BỘ
NGỰA GÕ
CỦA
BA TÔI
truyện ngắn
LÊ CẦN THƠ
(Houston,
Texas, Hoa Kỳ)
Vậy là bộ ngựa gõ của ba tôi vĩnh viễn không
còn trong ngôi nhà của ba nữa - bộ ngựa mà ba trân trọng giữ
gìn như một báu vật trong đời, kể từ khi ông bà ngoại
cho ba má “làm của hồi môn” lúc cưới
nhau đầu thập niên 1930 - khi đó ba vừa tròn 25 tuổi và má
nhỏ hơn năm tuổi. Bộ ngựa gõ gồm có ba miếng ván gõ
mun ghép khít nhau, mỗi tấm có độ dầy đến một tấc
hai phân, đặt trên hai con bọ ngựa cũng bằng gõ được
trổ mộng rất nghệ thuật, không thấy bất cứ dấu đinh nào.
Mặt bộ ngựa có viền khảm xa cừ xung quanh thật đẹp, được
lau chùi thường xuyên nên lên nước bóng ngời, những buổi
trưa nắng mà nằm lên đó cảm thấy mát lạnh. Ông ngoại
tôi trước đây làm trong ban viên chức hội tề của xã
và có dịp mua bộ ngựa đó về đặt ngay trong phòng khách
của ngôi nhà ba gian hai chái, mà giàn cột kèo bằng gỗ tốt,
các cột đều bào tròn bóng lộn. Mái nhà thay vì lợp
ngói âm dương, ngoại tôi lại lợp bằng lá tàu tách
bẹ chớ không phải lá chầm. Ngoại nói cách lợp đó
trong nhà mát mẻ quanh năm và cũng vài ba năm mới lợp lại
một lần. Ðúng ra khi cưới vợ thì ba tôi vào ở rể như
nhiều gia đình khá giả vào thời đó, nhưng ông bà
ngoại tránh những điều tiếng không hay nên cho cất một căn
nhà nhỏ phía bên kia con mương để con gái và rể ra riêng
liền sau đám cưới, trên vuông đất hai công có thể trồng
trọt đôi ba cây ăn trái, nên ba má không đem bộ ngựa
về, phải gởi lại nhà của ông bà ngoại. Ban đầu ông
bà ngoại rầy, cứ đem về nhà, vì đó là “tài sản” mà ba má tặng vợ chồng con. Nhưng ba
má cứ nài nỉ gởi lại, nêu lý do chờ khi nào “ăn nên làm ra”, có nhà lớn sẽ đem về. Bởi
vậy bộ ngựa gõ vẫn còn ở lại nhà ông bà ngoại
đến nhiều năm sau đó. Rồi chiến tranh xảy ra, nhất là lúc
quân đội viễn chinh Pháp chiếm đóng nhiều nơi, tổ chức
những cuộc càn quét Việt Minh trong vùng nông thôn, thì nhà
của ông ngoại trước sau bị đốt đến ba lần. Mặt bộ
ngựa gõ bị cháy sém nhiều chỗ, và ngôi nhà ba gian hai chái
của ông bà ngoại không còn nữa, phải cất lại căn nhà
nhỏ hơn để ở, ba má mới khiêng về đặt bên nhà
nhỏ của mình.
Như
trên tôi có nói, bộ ngựa như một báu vật trong đời
của ba, bởi hai lý do, thứ nhất là suốt cuộc đời trai trẻ
cho đến ngày lập gia đình, ba là một thanh niên nghèo, trôi
giạt từ miệt Ba Vát Mỏ Cày ở Bến Tre qua tới làng Trường
Long “khỉ ho cò gáy” ở đậu đạc
để làm thuê làm mướn sinh nhai thì làm sao có đủ
khả năng để mua nổi một bộ ngựa gõ quý giá đó;
hơn nữa chưa có gia đình nhà cửa thì mua để làm gì.
Trong một buổi chiều mưa dầm tháng sáu năm một ngàn chín
trăm sáu mươi lăm, cái năm mà bom B52 ném sập ngôi giáo
đường của nhà thờ Ông Hào bởi tiểu đoàn Tây
Ðô của Việt cộng đặt khẩu pháo phòng không tại ngay
tháp chuông bắn phi cơ bay qua đó, tôi ngồi hỏi chuyện ba tôi
về nghề đăng cá để viết bài cho nhật báo Miền Tây
trên mục “Tấc Ðất Ngọn Rau”
do thi sĩ Kiên Giang phụ trách, vui miệng ba tôi kể luôn chuyện lưu
lạc từ Bến Tre qua Cần Thơ rồi cưới được vợ với
bộ ngựa gõ làm “của hồi môn” như
vậy... Thứ hai là, nhờ bộ ngựa gõ “làm
vật che thân” cho cả gia đình tôi trong một đêm đạn
pháo binh mà thời đó tuổi trẻ chúng tôi gọi là “ô buýt” từ chợ Phong Ðiền bắn vào
miệt Trường Long rớt ngay căn chòi che ngoài bờ vườn của
gia đình gồm có Má, anh trai, tôi và đứa em gái đang nằm
ngủ trong “trảng xê” năm 1953, tức là trước năm đình
chiến. Ðêm đó ba đi đăng cá trong kinh Chệt Thợ, sáng
ra chèo ghe về, nhìn cảnh tượng kinh hoàng mới thất vía kinh
tâm. May mắn là tất cả gia đình tôi vẫn còn sống sót
nhờ ngủ trong hầm “trảng xê” bên trên
lót bằng bộ ngựa gõ dày một tấc hai, đắp đất vun
cao cả thước. Trái đạn chạm xuống nổ tung, hất hết lớp
đất phía trên để lòi mặt ngựa gõ ra ngoài, trong hầm
má con chúng tôi như bị hất tung lên nhưng chẳng thương tích
gì, thật là điều kỳ diệu. Bộ ngựa gõ quá nặng,
mỗi tấm ván tới mấy người khiêng mới nổi. Có lẽ nhờ
nặng như vậy nên suốt nhiều năm chiến tranh, bao nhiêu lần lính
Tây lính ta cùng vô bố ráp quê tôi vẫn “tha”
không thèm chở đi, trong khi những tô chén dĩa kiểu của ông
bà ngoại cho mỗi lần “chạy Tây” ba má
tôi đều bỏ xuống mương vườn để giấu, hoặc bị
xom bể, hoặc bị mò lên lấy đi mất tiêu, mỗi lần một
số cho đến sau nầy chẳng còn cái nào cả. Mười lăm
cái lu mái dầm dùng đựng lúa giống và nước mưa để
uống, nếu không bị lấy đi thì cũng bị giộng báng súng
lủng đít hết, ba má tôi phải tìm cách trét vá lại
để xài. Thuở đó, chạy Tây liên tục như ăn cơm bữa,
và giống như chuyện đùa giỡn, vì lính chỉ đi dọc
theo con đường đất hai bên bờ sông chớ không đi lùng
sục ngoài vườn ruộng như thời chiến tranh sau nầy. Cứ mỗi
đêm, khoảng ba bốn giờ sáng, dân làng ai nấy đều thức
dậy nấu nồi cơm với kho nồi cá rồi thúc giục con cái xuống
xuồng chèo chống vào Kinh Mới, Chệt Thợ, Hội Ðồng Quỳ...
chỉ cách bờ sông ngã cái chừng ba bốn cây số đường
chim bay, xuồng đậu ken nhau trên dòng kinh bề ngang chưa đầy mười
mét để “trốn Tây”. Phần đông chạy
Tây là đàn bà và trẻ con, còn trai tráng và đàn
ông thì ở lại chạy sau cùng bằng đường bộ, hoặc theo
vào khu vực trốn Tây với đoàn xuồng ghe đi trước, hoặc
“chém vè” ngoài bờ ruộng hay lung đìa
nơi đồng trống có nhiều sậy, đế chằng chịt, vì biết
chắc lính Tây chẳng bao giờ bén mảng lục soát ngoài đó.
Dòng kinh Chệt Thợ cũng như kinh Hội Ðồng Quỳ đều băng
qua cánh đồng trống bạt ngàn thỉnh thoảng mới có bóng
mát của rặng trâm bầu. Buổi trưa nắng chang chang như thiêu như
đốt cũng ráng chịu đựng và mong đợi có cơn gió
hiếm hoi vụt thổi qua cho đỡ oi bức. Theo dõi bước chân của
lính Tây bằng cách nhìn những bựng khói với các tàn
tro bụi lá quyện lên cao do những căn nhà bị đốt là biết
chúng đã đi tới đâu. Thường thì khoảng ba bốn giờ
chiều lính đi bố ráp bắt đầu rút về Phong Ðiền. Bà
con lại lục tục chèo chống trở về căn nhà của mình thì
trời chạng vạng tối. Không phải nhà nào cũng bị đốt,
nhưng chắc chắn một điều, cuộc bố ráp nào cũng có
một vài căn nhà làm mồi cho “bà hoả”,
và dĩ nhiên “màn trời chiếu đất”
sẽ đến với những gia đình bất hạnh đó. Bây giờ
nhắc lại chuyện “chạy Tây”, tôi cảm
thấy buồn cười cho sự hiểu biết hết sức ngây ngô của
bà con quê tôi thời đó. Bởi vì, tôi còn nhớ có
lần đoàn ghe xuồng chạy Tây của dân làng đậu dọc dài
trên Kinh Chệt Thợ, giữa trưa nắng thì trên đầu có máy
bay “đầm già” - mà sau nầy lớn lên
tôi mới biết đó là máy bay quan sát L19 - bay qua đảo lại
trên đầu. Dưới nầy nhiều tiếng kêu hú inh ỏi của người
lớn, bảo chúng tôi hãy im lặng, đừng cười giỡn lớn
tiếng trên máy bay nghe sẽ bỏ bom chết hết! Chúng tôi còn nhỏ,
xem chạy Tây như là chuyện chơi chẳng biết gì là nguy hiểm,
nên cứ cởi quần áo nhào xuống dòng kinh lặn hụp, đùa
giỡn bởi trời quá nóng, rồi vò đất sét chọi nhau khiến
người lớn phải từng chặp rầy la, hết đầu nầy tới đầu
kia... Sau nầy hiểu ra, máy bay quần trên đầu quan sát thấy hết,
biết bên dưới là thường dân trẻ nít nên chúng để
yên không huy hiếp, chớ nếu cần thì đã giết hết chúng
tôi rồi. Một hôm chạy Tây trở về, bà con ai về nhà nấy.
Má và mấy anh em tôi đậu xuồng tại mương ranh đất giáp
nhà thím Ba Xuồng, sau khi cột dây cẩn thận, mẹ con lục tục
bước lên bờ với nồi niêu và tấm đệm, đi vào nhà.
Mới vừa tới sân trong bóng tối chập chờn thì nghe tiếng hét
lơ lớ giọng “Việt Minh... phơ” cùng
lúc với tiếng lách cách (về sau mới biết đó là tiếng
kéo cơ bẩm lên đạn). Lập tức có tiếng người Việt
Nam la lên: “Ðứng
lại, đứng lại, giơ tay lên đầu, đừng đi nó bắn!”.
Mấy mẹ con chúng tôi hoảng quá làm theo lời của người
kia. “Tất cả ngồi xuống”. Rồi người
đó bước tới trước mặt chúng tôi, bấm cái đèn
xẹt qua xẹt lại hỏi: “Có tất cả mấy người?
Ðàn ông đâu?”. Má tôi nói: “Bốn
người, tôi với ba đứa con”. “Còn chồng bà đâu?
Có làm Việt Minh không?”. “Dạ hổng có. Chồng tôi đi
đăng cá vài bữa mới về một lần”. “Thiệt vậy
không?”. “Dạ thiệt mà”. “Nhà bà ở đâu?”.
“Dạ nhà nầy của tôi”. Vừa nói, má vừa đưa
tay chỉ vào căn nhà trước mặt. “Cứ ngồi
đó, chờ tôi thưa lại cho quan biết”. Người lính
Việt Nam bước lại nói
gì với thằng Tây mà anh ta bảo là quan. Chút sau quay lại nói:
“Quan Một bảo cho vô nhà nhưng ở trong đó
không được mở cửa ra ngoài sẽ bị bắn chết. Ðể sáng
ra quan tập họp bà con lại nói chuyện, nhớ chưa?”. “Dạ
nhớ!”.
Ðó
là lần sau cùng của những trận đốt nhà do lính Tây đi
bố ráp vào làng Trường Long của chúng tôi, bởi vì bà
con lầm tưởng là Tây đi bố rồi rút về như những lần
trước, nào ngờ chúng ở lại để đóng đồn tại
vàm Ông Hào. Tôi nhớ đó là đầu mùa đông năm
1953. Những ngày kế tiếp cả lính Tây lẫn lính Việt đi
tới đi lui, kêu gọi đàn ông thanh niên phải đến tham gia phát
quang xung quanh chỗ nền làm đồn trên đất mợ Năm Hơn phía
bên kia sông thuộc ấp Trường Thọ. Phía bên nầy sông cái
đối diện nền đồn thuộc ấp Trường Thuận có đám
cây bố dầy đặc của đất cậu Sáu Ðường Láng
thì phải dùng dao phảng chặt hết để nhìn ra tới cánh
đồng. Nói chung là tất cả cây cối xung quanh chỗ đóng đồn
phải san bằng cho tầm nhìn được xa. Ðàn ông thanh niên khoẻ
mạnh thì đào đất đấp nền, làm bờ thành của
đồn, rào kẽm gai...; nhà nào không có đàn ông thì
đàn bà phải làm thế nhưng công việc nhẹ. Ba tôi ở
trong kinh Hội Ðồng Quỳ gần một tuần, thấy tình thế quá
kẹt, phải chèo ghe đăng trở về đậu dưới mé sông.
Buổi chiều đó người lính Việt Nam dẫn ba tôi tới chỗ quan Một của Tây nói gì
đó, hắn ta gục gặt đầu bảo “Nông
Việt Minh, tre-ven, tre-ven”. Người lính Việt giải thích cho
ba hiểu, Quan Một nói “Không phải Việt Minh, tốt
lắm, tốt lắm”. Và anh ta dặn ba, mỗi ngày phải đến
làm đồn với bà con trong làng cho mau rồi, lính sẽ rút đi
chỉ để một đơn vị ở lại giữ đồn, bảo vệ cho
bà con làm ăn, không cho bọn Việt Minh về phá phách và vơ
vét thuế má nữa! Bởi tới lui đóng đồn suốt mấy tuần
lễ, ba mới thấy cái dĩa kiểu con cá thật lớn của ông bà
ngoại cho khi trước chỗ thằng Tây quan Một ở mà lúc chạy
Tây ba đã ném giấu dưới mương phía sau vườn. Có
một lần ba nói với người lính Việt Nam: “Cái
dĩa con cá của tôi, nhờ Ông đội hỏi xin lại giùm tôi”.
Người lính Việt Nam nói
với thằng Quan Tây, nó gục gặc đầu, khiến ba mừng thầm trong
bụng nghĩ là nó bằng lòng trả. Nhưng người lính Việt
mà có lần ba nghe có người gọi thầy đội cho biết: “Quan nói để khi đóng đồn xong rút đi quan
sẽ cho lại!”. Ba tin là sẽ xin lại được nên không
nhắc tới nhắc lui nữa. Một hôm, thầy đội Việt nọ lại
nói: “Quan rất thích bộ ngựa gõ nhà anh,
nhưng nó nói nặng quá chắc không đem đi được đâu!”.
Ba lại chưng hửng, vì “nếu thằng quan Tây mà
lấy bộ ngựa gõ thì vật kỷ niệm quý báu của ông
bà ngoại tặng cho xem như mất tiệt mà chắc gì trong đời
ba mua lại được”. Rồi ba thầm van vái trong bụng “ba má sống khôn thác thiêng, phù hộ cho vợ chồng
con, xui khiến cho thằng Tây đừng lấy mất bộ ngựa gõ quý
báu đó!”.
Ðồn
làm xong. Hôm lính rút đi, ba có nhắc cái dĩa kiểu con cá,
thầy đội Việt nói là khi đưa ra tới chợ Phong Ðiền, quan
sẽ trả lại. Ba chèo ghe chở đồ đạc lỉnh kỉnh, chẳng
biết của quan Tây hay của thầy đội Việt Nam, có nhiều đồ kiểu, mà cái dĩa con cá thật
lớn nằm lẫn lộn trong đó. Ra tới cầu tàu Phong Ðiền, chỗ
mà lính Tây thường giết người ném xuống sông trôi
lềnh bềnh những năm trước, thầy đội Việt bảo ghé lại
và tiếp chuyển đồ lên bờ. Ba tôi nhắc lại cái dĩa,
thầy đội bảo: “Anh cần thì tìm mua cái
khác. Quan nói rất thích muốn giữ cái nầy!”. Từ
lúc dọn đồ xuống xuồng cho đến khi ra tới bến Tàu nầy,
ba chẳng thấy mặt thằng quan Một của Tây lần nào cả. Ba tiu nghỉu
bước xuống xuồng chèo về mà không dám quay lại nhìn,
với lòng vừa tức vừa buồn rười rượi.
Ðất nhà ba cách đồn mấy trăm thước phía bên kia
sông, nhưng lại nằm trong tầm súng phúng lựu của đồn. Bởi
vậy rất sợ ban đêm Việt Minh về bắn phá, lính sẽ bắn
trả nguy hiểm, ba mới đắp đất tu bổ lại cái hầm “trảng
xê”, nhưng sau đó lính đồn bảo phải phá bỏ, lý
do tụi Việt Minh có thể núp trong đó đánh phá đồn.
Sau ba lần ông bà ngoại bị Tây đốt nhà, rồi vì
tuổi già cũng lần lượt qui tiên, ba má đem bộ ngựa về
nhà mình. Ðồn Ông Hào cất xong, việc đi lại chợ búa
dễ dàng, bởi cái trạm của Việt Minh đặt chỗ vàm Ông
Hào đâu còn nữa. Hồi trước, ai muốn ra chợ Phong Ðiền
hay Cái Răng, khi bơi xuồng ngang phải ghé trình giấy cho phép của
ủy ban kháng chiến địa phương. Khi đi chợ về phải ghé
cho cán bộ gác trạm xuống kiểm soát đồ đạc mới được
đi. Nhiều khi họ gởi mua món nầy món kia.... nhưng ít khi đưa
tiền. Mà đi chợ thì phải xài tiền xanh (tiền đông dương,
tiền giấy con voi?), trong khi trong vùng thì xài tiền của kháng chiến,
tiền có in hình Cụ Hồ, giá trị xài như lõm chuối. Ai
có nhiều tiền phải đựng bằng bao bố tời! Bộ ngựa bây
giờ đã loang lổ vết cháy sém trên mặt, mấy hình khảm
xa cừ chỗ còn chỗ mất, ba mới mướn ghe lớn chở ra trại cưa
ở Cái Răng mướn cưa xẻ làm ba bộ, mỗi bộ có bề
dầy khoảng hơn 3 phân. Như vậy nhà ba má bây giờ tới ba
bộ ngựa gõ chớ không phải một bộ. Thấy không có chỗ
kê, phần vì gia đình cần phải mua sắm đồ đạc trong
nhà, ba má kêu người ta bán đi một bộ, có người lại
đòi mua bộ có mặt khảm xa cừ dù đã bị cháy sém.
Suy đi nghĩ lại, ba bằng lòng, vì để lại chắc ba không thể
có khả năng mướn người “phục chế”
lại đẹp như xưa được. Còn lại hai bộ kê tại phòng
khách, từ ngoài bước vô nhà, bên trái kê một bộ,
bên phải kê một bộ, chính giữa là bàn thờ gia tiên và
có một bàn tròn với mấy cái ghế đẩu để ngồi
uống nước.
Năm 1965,
khi nhà thờ Ông Hào bị máy bay B52 ném bom sập thính đường
và gác chuông, cả họ đạo trong rạch Ông Hào nhà nào
cũng có người chết, bà con lần lượt bỏ xứ để ra
chợ sinh sống. Ba má thấy không khí chiến tranh bắt đầu tái
diễn trên quê hương mình nên cũng bàn nhau gồng gánh ra
Xóm Chài Cần Thơ tìm chỗ cất nhà để ở. Ba đã
khiêng một bộ ngựa gõ ngâm dưới một cái mương sau vườn,
hy vọng hết chiến tranh thì về lại moi lên xài, chắc không bị
mục đâu? (Ba nghĩ đơn giản là chiến tranh không kéo dài).
Còn một bộ thì chở theo ra Cần Thơ. Sau đó, vùng quê Trường
Long trở nên địa bàn hoạt động của tổ chức mệnh danh
là mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam. Ðồn bót bị phá sập không còn nữa, nên
ba má cũng không có dịp đặt chân trở lại vườn quê.
Sau biến cố Mậu Thân, quân lực VNCH phát triển mạnh khi luật
tổng động viên ban hành, nhiều đơn vị địa phương
quân tân lập được hình thành tại các tỉnh thì đồn
bót được dựng lên khắp nơi. Trường Long cũng có mấy
đồn. Ðầu thập niên bảy mươi công cuộc cải tổ hành
chánh công vụ của chánh quyền diễn ra, các viên chức xã
ấp lần lượt được bầu lên. Dân chúng tản cư những
năm trước rủ nhau trở về ngày càng đông. Ba Má cũng
theo dòng người đó trở về quê cũ. Công việc đầu
tiên sau khi cất lại cái nhà một gian một chái để hai ông
bà ở (vì lúc đó mấy anh em chúng tôi đã đi lính
và lập gia đình hết rồi) mà chăm lo sửa sang vườn tược
với mấy công ruộng. Việc thứ hai là vét mương để mang
bộ ngựa gõ lên, nhưng tìm hoài không thấy đâu. Sau nầy
biết được là trong thời chiến tranh, nhiều gia đình ở lại
trong đó có một gia đình “bám trụ”
đã giúp đem lên giùm! Ba má dò la hỏi thăm, thì được
biết, họ không xài mà đã bán rồi lấy tiền chi tiêu
“giùm” từ lâu. Ba má tôi chẳng biết
phải làm sao, đành tiu nghỉu lặng thinh như hồi thầy đội
Việt Nam nói thằng quan Tây
bảo cần thì mua cái dĩa kiểu con cá khác xài vậy.
Sau cùng thì ba còn một bộ ngựa gõ duy nhất đã mang
ra Cần Thơ trong lần tản cư năm 1965 để ở Xóm Chài. Ba chở
về quê cũ kê trong căn nhà nhỏ trên phần đất của ông
bà ngoại cho năm xưa. Sau biến cố tháng tư đen 1975, hai người
anh của tôi - một đi BCH 3 Tiếp Vận, một đi Quân Vận 412 và
đứa em gái tôi có chồng đi lính quận Phong Phú cũng lục
tục từ thành phố trở về quê nhà. Gia đình hai người
anh được ba má tôi chia cho cái nền nhà với mấy bờ vườn,
công ruộng, xúm xít nhau cấy trồng mà sống. Ðứa em gái
thì về quê chồng ở Rạch Nhum Ô Môn làm ruộng. Thằng em
trai Út của tôi có vợ là gia đình người Hoa ở chợ
Cần Thơ, được “chánh quyền cách mạng” cho đi
vùng kinh tế mới ở Ngã Tư Cây Dương sau khi bị đánh
tư sản mại bản. Còn tôi thì quá nhẹ dạ, tình nguyện
vào trường “đại học tổng hợp” đến sáu
bảy năm trời, học hỏi quá nhiều điều đắng cay tủi nhục
của kiếp con người mà bọn cán cối nói là “tay sai Mỹ Ngụy”. Tôi lưu lạc từ trại nầy đến
trại khác của thời quân quản, nghe biết bao lời mắng nhiếc của
cán bộ quản giáo, những tên lính vệ binh cầm AK lăm le chỉ
bằng tuổi con cháu mình, mà mỗi khi mở miệng là muốn lên
lớp dạy cho “tay sai Mỹ Ngụy” những bài
học nặc mùi chủ nghĩa Mác Lê rặp khuôn nhau, như đã
nói sẵn trong một cuồn băng cát sét. Rồi đến khi bọn Pôn
Pốt hoành hành ở vùng biên giới Tây Nam, các trường “đại
học tổng hợp” được chuyển đi và giao cho chế độ
“quản lý trại giam” của ngành công an.
Và, thời điểm nầy, những tên nhẹ dạ “trình
diện mang theo một tháng tiền ăn” như tôi mới biết là
mình ở tù chẳng có bản án ngoài danh từ hết sức hoa
mỹ “cải tạo không giam giữ”.
Tôi đã “trình diện” tại trường
Phan Thanh Giản Cần Thơ trong hai tháng, chuyển lên trung tâm huấn luyện
Chi Lăng Châu Ðốc để học 10 bài, làm tổng kiểm thảo
xong để nghe cán bộ chửi lên chửi xuống có lúc thấy mình
như đã chìm xuống tận cùng của đáy xã hội; sau đó
đưa đi lao động ở trại Mê Linh Long Xuyên; lại trở về
Chi Lăng học tiếp 8 bài nữa, bởi họ nói học chưa tốt. Học
thêm 8 bài vàng ngọc rồi lại cho đi lao động ở Nông trường
Thắng Lợi tại Ngã Ba Lò Gạch Tri Tôn. Khi bọn Pôn Pốt tấn
công rồi đốt phá làng Ba Chúc một thời gian, tình hình
quá phức tạp, chúng gom bi lại, chuyển hết lên trại Mỹ Phước
Tây ở Vườn Ðào Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang. Mấy năm sau thấy
chế độ quân quản không đủ sức “tẩy
não” tụi “nguỵ quân ngoan cố” như
chúng tôi, bọn chúng thẩy qua cho ngành công an quản lý trại
giam. Thế là chúng tôi chánh thức được “hành
quân” (nói theo danh từ CS mỗi khi chúng cho tù cải tạo chuyển
trại)... tới tận rừng sâu Xuyên Mộc, chính khu rừng nầy lúc
chúng tôi được chuyển đến, trước đó đã chôn
81 người tù cải tạo, trong số có nhà văn Nguyễn Mạnh Côn
mà thời chưa đi lính tôi đã biết tên trên báo chí
.
Hồi còn ở Vườn
Ðào, ba lặn lội đi thăm tôi. Hôm đó ba đi với đứa
em trai út của tôi, nhưng vì thằng em bỏ vùng Kinh Tế Mới trở
về tánh hơi ngang tàng, khi cán bộ kiểm soát giấy tờ gạn
hỏi nó điều gì đó (có tính cách điều tra để
biết thêm về tôi), nó bảo “không biết”, cứ hai chữ
“không biết” mà nói nên nó đành cho thằng nhỏ...
đứng ngoài rào chơi suốt hai tiếng đồng hồ ba được
vào gặp tôi. Năm đó ba tuổi cũng gần thất thập rồi,
tóc muối nhiều hơn tiêu, con người gầy xuống trông thật đáng
thương. Có lẽ ba đã thức quá nhiều đêm, trằn trọc
lo lắng đủ điều. Tôi nói, “ba đừng
lặn lội đi thăm con nữa. Một vài tháng, vợ con đi một lần
gặp con cho biết tin tức gia đình cũng được rồi, ba đi làm
chi”. Ba cứ chớp mắt nhìn tôi như muốn nói điều
gì đó mà nghe chừng trong cuống họng ông nghẹn lại. Chợt
nhiên, hai hàng nước mắt lăn xuống đôi gò má nhăn nheo
của ba, tôi sững sờ. “Trong người ba thế nào?
Ba có bị bệnh gì không?”. “Nhớ con quá, ba cố gắng đi
để gặp mặt con. Thằng Tâm đi theo ba, nhưng họ không cho nó
vô. Con cố giữ gìn sức khoẻ, ba biết con có nghị lực nên
ba luôn luôn tin con sẽ vượt qua được. Ba bị bệnh... nhưng chắc
không sao đâu. Con đừng lo cho ba...”. Bàn thăm nuôi xếp
dài trong lán trại, dãy bên nầy là tù cải tạo, dãy
đối diện là thân nhân, ngồi đối mặt nhau nói chuyện
qua lại như vậy. Mấy anh cải tạo viên làm trật tự thì đi
tới đi lui nhắc nhở sắp hết giờ thăm để chia tay, dành chỗ
cho đợt khác vào. Các cán binh mang súng đi tới đi lui nghe
ngóng để “răn đe” không cho “phát biểu linh tinh” và dặn “nói
chuyện phải lớn tiếng, không được xầm xì”...
Khi đưa ba ra tới khu vực “cách ly” gần cổng trại, tôi nhìn ra hàng
rào thấy thằng Út Tâm đứng ngoài đó, đưa tay vẫy
vẫy, tôi ứa nước mắt rồi cũng vẫy tay lại với nó, vừa
nhìn dáng ba đi liêu xiêu qua đoạn đường bị ngập của
mùa nước nổi năm 1978 tại trại Vườn Ðào Cai Lậy. Tôi
mải miết nhìn dáng ba và thằng em phía ngoài cổng rào thì
tên vệ binh hét lớn: “Anh kia, trở
về đội, hết giờ thăm nuôi rồi! Muốn kỳ sau bị cúp không
cho thăm hay sao?”.
Chuyển ra trại Xuyên Mộc mỗi tháng cán bộ của trại thông
báo cho viết thư về thăm nhà và báo ngày được thăm
nuôi với dặn dò “qui định” số kí lô đồ được
mang vào thăm. Nhiều tháng liên tiếp tôi đều dặn gia đình
đừng đi thăm nuôi vì biết đường sá quá xa xôi,
nhất là vào rừng sâu không tiện lợi chút nào. Qua năm
thứ hai ở Xuyên Mộc, đột nhiên có một hôm cán bộ
trực trại xuống gọi tôi đi gặp thân nhân không phải vào
ngày trại tổ chức cho thăm. Tôi quá bất ngờ chẳng biết
ai đến thăm mình, nhưng cũng phải đi theo tên cán bộ. Bước
vào khu thăm nuôi, tôi sửng sốt thấy người anh cả của tôi
trước làm ở đại đội tổng hành dinh Bộ chỉ huy 3 Tiếp
Vận căn cứ Long Bình ngồi bên túi đồ, nhìn tôi mỉm
cười. Cán bộ bảo tôi ngồi bên nầy, anh tôi ngồi bên
kia rồi bảo anh mở túi đồ moi ra từng món để kiểm tại
chỗ, xong đâu đó anh ta bảo bỏ trở vô, anh tôi đẩy gói
đồ sang cho tôi khi cán bộ trực trại bước ra đứng ngoài
cửa canh chừng. “Anh chị có khoẻ không? Mấy
đứa nhỏ ra sao rồi? Ba Má sức khoẻ năm nay có tốt không?
Hai năm trước khi đi thăm em, trông ba yếu lắm...”. Tôi
cứ hỏi dồn dập, mà anh tôi thì cứ ngồi lắng nghe, muốn
nói điều gì, nhưng đôi mắt cứ đảo qua lại sợ cán
bộ đứng kia nghe. Anh nói lớn tiếng “Chị với
các cháu của chú cũng khoẻ. Ba Má năm nay già rồi, nay đau
mai ốm, nhưng chẳng sao đâu... Chú yên tâm đi, anh nghe lén đài
BBC nói thành phần như chú chắc sẽ có nhiều thuận lợi...
(mấy câu đó anh lại nói rất nhỏ). Ba bệnh sạn thận, bác sĩ ngoài bệnh viện khám và cho
toa mua thuốc. Hiện ba đang uống thuốc... Ba nhớ chú muốn đi thăm
nhưng đường sá xa xôi, má không cho đi. Ba bảo anh thay ba lên
thăm chú để về kể lại cho ba nghe...”. “Mấy năm nay về quê có làm ăn được gì đâu
mà có tiền đi thăm em như vậy? Cả anh nữa, mười mấy
năm lính, con đùm con đề, quen sống ở Sài Gòn, đùng
một cái về vườn có ai quen đâu, rồi làm sao sống?”.
“Thời gian và thực tế tập cho tụi nó thói quen chớ biết
sao chú”. Ngừng một chút, anh tôi nói:
“Nhiều đêm trằn trọc, ba đi đến quyết định là bảo
anh kêu người bán bộ ngựa gõ sau cùng để đi thăm chú,
anh không chịu, nhưng Má bảo, ba con muốn con bán để lấy tiền
mua chút ít đồ lên thăm thằng V., con cứ làm theo, đừng
để ba con buồn. Ổng đau nhiều lắm, ổng sợ ngày nó về
không gặp được mặt ổng?”. Nghe anh tôi nói, mắt
tôi bỗng hoa đi bởi những dòng nước mắt tự nhiên lăn
dài xuống má. Vậy là một phần ba của món quà vô giá
mà ba tôi nâng niu gìn giữ suốt cả đời mình, mãi tới
thời điểm nầy ông mới chịu buông xuôi, chịu để mất
đi... chỉ vì thằng con trai mà ông từng nói là “ba biết con có nghị lực” như tôi. Thời gian thăm
nuôi không nhiều, anh em cũng chẳng dám nói gì bởi sợ cán
bộ nghe ngóng. Anh tôi nói nhỏ: “Thằng Tâm
vượt biên thất bại, đang bị giam ở trại Cái Nước Cà
Mau”. “Ba biết không?”. “Không, gia đình đang giấu, vì
bệnh ba trở nặng. Anh lo cho ba...”. “Sao không để dành tiền lo
thuốc men cho ba, đi lên đây làm chi cho tốn kém như vầy?, ở
nhà mình còn gì quý giá để bán có tiền nữa
đâu?”. “Không đi ba đâu có chịu. Ba nói bán hết
gia sản để lo cho chú ba cũng vui lòng...”. Câu nói mà
tôi nghe đó, có lẽ là câu nói được lặp lại
sau cùng của ba đối với thằng con tù tội như tôi. Bởi vì,
nhìn dáng anh tôi lủi thủi bước ra đường mòn để
đón xe rời khỏi trại Xuyên Mộc trong buổi xế chiều hôm đó,
tôi có linh cảm là tôi đang mất tất cả những tình thương
trân quý nhất của cuộc đời mình.
Mấy tháng sau, tự nhiên có một đêm ngủ chập chờn,
tôi chợt thấy ba. Lúc thì ông đang lặn ngụp dưới
lòng rạch sâu để trải đăng, đặt từng chiếc lọp
bắt cá. Lúc thì tôi thấy ông đang cầm phảng phát cỏ
trên cánh đồng ruộng nước lên tới ống quyển để
chuẩn bị cho mùa cấy sắp tới. Lúc thì tôi thấy ông đang
cầm gàu tát nước trên mấy bờ vườn trồng quít đang
hồi ra bông trắng xoá. Lúc thì tôi thấy ba đang đi liêu
xiêu từ chỗ thăm nuôi băng qua đoạn đường ngập nước
tại trại giam Vườn Ðào Cai Lậy mà ngoài kia hàng rào kẽm
gai, thằng Út Tâm em tôi đang đứng vẫy tay... Lúc thì tôi
thấy ba đang lặn mò bộ ván ngựa gõ dưới chiếc mương
vườn mà cách đó mấy năm ông đã giấu bên dưới...
với vẻ mặt buồn bã tuyệt vọng. Lúc thì tôi thấy ông
hai tay cầm cái dĩa kiểu con cá thật to, với vẻ mặt tươi
cười mừng rỡ... rồi đột nhiên ông buông tay rớt xuống
đất bị bể nát, mặt ông tái đi, biến dần, biến dần
trong màn sương trắng... Tôi giựt mình khi anh bạn tù kế bên
thò tay qua lay nhẹ tôi: “Làm gì mà ú ớ vậy”. Tôi
mở mắt định thần một chút rồi thở dài. “Nằm chiêm
bao, thấy ba tôi, nhớ ông già quá chừng...”.
Trong một lá thư gởi cho tôi báo tin tức gia đình, bà
con và cuộc sống ở quê nhà để tôi an tâm, vợ tôi
có viết mấy chữ mà tôi cứ suy nghĩ mãi: “Ba
bây giờ ít nói. Tụi con cháu làm gì, la lối ồn ào
ba cũng ngồi nhìn mà lặng thinh, ba thương tụi con cháu lắm. Ba
thương anh nhiều nhứt, ngồi đâu, nói chuyện với ai ba cũng
nhắc anh, ba nói nhớ anh. Ba cứ kể, hồi trước anh có ý định
hết chiến tranh anh sẽ học cái nghề đăng cá của ba, ba bảo,
đừng học nghề nầy lạnh lẽo lắm, lo học chữ đi, làm
thầy làm thợ với người ta, theo nghề hạ bạc nầy làm gì.
Ba nói...”. Tôi suy nghĩ hoài, vợ tôi viết “ba bây
giờ ít nói” rồi tự dưng lại “ba cứ
kể, ba nói, ba nói...” liên tục, phải chăng có điều
gì xảy ra? Tháng đó viết thư gởi về, tôi chỉ hỏi
thăm bệnh tình của ba tôi ra sao? Nhưng... câu hỏi về ba cũng không
được vợ tôi hay bất cứ người thân nào trả lời.
Ngày tôi ra trại về tới quê nhà thì đúng là ngày
cả gia đình anh em chúng tôi gom lại để cúng tuần 49 ngày
cho ba. Nghe kể, ba tôi mất, chôn đúng một tuần thì thằng Út
Tâm được thả ra từ trại giam Cái Nước. Nó lập tức
cùng hai anh và đứa em gái út của tôi lo xây cho ba tôi một
cái mả xi măng đàng hoàng trước khi nó tiếp tục làm
một chuyến vượt biên khác. Tôi về để quấn vành khăn
tang và lạy ba tôi trong ngày cúng tuần đó, mới ngẫm nghĩ
câu văn đơn giản của vợ tôi viết mà lúc còn trong
trại tù tôi ngờ ngợ không nghĩ ra được: “Ba bây giờ ít nói. Tụi con cháu làm gì, la lối ồn
ào, ba cũng ngồi nhìn mà lặng thinh...”. Và, tôi đột
nhiên cúi mọp lạy ba tôi rất nhiều lạy, khi nhớ đến bộ
ngựa gõ mà ba bảo anh tôi bán để lấy tiền đi thăm
nuôi tôi, một thằng con ở tù mà những ngày cuối đời
ông muốn đi thăm tận mặt cũng không thể nào đi được,
bởi, ngày anh xách đồ đi thăm tôi, căn bệnh sạn thận
và tiểu đường đã hoành hành ông đến cực độ,
ông chỉ nằm một chỗ chờ đợi anh tôi đi Xuyên Mộc trở
về, kể cho ông nghe những gì thấy được về tôi. “Ba ơi, xin ba tha lỗi cho con. Cả đời, con không bao giờ
quên được tấm lòng của ba dành cho con”. Tôi đã
quỳ lạy ba tôi với những câu chữ trên suốt mấy thời kinh
mà thầy cúng đã đọc trong ngày cúng tuần thất thứ
7 sau ngày ba tôi vĩnh viễn từ giã cõi đời năm 71 tuổi.
Nỗi ân hận và dày vò trong lòng tôi khi được nghe
kể chuyện về ba những ngày sau cuối. Trước khi biết mình không
còn sống bao lâu, ba đã lục lạo tất cả hồ sơ giấy
tờ, lấy ra những tấm ảnh mà ông đã chụp trước đây
đốt hết. Má tôi hay được giựt lại nhưng không kịp.
Ba nói, “chết là hết, để lại hình ảnh
làm gì cho con cháu nhìn thấy mà nhớ thương, tội nghiệp
tụi nó. Nhất là thằng V. ở tù trở về chẳng gặp mặt
tôi mà thấy tấm hình thờ chắc nó đau xót lắm, nằm
sâu dưới ba tấc đất tôi cũng chẳng yên lòng!”.
Ba thật đơn giản, nghĩ sao là làm vậy. Ông đâu
nghĩ rằng, không phải hình ảnh của ông từng cất giữ đem
đốt hết thì con cháu sẽ nhanh chóng quên đi. Cũng có thể
suy nghĩ nầy đúng một góc độ nào đó, nhưng “ba của con ơi, không có hình ảnh nào của ba bị
xoá mờ trong chính trái tim con đâu - ít nhất cũng là trong
thời gian con còn diễm phúc được hít thở không khí trên
cõi dương trần nầy”. Hôm nay khắp đất nước
Hoa Kỳ có ngày kỷ niệm “father's day”, các báo và chương
trình phát thanh đều nhắc đi nhắc lại ý nghĩa “ngày
của cha”, nói về công ơn người cha và họ cố tìm
một chữ nào đó để dịch cho đúng nghĩa: hiền
phụ, nghiêm phụ như ngày “mother's day” là ngày hiền
mẫu...v.v...; nhưng dù dịch bất cứ chữ nào thì hình ảnh
người cha vẫn ngời sáng trong câu ca dao bất hủ
“công cha như núi Thái Sơn” mà người Việt Nam
nào thời thơ ấu đều có học. Chỉ còn hai tháng nữa
là đến ngày cúng giỗ ba, con viết mấy dòng nầy để
kính dâng vong linh ba trong cõi vĩnh hằng. Con nhớ thuở ba còn sinh tiền
và con còn đi học, vào mỗi khuya giao thừa hằng năm, ba đều
hỏi “con đã viết khai bút đầu năm chưa?”.
Giao thừa năm Mậu Thân 1968 con đã đưa ba xem bài thơ Về Sông Ăn Cá mới viết xong.
“Tết
nầy ba có về quê cũ,
Thăm mả mồ
xưa viếng xóm làng.
Hưu chiến đôi ngày ôi ngắn
ngủi.
Làm sao níu lại được thời gian?
Ví dầu về rẫy ăn còng
sữa.
Ăn cá về sông thương tuổi thơ.
Ba hỡi điêu tàn vương xóm nội.
Tìm đâu đường nét đẹp bây giờ?”.
Con thấy ba đọc xong bài thơ
dài 32 câu, mà tám câu cuối con viết như vậy, nét mặt
ba buồn buồn rồi buông chuỗi thở dài”.
Houston, 15 tháng 6 năm 2003 - Father's
day
L Ê C Ầ
N T H Ơ
(Trong tập TRÔI NGANG PHẬN MÌNH, chưa
xuất bản)