NHÀ THƠ – NHÀ GIÁO
LÊ TRÚC KHANH
.
HAI MIỀN QUÊ HƯƠNG
TRONG MỘT NGUỒN THƠ
.
“Lê Trúc Khanh thật sự đứng vững trong thơ ca trữ
tình bằng ngôn ngữ riêng tư, dù cuộc sống xung quanh có làm
cho anh cảm nhận là mình bị cuốn trôi trong dòng đời nghiệt
ngã, và nguồn rung cảm đã khô cằn...”.
.
..
Có lẽ tôi xin phép được giải thích rõ
hơn, vì sao nói, hai miền quê hương trong một nguồn thơ đối
với nhà thơ – nhà giáo LÊ TRÚC KHANH? Số là, trong suốt
chặng đường sáng tác thơ văn, QUÊ HƯƠNG – TÌNH
YÊU và NỖI NHỚ KHÔN CÙNG, chính là nguồn rung cảm thực
nhất đối với từng câu, từng chữ xuất hiện trong thơ anh. Còn
hai miền quê hương? Cũng xin nói rõ, một là BẾN TRE của
thời niên thiếu đậm sâu dấu ấn đối với cậu học
trò thích mộng mơ ngoài cửa lớp, thích lắng nghe tiếng chim
chiền chiện (chìa vôi) chuyền cành hót líu lo, mê nhìn những
vầng mây trắng bàng bạc trôi ngang những đọt dừa, mấy ngọn
cau lão của miền quê ngoại...; và hai là CẦN THƠ, nơi mà
tuổi chớm vào yêu của thời học trò Đệ Tam, Đệ Nhị,
để rồi sau đó cuộc sống đời thường của mỗi con
người trói buộc anh mãi mãi đến sau nầy khó mà xa rời
nó. Đối với anh, cả hai miền quê hương chỉ là một,
cho nên những dòng thơ anh viết, chúng ta bắt gặp hình ảnh của
hai miền quê hương nầy đan chéo nhau, cứ theo xúc cảm của
từng kỷ niệm gợi nhớ mà dàn trải ra, đến với người
đọc thật bất ngờ, thú vị. Có thể đó là những
bài thơ anh viết từ năm mười lăm mười sáu tuổi; cũng
có những bài được viết ra với nguồn rung cảm đã khô
cằn sau những năm bị cuốn trôi trong dòng đời nghiệt ngã,
vậy mà anh vẫn trân trọng, chắt chiu như cố giữ trong lòng mình
mối chân tình tha thiết với BẾN TRE – miền quê hương thơ
ấu, và CẦN THƠ – miền quê hương thời khôn lớn nên
người.
.
[Tôi cũng xin mở
ngoặc ở đây để nói thêm về LÊ TRÚC KHANH, dù có
dài dòng đôi chút, nhưng vì liên quan đến hoạt động
văn nghệ và sáng tác của anh, mong bạn đọc cảm thông. Anh
tên thật LÊ PHƯỚC NGHIỆP, sinh năm 1950 tại làng Tân Thạch
– Kiến Hòa (Bến Tre). Thời lên Trung học, anh là học sinh trường
Nguyễn Đình Chiểu Mỹ Tho, đến năm Đệ Tứ, đã cùng
gia đình chuyển trường theo anh là giáo sư Quốc Văn LÊ VĂN
QUỚI, sang học tại trường Trung học Phan Thanh Giản Cần Thơ từ năm
học 1964 đến khi đậu Tú Tài II, anh vào Văn Khoa trường Đại
học Cần Thơ và tốt nghiệp dạy môn Quốc Văn tại các
trường trung học công lập, bán công và tư thục ở Ô
Môn, Cái Răng, Long Tuyền (Bình Thủy), Cần Thơ liên tục nhiều
năm đến sau nầy. Lúc học ở Mỹ Tho, anh đã làm thơ đăng
báo trường và các báo Sài Gòn. Ngay khi về trường Phan
Thanh Giản, anh đã cộng tác bài trên Giai phẩm Xuân của trường.
Biết được anh em chúng tôi đang hoạt động văn nghệ báo
chí và có bài cộng tác với các báo Sài Gòn, anh
GS Lê Văn Quới giới thiệu em trai của anh để chúng tôi quen nhau.
Lúc đó bút hiệu của em trai anh là TRÚC KHANH, đang lập nhóm
văn nghệ học sinh để cùng giúp đỡ nhau trong sinh hoạt học
tập và sáng tác thơ văn gồm Trúc Khanh, Nguyễn Hoài Vọng
(Nguyễn Ngọc Khôi), Siêu (Nguyễn Văn Thạnh) và Lăng Cảnh Huy nhưng
chưa chọn được tên. Riêng các anh Hà Huy Thanh (Lý Thành
Tuấn), Thanh Trân (Dương Văn Anh), Thanh Điệp (Hứa Vĩnh Phúc), Trân
Khanh (Trương Văn Suông) đã lập nhóm Vùng Đất Sống.
Theo gợi ý của anh Quới muốn tôi đứng ra gom các anh em lại để
chung lập một nhóm cho lực lượng mạnh hơn, có thể hoạt động
sâu rộng khắp miền Tây. Buổi họp mặt tại nhà riêng của
anh Quới vào một sáng chủ nhật. Thấy chúng tôi bàn bạc
đến độ lúng túng khi tìm chọn một tên gọi sao thích
hợp với đường hướng sáng tác thơ văn của mình,
anh Quới góp ý hai chữ VỀ NGUỒN. Anh em đồng ý rồi đi vào
hoạt động. Mãi đến cuối tháng 8 năm 1966, thi văn đoàn
VỀ NGUỒN hoàn toàn cải tiến với một thành phần khá hùng
hậu, gồm những cây bút đã từng làm quen với báo chí
thủ đô (Sài Gòn), với hai chương trình thơ trên đài
phát thanh Sài Gòn là TAO ĐÀN (của thi sĩ Đinh Hùng) và
MÂY TẦN (của thi sĩ Kiên Giang). Dịp nầy anh em trong ban sáng lập chính
thức thông qua bản ĐIỀU LỆ của Thi Văn Đoàn do tôi nghiên
cứu soạn thảo, dùng làm kim chỉ nam cho hoạt động của văn
đoàn cho đến năm 1975. Khác với nhiều văn đoàn bạn,
VỀ NGUỒN không có Trưởng thi văn đoàn, mà có một
Ban Thường Trực gồm các sáng lập viên và một số hội
viên cốt cán được mời bổ sung vào, do một Thư Ký văn
phòng thường trực điều hành, và một Thủ Quỹ tài
chánh. Liên tiếp nhiều nhiệm kỳ, anh LÊ TRÚC KHANH và chị KIỀU
DIỄM PHƯỢNG được toàn thể Ban Thường Trực đề cử
đảm nhận chức vụ Thư Ký và Thủ Quỹ của Văn Đoàn.
Đến tháng 10-1967, VỀ NGUỒN đã có 52 khuôn mặt thơ văn
hiện diện trong nhóm và trên 80 thư xin gia nhập của nhiều bạn
văn nghệ khắp nơi. Ngoài nhà sưu khảo văn học Nguyễn Bá
Thế làm cố vấn, Ban Thường Trực gồm Lê Trúc Khanh (Thư Ký),
Kiều Diễm Phượng (Thủ Quỹ), Huyền Vân Thanh, Hà Huy Thanh, Trân
Khanh, Nguyễn Hoài Vọng, Siêu, Lăng Cảnh Huy, Lê Hà Uyên (GS Lê
Văn Quới), Phương Giang (Truyền Tin), Lệ Thy, Thu Trúc (Sài Gòn), Châu
Kim Phụng, Trúc Thanh Phương Thảo, Hồng Phượng, Nhất Tâm. Hội
viên và cộng tác viên thường xuyên gồm Phạm Quyên Linh,
Song Nguyễn, Đỗ Thanh Hoàng, Tường Lê, Kiều Mộng Hà, Linh Hùng
(Hải Quân - Bình Thủy), Nguyễn Hữu Phương (Quân Cụ), Phạm
Trường Giang, Nguyễn Huy Chương (Không Quân - Đội giải tỏa phi
cơ lâm nạn - phi trường Trà Nóc), DT. Linh Phương, Dạ Lý,
Sa Vũ, Sa Thoại Uyên, Nguyễn Hoài Thương, Du Ca, Hàn Nguyên, Tuấn
Nghi, Nhật Giang, Kiều Phương Linh, Hoàng Tường Sơn, Thụy Mai, Thanh Tuấn,
Hoài Trần My, Nguyễn Hồng (Quân Cảnh), Lệ Duyên Trang, Sao Ngân Hà
(Cái Sắn - An Giang), Hoài Xuân Mai (Phú Nhuận), Vũ Thy Lãng Tưởng,
Thanh Phương và Hoàng Dung (Sa Đéc), Mây Hồng và Hàn Mạc
Dung Nhan (Sài Gòn)...
Lần họp mặt tại nhà anh Quới
để thông qua ĐIỀU LỆ, tôi có nói với LÊ PHƯỚC
NGHIỆP, là trong số các nhà thơ xuất hiện thời tiền chiến,
đã có một nhà thơ lấy bút hiệu TRÚC KHANH rồi, đó
là tác giả tập thơ ĐIÊN. Mấy năm qua, anh NGHIỆP đã
chọn bút hiệu trùng lắp nầy và cộng tác với một số
báo khắp nơi..., nếu bỏ đi là điều đáng tiếc, nhưng
giữ nguyên càng không nên. Tôi đề nghị anh thêm họ của
mình vào để phân biệt với nhà thơ tiền chiến, như
vậy có lẽ đỡ bị ngộ nhận. Anh Quới rồi anh NGHIỆP và
bạn bè có mặt hôm đó cũng đồng ý kiến với tôi.
Từ đó, trong các sáng tác của mình, LÊ PHƯỚC NGHIỆP
đều ký ba chữ LÊ TRÚC KHANH cho đến bây giờ.
Năm 1966 khi in Thi tuyển VỀ NGUỒN, ngay số đầu
tiên, chúng tôi đã viết đoạn văn ngắn để nói
lên mục đích và ý nghĩa của VỀ NGUỒN, xem như nhắc
lại tôn chỉ của Văn Đoàn để anh chị em cùng hướng
về trong sáng tác:
CÚI NHẶT
.
Vì nắng lửa mà lá vàng. Vì gió cuồng mà nước
đục. Dù bị cuốn trôi trong dông bão thời gian, lá vẫn
mong giấc ngủ thiên thu được vùi bên cội cũ. Dù luân
lưu suốt mấy mùa mưa nắng, nước nhớ làm sao giấc mộng
trở VỀ NGUỒN.
Là
những chiếc lá cô đơn. Là những dòng sông bé nhỏ,
chúng tôi từ muôn hướng dạt về đây. Xin chớ nhìn nhau
như những cánh chim lạc loài, xa lạ. Hãy vì nhau góp nắng
hồng, đan sương nõn. Xin hãy vì nhau dìm bão loạn, xóa
mưa dầu mà dựng lại mùa xuân.
Mùa xuân trên đất mẹ bớt khô cằn với nước nguồn
lá cội. Cánh hoa thì đơn sơ, nhụy hoa thì rũ rượi,
hương hoa kém nồng nàn. Kẻ vun trồng chỉ xin khách thưởng
hoa một nụ cười bao dung, giao cảm vì những loài hoa nầy tự gieo
mầm từ nội cỏ ngàn cây trên mạch đất quê hương
đã mấy mùa héo hắt.
(tvđ VỀ NGUỒN).
.
Giới thiệu hoạt động của văn đoàn VỀ
NGUỒN, thi sĩ Kiên Giang (Ban Thi văn Mây Tần – đài
phát thanh Sài Gòn) nói: "VỀ NGUỒN là một thi văn đoàn
lớn nhất Hậu Giang". Nhà văn Sĩ Trung (Báo Tia Sáng) viết:
"Thi văn đoàn VỀ NGUỒN đã khai sáng việc ấn hành
loại thi tuyển đặc biệt ở Miền Tây". Cô Minh Văn (Nhật
báo Sáng) viết: "Thi văn đoàn VỀ NGUỒN, một thi văn đoàn
có phong thái và thanh khí đặc biệt... VỀ NGUỒN đừng bỏ
nguồn nhé!" Trúc Quân (báo Tinh Hoa nữ sinh) viết:
"Những khuôn mặt VỀ NGUỒN đã không phản bội chủ
đề mà họ đã dựng lên. Từ hình thức cấu tạo
thơ đến nội dung đều thể hiện được con đường
đã khai phóng của họ: VỀ NGUỒN. Thơ VỀ NGUỒN không lập
dị, ý không cầu kỳ, tự nó phản ảnh được nó.
Giữa lúc mà tình trạng Văn Nghệ Trẻ xô bồ như hiện
nay có nhóm còn giữ được lập trường duy nhất và vững
chắc như vậy là một việc làm đáng lưu ý..."
.
Năm 1968 tôi
được lệnh gọi nhập ngũ vào trường Bộ Binh Thủ Đức,
anh LÊ TRÚC KHANH cùng các bạn nồng cốt của Ban Thường Trực
ở lại tiếp tục điều hành Văn Đoàn. LÊ TRÚC KHANH thay
mặt nhóm thực hiện chương trình tiếng thơ trên đài
phát thanh Cần Thơ, theo tôn chỉ mở đầu từng buổi phát thanh
với câu: "Đây VỀ NGUỒN. Tiếng nói tha thiết của những
người yêu mến quê hương. Tiếng thơ chân thành của những
người muốn tìm lại tự tình dân tộc. Do Lê Trúc Khanh phụ
trách". Tiếng thơ gồm 3 phần: Hương hoa đất nước (mỗi
kỳ một bài viết về quê hương đất nước con người
có minh họa bằng thơ), Những sáng tác mới trong tuần, và Thư
tín nhắn tin. Về sau có những kỳ phát chuyên đề hoặc đọc
truyện ngắn (dưới dạng truyện kịch truyền thanh) được bạn
bè văn nghệ gần xa yêu thích. Tiếng thơ VỀ NGUỒN phát mỗi
kỳ 30 phút vào đêm thứ Ba (từ 22g30 đến 23giờ), sau đổi
lại tối chủ nhật liên tục đến 30-4-75 mới ngưng. Khoảng thời
gian nầy, anh LÊ TRÚC KHANH còn chủ trương thực hiện tạp chí
KHƠI DÒNG, xuất bản tại Cần Thơ được 3 số, và đặc
san VỀ NGUỒN phát hành hằng năm nhân kỷ niệm ngày thành
lập Văn Đoàn. Năm 1973, chúng tôi đã chuẩn bị xong bài
vở cho đặc san kỷ niệm CHÍN NĂM VĂN NGHỆ VỀ NGUỒN nhưng
phải ngưng lại, vì vận động tài chánh không đủ trả
chi phí in ấn trong tình trạng giấy báo và công in quá cao. Dù
bạn bè văn nghệ khắp nơi đã nhiệt tình gởi bài vở
cộng tác, phần biên tập cho số đặc san nầy rất phong phú,
đa dạng; đồng thời một số anh em đã dặn mua trước, nhưng
chúng tôi vẫn không thể in, đành phải lên tiếng xin lỗi
trên chương trình tiếng thơ. Tôi còn nhớ, trong bài viết
nhân kỷ niệm nầy, anh LÊ TRÚC KHANH có một câu cứ mãi
in sâu trong tâm trí tôi, về cái tình trong văn đoàn: "Nhiều
lúc tôi muốn hỏi Minh Bastos đã hút rồi bao nhiêu điếu
thuốc? Bao nhiêu điếu thuốc là bấy nhiêu tình nghĩa mặn
nồng(...)". Với chương trình Tiếng Thơ VỀ NGUỒN, anh lại
tâm sự: "Chúng tôi cứ lo sợ chương trình thơ đến
lúc phải im tiếng, khi một giọng ngâm bằng vàng của chúng tôi
– cô giáo Liêm (Huỳnh Túy Liêm) – một ngày nào
đó vâng lệnh song thân để theo trời mưa bong bóng (...)".
Thực tế thì lúc đó, bên cạnh giọng ngâm sáng giá
của chúng tôi là cô giáo Liêm, còn có mấy giọng ngâm
nữa như Tô Thùy Uyên, Phạm Trường Giang, Nguyễn Huy Chương,
và sau nầy có nhóm trẻ mới như Thùy Chinh, Mỹ Nhiên, Vũ
Hưng, Lê Thế. Phần nhạc đệm đã có Minh Phước (tranh
và độc huyền), Vũ Mạnh Ngân, Huy Thọ, Tất Lang (sáo trúc),
Lê Hoàng Tâm (Guitare). Đúng là những tình cảm chân thành
mà LÊ TRÚC KHANH tâm sự với anh chị em trong Văn Đoàn nói
riêng, với bạn bè văn nghệ gần xa vốn có cảm tình với
VỀ NGUỒN liên tiếp nhiều năm, qua hoạt động sáng tác, in
ấn thi tuyển, đặc san, đầu sách (tập thơ của các anh em như
Phương Giang, Nguyễn Hoài Vọng, Hà Huy Thanh, Nguyễn Hữu Phương,
Huyền Vân Thanh, Kiều Diễm Phượng, Phạm Hữu Quang, Lê Trúc Khanh
v.v...) và thực hiện chương trình tiếng thơ trên đài phát
thanh Cần Thơ trước năm 1975. Đến đây xin đóng ngoặc để
nói về hai miền quê hương trong một nguồn thơ của Lê trúc
Khanh].
.
LÊ
TRÚC KHANH có sở trường viết về QUÊ HƯƠNG và TÌNH
YÊU với ngôn ngữ rất bóng bẩy, hồn nhiên, dễ gợi cảm.
Thơ anh có hồn, đọc lên nghe như ngân vang của nhạc điệu,
bởi người ta bắt gặp một chút âm tiết trong thơ Quang Dũng,
Hồ Dzếnh..., một chút bình dị, sáng trong của Kiên Giang, nhưng
cái riêng vẫn là LÊ TRÚC KHANH, một người làm thơ sinh
quán đất BẾN TRE, quê hương của cụ Đồ Nguyễn Đình
Chiểu, và chốn nương thân của Quan kinh lược sứ, Đại
học sĩ Phan Thanh Giản.
.
Với miền quê hương BẾN TRE, LÊ TRÚC KHANH gieo bút thật
dễ dàng, thoải mái. Có lẽ do tuổi thơ của anh đã thắm
đượm bao nhiêu kỷ niệm nơi chôn nhau cắt rốn nầy – đúng
là quê ngoại – nên trong thơ anh, chúng ta luôn bắt gặp hình
ảnh ngoại, được anh sử dụng như chính hơi thở thường
ngày của mình. Dọc theo chặng đường thơ của anh, tôi không
tìm thấy một bài thơ hay một câu thơ nào nói về quê
Nội hay hình ảnh người cha. Phải chăng tình cảm gia đình
riêng tư có những gút mắc mà anh khó thể phơi bày qua
từng xúc cảm thi ca của mình? Tôn trọng cái riêng tư thầm
kín đó mà suốt những năm tháng quen nhau, không bao giờ tôi
hỏi anh vì sao. Chỉ biết, anh ca tụng QUÊ NGOẠI rất cảm động,
rất thâm tình. Ngay từ năm 15 tuổi, anh đã viết bài thơ
rất dài mang tựa QUÊ NGOẠI, đăng báo rồi diễn ngâm trên
ban thi văn MÂY TẦN nhiều lần, được bạn thơ khắp nơi vô
cùng yêu thích. Một bài khác về đề tài nầy, anh viết:
.
QUÊ HƯƠNG CỦA
NGOẠI
kính dâng hương hồn Ngoại
để tặng anh Kiên Giang
.
Hơi thở
mù sương nhòa mắt cỏ
Bàn chân khăng
khít mạch phù sa
Quê hương Ngoại đẫm mùi
khoai sắn
Gian khổ tình thương mới đậm đà.
.
Tháng giêng và cánh diều nương rẫy
Bếp lửa chiều bay dạt khói lam
Bìm bịp
gọi từ con nước lớn
Thuyền ai mang gió chướng
qua vàm.
.
Giấc ngủ con ngời
hương cổ tích
Hồn thơm hoa mận với hoa đào
Ngoại gánh thời gian nên áo rách
Mái
đầu bạc trắng tựa hoa cau.
.
Ngọn tre hàng xóm cao theo Tết
Con trưởng
thành qua số tuổi đời
Để thấy Ngoại
già thêm chút nữa
Để vườn nhân thế lá vàng
rơi.
.
Từ lúc Ngoại
mù – con bỏ xứ
Quê mình – thôi – lửa khói
đao binh
Ngoại ơi cỏ mộ còn ai dẫy
Hay vẫn muôn đời hoang dáng xanh?
.
Thưa Ngoại – trên hàng cau lão đó
Trên bờ bến ngọt nước nhà quê
Bóng
mát hoài hương mờ tuổi dại
Đường
xưa ai dẫn lối đi về?
.
LÊ TRÚC KHANH
.
Hoặc trong một bài thơ khác, anh
viết:
(...)
Chờ
Tết, Ngoại trồng bông vạn thọ
Cháu
con về tảo mộ người thân
Đèn
nhang ươm sáng trời tinh tú
Thương
nhớ nào rơi kín mộ phần ?
.
Nêu mới vươn trời ru gió Bấc
Mười lăm tháng chạp đã vào xuân
Bỏ manh áo vá từ năm ngoái
Khua guốc đường mơ pháo lại gần (...)
.
(LTK - Giấc ngủ mùa xuân)
.
Với KIẾN HOÀ – thơ anh gắn bó đến thân tình, gần
gũi như hơi thở, như nhịp đập con tim. Phải chăng quê hương
thời ấu thơ kỷ niệm đã thấm vào máu tim anh như
thế?
.
Đây
Kiến Hoà quê hương ấu thơ
Người về xin nhớ đứng trong mơ
Để nhìn sương khói vờn quê mẹ
Đôi mắt trùng hoan lạnh bến bờ.
.
Một thoáng ngời xa dòng cửa Đại
Bóng dừa ru ngủ giấc hồn nhiên
Từ trong mạch sống phù sa đó
Người có nhìn theo bóng khói lên?
(...)
(LTK - Miền thơ ấu cũ)
.
Và, bài thơ tôi cho là rất chan chứa thâm tình, đậm
sâu dấu ấn về tình yêu quê hương thuở ấu thơ của
anh, mà sau những năm dài cuốn trôi trong dòng đời nghiệt ngã,
có dịp trở lại đã gây cho anh niềm xúc cảm đến ngậm
ngùi. Ở bài thơ nầy, anh dùng một số từ rất lạ, một
số từ tượng hình thật xúc tích, chẳng hạn mắt hừng
lên, hiên đồng ấu, cỏ rối, diều ghen, phướn
bơ vơ, gà trưa xao xác, trôi tắp trường lưu...
như sau:
.
VỀ MỘT QUÊ HƯƠNG
.
Tôi trở
về đây – trở lại đây
Nước sông là vẫn nước sông đầy
Nghe chìa vôi hót chiều Tân Thạch
Mà ngẩn ngơ trời mây trắng bay.
.
Mưa ngát Tiền Giang sóng dậy bờ
Đêm rồi em ngủ có nằm mơ
Thấy tôi áo gấm về quê cũ
Nên mắt hừng lên những đợi chờ?
.
Cồn Cát đã xanh lờ ngàn cây
Cho tôi thương nhớ một phương nầy
Có em qua Bắc đừng nghiêng nón
Vì ước mơ thành sương khói bay.
.
Bên hiên đồng ấu của ngày xưa
Cỏ rối trời xanh nhẹ bước hờ
Tung dấu chân không ngày nghỉ học
Bước rời hiên lớp bướm thành thơ.
.
Vóc nước phèn trong dưới Rạch Chùa
Diều ghen tháng chạp phướn bơ vơ
Ngỡ em Chức Nữ nghìn thu ấy
Đợi mống trời lên giữa nắng mưa.
.
Ru dáng bần xanh mặt nước xanh
Nghe thu vừa rụng đến trơ cành
Gà trưa xao xác chiều nghiêng bãi
Trôi tắp trường lưu dấu lục bình.
.
Tôi trở về đây – trở lại đây
Thì sờn vai áo trắng bàn tay
Nón mê giày cỏ đời phiêu lãng
Mộng Giáng Kiều xưa đọng gót hài.
.
Rạch Miễu vàng thu vào mênh mông
Ơi mắt em xanh dù mưa hồng
Chưa chắc đầy sân bong bóng nhỏ
Sao buồn tôi ngát một dòng sông?
.
LÊ
TRÚC KHANH
.
Viết về
quê hương thơ ấu thời chinh chiến, LÊ TRÚC KHANH có cái
nhìn khá tế nhị.
(...)
Nhìn kia em – Kiến Hòa mênh mông
Hỏa
châu chiều rựng má em hồng
Nhà xưa bếp cũ buồn hơn mộng
Chinh chiến trên miền thương trắng trong.
.
Mơ lối hồn giăng bờ Rạch Miễu
Đò trôi theo đợt sóng mùa thu
Mỹ Tho "đèn tỏ đèn lu" ấy
Em hãy vờn trông đám bụi mù.
.
Anh chỉ em những lỗ châu mai
Những hàng dây kẽm – những vòng
đai...
(...)
(LTK - Mùa thu đưa em về quê)
.
Và còn rất nhiều bài thơ LÊ TRÚC KHANH đã viết
về miền quê hương ấu thơ, mỗi bài có những khám phá
riêng, những cái nhìn riêng bằng cảm quan của tác giả khi viết.
Còn miền quê hương thứ hai của anh thì sao? Bởi cùng trong một
nguồn thơ của một đời người, nên LÊ TRÚC KHANH cũng có
những tha thiết, chân thành, và cũng tại miền quê hương nầy,
đã phát sinh trong anh thêm một thứ tình yêu rộn rã con tim,
để rồi cả hai hòa quyện vào nhau, đi vào thơ ca của anh
đến vô cùng. Xin trích mấy đoạn thơ cho thấy cái tình
của người làm thơ với miền quê hương mà LÊ TRÚC
KHANH đã bước vào khôn lớn, nên người nầy:
(...)
Phong Điền –
Phong Điền với tình yêu
Vào
thu đã thấy lá rơi nhiều
Dòng
sông trôi tắp đời vô định
Anh lắng thời gian dưới nhịp chèo...
.
Cái Răng – Ba Láng nghìn tâm sự
Con nước vời trông một bến bờ
Mấy nhịp Trường Tiền lăng lắc ấy
Mái trường dăm bóng trẻ ngây thơ (...)
.
(LTK - Về quê hương ấy)
.
(...)
Bảy tám
năm rồi xa lớp học
Xa trường xa hết cuộc rong chơi
Dòng sông Cái Khế buồn thiu đó
Đã cuốn tình trôi vạn nẻo đời.
.
Lau trắng bờ xa, trời đất cũ
Hừng đông sương khói khói sương tan
Ai biết học trò "ngơ ngác" ấy
Qua cầu Trà Nóc nhớ mang mang (...)
.
(LTK - Như thời lên Đệ Nhị)
(...)
Em sẽ ru con
bằng ca dao
Ngẩn ngơ
đàn cá lội sông đào
Vườn thưa anh cuốc trồng khoai sắn
Đêm chuyện đời xưa nhớ với nhau.
.
Chuyện bạn bè anh lần nhập ngũ
Rưng rưng nước mắt những ngày vui
Mấy năm chinh chiến ngùi biên ải
Ai biết còn ai giữa cuộc đời?
.
Dạy con mười tuổi biết làm thơ
Biết mến quê hương mến cõi bờ
Để thấy từ trong xương máu đó
Thanh bình mộng cũ vẫn xanh mơ (...)
.
(LTK
- Bài diễm ca cho em)
.
Đặc biệt, đối với miền quê hương thứ hai nầy, LÊ
TRÚC KHANH có ngôn ngữ thơ vừa trữ tình, vừa sâu kín,
thầm thì nói với người yêu như nói với chính mình
những cảm xúc bộc phát từ tim, từ máu thịt trước cuộc
sống vô vàn thay đổi do định mạng đến với bản thân.
Cái nhớ thương, tiếc nuối thời đi học; những cuộc hẹn
hò đầy bướm hoa, hồn nhiên mà khát vọng đã theo thời
gian vút bay như cánh diều tuổi thơ của những trưa hè lộng
gió, đến nỗi anh buột miệng thốt lên:
(...)
Cho hết
là không còn để cho
Không còn đưa đón vẩn vơ lo
Mình chung bước nhỏ đường thôi rộng
Nghe nắng tình vương áo học trò...
.
(LTK - Tuổi dại)
.
Để
rồi, cũng với ngôn ngữ thơ như thế, LÊ TRÚC KHANH đã
viết :
.
CHO HẾT NGÀY THƠ
.
Đã tới Phong Điền rồi hở em?
Một dòng sông nhỏ một đường quen
Lòng anh rộ nở ngàn lau trắng
Cơn gió mùa đông lạnh nỗi niềm.
.
Tím lục bình xa mặt nước đầy
Nối vàm Kinh Xáng những vầng mây
Vàng bông điên điển trời quê nội (*)
Là lúc hiên trường hoa nắng bay.
.
Nhớ đến bao nhiêu
thời trẻ dại
Trường
chung – lớp khác – mộng trong đời
Ai biết anh buồn hơn Cái Khế,
Mơ
chiều Vú Sữa mấy ngày vui.
.
Anh nhớ về đâu
nhớ đến đâu
Nắng lên
hồng thắm má hoa đào
Nghe
như rộn rã lần thôi học
Em
cứ tan trường đi ngõ sau.
.
Anh muốn ngồi đây dưới hàng sao
Thơm sầu riêng lắm thuở ban đầu
Tứ thơ và nước trường giang ấy
Còn chảy ngàn năm giữa nhịp cầu.
.
Ngọt nước dừa môi em ngát xinh
Trà Niềng râm mát thuyền lênh đênh
Nghiêng nghiêng bãi vắng chèo lơi mái
Là lúc đời trôi tắp lãng quên.
.
Ba bốn năm rồi vẫn nhớ thương
Anh vào nghề giáo dạy văn chương
Đói nghèo – áo rách – khô buồng phổi
Và rã rời thân những đoạn đường.
.
Ngồi xuống đi em – một phút nầy
Cho anh ngắm lại tóc thề bay
Tròn
trăng nét mặt tình nương cũ
Vì
đã qua rằm nên đổi thay.
.
Em cũng dầm thân giữa chợ chiều
Vườn xuân xao xác tiếng chim kêu
Sớm trưa hai buổi đường xuôi ngược
Riêng chút tình anh nhớ thật nhiều.
.
Anh muốn ngồi đây – ngồi lại đây
Biết mai còn thấy tóc em dài
Ừ, thương em lắm từ năm cũ
Kìa lá sầu riêng rụng xuống vai.
.
LÊ TRÚC KHANH
_______
(*) Quê Nội trong bài
để nói quê vợ của anh, cô giáo TRẦN KIỀU NGA. Đây
cũng là lần duy nhất anh dùng chữ quê Nội trong thơ (chú
thích của LCT)
.
Như tôi
đã nói từ đầu, LÊ TRÚC KHANH vốn là một nhà giáo
dạy văn chương nên khi làm thơ, anh đã sử dụng ngôn ngữ
rất chọn lọc và cố dùng những từ thật trau chuốt, bóng
bẩy, đọc lên thấy được nét tài hoa của anh. LÊ TRÚC
KHANH làm thơ mới loại bảy chữ nhiều hơn các thể thơ khác.
Tuy nhiên, không phải vì thế mà các thể thơ kia anh có khuyết
điểm, nó vẫn mượt mà, giàu tiết tấu và sự truyền
đạt tâm tư cũng khéo léo vô cùng. Như bài lục bát
ngắn dưới đây :
.
NHƯ LÚC CHỜ TRĂNG
.
Thuyền sương đọng dấu chân hờ
Bèo trôi dạt mấy bên bờ mù khơi
Dòng sông trắng những nụ cười
Là long lanh mắt em ngồi chờ trăng...
Rừng sao mở hội hoa đăng
Gió lồng lộng ngút ngàn giăng hẹn thề
"Sao vua chín cái nằm kề
Thương em từ thuở mẹ về với cha".
Rũ lòng anh giữa phù hoa
Trắng bàn tay nỗi xót xa không rời
Gởi cho em nửa khung trời
Nửa vầng trăng với cuộc đời làm thơ.
.
LÊ TRÚC KHANH
.
Theo
tôi được biết, LÊ TRÚC KHANH đã làm hàng ngàn bài
thơ với ngôn ngữ đẹp như thế, nhưng trước năm 1975, anh
chỉ khiêm nhường cho xuất hiện trong tập thơ mỏng mang tên QUÊ
HƯƠNG – TÌNH YÊU VÀ NỖI NHỚ KHÔN CÙNG do cơ sở
xuất bản VỀ NGUỒN ấn hành, cùng nhiều bài thơ đăng
các nhật báo, tuần báo, nguyệt san, tạp chí xuất bản tại
Sài Gòn và các tỉnh Miền Tây. Sau năm 1975, anh vẫn tiếp tục
sáng tác và lưu giữ trong chồng bản thảo của mình. Thỉnh
thoảng anh đưa tôi xem một đôi bài, và tôi vẫn thấy
rõ cái sung sức, phong độ và tính cách thơ của LÊ TRÚC
KHANH mãi mãi như thế. Có thể nói nguồn thơ trong con người
mang nghề giáo dạy văn chương, nhưng vương cái nghiệp làm
thơ - lại là thơ tình yêu và quê hương mà chính anh
đã chọn - đúng hơn là khoanh vùng giới hạn của thơ
mình là nỗi nhớ khôn cùng. Như vậy, đứng một góc
độ nào đó mà xét, tôi nghĩ rằng, LÊ TRÚC KHANH thật
sự đứng vững trong thơ ca trữ tình bằng ngôn ngữ riêng tư,
dù cuộc sống xung quanh có làm cho anh cảm nhận là mình đã
bị cuốn trôi trong dòng đời nghiệt ngã, và nguồn rung cảm
đã khô cằn. LÊ TRÚC KHANH, ít ra đã có bạn yêu
thơ gìn giữ trong lòng mối tình cảm sâu xa, vì anh đã
tự chọn lấy hai miền quê hương để gạn lọc cho nguồn thơ
phong phú, trữ tình quá đặc biệt riêng tư, mà không phải
ai muốn có cũng được như anh. Nếu cuộc sống không bị
ràng buộc điều gì, có lẽ LÊ TRÚC KHANH sẽ không ngần
ngại gì mà không cho tác phẩm mình đến với bạn yêu
thơ, như ngày xưa chúng tôi cùng nhau phổ biến trên chương
trình Tiếng thơ VỀ NGUỒN, hoặc trong các thi tuyển đặc biệt
của Văn Đoàn VỀ NGUỒN tại Cần Thơ trong thập niên 60-70 mà
nhà văn Sĩ Trung đã viết trên báo Tia Sáng, tôi có trích
dẫn trên đây.
.
HOUSTON, tháng 9-1995
.
Trích thơ
LÊ TRÚC
KHANH
.
QUÊ HƯƠNG HAI ĐỨA
@
Anh lớn trong miền
Tây khai hoang
Quê hương
và nước bạc cơm vàng
Khúc ca Nam tiến khơi tình đất
Pha máu cho phù sa điểm trang.
.
Đèn lửa thương hồ rưng bến khói
Thuyền về qua nhịp thở U Minh
Ai đó góp tay thời kháng chiến
Tầm vông đem dựng ý thanh bình?
.
Ngày mưa lục tỉnh giăng châu thổ
Để lúa hồn nhiên với cuộc đời:
Vượt sống bình yên – cày sỏi đá
Tô màu lên chín cửa mù khơi.
@
Giấc ngủ
em hờn trăng Tô Châu
Mộng cùng sao rụng vũng chiêm bao
Trường lưu thôi khuấy hồn Dương Tử
Duyên hải nào dâng sóng bạc đầu?
.
Mây Tứ Xuyên còn trôi nữa không?
Đường in dấu ngựa – nắng mai hồng
Em tiền thân cũng loài chim Việt
Nương gió Nam mà xuôi bể Đông.
@
Rồi chinh
chiến đó tràn lan mãi
Hoa nắng ngùi tan dưới chợ chiều
Trống vọng kỳ yên – đình đám cũ
Chôn vùi theo "ngói đổ tường xiêu".
.
"Gạo chợ nước sông" từ buổi ấy
Những người xa xứ mới quen nhau
Mùa loạn ly dầm thân áo vải
Đò neo – bèo giạt – trắng chân cầu.
@
Hai đứa
giờ chung trời Cần Thơ
Dòng sông thương ngọt tuổi đôi bờ
Ngủ ngoan em – giữa vòng tay mẹ
Trên biển xanh – thừa hương ấu thơ.
.
Vạn lời ca dao dành cho em
"Điệp khúc trầm tư" của mẹ hiền
Anh thức khi lòng nôi khát sữa
Lặng buồn nghe nhịp võng triền miên.
.
Quê hương
mình khóc cười dang dở?
Cuồn cuộn tràng giang chảy lạc nguồn
Gát mái đi em – tìm bến đỗ
Căng
buồm ru giọng hát người thương.
.
22-4-1967
EM VÀ CÁI RĂNG
.
Trời Cái Răng ngàn trăm tiếng em
Đường mưa con nước đỏ hoa đèn
Nửa khuya biển phố chừng khua sóng
Đôi dấu chân hằn sâu bóng đêm.
.
Vầng trán em cao trời tỉnh nhỏ
Bàn tay thương đếm mấy cho vừa?
Áo em ngắn nếp Triều Châu cũ
Mái tóc thơm mùi Hương Cảng xưa.
.
Em trót sầu vương 14 tuổi
15 em đã biết thương tôi
Rồi chia hai dáng mùa khai hạ
Em vẫn vì nhau để ngậm ngùi.
.
Vòng môi bích thủy chừng cay đắng
Huyễn mộng thiên đường nghe trở trăn
Đưa em lạc lối hồn lên áo
Tôi chuyến xe về – không nói năng.
.
Tuổi học
trò mang mang kỷ niệm
Chiều ơi – gió động gót âm thầm
Nón đó em buồn che bóng nhỏ
Tôi trời mưa bụi – rét căm căm.
.
VỀ RẪY ĂN CÒNG
.
Vùng đất vừa trâu nằm vũng đó,
Cấy cày
mình Ngoại nắng rồi mưa
Người ta chia cả phần hương hoả
Cho
Ngoại nhờ trên khoảng ruộng thừa.
.
Ngoại
đem mầm sống gieo từng hạt
Sang tháng mười mong lúa trĩu cây
Hạt
gạo Cà Đun vùng đất mở,
Nồi cơm đơn bạc
cũng qua ngày.
.
Những năm kham khổ miền quê Ngoại,
Mẹ
hái mồng tơi bán chợ làng
Mua vải hột dền may
áo cấy,
Lá dừa nước dựng kín chòi hoang.
.
Dạy con cần trúc cài bông bụp
Đem
thả trôi dài theo nước sông
Thuở ấy chừng năm
– chừng sáu tuổi,
Nhà quê – con đã biết ăn
còng.
.
Củi tre nhóm bếp rang còng sữa
Hương
khói bay trời thơ ấu xưa
Ngoại mất – Mẹ lìa thôn xóm
cũ
Hồi hương thôi đợi đến bao giờ?
.
Thành đô vạn ngã đường xe ngựa
Bụi
xóa hồn thanh khiết ruộng đồng
Mất cánh gà khuya
tan tác gáy,
Mất đàn chim chóc gọi hừng đông.
.
Câu hát ngày xưa lơi nhịp võng
Lời
ca dao Ngoại bán thiên đình
Đợi chín buồng cau trồng tháng
Hạ
Đêm còn vương xóm rẫy mông mênh?
.
Tháng
5-1967
.
MÙA HẬU
CHIẾN
.
Rồi lúa vàng thơm chuyện thái
bình
Trường giang trôi tắp mộng cuồng chinh
Ngựa
về tay khấu cười say nhạc
Trong áo bào men ngát giọng quỳnh.
.
Hào khí đã đành chôn dưới mộ
Thành
xưa chừng bặt tiếng quyên sầu
Một giấc Long Hồ
vang chiến sử
Ta làm mây trắng miệt Ngao Châu.
.
Mấy độ ngư tiều trơ bóng khói
Ngậm
ngùi bỗng nhớ Lục Vân Tiên
Nghìn năm trên sóng
Tiền Giang ấy,
Thơ dẫn hồn say dưới mạn thuyền.
.
Ta ngủ vùi trên ước mơ xưa
Ruộng
đồng một thoáng lại xanh mơ
Có con cò trắng
đời chưa mỏi,
Nên chắp tình bay đến dại khờ.
.
Thì cũng hầu quên hết máu xương
Từ
dòng Ngân Hán rửa yên cương
Từ thanh kiếm gãy
vùng biên trán
Đã bạc đầu ta lạnh chiến
trường.
.
Còn buổi ta về hồng mắt em
Rối
bời kỷ niệm tóc thề quen
Dám xin chim hót bình minh dậy
Ơi
nắng mùa xuân ngủ thật hiền.
.
Và
cưới em bằng trăng với thơ
Hồi môn thêm một chuyến đò
đưa
Trăng ta dài khắp miền duyên hải
Như
tháng ngày em trót dại khờ.
.
ĐƯỜNG THỨ 20
.
Là khói chiều bay ngút
một trời
Em về áo lộng gió hai mươi
Đã
se mầu tóc lần xa cách
Và đã thành mây
những nụ cười.
.
Em có
theo mùa thu tới không
Còn riêng anh với ước
mơ hồng
Từ xa lớp cũ vàng nhung nhớ
Mình
kẻ đầu sông kẻ cuối sông.
.
Khi
nắng hồng xưa đậu trước thềm
Em còn
len lén dấu chân chim
Bước đi chưa dẫm
hồn trinh trắng
Ờ nụ tầm xuân rụng giữa đêm.
.
Phố bụi đường xe mù tóc rối
Chiều
mây lục tỉnh vắt ngang đầu
Ai xót dùm anh thời quá
khứ
Một lần cho mộng đến nghìn thu.
.
Sẽ lãng quên đời như thuở ấy
Rửa
tay gác kiếm bỏ công hầu
Thì đó – Kiều Phong lìa ải
Nhạn
Sao buồn lên đọng mắt A Châu.
.
Vì
thiếu dù che trời mưa bay
Lòng anh tăm tắp nước sông đầy
Xin
chung bước nhỏ lần tan học
Tình nở – chiều tan – gió
lắt lay.
.
Vừa lạc lời thu xuống tứ thơ
Con
chim chiền chiện gọi bên bờ
Tung tăng chân sáo cười hoa cỏ
Và
ấm đời hoang chút dại khờ.
.
NHƯ NỤ TẦM XUÂN
.
Như
em về đó quê nghèo
Con đường liên tỉnh một chiều
áo bay
Dòng sông con nước trôi hoài
Tình không
lãng đãng tháng ngày buồn thiu.
.
Đã
thương đã nhớ bao nhiêu
Bến ca dao vẫn hắt hiu con đò
"Vói
tay mà ngắt ngọn ngò
Thương em đứt ruột giả đò
làm lơ!"
.
Em còn hiển hiện trong thơ
Nụ
tầm xuân chín cành xưa dại khờ
Anh về mấy độ
nằm mơ
Bèo mây giạt đến bao giờ hở em?
.
Ô MÔN, NHỮNG THÁNG NGÀY XA
.
Ôi chút niềm riêng thoáng dấu
yêu
Lòng xa mặt nước nhớ trăm chiều
Đã
trôi lăng lắc mùa đông cũ:
"Gối lẻ giường
đơn lạnh rất nhiều"...
.
Những tối lang
thang buồn phố quận
Là mây lãng đãng cuối chân
trời
Phải mắt em về sao lấp lánh
Hay mùa đom
đóm nở hoa khôi?
.
Hành lang còn
thắm màu rau ngỗ
Chôn dấu hài xưa dưới cát
lầm
Tình cũng y nguyên thời mới lớn
Ba
bốn năm rồi năm sáu năm...
.
Có một dòng sông một bến sông
Trăm
năm hò hẹn chẳng chung dòng
Mới hay bèo nước là tan hợp
Là
ngút ngàn xa những ước mong...
.
QUÊ NGOẠI
.
Quê
Ngoại nghìn năm mây trắng bay
Cầu tre muôn thuở quyện sông dài
Ráng
chiều trôi đỏ hàng cau trắng
Khói rạ hương
đồng ngây ngất say.
.
Sao mình không
thương quê Nội?
Vẫn nắng chiều ngõ tối xanh xanh
Ngày
xưa, mây trắng xây thành
Mặt trời xuống đó sao mình
không thương?
Không, mình chỉ thương quê Ngoại
Nơi
đây
Những mái đầu bạc trắng
Đau buồn
sót lại của ngày xanh.
Gánh lúa khòm lưng run rẩy mắt
Tay
gầy giọt lệ chảy quanh quanh.
.
Hồi nhỏ, Ngoại
từng lao khổ lắm
Tay bùn, áo rách ướt mồ hôi
Gặt
lúa đồng xa đun gốc rạ
Nồi cơm khoai sắn nuốt không trôi.
.
Thời gian đi mất xa xôi
Ngoại buồn xuất
giá, về nơi quê chồng
Khói chiều rớt xuống mênh mông
Trời
xa chỉ thấy ráng hồng trời xa.
.
Nhưng Ngoại vẫn
còn gian khổ nữa
Trăm năm cay đắng bởi thương
chồng
Bán trái đồng chua, mua gạo trắng
Lo
trời nắng Hạ, rét mùa Đông.
Rồi một ngày
nào đó
Ngoại dắt đàn con thơ
Trở về
quê cũ
Sau buổi mong chờ
Một mình dựng
lại cơ đồ
Nuôi đàn còn dại mà khô mắt buồn.
.
Cau vẫn oằn sai xanh bóng lá
Ráng chiều
rụng trắng xuống bờ ao
Vẫn khói hoàng hôn lên mái
lá
Quê nghèo sống lại nghĩa trầu cau.
.
Sông sâu sóng vỗ dạt dào
Tre già vĩnh
biệt măng chào bình minh
Oằn vai nặng gánh gia đình
Ngày
đi chỉ có riêng mình cô đơn.
.
Ngoại
buông tay trắng buồn gian khổ
Trả nợ muôn đời cho thế gian
Đất
mỡ phù sa xanh bóng cỏ
Lá chiều rụng cánh xuống Thu Hoang.
.
Ngoại chết nhưng hồn lên khóm tre
Đêm
đêm còn gọi cháu con về
Thắp lại tuần nhang, un bếp lửa
Cho
đừng lạnh lẽo nếp nhà quê.
.
Ngoại
chết, trời Thu vương máu loang
Hồi sinh ngùn ngụt đất khô
cằn
Thời gian xoã tóc hồn oan lạnh
Rũ ruống
đêm dài dâng ánh trăng.
.
Đã trót
đời hoang đêm thế kỷ
Chiều nay dừng lại ở quê nghèo
Góp
lá cau khô đùn ánh lửa
Sương trời ôm trọn lá rơi
theo.
.
Trời vẫn hoàng hôn, đêm vẫn
mưa
Mình thương quê Ngoại mấy cho vừa?
Nước
mặn đồng chua cuồng nước mắt
Sao trời có rụng
xuống đường xưa.
.
Quê Ngoại ngàn
sau còn bếp lửa
Còn hoang hôn lạnh tím vương
vương
Mình vẫn còn thương muôn thuở mãi
Cơm
chiều lúa rạ loãng hơi sương.
.
26-3-1965
.
LẦN TRỞ LẠI BẾN TRE
.
Dòng sông cuộn chảy xa vời,
Một
mình anh giữa đất trời quạnh hiu
Hàng dừa xõa tóc
đăm chiêu
Tiếng chim bìm bịp kêu chiều bãi xa...
Là
thương – thương lắm quê nhà
Khói hoàng hôn
cũng nhạt nhòa – đầy vơi
Long lanh mưa nhỏ, bồi
hồi
Bến Tre mưa – có mưa trời Cần Thơ ?
Anh
về nhớ ngoại thuở xưa
Nhớ hàng cau, nhớ tuổi thơ ngậm
ngùi...
Nhớ bao nhiêu chuyện trên đời,
Những lòng
tham giết con người nghĩa nhân!
Chiều quê đọng thoáng bâng
khuâng
Còn riêng em với mùa xuân cho đời.
Tình
yêu – năm tháng – xa vời,
Trái tim kia vẫn sáng ngời nghìn
sau.
.
Anh về lắng khúc ca dao,
Lời
thơ xưa xé lòng nhau, u hoài:
"Chẻ tre bện sáo cho dày
Ngăn
ngang sông Mỹ có ngày gặp nhau."
.
Anh
về đây biết về đâu?
Dòng sông – kỷ niệm – hàng
cau –
ngậm ngùi...
.
CHÚT NGẬM NGÙI
XƯA
.
Trên những đường xưa rợp
áo dài
Em về gió động tóc thề bay...
Mười
lăm năm giữa nghìn thay đổi,
Lòng thực bình
yên một sớm này.
.
Có phải sân
trường ta rất rộng
Mà lòng tôi chỉ một hành
lang
Cho nên chút nắng đầu thu cũ
Chưa đủ
làm rơi những lá vàng?
...
Ngày ấy, theo em về
cuối ngõ
Giấu đời trong nón ngại ngần che
Giữ
đi em – gió đừng bay tóc
Mà rối lòng nhau chuyện ước
thề.
.
Nhà tôi trong ngõ, lầu che khuất
Nhưng
vẫn còn riêng một khoảng trời
Gốc mận chen trong tàng
vú sữa
Lạ lùng nghe vẳng tiếng chim vui.
.
Bạn bè dăm đứa làm văn nghệ
Mỏi
mắt chờ trông những cánh thơ
"Hát hội trăng
rằm" sân khấu ấy,
Lòng tôi, trọn gởi lại trường
xưa...
.
Từ lúc ra trường, xa lớp cũ
Đời-như-sông-nhỏ
dạt về đâu?
Chiến tranh – cơm áo – mòn
mơ ước,
Và những niềm đau chóng bạc đầu!
...
Cám
ơn tà áo mùa khai học
Bay suốt đời tôi những ước
mơ
Sương khói trăm năm màu trắng cũ
Bâng
khuâng một chút ngậm ngùi xưa...
.
Cần Thơ, mùa khai trường
.
TRÊN ĐỈNH ĐÈO HẢI
VÂN
.
.
Đứng
đây – giữa núi và mây
Trời cao
– với một tầm tay,
chợt gần
Nhớ người xưa thoáng bâng khuâng
"chim kêu
gành đá gẫm thân thêm buồn".
.....
Đã qua mấy suối mấy nguồn
Mấy dòng sông mấy con đường tịch liêu
Lòng rưng giọt
nắng trong chiều
Chút tình quê gửi lưng đèo, buồn tênh....
LÊ TRÚC KHANH
.
LÊ CẦN THƠ
(Trích
trong NHỮNG BẠN VĂN NGHỆ NGANG QUA ĐỜI TÔI
Tâm bút
LÊ CẦN THƠ - Bản Thảo Lưu Lại 2010, từ trang 211 đến
244)
______________________________________________________________________