LCT_Con duong

HVT_pic.jpgTRUYỆN

NGẮN

 LÊ CẦN THƠ

____________________________________________________________________________________________

        

NGƯỜI ĐI TÌM

CHÂN DUNG

LHV_TrungUy.jpg

truyện

LÊ CẦN THƠ

         “…Ba Hoàng đang nằm trên chiếc võng mắc qua hai cây gáo, xung quanh là đám lá chuối rậm, bỗng nghe tiếng máy bay. Anh ngồi bật dậy, trèo lên cháng ba cây gáo quan sát. Chiếc “đầm già” từ hướng Cần Thơ như một chấm đen mút tận trên cao, bay thẳng vào nơi đơn vị anh đang đóng quân. Tất cả được nhanh chóng báo động và chuẩn bị tư thế chiến đấu. Ba Hoàng gọi Lạc – liên lạc viên – đang giữ máy truyền tin “mở máy liên lạc với bộ chỉ huy”. Anh vẫn ngồi trên cành gáo. Chiếc đầm già bay thật cao phát xuống một giọng nữ tâm lý chiến nghe rõ mồn một:

         Các anh cán binh cộng sản thân mến,

         Chánh phủ Quốc Gia sẵn sàng đón nhận các anh trở về với cộng đồng dân tộc. Các anh hãy mang vũ khí về giao nạp sẽ được trọng thưởng và sớm được sum họp gia đình… Các anh hãy nhận tờ giấy bạc nầy, đến bất cứ cơ quan nào hay đồn bót nào cũng được tiếp đón nồng nhiệt. Chúng em lúc nào cũng mong đợi các anh…

         Các anh…

         Lời phát ra cứ lặp đi lặp lại như vậy. Tiếp theo là những tờ truyền đơn bươm bướm bay tung ra, lấp lánh trong ánh nắng trưa gay gắt giữa cánh đồng Chệt Thợ. Ba Hoàng tỏ vẻ bực dọc nhưng lòng lại lo lắng bồn chồn. Trên cao, chiếc đầm già cứ thẳng hướng bay đi trên một độ cao ngoài tầm sát hại của đạn bắn thẳng, theo đường chim bay mất hút về hướng tây. Cả đơn vị Ba Hoàng nhao nháo lên với nhiều lời bình phẩm đúng sai của lời kêu gọi và tờ truyền đơn hình dáng của tờ giấy bạc vừa rơi lả tả xuống mặt đất. Ba Hoàng là C trưởng cứ thấp thỏm lo âu cho tinh thần binh lính trong đơn vị mình, nên gọi Sáu Tâm, chính trị viên, để trao đổi:

         - Đề nghị “đồng chí” triển khai rồi bám sát từng chiến sĩ. Đừng để anh em hoang mang rồi bị lung lạc bởi những lời kêu gọi đó. Yêu cầu anh em không được thu nhặt hay lén cất giữ tờ truyền đơn. Phải bằng nghiêm lệnh mới được.

         - Nhất trí với đồng chí. Nhưng trong vấn đề nầy, mỗi cán bộ chúng ta phải có trách nhiệm theo dõi ngầm thì hay hơn. Cảnh giác là việc chung không thể chủ quan được.

         Dù Ba Hoàng và Sáu Tâm theo dõi và làm công tác tư tưởng trong đơn vị thường xuyên, vậy mà tuần lễ sau, hai chiến sĩ đã trốn bỏ đơn vị ra “chiêu hồi” tại đồn Tràu Hôi. Sĩ-sún đánh cắp 4 trái lựu đạn với khẩu CKC và Phước-lùn mang khẩu trường bá đỏ với một trái mìn nội hoá giao cho đồn để xin chiêu hồi. Sau đó được phỏng vấn thu băng và phát lời kêu gọi đồng đội với tên đơn vị và Ba Hoàng – Sáu Tâm nữa., lời kêu gọi qua giọng của Sĩ-sún và Phước-lùn được phát liên tục đến mấy ngày liền trên chiếc đầm già chứng tỏ cả hai ra chiêu hồi được an toàn! Sau đó, một cuộc hành quân tảo thanh lớn vào vùng kinh Chệt Thợ nhưng không tìm được bóng dáng ai, bởi đơn vị của Ba Hoàng được lệnh chuyển quân trước đó một ngày. Rút kinh nghiệm và nghiêm khắc nhận lấy trách nhiệm về mình, Ba Hoàng nghe đau xót vô cùng. Hai “đồng chí” đã từng vào sanh ra tử với mình suốt bao nhiêu năm, chỉ vì không thể tiếp tục chịu đựng gian khổ, hay một phút nào đó bị mất lập trường nên đã quay lưng bỏ đồng đội. Ba Hoàng tự đánh giá lại toàn bộ từng chiến sĩ để kịp thời xây dựng, uốn nắn làm sao cho đơn vị thật sự vững mạnh. Bao nhiêu chiến sĩ trong đơn vị là bấy nhiêu mảng đời, cứ hiện lên trong anh, nó như sợi dây xích ràng buộc chặt vào nhau khó thể tách rời được. Vậy mà Sĩ-sún và Phước-lùn đã tự bứt rời ra… “Cảnh giác là việc chung, không thể chủ quan được”. Rõ ràng Sáu Tâm đã khẳng định với anh như vậy. Nhưng anh có chủ quan bao giờ đâu? Anh cũng không đổ lỗi cho ai, bởi trong báo cáo gởi về trên, anh đã nghiêm khắc nhận trách nhiệm rồi còn gì?

         Ba Hoàng đã có lần bàn bạc với Sáu Tâm về cách đánh giá từng chiến sĩ trong đơn vị. Theo anh, để có một mẫu người toàn vẹn, trước hết anh ta phải luôn có tư tưởng đúng và tình cảm đẹp, có lối sống lành mạnh, giản dị, đầy đủ nhiệt tình trong công tác, thật thà, dũng cảm, biết quý trọng và bảo vệ tài sản chung, có lòng yêu nước nồng nàn, quyết tâm chiến đấu vì độc lập tư do của tổ quốc, có tình thương yêu sâu sắc với đồng bào và đồng đội. Biết đoàn  kết hợp tác, giúp đỡ nhau trong chiến đấu và lao động… Đặc biệt là anh ta phải biết “quên mình”. Quên mình, anh muốn nói ở đây là làm đúng, làm tốt thì tư tưởng đừng bao giờ nghĩ phải được khen thưởng, đền bù, đãi ngộ xứng đáng với thành quả mình đã đạt. Dù là ý nghĩ “so đo” chỉ thoáng qua trong tâm tưởng anh ta, cũng chưa thể đánh giá tốt về anh ta được. Sáu Tâm cho rằng, đòi hỏi như vậy quá lý tưởng, bởi vì trong cuộc sống hiện tại, nhất là trong chiến đâu đầy gian khổ, ai mà không ao ước mình sẽ làm được một cái gì xứng đáng. Đã nói xứng đáng thì điều kiện kèm theo là phải được đánh giá đúng mức. Khi trong tâm tưởng có thoáng qua như vậy thì khó kiếm được mẫu người như Ba Hoàng muốn tìm. Ba Hoàng lại nói với Sáu Tâm “Đãi cát tìm vàng. Ta thử khắt khe như vậy xem sao!”. Cả hai cùng cười. Đêm trao đổi đó, Ba Hoàng và Sáu Tâm ngồi dưới gốc dừa thấp thoáng ánh trăng non. Cả đơn vị rải quân đều trên ngọn rạch Ông Hào, chờ giao liên để chuyển sang địa bàn mới. Ánh trăng xuyên qua kẽ lá, chiếu nhờ nhờ xuống mặt đường loằng ngoằng, cỏ hoang mọc cả lối đi. Nhà cửa hoang phế kể từ khi máy bay B52 ném bom sập nhà thờ họ đạo Ông Hào hồi năm 1965, bà con phải tản cư, bỏ lại nhà cửa ruộng vườn để đến tạm sống tại một nơi nào đó. Bây giờ loáng thoáng cả con rạch, chỉ có mấy căn chòi nhỏ dựng lên của các ông già bà lão vì thương nhà, thương đất nên ban ngày lủi thủi về với buồng chuối trái dừa, ban đêm lại đi để được an thân. Không có một bếp nấu, một lu nước uống…

         Trong ánh trăng, khuôn mặt xương để lộ vầng trán cao của Ba Hoàng, đã hiện lên lõm sâu của đôi mắt. Anh đang nhìn dòng nước đầy dưới lòng rạch. Mấy về lục bình theo con nước lớn lô nhô những chiếc lá đọng sương đêm, chiếu lấp lánh bởi ánh trăng nhàn nhạt. Chợt Sáu Tâm hỏi nhỏ:

         - Anh Hoàng, anh thấy Hai Phát thế nào?

         - Về mặt nào?

         - Về mặt đánh giá như mẫu người anh phác hoạ đó!

         Ba Hoàng chú ý ngay đến cách xưng hô của Sáu Tâm. Là chính trị viên đại đội, Sáu Tâm thường xuyên tiếp xúc và nói chuyện với anh em, lúc nào anh cũng dùng hai tiếng “đồng chí” để xưng gọi. Ít khi anh quên mất hai tiếng thiêng liêng đó. Vậy mà đêm nay, dột nhiên Sáu Tâm lại gọi “anh Hoàng”. Phải chăng, có một phút nào đó, trong tận cùng sâu thẳm của tình cảm, người ta tự nhiên phát ra điều mà bình thường mình ít nghĩ tới?

         Thay vì trả lời, Ba Hoàng hỏi lại:

         - Theo đồng chí đánh giá Hai Phát ra sao?

         - Hai Phát đúng là mẫu người mà anh muốn tìm. Cậu ấy còn trẻ, gan dạ, xông xáo, tác phong đạo đức tốt… nghĩa là tương đối như anh gợi ý!

         - Theo tôi thì chưa được như vậy. Tôi đang nghĩ đến đồng chí Hai Ốm. Dù so về thành tích thì chưa bằng Hai Phát, nhưng đồng chí ấy đáng để ta quan tâm.

        -  Anh có thể nêu cụ thể dẫn đến quan tâm xem sao?

        - Này nhé, nếu so sánh hai đồng chí ấy, ta thấy có hai điểm khác biệt nhau về cách suy nghĩ. Đồng chí Hai Phát luôn luôn hoàn thành tốt nhiệm vụ, tác phong đạo đức không chê vào đâu, nhưng theo tôi đồng chí ấy đôi lúc còn hiện lên tâm trạng so bì. Chẳng hạn, mỗi lần tuyên dương khen thưởng, dù đồng chí ấy có được đề bạt và nhân lãnh, nhưng vẫn thấy chưa được hài lòng “đáng lý cao hơn một chút” hoặc “xếp ngang hạng như vậy nó làm sao ấy!”. Có nghĩa là đồng chí Hai Phát vẫn còn tư tưởng “vì mình” nhiều quá! Trái lại đồng chí Hai Ốm cũng có nhiều thành quả trong mọi công tác, nhưng ta chưa bao giờ nghe đồng chí bày tỏ có ý than phiền trách móc gì. Rất bình thản xem như chấp nhận cái mà mình có được…

         - Tôi chưa đồng quan điểm nhận xét đánh giá như vậy. Thái độ “bất cần” và “an phận” chưa thể chấp nhận được. Con người mới phải có tư thế tiến công, phải thẳng thắn và nói thật mọi suy nghĩ của mình. Nói thẳng và nói thật mọi suy nghĩ nhằm xây dựng chung đâu phải là khuyết điểm mà ta lại đánh giá vì mình, là yếu?

         - Đó cũng là một vấn đề, một ý kiến. Ở đồng chí Hai Phát, tôi còn thấy lời phát biểu không chính thức, tức là còn linh tinh trong giao tế. Đành rằng nói chơi, nhưng chính lời nói chơi đó mà đồng chí ấy vẫn chưa thể cho chúng ta nắm bắt để làm mẫu chân dung được. Đồng chí cố nghĩ và giúp tôi, chúng ta thử phác họa xem, một mẫu người như thế nào để được đánh giá toàn vẹn nghe! Có được mẫu người như vậy, chúng ta sẽ đem ra điển hình và xây dựng đơn vị…

         Ba Hoàng và Sáu Tâm cắt ngang câu chuyện ở đây, khi Lạc chạy lại báo cáo, đã có giao liên đến dẫn đường. Trăng đã nghiêng khỏi đầu và ánh sáng càng vằng vặc, sương đêm thấm lạnh nhiều hơn.

         Tôi đọc đi đọc lại nhiều lần phác thảo một truyện ngắn của tác giả Sáu Vọng viết dang dở trên đây. Sáu Vọng đã chết trong trận tiến công và nổi dậy mùa xuân 1968, khi anh cùng đồng đội hướng một mũi vào thành phố Cần Thơ. Trang phác thảo nầy tôi đã được một người bạn là Tr. uý Trần Nghiên X. của tiểu đoàn 4X. BĐQ nhặt được trong “ba-lô con cóc” của một cán binh VC chết nằm trên mé Rạch Bần, thay vì giao lại đơn vị an ninh để khai thác tài liệu, anh giữ lại tặng cho tôi khi anh biết tôi thích nghiên cứu và tập viết văn. Hôm gặp nhau, anh nói đã đọc đi đọc lại nhiều lần bản thảo dang dở nầy: “dù là bản thảo viết tay, nhưng Sáu Vọng có nhiều ghi chép và suy nghĩ đặc biệt, có mộng lớn lắm”. Ở đó, Sáu Vọng muốn đi tìm một mẫu người “tài đức vẹn toàn” trong cuộc sống. Tiếc là Sáu Vọng chết quá sớm. Nếu còn sống đến hôm nay, chắc anh ta đã tìm ra được mẫu người đó rồi. “Hay là… cậu thử viết tiếp đi!”. Tôi cười: “ Khó lắm anh X. ơi. Viết không có chiều sâu, người ta cười rồi cho là mình khéo vẽ vời, lý tưởng hão!”.

         Dù nói như vậy, nhưng trong tâm trí tôi cứ ám ảnh mãi trang phác thảo của tác giả Sáu Vọng  – một cây viết đã sống và chết, viết dang dở về mẫu người ở phía bên kia chiến tuyến từng đối mặt với tôi –. Tuyến nhân vật và sự suy nghĩ như Ba Hoàng, Sáu Tâm có thật bên cạnh cuộc sống của anh ấy hay không? Cái ước muốn của Ba Hoàng hay nhận định của Sáu Tâm có phải chính là suy nghĩ của Sáu Vọng không? Trong cuộc sống hôm nay, ngày càng hiện ra nhiều bông hoa tươi thắm. Gương người tốt việc tốt cứ đọc thấy trên báo, nghe trên đài phát thanh giới thiệu hàng ngày, họ có thêu dệt hay không, tôi không biết. Những bông hoa sáng chói đó có đúng như mong ước của Sáu Vọng? “Mình sống vì mọi người” đã là phương châm của con người mới, nhưng có thật trong tâm trí của mỗi con người chưa hề nghĩ đến cá nhân mình? Nếu đã nghĩ về mình thì đã không đáp ứng yêu cầu của nhân vật Ba Hoàng mà Sáu Vọng muốn dựng lên. Cái rỗng tuếch, không cần thiết… Phải đề cập một vấn đề mông lung nghĩ cũng chán, nhưng tôi cứ mãi suy nghĩ về nó. Tôi lại đi vào vòng tìm kiếm quẩn quanh của cuộc sống mình, những mẫu người như Sáu Vọng phác thảo. Bạn bè trách tôi sao viết văn khô khan, nhạt thếch. Chính tôi cũng nhận biết như vậy. Nhưng đó cũng do mạch văn của một con người. Mình có muốn trau giồi, gọt dũa cách mấy, cũng phảng phất mạch văn khô khan, nhạt thếch như vậy. Có tiến xa là về nhận thức tư tưởng, về đề tài bắt gặp quanh cuộc sống có đáp ứng yêu cầu người đọc hay không? Thường thì những bài viết nói thẳng nói thật các mặt tiêu cực trong cuộc sống rất được bạn đọc khen, tán thưởng. Những bài viết đưa lên hình tượng lý tưởng nào đó ngoài xã hội quá hiếm hoi thì bị chê. Tôi vẫn biết điều đó, nhưng nếu trong cuộc sống, ta không dựng lên những mô hình đặc biệt, cũng như Sáu Vọng đã qua nhân vật Ba Hoàng muốn có một mẫu người “tài đức vẹn toàn” theo cách nghĩ của anh ấy, thì không có vấn đề đặt ra thật khó xử đối với tôi.

         Lời anh bạn Trần Nghiên X. gợi ý: “Hay là cậu viết tiếp đi!” cứ ám ảnh tôi. Nhưng – lại chữ nhưng quái ác – cứ đeo đẳng, cho nên tập bản thảo viết tay của Sáu Vọng ám ảnh tôi nhiều năm sau nầy. Khi miền Nam bị cưỡng chiếm, tôi bị vào tù cải tạo gần sáu năm, rồi được thả ra để tiếp tục sống trong nỗi cùng cực tận đáy xã hội, chạy xe đạp ôm lê lết để gia đình sinh sống, tôi mới có dịp gặp lại người bạn học cùng lớp cũ năm xưa – Bảy Trung. Một dịp thật tình cờ, tôi chở Bảy Trung cuốc xe từ đèn ba ngọn tại đầu đường Ngô Quyền lên cầu bắc Cần Thơ buổi tối, anh nhìn ra tôi và mời tôi uống cà phê trước khi chia tay. Hỏi thăm nhau trong tình nghĩa bạn đồng môn năm xưa, tôi mới biết anh bỏ học vào khu và nay trở ra làm Phó Giám Đốc một công ty của ngành xây dựng. Anh đã kể với tôi trận đánh ác liệt ở Kinh Thác Lác năm xưa, anh tham dự lúc 28 tuổi, là Tiểu Đoàn Trưởng trẻ nhất của khu Tây Nam Bộ, còn sống sót. Tôi lại tò mò hỏi anh, hồi năm Mậu Thân anh ở đâu? Anh bảo có tham gia tấn công vào Cần Thơ và yểm trợ đội công tác nội thành của Tư Cầu khi đột nhập khu vực Rạch Bần – Tham Tướng. Chợt nhiên nhớ lại trang bản thảo của Sáu Vọng, tôi hỏi anh với ý nghĩ “cầu may”. Đơn vị anh tấn công vào khu vực đó, có ai tên Sáu Vọng không? – Sáu Vọng? Bảy Trung hỏi lại. Tôi gật đầu. Trố mắt nhìn tôi hơi ngạc nhiên, anh trầm giọng: Sáu Vọng là chiến sĩ nhưng có“khiếu viết lách” của đơn vị tôi. Cậu ấy chết trong trận Mậu Thân. Nhưng sao anh biết? Tôi đáp: Một dịp may tình cờ. Anh có thể kể tôi nghe về con người đó được không?

         Có lẽ bối cảnh hạnh ngộ khá hi hữu của hai người bạn học cùng lớp của trường Phan Thanh Giản năm xưa, sau nhiều năm xa cách, hai cuộc sống bây giờ thật cách biệt nhau sau cuộc chiến tương tàn, đã tạo cho Bảy Trung sự xúc cảm, nên thay vì kể tóm tắt, tự nhiên anh đã đưa tôi đến một câu chuyện khá thương tâm nghiêng hẳn về nhân vật Sáu Vọng ở trận đánh cuối cùng có anh ấy tham dự mà tôi muốn biết:

         “Trời sáng hẳn. Cầu Rạch Bần bây giờ đang nằm trong tầm đạn của khẩu đại liên 50 đặt tại lô cốt gác của Đại Đội 412 Vận tải. Lính phòng thủ ở đây dựa vào địa hình, đã ra sức khoá chặt hướng tiến công của chúng tôi vào thành phố. Tổ trinh sát và đội công tác nội thành của Tư Cầu đã vượt qua từ lúc trời còn mờ mờ, đến khi đơn vị chúng tôi chuẩn bị qua lộ thì khẩu đại liên xối xả nả đạn. Không một chiến sĩ nào vượt qua khỏi lằn đạn như mưa nầy. Có mấy đồng chí bị đạn, cố dùng sức còn lại để bò hẳn vào lề, tiếp tục sứ mạng tiến vào thành phố, nhưng đều đã hy sinh. Tiểu đội bảo vệ BCH của tôi và Sáu Vọng đang tiếp cận mặt đường. Đồng chí chỉ huy cấp trên truyền lệnh miệng cho tôi: “Hãy cảnh giác tối đa, lợi dụng thời cơ thuận lợi nhứt để vượt lộ”. Sáu Vọng kề tai tôi: “Hãy chậm qua lộ một chút, anh để tôi khoá miệng thằng“gà tre” nầy mới được!”. Tôi nói như ra lệnh.  “Đừng liều lĩnh!”. Thật ra lúc đó tôi và Sáu Vọng dù chức vụ và nhiệm vụ khác nhau, sống chết kề cận bên nhau trong đợt tấn công nầy.. Nếu Sáu Vọng quyết định “khoá miệng gà tre”, là nó sẽ thi hành một mình. Nhưng cấp chỉ huy bên trên có cho phép như vậy không? Kinh nghiệm cho thấy trong chiến đấu, những quyết định đột xuất thường mang hiệu quả tốt, nhưng trường hợp nầy có trái nghiêm lệnh lắm không? Nhiều điển hình nổi bật phẩm chất cao quý qua những hành động đột xuất như vậy… Tôi thấy Sáu Vọng như cương quyết, bởi qua tia mắt rực lửa của nó, tôi biết khó thể cản ngăn. Nó tháo ba-lô “con cóc” trao tôi và dặn: “Anh giữ hộ tôi. Có tập bản thảo trong đó. Nếu hoàn thành nhiệm vụ trận nầy, tôi tha hồ viết cho anh đọc…”. Nó còn căn dặn tôi: “Khi thằng gà tre câm họng, hoặc đã quay hướng tác xạ, đơn vị ta phải cấp tốc vượt qua lộ cho dứt điểm nghe!”. Tôi nắm chặt tay nó: “Nầy, cứ mang ba-lô vào, đừng nói điềm gở như vậy, phải theo đơn vị nghe!”. Có lẽ không muốn giằng co ở gây phút nầy, Sáu Vọng lại mang ba-lô lên lưng rồi thoát chạy vào đám nhà dân. Tôi truyền báo sự việc trên, một chút sau có lệnh: “Hãy chuẩn bị tư thế vượt lộ!”. Bỗng một tiếng nổ vang dội. Khẩu đại liên 50 đã quay hướng tác xạ vào khu nhà dân. Chúng tôi qua lộ ào ạt. Biết bị “gạt”, khẩu đại liên quay nòng trở lại, nhả đạn xối xả lên mặt đường quét ngang cầu Rạch Bần. Sáu Vọng đã lạc đơn vị, bởi nó không thể quay lại để cùng chúng tôi vượt lộ. Đơn vị chúng tôi tiến sâu vào khu vực sau hẻm Tài Xỉu rồi bọc qua khu Đại Học, vẫn không sao gặp được Sáu Vọng. Mãi sau nầy, có đồng chí ở cánh quân khác kể lại tôi nghe, thấy một chiến sĩ vượt lộ một mình, bị đạn lòi cả ruột, tay ôm đùm ruột, tay kia vẫn cầm khẩu AK cố bườn theo đồng đội. Anh chiến sĩ đến mé Rạch Bần thì kiệt sức, nằm nghiêng một bên đè túi ba-lô và khẩu súng. Đồng chí thấy bạn bị thương định chạy đến cõng nhưng không còn kịp nữa, anh chiến sĩ đó đã hy sinh. Những lời sau cùng, anh chiến sĩ trẻ thều thào: “cố chuyển giùm khẩu súng và túi-bản-thảo của tôi cho anh Bảy Trung…”. Sáu Vọng đã hy sinh như vậy. Nhưng vì đạn đại liên bắn “rát quá”, đồng chí kia đã không làm theo lời trăng trối đó, vụt bỏ chạy theo đơn vị phía trước. Và tập bản thảo đó không tới tay của tôi cho mãi đến bây giờ...

         Anh Bảy Trung ngừng kể. Tôi thấy cặp mắt anh hơi đỏ. Riêng tôi nghe có chút gì nghèn nghẹn từ trong hơi thở của mình. Rõ ràng trong tình huống gay go của chiến trận, đã nảy sanh biết bao tấm gương như Sáu Vọng. Chắc rằng, khi quyết định hành động, cái nhiệm vụ cao cả của mỗi chiến sĩ quyết tâm như Sáu Vọng khi đối mặt với làn tên mũi đạn, là nhìn tới cái chung, tới lợi ích không phải của riêng mình. Tôi hỏi anh Bảy Trung:

         - Anh Sáu Vọng trước kia có những nét nào nổi bật không anh?

         - Cũng có nhiều. Nhưng tánh nó rất khiêm nhường. Phần nhiều những công trận hay thành quả đạt được, nó đều bảo là của người nầy người kia. Chưa bao giờ nó nhìn nhận của riêng mình cả. Bởi vậy có bao giờ nó nhận lãnh việc khen thưởng đâu! Nó nói: “Vinh dự của đồng đội, của đơn vị, là vinh quang chung, cũng là vinh dự của chính mình, còn đòi hỏi gì hơn nữa?”.

         Anh Bảy Trung còn vui miệng kể thêm cho tôi nghe về cá tính của anh Sáu Vọng, đặc biệt về đời sống riêng. Sáu Vọng dù không là phóng viên báo chí chính thức, nhưng anh thích sáng tác thơ truyện những lúc rỗi rảnh mà thôi, được bổ sung vào đơn vị và ở chung với Bảy Trung. Bởi nhỏ tuổi hơn anh khá nhiều nên anh Bảy Trung khi kể đã dùng chữ “nó” để nói về Sáu Vọng. Tôi cũng đoán được điều đó nên không thắc mắc. Anh cho biết trên đường hành quân anh đều cầm khẩu AK, lưng lúc nào cũng mang “ba-lô con cóc”, mỗi khi dừng chân là Sáu Vọng lấy sổ tay ghi ghi chép chép, có khi còn phóng nét vẽ phác họa những hình ảnh anh ấy thích để lưu giữ trong tập bản thảo của mình. Anh em trong đơn vị thường đùa gọi Sáu Vọng là “phóng viên chiến trường”. Sáu Vọng không cải chính mà còn đùa: “Nếu được làm phóng viên chiến trường, tôi sẽ dùng ngòi viết của mình khi như nhả đạn của khẩu AK 47 nầy!”. Tôi cũng chưa hình dung nổi phương thức dùng ngòi bút như nhả đạn của Sáu Vọng ra sao, nhưng chắc chắn anh ấy có suy nghĩ táo bạo, một khi đã đề cập vấn đề gì là quyết định làm cho được, như anh đã từng thể hiện qua mảng sống đời mình mà hôm đó Bảy Trung đã vui miệng kể lại tôi nghe.

        

         Bản thảo truyện ngắn dở dang mà Sáu Vọng ghi trong sổ tay đã phác hoạ nhân vật Ba Hoàng, Sáu Tâm… nhất là Ba Hoàng đang ấp ủ một phương thức đánh giá đúng mức về một con người, chân dung một con người, khiến tôi đắn đo suy nghĩ. Tập bản thảo đáng lý được trao lại cho người bạn đồng đội là Bảy Trung theo như lời trăng trối của người viết trước khi chết, đã không đến được, mà nó lại là một chiến lợi phẩm của Tr. uý Trần Nghiên X. thu được trong trận chiến đầu năm Mậu Thân 1968 tại thành phố Cần Thơ, thay gì giao nạp cho an ninh để điều tra nghiên cứu thì bạn tôi lại trao tặng cho tôi. Cái may của tôi là có được nguồn bổ sung quý giá qua nhân vật Bảy Trung, cũng là bạn học cũ. Cả hai người bạn nầy chưa hề gặp và quen nhau, ngoại trừ tôi là bạn của hai người với một sự kiện hi hữu chưa chắc gì có được lần thứ hai trong đời.

         Thỉnh thoảng, tôi đọc đi đọc lại trang bản thảo viết dở dang nầy. Tôi thấy có cái gì đó chưa thật sự tròn vẹn. Nó nghèn nghẹn ở những dòng chữ cuối của trang viết. Nhưng sau lần gặp Bảy Trung, tôi lại càng ray rứt thêm. Bất chợt một hôm tôi đã nhớ lại và bắt gặp hình ảnh tác giả Sáu Vọng thật sâu, thật đậm nét. Phải chăng, anh Sáu Vọng là người đi tìm một chân dung cuộc sống trong khi chính anh đã hiện lên chân dung mà mình muốn đi tìm.

         Tôi thở dài khoan khoái khi vừa chớm nghĩ ra nhận xét vừa rồi. Tôi sẽ tìm gặp anh Bảy Trung và nói thật với anh ấy về suy nghĩ mới nhất của mình. Nhưng còn với anh bạn Tr. uý Trần Nghiên X., người đã tặng tôi tập bản thảo viết tay, vốn là một chiến lợi phẩm, bây giờ anh ở đâu? Còn sống ở một nơi nào đó? Trong trại tù cải tạo? Trong một quốc gia tạm dung? Hay anh đã nằm yên trong lòng đất mẹ ở những năm tháng sau cùng trước khi cuộc chiến kết thúc? Bởi vì, tập bản thảo viết tay nhặt được trong ba-lô của một cán binh VC trong tết Mậu Thân 1968, anh tặng tôi lúc còn chiến đấu trong Tiểu đoàn 4X. BĐQ; và sau lần tặng tôi tập bản thảo đó đến ngày CS cưỡng chiếm miền Nam cho đến khi tôi viết xong truyện ngắn nầy, tôi chưa hề gặp lại hay biết tin về anh – [người bạn cùng ở trọ tại nhà của Cô Sáu, số 6/1 hẻm 2A đường Pasteur thành phố Cần Thơ, để đi học năm xưa. Thời đi học anh đã yêu cô bạn gái tên Phương Lan ở hẻm Hai Địa, và hai người đã quyết định “giấu gia đình” để chung sống với nhau] –. Cách xa nhau đến mấy mươi năm rồi, nhưng tôi vẫn thầm nghĩ rằng anh Trần Nghiên X., vẫn còn sống, vẫn còn có dịp đọc bài viết nầy của tôi dù biết rằng đã quá muộn màng.

.

Cần Thơ, ngày 01 tháng 11 năm 1986

LÊ CẦN THƠ

ĐẦU ĐƯỜNG

 .  

truyện ngắn

LÊ CẦN THƠ

         Ông Trang có dịp về Cần Thơ ở chơi nhà bạn đã mười ngày. Thói quen của tuổi già, cứ vào khoảng đài truyền thanh thành phố vang lên bài tập thể dục là ông ra ban công tập mấy động tác buổi sáng, hít thở khí trời trong lành từ dòng sông Hậu thổi vào, mới đi làm vệ sinh thường lệ. Tuổi quá sáu mươi, ông Trang vẫn sống theo nề nếp nhất định cũng như những sáng tác của ông thể hiện qua từng trang bản thảo. Hôm mới về đây, tôi tình cờ được biết ông là một nhà văn lão thành, có một quá trình sáng tác bền bỉ và nhiều tác phẩm của ông được bạn đọc mến thích. Ông có tính cởi mở, dễ gây cảm tình với người tiếp chuyện nhờ nụ cười lúc nào cũng nở trên môi. Giọng nói nhỏ nhẹ chậm rãi rất dễ trao đổi tâm tình nhau trong các buổi mạn đàm thân mật.

         Lần thứ ba được tiếp xúc với ông Trang không phải tại phòng khách của nhà Diệp, mà chính tại ban công hướng ra con đường Phan Đình Phùng xe chạy một chiều. Ông Trang mặc áo khoác ngoài bởi dạo nầy buổi tối thường lạnh. Ông hút pip với chiếc bật lửa cũ kỹ. Trong túi ông cũng có chiếc bàn vấn thuốc nhỏ, tay vân vê từng sợi thuốc rồi se ra một điếu để châm lửa đốt, công việc trông thật nhàn hạ. Có lẽ ông hút thuốc chỉ theo thói quen chớ không phải ghiền – nếu có ghiền thì ông ghiền những động tác se vấn có tính nghệ thuật riêng mà thôi. Tôi vẫn chưa mạnh dạn như Diệp, ngồi nghe nhiều hơn nói. Diệp hỏi ông nhiều điều cần thiết trong kinh nghiệm viết văn. Diệp hỏi câu nào, ông trả lời câu đó, tôi chăm chú nghe bằng thích. Con đường Phan Đình Phùng buổi tối ánh điện vẫn không đủ sáng, xe cộ lúc này chạy thả ga không kể gì ngược chiều. Ông Trang thỉnh thoảng hướng mắt xuống lòng đường rồi nói “bà con ta chấp hành luật lệ giao thông chưa tốt. Đường có bảng lưu thông một chiều mà vẫn đi hai chiều, rối ren quá!”. Đúng như lời ông Trang nói. Con đường Phan Đình Phùng được qui định xe chạy một chiều từ trong thành phố ra ngoài, vậy mà các loại xe vẫn không đi đúng. Tôi nhớ có lần ngồi sửa xe tại góc ngã tư Ngô Quyền – Phan Đình Phùng, đã chứng kiến một tai nạn dù không chết người nhưng vẫn đáng nhớ. Hôm đó, một chiếc xe du lịch chạy chậm đúng chiều trên đường Phan Đình Phùng thì một chiếc xe đạp chở khách chạy ngược chiều, tốc độ nhanh và người lái kịp né chiếc Honda thì đâm vào hông xe du lịch. Cả hai trên xe đạp té nhào. Người ngồi sau là một người đàn ông lớn tuổi bị va đầu xuống mặt đường chảy máu. Người lái xe đạp là một cậu trai trên dưới mười bảy tuổi bị xây xát chút ít, nhưng chỗ chạm ở hông xe du lịch bị móp và cào tróc sơn một vệt. Một tai nạn như vậy giữa trung tâm thành phố chớp nhoáng đã đông nghẹt người hiếu kỳ đến xem. Khi phát hiện ra là cậu trai lái xe đạp đã trốn mất, bỏ lại chiếc xe đạp cong vành với ông khách đáng thương…

         Khi Ông Trang có nhận xét về đường một chiều, tôi mới có dịp góp thêm vào câu chuyện mà từ đầu tới giờ tôi vẫn ngồi im.

         - Chú à, dường như bà con ta chỉ chấp hành luật lệ giao thông theo giờ hành chánh mà thôi. Bởi vì giờ hành chánh mới có cảnh sát giao thông làm việc… Phần đông xe đạp và xe gắn máy vi phạm…

         - Mấy cậu không để ý. Chỉ mấy hôm đến đây, tôi thấy hai xe du lịch, một xe chở hàng và nhiều xe lôi cũng chạy ngược chiều. Không phải tránh giờ hành chánh, mà người lái xe chỉ tránh cảnh sát công lộ. Tình trạng nầy, nếu ai cũng vi phạm thì thành phố ta làm sao đẹp được? Người nước ngoài có dịp thấy sẽ cười cho…

         Ông Trang nói giọng bình thường nhưng tôi nghe có chút gì than phiền, trách móc. Bà con thành phố ta vẫn còn lơ là với việc chấp hành luật lệ giao thông mà không nghĩ đến hậu quả xảy ra? Phải chăng ngay trong chúng ta vẫn còn quá dễ dãi với chính bản thân mình mà không nhìn rộng, nhìn xa… trong sinh hoạt hàng ngày. Vi phạm luật giao thông như sử dụng xe không đúng chiều qui định, vượt đèn đỏ ở những ngã tư tạo cho thành phố mất đi an toàn trật tự, kém đi vẻ đẹp mà mọi người đang ra sức xây dựng và phát triển để ngày càng xinh xắn hơn. Diệp rót ba ly trà nóng bốc hơi thơm ngát. Trà nầy nó vừa đi Đà Lạt mua về đãi khách. “Chú Tư uống trà”, nó nói. Ông Trang với tay cầm tách trà xê dịch một chút rồi để yên. Ông chưa uống liền. Cũng với động tác nhỏ nhặt, nhưng ông Trang thể hiện thật khéo. Ông nói với chúng tôi:

         - Hôm qua cùng ông bạn cũ vào quán cà phê nằm trên đường Hoà Bình. Muốn uống một ly cà phê đen ở Cần Thơ xem mùi vị ra sao. Tôi uống cà phê mỗi ngày một “cử”, nhưng phải là cà phê thiệt. Cầm bình trà ra rót nước thì… bình trà lạnh tanh. Gọi mấy lượt, cô phục vụ mới đem ra một bình trà âm ấm… rót ra nước trắng dờ. Có lẽ cửa hàng tiết kiệm trà chăng? Tôi đành ngồi lặng yên không kêu hỏi gì nữa. Anh Đặng ngồi cạnh bên có lẽ theo dõi được nên gọi cô phục vụ lại “xin bình trà nóng”. Hai lần như vậy, mới được nghe cô trả lời “có rồi, còn xin gì nữa”. Tụi tôi đành gọi tính tiền và ra về. Tôi quay lại nhìn cửa hiệu, thấy đề “cửa hàng ăn uống giải khát Hợp Tác Xã số…”.

         - Chú ơi, dưới nầy khó tìm được cà phê nguyên chất lắm. Uống thì uống cho đỡ ghiền chớ ít ai đòi hỏi. Xin lỗi, tụi cháu không dám nói chú đòi hỏi đâu. Riết rồi cũng thành thói quen mà chú. Cũng như mỗi sáng chú thức sớm ra sân cử động vài thao tác thể dục vậy.

         Diệp nói ví von như vậy, ông Trang cười. Tôi muốn góp thêm với Diệp về “cà phê” nhưng chưa kịp thì nó nói:

         - Chú coi, chỉ có giá cả thôi, cũng thấy phiền. Cà phê đen có chỗ tính 80 xu, có chỗ 70 xu. Đều là cửa hàng ăn uống giải khát Hợp Tác Xã… Còn nhiều mặt hàng giá cả tuỳ tiện khác nữa. Tính ra, dù giá nào đi nữa thì người sử dụng cũng chịu thiệt bởi kỹ thuật pha chế của người đứng châm cà phê. Bực mình hơn cả, mỗi lần bước chân vô quán nào, vừa kéo ghế ngồi là người phục vụ đến hỏi “có tiền lẻ không?”. Chú biết, cũng tại “tiền lẻ” mà có dịp cháu gặp cảnh cãi vã to tiếng tại một cửa hàng lớn thành phố. Hai người khách ăn điểm tâm và phê sáng 13 đồng hai mươi xu, đưa tờ giấy 50 đồng, anh phục vụ cầm tiền trao cho cô ngồi thu ngân. Hai ông khách ngồi chờ đúng ba mươi phút không thấy ai nói gì, anh nhắc anh phục vụ, anh ấy nói “chưa đủ tiền thối”. Một lúc sau nhắc lại, anh phục vụ mới bảo kế toán ghi giấy thiếu và hẹn tối trở lại nhận. Có lẽ ngồi chờ lâu và thái độ phục vụ của người cửa hàng chưa tốt, cháu thấy một trong hai người khách bước đến quầy kế toán, yêu cầu ghi rõ giờ thiếu và giờ hẹn trả, nhưng cô kế toán không chịu ghi. Bấy giờ cháu nhìn đồng hồ, đúng 9 giờ sáng. Lời qua tiếng lại, cô phụ trách thu tiền đã đếm và thối lại cho ông khách đủ số tiền… Thì ra, vẫn có tiền mà không chịu thối lại thực khách, phục vụ như trên thật đáng trách.

         Ông Trang không phê phán mẩu chuyện của Diệp vừa kể. Mãi đến lúc nầy, ông mới cầm tách trà lên uống. “Nguội hơn ở cửa hàng HTX nọ phải không chú?”. Tôi vừa nói vừa cười. Ông Trang rít nhẹ một tẩu thuốc lá, phà khói rồi ngã lưng ra chiếc ghế dựa cũng cười theo. “Nguội nhưng vẫn đậm đà hương vị của trà Bảo Lộc”. Tôi với tay cầm bình rót vào tách ông một tuần trà nữa. Lúc nầy trà đậm đặc hơn, mùi thơm bốc lên ngào ngạt. Tôi nhìn Diệp “ông mua trà ngon thiệt”. Diệp nói “mua chui chớ ở ngoài không dễ gì có”. Thì ra, vẫn còn những hiện tượng tiêu cực, những việc làm khuất lấp quanh cuộc sống của chúng ta sao? Tại sao nhiều mặt hàng thiết yếu trong nhu cầu sử dụng của quần chúng không đạt phẩm chất cao, trong khi loại tốt lại ém nhẹm để bán chui, bán lậu? Nhất định cán bộ lãnh đạo của nhà nước phải thấy, phải biết. Đã thấy đã biết thì phải sửa sai, phải kiên quyết ngăn chận. Người dân chúng ta cũng phải có trách nhiệm góp sức tháo gỡ những khuất lấp nầy. Nhưng bằng cách nào? Bao giờ làm? Trong cuộc sống hôm nay, mỗi người trong chúng ta đều có trách nhiệm đóng góp công sức mình để làm sao ngày càng tươi đẹp hơn, trong sáng hơn!

         - Theo chú, trước những tiêu cực, chúng ta phải làm sao để góp công sức vào công cuộc xây dựng đất nước?

         - Câu hỏi thì khó trả lời chính xác. Nhưng khi đặt được câu hỏi là chính mấy cậu đã tự trả lời rồi. Có suy nghĩ, có thấy những vướng mắc tiêu cực là ta phải có hướng đi tới đúng. Mấy cậu có đồng ý vậy không?

         Nếu nói mặt tiêu cực thì quanh ta vẫn còn rất nhiều. Những mặt tiêu cực điển hình trong lưu thông phân phối, trong lao động sản xuất, trong cán bộ lãnh đạo nhà nước vẫn còn. Mỗi người trong chúng ta tự thấy và cùng nhau đóng góp ý kiến để tháo gỡ dần dần phải xong. Tôi có anh bạn hàng tuần về thành phố một lần để theo học lớp “bồi dưỡng cấp Đại Học”, có lần anh tâm sự:

         - Mình ít thời giờ, đi xe cần nhanh tới nơi, vậy mà từ Cần Thơ lên thành phố chưa đầy 170 cây số mất cả ngày, bởi phải ngồi trên một chiếc xe đò… hai phần ba là bạn hàng. Xe bán vé khởi hành tại bến bắc Bình Minh lúc 9 giờ sáng, mãi đến 10 giờ xe mới chịu rời bến chạy… và 16 giờ chiều mới vào xe cảng Miền Tây. Dọc đường ghé nhiều nơi để lên hàng gạo, đường đậu, hột vịt. Kiểm soát trạm Mỹ Thuận, Cái Bè, Tân Hương, mỗi chỗ mất cả tiếng đồng hồ, vì phải giải quyết số hàng đi buôn đó. Bạn hàng có người chịu đóng thuế, người không chịu, lên xe cãi nhau om sòm. Cứ mỗi lần đến gần trạm là họ gởi hàng phân tán, làm xáo trộn sự yên ổn của số hành khách còn lại. Việc nầy tài xế và lơ xe đều biết, đều được “ăn ý” thông qua. Nếu biết phải ngồi trên trên những chiếc xe nầỳ, thà mình lái xe đạp để đạp “tà tà” cũng sớm hơn!

         Quả là anh bạn nói có cường điệu ở phần cuối. Ai đời, đạp xe đi thành phố nhanh hơn xe đò bao giờ? Nhưng thực tế chiếc xe mà anh bạn tôi đi hôm đó trung bình chạy không quá 26 cây số một giờ! Đi xe đò, theo qui định, mỗi hành khách mua một vé được quyền cầm hành lý trên tay 7kg hay 10kg nhưng phải gọn gàng. Vậy mà khi bước lên xe, dù hành khách cầm món gì, kể cả xách tay đựng quần áo cá nhân, cũng được “xin tiền ba-ga”, không đưa không được. Có lần ngồi trên chiếc xe chở “thơ Bưu điện” được quyền “ưu tiên qua phà”, tôi chứng kiến câu chuyện nhỏ: có hai vợ chồng đi nhận hàng nước ngoài về cầm một chiếc máy cát-sét và một xách đồ, anh lơ đòi tiền cước “mười đồng tiền mới”, nhưng vào xe không có chỗ để hành lý, bởi “bạn hàng” đã chất đầy cả rồi. Có người đi cùng xe bảo mua thêm một vé hai mươi bảy đồng rưỡi mới có chỗ để, hai vợ chồng xuống phòng vé hỏi ý kiến và được giải quyết mua thêm một vé, bởi lúc nầy xe ít khách hơn trước. Như vậy, hai vợ chồng và xách đồ phải sử dụng ba vé xe. Khi đi nửa đường, anh lơ đòi tiền cước “mười lăm” chớ không phải “mười đồng”, anh chồng mới trình chiếc vé mua thêm nhưng anh ta nhất định không chịu. Anh ta nói, nếu biết phòng vé giải quyết kiểu ấy thì anh đem trả vé lại chớ không nhận. “Vé để người ngồi chớ đâu phải để đồ. Mới lãnh hàng nước ngoài thì tiền cước nầy có nhằm nhò gì”. Vợ chồng anh hành khách có lẽ không muốn cãi vã lôi thôi trên xe, đành trao cho anh lơ số tiền cước do anh ta tự đặt ra, bởi vì gói hành lý mà cả hai người và ba vé xe… chưa quá mười hai ký lô!  

         Thấy tôi ngồi im khá lâu, ông Trang hỏi khẽ:

         - Sao cậu Duy, có đồng ý như vậy không?

         - Cháu đang suy nghĩ đây. Đất nước đã hết chiến tranh hơn mười năm rồi mà nhà nước vừa tổ chức ăn mừng “mười năm giải phóng” thật lớn. Báo chí có đăng lời nhắc nhở toàn dân cùng lao vào mặt trận mới đầy gian nan, khó nhọc để xây dựng “xã hội chủ nghĩa” giàu đẹp hơn. Biết chắc sẽ còn có nhiều gian khó và thiếu sót, nhưng đâu phải lợi dụng hoàn cảnh khó khăn đó mà “đục nước béo cò” phải không chú Tư?

         Ông Trang gục gật đầu rồi tự tay rót ba ly nước khác có ý bảo chúng tôi cùng uống. Diệp vào trong nhà cầm ra gói thuốc lá Miền Tây, khui mời ông Trang:

         - Chú hút thử một điếu. Thuốc lá của xí nghiệp quốc doanh thành phố Cần Thơ sản xuất đó.

         Ông rút một điếu đưa sang tôi rồi lấy điếu thuốc khác bật lửa hút. Lần đầu tiên tôi mới thấy ông Trang hút thuốc “có cán”. Trông ông hút thật trầm tĩnh. “Của quốc doanh thành phố hả?”, ông hỏi. Tôi thêm vào “Thành phố Cần Thơ hiện có xí nghiệp quốc doanh thuốc lá với hai phân xưởng Miền Tây và Cần Thơ, sản xuất năm mặt hàng phục vụ”

         - Được lắm. Đó, các cậu thấy chưa, từng bước ta sẽ làm được nhiều mặt tốt. “Tự lực tự cường” mà. Ngoài các mặt hạn chế, tiêu cực, các cậu cần phải nhìn và thấy những mặt mạnh, mặt tích cực của ta trong công cuộc cải tạo và xây dựng đất nước. Chắc chắn mặt tiêu cực không thể lấn át mặt tích cực đâu. Trong cuộc sống của chúng ta lực lượng lao động chân chính phải đứng vào số đông, vào tập thể lớn mạnh. Đã lớn mạnh thì không thể chùn bước trước những trở ngại nào. Đường ta đi bây giờ có hé mở tương lai thì chúng ta phải tin tưởng bước đi. Các cậu yêu thích con đường văn học nghệ thuật, đó là điều đáng mừng. Nhưng theo con đường đó, các cậu phải gặp nhiều gai chông, thử thách… Các cậu phải sáng tạo sao cho những trang bài viết của mình đáp ứng được yêu cầu người đọc, yêu cầu phục vụ quần chúng lao động.    

         Diệp có lần nói với tôi, ông Trang viết bài rất kỹ. Ngoài nội dung tư tưởng phải giải quyết, ông luôn trau giồi, gọt dũa từng lời, từng câu. Bài đã đăng báo, ông cắt dán vào quyển sổ tay và cứ sửa chữa liên tục để tác phẩm ngày càng cô đọng, hoàn chỉnh hơn. Những trang bài viết của ông nếu có dịp được xem ta sẽ thấy cả một quá trình lao động của một người gắn bó với văn học nghệ thuật trên dưới bốn mươi năm. Tha thiết với lao động nghệ thuật, ông Trang là mẫu người thứ hai mà tôi bắt gặp: Ở thành phố Cần Thơ, cũng có một người hầu như gần trọn cuộc đời dành để sáng tác và sưu khảo văn học đáng cho tôi khâm phục, đó là ông Nguyễn. Vào những năm cuối thập kỷ 40 và đầu thập kỷ 50 của thế kỷ trước, các báo xuất bản ở  Hà Nội và Sài Gòn đã đăng tải nhiều bài viết có giá trị của ông Nguyễn… lúc đó ông mới vào tuổi mười tám hai mươi. Mấy truyện dài đăng liên tục trên các báo thời đó được bạn đọc yêu thích như Nghị Lực, Son Sắt Một Lòng, Cô Giáo Ánh, Một Chữ Đồng, Oan Tình, Gió Nghĩa Trăng Tình… Truyện dài Chim Việt Cành Nam và Chim Việt Về Nam trước khi xuất hiện đã được giới thiệu ngay trang nhứt của tờ báo với hàng chữ lớn liên tục mấy ngày. Ông Nguyễn còn dịch mấy bộ truyện Tàu, như Tế Điên Hoà Thượng; đặc biệt bộ Thủy Hử với lời bàn thật hấp dẫn người đọc. Sống trong một gia đình nghèo, lúc nghèo hơn cả “vợ chồng Tú Xương” ngày xưa nhưng ông Nguyễn viết rất hăng say. Mãi đến bây giờ tuổi quá sáu mươi ông vẫn miệt mài sáng tác. Đến nhà ông tôi muốn ngộp đi với những chồng bản thảo mỗi lúc một cao thêm, những tác phẩm biên khảo văn học dù chưa có dịp ra mắt bạn đọc nhưng chắc chắn công trình lao động nghệ thuật của ông sẽ để lại cho kho tàng văn học chúng ta những trang bài đắt giá, trong đó có hai bộ sách rất quý là Từ Điển Nhân Vật Lịch Sử Việt Nam và Từ Điển Nhân Vật Lịch Sử Trung Quốc mà ông đã dành nhiều thời gian biên soạn từ những năm 30 tuổi đến nay đã xong; bên cạnh có những bộ sách sưu khảo đầy tâm huyết như Gương Chí Sĩ, Gương Nghĩa Liệt, Gương Nữ Lưu, Cao Hiền Xử Sĩ, Giọt Lệ Chung Tình… và nhiều công trình quý hiếm khác nữa. Tất cả đều được sửa chữa hoàn tất và đã chép sạch từng bộ. Sức khoẻ ông Nguyễn rất yếu nhưng sức viết của ông Nguyễn tôi không lấy gì so sánh cho bằng… Mẫu người lao động nghệ thuật như ông Nguyễn, ông Trang đã nhân lên trong lòng tôi niềm tin cao đẹp.

         Có lẽ ông Trang không sao đoán được trong tâm tưởng tôi đang có sự suy nghĩ nầy, nên sau một lúc im lặng, ông đã kể cho chúng tôi nghe những mẫu chuyện vui, những kinh nghiệm sáng tác của các nhà văn tên tuổi trên thế giới. Ông cũng vui miệng kể lại những giai thoại chìm nổi của những người bạn “làng văn” cùng sống với ông qua những năm tháng làm báo ở Sài Gòn thời đệ nhất cộng hoà, thời chiến tranh lan tràn đất nước. Mỗi khi kể về một người đã khuất, ông thật trân trọng với giọng nói dường như chận hơn, nhỏ hơn. Tôi nghĩ, ông đang hình dung, đang cố nhớ lại từng khuôn mặt của đồng nghiệp mình. Bởi vậy, mỗi khi đề cập đến cách nhìn, cách nghĩ khi viết, ông thường phải “mạnh dạn đấu tranh những tiêu cực trong cuộc sống để có được một tương lai tươi sáng, một niềm hạnh phúc tròn vẹn. Làm được như vậy chúng ta mới trân trọng máu xương của tiền nhân có công dựng nước, của đồng bào, của người lính, của người cầm bút trong suốt quãng dài lịch sử kháng chiến đánh đuổi ngoại xâm, giành lại độc lập tự do cho đất nước…”.

         Không giống bất cứ một cuộc mạn đàm nào, hôm nay trên ban-công nhà Diệp chỉ vỏn vẹn ba người, đã diễn tiến không theo trình tự và chủ đề nào cả. Chúng tôi muốn gặp ông Trang tìm hiểu thêm một số kinh nghiệm mà ông đã trải qua để trang bị cho mình trên con đường muốn theo. Ông Trang với cương vị là người đi trước, giàu kinh nghiệm, từng bước chỉ vẽ cho chúng tôi những gì mà ông biết được. Tôi hiểu ông rất ngại nói chuyện trước đám đông, nhất là nói với danh nghĩa một ông thầy, nên buổi nói chuyện của chúng tôi có chiều thuận lợi lắm. Càng về đêm, tiết trời càng lạnh. Diệp vào trong hnà thay bình trà mới. Hương trà Bảo Lộc thơm dịu, thoang thoảng quanh đây. Ông Trang nhồi thuốc vào pip, bật lửa rít nhẹ một hơn. Khói thuốc bay tản mát trong khi ông cầm tách trà đưa lên miệng hớp một ngụm.

         Hai cậu có biết vì sao tôi đưa ra mấy nét tiêu cực hiện còn tồn tại như đi ngược chiều, như ở quán cà phê Hợp Tác Xã không? Đó chẳng qua là ý niệm mở đầu trong cách nhìn của người viết. Có những điều rất gần với chúng ta, thậm chí có chúng ta tham dự trong đó mà mình không biết, thì người viết phải nhạy bén phát hiện. Phát hiện được là ta phải tìm cách lý giải cho đúng, làm sao từng trang bài viết của mình có tác dụng tốt trong công cuộc xây dựng đất nước, con  người. Con đường Tự Đức ngày xưa bây giờ mang tên Lý Tự Trọng mở rộng thênh thang, cột điện hai bên chạy dài sáng rực, hàng cây con mới trồng chưa có tàn che bóng mát… nhưng chúng ta có thể hình dung gì về tương lai phát triển của thành phố? Chúng ta có thể nghĩ gì về quá khứ máu xương của con đường nầy? Sự suy nghĩ, trăn trở của người viết đòi hỏi phải làm việc liên tục không ngừng. Phải kịp thời níu bắt, những gì vừa phát hiện và nếu cần phải đi trước một bước, nhưng bước đi của chúng ta phải đúng quan điểm, phải hợp với lòng dân và đạo lý làm người. Có một thời những người viết văn làm báo chúng ta thường dùng hai chữ “viết lách” vì nếu không sẽ khó lọt qua hệ thống kiểm duyệt. Bây giờ chúng ta viết không cần lách. Chúng ta viết thẳng, viết thật, viết ngay mà không ngại ngùng lo sợ. Viết để đưa vào vườn hoa văn học nghệ thuật nước nhà nhiều hương sắc so với năm châu bốn biển. Đem lại những mầm, những nụ, những hoa xinh đẹp ngát hương, làm đẹp cuộc đời, đó là việc làm của người cầm viết. Các cậu nghĩ sao?

         - Thưa chú…

         Đột nhiên, tôi và Diệp cất tiếng cùng lúc nên không ai phát biểu tròn ý, sau câu “thưa chú”. Ông Trang cười rồi khoát tay ra hiệu để ông nói tiếp:

         - Hỏi thì hỏi vậy, tôi biết các cậu rất khó trả lời ngay được. Phải chăng vụ án “Nhân Văn giai phẩm”, “Cải Cách Ruộng Đất”ở miền Bắc, vụ “Tết Mậu Thân ở Huế và các tỉnh miền Nam” đang khơi dậy trong suy nghĩ các cậu thì phải?. Ai mà không cân nhắc câu trả lời, nhất là câu trả lời liên quan đến cả cuộc đời làm việc của mình. Trong cuộc hành trình phải có khởi điểm, cũng như trên mỗi tuyến đi phải có đầu đường. Đầu đường có thể là ngã ba, ngã tư… Đứng tại đầu đường, tùy theo sự bén nhạy mà ta chọn lối đi cho cuộc hành trình của mình. Chắc chắn, lối đi có sự lựa chọn đúng sẽ tới đích như mong muốn, nhanh hay chậm là do sức vóc, nghị lực bền bỉ của mỗi con người…

         Đúng như lời ông Trang nói, bây giờ cả tôi và Diệp đều là những người đang đứng ở đầu đường và đang bắt đầu tìm lối đúng để đi cho cả cuộc đời mình.

Cần Thơ, 01 tháng 01 năm 1986

LÊ CẦN THƠ

Enter supporting content here