T R U
Y Ệ N
đ o à n x u
â n t h u
Australia
__________________________________________________________________
Cỏ vườn hàng
xóm
chưa chắc đã xanh hơn!
Melbourne,
ngày...tháng...năm.
Tèo con,
Tối nay ba đi
làm về đã mười hai giờ rưỡi đêm. Ba mỏi, mệt vì
phải làm việc suốt tám tiếng đồng hồ, cộng thêm bốn
tiếng nữa để đáp xe lửa, leo xe tram, ngồi xe bus mới về được
tới nhà. Nhà mình dẫu mướn nhưng luôn luôn là nơi
ba muốn về nhất để gặp má con, anh Tí và con. Đó là
nơi ba thấy đáng yêu nhất. Gia đình chính là nguyên nhân
của tất cả mọi nguyên nhân mà ba, má con phải làm việc
vất vả. Tất cả chỉ vì con.
Vậy mà khi về tới nơi,
dẫu khuya, đèn vẫn còn chong, hắt ra khung cửa kiếng là một
bóng cô đơn. Má con lặng lẽ ngồi, cặm cụi may từng chiếc
áo một, kiếm từng mươi xu lẻ để sống sót nơi đất
lạ quê người. Ba hỏi con đâu? Má con buồn bã trả lời:
Thằng Tèo vẫn chưa về. Con đã đi chơi suốt từ chiều
thứ sáu cho đến nay là tối thứ hai rồi. Hơn ba ngày đêm
con không có mặt ở nhà. Vắng ngắt nhà. Mênh mông nhà.
Không tiếng chân bước vào ra. Ngoài cửa, gió mùa đông
Melbourne rét căm căm.
Bao nhiêu buồn
ba nhất là má con đang chịu, con có biết không? Ba nghĩ
là con biết. Nhưng ba không hiểu tại sao con lại nỡ dửng dưng trước
nỗi đau khổ của ba và má. Ba tin rằng trong lòng con, con vẫn còn
thương ba má lắm phải không?
Có lần đi chơi
khuya về, tình cờ con gặp ba trên chiếc xe tram đầy mỏi mệt. Rồi
cha con mình may mắn chung một đoạn đường về. Ba nói may mắn
vì hiếm hoi lắm cha con mình mới có dịp đi bộ cùng nhau. Đột
nhiên mình bắt gặp một cánh chim cô đơn, đậu trên nhánh
bạch đàn, đong đưa theo mưa gió. Có phải là chim Việt
nhớ cành Nam? Nhà mình đâu? Quê mình đâu? Sao biết được
ngày bay về tổ cũ!
Ba còn nhớ mùa nước lụt
năm 1978, ba năm sau ngày miền Nam sụp đổ. Nước tràn mênh
mông vườn của ngoại. Rắn bò cả vào nhà. Gạo không
có mà ăn, phải độn khoai lang, khoai mì. Nước cơm pha chút
đường dành cho con thay sữa. Ba phải đi hái lá tàu bay, đem
luộc làm canh. Nước pha muối để thay nước mắm. Có con gà
nuôi dành giỗ nội thì hàng xóm bắt trộm, ăn mất rồi.
Ba buồn nhưng không giận. Vì không phải riêng nhà mình chịu
đói. Cả dân tộc lầm than! Mình có nước mà mình
không biết giữ để đến nông nỗi này!
Cuối
cùng bị dồn đến chân tường, không lẽ ở lại chịu
chết, má con đành phải bán tư trang ngày cưới để có
tiền, làm lộ phí cho ba bế con đi. Nhà mình xẻ hai. Xẻ đàn
tan nghé. Ba với con ra đi; má và anh Tí ở lại để lỡ có
bị bắt còn có kẻ thăm nuôi. Vã lại mình cũng không
có đủ tiền, vàng chung cho bốn chổ.
Ngày cha con mình
đi, Cần Thơ chìm trong tối. Lúc bế con xuống ghe nhỏ chờ ra tàu
lớn, con khóc. Ai bị buộc rời xa quê cha đất tổ, chổ chôn
nhau cắt rún trong một hoàn cảnh bi thương như thế, làm sao mà
không khóc. Ba phải cho con uống sirop Phenergan để con ngủ. Rồi
lênh đênh trên biển, trong mịt mùng dông bão, đói, khát,
cướp biển Thái Lan. Cuối cùng tàu cũng đến được
Pulau Bidong. Con lả người trên tay ba. Ba bế con, bước đi xiêu vẹo
vì vẫn còn say sóng. “Xin hãy cứu con tôi!” Đó là
lần đầu tiên trong đời ba đã phải van xin.
Vậy
mà mấy năm sau khi má và anh Tí con được lãnh qua, ngày
gặp lại má con ở phi trường Melbourne, con chỉ nói
được 'Hi! mum' rồi thôi. Má con nói với ba rằng mới xa
thằng Tèo có mấy năm mà nó đổi thay nhiều quá. Vỏ
nó vàng nhưng ruột đã trắng rồi. Hồi ở bên nhà,
sợ con mình lớn lên, họ bắt đi nghĩa vụ, chết ở bên
Miên. Còn qua bên này, xa hoa, phù phiếm đã bắt mất nó
rồi. Ở đâu mình cũng không giữ được con mình. Hồi
nhỏ cho nó một cục kẹo, nó cũng mừng; bây giờ mình cho
nó cả cuộc đời nó cũng không nhận.
Mười
năm, hai chục năm nữa khi ba má đã già, cát bụi sẽ trở
về cát bụi. Cha còn gót đỏ như son. Đến khi cha mất gót
con lấm bùn. Ngày hai mươi bốn tiếng đồng hồ. Mười hai
tiếng làm việc và di chuyển. Tám tiếng ngủ để hồi sức
lao động. Chỉ còn bốn tiếng vào, ra để gặp mặt hai con.
Ba đã bán năm phần sáu đời mình cho vòng đời tư
bản khốc liệt cạnh tranh để đổi lại vỏn vẹn một phần
sáu vô cùng cho cõi thương yêu. Vậy mà cũng không được!
Ba
cũng có má giống hệt như con có. Đó là bà
nội của con. Chẳng may má ba mất sớm, rất sớm. Vì sức
tàn lực kiệt, đèn khô dầu lụi bấc, qua những ngày, tháng,
năm mưa dầm nắng dãi, sớm tần hôm tảo. nuôi đàn con
nheo nhóc ăn học.
“Mẹ già như chuối chín
cây. Gió đưa mẹ rụng con rày mồ côi.”
Câu hát ru đó đã theo ba suốt thời quần xanh
áo trắng, qua dấu lửa binh, xuống tàu vượt Thái Bình Dương;
rồi đất lạ quê người. Ba chắc rằng câu hát ru đó
sẽ còn theo ba mãi, cho đến khi ba về với nội.
Bây giờ nghĩ
lại ngày ba còn thơ dại như con, đôi khi dửng dưng, vô tình
làm má buồn, ba khổ giống như những gì con đã và đang
làm đối với ba má bây giờ. Ba đã hối hận biết bao
khi má mình không còn nữa. Có nụ cười nào rạng rỡ
hơn khi má mình thấy mình lẫm đẫm tập đi, bập bẹ tập
nói. Có tiếng khóc nào chua xót hơn , đèn đêm đối
bóng khi má mình biết mình trốn học, rong chơi.
Làm được
gì bây giờ nữa hở con? Có chăng chỉ là một đóa hoa
màu trăng trắng, cài lên ngực áo, trong mùa lể Vu Lan, như thầm
nói với đời rằng: mất má rồi đời chỉ là một
dải khăn tang.
Ai cũng thích đi chơi hết. Đi chơi vui lắm. Người
ta thường bảo sân nhà hàng xóm cỏ chắc xanh hơn.
Nhưng Tèo con ơi! luống hoa hồng vườn Botany sao đẹp bằng
luống rau má con trồng bên hè nhà mình ở. Con Bulldog nhà hàng
xóm sao bằng con Mực nhà ta. Mac Donald sao ngon bằng dĩa cơm tấm tình
quê. Lẩu nhà hàng Tàu sao ngon bằng nồi canh chua má nấu. Con trách
sao con tên Tèo. Cái tên gợi nhớ quê nghèo đã xa. Cái
tên Tony sao bằng cái tên Tèo yêu dấu của đồng chua nước
mặn; của những dải bần xanh.
Có thể con cho ba là lạc hậu, là
bảo thủ, là xưa rồi. Nhưng ba tin rằng có những điều chưa
sáng tỏ bây giờ sẽ hoàn toàn đúng trong mươi năm nữa
khi con ngồi nghĩ lại.
Ngày mình đi Cần Thơ chìm trong tối.
Ngày con về chốn cũ chắc bình minh. Má là quê hương. Quê
hương là má. Quê hương con còn có thể tìm lại được;
chớ mất ba má rồi thì thôi đã hết trông mong.
“Má
ơi chim vịt chết chìm. Thò tay vớt nó con cá lìm kìm cắn
tay.”
Mười năm, hai mươi năm nữa biết con còn có má
để mà kêu mà réo nữa hay không?
Thư bất tận ngôn.
Ba Tèo.
đoàn
xuân thu
Chiếc áo bà ba
hình chữ hỉ.
Mới
đầu nghe ba em gọi, tôi tưởng tên em là Muỗi. Tôi ghẹo em:
“Muỗi này! đừng chích anh, đau lắm”. Em trề môi, vẻ
không bằng lòng. “Tên em là Muội. Muội là em. Em là
Muội”. À ra thế!
Ba Muội, người Quảng Đông,
chú Phu. Phu là phú, phú là giàu. Tên chú giàu
nhưng chú không giàu. Chú chỉ có chiếc xe hủ tiếu, bán
điểm tâm dưới hai tàng me đại thụ, trên vỉa hè, bên
hông rạp chớp bóng Định Tường.
Má tôi đông
con, cũng nghèo, có quầy bán cơm tấm gần bên.
Chủ
nhựt được nghỉ học, hai đứa ra phụ chạy bàn. Em giúp
ba em. Tôi giúp má tôi. Năm ấy tôi mười tám tuổi, học
đệ nhứt, năm cuối cùng của bậc trung học đệ nhị cấp.
Cuối năm, tôi sẽ thi tú tài hai. Đậu thì lên đại học.
Rớt thì vào Thủ Đức. Chiến trường đang hồi ác liệt.
Bạn tôi, rớt tú tài một, đi Đồng Đế, có đi mà
chẳng có về. Muội, mười sáu tuổi, học đệ tam, trường
Tàu, sắp thi bằng Cao Trung.
Muội là cô giáo dạy tôi tiếng
Quảng Đông. Dách là một, dì là hai, xám là ba, xập
là mười. Bài xập xám là bài mười ba lá. Muội nói
Muội không thích thanh niên đánh bài. Tôi đâu có ở
không để đi đánh bài; vì tôi còn bận tơ tưởng
đến Muội của tôi suốt ngày; ngay cả năm thi tú tài hai,
bài vở còn cả đống, tôi còn không để mắt tới
nữa là.
Muôi dạy tôi tính tiền là xấu lúi.
Kỷ tố là bao nhiêu. Dách cô phảnh là một tô hủ tiếu.
Tôi hỏi: “Một dĩa cơm tấm bì, tiếng Quảng nói
làm sao?” Muội nói: “Muội không biết”.” Tôi nói:
“Đi hỏi ba Muôi đi!”. Muội không dám. Muội sợ ba biết
Muội quen với tôi, ba Muội rầy.
Ba Muội nói:
“Con trai Việt Nam làm biếng lắm, đi chơi tối ngày,
không lo buôn bán. Không buôn bán lấy gì ăn. Không có
gì ăn, làm sao lấy vợ. Nếu lấy được vợ làm sao nuôi
vợ, nuôi con”.”
Tôi nói: “Muội
đừng lo. Tôi sẽ rán học, thi đậu tú tài hai, vào đại
học sư phạm, được hoãn dịch, đi bán chữ, để có
tiền nuôi Muội. Muội đi bán hủ tiếu, để tôi
có hủ tiếu, ăn trừ cơm, trong những ngày mưa bán ế”.”
Muội nói: “Muội còn nhỏ lắm, chưa biết
yêu”. Tôi nói: “Tôi sẽ chờ vài năm nữa”.”
Nhưng
thời cuộc biến chuyển. Tôi không chờ được Muội mà ngược
lại Muội phải chờ tôi. Chờ tôi suốt cả một thời con gái.
Cuối
năm đó tôi đậu tú tài hai. Hai năm xa Mỹ Tho, đi học
đại học Cần Thơ, tôi không còn dịp gặp Muội mỗi sáng
chủ nhựt, để nói chuyện tào lao bắc đế nữa.
Tôi
sắp ra trường, sẽ đổi về một quận lỵ buồn thỉu, buồn
thiu nào đó của đồng bằng sông Cửu Long; để làm một
ông giáo làng, hai mươi mốt tuổi. Tôi sẽ trở về Mỹ
Tho nhờ má tôi nói với chú Phu, ba Muội, hỏi cưới Muội
cho tôi. Bây giờ tôi đã có đủ chữ để đi bán
rồi. Tôi sẽ có tiền nuôi Muội, để ba Muội không còn
chê con trai Việt Nam làm biếng nữa. Tôi sẽ không còn ăn cơm
tấm má nấu. Tôi sẽ ăn hủ tiếu Muội nấu, trừ cơm, trong
những ngày mưa bán ế.
Tôi không ao ước cao xa gì hết.
Chuyện ấy dành cho con nhà giàu, quyền thế. Tôi chỉ ước
được làm thầy giáo làng, có vợ bán hủ tiếu. Vậy
mà cũng không được!
Mùa hè năm 72 : mùa hè lửa đỏ.
Các trận đánh lớn đồng loạt nổ ra ở Quảng Trị, Kon
Tum, An Lộc. Tin chiến sự chiếm đầy mặt báo. Trang sau là cáo
phó, phân ưu những người lính tử trận. Tôi tốt nghiệp,
nhưng không được nhận nhiệm sở. Lệnh tổng động viên
đã ban hành. Tôi vào Thủ Đức.
Tôi thư về Muội
bảo chờ tôi. Tôi còn quá trẻ để chết. Tôi sẽ trở
về! Tôi sẽ trở về!
Tôi vẫn còn muốn ăn hủ tiếu
Muội nấu, trừ cơm, trong những ngày mưa bán ế. Hai năm xa Mỹ
Tho, tôi đã ăn hủ tiếu nhiều nơi, nhiều chỗ nhưng không
nơi nào, chỗ nào nấu hủ tiếu ngon bằng Muội của tôi.
Muội
hứa sẽ chờ tôi về dẫu trời sập chăng đi nữa. Lời hứa
ấy làm ấm lòng tôi suốt những ngày gian khổ giày sô,
áo trận.
Tôi rời trường Bộ Binh Thủ Đức, về thủy
quân lục chiến. Sư đoàn là lực lượng tổng trừ bị,
nên tôi lội khắp nơi: từ Cà Mau, Chương Thiện, Bến Tre ra
tận Thừa Thiên, Quảng Trị.
Một năm lính trôi qua, khi tiểu đoàn
về Mỏ Cày, Bến Tre truy kích chủ lực miền của địch về
quấy rối thì tôi đạp phải mìn. Sức nổ của trái mìn
tự tạo bằng quả đạn pháo 105 lép, đẩy tôi văng tuốt
xuống mương, mình dính đầy những miễng.
Tôi không chết,
như đã hứa với Muôi. Trực thăng phầm phập tải thương
về bịnh viên 3 dã chiến Mỹ Tho. Tôi nằm trên băng ca, ngoài
hành lang trên lầu, chờ ngày mai xe hồng thập tự chuyển tôi
về bịnh viện Lê Hữu Sanh của sư đoàn ở Thị Nghè.
Muội
nghe tin tôi bị thương; tất tả cùng má đến thăm. Đã
hết giờ thăm thương bịnh binh, má với Muội đứng dưới
lề đường Trương Định nhìn lên nơi tôi nằm. Tôi
thò cái tay, không bị dính miễng, vẫy vẫy. Má khóc. Muội
cũng khóc. Vạt áo xẩm, Muội mặc, đẫm đầy nước
mắt.
Muôi sợ tôi chết, Muội khóc. Khóc cho giấc mộng tôi
muốn làm thầy giáo đi bán chữ nuôi Muội; Muội đi bán
hủ tiếu cho tôi ăn trừ cơm những ngày mưa bán ế đã
không thành.
Tôi nằm bịnh viện cả tháng trời. Miễng trong người
lâu lâu lại lòi ra. Tôi nghiến răng, rút miễng ra, máu lại
chảy.
Tôi được hai tuần phép để chờ ra hôi đồng
giám định y khoa. Tôi trở về Mỹ Tho gặp má.
Cởi giầy sô,
áo trận, tôi mặc lại chiếc áo học trò năm cũ. Tôi
ra vỉa hè, dưới hai tàng me đại thụ, bên hông rạp chớp
bóng Định Tường, chạy bàn cho má tôi. Tôi gặp lại
Muội. Đó là khoảng thời gian hạnh phúc nhứt đời tôi,
khi bây giờ, tôi nhớ lại.
Tôi hỏi Muội: “Đẹp
tiếng Quảng là gì?”. Muội nói: “Hụ len. Còn yêu là
ói”. Vậy thì “Nị hụ len; ngọ ói nị”. Muội mắc
cỡ, ửng hồng đôi má.
Cả tháng trời nằm bịnh viện, không
có dịp xài, lương vẫn y nguyên. Tôi lãnh tiền ra, đưa
cho má tôi một nửa. Má tôi không cầm tiền, má khóc.
Tôi
nài nỉ: “Em con đang sức lớn, má ơi!””
Số tiền còn
lại tôi dắt Muội xuống tiệm Văn Minh, gần rạp hát Vĩnh Lợi,
mua vải cho Muội may áo. Tôi chọn một xấp gấm Thượng Hải
có in chữ tàu.
Tôi hỏi: “Chữ tàu đó
nghĩa là gì?””
Muội nói:
“Đó là chữ hỉ. Hỉ là vui. Vải này dành
cho người ta may áo cưới”.”
Tôi hỏi:
“Muội muốn màu gì?”
“Màu đỏ
hên lắm! Muội xin Trời, Phật cho anh đi đánh giặc bình an, hết
giặc, về với Muội”.”
Tôi nói: “Thôi!
Đời anh xui quá xá rồi còn gì, muốn đi bán chữ
mà cũng không được, mới đi lính có một năm đã
bị thương rồi, hên đâu hỏng thấy”.”
Tôi
chọn cho Muội vải áo màu xanh đọt chuối.
Tôi bảo:
“Màu xanh là màu hy vọng. Anh hy vọng Muội sẽ chờ anh
dù cho trời sập tới nơi.””
Muội nói:
“Muội sẽ chờ.””
Tôi
may cho Muội một chiếc áo bà ba để bắt đền cho chiếc áo
xẩm đẫm đầy nước mắt khi đến thăm tôi bị thương
nằm ở Bệnh viện 3 dã chiến ngày nào.
Muội nói:
“Muội mặc chiếc áo bà ba giống hệt con gái Mỹ
Tho.””
“Ba má sanh Muội ra ở
đây thì Muội đã là con gái Mỹ Tho rồi; mà con gái
Mỹ Tho chánh cống chưa chắc đã dám đọ với em”. Tôi
nịnh Muội.
Hai tuần phép trôi nhanh, tôi ra hội đồng
giám định y khoa tái khám, bị phân loại một, trở về tác
chiến. Lại băng rừng, vượt suối, bạc màu áo trận, mốc
thích giầy sô cho đến ngày tan hàng, sập tiệm.
Tôi
chỉ là một sĩ quan cấp thấp, nhưng lại thuộc binh chủng rằn
ri nên những người thắng trận cải tạo tôi hơi lâu; mãi
năm năm sau mới thả tôi về.
Tôi trở về Mỹ Tho bèo nhèo như
một chiếc áo rách. Má tôi đã mất khi tôi còn ở
trong trại. Mấy đứa em giấu tôi tin buồn. Đứng trước bàn
thờ má, đốt một nén nhang, tôi không còn khóc được
nữa, nước mắt tôi đã cạn lâu rồi. Miệng tôi méo
xệch như mếu, mắt chớp chớp, mặt nhăn nhúm, giựt giựt.
Má
ơi!
Tôi nhớ lại nồi cơm tấm má nấu, nồi cơm tấm
nuôi tôi ăn học. Tôi nhớ cái vỉa hè, bên hông rạp
chớp bóng Định Tường, dưới hai tàng me đại thụ mà
mùa thu lá me bay bay, rơi đầy trên tóc. Tôi nhớ
những giọt nước mắt của má tôi, khi đến thăm tôi bị
thương nằm ở bịnh viện 3 dã chiến năm nào. Tôi nhớ
những giọt nước mắt của má tôi khi không chịu cầm số
tiền lương tôi gởi. Bây giờ má tôi đã mất rồi;
đàn em tôi vẫn còn nheo nhóc. Cả nhà đói, ăn độn
bo bo mà cũng không đủ. Ăn buổi sáng, phải chạy, lo buổi
chiều. Việc chạy gạo dồn lên cả đôi vai khẳng khiu của em
gái tôi đang tuổi thanh xuân. Nhưng tuổi thanh xuân của em tôi
còn đâu nữa.
Nước mất nhà tan! Chưa bao giờ tôi thấm
thía câu nói ấy cho bằng bây giờ.
Tôi không tìm
gặp lại Muội nữa. Tình thơ dại của tôi đã tan theo vận
nước. Bây giờ tôi chỉ là một sĩ quan ngụy, đi cải tạo
về, mỗi tuần phải trình diện công an phường một lần cho
tới ngày xả chế. Tôi ra khỏi một nhà tù nhỏ, để
vào một nhà tù lớn hơn!
Tôi chỉ có chữ, mà chữ bây
giờ chẳng ai mua. Chế độ này không cần chữ. Lúc tôi lên
trình diện, lão phó công an phường lẩm nhẩm đánh vần
lịnh tha của tôi mà nước miếng tràn ra cả khóe miệng.
Chế độ này cần lý lịch. Mà lý lịch tôi hạng 15,
nghĩa là hạng bét, tận cùng đáy xã hội, thì tôi
làm được gì bây giờ?
Tôi không tìm gặp lại Muội không
phải vì tôi mặc cảm. Tôi không có gì phải mặc cảm
cả. Tôi chỉ đi lính, đánh giặc, tôi thua, giặc bắt tôi
ở tù. Thế thôi!
Tôi không tìm gặp lại Muội chỉ vì
tôi không muốn mình trở thành gánh nặng cho Muội. Yêu người,
có ai muốn trở thành gánh nặng cho người mình yêu bao giờ
đâu?
Tôi cũng không muốn trở thành gánh nặng cho em tôi.
Thương em, có ai muốn trở thành gánh nặng cho em mình thương
bao giờ đâu?
Tôi đã sống sót suốt năm năm trời
dưới chín tầng địa ngục. Tôi đã đói như chưa
bao giờ bị đói. Tôi đã từng ăn bất cứ cái gì
động đậy: cóc, nhái, ễnh ương, bù tọt. Tôi
phải sống sót để trở về, như đã hứa, với Muội.
Kẻ thù muốn tôi quỳ xuống, van xin. Tôi không quỳ xuống, van
xin. Kẻ thù muốn tôi chết. Tôi không chết. Tôi đã
trở về, dù thân tàn ma dại.
Em gái tôi đem
chiếc nhẫn cưới của má để lại, đến vợ tên công
an khu vực cầm, để tôi có chút vốn đi buôn lậu dầu
dừa. Ngày xưa nói đến buôn lậu là nói đến tiền
tỉ, đến những vật phẩm đắt tiền, trốn thuế, chuyển hàng
có xe quân cảnh hụ còi như vụ Long An. Còn bây giờ chỉ
mười lít dầu dừa, bỏ vào cặp táp, từ cầu Ba Lai qua phà
Rạch Miễu về Mỹ Tho, kiếm lời đủ mua lít gạo.
Đế
quốc Mỹ, tàu to, súng lớn, không đủ sức đưa nhân dân
ta trở về thời kỳ đồ đá. Nhà nước ta, đỉnh cao
trí tuệ loài người, bằng ngăn sông, cấm chợ, rào đường,
chặn ngõ dễ dàng đưa nhân dân ta trở lại thời kỳ đồ
đá, thời kỳ hái, lượm, thời kỳ của nền kinh tế tự
cung, tự cấp; bởi buôn bán, dù năm mười lít gạo, mười,
hai chục lít dầu dừa là không lao động, không sản xuất,
là bóc lột, là chủ nghĩa tư bản xấu xa.
Tôi cắt tóc ngắn lên, cho gọn gàng, cho có vẻ
thầy giáo. Phần thì để né mấy tay du kích bên Cầu Bắc
Tân Thạch, quê hương Đồng Khởi. Mấy tay du kích này có
kiểu làm tiền rất láu cá, bằng cách làm nhục khách
bộ hành qua phà, dùng súng, chận họ lại, bắt vào hớt
tóc. Tóc dài là tàn dư Mỹ Ngụy.
Ngồi trước gương
của ông thợ hớt tóc đầu đường, thấy tóc mình
đã điểm vài sợi bạc, dù tôi chưa đầy ba mươi
tuổi. Tôi mặc lại chiếc áo sơ mi trắng năm học đệ nhứt,
đã ố vàng. Chiếc quần xanh được nhuộm đen. Mặc áo
bỏ vô quần, mang giày với đôi vớ rách. Tôi xách chiếc
cặp táp cũ nhưng không để đựng sách vở. Sách vở
ích gì cho buổi ấy. Chiếc cặp đựng cái can nhựa mười
lít dầu dừa. Tôi nhập vai thầy giáo, dù ước mơ làm
thầy giáo làng, có vợ bán hủ tiếu để tôi ăn trừ
cơm những ngày mưa bán ế, đã chết tự lâu rồi, từ
Mỹ Tho qua Bến Tre dạy học, canh giờ đến lớp hay tan học, hòa
vào đám học trò để vượt qua trạm Cầu Bắc.
Tôi
đi buôn lậu dầu dừa được chừng sáu tháng thì thằng
bạn học cũ thời trung học cũng ở tù về, rủ tôi hùn
tiền mua chiếc xích lô đạp. Nó chạy sáng, tôi chạy chiều
hoặc ngược lại. Thằng bạn tôi nói, cay đắng: “Thằng
Mỹ quýnh quáng bỏ chạy, còn làm rớt lại cái tên Mỹ,
Xô xích Le, xe xích lô”. Tôi thì lại nói: “Mấy
ông tai to, mặt lớn của tụi mình thì hô hào tử thủ, để
có thời giờ tom góp vàng bạc, đô la rồi dông, còn làm
rớt lại chức dân biểu. Xô xích Le, dân biểu. Dân biểu đâu,
mình chạy đó”.
Một buổi chiều sau khi chở khách ra bến
xe cổng thị xã, tôi thả xe không về chợ Vòng Nhỏ thì
thấy một ông cắc chú đội chiếc nón mây đan, rộng vành,
như Khương Đại Vệ trong phim kiếm hiệp tàu trước
75. Ông mặc chiếc quần tiều lỡ, quá gối, chiếc áo thung tay
dài gần tới cùi chỏ, bỏ vô quần, gánh hai cái cần xé
không, đi lủi thủi. Tướng đi ngờ ngợ, quen quen. Chú Phu rồi
chứ chẳng ai!
“Đi xích lô hông? Chú ba!””
Chú
Phu nhìn lên, ngơ ngác, ngờ ngợ một lát, rồi nhận ra tôi.
Tôi đã đổi thay nhiều quá.
“Chèn ơi! Vậy mà ngọ tưởng
nị chết rồi.””
“Chết sao được! Sống nhăn
răng ra đây nè.””
Tôi chở chú Phu
về nhà. Cũng căn nhà lợp ngói âm dương ở đường
Huyện Toại, nhưng có vẻ tiêu điều, u ám. Chiếc xe hủ tiếu
xập kỷ nìn, năm xưa, ngày cũ, còn đậu trước hàng
ba, xẹp bánh, bụi bám, nhện giăng.
“Nị ở chơi, ngọ nấu
hủ tiếu cho nị ăn. Lâu quá ngọ cũng không có ăn
hủ tiếu.””
“Vậy chứ chú thôi bán hủ
tiếu rồi sao?””
“Thôi lâu rồi! Giờ ai cũng mạt, tiền
đâu ăn hủ tiếu.””
“Thì bán cho mấy ổng.””
“Ổng
nào? À mấy ông cách mạng hả? Ờ mấy ổng đâu có
thèm ăn hủ tiếu. Mấy ổng ăn vàng không hà.””
Chú
Phu đem ra một tô hủ tiếu và một lít rượu. Tô hủ tiếu,
chú Phu vừa mới nấu, cũng chịu cùng số phận tang thương theo
vận nước, chỉ nước lèo, bánh và lèo tèo những lát
thịt mỏng như tờ giấy quyến.
Tôi nhớ tô hủ tiếu Muội
nấu cho tôi ăn trong những ngày mưa bán ế. Tô hủ tiếu với
bánh bột lọc làm bằng gạo Gò Cát, trụng với nước
thật sôi, dai mà không bở như hủ tiếu Sài Gòn, nước
lèo nấu bằng xương heo, tôm khô, khô mực, cải bắc thảo,
thêm vài tép mỡ, điểm xuyến vài cọng sà lách non xanh
với mấy cọng hành luộc, một nhúm giá, vài lát ớt sừng
trâu xắt mỏng, rắc chút tiêu, ăn với xì dầu và dấm
đỏ. Tô hủ tiếu, người thương mình nấu, ly cà phê
sữa nhỏ, xây phé nại, do chính tay mình pha, trong những ngày bão
rớt, mưa dầm, bán ế giờ đã trở thành kỷ niệm.
Tôi không tiện hỏi thăm về Muội, dù rất muốn.
Tôi hỏi: “Chú bây giờ làm gì để
sống?””
“Thì nị thấy đó, ngọ đi
mua ve chai, lông vịt về bỏ cho vựa. Nghề ve chai lông vịt mà,
nghề móc bọc, móc bọc ny lon đem xuống sông rửa, rồi cân
ký. Bây giờ khổ! Nhớ hồi xưa mình vui quá!””
Lít
rượu ngâm ô môi, cho có màu, chú, cháu cưa hai gần hết.
Chú
Phu, chưn nam đá chưn chiêu, lảo đảo bước vào nhà trong,
lấy ra cái bọc ny lon.
Chú nói: “Con Muội! Nó
gởi cho nị. Con Muội! hu hu! Nó chết rồi!””
“Muội
ơi!””
“Ngọ biết nó thương nị. Lúc nị
đi ở tù, nó nói nó chờ nị được tha về, nó
sẽ đi bán hủ tiếu nuôi nị. Nhưng có được đâu!
Tụi nó đánh ăn tụi mình rồi lại giành ăn, đánh
lẫn nhau. Thiệt hết biết! Hết Pol Pot, Bành Trướng Bắc
Kinh, rồi Nạn Kiều. Ngọ sợ tụi nó sẽ đuổi cha con ngọ về
Trung Quốc. Tưởng thống chế bỏ ngọ chạy ra Taiwan. Mao xếnh xáng
rượt ngọ chạy tuốt đến đây. Mỹ Tho đất lành chim
đậu. Rồi sanh ra con Muội. Ngọ nói với con Muội: Mỹ Tho
bây giờ đất dữ rồi, thôi bay đi con!””
“Con
Muội ngần ngừ, có ý đợi nị về.”
Ngọ nói:
“Nị làm quan, mà lại rằn ri nữa, tù biết đến
lúc nào ra? Nếu không đi; sợ không còn có dịp. Cái cột
đèn còn muốn đi nữa mà.””
“Suốt
cuộc đời bán hủ tiếu, ky cỏm được hai cây vàng,
ngọ xuống năn nỉ mấy xì thẩu dưới chợ Mỹ Tho cho con Muội
một chổ.””
“Tàu nó ra cửa được
ba ngày đêm thì bơm nhớt bị hư, máy lột vên, trôi
giạt. Ở hải phận quốc tế, tàu buôn qua lại nườm nượp
mà không ai vớt. Ba tuần linh đinh trên biển, tuyệt vọng
quá, mấy người đi trên tàu gom quần áo, giày dép lại,
đốt. Cuối cùng có chiếc tàu buôn tội nghiệp dừng lại,
thả thang dây xuống. Ba tuần trên biển, nị nghĩ coi, sức đâu
nữa mà leo. Nó sút tay, rớt xuống biển. Chết chìm. Hu hu.””
Chú Phu không còn nước mắt nữa để khóc,
chú chỉ kêu hu hu, tiếng kêu của con thú bị một vết thương
trí mạng, bị ví vào đường cùng, không lối thoát
thân.
“Đêm trước khi đi, nó đưa cho ngọ cái này,
nói nếu nị còn sống sót trở về, thì đưa lại cho
nị. Hu hu!””
Trong cái bọc ny lon, chú Phu đưa cho tôi, là
chiếc áo bà ba hình chữ hỉ tôi may cho em ngày cũ.
Muội
ơi! Xác em giờ ở phương nào. Trôi vào đất Thái hay
vào Nam Dương. Áo bà ba, Muội yêu, hòa biển tím. Tình
còn đây trời đày ta mất nhau.
Tôi không còn khóc được nữa,
nước mắt tôi đã cạn lâu rồi. Miệng tôi méo xệch
như mếu, mắt chớp chớp, mặt nhăn nhúm, giựt giựt.
“Muội
ơi! Anh sẽ đem chiếc áo bà ba hình chữ hỉ của chúng mình
theo, ra biển.””
đoàn xuân
thu.
Dẫu
sao đi nữa!
Melbourne
ngày... tháng... năm.
Tèo con ơi!
30 tháng 4 năm 2005.
30 tháng tư năm
1975.
Đã 30 mươi năm rồi đó nhưng ta cứ tưởng
như mới hôm qua ngày định mệnh.
Ta soi gương. Hình ta đã già hơn
năm trước. Tóc bạc thêm. Vầng trán nhăn nheo, những vết nhăn,
buồn theo nỗi buồn năm tháng.
Ngày 30 tháng tư năm nay cũng như
mọi năm, ta sẽ nghỉ cày một ngày, sẽ ở nhà, rót ly rượu
đắng cay, ngồi một mình, nhắm nháp nỗi buồn của một người
thất trận và nghĩ suy.
'Rồi có một ngày chinh chiến tàn.'
Câu
hát cũ gợi đầy nỗi nhớ.
Nhưng chinh chiến vẫn chưa tàn trong ta
dù ba mươi năm đã trôi qua.
Gần mười năm, Melbourne cháy trong cơn
hạn. Melbourne cần nước. Không có nước, thành phố sẽ hấp
hối, sẽ chết. Ta không có nước, ta sẽ hấp hối, sẽ chết.
Tèo
con ơi!
Đêm qua trời đổ trận mưa to. Mưa như người đi
xa trở về quê cũ. Những giọt mưa ồn ã gỏ vào khung cửa
kính như nói người rằng: Mưa đã trở về. Nước đã
trở về.
Ta nửa tỉnh, nửa mơ trong tiếng mưa rơi. Và trong cơn
mơ, ta trở về quê cũ.
Ta thấy quê ta mênh mông trong buổi chiều
thơm rơm đốt đồng khói toả. Ta thấy cánh cò xoải bay
về đâu trong buổi chiều ráng đỏ.
'Chim bay về núi
tối rồi. Chị em sắm sửa lấy nồi nấu cơm.'
Hòa bình !
Ta
thấy nhà ta buổi tối quây quần bên ngọn đèn huê kỳ
vặn tỏ. Ba ta ngồi đọc báo; má ta ngồi may vá; anh, em ta đang
ngồi tập đọc cuốn vần con gà nó gáy ó o.
Rồi
ai làm bom, đạn nổ?
Chiến tranh.
Ta thấy lại những người không còn
ai thấy nữa. Những người đã chết.
Người chết là
bé thơ còn ngậm bầu vú mẹ. Xác mẹ và con,
cả hai, đều lạnh giá trong ngày mồng một tết Mậu Thân tám
nẻo đường thành.
Người chết là thiếu nữ, mới
chớm tuổi xuân thì , mà buổi chiều còn trò chuyện với
ta về tương lai, về hạnh phúc để nửa đêm về sáng,
một mảnh đạn pháo xuyên vào tim em, chấm dứt ngày em mơ
mộng cũ.
Ta vẫn còn thấy em nằm sóng soài trên chiếc ghế
bố, ai dùng thay thế chiếc băng ca để ta tiếp khiêng em vào bệnh
viện. Nhưng không còn kịp nữa rồi! Em chết mà không
biết vì tội gì mình phải chết.
Người chết là
người lính trẻ, tử trận chiều qua mà ta đã gặp trong nhà
quàn liên đội chung sự nghĩa trang quân đội Biên Hoà khi
ta lên để nhận lại xác của anh ta bỏ mình trong trận Ba Hô,
Quảng Trị.
Người chết là em thơ, mà cây AK 47 em mang còn dài
hơn cả thân em, khi ta thấy em nằm hấp hối bên vệ đường
thành phố mà ai đã đưa em vào giải phóng trong tổng công
kích Tết Mậu Thân. Em chết ngơ ngác, chết bàng hoàng như
thể chưa nhận ra được kết cuộc bi thảm của một chuyến
đi đầu năm mà em cứ tưởng là một chuyến rong chơi.
Ta vẫn
còn nghe tiếng ông Chín Đờn Cò và bà Năm Trầu nói
chuyện.Ta yêu cái giọng miền Tây Nam Bộ chơn chất ấy. Ta nghe
tiếng gà vịt trong chuồng đòi ăn, tiếng nghé ngọ của bầy
trâu rời chuồng trong chương trình phát thanh Hương Quê mỗi
bình minh năm cũ.
Ta vẫn còn nghe tiếng ai đó hò vòng
vọng, lan tỏa trên đồng bằng sông Cữu Long mùa nước nổi.
Ta
vẫn còn nghe tiếng hò reo xung trận, tiếng súng nổ, đạn bay,
tiếng rên la của người bị thương, tiếng than khóc của những
người ở lại, đau đớn tiển người đi.
Ta vẫn còn nghe
tiếng lựu đạn M67 nổ khô khốc trước sân cờ đài
phát thanh Cần Thơ 11 giờ 30 sáng ngày 30 tháng 4 năm ấy. Tiếng
nổ chấm dứt cuộc đời của một người chiến sĩ
địa phương quân thuộc lực lượng cơ hữu phòng thủ
đài phát thanh Cần Thơ. Thà chết chứ không chịu sống để
chứng kiến cảnh đất nước, nhân dân rơi vào tay giặc.
Ta
vẫn còn nghe lời nói của mộât người lính, trích từ
kinh thánh:
“We, the soldiers who have returned from battles stained with
blood, say to you with a loud and clear voice: Enough of blood and tear. Enough.”
“Ta,
những người lính từ mặt trận trở về, mình còn đẫm
đầy những máu, dõng dạc nói với các ngươi rằng: Đã
đủ rồi máu và nước mắt. Đã đủ rồi.”
Tèo
con ơi!
Đó là những điều ta và bao nhiêu người lính
cùng thế hệ với ta đã thấy, đã nghe, đã cùng nghĩ
suy trong ngày 30 tháng 4 định mệnh đó.
Chúng ta đã
buông súng vì nghĩ rằng máu và nước mắt đã đủ
rồi.
“Enough of blood and tear. Enough.”
Ta, những
người lính trẻ năm ấy, không hề nghĩ rằng: Mẹ ơi! nuôi
con lớn để con làm tù binh!
Ta không hề nghĩ rằng: ta sẽ bị trả
thù, sẽ bị bắt đi học tập cải tạo, sẽ bị di chuyển
từ trại tù nầy sang trại tù khác, từ nam chí bắc. Ta không
hề nghĩ rằng ta buông súng để thân tù áo mỏng giữa
cơn gió Hoàng Liên Sơn mùa đông khắc nghiệt, lạnh căm
căm.
Có bao nhiêu người cùng thế hệ với ta đã đi,
chẳng thể trở về?
30 tháng 4 năm 1975.
Ta còn trẻ, mắt còn
sáng, tóc còn xanh, nhìn đời vẫn còn nhiều cao vọng pha lẫn
chút ngây thơ.
Tèo con ơi!
Tuổi trẻ nào không thế!
Ta đã
từng ngây thơ tin rằng: hết chiến tranh rồi mọi sự đâu sẽ
vào đấy.
Sẽ hòa giải. Sẽ hàn gắn. Sẽ không
còn bắn nhau, không còn đặt mìn, phục kích, pháo kích,
bỏ bom. Người Việt Nam sẽ không còn giết nhau bằng
súng Nga, bom Mỹ nữa.
Người Việt Nam
sẽ không còn chết nữa.
Ta đã lầm!
Người
Việt Nam vẫn chết, mà chết còn nhiều hơn trước.
Chết bi thảm hơn. Chết khắp nơi: chết trong trại tù từ nam chí
bắc; chết trên biển đông trên đường vượt biển; chết
trong rừng sâu vượt bộ Cao Miên.
“Rồi có một
ngày chinh chiến tàn. Ta trở về quê.”
Không! ta không
còn quê nữa để trở về. Ta lưu lạc, ta tha hương.
Melbourne
đang mùa hoa, blossom, nở. Quê người ôi đẹp biết bao! Nhưng
quê người dẫu đẹp vẫn không phải quê ta. Quê ta là
con đò, bến nước, là mái lá có lu nước nước
mưa trước hiên nhà dành cho khách bộ hành giải khát bước
đường xa.
Đêm ta mơ về thành phố cũ. Cần Thơ.
Chiếc phà Hậu Giang. Người nghệ sĩ mù và câu hát 'Dẫu
sao đi nữa thì chị cũng về với em'.
Tèo con ơi!
Có
thể là quá trể để “Dẫu sao đi nữa thì chị
cũng về với em.” Ta đã già rồi, sức tàn lực
kiệt, đèn khô dầu lụi bấc. Ta sẽ không còn dịp gặp
lại ông Chín Đờn Cò và bà Năm Trầu nữa đâu.
Hỡi ơi! những người nghệ sĩ thân thương ngày đó
còn sống hay đã chết? Nếu sống thì phiêu bạt ở phương
nào? Có đêm mơ về quê cũ như ta?
Ta tin rằng Ông
Chín Đờn Cò và Bà Năm Trầu đã chết cùng với
người lính địa phương quân phòng thủ đài phát
thanh Cần Thơ năm ấy.
Trước hay sau gì chăng nữa, nếu đất
nước ta vẫn còn trong tay giặc, ta vẫn chưa về. Ngày ta nằm xuống
ở đất lạ quê người, Tèo con ơi! Con hãy đưa ta vào
lò thiêu. Thân xác ta! Cát bụi sẽ trở về cát bụi. Con
hãy giữ dùm ta những những tro than ngày cũ chờ đợi một
ngày thôi bóng quân thù.
Hãy mang ta về quê cũ, vùi
những tro than đó xuống lòng đất quê hương. Ta sẽ thực
hiện được lời ước nguyện của người nghệ sĩ mù
trên bến bắc Cần Thơ với câu hát tiên tri: “Dẫu
sao đi nữa thì chị cũng về với em.”
Tèo con ơi! Lúc
đó cuộc chiến mới thực sự tàn hẳn trong ta. Hãy
để bụi thời gian năm tháng phủ mờ bia mộ đường quên!
đoàn xuân thu.
Ngấn lệ chiều
áp lễ Giáng Sinh.
Melbourne mùa Giáng Sinh tuyết chỉ rơi
trên màn ảnh truyền hình. Thay vì tiếng nhạc tuần lộc kéo
xe trượt tuyết, Jingle Bells, Jingle Bells, là tiếng hú còi inh ỏi “Cháy
đâu? Cháy đâu?” của xe chữa lửa. Thay vì gió tuyết
tràn qua khung cửa sổ, qua những dãy đồi thông, tùng, bách,
là gió sa mạc từ phương bắc thổi về thành phố, mang theo
tàn lửa, khói, bụi của hàng chục, trăm ngàn mẫu rừng
bạch đàn đang phừng phừng bốc cháy.
Lúc ấy, tôi
đang làm Santa Claus ở shopping centre. Công việc làm theo mùa, bắt
đầu vào đầu tháng chạp, chấm dứt vào chiều áp lễ
Giáng Sinh. Khách hàng đa số là trẻ con. Việc làm nhiều
giờ, nóng kinh khủng; áo ướt đẫm, mồ hôi chảy thành
dòng trên má. Cực hình. Hỏa ngục. Ấy là chưa kể đến
những đứa trẻ nghịch ngợm, quậy phá, hò hét: “Á!
Ông Santa Claus da màu!” Nếu mình không giỏi nhịn, phát cáu,
phản ứng lại quá đáng là hư bột, hư đường, hư
việc...“Khách hàng là thượng đế.”
Tuy đối
với một số người việc làm này là cực hình, là
hỏa ngục nhưng đối với một số người khác thì lại
thích. Chín người mười ý. Riêng tôi, thích hay không gì
cũng phải làm. Mới từ đảo, chân ướt chân ráo, đến
Melbourne, trợ cấp an sinh xã hội chỉ đủ cho tiền ăn, tiền share
phòng, trong khi vợ con tôi bỏ lại quê nhà đang đói, tôi
chụp lấy bất cứ cơ hội nào để kiếm tiền. Không có
việc lương thiện nào xấu, chỉ có người xấu mà thôi.
Nước
Úc này nhận di dân, tị nạn vào là để làm việc,
đóng thuế, góp phần xây dựng chứ không phải để nuôi
làm kiểng. Nuôi hoài, nó đâu có chịu.
Vậy thì muốn
ăn phải lăn vào bếp, muốn chết phải lết vô hòm, tôi
viết đơn xin việc gởi đi khắp nơi, bất cứ việc gì cũng
chẳng từ nan, từ bảo vệ, gác dang, thâu tiền car park, thậm chí
đến nhân viên vệ sinh, lau chùi, quét dọn.
Thư xin việc gởi đi
nhiều, mới đầu còn hy vọng được kêu đi phỏng vấn,
chờ hoài, chờ hủy, dần dần thành tuyệt vọng. Suy nghĩ hoài
mà tôi chẳng thể tìm được lý do nào khả dĩ cắt
nghĩa được tại sao họ chẳng kêu mình. Mình có đòi
làm thầy chú, luật sư, bác sĩ gì đâu, mà có đòi
cũng hỏng được, mình biết thân mình, chỉ xin làm cu li thôi;
hay là khi thấy cái tên, họ chần vần, đẫm đầy mùi
nước mắm, fish sauce, của mình thì họ đã thản nhiên vụt
cái đơn xin việc vào sọt rác rồi cũng nên. Chính sách
một thời Úc trắng, the White Australia, chỉ mới khai tử gần đây,
dám cũng còn sót lại cả đống tay kỳ thị.
Vậy là tôi quyết
định phiên âm tên mình ra tiếng Anh, Tony Dawn, cái tên phảng
phất mùi bơ sữa.
Biết chuyện, anh bạn cùng share phòng với tôi,
trong một bữa nhậu cuối tuần, đã vội quở:
“Anh chân ướt,
chân ráo qua Úc mới mấy tháng, tiếng Anh nghe còn điếc, nói
còn cà lăm, mà đã vội quên mồ mả ông bà. Mình
mất nước, mình chạy; nhưng hình ảnh quê hương, ông bà,
cha mẹ, mình mang theo, mình giữ chứ. Vậy mà ngay cái tên cúng
cơm của cha mẹ đặt, anh cũng bỏ luôn.”
“Anh trách tôi,
tội nghiệp, tôi không phải hạng người tham đó bỏ đăng,
thấy trăng quên đèn, hay trưởng giả học làm sang. Cuống nhau
rúng của tôi, ba má tôi đã chôn đâu đó ở một
làng quê ven thị xã Mỹ Tho thì làm sao tôi quên được.
Má tôi từng nói: “Cuống nhau rún của con chôn ở quê hương,
bản thổ, lỡ sau này thời thế đổi thay, làm thân lưu lạc,
đất khách quê người, tha phương cầu thực, vẫn còn cái
nhớ để trở về.”
“Tôi đổi tên chẳng qua để dể
xin việc. Tôi cần tiền. Vợ, con tôi đang ăn độn bo bo ở quê
nhà mà anh.”
Trong lúc không còn hy vọng gì nữa thì
tôi được gọi đi phỏng vấn. Phỏng vấn tôi, Maria
Paterson, trẻ, tóc vàng sợi nhỏ, mỏ đỏ, mắt xanh, là
nhân viên điều hợp của công ty Southern Cross có một đội
ngũ hơn 600 Santa Claus trên toàn quốc.
Khi tôi đến, da vàng,
mủi tẹt, tóc đen, dưới một cái tên rặt Úc thì Maria
trố đôi mắt xanh lơ ngạc nhiên nhìn tôi, làm tôi hơi
bực bội. Tôi hít một hơi thở thật sâu: “Nhịn nó đi!
Nhịn nó đi! Mình đến đây để xin việc chứ không
phải để cãi lộn. Vợ con mình đang đói, đang ăn độn
bo bo ở quê nhà kìa.” Dù thầm nhủ lòng như vậy
nhưng khi Maria hỏi tôi: “Ông có thể cho tôi biết tại sao ông
lại muốn làm Santa Claus không?” Tôi tức quá, không nhịn được
nữa, nổ luôn: “Tôi muốn làm Santa Claus vì hai lẽ. Thứ nhứt
là tôi cần tiền, cần việc làm.” Tôi lên giọng, hơi
gay gắt : “Thứ nhì là làm Santa Claus, tại sao không? Chúa
là của muôn người, không phân biệt chủng
tộc, màu da: trắng, vàng, đen, đỏ. Santa Claus cũng vậy thôi! Da
trắng làm Santa Claus được; tôi, da vàng, thì cũng được;
có sao đâu?” Tôi muốn cho cô ta biết tôi đang bực bội.
“Nè! Đừng có lên giọng kỳ thị nghe cô nương!”
Ai dè, Maria Patterson có vẻ chịu câu trả lời của tôi, đáp
lại bằng cái tiếng Anh hơi ngọng, giọng Úc: “Fair enough!”
Có lý!
Vậy là tôi được được nhận vào
lớp huấn luyện Santa Claus bắt đầu vào trung tuần tháng chín;
sau khi qua sự thẩm tra lý lịch tư pháp của cảnh sát
Mặc
dù dưới tay Maria Paterson có hàng trăm Santa Claus, đồng phục đỏ,
viền trắng, mỗi năm cô vẫn phải kiếm thêm người. Việc
làm đòi hỏi nhiều thể lực nên khi Santa Claus tuổi già
chồng chất, yếu quá không thể nào kham nổi nữa.
Có lần Maria điện thoại cho một Santa Claus trong danh sách
để xem ông có rảnh để làm việc cho mùa giáng sinh này
không thì mới hay ông đã qua đời. Thật là một cái
tin tang chế buồn bã.
Nhiều người đã
làm Santa Claus suốt 18 năm ròng rã, nên muốn mình mới là
chính hiệu cầu chứng Santa Claus. Có lần Maria nhận điện thoại,
bên kia đầu dây nói: “chào Maria Paterson! Santa Claus đây.” “Nhưng
Santa nào đây? Khi trong tay tôi có hơn 600 Santa Claus trên toàn quốc.”
Maria kể lại.
Lớp huấn luyện Santa là phòng hội của chi hội cựu
chiến binh Úc, RSL, ở khu lao động miền tây Melbourne, Footscray. Hơn 70 người
đến dự hai ngày huấn luyện trước khi được phân về
các shopping centre để làm việc: chụp hình kỷ niệm Giáng Sinh
với trẻ con, dĩ nhiên có tính tiền, sau là đáp ứng lời
ước Giáng Sinh của trẻ con về một món quà nào đó
và biến giấc mơ đó thành hiện thực bằng tiền của
ba má chúng.
Trong căn phòng nhộn nhịp,
một ông già tóc bạc, râu dài, chận tôi ở cửa,
quắc mắt nhìn tôi từ đầu đến chân, rồi gầm gừ
đe dọa “Này! tôi cho anh bạn biết không được
tiết lộ bất cứ bí mật nào của căn phòng này
ra ngoài nhé?” Tôi lúng túng, chưa biết trả lời sao thì
ông già đã nháy mắt, cười rung cả bụng. “Chỉ đùa
thôi!” Rồi dùng tay mình vổ vào gan bàn tay tôi một
cách thân thiện.
Đó là quang cảnh lần đầu tiên
tôi thấy rồi suốt đời chẳng thể nào quên. Cả một biển
người tóc bạc, có người mang kiếng lảo, râu trắng như
cước, với những chiếc bụng bự đầy mỡ, Việt Nam mình
hay gọi là thùng nước lèo, mà hồi nhỏ tới lớn đây
lần đầu tiên tôi mới thấy cái thùng nước lèo bự
đến thế.
Santa trẻ nhất 25 tuổi, già nhất 92 tuổi. Đủ
nghề: tài xế xe bus, nhân viên ngân hàng, kỹ sư hay những
người đã về hưu. Nhiều người kỳ cựu, đã làm
Santa Claus chuyên nghiệp rất nhiều năm. Tái huấn luyện chỉ là
dịp để họ cập nhật hóa những luật lệ và phương
thức làm việc mới nhất. Nó cũng là dịp gặp lại những
người bạn Santa cũ để trao đổi kinh nghiệm và tiện thể
đấu láo cho vui. Cuộc sống ở đây, xứ Úc, già, cô
đơn, buồn chán lắm.
Họ ngồi trên những chiếc ghế
bằng nhựa, làm chưn ghế muốn oằn luôn, tay cầm quyển cẩm
nang huấn luyện, nhưng không thèm để mắt tới một chữ chỉ
lo nói cười ầm ĩ và có vẻ chẳng để ý
gì đến Maria Paterson, người điều hợp chương trình,
đang rát cổ hò hét để cố át tiếng ồn ào như
ong vỡ tổ...
Lớp huấn luyện kéo dài hai ngày.
Nhiều người nghĩ đóng vai Santa Claus dễ như ăn cơm sườn
nhưng thực sự không phải vậy. Nhiều học viên bỏ cuộc vì
khó quá.
Ngày đầu học lịch sử Santa Claus,
nhớ tên các con tuần lộc, nghiên cứu cách sử dụng các
loại đồ chơi mới nhất ở thị trường, Santa Claus
phải học cách mặc quần áo rất phức tạp, mất nhiều thì
giờ để hóa trang cho đúng. Giày bốt phải màu đen và
được đánh cirage cho bóng. Santa không bao giờ mang đồng hồ.
Bút nịt không được xệ khỏi rún quá xa. Râu, tóc
giả thẳng thớm, phất phới, bay bay. Ông già Santa có người
mập, có người ốm. Ốm phải độn thêm
miếng vải lót. Joe Jolley, người giỡn mặt tôi khi lần
đầu tôi bước vào lớp, là ông già Santa mập, nên
miếng lót được trao cho tôi, vốn ốm nhom ốm nhách.
Joe cười, vổ vào bụng đầy mỡ của mình rồi
nói: “Nhìn nè! Tôi tự đem theo miếng vải lót đây
rồi.” Sau khi hóa trang, Santa Claus phải tập cách cười
rung cả bụng, biết lúc nào thích hợp để nói “ho,
ho, ho”. La “ho, ho, ho” không đúng lúc có thể làm cho trẻ
con giựt mình, sợ hãi.
Ngày thứ
hai học tâm lý, cách giao tiếp với trẻ con kể
cả với những bé không may bị tàn tật. Santa Claus được
xem video, trong đó đạo diển cuốn phim dàn dựng những tình
huống đời thường, có thể xảy ra, khi giao tiếp với
trẻ con trong mùa lễ Giáng Sinh. Làm Santa là làm kịch sĩ.
Mà không có kịch bản nào giống kịch bản nào vì mỗi
cháu, mỗi khác.
Ra vậy, kiếm đồng tiền quê người
cũng đổ mồ hôi sôi nước mắt chứ chẳng phải chuyện
giỡn chơi.
Joe Jolley, 66 tuổi, bụng bự, chân mày
chổi xể lốm đốm bạc, là cựu binh, huynh trưởng.
Tôi là lính mới, đàn em. Joe có nhiệm vụ kềm
cặp, hướng dẩn tôi, đầy óc hài hước, nói đùa:
“Tôi được nhận làm Santa Claus vì họ của tôi là Jolley.”
Jolley nghĩa là vui. Joe Jolley, Joe Vui Vẻ, tài xế xe bus. Ông quyết định
về hưu non để trở thành Santa Claus chuyên nghiệp.
“Dù
đã thực tập làm Santa Claus trong những bữa tiệc Giáng Sinh gia đình
rất nhiều lần tôi cũng không tránh khỏi hồi họp khi
lần đầu làm việc với tính cách chuyên nghiệp. Khi
bước ra khỏi phòng thay đồ, tôi cúm giò luôn, tôi thấy
mình có vẻ ngố làm sao ấy.” Joe kể lại.
Kinh nghiệm
làm Santa Claus hơn mười năm của Joe đã giúp ích tôi rất
nhiều.
Chẳng hạn Joe chỉ tôi trước khi đội tóc
râu giả nên đội phía trong một cái kết đã
cắt mất phần chóp để giữ cho đầu tóc giả được
thẳng đứng.
Joe cũng chỉ tôi cách giữ gìn
sức khỏe. Joe dặn tôi: “Khi chụp hình kỷ niệm, đặt
trẻ con trên đùi hãy nhớ thay đổi chân này chân kia.”
Có Santa Claus quên bẳng việc này để đến cuối ngày làm
việc mới thấy một bên bắp đùi mình bầm tím
vì trẻ con vừa ngồi vừa đánh đòng đưa cả hai chân.
Nhưng kinh khủng nhứt là cái nóng, vì hầu hết
các Santa Claus phải làm việc ít nhất 6 đến 8 tiếng một ngày
trong thời tiết nóng bức, dưới ánh sáng chói chang của đèn
chụp hình, mặc bộ áo Santa Claus dày cộm, đội râu
tóc giả bùm sùm có thể làm thân nhiệt của Santa Claus
tăng cao, gây chảy máu cam, đôi khi bị choáng đưa đến
bất tỉnh nhân sự; nếu không cấp cứu kịp thời có thể
đưa đến tử vong.
Santa cần quạt máy
cho bớt nóng, shopping centre ở vùng nghèo làm gì có máy
điều hòa không khí. Nóng nực làm cho Santa khát nước,
phải uống nước liên tục; uống nước nhiều khiến họ
phải đi toilet nhiều hơn. “Nhưng nên nhớ rằng Santa Claus không bao
giờ đi toilet, ông ấy đi cho mấy con tuần lộc ăn.” Joe dặn
tôi.
Joe nói chân thành: “Tôi thích nghe những
điều ngộ nghĩnh trẻ con nói.” Có lần Joe hỏi một bé
gái 5 tuổi: “Con có cho baby bú không?”. “Bởi vì
tôi nghĩ baby bú bình”. Joe nói. “Nó chăm bẳm nhìn tôi
rồi lớn tiếng: “Làm sao được? Con không có sữa. Chính
vú mẹ con mới có sữa; cho baby bú tí được.”
Joe cười ngặt nghẽo: “Tôi bị quê quá là quê.”
Trẻ con lớn
nhỏ khác nhau, tính tình, ước muốn cũng khác nhau. Đáp
ứng đủ loại lời ước khác nhau của trẻ con là điều
rất gay go.
Có cháu đòi một chiếc xe đạp. Santa Claus phải
xem ba má cháu chịu hay không, vì không phải ai cũng đủ tiền
mua cho con mình chiếc xe đạp giá cả vài chục đô để
làm quà Giáng Sinh đâu, nhất là đối với những gia
đình di dân lao động nghèo mới đến ở miền tây Melbourne;
chứ còn đối với những gia đình thượng lưu ở Toorak đó
là chuyện nhỏ. Nếu ba má cháu lắc đầu, Santa có thể
nói cháu còn nhỏ quá chưa cởi xe đạp được. Tuy nhiên
Santa Claus sẽ có một món quà Giáng sinh rất thú vị cho cháu.
Có cháu nằng nặc đòi một cây
súng mà phải là cây súng thật mới được, (Thế
giới này đầy dẫy bạo lực rồi, cháu còn đòi súng
nữa mà chi?), thì Santa Claus trả lời là bà Santa không
thích bạo lực nên không có làm súng cho trẻ con.
Có
cháu sún răng, rụng mất hai cái răng sữa mà răng vĩnh viễn
chưa kịp mọc, cháu ước Santa Claus cho cháu hai cái răng cửa vào
đêm Giáng Sinh để còn kịp đón mừng năm mới.
Joe, Santa Claus, trả lời “Cháu ngoan thì hai cái răng cửa sẽ
từ từ mọc ra, nhanh chậm là tùy theo cháu ngoan nhiều hay ít.”
Sau hai ngày
huấn luyện vào trung tuần tháng chín, đầu tháng chạp tôi
được gởi về một shopping centre miền tây Melbourne, nơi đang có
nhiều di dân Á Châu lục tục đến định cư, nhất là
người Việt tị nạn, để làm việc.
Một mình một thân,
mùa Giáng Sinh đầu tiên xa vợ, xa con, tôi cố vui với công việc
để mong giết chết nỗi buồn xa xứ. Mùa Giáng Sinh làm việc
bù đầu rồi cũng trôi qua. Tôi đã đóng
tròn vai Santa Claus. Tôi không dám nói mình là một kịch sĩ
tài ba, tôi chỉ muốn san sẻ niềm vui với khách hàng, những
thượng đế ngây thơ, được cha mẹ dắt đi shopping, cho chụp
hình kỷ niệm với Santa Claus, được quà tặng Giáng Sinh.
Tôi nhớ
vợ , tôi nhớ con tôi - còn kẹt lại ở quê nhà thì làm
gì có việc chụp hình kỷ niệm với Santa Claus, làm gì có
quà Giáng Sinh, cơm trắng còn không đủ ăn, phải độn
- mà lòng đau như cắt.
Buổi chiều áp lễ Giáng Sinh
đã gần 5 giờ, shopping centre sắp đóng cửa cho nhân viên về
đoàn tụ với gia đình. Mấy cô thu ngân đang hối hả đếm
tiền, kết sổ. Nhân viên lần lượt vào gặp viên quản
đốc để nhận cheque tiền lương, một hộp chocolate làm quà
Giáng Sinh và câu chúc “Merry Christmas.” Riêng tôi và ông
thợ chụp hình được thêm lời chúc “Happy New Year!” với
lời hẹn gặp lại vào mùa Giáng Sinh năm sau.
Áo tôi
hầm hập nóng, mồ hôi chảy thành dòng trên mặt, ướt
cả hàm râu giả. Chiếc quạt máy xả hết tốc lực, quay điên
cuồng, cũng không xua đi được cơn nóng mùa hè xứ Úc.
Ông thợ chụp hình đang dẹp đèn chớp, xếp chân chống
máy chụp hình để chuẩn bị ra về thì họ xuất hiện.
Đó là hai cha con người Việt. (Họ nói với nhau bằng tiếng
Việt, vốn đơn âm, trầm bổng, ríu rít như chim hót.)
Người
cha là một thanh niên áng chừng hơn 30 tuổi, cỡ tuổi tôi, mặc
chiếc áo trắng tay dài, dù đang mùa hè nóng bức, bỏ
vào chiếc quần tây màu tro xám. Da ngăm ngăm đen như chưa
nhả hết nắng của ông làm tôi nhớ những ngày nắng cháy
đi lao động, đào kinh thủy lợi. Có lẽ ông này mới
đặt chân đến đây chưa được bao lâu, giống như
tôi, để có thể ăn nhiều bơ sữa Úc, thân hình mới
tạo ra một lớp mỡ cần thiết để chống lại cơn lạnh khắc
nghiệt mùa mùa đông xứ Úc. Đôi giày ông mang, ngay cả
quần áo ông mặc, chắc có lẽ xin ở hội từ thiện nào
đó nên giày giống giày sạc-lô, quần áo thì rộng
thùng thình so với thân hình còm cõi của người dân Việt
Nam nhiệt đới mình vốn dĩ đã nhỏ con.
Riêng cháu gái
chừng sáu, bảy tuổi, mặc chiếc đầm trắng tương đối
đắt tiền, vừa chiến, tôi chắc hàng hiệu của Myer. Tôi nghĩ
thầm trong bụng ông này thương con dữ. Cha mặc đồ lình xình.
Con mặc đồ xịn.
Tóc cháu đen, dày, thẳng đuột, dài chấm tới
bả vai. Trên đầu là miếng mousse màu xanh lá, cắt tua tủa, giả
làm những nhánh sừng của con tuần lộc. Mắt cháu mí lót
như những người Á Châu khác, tròng mắt đen, tròn như
hạt nhãn, lấp lánh dưới ánh đèn điện trông như
có sao sa.
Tôi nhìn cháu gái, bùi ngùi nhớ đến hai đứa
con trai tôi mà đứa lớn trạc tuổi cháu, còn kẹt lại ở
quê nhà. Cái tết đầu tiên này ở Melbourne nếu tôi không
kiếm đựợc tiền để đóng một thùng quà, gởi về
cứu đói, chắc vợ con tôi ở ruộng lúa cò bay thẳng cánh,
chó chạy cong đuôi, mà phải tiếp tục ăn độn bo bo là
thứ mà trước năm 75 người ta dùng nuôi gia súc.
Khi thấy tôi,
Santa Claus, và ông thợ chụp hình, mắt cháu ánh lên một nét
mừng vui.
“Ba ơi! ông già Noel kìa!”
Ông
ngước mắt nhìn tôi, hơi ngạc nhiên, khi nghe tôi chào ông
bằng tiếng Việt.
“Chào ông, Merry Christmas! Ông có muốn
cho cháu chụp hình kỷ niệm Giáng Sinh không?”
Ông, vẻ lưỡng
lự, bối rối nhìn con, rồi móc bóp ra, kiểm lại tiền. Chỉ
lèo tèo vài tờ 5 đô và những đô tiền cắc.
Tôi thầm
nghĩ cha con ông này còn may mắn hơn cha con tôi nhiều. Nhưng khi nhìn
nét mặt ngây thơ, thánh thiện, đáng yêu của cháu nhỏ
tôi đâm ra tội nghiệp. “Nó cũng trạc tuổi con mình.”
Cầm lòng không đậu, tôi nói với ông khách: “Xin ông
đừng từ chối; có lẽ ông và cháu đây là người
khách cuối cùng của chúng tôi mùa Giáng Sinh năm nay nên tôi
sẽ nói với ông thợ chụp hình người Úc chụp cho cháu
một tấm hình với ông già Noel miễn phí. Ông chỉ cần cho
biết địa chỉ để khi rửa hình ra chúng tôi sẽ gởi đến
cho cháu để làm kỷ niệm, vài năm nữa cháu lớn khôn
có dịp nhìn lại chắc cũng thấy vui vui.” (Năm ấy chưa có
máy chụp hình kỹ thuật số, chụp và in ra liền như bây
giờ).
Khi cháu gái đứng cạnh tôi để chụp hình,
tôi thấy trong mắt cháu một vì sao sáng lung linh niềm hy vọng.
Vì
sao đó hình như một lần tôi đã thấy trong hang đá
Bethlehem của mùa Giáng Sinh đoàn tụ ở quê nhà trước 75.
Vì
sao đó một lần tôi đã thấy khi đang tuyệt vọng nhìn
lên bầu trời đen tối, không biết đâu là bờ là bến,
tìm một ánh sao, chỉ một hướng đi, cầu cho một phép lạ
nhiệm mầu hiện ra trong đêm lênh đênh, trên con thuyền ọp
ẹp, vượt biển Đông.
Hành trình biển Đông. Tôi đã đi
vào chỗ chết để tìm ra cái sống dù hy vọng rất mỏng
manh còn hơn ở lại quê hương tù ngục; bị những người
chiến thắng o ép, đày đọa lần mòn cho đến chết.
Đêm biển
Đông. Đêm mênh mông. Có vì sao lung linh dẩn đưòng
cho đám người vượt biên khốn khổ tới bờ bến tự
do được bình an. Nhưng cũng có người đi mà không bao
giờ tới. Vợ chồng, mẹ con, chết chóc, chia lìa, phân tán. Họ
bỏ mình vì đắm thuyền, vì khát, vì đói, vì cướp
biển Thái Lan. Hành trình biển Đông đầy nước mắt.
Tôi,
Santa Claus, nhìn cháu nhỏ, hỏi một câu theo thông lệ mà tôi
đã từng hỏi hàng trăm đứa trẻ con khác trong mùa Giáng
Sinh năm nay:
“Cháu có ước gì không?”
“Ông
ơi! Con không ước đồ chơi gì hết. Ba con nói: mẹ con
lạc trên biển Đông đã bao năm mà chưa tìm được
đường về. Ông có thể tìm ra mẹ, rồi dắt mẹ về
với con đựợc không? Con muốn mẹ.”
Tôi hoàn toàn
bất ngờ, bối rối không biết phải trả lời sao bèn ngước
mắt nhìn ba cháu, cầu cứu.
Tôi thấy mắt ông rưng rưng đầy
ngấn lệ.
đoàn xuân thu