NN_NN_Tre.jpgTRUYỆN

Nguyên Nhung

_

_______________________________________________

Mùa Giáng Sinh ở San Antonio

NN_SanRiverW.jpg NN_San_EcardJamy_MerryChristmas2011si.jpg

Bây giờ đã vào tháng Mười Hai. Trời lạnh nhưng nắng vẫn mượt mà óng ả, trời càng trong càng nắng lại càng lạnh, những hạt nắng như những viên thuỷ tinh lung linh, xuyên qua tấm màn ren mỏng chiếu vào cây Giáng Sinh đặt ở góc phòng. Cuối năm, dọn dẹp lại căn phòng nhỏ chất đầy báo chí và sách vở, bỗng dưng tờ tạp chí “People” nằm dưới chồng báo  đập vào mắt tôi, để chợt nhớ rằng đã được đọc một bài phóng sự rất hay, viết về những đứa bé chào đời sau khi cha của chúng nó là những người lính đã hy sinh ở chiến trường.

Đó là câu chuyện của nước Mỹ, những đứa bé được chào đời từ tinh trùng của người cha để lại, cất giữ trong những ống nghiệm được đông lạnh. Để làm gì thì không ai hiểu, nhưng đã làm cho tôi vô cùng xúc động, khi nhìn thấy hình ảnh những đứa bé trai hay gái, giống y hệt như hình ảnh người cha đã ra đi mãi mãi không bao giờ trở về. Những người tình hay người vợ ấy đối với tôi họ phải có một tấm lòng can đảm và một tình yêu vô cùng mãnh liệt, khi dám chấp nhận hoàn cảnh cô đơn và đóng vai người mẹ của đứa con không một lần ân ái. Có thể trước khi ra đi người lính đã linh cảm thấy được thân phận mình trong bối cảnh chiến tranh “cổ lai chinh chiến kỷ nhân hồi”, nên anh ta đã để lại cho người tình một chút hy vọng mong manh, kỷ vật vô gía của tình yêu chân thật nếu như một ngày nào đó thân xác ấy đã tan thành tro bụi.

Thế nhưng không ngờ tôi lại chứng kiến một câu chuyện tương tự như vậy xảy đến trong gia đình người chị bà con của tôi. Một buổi chiều tháng Mười Hai mùa Giáng Sinh, cách đây khoảng 10 năm, trời đã xâm xẩm tối để sáng lên những ánh đèn trang hoàng nhấp nháy từ hai dãy nhà trong xóm. Tiếng chuông điện thoại reo và nghe giọng nói quen thuộc của chị từ xa vọng đến:

“ Merry Christmas”, sau câu chúc xã giao chị vào đề ngay, giọng sũng đi vì buồn:

“Có rảnh không lên đây chơi với chị, buồn nẫu cả ruột, con với cái”

Tôi ngạc nhiên hỏi lại:

“Chị đang ở đâu, có chuyện gì thế?

Giọng chị có vẻ rời rạc:

“Chị đang ở San Antonio, lên đây lâu rồi, chăm sóc cho con bé sinh nở không có ai. Cả nhà giận lắm, nhất là anh ấy đổ hết mọi thứ lên đầu chị là đã cho con bé đi học xa. Không ai hỏi han gì tới nó, nhưng chị thì không thể được, cháu sinh được 4 tháng rồi nhưng cái buồn thì thấm tận gan phổi cả mẹ lẫn con.”

Tôi an ủi chị:

“Chuyện ấy theo em không có gì quan trọng, nhất là đối với giới trẻ ở bên này, chị liệu thu xếp cho cháu hợp thức hoá là xong.”
Chị tức tưởi rồi oà lên khóc:

“Nếu nghĩ như cô thì mọi chuyện đã dễ giải quyết, cùng lắm thì mình muối mặt với họ hàng bè bạn một ít lâu rồi cũng đâu vào đấy. Đằng này, cha con bé không còn nữa, nó chết rồi, rơi máy bay chết tận chiến trường Iraq. Con bé không có cha, cha nó là một người lính, hai đứa học cùng trường với nhau. Rồi nó nhập ngũ, cứ đi đi về về rồi để lại cho con bé cái bào thai trong bụng mẹ, không hiểu sao con chị nó ngu thế, học hành chưa xong mà đã làm mẹ, trời ơi là trời!”

Nghe chị rên rỉ khóc lóc, tôi hiểu nỗi thất vọng trong lòng người mẹ đã kỳ vọng bao điều tốt đẹp ở tương lai đưá con gái, chưa gì đã chịu cành góa bụa. Thở dài vì câuNN_SanDancers.jpg chuyện không vui trong mùa Giáng Sinh, tôi hẹn với chị là sẽ lên thăm chị ngay trong tuần lễ áp Lễ Giáng Sinh năm ấy.

Quá giang một người quen đến San Antonio để thăm mẹ con chị. Trong lúc chờ chị đến đón trước cổng thành Alamo, đối diện với khu River Walk của thành phố được tiếng là xinh đẹp quyến rũ nhất của tiểu bang Texas. Buổi chiều hôm ấy đèn hoa đã nhấp nháy trên khắp các nẻo đường, hàng cây xồi lá vẫn xanh biếc mặc dù tiết trời đông buốt lạnh. Tôi đưa mắt quan sát xung quanh, chợt bắt gặp một người lính trẻ đang ngồi nghỉ chân trên chiếc băng đá nhìn vu vơ vào các cửa tiệm buôn nhấp nháy ánh đèn, vẻ tư lự của người lính trẻ khiến tôi hình dung ra nỗi cô đơn của anh ta trong một chiều mùa đông làm tôi chạnh lòng.

Tính nhạy cảm khiến tôi có thể tưởng tượng ra đủ thứ chuyện, ngầy ngật buồn vì hình ảnh người lính cô đơn về phép ngồi trên ghế đá, cũng như có những buổi tối trời mưa đi đâu về, tôi vẫn thương thầm cho người cảnh sát phải làm nhiệm vụ của anh ta lái chiếc xe tuần cảnh lẫm lũi đi vào những con đường vắng. Ở đó có bao nhiêu nguy hiểm rình rập họ, bóng tối và sự ác thường đồng loã với nhau làm cho cuộc sống đầy những bất trắc.

Chị đón tôi với khuôn mặt hốc hác trong chiếc áo dạ xậm màu, chiều đông lạnh lại càng lạnh hơn vì gió, gió luồn vào tận xương mặc dù ở đây trời hiếm khi có tuyết. Trên đường lái xe về nhà, chị kể thêm cho tôi nghe về đứa con gái duy nhất của anh chị, hiện tại hay tương lai đời nó chỉ là một màu xám xịt khi làm mẹ một đưá con không cha. Tôi không đồng ý với chị về cách suy nghĩ đó, chỉ đến khi bước vào căn chung cư nằm khá xa thành phố, nhìn thấy đứa con gái của chị đang bế đứa con xinh như một thiên thần nép đầu trên ngực mẹ nó, ánh đèn nhấp nháy từ một cây Noel nhỏ đặt trên bàn, có chân dung của người lính trẻ thì tự nhiên tôi cũng thấy nghẹn ở ngực. Sự cảm động đến bất chợt khi nhìn ngắm một hạnh phúc quá đớn đau, mà vẫn là hạnh phúc vì vẻ đẹp thiên thần của đứa trẻ thơ, tương phản với nổi u uẩn của mẹ nó và tấm hình của người cha đã tử trận.

Cháu chào tôi với một nụ cười gượng gạo trên đôi môi góa phụ còn ngây thơ và nét xuân sắc tuổi trẻ, lòng tôi chùng xuống khi tiến đến chìa tay để bế đứa bé vào lòng:

“Chao ơi! Cháu tôi xinh quá, con gái phải không?”

Liếc nhìn qua tấm hình người lính, con bé giống bố như đúc ở mái tóc tơ vàng óng, nước da trắng hồng , riêng chỉ  đôi mắt màu nâu đen hơi buồn là của mẹ. Chị ngồi xuống bên tôi, giọng buồn bã:

“Vâng, cháu con gái mai sau lại làm khổ mẹ, chị cũng muốn chết vì mẹ con nó…”

Tôi đưa mắt nhìn chị như ra dấu không nên nói những lời dằn vặt ấy với đứa con gái đang đau khổ của mình. Đứa bé nhìn tôi toét miệng cười, bốn tháng tuổi mà nhìn nó bụ bẫm như đứa sáu tháng. Chao ơi! Nụ cười ấy, ánh mắt ấy mới chính thật là đôi mắt thiên thần, chính chị đang có trong tay một thiên thần mà không cảm thấy được điều ấy sao?

Buổi tối hôm đó không khí dường như ấm cúng hắn lại vì sự có mặt của tôi. Bữa cơm ngon hơn, đưá cháu gái đã tươi tỉnh hơn khi thấy tôi luôn nựng nịu cháu bé với tất cả sự trìu mến của một người có tính yêu trẻ con, và đứa bé đã biết loi choi  trong vòng tay của mẹ, nụ cười ánh mắt ấy có tiền chắc gì đã mua được. Khuya hôm đó tôi hơi khó ngủ vì suy nghĩ lung tung, ra tìm nước uống thì đúng lúc đó tôi thấy hắt lên tường cái bóng người mẹ ôm con trong đêm khuya, dưới ánh đèn ngủ mù mờ căn phòng nhỏ. Cho mãi đến bây giờ hình ảnh ấy vẫn y nguyên trong lòng tôi, tôi lặng người đứng nhìn phía sau lưng của người mẹ xoã mái tóc mây, ôm đứa con thơ trong lòng để ru ngủ khi đứa bé thức vào lúc nửa đêm vì khát sữa. Giá như có cái máy chụp hình tân kỳ như bây giờ để thu vào hình ảnh ấy, nó sẽ là một bức ảnh giá trị hơn nhiều tuyệt phẩm khác mà không cần phải có nhiều màu sắc rực rỡ.

 Hình ảnh ấy cũng làm tôi chạnh lòng khi nhớ đến thời chiến tranh, đất nước tôi đã có biết bao nhiêu góa phụ  tuổi hai mươi ngồi ôm con trong nỗi cô đơn như vậy. Buổi sáng mùa đông từ trong khung cửa sổ của căn chung cư, nhìn ra bên ngoài hàng cây trơ trụi lá, vài con chim vẫn ríu rít tìm mồi. Tôi tìm cách hỏi chuyện đứa cháu để hiểu nó hơn, khác hẳn với tâm trạng buồn rầu của bà mẹ, tôi thấy nó có vẻ bình thản và bằng lòng với kỷ vật vô gía là đứa con xinh xắn trong vòng tay của mình, chính tình yêu là một mãnh lực tuyệt vời để cháu bằng lòng với hoàn cảnh.Khi chỉ có tôi và chị,  tôi đi thẳng vào vấn đề của đứa cháu gái tội nghiệp, vì hiểu chị đang lúng túng chưa tìm được phương cách nào dễ chịu hơn:

“Theo em, chuyện của cháu không có vấn đề gì ghê gớm cả, ngọai trừ nhà chị có thêm một đứa cháu dễ thương. Cứ xem như đó chỉ là sự bồng bột của tuổi trẻ, mà không thể nào nói là thiếu tình yêu vì cháu đã can đảm cưu mang đứa con bé bỏng của mình. Xã hội này có rất nhiều “ Single Mom” nhưng không phải người nào cũng giống người nào. Một đứa bé chào đời ở xứ sở này nếu cha mẹ không lo được thì nó cũng không bị bỏ bê, vẫn có thể sống được nhờ sự giúp đỡ của chính phủ, có phần ưu đãi nữa chị ạ. Cái chính là anh chị phải gạt bỏ thành kiến cố chấp khi nghĩ con mình là một đứa con hư, chị là người phải giơ đôi tay ra cho cháu bám vào, nó sẽ đứng dậy, “Đáng phục nhất của đời người là biết đứng dậy khi té ngã”, câu này nằm trong mười bốn điều của đức Phật mà em đọc được ở đâu đó chứ không phải của em.”

Một nụ cười tuy không tròn lắm nở trên đôi môi héo hắt của chị:

“Cô đi chùa từ khi nào thế?”

Tôi cười to lên để trêu chị:

“Em không đi chùa và cũng không đi tìm Phật ở chùa, nhưng em có cái duyên để những câu hay hay lại bất chợt đến với em, và nó đã nằm lại để tự nhiên biến thành triết lý Sống.”

Không để chị nói thêm, tôi tiếp tục giải tỏa cho chị những thành kiến khắt khe đã thấm vào tư tưởng hằng bao năm nay:

“Chị cứ làm đi và sẽ thấy kết quả của lời em nói, đừng sợ ai cười hay lên án   tuổi bảy mươi cũng chưa gọi là lành, huống gì cháu còn quá trẻ. Sống chết với tình yêu để có một kỷ niệm giữ lại trong đời đâu phải là điều đáng khinh. Không ai chia cho mình được cái xui, cái hên, hạnh phúc hay đau khổ chỉ có mình gánh chịu thì mình cũng đừng sợ tiếng chì tiếng bấc của người khác. Chị phải thuyết phục anh, giận hờn rồi cũng nguôi ngoai, đớn đau bao nhiêu rồi cũng lắng xuống. Hai cháu trai trưởng thành đã có gia đình riêng, chỉ còn anh chị thui thủi vào ra ở nhà thì tại sao không mang cháu về, ông bà hủ hỉ với cháu bé, săn sóc cháu cho mẹ nó trở lại trường học. Em nghĩ sau lần này nó sẽ ý thức được bổn phận trách nhiệm của một ngươi mẹ, cháu sẽ làm lại cuộc đời tốt đẹp hơn”.

Hình như thấm thiá với những lời phân giải của tôi, thái độ của chị đối với con gái dễ chịu hẳn trong những ngày tôi ở chơi với mẹ con chị. Cháu đẩy xe cho con đưa mẹ và khách đi dạo phố, thăm một vòng các nơi như cổ thành Alamo rợp bóng cây xanh, nơi ấy ngày xưa cũng là bãi chiến trường, những ụ súng hay lô cốt xung quanh bức tường thành đã để lại trong lịch sử nước Mỹ bao nhiêu trang giấy đánh đổi bằng máu xương của người lính thời chiến tranh.

Chúng tôi đi bộ trên bờ sông San Antonio River Walk, nó còn được gọi là khu Paseo Del Rio, một khúc sông hẹp nhưng thơ mộng nhờ những con đường lát đá ven bờ sông. Một bên vách đá dựng đứng có dây leo chằng chịt, nhiều cây cầu bắc ngang sông dành cho người đi bộ, đường đi lên lại chạy thẳng vào những phố xá thương mại rất đông người qua lại. Trên đường phố vẫn thấy nhiều bóng dáng những người lính trẻ, vai mang ba lô, chắc họ lang thang chờ chuyến xe về với gia đình trong những ngày Lễ đặc biệt , hay chờ chuyến bay để ra một chiến trường nào đó không chừng. Những khuôn mặt trai trẻ ấy lại gợi cho tôi nghĩ đến bố của đứa bé tội nghiệp, ra đời mà không hề được nâng niu trong đôi tay của bố.

Một thời gian sau tôi nghe chị khoe đã thuyết phục được chồng để đem con và cháu về lại Houston, tôi cũng mừng cho chị. Đứa con gái đã trở lại trường tiếp tục học chuyên ngành và cuối cùng ra trường với tấm bằng dược sĩ. Ngày con ra trường, nhìn thấy đứa cháu bé bỏng ngày nào của mình tung tăng chạy đến trao cho mẹ nó bó hoa hồng thật tươi thắm, tự nhiên chị bật khóc. Mừng mà khóc, những đau khổ ngày nào trôi đi theo dòng nước mắt, y như những gì tôi nói nếu những lúc con cái vấp ngã, cha mẹ không giơ tay ra nâng dậy thì chắc kết quả là đi luôn xuống vực thẳm. Đứa cháu bé bỏng ngày nào tưởng là nỗi bất hạnh của mẹ nó nay là món quà vô giá mà thượng đế đã ban cho gia đình. Anh chị vui hẳn lên vì trong nhà đã có thêm tiếng cười tiếng khóc con trẻ, con bé lớn lên càng ngày càng xinh đẹp và dễ thương, chính nó đã mang niềm hạnh phúc vô bờ bến cho tuổi gìa đỡ hiu quạnh.

* * *

NN_San_NN_fri.jpgCách đây hai năm cũng vào mùa Giáng Sinh, vợ chồng bạn tôi từ Canada sang chơi, nhân dịp này tôi lại đến San Antonio lần thứ hai vào mùa đẹp nhất trong năm. Đẹp bởi vì ban ngày, River Walk giống như người con gái thanh xuân với vẻ xinh tươi mơn mởn ngồi phơi nắng giữa ban trưa. Ban đêm, River Walk vào mùa Giáng Sinh lại tăng thêm phần quyến rũ, nồng nàn như một bông hồng đã khoe hết vẻ đẹp mãn khai của nó dưới sương khuya.

Một tuần lễ trước Giáng Sinh trời thật lạnh, dòng sông hẹp uốn quanh thành phố bỗng trở nên huyển ảo tuyệt vời vì ánh đèn giăng mắc khắp nơi, từ những quán cà phê, tiệm ăn, những “building” nằm dọc theo hai bên bờ phản chiếu xuống mặt nước, y hệt một bức tranh nhiều màu sắc rực rỡ. Chúng tôi co ro đi sát vào nhau tìm hơi ấm, bờ sông thấp hơn mặt đường nên ít gió, hầu hết hàng quán ven bờ sông vào mùa này đều có những lò sưởi thiết bị như những cột đèn, phả hơi ấm cho khách ngồi uống cà phê ngoài trời không bị lạnh, người đi dạo cũng nhờ vậy cũng ấm áp được đôi chút.

Người ta đốt những ngọn nến lồng trong giấy hoa đặt trên những bệ đá hai bờ sông, ánh nến lung linh phản chiếu xuống mặt nước xẫm màu đẹp lạ lùng. Trời lạnh như cắt vào xương tuỷ mà các đôi tình nhân vẫn ngồi sát vào nhau trong quán cà phê thưởng thức nhạc Giáng Sinh, chưa kể có những quán cà phê vài người nghệ sĩ đang chơi đàn guitar, những bản nhạc Gíng Sinh qua tiếng đàn “guitar espagnol” vui tươi, réo rắt, khách bộ hành  đi qua không quên đặt vài đồng lẻ thưởng cho ban nhạc đã cống hiến cho họ một đêm vui.

Mọi người xuống thuyền đi dạo phố đêm San Antonio, những chiếc thuyền hoa người chen nhau lên xuống. Bạn tôi thì thầm:

“Đâu thua gì Venise, nhất là mùa này hình như còn có phần đẹp hơn nữa đấy.”
Tôi chưa bao giờ tới Venise và chỉ thưởng thức trên phim ảnh, nhưng quả thật San Antonio vẫn có gì gần gũi quyến luyến hơn vì nó thuộc tiểu bang tôi đã sống gần hai mươi năm nay. Càng về đêm, quán cà phê, quán ăn vẫn đông khách, người đi thuyền vẫn kiên nhẫn chờ đợi. Thuyền nổ máy tách bến rồi đi vào những khúc sông tối nhưng ánh đèn từ hàng cây, nhà cửa hai bờ sông phản chiếu dưới lòng sông lại rực rỡ như hội hoa đăng. Khi thuyền chạy qua một bến sông gần nhà thờ, dòng nhạc Giáng Sinh do các em bé trình diễn trên bờ vang vang những bản nhạc quen thuộc  mùa Giáng Sinh vọng tới, tiếng chuông leng keng  đưa tâm hồn mọi người trở về những mùa Noel trong cuộc đời.

NN_SanNite.jpgChắc hẳn mỗi người đang trôi nổi nỗi niềm riêng về những mùa Noel trong dĩ vãng, tôi cũng thấy lại hình ảnh mình những năm còn trẻ tuổi, tiếng hát trong trẻo tuổi thanh xuân vút lên âm điệu “Đêm Thánh Vô Cùng” cùng với  ca đoàn  thời đi học. Đêm thơm mùi hoa sứ, ngôi thánh đường với những tiếng chuông ngân niềm hy vọng. Đêm Noel của tuổi niên thiếu với tiếng đàn phong cầm trong ngôi nhà thờ nhỏ, tâm hồn còn tinh khôi và đơn sơ như con chiên non nằm trước máng cỏ.

Thế rồi tôi lại miên man nhớ tới mùa Giáng Sinh ở San Antonio hơn mười năm trước với gia đình người chị họ. Nụ cười hồn nhiên của trẻ thơ đã làm ấm lại những trái tim buồn bã, bây giờ họ đã tìm được hạnh phúc, khép lại một quá khứ buồn rầu để có một tương lai sáng sủa. Không biết đối với mọi người mùa Giáng Sinh ra sao, riêng tôi, mùa Giáng Sinh ở tuổi nào vẫn đem lại màu xanh tươi vui mà tâm hồn tôi luôn mở ra để đón nhận.

Nguyên Nhung

( Mùa Giáng Sinh 2011)

Bà Cháu ...

NN_bongbupdo.jpg

Trời đang mùa hè, mới xế trưa mà nắng đã chói chang trên mảnh  vườn sau, sân trước thuộc hướng Đông nên còn tý bóng mát. Khung cửa sổ rộng được che bằng cây hoa bông bụt trắng cao tới mái nhà, bên cạnh là một cây hoa vàng cũng trổ hoa rực rỡ để bà nội Tý anh, Tý em đôi khi tức cảnh sinh tình mà mần thơ ...con cóc.

Trưa chủ nhật nắng chưa gì đã vội vã hắt cái nóng  cháy da lên miền "đất nóng tình sôi" này, báo hiệu một mùa hè khủng khiếp vì nóng. Cái nóng ở đây rất giống ở quê nhà, vừa nóng vừa ẩm nên khách từ phương xa đến sẽ tha hồ lau mồ hôi rin rít trên người, vừa chắc lưỡi khâm phục người địa phương sao giỏi chịu đựng cái lò lửa thiên nhiên suốt một mùa hè dằng dặc.

NN_haianhem.JPGBà nội Tý anh dạo này hay ốm vặt, lười biếng chẳng ngó ngàng gì đến cây cỏ, bỏ mặc mấy cái cây phía sân trước tự vươn lên nhờ mưa nắng ơn Trời, thế mà chúng nó cũng lớn lên sơi sởi mà chẳng hề trách móc chủ nhân  hững hờ với cỏ cây. Nắng ơi là nắng, đi chợ về vừa bước xuống xe chưa vội vào nhà, bà đứng núp dưới gốc cây bông bụt đang nở rộ những bông hoa trắng ngà, tàn lá xanh làm dịu hẳn đi cái nóng của mùa hè Texas. Hồi mới mua nhà, vì mê cái sắc hoa màu trắng hơi ngà ngà như màu áo lụa Hà Đông, nên bà đã tống khứ cây trúc đào ra khỏi cái mảnh sân tý xíu ấy.

Những tưởng hoa bông bụt chỉ be bé xinh xinh cao bằng cái hàng rào bông bụt ở quê nhà mà thôi, ai ngờ đất lành cây tươi tốt, mưa ở Texas có thể gọi là mưa bốn mùa, mùa nào cũng mưa được, nhưng đặc biệt hai năm nay trời lại rất khô hạn. Những cơn mưa đột ngột để bù trừ cho những cơn nóng nghiệt ngã gần trăm độ.  Cây bông bụt lớn như thổi vươn cao lên tới mái nhà, lòa xòa phủ bóng cho cái khung cửa sổ , mới đó mà đã 5 mùa bông trổ hoa. . .

Tý anh bây giờ đã đi học, dịp hè nó được nghỉ ở nhà ba tháng tha hồ chơi,  thằng Tý em bụ bẫm ngày nào còn đứng trong cũi mơ màng nhìn cây hoa chanh, nay cũng lon ton đi theo bà nội ra đứng dưới bóng cây bông bụt. Bỗng bà nội tưởng mình lóa mắt vì cái nắng ban trưa, khi thấy trên cây hoa bụt màu trắng treo lơ lửng một bông hoa màu đỏ tươi roi rói. Mới đầu bà tưởng có đứa nhỏ hàng xóm nghịch ngợm treo vào đó bông hoa giả, nhưng dí mắt vào tận nơi bà mới phát hiện ra chuyện lạ. Thế là bà kêu ầm lên:

" Giời ơi! sao lại có chuyện lạ lùng thế nhỉ?"

Bà thét cháu gọi ông nội đang lúi húi mở cửa "garage":

" Tý, nói ông nội lấy cái máy chụp hình ra đây. Giời ơi! Phép lạ chứ không phải đùa, không lẽ nhà mình sắp trúng số..."

Tý em còn ngọng nghịu lật đật ra níu ông nội lôi gần rách cả áo, khiến ông bực mình nhăn như cái bị:

" Ơ hay! Bà cháu mày làm gì như bị khủng bố vậy?"

Bà rên lên như trời xập:

" Ông ơi! Cái hoa màu đỏ ..."

" Màu đỏ thì đã sao?"

Bà lôi ông lại gần cây bông bụt cao  nghệu, dí đầu ông vào sát  cái hoa màu đỏ:

"Ông đeo kính vào nhìn cho kỹ đây nè. Cái hoa màu đỏ nở trên cây hoa bông bụt màu trắng. Thế,  thế không phải là phép lạ thì là gì?"

Ông bĩu môi:

"Chuyện ấy là thường, bà đi học chữ trả Thầy nên quên ráo trọi rồi. Môn Vạn Vật năm đệ nhị có bài học cha mẹ là chuột trắng, lấy nhau đẻ ra một đàn chuột 10 con, trong ấy lại lẫn vào 1 con chuột đen xì như cái mõm chó. Chẳng qua vì từ đời cha ông cụ kỵ nhà chúng nó, đã có ông chuột trắng đi tò tý với bà chuột đen nên sau này đến đời cháu chít, nhớ nguồn xưa mà sản xuất ra được 1 tý nhau màu đen đó mà..."

Bà giương cặp mắt toét ra nhìn ông:

" Hừ ! Ông nói cũng có lý, nhưng giá như tôi với ông ngày xưa là dân da vàng, bỗng nhiên thòi ra bố thằng Tý mà lại da trắng mắt xanh thì ông có chịu được không nào?"

Hai ông bà lại sắp cãi nhau đây, Tý anh chạy vào nhà đã lấy ra cái "digital camera" đưa cho ông nội:

" Ông nội chụp hình đi để Tý đem cho cô giáo và các bạn cùng xem nghe ông nội."

Ôi! Cái thời tin học này thì chỉ lát nữa đóa hoa bông bụt màu đỏ nhà bà nội Tý anh sẽ đi khắp toàn cầu, nhưng trước hết thì phải có cuộc tranh luận giữa " hai con khỉ già " cái đã. Ông nội bấm máy xoành xoạch, hết kiểu xa rồi lại kiểu gần, bụi hoa vươn lên cao hơn mái nhà nếu như mùa Đông năm vừa qua ông không cắt trụi đi  những cành to và khỏe thì nó còn  muốn vươn lên đến trời xanh.

Bà vẫn đứng vạch lá tìm hoa, nhất quyết tìm ra chân lý dù ông đã cắt nghĩa:

" Tôi vẫn thấy nó vô lý làm sao ấy ông à. Cả mấy tháng nay người mệt mỏi, tôi có thiết gì hoa với lá, có chăm sóc cho nó đâu mà bảo rằng đã tưới tắm một loại phân gì đó nên hoa mới đổi ra màu đỏ. Nếu cả cây đều màu trắng pha đỏ thì mình còn dễ hiểu đôi chút về cái sự pha giống mà người ta gọi là "Hai, hai" gì đó..."

Ông kiên nhẫn giảng giải:

" Khoa học họ gọi là sự pha trộn Gene của 2 giống hoa vào nhau, tên khoa học gọi là Hybrid, sự pha trộn này giống như ở nhà quê người ta tháp cây này vào cây kia, lấy cành mãng cầu mà tháp vào cây bình bát, cây sẽ khỏe và khi kết trái sẽ cho trái nhiều và lớn hơn ..."

Bà ngắt lời ông:

" Ăn trái cây kiểu ấy thì thà đừng ăn cho xong, chẳng ngon lành gì vì vẫn còn hương bình bát khai ngấy chua lè. Nhưng tôi muốn nhắc ông quan sát kỹ cái cây hoa này rồi hãy nói chuyện khoa học khoa hiếc dông dài có được không? Đây nè! Cái cành này không phải cành lớn mọc từ dưới đất lên nghe, nó chỉ là một cành nhỏ từ thân cây mẹ, bao nhiêu hoa cùng một cành đều trắng, mà lại chen lẫn bông hoa màu đỏ này, vậy ông cắt nghĩa cho tôi nghe xem có êm lỗ tai không nào?"

Ông quả tình bối rối, dễ thường có phép lạ thật, chẳng gì màu đỏ cũng là màu phục lâm, màu của hỷ tín thì chắc nhà ông sắp phát tài đến nơi, nhưng ông mấy khi tin vào những cái nhảm nhí ấy, nên cố lấy một ví dụ khác để lung lạc cái đầu mê tín của bà nội Tý anh Tý em:

" Hà hà, thời buổi này khoa học đã chứng minh được nhiều điều mà các cụ xưa cho là chuyện lạ. Chuyện này nếu không do con người làm thì cũng là sự tự tạo bởi thiên nhiên, giống như bây giờ vì giá dầu xăng đắt đỏ, người ta chế chiếc xe có thể vừa dùng Gas, vừa dùng Eletricity, miễn sao xe chạy tốt là được, y như cây cỏ vậy thì sự lai  tạo cũng chỉ với mục đích làm dồi dào thực phẩm, tạo thêm màu sắc tươi đẹp cho thiên nhiên ."

Bà gật gù nhưng vẫn không chịu thua:

" Tôi chỉ thắc mắc điều này là cái cây mình trồng đã cho hoa 5 mùa rồi, toàn hoa trắng ngà như áo lụa Hà Đông..."

Ông tủm tỉm cười ngắt ngang:

" Sư tử Hà Đông thì có..."

Bà lườm ông một cái thật dài, mắt đã mù mờ nhưng cái đuôi mắt còn dài lắm:

 " Hừ, ông chỉ muốn lạc đề đánh lận con đen. Này, trên cùng một cành cây xuất phát từ thân cây mẹ, không thể nào lại có sự pha trộn lầm lẫn như cách tháp cây của các " home depot" thường làm. Cây nào cũng ghép dưới đất hai ba gốc, đến chừng đem về trồng chẳng đứa nào chịu đứa nào, cuối cùng ngỏm hết có đứa nào sống được đâu. Đằng này cây nở 5 mùa hoa, không pha trộn mà bỗng nhiên lại lòi ra một bông hoa đỏ nguyên si như thế này, không lai một ly ông cụ nào thì bảo sao tôi chẳng nghi ngờ..."

Ông đuối lý gật gù.Bà cười lườm ông thêm một cái nữa, trông vẫn tình ra phết. Bà lại thêm một cái thí dụ nữa để bảo vệ lập trường của mình cho ăn chắc:

" Tôi lấy giả dụ như có một cặp vợ chồng da trắng, bỗng dưng bà vợ đẻ ra một đứa con đen xì, liệu rằng ông chồng có tin rằng đây là sự hôn phối của tổ tiên nhà bà ấy để cho ra đời một thằng bé màu cà phê không? "

Ông nhẫn nại tìm một hình ảnh cụ thể nữa để chứng minh cho hiện tượng trắng đỏ của hoa, và đen trắng của loài người:

" Bà có nhớ hồi xưa ở Việt Nam gia đình nhà anh Luân cũng ở trong trường hợp này không? Chị ấy đẻ ra một con bé xinh ơi là xinh, cái mặt hệt như bố nhưng nước da trắng bóc, tóc lại vàng óng từng lọn như búp bê. Ai cũng bảo con bé không lai Tây thì cũng lai Mỹ, nhưng thời buổi ấy không còn Tây mà cũng chẳng còn Mỹ, ăn toàn bo bo chứ có phải vì bơ sữa mà được mởn ra đâu. May là con bé giống bố chứ không thì chị ấy cũng khó ở nổi với mấy mụ giặc bên Ngô không bằng cô bên chồng. Sau này con bé lớn dần lên, tóc nó lại từ từ xậm hơn rồi đổi thành màu hung hung đen, lại trở về nguyên si cái gốc Á Đông của nó, thế là thế nào, có phải phép lạ không?"

Bà im lặng ngẫm nghĩ :

" Ừ, nhưng nghe nói chị ấy nhà có dòng họ lai từ thời mấy ông cố Tây đi truyền đạo, trong dòng họ đã có người lấy Tây rồi đẻ ra ông nội chị ấy, mà phải đợi đến cái đời con của chị hiếm hoi lắm mới ảnh hưởng cái giống tóc xanh mũi lõ nhà ông cố ông sơ ở bên Tây. Thế nhưng lai gì thì lai, nó vẫn giống cái mặt anh Luân, chứ đâu lại tuyền một màu đỏ như cái bông bụt này..."

Ông đã ghi xong mấy tấm hình cho bà giữ làm "kỹ nghệ", trời nóng đổ mồ hôi hột mà chỉ vì cái bông hoa bụt đỏ lạ kỳ khiến ông bà quên cả nóng. Ông bảo:

" Bà vào nấu cơm cho tôi với các cháu ăn đi, chả lẽ đứng đây phơi nắng mãi nhỉ?"

                                                                     * * *

NN_chiemLeyna.JPGChiều đến, cơm nước xong, bà bắt Tý anh Tý em mỗi đứa ăn một quả chuối to đùng, chỉ cái quả chuối thôi mà trong nhà cũng đã khối chuyện để bàn bạc. Bà luôn luôn lo lắng hai thằng cháu nội mất gốc quên nguồn cội , còn ông thì cho là bà lẩm cẩm đầy tự ty mặc cảm, chỉ lo chuyện con bò trắng răng. Chuối nào chẳng là chuối, chuối xiêm, chuối  tây, chuối tiêu, chuối ngự, chuối nào ông cháu cũng xực tuốt, nhưng với bà thì hương vị vẫn khác nhau, và ẩn dấu trong đó là cái cội nguồn của dân tộc. Dù sao thì cũng đất nước người ta, xứ sở người ta, đứng cách nào, cao hay thấp, giàu hay nghèo thì cái vỏ của nó vẫn không thể hòa nhập vào nhau để trở thành một. Đến lúc nào đó trong cuộc đời, các cháu bà lớn lên sẽ tưởng nó hoàn toàn thuộc về xứ sở này và quên mất nguồn cội của nó, nhưng chắc chắn cuộc đời sẽ có lúc mở mắt cho nó nhìn ra điều khác biệt giữa những cái vỏ chuối. . .

Tối đến, ông nội ngồi xem tin tức trên truyền hình, Tý anh Tý em còn đùa  giỡn với cha mẹ trong phòng riêng, bà nội lại lên ngồi lướt Net. Ôi! Thời buổi văn minh này mà không biết lướt Net thì đời vô cùng "boring" như trăng tàn trên hè phố, dù gì bà cũng có một số bạn thân phương xa cùng trang lứa để tâm sự vụn. Như cái hình bông hoa bụt đỏ này thì chắc chắn không thể nằm trong im lặng ở cái sân trước nhà bà được, chỉ nội tối nay nó sẽ bay đến bạn bè muôn phương. Trước tiên bà định hỏi cái ông anh chuyên trồng cây cảnh, nhưng nghĩ thế nào lại chợt nhớ ra cái Net Khoa Học, có sẵn bao nhiêu tài liệu quý hiếm thì thế nào chẳng được một câu trả lời hợp lý, chứ không lấp lửng như "con khỉ già" chỉ hay nửa thực nửa đùa chọc vợ suốt mấy chục năm rồi.

Tức nhiên buổi sáng hôm sau, bà nhận được rất nhiều "feedbacks" với những lời nửa đùa nửa thực rất giống ông nhà bà không sai một ly. Người thì bảo tại bà không chịu thêm đất, bón phân, tưới tắm đầy đủ nên có một bông hoa "đỏ mặt tía tai" lên mà nhắc khéo bà nên tử tế với cây cỏ một chút. Người thì văn chương đầu óc tưởng tượng lênh láng,  kết hợp một câu chuyện tình ướt át , để hoa vì mặn tình mà bỗng đổi sang màu đỏ. Người thì cám cảnh thế thái nhân tình, tình đời đổi trắng thay đen nên nhân dịp này trách hoa cũng khéo theo thời  mà đổi từ màu trắng sang màu đỏ. Người thì đổ thừa hoa bị nhiễm thể vì một hóa chất nào đó, nhưng theo lý luận của bà thì nếu cây bị nhiễm chất lạ, nó phải đổi màu nguyên cây chứ đâu lại có mỗi một bông hoa.

Còn bao nhiêu lời bàn Mao Tôn Cương rộn rã đem lại niềm vui cho bà suốt mấy ngày mà đề tài xem tầm thường nhưng rất lạ. Nào là màu đỏ là hỷ tín, đi mua vé số mau kẻo hết. Nào là đi Casino lấy hên, kéo máy tiền vô như nước. Nào là biết đâu sau hai thằng Tý anh và Tý em, nhà lại sắp thêm cái " hĩm" để có nếp có tẻ cho vui nhà vui cửa. Có lẽ bà cũng mong như thế thật, vì đời bà đẻ toàn con trai, đến đời cháu lại vẫn toàn đựa rựa, vì thế mà lúc nào Bà  cũng được ưu tiên theo lối Mỹ khi người ta xếp thứ tự: "Thứ nhất đàn bà, thứ nhì trẻ con, thứ ba con chó Ki Ki, sau cùng mới đến  cái người quanh năm đi cày đóng thuế".

* * *

Thế mà qua hai mùa Đông khắc nghiệt thì cây bông bụt cũng lăn ra chết. Chị ta ra đi để lại nỗi thương tiếc vô bờ trong lòng chủ nhân, kể từ ngày đi từ Home Depot về nhà đã mấy mùa cây trổ bông, hoa trắng hoa đỏ chen với nhau trên một cành khiến khách khứa đến nhà chơi đều phải bị hay nghe bà chủ nhà kể chuyện, lại còn dẫn nhau ra chụp dăm bô hình làm kỹ nghệ nữa.

Cái bông đỏ đỏ ấy hình như ứng với nhà bà nội Tý Anh Tý Em, trông đứng trông ngồi mãi trời cho dòng họ cũng thòi ra được hai công chúa. Một cô nay gần bốn tuổi thì đỏng đảnh hay làm duyên, còn một cô bé tý mới được hơn 3 tháng mai sau có triển vọng làm ca sĩ hát Opera.

Thôi thì trời cũng bù đắp cho tý cháu gái để nhà có bông có hoa cho vui, mai sau bố mẹ chúng nó được phước có người đến cắt cỏ và sai vặt. Con cháu bé nhất nhà mà cũng ham ăn nhất nhà, vì ham ăn nên càng ngày cô càng tròn ra như cục bột, bà nội đặt cho cô cái hỗn danh là “Cô Phán Cảnh” vì ngày xưa hồi bà còn bé cả nhà cũng đặt cho bà danh hiệu “Bà Phán Cảnh”

NN_MotBOngHoa.jpgMới ba tháng rưỡi mà cô Phán tròn như hạt mít, cô thích nói chuyện tâm tình, cười tý toét mà ngôn ngữ thì chỉ cần u ơ là được rồi. Phiền nỗi cô lại mang hai dòng máu Việt-Hoa trong người, gốc gác ông bà ngoại cô từ khu Hồng Kông bên hông Chợ Lớn, sau năm 75 người Hoa bị đánh tư sản mại bản và phải tìm đường chuồn qua Hồng Kông rồi dông qua xứ Cờ Hoa lánh nạn. Hôm cô về thăm bên ngoại, khi trở về chả hiểu đầu óc bị lộn xộn “xí xô xí xào, ngộ tả nị sị” sao đó mà về nhà bà nội cứ phải hỏi cô theo giọng Chợ Lớn:

“Nị quen cái tiếng Tàu “dzồi” hở, quên  tiếng Dziệt “dzồi” hở?”

Cô toét miệng cười ra chiều thông cảm, chứ “bà bà” hay “phò phò” đối với cô không bằng cái chai sữa. Nhưng bà nội thì nhất quyết phải đem ngôn ngữ Việt, tiếng nói Việt vào đầu đứa cháu hai dòng máu, vì vậy mà trong căn nhà vắng vẻ chỉ có hai bà cháu, lúc nào cũng nghe “ầu ơ ví dầu cầu ván đóng đinh”, đôi khi nổi hứng bà nội còn cho cháu nghe luôn cả vọng cổ miền Nam, có “chiếu Cà Mau nhuộm màu tươi thắm”, qua màn tân nhạc thì réo rắt “lòng mẹ bao la như biển Thái Bình...” Chắc chắn là cô chẳng hiểu gì, nhưng âm điệu của câu hò giọng hát mênh mang văn hoá dân tộc thế nào chẳng đi vào lòng cháu, “mưa lâu ngày thấm đất” mà lỵ!

Tý Em là hiện thân của một cậu bé rất tình cảm, lúc về chơi với ông bà nội thấy cô em họ khát sữa cất giọng hét thất thanh như nhà cháy, ông bà xưa bảo “con không khóc sao mẹ biết mà cho bú” là nó báo động ngay:

“Bà nội, bà nội, “baby” đói bụng kìa”

Đúng thế thật, chẳng ai hiểu bà bằng cháu và con bé chỉ gào thật to khi đói bụng thôi, thế là vội vội vàng vàng, bà nội pha ngay một bình sữa đem đến tận giường cho cô Phán:

“Ôi, cháu bà ngoan nào, nín đi kẻo mai sau lớn lên làm ca sĩ nó mất giọng đi, cứ hét to thế lại ế chồng nữa đấy.”

“Cô Phán” xơi xong bình sữa nín ngay, miệng lại cười toe toét. Trong đôi mắt bà nội thì cô chính là một thiên thần, mà trong đôi mắt nhìn chưa xa của cô Phán thì bà nội cũng là một bà tiên . Thiên thần của trời cần có cánh để bay, nhưng thiên thần của nhà bà thì không cần cánh cũng đủ sức bay vào lòng người. Thật vậy, chẳng gì bằng “nắm tận tay, day tận mặt” lúc đó mới cảm nhận được cái tình nó mênh mông, bát ngát thế nào. Mỗi lúc “cô Phán” cầm ngón tay “bà Phán” mà xiết chặt, đôi mắt đắm đuối nhìn thì lúc đó đôi mắt mới thật sự là cửa sổ của tâm hồn, không vờ vịt như mấy diễn viên đóng phim tình cảm Hàn Quốc. Khi đói, đôi mắt của “thiên thần không cánh” không tuôn ra những giọt lệ đài trang, khóc thật tình, khóc hết hơi, khóc vì một nhu cầu thật của con người , và bé thơ cũng biết cô đơn dù đôi mắt chưa nhìn xa trông rộng, nhưng cũng biết đó ai là người gần người xa, hít được mùi hương thương yêu tự nhiên của ông, bà, cha, mẹ ...

Mỗi ngày dù bận bịu trông cháu nên bà nội Tý Anh cũng đã không còn được hưởng cái thú bách bộ sân trước vườn sau, nhưng hề gì, cô bé cứ lớn phỗng lên thì bà nội đã tìm ra được môn cử tạ hạng nặng mà bình thường bà nhấc không nổi.

“Một, hai, ba. bốn...

Năm, sáu, bảy, tám, chín, mười...”

Cứ vậy mà đếm, giơ cháu lên khỏi đầu cho “thiên thần không cánh” bay chơi một phát vào không khí, cháu cười sung sướng còn bà thì hai tay cũng có cái để mà thể dục thể thao. Phụ nữ tuổi chập chờn sáu bó thường mấy bà đã giữ được cho cái bắp thịt nó đứng yên một chỗ, tỷ lệ với thời gian thì còn bao nhiêu thứ đi theo kim đồng hồ chỉ sáu giờ, chứ nào phải cái bắp tay lỏng lẻo. Tay nhờ vậy mà khoẻ, cứ cái đà này khi đi dự tiệc, trong ánh đèn mập mờ bà vẫn có thể diện áo hai dây hay hở nguyên một bờ vai chưa khảm xà cừ  “thòng thõng một mùa thu lá đổ”, hí hí hí ...

NN_hoabupmaudo.JPGChuyện “Bà Cháu” nói bao nhiêu cho hết đây nhỉ, nó giống như một cuộn phim xem đi xem lại mà không chán. Ôm cháu trong lòng mà nghĩ đến con, mỗi một giai đoạn trong đời người hình ảnh người mẹ hay người bà gánh theo bao kỷ niệm. Hôm trước trên đường lái xe đi chơi xa, một người quen tặng cho ông bà cái CD để nghe về “oan gia nghiệp chướng”, không biết vị thầy nào thuyết pháp về đề tài này nghe hấp dẫn quá chừng. Cuộc đời đầy những oan gia, oan gia gần oan gia xa, những cái gần như con cái cháu chít mà xoắn xít lấy nghiệp thân mà không sao dứt bỏ được, lại còn thương gần chết. Về nhà, cháu toét miệng cười, tay quơ chân đạp muốn bà bế, bà thấy cái “oan gia” hình như chả nhằm nhòi gì với niềm vui và hạnh phúc của tuổi già khi gần gũi bên con, cháu. Oan gia thì oan gia, chiều hôm ấy khi ru cháu ngủ, văn hoá Việt Nam lại thêm một câu ca dao mới:

“ Oan gia thì mặc oan gia

Nhà mà  không cháu cái nhà buồn hiu

Mặc ai xuôi ngược sớm chiều

Cháu bà là chút tình yêu tuổi gìa”

Nguyên Nhung

________________________________________________________________

 NN_mualarung_1.jpg

Năm nay, mùa thu hình như đến muộn ở khắp nơi, tôi cũng có một chuyến đi tìm mùa thu phương xa, nhưng nơi tôi đến, hai thành phố Ottawa và Montréal mọi năm lá đã chuyển màu theo mùa thu, vẫn óng ả một màu xanh cuối hạ. Trời chỉ hơi lành lạnh, nắng ấm vẫn reo vui trên sân cỏ mượt, trong mấy ngày ở đây tôi lang thang leo đồi chờ lá vàng mùa thu, nhưng cũng chỉ có chút heo may làm se sắt lòng người phương xa.

NN_mualarung_2.JPGLần này là lần thứ hai tôi trở lại căn nhà ở Ottawa có khung cửa sổ mở rộng, nhìn ra ngoài cảnh vật  tự nhiên thay cho một bức tranh bốn mùa. Phía sau nhà là mảnh vườn nhỏ, cách với con đường xe chạy là một hàng rào dây leo quấn quýt, vài cây thông xứ lạnh vẫn óng lên  màu xanh biêng biếc.

Tôi đi tìm mùa thu phương xa,

Trời mới vào thu lá vàng chưa chín

Vẫn biêng biếc một màu xanh cuối hạ

Nắng nghiêng nghiêng trên bãi cỏ sau nhà

Ottawa là thủ đô là thành phố lớn thứ tư của Canada và cũng là thành phố lớn thứ nhì của tỉnh bang Ontario. Ottawa nằm trong thung lũng sông Ottawa phía bờ Đông của tỉnh bang Ontario, cách Toronto 400 km về phía Đông Bắc và Montreal 190 km về phía Tây. Ottawa nằm trải dài theo bờ sông Ottawa, con sông này  ngăn cách tỉnh bang Ontario và Québec.

Tuy tiếng là thủ đô của một quốc gia, nhưng thành phố Ottawa mới mẻ, bằng phẳng không núi non và không đẹp bằng thành phố Québec , hay vùng ngoại ô của Mộng Lệ An. Đời sống tương đối bình lặng và êm đềm, dân số không đông đảo và phức tạp như ở Toronto và Montreal. Ở đây  mọi giao dịch đều sử dụng hai ngôn ngữ là tiếng Anh và tiếng Pháp. Đây là lần thứ ba đến Ottawa, đã hai lần được người nhà chở đi thăm viếng những công trình được xây dựng theo lối cổ, như toà nhà Quốc Hội, Dinh Toàn quyền Rideau, Toà Nhà Liên Bang. Gần đó có một vườn hoa rất rộng trồng đủ loại hoa rất đẹp, khi tôi đến đây trời đã sang thu, hoa không còn tươi tắn như mùa hè mà vẫn đủ sức thu hút du khách ghé vào ghi lại những bức ảnh kỷ niệm.

Vài ngày với gia đình ở Ottawa qua nhanh, chúng tôi lên đường sang Mộng Lệ An thăm cô bạn thân, đây cũng là lần thứ hai đến thành phố này và thú thật là người phương xa thường luống cuống với hệ thống giao thông ở Montréal. Hình như có những con đường người ta sửa hoài mà vẫn chưa xong, từ muà hè năm 2008 đến nay lúc nào xe cộ cũng ứ lại vì tắc nghẽn trong những giờ cao điểm.  

NN_mualarung_3.JPGMộng Lệ An đối với tôi hình như thân thiết hơn các nơi khác của Canada mà tôi đã ghé qua, gắn bó bởi cái tình của một tình bạn do văn chương mà có. Lần nào đến thăm bạn,tôi cũng chạy ngay ra mảnh vườn sau nhà bạn, mảnh vườn thật đẹp, cây chen hoa cứ như là muôn loài kỳ hoa dị thảo ở đâu đâu đều tụ lại trong mảnh vườn này, qua sự chăm sóc chu đáo của chủ nhân. Tuy đã vào thu mà hoa vẫn nở rộ, những cành hoa tím ẻo lả thả mình xuống rừng cúc vàng rực, toàn những màu sắc hoà hợp lạ lùng để tạo cho bức tranh mùa thu thêm phần rực rỡ. Mùa đông ở đây kéo dài với những tháng ngày lạnh buốt, lại mưa nhiều, khi trời vào xuân sang hè, tuyết tan thật nhanh và nước giữ lại trong đất cho hoa  cứ thế mà hối hả vươn lên xanh tươi lạ lùng, nhất là loại thông xứ lạnh lá màu xanh bạc là vẻ đẹp khó tìm được ở những vùng nhiệt đới.

.

"Buổi sáng trong vườn trời xanh đẹp quá

Gió mênh mang trên những ngọn thông gìa

Tít trên cao nghe đất  trời kể lể

Chuyện cuộc đời và chuyện ở quanh ta"

NN_Mualarung_5chandungNguyenTraiQuebec.JPGLần này chúng tôi không đi thăm lại những nơi đã đi vào mùa hè năm 2008, nhưng có một nơi làm tôi nhớ mãi đó là thành phố Québec khi chúng tôi đến thăm , thủ phủ của tỉnh bang và cũng là thành phố du lịch có mùa thu tuyệt vời với những rừng lá vàng lá đỏ. Nơi ấy tôi đã gặp bức tượng chân dung cụ Nguyễn Trãi, trong một chiều lang thang dưới cơn mưa, như những kẻ “tha hương ngộ cố tri”, lòng lại bồi hồi một nỗi buồn không đâu khi bất chợt thấy nhau nơi xứ lạ quê người:

 .

“Tàng cây sũng nước trời thổi gió

Người đến nơi đây tự thuở nào?

Phải chăng đồng cảnh đời lưu lạc

Mà mắt rưng buồn như ướt mưa”

Chen lẫn những ngày nắng đẹp, Mộng Lệ An vẫn sũng ướt trong mưa thu. Lần này Tiểu Thu cô bạn văn thân thiết của tôi lại đưa khách đi hành hương hai địa điểm tôn giáo, đó là Đền Thánh Giuse nơi mà nghe kể lại nhiều người từ các nơi trên thế giới đổ về đây, và họ đã nhận được nhiều phép lạ chữa lành từ vị Thánh Cả của giáo hội Công Giáo. Trời hôm ấy rất âm u nhưng không mưa, nhiều khách hành hương cầu nguyện trong khu đền thờ cổ kính, đứng từ trên cao nhìn xuống phố xá như chìm trong một màu xám ảm đạm.

Ngày hôm sau nắng đẹp, người trong nhà rủ nhau đi viếng chùa Đại Tòng Lâm, nằm cách Mộng Lệ An khoảng hơn một giờ lái xe. Con đường đến chùa  đi ngang một thành NN_mualarung_4.JPGphố núi tuyệt đẹp, mùa đông nơi đây đã thu hút hằng nghìn người đến  trượt tuyết, và khi mùa thu thực sự đến thì những cánh rừng sẽ bao quanh ngôi chùa sẽ biến thành  bức tranh tuyệt tác của thiên nhiên.

Con đường ngoằn nghoèo đưa đến ngôi chùa xa, đường trải nhựa nhưng càng đi nhiều đoạn đường còn lổn nhổn đất đá, tuy nhiên vẫn thu hút khách thập phương tìm đến, trước để lạy Phật sau cũng là để ngoạn cảnh. Thật vậy, tuy chùa còn đang xây dựng dở dang nhưng cảnh lại đẹp như tranh vẽ, không khí tĩnh mịch của cửa Thiền trong một ngày vắng vẻ, khiến tôi lan man nghĩ đến cảnh chùa Long Giáng với tác phẩm “Hồn Bướm Mơ Tiên” của nhà văn Khái Hưng trong “Tự Lực Văn Đoàn”. Bách, tùng, thông, phong, núi, rừng tạo nên một phong cảnh hùng vĩ để ngôi chùa nổi bật giữ thiên nhiên, chưa kể hồ nước trong xanh lác đác hoa sen, hoa súng, ông trời lại còn in xuống đáy hồ thăm thẳm những gợn mây trắng tầng tầng thì không còn cảnh nào an tịnh  hơn để lòng người càng lắng xuống.

  

NN_mualarung_5.JPGHơn 10 ngày rong chơi rồi cũng trôi qua, mùa thu vẫn chưa đến hay chỉ thả chút heo may thêm nỗi buồn vu vơ vào những tâm hồn lãng mạn. Chuyến về, từ Ottawa máy bay phải ghé vào  phi trường O’ Hair ở Chicago để chuyển máy bay, tuy chờ đợi hơi lâu nhưng chuyến trở về Houston, ông trời lại đãi ngộ cho một vầng trăng bay theo, và chưa bao giờ tôi có cảm tưởng được gần trăng như vậy.

Từ máy bay nhìn xuống, thành phố Gió về đêm tuyệt đẹp chi chít ánh đèn như cảnh bồng lai, đã nằm lại khi con tàu bay vút lên cao, lúc ấy trên trời cao đã có một vầng trăng lơ lửng bay theo:

“Rồi tôi cũng về , về lại Houston

Chuyến bay đêm có vầng trăng đưa đón

Trời nhung thẫm, bóng trăng treo lồng lộng

Theo chuyến tàu đêm trăng đón tôi về”

Trăng đêm ấy đẹp quá, chưa phải đêm rằm mà trăng đã tròn như một cái đĩa bạc, treo lơ lửng trên không gian bay theo về đến tận nhà. Trong khung cửa nhỏ của con tàu, NN_Mualarung_7TrangThu_thoNguyenNhung.jpgtôi ngoái nhìn ra vầng trăng bay theo mà cứ ngỡ trăng là người bạn tri kỷ, đã đón tôi về dù không hề hò hẹn:

“Rất tình cờ Trăng chẳng nói đón đưa

Trăng vẫn đến dù không lời hò hẹn

Trăng chan chứa  ân tình nơi tôi đến

Trăng thuỷ chung theo từng bước  tôi về”

Ánh trăng đêm ấy dịu dàng tỏa ánh sáng dịu hiền xuống vạn vật, khiến những dòng sông vạt rừng trở nên huyển mộng đẹp lạ lùng. Trăng vẫn đi theo suốt chuyến bay dài, và tôi bỗng bật cười khi hiểu rằng chỉ có con tàu chuyển động thôi, như con người đi khắp nơi mà vầng trăng thì vẫn ở đó chung thuỷ đợi chờ. Miên man nhìn trăng tôi lại nhớ đến những người bạn mình vừa chia tay, cái tình ấy cũng đầy như một vầng trăng, để khi tôi đến lúc tôi về, vẫn mang theo cái tình ấm áp ấy.

NN_Mualatung_6.JPGĐêm hôm qua, phải rồi, đêm hôm qua đã bước qua tháng Mười mới thấy gió chuyển mùa đem thu tới nơi tôi ở. Lúc ấy khoảng nửa đêm về sáng tôi nghe tiếng chuông gió reo leng keng ngoài giàn hoa ti gôn, và cánh cửa sau bật mở cho gió thu ùa vào căn phòng ấm. Thế là mùa thu đã trở lại, buổi sáng, khi ra vườn tôi đã thấy bao nhiêu lá khô rụng đầy trên sân, mùa thu đã tới với khu vườn của tôi, hay mùa thu đã tới trong tâm hồn tôi với những chiếc lá rụng tấp vào nhau hò hẹn. Nhìn lá rụng, tôi bỗng dưng nhớ đến mẹ tôi, ngày xưa ấy khi tuổi còn niên thiếu, tôi vẫn thường theo mẹ ra vườn quét lá. Tiếng chổi tre xoèn xoẹt trong mảnh vườn mà ở đấy có bao nhiêu lá tre, lá xoài, lá ổi, mẹ tôi gom lại đốt thành tro rồi trộn chung với đất, vun vào vườn rau, vườn đậu.

“Mảnh vườn quê tỏa khói lúc chiều buông

Là lúc ấy mẹ tôi đang đốt lá

Khói lá chơi vơi hong đời vất vả

Lấy tro tàn vun bón luống ngô khoai”

Nhìn lớp lá khô màu tàn phai theo gió cuốn nằm chất lên nhau ở một góc vườn, nghĩ về  định luật tuần hoàn của vũ trụ, những chiếc lá xanh, lá vàng, lá đỏ rồi một ngày cũng sẽ thành những chiếc lá khô. Khi hiểu được điều đó lòng tôi cảm thấy nhẹ tênh khi nghĩ về sự Sinh Tử của con người và vạn vật:

NN_Mualaung_8MeCon.JPG“Ở quê người những chiều nắng thu phai

Nhìn xác lá rụng đầy trên mặt cỏ

Rồi một mai những lá vàng, lá đỏ

Cũng buồn hiu thành những chiếc lá khô”

Thời gian qua nhanh, đã bao nhiêu mùa thu qua đi trong cuộc đời, mẹ tôi đã khuất bóng từ lâu, hình ảnh mẹ tôi mập mờ như chiếc lá khô, ẩn NN_mualarung9quetlamuathu.JPGkhuất trong đó là những chiếc lá xanh, lá vàng, lá vàng, lá đỏ, những óng ả của cuộc đời sẽ có lúc đổi màu để thành làn khói bay lên bầu trời miên viễn:

“Như mẹ tôi đã về với hư vô

Tựa làn khói bay lên trời vô tận

Những mùa thu của đời người rất ngắn

Đến rồi đi không trở lại bao giờ”

Mùa Thu là mùa của lá rụng, ai cũng ngẩn ngơ nhìn cảnh tàn tạ của những chiếc lá khô đã sống hết một đời của lá, rơi xuống và nằm thinh lặng trên mặt cỏ. Riêng tôi, mỗi lần quét lá trong mảnh vườn nhỏ của mình lòng vẫn  bùi ngùi nhớ lại ngày xưa, những buổi chiều xem mẹ vun lá và đốt lá trong vườn, quà cho con chỉ là củ khoai nướng thơm lừng còn tươm mật nóng hổi, có lẽ đã trở thành những kỷ niệm khó quên  thời niên thiếu.

Nguyên Nhung

( Mùa Thu, 2011

______________________________________________________________________________

Bức Tranh Thêu Bản Đồ Nước Mỹ

( phần 2)

Mỗi năm, gia đình tôi có thói quen sắp xếp thời gian lấy “vacation” để đi thăm một ai đó trong thân tộc, bạn bè ở một tiểu bang nào đó. Đa số người Việt mới định cư sau này, qua đây đều dốc chí tạo dựng sự nghiệp nên ít có chương trình “summer vacation” như người bản xứ, đó cũng là thói quen của một dân tộc chăm chỉ cần cù, sống ở đâu cũng chỉ muốn “an cư lạc nghiệp” trước đã rồi hãy nghĩ đến chuyện đi đó đây.

Chúng tôi quan niệm khác. Làm việc quanh năm đã quá dài và mệt mỏi, biết thế nào là đủ để nghỉ ngơi, chi bằng mình kết hợp giữa làm việc và sự nghỉ ngơi cho quân bằng đời sống, chả biết đời dài ngắn thế nào mà chờ đợi. Trời cho đang có sức khoẻ, du lịch quanh nước Mỹ bằng cách lái xe đỡ tốn kém mà lại biết nhiều, không gì bằng rong ruổi đường xa, chỗ nào hay đẹp mình cứ tấp vào xem qua, rồi lại lên xe chạy tiếp đến khi nào mệt thì … nghỉ.

Muốn tiết kiệm cho chuyến đi xa, tôi thường hay áp dụng kiểu “cơm nắm muối vừng” ở quê mình, khi mọi người đã ngán ngẩm những món “fast food” dọc đường nhiều chất béo, không thích hợp lắm với khẩu vị người Việt. Chất trong xe là thùng nước đá, chở theo vài món ăn làm sẵn, một keo đủ loại rau dưa ngâm dấm thật quá quý cho nồi cơm điện mình mang theo. Đến “motel” nào cũng có chỗ cắm điện, chỉ cần vo gạo nấu cơm một lát sau đã có nồi cơm chín tới nóng hổi, ăn xong cả nhà phè ra nghỉ ngơi đánh một giấc tới sáng, rồi từ giã cái nhà nghỉ ven đường là lên đường gió bụi.

Lần này thêm một ông anh nhà binh bay từ Cali sang, chúng tôi dự định đi Missouri thăm một anh cùng đơn vị với anh tôi ngày xưa, cũng là hàng xóm của gia đình tôi ngày trước. Nhất định phải đi không thể chần chờ được nữa, vì người chúng tôi đi thăm đã bị ung thư phổi thời kỳ cuối cùng, còn rất ít thời gian để nhìn thấy nhau trong cõi ta bà này.

Nhìn bức tranh thêu của bà Laura thì hai tiểu bang TexasMissouri chỉ cách nhau bởi một anh hàng xóm là tiểu bang Arkansas. Bà Laura khéo chọn màu chỉ thêu cho các tiểu bang, một đường chỉ màu xanh mỏng mảnh khiến người ta lầm tưởng chỉ cách nhau bằng cái giậu mùng tơi xanh rờn. Thực ra đường xa vạn dặm đó bạn ơi, xe chỉ nghỉ ngơi cầm chừng cho đỡ nóng máy, chúng tôi chọn đường tắt để đi sớm đến sớm, vậy mà khi tới được nhà anh kia cũng đã khoảng 9 giờ đêm.

Vì chuyến đi chỉ từ sáng đến tối chạy nhanh là có thể đến nơi, nên hôm ấy tôi không phải mang cơm theo. Bắt đầu từ đường 59, cũng đi theo con đường về Dallas nhưng không đi qua thành phố này, xuyên qua  tiểu bang Arkansas với con đường xa có nhiều cánh rừng tiếp nối nhau. Những con đường thiên lý vắng bóng nhà cửa nhưng vẻ đẹp cuả thiên nhiên thật tuyệt vời, thỉnh thoảng chúng tôi gặp một thị trấn nhỏ, nhấp nhô những con dốc cao thấp ngoằn nghoèo mà đường xá lại rất phẳng phiu, chứng tỏ hệ thống giao thông của nước Mỹ rất quy mô, người dân dù sống ở nơi xa xôi vẫn được hưởng những phương tiện khá đầy đủ.

NN_HK_hoatao.JPGVen đường khi rừng thông, lúc vườn táo, mùa này Apple Blosssom đang nở hoa, gọi là rừng cũng được vì ôi chao! những chùm hoa xinh xinh màu hồng phấn hay như màu hoa mận trắng, cánh nhỏ như hoa đào hay hoa mai đơn ở quê nhà xúm xít trên cành lá xanh biêng biếc. Apple Blossom là loại hoa đặc trưng của tiểu bang Askansas, hằng năm người dân ở đây thường tổ chức “Apple Blossom Festival” để mừng mùa xuân nắng ấm, thay cho những tháng mùa đông lạnh giá. Táo cũng mang lại nguồn lợi nhuận đáng kể cho tiểu bang Askansas, cùng một nguồn lợi nhuận khác là gỗ. Đoạn đường rừng này tuy vắng vẻ nhưng đã cho du khách nhìn thấy nền kinh tế của tiểu bang, những chuyến xe chở gỗ dài thoòng liên tiếp trên những con dốc nhấp nhô, khiến tài xế những chiếc xe nhỏ chạy đường trường hồi hộp không ít, lỡ như những sợi dây cáp ràng gỗ kia bị đứt và gỗ lăn xuống đường …. Người đi xa luôn chỉ mong “ thượng lộ bình an” , đi đến nơi về đến chốn, du lịch luôn cho ta mở rộng tầm nhìn, nhưng cũng phải cộng, trừ, nhân, chia với số mệnh.

Mãi 9 giờ tối mới mò ra được nhà anh chị, anh trở bệnh đã vào nằm nhà thương mấy hôm nay, chị bảo con trông bố trong nhà thương rồi mau mau về nhà lo cơm đãi khách. Chị thật là một người phụ nữ xinh đẹp nhân hậu hiếm có, hồi quen anh chị mới 16 tuổi, nhà trường tổ chức Cây Mùa Xuân thăm chiến sĩ tiền đồn, anh hướng dẫn phái đoàn rồi cảm mến cô nữ sinh thuỳ mị xinh đẹp. Năm chị 18 tuổi thì anh rước chị về xây tổ uyên ương. Sau năm 75, anh đi tù chị ở nhà rau cháo nuôi con, tiếp tế thăm nuôi chồng đầy đủ, nay trời bắt anh mang bệnh ngặt nghèo, chị mang tấm thân cò lả yếu đuối chăm sóc trọn tình trọn nghĩa.

Sáng hôm sau mọi người kéo nhau vào nhà thương thăm anh, có đến hơn 30 năm mới gặp lại, anh xanh xao nằm trên giường bệnh phải thở bằng oxy. Gặp lại anh em tình chiến hữu năm xưa sống lại khiến anh cảm động rưng rưng nước mắt, anh thì thào nắm tay từng người:

“Gặp lại em anh mừng lắm, vẫn nhớ cô em hàng xóm có hai lúm đồng tiền. Chắc anh không sống bao lâu nữa …”

Anh nghẹn lời, mọi người cũng im lặng dằn xuống nỗi xúc cảm. Xum họp nào rồi cũng phải phân ly, anh chưa chết được ngay, để rồi lại li bì chìm trong những cơn mê vì đau đớn, chiếc áo cũ đầy mụn vá chắc rồi cũng sẽ rách toang ra để linh hồn bay về miền miên viễn. Buồn thật đó nhưng tôi cho rằng Chết cũng là một giải thoát:

“ Lá ơi! Khi lá mới vừa trổ

Là biết hôm nào lá sẽ rơi.”

( thơ NN)

NN_HK_hawthorn.jpgNgày hôm sau, khách phương xa ở thêm một ngày nữa thăm dân cho biết sự tình. Missouri không có gì đặc biệt ngoài những hồ nước bao quanh bằng những cây Hawthorn tàn lớn nở hoa trắng, hoa cánh nhỏ kết từng chùm đính lên thân cây, nhà thoai thoải theo đường đồi nên cảnh khá nên thơ. Chị đưa khách đi chơi một vòng quanh phố, cho biết thêm về loại cây này, vào đầu thu hoa kết trái và đến cuối thu thì trái đã chín đỏ.

Hôm sau nữa mọi người giã biệt nhau để ra về. Nhìn lại lần nữa căn nhà nhỏ  chênh vênh trên ngọn đồi thấp, trước sân nhà hoa Hawthorn vẫn nở, căn nhà tạo dựng bằng mồ hôi của hai vợ chồng từ khi vợ chồng dắt díu nhau sang Mỹ làm lại sự nghiệp. Mai đây một ngày nào đó anh sẽ “đi”, chị ở lại một mình, căn phòng nhỏ có bàn thờ Phật mà mới sáng tinh sương, đã nghe tiếng chuông tiếng mõ dội vào lòng người một sự bình an nhưng lại rất u uẩn. Thương chị quá, cô nữ sinh trẻ đẹp ngày nào nay sắp sửa thành goá phụ cô đơn ….

Chuyến về chúng tôi quyết định chọn đường xuyên bang xe cộ dập dìu, và cũng phải ghé vào Wichita thuộc tiểu bang Kansas thăm gia đình ông chú mới định cư ở Mỹ được ít lâu. Ông anh “nhà binh” đồng hành bây giờ cũng nhát gan sợ mấy chuyến xe thồ gỗ kềnh càng như con voi, nên rất hoan nghênh ý kiến đi tà tà rồi ghé qua Kansas cho biết thêm một tiểu bang nữa của Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ.

Kansas nằm về phía tay phải của đường xuyên bang từ Missouri về Texas, nên khoảng trưa là xe đã rẽ phải để vào Wichita, một thành phố lớn cuả tiểu bang Kansas. Trên cánh đồng hoa mặt trời đầu mùa đang trổ hoa, màu vàng rực chạy dài trên những cánh đồng cỏ, dẫn chúng tôi đến xứ sở tổ tiên của người da đỏ, đi theo những con đường rừng đã thấp thoáng thấy vài biểu tượng di sản cuả dân da đỏ hiện diện đó đây.

NN_HK_hoamattroi.jpgSunny Flower là loại hoa tiêu biểu của tiểu bang Kansas, nhìn toàn diện Wichita như một bình nguyên rộng lớn, nằm về hướng Nam trung tâm Kansas, có dòng Arkansas River chảy qua . Nơi đây có bản doanh của hãng máy bay Boeng nên đã cung cấp nhiều công ăn việc làm cho dân địa phương.

Tìm mãi mới tới được nhà người bà con, đường xá vắng vẻ tĩnh mịch, thành phố nhằm ngày chủ nhật tất cả các tiệm đều đóng cửa, khiến phố xá nhiều chỗ buồn thiu buồn chảy. Mấy cô em con ông chú còn bé, vừa bỏ Sài Gòn nhộn nhịp đông vui, sang đây cứ than buồn như bọng. Nhưng thực sự vì nơi đây mang không khí tỉnh nhỏ êm đềm mà các em có thể học hành được, ít đua đòi ăn chơi hơn những nơi khác. Giờ rảnh, mẹ con xúm nhau lại trồng rau ở mảnh sân rộng sau nhà, những đọt bí rợ xanh rờn bò tràn lan khắp sân. Chiều hôm đó khách phương xa cũng chỉ ao ước được ăn bữa cơm có món đọt bí xào tỏi mùi vị quê hương, các cụ mình thì “thịt cá hương hoa, dưa cà căn bản”, nhưng muốn tìm được cái hương quê này cũng phải “trần thân khoai củ” nên rất quý hiếm, thịt cá chẳng làm sao sánh được.

Ăn cơm xong, cả nhà lái xe thăm thành phố và ra bờ sông hóng gió. Dòng sông chảy qua thành phố không rộng lắm, băng qua một nhịp cầu mà hai bên bờ có đường đi như trong công viên. Vắng,cảm tưởng của tôi thì đây là một thành phố buồn, ngoại ô có nhiều đài kỷ niệm dấu vết một thời của người da đỏ như cối đá, cung tên, cuộc sống du mục săn bắt cá và thú rừng, cánh đồng bắp, rừng hoang vu. Lâu ngày quá tôi không nhớ rõ, nhưng nếp sống ở đây thích hợp cho những người cao niên thích sự yên tịnh, còn lớp trẻ thì vẫn háo hức một ngày nào đó chuyển về những thành phố lớn để lập nghiệp.

Ngày hôm sau chúng tôi lại chia tay với người thân để về lại Houston, hứa hẹn sẽ có ngày tái ngộ, bà thím chu đáo lại bắt gói theo cơm gà để ăn đường. Đa số phụ nữ Việt Nam nào lớn tuổi một chút cũng tính toán chu đáo như vậy, bà con sống ở Mỹ lâu có cười thì hở mười cái răng, chúng tôi sinh ra đã quen với hạt cơm như hạt ngọc nên có hộp cơm dằn bụng vẫn thấy ấm lòng hơn “hamburger”.

 

NN_HK_Oklahoma_bombing_memorial.jpgTrước khi bước vào ranh giới của tiểu bang TX thì phải ghé qua tiểu bang Oklahoma một chút cho bõ công khăn gói đường xa. Điểm dừng chân của chúng tôi hôm ấy là Oklahoma Bombing Memorial, nơi tưởng niệm những người đã chết vì một quả bom phá xập cơNN_HK_Oklahoma.jpg quan làm việc chính phủ ngày 19 tháng 4 năm 1995, giết chết 168 người trong đó có 19 trẻ em dưới 6 tuổi được cha mẹ gửi trong “Day Care” nằm trong tòa nhà này.

Tuy không phải là mùa đông, nhưng được biết Oklahoma có một loại hoa mang tên Mistletoe tiêu biểu cho tiểu bang, khi chưa nở hoa giống như những trái trân châu trắng nuốt như hạt ngọc suốt từ mùa thu sang đông. Dân địa phương dùng để trang hoàng cây Giáng Sinh vì vẻ đẹp kỳ diệu của hoa toả sáng trên cành lá xanh biếc, đem niềm hy vọng cho mỗi nhà khi mùa Đông cũng là mùa khắc nghiệt nhất của tiểu bang Oklahoma, những trận bão tuyết phủ một màn băng giá làm tê liệt hầu hết những sinh hoạt của đời sống người dân tại đây.

Những tiểu bang thuộc miền Trung nước Mỹ không có núi cao, nhiều ngọn đồi thấp nhấp nhô trên những cánh đồng cỏ mênh mông, người dân  ở đây phát triển về chăn nuôi và trồng tỉa, đời sống bình lặng hơn những thành phố lớn như Dallas hay Houston. Nhưng ác nghiệt thay, đây cũng là những tiểu bang chông chênh giữa hai miền Nam Bắc, nên thời tiết cũng rất khắc nghiệt, mùa hè nóng nhưng đến mùa đông tuyết phủ trắng xoá, lại hay có bão tuyết, chưa kể những cơn lốc xoáy dữ dội tàn phá nhiều thành phố cũng như làng mạc.

Nhìn vào tấm tranh thêu bản đồ nước Mỹ của bà Laura, tuy chỉ vỏn vẹn bằng bàn tay xoè ra mà sao rộng lớn vô ngần. Tôi lại nghĩ đến một đoạn trong “Tây Du Ký”, Tôn Hành Gỉa  ỷ tài giỏi hoá phép thần thông đi cùng khắp bốn phương trời, nhưng con khỉ dù nhảy nhót tới đâu cũng lại thấy mình bé tý teo nằm gọn trong bàn tay 5 ngón xoè ra của Đức Phật. Một câu chuyện hay để ngẫm nghĩ, đi khắp càn khôn nhưng cuối cùng một ngày ai cũng phải trở về tro bụi, nằm yên nghỉ dưới ba tấc đất phù du. Những có những không trên chặng đường tôi đã đi qua, kể cả con người thì cũng chỉ như trò biến ảo của tạo hóa:

“Một ngày. Sắc sắc không không

Nhìn quanh mới biết đời không có gì”

( thơ NN)

Kỳ tới, những tiểu bang miền Đông Bắc Hoa Kỳ

Nguyên Nhung

tl_July4.gifBức Tranh Thêu Bản Đồ Nước Mỹ

(Phần 1)

Truyện Nguyên Nhung

Tôi chắc chắn là mình phải có duyên với bà Laura vì bức tranh thêu bản đồ nước Mỹ của bà, hiện đang treo ở phòng khách nhà tôi. Tấm tranh nằm trên bức tường ngang của phòng ngoài, đập ngay vào mắt khách ghé thăm, nên ai cũng không khỏi dứng lại nhìn một chốc. Dù rằng bề ngoài bức tranh  trông có vẻ tầm thường thiệt đó nhưng đối với tôi quả là rất đẹp.

Nắng tháng Sáu oi ả, lũ trẻ bắt đầu nghỉ hè là nhiều người hay dọn dẹp nhà cửa hoặc dời nhà đi nơi khác, chuẩn bị trước cho mùa tựu trường tiện việc học cho con cái. Ở cuối con đường Elkington cũng có một điểm “garage sale”, căn nhà này của một đôi vợ chồng gìa người Mỹ trắng, trước kia mỗi buổi sáng đẹp trời họ thường cùng nhau đi bách bộ dưới tàn cây râm mát. Thời gian sau thỉnh thoảng người trong xóm thấy   bà cụ lặng lẽ đi một mình, gặp nhau thì cũng chỉ trao đổi vài câu lấy lệ. Sự vắng mặt của ông bà cũ Laura cũng giống như một người hàng xóm gần nhà tôi, họ “đi” cả rồi, cô này còn trẻ chỉ ngoài bốn nươi, sáng đi tối về nên cũng ít ai biết, lâu lắm cũng không thấy đâu. Một hôm sửa lại cái hàng rào giữa hai nhà, hỏi thăm mới biết cô đã ra người thiên cổ.

Xứ sở này láng giềng vẫn có những cái lạ lùng như thế, người Mỹ khác với người Á Đông ở chỗ, họ thích thay đổi nhà cửa luôn luôn khi có dịp, vì công ăn việc làm cũng có, vì thích cái gì mới mẻ cũng có, căn nhà cũ hay chiếc áo cũ đối với họ khi cần thay đổi không làm họ quyến luyến bao nhiêu. Bà Laura chết khi nào cũng chẳng ai hay, con đường vẫn thế, hai hàng cây ven đường vẫn xoè ra những tán lá rộng mà khi sang hè có tiếng ve gọi chiều râm ran. Căn nhà đã cũ được treo bảng bán hình như đã có người mua, và đứa cháu nội bán tống bán tháo những thứ cũ kỹ của ông bà để lại. 

Buổi sáng hôm ấy là một ngày thứ Bảy trời đẹp, tôi đi bộ ngang nhà bà cụ Laura , thấy đứa cháu đang loay hoay dựng mấy tấm tranh cũ kỹ dựa vào cái bàn chất đầy những thứ lặt vặt, chắc hẳn là những đồ dùng của bà Laura thời sinh tiền. Mắt tôi chạm ngay vào bức tranh thêu bản đồ nước Mỹ, nền vải đã ngả vàng với thời gian nhưng được lộng trong một cái khung gỗ màu nâu xậm. Tấm tranh thêu  bản đồ nước Mỹ với  50 tiểu bang, mỗi tiểu bang lại thêu một loài hoa biểu tượng cho tiểu bang ấy. Đưá cháu thấy tôi chăm chú nhìn bức tranh liền nói:

“Đây là bức tranh của bà nội tôi, bà ấy đã thêu nó vào những ngày chờ đợi ông tôi đi xa, nghe nói tận chiến trường Việt Nam. Nếu bà mua, tôi chỉ bán 5 đồng …”

Tôi há hốc mồm nhìn chàng thanh niên còn khá trẻ, trong bụng nghĩ giá cậu ta nói 30 đồng tôi cũng mua, vì hình như bức tranh có một hấp lực kỳ lạ khiến tôi không rời mắt được. Tôi bật hỏi

“Sao cậu không giữ làm kỷ niệm?”

Hai chữ “kỷ niệm” hình như quá mới mẻ với một người trẻ tuổi. Cậu hồn nhiên trả lời:

“Căn nhà đã cũ rồi chúng tôi không muốn ở, hơn nữa căn nhà mới lại rất đẹp không có chỗ để treo một bức tranh tầm thường như vậy.”

Tôi vội móc túi lấy năm đồng trao cho chàng thanh niên, lòng nao nao buồn, hình như có giọt nước mắt rơi trong lòng tôi khi chạnh nghĩ đến hai chữ Kỷ Niệm. Thế nào là tầm thường, kỷ niệm tình yêu của một người vợ xa chồng trong thời chinh chiến, bà Laura đã trải lòng mình trong từng đường kim mũi chỉ về đất nước của bà. Kỷ niệm của một bà nội gìa nua đã không có gía trị dưới mắt nhìn của lũ con cháu, mai sau liệu rằng những kỷ niệm của tôi để lại có được trân trọng không?

Tôi nghĩ đến cái áo dài màu cánh dán cuà mẹ tôi được xếp lại cất trong ngăn tủ, mỗi lần nâng niu nó tôi lại hình dung ra tấm thân gầy và những giọt mồ hôi của mẹ. Tôi nghĩ đến cây thập gía mạ vàng nhỏ bé chị tôi tặng cho tôi thời thơ ấu  hơn nửa thế kỷ trước, vẫn còn treo trên bức vách trong phòng ngủ. Tôi nghĩ đến con búp bê tật nguyền, món quà tình yêu Giáng Sinh hơn 40 năm trước vẫn xiêu vẹo đứng trong tủ sách. Một ngày nào đó tôi trở về cát bụi, những kỷ niệm ấy sẽ đi về đâu?

Tôi khệ nệ vác bức tranh thêu của bà Laura về nhà, lau chùi bụi bặm xong bức tranh sáng hẳn lên, từng đường im mũi chỉ cho tôi hình dung ra bóng dáng một người vợ hiền, cần mẫn thêu từng mũi từng mũi cho mỗi ngày cô đơn để chờ đợi, đáng quý biết bao nhiêu. Tìm một chỗ xứng đáng cho bức tranh, mặc dù là kỷ niệm của bà Laura, ẩn hiện trong đó một tình yêu đất nước tiềm tàng trong từng đường kim mũi chỉ. Buổi chiều cả nhà đi làm, đi học về, con tôi ngạc nhiên nhìn bức tranh rồi hỏi:

“ Wow! Mẹ lại bưng về một cổ vật nhà người ta nữa phải không?”

Mấy đứa nhỏ thường cho là tôi lẩm cẩm khi thích đi tìm mua những món cũ kỹ bưng về từ nhà người khác, nhưng cũng không khỏi thán phục ý nghĩa của bức tranh thêu bản đồ nước Mỹ. Ngoài những môn học từ nhà trường đám trẻ thường cũng chả biết bao nhiêu về địa lý nhân văn, thổ nhưỡng của đất nước rộng lớn này.Tôi đã có muời mấy năm sống ở Hoa Kỳ, lại có được cái may là cả nhà đã vài lần làm những chuyến du lịch đi qua nhiều tiểu bang nước Mỹ, những tiểu bang miền Đông Bắc cho tới vùng Tây Nam, đường xa vạn dặm đã cho tôi cái nhìn bao quát về một xứ sở vẫn được gọi là Hiệp Chủng Quốc.

Say sưa nhìn tấm tranh thêu bản đồ nước Mỹ để nhớ lại những nẻo đường mình đã đi qua, dù mỗi cảnh mỗi khác nhưng đã để lại trong trí nhớ tôi những cái đặc biệt của mỗi địa phương tôi ghé lại. Chính giữa khung tranh là hình bản đồ được thêu bằng chỉ xanh đậm khoanh rõ hình thể lớn nhỏ của mỗi tiểu bang, xung quanh bức tranh là một khung vuông vức, bà Laura đã chia ra từng ô rồi  tỉ mỉ thêu bông hoa bằng chính màu sắc của hoa  lồng thêm tên của tiểu bang đó.

Bây giờ bắt đầu từ thành phố Houston, tiểu bang Texas, tôi mời bạn đi theo bức tranh thêu bản đồ nước Mỹ của bà Laura, vào xuân mùa Blue bonnet nở hoa, hai bên xa lộ từ Houston đi Austin du khách không khỏi ngất ngây nhìn những cánh đồng hoa xanh tím ngút ngàn chênh vênh nở hoa theo những sườn đồi thấp. Diện tích của tiểu bang Texas hình như bằng cả diện tích của nước Pháp gộp lại, rừng thưa và những cánh đồng cỏ cháy đan nhau nhưng cứ tháng Tư về khi trời sang xuân, loại hoa dại này đã tạo một vẻ đẹp tuyệt vời dọc theo xa lộ chạy từ thành phố này sang thành phố khác.

NN_HK_Texas.JPG NN_HK_California.jpg NN_HK_New_Mexico.JPG 

Ta lại đi về hướng Tây của tiểu bang TX về California chơi nhé, cái thuở mà người tỵ nạn Việt Nam còn tạm cư trong những lều bạt giữa những cánh đồng hoa Poppy bát ngát, đúng vào mùa tháng Tư hoa nở, đẹp nhất là ở Lancaster mà người ta còn ví von là Phi Yến hay hoa giai nhân. Sự rực rỡ của hoa Poppy  làm choáng ngộp tâm hồn du khách, nhưng trước khi lái xe đến thăm Little Sàigòn thủ đô của người tỵ nạn, bạn có thể dừng xe lại để tạt vào một nơi nào đó cuả bang New Mexico xem Yucca nở hoa. Đất khô cằn, cây thưa thớt, nắng nung người nên chỉ có loại cây Yucca này mới chịu nổi. Trước nhà tôi cũng có một bụi, mùa hè nóng như nung nhưng chỉ cần một vài cơn mưa là cây sẽ cho hoa, hoa vươn ra từ ngọn cây thẳng đứng  và xoè ra những bông hoa trắng muốt. Người Việt mình còn thi vị gọi là hoa hoàng gia, chắc vì vẻ quý phái của nó.

Thôi mình lại lên đường, bức tranh thêu của bà Laura đã làm tôi chợt nhớ lại chuyến viễn du đi ngang Nevada, đồi núi hoang vu chen vào những sa mạc cát bỏng dưới cái nóng nung người, Sagebrush mọc thành những bụi nhỏ nở hoa vàng, giống hệt hoa dã quỳ ở núi rừng Kontum quê mình ngày xưa. Với khí hậu khắc nghiệt và núi non khô cằn, ông Trời vẫn cố tô điểm cho vạn vật một chút duyên dáng của những cánh hoa Sagebrush bạt ngàn, làm lương thực cho các loài thú ăn cỏ ở đây được tồn tại.

NN_HK_Arizona.JPG NN_HK_Louisiana.JPG NN_HK_Alabama.jpg

Mình sẽ tiếp tục đi về phía Western USA, thế nào cũng phải nhìn thấy những đồi cát mênh mông  sa mạc vùng Arizona . Càng lúc càng nóng khô và nắng tạo ảo giác cho người lái xe, nhìn từ xa cứ tưởng có những khúc đường loang loáng nước. Xương rồng nhiều vô số kể, nhiều giống cao hằng mấy thước vươn lên giữa đồng khô cỏ cháy, mọc trên những ngọn đồi trọc làm cho phong cảnh càng hoang vu. Những bông hoa xương rồng vàng tươi thật đẹp trĩu trên cành xương xẩu, loại hoa Saguaro điểm tô cho sa mạc bớt vẻ hoang tàn. Lơ mơ nhìn qua kính xe, cái nắng ở đây làm cho mọi người cảm thấy khô đến rát mặt. Tôi nghe chị tôi nói:

“ Vùng núi non khô khốc và sa mạc này ngày xưa là của dân da đỏ. Mình cứ tưởng tượng xem, nghe như có tiếng vó ngựa dập dồn trên các đỉnh đồi trọc, nhưng lạ thay giữa vùng sa mạc thỉnh thoảng vẫn thấy có những cụm cây xanh, chỗ ấy nhất định có hồ nước. Đấy là ân sủng của thiên nhiên, chứ  làm sao con người sống nổi với một khí hậu khắc nghiệt, đồi núi trơ trụi như ở đây.”

Quay trở về Texas sau một chuyến đi dài, thấm mệt , bây giờ nhìn tấm tranh thêu của bà Laura, tôi lại nhớ đến một chuyến đi khác về hướng Đông  để thăm  tiểu bang Louisiana xứ đầm lầy, nơi ngày xưa có chuyến tàu chở những người nô lệ da đen đầu tiên  đặt chân lên nước Mỹ. Ở đây họ trồng một loại cây cao có bóng mát, lá xanh nâu  rất lớn như lá bàng khi nở hoa cũng to không kém, đó là hoa Mangolia. Mangolia thích hợp với khí hậu nóng ẩm như Texas, Louisiana và Mississippi, ba tiểu bang này nằm liền nhau dọc theo vùng vịnh Mễ Tây Cơ nên khí hậu cũng tương tự. Louisiana là một tiểu bang nghèo, những con đường còn nhiều dấu tích cổ xưa của thành phố New Orleans một thời là thuộc địa cuả Pháp, đến mùa Mangolia trổ hoa, những bông hoa trắng ngà hay hồng thẫm to những cái tô lớn xoè ra trông rất lạ. Đi qua một nhịp cầu chênh với mặt biển, du khách có thể nhìn thấy mực nước biển cao hơn đất liền được ngăn lại bằng một con đê, con đê này đã trở thành đường xe chạy, dưới nước giống cây nước mặn phát triển một cách èo uột và kém vẻ xanh tươi. Thành phố này cũng còn có những khu nghĩa trang mà hầu như các nấm mộ nổi cao lêu nghêu trên mặt đất.

  

tl_hoalucbinh.jpgGiá như bà Laura còn sống để  tôi có dịp nói chuyện với bà về một loài hoa có cuộc đời lưu lạc, đó là  hoa lục bình màu phớt tím, tôi đã nhìn thấy từng mảng tấp vào chân cầu dưới những đầm lầy nước cạn ở tiểu bang Louisiana. Loài hoa ấy đã lênh đênh trên sông nước Cửu Long, từ Tiền Giang đến Hậu Giang, từ dòng sông rộng mênh mông cho tới những bến sông nghèo miền Tây, hễ có sông có nước là có hoa lục bình. Đấy là loài hoa tuy tầm thường, vậy mà mỗi lần nhìn thấy nó người Việt xa quê  lại thấy hồn nao nao một nỗi buồn không rõ rệt.

Hoa lục bình

Xe cứ thế theo bản đồ mà đi thăm tiểu bang Alabama, những bụi hoa Camellias xuất hiện tươi thắm làm phong cảnh hai bên đường hình như xanh tươi, mát dịu hơn, những bông hoa xinh xinh hồng thắm khiến du khách trên đường xa không còn mỏi mệt. Nhiều  cánh rừng thưa ửng lên phía sau một nền trời xanh ngắt, để sắp bước vào biên giới của tiểu bang Georgia , có thành phố Atlanta vẫn được mệnh danh là thành phố của cây xanh, đường đi lên đi xuống bởi những ngọn đồi thấp và khí hậu cũng dễ chịu hơn vùng Tây Nam nhiều lắm. Cư dân ở đây trồng nhiều cây hoa Cheroyee Rose, dáng hoa  phảng phất nét đẹp của hoa hồng lại mươn mướt như nhung, nghe nói giống hoa này xuất hiện từ năm 1916 và từ đó hoa lan tràn khắp cả tiểu bang xinh đẹp này. Nhiều người Việt đã chọn tiểu bang Geogia làm nơi “đất lành chim đậu” vì nó dung hoà giữa nóng và lạnh nên trời thường rất mát mẻ, loại hoa Cheroyee Rose cũng tàn khi mùa đông buốt gía, nhưng đến muà xuân hoa nở tưng bừng khắp nơi, những quán cà phê vỉa hè trên  phố núi càng tăng thêm vẻ diễm lệ, trên đường phố chỗ nào cũng có hoa. Hoa tít trên cao, hoa treo trong gió, hoa lủng lẳng khắp nơi và người ở đâu không biết tuôn ra như chảy hội, thật đúng nghĩa một thành phố du lịch.

 NN_HK_Mississippi.JPG NN_cherryRose.jpg  NN_HoaCam.jpg

Trước khi đi ngược lên những tiểu bang miền Đông Bắc, bức tranh thêu của bà Laura đã đưa tôi về miền biển xanh cát trắng Florida, nếu đi về miền Trung thì Floria càng tuyệt vời hơn với những vườn cam vàng óng và các loại trái cây nhiệt đới hình như cũng hiện diện ở nơi này. Chanh, cam, mãng cầu, nhãn, chôm chôm, dần dần cũng được người Việt trồng trọt ở tiểu bang quanh năm nắng ấm. Tuy nhiên, vì gần biển nên Florida cũng bị hứng nhiều trận bão dữ dội hơn các nơi khác, nhưng sống đâu quen đó, người dân ở đây đã tạo cho họ thói quen chịu đựng với thiên tai, giống như xứ Phù Tang người ta quen dần với những cơn địa chấn.

Tôi biết thế nào bà Laura cũng đề cập đến loại hoa tiêu biểu cho tiểu bang sạch sẽ và dễ thương này. Thì đây, chẳng cần phải tìm đâu xa, thành phố của hoa cam và những trái cam vàng óng trên từng góc đường ở Tampa Bay đã hiện ra trong tầm nhìn của du khách, Orange Blossom tiêu biểu cho một Florida trù phú, trước sân nhà , ven bờ rào chỗ nào cũng có cam. Cam vàng óng trĩu trịt trên cành, cam sà xuống tận mặt cỏ đỏ ối, cam từ vườn nhà hàng xóm luồn sang, và người dân địa phương thì hình như không thiết đến chuyện hái cam để ăn hay bán, ai đi đường cũng có thể tiện tay bứt một quả mà nhâm nhi cho đỡ khát nước.

Khu nghỉ mát ở những thành phố biển nổi tiếng đã thu hút bao nhiều lượt du khách đến đây vào dịp hè, người đi xa hay dừng lại để ngắm nhìn những vườn cam, hít thở mùi hương hoa cam dìu dịu. So sánh với  cam California  nổi tiếng mọng nước nhưng hơi nhạt khác cái chua ngọt của cam Florida, tôi lại lan man nhớ đến những quả cam nhỏ xíu rám nắng hè cuả miền Texas nơi tôi cư ngụ. Trái nhỏ mà sao ngọt mặn  như bàn tay hoá công đã ướp vào đấy một chút muối đậm tình của miền “đất nóng tình sôi”.

Nguyên Nhung

(đón đọc phần 2 với những tiểu bang miền Trung Mỹ)

 

Bố Và Con

.

NN_fatherSons.jpg

Nhà tôi “dương thịnh âm suy”, một ông bố với ba thằng con trai mà tôi hay gọi đùa là “bố già, bố trẻ”. Đàn ông lo việc ngoài, đàn bà lo việc trong, người lo việc ngoài ăn xong bày bừa ra cho nên việc trong dù  không ít hơn việc ngoài, nhưng vẫn mang tiếng là “ngồi chơi xơi nước”. Ngày được định cư tại Hoa Kỳ, vừa đặt chân đến phi trường Quốc Tế, người bảo trợ có mời thêm vài người quen cùng đón cho xôm tụ, một bà  nhìn gia đình mới đến  phán một câu xanh rờn: “ Nhà này kém phúc đức nên đẻ toàn con trai”. Cả nhà ngớ ra không hiểu, sau mới biết gía chi có một cô con gái xinh xinh tuổi cập kê, nhà sẽ tấp nập vài chàng trẻ tuổi đang kiếm vợ chở đi làm giấy tờ, khám sức khoẻ hay chợ búa, không vắng như “chùa Bà Đanh”.

Tôi không thích khoe khoang về ông “Bố” của nhà  đâu, vì chả lẽ lại “mèo khen mèo dài đuôi”,  những điều tầm thường trong cuộc sống gia đình chắc nhà nào cũng giống nhau. Ngày lễ Cha ai cũng nhắc đến công ơn sinh thành dưỡng dục của Bố, nhưng cha tôi mất sớm lúc tôi mới năm, sáu tuổi, nặn óc để tìm lại hình ảnh người đã tạo ra mình tôi vẫn không nhớ được bao nhiêu. Vì vậy, người gần gũi nhất trong cuộc đời tôi là bố của lũ con, nếu ví von như cái nóc nhà che mưa che nắng thì cũng không sai chút nào.

Khi hai đưá con tuổi còn thơ ấu bố đã không có nhà, đây là sự thiệt thòi của tuổi thơ mặc dù có mẹ nuôi dưỡng. Thời gian ấy mọi sự bế tắc đè nặng lên gia đình tôi, trong cũng như ngoài, tôi ôm hết cả hai. Nỗi đoạn trường này là của chung nhiều nhà chứ chẳng phải riêng nhà tôi, lưới giăng lồng lộng chẳng chim nào bay thoát nên tôi đành chấp nhận, vừa chạy chợ kiếm ăn vưà dạy con.

Con vừa lớn là bố về kịp lúc, cả nhà mừng húm dù thêm một miệng ăn. Sau một ngày vất vả, lúc về tôi thường tạt qua chợ chiều tìm mua thực phẩm  ế ẩm cuả bạn hàng trong chợ, cuối ngày bán tống bán tháo để về nhà. Bữa cơm nhà nghèo thường chẳng có cao lương mỹ vị, tôi tìm cách chia sao cho bố con cùng vui cùng no. Ít trái cây, vài cái bánh, tôi chia phần:

“Ai nhiều tuổi thì được ăn nhiều, ai ít tuổi ăn ít. Bố hai cái, mẹ và các con mỗi người một cái đồng đều.”

Thằng bé con ngồi đếm xong con toán nhỏ phụng phịu hỏi:

“Sao mẹ lớn mà cũng chỉ có một? Con cũng muốn hai như bố.”

Trẻ con chưa hiểu nổi cảnh nhịn cơm xẻ canh trong thời buổi khó khăn, người lớn chỉ biết cười mà ngậm ngùi trong dạ. Trong trại ngày hai bữa cơm tù, ăn thế nào cũng xong. Trở về với gia đình chưa vui hết niềm xum họp, lắm nhà đã vỡ tan vì cơm áo gạo tiền. Tôi nhìn quanh cuộc sống, nhiều gia đình như vậy nên biết phải tế nhị hơn để cuộc sống tuy thiếu thốn một chút, nhưng chẳng có lúc nào chữ tình chữ nghĩa quý bằng lúc này, chỉ cần gắt gỏng nói một câu thiếu suy nghĩ là hết cả cái tình mình hằng nâng niu gìn giữ.

Thằng bé chào đời sau ngày bố đi xa, mãi đến 7 tuổi mới thấy bố xuất hiện nên  cũng hay “ghen” với bố, tự nhiên trong nhà có một “ông” lạ hoắc đi ra đi vào, lại có vẻ được săn sóc, chia phần nhiều hơn thì  khó chịu lắm. Nhưng dần dần cu cậu lại thích vì từ nay đã có bố đón đưa khi đến trường hay tan học, đối mấy thằng nhóc to con  ăn hiếp thì cu cậu đã vênh mặt lên ra điều “Bố tao đấy!”. Oai thật, bài vở khó đã có bố giảng giải cặn kẽ đến khi nào hiểu mới thôi. Tuy bố chưa kiếm được việc làm để có tiền mua đồ chơi cho con, nhưng mùa trung thu Bố làm cho cái đèn lon sữa bò đục lỗ, trong để cây đèn cầy kéo leng keng trên con hẻm nhỏ, nghe cũng vui tai mà không bị cháy như đèn con gà, con thỏ. Bố về, thêm những món đồ chơi thủ công đẹp khéo tuyệt vời, máy bay, xe tăng, chim chóc xếp bằng giấy, cu cậu tha hồ chơi suốt ngày không chán.

Có bố ở nhà con học hành khá hơn, đứa lớn đã bước vào Trung Học, bỏ đi những môn vớ vẩn nhồi nhét chính trị, bóp méo lịch sử thì mấy môn chính như sinh ngữ, toán bao giờ cũng được kèm cặp đâu vào đấy. Dù sao vốn chữ nghĩa của bố không đến nỗi tệ, tôi yên tâm chạy chợ kiếm ngày hai bữa cơm, việc dạy dỗ học hành cuả con giao toàn quyền cho bố đảm trách. Thỉnh thoảng bố chở con ra bờ sông câu cá, vào công viên chơi đá banh, hôm nào có tiền mua cho con diã bò khô, cây “cà rem”, mấy bố con chơi với nhau , nhìn  bên ngoài tưởng an nhàn, thảnh thơi nhưng thực ra cuộc sống  đang tắc nghẽn trong vòng rào kẽm gai.

Khổ thay! Từ ngày Bố về từ cái nhà tù nhỏ là bước luôn vào cái nhà tù lớn, màng nhện giăng tứ phía như “thiên la địa võng” nên đi đâu cũng có người “quản ný” chặt chẽ. Bực lắm nhưng biết làm sao, ngay cả cái hộ khẩu cũng không có nên hễ đêm nào nghe tiếng chó suả, tiếng bước chân đi rầm rập trên con hẻm tối thui, thêm một hồi chuông cửa lảnh lót giữa đêm khuya là biết nhà được “hỏi thăm”.

Cửa vừa mở, bốn năm cái bóng ùa vào nhảy thoắt lên cầu thang, chỉa đèn pin sáng loè ra tứ phía, vào tận mấy cái giường còn buông mùng sùm sụp. Đang ngủ ngon bị ánh đèn pin chiả ngay vào mặt, thằng bé con ngái ngủ càu nhàu:

“Thằng nào chơi kỳ dzậy?”

Đèn tắt ngúm, các chú “công an” đi xét nhà kiểm soát người cư trú bất hợp pháp đấy chứ có  “thằng” nào đâu, nhưng trong mùng chỉ là thằng con nít đang say ngủ, lục khắp nhà cũng không kiếm ra người ở lậu không khai báo. Sống không hộ khẩu là bất hợp pháp rồi, lại đuổi, đêm nào nghe tiếng chó sủa ồn lên từ ngõ ngoài vào ngõ trong là biết những nhà nào trong xóm được hỏi thăm. Nhà bác Mười “Biệt Kích Dù” bán cá kiểng cá đá, nhà bác Ngôn cựu giám đốc huấn luyện trường Phi Hành  ở Nha Trang ngày xưa, toàn những người vừa từ trại cải tạo về. Sáng hôm sau lại vắt giò lên cổ trình quan Quận, thiếu thủ tục “đầu tiên” nên khi ra về ai cũng nhận tờ trát phải đày đi vùng kinh tế mới. Vẫn lì ra không đi, viễn ảnh một vùng đất khô cằn trơ trụi, không trường học chợ búa, lấy chi mà sống, bao người từ những nơi ấy đã liều lĩnh trở về, không nhà, không hộ khẩu ngủ đầy dưới mái hiên hè phố, đã sao đâu, cùi đâu còn sợ lở.

Muốn lì lợm sống còn trong thời buổi đó cần phải có việc làm, kẻo mang tiếng ăn bám xã hội, lười lao động. Bố đi tìm việc làm, chỗ nào cũng lắc đầu quầy quậy vì cái lý lịch tối thui, may quá nhờ người quen dẫn vào làm một chân “cu ly” đẩy xe ba gác cho hợp tác xã Cơ Khí. Sài Gòn nắng nung người, nắng như thiêu như đốt nên Bố đen thủi đen thùi như con cháu nhà Sihanúc, nhìn thoáng là biết Bố thuộc tầng lớp nào trong xã hội. Dù lương ít nhưng vẫn có lý do “lao động là vinh quang”  để bám trụ thành phố. Mặc kệ, sóng đánh tới đâu thuyền neo tới đó, cạn ao thì bèo xuống đất, vẫn hiên ngang ngẩng mặt nhìn đời vì miếng cơm manh áo mình làm ra từ giọt mồ hôi lẫn trong nước mắt.

Chịu đựng mãi rồi cái gì cũng qua, cho đến một ngày thấy thiên hạ ùn ùn đăng ký đi Mỹ theo diện H.O thì cả nhà vừa mừng vừa không tin nổi, cứ như truyện huyền thoại cây đèn thần xứ Ba Tư. Thời bấy giờ người ta gọi là “những người ho hen” vì ở tù về có hằng trăm thứ bệnh, nhưng cũng nhờ cam khổ  khi thất thế mà sau này cái gì cũng chịu đựng được.  Ánh sáng le lói cuối đường hầm, hình như mãi đến lúc này những người như Bố mới có cơ hội ngẩng mặt lên nhìn ánh mặt trời. Người có tiền rỉ tai nhau  ùn ùn ra Hà Nội chạy chọt để được đi trước, ai cũng bảo nhau “sang sau, trâu chậm uống nước đục”, Bố vẫn bình chân như vại vì nghĩ chương trình “Ra Đi Có Trật Tự” thế nào cũng tới lượt, với lại con người còn  có số mạng.  Ở đó mà chờ tới lượt, không có thủ tục “đầu tiên” thì đừng nói chuyện ra đi. Sốt ruột quá, mẹ lại vét hết trong nhà cho đủ tiền lên danh sách mới chóng được rời khỏi đời sống tối tăm này, thôi đành “qua sông thì phải luỵ đò” vậy.

Ngồi trên máy bay rồi cả nhà mới thở phào, dù rằng trước giờ ly biệt với người thân, những giọt nước mắt ngắn dài thi nhau tràn ướt má. Người ở lại vẫn vất vả với cuộc sống vá víu hằng ngày, người đi mơ ước một tương lai xán lạn  cuối chân trời, nhưng vẫn lo lắng chẳng biết sẽ làm gì nơi xứ lạ. Mãi tới khi đặt chân đến phi trường đầu tiên ở San Francisco chờ máy bay chuyển tiếp sang Houston, thấy người lao công quét dọn rất nhàn tản trong nhà vệ sinh mát rượi , Bố cứ thắc thỏm mơ ước sao qua Mỹ kiếm được một cái “job” thơm  như vậy.

Mùa Đông đầu tỉên ở nước Mỹ mưa gió lạnh lùng, buồn bã làm sao, nhưng đó là cảnh ngoài trời còn trong nhà thì đang chứa chan niềm hy vọng. Khổ nhiều rồi, chả lẽ không chịu nổi khi xứ sở này cơ hội có bỏ ai bao giờ, nếu không lười biếng mà chấp nhận ngay một công việc tầm thường, đời vẫn còn ngon chán. Ở quê nhà, ai cũng tưởng hễ sang Mỹ là lũ nhỏ nhảy tót vào trường học, chỉ một thời gian là tốt nghiệp bằng này cấp kia. Thực ra con ngu ngơ chưa biết gì, tiếng Anh còn ngọng ngịu nói mãi chưa được một câu, Bố vẫn hiên ngang  làm cái “đầu tàu” kéo nguyên một toa tầu nặng nề vượt qua những chặng đường ray dài dằng dặc.

Vừa qua Mỹ người tỵ nạn nào cũng cuống quýt lên đi tìm việc làm, trước hết trả tiền nhà cửa , “bill” bọt hằng tháng, sau là gửi về VN cho người thân để khoe cái may của mình khi ở  “xứ sở của mật ong và sữa”, mấy ai đã có lúc hiểu nổi cái khổ của con bò và con ong. Chân ướt chân ráo vừa đến được hơn tuần, một bà cùng quê đã ưu ái quan tâm gọi tới, giọng “bề trên” chắc nịch:

“Nếu cô chú muốn mau ổn định như người ta, phải nghe tôi. Tôi có cái tiệm “Grocery” khu da màu đắt hàng lắm, thấy chú nhanh nhẹn tôi dành cho một chân bán hàng từ 5 giờ chiều đến 11 giờ đêm, (giờ của bóng đêm và tội ác), buổi sáng vẫn đi học được như thường. Cô sạch sẽ khoẻ mạnh, đến nhà giữ cháu nội cho tôi và làm việc nhà, mỗi tuần hai trăm, người khác chỉ trả trăm rưởi.”

Cả nhà ngồi tính toán, lại mừng húm, trước mắt có công ăn việc làm rồi nhà cửa, xe cộ mấy hồi, đời cứ đẹp như mơ. Nhưng khi hai vợ chồng dẫn nhau đến “tham quan”  tiệm tạp hoá trong khu nhà thấy mấy ông da màu đang xúm quanh đống củi sưởi ngoài sân , giương  mắt chò hỏ nhìn chằm chằm mấy người Á Châu thì hãi quá. Vợ phát rét bảo chồng:

“Thôi anh ạ, khổ thì khổ nhiều rồi. Chính phủ cho mình 8 tháng trợ cấp là để đi học tìm một việc làm hợp khả năng,thế nào họ cũng giới thiệu công việc cho mình, đi làm hãng xưởng vẫn yên tâm hơn. Tại sao không hưởng những ngày học hành thư thả cho người nó khoẻ ra rồi hãy đi làm? Em cũng không thể bỏ chồng bỏ con ở nhà để làm “ô sin”, tiền thì lúc nào chả cần nhưng so với cái “đoạn trường” sau năm 75 chả thấm gì.”

Hai vợ chồng dắt nhau về, còn nghe thêm một bài “gia huấn ca” của người đồng hương là cái thứ mới qua “bày đặt học với hành”. Mãi sau này mới nghe bà ta tự thú rằng đã từng bị kê súng vào màng tang mấy lần mà may quá nó không “

bóp cò”, chứ không cũng đã “tiêu diêu miền cực lạc”. Sau này nghe nhiều người đi trước cũng bảo, chẳng thời gian nào khoẻ bằng lúc mới đến hưởng trợ cấp đi học, khi đi làm rồi mới thấy cái khổ cuả những sáng mùa đông rét thấu xương, những trưa mùa hè nắng cháy, những chiều mệt nhọc khi tan ca mặt trời đi ngủ sớm .

Cuối cùng Bố cũng tìm được việc làm do  Y.M.C.A giới thiệu, lương bổng chẳng bao  nhiêu nhưng cứ hai tuần lại có cái “check” mang về khoe vợ con. Công việc không nhọc nhằn lắm so với những ngày lao động ở quê nhà, nhưng gò bó thời gian như một cái máy chạy đúng giờ giấc. Sáng mù sương rét buốt đã phải lóc dậy lái xe đi làm, hai cha con chung nhau một  xe, chiều về đi xe bus vì con đã lái xe đi làm đi học. Nhờ cái xe tàng mua rẻ được của một ông Mỹ gìa, trong thời gian này hễ có ngày nghỉ  là cả nhà kéo nhau đi chơi. Hết câu cá câu cua lại ra biển tắm tát, điếc không sợ súng nên chỗ nào cũng mò tới mà không sợ xe bị “banh ta lông” dọc đường.

Nhà ba thằng con trai là ba thế hệ khác nhau, tuổi tác chênh nhau nên mỗi đứa Bố lại phải hướng dẫn một kiểu. Đứa lớn nhất đã trưởng thành ở VN, không sợ con hư hỏng nhưng đường đời con còn non nớt quá, chưa hòa nhập được với xã hội mới vì bất đồng ngôn ngữ cũng có, sự học dở dang từ VN nay bắt lại từ đầu khó nhọc biết mấy, cũng vẫn bố khuyến khích dìu dắt để vào đời. Lo nhất là thằng tuổi “teen” mà cha mẹ nào ở Mỹ cũng phát sốt lên vì những phức tạp tâm lý trong những con người trẻ đang tuổi dở dở ương, nhưng cũng nhờ phước đức ông bà để lại, sóng trước đánh sao sóng sau vỗ đó nên thằng anh lại hướng dẫn thằng em, 5 ngày trong tuần đi học còn cuối tuần đi bưng phở kiếm tiền xài thêm.

Mới đút đầu ra đời cu cậu đã choáng váng với cách “vắt chanh phải vắt cho kiệt, xứng với đồng tiền bát gạo” cuả bà chủ tiệm, suốt hai ngày cuối tuần làm việc cật lực nên không có giờ đàn đúm với bạn bè. Khi đổ rác, lúc bưng tô, vài đứa trẻ tuổi mới từ VN sang đã có lúc bị bà chủ mắng té tát khi đứng nói chuyện với nhau ngoài thùng rác. Một anh có tuổi hơn thở dài khuyên thằng đàn em cùng ngành bưng bê:

“Ráng học em ơi! Sau này anh em mình phải ráng thành tài để khỏi bị người ta mắng mỏ như vậy, nhục lắm!”

Nhờ ý chí vươn lên mà sau này cả hai đều đậu bằng Cao học, một kỹ sư điện toán và một kỹ sư xây dựng. Khi dẫn bạn đến ăn ở tiệm phở ngày xưa, bà chủ đã đon đả chào và  khoe với khách hàng: "Tiệm của tôi toàn đào tạo kỹ sư, bác sĩ”. Thật vậy, nếu không nhờ những lời mắng mỏ như té nước của bà thì xã hội đâu có nhân tài.

Thằng bé nhất còn nhỏ quá khi đến Mỹ, đây là sản phẩm “Made in Vietnam” mà Thượng Đế tặng cho cặp vợ chồng gìa, nhưng  hoàn toàn hấp thụ văn hoá Mỹ, nếu như bố mẹ không khéo gần  sẽ thấy cách con hằng vạn dặm. Cha con bàn với nhau, nhà cần có người cơm nước, em cần có mẹ đưa đón khi đi học, và sau giờ học điều cần nhất là không để thằng lỏi lang thang không ai kèm cặp. Giữ thêm vài đứa trẻ nữa để mẹ ở nhà chỉ lo việc trong mà khỏi lo việc ngoài, khỏi thức khuya dậy sớm dầm sương dãi nắng. Kể cũng là nghề tự do, nghe thì nhàn thật đấy nhưng nghề giữ trẻ cực nhọc chứ không nhàn hạ như người ta nghĩ.

Ba đưá con lớn lên trong sự đùm bọc cuả cha mẹ, nhưng lại gần gũi bố nhiều hơn vì khi bước ra đời, có bao nhiêu điều mà người đàn bà ở nhà không làm sao hiểu hết được. Cách ứng xử trong  cuộc đời đầy lừa lọc nơi nào cũng thiên hình vạn trạng, với thời gian các con đã tiến lên nhưng vẫn là con nai tơ đối với cuộc đời muôn mặt. Bố tuy đã lùi bước ra sau nhưng vẫn là điểm tựa tinh thần để con hỏi ý kiến, rút kinh nghiệm khi gặp khó khăn trên đường đời. Bản tính bố cần cù, trầm tĩnh, thận trọng và biết lắng nghe, những điều này cần thiết cho con nhìn rõ những phức tạp trong dòng đời, giải quyết nhiều vấn đề khi con gặp trở ngại, khác với mẹ lúc nào cũng cuống quýt lên như gà mắc đẻ.

Bố còn là chuyên viên kỹ thuật và sửa chữa các thứ hằm bà lằng trong nhà, chiếc lò nướng đã cũ mẹ vứt vào thùng rác, hôm sau ra “garage” đã thấy nó chễm chệ trở lại nằm cạnh cái bếp điện. Cái xích đu hỏng biến ngay thành cái giàn cho hai nàng tóc tiên và tigôn nở hoa. Cả nhà hay gọi bố là người làm cho nền kinh tế Hoa Kỳ không phát triển, vì chả chịu mua sắm gì cho bản thân, nhưng lại rộng rãi với vợ con trong nhà , vậy mới kỳ cục!

Bây giờ đầu bố đã bạc, mắt đã mờ chân đã mỏi, bố nói năng không hoạt bát, chẳng biết thơ phú văn chương nhưng biết sửa cái nhà cái cửa, biết đóng cái giàn cho bầu bí, hoa kiểng trèo leo. Những công việc tầm thường nhưng thật là cần thiết, nhiều khi hạnh phúc gia đình chỉ cần có thế, các con cần một người hướng dẫn chỉ bảo trong nhiều tình huống xảy đến trong cuộc đời.Bố là chiếc  bóng thầm lặng  nhưng là  bóng mát chở che để gia đình luôn là một mái ấm. Các con lớn dần lên đã có cuộc đời riêng, bên ông bố gìa lại thêm mấy ông bố trẻ, mấy nàng  dâu thì thầm với mẹ chồng:
“ Con cũng chỉ mong nhà con được như bố !”

Nguyên Nhung

( Father’s Day 2011)

VƯỜN RAU QUÊ HƯƠNG

NN_Sauconmua.JPG

Ngày mua được căn nhà mười lăm tuổi, có sẵn mảnh vườn sau, Hân nghĩ ngay đến chuyện gầy dựng một vườn rau quê hương trên xứ người, để bù đắp cho những thiếu thốn tinh thần, mà dẫu xứ sở này dư thừa vật chất vẫn không khỏa lấp nổi.  

Suốt ngày bù đầu nơi xưởng máy, công việc thì đều đều nhàm chán, vây xung quanh là những vách tường sơn xám khiến lúc nào cuộc sống cũng buồn tẻ. Chiếc máy lạnh chạy rì rì suốt ngày, bấy nhiêu con người thở ra hít vào cái không khí đặc quánh mùi dầu mỡ. Hân thèm, thèm lắm, khoảng không gian màu xanh của quê nhà, giàn dưa chuột thấp lè tè với những quả xanh, vạt rau cải, những luống hành hẹ và mùi cỏ khô lẫn với mùi phân bò ngai ngái, nhưng đầy ắp không khí miền quê Nam Bộ. Hân nhớ lắm một mảng trời xanh, một đêm trăng tĩnh mịch trước sân nhà, ụ rơm khô có con bò đang nhơi cỏ. Trăng nằm sóng soải trên từng cuộn mây trắng, khiến chàng hình dung trời như một vùng biển xanh, mà những giải mây trắng kia lại là những con sóng bạc đầu gờn gợn trong không gian.   

Thật ra mỗi một đời người, mỗi một thân phận đã gắn bó ít nhiều với những thăng trầm của dòng lịch sử quê nhà, Hân ra đời vào những năm đất nước chia hai. Dạo ấy, làn sóng người Bắc di cư vào Nam đã đổ về vùng ven đô này lập nghiệp, Hân lớn lên và cùng đi học với những đứa trẻ từ miền Bắc vào. Khi mùa màng gặt hái xong, trên cánh đồng còn trơ lại những cọng rơm tươi, Hân đã từng dẫn đám bạn xa lạ ấy đi mót lúa, đậu phọng hay hái trái dại trong khu rừng cao su phía xa. Dạo ấy còn thanh bình, miền quê không nghe tiếng súng, nghe văng vẳng tiếng chuông chùa xóm người Nam, hòa với tiếng chuông nhà thờ xóm người Bắc. 

Riêng Hân, chàng thanh niên ngày nào phải bỏ quê nhà ra đi, nay đã là người đàn ông đứng tuổi. Vẫn ngậm ngùi đau xót nhiều năm tháng, khi bất chợt nhận ra cái cảm giác mâu thuẫn trong tâm hồn mình, khi không hề phản bội quê hương, mà vẫn cam lòng chịu hai chữ vong quốc. 

Hình ảnh quê hương còn trong lòng Hân là những rẫy đất trồng đủ thứ rau xanh. Miền quê nghèo, đất thịt pha cát chỉ thích hợp cho việc trồng rẫy. Tuổi thơ của chàng đã chạy nhảy trên những luống khoai, luống cải, những cánh đồng trồng đậu trồng cà. Cuối năm theo cha mẹ ra rẫy, trẩy những trái dưa hấu tròn căng, xanh thẫm mang ra bán trong những buổi chợ Tết. Chiếc xe bò nghiến những bánh xe gỗ lóc cóc trên con đường đất khô ran, Hân còn ngửi được cả mùi phân bò lẫn với cỏ hắt lên từ những thửa đất trồng rau ven đường. Thuở ấy, Hân còn bé, nghe mấy đứa miền Bắc đọc ra rả bài thơ cảnh miền Nam:

        "Tôi yêu tiếng Việt miền Nam

Yêu con sông rộng, yêu hàng dừa cao

        Yêu xe thổ mộ xôn xao

Trên đường khúc khuỷu đi vào miền quê

        Tôi yêu đồng cỏ nắng se". . .      

Cho mãi đến bây giờ, chàng mới cảm thấy nỗi nhớ quê hương thật sâu sắc và dữ dội, nhất là trong những ngày cận Tết. Tất cả hình ảnh miền quê cũ, cây mai trước sân, con gà gáy sớm, con heo ủn ỉn đi ra đi vào xục mõm vào nồi cám, những thứ tầm thường ấy sao vẫn làm chàng nhớ đến quắt quay.    

Quê hương chàng nhiều tháng năm sau đó đã trở thành bãi chiến trường, mà những người bắn giết lẫn nhau lại cũng chỉ là những khuôn mặt thân quen cùng lớn lên từ thôn xóm hiền lành ấy. Rừng cao su bạt ngàn trơ trụi lá vì thuốc khai quang và bom đạn. Nhìn cảnh tiêu điều của rừng chiều quạnh hiu, những nhánh cây giơ lên trời như những bộ xương khô in trên nền trời màu tím thẫm lúc hoàng hôn, lòng Hân rã rời như đánh mất một cái gì không rõ rệt. Chiến tranh là vậy, là đánh mất màu xanh của cây và đánh mất màu xanh của tâm hồn. Chỉ tội nghiệp cho những người dân sống ở đó, vẫn phải nương vào những ruộng rẫy để mưu sinh, để tồn tại. Khi mùa mưa tới, những trận đánh càng xảy ra thường hơn. Ban ngày buổi chợ quê nhóm lèo tèo vào lúc sáng sớm, chỉ mười giờ là chợ tan, trên nền xi măng của nhà lồng chợ chỉ còn vương lại những mảnh lá chuối khô, nắng đã chói chang dội xuống mái nhà tôn hầm hập nóng.      

Chiều về, trời chưa tắt nắng, ở chiếc lô cốt đóng ven đường lộ chính, vợ con những người lính đã chui vào những mái lều thấp lè tè cất xung quanh cái đồn lính. Cái đồn nằm cô quạnh giống như một cái bếp than, được úp xuống với ba cái cửa tò vò, từ lỗ châu mai thò ra mấy họng súng . Họ sống nhiều năm tháng phập phồng ở đó trong vòng rào kẽm gai đầy mìn rải quanh đồn. Những đứa trẻ đen đủi trong vòng rào kẽm gai, vài người đàn bà theo chồng sống một đời bất an trong thứ hạnh phúc nắm được từng giờ. Những khuôn mặt người lính địa phương gầy gò, mặc đồ trận màu xanh đi giày vải, đôi mắt lơ láo vì căng thẳng chờ đợi kẻ thù, bóng tối và sự chết ập xuống bất ngờ không hề trông đợi.   

Có những buổi chợ sớm, người đi chợ nhốn nháo lên vì một loạt đạn vang lên giữa buổi chợ đông, và người ta bỏ chạy tán loạn khi một người bị bắn gục, dòng máu đỏ loang chảy trên nền đất. Những khuôn mặt quen quen mà ngày là bạn, đêm đã trở thành thù, nước da đen ròn với nắng gió rẫy nương. Hân đã có những thằng bạn chung lớp, sau này theo bên kia, lúc gặp nhau vẫn tay bắt mặt mừng, vẫn có thể nã súng vào chàng không thương tiếc. Một cuộc chiến tranh kỳ cục và cay đắng cho người dân Việt Nam, được du nhập ở tận đâu đâu, biến con người, quê hương thành hai hố thẳm đen ngòm, đầy những hận thù và chết chóc.    

Cho nên, ngày chiến tranh chấm dứt, dẫu đứng về phía những người bại trận, Hân vẫn không thể nào không thở phào nhẹ nhõm. Ít ra là cuộc chiến đã kết thúc, khu rừng cao su sau mùa mưa có thể đâm những chiếc lá xanh, đỡ xơ xác khi chiều xuống. Ít ra chàng sẽ không phải nhìn thấy những đôi mắt trẻ thơ thập thò trong vòng rào kẽm gai, những người lính trở về đời sống bình thường và sẽ có một mái nhà. Và ít ra, những người ở bên kia không phải tìm cách giết những người bên này.      

Điều khiến chàng đau lòng là sự thiếu hiểu biết của người thắng trận, nó tiếp tục đưa đẩy dân tộc vào nhiều nỗi thống khổ, mà đáng lẽ phải được hàn gắn những vết thương chiến tranh trong suốt bao nhiêu năm tương tàn. Bởi vậy Hân mới phải bỏ quê hương mà đi, mang theo bên lòng bao nỗi niềm đau xót.         

*   *   * 

Khu vườn phía sau được người chủ cũ trồng mấy cây thông bên vệ rào, nay đã lớn, tàn xoè ra làm mát một khoảng sân rộng. Những cây hoa cúc dại màu tím vàng, mọc tràn lan trên bãi cỏ trống, người chủ cũ chắc cũng không có nhiều thì giờ cho việc trồng tỉa để khu vườn tươi đẹp hơn.      

Người ta thích trồng thông vì thông mang dáng dấp quân tử, với Hân thì chẳng có cây nào tiểu nhân, chẳng có cây nào quân tử, và cũng chẳng có hoa nào lẳng lơ. Chẳng qua là tại tâm, hễ tâm rộng thì nhìn đời thoáng đãng bao dung, còn tâm hẹp thì nhìn đâu cũng thấy hận thù, nghi ngại. Cho nên, nếu có làm thông, được dáng đứng uy nghi, quân tử, thì cũng đâu hẹp hòi gì mà không che chở cho những cây cỏ nhỏ nhoi, còi cọc giữa bãi cỏ đời mênh mông. 

Tiết trời vừa sang Xuân, cây cỏ sau giấc ngủ Đông chợt sống lại, những bông hoa tím xinh xinh chen lẫn với cỏ non tràn lan khắp mảnh vườn sau. Những bông hoa be bé không tên ấy thật dễ thương, đơn sơ, nhu mì như hình ảnh người con gái miền quê thuở nào, màu áo bà ba tím ngọt đã để lại trong lòng Hân một nỗi nhớ khó quên. Loại hoa này có sức sống bền bỉ như loài cỏ dại, Hân thích nhất vẻ đẹp mảnh mai dịu dàng của hoa, hình như từ lúc bắt đầu nở cho đến khi tàn, hoa chẳng bao giờ khép cánh mỏi mệt, những cánh hoa xinh xinh tiếp nối để chẳng bao giờ tàn. Khi hoàng hôn xuống, mặt trời sắp đi ngủ còn để lại chân trời một vầng mây phơn phớt đỏ, rồi chuyển dần qua màu tím, Hân cảm thấy lòng mình rưng rưng với nỗi buồn thầm kín mơ hồ tận trong tiềm thức, mà những bông hoa tim tím rung rinh trong gió chiều hình như cũng biết rung động với nỗi buồn man mác đó.      

Trước tiên, Hân phải làm cỏ và dọn một bãi đất xốp và mát để ương cây con. Mùa Xuân là mùa đẹp nhất để ươm cây, nhìn những cây đậu, cây mùng tơi, cây bầu cây bí nứt hạt hé mầm vào giữa tiết xuân mát mẻ, Hân liên tưởng đến những đứa bé được sinh ra trong tình thương, sự săn sóc trìu mến của ông bà, cha mẹ. Chàng không thể không nhớ đến những đôi mắt trẻ thơ ở quê nhà, những đôi mắt đen tròn, mở thao láo bên trong vòng rào kẽm gai thời đất nước chiến tranh, những đôi mắt trẻ thơ trên hè phố, biểu hiện cho sự đói khổ, toát ra ánh nhìn van xin khi đất nước đã hòa bình, Hân lại càng ngậm ngùi cho sự thống khổ của đất nước.    

Trước khi gieo hạt, Hân đã ngâm hạt giống một ngày một đêm với nước ấm, xong được ủ vào những chiếc chậu nhỏ. Với cơn mưa xuân nhè nhẹ và cái mát mẻ của trời Xuân, chỉ vài hôm sau cây nứt hạt, nhúm đất con con bỗng bị đẩy ra bởi bàn tay non nớt của hai chiếc lá nõn, cây đã cựa mình, như đứa hài nhi cố cựa quậy để ra khỏi lòng mẹ. Rồi từ cái màu ưng ửng ấy, nhờ ánh sáng mặt trời, chỉ vài hôm lá to dần lên, xanh mướt, y như những lượt tóc tơ mượt mà trên đầu đứa trẻ nhỏ, rất thích mắt. Vẫn chưa quen với mưa nắng cuộc đời, người chủ vườn vẫn phải săn sóc cho cây với cái tình êm ái lắm, vì chỉ cần một cơn mưa nặng hạt, một buổi nắng trưa hanh hao là cái thân ẻo lả kia có thể đổ xuống ngả nghiêng, vì gốc chưa vững.    

Nhìn những chồi non một ngày một lớn, tự nhiên Hân thoáng một chút bâng khuâng, vì chàng vốn là người hay suy nghĩ. Phải rồi, chàng nghĩ đến phận người, những đứa bé sinh ra trên mảnh đất vùng quê khốn khổ của chàng, vẫn những đôi chân không nhảy nhót trên đường làng, lùng sục trong những rẫy những ruộng để mót về những hột đậu phọng hay hạt lúa còn sót lại trên đồng. Đất nước chàng ở đó có những con người nuốt hết những của ngon, của ngọt, khiến những đứa bé vừa sinh ra lại được coi là gánh nặng cho xã hội, cho đất nước. Chàng biết họ đã có kế hoạch làm sao cho những đứa bé không thể ra đời, với ý nghĩ hãi sợ sau này sẽ có những kẻ dành mất phần ăn của họ, lấy mất chỗ đứng của họ. Chứ họ có biết đâu rằng, con người vốn bắt đầu từ 0 thì cũng trở về 0, như triệu triệu con người sinh ra, rồi lại triệu triệu con người mất đi, chỉ là để nối tiếp công việc bảo tồn đời sống của nhân loại. Tham sống sợ chết đã đành, nhưng sống như thế nào và chết như thế nào thì với những kẻ vô nhân, chỉ có nghĩa là vơ vào cho đầy ắp túi tham của họ mà thôi.       

Những cây đậu đũa giờ này đã vươn cao lên tới cái giàn nằm cách mặt đất độ hai thước, và khi những chú đậu non như hai đứa bé song sinh, thò hai cọng đậu dài như hai chiếc đũa qua lỗ mắt cáo trên mặt giàn, lúc ấy cả nhà đã sửa soạn có được những bữa cơm ngon với rau cỏ trong vườn. Cô nàng mùng tơi đã khoe những chiếc lá mọng, được chuẩn bị hái nấu với tôm tươi bóc vỏ, là khi ấy khu vườn đã bước vào tiết cuối xuân mát mẻ. Cuối Xuân khi trời còn rất xanh, bát canh mùng tơi xanh biếc hay đĩa đậu đũa xào tôm thịt, ăn với dưa mắm trộn tỏi ớt, thêm một chén nước mắm nguyên chất giầm với quả ớt chín chỉ thiên, chẳng ngon lắm sao??!!       

Đúng ra đâu phải cây nào cũng qua tiến trình đâm hoa, kết quả thì mới được coi là có giá trị. Rau thường chỉ ăn lá, mà thứ trúc đào chỉ cho hoa đỏ thắm, dù không ăn uống được nhưng nàng ta vẫn có cái thắm tươi riêng biệt để tô điểm cuộc đời. Những hoa chanh, hoa lài thường tỏa hương vào buổi tối, dưới ánh trăng, khu vườn thoang thoảng trong không gian mùi hương của hoa cỏ, cũng đủ sức làm dịu đi nỗi mệt nhọc sau một ngày làm việc. Nếu không nhờ những cánh hoa ấy, mùi hương ấy làm sao con người có thể quân bằng nội tâm. Rồi những loại rau như cây bù ngót, thân khẳng khiu và ngay đuỗn mọc ra những chiếc lá xanh nho nhỏ, chỉ cần hái đầy một rổ, vò sơ rồi nấu với chút thịt nạc băm nhuyễn, mát đáo để. Người khô hạn, phổi hanh hao, mắt mờ, đầu váng vất, nắm lá xanh ấy có tác dụng thần kỳ, cái nóng cái khô như biến ngay đi, dễ chịu như được người con gái đắp chiếc khăn mặt ướt lên trán vào một trưa hè.      

Cây cỏ trong khu vườn rau của Hân, giống như thần dân của một vị vua nhân đức, được hưởng phúc ấm của người lãnh đạo mà làm đẹp cuộc đời. Đấy cũng nhờ ở cách dùng, cách trân trọng tối đa, nhờ thế mà cây tươi tốt, xum xuê, nẩy hoa đơm trái. Chân lý ấy mà áp dụng được trong một gia đình, một tập thể, một quốc gia thì hẳn nhiên đã có thiên đàng tại thế.     

Nhìn vườn rau xanh tươi tốt của mình, Hân có cái vui đang làm một điều gì có ích lợi, dẫu rằng chỉ thu hẹp lại trong thế giới cây cỏ. Muốn thực hiện được sự công bằng không thiên vị cho bất cứ loại cây nào, lợi nhiều hay ít, người chủ vườn vẫn phải có cái nhìn vô tư và thẳng thắn. Lão bí rợ không thể ỷ mình có sức khoẻ, cành lá mập mạp mà lấn sang mảnh đất của đám rau má trẻ con nằm nép bên vệ rào, dẫu rằng công dụng của lão có đa năng, đa hiệu thật đấy. Đọt bí xào tỏi ăn bùi và thơm, khi kết trái thì quả nào quả nấy to đùng như bụng ông địa, thứ ấy mà đè lên mảng rau má kia thì chúng chỉ có chết, bởi vậy Hân cũng chỉ cho chúng lan tràn đến mức nào thôi.      

Chàng thú vị nhân cách hóa cho đám cây cỏ của mình. Mỗi thứ cây là một loại người khác nhau, một chỗ đứng khác nhau, chàng chỉ dung hòa chúng chứ không cai trị, vì con người có thói quen thích lãnh đạo và lấn lướt người khác. Những vạt rau má bé tý teo như những đồng tiền hai mươi lăm xu, xem vậy mà lợi hại ra gì, cứ xay ra để uống với chút đường và đá, mát tì mát phổi không thứ nào bằng, còn kẹt lắm nấu suông với lon súp gà, thêm mấy con tôm khô, cũng có một tô canh mát mẻ. Có từng xực những bữa ê hề thịt thà, ít rau cỏ, mới thấy quý khi được ăn một bát canh rau, bao nhiêu sân si lắng xuống, lòng cứ nhẹ tênh như bay về chốn non bồng nước nhược.     

Với lũ cây non be bé Hân nâng niu như trẻ thơ, thì với mấy cây già cỗi sắp tiêu diêu về bên kia thế giới, Hân vẫn có cái trân trọng như trân trọng người có tuổi. Có lẽ cũng từ sự tương quan tuổi tác mà chàng có sự săn sóc ấy chăng? Suy bụng ta ra bụng người, cây mười tuổi như người trăm tuổi, nhất là với những cây có đời sống ngắn ngủi, sự hiện diện của chúng trong khu vườn với một khoảnh khắc nào đó, vẫn cống hiến cho con người niềm vui thật nhỏ bé, khi nhìn những lộc non đơm đầy trên cành nhánh khẳng khiu. Thế nhưng cảnh chia biệt giữa cây và người vẫn làm Hân cảm nhận được một nỗi buồn thắm thía như hai người bạn đã tới lúc chia xa, không hẹn ngày tái ngộ. Cây cam già đã cỗi, không kết trái đơm hoa, đã đến lúc phải ra đi vẫn để lại trong lòng Hân một nỗi trống trải đến nhiều ngày mới quên được, đành lòng là phải tiễn đưa nhau, nhưng chàng cũng cảm khái được mấy vần ai điếu: 

"Càng ngày cây càng nhỏ lại

Càng lúc trái càng bé đi

Mùa Xuân chờ hoài không tới

Mùa Đông đợi hoài chẳng đi."

(Thơ N.N.)     

Hân nhớ có lần chàng đau nặng, lúc nào người cũng ren rét, bệnh chẳng ra bệnh gì, nằm liệt một chỗ mấy tháng trời. Trận ấy may là chàng thoát chết, lúc tỉnh hồn tỉnh viá, Hân soi gương thấy mặt mũi vêu vao, hốc hác, thoát chết lần ấy, chàng tự nhủ phải tận dụng những giây phút quý giá của đời người mà làm điều gì hữu ích cho cuộc sống. Cận kề giữa hai bờ sinh tử, lơ mơ nhìn ánh nắng chiều se sắt ngoài hàng dâm bụt đỏ, mảng trời xanh không một gợn mây, chàng thấy đời quả đẹp vô cùng. Từ đấy chàng tự hỏi, sao không làm điều gì đẹp đẽ để lúc hai tay buông xuôi sẽ không ân hận, tiếc nuối, để biết cái hạnh phúc khi được làm người, cũng bởi cái ân sủng từ nhiều kiếp trước mà thành. Lỡ như, Hân mỉm cười khi nghĩ nếu mình ăn ở chẳng ra chi, trời cho tái sinh làm kiếp vịt quạc quạc, lại có ai đó ân oán với mình từ kiếp trước, cắt cổ làm bữa tiết canh thì còn gì là đời vịt.    

Hân hay nghĩ vớ vẩn, nghĩ lung tung rồi cười một mình cho đời đỡ buồn. Sống cũng nhiều, vui cũng nhiều, buồn cũng nhiều, nhìn chặng đời qua thì chỉ những hận thù, bon chen, bóc lột, ganh ghét. Hân vẫn mơ tưởng một ngày mình làm vua, không phải để vui hưởng vinh hoa phú quý như các vị vua trần thế, nhưng ít ra chàng sẽ cố gắng lập lại cái thanh bình trật tự cho thần dân của mình, hưởng thực sự nền thái bình thịnh trị.      

Đời đâu dễ mà mơ được một giấc mộng trọn vẹn như thế. Thôi thì chàng trồng cây, trồng rau, trồng hoa, rồi đem cung cách của mình mà sắp xếp, săn sóc cây cỏ như vua thương dân, để an ủi cho riêng mình là đã thực hiện được những hoài bão tốt đẹp, ít là cho loài thực vật. Khu vườn rau quê hương, là cả một giang sơn gấm vóc, một bờ cõi có ranh giới hẳn hoi, có trên có dưới, không lấn áp kèn cựa, không nâng ai quá đỗi để tủi hổ kẻ tầm thường, một xã hội cây cỏ chan hòa tình yêu thương, không gian dối.       

Còn một vài việc tuy bận rộn Hân vẫn phải làm. Đó là cây kim quất nay đã gần chục tuổi, đã quá tuổi xuân xanh và đang vào độ tàn héo. Mỗi lần rắc một lượt phân, lượt đất cho cây, Hân vẫn hóm hỉnh: "Chào cụ". Chả biết cụ quất có bịnh hoạn gì không mà dù chăm cách mấy cụ vẫn không tươi lên được, hay là tai cụ nghễnh ngãng cho nên không nghe được tiếng gió xuân đã thì thào về với đất trời, y như người đã ốm, đã già, máu không lưu thông nên lúc cố đâm được mấy chiếc lá non, thì chỉ một sáng một chiều đã héo ngay đi, trông rất thương tâm. Chục năm trước, độ còn xuân xanh, mùa Xuân như khoác một chiếc áo vàng óng ả lên cây kim quất trẻ tuổi, quả trĩu cành, hoa trắng muốt, lá biếc xanh. Hân dạo ấy cũng biết làm thơ, chàng cảm khái khi nhìn mùa Xuân về với hai vần thơ nhỏ:]

    “Mùa Xuân em mặc áo vàng,

Đất trời như đã rộn ràng quanh tôi.”

Cây kim quất nay đã già, cũng biết rét run lẩy bẩy khi cơn gió Đông thổi về, dù đã được Hân che chắn, chăm sóc cẩn thận. 

*  *  * 

Hân vẫn gửi tất cả tâm tình, cả trái tim của mình cho cây cỏ, như chàng vẫn hướng về quê nhà với nỗi niềm thiết tha mong đợi. Một ngày nào đó những mầm non sẽ mọc lên, sẽ làm xanh tươi một đất nước thống khổ vì chinh chiến kéo dài hàng bao nhiêu năm, sẽ thay đổi bộ mặt cho tổ quốc với những cái tâm trong sáng, biết thiết tha với tiền đồ của dân tộc.    

Với một khuôn mặt trầm lặng và tính tình kín đáo, cộng thêm tư tưởng có vẻ lập dị, người không hiểu chàng sẽ có thể nghĩ chàng là kẻ có tính hơi man mát, điên điên, mấy ai đã nghĩ tới được chiều sâu của một con người nặng lòng với quê hương, xứ sở. Tổ quốc ở bên kia giờ này vẫn còn đầy những con sâu đục rỗng xương tủy dân tộc, còn kẻ tha hương vẫn chưa tìm được lối về, những con én vẫn bay nhưng mùa xuân thì chưa thấy. Đường về thì thiên hình vạn trạng, con người vẫn đục trong lẫn lộn. Đến bao giờ mới có một sự tương kính lẫn nhau để xứ sở được vươn lên, đất nước không bị áp bức?     

Thôi thì trong hiện tại, trên mảnh sân này, Hân đã thực hiện được điều ấy với cây cỏ trong vườn rau quê hương của chàng.

NGUYÊN NHUNG

 

Nam Bắc Đề Huề

truyện phiếm của NGUYÊN NHUNG

                        

 Ngày di cư vào Nam, tôi mới sáu tuổi. Thời gian đầu, dân Bắc Kỳ di cư hồi ấy sống chùm nhum lại với nhau, chưa quen với phong thổ, ngôn ngữ, phong tục cuả người miền Nam, nên có khuynh hướng theo cách  tạo cho mình cảnh "luỹ tre xanh bao bọc thôn làng" , quây quần bên nhau cho đỡ nhớ quê cha đất tổ.

                          

Tuy vậy, làng xóm người Bắc lọt thỏm vào những xóm làng miền Nam vây xung quanh. Cây da, bến đò cuả miền Nam nom tươi mát, sung túc hơn miền Bắc, buổi chợ sớm từ khi trời còn tối mờ mờ, mỗi xạp bán hàng đều có một cây đèn “hột vịt” treo trên đòn ngang rọi ánh sáng mù mờ xuống các loại thực phẩm đủ thứ cả hai miền Nam Bắc. Ngày Tết bên kia làm bánh tét nhân đậu thịt, nhân chuối, kho thịt với hột vịt nước dưà trong những cái nồi to tướng, nồi khổ qua nhồi thịt, dưa giá , tai heo ngâm giấm để lai rai ba ngày Xuân. Bên này cũng làm bánh chưng, thanh cảnh hơn với thịt kho tàu, vịt xáo măng, canh bóng lợn , giò thủ, thịt nấu đông, dưa hành . Tối 30 nhà nào cũng quây quần quanh nồi bánh chưng , bánh tét...Đó là những năm thanh bình, về sau chiến tranh từ trong rừng bò ra, có khi vừa chạy loạn vừa ăn Tết. . .

                          

Người miền Bắc đời sống chật vật, chịu đựng giỏi để vươn lên, chắt chiu tiện tặn lần hồi cũng nhà cao cửa rộng, con cái ăn học nên người. Người miền Nam đất đai màu mỡ, làm chơi ăn thật, tính tình xởi lởi, rộng rãi. Hồi bé, khi những mảnh rẫy trồng đậu phọng cuả người miền Nam thu hoạch xong, lúc ấy bọn con nít Bắc kỳ bắt đầu đi "mót" về luộc ăn chơi. Chị em tôi đi một đám vào những ruộng rẫy cuả người miền Nam, nhặt lại những "củ lạc" còn sót trên rẫy , cứ chăm chỉ lượm có khi đầy một thúng. Anh bạn miền Nam học chung với mấy đưá miền Bắc mới vào, thấy mấy cô bé Bắc Kỳ ăn nói dễ thương, chả nói "oong đơ" gì hết, vào nhà xúc đầy một thúng, tặng đám bạn miền Bắc đem về ăn chơi. . .

                            

Giai đoạn đầu người miền Nam nhìn người Bắc di cư như người khác nước, nhưng sau hiểu ra họ cũng thông cảm phần nào cảnh gia đình tan nát vì chiến tranh. Đã 45 năm Trịnh Nguyễn phân tranh, dân ta cay đắng nhiều rồi, khi về thăm quê ở miền Bắc, đi ngang cầu Hiền Lương trên dòng Bến Hải, qua con sông Gianh nước chảy cuồn cuộn lòng tôi lại mênh mang một nỗi buồn

                             

Ở chưa yên chỗ chiến tranh lại bò dần vào xóm làng người Bắc ở, đêm đêm nghe tiếng súng nổ ai cũng hãi hùng. Mẹ tôi vì sự học cuả các con, đi theo người anh cả nên dẫn đám con nhỏ xuôi về miền Tây, đồng ruộng màu mỡ, vườn tược xum xuê làm nơi đất lành chim đậu. Hôm mới đến, một bà hàng xóm miền Nam lân la ra làm quen với mẹ tôi, bà ấy nói:

                   

 " Con tui nó cũng lấy chồng ở "nước" nhà chị. Hồi đó tui hông biết tại sao người xứ chị " dzô" ở với người Việt tụi tôi, sau thằng rể dẫn đi coi phim "Chúng tôi muốn sống", tui mới hiểu."

                       

Chuyện cười ra nước mắt, tội này là tội cuả tụi Thực Dân chia để trị, người hiểu biết thì không ai lại phát ngôn một cách vô ý thức như trên. Mẹ tôi tính hiền lành, không cải chính sợ gây ác cảm với người hàng xóm, chỉ hơi ngạc nhiên vì tiếng “Chị” thay cho tiếng “Bà” mà những người miền Bắc hay dùng khi nói chuyện với nhau. Chúng tôi đi học, từ bậc Tiểu học rồi qua tới thời kỳ Trung học, thầy cô giáo Nam có, Bắc có, học sinh miền Nam tha hồ nhái giọng miền Bắc để trêu ghẹo đám bạn mới từ miền Bắc vô. Tôi có nhiều bạn miền Nam người lục tỉnh sống ở miền Tây, nên có chút so sánh với những bạn miền Nam sống ở miền Đông, họ cũng có chút xíu khác nhau, huống gì tụi tôi là Bắc Kỳ ăn rau muống. Mấy nguời bạn cũ miền Đông tính tình mộc mạc hơn, họ sống bằng nghề làm rẫy và vườn cây ăn trái, tiếng nói họ có chơn chất thật thà , dân Củ Chi, Bình Dương phát âm chữ TH thành chữ KH, nghe ngồ ngộ mà cũng dễ thương, ai không tin hỏi người Bình Dương thì biết. Mãi sau này có chị bạn người Châu Đốc, không biết sao tôi nghe chị nói " con cá gô nằm trong cái gổ" tôi cũng thấy hay hay

                               

Người ta đặt chuyện ra để cười cho vui, vì dân mình là dân có máu tiếu lâm đệ nhất thiên hạ. Đi về miền Nam, văn minh miền đồng bằng sông Cửu có khác nền văn minh sông Hồng , nhưng bên cạnh những người dân quê muà cục mịch, vẫn có những gia đình trâm anh thế phiệt, họ sống vương giả và kiểu cách đâu thua gì người đất Thần Kinh. Mấy bà mẹ chồng miền Nam cũng khó " thấu trời xanh " đâu thua gì mấy bà mẹ chồnng miền Bắc, xem ra hễ làm người thì ở đâu cũng có người này, người nọ.

                            

Tôi đi học, nói tiếng Bắc nghe có vẻ lạc lõng giữa một lớp học toàn  Nam Kỳ quốc, bởi vậy tự động nhái giọng Nam, rồi chắc vì lưỡi con nít còn dẻo nên dần dà không ai biết tôi là người Bắc. Đa số người Bắc nói tiếng Nam cứng đơ, nói không đúng, có khi lại còn bị hiểu lầm là "Chửi cha không bằng pha tiếng", thực là "oan ui ông Địa" . Nghe nói hồi xửa hồi xưa, lúc người Bắc còn thưa thớt, chỉ vì mấy chữ "Tân sơn Nhất với lại "Tân Sơn Nhứt " mà đã uýnh nhau vỡ đầu, phọt óc . Đúng ra thì chỉ có một thứ tiếng, nhưng từ ở miền Bắc phát âm hơi cưng cứng, chữ TR với CH nghe giống hệt nhau, vào tới miền Trung nó cứ trài trại ra nghe nằng nặng, khi đến miền Nam bị ảnh hưởng Lào, Xiêm, nó trơn trớt rồi nói sao viết vậy, đâm trật lất. Tôi ít chữ nghiã nên chỉ diễn tả theo lối bình dân học vụ, hễ sai sót thì bà con đánh cho hai chữ "đại xá". Chả bù cho anh tôi, uống nước miền Nam đầy cả bụng, lấy vợ miền Nam nấu cơm chắt nước rồi lại lấy nước cơm uống lại, mà phát âm tiếng miền Nam cứng đơ như người Mỹ nói tiếng Việt. Vậy mà mấy chú G.I. tóc vàng mắt xanh lúc trở lại Việt Nam sau cuộc chiến, họ tới thăm Việt Nam, họ nói khôn khéo làm sao:

                               "Việt Nam luôn ở "chong chái" tim tôi."

                       

Họ nói tiếng Bắc đấy, cứ như là họ yêu mến cái xứ sở cuả mình còn hơn xứ sở họ, hèn gì mà gần như cả thế giới không ưa họ mà vẫn không dám cắt đứt tình hữu nghị với họ. Mắt họ xanh xanh, biêng biếc như sóng nước đại dương, nhìn họ cứ tưởng họ "khờ "mà họ "khôn" tổ mẹ, chả tin thì cứ nhìn qua những công trình xây dựng cuả họ, mới thất kinh cho cái đầu đoàn kết cuả dân tộc họ, họ chỉ đi vào chuyện lớn chứ ba cái lẻ tẻ họ xem như "pha". Cái món mình ăn họ không xơi được vẫn khen ngon rối rít, nhưng mời ăn nưã thì họ "thank you" rồi xua tay mỉm cười rất khó hiểu. Thành ra tôi thông cảm với cái người miền Bắc xứ tôi, hồi mới di cư vô Nam hễ được mời ăn sầu riêng là món quý cuả  miền Nam, họ cũng cầm lấy rất lịch sự nhưng chờ cho người kia quay mặt đi là len lén vứt vô thùng rác... Đó là chuyện xưa lúc tôi còn bé tý, chứ bây giờ một trái sầu riêng be bé tôi cũng xực tuốt luốt chỉ chừa cái …hột và vỏ.

                               

Thôi tôi không nói chuyện Quốc Tế nưã, chuyện đó để cho những người nhiều chữ nghiã, tôi chỉ kể chuyện Nam Bắc xứ tôi nghe chơi thôi. Chị dâu tôi ngưòi miền Nam , chị nấu ăn ngon tuyệt mà cũng chiều ông chồng Bắc Kỳ tối đa, chả phải chỉ có đàn bà miền Bắc mới biết tảo tần, chiều chồng đâu. Những khi nhõng nhẽo với anh, chị chỉ cần nhão nhà nhão nhẹt “anh ơi, anh à” thì nói gì anh tôi cũng nghe. Mật ngọt chết ruồi, anh tôi đành làm con ruồi bơi trong hũ mật miền Nam.Trong khi đó cả nhà tôi cố bắt chước nói tiếng Nam, để hoà nhập vào với miền Nam thân thương, bầu bí gì mà hễ đem nấu với đầu tôm thì canh cũng ngọt như thường, đâu ngờ khi đó bà chị dâu miền Nam cuả tôi lại bắt đầu pha giọng Bắc. Trời đất quỷ thần thiên địa ui! Cái giọng Nam pha Bắc sao nó "ngộ" quá trời quá đất đi, mỗi câu chị nói, xề xuống chữ "Ạ" cuả dân miền Bắc nó mùi thua gì ca sáu câu vọng cổ, y như tiếng trẻ con chào khách. Bởi vậy mẹ tôi quý cô con dâu miền Nam còn hơn lũ con gái Bắc nhà mình, bà con dòng họ nhà tôi ai có óc kỳ thị tới mấy , cũng phải tấm tắc khen mẹ tôi có phước.

                               

Chị dâu tôi khéo về môn bánh trái, thêu thuà lắm, dù gì chị cũng xuất thân từ một gia đình nền nếp ở miền Tây, đi đâu ăm mặc chưng diện chứ không xuề xoà như người ta thường nói. Cái này mới là điều mà mẹ tôi hơi phiền lòng mà không dám nói ra, chị lại là cô thợ may nên chăm chỉ ăn diện cho khách nhìn vào sẽ không tiếc tiền may mặc. Mỗi lần nhân dịp Lễ Hai Bà Trưng, phụ nữ trong Tỉnh đua nhau thi gia chánh , nữ công, chị luôn luôn đoạt giải phụ nữ khéo, còn tôi hồi ấy khá "xổ sưã", nếu có thi chắc chỉ đoạt giải "trẻ em hay ăn chóng nhớn". Một đám em chồng miền Bắc mà hồi xưa chị cho là "giặc bên Ngô không bằng bà cô bên chồng miền Bắc "cũng dễ thương quá "chời" , mấy anh bà con bên nhà chị đã không kỳ thị, lại còn theo đuôi tụi tôi mà ca bài "áo nàng "dzàng" anh " dzìa" yêu hoa cúc, áo nàng xanh anh mến lá sân trường" nưã chứ!

                                

Ngộ là hồi ấy mấy anh con trai miền Nam lại mê tít mấy cô gái Bắc, họ cũng văn chương mà gọi tụi tôi là " Hỡi cô Bắc kỳ bé nhỏ cuả tui ơi!", còn tụi tôi thì bèn nhái cả giọng Nam lẫn giọng Bắc mà trêu lại rằng "Lam" Kỳ mà "nại "đi thương "Bắt" Kỳ". Trong khi ấy, mấy anh Bắc Kỳ nhà tôi thì lại quả quyết rằng mấy cô gái miền Nam ăn nói ngọt ngào, nhõng nhẽo khỏi chê. Họ ngồi bên bờ sông ngắm hoa lục bình trôi, mà ca rằng " Ôi, đoá hoa tím trôi líu riu , dòng sông nước chảy liu riu, anh thấy em nhỏ xíu... nhỏ xíu... anh thương ". Mấy anh miền Nam cũng rất ngon lành đâu chịu thua: " Người từ ... là từ phương Bắc, đã băng dòng sông, sông dài, tìm đến nơi này, một nhà thân ái. Ơi ! Tình Bắc duyên Nam... là đây..."

                                

Hồi chị dâu tôi mới lấy anh tôi, bất cứ nước luộc. . . gì cũng đổ đi, cả nhà chưng hửng vì cho là người phí phạm. Sau mới biết là thói quen ăn uống cuả người Nam khác miền Bắc. Sau này nhờ mẹ chồng chỉ dẫn, mới biết lấy nước luộc rau muống đánh dấm cà chua, cho thêm tý tỏi tý muối, tý bột ngọt , vắt thêm miếng chanh là làm được món canh " chay" rất mát bụng. Bởi vậy mới có thơ thẩn ... rằng:

                                                      " Trên trời có đám mây xanh,

                                            Ở giữa có ao rau muống, xung quanh Bắc Kỳ.

                                                         Luộc rau chớ đổ nước đi,

                                            Vắt chanh thêm muối còn gì... mát bụng hơn."

                            

Con cua đồng miền Nam chỉ để trẻ con ăn chơi cho dzui, không ai bán ngoài chợ. Lần hồi khi người Bắc vào, món canh riêu cua hay canh cua nấu rau đay ăn với cà pháo muối xổi được người miền Nam hưởng ứng nồng nhiệt, vì thế mà sau này con cua cũng được mang ra chợ bán. Con ốc bươu luộc lá gừng rồi chấm nước mắm xả ớt ăn rất bắt, nhưng nếu đem nấu với chuối xanh, đậu hũ, thịt ba chỉ, mắm tôm rồi xắt vào đấy một nạm tiá tô với hành lá, nó lại ngon kiểu khác. Nhiều khi tôi nghĩ cái văn hoá ẩm thực giữa hai miền nó nằm cả trong món ăn, chứ cần tìm đâu xa cho mệt óc. Miền Bắc làm văn hoá miền Nam đậm đà là thế, đơn giản như nước rau muống luộc hay món canh cua rau đay ăn với cà mà thôi.

                                

Thời gian sống ở miền Tây, tôi còn được làm quen với các loại rau hoang như rau càng cua mọc lan tràn trong vườn, trong sân như cỏ dại, chỗ nào cây to bóng mát, đất ẩm chỉ cần vài cơn mưa là dưới bóng cây rau càng cua mọc lên từng mảng xanh rờn. Không ngờ loại rau có lá hình trái tim hơi tròn trĩnh như một đồng xu, màu xanh non ngọc thạch mượt mà dễ thương, lại là một món rau bổ ích mà mãi sau này khi tìm hiểu tôi mới biết công dụng dược thảo của nó tốt hơn nhiều thứ rau nhà được vun trồng tưới tắm.

                              

Trên mâm cơm của người miền Tây thuở ấy, từ Trà Vinh cho đến Cần Thơ thường  có rổ rau sống ăn kèm với thịt , cá kho, mắm kho, vì vậy mà chất tươi mát này đã thấm đẫm trong xương tuỷ cũng như tâm hồn của người miền Nam. Một rổ rau tươi đủ loại để ăn mắm bao giờ cũng có sự hiện diện của nắm rau càng cua hương vị nồng nồng nhưng giúp những gia đình nghèo đưa chén cơm vào miệng thật ngon lành. Mảnh đất ẩm nằm cạnh cái giếng nước giúp cho rau càng cua tăng trưởng tươi xanh , mọc len trong cỏ nằm cạnh vách tường, miễn có đất ẩm là có rau, nên cả nhà tha hồ hái rau ăn quanh năm.

                             

Chị dâu tôi thường làm món rau càng cua trộn dầu giấm thịt bò, ngon hết biết. Nhưng sau này khó khăn, đâu phải lúc nào cũng có thịt bò, nên mẹ tôi chế biến thành món rau trộn chay giản dị mà cũng rất ngon. Vài trái cà chua chín thái ngang, mấy củ hành khô ngâm dấm và chừng hai cái hột vịt bày xung quanh đĩa rau, trộn dầu giấm chấm nước mắm chua ngọt là cả nhà đã được một bữa ngon cơm rồi. Bây giờ ở quê người, cuối xuân sang hè tôi chỉ mong trời mưa, tiếng sấm động ì ì với những cụm mây đen ùn ùn kéo đến, vài trận mưa lút đầu ngọn cỏ là lúc đó rau càng cua cũng chuẩn bị mọc lên chen nhau dưới những bụi cây thấp và ẩm. Khi đã mọc rau tăng trưởng khá nhanh, một sớm mai ra vườn nhìn thấy những cụm rau mát như ngọc thạch vươn lên chen lẫn trong lá cỏ, người xa quê mới cảm thấy nỗi ao ước hưởng lại hương vị rau càng cua quê nhà, giờ đây cũng loài nơi xứ lạ.

                               

Vì thích ăn rau càng cua nên tôi đã tò mò tìm hiểu xem loại rau này mang tiếng là hoang dại, nhưng hình như dòn dòn ngon ngon hơn nhiều loại rau khác. Theo bảng phân tích các chất dinh dưỡng, rau này có rất nhiều loại chất bổ khác nhau với hàm lượng hơn hẳn so với rau Muống. Nói có sách mach có chứng, tôi kèm theo đây bảng phân chất để chứng minh tại sao tôi khoái ăn cái món rau thiên nhiên này từ lúc không hiểu tính chất dược thảo của nó:

                                 

STT   CHỈ TIÊU/ĐƠN VỊ        KẾT QUẢ  So sánh

        1         Protein (g%)         4,00   6,5 (đậu Hà Lan)

        2         Tro (g%)     1,8     1,3 (rau Muống )

        3         Cellulose (g%)      1,2     1,0 (rau Muống)

        4         Canxi (mg%)        242,2 100 (rau Muống)

        5         Photpho (mg%)    116,3 37 (rau Muống)

        6         Sắt (mg%)   7,1     1,4 (rau Muống)

        7         β-Caroten (µg%)  5100  5040 (cà Rốt)

        8         Vitamin B1 (mg%)         0,07   0,03 (cà Rốt)

        9         Vitamin B2 (mg%)         0,09   0,04 (cà Rốt)

      10         Vitamin PP (mg%)         0,06   0,5 (cà Rốt)

      11         Vitamin C (mg%) 1,8     3 (cà Rốt)

      12         Glycine (mg%)     81,6   81 (Cải bắp)

      13         Lysine (mg%)       15,7   62 (Cải bắp)

      14         Proline (mg%)      109,6 53 (Cải bắp)

      15         Leucine (mg%)     113,4 90 (Cải bắp)

      16         Độc chất     KPH  KPH

                           

Rau càng cua còn có tên là đơn kim, đơn buốt, cúc áo, quỷ châm thảo , thích châm thảo , tiểu quỷ châm,cương hoa thảo Theo Đông y, rau Càng Cua vị đắng, tính bình, có tác dụng thanh nhiệt, giải độc, khu phong, hoạt huyết, tan máu ứ; thường dùng để chữa các bệnh nhiễm trùng đường hô hấp, viêm họng, viêm ruột thừa, viêm gan truyền nhiễm, viêm dạ dày - ruột, tiêu hóa kém, đau nhức xương khớp, sốt rét. Nó còn được dùng ngoài chữa rắn cắn, nhọt lở, chấn thương sưng đau.

                              

Tôi là cọng rau muống trôi giạt trên dòng sông Hậu Giang, sống quen với phong thổ và khí hậu miền Nam,nhờ gió thuận mưa hòa mà lớn lên sơi sởi như rau cỏ mọc trong vườn. Ông già bạn tôi dân nhậu, không thể thiếu xị rượu đưa cay trong mỗi bữa cơm hằng ngày, cũng nhờ rau mà lá gan cầm cự được với con sâu rượu năm này qua năm nọ.

                                T

Tôi đã từng thú nhận với bà con xa gần, tôi là cô bé con Bắc Kỳ di cư, nhưng "tôi lớn lên ở miền Nam, ăn bát cơm miền Nam, uống nước từ những cái giếng trong văn vắt sâu hun hút dưới lòng đá ong..." thành ra tôi yêu miền Nam còn hơn miền Bắc cuả tôi nưã, và khi đi xa, những gì tôi nhớ lại chỉ là hình ảnh cuả miền Nam nước tôi. Chuyến phà qua sông Hậu giang, tiếng sóng róc rách vỗ vào mạn bờ nghe ngậm ngùi quá đỗi. Chiếc cầu tre lắc lẻo bắc qua con rạch nhỏ, cây mai vàng trước sân óng ả mỗi độ xuân về, thì ra hễ nơi nào mình lớn lên, gắn bó vào những kỷ niệm trong đời người thì nơi đó là quê hương cuả mình vậy. Thành ra tôi không ngạc nhiên khi thấy những ngươi đồng hương dù Nam hay Bắc, sinh trưởng ở những miền quê nghèo khổ, nay sống ở hải ngoại họ vẫn không bao giờ phủ nhận nơi chôn nhau cắt rún cuả mình, những cái họ nhớ lại chỉ là những gì rất là nhỏ bé và tầm thường, những lúc gian nan lận đận sống trong căn nhà rách chăng nữa thì dấu kín trong đó vẫn vô số kỷ niệm.

                                                              

 Đât nước ta giang sơn gấm vóc, bé tẻo teo nhưng chia tới ba miền, núi sông ảnh hưởng đến con người. Cứ xem cốt cách văn chương thì rõ, đất sản sinh ra vật chất nuôi sống con người , miền Bắc ngày xưa là chốn “ngàn năm văn vật” nên người cũng thanh tao lịch sự không hổ lốn như bây giờ. Miền Trung đất đai hiểm trở, chỗ núi chỗ biển có nhiều nơi đất cày lên sỏi đá, chỗ lại thanh lịch như cố đô Huế, bởi vậy người cũng sâu sắc u trầm lãng mạn. Miền Nam sông nước tràn bờ, lồng lộng gió thổi suốt ngày không hết ruộng luá, đời sống vì vậy mà thanh bình no ấm hơn hai miền Trung Bắc, tính tình cũng hào sảng rộng rãi, yêu ghét lộ rõ ra bên ngoài. Ba miền bổ xung cho nhau để tạo thành một sắc thái đặc biệt cuả Dân Tộc, nhưng bản chất cuả mỗi con người tốt hay xấu thì tuỳ vào Trời sinh, cho nên không thể kết luận miền nào hơn miền nào được.

                           

Bao năm ở quê người, tôi vẫn nhớ về quê hương với biết bao hình ảnh đằm thắm cuả ba miền đất nước, chị em tôi mỗi lần nhắc về quê hương, vẫn nhớ lung tung chỗ này một tý, chỗ kia một tẹo. Khi thì căn nhà xưa nơi chôn nhau cắt rốn ở miền Bắc, có cây bàng trước cửa, có cái ao vuông sau nhà, và những bụi tre, bụi trúc rung rung trong gió thu buồn man mác. Khi thì nhớ căn nhà tranh với khu vườn đất cát pha thịt ở miền Đông Nam phần, buổi chiều nắng xiên khoai chiếu chênh chếch lên những vồng khoai vồng đậu, ngửi mùi cá khô nướng, củ khoai lang lùi trong bếp lưả, hát nghêu ngao bản " Ngày trở về" cuả nhạc sĩ Phạm Duy, đã được lũ nhỏ nghịch ngợm như tụi tôi đổi lời bài hát:

                       

" Ngày trở về, những đoá hoa, thấm thoát mười năm nhớ anh vắng xa. Có nhiều khi, đàn ông chóng già... vì thiếu đàn bà..."

                          

Đó, tụi tôi nhớ về quê hương như vậy, không có bóng dáng những nhà cao tầng, địa điểm du lịch sơn lòe loẹt cho em nhỏ nó mừng, mưa gió ngập lụt đường hoá sông như bây giờ, nhất là xe cộ chạy ì xèo tung bụi mù trên đường phố, muốn băng qua đường chờ cả giờ vẫn không dám đi sợ bỏ thây trên mặt lộ. Mỗi khi nhắc về miền Tây, tôi lại nhớ tha thiết chuyến phà qua sông, con đò bập bềnh trên sóng nước Hậu Giang, bóng dáng yêu kiều, thơ mộng cuả những con đường tỉnh nhỏ, hàng sao già với những hôm trời gió lộng , tan trường về nhà vừa đi vừa lượm những trái me chua chín tới rụng trên mặt cỏ, hay nhặt những cành sao khô về nhà cho mẹ nhúm bếp...Trong tôi, hình bóng cuả quê hương nằm rải rác suốt ba miền Trung Nam Bắc, nơi nào tôi cũng thấy đáng yêu, càng nghèo càng khổ lại càng thương càng nhớ.

                                                                                                      Nguyên Nhung

NN_THiepXuanconMeo.jpg

Lênh Đênh Phận “Mèo”

.TL_cat.jpg

truyện vui năm Tân Mão, 2011

Nguyên Nhung

.

“Nàng” là một trong ba con mèo con mở mắt chào đời trong hốc tối cuả cái “patio” ẩm mốc , chỗ ấy chủ nhà đã chất một đống chăn cũ để dành phủ cây trong  muà đông buốt lạnh. May mà năm nay trời không có tuyết, nếu có lạnh thì chỉ là những đợt gió muà phương Bắc thổi về, sau đó tiết trời lại trở nên ấm áp với mặt trời phương Nam, nên không ai phát hiện ra trong cái góc tối ấm áp kia lại có đến ba con mèo con nằm ẩn mình trong đó.

.

Mèo mẹ đã qua thời kỳ sinh nở, lại bận bịu sinh kế tìm sữa cho con bú, cho nên sau khi làm sạch cái nhà “bảo sanh” tự nhiên mà có thì mụ đã phải giầm mưa gió đi kiếm ăn, để lại ba đưá con thơ lông còn ướt nhẹp nằm ngủ vùi trong đống chăn mền cũ. Còn người cha thì cho đến bây giờ vẫn không biết “hắn” là ai, ba đưá nhỏ sau thời kỳ non nớt, độ hơn tháng đã tung tăng chạy ra chạy vào chỗ ánh nắng chiếu vào mấy chậu cây, chúng nó giỡn nắng như những đứa trẻ con trốn mẹ ra vườn bắt bướm ấy mà.

.

Mỗi đưá một màu lông chả đưá nào giống đưá nào. Hai cô mèo con mới nhìn thì tưởng giống nhau như khuôn, nhưng vẫn khác nhau ở chỗ cũng cái màu vàng mơ nhưng cô kia áo lại vằn lên như da cọp, đôi mắt sáng quắc xanh lè trông rờn rợn như một con cọp con thu nhỏ trong dáng mèo. Trông màu lông cuả cô mèo vằn vẫn còn hơi hướng vẻ hoang dã của giống linh miêu thuộc loại Felis Silvertis tại rừng già Âu Châu,Tây Á và Châu Phi từ ngàn xưa. Đây là loài thú nhỏ con chỉ thích đi săn chuột, chim hay sóc. Hình như chúng đã bị thuần hoá khoảng 10.000 năm trước đây ở vùng cận Đông, khi nền nông nghiệp phát triển hoa màu được chất vào  kho, thu hút những loại thú như mèo đến săn bắt, rồi gần gũi với loài người.

.

 Còn cậu mèo mướp trông ươn ướt, bẩn bẩn chỉ hay khóc nhè, chả biết đến sự tắm rửa là gì, có thể cậu là con cuả ông mướp già vẫn lừ đừ đi theo mèo mẹ những ngày mụ không kiếm ăn được.Chỉ có mỗi  em mèo mơ thì  liếc sơ cũng biết sau này không sắc nước hương trời, cũng là một giai nhân yểu điệu. Mà em yểu điệu thật, cứ đặt cho em cái tên “Miêu tiểu thư” cũng không sao, cha mẹ cú đẻ con tiên là chuyện thường. Đám con ấy có thể là sự kết hợp cuả  mẹ mèo khi cợt đuà với một chàng trẻ tuổi lông nhông khoe bộ lông vàng óng bảnh bao chải chuốt(  chàng ta còn trẻ nên hay lim rim nằm trên cái giàn mướp hương hóng mát và giơ chân rửa mặt suốt ngày), đuà giỡn với tình trong chốc lát để lại cho đời những đưá con hoang. Nhưng mụ mèo cũng không chê ông mướp gìa tử tế hay biếu xén nhường nhịn cho cái đầu cá chiên, mẩu  xương heo quay lắm mỡ được chủ nhà vứt ra vườn cho lũ mèo hoang.

.

Lũ mèo con thành hình trong lòng mẹ sau những đêm mụ mèo đến lúc khát tình gào lên trong  đêm trường thanh vắng, khiến mấy tay hàng xóm cứ “gâu gâu” lên làm mọi người mất ngủ. Một thời gian người ta thấy mụ ốm dài người ra nhưng cái bụng thì nặng nề, nằm thưỡn ra dưới tàn cây đào ngủ li bì cả ngày. Dễ mụ chả thèm ăn uống gì, hờ hững nhìn bạn tình lượn lờ qua lại như không hề quen biết. Rồi ngày tháng thoi đưa, mụ cũng đã ngắm nghía chuẩn bị một chỗ tối tăm và an toàn cho lũ mèo con non nớt “như con mèo ướt” có chỗ an toàn chờ đến ngày khôn lớn.

.

Trong ba đưá sinh ngày hôm ấy thì Miêu tiểu thư có vẻ xinh đẹp và lanh lợi hơn cả, mới bé tý mà đã biết chạy ra chạy vào hong nắng khi mẹ vắng nhà, nhưng cứ nghe tiếng bước chân động đậy trong căn nhà sang trọng là ba con mèo con cùng ù té chạy về náu trong góc tối im thin thít. Tuy con nhà nghèo nên dù xinh đẹp chúng nó vẫn mang tiếng là mèo hoang, cách nhìn cuả loài người đã tự nhiên phân biệt giai cấp ra như vậy, chứ mèo nào chả là mèo.

Khoảng hơn hai tháng sau khi sinh nở, chờ cho lũ mèo con cứng cáp đã biết chạy nhảy là mèo mẹ tìm cách để con tự lập, đó cũng là lần cuối mụ dắt theo ông mèo mướp già để giới thiệu lũ con. Ông quấn quýt ngay thằng con lúc nào cũng oặt oẹo, bẩn bẩn ươn ướt, cảm nhận  được tình máu mủ vì nó giống hệt ông hồi còn trẻ. Riêng hai đưá lông màu mơ vàng, chắc chắn không phải con ông nên ông chỉ hững hờ nhìn thế thôi! Miêu tiểu thư còn bé lắm nhưng cũng cảm thấy phần nào chuyến về thăm có ý nghĩa chia biệt cuả mẹ mèo, khi đi theo tiếng gọi của tình yêu lần nữa. Đấy là chuyện tự nhiên cuả mọi loài cho nên cô cũng chả thấy buồn bao nhiêu, mặc cho hai đưá kia gào lên “meo meo” khi thấy lão mướp già dẫn mẹ mèo đi tuốt luốt, nhảy qua hàng rào phía nhà bên kia, trong khi đó mấy tay hàng xóm lại “gâu gâu” lên ỏm tỏi vang động cả xóm.

.

Từ đấy, ba chị em sống với nhau dưới mái hiên sau nhà nơi mở mắt chào đời, chấp nhận cảnh mồ côi(dù cha mẹ còn sống cả), bữa no bữa đói để chờ ngày thực sự khôn lớn. Cho đến một ngày mèo mơ thấy vắng lắm, dễ nhiều ngày hai đưá kia không về, chỉ còn mình cô lại chạy ra chạy vào sưởi nắng dưới mái hiên, khi nào buồn ngủ thì nhảy tót lên cái xích đu có nệm lơ mơ làm một giấc là quên hết sự đời. Được cái bà chủ nhà cũng tốt bụng, chút cơm thừa, cá vụn, xương xảu cũng tiếc cuả trời, đổ ra bãi cỏ góc vườn mà mấy con mèo hoang tồn tại được.

.

Cứ nhấm nháp tý đầu cá, miếng xương Miêu tiểu thư lớn như thổi mà lại còn xinh đẹp nữa. Một hôm cô tò mò nhìn xuyên qua cửa kính của căn nhà to mới thấy ở trong ấy cũng có một cặp uyên ương nhà mèo đang quấn quýt nhau trên bộ “sofa” bọc nhung màu rượu chát rất đẹp. Cô trố mắt nhìn và quan sát hai nhân vật, chàng thì đẹp trai râu ria cắt tiả gọn ghẽ, tướng mạo lại ung dung chững chạc cuả kẻ sinh ra dưới vì sao sáng, còn nàng kia thì uyển chuyển, diễm lệ và cổ còn đeo nơ hồng với chuỗi bạc nữa trời ạ! Đôi mắt trong veo của Miêu tiểu thư cứ tròn xoe thêm khi thấy cảnh sung sướng, hạnh phúc cuả đôi bạn tình Mèo trong căn nhà đẹp, tuy nhiên vì rất ngây thơ cho nên cô chỉ chiêm ngưỡng thế thôi, chứ không mảy may ganh tỵ.

.

Thế nhưng lòng ích kỷ lại nảy sinh ra từ cô mèo nhà được “nâng như trứng hứng như hoa” trong căn nhà sang trong, khi một hôm cô ta tình cờ phát hiện ra con mèo mơ nằm lim rim bên cưả sổ như đợi chờ ai, rồi bắt gặp cái nhìn say đắm của anh bạn tình đang ngạc nhiên về vẻ đẹp thơ ngây, rất hoang dã của nàng mèo mơ nằm giỡn nắng thì mụ ta nổi giận. Một vẻ đẹp hồn nhiên của muà xuân với con mèo nhỏ ngoài khung cửa, anh mèo nhà thấy lòng xôn xao vì từ khi chôn kín đời mình bên trong khung cửa cuả căn nhà, tuy sung sướng chẳng sợ gì gió táp mưa sa, nhưng căn nhà  như có chấn song nhà tù vây hãm tâm hồn. Anh lim rim nhìn mà lòng rộn lên hai chữ tự do ập đến một cách mới mẻ, bỗng dưng anh cảm thấy yêu say đắm cái hồn nhiên của cô mèo mơ ngoài cửa sổ. Yêu, thế nào là tình yêu thì anh chưa định nghĩa được, nhưng chắc chắn nó khác với cái tình của anh đối với cô bạn mèo loẻng xoẻng những khoen vàng vòng bạc quấn quanh cổ, suốt ngày nằm dài trên chiếc “sofa” êm ái, nhiều  lúc uốn éo nịnh nọt con người để được ban thưởng những cái vuốt ve.

.

Anh muốn bay ra ngoài kia để xem trời mưa trời nắng, để nhìn cọng lá rung rung đuà giỡn với cô mèo con dễ yêu, nhưng chưa gì thì chị mèo nhà đã nhảy tót đến bên anh. Rồi khi nhìn thấy ánh mắt anh đang ném ra bên ngoài say đắm thì đôi mắt chị long lên như toé lửa, kêu lên từng chập “meo, meo” rền rĩ như bắt được tại trận cảnh “mèo trong song cửa, mèo ngoài chân mây”, chị nhìn kẻ thù mà chỉ muốn ăn tươi nuốt sống cho hả giận. Anh mèo nhà cuống quýt quay ngay vào, nhảy tót xuống “sofa” về chỗ cũ giả vờ ngủ, cô Mèo Mơ ngoài cửa sổ cũng giật mình khi đụng phải  cặp mắt rùng rợn ác liệt của mụ mèo nhà ghen tương và khó nết, vội nhảy tót lên hàng rào và tỉnh giấc mơ hoa.

.

Lũ chó săn hàng xóm lại ủng oẳng chạy ruợt theo cô dưới chân hàng rào sủa toáng lên. Ôi chao! Sao nhiều kẻ thù thế nhỉ, đồng loại với nhau mà đã ích kỷ thế kia à, chưa kể còn mấy anh chó ỷ bự con, to mồm cũng vẫn ăn hiếp kẻ yếu đuối. Thực ra thì nhà ai nấy ở, cơm ai có nấy ăn, mấy anh chó hay mèo nhà còn hưởng mưa móc chủ nhà mà no cơm ấm cật, thân mèo hoang một mình yếu đuối sống qua ngày sao họ vẫn ganh ghét, không ban cho một chút tình thương. Mới đụng chạm chút xíu với đời mà mèo mơ đã thấy thất vọng não nề cho cái tình đời đầy ganh tỵ ích kỷ. Suy cho cùng những kẻ ấy hơn cô nhiều lắm, hạnh phúc và may mắn hơn gấp bội, niềm hạnh phúc nhỏ nhoi của cô đâu có là bao mà họ cũng ganh tỵ và lồng lộn lên như bị ai tước đoạt. Dù sao mèo mơ cũng được một buổi chiều lơ mơ nhìn trời, cảm nhận được niềm êm ái vây quanh, nhìn theo những chú chim đang tìm mồi bay lên bay xuống cây đào đã hết mùa hoa đang kết trái.

.

Trong khi đó anh mèo nhà chán nản quay về gỉa vờ ngủ trên chiếc “sofa” định làm một giấc cho quên cảnh gò bó “cá chậu chim lồng”, mụ mèo nhà sung sướng thấy mình chiến thắng địch thủ một cách dễ dàng, lại uốn éo tấm thân mềm mại trở về nằm bên cạnh người mình yêu, cọ mãi bộ lông mềm vào anh ta ra điều “em vẫn đẹp như mơ”. Anh mèo nhà nhắm tịt đôi mắt lại, trong chăn êm nệm ấm cuộc sống no đủ nhưng anh mèo vẫn cảm thấy đời thiêu thiếu một cái gì đó, sự tự do vẫn chỉ khoanh lại trong diện tích ngôi nhà này , hễ ra tới cửa không bị bà chủ chận lại thì cũng bị giữ rịt lại bằng những tiếng “méo méo” của mụ vợ lắm điều nhắc nhở. Nhớ lại hình ảnh cô mèo mơ xinh xắn bên ngoài khung cửa, tự trong tim anh bật ra những vần thơ óng ả:

.

Con mèo nhỏ
Lim rim bên cửa sổ
Mắt mơ màng
Nhìn cọng lá vô tư
Đang giỡn nắng
Mùa xuân hiu hiu gió
Lá xạc xào
Vườn ngủ giấc ban trưa

Một bức tranh đẹp cuả cuộc đời gần gũi vậy mà anh mèo nhà vì sống trong nhung lụa loanh quanh cái gì cũng có lại không làm sao hưởng được. Vậy mà cô mèo mơ hưởng được cái ân sủng ấy từ trời ban cho một cách an nhiên tự tại. Anh lại nghĩ tiếp:

Con mèo nhỏ
Ngạc nhiên  nhìn cọng lá
Lao xao
Thì thào
Đùa giỡn giấc chiêm bao
Trong tiền kiếp
Mèo chắc là thi sĩ
Nên lặng lờ
Như một gã tình si

Anh mèo cũng có đầu óc văn nghệ chút chút, chẳng đến nỗi thuộc loại “dài lưng tốn vải ăn no lại nằm”, lối thơ thẩn của anh không quá  uỷ mị thương mây khóc gió, có lãng mạn nhưng ở mức độ có thể chấp nhận được. Ước gì anh được sống một đời tự do như cô mèo nhỏ lang thang ngoài mảnh vườn kia nhỉ? Ngày xưa tổ tiên anh cũng bắt đầu từ rừng xanh bạt ngàn hoang dã, cũng hợp quần tự mưu sinh chứ đâu có cảnh nằm khoèo ra làm kiểng đợi ngày hai bữa cơm dâng tận miệng. Cái đẹp mà anh bắt gặp là hình ảnh cô mèo nhỏ, trong dáng vẻ thảnh thơi của một buổi chiều hiu hiu gió, mặc cho thời tiết thay đổi mà vẫn giữ được vẻ bình thản ấy thì hỏi trên đời đã mấy ai có được.

.

Con mèo nhỏ
Vươn bàn chân giỡn lá
Nắng buồn hiu
Rơi xuống cuối chân trời
Từng cuộn mây đen
Kéo về
Trời buồn như sắp khóc
Con mèo khoanh tròn
Chờ đợi
Mưa rơi

.

Mùa Xuân nơi này trời cũng hay mưa, nhưng chưa bao giờ anh được hưởng cảm giác nằm nép mình vào khung cửa mà chờ mưa đến. Chỗ ấy có một bụi mía, loại cây ngòn ngọt này mảnh dẻ nhưng sức chịu đựng như tre trúc, hữu ích chứ không lan tràn một cách bừa bãi như cỏ. Những cọng lá ẻo lả đuà với gió, vậy mà cô mèo mơ lại nhìn ra niềm vui của mọi loài chia xẻ cho nhau. Họ làm bạn với nhau dễ dàng, rất thân thiện dù cách sống và hình dạng khác hẳn nhau, nhưng cũng đâu phải vì lẽ ấy mà không đến được với nhau. Khi gió thổi cọng lá miá lại cợt đùa với cô mèo nhỏ, đôi bạn như đang chọc ghẹo nhau thật hồn nhiên vô tư lự, anh mèo lại vơ vẩn nghĩ :

.

Con mèo nhỏ
Nằm bên khung cửa sổ
Lơ mơ nhìn trời
Mặc kệ gió mưa rơi
Cọng lá ướt
Lả mình khe khẽ gọi
"Ướt hết rồi
Thi sĩ của tôi ơi!"

.

Đăm chiêu mơ mộng như một thi nhân đang đắm hồn với nàng thơ, anh triết lý rằng nếu tâm hồn khô khan quá thì chẳng khác nào chết mà biết thở. Bao nhiêu năm chung sống với nàng mèo õng ẹo xinh đẹp kia, hình như nàng chỉ biết có mỗi động tác quen thuộc là vươn người lên, cuộn mình lại, nhún nhẩy đi đi lại lại trong căn nhà này, rồi nằm dài ra ngủ. Bỏ đi ư, trốn ra khỏi căn nhà này ư? Để lang thang như cô mèo nhỏ sống kiếp không nhà bữa đói bữa no, đánh đổi cái thật để chạy theo cái bóng, thi sĩ Mèo không dám nghĩ tiếp.

.

Nhớ lại lần chàng phiêu lưu ra khỏi cái nhà này để thử tìm vài phút  lãng du. Vừa bước ra sân, mới trèo lên cái giàn mướp rậm rịt lá là chàng đụng đầu ngay với một tay mèo mun chiếu tướng chàng bằng  đôi mắt xanh lè. Hơi run, chàng mèo nhà lấy hết can đảm với bộ điệu lãnh đạm mà chỉ giai cấp quý tộc mới có. Tay mèo đen lên tiếng trước, tuy chỉ là tiếng Mèo nhưng tạm hiểu như thế này:

.

“Hê! Anh từ cái nhà kia ra phải không?”

Anh mèo nhà định không trả lời, vì mục đích cuả anh hôm nay là đi tìm nàng thơ, chứ không thích dây dưa với bọn mèo hoang chả ra gì. Vì thế anh ta không trả lời và tiếp tục leo lên cái giàn mướp ngó trời xanh. Nhưng cuộc đời đâu đơn giản thế, gã mèo mun dở ngay cái thói rừng xanh ra:

“Ê! Chỗ này không phải chỗ của anh. Chốn giang hồ không phải để anh ra đây tìm trăng vịnh nguyệt. Ái chà! Bộ áo trắng mướt như thế kia chịu gì nổi với sương gió cuộc đời mà ra đây, khôn hồn thì quay về cái nhà anh ở mà xơi cao lương mỹ vị.”

.

Thấy gã ăn nói phang ngang bửa củi, anh mèo thấy cần phải dạy cho hắn một bài học tử tế:

“Anh không được nói với tôi như vậy, phải tập ăn nói cho tử tế. Trời đất là của chung, chỗ này cũng không phải của nhà anh.”

Gã mèo mun cười khinh khỉnh:

“Tuy gọi là chung mà vẫn riêng đấy, anh đừng có lý luận kiểu chả coi ai ra gì mà tan xác. Thấy anh hiền lành chúng tôi không đụng đến, nhưng nhớ một điều là anh hùng nào giang sơn nấy, trong rừng xanh cũng vẫn có luật dù luật không văn bản nhưng ai cũng phải hiểu. Anh may mắn có một đời sung sướng, hãy hưởng lấy cái sự sung sướng ấy đi.”

Thấy gã ăn nói có vẻ dịu giọng, Mèo nhà tưởng bở khoe khoang:

“Tôi cũng chả thèm cái cách sống lang bạt không nhà không cửa như anh,  tôi muốn thử xem cái không khí cuộc sống hoang dã của các anh như thế nào thôi, chứ trong nhà kia tôi chả thiếu gì...”

.

Gã mèo mun khục lên cười một tràng dài “méo, méo”, tức thời đã thấp thoáng thấy một đám tay chân bộ hạ từ chỗ nào chả biết chạy tới giàn trận ngay trên mặt giàn mướp, những tiếng “meo meo” vang rân một góc vườn khiến mèo nhà xanh mặt. Rồi anh ta lập tức được nghe một bài “moral” rất đáng đồng tiền bát gạo:

“Này, anh kia! anh nên nhớ anh xuất thân từ đâu mà ra, không phải tổ tiên anh cũng từ trong rừng xanh, phải vất vả săn bắt mới có cái bỏ vào miệng, phải tận diệt những loại động vật phá hoại như chuột bọ để làm lợi cho con người. Chúng tôi không tầm thường như anh nghĩ đâu. Anh nhìn xem trong khu vườn này có con chuột, con sóc nào dám bén mảng tới đây.Chúng tôi không phá cây trong vườn, không bẩn thỉu phóng uế bừa bãi khắp nơi như bọn chó má, và cũng chỉ ăn rất ít để sống, vì không chủ trương sống để ăn ngon mặc đẹp. Anh bị ru ngủ trong cái tháp ngà ấy rồi, quên trách nhiệm cao cả của mình thì làm ơn xéo đi, xéo ngay đi kẻo chết không kịp ngáp”

Hắn nhếch mép mai mỉa nhìn mèo nhà cười khinh bỉ, nhưng lũ lâu la thì nhất định không tha và xúm vào định làm thịt anh mèo nhà ngu ngơ. May quá, khi ấy bà chủ nhà thấy vắng bóng con mèo đẹp của mình, lại nghe tiếng “meo meo, méo méo” om xòm ngoài vườn nên vội chạy ra, thế là bọn mèo hoang chạy tán loạn, và mèo nhà vội chạy về tuy chưa ôm cái đầu máu.

Ôi kỷ niệm hãi hùng ấy in sâu vào đầu anh mèo mặc dù anh vì hay mơ mộng lẩn thẩn mà quên hẳn cuộc đời muôn mặt như bốn mùa xuân, hạ, thu, đông. Vì vậy, bây giờ khi bà chủ nhà đổ cái hộp thức ăn cho mèo vào cái điã không dưới gầm bàn, hai con mèo vội vã chạy đến nhấm nháp từng chút  thì anh mèo quên béng chuyện làm thơ, và hình bóng cô mèo mơ ngoài cửa sổ.

Nguyên Nhung

Chuyện Người Tù Chết Chiều 30 Tết

Một bí ẩn của tâm linh

Sau một đêm khó ngủ, tôi nghĩ đến lời hứa con cuả tử sĩ Huỳnh Tự Trọng, sẽ kể về câu chuyện có thật này.
Một bí ẩn cuả Tâm Linh, đối với tôi thật vô cùng khó giải thích.
Trân trọng mời quý vị cùng xem. Và gọi là chút tình với hương linh người tử sĩ.
Thân kính
NN

TL_TuongThuongTiec.JPGHình như suốt đêm qua tôi không ngủ, lại lơ mơ nhớ đến một lời hưá với con cuả người tù đã chết chiều 30 Tết năm 1977 tại vùng Sơn La Việt Bắc thâm u những mồ hoang mả lạc. Chuyện thật 100%, không hư cấu, cũng không phải chuyện ma, nhưng cứ như một cơ duyên bí ẩn của tâm linh, tình cờ mà đến, phải chăng vẫn có một thế giới vô hình không hiểu được.

Khoảng đầu năm nay, tôi đang lơ mơ ngồi đọc email cuả mấy người bạn, thì một lá thư cuả người bạn thân từ bên Úc gửi qua, bạn nhờ có quen ai ở Trà Vinh thì tìm giùm thân nhân cuả anh Chung Hữu Hạnh, một giáo sư biệt phái bị đi cải tạo và đẩy ra miền Bắc, anh đã chết trong một xó xỉnh nào đó cuả miền Việt Bắc, may là còn lại tấm bia mộ.

Anh gốc người Trà Vinh, vợ con sau khi mất tin chồng đã tìm đường vượt biển, chẳng biết bây giờ ở đâu. Tôi nhanh nhẩu ngồi liền vào máy viết thư cho nhà thơ Huỳnh tâm Hoài, một nhà thơ gốc Trà Vinh có những bài thơ được phổ nhạc rất hay là Lời Ru Sóng Vỗ, do nhạc sĩ Nguyễn hữu Tân phổ nhạc.

Như một bí ẩn của tâm linh, anh Huỳnh tâm Hoài vưà là bạn tù, vừa là bạn học cùng thời với anh Chung hữu Hạnh. Đọc tin anh buồn vui lẫn lộn, buồn vì nhớ bạn mình đã chết đơn độc vùi thân nơi rừng sâu núi thẳm, vui vì đã tìm được mộ thì hy vọng sẽ có ngày bạn mình được về hưởng hương khói gia đình.

Chỉ trong 5 ngày tin phóng đi, một người đã tìm ra thân nhân cuả anh Chung Hữu Hạnh, và tháng 6 năm nay chị Hạnh cùng các con đã tìm ra miền Bắc bốc mộ chồng đem về an táng tại Trà Vinh. Anh Chung hữu Hạnh là thầy cuả vợ bạn tôi, chắc thầy sống khôn thác thiêng nên tìm tới cô học trò để rồi cái đường dây loanh quanh trong cõi vô hình, cuối cùng thầy cũng tìm được về quê nhà, được sự chăm sóc khói hương cuả vợ hiền và các con.

Bạn tôi gửi cho tôi xem những tấm hình cảnh bốc mộ cuả anh Hạnh, nhìn nắm xương phù du còn lại được bươi lên từ đất cát khô cằn của miền Bắc, tôi cảm thấy ngậm ngùi, tất cả đều là vô thường, một ngày nào đó ai cũng phải tan thành tro bụi. Sẵn trớn tôi viết thư kể cho bạn tôi nghe về người tù chết chiều 30 tết, tôi cũng chả biết anh ta là ai, chỉ nghe chồng tôi kể lại ngay cái tên cũng không nhớ. Câu chuyện từ mùa đông năm 1977 tại trại tù vùng Sơn La, nằm trên con đường đến Nghĩa Lộ.

Chiều cuối năm rét mướt, trong cảnh u ám thê lương cuả trại tù miền Bắc, cùng  nỗi đói khát cuả những người tù gầy guộc và bịnh tật. Cả lán đang xôn xao ngoài sân chờ được phân phát thức ăn cuả ngày tết, quanh năm đói khát vất vả vẫn hy vọng có chút thức ăn ngon, khẩu phần là hai cái bánh chưng to hơn bàn tay, và mấy miếng thịt bé bằng ngón tay cái. Trong lán giữa nhà là đống củi lửa cháy bập bùng, sưởi chút ấm áp cho người tù vì trời vô cùng giá rét mà chăn chiếu lại thiếu. Mọi người ai cũng buồn vì nhớ gia đình, cám cảnh “gặm một mối hờn căm trong cũi sắt”. Ở cuối phòng có một chỗ nằm đã giăng mùng xùm xụp, một người bạn không thấy anh bạn tù ra lãnh món bánh chưng mà mấy ngày hôm trước anh ta thường than thở rằng chỉ thèm một miếng bánh chưng, nên đã tốc mùng xem thì thấy anh bạn tù nằm chết tự bao giờ.

Cả lán lại chìm trong nỗi buồn, giữa đêm tận cùng cuả năm mà hình ảnh người bạn tù chung nằm chết trong lán, như một ám ảnh khiến ai cũng nghĩ đến phận mình, một ngày nào sẽ bỏ xác nơi đây, gia đình thân nhân không ai hay biết. Báo cho quản giáo xong, họ xem xét thấy anh đã ngưng thở, nhưng vẫn hỏi ai có thể làm hô hấp nhân tạo cho anh ấy được không?

Mọi người lặng im, lúc ấy không hiểu sao thì chồng tôi lại xung phong làm việc ấy đối với một xác chết, nuôi một chút hy vọng nếu anh ấy thở lại được thì sao? Nhưng hoàn toàn vô vọng, bốn người tương đối trẻ và khoẻ được chọn để khiêng xác anh bỏ ra cái lò rèn, nằm đó chờ đến ngày mùng hai mới đem chôn, vì kiêng ngày mùng một tết(síc). Một vị thượng toạ thấy vậy đã lẻn đam phần ăn ngày tết cuả anh ra nơi quàn xác để âm thầm gọi là tiễn đưa linh hồn người bạn tù được “no nê” ở thế giới bên kia. Thảm thật!

Ngày liệm xác anh vào cái hòm gỗ thô sơ, xác anh được cuốn vào một cái bao cát, thay cho anh một bộ đồ tù mới, chồng tôi thấy tội nghiệp đã lấy chiếc áo thung xanh cuả người chết để anh gối đầu lên cho đỡ thảm, người ta còn cố tuột cho được cái nhẫn cưới trong bàn tay gầy guộc cuả người tù ốm đói. Sau này nghe con anh kể, chiếc nhẫn ấy đã được gửi về trả lại cho gia đình, nhưng mộ phần thì không biết thất lạc nơi đâu vì trại tù đã bị dời đi, trả lại cái nền hoang cho dân chúng địa phương canh tác ruộng bắp. Anh là người tù đầu tiên chết ở miền Bắc muà xuân năm 1977.

Ngày mùng hai, lại bốn người tù được chọn lầm lũi đẩy chiếc xe “ cải tiến” có  quan tài cuả người tử sĩ đem đi chôn. Không có một nghĩa địa nên buộc lòng phải vùi anh một nơi nào đó dọc theo sườn núi. Tất cả suy nghĩ rồi quyết định chôn anh trong một lòng huyệt nông vì đá tai mèo cứng quá không đào nổi, bên một dòng suối, thoai thoải là sườn núi chênh vênh với cây rừng, anh nằm đó để linh hồn được thanh thản nghe tiếng suối reo, nghe cây rừng than van với bốn bề hiu quạnh. Trước khi về, họ còn ráng khiêng những tảng đá lớn chất lên mộ để đánh dấu, hy vọng một ngày nào đó thân nhân sẽ tìm được mộ của người thân ….

Đường Tìm Về Với Thân Nhân:

Tôi gõ “meo” kể câu chuyện này cho bạn tôi nghe, rồi đi ngủ, lòng không mảy may vướng bận. Sáng hôm sau, khi xong việc nhà tôi vừa mở email thì đã thấy thư cuả bạn, với chữ Khẩn trong Subject. Tôi đọc thư, vắn tắt bạn viết:

“Đây là chuyện thật, không phải hư cấu để nhà văn viết truyện. Làm ơn hỏi ông xã giùm hồi xưa anh bạn tù chết chiều 30 tên gì, vì con anh đi tìm mộ cha ba năm rồi mà không ai biết, chỉ mơ hồ nên không biết chính xác mộ nằm ở đâu.

Please! Hồi âm cho biết vì rất mong, con anh sắp trở về VN tìm lần nữa vào tháng 7 này.”

Tôi giật mình, lại một chuyện lạ, chẳng lẽ hồn anh Chung hữu Hạnh lại dẫn bạn tù về tìm đúng người để  về với gia đình sao? Ớn lạnh, tôi là tác gỉa cuả một loạt truyện Cõi Mù Sương viết về thế giới bên kia, nhưng thật ra tôi toàn mượn chuyện người sống để nói về người chết, hư cấu 100%. Chờ chồng tôi đi làm về, tôi kể chuyện, sau đó liên lạc với con anh người tử sĩ, anh tên là trung úy Huỳnh tự Trọng, sinh quán ở Đà Nẵng hay Quảng Nam gì đó.

Người con cuả anh liền xin số phone để liên lạc, cháu yêu cầu chồng tôi cố nhớ lại vị trí cuả trại tù ngày xưa, và nhất là vị trí cuả nơi chôn cất anh Huỳnh tự Trọng. Hơn 30 năm vật đổi sao dời, dâu hoá biển, biển hoá dâu là chuyện thường, bây giờ chẳng biết cảnh cũ thay đổi ra sao, nhưng may ra còn dãy núi, còn con suối làm chứng cho cái trại tù heo hút ngày xưa. Đấu óc một người đã từng sống trong cảnh tù đầy thiếu ăn thiếu mặc, thêm nhiều năm vất vả với cuộc đời để tìm nguồn sống cho cả gia đình, chắc chắn là không nhớ hết được, thế nhưng như một sức mạnh thiêng liêng, từ linh hồn người  tử sĩ, chồng tôi đã vẽ được sơ đồ cho con anh bạn tù bạc mệnh đi tìm lại mộ cha.

So sánh với sơ đồ anh vẽ, và những hình ảnh các cháu đã chụp lại trong chuyến đi kỳ trước, khó mà tìm ra mộ vì tất cả chỉ còn một màu xanh của ruộng bắp, không thấy suối, hòn đá cao chắn ngang lối mòn năm xưa cũng không còn, lấy gì để xác định được ngôi mộ nằm ở chỗ nào.

Hành Trình Đi Tìm Mộ Cha:

Thư qua tin lại với con cuả tử sĩ Huỳnh tự Trọng, nhiều câu hỏi được đặt ra qua những thông tin của cháu, sự tha thiết tìm lại ngôi mộ của người cha bất hạnh vẫn nung nấu trong lòng những đưá con. Có lúc cả hai bên tưởng như tuyệt vọng, dù cháu cố nài nỉ “Chú ơi! Làm ơn nhớ giùm con, lúc ấy chú đi từ trại ra nơi chôn ba cháu ra sao? Chú chấm thử một địa điểm lần chót nữa đi, cháu hy vọng ba cháu sẽ chỉ cho chú…”Cảm động đến rơi nước mắt, chỉ còn hai hôm thôi hai đưá con anh lại lên đường đi tìm mộ cha, lần này nếu không được là thôi, hết hy vọng.

Tối hôm đó ngồi thần thừ trước tấm sơ đồ trại tù miền núi năm xưa, chồng tôi thầm cầu nguyện rồi khoanh tròn màu đỏ lên tấm ảnh mà cháu gửi qua. Anh nghĩ nó nằm ở chỗ này, làm một phép tính nhỏ( anh học ban B, vốn giỏi toán từ hồi đi học), lấy khoảng đứng từ ngoài đường vào trại tù cũ, gần một ngã ba cuả con đường tẽ vào Nghĩa Lộ, rặng núi đánh dấu cho địa điểm chính xác, ngôi mộ sẽ nằm ở khoảng này, khoanh một vòng tròn màu đỏ, anh đi ngủ để mai đi làm mà lòng nặng trĩu…

Theo chuyện kể cuả các cháu, chuyện người tử sĩ Huỳnh tự Trọng ly kỳ như một cuộn phim tâm linh khó giải thích, dọc đường đi anh đã phù hộ cho con anh ra sao, và khi đến nơi, lần trước các cháu đã biết có một ngôi miếu do một người bộ đội đã phục viên kể lại. Chính anh ta vì được một linh hồn khuất bóng lảng vảng nơi này cứu giúp trong cơn hoạn nạn, nên đã tự lập một ngôi miếu để thờ, mà chẳng biết là ai. Anh ta về quê làm rẫy, thường hay thấy một bóng người đi ra đi vào ruộng bắp, nhưng chỗ ấy không có nhà cửa thì lấy làm lạ, có khi cái bóng ấy còn đi vào nhà anh, nên anh tin là có một điều gì lạ lùng trong thế giới vô hình mà không diễn tả được. Trước khi đến đây làm nhà, anh ta nghe dân địa phương nói chỗ sườn núi này có một ngôi mộ nhưng bây giờ không biết nằm đâu rồi. Khi gia đình gặp chuyện không may, anh van vái người khuất mày khuất mặt phù hộ gia đình anh thoát nạn, anh sẽ cất miếu thờ, chính vì vậy mà có miếu thờ tử sĩ Huỳnh Tự Trọng( nhưng vẫn không có tên).

Trước khi các cháu lên đường tìm mộ cha, chồng tôi chỉ bảo một lần chót: “Chú không tin lắm ở trí nhớ cuả mình, nhưng khuyên cháu là khi về nên đến cái miếu thờ ấy van vái ba cháu cho tìm được mộ. Nếu linh hồn ông thiêng thật, nhất định các cháu sẽ tìm ra mộ cha.”

Một tin tưởng để vớt vát niềm hy vọng cho con cuả người bạn tù năm xưa, chúng tôi không tin rằng các cháu có thể tìm được mộ cha dưới gần 3 thước đất, vì sau khi gặp được người địa phương nổ mìn phá núi để lấy đá, ông ta nói ngày xưa nơi đây có cái suối nước nhưng bị lấp mất rồi, còn hòn đá to chặn ngang đường đi đã bị phá huỷ để lấy đá làm đường thì có lẽ trong lúc ấy, đã đẩy ngôi mộ sâu xuống đất nên không còn dấu vết.

Nghe xong những chi tiết này, con anh Huỳnh tự Trọng liền suy nghĩ và tính toán xem mộ cha sẽ nằm ở khoảng nào, đúng với cái vòng tròn màu đỏ và quyết định không bỏ cuộc. Cộng thêm giấc mơ anh Huỳnh tự Trọng báo mộng, xác anh nằm gần một mô đất cao, cháu nhìn thì thấy có một mô đất cao hơn đường đi nên nhất định đào sâu thêm nữa theo hình tam giác cuả sợi dây giăng làm chuẩn. Mấy người đào mộ thấy đào sâu quá bèn hỏi bộ định đào ao nuôi cá sao?

Vậy mà khi nhát xẻng chạm vào một khoảnh đất cứng hơn, mọi người mới bàng hoàng nhận ra những mảnh gỗ mục và hiện ra hình dạng một bộ xương người nằm trong cái bao cát tẩm liệm 33 năm dài trong lòng đất, loại bao này bằng ni lông cuả quân đội VNCH, được cắt ra chia cho tù dài khoảng 2 mét để làm tấm trải ngủ. Khi mở ra, cái đầu lâu khô cuả tử sĩ Huỳnh Tự Trọng còn gối lên chiếc áo thung xanh năm xưa, chỉ bị huỷ hoại khoảng 20%...

Một buổi chiều tháng bảy ở quê người, trong khi tôi đang nói chuyện qua phone với Đỗ Dung, cô bạn văn có ngòi bút trung thực và tính tình điềm đạm nhất cuả tôi thì chồng tôi báo tin, các con anh Trọng đã tìm được xác cha. Tôi cảm thấy lạnh cả sống lưng, và kể chuyện cho bạn tôi nghe. Chao ơi! người chết tìm về, tin hương linh người tử sĩ không quen tìm về với gia đình anh đã làm tôi xúc động, tôi cũng cảm được sự xúc động cuả bạn tôi qua giọng nói từ xa vọng tới…

TL_Lightingcandle.gifĐây là câu chuyện về người tù chết chiều 30 tết trong một ngày cuối đông rét mướt đã 33 năm về trước, anh đã tìm về được với gia đình, trở về với mảnh đất quê nhà và hưởng hương khói gia đình. Hôm nay còn lại một vài ngày nữa để bước sang một năm mới, tôi nhớ đến lời hưá với con cuả người tử sĩ, nên viết một mạch cho tâm hồn thanh thản.

Xin mời những nhà thơ nhà văn có tâm hồn nhạy cảm, dễ rung động như cung đàn muôn điệu cùng với gió với mây, hãy cảm tác mấy vần thơ cho ấm lòng người tử sĩ nha.

Phần tôi, quá mệt cho một đêm không ngủ để nhớ lại từng chi tiết vì  câu chuyện không thể nào hư cấu được.

Viết xong buổi sáng cuối năm 2010.

Nguyên Nhung

NN_GiangSinh2008.jpgTÌNH YÊU ĐÊM GIÁNG SINH

 .
“Cảm ơn Anh, một tấm lòng chân thật
Trong tình yêu vẫn ấm áp tình người.” 

*Nguyên Nhung

.

  Xếp lá thư của Chuyên vào túi áo, Ngọc mỉm cười xa vắng. Lá thư từ miền hỏa tuyến gửi về thành phố đến tay Ngọc vào những ngày đầu tháng mười hai, báo tin Chuyên sắp về phép trong mùa Giáng Sinh khiến Ngọc nôn nao chờ đợi. Nhớ lại Noel năm ngoái Chuyên không về được vì phải ở lại đơn vị, chỉ có mình Ngọc đi lễ nửa đêm với cô em gái, nghe hồi chuông ngân lan lan trên nóc nhà thờ giăng giăng những ánh đèn chớp tắt, Ngọc lại nhớ Chuyên da diết . . .
        
Đứng dưới giàn mướp ở góc sân sau, những bóng nắng in xuống nhảy múa đậu trên chiếc áo trắng của Ngọc, tưởng như cũng biết cười với nỗi vui thầm kín của người con gái. Những bông hoa mướp cuối mùa trên giàn vẫn tươi thắm, dù đợt gió cuối năm hơi lành lạnh đã làm những chiếc lá trên giàn ngả màu vàng úa, đang xào xạc theo từng cơn gió mùa thổi tới.
        
Bầu trời cao và trong, xanh biếc, nắng vẫn óng ả trên những cây cỏ trong vườn. Chuyên về. Ngọc nghe những tiếng reo vui ấy cứ ấm áp ngân mãi trong lòng, như tiếng chuông  đêm giáng sinh năm nào. Rồi Ngọc chợt buồn cười nhớ lại những kỷ niệm vui vui  lần đầu gặp Chuyên mùa Giáng Sinh hai năm về trước, để từ đấy hai đứa đi vào đời nhau như một giấc mơ huyền nhiệm.
 Chuyên nhập ngũ khi tròn hai mươi tuổi, làm bổn phận người trai thời  loạn để bảo vệ miền Nam tự do. Mới đó mà chín tháng quân trường trôi nhanh, đời chinh chiến đưa đẩy Chuyên làm người lính xa nhà, dù chưa có một mối tình nồng đậm ở hậu phương, nhưng vài khuôn mặt dễ thương tuổi học trò vẫn ẩn hiện trong tim người lính. Ra đơn vị một thời gian, nhiều lần hành quân thử lửa nơi chiến trường lửa khói, viên đạn địch ghim vào chân bên phải tý nữa thì phá vỡ xương đùi, chàng phải nằm bệnh viện dưỡng thương một thời gian. Vết thương sau khi lành lặn đã để lại cho người lính một kỷ niệm khó quên, thời gian ấy lại rơi đúng vào mùa Giáng Sinh nên Chuyên có được những ngày nghỉ hiếm hoi trong đời lính với mái ấm gia đình. Chàng sĩ quan  mặt búng ra sữa ngày nào trông đã có vẻ lì lợm, chững chạc hơn so với ngày mới bước chân vào đời lính,  không biết sao lại ngoan ngoãn theo bố mẹ đến nhà Ngọc dự bữa tiệc đêm Giáng Sinh năm ấy. Ngọc và lũ em không làm sao nín cười được, khi Chuyên mặt đỏ bừng vì ngượng , vâng lời cha mẹ khoe chiến thương cho mọi người xem. Mấy đứa con gái  kéo nhau vào phòng trong rúc rích cười,  con em út đã nghịch ngợm bảo Ngọc:

"May quá chị Ngọc nhỉ? Nếu anh Chuyên bị thương ở trên bụng thì em không biết . . . "
        
Ngọc vội vàng bịt miệng em kịp lúc, rồi mấy chị em lại rúc rích cười với nhau, tha hồ bàn tán về anh chàng sĩ quan trẻ ngượng nghịu ngoài phòng khách. Sau này, khi hai đứa yêu nhau, Ngọc có kể lại chuyện này cho Chuyên nghe, hai đứa cứ rũ ra cười, khi đang yêu họ ríu rít như hai con chim non, mỗi lần về phép là những ngày vui dài bất tận. Đó cũng là những kỷ niệm đẹp ghi đậm trong tâm khảm hai người, và mùa Giáng Sinh năm ấy bỗng  lại là mùa Giáng Sinh đẹp nhất trong đời Ngọc. Để rồi sau  mỗi lần về phép, Chuyên trở ra đơn vị, Ngọc lại hồi hộp chờ đợi và mong mỏi chàng trở về với một xác thân lành lặn.
 Ngọc tuy không đẹp  nhưng rất có duyên, còn Chuyên thì khỏe mạnh, đầy nam tính. Chàng có cái lì lợm toát ra từ vẻ mặt, từ đôi mắt, bởi vậy lần đầu tiên gặp Chuyên, Ngọc đã nhìn thấy đôi mắt ấy hình như có lửa, đã đốt cháy trái tim Ngọc ngay khoảnh khắc đầu tiên. Người ta gọi đó là "tiếng sét ái tình", dù hai bên gia đình hình như đã có sự sắp xếp để hai đứa gặp nhau. Riêng Ngọc, nàng lại cho là có sự sắp xếp của định mệnh, để  hai người vĩnh viễn bước vào đời nhau đúng vào đêm Chúa sinh ra đời.

*      *        * 

Ngọc đang sửa soạn những món ăn cho đêm Noel thì Chuyên về. Suốt ngày hôm đó Ngọc nôn nao mong đợi, nào ai biết được những gì xảy ra cho người lính. Mãi tới khi thấy Chuyên đứng bên ngưỡng cửa, bộ đồ nhà binh còn bám bụi đường xa, nụ cười rạng rỡ của chàng  khi cô em út đã nhảy ra mừng trước chị, Ngọc mới yên chí là chàng về thật. Một kỳ nghỉ phép vào mùa Giáng Sinh thật hiếm hoi cho đời lính, những cuộc đụng độ bất ngờ trong giờ hưu chiến vẫn có thể giữ Chuyên ở lại đơn vị là chuyện thường. Đánh đổi những ngày phép hiếm hoi này không phải dễ cho một người lính ở đơn vị tác chiến như Chuyên, ròng rã nhiều tháng ngày Ngọc  làm  tượng đá chờ đợi, nàng mới cảm thông được nỗi buồn của những người vợ lính. . . Việc đầu tiên trong kỳ nghỉ phép rất hiếm hoi này, Chuyên chạy vội đến một cửa tiệm bách hóa để mua quà Giáng Sinh cho Ngọc. Đứng trước bao nhiêu món quà trưng bày trong tủ kính, cuối cùng chàng đã tìm được món quà cho người yêu, con búp bê thật xinh với dáng đứng và khuôn mặt của cô bé tuổi mười lăm, duyên dáng và ngây thơ như Ngọc. Ngoài ra Chuyên còn mua thêm vài món quà nữa, những món quà này Chuyên dấu kín trong một túi giấy, với một bí ẩn mà chắc rằng chỉ có chàng mới hiểu được ý nghĩa cao đẹp của nó. Sau khi tiếp mẹ nấu nướng những món ăn cho bữa tiệc đêm Giáng Sinh, Ngọc vội vã vào phòng riêng trang điểm chờ Chuyên tới đưa nàng đi chơi đêm Noel. Thành phố vẫn tưng bừng trong không khí rộn rã của đêm Noel, trong khi ấy chắc hẳn có những người lính ở miền xa đang căng mắt chờ đợi những bất an xảy đến cho họ. Đã có một " party " thật vui nhộn do cô bạn thân mời, Ngọc có thể xin phép mẹ để được đi chơi với Chuyên mà không bị nhắc nhở, dặn dò, lo lắng như những lần được bạn bè mời đi ăn sinh nhật trước kia. Hay là bây giờ Ngọc đã lớn, bố mẹ đã hoàn toàn tin tưởng nàng chọn lựa đúng người để gửi gấm yêu thương. Bố vẫn nói đùa với mọi người, có lũ con gái ở trong nhà như bom nổ chậm, lòng ngay ngáy không yên. Mỗi lần thấy con gái đi theo để thưa với bố điều gì, ông lại hồi hộp không biết có phải  tin  báo giờ bom sắp nổ. Bố vui tính hay đùa, chứ ba đứa con gái của ông là ba bông hoa tươi thắm, đã khiến ngôi nhà vang lên những tiếng cười trong trẻo, óng ánh như tia nắng đầu ngày trải trên giàn mướp hương hoa vàng ở mảnh vườn sau. Khi Chuyên trở lại để xin phép mẹ đưa Ngọc đi chơi, chàng thật bảnh bao trong bộ quần  áo "civil" thẳng nếp, tóc tai chải gọn gàng, mày  râu nhẵn nhụi,  khác hẳn khuôn mặt phong trần, xạm nắng trong bộ quân phục chàng mặc lúc ban chiều. Trên tay chàng là gói quà nhỏ tặng Ngọc, ngoài ra còn  một gói to hơn, bọc kín mít trong một túi giấy, bỏ vào chiếc túi ny lông, hơi cồm cộm, Ngọc đoán là giầy dép, hay quần áo.  Món quà ấy Chuyên nhờ Ngọc cầm hộ, khi hai người chở nhau trên chiếc xe Honda, Ngọc chỉ mơ hồ đoán đó là món quà Chuyên dành cho ai đó nhưng không tiện hỏi.
          
Cả tuần nay, Ngọc  băn khoăn chọn chiếc áo dài có màu sắc thích hợp cho đêm Giáng Sinh. Dưới ánh đèn mờ thì màu đỏ huyết dụ sẽ làm khuôn mặt Ngọc nổi lên những đường nét quyến rũ, dù rằng Ngọc rất thích chiếc áo màu thiên thanh, đi trong nắng sẽ làm vẻ tươi thắm của khuôn mặt trở nên dịu dàng hơn, nhưng  dưới ánh đèn qua sự phản chiếu ánh sáng, nó sẽ bị lợt lạt  đi. Băn khoăn mãi, không biết sao Ngọc lại chọn màu áo trắng học trò, có thêu những chiếc hoa xinh màu xanh nhạt dưới hai tà áo. Ngọc thấy sự giản dị của màu áo lại khiến mình có nét ngây thơ của một cô em gái hậu phương, có lẽ vì Chuyên là một người lính? Ý nghĩ ấy khiến Ngọc mỉm cười hoài một mình, chỉ màu áo mà cũng làm những kẻ đang yêu nghĩ  ngợi mãi, có phải vì Ngọc vẫn nghĩ tới Chuyên với một tâm tình trong sáng của tuổi trẻ còn nguyên vẹn.
 Trên đường phố đã nhộn nhịp người qua lại, xe cộ dập dìu như mắc cửi, nhưng sao  trong đôi mắt Chuyên, Ngọc thấy niềm vui như vẫn phảng phất một nỗi buồn. Ngọc không dám hỏi Chuyên về những điều thầm kín đó, và khi thấy Chuyên chở mình đi về hướng ngoại ô của thành phố, qua những con đường đầy ổ gà chỉ có ánh đèn đường vàng vọt, chen chúc những căn nhà ván lợp lá nghèo nàn khuất  dưới tàng cây tối thẫm, Ngọc lại bâng quơ nghĩ tới những chuyện không vui, mà vẫn không đủ can đảm hỏi Chuyên tại sao lại tới đó. Trong lòng Ngọc nhen nhúm chút buồn bã, vì Ngọc tưởng một đêm Noel trọn vẹn của hai đứa, phải là những tiếng cười rộn rã với bạn bè, màu rượu đỏ óng ánh trong chiếc ly thủy tinh, phải là những bước chân quấn quýt dìu nhau trong thế giới cuả âm nhạc, những bài ca Giáng Sinh vang vang trên đường phố. Và cuối cùng, trong không khí ấm áp của ngôi giáo đường rền rền tiếng chuông ngân, hai đứa sẽ thì thầm với nhau những lời ước nguyện đẹp đẽ.
           
Đêm Noel là đêm an bình mà ở một góc trời xa vẫn bừng lên ánh hỏa châu trên vùng trời đen thẫm, có điều gì khắc khoải trong tâm hồn Ngọc khi nghĩ  sau những ngày nghỉ phép thần tiên, Chuyên lại trở ra đơn vị. Lại những chiến trường xa gian khổ, lại những bất trắc rình rập quanh đời sống của chàng, Ngọc cố xua đuổi những nỗi buồn vô cớ để hưởng trọn tình yêu đêm giáng sinh với người yêu. Mãi tới khi chiếc xe Honda quẹo vào một con ngõ tráng xi măng ngoằn nghoèo, con hẻm sâu và tối, thỉnh thoảng có một nhà treo đèn ngôi sao trước cửa, như dấu hiệu của một mùa Giáng Sinh buồn bã nơi những gia đình nghèo khổ và cô đơn
 Nỗi thất vọng và buồn bã lại nhen nhúm trong lòng cô gái trẻ, Ngọc cứ bâng khuâng tự hỏi,  Chuyên định làm gì mà hoang phí những giờ phút quý hiếm của lần về phép, với đêm Giáng Sinh tuyệt vời như  vậy? Ý tưởng ấy cứ miên man trong lòng Ngọc, cho đến khi Chuyên ngừng xe trước thềm một căn nhà đơn sơ, cửa vẫn mở để Ngọc nhìn thấy tất cả sự nghèo nàn của nó. Duy nhất một ngọn đèn trần vàng úa tỏa xuống những đồ đạc rẻ tiền . Trên chiếc giường con kê ở góc nhà, hai đứa trẻ con đang nằm chơi với nhau, bi bô nói chuyện. Và ở chiếc võng phía bên kia, theo tiếng võng kẽo kẹt đưa có tiếng người mẹ ru con buồn não nuột. Chắc người mẹ còn trẻ, vì Ngọc nghe tiếng ru tuy rất buồn nhưng âm thanh còn trong trẻo, không khí phảng phất chút hiu quạnh với  bức ảnh của người đàn ông mặc quân phục còn khá trẻ, đặt trên chiếc bàn thờ  ở giữa nhà dưới ngọn đèn dầu leo lét. Mãi tới khi Chuyên cất tiếng gọi, người thiếu phụ ngồi nhỏm dậy quấn vội mái tóc mây, đứa bé bồng trên tay mở to đôi mắt trong veo nhìn hai người xa lạ chực khóc, và hai đứa bé đang chơi trên chiếc giường nhỏ chạy ùa tới nhìn khách chăm chăm. Ngọc đã gần  đoán hiểu ra được sự thăm viếng đột ngột của Chuyên dành cho gia đình một người lính cùng đơn vị, khi anh ta đã nằm xuống mấy tháng trước đây trong một cuộc đụng độ giữa hai bên. Người phụ nữ còn trẻ, chắc dưới tuổi ba mươi, ngạc nhiên vì sự thăm viếng khá bất ngờ của người sĩ quan chỉ huy cùng đơn vị với  chồng mình và cô bạn trẻ, trong chiếc áo dài trắng đơn sơ. Có lẽ hình ảnh ấy khiến chị nhớ đến hình ảnh một thời của mình, và cái chết quá mới mẻ của chồng khiến chị vừa cảm động, vừa tủi thân. Trong tiếng nói cuả chị, Ngọc nghe như có chút nghẹn ngào khiến nàng cảm động:"Chào Thiếu  Uý, chào cô . . . "
          
Rồi chị nín bặt như sợ nói thêm sẽ có thể bật lên khóc. Để tránh sự xúc động, Chuyên nắm tay hai đứa bé lôi vào lòng xoa đầu chúng một cách trìu mến, rồi chàng giơ tay bồng đứa bé độ bảy, tám tháng trên tay chị. Mấy đứa nhỏ quấn ngay lấy chàng, như đã lâu lắm rồi chúng chưa được nắm lấy bàn tay yêu thương của một người nào giống như cha chúng. Chuyên vội giới thiệu với Ngọc:
 "Đây là chị Luân, trước kia anh Luân cùng đơn vị với anh. Còn đây là Ngọc, em gái hậu phương của tôi đấy." Chàng cố pha trò cho không khí bớt phần buồn bã, vì nhìn những đứa bé còn nhỏ như vậy, Ngọc hiểu anh Luân chỉ ra đi ít lâu nay, và cái buồn hình như còn y nguyên trong lòng người vợ. Chị Luân định chạy đi tìm nước mời khách, nhưng Chuyên đã ngăn lại, rồi hướng về mấy đứa bé, đang nhìn chàng bằng những đôi mắt đen lay láy. Chuyên nói: "Chú có quà cho các cháu đây. Nguyên năm tuổi, học mẫu giáo rồi phải không, chú cho con viết chì màu để tô hình nhé. Bé Tiên thì lại làm cô tiên, cái áo đầm này đẹp chưa? Nào em bé ra đây, bé thế này thì chỉ có sờ tí mẹ thôi, chú cho bé con thỏ biết nhảy để ba anh em chơi chung với nhau nè!"
         
Hai đứa lớn mừng rỡ xà vào lòng Chuyên, bây giờ mới ríu rít kể chuyện. Những chuyện của trẻ con thật dễ thương, điều thương cảm hơn cả là chúng chưa hiểu gì về sự vắng mặt của người cha. Ngọc đã phải bậm môi để đừng chảy nước mắt khi nghe thằng Nguyên nhắc về cha nó, với nỗi mong đợi của đứa bé ao ước được gặp bố, sau nhiều tháng chưa thấy bố về phép như mọi khi. Nó thỏ thẻ hỏi Chuyên:
 
"Chừng nào bố con về hở chú?"
         
Chuyên vội quay đi để tránh cái nhìn tha thiết trong đôi mắt trẻ thơ của thằng bé:
 "Bố  còn bận lắm chưa về được, nhưng bố nhắn chú về mua quà cho con và mấy em rồi. Con phải ngoan, nhớ trông em cho mẹ, kỳ tới chú về bố con sẽ gửi quà nhiều hơn." Những câu nói dối để xoa dịu nỗi mong đợi nơi thằng bé năm tuổi, khiến người lớn nghe thắt cả lòng. Đằng sau những vinh quang của vòng hoa tươi thắm quàng lên cổ áo người lính trở về từ mặt trận, những khuôn mặt rắn rỏi và kiêu hùng  trong tiếng nhạc rộn ràng kia, có bao giờ lại thiếu những hồi kèn truy điệu thiết tha, ngân lên rồi đọng lại trong lòng người ở lại sự vắng mặt của người đã nằm xuống, không bao giờ trở về.
         
Chuyên trở lại câu chuyện với chị Luân, người góa phụ còn xuân sắc với ba đứa con thơ trên tay, Ngọc không hiểu chị có đủ nghị lực và can đảm để vượt qua cái chênh vênh của cuộc sống chật vật và cô đơn ấy được bao lâu. Cho dù thời gian qua đi, một mai đất nước có thanh bình, nhưng chiến tranh đã để lại những dấu tích bi thảm trên thân phận người vợ lính, những đứa bé không cha dẫy đầy trên mảnh đất quê hương. Nghĩ  tới đây, rồi nhìn thấy đôi mắt ướt của người góa phụ còn trẻ, Ngọc bỗng rùng mình , và mắt nàng cũng  rưng rưng một màn lệ mỏng . . .
         
Tuy nhiên, mùa Giáng Sinh năm ấy lại là mùa Giáng Sinh ý nghĩa nhất trong đời Ngọc, nó đã trở thành một kỷ niệm đẹp của hai người, để Ngọc có dịp đánh giá tâm  hồn Chuyên sâu sắc hơn. "Không bỏ anh em, không bỏ bạn bè", có phải đấy là giá trị duy nhất mà một người Lính sau bao nhiêu lần thử thách với cái chết còn giữ được, ngay cả mạng sống của họ . Bây giờ Ngọc mới thực sự nhìn ra tâm hồn cuả người yêu, rồi nhìn ra những cảnh đời cô đơn, cùng khổ đang nhan nhản xảy ra xung quanh nàng, tự nhiên Ngọc không còn thiết tha gì với những cảnh xa hoa, hào nhoáng  ở ngoài kia, nó như  những mảnh vải màu sắc rực rỡ, vá lên một chiếc áo rách tả tơi. . . .
 

*    *    * 

Năm nay, mùa Giáng Sinh lại tới, Chuyên và Ngọc đã về với nhau được hơn ba mươi năm, đôi bạn tình đã trải qua nhiều đau khổ với cảnh tan nát của nước non. Chuyên may mắn thoát chết trong những ngày chinh chiến gian khổ, nhưng sau đó chàng nếm thêm nhiều năm tù tội khi đất nước hòa bình. Hoàn cảnh lại xô đẩy Ngọc giống như chị Luân, vợ một người lính đã nằm xuống, nhưng có điều là nàng vẫn còn niềm hy vọng, vì cuối cùng Chuyên cũng trở về với Ngọc và các con. Chẳng hiểu sao định mệnh cứ  đưa đẩy đất nước vào những nghịch lý triền miên như vậy, và điều ấy khiến con người càng ngày càng xa cách nhau hơn.
           
Rồi dài theo những bước chân và sự xoay vần của lịch sử, hai vợ chồng và mấy đứa con lại trôi nổi nơi xứ lạ quê người. Trong mảnh sân vuông vức, Ngọc vẫn trồng một giàn mướp trong góc vườn để nhớ tới mảnh vườn sau ở quê nhà năm xưa. Nhìn tia nắng ban mai chiếu ánh sáng qua giàn lá xanh như ngọc , Ngọc lại không quên được những kỷ niệm êm đềm của những mùa Giáng Sinh xưa. Những đợt gió cuối mùa ở quê người, là cái dữ dội của con dao cắt vào ruột kẻ tha hương, chứ không phải cái hiu hắt dịu êm của chút gió cuối năm ở quê nhà những mùa Noel cũ.

 

Trời khi nóng khi lạnh, khiến giàn mướp đã xơ xác vẫn còn những chiếc lá thưa thớt xào xạc thoảng qua tai Ngọc, như tiếng ngân của một cung đàn đềm êm trong quá khứ. Những bông hoa cuối mùa, dường như vẫn giữ lại trong lòng Ngọc biết bao kỷ niệm một thời tuổi trẻ dễ thương nhất của cuộc đời, mà những kỷ niệm ấy như những tiếng chuông mùa Giáng Sinh, vẫn ngân nga trong lòng nàng mỗi mùa Giáng Sinh trở lại.
          
Ở góc vườn bên kia, bóng Chuyên lom khom xới đất để sửa soạn trồng những cây hoa pensée mùa Đông. Một thời tuổi trẻ đã qua rồi, nhưng sao lòng Ngọc vẫn ấm áp khi nhớ lại đêm Giáng Sinh năm ấy, chính vì thế trong mắt nàng Chuyên vẫn là Chuyên của những năm tháng cũ. Nắng đã lên rực rỡ, chỉ còn Ngọc đứng dưới giàn mướp đã thưa thớt lá. Nhìn bóng nắng  nhảy múa trên  vai áo mình,  Ngọc tự nhiên nhớ lại mùa Giáng Sinh năm xưa, và mỉm cười vu vơ như thuở nàng còn là người yêu của lính.
    
 NGUYÊN NHUNG
 Mùa Giáng Sinh

          

Ổ Bánh Mì Đêm Giáng Sinh

                                                  

* Lời người viết : Chuyện kể lại một góc đời thường của một linh mục sau năm 1975, với những nhọc nhằn trên đôi vai của ông cha xứ trong một xứ đạo nghèo, mà tinh thần bác ái của ông bao giờ cũng là một món quà Giáng Sinh đáng trân trọng.

Nguyên Nhung

TL_church.jpg

Nhà là nhà xứ mà cũng là nhà Dòng, Cha là cha xứ lại kiêm luôn việc trông nom tu viện, gồm một số tu sĩ nguyện tận hiến cuộc đời cho Thiên Chúa và tha nhân. Ấy là số tu sĩ chỉ độ hơn mười người, sau khi đổi đời một số đã bỏ về nhà làm ăn sinh sống. Có làm linh mục vào thời buổi ấy mới cân lượng được cây thánh giá Chúa gửi đang vác trên vai, chứ đâu sung sướng gì như người ta nghĩ: “ Một người làm Cha... cả họ được nhờ”.

Xứ chỉ là xứ nghèo, số giáo dân đến nhà thờ được vài trăm, đa số đều vất vả và đơn chiếc. Nhìn là biết ngay, giáo dân chỉ toàn đi dép nhựa với mặc áo bà ba, mấy cái áo dài chắc được đem ra chợ trời để đổi lấy cơm gạo, hoặc mấy bà mẹ khéo tay đã lấy may lại tấm áo Tết cho con. Đám trẻ con lại càng tội hơn, chúng nó đi chân đất đến nhà thờ, áo quần xộc xệch, mặt mũi vêu vao, nhìn đám con chiên cha xứ chỉ muốn rơi nước mắt...

Bây giờ nhà thờ rất thiếu linh mục, chiều thứ Bảy, ngày Chủ Nhật là ngày chạy “show” làm lễ cho giáo dân ở hai nơi khác nhau. Mà đã xong đâu, còn phải chọn giờ làm lễ sao cho phù hợp, không làm mất thì giờ lao động của nhân dân. Những buổi lễ ngày thường Cha phải dậy sớm lắm, nhà thờ chỉ lác đác mấy ông bà già không ngủ được đi lễ sớm, còn đám người lớn phải lo chạy gạo giờ nào mà đi lễ. Không có hát Thánh ca, không có đàn sáo trầm bổng gì hết, quanh đi quẩn lại chỉ có mấy cha con chúc Bình An cho nhau.

Bình An là tốt rồi, không dám mong mỏi gì hơn. Khu nhà thờ nằm trong khuôn viên rộng rãi giờ này như mâm cỗ đập vào mắt những kẻ đói ăn, khiến Cha nghĩ nát đầu để giữ lấy làm nơi thờ phượng và làm chỗ tu học cho các tu sĩ. Nhìn bề ngoài khu nhà thờ có vẻ bề thế, nhưng sau nhiều năm không được sửa chữa, tường đã nứt, mưa đến dột nát tứ tung, tiền không có ăn, nghĩ đến chuyện quét vôi cho sáng sủa nhà thờ chắc chỉ là chuyện chiêm bao.

Nghĩ mãi Cha mới nảy ra ý kiến trồng rau nuôi gà, tất cả đều “tay làm hàm nhai”, các tu sĩ bây giờ tíu tít lên vì phải “tăng gia sản xuất”. Không phải vì cái khẩu hiệu “lao động là vinh quang” vẽ chữ vàng trên nền vải đỏ treo bên kia đường đập vào mắt Cha, nhưng “đói thì đầu gối phải bò”i. Nghĩ cho cùng cha vẫn thấy hợp lý, con người không thể dấn thân vào Đạo khi không tự mình lo được cho mình miếng ăn, lại cứ phải sống nhờ vào lòng từ tâm của tín hữu.

TL_HouseOnIce.jpgKhu nhà thờ biến thành một trại gà, vì thế mỗi buổi lễ con chiên vẫn ngửi được mùi phân gà thoang thoảng trong câu kinh nguyện. Những mảnh đất xung quanh khu nhà thờ, giờ này trồng đủ thứ rau xanh. Mùa nào thức nấy cả nhà Dòng trông vào mảnh vườn rau làm thức ăn chính. Su hào, cải bắp, khoai lang, mùng tơi, rau đay, rau muống, có chút rau xanh nấu với tôm khô cũng đẩy được bao nhiêu bát cơm gạo hẩm vào bụng. Khổ nỗi, số rau ấy được lũ trẻ đi nhà thờ tận tình chiếu cố, chả lẽ chúng nó mở miệng xin mà Cha lại từ chối, thành ra sau buổi lễ dành cho thiếu nhi ngày chủ nhật, bao nhiêu rau trong vườn được vặt trụi.

Đất còn rộng, sợ ngứa mắt người khác, cha nghĩ đến chuyện đào ao nuôi cá, thêm chút chất đạm cho mỗi bữa cơm. Ban đầu chưa có kinh nghiệm, mua bao nhiêu cá giống về thả xuống ao, chỉ ngày hôm sau cá con đã nổi lềnh bềnh trắng xóa trên mặt nước. Ít lâu sau ao cá mới gầy được một vài lứa, hôm nào lưới lên Cha con được một bữa bồi dưỡng cũng thỏa lòng. Nhưng lại có vấn đề, lũ trẻ đi nhà thờ ngày chủ nhật hay leo trèo, nghịch ngợm, ao cá nằm phơi ra đó lỡ đứa nào sảy chân chết đuối là Cha lãnh nợ. Lại phải rào, dây kẽm gai lúc ấy rất hiếm, dù ngày xưa chỉ để rào quanh đồn bót với những cơ quan quân sự. Thế là cha con lại hì hục chạy vạy để rào ao nuôi cá, tiền bán trứng gà dành dụm mãi bây giờ lại đổ vào việc mua dây kẽm gai, gà không có thực phẩm đầy đủ cứ gầy teo, rồi mùa gió chướng năm đó gục xuống chết hết, cha con tha hồ ăn thịt gà “toi”.

Vấn đề chạy gạo cho cả chục người ăn là “căng” nhất. Nghĩ tới nghĩ lui, may là còn được chiếc xe Honda cũ, Cha vẫn dùng để chạy đi làm lễ từ nhà thờ này sang nhà thờ kia. Cha nghĩ ngay đến việc chạy xe “lôi” kiếm sống, gia nhập vào nghiệp đoàn “Xe Lôi” rất đông đảo. Xe lôi là một loại xe chuyên chở bình dân rất thông dụng ở miền Tây, chỉ cần một cái thùng xe phía sau là cha xứ có thể biến thành một bác chạy xe lôi rất chân chính. Miệng lưỡi thế gian không thể cho cha là loại người trốn tránh lao động, sống bám vào công sức của người khác, lại còn giải quyết được chuyện bao tử cho bấy nhiêu con người trong nhà Dòng.

Mỗi buổi sáng ngày thường sau khi tan lễ, cha ăn uống qua loa rồi tất tả cởi chiếc áo chùng thâm, thay vào đó là cái áo lính cũ, với một mũ rộng vành kiểu nhà binh, bấy nhiêu đó là Cha có thể hòa nhập vào với dòng đời xôn xao ngoài kia. Bởi vậy mới xảy ra chuyện cười ra nước mắt giữa một ông cha xứ chạy xe lôi với một bà già giáo dân trong họ Đạo. Sáng sớm bà già đón xe đi chợ, vì chân yếu, chợ lại xa, bà không làm sao lạch được ra chợ. Bà già đứng bên đường ngoắc chiếc xe lôi vừa chạy tới. Chiếc xe tấp vào lề đường, cha xứ giấu mặt có đôi kính trắng dưới cái mũ rộng vành đội sùm sụp.

“Từ đây ra chợ, chú lấy bao nhiêu?

“Bà cho bao nhiêu cũng được.”

Bà già vừa ngồi trên xe vừa lẩn thẩn hỏi cho vui chuyện:

“Chú chạy xe có khá không?”

“Thì cũng nhàng nhàng đủ ăn, thưa bà.”

“Nhà chú được mấy đứa con?”

“Nhà tôi đông con lắm...”

Cha chỉ trả lời cầm chừng, vì cụ bà thì cha biết rồi, chỉ có bà không nhận ra ông cha xứ của mình thôi. Bà là bà cụ đọc kinh to tiếng nhất trong nhà thờ, khoác tấm áo dài màu cánh gián, ngồi gật gù dưới chiếc cột có tượng Đức Mẹ từ bi, tuy mắt kém nhưng vẫn lò mò đi nhà thờ mỗi buổi sớm. Bà cụ than:

“Đông con nhưng chú có chiếc xe để kiếm cơm cũng còn khá. Tôi bây giờ chỉ sống nhờ vào con , con trai lại đi tù, con dâu ở nhà nuôi cháu cho mình thấy vất vả quá. Hôm nay, tôi phải đi chợ để làm mấy món tiếp tế cho con, chia với vợ nó chút khổ, chứ trông vào một mình nó, thật ái ngại!”

Cha thấy nao nao buồn, xung quanh Cha là những cây Thập giá đè nặng lên thân phận của những gia đình giáo dân trong xứ đạo, nhà nào cũng khổ như nhau, chỉ ít hay nhiều mà thôi. Đa số đàn ông vắng mặt trong nhà, đàn bà thì chân yếu tay mềm, suốt ngày quần quật ngoài chợ kiếm ăn, nuôi một đàn con nheo nhóc cơm không đủ ăn, áo không đủ mặc. Đức bác ái thì không thiếu trong con người linh mục, nhưng lấy gì để chia xẻ đây?

Chiếc xe rề rề tấp vào vỉa hè con phố ở đầu chợ. Bà già xuống xe, bàn tay nhăn nheo run run mở cái kim băng ngoài túi áo để lấy tiền, nhưng ông chạy xe lôi tử tế kia nhất định biếu không cho bà chuyến xe mở hàng đầu ngày. Mắt bà hấp hem nên chưa nhận ra ông ta là ông cha xứ của mình, dù nghe giọng nói kia quen quen mà chịu chưa nhớ ra được. Mãi tới khi lần mò đi vào khu chợ, vừa đi vừa cầu nguyện cho người đã làm ơn cho mình, bà mới ngờ ngợ nhận ra cái tiếng nói quen quen kia là giọng nói của  ông cha xứ trẻ. Bà bồi hồi cảm động, hai hàng nước mắt cứ chực tuôn ra trên hai gò má. Bà vừa đi vừa thầm thĩ cầu nguyện Chúa nhân lành trả công cho ông cha xứ của mình.

Làm ăn quần quật thế mà cha con vẫn sống thật vất vả, bữa cơm bày biện trên chiếc bàn dài, nhìn vào chỉ có canh cua đồng nấu rau đay, một đĩa cá kho, thêm một đĩa cà pháo, hôm nào ngon lắm thì thêm một vài miếng đậu hũ xốt cà. Tiện tặn, khiêm nhường, co kéo mà sống vậy cũng chưa yên thân, giáo dân nghèo bần cùng, đơn chiếc thỉnh thoảng vào nhờ cha giúp mấy lít gạo cũng không từ chối được.

Khi dấy lên phong trào hồi hương lập nghiệp, nhà nhà đưa nhau đi xây dựng vùng quê hương mới, Cha nghĩ ngày nghĩ đêm để tìm cách giúp con chiên được ở lại thành phố. Họ đổi mới thị trường công thương nghiệp, thay vì phải đi cày sâu cuốc bẫm, cho nên cha lại phải khôn khéo ngoại giao mới được giao cho công việc điều hành một Tổ Hợp Dệt Thảm bằng cói lác, được đánh giá là hàng mỹ nghệ xuất khẩu ra nước ngoài. Nhà xứ lại nhộn nhịp người ra kẻ vào, các tu sĩ thay cha điều khiển Tổ Hợp và dạy nghề lại cho bà con trong xứ.

Không tham gia vào mấy cái Tổ hợp thì không phải là người thức thời, ai cũng biết chả sống được bằng cái nghề ấy, vì có làm cong lưng ra cũng không chạy đủ gạo cho con ngày hai bữa, chỉ có những người độc thân bám víu mà sống được, còn người nặng gánh gia đình tham gia cho có hình thức, rồi cắp túi ra chợ Trời ngồi mua chui bán nhủi. Dĩ nhiên chỉ có các vị tu sĩ phải chăm chỉ làm để lấy sản phẩm giao cho nhà nước, cũng được cấp phiếu mua gạo giá quy định, đỡ đần gánh nặng cho cha xứ.

Cũng vì lòng thương người, đức bác ái mà đời cha đôi phen điêu đứng, việc ngoài đối phó chưa xong mà việc trong lại rối rắm bằng mười. Điều làm cha buồn lòng nhất sao nó giống hệt nỗi buồn của Chúa Giêsu năm xưa, bị chính người môn đồ thân yêu bán đứng lấy ba mươi đồng bạc. Cha cô đơn chống chỏi với bên ngoài, cũng chỉ vì muốn giữ lấy cái nhà dòng cho các tu sĩ và ngôi nhà thờ cho giáo dân. Nhưng điều hành một giáo xứ và một nhà dòng, cha không tránh được chuyện người ưa kẻ không thích, khổ tâm nhất là bất cứ việc gì cha làm vì lòng bác ái, lại bị nhiều lời đàm tiếu vô căn cứ. Để rồi đôi khi cha thấy mình y hệt phạm nhân nằm trên cây thập giá, mà mỗi lời châm chích lại y như những cái đinh vô hình đóng vào tâm hồn cha, khiến Cha chỉ biết thở than với Chúa.

Cha hiểu trong đêm tối chỉ có Chúa mới lắng nghe được cha đang nói gì, hay chính tiếng nói của lương tâm đang ủi an cha để làm nốt trách nhiệm quá nặng nề trên đôi vai người linh mục tội nghiệp. Ngày xưa Chúa chỉ có mỗi Phi la Tô xét xử, mà với áp lực của đám đông đang gầm thét đòi đóng đinh Chúa, trước khi giao Chúa cho quân dữ, hắn đã phải rửa tay để thề rằng không có trách nhiệm gì trong cái chết của người công chính này. Cuối cùng, cha quyết định mình sẽ học bài học im lặng của Chúa, chờ đến một ngày người ta sẽ hiểu cha hơn, qua những việc cha làm, đó là cách hữu hiệu nhất mà vẫn rất cần thời gian mới trả lời được.

* * *

“Ai bảo chăn trâu là khổ”, cũng như “ai bảo làm Cha ... là sướng”. Thời nào Cha sướng không biết, chứ lúc ấy nghề linh mục là nghề cay đắng nhất, hai ba thứ dâu đổ vào đầu tằm, việc Đạo việc Đời phải khéo léo giải quyết, ai vác thay được cho Cha cây Thánh giá nặng nề chừng ấy. Nói theo Tôn giáo bạn thì đi tu là xa lánh việc đời, quẳng cái đa đoan để tầm đường tìm sự giải thoát cho bản thân, giá được vậy thì đã đỡ khổ. Từ sáng tinh sương tới tối mịt, khi chuông nhà thờ vang lên từng hồi dồn dập mỗi buổi sớm mai, Cha đã bắt đầu lo cho một ngày sắp đến.

Nhìn xuống hàng ghế quỳ càng ngày càng thưa thớt giáo dân, cha thấy lòng nặng trĩu một nỗi buồn. Mùa Giáng sinh sắp tới rồi, mùa Vọng thường là mùa chuẩn bị cả phần hồn lẫn phần xác. Năm nào cũng vậy, nhà thờ vui nhất mùa Giáng Sinh, ca đoàn bắt đầu chuẩn bị tập hát, những ca khúc giáng sinh rộn ràng khiến lòng ai cũng như mở hội. Đám trẻ dạo này ít tới nhà thờ, ngoài giờ đi học chúng nó bận họp hành tối ngày, công tác kiểm điểm liên miên giờ đâu mà tham gia sinh hoạt của nhà thờ. Đúng ra cũng chỉ có mỗi ca đoàn là còn tương đối hoạt động, mấy hội đoàn kia tự động giải tán, chả ai bảo ai cứ lẳng lặng mà tan hàng...

Những chiếc đèn ngôi sao sau mùa Giáng Sinh hằng năm, được bọc giấy báo cất kỹ trong kho, bây giờ được lôi ra làm lại như mới, giăng hai hàng song song bên hông nhà thờ, khiến khu nhà xứ lại tràn ngập bầu không khí Giáng Sinh. Nhưng sao vẫn buồn thế nào ấy?

Góc sân kia có thể làm hang đá ở chỗ ấy, dưới bóng mấy cây dương xỉ để nghe tiếng lá reo vi vu, như âm điệu buồn buồn của bài ca sinh nhật “Đêm Thánh TL_XmasBells.jpgVô Cùng”, hay cảnh màn trời chiếu đất của một gia đình cách đây gần hai nghìn năm. Năm nay Cha dâng Lễ ngoài trời, vì lễ sớm, bọn trẻ con đông, nhà thờ không đủ chỗ chứa bấy nhiêu con người, ngồi trên cung thánh nhìn xuống, cha thấy mướt mồ hôi. Tất cả đã được cha tính toán để ít là cũng mang được niềm vui Giáng Sinh đến cho giáo dân trong họ đạo. Ai cũng biết xứ nghèo lắm, cha xứ cũng nghèo, hiền lành nên mùa Giáng Sinh cũng chỉ được có thế, nhưng họ vẫn tuôn đến nhà thờ vào đêm Giáng Sinh. Hình như trong lúc này, họ mới cảm nhận được cái tương quan giữa cảnh đời của họ với gia đình Giêsu trong hang đá bé nhỏ kia, có vẻ gì gần gũi lắm.

Cha hồi tưởng lại những mùa Giáng Sinh vài năm trước, cả khu nhà thờ sáng rực đèn sao như mở hội. Người người không phân biệt tôn giáo kéo đến đứng đầy trên sân, vừa nghe nhạc Giáng Sinh, vừa ngắm nghía Chúa Hài Nhi nằm trong máng cỏ. Năm xưa ấy, hang Bê Lem cũng khác với bây giờ, những ngọn đèn màu nhấp nháy liên tục làm lóng lánh thêm những sợi kim tuyến giăng ngang dọc trong hang đá. Có lẽ Chúa cũng không hài lòng lắm vì cảnh  tưng bừng tương phản với sự nghèo khổ của gia đình Thánh gia năm xưa, vì thế năm nay vừa để tiết kiệm điện, vừa để thích hợp với cảnh nghèo nàn rất ý nghĩa, Cha chỉ dùng một ngọn đèn mờ, tỏa ánh sáng hắt hiu xuống những bức tượng thánh. Buổi tối trước ngày Lễ, cha đứng ngắm nghía cảnh nghèo nàn của gia đình Thánh gia trong hang đá đơn sơ, cha chỉ biết xin Chúa ban cho cha trở nên hột muối ướp cho mặn đời, với tinh thần khó nghèo, cha có cơ hội tận hiến đời mình cho anh em mà thôi.

Buổi chiều trước lễ Giáng Sinh, lũ trẻ đã túa ra nhà thờ vây xung quanh hang đá, trầm trồ nhìn Chúa Giêsu bé nhỏ xinh đẹp đang nằm mỉm cười trong máng cỏ, tay chân giơ lên như muốn nhảy ra chơi đùa với bọn trẻ rất dễ thương,  nụ cười ngây thơ  nhìn đời rất thánh thiện như tâm hồn của chúng nó. Đám trẻ nhỏ xô đẩy nhau để được đứng gần lại với tượng Chúa, lúc này y hệt em bé của chúng nó ở nhà.

Cha dự trù phải có một món quà Giáng Sinh ý nghĩa cho những gia đình nghèo, mà nghĩ mãi chưa ra. Cuối cùng cha “ à” lên sung sướng, chiếc xe Honda cũ kỹ của cha kể cũng rất được việc, chỉ cần để dành chút tiền nhỏ của mỗi cuốc xe trong nhiều tuần lễ, cha cũng sẽ có tiền để thực hiện cái mộng ước đơn giản trong mùa Giáng Sinh. Đó là những ổ bánh mì nóng ròn để làm quà cho những gia đình neo đơn, khốn cùng trong cái xứ đạo nghèo của Cha. Cha thiết thực tính toán với ông chủ tịch nhà xứ, chả có gì bằng “một miếng khi đói, bằng gói khi no”, vừa hợp tình, vừa hợp cảnh, bởi hình ảnh người đàn bà trong xứ đạo trong cuốc xe buổi sáng hôm nào, vẫn còn ghi đậm trong lòng cha nỗi khổ của một người mẹ, cha vẫn nghe lòng nao nao xúc động...

Thánh Lễ cử hành vào lúc 8 giờ, thay vì nửa đêm như những năm trước, lễ đêm khuya khoắt chỉ có người lớn, ông già bà cả, còn đám trẻ con đã lên giường từ lúc 10 giờ. Nhìn vẻ náo nức của lũ trẻ con trên sân nhà thờ, tự cha cũng biết không nên dập tắt niềm vui giáng sinh trong lòng lũ nhỏ. Trên khuôn mặt chúng, cha nhìn thấy Chúa Giêsu đang hiện diện trong tâm hồn đơn sơ của chúng, nhìn niềm vui của trẻ con cha mới thực sự nhìn thấy sự bình an của tâm hồn. Quanh năm ngày tháng chúng được mấy giờ vui, nhất là đêm Chúa sinh ra đời, dù bối cảnh hang đá năm nay không rực rỡ, tưng bừng như những năm trước, nhưng ý nghĩa của hang đá Bê Lem chắc hẳn sẽ ghi đậm trong lòng những đứa bé thơ suốt cuộc đời. Suy bụng ta ra bụng người, hồi cha còn bé, cha cũng là một cậu bé con nhà nghèo hiền lành, cha đã hiểu được niềm vui ấy vẫn rạo rực nhiều ngày trước mùa Sinh Nhật, nó cháy mãi như ngọn nến trong chiếc đèn ngôi sao lẻ loi treo bên cạnh máng cỏ, để dù khi khôn lớn, mỗi mùa Giáng Sinh về, tâm hồn cha vẫn cứ reo vui như độ còn là một chú bé con.

Khi tiếng chuông ngân từng hồi giục giã, ca đoàn bắt đầu cất tiếng hát vang dội cả một góc sân nhà thờ, những đứa trẻ con bắt đầu hòa nhịp với ca đoàn, khiến lòng cha tự dưng xúc động. Bao nhiêu đứa bé đứng dưới kia là bấy nhiêu hoàn cảnh gia đình bày trải trước mắt cha, có những gia đình neo đơn mà cha nhìn thấy trong giáo xứ, nhà nhà quạnh vắng chỉ có đàn bà và trẻ con. Cha hy vọng rằng lễ Giáng Sinh sang năm, trong khoảng sân giáo đường này, sẽ là hình ảnh ríu rít của đám trẻ con bên cha mẹ. Bà già được cha chở giúp trong chuyến xe lôi buổi sớm hôm ấy, dạo này đôi chân đã yếu, hai mắt đã mờ, không còn lạch được tới nhà thờ những buổi lễ sớm, con người cũng y như chiếc lá thoảng rơi xuống sân cỏ, chẳng mấy chốc lại chỉ là hạt bụi giữa cõi trần ai....

Lễ tan, giáo dân tản mát ra về, một vài người còn ra đứng trước hang đá cầu nguyện, cơn gió tháng chạp thổi qua khiến đêm Giáng Sinh mang mang một chút buồn hiu hắt. Những đêm Noel bây giờ, đâu phải tất cả trần gian đều chìm ngập trong an hòa và hạnh phúc, hình như trong Cha lại phảng phất nỗi buồn rầu nhớ thương của người chồng xa vợ, những giọt lệ âm thầm rơi trên đôi má người cô phụ, và những đứa bé thèm thuồng có được món quà nhỏ của ông già Noel trong câu chuyện huyền thoại ngày xưa.

Sau lễ, trời dần khuya, cha xứ sửa soạn đi với ông chủ tịch hàng xứ, vác bao bánh mì trên vai đi đến những nhà giáo dân neo đơn, nghèo khổ đã được chọn sẵn trước ngày lễ. Con ngõ đi vào xóm vắng gập ghềnh tối om, hai cha con bước thấp bước cao lần mò như hai thằng ăn trộm. Một bên là bờ sông, một bên là nhà ở mập mờ trong bóng đêm và cây cối, ánh điện câu vàng quạch còn hắt lên trong những căn nhà nhỏ, mùi hoa ngọc lan thoang thoảng trong gió và trên kia là bầu trời đêm nhấp nháy những vì sao muộn.

Hình như lâu lắm rồi cha chưa bước chân ra khỏi nhà xứ vào ban đêm, bởi vậy cũng vì thế mà cha chưa hình dung hết được cái buồn ngất ngây của một đêm buồn trong xóm vắng. Bóng tối làm âm u thêm những mảnh đời rách nát tả tơi, bóng tối cũng che giùm những vá víu trên manh áo cũ. Nếu làm cha xứ để chỉ biết loanh quanh khu nhà xứ, để suốt ngày bảo ban mọi người tĩnh tâm, cầu nguyện, đọc kinh rì rầm hết giờ này sang giờ khác, cha vẫn thấy không đủ. Phải đem Đạo vào Đời là thế, nhưng nhất định không thể để Chúa ở trong những chiếc hang đá diêm dúa với đèn màu chớp tắt, những cây Giáng Sinh trang hoàng lòe loẹt, hay trong cung Thánh đèn hoa rực rỡ. Nhìn những căn nhà nằm im ngủ trong bóng đêm, ánh đèn còn lay lắt bên trong cánh cửa, cha cho rằng giờ này Chúa cũng đang ẩn mình trong bóng tối với những người cô đơn, cùng khổ.

TL_Xmastree.jpgKhi Cha vừa đến căn nhà cuối xóm, qua cánh cổng gỗ, cha nhìn thấy bà cụ già hôm trước vẫn ngồi nhai trầu bỏm bẻm ngoài hiên. Cha và ông chủ tịch nhà xứ im lặng đứng ở phía bên ngoài khung cửa sổ còn mở, giáp với đường đi ngoài bờ sông, tò mò nhìn hai đứa bé đang lúi húi chúi đầu vào một góc bàn học. Trên ấy dưới một cành cây khô có từng cụm tuyết làm bằng bông gòn, chiếc hang đá bé cỏn con, trong hang là một tấm ảnh gia đình Chúa Hài Nhi bé tý teo. Hai đứa bé đang say sưa hát, tiếng hát non nớt theo cung điệu “Chúa Sinh Ra Đời” do hai thằng bé đồng ca, tiếng hát ngọng nghịu, đớt đát của thằng bé em làm cha cảm động.Chỉ có một ngọn nến bập bùng soi vào hang đá, hắt lên khuôn mặt thiên thần của hai thằng bé đang say sưa ngắm nhìn hang đá bé nhỏ của mình, cha chưa hề nhìn thấy một bức tranh nào đẹp hơn thế.....

Hai đứa bé vẫn say sưa với ngọn đèn cầy trước chiếc hang đá bằng giấy bé tẻo teo trên bàn học, bà nó chắc là vừa ăn trầu, vừa thì thầm đọc kinh trong bóng tối, còn mẹ nó thì đang lỉnh kỉnh dọn dẹp trong nhà bếp. Cha khẽ bảo ông chủ tịch rút hai chiếc bánh mì, khe khẽ luồn qua song cửa sổ, đặt nhè nhẹ lên góc bàn con trong bóng tối, rồi vội vã bước đi...

Những ổ bánh mì tình nghĩa của ông cha xứ nghèo, như một phép lạ đêm Giáng Sinh vì nó đến đúng nơi, đúng lúc. Cha hình dung ra nét mặt ngạc nhiên của hai đứa bé khi nhìn thấy hai ổ bánh mì thơm mùi bột nướng nằm trên chiếc bàn nhỏ, nhưng điều thú vị hơn cả là ân sủng của Chúa đã tràn ngập đem niềm hy vọng vào tâm hồn hai đứa bé thơ. Biết đâu từ đây trong cuộc đời của hai đứa nhỏ, mỗi mùa Giáng Sinh về, sẽ là câu chuyện kể về hai ổ bánh mì tự trên Trời rơi xuống vào giữa đêm Chúa sinh ra đời.

Để nhớ lại một mùa Giáng Sinh xưa

Nguyên Nhung

Nhớ về một muà lễ Tạ Ơn.

TL_Thanksgiving.gif 

Tôi đến Mỹ vào một ngày mùa Đông năm 1992. Đối với tôi lúc ấy, cảm giác lạnh lùng trống vắng khi nhìn thấy những rừng cây trơ trụi  hai bên xa lộ nằm thiếp ngủ , thành phố về đêm nhấp nháy những ánh đèn xanh đỏ dưới cơn mưa phùn muà  đông rét mướt.

Buồn, cảm giác buồn thay cho bao háo hức thường ẩn hiện trong những giấc mơ khi còn ở Việt Nam, hiện tại một nước Mỹ buốt lạnh và buồn rầu khi chiếc xe chạy qua những đoạn đường ướt át. Lúc ấy đã gần nửa đêm, người bảo trợ dẫn cả nhà vào căn chung cư 1 phòng ngủ, ngổn ngang vài món cần thiết xin được cuả hội từ thiện. Nhà hàng xóm người Kampuchia đêm khuya vẫn còn thức, nghe có tiếng xê dịch ngoài hành lang vội mở cửa nhìn ra, rồi biết có người mới qua cũng tíu tít chạy ra hỏi thăm, bưng cho ngay thùng mì gói và hộp sữa.

Đối với chúng tôi lúc ấy tình người quý biết bao, nỗi nhớ quê còn đầy nhưng sự chia xẻ ấy khiến lòng tôi ấm lại. Phải đến năm sau, một năm dài làm quen với khí hậu và phong tục cuả nuớc Mỹ, tôi mới hưởng được không khí ấm áp cuả muà lễ Tạ Ơn vào tháng 11 năm sau.

Đẩy lùi vào quá khứ những ngày vất vả khó khăn ở quê nhà, cơ hội đã mở toang cánh cửa đón gia đình tôi hoà nhập vào đất nước tự do. Hình như quanh tôi có một điều khó diễn tả được khi cảm nhận được  hai chữ tự do, những ngày đầu tôi vẫn tưởng mình đang nằm mơ, nhưng giấc mơ ấy đã thành sự thật, bước ban đầu còn lạc lõng, chúng tôi đã nhận được sự giúp đỡ cuả nước Mỹ, mặc dù chưa đóng góp được gì cho xứ sở này.

Mỗi ngày, điều thích thú nhất với tôi là được đi học, ở cái tuổi ngoại tứ tuần mà còn cắp sách đến trường, tung tăng như một nữ sinh trung học làm tôi sống lại cảm giác thời thanh xuân mà tôi đánh mất từ lâu. Dù đấy chỉ là lớp học dạy ESL, dành cho những người chân ướt chân ráo mới được định cư tại Hoa Kỳ, nhưng không khí cuả một lớp học thì dường như ở đâu cũng vậy. Một, hai bác cao niên dở dang sự nghiệp, vài người trung niên, cùng những bạn trẻ từ nhiều quốc gia học chung một lớp. Chúng tôi đã thật sự đến gần với nhau qua những tâm sự bằng thứ tiếng Anh bập bẹ, kể cho nhau nghe về xứ sở cuả mình và lý do đến được xứ sở này, cảm thông với nhau về hoàn cảnh hiện tại, và niềm hy vọng tốt đẹp ở tương lai

Khi chuẩn bị muà lễ Tạ Ơn, ông thầy trẻ đã dạy cho chúng tôi học bài học muà Tạ Ơn, để hiểu tại sao xứ sở này người ta duy trì ngày Lễ Tạ Ơn hằng năm. Bài học “The First Thanksgiving” ngày hôm ấy  là một đề tài hấp dẫn cho cả lớp, và tôi đã cố học thuộc lòng như cháo vài câu cảm ơn cho bữa tiệc trước ngày lễ Tạ Ơn năm đó.

“Theo câu chuyện kể lại. Một ngày, những người Pilgrims đầu tiên sống ở nước Anh, họ là những người bị bắt buộc theo giáo phái cuả nhà Vua, gọi là King’s Church, nhưng họ lại chỉ muốn được tự do cầu nguyện theo truyền thống thờ phượng riêng của họ mà thôi.

Những người Pilgrims này đã tìm cách rời nước Anh, và họ tìm đến một quốc gia nhỏ có tên là Holland, họ đã hoà nhập vào sinh hoạt tôn giáo cuả người địa phương, sự tư do cuả tôn giáo chỉ đúng nghĩa nhất khi mỗi người được thực sự cầu nguyện theo con đường mà họ thích. Người Holland được gọi là người Dutch, ngôn ngữ riêng cuả họ là tiếng Dutch. Thế là một lần nữa, những người Pilgrims lại lên đường tìm về  miền đất mới, đó là Châu Mỹ xa xôi.

Tại xứ sở này, họ có được sự tự do tôn giáo, con cháu họ được  nói tiếng Anh. Năm 1620, năm đánh dấu 102 người Pilgrims, những người đầu tiên đi tìm đất mới rời Holland và tàu cuả họ đã cập bến Mayflower tại Massachussets, thời tiết khắc nghiệt với những cơn mưa và khí hậu lạnh lẽo, nhiều người đã nhiễm bệnh nên con tàu không thể tiếp tục lênh đênh trên biển.

MayFlowers là một hải cảng nhỏ cuả tiểu bang Massachussets, nơi dừng chân cuả những người Pilgrims kiệt lực vì sóng gió và khí hậu khắc nghiệt, họ bắt đầu cuộc đời mới tại một thành phồ nhỏ mang tên là Plymouth. Nhưng muà đông năm đó, khí hậu nơi này cũng vô cùng khắc nghiệt, nhiều người đã chết, họ sống lây lất bằng ít lương thực thật nhỏ nhoi, cầm cự mãi nếu không có sự giúp đỡ cuả những người địa phương, đó là những người da đỏ được gọi là người Indians.

Những người dân địa phương tốt bụng này đã hướng dẫn cho họ hòa nhập vào đời sống mới, dạy cho họ cách trồng trọt và bắt cá để làm thức ăn , chỉ cho họ cách trồng bắp, một loại ngũ cốc dễ ăn và dễ cất giữ để làm lương thực trong đời sống hằng ngày. Bắt đầu từ đấy, người di dân xây được nhà thờ cuả họ, bắt đầu xây dựng nhà cửa, và họ đã rất hạnh phúc khi có một đời sống no ấm trong một xứ sở tự do.

Tháng 11 năm 1620 là ngày lễ Tạ Ơn đầu tiên được hình thành cho cộng đồng người da đỏ bản xứ và người di dân đến từ nước Anh. Họ tổ chức một  buổi tiệc Tạ Ơn để người Pilgrims có dịp bày tỏ lòng tri ơn cuả họ , cảm ơn Thượng Đế đã cho họ được gặp những người địa phương đầy lòng từ tâm, đã giúp họ một cuộc sống mới nơi mà họ đã phải đánh đổi bao nhiêu gian nan để tìm kiếm.”

Bài học về ngày Lễ Tạ Ơn cũng chấm dứt, tiếp theo đó mỗi người trong lớp đã bày tỏ lòng biết ơn cuả mình với những người xung quanh, mở đầu cho một party mang nhiều màu sắc dân tộc. Trước mấy ngày, giờ ra chơi những học sinh đã hỏi nhau về những món ăn mà mọi người mang đến  lớp học mừng lễ Tạ Ơn, đây cũng là lần đầu tiên chúng tôi được làm quen với những món ăn truyền thống cuả từng dân tộc.

Martha người Mễ Tây Cơ còn trẻ và rất vui tính, trên tay cô là một khay thức ăn đậm đà hương vị Mễ Tây Cơ, bánh bột bắp cuộn món bò hầm với rau đậu ăn lạ miệng và khá ngon. Cô đến lớp  đỏm dáng với  chiếc váy hoa sặc sỡ, đôi chân như nhảy nhót theo điệu nhạc. Martha là người đã dạy tôi hát bản “ Besame Mucho” bằng tiếng Spanish, mỗi dân tộc đều thể hiện dân tộc tính cuả mình qua các món ăn hay cách sinh hoạt, người Mễ Tây Cơ thích âm nhạc, thích hưởng thụ khác với tính chuyên cần, chăm chỉ và kín đáo cuả người Việt. Vốn tính trung thực, Martha giản dị chỉ cho những người mắt kém đi chọn một cái kính đeo mắt tương đối trong cửa hàng Walgreen, cô hóm hỉnh nói:

“ Mình chưa đủ tiền đến bác sĩ đo mắt và mua một cái kính đắt tiền, đến đó (ý cô nói là cửa hàng Walgreen) có vô khối các loại kính đeo mắt cho mình chọn lựa. Tạm thời thôi, mai mốt khi nói giỏi tiếng Anh, có việc làm tốt, các bạn tha hồ đi khám mắt và mua một cái kính hoàn hảo.”

À thì ra trong câu chuyện nhỏ, Martha đã đem đến cho mọi người  ý nghiã cuả sự tương đối, trong khi tôi biết một vài người  quen diện tỵ nạn, sau khi thoát khỏi cảnh nghèo ở quê hương,sang đây vẫn hay ta thán bất mãn cho rằng cuộc sống cuả họ  vẫn chưa được những điều vừa ý. Đó là sự đòi hỏi một cách quá đáng,khi chính bản thân họ vẫn đang sống nhờ vào cộng đồng xã hội. Đáng lẽ thế này, đáng lẽ thế nọ, toàn những đáng lẽ để phàn nàn mà không nghĩ mình đang chịu ơn những người chả hề mắc nợ mình, họ cũng phải một nắng hai sương đi làm đóng thuế, và nhờ sự đóng góp cuả họ mà mình được san xẻ.

Trong bữa tiệc, bác Bích Huệ người Việt cao niên nhất cuả lớp học, đã làm nguyên một ổ bánh kem thật lớn, với hàng chữ Tạ Ơn viết thật nắn nót. Bác tiêu biểu cho một cụ già VN mà còn hiếu học, tinh thần Tạ Ơn và luôn nghĩ đến người khác đã được thể hiện dài dài trong đời bác. Gần 80 tuổi, bác vẫn mở  lớp dạy làm bánh tại nhà,  không hề nhận một đồng thù lao để dạy cho các người Việt trẻ tuổi thích trổ tài nội trợ khi có dịp họp mặt trong gia đình, hoặc cho những người  cần học một nghề để làm cần câu cơm. Ai cũng ái ngại cho việc tuổi già vác ngà voi cuả bác, nhưng bác nói:

“ Tôi già rồi, không đóng góp được gì với đời. Bao nhiêu năm kể từ năm 75, dẫn cả nhà sang đây tỵ nạn, gia đình tôi đã làm lại từ đầu nhờ xứ sở này rộng rãi mở cửa cho chúng tôi vào. Nay con cháu đã thành đạt , tôi chịu ơn xứ sở này và cuả cuộc đời cũng nhiều, không biết cách gì để trả ơn, thôi thì đây cũng là một cách giúp chị em phụ nữ như tôi biết thêm nghề gì hay nghề nấy. Người nội trợ làm các loại  bánh ngon cho gia đình thưởng thức, tiết kiệm được chút nào hay chút đó, người đang cần việc làm cũng có thể làm một nghề mới, tăng thêm ngân quỹ gia đình, đấy là điều làm cho tôi cảm thấy hạnh phúc.”

Bác thật hạnh phúc, tôi luôn nhớ đến những gì bác làm cho mọi người và từ đó tôi nghiệm ra hai chữ tri ơn cuộc đời cuả bác. Tháng chín năm nay, bác đã thênh thang đi về bên kia thế giới, hành trang mang theo là những gì bác đã làm cho mọi người khi còn sống, ngày tang lễ cuả bác thật đông người đến đưa tiễn. Trong tấm ảnh,  khuôn mặt hiền từ, đôn hậu của một cụ già suốt đời chỉ thích làm việc thiện vẫn nở nụ cười nhân từ với những bông hồng trắng muốt.

Những người Mỹ tôi quen còn dạy cho tôi một bài học về sự tự tin và lạc quan trong cuộc sống cuả họ. Khi về già , họ không ngồi ta thán sự hẩm hiu cuả mình trong bốn bức tường, không bi quan sầu luỵ quá về bệnh tật. Viết đến đây tôi lại nhớ đến bà Naomi, một phụ nữ da trắng khuôn mặt tròn, da nhăn nheo xếp lớp với thời gian, tuổi già đã làm cho bà nhỏ bé lại nhưng toàn khuôn mặt toát lên một vẻ yêu đời tha thiết.Thế mà bà đang bị ung thư thời kỳ cuối cùng đấy, nhưng tôi không thể nào biết được người đàn bà cao niên ấy đang phải chống chỏi với căn bệnh trầm kha này như thế nào.

Bữa ăn cuối cùng với bà NaoMi cũng vào dịp lễ Tạ Ơn, bác Huệ và tôi được mời khi cùng đi với  nhóm bạn già cuả bà NaoMi đến thăm một nhà dưỡng lão. Viện Dưỡng Lão vào một ngày muà đông buồn ảm đạm, một cụ gìa ú ớ gọi tên hết người này đến người khác, bà đang lẫn lộn dĩ vãng với hiện tại. Một cụ ông đẩy chiếc xe lăn cho bà vợ  tóc xoã rũ rượi, ông nói:

“ Mỗi ngày, tôi đi bộ 3 miles từ nhà đến đây để gần gũi vợ tôi, dù bà không nhớ tôi là ai, nhưng tôi thì nhớ bà là vợ mình.”

Một câu nói thật hay mà đâu cần phải tìm trong những lời hay ý đẹp cuả các vĩ nhân trên thế giới. Chưa hết, tôi gặp một cô giáo già hơn 80 tuổi, có lẽ bà là ngưởi tỉnh táo nhất trong những người già ở nursing-home này. Bà luôn miệng ca hát, toàn những bản nhạc quen thuộc trong muà Giáng Sinh. Tôi hỏi bà có buồn không khi sống ở đây, bà bảo bà không buồn, vì ít ra bà cũng còn thấy mình đang hạnh phúc, tỉnh táo hơn nhiều người khác. Trong phần văn nghệ giúp vui, bà Nao Mi đóng vai một đưá trẻ con, bà giả giọng eo éo nên ai cũng phải bật cười. Bà thích ăn những món ăn VN và hỏi cách nấu, rồi hỏi tôi về một bài hát Việt Nam bà nghe được trong nhà thờ, khi tôi hát, bà ư ử hát theo và khen đây là một bài thánh ca mang đậm đà tính cách dân tộc.

Vật lộn với thần chết đến giây phút cuối cùng, lạc quan yêu đời để lướt qua những cơn đau là tính lạc quan cuả bà NaoMi. Một ngày thứ bảy cùng năm đó,  tôi lại đến dự tang lễ tiễn bà NaoMi trong ngôi thánh đường êm ả, nhìn  tấm ảnh nụ cười bà thật rạng rỡ.

Những người bạn cao niên này còn dạy cho tôi tinh thần  tự nguyện làm công tác xã hội, không rụt rè vì khác biệt ngôn ngữ và văn hoá. Bà Linda gầy gò ngày ngày lái xe đến trường tiểu học để sắp xếp những cuốn sách cuả các em học sinh bừa bãi trên bàn vào các kệ sách cuả thư viện, dạy cho các em học tính ngăn nắp và biết cách giữ gìn những cuốn sách. Một hôm đang lơn tơn tìm gặp cô giáo của con tôi thì bất ngờ bị chận lại bởi một giọng trẻ con thật dễ thương:

“ Bà có cần tôi giúp gì không?”

Ôi chao! Chắc chỉ có xứ sở này trường học mới dạy cho trẻ con câu hỏi ấy, nó đơn sơ và đầy tình người, được thốt ra từ đôi môi hồng cuả một cô bé 7,8 tuổi trong ngôi trường tiểu học, khiến tôi phải suy nghĩ và cảm động rồi tự hỏi, đến khi nào tôi mới biết hỏi một ai đó câu này mà giúp đỡ họ.

Đã gần 20 năm rồi, những kỷ niệm về muà Tạ Ơn đầu tiên trên nước Mỹ vẫn còn nằm nguyên trong trí nhớ cuả tôi. Tôi yêu đất nước này biết bao, một lần trở về chốn cũ , khi đi qua công viên có những tàn cây cổ thụ, loanh quanh trên dốc cỏ xanh, thấp thoáng trong tôi là hình ảnh những người một thời quen biết. Xin cảm ơn người, cảm ơn đời …

Nguyên Nhung

( muà Tạ Ơn 2010)

HOÀ LAN, ĐẤT NƯỚC THANH BÌNH.

NN_HL4_Windmill.JPG

Xe chuyển bánh đưa phái đoàn Hoa Bưởi Vượt Đại Dương xa dần vương quốc Belgium êm đềm, bỏ lại những con đường ngoại ô xanh mát bóng cây mùa hè, những cánh đồng mơn mởn lá non và rượu bia còn thơm mùi lúa mạch. Dù chỉ một lần ghé qua nhưng vẫn ghi đậm trong tâm khảm tình đồng hương cuả người Biên Hoà trên xứ lạ, mới đó rồi lại chia xa, nghe như vòng tay ôm còn mang theo tình đồng hương người xứ Bưởi.

NN_bosuaHoaLan.JPGTừ Bỉ qua Hoà Lan là một chặng đường khá dài,  mọi người ngủ gà ngủ gật cho đến khi xe qua biên giới và những cánh đồng cỏ xanh rờn màu lá mạ của Hoà Lan hiện ra trước mặt, từng đàn bò sữa lốm đốm hai màu đen trắng nổi bật giưã cánh đồng cỏ bạt ngàn nối tiếp nhau. Xe chạy dọc theo những xa lộ mà một bên là  khu kỹ nghệ hay công nghiệp, một bên là nhà cửa xen lẫn những con kinh đào thơ mộng y hệt những con rạch miền đồng quê miền Nam Việt Nam cùng khắp đất nước này. Những bức tranh đồng quê nối tiếp nhau, sự hoà hợp Đất và Nước là hình ảnh cuả Hoà Lan, một xứ sở được gây dựng bởi chính công sức và sự chinh phục trường kỳ cuả người dân nơi đây, một đất nước thấp hơn mặt biển cả thước mà tồn tại được là một điều hết sức kỳ diệu.

Thực ra thì Hoà Lan không rộng bao nhiêu, với diện tích hơn 41.000 km2, dân số khoảng gần 17 triệu người, nhưng thủ đô Amsterdam đã cho du khách nhiều thú vị khi ghé thăm. Tên chính cuả Hòa Lan là “The Netherlands”, vùng đất thấp hơn mặt biển. Khí hậu ở đây rất ngộ, Miên Thuỵ, một cô bạn văn đã có lần viết bài mô tả về những cánh đồng hoa Tulip thật đẹp, nhưng  thời tiết thất thường khi nắng khi mưa như người đàn bà dễ hờn dễ giận. Đặc biệt là gió, để người phương xa chuẩn bị áo mưa, dù che đầu và khăn quàng cổ khi bất chợt cơn mưa chiểu đổ xuống thành phố đa số phương tiện di chuyển bằng xe đạp. Thật ra chính phủ Hoà Lan đã khuyến khích người dân cuả họ đi xe đạp, lý do vì thành phố nhỏ, đường xá không rộng rãi lắm nên việc di chuyển bằng xe đạp rất tiện lợi, không làm ô nhiễm không khí.

Trở lại chuyến hành trình trên đường trường xa, rải rác là những cối xay gió bằng gỗ cuả người Hồi  dùng sức gió để xay bột, bơm nước rất tiện dụng cho nông nghiệp. Xe ngừng lại dọc đường để bà con xuống chiêm ngưỡng một chiếc cối xay gió tận mắt, trên một cánh đồng mông mênh. Hai cánh quạt gió khổng lồ, gợi nhớ đến câu chuyện đọc ngày còn nhỏ về anh chàng hiệp sĩ Đông Ki Khốt khùng điên, tưởng mình là một nhân vật anh hùng trừ gian diệt bạo, đánh nhau suốt đêm không mỏi mệt với cánh quạt cối xay vươn những cánh tay dài nghêu ngao giữa trời khuya im vắng.

NhàNN_LangchaiHolland.jpg cửa ở Hoà Lan cũng thật xinh xắn nhỏ bé tương xứng với địa lý cuả đất nước này, những ngôi nhà như trong truyện cổ tích nằm kề cận nhau có mái dốc xuôi xuôi, lợp ngói đỏ bên cạnh những con kinh đào làm tăng thêm vẻ tươi mát. Vùng quê Hoà Lan nói lên sự trù phú cuả đất nước họ, không có mái rơm mái rạ, không có con trâu cái cày khi nền nông nghiệp đã được công nghiệp hoá, nhởn nhơ những đàn bò sữa mập mạp cống hiến cho kỹ nghệ sữa bò và phô mai dồi dào nhất trên thế giới.

Đến thăm một xứ sở nào cũng vậy, du khách không thể chỉ tìm đến nơi phồn hoa đô hội để kết luận đó là một đất nước giàu đẹp, như người Việt tha hương nay trở lại quê nhà, chỉ quanh quẩn trong những khách sạn, nhà hàng, siêu thị, giải trí cho dân rủng rỉnh tiền bạc, rồi kết luận rằng quê hương ta giờ đây giàu đẹp lắm. Nếu chui vào những khu dân sinh chen chúc trong những con hẻm Sàigòn dây điện giăng tứ tung, giá như chịu khó nhìn ngắm những người phụ nữ buôn gánh bán bưng trên vỉa hè, người ăn xin ngồi hàng dãy trước cửa những ngôi giáo đường huy hoàng tráng lệ buổi lễ sáng ngày chủ nhật, mới biết cái no đủ hạnh phúc thật chỉ là màu sắc diêm duá, trong cái “gam” màu tối cuả bức tranh xám nghoét.

Tôi vẫn yêu miền quê ở sự thuần hậu trên nét mặt con người, ở cảnh thiên nhiên không màu mè giả tạo, vì thế khi xe lăn bánh chầm chậm đi trên con đê thật cao nằm sát bờ biển, để đi vào một làng chài Volendam  thì mọi người reo lên thích thú. Anh tài xế  người Pháp cho xe đi dần xuống khu làng chài vòng vo để tìm bãi đậu xe, lùi sát mé biển là những hõm sâu , lúc đó bà con ngồi trên xe như lên cơn sốt, tim muốn ngừng đập vì chỉ cần gie mạnh một chút là mọi người đều được tắm biển bất đắc dĩ, hay cũng bể đầu gãy xương.

Mô Phật! Một chị thở phào chắp tay vái lia lịa nhảy vội xuống xe, mọi người lục tục theo đuôi rồi tuá vào khu làng Chài Volendam, trên con dốc cao là một dãy hàng quán mọc lên quảng cáo hải sản  ra sức mời chào du khách bằng những bảng hiệu trưng đầy cá, cá chiên, cá nướng, cá hấp, ăn kèm với bánh mì nướng cũng rất ngon. Những quán nhỏ mọc  ven bờ biển, thuyền bè đậu  san sát cạnh mé nước. Người dân ở đây có nét mặt hiền hoà đôn hậu, với số lượng cá đánh bắt mỗi ngày dư sức cho họ bán buôn một cách thật hào phóng, khá rẻ để du khách có thể mua và ngồi ăn ngay trên những băng dài đặt dọc theo bờ biển.

Đứng trên mặt đê rồi nhìn ra biển, một đàn chim bay sà thấp trên mặt nước bắc thành nhịp cầu Ô Thước thật ngộ nghĩnh. Rồi so sánh sự chênh lệch cuả bờ và biển, du khách không khỏi nghĩ vẩn vơ nếu như ngày nào đó một cơn sóng lớn tràn vào, sẽ ra sao nhỉ? Mái nhà chỉ cao ngang tầm tầm với con đê, sau phiá ngoài quán hàng buôn bán có những con dốc nhỏ, đi xuống phiá sau là một xứ đạo Hoà Lan, nhà cửa cũng liền nhau trong những ngõ hẻm lớn nhỏ, nhà nào sân trước cũng trồng nhiều khóm hoa nhỏ đủ màu rất đẹp mắt, phiá ngoài cửa sổ cũng trồng hoa, đi khắp các nước Âu Châu vào cuối xuân sang hè, du khách đều nhìn thấy vẻ vui tuơi cuả hoa cỏ tràn lan khắp nơi.

Tôi và cô bạn mới quen bên Pháp rủ nhau ghi lại vài tấm hình trước nhà một người trong xóm đạo có cây hồng leo tít lên mái nhà thật đẹp. Gần ngay đó là một chiếc cầu bắc qua con  rạch sâu, đàn vịt bơi lội thoả thuê và trên sân lộ thiên cuả một ngôi nhà xinh xinh, chú chó con ngồi chồm chỗm nhìn khách suả rân lên, sau tấm màn mỏng rua thật đẹp qua cưả sổ thấy thấp thoáng bóng người nhìn ra mỉm cười thân thiện. Vài thân liễu mềm rủ bóng xuống mặt nước, bước qua sân ngôi giáo đường miền quê đơn sơ nhưng rất dễ thương. Du khách từ các nơi, cũng có thể là những người hành hương mộ đạo, lúc đó  đang xúm quanh một hướng dẫn viên du lịch, để nghe cô kể về lịch sử cuả ngôi giáo đường và sự hình thành của xóm đạo.

Mọi người tản mát ra đi vòng quanh làng Volendam, một vài tiệm buôn bán đồ kỷ niệm như khăn quàng, dây chià khoá và guốc gỗ, một dãy guốc gỗ xanh đỏ đủ màu vẽ hoa, trông rất  vui mắt. So với những đôi guốc mộc hay guốc Dakao cuả Việt Nam thì thua xa, vì vẻ thô kệch cuả nó, nhưng nghe nói những đôi guốc gỗ này bắt nguồn vì sống trong miền đất  thấp hơn mặt biển, đường xá ngập bùn xình nên chỉ có  những đôi guốc gỗ mới chịu nổi thôi.

CNN_HoaLan3.JPGhúng tôi như lạc vào một khung cảnh êm đềm cuả quê nhà ngày xưa, con ngõ nhỏ trồng rất nhiều hoa cảnh ven theo lối đi, cuộc sống bình dị của làng Chài cũng giống hệt một xóm nhỏ ở Việt Nam thuở nào. Khách du lịch muốn biết nhà nào giàu hay nghèo, chỉ cần nhìn qua tấm rèm cửa bằng tơ lụa để thấy cách trưng bày cuả ngôi nhà ấy, sẽ biết được cách sống cuả họ ra sao? Một gian phòng nhỏ trưng bày theo lối cổ , bao giờ cũng thấp thoáng bàn thờ, trước lò sưởi để vài  đôi guốc gỗ, cái đặc biệt cuả một gia đình Hòa Lan nền nếp quý là ở chỗ này, họ muốn duy trì lại như để bảo tồn nét văn hoá trong gia đình Hòa Lan thuần tuý.

Sau khi ăn uống no nê và dạo vòng quanh ven biển, không thể nói đây là một nơi danh lam thắng cảnh, nhưng muốn đi sâu vào đất nước con người Hòa Lan thì không nơi nào bằng nơi này. Nhìn thật gần sự phấn đấu cuả người dân xứ sở này, để biết tại sao họ hãnh diện nói rằng đất nước này là món quà cuả thượng đế ban cho họ, nhưng sức phấn đấu để biến biển thành ruộng lúa nương dâu  trù phú như bây giờ, là sự kiên trì bền bỉ cuả người dân Hoà Lan.

Bây giờ đã xế  trưa, trước khi vào thủ đô Amsterdam xe còn ghé vào một xưởng sản xuất “Fromage” cuả Hoà Lan. Đây gần  như một trang trại miền quê có tiếng chó sủa, đàn gà tuá ra vườn tìm mồi, mấy con bò sữa đứng, nằm dưới gốc cây râm mát. Du khách ai muốn xem cho biết đều được phép vào chụp ảnh, một thiếu nữ Hoà Lan rất đẹp hướng dẫn cho mọi người biết quá trình chế biến từ sữa ra phô mai có nhiều loại khác nhau, ai cũng được nếm thử trước khi mua về làm quà cho gia đình, những bánh phô mai  tròn xếp trên mặt quầy đang chờ bỏ vào túi cuả khách du lịch. Tuy nhiên, những người ăn không quen sẽ không thích thú gì lắm với những loại phô mai này vì nó hơi nặng mùi một chút.

Buổi sáng trời thật đẹp, nắng óng ả, vậy mà buổi xế chiều khi xe rời làng Chài đưa du khách về trung tâm thủ đô Amsterdam, ông trời xầm mặt  xuống báo hiệu một cơn mưa. Khí hậu Hoà Lan quả thật dễ thay đổi như cô gái dậy thì với bao nhiêu biến chuyển cho một ngày, khiến du khách đóng vai tình nhân chẳng làm sao hiểu nổi  lòng dạ cuả nàng để mà đeo đuổi. Ai nấy tiu nghỉu khi xe vào bãi đậu, trời lắc rắc mưa, nhìn thành phố về chiều có rất nhiều người xử dụng xe đạp chạy nháo nhào trên phố. Ở đây hình như ưu tiên cho người đi xe đạp chứ không phải cho người đi bộ, nên nhiều khách bộ hành phải nép vào lề đường để cho những chiếc xe đạp chạy vù vù qua mặt.

Thế là trời mưa, thế là thất hẹn với cô bạn thơ dễ mến đang nôn nao chờ đợi bạn xa đến thăm. Tiếc thật là khi cùng ngồi đợi trên con phố ấy, cùng lang thang trên các ngả đường này mà lại không đủ duyên để gặp nhau. Mưa bắt đầu nặng hột và khách chạy vội  vào vỉa hè núp mưa, rồi nhào vào cưả tiệm bách hoá , áo mưa dã chiến và dù bán đắt như tôm tươi, thôi thì trước che mưa sau mang về làm kỷ niệm, giá cả tương đối  nhẹ nhàng. Lâu lắm mới được đi dưới mưa để nghe những giọt mưa lộp độp gõ từng phím buồn trên chiếc dù nhỏ, một chút lãng mạn cuả tuổi trẻ Sài Gòn năm nào trở về, cũng những con phố buồn thưa người thấp thoáng những chiếc xe đạp vụt qua một thời học trò trong ký ức. Chiều mưa Amsterdam giống lạ lùng chiều mưa ở Sài Gòn năm xưa, khách bộ hành không hối hả mà chỉ lững thững đếm bước như mỗi người đang đi tìm lại trong đáy lòng cảm giác một chiều mưa trong dĩ vãng.

Amsterdam có nhiều nhà hát, phòng hoà nhạc, viện bảo tàng và quán ăn, toàn là những kiến trúc lâu đời có từ thế kỷ thứ 17. Muà hè khí hậu thật mát mẻ, nhưng về muà đông mưa gió thất thường, trời lạnh ẩm ướt mà lại rất nhiêù gió nên có vẻ như tất cả đều cô đọng khiến lòng người bỗng thành ra trầm cảm. Lo gì! Vì là một xứ sở tôn trọng mọi thứ tự do, nên chỉ cần bước qua bên kia cầu bắc ngang con kinh đào thật thơ mộng, đã thấy một mặt khác khá hấp dẫn cuả thủ đô, đó là Khu Đèn Đỏ và rất nhiều quán cà phê thơm mùi “cỏ”. Đối diện với dãy quán cà phê loại này là một ngôi chuà Trung Hoa, đứng bên lề đường còn nghe vọng tiếng tụng kinh lẫn trong hồi chuông mõ ngân nga như muốn réo gọi những tâm hồn lạc loài về với chân tâm. Giữa thế giới xô bồ này, tiếng chuông tiếng mõ kia có lấn át được tiếng nhạc gầm rú thác loạn cuả loài người nhầy nhụa  truỵ lạc và bóng đèn mờ trong những quán cà phê ?!!

Có một cái gì đó tương phản trong lòng du khách khi lạc bước đến đây, dù sao thì cũng đã tới  rồi, xem qua có gì lạ như lời thiên hạ đồn thổi về một thành phố đầy những điều khó hiểu. Những con đường nhỏ giao nhau như khu bàn cờ, khấp khểnh bước thấp bước cao du khách có thể tò mò nhìn vào căn phố nào có đèn đỏ, một hoặc hai cánh hoa thấp thoáng trong ô cưả kính, trơ trẽn phô bày từng đường cong nét lượn để đợi khách mua hoa. Ngó quanh thì đám du khách phụ nữ đã biến gần hết, chỉ còn một vài ông tò mò nhìn lom lom vào tủ kính ngắm người đẹp đang mỉm cười chiêu mời khách giang hồ lãng tử. Thực ra thì cũng giống như hằng trăm người đẹp diện “bikini” trên bãi biển thôi, nhưng ở đây những người nhạy cảm có thể nhận ra nỗi buồn len lén hiện về trong đôi mắt nhung đen cuả các nàng kỹ nữ buôn hương bán phấn. Ôi thân phận đàn bà, nào là “hồng nhan đa truân”, nào là “hồng nhan bạc phận”, rồi thì “hồng nhan bạc mệnh” chi chi đó phải chăng đẹp cũng ẩn trong cái nghiệp khổ muôn đời cuả cái đẹp.

Trong đầu tôi bỗng như nghe vẳng lại một ca khúc rất hay cuả miền Nam thuở ấy, tôi không nhớ là cuả nhạc sĩ nào, và hình như đây là một bài thơ phổ nhạc, viết cho những người phụ nữ có cảnh đời truân chuyên nhiều nợ tình:

“ Ta tiếc cho em, ta tiếc cho em

Nhìn em tay nâng ly rượu

Môi cười mà lệ như rơi ...

Môi cười mà lệ như rơi ...”

Cuộc đời nghĩ cho tận cùng thì cũng chỉ là ảo mộng. Tôi miên man nghĩ đến câu thơ cổ mà ông thầy già thời TrungNN_Amsterdam.JPG Học hay đọc cho lũ học trò nghe, một buổi chiều mưa trong lớp học mù mù ánh đèn vàng soi xuống những dãy bàn học  lem luốc vết mực. Tiếng ngâm nga cuả ông thầy giáo già yêu văn chương như đọng mãi trong lòng tôi:

“Công hầu bạch cốt, hồng phấn khô lâu”

Vô thường cả, tôi đã xin phép thầy dịch thoáng bài thơ cho mấy đưá bạn tuổi học trò hiểu thêm chút nữa về cuộc đời muôn mặt :

« Phù du ta đánh một vòng

Công hầu  xương trắng, má hồng sọ khô. »

Nguyên Nhung

Viết Thư Tình

( chuyện bây giờ mới kể)

DHNNtruoccongtruongdtdIMG_0095.JPG

Có vài nhỏ bạn cùng lớp năm xưa, sau khi đọc mấy truyện ngắn tôi viết cho Trườnghay đăng báo, bèn hỏi tôi không sợ nghèo,  dính chi nghề cầm bút. Nghe bạn hỏi tôi không khỏi tức cười, nếu cầm bút ngon lành chắc tôi đã tập viết văn ngay từ lúc còn đi học, thuở viết thư tình giùm cho mấy nhỏ "xí xọn " trong lớp, để kiếm bánh bò và đá đậu mỗi giờ ra chơi, và kẹt kẹt thì chúng nó cho tôi “copy” mới đủ điểm lên lớp. Đa phần các anh nhà thơ, nhà văn đều nghèo, có anh chết không có hòm chôn, có anh cuối đời ngồi bán thuốc lá lẻ, có anh không nhà để ở phải ra khu nghĩa địa ở chung với ma. Hoá cho nên nghề cầm bút là nghề bạc bẽo, may khi "chó ngáp phải ruồi " được một bài hay, thấy người ta khen cứ tưởng bở, viết nữa, hớ hênh là bị chửi, bị chê "viết gì dở ẹt ".

Cho nên câu trả lời cuả tôi cho mấy đứa bạn năm xưa, tôi không hề là nhà văn, nguyên nhân cầm bút để viết chẳng qua vì quen tay, như người hay hát khác với người hát hay là vậy. Rồi cũng tại mấy "con ranh con " bắt đầu những năm học lớp mười, mười một, mười hai , đã biết ghiền đọc thư cuả mấy "cây si " học trò gửi tới. Đọc thư nhưng bảo đảm chưa biết viết thư, nếu là những đứa chăm học không mê đọc tiểu thuyết, nhưng vẫn thích đọc thư, thì phải biết viết thư hồi âm mới có cớ để thư qua, thư lại. Nói nhỏ với các anh bạn cùng trường ngày xưa, hay các anh Sinh Viên, Chiến sĩ gì cũng vậy, thư cuả các anh ít khi chỉ có một người đọc, đã có cả nhóm đọc chung, và nếu chờ thư hồi âm thì cũng có một đám chờ đọc ké, cho nên các anh đừng “tưởng bở”  chỉ hai đứa mình thôi nhé, đừng cho trăng nép sau hè...".

Trong đám bạn chơi thân với nhau, có lẽ tôi là đứa khá văn chương hơn cả, cho nên dù học dở nhất bọn, nhưng vẫn được chúng nó tôn làm "sư phụ ". Mỗi lần thảo xong một lá thư, giờ ra chơi tôi có quyền no nê bánh bò, đá đậu, bánh mì thịt v. v . . . . . Đó là những đứa con nhà khá giả biết yêu sớm, chứ mấy đứa nhà nghèo, sáng cơm rang cơm nguội làm chuẩn, nếu không chịu học hành, sớm vướng vào yêu đương, mai sau chỉ có nước ăn cơm rang với cơm nguội mãn đời. Vì phải nhịn cho tôi ăn, đi học chỉ được phát tiền quà đâu có dư mà đãi bạn, cho nên tụi nó mình hạc xương mai, tướng đi yểu điệu trong tà áo dài trắng, các anh nhìn lại càng mê, bởi vậy người ta mới hay nói " yêu quá yếu " là vậy.

Tuổi học trò, nhận lá thư xanh chị nào chị nấy cảm động và bối rối lắm. Lá thư được ép vào tập vở, cho nên khi thấy đương sự lúc nào cũng chúi đầu vào cuốn sách hay tập vở, là phải biết "cô bé " biết yêu rồi đấy, chứ không phải vì siêng học đâu. Tuy thế, ít đứa nào dám " thơ thới hân hoan " đi " sô lô" với bạn trai ngoài đường, dị chết, chẳng may ông bà già bắt được, bị ăn đòn là cái chắc.

* * *

Viết thư tình coi vậy đâu phải dễ như mình đọc ké thư cuả người ta, trước khi viết hồi âm, còn phải tìm hiểu xem đối tượng thuộc giới nào, học sinh, sinh viên, lính chiến, hay là. . .thầy giáo cũng không chừng ( xin các thầy tha thứ, sống trên đời ai cũng là người, cũng có trái tim bằng thịt) cho nên, trong đám nữ sinh thế nào cũng có người được gọi thầy bằng " anh ".

Không phải đám con gái tụi tôi dở nghề viết lách đâu, mà cũng có những anh tuổi học trò  mới biết yêu, viết thư rất ngố. Có anh sao y bản chính một lá thư tình trong tiểu thuyết, viết toàn chuyện tưởng tượng, dù còn lâu lắm mới được " người đẹp" chiếu cố cho một lần hò hẹn. Theo lá thư anh gửi, hôm ấy là một buổi chiều vàng, có lá thu rơi, có hai người hò hẹn nơi ghế đá công viên . . . Trước khi trả lời, tôi phải điều tra con bạn một chút:

" Ê, như vậy là hai anh chị có ra công viên rồi phải không?"

Con nhỏ lắc đầu quầy quậy:

" Đâu có . . ."

" Vậy mày quăng lá thư này vô sọt rác nghe, ba má mày mà đọc được là ốm đòn nghe con."

Nhỏ mở to đôi mắt nai ngơ ngác:

" Uả, sao kỳ vậy?"

" Chứ không à, mới tý tuổi đầu, học không lo học lại còn hẹn hò nhau ra ghế đá công viên cho lá rớt đầy người. Đây này, đọc kỹ lá thư này đi, tao nhớ nó ở đâu, thôi rồi, trong tiểu thuyết Thứ Tư đây mà."

Con bạn chưng hửng:

" Ừ há, viết gì kỳ quá, cho anh chàng đi chơi chỗ khác."

Thế là chấm dứt một chuyện tình, không phải hồi âm hồi iếc gì cả. Sau chuyện đó, tôi mất cơ hội ăn món đu đủ bò khô tương ớt cay xé miệng mà mình thích, nhưng là kẻ có "lương tâm" , tôi chỉ trả lời giùm bạn bè những lá thư viết đàng hoàng, viết bằng trái tim cuả người gửi, để sau này dẫu có người phát giác ra tôi là tác giả cuả những lá thư tình học trò, cũng không nỡ trách tôi gian dối.

Tôi có con bạn thân, lấy chồng cùng trường khác lớp, bây giờ đã có một bầy cháu nội, ngọai, nó cũng là thân chủ cuả tôi trong dịch vụ viết thư tình thuở đi học. Người yêu cuả N.V. là anh H., quê Cái Răng, nơi có món nem nướng nổi tiếng, vì nhà anh ở ven sông Cái Răng, cho nên thỉnh thoảng tôi cũng được hân hạnh tháp tùng cô bạn quý vào chơi, lúc về anh đưa hai kiều nữ qua cầu ăn nem nướng, còn xách về nhà bao nhiêu là sa bô chê và nấm rơm, vì nhà anh ủ rơm trồng nấm. Lần đầu tiên tôi được thấy những ụ rơm nhỏ có bao nhiêu cái nấm xinh xinh mọc chi chít bên dưới, tôi thích lắm, vườn nhà anh xoài, ổi không thiếu, tôi tha hồ " xực " đầy bụng . Sau này, bạn tôi về với anh, anh mới biết những lá thư tình làm anh mất ngủ nhiều đêm , là do kẻ này cũng mất công bỏ học bỏ hành để viết giùm cho cô bạn, anh càng cảm động , khi tôi nghèo, thỉnh thoảng từ quê ra, hai người vẫn xách cho tôi buồng dừa, bịch gạo.

Chẳng mấy khi mà tình học trò lại nên duyên cầm sắt, chỉ đếm trên đầu ngón tay, bây giờ tôi có thấy vài anh chị yêu nhau thuở học trò mà nên vợ, nên chồng, không biết sao dù nay đầu hai thứ tóc, họ vẫn yêu nhau lắm. Có lẽ trong tim hai người vẫn là hình ảnh cuả họ thời đi học, cho nên vẫn " tương kính như tân " , đáng phục thay.

TH cũng là một người đẹp cuả lớp, cho nên nàng nhận nhiều thư xanh lắm, đặc biệt là một người hùng Không Gian đeo đuổi nàng suốt mấy niên học, những lá thư xanh viết từ KBC, có con tàu cuả chàng vút lên từng mây biếc. Viết những lá thư tình cao cấp đâu phải dễ, nhờ vậy TH chiều tôi lắm, nghiã là sau người yêu cuả nó thì tôi là người được nó nhớ nhiều nhất, vì nó tiết kiệm được bao nhiêu thì giờ nghĩ ngợi để viết thư hồi âm, chỉ việc “copy” gửi cho chàng, được chàng khen hay, đã đẹp lại văn hay chữ tốt thì dĩ nhiên, bao nhiêu yêu dấu cuả con tim, chàng đâu dám san xẻ cho ai. Sau này hai người cũng nên duyên cầm sắt, tôi cũng được mời đi dự đám cưới, nhìn hai người tay trong tay, mắt ngời ngời hạnh phúc, trong âm thầm lặng lẽ, tôi cũng cảm thấy cái vui cuả người đã góp phần làm nên hạnh phúc cho bạn bè. Đồng thời cũng nhớ lại vài nhỏ bạn khác, không được cái may mắn đó, cho nên có lúc tôi cũng phải nhức đầu khi viết những lá thư giận hờn, trách móc, chả ăn nhập gì đến mình cả.

Đâu phải con trai  anh nào cũng chung tình, như MV bạn tôi có anh bồ tên T nhà hàng xóm, hai nhà chỉ cách nhau có giậu mùng tơi, mà cũng bày đặt thư xanh với thư hồng. MV không đẹp, nhưng tính tình thật thà dễ thương, ông già nó là dân nhậu cho nên con nhỏ làm đồ nhậu thiệt khéo, rắn, ruà, lươn gì vào tay nó là hấp dẫn liền. Tuy bạn học không giỏi nhưng theo thiển ý cuả tôi, anh nào lấy được bà xã có khiếu nấu ăn, lại khéo chiều chồng như bạn tôi là số một. Vậy mà anh chàng T không có mắt nhìn người, đứng núi này trông núi nọ, núi nào cây cũng xanh rì như nhau.  Thư từ qua lại ít lâu, lắm tối ngồi viết thư tình giùm bạn tôi cũng tự nhiên thấy lòng bâng khuâng như mình đang yêu thật mới chết tiệt mà quên ráo cả chuyện học bài.  Anh T lên Đại Học cho nên bỏ cô bạn nhỏ hàng xóm, quen một cô sinh viên cùng lớp. MV đau khổ đến mất ăn mất ngủ, bởi vậy nó nài nỉ tôi thảo một lá thư hỏi " người bội bạc " cho ra lẽ. Lá thư kèm theo mấy vần thơ con cóc mà tôi còn nhớ lõm bõm:

" Rồi bỗng dưng một dạo,

Thư hồng anh thôi trao,

Nụ cười thôi đưa đón,

Gặp nhau anh chẳng chào...

Thư không trao, gặp chẳng chào thì đúng là tình đã " chấp cánh bay đi " rồi, có ai ngớ ngẩn như bọn tôi không? Vậy mà tôi cũng è cổ, ngồi chống tay vào trán suy nghĩ, mới đẻ ra một bài thơ để bạn tôi gửi " người bội bạc". Sau này, bạn tôi cũng có chồng là một anh nhà binh vùng sông nước, sản xuất cho anh hai tý nhau, anh được ăn ngon, vợ cưng, bà xã lo lắng tần tảo rất ngoan. Còn anh T " tham vàng bỏ ngãi ", nghe nói sau này anh sa cơ thất thế, mất vợ đẹp, cho nên cái bài học giờ Hán Văn cuả thầy tôi dạy, tôi vẫn nhớ như in :

"Thiện hữu thiện báo,

Ác hữu ác báo,

Nhược bằng bất báo,

Thì thần vị đáo."

Chẳng biết có phải vậy không vì tôi nhớ có mỗi bài này trong giờ Hán Văn, vài năm sau không thấy có môn này nữa, chắc mấy thầy đồ nho “tiêu diêu miền cực lạc” hết rồi. Bạn tôi nhờ nấu nướng khéo, làm chủ một quán phở ở đường Pasteur, vẫn áp dụng câu: " nhất nghệ tinh, nhất thân vinh ", thỉnh thoảng hai đứa gặp nhau, cũng có tô phở đãi bạn. Còn hơn những đứa cùng mài đũng quần năm xưa, nay may mắn thành công trong cuộc đời, gặp bạn cũ lạt như nước ốc, thì với tôi đứa bạn nghèo vẫn quý hơn.

* * *

Dịch vụ " viết thư tình " đang ngon lành, nếu không có cái thư cuả nhà trường gửi về thông báo điểm học tập cuả tôi thì có lẽ tôi đã thành văn sĩ từ lâu. Kết quả khi anh tôi mở tập vở ra kiểm soát thì cha chả, chỉ toàn thư với thư, bản thảo lưu giữ trong khi thư đã phát hành. Cả nhà đều lạ cho tôi , người ngợm chẳng giống ai, sao một lúc mà lại có nhiều người yêu đến thế. Thư thì gửi cho anh nam sinh cùng trường, khi lại anh phi công người hùng cuả thời đại, anh sinh viên năm thứ Ba trường Luật, nào đã hết đâu nếu trong bọn có đứa quen thêm anh chiến sĩ xình lầy,  mỗi lá thư tôi lại phải viết một kiểu khác nhau. Tôi bị nghi ngờ là chơi mục " Tìm Bạn Bốn Phương ", không lo học hành nên bị rủa một trận tơi bời, chưa kể bị anh tôi “ thương cho roi cho vọt” một trận kinh hồn, từ đấy cạch luôn nghề viết mướn.

Thật ra tôi vẫn nhớ nghề viết thư tình mướn của mình, nó cũng có cái vui khi được đọc những lá thư cuả người khác, mà cứ ngỡ là mình cũng đang được yêu. Sau tôi mới phát hiện là lũ bạn hại mình quá, đã không học hành được vì đầu óc cứ lởn vởn chuyện tình yêu cuả người khác, mà còn vì một lý do quan trọng hơn, đó là tôi phát tướng tròn quay như hạt mít. Để trả công viết lách cho tôi, như nhà báo trả tiền nhuận bút, chúng nó phải nhịn để nhường cho tôi những ổ bánh mì thịt, xôi lạp xưởng, bánh bò, đậu đỏ bánh lọt , công viết mướn những lá thư tình, nhờ thế đứa nào cũng yểu điệu thanh tân, còn tôi đi đứng ục ịch, tròn quay như cái cối xay. Mỗi lần đi học, đứng ngắm nghía trước gương, tôi biết lũ bạn nó hại tôi rồi, tất cả vòng số nào trên người tôi cũng “over” hết. Bây giờ dù rất muốn từ chối những món quà hấp dẫn trước cổng trường, nhưng rồi lại mềm lòng khi chúng nó nhất định ấn vào tay tôi bắt ăn cho bằng được, hoá ra con người từ lúc còn trẻ đã biết hối lộ cho những việc lặt vặt, trách chi sau này ra đời, tôi thấy chỗ nào người ta cũng hay biếu xén.

Suốt một, hai niên học đệ nhị cấp, tôi chỉ toàn viết thư tình cho thiên hạ, và đi "đỡ đạn" cho bạn bè mỗi lần hò hẹn. Nào là phải đi xin phép cho nhỏ bạn đến nhà ăn Sinh Nhật ( làm gì mà mỗi năm mẹ tôi đẻ tôi đến mấy lần), để làm cái "đuôi" cho hai đứa nó tâm tình với nhau trong Vườn Thầy Cầu, Đàn Tiên, Vườn Ổi. Tôi đã xực biết bao nhiêu mận, ổi với muối ớt, uống nước dừa đầy bụng mà "hai đứa chúng nó cứ rủ rỉ rù rì toàn chuyện tào lao mãi chưa chịu chia tay, dường như chúng nó cố tình “ấn” cho tôi ăn để được rảnh rang tâm tình mí nhau,  những người trẻ tuổi yêu nhau hình như không ai muốn biết thời gian nó ra làm sao. . . Tôi vừa buồn vưà đau bụng vì xơi nhiều cuả chua, vừa nghĩ đến phận mình, học hành chẳng giống ai, một mảnh tình vắt vai cũng chẳng có, lúc ngồi một mình cu ky chờ đợi, tôi cũng có ý định bỏ luôn nghề viết thư tình mướn, rồi chăm chỉ học hành và bỏ dần " tâm hồn ăn uống ", may ra rồi cũng tìm được người trong mộng.

Nhỏ H có ngưòi yêu là anh Sĩ Quan Bộ Binh , đơn vị trú đóng bên kia bờ sông Hậu, thỉnh thoảng tôi lại phải làm tài xế chở nó qua Bến Bắc Cần Thơ sang Bình Minh ( Cái Vồn) thăm người yêu chiến sĩ. Thực ra vì tôi ăn nhiều, đớp kỹ cho nên có sức khoẻ để chở nhỏ H vượt gió sông Hậu Giang sang thăm người yêu, chứ tôi cũng chả ham gì cái cảnh ngồi chờ người ta tâm tình chuyện thương nhớ nhau. Bởi vì tôi rất tương tư món bánh xèo ở chợ Cái Vồn, nhung mẹ tôi ở nhà lại dặn dò rất kỹ lưỡng: "Con gái không được lê la ăn quà ngoài chợ". Ăn bánh xèo mà không ngồi bệt xuống cái ghế đẩu thấp, thoải mái bốc bằng tay, cuốn miếng bánh vàng óng, nóng ròn vào lá cải bẹ xanh, ăn với nước mắm chua ngọt có đồ chua kèm theo thì mất thú đi nhiều lắm. Sau buổi hẹn hò, nhỏ H đãi tôi một bữa bánh xèo ở chợ Bình Minh, có lẽ chưa bao giờ tôi thấy cuộc đời đẹp cỡ đó. Tôi ăn ngồm ngoàm, tôi đớp thoải mái, tôi không còn ngán bất cứ ai trên cõi đời này, cũng chả nghĩ gì tới anh SQ xình lầy mà người yêu cuả H, cũng như nó vừa gán ghép cho tôi. Ăn là trên hết, là chân lý cuả cuộc đời(chỉ riêng tôi thôi nhé!). Cho nên sau này sống dưới chế độ xã nghĩa, con người được quản lý bằng bao tử, tôi mới thấy sự suy nghĩ cuả tôi thời đi học quả là ưu việt.

May là tôi đã kịp nhận ra rằng, con người không phải "sống để ăn " và để "yêu giùm người khác", cho nên không có chi là muộn hết. Tôi bắt đầu tu tỉnh, chăm chỉ học hành, và trời ạ, cũng có một người cảm được tấm thân " bồ tượng " cuả tôi. Khi biết yêu thật tôi cũng từ từ ốm bớt, người thon thả mảnh mai hơn, dù rằng thỉnh thoảng tôi vẫn nhớ cái thời vàng son trong sự nghiệp văn chương cuả mình. Lúc đó tôi đã phát hiện ra chân lý cuả tình yêu, dẫu có làm ông to bà nhớn gì, sống không có tình yêu thì cũng như chết mà biết thở.

Người đời vốn hay xấu che tốt khoe, cho là mình cái gì cũng ngon lành hết, hôm nay ngồi viết lại chuyện thời đi học, tôi có sao viết vậy. Mấy nhỏ nhờ tôi viết thư tình giùm năm xưa nay có đứa đã ra người thiên cổ, làm bà nội bà ngoại cũng đông, dăm đứa phiêu bạt xứ người, còn một số sống vất vả nơi quê nhà. LTS ngồi bán bánh mì kiếm cơm thật vất vả, MV vẫn bán phở và vì xực nhiều phở quá, giờ này béo quay hơn tôi ngày xưa. Bạn bè chung lớp có đứa bác sĩ, giáo sư, có đứa giàu, có đứa nghèo, có đưá goá bụa vì "ông xã" vội bỏ cuộc chơi leo lên bàn thờ ngồi, giờ này không biết chúng nó có đứa nào còn nhớ đến tôi không nhỉ?

Bao nhiêu tháng năm dài biền biệt trôi đi, đôi khi tôi vẫn hồi tưởng lại những bạn bè học chung lớp năm ấy. Đời quả là một sân khấu lớn và định mệnh cuả từng số phận con người thì hệt như số đo cuả giày dép, mỗi bạn là một cảnh ngộ đầy vui, buồn đến cười ra nước mắt. Khó hình dung được bao nhiêu cô nữ sinh ngồi cùng lớp năm xưa, lại là bấy nhiêu cảnh đời không ai giống ai, nhưng sự may mắn thì thật hiếm hoi đến ngậm ngùi. Thôi thì ít ra trong quãng đời học sinh hoa mộng, đứa nào cũng có một mảnh tình thơ mộng để nhớ, một trái tim biết yêu đương , biết mộng mơ. Tình yêu thuở học trò đâu có gì tội lỗi, chỉ tội nghiệp cho những đứa bạn năm xưa, giờ này vẫn còn phòng không chiếc bóng.

NGUYÊN NHUNG.

VƯƠNG QUỐC ÊM ĐỀM

NN_MOTthoangAuChau_tittle3.jpg

 Bút ký của Nguyên Nhung.

Hai ngày lang thang trên các nẻo đường Paris đã mệt ngoài, đêm lạ nhà ít ngủ nhưng chúng tôi vẫn phải dậy sớm để chuẩn bị cho chuyến đi thăm các nước Tây Âu ngày hôm sau. Đã hơn nửa đêm mà dưới lòng đường vẫn nghe tiếng xe chạy, ngó qua khung cửa sổ nhìn xuống đường, phố đêm Paris chìm trong ánh đèn mờ ảo và những hàng cây tối.

Đêm ở đâu cũng buồn, sương khuya giăng mịt mờ trên những ngọn đèn vàng và hàng cây lặng gió, phố đêm sâu hun hút có bóng người đi đâu đó vào lúc quá nửa đêm. Giấc ngủ chập chờn trời đã sáng, bị đánh thức dậy bởi tiếng chim hót líu lo ngoài cửa sổ, thêm mùi cà phê rất thơm của bình minh Paris trong sương sớm.Tự chuẩn bị một bữa ăn sáng dã chiến trong phòng vưà xong, kéo valy xuống trả phòng đã thấy mọi người đang chuyện trò râm ran uống cà phê, chuẩn bị chờ xe đến đón để làm cuộc hành trình đi thăm các nước Âu Châu theo chương trình đã vạch sẵn.

NN_Bi_Group.JPG

Xe đầy nhóc, không đủ chỗ nên cuối cùng tài xế phải mướn thêm một cái xe nhỏ, vì vậy mà gặp trục trặc vì hai xe không liên lạc được với nhau, hệ thống viễn liên không hoạt động được lúc ra khỏi biên giới Pháp để qua Bỉ. Tưởng sao, toàn đồng hương mình với nhau, có những người sống rải rác ở các tỉnh xa nước Pháp, mải làm ăn cho đến giờ này mới đi thăm Âu Châu. Nhờ vậy mà vui, chương trình văn nghệ tạp lục như ca hát, ngâm thơ, kể chuyện “tự biên tự diễn” do một vài đồng hương có năng khiếu văn nghệ điều khiển được mọi người tham gia vui vẻ, nhờ vậy chặng đường xa lúc nào cũng vui như tết. Đặc biệt, có bác Trung hội đồng hương Biên Hoà ở Paris, rất thông thạo và có nhiều kinh nghiệm về du lịch, đã hướng dẫn và kể rành mạch về lịch sử, địa lý nhân văn các nơi đoàn ghé đến, thật là một chuyến đi đầy bổ ích. Giá như đây là “tour” của Tây mà nghe họ xì xồ tiếng Pháp, gặp người có mấy chữ Tây trong bụng như tôi thì khác nào “vịt nghe sấm nổ”.

Xe tiến về hướng Tây Bắc cuả Paris, chạy vào xa lộ đúng lúc xe cộ ứ lại như nêm, người ở bên Pháp ít dùng xe hơi riêng lý do là nạn kẹt xe thật kinh khủng, mất nhiều thời giờ cho di chuyển, chưa chắc đi một chiếc “taxi” đã ngon hơn đi xe điện ngầm. Đây cũng là hướng có vẻ đông đúc dân cư, phi trường Charle De Gaulle cũng nằm ở hướng này, xe từ từ cũng ra được vùng ngoại ô, miền quê nước Pháp xuất hiện trong tầm mắt cuả du khách, với những cánh đồng được trồng tỉa xanh mươn mướt, chạy hàng dọc từ chân đồi lên đỉnh đồi, hình như nước Pháp không có những cánh đồng cỏ bỏ hoang như nước Mỹ.

Cảnh đồng quê và làng mạc nước Pháp đẹp như tranh vẽ  thời Trung Học được đọc trong sách vở. Người miền quê ở Pháp không sống rải rác như các nơi ở Mỹ, họ sống thành làng như kiểu nông thôn ngoài Bắc ở quê mình, bao bọc quanh làng bằng luỹ tre xanh. Ở đây, những ngôi nhà khang trang lợp ngói đỏ, một con đường nhỏ uốn quanh những thửa ruộng hay hoa màu, giữa mỗi ngôi làng nổi bật một ngôi giáo đường, tháp chuông vươn lên nền trời xanh biếc. Nhìn qua là biết tiêu biểu cho một xứ đạo của làng quê nước Pháp, tạo nên hình ảnh thanh bình và êm ả khác hẳn với những ồn ào, bon chen cuả Paris kinh đô ánh sáng.

Đường từ Pháp qua Bỉ khoảng gần 3 tiếng đồng hồ, xe chạy bon bon giữa hai cánh rừng thưa hoặc làng quê đang vào hè, hoa nở trắng xoá bên bià rừng tuyệt đẹp. Con đường này giống như con đường liên tỉnh từ Sàigòn về miền Tây thuở xưa, người sống ở miền quê hình như cũng hiền hoà mộc mạc như các rừng hoa đang đua nở hai bên đường để đón chào du khách. Xe ghé lại một cây xăng bên đường cho bà con “xả hơi”, mỗi lần xả hơi có người ngồi thu lệ phí vài chục xu gọi là đóng góp cho kinh tế phồn thịnh.

NN_Bi_Building.JPGThủ đô Bruxelles đây rồi, hai xe giờ đây liên lạc được tài xế gọi nhau í ới. Như hầu hết các thành phồ cổ ở Âu Châu, những căn phố cổ hiện ra như những cái hộp dính vào nhau, rất vắng người vì khách du lịch thường đổ xô vào trung tâm của thành phố. Ngay ngưỡng cửa của thủ đô, xuất hiện một ngôi nhà thờ thật nguy nga, bao quanh là một công viên nhưng lại giống như một khu rừng thiên nhiên, nhà thờ được kiến trúc theo kiểu mới với mái vòm xanh xanh thật dịu mắt, khác hẳn với ngôi nhà thờ cổ nằm trong khu phố cũ gần với quảng trường La Grand Place. Nơi đây đã có hẹn với hai người đồng hương Biên Hoà sống ở Bỉ đã lâu, vì vậy được biết thêm thủ đô Bruxelles nằm trong danh sách những thành phố giàu có của thế giới, và cũng êm đềm nhất so với những nơi phồn hoa đô hội.

Mọi người quanh quẩn trong quảng trường La Grand Place để ngắm nghiá những kỳ công cuả bao thế kỷ trước, được xây dựng bằng mồ hôi nước mắt cuả con người. Lâu đài xưa vẫn được giữ nguyên để bảo tồn nền văn minh cổ xưa cuả những thời đại trước, trong này có một tượng đồng được gọi là Everard, Tượng Thần May Mắn cho những ai đang hy vọng một điều gì thầm kín về tình yêu, ước vọng cuộc đời chẳng hạn. Bà con chuyến Âu Du đều thuộc loại cao niên, không hiểu có ai cầu mong chuyện “tình yêu, gia đạo cạo da đầu” ở cái tuổi sắp chống gậy này không? Một cụ cao niên tay chống gậy,tuổi đời gần 8 bó cứ nghển mãi lên ráng sờ cho được một tý vào vị thần May Mắn này, chẳng hiểu cụ còn mơ ước gì khi tuổi đời đã bước thấp bước cao, “one foot in grave” về với Chuá với Phật.

NN_Bi_chubedungdai.JPGVà đây, một nhân vật lịch sử khác cuả Bruxelles là bức tượng “Cậu Bé Đứng Tè” mang tên là MANNEKEN-PIS, cao khoảng 61cm, dân Bỉ xem như là một biểu tượng độc lập cuả họ. Tương truyền rằng vào thế chiến thứ II, quân Đức lúc đó thừa thắng xông lên muốn cưỡng chiếm các nước lân bang, nước Bỉ phải đối đầu với người láng giềng hung hăng này. Cậu bé đứng tè là con một gia đình giàu có bị thất lạc , khi mọi nguời đổ xô đi tìm thì thấy cậu đang tỉnh bơ đứng đái, tình cờ xả nước xối xả vào mạch nối cuả ngòi nổ nên vì thế nó tắt ngúm, cứu cả thành phố khỏi bị tàn phá. Người đời sau liền lập tượng để ghi nhớ chú như một người anh hùng.

Đó chỉ là một ngẫu nhiên, như những câu chuyện huyền thoại trong lịch sử thế giới, tượng đồng “cậu bé đứng tè” nếu để tự nhiên là một bức tượng đồng đen trần trụi chắc hay hơn là cho chú diện quần áo theo nhiều ngày lễ quanh năm. Khi du khách đến đây vào đầu tháng 6, chú bé diện một bộ quần áo sọc xanh, trắng, đỏ rất điệu. Sự thay đổi quần áo cho chú, luôn kèm theo ý nghiã cuả những ngày trong năm, cuả một vĩ nhân thế giới, hay một ngày nào đó có ý nghiã, chẳng hạn trong muà Giáng Sinh, chú được diện một bộ y phục màu đỏ cuả ông già Noel. Chao ơi! Muà Đông ở Bỉ kéo dài hằng mấy tháng, những ngày trời đẹp không mưa dầm thật là hiếm hoi, nhưng nghe nói du khách các nơi trên thế giới vẫn tuôn về đây để ngắm Bruxelles trong muà Đông tháng giá, tuyết ngập khắp các ngả đường, các lâu đài âm u trong khí giá lạnh cuả muà đông hàn đới.

Theo lời một chị bạn ở Bỉ thì quảng trường La Grand Place hằng năm vẫn có ngày lễ rất đặc biệt dành cho triều đình vua chuá cuả họ vẫn tồn tại đến bây giờ. Dân chúng tụ tập lại và trong khoảng sân vuông vức vây quanh bởi  lâu đài cổ xưa, những phiến gạch lát đường phủ đầy hoa thật đẹp. Từ quảng trường có nhiều con đường nhỏ đổ ra phố, thoai thoải theo con dốc là những viên gạch, phiến đá màu xám xỉn với thời gian, du khách đi lơ mơ vừa đi vừa ngó có thể lọt gót giầy xuống một kẽ hở trên đường đi, ngã bổ chửng như chơi, trong đoàn đã có một bác bị té tọac bàn tay, phải may bao nhiêu mũi kim.

Tôi ngồi dưới bóng mát vỉa hè trong khuôn viên quảng trường La Grand Place, nhìn thiên hạ uống cà phê trong một khoảng sân bao quanh bằng những giỏ hoa đủ màu thật vui mắt. Ngó vơ vẩn lên những khung cửa sổ tráng lệ cuả toà nhà trước mặt, bao nhiêu hình tượng tiêu biểu cho triều đình vua chuá ngày xưa, hình dung ra ở đó thấp thoáng những bóng ma quý tộc, đang nhìn xuống cõi dương gian để tiếc nhớ thời hoàng kim của họ. Xung quanh tôi không hẳn chỉ có những người rủng rỉnh bạc tiền, một người đàn bà bế đưá con thơ choàng khăn kiểu Ả Rập, đang bám theo du khách để xin tiền. Chị ta có đôi mắt đẹp và buồn, miệng không ngớt than van những lời tôi không hiểu. Đặt vào tay người đàn bà đồng bạc lẻ còn giữ trong túi, lòng nghe vui nhưng vẫn cảm nhận được nỗi buồn mênh mang về thân phận cuả kiếp người.

Đoàn người kéo nhau tản bộ ra khu thương mại bày bán la liệt các loại kẹo chocolate cuả Bỉ, nổi tiếng trên thế giới, nhất là một loại kẹo trong bằng vỏ cam nhúng “ chocolate” ai nếm thử cũng phải khen ngon. Một đặc biệt nữa về hàng thủ công mỹ nghệ là kỹ thuật làm đăng ten để may khăn, may màn, rèm cửa cuả Bỉ cũng thuộc loại hạng nhất cuả nước này. Tuy Bruxelles nhỏ bé có không khí cuả một tỉnh lỵ êm đềm, nhưng rất lý tưởng để những ai thích cuộc sống bình lặng, không bon chen, sống và làm việc rất thoải mái. Sau khu phố cổ, một khu thương mại xây cất theo lối mới trưng đầy hàng hoá mời chào du khách, giá tươngNN_Bi_church.JPG đối cầm được không đến nỗi bỏng tay. Từ đây, chúng tôi kéo nhau băng qua đường lớn đến thăm nhà thờ cổ Notre Dame du Sablon, ngôi giáo đường có kiến trúc rất lâu đời, một số vào nhà thờ thăm viếng cầu nguyện, sau đó cả đoàn ra chụp hình trước cổng nhà thờ làm kỷ niệm.

Sau khi bát phố Bruxelles thì trời đã về chiều, mọi người đã mệt nhoài lại đói bụng nữa nên lên xe đến khách sạn để nghỉ ngơi, nằm ở ngoại ô gần bộ tư lệnh cuả Khối Nato, cờ xí các nước Âu Châu bay phấp phới. Khách sạn khá xinh xắn, hai bên đường có những cánh đồng trồng luá mạch, ai nấy hối hả lên nhận phòng ngả lưng một chút, nhìn qua cửa sổ vào phiá trong cuả khách sạn, có một nhà hàng khá lịch sự với nhiêù món ăn lạ.

Bữa ăn tối tại Bỉ,tôi lại chạm mặt với ông anh Houston ăn phở Tàu tối hôm trước ở Paris, tuy ngồi khác chỗ nhưng vô tình lại gọi y chang món cá Salmon mà tôi tưởng là rất hấp dẫn cho bữa ăn tối với bánh mì bơ thật thơm. Ôi chà, chắc ở đây xa biển nên món hải sản cá Salmon hôm ấy chỉ có vài lát xắt mỏng tanh như giấy, trình bày đẹp mắt như một cái quạt xoè ra ở giữa có một món rau củ lẫn lộn chua chua ngọt ngọt. Cái tội này cũng bởi dốt chữ mà ra, thấy chữ Salmon là mắt tôi sáng lên, cứ tưởng mình sẽ được thưởng thức những khưá cá thơm phức, ai ngờ! Thôi nuốt đại cho biết mùi cơm Tây, gọi thêm một chai bia La Léon loại nhẹ thôi mà cũng ngầy ngật say để quên mùi cá sống. Bia Bỉ ngon lạ lùng, dường như còn đậm đà mùi lúa mạch nên ngon đến giọt cuối cùng. Lúc đi ngang bàn ăn cuả ông anh Houston, tôi liếc thấy anh cũng đang ngồi ngao ngán với đĩa cơm Tây, nên ghé vào nói nhỏ:

“Hôm qua phở Tàu, hôm nay cơm Tây nhá!”

Hai anh em cười xoà, những người xung quanh chả hiểu gì, biết vậy hồi nãy tôi đã gọi món “hamburger” của Mỹ ăn chắc ấm bụng hơn.

Dạo loanh quanh một chút để nhìn ngắm cảnh thanh bình cuả miền quê nước Bỉ, mặt trời đã xuống tự bao giờ, hoàng hôn còn trải những vạt nắng yếu ớt trên cánh đồng xanh bát ngát. Nơi đâu cũng vậy, khi màn đêm phả bóng tối  khép lại những phồn hoa đô hội, đằng sau cuộc sống bon chen ấy vẫn là một không khí êm đềm cho lòng người được nghỉ ngơi.

Sáng hôm sau, mới 6 giờ là mọi người đã lục tục kéo nhau xuống ăn điểm tâm, hình như đây mới là bữa ăn chính thật ngon miệng cuả mọi người để chuẩn bị cho một ngày nữa rong ruổi tiếp nối vùng Tây Âu. Mọi người lại lục tục leo lên xe, mỗi ngày tha hồ vác hành lý lên xuống cho tiêu bớt calories và mỡ trong máu. Trước khi rời Bruxelles, đoàn lại ghé thăm ngôi chuà Nhật nổi tiếng, nhưng thời gian không cho phép nên mọi người chỉ kịp ghi lại những tấm ảnh rồi vội vã lên đường. Ghé ngang vườn hoa cuả người Trung Hoa,  với bao nhiêu loại hoa cảnh thật đẹp, muà Xuân vưà đi và muà hè vưà chạm đến, mà sao hoa kiểng đã bật dậy hối hả nẩy chồi đơm hoa thật nhanh. Tất cả những kiến trúc tại hai nơi này đều mang tính cách quốc gia cuả họ.

NN_Bi_Atomium.JPGXe vội vã lên đường để mọi người có dịp đến thăm công viên Atomium, một nơi nổi tiếng có cấu trúc rất tân kỳ, quy tụ nhiều quả cầu to sáng lấp loáng, phản chiếu những hình ảnh cuả cảnh vật xung quanh. Những quả cầu này được nối kết bởi các trụ cột rất cao, tạo cảm giác như các hạt nguyên tử vận hành trong không gian. Vì không có nhiều thời giờ để vào xem bên trong cuả những quả cầu này, trong đó có nhà hàng, nơi giải trí để du khách có cảm tưởng đang hưởng một cuộc sống vô cùng tuyệt diệu trên thượng tầng không khí. Nhìn chung đây là một thành phố nổi tiếng cuả trung tâm Âu Châu, nhưng không quá đỗi đông đúc phức tạp như Paris, và sau này khi sang London thì mới thấy, càng những nơi đông người thì cuộc sống càng trở nên xô bồ hơn.

Trở lại với góc riêng cuả mình, tôi lại nhớ đến hai câu thơ cuả Nguyễn Khuyến:

“Ta dại , ta tìm nơi vắng vẻ

Người khôn, người tới chốn lao xao”

Thật là chí lý!

Nguyên Nhung

NN_Bi_LyCafe.jpg

MỘT THOÁNG ÂU CHÂU

Bút ký của Nguyên Nhung

NN_MOTthoangAuChau_tittle3.jpg

Vâng, tất cả chỉ là một thoáng, như bao nhiêu nơi chốn, con người, hình ảnh trong dòng đời đã trở thành một thoáng trong ký ức của tôi. Chuyến đi xa mùa hè năm nay, tôi theo chân phái đoàn Hoa Bưởi Vượt Đại Dương tại Houston, làm một chuyến viễn du thăm Âu Châu. Chuyến bay đưa tôi đến vùng trời xa, vượt qua  Đại Tây Dương , đến Paris vào một ngày đẹp trời hừng nắng. Tám tiếng đồng hồ ngồi trên phi cơ ngủ chập chờn, có lẽ vì chói  ánh đèn từ chỗ ngồi của một cô sinh viên đang soạn lại bài vở sau chuyến đi xa. Suốt ngày hôm trước tôi gần như thức trắng để chuẩn bị cho một chuyến đi dài, hai tuần lễ với một chương trình biết trước là mọi người sẽ phải chạy như ma đuổi.

                                NN_MOTTHOANGAUCHAU_NN_Dong_Ef.jpg

Buổi Sáng Ở Paris

.

Mải suy nghĩ và ngắm phong cảnh hai bên đường, xe chui qua những hầm cầu, có lúc xe đã đi ngang khúc đường hầm gây nên cái chết oan nghiệt cho công nương Diana và người tình cuả cô.

.

 Hơn nửa tiếng đồng hồ, xe chạy vào thành phố, sau khi đem hành lý vào khách sạn, buổi sáng đã thấy nhiều người khách dậy sớm đang lục tục đi xuống. Giờ đây tôi đang đứng trên con đường thuộc quận 13, vài bà đầm đang dẫn chó đi bộ, mấy chú chó vô tư làm vệ sinh dưới gốc cây trước mặt mọi người, vì thế mà người ta hay dặn dò nhau khéo đạp “mìn” khi mải dáo dác nhìn người qua kẻ lại. Đa số là những người đi làm, đi chợ sớm,  đẩy theo một cái xe có một túi từa tựa như cái valy nhỏ. Mới đầu tôi tưởng họ cũng là du khách như mình, nhưng sau quan sát kỹ mới biết họ chất đầy thực phẩm trong đó, thêm một ổ bánh mì “ baguette” cầm tay dài thoòng, thế cũng tiện, Tây ăn bánh mì như người mình ăn cơm. Đường xá ở Paris rất chật, ngoại trừ một vài con đường nổi tiếng trong phim ảnh là thênh thang, hầu hết phương tiện cuả người Paris là xe điện ngầm, đường chỉ đủ cho hai xe lách nhau vưà khít, và chỗ đậu xe thì lại càng hiếm hoi hơn nữa.

.

Người Paris lái xe thiện nghệ hơn các nơi khác, kể cả xứ cao bồi Texas cũng chào thua kiểu lái xe như lúc nào cũng có thể đâm xầm vào nhau ở Paris. Ngày xưa chắc những lòng đường hẹp này chỉ dành cho xe ngựa cuả vua chúa hay người giàu có, trong khi đó hai bên viả hè lại khá rộng, người đi lại thong dong như những kẻ nhàn tản nhất thế gian, hèn gì có người đã bảo “phong cách người Paris rất Paris” là vậy. Xe thì nhỏ, chỗ đậu xe rất hiếm và chật dọc theo đường phố, tôi đã tò mò đứng từ cửa sổ cuả một tiệm ăn nhìn xuống xem cách một người lái xe đã lách làm sao để có được một chỗ đậu xít xao giữa hai chiếc xe khác. Rất ngộ, và tự nhiên đến không thể nào nghĩ được, chiếc xe lách vào húc tỉnh bơ vào đuôi chiếc xe trước cho nhích lên một tý, và lại thản nhiên gie lui đụng vào chiếc xe phiá sau, thế là gọn gàng tìm được một chỗ đậu chỉ cách nhau khoảng hai gang tay, cừ thật!

.

Chưa có một đồng Euro nào trong túi, hỏi thăm vài du khách cũng từ Mỹ sang, họ chỉ cho vài chỗ để đổi tiền. Ngay đầu đường gần về khách sạn Le Baron, có một chỗ đổi tiền mà lúc nãy người tài xế khi lái xe ngang đã chỉ cho tôi. Ngạc nhiên vì mới sớm mai mà đã thấy một đoàn người rồng rắn xếp hàng  đi xin trợ cấp, trông họ buồn rầu, nhếch nhác khiến kẻ mới đến phải rùng mình nghĩ đến cảnh nheo nhóc cuả lớp người nghèo trên thế giới, ảnh hưởng bởi cơn sốt kinh tế toàn cầu. Một người mới quen rất tử tế chỉ cho một chỗ đổi tiền gần siêu thị, nhưng căn dặn phải cẩn thận, và nhất là đừng móc ví ra mà bố thí cho một vài hành khất ngồi đó đây chờ đợi. Ôi cha, coi bộ nhiều thứ để phải “coi chừng” như lời anh dặn dò, chúng tôi vội vã đi nhưng lòng không được thoải mái lắm…

.

Có tiền rồi là nghĩ đến ăn, paté, jambon cuả Pháp nổi tiếng thế giới, một tiệm bánh mì cuả người Việt ngay đầu đường trông thật hấp dẫn, giá một khúc bánh mì không rẻ, nhưng chắc phải ngon, mà ngon thật, cái ngon này sau khi về nhà tôi mới nghĩ ra. Ở nhà phải kiêng khem nhiều món cho cái tuổi già khỏi bệnh tật, khi đi chơi ai cũng nghĩ “lâu lâu xả láng một lần”, nên bao nhiêu chất béo, chất ngọt ai cũng ăn tỉnh queo, nhưng vẫn phải công nhận là paté của Pháp nổi tiếng trên thế giới, và có thể kết luận  rằng bánh mì thịt chả nơi nào ngon bằng quận 13 ở Paris.

.

Đa số những tiệm ăn ở đây đều mang tính chất đa quốc gia, nhưng đâm đầu vào một tiệm ăn để ăn một tô phở Tàu thì tôi khuyên bạn nên suy nghĩ trước khi vào quán. Lạ thiệt! Cái tô phở cũng bĩ bàng nào thịt , nào bánh, nào hành ngò đủ hết, nhưng phở vẫn không  là phở, phở mà thiếu hương vị phở thì làm sao gọi là món ngon quê hương được. Đấy là nói đến ban đêm đi chơi sông Seine về, bụng đang đói ngẫu, thấy tiệm phở còn mở cửa như buồn ngủ gặp chiếu manh. Thế là ghé vô, ráng hít mãi mà không ngửi được mùi phở hành ngò phả trong gió đêm Paris. Chờ đợi khá lâu tô phở mới được bưng ra, ai nấy nhanh nhẩu cầm muỗng đuã, xuỵt xoạt. Đói thế mà tô nào cũng còn đến phân nửa, một anh quen ở Houston phát biểu cảm tưởng: “No rồi, ngon quá nên ăn không nổi”. Cô hầu bàn vui tính cũng xen vào nói nhỏ với khách: “Phở Mỹ ngon hơn, tui nói chủ đuổi tui cũng nói.”, mọi người cười hỉ hả với nhau, chia tay không hẹn lần sau tái ngộ.

.

Tôi lại lạc đề rồi, đang nói về bình minh Paris trên phố quận 13, một buổi sáng nắng hanh vàng và hơi lành lạnh như sáng Đà Lạt năm nào. Cuối xuân sang hè cành lá xanh biếc và được rắc một lượt nắng nhẹ, êm đềm và dịu dàng như nét đẹp cuả cô gái tuổi dậy thì. Người đi đường không vội vã, không tò mò trong một vẻ thật khoan thai từ tốn. Nếu bạn chỉ khoác một chiếc áo măng tô nhẹ, rồi hai tay thong thả đánh đung đưa mà đi vào những con ngõ nhỏ Paris đang ngái ngủ, sẽ hình dung ra vẻ an nhàn đời sống bên trong cuả người dân Paris. Mùi cà phê thoảng bay trong gió sớm, mùi bánh mì nóng rộm vàng rơm, mùi bơ thơm, những  mùi này mới thật là mùi cuả Paris phả vào gió lạnh và du khách nếu không vội đi đâu, cứ thong thả mà thưởng thức.

.

Liên lạc được gia đình ông chú , trưa hôm đó chúng tôi được đón về thăm gia đình ở ngoại ô Paris, đúng vào giờ kẹt xe nên mất khá nhiều thời giờ loanh quanh trên các ngả đường kẹt cứng như nêm. Xa lộ tương đối thoáng, nhưng Paris ngoại ô vẫn là những con đường nhỏ vòng vèo, nhà cửa ở đây không đồ sộ, nhưng xinh xắn dễ thương với mái ngói đỏ, nhà nào cũng có lầu nho nhỏ và ở mỗi ô cửa sổ họ trồng những bụi hoa đủ màu rất đẹp. Đường vô nhà cũng nhỏ như một cái ngõ vắng ở Sài Gòn năm xưa, yên tĩnh với làn gió mát buổi xế trưa, có tiếng chim bồ câu gù gù sau mái hiên.

Buổi tối cơm nước xong thì đã muộn, cả nhà đưa nhau đi một vòng sơ sơ cho khách phương xa thưởng thức vẻ đẹp lộng lẫy, tấp nập cuả một Paris về đêm. Chiếc xe lăn bánh đi dọc theo bờ sông, loang loáng ánh đèn dưới mặt nước lung linh tuyệt đẹp, những lâu đài, nhà thờ, mờ mờ ảo ảo dưới mặt nước thẫm đen, và đặc biệt thân tháp Eiffel như được nạm vàng dát ngọc vươn lên bầu trời nhung thẫm.

                         NN_MOTthoangAuChau_khaihoanMon2.jpg

Paris về đêm như một người phụ nữ quyến rũ lôi cuốn những con thiêu thân lao vào ánh đèn, đại lộ Champs Elysees là đại lộ lịch sử nổi tiếng thế giới của Paris. Con đường dài khoảng 2 cây số chạy dọc theo suốt chiều dài của quận 8, hướng Tây Bắc của Paris, nối liền quảng trường Concorde là quảng trường lớn nhất của thủ đô nước Pháp, với diện tích 86.400 thước vuông,  toà đại sứ Mỹ tọa lạc gần quảng trường Charles de Gaulle, có Khải Hoàn Môn nổi tiếng của Pháp. Nơi hội tụ của 12 con đường lớn của Paris vì vậy xe cộ đổ ra đổ vào suốt ngày đêm nườm nượp. Trong 12 con đường này có một con đường mang tên rất thân quen với người Sài Gòn năm xưa, đó là đường “Bạc Má Hồng” (Mac-Mahon).

Đã có nhiều tài liệu viết về Paris, riêng tôi chỉ vài ngày ngăn ngủi ở Paris cho nên không thể nào đi sâu vào từng ngõ ngách cuả NN_MOTTHOANGAUCHAU_NN_Statue.jpgParis, vẻ đẹp cổ kính và văn minh cuả nhân loại nhiều thế kỷ. Bây giờ khi xe chạy dọc theo sông Seine, buổi tối ở đây vắng vẻ hơn, chỉ thấy những đôi tình nhân dìu nhau đi dưới bóng cây và ánh sáng mập mờ, vô số những sạp bán sách vở và đồ lưu niệm đã đóng cửa, bên kia là những quán cà phê vỉa hè, mà người ta hay nhắc đến vì nó là nơi những nhà thơ, nhà văn tụ hội lại với nhau uống cà phê, nghe nhạc tìm nguồn hứng khởi. Đi qua nhà thờ Đức Bà, người ta chen chúc nhau trên mảnh sân phiá trước, ánh sáng tỏa ra từ những trụ đèn lồng thật cổ kính,chỉ mong nghe tiếng chuông ngân để tưởng tượng ra tiếng thở dài cuả anh chàng Quasimodo đau khổ trong nhạc kịch “Thằng Gù Nhà Thờ Đức Bà” cuả Victor Hugo được đọc qua trong sách vở.

Thời gian ở Paris đúng là vàng ngọc, biết bao giờ trở lại nơi đây lần nữa nên cũng cố xem cho biết được chút nào hay chút đó. Xe trở lại đại lộ Champs Elysses để nhìn tận mắt giòng người đổ về đây dù lúc ấy đã gần nửa đêm. Xe chạy xuống hầm tìm chỗ đậu, cả nhà già trẻ lớn bé ngoi lên lòng phố đêm đang oà ra như ong vỡ tổ. Người ở đâu mà nhiều thế không biết, mỗi năm Paris có khoảng vài chục triệu du khách khắp nơi đổ về, dù đây chỉ là một đêm ngày thường mà cơ man nào là người, lớp đi bộ, lớp ngổi nghỉ chân bên hè phố nghe đêm Paris chuyển mình như một làn sóng nhấp nhô bởi người và xe. Hình như người ta không ngủ, đêm Paris lành lạnh vừa đủ cho du khách tha hồ đi rong trên đường phố , trong khi đó dòng xe cứ tuôn chảy vào về phiá Khải Hoàn Môn rực sáng ánh đèn.

Cứ tưởng tượng ngày xưa nơi đây chắc xe ngựa dập dìu, đoàn quân đi chinh phạt các nước chư hầu cuả Pháp trở về, chắc đã từng diễn hành hàng hàng lớp lớp. Những hình bóng ấy nay chỉ còn là một thoáng trong lịch sử:

“ qua rồi theo dòng đời hưng phế,

 hồn xưa có sống lại bao giờ”( thơ NN) ,

ngẫm ra có chút vô thường trong dòng đời đang bày trải trước mắt.

Đêm đã khuya, gió phả sương khuya lành lạnh nên ai cũng phải khoác thêm một chiếc áo ấm, mọi người đều mỏi mệt nên phải trở về. Những nẻo đường Paris về khuya thiêm thiếp ngủ ….

.

Chiều Paris

NN_MOTTHOANGAUCHAU_EveningOntheSein.jpgNgày kế tiếp, sau một bữa tiệc họp mặt thật nồng ấm tình đồng hương xứ Bưởi trong một nhà hàng nhỏ, không khí ấm cúng thân mật chứ không loãng như những hội đồng hương quy tụ đông đảo mà lại thiếu tình thân. Hình như mọi người đều quen biết nhau, ai nấy tay bắt mặt mừng với những màn văn nghệ “cây nhà lá vườn” nhưng thật vui.

Buổi chiều trở lại khách sạn nghỉ ngơi để chuẩn bị lấy sức đi thuyền trên sông Seine, ngắm tháp Eiffel biểu tượng cuả Paris. Mọi người theo nhau xuống xe điện ngầm ra sông Siene. Phương tiện cuả dân Paris hầu hết  là bằng xe điện ngầm lan toả khắp thành phố, như những cái rễ bạch tuộc rất thích hợp cho người lao động. Nhưng xã hội nào cũng vậy, những nơi đông người vẫn xảy ra những tệ nạn như móc túi, giật dọc hành lý, du khách thường mang một vẻ ngơ ngác lạ lẫm trước những cái mới mẻ, vì thế mà mỗi lần cả đoàn dẫn nhau lên xe, bà con mình đã tự giác đứng gần nhau để bảo vệ. Mỗi lần lên xe anh trưởng đoàn không quên la lớn:

“Bà con ơi,  hồn ai nấy giữ nghe.”

Xe đông người, chuyến nào cũng đầy ắp, ai biết người gian kẻ ngay, chỉ tự mình “hồn ai nấy giữ” như lời dặn dò, vậy mà cũng có người gài túi cẩn thận vẫn bị chớp mất ví hồi nào không hay.

NN_MOTthoangAuChau_swan2.jpgBăng qua một cây cầu để xuống bến tàu được gọi là Bateaux Mouches. Gọi bằng thuyền cho thơ mộng, như ở miền Trung quê nhà đi thuyền trên sông Hương, chiếc thuyền chở khách trên sông Siene to hơn nhiều với một lượng khách khá đông. Khi khách đầy, thuyền tách bờ với những bản nhạc êm dịu không lời  đưa hồn du khách chơi vơi theo triền sóng lặng, chiều đang rơi trên dòng sông mênh mông.Nếu khách là một nhà thơ, sẽ không khỏi rung động để ghi nhanh một bài thơ “Chiều lênh đênh trên sông Seine”, tặng riêng cho một người nào mà anh  đang nghĩ đến:

“Chiều du thuyền sông Seine

Ta thấy nắng vàng êm

Theo gió lồng hương tóc

Trên nụ cười cuả em”

( Thơ Lâm Sông Đồng)

Hai bên bờ lừng lững những lâu đài, nhà thờ cổ, hàng cây, bóng người và  những cặp tình nhân đang ngồi tâm tình trên ghế đá, tất cả cùng với ánh nắng se sắt buổi chiều vàng, phản chiếu xuống mặt nước một hoàng hôn Paris diễm lệ. Thi sĩ có thể viết thêm vào bài thơ dang dở :

 “Những lâu đài in bóng xuống dòng sông,

 Em có biết đời cũng nghiêng như bóng”( thơ NN).

Bóng chiểu thẫm hơn và nước sông Seine cũng chuyển sang một màu thẫm hơn, buổi chiều thật dài để du khách tha hồ thưởng thức vẻ đẹp cổ xưa thật tráng lệ in trên nền trời nhung mềm như lụa. Và từ tấm màn nhung ấy, muôn ánh đèn từ tháp Eiffel đã nhấp nháy bừng sáng cho dòng sông và bầu trời thêm ảo mộng.

.

Ngày Cuối Cùng Ở Paris

Thấm thoát mà thời gian trôi nhanh, sau một chuyến đi ngắn qua các nước Tây Âu, trở lại Paris nghỉ ngơi để chuẩn bị bay về mái nhà thân yêu của mình. Đi đâu thì đi, sao vẫn nhớ căn phòng quen thuộc trong ngôi nhà nhỏ, mảnh vườn be bé chắc rau cỏ đang chờ mình trở về trong nắng hè gay gắt.

Ngày cuối cùng còn lại ở Paris, một cô bạn ở Paris mời đi thăm cảnh vườn Bois-de-Boulogne, để biết thêm một khía cạnh khác thật tươi mát của Paris mùa hè. Khu vườn này nằm ở hướng Tây của quận 16, rộng gần 8500 km2, ban ngày là một khu vườn thiên nhiên nhiều hoa cảnh lạ, nhưng nghe nói ban đêm cũng là nơi xuất hiện của các nàng Kiều. Gặp ngày có những chương trình bổ ích,  thầy cô giáo dẫn các em học sinh cỡ tuổi mẫu giáo đi tung tăng trên các con đường quanh co rừng cây và hoa rất thơ mộng. Xen lẫn vào cảnh rừng và hoa là hồ nước, đàn vịt thanh thản bơi lặn trong hồ, bóng dáng một con thiên nga với bộ lông trắng toát thật quý phái, lững lờ bơi trên dòng nước . . .

Còn  ngày cuối ở Paris sắp hết, lang thang trên phố chiều với những con đường lớn có vỉa hè thênh thang , hàng cây thẳng tắp làm bóng mát che cho du khách bước từng bước trong buổi chiều Paris thật êm ả. Paris buổi chiều khác hẳn Paris ban đêm, êm ả vì trời xanh gió nhẹ, sân trước những căn phố phủ đầy hoa hồng thấp thoáng bóng người sau tấm màn mỏng lay động, Paris dịu dàng và lãng mạn biết bao!

Ngày vui qua mau, bịn rịn, quyến luyến chia tay với người Paris, bay về Houston nắng ấm, mang theo  bao nhiêu kỷ niệm và nỗi nhớ dành cho “Một Thoáng Âu Châu”.

Nguyên Nhung

( Kỳ tới: Bỉ, Hoà Lan, Đức, Strapbourg và London)

NN_MOTthoangAuChau_theEnd.jpg

NN_NhuNhungGiotMua.gif
NN_NhuNhungGiotMua2.gif

Ngẫu nhiên tôi gặp lại Hà sau gần hai mươi năm xa cách.
Một chiều mưa tầm tã vào tháng bảy, bên hiên chùa tôi đang thả hồn về dĩ vãng, với những sợi mưa giăng mịt mờ phía rừng cây trước mặt. Tâm trí tôi trở về những mùa ngâu nhạt nhòa trong quá khứ, ở đấy có mẹ tôi bên bếp lửa hồng và đàn gà con chiêm chiếp kêu tìm đôi cánh gà mẹ trong một chiều bão rớt. Ở đấy là những chùm hoa mẫu đơn nở vàng trước ngõ giậu thưa, là hàng dừa lướt thướt ướt mưa bên một giòng sông, là khoảng sân gạch loang loáng nước và những giọt mưa màu cà phê từ mái tranh rớt xuống.
 
Cứ thế tôi đắm chìm trong những hình ảnh chập chờn của dĩ vãng thì từ bên kia mấy chậu hoa quỳnh, tôi nghe có tiếng thở dài. Tiếng thở dài muộn phiền mong chờ cơn mưa ngớt hạt, nghe chừng quen quen, thật là thân thiết , có chút gì u uẩn trong bóng chiều nhập nhoạng. Đưa mắt nhìn người phụ nữ đứng nghiêng nghiêng trong khoảng tối của mấy chậu hoa, tôi ngờ ngợ nhận ra Hà, người bạn cũ. Mặc dù đã bao nhiêu năm trôi qua, nhưng dáng dấp và khuôn mặt ấy, có già dặn hơn, nhưng vẫn là Thanh Hà của những năm xưa. Sau một chút ngại ngùng, tôi tiến lại rụt rè:
" Xin lỗi, có phải Hà đấy không?"
Ngỡ ngàng mấy giây, Hà nhìn tôi trân trối. Rồi như một cơn lốc, Hà ôm chầm lấy tôi:
" Trời ơi! Ngọc, lúc nãy mình thấy ai giống Ngọc ở trong chùa nhưng không dám hỏi, sợ người giống người, không ngờ quả đất tròn lại có ngày gặp nhau. Ngọc qua đây lâu chưa, ở đâu, làm gì, gia đình ra sao?"
Trước sự mừng rỡ và những câu hỏi dồn dập của Hà, tôi chỉ biết cười. Trên khóe mắt nó long lanh ngấn nước, tôi nhớ đến tiếng cười ròn rã của nó ngày xưa vang lên trong những buổi nắng ấm sân trường:
" Từ từ đã, phải cho mình thở chứ! Gặp lại Hà mình mừng quá, thời gian qua đi nhanh quá phải không Hà, mới đây mà đã già hết rồi. Mình sang đây đã lâu, có một cháu đang học Đại học, sắp ra trường nay mai. Cuộc sống thì vậy vậy, vẫn độc thân, vui tính."
 
Nói tới đây tự nhiên tôi nghẹn lời, tôi có hạnh phúc đâu mà chả độc thân vui tính. Hà nhướng mắt, ngạc nhiên:
" Quyền đâu? Vợ chồng ngươi hạnh phúc chứ?"
Tôi buồn bã lắc đầu:
" Chuyện xưa rồi nhắc làm gì, để rồi khi rảnh rỗi mình sẽ kể bồ nghe. Quyền còn đó nhưng là của người khác, mình nghĩ vậy lại hay, cứ để dây dưa trong đau khổ triền miên, không tìm cho mình một lối thoát e càng khổ hơn nữa. Còn phần Hà thế nào? Bác Năm chắc đã già lắm, bác và anh Lâm có sang bên này không?"
Hà xiết chặt tay tôi, ngậm ngùi:
" Má mình qua đời  lâu rồi Ngọc à, mình chôn má mình ở mảnh vườn sau nhà, Ngọc vẫn còn nhớ chứ? Sau đó thì hai anh em vượt biên, sang bên này có dễ thở hơn vì được tự do nhưng buồn quá là buồn, cực quá là cực, mình già đi nhiều Ngọc thấy không?"
 
Tôi xót xa nhìn Hà, như nhìn một đóa hoa tươi thắm ngày nào nay đã nhạt nhòa hương sắc. Thời gian đã điểm vài nét nhăn lờ mờ trên khuôn mặt và ở đuôi mắt, tuy nhiên đôi Hà vẫn giữ được  nét nhìn trong sáng:
" Mình cũng hơn gì Hà đâu, phải chấp nhận thôi. Bây giờ Hà kể mình nghe chuyện của Hà đi, Hà và anh Lâm có ở gần nhau không?"
Giọng Hà như chùng xuống, mắt nó rưng rưng:
" Mình đâu có lập gia đình, sang đây được vài năm thì anh Lâm gặp tai nạn trong lúc làm việc, mù cả hai mắt, mình đâu đành lòng để ảnh một mình , cho nên hai anh em vẫn sống lo cho  nhau, như hai kẻ tu hành trụ trì trong một ngôi chùa không tên tuổi. Tội nghiệp anh Lâm, đáng lẽ đời anh ấy phải được thênh thang, đẹp đẽ thay vì mù lòa, tăm tối, âu cũng là nghiệp phải không Ngọc? Sống bây giờ không phải lo cơm ăn áo mặc, nhưng nhìn anh ấy suốt ngày sờ soạng bên khung cửa để nghe tiếng gió, tiếng mưa, năm này qua năm nọ, ngày này qua ngày khác, Ngọc thấy đời có nghĩa gì không?"
 
Tôi nghe lòng thắt lại theo từng tiếng Hà kể lể. Anh Lâm, người thanh niên hiền lành, chăm chỉ, rất đỗi hiền hòa trong những ngày trẻ tuổi hiện về trong trí nhớ của  tôi. Bên ấy là giàn bông giấy màu hồng tím, tiếng đàn của anh xôn xao những đêm trăng, là mộng, là hoa, là sách vở chất đầy thương nhớ. Tôi đột ngột đề nghị:
" Mình có thể đến thăm anh ấy được không?"
Hà lắc đầu, ngần ngại:
" Thú thực với Ngọc, thế nào thì tụi mình cũng phải gặp lại nhau, nhưng bây giờ anh Lâm hầu như không muốn giao tiếp với ai, nhất là những người quen cũ. Ngọc biết không, có lần anh Lâm giận Hà mất mấy ngày vì mình đưa về nhà một người bạn của anh ấy mà không hỏi ý kiến của anh ấy trước. . ."
Tôi quả quyết:
" Mình chỉ muốn nhìn thấy anh ấy thôi, và sẽ không nói một câu nào để anh ấy không biết là có người đến thăm."
Hà lưỡng lự giây lát, rồi khi biết là không thể từ chối, nó phải dặn dò tôi:
" Ừa  thì đi, nhưng Ngọc nhớ là những người mù thường sống bằng thính giác, anh Lâm từ khi mù đến nay đã quen nghe và đoán sự việc gần như chính xác, mình không dấu anh ấy được chuyện gì đâu. Bây giờ, Ngọc cho mình số phôn và địa chỉ, chúng mình còn nhiều chuyện để nói mà mình lại phải về, mưa xuống là trời mau tối lắm, không biết ở nhà anh Lâm đãù ăn uống gì chưa."
 
Thấy Hà lo lắng cho anh, tôi thấy mình không khỏi cảm động. Tôi theo Hà ra chỗ đậu xe, trời ngớt mưa, những sợi mưa nhỏ bay bay trong khung trời mờ mờ của buổi hoàng hôn. Ngôi chùa nằm trên một ngọn đồi, xung quanh bao bọc bằng rừng cây và lá úa, từ phía thung lũng đằng sau, gió như muốn cuốn hút tất cả những chiếc lá vàng xô vào nhau đến một nơi êm đềm nhất. Mỗi lúc buồn tôi lại đến đây, để lòng mình cuốn theo những chiếc lá rơi vào những nơi thăm thẳm dưới chân đồi, phảng phất mùi hương trầm và tiếng mõ nhịp nhàng của khóa kinh chiều, cái buồn đã bay đi dịu dàng như một làn khói tỏa.

 
Hai chiếc xe lăn bánh ra khỏi sân chùa và lướt đi trên con đường phủ đầy lá ướt, những vũng nước mưa phản chiếu ánh đèn vàng buồn hắt hiu, lòng tôi như chơi vơi nỗi nhớ nhung về một khoảnh đời rất xa trong dĩ vãng. Ngày ấy là tôi mười bảy tuổi, mắt biếc và môi tươi, đôi guốc nhỏ khua những bước chân rộn ràng trên đường vắng. Ngày ấy là Hà nghịch ngợm líu lo như chim vành khuyên, mái tóc cắt ngắn, khuôn mặt bầu bĩnh dễ thương, mặc chiếc quần cụt ngắn để sẵn sàng nhảy ào xuống sông, lội đùng đùng như một con rái cá. Ấy vậy mà hai đứa thân nhau, Hà sôi nổi còn tôi u trầm, lãng mạn, nó thường chỉ cho tôi những bài toán khó, còn tôi thường đọc cho nó nghe những bài thơ học trò non nớt. Lúc ấy nó cũng thẫn thờ trong giây lát, rồi cú nhẹ vào đầu tôi:
" Thôi đi nhỏ ơi, hèn gì anh Hai tao bây giờ cũng hay làm thơ”.
 
Chắc Hà một phần nào đã hiểu tình cảm mộng mơ của anh Lâm và tôi, nhưng vẫn không bao giờ nói cho nhau biết. Nhà Hà chỉ có hai anh em, ba nó chết khi nào tôi cũng không rõ, chỉ thấy mỗi buổi chiều má nó hay ra sau vườn đốt nhang cho mấy ngôi mộ nằm khuất sau rặng dừa nước tối đen, những khi ấy tôi rất sợ khi nhìn những đốm nhang lập lòe trong khu vườn tối. Bác Năm có một sạp bán chạp phô ngoài chợ, vậy mà bác cũng nuôi nổi hai đứa con thơ dại mồ côi cha. Tuy vất vả nhưng bù lại anh em Hà là những đứa con hiếu hạnh và rất đỗi thương nhau.
 
Nhà tôi và Hà chỉ cách nhau có một hàng rào thấp và một đường mương thông ra con sông nhỏ, ngày hai buổi lên xuống theo con nước thủy triều. Mẹ tôi trồng những giây mồng tơi tím, những cây đậu ván có chùm đậu xanh như ngọc, và  hoa tóc tiên  có bông nhỏ xinh xinh màu đỏ thắm leo quanh hàng giậu. Tôi hay đứng bên này hàng rào để nói chuyện với Hà khi nó giặt quần áo hay rửa chén ở cái mương sau hè ấy. Hai đứa trẻ lớn lên lúc nào không hay, ngày anh Lâm vào Đại học bác Năm mừng chảy nước mắt, còn Hà và tôi đã là hai cô nữ sinh đệ nhị cấp cùng lớp, cùng trường. Hà đã bớt phần ngổ ngáo, còn tôi cũng thêm phần e lệ mỗi lần bắt gặp cái nhìn nồng nàn, kín đáo của anh Lâm bên kia giàn bông giấy.
 
Tuy vậy, trong những chiều nước lớn, Hà vẫn nheo nhéo gọi tôi đi tắm sông. Ai đã từng ngụp lặn dưới giòng nước mát của giòng sông quê hương, mới thấy cái thú tắm sông thuở nhỏ thật là tuyệt vời, nó rộn rã tiếng vui đùa của đám trẻ con trong một trưa hè oi ả, từng làn sóng lăn tăn trên mặt sông êm ả, và những tàu dừa lơi lả bên bờ sông như đùa với gió.
 
Tôi nhớ một buổi chiều năm xưa, anh Lâm đón tôi ngoài đầu ngõ. Anh đưa cho tôi một cuốn sách rồi ngập ngừng nói:
" Anh mua cho Ngọc cuốn Toán thực hành, Ngọc xem chỗ nào không hiểu thì hỏi anh."
 
Tôi chớp mắt nhìn anh, không nói được câu cám ơn nhưng lòng vô cùng xao xuyến, đây có lẽ là lần đầu tôi gặp anh mà không có Hà bên cạnh. Tôi đinh ninh sẽ một cái gì thơ mộng hơn, cuốn sách Toán khô khan chỉ là cái cớ để anh có dịp nói với tôi bao điều anh muốn nói. Vậy mà không, anh lặng lẽ bước đi để tôi lơ ngơ không hiểu nổi con người kín đáo ấy. Sáng hôm sau, lúc đi học, Hà đã ranh mãnh chặn tôi trước:
" Ê nhỏ, chiều qua anh Lâm đưa mày cái gì dzậy?"
Tôi rủa thầm trong bụng, "con quỉ nhỏ, cái gì nó cũng biết", tự nhiên tôi thấy tức trong lòng:
" Có gì đâu, anh ấy đưa tao cuốn Toán, chắc anh thấy tao dốt Toán nên cho mượn để học. Ngán gần chết, tao trả lại mày nghe.
Hà trợn mắt nhìn tôi:
" Đừng qua mặt tao nghe, không lẽ ảnh đón mày để đưa sách cho mày học. Bữa trước tao thấy ảnh thức khuya lắm, viết cái gì đó, viết rồi xé, xé rồi viết, tao nghi ảnh viết thư cho mày. Chèn ơi, thư từ làm gì cho mất công, cứ nói ngay là anh thương em vậy em có thương anh không, hổng thương anh nhảy xuống sông... anh tắm, há há. . ."
Nói xong là nó cười , chưa bao giờ tôi thấy nó vô duyên bằng lúc đó. Rồi xỉa tay vào trán tôi, Hà nói:
" Má tao cũng biết chớ bộ, nhưng hai người cứ lo học đi. Nè chị hai ơi, anh hai muốn gì thì cứ nói với em đây nè, tao tức cười anh hai tao quá, nàng thì thơ thẩn, mộng mơ mà nhè mua sách toán tặng nàng, chắc ổng muốn đem tình em vào toán học. Ổng khờ ơi là khờ, mà tao hỏi thiệt mày nghe, mày có thương ổng tí ti nào không nhỏ?"
 
Tôi xô Hà sang một bên rồi vội bước đi trước, nói chuyện với nó một hồi chắc tôi phát khóc, anh em nhỏ này vô duyên thiệt, tự nhiên tôi đâm giận Hà, giận cả anh Lâm. Sao anh không tặng tôi một bản nhạc, một bài thơ gì đó cũng được, hoặc một cuốn văn chương Anh có chuyện tình Roméo và Juliette. Hừ, đáng ghét thiệt, buổi chiều tôi không thèm sang học thêm với Hà, mặc con nhỏ đứng thập thò chờ tôi bên hàng giậu.
 
Câu chuyện từ những ngày còn đi học hiện về trong trí tôi như một cuộn phim, tôi bỗng mỉm cười một mình và để lòng trôi nổi theo những kỷ niệm thời con gái. Thực ra, tình cảm giữa tôi và Lâm chỉ đơn thuần là thứ tình cảm đầu đời trong sáng, anh vẫn nghiêm trang như một ông thầy ngồi trong lớp học. Với giác quan bén nhạy của con tim, tôi đã cảm được tiếng lòng anh qua tiếng đàn dìu dặt những đêm mưa, tiếng tí tách của giọt mưa rớt bên thềm, chiếc bóng của anh hắt lên tường bên kia khung cửa mở.
Không biết sao tôi lại giận anh, chắc chỉ vì một buổi chiều tôi thấy anh đứng nói chuyện với mấy người bạn học dưới giàn bông giấy, cô bạn gái ghé vào tai anh thì thầm câu gì đó, rồi cả hai cùng cười với nhau vui vẻ. Tôi nép xuống khung cửa sổ để quan sát mọi người, mà cứ tưởng như mắt anh đang quyến luyến trao cho cô bạn học. Người ta là sinh viên, còn tôi chỉ là cô nữ sinh trung học, sao hôm nay anh nói nhiều như thế, sao hôm nay anh cười vui đến thế, nỗi giận hờn ập đến tâm hồn cô gái nhỏ, dễ tủi thân và nhiều mặc cảm tự ti. Hèn gì anh tiếc tôi mấy giòng chữ, hèn gì anh không thèm trao cho tôi một cánh thư. Ôi tình yêu, tình yêu chưa nói được nên lời mà đã vỡ tan như những bong bóng trong cơn mưa chiều trút xuống sân nhà. Đêm sáng trăng, tôi thơ thẩn một mình nhìn ra giòng sông trước mặt, ánh trăng như giát một giải lụa vàng trên mặt sông mênh mông, tôi nghe lòng sầu nhớ một nỗi niềm khó bày giải. Tình yêu giữa anh và tôi nhẹ nhàng đến nỗi tôi tưởng như lúc có lúc không,lúc đằm thắm, lúc hững hờ, khi bừng bừng chất ngất để rồi lại chìm chìm như hòn sỏi ném xuống mặt hồ lặng ngắt.
Những năm ấy tôi sắp bước qua tuổi mười tám với rất nhiều suy tư về tình yêu, cuộc đời và tương lai. Chiến tranh đang lan tràn trên quê hương, từ miền quê đã lan vào phố thị. Từng ngày, từng ngày, tôi đã nhìn thấy những chuyến xe nhà binh chạy qua thành phố, chiếc quan tài phủ cờ và người vợ trẻ ôm con thơ với ánh mắt buồn tê tái. Từng đêm, từng đêm, ánh hỏa châu lơ lửng treo trên vùng trời tối thẫm, tiếng đại bác vọng về thành phố như một tín hiệu của đổ nát, tan hoang.
 
Đúng lúc đó thì tôi gặp Quyền, trong một "party" sinh nhật thứ mười tám của cô bạn học con nhà giàu cùng lớp. Quyền là một sĩ quan Không Quân, vui tính, lém lỉnh, chàng tán tôi sát sạt đến nỗi trái tim tôi còn non nớt, đã rộn rã tiếp nhận chàng như một thứ hào quang rực rỡ khác xa thế giới học trò. Bản Slow nồng nàn quyến rũ, điệu Tango dìu dặt bước chân, tôi bước vào đời Quyền trong nỗi nhớ nhung về một bầu trời chi chít sao đêm, những giải mây bồng bềnh như lụa và bóng những con tàu xé gió vút lên không gian thênh thang, vô tận. Như con thiêu thân, tôi lao vào Quyền mà hầu như không hiểu được chàng bao nhiêu, Quyền là hiện thân của chinh phạt và bão tố, tôi ngu ngơ như con chim non vừa mọc cánh chỉ muốn đi tìm những gì mới lạ ở phía trời xa, tôi đã lãng mạn, nhớ nhung và tưởng mình đang hưởng được thú đau thương của cuộc đời. Để đến một ngày trái tim tôi vỡ nát vì không quen nhìn đời như một cuộc chơi, và tình yêu chỉ là trò đùa trong những khoảnh khắc của đời sống. Tôi theo Quyền rời xa xóm cũ, anh Lâm sắp tốt nghiệp Đại học và Hà vẫn chăm chỉ học hành. Giòng sông vẫn êm đềm trôi, chỉ có tôi sắp bước vào cuộc đời đầy giông bão. . . .

Với một mảnh giá thú chưa phải là bảo chứng cho tình yêu, đấy chỉ là một sự lầm lỡ, Quyền và tôi hai tâm hồn khác biệt hẳn nhau, chàng vẫn nói yêu tôi để rồi lại tươi cười, nồng nàn trong một vòng tay khác, chàng vẫn trở về nhà sau những chuyến bay mệt mỏi để rồi lại miệt mài trong ánh mắt giai nhân. Sống và chết trong thời buổi chiến tranh, khiến Quyền đã có quan niệm về tình yêu rất là hời hợt và vội vã. Khóc lóc, giận hờn, đau khổ thì chàng vẫn là chàng, tôi vẫn là tôi, khi đứa con đầu lòng chào đời cũng không cứu vãn nổi cái hạnh phúc đớn đau kia, lòng tôi đã ủ ê vì tuyệt vọng. Tâm hồn tôi vốn bình lặng như giòng sông êm ả, như đồng cỏ xanh non của một mùa xuân, đâu hiểu nổi và đâu chịu nổi những phù hoa, hào nhoáng của thứ cuộc đời đầy phức tạp.
 
Theo Quyền về làm dâu, tôi đã ngất ngư vì những lời trì triết, bóng gió xa xôi của mẹ Quyền và chị em chàng, như những cái tát tai nẩy lửa quật vào mặt tôi tê buốt. Quyền là đứa con cưng của gia đình giàu có ấy,  chắc là kiếp trước tôi đã vay chàng một món nợ lớn, cho nên kiếp này tôi phải trả cho hết nỗi oan khiên. Thế rồi chia tay, thế rồi đường ai nấy đi, tôi đã bỏ cuộc đành quay về bên mẹ như con gà con nhao nhác tìm mẹ trong một chiều mưa bão. Gia đình tôi chuyển về một thành phố khác, tôi ngại ngần không dám gặp lại Hà, cho đến ngày nhà tan, nước mất, tôi ôm con theo làn sóng người ào ạt ra khơi tìm tự do.

Gặp lại Quyền bên cạnh một người đàn bà khác. Sắc sảo, lộng lẫy, rạng rỡ phấn son, những loại hoa đẹp nồng nàn dưới ánh đèn mờ ảo. Tôi ôm con với một thoáng ngậm ngùi, con gái tôi đã có nét buồn ngay từ hồi còn nhỏ. Cám ơn Trời, con tôi thật ngoan, thật hiền, nó dịu dàng như giòng sông quê mẹ, và có một tâm hồn mang nặng tình người Việt Nam.
* * *
Tôi đậu xe cách nhà Hà một quãng xa để đề phòng anh Lâm nhận ra Hà về nhà với khách lạ, rồi rón rén theo Hà trong bóng tối của căn phòng khách mờ mờ vì bóng chiều đã xuống. Hà bật đèn phòng khách, thật nhẹ nhàng, tôi hồi hộp nhận ra dáng anh Lâm ngồi im lìm bên khung cửa sổ. Hà hỏi, giọng bối rối:
" Sao anh không bật đèn lên anh hai? Bữa nay mưa lớn quá, không làm sao về được, anh đã ăn gì chưa?"
" Cám ơn em, anh không đói", bây giờ tôi đã nghe anh nói, hơn hai mươi năm qua, giọng anh vẫn dịu dàng như ngày còn trẻ. Lâm tiếp:
"Ngồi ở đây anh cảm thấy dễ chịu, sáng hay tối thì có nghĩa gì đâu. Mưa dữ quá phải không Hà, chắc ngày mai em lại phải quét lá, vườn đã ngập đầy lá khô."
Nghe anh nói, tôi lại muốn nghẹn ngào, có ngờ đâu một ngày như hôm nay, anh một mình ngồi bên khung cửa, để nghe ngóng từng giọt mưa rơi, từng chiiếc lá rớt. Hà nói, giọng không dấu được niềm vui:
" Anh ăn cơm bây giờ nghe anh hai. Em có mang về cho anh chút dưa cải, đậu hũ xào nấm tươi, ngon ơi là ngon."
Lâm lắc đầu, giọng anh đầy âu yếm, anh không quay mặt lại nên tôi chưa nhìn được mặt anh:
"Không, em không phải lo lắng nhiều cho anh làm gì, đời có bận rộn chi  đâu mà vội vã. Hôm nay đi chùa có gì lạ không? Anh nghe như em có điều gì vui, có gặp ai quen không Hà? Ờ, em cũng cần đi đây đi đó cho vui, đừng băn khoăn lắm cho anh làm gì, vì tuy ngồi một chỗ như thế này, nhưng anh vẫn có thể hình dung được sự thay đổi của trời đất . Như hôm nay mưa thì lại nhớ đến những cơn bão rớt ở quê mình, mái nhà xưa và bến sông ngập đầy nắng gió. Gió chi mà mát rượi, anh còn nhớ mấy cái khạp chứa đầy nước mưa của má, mùi thơm của hoa cau, hoa bưởi, uống một miếng nước mà dường như uống cả hương, cả hoa, cả trời, cả đất. Má vẫn nói nước mưa là nước của trời nên nó hiền và ngọt, cho đến bây giờ anh vẫn không làm sao quên được. . ."
 
Lòng tôi chùng xuống , thổn thức theo từng tiếng kể lể của anh, bất giác tôi không ngăn được tiếng thở dài. Anh Lâm đã quay về phía tôi và Hà, ngọn đèn trần tỏa xuống cho tôi thấy một khuôn mặt đàn ông mang những nét già giặn trên vầng trán thông minh và mái tóc bồng bềnh đã điểm sương. Vẫn khuôn mặt ngày xưa ấy, bờ môi ấy,riêng đôi mắt thì chao ơi, không ngờ có ngày bóng tối phủ chụp lên đời anh để đời chỉ còn là một màu đen thăm thẳm, cả gương mặt ấy có hằn lên nét phong trần của thời gian, nhưng lạ lùng rằng vẫn toát ra một vẻ an nhiên, tự tại. Giọng anh vang lên, buồn buồn như một chiếc lá rơi vào khoảng tối của khu vườn:
" Anh làm em buồn phải không Hà, sao em lại thở dài? Nếu vậy, anh xin lỗi em vì anh chỉ nhớ được trong lòng anh những hình ảnh của dĩ vãng, nó là niềm an ủi của riêng anh, bởi vì anh cũng còn được những gì để nhớ."
Hà liếc nhìn tôi, nó tiến lại ngồi cạnh anh Lâm:
" Anh hai nè, chiều nay em gặp Ngọc trên chùa, anh còn nhớ Ngọc chứ?"
Tôi thấy Lâm nhỏm dậy, như có một sự thay đổi đột ngột trong tâm hồn anh làm anh xúc động, nhưng anh cố nói với một giọng bình thản:
" Ngọc à, anh nhớ chứ, cái cô bé hàng xóm dễ thương ấy làm sao anh quên được. Bây giờ Ngọc ra sao, vẫn xinh đẹp và hạnh phúc?"
Hà ái ngại nhìn tôi, cười nhẹ:
" Anh quên là chúng mình già cả rồi, Ngọc cũng đâu là cô bé hàng xóm bé bỏng của anh ngày xưa, nhưng Ngọc vẫn còn duyên dáng lắm. Em chưa có dịp hỏi nhiều về đời sống của Ngọc, nhưng em đoán Ngọc cũng không hạnh phúc lắm, vì Ngọc đi chùa có một mình, em bắt gặp cô nàng đứng thả hồn hằng giờ theo mưa."
Anh Lâm cười, tiếng cười nghe xao xuyến:
" Ngày xưa, Ngọc vẫn hay mơ mộng như vậy, chỉ tiếc là..." Lâm bỏ lửng không nói, một lúc sau, anh tiếp:
" Hà nè, anh rất mừng em gặp lại bạn cũ, dù sao nơi xứ lạ quê người, không gì quí bằng gặp lại bạn xưa chung trường, chung lớp, nó có nhiều ủi an cho mình lắm em à."
Hà đột ngột hỏi anh:
" Anh Hai à, anh có muốn gặp lại Ngọc không? Nếu em nhớ không lầm thì ngày xưa anh cũng có một thời yêu Ngọc, nhưng sao lúc ấy anh không nói, hở anh hai?"
Anh Lâm lặng thinh, dường như anh chìm đắm với những kỷ niệm trong dĩ vãng. Một lúc, tôi nghe anh thở dài:
" Gặp hay không gặp thì cũng thế thôi, anh đâu có nhìn thấy gì dù Ngọc bây giờ có già hơn hay xấu đi, trong anh vẫn chỉ là hình ảnh Ngọc ngày xưa ấy. Sở dĩ anh vẫn nghĩ đến Ngọc là vì hình ảnh của cô ấy gắn liền với dĩ vãng của anh em mình, hai căn nhà hàng xóm, cách nhau một hàng giậu thưa, bên này là giàn bông giấy, bên kia là khung cửa mở với ánh đèn lay lắt đến nửa khuya. Cứ mỗi lần hồi tưởng về quá khứ, anh lại nhớ đến ngay cái xóm nghèo ven sông, mỗi chiều má thường ra sau vườn thắp nhang cho ba và ông bà nội, anh vẫn nhớ mùi hương trầm thơm ngát tỏa bay trong không gian mỗi khi chiều xuống, tiếng trẻ con í ới gọi nhau trên sông chiều nghe vui làm sao. . ."
Hà im lặng nhìn tôi, nghe như có tiếng mưa rơi chầm chậm, buồn buồn, thánh thót rớt xuống trong lòng một nỗi nhớ khôn nguôi. Anh Lâm lên tiếng hỏi:
" Em còn đó không Hà?"
Nghe anh hỏi tự nhiên tôi muốn khóc. Hà cầm lấy tay anh, sụt sùi:
"Em vẫn ngồi đây, anh cứ nói nữa đi anh hai, em muốn nghe anh kể về những gì đã mất. Em đã từng đi qua những bến sông, chỗ nào cũng hoa, cũng lá, cũng nắng, cũng gió, vậy mà cũng chưa thấy chỗ nào đẹp bằng bờ sông quê mình."
Anh Lâm vỗ nhẹ lên bàn tay Hà:
" Đúng vậy, có khi bờ sông ở quê mình đối với mọi người nó không là gì cả, nhưng với riêng mình nó vẫn đẹp, vì nó là quê hương. Hà có nhớ không những ngày bão rớt, bến sông vắng tiếng trẻ nô đùa, chỉ có mấy thân dừa quằn quại với gió. Anh nhớ má hay xào mắm ruốc xả ớt cho anh em mình ăn, có khế chua và chuối chát. Mưa gì mà mưa ngày mưa đêm, mấy gốc đu đủ trốc gốc, má nấu canh với tôm khô ăn với dưa mắm. Ngày xưa, Ngọc cũng thích món chuối hầm dừa của má mình nữa, bữa nào học xong tụi mình cũng có một món gì âm ấm bụng. Anh vẫn còn nhớ những đêm trăng, dưới giàn bông giấy, anh hay đàn cho em và Ngọc hát, giọng em thì réo rắt như đàn kìm, còn Ngọc lại ưa mấy bài thương mây khóc gió, những cô bé biết buồn sớm quá thường khó tìm được hạnh phúc trong cuộc đời."
Lại một phút im lặng, Lâm tiếp:
" Bởi vậy dù rất yêu Ngọc anh vẫn không dám nói, vì anh không muốn lay động con tim non nớt của Ngọc, anh chỉ muốn Ngọc sống êm ả với thế giới học trò mà thôi. Đối với anh, tình yêu phải được nâng niu như viên ngọc quí, anh rất trân trọng tình cảm của riêng anh và của mọi người, đó có phải là điều thiệt thòi cho anh khi Ngọc không hiểu được tình yêu đó. Nhưng thôi, chuyện xưa nhắc để mà nhớ chứ bây giờ anh còn làm được gì cho ai. . ."
 
Tôi không ngăn được những giọt nước mắt đã lăn dài trên má, nếu không kìm hãm được có lẽ tôi đã chạy đến bên anh, ôm lấy anh, để khóc cho hả những đau khổ và bất hạnh của đời mình. Trời ơi! Giá như tôi còn là cô bé Ngọc năm xưa hay giận hờn vu vơ, để được kể cho anh nghe hết những khổ đau trong dòng đời đấy bão tố.
 
" Bây giờ, anh ví Ngọc như cơn bão rớt, rớt xuống hồn anh những giọt mưa. Phải, chỉ là những giọt mưa . . ."
Hà bật cười, tuy mắt còn ngấn lệ:
" Anh làm thơ đấy hả anh hai? Hay đấy chứ, "em như cơn bão rớt, rớt xuống hồn anh những giọt mưa ", nhưng sao không là bão, nó không phá hồn anh tan hoang ra đó sao?"
Anh Lâm cũng mỉm cười, anh nói:
" Em đúng là cô em dễ thương của anh đó Hà, không có em không biết tinh thần anh xuống dốc đến độ nào. Không, không bao giờ Ngọc là cơn bão, vì tình yêu ấy dịu dàng và đẹp đẽ biết bao, mỗi lần nghĩ đến nó lòng anh vẫn ngây say và lắng đọng. Anh mong Ngọc mãi mãi hạnh phúc, cho dù Ngọc không là của anh, trái tim cô ấy non nớt quá, nó là thứ tâm hồn của hoa cỏ, tươi thắm đấy rồi sầu héo đấy, phải không Hà?"
Trái tim tôi như muốn vỡ ra khi nghe Lâm nói, mãi cho đến bây giờ khi đầu đã hai thứ tóc,tôi mới hiểu được tình yêu của chàng dành cho tôi vẫn trọn vẹn trong sáng quá,vậy mà tôi đã làm mất đi chỉ vì chạy theo cái quyến rũ của một tình yêu không thực.
Hà lại thủ thỉ bên Lâm, ngọt lịm:
" Anh hai à, em rất muốn mời Ngọc đến chơi nhưng phải hỏi ý anh trước đã. Anh có muốn gặp lại Ngọc hông?"
Lâm im lặng, anh đang cố nén những cảm xúc ào ạt như tiếng mưa rào rào trên khung cửa kính. Một lát, tôi nghe anh thở dài:
" Nếu Ngọc đến để mà thương hại anh thì anh không muốn, nhưng để em có được những phút giây xưa thì anh không có lý do gì để ngăn cản em cả. Thực ra, đã lâu lắm rồi, anh không biết đau khổ là gì nữa, anh hằng cầu xin cho mình được sáng suốt chấp nhận cuộc đời, dù đang sống trong cảnh mù lòa, tăm tối. Anh đã tìm ra chân lý của cuộc sống, đó là sự bình an của tâm hồn, cho nên mỗi khi anh nghĩ đến ai, đến điều gì thì chỉ vẽ lên hình ảnh tuyệt vời của nó, và chỉ nhớ đến cái đẹp của nó mà thôi."
 
Anh ngừng nói, nhưng từ nơi anh tôi nghe có tiếng róc rách giòng suối reo đến tận cùng sâu thẳm của con tim. Cho đến bây giờ, tôi mới thực sự hiểu được tâm hồn anh thanh cao, dịu dàng, nhân ái biết bao. Trên cõi đời này, có bao nhiêu người đủ tay, đủ chân, đủ mắt, tai, mũi, miệng, nhưng tâm hồn họ đã què quặt, mù lòa trước bao nỗi đau của kẻ khác, họ đã không ngại ngần vùi giập những mảnh đời khốn khổ đi xuống sự tận cùng của nó.
 
Từ giã Hà ra về bằng ánh mắt yên lặng, tôi nghe con tim mình đập rộn ràng trong lồng ngực. Trên đường về, bóng tối phủ ngập hai hàng cây ven đường, chỉ còn ánh đèn chấp chới của những chiếc xe qua lại trên lòng đường vắng, tôi nghe lòng rưng rưng: " Lâm ơi, em sẽ trở lại. Em sẽ là giọt mưa, rớt xuống đời anh, như những giọt mưa đầu mùa xôn xao trên mái tranh nghèo quê xưa anh nhé!"
NGUYÊN NHUNG.
 
 

NN_HaiBaMe.jpg 

Không biết tình cờ hay do cơ duyên đưa đẩy, tôi có dịp được làm quen với bạn, ở cái tuổi tri thiên mệnh người ta hay nhắc về chuyện cũ, chúng ta cũng không ngoài thông lệ đó. Hình như  tôi có trực giác khá bén nhạy, cái trực giác này chắc là phần thưởng của ông Trời ban tặng cho một người yếu đuối, cảm nhận  được đối tượng gặp gỡ để kết thành bạn bè, nên khi gặp bạn tôi cảm nhận được cái tình bạn tốt đẹp đó.
 
Bạn trạc tuổi tôi, con trâu làm bạn với con bò, vận mệnh hẩm hiu nhiều phen gian nan , đói rách, chúng mình sinh cùng một thời lận đận, cuộc chiến này chưa tàn thì đất nước lại  tiếp nối cuộc chiến khác. Hoàn cảnh gia đình có khác nhau, nhưng lại khiến tôi cảm động thật nhiều, khi không ngờ khung trời tuổi thơ của tôi, những kỷ niệm thời trẻ dại lại xuất xứ từ nơi chôn nhau cắt rốn của bạn.
 
Dĩ  nhiên khi tình cờ biết được điều lý  thú đó, chúng ta cùng quay ngược lại thời gian để nhớ về quê nhà của bạn, mà cũng chính nơi đây là chốn dung thân của gia đình tôi sau năm 1954. Năm ấy mẹ tôi mới ba mươi tám tuổi mà đã góa chồng, đầu đội vành khăn trắng, lếch thếch dẫn mấy đứa con dại theo họ hàng làng nước, di cư vào miền Nam, chọn ngay cái miền đất quê nhà của bạn làm chốn dung thân. Không gì bằng   tha hương ngộ cố tri, cái mà ta gặp gỡ trong vài câu chuyện kể, đã làm sống lại trong ta bao kỷ niệm thuở còn thơ đã phôi pha ít nhiều.


Tôi gửi cho bạn xem tấm hình ngày thơ ấu tôi còn giữ  được, lúc ấy tôi mới 6,7 tuổi. Những mái nhà  nghèo nàn được lợp bằng cỏ tranh, nơi ấy tôi cũng đã nhìn thấy những trảng cỏ tranh cao hơn đầu người, và khung nhà làm bằng rơm trộn với đất sét, thay cho xi măng rồi sau đó người ta quét lên một lớp vôi trắng. Nhìn xa trông cũng khang trang khi căn nhà được bao phủ bởi những bụi chuối, bụi mía, giàn mướp hương và trong tấm ảnh, một làn khói lam chiều vươn lên mảnh trời rải rác những cụm mây trắng...
 
NN_HaiBaMe_AuTho.jpgTấm  ảnh tuổi ấu thơ của tôi khiến bạn ngậm ngùi, đâu đó bạn bắt gặp lại quê nhà của mình, dẫu có nghèo nàn nhếch nhác như hoàn cảnh của bạn và tôi lúc đó, nhưng lại ắp đầy kỷ niệm. Bạn nhắc tôi nhớ những con đường đất cát, bỏng rẫy những đôi chân trần trẻ thơ ngày hai buổi đến trường. Con đường ấy vào hè trời nắng chang chang, nóng đến nỗi những con giun đất cũng phải trồi lên khỏi mặt đất để lại những ụ đất xinh xinh trong khu vườn rộng sau nhà. Bao chung quanh vườn là những bụi tre bụi trúc, lũ trẻ con hay quanh quẩn chơi nhảy dây dưới bóng mát của bụi tre suốt ngày lao xao thì thào tiếng gió, nơi đó có những ụ mối đùn lên như những nấm đất to. Tôi lại nhớ đến những cây mít, cây ổi, cây  xoài mẹ tôi trồng lớn nhanh như thổi sau vài năm định cư, những cái giếng nước sâu hun hút dưới lòng đá ong mà nước trong văn vắt, ngọt ngào hơn nước mưa ở quê bạn.
 
Tuổi thơ của tôi và bạn chắc chỉ có vậy, nhưng đềm êm với những kỷ niệm và những rẫy vườn xanh biếc của cỏ cây. Dọc theo quốc lộ là những khu vườn trống đầy cỏ dại xen lẫn với rừng  cao su bạt ngàn, trồng thẳng tắp đổ xuống những bóng cây theo ánh nắng mặt trời. Ở đó có những bông hoa dại màu tím, có bóng dáng người con gái bạn yêu thuở đầu đời, những năm đầu thời Trung Học nơi ngôi trường quận lỵ thiếu thốn trăm bề. Tôi đi khỏi nơi ấy khi chưa học hết bậc Tiểu học, còn bạn thì gắn bó với quê nhà cho đến ngày nơi đây thành bãi chiến trường, khung cảnh hoang tàn và khu nghĩa trang nằm tít ngoài cánh đồng phía sau quốc lộ đã đan kín những tấm mộ bia.


Tuy thế, tôi cũng hình dung ra chuỗi ngày ấu thơ của tôi và bạn nơi miền quê êm ả đó, chắc chỉ được vài năm ngắn ngủi không nghe ai nói  đến chiến tranh. Tôi hay lang thang theo lũ bạn nhỏ xục xạo những bụi cây dại trên cánh đồng để hái quả chín, lâu ngày không nhớ tên những loại trái chín mọc hoang vu nuôi lũ chim riu rít làm tổ trên cây. Đó là những ngày tuyệt vời của lũ trẻ con vào mùa hè được nghỉ học, từng đám len lỏi vào những thửa ruộng sắp ngả màu lúa chín, bứt trộm những đọt nếp còn ngậm sữa, đem về rang rồi giã ra là có được một món cốm xanh thơm mùi hương đồng cỏ nội.
 
Từ  quốc lộ đi sâu vào phía trong trên con đường quê  gập ghềnh lỗ chân trâu, người dân quê miền Nam chở đầy những xe cỏ hay rơm khô đi qua con đường ấy, bánh xe bò nghiến kẽo kẹt vào nhau lăn trên nền cỏ mềm , khi trời mưa để lại dấu bánh xe trên nền đất nhẵn thín.  Sau những khu vườn  rào giậu kỹ lưỡng của người Bắc di cư,  tiếp nối những cánh đồng lúa và rừng cao su, đối với tôi ở đó dấu kín những bí ẩn giữa ngày và đêm, sự sống và nỗi chết trộn lẫn đâu đó vì những năm sau, khi màn đêm buông xuống, từng tràng đạn vu vơ vọng đến khu xóm nghèo những lo sợ vẩn vơ. Ít năm sau, vài căn nhà đã bỏ trống để đi nơi khác, nỗi ám ảnh của chiến tranh đeo đẳng lên số phận con người, thôn xóm càng thêm vẻ đìu hiu vắng lặng đến rợn người.
 
Đó là không gian tuổi thơ của tôi và bạn, tuy đẹp nhưng chỉ có thế nếu như tôi không nghe bạn kể chuyện, và như một tình cờ thì ít nhiều trong đó mênh mang hình ảnh hai người mẹ, mẹ của tôi và má của bạn. Hai người đàn bà có những trùng hợp đau khổ của định mệnh sao giống nhau nhiều lắm, dù hai người  sinh trưởng ở hai nơi khác nhau, miền Bắc và miền Nam, nhưng cái đau đớn  của hoàn cảnh thì lại hội tụ ngay trên quê hương của bạn. Cả hai bà mẹ này đối với chúng ta đều tiêu biểu cho những bà mẹ quê hiền lành, chịu đựng, cam go chiến đấu với nghịch cảnh để nuôi con thành người, thiếu vắng người đàn ông trong mái ấm gia đình đã tan nát vì chiến tranh. Mẹ tôi qua đời hơn hai mươi năm rồi, còn má bạn vẫn hắt hiu chiếc bóng ở miền quê xa xôi đó như đã từng cam chịu, bằng lòng với số phận nghiệt ngã của mình.
 
Theo như  bạn kể thì bạn mồ côi cha ngay khi mới sinh còn đỏ hỏn, tiếng khóc đầu đời của đứa trẻ con vài ngày tuổi như tức tưởi vì cái tang của người cha, từ xa lần mò về thăm nhà khi đứa con chào đời. Ba người đàn ông ùa vào nhà khi trời vừa nhá nhem tối, trói chặt cha bạn lôi đi rồi chặt đầu ngay mé rừng cao su trước lối vào nhà bạn, khiến người vợ điên loạn trước cái chết hãi hùng đến quá bất ngờ của người chồng, mà quên luôn cả ngày sinh tháng đẻ của thằng con trai. Niềm vui chưa trọn sao nỗi buồn đã kéo ập đến vội vã như câu nói" họa vô đơn chí, phúc bất trùng lai" hình như thường hiện diện quanh quất trong đời sống loài người. Từ hồi ấu thơ, bạn đã sống lây lất nhờ dòng sữa của những người phụ nữ tốt bụng quanh xóm, bầu vú mẹ đã cạn khô theo nỗi đớn đau chít khăn tang đi vào gia đình bạn.
 
Nay bú  nhờ, mai uống nước cháo vậy mà bạn cũng lớn lên được, trong nỗi buồn héo hắt của mẹ kéo dài một thời gian rồi cũng nguôi nguôi. Bạn chạy nhảy chơi đùa trong căn nhà dột nát che đậy sơ sài bằng những tấm mo cau rơi rụng trên mảnh sân trước, khi mùa mưa đến, căn nhà càng thêm âm u đầy khói hun muỗi từ những cây củi ướt. Những căn nhà tranh vách đất ở miền quê đều giống nhau, chiều chưa về mà bóng tối đã đầy sân, ẩn sau vườn tược âm u, đêm khuya nghe tiếng chim tu hú buông từng âm rời rạc, như tiếng gọi của thần chết. Tuy vất vả mẹ góa con côi, nhưng người mẹ tảo tần một nắng hai sương ấy cũng cho được các con đến trường, bạn gần như quên hẳn cái quá khứ đau buồn của mẹ. Đến một ngày lớn khôn, nhìn lên bàn thờ hình ảnh của người cha khuất sau làn khói hương nhòa nhạt, bạn thắc mắc về người cha và muốn biết về ngày sinh của mình để gọi đó là ngày sinh nhật.
 
Tôi may mắn hơn bạn một chút vì khi tôi sinh ra và lớn lên, đứa con út ít của một gia đình ở thành phố có ngôi nhà gạch khang trang do chính cha tôi tạo dựng. Phía trước nhà là rặng bàng trở màu khi mùa thu đến, phía sau nhà là mảnh vườn rau với cái ao vuông. Cửa hàng của cha mẹ tôi tấp nập khách làng quê ra tỉnh vào những ngày có phiên chợ. Hai căn nhà gạch với một cái sân lát gạch đỏ, những đêm mùa hè cả nhà quây quần truyện vãn dưới ánh trăng bàng bạc treo trên mảnh sân ấy,  tiếng cười của lũ con chen nhau chờ bát chè đậu đen mát mẻ vào một đêm trăng rằm tháng Tám. Những mùa thu ở đất Bắc trong một thị trấn êm đềm không xa Hà Nội bao nhiêu cây số, cũng như miền quê nơi bạn sinh ra cũng sát nách với Sài Gòn hoa lệ, thế nhưng định mệnh lại là mẫu số chung cho hai người mẹ rất tội nghiệp.
 
Ôi buồn thay khi bạn kể tôi nghe ngày sinh của bạn, lại chính là ngày giỗ của người cha thân yêu với bản án hãi hùng vào một đêm hạnh phúc của loài người. Tôi hình dung ra khung cảnh gia đình bạn, chiếc đèn dầu còn tỏa ánh sáng lắt lay trong căn nhà miền quê, bà mẹ sung sướng khi hân hoan trao đứa con thơ còn bé bỏng qua tay người chồng, đôi mắt long lanh nhìn nhau , môi họ mỉm cười và người cha đang ngắm nghía đứa con trai để tìm đôi nét quen thuộc của mình, trên khuôn mặt bé thơ còn đỏ hỏn nhăn nhúm chưa quen với đời sống mới. Giây phút hạnh  phúc ấy kéo dài  được bao lâu, lời nói ân cần hỏi han nhau được bao nhiêu khoảnh khắc phù du của cuộc đời, để rồi chợt mất hết khi những cái bóng đen của sự ác ùa vào căn nhà nhỏ,  cái chết đến tức tưởi quá nhanh không hề đoán trước được.
 
Còn ngày Sinh Nhật của tôi chắc cũng chỉ là một ngày tưởng tượng trong một năm có ba trăm sáu mươi lăm ngày như bạn vậy.  Ngày cha tôi mất, một ngày tháng mười năm đó, ba hôm sau mẹ tôi dặn dò người bõ già vài việc, thu vén dẫn con âm thầm ra khỏi căn nhà thân yêu của mình không hẹn ngày trở lại. Đôi vai người đàn bà chưa đầy bốn mươi tuổi yếu đuối mà đầy nghị lực, dẫn thêm ba đứa con còn non nớt, dại khờ, quẩy trên lưng cái khổ nạn của gia đình tan nát, chia lìa, phân tán, chỉ còn  đôi tay và những giọt nước mắt  làm hành trang cuộc đời, trôi giạt vào cái mảnh đất quê hương miền Nam của bạn. Vậy mà chúng mình không biết nhau ngày đó, để đến khi bạc đầu mới biết thế nào là "tha hương ...ngộ cố tri".
 
Vì  vội vàng ra đi, chị em tôi không có một mảnh giấy khai sinh lận lưng, nên sau này khi làm lại giấy thế  vì khai sinh để đi học, tôi bị đánh rơi chữ "Kim" mà ngày xưa khi nằm trong lòng cha tôi trên chiếc võng đu đưa ở mảnh sân ngợp mùi hoa ngâu cạnh cái bể nước mưa, cha  tôi đã âu yếm gọi tôi là" con trâu vàng" để kỷ niệm cái năm tôi chào đời. Lúc ấy chắc cha tôi cũng không bao  giờ nghĩ có ngày cha con lại chỉ gần nhau vỏn vẹn vài năm là tôi mất hẳn người cha thân yêu.  Tôi cũng không nhớ mặt người cha thân yêu của mình, mấy tấm ảnh còn lộng khung treo trên tường không ai gỡ xuống để mang theo. Khi làm lại khai sinh cho tôi, mẹ tôi cũng bối rối quên luôn cả ngày sinh tháng đẻ của các con, huống gì những chữ lót mỹ miều trong mỗi cái tên, họ. Tôi cũng không có ngày sinh nhật, chỉ nghe mẹ bảo khi cơn gió heo may thổi về, mùa thu tháng Tám với một vầng trăng treo sau vườn là tôi mở mắt chào đời. Tôi sinh vào mùa thu chứ không phải mùa hạ như trong giấy khai sinh làm lại ở miền Nam, khiến tôi nghĩ mình là hiện thân của một chiếc lá vàng bay từ Bắc về Nam theo làn gió cuốn.
 
Chính vì câu chuyện này mà trong bạn và tôi  trộn lẫn chút buồn phiền và ngậm ngùi khi biết cái hạnh phúc làm người của mình, lại kéo theo sự bất hạnh của người cha, nỗi đau đớn của người mẹ, bấy nhiêu thứ pha trộn vào nhau để thành một nỗi buồn bàng bạc khi ngắm nhìn hạnh phúc của người khác. Riêng bạn còn  thêm nỗi căm hận khi nghĩ đến những kẻ đã gây nên cái chết của người cha yêu thương của mình. Nỗi buồn ấy phải chăng là một định mệnh, để ngay từ khi mới vào đời, bạn đã phải mau chóng rời bỏ quê hương, bỏ lại ngôi nhà trong vườn cây có những vạt rừng cao su âm u ẩn dấu niềm đau trong đó, và cũng bỏ luôn mối tình đầu đời với người thiếu nữ chân phương, thích những bông hoa màu tím rung rinh trên vạt cỏ.
 
NN_HaiBaMe_ThieuNu.jpgNgười mẹ miền Đông Nam Bộ ấy cam chịu nghịch cảnh đau thương do chiến tranh và hận thù, vẫn  ở lại quê nhà, cu ky chiếc bóng trong ngôi nhà đơn lạnh để chắt chiu từng bịch gạo, dành dụm từng con khô, con mắm, bán từng buồng chuối, buồng cau để gửi đi nuôi con ăn học. Bạn may mắn thoát ra được miền quê khốn khổ của mình cũng từ nỗi vất vả của mẹ. Để rồi sau những năm ăn học, bạn quyết định gia nhập quân đội, và xem đó là con đường nối tiếp lý tưởng của người cha đã nằm xuống năm xưa. Là một người lính biển, bạn lênh đênh với con tàu trên sông dài biển rộng, mà vẫn nhớ về một dòng sông chốn quê nhà. Nghe tiếng sóng biển rì rào vỗ vào mạn tàu  tít ngoài biển xa để bảo vệ tổ quốc, trăng nhấp nhô theo làn sóng bạc, nơi chốn bình yên ấy chắc bạn vẫn chạnh lòng nhớ mái tranh nghèo có bà mẹ già luôn ngóng chờ tin con, với trái tim mỏi mòn héo hắt, nơi đêm  và ngày lẫn lộn, bình minh và bóng tối phủ chụp lên nhau thành một cơn binh lửa ngút trời ập xuống đầu người dân vô tội...
 
Tôi thích nhắc bạn nhớ quê hương của bạn và những kỷ niệm thời thơ ấu của tôi, dù rất  đơn sơ nhưng nồng ấm tình người hai miền Nam Bắc. Tôi ăn quà như mỏ khoét, miệng líu lo như chim vành khuyên, đó là mẹ tôi bảo vậy, biết đâu bà ngoại của bạn không là bà già miền Nam móm mém ngồi bán bánh mì bì chan nước mắm với mỡ hành trong cái chợ quê nghèo đó. Sáng nào trước khi đi học, tôi cũng chạy ù ra chợ thật sớm để mua khúc bánh mì bì béo ngậy mùi mỡ hành, bao giờ bà già bán món quà rẻ tiền này cũng gắp thêm cho cô bé mở hàng vài sợi da heo thơm mùi thính rang vàng trộn thịt. Tuổi hồn nhiên khiến tôi thấy nụ cười hiền lành chất phác của bà mẹ chợ quê miền Nam, như đậu lại đâu đó trong tâm tư cô bé con Bắc Kỳ hình ảnh một bà tiên hiền dịu. Ở cái chợ nghèo nơi quê bạn, tôi thòm thèm làm quen những món ăn miền Nam rất lạ như chè thưng nước dừa, bánh bò bánh ít, nước đá bào xịt nước đường xanh đỏ mát lạnh môi một buổi xế trưa nắng gắt.
 
Mẹ  tôi cũng làm lụng vất vả để nuôi bầy con ăn học, không thở than điều gì ngoài nỗi nhớ quê cha đất tổ chất ngất trong lòng. Mỗi buổi chiều quê ngôi nhà thờ vẫn đổ những hồi chuông buồn xa vắng, lan lan xa đến những làng mạc quanh vùng, ngọn đèn dầu không đủ xua đi bóng tối buồn rầu trong những căn nhà nhỏ. Mẹ tôi khi còn trẻ cho đến lúc về già chỉ thích đọc kinh, niềm tin hay là tự nhắc nhở mình phó thác cuộc đời và sự đau khổ vào những đấng thiêng liêng. Tuy chưa già lắm nhưng mẹ tôi hình như già trước tuổi bởi những lo toan tính toán vì miếng cơm manh áo, đơn thân độc mã giữa cuộc đời làm con gà mẹ xòe đôi cánh yếu đuối để bảo bọc những đứa con.
 
Có  một lần tôi trở về thăm vài người họ  hàng còn bám víu lấy mảnh đất tan hoang vì bom đạn nơi miền quê ấy, đi tìm lại cái mảnh vườn thời thơ ấu của mình, nhưng chỉ còn nhận ra vài cây xoài, cây  mít mẹ tôi trồng là còn tồn tại, dấu vết căn nhà thì không còn gì nữa. Tôi vẫn nhớ bụi tre già bao bọc khu vườn trồng cây ăn trái, cái giếng nước xây bằng đá ong, ngày xưa ở đó có cái tổ chim. Mẹ tôi cho người chị họ mảnh vườn đó để ra đi, sau này chiến tranh từ trong rừng cao su bò ra đến khu nhà dân thì nơi này trở thành bãi chiến trường, chắc đấy là thời kỳ bạn bỏ quê hương mà đi. 
 
Chuyện của bạn dài lắm, thêm vài mối tình dở dang trong đời quân ngũ, nhưng tôi nghĩ có lẽ hình bóng của người mẹ và cô con gái bạn yêu thời đi học, vẫn nằm lại trong trái tim bạn nhiều hơn cả. Cái mảnh đất quê nghèo từ ngày theo chuyến tàu ra biển Đông, biền biệt hơn ba mươi năm bạn chưa trở về một lần, nhưng nó còn nguyên đó vì có ai quên được nơi mình mở mắt chào đời, có ai quên được hình bóng người mẹ đã ở lại chết sống với nghịch cảnh để nuôi con thành người đâu hở bạn? Như buổi sáng giựt mình thức dậy sớm vì cơn mưa với những tiếng sấm ì ầm vọng lại, bạn bảo nhớ những giọt mưa từ mái tranh nghèo thuở còn thơ dại. Như hôm nào chợt thấy những bông hoa màu tím chen nhau nở trong bụi cỏ mọc ven đường, tôi chắc bạn đang nhớ về những bông hoa màu tím trong cánh rừng cao su thuở ấy. Có phải thế không bạn, khi tôi và bạn có hai bà mẹ có gần gần một nỗi đau, khi sống trong một quê hương đầy phân ly vì chiến tranh và nỗi chết?


NN_DuongXuaUotMua.JPGThực ra thì con người đều có những bù trừ  để đời sống được thăng hoa, và những thiếu sót trong cuộc đời chúng ta luôn được bù đắp để nguôi ngoai. Chả thế mà trời cho tôi gặp bạn, chúng ta cùng có một tuổi ấu thơ rất ngậm ngùi, trong cái làng quê có con đường làng hẻo hút băng qua những cánh đồng cỏ lúa. Và một điều trùng hợp nữa là tôi và bạn sinh cùng một năm, có hai bà mẹ khổ trên một quê hương đọa đầy, với những đứa con không hề có ngày Sinh Nhật. Bù lại cho sự mất  mát đó, tôi và bạn có hai bà mẹ quê thật tuyệt vời, không phải là điều đáng hãnh diện sao hở bạn?
 
Nguyên Nhung
( Thân tặng Trọng Nhân, món quà ngày sinh nhật)
 


 
 
 
 

TRỜI VẪN CÒN XANH

NN_TroiXanh.JPG

Chuyện là chuyện xưa mà vẫn như mới, dù tất cả đã nằm yên trong dĩ vãng, khi ngồi viết lại câu chuyện cũ, nước mắt tôi cứ chảy ròng ròng. Thời gian lặng lẽ trôi qua, mấy chục năm rồi mà tưởng như mới hôm qua khi tình cờ nhận được khuôn mặt anh bạn cũ, trong những tấm hình xưa của một người nào đó còn giữ được, in trên Ðặc San Trường cũ. Thế là trong phút chốc, những bóng hình bạn bè năm xưa bỗng lần lượt trở về. Trong óc tôi lại quay về những mùa hè năm cũ thời đi học, con đường ven sông nghiêng nghiêng những cây hoa phượng đỏ, in bóng xuống dòng sông một mùa hè rực rỡ.
Năm tháng đã theo nhau bước vội, vẫn để lại trong lòng những kỷ niệm dễ thương một thời mắt biếc và môi tươi, tà áo trắng, chiếc nón lá che nghiêng trên mái tóc. Nếu có lần trở về con đường xưa, đúng vào mùa hè hoa phượng trổ, mới cảm hết được cái buồn ngất ngây xen lẫn nỗi ngậm ngùi. Cơn mưa vào buổi chiều cuốn theo những chiếc lá phượng bé li ti rơi xuống mặt đường ướt sũng. Phượng và mưa, muôn đời vẫn là những nỗi buồn ray rứt khi nhớ lại. Năm ba mươi tuổi tôi vẫn mang nỗi buồn ray rứt ấy, khi một lần trú mưa bên hàng hiên căn phố cũ, trước mặt tôi là hàng phượng rưng rưng màu đỏ thắm rũ rượi, ướt sũng trong màn mưa trắng xoá. Năm nào phượng cũng trở về như năm nào mùa mưa cũng tới, vẫn một màu đỏ thắm của mùa hè xưa riêng cuộc đời thì đã quá nhiều thay đổi. . .
 
Muà Phượng Vĩ


“Em đến rồi đây em lại đi,
Như những hạt mưa đầu mùa năm ấy
Mỗi một mùa hè em trở về lộng lẫy
Lòng ta buồn theo những lá phượng bay.
 
Bao nhiêu năm rồi mà vẫn chưa khuây
Sao vẫn nhớ những nẻo đường tuổi mộng
Sao vẫn nhớ những chiều xưa gió lộng
Phượng rơi buồn trên áo trắng thơ ngây.
 
Ôi nhớ quá cỏ non sân trường vắng
Ta thả hồn theo những sợi mưa bay
Ta thấy em cười trên những tà áo trắng
Em gọi mùa hè về rực rỡ trên cây.
 
Năm nay em về cũng như mọi năm
Với những hạt mưa đầu mùa năm cũ
Sao ta thấy lòng bỗng rưng héo rũ
Em còn tươi mà ta đã già nua
 
Ðời mỏi mòn trôi theo những đêm mưa
Những chiếc lá cuốn theo dòng nước lũ
Ði về đâu những hồn muôn năm cũ
Khi sang hè phượng thắm có còn không?
 
Ðến bạc đầu đôi lúc vẫn bâng khuâng
Ôi những mảnh trời xanh ngày tháng cũ...”
(Thơ N.N.)


Cuốn “Lưu Bút Ngày Xanh” được mở hàng cụt ngủn chưa đầy một trang giấy, không có hình kèm theo (đâu dễ tặng hình cho người dưng... khác họ), đã cụt ngủn mà lại chẳng chút văn chương cho thơ mộng như đương sự yêu cầu:
“Hè gì mà nắng như đổ lửa, chẳng thấy thơ mộng chút nào hết. Hàng phượng vĩ ven sông chưa trổ bông, lũ ve sầu chưa chịu hát bài ly biệt. Mai mốt đi đâu thì đi, lâu lâu nhớ về thăm xóm cũ. Không có tấm hình nào hết trơn hết trọi, thôi tui vẽ mấy bông hoa phượng để mang theo cho đỡ . . . buồn.”
Vài hôm sau, khi cuốn Lưu Bút được trả lại cho khổ chủ, cũng cái mặt ấy nhăn nhăn nhó nhó đưa lại cho người viết năn nỉ:
“Viết lại giùm đi, viết gì ... kỳ cục quá. Làm ơn viết dễ thương chút đi mà...”
“Hông lẽ lại chỉ là những điều... dễ ghét?”
“Không phải vậy, đối với tui tất cả những gì của bạn đều dễ thương hết. Nhưng. . . tui sắp đi xa rồi, cho xin chút kỷ niệm mang theo, mai sau chừng nào mình lớn sẽ hiểu ra điều đó."
Ngó cái mặt cũng tội, cái "xấu" cũng bớt đi mà cái " khó ưa" giờ đây cũng "dễ ưa" hơn một chút, nghe thật tội nghiệp. Tối đó, tôi ngồi gò gẫm viết lại trang mở đầu cuốn Lưu Bút Ngày Xanh cho anh bạn, cố nặn óc tưởng tượng ra những kỷ niệm giữa hai đứa để phù hợp với nỗi buồn ly biệt. Tôi viết về con đường hằng ngày đi chung tới trường, con đường ven sông vào mùa hè hoa phượng nở rưng rưng (dù lúc ấy hoa chưa nở), con ngõ nhỏ có hàng dừa lả lơi soi bóng nước. Và một mảng trời xanh, phải rồi, bầu trời xanh thấp thoáng sau tàn cây râm mát, in những bóng mây xuống dòng sông trôi lờ lững. Hay một tối mùa hè cơn mưa đêm chợt đến, từ trong nhà nhìn những giọt mưa rớt trên mặt sông sao nghe mang mang một nỗi buồn. Những buổi tối nhìn ánh hoả châu bừng sáng vòm trời đêm, tuổi trẻ lại cảm nhận thêm nỗi buồn chiến tranh, khi nửa đêm thức giấc, nghe tiếng đại bác vọng về thành phố, những chiếc xe nhà binh chở quân ra mặt trận. Bây giờ, lại thêm những người bạn trẻ chung trường sắp lên đường nhập ngũ. . .
Những hàng chữ tôi viết "mùi mẫn" tối hôm đó, khiến bạn cảm động thật nhiều, dù đó chỉ là căn bịnh "văn chương thời loạn". Bạn nhận lại cuốn Lưu Bút trên tay tôi, mỉm cười cám ơn, vẻ xúc động hiện rõ trên nét mặt. Cuốn Lưu Bút Ngày Xanh có lẽ là kỷ niệm cuối cùng trong đời học sinh của bạn, chỉ mãi đến sau này, khi tất cả chỉ còn lại một mảng trời xanh, tôi mới ân hận là không tặng cho người bạn chân tình ấy tấm ảnh chân dung "xấu xí" của mình. Ðược ít lâu bạn nhập ngũ, con đường đi học đã vắng đi một người, lúc bấy giờ tôi mơ hồ nhớ câu bạn nói :
"Mai sau chừng nào mình lớn, sẽ hiểu ra điều đó."
* * *
Bạn đi rồi, chiến tranh đã đẩy bạn ra khỏi mái trường khi còn rất trẻ, mái đầu xanh chưa hưởng được bao nhiêu niềm vui đã vội già đi vì gió sương và gian khổ chiến trường. Có lẽ tôi với bạn không mắc nợ nhau, vì thế chỉ một thời gian là biệt tăm người bạn cũ, và khi từ biệt mái trường, tôi không còn đi ngang nhà bạn, không trở về con ngõ nhỏ đầy bóng mát của tuổi học trò thơ ngây ngày ấy nữa.
Cứ thế đời đẩy bạn đi đâu tôi cũng chẳng biết, chỉ gặp lại có một lần, kỳ phép đầu tiên từ quân trường bạn về thăm nhà, cũng là lần đầu tiên bạn ghé vào nhà tôi. Cái đầu trọc tếu và bộ quân phục mặc trên người, bạn kể cho nghe đủ thứ chuyện đời lính. Bạn chững chạc hẳn ra, gặp nhau lần ấy trông bạn đã đổi khác, nhưng dường như câu chuyện vẫn dở dang chưa nói hết, bạn vẫn ngập ngừng không nói trọn điều gì. Sau đó, bạn trở lại quân trường và khi ra trường, đổi tuốt ra miền Trung, đời bạn lênh đênh sông hồ, đời tôi cũng thêm nhiều mới lạ. Ðời có biết bao nhiêu con đường thênh thang đang đón chờ ngoài kia, mỗi khi ra khỏi nhà, tôi phóng xe như bay ra khỏi con hẻm nhỏ, cuộc sống vội vã để tôi không còn thơ thẩn đi về những con đường thơ mộng ven bờ sông như thuở còn đi học, tôi đã quên rồi người bạn cũ. . .
Thời gian cứ thế trôi đi, những người bạn đi chung một con đường tới trường năm cũ nay cũng tản mát đi mỗi người một hướng. Ðám bạn học chung lớp năm xưa có một số tiếp tục lên Ðại Học, có nhiều đứa ra đời tìm việc làm để mưu sinh, có nhiều đứa lên xe hoa. Tôi bỏ xóm cũ đi xa, để rồi có ngày lại trở về căn nhà xưa, với một cảnh đời kém may mắn.
Không biết trời xui đất khiến chi đây, vài năm sau chiến tranh, tình cờ tôi lại gặp anh bạn cũ, bên hè đường với mấy thứ đồ nghề sửa xe đạp. Tôi đâu hơn gì bạn, tấm ny lông trải trên vỉa hè khu chợ làm kế sinh nhai, một lũ đàn bà còn xuân sắc ngồi chùm nhum với nhau trên vỉa hè "ngóc mỏ chờ xương", hay văn hoa chút xíu thì "con cò lặn lội bờ sông, gánh gạo nuôi chồng tiếng khóc nỉ non". Tôi chăm chỉ làm công việc "cũ người mới ta" để người nghèo có manh quần tấm áo lành lặn, chúng tôi gặp lại nhau dở khóc dở cười bên lề đường gió bụi.
Lần gặp lại ngộ nghĩnh đến không ngờ, chiếc xe đạp bị bể bánh, tôi tấp vào lề đường để sửa xe, và chúng tôi ngỡ ngàng nhận ra nhau sau nhiều năm xa cách. Trong chiếc áo nhà binh cũ kỹ, lem luốc dầu nhớt, anh đón chiếc xe đạp từ tay tôi, với một câu hỏi rất ngậm ngùi, như không hề có một khoảng cách nào về không gian và thời gian giữa hai đứa, kể từ ngày anh từ giã mái trường để đi lính:
“Dữ hông? Biết bao năm rồi bây giờ mới gặp lại. Xe bị bể bánh hả?”
Rồi anh toét miệng cười, trong khi tôi ngỡ ngàng và mừng vì gặp lại anh bạn cũ chung đường năm xưa. Dù sao thì cũng ... ngộ cố tri, nhưng gặp trong cảnh này nó ngậm ngùi làm sao. Thấy vai tôi đeo một cái túi nặng, anh cười hỏi:
“Bán chợ Trời phải không? Hôm nào có chiếc áo nhà binh, mua giùm tôi một cái.”
Anh vừa xăm xoi cái lỗ mọt, tỉ mỉ bôi chút keo dán lên miếng cao su rồi để cái ruột xe xuống cái bàn vá ép, ngọn lửa leo lét bốc khói dầu hôi khét lẹt. Nhìn anh làm công việc đó một cách bình thản tôi lại thấy tủi cả phận mình lẫn phận người. Bỗng dưng tôi nhớ miên man đến cuốn “Lưu Bút Ngày Xanh” của nhiều năm trước, nhớ mảng trời xanh hoa mộng tuổi học trò, không biết anh còn giữ được không?
Bàn tay anh lem đầy dầu nhớt và bụi bẩn khiến tôi chạnh lòng. Ngó lại mình cũng không hơn gì, chiếc áo bà ba bạc màu, cái nón lá tươm vành thật thảm thương, sau bao nhiêu năm gặp lại nhau tôi không nhìn thấy chút thơ mộng nào như mảng trời xanh mà tôi viết cho anh trong cuốn Lưu Bút ngày xưa. Anh vừa làm vừa nói chuyện, hỏi thăm tôi về đời sống hiện tại, bây giờ anh nói nhiều mà lại "có duyên" chứ không cộc lốc, trống không như ngày xưa. Sửa xe xong, anh đưa lại chiếc xe đạp cho tôi, dùng miếng giẻ để lau cho sạch sẽ, tôi bắt anh nhận tiền công vá xe, anh nhất định đẩy tay tôi ra nói một câu nửa đùa nửa thật, tôi vẫn còn nhớ:
“Ðừng làm vậy tôi buồn, anh em mình chỉ có chút tình đó thôi. Ngày xưa, tôi còn muốn vá xe suốt đời cho N. nữa.”
Rồi anh mỉm cười, im lặng, như dằn xuống nỗi xúc động, mà vẫn như có chút chịu đựng cái nghiệt ngã của một cảnh đời không lối thoát. Từ ngày thôi học, sau bao năm gặp lại, hai đứa chẳng hơn gì nhau. Tôi có hai đứa con nhỏ ăn chưa no lo chưa tới, anh cũng vừa ra khỏi trại tập trung cải tạo, nặng oằn một gánh cha mẹ, vợ con. Biết không ép được anh lấy tiền công sửa xe, tôi chạy lại xe bán thuốc lá mua cho anh vài điếu "Capstan" loại dzởm. Anh cười, lặng lẽ quệt bàn tay bẩn vào chiếc quần, cầm mấy điếu thuốc tôi đưa rồi châm lửa hút . Trong cảnh ngộ này, hai đứa chỉ biết nhìn nhau cười thông cảm, dường như tôi lại nhìn thấy một mảng trời xanh thuở học trò trở về trong đôi mắt anh. . .
Lâu lâu, chiếc xe bị trục trặc, tôi vẫn phải ghé vào nhờ anh xem hộ, hoặc hôm nào mua được chiếc áo nhà binh cũ, ghé vào đưa cho anh để chịu được mưa nắng vỉa hè. Có lần ế khách, tôi bắt gặp anh ngồi dựa lưng vào mảng tường vôi loang lở, miệng nhả khói mà mắt lại nhìn đăm đăm lên mảng trời xanh, lúc ấy tôi biết anh bạn cũ đang mơ mộng. Thôi cũng mừng cho anh, trong hoàn cảnh đó mà anh vẫn giữ được cho mình một khoảng trời xanh để nhớ, đó cũng là cục đường tan trong miệng đắng giữa cơn ốm dở. . .
Lâu lâu gặp nhau nói dăm câu chuyện cũ, hỏi thăm nhau về những bạn bè xưa chung đường chung lớp, chẳng biết ai còn ai mất, ai đã đi được qua bên kia, ai còn thân tù tội nơi rừng sâu núi thẳm. Mỗi lần như vậy tôi lại nhìn được nỗi ngậm ngùi trong đôi mắt anh, dường như giây phút đó đã gợi lại trong anh chút dư âm của những ngày còn đi học. Bao nhiêu hoa mộng của cuộc đời bây giờ chỉ còn lại được có mảng trời xanh kia làm niềm hy vọng, chúng tôi kể cho nhau nghe nhiều nỗi đắng cay của đời sống, ước gì có đôi cánh để bay đi một phương trời xa, tìm một tương lai sáng sủa hơn cho cuộc đời đỡ khổ.
Ít khi nào chúng tôi nhắc lại chuyện cũ, vì nợ áo cơm đã làm thui chột đi những kỷ niệm êm đềm mà con người chỉ nhớ được khi lòng hoàn toàn thanh thản. Có hôm anh tâm sự, nếu một ngày nào tôi có đi ngang đây, không thấy anh ngồi vá xe bên lề đường, thì chuyện đó cũng chỉ là chuyện bình thường như người ta thay đổi một chỗ ngồi. Tôi biết thế nào anh cũng đi, nhiều hôm trên đường từ chợ về nhà, vô tình đi ngang qua, tôi vẫn thấy anh ngồi tựa lưng vào tường hút thuốc, mắt mơ màng nhìn lên mảng trời xanh như nuôi một niềm hy vọng. Ngược dòng thời gian trở về quá khứ, bây giờ khi đã trưởng thành, tôi không hững hờ nhìn anh bằng ánh mắt vô tình năm xưa, tôi thường an ủi anh để được nghe anh an ủi lại, bằng tấm chân tình của đôi bạn cũ.
TaiLieu_BoatPeople305a.jpgThế rồi một thời gian sau, bẵng đi một tuần lễ, tôi đạp xe ngang đã không thấy anh ngồi sửa xe nơi chỗ cũ. Tôi linh cảm anh đã đi rồi, chỉ biết âm thầm cầu nguyện sự an bình cho anh trên bước đường xa vạn dặm. Lần này anh đi tôi buồn lắm, không hờ hững như ngày xưa anh chia tay với tôi để nhập ngũ, vì tôi hiểu chuyến đi này “thập phần sinh tử”, biết có còn gặp lại nhau không? Hơn nữa, cuộc đời đã dạy cho tôi biết trân trọng những tình bạn cao quý, nhất là trong hoàn cảnh này, tôi đã trưởng thành để hiểu được những gì mất đi ta khó tìm lại được.
Từ đấy tôi không bao giờ gặp lại anh, có người nói anh đã thoát được tới bờ bên kia, có người lại nói tàu bị bão tố nhận chìm ngoài biển khơi. Mỗi lần đi ngang chỗ anh vẫn ngồi vá xe bên lề đường, nay đã trống trải chỉ còn lại một mảng tường vôi loang lổ, tôi nghe lòng buồn ray rứt. Mùa hè hoa phượng lại rưng rưng một màu đỏ thắm nơi mé sông, những cánh hoa học trò vẫn mang ít nhiều nỗi buồn ly biệt. Thời gian ấy, đêm nào tôi cũng cầu nguyện cho anh, có khi tôi nằm mơ thấy anh trở về chốn cũ, ngồi loay hoay vá xe bên vệ đường, có khi giấc mơ thật kỳ lạ, vẫn là hình ảnh anh ngồi tựa lưng vào bức tường vôi xám, đôi mắt buồn rầu nhìn lên bầu trời xanh, nuôi một niềm hy vọng...

Thời gian thấm thoắt qua đi có đến hơn hai mươi năm, lâu lâu tôi vẫn băn khoăn nhớ người bạn cũ. Tình cờ đọc được trong cuốn Ðặc San của Trường, tôi bắt gặp lại những tấm ảnh cũ, có ai đó đã giữ lại được những tấm hình với bạn cùng lớp năm xưa, tôi vui mừng nhìn ra khuôn mặt anh lẫn lộn trong đám bạn bè thời Trung học. Những cái “dễ ghét” năm xưa bây giờ sao “dễ thương” quá chừng, vì khuôn mặt nghịch ngợm ấy không lẫn lộn đi đâu được, áo trắng, quần xanh, tóc hớt ngắn, những khuôn mặt trẻ tuổi học trò trông hồn nhiên vô tư lự. Nhưng, đời sao lại có những chữ "nhưng" trớ trêu, như định mệnh thường oái oăm tạo nên những điều cay nghiệt, mắt tôi dường như không tin được những dòng chữ ghi phía dưới tấm hình cũ, cả mấy tấm hình ấy đều ghi rõ tên anh, với một dấu ngoặc đơn (đã chết) kèm theo.
Thế là anh đã đi thật rồi, không còn lần tái ngộ nào trên cõi đời này nữa. Dường như tôi và anh không có cái may mắn gặp nhau để chia cái vui của đời cho nhau, mà chỉ là những biệt ly này nối tiếp những biệt ly khác, kể từ ngày anh đưa tôi cuốn Lưu Bút Ngày Xanh, để đi vào chốn hiểm nguy với lằn tên mũi đạn. Sau bao nhiêu năm gặp lại, vẫn chỉ là nối tiếp nỗi khổ đau của một kiếp người, anh vẫn là người bạn tốt bụng, đối xử rất chân tình với cô bạn nhỏ ngày thơ.
Lần này thì hết thật rồi, những chữ in nghiêng chú thích dưới tấm hình với hai chữ "đã chết" khiến tôi bùi ngùi mãi. Mảng trời xanh trong đôi mắt người bạn đồng môn năm cũ đã thực sự không còn, đã đi về cõi thiên thu để chìm vào không gian vô tận.
Không biết anh đã đi về cõi bên kia bằng con đường nào? Ðôi khi tôi nghĩ nếu được chọn lựa, có lẽ anh sẽ trở về đi lại con đường loang hoa nắng thời đi học, vì con đường đó là con đường bình yên nhất trong cuộc đời anh. Dưới những bóng cây râm mát che suốt con đường ven sông, có thể anh vẫn nhìn thấy một mảng trời xanh đầy thơ mộng khuất sau tàn lá biếc, từng đợt sóng nhỏ lao xao vỗ vào bờ, vẫn là những âm thanh tuyệt vời như tiếng đàn vương trên lối cũ. Mấy mươi năm rồi, bây giờ nhìn lên mảng trời xanh, tôi vẫn hay nghĩ tới người bạn đồng môn năm cũ. Ở khoảnh trời bình yên đó, biết đâu chả có lúc gặp lại...
Nguyên Nhung


 

Cu

         

Thằng bé chào đời sau Lễ Phục Sinh đúng một tuần. Lúc ấy tiết trời đang Xuân, hoa lá nở tưng bừng, lũ chim sáo vắng tiếng trong mùa Ðông, đã trở lại nhảy nhót trên khoảng sân cỏ ướt, ríu rít ngoài hàng hiên nghe vui vui vì tiếng oa oa  của thằng bé trong căn nhà yên tĩnh.

 .

TL_NewBornBaby.JPGTheo sự chẩn đoán của bác sĩ thì thằng bé đã nằm lỳ trong bụng mẹ đến một tuần lễ. Người mình gọi là " chửa trâu ", để ám chỉ những đứa trẻ nằm lâu trong bụng mẹ sau này tính nết rất lì lợm. Có lẽ nó lì thật, vì suốt một tuần lễ đó thằng bé không ngớt đá banh trong bụng mẹ, nó quẫy đạp lung tung. Tuần lễ cuối cùng đó, mẹ nó đi đứng ì ạch, ngồi đâu thở đó như phải vác một cái ba lô biết nhúc nhích đằng trước . Ban đêm, mẹ nó chỉ ngủ chập chờn vì không biết xoay trở sao cho thằng bé nằm yên, chắc chắn trong cái bụng chật hẹp đó, cu cậu rất bực mình, nhưng chưa tới giờ để chui ra, nó liên tiếp xoay trở với sự bực mình đó.

 .

Người ta hay chờ một đứa bé chào đời, xem ngày, giờ , tháng , năm sinh để đoán cho đứa nhỏ một lá số tử vi, vì nghĩ rằng khi một con người chào đời, là số mệnh đã được gắn bó với một vị sao trên trời. Nhưng nếu phải giải phẫu để mang một đứa trẻ ra khỏi bụng mẹ, người ta có thể mổ bất cứ giờ nào người ta muốn. Ðó cũng là điều mà bà nội nó thắc mắc, và cho rằng vị bác sĩ sản khoa chính là người quyết định lá số tử vi cho nó, nếu ông ta tính toán được giờ khắc cho thằng bé có được một lá số tốt.

 .

Ðấy là nói chuyện tầm phào về số mệnh con người, chứ lúc thằng nhỏ được cô y tá da đen như lọ chảo, âu yếm đặt lên chiếc giường nhỏ trong căn phòng kính mát lạnh, mình  trần trùng trục với phần rốn chưa được cột lại, trông nó đầy vẻ tội nghiệp. Nó tròn xoay, bóng lưỡng, lớp da mỏng non nớt còn mọng nước, đôi mắt nhắm tít mà miệng vẫn há ra để hét lên những tiếng "oa oa" đầu đời. Nó không nhăn nhúm, đỏ hỏn như những đứa bé khác, mà lại thẳng căng như một đứa bé đã đầy tháng. Tuy vậy, không thể quen với cái lạnh của không khí bên ngoài, đâu có ấm như bụng mẹ, và dẫu mặt nệm ấy mềm mại tới đâu, đối với nó vẫn vừa lạnh vừa cứng hơn bụng mẹ nó. Cho nên nó cần phải phản đối, bằng cách cứ hét lên một chập, nó lại im như để lấy sức, và khi tưởng nó thiu thiu ngủ lại thấy thằng bé hét to hơn đến khản cả tiếng.

 .

Nó khóc khỏe thật, nếu đừng sốt ruột thì cứ để cho thằng bé hét lên cho nở phổi. Chỉ có ông bà, cô cậu  đứng bên ngoài là có vẻ sốt ruột  khi cô y tá người da màu cứ thong thả đo, khám, ngắm nghía thằng bé Á Ðông đang la hét mà cười một cách thích thú. Mái tóc đen phủ kín cái đầu tròn, hai cánh tay còn nhỏ  mà đầy ngấn đang cố giơ bàn tay huơ huơ trong không khí, hai bàn chân nhỏ xíu đạp mạnh mẽ vào khoảng không, có lẽ chú ta quá lạ lùng cho cái trống rỗng của thế giới bên ngoài mà chú tiếp cận. Ít ra trong bụng mẹ, dù xoay trở có khó khăn nhưng đứa bé vẫn cảm thấy mình được bơi lội trong một thế giới ấm áp đầy sự che chở, còn giờ đây nó cô đơn quá.

 .

Cô đỡ vờn thằng bé như mèo vờn chuột, bây giờ thì cứ tha hồ khóc, tha hồ phản đối cái lối cư xử kỳ cục của xã hội loài người, nhưng đã ra đời thì phải biết chấp nhận những điều mới mẻ để mà còn thích nghi với  hoàn cảnh. Thằng bé không được tắm ngay, còn phải nằm la hét chán chê, đến nỗi cả người nó run lên và hai cái bàn chân dường như cũng tím tái vì lạnh. Phía bên ngoài, những người đi qua đi lại trong nhà bảo sinh , tò mò đứng lại ngắm nghía thằng bé. Ai cũng trầm trồ khen thằng bé trông xinh như một con búp bê biết cử động, còn người nhà thì lại ái ngại khi thấy cô đỡ bỏ thằng bé nằm một mình mà chả sốt ruột tý nào cả.

 .

Lúc này, qua tấm kính ngăn đôi giữa những người thân và kẻ hiếu kỳ đứng bên ngoài, cô y tá mới thong thả, từ từ cho thằng nhỏ thưởng thức sự mát mẻ đầu tiên, nghĩa là nó cần được tắm để rửa sạch những thứ nhớt nhau bám vào mình cả chín tháng mười ngày trong bụng mẹ. Hình như sự tắm tát làm thằng bé dễ chịu và nó thôi không khóc nữa, khi cô đỡ lấy miếng gạc thật mỏng, với chút xà bông hòa trong nước ấm, gội đầu và xoa xoa vào cái ót còn phập phều của thằng nhỏ. Cô ta xoa mãi lên mớ tóc đen mềm mại của thằng bé Á Ðông, còn thằng nhỏ khi được xoa dịu cũng nằm im, làn nước ấm dễ chịu quá, cho nên  nó vừa tắm mà vẫn có thể thiu thiu ngủ.

 .

Bây giờ thì thằng bé đã được mặc áo, phần cuống rốn vừa tách rời với cái nhau của người mẹ đã được băng lại ấm áp, nó được cuốn chặt chẽ trong chiếc khăn lông mềm và êm. Nó chưa ngủ, vẫn cựa quậy, há cái miệng xinh xẻo ra như để tớp một chút gì đó mà nó đã quen làm như thế. Chẳng phải chờ đợi lâu, cô đỡ đã chuẩn bị cho nó một bình sữa nhỏ xíu, rồi cô bế nó lên, đong đưa trong đôi cánh  tay béo tròn, vừa giúp thằng nhỏ xơi bữa ăn đầu đời. Lạ thật, không ai dạy mà thằng bé đã biết bú, nó ngoạp lấy ngay, và nút một cách ngon lành thứ nước hơi ngòn ngọt thơm thơm vào bụng , để rồi chập chờn đi vào giấc ngủ đầu đời .

 .

Lúc ấy, cả nhà hai bên nội ngoại đều đứng bên ngoài để ngắm nghía mãi khuôn mặt thiên thần, với nụ cười ngây ngô hay những cái nhăn nhúm rất dễ yêu  khi thằng bé mơ ngủ. Người sung sướng và hạnh phúc nhất có lẽ là bố nó, cũng là người đầu tiên đón nhận  tác phẩm của mình từ tay cô đỡ, thằng bé lúc ấy chỉ là một sinh vật bé nhỏ biết ngo nghoe mà sao xinh xắn, tròn trịa, trong khi mẹ nó còn phải nằm nghỉ trong phòng hậu giải phẫu. Tác phẩm này là sự đúc kết của một tình yêu vợ chồng rất đằm thắm, bằng giao hòa của thể xác cũng như tâm hồn, tự nó đã là hạnh phúc mà người ta không thể mua được bằng tiền. Nó giống như con tim và khối óc của một người cầm bút, mỗi tác phẩm viết ra là của riêng mà không thể đem so sánh với bất cứ  tác phẩm của bất cứ tác giả nào khác. Nỗi vui ấy khiến người cha ngắm nghía con mình đầy lòng thương yêu, dù không phải mang nặng chín tháng mười ngày, dù không phải trải qua những giờ phút đau dập dồn, thắt bụng  như người mẹ trước khi con chào đời.

 .

Bây giờ thì mọi người tha hồ nhìn thằng bé để bình phẩm về nó. Khỏe, thì chắc chắn thằng bé khỏe rồi,cứ nhìn những cái ngấn trên tay chân nó là đủ thấy. Lúc nãy, hai con mắt đen của nó có lúc đã mở ra để hấp háy nhìn đời một cách vô ý thức, nhưng căn cứ vào đấy cũng đủ biết chỉ độ ba tháng thôi, hai con mắt ấy sẽ mở to, đen như hạt nhãn, long lanh, xinh như đôi mắt chim bồ câu  hay ríu rít ngoài sân ăn hột cỏ. Mái tóc đen rậm rạp mượt mịn, vầng trán ấy hứa hẹn thằng bé rất thông minh, vuông vắn như vầng trán của ông nội, còn chiếc núm đồng tiền nằm trên  má trái lại là của bà nội, đó là những cái giống đầu tiên mà ông bà nội nhìn thấy khi đứa cháu sinh ra.

 .

Ðối với ông bà, cô chú, dì cậu hai bên thì sự ra đời của đứa cháu đã là hạnh phúc mới mẻ, là niềm vui của cả hai bên giòng họ, và mỗi bên nhìn đứa cháu theo cách của mình. Bà ngoại có thể thấy thằng bé háu ăn như cậu nó hồi nhỏ, hay ngáp ồn ào như ông ngoại, cặp chân mày của bố nó và cái mũi kia thì giống mẹ như đúc. Chưa biết thằng bé sẽ giống ai, vì nó còn bé quá, còn thay đổi nhiều, nhưng vì lòng thương yêu khiến tất cả đều nhìn cháu bằng sự kết hợp tất cả những cái đẹp, cái dễ yêu của những ông bà, cô chú, cậu dì có liên quan tới cha mẹ nó. Ðó là hạnh phúc của một đứa bé được chào đời trong sự hân hoan của một gia đình đầm ấm,  căn bản là tình yêu của cha mẹ nó và sự mong đợi của cả gia đình hai bên.

 .

Chắc chắn khi sinh ra thằng bé đã được bố mẹ nó chuẩn bị cho một cái tên, nhất là ở xứ này thì lại cần phải có tên Mỹ để đi học. Song song với cái tên Mỹ, thằng bé vẫn kèm thêm  tên Việt Nam, nhưng cái tên  cúng cơm quen thuộc nhất, dễ gọi nhất vẫn là cu Tý, như biết bao gia đình Việt Nam đã từng gọi cu Tèo, con Ty cho những đứa cháu trong nhà. Có biết bao nhiêu thằng cu Tý da vàng chào đời ở nước Mỹ, lúc biết nói vẫn thỏ thẻ tiếng Việt với ông bà, cha mẹ, và khi đi học vẫn nói tiếng Anh như gió. Ðó là một điều tự hào cho những gia đình Việt Nam trẻ tuổi, vẫn phần nào duy trì được ngôn ngữ  và văn hóa của Việt Nam trong một xứ sở có biết bao khác biệt.

 .

Cu Tý đâu phải tự dưng mà lớn lên, cũng phải trải  qua những quá trình lẫy, bò , ngồi, đứng một cách tự nhiên. Thời gian này cũng trải qua nhiều cơn ốm đau ấm đầu sổ mũi, ho hen. Khi trời vào Ðông, cu Tý cũng hay bị cảm. Lúc mọc răng nó vẫn nóng sốt tiêu chảy,  cu Tý đã hành hạ bố mẹ nó nhiều đêm mất ngủ. Bú nhiều quá cu Tý cũng có thể ọc ra tất cả, để rồi đói lại đòi ăn, hay nó có thể khóc vì bất cứ lý do gì mà chẳng ai hiểu được. Không có gì kỳ cục bằng thằng bé có thể thức dậy lúc nửa đêm để ư  a nói chuyện, hay khóc thét lên để mẹ nó phải ngồi dậy nhiều lần trong đêm tối. Thời gian này là thời gian vất vả nhất cho những bậc cha mẹ, và chính vì thế mà những cha mẹ trẻ bỗng dưng lại nghĩ tới nỗi cực nhọc của cha mẹ mình trước kia, khi đãù trải qua những lúc nuôi con  vất vả như vậy.

 .

Mỗi một tiến triển về cơ thể hay trí óc của cu Tý đều được cả nhà theo dõi một cách thú vị. Mới hơn hai tháng cu Tý đã biết cười, đã biết mở to đôi mắt, đã biết u ơ để trả lời những cái âu ơ của bố mẹ,  ông bà. Qua tháng thứ ba cu Tý đã dễ thương lắm, hai con mắt đen nhánh mà trong veo, cái miệng còn thơm mùi sữa lúc nào cũng toe ra cười khi được hỏi tới. Cu Tý đã biết lẫy, nó cố đẩy cái mình nặng nề ấy lật úp xuống, ngẩng đầu lên, rồi một lúc tức bụng, mỏi cổ lại nằm bẹp xuống, lại la làng lên, lại khóc để đòi bế. Ðó chỉ là động tác thể dục đầu tiên cu Tý làm, còn tiếp theo những động tác mới mà cu Tý cần phải uống hết nhiều thùng sữa, mới có thể đi hết con đường thơ ấu  ai cũng phải trải qua.

 .

Cu Tý lớn nhanh như cây rau cải ngoài vườn, mới gieo hột hôm nào đã mọc lên những chiếc lá bé tý, chỉ ngoảnh đi ngoảnh lại đã thấy những búp cải non nhú lên nhiều chiếc lá nõn. Bất cứ một loại cây nào, dẫu sau này lớn lên sinh sản những thứ hoa quả ngon hay không ngon, lúc vừa đâm lên những cái lộc non, vẫn đủ sức đem cả mùa Xuân đến cho khu vườn đỡ xơ xác.

 .

Cu Tý cũng vậy. Ðây là lúc mà nó ngủ nhiều, ăn liên miên, tiêu hóa tốt nên tã lót cũng phải thay luôn luôn để khỏi ướt đít, vì tuy chửa biết gì, nhưng mỗi lần thấy khó chịu, cu Tý lại phải "nhè"ø để bố mẹ biết mà thay tã. Có lẽ tiếng khóc là vũ khí thô sơ mà lợi hại nhất để cu Tý bắt mọi người phải chú ý đến mình. Ðái cũng khóc, ị cũng khóc, đói cũng khóc , buồn ngủ khóc và khi nằm lâu một mình nó cũng khóc. Mỗi một yêu sách của cu Tý đều được thỏa mãn ngay, thế là mới bé tý, nó cũng biết dùng đó làm phương tiện để đòi hỏi.

 .

Còn phải trải qua nhiều giai đoạn nóng đầu, tiêu chảy, xổ mũi cu Tý mới làm được thêm được những động tác thể dục mới, theo từng tháng tuổi để phát triển và những " thực đơn" được thay đổi dần khi cu Tý lớn hơn. Không thể dùng mỗi thứ sữa beo béo, làn lạt của thời kỳ non nớt, cu Tý bây giờ đã có thể ăn thêm những đĩa bột lỏng, pha chế theo kiểu Việt Nam, nghĩa là cho thêm một chút nước mắm vào nồi nước gà để lấy chất bổ. Hình như giòng máu người Việt Nam không vì tha phương lưu lạc xứ người lại quên được hương vị nước mắm, vẫn nằm trong huyết quản thằng bé dẫu nó được đẻ ra ở xứ này, thằng bé tiếp nhận ngay những gì cha mẹ nó đã tiếp nhận từ bao thế hệ cha ông. Cu Tý thích ăn bột quậy với "soup" gà và tỵ nước mắm, câu đầu tiên khi nó gọi lại là những tiếng "mẹ, mẹ" rất dễ thương, và lớn hơn một chút, cu Tý đã được dạy để biết gật đầu thay cho một tiếng "Ạ".

 .

Có khó gì đâu khi cương quyết muốn bảo tồn những cái hay, cái đẹp của Văn Hóa Việt Nam. Những đứa trẻ dẫu ra đời ở bất cứ nơi nào trên trái đất, chẳng biết mặt mũi quê hương, xứ sở của cha mẹ là gì, vẫn có thể tiếp nối , tồn tại văn hóa dân tộc thật dễ dàng, nếu cha mẹ nó biết duy trì và trân trọng cái đẹp của một gia đình theo lối Việt.