đâu bây giờ con. Dù đất nầy là đất thuê mướn của chủ điền, nhưng đã trải qua thời ông bà Ngoại, rồi tới Ba Má, nó đã quá thân thuộc như của chính mình, bỏ đi sao đành…

         - Nhưng ở mà không an tâm, ngày đêm phập phồng lo sợ thì làm sao sống nổi.

         - Người ta sống được, mình sống được. Chỉ có con người mới từ bỏ đất đai ruộng vườn chớ đất đai ruộng vườn đâu bao giờ bỏ rơi con người…

         Ba tôi đã quan niệm về đất và người như vậy, nên tôi im lặng nhìn ba mà đôi mắt mình cảm thấy ươn ướt. Trong khi khuôn mặt ba tôi như chìm sâu trong một vùng ký ức xa vời nào đó. Nhìn lại chiếc đồng hồ rẻ tiền đeo trên tay, tôi thấy đã quá mười giờ đêm, bên ngoài sân đã tối đen không còn thấy gì, ngoài ánh sáng nhờ nhờ của ngọn đèn dầu toả qua vuông mặt cáo phần trên cánh cửa đã khép kín…

         Tiếng nổ đùng của trái đạn pháo binh 105 ly bắn giải toả hàng đêm quanh các đồn, các tọa độ cần thiết, đã đánh thức tôi lúc gần nửa đêm. Vậy là tôi đã ngủ vùi và đã qua một cơn mơ dài. Tôi quẹt diêm đốt ngọn đèn cầy, ngồi nhìn bóng mình soi vào vách là thành bờ đất cao của đồn Mỹ Lợi B. Chuyện ba tôi “bám trụ” đã không còn vững nữa, khi Nhà thờ Ông Hào bị B52 ném bom sập tháp chuông và nhà nguyện giáo đường khi đơn vị phòng không của tiểu đoàn Tây Đô VC đặt khẩu sung bắn máy bay từ tháp chuông nhà thờ năm 1965. Từ biến cố nầy, cả họ đạo Ông Hào nhà nào cũng có người chết. Dân trong các ấp Trường Thọ, Trường Thuận, kể cả Trường Phú, Trường Khương… đã phải tản cư ra khỏi vùng lửa đạn. Ba Má tôi đã ra Xóm Chài hỏi đất Chùa Tây Thiên của anh Ba Vĩ cất căn nhà sàn nhỏ dưới mé sông để sống cho đến mười năm sau mới quay về nền nhà cũ. Ba tôi đã bỏ nghề đăng cá và đi làm thợ mộc cất nhà để tìm thu nhập trong cuộc sống.

         Tôi đã vào lính và đã có dịp trú đóng tại đồn Mỹ Lợi B (trên bờ kinh Lái Hiếu) năm 1970. Buổi chiều bắt gặp chiếc ghe chở đầy đăng và 6 cái lọp đăng cá của một người đàn ông chèo ngang đồn, chợt nhiên tôi đã nhớ về Ba tôi với một đời gian khổ mà ông đã gánh lấy cho cuộc đời mình. Những dòng ghi nầy, tôi kính dâng Ba tôi để tưởng nhớ một người Cha đã thật sự sống một cuộc đời thầm lặng như bao nhiêu người Cha khác trong cõi đời nầy, nhưng đối với tôi, ít nhất đó cũng là một tấm gương đầy nghị lực, một con người có cái nhìn thiết thực về đất và người… dọc theo một đời gian khổ như Ba tôi.

.

Houston, khởi viết 15-10-2006

viết xong lúc 01:04PM ngày 8 tháng 6-2009

Kỷ niệm ngày quân lực VNCH 19 tháng 6

và kính viếng hương linh Ba tôi nhân dịp Father’s Day 21 tháng 6 năm nay.

.

LÊ CẦN THƠ


Enter supporting content here