TẤM THẢM
truyện
ngắn
LÊ CẦN THƠ
(Houston, Texas, Hoa Kỳ)
Cây bằng lăng phía ngoài cổng
rào trổ bông tim tím. Màu tím bằng lăng nhàn nhạt như
màu tím bông lục bình, gợi trong lòng người một niềm
dạt dào khó tả. Ðám học trò nhỏ tụ nhau thách đố
trèo lên bẻ hết một chùm bông bằng lăng thì thầy Vinh
bắt gặp, chúng hè nhau bỏ chạy. Thầy Vinh nhìn theo lắc đầu.
Buổi trưa đứng gió.
Không khí như gay gắt hẳn lên. Ngôi nhà gạch, mái lợp
tôn, nằm cách hàng rào hơn mười lăm mét sân trống,
đặt mấy chậu cây kiểng, không tạo ra một chút bóng mát
nào. Cánh cửa mở rộng để lộ nền gạch bông xanh trắng
sạch bóng. Tấm thảm chùi chân bằng xơ dừa hình chữ nhật
có viền đỏ sậm chạy như hoa văn đặt ngay ngạch cửa, khi
bước chân vào nhà ai cũng phải giẫm chân lên tấm thảm
nầy.
Sống trong
gia đình thật êm ấm, bình lặng, thầy Vinh tìm được
niềm an ủi trong tuổi già. Công việc hàng ngày của thầy: Sáng
và chiều tưới mấy chậu cây kiểng trước sân nhà, sau
khi uống ly cà phê đen ngoài quán, thầy vào lau nền gạch bông.
Hôm nào trời nắng tốt, thầy đem tấm thảm ra xối nước
chà rửa rồi đem phơi trước sân. Nhiều lúc Hiền bảo:
"Ba để chiều con lau, đừng làm
quần quật như vậy, rủi bệnh hoạn thì khổ thân!”. Thầy cho là lời nói chí tình, nhưng thầy cũng
vẫn làm, vì đây là công việc nhẹ nhàng, vừa vận
động cơ thể, vừa đỡ cho con dâu sau một ngày mệt nhọc
ở tiệm may, còn phải đi chợ mua thức ăn về lo cơm nước
cho gia đình. Lúc mấy đứa nhỏ đi học chưa về, có khi
thầy còn tiếp con dâu nhóm bếp nấu nước để khi Hiền
vo gạo xong là có sẵn bếp lửa nấu cơm. Trong nhà chưa khi nào
có điều tiếng gì để bên ngoài có thể nghe biết.
Út Quang rất thương cha, dù công việc có nhiều vất vả,
nhưng lúc nào anh cũng nhớ và lo lắng sức khoẻ của cha. Anh mua
thuốc bổ, mua trà ngon, mua những thứ gì thầy Vinh ưa thích. Anh cũng
thường nhắc Hiền cố gắng đi chợ tìm mua thức ăn ngon, nấu
nướng cho vừa miệng cha... Hiền cũng đã quen tính của chồng
và cùng chồng lo cho cha thật chu đáo. Buổi tối, Út Quang thường
dành chút thời gian đọc báo, và anh luôn luôn dừng lại
ở các mục cáo phó, chia buồn. Những người lớn tuổi cứ
thay nhau từ bỏ cháu con, khiến Út Quang chạnh lòng nghĩ về cha -
về thầy Vinh!
Bé Hậu, con trai út của
vợ chồng Quang mới sáu tuổi, mỗi khi đi học về là quấn
quít bên ông Nội. Chính thằng bé đã mang lại cho thầy
vinh tình thương yêu sâu đậm nhứt. Thầy đã sống bên
sự thơ ngây, dễ dạy, và đôi lúc như đã tìm thấy
lại quãng đời thơ trẻ của mình. "Nội dặn con hoài. Tấm thảm để lau chân, vậy mà con
cứ đem ra ngoài sân đất lót ngồi, dơ bẩn...”. Bé Hậu cười rồi mang trả vào chỗ cũ.
Trưa nay, cả nhà đang ngủ,
thầy Vinh mở cửa ra hiên, thấy mấy đứa học trò trèo bẻ
bông bằng lăng, thầy lên tiếng rầy, chúng nó bỏ chạy. Thầy
chợt nghĩ, không biết bé Hậu có khi nào cùng lũ bạn chơi
trò "khỉ khọt" đó ở một nơi nào khác không?
Cứ như thời trai trẻ, chính thầy cũng có những trò chơi
tương tự. Nhưng ở cái tuổi thơ trẻ của thầy, mọi sinh
hoạt đã hoàn toàn khác xa bây giờ. Thầy sống trong đồng
ruộng, trò chơi có khi là hái trộm trái mận, lấy đất
ném xoài, hoặc dùng nạng giàn thun để bắn lén những
chùm trái cóc trên cành cao, bị chủ nhà đuổi chạy...;
có khi nhào nặn đất sét để làm chim cu, chim tu hú, phơi
khô, cạo gọt sạch bóng rồi thổi om sòm, khiến người lớn
chịu không được phải rầy la...
- Ông ơi, cho cháu xin một chùm bông
nầy đi.
Thầy Vinh
đứng lên, bước lại cổng rào. Mấy đứa học trò
vẫn chưa chịu về, lục tục kéo lại để xin cho được
bông bằng lăng.
- Mấy cháu bẻ bông
nầy để làm gì?
- Dạ, bẻ về chơi nhà
chòi. Tụi cháu thích màu bông nầy lắm.
- Cứ để nó trên
cây cho lâu tàn, bẻ xuống một hai buổi là héo đi, uổng
lắm. Nếu thích, mỗi ngày các cháu cứ đến ngồi ngắm
cho vui, không được sao? Ông cũng thích ngồi ngắm bông bằng
lăng nầy lắm...
Một đứa
bé nói chuyện rất lễ phép. Mấy đứa kia im lặng nghe. Có
một bé khác, tóc tai rối bù, đứng ở xa nói vọng lại:
"Không cho cũng bẻ" . "Tao thách
mầy!". Ðứa bé trai ra vẻ ngăn không
cho bạn mình làm bậy. Thầy Vinh lặng lẽ quay vào. Trong số học
trò có cháu ngoan ngoãn dễ dạy, cũng có cháu ngỗ nghịch
cần phải được cận kề uốn nắn khuyên răn. Những ngày
còn đứng trên bục giảng, thầy Vinh đã gần gũi với thế
giới tuổi thơ. Hết lớp nầy đến lớp khác, biết bao thế
hệ đã qua, và thầy Vinh vững vàng với thiên chức của một
người thầy đối với đám học sinh thân yêu. Những thế
hệ học sinh nối tiếp nhau, kẻ học nửa chừng, người theo đuổi
đến nơi đến chốn, có lúc trở lại thăm thầy, học
cũng là quân nhân, công chức, cũng là thầy cô giáo...
. Những ngày nghỉ hưu, thầy Vinh có dịp rảnh
rỗi để ôn lại bao nhiêu kỷ niệm vui buồn của nghề "gõ
đầu trẻ". Hình ảnh học trò tôn kính thầy cô lúc
nào cũng đậm đà trong tâm tưởng thầy. Khi ra đường,
học trò giở nón cúi đầu chào thầy dạy mình từ
xa hàng năm mười thước với lòng "tôn sư trọng đạo"
thật sự, là hình ảnh thật đẹp trong tình cảm con người
mà thầy Vinh cho là niềm vui bất tận cần được tôn trọng,
giữ gìn. Nhiều khi thầy gật đầu chào lại, hoặc nở nụ
cười hiền dịu với học sinh hoặc với người vừa chào
mình, mà không nhớ đã dạy họ từ bao giờ, lớp nào,
ở đâu? Cũng trong đám học trò, vẫn có một số cá
biệt ương ngạnh, khinh thường người đã dày công dạy
dỗ mình, nhiều khi ra đường chạm mặt mà không một lời
chào hỏi thầy. Khi bắt gặp hình ảnh đó, lòng thầy thoáng
chút ngậm ngùi. Dạy học trò, người thầy nào cũng muốn
đào tạo cho ra đời những công dân tốt, những người có
đạo đức, phẩm hạnh, hữu ích cho đất nước. Ai mà
không đau buồn, xốn xang khi biết được từ trong đám học
trò do mình dạy, đã ra đời làm điều bất nghĩa bất
nhân.
Nghỉ ở nhà, thầy Vinh xoay qua cách
sống khác: thầy viết báo. Nói viết báo là nói theo thói
quen chớ thực ra thầy sáng tác thơ, truyện gởi cho các báo
xuất bản ở Sài Gòn. Một hôm, thầy Vinh nhận được thư
của toà soạn, nội dung mà tới nay thầy vẫn còn nhớ mang máng:
"Bạn Thế Vinh, chúng tôi nhận được nhiều
truyện ngắn và thơ của bạn gởi đến tòa soạn. Bài
chọn đăng sẽ có trả nhuận bút. Rất tiếc không thể
đăng được vì bài chưa hợp với chủ trương của
báo. Mong bạn cố gắng và tiếp tục gởi bài mới khác về
toà soạn. Ký tên: VŨ HÒA".
Thầy Vinh biết chắc Vũ Hoà
là học trò cũ của mình. Hồi còn học, Vũ Hoà là
cây viết học sinh rất khá, xuất hiện thường xuyên trên các
đặc san, giai phẩm nhà trường. Cô Lệ Châu dạy Văn có
lần nói với thầy: "Em Vũ Hòa có khả năng,
sau nầy thế nào em cũng đi vào con đường văn chương, báo
chí”.. Thầy Vinh góp ý: "Cô cố
gắng trau giồi cho em xem sao! Biết đâu trường ta chẳng có một
cây viết tên tuổi?". Bởi không phải dạy môn Văn
nên thầy Vinh không để ý nhiều đến Vũ Hòa. Mãi sau
nầy thầy mới hay tin Vũ Hòa làm báo.
Thầy đâu ngờ, những bài viết
của thầy không đăng ở tờ báo do Vũ Hòa chủ trương,
mà lại xuất hiện rải rác ở nhiều tờ báo khác. Cũng
nội dung và câu cú như vậy, có cắt xén, thêm bớt đôi
chút, đổi tựa, cả thơ lẫn truyện và tên tác giả là
VŨ HẢI. Bởi không đọc được nhiều báo nên thầy không
để ý, đến khi nghe có cuộc trao giải thưởng truyện ngắn
của một tờ báo nọ, thầy Vinh mua về xem. Bàng hoàng khi thấy
truyện ngắn ký tên Vũ Hải trúng giải nhì với tiền thưởng
ba chục ngàn đồng! Thầy Vinh viết thư hỏi tòa soạn nhưng
không được trả lời. Có lúc bực tức, thầy muốn viết
đơn khiếu nại và kiện tác giả Vũ Hải, nhưng thầy không
có bằng cớ chứng minh mình là chủ quyền, vì bản thảo
của thầy viết tay chỉ một bản, không còn lưu lại ở nhà.
Thầy buồn chán và bỏ viết. Thầy Vinh chợt nghe cay đắng trong
lòng: "Không lẽ, chuỗi ngày làm thầy, mình
giống như tấm thảm trải đường; bước sang lãnh vực sáng
tác, người ta cũng xem mình như tấm thảm hay sao?”
Gió từ sông Hậu thổi
qua giữa trưa, mang hơi mát dịu trong nắng chói chang. Cành cây bằng
lăng lay động, mấy chùm hoa tím lung linh. Thầy Vinh ngồi trên tấm
thảm, dựa lưng vào cửa sổ, đưa mắt nhìn ra ngoài. Út
Quang thức dậy từ lúc nào, khi dẫn xe đạp từ lối đi bên
hông nhà sau ra cổng, thầy Vinh mới hay. "Tới giờ
rồi hả con?". "Dạ, sao ba không ngủ trưa một chút cho khoẻ
? Ba nhớ khóa cổng lại. Dòm chừng tụi nhỏ trèo bẻ bông
bằng lăng!”. Thầy Vinh gật gù bước theo Út Quang, vói
tay gài cổng. "Trưa nóng hầm quá ba ngủ không
được. Hồi nảy mấy đứa nhỏ bẻ bông, ba rầy, tụi
nó bỏ chạy...”. Quang lên xe đạp, nói vọng lại rất
khẽ: "Tụi nhỏ nầy khỉ khọt quá!”.
Thầy Vinh chợt mỉm cười khi nghe thằng con trai út của mình cũng
dùng tiếng "khỉ khọt" mà nghe lòng vui vui...
Bé Hậu ra ngồi trên góc
thảm cạnh ông Nội. "Nội ơi, con mới ngủ
xong nè!”. "Giỏi lắm!”. Thầy Vinh một tay ôm cháu,
một tay vân vê tấm thảm xơ dừa. Thấy vậy, bé Hậu hỏi:
"Ông Nội ơi, người ta làm tấm thảm để
chi vậy?”. "Ðể lau chân khi bước vô nhà cho khỏi dơ”.
"Sao có lần ba dẫn con vào xin giấy tờ ở một cơ quan nọ,
con thấy họ treo lên tường?”. "Bậy nào ! Thảm để lót
chân, ai mà treo tường bao giờ?”. "Thiệt mà”. Thầy
Vinh vẫn còn ngờ ngợ sau câu khẳng định của bé hậu. Có
thể cháu lầm tranh treo tường với tấm thảm? Có ai lại trang trí
lên tường cơ quan bằng những tấm thảm xơ dừa như vậy?
Thầy Vinh giải thích ý trên, nhưng cháu cứ khăng khăng: "Thảm bằng xơ dừa thiệt mà! Treo mấy tấm lận!”.
Thầy Vinh thoáng nghĩ, có lẽ bé Hậu nói
đúng. Thời buổi nầy, trình độ nhận thức của một số
trưởng cơ quan hạn chế lắm, họ lại thích làm chuyện lạ
đời để cho thấy cái riêng biệt, nổi bật trước mọi
người, dù đó là điều hợm hĩnh cũng được! Nhưng
thầy không cho cháu mình biết được ý nghĩ
đó, vội vò đầu cháu: "Ðừng nghĩ
như vậy!”.
Thầy Vinh
chợt loé lên ý nghĩ: “Tấm thảm dùng để
lót chân, lót đường cho mọi người đi. Ai muốn bàn chân
mình sạch sẽ đều phải dẫm lên và bước qua tấm thảm
xơ dừa. Con người muốn đi lên trong cuộc sống, có nên bước
qua bạn bè, thầy cô, bước qua đồng nghiệp, anh em... như thản
nhiên bước qua tấm thảm đặt trước mỗi ngạch cửa nhà?”.
Thầy Vinh khẽ thở dài. Cánh bằng lăng tím vẫn lung linh trong
gió một cách tự nhiên, chúng không thể nào hiểu được
sự ra đời của chúng vừa làm đẹp mắt mọi người,
cũng vừa tạo cho tuổi thơ những ham thích đến nỗi có thể
bất chấp đến lẽ phải, làm điều sai quấy... Chợt nhiên
thầy se lòng. "Phải chi lúc nãy cứ cho tụi nhỏ
bẻ mấy cái bông, giữ lại làm chi, rồi nó cũng tàn héo?
Bởi trong cuộc sống nầy có gì bền vững đâu?"
Với riêng
mình, thầy Vinh tự cảm thấy, đã bảy mươi lăm tuổi đời,
mình chỉ là tấm thảm cho một số người thản nhiên bước
qua. Thật sự họ đã ung dung bước qua.
.
Cần Thơ 15 tháng 10 năm 1985
.LÊ CẦN THƠ
(Trong tập TRÔI NGANG PHẬN MÌNH,
chưa xuất bản)