VẾT
KHẮC
truyện ngắn
PHƯƠNG DUY
(Houston,
Texas, Hoa Kỳ)
LỜI GIỚI THIỆU:
Truyện ngắn VẾT KHẮC tác giả PHƯƠNG
DUY, là một bút hiệu khác của DIỄM PHƯỢNG, được in
trong Giai phẩm Phan Thanh Giản & Ðoàn Thị Ðiểm Cần Thơ số đầu
tiên phát hành vào mùa Hè 1996 tại Houston, Texas, Hoa Kỳ. Dù
viết theo bối cảnh và nhân vật có thật ngoài đời, nhưng
đây là truyện ngắn nên có những diễn biến và cấu
trúc theo cách viết truyện của tác giả; tuy nhiên mỗi khi đọc
lại tôi cảm nhận như quá gần gũi, gắn bó với cuộc
sống mình ở một giai đoạn đầy kỷ niệm trong đời.
Hằng năm, trước đây một lần, bây giờ là hai lần,
ở hải ngoại nầy có hai nơi tổ chức đại hội gia đình
PTG & ÐTÐ: Úc Châu và Hoa Kỳ - (hoặc Canada...,) và cũng có thể
một nơi nào khác. Ðó là chưa kể đến những lần
họp mặt truyền thống hằng năm của các cựu học sinh còn
ở quê nhà. Ðặc biệt năm nay, đại hội lần thứ XIV vào
thượng tuần tháng 1-2010 tại Melbourne, AustraliaTrang Nhà muốn giới
thiệu lại truyện ngắn VẾT KHẮC của PHƯƠNG DUY, tức DIỄM PHƯỢNG,
trên trang nhà của chúng ta để mong gởi gắm chút tình cảm
xa xưa của thời niên thiếu nơi mái trường PHAN trường ÐOÀN
ắp đầy kỷ niệm mà các đồng môn thập niên 60-70 chắc
sẽ bắt gặp lại những kỷ niệm thân tình có mình trong
đó. Bởi truyện ngắn nầy in trong giai phẩm số đầu tiên ở
hải ngoại, số lượng phát hành chỉ trên dưới một ngàn
số, nếu thầy cô và đồng môn nào có dịp đã
đọc rồi cũng cảm thông và lượng thứ.
Đây
cũng là thời điểm một năm học mới sắp bắt đầu,
đọc lại một kỷ niệm cũ cũng là một nhắc nhớ những
kỷ niệm trong đời học sinh của mình.
Xin cảm ơn tác giả đã chia sẻ với số đông những
tình cảm diễn biến mà tác giả biểu hiện trong truyện nầy.
TRANG NHÀ
Tôi lặng yên nhìn người đàn bà
ngồi nép ở băng ghế đặt ngoài hành lang lớp học. Giọng
kể chuyện của bà buồn buồn như còn đọng lại những
âm vang xao xuyến ngày xưa. Ðã hai mươi tám năm qua, mái tóc
xanh của cô nữ sinh ngày nào giờ đây đã điểm bạc.
Tôi vẫn cố nhìn vào đôi mắt để tìm ở đó
một chút gì tinh anh còn sót lại. Thời gian khắc nghiệt đã
mang đi tất cả màu xanh tươi trẻ của thời con gái, mà bây
giờ ở bà, tôi vẫn còn cảm thấy phảng phất một chút
gì nét duyên dáng, phúc hậu xa xưa rất đáng trân trọng.
Người đàn
bà đang ngồi trước mặt tôi đến tìm thăm trường
lớp cũ. Chính ở phòng lớp nầy, theo lời bà nói, ngày
xưa đã một thời bà ngày ngày
có mặt đến nỗi quen thuộc như chính ngôi nhà mà bà
đã được sinh ra và lớn lên tại đó. Không
lầm lẫn được dãy bàn đặt gần khung cửa sổ có
một nhánh phượng vươn ra và gốc phượng già cằn cỗi
vẫn còn mang dấu tích của mũi dao khắc tên những người tuổi
trẻ năm xưa. Thật thế, tuổi trẻ của bà đã bị trôi
vào chiến cuộc khốc liệt ngày nào, để bạn bè và
người yêu nhau phải phân ly..., có người phải vĩnh viễn nằm
xuống trên mảnh đất quê hương đặc dầy bom đạn, có
người phải bị tàn phế sống đời tẻ nhạt bên cạnh
sự đua chen đến chán chường. Có người đã bỏ quên
bạn bè, chạy theo viễn ảnh không thật để sống cuộc đời
gian khổ, chết mất xác ở rừng sâu nước độc, thân nhân
bạn bè không hề biết tin. Có người còn sống sót sau chiến
tranh, đang tạo lập cuộc sống nơi xứ lạ quê người mà
tâm hồn tha hương vẫn thương nhớ nơi chôn nhau cắt rốn,
nơi có đường xưa lối cũ mòn gót chân quen, nơi có
mái trường từng in bóng tuổi học trò nhiều mộng mơ kỷ
niệm.
Bà là người còn sống sót sau chiến tranh, đã di tản
khi biến cố năm 1975 và bây giờ được dịp trở về đây,
ngồi ở băng ghế ngồi ngày cũ. Người đàn bà quá
tuổi trung niên là một người Việt sống nơi xứ người
nhưng có mặt hôm nay trong trang phục bình dị của một người
phụ nữ Việt Nam, không lộ vẻ Việt kiều như một số đông
những người khác từ nước ngoài về thăm quê hương,
đang sống lại những kỷ niệm trong sáng của mình. Bà đã
say sưa kể lại từng mẫu chuyện vui buồn của cuộc đời bà
cho tôi nghe.
Thời chúng tôi học, chiến
cuộc bên ngoài trở nên khốc liệt. Nhớ lại năm học lớp
Ðệ Nhất của chúng tôi thật nhiều kỷ niệm. Gần Tết năm
1968, chúng tôi và các khối lớp Ðệ Tam, Ðệ Nhị, kể
cả các lớp Ðệ nhất cấp cũng tham gia đêm lửa trại thật
vui. Nhóm tổ chức của chúng tôi đã dự trù các tiết
mục sinh hoạt thật hấp dẫn, trong đó ban báo chí sẽ kêu
gọi các bạn viết bài cho tập san tại chỗ và viết theo trí
nhớ của mình những bài thơ đã có từ trước, hoặc
mới viết càng tốt, để làm thêm một tập thơ nữa. Như
vậy, khi kết thúc đêm lửa trại, chúng tôi phát hành tập san LỬA TRẠI và tập thơ chung
của nhiều tác giả mang tên GIẤC LỬA. Tất
cả bài vở ai viết xong thì giao cho ban báo chí đọc và sửa
chữa, đánh máy lên stencil rồi kẻ vẽ trang trí như trang báo,
để quay ronéo liền, đến sáng đủ số trang sẽ đóng
lại thành tập. Bài vở có thầy Lê Văn Quới và thầy
Lai Thanh Tòng đọc góp ý. Các anh Viện, Nghiệp, Sơn, Dần, Kim,
Tuấn, Phúc... lo đánh máy, kẻ vẽ và quay ronéo.
Trong khi
nhóm báo chí rối rắm bao công việc thì ngoài sân dưới
ánh lửa bập bùng, tiếng đàn hát, tiếng vỗ tay, giọng
kể chuyện cứ liên tục không ngưng nghỉ. Nhiều câu chuyện
được đặt ra. Nhiều ý kiến đóng góp. Những đêm ngày tuổi trẻ là đề tài được
lồng khung trong sinh hoạt đêm lửa trại, là tiếng nói của tuổi
trẻ học sinh chúng tôi thời đó. Nếu như chỉ có bấy
nhiêu cũng chưa phải đậm sâu dấu ấn cho riêng tôi. Bởi
vì, trong một đời người, nhất là vào thời con gái mới
lớn, đang có nhiều băn khoăn trăn trở trước cuộc sống
thì chuyện quyết định tình cảm là dấu ấn đậm sâu
hơn hết. Chính đêm lửa trại nầy, chuyện tình ban đầu
của tôi bắt đầu bước vào lối đi mà tôi nghĩ là
đậm đà hoa bướm. Dũng đã chính thức nói yêu tôi
sau rất nhiều tháng ngày anh ngầm theo đuổi tôi từ trong lớp
học đến bên ngoài. Tôi nhớ rất rõ, đêm đó, Dũng
thừa dịp tôi đứng cạnh bên anh, tất cả nắm tay nhau đi xoay
vòng quanh ngọn lửa sáng rực giữa sân, đột nhiên bàn tay
anh bóp mạnh bàn tay tôi đến ba lần như vậy. Ban đầu tôi
nghĩ là anh vô tình hay sơ ý, nhưng... đến khi chúng tôi
buông tay nhau ra, Dũng chợt ghé sát tai tôi nói nhỏ: “Thúy có thể lánh
ra ngoài gốc cây phượng đằng kia, Dũng muốn nói vài chuyện
quan trọng!”. “Chuyện gì vậy?”. “Ra đó đi, Dũng chờ”...
Rồi
dù còn ngần ngại sợ bạn bè biết mình lẻn đi gặp
riêng Dũng, một cây đinh của đêm lửa trại, vì Dũng có
giọng nói hoạt bát, lanh lợi và thật duyên dáng, anh lại ca
hay, đọc thơ và ngâm thơ rất điêu luyện... thì kỳ lắm,
nhưng thú thật, từ nhiều ngày qua, tôi cũng thầm có cảm
tình với Dũng, nên dịp nầy tôi cũng đánh liều tách
khỏi hàng để đi về phía có anh đang đợi.
Và,
chuyện bày tỏ tình yêu của Dũng với tôi bắt đầu ở
thời điểm đó. Tôi nhớ, khoảng nửa đêm, trong khoảng
tối bên gốc cây phượng già, tôi rụt rè đứng cạnh
Dũng, bất chợt, Dũng nắm chặt tay tôi. Anh nói những lời lí
nhí tôi không thể nào nghe rõ, bởi giọng anh run run, hơi thở
dồn dập rất khác lạ với cách nói chuyện dõng dạc trước
đám đông ngoài lửa trại. Với giác quan của người con
gái, tôi hình như đoán được chuyện hệ trọng sẽ
đến với mình. Dù tôi có chuẩn bị tinh thần, nhưng cũng
cuống đi, chỉ nghe bên tai mình tiếng nói sẽ sàng của Dũng.
Hình như anh có nói: “Anh yêu Em”. Có lẽ anh cố nói rõ ràng và tròn vẹn câu đó
rồi vụt buông tôi ra, quay nhìn quanh quất sợ nhóm bạn thấy
được sự hò hẹn lén lút của mình. Tôi chưa trả
lời và cũng không tỏ vẻ kháng cự, nên Dũng chắc ngầm
hiểu rằng, tôi cũng đồng xúc cảm tình yêu với anh. Chúng
tôi mỗi người mang một cảm giác mới lạ, tự tách nhau ra
và trở về tiếp tục dự lửa trại mà các bạn vì vô
tình chẳng biết vừa mới xảy ra chuyện gì.
Gần mờ sáng, Dũng rủ thêm mấy người
bạn, trong đó có tôi, đến bên gốc cây phượng mà
hai chúng tôi cùng đứng bên nhau lúc giữa khuya, anh
chuẩn bị sẵn một con dao nhọn, đề nghị mỗi bạn tự khắc
tên mình vào thân cây để kỷ niệm. Dũng khắc rất đậm
tên anh rồi đưa tôi, tôi lại đưa cho Nga, cho Nghiệp, cho Thi, cho
Tuấn, cho Hoa, cho Toàn... Tất cả là 4 cặp tên, mà sau nầy thành
bốn cặp trai gái yêu nhau, ra đời có người thành nghĩa vợ
chồng, có người lại phải chia tay do định kiến gia đình hay
do hoàn cảnh sống ngoài xã hội. Dưới 8 chữ tên khắc sâu
khỏi lớp vỏ xù xì, lớp vỏ có thể bị trốc đi, nhưng
lớp gỗ của thân cây sẽ còn sống mãi với cây, chúng
tôi lại khắc thêm ngày tháng. Ba cặp bạn kia vô tình nhưng
tôi và Dũng thì ngầm hiểu rằng, tháng ngày khắc vào
thân cây là tháng ngày đáng nhớ của hai chúng tôi. Tình
yêu của hai người khởi đầu từ năm tháng đó...
Mấy hôm sau vào lớp, tôi lại ngạc nhiên thấy tại mặt
bàn chỗ tôi ngồi, lại có vết khắc tên tôi và Dũng
quyện chặt nhau, vết khắc nét rất sắc và mảnh, có lẽ
tránh cho nhiều người dễ thấy. Tôi biết Dũng đã từng
vào lớp sớm và làm việc nầy, khiến tôi cảm động.
Và chúng tôi thật sự yêu nhau, tin nhau trong những tháng ngày kế
tiếp.
Thế nhưng, cuộc tổng tấn công năm Mậu Thân 1968 vào nhiều
thành phố miền Nam lúc mọi người đang vui hưởng Tết cổ
truyền đã làm cản ngại cho chuyện tình yêu tuổi trẻ chúng
tôi. Sau Tết một thời gian, lệnh Tổng động viên trên toàn
lãnh thổ Việt Nam Cộng Hòa đã chính thức được ban
hành. Tuổi trẻ lại phải khăn gói lên đường để
bảo vệ tổ quốc. Dũng và nhiều học sinh đang theo học phải
từ giã mái trường thân yêu để trình diện nhập ngũ.
Cay đắng và xót xa hơn cho lớp trẻ chúng tôi, sau biến cố
Mậu Thân, trong số bè bạn chúng tôi chơi thân nhau lại có
người từ bỏ bạn bè, trường lớp, thầy cô để vào
chiến khu làm cách mạng, như Thanh Sĩ, Bảy Ðỗ, Chí Ường,...,
như thầy Long (ủy viên báo chí của trường vào khu và bị
chết ở chiến trường miền Ðông). Những bạn bè theo lệnh
gọi nhập ngũ, đã ồ ạt vào Quang Trung rồi Thủ Ðức để
được cấp tốc đào tạo làm Sĩ Quan kịp cung ứng nhu cầu
cho chiến trường. Dũng vào trung tâm 4 tuyển mộ và nhập ngũ
mãi đến bốn tuần lễ sau mới được chuyển lên TTHL Quang
Trung học giai đoạn I, và sau đó sang Thủ Ðức học giai đoạn
II. Thời gian học của Dũng tuy ngắn, nhưng do tình hình an ninh khá
đặc biệt, anh chỉ được hưởng một hai lần đi phép
ra Sài Gòn, các tuần khác thì bị cấm quân, cấm trại
liên miên. Ra trường, Dũng về một đơn vị ở miền Trung
xa xôi, chúng tôi chỉ còn liên lạc nhau bằng thư từ nhờ
con dấu KBC. Dũng chưa hề than thở với tôi điều gì, nhưng qua
những lá thư anh viết vội vã, cho thấy bước chân anh dẫm
lên khắp mọi nơi rừng sâu hiểm trở, núi non điệp trùng
và thiếu thốn nhiều tiện nghi trong đời sống quân nhân. Binh lính
anh bị thương tích cần sự săn sóc của Y Tá thì đơn
vị anh lại không đủ thuốc men, vì cứ ba lần phi cơ thả dù
tiếp tế thì đã hai lần lọt vào khu vực của địch quân.
Chính những lời tâm sự như vậy nên tôi thấy ray rứt trong
lòng, và trong một đêm trằn trọc suy nghĩ, tôi quyết định
tình nguyện vào ngành trợ tá xã hội. Sau một thời gian thụ
huấn tôi ra trường và được chuyển về một chi đội
Nữ quân nhân đóng tại Tiểu khu nhà. Tôi làm đơn thỉnh
nguyện được ra các đơn vị tiền tuyến nhưng không được
chấp thuận. Và tôi lại sống khá nhàn nhã ở chi đội
2 Nữ quân nhân đồn trú tại An Thôn Trang cho đến ngày biến
cố 30-4-75.
Suốt thời gian phục vụ tại chi đội Nữ quân nhân, tôi
chỉ nhận được của Dũng vỏn vẹn 3 lá thư phát rất
chậm, và sau cùng chẳng biết tin tức gì của anh nữa. Gia đình
anh không liên lạc được anh. Họ có thư từ khiếu nại
lên cấp chỉ huy của anh nhưng ban quân số đơn vị báo là
bị mất tích trong một trận chiến quyết liệt ở bên chân
dãy Trường Sơn. Và, họ giải quyết tình trạng mất tích
của một quân nhân theo đúng thủ tục đối với gia đình
Dũng. Tôi sống cuộc đời buồn tẻ sau đó cho đến ngày
chiến cuộc kết thúc, với niềm tin là Dũng vẫn còn sống,
sẽ có một ngày anh trở về sum họp với gia đình và chính
thức chung sống với tôi như hai chúng tôi hằng mong ước tại
sân trường Phan Thanh Giản thân yêu.
Rồi, tin vẫn bặt tin. Tôi
đã di tản sang Hoa Kỳ và lập nghiệp đến ngày nay. Tôi vẫn
sống độc thân với niềm tin là Dũng vẫn còn sống, tôi
sẽ tìm gặp lại người yêu dù đã gần ba mươi năm
qua hai chúng tôi không hề gặp lại mặt nhau, dù chính tôi biết
được anh đã bị mất tích trong chiến trận, và... bây
giờ cuộc đời đã có nhiều đổi thay.
Trở về nước lần nầy, nhân dịp nhà
trường tổ chức cho các học sinh cắm trại, tôi muốn trở lại
trường xưa để tìm lại chút kỷ niệm thuở còn ngồi
dưới mái trường. Cách đây vài hôm, tôi cũng có
gặp lại Nghiệp, Nga, có hỏi thăm tin tức bạn bè chung học ngày
xưa. Bạn bè thì kẻ còn người mất. Người vào khu phần
đông chết mất bởi đạn bom, ai còn sống trở ra thì quyền
cao chức trọng, đi xe hơi ở nhà lầu... tịch thu của những người
bỏ nước ra đi. Người ở lại thì cuộc sống khó khăn
chật vật, mọi sinh hoạt đều bị thu hẹp bởi
mình có dính dấp gốc ngụy ở sau lưng! Làm bao nhiêu
ăn bấy nhiêu, không khá lên được. Dũng thì vẫn bặt
tin và chính gia đình của Dũng cũng đã dời đi xứ khác
không ai còn biết hiện họ sống nơi nào. Vật đổi sao dời.
Biết như vậy, nhưng tôi vẫn muốn trở về đây, trở lại
ngôi trường mà thuở học trò đã bảy tám năm tôi
miệt mài ở đó chỉ vì kỷ niệm. Con người sống mà
thiếu đi kỷ niệm là thiếu mất bao nhiêu ý nghĩa trong cuộc
đời...
Thật xúc động, tôi bàng hoàng trước câu
chuyện bà kể. Ðúng, con người sống mà thiếu đi kỷ niệm
là thiếu mất bao nhiêu ý nghĩa trong cuộc đời. Tôi nhìn
sâu vào đôi mắt của bà, đôi mắt như chìm trong nỗi
xa xăm tưởng nhớ. Tôi vẫn bồi hồi theo dõi sự biến đổi
trên khuôn mặt của người đàn bà, có lẽ tôi đang
sợ sẽ bắt gặp ở đó một dấu hiệu không vui. Nhưng...
thật may mắn, bà ấy dịu dàng hướng mắt nhìn tôi, nói
tiếp:
- Con người
ai cũng có số mạng. Trường hợp mất tích của Dũng rồi
cũng được xác nhận rõ ràng. Chuyến về thăm quê hương
lần nầy, tình cờ tôi gặp được Sơn, bạn học cũ của
chúng tôi ngày đó, giờ anh là phế binh lại bệnh bán
thân bất toại, quanh năm suốt tháng nằm liệt trên giường,
cuộc sống gia đình thật chật vật rất đáng lo. Vợ anh phải
tần tảo nuôi đàn con và chồng phế nhân. Tôi đến thăm
gia đình Sơn, trước tình cảnh đó, chỉ biết ngậm ngùi
chia sẻ tấm lòng bạn hữu với nhau, ngoài chút ít tiền bạc
không đáng là bao so với nhu cầu mà gia đình Sơn cần có.
Nhưng biết làm sao hơn! Sơn đã cho tôi biết được, anh
và Dũng khi ra trường được về cùng đơn vị. Lần chạm
súng dữ dội với địch quân bên chân dãy Trường Sơn,
Dũng bị thương và bị địch bắt sống làm tù binh chung
với anh. Trong một đêm tối trời, anh và Dũng đã hẹn nhau
trốn khỏi trại giam của chúng. Bị phát hiện, chúng nổ súng
và Dũng đã bị trúng đạn chết tại chỗ. Sơn thoát
khỏi vòng vây và chui rúc trong rừng sâu đến hơn nửa tháng
mới được gặp một người Thượng đi rừng cứu giúp
đưa về một đồn Nghĩa quân gần đó. Sơn được
đưa vào trạm an dưỡng mấy tháng, lại ra đơn vị tác
chiến đến sau Hiệp định Paris 1973 anh bị thương nặng phải xuất
ngũ. Do ảnh hưởng của vết thương mà những năm sau nầy
anh bị bán thân bất toại phải nằm liệt một chỗ. Con người
ai cũng có số mạng. Tội cho anh Dũng !
.
Những chữ sau cùng dường như người đàn
bà chỉ muốn nói thật khẽ để đủ cho một mình bà
ấy nghe thôi. Lòng cũng chợt thấy buồn buồn, tôi thẫn thờ
yên lặng.
Sân trường
không ngớt người qua lại, từng tốp từng đoàn chia nhau đi
thăm lại trường lớp cũ, tay bắt mặt mừng, có người không
e dè đã ôm chầm những Thầy, Cô giáo cũ bây giờ đã
lão thành, những người bạn cũ mà bây giờ tóc ai cũng
đã điểm bạc bởi tuổi đời và bởi gió bụi thời
gian.
Trong các lều trại của các em học sinh hiện đang học
tại trường, tất cả quây quần nhau sinh hoạt vui chơi, hay đang say
sưa nghe các cựu học sinh thế hệ trước kể lại những kỷ
niệm về trường lớp, thầy cô với bao nhiêu buồn vui...
Tôi là một cô giáo mới ra trường
và được phân công trở lại dạy trong ngôi trường cũ
của mình. Chính ngày hôm nay tôi cũng gặp lại thầy cô,
gặp lại bạn bè với biết bao nhiêu bùi ngùi xúc động.
Nhưng người đàn bà đang ngồi trước mặt tôi, chưa
bao giờ quen, đã gây trong tôi một dấu ấn đặc biệt. Bà
đã tách rời những dòng người vốn là quan khách đến
dự buổi khai mạc trại của nhà trường, đi riêng lẻ đến
đây, đứng lặng bên khung cửa sổ nhìn vào lớp học trống
vắng. Tôi bắt đầu chú ý đến bà từ lúc đó.
Chú ý không phải bà mang dáng dấp Việt kiều với nước
da trắng hồng khác lạ màu da quen thuộc của những người đàn
bà mà tôi gặp thường ngày, dù bà ăn mặc rất đỗi
bình thường, không có gì đặc biệt nổi bật, mà tôi
chú ý đến đôi mắt và dáng vẻ khác lạ của
bà.
Tôi đến
bên bà đang ngồi trên chiếc băng học trò kê ở hành
lang cạnh cửa sổ của lớp học lúc bà đang hướng mắt
nhìn vào trong lớp trống vắng như kiếm tìm một cái gì
quý báu lắm (?). Và tôi đã tiếp chuyện thật thân tình
với bà.
Ðột nhiên,
bà đứng lên và nhanh nhẹn bước lại gốc cây phượng
già trước cửa lớp. Bà đưa tay lên sờ lớp vỏ bên
ngoài, rồi như cào tìm phía bên
trong từng sớ thịt của cây, ngón tay như mân mê trìu mến
vật gì đang bám trên thân cây già cỗi. Tôi đi nhẹ
về phía bà và để ý quan sát. Thật tình lúc trước
tôi có lần nhìn thấy nhưng không mấy chú ý những vết
khắc mờ mờ trên thân cây phượng. Bây giờ đứng nhìn
cử chỉ lạ lùng của người đàn bà, tôi chăm chú
đọc kỹ, thì ra đó là những cái tên. Thời gian đã
làm mờ nhạt vết khắc, phải cố ý lắm mới đọc được.
Biết tôi đứng nhìn, người đàn bà quay lại và qua
câu chuyện tôi đã hiểu ít nhiều về bà.
Khi cảm thấy tiếp chuyện với người đàn bà khá lâu,
tôi có ý định mời bà về hội trường nhưng bà
lắc đầu từ chối. Một tốp bốn năm học sinh tung tăng chạy
về phía tôi, ríu rít :
- Cô...
nãy giờ tụi em đi tìm cô về trại mình ăn chè. Có
mấy cô mấy chú cựu học sinh đang kể chuyện kỷ niệm về
trường trong đó vui và cảm động lắm !
Tôi quay lại nhìn học trò, mỉm cười chỉ người đàn
bà :
- Các em hãy mời
bác về trại của lớp chúng ta. Các em có biết không, bác
đây trước kia đã từng ngồi học ngay tại phòng lớp nầy.
Chỉ vào cây phượng, tôi xúc động tiếp: “Và những vết khắc trên thân cây là kỷ niệm của
bác ấy vào một đêm dự lửa trại đáng nhớ trong đời
của bác...”.
Bốn
năm mái đầu chúi vào nhìn thân cây phượng. Những
bàn tay đưa lên sờ mó. Các em long lanh đôi mắt hướng
về phía người đàn bà với đôi mắt ươn ướt.
Rồi cùng một lúc các em nhao nháo hỏi:
- Bác ơi... hồi đó bác ngồi bàn nào vậy ?
Người đàn bà im lặng đi thẳng vào lớp đang trống
vắng, dừng lại bên dãy bàn cạnh khung cửa sổ. Bà ngồi
xuống một chỗ, đưa mắt nhìn quanh rồi lặng lẽ khóc. Tôi
ra dấu cho học trò im lặng, bằng một cái khoát tay nhẹ nhàng.
Thầy trò tôi trước sau cũng phải mời bà đến với trại
của lớp mình, nhưng trong lúc nầy, chúng tôi xin trả lại giây
phút thiêng liêng trân trọng cho người nữ sinh ngày ấy. Tôi
biết, chính trong khung cảnh nầy, bà đang nhớ lại phút giây
xao xuyến của đêm lửa trại năm nào, nhớ bóng dáng Dũng
- người yêu đầu tiên cũng là cuối cùng trong cuộc đời
thủy chung rất đáng quý trọng mà chưa chắc gì trong xã
hội hôm nay tìm được người đàn bà thứ hai như
thế. Thời gian vụt chốc thoáng qua, khắc nghiệt cả trên mái
tóc, dáng đi... mà trái tim yêu thương của mỗi con người
vẫn như mới hôm nào, ngạt ngào, nồng ấm.
Nhớ về trường PHAN năm xưa
Houston, 1996
PHƯƠNG DUY