top of page
hmpg.jpg
Titlej (1).jpg
dcd_ongdo.jpg

TIẾNG HÁN CỔ (II)

với Ông Đồ ĐỖ CHIÊU ĐỨC

CHS Phan Thanh Giản (Cần Thơ)

Cựu GS Trung Học Tân Hưng (Cái Răng)

Cựu Giảng Viên ĐH Xã Hội - Nhân Văn (Sài Gòn)

Houston,Texas________

 

Trân trọng giới thiệu TRANG NHÀ ĐỖ CHIÊU ĐỨC:

https://sites.google.com/view/dochieuduc5/startseite?authuser=0

TÂM 心 là Trái Tim, mà trái tim nằm ở trong lòng ngực của cơ thể, nên TÂM còn có nghĩa là Lòng Dạ con người. TÂM là một Bộ 4 nét trong 214 Bộ Thủ của "CHỮ NHO... DỄ HỌC" theo diễn tiến chữ viết Tượng Hình như sau :

Ta thấy :

            Hình Trái Tim được vẽ có 4 ngăn hẵn hoi, lần lần chuyển biến như hình cái bụng nhọn bên dưới, qua chữ Triện thì thành những nét cong queo chỉ cuốn tim ở bên trên, đến Lệ Thư thì lại được kéo thẳng thành một nét dài và 3 chấm, và kịp đến chữ Khải như hiện nay (心) thì mới giống như là cụ Nguyễn Du đã diễn tả khi cho Thúy Kiều nhớ đến Thúc Kỳ TÂM, tức là chàng Thúc Sinh khi đang về thăm vợ cả là Hoạn Thư, như sau :

 

                            Đêm thu gió lọt song đào,

                   Nửa vành trăng khuyết ba sao giữa trời !

 

        Cụ Nguyễn Du đã thi vị hóa chữ TÂM 心 giống như là "Nửa vành trăng khuyết và ba sao giữa trời !". Rõ khéo ví von chữ TÂM 心 một cách vô cùng nên thơ thi vị !

Chữ TÂM tuy chỉ đơn giản có 4 nét, nhưng lại hàm chứa rất nhiều ý nghĩa đối với con người và cuộc sống. Trước tiên...

      - TÂM 心 là Trái Tim, là một trong Ngũ tạng 五臟 : Tâm, Can, Tỳ, Phế, Thận 心,肝,脾,肺,腎 của con người, tương ứng với Ngũ hành 五行 là Hoả, Mộc, Thổ, Kim, Thuỷ 火,木,土,金,水, và lại ứng với Ngũ thanh 五聲 là Năm thanh sắc của con người. Đó là Tiếu, Hô, Ca, Khốc, Thân 笑, 呼, 歌, 哭, 呻 (là Cười, Hét, Hát, Khóc, Rên). TÂM ứng với hành Hỏa và thanh Tiếu là Cười, nên trong truyện võ hiệp của nhà văn Kim Dung, những người bị trúng phải Thôi Tâm Chưởng 推心掌, tuy trái tim bị dập nát mà chết nhưng trên gương mặt co rúm lại như đang nở một nụ cười. Sự thật khi tim bị nhói đau thì nét mặt lộ những vết nhăn như đang cười chứ không phải là cười thật.

     - TÂM 心 là Lòng Dạ của con người và của cả những động vật sống chung quanh con người, nên ta lại có các thành ngữ như : Lang Tâm Cẩu Phế 狼心狗肺 là "Tim của con sói, phổi của con chó". Ta dịch Nôm na là "Lòng Lang Dạ Sói"; và Xà Hiết Tâm Trường 蛇蝎心腸 là "Tim và ruột của rắn và bọ cạp". Ta thường nói là "Lòng Dạ Rắn Rết". 

     - TÂM 心 là phần giữa của sự vật và thực vật, như : Giang Tâm 江心 là Giữa lòng sông; Địa Tâm 地心 là Giữa lòng đất; Chưởng Tâm 掌心 là lòng bàn tay; Hoa Tâm 花心 là giữa lòng hoa, là Nhụy hoa... 

        Nhắc đến HOA TÂM 花心 là Trong Lòng Hoa, ta lại nhớ về một giai thoại điển tích rất thú vị giữa Tô Đông Pha và Vương An Thạch như sau...

 

        Vương  An Thạch 王安石(1021—1086,tự là Giới Phủ 介甫,hiệu là Bán Sơn 半山 là Tể Tướng đương triều thời Bắc Tống, chẳng những giỏi văn thơ mà còn giỏi về chính trị nữa (Vương An Thạch Tân Pháp, là cải cách chính trị nổi tiếng của ông lúc bấy giờ, ở đây, ta chỉ nói về văn thơ của ông mà thôi). còn Tô Đông Pha tên thực là Tô Thức 蘇軾(1037—1101)tự là Tử Chiêm 子瞻, là một quan Hàn Lâm, rất giỏi văn thơ.(Trong Đường Tống Bát Đại Gia thì cha con Tô Đông Pha chiếm hết 3 ghế rồi). Có lẽ vì thế mà ông cũng có hơi hợm mình, nên mới dám cả gan sửa thơ của Tể Tướng, vì ông cho là Vương An Thạch đã nhầm lẫn khi viết 2 câu thơ sau đây :

 

                明月當頭叫,    Minh nguyệt đương đầu KHIẾU, 

                黄狗卧花心.    Hoàng cẩu ngọa HOA TÂM .         

Có nghĩa :

              Trăng sáng KÊU ngay ở trên đĩnh đầu, và...

              Con chó vàng nằm ở giữa LÒNG HOA.

 

       Ông cho là Tể Tướng đã lẫm cẫm nên nhầm, mới sửa lại thành :

 

                明月當頭照,    Minh nguyệt đương đầu CHIẾU,   

                黄狗卧花陰.    Hoàng cẩu ngọa hoa ÂM.             

Có nghĩa :

               Trăng sáng SOI ngay trên đĩnh đầu, và... 

               Con chó vàng nằm DƯỚI BÓNG HOA.

Vương giận, cho là ông làm tài khôn sửa bậy thơ của người khác, mới đày ông xuống miền Mân Nam (Vùng Phúc Kiến, Quảng Đông ngày nay).               

        Một hôm, Tô Đông Pha đi dạo trong vùng Hợp Phố để thăm hỏi dân tình thì thấy một con chim lạ rất đẹp, mới hỏi thăm dân làng đó là con chim gì ? Dân làng đáp rằng : Đó là con chim Minh Nguyệt !. Tô nghe nói giật mình. Dân lại nói tiếp là, loài chim nầy chuyên tìm ăn loại sâu bọ màu vàng nằm giữa lòng hoa. Tô hỏi là loại sâu gì ?. Dân bèn tìm ngắt một đóa hoa thật đẹp, nhưng ở giữa nhụy hoa có một con sâu màu vàng nằm cuốn tròn, mõm dài và mình đầy lông trông như một con chó con bé xíu, dân bảo con sâu đó tên là Hoàng Cẩu !. Tô bèn thở dài và chép miệng : "Thật đáng kiếp !". Ông trách cho sự dốt nát và hợm hĩnh của mình. Từ đó, mới chịu phục Tể Tướng Vương An Thạch là giỏi....

        Thì ra hai câu thơ của Tể Tướng là để nói về 2 loài vật nầy :

 

              Con CHIM Minh Nguyệt đang hót ở trên đĩnh đầu, và...

              Con SÂU Hoàng Cẩu nằm rút mình trong lòng hoa.

 

          Cho hay kiến thức ở trên đời là bao la, nếu cứ chấp nê bất ngộ tưởng mình là tài giỏi nhất thiên hạ, thì có ngày cũng phải hối tiếc cho sự hợm hĩnh của mình như là Tô Đông Pha vậy !

- TÂM 心 còn là cái tư tưởng ý niệm trong lòng con người, như : Nội Tâm 内心 là những suy nghĩ và ẩn ức sâu kín ở trong lòng; Động Tâm 動心 là Lòng bị lay động nên chú ý đến việc gì đó; Từ Tâm 慈心 là Lòng nhân từ, hiền lành; Ác Tâm 惡心 là Lòng dạ nham hiễm độc ác...

     - ĐỘNG TÂM 動心 ta nói là ĐỘNG LÒNG trước một việc gì đó. Như khi biết Thúc Sinh chuộc Thúy Kiều từ lầu xanh về, Thúc Ông đã thưa lên quan Phủ để bắt Thúy Kiều về lại lầu xanh. Quan phủ cũng đã phán :" Một là cứ phép gia hình, Một là lại cứ lầi xanh phó về". Nhưng Thúy Kiều thà chịu "gia hình" chứ không chịu về lại lầu xanh, nên bị gia hình đến nỗi "Đào hoen hoẹn má liễu tan tác mày", làm cho chàng Thúc "Đứng xa trông thấy lòng càng xót xa" vừa khóc vừa tự trách mình :

 

                               Cạn lòng chẳng biết nghĩ sâu.

                               Để ai trăng tủi hoa sầu vì ai.

  ... khóc than đến nỗi :

                             Phủ đường nghe thoảng vào tai,

                         ĐỘNG LÒNG lại gạn đến lời riêng tây.

 

        Nhờ Quan Phủ ĐỘNG LÒNG mà Thuý Kiều được tha, lại còn được quan đứng ra làm chủ hôn để kết hợp cho đôi lứa nữa.

 

     - TÂM là Tim, nên TÂM SỰ 心事 : là Chuyện của Trái Tim, là chuyện chất chứa ở trong lòng : Chuyện về tình yêu, công danh, sự nghiệp... đang ấp ủ trong lòng. Nên Thổ Lộ Tâm Sự 吐露心事 là bày tỏ nỗi lòng của mình với ai đó.

      

     - TÂM PHÚC 心腹 : Tâm là Lòng, Phúc là Bụng. Nên TÂM PHÚC là Bụng Dạ, là Lòng Dạ. Người Tâm Phúc là Người mà ta hết lòng hết dạ tin tưởng. Nỗi lo Tâm Phúc là Nỗi lo cứ canh cánh mãi bên lòng.

 

      Nói chung, TÂM là trái tim, là chủ tễ của sinh mạng. Không có tim thì con người sẽ chết. TÂM còn là Lòng dạ và Tư duy của con người. Cái Tâm làm nên con người tốt hay xấu, phải hay trái, đúng hay sai và làm nên tất cả đời sống yên vui hạnh phúc hay trắc trở lầm than của con người... Tất cả đều là do cái TÂM mà ra cả ! Cụ thể như...

      Đối với cha mẹ thì phải có Hiếu Tâm 孝心 là Lòng hiếu thảo; Làm việc thì phải Tận Tâm 盡心 là hết lòng hết dạ; Làm thuộc cấp của người khác thì phải Trung Tâm 忠心 là phải có lòng trung thành; Làm xếp làm lãnh đạo thì phải có Nhân Tâm 仁心 là lòng nhân từ, không qúa hà khắc với nhân viên; Học hành hay làm việc gì đó thì phải có Quyết Tâm 決心; Tìm hiểu một ngành nghề nào đó thì phải Chuyên Tâm 專心; Giao tiếp ngoài xã hội thì luôn luôn phải Lưu Tâm 留心 để ý học tập và phòng ngừa bất trắc; Đối nhân xử thế thì luôn phải Tiểu Tâm 小心 Cẩn thận; Sửa sai việc gì đó thì phải có Thành Tâm 誠心 và cả Dũng Tâm 勇心 nữa; Đối diện với cuộc sống luôn luôn phải Tín Tâm 信心 là có Lòng tin về cuộc sống trước mắt; và nhất là phải luôn giữ cho mình cái Lạc Quan Tâm 樂觀心, là giữ được cái lòng luôn vui vẻ để đối mặt với cuộc sống !

 Ngoài NHÂN TÂM 仁心 là lòng nhân từ ra; ta còn có NHÂN TÂM 人心  là Trái tim của người ta, cũng là Lòng Dạ của con người; mà lòng dạ con người thì vô chừng : Khi tốt khi xấu, khi thì nhân từ, lúc lại nhẫn tâm; có lúc thánh thiện từ ái như lòng Bồ tát, khi lại nhẫn tâm hiễm độc tựa ác ma. Nên ta có thành ngữ là Nhân Tâm Nan Trắc 人心難測, có nghĩa : Lòng người khó mà đoán biết được.  Cụ Nguyễn Du khi diễn tả sự nham hiễm của Hoan Thư cũng đã hạ câu :

 

                              Bề ngoài thơn thớt nói cười,

                      Mà trong nham hiễm giết người không dao.

 

     Không làm gì được trước cô vợ qúa quắc, Thúc Sinh đành phải khuyên Kiều bỏ trốn "Liệu mà xa chạy cao bay, Ái ân ta có ngần này mà thôi !". Chàng đã nhận xét :

 

                        Sinh rằng: Riêng tưởng bấy lâu,

                  Lòng Người nham hiểm biết đâu mà lường.

 

      "Lòng Người nham hiểm biết đâu mà lường" là nói theo câu chữ Nho "Thâm uyên chung hữu đễ, Nhân tâm bất khả trắc 深淵終有底, 人心不可測" Có nghĩa : Vực sâu còn có đáy, chớ lòng người thì không thể đo lường được".

 

      Trong Bi Thiếp Văn 碑帖文 đời nhà Minh có mấy câu viết về nhân tình thế thái rất hay, rất sâu sắc như sau :

 

               登天難,求人更難;        Đăng thiên nan, cầu nhân cánh nan;

               黃連苦,窮人更苦;        Huỳnh liên khổ, cùng nhân cánh khổ;

               春冰薄,人情更薄;        Xuân băng bạc, nhân tình cánh bạc;

               江湖險,人心更險;        Giang hồ hiễm, nhân tâm cánh hiễm.

               知其難,食其苦,           Tri kỳ nan, thực kỳ khổ,      

               耐其薄,驗其險;           nại kỳ bạc, nghiệm kỳ hiễm,

               可以應變而處世為人也!  Khả dĩ ứng biến nhi xử thế vi nhân dã !

Có nghĩa :

         - Lên trời đã khó, cầu cạnh người ta càng khó khăn hơn;

         - Huỳnh liên đắng, người nghèo khổ càng cay đắng hơn;

         - Băng sáng xuân rất mỏng, tình người càng mỏng hơn nữa;

         - Giang hồ hiễm ác, lòng người càng hiễm ác hơn;

         - Biết được cái khó khi cầu cạnh người khác; Nếm trải được cay đắng của sự nghèo khổ; Từng chịu đựng qua sự bạc bẽo của tình người; Có thể trải nghiệm được sự hiễm ác của lòng người là như thế nào...

        - thì ta đã có thể ứng biến để đối phó với mọi tình huống trong việc xử thế và làm người rồi đó !

       Nghe có vẻ bi quan nhưng lại rất thực tế trong đời sống của con người.

 Ông bà ta xưa cũng thường hay nhắc câu :

 

                     長途知馬力,    Trường đồ tri mã lực,

                     事久見人心 !     Sự cửu kiến Nhân Tâm !

Có nghĩa :

             - Đường dài mới biết được sức ngựa  (bền hay không bền),

             - Chuyện gì đó lâu dần mới thấy được lòng người  (tốt hay không tốt).

 

      Trong Tăng Quảng Hiền Văn thì lại ghi là :

 

                     路遥知馬力,    Lộ diêu tri mã lực,

                     日久見人心 !    Nhựt cửu kiến Nhân Tâm !  

Có nghĩa :

             - Đường có xa xôi mới biết được sức ngựa  (hay hay không hay),

             - Ngày tháng lâu dần mới thấy được lòng người  (tốt hay không tốt). 

 

          Nghĩa cũng tương đương như câu nói trên mà thôi !  

TÂM còn là TÂM Ý 心意, mà Tâm Ý là lòng dạ, là ý nghĩ, ý định ở trong lòng ai đó. Đôi khi Tâm Ý còn chỉ những mong mỏi ước muốn ở trong lòng. Ta có thành ngữ "Tâm Ý Hợp Nhất 心意合一" để chỉ những ý nghĩ và mong muốn đều giống như nhau của hai người hoặc của một nhóm người nào đó. Để chỉ những người cùng chung chí hướng với nhau, ta có thành ngữ "Tâm Ý Tương Đồng 心意相同". Còn thành ngữ "Tâm Ý Tương Thông 心意相通" thì thường dùng để chỉ hai người bạn thân hoặc hai kẻ yêu nhau cùng đoán và hiểu được ý nghĩ và ước muốn của nhau.

 

      TÂM TÌNH 心情 là Tâm Tư Tình Cảm. Nói chuyện Tâm Tình là bày tỏ với đối phương về tâm tư và tình cảm của mình. Tôi lớn lên trong xóm bình dân ở Đồng bằng sông Cửu Long, nên hồi nhỏ thường nghe bà con lối xóm hát nghêu ngao :

 

           ... Bà già "lấy le" ông già, chiều chiều dắt ra bờ sông...

               Hai người nói chuyện "Tâm Tình", ôm nhau... lọt xuống xình!... 

 

     Còn người Hoa hiện nay thì dùng từ TÂM TÌNH 心情 để chỉ cái Trạng Thái tâm tư tình cảm vui buồn của con người, như "Hôm nay Tâm Tình không tốt(心情不好)nên nó hay nổi giận với mọi người !".  Cụ thể nhất để chỉ trạng thái tâm lý của con người là từ...

     TÂM THẦN 心神 : là Tâm tư và Tinh thần, thường chỉ cái dáng vẻ và thần thái bên ngoài của con người. Ta có thành ngữ TÂM THẦN BẤT ĐỊNH 心神不定 để chỉ cái dáng vẻ bồn chồn lo lắng hay ưu tư hoảng hốt của ai đó.

 

     TÂM HỎA 心火 là Lửa ở trong tim, lửa ở trong lòng. Theo Phật giáo, cơ thể con người là do Tứ Đại : Phong Thủy Hỏa Thổ 風水火土, tức là Đất Nước Gió Lửa kết hợp lại mà thành, nên bản thân con người đã có một phần tư là lửa ở trong đó rồi, ngọn lửa đó cứ âm ỉ mãi trong tim tạo nên sự ham muốn mãnh liệt mà ta gọi là Lửa Dục Vọng. Trong văn chương Phật giáo thì gọi nhẹ nhàng hơn : Lửa Lòng. Như cụ Nguyễn Du đã diễn tả tâm trạng của Thúy Kiều khi tu ở Quan Âm Các :

 

                          Cho hay giọt nước cành dương  

                    Lửa Lòng tưới tắt mọi đường trần duyên …

 

   ... và như lời của Thúy Kiều đã phân bua với Vương Viên Ngoại khi ông muốn nàng từ giả sư Giác Duyên để theo mọi người về nhà đoàn tụ :

 

                            Sự đời đã tắt Lửa Lòng,

                    Còn chen vào chốn bụi hồng mà chi ?!

 

      Trong Cung Oán Ngâm Khúc Nguyễn Gia Thiều cũng đã gọi ngọn lửa âm ỉ đốt trong lòng người cung nữ là TÂM HỎA với các câu :

 

                     Ngọn TÂM HỎA đốt dàu nét liễu, 

                     Giọt hồng băng thấm ráo làn son. 

                     Lại buồn đến cảnh con con, 

                     Trà chuyên nước nhất, hương đùn khói đôi !

  Còn trong Truyện Kiều, cụ Nguyễn Du cũng mượn chữ TÂM HỎA nói thành “LỬA TÂM” để tả ngọn lửa ghen tuông trong lòng của Hoạn Thư là:

 

                         LỬA TÂM càng dập càng nồng,

                    Trách người đen bạc ra lòng trăng hoa.

                         Ví bằng thú thật cùng ta,

                    Cũng dung kẻ dưới mới là lượng trên !    

 

      TÂM HUYẾT 心血 : Không phải là từ dùng để chỉ trái tim và máu, hai thực thể sống còn không thể thiếu của cơ thể con người, mà là dùng để chỉ những gì được ấp ủ trong tim trong lòng được hình thành bằng bầu nhiệt huyết qua bao gian lao khổ nhọc trắc trở, qua bao thời gian vật vả mới hình thành làm nên một kế hoạch, một dự án, một công trình nào đó... Như : Cơ ngơi đồ sộ nầy là Tâm Huyết suốt cả đời của ông ta đó ! Nhưng...

     Khi là Tính từ, thì Tâm Huyết cũng có nghĩa như là Nhiệt Huyết. Con người Tâm Huyết là con người rất nhiệt tình với chức trách của mình. Lời Tâm Huyết là lời nói rất thực tình từ trong lòng mà ra.

 TÂM là Trái Tim, là Tấm Lòng, là Lòng Dạ... Câu đầu tiên của Huấn Mông Tam Tự Kinh đã dạy ta : Nhân chi sơ, Tính bổn thiện 人之出,性本善. Cái "Tính bổn Thiện" đó là "Cái trái tim liền lành của con người, là cái LƯƠNG TÂM 良心 mà khi cha sanh mẹ đẻ ra thì Trời đã phú sẵn cho mỗi con người rồi ! Nếu ai không khéo giữ, làm trái với Lương Tâm, làm những điều thương luân bại lý hay ác đức sát nhân thì sẽ bị "Cái Lương Tâm" đó theo đuổi cắn rứt và dằn dật suốt cả cuộc đời, không sao sống yên ổn được. Nên...

     Nho Giáo thì dạy ta phải có NHÂN TÂM 仁心 là lòng nhân từ khoan dung, như trong Tăng Quảng Hiền Văn đã khuyên :

 

                 責人之心責己,   Trách nhân chi tâm trách kỷ,

                 恕己之心恕人。   Thứ kỷ chi tâm thứ nhân.

     Có nghĩa :

             - Lấy cái lòng mình trách người ta để trách mình, và...

             - Lấy cái lòng mình tha thứ mình để tha thứ cho người khác !

 

     Phật Giáo thì khuyên ta phải có TỪ TÂM 慈心 là lòng từ bi hỉ xả. Vì Từ Bi Tâm 慈悲心 tức là Phật Tâm 佛心 đó. Phật dạy là chúng sinh đều có sinh mạng nên đều được xem bình đẵng như nhau; Vì thế mà ta không được sát sinh, mà còn phải cứu sinh, phóng sinh nữa, và cũng vì thế mà ta phải ăn chay ăn lạt. Làm được ba điều trên thì tự nhiên "Từ Bi Tâm" sẽ phát sinh. 

     TỪ 慈 là Nhân từ; BI 悲 là Thương xót; HỈ 喜 là Vui vẻ; XẢ 捨 là buông bỏ, là thả ra; Nên TỪ BI HỈ XẢ 慈悲喜捨, nói một cách Nôm na dễ hiểu là : Vì lòng nhân từ xót thương mà vui vẻ buông bỏ thả ra; chớ không phải hối tiếc con gà giò không "xé phai" được vì hôm nay phải ăn chay, nếu không thì đã cho nó vô nồi với bó rau răm rồi !

 

     Công Giáo thì đề cao THIỆN TÂM 善心. Thiện Tâm là lòng hướng thiện một cách thuần thành. Người Thiện Tâm là người có đạo đức, có lý tưởng, sống để phụng sự Thiên Chúa và yêu thương con người. Trong các ngày lễ Chúa Nhật và trong các ngày lễ Trọng, lễ Kính, nhất là trong đêm Chúa giáng sinh nơi máng cỏ lừa trong hang đá ở xứ Bê-lem ta thường nghe câu hát ngợi ca :

 

                        Vinh Danh Thiên Chúa trên trời,

                    Bình an dưới thế cho người Thiện Tâm.

Như trên đã nói, bản thân chữ TÂM đã lương thiện rồi, nên từ HỮU TÂM 有心 là Có Lòng, cũng có nghĩa là "Có Lòng Tốt" đó ! Trong bài thơ Tặng Biệt 贈別 nổi tiếng của thi nhân Đỗ Mục ở buổi Tàn Đường, có hai câu thơ rất hay như sau :

 

                  蠟燭有心還惜別,   Lạp chúc HỮU TÂM hoàn tích biệt,

                  替人垂淚到天明。   Thế nhân thùy lệ đáo thiên minh !

Có nghĩa :

      - Ngọn nến như cũng CÓ LÒNG (tốt), nên cũng tiếc cho sự biệt ly, mà...

      - Thay thế người cứ nhỏ lệ nến mãi cho đến tận trời sáng tỏ !

 

                  Nến cũng CÓ LÒNG thương ly biệt,

                  Thay người nhỏ lệ suốt canh thâu !

 

      Ta thấy, bản thân chữ LÒNG đã có hàm ý là "LÒNG TỐT" rồi. Nên CÓ LÒNG là "Có Lòng Tốt" đó. Trong rất nhiều ngữ cảnh, như :"Cám ơn bác đã CÓ LÒNG đến thăm tôi"."CÓ LÒNG" ở đây cũng có nghĩa là "CÓ LÒNG TỐT" đó. Khi Từ Hải giúp Thúy Kiều Báo ân báo oán; Thúy Kiều đã nói với Thúc Sinh rằng :

 

                 ... Sâm Thương chẳng vẹn chữ tòng,

                     Tại ai, há dám PHỤ LÒNG cố nhân ?

                     Gấm trăm cuốn bạc nghìn cân,

                     TẠ LÒNG dễ xứng, báo ân gọi là !

 

     "Tại ai, há dám PHỤ LÒNG cố nhân ?". "PHỤ LÒNG cố nhân" là "PHỤ LÒNG TỐT của cố nhân" đó; hay như câu :" TẠ LÒNG dễ xứng, báo ân gọi là". "TẠ LÒNG" là "Cảm tạ Lòng Tốt của Thúc Sinh đó"... 

THỐNG TÂM 痛心 hay THƯƠNG TÂM 傷心 đều chỉ Đau Lòng, nhưng THỐNG TÂM hay TÂM THỐNG 心痛 thì thường chỉ đau về thể xác, về những việc cụ thể như bị mất người thân chẳng hạn; còn THƯƠNG TÂM hay TÂM THƯƠNG 心傷 là đau về mặt tinh thần, là nỗi đau của tâm hồn vì tâm lý bị tổn thương. Như Thúy Kiều gặp gia biến phải bán mình chuộc tội cho cha, phải đau lòng mà lìa nhà lìa cửa lìa bỏ người yêu để đi theo Mã Giám Sinh :

 

                              Đau Lòng tử biệt sinh ly,

                     Thân còn chẳng tiếc, tiếc gì đến duyên !

 

      Đó là nỗi đau cụ thể hiễn hiện trước mắt, còn khi ở lầu xanh "Mặc người mưa Sở mây Tần, nhưng mình nào biết có xuân là gì" mới là nỗi Thương Tâm đáng thương của đời kỹ nữ :

 

                             Nỗi lòng đòi đoạn xa gần,

                      Chẳng vò mà rối, chẳng dần mà đau !

 

     Như ta đã biết, TÂM vốn Thiện, nên rất dễ bị mê hoặc, gọi là MÊ TÂM 迷心, mà Tâm Mê thì Ý Loạn, không còn tỉnh táo để phân biệt phải trái, thị phi trắng đen gì nữa cả, nên cần phải làm cho TÂM sáng lên để biết phán đoán phân biệt cái nào đúng cái nào sai, cái nào nên theo, cái nào không nên làm... Vì thế mà tiền nhân đã soạn ra quyển "Minh Tâm Bửu Giám 明心寶鑑" gom góp những lời vàng tiếng ngọc của các bậc Thánh nhân Hiền triết hoặc Danh Nho thời xưa đã nói trong các kinh điển hay sách vở, ngõ hầu để cho người đời sau học lấy và xem đó như là tấm gương báu để soi sáng lòng người.

     MINH TÂM 明心 có chữ MINH 明 được ghép theo phép Hội Ý, gồm có bộ NHẬT 日 bên trái là nguồn sáng ban ngày, ghép với bộ NGUYỆT 月 bên phải là nguồn sáng ban đêm, nên MINH 明 là Sáng sủa, khi là Động từ thì có nghĩa là Làm cho Sáng Tỏ. BỬU GIÁM hay BẢO GIÁM 寶鑑 có chữ BẢO 寶 là Báu vật quý giá; GIÁM 鑑 có bộ KIM 金 là Kim loại bên trái và chữ GIÁM 監 là Giám sát bên phải, nên có nghĩa là Tấm gương soi (Ngày xưa chưa có pha lê, nên người ta mài kim loại cho sáng bóng lên để làm gương soi). Vì thế MINH TÂM BỬU GIÁM 明心寶鑑 có nghĩa là Tấm gương soi quý báu để cho người ta soi sáng lòng dạ của mình.

     Ta còn có một từ MINH TÂM nữa... 

     MINH TÂM 銘心: chữ MINH 銘 nầy được ghép theo phép Hài thanh, gồm có bô KIM 金 là kim loại bên trái chỉ ý, bên phải là chữ DANH 名 chỉ âm (Vì âm Quan thoại DANH được đọc như MINH:"míng"); Nên MINH 銘 nầy có nghĩa Khắc, là Trạm, là Tạc. Vì vậy mà MINH TÂM 銘心 có nghĩa là "Tạc vào trong tim, khắc vào trong lòng". Ta có thành ngữ MINH TÂM KHẮC CỐT 銘心刻骨 là Tạc vào trong tim, khắc vào trong xương, mà tiếng Nôm ta nói thành "Ghi Lòng Tạc Dạ". Trong Truyện Kiều cụ Nguyễn Du nói là "Chạm Xương Chép Dạ" khi cho Thúy Kiều ngỏ lời cám ơn Từ Hải đã giúp mình trả ân trả oán :

 

                      ... Trộm nhờ sấm sét ra oai,

                     Tấc riêng như cất gánh đầy đổ đi.

                        CHẠM XƯƠNG CHÉP DẠ xiết chi,

                      Dễ đem gan óc đền nghì trời mây !

 

       Khi chàng Kim trở về vườn Thúy để tìm Kiều, thì mới biết Thúy Kiều đã bán mình cho Mã Giám Sinh. Vương viên ngoại đã kể lể với Kim Trọng rằng : "Trót lời hẹn với lang quân, Cậy con em nó Thúy Vân thay lời" và sau :

 

                          Mấy lời ký chú đinh ninh,

                     GHI LÒNG ĐỂ DẠ cất mình ra đi !...

dcd_Tam_ghilongtacda.JPG

Trong đời sống con người, có rất nhiều điều ta phải Khắc Cốt Ghi Tâm, dù cho có tài cao bát đấu cũng phải biết hồi tâm chuyển ý, khiêm tốn đối nhân, không làm tổn thương lòng tự trọng của người chung quanh mà phải biết trân trọng tâm ý của tất cả mọi người, như cụ Nguyễn Du đã từng khuyên răn :"Có TÀI mà cậy chi TÀI, Chữ TÀI liền với chữ TAI một vần". Và cụ đã kết thúc Truyện Kiều bằng lời khích lệ nhắc nhở :

 

                           Thiện căn ở tại lòng ta,

                    Chữ TÂM kia mới bằng ba chữ TÀI!

 

     Mong rằng tất cả mọi người đều biết trân trọng cái TÂM của mình và cả cái TÂM của người khác nữa !

 

     Hẹn bài viết tới !

 

     杜紹德

   Đỗ Chiêu Đức

dcd_duson.JPG

          Sơn cùng thuỷ tận nghi vô lộ,         山窮水盡疑無路,

             Liễu ám hoa minh hựu nhất thôn !  柳暗花明又一村!

Có nghĩa :

     Núi đã cùng, nước đã tận, ngỡ là đã cùng đường rồi, không ngờ phía trước lại có ... Liễu xanh om hoa rực rỡ lại đưa ta đến một thôn làng khác nữa !

     Câu nầy còn dùng để chỉ : Những việc tưởng đâu đã hết hi vọng rồi, nào ngờ lại mở ra được hướng giải quyết mới còn tốt hơn là cơ hội cũ nữa ! Ta hay đọc thấy câu nầy trong  các truyện xưa, nhất là trong các truyện võ hiệp kỳ tình Trung Hoa :

                 Non cùng nước cạn ngờ vô lối,

                 Liễu biếc hoa hương lại một thôn !

 

     Thực ra đó là 2 câu Thực trong bài Du Sơn Tây Thôn của Lục Du đời Tống. Hai câu thơ đó nguyên là :

 

        山重水復疑無路Sơn trùng thuỷ phục nghi vô lộ,        

        柳暗花明又一村。 Liễu ám hoa minh hựu nhất thôn.         

 

       Nhưng trong THIÊN GIA THI 千家詩 đã chép sai  "Sơn Trùng Thủy Phục 山重水復 " thành " Sơn Cùng Thủy Tận 山窮水盡 " là câu nói quen miệng của dân gian. Hai cách nói nầy khác nhau rất xa, nếu ta phân tích theo văn chương, còn đối với giới bình dân thì cho là " Ý nghĩa của NÓ cũng tương đương với nhau " mà thôi !

 

     * SƠN TRÙNG THUỶ PHỤC 山 重 水 復 : SƠN TRÙNG là Núi trùng trùng điệp điệp, hết núi nầy đến núi khác, nên ở xa nhìn thì thấy toàn núi là núi. THỦY PHỤC là Hết dòng nước nầy đến dòng nước khác, nên nhìn thấy toàn nước là nước.

        Vì NÚI và NƯỚC trùng phục ở trước mặt, cho nên mới NGHI VÔ LỘ 疑 無 路 : là " Ngỡ là đã hết đường đi rồi ". Nên mở ra câu sau rất thú vị không ngờ là :

         Liễu ám hoa minh hựu nhất thôn !  柳暗花明又一村!

  Còn nếu là ...

     * SƠN CÙNG THỦY TẬN 山窮水盡 : là Núi đã Cùng đường rồi, Nước cũng đã tận cùng rồi, là ở nơi Cuối Đất Cùng Trời rồi, thì đâu có NGHI VÔ LỘ nữa, mà là CHUNG VÔ LỘ 終無路 là Rốt cuộc đã " Hết Đường Đi Thật rồi !" thì làm sao còn có câu sau là : Liễu ám hoa minh hựu nhất thôn  柳暗花明又一村 cho được !

 

        Bây giờ thì ta hãy đọc toàn bài thơ của bài Du Sơn Tây Thôn này nhé :

 

    遊 山 西 村                     Du Sơn Tây Thôn

莫 笑 農 家 臘 酒 渾,    Mạc tiếu nông gia lạp tửu hồn,            

豐 年 留 客 足 雞 豚。    Phong niên lưu khách túc kê đồn      

山 重 水 復 疑 無 路,    Sơn trùng thuỷ phục nghi vô lộ        

柳 暗 花 明 又 一 村。    Liễu ám hoa minh hựu nhất thôn         

簫 鼓 追 隨 春 社 近,    Tiêu cổ truy tuỳ xuân xã cận   

衣 冠 簡 樸 古 風 存。    Y quan giản phác cổ phong tồn           

從 今 若 許 閑 乘 月,    Tòng kim nhược hứa nhàn thừa nguyệt         

拄 杖 無 時 夜 叩 門。    Trụ trượng vô thì dạ khấu môn.          

                    陸 游                                      Lục Du   

dcd_baithoduson.JPG

CHÚ THÍCH :           

    * LẠP TỬU : Lạp là Tháng Mười Hai Âm Lịch, ta đọc trại thành Thánh CHẠP, nên Lạp Tửu là rượu của tháng Chạp, rượu được ủ để uống vào dịp Tết Âm Lịch.

    * PHONG NIÊN 豐 年 : là Năm Được Mùa.

    * KÊ ĐỒN : Kê là Gà, Đồn là Heo.

    * XUÂN XÃ 春 社 : là Ngày Mậu Nhựt thứ 5 sau tiết Lập Xuân làm ngày XUÂN XÃ để cúng tế Thần Làng, như ta cúng Đình Làng vậy, để cầu cho sang năm lại được trúng mùa. Vì thế mà có thổi tiêu đánh trống ...

     * 從 今 若 許 閑 乘 月 Tòng kim nhược hứa nhàn thừa nguyệt : là Từ nay về sau nếu như có rảnh rổi thì hay thừa lúc trăng sáng ...

     * 拄 杖 無 時 夜 叩 門 Trụ trượng vô thì dạ khấu môn : là Hãy chống gậy mà đến gỏ cửa nhà ta bất cứ lúc nào trong đêm ( cũng hổng sao !). VÔ THÌ : là Bất cứ lúc nào.

 

NGHĨA BÀI THƠ : 

                         Dạo Chơi Thôn Xóm Núi Tây

          Xin đừng cười chê thứ rượu tế lễ không được trong của nhà nông trong tháng Chạp. Năm nay được mùa, nên giữ khách lại, đủ cả heo gà để đãi khách. Đừng vì núi liền với núi sông liền với sông mà ngỡ rằng đã không còn đường để đi tới, vì thấp thoáng trong bóng râm rặng liễu và khóm hoa tươi đẹp rực rỡ phía trước sẽ lại mở ra một thôn làng mới. Trống tiêu như giục giã vì ngày tế lễ đầu xuân đang gần kề. Áo mũ giản dị nhưng vẫn theo tục lệ cũ còn giữ lại. Từ nay về sau nếu như có rảnh rổi thì cứ thừa lúc trăng sáng ... Hãy chống gậy mà đến gỏ cửa nhà ta bất cứ lúc nào trong đêm ( cũng hổng sao, vì ta luôn luôn sẵn sàng đón tiếp ! )

 

        Đây là cảnh nông dân ăn Tết ở Tây Thôn là một làng miền núi của một năm được mùa, chất phác chân thật mà nhiệt tình của đời sống thôn dã sau một năm cày sâu cuốc bẫm.             

 

              DIỄN NÔM :

 

                       DẠO NÚI XÓM TÂY

 

                Thôn dã chớ cười rượu nhạt phèo,

                Cuối năm đãi khách sẵn gà heo.

                Núi liền sông nước ngờ vô lối,

                Liễu rũ đường hoa đến xóm nghèo.

                Tiêu trống rộn ràng Xuân Xã đến,

                Áo xiêm giản dị cổ phong theo.

                Từ nay nếu rảnh đêm trăng sáng,

                Gỏ cửa cùng vui gậy khẳng kheo.

 Lục bát :

                Chớ cười rượu lễ nhạt phèo,

                Được mùa đãi khách gà heo sẵn sàng.

                Non liền nước ngỡ hết đàng,

                Hoa chào liễu đón thôn làng lại sang.

                Trống tiêu xuân xã rộn ràng,

                Tục xưa áo mão nghiêm trang chỉnh tề.

                Từ nay trăng sáng đi về,

                Thăm nhau gỏ cửa chẳng nề đêm thâu.

                                                     Đỗ Chiêu Đức diễn Nôm

 

       Hẹn bài dịch tới !

 

      杜紹德

      Đỗ Chiêu Đức 

______________________

ĐỖ CHIÊU ĐỨC: Thơ Chúc Tết - Câu đối Tết Giáp Thìn 2024

 

* Bài thơ Chúc Tết:

 XUÂN GIÁP THÌN 2024       

Giáp Thìn chính hiệu chú Rồng Xanh, 

Giáng thế mang theo lắm chuyện lành.

"Long Phụng Trình Tường" vui hỉ hạ,

"Long Phi Phụng Vũ" đón thanh bình.

Thầy Cô,  Bạn Học  đều an lạc,

Thân Hữu, Đồng Hương thảy rạng danh.

Cầu chúc Xuân nay toàn thế giới,

Hòa Bình Hạnh Phúc đón Rồng Xanh !

 Đỗ Chiêu Đức 

 01-28-2024

   * Câu đối:

    Câu đối Tống Cựu Nghinh Tân:

 

卯去留瑞氣,   Mão khứ lưu thuỵ khí,

辰來送吉祥。   Thìn lai tống cát tường.

     Có nghĩa :

- Năm Mão qua đi nhưng còn lưu cái vận khí may mắn ở lại; 

- Năm Thìn đến lại đưa điềm tốt lành đến theo. (TỐNG 送 là Đưa đến).

   Thật là :

   Mèo đi may mắn còn đây,

   Thìn rồng vận tốt đến đầy khắp nơi. 

dcd_TongTu_1.JPG
dcd_ngoclauxuan2.JPG

 MAO BÀNG 毛滂(1056—1124)tự là Trạch Dân 澤民. Người đất Thạch Môn Cù Châu (thuộc tỉnh Chiết Giang ngày nay). Thi nhân đời Bắc Tống. Lớm lên trong một gia đình Nho gia thế tộc, cha là Duy Chiêm, Bác là Duy Phiên, chú là Duy Phủ đều đậu Tiến sĩ. Từ nhỏ Mao Bàng đã thích thi từ ca phú. Năm Nguyên Phong thứ 2 đời Bắc Tống kết duyên cùng Triệu Anh ở Tây An. Mất vào cuối năm Tuyên Hòa, để lại 10 quyển Đông Đường Tập. Dưới đây là bài thơ Tết của ông.

 

玉樓春。         Ngọc Lâu Xuân.

 己卯歲元日。          KỶ MÃO TUẾ NGUYÊN NHẬT

 

一年滴盡蓮花漏。    Nhất niên trích tận liên hoa lậu,

碧井酴酥沉凍酒。    Bích tỉnh Đồ Tô trầm đống tửu.

曉寒料峭尚欺人,    Hiểu hàn liệu tiễu thượng khi nhân,

春態苗條先到柳。    Xuân thái miêu điều tiên đáo liễu.

佳人重勸千長壽。    Giai nhân trùng khuyến thiên trường thọ,

柏葉椒花芬翠袖。    Bách diệp tiêu hoa phân thúy tụ.

醉鄉深處少相知,    Túy hương thâm xứ thiểu tương tri,

只與東君偏故舊。    Chỉ dữ đông quân thiên cố cựu.

              宋.毛滂                               Tống. Mao Bàng

* Chú thích :

    - Ngọc Lâu Xuân 玉樓春 : là tên một loại Tống Từ. Ngọc Lâu Xuân còn có tên là Trình Tiêm Thủ 呈纖手, Xuân Hiểu Khúc 春嘵曲, Tích Xuân Dung 惜春容, Quy Triều Hoan Lệnh 歸朝歡令... Ngọc Lâu Xuân song điệu gồm có 56 chữ. Bốn câu trước và bốn câu sau đều gieo ba vần trắc. Biến điệu thì bốn câu sau chỉ gieo hai vần trắc mà thôi.

    - KỶ MÃO TUẾ NGUYÊN NHẬT 己卯歲元日 : là Tựa chính của bài Từ nầy : NGÀY ĐẦU CỦA NĂM KỶ MÃO.

    - Liệu Tiễu 料峭 : Bén nhọn; 曉寒料峭 Hiểu Hàn Liệu Tiễu : chỉ Cái lạnh của buổi sáng còn se sắt, buốc giá.

    - Miêu Điều 苗條 : là Ẻo lả, mảnh khảnh; 春態苗條 Xuân Thái Miêu Điều : là Cái Dáng vẻ ẻo lả yểu điệu của mùa xuân.

    - Bách Diệp Hoa Tiêu 柏葉椒花 : Lá của cây Bách, hoa của cây tiêu, 2 chất dùng để ủ rượu uống cho ấm những ngày Tết.

    - Thúy Tụ 翠袖 : Tay áo màu xanh biếc của các nữ nhân ngày xưa;  nên THÚY TỤ cũng có nghĩa là người đẹp.

    - Túy Hương 醉鄉 : là Làng say, là Quê hương của những người say, chỉ chung các tay bơm nhậu với nhau. 

    - Đông Quân 東君 : là Ông vua ở hướng Đông, là Chúa Xuân đó.

 

* Nghĩa bài thơ :

     - Cái đồng hồ có hình hoa sen đã nhỏ hết nước của một năm.

     - Rượu Đồ Tô ngâm trong giếng biếc cho đong lại.

     - Cái lạnh da diếc của buổi sáng còn ập vào người.

     - Vẻ yểu điệu của mùa xuân thấm vào cây liễu trước tiên.

     - Người đẹp cứ mời rồi lại mời rượu uống cho trường thọ.

     - Mùi lá bách, hoa tiêu ướp trong rượu lẫn với mùi tay áo xanh của người đẹp (dễ làm say lòng người).

    - Sâu thẩm trong làng say, người say chung thì nhiều mà người tri kỷ thì có được mấy ai đâu ! Thôi thì đành phải...

    - Cùng với Chúa Xuân mà nhận tình cố cựu. Chúa Xuân mới là người bạn tri kỷ vì mỗi năm cứ đúng hẹn lại về, không sai chạy bao giờ !

dcd_ngoclauxuan.JPG

 Suốt năm dài đồng hồ sen nhễu,

                      Rượu Đồ Tô giếng ngâm không thiếu.

                      Sáng xuân hơi lạnh buốt lòng người,

                      Dáng xuân yểu điệu như nhành liễu !

 

                      Người đẹp mời ngàn ly trường thọ,

                      Tay áo xanh bách tiêu hương lạ.

                      Làng say sâu thẳm thiếu tri âm,

                      Chúa xuân tri kỷ đà bao nả !

 

* Song thất Lục bát :

                      Đồng hồ sen một năm nhỏ suốt,

                      Giếng nước ngâm lạnh buốt Đồ Tô.

                      Sáng xuân hơi lạnh đổ xô,

                      Vẻ xuân yểu điệu như bờ liễu xanh.

 

                      Rượu trường thọ khuyên anh uống cạn,

                      Bách tiêu hoa thoang thoảng hương xanh,

                      Làng say tri kỷ mong manh,

                      Đông Quân đúng hẹn đành rành cố nhân !

                                                              Đỗ Chiêu Đức diễn Nôm

 

              Hẹn bài dịch tới  !

 

                杜紹德

                Đỗ Chiêu Đức 

dcd_thotrenla_1.JPG

 Đầu những năm Thịnh Đường, hậu cung của nhà vua tuyển rất nhiều cung nữ, nhất là ở Thượng Dương Cung, là một cung lớn và đẹp lúc bấy giờ, phía nam cung giáp với dòng Lạc Thủy, phía bắc nối liền với Bắc Uyển của Ngự Hoa Viên, hoa lá cỏ cây xinh tươi, chim muông ca hót, nhã nhạc vang lừng, khiến cho Tiến sĩ Vương Kiến 王建(767—830)một thi nhân đời Đường đi ngang qua phía ngoài cung đã cảm tác bài thơ tứ tuyệt sau đây :

 

                 上陽花木不曾秋,    Thượng Dương hoa mộc bất tằng thu,

                 洛水穿宮處處流。    Lạc Thủy xuyên cung xứ xứ lưu.

                 畫閣紅樓宮女笑,    Họa các hồng lâu cung nữ tiếu,

                 玉簫金管路人愁。    Ngọc tiêu kim quản lộ nhân sầu !

    Có nghĩa :

           - Hoa cỏ trong cung Thượng Dương như chẳng từng có mùa thu.

           - Dòng Lạc Thủy chảy xuyên qua cung rồi chảy đi khắp nơi.

           - Trong lầu son gác tía vẳng ra tiếng nói cười của các cung nữ...

           - Hoà với tiếng tiêu ngọc sáo vàng làm cho người qua đường buồn muốn đứt ruột !...

                    Thượng Dương hoa cỏ vẫn xinh tươi,

                    Lạc Thủy xuyên cung chảy khắp nơi.

                    Gác tía lầu son cung nữ hát...

                    Tiêu vàng sáo ngọc xót lòng người !

 

       Lòng người xót xa vì thương cho thân phận của những cung nhân trong lầu son gác tía kia như những con chim oanh bị nhốt trong lòng son, suốt đời lắm người còn chưa từng trông thấy mặt vua ra sao cả !

 

       Theo sách "Cựu Đường Thư 舊唐書" tiết lộ cho ta một con số vô cùng kinh hãi : Những năm Khai Nguyên và Thiên Bảo của buổi Thịnh Đường, kể cả hậu cung và hành cung ở khắp nơi trên đất nước, tổng số cung nhân lên đến trên bốn vạn (40.000) người. Đây là con số không tiền khoáng hậu của các triều đại Trung Hoa và cả khắp các nơi trên thế giới nữa; chưa có ông vua nào, triều đại nào có số cung nhân cao đến như thế cả ! Theo Đào Cốc 陶谷 của đời Bắc Tống ghi lại trong "Thanh Dị Lục 清異錄" : Những năm Khai Nguyên, mỗi đêm vì cung nhân qúa đông, không biết chọn ai để thị tẩm, Thái giám Tổng quản phải cho các người đẹp thi đổ xúc xắc, ai thắng cuối cùng thì sẽ được độc quyền thị tẩm với Đường Huyền Tông đêm hôm đó. Đó là những phi tần ở gần vua còn những cô khác ở xa hơn, nhất là các cô ở các hành cung xa xôi hơn thì đành chịu suốt đời phòng không chiếc bóng như trong bài "Hành Cung 行宮" của Nguyên Chẩn vậy :

 

                  寥落古行宮,    Liêu lạc cổ hành cung,

                  宮花寂寞紅。    Cung hoa tịch mịch hồng.

                  白頭宮女在,    Bạch đầu cung nữ tại,

                  閒坐說玄宗。    Nhàn tọa thuyết Huyền Tông.

      Có nghĩa :

                  Lơ thơ lạnh lẽo hành cung,

                  Cung hoa đỏ thắm lạnh lùng lặng yên.

                  Bạc đầu cung nữ huyên thuyên,

                  Ngồi buồn nhắc những chuyện Huyền Tông xưa.

 

      Cuộc đời của những người đẹp trong cung, đến khi đầu bạc chỉ còn lại những hoài niệm và nuối tiếc mà thôi ! Nên chi, ba ngàn giai lệ với cuộc sống xa hoa nhàn hạ suốt ngày bị giam hãm trong cung sâu, rất nhiều người đẹp đã nhặt những chiếc lá vàng lá đỏ rơi rụng trong cung đề thơ để giải tỏa nỗi lòng u ẩn, để bày tỏ những ước vọng sâu kín trong lòng, rồi thả theo dòng nước ngự câu cho trôi ra ngoài đến chốn nhân gian tự do tự tại.

      Theo "Bổn Sự Thi 本事詩" cuả Mạnh Khải 孟棨, có 2 nguồn chính về "Hồng Diệp Đề Thi 紅葉題詩" là đề thơ lên lá đỏ như sau :

dcd_thotrenla_2.png

                                  Lá đỏ đề thơ ở Thượng Dương Cung   

 

     * CỐ HUỐNG 顧況(725—814)tự là Bô Ông 逋翁, hiệu là Hoa Dương Chân Dật 華陽真逸. Đậu Tiến sĩ năm Chí Đức thứ 2 đời Đường Túc Tông. Khi ở Lạc Dương, lúc rảnh rỗi cùng ba người bạn dạo chơi bên ngoài Thượng Dương Cung. Bỗng nhìn thấy một chiếc lá ngô đồng màu đỏ từ trong cung trôi ra trên đó thấp thoáng có chữ viết, bèn vớt lên thì thấy có bài thơ :

 

                  一入深宮裏,    Nhất nhập thâm cung lý,

                  年年不見春。    Niên niên bất kiến xuân.

                  聊題一片葉,    Liêu đề nhất phiến diệp,

                  寄與有情人。    Ký dữ hữu tình nhân !

        Có nghĩa :

                     Đã vào cung cấm thâm sâu,

                     Năm năm chẳng thấy xuân đâu bao giờ.

                     Buồn đề trên lá bài thơ,

                     Gởi cho ai đó đợi chờ hữu duyên.

 

       Hôm sau, Cố Huống lên phía trên dòng nước, nhặt một lá đỏ đề bài thơ tứ tuyệt sau đây gởi ngươc vào trong cung :

 

               花落深宮鶯亦悲,    Hoa lạc thâm cung oanh diệc bi,

               上陽宮女斷腸時。    Thượng Dương cung nữ đoạn trường thì.

               君恩不閉東流水,    Quân ân bất bế đông lưu thủy,

               葉上題詩寄與誰?     Diệp thượng đề thi ký dữ thuỳ ?

     Có nghĩa :

                   Hoa rụng cung sâu oanh cũng sầu,

                   Thượng Dương cung nữ quặn lòng đau.

                   Ơn vua chẳng bế dòng lưu thủy,

                   Trên lá đề thơ gởi đến đâu           

 

      Qua mấy hôm sau, có người bạn biết chuyện Cố Huống đề thơ gởi vào cung, khi đi dạo chơi bên bờ Ngự câu, lại nhặt được một bài thơ từ trong cung trôi ra, đem đến cho Cố Huống xem :

 

               一葉題詩出禁城,    Nhất diệp đề thi xuất cấm thành,

               誰人酬和獨含情。    Thùy nhân thù họa độc hàm tình.

               自嗟不及波中葉,    Tự ta bất cập ba trung diệp,

               盪漾乘春取次行。    Đảng dạng thừa xuân thủ thứ hành !

    Có nghĩa :

                   Một lá đề thơ ra cấm thành,

                   Ai người họa vận thật chân tình.

                   Thân ta tiếc chẳng trôi như lá,

                   Theo sóng chập chờn xuân vẫn xanh !

 

      * Một nguồn khác về cung nữ đề thơ là vào những năm Khai Nguyên, vua Đường Huyền Tông hạ chiếu cho hơn chục ngàn cung nhân ở hậu cung, mỗi người may vài bộ quân bào (áo của lính mặc) để gởi ra ngoài biên ải cho các quân nhân đang trấn thủ lưu đồn không về ăn Tết được. Một quân nhân ở vùng biên tái đã phát hiện ra trong đoản bào (áo lót ngắn) có một bài thơ như sau :

 

                   沙場征戍客,    Sa trường chinh thú khách,

                   寒苦若為眠。    Hàn khổ nhược vi miên.

                   戰袍經手作,    Chiến bào kinh thủ tác,

                   知落阿誰邊。    Tri lạc a thùy biên.

                   畜意多添線,    Súc ý đa thiêm tuyến,

                   含情更著綿。    Hàm tình cánh chước miên.

                   今生已過也,    Kim sanh dĩ quá dã,

                   重結後生緣。    Trùng kết hậu sanh duyên.

       Có nghĩa :

                     Lính thú sa trường khách,

                     Lạnh khổ bởi vì đâu.

                     Chiến bào may cho chắc, 

                     Biết lọt vào tay nào.

                     Có ý thêm làn chỉ,

                     Hàm tình bông ấm sao.

                     Kiếp nầy thôi đà lở,

                     Đành hẹn đến kiếp sau

 

       Không dám che dấu, người binh sĩ trình chiếc áo có bài thơ lên cho tướng soái. Nguyên soái trấn thủ biên ải lại trình về kinh thành. Vua Huyền Tông cho triệu tập hết lục cung phi tần lại, đưa bài thơ ra và phán rằng : Ai đã làm bài thơ nầy, nếu nói thật thì sẽ không bị giáng tôi. Một cung nhân trẻ đẹp đã bật khóc và bước ra nhận tội chết. Đường Huyền Tông đã rất cảm động và đồng tình, bèn hạ chiếu tha tội và cho triệu người binh sĩ đó về và ban hôn cho hai người được đoàn tụ ở kiếp nầy, chớ không cần phải đợi đến kiếp sau.

 

     THƠ ĐỀ LÁ ĐỎ hay HỒNG DIỆP ĐỀ THI còn có 3 xuất xứ như sau :

 

      1. Theo THỊ NHI TIỂU DANH LỤC 侍兒小名錄 : 

       Con gái nuôi của tài nhân nhà Phụng Ân Vương 奉恩王 đời Đường là Phượng Nhi 鳳兒 thường đề thơ trên lá đỏ, rồi thả trên dòng nước từ cung vua trôi ra ngoài. Tiến sĩ Giả Toàn Hư 賈全虛 bắt được lá. Quan Kim Ngô tâu việc ấy lên vua. Nhà vua bèn gả Phượng Nhi cho Giả Toàn Hư và phong cho chức Kim Ngô.

 

      2. Theo sách VĂN KHÊ HỮU NGHỊ 云溪友議 :

       Thư sinh Lư Ốc 盧渥 đi ngang qua ngự câu (dòng nước chảy từ cung vua ra ngoài), Ngẫu nhiên vớt được một chiếc lá đỏ trên đó có đề một bài thơ. Ốc nâng niu và cất vào trong tráp. Khi vua Đường thải cung nữ cho đi lấy chồng. Lư Ốc lấy được một cô, lại đúng là người thả chiếc lá kia. Lúc trông thấy chiếc lá đỏ trong trap, người vợ nói :” Khi ấy thiếp chỉ ngẫu nhiên đề thơ, không ngờ chàng lại chính là người đã bắt được !”.

 

      3. Theo THANH TỎA CAO NGHỊ 青瑣高議 :

       Cung nhân Hàn Thị 韓氏 đề một bài thơ trên lá đỏ, thả trên dòng nước từ cung vua trôi ra ngoài. Thư sinh Vu Hựu 于佑 nhặt được đem cất đi. Hựu lại viết hai câu thơ, rồi đợi nước lớn thả ngược vào trong cung. Hàn Thị bắt được lá cũng cất vào trong rương. Sau vua Đường cho thải ba ngàn cung nhân, Hàn Thị được thải ra và rất tình cờ lấy được Vu Hựu làm chồng. Khi phát hiện ra lá đỏ của nhau, vợ cùng cùng cảm  động mà nói với nhau rằng :”Chúng ta phải tạ ơn cho hai người mai mối, chính là hai cái lá đỏ nầy đây“.

     Cả ba xuất xứ trên của điển tích Lá Thắm đều có nội dung tương tự như nhau. Nhưng truyền tụng rộng rãi trong dân gian và được mọi người yêu thích nhất là Xuất Xứ Thứ 3 : Truyện của chàng thư sinh Vu Hựu 于佑 và cung nhân Hàn Thị 韓氏. Truyện được kể như sau :

 

     Đời vua Đường Hi Tông 唐僖宗 (874-888). Thiên hạ loạn lạc. Giặc giã nổi lên khắp nơi, vì thế mà kẻ sĩ là những người chân yếu tay mềm đều nhập kinh lánh nạn, một số cũng nhân cơ hội nầy đợi kỳ ứng thí để tìm chút công danh. Trong số đó có chàng nho sinh Vu Hựu 于佑.

     Sau khi lưu lạc ở đất Trường An, Vu Hựu cũng không tìm được việc làm thích hợp. Chàng hay lang thang đi về những nơi hẻo lánh của chốn kinh thành. Một buổi chiều thu, khi thả bộ bên dòng Ngự câu từ trong cung chảy ra, ngắm những lá phong vàng bị gió thu cuốn rơi lả tả trôi theo dòng nước. Cảm khái với thân phận của mình cũng giống như những chiếc lá vàng kia. Chàng bèn ngồi xuống một tảng đá bên bờ ngự câu mà nhìn lá rơi nước cuốn. Những chiếc lá phong đỏ rực lắp lánh bên dòng nước thu hút sự chú ý của chàng. Chàng chợt thấy thắp thoáng trên một chiếc lá phong ẩn hiện như có dòng chữ viết, bèn vội vả vớt lên xem, thì thấy có bốn câu Ngũ ngôn Tứ tuyệt sau đây :

 

                       Lưu thuỷ hà thái cấp ?         流水何太急 ?

                       Thâm cung tận nhật nhàn.   深宮盡日閒。

                       Ân cần tạ hồng diệp,            殷勤謝紅葉,

                       Hảo khứ đáo nhân gian !      好去到人間!

Có nghĩa :

                  

                       Nước chảy sao vội thế ?

                       Trong cung suốt buổi nhàn.

                       Ân cần nhờ là đỏ,

                       Đưa đến chốn nhơn gian !

dcd_thotrenla_chot.png

 Lời thơ thanh tân mà chất chứa bao nỗi u ẩn ở trong lòng : Nước ơi, sao mà chảy vội vả thế, trong cung cấm ta nhàn rỗi suốt cả ngày, nên mới ân cần nhờ chiếc lá đỏ gởi những dòng tâm sự nầy ra đến cỏi dân gian ! Vu Hựu cảm thương cho người cung nữ tài hoa, nàng đã gọi thế giới bên ngoài là " Nhơn Gian ", thế thì ở trong cung cấm là gì ?" Địa Ngục " sao ?. Chàng cứ ray rức ngẩn ngơ thương cho nàng cung nữ bất hạnh, bèn lên phía thượng lưu của ngự câu, chọn một chiếc lá thật đẹp, rồi thả trở vào cung hai câu  thơ thất ngôn sau đây :

 

                  Tằng văn diệp thượng đề hồng oán,  曾聞葉上題紅怨

                  Diệp thượng đề thi ký A  thùy ?        葉上題詩寄阿誰?

Có nghĩa :

                     Từng nghe lá đỏ đề thơ oán,

                     Lá đỏ đề thơ gởi đến ai ?

 

        Bạn bè biết được sự si tình của Vu Hựu, lại chế giễu chàng bằng hai câu thơ sau đây :

                Quân ân bất cấm đông lưu thủy,    君恩不禁東流水

                Lưu xuất cung tình thị thử câu.      流出宮情是此溝.

Có nghĩa :

                     Vua không ngăn nước về đông,

                Thả tình cung cấm theo dòng chảy ra !

 

      Mặc cho bạn bè cười cợt, Vu Hựu vẫn mang chiếc lá về cất kỹ trong rương. Rồi từ đó về sau chàng đi thi mãi mà vẫn không đậu đạt gì cả. Vì cuộc sống khó khăn nên chàng mới xin vào làm gia khách, gia sư cho một qúy nhân ở Hà Trung là Hàn Vĩnh 韓泳. Hàn rất kính trọng về nhân phẩm và học vấn của Vu Hựu nên đối với chàng rất tốt.

         Mười năm sau, trong cung vua thải ra ba ngàn cung nhân, cho về quê lấy chồng sinh sống. Trong số đó có Hàn Thị 韓氏 là em họ của Hàn Vĩnh. Vĩnh biết Hựu chưa lập gia đình nên mới làm mai Hàn Thị cho chàng. Hàn Thị ở trong cung lâu ngày nên cũng tích lũy được một ít tài vật, lại có nhan sắc. Vu Hựu vốn là thư sinh cùng đồ mạt vận, nay bỗng được vợ đẹp lại có của thì còn gì sung sướng cho bằng. Còn Hàn Thị thì ngoài ba mươi mới lấy chồng, nên hết lòng thương yêu chăm sóc cho Vu Hựu. Sau tân hôn họ sống với nhau rất là hạnh phúc.

        Một hôm, Hàn Thị sắp xếp lại sách vở cho chồng, bỗng phát hiện ra chiếc lá đỏ có đề thơ của mình được kẹp trong một quyển sách. Nàng rất ngạc nhiên mà hỏi chàng về lai lịch của chiếc lá. Vu Hựu bèn kể lại đầu đuôi câu chuyện ngày xưa. Hàn Thị bèn cho chàng biết đó là bài thơ của mình, đồng thời cũng lấy từ trong trap ra chiếc lá có hai câu thơ của Vu Hựu mà nàng đã vớt được sau đó. Cả hai đều rất kinh ngạc và cảm khái cho duyên số đã an bài. Hàn Thị bèn từ trong trap lấy ra thêm một bài thơ nữa và nói với chồng rằng : “Đây là bài thơ của thiếp làm sau khi vớt được chiếc lá của chàng!”. Vu Hựu bèn đọc bài thơ như sau :

 

                  Độc bộ thiên câu ngạn,          獨步天溝岸,

                  Lâm lưu đắc diệp thì.             臨流得葉時.

                  Thử tình thùy khả đắc,           此情誰可得

                  Trường đoản nhất liên thi !     腸斷一聯詩 !

      Có nghĩa :

                  Lẻ loi bước giữa dòng câu,

                  Bên bờ vớt lá nghe sầu mênh mang.

                  Tình nầy ai thấu can tràng,

                  Đau lòng cung nữ đôi hàng thơ ai !

 

              

 

      Hôm sau, vợ chồng Vu Hựu bèn đem chuyện Lá Đỏ Đề Thơ nói cho Hàn Vĩnh biết. Nghe xong Hàn Vĩnh cả cười, cầm bút lên viết ngay một bài thất ngôn tuyệt cú như sau :

 

               Nhất liên giai cú tùy lưu thủy,                 一聯佳句隨流水,

               Thập tải u tư mãn tố hoài.                      十載幽思滿素懷.

               Kim nhật khước thành loan phượng hữu,  今日卻成鸞鳳友,

               Phương tri hồng diệp thị lương mai.         方知紅葉是良媒.

Có nghĩa :

                       Đôi câu thơ đẹp chảy theo dòng,

                       Ấp ủ lòng son suốt chục năm.

                       May mắn hôm nay loan phụng hợp,

                       Mới hay lá đỏ chính mai dong !

 

       Sau đó, Hàn Vĩnh còn cho tổ chức một Hồng Diệp Hội (một Party về Lá Đỏ) cho hai vợ chồng Vu Hựu và còn công khai chuyện Lá Đỏ Đề Thơ ra ngoài. Các văn nhân thi sĩ ở Trường An lúc bấy giờ hưởng ứng rất đông. 

      Chẳng bao lâu sau, gặp loạn Hoàng Sào. Đường Hi Tông cùng bá quan văn võ lià bỏ kinh thành chạy loạn vào đất Thục. Vợ chồng Vu Hựu cũng cùng với Hàn Vĩnh theo phò giá. Vì trước kia từng ở trong cung nên rất am tường về nề nếp sinh hoạt của hoàng gia, vì thế Hàn Thị được vua triệu kiến. Nhà vua bèn hỏi nàng về chuyện đề thơ trên lá. Hàn Thị bèn kể lại chuyện mình. Vua lại triệu kiến Vu Hựu. Thấy chàng ăn nói chửng chạc đối đáp lưu loát, có văn tài, bèn cho theo làm tùy tùng bên cạnh vua.   

      Khi loạn Hoàng Sào được dẹp yên. Vu Hựu vì theo phò giá có công, nên được phong làm Thần Sách Quân Ngu Hầu. Mặc dù quan chức không lớn, nhưng khi trở lại trường an, vợ chồng Vu Hựu nổi tiếng với câu chuyện Lá Đỏ Đề Thơ của mình. Họ sống với nhau rất hạnh phúc trong cảnh phú qúy vinh hoa và mặc dù đã trên ba mươi mới lấy chồng, Hàn Thị vẫn sinh được năm trai hai gái. Đến khi con cái lớn lên và đã thành đạt cả rồi mà câu chuyện Lá Đỏ Đề Thơ vẫn còn được dân gian nhắc mãi. 

     Tương truyền là Hàn Thị mất trước. Trước lúc lâm chung, bà còn yêu cầu chồng cho chôn chung chiếc lá đỏ với mình. Lá đỏ giờ đã phai màu, nhưng câu chuyện " Hồng Diệp Đề Thi " của họ vẫn thắm đượm mãi trong dân gian…

     Lúc bấy giờ, Thừa Tướng đương triều là Trương Tuấn 張濬 biết được việc nầy đã cảm khái mà viết nên bài ca sau đây :

               

             Trường an bách vạn hộ,               長安百萬戶,

             Ngự thủy nhật đông chú.             御水日東注。

             Thủy thượng hữu hồng diệp,        水上有紅葉,

             Tử độc đắc giai cú.                      子獨得佳句。

             Tử phục đề thoát diệp,                 子復題脫葉,

             Lưu nhập cung trung khứ.            流入宮中去。 

             Hán cung thiên vạn nhân,            漢宮千萬人,

             Diệp quy Hàn Thị xứ.                   葉歸韓氏處.

             Xuất cung tam thiên nhân,           出宮三千人,

             Hàn Thị tịch trung số.                  韓氏藉中數。          

             Hồi thủ tạ quân ân,                     回首謝君恩,

             Lệ sái yên chi vũ.                        淚灑胭脂雨。

             Ngụ cư qúy nhân gia,                   寓居貴人家,

             Phương dữ tử tương ngộ,              方與子相遇。

             Thông môi lục lễ cụ,                     通媒六禮俱。

             Bách tuế vi phu phụ.                    百歲為夫婦。

             Nhi nữ mãn nhản tiền,                  兒女滿眼前,

             Thanh tử doanh môn hộ.               青紫盈門戶。

             Tư sự tự tiền vô,                           茲事自前無,

             Khả dĩ truyền thiên cổ !                 可以傳千古!

 

   * DIỄN NÔM :

                  Thành Trường An dân đông bách hộ,

                  Dòng ngự câu vẫn đổ về đông.

                  Chảy xuôi lá đỏ theo dòng,

                  Chàng Vu bắt được bâng khuâng sớm chiều.

 

                  Viết đôi câu đánh liều thả ngược,

                  Trôi vào cung theo nước phản hồi.

                  Lãnh cung nhan nhản những người,

                  Lá về Hàn Thị tìm vui cung buồn.

 

                  Thải về nguồn ba ngàn cung nữ,

                  Hàn Thị về vui chữ đoàn viên.

                  Cúi đầu lạy tạ ơn trên,

                  Lệ rơi ướt má hết phiền hết lo.

 

                  Đem thân trọ nhà anh Hàn Vĩnh,

                  Gặp chàng Vu định mối lương duyên.

                  Mối mai sáu lễ đã yên,

                  Trăm năm chồng vợ phỉ nguyền sánh đôi.

 

                  Con đàn cháu đống thảnh thơi,

                  Nên danh áo tía lộc trời vinh hoa.

                  Duyên lành LÁ ĐỎ đồn xa,

                  Lưu danh thiên cổ ai mà chẳng khen !

               

        Sau bài ca nầy, câu chuyện “Hồng Diệp Nhân Duyên"(Nhân duyên nhờ vào lá đỏ) của Vu Hựu và Hàn Thị được loan truyền khắp cả nước và … mãi mãi cho đến ngày nay !

 

      Trong văn chương Việt Nam ta gọi lá đỏ là LÁ THẮM, như trong phần đầu Truyện Kiều, khi dò la chỗ ở của Thúy Kiều, Kim Trọng đã đụng phải :

 

                     Thăm nghiêm kín cổng cao tường,

                 Cạn dòng LÁ THẮM dứt đường chim xanh !

 

      Lá Thắm là từ Nôm của từ “Hồng Diệp 紅葉” là Lá đỏ thắm; mà Hồng Diệp lại là từ nói gọn lại của nhóm từ “Hồng Diệp Đề Thi 紅葉題詩” là “Lá Đỏ Đề Thơ”, hay là “Thơ Bài Lá Đỏ” như trong thơ của Hoàng Sĩ Khải :

 

                    Thực nhân tình THƠ BÀI LÁ ĐỎ,

                    Mạch sầu kia hầu tỏ cùng ai.

 

      Vì lá đỏ đề thơ rồi thả trôi theo dòng nước, nên còn được nói trại đi thành “Thả Lá Doành Câu” như trong Bích Câu Kỳ Ngộ là :

 

                      Trông hoa lặng ngắt giờ lâu,

                 Ấy ai THẢ LÁ DOÀNH CÂU ghẹo người ?!

 

      Hồng Diệp đôi khi còn được nói thành nửa Hán nửa Nôm là “Lá Hồng”, như trong Hoa Tiên Truyện của Nguyễn Huy Tự và Nguyễn Thiện :

 

                    Gớm nơi ngôi bảng duềnh khơi,

                  LÁ HỒNG bỗng đến chi nơi nổi chìm.

 

      Hồng Diệp còn thường đi chung với Xích Thằng, thành “Hồng Diệp Xích Thằng 紅葉赤繩”, như lời của Thúy Kiều nói với Kim Trọng :

 

                   Nàng rằng HỒNG DIỆP Xích Thằng,

                 Một lời cũng đã tiếng rằng tương tri !

 

Và như trong Tây Sương Ký :

 

                         Sự đâu nói gió bàn trăng,

                Mà nghe HỒNG DIỆP Xích Thằng như chơi !

 

      Hồng Diệp Xích Thằng nói Nôm na thành ra “Lá Thắm Chỉ Hồng”, cũng lời của Thúy Kiều nói với Kim Trọng khi Kim tỏ tình :

 

                      Dù cho LÁ THẮM Chỉ Hồng,

                Nên chăng thì cũng tại lòng mẹ cha.  

     Ta thấy, điển tích HỒNG DIỆP ĐỀ THI 紅葉題詩 được sử dụng hết sức rộng rãi trong văn học cổ Việt Nam ta, và được biến thể rất đa dạng từ Hồng Diệp đến Lá Thắm, Lá Hồng, Hồng Diệp Đề Thi, Thư Bài Lá Đỏ, Hồng Diệp Xích Thằng … Nên muốn hiểu hết, cảm nhận hết ý nghĩa của các câu thơ trên, ta phải tìm hiểu xuất xứ của điển tích này để thấy được hết cái hay ho, ý vị hàm chứa trong các câu thơ đó...

 

        Hẹn bài viết tới

 

 杜紹德

  Đỗ Chiêu Đức

         TÝ, SỬU, DẦN, MÃO, THÌN... THÌN 辰 là ngôi thứ 5 trong Thập Nhị Địa Chi 十二地支, cầm tinh con RỒNG; Chữ Nho gọi Rồng là LONG 龍, là con thú đứng đầu trong Tứ Linh 四靈 : LONG LÂN QUY PHƯỢNG 龍麟龜鳳. Chữ LONG 龍 là tượng hình của một con vật thần thoại và cũng là một trong 214 bộ của "CHỮ NHO...DỄ HỌC" theo diễn tiến của chữ viết như sau :

Ta thấy :

        Giáp Cốt Văn và Kim Văn là hình tượng của một loài thú bò sát như rắn ngẩn cao đầu, trên đầu có sừng, đang há miệng và trong miệng có răng, trông rất hung ác. Đến Đại Triện thì phần đầu được viết to ra và phần mình và đuôi được rút ngắn lên bên phải, kịp đến Tiểu Triện thì lại thêm vài nét trên lưng tượng trưng cho kì vi, đến Lệ Thư thì các nét được kéo thẳng như chữ viết hiện nay LONG 龍 là RỒNG.

       RỒNG là con vật thần thoại trong truyền thuyết Trung Hoa từ đời thượng cổ; có sừng, có vảy, có móng vuốt, có râu ria, Có thể ngắn có thể dài, có thể lớn có thể nhỏ, khi mờ khi tỏ, biết kéo mây làm mưa; mùa xuân thì bay lên trời, mùa thu thì lặn xuống vực sâu, biến hóa vô cùng. 

 

       Năm 2024 là năm GIÁP THÌN 甲辰. GIÁP là ngôi đầu của Thập vị Thiên Can là : GIÁP, Ất, Bính, Đinh, Mậu, Kỷ, Canh, Tân, Nhâm, Qúy. THÌN là ngôi thứ năm của Thập nhị Địa Chi là "Mười hai con giáp : Tý, Sửu, Dần, Mão, THÌN, Tỵ, Ngọ, Mùi, Thân, Dẫu, Tuất, Hợi". GIÁP theo Dịch lý ngũ hành thì Đông phương Giáp Ất thuộc Mộc, là mùa Xuân, cây cỏ đâm chồi nẩy lộc, chủ màu Xanh. THÌN là Rồng, nên GIÁP THÌN là con rồng mang màu sắc của cây cỏ, là con Rồng Xanh, chữ Nho gọi là Thanh Long 靑龍 hay Thương Long 蒼龍 gì cũng được. Lạm bàn về chữ THANH và THƯƠNG như sau :

     * THANH 靑 : là chữ Hội Ý. Có phần trên là bộ SANH 生 chỉ thực vật cây trái còn sống (chưa chín); Phần dưới là chữ ĐAN 丹 chỉ động vật còn đỏ hỏn khi mới được sanh ra. Nên THANH là Màu xanh nói chung, chỉ còn tươi còn trẻ còn non, như THANH SƠN 靑山 là Núi Xanh; THANH MAI 靑梅 là Mai còn xanh non; THANH NIÊN 靑年 là Tuổi Xanh, tuổi còn trẻ...

     * THƯƠNG 蒼 : là chữ Hài Thanh. Có phần trên là bộ THẢO 艹 chỉ Hoa cỏ; Phần dưới là chữ THƯƠNG 倉 (là Bồ lúa) chỉ Âm. Nên THƯƠNG là màu xanh lá cây, là màu xanh tươi của hoa cỏ; như THƯƠNG THÚY 蒼翠 là Xanh biếc; THƯƠNG ĐÀI 蒼苔 là Rêu xanh; THƯƠNG THIÊN 蒼天 là Trời xanh...  

     Nên...

     Năm GIÁP THÌN 2024 là năm của con Rồng Xanh, của Thương Long hay Thanh Long; mà THANH LONG 靑龍 là một trong Tứ Linh 四靈 của Thiên Tượng 天象 trên trời, nên là một trong Tứ Tượng 四象. Căn cứ theo âm dương ngũ hành THANH LONG là con linh thú ở phương đông, thuộc hành Mộc nên có màu Xanh, đại biểu cho mùa Xuân và thuộc quẻ Chấn trong Bát quái. 

       THANH LONG hay THƯƠNG LONG còn là một nhóm Bảy vì sao ở hướng đông trong Nhị Thập Bát Tú. Bảy sao đó là :

 

       1. Sao GIÁC là GIÁC MỘC GIAO 角木蛟 : là con Giao long.

       2. Sao CANG là CANG KIM LONG 亢金龍 : là con Rồng vàng.

       3. Sao ĐÊ là ĐÊ THỔ LẠC 氐土貉 : là con Cáo.

       4. Sao PHÒNG là PHÒNG NHẬT THỐ 房日兔 : là con Thỏ.

       5. Sao TÂM là TÂM NGUYỆT HỒ 心月狐 : là con Chồn.

       6. Sao VĨ là VĨ HỎA HỔ 尾火虎 : là con Cọp.

       7. Sao CƠ là CƠ THỦY BÁO 箕水豹 : là con Beo.

 

      Bảy sao đó hình thành hình tượng của một con Rồng Xanh trên bầu trời Đông : GIÁC là hai sừng của rồng, CANG là cổ của rồng, ĐÊ là móng vuốt trước của rồng, PHÒNG là bụng của rồng, TÂM là tim của rồng, VĨ là đuôi của rồng, CƠ là móng vuốt sau của rồng. Bảy chòm sao này xuất hiện giữa trời tương ứng với mùa Xuân.

          

       Hai sao PHÒNG và TÂM gần nhau nhất trong nhóm Thanh Long, có nhiều đặc điểm tương đồng về độ sáng, cấu tạo, chu kỳ,... nên thường được ví như là hai chị em sinh đôi. Còn trong đời nhà Minh, Chỉ Huy Sứ Cẩm Y Vệ được gọi là THANH LONG.

 

       NĂM THÌN là năm đứng sau năm Mão, là năm của con RỒNG, con vật thần thoại không có thật. GIỜ THÌN là từ 7 - 9 giờ sáng, là giờ mặt trời bắt đầu chiếu ánh sáng rưc rỡ lên vạn vật. THÁNG THÌN là Tháng Ba Âm lịch trong năm với tiết Thanh Minh và Cốc Vũ, cây lúa đã bắt đầu xanh tốt để trổ bông. Theo Tử Vi Đẩu Số thì người tuổi Thìn sẽ hợp với người tuổi Tý và tuổi Thân, cách nhau 4 tuổi; Thân Tý Thìn TAM HẠP mà ! Còn TỨ HÀNH XUNG là Thìn, Tuất, Sửu, Mùi, cách nhau 3 tuổi; trong đó THÌN-TUẤT là 2 tuổi chánh xung với nhau, cách nhau 6 tuổi. Nên ngày xưa trai gái muốn kết hôn thì các ông bà hay coi tuổi. Hễ cách nhau 2 tuổi, 4 tuổi hoặc 8 tuổi thì TỐT, còn cách nhau 3, 6 hoặc 9 tuổi thì rất XẤU, vì sẽ lọt ngay vào Tứ Hành Xung của 3 nhóm : Tý Ngọ Mẹo Dậu hay Dần Thân Tỵ Hợi hoặc Thìn Tuất Sửu Mùi. Chạy trời cũng không khỏi nắng !

 

               

      THÌN là RỒNG, là con vật thần thoại sống ở trên trời như câu hát dân gian ở đầu bài viết :

 

                        Tuổi Thìn Rồng ở thiên đình,

                  Làm mưa làm gió ẩn mình trong mây.

 

      Theo Hào Cửu Ngũ của quẻ Càn trong Kinh Dịch《易經.乾卦》中,解説「九五爻」có câu :... Vân tòng long, phong tòng hổ 雲從龍,風從虎... Có nghĩa : Mây theo rồng, gió theo cọp, và chính xác hơn là "Long ngâm vân xuất, Hổ khiếu phong sanh 龍吟雲出, 虎嘯風生" Có nghĩa : Rồng rống  thì mây sanh, Cọp gầm thì gió nổi. Nên Rồng và Mây thường hòa quyện vào nhau tạo nên một bức tranh thật đẹp thật hùng vĩ trên bầu trời, nên cổ nhân mới ví những người quan trường đắc chí hay thi đậu ngày xưa như là "Rồng Mây gặp hội". Trong bài hát nói Kẻ Sĩ của cụ Nguyễn Công Trứ có câu :

 

                   RỒNG MÂY khi gặp hội ưa duyên,

                  Mang quách cả sở tồn làm sở dụng.

 

      RỒNG MÂY hay MÂY RỒNG còn dùng để chỉ các bậc vua chúa ngày xưa, như khi gặp gỡ Thúy Kiều, Từ Hải đã bảo nàng :"Lại đây xem lại cho gần, Phỏng tin được một vài phần hay chăng ?" Thúy Kiều "ngắm" Từ Hải xong bèn đáp :

 

                       Thưa rằng : Lượng cả bao dong,

                 Tấn Dương được thấy MÂY RỒNG có phen!

                       Rộng thương cỏ nội hoa hèn. 

                 Chút thân bèo bọt dám phiền mai sau...

 

      Ý của Thúy Kiều là : Tôi biết là ông có chí lớn rồi, có ngày ông sẽ khởi binh như Đường Cao Tổ đã khởi binh ở Tấn Dương để gầy dựng nên nhà Đường vậy! Có ngày ông sẽ thấy Mây Rồng, tức là có ngày ông sẽ xưng hùng xưng bá hay làm vua gì đó. Chừng đó ông đừng có quên thân "cỏ nội hoa hèn" là tôi đây nghen, thân bèo bọt của tôi còn chờ để trông cậy vào ông đó !  Thấy Thúy Kiều nói trúng tim đen của mình, làm cho Từ Hải cũng cảm thấy sướng rơn và cũng rất tự hào mà hứa hẹn :

 

                          Một lời đã biết đến ta,

                Muôn chung nghìn tứ cũng là có nhau!                     

 

       RỒNG vừa bay trên trời lại vừa lội dưới nước; Bay trên trời là THIÊN LONG 天龍, còn lội dưới nước là THỦY LONG 水龍. Theo truyền thuyết dân gian cổ xưa ảnh hưởng bởi Đạo Giáo, RỒNG còn là vua ở dưới nước, được xưng tụng là LONG VƯƠNG 龍王, quản về thời tiết mưa gió của dân gian, nên những năm thiên tai hạn hán là phải cúng bái cầu đảo xin Long Vương ban cho mưa xuống. Vì khoa Địa Lý Học ngày xưa chưa phát triển, nên dân chúng cứ lầm tưởng là chung quanh đất liền mà ta ở gồm có bốn biển lớn, nên mới có câu "Tứ hải giai huynh đệ 四海皆兄弟", có nghĩa : Bốn biển đều là anh em với nhau cả; và cũng vì thế mà ta cũng có TỨ HẢI LONG VƯƠNG 四海龍王, là Bốn ông vua Rồng của Bốn biển. 

     Năm Thiên Bảo thứ 10 đời Đường Huyền Tông (751), nhà vua đã ban chỉ sắc phong xưng hiệu của Tứ Hải Long Vương như sau :

 

          1. Đông Hải Long Vương phong hiệu là : Quảng Đức Vương 廣德王.

          2. Nam Hải Long Vương  phong hiệu là : Quảng Lợi Vương 廣利王.

          3. Tây Hải Long Vương  phong hiệu là : Quảng Nhuận Vương 廣潤王.

          4. Bắc Hải Long Vương  phong hiệu là : Quảng Trạch Vương 廣澤王.

    

     Theo truyện "Phong Thần Diễn Nghĩa" và "Tây Du Ký" thì Tứ Hải Long Vương có tên gọi như sau :

 

          1. Đông Hải Long Vương tên là : Ngao Quảng 東海龍王:敖廣。

          2. Nam Hải Long Vương  tên là : Ngao Khâm  南海龍王:敖欽。

          3. Tây Hải Long Vương  tên là : Ngao Nhuận 西海龍王:敖潤。

          4. Bắc Hải Long Vương  tên là : Ngao Thuận 北海龍王:敖順。

 

              

                Đó là theo Đạo Giáo, còn trong Phật Giáo thì có đến Bát Bộ Thiên Long, thường được gọi là THIÊN LONG BÁT BỘ 天龍八部, bao gồm 8 loại thiên thần, chúng sinh, qủy quái, nhưng vì lấy "Thiên Chúng 天眾" và "Long Chúng 龍眾" làm đầu nên mới gọi là "Thiên Long Bát Bộ". Gồm có 8 bộ sau đây :

     

          1. THIÊN CHÚNG 天眾 : là thiên thần (Deva), đứng đầu bởi Đế Thích 帝釋. Thiên chúng trong Phật giáo là con người vẫn còn trong Tam giới 三界 (Dục giới, Sắc giới, Vô sắc giới 欲界、色界、無色界)và Lục Đạo 六道(Thiên, Nhân, A Tu La, Súc sinh, Ngạ qủy, Địa ngục 天、人、阿修羅、畜生、餓鬼、地獄).

          2. LONG CHÚNG 龍眾 : là rồng (Naga) nhưng không có chân, trông giống như một con mãng xà lớn, là chúa tể các loài trong nước. Kinh Phật kể rằng một con rắn tên là Mucilinda đã  cuộn thành một cái tàn che cho đức Phật nhập định trong một cơn giông bão.

          3. DẠ XOA 夜叉 : (Yaksha) là Qủy thần (là thần ăn được quỷ) có thể tốt có thể xấu. Rất nhiều Dạ Xoa đã được Phật chuyển hóa thành Thần Hộ Pháp. Đứng đầu có "Dạ Xoa Bát Đại Tướng" có nhiệm vụ bảo hộ chúng sinh.

          4.CÀN THÁT BÀ 乾達婆 : (Gandharva) Còn gọi là "Thần Thơm", không ăn thịt, không uống rượu, chỉ ngửi mùi thơm, nên thân thể tỏa mùi thơm nồng nặc, là nhạc thần phục thị cho Đế Thích.

          5. A-TU-LA 阿修羅 : (Asura) Nam rất xấu còn nữ thì thật đẹp. Thường hay ganh tị và đánh nhau với Đế Thích và thường bị thua, rất đau khổ không được vui sướng mặc dù có thể giàu có nhưng bị tâm ganh ghét đố kị làm cho đau khổ.

          6. CA LÂU LA 迦樓羅 : (Garuda) là Chim đại bàng cánh vàng đầu có một cái bướu to gọi là Như Ý Châu, tiếng kêu bi thảm, được người Trung Hoa bản địa hóa thành Đại Bàng Kim Xí Điểu. Ca Lâu La thích ăn rồng, khi chết chất độc xông lên cháy tiêu thành tro, chỉ còn một trái tim xanh biếc

          7. KHẨN NA LA 緊那羅 : (Kinnara) là Thần Âm nhạc của Đế Thích, giống người nhưng không phải người, vì trên đầu có một cái sừng, giỏi múa hát.

          8. MA HẦU LA GIA 摩睺羅伽 : (Mahoràga) là Đại Mảng Xà Thần, là thần rắn, mình người đầu rắn. Còn có tên là Địa long (Rồng trên mặt đất).

 

      Nhà văn Kim Dung đã mượn tên tám loại qủy thần phi nhân sức mạnh hơn người, mang hình dáng giống người nhưng không phải là người nầy để ám chỉ từng nhân vật trong bộ truyện võ hiệp THIÊN LONG BÁT BỘ của mình như : Kiều Phong, Hư Trúc, Đoàn Dự, Du Thản Chi, Mộ Dung Phục, A Tử, Vương Ngữ Yên, Tần Hồng Miên... 

     Ngoài ra, trong Phật giáo còn có một LONG NỮ 龍女 tiếng Phạn là Nāga-kanya, nên còn đưọc dịch là Na Gia Long Nữ 那伽龍女, là con gái thứ ba của Sa-Kiệt-La Long Vương 娑竭羅龍王, chính là cô bé cầm tịnh bình với nhành dương liễu đứng bên cạnh Quan Thế Âm Bồ Tát đó. LONG NỮ còn có tên là THIỆN NỮ LONG VƯƠNG 善女龍王. Còn phía bên kia của Quan Âm Bồ Tát là Thiện Tài Đồng Tử, là Hồng Hài Nhi con của Ngưu Ma Vương và Thiết Phiến Công Chúa đó.

     Còn theo《Liễu Nghị Truyện 柳毅傳》của Lý Triều Uy 李朝威 đời Đường thì...

     Vào những năm Nghi Phụng đời Đường, có thư sinh là Liễu Nghị đi thi lạc đệ nên trở về phương nam. Khi đi ngang qua Kinh Dương của đất Thiểm Tây, gặp một cô gái chăn dê bên bờ sông; mặt mày buồn bã cứ trông về phía Nam mà rơi lệ. Liễu Nghị bèn hỏi rõ ngọn ngành, thì ra cô ta là Long nữ, con gái thứ ba của Động Đình Long Quân, gả cho con thứ của Kinh Hà Long Vương, bị ức hiếp đủ điều, lại bị đày lên chăn dê ở bờ sông vắng vẻ lạnh lẽo nầy. Liễu Nghị mới ngạc nhiên hỏi rằng : Thần tiên cũng chăn nuôi và ăn thịt dê sao ? Long Nữ đáp : Đây kông phải là dê thật mà chỉ là hóa thân của những công cụ để làm mây làm mưa mà thôi! Cảm thông với nỗi bất hạnh của Long Nữ, Liễu Nghị quyết định chuyển hướng đi về Nhạc Dương của Động Đình Hồ để đưa tin dùm cô gái. Khi đến nơi, theo lời chỉ dẫn dùng cây kim thoa của cô gái đưa cho gỏ ba cái vào một thành giếng cạn ở Nhạc Dương làm kinh động thuỷ Dạ Xoa đi tuần theo ven hồ đến đưa Liễu Nghị đi gặp Động Đình Long Quân. Sau khi biết con gái bị bạc đãi, Long Quân rất đau lòng, còn chưa biết tính sao thì người em trai là Tiền Đường Long Quân đã nổi giận hiện thân thành một con xích long bay thẳng đến Kinh Hà giết hết toàn gia của Kinh Dương Quân, đón Long Nữ trở về sum họp với gia đình. Cảm ơn cứu giúp của Liễu Nghị, Long Nữ muốn lấy thân mình báo đáp, nhưng với lòng chính trực và thiện lương của kẻ sĩ "Người quân tử vì nghĩa chớ không vì lợi" Liễu Nghị đã từ chối, rồi từ biệt Long nữ để về nhà. Long Nữ càng tỏ ra kính trọng nhân cách của Liễu Nghị hơn, nên mới âm thầm theo Liễu Nghị về tận nhà. Nào ngờ mấy mươi ngày ở long cung thì trên đời đã qua mấy chục năm rồi. Không còn ai nhận biết Liễu Nghị là ai nữa, may mà có Long nữ theo sau lại rước chàng về lại long cung để cùng chung sống những ngày hạnh phúc bên nhau.

    Còn trong truyện Thần Điêu Hiệp Lữ của Kim Dung thì Tiểu Long Nữ là đồ tôn của Lâm Triều Anh nữ sĩ và là sư phụ của Thần Điêu Đại Hiệp Dương Quá. Hai thầy trò nầy đã bức phá khỏi vòng lễ giáo lúc bấy giờ mà yêu nhau và kết hợp làm chồng vợ với nhau.

      Trong đời sống dân gian ngày xưa thì RỒNG là đấng chí tôn, là thiên tử, là con của trời, là ông vua cao cao tại thượng, như trong Cung Oán Ngâm khúc Ôn Như Hầu Nguyễn Gia Thiều đã cho nàng cung phi nói về Vua như sau :

 

                 Mày ngài lẫn MẶT RỒNG lồ lộ,

               Sắp song song đôi lứa nhân duyên.

 

      Mặt Rồng là mặt của nhà vua, nói theo chữ Nho là LONG NHAN 龍顏. Tất cả những thứ gì của vua, chung quanh vua đều phải gán thêm chữ LONG vào. Như Thân thể của vua là LONG THỂ 龍體. Áo của vua mặc là LONG BÀO 龍袍. Giường của vua ngủ là LONG SÀNG 龍床. Xe của vua đi là LONG XA 龍車... Nhớ hồi nhỏ hay nghe bà con lối xóm nói chơi khi ai đó ban đêm cứ nằm trăn trở hoài không ngủ được là "Long Thể bất an, vì Long Sàng có rệp !" Rệp cắn quá nên không thể  ngủ được ! Lại nhớ...

      Có một bận trong một "tua" du lịch đi thăm cố đô Huế, có anh hướng dẫn viên du lịch trẻ tuổi có tính hài hước. Khi nhắc đến chữ LONG dùng cho nhà vua anh ta đã thao thao bất tuyệt kể tiếp : Nào là ngựa của vua cởi là LONG CÂU 龍駒, nhãn của vua ăn là LONG NHÃN 龍眼, đồng hồ của vua đeo là "LONG-GHIN" (Longines)... làm cho mọi người trên xe đều cười ồ. Rồi anh ta ra câu đố cho mọi người đoán xem là : Khi nhà vua cưới vợ ngoại quốc sanh ra đứa con... thì đứa con đó gọi là LONG gì ? Mọi người trên xe đều ngưng cười, trầm ngâm suy nghĩ. Bỗng có tiếng của một cô gái trẻ cất lên : LONG gì thì tui hổng biết, nhưng rõ ràng đó là đồ "LAI GIỐNG" mà ! Sau phút ngẩn ngơ, mọi người chợt hiểu ra vì cái giọng Nam kỳ Lục Tỉnh "LAI GIỐNG" hay "LAI DÓNG" gì cũng thế !

      Trở lại với con Rồng ở dưới nước là Long Vương, là vua của sông dài biển rộng, mặc sức vẫy vùng, những loài thủy tộc khác trông thấy đều phải sợ oai mà tránh xa ra cả. Nhưng khi lội vào vùng nước cạn, xoay sở khó khăn thì lũ tôm xú tép riu cũng lờn mặt mà dễ ngươi, như ông bà ta thường nói :

 

               龍游淺水遭蝦戲;  Long du thiển thủy tao hà hí,

               虎落平原被犬欺。  Hổ lạc bình nguyên bị khuyển khi.

Có nghĩa :

          - Rồng bơi nơi nước cạn thì tôm tép cũng giởn mặt. Còn...

          - Cọp mà xuống đồng bằng thì lũ chó cũng dễ ngươi.

      Cũng như cụ Nguyễn Du đã viết về Từ Hải trong Truyện Kiều khi sa cơ thất thế là :

 

                  Hùm thiêng khi đã sa cơ cũng hèn !

 

      RỒNG là con linh vật cao qúy mà các con vật khác đều muốn hóa thân thành Rồng. Như cá chép hóa rồng trong thành ngữ "Lý Diệu Long Môn 鯉躍龍門". Cá Chép chữ Nho là Lý Ngư 鯉魚. Diệu 躍 là Nhảy; nên Lý Diệu Long Môn là "Cá chép nhảy qua Long Môn" thì sẽ hóa thành rồng. Theo sách《Thái Bình Quảng Ký 太平廣記》Quyển 466 Long Môn 卷四六六“龍門” có ghi :

      Khi vua Vũ trị thủy, mở đường dẫn nước sông Hoàng Hà ra biển, thế nước rất lớn, nhưng đến Mạnh Tân của Lạc Dương thì chậm lại. Cá chép nơi đây lội ngược dòng nước lên đến Y Khuyết Long Môn của Lạc Dương; Nơi đây ba đào chuyển động sóng dậy ngất trời. Đàn cá chép đều hăng hái cố gắng nhảy lên để vượt qua. Con nào vượt qua được thì hóa thành rồng, con nào không vượt qua được té trở lại đầu đập vào đá nên còn để lại một vệt đen trên trán (chi tiết nầy giải thích cho vệt đen trên đầu các con cá chép mà ta thường thấy). 

        Thi Tiên Lý Bạch đời Đường trong ba bài thơ ngũ ngôn cổ phong《Tặng Thôi Thị Ngự 贈崔侍御》có các câu như sau :

 

               黃河三尺鯉,   Hoàng Hà tam xích lý,

               本在孟津居,   Bổn tại Mạnh Tân cư.

               點額不成龍,   Điểm ngạch bất thành long,

               歸來伴凡魚。   Quy lai bạn phàm ngư.

Có nghĩa :

         Con cá chép mình dài ba thước (khoảng 9 tấc Tây) của sông Hoàng Hà, vốn là ở nơi bến Mạnh Tân. Vì muốn thành rồng mà không được nên để lại một vết trên trán. trở về làm bạn với các bạn cá phàm tục khác. 

 

               Hoàng Hà ba thước lý ngư,

               Mạnh Tân là chốn cựu cư bao ngày.

               Hóa rồng vỡ mộng về đây,

               Như bao cá khác bạn bầy cùng nhau.

      "Cá Chép Hóa Rồng" còn dùng để chỉ những người quan trường đắc ý, tuổi trẻ tài cao, một bước lên mây như các thư sinh ngày xưa thi đậu Trạng Nguyên, Tiến Sĩ vậy... Đó là các sĩ tử ngày xưa, ai cũng muốm hóa Rồng, không đa tình đáng yêu như cô gái Nam bộ hát trên sông nước...

 

                                Khá khen con cá hóa long,

                      Hóa Long không hóa, hóa lòng thương anh !

 

                          ...qủa là tình nghĩa thắm thiết biết bao nhiêu ! 

 

      Không phải chỉ riêng cá chép muốn hóa rồng, mà các bậc cha mẹ ngày xưa lẫn ngày nay đều cũng muốn cho con mình lột xác để hóa rồng, nên ta lại có thành ngữ "VỌNG TỬ THÀNH LONG 望子成龍". Có nghĩa : Mong mõi cho con được thành rồng. Không phải thành con rồng thật, mà là muốn cho con cái của mình có được những thành công vượt bực hơn người thường như : Thi đậu làm quan lớn hay phát tích làm giàu to như Vương Khải Thạch Sùng ngày xưa, như Bill Gates, Elon Musk... cuả ngày nay. Song song với thành ngữ "VỌNG TỬ THÀNH LONG 望子成龍"là "VỌNG NỮ THÀNH PHỤNG 望女成鳳". Con trai thì thành Rồng, còn con gái thì thành Phượng. Phượng của ngày xưa là có chồng làm quan lớn hay được tuyển làm phi tần của nhà vua; còn Phượng của ngày nay là các bà các cô có thành tích trên chính trường không thua nam giới như : Bà cựu Thủ Tướng của nước Đức Angela Merkel, cựu ngoại trưởng của Hoa Kỳ bà Hillary Rodham Clinton... hay có được một tấm chồng giàu sang phú quý...

         

      LONG là RỒNG tượng trưng cho Vua, PHỤNG là PHƯỢNG tượng trưng cho Hoàng hậu; nên LONG PHỤNG dùng rộng ra thường để chỉ giới qúy tộc cao sang quyền qúy và phổ cập hơn nữa là dùng để chỉ những người có tướng mạo đoan trang uy nghi qúy phái hay những người có tài năng xuất chúng vượt trội hơn những người khác... đều được gọi là "NHÂN TRUNG LONG PHỤNG 人中龍鳳" có nghĩa là "Rồng Phượng trong đám người tầm thường". Tương tự như con người, chữ viết đẹp, những nét thư pháp bay bướm còn được ví như là LONG PHI PHỤNG VŨ 龍飛鳳舞, tức như là RỒNG BAY PHƯỢNG MÚA vậy ! Trong dân gian để tôn vinh cái thời gian đẹp nhất của con người khi kết hôn, cô dâu chú rể được ví như là Long là Phượng với hình ảnh của Rồng và Phượng xoay tròn quấn quít lấy nhau trong 4 chữ LONG PHỤNG TRÌNH TƯỜNG 龍鳳呈祥, có nghĩa Hình ảnh rồng phượng mang đến điềm lành cho cô dâu chú rể. Bánh cưới có hình rồng phượng gọi là LONG PHỤNG BỈNH 龍鳳餅. Sẵn lạm bàn thêm về 4 chữ LOAN PHỤNG HÒA MINH 鸞鳳和鳴, có nghĩa : Chim LOAN và chim PHƯỢNG cùng hòa chung tiếng hót với nhau.

LOAN PHỤNG 鸞鳳 : là chim Loan và chim Phượng Hoàng. LOAN 鸞 cũng là một loại chim thuộc hàng qúy tộc, tuy không bằng được PHỤNG HOÀNG 鳳凰 là chúa tể của các loài chim mà trăm loại chim khác phải bay đến để chầu chim Phụng Hoàng với thành ngữ BÁCH ĐIỂU TRIỀU PHỤNG 百鳥朝鳳. Còn thành ngữ LOAN PHỤNG HÒA MINH 鸞鳳和鳴 là chỉ hai loài chim qúy tộc cùng kết thân với nhau và cùng nhau cất tiếng hót như sự hòa hợp vui vẻ giữa vợ chồng với nhau. Nên thành ngữ Loan Phụng Hòa Minh thường dùng để chúc cho đôi tân hôn trong đám cưới là như thế đó.

     Riêng loài Phụng Hoàng 鳳凰 thì Phụng là con trống và Hoàng là con mái. Như thành ngữ PHỤNG CẦU KỲ HOÀNG 鳳求其凰 là : Con chim trống PHỤNG cầu thân với con chim mái HOÀNG của nó. Đây cũng là tên của bản đàn nổi tiếng mà Tư Mã Tương Như đã đàn để quyến rủ người đẹp Trác Văn Quân. Như trong "Bích Câu kỳ ngộ" có câu:

                   Cầu Hoàng tay lựa nên vần,

               Tương Như lòng ấy, Văn Quân lòng nào.

 

      Nhưng khi đi với LONG là RỒNG thì PHỤNG là PHƯỢNG lại trở thành con chim mái, như PHỤNG QUAN 鳳冠 là cái Vương Miện có hình chim Phượng hoàng của Hoàng Hậu đội trên đầu. PHỤNG LIỄN LOAN NGHI 鳳輦鸞儀 : là nghi thức đón vương phi hay hoàng hậu, là hai cái càng kiệu (đòn kiệu) chạm hình chim Phượng, xung quanh vây màn thêu chim Loan ; hoặc trên kiệu có tạc hình của con chim Loan ngậm màn trướng. Như khi Từ Hải đã xưng vương rồi cho 10 vị tướng quân đi đón Thúy Kiều với đầy đủ :   

 

                    Sẵn sàng PHƯỢNG LIỄN LOAN NGHI,

                     Hoa quan chấp chới hà y rỡ ràng.

             

      Vì RỒNG là biểu tượng của vua chúa, là tượng trưng cho giới qúy tộc, là hiện thân của những người tài giỏi... Nên ai cũng thích rồng, hoặc tỏ ra ta đây rất thích rồng, như câu truyện ngụ ngôn DIỆP CÔNG HIẾU LONG 葉公好龍, có nghĩa : "Ông họ Diệp thích Rồng" sau đây :

      Theo sách "Thái Bình Ngự Lãm quyển 389 太平御覽.卷三八九", phần《Trang Tử 莊子》Dật Văn 逸文 kể : Học trò của Khổng Tử là Tử Trương, tư chất thông minh, siêng năng cần học, biết phép đối xử với người chung quanh nên kết giao rộng rãi. Ông ta muốn tiến thân trên đường hoạn lộ, nghe tiếng Lỗ Ai Công chiêu hiền đãi sĩ, bèn tìm đến mong được trọng dụng. Nhưng ngày tháng cứ dần dà mãi mà chẳng thấy Lỗ Ai Công hỏi han gì đến cả. Ông ta bỏ đi và nhờ người kể lại câu chuyện sau đây với Lỗ Ai Công :"Thẩm Chư Lương 沈諸梁 người nước Sở, là Huyện doãn của Diệp huyện, nên mọi người đều gọi ông ta là Diệp Công 葉公. Diệp Công rất thích rồng, nên trong nhà ngoài ngõ đâu đâu cũng có hình dáng của con rồng, không phải khắc nên thì là vẽ nên. Ngay cả màn trướng gối nằm đều có thêu hình rồng. Một con rồng ở trên trời biết được nên rất cảm động, muốn cho ông ta biết được rồng thật là như thế nào, nên mới thừa dịp một đêm mưa gió hiện xuống nhà của Diệp Công. Thấy trời đổ mưa Diệp Công ra đóng cửa trước, bất ngờ thấy một cái đầu rồng to tướng hiện ra trước mắt, nhe nanh múa vuốt, ông ta hoảng hốt bỏ chạy vào nhà thì thấy nguyên một cái đuôi rồng to lớn từ phía sau nhà vươn tới, sợ qúa ông ta bèn ngất ngay tại chỗ. Con rồng rất ngạc nhiên, cứ ngỡ ông ta sẽ rất vui mừng khi thấy được rồng thật. Nào ngờ ông ta lại chết điếng như thế nầy. Thì ra Diệp Công chỉ thích những cái biểu tượng như rồng chứ không phải thật sự thích con rồng thật". Tử Trương kể câu chuyện nầy để châm biếm Lỗ Ai Công chỉ thích hư danh, muốn được tiếng là chiêu hiền đãi sĩ, chứ thật ra chẳng biết xem trọng kẻ sĩ gì cả. Gặp người hiền tài tìm đến mà cứ dửng dưng như không. Sau...

     Thành ngữ DIỆP CÔNG HIẾU LONG 葉公好龍 được dùng rộng ra để chỉ những người chỉ biết chạy theo xu hướng của thời đại. Người ta thích thì mình thích, người ta có thì mình cũng phải có theo, mà không biết có để làm gì. Làm ra bộ như ưa thích đến chừng gặp phải thực tế thì chẳng những không thích mà còn sợ hãi nữa là đằng khác. Âu cũng là chuyện thường tình của thói đời mà thôi !

        Rồng hiện xuống thì gọi là GIÁNG LONG 降龍 hay LONG GIÁNG 龍降 như "chú tiểu Lan chỉ tay nói với anh chàng Ngọc" trong quyển tiểu thuyết Hồn Bướm Mơ Tiên, tác phẩm đầu tay của nhà văn Khái Hưng, mà cũng là tác phẩm đầu tiên của Tự Lực Văn Đoàn  là : "Thưa ông, chùa Long Giáng kia rồi !". Lưng chừng một trái đồi cao, mái ngói mốc rêu chen lẫn trong đám cây rậm rịt, bốn góc gác chuông vượt lên trên từng lá xanh um... Sự tích Chùa LONG GIÁNG ở Bắc Ninh theo lời kể của chú tiểu Lan như sau : 

 

        Thái Tổ nhà Lý, khi còn hàn vi, nhờ đạo Phật rất nhiều nên lúc Ngài lên ngôi rồi, Ngài dốc lòng chăm chỉ sửa sang các chùa chiền. Đến đức Nhân Tôn vì bận việc chinh phục Chiêm Thành và chống chọi với nước Tàu nên trễ nãi đạo Phật.

        Ngọc Hoàng Thượng đế muốn giúp nhà vua tỉnh ngộ, liền cho một nàng tiên nga giáng thế đầu thai, tức là Văn Khôi công chúa. Công chúa nhan sắc diễm lệ một thời, nhưng khi lớn lên, chỉ ngày đêm học đạo tu hành. Sau vì nhà vua cố ý kén phò mã, công chúa liền đương đêm lẻn bước trốn đi, nhờ có các thần tiên đưa đường tới nơi này xin thụ pháp với đức Cao Huyền hòa thượng.

       Về sau có thám tử báo tin, đức vua mấy phen cho quan quân đến chùa đón công chúa về triều. Công chúa nhất định không nghe. Nhà vua nổi giận, truyền quan quân phóng hỏa đốt chùa. Ngọn lửa vừa nhóm, bổng một con rồng vàng hiện lên phun nước tắt ngay. Vì thế chùa này mới lấy tên là chùa Long Giáng từ thuở ấy...

 

      "Hồn Bướm Mơ Tiên" với mái chùa Long Giáng dưới ngòi bút của nhà văn Khái Hưng đã để lại một câu chuyện tình vừa đẹp vừa nên thơ vừa lãng mạn của bối cảnh lịch sử và phong trào văn học mới lúc bấy giờ.

               

       Chữ 降 nếu đọc là GIÁNG thì có nghĩa là Sa xuống, Hiện xuống. Như Tiên GIÁNG trần, như chùa Long GIÁNG đã nói ở trên. Còn nếu đọc là 降 HÀNG thì có nghĩa là Đầu HÀNG, là HÀNG phục. Như "HÀNG LONG THẬP BÁT CHƯỞNG 降龍十八掌" trong các truyện võ hiệp của Kim Dung vậy. Đây là bộ chưởng pháp mạnh mẽ thuộc loại dương cương "MƯỜI TÁM CHƯỞNG CÓ THỂ HÀNG PHỤC RỒNG"; Uy lực của loại chưởng pháp nầy ta có thể thấy qua trong điện ảnh hay đọc qua các truyện với Kiều Phong trong Thiên Long Bát Bộ, Hồng Thất Công và  Quách Tĩnh trong Anh Hùng Xa Điêu và trong Thần Điêu Hiệp Lữ. Đây là pho chưởng pháp trấn bang của Cái Bang. 

     Có rất nhiều người thắc mắc là không biết hết được tên của 18 chưởng pháp nầy. Xin được trình bày rất vắn tắt theo tài liệu tìm thấy trên mạng như sau :

 

1. Kháng Long Hữu Hối 亢龍有悔 : 

      Thuộc quẻ Càn trong kinh Dịch; Tượng Thượng Cửu. Tư thế của Quách Tĩnh khi học chiêu thức nầy là chân trái hơi chùn xuống, cánh tay phải cong vào, cổ tay xoay một vòng tròn đánh ra một chưởng,"vù" một tiếng, nhánh cây tùng phía trước mặt kêu răng rắc rồi gãy rơi xuống đất.

     Nhờ có chiêu này, Quách Tĩnh đã khiến cho Sâm Tiên Lão Quái Lương Tử Ông, một cao thủ hắc đạo đã phải sất bất sang bang mấy bận, mà không làm gì được Quách Tĩnh cả, mặc dù chàng ta chỉ mới học được có một chiêu duy nhất nầy mà thôi !

 

2. Phi Long Tại Thiên 飛龍在天: 

       Thuộc quẻ Càn trong kinh Dịch; Tượng Cửu Ngũ. Chiêu nầy phải phi thân lên trên không, rồi từ trên đánh xuống, uy lực vô biên. Quách Tĩnh phải mất ba ngày mới học xong chiêu thức nầy.

 

3. Kiến Long Tại Điền 見龍在田 : 

         Thuộc quẻ Càn trong kinh Dịch; Tượng Cửu nhị. Khi ông Ngư áp sát Hoàng Dung; Quách Tĩnh đã vận kình vào chưởng trái, chưởng phải đưa thẳng ra theo thế Kiến Long Tại Điền để phòng hờ Ngư ông tấn công.

 

4. Hồng Tiệm Ư Lục 鴻漸於陸 : 

        Thuộc quẻ Tiệm trong kinh Dịch; Tượng Cửu Tam. Khi gặp Mai Siêu Phong, Quách Tĩnh vội vàng đánh ra hai chưởng "Hồng Tiệm Ư Lục" và "Lợi Thiệp Đại Xuyên 利涉大川" bức Mai Siêu Phong lùi lại xa xa để cho Hoàng Dung phi thân lên rường mà chạy...

 

5. Tiềm Long Vật Dụng 潛龍勿用 : 

        Thuộc quẻ Càn trong kinh Dịch; Tượng Sơ Cửu. Quách Tĩnh kêu lên :"Không xong rồi!" tay trái đã bị Mai Siêu Phong nắm lấy tê rần, nên vội vàng co tay phải lại, hai ngón trỏ và ngón giữa đưa lên, nửa quyền nửa chưởng đánh vào trước ngực của bà ta, đó chỉ là nửa chiêu của "Tiềm Long Vật Dụng".

 

6. Lợi Thiệp Đại Xuyên 利涉大川 : 

         Thuộc quẻ Di trong kinh Dịch, Tượng Thượng Cửu. Đã dẫn giải về chiêu thức ở trên.

 

7. Đột Như Kỳ Lai 突如其來 : 

        Thuộc quẻ Ly trong kinh Dịch; Tượng Cửu Tứ. Quách Tĩnh nghe tiếng của nàng kêu lên, tinh thần phấn chấn, tay trái đánh một chưởng, do chính là "Đột Như Kỳ Lai".

 

8. Chấn Kinh Bách Lý 震驚百里 :

         Thuộc quẻ Chấn trong kinh Dịch; Chấn là Hanh. Âu Dương Phong đánh bồi thêm chưởng thứ hai, chưởng thứ nhất kình phong chưa dứt, thì chưởng thứ hai đã ập tới. Quách Tĩnh bèn vội vàng đưa cả hai tay lên đẩy mạnh về phía trước, đó là chiêu Chấn Kinh Bách Lý có uy lực rất mạnh mẽ trong Hàng Long Thập Bát Chưởng

 

9. Hoặc Diệu Tại Uyên 或躍在淵 : 

         Thuộc quẻ Càn trong kinh Dịch, Tượng Cửu Tứ. Quánh Tĩnh đánh ra chưởng thứ hai là Hoặc Diệu Tại Uyên. Tay trái đánh ra trước, tay phải lòn dưới tay trái đánh ra sau, chưởng lực đánh thẳng vào bụng của đối phương.

 

10. Song Long Thủ Thủy 雙龍取水 : 

          Chiêu thức nầy có nguồn gốc từ kinh Phật, còn đợi tra cứu.

 

11. Ngư Diệu Ư Uyên 魚躍於淵 : 

          Chiêu thức nầy cũng có nguồn gốc từ kinh Phật.

 

12. Thời Thừa Lục Long 時乘六龍 :

         Thuộc quẻ Càn trong kinh Dịch, thuộc Càn Nguyên... Thế trượng rất mạnh bay về phía Giản Trưởng Lão, Quách Tĩnh nhảy lên phía trước đứng chặn ở giữa, xuất chưởng Thời Thừa Lục Long đánh về phía trượng đang phóng tới rất mạnh. Trượng bị nghiêng về một phía, Quách Tĩnh vội vàng đưa tay trái đón lấy.

 

13. Mật Vân Bất Vũ 密雲不雨 : 

         Thuộc quẻ Tiểu Súc trong kinh Dịch, Tiểu quá Lục Ngũ. Quách Tĩnh xuấy chiêu Mật Vân Bất Vũ, hai chưởng thay nhau đánh về phía trước đầu của Cừu Thiên Nhận, cánh tay trái gạt đi cây sào phía trước mặt, thân mình tiếp tục hạ xuống trước mũi thuyền địch.

 

14. Tổn Tắc Hữu Phu 損則有孚 : 

        Thuộc quẻ Tổn trong kinh Dịch, Ngươn Kiết. Quách Tĩnh thừa cơ đứng vững trên mũi thuyền, xuất thêm một chiêu rất ít khi sử dụng trong Hàng Long Thập Bát Chưởng, đó là chiêu "Tổn Tắc Hữu Phu".

 

15. Long Chiến Ư Dã 龍戰於野 :

         Thuộc quẻ Khôn trong kinh Dịch, Thượng Lục... Nào ngờ chiêu Long Chiến Ư Dã rất ư áo diệu, có thể thực có thể hư; thấy Cừu Thiên Nhận chận ngay vai trái của mình, Quách Tĩnh bèn đưa chưởng phải lên đánh "bùng" một tiếng, đánh ngay vai phải và ngực làm cho Cừu Thiên Nhận bay luôn ra cửa.

 

16. Lý Sương Băng Chí 履霜冰至 : 

         Thuộc quẻ Khôn trong kinh Dịch, Sơ Lục. Quách Tĩnh vội hít sâu vào, hai khủy tay hơi nâng cao, hữu quyền tả chưởng, một đánh thẳng một xô ngang, một nhanh một chậm cùng đánh ra một lúc, đó là chiêu Lý Sương Băng Chí.

 

17. Đê Dương Xúc Phiên 羝羊觸蕃 :

          Thuộc quẻ Đại Tráng trong kinh Dịch, Cửu Tam. Quách Tĩnh tránh qua hai mũi Thấu Cốt Đinh của Lương Tử Ông, hai tay vừa kiếm vừa chưởng, ra chiêu Đê Dương Xúc Phiên phóng thẳng vào mình Lương Tử Ông.

 

18. Thần Long Bãi Vỹ 神龍擺尾 :

        Thuộc quẻ Lý trong kinh Dịch.... Lê Sanh nghe phía sau có hơi gió và vạt áo cũng lay động, trong một thoáng bèn đưa ngược tay ra phía sau quét ngang một chưởng đúng là chiêu Thần Long Bãi Vỹ.        

        Đó là 18 chưởng được tìm thấy trên mạng google của bộ "Xạ Điêu Anh Hùng Truyện".

   

      Các thành ngữ có chữ LONG mà ta thường gặp có :

 

      * TÀNG LONG NGỌA HỔ 藏龍臥虎 : hay NGỌA HỔ TÀNG LONG, là Rồng ẩn Cọp nằm. Nơi mà rồng cọp ẩn mình. Thường dùng để chỉ nơi các cao nhân, anh hùng hào kiệt ẩn náo; cũng dùng để chỉ hang ổ của các tay anh chị, sào huyệt của các băng đảng xã hội đen.

      * LONG NGÂM HỔ KHIẾU 龍吟虎嘯 : là Rồng gầm Cọp rống. Thường dùng để chỉ cái tiếng tăm thanh thế của những người có quyền thế, của hai kẻ giang hồ, hai tay anh chị đang gầm gừ với nhau.

      * LONG TRANH HỔ ĐẤU 龍爭虎鬥 : là Rồng và Cọp tranh đấu với nhau. Thường dùng để chỉ hai đối thủ, hai thế lực ngang tài ngang sức tranh đấu với nhau một cách quyết liệt, chưa biết mèo nào cắn mỉu nào !  

      * HÀNG LONG PHỤC HỔ 降龍服虎 : là Hàng phục cả rồng lẫn cọp, chỉ người có khả năng siêu việt, có thể làm nên những chuyện phi thường mà người khác không thể làm được.

      * LONG BÀN HỔ CỨ 龍蟠虎踞 : là Rồng cuộn khúc, Cọp ngồi chồm. Chỉ thế đất hùng vĩ hiểm trở. Theo sách《Ngô Lục 吳錄》của Trương Bột 張勃 đời Tấn ghi chép : Cuối đời Đông Hán, Lưu Bị phái Gia Cát Lượng đến Kim Lăng (Nam Kinh ngày nay) để liên kết với Đông Ngô cùng chống quân Tào Tháo. Gia Cát Lượng đến Kim Lăng thấy phía đông có dãy Chung Sơn hùng vĩ như rồng uốn khúc, phía tây có Thạch Đầu Thành như con cọp đang ngồi chồm thủ thế, địa thế vô cùng hiểm trở và hùng vĩ, bèn khen rằng :"Chung Sơn LONG BÀN, Thạch Đầu HỔ CỨ, thử đế vương chi trạch 鍾山龍盤,石頭虎踞,此帝王之宅". Có nghĩa : "Núi Chung Sơn như long bàn, thành Thạch Đầu tựa hổ cứ. Đây quả là chốn cư ngụ của bậc đế vương !". 

     * LONG MÃ TINH THẦN 龍馬精神 : Đây là câu thiệu mà ta thường thấy các chủ nhân ông sau khi ăn Tết xong mở cửa khai trương lại thường dán trong tiệm hay trong công xưởng, vì các ông chủ sợ nhân viên sau khi ăn Tết rồi thì uể oải vì còn nhớ cái không khí vui vẻ của ngày Tết mà làm việc một cách lôi thôi. Nên dán 4 chữ LONG MÃ TINH THẦN là muốn cho mọi người phấn chấn tinh thần lên xông xáo như rồng bay ngựa chạy vậy.

 

     Thành ngữ về LONG về RỒNG còn rất nhiều, kể không xiết kể... Vì RỒNG là linh vật có thể thông thiên triệt địa, lên trời xuống đất, nên mọi người đều mơ ước, thấy người sang nên muốn bắt quàng làm họ. Người Hoa thì thường tự hào là LONG ĐÍCH TRUYỀN NHÂN 龍的傳人, có nghĩa là truyền nhân của RỒNG, là con cháu hậu duệ của RỒNG. Còn người Việt Nam chúng ta thì cũng thường tự hào rằng mình thuộc dòng giống CON RỒNG CHÁU TIÊN là con cháu của Lạc Long Quân và bà Âu Cơ.

 

              
   

     Mong rằng trong năm GIÁP THÌN 2024 nầy, mọi người đều cố gắng phát huy cái truyền thống RỒNG của mình để cho mọi gia đình đều được AN KHANG THỊNH VƯỢNG, VUI VẺ HẠNH PHÚC và suốt năm cứ bay lượn như RỒNG trên mây vậy.

     Mong lắm thay !

 

                                                                                杜紹德

                                                                            Đỗ Chiêu Đức

dcd_GiapThin.jpg

TUYẾT MAI Nhị Thủ 雪梅二首 là hai bài thơ thất ngôn tứ tuyệt nói về MAI TUYẾT và THƠ của thi nhân Lư Mai Pha 盧梅坡 đời Nam Tống. Hai bài thơ đã nói lên sự gắn bó không thể tách rời giữa Hoa mai, Tuyết trắng và Thơ ca; một sự kết hợp tuyệt vời của "Ba trong Một" mà nếu thiếu mất Một thì sẽ không thể tạo nên cái không gian và cảnh trí đẹp đặc sắc của buổi đầu xuân, khi Chúa Xuân vừa ngự đến...

       Nào, ta hãy đọc hai bài thơ nầy để đón chào Đông Quân của GIÁP THÌN 2024 nhé !...

 

      其一                               Kỳ Nhất

梅雪爭春未肯降,     Mai Tuyết tranh xuân vị khẳng hàng,

騷人擱筆費評章。     Tao nhân các bút phí bình chương.

梅須遜雪三分白,     Mai tu tốn tuyết tam phân bạch,

雪却輸梅一段香。     Tuyết khước thâu mai nhất đoạn hương.

* Chú thích :

    - Hàng 降 : là đầu hàng, là Chịu thua. VỊ KHẲNG HÀNG là Chẳng chịu thua.

    - Tao Nhân 騷人 : là Tao nhân mặc khách chỉ khách văn chương, văn nhân thi sĩ.

    - Các Bút 擱筆: là Gác bút, không viết được.

    - Bình Chương 評章 : là Văn chương thi ca bình phẩm.

    - Tốn 遜 : là Khiêm tốn; là nhường nhịn, là Sút kém.

    - Thâu 輸 : là Thua, là Sút kém.

 

* Nghĩa bài thơ :

      - Mai và Tuyết cùng tranh nhau mùa xuân mà chẳng ai chịu nhường ai cả.

      - Các tao nhân mặc khách cũng đành gác bút không muốn phí lời bình phẩm.

      - Bạch Mai thì sút kém hơn Tuyết ba phần về sắc trắng. Còn...

      - Tuyết thì thua Mai vì Mai còn có một làn hương thơm thoang thoảng.

 

* Diễn Nôm :

                   Mai tuyết tranh xuân chẳng chịu nhường,

                   Thi nhân gát viết phí lời suông.

                   Mai thì nhường tuyết ba phần trắng,

                   Tuyết lại thua mai một thoáng hương !

 

 

      其二                           Kỳ Nhị

有梅無雪不精神,   Hữu Mai vô Tuyết bất tinh thần,

有雪無詩俗了人。   Hữu Tuyết vô Thi tục liễu nhân.

日暮詩成天又雪,   Nhật mộ Thi thành thiên hựu Tuyết,

與梅並作十分春。   Dữ Mai tịnh tác thập phân Xuân !

* Chú thích :

    - Bất Tinh Thần 不精神 : Chỉ Không có cái thần thái cao nhã thanh khiết.

    - Tục Liễu nhân 俗了人 : Chỉ Con người trở nên phàm tục, tầm thường.

    - Tịnh Tác 並作 : là Cùng tương tác để tạo nên...

    - Thập Phân Xuân 十分春 : là Mười phần xuân, chỉ mùa xuân trọn vẹn đầy đủ.

 

* Nghĩa bài thơ :

      - Có Mai mà không có Tuyết thì sẽ như thiếu đi cái thần thái cao nhã.

      - Đã có Tuyết rồi nếu không có Thơ thì như quá phàm tục tầm thường.

      - Trong cảnh trời chiều khi Thơ mới làm xong thì trời lại đổ Tuyết...

      - Hợp cùng với hoa Mai nữa là mùa Xuân đã trọn vẹn cả mười phân vẹn mười !

 

* Diễn Nôm :

                  Có Mai không Tuyết chẳng tinh thần,

                  Có Tuyết không Thơ phàm tục nhân.

                  Chiều xuống thơ thành trời lại tuyết,

                  Hợp cùng Mai nở cả mùa Xuân !...   

 Ta thấy...

       Trong khi hoa mai nở sớm trong làn tuyết trắng bay bay là đã báo hiệu cho mùa xuân đã đến. Mai nở trong tuyết, tuyết vờn quanh mai tạo nên một bức tranh cao nhã đầy thi vị của xuân tươi, nên cần có thơ để thăng hoa nâng cảnh trí đầu xuân nên thơ lên tuyệt đĩnh. Tác giả đã ngắm tuyết rơi, thưởng thức hoa mai nở và ngâm thơ xuân MAI TUYẾT trong tinh thần thẩm mỹ cao độ giữa MAI TUYẾT và THƠ một cách nên thơ thi vị. Cụ Nguyễn Du cũng đã mượn cái cao nhã tinh khiết của Mai, của Tuyết của hai bài thơ nầy để ta vẻ đẹp thuần khiết trong trắng của chị em Thúy Kiều và Thúy Vân :

 

                     MAI cốt cách TUYẾT tinh thần, 

                  Mỗi người một vẻ mười phân vẹn mười ! 

  

       Chào xuân Giáp Thìn 2024, xin được diễn Nôm bằng đôi dòng Lục Bát cho thêm phần bình dân và thi vị :

 

                            MAI TUYẾT

 

                 Tranh xuân Mai Tuyết chẳng nhường,

                 Thi nhân gác bút hết đường cân phân.

                 Mai thua Tuyết trắng ba phần,

                 Tuyết thì lại chịu mai gần thoáng hương !

 

                 Có Mai không Tuyết tầm thường,

                 Không thơ có Tuyết tầm thường càng nhanh.

                 Trời chiều Tuyết đổ Thơ thành,

                 Hợp cùng Mai nở xuân xanh vẹn mười !

 

       Cầu chúc cho tất cả đồng hương, thân hữu ở những vùng có tuyết rơi, mai nở đều có được một mùa xuân Thanh Nhàn, Thi Vị và Như Ý !

 

            杜紹德

            Đỗ Chiêu Đức

dcd_maituyet_last.JPG
dcd_chunhodehoc.JPG

CHỮ NHO... DỄ HỌC  (1-5)

Đọc toàn bài, xin click link dưới đây:

https://docs.google.com/document/d/11i5gMv5cNiK2VoaoV97lxrWbXbowAhHO/edit?usp=drive_link&ouid=106243129212643488303&rtpof=true&sd=true

dcd_mannong.JPG

 Nối tiếp theo những câu truyện nói lên "Hai Nhân Cách" của thi nhân Lý Thân là "Bài thơ Mẫn Nông thứ ba" của ông được tìm thấy trong "Đường Triều Tàn Quyển 唐朝残卷", được khai quật gần đây trong hang động Đôn Hoàng của tỉnh Cam Túc, có ghi lại tích sau đây :

      Mùa hạ năm đó Lý Thân 李紳 về Hào Châu để thăm lại thân bằng quyến thuộc, cũng cùng lúc với Giang Đông Tiết Độ Sứ Lý Phùng Cát 李逢吉 về triều trình tấu, đi ngang qua Hào Châu. Hai người trước đó là bạn đỗ cùng khoa, cùng bảng Tiến sĩ, lại cùng là bạn văn thơ với nhau, nên gặp nhau rất là tương đắc. Sau tiệc mừng gặp cố tri, ngày hôm sau hai bạn cùng nắm tay lên tận Quan Giá Đài (Đài dùng để quan sát, nhìn ngắm) của thành đông để ngắm cảnh núi sông, ruộng đồng non nước. Trước cảnh non sông ngàn dặm, Lý Phùng Cát cảm khái mà ngâm rằng :

 

                 何得千里朝野路, Hà đắc thiên lý triều dã lộ,

                 累年遷任如登台。 Lũy niên thiên nhậm như đăng đài !

    Có nghĩa :

                 Sao được đường quan ngàn dặm đó,

                 Năm năm thay bậc tựa leo đài !

 

      Cảm khái cũng không quên tiến thủ, ông ước mơ cho con đường làm quan ngàn dặm của mình, mỗi năm mỗi bậc thuyên chuyển lên cao mãi, suông sẻ như là các bậc thang leo lên trên đài cao nầy vậy. Còn Lý Thân ngắm cảnh trên cao với một góc độ khác, ông trông thấy cảnh giữa trưa nắng gắt như thế nầy mà các nông phu vẫn phải cày sâu cuốc bẫm ngoài đồng ruộng, mới buộc miệng ngâm rằng :

 

             鋤禾日當午,     Sừ hòa nhật đang ngọ,

             汗滴禾下土。     Hạn trích hòa hạ thổ.

             誰知盤中餐,     Thùy tri bàn trung xan,

             粒粒皆辛苦。     Lạp lạp giai tân khổ !

    Có nghĩa :

                  Cuốc cày giữa ngọ ban trưa,

                  Mồ hôi đổ xuống như mưa lúa trồng.

                  Ai người biết  cơm trong mâm,

                  Từng hạt từng hạt muôn phần đắng cay !         

 

        Lý Phùng Cát nghe xong khen lấy khen để, cứ luôn miệng nói là bài thơ thật tuyệt diệu : Mỗi hạt cơm hạt gạo chúng ta ăn đều do công sức và mồ hôi nước mắt của nông dân mới có được. Lý Thân ngửa mặt lên trời thở dài một tiếng ngâm tiếp bài thơ thứ 2 :

                 

             春種一粒粟,     Xuân chủng nhất lạp túc,

             秋收萬顆子。     Thu thâu vạn khỏa tử.

             四海無閒田,     Tứ hải vô nhàn điền,

             農夫猶餓死。     Nông phu do ngạ tử !

   Có nghĩa :

                  Mùa xuân một hạt gieo trồng,

                  Đến thu thu hoạch muôn lần nhiều hơn.

                  Khắp nơi chẳng có ruộng hoang,

                  Nông dân đói chết vẫn còn khắp nơi !      

dcd_mannong2.JPG

Lý Phùng Cát nghe xong, thầm nghĩ rằng : Đây chẳng phải là những lời chê trách triều đình vua quan chẳng quan tâm đến đời sống khốn khó của quần chúng nông dân hay sao ? Quả là đáng chết! Nên khi về đến thư phòng, Lý Phùng Cát mới nói với Lý Thân rằng :"Bạn có thể chép lại hai bài thơ khi nảy để tặng cho tôi không, để kỷ niệm và cũng để không uổng phí công sức vì chúng ta đã cùng đăng cao ngắm cảnh chung với nhau một chuyến". Lý Thân trầm ngâm suy nghĩ một lát rồi nói rằng :"Hai bài thơ chỉ có bốn mươi chữ, bạn nghe qua chắc đã cũng nhớ rõ trong lòng rồi, cần chi phải viết lại; Còn như muốn có bút tích của tôi thì tôi sẽ viết tặng bạn một bài thơ mới làm ngay bây giờ". Lý Phùng Cát lở bộ đành phải nói xuôi theo:"Cũng được, thế lại càng qúy hoá lắm !" nhưng trong lòng rất thất vọng, vì bản thân y muốn có được bài thơ có ý "phản động" kia hơn. Lý Thân bèn chuẩn bị giấy mực, sáng tác và viết ngay lên giấy hoa tiên bài MẪN NÔNG thứ 3 như sau :

 

              壟上扶犁兒,    Lũng thượng phù lê nhi,

              手種腹長飢。    Thủ chủng phúc trường ki (cơ).

              窗下織梭女,    Song hạ chức thoa nữ,

              手織身無衣。    Thủ chức thân vô y.

              我愿燕趙姝,    Ngã nguyện Yên Triệu thù,

              化为嫫女姿。    Hóa tác Mô Nữ ti  (tư).

              一笑不值錢,    Nhất tiếu bất trị tiền,

              自然家國肥。    Tự nhiên gia quốc phì ! 

Có nghĩa :

      Những chàng trai đang ngã tay cày trên luống cày; Tay trồng lúa nhưng bụng lại đói dài dài. Các cô gái ngồi dệt dưới song cửa sổ; Tay dệt vải nhưng trên mình chẳng có được manh áo mới nào cả. Ta ước gì các cô gái đẹp của nước Yên nước Triệu đều hóa thành bà Mô Mẫu là bà phi thứ tư xấu như ma của vua Huỳnh Đế (nhưng lại rất đãm đang). Nụ cười của họ sẽ không đáng ngàn vàng nữa, nhưng tự nhiên nhà nước sẽ giàu thêm ra.

 

Diễn Nôm :

                Nông phu trên luống cày,

                Tay trồng bụng đói dài.

                Dưới song cô gái dệt,

                Tay dệt không áo may.

                Ước gái đẹp Yên Triệu,

                Như ma xấu hoài hoài.

                Nụ cười không đáng giá,

                Tự nhiên nước giàu ngay !

dcd_baitho.JPG

 Lý Phùng Cát trông thấy bài thơ, chuyển thất vọng thành vui mừng. Lòng mừng khấp khởi vì thấy lời lẽ của bài thơ nầy chê trách vua quan và triều đình còn thậm tệ hơn là bài thơ trước nữa. Nhất là các câu cuối như có ý chê trách nhà vua chỉ quan tâm và phung phí tiền bạc trên mình các người đẹp mà không chăm lo đến đời sống của nông dân nghèo khổ. Ngoài mặt thì Lý Phùng Cát tỏ ra rất thân thiện và nể phục tài làm thơ của Lý Thân, nhưng trong bụng thì ngầm tính toán là sẽ mượn "cái bàn đạp Lý Thân" nầy để thăng quan tiến chức thêm một bậc nữa. 

     Hôm sau bèn giả biệt Lý Thân rời khỏi Hào Châu để về kinh thành. Sau khi diện kiến nhà vua để trình tấu mọi việc xong xuôi, thì lại tâu riêng với nhà vua rằng :"Hàn Lâm Học Sĩ Lý Thân đã làm thơ phản nghịch chê trách triều đình để hả giận trong lòng". Đường Võ Tông hoàng đế lấy làm lạ hỏi rằng :"Khanh có gì làm bằng chứng không ?" Lý Phùng Cát bèn trình bài thơ Mẫn Nông Kỳ Tam do chính tay Lý Thân viết lên cho nhà vua xem. Vua xem xong trầm ngâm không nói gì cả.

     Buổi thiết triều sáng hôm sau, vua Đường Võ Tông hạ chiếu triêu hồi Lý Thân về triều. Trước mặt bá qua văn võ, nhà vua cất tiếng phán rằng :"Trẫm ở trên ngôi cao lâu ngày, quên mất thăm hỏi về dân tình, may nhờ có Lý Phùng Cát tiến cử trình lên bài thơ Mẫn Nông của Hàn Lâm Học Sĩ Lý Thân nhắc nhở về dân tình. Nay trẫm thăng cho Lý Thân lên làm Thượng Thư Hữu Bộc Xạ (tương đương như chức Hữu Thừa Tướng) để giúp trẫm cùng bàn việc triều chính, trị quốc an dân". Sau khi tạ ơn nhà vua, Lý Thân cũng đã đích thân đến phủ tạ ơn Lý Phùng Cát đã có lòng tiến cử cho mình, làm cho Lý Phùng Cát đâm ra thật ngỡ ngàng : Định hại người thành ra giúp người, định dìm người khác xuống để mình được thăng quan, không ngờ lại giúp cho người ta thăng quan tiến chức cao hơn mình nữa. Nhưng rồi chẳng bao lâu sau nhà vua cũng biết được thâm ý sàm tấu của Lý Phùng Cát, nên Lý đã bị giáng chức và bị biếm đi đến vùng Vân Nam xa xôi làm Quan Sát Sứ.

 

      Về bài thơ MẪN NÔNG thứ 3 của Lý Thân vì trình lên cho nhà vua nên được giữ lại trong cung; mãi cho đến gần đây khi khai quật thạch động Đôn Hoàng ở tỉnh Cam Túc mới phát hiện trong "Đường Triều Tàn Quyển 唐朝残卷". Nên bài thứ 3 nầy không được phổ biến rộng rãi như bài 1 và bài 2. Nhất là bài đầu (theo giai thoại nầy) gần như trong giới bình dân già trẻ gì đều biết cả. Ngay cả ca dao của Việt Nam ta cũng có bài nghi là bản phỏng dịch tuyệt vời của bài thơ nầy :

 

                       Cày đồng đang buổi ban trưa,

                  Mồ hôi thánh thót như mưa ruộng cày.

                           Ai ơi, bưng bát cơm đầy,

                 Dẻo thơm một hạt, đắng cay muôn phần!                  

 

       Trở lại với Trương Hựu Tân 張又新, một đối thủ chính trị từng hại cho Lý Thân suýt chút nữa thì bị chém đầu. Nhưng khi Trương Hựu Tân bị bãi quan rồi lâm nạn, ghe chìm con chết, ngỏ lời tạ lỗi, thì chẳng những Lý Thân không trả oán, mà còn mời Trương Hựu Tân đến nhà để đãi đằng. Trong bửa tiệc Trương Hựu Tân tình cờ gặp lại cô ca Kỹ mà mình đã giao tình khi làm quan ở đất Quảng Lăng hồi 20 năm trước. Nên đã xúc động mà làm bài thơ tứ tuyệt TẶNG QUẢNG LĂNG KỸ 贈廣陵妓 (Tặng nàng ca kỹ đất Quảng Lăng) :

 

              雲雨分飛二十年,   Vân vũ phân phi nhị thập niên, 

              當時求夢不曾眠。   Đương thời cầu mộng bất tằng miên.

              今來頭白重相見,   Kim lai đầu bạch trùng tương kiến,

              還上襄王玳瑁筵。   Hoàn thướng Tương Vương đại mạo diên !

   Có nghĩa :

                   Mây mưa cách biệt hai mươi năm,

                   Chưa mộng hằng mơ thổn thức lòng.

                   Đầu bạc hôm nay còn gặp lại,

                   Tương Vương tiệc rượu hết còn mong !

dcd_Daubac.JPG

Khi nàng ca kỹ ngâm nga và hát bài thơ trên theo lối Nhạc phủ, thì cả nàng và Trương Hưu Tân đều ngậm ngùi rơi lệ; và Lý Thân đã làm một cử chỉ thật đẹp là trả nàng ca kỹ năm xưa lại cho Trương Hựu Tân để hai người được đoàn tụ bên nhau. Nghĩa cử nầy của Lý Thân làm cho ta lại nhớ đến tích GƯƠNG VỠ LẠI LÀNH giữa Từ Đức Ngôn và Lạc Xương Công Chúa của thời Nam Bắc Triều.

 

      Còn về bài thơ của "Tô Châu Thứ Sử" Lưu Vũ Tích vì có tựa là "Tặng Lý Tư Không Kỹ 贈李司空妓". Có nghĩa là "Bài thơ làm riêng tặng cho nàng ca kỹ của Lý Tư Không"  Nên lại có thể hiểu như sau : 

         Thi hào LƯU VŨ TÍCH 劉禹錫(772—842)khi bị biếm làm Thứ Sử đất Tô Châu (833), Lý Thân nghe tiếng và cũng mến mộ tài văn thơ của ông, bèn mời ông đến và thiết tiệc khoản đãi. Buổi tiệc thật xa hoa với đầy đủ các sơn hào hải vị, mỹ tửu quỳnh tương, dưa ngon trái ngọt. Có một nàng ca kỹ thật đẹp ăn mặc như các cung nữ trong cung vua và lại ca múa hát khúc "Đỗ Vi Nương" trong cung đình. Lưu Vũ Tích đã choáng ngợp trước buổi tiệc qúa cao sang xa hoa nầy và bàng hoàng trước vẻ đẹp sắc nước hương trời của nàng ca kỹ, nên Ông đã xúc động mà viết bài thơ tứ tuyêt "Tặng Lý Tư Không Kỹ 贈李司空妓" (Tặng nàng ca kỹ của ông Tư Không họ Lý) với những lời lẽ ngưỡng mộ như sau :

 

                高髻雲鬟宮樣妝,    Cao kế vân hoàn cung dạng trang,

                春風一曲杜韋娘。    Xuân phong nhất khúc Đỗ Vi Nương.

                司空見慣渾閒事,    Tư Không kiến quán hồn nhàn sự,

                斷盡蘇州刺史腸。    Đoạn tận Tô Châu Thứ Sử trường !

     Có nghĩa :

                   Tóc kết cung đình mây lướt trôi,

                  "Đỗ Vi Nương" khúc hát chơi vơi.

                   Tư Không quen mắt không cho lạ,

                   Thứ Sử Tô Châu ruột đứt rồi !

dcd_doantan.JPG

 Ông là quan lớn Tư Không, đã quen sống xa hoa và nhìn ngắm các giai nhân đẹp như tiên nga, hát hay múa giỏi như thế nầy quen rồi, nên cho là chuyện bình thường không có gì là lạ cả. Nhưng đối với chức quan nhỏ nhoi Thứ Sử Tô Châu như tôi, thì đối diện với bửa tiệc cao sang và nhất là đối diện với giai nhân tuyệt sắc như thế nầy, làm cho tôi xúc cảm rung động đến như đứt từng đoạn ruột ra hết vậy (Đoạn Tận 斷盡 là Đứt hết. Đoạn tận Tô Châu Thứ Sử trường : là "Đứt hết ruột gan của Thứ Sử Tô Châu rồi!) Cho nên, sau buổi tiệc, Lý Thân cũng rất điệu nghệ và hào phóng cho kiệu hoa đưa nàng ca kỹ với "cung dạng trang"(là Trang điểm như là các cung nhân trong cung vua vậy) về với Thứ Sử Tô Châu Lưu Vũ Tích để cho ông khỏi phải đứt từng đoạn ruột nữa ! Câu thơ cuối của Lưu Vũ Tích lại làm cho ta nhớ đến một câu ca dao rất đa tình dễ thương của cô gái quê Nam bộ :

 

                            Đưa tay em bứt cọng ngò,

                    Thương anh Đứt Ruột, giả đò làm ngơ !

 

      Qua hai câu chuyện trên, ta thấy Lý Thân qủa là một thi nhân hào sảng, hào hoa phóng khoáng, mặc dù có đời sống xa hoa phóng túng. Nhưng chính cái xa hoa phóng túng của ông nên mới lần lượt tặng cả hai nàng ca kỹ tài hoa đẹp đẽ của mình cho hai người bạn thơ một cách thật hào phóng !

 

       Trở lại với "MẪN NÔNG KỲ TAM"...

       Thực ra thì bài thơ "MẪN NÔNG thứ ba" nầy trước đây đã có tên là "KHỔ TÂN NGÂM 苦辛吟" (Khúc Ngâm Cay Đắng) của VU PHẦN 于濆, tự là TỬ Y 子漪, đậu Tiến sĩ năm Hàm Thông thứ hai đời vua Đường Ý Tông (861), là một thi nhân cũng ở thời vãn Đường. Nhưng khi khai quật hang động Mạc Cao 莫高窟 (Mạc Cao Quật) ở Đôn Hoàng thì tài liệu trong Đường Triều Tàn Quyển kể lại giai thoại trên, nên bài thơ lại trở thành của Lý Thân. Vấn đề còn đang tranh cải. Nhưng...

dcd_hungdong.JPG

 Bài thơ trên dù là của tác giả nào đi nữa thì cũng nói lên được cái đời sống cơ cực của nông dân và nỗi lòng của các thi nhân ở buổi Tàn Đường đã quan tâm và cảm thông với đời sống của quần chúng nông dân trong xã hội loạn lạc nhiễu nhương của lúc bấy giờ.

 

           Hẹn bài viết tới!

 

    杜紹德

   Đỗ Chiêu Đức

DCD_hainhancach.JPG

Theo "Vân Khê Hữu Nghị 云溪友議 và Cựu Đường Thư 舊唐書 ghi chép lại : Khoảng năm Trinh Nguyên đời vua Đường Đức Tông (799), chàng thư sinh LÝ THÂN 李紳 lai kinh ứng thí đã làm hai bài thơ MẪN NÔNG 憫農 (Thương xót cho nhà nông) dâng lên cho Tập Hiền Điện Hiệu Thư Lang LỮ ÔN 呂温 để cầu tiến thân, rất được Lữ xem trọng. Hai bài thơ đó như sau :

 

                其一               Kỳ Nhất

             春種一粒粟,     Xuân chủng nhất lạp túc,

             秋收萬顆子。     Thu thâu vạn khỏa tử.

             四海無閒田,     Tứ hải vô nhàn điền,

             農夫猶餓死。     Nông phu do ngạ tử !

   Có nghĩa :

                  Mùa xuân một hạt gieo trồng,

                  Đến thu thu hoạch muôn lần nhiều hơn.

                  Khắp nơi chẳng có ruộng hoang,

                  Nông dân đói chết vẫn còn khắp nơi !

 

                 其二                    Kỳ Nhị

             鋤禾日當午,     Sừ hòa nhật đang ngọ,

             汗滴禾下土。     Hạn trích hòa hạ thổ.

             誰知盤中餐,     Thùy tri bàn trung xan,

             粒粒皆辛苦。     Lạp lạp giai tân khổ !

    Có nghĩa :

                  Cuốc cày giữa ngọ ban trưa,

                  Mồ hôi đổ xuống như mưa lúa trồng.

                  Ai người biết  cơm trong mâm,

                  Từng hạt từng hạt muôn phần đắng cay !

 

      Có học giả cho rằng bài ca dao sau đây của ta là bản phỏng dịch tuyệt vời của bài thơ MẪN NÔNG Kỳ Nhị nêu trên :

 

                  Cày đồng đang buổi ban trưa,

             Mồ hôi thánh thót như mưa ruộng cày.

                    Ai ơi, bưng bát cơm đầy,

             Dẻo thơm một hạt, đắng cay muôn phần!

      Qua hai bài thơ MẪN NÔNG nêu trên, ta thấy LÝ THÂN quả là một chàng trai có bầu nhiệt huyết, có hoài bão lo cho dân cho nước. Thấy được sự bất công của xã hội và cảm thông với đời sống khốn khó của nông dân, những người làm ra hạt lúa để nuôi sống nhân dân lại là những người bị chết đói nhiều nhất; Cho nên, phải biết trân trọng từng hạt thóc hạt gạo do nông dân cực khổ lắm, phải đổ mồ hôi sôi nước mắt mới làm ra được, như hai câu ca dao đã nhắn nhủ :

 

                      Ai ơi, bưng bát cơm đầy,

             Dẻo thơm một hạt, đắng cay muôn phần!!!

 

      Vào đời với bầu nhiệt huyết là thế, có ai ngờ rằng đến năm Nguyên Hòa Nguyên niên (806) khi Lý Thân đã thi đỗ Tiến sĩ ra làm quan, thì lại đâm ra ăn chơi trác táng, chạy theo đời sống xa hoa hưởng thụ, làm uy làm quyền, vô tình vô nghĩa. Trong Vân Khê Hữu Nghị 云溪友議 có chép lại rằng :

       

      Lý Thân khi chưa phát tích thường đến chơi nhà của một người trong họ tộc là Lý Nguyên Tướng. Vì Tướng lớn tuổi hơn, nên Thân thường gọi Tướng là "Thúc Thúc". Đến khi Thân phát tích thi đậu làm quan thì Tướng vì muốn lấy lòng Thân nên tự hạ mình xuống gọi Thân là "Huynh trưởng", tự xưng là "Tiểu đệ", nhưng Thân vẫn không vui dạ, bắt Tướng phải gọi mình bằng "Gia gia" và tự xưng là "Tôn tử"(cháu) thì mới vừa lòng. Lại một lần...

      Có người bạn họ Thôi cùng khoa Tiến sĩ với Lý Thân, nhưng chỉ là một Tuần Quan nhỏ ở Tuyên Châu Dịch Quán. Nghe Lý được thăng đến chức Tư Không, bèn khăn gói đến thăm. Khi vừa đến khách sạn, chẳng may người nhà và một thị dân tranh chấp ẩu đả nhau gây náo loạn. Lý Thân bèn xử cực hình cả hai và hạ lệnh bắt Thôi Tuần Quan trói lại mắng rằng :"Trước kia chúng ta đã từng quen biết, sao nhà ngươi đến đây mà chẳng đến bái kiến ta, còn để cho người nhà gây náo loạn là cớ làm sao ?!" Bèn hạ lệnh đánh hai mươi trượng và đày đi xứ khác, mặc cho người bạn hết lời xin lỗi giải thích cũng chẳng thèm nghe.

     Mọi người đều kháo nhau chê trách Lý Thân rằng : Người đáng bậc cha chú trong họ tộc thì kêu bằng cháu; bè bạn cũ đến thăm thì bị đánh đòn và đi đày. Dưới sự bạo hành và hà khắc của Lý Thân, một số dân chúng đã vượt qua sông Trường Giang mà đi xứ khác ở. Lại một lần nữa...

 

     Thi hào LƯU VŨ TÍCH 劉禹錫(772—842)khi bị biếm làm Thứ Sử đất Tô Châu (833), Lý Thân nghe tiếng và cũng mến mộ tài văn thơ của ông, bèn mời ông đến và thiết tiệc khoản đãi. Buổi tiệc thật xa hoa với đầy đủ các sơn hào hải vị, mỹ tửu quỳnh tương, dưa ngon trái ngọt. Các cô ca kỹ ăn mặc như các cung nữ và ca múa những điệu nhạc trong cung đình. Lưu Vũ Tích bàng hoàng ngỡ ngàng trước buổi tiệc qúa cao sang xa hoa nầy của tác giả hai bài thơ Mẫn Nông năm xưa. Trong khi dân chúng Tô Châu đang lâm vào cảnh lũ lụt đói kém khắp nơi, nên Ông đã xót xa mà viết bài thơ tứ tuyêt "Tặng Lý Tư Không Kỹ 贈李司空妓" (Tặng cô kỹ nữ của ông Tư Không họ Lý) với những lời lẽ chua chát mĩa mai như sau :

 

                高髻雲鬟宮樣妝,    Cao kế vân hoàn cung dạng trang,

                春風一曲杜韋娘。    Xuân phong nhất khúc Đỗ Vi Nương.

                司空見慣渾閒事,    Tư Không kiến quán hồn nhàn sự,

                斷盡蘇州刺史腸。    Đoạn tận Tô Châu Thứ Sử trường !

     Có nghĩa :

                   Tóc kết cung đình mây lướt trôi,

                  "Đỗ Vi Nương" khúc hát chơi vơi.

                   Tư Không quen mắt không cho lạ,

                   Thứ Sử Tô Châu ruột đứt rồi !

 

       Ông đã ăn chơi quen thói, nên cho cảnh ăn chơi trác táng xa xỉ trước mắt là chuyện bình thường, là chuyện nhàn rỗi  (hồn nhàn sự), nhưng đối với tôi, đang lúc phải cầu xin triều đình mở kho lương thực để cứu tế dân tình đang trong cơn thiên tai lũ lụt, đói kém khắp nơi, thì cảnh ăn chơi sa đọa trước mắt qủa thật làm cho con người ta phải đau lòng đứt ruột ! Sao bây giờ ông lại vô tâm thế, ông đã quên mất khi xưa mình đã từng làm hai bài thơ MẪN NÔNG  rất hay, rất có tình người, rất có tính nhân bản hay sao ?!

              

        Bài thơ trên của Thi Hào Lưu Vũ Tích còn hình thành một thành ngữ vẫn thông dụng cho đến hiện nay. Đó là bốn chữ "TƯ KHÔNG KIẾN QUÁN 司空見慣", nghĩa đen là : Quan Tư Không nhìn đã quen rồi; nghĩa bóng thường dùng để chỉ : Chuyện gì đó rất bình thường, không có gì là lạ cả; không làm cho ai đó phải trầm trồ hay ngạc nhiên gì cả ! Chuyện gì đó dù có lạ, có hiếm cở nào đi nữa, nhưng khi đã nhìn thấy nhiều lần rồi thì đều là "Tư Không Kiến Quán", là "Chuyện thường ngày ở huyện !".

 

      Lại một lần khi Lý Thân đang làm Tiết Độ Sứ ở đất Hoài Nam, lúc đó Tam nguyên Trương Hựu Tân 張又新 (một đối thủ chính trị từng hại cho Lý Thân suýt chút nữa thì bị chém đầu) bị bãi quan về quê, khi đi ngang qua địa phận của Lý Thân lại bị đắm thuyền, chết mất hai đứa con, lại sợ bị Lý Thân trả thù. Đau khổ, rối rắm và lo lắng vô cùng bèn hạ mình xuống nước viết một bức thư trần tình thật dài tạ lỗi với Lý Thân. Lý tỏ ra rất đồng tình và cảm thông cho nỗi bất hạnh của Trương, chẳng những bỏ qua những hiềm khích cũ, mà còn mời Trương đến nhà để thiết tiệc khoản đãi. Hai người cùng thù tạc như là bạn tâm giao lâu ngày vừa găp lại, nên uống đến say mèm... Chợt... 

      Trương Hựu Tân như tỉnh hẵn rượu ra vì trông thấy một ca kỹ mà Lý Thân vừa cho ra hát để giúp vui trong bữa tiệc... Thì ra đó là người yêu cũ hai mươi năm trước của Trương Hựu Tân khi ông đang làm quan ở đất Quảng Lăng, hai người yêu nhau nhưng chẳng thành quyến thuộc. Nay lại gặp mặt nhau trong hoàn cảnh trớ trêu nầy, bốn mắt nhìn nhau mà nói chẳng nên lời. Thừa lúc Lý Thân vào trong rửa mặt thay áo, Trương Hựu Tân bèn dùng ngón tay chấm vào rượu tức cảnh một bài tứ tuyệt viết lên mặt bàn như sau :

 

              雲雨分飛二十年,   Vân vũ phân phi nhị thập niên, 

              當時求夢不曾眠。   Đương thời cầu mộng bất tằng miên.

              今來頭白重相見,   Kim lai đầu bạch trùng tương kiến,

              還上襄王玳瑁筵。   Hoàn thướng Tương Vương đại mạo diên !

   Có nghĩa :

                   Mây mưa cách biệt hai mươi năm,

                   Chưa mộng hằng mơ thổn thức lòng.

                   Đầu bạc hôm nay còn gặp lại,

                   Tương Vương tiệc rượu hết còn mong !

 

      Lý Thân thay áo xong ra uống tiếp, thấy Trương Hựu Tân lộ vẻ âu sầu, bèn lệnh cho ca kỹ hát để giúp vui. Nàng ca kỹ bèn cất tiếng ngâm và hát bài thơ TẶNG QUẢNG LĂNG KỸ 贈廣陵妓 nói trên khiến cho Trương Hựu Tân và nàng cả hai cùng rơi lệ. Lý Thân hỏi biết chuyện, nên sau tiệc rượu, bèn cho người khiêng kiệu đưa nàng ca kỹ theo Trương Hựu Tân về để cùng nhau đoàn tụ.

      Qủa là một nghĩa cử cao đẹp của một thi nhân. Chẳng những không trả thù, mà còn giúp cho kẻ thù cũ được tròn mộng uyên ương. Lý Thân là như thế đó !

 

SƠ LƯỢC TIỂU SỬ LÝ THÂN :

 

     LÝ THÂN 李紳(772-846)tự là Công Thùy 公垂, người đất Hào Châu (An Huy), sau dời về Nhuận Châu, Vô Tích (Giang Tô). Con của Ô Trình Lệnh Lý Ngộ, là thi nhân, làm quan cao đến chức Tể Tướng.

     Lý Thân đậu tiến sĩ năm Nguyên Hòa nguyên niên đời Đường (806), được bổ về làm Chưởng Thư Ký cho Triết Tây Quan Sát Sứ Lý Ky. Năm sau Lý Ky mưu phản, ông can gián, nhưng không nghe, lại nhốt ông vào ngục. Lý Ky mưu phản thất bại, ông được thả và được triệu về kinh thăng chức Hiệu Thư Lang rồi Quốc Tử Trợ Giáo. Đời Đường Mục Tông lại được thăng Hàn Lâm Học Sĩ, cùng với Lý Đức Dũ và Nguyên Chẩn xưng là TAM TUẤN 三俊 (Ba người Tuấn Kiệt). Khi Đường Kính Tông tức vị, ông bị Lý Phùng Kiết, Trương Hựu Tân hãm hại, bị biếm làm Đoan Châu Tư Mã. Đầu những năm Đại Hòa đời Văn Tông (827), ông chuyển nhậm Từ Châu rồi Thọ Châu Thứ Sử. Sau thăng lên các chức vụ quan trọng như Triết Đông Quan Sát Sứ, rồi Hà Nam Doãn và Tuyên Võ Tiết Độ Sứ. Đường Võ Tông năm Hội Xương thứ 2 (842), về triều nhậm chức Trung Thư Thị Lang, đồng Trung Thư Môn Hạ Bình Chương Sự, Tể Tướng. Hai năm sau lại bị chuyển về làm Hoài Nam Tiết Độ Sứ, không lâu thời mất, hưởng thọ 75 tuổi.

      Lý Thân cùng với Nguyên Chẩn, Bạch Cư Dị giao du xướng họa rất thân mật, họ đều là thành viên của việc vận động và đề xướng ra lối thơ Tân Nhạc Phủ. Ông sáng tác 20 bài Nhạc Phủ Tân Đề (đã thất truyền). Tác phẩm nổi tiếng để đời của ông là 《Mẫn Nông nhị thủ 憫農二首》nói về đời sống cơ cực vất vả của nông dân, rất được mọi người tán thưởng và thuộc lòng. Trứ tác thì có《Truy Tích Du Thi 追昔遊詩》trong Toàn Đường Thi thu tập lại được bốn quyển.

 

      Xin được khép lại bài viết "Một Thi Nhân nhưng với hai nhân cách" ở đây.

 

          Hẹn bài viết tới !

 

   杜紹德

   Đỗ Chiêu Đức

DCD_Soduongtukiet.JPG

 SƠ ĐƯỜNG TỨ KIỆT 初唐四傑 là "VƯƠNG DƯƠNG LƯ LẠC 王楊盧駱", đó chính là VƯƠNG BỘT 王勃, DƯƠNG QUÝNH 楊炯, LƯ CHIẾU LÂN 盧照鄰 và LẠC TÂN VƯƠNG 駱賓王. Họ đều là những văn thi sĩ sống dưới thời Đường Cao Tông và Võ Hậu, họ đã bứt phá ra khỏi Cung Thể Thi của thời Lục Triều, mặc dù lúc đó có rất nhiều người chỉ trích bài bác cười chê, nhưng họ đã thành công trong việc phát triển và hoàn chỉnh thể Ngũ ngôn Luật thi trong buổi sơ Đường. Thi Thánh ĐỖ PHỦ của buổi thịnh Đường đã có thơ về họ như sau :

 

                    王楊盧駱當時體,   VƯƠNG DƯƠNG LƯ LẠC đương thời thể,

                    輕薄為文哂未休。   Khinh bạc vi văn sẩn vị hưu.

                    爾曹身與名俱滅,   Nhĩ tào thân dữ danh câu diệt,

                    不廢江河萬古流。   Bất phế giang hà vạn cổ lưu !

     Có nghĩa :

                     VƯƠNG, DƯƠNG, LƯ, LẠC, xướng thơ,

                     Những phường khinh bạc mù mờ chê bay.

                     Lũ ngươi chết chẳng còn ai...

                     Thơ kia như nước chảy hoài muôn năm !

 

       Quả nhiên, thơ văn của TỨ KIỆT như "giang hà vạn cổ lưu" chảy mãi cho đến ngày nay. Nào, ta hãy bắt đầu bằng người đứng đầu của Tứ Kiệt là VƯƠNG BỘT nhé !     

 

         Vương Bột 王勃 (650-676), tự là Tử An 子安, người đất Giáng Châu, Long Môn (tỉnh Sơn Tây ngày nay). Xuất thân trong gia đình thế gia vọng tộc, ông nội là Kinh học Đại Nho Vương Thông dưới triều Tùy Dương Đế; cha là Vương Phúc Cơ làm huyện lệnh Châu Hoan Giao Chỉ. Lên sáu tuổi đã biết làm thơ, nổi tiếng là thần đồng, thuộc làu kinh sử, 9 tuổi đã đọc Hán Thư của Nhan Thị, 10 tuổi đã thuộc làu cả Lục Kinh,  14 tuổi đoạt khôi nguyên kỳ thi đối sách của triều đình.. Nổi tiếng với thơ ngũ ngôn và biền văn.

      Tương truyền, Vương Bột có tật rất lạ là trước khi muốn viết văn thì mài sẵn tới mấy nghiên mực, và sau khi chuẩn bị giấy bút xong thì rót rượu uống liên tục cho đến khi say mèm, bèn trùm mền lại ngủ một giấc ngon lành. Đến khi thức dậy thì hưu bút viết một hơi thẳng thét từ đầu đến cuối bài văn thât hay, mà không cần phải sửa chửa hay thêm bớt một chữ nào cả. Người đời xưng tụng ông là PHÚC CẢO 腹稿.Có nghĩa là : Làm nháp ở trong bụng.  

dcd_vuongbot.JPG

Năm Vương Bột 16 tuổi trên đường đi thăm cha, hay tin Đô Đốc Diêm Bá Dư trấn nhậm Hồng Châu trùng tu Đằng Vương Các mở cuộc thi thơ văn và khoản đãi tân khách bốn phương. Chủ ý muốn khoe tài con rễ là Ngô Tử Chương, nên đã cho Chương trau chuốt sẵn một bài phú thật hay để ngày hôm đó viết lại. Bột hay tin muộn, thời may có cụ già mách cho Bột rẻ thuyền vào Chương Giang sẽ có gió giúp đưa đến Đằng Vương Các. Bột nghe theo lời, đến đêm quả có gió lớn nổi lên chỉ trong một đêm mà vượt qua gần 800 dặm đường ( có thể là nhờ gió của đêm Trùng Cửu mùng 9 tháng 9 ). Kịp lúc Đằng Vương Các vừa phát giấy bút chiêu đãi khách làng văn. Thấy Bột chỉ là một thằng bé con, Đô Đốc Diêm Bá Dư không muốn cấp giấy bút, nhưng Bột kiên quyết muốn làm văn. Diêm không tiện từ chối, bèn cho người đứng phía sau lưng Bột, hễ Bột viết được câu nào thì chép lấy dâng đến cho Diêm xem, hễ thấy không xong là tống cổ ra khỏi buổi tiệc ngay. Khi Bột mở đầu bài văn bằng câu : Nam Xương cố quận, Hồng Đô tân phủ 南昌故郡,洪都新府 (Xưa là quận Nam Xương, nay là phủ Hồng Đô), thì Diêm cười và bảo : Cũng là sáo ngữ của các thầy Đồ Nho mà thôi. Đến câu : Tinh phân Dực Chẩn, Địa tiếp Hành Lư 星分翼軫,地接衡廬 (chỉ địa thế của Đằng Vương Các : Phân chia giữa sao Dực và sao Chẩn, còn đất thì nối tiếp giữa Hành Sơn và Lư Sơn) thì Diêm lặng thinh. Lại đến câu : Vật hoa thiên bảo, long quang xạ Ngưu đẩu chi Khư. Nhân kiệt địa linh, Từ Trĩ hạ Trần Phồn chi tháp 物華天寶,龍光射牛斗之墟;人傑地靈,徐稚下陳蕃之榻 (Của đẹp báu trời, ánh long quang chiếu sao Ngưu sao Đẩu; Đất linh người giỏi, cao nhân Từ Trĩ hạ giường Trần Phồn) thì Diêm lại tỏ ra vô cùng kinh ngạc. Kịp đến câu : 

 

                            Lạc hà dữ cô vụ tề phi, thu thủy cộng trường thiên nhất sắc. 

                                            落霞與孤鶩齊飛, 秋水共長天一色 

                                            Ráng chiều cò trắng cùng bay,

                                      Long lanh thu thủy nước mây một màu

... thì ông không còn dằn được cảm xúc, vỗ bàn đứng dậy khen là tuyệt cú ! Rồi giấu nhẹm luôn bài phú làm sẵn của con rể không dám trình làng. Vương Bột nổi tiếng luôn từ đấy và bài phú Đằng Vương Các Tự 滕王閣序 của Vương Bột cũng được lưu truyền thiên cổ với các câu đã trở thành Thành Ngữ như :

 

     * Trong câu : Lão đương ích tráng, ninh di bạch thủ chi tâm 老當益壮, 寧移白首之心. Cho ta thành ngữ : LÃO ĐƯƠNG ÍCH TRÁNG 老當益壯 : Chỉ Già mà còn mạnh khỏe.

     * Trong câu : Cùng thả ích kiên bất trụy thanh vân chi chí 窮且益堅,不墮青雲之志. Cho ta thành ngữ : CÙNG THẢ ÍCH KIÊN 窮且益堅 : Có nghĩa Nghèo mà biết kiên trì phấn đấu. 

     * Trong câu : Thiên cao địa quýnh, giác vũ trụ chi vô cùng 天高地迥,覺宇宙之無窮. Cho ta thành ngữ : THIÊN CAO ĐỊA QUÝNH 天高地迥 : Chỉ Trời cao đất rộng. 

     * Trong câu : Hứng tận bi lai, thức doanh hư chi hữu số  興盡悲來,識盈虛之有數. Cho ta thành ngữ : HỨNG TẬN BI LAI 興盡悲來 : Hết vui tới buồn. 

     * Trong câu : Quan sơn nan việt, thùy bi thất lộ chi nhân 關山難越,誰悲失路之人. Cho ta thành ngữ : QUAN SAN NAN VIỆT 關山難越 : Núi non khó vượt. 

     * Trong câu : Bình thủy tương phùng tận thị tha hương chi khách 萍水相逢,盡是他鄉之客. Cho ta thành ngữ : BÌNH THỦY TƯƠNG PHÙNG 萍水相逢 : Bèo nước gặp nhau. 

     * Trong câu : Nhân kiệt địa linh, Từ Trĩ hạ Trần Phồn chi tháp 人傑地靈,徐稚下陳蕃之榻. Cho ta thành ngữ : NHÂN KIỆT ĐỊA LINH 人傑地靈 hay ĐỊA LINH NHÂN KIỆT : Cuộc đất linh thiêng thì sẽ nảy sinh ra người tuấn kiệt.

    ... và còn rất nhiều rất nhiều câu hay khác nữa !...

 

     Vì tích của Vương Bột, nên trong Tăng Quảng Hiền Văn lại có câu :

 

                  Thời lai phong tống Đằng Vương Các    時來風送滕王閣

Có nghĩa :

                Khi thời cơ đã đến rồi thì sẽ có gió đưa đến Đằng Vương Các ngay. 

     Ý của câu trên chỉ khi thời vận tốt đã đến, thì con người sẽ rất dễ dàng mà có cơ hội để phát tích về mặt tiếng tăm hay công danh sự nghiệp. Nhưng khi qua đến Việt Nam ta, thì câu nói đó lại chuyển sang ý chỉ về tình duyên thuận lợi, may mắn, mà gọi là Duyên Đằng. Như ... 

Trong Truyện Kiều để tả cuộc tình duyên thuận lợi của Hoạn Thư với Thúc Sinh, cụ Nguyễn Du cũng đã mượn tích nầy :

 

                        Duyên Đằng thuận nẽo gió đưa,

                     Cùng chàng kết tóc se tơ những ngày.

 

       Ngay cả trong Hồng Đức Quốc Âm Thi Tập với sự chủ xướng của vua Lê Thánh Tông cũng mượn từ GÁC ĐẰNG để chỉ dịp may hiếm có, cơ hội thuận lợi cho tình duyên như :

 

                       Thương nhĩ, Hồng nhan nguyền khéo lỗi,

                       Gác Đằng nhờ gió những ai vay !

 

   ... và như trong Đại Nam Quốc Sử Diễn Ca của Lê Ngô Cát và Phạm Đình Toái, bài thứ 8 tả lại mối tình giữa Công chúa Tiên Dung và Chữ Đồng Tử có câu :

 

                          Tiên-Dung gặp buổi đi chơi, 

                   Gió đưa Đằng-Các, buồm xuôi Nhị-Hà, 

 

       Hay như trong Bích Câu Kỳ Ngộ, tả lại mối tình tiên tục giữa Tú Uyên và Giáng Kiều cũng có câu :

 

                         Gác Đằng Vương mấy dặm khơi, 

                        Có duyên đành đã gió trời thổi đưa. 

 

     Cho thấy bài "Đằng Vương Các Tự" của Vương Bột ảnh hưởng rất lớn đến văn học Trung Hoa và Việt Nam ta. Cuối bài Tự lại được kết bằng một bài thơ Thất ngôn Bát cú Cách điệu với bốn câu đâu gieo vần trắc và bốn câu sau gieo vần bằng rất hay như sau :

 

                   滕王高閣臨江渚,     Đằng Vương cao các lâm giang chữ,

                   佩玉鳴鸞罷歌舞。     Bội ngọc minh loan bãi ca vũ.

                   畫棟朝飛南浦雲,     Họa đống triêu phi nam phố vân,

                   珠簾暮卷西山雨。     Châu liêm mộ quyển tây sơn vũ.

                   閒雲潭影日悠悠,     Nhàn vân đàm ảnh nhật du du,

                   物換星移幾度秋。     Nhật hoán tinh di kỷ độ thu.

                   閣中帝子今何在?     Các trung đế tử kim hà tại?

                   檻外長江空自流。     Hạm ngoại Trường Giang không tự lưu !

Gác Đằng sừng sửng bờ xa,

                   Rộn ràng ngọc chuốc sanh ca đã dừng.

                   Bờ nam mây sớm ngập ngừng,

                   Rèm châu cao cuốn bâng khuâng nắng chiều.

                   Bóng mây đầm nước đìu hiu,

                   Sao dời vật đổi đã nhiều thu qua.

                   Vua tôi trong gác đâu ta ?

                   Trường Giang ngoài mái là đà chảy xuôi !

 

        Thật là cảm khái ! Trải biết bao vật đổi sao dời, tang thương biến đổi, Đằng Vương Các vẫn đứng sừng sửng ở ven sông, nhưng Đằng Vương giờ ở nơi đâu ? Cảnh cũ vẫn còn đây mà người xưa đà vắng bóng. 

        

       Vương Bột, vốn xuất thân là con nhà gia thế của đất bắc, tuổi trẻ tài cao, nên khi đoạt khôi nguyên kỳ thi đối sách của triều đình thì được Bái Vương Lý Hiền vời vào phủ để thị độc (đứng hầu để chỉ điểm cho thái tử học hành, như là một teacher assistant) rất được tin dùng. Nhưng vì làm bài "Hịch Anh Vương Kê 檄英王雞" để trách đùa con gà chọi của Anh Vương, cũng là một thái tử con của vua Cao Tông, khi hai anh em cùng chọi gà chơi với nhau. Vua Cao Tông nổi giận, cho là Vương Bột ỷ tài làm lếu, châm biếm và đụng chạm đến người của hoàng tộc, nên sai trục xuất ra khỏi phủ. Bột thất chí buồn tình, bèn đi chu du nhiều nơi ở phương nam. Khi đến đất Thục, lại nhằm lúc xuân về, vốn dĩ muốn mượn cảnh trí thiên nhiên hùng vĩ của núi sông đất Thục để tiêu sầu, nhưng lòng quê nhớ về đất bắc vẫn canh cánh khôn nguôi nên mới làm bài thơ "Ký Xuân 羈春" (KÝ là Ở lại, giữ lại. Nên KÝ XUÂN có nghĩa là "Xuân đến mà vẫn phải ở lại nơi đất khách) để giải tỏa nỗi lòng :

 

                        客心千里倦,   Khách tâm thiên lý quyện,

                        春事一朝歸.   Xuân sự nhất triêu quy.

                        還傷北園里,   Hoàn thương bắc viên lý,

                        重見落花飛.   Trùng kiến lạc hoa phi ?

 

      Trên bước đường ngàn dặm, lòng người khách tha hương đã mỏi mê chán ngán rồi. Trước mắt lại thấy cảnh trí của mùa xuân ập về nên lòng lại càng muốn về ngay quê nhà. Cảnh quê xưa ở phương bắc còn để lại nhiều thương cảm ở trong lòng, không biết đến bao giờ mới thấy lại được cảnh hoa rụng bay lả tả ở quê nhà đây :

 

                        Ngàn dặm lòng quê mòn mõi,

                        Xuân về một sớm nhớ thay,

                        Đất bắc quê xưa trông ngóng,

                        Bao giờ thấy lại hoa bay ?!    

 

      Vương Bột còn nổi tiếng với các bài Ngũ ngôn Tứ tuyệt, như bài "Tư Quy 思歸" tràn ngập đầy hình ảnh lá vàng của mùa thu dưới đây :

 

                 長江悲已滯,      Trường Giang bi dĩ trệ,

                 萬里念將歸。     Vạn lý niệm tương quy. 

                 況屬高風晚,      Huống thuộc cao phong vãn, 

                 山山紅葉飛。     Sơn sơn hồng diệp phi.

                           王勃                            Vương Bột 

    Có nghĩa :

                      Trường Giang sầu nước lửng,

                      Muôn dặm muốn về ngang.

                      Núi cao ngăn quê cũ ,

                      Non non rụng lá vàng !

   

     Hai câu cuối của bài thơ còn có một dị bàn là :

 

                    Huống PHỤC cao SƠN VIỄN,       況復高山遠,  

                    Sơn sơn HOÀNG diệp phi.           山山黃葉飛。

 

   * HUỐNG THUỘC hay HUỐNG PHỤC gì đều có nghĩa là : Hơn nữa, Vả lại...

   * CAO PHONG VÃN : là Gió thu trên cao thổi vi vút vào buổi chiều tối, còn ...

   * CAO SƠN VIỄN : là Núi cao chập chùng xa xăm diệu dợi.

   * HỒNG DIỆP hay HOÀNG DIỆP gì cũng đều là lá mùa thu, và cũng đều nên thơ cả ! Có điều, người Việt ta thì hay dùng "Lá Vàng" để chỉ mùa thu, còn người Hoa thì hay dùng "Lá Đỏ", vì họ có nhiều rừng phong đỏ thắm lúc thu về, còn ta thì lại có :

                                                Lá VÀNG trước gió sẻ đưa vèo ! ...

  hoặc thi vị hơn như Tản Đà :

                                           Trận gió thu phong cuốn lá VÀNG,

                                           Lá bay hàng xóm lá bay sang....

Lại diễn Nôm:

 Trường Giang nước đọng lòng sầu,

                     Xa nhà muôn dặm mấy thâu muốn về.

                     Núi cao ngăn cách làng quê,

                     Ngàn non lá đổ tái tê lòng sầu !   

                                              

         Nhưng nổi tiếng nhất là bài "Tống Đỗ Thiếu Phủ Chi Nhậm Thục Xuyên 送杜少府之任蜀川", có những câu thơ bất hủ cũng hình thành những thành ngữ dược thông dụng cho đến hiện nay, tiêu biểu như hai câu thơ sau đây :

 

                         海內存知己,   Hải nội tồn tri kỷ,

                         天崖若比臨。   Thiên nhai nhược tỉ lân.

 Có nghĩa :

               Trong vòng tứ hải mà có được một người tri kỷ, thì... Dù cho có xa xôi tận chân trời góc biển thì cũng như là ở sát vách với nhau vậy.

 

                                   Thế gian có một tri âm,

                          Chân trời góc biển cũng gần bên nhau.

 Cả bài thơ như sau :

 

                      城闕輔三秦,    Thành khuyết phó tam Tần,

                      風煙望五津。    Phong yên vọng ngũ tân.

                      與君離別意,    Dữ quân ly biệt ý,

                      同是宦遊人。    Đồng thị hoạn du nhân.

                      海內存知己,    Hải nội tồn tri kỷ,

                      天涯若比鄰。    Thiên nhai nhược tỉ lân.

                      無爲在歧路,    Vô vi tại kỳ lộ,

                      兒女共沾巾。    Nhi nữ cộng triêm cân.

      Có nghĩa :

                     Tam Tần phủ lấy Trường An

                     Mịt mờ sương khói mơ màng Ngũ Tân.

                     Chia tay ly biệt phân vân,

                     Cùng là hoạn lộ phong trần đồng tâm.

                     Bốn bể có được tri âm,

                     Chân trời góc biển như gần bên nhau.

                     Phân kỳ lưu luyến biết bao,

                     Đừng như nhi nữ lệ trào ướt khăn !   

                      

       Đường Lân Đức Nguyên niên (664), Vương Bột dâng thư cho hữu Thừa tướng Lưu Tường Đạo, Đạo kinh ngạc vì văn tài của Bột, nên tiến cử cho triều đình, được phong là Triều Tán Lang. Nhưng tính của Bột hay ỷ tài ngạo mạn, thường đắc tội với những người chung quanh; sau đó Bột lại nhậm chức Tham Quân ở Hoắc Châu. Trong khoảng thời gian nầy, Bột lại che dấu cho một tội nô là Tào Đạt. Chuyện lỡ vỡ, Bột sợ tội giết Tào Đạt, nên bị khép tội chết vì "giết quan nô của triều đình". Cha của Vương Bột cũng vì thế mà bị biếm đi làm Huyện Lệnh ở tận đất Giao Chỉ. Chẳng bao lâu, gặp dịp đại xá, Bột được tha tội chết chỉ tước đi quan chức mà thôi. 

      Tài hoa mệnh bạc, năm Đường Thượng Nguyên thứ 2 (675), Vương Bột 26 tuổi trên đường đi đến Giao Chỉ thăm cha. Năm sau, trên đường về, Vương Bột đã bị đắm thuyền và chết đuối trên dòng Chương Giang khi mới có 27 tuổi. Tương truyền, vì Vương chết trẻ nên rất thiêng, trên khúc sông Chương Giang nơi ông chết đuối, cứ vào khoảng đêm khuya canh vắng, người ta thường nghe văng vẳng tiếng ngâm hai câu trong bài Tự Đằng Vương Các bất hủ của ông là  :

 

                  ... 落霞與孤骛齐飞,   Lạc hà dữ cô vụ tề phi, 

                      秋水共长天一色.   Thu thuỷ cộng trường thiên nhất sắc...

 

      Sứ thần Hồ Tông Thốc 胡宗鷟 đời Trần Nghệ Tông của Việt Nam ta, trong dịp đi sứ Trung quốc, một buổi chiều tà, nhân chèo thuyền dạo chơi trên khúc sông Chương Giang nơi Vương Bột chết đuối, được nhân dân địa phương kể cho nghe câu chuyện nói trên, Hồ Tông Thốc nghe xong, bèn ra đứng ở mũi thuyền nói to lên rằng: 

 

                      何必"與 共"二字 !?   Hà tất "Dữ Cộng" nhị tự !?

Có nghĩa : 

               Sao lại phải dùng hai chữ DỮ 與 và CỘNG 共 (Với và Cùng) vậy !? 

 

     Mọi người hỏi tại sao, thì Hồ Tông Thốc giải thích rằng: 

     Hai câu văn tuy hay, song thừa hai chữ Dữ 與 và Cộng 共, vì đã nói "tề phi" (cùng bay) thì mặc nhiên là có ý Dữ 與 (Với) trong đó rồi; đã nói "nhất sắc" (một màu) thì mặc nhiên là có ý Cộng 共 (Cùng) trong đó rồi! Nên, hai câu trên nên sửa lại như sau: 

 

                      落霞孤骛齐飞,   Lạc hà cô vụ tề phi,

                      秋水长天一色.   Thu thuỷ trường thiên nhất sắc. 

 

        Mọi người nghe nói, đều phục ông bắt bẻ có lý, và hai câu của ông tuy về mặt âm hưởng không bằng hai câu của Vương Bột, nhưng về mặt văn tự thì quả có gọn ghẽ và hàm súc hơn. 

        Rôi từ đó, trên khúc sông ấy, người ta không còn nghe tiếng ngâm thơ của oan hồn thi nhân họ Vương nữa.                           

 

        Thật ra, hai câu văn tuyệt tác đó cũng không phải là do Vương Bột hoàn toàn nghĩ ra, mà đã mượn lời và ý trong bài "Tam Nguyệt Tam Nhật Hoa Lâm Viên Mã Xạ Phú 三月三日華林園馬射賦" của Dữu Tín 庾信 người đời Bắc Chu 北周 (thời Lục Triều). Trong bài phú của Dữu Tín có hai câu tả cảnh du xuân như sau :

 

                   落花與芝蓋同飛,  Lạc hoa dữ chi cái đồng phi,

                   楊柳共春旗一色.   Dương liễu cộng xuân kỳ nhất sắc.

Có nghĩa :

               Hoa rụng cùng bay phất phới với rèm xe,

               Hàng dương liễu cùng cờ xuân xanh xanh một màu.

 

      Hai câu tả cảnh mùa xuân nêu trên, tuy hay nhưng ít người biết tới, vì chưa thật xuất sắc, kịp đến khi Vương Bột vận dụng hai câu trên để tả cảnh mùa thu trong bài Đằng Vương Các Tự thì mới trở thành bất hủ và lưu danh thiên cổ ! Hễ nhắc đến Vương Bột là người ta nghĩ ngay đến bài phú Đằng Vương Các Tự, và hễ nhắc tới Đằng Vương Các Tự thì người ta cũng nghĩ ngay đến hai câu tả cảnh mùa thu bất hủ nầy :

                    

                Lạc hà dữ cô vụ tề phi,                       落霞與孤鶩齊飛,

                Thu thủy cộng trường thiên nhất sắc.  秋水共長天一色.

Có nghĩa :

                    Ráng chiều cò trắng cùng bay, 

              Long lanh thu thủy nước mây một màu.

 

      Sau khi Vương Bột chết, rất nhiều ngư phủ và những người sống trên vùng sông nước miền nam đã tưởng nhớ tôn xưng ông là "Thủy Tiên Vương" và thờ phượng ở trên thuyền, trên bến nước bên bờ sông. Hiện nay ở huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An của Việt Nam ta vẫn còn mộ và đền thờ Vương Bột..

 

 

        杜紹德

    Đỗ Chiêu Đức

dcd_104.JPG

  TỰA CỬA chữ Nho là Ỷ MÔN 倚門 hay Ỷ LƯ 倚閭 : Chỉ Cha mẹ mong ngóng con cái. Theo《Chiến Quốc sách 戰國策· Tề Sách Lục 齊策六》có ghi lại truyện sau đây :

     Vương Tôn Giả 王孫賈 là Đại phu của nước Tề thời Chiến Quốc. Năm 15 tuổi ông đã theo phò Tề Mẫn Vương. Tề Vương là người rất kiêu ngạo, nên chư hầu đều bất mãn. Nước Yên bèn họp với các nước Triệu, Ngụy, Hàn, Tần đem binh đánh Tề. Tề vương bèn cầu cứu với nước Sở. Sở sai đại tướng Náo Xỉ đem binh tiếp viện; nào ngờ Náo Xỉ cấu kết với nước Yên thừa cơ giết chết vua Tề. Trong cơn binh biến Vương Tôn Giả thất lạc với vua Tề, bèn chạy về nhà. Bà mẹ thấy con về rất giận mà mắng rằng :"Mỗi sáng con đi, mẹ đều tựa cửa ngóng trông con về. Đến tối con vẫn chưa về thì mẹ lại ra tựa trước cổng nhà để ngóng con về. Nhưng nay con theo phò vua, vua bị lạc mất, con không tìm vua mà còn dám vác mặt về đây gặp ta được sao !?" Vương Tôn Giả cả thẹn, bèn đi tìm Tề Mẫn Vương. Khi nghe tin Vương đã mất, bèn hô hào các dũng sĩ nước Tề, tập họp lại hơn được 400 trăm người cùng kéo nhau đi tìm và giết chết tướng Náo Xỉ của nước Sở.  

     Do tích trên, nên hình thành thành ngữ "Ỷ LƯ CHI VỌNG 倚閭之望", có nghĩa là "Tựa Cửa Ngóng trông"; thường dùng để chỉ cha mẹ nhớ mong ngóng trông khi con cái đi xa nhà. Như trong Truyện Kiều khi Thúy Kiều ở lầu Ngưng Bích đã nhớ về cha mẹ với câu :

 

                         Xót người TỰA CỬA hôm mai,

                     Quạt nồng ấp lạnh những ai đó giờ ?!

dcd_tuacua.JPG

TƯỚC BÌNH 雀屏 là "Bình phong có vẽ hình chim khổng tước", là từ nói gọn lại của thành ngữ TƯỚC BÌNH TRÚNG TUYỂN 雀屏中選 theo như tích sau đây :

      Vào thời Nam Bắc Triều của Trung Hoa, một trong những nước của Bắc Triều là Bắc Chu 北周 (557-581) có một đại thần tên là Đậu Nghị 竇毅, người đất Hàm Dương (Thiểm Tây) được phong hiệu là Thần Võ Quận Công. Đâu Nghị có một cô con gái tài mạo song toàn, cầm kỳ thi họa mỗi thứ đều tinh thông; nên ông không muốn gả con cho những kẻ tầm thường theo mai mối; ông muốn chọn một chàng rễ thật sự có tài, bèn cho thợ vẽ hai con khổng tước (con Công) lên trên bức bình phong trước nhà và ra thông cáo rằng : Hễ chàng trai nào cùng lúc dùng 2 tên bắn trúng vào 2 con mắt của 2 con khổng tước thì ông sẽ gả con gái cho. Rất nhiều vương tôn công tử đến xin bắn thử đều không cùng lúc trúng đích. Lúc đó Đường Cao Tổ Lý Uyên 唐高祖李渊 còn là một bạch y tú sĩ, đã phát 2 tên cùng trúng vào 2 mắt của chim công; nên được Đậu Nghị gả Đậu tiểu thơ cho chàng; bà chính là Thái Mục Hoàng Hậu 太穆皇后 sau nầy khi Lý Uyên Đường Cao Tổ lên ngôi nhà Đường. 

     Nên "Tước Bình Trúng Tuyển 雀屏中選" là "Trúng tuyển được làm rể vì bắn chim khổng tước trên bình phong" và một thành ngữ tương cận nữa là "Xạ Bình Đắc Ngẫu 射屏得偶" là "Vì bắn vào bình phong mà có được người phối ngẫu". Trong truyện thơ Nôm khuyết danh Phương Hoa - Lưu Nữ Tướng có câu :

 

                         Có chi mà dám Châu Trần,

                Mà đem gương ngọc vào sân TƯỚC BÌNH.

 

     Trong "Sơ Kính Tân Trang" của Chiêu Lỳ Phạm Thái thì gọi là RẠNG BÌNH XẠ TƯỚC với hai câu sau :

 

                     Nguyện lòng này với lửa hương,

                RẠNG BÌNH XẠ TƯỚC níu giường thừa long.

 

     Nhưng vì chữ TƯỚC 雀 khi được ghép với chữ Khổng là KHỔNG TƯỚC 孔雀 thì là con Công; nhưng khi được ghép với chữ Hoàng thành HOÀNG TƯỚC 黃雀 thì là con chim Sẻ. Nên XẠ TƯỚC 射雀 còn được hiểu lệch đi là "Bắn Sẻ" như trong Cung Oán Ngâm Khúc của Ôn Như Hầu Nguyễn Gia Thiều khi tả sắc đẹp của nàng cung nữ cũng đã có câu :

 

                   Làng cung kiếm rắp ranh BẮN SẺ,

                   Khách công hầu gấm ghé mong sao. 

 

      Nhưng BẮN CÔNG hay BẮN SẺ gì đều có nghĩa là "việc đua tài trong một cuộc kén rể qúy, rể hiền ngày xưa" mà thôi.

dcd_banse.JPG

TƯƠNG GIANG 湘江 là Sông Tương; còn có tên là Tương Thủy 湘水, là một nhánh lớn của sông Trường Giang chảy qua Quảng Tây, Hồ Nam, Trường Sa rồi đổ vào Động Đình Hồ. Tương truyền khi vua Thuấn đi tuần ở miền Nam, ngã bệnh và mất ở đất Thương Ngô. Hai bà Nga Hoàng và Nữ Anh đi tìm chồng và cùng tự trầm ở dòng sông Tương nầy. Trong một khúc cổ cầm có tựa là Tương Giang Oán 湘江怨 với lời từ của Lương Ý Nương 梁意娘, một nữ sĩ Hậu Chu đời Ngũ Đại ở đất Hồ Nam, trong đó nổi tiếng với các câu :

 

                   君在湘江頭,  Quân tại Tương Giang đầu,

                   妾在湘江尾。  Thiếp tại Tương Giang vĩ.

                   相思不相見,  Tương tư bất tương kiến,

                   淚滴湘江水。  Lệ trích Tương Giang thủy !

    Có nghĩa :

               Chàng ở đầu sông Tương,

               Thiếp ở cuối sông Tương.

               Nhớ nhau mà chẳng gặp được nhau,

               Giọt lệ nhớ thương cùng nhỏ xuống dòng sông Tương !

 

      Một dị bản của câu cuối là :

 

                   同飲湘江水。  Đồng ẩm Tương Giang thủy.

 

      Có nghĩa là : Cùng uống nước của dòng sông Tương.

 

      SÔNG TƯƠNG hay TƯƠNG GIANG thường dùng để nói lên sự mơ ước nhớ nhung mến thương của lứa đôi, trai gái, người yêu, chồng vợ. Như sau khi trao đổi tín vật và hứa hẹn đá vàng thủy chung với nhau thì Kim Trọng và Thúy Kiều càng tưởng nhớ đến nhau hơn :

 

                       Từ phen đá biết tuổi vàng,

                Tình càng thắm thía dạ càng ngẩn ngơ.

                    SÔNG TƯƠNG một dải nông sờ,

                 Bên trông đầu nọ, bên chờ cuối kia ! 

 

     Còn trong truyện Phương Hoa - Lưu Nữ Tướng thì có câu :

 

                    Ve gầy vẳng tiếng cầm xoang,

               Hành Sơn nhạn liệng, TƯƠNG GIANG cá chìm.

dcd_tuonggiang.JPG

Mãi cho đến hiện nay, SÔNG TƯƠNG vẫn còn là dòng sông tương tư thương nhớ của văn nhân thi sĩ và cả nhạc sĩ nữa. Khoảng thập niên năm mươi của Thế kỷ trước, giới thanh niên tuổi trẻ ai mà không biết đến bản nhạc "Ai Về SÔNG TƯƠNG" của nhạc sĩ Thông Đạt. Cho đến hiện nay giới ca nhạc trong nước cũng như hải ngoại vẫn còn hát mãi "Ai có về bên bến SÔNG TƯƠNG, nhắn người duyên dáng tôi thương...."

Ngoài ra, ta còn gặp các điển :

 

     - TƯƠNG PHI 湘妃 chỉ hai bà phi vợ của vua Thuấn là Nga Hoàng và Nữ Anh. Như trong truyện thơ Nôm Tây Sương Ký có câu :

 

                      Hay là quyến luyến lòng trần,

                 TƯƠNG PHI dắt díu, Lạc Thần đi đêm.

 

     Khi vua Thuấn mất ở cánh đồng Thương Ngô bên bờ sông Tương, hai bà phi đã khóc đến nước mắt chảy thành máu vẫy đầy lên trên những cây trúc xanh ở quanh nơi đó thành các đóm đỏ sậm màu. Loại trúc có đốm nầy rất đẹp và qúy, gọi là Tương Phi Trúc 湘妃竹. Nên RÈM TƯƠNG là loại rèm được làm bằng trúc Tương Phi, ý chỉ rèm qúy của các gia đình quyền quý giàu sang, như trong Bích Câu Kỳ Ngộ tả lúc Tú Uyên và Giáng Kiều cùng nhau uống rượu giao bôi :

 

                      Phòng tiêu dìu dặt chén đồng,

               RÈM TƯƠNG rủ thấp, trướng hồng treo cao.

 

       Còn trong Truyện Kiều cụ Nguyễn Du lại gọi là MÀNH TƯƠNG để tả lúc Kim Trọng tương tư Thúy Kiều :

 

                    MÀNH TƯƠNG phân phất gió đàn,

                Hương gây mùi nhớ trà khan giọng tình.

 

     - TƯƠNG PHỐ 湘浦 : PHỐ là bến sông; nên TƯƠNG PHỐ là "Bên bến sông Tương". Sông TƯƠNG là dòng sông thương nhớ của hai bà phi khóc chồng; Có lẽ vì thế mà nữ sĩ Đỗ Thị Đàm, một thi nhân thời Tiền Chiến, vì làm thơ khóc chồng nên đã lấy bút hiệu là TƯƠNG PHỐ chăng !?. Tương Phố trong văn học cổ thường được dùng để chỉ "bên bờ sông thương nhớ" như nàng chinh phụ trong Chinh Phụ Ngâm Khúc của nữ sĩ Đoàn Thị Điểm đã luôn luôn thương nhớ đến chồng đang dấn thân vào miền gió cát chiến chinh :

 

                  Tìm chàng thuở Dương Đài lối cũ,

                  Gặp chàng nơi TƯƠNG PHỐ bến xưa... 

dcd_3.JPG

TƯỜNG ĐÀO NGÕ MẬN là "Trong tường trồng cây Đào, ngoài ngõ trồng cây Mận". MẬN chữ Nho là LÝ 李; nên ĐÀO MẬN là ĐÀO LÝ 桃李, là hai loại trái cây qúy, không có vỏ cứng lại dòn ngọt thanh thanh, nên được ví như là phần tử xuất sắc, giỏi giang, là con ngoan trò giỏi, là nhân tài trong xã hội, như câu nói trong "Ấu Học Quỳnh Lâm 幼學瓊林" về Khổng Tử : "Hiền nhân thất thập, đệ tử tam thiên. Đào Lý tại công môn, xưng nhân đệ tử chi đa ... 賢人七十,弟子三千。桃李在公門,稱人弟子之多..." Có nghĩa : Người hiền tài có bảy mươi người trong số ba ngàn đệ tử. Những người ƯU TÚ (Đào Lý) đều làm quan, được xưng tụng là đệ tử nhiều hơn những người khác...

      Trong Truyện Kiều lúc quan Phủ gia hình cho người đánh Thúy Kiều ở công môn, cụ Nguyễn Du đã hạ câu :

 

                       Tiếc thay ĐÀO LÝ một cành,

                 Một phen mưa gió tan tành một phen !

 

      Trong truyện thơ Nôm "Lâm Tuyền Kỳ Ngộ" (Bạch Viên Tôn Các) thì có câu :

 

                   Cửa chen ĐÀO LÝ người sum họp,

                   Nhà chật trân châu của đãi đằng.   

 

      Trong "Cung Oán Ngâm Khúc" của Ôn Như Hầu Nguyễn Gia Thiều thì có câu :

 

                   Sân ĐÀO LÝ mây lồng man mác,

                   Nền đỉnh chung nguyệt gác mơ màng.

 

      Còn trong thơ của cụ Nguyễn Trãi thì sử dụng "Tường Đào Ngõ Mận":

 

                   Ngày tháng kê khoai những sản hằng,

                   TƯỜNG ĐÀO NGÕ MẬN ngại thung thăng.

dcd_tuongdao.JPG

 TƯƠNG TIẾN TỬU  將進酒 : TƯƠNG 將 là Sắp, là Sẽ; ở đây có nghĩa là Mời; TIẾN TỬU 進酒 là Đưa rượu vào (bụng), nên TƯƠNG TIẾN TỬU có nghĩa là "Mời Uống Rượu; Mời Cạn Ly". Đây là tên khúc hát thứ 9 trong "Hán Cổ Xuy Nhiểu Ca thập bát khúc 漢鼓吹鐃歌十八曲". 

      Đầu năm Thiên Bảo đời Đường Huyền Tông, Lý Bạch được triệu vào cung để giữ chức Hàn Lâm Học Sĩ, nhưng vì không chịu xu phụ quyền thế, nên bị các quan đương quyền bài xích. Đến năm Thiên Bảo thứ 3 (CN 744) Đường Huyền Tông đành phải "Tứ Kim Phóng Hoàn 赐金放还" (tặng vàng cho về quê). Lý Bạch trong lòng phiền muộn nên cứ nấn ná mãi ở miền sông nước Giang Hoài, kết giao với một bạn rượu mới là Sầm Huân 岑勛(岑夫子 Sầm Phu Tử)cùng rủ nhau du ngoạn Tung Sơn để hội ngộ với một người bạn khác là Nguyên Đan Khâu 元丹丘 ở Dĩnh Dương Sơn. Cả ba cùng đăng cao bày tiệc rượu trên núi để uống cho thỏa thích và để giải toả nỗi lòng ẩn ức vì chính trường thất ý, hoài bão không thực hiện được nên mượn rượu để giải sầu và để bày tỏ ý chí, sự bất bình ở trong lòng của mình. Bài thơ bất hủ TƯƠNG TIẾN TỬU đuợc làm ra trong tiệc rượu nầy.

     Cái tính khinh thế ngạo vật nầy của Thi Tiên Lý Bạch ta còn thấy được qua tính cách ngông cuồng bất phục của Chu Thần Cao Bá Quát. Cao Chu Thần cũng đã chán nản qua thế thái nhân tình và nhất là sự bát nháo của quan trường lúc bấy giờ, nên đã nhại theo cách sống của Thi Tiên Lý Bạch qua bài hát nói "Uống Rượu Tiêu Sầu" là :

 

             ...Gõ nhịp lấy, đọc câu “TƯƠNG TIẾN TỬU”:

                    “Quân bất kiến:

                     Hoàng Hà chi thuỷ thiên thượng lai,

                     Bôn lưu đáo hải bất phục hồi.”

                     Làm chi cho mệt một đời !

        (Mời đọc bài "Tương Tiến Tửu của Lý Bạch" trong phần Góc Đường Thi)

Hẹn bài viết tới :

                               THẢ, THẠCH, THÁI, THAM, THANG.

 

   杜紹德

   Đỗ Chiêu Đức

đcd_tuongtientuu.JPG
DCD_TungTuoi.JPG

 TÙNG 松 là TÙNG BÁCH 松柏, còn đọc là TÒNG BÁ, là loại cây cao bóng cả và xanh tốt quanh năm, QUÂN 筠 là một loại tre to, đốt thẳng, có màu xanh tươi quanh năm; nên TÙNG QUÂN 松筠 thường được dùng để chỉ những người có uy tín lớn, có chức có quyền, có thế lực, có thể che chở, giúp đỡ hay bảo bọc cho người khác. Khi đưa tiễn Thúy Kiều đi theo Mã Giám Sinh, Thúc Ông đã ví họ Mã như một chính nhân quân tử mà nhờ thương yêu che chở cho phận liễu yếu đào tơ của Thúy Kiều bằng câu tâng bốc họ Mã là :

 

                 Nghìn tầm nhờ bóng TÙNG QUÂN

             Tuyết sương che chở cho thân cát đằng !

 

      Ngoài ra, QUÂN 筠 còn là từ thế thân cho TRÚC 竹 là Tre : Như Quân Song 筠窗 là Cửa sổ bằng tre; Quân Liêm 筠簾 là Bức rèm bằng tre; Quân Tịch 筠席 là Chiếu bằng tre; Quân Sàng 筠床 là Giường bằng tre...   

 

     TÙNG CÚC có hai nghĩa : 

       * TÙNG CÚC 松菊 là Cây Tùng và Hoa Cúc. Trong bài "Quy Khứ lai Từ 歸去來辭" của ẩn sĩ cao khiết Đào Uyên Minh 陶淵明 đời Tấn có câu :

 

             三徑就荒,松菊猶存。 Tam kính tựu hoang, TÙNG CÚC do tồn.

Có nghĩa :

       Ba luống đất đều hoang phế, chỉ có cây tùng và hoa cúc là còn mà thôi.

       Ý muốn nói những thứ dẽo dai bất khuất như cây tùng, đẹp đẽ cao khiết như hoa cúc thì vẫn luôn còn tồn tại mặc cho đất đai có bị bỏ hoang, như kẻ sĩ cao nhã vẫn luôn vui thú điền viên mặc dù sống trong cảnh bần hàn. 

      Trong "Quốc Âm Thi Tập" của Nguyễn Trãi, bài "Ngôn Chí thứ 15 (Am Cao Thấp)" có bốn câu cuối như sau :

 

                   Phần du lẽo đẽo thương quê cũ,

                   TÙNG CÚC bù trì nhớ việc hằng.

                   Một phút thanh nhàn trong thuở ấy,

                   Thiên kim ước đổi được hay chăng.  

 

      * TÙNG CÚC 叢菊 : là Một khóm hoa cúc, là Một bụi hoa cúc. Như trong hai câu luận trong bài "Thu Hứng thứ nhất" của Thi Thánh Đỗ Phủ là :

 

               叢菊兩開他日淚,   TÙNG CÚC lưỡng khai tha nhật lệ,

               孤舟一繫故園心.   Cô chu nhất hệ cố viên tâm.

   Có nghĩa :

              (Trên bước đường lưu lạc)... Hai lần cúc nở là hai lần khơi dậy dòng lệ sầu của những ngày tháng cũ; Cột chặc chiếc thuyền nan phiêu bạc như cột chặc lòng ta luôn nhớ đến quê hương.

 

                     Hai lần cúc nở khơi dòng lệ,

                     Một chiếc thuyền neo gợi nhớ nhà.

 

     TÙNG LĨNH 松嶺 : là Đỉnh núi có nhiều cây thông. Theo "Thuật Dị Ký 述異記" của  Nhậm Phưởng 任昉 đời Tây Tấn : Có tiều phu tên là Vương Chất 王質 lên trên "tùng lĩnh" để hái củi, tình cờ phát hiện một hang đá, bèn lần mò đi vào sâu bên trong. Bỗng trời đất như sáng ra, bên trong động dưới gốc cây tùng có hai tiên đồng đang ngồi đánh cờ. Hiếy kỳ Vương Chất bèn đặt búa xuống đất ngồi xem  cờ. Thấy hai tiên đồng đi những nước cờ tiên thật hay nên cứ mãi mê xem. Hai tiên đồng chẳng nói gì, thỉnh thoảng lấy trái đào trái táo lên ăn, lại mời cả Vương Chất cùng ăn nữa. Khi ván cờ đánh xong thì Vương Chất cầm cây búa đứng lên định đi về, nào ngờ cán búa đã mục nát, chỉ còn có lưỡi búa mà thôi. Khi về đến thôn làng thì thấy toàn người lạ, không có ai quen mặt cả; tìm nhà cũ cũng không thấy. Hỏi thăm bà con lối xóm về cha mẹ mình, thì có người già cho biết là đã chết hơn trăm năm rồi.

     Trong "Sơ Kính Tân Trang" của Chiêu Lỳ Phạm Thái có hai câu sau :

 

                             Một là vui thú tiên hương,

                Thăm miền TÙNG LĨNH, tìm đường Đào Nguyên.

TUỔI HẠC chữ Nho là HẠC LINH 鶴齡 : Tuổi của con Hạc, vì Hạc là con vật nổi tiếng sống dai, lại có lông màu trắng như tóc bạc của người già. Trong các tích xưa, các tiên cô tiên ông hay cởi hạc để bay lên trời, vì thế hạc còn được gọi là Tiên Hạc, nên TUỔI HẠC thường dùng để chỉ tuổi của các cụ già, như trong Truyện Kiều khi Thúy Kiều bán mình chuộc cha đã an ủi và trấn an Vương Ông rằng :

 

                    Cỗi xuân TUỔI HẠC càng cao,

                Một cây gánh vác biết bao nhiêu cành.

 

      Còn trong truyện thơ Nôm khuyết danh Phạm Tải- Ngọc Hoa (cón có tên là Phạm Công Cúc Hoa) thì có câu :

 

                    Mẹ cha TUỔI HẠC cao vời,

                Nỡ nào con lại xa chơi suối vàng !?

 

      TUỔI RÙA chữ Nho gọi là QUY LINH 龜齡, là tuổi của con rùa. Rùa cũng được xem là một động vật bò sát sống lâu, lại là một con vật trong Tứ Linh là LONG LÂN QUY PHỤNG 龍麟龜鳳. Niệt Nam ta cũng nổi tiếng với các "Cụ Rùa" ở trong Hồ Hoàn Kiếm (Hồ Gươm) với các lời thơ trong bài "Nước Tôi" của một thi sĩ Tiền chiến Nguyễn Văn Cổn như :

 

                     Mặt Hồ Gươm trăng vàng rung động,

                     Nhắc đêm xưa sóng vổ chập chùng.

                     Rùa thiêng nổi trước thuyền rồng,

                     Trên Hồ Hoàn Kiếm anh hùng là ai ?!

 

      Trong "Sơ Kính Tân Trang" của Chiêu Lỳ Phạm Thái có câu :

 

                      Đã ngoài sáu dật QUY LINH,

                Phương đông lại rạng tiểu tinh một nàng.

      Nên...

            QUY LINH hay TUỔI RÙA cũng đều chỉ TUỔI THỌ, chỉ sống lâu, sống thọ. Trong tác phẩm thơ Nôm khuyết danh "Lâm Tuyền Kỳ Ngộ" (còn có tên là Bạch Viên Tôn Các) có câu :

 

                     Minh Ngọc vóc vàng tiên dưới động,

                     TUỔI RÙA tóc bạc báu trên đời.

      TƯ MÃ PHƯỢNG CẦU 司馬鳳求 là Tư Mã Tương Như 司馬相如 đàn khúc "Phượng cầu kỳ Hoàng 鳳求其凰" để đánh động lòng của nàng góa phụ Trác Văn Quân 卓文君 (Xem Thành Ngữ Điển Tích 84 : Phù, Phương, Phượng). Trong Truyện Kiều, khi tả tiếng đàn của Thúy Kiều đàn cho Kim Trọng nghe, cụ Nguyễn Du cũng đã mượn ý của khúc đàn nầy với câu :

 

      Khúc đâu TƯ MÃ PHƯỢNG CẦU,

  Nghe ra như oán như sầu phải chăng ?... 

 

      TƯ VĂN 斯文 : là "Cái văn minh văn hóa nầy". Có xuất xứ từ sách Luận Ngữ 論語 Tử Hãn thiên 子罕篇.Đệ ngũ chương 第五章 : Tử úy ư Khuông. viết : [Văn Vương ký một, văn bất tại tư hồ ? Thiên chi tương táng tư văn dã, hậu tử giả bất đắc dữ ư tư văn dã. Thiên chi vị táng tư văn dã, Khuông nhân kỳ như dư hà ?] 子畏於匡,曰:「文王既沒,文不在茲乎?天之將喪斯文也,後死者不得與於斯文也。天之未喪斯文也,匡人其如予何?」Có nghĩa :

     "Khổng Tử bị dân đất Khuông vây hãm, bèn trấn an học trò rằng : Vua Văn Vương tuy đã chết, nhưng văn minh văn hóa của ông cũng chẳng còn ở đây hay sao ? Nếu trời muốn diệt cái văn minh văn hóa nầy, thì kẻ hậu sinh là ta đây làm sao có được cái văn minh văn hóa nầy. Trời đã không muốn diệt thì người đất Khuông làm gì ta được nào ?". Nên...

      TƯ VĂN là cái văn minh văn hóa của đạo Nho; con người TƯ VĂN là con người nho nhã có văn học. Chấn chỉnh TƯ VĂN là chấn chỉnh NHO HỌC. Trong "Đại Nam Quốc Sử Diễn Ca của Lê Ngô Cát và Phạm Đình Toái khi nói đến vua Lê Thánh Tông đã có câu :

 

          Thánh Tông mở rộng khoa trường,

    Lập bia Tiến sĩ, trọng đường TƯ VĂN.

 

 

 

 

 

     

      TỪ PHI 徐妃 là Thứ Phi Từ Huệ của Đường Thái Tông Lý Thế Dân, theo tích sau đây :

      TỪ HUỆ 徐惠(627-650)người đất Trường Thành Hồ Châu, là cháu gái bốn đời của Từ Nguyên Hầu Từ Văn Chỉnh, là trưởng nữ của Thứ Sử Từ Hiếu Đức. Bốn tuổi bà đã thuộc Luận Ngữ và Kinh Thi, Tám tuổi đã biết làm văn. Cha của bà muốn thử tài con gái mới lấy thiên "Ly Tao 離騷" của Khuất Nguyên để bà mô phỏng theo đó mà làm bài phú "Tiểu Sơn Thiên 小山篇" rất nổi tiếng, từ đó tiếng tăm của bà lừng lẫy đương thời. Đường Thái Tông nghe tiếng mới nạp bà vào trong cung làm Tài Nhân. Từ Huệ hưu bút thành văn, tứ thi mẫn tiệp, nên rất nhanh đã thăng làm Tiệp Dư, rồi lại thăng làm Sung Dung, Thứ Phi. Bà là Phi Tần được Lý Thế Dân yêu mến nhất. Cuối năm Trinh Nguyên triều đình bận chinh phạt tứ Di, rồi lại xây cất cung điện, sưu cao thuế nặng, dân chúng lầm than. Thứ Phi Từ Huệ đã làm sớ dâng lên vua can gián và tiết chế đời sống xa hoa trong cung, lời lẽ khảng khái chân thành thẳng thắngđược nhà vua hết lời ngợi khen tán thưởng. Sau khi Đường Thái Tông mất, bà cũng ưu sầu nhuốm bệnh rồi mất theo khi mới được 24 tuổi.

      Trong truyện thơ Nôm "Lục Vân Tiên" của cụ Đồ Chiểu tả lúc Lục Vân Tiên khen tài làm thơ của Kiều Nguyệt Nga bằng câu :

 

           Đã mau mà lại thêm hay,

     Chẳng phen Tạ nữ cùng tày TỪ PHI.

 

     Còn trong tác phẩm "Sãi Vãi" của cụ Nguyễn Cư Trinh thì Bà Vãi đã tranh luận với Ông Sãi để bênh vực cho phái yếu như là :

 

       Chương gián chúa khỏi vòng vật dục, ấy là Đường TỪ HUỆ THỨ PHI;

      Thơ cứu cha khỏi bước lâm nguy, nọ như Hán Đề Oanh thiếu nữ..

 

     TỨ ĐỨC 四德 : là Bốn cái đức hạnh ngày xưa của phụ nữ theo quan niệm của Nho Gia là : ĐỨC, NGÔN, DUNG, CÔNG. Có xuất xứ từ《sách Chu Lễ, chương Thiên Quan, Nội Tễ 周礼 天官 内宰》NỘI TỄ là chức nữ quan trong cung có từ đời nhà Chu, chuyên dạy cho các cung tần mỹ nữ trong cung về Phụ Đức, Phụ Ngôn, Phụ Dung, Phụ Công 妇德, 妇言, 妇容, 妇功. Giáo dục cho người phụ nữ trước tiên là phải có phẩm hạnh đạo đức tốt (Đức), thể hiện qua lời ăn tiếng nói phải hòa nhã thích đáng (Ngôn), phải chú ý dung mạo đoan trang vén khéo (Dung), sau cùng là phải giỏi về tề gia nội trợ, tướng phu giáo tử (Công). Sang đến Việt Nam ta t