PTGHouston_tatNien09_ChoTetNK017.JPGVÀI ĐẶC ĐIỂM

CỦA

THẾ HỆ CHÚNG TA

.

Hà Thị Phong

Cựu giáo sư Trung Học Phan Thanh Giản Cần Thơ     

(Bài phát biểu trong buổi họp mặt tất niên của Gia Đình PTG/ĐTĐ tháng 1 năm 2010 tại Houston, Texas)

.

  Kính thưa quí vị quan khách,

  Kính thưa đại gia đình Phan Thanh Giản/ Đòan thị Điểm

         

  Tôi rất hân hạnh và vui mừng được ban tổ chức cho cơ hội nói chuyện hôm nay. Vui mừng vì đã quá già mà còn được góp phần vào chương trình buổi họp mặt. Năm nay tôi gần 80 tuổi, nếu có điều gì sơ suất xin quí vi thông cảm tuổi già và tha thứ.

   Đề tài hôm nay là “Vài Đặc điểm của Thế hệ Chúng ta”.  Thế hệ chúng ta gồm những ai? Dựa theo định nghĩa chữ “generation” trong tự điển, chúng ta có thể suy ra hai người được coi là cùng thế hệ khi khỏang cách tuổi tác giữa họ không quá khỏang cách tuổi tác giữa người cha và người con. Nhưng khỏang cách đó là bao nhiêu tuổi? Có người 17-18 tuổi đã làm cha mẹ, có người 40 hay thậm chí 50. Cho nên người ta thường dùng con số phỏng chừng nào đó.

.

   Trong phòng họp của chúng ta hôm nay, tôi nhận thấy có khá nhiều quí vị ở trong khỏang tuổi 70-80. Nhưng cũng nhiều người dưới 70 và một số quí vị trên 80. Trong phạm vi bài nói chuyện hôm nay tôi xin coi “thế hệ chúng ta” là những người từ 65 tuổi trở lên. Nhưng lên đến tuổi nào? Chắc phải dừng lại ở tuổi 85, vì lên hơn nữa thì sợ thành tuổi cha con.

    Bây giờ tôi xin sang mục “những đặc điểm của thệ hệ chúng ta.” 

        

    1) Đặc điểm thứ nhất là chúng ta nhận một nền giáo dục đa dạng.

a)- Nền giáo dục dưới thời Pháp thuộc (trước 1945).

.

 Chúng ta chào đời trong thời kỳ Pháp đô hộ. Những người hiện nay ở tuổi 70 trở lên đều học tiểu học hay trung học trong thời Pháp thuộc. Ngay ở trường tiểu học các môn học đều được dạy bằng tiếng Pháp. Trong lớp học thầy cô giáo và học sinh muốn nói gì với nhau phải nói bằng tiếng Pháp. Những câu phương ngôn viết trên bảng đen, lâu lâu được thay đổi, và những câu treo trên tường, cũng bằng tiếng Pháp. Và những bức tranh trang hòang tường cũng được ghi chú bằng tiếng Pháp. 

.

         b)- Thời kỳ độc lập(1945-1975):

.

Năm 1945, sau khi quân đội Nhật lật đổ người Pháp, chấm dứt nền đô hộ,  miền Bắc và miền Trung đổi qua dạy bằng tiếng Việt. Chuyển đổi ngay sang tiếng Việt không phải là chuyện dễ dàng, nhưng thực hiện được là nhờ sự số gắng vượt bực của các giáo sư. Bộ Giáo dục chưa kịp sọan sách giáo khoa bằng tiếng Việt, các giáo sư phải dịch những bài trong sách tiếng Pháp ra Việt ngữ, dùng tự điển Hoàng Xuân Hãn. Ở các lớp nhỏ, bài học ngắn, thì giáo sư đọc bài  cho học sinh chép vào tập vở. Ở các lớp lớn, bài dài, thì bài được đánh máy ở những trang giấy đặc biệt rồi dùng máy in ra nhiều bản, gọi là “quay ronéo”.  Ở miền Nam, quen thuộc với tiếng Pháp nhiều hơn miền Bắc và Trung nên việc đổi qua tiếng Việt khó khăn hơn. Hình như mãi đến 1949 mới hòan tòan chuyển qua tiếng Việt. Song song với hệ thống trường công lập có những trường tư thục dạy chương trình Việt hoặc chương trình Pháp.

.

          c)- Sau ngày di tản (1975 trở về sau):

.

Với mảnh bằng VN người Việt chỉ tìm được những việc làm không đúng chuyên môn hay sở thích. Vì vậy khi có điều kiện thì nhiều người trong chúng ta nhào vô học đại học Mỹ, ở nhiều lứa tuổi khác nhau. Có khi cả cha, mẹ và con cái đều đi học. Có khi thầy trò gặp nhau trong một lớp, và có vài trường hợp, tuy hiếm hoi, thầy cũ ngồi ở ghế học trò nghe học trò cũ của mình giảng dạy.

Có người tốt nghiệp ngành cũ của minh, có người ra trường trong một ngành mới, như computer chẳng hạn. Có người không đủ điều kiện thì hoc thời gian ngắn hơn, ra technicians, hoặc học nghề. Đa số người VN khá thành công trong việc học. Tóm lại thế hệ chúng ta bắt đầu bằng chương trình Pháp, qua chương trình Việt, và kết thúc bằng chương trình Mỹ.

.

2) Đặc điểm 2: Thế hệ chúng ta sống nhiều chục năm trong chiến tranh.

.

Có thể nói cho đến năm 1975 chúng ta sống phần lớn đời mình trong chiến tranh. Chiến tranh khốc liệt ra sao, đau thương như thế nào, tôi sẽ không trỉển khai,  sợ làm mất thì giớ quí vị. Chỉ nêu ra vài điểm nhẹ nhàng về ảnh hưởng của chiến tranh đến thế hệ chúng ta.

a)Thứ nhất, chiến tranh đã gây ra cảnh nghèo ở miền Bắc và miền Trung trong nhiều năm và nạn đói trong nhiều tháng, có nơi vài năm. Miền Nam với vùng đất phì nhiêu, đời sống trù phú, không bị nạn đói hoành hành.

b)Thứ nhì, chiến tranh  làm gián đọan hoặc trễ nãi việc học. Một số nam học sinh và nam giáo sư lên đường nhập ngũ theo lệnh động viên. Đa số thì trải qua giai đọan bồng bế nhau trốn chạy khi chiến tranh lan đến vùng mình ở. Hiện tượng này gọi là tản cư hay chạy giặc. Các trường tạm đóng cửa một thời gian, ngắn hay dài tùy theo mỗi địa phương. Khi tình thế tạm ổn định, trường mở cửa lại thì lúc đầu chỉ lác đác leo ngheo một số ít, dần dần số học sinh mới tăng thêm. Số học trò về trễ này thường là mất một niên khóa.

c)Thứ ba, khi tàn cuộc chiến, đồng môn hay thầy trò gặp nhau trong các trại tù cải tạo, ở chợ trời hay trên đường vượt biên. Tù cải tạo là đề tài đã đựơc nói nhiều trong các tác phẩm văn hoc. Tôi chỉ xin mượn mấy câu thơ sau đây của nhà thơ Phương Triều tả hai người bạn học cũ cùng ở tù với nhau, một trong hai người trước kia là nhà giáo:

.

“Thầy giáo già, xưa là bạn học

          Tương tư mãi bệnh nhớ sân trường

Bảng đen, phấn trắng mà say được

Men rượu nào hơn men học đường.

.

Đổi đời, hai đứa ở tù chung

Rừng núi Sơn la mây chập chùng

Sặc, nứa, vầu, giang, làm bạn mới

Đêm nghe tiếng muỗi hát trong mùng.”

.

3) Đặc điểm thứ ba là đời sống tinh cảm của thế hệ chúng ta khác với thế hệ trước và cũng khác với thế hệ sau.

       Bài thơ về người tù cải tạo mà tôi đọc hồi nãy nói về một cựu giáo chức “tương tư bệnh nhớ sân trường” và say “bảng đen phấn trắng”.  Có lẽ tác giả cũng cùng tâm trạng. Và chúng ta đây, khi tổ chức những buổi họp mặt như thế này, chẳng phải chúng ta đang “say men rượu học đường” đó sao?

         

Sau khi định cư ở xứ người lúc đầu ai cũng lo vất vả làm ăn để nuôi sống bản thân và gia đình nên tạm quên nỗi buồn xa quê hương đất nước, xa những người thân yêu còn ở lại. Dần dần nỗi buồn càng ngày càng dâng trào, cho đến lúc được biểu hiện một cách cụ thể. Nó được biểu hiện qua việc chúng ta lập các hội ái hữu cựu học sinh và giáo sư, cũng như các đồng hương của chúng ta thuộc các ngành nghề khác lập hội đòan, hội ái hữu của họ. Lúc đầu lác đác vài ba hội, bây giờ thì hàng trăm hội của người VN trên khắp năm châu bốn biển. Chúng ta lập hội để đến với nhau, để chung vui với nhau, để tuơng trợ nhau. Những buổi họp mặt nao nao kỷ niệm, rưng rưng nước mắt buồn vui, đã đều đặn diễn ra ở nơi nào có bóng dáng của cựu học sinh người Việt. Xin nói riêng vài câu về hội PTG/ĐTĐ của chúng ta. Từ ngay thành lập muời mấy năm về trước đến nay hội vẫn luôn duy trì tinh thần tôn sư trọng đạo, xiết chặt tình thân ái giữa đồng môn, và không quên tiếp tay trong những trường hơp cần thiết, bằng cả tiền bạc và tấm lòng.

         

Tình cảm cũng đươc biểu hiện cụ thể qua việc sáng tác thơ văn. Lúc đầu xuất hiện vài bài thơ nhớ nhà nhớ nước, nhớ lớp nhớ trường, nhớ thầy nhớ bạn. Dần dần cây văn hoc đâm chồi mọc nhánh thành một dòng văn hoc hải ngoại, xoay quanh những chủ đề như thương nhớ quê hương, khắc khỏai trước lẽ vô thường của kiếp người, tình yêu v.v, và lên án chế độ hà khắc, thiếu tự do dân chủ ở quê nhà. Trong nhóm PTG/ĐTĐ và thân hữu của chúng ta cũng có những văn thi sĩ có tầm cỡ như Trần Hòai Thư, Trần Bang Thạch, Nguyên Nhung, Lê Cần Thơ và nhiều người nữa, hoặc những vị đem một tấm lòng và sự cố gắng để phổ biến những tác phẩm đóng góp vào nền văn hóa nước nhà, như anh Phạm Quang Tân.

.

Sau một thời gian, phong trào sáng tác thơ văn và thành lập hội ái hữu ở hải ngoại vang vọng sang bên kia bờ Thái Bình Dương. Thầy trò bè bạn ở quốc nội cũng cảm thấy nhu cầu tìm đến nhau để thăm hỏi, để cùng nhau nhớ lại kỷ niệm về những ngày xưa cũ. Và những đặc san ghi lại những lần hội họp, những bộ mặt thân quen đã ít nhiều thay đổi với thời gian, những kỷ niệm dưới mái trường, lần luợt ra đời. Đã có một số đặc san trong nước đến tay thầy cô, bè bạn ở hải ngọai. 

.

Kêt luận:

Trong không khí đón Xuân mừng tết, với cái “chợ Ninh Kiều” tí hon được các anh chị em PTG/ĐTĐ về Cần thơ mang sang để trong phòng họp của chúng ta hôm nay, tôi xin kết thúc bài này bằng mấy câu chúc tết mượn của một tác giả trong đặc san của hội ái hữu Biên hòa:

                    “Kính chúc quí vị môt năm mới An Khương

12 tháng Thịnh vượng

365 ngày Hạnh phúc

8760 giờ Sung túc

526,600 phút Thành Công

31,536,000 giây Vạn điều Như ý.

.
Hà Thị Phong

Site built & maintained by Tranbt21