|
 |
| |
TRUYỆN
◙ Nguyên Nhung_ _______________________________________________
Mùa Giáng Sinh ở San Antonio 
Bây giờ đã vào tháng Mười Hai. Trời
lạnh nhưng nắng vẫn mượt mà óng ả, trời càng trong càng
nắng lại càng lạnh, những hạt nắng như những viên thuỷ tinh
lung linh, xuyên qua tấm màn ren mỏng chiếu vào cây Giáng Sinh đặt
ở góc phòng. Cuối năm, dọn dẹp lại căn phòng nhỏ chất
đầy báo chí và sách vở, bỗng dưng tờ tạp chí “People”
nằm dưới chồng báo đập vào mắt tôi, để
chợt nhớ rằng đã được đọc một bài phóng sự
rất hay, viết về những đứa bé chào đời sau khi cha của chúng
nó là những người lính đã hy sinh ở chiến trường.
Đó
là câu chuyện của nước Mỹ, những đứa bé được
chào đời từ tinh trùng của người cha để lại, cất giữ
trong những ống nghiệm được đông lạnh. Để làm gì
thì không ai hiểu, nhưng đã làm cho tôi vô cùng xúc động,
khi nhìn thấy hình ảnh những đứa bé trai hay gái, giống y hệt
như hình ảnh người cha đã ra đi mãi mãi không bao giờ
trở về. Những người tình hay người vợ ấy đối với
tôi họ phải có một tấm lòng can đảm và một tình
yêu vô cùng mãnh liệt, khi dám chấp nhận hoàn cảnh cô
đơn và đóng vai người mẹ của đứa con không một
lần ân ái. Có thể trước khi ra đi người lính đã
linh cảm thấy được thân phận mình trong bối cảnh chiến tranh
“cổ lai chinh chiến kỷ nhân hồi”, nên anh ta đã để
lại cho người tình một chút hy vọng mong manh, kỷ vật vô gía
của tình yêu chân thật nếu như một ngày nào đó thân
xác ấy đã tan thành tro bụi.
Thế nhưng không
ngờ tôi lại chứng kiến một câu chuyện tương tự như vậy
xảy đến trong gia đình người chị bà con của tôi. Một
buổi chiều tháng Mười Hai mùa Giáng Sinh, cách đây khoảng
10 năm, trời đã xâm xẩm tối để sáng lên những ánh
đèn trang hoàng nhấp nháy từ hai dãy nhà trong xóm. Tiếng
chuông điện thoại reo và nghe giọng nói quen thuộc của chị từ
xa vọng đến: “ Merry Christmas”, sau câu chúc xã giao
chị vào đề ngay, giọng sũng đi vì buồn: “Có
rảnh không lên đây chơi với chị, buồn nẫu cả ruột, con
với cái” Tôi ngạc nhiên hỏi lại: “Chị
đang ở đâu, có chuyện gì thế? Giọng chị có
vẻ rời rạc: “Chị đang ở San Antonio, lên đây
lâu rồi, chăm sóc cho con bé sinh nở không có ai. Cả nhà giận
lắm, nhất là anh ấy đổ hết mọi thứ lên đầu chị
là đã cho con bé đi học xa. Không ai hỏi han gì tới nó,
nhưng chị thì không thể được, cháu sinh được 4 tháng
rồi nhưng cái buồn thì thấm tận gan phổi cả mẹ lẫn con.” Tôi
an ủi chị: “Chuyện ấy theo em không có gì quan trọng,
nhất là đối với giới trẻ ở bên này, chị liệu thu
xếp cho cháu hợp thức hoá là xong.” Chị tức tưởi
rồi oà lên khóc: “Nếu nghĩ như cô thì mọi
chuyện đã dễ giải quyết, cùng lắm thì mình muối mặt
với họ hàng bè bạn một ít lâu rồi cũng đâu vào
đấy. Đằng này, cha con bé không còn nữa, nó chết rồi,
rơi máy bay chết tận chiến trường Iraq. Con bé không có cha,
cha nó là một người lính, hai đứa học cùng trường
với nhau. Rồi nó nhập ngũ, cứ đi đi về về rồi để
lại cho con bé cái bào thai trong bụng mẹ, không hiểu sao con chị
nó ngu thế, học hành chưa xong mà đã làm mẹ, trời ơi
là trời!” Nghe chị rên rỉ khóc lóc, tôi hiểu
nỗi thất vọng trong lòng người mẹ đã kỳ vọng bao điều
tốt đẹp ở tương lai đưá con gái, chưa gì đã
chịu cành góa bụa. Thở dài vì câu chuyện không vui trong mùa Giáng Sinh, tôi hẹn với chị là sẽ
lên thăm chị ngay trong tuần lễ áp Lễ Giáng Sinh năm ấy.
Quá
giang một người quen đến San Antonio để thăm mẹ con chị. Trong lúc
chờ chị đến đón trước cổng thành Alamo, đối diện
với khu River Walk của thành phố được tiếng là xinh đẹp quyến
rũ nhất của tiểu bang Texas. Buổi chiều hôm ấy đèn hoa đã
nhấp nháy trên khắp các nẻo đường, hàng cây xồi lá
vẫn xanh biếc mặc dù tiết trời đông buốt lạnh. Tôi đưa
mắt quan sát xung quanh, chợt bắt gặp một người lính trẻ đang
ngồi nghỉ chân trên chiếc băng đá nhìn vu vơ vào các
cửa tiệm buôn nhấp nháy ánh đèn, vẻ tư lự của người
lính trẻ khiến tôi hình dung ra nỗi cô đơn của anh ta trong một
chiều mùa đông làm tôi chạnh lòng.
Tính
nhạy cảm khiến tôi có thể tưởng tượng ra đủ thứ
chuyện, ngầy ngật buồn vì hình ảnh người lính cô đơn
về phép ngồi trên ghế đá, cũng như có những buổi tối
trời mưa đi đâu về, tôi vẫn thương thầm cho người
cảnh sát phải làm nhiệm vụ của anh ta lái chiếc xe tuần cảnh
lẫm lũi đi vào những con đường vắng. Ở đó có bao
nhiêu nguy hiểm rình rập họ, bóng tối và sự ác thường
đồng loã với nhau làm cho cuộc sống đầy những bất trắc.
Chị
đón tôi với khuôn mặt hốc hác trong chiếc áo dạ xậm
màu, chiều đông lạnh lại càng lạnh hơn vì gió, gió
luồn vào tận xương mặc dù ở đây trời hiếm khi có
tuyết. Trên đường lái xe về nhà, chị kể thêm cho tôi
nghe về đứa con gái duy nhất của anh chị, hiện tại hay tương
lai đời nó chỉ là một màu xám xịt khi làm mẹ một
đưá con không cha. Tôi không đồng ý với chị về cách
suy nghĩ đó, chỉ đến khi bước vào căn chung cư nằm khá
xa thành phố, nhìn thấy đứa con gái của chị đang bế đứa
con xinh như một thiên thần nép đầu trên ngực mẹ nó, ánh
đèn nhấp nháy từ một cây Noel nhỏ đặt trên bàn, có
chân dung của người lính trẻ thì tự nhiên tôi cũng thấy
nghẹn ở ngực. Sự cảm động đến bất chợt khi nhìn ngắm
một hạnh phúc quá đớn đau, mà vẫn là hạnh phúc
vì vẻ đẹp thiên thần của đứa trẻ thơ, tương phản
với nổi u uẩn của mẹ nó và tấm hình của người cha
đã tử trận.
Cháu chào tôi với một
nụ cười gượng gạo trên đôi môi góa phụ còn ngây
thơ và nét xuân sắc tuổi trẻ, lòng tôi chùng xuống khi
tiến đến chìa tay để bế đứa bé vào lòng: “Chao
ơi! Cháu tôi xinh quá, con gái phải không?” Liếc
nhìn qua tấm hình người lính, con bé giống bố như đúc
ở mái tóc tơ vàng óng, nước da trắng hồng , riêng chỉ
đôi mắt màu nâu đen hơi buồn là của mẹ.
Chị ngồi xuống bên tôi, giọng buồn bã: “Vâng,
cháu con gái mai sau lại làm khổ mẹ, chị cũng muốn chết vì
mẹ con nó…” Tôi đưa mắt nhìn chị như
ra dấu không nên nói những lời dằn vặt ấy với đứa
con gái đang đau khổ của mình. Đứa bé nhìn tôi toét
miệng cười, bốn tháng tuổi mà nhìn nó bụ bẫm như
đứa sáu tháng. Chao ơi! Nụ cười ấy, ánh mắt ấy mới
chính thật là đôi mắt thiên thần, chính chị đang có
trong tay một thiên thần mà không cảm thấy được điều
ấy sao?
Buổi tối hôm đó không khí dường
như ấm cúng hắn lại vì sự có mặt của tôi. Bữa cơm
ngon hơn, đưá cháu gái đã tươi tỉnh hơn khi thấy
tôi luôn nựng nịu cháu bé với tất cả sự trìu mến
của một người có tính yêu trẻ con, và đứa bé đã
biết loi choi trong vòng tay của mẹ, nụ cười ánh mắt
ấy có tiền chắc gì đã mua được. Khuya hôm đó
tôi hơi khó ngủ vì suy nghĩ lung tung, ra tìm nước uống thì
đúng lúc đó tôi thấy hắt lên tường cái bóng
người mẹ ôm con trong đêm khuya, dưới ánh đèn ngủ mù
mờ căn phòng nhỏ. Cho mãi đến bây giờ hình ảnh ấy
vẫn y nguyên trong lòng tôi, tôi lặng người đứng nhìn phía
sau lưng của người mẹ xoã mái tóc mây, ôm đứa con
thơ trong lòng để ru ngủ khi đứa bé thức vào lúc nửa
đêm vì khát sữa. Giá như có cái máy chụp hình
tân kỳ như bây giờ để thu vào hình ảnh ấy, nó sẽ
là một bức ảnh giá trị hơn nhiều tuyệt phẩm khác mà
không cần phải có nhiều màu sắc rực rỡ.
Hình
ảnh ấy cũng làm tôi chạnh lòng khi nhớ đến thời chiến
tranh, đất nước tôi đã có biết bao nhiêu góa phụ tuổi
hai mươi ngồi ôm con trong nỗi cô đơn như vậy. Buổi sáng
mùa đông từ trong khung cửa sổ của căn chung cư, nhìn ra bên
ngoài hàng cây trơ trụi lá, vài con chim vẫn ríu rít tìm
mồi. Tôi tìm cách hỏi chuyện đứa cháu để hiểu nó
hơn, khác hẳn với tâm trạng buồn rầu của bà mẹ, tôi
thấy nó có vẻ bình thản và bằng lòng với kỷ vật
vô gía là đứa con xinh xắn trong vòng tay của mình, chính
tình yêu là một mãnh lực tuyệt vời để cháu bằng
lòng với hoàn cảnh.Khi chỉ có tôi và chị, tôi
đi thẳng vào vấn đề của đứa cháu gái tội nghiệp,
vì hiểu chị đang lúng túng chưa tìm được phương
cách nào dễ chịu hơn:
“Theo em, chuyện
của cháu không có vấn đề gì ghê gớm cả, ngọai trừ
nhà chị có thêm một đứa cháu dễ thương. Cứ xem như
đó chỉ là sự bồng bột của tuổi trẻ, mà không thể
nào nói là thiếu tình yêu vì cháu đã can đảm
cưu mang đứa con bé bỏng của mình. Xã hội này có rất
nhiều “ Single Mom” nhưng không phải người nào
cũng giống người nào. Một đứa bé chào đời ở xứ
sở này nếu cha mẹ không lo được thì nó cũng không
bị bỏ bê, vẫn có thể sống được nhờ sự giúp đỡ
của chính phủ, có phần ưu đãi nữa chị ạ. Cái chính
là anh chị phải gạt bỏ thành kiến cố chấp khi nghĩ con mình
là một đứa con hư, chị là người phải giơ đôi tay
ra cho cháu bám vào, nó sẽ đứng dậy, “Đáng phục
nhất của đời người là biết đứng dậy khi té ngã”,
câu này nằm trong mười bốn điều của đức Phật mà
em đọc được ở đâu đó chứ không phải của em.”
Một nụ cười tuy không tròn lắm nở trên
đôi môi héo hắt của chị: “Cô đi chùa từ khi
nào thế?”
Tôi cười to lên để trêu
chị: “Em không đi chùa và cũng không đi tìm
Phật ở chùa, nhưng em có cái duyên để những câu hay hay
lại bất chợt đến với em, và nó đã nằm lại để
tự nhiên biến thành triết lý Sống.”
Không
để chị nói thêm, tôi tiếp tục giải tỏa cho chị những
thành kiến khắt khe đã thấm vào tư tưởng hằng bao năm
nay:
“Chị cứ làm đi và sẽ thấy
kết quả của lời em nói, đừng sợ ai cười hay lên án
vì tuổi bảy mươi cũng chưa gọi là
lành, huống gì cháu còn quá trẻ. Sống chết với tình
yêu để có một kỷ niệm giữ lại trong đời đâu phải
là điều đáng khinh. Không ai chia cho mình được cái xui,
cái hên, hạnh phúc hay đau khổ chỉ có mình gánh chịu
thì mình cũng đừng sợ tiếng chì tiếng bấc của người
khác. Chị phải thuyết phục anh, giận hờn rồi cũng nguôi ngoai,
đớn đau bao nhiêu rồi cũng lắng xuống. Hai cháu trai trưởng
thành đã có gia đình riêng, chỉ còn anh chị thui thủi
vào ra ở nhà thì tại sao không mang cháu về, ông bà hủ
hỉ với cháu bé, săn sóc cháu cho mẹ nó trở lại trường
học. Em nghĩ sau lần này nó sẽ ý thức được bổn phận
trách nhiệm của một ngươi mẹ, cháu sẽ làm lại cuộc
đời tốt đẹp hơn”.
Hình như thấm
thiá với những lời phân giải của tôi, thái độ của
chị đối với con gái dễ chịu hẳn trong những ngày tôi ở
chơi với mẹ con chị. Cháu đẩy xe cho con đưa mẹ và khách
đi dạo phố, thăm một vòng các nơi như cổ thành Alamo rợp
bóng cây xanh, nơi ấy ngày xưa cũng là bãi chiến trường,
những ụ súng hay lô cốt xung quanh bức tường thành đã để
lại trong lịch sử nước Mỹ bao nhiêu trang giấy đánh đổi
bằng máu xương của người lính thời chiến tranh.
Chúng
tôi đi bộ trên bờ sông San Antonio River Walk, nó còn được
gọi là khu Paseo Del Rio, một khúc sông hẹp nhưng thơ mộng nhờ
những con đường lát đá ven bờ sông. Một bên vách đá
dựng đứng có dây leo chằng chịt, nhiều cây cầu bắc ngang
sông dành cho người đi bộ, đường đi lên lại chạy
thẳng vào những phố xá thương mại rất đông người
qua lại. Trên đường phố vẫn thấy nhiều bóng dáng những
người lính trẻ, vai mang ba lô, chắc họ lang thang chờ chuyến xe về
với gia đình trong những ngày Lễ đặc biệt , hay chờ chuyến
bay để ra một chiến trường nào đó không chừng. Những
khuôn mặt trai trẻ ấy lại gợi cho tôi nghĩ đến bố của
đứa bé tội nghiệp, ra đời mà không hề được nâng
niu trong đôi tay của bố.
Một thời gian sau tôi nghe chị
khoe đã thuyết phục được chồng để đem con và cháu
về lại Houston, tôi cũng mừng cho chị. Đứa con gái đã trở
lại trường tiếp tục học chuyên ngành và cuối cùng ra trường
với tấm bằng dược sĩ. Ngày con ra trường, nhìn thấy đứa
cháu bé bỏng ngày nào của mình tung tăng chạy đến trao
cho mẹ nó bó hoa hồng thật tươi thắm, tự nhiên chị bật
khóc. Mừng mà khóc, những đau khổ ngày nào trôi đi theo
dòng nước mắt, y như những gì tôi nói nếu những lúc
con cái vấp ngã, cha mẹ không giơ tay ra nâng dậy thì chắc kết
quả là đi luôn xuống vực thẳm. Đứa cháu bé bỏng ngày
nào tưởng là nỗi bất hạnh của mẹ nó nay là món
quà vô giá mà thượng đế đã ban cho gia đình. Anh
chị vui hẳn lên vì trong nhà đã có thêm tiếng cười
tiếng khóc con trẻ, con bé lớn lên càng ngày càng xinh đẹp
và dễ thương, chính nó đã mang niềm hạnh phúc vô
bờ bến cho tuổi gìa đỡ hiu quạnh.
* * * Cách đây hai năm cũng vào mùa Giáng Sinh, vợ chồng
bạn tôi từ Canada sang chơi, nhân dịp này tôi lại đến San
Antonio lần thứ hai vào mùa đẹp nhất trong năm. Đẹp bởi vì
ban ngày, River Walk giống như người con gái thanh xuân với vẻ xinh
tươi mơn mởn ngồi phơi nắng giữa ban trưa. Ban đêm, River Walk
vào mùa Giáng Sinh lại tăng thêm phần quyến rũ, nồng nàn
như một bông hồng đã khoe hết vẻ đẹp mãn khai của nó
dưới sương khuya.
Một tuần lễ trước
Giáng Sinh trời thật lạnh, dòng sông hẹp uốn quanh thành phố
bỗng trở nên huyển ảo tuyệt vời vì ánh đèn giăng
mắc khắp nơi, từ những quán cà phê, tiệm ăn, những “building”
nằm dọc theo hai bên bờ phản chiếu xuống mặt nước, y hệt
một bức tranh nhiều màu sắc rực rỡ. Chúng tôi co ro đi sát
vào nhau tìm hơi ấm, bờ sông thấp hơn mặt đường nên
ít gió, hầu hết hàng quán ven bờ sông vào mùa này
đều có những lò sưởi thiết bị như những cột đèn,
phả hơi ấm cho khách ngồi uống cà phê ngoài trời không
bị lạnh, người đi dạo cũng nhờ vậy cũng ấm áp được
đôi chút.
Người ta đốt những
ngọn nến lồng trong giấy hoa đặt trên những bệ đá hai bờ
sông, ánh nến lung linh phản chiếu xuống mặt nước xẫm màu
đẹp lạ lùng. Trời lạnh như cắt vào xương tuỷ mà
các đôi tình nhân vẫn ngồi sát vào nhau trong quán cà
phê thưởng thức nhạc Giáng Sinh, chưa kể có những quán
cà phê vài người nghệ sĩ đang chơi đàn guitar, những
bản nhạc Gíng Sinh qua tiếng đàn “guitar espagnol” vui tươi, réo
rắt, khách bộ hành đi qua không quên đặt vài
đồng lẻ thưởng cho ban nhạc đã cống hiến cho họ một
đêm vui.
Mọi người xuống thuyền đi dạo
phố đêm San Antonio, những chiếc thuyền hoa người chen nhau lên xuống.
Bạn tôi thì thầm: “Đâu thua gì Venise, nhất là
mùa này hình như còn có phần đẹp hơn nữa đấy.” Tôi chưa bao giờ tới Venise và chỉ thưởng thức trên phim ảnh,
nhưng quả thật San Antonio vẫn có gì gần gũi quyến luyến hơn
vì nó thuộc tiểu bang tôi đã sống gần hai mươi năm
nay. Càng về đêm, quán cà phê, quán ăn vẫn đông khách,
người đi thuyền vẫn kiên nhẫn chờ đợi. Thuyền nổ máy
tách bến rồi đi vào những khúc sông tối nhưng ánh đèn
từ hàng cây, nhà cửa hai bờ sông phản chiếu dưới lòng
sông lại rực rỡ như hội hoa đăng. Khi thuyền chạy qua một bến
sông gần nhà thờ, dòng nhạc Giáng Sinh do các em bé trình
diễn trên bờ vang vang những bản nhạc quen thuộc mùa Giáng
Sinh vọng tới, tiếng chuông leng keng đưa tâm hồn mọi
người trở về những mùa Noel trong cuộc đời.
Chắc hẳn mỗi người đang trôi nổi nỗi niềm riêng về những
mùa Noel trong dĩ vãng, tôi cũng thấy lại hình ảnh mình những
năm còn trẻ tuổi, tiếng hát trong trẻo tuổi thanh xuân vút lên
âm điệu “Đêm Thánh Vô Cùng” cùng với ca
đoàn thời đi học. Đêm thơm mùi hoa sứ, ngôi
thánh đường với những tiếng chuông ngân niềm hy vọng. Đêm
Noel của tuổi niên thiếu với tiếng đàn phong cầm trong ngôi nhà
thờ nhỏ, tâm hồn còn tinh khôi và đơn sơ như con chiên
non nằm trước máng cỏ.
Thế rồi tôi
lại miên man nhớ tới mùa Giáng Sinh ở San Antonio hơn mười năm
trước với gia đình người chị họ. Nụ cười hồn nhiên
của trẻ thơ đã làm ấm lại những trái tim buồn bã,
bây giờ họ đã tìm được hạnh phúc, khép lại
một quá khứ buồn rầu để có một tương lai sáng sủa.
Không biết đối với mọi người mùa Giáng Sinh ra sao, riêng
tôi, mùa Giáng Sinh ở tuổi nào vẫn đem lại màu xanh tươi
vui mà tâm hồn tôi luôn mở ra để đón nhận. Nguyên Nhung ( Mùa Giáng Sinh
2011)
Bà Cháu ... 
Trời đang mùa hè, mới xế trưa mà nắng
đã chói chang trên mảnh vườn sau, sân trước thuộc hướng
Đông nên còn tý bóng mát. Khung cửa sổ rộng được
che bằng cây hoa bông bụt trắng cao tới mái nhà, bên cạnh là
một cây hoa vàng cũng trổ hoa rực rỡ để bà nội Tý
anh, Tý em đôi khi tức cảnh sinh tình mà mần thơ ...con cóc.
Trưa chủ nhật nắng chưa gì đã
vội vã hắt cái nóng cháy da lên miền "đất nóng
tình sôi" này, báo hiệu một mùa hè khủng khiếp vì
nóng. Cái nóng ở đây rất giống ở quê nhà, vừa nóng
vừa ẩm nên khách từ phương xa đến sẽ tha hồ lau mồ hôi
rin rít trên người, vừa chắc lưỡi khâm phục người địa
phương sao giỏi chịu đựng cái lò lửa thiên nhiên suốt
một mùa hè dằng dặc.
Bà nội Tý anh dạo này hay ốm vặt, lười biếng chẳng ngó
ngàng gì đến cây cỏ, bỏ mặc mấy cái cây phía sân
trước tự vươn lên nhờ mưa nắng ơn Trời, thế mà chúng
nó cũng lớn lên sơi sởi mà chẳng hề trách móc chủ
nhân hững hờ với cỏ cây. Nắng ơi là nắng, đi chợ
về vừa bước xuống xe chưa vội vào nhà, bà đứng núp
dưới gốc cây bông bụt đang nở rộ những bông hoa trắng
ngà, tàn lá xanh làm dịu hẳn đi cái nóng của mùa hè
Texas. Hồi mới
mua nhà, vì mê cái sắc hoa màu trắng hơi ngà ngà như
màu áo lụa Hà Đông, nên bà đã tống khứ cây
trúc đào ra khỏi cái mảnh sân tý xíu ấy.
Những tưởng hoa bông bụt chỉ
be bé xinh xinh cao bằng cái hàng rào bông bụt ở quê nhà
mà thôi, ai ngờ đất lành cây tươi tốt, mưa ở Texas có
thể gọi là mưa bốn mùa, mùa nào cũng mưa được,
nhưng đặc biệt hai năm nay trời lại rất khô hạn. Những cơn
mưa đột ngột để bù trừ cho những cơn nóng nghiệt ngã
gần trăm độ. Cây bông bụt lớn như thổi vươn cao lên
tới mái nhà, lòa xòa phủ bóng cho cái khung cửa sổ , mới
đó mà đã 5 mùa bông trổ hoa. . .
Tý anh bây giờ đã đi học,
dịp hè nó được nghỉ ở nhà ba tháng tha hồ chơi,
thằng Tý em bụ bẫm ngày nào còn đứng trong cũi mơ màng
nhìn cây hoa chanh, nay cũng lon ton đi theo bà nội ra đứng dưới
bóng cây bông bụt. Bỗng bà nội tưởng mình lóa mắt
vì cái nắng ban trưa, khi thấy trên cây hoa bụt màu trắng treo
lơ lửng một bông hoa màu đỏ tươi roi rói. Mới đầu
bà tưởng có đứa nhỏ hàng xóm nghịch ngợm treo vào
đó bông hoa giả, nhưng dí mắt vào tận nơi bà mới
phát hiện ra chuyện lạ. Thế là bà kêu ầm lên:
" Giời ơi! sao lại có chuyện
lạ lùng thế nhỉ?"
Bà thét
cháu gọi ông nội đang lúi húi mở cửa "garage":
" Tý, nói ông nội lấy cái
máy chụp hình ra đây. Giời ơi! Phép lạ chứ không phải
đùa, không lẽ nhà mình sắp trúng số..."
Tý em còn ngọng nghịu lật đật
ra níu ông nội lôi gần rách cả áo, khiến ông bực mình
nhăn như cái bị:
" Ơ
hay! Bà cháu mày làm gì như bị khủng bố vậy?"
Bà rên lên như trời xập: " Ông ơi! Cái hoa màu đỏ ..."
" Màu đỏ thì đã sao?"
Bà lôi ông lại gần cây bông bụt cao nghệu, dí
đầu ông vào sát cái hoa màu đỏ: "Ông
đeo kính vào nhìn cho kỹ đây nè. Cái hoa màu đỏ
nở trên cây hoa bông bụt màu trắng. Thế, thế không phải
là phép lạ thì là gì?"
Ông bĩu môi: "Chuyện ấy là thường,
bà đi học chữ trả Thầy nên quên ráo trọi rồi. Môn
Vạn Vật năm đệ nhị có bài học cha mẹ là chuột trắng,
lấy nhau đẻ ra một đàn chuột 10 con, trong ấy lại lẫn vào
1 con chuột đen xì như cái mõm chó. Chẳng qua vì từ đời
cha ông cụ kỵ nhà chúng nó, đã có ông chuột trắng
đi tò tý với bà chuột đen nên sau này đến đời
cháu chít, nhớ nguồn xưa mà sản xuất ra được 1 tý
nhau màu đen đó mà..."
Bà giương cặp mắt toét ra nhìn ông: " Hừ ! Ông nói cũng có lý, nhưng giá như tôi
với ông ngày xưa là dân da vàng, bỗng nhiên thòi ra bố
thằng Tý mà lại da trắng mắt xanh thì ông có chịu được
không nào?"
Hai ông
bà lại sắp cãi nhau đây, Tý anh chạy vào nhà đã
lấy ra cái "digital camera" đưa cho ông nội: "
Ông nội chụp hình đi để Tý đem cho cô giáo và các
bạn cùng xem nghe ông nội."
Ôi! Cái thời tin học này thì chỉ lát nữa đóa
hoa bông bụt màu đỏ nhà bà nội Tý anh sẽ đi khắp
toàn cầu, nhưng trước hết thì phải có cuộc tranh luận giữa
" hai con khỉ già " cái đã. Ông nội bấm máy xoành
xoạch, hết kiểu xa rồi lại kiểu gần, bụi hoa vươn lên cao
hơn mái nhà nếu như mùa Đông năm vừa qua ông không
cắt trụi đi những cành to và khỏe thì nó còn muốn
vươn lên đến trời xanh.
Bà vẫn đứng vạch lá tìm hoa, nhất quyết tìm
ra chân lý dù ông đã cắt nghĩa:
" Tôi vẫn thấy nó vô lý làm sao ấy ông à.
Cả mấy tháng nay người mệt mỏi, tôi có thiết gì hoa với
lá, có chăm sóc cho nó đâu mà bảo rằng đã tưới
tắm một loại phân gì đó nên hoa mới đổi ra màu đỏ.
Nếu cả cây đều màu trắng pha đỏ thì mình còn dễ
hiểu đôi chút về cái sự pha giống mà người ta gọi
là "Hai, hai" gì đó..."
Ông kiên nhẫn giảng giải: " Khoa học
họ gọi là sự pha trộn Gene của 2 giống hoa vào nhau, tên khoa học
gọi là Hybrid, sự pha trộn này giống như ở nhà quê người
ta tháp cây này vào cây kia, lấy cành mãng cầu mà tháp
vào cây bình bát, cây sẽ khỏe và khi kết trái sẽ cho
trái nhiều và lớn hơn ..."
Bà ngắt lời ông: " Ăn trái
cây kiểu ấy thì thà đừng ăn cho xong, chẳng ngon lành gì
vì vẫn còn hương bình bát khai ngấy chua lè. Nhưng tôi
muốn nhắc ông quan sát kỹ cái cây hoa này rồi hãy nói
chuyện khoa học khoa hiếc dông dài có được không? Đây
nè! Cái cành này không phải cành lớn mọc từ dưới
đất lên nghe, nó chỉ là một cành nhỏ từ thân cây
mẹ, bao nhiêu hoa cùng một cành đều trắng, mà lại chen lẫn
bông hoa màu đỏ này, vậy ông cắt nghĩa cho tôi nghe xem có
êm lỗ tai không nào?"
Ông quả tình bối rối, dễ thường có phép lạ
thật, chẳng gì màu đỏ cũng là màu phục lâm, màu
của hỷ tín thì chắc nhà ông sắp phát tài đến nơi,
nhưng ông mấy khi tin vào những cái nhảm nhí ấy, nên cố
lấy một ví dụ khác để lung lạc cái đầu mê tín
của bà nội Tý anh Tý em: " Hà hà,
thời buổi này khoa học đã chứng minh được nhiều điều
mà các cụ xưa cho là chuyện lạ. Chuyện này nếu không
do con người làm thì cũng là sự tự tạo bởi thiên nhiên,
giống như bây giờ vì giá dầu xăng đắt đỏ, người
ta chế chiếc xe có thể vừa dùng Gas, vừa dùng Eletricity, miễn sao
xe chạy tốt là được, y như cây cỏ vậy thì sự lai
tạo cũng chỉ với mục đích làm dồi dào thực phẩm,
tạo thêm màu sắc tươi đẹp cho thiên nhiên ."
Bà gật gù nhưng vẫn không chịu
thua: " Tôi chỉ thắc mắc điều này là
cái cây mình trồng đã cho hoa 5 mùa rồi, toàn hoa trắng ngà
như áo lụa Hà Đông..."
Ông tủm tỉm cười ngắt ngang: "
Sư tử Hà Đông thì có..."
Bà lườm ông một cái thật dài, mắt đã
mù mờ nhưng cái đuôi mắt còn dài lắm: "
Hừ, ông chỉ muốn lạc đề đánh lận con đen. Này, trên
cùng một cành cây xuất phát từ thân cây mẹ, không thể
nào lại có sự pha trộn lầm lẫn như cách tháp cây của
các " home depot" thường làm. Cây nào cũng ghép dưới
đất hai ba gốc, đến chừng đem về trồng chẳng đứa nào
chịu đứa nào, cuối cùng ngỏm hết có đứa nào sống
được đâu. Đằng này cây nở 5 mùa hoa, không pha trộn
mà bỗng nhiên lại lòi ra một bông hoa đỏ nguyên si như thế
này, không lai một ly ông cụ nào thì bảo sao tôi chẳng nghi
ngờ..."
Ông đuối
lý gật gù.Bà cười lườm ông thêm một cái nữa,
trông vẫn tình ra phết. Bà lại thêm một cái thí dụ nữa
để bảo vệ lập trường của mình cho ăn chắc: " Tôi lấy giả dụ như có một cặp vợ chồng
da trắng, bỗng dưng bà vợ đẻ ra một đứa con đen xì,
liệu rằng ông chồng có tin rằng đây là sự hôn phối
của tổ tiên nhà bà ấy để cho ra đời một thằng bé
màu cà phê không? "
Ông nhẫn
nại tìm một hình ảnh cụ thể nữa để chứng minh cho hiện
tượng trắng đỏ của hoa, và đen trắng của loài người: " Bà có nhớ hồi xưa ở Việt Nam gia đình nhà
anh Luân cũng ở trong trường hợp này không? Chị ấy đẻ
ra một con bé xinh ơi là xinh, cái mặt hệt như bố nhưng nước
da trắng bóc, tóc lại vàng óng từng lọn như búp bê.
Ai cũng bảo con bé không lai Tây thì cũng lai Mỹ, nhưng thời buổi
ấy không còn Tây mà cũng chẳng còn Mỹ, ăn toàn bo bo chứ
có phải vì bơ sữa mà được mởn ra đâu. May là
con bé giống bố chứ không thì chị ấy cũng khó ở nổi
với mấy mụ giặc bên Ngô không bằng cô bên chồng. Sau này
con bé lớn dần lên, tóc nó lại từ từ xậm hơn rồi
đổi thành màu hung hung đen, lại trở về nguyên si cái gốc
Á Đông của nó, thế là thế nào, có phải phép lạ
không?"
Bà im lặng
ngẫm nghĩ : " Ừ, nhưng nghe nói chị ấy nhà
có dòng họ lai từ thời mấy ông cố Tây đi truyền đạo,
trong dòng họ đã có người lấy Tây rồi đẻ ra ông
nội chị ấy, mà phải đợi đến cái đời con của chị
hiếm hoi lắm mới ảnh hưởng cái giống tóc xanh mũi lõ nhà
ông cố ông sơ ở bên Tây. Thế nhưng lai gì thì lai, nó
vẫn giống cái mặt anh Luân, chứ đâu lại tuyền một màu
đỏ như cái bông bụt này..."
Ông đã ghi xong mấy tấm hình cho bà giữ làm "kỹ
nghệ", trời nóng đổ mồ hôi hột mà chỉ vì cái
bông hoa bụt đỏ lạ kỳ khiến ông bà quên cả nóng.
Ông bảo: " Bà vào nấu cơm cho tôi với
các cháu ăn đi, chả lẽ đứng đây phơi nắng mãi
nhỉ?"
* * *
Chiều đến, cơm nước xong, bà bắt Tý anh Tý em mỗi đứa
ăn một quả chuối to đùng, chỉ cái quả chuối thôi mà
trong nhà cũng đã khối chuyện để bàn bạc. Bà luôn
luôn lo lắng hai thằng cháu nội mất gốc quên nguồn cội , còn
ông thì cho là bà lẩm cẩm đầy tự ty mặc cảm, chỉ
lo chuyện con bò trắng răng. Chuối nào chẳng là chuối, chuối
xiêm, chuối tây, chuối tiêu, chuối ngự, chuối nào ông cháu
cũng xực tuốt, nhưng với bà thì hương vị vẫn khác nhau,
và ẩn dấu trong đó là cái cội nguồn của dân tộc.
Dù sao thì cũng đất nước người ta, xứ sở người
ta, đứng cách nào, cao hay thấp, giàu hay nghèo thì cái vỏ
của nó vẫn không thể hòa nhập vào nhau để trở thành
một. Đến lúc nào đó trong cuộc đời, các cháu bà
lớn lên sẽ tưởng nó hoàn toàn thuộc về xứ sở này
và quên mất nguồn cội của nó, nhưng chắc chắn cuộc đời
sẽ có lúc mở mắt cho nó nhìn ra điều khác biệt giữa
những cái vỏ chuối. . .
Tối đến,
ông nội ngồi xem tin tức trên truyền hình, Tý anh Tý em còn
đùa giỡn với cha mẹ trong phòng riêng, bà nội lại lên
ngồi lướt Net. Ôi! Thời buổi văn minh này mà không biết
lướt Net thì đời vô cùng "boring" như trăng tàn trên
hè phố, dù gì bà cũng có một số bạn thân phương
xa cùng trang lứa để tâm sự vụn. Như cái hình bông hoa
bụt đỏ này thì chắc chắn không thể nằm trong im lặng ở
cái sân trước nhà bà được, chỉ nội tối nay nó
sẽ bay đến bạn bè muôn phương. Trước tiên bà định
hỏi cái ông anh chuyên trồng cây cảnh, nhưng nghĩ thế nào
lại chợt nhớ ra cái Net Khoa Học, có sẵn bao nhiêu tài liệu
quý hiếm thì thế nào chẳng được một câu trả lời
hợp lý, chứ không lấp lửng như "con khỉ già" chỉ hay
nửa thực nửa đùa chọc vợ suốt mấy chục năm rồi.
Tức nhiên buổi sáng hôm sau, bà
nhận được rất nhiều "feedbacks" với những lời nửa đùa
nửa thực rất giống ông nhà bà không sai một ly. Người thì bảo tại bà không chịu thêm đất,
bón phân, tưới tắm đầy đủ nên có một bông hoa
"đỏ mặt tía tai" lên mà nhắc khéo bà nên tử
tế với cây cỏ một chút. Người thì văn chương đầu
óc tưởng tượng lênh láng, kết hợp một câu chuyện
tình ướt át , để hoa vì mặn tình mà bỗng đổi
sang màu đỏ. Người thì cám cảnh thế thái nhân tình,
tình đời đổi trắng thay đen nên nhân dịp này trách
hoa cũng khéo theo thời mà đổi từ màu trắng sang màu đỏ.
Người thì đổ thừa hoa bị nhiễm thể vì một hóa chất
nào đó, nhưng theo lý luận của bà thì nếu cây bị
nhiễm chất lạ, nó phải đổi màu nguyên cây chứ đâu
lại có mỗi một bông hoa.
Còn
bao nhiêu lời bàn Mao Tôn Cương rộn rã đem lại niềm vui cho
bà suốt mấy ngày mà đề tài xem tầm thường nhưng rất
lạ. Nào là màu đỏ là hỷ tín, đi mua vé số mau
kẻo hết. Nào là đi Casino lấy hên, kéo máy tiền vô như
nước. Nào là biết đâu sau hai thằng Tý anh và Tý em,
nhà lại sắp thêm cái " hĩm" để có nếp có tẻ
cho vui nhà vui cửa. Có lẽ bà cũng mong như thế thật, vì đời
bà đẻ toàn con trai, đến đời cháu lại vẫn toàn đựa
rựa, vì thế mà lúc nào Bà cũng được ưu tiên
theo lối Mỹ khi người ta xếp thứ tự: "Thứ nhất đàn bà,
thứ nhì trẻ con, thứ ba con chó Ki Ki, sau cùng mới đến cái
người quanh năm đi cày đóng thuế".
* * *
Thế mà qua hai mùa Đông khắc nghiệt thì cây bông
bụt cũng lăn ra chết. Chị ta ra đi để lại nỗi thương tiếc
vô bờ trong lòng chủ nhân, kể từ ngày đi từ Home Depot về
nhà đã mấy mùa cây trổ bông, hoa trắng hoa đỏ chen với
nhau trên một cành khiến khách khứa đến nhà chơi đều
phải bị hay nghe bà chủ nhà kể chuyện, lại còn dẫn nhau ra
chụp dăm bô hình làm kỹ nghệ nữa.
Cái bông đỏ đỏ ấy hình như ứng với nhà
bà nội Tý Anh Tý Em, trông đứng trông ngồi mãi trời cho
dòng họ cũng thòi ra được hai công chúa. Một cô nay gần
bốn tuổi thì đỏng đảnh hay làm duyên, còn một cô
bé tý mới được hơn 3 tháng mai sau có triển vọng làm
ca sĩ hát Opera.
Thôi thì
trời cũng bù đắp cho tý cháu gái để nhà có bông
có hoa cho vui, mai sau bố mẹ chúng nó được phước có người
đến cắt cỏ và sai vặt. Con cháu bé nhất nhà mà cũng
ham ăn nhất nhà, vì ham ăn nên càng ngày cô càng tròn
ra như cục bột, bà nội đặt cho cô cái hỗn danh là “Cô
Phán Cảnh” vì ngày xưa hồi bà còn bé cả nhà
cũng đặt cho bà danh hiệu “Bà Phán Cảnh”
Mới ba tháng rưỡi mà cô Phán tròn như hạt mít, cô
thích nói chuyện tâm tình, cười tý toét mà ngôn ngữ
thì chỉ cần u ơ là được rồi. Phiền nỗi cô lại
mang hai dòng máu Việt-Hoa trong người, gốc gác ông bà ngoại
cô từ khu Hồng Kông bên hông Chợ Lớn, sau năm 75 người Hoa
bị đánh tư sản mại bản và phải tìm đường chuồn
qua Hồng Kông rồi dông qua xứ Cờ Hoa lánh nạn. Hôm cô về
thăm bên ngoại, khi trở về chả hiểu đầu óc bị lộn xộn
“xí xô xí xào, ngộ tả nị sị” sao đó mà về
nhà bà nội cứ phải hỏi cô theo giọng Chợ Lớn:
“Nị quen cái tiếng Tàu “dzồi”
hở, quên tiếng Dziệt “dzồi” hở?”
Cô toét miệng cười ra chiều thông cảm, chứ “bà
bà” hay “phò phò” đối với cô không bằng cái
chai sữa. Nhưng bà nội thì nhất quyết phải đem ngôn ngữ
Việt, tiếng nói Việt vào đầu đứa cháu hai dòng máu,
vì vậy mà trong căn nhà vắng vẻ chỉ có hai bà cháu,
lúc nào cũng nghe “ầu ơ ví dầu cầu ván đóng đinh”,
đôi khi nổi hứng bà nội còn cho cháu nghe luôn cả vọng
cổ miền Nam, có “chiếu Cà Mau nhuộm màu tươi thắm”, qua màn tân nhạc
thì réo rắt “lòng mẹ bao la như biển Thái Bình...” Chắc
chắn là cô chẳng hiểu gì, nhưng âm điệu của câu hò
giọng hát mênh mang văn hoá dân tộc thế nào chẳng đi vào
lòng cháu, “mưa lâu ngày thấm đất” mà lỵ!
Tý Em là hiện thân của một
cậu bé rất tình cảm, lúc về chơi với ông bà nội
thấy cô em họ khát sữa cất giọng hét thất thanh như nhà
cháy, ông bà xưa bảo “con không khóc sao mẹ biết mà cho
bú” là nó báo động ngay:
“Bà nội, bà nội, “baby” đói bụng kìa”
Đúng thế thật, chẳng ai hiểu
bà bằng cháu và con bé chỉ gào thật to khi đói bụng
thôi, thế là vội vội vàng vàng, bà nội pha ngay một bình
sữa đem đến tận giường cho cô Phán: “Ôi,
cháu bà ngoan nào, nín đi kẻo mai sau lớn lên làm ca sĩ nó
mất giọng đi, cứ hét to thế lại ế chồng nữa đấy.”
“Cô Phán” xơi xong bình sữa
nín ngay, miệng lại cười toe toét. Trong đôi mắt bà nội
thì cô chính là một thiên thần, mà trong đôi mắt nhìn
chưa xa của cô Phán thì bà nội cũng là một bà tiên
. Thiên thần của trời cần có cánh để bay, nhưng thiên thần
của nhà bà thì không cần cánh cũng đủ sức bay vào
lòng người. Thật vậy, chẳng gì bằng “nắm tận tay, day tận
mặt” lúc đó mới cảm nhận được cái tình nó
mênh mông, bát ngát thế nào. Mỗi lúc “cô Phán”
cầm ngón tay “bà Phán” mà xiết chặt, đôi mắt đắm
đuối nhìn thì lúc đó đôi mắt mới thật sự là
cửa sổ của tâm hồn, không vờ vịt như mấy diễn viên
đóng phim tình cảm Hàn Quốc. Khi đói, đôi mắt của
“thiên thần không cánh” không tuôn ra những giọt lệ đài
trang, khóc thật tình, khóc hết hơi, khóc vì một nhu cầu thật
của con người , và bé thơ cũng biết cô đơn dù đôi
mắt chưa nhìn xa trông rộng, nhưng cũng biết đó ai là người
gần người xa, hít được mùi hương thương yêu tự
nhiên của ông, bà, cha, mẹ ...
Mỗi ngày dù bận bịu trông cháu nên bà nội
Tý Anh cũng đã không còn được hưởng cái thú
bách bộ sân trước vườn sau, nhưng hề gì, cô bé cứ
lớn phỗng lên thì bà nội đã tìm ra được môn
cử tạ hạng nặng mà bình thường bà nhấc không nổi.
“Một, hai, ba. bốn... Năm,
sáu, bảy, tám, chín, mười...”
Cứ vậy mà đếm, giơ cháu lên khỏi đầu cho
“thiên thần không cánh” bay chơi một phát vào không khí,
cháu cười sung sướng còn bà thì hai tay cũng có cái để
mà thể dục thể thao. Phụ nữ tuổi chập chờn sáu bó thường
mấy bà đã giữ được cho cái bắp thịt nó đứng
yên một chỗ, tỷ lệ với thời gian thì còn bao nhiêu thứ
đi theo kim đồng hồ chỉ sáu giờ, chứ nào phải cái bắp
tay lỏng lẻo. Tay nhờ vậy mà khoẻ, cứ cái đà này khi
đi dự tiệc, trong ánh đèn mập mờ bà vẫn có thể diện
áo hai dây hay hở nguyên một bờ vai chưa khảm xà cừ “thòng
thõng một mùa thu lá đổ”, hí hí hí ...
Chuyện “Bà Cháu” nói bao nhiêu cho hết đây nhỉ, nó
giống như một cuộn phim xem đi xem lại mà không chán. Ôm cháu
trong lòng mà nghĩ đến con, mỗi một giai đoạn trong đời người
hình ảnh người mẹ hay người bà gánh theo bao kỷ niệm. Hôm
trước trên đường lái xe đi chơi xa, một người quen tặng
cho ông bà cái CD để nghe về “oan gia nghiệp chướng”, không
biết vị thầy nào thuyết pháp về đề tài này nghe hấp
dẫn quá chừng. Cuộc đời đầy những oan gia, oan gia gần oan gia
xa, những cái gần như con cái cháu chít mà xoắn xít lấy
nghiệp thân mà không sao dứt bỏ được, lại còn thương
gần chết. Về nhà, cháu toét miệng cười, tay quơ chân đạp
muốn bà bế, bà thấy cái “oan gia” hình như chả nhằm
nhòi gì với niềm vui và hạnh phúc của tuổi già khi gần
gũi bên con, cháu. Oan gia thì oan gia, chiều hôm ấy khi ru cháu ngủ,
văn hoá Việt Nam lại thêm một câu ca dao mới:
“
Oan gia thì mặc oan gia Nhà mà không cháu
cái nhà buồn hiu Mặc ai xuôi ngược sớm
chiều Cháu bà là chút tình yêu tuổi
gìa”
Nguyên
Nhung ________________________________________________________________
 Năm nay, mùa thu hình như đến muộn ở
khắp nơi, tôi cũng có một chuyến đi tìm mùa thu phương
xa, nhưng nơi tôi đến, hai thành phố Ottawa và Montréal mọi năm
lá đã chuyển màu theo mùa thu, vẫn óng ả một màu xanh
cuối hạ. Trời chỉ hơi lành lạnh, nắng ấm vẫn reo vui trên
sân cỏ mượt, trong mấy ngày ở đây tôi lang thang leo đồi
chờ lá vàng mùa thu, nhưng cũng chỉ có chút heo may làm se
sắt lòng người phương xa.
Lần này là lần thứ hai tôi trở lại căn nhà ở Ottawa có
khung cửa sổ mở rộng, nhìn ra ngoài cảnh vật tự nhiên
thay cho một bức tranh bốn mùa. Phía sau nhà là mảnh vườn nhỏ,
cách với con đường xe chạy là một hàng rào dây leo
quấn quýt, vài cây thông xứ lạnh vẫn óng lên màu
xanh biêng biếc.
Tôi đi tìm mùa thu phương xa, Trời mới vào thu lá vàng chưa chín Vẫn biêng biếc một màu xanh cuối
hạ Nắng nghiêng nghiêng trên
bãi cỏ sau nhà
Ottawa là thủ đô và là thành phố lớn thứ tư của Canada và cũng là thành
phố lớn thứ nhì của tỉnh bang Ontario. Ottawa nằm trong thung lũng sông Ottawa phía bờ Đông
của tỉnh bang Ontario, cách Toronto 400 km về phía Đông Bắc và Montreal
190 km về phía Tây. Ottawa nằm trải dài theo bờ sông Ottawa, con sông
này ngăn cách tỉnh bang Ontario và Québec.
Tuy tiếng là thủ đô của một quốc gia, nhưng thành
phố Ottawa mới mẻ, bằng phẳng không núi non và không đẹp
bằng thành phố Québec , hay vùng ngoại ô của Mộng Lệ An. Đời
sống tương đối bình lặng và êm đềm, dân số không
đông đảo và phức tạp như ở Toronto và Montreal. Ở đây
mọi giao dịch đều sử dụng hai ngôn ngữ là tiếng Anh và
tiếng Pháp. Đây là lần thứ ba đến Ottawa, đã hai lần
được người nhà chở đi thăm viếng những công trình
được xây dựng theo lối cổ, như toà nhà Quốc Hội, Dinh
Toàn quyền Rideau, Toà Nhà Liên Bang. Gần đó có một vườn
hoa rất rộng trồng đủ loại hoa rất đẹp, khi tôi đến đây
trời đã sang thu, hoa không còn tươi tắn như mùa hè mà
vẫn đủ sức thu hút du khách ghé vào ghi lại những bức
ảnh kỷ niệm.
Vài ngày với gia đình ở Ottawa qua nhanh, chúng
tôi lên đường sang Mộng Lệ An thăm cô bạn thân, đây
cũng là lần thứ hai đến thành phố này và thú thật
là người phương xa thường luống cuống với hệ thống giao
thông ở Montréal. Hình như có những con đường người
ta sửa hoài mà vẫn chưa xong, từ muà hè năm 2008 đến nay
lúc nào xe cộ cũng ứ lại vì tắc nghẽn trong những giờ
cao điểm.
Mộng Lệ An đối với tôi hình như thân thiết hơn các
nơi khác của Canada mà tôi đã ghé qua, gắn bó bởi cái
tình của một tình bạn do văn chương mà có. Lần nào
đến thăm bạn,tôi cũng chạy ngay ra mảnh vườn sau nhà bạn,
mảnh vườn thật đẹp, cây chen hoa cứ như là muôn loài
kỳ hoa dị thảo ở đâu đâu đều tụ lại trong mảnh
vườn này, qua sự chăm sóc chu đáo của chủ nhân. Tuy đã
vào thu mà hoa vẫn nở rộ, những cành hoa tím ẻo lả thả
mình xuống rừng cúc vàng rực, toàn những màu sắc hoà
hợp lạ lùng để tạo cho bức tranh mùa thu thêm phần rực
rỡ. Mùa đông ở đây kéo dài với những tháng ngày
lạnh buốt, lại mưa nhiều, khi trời vào xuân sang hè, tuyết tan
thật nhanh và nước giữ lại trong đất cho hoa cứ thế mà
hối hả vươn lên xanh tươi lạ lùng, nhất là loại thông
xứ lạnh lá màu xanh bạc là vẻ đẹp khó tìm được
ở những vùng nhiệt đới.
. "Buổi sáng trong vườn
trời xanh đẹp quá Gió
mênh mang trên những ngọn thông gìa Tít trên cao nghe đất trời kể lể Chuyện cuộc đời và chuyện ở quanh ta"
Lần này chúng tôi không đi thăm lại những nơi đã đi
vào mùa hè năm 2008, nhưng có một nơi làm tôi nhớ mãi
đó là thành phố Québec khi chúng tôi đến thăm , thủ
phủ của tỉnh bang và cũng là thành phố du lịch có mùa
thu tuyệt vời với những rừng lá vàng lá đỏ. Nơi ấy
tôi đã gặp bức tượng chân dung cụ Nguyễn Trãi, trong một
chiều lang thang dưới cơn mưa, như những kẻ “tha hương ngộ
cố tri”, lòng lại bồi hồi một nỗi buồn không đâu khi
bất chợt thấy nhau nơi xứ lạ quê người:
. “Tàng
cây sũng nước trời thổi gió Người đến nơi đây tự thuở nào? Phải chăng đồng cảnh đời lưu lạc Mà mắt rưng buồn như ướt
mưa”
Chen lẫn những ngày nắng đẹp, Mộng Lệ An vẫn sũng
ướt trong mưa thu. Lần này Tiểu Thu cô bạn văn thân thiết
của tôi lại đưa khách đi hành hương hai địa điểm
tôn giáo, đó là Đền Thánh Giuse nơi mà nghe kể lại
nhiều người từ các nơi trên thế giới đổ về đây,
và họ đã nhận được nhiều phép lạ chữa lành
từ vị Thánh Cả của giáo hội Công Giáo. Trời hôm ấy
rất âm u nhưng không mưa, nhiều khách hành hương cầu nguyện
trong khu đền thờ cổ kính, đứng từ trên cao nhìn xuống phố
xá như chìm trong một màu xám ảm đạm. Ngày hôm sau nắng đẹp, người trong nhà
rủ nhau đi viếng chùa Đại Tòng Lâm, nằm cách Mộng Lệ
An khoảng hơn một giờ lái xe. Con đường đến chùa đi
ngang một thành phố núi tuyệt đẹp, mùa đông nơi đây đã thu hút
hằng nghìn người đến trượt tuyết, và khi mùa thu thực
sự đến thì những cánh rừng sẽ bao quanh ngôi chùa sẽ biến
thành bức tranh tuyệt tác của thiên nhiên.
Con đường
ngoằn nghoèo đưa đến ngôi chùa xa, đường trải nhựa
nhưng càng đi nhiều đoạn đường còn lổn nhổn
đất đá, tuy nhiên vẫn thu hút khách thập phương tìm
đến, trước để lạy Phật sau cũng là để ngoạn cảnh.
Thật vậy, tuy chùa còn đang xây dựng dở dang nhưng cảnh lại
đẹp như tranh vẽ, không khí tĩnh mịch của cửa Thiền trong
một ngày vắng vẻ, khiến tôi lan man nghĩ đến cảnh chùa Long
Giáng với tác phẩm “Hồn Bướm Mơ Tiên” của nhà
văn Khái Hưng trong “Tự Lực Văn Đoàn”. Bách, tùng,
thông, phong, núi, rừng tạo nên một phong cảnh hùng vĩ để
ngôi chùa nổi bật giữ thiên nhiên, chưa kể hồ nước
trong xanh lác đác hoa sen, hoa súng, ông trời lại còn in xuống đáy
hồ thăm thẳm những gợn mây trắng tầng tầng thì không còn
cảnh nào an tịnh hơn để lòng người càng lắng xuống. Hơn 10 ngày rong chơi rồi cũng trôi qua, mùa thu vẫn chưa đến
hay chỉ thả chút heo may thêm nỗi buồn vu vơ vào những tâm hồn
lãng mạn. Chuyến về, từ Ottawa máy bay phải ghé vào phi trường
O’ Hair ở Chicago để chuyển máy bay, tuy chờ đợi hơi lâu nhưng
chuyến trở về Houston, ông trời lại đãi ngộ cho một vầng
trăng bay theo, và chưa bao giờ tôi có cảm tưởng được
gần trăng như vậy.
Từ máy bay nhìn xuống,
thành phố Gió về đêm tuyệt đẹp chi chít ánh đèn
như cảnh bồng lai, đã nằm lại khi con tàu bay vút lên cao, lúc
ấy trên trời cao đã có một vầng trăng lơ lửng bay theo:
“Rồi tôi cũng về , về lại Houston Chuyến bay đêm có vầng trăng đưa đón Trời nhung thẫm, bóng trăng treo lồng
lộng Theo chuyến tàu đêm trăng
đón tôi về”
Trăng đêm ấy đẹp quá,
chưa phải đêm rằm mà trăng đã tròn như một cái
đĩa bạc, treo lơ lửng trên không gian bay theo về đến tận nhà.
Trong khung cửa nhỏ của con tàu, tôi ngoái nhìn ra vầng trăng bay theo mà cứ ngỡ trăng là người
bạn tri kỷ, đã đón tôi về dù không hề hò hẹn:
“Rất tình cờ Trăng chẳng nói đón đưa Trăng vẫn đến dù không lời hò hẹn Trăng chan chứa ân tình nơi
tôi đến Trăng thuỷ
chung theo từng bước tôi về”
Ánh trăng đêm
ấy dịu dàng tỏa ánh sáng dịu hiền xuống vạn vật, khiến
những dòng sông vạt rừng trở nên huyển mộng đẹp lạ
lùng. Trăng vẫn đi theo suốt chuyến bay dài, và tôi bỗng bật
cười khi hiểu rằng chỉ có con tàu chuyển động thôi, như
con người đi khắp nơi mà vầng trăng thì vẫn ở đó
chung thuỷ đợi chờ. Miên man nhìn trăng tôi lại nhớ đến
những người bạn mình vừa chia tay, cái tình ấy cũng đầy
như một vầng trăng, để khi tôi đến lúc tôi về, vẫn
mang theo cái tình ấm áp ấy.
Đêm hôm qua, phải rồi, đêm hôm qua đã bước qua tháng
Mười mới thấy gió chuyển mùa đem thu tới nơi tôi ở.
Lúc ấy khoảng nửa đêm về sáng tôi nghe tiếng chuông gió
reo leng keng ngoài giàn hoa ti gôn, và cánh cửa sau bật mở cho gió
thu ùa vào căn phòng ấm. Thế là mùa thu đã trở lại,
buổi sáng, khi ra vườn tôi đã thấy bao nhiêu lá khô rụng
đầy trên sân, mùa thu đã tới với khu vườn của tôi,
hay mùa thu đã tới trong tâm hồn tôi với những chiếc lá
rụng tấp vào nhau hò hẹn. Nhìn lá rụng, tôi bỗng dưng
nhớ đến mẹ tôi, ngày xưa ấy khi tuổi còn niên thiếu,
tôi vẫn thường theo mẹ ra vườn quét lá. Tiếng chổi tre xoèn
xoẹt trong mảnh vườn mà ở đấy có bao nhiêu lá tre, lá
xoài, lá ổi, mẹ tôi gom lại đốt thành tro rồi trộn chung
với đất, vun vào vườn rau, vườn đậu.
“Mảnh
vườn quê tỏa khói lúc chiều buông Là lúc ấy mẹ tôi đang đốt lá Khói lá chơi vơi hong đời vất vả Lấy tro tàn vun bón luống ngô
khoai”
Nhìn lớp lá khô màu tàn phai theo gió cuốn nằm
chất lên nhau ở một góc vườn, nghĩ về định luật
tuần hoàn của vũ trụ, những chiếc lá xanh, lá vàng, lá
đỏ rồi một ngày cũng sẽ thành những chiếc lá khô.
Khi hiểu được điều đó lòng tôi cảm thấy nhẹ tênh
khi nghĩ về sự Sinh Tử của con người và vạn vật:
“Ở quê người những chiều nắng thu phai
Nhìn xác lá rụng đầy trên mặt cỏ Rồi một mai những lá vàng, lá đỏ Cũng buồn hiu thành những chiếc
lá khô”
Thời gian qua nhanh, đã bao nhiêu mùa thu qua đi
trong cuộc đời, mẹ tôi đã khuất bóng từ lâu, hình
ảnh mẹ tôi mập mờ như chiếc lá khô, ẩn khuất trong đó là những chiếc lá xanh, lá vàng, lá vàng,
lá đỏ, những óng ả của cuộc đời sẽ có lúc
đổi màu để thành làn khói bay lên bầu trời miên
viễn:
“Như mẹ tôi đã về với hư vô Tựa làn khói bay lên trời vô tận Những mùa thu của đời người
rất ngắn Đến rồi
đi không trở lại bao giờ”
Mùa Thu là mùa của lá rụng,
ai cũng ngẩn ngơ nhìn cảnh tàn tạ của những chiếc lá khô
đã sống hết một đời của lá, rơi xuống và nằm
thinh lặng trên mặt cỏ. Riêng tôi, mỗi lần quét lá trong mảnh
vườn nhỏ của mình lòng vẫn bùi ngùi nhớ lại ngày
xưa, những buổi chiều xem mẹ vun lá và đốt lá trong vườn,
quà cho con chỉ là củ khoai nướng thơm lừng còn tươm mật
nóng hổi, có lẽ đã trở thành những kỷ niệm khó
quên thời niên thiếu. Nguyên Nhung ( Mùa Thu,
2011 ______________________________________________________________________________
Bức Tranh Thêu Bản Đồ Nước Mỹ ( phần 2)
Mỗi năm, gia đình tôi có thói quen sắp xếp thời
gian lấy “vacation” để đi thăm một ai đó trong thân tộc,
bạn bè ở một tiểu bang nào đó. Đa số người Việt
mới định cư sau này, qua đây đều dốc chí tạo dựng
sự nghiệp nên ít có chương trình “summer vacation” như người
bản xứ, đó cũng là thói quen của một dân tộc chăm
chỉ cần cù, sống ở đâu cũng chỉ muốn “an cư lạc
nghiệp” trước đã rồi hãy nghĩ đến chuyện đi đó
đây.
Chúng tôi quan
niệm khác. Làm việc quanh năm đã quá dài và mệt mỏi,
biết thế nào là đủ để nghỉ ngơi, chi bằng mình kết
hợp giữa làm việc và sự nghỉ ngơi cho quân bằng đời
sống, chả biết đời dài ngắn thế nào mà chờ đợi.
Trời cho đang có sức khoẻ, du lịch quanh nước Mỹ bằng cách
lái xe đỡ tốn kém mà lại biết nhiều, không gì bằng
rong ruổi đường xa, chỗ nào hay đẹp mình cứ tấp vào
xem qua, rồi lại lên xe chạy tiếp đến khi nào mệt thì …
nghỉ.
Muốn tiết kiệm
cho chuyến đi xa, tôi thường hay áp dụng kiểu “cơm nắm muối
vừng” ở quê mình, khi mọi người đã ngán ngẩm những
món “fast food” dọc đường nhiều chất béo, không thích
hợp lắm với khẩu vị người Việt. Chất trong xe là thùng
nước đá, chở theo vài món ăn làm sẵn, một keo đủ
loại rau dưa ngâm dấm thật quá quý cho nồi cơm điện mình
mang theo. Đến “motel”
nào cũng có chỗ cắm
điện, chỉ cần vo gạo nấu cơm một lát sau đã có nồi
cơm chín tới nóng hổi, ăn xong cả nhà phè ra nghỉ ngơi
đánh một giấc tới sáng, rồi từ giã cái nhà nghỉ
ven đường là lên đường gió bụi.
Lần này thêm một ông anh nhà binh bay từ Cali sang, chúng
tôi dự định đi Missouri thăm một anh cùng đơn vị với
anh tôi ngày xưa, cũng là hàng xóm của gia đình tôi ngày
trước. Nhất định phải đi không thể chần chờ được
nữa, vì người chúng tôi đi thăm đã bị ung thư phổi
thời kỳ cuối cùng, còn rất ít thời gian để nhìn thấy
nhau trong cõi ta bà này.
Nhìn
bức tranh thêu của bà Laura thì hai tiểu bang Texas và Missouri chỉ cách nhau bởi một anh hàng xóm là tiểu bang Arkansas.
Bà Laura khéo chọn màu chỉ thêu cho các tiểu bang, một đường
chỉ màu xanh mỏng mảnh khiến người ta lầm tưởng chỉ cách
nhau bằng cái giậu mùng tơi xanh rờn. Thực ra đường xa vạn
dặm đó bạn ơi, xe chỉ nghỉ ngơi cầm chừng cho đỡ nóng
máy, chúng tôi chọn đường tắt để đi sớm đến
sớm, vậy mà khi tới được nhà anh kia cũng đã khoảng
9 giờ đêm.
Vì chuyến đi
chỉ từ sáng đến tối chạy nhanh là có thể đến nơi,
nên hôm ấy tôi không phải mang cơm theo. Bắt đầu từ đường
59, cũng đi theo con đường về Dallas nhưng không đi qua thành phố
này, xuyên qua tiểu bang Arkansas
với con đường xa có
nhiều cánh rừng tiếp nối nhau. Những con đường thiên lý
vắng bóng nhà cửa nhưng vẻ đẹp cuả thiên nhiên thật
tuyệt vời, thỉnh thoảng chúng tôi gặp một thị trấn nhỏ,
nhấp nhô những con dốc cao thấp ngoằn nghoèo mà đường xá
lại rất phẳng phiu, chứng tỏ hệ thống giao thông của nước
Mỹ rất quy mô, người dân dù sống ở nơi xa xôi vẫn được
hưởng những phương tiện khá đầy đủ.
Ven đường khi rừng thông, lúc vườn táo, mùa này Apple Blosssom đang nở hoa, gọi là rừng cũng được vì ôi chao! những
chùm hoa xinh xinh màu hồng phấn hay như màu hoa mận trắng, cánh
nhỏ như hoa đào hay hoa mai đơn ở quê nhà xúm xít trên
cành lá xanh biêng biếc. Apple Blossom là loại hoa đặc trưng của tiểu
bang Askansas, hằng năm người dân ở đây thường tổ
chức “Apple Blossom Festival” để mừng mùa xuân nắng ấm, thay
cho những tháng mùa đông lạnh giá. Táo cũng mang lại nguồn
lợi nhuận đáng kể cho tiểu bang Askansas, cùng một nguồn lợi
nhuận khác là gỗ. Đoạn đường rừng này tuy vắng vẻ
nhưng đã cho du khách nhìn thấy nền kinh tế của tiểu bang, những
chuyến xe chở gỗ dài thoòng liên tiếp trên những con dốc nhấp
nhô, khiến tài xế những chiếc xe nhỏ chạy đường trường
hồi hộp không ít, lỡ như những sợi dây cáp ràng gỗ
kia bị đứt và gỗ lăn xuống đường …. Người đi
xa luôn chỉ mong “ thượng lộ bình an” , đi đến nơi về
đến chốn, du lịch luôn cho ta mở rộng tầm nhìn, nhưng cũng
phải cộng, trừ, nhân, chia với số mệnh.
Mãi 9 giờ tối mới mò ra được nhà anh chị, anh
trở bệnh đã vào nằm nhà thương mấy hôm nay, chị bảo
con trông bố trong nhà thương rồi mau mau về nhà lo cơm đãi
khách. Chị thật là một người phụ nữ xinh đẹp nhân
hậu hiếm có, hồi quen anh chị mới 16 tuổi, nhà trường tổ
chức Cây Mùa Xuân thăm chiến sĩ tiền đồn, anh hướng dẫn
phái đoàn rồi cảm mến cô nữ sinh thuỳ mị xinh đẹp.
Năm chị 18 tuổi thì anh rước chị về xây tổ uyên ương.
Sau năm 75, anh đi tù chị ở nhà rau cháo nuôi con, tiếp tế thăm
nuôi chồng đầy đủ, nay trời bắt anh mang bệnh ngặt nghèo,
chị mang tấm thân cò lả yếu đuối chăm sóc trọn tình
trọn nghĩa.
Sáng hôm sau mọi
người kéo nhau vào nhà thương thăm anh, có đến hơn 30
năm mới gặp lại, anh xanh xao nằm trên giường bệnh phải thở
bằng oxy. Gặp lại anh em tình chiến hữu năm xưa sống lại khiến
anh cảm động rưng rưng nước mắt, anh thì thào nắm tay từng
người:
“Gặp lại em
anh mừng lắm, vẫn nhớ cô em hàng xóm có hai lúm đồng
tiền. Chắc anh không sống bao lâu nữa …”
Anh nghẹn lời, mọi người cũng im lặng dằn xuống nỗi
xúc cảm. Xum họp nào rồi cũng phải phân ly, anh chưa chết được
ngay, để rồi lại li bì chìm trong những cơn mê vì đau đớn,
chiếc áo cũ đầy mụn vá chắc rồi cũng sẽ rách toang
ra để linh hồn bay về miền miên viễn. Buồn thật đó nhưng
tôi cho rằng Chết cũng là một giải thoát:
“
Lá ơi! Khi lá mới vừa trổ Là biết hôm nào
lá sẽ rơi.” ( thơ NN)
Ngày hôm sau, khách phương xa ở thêm một ngày nữa thăm dân
cho biết sự tình. Missouri không có gì đặc biệt ngoài
những hồ nước bao quanh bằng những cây Hawthorn tàn lớn
nở hoa trắng, hoa cánh nhỏ kết từng chùm đính lên thân
cây, nhà thoai thoải theo đường đồi nên cảnh khá nên
thơ. Chị đưa khách đi chơi một vòng quanh phố, cho biết thêm
về loại cây này, vào đầu thu hoa kết trái và đến
cuối thu thì trái đã chín đỏ.
Hôm sau nữa mọi người giã biệt nhau để ra về.
Nhìn lại lần nữa căn nhà nhỏ chênh vênh trên
ngọn đồi thấp, trước sân nhà hoa Hawthorn vẫn nở, căn nhà
tạo dựng bằng mồ hôi của hai vợ chồng từ khi vợ chồng dắt
díu nhau sang Mỹ làm lại sự nghiệp. Mai đây một ngày nào
đó anh sẽ “đi”, chị ở lại một mình, căn phòng
nhỏ có bàn thờ Phật mà mới sáng tinh sương, đã nghe
tiếng chuông tiếng mõ dội vào lòng người một sự bình
an nhưng lại rất u uẩn. Thương chị quá, cô nữ sinh trẻ đẹp
ngày nào nay sắp sửa thành goá phụ cô đơn ….
Chuyến về chúng tôi quyết định
chọn đường xuyên bang xe cộ dập dìu, và cũng phải ghé
vào Wichita thuộc tiểu bang Kansas thăm gia đình ông chú mới định
cư ở Mỹ được ít lâu. Ông anh “nhà binh” đồng
hành bây giờ cũng nhát gan sợ mấy chuyến xe thồ gỗ kềnh
càng như con voi, nên rất hoan nghênh ý kiến đi tà tà rồi
ghé qua Kansas cho biết thêm một tiểu bang nữa của Hiệp
Chủng Quốc Hoa Kỳ.
Kansas
nằm về phía tay phải của đường xuyên bang từ Missouri về
Texas, nên khoảng trưa là xe đã rẽ phải để vào Wichita, một thành phố lớn cuả tiểu bang Kansas. Trên cánh đồng
hoa mặt trời đầu mùa đang trổ hoa, màu vàng rực chạy dài
trên những cánh đồng cỏ, dẫn chúng tôi đến xứ sở
tổ tiên của người da đỏ, đi theo những con đường rừng
đã thấp thoáng thấy vài biểu tượng di sản cuả dân
da đỏ hiện diện đó đây.
Sunny Flower là loại hoa tiêu
biểu của tiểu bang Kansas, nhìn toàn diện Wichita như
một bình nguyên rộng lớn, nằm về hướng Nam trung tâm Kansas, có
dòng Arkansas River chảy qua . Nơi đây có bản doanh của hãng
máy bay Boeng nên đã cung cấp nhiều công ăn việc làm
cho dân địa phương.
Tìm
mãi mới tới được nhà người bà con, đường xá
vắng vẻ tĩnh mịch, thành phố nhằm ngày chủ nhật tất cả
các tiệm đều đóng cửa, khiến phố xá nhiều chỗ buồn
thiu buồn chảy. Mấy cô em
con ông chú còn bé, vừa bỏ Sài Gòn nhộn nhịp đông
vui, sang đây cứ than buồn như bọng. Nhưng thực sự vì nơi đây
mang không khí tỉnh nhỏ êm đềm mà các em có thể học
hành được, ít đua đòi ăn chơi hơn những nơi khác.
Giờ rảnh, mẹ con xúm nhau lại trồng rau ở mảnh sân rộng sau nhà,
những đọt bí rợ xanh rờn bò tràn lan khắp sân. Chiều hôm
đó khách phương xa cũng chỉ ao ước được ăn bữa
cơm có món đọt bí xào tỏi mùi vị quê hương,
các cụ mình thì “thịt cá hương hoa, dưa cà căn bản”,
nhưng muốn tìm được cái hương quê này cũng phải
“trần thân khoai củ” nên rất quý hiếm, thịt cá chẳng
làm sao sánh được.
Ăn
cơm xong, cả nhà lái xe thăm thành phố và ra bờ sông hóng
gió. Dòng sông chảy qua thành phố không rộng lắm, băng qua một
nhịp cầu mà hai bên bờ có đường đi như trong công viên.
Vắng,cảm tưởng của tôi thì đây là một thành phố
buồn, ngoại ô có nhiều đài kỷ niệm dấu vết một thời
của người da đỏ như cối đá, cung tên, cuộc sống du mục
săn bắt cá và thú rừng, cánh đồng bắp, rừng hoang vu.
Lâu ngày quá tôi không nhớ rõ, nhưng nếp sống ở đây
thích hợp cho những người cao niên thích sự yên tịnh, còn
lớp trẻ thì vẫn háo hức một ngày nào đó chuyển
về những thành phố lớn để lập nghiệp.
Ngày hôm sau chúng tôi lại chia tay với người thân
để về lại Houston, hứa hẹn sẽ có ngày tái ngộ, bà
thím chu đáo lại bắt gói theo cơm gà để ăn đường.
Đa số phụ nữ Việt Nam nào lớn tuổi một chút cũng tính
toán chu đáo như vậy, bà con sống ở Mỹ lâu có cười
thì hở mười cái răng, chúng tôi sinh ra đã quen với hạt
cơm như hạt ngọc nên có hộp cơm dằn bụng vẫn thấy ấm
lòng hơn “hamburger”.
Trước khi bước vào ranh giới của tiểu bang TX thì phải ghé
qua tiểu bang Oklahoma một chút cho bõ công khăn gói đường
xa. Điểm dừng chân của chúng tôi hôm ấy là Oklahoma Bombing Memorial, nơi tưởng niệm những người đã chết vì một
quả bom phá xập cơ quan làm việc chính phủ ngày 19 tháng 4 năm 1995, giết chết 168
người trong đó có 19 trẻ em dưới 6 tuổi được cha mẹ
gửi trong “Day Care” nằm trong tòa nhà này.
Tuy không phải là mùa đông, nhưng được biết
Oklahoma có một loại hoa mang tên Mistletoe
tiêu biểu cho tiểu bang,
khi chưa nở hoa giống như những trái trân châu trắng nuốt như
hạt ngọc suốt từ mùa thu sang đông. Dân địa phương dùng
để trang hoàng cây Giáng Sinh vì vẻ đẹp kỳ diệu của
hoa toả sáng trên cành lá xanh biếc, đem niềm hy vọng cho mỗi
nhà khi mùa Đông cũng là mùa khắc nghiệt nhất của tiểu
bang Oklahoma, những trận bão tuyết phủ một màn băng giá làm
tê liệt hầu hết những sinh hoạt của đời sống người dân
tại đây.
Những tiểu bang
thuộc miền Trung nước Mỹ không có núi cao, nhiều ngọn đồi
thấp nhấp nhô trên những cánh đồng cỏ mênh mông, người
dân ở đây phát triển về chăn nuôi và trồng
tỉa, đời sống bình lặng hơn những thành phố lớn như
Dallas hay Houston. Nhưng ác nghiệt thay, đây cũng là những tiểu bang
chông chênh giữa hai miền Nam Bắc, nên thời tiết cũng rất khắc
nghiệt, mùa hè nóng nhưng đến mùa đông tuyết phủ
trắng xoá, lại hay có bão tuyết, chưa kể những cơn lốc
xoáy dữ dội tàn phá nhiều thành phố cũng như làng mạc.
Nhìn vào tấm tranh thêu bản
đồ nước Mỹ của bà Laura, tuy chỉ vỏn vẹn bằng bàn
tay xoè ra mà sao rộng lớn vô ngần. Tôi lại nghĩ đến một
đoạn trong “Tây Du Ký”, Tôn Hành Gỉa ỷ tài
giỏi hoá phép thần thông đi cùng khắp bốn phương trời,
nhưng con khỉ dù nhảy nhót tới đâu cũng lại thấy mình
bé tý teo nằm gọn trong bàn tay 5 ngón xoè ra của Đức Phật.
Một câu chuyện hay để ngẫm nghĩ, đi khắp càn khôn nhưng
cuối cùng một ngày ai cũng phải trở về tro bụi, nằm yên
nghỉ dưới ba tấc đất phù du. Những có những không trên
chặng đường tôi đã đi qua, kể cả con người thì
cũng chỉ như trò biến ảo của tạo hóa:
“Một
ngày. Sắc sắc không không Nhìn quanh mới biết đời
không có gì” ( thơ NN)
Kỳ tới, những tiểu bang miền Đông Bắc Hoa Kỳ Nguyên Nhung
Bức Tranh Thêu Bản Đồ Nước Mỹ
(Phần
1)
Truyện
Nguyên Nhung
Tôi
chắc chắn là mình phải có duyên với bà Laura vì bức
tranh thêu bản đồ nước Mỹ của bà, hiện đang treo ở phòng
khách nhà tôi. Tấm tranh nằm trên bức tường ngang của phòng
ngoài, đập ngay vào mắt khách ghé thăm, nên ai cũng không
khỏi dứng lại nhìn một chốc. Dù rằng bề ngoài bức tranh
trông có vẻ tầm thường thiệt đó nhưng đối
với tôi quả là rất đẹp.
Nắng tháng Sáu oi ả, lũ trẻ bắt đầu nghỉ
hè là nhiều người hay dọn dẹp nhà cửa hoặc dời nhà
đi nơi khác, chuẩn bị trước cho mùa tựu trường tiện
việc học cho con cái. Ở cuối con đường Elkington cũng có một
điểm “garage sale”, căn nhà này của một đôi vợ chồng
gìa người Mỹ trắng, trước kia mỗi buổi sáng đẹp trời
họ thường cùng nhau đi bách bộ dưới tàn cây râm mát.
Thời gian sau thỉnh thoảng người trong xóm thấy bà
cụ lặng lẽ đi một mình, gặp nhau thì cũng chỉ trao đổi
vài câu lấy lệ. Sự vắng mặt của ông bà cũ Laura cũng
giống như một người hàng xóm gần nhà tôi, họ “đi”
cả rồi, cô này còn trẻ chỉ ngoài bốn nươi, sáng
đi tối về nên cũng ít ai biết, lâu lắm cũng không thấy
đâu. Một hôm sửa lại cái hàng rào giữa hai nhà, hỏi
thăm mới biết cô đã ra người thiên cổ.
Xứ sở này láng giềng
vẫn có những cái lạ lùng như thế, người Mỹ khác
với người Á Đông ở chỗ, họ thích thay đổi nhà
cửa luôn luôn khi có dịp, vì công ăn việc làm cũng có,
vì thích cái gì mới mẻ cũng có, căn nhà cũ hay chiếc
áo cũ đối với họ khi cần thay đổi không làm họ quyến
luyến bao nhiêu. Bà Laura chết khi nào cũng chẳng ai hay, con đường
vẫn thế, hai hàng cây ven đường vẫn xoè ra những tán lá
rộng mà khi sang hè có tiếng ve gọi chiều râm ran. Căn nhà
đã cũ được treo bảng bán hình như đã có người
mua, và đứa cháu nội bán tống bán tháo những thứ cũ
kỹ của ông bà để lại.
Buổi sáng hôm ấy là
một ngày thứ Bảy trời đẹp, tôi đi bộ ngang nhà bà
cụ Laura , thấy đứa cháu đang loay hoay dựng mấy tấm tranh cũ kỹ
dựa vào cái bàn chất đầy những thứ lặt vặt, chắc
hẳn là những đồ dùng của bà Laura thời sinh tiền. Mắt
tôi chạm ngay vào bức tranh thêu bản đồ nước Mỹ, nền
vải đã ngả vàng với thời gian nhưng được lộng trong
một cái khung gỗ màu nâu xậm. Tấm tranh thêu bản
đồ nước Mỹ với 50 tiểu bang, mỗi tiểu bang lại
thêu một loài hoa biểu tượng cho tiểu bang ấy. Đưá cháu
thấy tôi chăm chú nhìn bức tranh liền nói:
“Đây là bức tranh của
bà nội tôi, bà ấy đã thêu nó vào những ngày chờ
đợi ông tôi đi xa, nghe nói tận chiến trường Việt Nam. Nếu
bà mua, tôi chỉ bán 5 đồng …”
Tôi há hốc mồm nhìn
chàng thanh niên còn khá trẻ, trong bụng nghĩ giá cậu ta nói
30 đồng tôi cũng mua, vì hình như bức tranh có một hấp lực
kỳ lạ khiến tôi không rời mắt được. Tôi bật hỏi
“Sao cậu không giữ
làm kỷ niệm?”
Hai chữ “kỷ
niệm” hình như quá mới mẻ với một người trẻ tuổi.
Cậu hồn nhiên trả lời:
“Căn nhà đã cũ rồi chúng tôi không muốn
ở, hơn nữa căn nhà mới lại rất đẹp không có chỗ
để treo một bức tranh tầm thường như vậy.”
Tôi vội móc túi lấy
năm đồng trao cho chàng thanh niên, lòng nao nao buồn, hình như có
giọt nước mắt rơi trong lòng tôi khi chạnh nghĩ đến hai chữ
Kỷ Niệm. Thế nào là tầm thường, kỷ niệm tình yêu
của một người vợ xa chồng trong thời chinh chiến, bà Laura đã
trải lòng mình trong từng đường kim mũi chỉ về đất nước
của bà. Kỷ niệm của một bà nội gìa nua đã không
có gía trị dưới mắt nhìn của lũ con cháu, mai sau liệu
rằng những kỷ niệm của tôi để lại có được trân
trọng không?
Tôi nghĩ đến cái áo dài màu cánh dán cuà
mẹ tôi được xếp lại cất trong ngăn tủ, mỗi lần nâng
niu nó tôi lại hình dung ra tấm thân gầy và những giọt mồ
hôi của mẹ. Tôi nghĩ đến cây thập gía mạ vàng nhỏ
bé chị tôi tặng cho tôi thời thơ ấu hơn nửa
thế kỷ trước, vẫn còn treo trên bức vách trong phòng ngủ.
Tôi nghĩ đến con búp bê tật nguyền, món quà tình yêu
Giáng Sinh hơn 40 năm trước vẫn xiêu vẹo đứng trong tủ sách.
Một ngày nào đó tôi trở về cát bụi, những kỷ niệm
ấy sẽ đi về đâu?
Tôi khệ nệ vác bức tranh thêu của bà Laura về nhà,
lau chùi bụi bặm xong bức tranh sáng hẳn lên, từng đường
im mũi chỉ cho tôi hình dung ra bóng dáng một người vợ hiền,
cần mẫn thêu từng mũi từng mũi cho mỗi ngày cô đơn để
chờ đợi, đáng quý biết bao nhiêu. Tìm một chỗ xứng
đáng cho bức tranh, mặc dù là kỷ niệm của bà Laura, ẩn
hiện trong đó một tình yêu đất nước tiềm tàng trong
từng đường kim mũi chỉ. Buổi chiều cả nhà đi làm, đi
học về, con tôi ngạc nhiên nhìn bức tranh rồi hỏi:
“ Wow! Mẹ lại bưng
về một cổ vật nhà người ta nữa phải không?”
Mấy đứa nhỏ thường
cho là tôi lẩm cẩm khi thích đi tìm mua những món cũ kỹ
bưng về từ nhà người khác, nhưng cũng không khỏi thán
phục ý nghĩa của bức tranh thêu bản đồ nước Mỹ. Ngoài
những môn học từ nhà trường đám trẻ thường cũng
chả biết bao nhiêu về địa lý nhân văn, thổ nhưỡng của
đất nước rộng lớn này.Tôi đã có muời mấy năm
sống ở Hoa Kỳ, lại có được cái may là cả nhà đã
vài lần làm những chuyến du lịch đi qua nhiều tiểu bang nước
Mỹ, những tiểu bang miền Đông Bắc cho tới vùng Tây Nam, đường
xa vạn dặm đã cho tôi cái nhìn bao quát về một xứ sở
vẫn được gọi là Hiệp Chủng Quốc.
Say sưa nhìn tấm tranh thêu
bản đồ nước Mỹ để nhớ lại những nẻo đường
mình đã đi qua, dù mỗi cảnh mỗi khác nhưng đã để
lại trong trí nhớ tôi những cái đặc biệt của mỗi địa
phương tôi ghé lại. Chính giữa khung tranh là hình bản đồ
được thêu bằng chỉ xanh đậm khoanh rõ hình thể lớn
nhỏ của mỗi tiểu bang, xung quanh bức tranh là một khung vuông vức,
bà Laura đã chia ra từng ô rồi tỉ mỉ thêu bông
hoa bằng chính màu sắc của hoa lồng thêm tên của
tiểu bang đó.
Bây giờ bắt đầu từ thành phố Houston, tiểu bang Texas,
tôi mời bạn đi theo bức tranh thêu bản đồ nước Mỹ của
bà Laura, vào xuân mùa Blue bonnet nở hoa, hai bên xa lộ từ Houston đi
Austin du khách không khỏi ngất ngây nhìn những cánh đồng hoa
xanh tím ngút ngàn chênh vênh nở hoa theo những sườn đồi
thấp. Diện tích của tiểu bang Texas hình như bằng cả diện tích
của nước Pháp gộp lại, rừng thưa và những cánh đồng
cỏ cháy đan nhau nhưng cứ tháng Tư về khi trời sang xuân, loại
hoa dại này đã tạo một vẻ đẹp tuyệt vời dọc theo xa
lộ chạy từ thành phố này sang thành phố khác.
Ta lại
đi về hướng Tây của tiểu bang TX về California chơi nhé,
cái thuở mà người tỵ nạn Việt Nam còn tạm cư trong những
lều bạt giữa những cánh đồng hoa Poppy
bát ngát, đúng
vào mùa tháng Tư hoa nở, đẹp nhất là ở Lancaster mà người
ta còn ví von là Phi Yến hay hoa giai nhân. Sự rực rỡ của hoa Poppy làm choáng ngộp tâm hồn du khách, nhưng trước
khi lái xe đến thăm Little Sàigòn thủ đô của người tỵ nạn,
bạn có thể dừng xe lại để tạt vào một nơi nào đó
cuả bang New Mexico xem Yucca nở hoa. Đất khô cằn, cây thưa
thớt, nắng nung người nên chỉ có loại cây Yucca này mới
chịu nổi. Trước nhà tôi cũng có một bụi, mùa hè
nóng như nung nhưng chỉ cần một vài cơn mưa là cây sẽ
cho hoa, hoa vươn ra từ ngọn cây thẳng đứng và xoè
ra những bông hoa trắng muốt. Người Việt mình còn thi vị gọi
là hoa hoàng gia, chắc vì vẻ quý phái của nó.
Thôi mình lại lên
đường, bức tranh thêu của bà Laura đã làm tôi chợt
nhớ lại chuyến viễn du đi ngang Nevada, đồi núi hoang vu chen vào những
sa mạc cát bỏng dưới cái nóng nung người, Sagebrush
mọc thành những bụi nhỏ nở hoa vàng, giống hệt hoa dã quỳ
ở núi rừng Kontum quê mình ngày xưa. Với khí hậu khắc
nghiệt và núi non khô cằn, ông Trời vẫn cố tô điểm
cho vạn vật một chút duyên dáng của những cánh hoa Sagebrush
bạt ngàn, làm lương thực cho các loài thú ăn cỏ ở
đây được tồn tại. 
Mình
sẽ tiếp tục đi về phía Western
USA, thế nào cũng phải
nhìn thấy những đồi cát mênh mông sa mạc vùng
Arizona . Càng lúc càng nóng khô và nắng tạo ảo giác
cho người lái xe, nhìn từ xa cứ tưởng có những khúc đường
loang loáng nước. Xương rồng nhiều vô số kể, nhiều giống
cao hằng mấy thước vươn lên giữa đồng khô cỏ cháy,
mọc trên những ngọn đồi trọc làm cho phong cảnh càng hoang vu.
Những bông hoa xương rồng vàng tươi thật đẹp trĩu trên
cành xương xẩu, loại hoa Saguaro điểm tô cho sa mạc bớt vẻ hoang
tàn. Lơ mơ nhìn qua kính xe, cái nắng ở đây làm cho mọi
người cảm thấy khô đến rát mặt. Tôi nghe chị tôi nói:
“ Vùng núi non khô
khốc và sa mạc này ngày xưa là của dân da đỏ. Mình
cứ tưởng tượng xem, nghe như có tiếng vó ngựa dập dồn
trên các đỉnh đồi trọc, nhưng lạ thay giữa vùng sa mạc
thỉnh thoảng vẫn thấy có những cụm cây xanh, chỗ ấy nhất
định có hồ nước. Đấy là ân sủng của thiên nhiên,
chứ làm sao con người sống nổi với một khí hậu
khắc nghiệt, đồi núi trơ trụi như ở đây.”
Quay trở về Texas sau một
chuyến đi dài, thấm mệt , bây giờ nhìn tấm tranh thêu của
bà Laura, tôi lại nhớ đến một chuyến đi khác về hướng
Đông để thăm tiểu bang Louisiana xứ đầm
lầy, nơi ngày xưa có chuyến tàu chở những người nô
lệ da đen đầu tiên đặt chân lên nước Mỹ.
Ở đây họ trồng một loại cây cao có bóng mát, lá
xanh nâu rất lớn như lá bàng khi nở hoa cũng to không
kém, đó là hoa Mangolia. Mangolia thích hợp với khí hậu nóng
ẩm như Texas, Louisiana và Mississippi, ba tiểu bang này nằm liền nhau dọc
theo vùng vịnh Mễ Tây Cơ nên khí hậu cũng tương tự.
Louisiana là một tiểu bang nghèo, những con đường còn nhiều dấu
tích cổ xưa của thành phố New
Orleans một thời là thuộc
địa cuả Pháp, đến mùa Mangolia
trổ hoa, những bông hoa
trắng ngà hay hồng thẫm to những cái tô lớn xoè ra trông rất
lạ. Đi qua một nhịp cầu chênh với mặt biển, du khách có
thể nhìn thấy mực nước biển cao hơn đất liền được
ngăn lại bằng một con đê, con đê này đã trở thành
đường xe chạy, dưới nước giống cây nước mặn phát
triển một cách èo uột và kém vẻ xanh tươi. Thành phố
này cũng còn có những khu nghĩa trang mà hầu như các nấm
mộ nổi cao lêu nghêu trên mặt đất.
Giá như bà Laura còn sống để tôi có dịp nói
chuyện với bà về một loài hoa có cuộc đời lưu lạc,
đó là hoa lục bình màu phớt tím, tôi đã nhìn
thấy từng mảng tấp vào chân cầu dưới những đầm lầy
nước cạn ở tiểu bang Louisiana. Loài hoa ấy đã lênh đênh
trên sông nước Cửu Long, từ Tiền
Giang đến Hậu Giang, từ
dòng sông rộng mênh mông cho tới những bến sông nghèo miền
Tây, hễ có sông có nước là có hoa lục bình. Đấy
là loài hoa tuy tầm thường, vậy mà mỗi lần nhìn thấy
nó người Việt xa quê lại thấy hồn nao nao một nỗi
buồn không rõ rệt.
Hoa
lục bình
Xe cứ thế theo bản đồ mà đi thăm tiểu
bang Alabama, những bụi hoa Camellias
xuất hiện tươi thắm
làm phong cảnh hai bên đường hình như xanh tươi, mát dịu
hơn, những bông hoa xinh xinh hồng thắm khiến du khách trên đường
xa không còn mỏi mệt. Nhiều cánh rừng thưa ửng lên
phía sau một nền trời xanh ngắt, để sắp bước vào biên
giới của tiểu bang Georgia , có thành phố Atlanta vẫn
được mệnh danh là thành phố của cây xanh, đường đi
lên đi xuống bởi những ngọn đồi thấp và khí hậu cũng
dễ chịu hơn vùng Tây Nam nhiều lắm. Cư dân ở đây trồng
nhiều cây hoa Cheroyee Rose, dáng hoa phảng phất nét đẹp
của hoa hồng lại mươn mướt như nhung, nghe nói giống hoa này
xuất hiện từ năm 1916 và từ đó hoa lan tràn khắp cả tiểu
bang xinh đẹp này. Nhiều người Việt đã chọn tiểu bang Geogia
làm nơi “đất lành chim đậu” vì nó dung hoà giữa
nóng và lạnh nên trời thường rất mát mẻ, loại hoa Cheroyee Rose cũng tàn khi mùa đông buốt gía, nhưng đến muà xuân
hoa nở tưng bừng khắp nơi, những quán cà phê vỉa hè trên
phố núi càng tăng thêm vẻ diễm lệ, trên đường
phố chỗ nào cũng có hoa. Hoa tít trên cao, hoa treo trong gió, hoa lủng
lẳng khắp nơi và người ở đâu không biết tuôn ra như
chảy hội, thật đúng nghĩa một thành phố du lịch. 
Trước
khi đi ngược lên những tiểu bang miền Đông Bắc, bức tranh thêu
của bà Laura đã đưa tôi về miền biển xanh cát trắng
Florida, nếu đi về miền Trung thì Floria càng tuyệt vời hơn
với những vườn cam vàng óng và các loại trái cây nhiệt
đới hình như cũng hiện diện ở nơi này. Chanh, cam, mãng cầu,
nhãn, chôm chôm, dần dần cũng được người Việt trồng
trọt ở tiểu bang quanh năm nắng ấm. Tuy nhiên, vì gần biển nên
Florida cũng bị hứng nhiều trận bão dữ dội hơn các nơi khác,
nhưng sống đâu quen đó, người dân ở đây đã
tạo cho họ thói quen chịu đựng với thiên tai, giống như xứ
Phù Tang người ta quen dần với những cơn địa chấn.
Tôi biết thế nào
bà Laura cũng đề cập đến loại hoa tiêu biểu cho tiểu bang
sạch sẽ và dễ thương này. Thì đây, chẳng cần phải
tìm đâu xa, thành phố của hoa cam và những trái cam vàng óng
trên từng góc đường ở Tampa
Bay đã hiện ra trong tầm
nhìn của du khách, Orange Blossom tiêu biểu cho một Florida trù
phú, trước sân nhà , ven bờ rào chỗ nào cũng có cam.
Cam vàng óng trĩu trịt trên cành, cam sà xuống tận mặt cỏ
đỏ ối, cam từ vườn nhà hàng xóm luồn sang, và người
dân địa phương thì hình như không thiết đến chuyện
hái cam để ăn hay bán, ai đi đường cũng có thể tiện
tay bứt một quả mà nhâm nhi cho đỡ khát nước.
Khu nghỉ mát ở những
thành phố biển nổi tiếng đã thu hút bao nhiều lượt du khách
đến đây vào dịp hè, người đi xa hay dừng lại để
ngắm nhìn những vườn cam, hít thở mùi hương hoa cam dìu
dịu. So sánh với cam California nổi tiếng mọng
nước nhưng hơi nhạt khác cái chua ngọt của cam Florida, tôi lại
lan man nhớ đến những quả cam nhỏ xíu rám nắng hè cuả
miền Texas nơi tôi cư ngụ. Trái nhỏ mà sao ngọt mặn như
bàn tay hoá công đã ướp vào đấy một chút muối
đậm tình của miền “đất nóng tình sôi”.
Nguyên Nhung (đón đọc phần 2 với
những tiểu bang miền Trung Mỹ)
Bố Và Con .

Nhà
tôi “dương thịnh âm suy”, một ông bố với ba thằng con
trai mà tôi hay gọi đùa là “bố già, bố trẻ”. Đàn
ông lo việc ngoài, đàn bà lo việc trong, người lo việc ngoài
ăn xong bày bừa ra cho nên việc trong dù không ít hơn
việc ngoài, nhưng vẫn mang tiếng là “ngồi chơi xơi nước”.
Ngày được định cư tại Hoa Kỳ, vừa đặt chân đến
phi trường Quốc Tế, người bảo trợ có mời thêm vài
người quen cùng đón cho xôm tụ, một bà nhìn
gia đình mới đến phán một câu xanh rờn: “ Nhà
này kém phúc đức nên đẻ toàn con trai”. Cả nhà
ngớ ra không hiểu, sau mới biết gía chi có một cô con gái xinh
xinh tuổi cập kê, nhà sẽ tấp nập vài chàng trẻ tuổi đang
kiếm vợ chở đi làm giấy tờ, khám sức khoẻ hay chợ búa,
không vắng như “chùa Bà Đanh”.
Tôi không thích khoe khoang về
ông “Bố” của nhà đâu, vì chả lẽ lại
“mèo khen mèo dài đuôi”, những điều tầm
thường trong cuộc sống gia đình chắc nhà nào cũng giống
nhau. Ngày lễ Cha ai cũng nhắc đến công ơn sinh thành dưỡng
dục của Bố, nhưng cha tôi mất sớm lúc tôi mới năm, sáu
tuổi, nặn óc để tìm lại hình ảnh người đã tạo
ra mình tôi vẫn không nhớ được bao nhiêu. Vì vậy, người
gần gũi nhất trong cuộc đời tôi là bố của lũ con, nếu
ví von như cái nóc nhà che mưa che nắng thì cũng không sai chút
nào.
Khi hai đưá con tuổi còn thơ ấu bố đã không
có nhà, đây là sự thiệt thòi của tuổi thơ mặc dù
có mẹ nuôi dưỡng. Thời gian ấy mọi sự bế tắc đè
nặng lên gia đình tôi, trong cũng như ngoài, tôi ôm hết cả
hai. Nỗi đoạn trường này là của chung nhiều nhà chứ chẳng
phải riêng nhà tôi, lưới giăng lồng lộng chẳng chim nào
bay thoát nên tôi đành chấp nhận, vừa chạy chợ kiếm ăn
vưà dạy con.
Con vừa lớn là bố về kịp lúc, cả nhà mừng
húm dù thêm một miệng ăn. Sau một ngày vất vả, lúc về
tôi thường tạt qua chợ chiều tìm mua thực phẩm ế
ẩm cuả bạn hàng trong chợ, cuối ngày bán tống bán tháo
để về nhà. Bữa cơm nhà nghèo thường chẳng có cao
lương mỹ vị, tôi tìm cách chia sao cho bố con cùng vui cùng
no. Ít trái cây, vài cái bánh, tôi chia phần:
“Ai nhiều tuổi thì
được ăn nhiều, ai ít tuổi ăn ít. Bố hai cái, mẹ và
các con mỗi người một cái đồng đều.”
Thằng bé con
ngồi đếm xong con toán nhỏ phụng phịu hỏi: “Sao mẹ lớn mà cũng chỉ có một? Con cũng
muốn hai như bố.”
Trẻ con chưa
hiểu nổi cảnh nhịn cơm xẻ canh trong thời buổi khó khăn, người
lớn chỉ biết cười mà ngậm ngùi trong dạ. Trong trại ngày
hai bữa cơm tù, ăn thế nào cũng xong. Trở về với gia đình
chưa vui hết niềm xum họp, lắm nhà đã vỡ tan vì cơm áo
gạo tiền. Tôi nhìn quanh cuộc sống, nhiều gia đình như vậy
nên biết phải tế nhị hơn để cuộc sống tuy thiếu thốn
một chút, nhưng chẳng có lúc nào chữ tình chữ nghĩa quý
bằng lúc này, chỉ cần gắt gỏng nói một câu thiếu suy
nghĩ là hết cả cái tình mình hằng nâng niu gìn giữ.
Thằng bé chào
đời sau ngày bố đi xa, mãi đến 7 tuổi mới thấy bố xuất
hiện nên cũng hay “ghen” với bố, tự nhiên trong nhà
có một “ông” lạ hoắc đi ra đi vào, lại có vẻ
được săn sóc, chia phần nhiều hơn thì khó chịu
lắm. Nhưng dần dần cu cậu lại thích vì từ nay đã có
bố đón đưa khi đến trường hay tan học, đối mấy thằng
nhóc to con ăn hiếp thì cu cậu đã vênh mặt lên
ra điều “Bố tao đấy!”. Oai thật, bài vở khó đã
có bố giảng giải cặn kẽ đến khi nào hiểu mới thôi.
Tuy bố chưa kiếm được việc làm để có tiền mua đồ
chơi cho con, nhưng mùa trung thu Bố làm cho cái đèn lon sữa bò
đục lỗ, trong để cây đèn cầy kéo leng keng trên con hẻm
nhỏ, nghe cũng vui tai mà không bị cháy như đèn con gà, con thỏ.
Bố về, thêm những món đồ chơi thủ công đẹp khéo
tuyệt vời, máy bay, xe tăng, chim chóc xếp bằng giấy, cu cậu tha hồ
chơi suốt ngày không chán.
Có bố ở nhà con học hành khá hơn,
đứa lớn đã bước vào Trung Học, bỏ đi những môn
vớ vẩn nhồi nhét chính trị, bóp méo lịch sử thì mấy
môn chính như sinh ngữ, toán bao giờ cũng được kèm cặp
đâu vào đấy. Dù sao vốn chữ nghĩa của bố không đến
nỗi tệ, tôi yên tâm chạy chợ kiếm ngày hai bữa cơm, việc
dạy dỗ học hành cuả con giao toàn quyền cho bố đảm trách.
Thỉnh thoảng bố chở con ra bờ sông câu cá, vào công viên
chơi đá banh, hôm nào có tiền mua cho con diã bò khô, cây
“cà rem”, mấy bố con chơi với nhau , nhìn bên ngoài
tưởng an nhàn, thảnh thơi nhưng thực ra cuộc sống đang
tắc nghẽn trong vòng rào kẽm gai.
Khổ thay! Từ ngày Bố về từ cái nhà
tù nhỏ là bước luôn vào cái nhà tù lớn, màng
nhện giăng tứ phía như “thiên la địa võng” nên đi
đâu cũng có người “quản ný” chặt chẽ. Bực lắm
nhưng biết làm sao, ngay cả cái hộ khẩu cũng không có nên
hễ đêm nào nghe tiếng chó suả, tiếng bước chân đi rầm
rập trên con hẻm tối thui, thêm một hồi chuông cửa lảnh lót
giữa đêm khuya là biết nhà được “hỏi thăm”.
Cửa vừa mở,
bốn năm cái bóng ùa vào nhảy thoắt lên cầu thang, chỉa
đèn pin sáng loè ra tứ phía, vào tận mấy cái giường
còn buông mùng sùm sụp. Đang ngủ ngon bị ánh đèn pin
chiả ngay vào mặt, thằng bé con ngái ngủ càu nhàu:
“Thằng nào
chơi kỳ dzậy?”
Đèn tắt ngúm, các chú “công an” đi
xét nhà kiểm soát người cư trú bất hợp pháp đấy
chứ có “thằng” nào đâu, nhưng trong mùng chỉ
là thằng con nít đang say ngủ, lục khắp nhà cũng không kiếm
ra người ở lậu không khai báo. Sống không hộ khẩu là bất
hợp pháp rồi, lại đuổi, đêm nào nghe tiếng chó sủa
ồn lên từ ngõ ngoài vào ngõ trong là biết những nhà
nào trong xóm được hỏi thăm. Nhà bác Mười “Biệt
Kích Dù” bán cá kiểng cá đá, nhà bác Ngôn cựu
giám đốc huấn luyện trường Phi Hành ở Nha Trang ngày
xưa, toàn những người vừa từ trại cải tạo về. Sáng
hôm sau lại vắt giò lên cổ trình quan Quận, thiếu thủ tục
“đầu tiên” nên khi ra về ai cũng nhận tờ trát phải
đày đi vùng kinh tế mới. Vẫn lì ra không đi, viễn ảnh
một vùng đất khô cằn trơ trụi, không trường học chợ
búa, lấy chi mà sống, bao người từ những nơi ấy đã
liều lĩnh trở về, không nhà, không hộ khẩu ngủ đầy
dưới mái hiên hè phố, đã sao đâu, cùi đâu còn
sợ lở.
Muốn lì lợm sống còn trong thời buổi đó cần
phải có việc làm, kẻo mang tiếng ăn bám xã hội, lười
lao động. Bố đi tìm việc làm, chỗ nào cũng lắc đầu
quầy quậy vì cái lý lịch tối thui, may quá nhờ người
quen dẫn vào làm một chân “cu ly” đẩy xe ba gác cho hợp
tác xã Cơ Khí. Sài Gòn nắng nung người, nắng như thiêu
như đốt nên Bố đen thủi đen thùi như con cháu nhà Sihanúc,
nhìn thoáng là biết Bố thuộc tầng lớp nào trong xã hội.
Dù lương ít nhưng vẫn có lý do “lao động là vinh
quang” để bám trụ thành phố. Mặc kệ, sóng
đánh tới đâu thuyền neo tới đó, cạn ao thì bèo xuống
đất, vẫn hiên ngang ngẩng mặt nhìn đời vì miếng cơm
manh áo mình làm ra từ giọt mồ hôi lẫn trong nước mắt.
Chịu đựng
mãi rồi cái gì cũng qua, cho đến một ngày thấy thiên hạ
ùn ùn đăng ký đi Mỹ theo diện H.O thì cả nhà vừa
mừng vừa không tin nổi, cứ như truyện huyền thoại cây đèn
thần xứ Ba Tư. Thời bấy giờ người ta gọi là “những
người ho hen” vì ở tù về có hằng trăm thứ bệnh, nhưng
cũng nhờ cam khổ khi thất thế mà sau này cái gì
cũng chịu đựng được. Ánh sáng le lói cuối
đường hầm, hình như mãi đến lúc này những người
như Bố mới có cơ hội ngẩng mặt lên nhìn ánh mặt trời.
Người có tiền rỉ tai nhau ùn ùn ra Hà Nội chạy
chọt để được đi trước, ai cũng bảo nhau “sang sau, trâu
chậm uống nước đục”, Bố vẫn bình chân như vại
vì nghĩ chương trình “Ra Đi Có Trật Tự” thế nào
cũng tới lượt, với lại con người còn có số
mạng. Ở đó mà chờ tới lượt, không có
thủ tục “đầu tiên” thì đừng nói chuyện ra đi.
Sốt ruột quá, mẹ lại vét hết trong nhà cho đủ tiền lên
danh sách mới chóng được rời khỏi đời sống tối tăm
này, thôi đành “qua sông thì phải luỵ đò” vậy.
Ngồi trên máy
bay rồi cả nhà mới thở phào, dù rằng trước giờ ly biệt
với người thân, những giọt nước mắt ngắn dài thi nhau tràn
ướt má. Người ở lại vẫn vất vả với cuộc sống
vá víu hằng ngày, người đi mơ ước một tương lai
xán lạn cuối chân trời, nhưng vẫn lo lắng chẳng biết
sẽ làm gì nơi xứ lạ. Mãi tới khi đặt chân đến
phi trường đầu tiên ở San Francisco chờ máy bay chuyển tiếp sang
Houston, thấy người lao công quét dọn rất nhàn tản trong nhà
vệ sinh mát rượi , Bố cứ thắc thỏm mơ ước sao qua Mỹ
kiếm được một cái “job” thơm như vậy.
Mùa Đông
đầu tỉên ở nước Mỹ mưa gió lạnh lùng, buồn bã
làm sao, nhưng đó là cảnh ngoài trời còn trong nhà thì
đang chứa chan niềm hy vọng. Khổ nhiều rồi, chả lẽ không chịu
nổi khi xứ sở này cơ hội có bỏ ai bao giờ, nếu không lười
biếng mà chấp nhận ngay một công việc tầm thường, đời
vẫn còn ngon chán. Ở quê nhà, ai cũng tưởng hễ sang Mỹ
là lũ nhỏ nhảy tót vào trường học, chỉ một thời gian
là tốt nghiệp bằng này cấp kia. Thực ra con ngu ngơ chưa biết
gì, tiếng Anh còn ngọng ngịu nói mãi chưa được một
câu, Bố vẫn hiên ngang làm cái “đầu tàu”
kéo nguyên một toa tầu nặng nề vượt qua những chặng đường
ray dài dằng dặc.
Vừa qua Mỹ người tỵ nạn nào cũng cuống quýt
lên đi tìm việc làm, trước hết trả tiền nhà cửa ,
“bill” bọt hằng tháng, sau là gửi về VN cho người thân
để khoe cái may của mình khi ở “xứ sở của
mật ong và sữa”, mấy ai đã có lúc hiểu nổi cái
khổ của con bò và con ong. Chân ướt chân ráo vừa đến
được hơn tuần, một bà cùng quê đã ưu ái quan
tâm gọi tới, giọng “bề trên” chắc nịch:
“Nếu cô chú
muốn mau ổn định như người ta, phải nghe tôi. Tôi có cái
tiệm “Grocery” khu da màu đắt hàng lắm, thấy chú nhanh nhẹn
tôi dành cho một chân bán hàng từ 5 giờ chiều đến 11 giờ
đêm, (giờ của bóng đêm và tội ác), buổi sáng vẫn
đi học được như thường. Cô sạch sẽ khoẻ mạnh, đến
nhà giữ cháu nội cho tôi và làm việc nhà, mỗi tuần
hai trăm, người khác chỉ trả trăm rưởi.”
Cả nhà ngồi tính
toán, lại mừng húm, trước mắt có công ăn việc làm
rồi nhà cửa, xe cộ mấy hồi, đời cứ đẹp như mơ.
Nhưng khi hai vợ chồng dẫn nhau đến “tham quan” tiệm
tạp hoá trong khu nhà thấy mấy ông da màu đang xúm quanh đống
củi sưởi ngoài sân , giương mắt chò hỏ nhìn
chằm chằm mấy người Á Châu thì hãi quá. Vợ phát
rét bảo chồng:
“Thôi anh ạ, khổ thì khổ nhiều rồi. Chính
phủ cho mình 8 tháng trợ cấp là để đi học tìm một
việc làm hợp khả năng,thế nào họ cũng giới thiệu công
việc cho mình, đi làm hãng
xưởng vẫn yên tâm hơn. Tại sao không hưởng những ngày
học hành thư thả cho người nó khoẻ ra rồi hãy đi làm?
Em cũng không thể bỏ chồng bỏ con ở nhà để làm “ô
sin”, tiền thì lúc nào chả cần nhưng so với cái “đoạn
trường” sau năm 75 chả thấm gì.”
Hai vợ chồng dắt nhau về, còn nghe thêm một bài
“gia huấn ca” của người đồng hương là cái thứ
mới qua “bày đặt học với hành”. Mãi sau này mới
nghe bà ta tự thú rằng đã từng bị kê súng vào màng
tang mấy lần mà may quá nó không “ bóp cò”, chứ không cũng đã “tiêu diêu
miền cực lạc”. Sau này nghe nhiều người đi trước cũng
bảo, chẳng thời gian nào khoẻ bằng lúc mới đến hưởng
trợ cấp đi học, khi đi làm rồi mới thấy cái khổ cuả
những sáng mùa đông rét thấu xương, những trưa mùa
hè nắng cháy, những chiều mệt nhọc khi tan ca mặt trời đi ngủ
sớm .
Cuối cùng Bố cũng
tìm được việc làm do Y.M.C.A giới thiệu, lương
bổng chẳng bao nhiêu nhưng cứ hai tuần lại có cái
“check” mang về khoe vợ con. Công việc không nhọc nhằn lắm so
với những ngày lao động ở quê nhà, nhưng gò bó thời
gian như một cái máy chạy đúng giờ giấc. Sáng mù sương
rét buốt đã phải lóc dậy lái xe đi làm, hai cha con chung nhau
một xe, chiều về đi xe bus vì con đã lái xe đi làm
đi học. Nhờ cái xe tàng mua rẻ được của một ông Mỹ
gìa, trong thời gian này hễ có ngày nghỉ là cả
nhà kéo nhau đi chơi. Hết câu cá câu cua lại ra biển tắm
tát, điếc không sợ súng nên chỗ nào cũng mò tới
mà không sợ xe bị “banh ta lông” dọc đường.
Nhà ba thằng
con trai là ba thế hệ khác nhau, tuổi tác chênh nhau nên mỗi đứa
Bố lại phải hướng dẫn một kiểu. Đứa lớn nhất đã
trưởng thành ở VN, không sợ con hư hỏng nhưng đường đời
con còn non nớt quá, chưa hòa nhập được với xã hội
mới vì bất đồng ngôn ngữ cũng có, sự học dở dang từ
VN nay bắt lại từ đầu khó nhọc biết mấy, cũng vẫn bố
khuyến khích dìu dắt để vào đời. Lo nhất là thằng
tuổi “teen” mà cha mẹ nào ở Mỹ cũng phát sốt lên
vì những phức tạp tâm lý trong những con người trẻ đang
tuổi dở dở ương, nhưng cũng nhờ phước đức ông bà
để lại, sóng trước đánh sao sóng sau vỗ đó nên
thằng anh lại hướng dẫn thằng em, 5 ngày trong tuần đi học còn
cuối tuần đi bưng phở kiếm tiền xài thêm.
Mới đút đầu
ra đời cu cậu đã choáng váng với cách “vắt chanh phải
vắt cho kiệt, xứng với đồng tiền bát gạo” cuả bà
chủ tiệm, suốt hai ngày cuối tuần làm việc cật lực nên
không có giờ đàn đúm với bạn bè. Khi đổ rác,
lúc bưng tô, vài đứa trẻ tuổi mới từ VN sang đã có
lúc bị bà chủ mắng té tát khi đứng nói chuyện với
nhau ngoài thùng rác. Một anh có tuổi hơn thở dài khuyên thằng
đàn em cùng ngành bưng bê:
“Ráng học em ơi! Sau này anh em mình phải
ráng thành tài để khỏi bị người ta mắng mỏ như vậy,
nhục lắm!”
Nhờ ý chí vươn lên mà sau này cả hai đều
đậu bằng Cao học, một kỹ sư điện toán và một kỹ
sư xây dựng. Khi dẫn bạn đến ăn ở tiệm phở ngày xưa,
bà chủ đã đon đả chào và khoe với khách
hàng: "Tiệm của tôi toàn đào tạo kỹ
sư, bác sĩ”. Thật vậy, nếu không nhờ những lời mắng
mỏ như té nước của bà thì xã hội đâu có nhân
tài.
Thằng bé nhất còn nhỏ quá khi đến Mỹ, đây
là sản phẩm “Made in Vietnam” mà Thượng Đế tặng cho cặp
vợ chồng gìa, nhưng hoàn toàn hấp thụ văn hoá
Mỹ, nếu như bố mẹ không khéo gần sẽ thấy cách
con hằng vạn dặm. Cha con bàn với nhau, nhà cần có người cơm
nước, em cần có mẹ đưa đón khi đi học, và sau giờ
học điều cần nhất là không để thằng lỏi lang thang không
ai kèm cặp. Giữ thêm vài đứa trẻ nữa để mẹ ở
nhà chỉ lo việc trong mà khỏi lo việc ngoài, khỏi thức khuya dậy
sớm dầm sương dãi nắng. Kể cũng là nghề tự do, nghe thì
nhàn thật đấy nhưng nghề giữ trẻ cực nhọc chứ không
nhàn hạ như người ta nghĩ.
Ba đưá
con lớn lên trong sự đùm bọc cuả cha mẹ, nhưng lại gần gũi
bố nhiều hơn vì khi bước ra đời, có bao nhiêu điều mà
người đàn bà ở nhà không làm sao hiểu hết được.
Cách ứng xử trong cuộc đời đầy lừa lọc nơi
nào cũng thiên hình vạn trạng, với thời gian các con đã
tiến lên nhưng vẫn là con nai tơ đối với cuộc đời muôn
mặt. Bố tuy đã lùi bước ra sau nhưng vẫn là điểm tựa
tinh thần để con hỏi ý kiến, rút kinh nghiệm khi gặp khó khăn
trên đường đời. Bản tính bố cần cù, trầm tĩnh,
thận trọng và biết lắng nghe, những điều này cần thiết
cho con nhìn rõ những phức tạp trong dòng đời, giải quyết nhiều
vấn đề khi con gặp trở ngại, khác với mẹ lúc nào cũng
cuống quýt lên như gà mắc đẻ.
Bố còn là chuyên viên
kỹ thuật và sửa chữa các thứ hằm bà lằng trong nhà,
chiếc lò nướng đã cũ mẹ vứt vào thùng rác, hôm
sau ra “garage” đã thấy nó chễm chệ trở lại nằm cạnh
cái bếp điện. Cái xích đu hỏng biến ngay thành cái giàn
cho hai nàng tóc tiên và tigôn nở hoa. Cả nhà hay gọi bố là
người làm cho nền kinh tế Hoa Kỳ không phát triển, vì chả
chịu mua sắm gì cho bản thân, nhưng lại rộng rãi với vợ
con trong nhà , vậy mới kỳ cục!
Bây giờ đầu bố đã bạc, mắt
đã mờ chân đã mỏi, bố nói năng không hoạt bát,
chẳng biết thơ phú văn chương nhưng biết sửa cái nhà
cái cửa, biết đóng cái giàn cho bầu bí, hoa kiểng trèo
leo. Những công việc tầm thường nhưng thật là cần thiết,
nhiều khi hạnh phúc gia đình chỉ cần có thế, các con cần
một người hướng dẫn chỉ bảo trong nhiều tình huống xảy
đến trong cuộc đời.Bố là chiếc bóng thầm lặng
nhưng là bóng mát chở che để gia đình
luôn là một mái ấm. Các con lớn dần lên đã có
cuộc đời riêng, bên ông bố gìa lại thêm mấy ông bố
trẻ, mấy nàng dâu thì thầm với mẹ chồng: “
Con cũng chỉ mong nhà con được như bố !”
Nguyên Nhung ( Father’s Day 2011)
VƯỜN RAU QUÊ HƯƠNG 
Ngày mua được căn nhà mười
lăm tuổi, có sẵn mảnh vườn sau, Hân nghĩ ngay đến chuyện
gầy dựng một vườn rau quê hương trên xứ người, để
bù đắp cho những thiếu thốn tinh thần, mà dẫu xứ sở này
dư thừa vật chất vẫn không khỏa lấp nổi. Suốt ngày bù đầu nơi xưởng máy, công
việc thì đều đều nhàm chán, vây xung quanh là những vách
tường sơn xám khiến lúc nào cuộc sống cũng buồn tẻ.
Chiếc máy lạnh chạy rì rì suốt ngày, bấy nhiêu con người
thở ra hít vào cái không khí đặc quánh mùi dầu mỡ.
Hân thèm, thèm lắm, khoảng không gian màu xanh của quê nhà,
giàn dưa chuột thấp lè tè với những quả xanh, vạt rau cải,
những luống hành hẹ và mùi cỏ khô lẫn với mùi phân
bò ngai ngái, nhưng đầy ắp không khí miền quê Nam Bộ. Hân
nhớ lắm một mảng trời xanh, một đêm trăng tĩnh mịch trước
sân nhà, ụ rơm khô có con bò đang nhơi cỏ. Trăng nằm
sóng soải trên từng cuộn mây trắng, khiến chàng hình dung trời
như một vùng biển xanh, mà những giải mây trắng kia lại là
những con sóng bạc đầu gờn gợn trong không gian. Thật ra mỗi một đời người, mỗi một thân
phận đã gắn bó ít nhiều với những thăng trầm của
dòng lịch sử quê nhà, Hân ra đời vào những năm đất
nước chia hai. Dạo ấy, làn sóng người Bắc di cư vào Nam
đã đổ về vùng ven đô này lập nghiệp, Hân lớn
lên và cùng đi học với những đứa trẻ từ miền Bắc
vào. Khi mùa màng gặt hái xong, trên cánh đồng còn trơ
lại những cọng rơm tươi, Hân đã từng dẫn đám bạn
xa lạ ấy đi mót lúa, đậu phọng hay hái trái dại trong
khu rừng cao su phía xa. Dạo ấy còn thanh bình, miền quê không nghe
tiếng súng, nghe văng vẳng tiếng chuông chùa xóm người Nam, hòa
với tiếng chuông nhà thờ xóm người Bắc. Riêng Hân, chàng thanh niên ngày nào phải bỏ
quê nhà ra đi, nay đã là người đàn ông đứng tuổi.
Vẫn ngậm ngùi đau xót nhiều năm tháng, khi bất chợt nhận
ra cái cảm giác mâu thuẫn trong tâm hồn mình, khi không hề
phản bội quê hương, mà vẫn cam lòng chịu hai chữ vong quốc.
Hình ảnh quê hương còn trong lòng
Hân là những rẫy đất trồng đủ thứ rau xanh. Miền quê
nghèo, đất thịt pha cát chỉ thích hợp cho việc trồng rẫy.
Tuổi thơ của chàng đã chạy nhảy trên những luống khoai,
luống cải, những cánh đồng trồng đậu trồng cà. Cuối
năm theo cha mẹ ra rẫy, trẩy những trái dưa hấu tròn căng, xanh
thẫm mang ra bán trong những buổi chợ Tết. Chiếc xe bò nghiến những
bánh xe gỗ lóc cóc trên con đường đất khô ran, Hân
còn ngửi được cả mùi phân bò lẫn với cỏ hắt
lên từ những thửa đất trồng rau ven đường. Thuở ấy, Hân
còn bé, nghe mấy đứa miền Bắc đọc ra rả bài thơ cảnh
miền Nam: "Tôi yêu
tiếng Việt miền Nam Yêu con sông rộng, yêu
hàng dừa cao Yêu
xe thổ mộ xôn xao Trên đường khúc khuỷu
đi vào miền quê Tôi
yêu đồng cỏ nắng se". . . Cho mãi đến bây giờ, chàng mới cảm thấy nỗi
nhớ quê hương thật sâu sắc và dữ dội, nhất là trong
những ngày cận Tết. Tất cả hình ảnh miền quê cũ, cây
mai trước sân, con gà gáy sớm, con heo ủn ỉn đi ra đi vào
xục mõm vào nồi cám, những thứ tầm thường ấy sao vẫn
làm chàng nhớ đến quắt quay. Quê hương chàng nhiều tháng năm sau đó đã
trở thành bãi chiến trường, mà những người bắn giết
lẫn nhau lại cũng chỉ là những khuôn mặt thân quen cùng lớn
lên từ thôn xóm hiền lành ấy. Rừng cao su bạt ngàn trơ
trụi lá vì thuốc khai quang và bom đạn. Nhìn cảnh tiêu điều
của rừng chiều quạnh hiu, những nhánh cây giơ lên trời như
những bộ xương khô in trên nền trời màu tím thẫm lúc
hoàng hôn, lòng Hân rã rời như đánh mất một cái
gì không rõ rệt. Chiến tranh là vậy, là đánh mất màu
xanh của cây và đánh mất màu xanh của tâm hồn. Chỉ tội
nghiệp cho những người dân sống ở đó, vẫn phải nương
vào những ruộng rẫy để mưu sinh, để tồn tại. Khi mùa
mưa tới, những trận đánh càng xảy ra thường hơn. Ban ngày
buổi chợ quê nhóm lèo tèo vào lúc sáng sớm, chỉ mười
giờ là chợ tan, trên nền xi măng của nhà lồng chợ chỉ còn
vương lại những mảnh lá chuối khô, nắng đã chói chang
dội xuống mái nhà tôn hầm hập nóng. Chiều về, trời chưa tắt nắng, ở chiếc lô
cốt đóng ven đường lộ chính, vợ con những người lính
đã chui vào những mái lều thấp lè tè cất xung quanh cái
đồn lính. Cái đồn nằm cô quạnh giống như một cái
bếp than, được úp xuống với ba cái cửa tò vò, từ
lỗ châu mai thò ra mấy họng súng . Họ sống nhiều năm tháng
phập phồng ở đó trong vòng rào kẽm gai đầy mìn rải
quanh đồn. Những đứa trẻ đen đủi trong vòng rào kẽm
gai, vài người đàn bà theo chồng sống một đời bất
an trong thứ hạnh phúc nắm được từng giờ. Những khuôn mặt
người lính địa phương gầy gò, mặc đồ trận màu
xanh đi giày vải, đôi mắt lơ láo vì căng thẳng chờ
đợi kẻ thù, bóng tối và sự chết ập xuống bất ngờ
không hề trông đợi. Có
những buổi chợ sớm, người đi chợ nhốn nháo lên vì
một loạt đạn vang lên giữa buổi chợ đông, và người
ta bỏ chạy tán loạn khi một người bị bắn gục, dòng máu
đỏ loang chảy trên nền đất. Những khuôn mặt quen quen mà
ngày là bạn, đêm đã trở thành thù, nước da đen
ròn với nắng gió rẫy nương. Hân đã có những thằng
bạn chung lớp, sau này theo bên kia, lúc gặp nhau vẫn tay bắt mặt
mừng, vẫn có thể nã súng vào chàng không thương tiếc.
Một cuộc chiến tranh kỳ cục và cay đắng cho người dân Việt
Nam, được du nhập ở tận đâu đâu, biến con người,
quê hương thành hai hố thẳm đen ngòm, đầy những hận
thù và chết chóc. Cho
nên, ngày chiến tranh chấm dứt, dẫu đứng về phía những
người bại trận, Hân vẫn không thể nào không thở phào
nhẹ nhõm. Ít ra là cuộc chiến đã kết thúc, khu rừng
cao su sau mùa mưa có thể đâm những chiếc lá xanh, đỡ xơ
xác khi chiều xuống. Ít ra chàng sẽ không phải nhìn thấy những
đôi mắt trẻ thơ thập thò trong vòng rào kẽm gai, những
người lính trở về đời sống bình thường và sẽ
có một mái nhà. Và ít ra, những người ở bên kia không
phải tìm cách giết những người bên này. Điều khiến chàng đau lòng là sự thiếu
hiểu biết của người thắng trận, nó tiếp tục đưa đẩy
dân tộc vào nhiều nỗi thống khổ, mà đáng lẽ phải
được hàn gắn những vết thương chiến tranh trong suốt bao nhiêu
năm tương tàn. Bởi vậy Hân mới phải bỏ quê hương
mà đi, mang theo bên lòng bao nỗi niềm đau xót.
* * * Khu vườn phía sau được người chủ cũ trồng
mấy cây thông bên vệ rào, nay đã lớn, tàn xoè ra làm
mát một khoảng sân rộng. Những cây hoa cúc dại màu tím
vàng, mọc tràn lan trên bãi cỏ trống, người chủ cũ chắc
cũng không có nhiều thì giờ cho việc trồng tỉa để khu vườn
tươi đẹp hơn. Người
ta thích trồng thông vì thông mang dáng dấp quân tử, với Hân
thì chẳng có cây nào tiểu nhân, chẳng có cây nào quân
tử, và cũng chẳng có hoa nào lẳng lơ. Chẳng qua là tại
tâm, hễ tâm rộng thì nhìn đời thoáng đãng bao dung, còn
tâm hẹp thì nhìn đâu cũng thấy hận thù, nghi ngại. Cho
nên, nếu có làm thông, được dáng đứng uy nghi, quân
tử, thì cũng đâu hẹp hòi gì mà không che chở cho những
cây cỏ nhỏ nhoi, còi cọc giữa bãi cỏ đời mênh mông. Tiết trời vừa sang Xuân, cây cỏ sau giấc ngủ
Đông chợt sống lại, những bông hoa tím xinh xinh chen lẫn với
cỏ non tràn lan khắp mảnh vườn sau. Những bông hoa be bé không
tên ấy thật dễ thương, đơn sơ, nhu mì như hình ảnh
người con gái miền quê thuở nào, màu áo bà ba tím ngọt
đã để lại trong lòng Hân một nỗi nhớ khó quên. Loại
hoa này có sức sống bền bỉ như loài cỏ dại, Hân thích
nhất vẻ đẹp mảnh mai dịu dàng của hoa, hình như từ lúc
bắt đầu nở cho đến khi tàn, hoa chẳng bao giờ khép cánh
mỏi mệt, những cánh hoa xinh xinh tiếp nối để chẳng bao giờ tàn.
Khi hoàng hôn xuống, mặt trời sắp đi ngủ còn để lại
chân trời một vầng mây phơn phớt đỏ, rồi chuyển dần
qua màu tím, Hân cảm thấy lòng mình rưng rưng với nỗi
buồn thầm kín mơ hồ tận trong tiềm thức, mà những bông
hoa tim tím rung rinh trong gió chiều hình như cũng biết rung động với
nỗi buồn man mác đó. Trước tiên, Hân phải làm cỏ và dọn một bãi
đất xốp và mát để ương cây con. Mùa Xuân là
mùa đẹp nhất để ươm cây, nhìn những cây đậu,
cây mùng tơi, cây bầu cây bí nứt hạt hé mầm vào
giữa tiết xuân mát mẻ, Hân liên tưởng đến những đứa
bé được sinh ra trong tình thương, sự săn sóc trìu mến
của ông bà, cha mẹ. Chàng không thể không nhớ đến những
đôi mắt trẻ thơ ở quê nhà, những đôi mắt đen tròn,
mở thao láo bên trong vòng rào kẽm gai thời đất nước chiến
tranh, những đôi mắt trẻ thơ trên hè phố, biểu hiện cho sự
đói khổ, toát ra ánh nhìn van xin khi đất nước đã
hòa bình, Hân lại càng ngậm ngùi cho sự thống khổ của
đất nước. Trước
khi gieo hạt, Hân đã ngâm hạt giống một ngày một đêm
với nước ấm, xong được ủ vào những chiếc chậu nhỏ.
Với cơn mưa xuân nhè nhẹ và cái mát mẻ của trời
Xuân, chỉ vài hôm sau cây nứt hạt, nhúm đất con con bỗng
bị đẩy ra bởi bàn tay non nớt của hai chiếc lá nõn, cây
đã cựa mình, như đứa hài nhi cố cựa quậy để ra
khỏi lòng mẹ. Rồi từ cái màu ưng ửng ấy, nhờ ánh
sáng mặt trời, chỉ vài hôm lá to dần lên, xanh mướt, y
như những lượt tóc tơ mượt mà trên đầu đứa
trẻ nhỏ, rất thích mắt. Vẫn chưa quen với mưa nắng cuộc đời,
người chủ vườn vẫn phải săn sóc cho cây với cái tình
êm ái lắm, vì chỉ cần một cơn mưa nặng hạt, một buổi
nắng trưa hanh hao là cái thân ẻo lả kia có thể đổ xuống
ngả nghiêng, vì gốc chưa vững. Nhìn những chồi non một ngày một lớn, tự nhiên Hân
thoáng một chút bâng khuâng, vì chàng vốn là người hay
suy nghĩ. Phải rồi, chàng nghĩ đến phận người, những đứa
bé sinh ra trên mảnh đất vùng quê khốn khổ của chàng,
vẫn những đôi chân không nhảy nhót trên đường làng,
lùng sục trong những rẫy những ruộng để mót về những hột
đậu phọng hay hạt lúa còn sót lại trên đồng. Đất
nước chàng ở đó có những con người nuốt hết những
của ngon, của ngọt, khiến những đứa bé vừa sinh ra lại được
coi là gánh nặng cho xã hội, cho đất nước. Chàng biết
họ đã có kế hoạch làm sao cho những đứa bé không
thể ra đời, với ý nghĩ hãi sợ sau này sẽ có những
kẻ dành mất phần ăn của họ, lấy mất chỗ đứng của
họ. Chứ họ có biết đâu rằng, con người vốn bắt đầu
từ 0 thì cũng trở về 0, như triệu triệu con người sinh ra, rồi
lại triệu triệu con người mất đi, chỉ là để nối tiếp
công việc bảo tồn đời sống của nhân loại. Tham sống sợ
chết đã đành, nhưng sống như thế nào và chết như
thế nào thì với những kẻ vô nhân, chỉ có nghĩa là
vơ vào cho đầy ắp túi tham của họ mà thôi.
Những cây đậu đũa giờ
này đã vươn cao lên tới cái giàn nằm cách mặt đất
độ hai thước, và khi những chú đậu non như hai đứa bé
song sinh, thò hai cọng đậu dài như hai chiếc đũa qua lỗ mắt
cáo trên mặt giàn, lúc ấy cả nhà đã sửa soạn có
được những bữa cơm ngon với rau cỏ trong vườn. Cô nàng
mùng tơi đã khoe những chiếc lá mọng, được chuẩn bị
hái nấu với tôm tươi bóc vỏ, là khi ấy khu vườn đã
bước vào tiết cuối xuân mát mẻ. Cuối Xuân khi trời còn
rất xanh, bát canh mùng tơi xanh biếc hay đĩa đậu đũa xào
tôm thịt, ăn với dưa mắm trộn tỏi ớt, thêm một chén
nước mắm nguyên chất giầm với quả ớt chín chỉ thiên,
chẳng ngon lắm sao??!! Đúng
ra đâu phải cây nào cũng qua tiến trình đâm hoa, kết quả
thì mới được coi là có giá trị. Rau thường chỉ ăn
lá, mà thứ trúc đào chỉ cho hoa đỏ thắm, dù không
ăn uống được nhưng nàng ta vẫn có cái thắm tươi
riêng biệt để tô điểm cuộc đời. Những hoa chanh, hoa lài
thường tỏa hương vào buổi tối, dưới ánh trăng, khu vườn
thoang thoảng trong không gian mùi hương của hoa cỏ, cũng đủ sức
làm dịu đi nỗi mệt nhọc sau một ngày làm việc. Nếu không
nhờ những cánh hoa ấy, mùi hương ấy làm sao con người có
thể quân bằng nội tâm. Rồi những loại rau như cây bù ngót,
thân khẳng khiu và ngay đuỗn mọc ra những chiếc lá xanh nho nhỏ,
chỉ cần hái đầy một rổ, vò sơ rồi nấu với chút
thịt nạc băm nhuyễn, mát đáo để. Người khô hạn,
phổi hanh hao, mắt mờ, đầu váng vất, nắm lá xanh ấy có
tác dụng thần kỳ, cái nóng cái khô như biến ngay đi, dễ
chịu như được người con gái đắp chiếc khăn mặt ướt
lên trán vào một trưa hè. Cây cỏ trong khu vườn rau của Hân, giống như thần dân
của một vị vua nhân đức, được hưởng phúc ấm của
người lãnh đạo mà làm đẹp cuộc đời. Đấy
cũng nhờ ở cách dùng, cách trân trọng tối đa, nhờ thế
mà cây tươi tốt, xum xuê, nẩy hoa đơm trái. Chân lý
ấy mà áp dụng được trong một gia đình, một tập thể,
một quốc gia thì hẳn nhiên đã có thiên đàng tại
thế. Nhìn vườn
rau xanh tươi tốt của mình, Hân có cái vui đang làm một
điều gì có ích lợi, dẫu rằng chỉ thu hẹp lại trong thế
giới cây cỏ. Muốn thực hiện được sự công bằng không
thiên vị cho bất cứ loại cây nào, lợi nhiều hay ít, người
chủ vườn vẫn phải có cái nhìn vô tư và thẳng thắn.
Lão bí rợ không thể ỷ mình có sức khoẻ, cành lá
mập mạp mà lấn sang mảnh đất của đám rau má trẻ con
nằm nép bên vệ rào, dẫu rằng công dụng của lão có
đa năng, đa hiệu thật đấy. Đọt bí xào tỏi ăn bùi
và thơm, khi kết trái thì quả nào quả nấy to đùng như
bụng ông địa, thứ ấy mà đè lên mảng rau má kia thì
chúng chỉ có chết, bởi vậy Hân cũng chỉ cho chúng lan tràn
đến mức nào thôi. Chàng thú vị nhân cách hóa cho đám cây cỏ của
mình. Mỗi thứ cây là một loại người khác nhau, một chỗ
đứng khác nhau, chàng chỉ dung hòa chúng chứ không cai trị,
vì con người có thói quen thích lãnh đạo và lấn lướt
người khác. Những vạt rau má bé tý teo như những đồng
tiền hai mươi lăm xu, xem vậy mà lợi hại ra gì, cứ xay ra để
uống với chút đường và đá, mát tì mát phổi
không thứ nào bằng, còn kẹt lắm nấu suông với lon súp
gà, thêm mấy con tôm khô, cũng có một tô canh mát mẻ.
Có từng xực những bữa ê hề thịt thà, ít rau cỏ, mới
thấy quý khi được ăn một bát canh rau, bao nhiêu sân si lắng
xuống, lòng cứ nhẹ tênh như bay về chốn non bồng nước nhược.
Với lũ cây non be bé Hân nâng niu
như trẻ thơ, thì với mấy cây già cỗi sắp tiêu diêu
về bên kia thế giới, Hân vẫn có cái trân trọng như trân
trọng người có tuổi. Có lẽ cũng từ sự tương quan tuổi
tác mà chàng có sự săn sóc ấy chăng? Suy bụng ta ra bụng
người, cây mười tuổi như người trăm tuổi, nhất là
với những cây có đời sống ngắn ngủi, sự hiện diện
của chúng trong khu vườn với một khoảnh khắc nào đó, vẫn
cống hiến cho con người niềm vui thật nhỏ bé, khi nhìn những
lộc non đơm đầy trên cành nhánh khẳng khiu. Thế nhưng cảnh
chia biệt giữa cây và người vẫn làm Hân cảm nhận được
một nỗi buồn thắm thía như hai người bạn đã tới lúc
chia xa, không hẹn ngày tái ngộ. Cây cam già đã cỗi, không
kết trái đơm hoa, đã đến lúc phải ra đi vẫn để
lại trong lòng Hân một nỗi trống trải đến nhiều ngày mới
quên được, đành lòng là phải tiễn đưa nhau, nhưng
chàng cũng cảm khái được mấy vần ai điếu: "Càng ngày cây càng nhỏ lại Càng lúc trái càng bé đi Mùa
Xuân chờ hoài không tới Mùa Đông
đợi hoài chẳng đi." (Thơ N.N.)
Hân nhớ có lần chàng đau nặng,
lúc nào người cũng ren rét, bệnh chẳng ra bệnh gì, nằm
liệt một chỗ mấy tháng trời. Trận ấy may là chàng thoát
chết, lúc tỉnh hồn tỉnh viá, Hân soi gương thấy mặt mũi
vêu vao, hốc hác, thoát chết lần ấy, chàng tự nhủ phải
tận dụng những giây phút quý giá của đời người mà
làm điều gì hữu ích cho cuộc sống. Cận kề giữa hai bờ
sinh tử, lơ mơ nhìn ánh nắng chiều se sắt ngoài hàng dâm
bụt đỏ, mảng trời xanh không một gợn mây, chàng thấy đời
quả đẹp vô cùng. Từ đấy chàng tự hỏi, sao không làm
điều gì đẹp đẽ để lúc hai tay buông xuôi sẽ không
ân hận, tiếc nuối, để biết cái hạnh phúc khi được
làm người, cũng bởi cái ân sủng từ nhiều kiếp trước
mà thành. Lỡ như, Hân mỉm cười khi nghĩ nếu mình ăn
ở chẳng ra chi, trời cho tái sinh làm kiếp vịt quạc quạc, lại
có ai đó ân oán với mình từ kiếp trước, cắt cổ
làm bữa tiết canh thì còn gì là đời vịt.
Hân hay nghĩ vớ vẩn, nghĩ lung tung rồi
cười một mình cho đời đỡ buồn. Sống cũng nhiều, vui cũng
nhiều, buồn cũng nhiều, nhìn chặng đời qua thì chỉ những
hận thù, bon chen, bóc lột, ganh ghét. Hân vẫn mơ tưởng một
ngày mình làm vua, không phải để vui hưởng vinh hoa phú quý
như các vị vua trần thế, nhưng ít ra chàng sẽ cố gắng lập
lại cái thanh bình trật tự cho thần dân của mình, hưởng
thực sự nền thái bình thịnh trị. Đời đâu dễ mà mơ được một giấc
mộng trọn vẹn như thế. Thôi thì chàng trồng cây, trồng
rau, trồng hoa, rồi đem cung cách của mình mà sắp xếp, săn sóc
cây cỏ như vua thương dân, để an ủi cho riêng mình là
đã thực hiện được những hoài bão tốt đẹp, ít
là cho loài thực vật. Khu vườn rau quê hương, là cả một
giang sơn gấm vóc, một bờ cõi có ranh giới hẳn hoi, có trên
có dưới, không lấn áp kèn cựa, không nâng ai quá đỗi
để tủi hổ kẻ tầm thường, một xã hội cây cỏ chan
hòa tình yêu thương, không gian dối. Còn một vài việc tuy bận rộn Hân vẫn phải
làm. Đó là cây kim quất nay đã gần chục tuổi, đã
quá tuổi xuân xanh và đang vào độ tàn héo. Mỗi lần
rắc một lượt phân, lượt đất cho cây, Hân vẫn hóm
hỉnh: "Chào cụ". Chả biết cụ quất có bịnh hoạn gì
không mà dù chăm cách mấy cụ vẫn không tươi lên được,
hay là tai cụ nghễnh ngãng cho nên không nghe được tiếng gió
xuân đã thì thào về với đất trời, y như người
đã ốm, đã già, máu không lưu thông nên lúc cố
đâm được mấy chiếc lá non, thì chỉ một sáng một
chiều đã héo ngay đi, trông rất thương tâm. Chục năm
trước, độ còn xuân xanh, mùa Xuân như khoác một chiếc
áo vàng óng ả lên cây kim quất trẻ tuổi, quả trĩu cành,
hoa trắng muốt, lá biếc xanh. Hân dạo ấy cũng biết làm thơ,
chàng cảm khái khi nhìn mùa Xuân về với hai vần thơ nhỏ:] “Mùa Xuân em mặc áo vàng, Đất trời như đã rộn ràng quanh tôi.” Cây kim quất nay đã già, cũng biết rét run lẩy
bẩy khi cơn gió Đông thổi về, dù đã được Hân
che chắn, chăm sóc cẩn thận. * * * Hân vẫn
gửi tất cả tâm tình, cả trái tim của mình cho cây cỏ,
như chàng vẫn hướng về quê nhà với nỗi niềm thiết
tha mong đợi. Một ngày nào đó những mầm non sẽ mọc lên,
sẽ làm xanh tươi một đất nước thống khổ vì chinh chiến
kéo dài hàng bao nhiêu năm, sẽ thay đổi bộ mặt cho tổ quốc
với những cái tâm trong sáng, biết thiết tha với tiền đồ
của dân tộc. Với một
khuôn mặt trầm lặng và tính tình kín đáo, cộng thêm
tư tưởng có vẻ lập dị, người không hiểu chàng sẽ
có thể nghĩ chàng là kẻ có tính hơi man mát, điên
điên, mấy ai đã nghĩ tới được chiều sâu của một
con người nặng lòng với quê hương, xứ sở. Tổ quốc
ở bên kia giờ này vẫn còn đầy những con sâu đục rỗng
xương tủy dân tộc, còn kẻ tha hương vẫn chưa tìm
được lối về, những con én vẫn bay nhưng mùa xuân thì
chưa thấy. Đường về thì thiên hình vạn trạng, con người
vẫn đục trong lẫn lộn. Đến bao giờ mới có một sự tương
kính lẫn nhau để xứ sở được vươn lên, đất nước
không bị áp bức? Thôi
thì trong hiện tại, trên mảnh sân này, Hân đã thực hiện
được điều ấy với cây cỏ trong vườn rau quê hương
của chàng. NGUYÊN
NHUNG
Nam Bắc Đề Huề truyện
phiếm của NGUYÊN NHUNG
Ngày di cư vào Nam, tôi mới
sáu tuổi. Thời gian đầu, dân Bắc Kỳ di cư hồi ấy sống
chùm nhum lại với nhau, chưa quen với phong thổ, ngôn ngữ, phong tục
cuả người miền Nam, nên có khuynh hướng theo cách tạo
cho mình cảnh "luỹ tre xanh bao bọc thôn làng" , quây quần bên
nhau cho đỡ nhớ quê cha đất tổ.
Tuy vậy, làng xóm người Bắc lọt
thỏm vào những xóm làng miền Nam vây xung quanh. Cây da, bến đò
cuả miền Nam nom tươi mát, sung túc hơn miền Bắc, buổi chợ
sớm từ khi trời còn tối mờ mờ, mỗi xạp bán hàng đều
có một cây đèn “hột vịt” treo trên đòn ngang rọi
ánh sáng mù mờ xuống các loại thực phẩm đủ thứ
cả hai miền Nam Bắc. Ngày Tết bên kia làm bánh tét nhân đậu
thịt, nhân chuối, kho thịt với hột vịt nước dưà trong những
cái nồi to tướng, nồi khổ qua nhồi thịt, dưa giá , tai heo ngâm
giấm để lai rai ba ngày Xuân. Bên này cũng làm bánh chưng,
thanh cảnh hơn với thịt kho tàu, vịt xáo măng, canh bóng lợn
, giò thủ, thịt nấu đông, dưa hành . Tối 30 nhà nào cũng
quây quần quanh nồi bánh chưng , bánh tét...Đó là những
năm thanh bình, về sau chiến tranh từ trong rừng bò ra, có khi vừa
chạy loạn vừa ăn Tết. . .
Người miền Bắc đời sống chật
vật, chịu đựng giỏi để vươn lên, chắt chiu tiện tặn
lần hồi cũng nhà cao cửa rộng, con cái ăn học nên người.
Người miền Nam đất đai màu mỡ, làm chơi ăn thật, tính
tình xởi lởi, rộng rãi. Hồi bé, khi những mảnh rẫy trồng
đậu phọng cuả người miền Nam thu hoạch xong, lúc ấy bọn con
nít Bắc kỳ bắt đầu đi "mót" về luộc ăn chơi.
Chị em tôi đi một đám vào những ruộng rẫy cuả người
miền Nam, nhặt lại những "củ lạc" còn sót trên rẫy
, cứ chăm chỉ lượm có khi đầy một thúng. Anh bạn miền
Nam học chung với mấy đưá miền Bắc mới vào, thấy mấy
cô bé Bắc Kỳ ăn nói dễ thương, chả nói "oong đơ"
gì hết, vào nhà xúc đầy một thúng, tặng đám bạn
miền Bắc đem về ăn chơi. . .
Giai đoạn đầu người miền Nam nhìn
người Bắc di cư như người khác nước, nhưng sau hiểu ra
họ cũng thông cảm phần nào cảnh gia đình tan nát vì chiến
tranh. Đã 45 năm Trịnh Nguyễn phân tranh, dân ta cay đắng nhiều
rồi, khi về thăm quê ở miền Bắc, đi ngang cầu Hiền Lương
trên dòng Bến Hải, qua con sông Gianh nước chảy cuồn cuộn lòng
tôi lại mênh mang một nỗi buồn
Ở chưa yên chỗ chiến tranh lại bò
dần vào xóm làng người Bắc ở, đêm đêm nghe tiếng
súng nổ ai cũng hãi hùng. Mẹ tôi vì sự học cuả các
con, đi theo người anh cả nên dẫn đám con nhỏ xuôi về miền
Tây, đồng ruộng màu mỡ, vườn tược xum xuê làm nơi
đất lành chim đậu. Hôm mới đến, một bà hàng xóm
miền Nam lân la ra làm quen với mẹ tôi, bà ấy nói:
" Con tui nó cũng lấy chồng
ở "nước" nhà chị. Hồi đó tui hông biết tại sao
người xứ chị " dzô" ở với người Việt tụi tôi,
sau thằng rể dẫn đi coi phim "Chúng tôi muốn sống", tui mới
hiểu."
Chuyện cười ra nước mắt, tội này
là tội cuả tụi Thực Dân chia để trị, người hiểu biết
thì không ai lại phát ngôn một cách vô ý thức như trên.
Mẹ tôi tính hiền lành, không cải chính sợ gây ác cảm
với người hàng xóm, chỉ hơi ngạc nhiên vì tiếng “Chị”
thay cho tiếng “Bà” mà những người miền Bắc hay dùng khi
nói chuyện với nhau. Chúng tôi đi học, từ bậc Tiểu học
rồi qua tới thời kỳ Trung học, thầy cô giáo Nam có, Bắc có,
học sinh miền Nam tha hồ nhái giọng miền Bắc để trêu ghẹo
đám bạn mới từ miền Bắc vô. Tôi có nhiều bạn miền
Nam người lục tỉnh sống ở miền Tây, nên có chút so sánh
với những bạn miền Nam sống ở miền Đông, họ cũng có
chút xíu khác nhau, huống gì tụi tôi là Bắc Kỳ ăn rau
muống. Mấy nguời bạn cũ miền Đông tính tình mộc mạc
hơn, họ sống bằng nghề làm rẫy và vườn cây ăn trái,
tiếng nói họ có chơn chất thật thà , dân Củ Chi, Bình
Dương phát âm chữ TH thành chữ KH, nghe ngồ ngộ mà cũng
dễ thương, ai không tin hỏi người Bình Dương thì biết.
Mãi sau này có chị bạn người Châu Đốc, không biết
sao tôi nghe chị nói " con cá gô nằm trong cái gổ" tôi
cũng thấy hay hay
Người ta đặt chuyện ra để cười
cho vui, vì dân mình là dân có máu tiếu lâm đệ nhất
thiên hạ. Đi về miền Nam, văn minh miền đồng bằng sông Cửu
có khác nền văn minh sông Hồng , nhưng bên cạnh những người
dân quê muà cục mịch, vẫn có những gia đình trâm anh thế
phiệt, họ sống vương giả và kiểu cách đâu thua gì
người đất Thần Kinh. Mấy bà mẹ chồng miền Nam cũng khó
" thấu trời xanh " đâu thua gì mấy bà mẹ chồnng miền
Bắc, xem ra hễ làm người thì ở đâu cũng có người
này, người nọ.
Tôi đi học, nói tiếng Bắc nghe có
vẻ lạc lõng giữa một lớp học toàn Nam Kỳ quốc,
bởi vậy tự động nhái giọng Nam, rồi chắc vì lưỡi con
nít còn dẻo nên dần dà không ai biết tôi là người
Bắc. Đa số người Bắc nói tiếng Nam cứng đơ, nói không
đúng, có khi lại còn bị hiểu lầm là "Chửi cha không
bằng pha tiếng", thực là "oan ui ông Địa" . Nghe nói hồi
xửa hồi xưa, lúc người Bắc còn thưa thớt, chỉ vì mấy
chữ "Tân sơn Nhất với lại "Tân Sơn Nhứt " mà đã
uýnh nhau vỡ đầu, phọt óc . Đúng ra thì chỉ có một
thứ tiếng, nhưng từ ở miền Bắc phát âm hơi cưng cứng,
chữ TR với CH nghe giống hệt nhau, vào tới miền Trung nó cứ trài
trại ra nghe nằng nặng, khi đến miền Nam bị ảnh hưởng Lào,
Xiêm, nó trơn trớt rồi nói sao viết vậy, đâm trật lất.
Tôi ít chữ nghiã nên chỉ diễn tả theo lối bình dân học
vụ, hễ sai sót thì bà con đánh cho hai chữ "đại xá".
Chả bù cho anh tôi, uống nước miền Nam đầy cả bụng, lấy
vợ miền Nam nấu cơm chắt nước rồi lại lấy nước cơm
uống lại, mà phát âm tiếng miền Nam cứng đơ như người
Mỹ nói tiếng Việt. Vậy mà mấy chú G.I. tóc vàng mắt
xanh lúc trở lại Việt Nam sau cuộc chiến, họ tới thăm Việt Nam,
họ nói khôn khéo làm sao:
"Việt Nam luôn ở "chong chái" tim tôi."
Họ nói tiếng Bắc đấy, cứ như
là họ yêu mến cái xứ sở cuả mình còn hơn xứ sở
họ, hèn gì mà gần như cả thế giới không ưa họ mà
vẫn không dám cắt đứt tình hữu nghị với họ. Mắt họ
xanh xanh, biêng biếc như sóng nước đại dương, nhìn họ
cứ tưởng họ "khờ "mà họ "khôn" tổ mẹ, chả
tin thì cứ nhìn qua những công trình xây dựng cuả họ, mới
thất kinh cho cái đầu đoàn kết cuả dân tộc họ, họ
chỉ đi vào chuyện lớn chứ ba cái lẻ tẻ họ xem như "pha".
Cái món mình ăn họ không xơi được vẫn khen ngon rối
rít, nhưng mời ăn nưã thì họ "thank you" rồi xua tay mỉm
cười rất khó hiểu. Thành ra tôi thông cảm với cái người
miền Bắc xứ tôi, hồi mới di cư vô Nam hễ được mời
ăn sầu riêng là món quý cuả miền Nam, họ cũng
cầm lấy rất lịch sự nhưng chờ cho người kia quay mặt đi là
len lén vứt vô thùng rác... Đó là chuyện xưa lúc tôi
còn bé tý, chứ bây giờ một trái sầu riêng be bé tôi
cũng xực tuốt luốt chỉ chừa cái …hột và vỏ.
Thôi tôi không nói chuyện Quốc Tế
nưã, chuyện đó để cho những người nhiều chữ nghiã,
tôi chỉ kể chuyện Nam Bắc xứ tôi nghe chơi thôi. Chị dâu
tôi ngưòi miền Nam , chị nấu ăn ngon tuyệt mà cũng chiều
ông chồng Bắc Kỳ tối đa, chả phải chỉ có đàn bà
miền Bắc mới biết tảo tần, chiều chồng đâu. Những khi nhõng
nhẽo với anh, chị chỉ cần nhão nhà nhão nhẹt “anh ơi,
anh à” thì nói gì anh tôi cũng nghe. Mật ngọt chết ruồi,
anh tôi đành làm con ruồi bơi trong hũ mật miền Nam.Trong khi đó
cả nhà tôi cố bắt chước nói tiếng Nam, để hoà nhập
vào với miền Nam thân thương, bầu bí gì mà hễ đem
nấu với đầu tôm thì canh cũng ngọt như thường, đâu
ngờ khi đó bà chị dâu miền Nam cuả tôi lại bắt đầu
pha giọng Bắc. Trời đất quỷ thần thiên địa ui! Cái giọng
Nam pha Bắc sao nó "ngộ" quá trời quá đất đi, mỗi câu
chị nói, xề xuống chữ "Ạ" cuả dân miền Bắc nó
mùi thua gì ca sáu câu vọng cổ, y như tiếng trẻ con chào khách.
Bởi vậy mẹ tôi quý cô con dâu miền Nam còn hơn lũ con gái
Bắc nhà mình, bà con dòng họ nhà tôi ai có óc kỳ
thị tới mấy , cũng phải tấm tắc khen mẹ tôi có phước.
Chị dâu tôi khéo về môn bánh
trái, thêu thuà lắm, dù gì chị cũng xuất thân từ một
gia đình nền nếp ở miền Tây, đi đâu ăm mặc chưng
diện chứ không xuề xoà như người ta thường nói. Cái
này mới là điều mà mẹ tôi hơi phiền lòng mà không
dám nói ra, chị lại là cô thợ may nên chăm chỉ ăn diện
cho khách nhìn vào sẽ không tiếc tiền may mặc. Mỗi lần nhân
dịp Lễ Hai Bà Trưng, phụ nữ trong Tỉnh đua nhau thi gia chánh , nữ
công, chị luôn luôn đoạt giải phụ nữ khéo, còn tôi
hồi ấy khá "xổ sưã", nếu có thi chắc chỉ đoạt
giải "trẻ em hay ăn chóng nhớn". Một đám em chồng miền
Bắc mà hồi xưa chị cho là "giặc bên Ngô không bằng
bà cô bên chồng miền Bắc "cũng dễ thương quá "chời"
, mấy anh bà con bên nhà chị đã không kỳ thị, lại còn
theo đuôi tụi tôi mà ca bài "áo nàng "dzàng" anh
" dzìa" yêu hoa cúc, áo nàng xanh anh mến lá sân trường"
nưã chứ!
Ngộ
là hồi ấy mấy anh con trai miền Nam lại mê tít mấy cô gái
Bắc, họ cũng văn chương mà gọi tụi tôi là " Hỡi
cô Bắc kỳ bé nhỏ cuả tui ơi!", còn tụi tôi thì bèn
nhái cả giọng Nam lẫn giọng Bắc mà trêu lại rằng "Lam"
Kỳ mà "nại "đi thương "Bắt" Kỳ". Trong khi ấy,
mấy anh Bắc Kỳ nhà tôi thì lại quả quyết rằng mấy cô
gái miền Nam ăn nói ngọt ngào, nhõng nhẽo khỏi chê. Họ
ngồi bên bờ sông ngắm hoa lục bình trôi, mà ca rằng " Ôi,
đoá hoa tím trôi líu riu , dòng sông nước chảy liu riu, anh
thấy em nhỏ xíu... nhỏ xíu... anh thương ". Mấy anh miền Nam cũng
rất ngon lành đâu chịu thua: " Người từ ... là từ phương
Bắc, đã băng dòng sông, sông dài, tìm đến nơi này,
một nhà thân ái. Ơi ! Tình Bắc duyên Nam... là đây..."
Hồi chị dâu tôi mới lấy anh tôi,
bất cứ nước luộc. . . gì cũng đổ đi, cả nhà chưng
hửng vì cho là người phí phạm. Sau mới biết là thói
quen ăn uống cuả người Nam khác miền Bắc. Sau này nhờ mẹ
chồng chỉ dẫn, mới biết lấy nước luộc rau muống đánh
dấm cà chua, cho thêm tý tỏi tý muối, tý bột ngọt , vắt
thêm miếng chanh là làm được món canh " chay" rất mát
bụng. Bởi vậy mới có thơ thẩn ... rằng:
" Trên trời có đám mây xanh,
Ở giữa có ao rau
muống, xung quanh Bắc Kỳ.
Luộc rau chớ đổ nước đi,
Vắt chanh thêm muối còn gì... mát bụng hơn."
Con cua đồng miền Nam chỉ để trẻ
con ăn chơi cho dzui, không ai bán ngoài chợ. Lần hồi khi người
Bắc vào, món canh riêu cua hay canh cua nấu rau đay ăn với cà pháo
muối xổi được người miền Nam hưởng ứng nồng nhiệt,
vì thế mà sau này con cua cũng được mang ra chợ bán. Con ốc
bươu luộc lá gừng rồi chấm nước mắm xả ớt ăn rất
bắt, nhưng nếu đem nấu với chuối xanh, đậu hũ, thịt ba chỉ,
mắm tôm rồi xắt vào đấy một nạm tiá tô với hành
lá, nó lại ngon kiểu khác. Nhiều khi tôi nghĩ cái văn hoá
ẩm thực giữa hai miền nó nằm cả trong món ăn, chứ cần tìm
đâu xa cho mệt óc. Miền Bắc làm văn hoá miền Nam đậm
đà là thế, đơn giản như nước rau muống luộc hay món
canh cua rau đay ăn với cà mà thôi.
Thời gian sống ở miền Tây, tôi còn
được làm quen với các loại rau hoang như rau càng cua mọc lan
tràn trong vườn, trong sân như cỏ dại, chỗ nào cây to bóng
mát, đất ẩm chỉ cần vài cơn mưa là dưới bóng
cây rau càng cua mọc lên từng mảng xanh rờn. Không ngờ loại rau
có lá hình trái tim hơi tròn trĩnh như một đồng xu, màu
xanh non ngọc thạch mượt mà dễ thương, lại là một món
rau bổ ích mà mãi sau này khi tìm hiểu tôi mới biết công
dụng dược thảo của nó tốt hơn nhiều thứ rau nhà được
vun trồng tưới tắm.
Trên mâm cơm của người miền Tây
thuở ấy, từ Trà Vinh cho đến Cần Thơ thường có
rổ rau sống ăn kèm với thịt , cá kho, mắm kho, vì vậy mà
chất tươi mát này đã thấm đẫm trong xương tuỷ cũng
như tâm hồn của người miền Nam. Một rổ rau tươi đủ
loại để ăn mắm bao giờ cũng có sự hiện diện của nắm
rau càng cua hương vị nồng nồng nhưng giúp những gia đình
nghèo đưa chén cơm vào miệng thật ngon lành. Mảnh đất
ẩm nằm cạnh cái giếng nước giúp cho rau càng cua tăng trưởng
tươi xanh , mọc len trong cỏ nằm cạnh vách tường, miễn có
đất ẩm là có rau, nên cả nhà tha hồ hái rau ăn quanh năm.
Chị dâu tôi thường làm món
rau càng cua trộn dầu giấm thịt bò, ngon hết biết. Nhưng sau này
khó khăn, đâu phải lúc nào cũng có thịt bò, nên
mẹ tôi chế biến thành món rau trộn chay giản dị mà cũng
rất ngon. Vài trái cà chua chín thái ngang, mấy củ hành khô
ngâm dấm và chừng hai cái hột vịt bày xung quanh đĩa rau, trộn
dầu giấm chấm nước mắm chua ngọt là cả nhà đã được
một bữa ngon cơm rồi. Bây giờ ở quê người, cuối xuân
sang hè tôi chỉ mong trời mưa, tiếng sấm động ì ì với
những cụm mây đen ùn ùn kéo đến, vài trận mưa lút
đầu ngọn cỏ là lúc đó rau càng cua cũng chuẩn bị
mọc lên chen nhau dưới những bụi cây thấp và ẩm. Khi đã
mọc rau tăng trưởng khá nhanh, một sớm mai ra vườn nhìn thấy
những cụm rau mát như ngọc thạch vươn lên chen lẫn trong lá
cỏ, người xa quê mới cảm thấy nỗi ao ước hưởng lại
hương vị rau càng cua quê nhà, giờ đây cũng loài nơi
xứ lạ.
Vì thích ăn rau càng cua nên tôi
đã tò mò tìm hiểu xem loại rau này mang tiếng là hoang dại,
nhưng hình như dòn dòn ngon ngon hơn nhiều loại rau khác. Theo bảng
phân tích các chất dinh dưỡng, rau này có rất nhiều loại
chất bổ khác nhau với hàm lượng hơn hẳn so với rau Muống.
Nói có sách mach có chứng, tôi kèm theo đây bảng phân
chất để chứng minh tại sao tôi khoái ăn cái món rau thiên
nhiên này từ lúc không hiểu tính chất dược thảo của
nó:
STT CHỈ TIÊU/ĐƠN VỊ
KẾT QUẢ So sánh
1
Protein (g%) 4,00 6,5 (đậu
Hà Lan) 2
Tro (g%) 1,8
1,3 (rau Muống )
3 Cellulose (g%)
1,2 1,0 (rau Muống)
4 Canxi (mg%)
242,2 100 (rau Muống)
5
Photpho (mg%) 116,3 37 (rau Muống)
6 Sắt (mg%) 7,1
1,4 (rau Muống)
7 β-Caroten (µg%) 5100 5040
(cà Rốt) 8 Vitamin B1 (mg%)
0,07 0,03 (cà Rốt)
9 Vitamin B2 (mg%)
0,09 0,04 (cà Rốt)
10 Vitamin PP (mg%)
0,06 0,5 (cà Rốt)
11 Vitamin C (mg%) 1,8
3 (cà Rốt) 12
Glycine (mg%) 81,6 81 (Cải bắp) 13 Lysine
(mg%) 15,7 62 (Cải bắp) 14 Proline
(mg%) 109,6 53 (Cải bắp)
15 Leucine (mg%) 113,4
90 (Cải bắp) 16
Độc chất KPH KPH
Rau càng cua còn có tên là đơn
kim, đơn buốt, cúc áo, quỷ châm thảo , thích châm thảo
, tiểu quỷ châm,cương hoa thảo Theo Đông y, rau Càng Cua vị đắng,
tính bình, có tác dụng thanh nhiệt, giải độc, khu phong, hoạt
huyết, tan máu ứ; thường dùng để chữa các bệnh nhiễm
trùng đường hô hấp, viêm họng, viêm ruột thừa, viêm
gan truyền nhiễm, viêm dạ dày - ruột, tiêu hóa kém, đau nhức
xương khớp, sốt rét. Nó còn được dùng ngoài chữa
rắn cắn, nhọt lở, chấn thương sưng đau.
Tôi là cọng rau muống trôi giạt trên
dòng sông Hậu Giang, sống quen với phong thổ và khí hậu miền
Nam,nhờ gió thuận mưa hòa mà lớn lên sơi sởi như rau cỏ
mọc trong vườn. Ông già bạn tôi dân nhậu, không thể thiếu
xị rượu đưa cay trong mỗi bữa cơm hằng ngày, cũng nhờ
rau mà lá gan cầm cự được với con sâu rượu năm này
qua năm nọ.
T Tôi đã từng thú nhận với bà con xa gần, tôi
là cô bé con Bắc Kỳ di cư, nhưng "tôi lớn lên ở miền
Nam, ăn bát cơm miền Nam, uống nước từ những cái giếng trong
văn vắt sâu hun hút dưới lòng đá ong..." thành ra tôi
yêu miền Nam còn hơn miền Bắc cuả tôi nưã, và khi đi
xa, những gì tôi nhớ lại chỉ là hình ảnh cuả miền Nam
nước tôi. Chuyến phà qua sông Hậu giang, tiếng sóng róc rách
vỗ vào mạn bờ nghe ngậm ngùi quá đỗi. Chiếc cầu tre lắc
lẻo bắc qua con rạch nhỏ, cây mai vàng trước sân óng ả
mỗi độ xuân về, thì ra hễ nơi nào mình lớn lên, gắn
bó vào những kỷ niệm trong đời người thì nơi đó
là quê hương cuả mình vậy. Thành ra tôi không ngạc nhiên
khi thấy những ngươi đồng hương dù Nam hay Bắc, sinh trưởng
ở những miền quê nghèo khổ, nay sống ở hải ngoại họ vẫn
không bao giờ phủ nhận nơi chôn nhau cắt rún cuả mình, những
cái họ nhớ lại chỉ là những gì rất là nhỏ bé
và tầm thường, những lúc gian nan lận đận sống trong căn
nhà rách chăng nữa thì dấu kín trong đó vẫn vô số
kỷ niệm.
Đât nước ta giang sơn gấm vóc, bé tẻo
teo nhưng chia tới ba miền, núi sông ảnh hưởng đến con người.
Cứ xem cốt cách văn chương thì rõ, đất sản sinh ra vật
chất nuôi sống con người , miền Bắc ngày xưa là chốn “ngàn
năm văn vật” nên người cũng thanh tao lịch sự không hổ
lốn như bây giờ. Miền Trung đất đai hiểm trở, chỗ núi
chỗ biển có nhiều nơi đất cày lên sỏi đá, chỗ
lại thanh lịch như cố đô Huế, bởi vậy người cũng sâu
sắc u trầm lãng mạn. Miền Nam sông nước tràn bờ, lồng lộng
gió thổi suốt ngày không hết ruộng luá, đời sống vì
vậy mà thanh bình no ấm hơn hai miền Trung Bắc, tính tình cũng
hào sảng rộng rãi, yêu ghét lộ rõ ra bên ngoài. Ba miền
bổ xung cho nhau để tạo thành một sắc thái đặc biệt cuả
Dân Tộc, nhưng bản chất cuả mỗi con người tốt hay xấu thì
tuỳ vào Trời sinh, cho nên không thể kết luận miền nào hơn
miền nào được.
Bao năm ở quê người, tôi vẫn nhớ
về quê hương với biết bao hình ảnh đằm thắm cuả ba miền
đất nước, chị em tôi mỗi lần nhắc về quê hương,
vẫn nhớ lung tung chỗ này một tý, chỗ kia một tẹo. Khi thì
căn nhà xưa nơi chôn nhau cắt rốn ở miền Bắc, có cây
bàng trước cửa, có cái ao vuông sau nhà, và những bụi
tre, bụi trúc rung rung trong gió thu buồn man mác. Khi thì nhớ căn nhà
tranh với khu vườn đất cát pha thịt ở miền Đông Nam phần,
buổi chiều nắng xiên khoai chiếu chênh chếch lên những vồng khoai
vồng đậu, ngửi mùi cá khô nướng, củ khoai lang lùi trong
bếp lưả, hát nghêu ngao bản " Ngày trở về" cuả nhạc
sĩ Phạm Duy, đã được lũ nhỏ nghịch ngợm như tụi tôi
đổi lời bài hát:
" Ngày trở về, những đoá hoa,
thấm thoát mười năm nhớ anh vắng xa. Có nhiều khi, đàn ông
chóng già... vì thiếu đàn bà..."
Đó, tụi tôi nhớ về quê hương
như vậy, không có bóng dáng những nhà cao tầng, địa điểm
du lịch sơn lòe loẹt cho em nhỏ nó mừng, mưa gió ngập lụt
đường hoá sông như bây giờ, nhất là xe cộ chạy ì
xèo tung bụi mù trên đường phố, muốn băng qua đường
chờ cả giờ vẫn không dám đi sợ bỏ thây trên mặt lộ.
Mỗi khi nhắc về miền Tây, tôi lại nhớ tha thiết chuyến phà
qua sông, con đò bập bềnh trên sóng nước Hậu Giang, bóng
dáng yêu kiều, thơ mộng cuả những con đường tỉnh nhỏ,
hàng sao già với những hôm trời gió lộng , tan trường về
nhà vừa đi vừa lượm những trái me chua chín tới rụng trên
mặt cỏ, hay nhặt những cành sao khô về nhà cho mẹ nhúm bếp...Trong
tôi, hình bóng cuả quê hương nằm rải rác suốt ba miền
Trung Nam Bắc, nơi nào tôi cũng thấy đáng yêu, càng nghèo
càng khổ lại càng thương càng nhớ.
Nguyên
Nhung

Lênh Đênh Phận “Mèo” .
truyện vui năm Tân Mão, 2011 Nguyên
Nhung .
“Nàng” là một trong
ba con mèo con mở mắt chào đời trong hốc tối cuả cái “patio”
ẩm mốc , chỗ ấy chủ nhà đã chất một đống chăn
cũ để dành phủ cây trong muà đông buốt lạnh.
May mà năm nay trời không có tuyết, nếu có lạnh thì chỉ
là những đợt gió muà phương Bắc thổi về, sau đó
tiết trời lại trở nên ấm áp với mặt trời phương Nam,
nên không ai phát hiện ra trong cái góc tối ấm áp kia lại
có đến ba con mèo con nằm ẩn mình trong đó. .
Mèo
mẹ đã qua thời kỳ sinh nở, lại bận bịu sinh kế tìm sữa
cho con bú, cho nên sau khi làm sạch cái nhà “bảo sanh” tự
nhiên mà có thì mụ đã phải giầm mưa gió đi kiếm
ăn, để lại ba đưá con thơ lông còn ướt nhẹp nằm
ngủ vùi trong đống chăn mền cũ. Còn người cha thì cho đến
bây giờ vẫn không biết “hắn” là ai, ba đưá nhỏ
sau thời kỳ non nớt, độ hơn tháng đã tung tăng chạy ra chạy
vào chỗ ánh nắng chiếu vào mấy chậu cây, chúng nó giỡn
nắng như những đứa trẻ con trốn mẹ ra vườn bắt bướm
ấy mà. .
Mỗi đưá
một màu lông chả đưá nào giống đưá nào. Hai
cô mèo con mới nhìn thì tưởng giống nhau như khuôn, nhưng
vẫn khác nhau ở chỗ cũng cái màu vàng mơ nhưng cô kia áo
lại vằn lên như da cọp, đôi mắt sáng quắc xanh lè trông
rờn rợn như một con cọp con thu nhỏ trong dáng mèo. Trông màu
lông cuả cô mèo vằn vẫn còn hơi hướng vẻ hoang dã
của giống linh miêu thuộc loại Felis Silvertis tại rừng già Âu Châu,Tây
Á và Châu Phi từ ngàn xưa. Đây là loài thú nhỏ
con chỉ thích đi săn chuột, chim hay sóc. Hình như chúng đã
bị thuần hoá khoảng 10.000 năm trước đây ở vùng cận
Đông, khi nền nông nghiệp phát triển hoa màu được chất
vào kho, thu hút những loại thú như mèo đến săn
bắt, rồi gần gũi với loài người. .
Còn
cậu mèo mướp trông ươn ướt, bẩn bẩn chỉ hay khóc
nhè, chả biết đến sự tắm rửa là gì, có thể cậu
là con cuả ông mướp già vẫn lừ đừ đi theo mèo mẹ
những ngày mụ không kiếm ăn được.Chỉ có mỗi
em mèo mơ thì liếc sơ cũng biết sau này không
sắc nước hương trời, cũng là một giai nhân yểu điệu.
Mà em yểu điệu thật, cứ đặt cho em cái tên “Miêu tiểu
thư” cũng không sao, cha mẹ cú đẻ con tiên là chuyện thường.
Đám con ấy có thể là sự kết hợp cuả mẹ
mèo khi cợt đuà với một chàng trẻ tuổi lông nhông khoe
bộ lông vàng óng bảnh bao chải chuốt( chàng ta còn
trẻ nên hay lim rim nằm trên cái giàn mướp hương hóng mát
và giơ chân rửa mặt suốt ngày), đuà giỡn với tình
trong chốc lát để lại cho đời những đưá con hoang. Nhưng
mụ mèo cũng không chê ông mướp gìa tử tế hay biếu
xén nhường nhịn cho cái đầu cá chiên, mẩu xương
heo quay lắm mỡ được chủ nhà vứt ra vườn cho lũ mèo
hoang. .
Lũ mèo con thành hình trong
lòng mẹ sau những đêm mụ mèo đến lúc khát tình
gào lên trong đêm trường thanh vắng, khiến mấy tay
hàng xóm cứ “gâu gâu” lên làm mọi người mất
ngủ. Một thời gian người ta thấy mụ ốm dài người ra nhưng
cái bụng thì nặng nề, nằm thưỡn ra dưới tàn cây đào
ngủ li bì cả ngày. Dễ mụ chả thèm ăn uống gì, hờ
hững nhìn bạn tình lượn lờ qua lại như không hề quen biết.
Rồi ngày tháng thoi đưa, mụ cũng đã ngắm nghía chuẩn
bị một chỗ tối tăm và an toàn cho lũ mèo con non nớt “như
con mèo ướt” có chỗ an toàn chờ đến ngày khôn lớn. .
Trong
ba đưá sinh ngày hôm ấy thì Miêu tiểu thư có vẻ xinh
đẹp và lanh lợi hơn cả, mới bé tý mà đã biết
chạy ra chạy vào hong nắng khi mẹ vắng nhà, nhưng cứ nghe tiếng
bước chân động đậy trong căn nhà sang trọng là ba con mèo
con cùng ù té chạy về náu trong góc tối im thin thít. Tuy con
nhà nghèo nên dù xinh đẹp chúng nó vẫn mang tiếng là
mèo hoang, cách nhìn cuả loài người đã tự nhiên phân
biệt giai cấp ra như vậy, chứ mèo nào chả là mèo.
Khoảng
hơn hai tháng sau khi sinh nở, chờ cho lũ mèo con cứng cáp đã
biết chạy nhảy là mèo mẹ tìm cách để con tự lập,
đó cũng là lần cuối mụ dắt theo ông mèo mướp già
để giới thiệu lũ con. Ông quấn quýt ngay thằng con lúc nào
cũng oặt oẹo, bẩn bẩn ươn ướt, cảm nhận được
tình máu mủ vì nó giống hệt ông hồi còn trẻ. Riêng
hai đưá lông màu mơ vàng, chắc chắn không phải con ông
nên ông chỉ hững hờ nhìn thế thôi! Miêu tiểu thư còn
bé lắm nhưng cũng cảm thấy phần nào chuyến về thăm có
ý nghĩa chia biệt cuả mẹ mèo, khi đi theo tiếng gọi của tình
yêu lần nữa. Đấy là chuyện tự nhiên cuả mọi loài
cho nên cô cũng chả thấy buồn bao nhiêu, mặc cho hai đưá kia
gào lên “meo meo” khi thấy lão mướp già dẫn mẹ mèo
đi tuốt luốt, nhảy qua hàng rào phía nhà bên kia, trong khi đó
mấy tay hàng xóm lại “gâu gâu” lên ỏm tỏi vang động
cả xóm. .
Từ đấy,
ba chị em sống với nhau dưới mái hiên sau nhà nơi mở mắt
chào đời, chấp nhận cảnh mồ côi(dù cha mẹ còn sống
cả), bữa no bữa đói để chờ ngày thực sự khôn lớn.
Cho đến một ngày mèo mơ thấy vắng lắm, dễ nhiều ngày
hai đưá kia không về, chỉ còn mình cô lại chạy ra chạy
vào sưởi nắng dưới mái hiên, khi nào buồn ngủ thì
nhảy tót lên cái xích đu có nệm lơ mơ làm một giấc
là quên hết sự đời. Được cái bà chủ nhà cũng
tốt bụng, chút cơm thừa, cá vụn, xương xảu cũng tiếc
cuả trời, đổ ra bãi cỏ góc vườn mà mấy con mèo hoang
tồn tại được. .
Cứ nhấm nháp
tý đầu cá, miếng xương Miêu tiểu thư lớn như thổi
mà lại còn xinh đẹp nữa. Một hôm cô tò mò nhìn
xuyên qua cửa kính của căn nhà to mới thấy ở trong ấy cũng
có một cặp uyên ương nhà mèo đang quấn quýt nhau trên
bộ “sofa” bọc nhung màu rượu chát rất đẹp. Cô trố
mắt nhìn và quan sát hai nhân vật, chàng thì đẹp trai râu
ria cắt tiả gọn ghẽ, tướng mạo lại ung dung chững chạc cuả
kẻ sinh ra dưới vì sao sáng, còn nàng kia thì uyển chuyển,
diễm lệ và cổ còn đeo nơ hồng với chuỗi bạc nữa trời
ạ! Đôi mắt trong veo của Miêu tiểu thư cứ tròn xoe thêm khi
thấy cảnh sung sướng, hạnh phúc cuả đôi bạn tình Mèo
trong căn nhà đẹp, tuy nhiên vì rất ngây thơ cho nên cô chỉ
chiêm ngưỡng thế thôi, chứ không mảy may ganh tỵ. .
Thế
nhưng lòng ích kỷ lại nảy sinh ra từ cô mèo nhà được
“nâng như trứng hứng như hoa” trong căn nhà sang trong, khi một
hôm cô ta tình cờ phát hiện ra con mèo mơ nằm lim rim bên cưả
sổ như đợi chờ ai, rồi bắt gặp cái nhìn say đắm của
anh bạn tình đang ngạc nhiên về vẻ đẹp thơ ngây, rất
hoang dã của nàng mèo mơ nằm giỡn nắng thì mụ ta nổi
giận. Một vẻ đẹp hồn nhiên của muà xuân với con mèo
nhỏ ngoài khung cửa, anh mèo nhà thấy lòng xôn xao vì từ
khi chôn kín đời mình bên trong khung cửa cuả căn nhà, tuy sung
sướng chẳng sợ gì gió táp mưa sa, nhưng căn nhà
như có chấn song nhà tù vây hãm tâm hồn. Anh lim rim nhìn
mà lòng rộn lên hai chữ tự do ập đến một cách mới
mẻ, bỗng dưng anh cảm thấy yêu say đắm cái hồn nhiên của
cô mèo mơ ngoài cửa sổ. Yêu, thế nào là tình yêu
thì anh chưa định nghĩa được, nhưng chắc chắn nó khác
với cái tình của anh đối với cô bạn mèo loẻng xoẻng
những khoen vàng vòng bạc quấn quanh cổ, suốt ngày nằm dài
trên chiếc “sofa” êm ái, nhiều lúc uốn éo
nịnh nọt con người để được ban thưởng những cái
vuốt ve. .
Anh muốn bay ra ngoài kia để
xem trời mưa trời nắng, để nhìn cọng lá rung rung đuà giỡn
với cô mèo con dễ yêu, nhưng chưa gì thì chị mèo nhà
đã nhảy tót đến bên anh. Rồi khi nhìn thấy ánh mắt
anh đang ném ra bên ngoài say đắm thì đôi mắt chị long lên
như toé lửa, kêu lên từng chập “meo, meo” rền rĩ như
bắt được tại trận cảnh “mèo trong song cửa, mèo ngoài
chân mây”, chị nhìn kẻ thù mà chỉ muốn ăn tươi
nuốt sống cho hả giận. Anh mèo nhà cuống quýt quay ngay vào, nhảy
tót xuống “sofa” về chỗ cũ giả vờ ngủ, cô Mèo Mơ
ngoài cửa sổ cũng giật mình khi đụng phải cặp
mắt rùng rợn ác liệt của mụ mèo nhà ghen tương và
khó nết, vội nhảy tót lên hàng rào và tỉnh giấc mơ
hoa. .
Lũ chó săn hàng xóm
lại ủng oẳng chạy ruợt theo cô dưới chân hàng rào sủa
toáng lên. Ôi chao! Sao nhiều kẻ thù thế nhỉ, đồng loại
với nhau mà đã ích kỷ thế kia à, chưa kể còn mấy
anh chó ỷ bự con, to mồm cũng vẫn ăn hiếp kẻ yếu đuối.
Thực ra thì nhà ai nấy ở, cơm ai có nấy ăn, mấy anh chó
hay mèo nhà còn hưởng mưa móc chủ nhà mà no cơm ấm
cật, thân mèo hoang một mình yếu đuối sống qua ngày sao họ
vẫn ganh ghét, không ban cho một chút tình thương. Mới đụng
chạm chút xíu với đời mà mèo mơ đã thấy thất
vọng não nề cho cái tình đời đầy ganh tỵ ích kỷ.
Suy cho cùng những kẻ ấy hơn cô nhiều lắm, hạnh phúc và
may mắn hơn gấp bội, niềm hạnh phúc nhỏ nhoi của cô đâu
có là bao mà họ cũng ganh tỵ và lồng lộn lên như bị
ai tước đoạt. Dù sao mèo mơ cũng được một buổi chiều
lơ mơ nhìn trời, cảm nhận được niềm êm ái vây
quanh, nhìn theo những chú chim đang tìm mồi bay lên bay xuống cây
đào đã hết mùa hoa đang kết trái. .
Trong
khi đó anh mèo nhà chán nản quay về gỉa vờ ngủ trên chiếc
“sofa” định làm một giấc cho quên cảnh gò bó “cá
chậu chim lồng”, mụ mèo nhà sung sướng thấy mình chiến
thắng địch thủ một cách dễ dàng, lại uốn éo tấm
thân mềm mại trở về nằm bên cạnh người mình yêu, cọ
mãi bộ lông mềm vào anh ta ra điều “em vẫn đẹp như
mơ”. Anh mèo nhà nhắm tịt đôi mắt lại, trong chăn êm
nệm ấm cuộc sống no đủ nhưng anh mèo vẫn cảm thấy đời
thiêu thiếu một cái gì đó, sự tự do vẫn chỉ khoanh lại
trong diện tích ngôi nhà này , hễ ra tới cửa không bị bà
chủ chận lại thì cũng bị giữ rịt lại bằng những tiếng
“méo méo” của mụ vợ lắm điều nhắc nhở. Nhớ
lại hình ảnh cô mèo mơ xinh xắn bên ngoài khung cửa, tự
trong tim anh bật ra những vần thơ óng ả: .
Con
mèo nhỏ Lim rim bên cửa sổ Mắt mơ màng Nhìn cọng
lá vô tư Đang giỡn nắng Mùa xuân hiu hiu gió Lá
xạc xào Vườn ngủ giấc ban trưa
Một bức
tranh đẹp cuả cuộc đời gần gũi vậy mà anh mèo nhà
vì sống trong nhung lụa loanh quanh cái gì cũng có lại không làm
sao hưởng được. Vậy mà cô
mèo mơ hưởng được cái ân sủng ấy từ trời ban cho
một cách an nhiên tự tại. Anh lại nghĩ tiếp:
Con
mèo nhỏ Ngạc nhiên nhìn cọng lá Lao xao Thì thào Đùa giỡn giấc chiêm bao Trong tiền kiếp Mèo chắc là
thi sĩ Nên lặng lờ Như một gã tình si
Anh
mèo cũng có đầu óc văn nghệ chút chút, chẳng đến
nỗi thuộc loại “dài lưng tốn vải ăn no lại nằm”, lối
thơ thẩn của anh không quá uỷ mị thương mây khóc
gió, có lãng mạn nhưng ở mức độ có thể chấp nhận
được. Ước gì anh được sống một đời tự do như
cô mèo nhỏ lang thang ngoài mảnh vườn kia nhỉ? Ngày xưa tổ tiên anh cũng bắt đầu từ rừng
xanh bạt ngàn hoang dã, cũng hợp quần tự mưu sinh chứ đâu
có cảnh nằm khoèo ra làm kiểng đợi ngày hai bữa cơm dâng
tận miệng. Cái đẹp mà anh bắt gặp là hình ảnh cô
mèo nhỏ, trong dáng vẻ thảnh thơi của một buổi chiều hiu hiu
gió, mặc cho thời tiết thay đổi mà vẫn giữ được vẻ
bình thản ấy thì hỏi trên đời đã mấy ai có được. .
Con mèo nhỏ Vươn bàn
chân giỡn lá Nắng buồn hiu Rơi xuống cuối chân trời Từng cuộn mây đen Kéo về Trời buồn như sắp khóc Con mèo khoanh tròn Chờ đợi Mưa rơi .
Mùa
Xuân nơi này trời cũng hay mưa, nhưng chưa bao giờ anh được
hưởng cảm giác nằm nép mình vào khung cửa mà chờ mưa
đến. Chỗ ấy có một bụi mía, loại cây ngòn ngọt này
mảnh dẻ nhưng sức chịu đựng như tre trúc, hữu ích chứ
không lan tràn một cách bừa bãi như cỏ. Những cọng lá
ẻo lả đuà với gió, vậy mà cô mèo mơ lại nhìn
ra niềm vui của mọi loài chia xẻ cho nhau. Họ làm bạn với nhau dễ
dàng, rất thân thiện dù cách sống và hình dạng khác
hẳn nhau, nhưng cũng đâu phải vì lẽ ấy mà không đến
được với nhau. Khi gió thổi cọng lá miá lại cợt đùa
với cô mèo nhỏ, đôi bạn như đang chọc ghẹo nhau thật
hồn nhiên vô tư lự, anh mèo lại vơ vẩn nghĩ : .
Con
mèo nhỏ Nằm bên khung cửa sổ Lơ mơ nhìn trời Mặc
kệ gió mưa rơi Cọng lá ướt Lả mình khe khẽ gọi "Ướt hết rồi Thi sĩ của tôi ơi!" .
Đăm
chiêu mơ mộng như một thi nhân đang đắm hồn với nàng
thơ, anh triết lý rằng nếu tâm hồn khô khan quá thì chẳng
khác nào chết mà biết thở. Bao nhiêu năm chung sống với nàng
mèo õng ẹo xinh đẹp kia, hình như nàng chỉ biết có mỗi
động tác quen thuộc là vươn người lên, cuộn mình lại,
nhún nhẩy đi đi lại lại trong căn nhà này, rồi nằm dài
ra ngủ. Bỏ đi ư, trốn ra khỏi căn nhà này ư? Để lang
thang như cô mèo nhỏ sống kiếp không nhà bữa đói bữa
no, đánh đổi cái thật để chạy theo cái bóng, thi sĩ
Mèo không dám nghĩ tiếp. .
Nhớ
lại lần chàng phiêu lưu ra khỏi cái nhà này để thử
tìm vài phút lãng du. Vừa bước ra sân, mới trèo
lên cái giàn mướp rậm rịt lá là chàng đụng đầu
ngay với một tay mèo mun chiếu tướng chàng bằng đôi
mắt xanh lè. Hơi run, chàng mèo nhà lấy hết can đảm với
bộ điệu lãnh đạm mà chỉ giai cấp quý tộc mới có.
Tay mèo đen lên tiếng trước, tuy chỉ là tiếng Mèo nhưng
tạm hiểu như thế này: .
“Hê!
Anh từ cái nhà kia ra phải không?”
Anh mèo nhà
định không trả lời, vì mục đích cuả anh hôm nay là
đi tìm nàng thơ, chứ không thích dây dưa với bọn mèo
hoang chả ra gì. Vì thế anh ta không trả lời và tiếp tục leo
lên cái giàn mướp ngó trời xanh. Nhưng cuộc đời đâu
đơn giản thế, gã mèo mun dở ngay cái thói rừng xanh ra:
“Ê!
Chỗ này không phải chỗ của anh. Chốn giang hồ không phải để
anh ra đây tìm trăng vịnh nguyệt. Ái chà! Bộ áo trắng
mướt như thế kia chịu gì nổi với sương gió cuộc đời
mà ra đây, khôn hồn thì quay về cái nhà anh ở mà xơi
cao lương mỹ vị.” .
Thấy gã ăn
nói phang ngang bửa củi, anh mèo thấy cần phải dạy cho hắn một
bài học tử tế: “Anh không được nói với
tôi như vậy, phải tập ăn nói cho tử tế. Trời đất là
của chung, chỗ này cũng không phải của nhà anh.”
Gã
mèo mun cười khinh khỉnh: “Tuy gọi là chung mà vẫn
riêng đấy, anh đừng có lý luận kiểu chả coi ai ra gì mà
tan xác. Thấy anh hiền lành chúng
tôi không đụng đến, nhưng nhớ một điều là anh hùng
nào giang sơn nấy, trong rừng xanh cũng vẫn có luật dù luật không
văn bản nhưng ai cũng phải hiểu. Anh may mắn có một đời sung
sướng, hãy hưởng lấy cái sự sung sướng ấy đi.”
Thấy gã ăn nói có vẻ dịu giọng,
Mèo nhà tưởng bở khoe khoang: “Tôi cũng chả thèm
cái cách sống lang bạt không nhà không cửa như anh, tôi
muốn thử xem cái không khí cuộc sống hoang dã của các anh
như thế nào thôi, chứ trong nhà kia tôi chả thiếu gì...” .
Gã
mèo mun khục lên cười một tràng dài “méo, méo”,
tức thời đã thấp thoáng thấy một đám tay chân bộ
hạ từ chỗ nào chả biết chạy tới giàn trận ngay trên mặt
giàn mướp, những tiếng “meo meo” vang rân một góc vườn
khiến mèo nhà xanh mặt. Rồi anh ta lập tức được nghe một
bài “moral” rất đáng đồng tiền bát gạo:
“Này,
anh kia! anh nên nhớ anh xuất thân từ đâu mà ra, không phải tổ
tiên anh cũng từ trong rừng xanh, phải vất vả săn bắt mới có
cái bỏ vào miệng, phải tận diệt những loại động vật
phá hoại như chuột bọ để làm lợi cho con người. Chúng
tôi không tầm thường như anh nghĩ đâu. Anh nhìn xem trong khu vườn
này có con chuột, con sóc nào dám bén mảng tới đây.Chúng
tôi không phá cây trong vườn, không bẩn thỉu phóng uế bừa
bãi khắp nơi như bọn chó má, và cũng chỉ ăn rất ít
để sống, vì không chủ trương sống để ăn ngon mặc
đẹp. Anh bị ru ngủ trong cái tháp ngà ấy rồi,
quên trách nhiệm cao cả của mình thì làm ơn xéo đi, xéo
ngay đi kẻo chết không kịp ngáp”
Hắn nhếch
mép mai mỉa nhìn mèo nhà cười khinh bỉ, nhưng lũ lâu la
thì nhất định không tha và xúm vào định làm thịt
anh mèo nhà ngu ngơ. May quá, khi ấy bà chủ nhà thấy vắng
bóng con mèo đẹp của mình, lại nghe tiếng “meo meo, méo méo”
om xòm ngoài vườn nên vội chạy ra, thế là bọn mèo hoang
chạy tán loạn, và mèo nhà vội chạy về tuy chưa ôm cái
đầu máu.
Ôi kỷ niệm hãi hùng ấy in
sâu vào đầu anh mèo mặc dù anh vì hay mơ mộng lẩn thẩn
mà quên hẳn cuộc đời muôn mặt như bốn mùa xuân, hạ,
thu, đông. Vì vậy, bây giờ khi bà chủ nhà đổ cái
hộp thức ăn cho mèo vào cái điã không dưới gầm bàn,
hai con mèo vội vã chạy đến nhấm nháp từng chút
thì anh mèo quên béng chuyện làm thơ, và hình bóng
cô mèo mơ ngoài cửa sổ.
Nguyên Nhung
Chuyện Người Tù Chết Chiều 30 Tết
Một bí ẩn của tâm linh
Sau một đêm khó ngủ, tôi
nghĩ đến lời hứa con cuả tử sĩ Huỳnh Tự Trọng, sẽ kể
về câu chuyện có thật này. Một bí ẩn cuả Tâm
Linh, đối với tôi thật vô cùng khó giải thích. Trân
trọng mời quý vị cùng xem. Và gọi là chút tình với
hương linh người tử sĩ. Thân kính NN
Hình như suốt đêm qua tôi không ngủ, lại lơ mơ nhớ đến
một lời hưá với con cuả người tù đã chết chiều
30 Tết năm 1977 tại vùng Sơn La Việt Bắc thâm u những mồ hoang
mả lạc. Chuyện thật 100%, không hư cấu, cũng không phải chuyện
ma, nhưng cứ như một cơ duyên bí ẩn của tâm linh, tình cờ
mà đến, phải chăng vẫn có một thế giới vô hình không
hiểu được.
Khoảng đầu năm nay, tôi đang lơ mơ ngồi
đọc email cuả mấy người bạn, thì một lá thư cuả người
bạn thân từ bên Úc gửi qua, bạn nhờ có quen ai ở Trà
Vinh thì tìm giùm thân nhân cuả anh Chung Hữu Hạnh, một giáo
sư biệt phái bị đi cải tạo và đẩy ra miền Bắc, anh
đã chết trong một xó xỉnh nào đó cuả miền Việt Bắc,
may là còn lại tấm bia mộ.
Anh gốc người Trà Vinh, vợ con
sau khi mất tin chồng đã tìm đường vượt biển, chẳng
biết bây giờ ở đâu. Tôi nhanh nhẩu ngồi liền vào máy
viết thư cho nhà thơ Huỳnh tâm Hoài, một nhà thơ gốc Trà
Vinh có những bài thơ được phổ nhạc rất hay là Lời
Ru Sóng Vỗ, do nhạc sĩ Nguyễn hữu Tân phổ nhạc.
Như một
bí ẩn của tâm linh, anh Huỳnh tâm Hoài vưà là bạn tù,
vừa là bạn học cùng thời với anh Chung hữu Hạnh. Đọc tin
anh buồn vui lẫn lộn, buồn vì nhớ bạn mình đã chết đơn
độc vùi thân nơi rừng sâu núi thẳm, vui vì đã tìm
được mộ thì hy vọng sẽ có ngày bạn mình được
về hưởng hương khói gia đình.
Chỉ trong 5 ngày tin phóng đi, một
người đã tìm ra thân nhân cuả anh Chung Hữu Hạnh, và tháng
6 năm nay chị Hạnh cùng các con đã tìm ra miền Bắc bốc
mộ chồng đem về an táng tại Trà Vinh. Anh Chung hữu Hạnh là
thầy cuả vợ bạn tôi, chắc thầy sống khôn thác thiêng nên
tìm tới cô học trò để rồi cái đường dây loanh
quanh trong cõi vô hình, cuối cùng thầy cũng tìm được về
quê nhà, được sự chăm sóc khói hương cuả vợ hiền
và các con.
Bạn tôi gửi cho tôi xem những tấm hình
cảnh bốc mộ cuả anh Hạnh, nhìn nắm xương phù du còn lại
được bươi lên từ đất cát khô cằn của miền
Bắc, tôi cảm thấy ngậm ngùi, tất cả đều là vô thường,
một ngày nào đó ai cũng phải tan thành tro bụi. Sẵn trớn
tôi viết thư kể cho bạn tôi nghe về người tù chết chiều
30 tết, tôi cũng chả biết anh ta là ai, chỉ nghe chồng tôi kể
lại ngay cái tên cũng không nhớ. Câu chuyện từ mùa đông
năm 1977 tại trại tù vùng Sơn La, nằm trên con đường đến
Nghĩa Lộ.
Chiều
cuối năm rét mướt, trong cảnh u ám thê lương cuả trại
tù miền Bắc, cùng nỗi đói khát cuả những người
tù gầy guộc và bịnh tật. Cả lán đang xôn xao ngoài sân
chờ được phân phát thức ăn cuả ngày tết, quanh năm đói
khát vất vả vẫn hy vọng có chút thức ăn ngon, khẩu phần
là hai cái bánh chưng to hơn bàn tay, và mấy miếng thịt bé
bằng ngón tay cái. Trong lán giữa nhà là đống củi lửa
cháy bập bùng, sưởi chút ấm áp cho người tù vì
trời vô cùng giá rét mà chăn chiếu lại thiếu. Mọi người
ai cũng buồn vì nhớ gia đình, cám cảnh “gặm một mối
hờn căm trong cũi sắt”. Ở cuối phòng có một chỗ nằm
đã giăng mùng xùm xụp, một người bạn không thấy anh
bạn tù ra lãnh món bánh chưng mà mấy ngày hôm trước
anh ta thường than thở rằng chỉ thèm một miếng bánh chưng, nên
đã tốc mùng xem thì thấy anh bạn tù nằm chết tự bao giờ.
Cả
lán lại chìm trong nỗi buồn, giữa đêm tận cùng cuả năm
mà hình ảnh người bạn tù chung nằm chết trong lán, như
một ám ảnh khiến ai cũng nghĩ đến phận mình, một ngày
nào sẽ bỏ xác nơi đây, gia đình thân nhân không ai
hay biết. Báo cho quản giáo xong, họ xem xét thấy anh đã ngưng
thở, nhưng vẫn hỏi ai có thể làm hô hấp nhân tạo cho anh
ấy được không?
Mọi người lặng im, lúc ấy
không hiểu sao thì chồng tôi lại xung phong làm việc ấy đối
với một xác chết, nuôi một chút hy vọng nếu anh ấy thở
lại được thì sao? Nhưng hoàn toàn vô vọng, bốn người
tương đối trẻ và khoẻ được chọn để khiêng xác
anh bỏ ra cái lò rèn, nằm đó chờ đến ngày mùng
hai mới đem chôn, vì kiêng ngày mùng một tết(síc). Một
vị thượng toạ thấy vậy đã lẻn đam phần ăn ngày
tết cuả anh ra nơi quàn xác để âm thầm gọi là tiễn
đưa linh hồn người bạn tù được “no nê” ở thế
giới bên kia. Thảm thật!
Ngày liệm xác anh vào cái
hòm gỗ thô sơ, xác anh được cuốn vào một cái bao
cát, thay cho anh một bộ đồ tù mới, chồng tôi thấy tội
nghiệp đã lấy chiếc áo thung xanh cuả người chết để
anh gối đầu lên cho đỡ thảm, người ta còn cố tuột cho
được cái nhẫn cưới trong bàn tay gầy guộc cuả người
tù ốm đói. Sau này nghe con anh kể, chiếc nhẫn ấy đã được
gửi về trả lại cho gia đình, nhưng mộ phần thì không biết
thất lạc nơi đâu vì trại tù đã bị dời đi, trả
lại cái nền hoang cho dân chúng địa phương canh tác ruộng
bắp. Anh là người tù đầu tiên chết ở miền Bắc muà
xuân năm 1977.
Ngày mùng hai, lại bốn người tù được
chọn lầm lũi đẩy chiếc xe “ cải tiến” có quan tài
cuả người tử sĩ đem đi chôn. Không có một nghĩa địa
nên buộc lòng phải vùi anh một nơi nào đó dọc theo sườn
núi. Tất cả suy nghĩ rồi quyết định chôn anh trong một lòng
huyệt nông vì đá tai mèo cứng quá không đào nổi,
bên một dòng suối, thoai thoải là sườn núi chênh vênh
với cây rừng, anh nằm đó để linh hồn được thanh thản
nghe tiếng suối reo, nghe cây rừng than van với bốn bề hiu quạnh. Trước
khi về, họ còn ráng khiêng những tảng đá lớn chất lên
mộ để đánh dấu, hy vọng một ngày nào đó thân
nhân sẽ tìm được mộ của người thân ….
Đường
Tìm Về Với Thân Nhân:
Tôi
gõ “meo” kể câu chuyện này cho bạn tôi nghe, rồi đi ngủ,
lòng không mảy may vướng bận. Sáng hôm sau, khi xong việc nhà
tôi vừa mở email thì đã thấy thư cuả bạn, với chữ
Khẩn trong Subject. Tôi đọc thư, vắn tắt bạn viết:
“Đây
là chuyện thật, không phải hư cấu để nhà văn viết truyện.
Làm ơn hỏi ông xã giùm hồi xưa anh bạn tù chết chiều
30 tên gì, vì con anh đi tìm mộ cha ba năm rồi mà không ai biết,
chỉ mơ hồ nên không biết chính xác mộ nằm ở đâu. Please! Hồi âm cho biết vì rất
mong, con anh sắp trở về VN tìm lần nữa vào tháng 7 này.”
Tôi
giật mình, lại một chuyện lạ, chẳng lẽ hồn anh Chung hữu Hạnh
lại dẫn bạn tù về tìm đúng người để về
với gia đình sao? Ớn lạnh, tôi là tác gỉa cuả một loạt
truyện Cõi Mù Sương viết về thế giới bên kia, nhưng thật
ra tôi toàn mượn chuyện người sống để nói về người
chết, hư cấu 100%. Chờ chồng tôi đi làm về, tôi kể chuyện,
sau đó liên lạc với con anh người tử sĩ, anh tên là trung
úy Huỳnh tự Trọng, sinh quán ở Đà Nẵng hay Quảng Nam gì
đó.
Người
con cuả anh liền xin số phone để liên lạc, cháu yêu cầu chồng
tôi cố nhớ lại vị trí cuả trại tù ngày xưa, và
nhất là vị trí cuả nơi chôn cất anh Huỳnh tự Trọng. Hơn
30 năm vật đổi sao dời, dâu hoá biển, biển hoá dâu là
chuyện thường, bây giờ chẳng biết cảnh cũ thay đổi ra sao,
nhưng may ra còn dãy núi, còn con suối làm chứng cho cái trại
tù heo hút ngày xưa. Đấu óc một người đã từng
sống trong cảnh tù đầy thiếu ăn thiếu mặc, thêm nhiều năm
vất vả với cuộc đời để tìm nguồn sống cho cả gia đình,
chắc chắn là không nhớ hết được, thế nhưng như một
sức mạnh thiêng liêng, từ linh hồn người tử sĩ, chồng
tôi đã vẽ được sơ đồ cho con anh bạn tù bạc mệnh
đi tìm lại mộ cha.
So sánh với sơ đồ anh vẽ,
và những hình ảnh các cháu đã chụp lại trong chuyến
đi kỳ trước, khó mà tìm ra mộ vì tất cả chỉ còn
một màu xanh của ruộng bắp, không thấy suối, hòn đá cao
chắn ngang lối mòn năm xưa cũng không còn, lấy gì để
xác định được ngôi mộ nằm ở chỗ nào.
Hành
Trình Đi Tìm Mộ Cha:
Thư qua tin lại với con cuả tử
sĩ Huỳnh tự Trọng, nhiều câu hỏi được đặt ra qua những
thông tin của cháu, sự tha thiết tìm lại ngôi mộ của người
cha bất hạnh vẫn nung nấu trong lòng những đưá con. Có lúc
cả hai bên tưởng như tuyệt vọng, dù cháu cố nài nỉ
“Chú ơi! Làm ơn nhớ giùm con, lúc ấy chú đi từ trại
ra nơi chôn ba cháu ra sao? Chú chấm thử một địa điểm lần
chót nữa đi, cháu hy vọng ba cháu sẽ chỉ cho chú…”Cảm
động đến rơi nước mắt, chỉ còn hai hôm thôi hai đưá
con anh lại lên đường đi tìm mộ cha, lần này nếu không
được là thôi, hết hy vọng.
Tối hôm đó ngồi thần thừ
trước tấm sơ đồ trại tù miền núi năm xưa, chồng
tôi thầm cầu nguyện rồi khoanh tròn màu đỏ lên tấm ảnh
mà cháu gửi qua. Anh nghĩ nó nằm ở chỗ này, làm một
phép tính nhỏ( anh học ban B, vốn giỏi toán từ hồi đi học),
lấy khoảng đứng từ ngoài đường vào trại tù cũ,
gần một ngã ba cuả con đường tẽ vào Nghĩa Lộ, rặng
núi đánh dấu cho địa điểm chính xác, ngôi mộ sẽ
nằm ở khoảng này, khoanh một vòng tròn màu đỏ, anh đi
ngủ để mai đi làm mà lòng nặng trĩu…
Theo chuyện
kể cuả các cháu, chuyện người tử sĩ Huỳnh tự Trọng
ly kỳ như một cuộn phim tâm linh khó giải thích, dọc đường
đi anh đã phù hộ cho con anh ra sao, và khi đến nơi, lần trước
các cháu đã biết có một ngôi miếu do một người bộ
đội đã phục viên kể lại. Chính anh ta vì được
một linh hồn khuất bóng lảng vảng nơi này cứu giúp trong cơn
hoạn nạn, nên đã tự lập một ngôi miếu để thờ,
mà chẳng biết là ai. Anh ta về quê làm rẫy, thường hay thấy
một bóng người đi ra đi vào ruộng bắp, nhưng chỗ ấy
không có nhà cửa thì lấy làm lạ, có khi cái bóng
ấy còn đi vào nhà anh, nên anh tin là có một điều gì
lạ lùng trong thế giới vô hình mà không diễn tả được.
Trước khi đến đây làm nhà, anh ta nghe dân địa phương
nói chỗ sườn núi này có một ngôi mộ nhưng bây giờ
không biết nằm đâu rồi. Khi gia đình gặp chuyện không may,
anh van vái người khuất mày khuất mặt phù hộ gia đình
anh thoát nạn, anh sẽ cất miếu thờ, chính vì vậy mà có
miếu thờ tử sĩ Huỳnh Tự Trọng( nhưng vẫn không có tên).
Trước
khi các cháu lên đường tìm mộ cha, chồng tôi chỉ bảo
một lần chót: “Chú không tin lắm ở trí nhớ cuả mình,
nhưng khuyên cháu là khi về nên đến cái miếu thờ ấy
van vái ba cháu cho tìm được mộ. Nếu linh hồn ông thiêng
thật, nhất định các cháu sẽ tìm ra mộ cha.”
Một
tin tưởng để vớt vát niềm hy vọng cho con cuả người bạn
tù năm xưa, chúng tôi không tin rằng các cháu có thể
tìm được mộ cha dưới gần 3 thước đất, vì sau khi
gặp được người địa phương nổ mìn phá núi
để lấy đá, ông ta nói ngày xưa nơi đây có cái
suối nước nhưng bị lấp mất rồi, còn hòn đá to chặn
ngang đường đi đã bị phá huỷ để lấy đá làm
đường thì có lẽ trong lúc ấy, đã đẩy ngôi mộ
sâu xuống đất nên không còn dấu vết.
Nghe xong
những chi tiết này, con anh Huỳnh tự Trọng liền suy nghĩ và tính
toán xem mộ cha sẽ nằm ở khoảng nào, đúng với cái vòng
tròn màu đỏ và quyết định không bỏ cuộc. Cộng thêm
giấc mơ anh Huỳnh tự Trọng báo mộng, xác anh nằm gần một
mô đất cao, cháu nhìn thì thấy có một mô đất cao
hơn đường đi nên nhất định đào sâu thêm nữa
theo hình tam giác cuả sợi dây giăng làm chuẩn. Mấy người
đào mộ thấy đào sâu quá bèn hỏi bộ định đào
ao nuôi cá sao?
Vậy mà khi nhát xẻng chạm vào một khoảnh
đất cứng hơn, mọi người mới bàng hoàng nhận ra những
mảnh gỗ mục và hiện ra hình dạng một bộ xương người
nằm trong cái bao cát tẩm liệm 33 năm dài trong lòng đất, loại
bao này bằng ni lông cuả quân đội VNCH, được cắt ra chia cho
tù dài khoảng 2 mét để làm tấm trải ngủ. Khi mở ra, cái
đầu lâu khô cuả tử sĩ Huỳnh Tự Trọng còn gối lên
chiếc áo thung xanh năm xưa, chỉ bị huỷ hoại khoảng 20%... Một buổi chiều tháng bảy ở
quê người, trong khi tôi đang nói chuyện qua phone với Đỗ Dung,
cô bạn văn có ngòi bút trung thực và tính tình điềm
đạm nhất cuả tôi thì chồng tôi báo tin, các con anh Trọng
đã tìm được xác cha. Tôi cảm thấy lạnh cả sống
lưng, và kể chuyện cho bạn tôi nghe. Chao ơi! người chết tìm
về, tin hương linh người tử sĩ không quen tìm về với gia đình
anh đã làm tôi xúc động, tôi cũng cảm được sự
xúc động cuả bạn tôi qua giọng nói từ xa vọng tới…
Đây là câu chuyện về người tù chết chiều 30 tết trong
một ngày cuối đông rét mướt đã 33 năm về trước,
anh đã tìm về được với gia đình, trở về với mảnh
đất quê nhà và hưởng hương khói gia đình. Hôm
nay còn lại một vài ngày nữa để bước sang một năm
mới, tôi nhớ đến lời hưá với con cuả người tử
sĩ, nên viết một mạch cho tâm hồn thanh thản.
Xin mời
những nhà thơ nhà văn có tâm hồn nhạy cảm, dễ rung động
như cung đàn muôn điệu cùng với gió với mây, hãy
cảm tác mấy vần thơ cho ấm lòng người tử sĩ nha. Phần tôi, quá mệt cho một đêm
không ngủ để nhớ lại từng chi tiết vì câu chuyện không
thể nào hư cấu được.
Viết xong
buổi sáng cuối năm 2010. Nguyên Nhung
TÌNH YÊU ĐÊM GIÁNG SINH
. “Cảm
ơn Anh, một tấm lòng chân thật Trong
tình yêu vẫn ấm áp tình người.”
*Nguyên
Nhung . Xếp lá thư của Chuyên vào
túi áo, Ngọc mỉm cười xa vắng. Lá thư từ miền hỏa
tuyến gửi về thành phố đến tay Ngọc vào những ngày đầu
tháng mười hai, báo tin Chuyên sắp về phép trong mùa Giáng
Sinh khiến Ngọc nôn nao chờ đợi. Nhớ lại Noel năm ngoái Chuyên
không về được vì phải ở lại đơn vị, chỉ có
mình Ngọc đi lễ nửa đêm với cô em gái, nghe hồi chuông
ngân lan lan trên nóc nhà thờ giăng giăng những ánh đèn
chớp tắt, Ngọc lại nhớ Chuyên da diết . . .
Đứng dưới giàn mướp ở góc sân sau, những bóng
nắng in xuống nhảy múa đậu trên chiếc áo trắng của Ngọc,
tưởng như cũng biết cười với nỗi vui thầm kín của người
con gái. Những bông hoa mướp cuối mùa trên giàn vẫn tươi
thắm, dù đợt gió cuối năm hơi lành lạnh đã làm
những chiếc lá trên giàn ngả màu vàng úa, đang xào
xạc theo từng cơn gió mùa thổi tới.
Bầu trời cao và trong, xanh biếc, nắng vẫn óng ả trên những
cây cỏ trong vườn. Chuyên về. Ngọc nghe những tiếng reo vui ấy
cứ ấm áp ngân mãi trong lòng, như tiếng chuông đêm
giáng sinh năm nào. Rồi Ngọc chợt buồn cười nhớ lại những
kỷ niệm vui vui lần đầu gặp Chuyên mùa Giáng Sinh hai năm
về trước, để từ đấy hai đứa đi vào đời nhau
như một giấc mơ huyền nhiệm. Chuyên nhập ngũ khi
tròn hai mươi tuổi, làm bổn phận người trai thời loạn
để bảo vệ miền Nam tự do. Mới đó mà chín tháng quân
trường trôi nhanh, đời chinh chiến đưa đẩy Chuyên làm
người lính xa nhà, dù chưa có một mối tình nồng đậm
ở hậu phương, nhưng vài khuôn mặt dễ thương tuổi học
trò vẫn ẩn hiện trong tim người lính. Ra đơn vị một thời
gian, nhiều lần hành quân thử lửa nơi chiến trường lửa khói,
viên đạn địch ghim vào chân bên phải tý nữa thì phá
vỡ xương đùi, chàng phải nằm bệnh viện dưỡng thương
một thời gian. Vết thương sau khi lành lặn đã để lại
cho người lính một kỷ niệm khó quên, thời gian ấy lại rơi
đúng vào mùa Giáng Sinh nên Chuyên có được những
ngày nghỉ hiếm hoi trong đời lính với mái ấm gia đình. Chàng
sĩ quan mặt búng ra sữa ngày nào trông đã có vẻ
lì lợm, chững chạc hơn so với ngày mới bước chân vào
đời lính, không biết sao lại ngoan ngoãn theo bố mẹ đến
nhà Ngọc dự bữa tiệc đêm Giáng Sinh năm ấy. Ngọc và
lũ em không làm sao nín cười được, khi Chuyên mặt đỏ
bừng vì ngượng , vâng lời cha mẹ khoe chiến thương cho mọi
người xem. Mấy đứa con gái kéo nhau vào phòng trong rúc
rích cười, con em út đã nghịch ngợm bảo Ngọc:
"May quá chị Ngọc nhỉ? Nếu anh Chuyên bị thương ở
trên bụng thì em không biết . . . "
Ngọc vội vàng bịt miệng em kịp lúc, rồi mấy chị em lại
rúc rích cười với nhau, tha hồ bàn tán về anh chàng sĩ
quan trẻ ngượng nghịu ngoài phòng khách. Sau này, khi hai đứa
yêu nhau, Ngọc có kể lại chuyện này cho Chuyên nghe, hai đứa
cứ rũ ra cười, khi đang yêu họ ríu rít như hai con chim non, mỗi
lần về phép là những ngày vui dài bất tận. Đó cũng
là những kỷ niệm đẹp ghi đậm trong tâm khảm hai người,
và mùa Giáng Sinh năm ấy bỗng lại là mùa Giáng Sinh
đẹp nhất trong đời Ngọc. Để rồi sau mỗi lần về
phép, Chuyên trở ra đơn vị, Ngọc lại hồi hộp chờ đợi
và mong mỏi chàng trở về với một xác thân lành lặn. Ngọc tuy
không đẹp nhưng rất có duyên, còn Chuyên thì khỏe
mạnh, đầy nam tính. Chàng có cái lì lợm toát ra từ
vẻ mặt, từ đôi mắt, bởi vậy lần đầu tiên gặp Chuyên,
Ngọc đã nhìn thấy đôi mắt ấy hình như có lửa,
đã đốt cháy trái tim Ngọc ngay khoảnh khắc đầu tiên.
Người ta gọi đó là "tiếng sét ái tình", dù
hai bên gia đình hình như đã có sự sắp xếp để
hai đứa gặp nhau. Riêng Ngọc, nàng lại cho là có sự sắp
xếp của định mệnh, để hai người vĩnh viễn bước
vào đời nhau đúng vào đêm Chúa sinh ra đời. * *
* Ngọc đang sửa
soạn những món ăn cho đêm Noel thì Chuyên về. Suốt ngày
hôm đó Ngọc nôn nao mong đợi, nào ai biết được những
gì xảy ra cho người lính. Mãi tới khi thấy Chuyên đứng
bên ngưỡng cửa, bộ đồ nhà binh còn bám bụi đường
xa, nụ cười rạng rỡ của chàng khi cô em út đã nhảy
ra mừng trước chị, Ngọc mới yên chí là chàng về thật.
Một kỳ nghỉ phép vào mùa Giáng Sinh thật hiếm hoi cho đời
lính, những cuộc đụng độ bất ngờ trong giờ hưu chiến
vẫn có thể giữ Chuyên ở lại đơn vị là chuyện thường.
Đánh đổi những ngày phép hiếm hoi này không phải dễ
cho một người lính ở đơn vị tác chiến như Chuyên, ròng
rã nhiều tháng ngày Ngọc làm tượng đá
chờ đợi, nàng mới cảm thông được nỗi buồn của
những người vợ lính. . . Việc đầu tiên trong kỳ
nghỉ phép rất hiếm hoi này, Chuyên chạy vội đến một cửa
tiệm bách hóa để mua quà Giáng Sinh cho Ngọc. Đứng trước
bao nhiêu món quà trưng bày trong tủ kính, cuối cùng chàng
đã tìm được món quà cho người yêu, con búp bê
thật xinh với dáng đứng và khuôn mặt của cô bé tuổi
mười lăm, duyên dáng và ngây thơ như Ngọc. Ngoài ra Chuyên
còn mua thêm vài món quà nữa, những món quà này Chuyên
dấu kín trong một túi giấy, với một bí ẩn mà chắc rằng
chỉ có chàng mới hiểu được ý nghĩa cao đẹp của
nó. Sau khi tiếp mẹ nấu nướng những món ăn cho bữa
tiệc đêm Giáng Sinh, Ngọc vội vã vào phòng riêng trang điểm
chờ Chuyên tới đưa nàng đi chơi đêm Noel. Thành phố vẫn
tưng bừng trong không khí rộn rã của đêm Noel, trong khi ấy chắc
hẳn có những người lính ở miền xa đang căng mắt chờ
đợi những bất an xảy đến cho họ. Đã có một " party
" thật vui nhộn do cô bạn thân mời, Ngọc có thể xin phép
mẹ để được đi chơi với Chuyên mà không bị nhắc
nhở, dặn dò, lo lắng như những lần được bạn bè mời
đi ăn sinh nhật trước kia. Hay là bây giờ Ngọc đã lớn,
bố mẹ đã hoàn toàn tin tưởng nàng chọn lựa đúng
người để gửi gấm yêu thương. Bố vẫn nói đùa
với mọi người, có lũ con gái ở trong nhà như bom nổ chậm,
lòng ngay ngáy không yên. Mỗi lần thấy con gái đi theo để
thưa với bố điều gì, ông lại hồi hộp không biết
có phải tin báo giờ bom sắp nổ. Bố vui tính hay đùa,
chứ ba đứa con gái của ông là ba bông hoa tươi thắm, đã
khiến ngôi nhà vang lên những tiếng cười trong trẻo, óng ánh
như tia nắng đầu ngày trải trên giàn mướp hương hoa vàng
ở mảnh vườn sau. Khi Chuyên trở lại để xin phép
mẹ đưa Ngọc đi chơi, chàng thật bảnh bao trong bộ quần
áo "civil" thẳng nếp, tóc tai chải gọn gàng, mày râu
nhẵn nhụi, khác hẳn khuôn mặt phong trần, xạm nắng trong bộ
quân phục chàng mặc lúc ban chiều. Trên tay chàng là gói
quà nhỏ tặng Ngọc, ngoài ra còn một gói to hơn, bọc
kín mít trong một túi giấy, bỏ vào chiếc túi ny lông,
hơi cồm cộm, Ngọc đoán là giầy dép, hay quần áo.
Món quà ấy Chuyên nhờ Ngọc cầm hộ, khi hai người chở nhau
trên chiếc xe Honda, Ngọc chỉ mơ hồ đoán đó là món
quà Chuyên dành cho ai đó nhưng không tiện hỏi.
Cả tuần nay, Ngọc băn khoăn chọn chiếc áo dài có
màu sắc thích hợp cho đêm Giáng Sinh. Dưới ánh đèn
mờ thì màu đỏ huyết dụ sẽ làm khuôn mặt Ngọc nổi
lên những đường nét quyến rũ, dù rằng Ngọc rất thích
chiếc áo màu thiên thanh, đi trong nắng sẽ làm vẻ tươi thắm
của khuôn mặt trở nên dịu dàng hơn, nhưng dưới ánh
đèn qua sự phản chiếu ánh sáng, nó sẽ bị lợt lạt
đi. Băn khoăn mãi, không biết sao Ngọc lại chọn màu áo trắng
học trò, có thêu những chiếc hoa xinh màu xanh nhạt dưới hai
tà áo. Ngọc thấy sự giản dị của màu áo lại khiến
mình có nét ngây thơ của một cô em gái hậu phương,
có lẽ vì Chuyên là một người lính? Ý nghĩ ấy khiến
Ngọc mỉm cười hoài một mình, chỉ màu áo mà cũng
làm những kẻ đang yêu nghĩ ngợi mãi, có phải vì
Ngọc vẫn nghĩ tới Chuyên với một tâm tình trong sáng của
tuổi trẻ còn nguyên vẹn. Trên đường phố đã
nhộn nhịp người qua lại, xe cộ dập dìu như mắc cửi, nhưng
sao trong đôi mắt Chuyên, Ngọc thấy niềm vui như vẫn phảng
phất một nỗi buồn. Ngọc không dám hỏi Chuyên về những điều
thầm kín đó, và khi thấy Chuyên chở mình đi về hướng
ngoại ô của thành phố, qua những con đường đầy ổ gà
chỉ có ánh đèn đường vàng vọt, chen chúc những căn
nhà ván lợp lá nghèo nàn khuất dưới tàng cây
tối thẫm, Ngọc lại bâng quơ nghĩ tới những chuyện không vui,
mà vẫn không đủ can đảm hỏi Chuyên tại sao lại tới
đó. Trong lòng Ngọc nhen nhúm chút buồn bã, vì Ngọc tưởng
một đêm Noel trọn vẹn của hai đứa, phải là những tiếng
cười rộn rã với bạn bè, màu rượu đỏ óng ánh
trong chiếc ly thủy tinh, phải là những bước chân quấn quýt dìu
nhau trong thế giới cuả âm nhạc, những bài ca Giáng Sinh vang vang trên
đường phố. Và cuối cùng, trong không khí ấm áp của
ngôi giáo đường rền rền tiếng chuông ngân, hai đứa sẽ
thì thầm với nhau những lời ước nguyện đẹp đẽ.
Đêm Noel là đêm an bình mà ở một góc trời xa vẫn
bừng lên ánh hỏa châu trên vùng trời đen thẫm, có điều
gì khắc khoải trong tâm hồn Ngọc khi nghĩ sau những ngày nghỉ
phép thần tiên, Chuyên lại trở ra đơn vị. Lại những chiến
trường xa gian khổ, lại những bất trắc rình rập quanh đời
sống của chàng, Ngọc cố xua đuổi những nỗi buồn vô cớ
để hưởng trọn tình yêu đêm giáng sinh với người
yêu. Mãi tới khi chiếc xe Honda quẹo vào một con ngõ tráng xi măng
ngoằn nghoèo, con hẻm sâu và tối, thỉnh thoảng có một nhà
treo đèn ngôi sao trước cửa, như dấu hiệu của một mùa
Giáng Sinh buồn bã nơi những gia đình nghèo khổ và cô
đơn Nỗi thất vọng và buồn bã lại nhen nhúm trong
lòng cô gái trẻ, Ngọc cứ bâng khuâng tự hỏi, Chuyên
định làm gì mà hoang phí những giờ phút quý hiếm của
lần về phép, với đêm Giáng Sinh tuyệt vời như vậy?
Ý tưởng ấy cứ miên man trong lòng Ngọc, cho đến khi Chuyên
ngừng xe trước thềm một căn nhà đơn sơ, cửa vẫn
mở để Ngọc nhìn thấy tất cả sự nghèo nàn của nó. Duy nhất
một ngọn đèn trần vàng úa tỏa xuống những đồ đạc
rẻ tiền . Trên chiếc giường con kê ở góc nhà, hai đứa
trẻ con đang nằm chơi với nhau, bi bô nói chuyện. Và ở chiếc
võng phía bên kia, theo tiếng võng kẽo kẹt đưa có tiếng
người mẹ ru con buồn não nuột. Chắc người mẹ còn trẻ,
vì Ngọc nghe tiếng ru tuy rất buồn nhưng âm thanh còn trong trẻo, không
khí phảng phất chút hiu quạnh với bức ảnh của người
đàn ông mặc quân phục còn khá trẻ, đặt trên chiếc
bàn thờ ở giữa nhà dưới ngọn đèn dầu leo lét. Mãi tới
khi Chuyên cất tiếng gọi, người thiếu phụ ngồi nhỏm dậy quấn
vội mái tóc mây, đứa bé bồng trên tay mở to đôi mắt
trong veo nhìn hai người xa lạ chực khóc, và hai đứa bé đang
chơi trên chiếc giường nhỏ chạy ùa tới nhìn khách chăm
chăm. Ngọc đã gần đoán hiểu ra được sự thăm
viếng đột ngột của Chuyên dành cho gia đình một người
lính cùng đơn vị, khi anh ta đã nằm xuống mấy tháng trước
đây trong một cuộc đụng độ giữa hai bên. Người
phụ nữ còn trẻ, chắc dưới tuổi ba mươi, ngạc nhiên vì
sự thăm viếng khá bất ngờ của người sĩ quan chỉ huy cùng
đơn vị với chồng mình và cô bạn trẻ, trong chiếc áo
dài trắng đơn sơ. Có lẽ hình ảnh ấy khiến chị nhớ
đến hình ảnh một thời của mình, và cái chết quá
mới mẻ của chồng khiến chị vừa cảm động, vừa tủi thân.
Trong tiếng nói cuả chị, Ngọc nghe như có chút nghẹn ngào khiến
nàng cảm động:"Chào Thiếu Uý, chào cô . . . " Rồi chị nín bặt như sợ
nói thêm sẽ có thể bật lên khóc. Để tránh sự xúc
động, Chuyên nắm tay hai đứa bé lôi vào lòng xoa đầu
chúng một cách trìu mến, rồi chàng giơ tay bồng đứa bé
độ bảy, tám tháng trên tay chị. Mấy đứa nhỏ quấn ngay
lấy chàng, như đã lâu lắm rồi chúng chưa được
nắm lấy bàn tay yêu thương của một người nào giống
như cha chúng. Chuyên vội giới thiệu với Ngọc: "Đây
là chị Luân, trước kia anh Luân cùng đơn vị với anh. Còn
đây là Ngọc, em gái hậu phương của tôi đấy." Chàng
cố pha trò cho không khí bớt phần buồn bã, vì nhìn những
đứa bé còn nhỏ như vậy, Ngọc hiểu anh Luân chỉ ra đi
ít lâu nay, và cái buồn hình như còn y nguyên trong lòng
người vợ. Chị Luân định chạy đi tìm nước mời khách,
nhưng Chuyên đã ngăn lại, rồi hướng về mấy đứa bé,
đang nhìn chàng bằng những đôi mắt đen lay láy. Chuyên nói: "Chú
có quà cho các cháu đây. Nguyên năm tuổi, học mẫu giáo
rồi phải không, chú cho con viết chì màu để tô hình nhé.
Bé Tiên thì lại làm cô tiên, cái áo đầm này đẹp
chưa? Nào em bé ra đây, bé thế này thì chỉ có sờ
tí mẹ thôi, chú cho bé con thỏ biết nhảy để ba anh em chơi
chung với nhau nè!" Hai đứa
lớn mừng rỡ xà vào lòng Chuyên, bây giờ mới ríu rít
kể chuyện. Những chuyện của trẻ con thật dễ thương, điều
thương cảm hơn cả là chúng chưa hiểu gì về sự vắng
mặt của người cha. Ngọc đã phải bậm môi để đừng
chảy nước mắt khi nghe thằng Nguyên nhắc về cha nó, với nỗi
mong đợi của đứa bé ao ước được gặp bố, sau nhiều
tháng chưa thấy bố về phép như mọi khi. Nó thỏ thẻ hỏi
Chuyên: "Chừng nào bố con về hở chú?"
Chuyên vội quay đi để tránh cái nhìn tha thiết trong đôi
mắt trẻ thơ của thằng bé: "Bố còn bận
lắm chưa về được, nhưng bố nhắn chú về mua quà cho con
và mấy em rồi. Con phải ngoan, nhớ trông em cho mẹ, kỳ tới chú
về bố con sẽ gửi quà nhiều hơn." Những câu nói
dối để xoa dịu nỗi mong đợi nơi thằng bé năm tuổi, khiến
người lớn nghe thắt cả lòng. Đằng sau những vinh quang của vòng
hoa tươi thắm quàng lên cổ áo người lính trở về từ
mặt trận, những khuôn mặt rắn rỏi và kiêu hùng trong tiếng
nhạc rộn ràng kia, có bao giờ lại thiếu những hồi kèn truy
điệu thiết tha, ngân lên rồi đọng lại trong lòng người
ở lại sự vắng mặt của người đã nằm xuống, không
bao giờ trở về. Chuyên trở
lại câu chuyện với chị Luân, người góa phụ còn xuân
sắc với ba đứa con thơ trên tay, Ngọc không hiểu chị có đủ
nghị lực và can đảm để vượt qua cái chênh vênh của
cuộc sống chật vật và cô đơn ấy được bao lâu. Cho
dù thời gian qua đi, một mai đất nước có thanh bình, nhưng
chiến tranh đã để lại những dấu tích bi thảm trên thân
phận người vợ lính, những đứa bé không cha dẫy đầy
trên mảnh đất quê hương. Nghĩ tới đây, rồi nhìn
thấy đôi mắt ướt của người góa phụ còn trẻ, Ngọc
bỗng rùng mình , và mắt nàng cũng rưng rưng một màn
lệ mỏng . . . Tuy nhiên, mùa Giáng
Sinh năm ấy lại là mùa Giáng Sinh ý nghĩa nhất trong đời
Ngọc, nó đã trở thành một kỷ niệm đẹp của hai người,
để Ngọc có dịp đánh giá tâm hồn Chuyên sâu
sắc hơn. "Không bỏ anh em, không bỏ bạn bè", có phải
đấy là giá trị duy nhất mà một người Lính sau bao nhiêu
lần thử thách với cái chết còn giữ được, ngay cả
mạng sống của họ . Bây giờ Ngọc mới thực sự nhìn ra
tâm hồn cuả người yêu, rồi nhìn ra những cảnh đời cô
đơn, cùng khổ đang nhan nhản xảy ra xung quanh nàng, tự nhiên Ngọc
không còn thiết tha gì với những cảnh xa hoa, hào nhoáng ở
ngoài kia, nó như những mảnh vải màu sắc rực rỡ, vá
lên một chiếc áo rách tả tơi. . . . * * *
Năm
nay, mùa Giáng Sinh lại tới, Chuyên và Ngọc đã về với
nhau được hơn ba mươi năm, đôi bạn tình đã trải
qua nhiều đau khổ với cảnh tan nát của nước non. Chuyên may mắn
thoát chết trong những ngày chinh chiến gian khổ, nhưng sau đó chàng
nếm thêm nhiều năm tù tội khi đất nước hòa bình. Hoàn
cảnh lại xô đẩy Ngọc giống như chị Luân, vợ một người
lính đã nằm xuống, nhưng có điều là nàng vẫn còn
niềm hy vọng, vì cuối cùng Chuyên cũng trở về với Ngọc
và các con. Chẳng hiểu sao định mệnh cứ đưa đẩy
đất nước vào những nghịch lý triền miên như vậy, và
điều ấy khiến con người càng ngày càng xa cách nhau hơn. Rồi dài theo những bước
chân và sự xoay vần của lịch sử, hai vợ chồng và mấy đứa
con lại trôi nổi nơi xứ lạ quê người. Trong mảnh sân vuông
vức, Ngọc vẫn trồng một giàn mướp trong góc vườn để
nhớ tới mảnh vườn sau ở quê nhà năm xưa. Nhìn tia nắng
ban mai chiếu ánh sáng qua giàn lá xanh như ngọc , Ngọc lại không
quên được những kỷ niệm êm đềm của những mùa Giáng
Sinh xưa. Những đợt gió cuối mùa ở quê người, là
cái dữ dội của con dao cắt vào ruột kẻ tha hương, chứ không
phải cái hiu hắt dịu êm của chút gió cuối năm ở quê
nhà những mùa Noel cũ. Trời khi nóng khi lạnh, khiến giàn mướp
đã xơ xác vẫn còn những chiếc lá thưa thớt xào xạc
thoảng qua tai Ngọc, như tiếng ngân của một cung đàn đềm
êm trong quá khứ. Những bông hoa cuối mùa, dường như vẫn
giữ lại trong lòng Ngọc biết bao kỷ niệm một thời tuổi trẻ
dễ thương nhất của cuộc đời, mà những kỷ niệm ấy
như những tiếng chuông mùa Giáng Sinh, vẫn ngân nga trong lòng nàng
mỗi mùa Giáng Sinh trở lại.
Ở góc vườn bên kia, bóng Chuyên lom khom xới đất để
sửa soạn trồng những cây hoa pensée mùa Đông. Một thời
tuổi trẻ đã qua rồi, nhưng sao lòng Ngọc vẫn ấm áp khi
nhớ lại đêm Giáng Sinh năm ấy, chính vì thế trong mắt nàng
Chuyên vẫn là Chuyên của những năm tháng cũ. Nắng đã
lên rực rỡ, chỉ còn Ngọc đứng dưới giàn mướp
đã thưa thớt lá. Nhìn bóng nắng nhảy múa trên
vai áo mình, Ngọc tự nhiên nhớ lại mùa Giáng Sinh năm
xưa, và mỉm cười vu vơ như thuở nàng còn là người
yêu của lính. NGUYÊN NHUNG Mùa Giáng
Sinh
Ổ Bánh
Mì Đêm Giáng Sinh
* Lời người
viết : Chuyện kể lại một góc đời
thường của một linh mục sau năm 1975, với những nhọc nhằn trên
đôi vai của ông cha xứ trong một xứ đạo nghèo, mà tinh thần
bác ái của ông bao giờ cũng là một món quà Giáng Sinh
đáng trân trọng. Nguyên Nhung

Nhà là nhà xứ mà cũng là nhà
Dòng, Cha là cha xứ lại kiêm luôn việc trông nom tu viện, gồm
một số tu sĩ nguyện tận hiến cuộc đời cho Thiên Chúa và
tha nhân. Ấy là số tu sĩ chỉ độ hơn mười người,
sau khi đổi đời một số đã bỏ về nhà làm ăn sinh
sống. Có làm linh mục vào thời buổi ấy mới cân lượng
được cây thánh giá Chúa gửi đang vác trên vai, chứ
đâu sung sướng gì như người ta nghĩ: “ Một người
làm Cha... cả họ được nhờ”.
Xứ chỉ là xứ nghèo, số giáo dân đến nhà
thờ được vài trăm, đa số đều vất vả và đơn
chiếc. Nhìn là biết ngay, giáo dân chỉ toàn đi dép nhựa
với mặc áo bà ba, mấy cái áo dài chắc được đem
ra chợ trời để đổi lấy cơm gạo, hoặc mấy bà mẹ
khéo tay đã lấy may lại tấm áo Tết cho con. Đám trẻ con
lại càng tội hơn, chúng nó đi chân đất đến nhà
thờ, áo quần xộc xệch, mặt mũi vêu vao, nhìn đám con chiên
cha xứ chỉ muốn rơi nước mắt...
Bây giờ nhà thờ rất thiếu linh mục, chiều thứ Bảy,
ngày Chủ Nhật là ngày chạy “show” làm lễ cho giáo dân
ở hai nơi khác nhau. Mà đã xong đâu, còn phải chọn giờ
làm lễ sao cho phù hợp, không làm mất thì giờ lao động
của nhân dân. Những buổi lễ ngày thường Cha phải dậy sớm
lắm, nhà thờ chỉ lác đác mấy ông bà già không
ngủ được đi lễ sớm, còn đám người lớn phải
lo chạy gạo giờ nào mà đi lễ. Không có hát Thánh ca,
không có đàn sáo trầm bổng gì hết, quanh đi quẩn lại
chỉ có mấy cha con chúc Bình An cho nhau.
Bình An là tốt rồi, không dám mong mỏi gì hơn. Khu
nhà thờ nằm trong khuôn viên rộng rãi giờ này như mâm
cỗ đập vào mắt những kẻ đói ăn, khiến Cha nghĩ nát
đầu để giữ lấy làm nơi thờ phượng và làm chỗ
tu học cho các tu sĩ. Nhìn bề ngoài khu nhà thờ có vẻ bề
thế, nhưng sau nhiều năm không được sửa chữa, tường đã
nứt, mưa đến dột nát tứ tung, tiền không có ăn, nghĩ
đến chuyện quét vôi cho sáng sủa nhà thờ chắc chỉ là
chuyện chiêm bao.
Nghĩ
mãi Cha mới nảy ra ý kiến trồng rau nuôi gà, tất cả đều
“tay làm hàm nhai”, các tu sĩ bây giờ tíu tít lên vì
phải “tăng gia sản xuất”. Không phải vì cái khẩu hiệu
“lao động là vinh quang” vẽ chữ vàng trên nền vải đỏ
treo bên kia đường đập vào mắt Cha, nhưng “đói thì
đầu gối phải bò”i. Nghĩ cho cùng cha vẫn thấy hợp lý,
con người không thể dấn thân vào Đạo khi không tự mình
lo được cho mình miếng ăn, lại cứ phải sống nhờ vào
lòng từ tâm của tín hữu.
Khu nhà thờ biến thành một trại gà, vì thế mỗi buổi
lễ con chiên vẫn ngửi được mùi phân gà thoang thoảng trong
câu kinh nguyện. Những mảnh đất xung quanh khu nhà thờ, giờ này
trồng đủ thứ rau xanh. Mùa nào thức nấy cả nhà Dòng trông
vào mảnh vườn rau làm thức ăn chính. Su hào, cải bắp,
khoai lang, mùng tơi, rau đay, rau muống, có chút rau xanh nấu với tôm
khô cũng đẩy được bao nhiêu bát cơm gạo hẩm vào
bụng. Khổ nỗi, số rau ấy được lũ trẻ đi nhà thờ
tận tình chiếu cố, chả lẽ chúng nó mở miệng xin mà Cha
lại từ chối, thành ra sau buổi lễ dành cho thiếu nhi ngày chủ
nhật, bao nhiêu rau trong vườn được vặt trụi.
Đất còn rộng, sợ ngứa mắt người khác, cha nghĩ
đến chuyện đào ao nuôi cá, thêm chút chất đạm cho
mỗi bữa cơm. Ban đầu chưa có kinh nghiệm, mua bao nhiêu cá giống
về thả xuống ao, chỉ ngày hôm sau cá con đã nổi lềnh bềnh
trắng xóa trên mặt nước. Ít lâu sau ao cá mới gầy được
một vài lứa, hôm nào lưới lên Cha con được một bữa
bồi dưỡng cũng thỏa lòng. Nhưng lại có vấn đề, lũ
trẻ đi nhà thờ ngày chủ nhật hay leo trèo, nghịch ngợm, ao cá
nằm phơi ra đó lỡ đứa nào sảy chân chết đuối là
Cha lãnh nợ. Lại phải rào, dây kẽm gai lúc ấy rất hiếm,
dù ngày xưa chỉ để rào quanh đồn bót với những cơ
quan quân sự. Thế là cha con lại hì hục chạy vạy để rào
ao nuôi cá, tiền bán trứng gà dành dụm mãi bây giờ
lại đổ vào việc mua dây kẽm gai, gà không có thực phẩm
đầy đủ cứ gầy teo, rồi mùa gió chướng năm đó
gục xuống chết hết, cha con tha hồ ăn thịt gà “toi”.
Vấn đề chạy gạo cho cả chục
người ăn là “căng” nhất. Nghĩ tới nghĩ lui, may là còn
được chiếc xe Honda cũ, Cha vẫn dùng để chạy đi làm lễ
từ nhà thờ này sang nhà thờ kia. Cha nghĩ ngay đến việc chạy
xe “lôi” kiếm sống, gia nhập vào nghiệp đoàn “Xe Lôi”
rất đông đảo. Xe lôi là một loại xe chuyên chở bình
dân rất thông dụng ở miền Tây, chỉ cần một cái thùng
xe phía sau là cha xứ có thể biến thành một bác chạy xe lôi
rất chân chính. Miệng lưỡi thế gian không thể cho cha là loại
người trốn tránh lao động, sống bám vào công sức của
người khác, lại còn giải quyết được chuyện bao tử cho
bấy nhiêu con người trong nhà Dòng.
Mỗi buổi sáng ngày thường sau khi tan lễ, cha ăn uống
qua loa rồi tất tả cởi chiếc áo chùng thâm, thay vào đó
là cái áo lính cũ, với một mũ rộng vành kiểu nhà
binh, bấy nhiêu đó là Cha có thể hòa nhập vào với dòng
đời xôn xao ngoài kia. Bởi vậy mới xảy ra chuyện cười ra
nước mắt giữa một ông cha xứ chạy xe lôi với một bà
già giáo dân trong họ Đạo. Sáng sớm bà già đón
xe đi chợ, vì chân yếu, chợ lại xa, bà không làm sao lạch
được ra chợ. Bà già đứng bên đường ngoắc chiếc
xe lôi vừa chạy tới. Chiếc xe tấp vào lề đường, cha xứ
giấu mặt có đôi kính trắng dưới cái mũ rộng vành
đội sùm sụp.
“Từ
đây ra chợ, chú lấy bao nhiêu?
“Bà cho bao nhiêu cũng được.”
Bà già vừa ngồi trên xe vừa lẩn thẩn hỏi cho vui
chuyện:
“Chú chạy
xe có khá không?”
“Thì
cũng nhàng nhàng đủ ăn, thưa bà.”
“Nhà chú được mấy đứa con?”
“Nhà tôi đông con lắm...”
Cha chỉ trả lời cầm chừng, vì
cụ bà thì cha biết rồi, chỉ có bà không nhận ra ông
cha xứ của mình thôi. Bà là bà cụ đọc kinh to tiếng nhất
trong nhà thờ, khoác tấm áo dài màu cánh gián, ngồi gật
gù dưới chiếc cột có tượng Đức Mẹ từ bi, tuy mắt
kém nhưng vẫn lò mò đi nhà thờ mỗi buổi sớm. Bà
cụ than:
“Đông
con nhưng chú có chiếc xe để kiếm cơm cũng còn khá. Tôi
bây giờ chỉ sống nhờ vào con , con trai lại đi tù, con dâu ở
nhà nuôi cháu cho mình thấy vất vả quá. Hôm nay, tôi phải
đi chợ để làm mấy món tiếp tế cho con, chia với vợ nó
chút khổ, chứ trông vào một mình nó, thật ái ngại!”
Cha thấy nao nao buồn, xung quanh Cha là những
cây Thập giá đè nặng lên thân phận của những gia đình
giáo dân trong xứ đạo, nhà nào cũng khổ như nhau, chỉ ít
hay nhiều mà thôi. Đa số đàn ông vắng mặt trong nhà, đàn
bà thì chân yếu tay mềm, suốt ngày quần quật ngoài chợ
kiếm ăn, nuôi một đàn con nheo nhóc cơm không đủ ăn,
áo không đủ mặc. Đức bác ái thì không thiếu trong
con người linh mục, nhưng lấy gì để chia xẻ đây?
Chiếc xe rề rề tấp vào vỉa
hè con phố ở đầu chợ. Bà già xuống xe, bàn tay nhăn nheo
run run mở cái kim băng ngoài túi áo để lấy tiền, nhưng
ông chạy xe lôi tử tế kia nhất định biếu không cho bà chuyến
xe mở hàng đầu ngày. Mắt bà hấp hem nên chưa nhận ra ông
ta là ông cha xứ của mình, dù nghe giọng nói kia quen quen mà chịu
chưa nhớ ra được. Mãi tới khi lần mò đi vào khu chợ,
vừa đi vừa cầu nguyện cho người đã làm ơn cho mình,
bà mới ngờ ngợ nhận ra cái tiếng nói quen quen kia là giọng
nói của ông cha xứ trẻ. Bà bồi hồi cảm động,
hai hàng nước mắt cứ chực tuôn ra trên hai gò má. Bà
vừa đi vừa thầm thĩ cầu nguyện Chúa nhân lành trả công
cho ông cha xứ của mình.
Làm
ăn quần quật thế mà cha con vẫn sống thật vất vả, bữa cơm
bày biện trên chiếc bàn dài, nhìn vào chỉ có canh cua đồng
nấu rau đay, một đĩa cá kho, thêm một đĩa cà pháo, hôm
nào ngon lắm thì thêm một vài miếng đậu hũ xốt cà.
Tiện tặn, khiêm nhường, co kéo mà sống vậy cũng chưa yên
thân, giáo dân nghèo bần cùng, đơn chiếc thỉnh thoảng vào
nhờ cha giúp mấy lít gạo cũng không từ chối được.
Khi dấy lên phong trào hồi hương
lập nghiệp, nhà nhà đưa nhau đi xây dựng vùng quê hương
mới, Cha nghĩ ngày nghĩ đêm để tìm cách giúp con chiên
được ở lại thành phố. Họ đổi mới thị trường
công thương nghiệp, thay vì phải đi cày sâu cuốc bẫm, cho
nên cha lại phải khôn khéo ngoại giao mới được giao cho công
việc điều hành một Tổ Hợp Dệt Thảm bằng cói lác,
được đánh giá là hàng mỹ nghệ xuất khẩu ra nước
ngoài. Nhà xứ lại nhộn nhịp người ra kẻ vào, các tu sĩ
thay cha điều khiển Tổ Hợp và dạy nghề lại cho bà con trong xứ.
Không tham gia vào mấy cái Tổ
hợp thì không phải là người thức thời, ai cũng biết chả
sống được bằng cái nghề ấy, vì có làm cong lưng ra
cũng không chạy đủ gạo cho con ngày hai bữa, chỉ có những
người độc thân bám víu mà sống được, còn người
nặng gánh gia đình tham gia cho có hình thức, rồi cắp túi
ra chợ Trời ngồi mua chui bán nhủi. Dĩ nhiên chỉ có các vị
tu sĩ phải chăm chỉ làm để lấy sản phẩm giao cho nhà nước,
cũng được cấp phiếu mua gạo giá quy định, đỡ đần
gánh nặng cho cha xứ.
Cũng
vì lòng thương người, đức bác ái mà đời cha
đôi phen điêu đứng, việc ngoài đối phó chưa xong mà
việc trong lại rối rắm bằng mười. Điều làm cha buồn lòng
nhất sao nó giống hệt nỗi buồn của Chúa Giêsu năm xưa, bị
chính người môn đồ thân yêu bán đứng lấy ba mươi
đồng bạc. Cha cô đơn chống chỏi với bên ngoài, cũng chỉ
vì muốn giữ lấy cái nhà dòng cho các tu sĩ và ngôi
nhà thờ cho giáo dân. Nhưng điều hành một giáo xứ và
một nhà dòng, cha không tránh được chuyện người ưa
kẻ không thích, khổ tâm nhất là bất cứ việc gì cha làm
vì lòng bác ái, lại bị nhiều lời đàm tiếu vô căn
cứ. Để rồi đôi khi cha thấy mình y hệt phạm nhân nằm
trên cây thập giá, mà mỗi lời châm chích lại y như những
cái đinh vô hình đóng vào tâm hồn cha, khiến Cha chỉ biết
thở than với Chúa.
Cha hiểu trong đêm tối chỉ có Chúa mới lắng nghe được
cha đang nói gì, hay chính tiếng nói của lương tâm đang
ủi an cha để làm nốt trách nhiệm quá nặng nề trên đôi
vai người linh mục tội nghiệp. Ngày xưa Chúa chỉ có mỗi
Phi la Tô xét xử, mà với áp lực của đám đông đang
gầm thét đòi đóng đinh Chúa, trước khi giao Chúa cho quân
dữ, hắn đã phải rửa tay để thề rằng không có trách
nhiệm gì trong cái chết của người công chính này. Cuối
cùng, cha quyết định mình sẽ học bài học im lặng của Chúa,
chờ đến một ngày người ta sẽ hiểu cha hơn, qua những việc
cha làm, đó là cách hữu hiệu nhất mà vẫn rất cần
thời gian mới trả lời được.
* * *
“Ai bảo
chăn trâu là khổ”, cũng như “ai bảo làm Cha ... là sướng”.
Thời nào Cha sướng không biết, chứ lúc ấy nghề linh mục
là nghề cay đắng nhất, hai ba thứ dâu đổ vào đầu tằm,
việc Đạo việc Đời phải khéo léo giải quyết, ai vác
thay được cho Cha cây Thánh giá nặng nề chừng ấy. Nói theo
Tôn giáo bạn thì đi tu là xa lánh việc đời, quẳng cái
đa đoan để tầm đường tìm sự giải thoát cho bản
thân, giá được vậy thì đã đỡ khổ. Từ sáng
tinh sương tới tối mịt, khi chuông nhà thờ vang lên từng hồi
dồn dập mỗi buổi sớm mai, Cha đã bắt đầu lo cho một ngày
sắp đến.
Nhìn xuống
hàng ghế quỳ càng ngày càng thưa thớt giáo dân, cha thấy
lòng nặng trĩu một nỗi buồn. Mùa Giáng sinh sắp tới rồi,
mùa Vọng thường là mùa chuẩn bị cả phần hồn lẫn
phần xác. Năm nào cũng vậy, nhà thờ vui nhất mùa Giáng
Sinh, ca đoàn bắt đầu chuẩn bị tập hát, những ca khúc giáng
sinh rộn ràng khiến lòng ai cũng như mở hội. Đám trẻ dạo
này ít tới nhà thờ, ngoài giờ đi học chúng nó bận
họp hành tối ngày, công tác kiểm điểm liên miên giờ
đâu mà tham gia sinh hoạt của nhà thờ. Đúng ra cũng chỉ
có mỗi ca đoàn là còn tương đối hoạt động, mấy
hội đoàn kia tự động giải tán, chả ai bảo ai cứ lẳng
lặng mà tan hàng...
Những
chiếc đèn ngôi sao sau mùa Giáng Sinh hằng năm, được bọc
giấy báo cất kỹ trong kho, bây giờ được lôi ra làm lại
như mới, giăng hai hàng song song bên hông nhà thờ, khiến khu nhà
xứ lại tràn ngập bầu không khí Giáng Sinh. Nhưng sao vẫn buồn
thế nào ấy?
Góc
sân kia có thể làm hang đá ở chỗ ấy, dưới bóng mấy
cây dương xỉ để nghe tiếng lá reo vi vu, như âm điệu buồn
buồn của bài ca sinh nhật “Đêm Thánh Vô Cùng”, hay cảnh màn trời chiếu đất của một gia đình
cách đây gần hai nghìn năm. Năm nay Cha dâng Lễ ngoài trời,
vì lễ sớm, bọn trẻ con đông, nhà thờ không đủ chỗ
chứa bấy nhiêu con người, ngồi trên cung thánh nhìn xuống, cha
thấy mướt mồ hôi. Tất cả đã được cha tính toán
để ít là cũng mang được niềm vui Giáng Sinh đến cho
giáo dân trong họ đạo. Ai cũng biết xứ nghèo lắm, cha xứ
cũng nghèo, hiền lành nên mùa Giáng Sinh cũng chỉ được
có thế, nhưng họ vẫn tuôn đến nhà thờ vào đêm
Giáng Sinh. Hình như trong lúc này, họ mới cảm nhận được
cái tương quan giữa cảnh đời của họ với gia đình Giêsu
trong hang đá bé nhỏ kia, có vẻ gì gần gũi lắm.
Cha hồi tưởng lại những mùa
Giáng Sinh vài năm trước, cả khu nhà thờ sáng rực đèn
sao như mở hội. Người người không phân biệt tôn giáo
kéo đến đứng đầy trên sân, vừa nghe nhạc Giáng Sinh,
vừa ngắm nghía Chúa Hài Nhi nằm trong máng cỏ. Năm xưa ấy,
hang Bê Lem cũng khác với bây giờ, những ngọn đèn màu nhấp
nháy liên tục làm lóng lánh thêm những sợi kim tuyến giăng
ngang dọc trong hang đá. Có lẽ Chúa cũng không hài lòng lắm
vì cảnh tưng bừng tương phản với sự nghèo khổ
của gia đình Thánh gia năm xưa, vì thế năm nay vừa để
tiết kiệm điện, vừa để thích hợp với cảnh nghèo nàn
rất ý nghĩa, Cha chỉ dùng một ngọn đèn mờ, tỏa ánh
sáng hắt hiu xuống những bức tượng thánh. Buổi tối trước
ngày Lễ, cha đứng ngắm nghía cảnh nghèo nàn của gia đình
Thánh gia trong hang đá đơn sơ, cha chỉ biết xin Chúa ban cho cha trở
nên hột muối ướp cho mặn đời, với tinh thần khó nghèo,
cha có cơ hội tận hiến đời mình cho anh em mà thôi.
Buổi chiều trước lễ Giáng
Sinh, lũ trẻ đã túa ra nhà thờ vây xung quanh hang đá, trầm
trồ nhìn Chúa Giêsu bé nhỏ xinh đẹp đang nằm mỉm cười
trong máng cỏ, tay chân giơ lên như muốn nhảy ra chơi đùa
với bọn trẻ rất dễ thương, nụ cười ngây
thơ nhìn đời rất thánh thiện như tâm hồn của
chúng nó. Đám trẻ nhỏ xô đẩy nhau để được
đứng gần lại với tượng Chúa, lúc này y hệt em bé
của chúng nó ở nhà.
Cha
dự trù phải có một món quà Giáng Sinh ý nghĩa cho những
gia đình nghèo, mà nghĩ mãi chưa ra. Cuối cùng cha “ à”
lên sung sướng, chiếc xe Honda cũ kỹ của cha kể cũng rất được
việc, chỉ cần để dành chút tiền nhỏ của mỗi cuốc
xe trong nhiều tuần lễ, cha cũng sẽ có tiền để thực hiện
cái mộng ước đơn giản trong mùa Giáng Sinh. Đó là
những ổ bánh mì nóng ròn để làm quà cho những gia đình
neo đơn, khốn cùng trong cái xứ đạo nghèo của Cha. Cha thiết
thực tính toán với ông chủ tịch nhà xứ, chả có gì
bằng “một miếng khi đói, bằng gói khi no”, vừa hợp tình,
vừa hợp cảnh, bởi hình ảnh người đàn bà trong xứ
đạo trong cuốc xe buổi sáng hôm nào, vẫn còn ghi đậm trong
lòng cha nỗi khổ của một người mẹ, cha vẫn nghe lòng nao nao
xúc động...
Thánh
Lễ cử hành vào lúc 8 giờ, thay vì nửa đêm như những
năm trước, lễ đêm khuya khoắt chỉ có người lớn, ông
già bà cả, còn đám trẻ con đã lên giường từ
lúc 10 giờ. Nhìn vẻ náo nức của lũ trẻ con trên sân nhà
thờ, tự cha cũng biết không nên dập tắt niềm vui giáng sinh trong
lòng lũ nhỏ. Trên khuôn mặt chúng, cha nhìn thấy Chúa Giêsu
đang hiện diện trong tâm hồn đơn sơ của chúng, nhìn niềm
vui của trẻ con cha mới thực sự nhìn thấy sự bình an của tâm
hồn. Quanh năm ngày tháng chúng được mấy giờ vui, nhất là
đêm Chúa sinh ra đời, dù bối cảnh hang đá năm nay không
rực rỡ, tưng bừng như những năm trước, nhưng ý nghĩa của
hang đá Bê Lem chắc hẳn sẽ ghi đậm trong lòng những đứa
bé thơ suốt cuộc đời. Suy bụng ta ra bụng người, hồi cha còn
bé, cha cũng là một cậu bé con nhà nghèo hiền lành, cha đã
hiểu được niềm vui ấy vẫn rạo rực nhiều ngày trước
mùa Sinh Nhật, nó cháy mãi như ngọn nến trong chiếc đèn
ngôi sao lẻ loi treo bên cạnh máng cỏ, để dù khi khôn lớn,
mỗi mùa Giáng Sinh về, tâm hồn cha vẫn cứ reo vui như độ
còn là một chú bé con.
Khi
tiếng chuông ngân từng hồi giục giã, ca đoàn bắt đầu
cất tiếng hát vang dội cả một góc sân nhà thờ, những
đứa trẻ con bắt đầu hòa nhịp với ca đoàn, khiến lòng
cha tự dưng xúc động. Bao nhiêu đứa bé đứng dưới
kia là bấy nhiêu hoàn cảnh gia đình bày trải trước mắt
cha, có những gia đình neo đơn mà cha nhìn thấy trong giáo xứ,
nhà nhà quạnh vắng chỉ có đàn bà và trẻ con. Cha hy
vọng rằng lễ Giáng Sinh sang năm, trong khoảng sân giáo đường
này, sẽ là hình ảnh ríu rít của đám trẻ con bên
cha mẹ. Bà già được cha chở giúp trong chuyến xe lôi buổi
sớm hôm ấy, dạo này đôi chân đã yếu, hai mắt đã
mờ, không còn lạch được tới nhà thờ những buổi lễ
sớm, con người cũng y như chiếc lá thoảng rơi xuống sân cỏ,
chẳng mấy chốc lại chỉ là hạt bụi giữa cõi trần ai....
Lễ tan, giáo dân tản mát ra về,
một vài người còn ra đứng trước hang đá cầu nguyện,
cơn gió tháng chạp thổi qua khiến đêm Giáng Sinh mang mang một
chút buồn hiu hắt. Những đêm Noel bây giờ, đâu phải tất
cả trần gian đều chìm ngập trong an hòa và hạnh phúc, hình
như trong Cha lại phảng phất nỗi buồn rầu nhớ thương của người
chồng xa vợ, những giọt lệ âm thầm rơi trên đôi má
người cô phụ, và những đứa bé thèm thuồng có được
món quà nhỏ của ông già Noel trong câu chuyện huyền thoại ngày
xưa.
Sau lễ, trời
dần khuya, cha xứ sửa soạn đi với ông chủ tịch hàng xứ,
vác bao bánh mì trên vai đi đến những nhà giáo dân neo
đơn, nghèo khổ đã được chọn sẵn trước ngày
lễ. Con ngõ đi vào xóm vắng gập ghềnh tối om, hai cha con bước
thấp bước cao lần mò như hai thằng ăn trộm. Một bên là
bờ sông, một bên là nhà ở mập mờ trong bóng đêm
và cây cối, ánh điện câu vàng quạch còn hắt lên
trong những căn nhà nhỏ, mùi hoa ngọc lan thoang thoảng trong gió và
trên kia là bầu trời đêm nhấp nháy những vì sao muộn.
Hình như lâu lắm rồi cha chưa
bước chân ra khỏi nhà xứ vào ban đêm, bởi vậy cũng
vì thế mà cha chưa hình dung hết được cái buồn ngất
ngây của một đêm buồn trong xóm vắng. Bóng tối làm âm
u thêm những mảnh đời rách nát tả tơi, bóng tối cũng
che giùm những vá víu trên manh áo cũ. Nếu làm cha xứ để
chỉ biết loanh quanh khu nhà xứ, để suốt ngày bảo ban mọi người
tĩnh tâm, cầu nguyện, đọc kinh rì rầm hết giờ này sang giờ
khác, cha vẫn thấy không đủ. Phải đem Đạo vào Đời
là thế, nhưng nhất định không thể để Chúa ở trong những
chiếc hang đá diêm dúa với đèn màu chớp tắt, những
cây Giáng Sinh trang hoàng lòe loẹt, hay trong cung Thánh đèn hoa rực
rỡ. Nhìn những căn nhà nằm im ngủ trong bóng đêm, ánh
đèn còn lay lắt bên trong cánh cửa, cha cho rằng giờ này Chúa
cũng đang ẩn mình trong bóng tối với những người cô đơn,
cùng khổ.
Khi Cha vừa đến căn nhà cuối xóm, qua cánh cổng gỗ,
cha nhìn thấy bà cụ già hôm trước vẫn ngồi nhai trầu bỏm
bẻm ngoài hiên. Cha và ông chủ tịch nhà xứ im lặng đứng
ở phía bên ngoài khung cửa sổ còn mở, giáp với đường
đi ngoài bờ sông, tò mò nhìn hai đứa bé đang lúi
húi chúi đầu vào một góc bàn học. Trên ấy dưới
một cành cây khô có từng cụm tuyết làm bằng bông gòn,
chiếc hang đá bé cỏn con, trong hang là một tấm ảnh gia đình
Chúa Hài Nhi bé tý teo. Hai đứa bé đang say sưa hát, tiếng
hát non nớt theo cung điệu “Chúa Sinh Ra Đời” do hai thằng bé
đồng ca, tiếng hát ngọng nghịu, đớt đát của thằng bé
em làm cha cảm động.Chỉ có một ngọn nến bập bùng soi vào
hang đá, hắt lên khuôn mặt thiên thần của hai thằng bé
đang say sưa ngắm nhìn hang đá bé nhỏ của mình, cha chưa
hề nhìn thấy một bức tranh nào đẹp hơn thế.....
Hai đứa bé vẫn say sưa với
ngọn đèn cầy trước chiếc hang đá bằng giấy bé tẻo
teo trên bàn học, bà nó chắc là vừa ăn trầu, vừa thì
thầm đọc kinh trong bóng tối, còn mẹ nó thì đang lỉnh
kỉnh dọn dẹp trong nhà bếp. Cha khẽ bảo ông chủ tịch rút
hai chiếc bánh mì, khe khẽ luồn qua song cửa sổ, đặt nhè nhẹ
lên góc bàn con trong bóng tối, rồi vội vã bước đi...
Những ổ bánh mì tình nghĩa
của ông cha xứ nghèo, như một phép lạ đêm Giáng Sinh vì
nó đến đúng nơi, đúng lúc. Cha hình dung ra nét mặt
ngạc nhiên của hai đứa bé khi nhìn thấy hai ổ bánh mì
thơm mùi bột nướng nằm trên chiếc bàn nhỏ, nhưng điều
thú vị hơn cả là ân sủng của Chúa đã tràn ngập
đem niềm hy vọng vào tâm hồn hai đứa bé thơ. Biết đâu
từ đây trong cuộc đời của hai đứa nhỏ, mỗi mùa Giáng
Sinh về, sẽ là câu chuyện kể về hai ổ bánh mì tự trên
Trời rơi xuống vào giữa đêm Chúa sinh ra đời.
Để nhớ lại một mùa Giáng
Sinh xưa
Nguyên Nhung
Nhớ về một muà lễ Tạ Ơn.
Tôi đến Mỹ vào một
ngày mùa Đông năm 1992. Đối với tôi lúc ấy, cảm giác
lạnh lùng trống vắng khi nhìn thấy những rừng cây trơ trụi
hai bên xa lộ nằm thiếp ngủ , thành phố về đêm
nhấp nháy những ánh đèn xanh đỏ dưới cơn mưa phùn
muà đông rét mướt.
Buồn, cảm giác buồn thay cho bao háo hức thường ẩn
hiện trong những giấc mơ khi còn ở Việt Nam, hiện tại một nước
Mỹ buốt lạnh và buồn rầu khi chiếc xe chạy qua những đoạn
đường ướt át. Lúc ấy đã gần nửa đêm, người
bảo trợ dẫn cả nhà vào căn chung cư 1 phòng ngủ, ngổn ngang
vài món cần thiết xin được cuả hội từ thiện. Nhà
hàng xóm người Kampuchia đêm khuya vẫn còn thức, nghe có tiếng
xê dịch ngoài hành lang vội mở cửa nhìn ra, rồi biết có
người mới qua cũng tíu tít chạy ra hỏi thăm, bưng cho ngay thùng
mì gói và hộp sữa.
Đối
với chúng tôi lúc ấy tình người quý biết bao, nỗi nhớ
quê còn đầy nhưng sự chia xẻ ấy khiến lòng tôi ấm
lại. Phải đến năm sau, một năm dài làm quen với khí hậu
và phong tục cuả nuớc Mỹ, tôi mới hưởng được không
khí ấm áp cuả muà lễ Tạ Ơn vào tháng 11 năm sau.
Đẩy lùi vào quá khứ những
ngày vất vả khó khăn ở quê nhà, cơ hội đã mở
toang cánh cửa đón gia đình tôi hoà nhập vào đất
nước tự do. Hình như quanh tôi có một điều khó diễn
tả được khi cảm nhận được hai chữ tự do,
những ngày đầu tôi vẫn tưởng mình đang nằm mơ, nhưng
giấc mơ ấy đã thành sự thật, bước ban đầu còn
lạc lõng, chúng tôi đã nhận được sự giúp đỡ
cuả nước Mỹ, mặc dù chưa đóng góp được gì
cho xứ sở này.
Mỗi
ngày, điều thích thú nhất với tôi là được đi
học, ở cái tuổi ngoại tứ tuần mà còn cắp sách đến
trường, tung tăng như một nữ sinh trung học làm tôi sống lại
cảm giác thời thanh xuân mà tôi đánh mất từ lâu. Dù
đấy chỉ là lớp học dạy ESL, dành cho những người chân
ướt chân ráo mới được định cư tại Hoa Kỳ, nhưng
không khí cuả một lớp học thì dường như ở đâu
cũng vậy. Một, hai bác cao niên dở dang sự nghiệp, vài người
trung niên, cùng những bạn trẻ từ nhiều quốc gia học chung một
lớp. Chúng tôi đã thật sự đến gần với nhau qua những
tâm sự bằng thứ tiếng Anh bập bẹ, kể cho nhau nghe về xứ sở
cuả mình và lý do đến được xứ sở này, cảm thông
với nhau về hoàn cảnh hiện tại, và niềm hy vọng tốt đẹp
ở tương lai
Khi chuẩn bị muà
lễ Tạ Ơn, ông thầy trẻ đã dạy cho chúng tôi học bài
học muà Tạ Ơn, để hiểu tại sao xứ sở này người
ta duy trì ngày Lễ Tạ Ơn hằng năm. Bài học “The First Thanksgiving”
ngày hôm ấy là một đề tài hấp dẫn cho cả
lớp, và tôi đã cố học thuộc lòng như cháo vài câu
cảm ơn cho bữa tiệc trước ngày lễ Tạ Ơn năm đó.
“Theo câu chuyện kể
lại. Một ngày, những người Pilgrims đầu tiên sống ở nước
Anh, họ là những người bị bắt buộc theo giáo phái cuả
nhà Vua, gọi là King’s Church, nhưng họ lại chỉ muốn được
tự do cầu nguyện theo truyền thống thờ phượng riêng của họ
mà thôi.
Những người
Pilgrims này đã tìm cách rời nước Anh, và họ tìm đến
một quốc gia nhỏ có tên là Holland, họ đã hoà nhập vào
sinh hoạt tôn giáo cuả người địa phương, sự tư do cuả
tôn giáo chỉ đúng nghĩa nhất khi mỗi người được
thực sự cầu nguyện theo con đường mà họ thích. Người
Holland được gọi là người Dutch, ngôn ngữ riêng cuả họ
là tiếng Dutch. Thế là một lần nữa, những người Pilgrims lại
lên đường tìm về miền đất mới, đó
là Châu Mỹ xa xôi.
Tại
xứ sở này, họ có được sự tự do tôn giáo, con cháu
họ được nói tiếng Anh. Năm 1620, năm đánh dấu
102 người Pilgrims, những người đầu tiên đi tìm đất mới
rời Holland và tàu cuả họ đã cập bến Mayflower tại Massachussets,
thời tiết khắc nghiệt với những cơn mưa và khí hậu lạnh
lẽo, nhiều người đã nhiễm bệnh nên con tàu không thể
tiếp tục lênh đênh trên biển.
MayFlowers
là một hải cảng nhỏ cuả tiểu bang Massachussets, nơi dừng chân
cuả những người Pilgrims kiệt lực vì sóng gió và khí
hậu khắc nghiệt, họ bắt đầu cuộc đời mới tại một
thành phồ nhỏ mang tên là Plymouth. Nhưng muà đông năm đó,
khí hậu nơi này cũng vô cùng khắc nghiệt, nhiều người
đã chết, họ sống lây lất bằng ít lương thực thật
nhỏ nhoi, cầm cự mãi nếu không có sự giúp đỡ cuả
những người địa phương, đó là những người da đỏ
được gọi là người Indians.
Những
người dân địa phương tốt bụng này đã hướng
dẫn cho họ hòa nhập vào đời sống mới, dạy cho họ cách
trồng trọt và bắt cá để làm thức ăn , chỉ cho họ
cách trồng bắp, một loại ngũ cốc dễ ăn và dễ cất giữ
để làm lương thực trong đời sống hằng ngày. Bắt đầu
từ đấy, người di dân xây được nhà thờ cuả họ,
bắt đầu xây dựng nhà cửa, và họ đã rất hạnh
phúc khi có một đời sống no ấm trong một xứ sở tự do.
Tháng 11 năm 1620 là ngày lễ Tạ
Ơn đầu tiên được hình thành cho cộng đồng người
da đỏ bản xứ và người di dân đến từ nước Anh. Họ
tổ chức một buổi tiệc Tạ Ơn để người Pilgrims
có dịp bày tỏ lòng tri ơn cuả họ , cảm ơn Thượng Đế
đã cho họ được gặp những người địa phương đầy
lòng từ tâm, đã giúp họ một cuộc sống mới nơi mà
họ đã phải đánh đổi bao nhiêu gian nan để tìm kiếm.”
Bài học về ngày Lễ Tạ Ơn
cũng chấm dứt, tiếp theo đó mỗi người trong lớp đã bày
tỏ lòng biết ơn cuả mình với những người xung quanh, mở
đầu cho một party mang nhiều màu sắc dân tộc. Trước mấy ngày,
giờ ra chơi những học sinh đã hỏi nhau về những món ăn mà
mọi người mang đến lớp học mừng lễ Tạ Ơn,
đây cũng là lần đầu tiên chúng tôi được làm
quen với những món ăn truyền thống cuả từng dân tộc.
Martha người Mễ Tây Cơ còn trẻ
và rất vui tính, trên tay cô là một khay thức ăn đậm đà
hương vị Mễ Tây Cơ, bánh bột bắp cuộn món bò hầm
với rau đậu ăn lạ miệng và khá ngon. Cô đến lớp đỏm
dáng với chiếc váy hoa sặc sỡ, đôi chân như
nhảy nhót theo điệu nhạc. Martha là người đã dạy tôi
hát bản “ Besame Mucho” bằng tiếng Spanish, mỗi dân tộc đều
thể hiện dân tộc tính cuả mình qua các món ăn hay cách
sinh hoạt, người Mễ Tây Cơ thích âm nhạc, thích hưởng
thụ khác với tính chuyên cần, chăm chỉ và kín đáo
cuả người Việt. Vốn tính trung thực, Martha giản dị chỉ cho những
người mắt kém đi chọn một cái kính đeo mắt tương
đối trong cửa hàng Walgreen, cô hóm hỉnh nói:
“ Mình chưa đủ tiền đến bác sĩ đo mắt
và mua một cái kính đắt tiền, đến đó (ý cô
nói là cửa hàng Walgreen) có vô khối các loại kính đeo
mắt cho mình chọn lựa. Tạm thời thôi, mai mốt khi nói giỏi tiếng
Anh, có việc làm tốt, các bạn tha hồ đi khám mắt và
mua một cái kính hoàn hảo.”
À
thì ra trong câu chuyện nhỏ, Martha đã đem đến cho mọi người
ý nghiã cuả sự tương đối, trong khi tôi biết
một vài người quen diện tỵ nạn, sau khi thoát khỏi
cảnh nghèo ở quê hương,sang đây vẫn hay ta thán bất mãn
cho rằng cuộc sống cuả họ vẫn chưa được những
điều vừa ý. Đó là sự đòi hỏi một cách quá
đáng,khi chính bản thân họ vẫn đang sống nhờ vào cộng
đồng xã hội. Đáng lẽ thế này, đáng lẽ thế nọ,
toàn những đáng lẽ để phàn nàn mà không nghĩ mình
đang chịu ơn những người chả hề mắc nợ mình, họ cũng
phải một nắng hai sương đi làm đóng thuế, và nhờ sự
đóng góp cuả họ mà mình được san xẻ.
Trong bữa tiệc, bác Bích Huệ người Việt cao niên nhất
cuả lớp học, đã làm nguyên một ổ bánh kem thật lớn,
với hàng chữ Tạ Ơn viết thật nắn nót. Bác tiêu biểu
cho một cụ già VN mà còn hiếu học, tinh thần Tạ Ơn và
luôn nghĩ đến người khác đã được thể hiện
dài dài trong đời bác. Gần 80 tuổi, bác vẫn mở lớp
dạy làm bánh tại nhà, không hề nhận một đồng
thù lao để dạy cho các người Việt trẻ tuổi thích trổ
tài nội trợ khi có dịp họp mặt trong gia đình, hoặc cho những
người cần học một nghề để làm cần câu
cơm. Ai cũng ái ngại cho việc tuổi già vác ngà voi cuả bác,
nhưng bác nói:
“
Tôi già rồi, không đóng góp được gì với đời.
Bao nhiêu năm kể từ năm 75, dẫn cả nhà sang đây tỵ nạn,
gia đình tôi đã làm lại từ đầu nhờ xứ sở này
rộng rãi mở cửa cho chúng tôi vào. Nay con cháu đã thành
đạt , tôi chịu ơn xứ sở này và cuả cuộc đời cũng
nhiều, không biết cách gì để trả ơn, thôi thì đây
cũng là một cách giúp chị em phụ nữ như tôi biết thêm
nghề gì hay nghề nấy. Người nội trợ làm các loại bánh
ngon cho gia đình thưởng thức, tiết kiệm được chút nào
hay chút đó, người đang cần việc làm cũng có thể làm
một nghề mới, tăng thêm ngân quỹ gia đình, đấy là điều
làm cho tôi cảm thấy hạnh phúc.”
Bác thật hạnh phúc, tôi luôn nhớ đến những gì
bác làm cho mọi người và từ đó tôi nghiệm ra hai chữ
tri ơn cuộc đời cuả bác. Tháng chín năm nay, bác đã
thênh thang đi về bên kia thế giới, hành trang mang theo là những gì
bác đã làm cho mọi người khi còn sống, ngày tang lễ cuả
bác thật đông người đến đưa tiễn. Trong tấm ảnh,
khuôn mặt hiền từ, đôn hậu của một cụ già suốt
đời chỉ thích làm việc thiện vẫn nở nụ cười nhân
từ với những bông hồng trắng muốt.
Những người Mỹ tôi quen còn dạy cho tôi một bài
học về sự tự tin và lạc quan trong cuộc sống cuả họ. Khi về
già , họ không ngồi ta thán sự hẩm hiu cuả mình trong bốn bức
tường, không bi quan sầu luỵ quá về bệnh tật. Viết đến
đây tôi lại nhớ đến bà Naomi, một phụ nữ da trắng khuôn
mặt tròn, da nhăn nheo xếp lớp với thời gian, tuổi già đã
làm cho bà nhỏ bé lại nhưng toàn khuôn mặt toát lên
một vẻ yêu đời tha thiết.Thế mà bà đang bị ung thư
thời kỳ cuối cùng đấy, nhưng tôi không thể nào biết
được người đàn bà cao niên ấy đang phải chống chỏi
với căn bệnh trầm kha này như thế nào.
Bữa ăn cuối cùng với bà NaoMi cũng vào dịp lễ
Tạ Ơn, bác Huệ và tôi được mời khi cùng đi với
nhóm bạn già cuả bà NaoMi đến thăm một nhà
dưỡng lão. Viện Dưỡng Lão vào một ngày muà đông
buồn ảm đạm, một cụ gìa ú ớ gọi tên hết người
này đến người khác, bà đang lẫn lộn dĩ vãng với
hiện tại. Một cụ ông đẩy chiếc xe lăn cho bà vợ
tóc xoã rũ rượi, ông nói:
“ Mỗi ngày, tôi đi bộ 3 miles từ nhà đến đây
để gần gũi vợ tôi, dù bà không nhớ tôi là ai, nhưng
tôi thì nhớ bà là vợ mình.”
Một
câu nói thật hay mà đâu cần phải tìm trong những lời hay
ý đẹp cuả các vĩ nhân trên thế giới. Chưa hết, tôi
gặp một cô giáo già hơn 80 tuổi, có lẽ bà là ngưởi
tỉnh táo nhất trong những người già ở nursing-home này. Bà
luôn miệng ca hát, toàn những bản nhạc quen thuộc trong muà Giáng
Sinh. Tôi hỏi bà có buồn không khi sống ở đây, bà bảo
bà không buồn, vì ít ra bà cũng còn thấy mình đang hạnh
phúc, tỉnh táo hơn nhiều người khác. Trong phần văn nghệ
giúp vui, bà Nao Mi đóng vai một đưá trẻ con, bà giả giọng
eo éo nên ai cũng phải bật cười. Bà thích ăn những món
ăn VN và hỏi cách nấu, rồi hỏi tôi về một bài hát
Việt Nam bà nghe được trong nhà thờ, khi tôi hát, bà ư
ử hát theo và khen đây là một bài thánh ca mang đậm đà
tính cách dân tộc.
Vật
lộn với thần chết đến giây phút cuối cùng, lạc quan yêu
đời để lướt qua những cơn đau là tính lạc quan cuả
bà NaoMi. Một ngày thứ bảy cùng năm đó, tôi
lại đến dự tang lễ tiễn bà NaoMi trong ngôi thánh đường
êm ả, nhìn tấm ảnh nụ cười bà thật rạng
rỡ.
Những người bạn cao niên
này còn dạy cho tôi tinh thần tự nguyện làm công
tác xã hội, không rụt rè vì khác biệt ngôn ngữ và
văn hoá. Bà Linda gầy gò ngày ngày lái xe đến trường
tiểu học để sắp xếp những cuốn sách cuả các em học
sinh bừa bãi trên bàn vào các kệ sách cuả thư viện,
dạy cho các em học tính ngăn nắp và biết cách giữ gìn
những cuốn sách. Một hôm đang lơn tơn tìm gặp cô giáo
của con tôi thì bất ngờ bị chận lại bởi một giọng trẻ
con thật dễ thương:
“
Bà có cần tôi giúp gì không?”
Ôi chao! Chắc chỉ có xứ sở này trường học mới
dạy cho trẻ con câu hỏi ấy, nó đơn sơ và đầy tình
người, được thốt ra từ đôi môi hồng cuả một cô
bé 7,8 tuổi trong ngôi trường tiểu học, khiến tôi phải suy nghĩ
và cảm động rồi tự hỏi, đến khi nào tôi mới biết
hỏi một ai đó câu này mà giúp đỡ họ.
Đã gần 20 năm rồi, những kỷ
niệm về muà Tạ Ơn đầu tiên trên nước Mỹ vẫn còn
nằm nguyên trong trí nhớ cuả tôi. Tôi yêu đất nước
này biết bao, một lần trở về chốn cũ , khi đi qua công viên
có những tàn cây cổ thụ, loanh quanh trên dốc cỏ xanh, thấp
thoáng trong tôi là hình ảnh những người một thời quen biết.
Xin cảm ơn người, cảm ơn đời …
Nguyên Nhung ( muà Tạ Ơn 2010)
HOÀ
LAN, ĐẤT NƯỚC THANH BÌNH.

Xe chuyển bánh đưa phái đoàn
Hoa Bưởi Vượt Đại Dương xa dần vương quốc Belgium êm
đềm, bỏ lại những con đường ngoại ô xanh mát bóng cây
mùa hè, những cánh đồng mơn mởn lá non và rượu bia
còn thơm mùi lúa mạch. Dù chỉ một lần ghé qua nhưng vẫn
ghi đậm trong tâm khảm tình đồng hương cuả người Biên
Hoà trên xứ lạ, mới đó rồi lại chia xa, nghe như vòng tay
ôm còn mang theo tình đồng hương người xứ Bưởi. Từ Bỉ qua Hoà Lan là một chặng đường khá dài,
mọi người ngủ gà ngủ gật cho đến khi xe qua biên giới
và những cánh đồng cỏ xanh rờn màu lá mạ của Hoà
Lan hiện ra trước mặt, từng đàn bò sữa lốm đốm hai
màu đen trắng nổi bật giưã cánh đồng cỏ bạt ngàn
nối tiếp nhau. Xe chạy dọc theo những xa lộ mà một bên là
khu kỹ nghệ hay công nghiệp, một bên là nhà cửa xen lẫn
những con kinh đào thơ mộng y hệt những con rạch miền đồng
quê miền Nam Việt Nam cùng khắp đất nước này. Những bức
tranh đồng quê nối tiếp nhau, sự hoà hợp Đất và Nước
là hình ảnh cuả Hoà Lan, một xứ sở được gây dựng
bởi chính công sức và sự chinh phục trường kỳ cuả người
dân nơi đây, một đất nước thấp hơn mặt biển cả
thước mà tồn tại được là một điều hết sức
kỳ diệu.
Thực ra thì Hoà
Lan không rộng bao nhiêu, với diện tích hơn 41.000 km2, dân số khoảng
gần 17 triệu người, nhưng thủ đô Amsterdam đã cho du khách
nhiều thú vị khi ghé thăm. Tên chính cuả Hòa Lan là “The
Netherlands”, vùng đất thấp hơn mặt biển. Khí hậu ở đây
rất ngộ, Miên Thuỵ, một cô bạn văn đã có lần viết
bài mô tả về những cánh đồng hoa Tulip thật đẹp, nhưng
thời tiết thất thường khi nắng khi mưa như người
đàn bà dễ hờn dễ giận. Đặc biệt là gió, để
người phương xa chuẩn bị áo mưa, dù che đầu và khăn
quàng cổ khi bất chợt cơn mưa chiểu đổ xuống thành phố
đa số phương tiện di chuyển bằng xe đạp. Thật ra chính phủ
Hoà Lan đã khuyến khích người dân cuả họ đi xe đạp,
lý do vì thành phố nhỏ, đường xá không rộng rãi
lắm nên việc di chuyển bằng xe đạp rất tiện lợi, không làm
ô nhiễm không khí. Trở
lại chuyến hành trình trên đường trường xa, rải rác
là những cối xay gió bằng gỗ cuả người Hồi dùng
sức gió để xay bột, bơm nước rất tiện dụng cho nông
nghiệp. Xe ngừng lại dọc đường để bà con xuống chiêm
ngưỡng một chiếc cối xay gió tận mắt, trên một cánh đồng
mông mênh. Hai cánh quạt gió khổng lồ, gợi nhớ đến câu
chuyện đọc ngày còn nhỏ về anh chàng hiệp sĩ Đông
Ki Khốt khùng điên, tưởng mình là một nhân vật anh hùng
trừ gian diệt bạo, đánh nhau suốt đêm không mỏi mệt với
cánh quạt cối xay vươn những cánh tay dài nghêu ngao giữa trời
khuya im vắng. Nhà cửa ở Hoà Lan cũng thật xinh xắn nhỏ bé tương xứng với
địa lý cuả đất nước này, những ngôi nhà như trong
truyện cổ tích nằm kề cận nhau có mái dốc xuôi xuôi,
lợp ngói đỏ bên cạnh những con kinh đào làm tăng thêm
vẻ tươi mát. Vùng quê Hoà Lan nói lên sự trù phú
cuả đất nước họ, không có mái rơm mái rạ, không
có con trâu cái cày khi nền nông nghiệp đã được công
nghiệp hoá, nhởn nhơ những đàn bò sữa mập mạp cống
hiến cho kỹ nghệ sữa bò và phô mai dồi dào nhất trên
thế giới. Đến thăm một
xứ sở nào cũng vậy, du khách không thể chỉ tìm đến
nơi phồn hoa đô hội để kết luận đó là một đất
nước giàu đẹp, như người Việt tha hương nay trở lại
quê nhà, chỉ quanh quẩn trong những khách sạn, nhà hàng, siêu
thị, giải trí cho dân rủng rỉnh tiền bạc, rồi kết luận
rằng quê hương ta giờ đây giàu đẹp lắm. Nếu chui vào
những khu dân sinh chen chúc trong những con hẻm Sàigòn dây điện
giăng tứ tung, giá như chịu khó nhìn ngắm những người phụ
nữ buôn gánh bán bưng trên vỉa hè, người ăn xin ngồi
hàng dãy trước cửa những ngôi giáo đường huy hoàng
tráng lệ buổi lễ sáng ngày chủ nhật, mới biết cái no
đủ hạnh phúc thật chỉ là màu sắc diêm duá, trong cái
“gam” màu tối cuả bức tranh xám nghoét.
Tôi vẫn yêu miền
quê ở sự thuần hậu trên nét mặt con người, ở cảnh
thiên nhiên không màu mè giả tạo, vì thế khi xe lăn bánh
chầm chậm đi trên con đê thật cao nằm sát bờ biển, để
đi vào một làng chài Volendam thì mọi người reo
lên thích thú. Anh tài xế người Pháp cho xe đi
dần xuống khu làng chài vòng vo để tìm bãi đậu xe, lùi
sát mé biển là những hõm sâu , lúc đó bà con ngồi
trên xe như lên cơn sốt, tim muốn ngừng đập vì chỉ cần
gie mạnh một chút là mọi người đều được tắm biển
bất đắc dĩ, hay cũng bể đầu gãy xương.
Mô Phật! Một chị thở
phào chắp tay vái lia lịa nhảy vội xuống xe, mọi người lục
tục theo đuôi rồi tuá vào khu làng Chài Volendam, trên con dốc
cao là một dãy hàng quán mọc lên quảng cáo hải sản
ra sức mời chào du khách bằng những bảng hiệu trưng đầy
cá, cá chiên, cá nướng, cá hấp, ăn kèm với bánh
mì nướng cũng rất ngon. Những quán nhỏ mọc ven bờ
biển, thuyền bè đậu san sát cạnh mé nước.
Người dân ở đây có nét mặt hiền hoà đôn hậu,
với số lượng cá đánh bắt mỗi ngày dư sức cho họ
bán buôn một cách thật hào phóng, khá rẻ để du khách
có thể mua và ngồi ăn ngay trên những băng dài đặt dọc
theo bờ biển.
Đứng
trên mặt đê rồi nhìn ra biển, một đàn chim bay sà thấp
trên mặt nước bắc thành nhịp cầu Ô Thước thật ngộ
nghĩnh. Rồi so sánh sự chênh lệch cuả bờ và biển, du khách
không khỏi nghĩ vẩn vơ nếu như ngày nào đó một cơn
sóng lớn tràn vào, sẽ ra sao nhỉ? Mái nhà chỉ cao ngang tầm
tầm với con đê, sau phiá ngoài quán hàng buôn bán có
những con dốc nhỏ, đi xuống phiá sau là một xứ đạo Hoà
Lan, nhà cửa cũng liền nhau trong những ngõ hẻm lớn nhỏ, nhà
nào sân trước cũng trồng nhiều khóm hoa nhỏ đủ màu
rất đẹp mắt, phiá ngoài cửa sổ cũng trồng hoa, đi khắp
các nước Âu Châu vào cuối xuân sang hè, du khách đều
nhìn thấy vẻ vui tuơi cuả hoa cỏ tràn lan khắp nơi.
Tôi và cô bạn mới
quen bên Pháp rủ nhau ghi lại vài tấm hình trước nhà một
người trong xóm đạo có cây hồng leo tít lên mái nhà
thật đẹp. Gần ngay đó là một chiếc cầu bắc qua con
rạch sâu, đàn vịt bơi lội thoả thuê và trên sân
lộ thiên cuả một ngôi nhà xinh xinh, chú chó con ngồi chồm
chỗm nhìn khách suả rân lên, sau tấm màn mỏng rua thật đẹp
qua cưả sổ thấy thấp thoáng bóng người nhìn ra mỉm cười
thân thiện. Vài thân liễu mềm rủ bóng xuống mặt nước,
bước qua sân ngôi giáo đường miền quê đơn sơ nhưng
rất dễ thương. Du khách từ các nơi, cũng có thể là
những người hành hương mộ đạo, lúc đó đang
xúm quanh một hướng dẫn viên du lịch, để nghe cô kể về
lịch sử cuả ngôi giáo đường và sự hình thành của
xóm đạo.
Mọi
người tản mát ra đi vòng quanh làng Volendam, một vài tiệm buôn
bán đồ kỷ niệm như khăn quàng, dây chià khoá và
guốc gỗ, một dãy guốc gỗ xanh đỏ đủ màu vẽ hoa, trông
rất vui mắt. So với những đôi guốc mộc hay guốc Dakao
cuả Việt Nam thì thua xa, vì vẻ thô kệch cuả nó, nhưng nghe
nói những đôi guốc gỗ này bắt nguồn vì sống trong miền
đất thấp hơn mặt biển, đường xá ngập bùn
xình nên chỉ có những đôi guốc gỗ mới chịu
nổi thôi.
C húng tôi như lạc vào một khung cảnh êm đềm cuả quê
nhà ngày xưa, con ngõ nhỏ trồng rất nhiều hoa cảnh ven theo lối
đi, cuộc sống bình dị của làng Chài cũng giống hệt một
xóm nhỏ ở Việt Nam thuở nào. Khách du lịch muốn biết nhà
nào giàu hay nghèo, chỉ cần nhìn qua tấm rèm cửa bằng tơ
lụa để thấy cách trưng bày cuả ngôi nhà ấy, sẽ biết
được cách sống cuả họ ra sao? Một gian phòng nhỏ
trưng bày theo lối cổ , bao giờ cũng thấp thoáng bàn thờ, trước
lò sưởi để vài đôi guốc gỗ, cái đặc
biệt cuả một gia đình Hòa Lan nền nếp quý là ở chỗ
này, họ muốn duy trì lại như để bảo tồn nét văn hoá
trong gia đình Hòa Lan thuần tuý.
Sau khi ăn uống no nê và dạo vòng quanh ven biển, không
thể nói đây là một nơi danh lam thắng cảnh, nhưng muốn đi
sâu vào đất nước con người Hòa Lan thì không nơi nào
bằng nơi này. Nhìn thật gần sự phấn đấu cuả người
dân xứ sở này, để biết tại sao họ hãnh diện nói
rằng đất nước này là món quà cuả thượng đế
ban cho họ, nhưng sức phấn đấu để biến biển thành ruộng
lúa nương dâu trù phú như bây giờ, là sự
kiên trì bền bỉ cuả người dân Hoà Lan.
Bây giờ đã xế
trưa, trước khi vào thủ đô Amsterdam xe còn ghé vào một
xưởng sản xuất “Fromage” cuả Hoà Lan. Đây gần
như một trang trại miền quê có tiếng chó sủa, đàn
gà tuá ra vườn tìm mồi, mấy con bò sữa đứng, nằm
dưới gốc cây râm mát. Du khách ai muốn xem cho biết đều
được phép vào chụp ảnh, một thiếu nữ Hoà Lan rất
đẹp hướng dẫn cho mọi người biết quá trình chế biến
từ sữa ra phô mai có nhiều loại khác nhau, ai cũng được nếm
thử trước khi mua về làm quà cho gia đình, những bánh phô
mai tròn xếp trên mặt quầy đang chờ bỏ vào túi
cuả khách du lịch. Tuy nhiên, những người ăn không quen sẽ không
thích thú gì lắm với những loại phô mai này vì nó
hơi nặng mùi một chút.
Buổi sáng trời thật đẹp, nắng óng ả, vậy
mà buổi xế chiều khi xe rời làng Chài đưa du khách về
trung tâm thủ đô Amsterdam, ông trời xầm mặt xuống
báo hiệu một cơn mưa. Khí hậu Hoà Lan quả thật dễ thay
đổi như cô gái dậy thì với bao nhiêu biến chuyển cho một
ngày, khiến du khách đóng vai tình nhân chẳng làm sao hiểu
nổi lòng dạ cuả nàng để mà đeo đuổi.
Ai nấy tiu nghỉu khi xe vào bãi đậu, trời lắc rắc mưa, nhìn
thành phố về chiều có rất nhiều người xử dụng xe đạp
chạy nháo nhào trên phố. Ở đây hình như ưu tiên cho
người đi xe đạp chứ không phải cho người đi bộ, nên
nhiều khách bộ hành phải nép vào lề đường để
cho những chiếc xe đạp chạy vù vù qua mặt.
Thế là trời mưa, thế
là thất hẹn với cô bạn thơ dễ mến đang nôn nao chờ
đợi bạn xa đến thăm. Tiếc thật là khi cùng ngồi đợi
trên con phố ấy, cùng lang thang trên các ngả đường này
mà lại không đủ duyên để gặp nhau. Mưa bắt đầu
nặng hột và khách chạy vội vào vỉa hè núp
mưa, rồi nhào vào cưả tiệm bách hoá , áo mưa dã
chiến và dù bán đắt như tôm tươi, thôi thì trước
che mưa sau mang về làm kỷ niệm, giá cả tương đối
nhẹ nhàng. Lâu lắm mới được đi dưới mưa để
nghe những giọt mưa lộp độp gõ từng phím buồn trên chiếc
dù nhỏ, một chút lãng mạn cuả tuổi trẻ Sài Gòn năm
nào trở về, cũng những con phố buồn thưa người thấp thoáng
những chiếc xe đạp vụt qua một thời học trò trong ký ức.
Chiều mưa Amsterdam giống lạ lùng chiều mưa ở Sài Gòn năm
xưa, khách bộ hành không hối hả mà chỉ lững thững đếm
bước như mỗi người đang đi tìm lại trong đáy lòng
cảm giác một chiều mưa trong dĩ vãng.
Amsterdam có nhiều nhà hát,
phòng hoà nhạc, viện bảo tàng và quán ăn, toàn là
những kiến trúc lâu đời có từ thế kỷ thứ 17. Muà
hè khí hậu thật mát mẻ, nhưng về muà đông mưa gió
thất thường, trời lạnh ẩm ướt mà lại rất nhiêù
gió nên có vẻ như tất cả đều cô đọng khiến lòng
người bỗng thành ra trầm cảm. Lo gì! Vì là một xứ sở
tôn trọng mọi thứ tự do, nên chỉ cần bước qua bên kia cầu
bắc ngang con kinh đào thật thơ mộng, đã thấy một mặt khác
khá hấp dẫn cuả thủ đô, đó là Khu Đèn Đỏ
và rất nhiều quán cà phê thơm mùi “cỏ”. Đối
diện với dãy quán cà phê loại này là một ngôi chuà
Trung Hoa, đứng bên lề đường còn nghe vọng tiếng tụng kinh
lẫn trong hồi chuông mõ ngân nga như muốn réo gọi những tâm
hồn lạc loài về với chân tâm. Giữa thế giới xô bồ
này, tiếng chuông tiếng mõ kia có lấn át được tiếng
nhạc gầm rú thác loạn cuả loài người nhầy nhụa
truỵ lạc và bóng đèn mờ trong những quán cà phê
?!!
Có một cái
gì đó tương phản trong lòng du khách khi lạc bước đến
đây, dù sao thì cũng đã tới rồi, xem qua có
gì lạ như lời thiên hạ đồn thổi về một thành phố
đầy những điều khó hiểu. Những con đường nhỏ giao nhau
như khu bàn cờ, khấp khểnh bước thấp bước cao du khách có
thể tò mò nhìn vào căn phố nào có đèn đỏ,
một hoặc hai cánh hoa thấp thoáng trong ô cưả kính, trơ trẽn
phô bày từng đường cong nét lượn để đợi khách
mua hoa. Ngó quanh thì đám du khách phụ nữ đã biến gần
hết, chỉ còn một vài ông tò mò nhìn lom lom vào tủ
kính ngắm người đẹp đang mỉm cười chiêu mời khách
giang hồ lãng tử. Thực ra thì cũng giống như hằng trăm người
đẹp diện “bikini” trên bãi biển thôi, nhưng ở đây
những người nhạy cảm có thể nhận ra nỗi buồn len lén hiện
về trong đôi mắt nhung đen cuả các nàng kỹ nữ buôn hương
bán phấn. Ôi thân phận đàn bà, nào là “hồng nhan
đa truân”, nào là “hồng nhan bạc phận”, rồi thì
“hồng nhan bạc mệnh” chi chi đó phải chăng đẹp cũng ẩn
trong cái nghiệp khổ muôn đời cuả cái đẹp.
Trong đầu tôi bỗng
như nghe vẳng lại một ca khúc rất hay cuả miền Nam thuở ấy, tôi
không nhớ là cuả nhạc sĩ nào, và hình như đây là
một bài thơ phổ nhạc, viết cho những người phụ nữ có
cảnh đời truân chuyên nhiều nợ tình:
“ Ta tiếc cho em, ta tiếc cho
em Nhìn em tay nâng ly rượu Môi cười mà lệ như rơi ... Môi cười
mà lệ như rơi ...”
Cuộc đời nghĩ cho tận cùng thì cũng chỉ là
ảo mộng. Tôi miên man nghĩ đến câu thơ cổ mà ông thầy
già thời Trung Học hay đọc cho lũ học trò nghe, một buổi chiều mưa trong lớp
học mù mù ánh đèn vàng soi xuống những dãy bàn học
lem luốc vết mực. Tiếng ngâm nga cuả ông thầy giáo già
yêu văn chương như đọng mãi trong lòng tôi:
“Công hầu bạch cốt,
hồng phấn khô lâu”
Vô thường cả, tôi đã xin phép thầy dịch
thoáng bài thơ cho mấy đưá bạn tuổi học trò hiểu
thêm chút nữa về cuộc đời muôn mặt :
« Phù du ta đánh
một vòng Công hầu xương trắng, má hồng
sọ khô. »
Nguyên Nhung
Viết Thư Tình ( chuyện
bây giờ mới kể) 
Có
vài nhỏ bạn cùng lớp năm xưa, sau khi đọc mấy truyện ngắn
tôi viết cho Trườnghay đăng báo, bèn hỏi tôi không sợ nghèo, dính chi nghề cầm bút. Nghe bạn
hỏi tôi không khỏi tức cười, nếu cầm bút ngon lành chắc
tôi đã tập viết văn ngay từ lúc còn đi học, thuở viết
thư tình giùm cho mấy nhỏ "xí xọn " trong lớp, để kiếm
bánh bò và đá đậu mỗi giờ ra chơi, và kẹt kẹt
thì chúng nó cho tôi “copy” mới đủ điểm lên lớp.
Đa phần các anh nhà thơ, nhà văn đều nghèo, có anh chết
không có hòm chôn, có anh cuối đời ngồi bán thuốc lá
lẻ, có anh không nhà để ở phải ra khu nghĩa địa ở chung
với ma. Hoá cho nên nghề cầm bút là nghề bạc bẽo, may khi "chó
ngáp phải ruồi " được một bài hay, thấy người ta khen
cứ tưởng bở, viết nữa, hớ hênh là bị chửi, bị chê
"viết gì dở ẹt ". Cho nên
câu trả lời cuả tôi cho mấy đứa bạn năm xưa, tôi không
hề là nhà văn, nguyên nhân cầm bút để viết chẳng
qua vì quen tay, như người hay hát khác với người hát hay là
vậy. Rồi cũng tại mấy "con ranh con " bắt đầu những năm
học lớp mười, mười một, mười hai , đã biết ghiền
đọc thư cuả mấy "cây si " học trò gửi tới. Đọc
thư nhưng bảo đảm chưa biết viết thư, nếu là những đứa
chăm học không mê đọc tiểu thuyết, nhưng vẫn thích đọc
thư, thì phải biết viết thư hồi âm mới có cớ để
thư qua, thư lại. Nói nhỏ với các anh bạn cùng trường ngày
xưa, hay các anh Sinh Viên, Chiến sĩ gì cũng vậy, thư cuả các
anh ít khi chỉ có một người đọc, đã có cả nhóm
đọc chung, và nếu chờ thư hồi âm thì cũng có một đám
chờ đọc ké, cho nên các anh đừng “tưởng bở” chỉ
hai đứa mình thôi nhé, đừng cho trăng nép sau hè...". Trong đám bạn chơi thân với nhau, có
lẽ tôi là đứa khá văn chương hơn cả, cho nên dù
học dở nhất bọn, nhưng vẫn được chúng nó tôn làm
"sư phụ ". Mỗi lần thảo xong một lá thư, giờ ra chơi tôi
có quyền no nê bánh bò, đá đậu, bánh mì thịt v.
v . . . . . Đó là những đứa con nhà khá giả biết yêu sớm,
chứ mấy đứa nhà nghèo, sáng cơm rang cơm nguội làm chuẩn,
nếu không chịu học hành, sớm vướng vào yêu đương,
mai sau chỉ có nước ăn cơm rang với cơm nguội mãn đời.
Vì phải nhịn cho tôi ăn, đi học chỉ được phát tiền
quà đâu có dư mà đãi bạn, cho nên tụi nó mình
hạc xương mai, tướng đi yểu điệu trong tà áo dài trắng,
các anh nhìn lại càng mê, bởi vậy người ta mới hay nói
" yêu quá yếu " là vậy. Tuổi
học trò, nhận lá thư xanh chị nào chị nấy cảm động
và bối rối lắm. Lá thư được ép vào tập vở,
cho nên khi thấy đương sự lúc nào cũng chúi đầu vào
cuốn sách hay tập vở, là phải biết "cô bé " biết
yêu rồi đấy, chứ không phải vì siêng học đâu. Tuy thế,
ít đứa nào dám " thơ thới hân hoan " đi " sô lô"
với bạn trai ngoài đường, dị chết, chẳng may ông bà già
bắt được, bị ăn đòn là cái chắc. * * * Viết thư tình coi vậy đâu phải dễ như mình đọc
ké thư cuả người ta, trước khi viết hồi âm, còn phải
tìm hiểu xem đối tượng thuộc giới nào, học sinh, sinh viên,
lính chiến, hay là. . .thầy giáo cũng không chừng ( xin các thầy
tha thứ, sống trên đời ai cũng là người, cũng có trái
tim bằng thịt) cho nên, trong đám nữ sinh thế nào cũng có người
được gọi thầy bằng " anh ". Không phải đám con gái tụi tôi dở nghề viết lách
đâu, mà cũng có những anh tuổi học trò mới biết yêu,
viết thư rất ngố. Có anh sao y bản chính một lá thư tình
trong tiểu thuyết, viết toàn chuyện tưởng tượng, dù còn
lâu lắm mới được " người đẹp" chiếu cố cho một
lần hò hẹn. Theo lá thư anh gửi, hôm ấy là một buổi chiều
vàng, có lá thu rơi, có hai người hò hẹn nơi ghế đá
công viên . . . Trước khi trả lời, tôi phải điều tra con bạn
một chút: " Ê, như vậy
là hai anh chị có ra công viên rồi phải không?" Con nhỏ lắc đầu quầy quậy: " Đâu có . . ." " Vậy mày quăng lá thư này vô sọt rác nghe, ba má
mày mà đọc được là ốm đòn nghe con." Nhỏ mở to đôi mắt nai ngơ ngác: " Uả, sao kỳ vậy?" " Chứ không à, mới tý tuổi đầu,
học không lo học lại còn hẹn hò nhau ra ghế đá công viên
cho lá rớt đầy người. Đây này, đọc kỹ lá thư
này đi, tao nhớ nó ở đâu, thôi rồi, trong tiểu thuyết Thứ
Tư đây mà." Con bạn chưng
hửng: " Ừ há, viết gì kỳ
quá, cho anh chàng đi chơi chỗ khác."
Thế là chấm dứt một chuyện
tình, không phải hồi âm hồi iếc gì cả. Sau chuyện đó,
tôi mất cơ hội ăn món đu đủ bò khô tương ớt
cay xé miệng mà mình thích, nhưng là kẻ có "lương
tâm" , tôi chỉ trả lời giùm bạn bè những lá thư viết
đàng hoàng, viết bằng trái tim cuả người gửi, để sau
này dẫu có người phát giác ra tôi là tác giả cuả
những lá thư tình học trò, cũng không nỡ trách tôi gian
dối. Tôi có con bạn thân, lấy
chồng cùng trường khác lớp, bây giờ đã có một bầy
cháu nội, ngọai, nó cũng là thân chủ cuả tôi trong dịch
vụ viết thư tình thuở đi học. Người yêu cuả N.V. là
anh H., quê Cái Răng, nơi có món nem nướng nổi tiếng, vì
nhà anh ở ven sông Cái Răng, cho nên thỉnh thoảng tôi cũng được
hân hạnh tháp tùng cô bạn quý vào chơi, lúc về anh đưa
hai kiều nữ qua cầu ăn nem nướng, còn xách về nhà bao nhiêu
là sa bô chê và nấm rơm, vì nhà anh ủ rơm trồng nấm.
Lần đầu tiên tôi được thấy những ụ rơm nhỏ có
bao nhiêu cái nấm xinh xinh mọc chi chít bên dưới, tôi thích
lắm, vườn nhà anh xoài, ổi không thiếu, tôi tha hồ " xực
" đầy bụng . Sau này, bạn tôi về với anh, anh mới biết những
lá thư tình làm anh mất ngủ nhiều đêm , là do kẻ này
cũng mất công bỏ học bỏ hành để viết giùm cho cô bạn,
anh càng cảm động , khi tôi nghèo, thỉnh thoảng từ quê ra, hai
người vẫn xách cho tôi buồng dừa, bịch gạo. Chẳng mấy khi mà tình học trò lại nên
duyên cầm sắt, chỉ đếm trên đầu ngón tay, bây giờ tôi
có thấy vài anh chị yêu nhau thuở học trò mà nên vợ,
nên chồng, không biết sao dù nay đầu hai thứ tóc, họ vẫn
yêu nhau lắm. Có lẽ trong tim hai người vẫn là hình ảnh cuả
họ thời đi học, cho nên vẫn " tương kính như tân "
, đáng phục thay. TH cũng là
một người đẹp cuả lớp, cho nên nàng nhận nhiều thư xanh
lắm, đặc biệt là một người hùng Không Gian đeo đuổi
nàng suốt mấy niên học, những lá thư xanh viết từ KBC, có
con tàu cuả chàng vút lên từng mây biếc. Viết những lá
thư tình cao cấp đâu phải dễ, nhờ vậy TH chiều tôi lắm,
nghiã là sau người yêu cuả nó thì tôi là người
được nó nhớ nhiều nhất, vì nó tiết kiệm được
bao nhiêu thì giờ nghĩ ngợi để viết thư hồi âm, chỉ
việc “copy” gửi cho chàng, được chàng khen hay, đã đẹp
lại văn hay chữ tốt thì dĩ nhiên, bao nhiêu yêu dấu cuả con
tim, chàng đâu dám san xẻ cho ai. Sau này hai người cũng nên duyên
cầm sắt, tôi cũng được mời đi dự đám cưới,
nhìn hai người tay trong tay, mắt ngời ngời hạnh phúc, trong âm thầm
lặng lẽ, tôi cũng cảm thấy cái vui cuả người đã góp
phần làm nên hạnh phúc cho bạn bè. Đồng thời cũng nhớ
lại vài nhỏ bạn khác, không được cái may mắn đó,
cho nên có lúc tôi cũng phải nhức đầu khi viết những lá
thư giận hờn, trách móc, chả ăn nhập gì đến mình
cả. Đâu phải con trai anh nào
cũng chung tình, như MV bạn tôi có anh bồ tên T nhà hàng xóm,
hai nhà chỉ cách nhau có giậu mùng tơi, mà cũng bày đặt
thư xanh với thư hồng. MV không đẹp, nhưng tính tình thật
thà dễ thương, ông già nó là dân nhậu cho nên con nhỏ
làm đồ nhậu thiệt khéo, rắn, ruà, lươn gì vào tay
nó là hấp dẫn liền. Tuy bạn học không giỏi nhưng theo thiển
ý cuả tôi, anh nào lấy được bà xã có khiếu nấu
ăn, lại khéo chiều chồng như bạn tôi là số một. Vậy
mà anh chàng T không có mắt nhìn người, đứng núi này
trông núi nọ, núi nào cây cũng xanh rì như nhau. Thư từ
qua lại ít lâu, lắm tối ngồi viết thư tình giùm bạn tôi
cũng tự nhiên thấy lòng bâng khuâng như mình đang yêu thật
mới chết tiệt mà quên ráo cả chuyện học bài. Anh T lên
Đại Học cho nên bỏ cô bạn nhỏ hàng xóm, quen một cô
sinh viên cùng lớp. MV đau khổ đến mất ăn mất ngủ, bởi
vậy nó nài nỉ tôi thảo một lá thư hỏi " người
bội bạc " cho ra lẽ. Lá thư kèm theo mấy vần thơ con cóc
mà tôi còn nhớ lõm bõm:
" Rồi bỗng dưng một dạo, Thư hồng anh thôi trao, Nụ cười thôi đưa đón, Gặp nhau anh chẳng chào...
Thư không trao, gặp chẳng chào thì đúng
là tình đã " chấp cánh bay đi " rồi, có ai ngớ ngẩn
như bọn tôi không? Vậy mà tôi cũng è cổ, ngồi chống
tay vào trán suy nghĩ, mới đẻ ra một bài thơ để bạn
tôi gửi " người bội bạc". Sau này, bạn tôi cũng có
chồng là một anh nhà binh vùng sông nước, sản xuất cho anh hai
tý nhau, anh được ăn ngon, vợ cưng, bà xã lo lắng tần tảo
rất ngoan. Còn anh T " tham vàng bỏ ngãi ", nghe nói sau này anh
sa cơ thất thế, mất vợ đẹp, cho nên cái bài học giờ
Hán Văn cuả thầy tôi dạy, tôi vẫn nhớ như in : "Thiện hữu thiện báo, Ác hữu ác báo, Nhược
bằng bất báo, Thì thần vị
đáo."
Chẳng biết có phải vậy không vì tôi nhớ có mỗi
bài này trong giờ Hán Văn, vài năm sau không thấy có môn
này nữa, chắc mấy thầy đồ nho “tiêu diêu miền cực
lạc” hết rồi. Bạn tôi nhờ nấu nướng khéo, làm chủ
một quán phở ở đường Pasteur, vẫn áp dụng câu: " nhất
nghệ tinh, nhất thân vinh ", thỉnh thoảng hai đứa gặp nhau, cũng
có tô phở đãi bạn. Còn hơn những đứa cùng mài
đũng quần năm xưa, nay may mắn thành công trong cuộc đời, gặp
bạn cũ lạt như nước ốc, thì với tôi đứa bạn nghèo
vẫn quý hơn. * * * Dịch vụ " viết thư tình
" đang ngon lành, nếu không có cái thư cuả nhà trường
gửi về thông báo điểm học tập cuả tôi thì có lẽ
tôi đã thành văn sĩ từ lâu. Kết quả khi anh tôi mở
tập vở ra kiểm soát thì cha chả, chỉ toàn thư với thư,
bản thảo lưu giữ trong khi thư đã phát hành. Cả nhà đều
lạ cho tôi , người ngợm chẳng giống ai, sao một lúc mà lại
có nhiều người yêu đến thế. Thư thì gửi cho anh nam sinh
cùng trường, khi lại anh phi công người hùng cuả thời đại,
anh sinh viên năm thứ Ba trường Luật, nào đã hết đâu
nếu trong bọn có đứa quen thêm anh chiến sĩ xình lầy, mỗi
lá thư tôi lại phải viết một kiểu khác nhau. Tôi bị nghi
ngờ là chơi mục " Tìm Bạn Bốn Phương ", không lo học
hành nên bị rủa một trận tơi bời, chưa kể bị anh tôi
“ thương cho roi cho vọt” một trận kinh hồn, từ đấy cạch
luôn nghề viết mướn. Thật
ra tôi vẫn nhớ nghề viết thư tình mướn của mình, nó
cũng có cái vui khi được đọc những lá thư cuả người
khác, mà cứ ngỡ là mình cũng đang được yêu. Sau tôi
mới phát hiện là lũ bạn hại mình quá, đã không
học hành được vì đầu óc cứ lởn vởn chuyện tình
yêu cuả người khác, mà còn vì một lý do quan trọng hơn,
đó là tôi phát tướng tròn quay như hạt mít. Để
trả công viết lách cho tôi, như nhà báo trả tiền nhuận
bút, chúng nó phải nhịn để nhường cho tôi những ổ
bánh mì thịt, xôi lạp xưởng, bánh bò, đậu đỏ
bánh lọt , công viết mướn những lá thư tình, nhờ thế
đứa nào cũng yểu điệu thanh tân, còn tôi đi đứng
ục ịch, tròn quay như cái cối xay. Mỗi lần đi học, đứng
ngắm nghía trước gương, tôi biết lũ bạn nó hại tôi
rồi, tất cả vòng số nào trên người tôi cũng “over”
hết. Bây giờ dù rất muốn từ chối những món quà hấp
dẫn trước cổng trường, nhưng rồi lại mềm lòng khi chúng
nó nhất định ấn vào tay tôi bắt ăn cho bằng được,
hoá ra con người từ lúc còn trẻ đã biết hối lộ cho
những việc lặt vặt, trách chi sau này ra đời, tôi thấy chỗ
nào người ta cũng hay biếu xén. Suốt một, hai niên học đệ nhị cấp, tôi chỉ toàn viết
thư tình cho thiên hạ, và đi "đỡ đạn" cho bạn bè
mỗi lần hò hẹn. Nào là phải đi xin phép cho nhỏ bạn đến
nhà ăn Sinh Nhật ( làm gì mà mỗi năm mẹ tôi đẻ tôi
đến mấy lần), để làm cái "đuôi" cho hai đứa
nó tâm tình với nhau trong Vườn Thầy Cầu, Đàn Tiên, Vườn
Ổi. Tôi đã xực biết bao nhiêu mận, ổi với muối ớt,
uống nước dừa đầy bụng mà "hai đứa chúng nó cứ
rủ rỉ rù rì toàn chuyện tào lao mãi chưa chịu chia tay, dường
như chúng nó cố tình “ấn” cho tôi ăn để được
rảnh rang tâm tình mí nhau, những người trẻ tuổi yêu nhau
hình như không ai muốn biết thời gian nó ra làm sao. . . Tôi vừa
buồn vưà đau bụng vì xơi nhiều cuả chua, vừa nghĩ đến
phận mình, học hành chẳng giống ai, một mảnh tình vắt vai cũng
chẳng có, lúc ngồi một mình cu ky chờ đợi, tôi cũng có
ý định bỏ luôn nghề viết thư tình mướn, rồi chăm
chỉ học hành và bỏ dần " tâm hồn ăn uống ", may ra
rồi cũng tìm được người trong mộng. Nhỏ H có ngưòi yêu là anh Sĩ Quan Bộ Binh , đơn vị
trú đóng bên kia bờ sông Hậu, thỉnh thoảng tôi lại phải
làm tài xế chở nó qua Bến Bắc Cần Thơ sang Bình Minh ( Cái
Vồn) thăm người yêu chiến sĩ. Thực ra vì tôi ăn nhiều,
đớp kỹ cho nên có sức khoẻ để chở nhỏ H vượt gió
sông Hậu Giang sang thăm người yêu, chứ tôi cũng chả ham gì
cái cảnh ngồi chờ người ta tâm tình chuyện thương nhớ
nhau. Bởi vì tôi rất tương tư món bánh xèo ở chợ
Cái Vồn, nhung mẹ tôi ở nhà lại dặn dò rất kỹ lưỡng:
"Con gái không được lê la ăn quà ngoài chợ". Ăn
bánh xèo mà không ngồi bệt xuống cái ghế đẩu thấp,
thoải mái bốc bằng tay, cuốn miếng bánh vàng óng, nóng ròn
vào lá cải bẹ xanh, ăn với nước mắm chua ngọt có đồ
chua kèm theo thì mất thú đi nhiều lắm. Sau buổi hẹn hò, nhỏ
H đãi tôi một bữa bánh xèo ở chợ Bình Minh, có lẽ
chưa bao giờ tôi thấy cuộc đời đẹp cỡ đó. Tôi ăn
ngồm ngoàm, tôi đớp thoải mái, tôi không còn ngán bất
cứ ai trên cõi đời này, cũng chả nghĩ gì tới anh SQ xình
lầy mà người yêu cuả H, cũng như nó vừa gán ghép
cho tôi. Ăn là trên hết, là chân lý cuả cuộc đời(chỉ
riêng tôi thôi nhé!). Cho nên sau này sống dưới chế độ
xã nghĩa, con người được quản lý bằng bao tử, tôi mới
thấy sự suy nghĩ cuả tôi thời đi học quả là ưu việt. May là tôi đã kịp nhận ra rằng,
con người không phải "sống để ăn " và để "yêu
giùm người khác", cho nên không có chi là muộn hết. Tôi
bắt đầu tu tỉnh, chăm chỉ học hành, và trời ạ, cũng
có một người cảm được tấm thân " bồ tượng
" cuả tôi. Khi biết yêu thật tôi cũng từ từ ốm bớt,
người thon thả mảnh mai hơn, dù rằng thỉnh thoảng tôi vẫn
nhớ cái thời vàng son trong sự nghiệp văn chương cuả mình.
Lúc đó tôi đã phát hiện ra chân lý cuả tình yêu,
dẫu có làm ông to bà nhớn gì, sống không có tình yêu
thì cũng như chết mà biết thở. Người đời vốn hay xấu che tốt khoe, cho là mình cái gì
cũng ngon lành hết, hôm nay ngồi viết lại chuyện thời đi học,
tôi có sao viết vậy. Mấy nhỏ nhờ tôi viết thư tình giùm
năm xưa nay có đứa đã ra người thiên cổ, làm bà
nội bà ngoại cũng đông, dăm đứa phiêu bạt xứ người,
còn một số sống vất vả nơi quê nhà. LTS ngồi bán bánh
mì kiếm cơm thật vất vả, MV vẫn bán phở và vì xực
nhiều phở quá, giờ này béo quay hơn tôi ngày xưa. Bạn
bè chung lớp có đứa bác sĩ, giáo sư, có đứa giàu,
có đứa nghèo, có đưá goá bụa vì "ông xã"
vội bỏ cuộc chơi leo lên bàn thờ ngồi, giờ này không biết
chúng nó có đứa nào còn nhớ đến tôi không nhỉ? Bao nhiêu tháng năm dài biền biệt trôi
đi, đôi khi tôi vẫn hồi tưởng lại những bạn bè học
chung lớp năm ấy. Đời quả là một sân khấu lớn và định
mệnh cuả từng số phận con người thì hệt như số đo cuả
giày dép, mỗi bạn là một cảnh ngộ đầy vui, buồn đến
cười ra nước mắt. Khó hình dung được bao nhiêu cô nữ
sinh ngồi cùng lớp năm xưa, lại là bấy nhiêu cảnh đời
không ai giống ai, nhưng sự may mắn thì thật hiếm hoi đến ngậm
ngùi. Thôi thì ít ra trong quãng đời học sinh hoa mộng, đứa
nào cũng có một mảnh tình thơ mộng để nhớ, một trái
tim biết yêu đương , biết mộng mơ. Tình yêu thuở học
trò đâu có gì tội lỗi, chỉ tội nghiệp cho những đứa
bạn năm xưa, giờ này vẫn còn phòng không chiếc bóng. NGUYÊN NHUNG.
VƯƠNG
QUỐC ÊM ĐỀM
Bút ký của Nguyên Nhung.
Hai ngày
lang thang trên các nẻo đường Paris đã mệt ngoài, đêm
lạ nhà ít ngủ nhưng chúng tôi vẫn phải dậy sớm để
chuẩn bị cho chuyến đi thăm các nước Tây Âu ngày hôm
sau. Đã hơn nửa đêm mà dưới lòng đường vẫn
nghe tiếng xe chạy, ngó qua khung cửa sổ nhìn xuống đường, phố
đêm Paris chìm trong ánh đèn mờ ảo và những hàng cây
tối.
Đêm ở đâu cũng buồn, sương khuya giăng mịt
mờ trên những ngọn đèn vàng và hàng cây lặng gió,
phố đêm sâu hun hút có bóng người đi đâu đó
vào lúc quá nửa đêm. Giấc ngủ chập chờn trời đã
sáng, bị đánh thức dậy bởi tiếng chim hót líu lo ngoài
cửa sổ, thêm mùi cà phê rất thơm của bình minh Paris trong sương
sớm.Tự chuẩn bị một bữa ăn sáng dã chiến trong phòng vưà
xong, kéo valy xuống trả phòng đã thấy mọi người đang chuyện
trò râm ran uống cà phê, chuẩn bị chờ xe đến đón
để làm cuộc hành trình đi thăm các nước Âu Châu
theo chương trình đã vạch sẵn. 
Xe đầy nhóc, không đủ chỗ nên cuối cùng
tài xế phải mướn thêm một cái xe nhỏ, vì vậy mà
gặp trục trặc vì hai xe không liên lạc được với nhau, hệ
thống viễn liên không hoạt động được lúc ra khỏi biên
giới Pháp để qua Bỉ. Tưởng sao, toàn đồng hương mình
với nhau, có những người sống rải rác ở các tỉnh xa nước
Pháp, mải làm ăn cho đến giờ này mới đi thăm Âu Châu.
Nhờ vậy mà vui, chương trình văn nghệ tạp lục như ca hát,
ngâm thơ, kể chuyện “tự biên tự diễn” do một vài đồng
hương có năng khiếu văn nghệ điều khiển được mọi
người tham gia vui vẻ, nhờ vậy chặng đường xa lúc nào cũng
vui như tết. Đặc biệt, có bác Trung hội đồng hương Biên
Hoà ở Paris, rất thông thạo và có nhiều kinh nghiệm về du lịch,
đã hướng dẫn và kể rành mạch về lịch sử, địa
lý nhân văn các nơi đoàn ghé đến, thật là một
chuyến đi đầy bổ ích. Giá như đây là “tour” của
Tây mà nghe họ xì xồ tiếng Pháp, gặp người có mấy
chữ Tây trong bụng như tôi thì khác nào “vịt nghe sấm
nổ”.
Xe tiến về hướng Tây Bắc cuả Paris, chạy
vào xa lộ đúng lúc xe cộ ứ lại như nêm, người ở
bên Pháp ít dùng xe hơi riêng lý do là nạn kẹt xe thật
kinh khủng, mất nhiều thời giờ cho di chuyển, chưa chắc đi một chiếc
“taxi” đã ngon hơn đi xe điện ngầm. Đây cũng là
hướng có vẻ đông đúc dân cư, phi trường Charle De Gaulle
cũng nằm ở hướng này, xe từ từ cũng ra được vùng
ngoại ô, miền quê nước Pháp xuất hiện trong tầm mắt cuả
du khách, với những cánh đồng được trồng tỉa xanh mươn
mướt, chạy hàng dọc từ chân đồi lên đỉnh đồi,
hình như nước Pháp không có những cánh đồng cỏ bỏ
hoang như nước Mỹ.
Cảnh đồng quê và làng mạc nước
Pháp đẹp như tranh vẽ thời Trung Học được đọc
trong sách vở. Người miền quê ở Pháp không sống rải rác
như các nơi ở Mỹ, họ sống thành làng như kiểu nông
thôn ngoài Bắc ở quê mình, bao bọc quanh làng bằng luỹ tre
xanh. Ở đây, những ngôi nhà khang trang lợp ngói đỏ, một
con đường nhỏ uốn quanh những thửa ruộng hay hoa màu, giữa mỗi
ngôi làng nổi bật một ngôi giáo đường, tháp chuông
vươn lên nền trời xanh biếc. Nhìn qua là biết tiêu biểu
cho một xứ đạo của làng quê nước Pháp, tạo nên hình
ảnh thanh bình và êm ả khác hẳn với những ồn ào, bon
chen cuả Paris kinh đô ánh sáng.
Đường từ Pháp
qua Bỉ khoảng gần 3 tiếng đồng hồ, xe chạy bon bon giữa hai cánh
rừng thưa hoặc làng quê đang vào hè, hoa nở trắng xoá
bên bià rừng tuyệt đẹp. Con đường này giống như con
đường liên tỉnh từ Sàigòn về miền Tây thuở xưa,
người sống ở miền quê hình như cũng hiền hoà mộc mạc
như các rừng hoa đang đua nở hai bên đường để đón
chào du khách. Xe ghé lại một cây xăng bên đường cho bà
con “xả hơi”, mỗi lần xả hơi có người ngồi thu lệ
phí vài chục xu gọi là đóng góp cho kinh tế phồn thịnh.
Thủ đô Bruxelles đây rồi, hai xe giờ đây liên lạc được
tài xế gọi nhau í ới. Như hầu hết các thành phồ cổ
ở Âu Châu, những căn phố cổ hiện ra như những cái hộp
dính vào nhau, rất vắng người vì khách du lịch thường
đổ xô vào trung tâm của thành phố. Ngay ngưỡng cửa của
thủ đô, xuất hiện một ngôi nhà thờ thật nguy nga, bao quanh là
một công viên nhưng lại giống như một khu rừng thiên nhiên,
nhà thờ được kiến trúc theo kiểu mới với mái vòm
xanh xanh thật dịu mắt, khác hẳn với ngôi nhà thờ cổ nằm
trong khu phố cũ gần với quảng trường La Grand Place. Nơi đây đã
có hẹn với hai người đồng hương Biên Hoà sống ở
Bỉ đã lâu, vì vậy được biết thêm thủ đô
Bruxelles nằm trong danh sách những thành phố giàu có của thế giới,
và cũng êm đềm nhất so với những nơi phồn hoa đô hội.
Mọi
người quanh quẩn trong quảng trường La Grand Place để ngắm nghiá
những kỳ công cuả bao thế kỷ trước, được xây dựng
bằng mồ hôi nước mắt cuả con người. Lâu đài xưa
vẫn được giữ nguyên để bảo tồn nền văn minh cổ xưa
cuả những thời đại trước, trong này có một tượng đồng
được gọi là Everard, Tượng Thần May Mắn cho những ai đang hy
vọng một điều gì thầm kín về tình yêu, ước vọng
cuộc đời chẳng hạn. Bà con chuyến Âu Du đều thuộc loại
cao niên, không hiểu có ai cầu mong chuyện “tình yêu, gia đạo
cạo da đầu” ở cái tuổi sắp chống gậy này không? Một
cụ cao niên tay chống gậy,tuổi đời gần 8 bó cứ nghển mãi
lên ráng sờ cho được một tý vào vị thần May Mắn này,
chẳng hiểu cụ còn mơ ước gì khi tuổi đời đã bước
thấp bước cao, “one foot in grave” về với Chuá với Phật.
Và đây, một nhân vật lịch sử khác cuả Bruxelles là bức
tượng “Cậu Bé Đứng Tè” mang tên là MANNEKEN-PIS, cao khoảng
61cm, dân Bỉ xem như là một biểu tượng độc lập cuả họ.
Tương truyền rằng vào thế chiến thứ II, quân Đức lúc
đó thừa thắng xông lên muốn cưỡng chiếm các nước
lân bang, nước Bỉ phải đối đầu với người láng giềng
hung hăng này. Cậu bé đứng tè là con một gia đình giàu
có bị thất lạc , khi mọi nguời đổ xô đi tìm thì thấy
cậu đang tỉnh bơ đứng đái, tình cờ xả nước xối
xả vào mạch nối cuả ngòi nổ nên vì thế nó tắt
ngúm, cứu cả thành phố khỏi bị tàn phá. Người đời
sau liền lập tượng để ghi nhớ chú như một người anh hùng.
Đó
chỉ là một ngẫu nhiên, như những câu chuyện huyền thoại
trong lịch sử thế giới, tượng đồng “cậu bé đứng
tè” nếu để tự nhiên là một bức tượng đồng
đen trần trụi chắc hay hơn là cho chú diện quần áo theo nhiều
ngày lễ quanh năm. Khi du khách đến đây vào đầu tháng
6, chú bé diện một bộ quần áo sọc xanh, trắng, đỏ rất
điệu. Sự thay đổi quần áo cho chú, luôn kèm theo ý nghiã
cuả những ngày trong năm, cuả một vĩ nhân thế giới, hay một
ngày nào đó có ý nghiã, chẳng hạn trong muà Giáng
Sinh, chú được diện một bộ y phục màu đỏ cuả ông
già Noel. Chao ơi! Muà Đông ở Bỉ kéo dài hằng mấy
tháng, những ngày trời đẹp không mưa dầm thật là hiếm
hoi, nhưng nghe nói du khách các nơi trên thế giới vẫn tuôn về
đây để ngắm Bruxelles trong muà Đông tháng giá, tuyết ngập
khắp các ngả đường, các lâu đài âm u trong khí giá
lạnh cuả muà đông hàn đới.
Theo lời một
chị bạn ở Bỉ thì quảng trường La Grand Place hằng năm vẫn
có ngày lễ rất đặc biệt dành cho triều đình vua chuá
cuả họ vẫn tồn tại đến bây giờ. Dân chúng tụ tập
lại và trong khoảng sân vuông vức vây quanh bởi lâu
đài cổ xưa, những phiến gạch lát đường phủ đầy
hoa thật đẹp. Từ quảng trường có nhiều con đường nhỏ
đổ ra phố, thoai thoải theo con dốc là những viên gạch, phiến
đá màu xám xỉn với thời gian, du khách đi lơ mơ vừa
đi vừa ngó có thể lọt gót giầy xuống một kẽ hở trên
đường đi, ngã bổ chửng như chơi, trong đoàn đã có
một bác bị té tọac bàn tay, phải may bao nhiêu mũi kim.
Tôi
ngồi dưới bóng mát vỉa hè trong khuôn viên quảng trường
La Grand Place, nhìn thiên hạ uống cà phê trong một khoảng sân bao
quanh bằng những giỏ hoa đủ màu thật vui mắt. Ngó vơ vẩn
lên những khung cửa sổ tráng lệ cuả toà nhà trước mặt,
bao nhiêu hình tượng tiêu biểu cho triều đình vua chuá ngày
xưa, hình dung ra ở đó thấp thoáng những bóng ma quý tộc,
đang nhìn xuống cõi dương gian để tiếc nhớ thời hoàng
kim của họ. Xung quanh tôi không hẳn chỉ có những người rủng
rỉnh bạc tiền, một người đàn bà bế đưá con thơ
choàng khăn kiểu Ả Rập, đang bám theo du khách để xin tiền.
Chị ta có đôi mắt đẹp và buồn, miệng không ngớt than
van những lời tôi không hiểu. Đặt vào tay người đàn
bà đồng bạc lẻ còn giữ trong túi, lòng nghe vui nhưng vẫn
cảm nhận được nỗi buồn mênh mang về thân phận cuả kiếp
người.
Đoàn người kéo nhau tản bộ ra khu thương
mại bày bán la liệt các loại kẹo chocolate cuả Bỉ, nổi tiếng
trên thế giới, nhất là một loại kẹo trong bằng vỏ cam nhúng
“ chocolate” ai nếm thử cũng phải khen ngon. Một đặc biệt nữa
về hàng thủ công mỹ nghệ là kỹ thuật làm đăng ten
để may khăn, may màn, rèm cửa cuả Bỉ cũng thuộc loại hạng
nhất cuả nước này. Tuy Bruxelles nhỏ bé có không khí cuả
một tỉnh lỵ êm đềm, nhưng rất lý tưởng để những
ai thích cuộc sống bình lặng, không bon chen, sống và làm việc
rất thoải mái. Sau khu phố cổ, một khu thương mại xây cất
theo lối mới trưng đầy hàng hoá mời chào du khách, giá
tương đối cầm được không đến nỗi bỏng tay. Từ đây,
chúng tôi kéo nhau băng qua đường lớn đến thăm nhà thờ
cổ Notre Dame du Sablon, ngôi giáo đường có kiến trúc rất lâu
đời, một số vào nhà thờ thăm viếng cầu nguyện, sau đó
cả đoàn ra chụp hình trước cổng nhà thờ làm kỷ niệm.
Sau khi
bát phố Bruxelles thì trời đã về chiều, mọi người đã
mệt nhoài lại đói bụng nữa nên lên xe đến khách sạn
để nghỉ ngơi, nằm ở ngoại ô gần bộ tư lệnh cuả
Khối Nato, cờ xí các nước Âu Châu bay phấp phới. Khách
sạn khá xinh xắn, hai bên đường có những cánh đồng
trồng luá mạch, ai nấy hối hả lên nhận phòng ngả lưng một
chút, nhìn qua cửa sổ vào phiá trong cuả khách sạn, có một
nhà hàng khá lịch sự với nhiêù món ăn lạ.
Bữa
ăn tối tại Bỉ,tôi lại chạm mặt với ông anh Houston ăn phở
Tàu tối hôm trước ở Paris, tuy ngồi khác chỗ nhưng vô tình
lại gọi y chang món cá Salmon mà tôi tưởng là rất hấp
dẫn cho bữa ăn tối với bánh mì bơ thật thơm. Ôi chà,
chắc ở đây xa biển nên món hải sản cá Salmon hôm ấy
chỉ có vài lát xắt mỏng tanh như giấy, trình bày đẹp
mắt như một cái quạt xoè ra ở giữa có một món rau củ
lẫn lộn chua chua ngọt ngọt. Cái tội này cũng bởi dốt chữ
mà ra, thấy chữ Salmon là mắt tôi sáng lên, cứ tưởng mình
sẽ được thưởng thức những khưá cá thơm phức, ai
ngờ! Thôi nuốt đại cho biết mùi cơm Tây, gọi thêm một
chai bia La Léon loại nhẹ thôi mà cũng ngầy ngật say để quên
mùi cá sống. Bia Bỉ ngon lạ lùng, dường như còn đậm
đà mùi lúa mạch nên ngon đến giọt cuối cùng. Lúc
đi ngang bàn ăn cuả ông anh Houston, tôi liếc thấy anh cũng đang
ngồi ngao ngán với đĩa cơm Tây, nên ghé vào nói nhỏ:
“Hôm
qua phở Tàu, hôm nay cơm Tây nhá!”
Hai anh em cười
xoà, những người xung quanh chả hiểu gì, biết vậy hồi nãy
tôi đã gọi món “hamburger” của Mỹ ăn chắc ấm bụng
hơn.
Dạo loanh quanh một chút để nhìn ngắm cảnh
thanh bình cuả miền quê nước Bỉ, mặt trời đã xuống
tự bao giờ, hoàng hôn còn trải những vạt nắng yếu ớt trên
cánh đồng xanh bát ngát. Nơi đâu cũng vậy, khi màn đêm
phả bóng tối khép lại những phồn hoa đô hội,
đằng sau cuộc sống bon chen ấy vẫn là một không khí êm
đềm cho lòng người được nghỉ ngơi.
Sáng hôm sau, mới 6 giờ
là mọi người đã lục tục kéo nhau xuống ăn điểm
tâm, hình như đây mới là bữa ăn chính thật ngon miệng
cuả mọi người để chuẩn bị cho một ngày nữa rong ruổi
tiếp nối vùng Tây Âu. Mọi người lại lục tục leo lên
xe, mỗi ngày tha hồ vác hành lý lên xuống cho tiêu bớt calories
và mỡ trong máu. Trước khi rời Bruxelles, đoàn lại ghé thăm
ngôi chuà Nhật nổi tiếng, nhưng thời gian không cho phép nên
mọi người chỉ kịp ghi lại những tấm ảnh rồi vội vã
lên đường. Ghé ngang vườn hoa cuả người Trung Hoa, với
bao nhiêu loại hoa cảnh thật đẹp, muà Xuân vưà đi và
muà hè vưà chạm đến, mà sao hoa kiểng đã bật dậy
hối hả nẩy chồi đơm hoa thật nhanh. Tất cả những kiến trúc
tại hai nơi này đều mang tính cách quốc gia cuả họ.
Xe vội vã lên đường để mọi người có dịp đến
thăm công viên Atomium, một nơi nổi tiếng có cấu trúc rất
tân kỳ, quy tụ nhiều quả cầu to sáng lấp loáng, phản chiếu
những hình ảnh cuả cảnh vật xung quanh. Những quả cầu này được
nối kết bởi các trụ cột rất cao, tạo cảm giác như các
hạt nguyên tử vận hành trong không gian. Vì không có nhiều
thời giờ để vào xem bên trong cuả những quả cầu này, trong
đó có nhà hàng, nơi giải trí để du khách có cảm
tưởng đang hưởng một cuộc sống vô cùng tuyệt diệu trên
thượng tầng không khí. Nhìn chung đây là một thành phố
nổi tiếng cuả trung tâm Âu Châu, nhưng không quá đỗi đông
đúc phức tạp như Paris, và sau này khi sang London thì mới thấy,
càng những nơi đông người thì cuộc sống càng trở nên
xô bồ hơn.
Trở lại với góc riêng cuả mình, tôi
lại nhớ đến hai câu thơ cuả Nguyễn Khuyến: “Ta dại , ta
tìm nơi vắng vẻ Người khôn, người tới chốn lao xao”
Thật
là chí lý! Nguyên Nhung 
MỘT
THOÁNG ÂU CHÂUBút ký của Nguyên Nhung
Vâng, tất cả chỉ là một thoáng, như bao nhiêu
nơi chốn, con người, hình ảnh trong dòng đời đã trở
thành một thoáng trong ký ức của tôi. Chuyến đi xa mùa hè
năm nay, tôi theo chân phái đoàn Hoa Bưởi Vượt Đại Dương
tại Houston, làm một chuyến viễn du thăm Âu Châu. Chuyến bay đưa
tôi đến vùng trời xa, vượt qua Đại Tây Dương
, đến Paris vào một ngày đẹp trời hừng nắng. Tám tiếng
đồng hồ ngồi trên phi cơ ngủ chập chờn, có lẽ vì chói
ánh đèn từ chỗ ngồi của một cô sinh viên đang
soạn lại bài vở sau chuyến đi xa. Suốt ngày hôm trước tôi
gần như thức trắng để chuẩn bị cho một chuyến đi dài,
hai tuần lễ với một chương trình biết trước là mọi
người sẽ phải chạy như ma đuổi.
 Buổi Sáng Ở Paris . Mải suy nghĩ và ngắm phong cảnh hai bên đường,
xe chui qua những hầm cầu, có lúc xe đã đi ngang khúc đường
hầm gây nên cái chết oan nghiệt cho công nương Diana và người
tình cuả cô. . Hơn nửa tiếng
đồng hồ, xe chạy vào thành phố, sau khi đem hành lý vào
khách sạn, buổi sáng đã thấy nhiều người khách dậy
sớm đang lục tục đi xuống. Giờ đây tôi đang đứng
trên con đường thuộc quận 13, vài bà đầm đang dẫn chó
đi bộ, mấy chú chó vô tư làm vệ sinh dưới gốc cây
trước mặt mọi người, vì thế mà người ta hay dặn dò
nhau khéo đạp “mìn” khi mải dáo dác nhìn người
qua kẻ lại. Đa số là những người đi làm, đi chợ sớm,
đẩy theo một cái xe có một túi từa tựa như
cái valy nhỏ. Mới đầu tôi tưởng họ cũng là du khách
như mình, nhưng sau quan sát kỹ mới biết họ chất đầy thực
phẩm trong đó, thêm một ổ bánh mì “ baguette” cầm tay
dài thoòng, thế cũng tiện, Tây ăn bánh mì như người
mình ăn cơm. Đường xá ở Paris rất chật, ngoại trừ một
vài con đường nổi tiếng trong phim ảnh là thênh thang, hầu hết
phương tiện cuả người Paris là xe điện ngầm, đường
chỉ đủ cho hai xe lách nhau vưà khít, và chỗ đậu xe thì
lại càng hiếm hoi hơn nữa. . Người
Paris lái xe thiện nghệ hơn các nơi khác, kể cả xứ cao bồi
Texas cũng chào thua kiểu lái xe như lúc nào cũng có thể đâm
xầm vào nhau ở Paris. Ngày xưa chắc những lòng đường hẹp
này chỉ dành cho xe ngựa cuả vua chúa hay người giàu có, trong
khi đó hai bên viả hè lại khá rộng, người đi lại thong
dong như những kẻ nhàn tản nhất thế gian, hèn gì có người
đã bảo “phong cách người Paris rất Paris” là vậy. Xe thì
nhỏ, chỗ đậu xe rất hiếm và chật dọc theo đường phố,
tôi đã tò mò đứng từ cửa sổ cuả một tiệm ăn
nhìn xuống xem cách một người lái xe đã lách làm sao
để có được một chỗ đậu xít xao giữa hai chiếc
xe khác. Rất ngộ, và tự nhiên đến không thể nào nghĩ
được, chiếc xe lách vào húc tỉnh bơ vào đuôi chiếc
xe trước cho nhích lên một tý, và lại thản nhiên gie lui đụng
vào chiếc xe phiá sau, thế là gọn gàng tìm được một
chỗ đậu chỉ cách nhau khoảng hai gang tay, cừ thật! . Chưa có một đồng Euro nào trong túi, hỏi thăm vài du
khách cũng từ Mỹ sang, họ chỉ cho vài chỗ để đổi tiền.
Ngay đầu đường gần về khách sạn Le Baron, có một chỗ
đổi tiền mà lúc nãy người tài xế khi lái xe ngang đã
chỉ cho tôi. Ngạc nhiên vì mới sớm mai mà đã thấy một
đoàn người rồng rắn xếp hàng đi xin trợ cấp,
trông họ buồn rầu, nhếch nhác khiến kẻ mới đến phải
rùng mình nghĩ đến cảnh nheo nhóc cuả lớp người nghèo
trên thế giới, ảnh hưởng bởi cơn sốt kinh tế toàn cầu.
Một người mới quen rất tử tế chỉ cho một chỗ đổi tiền
gần siêu thị, nhưng căn dặn phải cẩn thận, và nhất là
đừng móc ví ra mà bố thí cho một vài hành khất ngồi
đó đây chờ đợi. Ôi cha, coi bộ nhiều thứ để phải
“coi chừng” như lời anh dặn dò, chúng tôi vội vã đi
nhưng lòng không được thoải mái lắm… . Có tiền rồi là nghĩ đến ăn, paté, jambon cuả Pháp
nổi tiếng thế giới, một tiệm bánh mì cuả người Việt
ngay đầu đường trông thật hấp dẫn, giá một khúc bánh
mì không rẻ, nhưng chắc phải ngon, mà ngon thật, cái ngon này
sau khi về nhà tôi mới nghĩ ra. Ở nhà phải kiêng khem nhiều món
cho cái tuổi già khỏi bệnh tật, khi đi chơi ai cũng nghĩ “lâu
lâu xả láng một lần”, nên bao nhiêu chất béo, chất ngọt
ai cũng ăn tỉnh queo, nhưng vẫn phải công nhận là paté của
Pháp nổi tiếng trên thế giới, và có thể kết luận rằng
bánh mì thịt chả nơi nào ngon bằng quận 13 ở Paris. . Đa số những tiệm ăn ở đây đều mang tính chất
đa quốc gia, nhưng đâm đầu vào một tiệm ăn để ăn
một tô phở Tàu thì tôi khuyên bạn nên suy nghĩ trước
khi vào quán. Lạ thiệt! Cái tô phở cũng bĩ bàng nào thịt
, nào bánh, nào hành ngò đủ hết, nhưng phở vẫn không
là phở, phở mà thiếu hương vị phở thì làm
sao gọi là món ngon quê hương được. Đấy là nói
đến ban đêm đi chơi sông Seine về, bụng đang đói ngẫu,
thấy tiệm phở còn mở cửa như buồn ngủ gặp chiếu manh. Thế
là ghé vô, ráng hít mãi mà không ngửi được mùi
phở hành ngò phả trong gió đêm Paris. Chờ đợi khá lâu
tô phở mới được bưng ra, ai nấy nhanh nhẩu cầm muỗng đuã,
xuỵt xoạt. Đói thế mà tô nào cũng còn đến phân
nửa, một anh quen ở Houston phát biểu cảm tưởng: “No rồi, ngon
quá nên ăn không nổi”. Cô hầu bàn vui tính cũng xen vào
nói nhỏ với khách: “Phở Mỹ ngon hơn, tui nói chủ đuổi
tui cũng nói.”, mọi người cười hỉ hả với nhau, chia tay không
hẹn lần sau tái ngộ. . Tôi lại lạc đề
rồi, đang nói về bình minh Paris trên phố quận 13, một buổi sáng
nắng hanh vàng và hơi lành lạnh như sáng Đà Lạt năm
nào. Cuối xuân sang hè cành lá xanh biếc và được rắc
một lượt nắng nhẹ, êm đềm và dịu dàng như nét
đẹp cuả cô gái tuổi dậy thì. Người đi đường
không vội vã, không tò mò trong một vẻ thật khoan thai từ tốn.
Nếu bạn chỉ khoác một chiếc áo măng tô nhẹ, rồi hai tay
thong thả đánh đung đưa mà đi vào những con ngõ nhỏ
Paris đang ngái ngủ, sẽ hình dung ra vẻ an nhàn đời sống bên
trong cuả người dân Paris. Mùi cà phê thoảng bay trong gió sớm,
mùi bánh mì nóng rộm vàng rơm, mùi bơ thơm, những
mùi này mới thật là mùi cuả Paris phả vào gió lạnh
và du khách nếu không vội đi đâu, cứ thong thả mà thưởng
thức. . Liên lạc được gia đình
ông chú , trưa hôm đó chúng tôi được đón về
thăm gia đình ở ngoại ô Paris, đúng vào giờ kẹt xe nên
mất khá nhiều thời giờ loanh quanh trên các ngả đường kẹt
cứng như nêm. Xa lộ tương đối thoáng, nhưng Paris ngoại ô
vẫn là những con đường nhỏ vòng vèo, nhà cửa ở đây
không đồ sộ, nhưng xinh xắn dễ thương với mái ngói đỏ,
nhà nào cũng có lầu nho nhỏ và ở mỗi ô cửa sổ họ
trồng những bụi hoa đủ màu rất đẹp. Đường vô nhà
cũng nhỏ như một cái ngõ vắng ở Sài Gòn năm xưa, yên
tĩnh với làn gió mát buổi xế trưa, có tiếng chim bồ câu
gù gù sau mái hiên. Buổi
tối cơm nước xong thì đã muộn, cả nhà đưa nhau đi
một vòng sơ sơ cho khách phương xa thưởng thức vẻ đẹp
lộng lẫy, tấp nập cuả một Paris về đêm. Chiếc xe lăn bánh
đi dọc theo bờ sông, loang loáng ánh đèn dưới mặt nước
lung linh tuyệt đẹp, những lâu đài, nhà thờ, mờ mờ ảo
ảo dưới mặt nước thẫm đen, và đặc biệt thân tháp
Eiffel như được nạm vàng dát ngọc vươn lên bầu trời
nhung thẫm.
 Paris về đêm như một
người phụ nữ quyến rũ lôi cuốn những con thiêu thân lao vào
ánh đèn, đại lộ Champs Elysees là đại lộ lịch sử nổi
tiếng thế giới của Paris. Con đường dài khoảng 2 cây số chạy
dọc theo suốt chiều dài của quận 8, hướng Tây Bắc của Paris,
nối liền quảng trường Concorde là quảng trường lớn nhất của
thủ đô nước Pháp, với diện tích 86.400 thước vuông,
toà đại sứ Mỹ tọa lạc gần quảng trường
Charles de Gaulle, có Khải Hoàn Môn nổi tiếng của Pháp. Nơi hội
tụ của 12 con đường lớn của Paris vì vậy xe cộ đổ ra
đổ vào suốt ngày đêm nườm nượp. Trong 12 con đường
này có một con đường mang tên rất thân quen với người
Sài Gòn năm xưa, đó là đường “Bạc Má Hồng”
(Mac-Mahon). Đã có nhiều
tài liệu viết về Paris, riêng tôi chỉ vài ngày ngăn ngủi
ở Paris cho nên không thể nào đi sâu vào từng ngõ ngách
cuả Paris, vẻ đẹp cổ kính và văn minh cuả nhân loại nhiều thế
kỷ. Bây giờ khi xe chạy dọc theo sông Seine, buổi tối ở đây
vắng vẻ hơn, chỉ thấy những đôi tình nhân dìu nhau đi
dưới bóng cây và ánh sáng mập mờ, vô số những sạp
bán sách vở và đồ lưu niệm đã đóng cửa, bên
kia là những quán cà phê vỉa hè, mà người ta hay nhắc
đến vì nó là nơi những nhà thơ, nhà văn tụ hội
lại với nhau uống cà phê, nghe nhạc tìm nguồn hứng khởi. Đi
qua nhà thờ Đức Bà, người ta chen chúc nhau trên mảnh sân
phiá trước, ánh sáng tỏa ra từ những trụ đèn lồng
thật cổ kính,chỉ mong nghe tiếng chuông ngân để tưởng tượng
ra tiếng thở dài cuả anh chàng Quasimodo đau khổ trong nhạc kịch “Thằng
Gù Nhà Thờ Đức Bà” cuả Victor Hugo được đọc qua
trong sách vở. Thời
gian ở Paris đúng là vàng ngọc, biết bao giờ trở lại nơi
đây lần nữa nên cũng cố xem cho biết được chút nào
hay chút đó. Xe trở lại đại lộ Champs Elysses để nhìn tận
mắt giòng người đổ về đây dù lúc ấy đã
gần nửa đêm. Xe chạy xuống hầm tìm chỗ đậu, cả nhà
già trẻ lớn bé ngoi lên lòng phố đêm đang oà ra như
ong vỡ tổ. Người ở đâu mà nhiều thế không biết, mỗi
năm Paris có khoảng vài chục triệu du khách khắp nơi đổ
về, dù đây chỉ là một đêm ngày thường mà cơ
man nào là người, lớp đi bộ, lớp ngổi nghỉ chân bên
hè phố nghe đêm Paris chuyển mình như một làn sóng nhấp
nhô bởi người và xe. Hình như người ta không ngủ, đêm
Paris lành lạnh vừa đủ cho du khách tha hồ đi rong trên đường
phố , trong khi đó dòng xe cứ tuôn chảy vào về phiá Khải
Hoàn Môn rực sáng ánh đèn. Cứ tưởng tượng ngày xưa nơi đây chắc xe ngựa
dập dìu, đoàn quân đi chinh phạt các nước chư hầu cuả
Pháp trở về, chắc đã từng diễn hành hàng hàng lớp
lớp. Những hình bóng ấy nay chỉ còn là một thoáng trong lịch
sử: “ qua rồi
theo dòng đời hưng phế, hồn
xưa có sống lại bao giờ”( thơ NN) , ngẫm ra có chút vô
thường trong dòng đời đang bày trải trước mắt. Đêm đã khuya, gió phả
sương khuya lành lạnh nên ai cũng phải khoác thêm một chiếc
áo ấm, mọi người đều mỏi mệt nên phải trở về.
Những nẻo đường Paris về khuya thiêm thiếp ngủ …. . Chiều Paris Ngày kế tiếp, sau một bữa tiệc họp mặt thật nồng ấm tình
đồng hương xứ Bưởi trong một nhà hàng nhỏ, không khí
ấm cúng thân mật chứ không loãng như những hội đồng
hương quy tụ đông đảo mà lại thiếu tình thân. Hình
như mọi người đều quen biết nhau, ai nấy tay bắt mặt mừng với
những màn văn nghệ “cây nhà lá vườn” nhưng thật
vui.
Buổi chiều trở
lại khách sạn nghỉ ngơi để chuẩn bị lấy sức đi thuyền
trên sông Seine, ngắm tháp Eiffel biểu tượng cuả Paris. Mọi người
theo nhau xuống xe điện ngầm ra sông Siene. Phương tiện cuả dân Paris
hầu hết là bằng xe điện ngầm lan toả khắp thành
phố, như những cái rễ bạch tuộc rất thích hợp cho người
lao động. Nhưng xã hội nào cũng vậy, những nơi đông người
vẫn xảy ra những tệ nạn như móc túi, giật dọc hành lý,
du khách thường mang một vẻ ngơ ngác lạ lẫm trước những
cái mới mẻ, vì thế mà mỗi lần cả đoàn dẫn nhau
lên xe, bà con mình đã tự giác đứng gần nhau để bảo
vệ. Mỗi lần lên xe anh trưởng đoàn không quên la lớn:
“Bà con ơi, hồn
ai nấy giữ nghe.”
Xe đông người, chuyến nào cũng đầy ắp, ai biết người
gian kẻ ngay, chỉ tự mình “hồn ai nấy giữ” như lời dặn
dò, vậy mà cũng có người gài túi cẩn thận vẫn bị
chớp mất ví hồi nào không hay.
Băng qua một cây cầu để xuống bến tàu được gọi
là Bateaux Mouches. Gọi bằng thuyền cho thơ mộng, như ở miền Trung quê
nhà đi thuyền trên sông Hương, chiếc thuyền chở khách trên
sông Siene to hơn nhiều với một lượng khách khá đông. Khi
khách đầy, thuyền tách bờ với những bản nhạc êm dịu
không lời đưa hồn du khách chơi vơi theo triền sóng
lặng, chiều đang rơi trên dòng sông mênh mông.Nếu khách
là một nhà thơ, sẽ không khỏi rung động để ghi nhanh một
bài thơ “Chiều lênh đênh trên sông Seine”, tặng riêng
cho một người nào mà anh đang nghĩ đến:
“Chiều
du thuyền sông Seine Ta thấy nắng vàng êm Theo gió lồng hương
tóc Trên nụ cười cuả em” ( Thơ Lâm Sông
Đồng)
Hai bên bờ lừng lững những lâu đài,
nhà thờ cổ, hàng cây, bóng người và những
cặp tình nhân đang ngồi tâm tình trên ghế đá, tất
cả cùng với ánh nắng se sắt buổi chiều vàng, phản chiếu
xuống mặt nước một hoàng hôn Paris diễm lệ. Thi sĩ có
thể viết thêm vào bài thơ dang dở : “Những lâu đài in bóng
xuống dòng sông, Em có biết đời cũng nghiêng
như bóng”( thơ NN).
Bóng chiểu thẫm hơn và nước sông Seine cũng
chuyển sang một màu thẫm hơn, buổi chiều thật dài để du
khách tha hồ thưởng thức vẻ đẹp cổ xưa thật tráng lệ
in trên nền trời nhung mềm như lụa. Và từ tấm màn nhung ấy,
muôn ánh đèn từ tháp Eiffel đã nhấp nháy bừng sáng
cho dòng sông và bầu trời thêm ảo mộng. . Ngày Cuối Cùng Ở Paris Thấm thoát mà thời gian trôi
nhanh, sau một chuyến đi ngắn qua các nước Tây Âu, trở lại
Paris nghỉ ngơi để chuẩn bị bay về mái nhà thân yêu của
mình. Đi đâu thì đi, sao vẫn nhớ căn phòng quen thuộc trong
ngôi nhà nhỏ, mảnh vườn be bé chắc rau cỏ đang chờ mình
trở về trong nắng hè gay gắt. Ngày cuối cùng còn lại ở Paris, một cô bạn ở Paris
mời đi thăm cảnh vườn Bois-de-Boulogne, để biết thêm một khía
cạnh khác thật tươi mát của Paris mùa hè. Khu vườn này
nằm ở hướng Tây của quận 16, rộng gần 8500 km2, ban ngày là
một khu vườn thiên nhiên nhiều hoa cảnh lạ, nhưng nghe nói ban
đêm cũng là nơi xuất hiện của các nàng Kiều. Gặp ngày
có những chương trình bổ ích, thầy cô giáo
dẫn các em học sinh cỡ tuổi mẫu giáo đi tung tăng trên các
con đường quanh co rừng cây và hoa rất thơ mộng. Xen lẫn vào
cảnh rừng và hoa là hồ nước, đàn vịt thanh thản bơi
lặn trong hồ, bóng dáng một con thiên nga với bộ lông trắng
toát thật quý phái, lững lờ bơi trên dòng nước . . . Còn ngày cuối
ở Paris sắp hết, lang thang trên phố chiều với những con đường
lớn có vỉa hè thênh thang , hàng cây thẳng tắp làm bóng
mát che cho du khách bước từng bước trong buổi chiều Paris thật
êm ả. Paris buổi chiều khác hẳn Paris ban đêm, êm ả vì
trời xanh gió nhẹ, sân trước những căn phố phủ đầy hoa
hồng thấp thoáng bóng người sau tấm màn mỏng lay động,
Paris dịu dàng và lãng mạn biết bao! Ngày vui qua mau, bịn rịn, quyến luyến chia tay với người Paris,
bay về Houston nắng ấm, mang theo bao nhiêu kỷ niệm và nỗi
nhớ dành cho “Một Thoáng Âu Châu”. Nguyên Nhung ( Kỳ tới: Bỉ, Hoà Lan, Đức,
Strapbourg và London) 


Ngẫu nhiên tôi gặp lại Hà sau gần hai
mươi năm xa cách. Một chiều mưa tầm tã vào tháng
bảy, bên hiên chùa tôi đang thả hồn về dĩ vãng, với
những sợi mưa giăng mịt mờ phía rừng cây trước mặt.
Tâm trí tôi trở về những mùa ngâu nhạt nhòa trong quá
khứ, ở đấy có mẹ tôi bên bếp lửa hồng và đàn
gà con chiêm chiếp kêu tìm đôi cánh gà mẹ trong một chiều
bão rớt. Ở đấy là những chùm hoa mẫu đơn nở vàng
trước ngõ giậu thưa, là hàng dừa lướt thướt ướt
mưa bên một giòng sông, là khoảng sân gạch loang loáng nước
và những giọt mưa màu cà phê từ mái tranh rớt xuống. Cứ thế tôi đắm chìm trong những hình
ảnh chập chờn của dĩ vãng thì từ bên kia mấy chậu hoa quỳnh,
tôi nghe có tiếng thở dài. Tiếng thở dài muộn phiền mong chờ
cơn mưa ngớt hạt, nghe chừng quen quen, thật là thân thiết , có
chút gì u uẩn trong bóng chiều nhập nhoạng. Đưa mắt nhìn
người phụ nữ đứng nghiêng nghiêng trong khoảng tối của mấy
chậu hoa, tôi ngờ ngợ nhận ra Hà, người bạn cũ. Mặc dù
đã bao nhiêu năm trôi qua, nhưng dáng dấp và khuôn mặt ấy,
có già dặn hơn, nhưng vẫn là Thanh Hà của những năm xưa.
Sau một chút ngại ngùng, tôi tiến lại rụt rè: "
Xin lỗi, có phải Hà đấy không?" Ngỡ ngàng mấy giây,
Hà nhìn tôi trân trối. Rồi như một cơn lốc, Hà ôm
chầm lấy tôi: " Trời ơi! Ngọc, lúc nãy mình thấy
ai giống Ngọc ở trong chùa nhưng không dám hỏi, sợ người
giống người, không ngờ quả đất tròn lại có ngày gặp
nhau. Ngọc qua đây lâu chưa, ở đâu, làm gì, gia đình
ra sao?" Trước sự mừng rỡ và những câu hỏi dồn dập
của Hà, tôi chỉ biết cười. Trên khóe mắt nó long lanh
ngấn nước, tôi nhớ đến tiếng cười ròn rã của
nó ngày xưa vang lên trong những buổi nắng ấm sân trường: "
Từ từ đã, phải cho mình thở chứ! Gặp lại Hà mình
mừng quá, thời gian qua đi nhanh quá phải không Hà, mới đây
mà đã già hết rồi. Mình sang đây đã lâu, có
một cháu đang học Đại học, sắp ra trường nay mai. Cuộc sống
thì vậy vậy, vẫn độc thân, vui tính." Nói tới đây tự nhiên tôi nghẹn lời, tôi
có hạnh phúc đâu mà chả độc thân vui tính. Hà nhướng
mắt, ngạc nhiên: " Quyền đâu? Vợ chồng ngươi hạnh
phúc chứ?" Tôi buồn bã lắc đầu: " Chuyện xưa
rồi nhắc làm gì, để rồi khi rảnh rỗi mình sẽ kể
bồ nghe. Quyền còn đó nhưng là của người khác, mình
nghĩ vậy lại hay, cứ để dây dưa trong đau khổ triền miên,
không tìm cho mình một lối thoát e càng khổ hơn nữa. Còn
phần Hà thế nào? Bác Năm chắc đã già lắm, bác
và anh Lâm có sang bên này không?" Hà xiết chặt tay
tôi, ngậm ngùi: " Má mình qua đời lâu rồi Ngọc
à, mình chôn má mình ở mảnh vườn sau nhà, Ngọc vẫn
còn nhớ chứ? Sau đó thì hai anh em vượt biên, sang bên này
có dễ thở hơn vì được tự do nhưng buồn quá là
buồn, cực quá là cực, mình già đi nhiều Ngọc thấy không?" Tôi xót xa nhìn Hà, như nhìn một đóa
hoa tươi thắm ngày nào nay đã nhạt nhòa hương sắc.
Thời gian đã điểm vài nét nhăn lờ mờ trên khuôn mặt
và ở đuôi mắt, tuy nhiên đôi Hà vẫn giữ được
nét nhìn trong sáng: " Mình cũng hơn gì Hà đâu,
phải chấp nhận thôi. Bây giờ Hà kể mình nghe chuyện của
Hà đi, Hà và anh Lâm có ở gần nhau không?" Giọng
Hà như chùng xuống, mắt nó rưng rưng: " Mình đâu
có lập gia đình, sang đây được vài năm thì anh Lâm
gặp tai nạn trong lúc làm việc, mù cả hai mắt, mình đâu
đành lòng để ảnh một mình , cho nên hai anh em vẫn sống
lo cho nhau, như hai kẻ tu hành trụ trì trong một ngôi chùa không
tên tuổi. Tội nghiệp anh Lâm, đáng lẽ đời anh ấy phải
được thênh thang, đẹp đẽ thay vì mù lòa, tăm tối,
âu cũng là nghiệp phải không Ngọc? Sống bây giờ không phải
lo cơm ăn áo mặc, nhưng nhìn anh ấy suốt ngày sờ soạng bên
khung cửa để nghe tiếng gió, tiếng mưa, năm này qua năm nọ,
ngày này qua ngày khác, Ngọc thấy đời có nghĩa gì không?" Tôi nghe lòng thắt lại theo từng tiếng Hà
kể lể. Anh Lâm, người thanh niên hiền lành, chăm chỉ, rất
đỗi hiền hòa trong những ngày trẻ tuổi hiện về trong trí
nhớ của tôi. Bên ấy là giàn bông giấy màu hồng
tím, tiếng đàn của anh xôn xao những đêm trăng, là mộng,
là hoa, là sách vở chất đầy thương nhớ. Tôi đột
ngột đề nghị: " Mình có thể đến thăm anh ấy được
không?" Hà lắc đầu, ngần ngại: " Thú thực
với Ngọc, thế nào thì tụi mình cũng phải gặp lại nhau,
nhưng bây giờ anh Lâm hầu như không muốn giao tiếp với ai, nhất
là những người quen cũ. Ngọc biết không, có lần anh Lâm
giận Hà mất mấy ngày vì mình đưa về nhà một người
bạn của anh ấy mà không hỏi ý kiến của anh ấy trước.
. ." Tôi quả quyết: " Mình chỉ muốn nhìn thấy anh
ấy thôi, và sẽ không nói một câu nào để anh ấy không
biết là có người đến thăm." Hà lưỡng lự
giây lát, rồi khi biết là không thể từ chối, nó phải
dặn dò tôi: " Ừa thì đi, nhưng Ngọc nhớ là
những người mù thường sống bằng thính giác, anh Lâm từ
khi mù đến nay đã quen nghe và đoán sự việc gần như
chính xác, mình không dấu anh ấy được chuyện gì đâu.
Bây giờ, Ngọc cho mình số phôn và địa chỉ, chúng mình
còn nhiều chuyện để nói mà mình lại phải về, mưa
xuống là trời mau tối lắm, không biết ở nhà anh Lâm đãù
ăn uống gì chưa." Thấy Hà lo lắng
cho anh, tôi thấy mình không khỏi cảm động. Tôi theo Hà ra chỗ
đậu xe, trời ngớt mưa, những sợi mưa nhỏ bay bay trong khung trời
mờ mờ của buổi hoàng hôn. Ngôi chùa nằm trên một ngọn
đồi, xung quanh bao bọc bằng rừng cây và lá úa, từ phía
thung lũng đằng sau, gió như muốn cuốn hút tất cả những chiếc
lá vàng xô vào nhau đến một nơi êm đềm nhất. Mỗi
lúc buồn tôi lại đến đây, để lòng mình cuốn
theo những chiếc lá rơi vào những nơi thăm thẳm dưới chân
đồi, phảng phất mùi hương trầm và tiếng mõ nhịp nhàng
của khóa kinh chiều, cái buồn đã bay đi dịu dàng như một
làn khói tỏa.
Hai chiếc xe lăn
bánh ra khỏi sân chùa và lướt đi trên con đường phủ
đầy lá ướt, những vũng nước mưa phản chiếu ánh
đèn vàng buồn hắt hiu, lòng tôi như chơi vơi nỗi nhớ
nhung về một khoảnh đời rất xa trong dĩ vãng. Ngày ấy là
tôi mười bảy tuổi, mắt biếc và môi tươi, đôi guốc
nhỏ khua những bước chân rộn ràng trên đường vắng. Ngày
ấy là Hà nghịch ngợm líu lo như chim vành khuyên, mái tóc
cắt ngắn, khuôn mặt bầu bĩnh dễ thương, mặc chiếc quần
cụt ngắn để sẵn sàng nhảy ào xuống sông, lội đùng
đùng như một con rái cá. Ấy vậy mà hai đứa thân nhau,
Hà sôi nổi còn tôi u trầm, lãng mạn, nó thường chỉ
cho tôi những bài toán khó, còn tôi thường đọc cho nó
nghe những bài thơ học trò non nớt. Lúc ấy nó cũng thẫn
thờ trong giây lát, rồi cú nhẹ vào đầu tôi: "
Thôi đi nhỏ ơi, hèn gì anh Hai tao bây giờ cũng hay làm thơ”. Chắc Hà một phần nào đã hiểu tình
cảm mộng mơ của anh Lâm và tôi, nhưng vẫn không bao giờ nói
cho nhau biết. Nhà Hà chỉ có hai anh em, ba nó chết khi nào tôi
cũng không rõ, chỉ thấy mỗi buổi chiều má nó hay ra sau vườn
đốt nhang cho mấy ngôi mộ nằm khuất sau rặng dừa nước tối
đen, những khi ấy tôi rất sợ khi nhìn những đốm nhang lập
lòe trong khu vườn tối. Bác Năm có một sạp bán chạp phô
ngoài chợ, vậy mà bác cũng nuôi nổi hai đứa con thơ dại
mồ côi cha. Tuy vất vả nhưng bù lại anh em Hà là những đứa
con hiếu hạnh và rất đỗi thương nhau. Nhà tôi và Hà chỉ cách nhau có một hàng
rào thấp và một đường mương thông ra con sông nhỏ, ngày
hai buổi lên xuống theo con nước thủy triều. Mẹ tôi trồng những
giây mồng tơi tím, những cây đậu ván có chùm đậu
xanh như ngọc, và hoa tóc tiên có bông nhỏ xinh xinh màu
đỏ thắm leo quanh hàng giậu. Tôi hay đứng bên này hàng
rào để nói chuyện với Hà khi nó giặt quần áo hay rửa
chén ở cái mương sau hè ấy. Hai đứa trẻ lớn lên lúc
nào không hay, ngày anh Lâm vào Đại học bác Năm mừng chảy
nước mắt, còn Hà và tôi đã là hai cô nữ sinh đệ
nhị cấp cùng lớp, cùng trường. Hà đã bớt phần ngổ
ngáo, còn tôi cũng thêm phần e lệ mỗi lần bắt gặp cái
nhìn nồng nàn, kín đáo của anh Lâm bên kia giàn bông
giấy. Tuy vậy, trong những chiều nước
lớn, Hà vẫn nheo nhéo gọi tôi đi tắm sông. Ai đã từng
ngụp lặn dưới giòng nước mát của giòng sông quê hương,
mới thấy cái thú tắm sông thuở nhỏ thật là tuyệt vời,
nó rộn rã tiếng vui đùa của đám trẻ con trong một trưa
hè oi ả, từng làn sóng lăn tăn trên mặt sông êm ả,
và những tàu dừa lơi lả bên bờ sông như đùa với
gió. Tôi nhớ một buổi chiều
năm xưa, anh Lâm đón tôi ngoài đầu ngõ. Anh đưa cho tôi
một cuốn sách rồi ngập ngừng nói: " Anh mua cho Ngọc cuốn
Toán thực hành, Ngọc xem chỗ nào không hiểu thì hỏi anh." Tôi chớp mắt nhìn anh, không nói được
câu cám ơn nhưng lòng vô cùng xao xuyến, đây có lẽ
là lần đầu tôi gặp anh mà không có Hà bên cạnh.
Tôi đinh ninh sẽ một cái gì thơ mộng hơn, cuốn sách Toán
khô khan chỉ là cái cớ để anh có dịp nói với tôi
bao điều anh muốn nói. Vậy mà không, anh lặng lẽ bước đi
để tôi lơ ngơ không hiểu nổi con người kín đáo
ấy. Sáng hôm sau, lúc đi học, Hà đã ranh mãnh chặn tôi
trước: " Ê nhỏ, chiều qua anh Lâm đưa mày cái gì
dzậy?" Tôi rủa thầm trong bụng, "con quỉ nhỏ, cái gì
nó cũng biết", tự nhiên tôi thấy tức trong lòng: "
Có gì đâu, anh ấy đưa tao cuốn Toán, chắc anh thấy tao dốt
Toán nên cho mượn để học. Ngán gần chết, tao trả lại
mày nghe. Hà trợn mắt nhìn tôi: " Đừng qua mặt
tao nghe, không lẽ ảnh đón mày để đưa sách cho mày
học. Bữa trước tao thấy ảnh thức khuya lắm, viết cái gì
đó, viết rồi xé, xé rồi viết, tao nghi ảnh viết thư cho
mày. Chèn ơi, thư từ làm gì cho mất công, cứ nói ngay
là anh thương em vậy em có thương anh không, hổng thương anh
nhảy xuống sông... anh tắm, há há. . ." Nói xong là nó
cười , chưa bao giờ tôi thấy nó vô duyên bằng lúc đó.
Rồi xỉa tay vào trán tôi, Hà nói: " Má tao cũng biết
chớ bộ, nhưng hai người cứ lo học đi. Nè chị hai ơi, anh hai
muốn gì thì cứ nói với em đây nè, tao tức cười anh
hai tao quá, nàng thì thơ thẩn, mộng mơ mà nhè mua sách toán
tặng nàng, chắc ổng muốn đem tình em vào toán học. Ổng
khờ ơi là khờ, mà tao hỏi thiệt mày nghe, mày có thương
ổng tí ti nào không nhỏ?" Tôi
xô Hà sang một bên rồi vội bước đi trước, nói chuyện
với nó một hồi chắc tôi phát khóc, anh em nhỏ này vô
duyên thiệt, tự nhiên tôi đâm giận Hà, giận cả anh Lâm.
Sao anh không tặng tôi một bản nhạc, một bài thơ gì đó
cũng được, hoặc một cuốn văn chương Anh có chuyện tình
Roméo và Juliette. Hừ, đáng ghét thiệt, buổi chiều tôi không
thèm sang học thêm với Hà, mặc con nhỏ đứng thập thò chờ
tôi bên hàng giậu. Câu chuyện từ
những ngày còn đi học hiện về trong trí tôi như một cuộn
phim, tôi bỗng mỉm cười một mình và để lòng trôi
nổi theo những kỷ niệm thời con gái. Thực ra, tình cảm giữa
tôi và Lâm chỉ đơn thuần là thứ tình cảm đầu
đời trong sáng, anh vẫn nghiêm trang như một ông thầy ngồi trong
lớp học. Với giác quan bén nhạy của con tim, tôi đã cảm
được tiếng lòng anh qua tiếng đàn dìu dặt những đêm
mưa, tiếng tí tách của giọt mưa rớt bên thềm, chiếc bóng
của anh hắt lên tường bên kia khung cửa mở. Không biết sao
tôi lại giận anh, chắc chỉ vì một buổi chiều tôi thấy anh
đứng nói chuyện với mấy người bạn học dưới giàn
bông giấy, cô bạn gái ghé vào tai anh thì thầm câu gì
đó, rồi cả hai cùng cười với nhau vui vẻ. Tôi nép xuống
khung cửa sổ để quan sát mọi người, mà cứ tưởng như
mắt anh đang quyến luyến trao cho cô bạn học. Người ta là sinh
viên, còn tôi chỉ là cô nữ sinh trung học, sao hôm nay anh nói
nhiều như thế, sao hôm nay anh cười vui đến thế, nỗi giận hờn
ập đến tâm hồn cô gái nhỏ, dễ tủi thân và nhiều
mặc cảm tự ti. Hèn gì anh tiếc tôi mấy giòng chữ, hèn
gì anh không thèm trao cho tôi một cánh thư. Ôi tình yêu, tình
yêu chưa nói được nên lời mà đã vỡ tan như những
bong bóng trong cơn mưa chiều trút xuống sân nhà. Đêm sáng
trăng, tôi thơ thẩn một mình nhìn ra giòng sông trước mặt,
ánh trăng như giát một giải lụa vàng trên mặt sông mênh
mông, tôi nghe lòng sầu nhớ một nỗi niềm khó bày giải.
Tình yêu giữa anh và tôi nhẹ nhàng đến nỗi tôi tưởng
như lúc có lúc không,lúc đằm thắm, lúc hững hờ,
khi bừng bừng chất ngất để rồi lại chìm chìm như hòn
sỏi ném xuống mặt hồ lặng ngắt. Những năm ấy tôi
sắp bước qua tuổi mười tám với rất nhiều suy tư về tình
yêu, cuộc đời và tương lai. Chiến tranh đang lan tràn trên
quê hương, từ miền quê đã lan vào phố thị. Từng ngày,
từng ngày, tôi đã nhìn thấy những chuyến xe nhà binh chạy
qua thành phố, chiếc quan tài phủ cờ và người vợ trẻ ôm
con thơ với ánh mắt buồn tê tái. Từng đêm, từng đêm,
ánh hỏa châu lơ lửng treo trên vùng trời tối thẫm, tiếng
đại bác vọng về thành phố như một tín hiệu của đổ
nát, tan hoang. Đúng lúc đó thì
tôi gặp Quyền, trong một "party" sinh nhật thứ mười tám của
cô bạn học con nhà giàu cùng lớp. Quyền là một sĩ quan
Không Quân, vui tính, lém lỉnh, chàng tán tôi sát sạt đến
nỗi trái tim tôi còn non nớt, đã rộn rã tiếp nhận chàng
như một thứ hào quang rực rỡ khác xa thế giới học trò.
Bản Slow nồng nàn quyến rũ, điệu Tango dìu dặt bước chân,
tôi bước vào đời Quyền trong nỗi nhớ nhung về một bầu
trời chi chít sao đêm, những giải mây bồng bềnh như lụa và
bóng những con tàu xé gió vút lên không gian thênh thang, vô
tận. Như con thiêu thân, tôi lao vào Quyền mà hầu như không
hiểu được chàng bao nhiêu, Quyền là hiện thân của chinh
phạt và bão tố, tôi ngu ngơ như con chim non vừa mọc cánh chỉ
muốn đi tìm những gì mới lạ ở phía trời xa, tôi đã
lãng mạn, nhớ nhung và tưởng mình đang hưởng được
thú đau thương của cuộc đời. Để đến một ngày
trái tim tôi vỡ nát vì không quen nhìn đời như một cuộc
chơi, và tình yêu chỉ là trò đùa trong những khoảnh khắc
của đời sống. Tôi theo Quyền rời xa xóm cũ, anh Lâm sắp tốt
nghiệp Đại học và Hà vẫn chăm chỉ học hành. Giòng
sông vẫn êm đềm trôi, chỉ có tôi sắp bước vào
cuộc đời đầy giông bão. . . .
Với một mảnh giá
thú chưa phải là bảo chứng cho tình yêu, đấy chỉ là
một sự lầm lỡ, Quyền và tôi hai tâm hồn khác biệt hẳn
nhau, chàng vẫn nói yêu tôi để rồi lại tươi cười,
nồng nàn trong một vòng tay khác, chàng vẫn trở về nhà sau
những chuyến bay mệt mỏi để rồi lại miệt mài trong ánh
mắt giai nhân. Sống và chết trong thời buổi chiến tranh, khiến Quyền
đã có quan niệm về tình yêu rất là hời hợt và
vội vã. Khóc lóc, giận hờn, đau khổ thì chàng vẫn là
chàng, tôi vẫn là tôi, khi đứa con đầu lòng chào đời
cũng không cứu vãn nổi cái hạnh phúc đớn đau kia, lòng
tôi đã ủ ê vì tuyệt vọng. Tâm hồn tôi vốn bình
lặng như giòng sông êm ả, như đồng cỏ xanh non của một
mùa xuân, đâu hiểu nổi và đâu chịu nổi những phù
hoa, hào nhoáng của thứ cuộc đời đầy phức tạp. Theo Quyền về làm dâu, tôi đã ngất
ngư vì những lời trì triết, bóng gió xa xôi của mẹ Quyền
và chị em chàng, như những cái tát tai nẩy lửa quật vào
mặt tôi tê buốt. Quyền là đứa con cưng của gia đình
giàu có ấy, chắc là kiếp trước tôi đã vay chàng
một món nợ lớn, cho nên kiếp này tôi phải trả cho hết
nỗi oan khiên. Thế rồi chia tay, thế rồi đường ai nấy đi, tôi
đã bỏ cuộc đành quay về bên mẹ như con gà con nhao nhác
tìm mẹ trong một chiều mưa bão. Gia đình tôi chuyển về
một thành phố khác, tôi ngại ngần không dám gặp lại Hà,
cho đến ngày nhà tan, nước mất, tôi ôm con theo làn sóng
người ào ạt ra khơi tìm tự do.
Gặp lại Quyền bên cạnh một người
đàn bà khác. Sắc sảo, lộng lẫy, rạng rỡ phấn son, những
loại hoa đẹp nồng nàn dưới ánh đèn mờ ảo. Tôi
ôm con với một thoáng ngậm ngùi, con gái tôi đã có nét
buồn ngay từ hồi còn nhỏ. Cám ơn Trời, con tôi thật ngoan, thật
hiền, nó dịu dàng như giòng sông quê mẹ, và có một
tâm hồn mang nặng tình người Việt Nam. * * * Tôi đậu
xe cách nhà Hà một quãng xa để đề phòng anh Lâm nhận
ra Hà về nhà với khách lạ, rồi rón rén theo Hà trong bóng
tối của căn phòng khách mờ mờ vì bóng chiều đã
xuống. Hà bật đèn phòng khách, thật nhẹ nhàng, tôi hồi
hộp nhận ra dáng anh Lâm ngồi im lìm bên khung cửa sổ. Hà hỏi,
giọng bối rối: " Sao anh không bật đèn lên anh hai? Bữa
nay mưa lớn quá, không làm sao về được, anh đã ăn gì
chưa?" " Cám ơn em, anh không đói", bây giờ tôi
đã nghe anh nói, hơn hai mươi năm qua, giọng anh vẫn dịu dàng
như ngày còn trẻ. Lâm tiếp: "Ngồi ở đây anh cảm
thấy dễ chịu, sáng hay tối thì có nghĩa gì đâu. Mưa
dữ quá phải không Hà, chắc ngày mai em lại phải quét lá,
vườn đã ngập đầy lá khô." Nghe anh nói, tôi lại
muốn nghẹn ngào, có ngờ đâu một ngày như hôm nay, anh một
mình ngồi bên khung cửa, để nghe ngóng từng giọt mưa rơi,
từng chiiếc lá rớt. Hà nói, giọng không dấu được
niềm vui: " Anh ăn cơm bây giờ nghe anh hai. Em có mang về cho anh chút
dưa cải, đậu hũ xào nấm tươi, ngon ơi là ngon." Lâm
lắc đầu, giọng anh đầy âu yếm, anh không quay mặt lại nên
tôi chưa nhìn được mặt anh: "Không, em không phải lo lắng
nhiều cho anh làm gì, đời có bận rộn chi đâu mà
vội vã. Hôm nay đi chùa có gì lạ không? Anh nghe như em có
điều gì vui, có gặp ai quen không Hà? Ờ, em cũng cần đi
đây đi đó cho vui, đừng băn khoăn lắm cho anh làm gì,
vì tuy ngồi một chỗ như thế này, nhưng anh vẫn có thể hình
dung được sự thay đổi của trời đất . Như hôm nay mưa
thì lại nhớ đến những cơn bão rớt ở quê mình, mái
nhà xưa và bến sông ngập đầy nắng gió. Gió chi mà
mát rượi, anh còn nhớ mấy cái khạp chứa đầy nước
mưa của má, mùi thơm của hoa cau, hoa bưởi, uống một miếng
nước mà dường như uống cả hương, cả hoa, cả trời,
cả đất. Má vẫn nói nước mưa là nước của trời
nên nó hiền và ngọt, cho đến bây giờ anh vẫn không làm
sao quên được. . ." Lòng tôi chùng
xuống , thổn thức theo từng tiếng kể lể của anh, bất giác tôi
không ngăn được tiếng thở dài. Anh Lâm đã quay về phía
tôi và Hà, ngọn đèn trần tỏa xuống cho tôi thấy một
khuôn mặt đàn ông mang những nét già giặn trên vầng trán
thông minh và mái tóc bồng bềnh đã điểm sương. Vẫn
khuôn mặt ngày xưa ấy, bờ môi ấy,riêng đôi mắt thì
chao ơi, không ngờ có ngày bóng tối phủ chụp lên đời
anh để đời chỉ còn là một màu đen thăm thẳm, cả
gương mặt ấy có hằn lên nét phong trần của thời gian, nhưng
lạ lùng rằng vẫn toát ra một vẻ an nhiên, tự tại. Giọng
anh vang lên, buồn buồn như một chiếc lá rơi vào khoảng tối
của khu vườn: " Anh làm em buồn phải không Hà, sao em lại
thở dài? Nếu vậy, anh xin lỗi em vì anh chỉ nhớ được trong
lòng anh những hình ảnh của dĩ vãng, nó là niềm an ủi
của riêng anh, bởi vì anh cũng còn được những gì để
nhớ." Hà liếc nhìn tôi, nó tiến lại ngồi cạnh
anh Lâm: " Anh hai nè, chiều nay em gặp Ngọc trên chùa, anh còn
nhớ Ngọc chứ?" Tôi thấy Lâm nhỏm dậy, như có một
sự thay đổi đột ngột trong tâm hồn anh làm anh xúc động,
nhưng anh cố nói với một giọng bình thản: " Ngọc à,
anh nhớ chứ, cái cô bé hàng xóm dễ thương ấy làm
sao anh quên được. Bây giờ Ngọc ra sao, vẫn xinh đẹp và hạnh
phúc?" Hà ái ngại nhìn tôi, cười nhẹ: "
Anh quên là chúng mình già cả rồi, Ngọc cũng đâu là
cô bé hàng xóm bé bỏng của anh ngày xưa, nhưng Ngọc vẫn
còn duyên dáng lắm. Em chưa có dịp hỏi nhiều về đời
sống của Ngọc, nhưng em đoán Ngọc cũng không hạnh phúc lắm,
vì Ngọc đi chùa có một mình, em bắt gặp cô nàng đứng
thả hồn hằng giờ theo mưa." Anh Lâm cười, tiếng cười
nghe xao xuyến: " Ngày xưa, Ngọc vẫn hay mơ mộng như vậy,
chỉ tiếc là..." Lâm bỏ lửng không nói, một lúc sau, anh
tiếp: " Hà nè, anh rất mừng em gặp lại bạn cũ, dù
sao nơi xứ lạ quê người, không gì quí bằng gặp lại
bạn xưa chung trường, chung lớp, nó có nhiều ủi an cho mình lắm
em à." Hà đột ngột hỏi anh: " Anh Hai à, anh có
muốn gặp lại Ngọc không? Nếu em nhớ không lầm thì ngày
xưa anh cũng có một thời yêu Ngọc, nhưng sao lúc ấy anh không
nói, hở anh hai?" Anh Lâm lặng thinh, dường như anh chìm đắm
với những kỷ niệm trong dĩ vãng. Một lúc, tôi nghe anh thở dài: "
Gặp hay không gặp thì cũng thế thôi, anh đâu có nhìn thấy
gì dù Ngọc bây giờ có già hơn hay xấu đi, trong anh vẫn
chỉ là hình ảnh Ngọc ngày xưa ấy. Sở dĩ anh vẫn nghĩ
đến Ngọc là vì hình ảnh của cô ấy gắn liền với
dĩ vãng của anh em mình, hai căn nhà hàng xóm, cách nhau một
hàng giậu thưa, bên này là giàn bông giấy, bên kia là
khung cửa mở với ánh đèn lay lắt đến nửa khuya. Cứ mỗi
lần hồi tưởng về quá khứ, anh lại nhớ đến ngay cái
xóm nghèo ven sông, mỗi chiều má thường ra sau vườn thắp
nhang cho ba và ông bà nội, anh vẫn nhớ mùi hương trầm thơm
ngát tỏa bay trong không gian mỗi khi chiều xuống, tiếng trẻ con í
ới gọi nhau trên sông chiều nghe vui làm sao. . ." Hà im lặng nhìn
tôi, nghe như có tiếng mưa rơi chầm chậm, buồn buồn, thánh
thót rớt xuống trong lòng một nỗi nhớ khôn nguôi. Anh Lâm lên
tiếng hỏi: " Em còn đó không Hà?" Nghe anh hỏi tự
nhiên tôi muốn khóc. Hà cầm lấy tay anh, sụt sùi: "Em
vẫn ngồi đây, anh cứ nói nữa đi anh hai, em muốn nghe anh kể về
những gì đã mất. Em đã từng đi qua những bến sông,
chỗ nào cũng hoa, cũng lá, cũng nắng, cũng gió, vậy mà cũng
chưa thấy chỗ nào đẹp bằng bờ sông quê mình." Anh Lâm
vỗ nhẹ lên bàn tay Hà: " Đúng vậy, có khi bờ sông
ở quê mình đối với mọi người nó không là gì
cả, nhưng với riêng mình nó vẫn đẹp, vì nó là quê
hương. Hà có nhớ không những ngày bão rớt, bến sông
vắng tiếng trẻ nô đùa, chỉ có mấy thân dừa quằn quại
với gió. Anh nhớ má hay xào mắm ruốc xả ớt cho anh em mình
ăn, có khế chua và chuối chát. Mưa gì mà mưa ngày mưa
đêm, mấy gốc đu đủ trốc gốc, má nấu canh với tôm
khô ăn với dưa mắm. Ngày xưa, Ngọc cũng thích món chuối
hầm dừa của má mình nữa, bữa nào học xong tụi mình cũng
có một món gì âm ấm bụng. Anh vẫn còn nhớ những đêm
trăng, dưới giàn bông giấy, anh hay đàn cho em và Ngọc hát,
giọng em thì réo rắt như đàn kìm, còn Ngọc lại ưa
mấy bài thương mây khóc gió, những cô bé biết buồn
sớm quá thường khó tìm được hạnh phúc trong cuộc
đời." Lại một phút im lặng, Lâm tiếp: " Bởi vậy
dù rất yêu Ngọc anh vẫn không dám nói, vì anh không muốn
lay động con tim non nớt của Ngọc, anh chỉ muốn Ngọc sống êm ả
với thế giới học trò mà thôi. Đối với anh, tình yêu
phải được nâng niu như viên ngọc quí, anh rất trân trọng
tình cảm của riêng anh và của mọi người, đó có phải
là điều thiệt thòi cho anh khi Ngọc không hiểu được tình
yêu đó. Nhưng thôi, chuyện xưa nhắc để mà nhớ chứ
bây giờ anh còn làm được gì cho ai. . ." Tôi không ngăn được những giọt nước mắt
đã lăn dài trên má, nếu không kìm hãm được
có lẽ tôi đã chạy đến bên anh, ôm lấy anh, để
khóc cho hả những đau khổ và bất hạnh của đời mình.
Trời ơi! Giá như tôi còn là cô bé Ngọc năm xưa hay
giận hờn vu vơ, để được kể cho anh nghe hết những khổ
đau trong dòng đời đấy bão tố. " Bây giờ, anh ví Ngọc như cơn bão rớt, rớt xuống
hồn anh những giọt mưa. Phải, chỉ là những giọt mưa . . ." Hà
bật cười, tuy mắt còn ngấn lệ: " Anh làm thơ đấy hả
anh hai? Hay đấy chứ, "em như cơn bão rớt, rớt xuống hồn anh
những giọt mưa ", nhưng sao không là bão, nó không phá
hồn anh tan hoang ra đó sao?" Anh Lâm cũng mỉm cười, anh nói: "
Em đúng là cô em dễ thương của anh đó Hà, không có
em không biết tinh thần anh xuống dốc đến độ nào. Không,
không bao giờ Ngọc là cơn bão, vì tình yêu ấy dịu dàng
và đẹp đẽ biết bao, mỗi lần nghĩ đến nó lòng
anh vẫn ngây say và lắng đọng. Anh mong Ngọc mãi mãi hạnh phúc,
cho dù Ngọc không là của anh, trái tim cô ấy non nớt quá,
nó là thứ tâm hồn của hoa cỏ, tươi thắm đấy rồi
sầu héo đấy, phải không Hà?" Trái tim tôi như
muốn vỡ ra khi nghe Lâm nói, mãi cho đến bây giờ khi đầu
đã hai thứ tóc,tôi mới hiểu được tình yêu của
chàng dành cho tôi vẫn trọn vẹn trong sáng quá,vậy mà tôi
đã làm mất đi chỉ vì chạy theo cái quyến rũ của một
tình yêu không thực. Hà lại thủ thỉ bên Lâm, ngọt
lịm: " Anh hai à, em rất muốn mời Ngọc đến chơi nhưng
phải hỏi ý anh trước đã. Anh có muốn gặp lại Ngọc
hông?" Lâm im lặng, anh đang cố nén những cảm xúc ào
ạt như tiếng mưa rào rào trên khung cửa kính. Một lát,
tôi nghe anh thở dài: " Nếu Ngọc đến để mà thương
hại anh thì anh không muốn, nhưng để em có được những
phút giây xưa thì anh không có lý do gì để ngăn cản
em cả. Thực ra, đã lâu lắm rồi, anh không biết đau khổ là
gì nữa, anh hằng cầu xin cho mình được sáng suốt chấp nhận
cuộc đời, dù đang sống trong cảnh mù lòa, tăm tối. Anh đã
tìm ra chân lý của cuộc sống, đó là sự bình an của
tâm hồn, cho nên mỗi khi anh nghĩ đến ai, đến điều gì
thì chỉ vẽ lên hình ảnh tuyệt vời của nó, và chỉ
nhớ đến cái đẹp của nó mà thôi." Anh ngừng nói, nhưng từ nơi anh tôi nghe có tiếng
róc rách giòng suối reo đến tận cùng sâu thẳm của con
tim. Cho đến bây giờ, tôi mới thực sự hiểu được tâm
hồn anh thanh cao, dịu dàng, nhân ái biết bao. Trên cõi đời
này, có bao nhiêu người đủ tay, đủ chân, đủ mắt,
tai, mũi, miệng, nhưng tâm hồn họ đã què quặt, mù lòa
trước bao nỗi đau của kẻ khác, họ đã không ngại ngần
vùi giập những mảnh đời khốn khổ đi xuống sự tận cùng
của nó. Từ giã Hà ra về bằng
ánh mắt yên lặng, tôi nghe con tim mình đập rộn ràng trong lồng
ngực. Trên đường về, bóng tối phủ ngập hai hàng cây
ven đường, chỉ còn ánh đèn chấp chới của những chiếc
xe qua lại trên lòng đường vắng, tôi nghe lòng rưng rưng:
" Lâm ơi, em sẽ trở lại. Em sẽ là giọt mưa, rớt xuống
đời anh, như những giọt mưa đầu mùa xôn xao trên mái
tranh nghèo quê xưa anh nhé!" NGUYÊN NHUNG.
Không biết tình cờ
hay do cơ duyên đưa đẩy, tôi có dịp được làm quen
với bạn, ở cái tuổi tri thiên mệnh người ta hay nhắc về
chuyện cũ, chúng ta cũng không ngoài thông lệ đó. Hình
như tôi có trực giác khá bén nhạy, cái trực giác
này chắc là phần thưởng của ông Trời ban tặng cho một người
yếu đuối, cảm nhận được đối tượng gặp gỡ
để kết thành bạn bè, nên khi gặp bạn tôi cảm nhận
được cái tình bạn tốt đẹp đó. Bạn trạc tuổi tôi, con trâu làm bạn
với con bò, vận mệnh hẩm hiu nhiều phen gian nan , đói rách, chúng
mình sinh cùng một thời lận đận, cuộc chiến này chưa tàn
thì đất nước lại tiếp nối cuộc chiến khác. Hoàn
cảnh gia đình có khác nhau, nhưng lại khiến tôi cảm động
thật nhiều, khi không ngờ khung trời tuổi thơ của tôi, những kỷ
niệm thời trẻ dại lại xuất xứ từ nơi chôn nhau cắt rốn
của bạn. Dĩ nhiên
khi tình cờ biết được điều lý thú đó, chúng
ta cùng quay ngược lại thời gian để nhớ về quê nhà của
bạn, mà cũng chính nơi đây là chốn dung thân của gia
đình tôi sau năm 1954. Năm ấy mẹ tôi mới ba mươi tám
tuổi mà đã góa chồng, đầu đội vành khăn trắng,
lếch thếch dẫn mấy đứa con dại theo họ hàng làng nước,
di cư vào miền Nam, chọn ngay cái miền đất quê nhà của
bạn làm chốn dung thân. Không gì bằng tha hương ngộ cố
tri, cái mà ta gặp gỡ trong vài câu chuyện kể, đã làm
sống lại trong ta bao kỷ niệm thuở còn thơ đã phôi pha ít
nhiều.
Tôi
gửi cho bạn xem tấm hình ngày thơ ấu tôi còn giữ được,
lúc ấy tôi mới 6,7 tuổi. Những mái nhà nghèo nàn được
lợp bằng cỏ tranh, nơi ấy tôi cũng đã nhìn thấy những
trảng cỏ tranh cao hơn đầu người, và khung nhà làm bằng
rơm trộn với đất sét, thay cho xi măng rồi sau đó người
ta quét lên một lớp vôi trắng. Nhìn xa trông cũng khang trang khi căn
nhà được bao phủ bởi những bụi chuối, bụi mía, giàn
mướp hương và trong tấm ảnh, một làn khói lam chiều vươn
lên mảnh trời rải rác những cụm mây trắng...
Tấm ảnh tuổi ấu thơ của tôi khiến bạn ngậm ngùi, đâu
đó bạn bắt gặp lại quê nhà của mình, dẫu có nghèo
nàn nhếch nhác như hoàn cảnh của bạn và tôi lúc đó,
nhưng lại ắp đầy kỷ niệm. Bạn nhắc tôi nhớ những con
đường đất cát, bỏng rẫy những đôi chân trần trẻ
thơ ngày hai buổi đến trường. Con đường ấy vào hè
trời nắng chang chang, nóng đến nỗi những con giun đất cũng phải
trồi lên khỏi mặt đất để lại những ụ đất xinh xinh
trong khu vườn rộng sau nhà. Bao chung quanh vườn là những bụi tre bụi
trúc, lũ trẻ con hay quanh quẩn chơi nhảy dây dưới bóng mát
của bụi tre suốt ngày lao xao thì thào tiếng gió, nơi đó
có những ụ mối đùn lên như những nấm đất to. Tôi
lại nhớ đến những cây mít, cây ổi, cây xoài mẹ
tôi trồng lớn nhanh như thổi sau vài năm định cư, những cái
giếng nước sâu hun hút dưới lòng đá ong mà nước
trong văn vắt, ngọt ngào hơn nước mưa ở quê bạn. Tuổi thơ của tôi và bạn chắc
chỉ có vậy, nhưng đềm êm với những kỷ niệm và những
rẫy vườn xanh biếc của cỏ cây. Dọc theo quốc lộ là những
khu vườn trống đầy cỏ dại xen lẫn với rừng cao su bạt
ngàn, trồng thẳng tắp đổ xuống những bóng cây theo ánh
nắng mặt trời. Ở đó có những bông hoa dại màu tím,
có bóng dáng người con gái bạn yêu thuở đầu đời,
những năm đầu thời Trung Học nơi ngôi trường quận lỵ thiếu
thốn trăm bề. Tôi đi khỏi nơi ấy khi chưa học hết bậc
Tiểu học, còn bạn thì gắn bó với quê nhà cho đến
ngày nơi đây thành bãi chiến trường, khung cảnh hoang tàn
và khu nghĩa trang nằm tít ngoài cánh đồng phía sau quốc lộ
đã đan kín những tấm mộ bia.
Tuy thế, tôi cũng hình dung ra chuỗi ngày ấu
thơ của tôi và bạn nơi miền quê êm ả đó, chắc
chỉ được vài năm ngắn ngủi không nghe ai nói đến
chiến tranh. Tôi hay lang thang theo lũ bạn nhỏ xục xạo những bụi cây
dại trên cánh đồng để hái quả chín, lâu ngày không
nhớ tên những loại trái chín mọc hoang vu nuôi lũ chim riu rít
làm tổ trên cây. Đó là những ngày tuyệt vời của
lũ trẻ con vào mùa hè được nghỉ học, từng đám
len lỏi vào những thửa ruộng sắp ngả màu lúa chín, bứt
trộm những đọt nếp còn ngậm sữa, đem về rang rồi giã
ra là có được một món cốm xanh thơm mùi hương đồng
cỏ nội. Từ quốc
lộ đi sâu vào phía trong trên con đường quê gập ghềnh
lỗ chân trâu, người dân quê miền Nam chở đầy những xe
cỏ hay rơm khô đi qua con đường ấy, bánh xe bò nghiến kẽo
kẹt vào nhau lăn trên nền cỏ mềm , khi trời mưa để lại
dấu bánh xe trên nền đất nhẵn thín. Sau những khu vườn
rào giậu kỹ lưỡng của người Bắc di cư, tiếp nối
những cánh đồng lúa và rừng cao su, đối với tôi ở
đó dấu kín những bí ẩn giữa ngày và đêm, sự
sống và nỗi chết trộn lẫn đâu đó vì những năm
sau, khi màn đêm buông xuống, từng tràng đạn vu vơ vọng đến
khu xóm nghèo những lo sợ vẩn vơ. Ít năm sau, vài căn nhà
đã bỏ trống để đi nơi khác, nỗi ám ảnh của chiến
tranh đeo đẳng lên số phận con người, thôn xóm càng thêm
vẻ đìu hiu vắng lặng đến rợn người. Đó là không gian tuổi thơ của
tôi và bạn, tuy đẹp nhưng chỉ có thế nếu như tôi không
nghe bạn kể chuyện, và như một tình cờ thì ít nhiều trong
đó mênh mang hình ảnh hai người mẹ, mẹ của tôi và
má của bạn. Hai người đàn bà có những trùng hợp
đau khổ của định mệnh sao giống nhau nhiều lắm, dù hai người
sinh trưởng ở hai nơi khác nhau, miền Bắc và miền Nam, nhưng cái
đau đớn của hoàn cảnh thì lại hội tụ ngay trên quê
hương của bạn. Cả hai bà mẹ này đối với chúng ta đều
tiêu biểu cho những bà mẹ quê hiền lành, chịu đựng, cam
go chiến đấu với nghịch cảnh để nuôi con thành người,
thiếu vắng người đàn ông trong mái ấm gia đình đã
tan nát vì chiến tranh. Mẹ tôi qua đời hơn hai mươi năm rồi,
còn má bạn vẫn hắt hiu chiếc bóng ở miền quê xa xôi đó
như đã từng cam chịu, bằng lòng với số phận nghiệt ngã
của mình. Theo như bạn
kể thì bạn mồ côi cha ngay khi mới sinh còn đỏ hỏn, tiếng
khóc đầu đời của đứa trẻ con vài ngày tuổi như
tức tưởi vì cái tang của người cha, từ xa lần mò về
thăm nhà khi đứa con chào đời. Ba người đàn ông ùa
vào nhà khi trời vừa nhá nhem tối, trói chặt cha bạn lôi đi
rồi chặt đầu ngay mé rừng cao su trước lối vào nhà bạn,
khiến người vợ điên loạn trước cái chết hãi hùng
đến quá bất ngờ của người chồng, mà quên luôn cả
ngày sinh tháng đẻ của thằng con trai. Niềm vui chưa trọn sao nỗi
buồn đã kéo ập đến vội vã như câu nói" họa
vô đơn chí, phúc bất trùng lai" hình như thường hiện
diện quanh quất trong đời sống loài người. Từ hồi ấu thơ,
bạn đã sống lây lất nhờ dòng sữa của những người
phụ nữ tốt bụng quanh xóm, bầu vú mẹ đã cạn khô
theo nỗi đớn đau chít khăn tang đi vào gia đình bạn. Nay bú nhờ, mai uống nước
cháo vậy mà bạn cũng lớn lên được, trong nỗi buồn héo
hắt của mẹ kéo dài một thời gian rồi cũng nguôi nguôi.
Bạn chạy nhảy chơi đùa trong căn nhà dột nát che đậy
sơ sài bằng những tấm mo cau rơi rụng trên mảnh sân trước,
khi mùa mưa đến, căn nhà càng thêm âm u đầy khói hun
muỗi từ những cây củi ướt. Những căn nhà tranh vách đất
ở miền quê đều giống nhau, chiều chưa về mà bóng tối
đã đầy sân, ẩn sau vườn tược âm u, đêm khuya nghe
tiếng chim tu hú buông từng âm rời rạc, như tiếng gọi của
thần chết. Tuy vất vả mẹ góa con côi, nhưng người mẹ tảo
tần một nắng hai sương ấy cũng cho được các con đến
trường, bạn gần như quên hẳn cái quá khứ đau buồn của
mẹ. Đến một ngày lớn khôn, nhìn lên bàn thờ hình
ảnh của người cha khuất sau làn khói hương nhòa nhạt, bạn
thắc mắc về người cha và muốn biết về ngày sinh của mình
để gọi đó là ngày sinh nhật. Tôi may mắn hơn bạn một chút vì khi tôi
sinh ra và lớn lên, đứa con út ít của một gia đình ở
thành phố có ngôi nhà gạch khang trang do chính cha tôi tạo dựng.
Phía trước nhà là rặng bàng trở màu khi mùa thu đến,
phía sau nhà là mảnh vườn rau với cái ao vuông. Cửa hàng
của cha mẹ tôi tấp nập khách làng quê ra tỉnh vào những
ngày có phiên chợ. Hai căn nhà gạch với một cái sân lát
gạch đỏ, những đêm mùa hè cả nhà quây quần truyện
vãn dưới ánh trăng bàng bạc treo trên mảnh sân ấy,
tiếng cười của lũ con chen nhau chờ bát chè đậu đen mát
mẻ vào một đêm trăng rằm tháng Tám. Những mùa thu ở
đất Bắc trong một thị trấn êm đềm không xa Hà Nội bao
nhiêu cây số, cũng như miền quê nơi bạn sinh ra cũng sát nách
với Sài Gòn hoa lệ, thế nhưng định mệnh lại là mẫu
số chung cho hai người mẹ rất tội nghiệp. Ôi buồn thay khi bạn kể tôi nghe ngày sinh của
bạn, lại chính là ngày giỗ của người cha thân yêu với
bản án hãi hùng vào một đêm hạnh phúc của loài
người. Tôi hình dung ra khung cảnh gia đình bạn, chiếc đèn
dầu còn tỏa ánh sáng lắt lay trong căn nhà miền quê, bà
mẹ sung sướng khi hân hoan trao đứa con thơ còn bé bỏng qua tay
người chồng, đôi mắt long lanh nhìn nhau , môi họ mỉm cười
và người cha đang ngắm nghía đứa con trai để tìm đôi
nét quen thuộc của mình, trên khuôn mặt bé thơ còn đỏ
hỏn nhăn nhúm chưa quen với đời sống mới. Giây phút hạnh
phúc ấy kéo dài được bao lâu, lời nói ân cần
hỏi han nhau được bao nhiêu khoảnh khắc phù du của cuộc đời,
để rồi chợt mất hết khi những cái bóng đen của sự
ác ùa vào căn nhà nhỏ, cái chết đến tức tưởi
quá nhanh không hề đoán trước được. Còn ngày Sinh Nhật của tôi chắc
cũng chỉ là một ngày tưởng tượng trong một năm có ba
trăm sáu mươi lăm ngày như bạn vậy. Ngày cha tôi mất,
một ngày tháng mười năm đó, ba hôm sau mẹ tôi dặn
dò người bõ già vài việc, thu vén dẫn con âm thầm ra
khỏi căn nhà thân yêu của mình không hẹn ngày trở lại.
Đôi vai người đàn bà chưa đầy bốn mươi tuổi
yếu đuối mà đầy nghị lực, dẫn thêm ba đứa con còn
non nớt, dại khờ, quẩy trên lưng cái khổ nạn của gia đình
tan nát, chia lìa, phân tán, chỉ còn đôi tay và những
giọt nước mắt làm hành trang cuộc đời, trôi giạt vào
cái mảnh đất quê hương miền Nam của bạn. Vậy mà chúng
mình không biết nhau ngày đó, để đến khi bạc đầu
mới biết thế nào là "tha hương ...ngộ cố tri". Vì vội vàng ra đi, chị em
tôi không có một mảnh giấy khai sinh lận lưng, nên sau này khi
làm lại giấy thế vì khai sinh để đi học, tôi bị đánh
rơi chữ "Kim" mà ngày xưa khi nằm trong lòng cha tôi trên
chiếc võng đu đưa ở mảnh sân ngợp mùi hoa ngâu cạnh
cái bể nước mưa, cha tôi đã âu yếm gọi tôi là"
con trâu vàng" để kỷ niệm cái năm tôi chào đời.
Lúc ấy chắc cha tôi cũng không bao giờ nghĩ có ngày cha
con lại chỉ gần nhau vỏn vẹn vài năm là tôi mất hẳn người
cha thân yêu. Tôi cũng không nhớ mặt người cha thân yêu
của mình, mấy tấm ảnh còn lộng khung treo trên tường không
ai gỡ xuống để mang theo. Khi làm lại khai sinh cho tôi, mẹ tôi cũng
bối rối quên luôn cả ngày sinh tháng đẻ của các con, huống
gì những chữ lót mỹ miều trong mỗi cái tên, họ. Tôi cũng
không có ngày sinh nhật, chỉ nghe mẹ bảo khi cơn gió heo may thổi
về, mùa thu tháng Tám với một vầng trăng treo sau vườn là
tôi mở mắt chào đời. Tôi sinh vào mùa thu chứ không phải
mùa hạ như trong giấy khai sinh làm lại ở miền Nam, khiến tôi
nghĩ mình là hiện thân của một chiếc lá vàng bay từ Bắc
về Nam theo làn gió cuốn. Chính vì câu chuyện này mà trong bạn và tôi
trộn lẫn chút buồn phiền và ngậm ngùi khi biết cái hạnh
phúc làm người của mình, lại kéo theo sự bất hạnh của
người cha, nỗi đau đớn của người mẹ, bấy nhiêu thứ
pha trộn vào nhau để thành một nỗi buồn bàng bạc khi ngắm
nhìn hạnh phúc của người khác. Riêng bạn còn thêm
nỗi căm hận khi nghĩ đến những kẻ đã gây nên cái
chết của người cha yêu thương của mình. Nỗi buồn ấy
phải chăng là một định mệnh, để ngay từ khi mới vào
đời, bạn đã phải mau chóng rời bỏ quê hương, bỏ
lại ngôi nhà trong vườn cây có những vạt rừng cao su âm
u ẩn dấu niềm đau trong đó, và cũng bỏ luôn mối tình
đầu đời với người thiếu nữ chân phương, thích những
bông hoa màu tím rung rinh trên vạt cỏ.
Người mẹ miền Đông Nam Bộ ấy cam chịu nghịch cảnh đau
thương do chiến tranh và hận thù, vẫn ở lại quê nhà,
cu ky chiếc bóng trong ngôi nhà đơn lạnh để chắt chiu từng
bịch gạo, dành dụm từng con khô, con mắm, bán từng buồng chuối,
buồng cau để gửi đi nuôi con ăn học. Bạn may mắn thoát ra
được miền quê khốn khổ của mình cũng từ nỗi vất
vả của mẹ. Để rồi sau những năm ăn học, bạn quyết định
gia nhập quân đội, và xem đó là con đường nối tiếp
lý tưởng của người cha đã nằm xuống năm xưa. Là
một người lính biển, bạn lênh đênh với con tàu trên
sông dài biển rộng, mà vẫn nhớ về một dòng sông chốn
quê nhà. Nghe tiếng sóng biển rì rào vỗ vào mạn tàu
tít ngoài biển xa để bảo vệ tổ quốc, trăng nhấp nhô
theo làn sóng bạc, nơi chốn bình yên ấy chắc bạn vẫn chạnh
lòng nhớ mái tranh nghèo có bà mẹ già luôn ngóng chờ
tin con, với trái tim mỏi mòn héo hắt, nơi đêm và ngày
lẫn lộn, bình minh và bóng tối phủ chụp lên nhau thành một
cơn binh lửa ngút trời ập xuống đầu người dân vô tội... Tôi thích nhắc bạn nhớ quê
hương của bạn và những kỷ niệm thời thơ ấu của tôi,
dù rất đơn sơ nhưng nồng ấm tình người hai miền
Nam Bắc. Tôi ăn quà như mỏ khoét, miệng líu lo như chim vành
khuyên, đó là mẹ tôi bảo vậy, biết đâu bà ngoại
của bạn không là bà già miền Nam móm mém ngồi bán
bánh mì bì chan nước mắm với mỡ hành trong cái chợ quê
nghèo đó. Sáng nào trước khi đi học, tôi cũng chạy
ù ra chợ thật sớm để mua khúc bánh mì bì béo ngậy
mùi mỡ hành, bao giờ bà già bán món quà rẻ tiền này
cũng gắp thêm cho cô bé mở hàng vài sợi da heo thơm mùi
thính rang vàng trộn thịt. Tuổi hồn nhiên khiến tôi thấy nụ
cười hiền lành chất phác của bà mẹ chợ quê miền
Nam, như đậu lại đâu đó trong tâm tư cô bé con Bắc
Kỳ hình ảnh một bà tiên hiền dịu. Ở cái chợ nghèo
nơi quê bạn, tôi thòm thèm làm quen những món ăn miền
Nam rất lạ như chè thưng nước dừa, bánh bò bánh ít,
nước đá bào xịt nước đường xanh đỏ mát lạnh
môi một buổi xế trưa nắng gắt. Mẹ tôi cũng làm lụng vất vả để nuôi
bầy con ăn học, không thở than điều gì ngoài nỗi nhớ quê
cha đất tổ chất ngất trong lòng. Mỗi buổi chiều quê ngôi
nhà thờ vẫn đổ những hồi chuông buồn xa vắng, lan lan xa đến
những làng mạc quanh vùng, ngọn đèn dầu không đủ xua đi
bóng tối buồn rầu trong những căn nhà nhỏ. Mẹ tôi khi còn
trẻ cho đến lúc về già chỉ thích đọc kinh, niềm tin hay
là tự nhắc nhở mình phó thác cuộc đời và sự đau
khổ vào những đấng thiêng liêng. Tuy chưa già lắm nhưng mẹ
tôi hình như già trước tuổi bởi những lo toan tính toán
vì miếng cơm manh áo, đơn thân độc mã giữa cuộc đời
làm con gà mẹ xòe đôi cánh yếu đuối để bảo
bọc những đứa con. Có
một lần tôi trở về thăm vài người họ hàng còn
bám víu lấy mảnh đất tan hoang vì bom đạn nơi miền quê
ấy, đi tìm lại cái mảnh vườn thời thơ ấu của mình,
nhưng chỉ còn nhận ra vài cây xoài, cây mít mẹ tôi
trồng là còn tồn tại, dấu vết căn nhà thì không còn
gì nữa. Tôi vẫn nhớ bụi tre già bao bọc khu vườn trồng
cây ăn trái, cái giếng nước xây bằng đá ong, ngày
xưa ở đó có cái tổ chim. Mẹ tôi cho người chị họ
mảnh vườn đó để ra đi, sau này chiến tranh từ trong rừng
cao su bò ra đến khu nhà dân thì nơi này trở thành bãi
chiến trường, chắc đấy là thời kỳ bạn bỏ quê hương
mà đi. Chuyện của
bạn dài lắm, thêm vài mối tình dở dang trong đời quân
ngũ, nhưng tôi nghĩ có lẽ hình bóng của người mẹ và
cô con gái bạn yêu thời đi học, vẫn nằm lại trong trái
tim bạn nhiều hơn cả. Cái mảnh đất quê nghèo từ ngày
theo chuyến tàu ra biển Đông, biền biệt hơn ba mươi năm bạn
chưa trở về một lần, nhưng nó còn nguyên đó vì có
ai quên được nơi mình mở mắt chào đời, có ai quên
được hình bóng người mẹ đã ở lại chết sống
với nghịch cảnh để nuôi con thành người đâu hở bạn?
Như buổi sáng giựt mình thức dậy sớm vì cơn mưa với
những tiếng sấm ì ầm vọng lại, bạn bảo nhớ những giọt
mưa từ mái tranh nghèo thuở còn thơ dại. Như hôm nào chợt
thấy những bông hoa màu tím chen nhau nở trong bụi cỏ mọc ven đường,
tôi chắc bạn đang nhớ về những bông hoa màu tím trong cánh
rừng cao su thuở ấy. Có phải thế không bạn, khi tôi và bạn
có hai bà mẹ có gần gần một nỗi đau, khi sống trong một
quê hương đầy phân ly vì chiến tranh và nỗi chết?
Thực ra thì con người đều có những bù trừ để
đời sống được thăng hoa, và những thiếu sót trong cuộc
đời chúng ta luôn được bù đắp để nguôi ngoai. Chả
thế mà trời cho tôi gặp bạn, chúng ta cùng có một tuổi
ấu thơ rất ngậm ngùi, trong cái làng quê có con đường
làng hẻo hút băng qua những cánh đồng cỏ lúa. Và một
điều trùng hợp nữa là tôi và bạn sinh cùng một năm,
có hai bà mẹ khổ trên một quê hương đọa đầy, với
những đứa con không hề có ngày Sinh Nhật. Bù lại cho sự
mất mát đó, tôi và bạn có hai bà mẹ quê thật
tuyệt vời, không phải là điều đáng hãnh diện sao hở
bạn? Nguyên
Nhung ( Thân tặng Trọng Nhân, món quà ngày
sinh nhật)
TRỜI
VẪN CÒN XANH
Chuyện
là chuyện xưa mà vẫn như mới, dù tất cả đã nằm
yên trong dĩ vãng, khi ngồi viết lại câu chuyện cũ, nước mắt
tôi cứ chảy ròng ròng. Thời gian lặng
lẽ trôi qua, mấy chục năm rồi mà tưởng như mới hôm qua
khi tình cờ nhận được khuôn mặt anh bạn cũ, trong những tấm
hình xưa của một người nào đó còn giữ được,
in trên Ðặc San Trường cũ. Thế là trong phút chốc, những bóng
hình bạn bè năm xưa bỗng lần lượt trở về. Trong óc
tôi lại quay về những mùa hè năm cũ thời đi học, con đường
ven sông nghiêng nghiêng những cây hoa phượng đỏ, in bóng xuống
dòng sông một mùa hè rực rỡ. Năm tháng đã theo nhau bước vội,
vẫn để lại trong lòng những kỷ niệm dễ thương một thời
mắt biếc và môi tươi, tà áo trắng, chiếc nón lá
che nghiêng trên mái tóc. Nếu có lần trở về con đường
xưa, đúng vào mùa hè hoa phượng trổ, mới cảm hết
được cái buồn ngất ngây xen lẫn nỗi ngậm ngùi. Cơn
mưa vào buổi chiều cuốn theo những chiếc lá phượng bé li
ti rơi xuống mặt đường ướt sũng. Phượng và mưa, muôn
đời vẫn là những nỗi buồn ray rứt khi nhớ lại. Năm ba mươi
tuổi tôi vẫn mang nỗi buồn ray rứt ấy, khi một lần trú mưa
bên hàng hiên căn phố cũ, trước mặt tôi là hàng phượng
rưng rưng màu đỏ thắm rũ rượi, ướt sũng trong màn
mưa trắng xoá. Năm nào phượng cũng trở về như năm nào
mùa mưa cũng tới, vẫn một màu đỏ thắm của mùa hè
xưa riêng cuộc đời thì đã quá nhiều thay đổi. . . Muà Phượng Vĩ
“Em
đến rồi đây em lại đi, Như những hạt mưa đầu mùa năm ấy Mỗi một mùa hè em trở về lộng lẫy Lòng ta buồn
theo những lá phượng bay. Bao nhiêu năm rồi mà
vẫn chưa khuây Sao vẫn nhớ những nẻo đường tuổi
mộng Sao vẫn nhớ những chiều xưa gió lộng Phượng
rơi buồn trên áo trắng thơ ngây. Ôi nhớ
quá cỏ non sân trường vắng Ta thả hồn theo những sợi
mưa bay Ta thấy em cười trên những tà áo trắng Em gọi mùa hè về rực rỡ trên cây. Năm
nay em về cũng như mọi năm Với những hạt mưa đầu
mùa năm cũ Sao ta thấy lòng bỗng rưng héo rũ Em
còn tươi mà ta đã già nua Ðời mỏi
mòn trôi theo những đêm mưa Những chiếc lá cuốn
theo dòng nước lũ Ði về đâu những hồn muôn năm
cũ Khi sang hè phượng thắm có còn không? Ðến bạc đầu đôi lúc vẫn bâng khuâng Ôi
những mảnh trời xanh ngày tháng cũ...” (Thơ N.N.)
Cuốn “Lưu Bút Ngày Xanh” được
mở hàng cụt ngủn chưa đầy một trang giấy, không có hình
kèm theo (đâu dễ tặng hình cho người dưng... khác họ), đã
cụt ngủn mà lại chẳng chút văn chương cho thơ mộng như
đương sự yêu cầu: “Hè gì mà nắng như đổ lửa, chẳng
thấy thơ mộng chút nào hết. Hàng phượng vĩ ven sông chưa
trổ bông, lũ ve sầu chưa chịu hát bài ly biệt. Mai mốt đi
đâu thì đi, lâu lâu nhớ về thăm xóm cũ. Không có
tấm hình nào hết trơn hết trọi, thôi tui vẽ mấy bông hoa
phượng để mang theo cho đỡ . . . buồn.” Vài hôm sau,
khi cuốn Lưu Bút được trả lại cho khổ chủ, cũng cái
mặt ấy nhăn nhăn nhó nhó đưa lại cho người viết năn
nỉ: “Viết lại giùm đi, viết gì ... kỳ cục quá.
Làm ơn viết dễ thương chút đi mà...” “Hông
lẽ lại chỉ là những điều... dễ ghét?” “Không
phải vậy, đối với tui tất cả những gì của bạn đều
dễ thương hết. Nhưng. . . tui sắp đi xa rồi, cho xin chút kỷ niệm
mang theo, mai sau chừng nào mình lớn sẽ hiểu ra điều đó." Ngó cái mặt cũng tội, cái "xấu" cũng bớt đi mà
cái " khó ưa" giờ đây cũng "dễ ưa" hơn một
chút, nghe thật tội nghiệp. Tối đó, tôi ngồi gò gẫm viết
lại trang mở đầu cuốn Lưu Bút Ngày Xanh cho anh bạn, cố nặn
óc tưởng tượng ra những kỷ niệm giữa hai đứa để
phù hợp với nỗi buồn ly biệt. Tôi viết về con đường
hằng ngày đi chung tới trường, con đường ven sông vào mùa
hè hoa phượng nở rưng rưng (dù lúc ấy hoa chưa nở), con ngõ
nhỏ có hàng dừa lả lơi soi bóng nước. Và một mảng
trời xanh, phải rồi, bầu trời xanh thấp thoáng sau tàn cây râm
mát, in những bóng mây xuống dòng sông trôi lờ lững. Hay một
tối mùa hè cơn mưa đêm chợt đến, từ trong nhà nhìn
những giọt mưa rớt trên mặt sông sao nghe mang mang một nỗi buồn.
Những buổi tối nhìn ánh hoả châu bừng sáng vòm trời
đêm, tuổi trẻ lại cảm nhận thêm nỗi buồn chiến tranh, khi
nửa đêm thức giấc, nghe tiếng đại bác vọng về thành
phố, những chiếc xe nhà binh chở quân ra mặt trận. Bây giờ, lại
thêm những người bạn trẻ chung trường sắp lên đường
nhập ngũ. . . Những hàng chữ tôi viết "mùi mẫn"
tối hôm đó, khiến bạn cảm động thật nhiều, dù đó
chỉ là căn bịnh "văn chương thời loạn". Bạn nhận
lại cuốn Lưu Bút trên tay tôi, mỉm cười cám ơn, vẻ
xúc động hiện rõ trên nét mặt. Cuốn Lưu Bút Ngày
Xanh có lẽ là kỷ niệm cuối cùng trong đời học sinh của
bạn, chỉ mãi đến sau này, khi tất cả chỉ còn lại một
mảng trời xanh, tôi mới ân hận là không tặng cho người bạn
chân tình ấy tấm ảnh chân dung "xấu xí" của mình.
Ðược ít lâu bạn nhập ngũ, con đường đi học đã
vắng đi một người, lúc bấy giờ tôi mơ hồ nhớ câu
bạn nói : "Mai sau chừng nào mình lớn, sẽ hiểu ra điều
đó." * * * Bạn đi rồi, chiến tranh đã đẩy
bạn ra khỏi mái trường khi còn rất trẻ, mái đầu xanh chưa
hưởng được bao nhiêu niềm vui đã vội già đi vì
gió sương và gian khổ chiến trường. Có lẽ tôi với
bạn không mắc nợ nhau, vì thế chỉ một thời gian là biệt
tăm người bạn cũ, và khi từ biệt mái trường, tôi không
còn đi ngang nhà bạn, không trở về con ngõ nhỏ đầy bóng
mát của tuổi học trò thơ ngây ngày ấy nữa. Cứ
thế đời đẩy bạn đi đâu tôi cũng chẳng biết, chỉ
gặp lại có một lần, kỳ phép đầu tiên từ quân trường
bạn về thăm nhà, cũng là lần đầu tiên bạn ghé vào
nhà tôi. Cái đầu trọc tếu và bộ quân phục mặc trên
người, bạn kể cho nghe đủ thứ chuyện đời lính. Bạn chững
chạc hẳn ra, gặp nhau lần ấy trông bạn đã đổi khác,
nhưng dường như câu chuyện vẫn dở dang chưa nói hết, bạn
vẫn ngập ngừng không nói trọn điều gì. Sau đó, bạn
trở lại quân trường và khi ra trường, đổi tuốt ra miền
Trung, đời bạn lênh đênh sông hồ, đời tôi cũng thêm
nhiều mới lạ. Ðời có biết bao nhiêu con đường thênh thang
đang đón chờ ngoài kia, mỗi khi ra khỏi nhà, tôi phóng xe như
bay ra khỏi con hẻm nhỏ, cuộc sống vội vã để tôi không còn
thơ thẩn đi về những con đường thơ mộng ven bờ sông như
thuở còn đi học, tôi đã quên rồi người bạn cũ.
. . Thời gian cứ thế trôi đi, những người bạn đi chung
một con đường tới trường năm cũ nay cũng tản mát đi
mỗi người một hướng. Ðám bạn học chung lớp năm xưa
có một số tiếp tục lên Ðại Học, có nhiều đứa
ra đời tìm việc làm để mưu sinh, có nhiều đứa lên
xe hoa. Tôi bỏ xóm cũ đi xa, để rồi có ngày lại trở
về căn nhà xưa, với một cảnh đời kém may mắn. Không
biết trời xui đất khiến chi đây, vài năm sau chiến tranh, tình
cờ tôi lại gặp anh bạn cũ, bên hè đường với mấy
thứ đồ nghề sửa xe đạp. Tôi đâu hơn gì bạn, tấm
ny lông trải trên vỉa hè khu chợ làm kế sinh nhai, một lũ đàn
bà còn xuân sắc ngồi chùm nhum với nhau trên vỉa hè "ngóc
mỏ chờ xương", hay văn hoa chút xíu thì "con cò lặn
lội bờ sông, gánh gạo nuôi chồng tiếng khóc nỉ non". Tôi
chăm chỉ làm công việc "cũ người mới ta" để người
nghèo có manh quần tấm áo lành lặn, chúng tôi gặp lại
nhau dở khóc dở cười bên lề đường gió bụi. Lần gặp lại ngộ nghĩnh đến không ngờ, chiếc xe đạp
bị bể bánh, tôi tấp vào lề đường để sửa xe, và
chúng tôi ngỡ ngàng nhận ra nhau sau nhiều năm xa cách. Trong chiếc
áo nhà binh cũ kỹ, lem luốc dầu nhớt, anh đón chiếc xe đạp
từ tay tôi, với một câu hỏi rất ngậm ngùi, như không hề
có một khoảng cách nào về không gian và thời gian giữa hai
đứa, kể từ ngày anh từ giã mái trường để đi lính: “Dữ hông? Biết bao năm rồi bây giờ mới gặp lại. Xe
bị bể bánh hả?” Rồi anh toét miệng cười, trong
khi tôi ngỡ ngàng và mừng vì gặp lại anh bạn cũ chung đường
năm xưa. Dù sao thì cũng ... ngộ cố tri, nhưng gặp trong cảnh này
nó ngậm ngùi làm sao. Thấy vai tôi đeo một cái túi nặng,
anh cười hỏi: “Bán chợ Trời phải không? Hôm nào
có chiếc áo nhà binh, mua giùm tôi một cái.” Anh
vừa xăm xoi cái lỗ mọt, tỉ mỉ bôi chút keo dán lên miếng
cao su rồi để cái ruột xe xuống cái bàn vá ép, ngọn
lửa leo lét bốc khói dầu hôi khét lẹt. Nhìn anh làm công
việc đó một cách bình thản tôi lại thấy tủi cả phận
mình lẫn phận người. Bỗng dưng tôi nhớ miên man đến
cuốn “Lưu Bút Ngày Xanh” của nhiều năm trước, nhớ mảng
trời xanh hoa mộng tuổi học trò, không biết anh còn giữ được
không? Bàn tay anh lem đầy dầu nhớt và bụi bẩn khiến
tôi chạnh lòng. Ngó lại mình cũng không hơn gì, chiếc
áo bà ba bạc màu, cái nón lá tươm vành thật thảm
thương, sau bao nhiêu năm gặp lại nhau tôi không nhìn thấy chút
thơ mộng nào như mảng trời xanh mà tôi viết cho anh trong cuốn
Lưu Bút ngày xưa. Anh vừa làm vừa nói chuyện, hỏi thăm
tôi về đời sống hiện tại, bây giờ anh nói nhiều mà
lại "có duyên" chứ không cộc lốc, trống không như ngày
xưa. Sửa xe xong, anh đưa lại chiếc xe đạp cho tôi, dùng miếng
giẻ để lau cho sạch sẽ, tôi bắt anh nhận tiền công vá xe,
anh nhất định đẩy tay tôi ra nói một câu nửa đùa nửa
thật, tôi vẫn còn nhớ: “Ðừng làm vậy tôi buồn,
anh em mình chỉ có chút tình đó thôi. Ngày xưa, tôi
còn muốn vá xe suốt đời cho N. nữa.” Rồi anh mỉm
cười, im lặng, như dằn xuống nỗi xúc động, mà vẫn như
có chút chịu đựng cái nghiệt ngã của một cảnh đời
không lối thoát. Từ ngày thôi học, sau bao năm gặp lại, hai đứa
chẳng hơn gì nhau. Tôi có hai đứa con nhỏ ăn chưa no lo chưa
tới, anh cũng vừa ra khỏi trại tập trung cải tạo, nặng oằn một
gánh cha mẹ, vợ con. Biết không ép được anh lấy tiền công
sửa xe, tôi chạy lại xe bán thuốc lá mua cho anh vài điếu "Capstan"
loại dzởm. Anh cười, lặng lẽ quệt bàn tay bẩn vào chiếc
quần, cầm mấy điếu thuốc tôi đưa rồi châm lửa hút
. Trong cảnh ngộ này, hai đứa chỉ biết nhìn nhau cười thông
cảm, dường như tôi lại nhìn thấy một mảng trời xanh thuở
học trò trở về trong đôi mắt anh. . . Lâu lâu, chiếc
xe bị trục trặc, tôi vẫn phải ghé vào nhờ anh xem hộ, hoặc
hôm nào mua được chiếc áo nhà binh cũ, ghé vào đưa
cho anh để chịu được mưa nắng vỉa hè. Có lần ế
khách, tôi bắt gặp anh ngồi dựa lưng vào mảng tường vôi
loang lở, miệng nhả khói mà mắt lại nhìn đăm đăm lên
mảng trời xanh, lúc ấy tôi biết anh bạn cũ đang mơ mộng. Thôi
cũng mừng cho anh, trong hoàn cảnh đó mà anh vẫn giữ được
cho mình một khoảng trời xanh để nhớ, đó cũng là cục
đường tan trong miệng đắng giữa cơn ốm dở. . . Lâu
lâu gặp nhau nói dăm câu chuyện cũ, hỏi thăm nhau về những
bạn bè xưa chung đường chung lớp, chẳng biết ai còn ai mất,
ai đã đi được qua bên kia, ai còn thân tù tội nơi rừng
sâu núi thẳm. Mỗi lần như vậy tôi lại nhìn được
nỗi ngậm ngùi trong đôi mắt anh, dường như giây phút đó
đã gợi lại trong anh chút dư âm của những ngày còn đi
học. Bao nhiêu hoa mộng của cuộc đời bây giờ chỉ còn lại
được có mảng trời xanh kia làm niềm hy vọng, chúng tôi
kể cho nhau nghe nhiều nỗi đắng cay của đời sống, ước gì
có đôi cánh để bay đi một phương trời xa, tìm một
tương lai sáng sủa hơn cho cuộc đời đỡ khổ. Ít
khi nào chúng tôi nhắc lại chuyện cũ, vì nợ áo cơm đã
làm thui chột đi những kỷ niệm êm đềm mà con người
chỉ nhớ được khi lòng hoàn toàn thanh thản. Có hôm anh
tâm sự, nếu một ngày nào tôi có đi ngang đây, không
thấy anh ngồi vá xe bên lề đường, thì chuyện đó cũng
chỉ là chuyện bình thường như người ta thay đổi một
chỗ ngồi. Tôi biết thế nào anh cũng đi, nhiều hôm trên đường
từ chợ về nhà, vô tình đi ngang qua, tôi vẫn thấy anh ngồi
tựa lưng vào tường hút thuốc, mắt mơ màng nhìn lên
mảng trời xanh như nuôi một niềm hy vọng. Ngược dòng thời
gian trở về quá khứ, bây giờ khi đã trưởng thành, tôi
không hững hờ nhìn anh bằng ánh mắt vô tình năm xưa, tôi
thường an ủi anh để được nghe anh an ủi lại, bằng tấm
chân tình của đôi bạn cũ.
Thế rồi một thời gian sau, bẵng đi một tuần lễ, tôi đạp
xe ngang đã không thấy anh ngồi sửa xe nơi chỗ cũ. Tôi linh cảm
anh đã đi rồi, chỉ biết âm thầm cầu nguyện sự an bình
cho anh trên bước đường xa vạn dặm. Lần này anh đi tôi
buồn lắm, không hờ hững như ngày xưa anh chia tay với tôi để
nhập ngũ, vì tôi hiểu chuyến đi này “thập phần sinh tử”,
biết có còn gặp lại nhau không? Hơn nữa, cuộc đời đã
dạy cho tôi biết trân trọng những tình bạn cao quý, nhất là
trong hoàn cảnh này, tôi đã trưởng thành để hiểu
được những gì mất đi ta khó tìm lại được. Từ đấy tôi không bao giờ gặp lại anh, có người nói
anh đã thoát được tới bờ bên kia, có người lại
nói tàu bị bão tố nhận chìm ngoài biển khơi. Mỗi lần
đi ngang chỗ anh vẫn ngồi vá xe bên lề đường, nay đã
trống trải chỉ còn lại một mảng tường vôi loang lổ, tôi
nghe lòng buồn ray rứt. Mùa hè hoa phượng lại rưng rưng một
màu đỏ thắm nơi mé sông, những cánh hoa học trò vẫn
mang ít nhiều nỗi buồn ly biệt. Thời gian ấy, đêm nào tôi
cũng cầu nguyện cho anh, có khi tôi nằm mơ thấy anh trở về chốn
cũ, ngồi loay hoay vá xe bên vệ đường, có khi giấc mơ thật
kỳ lạ, vẫn là hình ảnh anh ngồi tựa lưng vào bức tường
vôi xám, đôi mắt buồn rầu nhìn lên bầu trời xanh, nuôi
một niềm hy vọng...
Thời gian thấm thoắt qua đi có đến
hơn hai mươi năm, lâu lâu tôi vẫn băn khoăn nhớ người
bạn cũ. Tình cờ đọc được trong cuốn Ðặc San của Trường,
tôi bắt gặp lại những tấm ảnh cũ, có ai đó đã
giữ lại được những tấm hình với bạn cùng lớp năm
xưa, tôi vui mừng nhìn ra khuôn mặt anh lẫn lộn trong đám bạn
bè thời Trung học. Những cái “dễ ghét” năm xưa bây
giờ sao “dễ thương” quá chừng, vì khuôn mặt nghịch
ngợm ấy không lẫn lộn đi đâu được, áo trắng, quần
xanh, tóc hớt ngắn, những khuôn mặt trẻ tuổi học trò trông
hồn nhiên vô tư lự. Nhưng, đời sao lại có những chữ
"nhưng" trớ trêu, như định mệnh thường oái oăm tạo
nên những điều cay nghiệt, mắt tôi dường như không tin được
những dòng chữ ghi phía dưới tấm hình cũ, cả mấy tấm
hình ấy đều ghi rõ tên anh, với một dấu ngoặc đơn (đã
chết) kèm theo. Thế là anh đã đi thật rồi, không
còn lần tái ngộ nào trên cõi đời này nữa. Dường
như tôi và anh không có cái may mắn gặp nhau để chia cái
vui của đời cho nhau, mà chỉ là những biệt ly này nối tiếp
những biệt ly khác, kể từ ngày anh đưa tôi cuốn Lưu Bút
Ngày Xanh, để đi vào chốn hiểm nguy với lằn tên mũi đạn.
Sau bao nhiêu năm gặp lại, vẫn chỉ là nối tiếp nỗi khổ đau
của một kiếp người, anh vẫn là người bạn tốt bụng,
đối xử rất chân tình với cô bạn nhỏ ngày thơ. Lần này thì hết thật rồi, những chữ in nghiêng chú thích
dưới tấm hình với hai chữ "đã chết" khiến tôi
bùi ngùi mãi. Mảng trời xanh trong đôi mắt người bạn đồng
môn năm cũ đã thực sự không còn, đã đi về cõi
thiên thu để chìm vào không gian vô tận. Không biết
anh đã đi về cõi bên kia bằng con đường nào? Ðôi
khi tôi nghĩ nếu được chọn lựa, có lẽ anh sẽ trở về
đi lại con đường loang hoa nắng thời đi học, vì con đường
đó là con đường bình yên nhất trong cuộc đời anh. Dưới
những bóng cây râm mát che suốt con đường ven sông, có
thể anh vẫn nhìn thấy một mảng trời xanh đầy thơ mộng khuất
sau tàn lá biếc, từng đợt sóng nhỏ lao xao vỗ vào bờ,
vẫn là những âm thanh tuyệt vời như tiếng đàn vương
trên lối cũ. Mấy mươi năm rồi, bây giờ nhìn lên mảng
trời xanh, tôi vẫn hay nghĩ tới người bạn đồng môn năm
cũ. Ở khoảnh trời bình yên đó, biết đâu chả có
lúc gặp lại... Nguyên Nhung
Cu Tý
Thằng bé chào đời sau Lễ Phục Sinh đúng
một tuần. Lúc ấy tiết trời đang Xuân, hoa lá nở tưng bừng,
lũ chim sáo vắng tiếng trong mùa Ðông, đã trở lại nhảy
nhót trên khoảng sân cỏ ướt, ríu rít ngoài hàng hiên
nghe vui vui vì tiếng oa oa của thằng bé trong căn nhà yên tĩnh. . Theo sự chẩn đoán của bác sĩ thì thằng bé đã nằm
lỳ trong bụng mẹ đến một tuần lễ. Người mình gọi là
" chửa trâu ", để ám chỉ những đứa trẻ nằm lâu
trong bụng mẹ sau này tính nết rất lì lợm. Có lẽ nó
lì thật, vì suốt một tuần lễ đó thằng bé không
ngớt đá banh trong bụng mẹ, nó quẫy đạp lung tung. Tuần lễ
cuối cùng đó, mẹ nó đi đứng ì ạch, ngồi đâu
thở đó như phải vác một cái ba lô biết nhúc nhích
đằng trước . Ban đêm, mẹ nó chỉ ngủ chập chờn vì
không biết xoay trở sao cho thằng bé nằm yên, chắc chắn trong cái
bụng chật hẹp đó, cu cậu rất bực mình, nhưng chưa tới
giờ để chui ra, nó liên tiếp xoay trở với sự bực mình đó.
. Người ta hay chờ một đứa bé chào
đời, xem ngày, giờ , tháng , năm sinh để đoán cho đứa
nhỏ một lá số tử vi, vì nghĩ rằng khi một con người chào
đời, là số mệnh đã được gắn bó với một
vị sao trên trời. Nhưng nếu phải giải phẫu để mang một đứa
trẻ ra khỏi bụng mẹ, người ta có thể mổ bất cứ giờ
nào người ta muốn. Ðó cũng là điều mà bà nội
nó thắc mắc, và cho rằng vị bác sĩ sản khoa chính là
người quyết định lá số tử vi cho nó, nếu ông ta tính
toán được giờ khắc cho thằng bé có được một lá
số tốt. . Ðấy là nói
chuyện tầm phào về số mệnh con người, chứ lúc thằng nhỏ
được cô y tá da đen như lọ chảo, âu yếm đặt lên
chiếc giường nhỏ trong căn phòng kính mát lạnh, mình trần
trùng trục với phần rốn chưa được cột lại, trông nó
đầy vẻ tội nghiệp. Nó tròn xoay, bóng lưỡng, lớp da mỏng
non nớt còn mọng nước, đôi mắt nhắm tít mà miệng
vẫn há ra để hét lên những tiếng "oa oa" đầu đời.
Nó không nhăn nhúm, đỏ hỏn như những đứa bé khác,
mà lại thẳng căng như một đứa bé đã đầy tháng.
Tuy vậy, không thể quen với cái lạnh của không khí bên ngoài,
đâu có ấm như bụng mẹ, và dẫu mặt nệm ấy mềm
mại tới đâu, đối với nó vẫn vừa lạnh vừa cứng
hơn bụng mẹ nó. Cho nên nó cần phải phản đối, bằng
cách cứ hét lên một chập, nó lại im như để lấy sức,
và khi tưởng nó thiu thiu ngủ lại thấy thằng bé hét to hơn
đến khản cả tiếng. . Nó khóc khỏe thật, nếu đừng sốt ruột
thì cứ để cho thằng bé hét lên cho nở phổi. Chỉ có
ông bà, cô cậu đứng bên ngoài là có vẻ sốt
ruột khi cô y tá người da màu cứ thong thả đo, khám, ngắm
nghía thằng bé Á Ðông đang la hét mà cười một cách
thích thú. Mái tóc đen phủ kín cái đầu tròn, hai cánh
tay còn nhỏ mà đầy ngấn đang cố giơ bàn tay huơ huơ
trong không khí, hai bàn chân nhỏ xíu đạp mạnh mẽ vào
khoảng không, có lẽ chú ta quá lạ lùng cho cái trống rỗng
của thế giới bên ngoài mà chú tiếp cận. Ít ra trong bụng
mẹ, dù xoay trở có khó khăn nhưng đứa bé vẫn cảm
thấy mình được bơi lội trong một thế giới ấm áp đầy
sự che chở, còn giờ đây nó cô đơn quá. . Cô đỡ vờn thằng
bé như mèo vờn chuột, bây giờ thì cứ tha hồ khóc, tha
hồ phản đối cái lối cư xử kỳ cục của xã hội
loài người, nhưng đã ra đời thì phải biết chấp nhận
những điều mới mẻ để mà còn thích nghi với hoàn
cảnh. Thằng bé không được tắm ngay, còn phải nằm la hét
chán chê, đến nỗi cả người nó run lên và hai cái
bàn chân dường như cũng tím tái vì lạnh. Phía bên
ngoài, những người đi qua đi lại trong nhà bảo sinh , tò mò
đứng lại ngắm nghía thằng bé. Ai cũng trầm trồ khen thằng
bé trông xinh như một con búp bê biết cử động, còn người
nhà thì lại ái ngại khi thấy cô đỡ bỏ thằng bé
nằm một mình mà chả sốt ruột tý nào cả. . Lúc này, qua tấm
kính ngăn đôi giữa những người thân và kẻ hiếu kỳ
đứng bên ngoài, cô y tá mới thong thả, từ từ cho thằng
nhỏ thưởng thức sự mát mẻ đầu tiên, nghĩa là nó
cần được tắm để rửa sạch những thứ nhớt nhau bám
vào mình cả chín tháng mười ngày trong bụng mẹ. Hình
như sự tắm tát làm thằng bé dễ chịu và nó thôi
không khóc nữa, khi cô đỡ lấy miếng gạc thật mỏng, với
chút xà bông hòa trong nước ấm, gội đầu và xoa xoa vào
cái ót còn phập phều của thằng nhỏ. Cô ta xoa mãi lên
mớ tóc đen mềm mại của thằng bé Á Ðông, còn thằng
nhỏ khi được xoa dịu cũng nằm im, làn nước ấm dễ chịu
quá, cho nên nó vừa tắm mà vẫn có thể thiu thiu ngủ. . Bây giờ thì thằng
bé đã được mặc áo, phần cuống rốn vừa tách
rời với cái nhau của người mẹ đã được băng lại
ấm áp, nó được cuốn chặt chẽ trong chiếc khăn lông
mềm và êm. Nó chưa ngủ, vẫn cựa quậy, há cái miệng
xinh xẻo ra như để tớp một chút gì đó mà nó đã
quen làm như thế. Chẳng phải chờ đợi lâu, cô đỡ đã
chuẩn bị cho nó một bình sữa nhỏ xíu, rồi cô bế nó
lên, đong đưa trong đôi cánh tay béo tròn, vừa giúp
thằng nhỏ xơi bữa ăn đầu đời. Lạ thật, không ai dạy
mà thằng bé đã biết bú, nó ngoạp lấy ngay, và nút
một cách ngon lành thứ nước hơi ngòn ngọt thơm thơm vào
bụng , để rồi chập chờn đi vào giấc ngủ đầu đời
. . Lúc ấy, cả nhà
hai bên nội ngoại đều đứng bên ngoài để ngắm nghía
mãi khuôn mặt thiên thần, với nụ cười ngây ngô hay những
cái nhăn nhúm rất dễ yêu khi thằng bé mơ ngủ. Người
sung sướng và hạnh phúc nhất có lẽ là bố nó, cũng
là người đầu tiên đón nhận tác phẩm của mình
từ tay cô đỡ, thằng bé lúc ấy chỉ là một sinh vật
bé nhỏ biết ngo nghoe mà sao xinh xắn, tròn trịa, trong khi mẹ nó
còn phải nằm nghỉ trong phòng hậu giải phẫu. Tác phẩm này
là sự đúc kết của một tình yêu vợ chồng rất đằm
thắm, bằng giao hòa của thể xác cũng như tâm hồn, tự nó
đã là hạnh phúc mà người ta không thể mua được
bằng tiền. Nó giống như con tim và khối óc của một người
cầm bút, mỗi tác phẩm viết ra là của riêng mà không
thể đem so sánh với bất cứ tác phẩm của bất cứ tác
giả nào khác. Nỗi vui ấy khiến người cha ngắm nghía con mình
đầy lòng thương yêu, dù không phải mang nặng chín tháng
mười ngày, dù không phải trải qua những giờ phút đau dập
dồn, thắt bụng như người mẹ trước khi con chào đời. . Bây giờ thì mọi
người tha hồ nhìn thằng bé để bình phẩm về nó. Khỏe,
thì chắc chắn thằng bé khỏe rồi,cứ nhìn những cái ngấn
trên tay chân nó là đủ thấy. Lúc nãy, hai con mắt đen
của nó có lúc đã mở ra để hấp háy nhìn đời
một cách vô ý thức, nhưng căn cứ vào đấy cũng đủ
biết chỉ độ ba tháng thôi, hai con mắt ấy sẽ mở to, đen như
hạt nhãn, long lanh, xinh như đôi mắt chim bồ câu hay ríu rít
ngoài sân ăn hột cỏ. Mái tóc đen rậm rạp mượt mịn,
vầng trán ấy hứa hẹn thằng bé rất thông minh, vuông vắn
như vầng trán của ông nội, còn chiếc núm đồng tiền
nằm trên má trái lại là của bà nội, đó là
những cái giống đầu tiên mà ông bà nội nhìn thấy
khi đứa cháu sinh ra. . Ðối với ông bà, cô chú, dì cậu hai bên thì
sự ra đời của đứa cháu đã là hạnh phúc mới
mẻ, là niềm vui của cả hai bên giòng họ, và mỗi bên nhìn
đứa cháu theo cách của mình. Bà ngoại có thể thấy thằng
bé háu ăn như cậu nó hồi nhỏ, hay ngáp ồn ào như
ông ngoại, cặp chân mày của bố nó và cái mũi kia thì
giống mẹ như đúc. Chưa biết thằng bé sẽ giống ai, vì
nó còn bé quá, còn thay đổi nhiều, nhưng vì lòng thương
yêu khiến tất cả đều nhìn cháu bằng sự kết hợp tất
cả những cái đẹp, cái dễ yêu của những ông bà, cô
chú, cậu dì có liên quan tới cha mẹ nó. Ðó là hạnh
phúc của một đứa bé được chào đời trong sự hân
hoan của một gia đình đầm ấm, căn bản là tình yêu
của cha mẹ nó và sự mong đợi của cả gia đình hai bên. . Chắc chắn khi sinh ra thằng
bé đã được bố mẹ nó chuẩn bị cho một cái tên,
nhất là ở xứ này thì lại cần phải có tên Mỹ để
đi học. Song song với cái tên Mỹ, thằng bé vẫn kèm thêm
tên Việt Nam, nhưng cái tên cúng cơm quen thuộc nhất, dễ
gọi nhất vẫn là cu Tý, như biết bao gia đình Việt Nam đã
từng gọi cu Tèo, con Ty cho những đứa cháu trong nhà. Có biết
bao nhiêu thằng cu Tý da vàng chào đời ở nước Mỹ, lúc
biết nói vẫn thỏ thẻ tiếng Việt với ông bà, cha mẹ, và
khi đi học vẫn nói tiếng Anh như gió. Ðó là một điều
tự hào cho những gia đình Việt Nam trẻ tuổi, vẫn phần nào
duy trì được ngôn ngữ và văn hóa của Việt Nam trong
một xứ sở có biết bao khác biệt. . Cu Tý đâu phải tự dưng mà lớn lên,
cũng phải trải qua những quá trình lẫy, bò , ngồi, đứng
một cách tự nhiên. Thời gian này cũng trải qua nhiều cơn ốm
đau ấm đầu sổ mũi, ho hen. Khi trời vào Ðông, cu Tý cũng
hay bị cảm. Lúc mọc răng nó vẫn nóng sốt tiêu chảy,
cu Tý đã hành hạ bố mẹ nó nhiều đêm mất ngủ.
Bú nhiều quá cu Tý cũng có thể ọc ra tất cả, để
rồi đói lại đòi ăn, hay nó có thể khóc vì bất
cứ lý do gì mà chẳng ai hiểu được. Không có gì
kỳ cục bằng thằng bé có thể thức dậy lúc nửa đêm
để ư a nói chuyện, hay khóc thét lên để mẹ nó
phải ngồi dậy nhiều lần trong đêm tối. Thời gian này là
thời gian vất vả nhất cho những bậc cha mẹ, và chính vì thế
mà những cha mẹ trẻ bỗng dưng lại nghĩ tới nỗi cực nhọc
của cha mẹ mình trước kia, khi đãù trải qua những lúc
nuôi con vất vả như vậy. . Mỗi một tiến triển
về cơ thể hay trí óc của cu Tý đều được cả nhà
theo dõi một cách thú vị. Mới hơn hai tháng cu Tý đã
biết cười, đã biết mở to đôi mắt, đã biết u ơ
để trả lời những cái âu ơ của bố mẹ, ông bà.
Qua tháng thứ ba cu Tý đã dễ thương lắm, hai con mắt đen
nhánh mà trong veo, cái miệng còn thơm mùi sữa lúc nào cũng
toe ra cười khi được hỏi tới. Cu Tý đã biết lẫy, nó
cố đẩy cái mình nặng nề ấy lật úp xuống, ngẩng đầu
lên, rồi một lúc tức bụng, mỏi cổ lại nằm bẹp xuống,
lại la làng lên, lại khóc để đòi bế. Ðó chỉ
là động tác thể dục đầu tiên cu Tý làm, còn tiếp
theo những động tác mới mà cu Tý cần phải uống hết nhiều
thùng sữa, mới có thể đi hết con đường thơ ấu
ai cũng phải trải qua. . Cu Tý lớn nhanh như cây rau cải ngoài vườn, mới gieo
hột hôm nào đã mọc lên những chiếc lá bé tý, chỉ
ngoảnh đi ngoảnh lại đã thấy những búp cải non nhú lên
nhiều chiếc lá nõn. Bất cứ một loại cây nào, dẫu sau
này lớn lên sinh sản những thứ hoa quả ngon hay không ngon, lúc vừa
đâm lên những cái lộc non, vẫn đủ sức đem cả mùa
Xuân đến cho khu vườn đỡ xơ xác. . Cu Tý cũng vậy. Ðây là
lúc mà nó ngủ nhiều, ăn liên miên, tiêu hóa tốt nên
tã lót cũng phải thay luôn luôn để khỏi ướt đít,
vì tuy chửa biết gì, nhưng mỗi lần thấy khó chịu, cu Tý
lại phải "nhè"ø để bố mẹ biết mà thay tã. Có
lẽ tiếng khóc là vũ khí thô sơ mà lợi hại nhất để
cu Tý bắt mọi người phải chú ý đến mình. Ðái
cũng khóc, ị cũng khóc, đói cũng khóc , buồn ngủ khóc
và khi nằm lâu một mình nó cũng khóc. Mỗi một yêu sách
của cu Tý đều được thỏa mãn ngay, thế là mới bé
tý, nó cũng biết dùng đó làm phương tiện để
đòi hỏi. . Còn phải trải qua nhiều giai đoạn nóng đầu, tiêu
chảy, xổ mũi cu Tý mới làm được thêm được những
động tác thể dục mới, theo từng tháng tuổi để phát
triển và những " thực đơn" được thay đổi dần
khi cu Tý lớn hơn. Không thể dùng mỗi thứ sữa beo béo, làn
lạt của thời kỳ non nớt, cu Tý bây giờ đã có thể
ăn thêm những đĩa bột lỏng, pha chế theo kiểu Việt Nam, nghĩa
là cho thêm một chút nước mắm vào nồi nước gà để
lấy chất bổ. Hình như giòng máu người Việt Nam không vì
tha phương lưu lạc xứ người lại quên được hương
vị nước mắm, vẫn nằm trong huyết quản thằng bé dẫu nó
được đẻ ra ở xứ này, thằng bé tiếp nhận ngay những
gì cha mẹ nó đã tiếp nhận từ bao thế hệ cha ông. Cu Tý
thích ăn bột quậy với "soup" gà và tỵ nước mắm,
câu đầu tiên khi nó gọi lại là những tiếng "mẹ, mẹ"
rất dễ thương, và lớn hơn một chút, cu Tý đã được
dạy để biết gật đầu thay cho một tiếng "Ạ". . Có khó gì đâu
khi cương quyết muốn bảo tồn những cái hay, cái đẹp của
Văn Hóa Việt Nam. Những đứa trẻ dẫu ra đời ở bất cứ
nơi nào trên trái đất, chẳng biết mặt mũi quê hương,
xứ sở của cha mẹ là gì, vẫn có thể tiếp nối , tồn
tại văn hóa dân tộc thật dễ dàng, nếu cha mẹ nó biết
duy trì và trân trọng cái đẹp của một gia đình theo lối
Việt.
| | |