|
 |
| |
TRUYỆN
trần bang
thạch _____________________________________________________
TƯỢNG PHẬT 
Khi người học trò cũ từ quê nhà trở lại
Houston trao cho tôi một bao thơ, trong có lá thơ thật dài của em gái
tôi và một tượng Phật Bà Quan Thế Âm, tôi thấy mình
choáng váng, muốn ngã quị. Đó là ngày gia đình chúng
tôi làm cái thất thứ hai cho má tôi, tức là mười bốn
ngày sau khi má tôi mất. Từ ngàn trùng tôi đã âm thầm
khóc và cầu nguyện cho vong linh má tôi được sớm về cõi
phúc. Bất ngờ nhận được tượng Phật, tôi nghĩ ngay rằng
má tôi chưa đi đâu hết mà đang đến với tôi. Má
muốn đem tượng Phật, đem cái may mắn đến cho tôi dù
má đã xa đời. Trời ơi, người con bất hiếu là tôi
đang biền biệt phương nào trong những giờ phút cuối đời
của má, để vong linh má phải đi tìm tới tận nơi nầy.
Còn nhớ hồi năm 2000 chúng tôi về thăm má tại quê nhà,
má đã lẫn nặng, lúc nhớ lúc quên, nói năng khó
khăn, thiếu đầu thiếu đuôi. Nhưng có một câu mà má
tôi cứ hỏi tôi hoài: “Không biết đến lúc má già
con có về được không?”. Mỗi lần nghe câu hỏi đó
tôi đã vuốt đôi vai gầy của má, thế cho câu trả lời,
vì nghĩ rằng xa xôi quá chỉ sợ về không kịp. Quả thật
là không kịp. Má tôi ngã bịnh nhanh quá, ra đi nhanh quá và
chôn cất cũng nhanh trước khi một năm mới sắp đến. Cũng
là lỗi của tôi, cứ nghĩ má còn ở với con cháu lâu
hơn nữa, cứ nghĩ vài tuần lễ nữa sẽ về, như lịch trình
đã xin phép ở sở làm, chắc còn kịp. Tôi đã không
về kịp thì hôm nay, qua tượng Phật, má tôi đã đến
với tôi. Má bao dung của tôi chắc không trách, nhưng tôi thấy
cái lỗi của mình quá nặng. Trên mười trang
giấy đầy chữ em gái tôi kể lể từng chi tiết một kể
từ ngày má trở bịnh cho đến giờ má nhắm mắt. Dòng
cuối, em tôi viết: “Đúng 8 giờ 15 tối ngày 28 Tết má đã
bỏ anh em mình mà ra đi!”. Tôi biết em gái tôi đã không
cầm được nước mắt khi viết câu nầy nên bức thư phải
chấm dứt ở đó, cũng như nước mắt tôi chảy nhiều
hơn mỗi lần tôi đọc câu ấy. Từ nhỏ cho tới
giờ em gái tôi chưa hề sống xa mẹ, cho nên bên nầy tôi buồn
một thì bên kia em gái tôi phải buồn mười. Mỗi lần nói
chuyện với tôi trên điện thoại, em tôi chỉ khóc và khóc.
Trên một tờ giấy nhỏ khác em tôi cho hay đã tìm thấy trong
mớ tập vở cũ của tôi cái tượng Phật đã được
để trong bao thơ với tên người nhận là tôi, nên em gởi
sang cho tôi. Bị run tay và mất trí nhớ từ vài năm nay, má
tôi chắc phải khó khăn lắm mới nhớ được và viết
ra được tên tôi với nét chữ ngoằn ngoèo và dán thơ
bằng cơm nguội. Chút cơm nguội khô còn dính trên bao thơ
cho biết lá thơ nầy má dán không bao lâu trước ngày má
mất. Má tôi trí óc đã lú lẫn mà ở những ngày
cuối đời vẫn còn nhớ tới đứa con ở xa. Còn đứa
con xa xôi nầy có bao nhiêu lần tưởng nghĩ tới má? Áp tượng
Phật vào tim mình, tôi nghe hơi ấm của má. Tôi chợt hiểu
rằng vĩnh viễn người mẹ luôn ấp ủ con cái của mình
dù mẹ có đi tới đâu, dù con đang ở một chân trời
góc biển nào. Và tôi cũng chợt nhớ rằng đã từ thật
lâu tôi đã quên hết những cử chỉ, lời nói thương
yêu đối với má. Bây giờ cầm tượng Phật trên tay, tôi
như đang thấy má, muốn nói “má ơi con thương má”
thì còn má đâu để mà nghe! Tượng
Phật Bà Quan Thế Âm bằng đồng chỉ nhỏ bằng ngón tay út
nhưng đối với má tôi nó trọng đại vô cùng. Tượng
đã ở trên cổ má từ những ngày má mới chào đời.
Má là đứa em gái út của 8 anh trai. Bà ngoại sanh má khi
ngoại đã 49 tuổi, sau 12 năm ngưng sanh nở và sau bao nhiêu lần
vào ra các chùa chiền, lăng miễu xin phật trời ban cho một đứa
con gái. Má thuật lại chuyện bà ngoại cùng với hai người
hầu gái một buổi chiều chạng vạng ghé cái miễu hoang nằm
bên bờ rạch nhỏ của con sông Kế Sách, sau khi cắm 3 nén nhang
vào kẻ hỡ ba cục đá trong miễu, ngoại thấy một vật sáng
trước mặt, ngoại cầm lên coi thì thấy đó là tượng
Phật Bà Quan Thế Âm nhỏ xíu. Hai người hầu gái trước
đó cũng làm như ngoại nhưng họ không thấy một đóm
sáng nào. Những miễu trong thôn ấp thường được dựng
lên sơ sài để thờ mấy cục đá coi như là thổ địa.
Nhưng miễu nầy lại có tượng Phật là điều lạ, ngoại
không dám lấy về dù trong thâm tâm rất muốn. Đêm đó
về nhà ngoại nằm mơ thấy có con bướm vàng bay vào bụng
ngoại rồi bay lộn trở ra. Ba đêm liên tiếp như vậy. Chuyện
ấy rồi cũng qua đi cho tới ba tháng sau thì mọi người bỗng
nhớ lại cái tượng Phật và con bướm vàng khi ngoại thổ
huyết nặng, ngoại ọc ra từng bụm máu tươi. Ông ngoại nghĩ
tới tượng Phật và cái bào thai không thành nên khuyên
mọi người nên trở lại cái miễu hoang ở Kế Sách để
cầu nguyện. Sau khi cắm 3 nén nhang vào kẻ hỡ 3 cục đá như
lần trước, bà ngoại và những người tháp tùng chờ
một nguồn sáng từ đâu đó trong miễu. Không có một
vệt sáng nào hết. Chờ một hồi lâu cũng không có gì
mọi người phải rời khỏi miễu vì đã quá khuya. Khi mọi
người đã an vị trong khoang ghe bầu thì ông ngoại mới nhớ
là đã để quên cây dù dưới gốc cây mù u bên
miễu. Đi chưa tới gốc mù u thì ông ngoại đã thấy một
đóm sáng thật nhỏ ở đoạn đường ngắn chừng xảy
tay giữa gốc mù u và cái miễu. Tưởng là con đom đóm,
thoạt đầu ông ngoại không chú ý; khi đến thật gần,
đóm sáng vẫn còn, nhìn kỹ thì đó là tượng
Phật Bà. Ông ngoại trở lại ghe kêu bà ngoại trở lên bờ
thỉnh cái tượng Phật. Bà ngoại không muốn lấy, ông ngoại
bảo đó là vật trời phật cho mình, không lấy thì ban ngày
ban mặt người trong làng cũng thấy và họ sẽ lấy thôi. Đem
về nhà, ngoại đeo tượng Phật vào cổ. Ba tháng sau thì
ngoại có mang. Đúng 10 tháng 10 ngày sau thì má mới ra đời.
Ngoại nói má là đứa con cầu tự. Ngoài cái tên cúng
cơm, ông ngoại còn gọi con gái là Trích Tiên, nàng tiên
bị đọa xuống dương trần để làm con nhà họ Lê của
ngoại. Về sau tôi cứ nghĩ cái tên Trích Tiên này đã
vận vào má suốt đời để má trở thành nàng tiên
mắc đọa quanh năm sầu khổ. Từ ngày có đứa con gái
út, ông ngoại tôi không còn cái tật rượu chè, trai gái.
Trong hai năm liền, ngoại tôi miễn hẳn việc thâu lúa ruộng của
cả mấy chục tá điền ở rải rác khắp vùng đồng
ruộng ở Bãi Xàu, Kế Sách, Vũng Thơm... thuộc tỉnh
Sóc Trăng. Còn bà ngoại thì đi khắp chùa chiền đình
miếu đem tiền bạc thóc gạo bố thí. Má tôi trở thành
con gái rượu của ông ngoại, được cưng chiều như trứng
mỏng, tối ngày không ngồi trên lưng ngoại thì cũng cỡi trên
vai 8 ông anh. Lúc bốn tuổi má tôi đã ngồi ghe bầu hay ngồi
ngựa với ông ngoại đi thăm các sở ruộng mênh mông. Ngoài
chuyện làng nước, tối ngày ông ngoại lẩn quẩn ở nhà
chơi với con gái. Lúc má tôi được hơn 5 tuổi thì bà
ngoại tôi trở bịnh nặng rồi mất. Ông ngoại tôi buồn bã
trở lại rượu chè và mất sau đó không lâu. Trước
khi mất ông ngoại tôi nhờ vợ chồng người bạn đồng liêu
làm hương chủ ở Cần Thơ đem má tôi về làm con nuôi.
Đi đưa má tôi về làm con nhà họ Nguyễn có bầu đoàn
thê tử của cả 8 ông anh ngồi chật cả chiếc ghe chài mấy
trăm giạ có mui và có giàn hát máy hát suốt đoạn
đường sông. Đi kèm theo ghe lớn còn có hàng chục ghe nhỏ
của những tá điền, làm rộn rã những khúc sông đoàn
ghe đi qua. Má tôi được đưa về làng Thường Đông,
cách quận Cái Răng hơn một giờ chèo ghe cùng với bốn cái
rương gỗ to cẩn xa cừ và tượng Phật Bà trên cổ. Hôm
đó ông bà ngoại nuôi mở đại tiệc mừng có đứa
con gái nuôi. Gian nhà khách to lớn cùng cái rạp che lá dừa
trên sân phơi lúa rộng hàng trăm chiếc đệm chật ních
người, có cả quan cai tổng và quan bố chánh về dự. Đờn
ca hát xướng 2 đêm 3 ngày liền. Một con lân trắng, một con
lân đen và bốn ông địa thay nhau múa suốt buổi. Trống lân
vang dội tới cuối làng. Xác pháo đỏ ngập sân. Sau nầy
má nói tuy mới 6 tuổi nhưng hôm đó má buồn khóc như
mưa, mấy ông lân và mấy ông địa làm đủ trò cho
má cười, nhưng má chỉ có khóc, má chỉ muốn theo các
ông anh trở về nhà cũ. Trước đó hai năm, Cậu Hai tôi
cũng được đem về làm con nuôi từ một gia đình ở
Cái Côn vì ông bà ngoại nuôi tôi có nhiều ruộng đất
mà không có mụn con nào. Sau đó cũng nhờ có cậu Hai lúc
nào cũng chơi đùa bầu bạn nên má cũng nguôi ngoai. Rồi
má cùng cậu Hai đi học trường làng rồi trường quận.
Khi cậu Hai đi học ở chợ Cần Thơ thì má ở nhà để
ngoại dạy công dung ngôn hạnh, chờ đến khi lấy chồng. Má
nói má bớt cô đơn cũng nhờ cái tượng Phật, má
như thấy mẹ ruột lúc nào cũng ở bên cạnh mình, vỗ
về, an ủi. Má nói đó là vị thần hộ mạng của má.
Còn tôi thì từ ngày còn nhỏ đã coi tượng Phật chính
là má tôi. Tôi nhớ khi đã sáu bảy tuổi rồi mà
tôi vẫn thích nằm trong lòng má, tay mân mê tượng Phật
má lúc nào cũng đeo trên cổ, gọi má là Phật Bà.
Má tôi thì gọi tôi là Na Tra bởi lúc nhỏ tôi là thằng
bé mũm mĩm, đầu chừa ba vá cho tới khi biết mắc cỡ khi tắm
sông ở truồng. Năm tôi lên chín tuổi thì ba tôi có vợ
hai. Vào một ngày mưa giông tầm tã, sau lần nói chuyện với
ba tôi mà trong đó má tôi khóc nhiều hơn là nói, má
tôi rời nhà chồng ở Xẽo Môn cùng với hai anh em tôi, đem
theo mấy bộ đồ và món nữ trang duy nhứt là cái tượng
Phật Bà. Trước khi rời nhà chồng, má tôi bắt tôi cùng
với má vào nhà từ đường lạy khắp nơi có bàn
thờ, rồi lạy ông bà nội mỗi người bốn lạy coi như là
mẹ con tôi xin được ông bà tha cho tội bất hiếu, đã
không thể ở đây để thờ phụng ông bà. Tôi không
quên được con đường đất trơn trợt từ Rạch Xẽo
Môn dẫn tới chợ Bang Thạch nằm trên liên tỉnh lộ 4. Người
đàn bà yếu ớt vừa mới sanh con hơn hai tháng, từ nhỏ chỉ
biết may vá thêu thùa, bánh mứt, chưa một lần rời khỏi
đôi guốc, đôi dép; bây giờ phải bồng con nhỏ vừa khóc
vừa đi như chạy dưới mưa, chân trần bấm từng tấc đất
để khỏi bị té. Lúc bắt đầu học làm thơ hồi 14
tuổi, bài thơ đầu tiên của tôi nói về suối nước
mắt của má đã đổ xuống nhiều gấp trăm ngàn lần
nước mưa của cả bầu trời quê nội hôm đó, suối
nước mắt để khóc cho thân phận mình. Hôm ấy tuy còn
nhỏ, té lên té xuống, mà tôi đã biết dìu má và
biết nhìn tượng Phật trên cổ má khấn thầm
cho trời đất thương mẹ con tôi mà chấm dứt cơn mưa để
mẹ con tôi bớt khổ. Tới quốc lộ, bên trái là về Cần
Thơ với cha mẹ nuôi, bên phải là về Sóc Trăng với các
anh ruột, má tôi cuối cùng lên xe về hướng Sóc Trăng, rồi
dừng lại nửa đường. Sau nầy tôi mới biết là má không
muốn bất cứ người thân nào của hai bên ngoại biết hoàn
cảnh gia đình bất hạnh của má, số phần của má thì
chỉ có má là người nhận chịu, nên khi xe đò Cosara ghé
trạm kiểm soát ở ngả ba An Trạch thì má bồng con xuống xe,
đón xe bò đi rẽ vào một sóc Miên cách quốc lộ vài
cây số. Vào một ngày mưa gió, với một
đứa con đỏ hỏn trên tay và một đứa lúp xúp vừa
chạy vừa té, má đã can đảm chấp nhận ngả rẽ cho duyên
phận của mình, thì từ đây con đường đời của má
cũng dẫy đầy những ngả rẽ, những khúc quanh, những ghềnh
thác mà má một đời phải chịu đựng. Khúc quanh lớn
nhứt trong đời má chắc chắn phải là việc ly hôn khi tuổi
đời chưa tới ba mươi, ở cái thời buổi xã hội coi đó
là một điều không chấp nhận được, nhứt là miệng
đời chỉ kết tội cho người đàn bà. Họ có thói
quen cho rằng người đàn ông có thể năm thê bảy thiếp,
còn gái chính chuyên thì chỉ một chồng. Trước mắt nhiều
người, thời buổi đó mà má tôi không chịu cho chồng
mình có vợ bé mới là điều kỳ cục! Nhưng khi má
tôi đã dắt con rẽ vào một sóc Miên toàn là người
xa lạ thì người đàn bà tiểu thơ bất hạnh ấy đã
có một quyết định cho đời mình. Đó là tham gia phong trào
kháng chiến đang rầm rộ nổi lên ở khắp vùng Nam bộ. Người
ta nói tới việc đuổi Pháp, việc chống xâm lăng, nói tới
tự do, độc lập, dân chủ, hòa bình, cơm ăn áo mặc;
nhứt là khẩu hiệu giải phóng người phụ nữ khỏi áp
bức, giải phóng người nông dân khỏi bóc lột bởi nạn
cường hào ác bá. Chánh trị hay chủ nghĩa nầy nọ thì
má tôi đâu có hiểu gì, nhưng má nghĩ tới mình rồi
nghĩ tới hàng ngàn những phụ nữ như má, nghĩ tới cả
trăm ngàn những thân phận đàn bà hẩm hiu trong những góc
tối gia đình phong kiến. Cách mạng đối với má chỉ đơn
giản như vậy, không dài dòng Engel Karl Marx Đệ Tứ Đệ Tam
hay Nam Tào Bắc Đẩu gì hết. Má hăm hở tham gia hội Phụ
nữ Cứu quốc vì chính cái ý nghĩa cao đẹp của các
từ ngữ này, hơn là những gì khác nằm sau lưng của nó.
Má tôi không phải là cán bộ cốt cán vì có gốc
là thành phần tiểu tư sản, nên lúc nào cũng làm phó
và cho đến ngày ngưng bắn tháng 7 năm 1954 má vẫn là dự
bị đảng viên. Má tôi không màng chuyện đó. Chánh
yếu là trong kháng chiến má tôi đã dạy hàng ngàn người
đàn bà, trẻ con, người lớn nơi các vùng sâu biết
đọc biết viết, biết địa vị con người của mình dù
phải sống dưới bất kỳ hoàn cảnh nào; đặc biệt đi
đến đâu má tôi cũng nói với người phụ nữ về
quyền bình đẳng đối với nam giới, quyền làm vợ, quyền
làm người. Má tôi không ra mặt trận, nhưng những thương
bịnh binh ở cả hai bên từ mặt trận đưa về, má tôi đều
săn sóc chu đáo. Không ai tưởng tượng được tại vùng
giải phóng ở Trà Lồng có người nữ cán bộ vừa băng
bó vết thương cho thằng Tây Ma-Rốc rạch mặt, vừa nói chuyện
với nó bằng tiếng Tây. Có những thằng Tây tù binh non choẹt
kể cho má tôi nghe nỗi nhớ mẹ, nhớ cha, nhớ nhà, nhớ người
yêu. Nó khóc, má tôi dỗ nó như đứa con nít. Mẹ
con chúng tôi theo cơ quan đi khắp khu 9 miền Tây Nam bộ. Bao nhiêu nguy
hiểm như có mặt hằng ngày với má, nhứt là khi má đi
công tác vùng ven. Một lần trốn dưới một bàu bông súng
ngay sát con lộ đám lính Tây đang ruồng bố, má tôi ngậm
tượng Phật Bà và thầm nguyện Phật Bà cứu độ. Nhiều
lần như vậy, má tôi đều thoát. Chuyện nầy khi người
nữ thủ trưởng của má tôi biết được, bà bắt má
tôi phải không được tin những điều nhảm nhí như vậy.
Còn cái tượng Phật mà má tôi đeo, theo họ, chỉ làm
mất bản chất của người cách mạng, cũng không được
đeo. Má tôi nhứt quyết không nghe. Sau đó má tôi nhiều
lần bị hạ từng công tác, cuối cùng chỉ còn nhiệm vụ
là lo cơm nước, lo nuôi heo, gà cho cơ quan. May mắn là mỗi tối
dưới ánh đèn mù u má tôi còn được dạy mấy
lớp bình dân học vụ mà đa số học viên là trẻ con
chăn trâu mướn và phụ nữ quần thô áo vá. Má nói
làm được như vậy là đã quá đủ cho cái gọi
là lý tưởng của má rồi. Rất đơn giản, má tôi
nói cách mạng là làm cho các trẻ chăn trâu ngồi trên
chính con trâu của mình và biết ê a đọc sách; là làm
cái áo cái quần của người đàn bà lành lặn để
ngước mặt mà đi tham gia việc làng việc xã. Tôi nhớ lúc
phong trào chống Bảo Đại trong vùng kháng chiến, với bức tranh
vẽ Vua Bảo Đại mắc câu, có một ông gì lớn lắm nghe
nói từ trung ương ghé qua cơ quan mở hội nghị với các cán
bộ cốt cán toàn khu Tây nam Bộ. Xong hội nghị, ông ra tận sàn
nước dưới bến sông, nơi má tôi đang rửa một đống
nồi ơ, chén bát, nói chuyện với má thật lâu, rồi bỗng
nhiên tôi thấy má quày quả bỏ đi, người đại cán
đứng ngẩn người một lúc, vỗ mạnh vào cái xắc cốt
bằng da bò láng bóng mang bên hông, rồi mới hậm hực bước
xuống xuồng chèo, rời khỏi cơ quan. Sau đó tôi có hỏi,
má nói vẫn là chuyện cái tượng Phật và những lời
đe dọa của một người có tánh lăng nhăng mèo mã gà
đồng. Má nói má ghét cay ghét đắng những người như
vậy, nhứt là những ai đụng chạm tới cái tượng Phật
của má. Cái tượng Phật nhỏ xíu như vậy
mà đã làm cho má xấc bất xang bang suốt mấy năm trong vùng
kháng chiến. Cho tới một ngày sau Hiệp Định Genève 1954
má trở về làng Thường Đông nuôi bịnh mẹ thì
tai nạn mới hết.
Những năm tháng còn sống trong
gia đình, cứ mỗi lần sắp đưa ông táo về trời là
tôi có bổn phận đánh bóng tất cả mấy bộ lư đồng,
thích nhứt là được tỉ mỉ đánh bóng tượng Phật
trên sợi dây chuyền của má. Tôi tẩn mẩn dùng bông gòn
hay sợi chỉ thấm dầu bóng lau từ những kẻ ngón tay nhỏ bằng
sợi tóc cho tới từng nếp áo, từng giọt nước cam lồ chảy
ra từ cái bình nhỏ bằng hột gạo. Mỗi khi đánh bóng xong,
tôi muốn được má khen và muốn tự mình đeo tượng
Phật vào cổ má, để thừa dịp má không để ý,
hun má một cái chụt rồi chạy mất. Còn nhớ năm đầu
vào đại học trên Sài Gòn, má tôi đeo tượng Phật
vào cổ tôi, nói là để được may mắn. Tới năm sau
thì tự nhiên tôi cảm thấy mắc cỡ với đám bạn bè
sinh viên của Sài Gòn hoa lệ, vì nghĩ rằng đàn ông con
trai mà mang dây chuyền dây cổ với cái tượng Phật sao có
vẻ quê mùa tỉnh lẻ quá, nên tôi trả về cho má. Càng
lớn, đi học xa, rồi đi làm xa, tôi càng ít nghĩ tới
tượng Phật. Tôi không nhớ là đã bao nhiêu năm tôi
không còn nghĩ tới tượng Phật nhỏ xíu ấy nữa. Hai mươi
bốn năm ở xứ người, hình như tôi đã quên phứt
cái tượng Phật mà hồi nhỏ tôi gọi là Má. Cũng quên
luôn mình đã từng được má thương yêu gọi là
Na Tra. Có lẽ tôi cũng ít khi nghĩ tới sẽ có một ngày
rất gần mình phải mồ côi mẹ. Hôm
nay thì tượng Phật đang áp sát trên ngực trái của tôi,
ướt sũng những giọt nước mắt.
Trần Bang Thạch
CHẤP CHỚI BÀN TAY MẸ
Trong một tấm hình trên báo, bé
Jordan gợi cho ta hình ảnh một tàn binh đang lang thang trên trận địa
hoang tàn sau trận đánh long trời lở đất.
Chiếc mũ lưỡi trai nhà binh trên đầu, cái bình đựng
nước bên hông, một cây gậy trên tay, thằng bé sáu tuổi
nầy đang khập khiễng chui qua những thân cây ngã, lội qua những
con lạch, bước qua những mãnh tôn, những gỗ ván gạch đá,
rác rưỡi. Cả một vùng rộng lớn nầy với đầy chướng
ngại sau trận cuồng phong hai hôm trước hình như không một nơi
nào thiếu bước chân của bé Jordan. Suốt một ngày trời,
bé Jordan đã thấy hằng ngàn cây nhỏ, cây to đứt ngọn,
những tấm tôn quấn quanh các thân cây như tấm giấy thiếc
bọc chiếc hotdog. Khóm cây pecan sau nhà mà Jordan thường leo trèo
nay chỉ là những thân cây cụt ngọn, còn sót những cành
treo lủng lẳng như những cánh tay gãy. Giữa những hoang tàn đỗ
nát đó, bé Jordan đã tìm lại được nhiều thứ
lắm. Trước hết là chiếc xe hơi của mẹ. Chiếc xe bị đè
dưới một thân cây to, mui xe dẹp gần tới tay lái, các cửa
kính đã bể nát. Một bức ảnh trên báo chụp Jordan đang
đứng trên cái thùng gỗ để đủ cao nhìn vào bên
trong cửa xe. Chiếc xe nầy từ bao năm nay, dù mưa giông, dù nắng
gió, mẹ đã đưa đón Jordan từ những năm nhà trẻ
cho đến nay là năm Jordan học lớp một. Chiếc xe nằm đây mà
mẹ thì đâu rồi! Cây gậy đánh khúc côn cầu của
Jordan nằm chơ vơ bên chiếc thùng phuy móp méo cạnh khung gỗ
của cái sofa. Ðôi găng tay chơi banh thì vắt vẻo trên một
nhánh cây cao. Và chiếc xích đu. Chiếc xích đu mẹ đã
mất trọn một tuần nghỉ phép để cưa, để đục, sơn
phết, rồi hì hục leo lên cây sồi trước nhà máng hai sợi
dây xích vào một nhánh to. Sau đó gần như mỗi năm, mẹ
lại hì hục trèo lên nhánh cây để thâu ngắn hai sợi
dây xích theo chiều cao lớn của Jordan. Chiếc xích đu bây giờ
nằm lăn lóc trong vũng nước cạn, lấm lem bùn sình. Cái
màu đỏ tươi của những miếng ván đã bay đâu mất.
Bé Jordan nhớ lắm cái ngày bé nằng nặc đòi mẹ phải
thay màu cam bằng màu lục; rồi ít lâu sau Jordan lại khóc lóc
đòi mẹ thay màu lục bằng màu đỏ. Mỗi lần như vậy
mẹ đã phải tháo gỡ cái đu xuống, dùng giấy nhám
đánh đi từ những mãng sơn nhỏ trên mấy miếng gỗ, rồi
tỉ mỉ sơn lên màu khác. Mẹ vừa làm vừa hát những
bài hát thật vui. Mẹ nói mẹ muốn chính mẹ tự tay làm
cái xích đu nầy cho Jordan, theo ý thích của Jordan. Jordan không thể
hiểu mẹ muốn nói gì, lúc đó. Nay thì cái xích đu
đã bay xa khỏi thân cây cổ thụ mà Jordan vẫn chỉ hiểu lờ
mờ ý nghĩa câu nói của mẹ. Jordan cũng tìm thấy mấy bức
ảnh gia đình. Có một bức chụp mẹ và Jordan đang xích đu,
chân mẹ đong đưa, một tay mẹ quàng cổ Jordan, một tay mẹ cầm
quyển truyện nhi đồng đang mở rộng. Jordan nhớ quá những buổi
chiều mẹ con say sưa hay buồn vui ngậm ngùi theo từng chuyện cổ tích.
Những cánh chim trên cành cao như cũng ân cần góp chuyện. Lạch
nước kế bên miên man chảy, hình như không bao giờ ngưng những
tiếng róc rách, thầm thì. Lòng của Jordan hình như lúc nào
cũng ấm vì hơi thở của mẹ miên man phả chung quanh cho dù Jordan
đang ở trường hay đang chạy chơi nơi một góc vườn hay một
góc phố. Còn tiếng nói của mẹ hình như lúc nào cũng
róc rách, thầm thì bên tai, ân cần, ngọt dịu, thương yêu,
trìu mến. Mẹ là cả một thế giới riêng của Jordan.
Mẹ Kara từ hồi nào đã là con lạch nước bên nhà,
là cây sồi cổ thụ trước nhà, là cả một vườn
pecan rợp bóng sau nhà, là chái nhà, là góc bếp. Căn mobile
home nhỏ nhoi như một túp nhà chòi nhưng đầy tiếng cười,
giọng hát của hai mẹ con. Mẹ thấp thoáng trong dáng dấp những
bà tiên hiền từ mẹ đã kể cho Jordan nghe trong những đêm
hai mẹ con ôm nhau nghe mưa rầm rì trên mái tôn, hay những buổi
chiều êm ả hai mẹ con tay trong tay đi dưới vòm pecan cao nghệu. Mẹ
là vòng tay ôm, là hơi thở ấm. Vậy mà bỗng chốc mẹ
hoàn toàn biến mất. Mẹ đã biến mất hoàn toàn. Jordan
không thể nào tin được điều ấy. Chẳng lẽ sau một cơn
lốc dữ mẹ cũng biến dạng như cả một rừng cây nầy, như
căn mobile home nầy, như cái xe móp méo kia? Hay mẹ vốn là một
bà tiên, giữa cơn phong ba đã bay về cõi khác? Không. Chắc
chắn mẹ đang ở quanh đây. Mẹ Kara thương yêu Jordan lắm mà.
Mẹ sẽ không bỏ Jordan mà đi đâu hết. Mẹ đang thất lạc
ở một nơi nào đó, hay đang bị kẹt dưới một gốc
cây to. Mẹ. Mẹ. Mẹ. Jordan đã trăm ngàn lần gọi mẹ suốt
một ngày nay, gọi khan cả tiếng, gọi nát cả tim, gọi bong cả
phổi. Jordan đã nằm bịnh viện mấy hôm nay để được
băng bó ba cái xương sườn gãy, được chửa trị cái
chân sưng vù và cái lưng đầy vết trầy trụa. Ðây
là lần đầu tiên trong đời Jordan thiếu mẹ bên cạnh khi Jordan
đau ốm, nhất là khi phải nằm bệnh viện. Vừa ra khỏi bịnh
viện sáng nay, Jordan đã nói với bà ngoại , “Chúng ta phải
đi tìm Mẹ”. Rồi với đôi giày bố và cây gậy,
cái mũ và bi-đông nước, Jordan đã khập khiễng trở về
căn nhà giờ đây chỉ là một đống ngổn ngang những tôn,
những ván giữa những thân cây gãy ngọn. Nơi trú ngụ đã
không còn, chắc mẹ đang lẩn quẩn đâu đây. Jordan nhớ
rõ lắm mà: Mới ngày hôm kia, trong cơn lốc xoáy dữ dội,
căn mobile home rung rinh như cành cây bị gió giật trên cao. Các cửa
kính đã bể hết. Mẹ đã ôm chặt Jordan. Rồi mấy miếng
tôn trên mái lần lần bay mất. Khoảng trống trên đầu là
mưa, là gió, là sấm, là sét. Một cành cây lớn đã
rơi ngay giữa phòng khách. Mẹ càng ôm Jordan chặt hơn, thân người
bé nhỏ của mẹ như cố trùm phủ Jordan, chở che Jordan khỏi trăm
ngàn mảnh vụn bay loạn đả từ tứ phương tám hướng.
Tường nhà kêu răng rắc như cũng sắp bay đi. Trời tối thui
nếu không có những tia chớp trên nền trời. Mẹ con lần tìm
lối đi vào phòng tắm, chỗ duy nhất trong nhà còn một chút
mái che. Mẹ túm tất cả mấy cái khăn lông trùm đầu
và quấn quanh mình Jordan. Hai mẹ con tay chặt trong tay cùng cầu nguyện.
Gió vẫn đánh sầm sập chung quanh. Tiếng bay vun vút của những
cành cây gãy, những tôn, những ván , những cát, những đá....càng
làm cho Jordan lạnh run thêm. Có một khắc giây nào thật là
ngắn Jordan cảm thấy thân mình như được nhấc bổng, đôi tay mình nắm một khoảng
hư không chớ không phải là đôi bàn tay ướt sủng của
mẹ. Jordan chỉ thực
sự thấy mất mẹ khi được chú Jim hàng xóm kéo lên
từ con lạch gần nhà. Vừa
thất thểu đi tìm mẹ, bé Jordan cứ nói với những người
bé gặp trên đường, “Phải chi mình nắm tay Mẹ chặt
hơn nữa, chặt hơn nữa”. Bé vừa khập khiễng đi vừa
nói, “Phải chi...Phải chi ....” Bé Jordan bây giờ là một
kẻ mộng du trên vùng đất vừa quen thuộc vừa lạ lùng, ác
độc.
xXXx
Em Jordan thương quí,
Mấy hôm nay anh có theo dõi cơn thần phong ở Oklahoma qua truyền hình
và báo chí. Anh biết đó là một cơn lốc dữ dội có
cây ngã, có nhà cửa bị cuốn đi, có người chết và
mất tích. Thực tâm anh có thương cảm cho các nạn nhân,
có, nhưng không nhiều. Cho đến hôm nay được nhìn mấy
tấm ảnh của em trên tờ báo địa phương và được
đọc một bài báo ngắn về em, anh đã xúc động thật
nhiều. Anh như thấy trước mặt mình đứa bé sáu tuổi
ở cái thị trấn Bridge Creek xa xôi, lạ hoắc kia là một biểu
tượng tuyệt vời, đầy ý nghĩa đối với anh.
Jordan ơi, em có muốn biết anh là ai không? Anh là người đang
muốn được là em bây giờ đó. Anh đang muốn là đứa
bé con sáu tuổi luôn nghĩ rằng mẹ mình đang bị lạc đường
để suốt ngày lang thang tìm mẹ, suốt ngày chơi trò trốn
tìm cùng mẹ. Thật là hạnh phúc cho em khi em không tin lời xác
nhận của người giảo nghiệm tử thi. Lão nói gì mặc lão.
Bà ngoại Mary, dì Susan, cậu Steve, chỉ là những người mau nước
mắt thôi. Bà Dì Darlene còn nói lằng nhằng nào là từ
nay Jordan phải ở với Ngoại, nào là Jordan phải nghe lời Ngoại....
Jordan thấy những lời nầy sao lạ tai quá! Mẹ Kara của Jordan chắc đang
ở một nơi nào đó. Trên một tầng mây cao, hay một chân
đồi thấp. Ở đâu thì Mẹ Kara vẫn kề cận bên em đó
Jordan ạ. Em là người con xứng đáng được mẹ thương
yêu cận kề. Còn anh, Jordan biết không, anh ước muốn được
trở lại cái tuổi ngây thơ, hồn nhiên, trong trắng như em, như
hằng trăm ngàn trẻ thơ khác được mẹ ấp ủ trong lòng,
được nói với mẹ muôn lời thương yêu. Ước muốn,
có nghĩa là trong thực tế anh đã qua rồi cái tuổi ngây
thơ của em. Hai mươi sáu năm làm người (hay nói cho đúng
là hai mươi sáu năm có mặt trên đời), anh đã có
tám năm làm người con bất hiếu, anh đã có quá nhiều
tội lỗi đối với mẹ; khi nhận biết điều nầy thì mẹ
đã không còn nơi cõi thế nầy cho anh nói lời xin lỗi hay
bày tỏ một cử chỉ yêu thương, và ôm mẹ mà nói
rằng: Mẹ ơi con thương Mẹ vô cùng. Jordan à, chuyện
của anh thì buồn lắm, anh không định kể cho em nghe vì không
muốn em lây cái buồn của anh. Nhưng anh nghĩ rồi đây sau những
ngày lặn lội đi tìm mẹ, sẽ có lúc em cảm thấy buồn.
Và anh cũng biết một ngày nào đó em sẽ buồn lắm, buồn
vô cùng tận. Nghe chuyện buồn của anh có thể làm em bớt buồn
chăng, vì em biết có một người lạ hoắc lạ huơ ở một
nơi xa xôi nầy đang muốn cùng em chia sẻ nỗi buồn mất mẹ,
nỗi buồn lớn nhất của một đời người đó em.
Nói chuyện với em cũng là một cái cớ: anh đang nói với
chính mình, đang mượn những lời nầy để mong làm dịu
bớt nỗi buồn của mình. Cho
nên em đừng nên cảm thấy xốn xang khi em không thể hiểu
hết những điều anh nói, nhe em.
Tấn thảm kịch hình như chỉ thật sự bắt đầu
tám năm trước khi anh vừa xong trung học và quyết định theo đại
học tại một trường cách xa nhà hơn ba giờ lái xe.
- Như vậy là con thật sự muốn sống xa gia đình ? - Con đâu có
nói như vậy. Con chỉ muốn đi học trường con thích thôi.
- Hay là mẹ con mình dời đến thành phố đó ở cho
tiện ? - Con thấy không
cần thiết đâu. -
Nếu má thấy cần thiết thì sao ?
- Còn nhà cửa, việc làm của má ở đây ?
- Ðối với má, có cái gì trên đời nầy quí
hơn con của má, hả con ? -
Má tính sao cũng được hết.
Thâm tâm anh là muốn có một đời sống tự do không
bị dòm ngó, ràng buộc; mà mẹ anh thì hình như lúc
nào cũng dòm, cũng ngó, cũng nhắc nhở, hỏi han, cũng ngăn
cái nầy, cấm cái nọ... nên anh đã nói dối một cách
rất tài tình : - Má
cứ ở đây. Có gia đình bên cạnh học hành khó khăn
lắm. Vài tuần con sẽ về một lần.
- ... Từ đó anh như
con chim chưa đủ lông, đủ cánh nhưng sớm sổ lồng, nên
đã bước những bước chuệnh choạng, nghiêng bên nầy, ngã
bên kia, lắm lúc lạc phương, lạc hướng. Bắt đầu năm
học thứ hai anh đã có một vài lầm lỗi cá nhân trầm
trọng. Tuy ở xa nhưng với giác quan thứ sáu của người mẹ,
mẹ anh đã có vài lần dạm hỏi anh về chuyện nầy chuyện
nọ. Sau nầy em sẽ biết là khi ta có một lỗi lầm nào đó,
ta ít khi muốn gặp gỡ hay chuyện trò với những người thân,
những người hằng quan tâm đến ta, nhất là cha mẹ ta. Cụ thể
là càng ngày anh càng thấy xa mẹ, thấy mất dần những sự
ràng buộc gia đình. Anh ít khi điện thoại về nhà. Những
lần về nhà cũng càng ngày càng thưa. Mẹ anh thì vẫn đều
đặn gọi anh mỗi tuần đôi lần như từ trước. Không
gọi được ban ngày, mẹ gọi anh khi nửa đêm hay lúc một
hai giờ sáng để mẹ được an tâm. Số lần mẹ nhắn
tin trên máy nhiều gấp trăm lần mẹ con trực tiếp nói chuyện
với nhau. Mẹ anh thì chỉ có thể lái xe loanh quanh vài dặm từ
nhà đến chỗ làm, đâu có lái được trên xa lộ,
nhất là lái đường xa vài trăm dặm, nên họa hoằng lắm
mẹ mới quá giang người quen đi thăm anh. Vài lần mẹ đi không
rồi về không vì không gặp con. Hình như những lúc đó
anh bận những gì khác, không phải là bận chuyện sách đèn
trường ốc. Nhưng khi mẹ hỏi, anh chỉ có thể trả lời là
bận học cho an ổn mọi bề.
Tình trạng cứ như vậy mà kéo dài cho đến hết niên
học thứ tư là năm anh đỗ bằng cử nhân thương mại,
ngành quản trị xí nghiệp. Lúc bấy giờ mẹ anh đã muốn
trực tiếp can thiệp vào công việc của anh, điều mà từ lâu
anh đã không bằng lòng. Cho nên chẳng những không về gần
mẹ như mẹ muốn mà anh còn đi xa hơn, tới một tiểu bang khác,
lấy cớ là có được một việc làm lương cao, giờ
giấc không bị bó buộc nên thuận tiện cho việc tiếp tục
học để lấy bằng cao hơn. Anh nhớ như in cái khắc giây ngay
sau khi mẹ nghe anh tính toán như thế: lưng mẹ đang cong oằn trên
cái bàn may máy, đầu mẹ cố ngẩng lên nhìn anh đang đứng
cao lêu nghêu kế bên, miệng mẹ mở rộng mà không nói lên
được tiếng nào. Anh thấy rõ đôi mắt mẹ đỏ lên
sau đôi tròng kính lão, và hai hàng nước mắt. Jordan ơi,
hai hàng nước mắt, hai hàng nước mắt của mẹ đêm hôm
ấy, bây giờ là hai con trốt xoáy trong lòng anh mãi cho đến
suốt đời. Vài ngày
sau anh khăn gói đi nhận việc ở tiểu bang xa. Sáng hôm đó,
trước giờ ra sân bay, mẹ còn cẩn thận nhắc anh nhớ đem theo
các giấy tờ cần thiết và cái túi nhỏ mẹ để sẵn
những thuốc men trị bịnh thông thường. Mẹ đứng ngay cửa tiễn
anh đi. Anh đã bước qua khung cửa, chỉ kịp nói với mẹ: con
đi. Vỏn vẹn hai chữ ấy. Và không có một cử chỉ thân
yêu nào. Anh nghe tiếng khóc của mẹ sau lưng. Ði làm
xa nhà, chi tiêu nhiều, đồng lương có cao nhưng anh có giữ
lại được bao nhiêu đâu. Mẹ anh vẫn ngày ngày đi quét
dọn mấy tòa biệt thự gần nhà, đêm đêm thức đến
khuya lơ khuya lắt bên chiếc máy may, bên đống áo quần vải
vóc. Một mình một bóng.
Jordan ơi, một đồng lương của anh đã chưa nằm trong túi
mẹ, cái bằng MBA anh chưa có trong tay mà anh đã vĩnh viễn mất
đi người mẹ của anh rồi !
xxXxx
Con trai yêu của má,
Má không biết
phải bắt đầu từ đâu và phải ăn nói thế nào để
con còn có thể đọc tiếp lá thư nầy. Má nhớ mẹ con
mình hơi khó chuyện trò với nhau vì má vốn ít học,
ăn nói luộm thuộm, rầy trách không có căn cứ mà diễn
tả lại không rõ ràng, nên ít khi mình đưa câu chuyện
đến bờ đến bến; thường thì má đành yên lặng,
tiếp tục việc may vá, còn con thì hoặc lớn tiếng với má
bằng lý nầy lẽ nọ hay không nói gì hết, không nghe gì
hết mà chỉ việc bỏ đi. Nghĩ cũng kỳ: mẹ muốn bàn chuyện
với con mình mà phải chờ cơ hội, phải thế nầy, thế nọ,
phải chuẩn bị kỹ lưỡng những lập luận, phải ăn nói
tế nhị, mềm mỏng để không chạm tự ái con, phải biết
tiến, biết thối... Cho nên có biết bao nhiêu chuyện má muốn
nói với con mà nào có cơ hội, trong đó có chứng tức
ngực thường xuyên từ vài năm nay của má, mà nếu có
cơ hội liệu má nói với con được bao nhiêu và con nghe má
được bao nhiêu. Trên cái xứ lạ quê người nầy chỉ
có hai mẹ con mình là gần gũi nhất, mà không thường được
chuyện trò vui vẻ với nhau thì chắc không có nỗi bi đát
nào hơn phải không con? Ở những ngày tháng gần xa con vĩnh viễn
như bây giờ má thấy má muốn nói với con vài điều,
kẽo má không còn dịp nào nữa. Mà không nói với con
được những điều nầy thì khi chết làm sao má nhắm mắt
được hỡ con?
Trước hết má muốn nói thật lớn với con rằng má
yêu thương con lắm. Má cứ thắc mắc hoài điều nầy: Má
đã có lỗi gì với con đến nỗi hình như con không còn
thương yêu má nữa. Má cạn nghĩ ví dù cha mẹ có làm
lỗi với các con chẳng lẽ không được con cái tha thứ hay
sao? Ngược lại lỗi lầm của con lớn cách mấy mà con cho má
biết má cũng tha thứ và tìm cách giúp đỡ con hoàn thiện.
Má biết con cứ nghĩ là má chỉ thương anh chị con với đám
cháu nội ngoại ở quê nhà nên má phải cật lực làm
hai ba công việc để gởi tiền về. Người mẹ nào cũng yêu
thương các con bằng nhau hết. Còn việc con cứ muốn sống xa má,
muốn được tự do bay nhảy, tự do phung phí đồng tiền và
tuổi trẻ, chứng tỏ rằng con quá ích kỹ, chỉ biết có mình,
cả mẹ mình mà mình còn không nghĩ đến thì rồi đây
con sẽ làm được gì cho người khác. Má dốt nát không biết cái bằng cử nhân, cao học của con
nó lớn thế nào nhưng má biết trái tim con chưa đủ lớn
để làm người, nhất là làm người con; cái tài quản trị xí nghiệp của con má
không biết đã tuyệt vời đến đâu nhưng trong cái ý
nghĩ nông cạn của má con chưa biết quản trị cuộc đời
của chính con. Má ít học nhưng có một câu mà má còn
nhớ nằm lòng, là : Có học phải có hạnh. Con có học,
có bằng cấp nầy nọ, má có thấy mừng nhưng cũng thấy
buồn: con đã không có cái hạnh, không có cái hiếu để,
không có cái lòng vị tha. Mẹ mình càng ngày càng già
cả bệnh tật, mà cứ làm lụng vất vả. Sao con không nghĩ
một ngày nào đó người hàng xóm tình cờ khám phá
thân xác má đã nguội lạnh từ lâu mà không ai biết
sớm? Ðôi
bàn tay của má ở gần mà con không chịu nắm thì nói
gì đến việc nắm tay các anh, chị, các cháu của con ở
quê nhà, hay nắm tay người khác.
Linh hồn má sẽ hoài hoài cầu nguyện cho con để con sớm
NÊN NGƯỜI. Má
của con, người suốt đời thương yêu con.
xxXxx
Jordan
thương quí,
Lá thư trên đây mẹ anh viết cho anh nhưng có lẽ người
không muốn cho anh đọc nên đã để một chỗ rất khó
thấy. Anh chỉ tìm được sau gần một tháng an táng mẹ.
Em, đứa bé sáu tuổi, đã nắm thật chặt tay mẹ em
trong cơn lốc dữ, vậy mà em, đứa bé sáu tuổi, cứ hối
hận là để vuột tay mẹ và cứ ngày ngày đi tìm mẹ.
Còn anh, tay mẹ cứ đưa ra, cứ chấp chới đưa ra cho đến
cuối đời mà anh không chịu nắm lấy một lần!
TRẦN BANG THẠCH . Một
bên là núi, một bên
là rừng
MỘT. . Quán
là một túp lều nhỏ nằm dưới chân đồi, bên lề
con đường mòn dẫn từ hương lộ đến tận đỉnh
đồi. Phía sau quán là bãi cỏ tranh cao khỏi đầu. Hương
lộ là con đường đất trộn cát nhiều hơn đá, đầy
ổ gà, rộng vừa đủ cho một chiếc xe hơi. Cách đó vài
trăm thước là một ngã ba với khu chợ gồm mấy dãy hàng
quán vách ván lợp tôn. Gần tới ngã ba, phía bên trái
khu chợ là nhà máy xay lúa đã từ lâu không còn hoạt
động, tấm bảng hiệu đã trốc hết sơn, cột ống khói
gãy ngoặt như bị cứa cổ, vách trống hơ bốn phía, nhiều
tấm tôn trên nóc đã bị lấy mất. Nằm xéo cái quán
cốc, bên kia hương lộ là ngôi giáo đường mà người
ta chỉ thấy ngọn tháp chuông nhọn hoắt nhô lên khỏi rừng
cây xanh. Từ lâu tiếng chuông hình như không ngân
lên đều đặn mỗi chiều, hay chuông có ngân mà vì người
bõ già đã không đủ sức kéo chuông nên âm thanh không
vượt thoát ra khỏi bức trường thành bằng một rừng cây
lá. Thật lâu mới có một chiếc xe đò hay xe nhà nước
chạy trên khúc đường vắng vẻ này, còn đa số xe thì
quẹo mặt chỗ ngã ba để tới thị trấn miền biển. Cho nên
trên khúc hương lộ này người ta lưu thông bằng xe đạp
hay đi bộ; khi chuyên chở nặng, xe bò là phương tiện hữu
hiệu nhứt. . Nhìn trong quán người
ta thấy một người đàn bà tuổi ngoài năm mươi đang
ngồi trên cái sạp gỗ, mắt ngó bâng quơ con đường trước
mặt. Mấy chai nước ngọt, vài cái keo đựng ít
bánh, kẹo, đậu phộng, hạt dưa ... để trên kệ; mấy khúc
khô cá thiều, cá đuối, mấy con khô mực mốc cời bọc
trong cái túi ny lông, cùng nải chuối sứ còn sót mấy trái,
da đã thâm kim, treo lủng lẳng trên sợi dây gai căng ngang hai vách
lá. Trên chiếc bàn hẹp té kê bên góc nhà, một chai
rượu trắng đầy và một chai lưng hơn phân nửa có chiếc
ly thủy tinh trong vắt úp ngược trên miệng chai. Chiều đã xuống
từ lâu. Tiếng chim chiều nghe rõ hơn khi khắp cả ngọn đồi
tiếng búa đẽo đá đã ngưng. Chiếc xe bò cuối cùng
của lão lưng gù đã đổ dốc rồi khuất sau một vòm
đá bên đường. Những người lấy củi và đập
đá đã về nhà hết rồi. Con đường mòn dẫn lên
đồi và con hương lộ không còn một bóng người. Hàng
ngày vào khoảng giờ này, sau hồi chuông từ ngôi giáo đường,
người đàn bà không mong có người khách nào ghé
quán, nhưng bà biết người đàn ông đó sẽ tới,
sẽ từ khu rừng cây bên kia băng qua đường rồi bước vào
quán ngồi trên chiếc ghế độc nhất đó, như mọi khi.
Bà sẽ rót đầy ly rượu trao cho người đàn ông; ông
đón lấy bằng hai ngón tay, rồi nhẹ nhàng để trên bàn.
Hai bàn tay của hai người vẫn hơi rung, như mọi khi. Người đàn
ông sẽ không uống vội. Họ sẽ nói với nhau vài điều
mưa nắng, như mọi khi. Thường thì chỉ có người đàn
ông nói, giọng khàn khàn của người cao tuổi, còn người
đàn bà thì thỉnh thoảng mới góp vào vài lời. Ngồi
một lúc, nhiều khi không nói với nhau lời nào, trước khi đứng
dậy, như mọi khi, người đàn ông cầm ly rượu uống ực
một cái cạn ly rồi bước ra khỏi quán, nói gọn tui về nhen.
Người đàn bà bây giờ mới thật sự đóng cửa quán,
và bắt đầu lên đèn.
.
HAI . Mấy hôm nay người đàn bà không nghe
tiếng chuông chiều, như mọi khi. Người đàn ông cũng không
thấy đến, như mọi khi. Tiếng xe bò lốc cốc, kẻo
kẹt của lão gù lưng đã chìm sau vòm đá. Tiếng chim
cu rút từ vách đá phía sau quán, nghe sao não nùng.
Người đàn bà đóng cửa quán mà nghe lòng thật nặng.
Cửa đã cài then nhưng đôi mắt người đàn bà còn
vẩn vơ ở đâu bên kia lộ và ở đâu bên kia rừng.
Thêm một đêm nữa người đàn bà không muốn lên
đèn. . Trong bóng đêm, người
đàn bà thấy rõ cái tháp chuông cao nghệu vươn khỏi
tấm thảm đen kịt. Tấm thảm ấy đã một lần cuốn lấy
chàng, dìm chàng đâu đó trọn một thời thanh xuân giữa
bốn bên tường gạch. Hình như mỗi đêm, từ trong lòng
tấm thảm ấy người đàn bà thấy người con gái mười
lăm mười bảy đứng thập thò sau vách núi nhìn chàng
tay chân cuồn cuộn với những nhát búa đập nhịp nhàng lên
từng khối đá xanh. Chàng. Chàng như một chúa tể. Chàng
như một thiên thần giữa trùng trùng đá tảng. Núi rừng
nầy đâu phải của riêng chàng, nhưng tại sao chàng ngang nhiên
chiếm ngự tất cả những con dế con trùng, tất cả những đồi
cao, bãi thấp, những lá cỏ, nhành cây. Cả cái trái tim nhỏ
nhoi của người con gái ngoại đạo này đã chui vào đôi
bàn tay chàng từ hồi nào vậy? Những ngón tay chàng không
khép, nhưng hơi ấm từ lòng bàn tay cũng đủ thiêu sống
một thời thanh xuân của người con gái tội nghiệp. .
BA . Chiều
nay người đàn bà tưởng mình lầm khi nghe hồi chuông thứ
nhất. Đến hai hồi chuông kế tiếp thì bà mới biết rằng
rừng cây bên kia đường đã thực sự lên tiếng, những
tiếng ngân vang thân thuộc từ nóc giáo đường. Và người
đàn ông quen thuộc cũng vừa bước ra khỏi khu rừng, như mọi
khi. Người đàn bà thấy như hòn đá tảng bà mang mấy
ngày nay bỗng rớt khỏi lòng mình. Người đàn
ông băng qua đường, dừng lại trước quán, hai tay vịn thành
cửa, đầu hơi cúi xuống giữa hai ống tay toàn xương khiến
cho chiếc thánh giá rơi ra từ cái cổ áo không kịp cài
nút trên. Ông thở một hơi dài rồi mới bước vào quán,
ngồi xuống chiếc ghế quen thuộc. Hôm nay trông người đàn
ông có vẻ khác với mọi khi. “Mấy hôm nay
tôi bị cảm thương hàn”. “Vậy sao? Cơ
khổ! Tôi nào có biết”. “Tay chưn mình mẩy lạnh ngắt, lại ho thật
nhiều, tưởng đã không ngồi dậy nổi”. “Trời
ơi, thật khổ cho ông. Hôm nay thì ông thấy thế nào? Đã
bớt nhiều chưa? Uống những thuốc gì? Sao ông không mặc thêm
áo ấm? Chưa hết bịnh mà đi đứng làm chi hổng biết
nữa!” Lần đầu tiên bà thấy mình
nói quá nhiều, khác với mọi khi. “Thì tôi cũng
uống mấy thứ lá rừng. Chưa bớt nhưng cũng ráng xuống đây”. . Chưa bớt nhưng cũng ráng xuống
đây, câu nói sao nghe nặng hơn chì khiến
người đàn bà chừng như muốn khóc. May mà người đàn
ông, như thường lệ, đã nốc xong ly rượu, nói tui về
nhen, rồi bước ra cửa, dáng đi lạng quạng, muốn té. Chiếc
áo sơ mi màu cháo lòng mỏng dánh không cản được
ngọn gió va vào lồng ngực kẹp lép như một cánh lá khô.
Mấy sợi tóc trắng phau phất phơ trong trời chiều, cô đơn như
người đàn ông đang tan dần trong màu xanh của lá và đang
mất dần trong màu tối của đêm. Tấm thảm đêm đen kịt,
như mọi khi, cuốn lấy người đàn ông thêm một lần nữa.
. Cửa quán đã đóng rồi
mà tầm mắt người đàn bà vẫn còn lẩn quẩn bên
kia rừng. Rừng đang trôi hun hút vào bóng đêm. Hòn đá
vừa mới rơi xuống hồi nãy bỗng ai đó đã nhặt lên
rồi bỏ vào lòng người đàn bà. Hòn đá bây
giờ nghe nặng hơn trước thật nhiều. . Tối
nay người đàn bà cũng không buồn lên đèn. Bà đọc
mấy câu chú Quán thế âm trong bóng đêm. . Đêm
vẫn đen và nặng như chì. .
CUỐI
CHUYỆN . Khi biết mình còn mấy
hơi thở cuối, người bõ già cố trèo lên tháp chuông,
nắm sợi dây như một thói quen từ mấy chục năm nay, nhưng tiếng
chuông không vượt khỏi cái dày đặc thâm u của cây
rừng. Tấm thảm đen muôn đời vẫn đen kịt. Sau đó thì
tiếng chuông vĩnh viễn im bặt từ tháp giáo đường. Cái
quán cốc thì cũng vĩnh viễn đóng cửa. Không còn người
khách mỗi chiều nhô ra từ bên kia con đường, chỗ bìa rừng,
như mọi khi, thì quán mở cửa làm chi. Tiếng niệm chú Quán
Thế Âm mỗi đêm cũng không một âm vang nào để
dội từ vách núi. . Phía xa đằng
kia khu chợ vẫn người đi kẻ đến; đâu có ai biết một
chút đổi thay đã xảy ra trên khúc hương lộ vắng tanh
này. . Con hương lộ tuy không
rộng đủ cho hai chiếc xe hơi qua mặt, nhưng cũng đủ để chia
đôi một bên là núi, và một bên là rừng. . Trần Bang Thạch
TRẦN
BANG THẠCH Truyện ._______________________________ . NGƯỜI SUỐT ĐỜI LẮC CHUÔNG
GIỮA CHỢ 
. Gần
cuối tháng 12 dương lịch năm nay có một thiệp chúc Xuân
đến với tôi thật sớm, trước Tết Nguyên Đán cả
tháng . Đó là một điều lạ. Tôi chưa hề nhận một
thiệp xuân nào sớm như vậy, từ trước đến nay. Điều
lạ thứ hai là cùng một bao thư với thiệp chúc xuân này,
tôi có cả một thiệp chúc mừng Giáng Sinh đến trễ cả
tuần. Hai điều lạ này được giải thích trong một mảnh
giấy nhỏ viết tay kèm theo. Qua mảnh giấy nhỏ này, thắc mắc
của tôi được giải tỏa: anh con thấy trong các giấy tờ để
lại của người cha mới chết một thiệp Giáng Sinh và một
thiệp chúc mừng Năm Mới Ất Dậu. Mỗi tấm thiệp được
để trong một bao thơ có đề sẵn địa chỉ của tôi.
Anh con bỏ cả hai tấm thiệp vào một bao thơ rồi gởi cho tôi. Coi
như thay người chết gởi lời chúc tới ông bạn còn sống.
Lá thư bất ngờ cũng báo cho tôi biết một cái chết bất
ngờ. Cùng một lúc với những lời chúc tốt đẹp là
một nỗi buồn thật lớn đến với tôi. Tôi biết từ nay
tôi vĩnh viễn mất một ông bạn hàng xóm tốt bụng của
tôi từ hơn hai mươi lăm năm qua. Tội nghiệp ông già, biết
mình tuổi đã cao, sống nay chết mai, nên ông đã chuẩn bị
sẵn những gì cần phải làm. 24 lần Giáng Sinh và 24 lần Tết
Nguyên Đán đã qua chưa lần nào gia đình tôi thiếu
các tấm thiệp chúc mừng của ông. Năm nay, năm thứ 25, ở
giờ phút thứ 25, giờ phút cuối của cuộc đời, ông vẫn
không quên chúng tôi. . Thật sự thì chúng
tôi là bạn hàng xóm chỉ trong hai năm đầu khi chúng tôi
đến Mỹ. Mới chân ướt chân ráo nhập vào một dòng
sống hoàn toàn mới lạ, không có một người thân quen, chúng
tôi thấy tạm yên lòng cư ngụ trong một căn nhà nhỏ tại
một khu khá tạp nhạp, toàn là dân da đen và dân Nam Mỹ
có lợi tức thấp; hiếm thấy một người da trắng lạc lõng
đi ngang qua xóm. Sau hai năm gia đình chúng tôi làm ăn có khấm
khá hơn và các con cũng cần có những trường tốt hơn
nên chúng tôi dời đến một nơi khác, cách chỗ cũ hơn
một giờ lái xe. Hai năm ở cạnh nhau đã đủ cho một tình
hàng xóm nẩy nở. Những năm còn lại chúng tôi vẫn hay
gặp gỡ, nhứt là vào những dịp lễ lạc hay ăn mừng năm
mới, mừng sinh nhật....hoặc thăm hỏi tin tức nhau qua thư từ và
điện thoại. .
Thuở đó là vào khoảng cuối năm 80, chúng
tôi đến Mỹ trong cái lạnh cóng da của một nhiệt độ
đông đá. Căn nhà chúng tôi mướn thuộc căn nhà
đã quá cũ, cả trăm năm tuổi, vách ván, sàn gỗ kê
trên những cục gạch xi măng khiến gió lạnh chui vào nhà một
cách dễ dàng từ bốn bên và từ dưới sàn nhà. Ba
đứa con tôi tuổi từ một rưỡi đến 12 tuổi, chúng mặc
vào nhiều lớp áo quần mà răng vẫn đánh lặp cặp.
Đó là những giờ đầu tiên khi chúng tôi mới dọn vào
nhà. Tôi thấy một cái máy sưởi đặt âm trong vách
nơi phòng khách, tôi vặn hết nút nầy đến nút nọ
mà vẫn không thấy hơi nóng phát ra. Túng cùng, vợ tôi
đưa ý kiến là nên nhờ người ở nhà kế bên sang
chỉ dẫn. Tôi rất ngại ngùng khi phải gõ cửa nhà người
hàng xóm không quen vì lúc đó đã hơn mười giờ
đêm. Chỉ cần không đầy một phút, ông hàng xóm đã
làm chiếc máy sưởi tỏa hơi nóng. Rồi vợ con ông mang cả
đống quần áo ấm cho chúng tôi, có cả mấy bao potato chips họ
nói là ăn cho ấm bụng. Cả nhà chúng tôi cảm ơn. Ông
hàng xóm nắm chặt tay tôi, ông nói rõ và chậm từng
lời, sợ rằng tôi chưa quen tiếng Mỹ. Tôi vẫn còn nhớ như
in hình dáng cao gầy, gương mặt đen mun làm rõ hàm răng
trắng và đôi tròng mắt trắng nhìn thẳng vào mắt tôi.
Ông nói là ông luôn luôn sẵn sàng giúp đỡ chúng
tôi, đừng ngại ngùng gì hết. Ông cho tôi số điện thoại,
bảo cứ gọi ông hay vợ con ông bất cứ khi nào chúng tôi
cần. Ông nói ông tên là Otis Clark, nhưng ông thích được
gọi là The Bell Ringer, hãy gọi ông là Ringer cho gọn. Thuở đó
cả nhà chúng tôi gọi ông là Ringer, coi như là một cái
tên riêng; sau nầy mới biết ý nghĩa của nó và biết
vì sao ông Otis thích được gọi như vậy. Sau cái đêm
đầu tiên đó thì chúng tôi cần họ nhiều trăm lần
nữa trong suốt hai năm ở gần nhau và cả khi ở xa nhau. Ông bà
là cố vấn của gia đình chúng tôi về đủ mọi chuyện.
Từ chuyện ông Ringer dạy tôi cách sử dụng máy cắt cỏ,
máy xén cỏ đến việc thay nhớt cái xe. Bà Ringer thì từ
việc đưa vợ tôi và các con đi ghi danh ở trường, đến
việc dạy vợ tôi tiết kiệm bằng cách mua hàng sale và cách
dùng coupons khi đi chợ. Khi chuyện trò với chúng tôi, họ nói
chậm rãi, rõ ràng từng tiếng. Đặc biệt là họ hay gợi
chuyện để chúng tôi nói. Tiếng Mỹ chúng tôi khá hơn
nhờ gia đình này. Cách sinh hoạt chúng tôi được xuôi
chèo mát mái hơn trong cái xã hội lạ lẫm nầy phần lớn
là nhờ họ. Cũng qua gia đình nầy chúng tôi có cái cảm
tưởng đầu tiên là người Mỹ tử tế.Về sau chúng
tôi biết ông bà Otis không những chỉ tử tế với riêng gia
đình chúng tôi hay vài gia đình trong khu xóm, mà ông bà
nầy tử tế với tất cả mọi người. Điều nầy thì
tôi xin được nói sau. Cái ấm áp của đêm đầu tiên
đó đã bắt đầu cho một nghĩa tình lân lý kéo
dài suốt hai mươi lăm năm nay. Suốt thời gian đó chúng tôi
thương mến và hiểu nhau hơn. Bà Otis mất 12 năm trước, sau
đó cậu con trai duy nhứt đi làm xa, ông già Otis đã nghỉ
hưu từ hơn hai mươi năm trước. Ông sống một mình trong
căn nhà cũ, nhưng ông không cô đơn vì chừng như công
việc chiếm hết thì giờ của ông. Muốn đến thăm ông,
chúng tôi phải thông báo vài ngày trước. Hoặc đôi
khi tự dưng ông ghé nhà tôi ngủ một đêm để kể
cho chúng tôi nghe chuyện đời. Các con tôi rất thích nghe Uncle Ringer
kể chuyện. Càng hiểu tâm tình của ông và càng biết nhiều
những sinh hoạt của ông, chúng tôi càng quí trọng ông. Bây
giờ thì ông đã đi rồi. Tấm thiệp Xuân Ất Dậu tôi
chưa kịp gởi cho ông. Những dòng tưởng nhớ này như lời
cuối cùng chúng tôi tiễn đưa ông, người hàng xóm
tốt bụng. . Nhớ tới ông Otis là tôi nhớ tới điều mà ông đã
nói với tôi khi hai người ngồi uống bia ở sau nhà ông hơn
hai mươi năm trước. Ông chỉ nói có một lần mà tôi
mãi nhớ hoài. Ông Otis nói ông nợ cuộc đời quá nhiều,
sợ rằng cả đời của ông, ông cũng không trả nổi. Ông
mất ở tuổi tám mươi lăm. Một đời người như thế
cũng gọi là dài. Nhưng cái nợ với cuộc đời mà ông
tự nguyện gánh trên vai đã hết chưa hay ông vẫn còn khệnh
khạng vác xuống tuyền đài? Nghĩ tới điều nầy khiến
tôi càng thương ông, vì tôi biết một khi thế giới nầy
còn hỏa hoạn, thiên tai, chiến tranh, bịnh tật và xã hội này
còn những kẻ nghèo đói, tật nguyền, không nhà, không
miếng ăn, không cái mặc... thì The Bellringer thỏi đồng đen của
tôi vẫn ngày ngày muốn làm người lắc chuông nơi cửa
chợ. Tôi biết ông muốn mãi mãi là người lắc chuông,
dù cho trăm năm, dù cho ngàn năm nữa. Người đàn ông
da đen cao, gầy, xương xẩu, ít học mà có trái tim to như
trái núi, một tấm lòng dào dạt mênh mông như nước
đại dương. Gần cả đời lắc chuông giữa chợ kêu gọi
tình thương, chắc chỉ có một ông Otis Clark nầy. Ông nói
từ khi nhận diện được những đau khổ của cuộc đời
đến với riêng ông, ông muốn được góp phần nhỏ
mọn của mình làm vơi đi ít nhiều những đau khổ cho càng
nhiều người càng tốt. Ông Otis kể với mọi người về
cuộc đời của ông. Cậu bé Otis lúc mới 5 tuổi đã là
một bé mồ côi cả cha lẫn mẹ. Người ta nói cha mẹ cậu
một hôm từ thị trấn Cheyenne của tiểu bang Wyoming mang đứa con trai
Otis 5 tuổi xuôi nam lập nghiệp, mong thoát khỏi kiếp tôi đòi.
Lúc tới gần dãy Rocky Mountains thì ông bà Clark mất tích trong một trận bão
tuyết. May mắn được cứu, cậu bé Otis sống lang thang không nhà
với người cha nuôi nghiện rượu và với một con chó đói.
Cha con ngày ngày kiếm miếng ăn nơi khu Lincoln Park của tiểu bang Colorado. Khi cha nuôi chết,
cậu Otis 10 tuổi đã biết phải tìm cái sống bằng chính
sức lực và ý chí của mình. Tiếp tục ước muốn của
cha mẹ, Otis xuôi nam, sống vất vưởng trên các đường phố
với đủ ngành nghề, từ bán báo đến quét dọn nhà
hàng, lau chùi cầu tiêu công cộng.... Lớn hơn một chút, Otis
về vùng đồng cỏ Texas làm các công việc nơi trang trại, chăn
bò, vắt sữa, lái máy cày. Cuộc đời Otis thật sự thay
đổi ở tuổi 18 khi một ân nhân đem Otis về thành phố lớn,
dạy cho ít chữ nghĩa và dạy nghề thợ tiện. Từ đó
Otis đứng vững vàng trên hai chân mình. Cũng từ đó chàng
thanh niên Otis bắt đầu nghĩ tới một sự trả ơn cho người
đã cứu mình ra khỏi vùng u tối. Otis cũng không thể quên
những cảnh khổ chung quanh, cảnh khổ mà suốt quãng đời niên
thiếu mình đã chịu. Những ngày cuối tuần người ta thấy
chàng thanh niên Otis la cà nơi các công viên, hay các góc đường
dưới cầu xa lộ mang những bịch đồ ăn thức uống cho những
người không nhà. Nhiều người trong số nầy đã được
Otis giới thiệu việc làm, tạo dựng lại cuộc đời và tiếp
tục trả ơn đời như anh Otis. Một thanh niên da trắng thất tình
thất chí, bỏ học, bỏ nhà cửa đi làm homeless, Otis tới lui,
chuyện trò, khuyên nhủ, rồi đem về nhà nuôi ăn học. Ngày
anh thanh niên nhận bằng kỹ sư điện, anh đã ôm Otis giữa hội
trường mà khóc như một đứa con nít. Nhiều lần Otis đến
các nhà tạm trú cùng với các người thiện nguyện phục
vụ những bữa ăn cho người vô gia cư. Sau khi tham dự thế
chiến thứ Hai, người lính giải ngũ Otis biết được các
hoạt động cứu trợ rất hữu hiệu của hơn 3000 đơn vị
phục vụ thuộc tổ chức thiện nguyện The Salvation Army. Otis bắt đầu
tham gia hoạt động cho The Salvation Army kể từ đó. Cũng kể từ đó
Otis chỉ thích được gọi là Người Lắc Chuông- The Bell Ringer.
Từ mùa đông năm 1945 The Bellringer tên Otis bắt đầu mặc bộ
đồng phục của The Salvation Army, cầm cái chuông đồng đứng
tại các cửa chợ vào những ngày lễ để kêu gọi lòng
hảo tâm của con người đối với con người. . Những
ngày đầu ở Mỹ, không ai trong gia đình tôi biết The Salvation
Army là gì. Chúng tôi chỉ biết tổ chức thiện nguyện Đạo
Binh Cứu Khổ này qua người hàng xóm mà chúng tôi gọi
là Ringer. Vào những ngày cuối tuần hay những ngày lễ như Thanksgiving
hay Christmas chúng tôi thấy Ringer cùng các bạn của ông mặc vào
tấm áo choàng màu đỏ, choàng phủ phía trước ngực
và phía lưng, trên có in dấu hiệu của The Salvation Army và có
dòng chữ: I Am A Bellringer. Người bell ringer tay cầm cái chuông
đồng nhỏ đứng lắc chuông bên cạnh cửa ra vào tại các
khu chợ. Người hảo tâm bỏ tiền vào cái thùng đỏ có
nắp khóa kín, treo trên cái giá 3 chân. Hai năm ở
bên cạnh ông tôi biết thêm rất nhiều điều về The Salvation
Army, một tổ chức quốc tế được hình thành từ
năm 1865 tại Luân Đôn để giúp đỡ về mặt tinh thần
và vật chất cho cho những người kém may mắn trên toàn thế
giới, không phân biệt chủng tộc hay tôn giáo. Bằng vào cố
gắng tích cực của cô bé 16 tuổi tên Eliza Shirley, một di dân
gốc Anh, Tổ chức được du nhập vào Mỹ từ năm 1880 với
chi nhánh đầu tiên ở New York City. Các con tôi thì có bên cạnh một
nhân vật sống để nghe, để biết và để học những
bài học quí giá về tình người. Thằng con lớn của tôi
đã gia nhập The Salvation Army ngay sau khi tốt nghiệp đại học hồi năm
1992. Ông Ringer trông thật hào hứng mỗi lần nói chuyện với
chúng tôi về công việc lắc chuông của ông. Công việc nào
thì cũng có niềm vui, nỗi buồn. Nhưng với ông Ringer thì suốt
mấy mươi năm lắc chuông, ông chỉ có niềm vui, ông quả
quyết nói với chúng tôi như vậy. Ông không có nỗi buồn.
Ông lắc chuông xin tiền, có người cau có với ông, ông cười
tươi đáp lễ. Có người ngước mặt làm ngơ, ông
thương cho họ và cầu nguyện cho họï.Thỉnh thoảng có người
mua cho ông bữa ăn trưa hay một chai nước uống, ông vui vẻ cảm
ơn. Trên chục năm trước, có em nhỏ tự nhiên rời tay mẹ,
chạy tới kéo ông ngồi xuống, hun một cái chụt vào má
ông, rồi bé kề tai nói với ông rằng bé thương ông
quá, khi lớn bé sẽ làm như ông. Chuyện đã xảy ra thật.
Cô bé 5 tuổi lúc ấy đã không đợi khi lớn mới thực
hiện được lời hứa với người Bell Ringer nơi cửa chợ. Lúc
7 tuổi, cô bé biết bày ra một cái bàn đặt bên lối
ra vào công viên gần nhà để bán nươc giải khát vào
mỗi cuối tuần. Cô bé đã kiếm được vài chục đồng
mỗi tháng. Người ta mua nước lemonade của em như là một cách
giúp em thực hiện ước muốn của mình. Mỗi năm, đúng
vào buổi chiều trước ngày Lễ Giáng Sinh, Christmas Eve,
như một hẹn ước bất thành lời, cô bé đến gặp
người Bellringer của cô, thân mật nói những lời chúc lành
với ông rồi nhét vội món tiền góp nhặt cả năm vào
cái thùng 3 chân màu đỏ. Năm nào cô cũng làm như
vậy, hơn chục năm rồi. Cô bé gọi ông là Ringer. Ông gọi
cô là Little Santa. Như vậy là đã đủ cho một sự quen biết
nhau. Có lẽ cả hai không thấy cần phải biết tên thật của
nhau. Họ biết họ đang làm gì. Có một lần vào đầu
năm 82, ông Ringer hăm hở nói với tôi về một đồng tiền
vàng, một loại gold coin, trị giá hơn 200 đô la, lần
đầu tiên được một người bí mật nào đó bỏ
vào thùng tiền tại Chicago. Rồi sau đó cứ mỗi lần một
nơi nào đó nhận những đồng gold coins thì ông Ringer đều
cho tôi hay để cùng vui với ông. Nhiều khi ông chỉ ghé nhà
tôi một vài phút đồng hồ chỉ để thông báo những
tin vui như vậy. Chẳng hạn như hồi năm 85, một người nào đã
bỏ vào thùng ở thành phố Kirsville, bang Missouri, một đồng
gold coin sản xuất 20 năm trước cuộc Nội Chiến, có giá trị
cả ngàn đô la; đủ cho một nhóm hơn trăm người nghèo
có một bữa ăn Giáng Sinh thịnh soạn. Hàng năm, như là một
trò chơi nhân hậu tốt đẹp từ một hay nhiều nhà hảo
tâm bí mật, những đồng gold coins cứ rơi vào nơi nầy, nơi
nọ; đến nay tổ chức The Salvation Army nhận được hơn 300 đồng
gold coins. Năm năm trước, ông Ringer của tôi muốn có một đồng
gold coin rớt vào cái thùng của ông coi như quà sinh nhật thứ
80 của ông. Mùa Giáng Sinh năm đó rồi cũng qua, lễ mừng
sinh nhật của ông cũng đã qua mà đồng gold coin cũng chưa chịu
đến với ông. Ông than với tôi là các đồng gold coins vẫn
chưa chịu xuôi Nam. Tôi an ủi ông rằng ông đã nhận và đã
cho biết bao nhiêu là những đồng gold coins từ cả sáu mươi
năm nay rồi. Một tuần trước lễ Giáng Sinh năm nay, từ một
nơi cách xa tỉnh nhà hàng ngàn dặm, xem báo tôi thấy loan
tin nhân viên Salvation Army tìm thấy một đồng vàng tên là South
African Krugerrand bọc trong một đồng bạc giấy, có lẽ người bí
mật muốn tránh tiếng kêu khi bỏ vào thùng ở trước cửa
một tiệm Walgreens trên đường West University của Houston. Đây là
lần đầu tiên một đồng gold coin trị giá 400 đô la đã
xuôi Nam, đã đến Houston. Tự nhiên tôi thấy vui và nghĩ ngay tới ông bạn
già Ringer của tôi. Tôi bỏ lững cột báo tại đây, không
muốn đọc tiếp tên người bell ringer để được hồi hộp
mà nghĩ rằng chính cái thùng tiền của người Ringer thân
mến của tôi đã nhận được đồng tiền quí hiếm
ấy. Có thể lắm chứ. Ở cái tuổi 85, người Bellringer của
tôi không còn bao nhiêu ngày tháng nữa. Chẳng lẽ niềm mơ
ước của ông không thành sự thật sao? . Bây
giờ nhận được tin ông mất, tôi thấy dù cho đồng tiền
ấy có rơi vào thùng của ông hay không thì ông cũng là
người đón nhận và phân phát nó, cũng như ông đã đón nhận hàng vạn
tấm lòng vàng và phân phát hàng ngàn đồng tiền vàng
trong suốt hơn sáu mươi năm làm người lắc chuông giữa
chợ.
Cả cuộc đời ông, ông cũng đã cho thiên
hạ rồi! . Ông Otis Clark, người Bellringer của tình
thương, chúc ông ngàn đời yên ngủ trong niềm mến yêu
của những người khốn khó. Ông ngủ nhưng tiếng chuông đồng
của ông vẫn còn rung trên tay của cả ngàn người khác tiếp
nối ông. Khi những trái tim còn biết thổn thức thì tiếng chuông
đồng còn ngân vang. Bằng cách nầy hay bằng cách khác, tình
thương luôn có mặt trên thế gian nầy. Cô bé 7 tuổi đã
biết đem những đồng tiền nhân nghĩa đến gởi gấm ông.
Cô bé ấy bây giờ là một thiếu nữ và vẫn là người
Santa Nhỏ Bé của ông, vẫn hàng năm làm nhiệm vụ của một
Ông-Già-Nô-En-Có-Thật. .
Ngủ đi ông, The Bellringer , người hàng xóm tuyệt vời của
tôi. . Trần Bang Thạch
trần bang thạch Truyện _____________________________
CHUYỆN NEW YORK, MỘT NGÀY 
Ảnh Nguyễn Như Hùng .
G ần nửa đêm
rồi mà chị Suzanne vẫn còn ngồi trước ông bạn mặt vuông
là cái computer. Xung quanh chị ngổn ngang giấy tờ, hồ sơ
trên bàn, trên kệ, trên thảm...Đã nhiều lần chị Suzanne
muốn đặt lưng xuống cái khoảng thảm còn trống nơi góc
phòng, hay cứ gục đầu xuống bàn mà ngủ một giấc, rồi
mọi sự ra sao thì ra. Nhưng nghĩ tới công việc chưa xong chị cố
nhướng mắt tiếp tục sục sạo, tìm tòi, rồi ghi chép, rồi
lướt 10 ngón tay trên dàn chữ. Sáng mai là một ngày thật
quan trọng cho chị. Đúng ra là ngày quan trọng của công ty nơi
chị làm việc. Công ty sẽ ký một hợp đồng thương mại
với một khách hàng khổng lồ hoàn toàn mới và khó nuốt,
đó là bộ công thương nghiệp Trung Quốc. Thất bại lần
này công ty chắc phải chuẩn bị khai phá sản. Từ vài tháng
nay, do kinh tế suy trầm, công ty bị ảnh hưởng nặng. Nhân viên
lần lượt ra đi. Còn hơn một tháng rưỡi nữa mới tới
ngày lễ Halloween mà bóng ma thất nghiệp cứ lảng vảng trong các
phòng làm việc của cái cao ốc 110 từng phía nam này. Còn
cái cao ốc anh em sanh đôi ở mặt bắc kia chắc cũng không khá
gì hơn, người đi làm càng ngày càng thưa thớt. Nhiều
khung cửa sổ đã không thấy ánh đèn. Hôm qua còn hẹn
nhau đi ăn trưa, hôm nay phải dành giờ ăn phụ tiếp bạn dọn
dẹp nơi làm việc để move out ! Bạn bè hôm trước
còn nói cười rôm rã, còn chat nhau trên net, hôm sau ứa
nước mắt chia tay. Phút bịn rịn họ chỉ có thể nói với
nhau lời chúc may mắn. Người đi, kẻ ở không ai biết chuyện
gì sẽ xảy ra cho mình trong những ngày sắp tới. .
Cho nên chuyện thành bại của công ty ngày mai chắc chắn sẽ
ảnh hưởng trực tiếp đến những người còn lại, trong đó
có chị Suzanne. Đúng ra tuần này chị Suzanne vẫn còn nghỉ bịnh.
Chứng dị ứng thời tiết cứ làm chị khốn đốn mỗi năm
mấy tuần. Nhưng người chủ trực tiếp của chị là bà
phó giám đốc Helen sau mười ngày đi Bắc Kinh, khi trở về
tức tốc yêu cầu chị Suzanne đi làm từ sáng hôm nay. Bà
nói kết quả chuyến đi của bà đến sớm không
ngờ: Xế chiều ngày mai, thứ Ba, một phái đoàn từ Bắc Kinh
sẽ đại diện chánh phủ đến Công ty duyệt xét toàn
bộ vấn đề để chánh thức ký hợp đồng hay không.
Hơn một tháng nay công sức của bà phó giám đốc Helen đã
đổ quá nhiều trong cái dịch vụ này, nó không thể thất
bại được. Công ty không thể chết được. Bà nói
bà cần tới cái tài cung ứng tài liệu của chị Suzanne để
trình với phái đoàn ngày mai. Đến gần sáng thì chị
Suzanne đã có những printouts cần thiết với chi chít những con số
và những biểu đồ đủ màu sắc để cung cấp cho bà
Helen. Chị Suzanne đứng dậy, rời bàn giấy. Chị đi đến cửa
sổ, vén màn rồi mở tung hai cánh cửa kính. Chị vươn vai
hít thở không khí trong mát buổi sáng tinh mơ của New York. New York như người thiếu phụ nửa chừng xuân, lịch lãm, sang cả
và rực rỡ như kim cương. Chị Suzanne tự thưởng cho mình một
ly sữa lạnh rồi sang phòng ngủ của hai con, đắp lại tấm chăn,
hôn mỗi đứa trước khi lên giường rón rén nằm cạnh
chồng, anh Frank. Thật sự thì anh Frank chưa ngủ. Anh không thể nào
mà ngủ được khi người vợ đang đau ốm của mình sau
một ngày vất vả tại sở làm còn đem về nhà hàng
đống hồ sơ để làm tiếp cho xong. Anh Frank thì không thể
tiếp gì được cho vợ. Anh vốn là người thợ hàn nên
chuyện hồ sơ giấy má anh chỉ biết đứng đó mà nhìn.
Nhiều lúc nghe vợ mình cố đè nén những cơn hắt hơi
sợ làm thức giấc chồng con, anh Frank thấy thương và tội nghiệp
vợ vô cùng. Cái lồng ngực mỏng manh lép kẹp đó không
biết ngày nào sẽ nổ tung vì chứa chấp nhiều thứ quá:
những tràng hắt hơi như cơn địa chấn nhỏ trong nội tạng
và bao nỗi lo toan của một người đang gánh nặng cái gánh
gia đình với hai đứa con nhỏ và người chồng thất nghiệp.
Phải, từ hơn bảy tháng nay, từ ngày anh Frank mặt mũi méo xệch
nhận tờ giấy màu hồng của sở thông báo anh tạm nghỉ việc
tại hãng hàn xì này thì người vợ ốm yếu
của anh phải mang thêm trên vai vài hòn đá tảng. Một cái
xe đã bị chủ nợ kéo đi. Tiền lương khiêm nhường
của một nữ thư ký và chút ít tiền trợ cấp thất
nghiệp, anh chị vén khéo lắm mới tạm đủ chi tiêu cho việc
ăn uống sinh sống hàng ngày và hàng tháng trả tiền thuê
căn chung cư cũ kỹ trong vùng Manhattan mắc mỏ này. Tuy vợ không
nói ra nhưng anh Frank biết vợ anh đang lo lắng cho những ngày sắp tới,
những ngày mà cả hai vợ chồng đều thất nghiệp. .
Chị Suzanne thức dậy lúc gần tám giờ. Anh Frank đang mớm sữa
cho con bé Michelle đang nằm trong nôi. Thằng Bobbie nơi bàn ăn với chén
cereal trộn với sữa tuơi. Gần đây Frank lo hết mọi chuyện trong
nhà, kiêm luôn người giữ trẻ. Người father mom này mỗi
khi đi chợ búa hay đi xin việc đều có con bé chưa đầy
tuổi trên tay và thằng bé mới hơn ba tuổi xoắn xít dưới
chân. Thấy mà tội nghiệp. Chị Suzanne sửa soạn qua loa, hôn tạm
biệt chồng và hai con rồi ra trạm xe buýt. Cái samsonite trong tay chị
Suzanne như phòng lên cao hơn so với bình thường, một phần vì
giấy tờ quá nhiều, một phần vì nó có chứa thêm niềm
hy vọng của cả nhà chị Suzanne trong đó. Nghĩ đến đây
chị Suzanne chợt mỉm cười: Phải rồi, biết đâu con bé Michelle
8 tháng tuổi cũng cố nhét cái hy vọng nhỏ tí xíu của
nó vào cái samsonite của chị? Chiếc xe buýt số 32 B tấp vào
lề, vẫn đúng giờ như thường lệ. Vẫn những tiếng hi,
hi quen thuộc, thân mật, rộn rã. Một ngày như mọi ngày.
Gió vẫn mát lạnh từ dòng Hudson. Đường phố vẫn đông nghẹt người. Xe cộ vừa thở
vừa bò. Người bạn đồng hành người Á đông với
mấy lớp áo mũ nặng chình chịch luôn luôn trên người
mỗi ngày vẫn đón chuyến búyt ở đường 14 rồi xuống
xe ở đường Canal để vào làm việc tại khu China Town trên
đường Broadway. Vẫn tiếng chẫu sành quen thuộc từ người
Tàu già khi gặp chị Suzanne hay bất cứ nguời nào ông gặp trên
xe. Vẫn cái mùi từ ly cà phê ngửi mà phát thèm sáng
nào cũng trên tay của ông Do Thái ngồi ở băng cuối. Và
cũng như thường ngày, khi chị Suzanne đọc hết tin tức trang đầu
của tờ Wall Street Journal thì xe buýt dừng lại nơi chị phải bước
xuống, đó là toà cao ốc phía nam của Trung tâm thương mại
thế giới. Từ dòng Hudson
ở hướng Tây gió vẫn mát lạnh. Và lá vẫn chớm vàng
khi New York đang bước
vào thu. Tượng Nữ thần Tự do vẫn mịt mờ trong sương ở
vùng vịnh Upper Bay. New York vẫn là New York vừa cao
ngạo, vĩ đại, vừa thân thương, gần gũi. .
Một buổi sáng như mọi buổi sáng New
York. Như mọi buổi sáng của người New York.
Tuy giờ làm việc
bắt đầu từ chín giờ nhưng khoảng tám giờ rưỡi
thì hầu hết nhân viên và ban giám đốc đã có mặt.
Bà Helen và vài nhân viên khác đã đến đây từ
sáng sớm. Bà nói mọi chuyện phải sẵn sàng cho một ngày
quan trọng. Mọi người đều biết đó là ngày gì. Mọi
người có vẻ ăn mặc trang phục đẹp nhất của mình. Mày
râu nhẵn nhụi, áo quần bảnh bao. Bà Helen mừng ra mặt khi chị
Suzanne bày trước mặt bà những đồ biểu và tài liệu,
kể cả những negative phóng ảnh. Giọng bà Helen chắc nịch: “Như
vầy là ăn chắc. Cái khế ước thương mại này không
chạy đi đâu được”. Rồi mọi người hỉ hả nâng
cao cốc cà phê buổi sáng như thầm nói với nhau: Mình còn
làm việc nơi tầng cao thứ 101 này thêm ít nhất là 3 năm
nữa. Chị Suzanne gọi cho Frank để chia sẻ niềm vui đầu ngày này.
Chị còn cho Frank hay ngày mai chị được nghỉ phép
cho đến hết tuần để đánh vật với thằng dị ứng
đã theo chị từ hơn tháng nay. Chị nói chị sẽ ném xác
nó xuống Đại Tây Dương nên đề nghị với Frank là
ngày cuối tuần sẽ đi xuống cực nam của Brooklyn cho hai con chơi ở
Astroland, rồi ghé Kings Plaza shopping center mua sắm ít đồ mùa đông
đang đại hạ giá. Bao giờ họ cũng chấm dứt điện đàm
bằng câu: I love you. See you soon, Honey. . Vậy mà sau câu nói thương yêu đó họ không
còn gặp nhau nữa. Không bao giờ gặp nhau nữa. Vĩnh viễn họ đã
mất nhau. Thật sự thì lúc 8 giờ 45 phút ngay sau khi một trái lửa
vĩ đại phụt ra từ tòa cao ốc phía bắc cùng với tiếng
nổ kinh hồn, trong nỗi thảng thốt cùng tột, chị Suzanne có gọi
chồng, gọi nhiều lần. Không có tiếng trả lời. Từ tòa cao
ốc phía nam này nhiều người chạy ra cửa sổ nhìn tòa nhà
phía bên kia. Khói. Lửa. Tiếng nổ. Không ai biết chuyện gì
đang xảy ra. Hay đầu óc mọi người cũng đang nổ tung để
không ai còn biết trời trăng mây nước gì nữa hết. .
Rồi ầm ầm như sấm nổ, như sét rền, như đất chuyển
trời rung. Như trời sập. Mọi người mạnh ai nấy chạy. Tiếng
kêu gào thất thanh. Tiếng la. Tiếng khóc. Có người chạy loanh
quanh, không còn biết đâu là lối ra cầu thang hay thang máy. Trời
đất tối sầm. Người ta dồn cục khắp hành lang.
Ở một khắc giây nào đó chị Suzanne thấy mình bay bỗng
lên không trung rồi như một mảng bông tuyết tan ra trắng xóa trên
bầu trời New York.
Trong căn
phòng khách ở tầng thứ 41 của tòa chung cư trên đường
số 23, anh Frank thấy mặt thằng Bobbie bỗng nhiên ngơ ngơ, đôi bàn
tay nhỏ nhắn xòe ra xoay xoay trong không khí, mồm nói với anh mấy
lời mà anh không nghe rõ; anh nhìn màn ảnh truyền hình trước
mặt thì những chú thỏ con nhiều màu đã biến mất, thay
vào đó là một trái lửa vĩ đại từ tòa cao ốc.
Anh Frank mở cửa chạy ra hành lang chung cư, tai còn nghe giọng nói hoảng
hốt của người xướng ngôn viên. Anh Frank tận mắt thấy trái
lửa. Anh chạy vào nhà, trái lửa choán hết màn ảnh truyền
hình. Anh Frank đã dùng hết điện thoại nầy đến điện
thoại khác mà anh có trong nhà để gọi vợ. Không có tiếng
trả lời. Anh chạy ra hành lang. Cục lửa bây giờ là một đụn
khói khổng lồ bao trùm gần hết vòm trời Manhattan. Rồi anh Frank có hoa mắt không khi thấy
một chiếc phi cơ ghim ngay giữa tòa nhà phía nam, nơi vợ anh đang
làm việc? Không, không thể nào có chuyện như thế được.
Lửa. Lửa. Tất cả là khói, là lửa. Là sấm động,
phong ba. Cả dòng Hudson cũng
là lửa khói. Ở tít phía nam kia, tượng Nữ thần Tự do
thoát hiện, thoát biến trong màn khói đen. . Không còn nghi ngờ gì nữa: hai tòa cao ốc đang bốc cháy.
Cũng không cần biết gì thêm từ cái truyền hình, anh Frank bỏ
hai con vào một xe đẩy, hộc tốc đi thang máy xuống chỗ để
xe, lái về hướng đám lửa to như quả núi . Xe anh chỉ chạy
được một đoạn đường thật ngắn thì phải dừng
lại, không thể nhích thêm một thước nào nữa. Mọi người
đang đổ ra đường. Tiếng la hét, tiếng còi hụ inh ỏi
một góc trời. Anh Frank bỏ xe bên vệ đường rồi hai tay bồng
hai đứa nhỏ cố đi ngược dòng người để đến gần
hai tòa cao ốc. Đến ngả tư đường Houston và Park Avenue thì
anh hoàn toàn bị cảnh sát chận lại. Trước mặt anh trái
lửa như con ác quỉ vĩ đại đen ngòm với hàng ngàn cái
lưỡi đỏ lòm như máu tươi. Con bé Michelle đã ngủ
trên vai anh, còn thằng Bobbie thì ngơ ngác trước cảnh tượng
trên đường và cụm khói trước mặt. Không thể đi
thêm được nữa, anh Frank rẽ vào trường đại học New York, bế hai con lên từng cao, hy vọng
thấy vợ mình trong đám người đang hơ hải chạy phía
duới. Từ đây anh Frank thấy hết mũi Manhattan trong khói lửa và trong hỗn loạn. Hàng ngàn người
chen lấn trên cầu Brooklyn và
cầu Manhattan. Vô số người
đổ dồn về phía bến cảng số 11 để lên phà sang New Jersey. Khắp nơi là đầu người
nhấp nhô. Ở một giây bất ngờ, anh Frank thấy một thân người
phóng ra từ cửa sổ của một từng lầu gần chót
vót trên cao, thân người chơi vơi như tờ giấy trắng bay phất
phơ trong gió. Rồi như cảnh tượng trong phim ảnh, hai toà nhà
lần lượt sụp đổ theo sau những tiếng nổ kinh hoàng, như hai
người khổng lồ bị trúng tên độc ngã chúi trên hào
thành. Hàng trăm xe cứu hỏa, xe cảnh sát từ khắp nơi và
hàng đoàn xe cứu thương từ khu Bịnh viện Cựu chiến binh cách
mấy block đường hụ còi inh ỏi hướng về phía hai trái
núi sắt đang bốc lửa. Nhìn xuống con đường West Broadway anh thấy
khói xám bốc lên từng đợt như sóng lượn. Tro than bao trùm
các con phố. Anh Frank cố giương mắt thật to tìm cái áo len
màu hồng phấn mà vợ anh mặc sáng nay. Tất cả là những
áo quần xám ngoẹt đầy tro than. Không biết bây giờ là
lần thứ mấy trăm anh Frank bấm số gọi vợ. Cái điện thoại
ác ôn vẫn im tiếng. Đường giây đã bị cắt đứt
từ lâu rồi. Đôi mắt vô hồn, nhìn ngó bâng quơ, anh
Frank bây giờ chỉ biết đứng bên đường, ôm chặt hai con
mà khóc.
xXx
Không biết hôm nay là ngày thứ mấy anh Frank dẫn hai con đứng
nơi góc đường West và Chambers nầy. Trước mặt anh và xung
quanh khu đổ nát là những bảng cấm vượt qua. Cảnh vật ở
đây sao lạ lẫm vô cùng với sự vắng mặt của hai tòa
cao ốc. Có phải nơi đây vẫn là New York? Anh Frank đang đứng giữa lòng New
York hay đang bơi giữa hành tinh xa lạ nào? Khắp
nơi là gạch đá vương vãi, là sắt thép trần trụi,
cong queo, ám khói. Có những cột sắt đen thui đứng thẳng như
trời trồng, như còn ngạc nhiên cho cái tai họa từ một chốn
u minh nào chợt tới. Khắp nơi là nỗi kinh hoàng còn bám dính
trên từng mảnh gạch vụn, là hàng ngàn oan hồn uổng tử
với cái chết tức tưởi đang chấp chới bay trong không gian đầy
tro bụi. Hàng trăm xe cần trục, xe xúc, xe ủi, xe vòi rồng ... cùng
với hàng ngàn con người làm việc ngày đêm từ mấy
hôm nay vẫn chưa đem về cho Frank người vợ thương yêu. Hình
như mỗi người lái xe cần trục, mỗi người lính cứu hỏa đang làm phận sự tại
hiện trường đều có nghe người cha đầu bù tóc rối
với hai đứa con còn nhỏ hỏi han về một cái áo len màu
hồng phấn. Người đàn ông với đôi mắt thất thần
nhiều khi nói mà như mê. Con bé Michelle hình như cũng biết trông
ngóng mẹ nên mỗi ngày nơi góc phố này nó nằm yên
trong xe đẩy, mở mắt thao láo nhìn phía trước mặt. Còn
thằng Bobbie thì cứ khóc đòi mẹ. Tới ngày hôm nay thì
tiếng nó đã khan rồi. Anh Frank như đứt từ đoạn ruột.
Đường dây điện thoại đã nối. Anh Frank gọi
vợ hàng trăm lần mỗi ngày, anh mong được nghe tiếng vợ mình
đang đi lạc ở một khu phố nào đó, hay đang điều trị
tại một bịnh viện; hay trong tình huống xấu nhất là được
nghe tiếng rên thoi thóp của nàng từ dưới đống gạch vụn.
Anh Frank viết tên vợ trên những tấm giấy cứng rồi đeo trước
ngực và sau lưng mình. Thằng Bobbie cũng mang một tấm trước ngực
chạy lăng xăng vừa khóc vừa gọi mẹ. .
Có nhiều lúc ba cha con ngồi ôm nhau mà khóc giữa tiếng ầm
ầm của các loại xe cơ giới và trong hơi gió âm u như tiếng
nấc của các oan hồn.
Nữ Thần Tự Do từ đằng
xa kia chắc cũng đang rơi nước mắt. . Tháng
9 – 2001 Trần Bang Thạch
Trần
Bang Thạch truyện Trên vách núi
có một dòng sông
Lúc tôi đến thì
ông K. đang ở sân sau. Ông đang ngồi trên một khúc
cây sần sùi, hướng mặt về ngọn đồi thấp sau nhà. Xa
nữa là dãy núi cao như đụng trời. Nửa điếu thuốc trên
tay ông không còn một chút lửa. Đêm ở đây đến
thật muộn. Gần một giờ trước, khi tôi vừa tới trạm xe buýt
thị trấn thì đèn đường đã sáng choang. Vậy mà
ở đây, bây giờ, trời vẫn chưa tối hẳn, để tôi còn
có thể nhìn dáng dấp ông K. nhỏ nhoi, bất động in trên
nền trời xanh nhạt có những dãy mây chết cứng. Chừng như
gió cũng không tới thung lũng này. Trước mắt tôi là một
bức tranh tĩnh vật có đồi có núi và có người đàn
ông của mấy mươi năm cũ. Thiên nhiên mênh mông mà im
lặng quá. Người tình có đó mà như không. Tôi đang
đứng sau lưng K. mấy bước mà như ngàn ngàn dặm xa. “ Chứng bịnh của ba con mấy
tuần nay trầm trọng quá. Ba con hầu như quên hết mọi chuyện đã
qua. Có một cái tên duy nhất mà ba cứ nhắc hoài. Đó
là tên của cô đó, cô T. ạ. Đôi mắt của ba bây
giờ tệ lắm, chỉ thấy mờ nhạt dáng người. Nhiều lúc
Ba cũng chẳng nhận ra con. Chuyện vặt trong nhà ba vẫn làm được,
nhờ quen tay và quen chỗ” Tôi nghe tiếng khóc của cháu Nga bên kia đầu
giây điện thoại. Tôi như nghe cả cái quặn thắt của cõi
lòng Nga từ hàng trăm dặm xa xôi. Hay là chính cõi lòng tôi
đang trùng trùng sóng vỗ? “ Ngày nào cũng như ngày nấy, dù nắng dù mưa
dù sáng dù tối, ba một mình ngồi lặng lẽ ở sân sau,
mắt vô hồn nhìn ngọn đồi trước mặt. Chắc đã nhiều
ngày rồi ba không gọi cô?”. “ Phải, nhiều ngày rồi. Con biết đó,
cả tháng nay cô chỉ có thể nói chuyện với con thôi. Có
lẽ ba cũng đã quên người cố vấn tâm thần nầy rồi”. “Chắc con phải
đưa ba trở lại bệnh viện tuần tới. Cô T. à, tự nhiên
con nghĩ rằng sự có mặt của cô tại đây rất là cần
thiết, trong lúc này. Cô đồng ý đến đây một lần
nhe cô, cô T.?” “ Ừ. Đón cô tại trạm xe buýt thị trấn lúc 6 giờ
chiều mai”. Tôi nói nhanh , chỉ sợ mình đổi ý. “ Cô nói thật
phải không cô? Phải không cô T. ?” “ Thật”. “ Cám ơn Trời Phật. Cô làm con ngạc
nhiên quá. Con cảm ơn cô”. “ Cô sẽ khoác cái áo
gió màu tím than, đó là dấu hiệu để con dễ nhận
ra cô”. “
Không khó nhận nhau đâu, thưa cô. Vì vào giờ đó,
tại thị trấn đèo heo hút gió nầy, chắc chỉ có hai người
Việt Nam là cô cháu mình thôi. Cô làm con mừng quá. Với
sự có mặt của cô, con nghĩ bệnh của ba con sẽ giảm”. . Kể cũng thật là lạ.Tôi đã có
một quyết định quá nhanh mà tôi không ngờ. Tôi sẽ phá
bỏ một lề luật mà tôi đã cố giữ từ hơn hai năm
nay. Tôi đã đầu hàng dễ và nhanh đến vậy sao? Tôi
sắp tới một nơi mà tôi nghĩ suốt đời tôi sẽ không
tới. Không nên bao giờ đặt chân tới. Phố núi Prairie View, chưa
thấy lần nào mà đã sợ, chưa đến lần nào mà
chừng như đã quá thân quen. Từ ba năm trở lại đây, nơi
chốn ấy đã cất giữ gần hết phần hồn của tôi, chứ
không phải phố biển Seal Beach này với người chồng tên Steven,
là nơi tôi đã gởi tấm thân từ hơn ba mươi năm nay.
Phố núi Prairie View
nghe chừng ngọt ngào như hơi thở. Vì nơi đó có K. . K. đã đến đất nước
nầy thật muộn màng. Nhưng chàng đã đến trong đời tôi
thật sớm, và ở lại thật lâu, cho tới tận bây giờ. Ở
một khắc giây nào đó của hơn ba mươi năm trước,
Steven đã đan cho tôi một chiếc lồng muôn hồng ngàn tía,
rồi nhấc bỗng tôi đi, vượt bao sông dài biển lớn tới
cái xứ sở lạ hoắc lạ lơ nầy. Nhưng K., chính K. mới là
người sập xuống cánh cửa lồng nhốt chặt mảnh linh hồn của
tôi, để con tim tôi cứ đập rộn rã ở quê nhà, cõi
lòng tôi vẫn cứ bập bềnh theo con nước lớn nước ròng
trên dòng sông cũ, và ánh mắt tôi cứ dõi về một
phương trời lửa đạn ở một chiến trường xa. Và người
xưa ... . Người xưa
đã vì tôi mà một ngày thật xa nào đó, đã
bỏ lớp, bỏ trường đi vào binh lửa, cố quên hình bóng
một người tình. Rồi một ngày sau hơn bốn mươi năm, người
lính trở thành người tù đó đến xứ sở nầy với
một tấm thân bệnh hoạn, một trí não lúc nhớ lúc quên,
lúc mê lúc tỉnh, nhưng con tim vẫn hướng về người tình
phụ năm xưa. . Bóng
tối đang lên, xóa mờ những đỉnh núi xa. Ở đó bây
giờ là bóng đêm. Vùng đồi thấp sau nhà cũng bắt đầu
nhạt nhòa sương khói. Tôi không nghe một hơi thở nào quanh
đây, nhưng tôi nghe chút gió bay qua tóc mình, và nghe một
tiếng chim cô đơn lạc lõng giữa buổi chiều tà. K. đứng
lên, ném nửa điếu thuốc đã tắt từ lâu, định quay
vào nhà. “ Ông
K. Kính chào ông K. Thành thật xin lỗi nếu tôi đã làm
ông bất ngờ”. “ Dạ ...Dạ ...” “ Tôi là Cindy Trần, người thường nói chuyện
với ông qua điện thoại đó. Ông K. không nhận ra tiếng tôi
sao?” “
Có, có. Dạ, kính chào bà Trần. Tôi không ngờ được
gặp bà hôm nay. Thật là không ngờ. Bà làm tôi ngạc nhiên
quá, thưa bà Trần”. “ Trái đất nầy tròn mà ông K. Mình là
bạn từ hơn 2 năm nay thì sao không có ngày gặp !” “ Ờ...Ờ...Phải,
phải. Hơn 2 năm nay cứ nghe tiếng nói nhau mà hôm nay cha con tôi mới
được hân hạnh gặp bà. Kính mời bà Trần vào nhà.
Trời sắp lạnh rồi”. Tôi bước theo K., vào nhà. Căn nhà như một
cái lều nhỏ của người dân da đỏ quanh đây. Vách là
những khúc gỗ chưa lột da xếp chồng lên nhau làm thành bốn
góc của cái hộp hình chữ nhựt. Hai mái nhà cao chụm lại
trên chóp như một nóc giáo đường. Cửa trước hướng
ra chiếc sân rộng. Chiếc sân ngó xuống ga xe lửa dưới chân
đồi, có con đường liên tỉnh chạy ngoằn ngoèo hai bên
thành đá dựng . Chỉ một bóng đèn mờ nơi gọi là
phòng khách, không đủ sáng để tôi nhìn rõ mặt người
đàn bà trong khung ảnh nhỏ đặt trên đầu tủ ngăn phòng
khách với căn phòng phía sau, có lẽ là nhà bếp. . Nga khoác lên người chiếc áo
dạ, nói con phải xuống phố mua ít món đãi cô Cindy một
bữa ăn vùng núi mới được. Tôi kiếm chỗ máng cái áo gió rồi ngồi trên cái
ghế sắt cạnh cửa ra vào. Ông K. đứng giữa phòng khách
cứ xoa xoa hai bàn tay với nhau, có vẻ khó mở lời. “ Dạ...Kính mời bà Trần ngồi nghỉ.
Xin phép bà Trần cho tôi mấy phút để pha bình trà”. “ Dạ...Không dám
làm phiền ông, ông K. ạ”. Trời ơi , chúng tôi phải ăn nói lịch sự, trang trọng,
khách sáo đến như vậy sao? Từ bao giờ chúng tôi chỉ là
hai người quen, hai người đồng hương bình thường, chớ không
phải là hai người đã có thời yêu nhau tha thiết? Cái mặc
cảm thua thiệt của K. hơn mấy mươi năm trước hay chứng bịnh
quên trước nhớ sau, quên hình nhớ bóng của K. bây giờ?
Hay là cái mặc cảm tội lỗi quá lớn của tôi đã giăng
một màng sương tuy mỏng mà lạnh căm, để chúng tôi thành
hai pho tượng băng giá đứng giữa trời đông nhìn nhau mà
không cất lên được lời nào. Hơn hai năm qua , mỗi tháng
đôi lần trên đường giây điện thoại có lẽ chúng
tôi đã nói quá nhiều, quá đủ về một chuyện tình
thật xa nhưng không bao giờ cũ. Chuyện người nữ sinh mười tám
tuổi đã bỏ cái thị trấn tuổi nhỏ nghèo nàn để
bước vào đời; đã bỏ người tình từ thuở học
trò để lấy chồng rồi về quê hương chồng ở một
chốn xa xôi Seal Beach đó. Chuyện người con trai hai mươi đã
không giữ được người yêu thì màng chi đến việc
đèn sách. Chuyện tình như vậy thì đâu có gì là
lạ trong thế gian. Và người tình si suốt đời, thế gian cũng
đâu bao giờ cấm cản. Qua điện thoại, người mang bệnh tâm
thần tên K. cứ tiếng còn tiếng mất, lúc tỉ tê, lúc ngọt
ngào, khi giận hờn, khi tức tối ...Chuyện tình cũ theo đó mà
mới hoài. Từ hơn hai năm nay tôi dần dà trở thành người
kịch sĩ thượng thặng trong vai trò người chuyên viên khoa tâm
lý trị liệu bất đắc dĩ với cái tên Cindy Trần. Tôi
diễn xuất nhập vai đến nỗi bên kia đầu giây tại phố
núi Prairie View, K. không ngờ mình đang nói chuyện với người
tình tên T. của gần bốn mươi năm trước. Và tôi, lắm
khi trí não tôi cũng lững lững lơ lơ, tâm trạng tôi cũng
mờ mờ ảo ảo trong câu chuyện tình của chính mình. Có
lúc tôi thấy mình là T., cô Phan Ngọc T. của thị trấn đìu
hiu Long Thạnh đang lắng nghe tâm sự của người tình cũ; có
lúc tôi thấy mình thật là khốn đốn, khổ sở trong vai trò
người chuyên viên tâm lý Cindy Trần của phố biển Seal Beach. Trong
những lần điện đàm như vậy, có thể có lần tôi
khóc, hay từ bên kia đầu giây chính K. cũng khóc; có thể
một lúc nào đó hai trái tim chúng tôi cùng một nhịp,
cùng thổn thức, cùng nghẹn ngào. Chúng tôi đã sống lại
những ngày yêu thương cũ tại hai nơi hoàn toàn xa lạ đối
với mỗi người “ Bà Trần biết không, có bao giờ tôi
nghĩ tới một ngày tôi phải bỏ con sông thân yêu chảy lặng
lờ phía trước nhà, nơi tuổi trẻ tôi đã từng ngụp
lặn, nơi chúng tôi đứng bên nhau hàng giờ nhìn từng cụm
lục bình bình thản trôi. Những đêm trăng sáng, con nước
lớn như ngừng trôi để chúng tôi thấy bóng mình in trên
sóng nước. Làm sao tôi biết được một ngày nào đó
tôi phải vĩnh viễn mất T., người yêu đầu đời của
tôi. T. bỏ đi. Tôi cũng bỏ lại sau lưng dòng sông tuổi nhỏ,
bỏ lại đoạn quốc lộ sụp lở vào những mùa nước
nổi”. Trời ơi, K. đã nhắc tới những góc thật nhỏ
của quê hương tôi, đã rung hồi chuông thật khẽ mà làm
từng giây thần kinh tôi đau nhức. Làm sao tôi không nhớ được
những đêm trăng trên bến nước, nhớ lắm, nhớ thật nhiều,
nhớ từng cánh lục bình trôi; tôi như thấy trước mắt
mình hình ảnh K. đã từng dìu tôi bước qua đoạn quốc
lộ tróc lở đó để vào trường tiểu học. Rồi cũng
chính K. là người dìu tôi qua mấy đoạn đường trơn
trợt để vào trường trung học. Vậy mà có một ngày
tôi đã bỏ lại tất cả. Và bây giờ định mệnh nào
đã trớ trêu để chúng tôi gặp nhau trong tình cảnh lỡ
làng nầy. Suốt hơn hai năm chuyện trò qua điện thoại, nhiều
lần tôi phải tự nhủ mình : hãy đi theo con đường mình
đã chọn từ khi hay tin K. đến Mỹ: Chuyện tình của hơn bốn
mươi năm trước, từ thuở tóc hãy còn xanh, đã trót
dỡ dang; mỗi người bây giờ tóc đã hoa râm, mỗi người
có một hoàn cảnh riêng, trân quí giữ trong sâu thẳm lòng
mình những thân ái cũ chẳng phải là một hạnh phúc sao? K. trở ra phòng
khách với bình trà. Ông đã mặc vào bộ bà ba trắng
còn nguyên nếp gấp. Râu ria cũng được cạo sạch nên trông
K. bớt đi cái vẻ tiều tụy so với lúc tôi vừa mới gặp.
Nhưng đôi mắt K. thì vẫn vậy: như có lớp mây mỏng che
ngang khiến sự di chuyển có phần nghiêng chao. Hình như tôi chưa
tìm gặp dấu vết thân quen nào đó trên dáng dấp của
người đàn ông dấu mặt đã từ hơn bốn mươi năm
nay vẫn đi bên cạnh đời tôi. Tôi kịp nén một tiếng
thở dài. “ Để
bà Trần ngồi lâu một mình, tôi thành thật xin lỗi. Kính
mời bà Trần dùng ly trà nóng”. “Dạ không dám. Kính mời ông K.” “Dám hỏi bà
Trần, cơ may nào đưa bà Trần ghé thăm nhà chúng tôi
?” “Chỉ
tiện đường ghé qua thôi. Thưa ông K.”. Tôi hơi
nhếch mép cười sau câu trả lời không thật ấy. “Cảm ơn, rất cảm ơn
bà Trần”. “Dạ, không dám, thưa ông K.” . Những lời vô cùng khách sáo như vậy cứ
như thế mà tuôn ra suốt buổi hay sao ? Cách nhau cái bàn chỉ
rộng mấy gang tay mà trước đôi mắt mờ mịt của K. tôi
vẫn là Bà Trần xa xôi chớ đâu phải là người tình
tên Phan Ngọc T. của khung trời yêu thương bốn mươi năm cũ!
Về phần tôi, đã bao năm nước chảy qua cầu với bao nhiêu
mây trôi gió nổi, mấy bận đất ngã trời nghiêng, tôi
đâu còn tôi của những đêm trăng cùng K. đứng trên
bến sông nhìn những dề lục bình rau mát lặng lẽ trôi
dưới gậm cầu. Tôi đâu còn tôi của những ngày lễ
nghỉ học cùng K. ngồi xe lam từ thành phố Cần Thơ về thăm
thị trấn đìu hiu Long Thạnh. Tôi thật sự đã làm mất
tôi trong cuộc tình đầu. Cánh cổng của một tòa lâu đài
tình yêu đã đóng. Tôi ngác ngác ngơ ngơ giữa trời
cao đất rộng. Tôi chới với chơi vơi giữa mộng và thực.
Có lúc tôi thấy mình như tận lực dang tay ra cố chụp bắt
một chiếc bong bóng nhiều sắc màu đang lửng lơ trước mặt.
Đồng thời tôi cũng thấy mình co lại đôi tay, nén chặt
vuông ngực để trái tim đừng lên tiếng nói.Tôi là
gì và K. là ai, hai kẻ đang ngồi cách nhau mấy gang tay ? Tôi nghĩ
tình cảnh này sao chua xót quá. Hơn bốn mươi năm cách xa
nhau có chua xót bằng mấy giây hội ngộ đêm nay không? Tôi
biết tôi đang khóc. Tôi cũng biết K. sẽ không thấy vài giọt
nước đọng trên mi tôi đâu, cả cái dáng hình tôi
trước mặt bây giờ K. cũng còn không nhận ra nữa kia mà.
Có cần thiết để nhận nhau trong giây phút này? Hay hãy để
tình yêu xưa muôn đời ngủ thiếp trong từng ngăn kéo kỷ
miệm riêng tư?. Tôi vụt nói với K. tôi phải rời đây
ngay bây giờ. K. ngỡ ngàng đứng lên, hơi nghiêng ngã làm
đổ chén trà trên tay, nói, sao bà Trần vội quá vậy,
không chờ cháu Nga về đưa bà Trần ra trạm xe buýt. Tôi
tưởng Bà Trần ở lại dùng bữa cơm với cha con tôi mà.
Bà Trần. Bà Trần. Cái tên nghe mà chua xót! Cái tên giả
mà thực bỗng được nhắc tới liên tục ngay trong giờ phút
này càng khiến bước chân tôi rời khỏi căn nhà càng
nhanh càng tốt, trước khi tôi lỡ buột miệng nói với K. tôi
là T., Phan Ngọc T. của thị trấn Long Thạnh. Là em đây. Là em
đây. Hãy nhìn thật rõ trước mắt anh là T. của ngày
nào. Tôi thoát đi như chạy. Chân tôi còn nhanh hơn những
lời tôi sắp nói. Con dốc ngắn, ngoằn ngoèo, lỡm chỡm đá sỏi
đưa tôi xuống dòng xe cộ dưới chân đồi. Đi hơn nửa
con dốc, tôi ngoái nhìn lên để thấy căn nhà gỗ nhạt
nhòa trong sương đêm, và thấy một cái bóng trắng cao, gầy
giữa khung cửa mở. Phía sau căn nhà là vách núi cao như chạm
trời. Ô kìa trên vách núi ! Tôi có hoa mắt không ? Ai ? Ai
đã thần tình chạm trỗ một dòng sông đêm với cánh
lục bình nằm lẻ loi dưới bến? .
Nhìn xuống chân đồi tôi thấy người
con gái tên T. nào đó đang bồng bềnh trôi trong dòng xe cộ
giữa hai vách đá. Con tàu đêm rú một hồi còi dài,
dừng lại mấy giây rồi tiếp tục húc đầu vào núi. . Mọi sự đang ở phía sau lưng. . trần bang thạch
TRẦN BANG THẠCH truyện. _____________________________
ÔNG GIÀ
TRÊN BÃI RÁC BÓT SỐ 10 Qua khỏi thị trấn Cái Răng, chỗ gần đường Lộ Tẽ
Hàng Gòn thì bánh xe sau của chiếc Honda ôm bắt đầu xẹp.
Bánh trước cũng lần lần xẹp theo. Chú tài xế tên Chi càu
nhàu: -Biết
mà vẫn không tránh khỏi! Gió ngược. Ngồi phía sau xe, ông Năm cố
nói lớn tiếng: -Chú biết cái gì vậy? -Thì cái vụ rãi đinh xuống mặt đường. -Thường xảy ra
lắm sao? -Không
thường thì bọn nó lấy gì ăn. -Ăn đinh? -Bố ơi, mấy thằng vá vỏ xe ở đằng
trước kìa. Nó không ăn đinh, nhưng mình bị ăn đá. -Chuyện gì nghe lạ
quá vậy? -Chuyện
xã nghĩa mà bố. Cái gì cũng lạ hết. Ai mà dám mở
miệng cằn rằn mấy thằng vá xe về cái việc chúng nó rãi
đinh, cả cái việc tụi nó tính tiền thẳng tay, thì coi chừng
bị tụi nó. Bánh xe mình ăn đinh còn mình thì ăn đòn. -Dân Cần Thơ, Cái
Răng mình hồi nào tới giờ hiền lành lắm mà. Bây giờ
sao lạ vậy? -Thì
có những kẻ lạ từ đâu kéo tới đây từ sau cái
ngày ông cột đèn biết vượt biên nên cớ sự mới
ra nông nỗi nầy. Dân Cái Răng mình cũng đi tứ tán nhiều.
Kẻ lạ càng ngày càng nhiều và càng hung hăng con bọ xít. -Còn chánh quyền
ở đâu? -Ở khắp nơi, nhưng cá mè một lứa. Có quyền mà
không có chánh thì trị ai được. Mỗi người ăn mỗi
kiểu. Chức quyền ăn theo quyền chức. Dân khu đen ăn theo dân đen
khu. Bố lưu lại vài tuần ở cái Việt Nam nầy, bất cứ nơi
đâu, bố sẽ thấy hết những điều mà mấy mươi năm
cuộc đời của bố chưa từng thấy. Ông Năm không nghe rõ vì còn bận nghĩ
tới cái vỏ xe sắp hết hơi. Định xuống Phụng Hiệp thăm
thằng bạn nối khố từ thời tiểu học, nhậu quắc cần câu
với nó một bữa rồi chiều tối trở về Cần Thơ để
sáng mai lên Sài Gòn bay về Mỹ. Trục trặc kỷ thuật như
thế nầy thì biết bao giờ mới tới Phụng Hiệp. Ông Năm cũng
chợt nhớ đoạn đường nầy lúc ông còn là cậu học
trò trung học hàng tuần từ nhà trọ ở Cần Thơ về thăm
nhà ở Cái Chanh. Ngay ở đây ngày xưa là bót Tây số
9. Thêm 1 cây số nữa ở đằng trước là bót số 10. Thuở
đó ông Năm mười mấy tuổi nhưng ông vẫn còn nhớ
người lớn bàn tán thật nhiều về trận đánh đoàn
công-voa Tây trên đoạn đường nầy. Trận đó có một
thiếu niên trạc tuổi ông tên là Hai Cọp đã gan dạ chạy
lăn xả vào chiếc xe jeep có viên đại úy Tây tên gọi
là Tây Râu Đỏ. Cậu bé quăng trái lựu đạn vào
xe, giết ngay tên Tây Râu Đỏ. Dân quân thắng lớn. Từ đó
người thiếu niên Hai Cọp phải bỏ xứ đi đâu mất. Cũng
từ đó Tây dựng thêm bót số 10 ở ngay nơi xảy ra trận
đánh. Đến
lúc hai bánh xe bắt đầu xẹp lép thì cũng là lúc ông
Năm thấy hai, ba cái lều nhỏ che tạm bên lề đường với
những vật dụng vá xe lỉnh kỉnh. Khỏi mấy cái lều là đống
rác to và cao như một quả đồi nhỏ. Gió từ hướng phía
trước đưa mùi rác rưởi về phía hai người. Ông
Năm lấy tay che mũi. Xe chưa dừng lại hẳn trước cái lều đầu
tiên thì đã có mấy thằng nhỏ giành giựt khách. Đứa
thì nắm cổ xe, đứa thì đẩy yên xe về phía lều vá
xe của nó. Tài xế Chi hình như đã quen với cảnh nầy nên
để mặc mấy đứa nhỏ muốn làm gì thì làm với
cái xe xẹp bánh của mình. Chi dẫn khách vượt khỏi đống
rác, đi về hướng cái quán nước trên gió. Quán cũng
lụp xụp nhưng được hai mái che bằng lá, vách thì bằng
mấy tấm giấy dày. Hai cái bàn thấp với mấy cái ghế mũ
cũng thấp lè tè, đầy bụi bặm. Bà chủ quán đon đả
mời khách, còn người đàn ông đang nằm võng trong góc
đang đọc báo, không buồn ngó đến khách, có lẽ là
ông chủ quán.Tháng mười trời hơi âm u, sắp mưa. Gió
thổi mạnh nên mát. Tài xế Chi kéo ghế. -Ngồi xuống đi bố, nghỉ
chưn một chút. Bây giờ muốn đi gấp cũng không được. Hàng trong quán thật
sơ sài, trên kệ mấy chai nước lọc bên cạnh mấy chai 7-up,
vài chai bia Hậu Giang và một rỗ ổi, cốc, chuối xiêm, chuối
già. Tất cả mốc cời vì bụi.Tài xế Chi kêu một ly đá
lạnh, Chi biết ông khách sẽ không dám rớ tới ly nước đá
ở đây; kể cả nước lọc trong chai đóng nút, nên không
mời. Chi biết mọi thứ bày bán tại những nơi kém sang trọng
như vầy mấy Việt kiều mười người như một sẽ không
dám đụng tới. Họ nói đó là nước lọc giả, bia
giả, thuốc lá giả. Một số còn nói cả tánh tình, tâm
sự, lời nói của người ta cũng giả. Nghĩ cũng ngộ. Thời
nầy ở đây cái gì mà không giả! Giả từ lâu lắm
rồi. Nhớ hồi hai, ba mươi năm trước thằng bé Chi nghe người
lớn nói anh y tá đi bộ đội lâu năm trở thành bác
sĩ. Có ông cán bốn túi từ Bắc vào chễm chệ ngồi
vào ghế Viện trưởng cái đại học duy nhứt ở vùng đồng
bằng sông Cửu Long này; về sau biết ra thì cán ta chỉ xong lớp
7! Còn bây giờ thì anh công an huyện cũng có bằng phó tiến
sĩ. Chị giám đốc thì cái bằng tiến sĩ coi như bình
thường; ai không có mới là điều lạ. Chiều nay có hoa
vàng trước ngõ. Lúc trước người ta ca như vậy. Bây
giờ thì chiều nay tiến sĩ giấy bay đầy trước ngõ!
Có nhiều giai thoại nói về các tiến sĩ hàm đời nầy.
Người ta kháu nhau rằng có cô tiến sĩ chủ nhiệm nông trường
gốc miền ngoài trong một bữa tiệc chiêu đãi báo chí,
tới món tráng miệng bằng kem, cô tiến sĩ giám đốc dùng
bàn tay bự như cái quạt ba tiêu lia lịa quạt quạt ly cà-rem
đang bốc khói, người bên cạnh thắc mắc hỏi nhỏ, cô
giám đốc nói là “nàm cho cà-lem bớt lóng mà
lồng chí ” !!! Đồng rận lúc đó chắc chỉ muốn
chui xuống gầm bàn huống chi là “lồng chí”. Không
biết cà-lem xã hội chủ nghĩa “lóng” hay cái
hàm tiến sĩ của cô sắp cháy! Bằng cấp để treo chơi
thì có chết thằng tây nào đâu. Tài xế Chi nghĩ tới
đó bỗng cười. Ông Năm không biết nó cười vì cái
gì. Ông lấy cái bị đeo sau lưng để xuống bàn, lấy
ra chai nước lọc, tu ngon lành. Ông Năm ngó lơ ngơ về hướng
bãi rác. Bên kia bãi rác là hai hàng xoài chạy dọc theo
con lộ nhỏ dẩn vào xóm nhà và khu vườn nằm phía sau
cánh đồng sát mặt lộ. Ông Năm loáng thoáng nhớ là
bót số 10 lúc trước nằm bên nầy lộ, đối diện với
con lộ hàng xoài. Hơn năm mươi năm rồi, hàng xoài đã
bao lần thay cây đổi lá. Bãi rác nay đã thay chỗ của cái
bót số 10. Ông Năm bắt gặp một ông già đi về hướng
quán. Gió ngược làm cho cái bọc ny lông to ông quẩy trên
vai như muốn bay về phía sau. Ông già cẩn thận để cái bọc
ny lông dựa vào vách, uể oải bước vào quán, kéo ghế
ngồi bên chiếc bàn trống. Ông già mặc cái quần kaki xanh lá
mạ bạc màu, vá tứ tung và cái áo thun 3 lỗ màu đất,
ướt mồ hôi. Có điều ông Năm lấy làm lạ về cái
đôi dép bằng vỏ xe trên đôi chân ông già; loại dép
nầy trước ngày xuống tàu hải quân tại bến Bạch Đằng
vào đêm 29 rạng 30 tháng Tư bảy lăm, chàng thanh niên Năm
Hùng chưa hề thấy nhưng nghe nói nó đã biến mất từ
mấy năm nay rồi mà. Bây giờ cán bộ văn minh hơn nhiều, giày
da, áo vest, xách samsonite. Ông Năm đoán ông già cỡ tuổi mình,
chắc cũng đã trên bảy mươi. Tự nhiên ông Năm xàng
qua ngồi chung bàn với ông già. Ông muốn mời ông già giải
khát. Ông già từ chối. Ông Năm hỏi chuyện, ông già không
mặn mà trả lời, có thể vì ông mệt, cũng có thể
ông không muốn nói chuyện nhiều với người lạ, mới gặp
ngoài đường. -Khá hông ông anh? -Lượm rác mà khá cái nỗi gì! -Không, tui muốn hỏi là
nghề nầy sống được hông? -Nghề nào mà sống hổng được. Không
nghề cũng đâu có chết. Có khi còn làm cha thiên hạ. Biết ông già
nói ngang như cua bò, ông Năm chuyển đề tài: -Hồi tui còn ở đây,
đống rác nầy hình như chưa có? Tài xế Chi chen vào: -Có rồi. Có từ
trước bảy lăm. Lúc đó rác rưỡi đã có nhưng
chưa nhiều. Sau bảy lăm thì rác nhiều hơn, rác khắp nơi.
Biết
tài xế Chi ưa nói chuyện ngoắc nghoéo, ông Năm không muốn
xen vào. Nhưng ông già lượm rác như bắt được cái
ý lắc léo của tài xế Chi: -Rác từ làng lên tỉnh, từ trên xuống
dưới. Chú em còn nhỏ mà rành chuyện đời nay bộn há. Ông Năm giả vờ
đưa chai nước lên miệng, uống một ngụm. Tài xế Chi vỗ tay vào vế
một cái bạch rồi oang oang: -Đúng y chang! Tiá nuôi nói trúng hết xẫy!
Rác từ từng dưới lên từng trên, từ từng trên leo tuốt
lên sân thượng, từ đồng bằng ra hải đảo! -Có cái
gì mà không trúng. Hỏi bất cứ thằng nhỏ nào trên đống
rác kia, nó cũng biết như vậy. Nó biết cái tòa biệt thự
nầy có mấy đống rác, biệt thự kia có mấy ổ chí,
ổ rận. Nó còn biết cái tỉnh nầy có bao nhiêu chuột lớn,
chuột nhỏ đụt khoét khắp mọi nơi. Thấy câu chuyện mỗi
lúc thêm trầm trọng, ông Năm lại chuyển đề tài một
lần nữa : -Ông anh có con cháu gì nhiều hông ? -Có mà
như không. -Chắc các cháu đi xa ? -Cũng có đứa
ở gần. -Vậy thì cũng có con săn sóc cho ông anh được. -Thời nầy
mạnh ai nấy lo ông bạn ơi. Nghe ông già gọi mình bằng bạn, ông
Năm biết ông già đang có vẻ cởi mở rồi đây. Ông
Năm đi xa hơn một chút, mục đích là để cho qua thì
giờ đang khi chờ cái vỏ xe vá xong. -Ông anh chắc là dân
cố cựu ở đây ? -Ừ. Nhưng mà chỉ đúng một nửa. Bà chủ
quán xen vào : -Tui mới là người cố cựu. Còn anh Hai đây
chỉ mới trở về sau bảy lăm. -Chắc ông anh đi làm ăn hay đi lính ở
xa ? Ông già ngó lơ, làm như không muốn trả lời.
Bà chủ quán chen vào gọn hơ : -Đúng là đi lính
xa. Xa thiệt là xa. Mút mùa lệ thủy. -Ở đâu lận ? Bà chủ
quán hăm hở : -Thì tận ở ngoải. Ở ngoài Bắc đó,
phải không anh Hai ? Kể chuyện Lạng Sơn Cao Bằng cán gáo cho người
ta nghe chơi đi anh Hai, nhứt là cái chuyện mấy anh tập kết nổi
loạn đòi dìa đó. Còn chuyện vượt Trường Sơn nữa. Ông Hai vẫn làm
thinh. Câu chuyện có vẻ lý thú, ông Năm hỏi tiếp: -À! Vậy
là ông anh đi làm cách mạng. Thật là hiển hách. -Tui xin lỗi anh
Hai nhen : Hiển hách hay không thì không thấy chớ tui thấy anh Hai
bây giờ càng ngày càng rách như cái túi ny lông cũ. Bà chủ
quán buông tiếng ứ hự ở cuối câu nói rồi cầm cây
quạt mo cau đuổi ruồi bay quanh mấy nải chuối. Mưa bắt đầu
rải hột lắc rắc. Thằng bé dẩn cái xe tới, dựng trước
quán. Tài xế Chi trả tiền. Một phần vì trời sắp mưa lớn,
phần khác là ông Năm thấy câu chuyện tới hồi khá thích
thú nên muốn ngồi nán lại một chút nữa. Ông Năm biết
gặp phải một đồng chí lão thành nên ăn nói cẩn thận
hơn : -Sau nhiều năm phục vụ nhân dân chắc ông anh về nghỉ
hưu từ lâu rồi ? Ông Hai vẫn ngó mông lung ra ngoài con lộ,
tay vo vo mấy cọng râu bạc dưới càm. Bà chủ quán trả lời
thế : -Nếu được cho về hưu cũng là may. Cái nầy là
bỏ việc đó. Chửi lộn một trận rồi bỏ hết sạch, phải
không anh Hai ? Lon lá, chức tước, đảng điếc, nhà cửa...bỏ
hết. Không ở tù là may. Nói đi anh Hai, nói hết nghe chơi. Ông Hai vẫn làm
thinh. Tài xế Chi xen vào : -Uổng vậy tía. Một đời đi cầm bảng
đỏ, giận một chút rồi bỏ...đảng sao tía ? Ông Năm kề
tai nói nhỏ với tài xế Chi : -Nói nhỏ nhỏ vậy,
nên cẩn thận nhen chú mầy. Tai vách mạch rừng. -Bố đừng
có lo. Thời nầy những câu chuyện như vầy là chuyện nghe qua rồi
bỏ. Người ta bận rộn với mấy cái « cây »
và mấy tờ « đô xanh». Chẳng ai mà để ý
mấy cái chuyện bây giờ được xếp vào loại chó cán
xe như vầy. Chỉ những Việt kiều như bố mới run. Tụi tui thì...còn
khuya mới sợ. Nói đi tía nuôi, nói cái chuyện giận một
chút đó đi tía. Bây giờ thì bà chủ quán dừng tay
đuổi ruồi. Bà ngồi xuống ghế, cạnh tài xế Chi : -Không phải
chuyện một chút đâu à chú em. Ở trong chăn mới biết chăn
có rận.Tui nghe anh Hai nói cái gì là đạo đức cách mạng,
cái gì là cần kiệm liêm chánh gì đó. Anh Hai nói ảnh
không sống nổi với mấy cái cách mạng giả, liêm chánh
giả nên nghỉ chơi, phủi áo một cái xạch rồi về nhà
làm ruộng. Không chơi với mấy thằng người giả đó nữa.
Già, làm ruộng không nổi, đi lượm bao ny lông cho nhẹ. Coi như
bao nhiêu năm đi làm cách mạng mất cả chì lẫn chài. Đâu
có sao. Dân Nam Kỳ mà, đã chịu chơi thì không bao giờ
chơi chịu. Cũng có nhiều người cán bộ hồi kết tàng
tàng như anh Hai vậy đó. Cuối cùng chỉ còn cái xác ốm
o, thui thủi một mình. Con cái đứa thì đi lính bên nầy,
đứa bên kia rồi chết trận, đứa thì đi học tập. Có
đứa lại nghe lời mẹ, không nhận ông già. -Con mà không
nhận cha ? Sao vậy ? Tài xế Chi ra vẻ sành đời : -Nhiều nguyên
nhân lắm bố ơi. Nào là có ngài hồi kết đem bà vợ
do cơ quan cưới từ Bắc vào, bà vợ cũ và con cái không
nhìn ; nào là có ông quan to nón cối súng ngắn súng
dài đâu dám đứng ra bảo lãnh đứa con đang học tập
cải tạo. Vậy là hai đàng ô rờ lui, ba đường ba, tui đường
tui, tình nghĩa đen thui của cha con mình có thế thui ! Ôi thôi,
cả một ngàn lẻ một cái « nào là ». Đến đây
thì nét mặt ông già hình như chùng xuống, ông lia lịa
vò vò mấy sợi râu rồi không nói không rằng ông đứng
lên định bước ra khỏi quán. Ông Năm kịp nắm tay ông
già giữ lại : -Ủa ? Đi sao ông anh? Ngồi cho hết mưa cái
đã. Ông
già cố rút tay về. Ông Năm phải buông tay ông già để
lấy trong túi áo tờ 50 đô-la đưa cho ông già. Thật bất
ngờ, ông già cầm tờ giấy bạc để trên bàn, nhìn thẳng
vào mắt ông Năm, nói từng tiếng: -Tui không phải là người ăn xin. Không có
danh nghĩa là kẻ ăn mày nên tui không nhận của bố thí.
Xin lỗi. -Không,
đây là tôi tự nguyện giúp đỡ ông anh chút ít hút
thuốc lá mà. Ông già chừng như không muốn nghe thêm. Ông bước ra khỏi
quán, vát cái bọc ny lông, dòm hai đầu quốc lộ rồi bước
qua bên kia đường. Bóng ông khuất giữa hai hàng xoài dưới
trời mưa lất phất. Nhìn cái vẻ tiu nghỉu của ông Năm, bây giờ
ông chủ quán mới buông tờ báo, rời võng đến bên
ông Năm, cắt nghĩa: -Ông đừng ngạc nhiên. Ông Hai Cọp là như
vậy. Ông không bao giờ nhận sự thương sót của ai. Ông còn
có cái mộng khác người là lượm hết rác của cái
xã hội nầy, cho nên chung quanh căn chòi của ông đầy những
rác, thượng vàng hạ cám. Ông nói một ngày không còn
đất chứa rác, ông sẽ đốt. Có người cắc cớ hỏi :« Như
vậy là ông đốt cái chòi của ông luôn sao ? »
ông Năm không ngần ngại : Đốt luôn. Cái chòi mình
nằm giữa một đống rác to tổ bố của cả nước thì
còn tiếc cái gì nữa. Cái nhà lầu cũng không tiếc. Ông
anh và chú tài nghĩ coi : Nhiều lắm là ông Hai sống
thêm chừng mươi năm nữa, không biết ông sẽ hốt hết rác
hay đống rác sẽ mọc tay mọc chưn tiến qua phía bên kia đường,
chôn luôn căn chòi của ông Hai lúc ông đang lum khum trong chòi,
chưa kịp đốt lên cái mồi lửa.
Ông Hai Cọp ? Hai Cọp ?
Ông chủ quán mới nhắc tới cái tên nầy, phải không ?
Ông Năm bóp trán. Hai tiếng nầy bỗng hiện ra trong đầu óc
ông Năm, mới đầu còn lờ mờ, sau rõ dần, rõ dần. Hai
Cọp. Cái tên Hai Cọp hiện ra cùng với cái tên Tây Râu
Đỏ và trận đánh đoàn công-voa của Tây. Hơn nửa
thế kỷ rồi ! Đứa con của Cái Răng trước sau vẫn vậy. -Đúng rồi.
Đúng cha nầy ! Hèn chi! Ba người trong quán không biết ông Năm
nói cái gì. Nhưng ông Năm biết ngày mai ông chưa về Mỹ
được. Ông muốn trở lại đây một lần nữa. Rớt xuống từ trời bây
giờ là cơn mưa lớn. Những giọt mưa như những giọt lệ
sót thương cho một đất nước đầy rác mà ông Hai
Cọp suốt một đời phục vụ và ông Năm đã nửa đời
bỏ lại. Trần Bang Thạch (để tặng
những người bạn Cái Răng và anh chị Huỳnh)
Trần Bang Thạch .Truyện MÓN QUÀ GIÁNG SINH 
Không
thể như thế được. Anh Armin nói thầm với mình nhiều lần
như vậy. Không thể có chuyện nầy. Nhưng cuối cùng Armin phải
nhận đó là sự thật. Chữ nghĩa lõm bõm, nhưng Armin có
thể đọc và hiểu được. Trước mắt anh là bản tin
nhỏ nằm khiêm nhường dưới góc mặt của trang báo Tin Địa
Phương : Tin về cái chết của bà Jean DeLong. Đúng hai tuần lễ
sau khi đưa bà Jean lên xe cứu thương, Armin mới biết được
tin tức của bà. Một tin rất buồn đối với anh. Tên của bà
Jean nằm giữa 12 tên khác. Đây là tên của những người
mới chết, tử thi đã được giảo nghiệm nhưng vẫn còn
để trong nhà xác của quận hạt Harris vì không có thân
nhân nhận xác. Bài báo cũng có nói là chuyện này xảy
ra rất thường. Tháng nào cũng có vài trường hợp như
vậy. Sau một thời gian thông báo, tử thi nào vẫn không có người
nhận thì văn phòng chung sự quận hạt sẽ lo việc chôn cất,
dĩ nhiên là tại một nghĩa trang công cộng nghèo nàn và
thiếu hẳn những nghi thức an táng trọng thể trước khi hạ huyệt.
Sẽ không có một thân nhân nào khóc thương hay nói lời
giả biệt cuối cùng với người chết. Sẽ không có một
cành hoa từ bàn tay thân nhân thả rơi xuống nắp quan tài. Nghĩ
đến điều nầy Armin thấy đau lòng thêm. Con mèo, con chó
khi chết còn có người chủ mình khóc lóc tiễn đưa
và trang trọng chôn cất nơi nghĩa trang đặc biệt dành cho những
con vật thương yêu. Có con chó chết đi còn để lại món
tiền kếch sù do cái “ will” của người chủ đã
chết. Có con mèo chết đi khiến người chủ khóc lóc suốt
tuần, mất ăn, biếng ngủ. Armin không phải là thân nhân bà
Jean, cũng không có khả năng tài chánh để làm người
hảo tâm tình nguyện đứng ra lo việc chi tiêu mai táng người
đàn bà mà nhiều năm nay Armin đã coi như người thân
nhứt của mình. Armin nghèo quá, lại một thân một mình nơi
xứ lạ này. Armin không quên được giờ phút cuối cùng anh
thấy bà Jean. Hôm đó, hai tuần lễ trước, bà Jean quị ngã
sau cánh cửa bà vừa mở để Armin bước vào nhà. Armin buông
vội túi giấy đựng thực phẩm và mấy món gia dụng trên
tay để kịp thời đỡ bà Jean không va đầu xuống nền nhà.
Ngồi dựa vào anh, bà Jean ngoẽo đầu sang một bên, hơi thở
nặng nề, đứt quãng. Bà cố nói, tiếng được tiếng
không, Armin không hiểu gì nên càng lúng túng, nhưng anh cũng
biết điều cần thiết phải làm ngay. Armin bồng bà Jean để
nằm trên sofa rồi bấm số 911. Khi nhân viên xe cứu thương
đến làm vài động tác cấp cứu, bà Jean trông tĩnh
hơn một chút, bà cầm tay Armin thì thào hai tiếng “cám ơn”. Armin cũng muốn nói
tiếng “cám ơn” với bà nhưng mọi chuyện bây giờ khẩn
cấp quá. Armin phải đứng dang xa để nhân viên cấp cứu làm
phận sự. Armin nắm vội mấy ngón tay xương xẫu của bà Jean
trước khi người ta đưa bà lên xe. Armin khóa cửa nhà rồi
trao chìa khóa cho nhân viên cứu cấp. Armin biết từ đây sẽ
không có ai vào ra căn nhà nhỏ nầy ngoại trừ bà Jean khi bà
mạnh khỏe trở về. Từ đó Armin mỗi ngày trông ngóng bà
Jean trở về. Điện thoại nhà bà không có người trả
lời. Cửa nhà vẫn khóa, bên trong không một ánh đèn.Vốn
tiếng Anh tiếng Mỹ nghèo nàn, lại mang thân phận người di dân
thiếu giấy tờ hợp pháp, Armin không biết đi tới bịnh viện
nào để thăm viếng bà Jean. Cũng không có ai là thân nhân
của bà Jean để hỏi. Ngày ngày trôi qua. Trong lòng Armin như
có lửa đốt. Bản tin ngắn gọn hôm nay đã làm thành
ngọn lửa đốt cháy niềm mong đợi của Armin. Như vậy là vĩnh
viễn người đàn bà già nua, nghèo khó, cô đơn ấy
sẽ không trở lại căn nhà nầy nữa rồi. Armin cũng không còn
mỗi tuần một lần mang đến cho bà Jean túi thực phẩm đủ
để bà dùng suốt tuần lễ. Công việc nầy Armin đã làm
từ gần hai năm nay. Lúc đó Armin vừa chân ướt chân ráo
đến thành phố nhỏ Waller này từ một làng nhỏ thuộc tỉnh
Lerado nằm bên kia biên giới Mỹ và Mễ Tây Cơ. Armin may mắn được
nhận chân bán hàng tại một tiệm bách hóa nằm ngoài
rìa thành phố với đồng lương thật thấp, chỉ vừa đủ
trả phòng trọ và hai bữa ăn. Nhà bà Jean cũng ở gần tiệm,
cách chừng hai dặm đường. Mỗi tuần một lần bà Jean đi
bộ đến tiệm mua thức ăn và vài món cần dùng cho nhà
cửa. Khi biết được sức khỏe bà Jean không tốt và bà
đi đứng rất khó khăn với cái tuổi trên bảy mươi,
Armin tình nguyện làm người mang thực phẩm cho bà hàng tuần.
Vốn là đứa bé thiếu mẹ từ lúc mới chào đời,
mười tám năm nay Armin lúc nào cũng thấy mình bất hạnh,
không có mẹ để được thương yêu. Chỉ cần vài
lần tới lui với bà Jean, dù hai người rất khó khăn khi nói
chuyện với nhau vì vấn đề ngôn ngữ, nhưng tình người
hình như lúc nào cũng đi trước nên bà Jean và Armin càng
ngày càng thấy gần gũi. Armin như tìm được điều mình
đã mất là tình mẫu tử. Armin cũng thấy bà Jean đối
với mình như người mẹ. Giáng Sinh năm ngoái là lần đầu tiên Armin biết thế nào là bữa Tiệc
Nửa Đêm. Bữa ăn rất đơn sơ với mấy miếng thịt gà
chiên và chai rượu chát đỏ nhưng thật đậm đà tình
nghĩa. Hai người nghèo khó chung một niềm vui Giáng Sinh trong căn nhà
nhỏ. Đêm đó trong ánh nến lung linh huyền ảo của Đêm
Thánh Vô Cùng, lần đầu tiên Armin đã khóc
trên cánh tay của người đàn bà mà Armin thấy trước
mặt là dáng hình Đức Mẹ Maria nhân ái. Đêm đó,
không nói một lời, bà Jean đã tháo sợi dây chuyền trên
cổ, bà thân ái đeo vào cổ Armin. Đó cũng là quà
Giáng Sinh đầu tiên của đứa con côi cút trong suốt gần hai
mươi năm có mặt trên đời. Sợi dây chuyền bằng bạc
đơn sơ với tượng thánh giá nhỏ bằng ngón tay út. Có
lẽ đó là món đồ quý giá nhất của bà Jean. Bà
Jean nghèo lắm, nhiều lần bà Jean nhờ chủ tiệm cho bà mua thiếu.
Chủ tiệm cũng là người tốt bụng. Ông nói ông biết
bà Jean từ vài năm nay. Đó là người đàn bà hoàn
toàn cô đơn, sống một thân một mình trong căn nhà biệt
lập với các nhà hàng xóm. Nói là nhà chớ thật sự
nơi bà cư ngụ là túp lều nhỏ nằm phía sau một nền
nhà còn dấu vết của một cơn hỏa hoạn nhiều năm trước;
cây cỏ xung quanh mọc tự do. Con lộ lót sỏi dẫn vào nhà, cách
xa đường xe cộ lưu thông, thiếu bước chân đi lại nên
cỏ mọc lan ra tới gần giữa đường. Khi có những cơn mưa
lớn, con lộ ngập đầy nước. Căn nhà của bà cũng ngập
nước. Thỉnh thoảng vào những ngày nghỉ việc, Armin chỉ đủ
sức dọn dẹp cỏ rác quanh nhà cho phong quang một chút. Hai năm qua
tới lui với bà, Armin chưa một lần nghe bà Jean nói tới một
thân nhân nào; dễ chừng bà Jean đã sống cô đơn như
thế nầy từ nhiều năm rồi. Như vậy những năm tháng cô đơn trên
thế gian của bà Jean đã hết. Nhưng sự cô đơn cố bám
theo cái tử thi tàn lạnh của bà thì đau đớn quá, bi thảm
quá. Một tử thi vô thừa nhận nằm mười mấy ngày trong nhà
xác để từ mấy hôm nay người ta phải rêu rao trên báo
tìm thân nhân. Hàng trăm, hàng ngàn bàng dân thiên hạ
biết rằng trên thế gian nầy có những người vô cùng bất
hạnh. Đánh mất một món đồ người ta còn tìm kiếm.
Còn bà Jean, cho tới chết vẫn biệt tăm thân nhân để lo bề
an táng. Hay thân nhân có biết nhưng vẫn làm ngơ? Chồng con bà
đâu? Cháu chắt bà đâu? Rồi đây người đàn
bà xấu số của mấy mươi năm trên đời sẽ từ giả
cõi đời trong lặng lẽ, âm thầm, không tang lễ. Thân xác
bà sẽ vùi chôn trong một nghĩa trang công cộng, không người
viếng thăm. Không được. Không thể nào như vậy được.
Người đàn bà đã có lần là hiện thân của Đức
Mẹ trước mặt Armin trong đêm Giáng Sinh năm ngoái không thể
ra đi cô đơn như vậy được. Món quà Giáng Sinh của
bà Jean, Armin đang đeo trên cổ, phải chăng đêm ấy bà Jean
muốn nói với Armin rằng “con là người thân nhất của ta
bây giờ”? Trong trí nhớ của Armin là một bà Jean ít
nói, sống khép kín với lối xóm chung quanh, nhưng không buồn
bã. Mỗi lần gặp bà Jean là Armin thấy nụ cười trên gương
mặt già nua nhăn nheo của bà, mười lần như một. Armin nghĩ
bà Jean vừa lòng với số phận và hoàn cảnh của mình,
không một tiếng oán than, không trách mình cũng không trách
người. Nhiều khi Armin có cảm tưởng bà Jean chỉ thích nói
chuyện với mình, nhứt là mỗi khi hai người dọn dẹp
cỏ rác, cây cối quanh nhà. Giữa thiên nhiên trông bà Jean thật
vui và thật năng động. Bà vừa vun bón mấy chậu hoa, vừa
hát khẽ một bài hát có âm điệu vui mà Armin đã
nghe nhiều lần. Gặp con sâu, con dế hay cả con rắn nhỏ bà Jean chỉ
xua chúng đi chỗ khác. Có khi bà nói về dãy mây lang thang
trên nền trời, mây bay vô định, không cửa không nhà, vô
thân tứ cố, nhưng mây có cuộc sống vô tư, có ai nói
là mây có tâm sự buồn đâu. Con sóc, con chim trên cây
sau nhà cứ chạy nhảy, ca hót, nào có nghĩ tới nhà cao cửa
rộng, mồ yên mã đẹp gì đâu. Phải rồi. Lúc sống
bà Jean sống an bần, lạc đạo trong căn nhà nhỏ bằng
cái hộp, thiếu những tới lui, thăm hỏi của thân nhân ruột
thịt…thì khi chết chắc bà cũng không nghĩ gì tới những
lễ nghi, lắm khi hời hợt, theo lề theo thói. Có nghĩa gì mấy
lời thương tiếc của những người thân đã quên mất
bà từ lâu. Ý nghĩ nầy đưa đến cho Armin một quyết định
dứt khoát. Armin phải làm một cái gì trước khi quá trễ.
Thêm một Giáng Sinh sắp tới rồi. Giáng Sinh năm ngoái, Armin không
có một món quà nào cho bà Jean thân thương của mình.
Năm nay phải có. Armin tuy nghèo nàn, không một đồng xu dính
túi nhưng phải có một món quà Giáng Sinh cho bà Jean. Bà
Jean cũng nghèo nàn, nhưng bà đã cho Armin cây thánh gíá,
vật gần gũi của bà. Trong giây phút nhiệm mầu của một đêm
Thánh, Bà Jean nghèo tiền, nghèo bạc nhưng giàu tình thương,
qua món quà là vật thiết thân của mình, đã
cho Armin niềm tin và tình mẫu tử, cái mà mười mấy năm
làm người Armin còn thiếu. Nghĩ là làm. Armin đem chuyện
an táng bà Jean bàn với ông chủ của mình. Ông chủ cũng
đồng ý với Armin là có lẽ bà Jean cũng không mong có
thân nhân đọc tin báo rồi tìm đến nhận xác bà rồi
đem chôn cất nơi đàng hoàng tử tế. Giá mà có ai
thương tình mà tình nguyện làm việc đó thì chắc
bà Jean cũng không hài lòng. Sống thế nào thì thác thế
ấy. Sống đơn giản, chết đơn giản. -Nhưng tui
muốn được đưa tiễn bà Jean. -Đưa
tiễn thì được, nhưng lãnh bà về chôn cất thì chắc
mình không làm nổi. Tốn kém lắm. -Nhờ ông
chủ liên lạc với nhà xác để cho tui biết ngày giờ họ
đưa bà ra nghĩa trang. -Việc ấy thì không khó.
Chiều
nay thời tiết trở nên lạnh hơn những ngày trước. Gió tháng
chạp lạnh như dao cắt. Trời rắc những hạt mưa nhỏ, vừa đủ
ướt áo. Ngày mai là Giáng Sinh rồi. Armin mặc phong phanh chiếc áo
gió nên run lập cập. Armin đã tới nghĩa trang từ trưa. Nghĩa
trang nằm cạnh cánh rừng, trong vuông đất trũng có thật nhiều
cây cao xung quanh, xa phố xá và nhà cửa. Đường đi trơn trợt,
nhiều đất hơn đá. Mộ là những phần đất nhỏ, bằng
mặt. Không có lấy một núm mồ. Mộ bia là những trụ xi
măng nhỏ, thấp, nhiều cái nghiêng ngã. Không một cây hoa kiểng.
Có nơi cỏ mọc cao che hết phần mộ.Lúc chập tối đoàn
đưa xác mới đến. Người ta để bốn cái quan tài
chung trong một chiếc xe mui đen. Không có xe mô-tô cảnh sát hộ
tống.Bốn cái lỗ huyệt đã được đào sẵn, nằm
gần nhau. Như vậy là những tử thi khác theo thông báo đã
có người nhận. Khi bốn quan tài đưa xuống từ chiếc xe thì
thủ tục an táng làm thật nhanh, cũng có vị mục sư đọc
kinh tập thể rất ngắn cho bốn quan tài. Ai cũng muốn làm xong cho nhanh
để về. Chỉ có mấy nhân viên nhà xác và Armin. Không
có một thân nhân nào của bốn người chết. Khi các quan
tài hạ xuống huyệt, Armin đọc thầm mấy lời kinh rồi ném
một bó hoa huệ trên mỗi nắp áo quan, tiễn đưa người
chết. Riêng phần huyệt của bà Jean thì Armin cúi đầu thật
lâu, miệng thì thầm mấy lời vĩnh biệt. Ngoài bó hoa huệ, Armin bỏ xuống lòng huyệt vòng nguyệt
quế với dãy lụa trắng viết chữ đen : « Thành
kính tặng Mẹ món quà Giáng Sinh năm nay ».
Đoàn
người và xe đã về từ lâu. Armin vẫn còn muốn ở lại
đây cho tới khuya để trông thấy một thiên thần bay lên vùng
trời cao rộng với vòng nguyệt quế còn ấm tay mình.
Xmas
2007 . Trần Bang Thạch

|
|
|