N G U Y Ê N N H U N G

Truyện
Q U A C Ơ N S
Ó N G B Ủ A
Trước khi từ giã Chương để xuống đò trở về
Cà Mau, Nam cười cười dặn dò bạn:
“ Ông ở lại chịu khó học nghề, tôi về
Cà Mau lo công chuyện một hai tuần mới xuống, có gì khó khăn
đã có bác Hai, chị Tư, anh Út chỉ dẫn. Ở đây tôm
cá ăn thoải mái, sông nước tràn bờ tha hồ cho ông làm
thơ.”
.
Nam là bạn của Chương
từ hồi hai người còn học chung trường Sư phạm ở Cần
Thơ, Nam dạy toán còn Chương
là giáo sư Việt văn. Sở dĩ giờ đây Chương trôi giạt
đến vùng đất Năm Căn, vùng đất cuối Việtä với
câu ca dao “ muỗi kêu như sáo thổi, đỉa lền như bánh
canh” để chờ một chuyến vượt biên.
.
Nam nhảy xuống đò, con đò xình xịch rồi tách bờ,
những lượn sóng cồn lên trên mặt sông rồi lại êm đềm
vỗ sóng. Nơi Chương đang đứng là một nhánh sông nhỏ,
từ đây ra cửa biển còn xa, làng xóm thưa thớt, nhà cửa
ở rải rác ven sông mang cái buồn tịch liêu, cô quạnh.
Nhìn theo con đò nhỏ dần phía xa, tự nhiên lòng Chương
quặn lên một nỗi bơ vơ.
.
Ðêm ấy, Chương khó ngủ vì lạ nhà, lạ chỗ, dù
ở đây khoảng khoát gió lộng tư bề, nhưng chàng vẫn
nhớ căn gác lửng chật hẹp dành cho chàng nơi nhà người
anh. Ở đấy có một chiếc rương cũ, vài bài thơ làm
từ lúc đi học, mấy xấp hình chụp với gia đình, bạn
bè từ những ngày còn trẻ. Hồi tưởng lại, Chương không
khỏi nghĩ ngợi đến cái số kiếp hẩm hiu của đời mình.
Từ lúc ấu thơ đã mồ côi cha mẹ, ở với anh chị, được
ăn học nên người tưởng đời đã khấm khá, ai ngờ
lúc ra trường vừa mới dạy học được hai năm thì bị
đọâng viên, Chương chấp nhận làm người lính như
bao chàng trai trong thời buổi chiến tranh. Hình ảnh ông giáo sư trẻ
tuổi, ngôi trường, khung cửa lớp, những khuôn mặt học trò
tưởng đã xa vời trong ký ức của ông thầy trẻ tuổi
của một trường Trung học tỉnh lỵ. Chương được đưa
về đơn vị, làm việc trong ngành Chiến tranh Chính trị. Tiếp
theo, khi có đợt giáo sư được biệt phái trở về dạy
học, Chương trở về mái trường , khuôn mặt êm ả và
bình yên của ngôi trường tỉnh nhỏ, với phấn trắng, bảng
đen. Không phải Chương muốn trốn tránh cái vất vả của
người trai trong thời ly loạn, nhưng dù là người lính cầm
súng hay người thầy cầm phấn đứng trên bảng đen, đối
với chàng nghĩa vụ nào cũng cao cả hết.
.
Mùa hè năm bảy mươi
lăm, Chương nằm trong danh sách những giáo sư biệt phái phải
đi trình diện cải tạo. Bốn năm trong tù đã dạy cho Chương
biết phải dấu cái mớ hiểu biết của mình, chữ nghĩa chỉ
là mớ giấy lộn, cần phải đậy điệm thật kỹ mới
mong được trở về. Hai chữ biệt phái đã được
các nhà Cách mạng suy diễn méo mó là những thành phần
nguy hiểm. Không làm sao giải thích cho họ hiểu hai chữ Biệt Phái
đơn giản chỉ là những ông nhà binh gốc nhà giáo, được
trở về ngành nghề của họ sau khi khoác áo nhà binh.
.
Lúc từ giã nhà binh trở
về đời sống nhà giáo, Chương cảm thấy rất thích hợp
với môi trường này. Chương chưa kịp lấy vợ, dù đã
yêu và có cảm tình với một cô bạn đồng nghiệp, hay
là cả hai đang thời kỳ tìm hiểu và thương mến nhau. Thời
buổi mà những quan súng ngắn, súng dài có giá hơn anh nhà
giáo nghèo cuộc đời bằng phẳng, học trò của Chương
một sáng một chiều đã trở thành phu nhân, cái thuở mà
con gái thích làm vợ những người hùng, Chương cũng tìm
được chỗ chia xẻ buồn vui nơi cô bạn đồng nghiệp. Một
chút ấy không đáng gì để nàng hy sinh chờ đợi Chương
khi chàng bị đi cải tạo, dường như cuộc tình cũng chấm
dứt ngay từ đấy. Sau này , Chương nghe nói nàng đã sang
ngang, với một anh nhà giáo miền Bắc vào làm hiệu trưởng,
nắm đầu lũ giáo chức miền Nam. Chương không tiếc gì cả, còn có ý khen nàng đã
có một chọn lựa sáng suốt, đâu dại khờ làm thân
Tô Thị cho uổng một đời xuân xanh.
.
Gặp lại mấy người bạn
còn may mắn ở lại làm nhà giáo xã hội chủ nghĩa, Chương
mới thấy cái nhục nhã của những người cắn răng mà
sống. Chàng bị gạt ra khỏi thành phần đó. Thành phần
mà mỗi tháng làm việc cật lực, kiểm thảo liên miên để
tháng tháng nhận mấy chục bạc, ngần ngừ, chọn lựa , băn
khoăn trước mấy chục kí gạo hẩm, miếng thịt, con cá, gói
bột ngọt như chút ân huệ bố thí của nhà nước. Ðể
rồi cũng chỉ vì chút vật chất nhỏ nhoi ấy, có người
đã đánh mất nhân cách của nhà giáo, sẵn sàng đấm
ngã bạn bè.
.
Âu cũng
là cái may của chàng, dù chỉ là thứ may mắn khốn khổ
của một nhà giáo không còn chỗ đứng. Chương sống lang
thang nhờ sự giúp đỡ của anh chị trong nhà, người nào cũng
như người nấy chẳng hơn gì nhau. Lúc chạy xe đạp ôm,
khi dẫn mối cho dân buôn mua máy may, tủ lạnh, kẹt lắm lại làm
thợ hồ trộn xi măng, đất đá. Những giờ nghỉ trưa
ăn cơm, Chương xúc những muỗng cơm vào miệng mà tưởng
như mình đang ăn đá sỏi, nghe chát đắng cả lòng. Nắng
trưa hừng hực, mồ hôi nhễ nhại từ trán ròng ròng nhỏ
xuống, Chương cứ tưởng mình đang nếm phải những giọt
nước mắt. Tự nhiên chàng ngậm ngùi, thời buổi mà người
ta không còn nhận ra cái đẹp của những giọt sương long lanh
trên một chiếc lá xanh.
.
Ðể rồi tình cờ gặp Nam,
cuộc đời Chương hình như cứ đi từ cái tình cờ
này đến tình cờ khác. Như lúc học hết Ðại học,
làm thầy giáo, Chương đâu ngờ mình lại dây dưa với
nghiệp nhà binh, rồi khi làm lính chàng không hề nghĩ mình
sẽ trở lại nhà giáo, cho đến lúc đất nước hết
binh đao, lại xô đẩy nhà giáo vào nhà tù. Mai kia, nếu
cuộc đời không có gì thay đổi, ở tương lai Chương
có thể phải vào nhà thương, rồi đi lần vào nhà xác.
.
Nam gốc người Cà Mau, gia
đình Cách mạng, nhờ vậy sau cuộc đổi đời, anh ta bình
chân như vại. Nhưng chỉ ít lâu sau, óc nhận xét bén nhậy
của nhà giáo đã khiến Nam sớm nhận ra cái tệ hại của một cuộc đời không
lối thoát, khi mà trí thức, phu xe, hốt rác cùng “cá mè
một lứa” như nhau, nếu không có cái vỏ Cách mạng bọc
bên ngoài. Gặp lại Chương, thấy bạn xác xơ như cái
mền rách, Nam động lòng thương, nên bây giờ mới có
chuyện đưa bạn về gởi gấm nhà bà con, tiếng là học
nghề thợ mộc, đóng ghe đóng xuồng, nhưng thực ra nằm đấy
chờ Nam móc nối người vượt biển.
.
Chương giã từ gia đình
liều thân đánh ván bài chót, cùng lắm thì gởi thân
vào bụng cá, đỡ phải chôn cất lôi thôi. Ðời chàng
chẳng còn gì nữa ngoài chút kỷ niệm một thời làm thầy,
một thời làm lính.
.
Trong bóng đêm, Chương trằn trọc mãi không ngủ được.
Những hình ảnh chập chờn, nhảy múa theo cơn gió lùa qua cửa
sổ. Ngọn đèn dầu leo lét trên bàn thờ ẩn hiện vài
khuôn mặt của người khuất bóng, mấy bức tranh phong thủy màu
sắc lòe loẹt trông rờn rợn trong cảnh tranh tối tranh sáng nơi
bàn thờ. Sau này Chương mới biết trên ấy có cả hình
anh chồng liệt sĩ của chị Tư. Anh ta chết trong một cuộc đụng
độ với lính Cộng Hòa, bỏ lại người vợ trẻ và
hai đứa con thơ. Mãi gần sáng, Chương mới thiếp đi với
giấc ngủ đầy mộng mị. . .
* *
*
Thấm thoát rồi Chương ở nhà bác Hai cũng được ba tháng,
Nam thỉnh thoảng có xuống
lo chuyện bến bãi rồi đi, chuyện vượt biên đâu phải
cứ muốn đi là được. Cũng chẳng có gì để Chương
lo lắng, sống ở đâu chả vậy, có khi nơi này Chương lại
đỡ băn khoăn vì chuyện cơm áo hằng ngày.
.
Bác Hai và thằng Út làm
nghề thợ mộc, đóng xuồng đóng ghe cho những người quanh vùng.
Chương làm thợ vịn, sai đâu làm đó, chàng cũng khéo
tay nên chẳng bao lâu cả nhà bác Hai đều quí mến chàng.
Cô con gái của bác Hai, chị Tư, đi kéo vó bắt tôm, đặt
lờ bắt cá. Ông Trời dường như cũng ưu đãi cho người
dân quê, chẳng có trường học cho trẻ con vì trước kia là
vùng xôi đậu, năm bảy hôm máy bay đảo qua bắn phá
một lần. Chẳng có đèn đóm nhưng đã có trăng
sao vằng vặc đầy trời, sáng ngủ dậy không cần đánh
răng, chỉ súc miệng sùng sục mấy cái, tối đi ngủ rửa
chân cẳng qua loa, vỗ phành phạch mấy cái rồi đánh một
giấc tới sáng. Người ta không bận tâm lắm về hai chữ văn
minh, văn hóa, chỉ mong hết chiến tranh, hết bom đạn, hết chết
chóc là đủ. Bác Hai và thằng Út, nay có thêm Chương,
chiều nhậu sương sương mấy con khô, trái soài sống rồi
lăn ra ngủ. Chị Tư chiều nào cũng un một đống vỏ dừa
đuổi muỗi, căn nhà như càng mịt mùng thêm với cái
buồn heo hút của miền quê.
.
Càng sống lâu với gia đình bác Hai, Chương mới thấy cái
lối làm việc râp khuôn không sáng tạo, nghĩ ngợi gì của
sự hiểu biết. Xưa làm sao thì nay vậy, họ làm không thắc
mắc, không hiểu tại sao một chiếc ghe có trọng tải mười
giạ lúa có đáy rộng lại không dễ chìm như một chiếc
ghe lòng hẹp cũng cùng một trọng tải như thế. Chương cố
cắt nghĩa cho thằng Út hiểu khi hai người làm việc chung với nhau,
nó chả hiểu gì, nhe hàm răng vàng ệch khói thuốc ra cười,
bụng có vẻ nghi ngờ cho những rối rắm của sự học.
.
Riêng hai đứa con của Tư
thật tội, suốt ngày chúng đi chân đất, giang nắng trên bãi
sông bắt cua, bắt còng, hái những trái ổi non, nhặt bần rụng
về chấm mắm ruốc. Hai đứa nhỏ, thằng anh khoảng mười tuổi
và con em lên tám, không biết một chữ i. Có lần, Chương
gợi chuyện với hai đứa nhỏ:
"Ba con đâu?"
Thằng nhỏ chỉ lên bàn thờ, một
khuôn mặt thanh niên còn trẻ với cái mặt khờ ệch:
"Tía hả? Chết "gồi".
Con em lanh chanh nói:
" Hi sinh "gồi".
Chương buồn cười nghe
hai đứa nhỏ nói chuyện với nhau. Chúng nó chơi trò chiến
tranh, hái lá cây ngụy trang trốn máy bay, súng là mấy bẹ
dừa khô tuốt hết lá. Hai đứa nhỏ đối đáp với
nhau:
"Anh Hai đi ngã này, coi chừng máy
bay nghe."
" Mày im đi, tao rình bắn cái
“tăng” này cho coi".
Chơi chán, con em nói với thằng anh:
"
Má nói hòa bình "gồi", chơi "uýnh" nhau làm chi,
mình chơi nhà chòi đi anh Hai".
.
Chương quan sát hai đứa nhỏ
con anh liệt sĩ, giá anh ta còn sống đời chúng nó chắc đã
có gì hơn. Một nỗi thương cảm dâng lên trong lòng chàng.
Chiến tranh quả là tồi tệ, sự sung sướng, nỗi bình yên
chỉ dành cho một số nào còn thì giờ đây, những đứa
nhỏ trên vùng kinh tế mới, những đứa nhỏ sinh ra và lớn
lên ở đây, không giày dép, không sách vở, không tương
lai.
.
Những lúc rảnh rỗi, Chương tìm cách dạy cho hai đứa nhỏ
học. Với một tập giấy trắng , cây bút chì chàng mang theo để
viết thư khi cần, Chương dùng làm tập vở dạy cho hai đứa
con anh liệt sĩ học chữ. Có khi thầy trò dùng những cái que
viết đầy trên mặt đất, Tư rất ngỡ ngàng khi thấy con
mình dùng hòn than trong bếp để viết những nét chữ nguyệch
ngoạc đầu tiên trong cuộc đời . Thật cay đắng mà cũng
cảm động biết bao nhiêu, Chương không ngờ có ngày chàng
lại ngồi lê la trên nền đất với hai đứa trẻ thơ, để
tròn môi uốn theo từng chữ o, chữ ô . Thoảng trong cái buồn
heo hắt đó, Chương vẫn thấy cái vui của một việc làm
hữu ích, chàng thương quá những đứa trẻ miền quê Việt
Nam, dù biết rằng ngày xưa, khi tía nó còn sống, sẽ không
ngại gì bắn vào đầu chàng những viên đạn.
* * *
Chương lờ mờ hiểu là Tư yêu chàng, bởi sự săn sóc
lộ liễu mà Tư quá mộc mạc không che đậy, dấu diếm
nổi. Có lẽ chuyện làm Tư cảm động nhất là hai đứa
con của chị quấn quýt bên ông thầy giáo, đã biết đọc
biết viết . Nhặt được một tờ nhật trình cũ gói hàng
hai đứa nâng niu lắm, chúng cất để dành và tranh nhau đọc
cho cả nhà nghe. Ông ngoại và cậu Út cũng vui ra mặt, ngấm ngầm
họ cũng ước muốn, giá Chương đừng tính chuyện vượt
biên, có ở với họ đến mãn đời cũng tiện.
.
Chương thương
hai đứa nhỏ bằng cái tâm của một nhà giáo, bằng trái
tim biết rung động, biết xót xa trước cái khổ, cái nghèo,
cái tối tăm của đồng loại, cùng chung một giòng máu Việt
Nam. Hận thù làm sao nổi
trước những gương mặt ngây thơ, mộc mạc đó, dù
những người phía bên kia đã có lúc hành hạ chàng,
sống dở chết dở trong trại tù, vất vưởng mưu sinh giữa chợ
đời đen bạc, Chương vẫn không tìm ra được lý do
để không yêu thương hai đứa nhỏ.
.
Có dịp Nam từ
Cà Mau xuống Năm Căn, Chương nhờ Nam mua hộ bàn chải đánh
răng, cục sà bông thơm, ít giấy mực, bút viết. Chàng dạy
cho mấy đứa nhỏ hiểu thế nào là ích lợi của sự sạch
sẽ, thế nào là sự nguy hiểm của bệnh tật, phát sinh bởi
bẩn thỉu mà ra. Hai đứa nhỏ chăm chú nghe, chăm chú học.
Bây giờ chúng có thể biết tại sao nước lớn, nước ròng,
tại sao quả đất tròn và làm sao người ta đứng vững
trên mặt đất, còn một thế giới mênh mông ngoài kia và
có nhiều dân tộc, màu da khác nhau trên trái đất. . . Chương
biết Tư cảm động lắm về những hiểu biết của hai đứa
con, lúc ấy mắt Tư chớp liên hồi, Tư có cái hiền hậu,
duyên dáng của người phụ nữ miền quê, không điểm trang
mà lại rất mặn mà.
.
Ðêm ấy là một đêm trăng sáng, bác Hai và Út đi
Ông Ðốc ăn đám cưới nhà bà con, chỉ có Chương
ở nhà với mẹ con Tư. Trăng sáng lạ lùng, trăng giãi trên
mặt sông mông mênh, trăng huyền ảo làm cảnh vật hữu tình,
làm lòng người xôn xao, lay động. Và dưới ánh trăng
dịu hiền, Tư đêm ấy trông cũng lạ hẳn đi.
Cả nhà đều đi ngủ,
hai đứa nhỏ đã ngủ say, Chương cố nhắm mắt mà không
sao ngủ được. Bên kia vách lá, Chương nghe rõ cả tiếng
thở dài của Tư. Trăng sóng sánh len vào khung cửa sổ, để
Chương nhìn thấy bóng Tư đã bước tới bên chiếc
chõng tre của chàng. Chương nhắm mắt lại, cố xua đuổi nỗi
thèm khát một vòng tay say đắm, tim chàng đập thình thịch
trong lồng ngực.
" Anh Năm".
Tư gọi khẽ, xem chàng còn ngủ hay thức?
Chương cố gồng mình nằm im, chàng nghe rõ cả tiếng thở
của Tư, và tiếng rột rệt của chiếc chõng tre trong đêm tối.
Tư ngồi xuống mé chõng, lần mò nắm lấy tay chàng, một
cảm giác kỳ lạ từ trong lòng chàng đột ngột dâng lên
như một cơn sóng lớn. Dù Tư không phải là người mà
chàng ước mơ, nhưng đơn giản nàng là một người
đàn bà, Chương cũng đâu phải là gỗ đá, với
một cuộc đời không tình yêu, không cơm áo, chàng vẫn
là hiện thân của một Adam nơi vườn địa đàng trên
trần thế. Tư thì thầm bên tai chàng:
"Em thương anh, anh Năm. . ."
.
Trong giây phút đó, Chương tưởng như mình có thể ngất
lịm đi vì khát khao nhục thể. Nhưng đúng khi ấy, chàng
bỗng vùng dậy, thảng thốt đẩy Tư ra như lúc rụt chân
lại trước bờ vực để tránh cái chết nát thịt, tan
xương. Chàng hít một hơi dài, lấy lại bình tâm, đẩy
Tư ra lần nữa:
“ Không, không được,
tôi sắp đi rồi, tôi không muốn làm ai khổ hết. . .”
Tư hiểu, nhưng vẫn
khóc, thật thiết tha:
“Anh Năm, em biết sớm muộn
gì anh cũng đi, nhưng em chấp nhận vì em thương anh. Em muốn anh
cho em một đứa con, thông minh như anh, có lòng như anh. . .”
Chương lắp bắp:
“ Em có con rồi, thêm một đứa nữa làm
chi cho khổ. Tôi không lo được cho ai hết. . .”
Giọng Tư chân tình:
“ Anh đừng lo, ở đây tôm cá, gạo
thóc ê hề, mai đây anh có đi xa, em cũng vẫn không sợ chi
mà ”.
.
Tư không hiểu gì hết, làm sao mà nàng hiểu nổi lương
tri của một nhà giáo ở nơi chàng. Thằng đàn ông trong
chàng có thể làm điều đó nhưng lương tâm nhà
giáo thì không. Nếu lấy Tư làm vợ thì Chương không
hề băn khoăn về chuyện đó, nhưng để trả ơn cho những
tấm lòng đã thương mến chàng chân thật thì Chương
không bao giờ làm thế, dẫu đời có tàn mạt đến đâu.
* * *
Ông Trời
dường như cũng thấu hiểu được nỗi khổ của anh thầy
giáo hết thời, nghèo kiết xác mà vẫn có số đào
hoa như Chương, nên chỉ hai tuần sau,
Nam báo tin cho biết chuyến đi đã sẵn sàng, chuyến tàu sẽ
ra khơi vào một đêm tối trời. Chương nói dối Tư chàng
sắp trở về thành phố, nàng gật đầu nhưng có vẻ hiểu
kỳ này Chương sắp đi xa, rồi không bao giờ trở lại đây
nữa.
.
Lúc sắp lên đường, tự nhiên Chương lại nao nao muốn khóc,
khi nhìn thấy đôi mắt Tư đỏ hoe lúc hai người cùng
ngồi với nhau trong căn bếp đầy mồ hóng, Chương chỉ nói
được vài câu từ biệt ngắn ngủi với nàng, rồi vội
vã theo Nam xuống chiếc vỏ lãi ra sông lớn, từ đấy mới
lên tàu ra khơi. Không ngờ con tàu mỏng manh, nhỏ nhoi như một
chiếc lá giữa biển khơi, liều lĩnh ra đi để rồi may mắn
vượt thoát được sang bờ biển bên kia, cho Chương có cơ
hội làm lại cuộc đời trên đất khách.
.
Chương vẫn nhớ mãi
mái tranh nhà bác Hai bên giòng sông có cây trâm bầu, có
rặng bần lập lòe đom đóm. Nhớ bác Hai thật thà, chơn
chất, nhớ thằng Út đơn sơ, nhớ hai đứa nhỏ con anh liệt
sĩ ngây thơ, trong sáng, ê a đánh vần từng chữ những ngày
chàng bắt đầu khai tâm cho chúng. Ðể rồi chàng không thể
nào quên, đôi mắt Tư ứa lệ khi xin chàng một đứa con,
mà không đòi hỏi một trách nhiệm nào hết.
.
Ngày được định
cư ở Hoa Kỳ, sống ở một nước văn minh mà những người
đàn bà, những đứa trẻ con được tôn trọng và nâng
niu, quần áo, lương thực, sách vở thừa thãi, Chương cứ
ngậm ngùi nhớ mãi hai đứa nhỏ vùng Năm Căn, miền đất
cuối Việt của đất nước, lòng dấy lên một nỗi xót
xa.
.
Sau này, khi ổn định đời sống và đã có việc làm,
việc đầu tiên của Chương là nhờ chị của Nam còn ở
lại Việt Nam, chuyển ngay cho gia đình bác Hai một thùng quà, có
rất nhiều đồ chơi, vải vóc và bút chì màu cho hai đứa
nhỏ. Chàng tưởng ra ánh mắt ngạc nhiên và hạnh phúc của
gia đình bác Hai khi nhận quà của chàng, hai đứa nhỏ sẽ
nhẩy cẫng lên vì sung sướng, bỡ ngỡ nhìn những món mà
cả đời chúng không hề thấy, không hề có. Nhất là
Tư, người vợ liệt sĩ đã xin chàng một đứa con,
vì nhận chân được cái đẹp của con người. Dù không
yêu Tư, Chương vẫn trân quí tấm lòng của người phụ
nữ quê mùa đó, chàng yêu cái tình yêu của nàng,
nó hơn hẳn tình yêu của cô bạn đồng nghiệp với chàng
năm xưa, vì nó không tính toán. Làm sao Tư có thể hiểu
được rằng, chàng có thể tằn tiện gởi về tặng Tư
và hai đứa nhỏ thùng quà ơn nghĩa, bằng chật vật của
mồ hôi nước mắt, nhưng để tặng nàng một đứa con
thì không.
.
Chương hình dung lại ngày ấy, nếu lương tri của nhà giáo
đi vắng, chàng để lại cho Tư một đứa con không cha. Và
giờ đây khi nó lớn lên, ở một vùng đất xa xôi bên
kia tổ quốc, lại có thêm một đứa trẻ lang thang đuổi bắt
những con còng trên bãi sông vắng. Chỉ nghĩ thế thôi, lòng
Chương tự nhiên buồn rười rượi. . .
.
Nguyên Nhung.