|
 |
| |
PHẠM
KHẮC TRÍ . Thư Gửi
Bạn Cuối Năm 12/31/2009 Sau cơn lửa loạn, thân bằng như lá rơi tan tác.
Bên trời mòn mỏi, cánh hồng mù tăm . Tiê’ng mưa rơi rả rích nửa khuya lẫn
tiếng côn trùng râm ran bốn vách sương quán trọ , suô’t
đêm trường , đã đưa người ly hương vào mộng
về lại vườn cũ nhà xưa . Biết gửi về đâu
nỗi nhớ . Đỗ Phủ , đời Đường , thuở Vị Bắc , nhơ’
Lý Bạch ở Giang Đông . Vị Bắc xuân thiên thụ / Giang Đông nhật
mộ vân ( Xuân Nhật Ư’c Ly’ Bạch ) - Cây trời xuân Vị
Bắc/ (Thương) mây chiều Giang Đông. Biết gửi về đâu nỗi
buồn . Quản Ninh đời Tam Quô’c, tướng nươ’c Ngụy, không
chịu thần phục nhà Hán , tự lưu đầy vất vưởng dòng
dã trên ba mươi năm ở Liêu Đông . Ngày tháng vô tình lặng trôi . Hết năm
ngẩn ngơ nhìn lại . Phố xưa , bạn cũ , còn ai nhớ đến
. Thôi , đã cuối đời cỏ bồng phơ phất cũng vui thôi .
Ký Hữu Nguyễn Trãi (1380-1442) Loạn hậu thân bằng lạc diệp không, Thiên
biên thư tín đoạn chinh hồng. Cố viên qui mộng tam canh vũ, Lữ
xa’ ngâm hoài tư’ bi’ch trùng. Đỗ Lão hà
tằng vong Vị Bắc, Quản Ninh do tự kha’ch Liêu Đông. Việt
Trung cô’ cựu như tương vâ’n, Vị đạo sinh nhai
tự chuyển bồng. Gửi Bạn PKT Hê’t loạn, thư nhà những ngo’ng
trông, Bên trời biền biệt bo’ng chim hồng. Vườn
quê mưa đổ ba canh mộng, Qua’n kha’ch dê’ kêu bô’n
va’ch sương. Đỗ Lão đâu quên thời Vị
Bắc, Quản Ninh vẫn nhơ’ thuở Liêu Đông. Chô’n
xưa bạn cũ ai thăm hỏi, Hãy no’i thân như đã
cỏ bồng.
GỬI BẠN . Loạn qua ngồi ngóng
thư nhà Bên
trời biền biệt tin xa chưa về Ba canh mưa đổ vườn khuya Dế
kêu quán khách bốn bề gió rong Quản Ninh vẫn nhớ
Liêu Đông Vị Bắc xưa Đỗ Phủ còn vấn vương Việt
Trung quê cũ ngùi thương Ai về cho gửi tình nương cỏ
bồng Trầm Vân
Phạm Khắc Trí
Hoài
Hương Kịch Bản (Một Hồi 3 Cánh) MỞ MÀN Cảnh 1 : Còn Nơi Nào Để
Về ? Háo hức . Ngay ngày đầu về xứ , tôi đòi
được về làng, thăm lại cảnh cũ, người xưa, canh cánh
bên lòng trong hơn 55 năm trời cách biệt . Chú tôi cản lại
. Cháu ạ , mất hết cả rồi , có còn gì đâu nữa mà
về . Hụt hẫng . Đau đáu nỗi quê, từ nay , còn nơi nào
để về ? Cảnh 2 : Người Xưa Nhớ Nhà Đề Thơ
Ớ Lầu Hoàng Hạc Hoàng Hạc Lâu Thôi Hiệu (? - 754) Tích nhân dĩ thừa hoàng hạc khứ, Thử địa
không dư hoàng hạc lâu . Hoàng hạc nhất khứ bất
phục phản , Bạch vân thiên tải không du du . Tình
xuyên lịch lịch Hán Dương thụ , Phương thảo
thê thê Anh Vũ châu . Nhật mộ hương quan hà xứ
thị , Yên ba giang thượng sử nhân sầu . Lầu Hạc
Vàng PKT
(5/2009) Bài 1: Hạc
đã chở Tiên về cõi Thơ , Để lầu hoang lạnh
đứng chơ vơ . Hạc vàng một thuở rồi biền biệt
, Mây bạc ngàn đời vẫn lửng lơ . Lóng
lánh Hán Dương cây rỡn nắng, Lung linh Anh Vũ cỏ
khoe tơ . Chiều buông, quê cũ phương nào nhỉ , Khói sóng trên sông luống thẫn thờ . Bài 2 : Xưa Tiên cỡi hạc về
trời , Lầu Thơ bỏ lại bên đời bơ vơ . Hạc vàng một thuở mịt mờ , Ngàn năm mây
trắng lững lờ trôi ngang . Hán Dương cây rỡn nắng
vàng , Cỏ hương Anh Vũ ngỡ ngàng ánh tơ . Chiều buông đất khách thẫn thờ , Sầu theo
khói sóng vật vờ về đâu . Cánh 3 : Quê Cũ Không Còn Biết
Gửi Về Đâu Nỗi Nhớ Hoàng Hạc Người xưa trong cuộc đời luân lạc
, Vẫn
có một nơi đế nhớ về . Tôi nay đến cuối
đời trôi giạt , Đâu áng mây Tần gửi nỗi
quê . Hoàng hạc một đi không trở lại, Tóc
xanh nay đã bạc phong trần . Còn chăng một tấm lòng
thơ dại , Ngu ngơ cười khóc chuyện phù vân . (PKT 5/2009) HẠ MÀN
|
|
|