LHV_TrungUy.jpgLÊ CẦN THƠ

BIÊN KHẢO

___________________________________________________________________________________________

NHÀ  THƠ – NHÀ  GIÁO

LÊ TRÚC KHANH

.

HAI MIỀN QUÊ HƯƠNG

TRONG MỘT NGUỒN THƠ

LETRUCKHANHPortrait.jpg.

“Lê Trúc Khanh thật sự đứng vững trong thơ ca trữ tình bằng ngôn ngữ riêng tư, dù cuộc sống xung quanh có làm cho anh cảm nhận là mình bị cuốn trôi trong dòng đời nghiệt ngã, và nguồn rung cảm đã khô cằn...”. 

.

..

Có lẽ tôi xin phép được giải thích rõ hơn, vì sao nói, hai miền quê hương trong một nguồn thơ đối với nhà thơ – nhà giáo LÊ TRÚC KHANH? Số là, trong suốt chặng đường sáng tác thơ văn, QUÊ HƯƠNG – TÌNH YÊU và NỖI NHỚ KHÔN CÙNG, chính là nguồn rung cảm thực nhất đối với từng câu, từng chữ xuất hiện trong thơ anh. Còn hai miền quê hương? Cũng xin nói rõ, một là BẾN TRE của thời niên thiếu đậm sâu dấu ấn đối với cậu học trò thích mộng mơ ngoài cửa lớp, thích lắng nghe tiếng chim chiền chiện (chìa vôi) chuyền cành hót líu lo, mê nhìn những vầng mây trắng bàng bạc trôi ngang những đọt dừa, mấy ngọn cau lão của miền quê ngoại...; và hai là CẦN THƠ, nơi mà tuổi chớm vào yêu của thời học trò Đệ Tam, Đệ Nhị, để rồi sau đó cuộc sống đời thường của mỗi con người trói buộc anh mãi mãi đến sau nầy khó mà xa rời nó. Đối với anh, cả hai miền quê hương chỉ là một, cho nên những dòng thơ anh viết, chúng ta bắt gặp hình ảnh của hai miền quê hương nầy đan chéo nhau, cứ theo xúc cảm của từng kỷ niệm gợi nhớ mà dàn trải ra, đến với người đọc thật bất ngờ, thú vị. Có thể đó là những bài thơ anh viết từ năm mười lăm mười sáu tuổi; cũng có những bài được viết ra với nguồn rung cảm đã khô cằn sau những năm bị cuốn trôi trong dòng đời nghiệt ngã, vậy mà anh vẫn trân trọng, chắt chiu như cố giữ trong lòng mình mối chân tình tha thiết với BẾN TRE – miền quê hương thơ ấu, và CẦN THƠ – miền quê hương thời khôn lớn nên người.

.

[Tôi cũng xin mở ngoặc ở đây để nói thêm về LÊ TRÚC KHANH, dù có dài dòng đôi chút, nhưng vì liên quan đến hoạt động văn nghệ và sáng tác của anh, mong bạn đọc cảm thông. Anh tên thật LÊ PHƯỚC NGHIỆP, sinh năm 1950 tại làng Tân Thạch – Kiến Hòa (Bến Tre). Thời lên Trung học, anh là học sinh trường Nguyễn Đình Chiểu Mỹ Tho, đến năm Đệ Tứ, đã cùng gia đình chuyển trường theo anh là giáo sư Quốc Văn LÊ VĂN QUỚI, sang học tại trường Trung học Phan Thanh Giản Cần Thơ từ năm học 1964 đến khi đậu Tú Tài II, anh vào Văn Khoa trường Đại học Cần Thơ và tốt nghiệp dạy môn Quốc Văn tại các trường trung học công lập, bán công và tư thục ở Ô Môn, Cái Răng, Long Tuyền (Bình Thủy), Cần Thơ liên tục nhiều năm đến sau nầy. Lúc học ở Mỹ Tho, anh đã làm thơ đăng báo trường và các báo Sài Gòn. Ngay khi về trường Phan Thanh Giản, anh đã cộng tác bài trên Giai phẩm Xuân của trường. Biết được anh em chúng tôi đang hoạt động văn nghệ báo chí và có bài cộng tác với các báo Sài Gòn, anh GS Lê Văn Quới giới thiệu em trai của anh để chúng tôi quen nhau. Lúc đó bút hiệu của em trai anh là TRÚC KHANH, đang lập nhóm văn nghệ học sinh để cùng giúp đỡ nhau trong sinh hoạt học tập và sáng tác thơ văn gồm Trúc Khanh, Nguyễn Hoài Vọng (Nguyễn Ngọc Khôi), Siêu (Nguyễn Văn Thạnh) và Lăng Cảnh Huy nhưng chưa chọn được tên. Riêng các anh Hà Huy Thanh (Lý Thành Tuấn), Thanh Trân (Dương Văn Anh), Thanh Điệp (Hứa Vĩnh Phúc), Trân Khanh (Trương Văn Suông) đã lập nhóm Vùng Đất Sống. Theo gợi ý của anh Quới muốn tôi đứng ra gom các anh em lại để chung lập một nhóm cho lực lượng mạnh hơn, có thể hoạt động sâu rộng khắp miền Tây. Buổi họp mặt tại nhà riêng của anh Quới vào một sáng chủ nhật. Thấy chúng tôi bàn bạc đến độ lúng túng khi tìm chọn một tên gọi sao thích hợp với đường hướng sáng tác thơ văn của mình, anh Quới góp ý hai chữ VỀ NGUỒN. Anh em đồng ý rồi đi vào hoạt động. Mãi đến cuối tháng 8 năm 1966, thi văn đoàn VỀ NGUỒN hoàn toàn cải tiến với một thành phần khá hùng hậu, gồm những cây bút đã từng làm quen với báo chí thủ đô (Sài Gòn), với hai chương trình thơ trên đài phát thanh Sài Gòn là TAO ĐÀN (của thi sĩ Đinh Hùng) và MÂY TẦN (của thi sĩ Kiên Giang). Dịp nầy anh em trong ban sáng lập chính thức thông qua bản ĐIỀU LỆ của Thi Văn Đoàn do tôi nghiên cứu soạn thảo, dùng làm kim chỉ nam cho hoạt động của văn đoàn cho đến năm 1975. Khác với nhiều văn đoàn bạn, VỀ NGUỒN không có Trưởng thi văn đoàn, mà có một Ban Thường Trực gồm các sáng lập viên và một số hội viên cốt cán được mời bổ sung vào, do một Thư Ký văn phòng thường trực điều hành, và một Thủ Quỹ tài chánh. Liên tiếp nhiều nhiệm kỳ, anh LÊ TRÚC KHANH và chị KIỀU DIỄM PHƯỢNG được toàn thể Ban Thường Trực đề cử đảm nhận chức vụ Thư Ký và Thủ Quỹ của Văn Đoàn. Đến tháng 10-1967, VỀ NGUỒN đã có 52 khuôn mặt thơ văn hiện diện trong nhóm và trên 80 thư xin gia nhập của nhiều bạn văn nghệ khắp nơi. Ngoài nhà sưu khảo văn học Nguyễn Bá Thế làm cố vấn, Ban Thường Trực gồm Lê Trúc Khanh (Thư Ký), Kiều Diễm Phượng (Thủ Quỹ), Huyền Vân Thanh, Hà Huy Thanh, Trân Khanh, Nguyễn Hoài Vọng, Siêu, Lăng Cảnh Huy, Lê Hà Uyên (GS Lê Văn Quới), Phương Giang (Truyền Tin), Lệ Thy, Thu Trúc (Sài Gòn), Châu Kim Phụng, Trúc Thanh Phương Thảo, Hồng Phượng, Nhất Tâm. Hội viên và cộng tác viên thường xuyên gồm Phạm Quyên Linh, Song Nguyễn, Đỗ Thanh Hoàng, Tường Lê, Kiều Mộng Hà, Linh Hùng (Hải Quân - Bình Thủy), Nguyễn Hữu Phương (Quân Cụ), Phạm Trường Giang, Nguyễn Huy Chương (Không Quân - Đội giải tỏa phi cơ lâm nạn - phi trường Trà Nóc), DT. Linh Phương, Dạ Lý, Sa Vũ, Sa Thoại Uyên, Nguyễn Hoài Thương, Du Ca, Hàn Nguyên, Tuấn Nghi, Nhật Giang, Kiều Phương Linh, Hoàng Tường Sơn, Thụy Mai, Thanh Tuấn, Hoài Trần My, Nguyễn Hồng (Quân Cảnh), Lệ Duyên Trang, Sao Ngân Hà (Cái Sắn - An Giang), Hoài Xuân Mai (Phú Nhuận), Vũ Thy Lãng Tưởng, Thanh Phương và Hoàng Dung (Sa Đéc), Mây Hồng và Hàn Mạc Dung Nhan (Sài Gòn)...

Lần họp mặt tại nhà anh Quới để thông qua ĐIỀU LỆ, tôi có nói với LÊ PHƯỚC NGHIỆP, là trong số các nhà thơ xuất hiện thời tiền chiến, đã có một nhà thơ lấy bút hiệu TRÚC KHANH rồi, đó là tác giả tập thơ ĐIÊN. Mấy năm qua, anh NGHIỆP đã chọn bút hiệu trùng lắp nầy và cộng tác với một số báo khắp nơi..., nếu bỏ đi là điều đáng tiếc, nhưng giữ nguyên càng không nên. Tôi đề nghị anh thêm họ của mình vào để phân biệt với nhà thơ tiền chiến, như vậy có lẽ đỡ bị ngộ nhận. Anh Quới rồi anh NGHIỆP và bạn bè có mặt hôm đó cũng đồng ý kiến với tôi. Từ đó, trong các sáng tác của mình, LÊ PHƯỚC NGHIỆP đều ký ba chữ LÊ TRÚC KHANH cho đến bây giờ.

            Năm 1966 khi in Thi tuyển VỀ NGUỒN, ngay số đầu tiên, chúng tôi đã viết đoạn văn ngắn để nói lên mục đích và ý nghĩa của VỀ NGUỒN, xem như nhắc lại tôn chỉ của Văn Đoàn để anh chị em cùng hướng về trong sáng tác:

CÚI NHẶT

.

         Vì nắng lửa mà lá vàng. Vì gió cuồng mà nước đục. Dù bị cuốn trôi trong dông bão thời gian, lá vẫn mong giấc ngủ thiên thu được vùi bên cội cũ. Dù luân lưu suốt mấy mùa mưa nắng, nước nhớ làm sao giấc mộng trở VỀ NGUỒN.

           Là những chiếc lá cô đơn. Là những dòng sông bé nhỏ, chúng tôi từ muôn hướng dạt về đây. Xin chớ nhìn nhau như những cánh chim lạc loài, xa lạ. Hãy vì nhau góp nắng hồng, đan sương nõn. Xin hãy vì nhau dìm bão loạn, xóa mưa dầu mà dựng lại mùa xuân.

        Mùa xuân trên đất mẹ bớt khô cằn với nước nguồn lá cội. Cánh hoa thì đơn sơ, nhụy hoa thì rũ rượi, hương hoa kém nồng nàn. Kẻ vun trồng chỉ xin khách thưởng hoa một nụ cười bao dung, giao cảm vì những loài hoa nầy tự gieo mầm từ nội cỏ ngàn cây trên mạch đất quê hương đã mấy mùa héo hắt.

                                                               (tvđ VỀ NGUỒN).

.

           Giới thiệu hoạt động của văn đoàn VỀ  NGUỒN, thi sĩ Kiên Giang (Ban Thi văn Mây Tần – đài phát thanh Sài Gòn) nói: "VỀ NGUỒN là một thi văn đoàn lớn nhất Hậu Giang". Nhà văn Sĩ Trung (Báo Tia Sáng) viết: "Thi văn đoàn VỀ NGUỒN đã khai sáng việc ấn hành loại thi tuyển đặc biệt ở Miền Tây". Cô Minh Văn (Nhật báo Sáng) viết: "Thi văn đoàn VỀ NGUỒN, một thi văn đoàn có phong thái và thanh khí đặc biệt... VỀ NGUỒN đừng bỏ nguồn nhé!" Trúc Quân (báo Tinh Hoa nữ sinh)  viết: "Những khuôn mặt VỀ NGUỒN đã không phản bội chủ đề mà họ đã dựng lên. Từ hình thức cấu tạo thơ đến nội dung đều thể hiện được con đường đã khai phóng của họ: VỀ NGUỒN. Thơ VỀ NGUỒN không lập dị, ý không cầu kỳ, tự nó phản ảnh được nó. Giữa lúc mà tình trạng Văn Nghệ Trẻ xô bồ như hiện nay có nhóm còn giữ được lập trường duy nhất và vững chắc như vậy là một việc làm đáng lưu ý..."

.

          Năm 1968 tôi được lệnh gọi nhập ngũ vào trường Bộ Binh Thủ Đức, anh LÊ TRÚC KHANH cùng các bạn nồng cốt của Ban Thường Trực ở lại tiếp tục điều hành Văn Đoàn. LÊ TRÚC KHANH thay mặt nhóm thực hiện chương trình tiếng thơ trên đài phát thanh Cần Thơ, theo tôn chỉ mở đầu từng buổi phát thanh với câu: "Đây VỀ NGUỒN. Tiếng nói tha thiết của những người yêu mến quê hương. Tiếng thơ chân thành của những người muốn tìm lại tự tình dân tộc. Do Lê Trúc Khanh phụ trách". Tiếng thơ gồm 3 phần: Hương hoa đất nước (mỗi kỳ một bài viết về quê hương đất nước con người có minh họa bằng thơ), Những sáng tác mới trong tuần, và Thư tín nhắn tin. Về sau có những kỳ phát chuyên đề hoặc đọc truyện ngắn (dưới dạng truyện kịch truyền thanh) được bạn bè văn nghệ gần xa yêu thích. Tiếng thơ VỀ NGUỒN phát mỗi kỳ 30 phút vào đêm thứ Ba (từ 22g30 đến 23giờ), sau đổi lại tối chủ nhật liên tục đến 30-4-75 mới ngưng. Khoảng thời gian nầy, anh LÊ TRÚC KHANH còn chủ trương thực hiện tạp chí KHƠI DÒNG, xuất bản tại Cần Thơ được 3 số, và đặc san VỀ NGUỒN phát hành hằng năm nhân kỷ niệm ngày thành lập Văn Đoàn. Năm 1973, chúng tôi đã chuẩn bị xong bài vở cho đặc san kỷ niệm CHÍN NĂM VĂN NGHỆ VỀ NGUỒN nhưng phải ngưng lại, vì vận động tài chánh không đủ trả chi phí in ấn trong tình trạng giấy báo và công in quá cao. Dù bạn bè văn nghệ khắp nơi đã nhiệt tình gởi bài vở cộng tác, phần biên tập cho số đặc san nầy rất phong phú, đa dạng; đồng thời một số anh em đã dặn mua trước, nhưng chúng tôi vẫn không thể in, đành phải lên tiếng xin lỗi trên chương trình tiếng thơ. Tôi còn nhớ, trong bài viết nhân kỷ niệm nầy, anh LÊ TRÚC KHANH có một câu cứ mãi in sâu trong tâm trí tôi, về cái tình trong văn đoàn: "Nhiều lúc tôi muốn hỏi Minh Bastos đã hút rồi bao nhiêu điếu thuốc? Bao nhiêu điếu thuốc là bấy nhiêu tình nghĩa mặn nồng(...)". Với chương trình Tiếng Thơ VỀ NGUỒN, anh lại tâm sự: "Chúng tôi cứ lo sợ chương trình thơ đến lúc phải im tiếng, khi một giọng ngâm bằng vàng của chúng tôi – cô giáo Liêm (Huỳnh Túy Liêm) – một ngày nào đó vâng lệnh song thân để theo trời mưa bong bóng (...)". Thực tế thì lúc đó, bên cạnh giọng ngâm sáng giá của chúng tôi là cô giáo Liêm, còn có mấy giọng ngâm nữa như Tô Thùy Uyên, Phạm Trường Giang, Nguyễn Huy Chương, và sau nầy có nhóm trẻ mới như Thùy Chinh, Mỹ Nhiên, Vũ Hưng, Lê Thế. Phần nhạc đệm đã có Minh Phước (tranh và độc huyền), Vũ Mạnh Ngân, Huy Thọ, Tất Lang (sáo trúc), Lê Hoàng Tâm (Guitare). Đúng là những tình cảm chân thành mà LÊ TRÚC KHANH tâm sự với anh chị em trong Văn Đoàn nói riêng, với bạn bè văn nghệ gần xa vốn có cảm tình với VỀ NGUỒN liên tiếp nhiều năm, qua hoạt động sáng tác, in ấn thi tuyển, đặc san, đầu sách (tập thơ của các anh em như Phương Giang, Nguyễn Hoài Vọng, Hà Huy Thanh, Nguyễn Hữu Phương, Huyền Vân Thanh, Kiều Diễm Phượng, Phạm Hữu Quang, Lê Trúc Khanh v.v...) và thực hiện chương trình tiếng thơ trên đài phát thanh Cần Thơ trước năm 1975. Đến đây xin đóng ngoặc để nói về hai miền quê hương trong một nguồn thơ của Lê trúc Khanh].

.

         LÊ TRÚC KHANH có sở trường viết về QUÊ HƯƠNG và TÌNH YÊU với ngôn ngữ rất bóng bẩy, hồn nhiên, dễ gợi cảm. Thơ anh có hồn, đọc lên nghe như ngân vang của nhạc điệu, bởi người ta bắt gặp một chút âm tiết trong thơ Quang Dũng, Hồ Dzếnh..., một chút bình dị, sáng trong của Kiên Giang, nhưng cái riêng vẫn là LÊ TRÚC KHANH, một người làm thơ sinh quán đất BẾN TRE, quê hương của cụ Đồ Nguyễn Đình Chiểu, và chốn nương thân của Quan kinh lược sứ, Đại học sĩ Phan Thanh Giản.

.

         Với miền quê hương BẾN TRE, LÊ TRÚC KHANH gieo bút thật dễ dàng, thoải mái. Có lẽ do tuổi thơ của anh đã thắm đượm bao nhiêu kỷ niệm nơi chôn nhau cắt rốn nầy – đúng là quê ngoại – nên trong thơ anh, chúng ta luôn bắt gặp hình ảnh ngoại, được anh sử dụng như chính hơi thở thường ngày của mình. Dọc theo chặng đường thơ của anh, tôi không tìm thấy một bài thơ hay một câu thơ nào nói về quê Nội hay hình ảnh người cha. Phải chăng tình cảm gia đình riêng tư có những gút mắc mà anh khó thể phơi bày qua từng xúc cảm thi ca của mình? Tôn trọng cái riêng tư thầm kín đó mà suốt những năm tháng quen nhau, không bao giờ tôi hỏi anh vì sao. Chỉ biết, anh ca tụng QUÊ NGOẠI rất cảm động, rất thâm tình. Ngay từ năm 15 tuổi, anh đã viết bài thơ rất dài mang tựa QUÊ NGOẠI, đăng báo rồi diễn ngâm trên ban thi văn MÂY TẦN nhiều lần, được bạn thơ khắp nơi vô cùng yêu thích. Một bài khác về đề tài nầy, anh viết:

.

QUÊ HƯƠNG CỦA NGOẠI

 kính dâng hương hồn Ngoại

   để tặng anh Kiên Giang

.

Hơi thở mù sương nhòa mắt cỏ

Bàn chân khăng khít mạch phù sa

Quê hương Ngoại đẫm mùi khoai sắn

Gian khổ tình thương mới đậm đà.

.

Tháng giêng và cánh diều nương rẫy

Bếp lửa chiều bay dạt khói lam

Bìm bịp gọi từ con nước lớn

Thuyền ai mang gió chướng qua vàm.

.

Giấc ngủ con ngời hương cổ tích

Hồn thơm hoa mận với hoa đào

Ngoại gánh thời gian nên áo rách

Mái đầu bạc trắng tựa hoa cau.

.

Ngọn tre hàng xóm cao theo Tết

Con trưởng thành qua số tuổi đời

Để thấy Ngoại già thêm chút nữa

Để vườn nhân thế lá vàng rơi.

.

Từ lúc Ngoại mù – con bỏ xứ

Quê mình – thôi – lửa khói đao binh

Ngoại ơi cỏ mộ còn ai dẫy

Hay vẫn muôn đời hoang dáng xanh?

.                               

Thưa Ngoại – trên hàng cau lão đó

Trên bờ bến ngọt nước nhà quê

Bóng mát hoài hương mờ tuổi dại

Đường xưa ai dẫn lối đi về?

.

                                      LÊ TRÚC KHANH

.

 Hoặc trong một bài thơ khác, anh viết:

 (...)

 Chờ Tết, Ngoại trồng bông vạn thọ

 Cháu con về tảo mộ người thân

 Đèn nhang ươm sáng trời tinh tú

 Thương nhớ nào rơi kín mộ phần ?

.

 Nêu mới vươn trời ru gió Bấc

 Mười lăm tháng chạp đã vào xuân

 Bỏ manh áo vá từ năm ngoái

 Khua guốc đường mơ pháo lại gần (...)

.

                                  (LTK - Giấc ngủ mùa xuân)

.

      Với KIẾN HOÀ – thơ anh gắn bó đến thân tình, gần gũi như hơi thở, như nhịp đập con tim. Phải chăng quê hương thời ấu thơ kỷ niệm đã thấm vào máu tim anh  như thế?

.

             Đây Kiến Hoà quê hương ấu thơ

             Người về xin nhớ đứng trong mơ

             Để nhìn sương khói vờn quê mẹ

             Đôi mắt trùng hoan lạnh bến bờ.

.

             Một thoáng ngời xa dòng cửa Đại

             Bóng dừa ru ngủ giấc hồn nhiên

             Từ trong mạch sống phù sa đó

             Người có nhìn theo bóng khói lên?

             (...)

                                            (LTK - Miền thơ ấu cũ)

.

         Và, bài thơ tôi cho là rất chan chứa thâm tình, đậm sâu dấu ấn về tình yêu quê hương thuở ấu thơ của anh, mà sau những năm dài cuốn trôi trong dòng đời nghiệt ngã, có dịp trở lại đã gây cho anh niềm xúc cảm đến ngậm ngùi. Ở bài thơ nầy, anh dùng một số từ rất lạ, một số từ tượng hình thật xúc tích, chẳng hạn mắt hừng lên, hiên đồng ấu, cỏ rối, diều ghen, phướn bơ vơ, gà trưa xao xác, trôi tắp trường lưu... như sau:

. 

             VỀ MỘT QUÊ HƯƠNG

     .       

           Tôi trở về đây – trở lại đây 

           Nước sông là vẫn nước sông đầy

           Nghe chìa vôi hót chiều Tân Thạch

           Mà ngẩn ngơ trời mây trắng bay.

.

            Mưa ngát Tiền Giang sóng dậy bờ

            Đêm rồi em ngủ có nằm mơ

            Thấy tôi áo gấm về quê cũ

            Nên mắt hừng lên những đợi chờ?

.

            Cồn Cát đã xanh lờ ngàn cây

            Cho tôi thương nhớ một phương nầy

            Có em qua Bắc đừng nghiêng nón

            Vì ước mơ thành sương khói bay.

.

            Bên hiên đồng ấu của ngày xưa

            Cỏ rối trời xanh nhẹ bước hờ

            Tung dấu chân không ngày nghỉ học

            Bước rời hiên lớp bướm thành thơ.

.

            Vóc nước phèn trong dưới Rạch Chùa

            Diều ghen tháng chạp phướn bơ vơ

            Ngỡ em Chức Nữ nghìn thu ấy

            Đợi mống trời lên giữa nắng mưa.

.

            Ru dáng bần xanh mặt nước xanh

            Nghe thu vừa rụng đến trơ cành

            Gà trưa xao xác chiều nghiêng bãi

            Trôi tắp trường lưu dấu lục bình.

.

            Tôi trở về đây – trở lại đây

            Thì sờn vai áo trắng bàn tay

            Nón mê giày cỏ đời phiêu lãng

            Mộng Giáng Kiều xưa đọng gót hài.

.

            Rạch Miễu vàng thu vào mênh mông

            Ơi mắt em xanh dù mưa hồng

            Chưa chắc đầy sân bong bóng nhỏ

            Sao buồn tôi ngát một dòng sông?

.

                                                 LÊ TRÚC KHANH

.

         Viết về quê hương thơ ấu thời chinh chiến, LÊ TRÚC KHANH có cái nhìn khá tế nhị.

                                

            (...)

            Nhìn kia em – Kiến Hòa mênh mông

            Hỏa châu chiều rựng má em hồng

            Nhà xưa bếp cũ buồn hơn mộng

            Chinh chiến trên miền thương trắng trong.

.

            Mơ lối hồn giăng bờ Rạch Miễu

            Đò trôi theo đợt sóng mùa thu

            Mỹ Tho "đèn tỏ đèn lu" ấy

            Em hãy vờn trông đám bụi mù.

.

            Anh chỉ em những lỗ châu mai

            Những hàng dây kẽm những vòng đai...

            (...)

                                      (LTK - Mùa thu đưa em về quê)

.

         Và còn rất nhiều bài thơ LÊ TRÚC KHANH đã viết về miền quê hương ấu thơ, mỗi bài có những khám phá riêng, những cái nhìn riêng bằng cảm quan của tác giả khi viết. Còn miền quê hương thứ hai của anh thì sao? Bởi cùng trong một nguồn thơ của một đời người, nên LÊ TRÚC KHANH cũng có những tha thiết, chân thành, và cũng tại miền quê hương nầy, đã phát sinh trong anh thêm một thứ tình yêu rộn rã con tim, để rồi cả hai hòa quyện vào nhau, đi vào thơ ca của anh đến vô cùng. Xin trích mấy đoạn thơ cho thấy cái tình của người làm thơ với miền quê hương mà LÊ TRÚC KHANH đã bước vào khôn lớn, nên người nầy:

          (...)

          Phong Điền – Phong Điền với tình yêu

          Vào thu đã thấy lá rơi nhiều

          Dòng sông trôi tắp đời vô định

          Anh lắng thời gian dưới nhịp chèo...

.

          Cái Răng – Ba Láng nghìn tâm sự

          Con nước vời trông một bến bờ

          Mấy nhịp Trường Tiền lăng lắc ấy

          Mái trường dăm bóng trẻ ngây thơ (...)

       .                                  

                                              (LTK - Về quê hương ấy)

.

           (...)

           Bảy tám năm rồi xa lớp học

           Xa trường xa hết cuộc rong chơi

           Dòng sông Cái Khế buồn thiu đó

           Đã cuốn tình trôi vạn nẻo đời.

.

           Lau trắng bờ xa, trời đất cũ

           Hừng đông sương khói khói sương tan

           Ai biết học trò "ngơ ngác" ấy

           Qua cầu Trà Nóc nhớ mang mang (...)

    .                       

                                                 (LTK - Như thời lên Đệ Nhị)

           (...)

           Em sẽ ru con bằng ca dao

           Ngẩn ngơ đàn cá lội sông đào

           Vườn thưa anh cuốc trồng khoai sắn

           Đêm chuyện đời xưa nhớ với nhau.

.

            Chuyện bạn bè anh lần nhập ngũ

            Rưng rưng nước mắt những ngày vui

            Mấy năm chinh chiến ngùi biên ải

            Ai biết còn ai giữa cuộc đời?

.

            Dạy con mười tuổi biết làm thơ

            Biết mến quê hương mến cõi bờ

            Để thấy từ trong xương máu đó

            Thanh bình mộng cũ vẫn xanh mơ (...)

.

                                                      (LTK - Bài diễm ca cho em)

    .

         Đặc biệt, đối với miền quê hương thứ hai nầy, LÊ TRÚC KHANH có ngôn ngữ thơ vừa trữ tình, vừa sâu kín, thầm thì nói với người yêu như nói với chính mình những cảm xúc bộc phát từ tim, từ máu thịt trước cuộc sống vô vàn thay đổi do định mạng đến với bản thân. Cái nhớ thương, tiếc nuối thời đi học; những cuộc hẹn hò đầy bướm hoa, hồn nhiên mà khát vọng đã theo thời gian vút bay như cánh diều tuổi thơ của những trưa hè lộng gió, đến nỗi anh buột miệng thốt lên:

             (...)

             Cho hết là không còn để cho

             Không còn đưa đón vẩn vơ lo

             Mình chung bước nhỏ đường thôi rộng

             Nghe nắng tình vương áo học trò...

.

                                                          (LTK - Tuổi dại)

.

         Để rồi, cũng với ngôn ngữ thơ như thế, LÊ TRÚC KHANH đã viết :

.

           CHO HẾT NGÀY THƠ

.

           Đã tới Phong Điền rồi hở em?

           Một dòng sông nhỏ một đường quen

           Lòng anh rộ nở ngàn lau trắng

           Cơn gió mùa đông lạnh nỗi niềm.

.

          Tím lục bình xa mặt nước đầy

          Nối vàm Kinh Xáng những vầng mây

          Vàng bông điên điển trời quê nội (*)

          Là lúc hiên trường hoa nắng bay.

.                                 

          Nhớ đến bao nhiêu thời trẻ dại

          Trường chung – lớp khác – mộng trong đời

          Ai biết anh buồn hơn Cái Khế,

          Mơ chiều Vú Sữa mấy ngày vui.

 .                               

          Anh nhớ về đâu nhớ đến đâu

          Nắng lên hồng thắm má hoa đào

          Nghe như rộn rã lần thôi học

          Em cứ tan trường đi ngõ sau.

.

          Anh muốn ngồi đây dưới hàng sao

          Thơm sầu riêng lắm thuở ban đầu

          Tứ thơ và nước trường giang ấy

          Còn chảy ngàn năm giữa nhịp cầu.

.

           Ngọt nước dừa môi em ngát xinh

           Trà Niềng râm mát thuyền lênh đênh

           Nghiêng nghiêng bãi vắng chèo lơi mái

           Là lúc đời trôi tắp lãng quên.

.

           Ba bốn năm rồi vẫn nhớ thương

           Anh vào nghề giáo dạy văn chương

           Đói nghèo – áo rách – khô buồng phổi

           Và rã rời thân những đoạn đường.

.

           Ngồi xuống đi em – một phút nầy

           Cho anh ngắm lại tóc thề bay

           Tròn trăng nét mặt tình nương cũ

           Vì đã qua rằm nên đổi thay.

.

           Em cũng dầm thân giữa chợ chiều

           Vườn xuân xao xác tiếng chim kêu

           Sớm trưa hai buổi đường xuôi ngược

           Riêng chút tình anh nhớ thật nhiều.

.

           Anh muốn ngồi đây – ngồi lại đây

           Biết mai còn thấy tóc em dài

           Ừ, thương em lắm từ năm cũ

           Kìa lá sầu riêng rụng xuống vai.

.

                                             LÊ TRÚC KHANH

_______

      (*) Quê Nội trong bài để nói quê vợ của anh, cô giáo TRẦN KIỀU NGA. Đây cũng là lần duy nhất anh dùng chữ quê Nội trong thơ  (chú thích của LCT)

.

         Như tôi đã nói từ đầu, LÊ TRÚC KHANH vốn là một nhà giáo dạy văn chương nên khi làm thơ, anh đã sử dụng ngôn ngữ rất chọn lọc và cố dùng những từ thật trau chuốt, bóng bẩy, đọc lên thấy được nét tài hoa của anh. LÊ TRÚC KHANH làm thơ mới loại bảy chữ nhiều hơn các thể thơ khác. Tuy nhiên, không phải vì thế mà các thể thơ kia anh có khuyết điểm, nó vẫn mượt mà, giàu tiết tấu và sự truyền đạt tâm tư cũng khéo léo vô cùng. Như bài lục bát ngắn dưới đây :

.              

           NHƯ LÚC CHỜ TRĂNG

.

            Thuyền sương đọng dấu chân hờ

            Bèo trôi dạt mấy bên bờ mù khơi

            Dòng sông trắng những nụ cười

            Là long lanh mắt em ngồi chờ trăng...

            Rừng sao mở hội hoa đăng

            Gió lồng lộng ngút ngàn giăng hẹn thề

           "Sao vua chín cái nằm kề

            Thương em từ thuở mẹ về với cha".

            Rũ lòng anh giữa phù hoa

            Trắng bàn tay nỗi xót xa không rời

            Gởi cho em nửa khung trời

            Nửa vầng trăng với cuộc đời làm thơ.

.

                                                   LÊ TRÚC KHANH

.

         Theo tôi được biết, LÊ TRÚC KHANH đã làm hàng ngàn bài thơ với ngôn ngữ đẹp như thế, nhưng trước năm 1975, anh chỉ khiêm nhường cho xuất hiện trong tập thơ mỏng mang tên QUÊ HƯƠNG TÌNH YÊU VÀ NỖI NHỚ KHÔN CÙNG do cơ sở xuất bản VỀ NGUỒN ấn hành, cùng nhiều bài thơ đăng các nhật báo, tuần báo, nguyệt san, tạp chí xuất bản tại Sài Gòn và các tỉnh Miền Tây. Sau năm 1975, anh vẫn tiếp tục sáng tác và lưu giữ trong chồng bản thảo của mình. Thỉnh thoảng anh đưa tôi xem một đôi bài, và tôi vẫn thấy rõ cái sung sức, phong độ và tính cách thơ của LÊ TRÚC KHANH mãi mãi như thế. Có thể nói nguồn thơ trong con người mang nghề giáo dạy văn chương, nhưng vương cái nghiệp làm thơ - lại là thơ tình yêu và quê hương mà chính anh đã chọn - đúng hơn là khoanh vùng giới hạn của thơ mình là nỗi nhớ khôn cùng. Như vậy, đứng một góc độ nào đó mà xét, tôi nghĩ rằng, LÊ TRÚC KHANH thật sự đứng vững trong thơ ca trữ tình bằng ngôn ngữ riêng tư, dù cuộc sống xung quanh có làm cho anh cảm nhận là mình đã bị cuốn trôi trong dòng đời nghiệt ngã, và nguồn rung cảm đã khô cằn. LÊ TRÚC KHANH, ít ra đã có bạn yêu thơ gìn giữ trong lòng mối tình cảm sâu xa, vì anh đã tự chọn lấy hai miền quê hương để gạn lọc cho nguồn thơ phong phú, trữ tình quá đặc biệt riêng tư, mà không phải ai muốn có cũng được như anh. Nếu cuộc sống không bị ràng buộc điều gì, có lẽ LÊ TRÚC KHANH sẽ không ngần ngại gì mà không cho tác phẩm mình đến với bạn yêu thơ, như ngày xưa chúng tôi cùng nhau phổ biến trên chương trình Tiếng thơ VỀ NGUỒN, hoặc trong các thi tuyển đặc biệt của Văn Đoàn VỀ NGUỒN tại Cần Thơ trong thập niên 60-70 mà nhà văn Sĩ Trung đã viết trên báo Tia Sáng, tôi có trích dẫn trên đây.

.

HOUSTON, tháng 9-1995

.

Trích thơ

LÊ TRÚC KHANH

.

           QUÊ HƯƠNG HAI ĐỨA

           @

           Anh lớn trong miền Tây khai hoang

           Quê hương và nước bạc cơm vàng

           Khúc ca Nam tiến khơi tình đất

           Pha máu cho phù sa điểm trang.

.

           Đèn lửa thương hồ rưng bến khói

           Thuyền về qua nhịp thở U Minh

           Ai đó góp tay thời kháng chiến

           Tầm vông đem dựng ý thanh bình?

.

            Ngày mưa lục tỉnh giăng châu thổ

            Để lúa hồn nhiên với cuộc đời:

            Vượt sống bình yên – cày sỏi đá

            Tô màu lên chín cửa mù khơi.

             @

             Giấc ngủ em hờn trăng Tô Châu

             Mộng cùng sao rụng vũng chiêm bao

             Trường lưu thôi khuấy hồn Dương Tử

             Duyên hải nào dâng sóng bạc đầu?

.

             Mây Tứ Xuyên còn trôi nữa không?

             Đường in dấu ngựa – nắng mai hồng

             Em tiền thân cũng loài chim Việt

             Nương gió Nam mà xuôi bể Đông.

             @

                  

             Rồi chinh chiến đó tràn lan mãi

             Hoa nắng ngùi tan dưới chợ chiều

             Trống vọng kỳ yên – đình đám cũ

             Chôn vùi theo "ngói đổ tường xiêu".

.

             "Gạo chợ nước sông" từ buổi ấy

             Những người xa xứ mới quen nhau

             Mùa loạn ly dầm thân áo vải

             Đò neo – bèo giạt – trắng chân cầu.

             @

             Hai đứa giờ chung trời Cần Thơ

             Dòng sông thương ngọt tuổi đôi bờ

             Ngủ ngoan em – giữa vòng tay mẹ

             Trên biển xanh – thừa hương ấu thơ.

.

             Vạn lời ca dao dành cho em

             "Điệp khúc trầm tư" của mẹ hiền

             Anh thức khi lòng nôi khát sữa

             Lặng buồn nghe nhịp võng triền miên.

           .                    

             Quê hương mình khóc cười dang dở?

             Cuồn cuộn tràng giang chảy lạc nguồn

             Gát mái đi em – tìm bến đỗ

             Căng buồm ru giọng hát người thương.

             .                           

                                                          22-4-1967

             EM VÀ CÁI RĂNG

 .

             Trời Cái Răng ngàn trăm tiếng em

             Đường mưa con nước đỏ hoa đèn

             Nửa khuya biển phố chừng khua sóng

             Đôi dấu chân hằn sâu bóng đêm.

.

             Vầng trán em cao trời tỉnh nhỏ

             Bàn tay thương đếm mấy cho vừa?

             Áo em ngắn nếp Triều Châu cũ

             Mái tóc thơm mùi Hương Cảng xưa.

.

             Em trót sầu vương 14 tuổi

             15 em đã biết thương tôi

             Rồi chia hai dáng mùa khai hạ

             Em vẫn vì nhau để ngậm ngùi.

.

             Vòng môi bích thủy chừng cay đắng

             Huyễn mộng thiên đường nghe trở trăn

             Đưa em lạc lối hồn lên áo

             Tôi chuyến xe về – không nói năng.

       .

             Tuổi học trò mang mang kỷ niệm

             Chiều ơi – gió động gót âm thầm

             Nón đó em buồn che bóng nhỏ

             Tôi trời mưa bụi – rét căm căm.

.

             VỀ RẪY ĂN CÒNG

.

            Vùng đất vừa trâu nằm vũng đó,

Cấy cày mình Ngoại nắng rồi mưa

Người ta chia cả phần hương hoả

Cho Ngoại nhờ trên khoảng ruộng thừa.

.

Ngoại đem mầm sống gieo từng hạt

Sang tháng mười mong lúa trĩu cây

Hạt gạo Cà Đun vùng đất mở,

Nồi cơm đơn bạc cũng qua ngày.

.

Những năm kham khổ miền quê Ngoại,

Mẹ hái mồng tơi bán chợ làng

Mua vải hột dền may áo cấy,

Lá dừa nước dựng kín chòi hoang.

.

Dạy con cần trúc cài bông bụp

Đem thả trôi dài theo nước sông

Thuở ấy chừng năm – chừng sáu tuổi,

Nhà quê – con đã biết ăn còng.

.

Củi tre nhóm bếp rang còng sữa

Hương khói bay trời thơ ấu xưa

Ngoại mất – Mẹ lìa thôn xóm cũ

Hồi hương thôi đợi đến bao giờ?

.

Thành đô vạn ngã đường xe ngựa

Bụi xóa hồn thanh khiết ruộng đồng

Mất cánh gà khuya tan tác gáy,

Mất đàn chim chóc gọi hừng đông.

.

Câu hát ngày xưa lơi nhịp võng

Lời ca dao Ngoại bán thiên đình

Đợi chín buồng cau trồng tháng Hạ

Đêm còn vương xóm rẫy mông mênh?

.

Tháng 5-1967

.

MÙA HẬU CHIẾN

.

Rồi lúa vàng thơm chuyện thái bình

Trường giang trôi tắp mộng cuồng chinh

Ngựa về tay khấu cười say nhạc

Trong áo bào men ngát giọng quỳnh.

.

Hào khí đã đành chôn dưới mộ

Thành xưa chừng bặt tiếng quyên sầu

Một giấc Long Hồ vang chiến sử

Ta làm mây trắng miệt Ngao Châu.

.

Mấy độ ngư tiều trơ bóng khói

Ngậm ngùi bỗng nhớ Lục Vân Tiên

Nghìn năm trên sóng Tiền Giang ấy,

Thơ dẫn hồn say dưới mạn thuyền.

 .

Ta ngủ vùi trên ước mơ xưa

Ruộng đồng một thoáng lại xanh mơ

Có con cò trắng đời chưa mỏi,

Nên chắp tình bay đến dại khờ.

.

Thì cũng hầu quên hết máu xương

Từ dòng Ngân Hán rửa yên cương

Từ thanh kiếm gãy vùng biên trán

Đã bạc đầu ta lạnh chiến trường.

.

Còn buổi ta về hồng mắt em

Rối bời kỷ niệm tóc thề quen

Dám xin chim hót bình minh dậy

Ơi nắng mùa xuân ngủ thật hiền.

.

Và cưới em bằng trăng với thơ

Hồi môn thêm một chuyến đò đưa

Trăng ta dài khắp miền duyên hải

Như tháng ngày em trót dại khờ.

.

 ĐƯỜNG THỨ 20

.

 Là khói chiều bay ngút một trời

 Em về áo lộng gió hai mươi

 Đã se mầu tóc lần xa cách

 Và đã thành mây những nụ cười.

.

 Em có theo mùa thu tới không

 Còn riêng anh với ước mơ hồng

 Từ xa lớp cũ vàng nhung nhớ

 Mình kẻ đầu sông kẻ cuối sông.

.

 Khi nắng hồng xưa đậu trước thềm

 Em còn len lén dấu chân chim

 Bước đi chưa dẫm hồn trinh trắng

 Ờ nụ tầm xuân rụng giữa đêm.

.

 Phố bụi đường xe mù tóc rối

 Chiều mây lục tỉnh vắt ngang đầu

 Ai xót dùm anh thời quá khứ

 Một lần cho mộng đến nghìn thu.

.

Sẽ lãng quên đời như thuở ấy

Rửa tay gác kiếm bỏ công hầu

Thì đó – Kiều Phong lìa ải Nhạn

Sao buồn lên đọng mắt A Châu.

.

Vì thiếu dù che trời mưa bay

Lòng anh tăm tắp nước sông đầy

Xin chung bước nhỏ lần tan học

Tình nở – chiều tan – gió lắt lay.

.

Vừa lạc lời thu xuống tứ thơ

Con chim chiền chiện gọi bên bờ

Tung tăng chân sáo cười hoa cỏ

Và ấm đời hoang chút dại khờ.

.

NHƯ NỤ TẦM XUÂN

.

Như em về đó quê nghèo

Con đường liên tỉnh một chiều áo bay

Dòng sông con nước trôi hoài

Tình không lãng đãng tháng ngày buồn thiu.

.

Đã thương đã nhớ bao nhiêu

Bến ca dao vẫn hắt hiu con đò

"Vói tay mà ngắt ngọn ngò

Thương em đứt ruột giả đò làm lơ!"

.

Em còn hiển hiện trong thơ

Nụ tầm xuân chín cành xưa dại khờ

Anh về mấy độ nằm mơ

Bèo mây giạt đến bao giờ hở em?

.

Ô MÔN, NHỮNG THÁNG NGÀY XA

.

Ôi chút niềm riêng thoáng dấu yêu

Lòng xa mặt nước nhớ trăm chiều

Đã trôi lăng lắc mùa đông cũ:

"Gối lẻ giường đơn lạnh rất nhiều"...

.

Những tối lang thang buồn phố quận

Là mây lãng đãng cuối chân trời

Phải mắt em về sao lấp lánh

Hay mùa đom đóm nở hoa khôi?

.

Hành lang còn thắm màu rau ngỗ

Chôn dấu hài xưa dưới cát lầm

Tình cũng y nguyên thời mới lớn

Ba bốn năm rồi năm sáu năm...

     .                       

Có một dòng sông một bến sông

Trăm năm hò hẹn chẳng chung dòng

Mới hay bèo nước là tan hợp

Là ngút ngàn xa những ước mong...

.

QUÊ NGOẠI

.

Quê Ngoại nghìn năm mây trắng bay

Cầu tre muôn thuở quyện sông dài

Ráng chiều trôi đỏ hàng cau trắng

Khói rạ hương đồng ngây ngất say.

.

Sao mình không thương quê Nội?

Vẫn nắng chiều ngõ tối xanh xanh

Ngày xưa, mây trắng xây thành

Mặt trời xuống đó sao mình không thương?

Không, mình chỉ thương quê Ngoại

Nơi đây

Những mái đầu bạc trắng

Đau buồn sót lại của ngày xanh.

Gánh lúa khòm lưng run rẩy mắt

Tay gầy giọt lệ chảy quanh quanh.

.

Hồi nhỏ, Ngoại từng lao khổ lắm

Tay bùn, áo rách ướt mồ hôi

Gặt lúa đồng xa đun gốc rạ

Nồi cơm khoai sắn nuốt không trôi.

.

Thời gian đi mất xa xôi

Ngoại buồn xuất giá, về nơi quê chồng

Khói chiều rớt xuống mênh mông

Trời xa chỉ thấy ráng hồng trời xa.

.

Nhưng Ngoại vẫn còn gian khổ nữa

Trăm năm cay đắng bởi thương chồng

Bán trái đồng chua, mua gạo trắng

Lo trời nắng Hạ, rét mùa Đông.

Rồi một ngày nào đó

Ngoại dắt đàn con thơ

Trở về quê cũ

Sau buổi mong chờ

Một mình dựng lại cơ đồ

Nuôi đàn còn dại mà khô mắt buồn.

.

Cau vẫn oằn sai xanh bóng lá

Ráng chiều rụng trắng xuống bờ ao

Vẫn khói hoàng hôn lên mái lá

Quê nghèo sống lại nghĩa trầu cau.

.

Sông sâu sóng vỗ dạt dào

Tre già vĩnh biệt măng chào bình minh

Oằn vai nặng gánh gia đình

Ngày đi chỉ có riêng mình cô đơn.

.

Ngoại buông tay trắng buồn gian khổ

Trả nợ muôn đời cho thế gian

Đất mỡ phù sa xanh bóng cỏ

Lá chiều rụng cánh xuống Thu Hoang.

.

Ngoại chết nhưng hồn lên khóm tre

Đêm đêm còn gọi cháu con về

Thắp lại tuần nhang, un bếp lửa

Cho đừng lạnh lẽo nếp nhà quê.

.

Ngoại chết, trời Thu vương máu loang

Hồi sinh ngùn ngụt đất khô cằn

Thời gian xoã tóc hồn oan lạnh

Rũ ruống đêm dài dâng ánh trăng.

.

Đã trót đời hoang đêm thế kỷ

Chiều nay dừng lại ở quê nghèo

Góp lá cau khô đùn ánh lửa

Sương trời ôm trọn lá rơi theo.

.

Trời vẫn hoàng hôn, đêm vẫn mưa

Mình thương quê Ngoại mấy cho vừa?

Nước mặn đồng chua cuồng nước mắt

Sao trời có rụng xuống đường xưa.

.

Quê Ngoại ngàn sau còn bếp lửa

Còn hoang hôn lạnh tím vương vương

Mình vẫn còn thương muôn thuở mãi

Cơm chiều lúa rạ loãng hơi sương.

.

26-3-1965

.

LẦN TRỞ LẠI BẾN TRE

.

Dòng sông cuộn chảy xa vời,

Một mình anh giữa đất trời quạnh hiu

Hàng dừa xõa tóc đăm chiêu

Tiếng chim bìm bịp kêu chiều bãi xa...

Là thương – thương lắm quê nhà

Khói hoàng hôn cũng nhạt nhòa – đầy vơi

Long lanh mưa nhỏ, bồi hồi

Bến Tre mưa – có mưa trời Cần Thơ ?

Anh về nhớ ngoại thuở xưa

Nhớ hàng cau, nhớ tuổi thơ ngậm ngùi...

Nhớ bao nhiêu chuyện trên đời,

Những lòng tham giết con người nghĩa nhân!

Chiều quê đọng thoáng bâng khuâng

Còn riêng em với mùa xuân cho đời.

Tình yêu – năm tháng – xa vời,

Trái tim kia vẫn sáng ngời nghìn sau.

 .

Anh về lắng khúc ca dao,

Lời thơ xưa xé lòng nhau, u hoài:

"Chẻ tre bện sáo cho dày

Ngăn ngang sông Mỹ có ngày gặp nhau."

.

Anh về đây biết về đâu?

Dòng sông – kỷ niệm – hàng cau –

                                             ngậm ngùi...

.

 CHÚT NGẬM NGÙI XƯA

.

Trên những đường xưa rợp áo dài

Em về gió động tóc thề bay...

Mười lăm năm giữa nghìn thay đổi,

Lòng thực bình yên một sớm này.

.

Có phải sân trường ta rất rộng

Mà lòng tôi chỉ một hành lang

Cho nên chút nắng đầu thu cũ

Chưa đủ làm rơi những lá vàng?

...

Ngày ấy, theo em về cuối ngõ

Giấu đời trong nón ngại ngần che

Giữ đi em – gió đừng bay tóc

Mà rối lòng nhau chuyện ước thề.

.

Nhà tôi trong ngõ, lầu che khuất

Nhưng vẫn còn riêng một khoảng trời

Gốc mận chen trong tàng vú sữa

Lạ lùng nghe vẳng tiếng chim vui.

.

Bạn bè dăm đứa làm văn nghệ

Mỏi mắt chờ trông những cánh thơ

"Hát hội trăng rằm" sân khấu ấy,

Lòng tôi, trọn gởi lại trường xưa...

.

Từ lúc ra trường, xa lớp cũ

Đời-như-sông-nhỏ dạt về đâu?

Chiến tranh – cơm áo – mòn mơ ước,

Và những niềm đau chóng bạc đầu!

...

Cám ơn tà áo mùa khai học

Bay suốt đời tôi những ước mơ

Sương khói trăm năm màu trắng cũ

Bâng khuâng một chút ngậm ngùi xưa...

.

                          Cần Thơ, mùa khai trường

.

          TRÊN ĐỈNH ĐÈO HẢI VÂN

.


.
Đứng đây
giữa núi và mây
Trời cao 
  với một tầm tay, chợt gần
Nhớ người xưa thoáng bâng khuâng
"chim kêu gành đá gẫm thân thêm buồn".
.....

Đã qua mấy suối mấy nguồn
Mấy dòng sông mấy con đường tịch liêu
Lòng rưng giọt nắng trong chiều
Chút tình quê gửi lưng đèo, buồn tênh....

                         LÊ TRÚC KHANH

.

LÊ CẦN THƠ

(Trích trong NHỮNG BẠN VĂN NGHỆ NGANG QUA ĐỜI TÔI

Tâm bút LÊ CẦN THƠ - Bản Thảo Lưu Lại 2010, từ trang 211 đến 244)

______________________________________________________________________

HÃY TRẢ VỀ

ĐÚNG SỰ THẬT

MỘT CÔNG TRÌNH TIM ÓC

* tưởng nhớ hương linh Hà Huy Thanh

* tặng GS Lê Văn Quới và GS Lê Phước Nghiệp

   đã từng ray rứt về vấn đề chua xót nầy.

 

bài của

LÊ CẦN THƠ

         Trong bài viết về nhà sưu khảo văn học NGUYỄN BÁ THẾ, tôi có đề cập đến một số công trình lớn mà ông đã dày công sưu tầm, nghiên cứu để biên soạn, trong đó có hai bộ sách TỪ ĐIỂN NHÂN VẬT LỊCH SỬ VIỆT NAM và TỪ ĐIỂN NHÂN VẬT LỊCH SỬ TRUNG QUỐC từ những năm ông mới ở vào độ tuổi 30. Được biết có nhiều tài liệu của ông bị một số người mượn không trả và lại lấy làm “của riêng” để xuất bản. Tôi tận mắt chứng kiến tập bản thảo do ông Nguyễn Bá Thế viết tay trên giấy học trò loại 200 trang “THƠ VỊNH KIỀU”, do một GS từ Sài Gòn xuống “mượn” sau đó được in và xuất bản hẳn hoi với tên GS đó là tác giả, nên tôi ngại loạt bài trong bộ từ điển NHÂN VẬT LỊCH SỬ VIỆT NAM đang có người từ Sài Gòn muốn mượn rải rác một số trang về tham khảo… có thể bị sử dụng như Thơ Vịnh Kiều, nên tôi đề nghị ông Nguyễn Bá Thế đưa trước vô tuyển tạp sinh hoạt văn học nghệ thuật MIỀN TÂY THĂNG HOA số 3 để “trước bạ”, (do ông Nguyễn Bá Thế chủ biên, tôi lo bài vở và phụ trách kỹ thuật) vì tạp chí nầy có xin kiểm duyệt và có phép xuất bản. Giấy phép số 473/74/BDVCH/PHBCNT/ALP/TP ngày 27 tháng 8 năm 1974, dầy 100 trang, từ trang 53 đến trang 93, có in: VIỆT SỬ NHÂN DANH TỪ ĐIỂN, bên dưới ghi TUYỂN TẬP “Miền Tây Thăng Hoa” 1974. Số nầy đã phổ biến: Biêp tập đại ý, Lời nói đầu, Phàm lệ, Bản liệt kê danh hiệu các vị Hoàng đế, vương công cự khanh (gồm A. Đế hiệu, B. Vương hiệu, Vương tước, C. Công tước, D. Hầu tước, Đ. Bá tước, E. Tử tước,  Ê. Nam tước, Phụ chú (tước hiệu các nhân vật Trung Hoa và các Võ quan Pháp có mặt trên lịch sử ta, có phong tước). Tôi còn được biết, ông Nguyễn Bá Thế cũng đã viết một số đầu sách địa phương chí các tỉnh nhưng không đứng tên của ông. Cho nên, Giáo sư Lê Văn Quới dạy Quốc Văn trường Phan Thanh Giản khi được tôi hỏi, ông đã nói: “Anh Thế dễ tin người lắm. Nói chung những sách vở, những bài sưu khảo, những sáng tác của anh, dù là bạn văn ở Nam, Trung, Bắc ở xa đến, hễ nói một vài lời là anh cho mượn. Cho mượn mà không cần biết có trả lại hay không. Cho nên từ đó mới thất thoát một số rất nhiều. Tôi cũng được biết, nhưng điều nầy có lẽ phải đặt lại, và tôi muốn rằng trong văn học thì lấy sự chân thực làm phương châm, cho nên “Cái gì của NGUYỄN BÁ THẾ phải trả về cho NGUYỄN BÁ THẾ”. Theo tôi được biết, và biết rất chính xác, là những công trình sưu khảo của những người nổi tiếng về quê hương đất nước, trong đó có CẦN THƠ xưa và nay, MỸ THO xưa và nay, GIA ĐỊNH xưa và nay, VĨNH LONG xưa và nay…, thì trong đó có phần đóng góp của anh THẾ rất lớn. Và vì dễ tin người nên anh dễ bị người ta lợi dụng. Đó là những điều mà chúng ta cần nên đặt lại nếu có dịp nào đặc biệt nói về anh THẾ…”.

        LCT_MTTH.jpgTrở lại bộ TỪ ĐIỂN NHÂN VẬT LỊCH SỬ VIỆT NAM (lúc khởi soạn, ông dùng chữ VIỆT SỬ NHÂN DANH TỪ ĐIỂN), ông có tiết lộ là “có tới hơn bốn ngàn năm trăm nhân vật, nhưng bước đầu hợp tác với ông Nguyễn Quyết Thắng, chỉ đưa khoảng 1 phần 3 số lượng mà thôi. Bản in lần 2 có bổ sung một số nhân vật cận đại của ông Thắng đưa vô chớ không phải ông. Hy vọng sau nầy sẽ phối hợp chặt chẽ hơn”. Điều tiết lộ nầy đã cho thấy, ông Nguyễn Quyết Thắng đã không trung thực khi xác nhận sự hợp tác soạn thảo bộ sách nầy ngay từ đầu. Ông ta chỉ gặp gỡ ông Nguyễn Bá Thế lần đầu tiên vào gần giữa thập niên 1980 (chính xác là 31 tháng giêng năm 1984). Tôi khẳng định sự giao tiếp giữa ông Nguyễn Bá Thế và ông Nguyễn Quyết Thắng vào thời điểm đó. Còn nói rằng hai ông cùng hợp soạn là không đúng. Nếu nói khi gặp được nhau, biết được công trình soạn sẵn và ông Thế muốn nhờ giúp in ấn phổ biến, ông Thắng có bổ sung thêm tài liệu hoặc hiệu đính và lo việc xin phép in ấn có thể chấp nhận được.

                  Khi bộ TỰ ĐIỂN NHÂN VẬT LỊCH SỬ VIỆT NAM do nhà xuất bản Khoa Học Xã Hội cấp phép và in ấn phát hành năm 1991 (tái bản 1992) nhà xuất bản Văn Hoá tái bản lần thứ ba (1993) lần thứ tư (1997), công lao giao dịch là ông Nguyễn Quyết Thắng, tôi không chối cãi. Nhưng ông Nguyễn Quyết Thắng đã viết và trả lời báo chí trong nước khi ông Nguyễn Bá Thế qua đời, tôi có được đủ tài liệu để chứng minh là ông “gian dối” về thời gian tính cách hợp tác biên soạn từ ban đầu.

         Để quý bạn đọc tiện theo dõi, tôi xin in lại những bài báo liên quan đến vấn đề nầy.

         1. Trước hết là bài viết của ông Nguyễn Quyết Thắng, trang Văn Hoá Văn Nghệ của báo Phụ Nữ số ra ngày 13-4-1996, với tựa: “Ai Sẽ In Những Công Trình Còn Lại?”. Ông Thắng viết (những chữ in đậm nét hoặc gạch dưới là do tôi - LCT nhấn mạnh): “Tôi quen ông Nguyễn Bá Thế (1925-1996) vào đầu năm 1971 (khi tôi về làm nhân viên giảng huấn tại ĐH Văn Khoa Cần Thơ) cho đến những năm cuối đời ông.

         Dạy ở ĐH Văn Khoa và Sư phạm Cần Thơ hơn một năm, tôi qua lại nhiều lần với ông do cái duyên văn tự vì tôi vừa xuất bản cuốn Huỳnh Thúc Kháng, Con người và thơ văn, tôi gửi tặng ông ngay. Tôi gọi là duyên văn tự vì trước đó, ông là tác giả cuốn Huỳnh Thúc Kháng do nhà Tân Việt in lối năm 1958. Có lẽ do nghiên cứu về các danh nhân mà ông và tôi lập tức thân nhau, và cũng từ đó chúng tôi cùng nhau nghiên cứu về một vài công trình, trong đó có các đề tài về Nguyễn Thượng Hiền, Phan Văn Trị, Điển cố Văn học… nhất là bộ Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam được NXB Văn Hoá in lần thứ ba (1993).

        LCT_TapChiMTTH.jpg Trước khi quen thân ông, tôi đã theo dõi các loạt bài: Gương chí sĩ, Tinh hoa nòi Việt, Các chí sĩ trên đường duy tân… của ông đăng trên các báo ở Sài Gòn từ những năm 60. Từ khi tôi về dạy học ở Cần Thơ, việc tiếp xúc giữa ông và tôi thường xuyên hơncông việc hợp soạn giữa chúng tôi được tiến hành khá suôn sẻ và nhanh vì lúc đó ông còn mạnh khoẻ và thính tai (từ những năm 80 tai ông đã bị liệt).

         Sau khi bộ Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam ra đời được độc giả đón nhận nồng hậu, dù bịnh nặng (ông vừa bị liệt tai, vừa liệt thân phải ngồi hoặc nằm một chỗ), ông vẫn thường viết thư đôn đốc tôi (vì tôi đã chuyển về ĐH. SP Sài Gòn) cùng ông lo hoàn tất các đề tài đã làm, nhất là bộ Từ điển nhân vật lịch sử Trung Quốc [(ông Thế đã hoàn tất bộ sách nầy từ lâu (trước năm 1975) với hơn mười ngàn nhân vật và nếu in phải hàng vạn trang sách khổ lớn – LCT)], nhưng do tôi bận các công trình biên khảo riêng, nên tôi cứ lần lữa mãi và chỉ hứa với ông là tôi sẽ chỉ xin làm cái việc bổ sung, hiệu đính cho tác phẩm. Tuy vậy, ông vẫn tha thiết với việc hợp tác, nên trong các thư viết cho tôi, ông luôn nhắc: “chờ khi tay bắt mặt mừng với nhau, chúng ta sẽ bàn việc hợp tác biên soạn và xuất bản những bộ sách rất công phu và giá trị hơn nữa” (tháng 3-1992) hoặc trong thư ngày 4-10-1994 ông viết: “ Về bộ Từ điển nhân vật lịch sử Trung Quốc sẽ là tác phẩm xứng đáng vào kho tàng văn học trong niềm gắn bó cộng tác nhiệt thành, nhiệt tâm của chúng ta. Đã hiểu nhau, xin ông hãy tận tình giúp đỡ tôi hoàn thành chí nguyện tha thiết cống hiến và phụng sự văn hoá dân tộc, tổ quốc thân thương. [Tôi nghĩ ông Thế có viết thư đó, nhưng không hoàn toàn hợp tác biên soạn, mà chỉ muốn nhờ ông đứng tên chung để xin phép in và xuất bản như cuốn Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam – LCT].

         Hôm nay đọc lại những dòng chữ trên, tôi vô cùng xúc động và cảm thấy áy náy vì chưa góp đủ công sức hạn hẹp của tôi vào bộ Từ điển nhân vật lịch sử Trung Quốc vì “lực bất tòng tâm” [Đúng, ông đâu có tài liệu gì về nhân vật TQ để đưa vô, trong khi bộ Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam ông đưa vô quá dễ dàng các nhân vật CS đương đại để lấy lòng đảng và nhà nước để xin phép in – LCT]. Nay ở nơi thăm thẳm của thế giới bên kia, mong hương hồn ông niệm thứ, vì có lúc tôi thoáng nghĩ, giá tôi bỏ công việc riêng thì biết đâu bộ sách trên có thể ra mắt độc giả trước khi ông về cõi vĩnh hằng! [chưa chắc! – LCT].

         Và tôi càng buồn hơn khi biết trước lúc ra đi ông còn để lại ngồn ngộn những công trình sưu khảo đang biên soạn dở dang như: Gương chí sĩ, Giai thoại văn học, Cao hiền xử sĩ Việt Nam, Chí sĩ trên đường duy tân cứu nước, Tên tự, hiệu danh nhân, Cây, hoa trái… [không phải biên soạn dang dở, mà ông Thế đã sửa chữa, bổ sung xong, đang chép sạch lại hầu hết các bộ sách trên – LCT].

         Tôi viết mấy dòng này, trước là để tưởng niệm ông – một bậc đàn anh mà cũng là một người bạn vong niên trong duyên hàn mặc, sau là lời tâm nguyện, mong các cơ quan văn hoá, nhất là chính quyền tỉnh Cần Thơ nghĩ đến số bản thảo đồ sộ và các công trình dở dang của ông nói trên để chúng có thể ra mắt công chúng?

         Tấm lòng của kẻ đến sau hay thốn tâm người quá cố!

         Sài Gòn cuối tháng 3/1996.

         2. Nhà báo Nguyễn Giao Thủy [(tức nhà thơ Tần Hoài Dạ Vũ mà trước đây tôi có dịp đưa anh đến gặp và thăm ông Nguyễn Bá Thế (đầu thập niên 1990) trước khi tôi rời VN)] của tuần báo Thanh Niên số 31 ra  ngày 2 tháng 8 năm 1992, đã làm cuộc phỏng vấn ông Nguyễn Quyết Thắng với bài viết “VỚI TINH THẦN TÔN TRỌNG SỰ THẬT”, có lời viết mở đầu của tác giả trước khi ghi hỏi đáp:

         “Trong khi chúng ta chưa có một cuốn Tự điển Bách khoa toàn thư – công trình của một Viện Hàn Lâm – thì việc biên soạn những công trình giá trị, nhất là về lịch sử, nhằm chuẩn bị cho sự ra đời tất yếu của bộ Tự điển Bách khoa là vô cùng cần thiết.

         “Tháng 11-91 cuốn TỰ ĐIỂN NHÂN VẬT LỊCH SỬ VIỆT NAM do Nguyễn Q. Thắng và Nguyễn Bá Thế biên soạn, Nxb Khoa học Xã hội xuất bản ra mắt công chúng, là một trong những đóng góp đáng quí đó; và đã được người đọc đón nhận nồng nhiệt. Chưa đầy sáu tháng sau, cuốn sách này được in lần thứ hai. Đối với một công trình biên soạn công phu, có giá trị, dày đến 1.132 trang, viết về hơn 1.500 nhân vật lịch sử Việt Nam từ cổ đại cho đến năm 1988, là năm các nhân vật đương đại được đề cập qua đời, quả thật đây là một hiện tượng đáng mừng cho ngành xuất bản. Theo chúng tôi, tất cả những đóng góp cho nền văn hoá dân tộc, dù lớn hay nhỏ, đều rất đáng trân trọng. Chính vì thế, chúng tôi có cuộc gặp gỡ và trao đổi với ông Nguyễn Q. Thắng, một trong hai tác giả TỰ ĐIỂN NHÂN VẬT LỊCH SỬ VIỆT NAM”.

         TN: Xin ông vui lòng cho biết quá trình biên soạn và sự ra đời của bộ sách?

         Ông Nguyễn Q. Thắng (N.Q.T.): Đây là công trình dài hơi và cũng là mối duyên hàn mặc của anh Nguyễn Bá Thế và tôi. Từ trước 1970, khi về giảng dạy ở Đại học Văn khoa Cần Thơ, tôi gặp anh Nguyễn Bá Thế, và chúng tôi nảy ra ý định cùng nhau hợp soạn bộ tự điển này. Công việc được tiến hành khá thuận lợi. Lúc đó anh Nguyễn Bá Thế (N.B.T.)  cũng còn mạnh và tai chưa nặng. Cho đến năm 1975, công việc đã đạt kết quả khả quan. Nhưng rồi chúng tôi phải tự dừng lại… Có điều đáng nói là thời gian sau này chúng tôi làm việc rất vất vả vì anh N.B.T. bị nặng tai trầm trọng, chúng tôi phải trao đổi bằng bút đàm nên rất mất thì giờ. Cuối cùng, tôi nhận viết lại văn bản lần chót.

         TN: Giữa việc biên soạn và việc xuất bản, chắc hẳn khó khăn cũng không kém gì nhau? Dẫu sao, sách cũng đã được in lại trong một thời gian ngắn. Và hẳn ông cũng phải thừa nhận là đối với loại sách nghiên cứu, tình hình gần đây có khá hơn?

         N.Q.T.: Chúng tôi đưa bản thảo cho một số bạn bè đọc. Hầu hết đều đánh giá tốt, nhưng những người thận trọng lại cho rằng có lẽ phải cắt bỏ phần viết về “những tên tay sai bán nước” mới mong in được. Tuy nghe thế, nhưng chúng tôi vẫn nghĩ như điều đã nghĩ, đã làm; và sau cùng  Nxb Khoa học Xã hội nhận bản thảo. Nhưng đưa sắp chữ từ đầu năm 1989 mà phải đến tháng 11-1991 sách mới ra được. Trong thời gian đó, giữa Nxb và chúng tôi đã có nhiều lần trao đổi, thậm chí tranh cãi rất ngay thẳng dựa trên các sử liệu. Và cuối cùng hai bên đã nhất trí về nhiều điểm (cách viết, cách xưng hô, cách sử dụng tài liệu…). Thiển nghĩ, ở đây chúng tôi đã dựa trên tinh thần khoa học, sử học để viết mà không chút tự ái, mặc cảm. Ở lần in thứ hai này, chúng tôi có bổ sung 80 nhân vật, phần lớn là các văn nhân, với đầy đủ tên các tác phẩm của họ. Sách phát hành ngày 27-5-1992, đến nay gần 2 tháng đã bán hơn nửa số lượng, như vậy là mãi lực khá cao.

         TN: Còn về mặt tinh thần, ông nghĩ gì về sự tiếp nhận của công chúng?

         N.Q.T.: Chúng tôi nhận được rất nhiều thư của độc giả, đặc biệt là ở các tỉnh phía Nam, nơi phát hành sách rộng. Đặc biệt, trong một thư riêng, GS Dương Thiệu Tống viết cho chúng tôi có đoạn: “Lần đầu tiên sau nhiều chục năm tôi có được trên tay một cuốn Từ điển nhân vật lịch sử VN biên soạn công phu với tinh thần tôn trọng sự thật và khách quan tối đa, đính chính và bổ túc được nhiều sai lầm, thiếu sót của các từ điển, các sách giáo khoa gần đây. Tôi rất tán đồng quan điểm viết của quí ông (…) nhất là tinh thần khách quan trong việc lựa chọn các sự kiện liên quan đến cuộc đời của các bậc tiền bối và thái độ kính trọng của các ông đối với người xưa đã khuất, dù họ là những vị anh hùng, hay những kẻ bị dư luận ngày nay lên án, một điều mà một số nhà viết sách giáo khoa và từ điển gần đây ít quan tâm” (trích thư riêng đề ngày 20-1-92).

         TN: Dù ông cho biết là tác giả có tham gia sửa bản in, và những lỗi ở lần in đầu đã được sửa chữa, nhưng vẫn còn một vài sơ sót, chẳng hạn như: Ca Văn Thỉnh (tr 65) quê làng Tân Bình Thành, nhưng con cụ là Ca Lê Hiến (nhà thơ Lê Anh Xuân) lại quê ở Tân Thành Bình (tr 64). Không biết có phải Tân Thành Bình mới đúng?

         N.Q.T.: Vâng, quả là còn một vài sơ sót không tránh khỏi, do anh N.B.T. đã ở tuổi 70, tai hỏng, nên chỉ có một mình tôi phải lo tất cả. Tuy nhiên, anh cũng thấy sự cố gắng cải tiến của chúng tôi, như việc in ảnh của các nhân vật ngay ở mục từ chứ không in riêng như lần xuất bản trước. Cũng trong tháng 7-92 này, tôi sẽ phát hành 2 cuốn sách đã in xong là Phan Chu Trinh – cuộc đời và tác phẩm (Nxb Văn học, Hà Nội) và Huỳnh Thúc Kháng – Tác phẩm (Nxb TP.HCM) Rất mong sẽ được báo TN giới thiệu; và qua báo, cho phép tôi được cảm ơn tất cả bạn đọc.

         TN: Xin chân thành cám ơn ông.

         NGUYỄN GIAO THỦY

          (thực hiện)

.

         3. XIN HÃY NÓI ĐÚNG SỰ THẬT.

         Trước sau, công lao của ông Nguyễn Quyết Thắng đóng góp để xuất bản được cuốn TỪ ĐIỂN NHÂN VẬT LỊCH SỬ VIỆT NAM (do 2 NXB in và tái bản, đến năm 1997 là lần thứ 4) chúng tôi không phủ nhận. Nhưng ông Nguyễn Quyết Thắng đã “quanh co” và thật sự “gian dối” về mối giao tình giữa ông Nguyễn Bá Thế và Nguyễn Quyết Thắng. Ông Nguyễn Quyết Thắng có bổ sung vô một số nhân vật lịch sử CS đương đại và hình thành như bộ sách đang lưu hành (không hoàn toàn là tâm huyết của ông Nguyễn Bá Thế). Ngoài công trình biên soạn bộ sách được in và tái bản vừa nêu, sẽ còn bộ sách TỪ ĐIỂN NHÂN VẬT LỊCH SỬ TRUNG QUỐC do chính ông Nguyễn Bá Thế cùng khởi công biên soạn từ năm 30 tuổi như ông đã kể và chính tôi đã phỏng vấn ông khi thực hiện cho ông những thước phim tài liệu: “NHÀ SƯU KHẢO VĂN HỌC NGUYỄN BÁ THẾ - CON NGƯỜI SUỐT ĐỜI LO GÌN VÀNG GIỮ NGỌC” (năm 1991).

.

         Ông Nguyễn Quyết Thắng khi lặp đi lặp lại nhiều lần mối liên lạc giữa ông với ông Nguyễn Bá Thế và bàn bạc hợp soạn bộ từ điển trước năm 1970 (khi ông về dạy tại ĐH Cần Thơ) là hoàn toàn SAI. Ông quên rằng, ông Nguyễn Bá Thế là một người làm công tác biên khảo văn học rất có tình, bất cứ văn nghệ sĩ dù ở đâu, mới đến tìm gặp ông lần đầu tiên, ông đều trao cho xem cuốn sổ KÝ TÊN và VIẾT LỜI LƯU NIỆM cùng ngày giờ gặp nhau. Ông Thế đã có đến mấy cuốn sổ kỷ niệm đó với không biết bao nhiêu chữ viết tay chứa đầy kỷ niệm như vậy, trong đó có ông Nguyễn Quyết Thắng. Để bạn đọc thấy rõ sự thật, vì tôi nghĩ, ông Nguyễn Quyết Thắng chắc đã quên ông đã viết gì trong cuốn lưu niệm đó, và tôi cũng miễn nói thêm tính TRUNG THỰC của ông Nguyễn Quyết Thắng về mối giao tình nầy với một người quá cố mà lúc nào tôi cũng tôn kính, là ông Nguyễn Bá Thế. Đó là chưa kể việc ông Thắng đã xem thường bạn đọc hai báo Phụ Nữ, Thanh Niên khi ông viết bài và trả lời phỏng vấn liên quan đến sự quen biết của ông với ông Nguyễn Bá Thế cùng diễn tiến sự “bàn bạc hợp soạn”… và cả độc giả bộ sách ông cho là hợp soạn từ ban đầu nầy. Làm sao ông không cho phép tôi được nghĩ rằng: “Lần đầu tiên ông đến gặp ông Nguyễn Bá Thế (ngày 31-1-1984), ông Thế khoe chồng bản thảo bộ từ điển nầy và có ý mong muốn được phổ biến, nên ông đã hứa hẹn và đã “cào bằng tim óc của ông ấy” để đi đến kết quả ra đời của bộ từ điển mà ông hãnh diện khoe khoang là hợp soạn từ ban đầu”(trước năm 1970)?

         Tôi xin đánh máy lại nội dung lời ghi trong cuốn sổ lưu niệm của ông Nguyễn Bá Thế, và để cho trung thực, tôi scan lại chính “bút tự và chữ ký” của một giáo sự Đại Học là người tự nhận cùng bàn bạc và hợp soạn bộ TỪ ĐIỂN NHÂN VẬT LỊCH SỬ VIỆT NAM khoảng năm 1970, trong khi hai người mới thật sự gặp mặt nhau lần đầu tiên ngày 31-1-1984 – có nghĩa là mãi đến 14 năm sau!

        

LCT_NQThang.jpgCần Thơ 31-1-84

Nguyễn Bá Thế tiên sinh kính mến!

Nghe tiếng ông từ lâu, nhưng chưa gặp mặt, hồi gần đây mới gặp nhau nên càng quí mến ông nhiều hơn. Tuy có trễ, vẫn hơn.

Với tấm lòng quí mến văn học, văn hoá… tôi tin sẽ có nhiều người trong chúng ta sẽ noi gương ông.

Kính

(ký tên)

Nguyễn Q. Thắng

(ĐH Cần Thơ).

    

   

 26 tháng 12-2009    

 LÊ CẦN THƠ

(Houston Texas USA)

Enter supporting content here