ĐÊM TRẮNG
truyện
LÊ CẦN THƠ
Câu chuyện xảy ra từ chiều đã khiến Đạt
mang nỗi buồn bực vào lớp tối nay. Đứng trên bục giảng,
anh đã mất hẳn nét linh hoạt thường ngày đối với một
giáo viên dạy Văn được nhiều bạn đồng nghiệp nể
nang và học viên yêu thích. Anh giảng qua loa thể loại văn thuật
sự, không theo giáo án đã soạn sẵn, rồi cho học viên làm
một bài văn ngay tại lớp suốt hai tiết dạy Văn của mình.
Lúc học viên cặm cụi làm bài, Đạt bước ra hành lang
đốt thuốc hút. Đây là ngoại lệ, anh đã hút thuốc
trong giờ dạy học. Có lẽ tâm trạng rối bời về việc riêng
tư của gia đình đã khiến anh phá lệ một cách khó
hiểu như vậy? Hút hết điếu thuốc, Đạt lại trở vào
ngồi trên chiếc ghế kê sát góc tại bàn giáo viên. Anh
đưa mắt nhìn bốn mươi lăm học viên đủ mọi lứa
tuổi của lớp bổ túc văn hóa ban đêm mà anh vừa là
giáo viên dạy Văn, vừa làm chủ nhiệm lớp. Đạt miên
man suy nghĩ, có lẽ cũng trong giây phút nầy, tại một lớp bổ
túc dành cho cán bộ chủ chốt, ông Chủ tịch Ủy ban Nhân
dân Phường cũng đang ngồi học, cũng đang cố gắng nghe giảng
để chuẩn bị thi tốt nghiệp lớp 12 sắp kết thúc tháng tới?
Đồng nghiệp của anh, thầy giáo Kiệm đã dạy Văn của
lớp nầy và không hiểu do ai móc nối mà ông Chủ tịch Phường
đã hứa sẽ cấp cho anh ta một nền nhà trong phạm vi Phường
của ông đang phụ trách. Cán bộ Nhà đất của Phường
đã nghiên cứu bản đồ thế nào mà chấm ngay địa
điểm căn nhà lá nghèo nàn của Đạt, căn nhà nầy
anh đã cất cách đây năm năm, lúc vừa mới ở tù
cải tạo về, ba vợ anh đã che thêm một mái bên khoảng đất
trống cạnh nhà ông, vốn là một cái trũng sâu, quanh năm
nước đọng hôi hám trong một con hẻm nhỏ chật chội. Khoảng
trũng nầy chỉ có bề ngang độ 6 mét và sâu vô trong 8 mét.
Đạt đã chạy xe lam chở khách tuyến đường Cần Thơ
đi Cái Tắc, mỗi đêm về đậu cặp trũng sâu nầy. Anh
đã lần lượt chở đất, gạch vụn xin được của
người nầy người nọ, mỗi lần một ít, đổ xuống lắp
chỗ trũng trong nhiều năm mới nhô lên cái nền nhà. Ba vợ
anh có hỏi bà Nhung, Tổ trưởng dân phố là muốn che cái
chái cho vợ chồng thằng con rể tạm ở, bà Nhung thấy cái trũng
nầy bỏ hoang, chắc không có ai tranh giành gì đâu, bèn đồng
ý để ông che cái mái nhà sát vách nhà ông, giống
như cái chái của một căn nhà. Và Đạt xem chái nhà
là căn nhà riêng của mình mà sau nhiều năm, đúng ra là
từ khi chào đời đến giờ anh mới có được.
Ngày trước, lúc còn đi học, anh ở chung với cha mẹ, khi
vào lính, ra trường anh lại theo hết đơn vị nầy đến
đơn vị khác, đều lấy đồn làm nhà... cho đến ngày
sập tiệm, nhiều tướng tá chỉ huy thì cao bay xa chạy, còn anh
là cấp Trung Úy quèn, lại sống ở đồn hẻo lánh, phải
chịu cầm tù và đi cải tạo trên sáu năm mới được
thả ra. Về nhà, anh phải sang ở bên nhà vợ, vì lúc anh đi
tù cải tạo, vợ anh ẵm hai đứa con về tá túc với cha mẹ
ruột của cô ấy. Chính địa chỉ nầy đã gắn liền
với hồ sơ khi anh được thả ra và về sống ở đó.
Gia đình bên vợ anh không khá giả gì, lại cưu mang vợ
chồng con cái anh, nghĩ cũng phiền. Nhưng biết làm sao hơn khi một
người sống đời tù ngục, đau ốm tật bệnh liên miên
sau khi được thả ra như anh? Ban đầu Đạt mượn tiền mua chiếc
xe đạp để chạy xe đạp ôm, nhưng sức vóc của anh không
thể theo đuổi mãi cái nghề tổn thọ nầy, ba má vợ anh thấy
vậy đem lòng tội nghiệp, ông bà đã chạy hỏi mướn
cho anh một chiếc xe lambretta chở khách, trả góp hằng ngày cho đến
ngày nay. Thấy con rể cứ bị gọi đi thủy lợi, mỗi đợt
mười ngày, hoặc hằng tuần cứ đi thông ống cống, đi dọn
dẹp vệ sinh trong khu vực, ban đêm lại phải vác mùng mền ra đầu
hẻm hoặc cầu Xáng Thổi để ngủ chung với đám trai trẻ
trong khu vực, nhằm canh giữ trộm cắp, đây là hình thức quản
thúc một tù cải tạo mới thả ra, dù mỗi tuần vào sáng
thứ bảy anh phải cầm sổ đến đồn công an trình diện
đúng giờ qui định, ông bà khuyên nên liên lạc với
Thầy Đông làm hiệu phó của trường Bổ túc văn hoá
ban đêm, dạy miễn phí cho con em nghèo trong địa phương, vì
nghe đâu khi đi dạy học, sẽ được miễn các công tác
tại địa phương? Và, Đạt đã được nhận vào
dạy tại trường nầy - một trường học với dạng tình thương
mà trong lòng của anh sĩ quan vừa ở tù ra vốn yêu thích. Học
trò của anh đủ mọi lứa tuổi, đủ mọi thành phần xã
hội, từ em bé đi nhặt bọc ny lông, đến anh anh ve chai lông vịt,
chị bán rau cải ngoài chợ, hay cô mậu dịch viên trong cửa hàng
bách hoá, anh công nhân trong một nhà máy, một xí nghiệp
nào đó... Các cán bộ, đảng viên chủ chốt các cơ
quan ban ngành của nhà nước thì đi học ở các lớp bổ
túc văn hóa tại chức mỗi tuần hai ngày ở một địa
điểm khác. Tuy nhiên, cũng có một số vào học ở lớp
học tình thương nầy, dù hồ sơ nhập học của họ không
ghi rõ cơ quan, chức vụ... nhưng giáo viên giảng dạy vẫn có
thể biết được tông tích của họ. Họ vào học hay được
ngầm đưa vào để theo dõi, kiểm soát? Cũng có thể lắm,
nhưng Đạt không ngại việc nầy, vì khi lên lớp, anh chỉ giảng
dạy theo sách vở giáo khoa - mà sách giáo khoa của Bộ giáo
dục in lại là Pháp lệnh phải tuân hành chớ không thể
tự sửa đổi được. Cái khéo của người dạy là
vận dụng phương cách truyền đạt của mình cho học viên
dễ học, dễ hiểu, dễ nhớ và mau tiến bộ thôi, chớ không
phải là con vẹt khi đọc thuộc tài liệu trong sách giáo khoa.
Chẳng hạn, có lần anh cho học viên viết một bài chính tả
trong sách Văn lớp 5 BTTV, bài MÀU ĐỎ HOA Ô MÔI trích từ
truyện ngắn CHỊ XÃ ĐỘI TRƯỞNG của nhà văn Nguyễn Sáng
(tức Nguyễn Quang Sáng), có câu diễn tả màu bông ô môi
đỏ rực, đỏ ối, đỏ rợp một góc trời như màu
cờ. Khi giảng cho học viên hiểu, anh nói, tác giả quá cường
điệu đến độ sai lạc khi diễn tả màu bông ô môi.
Anh nói, bông ô môi màu tím nhạt như bông lục bình, dù
có nhiều phủ một góc trời cũng không thể bảo là đỏ
ối, đỏ rực được ! Mấy học viên mà Đạt nghi là
cán bộ giả dạng ngồi trong lớp, ban đầu tỏ vẻ khó chịu,
vì nghe anh phê bình tác giả trong sách giáo khoa, nhưng sau đó
nghĩ sao, họ lại phát biểu đồng tình với thầy giáo. Họ
đã nói, bông ô môi đúng là màu tím mà ở
quê họ cũng có nhiều, chớ làm gì có màu đỏ ối,
đỏ rực? Một đôi lần sau, Đạt lại thuật chuyện, một
đồng nghiệp không biết nghe ai kể chuyện dạy học ở miền Bắc.
Một hôm, ông Tố Hữu vào thăm một lớp học tại vùng
quê xa, học trò ở đây được học một bài thơ 5 chữ
của ông, ý nói đàn bò thích ăn cỏ non, trong đó
lá soan non là nó thích ăn nhất. Một học sinh đứng lên
hỏi lúc “ông nhà thơ lớn” nầy vào lớp: “Thưa
bác, thơ của bác nói là con bò thích ăn lá soan non, nhưng
con có về nhấm thử, sao nó đắng quá? Vậy con bò thích
ăn những loại cây cỏ có chất đắng phải không?”
Bấy giờ, ông Tố Hữu mới mỉm cười - có lẽ chính ông
cũng chẳng hiểu được khi mình viết ra những câu thơ ca tụng
cây cỏ quê nhà ảnh hưởng đến đàn bò mập mạp
mang đến sức kéo cho các hợp tác xã nông thôn, lại sai
lệch đến như vậy? Ông ta vội chữa là, dù lá soan đắng,
và con bò cũng không nhất thiết phải ăn lá soan để mập,
nhưng các cháu nên hiểu, con bò nhờ ăn những chồi non mới
mập, cũng như tuổi trẻ các cháu được bố mẹ, thầy
cô nuôi dạy tốt sẽ thành người hữu ích sau nầy! (nghe nói
sau đó ông đã sửa lại chi tiết nầy trong bài thơ?). Câu
chuyện Đạt nghe kể trong một dịp trà dư tửu hậu, đúng
hay sai, có hay không cũng chưa ai xác nhận, nhưng nếu như không
có lửa sao có khói?
Đạt lại
ngẫm ngợi đến trách nhiệm của người sáng tác, người
đặt bút viết lên tác phẩm cho người đời, ít nhất
cũng phải trải qua những kinh nghiệm bản thân, những sưu tầm sách
vở có chừng mực, để đừng phải sai lầm đáng tiếc
như hai mẫu chuyện đề cập trên đây. Làm một thầy giáo,
khi truyền đạt kiến thức cho học sinh, càng phải thận trọng, dù
sách giáo khoa có sẵn, nhưng cái đúng thì giữ, cái
sai phải loại đi... đừng để cho học sinh của mình mang lấy
hiểu biết sai lạc rất tai hại cho tầm nhìn của họ trong bước
thang cuộc đời...
Đạt rút
thuốc bật lửa đốt. Vừa hít một hơi, anh chợt giật mình
và giụi tắt ngay, vì nhớ là mình còn đang ngồi trong lớp.
Học viên đang chăm chú làm bài, không để ý đến
từng cử chỉ của thầy, nhưng Đạt lại không thể tùy tiện
hút thuốc trong lớp như vậy - tư cách một thầy giáo không
cho phép bất cứ ai tùy tiện trước mặt học viên mình. Đạt
thường nghiêm khắc với bản thân mình thế đó. Đạt
thở dài khi nhớ lại câu nói như đe dọa của ông chủ
tịch Phường hôm tuần trước :
- Tôi kỳ hạn trong vòng một tuần lễ thầy phải dỡ cái
chái đó, trả phần đất cho Phường cấp cho người khác
cất nhà. Sau ngày qui định, nếu thầy không chấp hành, phường
chúng tôi sẽ cho Phường đội đến giải toả, mọi khiếu
nại không được cứu xét ! Có thể còn phải bồi thường
công giải toả cho nhân viên Phường nữa...
Đạt ra về mà hai mắt cảm nhận cay se khó chịu.
Vậy là mọi lời phân trần, năn nỉ của anh đã không
hiệu quả gì. Thầy Đông khi nghe chuyện cũng đã an ủi và
nói là sẽ tìm Thầy Kiệm để nhờ thầy nói với ông
chủ tịch Phường đừng đuổi nhà thầy Đạt, mà cố
gắng tìm địa điểm khác. Nhưng Thầy Kiệm lại nghe lời
ai, nói rằng địa điểm đó là thế đất tốt, cất
nhà sẽ làm ăn phát đạt, gia đình hạnh phúc ấm êm...(!),
Thầy Kiệm đã thẳng thừng từ chối. Chiều nầy lúc Đạt
chưa về, Thầy Kiệm chở vợ trên chiếc CUP mới toanh, đến đậu
trước phần nền nhà sẽ được cấp, nhìn tới nhìn
lui ra chiều ưng ý lắm. Vợ chồng thầy không vào nhà ba má
vợ Đạt, cũng không bước vào căn chái của Đạt, mà
chỉ đứng bên ngoài nói vọng vào :
- Chủ nhà ơi, còn hai hôm nữa chúng tôi đến dọn
dẹp nền để chuẩn bị cất nhà. Tháng nầy hạp tuổi cất
nhà của chúng tôi. Phường đã cấp giấy phép cho chúng
tôi rồi đây! Đừng để phường đội làm lôi thôi,
chúng tôi không muốn đâu...
Nói xong, hai vợ chồng nổ máy xe chạy mất. Khi Đạt chạy
xe Lam về tới nhà, đã nghe vợ nhắc lại sự việc trên, Đạt
buồn bã đi tắm rồi cầm xấp giáo án, dẫn xe đạp ra
cửa để đi dạy, chẳng buồn ăn cơm và cũng chẳng nói
gì với vợ. Hai đứa con đã ở bên nhà Ngoại - đúng
hơn là hai chúng nó thường xuyên ở với ông bà ngoại
hơn là ở bên căn chái chật hẹp của vợ chồng anh. Một
căn chái che trên nền của khu trũng cách đây trên dưới
năm năm, bây giờ lại phải dỡ bỏ đi, nghĩ mà đau lòng!
Đạt mang tâm trạng nầy vào lớp. Bây giờ ngồi nhìn
từng khuôn mặt học viên, Đạt càng thấy thấm thía tình
đời. Thầy giáo Kiệm làm ở Sở Giáo Dục, có chân
trong ban giáo viên dạy trường BTVH tại chức của tỉnh, lại là
đảng viên, thì trách sao không được ưu đãi, không
được cấp nơi chốn cất nhà theo ý muốn? Tiếng chuông
reo hết giờ, Đạt mới uể oải đứng lên bảo anh chị học
viên nạp bài. Anh đến từng đầu bàn để nhận bài
và bảo, bàn nào nạp xong thì ra chơi. Thu xong bài vở, Đạt
bước ra ngoài. Hai tiết dạy sau anh không có giờ, nên thay vì
bước vào phòng giáo viên ngồi trò chuyện vài câu với
đồng nghiệp, Đạt lại lấy xe đạp thẳng về nhà. Anh sợ
thời gian qua quá nhanh, chỉ còn hai ngày nữa là hết hạn, anh phải
dỡ bỏ cái chái nhà thân yêu đó và trao trả trọn
nền nhà cho thầy Kiệm đã được ông Chủ tịch Phường
cấp phép cất nhà.
Về đến cửa, anh đã
thấy Linh chong đèn ngồi chờ anh bên mâm cơm đã nguội lạnh.
Ngọn đèn dầu leo lét trông buồn thảm làm sao. “Em không
ăn cơm trước đi, chờ anh như vậy hoài không tốt đâu!
Ăn uống thất thường rủi bị đau bao tử càng nguy hiểm!”.
“Em không ăn được, phải chờ anh về. Anh thay đồ đi, để
em hâm nóng thức ăn”. “Khỏi, hâm lại tốn than củi nữa,
cứ để vậy ăn chẳng đến nỗi nào đâu. Mới nấu
hồi chiều phải không?” . “Phải!”
Hai vợ chồng anh đối đáp ngắn gọn thế đó, bởi
trong tâm tưởng ai cũng có ý nghĩ đến cay xé lòng mình,
khi phải đối diện với những điều thực tế phải diễn ra
chỉ hai hôm nữa thôi. Ăn cơm xong, Đạt lại giành phần rửa
chén, thu dọn bếp núc với vợ. Anh bảo Linh đi vào ngủ với
hai con, vì bệnh của vợ còn đang tái phát. Linh im lặng đi vào
bên trong tấm vải ngăn chỗ ngủ với chỗ bàn viết của chồng.
Đạt rửa dẹp xong, bước lại bàn viết. Anh lật tờ báo
ra đọc đủ thứ linh tinh mà họ in trong báo, nhưng tâm hồn
anh lại tập trung vào vấn đế hết sức nan giải, phải làm
sao đây ?
Vợ anh gọi anh vào
ngủ để sáng mai còn phải dậy sớm chạy xe nữa. Đạt
vội tắt đèn vào nằm bên vợ thao thức.
Chờ cho Linh với hai con ngủ một lúc lâu, Đạt rón rén
ngồi dậy quẹt diêm đốt đèn. Ánh sáng vàng vọt chợt
loé lên, hắt bóng anh vào vách lá lung linh, chập chờn. Chồng
tập vở của học viên đập vào mắt, Đạt lật giở
từng quyển. Trong thoáng chốc, từng khuôn mặt thân quen lại hiện
lên trong trí anh. Bốn mươi lăm khuôn mặt, bốn mươi lăm
cảnh huống khác nhau lại họp mặt hằng đêm dưới ánh
điện của một lớp học tình thương. Là chủ nhiệm lớp,
Đạt đến với bốn mươi lăm học viên mình bằng cả
nhiệt tâm, gắn bó... Và, anh đã sống với họ qua từng trang
ký ức của chính mỗi người.
LÂM có nét chữ nguệch ngoạc.
Đã nhiều lần Đạt trao đổi và hướng dẫn luyện tập,
nhưng LÂM tâm sự là "Có lẽ quen tay, sửa không được".
LÂM kể rằng, anh sống trong vùng quê chiến tranh. Cha mẹ anh đã
chết trong lần máy bay B52 ném bom sập gác chuông và thính đường
Nhà thờ Ông Hào năm 1965. Anh hận chiến tranh và cũng nhờ mấy
chú nuôi giữ đứa bé mồ côi, nên lần lượt được
giao làm liên lạc. LÂM đã lớn lên trong đội du kích của
xã Trường Long như thế đó. Sau nầy ra thành phố được
phân công tác đòi hỏi có văn hóa để nâng cao trình
độ quản lý, anh bắt đầu theo học lớp bổ túc văn hóa.
Ban đầu bỡ ngỡ, rồi thời gian quen dần, nhưng chữ viết thì
khó sửa quá, chắc tại cứng tay ! LÂM đã có lần nói
như vậy. Đạt lật từng trang. LÂM có biến chuyển khá rõ
nét chớ không chậm đâu. Anh đọc kỹ bài luyện tập của
LÂM rồi ghi điểm 6 bên góc trái với lời nhận xét bằng
mực xanh.
NGHIỆP có quyển vở
sạch sẽ, nét chữ khá đẹp. Anh là học viên xếp loại
khá của lớp. Những năm sáu mươi, NGHIỆP là cậu bé
đang theo học lớp Nhì trường Tiểu học Phong Điền. Ba má NGHIỆP
trước đó có lúc phải bỏ xứ để tránh cuộc truy
lùng tố cộng vì ba NGHIỆP có theo Việt Minh chống Pháp, sau năm
đình chiến không đi tập kết ra Bắc, ở lại về quê làm
ruộng sinh sống. Được một thời gian thấy lắng dịu mới trở
về quê cũ. Đến khi miền Nam có chiến dịch tố cộng rầm
rộ, ông lại sợ phải bỏ xứ trốn vào vùng sâu, nghe nói
đã bị bom đạn chết không biết lúc nào. Má NGHIỆP
ở lại làm lụng nuôi con trong nỗi phập phồng lo sợ. Bà bị
ngã bệnh và chết đi. NGHIỆP nghỉ học ở nhà lo làm thuê
làm mướn kiếm sống, khi tới tuổi quân dịch, anh xin vào làm
Nghĩa quân của Xã. Sau biến cố 1975, NGHIỆP trình diện địa
phương và đi học tập một tuần lễ được thả về,
tiếp tục cuộc đời làm thuê mướn. Cuộc sống ngày càng
khó khăn, NGHIỆP trôi nổi ra Cần Thơ kiếm việc làm. Anh xin được
làm phu khuân vác cho cửa hàng buôn bán vật liệu Xây Dựng,
hàng ngày khuân vác cát, đá, xi măng cho khách hàng, ban
đêm xin theo học lớp Bổ túc Văn hóa. Có lần NGHIỆP tâm
sự: “Hơn hai mươi mấy năm bỏ trường bỏ lớp, nay được
vào ngồi học lại, em nghe lòng bâng khuâng vô cùng. Nếu không
có cuộc chiến tranh khốc liệt, đất nước ta đâu có sự
mất mát thiệt thòi đến thế nầy, nhân dân ta đâu phải
gặp cảnh ly tán đau thương như thế nầy phải không thầy?”.
Đạt tâm đắc với ý nghĩ của NGHIỆP. Phải chi đừng
có chiến tranh? Phải chi mỗi số phận con người đừng bỏ phí
quãng đời nhiệt tình ở tuổi thanh xuân? Phải chi cả dân
tộc không phân chia giai cấp ý thức hệ đến nỗi phải tương
sát lẫn nhau một cách vô lý?... Phải chi... Đạt lại cho điểm
và ghi lời nhận xét lên bài làm của NGHIỆP.
LOAN, một học viên nữ lúc nào cũng có nét trầm tư.
Chị thuộc lớp nghèo sống ở thành thị. Ba chị sống bằng
nghề chạy xe lôi đạp. Má chị bán rau cải ở chợ. Gia đình
nheo nhóc tám con, mà LOAN là con lớn, năm đó mới mười
lăm tuổi. LOAN kể rằng, khuya đêm đó, ba Loan chở má ra chợ
mua rau cải bán, đã bị một xe jeep của một nhóm người say
rượu đâm vào, ba má Loan chết liền tại chỗ với chiếc
xe lôi chỉ còn một đống sắt vụn vỡ. Từ đó LOAN phải
thay cha mẹ lo nuôi đàn em thơ dại không được học hành.
Điều bất hạnh của kẻ mồ côi là vậy. Bây giờ Loan đã
đọc và viết khá. Em đâu ngờ cho tới bây giờ em mới
thật sự được sáng mắt sáng lòng! Loan đã nói như
vậy với Đạt. Anh thắm thía nhiều với ý nghĩa của câu
nói đó.
TRÍ thì lại khá
đặc biệt. Anh là một anh lính binh nhất của một tiểu đoàn
ĐPQ, bị thương đầu năm 1975, chỉ trước biến cố 30-4 chưa
đầy hai tháng.
Khi biến cố
xảy ra, anh còn đang nằm điều trị tại quân y viện Phan Thanh Giản
Cần Thơ, một bàn chân trái bị cưa phân nửa vì vấp
phải đạp lôi lúc hành quân chưa được lành hẳn.
Nhớ trưa hôm đó, cả bệnh viện nhôn nhao lên, vợ anh đã
vội vã cõng anh chạy ra đường kêu xe lôi chở về nhà.
Anh tiếp tục điều trị tại nhà cho đến khi chính quyền địa
phương bảo phải trình diện học tập. Anh chống nạng theo học
một tuần lễ tại địa phương và sau đó kiếm nghề
sinh sống. Chân đi cà thọt, nhưng TRÍ rất chịu thương chịu
khó, được bà con trong xóm thương yêu, giúp đỡ. Lúc
các tỉnh có tổ chức xổ số Kiến Thiết, TRÍ đến một
thầu quen nhận vé số đi bán khắp ngõ hẻm trong thành phố.
Có khi bà con mua được trúng, tặng cho anh một ít tiền, anh
mừng. Vợ anh hằng ngày xuống chợ đón mua rau cải đội bán
khắp nơi, vì không có tiền để sang lô sạp trong chợ. Nhờ
vậy cuộc sống trong gia đình anh không đến nỗi nào. Nghe bạn
bè chỉ dẫn. TRÍ đến hợp tác xã mua bán phường xin
việc, họ bảo phải ít nhất có bằng BTVH lớp 9 mới nhận.
Bây giờ anh chỉ mới học đến lớp Nhất (tức lớp 5), bỏ
lâu lại quên hết, muốn nâng cao trình độ phải bắt đầu
học lại. TRÍ vào học lớp của Đạt, học rất khá và
hy vọng ước nguyện của anh sẽ thành, nếu như anh có thể
theo đuổi việc học hàng đêm.
Trường hợp của TUYẾT lại khác hơn. Mẹ TUYẾT góa bụa,
đi ở mướn cho một gia đình giàu có, làm nghề bán
thuốc gia truyền khá nổi tiếng trong thành phố nhiều năm. Chủ
nhà là gã đàn ông có nhiều tật xấu. Trong một đêm
giả say rượu, hắn đã dùng thủ đoạn và quyền lực
để chiếm đoạt thân xác của người đàn bà ở
mướn. Kết quả, TUYẾT ra đời dưới sự gièm pha của người
đời. Dư luận kết án mẹ TUYẾT cũng nhiều, bênh vực cũng
không ít. Nhưng cái thua thiệt vẫn ở kẻ nghèo.
Hai mẹ con TUYẾT phải đùm bọc nhau tìm nơi khác tiếp tục
cuộc đời ở mướn. Rồi mẹ TUYẾT qua đời sau một cơn
bạo bệnh. Tất cả công việc của mẹ giờ đây TUYẾT phải
đảm đang: gánh nước, quét nhà, bửa củi, nấu cơm...
Tất cả công việc của mẹ giờ đây dồn vào đứa con
gái 12 tuổi. Khi cuộc chiến kết thúc, cả gia đình nầy bỏ
chạy ra nước ngoài, căn nhà bị chính quyền mới tiếp thu,
Tuyết năm đó đã mười bảy tuổi, được cho ở
một căn phòng bên cạnh. Sau nầy TUYẾT được đổi một
căn nhà tương đối khang trang, đủ tiện nghi, dù so với căn
nhà mà TUYẾT từng ở làm công chẳng tương xứng chút
nào, nghe nói một ông cán bộ nào đó muốn lấy căn
nhà nầy mới cho đổi căn nhà nhỏ của ông ta? Từ đó,
nghiễm nhiên TUYẾT có hẳn một căn nhà mà suốt cuộc đời
gian khổ của mẹ, không bao giờ bà dám nghĩ, dám mơ ước
tới !...
Từng trang vở lật qua,
từng mảnh đời của học viên lại hiện lên trong tâm trí.
Những THẢO, những HOÀNG, những CẢNH, những HOA, những LIÊN, những
LAN, những DŨNG, những CÔNG... Bốn mươi lăm học viên là bốn
mươi lăm bậc thang của cuộc đời. Đạt đã thấy, trong
cuộc sống của từng học viên có những cảnh đời đáng
thương, đáng quí... Họ đã ở vào lớp tuổi trưởng
thành, đã trực tiếp đóng góp sức vóc để xây
dựng cuộc sống. Công việc mỗi người có bề bộn, nhưng
hằng đêm vẫn không thiếu sót lần nào, dành thời gian vào
lớp học, ngồi bên dưới những chiếc bàn học trò để
nhìn lên và chịu khó chấp nhận sự có mặt của người
thầy. Tự nhiên Đạt thoáng buồn khi chợt nhớ những mảng tin
đăng trên các báo về việc rạn nứt giữa thầy cô với
học sinh, hình ảnh người thầy mất dần trong sự tôn kính
đúng nghĩa của nó!
Quyển vở cuối
cùng là của LIÊN được ghi điểm 7. Đạt đốt thêm
điếu thuốc Đà Lạt còn lại sau cuối. Bây giờ bên ngoài
đã có bước chân người đi chợ sớm. Đạt bước
lại hé cửa nhìn ra bầu trời khuya. Sương nhiều. Một màu
trắng đục tản mát quanh đây. Anh quay lại nhìn căn chái
chật hẹp của mình và chiếc xe Lam mướn, bất chợt thở dài.
Chỉ còn chưa đầy hai ngày nữa thôi, căn chái sẽ bị
triệt hạ. Chính anh phải tự dỡ nó xuống chớ quyết không
để bất cứ ai đến đụng chạm những công trình kỷ
niệm của chính vợ chồng anh. Anh nghĩ, con người, dù ở tận
cùng đáy xã hội, sống phải có nhà, thác phải có
mồ. Không thể trôi sông lạc chợ được. Ở địa phương
nầy không xong, anh phải đi tìm một chốn nào khác để nương
thân. Vợ anh, con anh phải có nơi chốn để ở. Vợ chồng thầy
Kiệm chiếm chỗ nền nhà của anh bằng hậu thuẫn của ông Chủ
tịch Phường, chắc chắn đã có được chốn nương
thân trong đời? Còn anh, không thể cuộc đời quá bất công
với anh đến như vậy hay sao? Chị TUYẾT, kẻ ở mướn truyền
đời, tự nhiên cũng được có một căn nhà. Chẳng lẽ
anh lại trắng tay đến thảm hại mãi mãi? Mấy tháng trước,
Đạt có lén nhờ anh Bì đi Sài Gòn gởi giùm anh một
hồ sơ sang Bangkok để xin tị nạn, nhưng tiếc rằng anh chẳng có
thân nhân nào ở nước ngoài bảo lãnh, dù văn phòng
ở Thái Lan có giấy hồi báo là nhận được hồ sơ
của gia đình anh. Mò kim đáy biển, nhưng việc mò kim nầy
cũng là cái phao cho anh cầm lấy, thử thách trước cuộc sống
đầy nghiệt ngã nầy. Anh sẽ an ủi Linh, sẽ động viên hai đứa
con của anh, hãy vui vẻ ngẩng mặt lên để sống. Con người
phải cố gắng vượt qua những thử thách đau thương mới
thấy được giá trị trong cuộc đời. Cũng như bản thân
anh đã từng phải chịu đựng trong lao tù cải tạo trên sáu
năm trời giữa rừng già Xuyên Mộc những năm giữa cuối thập
niên 70 đầu thập niên 80 vừa qua.
Trời lạnh. Màn sương dầy đặc. Đạt khẽ rùng mình,
hướng mắt nhìn ra đầu hẻm với mảng sáng nhờ nhờ của
ánh điện đường. Trời đã vào xuân. Vậy là Đạt
đã qua một đêm trắng giữa con hẻm vắng lặng buồn bã
nầy.
Cần Thơ, tháng giêng 1986