NÉT
ĐẸP TẾT XƯA
Căn cứ vào
từ nguyên hai từ nguyên đán (buổi sớm đầu tiên) rõ
ràng ý nghĩa ngày Tết cổ truyền theo ông cha ta, trước hết
nằm ở yếu tố thời gian. Thật vậy, Tết là một mốc thời
gian vô cùng quan trọng, nằm giữa tiết đông chí và tiết
xuân phân. Đây cũng là một khoảng thời gian thảnh thơi của
nhà nông: kết thúc một vòng quay canh tác theo lối một vụ
xưa, chờ bắt đầu một vụ mùa mới. Sau một chu kỳ vận
hành để tính tuổi muôn loài và giúp con người nhìn
lại mình giữa vô vàn những sinh linh vũ trụ khác, trời đất
như chậm lại một nhịp, trước khi bước vào điểm xuất
phát, trong dòng thời gian dằng dặc, tưởng chừng vô thủy vô
chung. Theo quan niệm vạn vật đồng nhất thể xưa, chính trong thời
khắc thiêng liêng âm dương giao hòa nầy, con người có thể
cộng cảm với thiên nhiên, nghe từng hơi xuân len vào mạch đời
và cảm ứng được với tổ tiên, những người đã
khuất.
Việc
ăn Tết do vậy, không chỉ phản ánh mối tương quan xã hội,
giữa những người còn sống với nhau, mà còn là một bổn
phận của con cháu đối với ông bà khuất mặt.
Thông thường bà con ở miệt vườn miền Tây xưa chuẩn bị
rất sớm và cân đối hài hòa được phần lễ và
phần hội, như một nét văn hóa rất riêng về ngày Tết
cổ truyền.
Tết
nguyên đán là hội đầu xuân, nên phần hội tức là
phần ăn uống và bày những trò vui chơi Tết được bà
con ta chuẫn bị khá cẩn thận và nhiệt tình. Mới khoảng đầu
tháng chạp các bà các cô đã lo ép chuối phơi khô
ngào đường để dành. Vài hôm sau trong xóm đã lai
rai có người quết bánh phồng bánh tráng. Bánh phồng thì
nhà nào nhà nấy tự quết vài ba ổ, nhưng bánh tráng
thì phải dạên trước chủ lò. Số bánh làm ra rất
nhiều, đôi khi tính hàng trăm hàng thiên, vì không phải
chỉ để nhà ăn, mà còn để làm quà biếu. Những
nhà khá giả còn làm thêm bánh in, mứt gừng, mứt bí
để vừa đãi khách, vừa khoe tài khéo của các nữ
chủ nhân. Con heo nào cận Tết có thể chia thịt được, bầy
gà nào vừa vặn cúng mồng ba đã nhắm sẵn. Sau đó
là làm dưa đầu heo, dưa cải, dưa kiệu để Tết khách
đến có cái mà nhâm nhi. Đồ ăn lủ khủ vậy, nhưng
khi chợ Tết đã bắt đầu đông, người ta còn mua thêm
thèo lèo, chà là, bánh mứt ngoài chợ và một vài
chai rượu. “Tết nhứt mà! Phải có cái để sắp nhỏ
dằn bụng đi chơi với người ta. Mình chật vật cả năm cũng
phải thong thả đôi chút trong ba ngày Tết”. Các ông chủ
thường an ủi bà vợ bằng những câu đại loại như vậy,
mỗi khi các bà tiếc của càm ràm. Ngày tư ngày Tết nếu
trong nhà có ai lỡ vui quá chén, hoặc thua cuộc đỏ đen chút
ít (như thua độ gà, bầu cua cá cọp) cũng được châm
chước, giảm nhẹ.
Phần
lễ tức là những nghi thức cúng kiến trong dịp Tết của những
người vừa đặt chân lên vùng đất mới nầy, tuy không
cầu kỳ nhưng cũng trang nghiêm đủ đi vào chiều
sâu tâm linh. Người miệt vườn miền Tây cũng đưa
ông Táo theo truyền thống mà không đi kèm theo ngựa, cá chép.
Họ cũng dán ở cửa một xấp bùa nêu như cổ lệ, nhưng
không tin tưởng xấp bùa kia có tác dụng “trừ tà”.
Họ cũng tự thân về phủi mộ tổ tiên vào những ngày
cuối năm, nhưng chủ yếu là để nêu tấm gương “uống
nước nhớ nguồn” cho con, cho cháu. Mâm cơm rước ông bà
chiều ba mươi cũng trang nghiêm và cảm động, nhưng rõ ràng
mang ý nghĩa sum họp giữa những người còn sống nhiều hơn.
Đêm giao thừa người ta cũng bày một mâm lễ ngoài sân,
quần áo chỉnh tề, thành kính tiễn một năm cũ đã qua
và mừng một năm mới với nhiều ước vọng. Lễ cúng mồng
ba Tết còn gọi là cúng Tất, với ngụ ý là ba ngày Tết
đã qua. Thế nhưng năm nào cũng vậy, nhìn cái vẻ mãn
nguyện (có lẽ do con cháu về đông đủ) pha chút tâm thành,
nghiêm cẩn của ba má tôi bên bàn thờ tổ tiên trong mâm
cơm rước ông bà, tôi cũng rưng rưng cảm động.
Trên bàn thờ, cạnh
bộ lư sáng choang là một cành mai (may mắn) và mâm ngũ quả
đầy ú hụ được gởi gắm những điều ước thật
giản dị: cầu, vừa (dừa), đủ ( đu đủ), xài (xoài). Từ
bao nhiêu cái Tết rồi, bà con mình vẫn gói ghém những ước
mơ giản dị đó. Họ không mong mỏi những điều quá tầm
tay như : ngũ phúc lâm môn (năm cái phước vào nhà) hoặc
kim ngọc mãn đường ( vàng ngọc đầy nhà) vay mượn
của người Trung Quốc. Đối với họ gặp nhau ngày Tết chúc
nhau sống lâu, mạnh khỏe là đã quá đủ rồi.
Để thực hiện phần lễ
và phần hội long trọng hơn, những ngày cận Tết mọi
người đều phải tự làm mới mình. Trẻ em được người
lớn nhắc đi hớt tóc, còn các các bà các cô cũng
lo o bế lại mái đầu. Ngày cuối năm ai nấy đều tranh thủ
tắm gội bằng nước thơm cho sạch sẽ, như một cách dọn
mình đón Tết. Người ta cũng nhân cơ hội nầy rà soát
lại cuốn sổ bình sinh trong năm. Năm rồi còn mượn ai món
gì chưa trả không, hoặc chỗ ân nghĩa nào dịp Tết nầy
cần phải có quà biếu. Ngày thường còn qua loa được,
nhưng ngày tư ngày Tết những nơi thân tình nên qua laiï thăm
hỏi nhau. Trẻ con dịp Tết phải theo người lớn đi mừng tuổi
họ hàng và người lớn thường tặng phong bao lấy hên (lì
xì) cho con cháu. Người ta cẩn trọng lời ăn tiếng nói để
giữ gìn hòa khí và kiêng cữ những điều xúi quẫy
cho năm mới được hanh thông.
Ngày nay, dưới tác động của nền kinh tế
thị trường, đời sống của một bộ phận thị dân khấm
khá lên, có người quan niệm Tết chỉ là một dịp để
nghỉ ngơi và ăn chơi thỏa thích. Phần hội được đặc
biệt chú trọng, trong khi phần lễ hết sức lơ là,
nên ngày Tết cổ truyền mất dần ý nghĩa. Cũng may, đại
bộ phận bà con ở vùng ven vẫn hài hòa được phần
hội và phần lễ, bảo tồn được cái hồn của dân
tộc, thông qua những nét đẹp từ bao đời về ngày Tết
của chúng ta.
.
PHƯƠNG HUY
Cần
Thơ