|
 |
| |
Đoàn Văn Liêm Chút chuyện về trà 
Trình cáo quý
độc giả : Các điều ghi nhận sau đây về trà chỉ là
một số thông tin hời hợt, rất ít giá trị tham khảo. Bản
thân tôi thích uống trà, gần như mỗi ngày đều có
uống trà, và cũng uống trà đã lâu. Thế mà mãi
đến hôm nay, tôi hãy còn nằm trong danh sách ngưu ẩm. Đoàn
Văn Liêm
1. Vài nét biên niên Nhìn
chung, đối với Á châu, nhất là Trung quốc, Triều Tiên, Nhật
Bản và Việt Nam, trà thâm nhập sâu vào chiều dầy
của văn hoá và tiến bước hài hoà theo chiều dài của
lịch sử. Đối với Âu Mỹ, nhất là Anh quốc, Hà
Lan, Nga La Tư và Hiệp chúng quốc, trà khởi đầu nhân duyên
với văn hoá của các quốc gia liên hệ như sự mời chào
một món hàng mới mang về từ Viễn Đông, sau đó,
mặc dù được biết đến một cách rộng rãi vẫn
chỉ có khả năng triển khai sử dụng trong giới hạn ở
một số mảng quần chúng, ngoại trừ trường hợp các
thị dân trong vương quốc Anh. Thể theo truyền thuyết,
vào năm 2737 trước TL, một chiếc lá tình cờ đáp vào
bát nước lã đang nóng bốc khói của vua Thần Nông; rất
nhanh, sắc nước dường như không đổi mấy nhưng mùi vị
đã có khác nhiều. Vua Thần Nông năng đem thân mình làm
thực nghiệm y cốc trước khi truyền xuống con dân nên ngài đã
không ngần ngại nhắp thử nước trong bát. Cảm thấy nước
trong bát bấy giờ dường như có dược chất tốt cho tiêu
tức nên ngài lập tức dò dẫm nguồn cội của chiếc lá
ấy, rồi từ đó, cùng các môn sinh dụng công cấy trồng
trà, liệt nó vào hàng dược thảo. Tiếp theo
nhiều thế kỷ, quan điểm của các y sư và nông gia chỉ
gò bó trong phạm vi giá trị dược tính của trà. Trà
chưa bao giờ được xem trọng bằng rượu, nước lã, hương
đăng và dê cừu dùng trong các lễ kỳ. Có lẽ phải
lâu lắm địa vị của trà mới được nâng cao thành
một trong các vật phẩm thích nghi để hiến phụng thiên đế
và tổ tông,-- sớm nhất cũng chỉ thỉnh thoảng đưa vào
ứng dụng lúc nào đó trước thời Xuân Thu mà thôi.Cũng
quả thật là mơ hồ như thế, hơn 22 thế kỷ dài, giáp
cốt văn và thanh trúc sử không cho thấy ở vào thời điểm
nào hương vị thanh thuần của trà được giới thiệu đến
bách tính. Thế rồi, từ Hạ (2205-1767), Thương (1766-1112), Chu (1111-256)
qua Xuân Thu Ngũ Bá (722-184), Chiến-quốc Thất hùng (453-221),
xuống Tần (221-206), Tiền Hán (206 – 8), Tân (9-23), Hậu Hán (23-220), Tam
quốc (220-280), Tây Tấn (280-316) cho đến giữa Lục Triều (316-580), từng
bước từng bước, trà được tháo gỡ tính chuyên
dụng, phổ cập vào hàng văn phẩm thường đẳng trong mọi
nghi tiết (từ triều miếu đến xã dân). Tuy nhiên, không phải
ai cũng có thể dùng trà vì trà hiếm nên rất đắt
đỏ. Hơn nữa, nếu muốn dùng trà, người ta phải có chút
thích thử thách, phải có can đảm nếm trải ẩm thức mới,
phải học tập chế hoá và phải tìm thấy cơ hội thích
nghi để thưởng trà. Điều buồn cười là khi
mảng bá tánh thích và có khả năng uống trà được
nới rộng thì trà trên thị
trường
không còn giữ nguyên dạng đơn giản nữa, nói rõ hơn
một chút, mọi thứ công nghệ điêu xảo của Chu Hán sau binh
lửa đã mạnh mẽ biến cách các ngành nghiệp, từ chế
tạo ngoạn khí, nữ trang, tơ lụa cho đến rượu trà, riêng
về trà, vô hình chung, đã được biến ra đa
tạp về chất lượng và giá cả. Người tiêu thụ đương
nhiên nhận ra uống trà là tìm đến một thứ thú
vui vừa xa xỉ vừa khó khăn, yêu cầu cao về nhiều
mặt.Cứ thế canh tác cây trà và chế hoá lá
trà ngày một khuếch dương, ban đầu là lẻ tẻ trong các
gia viên, sau là có qui hoạch hoặc địa phương hoặc gia tộc.
Trà từ bỏ địa vị đặc phẩm của các dược đường.
Lữ khách sẽ có thể tìm thấy vài trà hiệu lớn nhỏ
trong thành phố và các thị trấn gần xa.
Trà được dùng trong mọi trạng huống sinh hoạt thực tế, trong
kính đãi cũng như trong dược phòng và trù sở. Thiết
nghĩ cũng có phần đáng tiếc, công nghệ đồ gốm trong
giai đoạn nầy chưa phát đạt bao nhiêu, thành thử đòi
hỏi về kỹ thuật pha trà cũng song hành đê điệu. Trình
tự hái trà, làm trà, trữ trà, pha trà và hãm trà
đương nhiên cần nghiên cứu và tu tập thêm. Hoa văn và
cấu trúc ngoại hình của các cổ vật Tấn Tùy cho thấy
trí thông minh của người đương thời có vẻ ngã về
thực dụng hơn là mỹ quan. Không trách được, trà thuật
đơn thuần, trà nghệ thô sơ thì trà cụ sao có thể
tinh hảo? Xin trở lại với lịch sử. Trước Lục triều, trung thổ
và quan ngoại giao lưu êm đẹp. Trung thổ mua yên cương, hàm
thiếc, áo giáp và gia vị của Thổ, ngựa dê của Hồ, Mông.
Đối lại, trung thổ bán cho Hồ tơ lụa, dược vật và trà
lá (479). Thế Tùy suy. Thổ không đáng lo nhưng Hồ ngày thêm
cường hãn, nhóm lên nhiều đốm lửa phản phúc ở các
sơn mạch và thảo nguyên, ráo riết gây áp lực. Binh triều
liên miên chiến bại. Ngoại giao ảm đạm, tiêu cực. Chế hoá
phẩm xuất nhập quan ải bị kiềm thúc triệt để. Cũng bởi
lẽ đó, mãi lực trà sút kém. Triều đình thất thu
khoản thuế về trà lá nên đành phải tìm đường
bán trà cho Tây Vực và Đông doanh. Năm 593, Phật giáo
từ Trung thổ truyền sang Nhật bản. Trà theo chân, mang về nội quốc
một thu hoạch tiền bạc nhỏ bé, và, một ưu tư lớn. Thu hoạch
tiền bạc nhỏ bé là vì nó không làm sao có thể giúp
cho ngân sách quốc gia lấy lại thăng bằng. Ưu tư lớn là vì
ở đây ai cũng có thể đoán ra được, người Nhật,
vốn “khéo” học, đã đưa người vào Trung quốc thụ
giáo Phật học nhung rất không quên học trồng trà., mang trà
lá và hạt trà Trung quốc về Đông doanh, nhanh chóng
dập tắt một hy vọng về thương mại của Trung quốc, đồng
thời chuyển thể một nét đặc thù của văn hoá Trung quốc
là nghệ thuật phẩm thưởng mà người Trung quốc đã phải
trài qua già 27 thế kỷ mới thuần thành. Câu hỏi:
Rốt cuộc, so sánh trà nhất đẳng Nhật với trà nhất đẳng
Trung quốc thì trà nào ngon hơn? Câu trả lời hơi hơi tránh
né: Uống trà Nhật rất có cung cách; uống trà Trung quốc rất
có phong vị. Đại vận hà, công trình to tát của
Dạng đế Dương Quảng, đương thời không
có giá trị đền bù gì cho tội nghiệt thâm trọng của
y nên Lý Uyên chấm dứt Tùy, lập nên nhà Đường (618-907).
Đường đại phong lưu, tuy xa hoa dâm dật nhưng
vẫn có lãng mạn tiêu sái. Tài tử đời Đường
rất thích tổ chức hội sở, thích nhóm họp trà rượu,
cùng bằng hữu ngâm vịnh và ca hát. Văn nhân thi
sĩ gặp nhau không rượu thì trà.
Trà
Kinh ra đời. Sách nầy có nội dung quảng kiến, được ca ngợi
nhiệt liệt. Nhờ vào ảnh hưởng của các hoạt động nầy,
sản và mãi lực trà cùng tăng cao. Mặc dù chế độ
thuế trà bán ra trong nội địa đã được ban hành (năm
780) khiến giá trà cao hơn, mảng dân tiêu thụ trà
lại đông đảo hơn bao giờ hết. Vào thời
bấy giờ, cảnh tượng trà ở Nhật có chỗ khác biệt.
Nhân chúng sử dụng trà đa phần là các nhà sư và
phú gia vì trà ở Nhật vô cùng hiếm hoi . Năm 805, các thiền
sư Saicho , Daishi từ Trung quốc mang về một số lượng lớn
hột giống trà đủ để gieo trồng khắp các đền
chùa. Vào cuối Đường, ý niệm hương
trà được triển khai, đưa vào sản xuất, phát đạt
mạnh trong khung cảnh Đại Tống (960-1280). Từ nay trở đi, trà có
thêm các mùi khác lấy từ cánh, nhụy, mật hoa và một
số thứ trái cây, rất ư quyến rũ. Vua Tống thích ca từ, thư
hoạ và trà, thường xuyên ban trà lệnh hay khảo nghiệm tri thức
về trà (nhất là Tống Huy-tông), thích chơi trà cho đến
nỗi quốc vận tiêu điều, vua tôi bại nhục (1205), thoi thóp một
hồi sau khi di đô rồi thật sự tận chung (1280). Trong lĩnh
vực chơi trà, đóng góp lớn nhất của nhà Tống hẳn
nhiên là thiết kế trà cụ mới và kiện toàn trà thuyết.
Các nhà sưu tầm cổ khí hiện đại có khuynh hướng tìm
kiếm trà cụ Nam Bắc Tống, xem trà cụ đời nầy nói chung
có giá trị tương đương hoặc trội hơn trà cụ làm
ra dưới triều Thanh Ung Chính hoặc Khang Hy (một phần vì thời
tính, một phần vì cảm tính chính trị chăng?). Đương
thời, người Đông Doanh cũng có nhiều nổ lực.
Năm 1191, thiền sư Eisai viếng Trung quốc, mang về thiền kinh và hột
giống trà. Song le, trước sau vẫn vậy, cái mà họ không đem
về được, hoặc đã đem vể được nhưng không áp
dụng đúng, là cái gì? Chính là kỹ năng pha chế trà.
Người Tàu xưa, một khi muốn dấu nghề, thì thôi, ta đừng
bõ công học lóm. Dù sao chăng nữa, họ cũng đã tỏ
ra cật lực. Thiền sư Eisai trứ tác quyển Thanh Khí Trà Kinh (Kitcha
Yojoki) năm 1211, đánh dấu một hình thành rõ rệt trong trà
đạo Nhật. Trở lại với Hoa sử. Năm 1280, Tống
mất. Mông chiếm lĩnh địa bàn, mở nhà Nguyên (1206-1368). Rợ
Mông chỉ thích rượu sữa dê, chê các loại hồng tửu,
phần tửu… và, không thích trà. Xuyên suốt hơn một thế
kỷ rưỡi đô hộ, vua quan nhà Nguyên không dùng trà. Thịnh
danh và sở dụng của trà trở nên ươn yếu, chất lượng
đều kém.Kịp đến đời Minh (1368-1644), giang sơn
gấm vóc trở về tay hán tử. Trà được phục vị và
phục chế, không phải chỉ “cố bổn bồi nguyên” mà còn
gia công nhiều vào trình tự pha chế và biến báo mặt trà.
[ Bên cạnh sự quật khởi ấy ở quốc
nội là sự náo nhiệt 80 năm ở Nhật (1422-1502). Trà đạo
cao khiết như một tôn giáo, nhanh chóng thể nhập sâu sắc bình
dân Nhật. Công đầu ắt dành cho các công lễ của thiền
sư Murata Shuko và các ứng dụng trong các nghi tiết ở Mạc phủ
Yoshimasa (1484). Khoảng thập niên cuối cùng của thế kỷ
XV, chuyên gia trà Nhật tên Sen-no Rikyu nảy sáng kiến kinh doanh trà thất,
kiến tạo phòng ốc và trần thiết mới lạ, công phu pha trà
và thỉnh trà cá biệt, phong cách phục vụ đẹp đẽ
chưa từng thấy đã đạt thành quả rực rỡ, tiếng tăm
vang dội đến tai mọi tầng lớp người Âu châu du hành qua Nhật.
]
Nhà Thanh, tuy đã đánh lấy giang san trên
lưng ngựa nhưng có định hướng chính trị và văn hoá
mềm dẽo, từng bước thực hiện chủ trương Mãn Hán Nhất
Gia, cố gắng tìm mẫu số chung trong sinh hoạt bình thường. Người
Mãn nhiệt liệt cổ xúy Hán học, văn chương, âm nhạc, mỹ thuật
và các ngành văn hoá truyền thống của người Hán. Người
Mãn không chỉ biết thích rượu sữa ngựa, họ còn thích
rượu cất và trà tinh. Thực không giống như người Mông
quá thô hào, quá kém khôn khéo. [ Năm 1650,
trà Trung quốc được người Hà Lan quảng bá ở
New Amsterdam (nay là New York). Năm 1657, trà được bày bán ở Coffee
House ở London. Từ đó, xã hội thượng lưu Âu Mỹ xem uống
trà là một phong cách cao đẹp, nhất là phụ nữ, họ thích
tụ tập uống trà, tán gẫu, bỏ phế việc nhà, khiến cho
gia đạo ồn ào, nhiều gia chủ đã phải lên tiếng yêu
cầu chính phủ cấm chế trà thương. Ngoài ra, năm 1661, y giới
cũng có dị nghị: bác sĩ Hà Lan ca ngợi dược hiệu của
trà, trái lại, các bác sĩ Pháp và Đức khuyến cáo
ẩm giả về độc tính của nó. Qua năm sau, tức năm 1662, vua
Charle II kết hôn với Catherine Braganza, một người đàn bà người
Bồ đào nha thích uống trà, sự kiện nầy như một cơn
gió lốc bốc trà lên cao. Năm 1664, công ty Đông Ấn (East India
company) của người Anh tiến kinh, dâng hiến trà cho hoàng đế và
hoàng hậu nước Anh. Cũng trong năm nầy, hoàng triều Anh chiếm lĩnh
New Amsterdam, cải danh nó thành New York., đồng thời thiết định một
truyền thống mới, truyền thống uống trà theo kiểu và giờ giấc
của người Anh. Năm 1666, trà
Hà Lan sụt giá nhằm ổn định thị trường. Nhưng người Anh không buông tha cho. Năm 1669,
sử dụng quan hệ chính trị, công ty Đông Ấn thuyết phục chính
phủ Anh cấm chỉ Hà Lan nhập cảng trà, quyết giành lấy độc
quyền. Trong hai mươi năm cuối cùng của thế kỷ XVII, các thuộc
địa của Anh uống trà mỗi ngày một nhiều. ] Trở lại với
trà sử Trung quốc. Năm 1697, trà Đài Loan ra đời, công nhập
năng suất cho nội địa. Riêng việc bán trà vào
Nga, tình huống không thực sự mỹ mãn nhưng xem như khá hơn
nửa thế kỷ trước. Từ năm 1735, trà Trung quốc được phép
xuyên Tây bá lợi á và Nội Ngoại Mông (trên lưng lạc
đà qua 11,000 dặm đường). Đầu thế kỷ XVIII, trà Trung quốc
nhập vào Anh quốc lên đến 800,000 bảng Anh mỗi năm. Tiệm ăn
và quán cà phê đều có phục vụ trà. Từ nhà ra
đến ngoài đường phố, người ta muốn uống trà lúc
nào cũng có. [ Năm 1723, thời thủ tướng Robert Walpole, thuế
nhập cảng trên trà lại được giảm. Nhưng điều luật
thuế thu nhập Townshend lại được nghị viện Anh ban hành năm 1767,
áp dụng cho trà và các hoá phẩm khác nhập vào các
thuộc địa Anh trên đất Mỹ. Boston chống điều luật nầy,
cường tập hàng nhập cảng của Anh, đồng thời nhập lậu
trà từ Hà Lan. Thế rồi, năm 1770, nghị viện Anh đã phải
thu hồi điều luật Townshend. Thừa thắng xông lên, các năm 1773,
1774, nhóm dân phản đối thuế trà ở Boston, Philadelphia, New York, Maine,
North Carolina va Maryland giả dạng thổ dân tấn chiếm tàu buôn của
công ty Đông Ấn và trút hết mọi thùng trà xuống cảng.
Hậu quả của hành động nầy khá nghiêm trọng: 1) Nghị viện
Anh ban hành điều luật cưỡng chế đối với các phần tử
gây rối; 2) Vua George III y chiểu Nghị quyết , cho phép đóng
cửa hải cảng Boston đến khi nào sự thất thoát của công
ty Đông Ấn được bồi hoàn triệt để.
Năm 1775, do áp
bức của chính sách sưu thuế, các thuộc địa Anh tại Mỹ
nổi dậy chống mẫu quốc Anh, công kích cường liệt đến
nỗi vương triều Anh phải thoái nhượng quyền cai trị trên lãnh
thổ nầy. Cố gắng duy trì lợi ích của mình trên các
thuộc địa khác, người Anh tăng cường hiệu ứng thương
mại lấy cơ cụ, giao thông, khoáng sản, y tế, ngành dệt và
trà rượu làm những hạng mục chính yếu. Năm 1778, công ty
Đông Á dưới sự chỉ đạo của Joseph Banks triển khai nghiệp
vụ canh tác trà Trung quốc ở Ấn. 50 năm trôi qua, công trình
thất bại, phần lớn vì thổ nhưỡng bất hợp. Không có
chọn lựa khác, người Anh tiếp tục mua trà của người Trung
quốc, nhất là trà từ các đồi núi Nam Trường giang, qua
các tuyến Lưỡng Quảng, Thục Sơn và Vân Quí. [ Năm 1785,
11 triệu lbs trà lá nhập vào Anh quốc. Thập niên kế
tiếp, mỗi nhân khẩu Anh dùng 10 lbs trà bình quân cho một năm.]
Nhận thấy lượng trà nhập cảng càng ngày càng
cao là một dấu hiệu bất lợi, người Anh nổ lực khai thác
trà nghiệp ngay trên chính thuộc địa của mình để có
thể tài giảm đến mức tối thiểu lượng trà nhập từ
Trung quốc, mặt khác, tài giảm các khoản vàng bạc của Anh
phải chi cho Trung quốc trong dịch vụ liên quan. Từ năm 1815 đến 1831,
các nhà thảo mộc học người Anh làm việc cho Công ty Đông
Ấn bắt đầu nhận ra tiềm chất của các giống trà địa
phương Ấn . Thành quả thực ra không có gì lỗi lạc. Sang
1833, chịu ảnh hưởng của một luật mới do Thủ tướng Charles
Grey ban hành, Công ty Đông Ấn mất độc quyền trong nhiều hạng
mục thương mại ở Ấn, nhất là trà. Năm 1835, để tìm
một sinh lộ, Công ty Đông Ấn cho khai thác nhiều đồn điền
trà ở Assam (Ấn). Sản lượng kém nhưng phẩm chất cũng khá
độc đáo, ba năm sau kiện đấu tiên cũng được đóng
gói gửi bán ở Anh. Tuy nhiên, trong các thập niên 1840 và 1850,
dân bản hạt Sri Lanka (Tích Lan) cũng tự mình canh tác trà, dùng
cả hai giống trà quốc nội và Trung quốc. Trà nghiệp địa
phương có cơ phát đạt, thêm nhiều đồn điền trà
được mở ra chung quanh tỉnh Darjeeling (1856). ] Từ hơn 20 năm
qua, thuế trà ở Mỹ giảm thấp. Năm 1837, lãnh sự Mỹ Samuel Shaw
ở Quảng Châu ký thương ước với Trung quốc, mua tơ lụa
và trà đem về bán lại ở Mỹ, gặt hái lợi nhuận cao
cho thương nhân Trung quốc. Một cái mốc thời gian đáng
ghi nhớ, ấy là vào năm 1840, nữ công tước Anna of Bedford khởi
đầu tập tục uống trà chiều, một tập tục trang trọng lưu
truyền cho đến ngày nay. Nhưng đây là câu chuyện bên lề.
Trên dòng chảy chính của trà sử, năm 1849, nghị viện Anh hủy
bỏ luật cấm chế hải vận, cho phép tàu hàng Mỹ chở trà
Trung quốc từ Hongkong vào cảng của nước Anh. Không bao lâu, tàu
hàng Mỹ lkhông chở hàng nữa mà chuyển sang chở người khắp
nơi đi California tìm vàng. Xem ra việc buôn bán trà của người
Mỹ sinh sau đẻ muộn nhưng có can đảm chấp nhận thử thách.
Mãi đến năm 1859, cửa hàng bán sỉ đầu tiên ra đời
mang tên Great American Tea Company Store do George P. Gilman chủ trương, với sự hợp
tác của George Huntington Hartford, bán trà với giá 3 lần rẻ hơn
các cửa hàng bán lẻ. Chiêu hàng khá tốt. Một cái mốc
thời gian khác cũng đáng ghi nhớ, ấy là vào năm 1869, kênh
đào Suez được khai thông, dứt khoát cắt giảm thời gian chuyển
vận từ Trung quốc sang Âu châu và Mỹ châu. Cũng từ năm nầy,
Great
American Tea Company đổi tên thành Great Atlantic and Pacific Tea Company, nới
rộng mạng lưới chuyển vận trên cả hai mặt hải và thiết
lộ xuyên đại lục. Năm 1876, Thomas Johnstore Lipton dùng trà Mỹ làm
ra trà gói thẩm thấu Lipton.
Trà nầy được bán ra trong tiệm tạp hoá đầu tiên của
ông ở Glasgow, sau đó trong chuỗi 300 tiệm khác. Về cuối thế
kỷ XIX, trà Ấn Assam thành công rực rỡ trong việc thay thế trà
Trung quốc và cả cà phê nữa trong toàn địa phận Tích
Lan. Đầu thế kỷ XX, tại hôi chợ St Louis, người Anh Richard Blechynden
mời ẩm khách thử món uống mới, ấy chính là trà đá
(1904). Một sự kiện quan trọng hơn, chính là loại trà đen cổ
điển không còn được ưa chuộng tại Mỹ (1908). Quần chúng
cảm thấy uống các loại trà thanh thuần như lục trà và
trà Đài Loan có lẽ tốt hơn. Trong khi người Anh và người Mỹ
nỗ lực thay đổi hình, chất và bao bì của trà trong khu vực
ảnh hưởng riêng chung của họ thì tại Sumatra, bên cạnh cây
cà phê đã có từ lâu, người Nam Dương bắt đầu
trồng trà (1910). Đại để, nơi nào cây cà phê tốt thì
nơi ấy cây trà cũng tốt, ở Bắc Phi cũng thế. Tuy nhiên, lý
lẽ nầy không nên áp dụng ngược lại, bởi vì nơi nào
cây trà tốt không hẳn nơi ấy cũng tốt cho cà phê. Việt
Nam ta bắt đầu dùng trà từ Đinh, phát triển tốt dưới
Lê, Lý và mạnh dưới Trần. Trà trồng rải rác trên
các ngọn đồi trái phải sông Hồng. Vùng Ninh Bình, Nam Định,
Thái Bình, ngược Tây Bắc lên tận Son La, Lai Châu và Chapa,
cũng như trên toàn Bắc bộ, từ sát cạnh Hanoi là Bắc Ninh
lên Phú Thọ, Sơn Tây, Yên Bái, Thái Nguyên đến tận
Cao, Lạng, bước qua khu vực phụ cận duyên hải, từ Hải Dương,
Kiến An chạy ra Phòng, Cáy cũng thế, loáng thoáng đồi trà.
Xưa nay, bão lụt là mối hoạ vĩnh viễn đe doạ cái ăn
của miền Bắc nhưng không biết từ bao giờ cái uống thân thiết
như trà đã nhập vào căn cốt của sinh hoạt, cho nên, mặc
dù dân Việt cường điệu tập trung vào việc trồng lúa
nhưng vẫn không xem quá nhẹ việc trồng trà.
Miền Trung Việt Nam, thổ ngơi nghiêm khắc, khí hậu lưu niên
ẩn tàng nhiều biến chuyển bất ngờ, thật khó có thể làm
môi trường tốt cho cây công nghiệp, trừ vùng Tây nguyên
với những ngọn đồi chập chùng xanh ngắt cây trà và cây
cà phê. Đồng Hới sỏi đá hẹp như một cái cổ chai
(kính 40km), trụt xuống đáy thì loe dần như hoa loa kèn với
thảo mộc thịnh mậu, tổng thái đem lại cho miền Trung Việt Nam
chút dáng dấp của một người có hậu. Chỉ đáng tiếc
cho miền Nam Việt Nam một bãi tân bồi, đồng bằng sũng nước
rộng mênh mông, điểm xuyết vài ba quả núi thấp, vài ba
quả đồi con, đất thiếu khoáng tố, bầu khí có ẩm độ
cao, neo gió và thiếu sa mù . Nho táo, cà phê và trà đều
cảm thấy bất hợp. [ Trong những năm kháng Pháp, các tổ canh thức
trong bưng biền rất thích hút thuốc giồng và utq. UTQ tức uống
trà quạu, tức uống cái thứ nước trà màu đen đen đỏ
đỏ, sậm như thuốc bắc, vị cực kỳ đắng chát. Trong nước
trà nầy, ngoài trà đen thứ cấp là thành tố chính còn
có gừng thui, củ dền khô, củ sả, hà thủ ô, trần bì
hay vài thứ lá, vỏ cây hay củ thu nhặt được trong vùng.
Người ta utq thâu đêm, hết siêu tới ấm hết ấm
tới bình; các anh lớn dùng ly tài chừng rót tới chệt đẽo,
các chú nhỏ dùng chén sành hay lon sọ dừa khô. Dùng ly và
chén xong, người ta cứ thuận tay úp chúng xuống cái bàn ăn
cơm dã chiến, lâu lắm mới mang đi rửa sơ sài một lần.
Mãi bận đánh nhau với Tây, không có mấy ai rảnh rang xem vi
trùng là cừu địch.
Khó mà biết nổi trình tự nầy có chỗ nào tốt. Tuy nhiên,
ngày lại ngày cao trà đóng cứng bên trong ly chén một lớp
vàng oách. Nhiều người phát bực nếu thấy ai đó cọ
cạo sạch cao trà, bởi tin rằng cao kinh niên nơi trà cụ giúp
chống mùi tanh của sành hay nhôm thiếc, đồng thời cũng là
biểu trưng cho một cái gì gọi là tích lũy, nồng đượm,
vượt trải. Trong những đêm đầy người, khói thuốc khét
lẹt trộn với mùi trà cứng, chát thành một hoà điệu
miễn cưỡng. Các lão kháng chiến thường nói utq thét rồi
ghiền, về thành rất lâu mà bụng vẫn còn thấy
nhơ nhớ, uống trà thành phố buồn nhợt nhạt, thân chất trà
loãng lơ, màu trà láng váng vô duyên, tuy loáng thoáng có
mùi thơm nhưng hiển nhiên vắng hẳn đậm đà, uống trà
rót từ bình sứ tráng men ra tống, ra chuôn dường như uống
vào lòng mình sự xa đất xa đai, xa phụ trợ của mùi cây
cỏ, trà thành phố sao có thể sánh trà bưng, nó thiếu
mất đi cái hương của ngày tháng thực thà chơn chất,
cái hào của ngày tháng cam khổ dạn dày đấu tranh lăn
lộn chốn đồng trập rừng sâu.]
Đời trà cũng như đời người,
có thăng có trầm, cho đến nay, vẫn còn biến hoá. Hương
vị trà có lăng không có nhã đạm, có thanh thoát có
áp chế, có bốc thoát có luyến lưu, cho đến nay , vẫn luôn
gần gũi với lòng. Hương gây mùi nhớ, trà khan giọng tình
(Nguyễn Du). Khi tâm tình động đậy, chén trà đưa đẩy.
Khi tâm tình hân hoan, chén trà bừng nóng. Khi tâm tình u sầu,
chén trà thêm chút thâm sâu. Khi cơn rượu về khuya đã
ngốt, trà từng giây hãm cơn oán giận muộn phiền. Tiếng
trà đôi khi trầm thống như tiếng rượu hâm trong nước
sùi sụt. Tiếng trà đôi khi bi ai như đắng chia tay. Người
đi, trà nguội chăng? Không, không phải thế. Nếu không uống
trà, sao biết trà nguội? Khi đã uống trà, sao lại quyết đoán
trà không còn nồng? Chao ôi, trà lạnh và trà nồng chung qui
chỉ là hai trạng thái của cùng một thực thể trà
mà thôi. Người dù ra đi, đi mãi, chuyện dù đã vỡ
tan, lòng không bao giờ thật mất, trà không bao giờ thật nguội,
tình trà không bao giờ hết đầm đìa. Có người
thích uống trà ngơi cho phong thái mình có thêm chút khoan dung.
Có người thích uống trà trầm, mỗi thời khắc đi qua nung
nấu tâm cơ, mỗi ngụm trà là một nỗi niềm u ẩn. Có
người thích uống trà phức hợp, ưa nghe trong mùi trà có
mùi hoa trái, lại thích ngậm chặt miệng, lưỡi đưa đẩy
co cuốn trong vòm cúa để tìm kiếm chuyển vị của trà.
Người ta xem trà như bạn, muốn được hiểu trà như hiểu
bạn, nóng nguội, loãng đặc, … giống như vui buồn trong bước
giao lưu, hơn thế nữa, quý trà như quý tình chung, gần bên
thì ái ân nghiền ngẫm, xa cách thì ray rứt giầy vò, không
yêu thì thôi, lỡ yêu thì không bao giờ cam tâm quên lãng.
Người như thế, trà cũng như thế. Cho nên, khổ tận cam lai,
tiên đột hậu thuần, bán hỗn bán thanh, thâm tàng nhu nhuyễn,..
những sắc thái, những vị độ nầy đâu phải chỉ có
thể dùng cho thức uống mà thôi. 2. Nhận dạng
cây trà .- (sẽ tiếp)
Đoàn Văn Liêm .
Chuyện làm nhàm .
Nhà kia có ba đứa
con trai, út đã 25, mẹ mất khi sinh ra út. Anh giữa 27. Anh cả 32. Người
cha ngoài 60 mà ngày ngày vẫn đi làm việc
để tự nuôi thân. Út nói với hai anh: "Em nghĩ cha đã
yếu đi nhiều, ta nên ...” Anh cả ngắt lời: "Phải. Nhưng nếu
để cha nghỉ hưu sớm, cha sẽ không thể lãnh đủ trợ cấp
xã hội và công tích. Hẳn đợi thêm vài năm nữa rồi
hãy giúp cha, không muộn đâu.” Anh thứ hai nói: "Đúng
đấy. Trong khi chờ đợi, ba anh em mình có thể dành dụm một
khoản tiền cho cha.Ta sẽ xây cho cha một căn nhà để cha khỏi đi
ở nhà thuê nữa”, một căn nhà thoáng mát trên đồi,
phía trước hướng mặt biển, phía sau và hai bên hông có
thảo nguyên thoai thoải chạy vào thung lũng, cũng nên có một giòng
suối rất trắng luồn lách qua những rặng thông xanh thực
là xanh, có hương lộ phẳng lì vòng quanh chân đồi. Em út
tình nguyện sửa đất trước sân để dựng một giàn
hoa chuông treo. Có lẽ em út cũng sẽ đào lỗ chôn cột sau
nhà để làm một cái nhà bát giác theo kiểu các thập
lý đình bên Tàu. Uống trà, ngắm trăng, nghe tiếng sóng
biển rào rạt . Tuyệt. Cha nghe xong ờ một tiếng nhưng không nói
gì thêm. .. Năm sau, anh cả lấy vợ, một cô gái ở
cách nhà 3 khu phố. Cô gái bảo anh:"Em không muốn làm đám
cưới lớn. Mình nên để dành tiền lo cho cha. Em đã tính
đâu vào đấy rồi.” Sau đêm tân hôn, hai vợ chồng
lên phi cơ đi Bermuda hưởng tuần trăng mật. Vui như mở cờ. Bermuda
đâu có quá đắt đỏ như người ta vẫn tưởng.
Có vài điều hai vợ chồng đã cố tình quên mất: thứ
nhất, sau 5 ngày vui chơi ở Bermuda, họ đi Las Vegas thử thời vận, nếu
không khá thì coi shows; thứ hai, người vợ thích mua sắm ở Los
Angeles; điều sau rốt, mấy ngày trước đám cưới, cô dâu
tương lai bảo anh chồng tương lai rằng căn phòng tân hôn nom
chật hẹp quá. .
Anh giữa một hôm chợt nghĩ mình
cũng lớn rồi, phải lấy vợ. “Tại sao anh cả chỉ chọn vợ
trong 3 khu phố nhỉ?” Anh giữa quyết định mở rộng
phạm vi tìm kiếm đến tận thành phố kế bên.
Đi tới đi lui đâu có khó khăn gì vào thời buổi nầy?
Ba tháng sau, anh giữa tìm được một cô gái nền nếp, đẹp
và có học. Đám cưới được tổ chức trọng thể.
Anh giữa vốn là người cẩn trọng nên quyết không tiêu pha
nhiều cho tuần trăng mật. Hai vợ chồng chỉ xin phép sở làm một
tuần để lo hôn sự mà thôi. Mẹ cô gái thắc mắc: "Sao
hai con chỉ nghỉ một tuần thôi?” Cô gái trả lời: "Con muốn
để dành phép thường niên. Vả lại, con muốn làm thêm
giờ để kiếm tiền mua xe.” Mẹ lại nói: "Hình như con
đâu cần rất nhiều tiền mới mua được xe.” Cô
gái dấm dẳng: "Con không muốn ngân hàng họ ăn tiền lời
của con.” .
Còn em út thì sao? Em út thương cha lắm,
cậu luôn luôn thầm nghĩ mình có thể góp phần với các
anh vào việc cất nhà cho cha ở. Cậu chưa có vợ, tất rảnh
rang hơn, tại sao lại không đi trước hai anh mình một bước
chứ? Cậu lò dò tìm tới ngọn đồi dự kiến và trồng
trên đó một cây sồi non thân chỉ to bằng cổ
tay con nít và tàn lá chỉ rộng bằng một cây dù lớn.
Cứ vài ngày, cậu đến chăm cây một lần. Nghĩ thêm một
chút, cậu thấy dường như cây sồi trước cửa sẽ tăng
thêm nghi thái cho nhà của cha. Cậu thỉnh thoảng xoa tay cười một
mình. .
Một tuần sau đám cưới, chị dâu cả
phàn nàn cha ngủ ngáy to quá, nằng nặc đòi chồng ra ở
riêng. Anh cả than không có tiền đặt cọc mua nhà. “Thì
đi mướn một căn”, chị cả bảo. Ừ thì mướn. Mướn
xong mới thấy ở nhà thuê bất tiện quá. Bà già láng
giềng tốt dọn về quê giữ cháu. Người mới dọn đến
không biết làm nghề ngỗng gì, cứ đục đẽo cả ngày.
Chị cả có lớn tiếng hỏi chồng đã mấy giờ rồi, ý
nhắc khéo là đến giờ đi ngủ, yêu cầu giữ im lặng,
nhưng thằng cha kia cứ giả vờ không nghe không biết. “Thì đi
mướn một căn khác”, anh cả bảo. Chị cả không đồng
ý. “Tại sao lại đi mướn nhà nữa? Anh không dành để
được đồng nào hay sao?” Anh cả trả lời: "Vài
ngàn thì có. Vài chục ngàn thì không.” Đêm
đó, anh cả quay mặt vào vách vờ ngủ, nghe vợ cứ trở mình
luôn. Anh nằm im thin thít, nghĩ ngợi mãi. Ai biết anh nghĩ gì, chỉ
thấy sáng hôm sau, anh xin phép vắng mặt một ngày để đi
xem một ngôi nhà mà hai vợ chồng anh gấm ghé mấy tháng trước
và làm thủ tục vay mươn tiền ở ngân hàng. Vậy thì,
tiền cọc để mua nhà từ đâu mà có? Chỉ có trời
biết, đất biết. Sáu tuần lễ sau thì họ dọn về chỗ
ở mới. “Cây cảnh trước và sau nhà có sao để vậy,
sang năm hẳn hay” , chị cả bảo anh cả. Nhưng đâu tuần sau đó
thôi, chị cả khoe chỗ ở mới với bạn. Người bạn nầy
lấy chồng năm ngoái và cũng đã có nhà năm ngoái.
Sau bữa cơm với tí vang cho vui miệng, bạn về, để lại chút
ý kiến “nên bắt thêm mấy ngọn đèn ở chỗ nầy
nầy, trồng thêm hoa ở chỗ kia kia, dựng lên một giàn cây leo
phía ngoài hiên nhà để mái nhà nom đỡ trơ, ờ nhỉ,
tại đây cho một cái ao thả cá koi thì đẹp biết mấy;
cho thủy thảo vào, coi chừng cáo vườn bắt hết cá nhé,
anh chị ạ, phòng khách của anh chị không cần phải gấp, tháng
sau ta mua một bộ ghế da lắp vào, duy cái bồn rửa chén cũ quá,
nước chảy lẹt xẹt…” Anh cả cắt ngang: "Cám
ơn chị đến chơi.” Anh cả đã ngủ khá ngon gần một
tuần qua. Đêm nay và những đêm kế tiếp có lẽ không
xong rồi. .
Thế còn hai vợ chồng anh giữa? Mấy tháng
trước họ vui lắm. Hết giờ làm việc, có khi họ lái xe đi
xa đến 30 dặm đường chỉ để ngó qua mấy chiếc xe mới,
ngó đến tróc cả nước sơn xe của người ta. Về đến
nhà, hai vợ chồng ăn qua quýt cho xong bữa rồi lên giường châu
đầu xem tài liệu. Đối với họ, vui chăn gối và việc
mua xe mới là hai việc quan trọng như nhau, nhưng chăn gối có thưa
đi một chút có hề gì, tiền để dành cho cha thủng thẳng
sẽ tính, nhưng việc mua xe mới thì không được chậm hơn
nữa, hay ít ra, chị giữa nghĩ chắc như thế. Coi, bây
giờ đâu có việc gì gấp hơn? Lúc trước,
khi hai người còn ở riêng thì mỗi người đi một chiếc
xe cũ. “Chúng mình ở nhà mẹ em không mất tiền. Cái ăn
cái uống cũng đâu phải lo. Chả nhẽ em cứ phải đi mãi
chiếc xe cũ cho mất hết mặt mũi em à?” Anh giữa đấu
dịu: "Ừ, mai ta mua cái xe mới nhé. Hay thôi, thứ bảy có được
không? (chị giữa lắc đầu) Thì mai vậy. Anh bỏ chiếc xe cũ
của anh vào được chứ?”… Thửa chiếc xe mới
về, chị giữa đưa ba mẹ đi chơi loanh quanh mấy hôm, ghé qua
vài tiệm ăn sang trọng cho phải phép. Anh giữa được vợ cho
lại chiếc xe cũ của chị để làm chân đi làm. Một hôm
rảnh rổi, anh giữa về thăm cha. Cha hỏi thằng hai xe con đâu rồi?
Anh giữa hiên ngang trả lời cha: "Chiếc kia để ở nhà. Con dùng
cả hai chiếc.” Theo thói quen, cha lầm bầm: "Vậy sao?” .
Lại nói về em út. Năm nay, không biết tại sao em út học
hành tuột dốc. Ngồi trong bar rượu, cậu tiếp tục nghĩ đến
cách phải nói sao với người bạn gái của cậu. Cậu khó
có thể qua nổi kỳ thi tốt nghiệp sắp tới. Cô bạn gái trước
đã bỏ cậu vì cậu mãi lo học và lên đồi thăm
cây sồi, không dành đủ thời gian đi chơi với cô. Giải
thích mãi cũng không xong. Em út buồn, buông lỏng mọi việc hai
tuần lễ, ghét cái lão egghead đeo kính cận, ghét cả cha mình.
Cậu chán trường học và sách vở. “Tôi phải thay đổi.”
Cậu cắt đôi thời gian, nửa cho học hành nửa cho cô bạn gái
mới. Cậu cũng thôi không lên đồi chăm cây nữa. Để
tự nó lớn. Xin lỗi nhé. Nếu hỏng thi tốt nghiệp, tôi đừng
hòng kiếm được sở làm như ý, nghĩa là, tôi lại
mất đào. .
Năm nay cha 65 tuổi. Mệt mỏi quá sau 45 năm
còng lưng kéo cày. Tháng tư, vào ngày giỗ mẹ, cha đang
ngồi ăn với các con và dâu, bỗng nói: "Thôi cha no rồi.”
Nhưng trước mặt cha hãy còn lưng bát cơm. Mặt cha tái, trán
lấm tấm mồ hôi. Cha vào giường, nói vọng ra: "Cứ để
mặc chén dĩa ở đó. Khi cha dậy, cha dẹp cho.” … Bữa cơm
kỵ xong đã lâu . Mọi người không ai vội về. Cả bọn
mang nửa chai rượu còn lại của cha ra , vừa nhấp nháp vừa nghe
em út phàn nàn về chuyện nó với cô bạn gái mới. Rượu
hết nhưng chuyện chưa hết, râm ran vào khuya. .
Tháng 11 năm
đó, tai nạn xảy ra trong hãng. Cha vào nằm viện ba tuần, chưa
khoẻ nhưng đòi về. Ông tâm sự vặt với y tá:“Về
nhà tôi mới có hy vọng gặp mấy đứa con. Tôi ở đây
không tiện đường cho chúng nó đến thăm” rồi ông
cười: "Vậy đó.” Hôm sau, ông xuất viện
thưc, mặc kệ bác sĩ có cho phép hay không. .
Cha về nhà để ở lại nhà,
không trở lại sở làm nữa. Cái khối mệt mỏi từ một
chỗ bí mật nào đó trong cơ thể của ông bỗng
lăn ra, nghiền nát từng phân xương thịt của ông. Ông có
thể đi đứng bình thường như mọi người nhưng cảm thấy
như mình đang từng phút từng giây mang trên lưng một trụ
đá nứt nẻ, có một cái gì đó gai góc bén nhọn
đang trồi ra ngoài, thúc gãy mô xương lưng và xé rách
màng thịt thối nát, một cái gì khác lại trơn tuột xuống,
chực kéo người ông nghiêng về một bên như sắp đẩy
ông ngã dúi xuống đất. Sáng sớm, ông mệt. Trưa hay tối
ông cũng cảm thấy mệt. . Anh cả hỏi
anh giữa: "Vợ chồng chú thím tính sao?” Vợ anh giữa nói:
"Bọn em là em út mà. Cứ theo anh thôi.” Vợ anh giữa nói
xong, nheo mắt nhìn vợ anh cả, cười tủm tỉm. Cô ả thừa biết
vợ chồng anh cả chẳng ra hồn gì, tiền bạc sạch không, chỉ
giỏi cái múa mép. Chị cả uất lắm, chửi thầm: "Bọn
nầy đểu. Chỉ biết đun vào mình,” Anh cả hắng giọng,
khoát tay: "Bọn ta đều có gia đình cả. Tôi không khá
hơn ai đâu. Chờ nghe thằng út nói sao đã.”
rồi anh lảng qua chuyện khác. .
Thằng út đi vắng mươi ngày nay rồi. Từ khi thi trượt,
nó ít khi về nhà. Không ai biết nó đến những đâu.
Cô bạn gái của nó đã tìm đươc việc làm và
cũng đã có người yêu khác, một việc đáng lẽ
cô phải làm rất lâu trước ngày thằng út thi ra trường.
Uổng phí mất mấy tháng vui vẻ của đời cô. . Hai tuần sau, nghe tin thằng út bị bắt
giam vì có liên can đến một vụ cướp siêu thị, ai cũng
giật mình, trừ ra cha. Nhưng ông không đến trại giam thăm con mà
cứ hai ngày một lần đi bus đến khúc quanh gần chân đồi,
gần cái lô đất cát đỏ mà hai năm trước đây
các con của ông đã có hảo ý sẽ cất nhà cho ông
nghỉ dưỡng lão. . Hôm nay, ngồi xe bus hơi
lâu, ông cảm thấy hai chân run lẩy bẩy như gân đùi, bắp
chân, đầu gối và cổ chân không làm việc với nhau nữa.
Chiếc xe bus nhả khói đằng sau khét lẹt. Hương lộ
vắng ngắt. Ông già mím môi, từ từ thả hai đầu gối
xuống một bụi cỏ dại bên lề đường, môt bàn tay chống
vào gậy, bàn tay kia vuốt mồ hôi chảy ròng ròng trên trán
. Ông thở hào hển, lập bập nói một mình: "Rặng thông
cao quá. Cứ ở dưới nầy trông lên thì thấy cái cây
sồi quỷ ấy thế nào được?” . Ông già,
loạng choạng tiến lên đồi, vừa đi vừa bò, lâu lâu ngã
một cái đau điếng, mặt mũi nhếch nhác, quần áo sờn
rách dính đầy đất đỏ, thở dốc từng chập nhưng
vẫn cố. Đến lưng chừng đồi thôi, ông ta té lăn quay,
mệt cùng cực, không chống gậy đứng lên đươc nữa.
Ông cũng không thể nhúc nhích, hình như cánh tay và sườn
bên phải đã gãy rồi. Chỗ khuỷu tay bên trái máu cũng
đang rịn chảy ra ướt cả ống tay áo. May quá mình đã
không té úp mặt xuống đất, cái dáng nằm úp mặt
không đẹp, mất hết tôn nghiêm. Ông già chóng mặt quay cuồng,
ngực bỗng nặng chình chịch như cối đá, tai lùng bùng nghe
loáng thoáng ở đâu phía trên đầu mình lao xao tiếng lá
cây reo nhưng ông không chắc tiếng lá cây gì đang reo. Không,
có lẽ là tiếng sóng biển. Không, sóng biển không vang xa đến
thế đâu, có lẽ có giòng suối gần bên chăng? Ông già
phều phào: "Cây sồi…cây sồi của con tôi…” Đồi
hoang vu, vắng cả tiếng ve. Trong khung bao la, ông thực không thấy gì ngoài
một màu trời trắng phẳng lì. Gió thơm mùi cỏ khô đang
trườn mình cuốn cát vãi lên mặt ông, hột nào hột
nấy cũng to và ráp như hòn cuội. . Đoàn
Văn Liêm
|
|
|