Nhìn lại một chiến trường xưa
để
tiếc thương những đồng đội của một thời chinh chiến cũ.
Và để ngậm ngùi trong những ngày
lễ tết nơi xứ người.
VỀ MIỀN
TRÚ NGỤ.
.
truyện
ngắn
LÊ CẦN THƠ.
Chiếc cầu ván bắc
ngang con rạch nhỏ ngày xưa bây giờ được thay bằng cây cầu
gòn lắc lư, thiểu não. Con rạch bề ngang không quá năm thước
tây, dòng nước mang đậm phù sa theo con nước lớn ròng từ
sông Cái chảy vào cánh đồng hơn bảy mươi lăm mẫu
đất ruộng, cũng là đường dành cho các xuồng nhỏ của
dân trong xóm nầy vô ra chở lúa, khoai, rau cải sau mỗi vụ mùa...
giờ đây đã nghẽn lối. Cặp hai bờ rạch đủ loại
cỏ mọc hoang; trên mặt rạch, lục bình rau mác đã sinh sôi
nẩy nở phủ đầy, khó ai hình dung được đó là
con rạch giúp cho sinh hoạt của người dân ở đây một cách
thuận lợi và thân thiết thuở nào. Cây gòn do ai đó đốn
ngã, bắc qua con rạch, nhưng chiều dài của cây ngắn hơn mặt
rạch nên cả hai đầu cây bị nằm gối lên mặt đất
bùn phù sa, cứ thế nổi lên, chìm xuống theo độ lớn ròng
của mặt nước sông Cái. Nếu như có một đầu bám
được bờ đất khô, có lẽ cây gòn đã đâm
chồi và toàn thân cây sẽ có sự sống; thế nhưng, cây
cầu gòn bây giờ trở nên mềm mục, có thể bị gãy
đôi bất cứ lúc nào..
.
Tôi đã dừng lại bên nầy đầu
chiếc cầu, trong khi hai tiểu đội đã khó khăn vượt qua và
lục soát phía trước mặt. Bên kia cầu là khoảng đất
rộng nhưng các loại cây cỏ hoang đã mọc lên gần tới
đầu, chỉ có lối đi chưa đầy hai thước cặp con sông
Cái là ít cỏ bởi có người qua lại dẫm lên. Tôi
cố hình dung, cách bờ sông khoảng hai mươi thước, có một
nền nhà khá rộng, trên nền đã có một ngôi nhà
ba gian hai chái và bên cạnh có một thả bạc mà Ba Má tôi
đã khổ công gầy dựng đến mấy mươi năm, bây giờ
đã không còn thấy dấu tích gì. Tôi nhớ như in, phía
sau nhà có ba cây dừa trái lúc nào cũng oằn say, mấy anh em
tôi thường trèo lên bẻ để uống nước trong những buổi
trưa hè oi ả, bây giờ chỉ còn một cây - hình như cây
giữa - cụt ngọn bởi đạn pháo, còn hai cây kia đã gục
ngã mất tăm dạng chẳng hiểu vì sao? Nhà tôi, dọc hè sau
là một dãy hiên có đặt rất nhiều ổ gà, rất nhiều
gà mái. Ngày nào cũng vậy, gần trưa là lũ gà mái
leo lên ổ ngồi há hốc miệng chờ đẻ; con nào đẻ xong
phóng vội xuống sân la cục ta cục tác đến quen tai. Má tôi
nuôi rất nhiều gà, phải nói lớn nhỏ có đến hằng
trăm con, chúng nó tự do đi bươi đất, cào cỏ, tìm kiếm
côn trùng, thức ăn trên các bờ vườn gần một mẫu đất.
Dù vậy, mỗi sáng và chiều tối, má tôi đều bưng thúng
lúa ra sân , miệng kêu “túc túc”, bọn chúng nháo nhác
tranh nhau lại ăn. Nhìn cảnh đàn gà đủ loại, đủ cỡ
tranh ăn khiến người ta ngồi nhìn cũng thấy lòng vui vui, thư thả.
Mấy chú gà trống thích “ga lăng” với các cô gà
mái tơ, vừa “tục tục” khoe mồi, vừa xoè cánh
ve vãn trông thật kỳ cục. Đàn gà con thì lon ton theo chân
mẹ như lúc nào cũng muốn được mớm mồi, muốn được
chở che... Còn nhớ những năm chiến tranh chống Pháp, cứ mỗi khuya
là má tôi bắt một con gà làm thịt, xào mặn với nồi
cơm đầy ắp, bảo chúng tôi xuống xuồng chạy Tây vào
miệt Kinh Mới, Chệt Thợ... Khuya sớm đi, chiều tối về. Đàn
gà cứ lần hồi giảm xuống do má tôi chuẩn bị thức ăn
chạy giặc một phần, phần khác do người ta bắt lén. Tuy nhiên,
bọn lính bố ráp vào khu nầy thì bắt nhiều nhất. Sau khi đình
chiến năm 1954, đàn gà còn lại được mấy con, má tôi
bắt đầu gậy dựng lại đàn gà và cũng vẫn cách
nuôi như cũ, cứ theo năm tháng mà tăng trưởng dần. Nhưng
ngôi nhà tôi dù vẫn ba gian hai chái, diện tích có
thu hẹp lại, bởi bị Tây đốt tất cả 3 lần trong chiến tranh.
Sống yên ổn đến năm 1965, khi nhà thờ Ông Hào bị bom, bà
con tản cư ra thành, gia đình chúng tôi cũng phải bỏ làng
quê ra Cần Thơ lập nghiệp cho mãi đến sau nầy... Riêng tôi,
sau đình chiến hai năm là được má tôi cho sang Sa Đéc
sống với Cậu Mợ tôi đến mấy năm, rồi trở về trọ
học tại Cần Thơ cho đến năm Tổng động viên phải vào
quân đội, cho nên những lần nghỉ lễ, nghỉ hè... tôi mới
có dịp về sống với gia đình. Dù vậy, kỷ niệm của
quê nhà lúc nào cũng đậm sâu trong ký ức mình..
- Báo cáo
Thiếu Úy, trước mặt có “bãi lửa”!
- Cẩn thận ! Dừng lại lục
soát cho kỹ!
Từ tổ khinh binh
của Thắng mở đường, đã báo chuyền miệng về đến
với tôi, và tôi đã ra lệnh như vậy. Tôi gọi máy báo
cho Đại đội trưởng Lâm Đình Thảo phía sau. Hôm nay,
trong cuộc hành quân, Trung đội tôi mở đường, xuất phát
từ chi khu Phong Điền, tiến vào chiếm đến 8 mục tiêu dọc
theo sông Ngã Cái, và mục tiêu sau cùng là ngã ba Vàm Bi.
Bây giờ Thắng dẫn đầu và báo cáo có bãi lửa ở
mục tiêu 5, chỗ vàm Mương Kinh. Đơn vị được lệnh
dừng quân tại chỗ, chờ lệnh. Khi nhận lệnh hành quân, được
biết hôm nay có khả năng chạm súng với đơn vị cấp Huyện
của địch đang hoạt động trong khu vực nầy, nhưng mục tiêu
chánh là phá hủy đường vận chuyển của chúng, bằng
cách nghiên cứu để tái lập lại đồn Vàm Bi. Đóng
đồn Vàm Bi là đã chặn được sức phá hoại của
địch đối với tuyến lộ Cái Răng đi Phong Điền, Cầu
Nhiếm, Ba Se và ra liên tỉnh lộ 27 đi Long Xuyên. Khu vực nầy, theo
tình báo cũng là địa bàn hoạt động của Xã đội
Trường Long mà ta phải xóa đi.
Hải - Hiệu thính viên
trung đội - đang ngồi dựa lưng lên gốc cây còng già cỗi,
ngã quỵ theo bờ sông, rễ bật lên lởm chởm. Thoát nhiên,
Hải đứng dậy đi lại phía tôi :
- “Dũng Chinh”
muốn gặp “thẩm quyền”!
Vừa nói, Hải vừa trao ống liên
hợp cho tôi, nói tiếp: “Bữa nay coi mòi thầy trò mình
phải xây củ hủ dừa ăn quá. Gì mà vắng hoe, chẳng có
nhà cửa gì cả. Chắc tụi VC ở lùm ở bụi, mọc lông
mọc lá, dân thấy sợ phải bỏ đi hết!”. Sau câu nói
như đùa nầy, Hải lại cười.
- Dũng Chinh, Dũng Chinh, đây
Bravo...
Phía bên kia,
Lâm Đình Thảo lên tiếng, hỏi han tôi về tình hình ghi
nhận được, và khả năng của mũi tiến quân mở đường
ra sao? Tôi tóm tắt địa thế cho anh hiểu và sau đó anh dặn
tôi :
- “Hải Âu”
ghi nhận trước mặt anh có “mấy con chuột lắt” xuất hiện.
Có thể cánh Xã đội của chúng đang dàn đội hình.
Lệnh cho anh bảo anh em sẵn sàng để mở màn “hát bản nhạc”
đó. “Bạch Hổ” vừa báo “Mặt trời” đang chuẩn
bị lên vùng để theo dõi và yểm trợ mình. Sẽ có
“gà cồ” gáy trong vài phút nữa. Hãy tìm chỗ ẩn
an toàn. Tất cả dậm chân, lục soát kỹ, coi chừng “trái”
của nó vung vãi xung quanh. Bảo mấy thằng em mở mũi của anh đốt
pháo khi cần. Nghe rõ trả lời.
- Nhận anh “năm
trên năm”. Trả lời.
Tình
thế có vẻ căng thẳng do phía sau chuyển tới, nhưng cánh mở
đường của chúng tôi chưa thấy gì đáng ngại cả,
chỉ do địa hình phức tạp, việc chuyển quân rất chậm để
tránh vấp phải mìn bẫy. Đa số nhà dân không còn, thỉnh
thoảng có một hai chòi lá bỏ hoang, có lẽ dân thỉnh thoảng
có trở về thăm đất đai rồi lại bỏ đi. Tuy nhiên, tôi
vẫn chuyển lệnh lên cho tổ Khinh binh của Thắng. Tôi lại ngồi
xuống cạnh đám rễ còng. Hải cũng sà xuống cạnh tôi.
Tôi sờ tay vào túi lấy ra gói Cotab và chiếc hộp quẹt Zipo.
Đưa Hải một điếu, tôi đốt một điếu cho mình, mắt
lơ đãng nhìn sang nền nhà cũ hoang dại mà chợt nghe xốn
xang trong lòng. Bây giờ, tôi có dịp nhìn kỹ khuôn mặt của
Hải. Là một binh Nhì được nhận từ Trung tâm 4 Tuyển mộ
và Nhập ngũ, đưa đi huấn luyện 9 tuần lễ ở TTHL Chi Lăng,
trở vể bổ sung cho Đại đội, và Hải được phân công
làm Hiệu thính viên, mang máy truyền tin cho tôi. Sống trong đơn
vị tôi đã sáu tháng trời, tôi chưa có dịp nào tâm
tình và tìm hiểu cặn kẽ về đứa em tân binh nầy, ngoài
những nét chấm phá sau đây, mà lần trình diện Trung đội,
tôi có dịp hỏi.
Hải nói
rằng, gia đình Hải gồm 5 anh em, ba gái, hai trai sống với người
Cha tuổi quá năm mươi ở một làng ven của thị xã Sa Đéc
- Hải nói là ở Nàng Hai, chỗ cầu sắt đi Cao Lãnh đi vào
hướng Tân Dương khoảng hai ba cây số. Mẹ của Hải mất
lúc sanh đứa em gái út vừa được sáu tháng. Quê Ngoại
của Hải ở miệt Cầu Nhiếm Phong Điền. Tết năm Sáu mươi
Chín, Hải về thăm gia đình người Cậu ở Cầu Nhiếm, dọc
đường bị xét giấy tờ và Hải bị bắt đưa vào
trung tâm nhập ngũ với lý do “trốn quân dịch”. Ở đây,
Hải không liên lạc thư từ về gia đình, bởi Ba Hải nay ốm
mai đau, nếu báo tin nầy chắc ông sẽ lo lắng rồi thêm bệnh
nặng. Hơn nữa, Hải cũng có kể lại trường hợp Trần Thanh
Yến, cô gái cùng xóm, là bạn học hồi còn bậc Tiểu
học và Trung học với mình, thân nhau... và đã yêu nhau nhưng
cả hai còn quá trẻ để tính tới chuyện gia đình. Hải
định khi mình có sự nghiệp sẽ tính chuyện làm đám
cưới với Yến. Yến cũng ao ước như vậy. Sau nhiều năm nuôi
dưỡng tình yêu, hai người chưa có dấu hiệu gì đáng
tiếc. Có điều, Hải mặc cảm khi bị bắt và đưa
đi quân dịch, với cấp Binh Nhì, liệu Yến hay tin sẽ bị cơn
sốc nào không? Hôm nay ngồi trước mặt Hải, đột nhiên
tôi nhớ tới chuyện tình cảm của nó. Tôi hỏi:
- Bấy lâu nay, em có thư từ cho gia đình
không? Cả việc liên lạc với cô... gì đó, à, cô Yến
phải không? Bây giờ Yến ra sao rồi?
Hải hít nhẹ hơi thuốc,
ngẩng nhìn làn khói bay tản mạn, đôi mắt như chìm sâu
trong thăm thẳm, rồi thở nhẹ:
- Em không thể
liên lạc Thiếu Úy ơi, tội nghiệp cho Yến!
-
Sao lại tội nghiệp?
-
Em sợ Yến thất vọng... khi biết tin em là một Binh Nhì! Đáng
lý ra em phải đi theo con đường tiến thân tốt hơn, nhưng...
khi bị bắt, em lỡ khai “man” tên họ và cấp bằng hết rồi,
biết làm sao!
.
Hải kể với
tôi, đã đậu Tú Tài phần I, đủ điều kiện để
xin vào trường Bộ binh Thủ Đức, nhưng Hải chưa muốn làm
quân nhân, muốn tiếp tục việc học, mà việc học bây giờ
đối với Hải sao mỏng manh quá, nhất là sau khi Hải thi rớt Tú
Tài II, không còn điều kiện xin hoãn dịch vì lý do học
vấn. Gần nửa năm về sống trong gia đình với Ba mà chẳng
làm được việc gì cho ra hồn, khiến Hải buồn và sinh mặc
cảm với mọi người xung quanh. Khi về Cần Thơ vào dịp Tết
năm trước, Hải bị bắt khi trong người chẳng có tờ giấy
lộn. Vào trung tâm nhập ngũ, đã khai một tên họ hoàn toàn
khác, do chính Hải bịa ra, và lại đeo đuổi cuộc đời
nó cho đến bây giờ.
- Em “bậy”
thiệt. Thời buổi chiến tranh, học hành trở ngại thì phải tính
tới đường binh nghiệp. Che giấu sự thật để làm anh Binh Nhì
như thế thật không đáng chút nào. Em còn phải lo cho Ba, cho
anh em của mình nữa. Còn trường hợp của Yến, nếu cả hai
thật sự yêu thương nhau, không lẽ Yến lại ngoảnh mặt quay
lưng khi biết em chỉ là một anh Binh Nhì? Quả đúng như vậy
thì có gọi là tình yêu chân chính không? Theo tôi, Hải
nên lấy phép thường niên về thăm gia đình một chuyến.
Phải gặp lại tất cả người thân và kể cả Yến nữa.
Đó là việc làm rất cần, Hải ạ!
-
Nhiều đêm nằm trằn trọc, em suy tính đủ điều. Em muốn
viết cho Yến một lá thư, khuyên cô ấy hãy tỉnh táo và
tự quyết định tương lai mình, đừng đợi chờ em nữa.
Nhưng... em lại không cam lòng viết ra những điều đó để
gởi cho Yến. Có mâu thuẫn lắm không, Thiếu Úy?
- Tất cả
đều do chính em tự đặt ra và tự lý giải cho riêng mình.
Hãy thực tế một chút. Tôi nghĩ, Yến không tệ bạc thế
đâu...
Từ phía trước,
Thắng báo về, thấy địch xuất hiện chỗ Mương Kinh, xin lệnh.
Tôi vừa báo cho “Dũng Chinh”, vừa dè dặt bước qua cây
cầu gòn lắc lư. Hải theo sau tôi. Vừa qua tới bờ đất bên
kia thì Hải trao tôi ống liên hợp... Bên kia đầu máy, giọng
quen thuộc của Lâm Đình Thảo:
- “Mặt trời” cho lệnh “án
binh”, khoan đốt pháo. Chờ chúng lọt hết vào đội hình
mới “vỗ tay”.
- Nghe rõ thẩm quyền!
Tôi bảo Thảnh
và Bào đem khẩu Đại liên M.60 lên chỗ tôi. Phần tôi
cầm khẩu M.79 của Mây, và đưa lại nó khẩu M.16 mà tôi
đang cầm. Mỗi khi hành quân, tôi có thói quen là mang theo khẩu
M.16, và có lúc lại đổi với Mây, một xạ thủ của
cây M.79. Tôi thích bắn M.79, có thể bắn trực xạ, có thể
bắn vòng cầu... thật chính xác. Mọi sắp xếp xong xuôi, tôi
hướng mắt lên cái nền nhà rất thân quen năm nào, nay đã
hoang tàn khó thể hình dung ra. Hải vặn nút máy P.R.C. 25 sang nấc
kế bên để ngụy trang không cho máy kêu “khè khè”,
trong khi tình hình đang rình rập và chờ đợi. Khẩu Đại
liên hướng nòng sang phía đất ông Bá Hộ, nơi mà tôi
đoán có thể địch sẽ xuất hiện phía đó. Cả Thảnh
và Bào chú mục vào những địa hình khả nghi trước
mắt để kịp thời ứng phó. Hải thì thầm bên tai tôi
bằng một giọng thật sẽ sàng:
- Quê Thiếu Úy ở đâu
vậy? Đẹp và giàu lắm không? Có khi nào Thiếu
Úy về thăm quê mình?
Câu
hỏi đột ngột của Hải giống như mũi kim rút thuốc đâm
mạnh vào tim khiến tôi đau nhói. Trả lời sao với Hải đây,
khi tôi đang ngồi ngay trên phần đất nhà mình, trước mặt
là cái nền nhà, là dấu tích của mái ấm gia đình
tôi ở những năm chưa có chiến tranh khốc liệt? Thay vì trả
lời thật thà với Hải, không hiểu sao tôi lại thở dài và
nhanh miệng:
-
Quê tôi ở xa..., xa lắm. Cũng bình thường như bao nhiêu quê
hương làng mạc khác trong đất nước mình. Có điều,
từ ngày vào lính đến giờ, tôi chưa có dịp nào đặt
chân lên mảnh đất quê nhà...
- Nhìn Thiếu Úy, em nghĩ
chắc người dân ở quê làng Thiếu Úy phúc hậu và
giỏi giang lắm. Nếu sau nầy có dịp về quê, em sẽ cùng đi
với Thiếu Úy cho biết. Em nghĩ, nó đẹp lắm, giàu lắm...
- Ờ...
- Quê em dù
gần thị xã nhưng đời sống dân chúng nghèo lắm. Phần
đông đi làm thuê làm mướn kiếm ăn, bởi đất đai
hẹp và không mầu mỡ bằng nơi khác. Ba em cũng bươn chải
lắm mới nuôi nổi gia đình...
Tôi
bỗng dưng thấy mình có lỗi, không chỉ riêng với Hải, mà
lỗi cả với miền đất quê hương mình. Tại sao tôi không
mạnh dạn nói với Hải là quê hương của tôi ở đây,
ở trong vùng chiến tranh lửa đạn và đầy hận thù nầy.
Chúng ta đang ngồi ngay trên phần đất ruột thịt của tôi,
nơi mà thuở mới chào đời, anh em chúng tôi đã gắn
bó như hơi thở, như nhịp đập con tim với từng sớ đất,
từng dòng nước chảy, từng cành cây ngọn cỏ quanh đây.
Tại sao tôi lại chối bỏ một cách phũ phàng như vậy? Chiến
tranh đâu phải do tôi gây ra mà tôi lại mặc cảm chối từ
một sự thật mà tôi không có quyền chối từ? Quê hương
tôi, trước sau gì cũng là nơi chôn nhau cắt rốn, nơi đã
dưỡng nuôi chúng tôi thành người, tại sao tôi không can
đảm và hãnh diện nói với Hải, với mọi người? Đất
quê tôi đang trong thời chiến tranh đầy bom đạn, tôi phải có
trách nhiệm làm sao cho bom đạn sớm ngưng tàn phá quê làng,
chớ tại sao tôi âm thầm quay lưng ngoảnh mặt? Đau lòng thế
sao? Cay đắng thế sao? Hải ơi, em hãy thông cảm cho tôi. Đất
quê ơi, hãy tha lỗi cho tôi...
- Thiếu Úy !
Hải vừa gọi vừa trao ống liên hợp
cho tôi, thì một loạt đạn nổ giòn phía Thắng. Tiếng đạn
M.16, tiếng đạn của địch bắn đan chéo nhau. Tiếng M.79, tiếng
lựu đạn. Chiến cuộc bắt đầu rồi đây. Rất gần đây.
Tôi vừa chỉ huy Trung đội chiến đấu, vừa báo diễn tiến
về cho “Dũng Chinh”. Cánh quân của Trung đội 3 do
Chuẩn Úy Lý Minh Bích phía sau được lệnh căng hàng ngang
băng ra đồng, tạo đội hình chữ L với Trung đội tôi, để
sẵn sàng “hốt” không cho một tên nào chạy thoát. Thảnh
chưa vội cho “gà tre” vỗ cánh vì chưa thấy mục tiêu
xuất hiện. Tôi nhóng người lên quan sát. Từ chi khu Phong Điền,
“gà cồ” đã gáy. Những trái cối 105 rải dài hướng
đình cũ, và dọc theo ngọn Cai Cẩm, không cho địch có chỗ
hở rút lui. Lính của tôi phía trước nổ giòn giã. Tiếng
hô “xung phong” của địch vang lên. Tôi yên chí là bọn
chúng tìm đường thoát, vội nhắm hướng tiếng hô “xung
phong” đó rót mấy trái M.79. Dù biết rằng tầm xa của
nó chỉ 375 mét, nhưng cũng để hù doạ cho chúng hoang mang khi
rút lui. Chỉ có hai tiểu đội đi đầu của tôi chạm súng
với địch. Thảnh và Bào ôm khẩu Đại liên M.60 chạy
lên tăng viện...
.
Nhanh
như chớp, Thắng báo về đã thu được 2 khẩu CKC và một
cây trường bá đỏ. Có mấy xác VC còn bỏ lại. Bên
ta vô sự. Tôi báo sơ khởi qua máy. Dũng Chinh lệnh cho tôi cẩn
thận và lục soát tiếp. Tiếng súng tạm im, tôi tiến lên
chỗ Thắng với Hải, Mây. Vừa lên tới, Thắng chỉ tôi, một
xác VC nằm cạnh mé Mương Kinh, mà lúc nầy tôi đoán
là lối vào đất ông Chín Châu, chỗ ngôi mộ đứng.
Thắng bảo đã lục soát xung quanh rồi, an toàn. Tôi bước
lại nhìn mặt hắn. Tôi bỗng sa sầm nét mặt. Đây là
bạn tôi, thằng Tư Quỳnh ngày nào, bây giờ đang nằm sóng
soài ra đó, máu loang cả vũng bởi loại đạn M.16 của một
người lính của tôi. Trước đây tôi có biết tin, Tư
Quỳnh là xã đội trưởng, nhưng lại không thể ngờ được,
nó lại phải chết đi dưới làn đạn của chúng tôi.
Tư Quỳnh là bạn thời
thơ ấu với tôi, có lẽ được sinh ra cùng năm tháng và
cùng tại nhà cô Mụ Năm, nên chúng tôi rất thân thiết
nhau. Những trò chơi thời thơ ấu như bắn cu-li, nhảy nhà chàm,
dậm cù bắt chuột, giăng câu, đặt trúm, thụt cá bống...,
ngày ngày đen đủi bùn đất khiến Ba Mẹ phải nhắc nhở,
rầy la. Tư Quỳnh dáng người cao ráo, nhanh nhẹn, có đặc
điểm là đôi bàn chân rất khác lạ: hai ngón chân
cái bè ra và cụp ra ngoài, tôi cứ nghĩ đó là dị
tật; nhưng lại nghe người ta nói rằng, bàn chân đó là
bàn chân “chính cống” của người Giao Chỉ (?). Chúng tôi
có dịp đi học vở lòng tại nhà của thầy Chín Hưng,
sau đó tôi tiếp tục ra thành học, còn Tư Quỳnh ở lại
thôn quê như nhiều bạn bè đồng trang lứa khác, sống với
nghề ruộng rẫy. Sau khi nhà thờ Ông Hào bị bom sập, làng quê
tôi đã hoang vắng, nhiều gia đình phải tản cư đến nơi
khác để sinh sống. Tư Quỳnh và một số bạn bè tôi
không theo gia đình mà ở lại... Rồi cuộc thế đã đưa
đẩy nhóm bạn tôi theo du kích, làm VC. Tư Quỳnh đã đào
hầm và che chòi trên phần đất ông Quan Tảo, cặp mé ruộng
để trú ẩn. Tôi có dịp nghe kể rằng, Tư Quỳnh đã
giữ gìn cây trái của bà con trong xóm, trong đó có vườn
nhà tôi, không cho bất cứ ai hái trộm. Mỗi lứa chuối, mít,
xoài,... Tư Quỳnh kêu đốn hoặc hái và tìm cách gởi
ra Cần Thơ, hoặc nhờ gia đình mỗi khi thăm, bán giùm và
trao tiền cho Má tôi. Việc nầy kéo dài khá lâu, cho đến
khi Tư Quỳnh chính thức được giữ chức phận trong Xã đội
Trường Long thì không còn ra mặt giúp bà con trong xóm nữa.
Nhất là sau lúc Ba Má của Tư Quỳnh bị bắt và bị cầm
tù vì có con làm VC mà chánh quyền địa phương thời
đó đã đối xử như thế, vì tình nghi “vô ra cung
cấp tin tức cho VC” (?). Thật tình thì mọi chuyện tôi chỉ được
nghe qua lời kể của Má tôi, chớ tôi chưa trực tiếp chứng
kiến cảnh nầy, hoặc thấy rõ ràng việc làm của Tư Quỳnh
đối với gia đình tôi. Tuy nhiên, đã là bạn, lại là
bạn thân thời thơ ấu, dù hiện tại mỗi người đi mỗi
hướng, nhưng tránh sao được những xúc cảm tình người
trước cảnh chết chóc, biệt ly thế nầy?
Tôi nhìn kỹ
Tư Quỳnh. Đúng là đôi bàn chân nầy, hai ngón cái
chĩa ra, nhưng dưới gang bàn chân lỗ chỗ bởi vết “hà
ăn”, có lẽ do thường ngày anh đã đi chân đất,
bùn sình và nhuốm phèn cũng nên. Vẫn mái tóc nầy, vóc
dáng nầy, nước da thì ngâm đen hơn, mốc cời hơn thuở
trước, phải chăng do nếp sống khắc khổ, thiếu thốn suốt bao
nhiêu năm ngủ bụi ngủ bờ, dầm mưa dãi nắng. Mắt Tư Quỳnh
vẫn còn mở trừng, tôi cảm thấy nhói đau trong lòng, vội
đưa tay vuốt mắt, hai mắt nó từ từ nhắm nghiền lại. Bỗng,
tôi nghe một tiếng nổ rất to, chát chúa bên tai mình. Tôi cảm
nhận được, có một sức hút nào đó vực tôi bổng
lên cao, quăng tôi ra một chỗ nào đó, trong khi tay tôi đang cầm
ống liên hợp của chiếc máy truyền tin mà Hải trao khi nãy để
báo cáo với Dũng Chinh. Tôi không còn biết gì được
nữa..
Tôi chợt mở mắt
và nghe đau nhói khắp cơ thể. Tôi thấy ngay Lâm Đình Thảo
ngồi cạnh bên với Bé, cứu thương viên của Trung đội
và mấy người lính. Họ vô cùng mừng rỡ khi biết tôi
đã tỉnh. Bấy giờ tôi mới mường tượng được
là mình vừa mới bị thương và đang nằm trên chiếc Poncho
trải trên đám cỏ. Cạnh bên là Hải, đầu và tay chân
quấn đầy băng rướm máu, tôi thốt lên:
- Hải bị có nặng không? Còn có
ai nữa?
- Chỉ có
anh và Hải thôi, tất cả vô sự. Đừng bận tâm, một chút
nữa sẽ có trực thăng tải thương. Cứ nằm nghỉ đi, đừng
lo lắng gì cả.
Lâm
Đình Thảo nói với tôi như vậy. Tôi muốn hỏi thêm,
nhưng tự nhiên cổ họng nghe khô đắng và mệt vô cùng.
Như hiểu ý, Thảo tiếp: “Ráng chịu đựng chút nữa,
có khát cũng cố gắng, không nên uống nước nhiều. Hôm
nay mình thắng, cánh Xã đội của tụi nó rã rồi. Thằng
Xã đội trưởng, thằng an ninh xã và mấy thằng nữa đã
phơi xác rồi. Số còn lại bị thương đã được
chúng chuyển đi, nhưng chắc chắn sẽ bị cánh của Vũ Tiệp
từ hướng Trường Thành đổ qua diệt gọn. Tất cả bọn
chúng đang ở trong “rọ”, phen nầy mặc sức mà làm đồn.
Mấy cái đồn nầy mọc lên, đố chúng dám bén mảng
tới”...
Tôi biết Thảo nói như thế để
an ủi và khích lệ tôi không nên bi quan, nhưng tôi chợt nghĩ
đến Hải. Tôi đưa cánh tay hướng sang phía Hải, thì
Thảo giải thích:
- Hải bị khá nặng,
nhưng không nguy đến tính mạng đâu. Trái B.40 nổ gần quá,
nó trúng nhiều mảnh...
Tôi lại nghiêng
đầu nhìn Hải trong những mảnh băng trắng. Hải thoi thóp cực
nhọc. Nó cũng vửa tỉnh lại, quay nghiêng qua chỗ tôi nằm rồi
mở mắt nhìn. “Hải tỉnh rồi!”. Tiếng kêu mừng rỡ
của Bé. Thảo cầm lấy bàn tay của Hải gọi: “Hải, Hải
ơi...”. Hải mấp máy: “Trung Úy...”. Mọi người
có mặt như nôn nóng chờ đợi. Hải quay nhìn tôi, nói
rất khẽ:
- Thiếu Úy, em
thấy mệt lắm. Chắc em không về phép đâu... Nếu có dịp,
Thiếu Úy liên lạc giùm gia đình em, địa chỉ và tên
họ Ba em, em để trong bóp dưới gối chỗ ngủ của em. Ba em tên
Đông, má em tên Phương...
- Hả, em nói Ba em tên gì? Tên
Đông phải không? Có phải ba em là Bảy Đông, má em tên
Phương, mợ Mười Phương phải không? Ngày trước ở Cầu
Nhiếm, khi má em mất, ba em mới chuyển gia đình sang Sa Đéc phải
không? Vậy có phải em tên thật là Hưng, Lê Thế Hưng không?
- Sao... sao Thiếu Úy biết
rõ tên Ba Má em, tên thật của em vậy?
- Hải,... Hưng,
nếu đúng em là Hưng, thì anh là Vinh, con của Cô Năm
ở Trường Long, bà con cô cậu ruột của em đây. Trời
ơi... tại sao lại chúng mình gặp phải nghịch cảnh nầy?
- Trời ơi..., Thiếu Úy!
Muộn quá rồi... anh Vinh ơi... Phải chăng là
mạng số. Em không thể vượt qua được
đâu... Anh Vinh...
Tôi
nghe giọng Hải mệt nhọc và nhỏ dần rồi như đứt quãng.
Hải nấc lên một cái khiến tôi thảng thốt lo sợ. Bé sờ
tay lên mũi Hải, nói khẽ: “Hải đã kí-lô rồi”,
và đưa tay vuốt mắt Hải, Bé kéo vội mí Poncho đắp
lên mặt đồng đội.. Tôi bật khóc thành tiếng trong hoảng
loạn đến cùng cực. Có lẽ do trạng thái xúc động
đó mà tôi lại thiếp đi.
Trực thăng tải thương đã đáp
sau khi trái màu đỏ ném lên đánh dấu bãi đáp. Phi
công không đồng ý chở xác Hải. Tôi nói với thông
dịch viên là cố gắng xin giùm, người chết là em của tôi,
đứa em thất lạc mới nhìn nhau được trong chuyến hành quân
nầy.
.
Anh thông dịch
viên đến nói gì đó với ông phi công người Mỹ,
rồi trở lại bảo: “Giở mí poncho che mặt ra, tôi nói với
nó là bị “Whichky đậm”. Và Hải với tôi được
đưa lên chiếc trực thăng tải thương cánh quạt đang quay
vùn vụt, không khí cuộn vòng khiến những bụi rậm xung quanh
ngã rạp xuống. Máy bay cất cánh lên, nhắm hướng Đông
bay thẳng. Tôi nhìn từ trên cao xuống, những ô vuông của ruộng,
những vệt xanh đậm của vườn cây, những đám cỏ hoang...,
tất cả vừa xa lạ, vừa thân quen. Tôi khẽ nói với chính
mình, và cũng để nói với Hải, với Hưng - đứa em bà
con cô cậu với tôi, vừa nhận nhau thì đã chia biệt đến
nghìn trùng:
- Hải ơi,
Hưng ơi... chúng mình đang ở trên cao của miền quê ngoại
yêu dấu. Chúng ta có cùng một quê hương, nhưng lại rất
xa lạ với quê hương. Rồi đây Hải sẽ về quê Sa Đéc,
đời đời nằm dưới lòng đất bên cạnh ngôi nhà
có người cha già bệnh tật đang ngày đêm mong mỏi ngóng
trông; cũng như tôi, sẽ về với thành phố Cần Thơ nhà
xe nhộn nhịp... Cả hai chúng ta đã chọn lấy cho mình một quê
hương mới, mà tôi cho đó là miền trú ngụ. Đúng
rồi Hưng ơi, chúng ta đang từ bỏ quê hương yêu dấu để
về miền trú ngụ cho cuộc đời... Và, vết thương đã
hành tôi đến nhức buốt. Tôi nhắm nghiền đôi mắt để
tránh những hình ảnh cứ liên tục hiện lên phía bên dưới
chiếc trực thăng, mà tôi đã cảm nhận qua khung cửa gió
lùa.
Trong cơn mơ
chập chờn tôi thấy Hải. Hải bây giờ là Hưng, Lê Thế
Hưng, đang tươi cười cầm tờ giấy phép do tôi nhận từ
Trung sĩ Đô, Hạ sĩ quan quân số, trao cho Hải nghỉ phép thường
niên. Hải với vẻ mặt hân hoan, chạy về thay đồ chỉnh tề
và ra chào tôi để kịp đón ghe quá giang ra chợ và về
thăm quê hương Sa Đéc. Bóng Hải nhập nhoà sau đó một
lúc. Tôi lại thấy Hải rạng rỡ nắm tay cô gái trông thật
hiền thục. Tôi đoán có lẽ đó là Trần Thanh Yến,
người yêu của nó. Hải không mặc quân phục, mà toàn
thân khoác lên một bộ complet xám thắt cravate chỉnh tề. Hình
như Hải chuẩn bị cho ngày cưới của mình? Tôi lại thấy
cậu Bảy Đông, mái tóc của cậu đã bạc trắng, dù
bây giờ chưa quá tuổi sáu mươi. Trông cậu già hẳn
đi, nếu như khuôn mặt của cậu không giống với khuôn mặt
của má tôi thì khó mà nhìn ra. Ngày xưa, ai cũng nói
má tôi và cậu Bảy Đông có hai khuôn mặt giống nhau như
đúc, đúng là chị em một mẹ sinh ra. Bà ngoại tôi rất
hài lòng về hai người con giống nhau như hai giọt nước nầy.
Cậu Bảy đã nắm tay tôi mừng rỡ, nói rằng, thằng Hưng
có mộng làm giáo sư, nó thích đi dạy học, cậu cố
lo cho nó ăn học đến nơi đến chốn, nhưng số người
do trời định. Nó đã thi rớt Tú Tài Đôi, phải tìm
nghề khác... Nó không muốn vào lính. Tội nghiệp... Tôi lại
thấy Hưng oai vệ trong bộ quân phục sĩ quan. Có lẽ Hưng đã
vào quân chủng Nhảy dù nên bộ quân phục màu bông rằn
và đội chiếc mũ nồi đỏ. Hưng đã vẫy tay chào tôi
khi cô gái từ xa đến kéo tay nó lôi đi. Tôi vụt kêu
Hưng, Hưng...
Tôi mở choàng
mắt. Mồ hôi rịn ra ướt trán. Trực thăng đã hạ cánh,
tôi đoán có lẽ tại sân vận động Cần Thơ. Tiếng
hú của còi xe Hồng Thập Tự rít lên. Tôi chợt quay nhìn
lần cuối dáng người nằm bất động kế bên. Lòng nói
thầm: “Hải ơi, Hưng ơi... cầu mong cho em về miền trú ngụ
sớm được an bình trong cõi đời miên viễn. Anh lúc nào
cũng thương nhớ về em, một đứa em luôn gặp điều bất
hạnh trong cõi đời nầy”.
.
Cần Thơ tháng 9-1971Houston, tháng 7-1996
LÊ CẦN THƠ
(truyện đã in
trong tạp chí KHƠI DÒNG số 2 năm 1971 do Văn Nghệ VỀ NGUỒN ấn
hành và đã diễn đọc trong chương
trình Thi Văn VỀ NGUỒN trên đài phát thanh Cần Thơ năm 1973)
.
thơ
THÁNG NHỚ NGÀY QUÊN.
..
Lính
trận ngày đêm nhớ rất nhiều
Làm sao kể hết
nỗi thương yêu
Cho nhau bằng cả niềm chung thủy
Dệt mãi chưa phai nét diễm kiều..
.
.
Từ đó
ngày hai buổi đợi chờ
Biết rằng em khổ với
con thơ
Viết thư không dám buông lời trách
Mà nhắc tình con, tuổi dại khờ !.
.
Hạnh phúc tìm đâu ánh rạng ngời
Những
chiều thơ dại chợt về ngôi
Tiếc thương
số kiếp chưa tròn mộng
Từng gót giày saut dệt
tuổi đời..
.
Nhung nhớ
vơi đầy theo tháng năm
Người ơi tình cũng
ngỡ xa xăm
Anh nghe tiềm thức mờ nhân ảnh
Bi khúc sầu thương một kiếp tằm..
.
Đã hẹn... Thôi đừng
trách nữa em
Năm tròn tháng lụn chất cao thêm
Ba
mươi ngày nhớ làm sao hết
Chỉ một lần
thôi cũng rũ mềm..
.
Một
tháng, một ngày nhắc nhở nhau
Thoáng nghe như
một giấc chiêm bao
Thương anh tuổi mộng vào chinh chiến
Là giấu tình trong mảnh chiến bào..
.
Thép súng bây giờ
thay dáng con
Ba lô - em, trĩu nặng tình son
Hỡi
em tháng nhớ ngày quên ấy
Nuối tiếc mà chi để
mỏi mòn.
..
Từ độ dâng đời
cho núi sông
Niềm tin xin giữ lại bên lòng
Anh
đi đội nắng miền hoang dã
Gởi
luyến thương theo thuốc đạn đồng...!.
.
Đồn Mỹ Lợi B - Lái Hiếu (Phụng Hiệp)
tháng Giêng 1971 .
HUYỀN
VÂN THANH