top of page
hmpg.jpg
TL_HaveANiceDay.gif

Cần xem tiết mục nào xin click vào Trang bài / webpage trong MENU dưới đây:

TRANG CHÍNH / HOME  . BÀI MỚI ĐĂNG SINH HOẠT HOUSTON, TX  .  ĐH XXIII-MARYLAND 2019  .  ĐH XXII-SAN JOSE 2018  .  ĐH XXI-HOUSTON 2017   .  SINH HOẠT CANADA  .  SINH HOẠT ÚC CHÂU  CÁC ĐẶC SAN ĐH  .  SINH HOẠT BẮC - NAM CALI SINH HOẠT VÙNG NEW ENGLAND -  SINH HOẠT VIỆT NAM - TIN SINH HOẠT CÁC NƠI  GÓC SÂN TRƯỜNG NHÀ  .  VĂN HỌC - NGHỆ THUẬT  .  VÒNG TAY NGHĨA TÌNH  .  CHIA BUỒN - CHUNG VUI  TÌM NGƯỜI - NHẮN TIN

TÁC GIẢ: Anh Tú, Cao Vị KhanhChân Diện MụcDương Hồng ThủyĐan Quế PhongĐoàn Xuân ThuĐỗ Chiêu ĐứcĐỗ Mỹ ThuậtHoàng Thị Tố LangHồ NguyễnHồ Trung ThànhHương Sơn Lê Khánh Duệ, Kim LoanKim Quang, La Thanh Khải, La Tuấn DzũngLê Cần ThơLê Dung, Lê Trúc KhanhLương Liên HoaLương Ngọc Thành, MailocMỹ Trinh, Ngô Thị Trường XuânNguyên Nhung, Nguyễn Đấu Lộc, Nguyễn Hồng Tuyền, Nguyễn Như HùngNguyễn Ngọc Tuyết, Nguyễn Thanh BìnhNguyễn Thiên Long, Nguyễn Thị Thanh Dương, Nguyễn Trung Nam, Nguyễn Văn TrườngNguyễn Vĩnh LongNgười Ô MônPhan Thượng Hải, Phạm Khắc Trí, Phạm Khắc Trí & Các Thi Hữu, Phạm Trinh CátPhương Hà, Phượng TrắngSongquang, Thái Vĩnh Thụy Biên, Thanh VũTrầm Vân, Trần Bang ThạchTrần Bá Xử, Trần Cẩm Quỳnh NhưTrần Phù Thế, Trương Nhị Kiều, Võ Thị Bạch Nữ

KL_ThoTruyenKL_pageTittle.JPG
tl_boat.jpg

   MÓN NỢ NĂM XƯA      

 

Hôm ấy, trên facebook Group của nhóm cựu thuyền/ bộ nhân ty nạn Thailand, có xuất hiện bài post của Đức, chụp hình vợ chồng Đức đang tiễn con gái tại sân bay Tân Sơn Nhất đi qua Dallas Hoa Kỳ định cư theo chồng mới cưới. Ôi, chàng Đức chung chuyến tàu của tôi. Nhiều người quen cũ vào để lại những comments chúc mừng, cũng là những người tôi biết mặt biết tên, tôi liền vào tham dự, góp vui:

-  Vậy là vài năm nữa con gái có quốc tịch Mỹ, sẽ bảo lãnh hai vợ chồng Đức qua đoàn tụ, chắc chắn sẽ có ngày chúng mình tái ngộ ở Dallas, Đức ơi!

Hắn trả lời liền:

-  Cám ơn Nàng, nhưng lần này đừng... tài lanh làm mất giỏ đồ của tui nữa nha.

-  Quỷ sứ, nhớ dai quá chừng! Tui hứa danh dự, lần tái ngộ sắp tới, sẽ mua một cái giỏ mới toanh, hàng hiệu, trả lại cho bà xã ông luôn nghen.

Hắn để icon mặt cười, rồi kết luận:

-  Ừa, Đức mong đến ngày nhận cái giỏ của Nàng lắm.

Chúng tôi gặp nhau tại bãi hẹn vượt biên, là bến xe Bà Hạt Quận 10, chuẩn bị theo nhóm dẫn đường đưa lên xe đò chạy qua biên giới Mộc Hóa Long An, rồi tiến vào đất Cambodia trực chỉ thủ đô PnomPenh. Ngồi trên xe đò, từ xa lạ cũng trở thành quen biết, cả nhóm 41 người, vì từ đây sẽ cùng chung số phận trên con đường vượt biển tìm tự do.

Tôi và ba cô con gái, cũng mới quen trong chuyến đi, cùng vài thanh niên khác, trong đó có Đức, vì hơn kém nhau 1-2 tuổi, nên thường trò chuyện đùa giỡn với nhau.

Đức có giọng hát hay, biết chơi đàn organ, vừa tốt nghiệp trường Âm Nhạc Sài Gòn, tính tình hài hước có sẵn trong máu, hầu như ở mọi tình huống, lúc buồn lúc vui, lúc gặp hiểm nguy, Đức luôn biến thành những khoảnh khắc vui cười, khiến mọi căng thẳng và nỗi sợ tan biến .

Chỉ vài ngày đầu tiên trên đất Cambodia, đi chợ, đi dạo, đi chơi, tối về khu nhà trọ “nằm vùng” chờ lệnh lên đường đi phố biển Kongpom Som, chúng tôi đã biết khá rõ về mỗi người, gia đình ra sao, hoàn cảnh thế nào, càng thân nhau hơn trong cách xưng hô, thoải mái gọi ông gọi bà xưng tui, riêng Đức có cách gọi riêng khá dễ thương, là luôn gọi đám con gái chúng tôi là Nàng.

Đêm tàu ra khơi từ Cảng Kongpom Som, trời 8 giờ tối tháng 12 mù căm, gió lạnh, cả tàu nằm dưới hầm như cá hộp, chật chội, chỉ có tài công và người thợ máy, cùng người dẫn đường của ban tổ chức được ở trên boong tàu. Suốt những ngày qua mệt mỏi nơi đất Cambodia, nay vừa lên tàu, mọi người bắt đầu tìm vào giấc ngủ trong tiếng máy chạy đều đều của con tàu. Dưới hầm tàu tối như hũ nút, nhưng bốn đứa con gái chúng tôi biết mình nằm cạnh nhóm của Đức, mạnh ai nấy ngủ, co ro trong hầm tàu chật chội. Bỗng nửa đêm tôi giật mình vì nghe tiếng là hét, lộn xộn, ồn ào:

-  Chuyện gì vậy cà?

-  Máy thoát nước của tàu bị hư, bên ngoài đang có mưa bão.

Lúc này tôi mới để ý dưới sàn tàu có nước, ba cô bạn xung quanh tôi cũng đang dáo dác hỏi tin tức từ boong tàu đưa xuống. Tình hình không mấy khả quan, thợ máy đang sửa ống thoát nước nhưng mưa gió càng mạnh hơn, lại có sấm chớp, con tàu nghiêng ngả mỗi khi nước biển và nước mưa tràn xuống hầm tàu. Mỗi lần như vậy, đàn bà con gái trong tàu rú lên, vì lạnh và vì sợ hãi.

Lúc này, có lệnh đưa ra, các thanh niên đàn ông trong tàu phải thay nhau lên boong phụ tát nước ra ngoài, dù biết đó là việc chẳng thấm thía gì so với nước mưa như thác lũ, nhưng đúng như câu “còn nước còn tát”, chứ chẳng lẽ chịu ngồi im chờ con tàu chìm xuống đáy đại dương.

Trong bóng tối mờ mờ, lúc này trời có lúc sáng lóe lên vì ánh sấm chớp và ánh đèn pin trên boong tàu thỉnh thoảng chiếu rọi xuống hầm tàu kêu người lên tát nước. Tôi thấy Đức ngồi ủ rũ như gà mắc mưa (mà đang mưa thiệt), tôi bảo:

-  Tới phiên Đức lên tát nước kìa.

Đức uể oải đứng lên, vẫn không quên khôi hài:

-  Từ hồi cha sanh mẹ đẻ chỉ biết cầm đờn, cầm micro, giờ kêu Đức cầm xô tát nước là coi như thua rồi đó, tàu có chìm đừng trách nha Nàng.

-  Coi chừng cái miệng ông ăn mắm ăn muối

Rồi thì đàn ông thanh niên kéo nhau lên boong, còn lại là những ông già bà cả, phụ nữ và con nít ở dưới hầm tàu, tiếng ồn ào không thua gì trên boong.  Nhiều người bắt đầu ói mửa khi “lắc lư con tàu đi”, chúng tôi theo nhóm xúm lại đọc kinh, ai đạo gì thì đọc kinh theo đạo ấy, trong tiếng la, tiếng khóc hỗn độn của đủ thứ âm thanh.

Lại có lệnh đưa xuống, mọi người nên vứt bỏ thực phẩm và hành lý cá nhân ra ngoài biển để tàu nhẹ bớt. Bốn đứa con gái chúng tôi nghiêm chỉnh chấp hành, tôi cũng còn kịp nhớ giữ lại chiếc phao được cuộn tròn trong cái bịch nhỏ trước khi giao giỏ xách của mình cho người ta truyền nhau lên boong để quăng xuống biển. Cô Nhạn, người phụ nữ lớn tuổi nhất trong nhóm, đang nằm vật vờ nơi góc hầm, khều tay ra hiệu cho tôi chuyển mấy giỏ xách của cô ấy lên boong giùm, tôi mệt lắm, nhưng cũng cố làm, nhân tiện thấy một cái túi xách gần đó, tôi cũng chuyển lên boong, rồi tìm chỗ ngồi ngả lưng. Mưa có vẻ đang nhẹ dần, bão cũng bớt điên cuồng, tuy máy thoát nước chưa sửa xong nhưng con tàu đã lặng yên phần nào, Đức từ boong bước xuống hầm, đến hỏi tôi:

-  Nàng có thấy cái túi xách của tui đâu không? Rõ ràng là hồi khuya tui nằm chỗ này mà.

Tôi hơi chột dạ, tỉnh hẳn người, lắp bắp:

-  Có phải cái... túi da, có buộc... cái khăn bên ngoài?

-  Đúng rồi, đúng rồi.

-  Mình... lỡ tay đưa lên boong quăng ra ngoài biển rồi.

-  Trời, ai xui ai khiến Nàng chớ!

-  Thì lệnh của ban tổ chức, ai cũng phải nghe theo mà.

-  Thì tui đang xuống đây để làm theo lệnh đó.

-  Thì ai làm cũng vậy, làm gì dữ vậy!?

-  Sao không dữ? Nàng có biết tui có 2 chỉ vàng ở trỏng không! Giời ạ!

Tôi giật mình, tá hỏa, chẳng biết phải nói gì, đây là tình huống đầu tiên Đức không hài hước. Tôi biết lỗi, nhưng vẫn cố cãi:

- Đi vượt biên thì vàng phải dấu trong người, trong áo quần đang mặc, ai lại để trong giỏ xách bao giờ.

Đức chẳng nói gì thêm nữa, đi ra phía đầu máy, nơi đó có miếng ván cao ráo, nằm xuống để ngủ bù sau một đêm mệt đừ tát nước. Tôi bước đến, lí nhí:

- Đức ơi, cho mình xin lỗi nhé, hồi khuya quay cuồng theo sóng gió con tàu, mình không được ... tỉnh táo cho lắm, chỉ nghe cô Nhạn nhờ quăng giùm mấy cái giỏ, nên tiện tay gom hết luôn, ai dè...

Đức xua tay, dịu giọng:

- Thôi cho qua đi, tui ngủ chút xíu.

Biển nổi cơn thịnh nộ, rồi biển cũng trở lại dịu dàng, máy thoát nước trên tàu cũng đã sửa xong, và chiều ngày hôm sau đã thấy vết đất liền Thailand ở xa xa. Đến mờ tối, tàu nhanh chóng thả 41 người chúng tôi xuống bãi san hô giữa biển, rồi vội vã quay tàu, tăng tốc độ đi ngược ra phía biển trở lại Cambodia. Chúng tôi chơ vơ giữa bãi san hô, cũng may nhờ tôi có chiếc phao, đem ra thổi, cho hai thanh niên trẻ bơi vào bờ, gọi ghe của dân đánh cá Thái ra cứu. Sau đó có 2 chiếc ghe chèo ra bãi san hô, nói chuyện với chúng tôi bằng Tiếng Anh “to quơ”, đại khái là mỗi nhóm tối đa 3-4 người được lên một ghe, và phải trả cho họ bằng tiền, vàng, hoặc bất kỳ trang sức nào đó như nhẫn, dây chuyền, đồng hồ. Tôi quay qua Đức:

-  Chút Đức đi với mình nhe, vì Đức thì đâu còn vàng bạc gì.

Đức cười cười, liếc tôi:

-  Đương nhiên rồi Nàng, còn phải hỏi!

Từng nhóm lần lượt lên hai chiếc ghe, xong mỗi chuyến, họ quay lại đón nhóm kế tiếp, tôi và Đức cùng một cô bạn là nhóm cuối cùng trên chiếc ghe cuối cùng đi vào bờ. Ôi trời ơi, vừa bước chân xuống đất, mới biết đó là vùng đầm lầy, sình ngập qua đầu gối, nặng chịch, không nhấc chân lên nổi. Cô bạn gặp được một chú đi trước giữa bãi sình, đứng đợi rồi họ giúp nhau, tôi chỉ còn biết dựa vào Đức. Mấy ngày nay trên tàu nào có ăn được gì vì lương thực quăng ra biển hết ráo, giờ mới thấy đói khát và kiệt sức. Tôi mềm như cọng bún, ôm cổ Đức ghì chặt, chàng thư sinh nhạc viện gầy yếu cũng ráng gồng hết sức kéo tôi lê lết qua bãi sình lầy rất khó nhọc nặng nề.

Có thể nói, trên con đường vượt biên, rồi đến trại tỵ nạn, những người chung chuyến tàu là những người thân thương nhất, vì cùng trải qua những chặng đường sinh tử trên biển, gắn bó có nhau, qua đến trại vẫn phải dính chùm nhau mọi nơi mọi lúc. Cao Ủy chia mỗi nhóm tàu một lô nhà ở chung, thành hàng xóm của nhau. Đi lãnh gạo lãnh thực phẩm cũng đi theo lô nhà, đi làm giấy tờ trên văn phòng trại cũng phải theo lô nhà, tới ngày dọn vệ sinh khu trại cũng phải đi theo lô nhà, hỏi sao không gần gũi như người trong một đại gia đình.

Có những buổi trưa rảnh rang, hoặc chiều mưa ướt chẳng đi đâu được, nhóm tàu chúng tôi quay quần tán dóc, nhắc về chuyến vượt biển, Đức lại hí hứng khoe với mọi người:

- Cái đêm đến bờ biển Tha Luông, chính tui là người ẵm nàng Loan này vào bờ chớ ai.

Mọi người cười ha hả, tôi phải đính chính:

- Ẵm, bế hồi nào vậy cà!? Nói chính xác là kéo lê kéo lết.

- Ối, lúc đó Nàng mệt lả người, mắt nhắm mắt mở, nhớ gì chớ!

Một buổi sáng, bốn đứa con gái chúng tôi vừa thức dậy, cây kem đánh răng cứng quá, đúng lúc Đức bước qua tính xin chút kem đánh răng, tôi nói:

- Nè, nhờ Đức bóp giùm.

Đức chớp thời cơ:

- Bóp trên hay bóp dưới?

Vì miệng chưa đánh răng, mặt mũi chưa rửa, nên tôi khép nép trả lời:

- Phải bóp từ dưới lên trên, mà phải bóp từ từ, đừng bóp mạnh quá.

Mấy chị mấy cô xung quanh lô cười rần rần, tôi mới biết đang bị Đức chọc phá.

Bữa khác, buổi chiều, chúng tôi chuẩn bị đi lễ nhà thờ, đi qua nhà Đức thấy Đức vẫn ngồi ngoài cửa:

- Ủa, sao bữa nay Đức không đi lễ?

- Có cái quần Jeans tối qua thằng bạn lô kế bên mượn đi chơi với bồ chưa trả.

- Trời đất! À mà nè, mặc quần shorts đi lễ cùng được mà, Chúa đâu chấp nhất chuyện áo quần.

- Không! Đức đi lễ hoặc đi hát, thì phải nghiêm chỉnh đàng hoàng, còn không thì ở nhà.

- Ở trại tỵ nạn mà cũng... chảnh dữ hen?

- Ừa, tui dzậy đó!

Có lẽ, cái máu thích đùa và máu “điên” tiềm ẩn từ lâu trong tôi, đã được đánh thức từ khi gặp Đức.

Đời tỵ nạn vẫn trôi qua, có ngày vui xen lẫn ngày buồn, thấm thoát đã qua năm thứ ba của đời tỵ nạn. Tình hình Thanh Lọc càng căng thẳng, chương trình cưỡng bách hồi hương thông báo sẽ bắt đầu, và thuyền nhân đã biểu tình rầm rộ. Đám đông phá hàng rào, tràn ra ngoài lộ, giương biểu ngữ chống cưỡng bách trước hàng trăm họng súng và xe cảnh sát Thái bao vây. Cả trại hoang tàn vì một số người bạo động đã phá các cửa hàng người Thái ngoài chợ, phá cửa nhà tù, khiến Bộ Nội Vụ Thái báo động khẩn cấp, các văn phòng thiện nguyện ngoại quốc đóng cửa, không dám vào trại, đại diện Cao Ủy phải đi máy bay trực thăng từ Bangkok đáp xuống bãi biểu tình để đàm phán với dân tỵ nạn.  

Đi trong buổi chiều đầy vỡ vụn xung quanh, Đức hỏi tôi:

- Nếu rớt thanh lọc, Nàng có ghi danh hồi hương?

- Theo quy định, chúng ta được quyền xin tái thanh lọc 2 lần nếu có những giấy tờ mới bổ sung, nên mình sẽ chờ đủ hai lần tái, rồi sau đó tính tiếp, còn Đức thì sao? Thú thiệt, thấy nhóm tàu mình có người lai rai hồi hương, đôi lúc cũng thấy nản chí, lung lay.

- Đức sẽ theo Nàng, là chờ tái đến phút chót, cho đến khi “chín” thì thôi.

Hai đứa nhìn nhau, cười buồn. Sau đợt biểu tình đó, cả trại được chuyển lên trại mới Sikiew. Tương lai định cư đối với đa số đám đông vẫn là một giấc mơ xa vời, vì nhóm tàu của chúng tôi, chỉ có 8 người may mắn được đậu thanh lọc trong đó có tôi.

Buổi tối chia tay để sáng hôm sau đi qua trại transit dành cho người đậu thanh lọc, tôi đi dạo cùng Đức. Tôi nói:

- Thế là hành trình tỵ nạn đang khép lại, chỉ vì cuộc Thanh Lọc đáng ghét mà nhóm tàu chúng ta phân chia trăm ngả, mà ngã đông nhất là hồi hương về Việt Nam, thật là buồn.

Đức trầm ngâm:

-  Chẳng ai muốn trở về nơi họ đã dứt áo ra đi, mà thôi, vượt biên có số định cư có phần. Riêng Đức sẽ nhớ mãi cái cảm giác sung sướng vỡ òa khi bước chân lên bờ biển đất Thái sau mấy ngày bão giông tơi tả. Những ngày ấy có lẽ là những ngày hạnh phúc nhất của đời tỵ nạn, vì chúng ta chưa nhập trại lớn, chưa biết gì về cuộc thanh lọc, ba tuần ở trại nhỏ vui và đẹp như cõi thần tiên.

Đúng vậy, khoảng thời gian ở trại Cảnh Sát Tha Luông êm đềm xiết bao. Sáng ngủ dậy, chào cờ Thái, xong mọi người tản ra xung quanh trại nhặt rác, gọi là vệ sinh chung, rồi sau đó tự do, từng nhóm tàu nấu cơm trưa, ai rảnh rang thì tụ năm tụ ba nói chuyện tán dóc, kể chuyện cười, cho hết thời gian. Sau bữa trưa, là ... ngủ trưa, rồi lại lo cơm chiều, rồi ra hồ nước kế bên trại tắm rửa giặt giũ, ôi vui còn hơn Tết. Buổi tối, mấy nhà cảnh sát Thái mở Tivi cho bà con tỵ nạn vào xem ké, riêng nhóm tàu chúng tôi náo động nhất trại, vì có một anh từng sinh hoạt trong Hướng Đạo, nên chúng tôi chơi trò chơi Mật Thư, hoặc sinh hoạt vòng tròn ca hát, các trò chơi tập thể. Nhiều người các nhóm tàu khác vây quanh xem chúng tôi chơi, thậm chí ông Cảnh Sát trưởng trại cũng có lần ghé đến xem, thích thú, rồi tặng cả nhóm một thùng mì gói Mama bồi dưỡng.

Đức ngập ngừng nói tiếp:

- Và dĩ nhiên, Đức nhớ nhất cái đêm tháng 12 lạnh lẽo không trăng không sao, đã được dìu Nàng vào trong bờ đất liền, kỷ niệm đẹp quá, Đức sẽ không bao giờ quên.

Tôi cũng mơ màng theo dòng cảm xúc kỷ niệm:

- Còn Loan ư, sẽ nhớ nhất tuần đầu tiên nhóm tàu mình ở khu trại Cảnh Sát Thái, được nấu nồi chè ăn mừng đến bờ tự do, Đức đã hát bài “Yêu Một Mình”, giọng ca ngọt ngào tha thiết, đúng là dân tốt nghiệp trường Âm Nhạc.

- Bài hát đó tặng Nàng chớ ai!

- Xạo vừa thôi! Mới gặp nhau trên đường vượt biển, biết gì mà tặng. Vả lại, nhà mình ở Việt Nam có giàn hoa giấy màu đỏ, đâu phải “nhà em có hoa vàng trước ngõ, tường thật là cao có dây leo kín rào ...”

- Lúc đó cũng biết nhau cả tháng rồi chớ bộ. Mà ai ngờ bài hát đó lại đúng y chang, sau này khi nhập trại Panatnikhom,  là “mọi người thầm mong được đưa đón chân em ...” trong khi Đức chỉ là một chàng nhạc sĩ nghèo, con bà “Phước” ở trại, nào dám ngỏ lời, nào dám mơ xa ...

- Thôi, hổng nói tào lao nữa, Đức nói đùa y như nói thiệt, nhưng Loan sẽ nhớ mãi cuộc nói chuyện hôm nay, cám ơn Đức vì tất cả. Chẳng biết tụi mình có được gặp nhau nữa không, chúc Đức nhiều sức khỏe, may mắn và hạnh phúc trong cuộc sống tương lai.

- Nàng cũng vậy nhé, đừng bao giờ quên nhóm tàu 41 và trại tỵ nạn Thailand.

 

Chúng tôi từ biệt nhau từ đó, có ngờ đâu, hơn 30 năm sau giấc mơ tái ngộ sẽ trở thành sự thật, vấn đề chỉ là thời gian sớm muộn mà thôi. Tôi mong chờ đến ngày đó, để được thực hiện lời hứa tôi đã nói với Đức trên Facebook, là sẽ mua một cái giỏ mới, thật đẹp, tặng cho bà xã Đức, coi như “ nợ nần” xưa được xóa bỏ.

Đó là món nợ vật chất, còn cái nợ tình thân, Đức dìu tôi vào bờ biển Thái năm nào, và những kỷ niệm chia ngọt sẽ bùi của nhóm tàu 41 người, làm sao trả cho hết!

Edmonton, April 2024

KIMLOAN

 

 

" Father, forgive them, for they do not know what they are doing"

                                                -Luke 23:34-

KimLoan_Panatnikon.jpg

                         PANATNIKHOM NHỚ BIDONG

 

Buổi tối hôm ấy, Quân đến nhà Phượng chơi như thường lệ. Sau vài câu thăm hỏi tình hình bệnh của má Phượng, chàng thầm thì:

-          Vài ngày nữa có chuyến vượt biên, xuất phát từ Bến Tre, là mối thân quen của bạn anh đang ở đảo Galang giới thiệu, chúng mình có nên đi không?

Phượng e dè:

-          Nghe nói mối quen là an tâm rồi, nhưng anh biết đó, má đang bị tai nạn đụng xe, nằm một chỗ, sạp gạo ngoài chợ phải nhờ Dì Hường coi giúp, làm sao em đi được?

Hai người yêu nhau cũng hơn ba năm, hai gia đình chưa chính thức gặp mặt, nhưng gia đình Quân yêu mến Phượng như thế nào thì gia đình Phượng cũng xem Quân như người thân thiết trong nhà. Giữa phong trào tìm đường vượt biển rầm rộ thuở ấy, Phượng chưa bao giờ được má cho đi chuyến nào vì ngại thân gái nơi biển cả, nhưng từ khi yêu Quân thì má thoải mái cho hai người đi vượt biên chung, vì dù sao có người yêu đi theo bảo vệ và che chở vẫn tốt hơn đi với đám đông xa lạ. Hai đứa em gái của Phượng tuyên bố không bao giờ đi vượt biên vì sợ biển, chúng bảo chờ anh Hai bên Mỹ bảo lãnh đi máy bay sướng hơn.

Quân và Phượng đã từng  hụt hai chuyến hồi năm trước. Một chuyến tập trung gần Bến Bạch Đằng Sài Gòn, rồi bị Công An phát hiện, hơn một nửa nhóm bị bắt trong khi hai người may mắn thoát nạn. Chuyến thứ hai tại Rạch Giá Vũng Tàu, chưa kịp lên taxi (ghe nhỏ) thì ghe cuả ban tổ chức bị bắt, cả đám như ong vỡ tổ mạnh ai nấy chạy về Sài Gòn. 

Phượng nhìn Quân, quyết định:

-          Em nghĩ, anh cứ ra đi chuyến này, vì em tin vào câu “quá tam ba bận”, em linh tính thì không bao giờ sai.

-          Còn em thì sao?

-          Tới đâu hay tới đó anh ạ, còn những chuyến sau nữa mà, hơn nữa, chúng ta cứ giao cho số phận chuyện tương lai, còn bây giờ khi có thời cơ thì anh không nên bỏ lỡ.

Thế là Quân lên đường. Hơn một tháng sau, Phượng nhận được thư báo tin của Quân từ đảo Pulau Bidong, Malaysia. Bức thư đầu tiên của nỗi vui đến bờ tự do, nhưng cũng có nỗi lo vì có cuộc thanh lọc dành cho các thuyền nhân nào đến trại sau ngày Cao Ủy Tỵ Nạn Liên Hợp Quốc tuyên bố đóng cửa các trại tỵ nạn từ ngày 14/3/1989.

 

Ở Việt Nam, Phượng có hiểu gì hai chữ “thanh lọc” nên cũng tự tin (xen lẫn ngây thơ) ra khơi vào một chiều cuối năm khi sức khỏe của má đã ổn định trở lại bình thường. Lúc ấy, sau nhiều chuyến tàu vượt biên bị hải tặc Thailand cướp bóc hãm hiếp, nhiều chủ tàu tổ chức vượt biên đã cam kết với “khách hàng” sẽ không đi ngã Thailand dù đó là con đường biển ngắn nhất, thay vào đó sẽ đi xa hơn về hướng Indonesia, Malaysia, Philippines để bảo đảm an toàn. Tàu của Phượng cũng trực chỉ hướng Malaysia vì nhiều người trong chuyến tàu (trong đó có Phượng) đang có người thân ở đảo tỵ nạn Bidong. Nhưng người tính không bằng trời tính, tàu ra ngoài hải phận quốc tế nửa ngày liền bị chết máy, tàu cứ thế mà trôi trên biển Đông. Năm ngày sau, may mắn gặp một chiếc tàu đánh cá của ngư dân Thái tốt bụng, họ kéo tàu vào bờ biển tỉnh Chad của Thaland. Dù không đến được Malaysia như dự định, nhưng mọi người bước lên bờ trong niềm sung sướng vỡ òa, thoát cảnh lênh đênh ngoài đại dương bao la, không bị hải tặc “ghé thăm”.

Lá thư đầu tiên Phượng gửi cho Quân từ trại tỵ nạn Panatnikhom Thailand là những nhung nhớ đầy vơi, và tiếc nuối khi không đến được Bidong đoàn tụ người yêu. Quân  vội vàng hồi âm:

-          Phượng ơi, kể từ khi biết tin em sẽ ra khơi, lòng anh mỗi ngày ngóng trông. Em biết không, đảo Bidong có cây cầu mang tên Jetty, là cây cầu đón những người mới nhập trại từ biển vào đảo. Biết bao nhiêu lần anh chạy ra cầu Jetty khi nghe tin có người mới đến trại, nhưng giữa những đoàn người bước lên cầu, anh đợi mãi vẫn chưa thấy bóng dáng của em. Hôm nay biết tin em đã đến Thailand, anh mừng lắm. Thôi thì chúng ta không được ở chung trại tỵ nạn, cũng là thử thách cho hai đứa mình. Cả anh và em từ nay sẽ “gặp” nhau qua những lá thư, cùng nhau cầu nguyện qua cuộc thanh lọc đáng ghét này, và hẹn ngày đoàn tụ ở Mỹ, em nhé.

Thế là từ đó, hai người truyện trò qua thư, cùng hứa hẹn mỗi tuần phải gửi thư cho nhau. Quân và Phượng đều đi làm thiện nguyện, chờ đến cuối tuần viết thư, nhiều chuyện tâm tình, những câu chuyện thời sự, chuyện thường ngày ở trại, cũng như cho nhau những tin tức cần thiết cho cuộc thanh lọc.

Phượng làm ở bệnh viện trại Panatnikhom, đúng nghề y tá của Phượng bên Việt Nam. Tại bệnh viện, Phượng kết thân với bác sĩ Nguyệt, trước khi vượt biên chị Nguyệt đã có kinh nghiệm mười năm làm bác sĩ tại bệnh viện Gia Định. Chồng và con trai chị đã định cư ở Canada trong chuyến vượt biển mấy năm trước, nên chị qua Thailand một mình, thế là hai chị em cùng ở chung căn nhà lá ngay kế bên bệnh viện trại.

Hằng ngày cuộc sống ở trại trôi qua đều đặn như mọi ngày. Buổi sáng thức dậy, trước khi đi làm, Phượng tạt qua bưu điện dò thư, có khi là thư từ gia đình và bạn bè bên Việt Nam, có khi là thư người anh ruột bên Mỹ, và vui nhất là ngày có thư của Quân. Chiếc phong bì luôn là màu xanh, bên góc trái là tên người gửi Vũ Đức Quân từ Pulau Bidong thương mến. Sau khi tan ca làm ở bệnh viện, hai chị em về nhà cùng nấu cơm, tắm rửa giặt giũ, đi dạo vài vòng trong trại, sau đó là buổi tối, mỗi người một góc nhà làm việc riêng, đọc sách báo, viết thư, học English hoặc đơn giản là nằm tán gẫu, kể nhau nghe những kỷ niệm còn để lại nơi quê nhà.

Mỗi lần buổi sáng lãnh thư của Quân là Phượng vui lắm, để dành đó, chờ buổi tối mở ra xem, và cả buổi làm ở bệnh viện chộn rộn mong hết giờ về nhà. Chị Nguyệt đùa:

-          Bữa nay nàng không ăn cơm cũng no ngang hen!? Chị lại được tha hồ ăn hết dĩa gà mìn kho.

-          Ối, em nhường chị hết, em sẽ ăn mì gói Mama ngon hơn nhiều.

-          Mà em có kể cho Quân nghe, lần trước vì mải đọc thư mà nồi gà mìn kho của tụi mình bị khét chưa nà!?

-          Thì em biết lỗi rồi, bây giờ chỉ dám đọc thư buổi tối thôi.

Lần này, thư có kèm mấy tấm hình Quân chụp ở quán cafe Khu C gần đồi Tôn Giáo ( Phượng thuộc lòng các địa danh trong trại Bidong của Quân, cũng như Quân biết hết những chợ Lào, Bưu Điện,  trường ESL, khu trường tiểu học Nhà Sàn của Panatnikhom. Ôi, người ta yêu nhau, yêu cả đường đi lối về). Hình chụp Quân cùng vài bạn đồng nghệp dạy Tiếng Anh ở trại và có cả mấy cô gái là học trò trong lớp Quân dạy. Quân kể trong thư:

-          Chiều nay anh đang tắm, thì nghe bên nhà tắm nữ (cách nhau bởi bức tường xi măng) vài cô gái nói chuyện với nhau, bảo nhau tắm lẹ lẹ để kịp chạy đến lớp thầy Quân, kẻo hết chỗ phải chạy qua lớp thầy khác, dạy hổng hay bằng thầy Quân. Em thấy anh của em ... có uy không? Đời tỵ nạn, đó là những niềm vui nho nhỏ, khi mình giúp cho đồng bào học thêm Tiếng Anh, được người ta tin tưởng, cũng như em giúp bệnh nhân, được họ tặng quà, chút trái cây, bịch kẹo bánh, ấm lòng phải không em? Chiều nay dạy học xong cả nhóm đi uống cafe tiễn một Thầy đậu thanh lọc chuẩn bị rời trại chuyển qua Sungei Besi đi định cư.

Chị Nguyệt ngắm nghía tấm hình rồi trêu Phượng:

-          Mấy cô gái trong hình xinh quá, coi chừng có người yêu thầm thầy Quân đó nghen. Ráng mà giữ chàng từ xa nhe nàng.

Phượng bảo vệ người yêu:

-          Hồi còn ở Viêt Nam, có cô con gái chủ tiệm vàng cùng xóm ảnh, mê ảnh lắm, mà em đâu cần phải giữ, ảnh vẫn chọn em đấy thôi.

-          Ừa, tại em gái của chị xinh đẹp, duyên dáng quá chừng, chàng Quân chẳng dại gì.

 

Đó là lá thư cuối cùng Phượng nhận được từ Quân, rồi sau đó, vài tuần cho đến cả tháng vắng thư. Nỗi lo lắng, hoang mang với bao nhiêu câu hỏi trong đầu, Phượng chỉ biết chia sẻ cùng chị Nguyệt. Nếu trước đây chị hay nói đùa, thì lúc này chị rất nghiêm túc, khuyến khích Phượng thật nhiều:

-          Theo những gì em kể về Quân, và theo những lá thư chị đọc được của Quân, chị không nghĩ Quân là người tệ bạc, đổi thay mà không nói một lời giải thích. Trong một lá thư, Quân từng nói đã bàn bạc với các đồng nghiệp dạy English tại Bidong, nếu rớt thanh lọc, sẽ biểu tình chống cưỡng bách hồi hương và sẽ tuyệt thực nếu cần thiết, nên chị đang nghĩ đến khả năng Quân bị rớt thanh lọc.

Đúng vậy, đâu riêng gì Bidong, mà ở tất cả các trại tỵ nạn Đông Nam Á, từ Hongkong, Indonesia, Malaysia, Thailand, người tỵ nạn đều tổ chức các cuộc biểu tình rầm rộ, nhiều người bị bắt biệt giam, tình hình tỵ nạn cuối mùa rối ren.

Chị Nguyệt vì có chồng con bên Canada, còn Phượng thì nhờ lý lịch ba mất trong tù “cải tạo”, nên hai chị em may mắn đậu thanh lọc. Trong lúc chị Nguyệt chờ danh sách chuyến bay đi Canada thì Phượng có tên lên đường đi Mỹ, chị dặn dò:

-          Em cứ an tâm và vững tin đi định cư, giữ liên lạc với chị. Còn chị, thời gian này, sẽ nhờ người bạn bên bưu điện, nếu có thư Quân chị sẽ báo cho em. Đồng thời, qua tới Mỹ em phải mau chóng viết thư về Việt Nam dò hỏi bên gia đình Quân. Chị tin rằng, mọi việc sẽ tốt đẹp, chúng ta phải kiên nhẫn chờ đợi và cầu nguyện. 

Máy bay cất cánh khỏi phi trường Bangkok, mang theo Phượng với nỗi lòng ngổn ngang biết bao cảm xúc vui buồn suốt hơn ba năm gắn bó nơi mảnh đất tạm dung này. Hành lý của Phượng đơn sơ vài bộ quần áo, vật dụng cá nhân, và nặng trĩu những lá thư hình ảnh của Quân. Suốt chặng đường bay đến Japan đầy thao thức, nghĩ suy, cho đến khi máy bay đáp xuống phi đạo Tokyo Airport, trong đầu Phượng cũng làm xong một bài thơ .

 Phi trường sạch đẹp, rộng lớn, người ta qua lại tự do, Phượng chợt xót xa cho những đồng bào Việt Nam tỵ nạn còn đang kẹt ở trại, đang bị giam cầm vì chống đối cưỡng bách hồi hương, biết đâu cũng có Quân của nàng trong số đó.

Phượng mua một ly cafe, đầu óc bỗng tỉnh táo hơn, ngồi viết lại bài thơ trên trang giấy, với niềm tin Quân sẽ đọc được bài thơ vào ngày hai người tương phùng, và ngày ấy chắc không xa lắm, phải không Quân ơi!?

PANATNIKHOM NHỚ BIDONG

 

Ở nơi đây không có biển đâu anh

Trại tỵ nạn bốn bề hàng rào vắng

Thailand những buổi trưa hè đầy nắng

Em ước ao nghe sóng vỗ rì rào

 

Những lá thư anh gởi, ôi ngọt ngào

Pulau Bidong bỗng thật gần gũi

Em như thấy anh đứng bên bờ biển

Mắt xa xăm nghe gió gọi tên em

Panatnikhom thao thức từng đêm

Em ngậm ngùi xuyến xao bao nỗi nhớ

Đại dương mênh mông đôi mình cách trở

Kể từ thuyền em cập bến Thailand

 

Để mỗi chiều anh dạo bước lang thang

Đến bên cầu Jetty thầm chờ đợi

Cầu tàu đón đưa bao dòng người tới

Mà bóng em vẫn xa thẳm mù khơi

 

Những lá thư trao nhau, tình đầy vơi

Em say sưa nghe anh đang kể chuyện

Kìa Đồi Tôn Giáo những lần cầu nguyện

Hay đêm mưa quán vắng uống cà phê

 

Bãi biển Khu C gió lồng lộng về

Nơi đây em đếm sao trời xứ Thái

Ngôi sao nào có lạc về bên ấy

Nhắn giùm em trăm nhớ với ngàn thương

 

Mong một ngày mình thôi hết vấn vương

Cùng hẹn nhau mừng vui trên đất mới

Bỏ lại sau lưng tháng ngày rong ruổi

Rời xa quê hương, mang phận lưu vong

 

Trại tỵ nạn xưa vẫn ở trong lòng

Dù thời gian phủ bụi mờ, tăm tối

Panat, Bidong cỏ hoang giăng lối

Ký ức ta vẫn rực rỡ hiện về

 

Đất nước mình rồi sẽ qua cơn mê

Mình nắm tay nhau thăm lại chốn cũ

Có một thời Panat buồn khắc khoải

Những đêm dài thương nhớ người Bidong

 

Tháng 3/ 2024, nghe Biển Gọi …

KIM LOAN

_____________________

THE GOOD SAMARITANS

Hồi gia đình tôi còn ở căn nhà cũ, garage nằm ở phía sau nhà. Bữa chiều đó vợ chồng vừa về đến nhà sau khi đón hai đứa nhỏ tan học, thì tá hỏa thấy cửa garage vẫn mở tang hoang, chắc là buổi sáng lu bu nên vội chạy xe ra ngoài mà quên kéo cửa garage. Tôi đang xem xét mọi thứ có mất gì không thì hai vợ chồng hàng xóm da trắng, ở phía đối diện sau nhà, bước qua mỉm cười thân thiện. Thực ra, nhà của họ ở phía đường bên kia, nhà tôi phía đường bên này, chỉ có hai cái garage hai nhà mới là... hàng xóm của nhau, nên chúng tôi chưa bào giờ có dịp đối mặt nói chuyện, chỉ là thỉnh thoảng lúc chạy xe đi làm, đúng lúc họ luẩn quẩn trong garage hoặc đang làm vườn thì gật đầu chào nhau mà thôi. Người chồng đứng ngay cửa garage, bắt chuyện:

-          Cô quên kéo cửa garage từ buổi sáng.

-          Dạ, tôi lu bu với hai đứa nhỏ trên xe nên đã quên.

-          Nhưng cô đừng lo, đồ đạc trong garage còn y nguyên vì đã có tôi dòm chừng.

Tôi trố mắt ngạc nhiên, tưởng ông hàng xóm nói đùa, nhưng bà vợ đã kịp chen vào:

-          Cô may mắn đấy thôi, bữa nay ổng được nghỉ làm, nên ngồi ngoài garage cả buổi sửa xe nhân tiện để mắt qua garage nhà cô.

Thế là từ đó tôi biết tên hai vợ chồng là Jerry và Wendy. Rồi cỡ hơn một tháng sau, khi gia đình tôi đang quay quần ăn bữa cơm tối thì Jerry đến gõ cửa trước nhà, tôi ngạc nhiên:

-          Có chuyện gì vậy Jerry ?

-          Laura nè, nhà cô lại quên kéo cửa garage nữa đấy.

-          Không thể nào! Sáng nay tôi đã nhìn rất kỹ sau khi chạy xe ra ngoài.

-          Đúng vậy, buổi sáng cô có đóng, nhưng ý tôi là mới đây, cửa garage vẫn mở, tôi nhìn qua, thấy đủ hai chiếc xe, rồi đợi thêm gần nửa tiếng vẫn không thấy cửa garage đóng lại, nên tôi đi qua đây báo tin nè.

Lúc này chồng tôi mới thú nhận:

-          Là lỗi tại tôi, hồi nãy tôi là người về nhà sau cùng, đúng lúc có người gọi phone nên tôi ra khỏi xe đi thẳng vào nhà. Cám ơn Jerry thật nhiều.

Nhà của Jerry là một căn nhà cũ, nhưng nhờ khéo tay mà Jerry biến nó thành căn nhà xinh xắn, mỹ thuật, đẹp mắt, ai đi ngang qua cũng phải dừng lại ngắm. Jerry còn là handy man yêu thích sửa xe, thỉnh thoảng nếu không ở miếng vườn nhỏ trước nhà thì y như rằng Jerry đang ngồi ngoài garage với ngổn ngang dụng cụ xe cộ. Có lần hai vợ chồng tôi đi bộ ngang qua, thấy Jerry say sưa chăm chút một giàn hoa leo, tôi khen thật lòng:

-          Trời, nhìn khu vườn nhà ông, tôi thấy đời đẹp hơn nhiều.

Jerry cười hài lòng nói “thank you”, đúng lúc bà vợ Wendy bưng ra khay bánh muffin còn nóng hổi, đưa Jerry một cái, và mời cả hai vợ chồng tôi, còn bỏ thêm hai cái vào túi giấy bảo đem về cho hai đứa nhỏ. Wendy cười rạng rỡ:

-          Bánh ngon không? Ngày mai tôi đem qua Nhà Thờ làm Bake Sale đó!

-          Oh,  Angelican Church ngày đầu ngã tư phải không, tôi sẽ ghé mua ủng hộ muffin của Wendy để cám ơn Jerry đã nhắc nhở chúng tôi chuyện cái cửa garage, vì tôi vẫn... rình rập nhà của ông bà, hy vọng có ngày ông bà quên đóng garage để tôi được canh chừng giúp mà vẫn chưa có dịp.

Jerry cười vang:

-          Cô mơ đi, sẽ không có ngày ấy đâu, vì Wendy nhà tôi đã nghỉ hưu non, ở nhà mỗi ngày lo chuyện bếp núc và cuối tuần giúp việc ngoài Nhà Thờ.

Tối hôm đó chồng tôi cảm hứng:

-          Xóm này ngay khu đường lớn, xe cộ tấp nập, hàng xóm cùng con đường không có dịp giao tiếp nhiều, nhưng bù lại, hai nhà hàng xóm ở phía hai con đường song song với con đường nhà mình rất dễ thương, tử tế.

Ý của ông xã tôi muốn nhắc đến nhà hàng xóm bên kia con đường phía trước. Hôm ấy chúng tôi đang đứng hái trái cây táo trước nhà, có chiếc xe tấp vào bên đường và hai mẹ con người da trắng bước ra, đưa tôi gói quà nhỏ:

-          Cái này là của nhà cô, vì chúng ta chung một số nhà, nhưng nhà cô đường 97, nhà tôi đường 96, nhân viên bưu điện sơ ý giao lộn.

Tôi nhìn qua gói quà, tên tôi là người nhận, và tên người gửi là bà chị ruột bên Texas, rồi đáp:

-          Đúng là của chị tôi, tôi có thể nhắm mắt đọc địa chỉ bà chị cho cô làm tin nhé.

-          Không cần đâu, tôi đã nhìn địa chỉ trên bảng số nhà cô rồi kìa, tôi giao cho cô luôn, khỏi mất công làm phiền bưu điện.

Trong Kinh Thánh có câu chuyện Chúa Giesu kể một dụ ngôn, một người kia dọc đường bị rơi vào tay kẻ cướp. Chúng lột sạch người ấy, đánh nhừ tử, rồi bỏ đi, để mặc người ấy nửa sống nửa chết. Tình cờ, có thầy tư tế cũng đi trên con đường ấy. Trông thấy người này, ông tránh qua bên kia mà đi. Rồi cũng thế, một thầy chức sắc khác đi tới chỗ ấy, cũng thấy, cũng tránh qua bên kia mà đi. Nhưng một người Samari, thuộc tầng lớp vô danh thấp hèn trong xã hội, tới ngang chỗ người ấy, chạnh lòng thương, lấy dầu lấy rượu đổ lên vết thương và băng bó lại, rồi đặt người ấy trên lưng lừa của mình, đưa về quán săn sóc. Từ đó, chúng ta có câu “the good Samaritan” dành cho những người không quen biết nhưng sẵn lòng giúp đỡ người khác, dù chỉ là những việc bé mọn. Tôi cũng đã có những good Samaritans thiệt dễ thương.

Rồi chúng tôi tìm được ngôi nhà mới ở phía Bắc thành phố. Mấy bữa lục đục khiêng mấy thùng đồ ra ngoài garage, Jerry đã mau mắn qua thăm hỏi:

-          Nhà cô sắp bỏ xóm này rồi ư?

-          Đúng vậy Jerry ơi, các con tôi đã lớn, chúng muốn đổi nhà, hơn nữa, khu đó thuận tiện hơn cho chồng tôi đi làm, mà lại gần Nhà Thờ Việt Nam nữa. Chúng tôi đã tính cuối tuần  qua chào tạm biệt ông và Wendy.

-          Mà sao không thấy cô để bảng bán nhà?

-          Dù không được làm hàng xóm với ông nữa, nhưng thỉnh thoảng chúng tôi cũng sẽ về đây, vì căn nhà này cho người ta mướn, chớ không bán.

-          Vậy thì chúc mừng, cuối tuần chắc chắn Wendy sẽ có muffins để tiễn gia đình cô.

Về căn nhà mới hiện tại, garage dính liền phía trước căn nhà. Do “kinh nghiệm” từ căn nhà cũ, tôi luôn cẩn thận đóng cửa garage mỗi khi ra khỏi nhà cũng như khi về nhà, thậm chí buổi tối trước khi đi ngủ, tôi còn hé cửa để kiểm tra cửa garage mấy lần mới an tâm, thành ra chưa có cơ hội cho good Samaritan xuất hiện.

Một buổi sáng cuối tuần, tôi đang nằm “nướng” trên lầu thì nghe tiếng máy thổi tuyết bên hông nhà, tôi thầm nghĩ anh chàng xúc tuyết người Việt bữa nay chịu khó đến sớm. Tôi xuống dưới nhà pha cà phê, nhân tiện mở cửa trước xem xét thì, ủa, sao tuyết vẫn ngập đầy thềm, và ngập lối đi trước nhà, chả lẽ cậu xúc tuyết sẽ trở lại làm tiếp? Đến trưa tôi đang nấu cơm thì nghe tiếng cào tuyết trước nhà, tôi liền chạy ra, gặp cậu xúc tuyết, tôi hỏi:

-          Có phải hồi sáng em đến thổi tuyết bên hông nhà?

-          Dạ không chị ơi, em mới tới à, chắc nhà hàng xóm sau nhà chị, chung cái sidewalk bên hông đó, họ làm sạch sẽ lắm, mà nhiều lần rồi đó, hổng phải bữa nay thôi đâu, em tưởng chị biết chớ!

-          Chà, chiều dài hai căn nhà, hai vườn sau nữa, cộng lại cũng không ít, mà trời thì lạnh lẽo.

Vài bữa sau có một trận tuyết nữa, buổi sáng hôm đó tôi lại nghe tiếng máy thổi tuyết bên dưới. Tôi bước ra khỏi giường, nhìn xuống cửa sổ, thấy một người đàn ông trùm áo lạnh kín mít, nón che đầu và khăn quàng che miệng, đang đi chầm chậm thổi tuyết suốt chiều dài sidewalk, đúng như lời cậu xúc tuyết suy đoán. Tôi liền vào phòng vệ sinh đánh răng, rửa mặt, rồi xuống dưới nhà, tìm chiếc áo khoác, mang vớ và giày boots ấm áp, mở cửa trước nhà, đi bộ qua bên hông, với ý định cám ơn người hàng xóm tốt bụng, nhưng đã quá trễ, tôi chỉ kịp nhìn thấy bóng dáng người ấy đang đi bộ ngược trở về phía bên kia.

Vậy thì hai năm đã rõ mười, chính người ấy là good Samaritan của gia đình tôi chớ còn ai trồng khoai đất này. Tôi lại chợt nhớ hồi mùa thu, một buổi chiều có một cơn mưa dữ dội, giông gió như thác đổ. Đến tối, ông xã đi làm về muộn, thấy sidewalk bên hông nhà vương đầy những nhánh cây, cỏ, hoa, lá ... có lẽ chúng kẹt lại do nước rút sau cơn mưa, định bụng sáng hôm sau ngủ dậy sẽ ra quét dọn. Nhưng dù cố dậy sớm hơn thường lệ, chồng tôi mới biết có người còn dậy... sớm hơn và đống rác cỏ đêm qua đã biến mất, sạch sẽ, như “chưa hề có cuộc bão giông”.

Tôi quyết chí sẽ ... rình cho bằng được, để “bắt quả tang” the good Samaritan này, thì mới cuối tuần rồi, vừa nghe tiếng thổi tuyết thân quen như thường lệ, tôi nhanh chóng tung mền gối, khỏi cần vào phòng đánh răng rửa mặt, lao ngay xuống nhà, chụp vội chiếc áo khoác và xỏ vội đôi giày boots, chạy ào ra sân, đúng lúc người ấy đang thổi đoạn cuối ngay góc nhà. Tiếng máy thổi tuyết quá ồn nên anh ta không nghe tôi la lớn “hello” đến mấy lần, tôi đành phải bước ra trước mặt anh ta mới dừng máy, ngước nhìn tôi trong bụi tuyết còn bay mù trời. Tôi chắp hay tay trước ngực như thay lời cám ơn, rồi nói:

-          Té ra, anh thổi tuyết cho nhà tôi bấy lâu nay mà hôm nay tôi mới biết!

Anh ta cười hiền hòa, xua tay:

-          No problem, cô đừng quan tâm.

-          Gia đình tôi có nhờ cậu xúc tuyết làm giùm, nhưng cậu ấy đi làm nên chỉ đến sau giờ trưa.

-          Tôi đã nói không sao mà.

Nói rồi anh ta quay bước, tôi gọi giật lại:

-          Thank you again, à mà nè, hồi mùa thu anh cũng quét lá khúc này giùm tôi luôn, có phải?

Anh ta lại gật đầu, cười cười, rồi tiếp tục bước đi.

Tôi kể chuyện này cho cô bạn thân cùng xóm Edmonton, cô ấy nói:

-          Ở xứ này tình làng nghĩa xóm không đậm đà thân thiết như hồi còn bên Việt Nam, nhưng không có nghĩa là không có. Tóm lại, nơi đâu lúc nào cũng có người tốt, bất kể dân tộc, màu da, mà ông hàng xóm của bà bao nhiêu tuổi, già trẻ ra sao ?

-          Ui, thỉnh thoảng hai nhà có “gặp” nhau xa xa qua hàng rào sân sau, nhưng đó là gia đình đạo Hồi, chồng thì râu ria rậm rạp, vợ thì khăn che kín chỉ lòi hai con mắt, đố ai biết ổng bao nhiêu tuổi, mà tui cũng chưa kịp hỏi tên, nhưng có một điều chắc chắn, đó là một good Samaritan.

 

Edmonton, Tháng 3/2024

KIMLOAN

_____________

ĐẦU NĂM ... NHIỀU CHUYỆN

Hôm rồi, gia đình chúng tôi bảy người, có đặt bàn tại nhà hàng The Keg (the steak house and bar nổi tiếng ở Canada) lúc 7.30 pm. Gần tới giờ, chúng tôi phone hỏi nếu chúng tôi đến 7pm được không, họ trả lời ok, và chúng tôi liền chạy xe đến, có mặt trước 15 phút.

Chờ ngoài sảnh rất đông đúc, đến 7 giờ, rồi mười phút sau cũng chưa được gọi vào, con gái tôi lại chỗ tiếp tân nhắc nhở nhẹ nhàng, rằng chúng tôi chờ bàn 7pm chứ không phải 7.30pm vì sợ họ quên. Cô ấy trả lời có biết, nhưng vì đột xuất có chuyện phát sinh, nên xin lỗi không thể cho chúng tôi vào 7pm như đã hứa. Chúng tôi hiểu và thông cảm, tiếp tục chờ đợi. Rồi sau đó, chúng tôi cũng được gọi vào bàn, vui vẻ.

Vào bàn, chúng tôi vừa gọi món xong, người waiter rời đi, một người đàn ông mặc đồ vest lịch sự, đến giới thiệu là manager, rồi ông ta giải thích "sự cố" một lần nữa, tại sao chúng tôi bị vào bàn trễ, và nói lời xin lỗi chân thành .

 

Chuyện chỉ có thế, chẳng ai còn nhớ nữa, chúng tôi ăn uống thoải mái, đến lúc kêu bill tính tiền, thì người waiter nói, tất cả 6 dĩa khai vị (appertizer) được miễn phí, họ chỉ tính tiền main dishes, drinks và dessert.

Trời đất, 6 dĩa khai vị đó, gồm 2 dĩa mực chiên, 2 dĩa nấm và ốc đút lò với cheese, và 2 dĩa tôm lạnh, tổng cộng các món khai vị là $110.

Chúng tôi không hề trông đợi sự xin lỗi hào phóng này, người manager ra tận bàn xin lỗi là quá dư rồi. Về nhà, tôi viết ngay lời Review trên website cho tiệm này, chúng tôi là khách khá thường xuyên, và chắc chắn sẽ quay lại nhiều lần nữa.

Tôi tự hỏi, chuyện này có thể xảy ra ở các nhà hàng Việt Nam ở Canada, ở Mỹ không? Với tôi, đi ăn nhiều nơi tiệm Việt, nhất là lúc khách hàng đông đúc vào cuối tuần hoặc dịp lễ lạc, sự cố có xảy ra, may ra thì có lời xin lỗi vội vàng, chớ khó mà "mơ" tới chuyện giảm giá hoặc tặng món khai vị.

Còn bên Việt Nam thì sao? Nghe nói có Bún Chửi, Cháo Mắng ở Hà Nội. Mà lạ kỳ nghen, các "thượng đế" vẫn xếp hàng, đưa mặt ra chịu trận, nghe chủ quán vừa múc bún vừa chửi "ngọt" như hát, rồi líu ríu đón lấy tô bún, nhẹ nhàng đi tìm chỗ ngồi ăn, len lén kẻo bà chủ lại ... nổi giận, lại chửi sa sả vào mặt, cứ như là đi xin ăn từ thiện vậy.

 

Nói thiệt, nếu có đi ăn đồ từ thiện mà nghe chửi kiểu đó thì thà tôi ... nhịn đói chứ nhất định không thèm ăn!

 

Tôi chỉ kể chuyện cá nhân chứng kiến (bên đây), và xem video (bún chửi Hà Nội), chớ không vơ đũa cả nắm cho bất cứ nơi chốn nào.

 

Người bạn thân của tôi bên Little Sài Gòn, California nghe chuyện tôi trên facebook xong, cũng góp thêm:

-         Không bao giờ!!! Mình không muốn vạch áo cho người xem lưng. Nhưng có thật 100 %. Một lần mấy chị em mình hẹn nhau ăn trưa ở Quán H, gọi món bún bò xào đặc biệt (có thêm tôm nứớng và chả giò). Chờ khá lâu vì đông khách. Khi món bún bò xào được bưng ra, mình phát hiện có một nùi giấy thấm lẫn trong thịt bò (loại giấy họ dùng thấm bớt nước và máu của thịt bò trước khi xào). Cô manager xin lỗi qua loa, đổi dĩa khác.S au đó tính tiền... bình thường, tỉnh bơ! Bởi làm ăn kiểu đó nên nhiều nhà hàng Việt mình thường ở trong tình trạng “tưng bừng khai trường, âm thầm dẹp tiệm”, họ nghĩ là khách cần đến ăn ư? Nếu thức ăn ngon cỡ nào đi nữa, nhưng thái độ phục vụ cũng có thể khiến cho khách bye bye, một đi không trở lại.

 

Một anh bạn khác cũng chia sẻ:

-         Gia đình và bạn bè tụi mình có đi nhà hàng Tàu ở Toronto vào ngày Christmas, chờ đợi xếp hàng cũng khá lâu mới được gọi vào bàn, người waiter cho biết chúng tôi 10 người có thời gian là 1 tiếng hoặc tối đa là một tiếng rưỡi để ăn. Trời ơi, đã vậy trong lúc ăn, có hai waiters đứng phía sau, thỉnh thoảng lại hỏi: “are you done yet?” làm mất hứng, ăn chả thấy ngon nữa.

 

Nhà hàng Tàu thì miễn bàn nghen quý vị. Đi ăn nhà hàng Việt, dù không tiếp đãi tuyệt vời như nhà hàng Tây, nhưng đôi khi cũng có những nhà hàng khá lịch sự, không đến nỗi nào, chớ nhà hàng Tàu thì trăm lần như một, tôi luôn bị “ám ảnh” bởi dàn waiters/waitresses, lúc nào cũng mang bộ mặt ... hình sự, chỉ để ... canh chừng khách ăn xong, để dẹp bàn mau lẹ, cho khách tới sau đang đợi ngoài kia.

 

Trở lại chuyện các tiệm Việt, tôi có một kinh nghiệm cũng rất ư là “đau thương”, xảy ra lâu rồi, lúc tôi mới qua định cư Canada .

 

Bấy giờ còn thịnh hành các DVDs, CDs ca nhạc của các trung tâm hải ngoại như Asia, Thúy Nga, Mây, nên hễ vào thời điểm các trung tâm ra sản phẩm mới là các tiệm bán băng nhạc tấp nập khách ra vào, (lúc ấy chưa có facebook, chưa có youtube nên đó là phương tiện giải trí cho hầu hết dân Việt Nam ở hải ngoại). Bữa cuối tuần đó, mùa đông lạnh lẽo tuyết rơi, sau khi đi chợ xong là trời sẫm tối, tôi vào một tiệm băng nhạc. Lần đầu đến tiệm này, vào trong thì người khá đông, kẻ xem DVDs, người hỏi giá CDs, người mua sách báo, người gửi tiền về Việt Nam, nhộn nhịp. Nhưng tôi thấy cô chủ tiệm tuổi sồn sồn với khuôn mặt khó đăm đăm, chẳng thấy mỉm cười tiếp khách mà luôn trả lời trống không, trịch thượng, có khi còn liếc xéo khi khách hàng hỏi điều không đúng ý, cứ như họ đang làm phiền chị ta, y như thái độ hách dịch cửa quyền dưới chế độ Cộng Sản Việt Nam. Tôi bèn ... ngứa miệng, góp ý với một nụ cười duyên:

-         Chị ơi, khách đến mua hàng chớ đâu có xin miễn phí, sao chị đối đãi với khách như dùi đục chấm mắm tôm vậy?

Chị ta trừng cặp mắt như ăn tươi nuốt sống tôi:

-         Tui ăn to nói lớn quen rồi, ai cũng biết mà! Còn cô, nếu không hài lòng thì xin mời đi chỗ khác nha!

 

Ủa! Ủa! Ủa! Tôi đang bị chị chủ đuổi ra khỏi tiệm chỉ vì một câu góp ý nhẹ nhàng đó sao? Tôi bất ngờ đến nghẹn họng, không nói nên lời, chỉ biết đứng nhìn chị ta, mặt chị ta bừng bừng sát khí. Chả lẽ tối qua chị ta mới goánh nhau với chồng, hoặc là chồng chị ta đang có bồ bịch và đòi ly hôn nên chị ta mới ... căm ghét cả thế giới này? Tôi cũng cố lấy lại bình tĩnh:

-         Chị không cần đuổi, tôi cũng sẽ xin chào tiệm này ngay lập tức. Có điều, mong chị nên sửa đổi cung cách tiếp khách, kẻo có ngày không còn ai thèm ghé đấy.

 

Thôi thì chắc tại tôi ... xui, kiếp trước đường tu của tôi dở dở ương ương, nên tôi chưa may mắn gặp tiệm Việt Nam nào trân trọng khách hàng, nhưng tôi tin đây đó cũng có những nhà hàng Việt uy tín, vui lòng khách đến vừa lòng khách đi .

 

Cuối cùng là câu chuyện kể của con gái tôi, vừa mới xảy ra còn nóng hổi:

 

Nó thường hay book làm móng tay ở tiệm gần nhà, tuy nhiên vào mùa holidays vừa rồi quá lu bu, nó bèn tìm online một tiệm Nails gần chỗ làm để tranh thủ chạy ra đó làm bộ móng tay trong giờ break buổi trưa. Sau khi book online xong xuôi, đến gần ngày hẹn thì nó bỗng nhận được text báo tin rằng cái hẹn đã cancelled. Nó ngạc nhiên, liền phone cho tiệm Nails. Người trả lời phone là một phụ nữ, với accent và “broken English” của người Việt. Nó trình bày bằng tiếng Anh, rằng nó không cancel mà tại sao lại nhận được tin báo cancelled? Chị chủ cũng trả lời bằng tiếng Anh, biểu nó đợi phone để chị check với nhân viên trong tiệm xem sao. Chị để phone đó rồi quay vào nói chuyện bằng tiếng Việt với nhân viên, mà con gái tôi, tuy sanh trưởng bên đây, nhưng có khiếu nghe và nói Tiếng Việt khá sành sõi, nên nó nghe được toàn bộ cuộc đối thoại của chị chủ:

-         Ê, có con nhỏ tên Amanda phone tới, nó nói nó không cancel mà sao mình lại cancel nó kìa!

Cô nhân viên kia la toáng lên:

-         Trời! Cái con quỷ sứ Amanda nữa hả? Ba hồi cancel ba hồi không là sao, rắc rối quá đi!

-          Nó nói nó không cancel, mày thử xem lại có trùng tên không?

 

Rồi im lặng, có lẽ hai người vào bàn computer/laptop để check danh sách khách hàng, nói qua nói lại lao xao thầm thì, rồi vỡ lẽ ra là trùng tên, rồi cười ha hả. Cô chủ trở lại cầm phone, giải thích với con gái tôi bằng tiếng Anh:

-         Oh, sorry. It’s a mistake.

Nó liền cắt lời chị ta, lần này sổ luôn một tràng tiếng Việt:

-         Dạ chị ơi, em là người Việt nên nghe hết câu chuyện của chị và nhân viên của chị rồi đó.

-         Ủa, vậy hả? Trùng tên đó em, em vẫn còn cuộc hẹn nghen.

-         Dạ không! Bây giờ thì em chính thức cancel cái hẹn của em, và nhờ chị nhắn với cô nhân viên không nên gọi khách hàng là “con quỷ sứ”! Và chị nữa, chị nên tắt phone rồi tìm hiểu sự việc, rồi phone lại cho khách, chứ đừng để phone kiểu đó, khách nghe thấy không hay ho gì đâu!

 

Chị chủ chưng hửng, không biết chị ta có tính nói lời xin lỗi hoặc đề nghị giảm giá hay không, nhưng con gái tôi đã nhanh chóng nói lời chào và không hẹn tái ngộ!

 

Nghe xong chuyên, tôi cười, nói với con gái:

-         Rồi!! Kể từ nay tên Amanda cũng sẽ chính thức nằm trong sổ bìa đen của tiệm đó với biệt danh “con quỷ sứ”!

Edmonton, Jan. 2024

KIM LOAN

TẾT ĐẾN MẦN CHI ??

 

Tự dưng, người bạn xóm cũ nhắn tin hỏi thăm tôi nhân dịp năm hết Tết đến. Rồi hai đứa nhắc tên những nhân vật trong xóm ngày xưa, những câu chuyện cũ rích, vui nhất là chuyện những người đẹp, và tại sao hồi đó tụi mình hổng lấy nhau.

Là xóm tôi đó, chỉ với diện tích chưa đầy cây số vuông, mà những mỹ nhân kể ra cũng khá nhiều.

Đẹp ở đây là đẹp thiệt, chứ không phải “coi được, có duyên, dễ thương” đâu nhé. Hồi đó, mỗi chiều Chúa Nhật sau giờ tan lễ Nhà Thờ, cả xóm được ngắm những chị đẹp thướt tha trong tà áo dài muôn màu. Riêng vài người đẹp nổi bật “nghiêng nước nghiêng thành” thì có Bích Thủy được chàng công tử nhà Bác Sĩ ngay chợ Gò Vấp mê như điếu đổ, là Mỹ Linh từng làm rung rinh bao trái tim các chàng trai khu xóm Z.751, là chị Hồng quán chè, chị Nữ xe nước mía. Đẹp trí thức thì có chị Hạnh (Nha Sĩ), chị Hà, chị Yến, đều là cư dân xóm Chùa Vĩnh Quang.

Đặc biệt xóm tôi có vài gia đình thuộc loại “đẹp đều”, nghĩa là cả cha mẹ đẹp, sanh ra các con trai gái cũng đều đẹp như nhau. Xóm Nhà Thờ có chị Kiêm, bốn đứa con chị đủ trai đủ gái thừa hưởng nét đẹp mạnh mẽ sắc sảo của chị, (chị Kiêm còn có các anh chị em cũng rất đẹp, đó là chị Hoài có đôi mắt mơ màng như nước hồ thu, em trai của chị là anh Đạt, đi chung chuyến tàu vượt biên với tôi qua Thailand). Kế bên nhà Cha Xứ, hai căn nhà của gia đình cô Ngọc cô Nga là hai chị em có chút nét lai Pháp từ ông bà ngoại nên các con của hai cô thuộc loại trắng trẻo, trai xinh gái đẹp cả nhà. Cô bé út nhà cô Nga năm nào cũng được chọn làm Đức Mẹ trong đêm Canh Thức đón Chúa Giáng Sinh.

Bên xóm Chùa có hai gia đình “đẹp đều” là nhà bác Đại và bác Kỷ. Nhà bác Đại, các con cao ráo, thanh lịch, trong đó có chị Hà từng đi với tôi một chuyến vượt biên hụt ở Miền Tây. Mấy đứa em trai chị xấp xỉ tuổi tôi, từng là “mơ ước” của nhiều đứa con gái trong xứ, vì đó là gia đình khá giả, lãnh đồ Mỹ đều đều. Nhà bác Kỷ, các cô con gái dịu dàng, ăn nói ngọt ngào, các cậu con trai cũng thế, nổi bật là chị Hằng, là cô giáo, với mái tóc dài mượt mà, khuôn mặt trái soan như Thanh Nga, được thầy Trần Văn Triệu, hiệu trưởng trường cấp 2 của tôi trồng “cây si” miệt mài một thời gian dài. Mỗi chiều thầy Triệu chạy xe đạp đến nhà chị Hằng, phải đi qua nhà tôi, vì nhà chị Hằng cuối ngõ, hễ Thầy thấy tôi đứng sớ rớ trước cổng là Thầy bối rối (hơi quê), nhìn qua chỗ khác, nhưng tôi luôn mau mắn... lập công:

– Thầy ơi, chị Hằng có nhà đó Thầy!

Dĩ nhiên, cuộc tình “một chiều” này cũng chẳng tới đâu, vì chị Hằng khôn ngoan, mơ ước cao hơn nhiều. Thầy Triệu chỉ là hiệu trưởng, đồng lương có là bao, cả đời chạy xiếc xe đạp, đã vậy suốt ngày chỉ biết viết lách, làm Thơ, sống như ở “trên mây”, là những thứ chị Hằng không cần.

Mà cái xóm gì kỳ lạ, ngay cả người rũ áo bụi trần để khoác áo nâu sòng cũng... đẹp hơn người thường đó đa. Sư cô Huyền, nay là trụ trì Chùa Vĩnh Quang, cũng là người trong xóm vào Chùa tu từ bé. Hồi tôi còn ở Việt Nam, sư cô Huyền dù là trong tấm áo cà sa, mái tóc không còn, nhưng khuôn mặt vẫn đẹp đậm đà, nên thường bị đám thanh niên ăn không ngồi rồi quanh xóm Chùa tụ tập ở khu gò mả kế bên Chùa, đờn ca các bài nhạc vàng bolero chọc ghẹo sư cô, đại loại như: “Em tôi xinh đẹp hơn người thường, không áo xanh áo đỏ thơm hương, nhưng trong vườn Chùa lá thu bay, ôi ngọc ngà nhan sắc thơ ngây” (nhái nhạc Trần Thiện Thanh).

Nói đến “gái sắc” thì cũng nên kể về “trai tài” cho đồng đều, phải không quý vị?

Ở đây, tôi chỉ xin nói về “tài” học vấn thôi nhé, còn các chàng có những tài khác trong xóm, như tài chơi nhạc, ca hát, họa sĩ, kể cả tài “phá làng phá xóm” cũng có luôn nha, xin hẹn dịp khác.

Mở màn cho nhóm trai tài, tui xin được “ưu tiên” giới thiêu bốn ông ... anh ruột của tui, chớ cần gì kiếm đâu xa. Ngoài ông anh Hai vào Đại Học trước năm 1975 khi Miền Nam chưa lọt vào tay Cộng Sản Bắc Việt, thì ba ông anh kế tiếp lần lượt đậu Đại Học trong vinh quang, khi mà lý lịch gia đình còn vướng “ngụy quyền”, nhưng vì điểm đậu quá cao không thể bị đánh rớt. Riêng người anh thứ Năm, mùa thi Đại Học năm 1979 căng thẳng chiến tranh phía Bắc và Tây Nam, sợ bị gọi đi “nghĩa vụ quân sự”, anh liền thi hai trường Đại Học, một trường Cao Đẳng, kết quả đều đậu điểm cao, nhưng vẫn bị nhận giấy nhập ngũ. Gia đình tôi bèn lập kế hoạch cho anh đào ngũ từ quân trường, rồi phiêu bạt nơi sông nước Miền Tây mấy tháng trời, trước khi vượt biên trót lọt qua Songkla, Thailand.

Xóm Chợ có nhà ông Y tá Long, có 5 người con trai đều học giỏi, trong đó có Điền học trên tôi hai lớp, sau đó đậu vào Bách Khoa, và em kế là Hiệp vào Y Khoa dễ như ...ăn cháo. Kế bên nhà bác Long, cũng là gia đình có mấy cậu con trai học hành siêu đẳng, có bán quán tạp hóa, mà hễ ai đi ngang thấy cậu trai nào ngồi canh hàng giúp gia đình, là y như rằng trên tay họ cầm cuốn sách, đọc đọc, ghi ghi chép chép, cặp kiếng dày cộp, bảo đảm có bị ai lấy trộm hàng cũng chả biết, có người ngồi coi hàng cũng như không.

Xóm Chùa có gia đình cô Kết, cô giáo mẫu giáo của tôi hồi bé, ngoài chị Hạnh là con cả làm Nha Sĩ, các cậu em của chị cũng thuộc nhóm hiền lành, ngơ ngác “chỉ biết ... học thôi, chả biết gì!”. Tôi nhớ nhứt anh Tư có biệt danh là “Tư Bác Học”, nghe tên là đủ biết rồi nha, khỏi nói nhiều.

Là “gái sắc” thì sẽ có nhiều “cây si” theo đuổi, là “trai tài” cũng sẽ có nhiều bóng hồng ái mộ, mến tài. Anh Hai tôi, dạy học ngoài Cần Thơ, mỗi lần về thăm nhà vội vàng, thời “Cả Nước Xuống Hố”, đem theo quà Miền Tây, nào xoài, nào chuối khô, cốm dẹp, bồi dưỡng đám em nhỏ trong nhà, rồi dẫn chúng tôi đi trám răng nhổ răng... miễn phí (của nhóm bạn học chung Đại Học Khoa Học thuở xưa, nay họ làm Nha Sĩ, Bác sĩ), rồi chiều tối anh bắt chúng tôi đem bài vở ra để anh dạy kèm, nên anh chẳng có thời gian đi chơi trong xóm. Có lần, một chị hàng xóm đến thăm anh, hai người ngồi nói chuyện đến khuya, khi tiễn chị ra về, đi ngang qua chiếc giường tôi nằm ngủ ngay phòng khách, nên nghe được câu trách móc dỗi hờn của chị (không phải tôi nghe lén đâu á):

– Mỗi lần anh về xóm chắc là bận đủ điều, em đợi hoài chẳng thấy bóng anh sang nhà chơi, nên hôm nay em phải ... hạ mình đến gặp anh đó, anh biết chưa!

Nào phải anh là gỗ đá mà hổng có trái tim, có điều, sau hai mối tình không thành với hai cô gái vùng “gạo trắng nước trong”, anh đã ấp ủ con đường vượt biên để lo cho gia đình, chuyện tình cảm tính sau.

Có một thời gian, căn nhà của gia đình tôi trở thành “Xóm Học” vì các bạn chung trường Đại Học của mấy ông anh, kẻ ở Miền Trung xa lắc, người ở Hốc Môn, người ở Miền Tây, đều tá túc ăn ngủ nhà tôi. Thỉnh thoảng vào cuối tuần, ông anh Ba nhóm họp bạn có máu văn nghệ tại nhà, đờn địch ăn uống vui vẻ. Trong nhóm có anh Tiến, cao ráo, nước da sạm màu phong sương, đang quen biết với chị Cẩm, tiểu thơ con gái nhà giàu. Bữa đó, mấy anh đang ca hát rộn ràng bên trong nhà, thì chị Cẩm chạy chiếc Honda Dam dừng ngay cổng, tôi đi ra chào, chị mừng rỡ:

– Có anh Tiến ở trỏng không em? Chị muốn gặp ảnh chút xíu!

Tôi hớn hở:

– Dạ có, để em vô kêu ảnh nha.

Vào trong, vừa báo tin có chị Cẩm kiếm, anh Tiến xua tay:

– Thôi, em ra nói hổng có anh ở đây.
– Ủa, sao được! Em lỡ nói có anh rồi?!
– Bữa nay anh không muốn gặp, em ra nói sao thì nói, cho chừa cái tật ... tài lanh!
– Anh ác lắm nghen anh Tiến! Người ta là con nhà lá ngọc cành vàng, chạy xe từ Cầu Chữ Y xuống vùng mút chỉ cà tha Gò Vấp này thăm anh, mà anh nỡ lòng nào ...

Tôi đành mặt sưng mày sỉa, ra ngoài nói với chị Cẩm là anh Tiến đã về hồi nãy, nhưng nhìn vào mắt chị, tôi biết chị biết tôi nói dối, tôi áy náy lắm, nhưng biết làm sao hơn.

Thực tình mà nói, trong chuyện tình yêu, tôi đồng ý với trường phái “ai tỏ tình cũng được”. Không nhất thiết con gái phải thụ động, chờ chàng trai lên tiếng trước. Có khi chàng hiền lành, vụng về, hoặc vì lý do nào đó chưa dám thổ lộ, mà nàng cứ chờ, chờ mãi, sẽ vuột mất cơ hội cho cả hai, sau này lại ca bài “Tình Lỡ” . Chi bằng, nàng cứ mạnh dạn bày tỏ, như hai trường hợp tôi vừa kể trên, cho “người ta” biết tình cảm của mình, để còn biết kết quả sớm sủa, đặng nếu thất bại thì đi tìm... mục tiêu khác, khỏi mất thời gian.

Giờ đến chuyện “tên trùng tên” của xóm tôi. Một trong hai nhỏ bạn thân của tôi trong xóm là Bích Vân. Ngay bên chợ Đức Tin có nhỏ Vân Củi (vì nhà bán củi). Nhỏ này, nhìn kỹ thì rất đẹp, mũi nhỏ, môi xinh, mắt to tròn, nhưng nó bị điểm trừ rất lớn là nước da đen thui (gái Cambodia còn ... trắng hơn nó luôn đó đa!), mà khổ nỗi, đàn ông ít ai chịu nhìn kỹ nên nó hơi bị ...ế, và vì người Việt mình cũng khoái “nhất dáng nhì da”.

Xích lên khu trại gia binh thì có Vân Gà, con của bà Năm bán gà. Nhà thầy giáo Đăng cũng có cô con gái làm cô giáo tên Vân. Chị này luôn luôn đeo đôi bông tai hình tròn bự tổ chảng nên xóm gọi là Vân Khoen Tai. Bên hông nhà thờ có nàng Vân (Tấu) là con của bà Tấu. Nàng Vân Tấu và nàng Bích Vân hiện nay là hai ca trưởng của hai ca đoàn nhà thờ Đức Tin, vẫn còn kèn cựa, cạnh tranh nhau trong việc hát ca phụng vụ, thậm chí Cha xứ phải ra tay mà vẫn chưa có... hòa bình, chỉ bằng mặt chớ chưa bằng lòng, (hỏi xem Chúa trên tòa cao có dzui!?).

Ngõ hẻm Đất Đỏ thì có Hồng Vân bán thuốc là trước cổng Z751, nhỏ này xinh xắn miệng nói không lành da non nên lấy chồng cũng rất sớm là chàng cầu thủ của Z751! Ngoài ra còn có Vân Bún Măng Vịt con ông bà Đông chuyên bán bún vịt.

Tới đây tôi xin mở ngoặc, kể chút chuyện. Một anh bạn học chung ngoài Sài Gòn có lần hỏi tôi:

– Ủa, sao xóm em mang cái tên Z751 giống như... bí số, nghe như phim hình sự, phim 007 vậy cà, hổng lãng mạn thơ mộng chút nào.

Tôi cười:

– Anh đến đấy, coi chừng bị giật mình, vì kế bên xóm Z751 của em sẽ là các xóm mang các “bí số” khác nữa: Xóm C30, X28, X32, đó là chưa kể phải ngang qua... Ngã Năm Chuồng Chó nữa nghen! Hết hồn chưa nà?!

Quả thật, trước năm 1975, nơi đây là khu quân sự của quân đội VNCH với các trại Quân Cụ, Quân Nhu, Quân Trang, Truyền Tin, Quân Khuyển, và sau khi rơi vào tay Cộng Sản Bắc Việt, họ vẫn giữ các khu quân sự này với các tên toàn các chữ số khó hiểu.

Trở lại chuyện các tên trùng tên của xóm, tên KimLoan của tôi ngoài xã hội thì đại trà bao la, nhưng trong xóm chỉ trùng với một chị Loan. Nhưng có điều thú vị, cả tôi và chị chỉ xài tên Loan trên giấy tờ, trong xóm chẳng ai biết, vì họ chỉ biết tên của tôi ở xóm là Thoa, và chị Loan kia ở xóm gọi là Hương.

Bởi vậy, nếu có chàng nào ngơ ngác lạc vào xóm tui, hỏi nhà cô Loan, thì phần nhiều sẽ nhận được câu trả lời rất... chảnh, rất lạnh lùng rằng:

– Xóm này hổng có ai tên Loan hết á!

Ủa, đang yên đang lành, Tết đến mần chi, để tôi bỗng nhớ da diết xóm cũ thương yêu của tôi thế này!

– Thôi, tui đi khóc đây.


Kim Loan

Edmonton Feb 3/2024 

 

 

 

 

 

" Father, forgive them, for they do not know what they are doing"

                                                -Luke 23:34-

ĐI MỸ ĂN TẾT

 

Có lần tôi thông báo với nhỏ bạn trong ca đoàn nhà thờ là sắp đi Mỹ ăn Tết, nó la lên:
– Trời, tưởng bà về Việt Nam ăn Tết chứ đi Mỹ ăn Tết thì cứ ở đây ăn Tết. Canada và Mỹ cũng là Tết tha hương nơi nào chẳng giống nhau.
– Đồng ý, nhưng có khác nghen, bên đó tui có đầy đủ người thân: có Ba, có các anh chị em, các cháu và họ hàng gần xa, như vậy là đủ ấm áp và ý nghĩa với tui rồi, đó là chưa kể bên Texas hổng có tuyết rơi mù mịt vào ngày Tết nha.

Nhỏ gật gù:
– Cũng có lý.
– Càng có lý nữa là qua Mỹ tôi sẽ là … thượng khách của các anh chị tôi. Nay ăn (chực) nhà này mai ăn (chực) nhà khác, rồi mấy đứa em họ dẫn đi ăn nhà hàng, tóm lại là khỏi phải thò tay nấu nướng gì cả, cứ việc ra ngoài du Xuân và về nhà ăn cỗ cùng gia đình.

Thật vậy, trong khi Tết ở Canada tuyết trắng xóa đất trời, thì Arlington vùng Dallas Texas chỉ hơi se lạnh, gió mát hiu hiu trong bầu không khí khô ráo, tuyệt vời biết bao.

Nhớ lần đầu, tôi qua Mỹ ăn Tết cách đây gần 30 năm, Ba tôi và ông anh dẫn 2 đứa con từ California về Texas, gia đình ông anh khác từ Oklahoma cũng chạy xe về Texas, rồi với gia đình bà chị ở Texas, tất cả cùng kéo nhau ra phi trường Dallas Fort Worth cho tôi một niềm vui bất ngờ. Cha con anh chị em gặp nhau ríu rít mới thấy cái thiêng liêng của sum họp, của ngày Tết Nguyên Đán nơi xứ người quý giá thế nào.

Lúc ấy thành phố Arlington còn ít người Việt, không đông đúc như bây giờ và dĩ nhiên Tết cũng trầm lắng hơn, chợ búa Việt Nam ít ỏi, chưa có ngôi nhà thờ Các Thánh Tử Đạo rộng rãi bề thế như ngày nay, mà chỉ là căn nhà thờ bé nhỏ share với cộng đồng của Mỹ. Hàng hóa Việt Nam chưa xuất cảng qua nhiều, cũng may có bà chị dâu của tôi mới trở về thăm mẹ bệnh ở Việt Nam trước Tết nên đem qua được các món: các phong bao đỏ lì xì, bánh đậu xanh Bảo Hiên Rồng Vàng, các bịch mít sấy, khô mực xé nhỏ ướp sẵn gia vị, kẹo chuối, kẹo dừa, kẹo đậu phộng … cũng đủ cho mâm bánh kẹo ngày Tết của đại gia đình.

Mấy bà chị tôi cao hứng quyết định nấu bánh chưng như ngày xưa còn ở Việt Nam để kỷ niệm mùa Xuân đoàn viên đầu tiên trên đất Mỹ. Chao ôi là nhớ, hồi ấy cứ gần ngày 30 là ông chú họ đến gói bánh chưng giùm nhà tôi. Chị em tôi vo gạo đãi đậu xanh, Ba tôi cắt thịt heo và ướp tiêu ướp muối, người rửa lá chuối, người chẻ lạt. Khi mọi nguyên liệu đã sẵn sàng, ông chú oai phong ngồi trên chiếc chiếu ngay sân sau nhà, cẩn thận và khéo léo gói mấy chục chiếc bánh, chúng tôi ngồi quây quần bên chú xem chú gói bánh để học hỏi. Đến con chó Kiki nhà tôi hình như cũng cảm nhận được giây phút vui vẻ đầm ấm này, nó góp mặt nằm gối đầu lên 2 chân xoải ra thảnh thơi bên cạnh tôi và ngay cả suốt đêm canh củi lửa nồi bánh, con KiKi cũng luẩn quẩn sau nhà, không rời nửa bước vì sợ lỡ … cuộc vui.

Nhưng nay ở Mỹ không còn cảnh gói bánh chưng “linh đình” như thế nữa, chỉ gói vừa đủ trong chiếc nồi lớn ngoài garage. Đêm Texas yên bình, chúng tôi ngồi uống trà, ăn kẹo đậu phộng, canh nồi bánh để tìm lại những kỷ niệm xưa, những mùa Xuân xưa nơi quê nhà, mà ngậm ngùi, mà xao xuyến nhớ thương.

Lúc đó cũng chưa có các hoa mai hoa đào giả như bây giờ, tôi chợt nhớ hồi ở trại tỵ nạn Thailand chúng tôi tìm các cành cây khô về, dán hoa mai bằng giấy vàng lên, điểm vài lá xanh, cũng … rực rỡ lắm. Tôi bèn rủ đứa cháu cùng ra sau vườn chặt một nhành cây, đem vào để ngay góc phòng khách, rồi treo các phong bì lì xì màu đỏ, nhìn cũng vui mắt và có màu Tết!

Đêm Giao thừa, không pháo nổ, đại gia đình ăn bữa cơm tất niên, có thịt kho trứng, chả lụa, bánh chưng, dưa muối, miến gà, rồi lì xì lẫn nhau. Ba tôi rưng rưng nước mắt, giây phút đoàn tụ mà trước đây, khi các anh của tôi và tôi lần lượt đi vượt biên, chúng tôi không dám mơ. Tạ ơn cuộc đời, tạ ơn nước Mỹ.

Một chợ lớn duy nhất tại Arlington lúc đó là chợ Hongkong có tổ chức buổi văn nghệ Mừng Xuân vào tối Mồng Một, với 2 danh ca đang nổi như cồn là Don Hồ và Ngọc Lan. Ui chu choa, mấy chị em dì cháu chúng tôi nao nức đi xem văn nghệ để được tái ngộ ca sĩ Ngọc Lan vì chị ấy chính là hàng xóm cũ thuở xưa. Chị là ca viên có giọng ca solo hay nhất giáo xứ Đức Tin mà! Thiệt là vui khi được đi xem chị hát, ủng hộ chị Thanh Lan, là tên thật ở xứ hay gọi chị như thế, qua đây chị lấy nghệ danh Ngọc Lan. Hồi đó tôi chỉ là cô bé 9-10 tuổi mà đã mê mẩn ngắm sắc đẹp của chị Lan mỗi khi chúng tôi đến nhà xứ chơi, gặp ca đoàn chị đang tập hát.

Chúng tôi đến buổi Hội Xuân-Văn Nghệ rất sớm, tìm được mấy chỗ ngồi tốt gần sân khấu để chút nữa sẽ lách vào cánh gà tìm thăm chị Lan, nhắc lại kỷ niệm xóm cũ. Chương trình văn nghệ bắt đầu với các ca sĩ địa phương, điệu nhạc rộn ràng “Xuân đang đến bên em, dáng xuân tuyệt vời ...” làm tôi ngứa chân, rủ đứa cháu trai ra sàn nhảy. Đang tưng bừng trong tiếng nhạc xập xình, bỗng người bên cạnh dừng lại, nhìn tôi:
– Chị Loan! Chị Loan đúng không?

Trong tranh tối tranh sáng của ánh đèn mờ ảo, tôi khựng lại vài giây rồi reo lên:
– Thảo! Thảo, trời ơi là trời, chị đi tìm Ba Má em mấy năm nay!

Thế là chúng tôi nắm tay nhau nhảy cẫng lên sung sướng, rồi tiếp tục nhảy tưng tưng như điên vì hạnh phúc vỡ òa, tìm lại người quen cũ ngày xưa rất thân thiết bên Việt Nam. Sau bài nhạc đó, chúng tôi kéo nhau ra phía ngoài nói chuyện, những câu chuyện bất tận của 7-8 năm xa cách tưởng như không bao giờ được gặp lại, niềm vui này còn vui hơn đi tìm … Ngọc Lan. Chúng tôi hỏi thăm nhau tới tấp:
– Chị sống ở Mỹ hả, thành phố nào?
– Từ trại tỵ nạn chị qua Canada, bữa nay qua Mỹ ăn Tết với gia đình. Còn Ba Má và tụi em ở đâu?
– Nhà tụi em ở Dallas, tụi em xuống Arlington đêm nay vì Đạo chồng của em chơi nhạc keyboard trong ban nhạc Văn Nghệ Mừng Xuân nè chị. Tối nay về tụi em báo tin chắc Ba Má tụi em sẽ mất ngủ để chờ nói chuyện phone với chị đó.

Sau này, vợ chồng Đạo- Thảo sinh đứa con đầu lòng, Celine Thiên Ân, cô bé ấy nổi danh cả vùng Dallas vì có giọng ca đặc sắc, đã từng đoạt giải tại cuộc thi VStar Kids 2017 của trung tâm Thúy Nga và hiện nay là ca sĩ đắt show nhất trong các dịp Lễ, Tết tại địa phương. (Tôi sẽ viết về cô bé này trong một dịp khác).

Đó là kỷ niệm của cái Tết đầu tiên trên đất Mỹ, và mới đây lại có thêm một cái Tết khó quên.

Tháng Một năm 2023, vợ chồng con cái chúng tôi bay qua Arlington, Texas nhân dịp ông xã đi Pharmacy Conference bên New Orleans và kết hợp ăn Tết cùng đại gia đình. Cũng giống như thường lệ, ngoài mục đích chính họp mặt những người thân yêu, chúng tôi còn dành thời gian ngao du các thành phố lân cận thăm viếng bạn bè, người quen.

Đến thành phố Arlington như trở về “ngôi nhà thứ hai”của mình. Ông xã tôi cũng thuộc tất cả các con đường từ nhà các anh chị em của tôi đến các khu khác của thành phố Arlington, nếu cần lái xe đi Fort Worth, Plano, Garland, Dallas, Houston, San Antonio… chúng tôi cũng tự tin thẳng tiến, chẳng cần nhờ ai hướng dẫn, chỉ đường (vì còn có GPS khi cần thiết, lo gì).

Bây giờ chợ búa Việt Nam đã phong phú, đã nhập về đủ các món Tết từ Việt Nam, Taiwan, các loại bánh mứt, hạt dưa, các món muối chua củ kiệu dưa món. Trái cây cũng nhập về “cầu dừa xài đủ” cho bà con tha hồ mua sắm, chưa kể các loại hoa Xuân rực rỡ một góc chợ, từ hoa cúc tươi vàng rực, đến hoa mai Mỹ, và cả mấy chậu hoa mai Việt Nam nữa, chẳng hiểu họ kiếm ở đâu ra.

Dù thời đại này youtube chỉ dẫn đầy đủ cách gói bánh chưng, bánh tét nhưng các chị tôi không gói làm chi cho cực thân, vì đã có những hội đoàn nhà thờ, nhà chùa bao giàn, món mặn món chay không hề thiếu.

Một cái Tết đầy đủ vật chất, nhưng chúng tôi đã vắng đi một người thân. Ba tôi mất ở tuổi 95 ngay sau mùa dịch Covid. Từ khi Ba còn khỏe mạnh bình thường chúng tôi đã hỏi ý Ba sau này qua đời Ba có muốn chôn cất hoặc mang tro cốt về quê quán ở Việt Nam không, Ba trả lời ngay:
– Ba đã sống ở Mỹ thì chết và an táng ở Mỹ, Ba yêu nơi đây, nước Mỹ quê hương thứ hai đã cho Ba cuộc sống hạnh phúc, con cháu của Ba đang sinh sống và lớn lên ở Mỹ.

Hồi đó nghe câu tuyên bố của Ba, tôi đã gọi phone sang khen Ba và nói vui:
– Nước Mỹ mà nghe được câu nói này của Ba họ sẽ cảm động lắm và trao tặng Ba huy chương vàng đó.

Chiều 30 Tết các anh chị em chúng tôi đi thăm mộ Ba, Má ngay tại thành phố Arlington này. Nghĩa trang Moore khu «gia cư» của Ba Má tôi đây. Khi an táng Ba, chúng tôi đã gởi theo cả hũ tro hài cốt của Má mang từ Việt Nam sang, để hai ông bà “gặp lại nhau” chung một nấm mồ, tiện cho con cháu viếng thăm. Ba Má tôi có duyên với nước Mỹ đấy, ngày xưa cách đây mấy chục năm có thầy bói nào đoán Ba Má tôi về già qua đời sẽ được an táng tại một nghĩa trang ở Mỹ thì không ai tin nổi.

Nhắc lại chuyện Ba tôi yêu nước Mỹ, tôi xin kể về một người hàng xóm cũ, cũng đang sống cùng thành phố Arlington mà gia đình tôi rất quý mến.

Chị tên Lưu, cũng có những ý tưởng như Ba tôi. Hai vợ chồng chị không có con cái, sang Mỹ diện H.O, vừa chân ướt chân ráo đến Mỹ 2, 3 năm thì chồng chị bị đột quỵ nằm một chỗ. Chị đã cực khổ chăm nom chồng gần chục năm trời. Khi chồng qua đời thì tuổi chị đã ngoài 60 không còn cơ hội đi làm và chị tiếp tục hưởng trợ cấp chính phủ. Chị Lưu không có thân nhân ruột thịt ở Mỹ, chỉ có gia đình người chị chồng. Chị Lưu share phòng ở nhà một người quen. Nhiều người khuyên chị Lưu về Việt Nam sống, có mấy gia đình người em để nương tựa khi tuổi già sức yếu, nhưng chị Lưu luôn khẳng định chọn con đường ở lại Mỹ. Ở Mỹ sức khỏe được bảo vệ và an toàn tài chính cho tới khi chị qua đời không phải lo nghĩ gì cả. Nếu phận số không may về già đau ốm bệnh hoạn thì vào nursing home, khỏi phiền lụy đến thân nhân nào. Về Việt Nam được gần gũi người nhà, được sống trên quê hương mình nhưng nghĩ mỗi khi đến chốn công quyền, khi vào bệnh viện lúc đau yếu, phải năn nỉ biếu quà biếu tiền là chị đủ khiếp sợ. Mấy chục năm qua chị Lưu đã quen nếp sống ở Mỹ, nơi mà quyền con người được tôn trọng dù là một người nghèo đang ăn tiền trợ cấp chính phủ.

Tôi mừng cho chị Lưu đã quyết định sáng suốt. Vợ chồng tôi có ghé nhà chị uống cafe, vui mừng hơn khi thấy chị sống khỏe mạnh, bình an trên quê hương mới mà chị nói sẽ chọn nơi này suốt quãng đời còn lại.

Một niềm vui khác, tôi được gặp vợ chồng người bạn cùng lớp thời học cấp III sau gần 40 năm xa cách. Người bạn này, đi vượt biên năm 1986 và định cư bên Úc, chúng tôi chỉ “gặp” nhau trên facebook, chưa bao giờ có ý nghĩ được “tay bắt mặt mừng” vì tôi chưa có ý định đi Úc và bạn cũng chưa có lý do đến Canada. Nhưng đời ai biết được chữ ngờ, “hữu duyên thiên lý” khi vợ chồng bạn từ Úc bay qua Oklahoma thăm gia đình người chị ruột cùng lúc tôi cũng từ Canada bay qua Arlington, thế là vợ chồng bạn book ngay vé từ Oklahoma đến Arlington để gặp tôi. Một niềm vui không biết trước, một cuộc hội ngộ không hề nghĩ tới, và đã xảy ra, vui không kể xiết.

Có phải nước Mỹ luôn mang niềm vui hội ngộ bất ngờ cho tôi để… thưởng công tôi đã yêu mến nước Mỹ chăng?

Ngày hẹn gặp mặt, ông xã tôi bận đi Conference ở New Orleans nên tôi phải nhờ ông anh ruột chở tôi đến hotel đón bạn, (vì bạn ở Úc lái xe vô-lăng bên tay phải nên qua Mỹ hổng dám lái), sau đó anh đưa chúng tôi đến nhà thờ Các Thánh Tử Đạo để chụp hình, viếng nhà thờ, rồi cuối cùng đưa chúng tôi đến Hội Chợ Tết tại Bến Thành Plaza vì anh phải ra phi trường đón một người thân khác của gia đình từ Seattle về Arlington ăn Tết. Trước khi lái xe rời đi, anh tôi có chút lo lắng, không muốn để “người Canada và người Úc” bơ vơ trên xứ Mỹ, tôi vui vẻ:
– Trời ơi, em qua đây như đi chợ, cái Bến Thành Plaza và Asia Times Square em thuộc như lòng bàn tay, hơn nữa, hội chợ toàn người Việt thì anh lo gì chúng em bị lạc chớ!

Tôi và vợ chồng người bạn đến Hội Chợ Tết khá sớm, lưa thưa vài người bắt đầu vào parkinglot, dạo quanh các cửa tiệm ăn uống bên ngoài và bên trong Plaza. Ngay cửa vừa bước vào là gian hàng các món ăn vặt của Thiền Viện Quang Chiếu (Arlington), các anh chị bán hàng niềm nở chào đón và giới thiệu các món: bánh bò nướng, bánh tằm, bánh da lợn, bánh waffles đổ nóng hổi ngay tại chỗ. Vợ chồng người bạn còn đang say sưa nhìn ngắm, chưa quyết định thử món nào, tôi bèn nhanh nhẩu lên tiếng để “điền vào chỗ trống”:
– Đây là 2 người bạn của tôi từ Úc Châu mới qua Mỹ lần đầu, còn tôi từ Canada, chúng tôi đang “khám phá” (vừa khám vừa… phá) nước Mỹ, các anh chị thông cảm chờ chút nhe!

Nghe vậy họ cười thật tươi, vui vẻ:
– Ồ vậy sao, welcome to America!

Vì câu “bạn tôi mới đến Mỹ lần đầu”, nên ai cũng nhiệt tình xúm xít giới thiệu các món ăn một cách ưu ái, cũng là cách giới thiệu về nước Mỹ, về sự thân thiện của người Mỹ gốc Việt dành cho những người “ngoại quốc” là chúng tôi. Thấy mọi người tiếp đón chúng tôi nồng nàn, tôi vui quá, vì được lộc Tết hưởng ké theo bạn, cứ “dạ dạ vâng vâng” rồi thoải mái thong thả ăn thử hết tất cả samples các loại bánh, mà món nào cũng ngon tuyệt.

Bạn tôi cảm động hứng chí đề nghị chụp chung một tấm hình kỷ niệm tình thân ái “Mỹ- Úc-Canada”. Sau đó chúng tôi mua một số bánh ủng hộ gian hàng Thiền Viện Quang Chiếu, lại tiếp tục đi vòng quanh khu hội chợ xem các món hàng và xem ca nhạc. Vừa ngồi xem văn nghệ, vừa cầm ly nước mía tươi, và dĩa xôi xoài, cùng mớ bánh bò, bạn tôi luôn miệng xuýt xoa, ở Mỹ cái gì cũng … bự, cũng ngon, no quá nhưng sẽ quyết chí ăn cho hết kẻo về Úc lại thèm.

Đến khuya, sau khi no căng bụng, chúng tôi kêu ông anh tới đón. Trước khi đưa vợ chồng bạn tôi về hotel, anh đề nghị đưa họ xuống downtown Dallas ngắm cảnh Dallas By Night. “Thật là một kỷ niệm không bao giờ quên của nước Mỹ” là câu nói của bạn tôi sau khi trở về nhà. Tôi cũng vậy, về Canada mà lòng còn vương vấn những dư âm của phút giây hội ngộ mùa Xuân trên đất Mỹ.

Nhỏ bạn thân có lần thắc mắc:
– Bà ở Canada gần 30 năm trời, mà sao gia đình chưa bảo lãnh qua bển, để bà cứ suốt ngày ở đây viết bài nhớ nhung ca tụng Mỹ Quốc?

Thực ra cách đây hơn 10 năm, sở di trú Mỹ đã gửi giấy kêu cả nhà tôi 4 người đóng tiền Visa, chuẩn bị qua Mỹ đoàn tụ theo giấy bảo lãnh của ông anh Hai. Nhưng vì nhiều lý do, nhất là công việc của ông xã và hoàn cảnh gia đình lúc bấy giờ, nên tôi, một lần nữa, không có duyên với “anh” Mỹ, nhưng có nợ với “chàng” Canada. Mà thôi, như vậy tôi được yêu thương cả 2 quốc gia, lời quá nhiều.

Hồi mùa hè, ông xã tôi hớn hở báo tin:
– Đầu năm 2024, anh sẽ đi Conference ở San Diego từ Feb 1 tới Feb 5, tức là 5 ngày sau là mồng Một Tết Giáp Thìn, em có muốn đi theo như năm ngoái, tụi mình sẽ lái xe xuống Little Sài Gòn đón Xuân?
– Thế ư? Chương trình hấp dẫn đấy, dù California không có anh chị em đông đảo như bên Texas, chỉ có mỗi ông anh làm hãng Boeing, nhưng ổng đi công tác liên miên, chẳng biết kỳ này có nhà không?
– Thì em đã từng nói, hễ em qua Mỹ ăn Tết là có tin vui mà, năm nay thử xem. Em cứ từ từ suy nghĩ, muốn ở lại nhà làm MC Tết cho Hội Người Việt Edmonton hay qua Mỹ đón Xuân, rồi cho anh biết để book vé.

Nhưng lần này tin vui đến sớm hơn mong ước, vì ngay vài hôm sau, tôi nhận được tin trúng giải Chung Kết cuộc thi Viết Về Nước Mỹ 2023, để rồi cuối tháng 11 tôi có một chuyến đi lãnh giải, gặp gỡ những cây bút “biết tên từ lâu, giờ mới biết mặt” đầy ắp kỷ niệm yêu thương nhớ đời. Bất ngờ hơn nữa, là tôi, một dân “ngoại đạo” (không phải công dân Mỹ) mà may mắn được nhận giải Vinh Danh Tác Giả, hạnh phúc như một giấc mơ.

Vậy đó, lần nào qua Mỹ ăn Tết, thậm chí chỉ mới dự định thôi nhé, mà xứ Mỹ luôn tặng tôi những thú vị bất ngờ .

Ôi, lòng tôi còn vui hơn … Tết


KIM LOAN

Edmonton, Xuân Giáp Thìn 2024 

KimLoan_Xuantinhyeu.jpg

Mùa Xuân anh ơi, là mùa vui

Ngày hăm ba ông Táo về trời

Rộn ràng niềm yêu đời phơi phới

Đón ba ngày Xuân vang tiếng cười

 

Mùa Xuân anh ơi, là mùa hoa

Nở rộ khắp nơi, khắp mọi nhà

Mai, đào, hồng, cúc …màu rực rỡ

Thắm tươi theo cánh gió chan hoà

 

Mùa Xuân anh ơi, mùa tình yêu

Anh nắm tay em, chớ nói nhiều

Phố phường nhộn nhịp người dạo bước

Mắt em long lanh dưới nắng chiều

 

Anh sẽ cùng em đón giao thừa

Ôi thiêng liêng giây phút sang mùa

Lắng nghe anh nhé, chồi nảy lộc

Tóc em xôn xao, ngọn gió lùa

 

Pháo nổ vang trời, kìa Tết đến

Đôi tim rạo rực, bóng Xuân sang

Tình anh tặng là quà mừng tuổi

Giấc ngủ đêm về, em bâng khuâng

 

Ba ngày xuân rồi cũng qua mau

Nhưng mối duyên mình sẽ bền lâu

Mùa Xuân anh ơi, mùa hạnh phúc

Hãy đến trao em mộng ban đầu

 

Edmonton, Xuân Giáp Thìn 2024

KIM LOAN

KimLoan_MC.png

NGƯỜI HÙNG CỦA MÙA XUÂN

Trong buổi họp chuẩn bị cho ngày liên hoan Tết năm ấy, cô giáo trẻ sung sức là tôi, cao hứng giao cho nhóm lớp trưởng lớp phó lo phần trang trí, mua bánh kẹo, nước uống, còn tôi sẽ nấu một nồi chè bà ba và một hũ đậu phộng rang.

Thú thật, tôi chưa bao giờ đảm đang chuyện bếp núc, từ bé tới lớn tôi chỉ biết ăn rồi học, mọi việc trong nhà đều có các anh chị lớn lãnh hết. Có một dạo, bà chị Cả bận đi làm sớm, giao cho tôi canh củi lửa nồi cơm nhưng mười lần như một, đều bị khét hoặc nhão nhẹt. May mà sau này có nồi cơm điện thì tôi được “ưu ái” làm nhiệm vụ cắm nồi cơm mỗi buổi sáng trước khi đi học, vậy thôi, chứ tôi chưa hề biết nấu món nào khác.

Sở dĩ tôi tự tin dám nhận nấu nồi chè và đậu phộng rang, vì nhà tôi có quán nước giải khát bán bia, chị tôi thường xuyên rang đậu phộng đem ra quán nên tôi cũng gọi là biết cách rang đậu, còn nồi chè thì mới hồi mùa hè, các bạn lớp cấp 3 có nhóm họp ở nhà tôi, tôi cũng được chứng kiến và phụ hợ các bạn nấu chè ngay trong bếp nhà tôi, có gì khó đâu.

Đến ngày liên hoan, tôi tất bật từ 9 giờ sáng, mặc dù đậu xanh đã ngâm và đãi vỏ từ chiều hôm qua, bịch dừa nạo cũng sẵn sàng trong tủ lạnh. Tôi thong thả xắt khoai lang, ngâm bột khoai, bột bán, vắt nước dừa và bắc nồi chè lên cái bếp điện lớn, đồng thời quay qua bếp củi để rang chảo đậu phộng. Ngồi đảo đậu, liếc mắt trông chừng nồi chè bắt đầu sôi sùng sục, tôi vặn nhỏ bếp điện, còn bên chảo đậu cũng bắt đầu chuyển sang màu nâu đậm, thơm nức mũi. Tôi dập tắt củi lửa, bước qua chăm sóc nồi chè thì than ôi, dưới đáy nồi là khoai lang và đậu xanh đóng khét lẹt,  cả nồi chè tỏa ra một mùi khê không còn cách nào chữa nổi dù tôi đã mau mắn đổ chè qua nồi khác, bỏ phần bị khê dưới đáy nhưng thật uổng công vô ích.

Tồi ngồi thừ ra, mặt mũi lấm tấm mồ hôi, chưa biết sẽ phải làm gì, thì lại nghe mùi khét từ bên chảo đậu. Ủa, tôi đã dập tắt củi rồi mà, nhưng có lẽ vì đống than dưới chảo vẫn còn nóng nên cả chảo đậu từ từ chuyển qua màu đen và bốc khói. Tôi hoảng hốt, bắc chảo đậu xuống, mọi sự đã muộn màng, rồi tôi bật khóc tức tưởi, tiếc hùi hụi công sức đã chuẩn bị mọi thứ với lòng háo hức từ chiều hôm trước.

Để nguyên “hiện trường” bề bộn nơi bếp, tôi đứng dậy, lấy chiếc nón lá che nắng, chạy qua tiệm giải khát tìm bà chị Cả . Bà chị liền cho bài học:

-         Đậu rang xong phải bắc xuống ngay, ai lại để nguyên si trên bếp than còn âm ỉ như thế! Còn nồi chè bự cho 40 học sinh ăn thì phải đảo liên tục, chứ không thể ngồi xa dòm chừng.

Rồi thấy mặt tôi méo xẹo, chị thương hại:

-         Chị còn dư nhiều đậu phộng mới rang hôm kia, chút nữa lấy mà xài, còn bây giờ mau đi kiếm chị Năm Chè Đậu xem chị ấy có giúp gì được không, chị phải bận bán hàng.

Tôi bước đi như người không hồn, biết tìm chị Năm Chè Đậu ở đâu? Chị Năm là người khá thân với gia đình tôi, mỗi sáng cỡ 9-10 giờ chị gánh chè đậu đi bán dạo khắp xóm trên làng dưới, giờ biết chị đang ở chỗ nào mà kiếm?

Tôi rẽ vào nhà Thủy, đứa bạn thân cùng xóm cùng lớp suốt cấp hai và cấp ba Trung Học. Nó nghe đầu đuôi xong, suy nghĩ, tính toán:

-         Một giờ trưa bắt đầu buổi học ca chiều, vậy nhà ngươi phải xong xuôi mọi sự lúc 12 giờ 30, nghĩa còn khoảng hơn 2 tiếng nữa, có là Thánh cũng không kịp ngâm đậu nấu nồi chè khác.

Tôi vẫn im lặng nhìn nó cầu cứu, nó liền nói:

-         Hay là mình nấu chè khoai lang bột khoai nước dừa, khỏi cần đậu xanh? À mà thôi, từ đây ra chợ cũng 15 phút, vừa đi vừa về mất nửa tiếng, rồi gọt khoai, nạo dừa, ôi thôi, có khi làm gấp gáp còn thêm hư bột hư đường. Giờ chỉ còn cách đến nhờ chàng Lãm ra tay.

-         Lãm? Nhưng liên quan gì chứ? Hắn không phải thợ nấu, cũng chẳng phải chủ quán chè, giúp được gì?

-         Ngáo ạ! Tiệm chè nhà hắn đông khách nhất chợ Gò Vấp, từ 10 giờ sáng đến 10 giờ tối, thì lúc nào mà chẳng có sẵn đậu nấu chín, đường, nước cốt dừa, hiểu chửa?

-         Nhưng lâu rồi tao và hắn không gặp nhau, ngại quá.

-         Lâu là bao lâu?

-         Cách đây cả tháng, hay nói chính xác là 5 tuần , bữa đó hắn đến trường đón tao sau giờ dạy, rủ tao đi ăn hủ tíu, tới giờ không thấy mặt mũi hắn luôn á!

-         Chao ôi, nàng còn nhớ là đúng 5 tuần luôn hen, để tao sẽ hỏi tội chàng. Tại hắn miệt mài học hành, hắn từng nói với tụi mình rằng, từ khi vào trường Y Khoa hắn không biết cái xóm của hắn tròn méo ra sao, vì hắn ra khỏi nhà đi học lúc tờ mờ sáng và trở về khi trời sập tối, chỉ kịp ăn qua loa, rồi vùi đầu học tiếp đấy thôi. Vả lại, hắn thích mày từ năm lớp 9 đến ròng rã ba năm cấp ba, cả trường cả lớp ai mà hổng biết, tao bảo đảm hắn sẽ bằng mọi giá phải làm “anh hùng cứu mỹ nhân”. Mà cho dù hắn không còn mê mày nữa thì đã sao, bạn bè thân giúp đỡ nhau cũng được, ai cấm? Không nhưng nhị gì nữa, lấy xe Honda Dame của tao chạy ngay đến nhà hắn, kẻo không kịp.

Tôi chỉ biết răm rắp nghe lời Thủy. Tiệm chè nhà Lãm kế bên chợ, người ta nhộn nhịp chợ búa sắm Tết, rồi nghỉ chân ăn chè đá đậu ba màu, ngồi kín gần hết các bàn trong nhà và ngoài sân. Tôi dừng xe trước tiệm, may quá, Lãm đang đứng bào đá bào, phụ má bỏ đá bào vào các ly chè, vừa nhìn thấy tôi Lãm liền chạy ra. Nhìn mặt tôi rầu rĩ như sắp khóc, Lãm giúp tôi dựng xe rồi dẫn tôi vào, lấy hai chiếc ghế cho tôi và Lãm ngồi chỗ góc sân. Tôi kể lể mọi sự, Lãm nghe đến đâu khuôn mặt đăm chiêu đến đó. Tôi ngây thơ hỏi thẳng:

-         Quán nhà Lãm có dư chè giúp mình được không?

Lãm lắc đầu:

-         Thời gian gấp quá, những ngày giáp Tết như thế này đậu ngâm liên tục, nấu không kịp bán, chắc không được, Loan ơi.

Hai đứa cùng in lặng, Lãm vẫn bóp đầu bóp trán nghĩ suy, căng thẳng lắm. Tôi nản chí, nặng nề đứng lên:

-         Thôi mình về đây.

Lãm lặng lẽ nhìn theo tôi dắt xe ra vỉa hè, bỗng tôi nghe tiếng gọi:

-         Loan ơi, mình có cách rồi!

Tôi reo lên trong lòng, thật không hổ danh một trong những chàng trai thông minh nhất lớp (vào ngành Y còn được, sá chi cái vụ chè cháo này chỉ là chuyện vặt). Lãm đến bên tôi:

-         Ở trong nhà lồng chợ có lò làm sương sáo, tụi mình đến đặt mua, kế bên là tiệm bán dừa khô, họ sẽ nạo và vắt nước dừa cho mình luôn, Lãm sẽ nhờ chị Bảy giúp việc ở quán nhà thắng nước đường, Lãm sẽ mua nước đá, rồi chở đến trường cho Loan thành món chè sương sáo béo ngọt mát lạnh, Loan thấy thế nào?

Tôi sung sướng hơn cả mong đợi, rối rít theo Lãm vào chợ, mọi sự diễn ra như dự định, tôi thênh thang cõi lòng chạy về trả xe và chia sẻ niềm vui với Thủy, nó liếc tôi:

-         Cuối cùng thì mày vẫn là tiểu thơ, chẳng phải nấu nướng chi ráo, chút nữa chỉ việc ghé tiệm chị mày lấy đậu, rồi có hoàng tử chở chè sương sáo đến tận nơi. Phải công nhận, sức mạnh của ...

Tôi cắt lời nó:

-         Mày lại ăn nói linh tinh gì đấy.

-         Chớ không phải sao, vì nàng mà chàng sinh viên chỉ biết ăn học lại trở thành... thợ làm chè sương sáo.

-         Thì con nhà nòi... tiệm chè mà lị.

-         Thôi, bây giờ mời tiểu thơ đi về tắm rửa, thay bộ quần jeans với áo thun màu hồng hôm bữa tụi mình mua ở chợ trời Tạ Thu Thâu, rồi đi đến trường cho xinh đẹp rạng rỡ nha.

-         Quỷ sứ! Tủ quần áo của tao có bao nhiêu cái mày biết hết trơn.

-         Bạn thân để làm gì chớ? Bữa nay mày khai mạc bộ đồ đó rồi ra giêng cho tao mượn đi coi phim với người yêu, haha.

Tôi đến trường lúc gần 1 giờ, mấy đứa học trò đón tôi với bịch đậu phộng rang, rồi ngơ ngác:

-         Ủa, chè đâu cô?

Đúng lúc Lãm xuất hiện, tắt máy xe, hai thau chè được buộc gọn gàng nơi yên sau, tụi nhỏ liền khoanh tay:

-         Dạ, tụi em chào... Thầy!

Tôi vui vẻ nạt chúng:

-         Thầy gì chớ! Đây là chú Lãm bạn thân của cô, mấy đứa phụ chú mang chè vào trong lớp nghen.

Tôi mở nắp thau chè, màu đen những miếng sương sáo nổi bật trong nước dừa trắng béo ngậy, trộn lẫn những miếng đá lạnh trong veo lấp lánh, và ô kìa, những chùm hạt lựu bé tí màu hồng, màu xanh ở đâu ra vậy cà?  Lãm giải thích:

-         Hồi nãy Lãm nhờ chị Bảy thắng nước đường, Má thấy vậy kêu chị Bảy làm thêm mớ hạt lựu, vừa đẹp mắt lại vừa ngon.

-         Trời ơi! Ngày mồng một Tết Loan sẽ đến nhà cám ơn bác thật nhiều.

Lũ học trò rộn ràng bày biện mọi thứ trong lớp, tôi đi bộ theo Lãm ra ngoài cổng trường, chờ Lãm dừng lại ngồi lên xe chuẩn bị nổ máy, tôi níu tay Lãm:

-         Lãm ơi!

-         Gì vậy Loan?

-         Lãm là... người hùng của mình, à không, người hùng của mùa xuân này đó, biết không?

Chàng trai ít nói nhất lớp, bữa nay cũng chẳng nói nhiều, chỉ mỉm cười ngại ngùng:

-         Có gì đâu. Loan vào trong với đám nhỏ đi, ở ngoài này nắng nóng. Mình hẹn nhau mồng một Tết nhe?

-         Ừa!

Tôi đứng nhìn theo xe Lãm hòa vào dòng xe cộ bận rộn ngược xuôi của những ngày gần Tết, khi bóng Lãm dần khuất nơi ngã ba, tôi quay bước vào sân. Một lớp nào đó đang bắt đầu tiệc liên hoan, chiếc máy cassette mở bản nhạc “Mùa Xuân Tình Yêu” của nhạc sĩ Từ Huy đang thịnh hành:

“ Anh ơi, Xuân nay vừa đến
Xuân chưa hề nói, chỉ trao nụ hồng ...’

Nắng trong sân trường vàng rực cái nắng hanh khô của mùa cuối năm rạo rực, tôi bỗng thấy mình ngân nga tiếp theo điệp khúc của bài hát ấy:

“ Mùa Xuân đến nhắc ta những điều
Mà ta chưa nói ra ...
Và hôm nay bước trên phố này
Tưởng như nghe tiếng trái tim mình hát ca ...”

Edmonton, Xuân Giáp Thìn 2024

KIM LOAN

TL_Broken heart.jpg

VALENTINE CHO NGƯỜI CHƯA GẶP MẶT

 

Trong nhiều lần bay qua Mỹ thăm gia đình, chúng tôi thỉnh thoảng có những chuyến layover tại một trong những phi trường lớn nhất nước Mỹ, đó là Denver International Airport. Tuy chưa bao giờ đi vào trong thành phố, mà chỉ nhìn qua cửa kiếng sân bay, qua những chuyến xe bus, xe lửa đổi terminal, tôi vẫn phóng tầm mắt nhìn xa hơn, cộng với trí tưởng tượng bay bổng của mình, để tìm một bóng dáng thân quen, để thấy một Denver mến thương…từ thuở nào! 

Khi tôi vượt biên cuối năm 1989 đến trại tỵ nạn Panatnikhom, Thailand, liền viết thư cho ông anh bên Mỹ về tình hình trại tỵ nạn đã bị Cao Uỷ đóng cửa từ ngày 14/3/1989, những ai đến trại sau ngày này sẽ phải chịu thanh lọc rất khắt khe. Nghe tin đó, anh vội vàng nghĩ suy mọi cách để cứu tôi, chứ dứt khoát không cho tôi quay trở về Việt Nam.

Rồi một hôm tôi nhận được hơn hai mươi lá thư từ Mỹ, chỉ có một cái thư của anh tôi, còn lại là những cái tên Mỹ lạ hoắc.
Ôm một đống thư về chỗ ở trại tỵ nạn, tôi đọc thư anh tôi trước. Anh giải thích rằng đã tự ý giúp tôi bằng cách đăng trên mục “Tìm Bạn Bốn Phương” của Mỹ với ước mong tôi sẽ tìm được một người nào đó, tốt đẹp, và biết đâu sẽ…tiến xa hơn, đưa tôi qua khỏi cuộc thanh lọc đáng ghét. Anh cũng nói, tôi đừng sợ hãi, cứ chọn lọc trong các lá thư, tìm ra người nào có vẻ tin cậy thì hồi âm, dù sao cũng là cách giết thời gian và học thêm English, làm bạn bè cũng tốt.

Giờ thì xin mở ngoặc nói về ông anh Th. yêu quý của tôi. Trước đây ở Việt Nam anh làm thầy giáo, rồi sau năm lần bảy bận đi vượt biên vào tù tội mới trót lọt, với câu nói cương quyết: “Nếu bỏ xác ngoài biển thì đành chịu, chớ còn đôi chân là còn đi vượt biên, đi hoài cũng tới, trời không phụ lòng người”.  Không biết anh có uy tín cỡ nào, mà kể từ khi anh bắt đầu toan tính ra đi, vài bạn thân trong xóm với gia đình tôi cứ hay đến nhà tôi thầm thì có chỗ nào vượt biên thì kêu tui nhe, đi chung với anh Th. cơ. Người có quyết tâm và niềm tin như anh thì chắc sẽ gặp may. 

Trước năm 1975, anh đã từng học Anh Văn ở Hội Việt Mỹ nên rất khát khao đến được xứ tự do dân chủ này. Khi qua đến Mỹ như mong ước thì anh càng yêu Mỹ nhiều hơn. Anh còn khuyến khích tôi, đừng e ngại nếu kết hôn với người Mỹ vì có rất nhiều điểm lợi, nào là học được English hàng ngày hàng giờ, nào là sinh ra con sẽ cao lớn, xinh đẹp, nào là sẽ mang last name của chồng là last name Mỹ, khi đi học đi làm rất khó bị phân biệt chủng tộc…vân vân...và vân vân.

Nghe anh nói vậy tôi cũng yên tâm và hứng thú phần nào, dù lúc đó tôi vẫn có suy nghĩ phải quen và lấy chồng người Việt, chứ không hình dung được cái cảm giác sống chung với một người Mỹ mắt xanh, tóc vàng, tay chân đầy… lông lá.

Tình hình trại tỵ nạn lúc ấy quá căng thẳng, không còn chọn lựa nào khác, nên theo lời khuyên của ông anh, tôi mở các lá thư Mỹ ra đọc. Đầu tiên, tôi loại bỏ những thư không có hình kèm theo, tiếp theo là loại những người…viết chữ xấu, cẩu thả, (thói quen nghề nghiệp cô giáo khi còn ở Việt Nam), rồi loại tiếp những lá thư có hình nhưng nhìn… hổng đẹp trai và loại luôn những người viết thư …vô duyên (dù trình độ Tiếng Anh của tôi lúc ấy chả có là bao!).

Cuối cùng tôi chọn được một lá thư với nét chữ đều đặn, mềm mại, giọng văn chân tình nghiêm túc, nghề nghiệp vững vàng (giáo viên dạy English ở một trường Trung Học ở Denver, Colorado, vậy là đồng nghiệp với tôi), và tấm hình một chàng trai Mỹ trắng có nét hiền hoà, dễ mến, tên họ đầy đủ là Don Garner. 

Với tất cả vốn liếng English có được, tôi viết thư cho Don, giới thiệu bản thân, cám ơn Don đã vui lòng kết bạn, giúp tôi trau dồi thêm Anh Ngữ trong thời gian chờ đợi ở trại tỵ nạn và tôi cũng gởi một tấm hình tôi mặc chiếc áo màu đỏ thắm, chụp trước căn “nhà” của tôi trong trại tỵ nạn. Don hồi âm và nói thích tấm hình, thích... màu áo của tôi, khen tôi nụ cười tươi như hoa. Don phóng to tấm hình này với size bằng cuốn vở rồi gửi lại trại cho tôi làm kỷ niệm.

Cứ hai tuần một lần, Don gửi một lá thư, kèm thêm tái bút những đoạn dạy tôi grammar mà thư trước tôi đã viết sai và luôn luôn có những tấm hình phong cảnh Colorado, vì nhiếp ảnh là niềm say mê của Don sau giờ đi dạy.

Chắc tôi cũng có máu di truyền từ ông anh. Nếu ông anh đã từng yêu nước Mỹ từ khi còn học ở Hội Việt Mỹ, thì tôi trước đây đã yêu Wichita, Kansas, hay San Antonio, Texas qua những hình ảnh anh tôi gửi qua, thì giờ đây, qua ống kính của Don, tôi đã yêu thêm Denver của Colorado và những địa danh xung quanh: Rocky Mountain, thượng nguồn nước chảy xuôi theo dòng Mississippi vào Vịnh Mexico, những trang trại trồng lúa mì. Từ miền tây qua bên đông, đất của tiểu bang này là lưu vực giống sa mạc, trở thành cao nguyên, rồi núi Alpine, rồi đồng cỏ của đồng bằng Lớn. Núi Elbert là đỉnh cao nhất của dãy núi Rocky. Đỉnh Pike nổi tiếng một tí về phía tây của Colorado Springs. Có thể nhìn thấy đỉnh hiu quạnh của nó từ gần biên giới Kansas vào những ngày nắng và mùa đông tuyết phủ trắng một vùng núi bao la, kỳ vỹ…

Đã có lúc, tôi viết thư cho ông anh, đồng ý rằng, người Mỹ hay người ngoại quốc da trắng, có những người rất dễ thương, đáng tin cậy. Vì ngoài Don mà tôi dần thân thiện qua những lá thư, trong bưu điện trại tỵ nạn lúc ấy có thêm mấy chàng thiện nguyện người Tân Tây Lan, trong đó có chàng Peter thật hiền lành, nhút nhát và cực kỳ tốt bụng. Peter có râu quai nón, cánh tay  rậm rạp lông, vậy mà nở nụ cười là thấy… hiền khô. Ngoài giờ làm cho bưu điện, cuối tuần nhóm thiện nguyện vào trại có Hội Thánh Tin Lành để rao giảng Thánh Kinh.  Lần đó bưu điện làm tiệc sinh nhật cho tôi (bất cứ ai đến ngày sinh nhật đều được có một tiệc rất ấm cúng), Peter bị ép lên tặng hoa và ôm tôi, mà mặt anh chàng đỏ rực như ánh mặt trời, thấy thương làm sao.

 

Trở lại câu chuyện với Don, mùa Giáng Sinh, Don gửi cho tôi một gói bưu phẩm, trong đó có một máy cassette nhỏ xài bằng batteries để tôi học English, có cả đồ charge, vài country music tapes, đồ lặt vặt, một hộp bánh cookies và tấm thiệp chúc Noel bên trong có 4 cây candy canes (Don tinh tế biết tôi ở chung với ba cô bạn gái), loại kẹo hình cán dù dùng để trang trí cây thông Giáng Sinh. Nhưng lúc đó chúng tôi chưa bao giờ nhìn thấy candy canes, nên cứ ngỡ đó là một cái gì đó, chắc là để trong thiệp làm vật trang trí theo truyền thống Phương Tây, nên quăng chúng vào một góc nhà. Vài ngày sau, một đứa vô tình làm bể một cây, lấy tay sờ và nếm thì thấy ngọt, lúc đó cả đám mừng húm vì biết đó là…kẹo, bốn đứa xúm lại ăn liền một mạch hết sạch và khen ngon rối rít.

Tôi dần dần cảm mến Don, dù chỉ qua những lá thư, những hình ảnh và những món quà bé nhỏ xinh xinh. Tôi cảm nhận được một chàng trai đứng đắn, mô phạm, có trái tim ấm áp với tình yêu thiên nhiên bao la rộng lớn.

Don luôn muốn cho tôi hiểu biết nhiều hơn về nước Mỹ, giải thích chi tiết từng sự việc, những tấm hình phong cảnh anh chụp đều ghi chú rõ ràng, địa điểm, thời gian và cả những điều thú vị liên quan đến nơi ấy.

Để giải thích sự chậm trễ thư từ mùa cuối năm, Don chụp những tấm hình khi đến post office gửi quà cho tôi, nào là những chiếc xe của post office chất đầy ứ những bao tải chứa thư, những nhân viên đang chuyển những gói parcels ra xe dù ngoài trời đã sập tối lất phất tuyết rơi. Don bảo, mùa này người ta gửi thư gửi quà cho nhau nhiều lắm, dù nhân viên làm việc tăng thêm giờ cũng sẽ vẫn có những thư từ, bưu phẩm chậm hơn những thời gian khác trong năm và nhắn nhủ tôi nếu thư Don đến chậm thì hãy thông cảm cho Don và đừng giận Don, đừng giận ... nước Mỹ nhé (thấy thương ghê chưa!)

Như một cái gì đó rất quen thuộc, mỗi lần đợi chờ thư của Don thật háo hức, một niềm vui dịu dàng êm ái vì thư của Don lúc nào cũng có vài tấm hình và ít nhất là 4 đến 6 trang thư, đem đến cho tôi một nước Mỹ tuy xa xôi nhưng quá đỗi gần gũi, đầy quyến rũ mộng mơ.

Qua mùa Giáng Sinh năm ấy, thư của Don bắt đầu thưa thớt và sau đó là lá thư thật dài, Don nói về bệnh skin cancer vừa mới phát hiện vài ngày trước lễ Giáng Sinh. Bác sỹ nói bệnh trong giai đoạn sớm nên chữa trị không khó khăn, có nhiều hy vọng nhưng sẽ mất nhiều thời gian, nên Don xin nghỉ việc, điều trị và về an dưỡng nơi nông trại lúa mì của cha mẹ vùng ngoại ô Denver.

 

Đó cũng là lá thư cuối cùng của Don, dù tôi tiếp tục gửi vài lá thư thăm hỏi bệnh tình về địa chỉ của Don và nơi trang trại của cha mẹ Don đều không thấy hồi âm. Tôi tin rằng mình chẳng làm điều gì phật lòng người bạn phương xa, nhưng thực sự không tìm được câu giải đáp của sự im lặng này.

Cuối cùng, tôi tạm thời đưa ra hai giả thuyết. Một là, bệnh của Don đã chuyển biến xấu nên anh ấy không còn thời gian và tâm trí dành cho tôi. Hai là, Don cảm thấy mệt mỏi vì mối quan hệ với cô gái Việt Nam nơi trại tỵ nạn với hoàn cảnh quá bấp bênh nên nhân dịp này Don ngưng liên lạc để sau này bắt đầu mối quan hệ mới, có khả năng tiến xa hơn trong tầm tay?

Tôi vẫn mong giả thuyết thứ hai là đúng, tôi sẽ không bao giờ buồn phiền hay trách móc một lời và xin chân thành cám ơn anh đã đến với tôi như một người bạn, Don ơi!

Khi tôi kể câu chuyện này cho các chị trong một nhóm Văn Thơ, mọi người xúm lại đưa ra những giả thuyết khác nhau về sự “biến mất” của Don, thậm chí các chị còn rủ nhau “viết tiếp đoạn kết” cho câu chuyện “tình” vượt đại dương giữa tôi và Don.

Người thì diễn tả như trong phim ngôn tình, chàng khi chữa bệnh thì mặc cảm, tuyệt vọng nên không thư từ cho nàng, cho đến khi bệnh tình khá hơn, chàng vội viết thư cho “người em gái tỵ nạn” thì hỡi ôi, nàng đã lên đường định cư!

Người khác, cho đoạn kết mang dấu ấn phim Hàn Quốc, chàng sau một thời gian hóa trị và xạ trị, đã mắc bệnh ... mất trí nhớ, nên những lá thư nàng gửi tới chỉ làm chàng hờ hững như đám giấy lộn vô tri vô giác.

Vui hơn là một chị cho câu chuyện theo kiểu Quỳnh Giao, là cha mẹ chàng đã phát hiện ra chàng đang có “tình xa” với một cô gái Châu Á, trong khi họ muốn chàng lấy vợ da trắng, môn đăng hộ đối, nên đã cấm đoán và nhân dịp chàng về nhà chữa bệnh, họ đã dấu hết các lá thư của nàng, gây cho chàng hiểu lầm là nàng đã đổi thay khi chàng ngã bệnh nên từ đó... ly tan.

Dĩ nhiên đó chỉ là những “đoạn kết” tưởng tượng vui vẻ, nhưng cuối cùng các chị ấy cũng nghiêm túc, đề nghị giúp tôi tìm Don trên Googles, vì với đầy đủ tên họ và số tuổi thì việc tìm tung tích không đến nỗi khó khăn nếu Don vẫn còn ở Denver.

Tôi bèn nghe lời khuyên, search trên Googles, sau khi narrow down, tôi cũng tìm được vài người mang tên Don Garner, ở lứa tuổi đó, nhưng tiếc là không có hình ảnh (cũng có thể tôi đã không tìm đúng cách). Tôi cũng chẳng muốn làm phiền người khác tìm giúp Don, vì để làm gì chứ?

Tôi và Don, định mệnh cho gặp nhau qua những lá thư, trong một hoàn cảnh đặc biệt ở trại tỵ nạn. Dù tình cảm vừa nhẹ nhàng chớm nở, mến nhau nhiều hơn qua những tâm sự, những câu chuyện của nhau và qua những tấm hình, Don nói yêu mến đất nước và con người Việt Nam, cũng như tôi đã yêu thương Denver, Colorado và nước Mỹ của Don.

Nhưng chúng tôi chưa hề nói lời yêu nhau, chưa một lần nói nhớ thương, chưa dự định những hứa hẹn dài lâu vì đâu biết chuyện thanh lọc ở trại tỵ nạn của tôi sẽ ra sao. Anh vẫn đang là một người bạn, một người thân, một người đều đặn mang cho tôi niềm chia sẻ, ủi an trong mỗi lá thư, giúp những ngày trại tỵ nạn của tôi thêm niềm vui dù tương lai còn mong manh  xa vời.

Để rồi Don bỗng mang bệnh hiểm nghèo, định mệnh mang Don đến với tôi rồi lại mang Don ra khỏi đời tôi không một lời giải thích để lòng tôi vẫn xốn xang khắc khoải đi tìm một lý do.
 

Dù sao đi nữa, tôi vẫn nhớ ơn Don về những tháng ngày ấy, nhớ nhiều những điều mới lạ Don giới thiệu với tôi về nước Mỹ, về những cây candy canes mùa Noel, về mùa Valentine nào đó Don gửi một gói bưu phẩm với hộp chocolate và kể cho tôi nghe về ngày lễ dễ thương này, không hẳn dành cho những đôi yêu nhau, mà còn cho cả bạn bè thân, gia đình, ngay cả đám học trò cũng tặng thiệp Valentine cho Thầy giáo Don.

Để giờ đây mỗi lần có dịp qua Mỹ, khi máy bay dừng chuyển tiếp ở Denver, tôi lại thấy lòng bâng khuâng, bồi hồi như sắp gặp lại người bạn cũ. Dù anh còn đó hay không, dù anh thế nào, đối với tôi, Denver vẫn là một địa danh đẹp luôn có bóng hình anh.

Valentine năm nay tôi viết lại câu chuyện này, cho Don, một người chưa hề gặp mặt, như một món quà ghi dấu kỷ niệm của chúng tôi, của một thời đã qua khi cả hai còn rất trẻ.

 

Và đây là bài thơ tôi viết tại phi trường Denver trong một lần chờ chuyến bay và nghĩ về Don: 

 

LẠC NHAU Ở DENVER

Máy bay vừa hạ cánh

Denver lạ mà quen

Phi trường tôi vừa đến

Chờ mong được gặp Don

 

Người người lướt qua nhau

Terminal kiếm tìm

Hành lý cũng vui theo

Tôi và những niềm riêng

 

Tôi đứng đây, ngơ ngẩn

Giữa đám đông đợi chờ

Hỡi anh, Don thân mến

Đừng để tôi bơ vơ

Chuyến bay này nối tiếp

Hẹn gặp tại Denver

Quán café Starbucks

Mình nhắc lại chuyện xưa

 

Anh mặc áo màu gì?

Xung quanh tôi xa lạ

Những bước chân vội vã

Vẫn thiếu vắng một người

 

Lẽ nào anh không nhớ!

Hay anh trễ chuyến bay?

Phi đạo trong nắng gió

Người thì như bóng mây

 

 

Tôi phải boarding rồi

Qua gate mà ngập ngừng

Thế là anh và tôi

Chẳng được phút tương phùng

 

Máy bay tung đôi cánh

Chìm vào trong mây trời

Anh vẫn là hình ảnh

Trong ký ức mà thôi!

KIM LOAN

          TẤM THIỆP GIÁNG SINH

Những tấm thiệp, bạn gửi đã lâu rồi
Nhưng tôi vẫn giữ để làm kỷ niệm
Nét chữ nghiêng nghiêng thân quen, rất đẹp
Lời chúc Giáng Sinh ấm áp tình thương

Tôi nhớ những mùa đông của thuở trước
Buổi sáng bình yên bên ly cà phê
Bên ngoài kia, gió mùa mang rét mướt
Tôi đợi chờ bóng dáng người đưa thư

Hạnh phúc đơn sơ, niềm vui bé nhỏ
Hộp thư bên ngoài dưới tuyết trắng tinh
Những chiếc phong bì màu xanh, trắng, đỏ
Đã đến đây rồi, như một cánh chim

Khoác áo ấm, tôi bước nhẹ ra cửa
Kìa lá thư từ nửa quả địa cầu
Tấm thiệp Giáng Sinh rực rỡ sắc màu
Dù nơi ấy chưa bao giờ tuyết đổ

Bạn nhắc về những mùa Noel cũ
Cùng bạn bè, Sài Gòn phố đông vui
Những con đường thênh thang chiều gió lộng
Vương Cung Thánh Đường tan lễ sương rơi

Tôi như thấy lại một trời náo nức
Khi mùa đông về được nhận thư xa
Tấm thiệp mỗi năm có khi mỗi khác
Nhưng cùng rộn ràng niềm vui thiết tha

Nhưng cũng lâu rồi, bạn không gửi nữa
Mùa Noel về, những cánh thiệp xinh
Tôi nhớ lắm, nét chữ sao mềm mại
Nỗi nhớ dịu dàng, nỗi nhớ bạn thân

Lời chúc của bạn trên những emails
Hay trên facebook tôi vẫn nhận được
Dòng đời bận rộn, nên tôi rất hiểu
Tấm chân tình từ muôn dặm đường xa

Tôi cũng hiểu những tấm thiệp bán sẵn
Có người mua về chỉ kịp ký tên
Và buồn lắm, nhớ lắm một thói quen
Nắn nót nâng niu những dòng chữ đẹp


Tôi chỉ trách tôi, sao còn đứng đợi
Trong thùng thư, những cánh thiệp Giáng Sinh
Những ngày mùa đông chiều buông rất vội
Đâu người đưa thư trong tuyết mông mênh?


KIM LOAN

    XÓM ĐẠO NGOẠI Ô

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Chúng ta khi sống trên xứ người, đều mang theo một chút quê hương theo mình. Có thể là một con đường, một góc phố, hay một xóm nhỏ yêu thương đã gắn bó một quãng đời dài. Tôi cũng có một quê hương trong trái tim mà mỗi khi nhớ đến vẫn làm tôi thổn thức, rạo rực khôn nguôi.

Đó là một xóm nhỏ vùng ngoại ô, cách trung tâm Sài Gòn khoảng gần mười cây số. Nhớ hồi ra Sài Gòn học, khi các bạn bè hỏi đến nhà chơi, tôi trả lời ở Hạnh Thông Tây quận Gò Vấp, nhiều người còn ngơ ngác không biết nó ở đâu. Tôi phải vẽ trên giấy chỉ đường cẩn thận, nếu bạn đi từ hướng Ngã Tư Phú Nhuận xuống, đường Hai Bà Trưng kéo dài là đường Võ Di Nguy, sau đổi thành Nguyễn Kiệm, đến khu vực Ngã Năm Chuồng Chó, cứ tiếp tục đến Ngã Ba An Nhơn thì rẽ trái khoảng 500m, hỏi Giáo Xứ Đức Tin, nhà của tôi nằm phía sau nhà thờ đấy. Nhà tôi không ở trung tâm phố thị phồn hoa, xóm tôi không cao sang lộng lẫy, nhưng tôi yêu thương xóm đạo của tôi quá đỗi, vì đó là nơi tôi được sinh ra, lớn lên và cho tôi một tuổi thơ êm đềm, hạnh phúc.

Có thể nói, ngôi nhà thờ nhỏ, đơn sơ, bên cạnh cái chợ bé xíu là trung tâm điểm của xóm tôi, được bao bọc chung quanh bởi những dãy nhà cách nhau bằng những con hẻm, kéo dài và ăn thông với nhau dẫn ra đường cái đến thẳng chợ Thông Tây Hội (cũ) và xa hơn nữa là Xóm Mới. Thuở lên chín lên mười, niềm vui của tôi là cùng lũ bạn nhỏ tụ tập chơi quanh xóm và sân nhà thờ. Tuy nhà thờ không lớn nhưng cũng có một khoảng sân tráng xi măng và hàng rào sắt bao bọc, đủ cho thế giới tuổi thơ chúng tôi. Góc bên trái của sân nhà thờ có trồng một cây hoa sứ, bên cạnh cái tháp chuông. Những buổi trưa nắng, cây hoa sứ và cái tháp chuông làm thành một bóng mát, lũ trẻ con nhặt hoa sứ chơi bán hàng, đám con gái chúng tôi chơi banh đũa, nhảy dây, trong khi mấy đứa con trai chơi trò tạt lon ồn ào, náo nhiệt.

Vui nhất là ba tháng hè, khi cây hoa phượng ở đầu xóm nở hoa đỏ rực, chúng tôi được nghỉ học, và những cuộc chơi trẻ thơ dường như dài bất tận. Buổi trưa hè nóng nực và im vắng, tôi thường trốn giấc ngủ trưa để nhập bọn cùng lũ bạn đã đợi sẵn ở sân nhà thờ. Những trò chơi làm chúng tôi say mê quên cả thời gian. Hết trò này đến trò kia nhưng không bao giờ mệt mỏi. Đến khi chán chường với những trò chơi ấy, chúng tôi lại rủ nhau đến chơi nhà xứ. Nhà của Cha nằm trong dãy nhà ngoài đường cái và là ngôi nhà đẹp nhất xóm. Nhà lầu đúc hai tầng, có ban công lót gạch đá hoa mát rượi nhìn ra khoảng sân rộng rãi, phía trước có hàng rào sắt bao quanh cao hơn đầu người lớn. Trong khuôn viên ấy, có một căn nhà nhỏ,  là nhà bếp và nơi ở của ông cụ Hanh, người chăm lo việc giặt giũ cơm nước cho Cha. Con đường từ cổng vào nhà được tráng xi măng, và tất cả phần còn lại là mảnh vườn có đầy đủ các loại hoa kiểng. Ngay góc sân là cây mận cổ thụ cao to, cành lá xum xuê, vươn ra đến ban công trên tầng lầu. Sát bên hàng rào sắt là những bụi hoa mai, mỗi mùa Tết đến trổ bông vàng rực khiến ai đi qua cũng phải dừng lại trầm trồ.

Cổng sắt của nhà xứ luôn luôn để ngỏ, chúng tôi lại bày trò chơi trên nền xi măng, vì dọc lối đi có những hòn đá tảng rất to có thể làm chỗ ngồi nghỉ ngơi. Gió hiu hiu thổi, đưa những bông hoa mận rụng trắng xóa một góc vườn. Chúng tôi gom những bông hoa trắng tơi như bông để chơi bán hàng, hoặc rải lên mái tóc để làm điệu như người lớn, rồi đi khắp vườn tìm những trái mận rơi rụng, khi ăn vào ngọt lịm đến tận ruột gan. Cũng có khi Cha xứ sai ông cụ Hanh ravườn với cái cây dài để hái mận cho lũ chúng tôi. Cả đám reo hò ầm ĩ khi thấy rổ mận đầy ắp, ông cụ Hanh dẫn chúng tôi vào nhà bếp rửa mận, và còn hào phóng làm thêm một chén muối ớt đỏ tươi ngon lành, chưa ăn đã kịp chảy nước miếng.

Rất nhiều lần, Cha xứ cho chúng tôi vào căn nhà lót gạch đá hoa mát rượi của Cha. Chúng tôi ùa vào và len lỏi khắp nơi để khám phá thỏa chí tò mò trẻ thơ. Căn phòng khách rộng rãi có bộ bàn ghế sa lông và chiếc đàn piano lớn đặt ngay cửa sổ nhìn ra khu vườn. Cha đã dạy tôi những nốt nhạc đầu tiên trong đời trên chiếc piano này. Khi đánh được một câu nhạc, tôi đu người trên song sắt cửa sổ và hét to lên vì sung sướng. Ở trên lầu, còn có một phòng lớn để các nhạc cụ như một bộ trống, đàn guitar, và một cây đàn piano khác nữa. Đặc biệt có một thư viện nhỏ hẹp, bên trong là hai kệ sách sát tường cao ngất ngưỡng, tôi phải kiễng chân ngửa đầu nhìn cho đến khi mỏi cổ mới thôi.

Cha xứ yêu thương chúng tôi đến như vậy, nhưng Ngài vẫn không thoát khỏi những trò chơi nghịch ngợm của lũ chúng tôi. Đó là những buổi trưa chúng tôi đến sân nhà xứ hơi sớm, khi nhìn thấy cửa nhà Cha vẫn đóng, đó là dấu hiệu Ngài đang ngủ trưa hay đang đọc kinh. Chẳng có chuyện gì làm, chúng tôi bèn nghĩ ra cái trò…bấm chuông. Một đứa leo lên vai đứa kia để với tới cái chuông và …bấm! Nghe tiếng dép lịch xịch ra mở cửa là cả đám co giò chạy hết tốc lực ra ngoài cổng. Trò chơi này cho cảm giác mạnh, tim đập nhanh và hồi hộp vô tả. Không phải Cha xứ không biết tác giả là lũ chúng tôi, nhưng Ngài chưa hề la rầy nửa lời. Có người phàn nàn với Cha, Ngài cười tươi rói: “Cứ cho chúng nó phá nhà xứ, còn hơn là để chúng đi phá làng phá xóm!” Ôi, câu nói ấy vẫn ám ảnh theo tôi cho đến bây giờ. Cha ơi, nếu ngày ấy Cha cấm đoán hay trừng phạt chúng con, thì con đã mất đi một thiên đường tuổi thơ đẹp tuyệt vời!

Những buổi tối mùa hè cũng là những cuộc chơi không dứt. Trời oi bức hiếm hoi những ngọn gió mát, cả xóm kéo nhau ra chơi ngoài cửa. Chúng tôi lại rủ đến nhà xứ hay sân nhà thờ. Những khi có trăng, những ngõ hẻm trong xóm trở nên đẹp lung linh, thơ mộng, nhất là những ngày bị cúp điện. Nhà xứ là nơi có những buổi hội họp của các hội đoàn giáo xứ, và ca đoàn cũng tập hát nơi đây, nên chúng tôi thích ghé chơi vì không khí rất vui. (Ai đã từng yêu mến tiếng hát Ngọc Lan, cô ca sỹ có giọng hát nhẹ như khói sương, dáng người mỏng manh và cuộc đời vắn số, cô ấy chính là một giọng ca chính của Ca Đoàn xứ Đức Tin thuở ấy, mà chúng tôi thường hay chen lấn ở cửa sổ nhà xứ chỉ để ngắm nhìn sắc đẹp của chị Lan. Chị có một mối tình rất đẹp với anh ca trưởng tên Quang, là sinh viên Y khoa, với cặp kính cận và cây đàn guitar. Hai người sau đó đi vượt biên, khi ra hải ngoại thì chia tay và Ngọc Lan trở thành ca sỹ nổi tiếng của Trung Tâm Asia. Tôi sẽ trở lại đề tài này vào một dịp khác, kẻo sẽ bị lạc đề, không chừng còn mang tiếng “nhiều chiệng” thì oan cho tôi lắm!). Sau khi họp hành, Cha xứ thường mở rộng cửa cho chúng tôi vào xem ti vi, nhưng cũng chẳng níu kéo chúng tôi lâu hơn, cả đám lại kéo nhau đi tìm thú vui khác tại sân nhà thờ. Thế là một khung cảnh náo động lại bắt đầu. Chơi bịt mắt bắt dê, chơi trò trốn tìm, mệt thì ngồi xuống dưới bóng tối tháp chuông kể chuyện… ma, và khi có thêm trẻ nhập bọn thì chúng tôi chơi trò chơi tập thể. Hai đứa lớn làm quản trò, giơ hai tay thành cái cổng, đám còn lại xếp hàng nối đuôi nhau đi qua cổng và hát to:

    “Thiên đàng địa ngục hai bên
Ai khôn thời dại, ai dại thời khôn
Trên trời có Chúa có Cha
Đọc kinh cầu nguyện kẻo sa linh hồn
Linh hồn phải giữ linh hồn
Đến khi gần chết được lên thiên đàng …”

Đến lúc đó hai người làm cổng mới hỏi từng đứa: “Ăn cam hay ăn quít?”, cứ thế tiếp tục đi qua cổng và hát, đám ăn cam ngồi một bên, đám ăn quýt ngồi một bên (trước đó hai người quản trò đã bàn với nhau ăn cái nào là thiên đàng, ăn cái nào là hỏa ngục), cuối cùng tuyên bố ra, những đứa bên hỏa ngục phải còng lưng ra cõng mấy đứa bên thiên đàng xung quanh sân. Có thế thôi mà vui thật là vui, đến khi ba má đến réo gọi mới chịu chạy về nhà đi ngủ.

Thế rồi thời gian trôi đi, chúng tôi lớn lên thành những chàng trai thiếu nữ. Chúng tôi không còn tụ tập chơi ở sân nhà thờ hay nhà xứ nữa, chỉ thỉnh thoảng khi trường làm bích báo, tôi lại chạy đến phòng thư viện nhỏ của Cha để mượn những cuốn sách Tuổi Hoa được xuất bản trước năm 1975 mà Cha còn giữ lại, hoặc khi lớp của tôi mở tiệc Giáng Sinh tại nhà tôi thì tôi và mấy đứa bạn kéo nhau đến nhà xứ để mượn thêm bàn ghế. Tuy nhiên, tôi vẫn giữ thói quen mừng tuổi Cha vào dịp Tết. Cứ vào sáng mồng một Tết, sau bữa ăn trưa, tôi và hai nhỏ bạn thân trong xóm cùng đi chúc Tết Cha. (Lạ kỳ thật đấy, gần hai mươi đứa trẻ của ngày xưa mà bây giờ chỉ còn ba đứa đến thăm Cha xứ thôi ư? Mà thôi, ngay chính Chúa Giesu xưa kia chữa bệnh phong hủi cho mười người, cũng chỉ có một người quay lại cám ơn Ngài đó sao? Mà đó lại là một người dân ngoại, huống hồ là lũ trẻ vô tâm vô tánh như chúng tôi, chắc Cha Sở cũng không lấy gì làm phiền hà). Ngài cũng đã già hơn, yếu hơn xưa, và ánh mắt nhìn chúng tôi mừng vui xen lẫn với một chút buồn ngậm ngùi, vì chúng tôi đã đủ lông đủ cánh bay vào cuộc đời mênh mông.

Quả là như thế, tôi đã bận rộn triền miên với sách vở, học hành và những mùa thi nối tiếp nhau. Có chút rảnh rang thì cùng bạn bè vào những quán đèn màu thưởng thức cocktail, nhâm nhi ly café đá, tập tành nghe nhạc xập xình những bài hát thời thượng của Boney M, Abba, the Capenters, hoặc thả hồn vào những bài hát tiền chiến ủy mị, nào Hương Xưa, nào Gửi Gió Cho Mây Ngàn Bay, nào Thu Quyến Rũ, hoặc đạp xe ra Sài Gòn dưới những con đường có lá me bay. Rồi có bạn trai, bận làm Thơ tình, yêu thương và hờn giận, xen kẽ với những căng thẳng lo âu của những mùa thi trên giảng đường, xôn xao những ngày phượng nở và chia tay, nên những trò chơi đơn sơ và rẻ tiền của thời thơ ấu đã thực sự chìm vào lãng quên, trở thành một kỷ niệm xa xăm.

Tháng 12 năm 1989, tôi và bốn mươi người khác được gửi đến trú ngụ ở một căn nhà giữa cánh đồng ở miền quê tỉnh Kompomsom, Cambodia chờ ngày lên tàu vượt biển. Buổi sáng tôi thường dậy rất sớm, bước ra ngoài tập thể dục và hít khí trời trong lành. Bàn chân tôi dẫm lên những đám cỏ còn ướt đẫm hơi sương, và phía xa tận chân trời còn mờ tối là mặt trời đang mọc sớm hay ánh trăng tàn đang lặn muộn? Xa xa, làng mạc vẫn còn chìm trong giấc ngủ say dưới màn sương mờ đục, đẹp như một bức tranh. Những cây thốt nốt vươn mình trong bầu trời sớm, dáng cong rũ mềm mại như những cây dừa quê hương, tôi bỗng thấy nhớ nhà đến xót xa.

Giờ này chắc cái chợ nhỏ đã bắt đầu dọn hàng, nào bún riêu, bánh cuốn, xôi vò, bánh cam, chuẩn bị cho những hàng quà buổi sáng. Hai quán café ở đầu xóm cũng đã mở cửa đón khách đi làm sớm. Tôi như nghe thấy tiếng chuông nhà thờ buổi sớm vừa vang lên rộn ràng, thúc giục. Tôi ước sao có đôi cánh để bay về với xóm nhỏ của tôi, dù chỉ là vài phút thôi, để kịp nhìn thấy trong những ngõ hẻm còn mờ tối là bóng dáng các cụ ông cụ bà rảo bước đến nhà thờ, có bà vừa đi vừa cài vội mấy nút áo dài, trước sân nhà thờ ông trùm Cương vừa mở cổng vừa tươi cười hỏi thăm những người đi lễ sớm.

Và phía sau ngôi nhà thờ, là căn nhà thân yêu của tôi, với giàn hoa bông giấy đỏ tươi trước cổng. Tôi nhớ từng người thân ruột thịt của mình, tôi nhớ cả những đồ vật vô tri vô giác nhưng đã từng gắn bó với tôi như hơi thở. Nhớ căn phòng ngủ của tôi, có một ô cửa sổ bé xíu nhìn ra khu vườn sau của nhà hàng xóm, thấy cả những cây chuối đong đưa những trưa hè dưới làn gió thoảng. Nhớ cái tủ đứng nơi góc phòng, bên trong là cả “gia tài” vô giá của tôi: những bộ quần áo tôi sắm được bằng chính đồng lương của mình, những cuốn albums, những cuốn lưu bút và nhật ký, đồ trang điểm. Nhớ chiếc bàn viết bên cạnh giường ngủ, nơi tôi vẫn ngồi hàng đêm soạn giáo án và chấm bài học trò, hoặc lãng đãng trên những trang nhật ký khi những hạt mưa đầu mùa rơi lộp độp trên mái tôn vào những đêm khuya lắc khuya lơ …

Rồi tôi khóc nghẹn ngào. Ở cái giây phút sắp sửa bỏ lại quê hương, tôi bỗng thấy yêu mảnh đất xứ sở của mình quá đỗi. Sao tôi lại muốn mình trở lại như trẻ thơ, hồn nhiên vô tư, không chút buồn lo nơi cuộc đời đầy biến động này:

Cho tôi lại ngày nào
Trăng lên bằng ngọn cau
Me tôi ngồi khâu áo
Bên cây đèn dầu hao
Cha tôi ngồi xem báo
Phố xá vắng hiu hiu
Trong đêm mùa khô ráo
Tôi nghe tiếng còi tầu.
(Phạm Duy)

Ngày hôm sau, con tàu định mệnh đã đưa tôi ra khơi, xa mãi quê hương thân yêu, đến trại tỵ nạn Thailand ở bốn năm ròng rã trước khi định cư tại Canada. Gia đình, người thân tôi cũng lần lượt ra đi sinh sống rải rác ở Mỹ, nên mãi hai mươi năm sau kể từ buổi sáng năm nào khóc trên xứ Chùa Tháp, tôi mới có dịp trở về thăm xóm nhỏ của tôi.

Thời kinh tế thị trường đã thay da đổi thịt đến tận xóm ngoại ô. Tôi đã lặng lẽ khóc khi đứng trước căn nhà xưa của mình mà nay không còn gì quen thuộc ngoài bảng số nhà 112/4, vì bây giờ đó là nhà hàng cơm bình dân. Nơi giàn bông giấy ngày xưa cho tôi những chiều mưa ủy mị xót thương  những cánh hoa mỏng manh run rẩy, nay là quầy để thịt kho, cá chiên, rau xào, đậu hũ. Mảnh sân trước tráng xi măng thuở nào êm ấm những sáng mùa xuân chị em tôi phơi dưa kiệu, làm bánh mứt, nay là chỗ cho thực khách ngồi ăn vội vàng bữa cơm trước khi trở về hãng xưởng làm việc. Những căn nhà lầu mọc lên thay cho những căn nhà đơn sơ thuở nào làm cho những con hẻm bị nhỏ lại. Tôi hỏi bạn: “Vậy ánh trăng có còn tràn xuống hẻm lấp lánh, kỳ ảo vào những ngày rằm?” Câu trả lời là: “Trời ạ! Thời buổi này chẳng ai còn thời giờ để lãng mạn, mộng mơ nữa đâu”.

Nhà xứ được xây đẹp hơn, nhưng cây mận với những chùm hoa trắng như bông tuyết của tôi đâu rồi?! (Tôi nghe lòng mình thổn thức). Nhà thờ cũng được phá đi xây lại toàn bộ, cũng trên diện tích ấy người ta xây hai tầng lầu, phía dưới là chỗ để xe, phòng áo, phòng hội họp, còn trên lầu là Cung Thánh cao sang, gác đàn rộng rãi. Phía trước nhà thờ thật bề thế với những bậc cầu thang trải dài xuống tận phía dưới. Cái tháp chuông mới hơn và cao hơn, và không hiểu tại sao cây hoa sứ đã không còn nữa. Tôi hốt hoảng: “Vậy làm sao lũ trẻ nhặt hoa ngửi mùi hương và chơi bán hàng?” Bạn tôi cười buồn: “Mày lo bò trắng răng. Con nít ngày nay chơi game, trò chơi điện tử, chứ đâu thèm chơi những trò chơi quê mùa rẻ tiền như chúng mình ngày xưa” Tôi vớt vát: “Thế còn những bài đồng dao: Thiên đàng địa ngục hai bên? …Rồng rắn lên mây có cây lúc lắc? …” Bạn tôi lại cười buồn: “Xưa rồi …Diễm!”. Buồn nữa là Cha xứ, linh mục Heromino Phạm Ngọc Giá và ông cụ Hanh cũng đã lần lượt qua đời cách đây khá lâu. Bạn bè xưa mỗi đứa tan tác một phương trời. Tất cả đều đã đổi thay như cuộc đời dâu bể.

Từ trong đáy lòng, tôi thực sự vui mừng cho người dân xóm tôi vì cuộc sống đã được nâng cao. Tôi mừng vui cho những giáo dân của xóm đạo ngoại ô đã có một ngôi nhà thờ khang trang rộng rãi.

Nhưng mãi mãi trong tâm trí tôi vẫn là hình ảnh một xóm nhỏ đơn sơ, có những căn nhà cao thấp xen kẽ nhau, có những ngõ hẻm rộn ràng sáng rực ánh trăng, và một ngôi giáo đường bé nhỏ xinh xinh. Và bao giờ cũng vậy, qua làn nước mắt, tôi thấy lung linh hình bóng của Cha Heromino Phạm Ngọc Giá, với đôi mắt nhân từ sau cặp mắt kiếng và nụ cười nở trên môi, đang mở rộng cánh cửa nhà xứ cho lũ chúng tôi ùa vào trong mùi thơm ngào ngạt của những bông hoa mận rụng trắng ngoài sân.

Ngày ấy đâu rồi?!

Edmonton, trời lập đông, tháng 12/2023


KIM LOAN
 

TL_Church.jpg
TL_HappyThanksgiving2023_2.gif

Niềm Vui Mùa Thanksgiving

 

 

Trong mối quan hệ bạn bè, hình như tôi có duyên với số 4. Hồi ở trại tị nạn Thailand tôi sống chung trong nhóm 4 cô gái, còn trước đó ở bên Việt Nam, từ trường Sư Phạm cho đến khi ra trường cũng là nhóm 4 nàng.

 

Ra trường đi dạy 4 trường khác nhau, nhưng chúng tôi vẫn gặp nhau thường xuyên vui vầy, rồi theo dòng đời cũng rã đám. Một nàng bị bệnh hoang tưởng bên Việt Nam (tôi đã viết về nàng trong bài Tháng Mười Hai Nhớ Bạn), một nàng có cuộc sống êm ấm với ông chồng già bên Việt Nam (tôi cũng đã viết về nàng này trong bài Người Thứ Ba), còn tôi và chị Mộng Nguyên, kẻ đi Canada người qua Mỹ, thư đi thư lại vài lần, rồi mất liên lạc đúng một phần tư thế kỷ, là 25 năm.

 

Tôi vẫn cố gắng tìm kiếm, dò la tin tức của Nguyên, rồi mới đây bà chị bên Texas giới thiệu, quảng cáo mục Tìm Thân Nhân của youtube “Hồng Loan-Bảo Lộc”. Bà chị lạc quan bảo đảm rằng, có nhiều trường hợp đã tìm ra người quen, và nói đâu xa, chính chị cũng đã nhờ chương trình này tìm ra vợ chồng người bạn, ngày xưa người chồng đi “cải tạo” chung với chồng chị nên hai bà vợ đi thăm nuôi gặp nhau, kết thân. Chị bảo, chị vừa đăng tin là ngày hôm sau có người gọi tới báo tin tìm được người chị đang tìm.

Tôi nghe lời chị, sốt sắng gửi tin nhắn “Tìm Bạn Thân” cho kênh Hồng Loan-Bảo Lộc. Một tuần trôi qua kể từ tin nhắn của tôi xuất hiện trên kênh “Hồng Loan-Bảo Lộc”, bà chị nôn nóng:
- Có ai gọi chửa?
Tôi rầu rầu:
- Chả có người nào gọi. Sao chị bảo Hồng Loan-Bảo Lộc mau lẹ lắm mà!?
- Thì ráng chờ thêm xem sao, đâu phải ai cũng như ai, lâu mau là do hên xui may rủi.
Cỡ một tháng sau, tôi gọi bà chị:
- Có tin vui, có tin vui, Mộng Nguyên đã nhắn tin muốn liên lạc KimLoan rồi kìa.
- Chị đã bảo thì chớ có sai, kênh “Hồng Loan- Bảo Lộc” rất mát tay, nổi tiếng toàn vùng California và các tiểu bang nước Mỹ, đã giúp cho biết bao nhiêu người tìm được người thân thất lạc, bạn cũ, và cả ... người xưa!
- Ối giào, đừng có tưởng bở, chị chưa nghe hết câu đã sung sướng kết luận ... tầm phào. Báo cho chị biết nè, Mộng Nguyên tìm được Loan vì nàng ấy tình cờ đọc báo Trẻ ở Atlanta, thấy bài viết và hình ảnh KimLoan, nên nàng ấy mừng như bắt được vàng, liền email cho Ban Biên Tập Trẻ nhờ liên lạc với em.
Bà chị ... quê xệ, cụt hứng:
- À ra thế, thôi thì dù tìm được ở đâu cũng là vui rồi.
- Hóa ra, niềm vui viết bài đăng báo đôi khi cũng có ích lợi bất ngờ.
- Vậy hai đứa đã nói chuyện với nhau nhiều chưa?
- Chỉ mới hôm qua tụi em đã nhắn tin qua lại trên phone, và hẹn cuối tuần này gọi facetime để “xem dung nhan ấy bây chừ ra sao”.
- Ừa, khi nào xong xuôi nhớ kể lại cho chị nghe, cho chị gửi lời thăm Nguyên, chị vẫn nhớ nụ cười của Nguyên đấy

Ngày hẹn facetime, suốt buổi chiều, tôi nôn nóng, xúc động, nhớ lại khoảng thời gian trước khi tôi lên đường đi vượt biên, ngày nào tôi cũng đến nhà Mộng Nguyên, căn nhà xinh đẹp trong con hẻm lớn đường Trương Quốc Dung, Phú Nhuận. Hai chị em tỉ tê tâm sự mọi nỗi buồn vui (Nguyên lớn hơn tôi 3 tuổi). Chúng tôi, ai cũng có những nỗi niềm riêng tư, chuyện gia đình, chuyện tình cảm, nói hoài nói mãi vẫn chẳng hết, cho đến bữa cơm chiều, gia đình Nguyên mời tôi ở lại dùng cơm cho vui. Tôi hơi ngần ngại vì gia đình Nguyên 8 anh chị em cộng thêm ba má là chẵn một chục, nhưng bác gái vui vẻ:

- Ngại gì chớ, chỉ thêm chiếc ghế, thêm đũa thêm bát thôi mà.

 

Nghe vậy, tôi mạnh dạn ở lại ăn cơm với gia đình Nguyên. Thấy tôi còn giữ kẽ, ăn chậm chạp, bác trai khuyến khích, “tự nhiên đi con, ăn nhiều vào”, tôi lại tiếp tục... mạnh dạn thoải mái “ăn nhiều vào” cho bác vui lòng, ôi một thời kỷ niệm thân thương biết bao.

 

Cuốn phim ký ức lại quay về những tháng ngày vui nhộn dưới mái trường Sư Phạm. Trong bốn nàng, tôi và một nàng (đang bệnh hoang tưởng bên Việt Nam) thuộc loại nói tía lia không lành da non, còn Mộng Nguyên và nàng còn lại ít nói hơn, nhưng chính Nguyên là người đã khơi dậy chút “máu điên” tiềm ẩn trong con người tôi bằng những câu đùa phá, hoặc những trò nghịch ngợm quậy phá bạn bè, thầy cô vẫn còn in hằn trong trí nhớ của tôi .

 

Đến giờ hẹn facetime, tim tôi rộn ràng hồi hộp theo từng tiếng chuông reo, và rồi kìa, hai nàng nhìn nhau qua màn hình, không nói nên lời, đúng hơn là không biết nói gì, bắt đầu từ đâu, chỉ nhìn nhau cười, ước gì được ôm nhau. Cuối cùng, vẫn là tôi chủ động y như hồi còn học chung:

- Nguyên ơi, 25 năm, biết bao nhiêu điều để hỏi, để nói. Thôi bây giờ em sẽ là người nói trước, đặt câu hỏi, Nguyên chỉ việc trả lời thôi nhé, rồi sau khi em nói xong, sẽ đến lượt Nguyên nha.

- Ok, Loan hỏi trước đi.

Tôi đặt câu hỏi tới tấp, biết được toàn bộ những gì của thời gian qua. Gia đình Nguyên, tất cả 8 anh chị em đều may mắn qua Mỹ định cư, không còn ai kẹt lại Việt Nam, vợ chồng Nguyên và con trai vẫn ổn định trong cuộc sống, sức khỏe cũng như việc làm. Tôi vui sướng:

- Nguyên giỏi quá, đưa được cả nhà sang Mỹ luôn á.

- Chị nhớ thuở đó khi nhà Loan có hai ông anh vượt biên tới đảo, nhà chị cũng cố vài lần cho mấy đứa em trai đi, nhưng không thành công, đành an phận ở lại Việt Nam. May mắn sao, sau này chị và Ngân (em gái kế) được đi theo gia đình chồng qua đây, tuy muộn màng so với nhiều người, nhưng tụi chị cương quyết, kiên trì, cho nên 6 anh chị em còn lại (cùng vợ chồng con cái) cũng đã lần lượt qua Mỹ, cũng chỉ mới 5-6 năm nay thôi, mọi người đang bắt đầu gầy dựng cuộc sống mới, dần dà đã quen và yêu mến xứ sở này, chỉ tiếc ...

- Tiếc gì hả chị?

- Ba chị lúc ấy bệnh nhiều nên nhất định không chịu đi, má chị thì khao khát qua Mỹ nhưng phải ở lại với ba. Rồi hồi mùa dịch Covid ba không qua khỏi, ngay sau đó má cũng lên đường qua Mỹ với các con cháu, và lại tiếc nữa em ơi ...

- Tiếc gì nữa chị?

- Tiếc là má chị chỉ được hưởng không khi tự do dân chủ Mỹ Quốc được vài năm, sức khỏe yếu dần do bệnh từ trước, và cũng ra đi theo Ba đầu năm nay.

- Em xin chia buồn cùng chị và gia đình.

- Nhưng dù sao cũng an ủi là má đã được đến Mỹ và ra đi an lành trong vòng tay các con, các cháu.

 

Rồi tôi hỏi qua bạn bè, mấy đứa em họ của Nguyên mà hồi đó tôi cũng thường gặp gỡ khi đến nhà, Nguyên hớn hở:

- Cậu Hai vẫn nhắc Loan hoài, nhớ cậu không, ở sát nhà Nguyên đó. Mà các anh chị và ba của Loan lúc này sao rồi, tất cả đang ở Texas hay tiểu bang nào khác nữa, mọi người vẫn khỏe chứ?

 

Rồi chợt nhớ ra “giao ước” Nguyên khựng lại, hỏi:

- Xí!Xí!... Loan ơi, chị được phép nói chưa? Tới lượt chị hỏi chưa?

Tôi bật cười:

- Ừa thì em hỏi cũng gần xong, chị cứ hỏi đi, làm gì mà “xin” với chả “phép” như trong lớp học vậy, nhớ nghề hả ?

Nguyên cũng cười vang:

- Tại chị biết tính Loan từ ngày xưa, hễ ra “nguyên tắc” nào, mà ai sai phạm thì Loan nổi sùng, giận liền á!

- Chị làm em nhớ lúc mới qua Canada liên lạc được thằng bạn thân lớp 12 còn ở Việt Nam (cũng là cây si của em hồi đó). Lúc đó chưa có facetime, iphone, nên em email cho hắn thiệt dài, kể chuyện, sợ hắn ngán nên em chia ra các mục 1,2,3 ...rồi gạch đầu dòng, và luôn cả phụ đề a,b,c ... Hắn email lại, trời ơi cô giáo ơi, email cho bạn mà cứ như làm hồ sơ báo cáo tổng kết. Em bảo, ừa, tui dzậy đó, chịu thì chịu hổng chịu thì ... ráng chịu.

- Thiệt tình, tao thấy hắn góp ý cũng đúng, email cho “người xưa” gì mà khô như ngói, chẳng hiểu hắn “si” mày chỗ nào?

- Úi, không phải hắn si năm lớp 12 đâu nhé, mà si từ hồi học lớp Chín. Nghĩ cũng lạ, hắn là bác sĩ bận rộn là thế mà email cho em rất mượt mà êm ái, còn em là cô giáo thì email toàn là chữ số và gạch đầu dòng, trái ngược nhau quá chừng, tụi em mà lấy nhau thì bổ sung cho nhau “trên cả tuyệt vời” luôn chị nhỉ?

- Mà chị thấy Loan viết văn trên báo cũng... ngọt ngào lắm cơ mà?

- Chuyện nào ra chuyện đó chị ơi, mà em còn chả hiểu nổi em nữa là ... hihihi! Ủa, mà tụi mình đang nói tới đâu rồi Nguyên?

- Thì đó, ai chơi với Loan cũng phải ... “ráng chịu” mà, nên bây giờ chị mới hỏi, chị được phép nói chưa nà?

- Chèn đéc ui, đó là “em của ngày hôm qua” thôi nha, còn bây giờ em đã khác nhiều rồi, em hiền khô à, dạ mời chị nói.

 

Thế là Nguyên bắt đầu hỏi, tôi trả lời mọi sự, và chúng tôi cứ như thế đến nửa đêm, rồi trước khi chia tay, tôi xin được phỏng vấn Nguyên một câu ( thói quen “nghề nghiệp”, làm MC cộng đồng nhiều năm nên tôi gặp ai cũng đòi... phỏng vấn):

- Nhân dịp Thanksgiving sắp tới, Nguyên nghĩ sao về nước Mỹ nè, có hài lòng với cuộc sống hiện tại không? Em hỏi vậy vì em biết nhiều người qua đến đây thì chê ỏng chê eo, chê Mỹ chê Canada thẳng thừng, nghe mà... đau lòng.

- Không có chị à nghen! Cuộc sống hiện tại còn hơn cả mong đợi em ơi, bao nhiêu người phải trải qua hiểm nguy vượt biên trên biển cả, sau này thì người ta tốn tiền tốn của để được qua Mỹ, còn gia đình chị, nhờ ơn Trên, qua đây bằng máy bay, đầy đủ không tốn một xu nào, chả phải là một điều để Tạ Ơn sao? Ba chị vì bệnh hoạn đành qua đời bên Việt Nam nhưng má chị cũng kịp đoàn tụ con cháu, hoàn thành giấc mơ Mỹ Quốc mà má chị ấp ủ từ sau ngày Sài Gòn bị đổi tên. Còn Loan thì sao, năm nay ăn Thanksgiving thế nào, bên đó có ăn Gà Tây như bên Mỹ không?

- Có đầy đủ y chang chị ơi, có Turkey, mashed potato, stuffing, cranberry sauce, pumpkin pie, có điều Thanksgiving Canada đã xong từ Tháng 10, và cũng giống như chị và nhiều người Việt hải ngoại khác, mỗi mùa Tạ Ơn vẫn là niềm tri ân đất nước tự do đã giang tay đón chào và cho chúng ta cơ hội mới, tốt đẹp hơn so với khi còn ở lại với chế độ Cộng Sản Việt Nam.

 

Cúp phone xong, tôi vào phòng ngủ, còn lâng lâng cảm xúc buổi “gặp gỡ” bạn xưa, và chợt nhớ ra, năm nay tôi cũng có điều để tạ ơn nước Mỹ đấy. Số là mới hai tuần trước, có thằng bạn cùng trường khác lớp hồi học cấp ba, nhà ở xóm bên cạnh xóm tôi bên Việt Nam, bỗng nhắn tôi qua facebook messenger. Lúc đầu tôi chưa nhận ra hắn, bèn e dè ca bài ca “xin hỏi anh là ai?”, hắn phải kể lể mãi tôi mới nhớ ra. Hiện hắn ở Florida, rồi hắn bảo:

- Tui với mấy thằng bạn lớp tui thường xuyên liên lạc với nhau, tụi tui hay đọc báo Trẻ, Việt Báo, nhìn hình bà thì tụi tui ngờ ngợ vì cũng đã gần 40 năm rồi còn gì, nhưng đọc các bài bà viết, đôi khi viết kiểu “tào lao tưng tửng” thì tụi tui dám chắc đó là “phong cách” của bà vì hồi đó bà trong ban báo chí. Cả đám tụi tui hì hục tìm bà trên facebook, nhưng cái tên KimLoan nhiều quá, kiếm hoài không ra KimLoan Gò Vấp, học trường Nguyễn Trung Trực. Tụi tui bèn chạy qua Google vì tưởng bà "nổi tiếng" lắm chớ, ai dè ... hổng phải vậy, hahaha!!

- Quỷ sứ! Nói cho ông nghe nè, tên tui rất là ... đại trà bao la, hồi đó đi thi Đại Học, cả phòng mấy chục đứa con gái đều tên Thị Kim Loan chỉ khác last name thôi đó, mấy ông cứ rà rà kiểu đó tới kiếp sau chưa chắc tìm ra.

- Bởi vậy mấy thằng kia giao cho tui nhiệm vụ quan trọng phải tìm ra bà đó. Tôi phải truy lùng mấy người xóm cũ, dây mơ rễ má, rốt cuộc cũng tóm được bà. Đúng là trái đất tròn, bạn xưa bạn cũ dần dà tìm được nhau.

- Ừa, tìm được nhau thì đừng để mất nhau nữa, cho tui gửi lời thăm mấy “thằng bạn” của ông mà bảo đảm tôi chẳng nhớ rõ mặt mũi họ tròn méo ra sao, nhưng dù sao cũng là tình đồng hương đồng trường khác lớp mà giờ đây thân thương quá chừng . Và đặc biệt cám ơn ông và nhóm bạn đã theo dõi tui trên báo Trẻ, Việt Báo và... rình rập tui trên facebook.

 

Tôi tin rằng tất cả chúng ta phải cám ơn thời đại khoa học kỹ thuật phát triển, trái đất này bỗng nhiên nhỏ bé, người ta gần nhau hơn, dù ở bất cứ nơi nào vẫn có thể “gặp” nhau, nói chuyện với nhau, điều mà cách đây hơn 30 năm khi xuống tàu đi vượt biên, tôi không dám mơ ước.

Thế là Mùa Thanksgiving năm nay tôi tìm được hai người bạn bên Mỹ, vui quá đi chớ!

 

Edmonton, Tháng 11/2023

Kim Loan

TL_halloween.webp

 

                              KỂ CHUYỆN MÙA HALLOWEEN

Chiều mùa Thu thật mau tối, ảm đạm dưới màn trời xám xịt. Tôi dừng xe đổ xăng, rồi bâng quơ nhìn qua bên

 

kia đường là cửa hàng Marshalls. Tôi chợt nhớ ra trong xe có đôi bao tay tôi đã mua nhưng không vừa ý, cần trả lại tiệm. Ở xứ tự do nói chung và xứ Bắc Mỹ này nói riêng, sướng thật. Khi mua đồ về nhà, trong vòng 30 ngày có thể đem trả lại dù với bất cứ lý do gì miễn là còn tag, còn receipt rõ ràng. Nếu ở Việt Nam thì ... mơ đi nhé, mà nếu họ có đồng ý cho đổi trả thì cũng mặt mày sưng sỉa, nặng nhẹ mắng chó chửi mèo mới hả dạ, làm cho khách hàng cảm thấy mình là “ tội đồ” chớ không phải là “thượng đế” .

Nhìn đồng hồ chỉ 5 giờ 30 chiều, tôi thầm nghĩ, hôm nay chủ nhật, cũng còn 30 phút nữa tiệm đóng cửa, nên quyết định chạy qua Marshalls, vào trả lại đồ thì mau chóng thôi.

Bước ra khỏi xe, cơn gió lạnh làm tôi rùng mình, bãi đậu xe vắng ngắt, chỉ còn lác đác vài chiếc, trời lạnh lẽo chẳng ai muốn ra đường giờ này. Tôi chạy nhanh vào tiệm để tìm hơi ấm. Tiệm sắp đến giờ đóng cửa nên chỉ còn vài người khách, họ cũng đang vội vàng mang đồ ra quầy tính tiền. Cả tiệm rộng lớn đã được dọn dẹp thật ngăn nắp gọn gàng theo từng khu vực. Nhân viên bán hàng cũng chỉ còn hai người, đó là một cô nơi quầy cashier đang ngồi ngáp uể oải đợi những người khách cuối cùng trả tiền và bóng dáng một người thấp thoáng lởn vởn gần khu quần áo.

Tôi lại quầy trả lại món hàng xong, tiếc rẻ công lao đã vào tiệm nên tôi nhanh chân đi thẳng đến khu áo quần định xem qua cho đã con mắt, nhưng bản tính mua sắm của phụ nữ lại nổi lên, tôi dừng lại ngắm nghía những chiếc áo len mùa đông, rồi quơ tay lựa được sơ sơ ... bốn cái. Tôi nghĩ, chạy vào phòng thử đồ khoảng mười phút chớ nhiêu.

Thế nên tôi mạnh dạn đem bốn chiếc áo đến khu thử đồ, trông coi khu vực này là một bà da trắng già lứa tuổi đã về hưu, dáng bà cao nghều nghệu, mái tóc tuy vàng nhưng đã cũ theo tuổi đời và cả với bụi đời khô cằn lòa xòa trước khuôn mặt chả khác gì mụ phù thủy gian ác trong các phim cổ tích cho trẻ con, khiến tôi ...hổng có cảm tình chút nào. Cái nhan sắc này, chắc rằng ngay cả khi ở lứa tuổi thanh xuân cũng không hề đẹp nếu không muốn nói là xấu. Bà ta nhìn mớ áo tôi ôm trên tay mà chẳng nói gì, có lẽ hơi khó chịu vì bà ta đang thong thả đợi hết giờ làm, thế mà vẫn còn người khách đến vào phút cuối làm cho bà bận rộn. Nhưng chẳng thể làm gì được tôi, bà đếm số áo, rồi đưa tôi tấm thẻ bằng nhựa có ghi số 4 (để chút nữa trở ra tôi đưa lại thẻ và 4 cái áo, làm bằng chứng không mất mát, dối gian). Tôi nhận thẻ rồi ngang nhiên hớn hở đi vào khu thử đồ, không biết sau lưng tôi bà già có liếc xéo hay rủa thầm gì không, thây kệ, khách hàng là Thượng Đế.

Tôi bỗng khựng lại vì không gian trong đây im lặng hoang vắng một cách đáng sợ. Bình thường thì cả chục cái phòng thử rất rộn ràng kẻ vào người ra, tiếng ồn ào người ta thử áo quần và nói chuyện với bạn bè đi theo, kèm theo tiếng hỏi han của nhân viên của tiệm, nhưng giờ đây các phòng thử đóng cửa san sát nhau, im lìm đến rợn người. Các phòng được dựng liền nhau bởi những vách ngăn hở dưới chân khoảng gần đầu gối, các cánh cửa cũng như thế, tôi cúi mình, liếc nhìn dưới sàn, các phòng đều khép kín cửa,lặng tiếng im hơi, không một bóng người và không có một tiếng động nào, tự dưng cho tôi một nỗi sợ mơ hồ, nỗi sợ ...ma quái, muốn quay lui trở ra nhưng hình như có một động lực nào đó bắt tôi đứng chôn chân tại chỗ một vài giây, rồi quyết định đẩy cửa bước vào một phòng thử đồ.

Tôi hít một hơi thật sâu. Đã tới đây rồi, thì vào chớ sao, có gì mà sợ. Vào trong phòng, tôi cẩn thận khóa chốt cửa, móc cái thẻ số 4 lên vách, treo giỏ của tôi vào một góc, rồi chuẩn bị cởi áo jacket để thử đồ. 

Thử đồ là phải ngắm nghía trước sau, phải làm dáng kiểu cọ y như đang có thợ chụp hình trước mặt sẵn sàng bấm hình cho minh.

Tôi say sưa thử cái áo thứ nhất đến cái áo thứ tư, không biết tôi đã ưỡn ẹo bao lâu, ngắm nghía bao lâu rồi mới chịu thay ra mặc lại đồ của mình. Bỗng tôi nghe tiếng ai vừa nói gì đó bên tai. Ai vậy cà? Rõ ràng hồi nãy tôi đã check các cửa đều đóng kín, không có ai trong đây cơ mà? Hay là tiếng suỵt soạt của zipper áo jacket làm cho tôi liên tưởng đến tiếng ai nói?

Tôi tiếp tục kéo zipper, thật nhẹ, để tránh gây tiếng động, thì một lần nữa, tiếng nói ấy trở lại, lần này cũng như cơn gió thoảng, như quanh quẩn nơi tôi đang đứng.

Ôi chu choa, đang mùa Halloween đây mà, đừng có hù dọa tôi chớ, vả lại tôi từng nghe nói các ma nữ thường xuất hiện ở các khu shopping lúc đêm hôm vắng vẻ, chắc là để nhớ lại thời thanh xuân huy hoàng. Tôi toát mồ hôi hột, không cần suy nghĩ, không cần phân tích gì nữa, vội vã kéo zipper của jacket trở lại, với tay lấy cái giỏ, ôm mớ áo mở cửa thì đúng lúc gương mặt nhăn nheo của bà “phù thủy” thò vào làm tôi hết hồn. Thấy tôi có vẻ hoảng sợ bà ta ríu rít:

-    Cô thử đồ xong rồi hả? Tôi xin lỗi đã làm cô giật mình.

Tôi vẫn còn run rẩy, tim đập mạnh và chắc chắn mặt mũi tôi xanh lè, cũng may tôi chưa kịp la lên: “Bà là người hay là ... ma!?”

Thấy tôi chưa bình tĩnh lại, bà ta nhẹ nhàng nói:

- Cô có biết là đã tới giờ cửa hàng đóng cửa không, tôi và cô ngoài kia chỉ đợi có một minh cô.

Tôi hiểu ra vấn đề, vội... xuống nước:

- Ủa...ủa...mấy giờ rồi? Tôi cứ tưởng còn sớm mà...

- 6 giờ 15 phút rồi. Tôi đã đứng ngoài phòng thử đồ nhắc nhở cô 2 lần, tưởng cô nghe rồi chứ.

Trời, thì ra trong lúc tôi đang mê man thử đồ nghe tiếng nói bên tai là lúc bà “phù thủy” nhắc nhở vậy mà tôi hoang tưởng tiếng ma quỷ réo gọi, nào có chú ý đến giờ giấc. Ôi, mùa Halloween với những hình ảnh ma quỷ chưng bày ngoài đường phố và tại tiệm này đã ám vào người tôi kể từ lúc tôi bước vào cửa tiệm rộng lớn nhưng vắng người vì sắp tới giờ đóng cửa.

Bây giờ tôi mới có dịp nhìn kỹ bà “phù thủy” già (có xấu xí gì đâu nà) và bỗng thấy giọng nói bà dịu dàng nhã nhặn quá chừng. Tôi líu ríu:

- Xin lỗi bà tôi không để ý.

Bà lại nở nụ cười:

- Không sao, thỉnh thoảng chúng tôi vẫn phải chờ đợi những khách hàng cuối cùng như cô hôm nay.

Thì ra người khác đẹp hay xấu, dễ ghét hay dễ thương là do cái nhìn của mình, cái tâm trạng buồn vui của mình. Tôi vừa vô duyên vừa xớn xác chỉ nhận định người khác qua vẻ bề ngoài. Đằng sau cái nét mặt đăm đăm tưởng như khó tính, cái dung nhan không đẹp của bà nhân viên già tôi đã nhận thấy một con người mềm mỏng, kiên nhẫn, và lịch sự. Bởi không phải lúc nào cũng “nhìn mặt mà bắt hình dong” được đâu nhé.

Tôi trao mớ quần áo cho bà:

-     Tôi thích 2 cái áo nhưng trễ giờ rồi để ngày mai tôi sẽ đến mua.

           -     Khoan khoan! Tôi phải đếm đủ số áo nữa chứ, cái thẻ số 4 hồi nãy đâu rồi?

Tôi định về nhanh trả lại thời gian cho họ nhưng vẫn phải đứng lại:

-    Tôi để quên cái thẻ trong phòng thử đồ rồi sao? 

Tôi và bà ấy giũ từng cái áo vẫn không tìm thấy cái thẻ, tôi nói:

-      Cái thẻ thì quan trọng gì chứ? Bà đã đếm đủ 4 cái áo rồi còn gì!

-      Đúng vậy, không phải là tôi không tin cô, nhưng tôi cần cái thẻ cất vào tủ, ngày mai người làm ca sáng sẽ không bị thiếu, khỏi càm ràm tôi, cô làm ơn vào trong lấy cái thẻ giùm nhe.

 

Tôi đi vào phòng thử đồ, bà ấy cũng đi theo, và lạ kỳ thay không còn cái thẻ nữa. Nó biến đi đâu vậy cà, chẳng lẽ lại đổ thừa cho... ma Halloween?

Bà phù thủy, í lộn, bà nhân viên hỏi tôi:

-          Cô có chắc là phòng này không?

-          Tôi bảo đảm 100% vì tôi có một thói quen bất di bất dịch mỗi khi đi thử đồ ngoài shopping hoặc khi dùng nhà vệ sinh công cộng, là tôi luôn luôn bỏ qua phòng số một, vào phòng số 2, nếu phòng số 2 có người thì vào phòng số 3, cứ thế ...

Bà cười hài hước:

-          Cô có mối thù với ... số 1 hở?

-          Dĩ nhiên là không, tính của tôi là vậy đó, tôi cũng chả biết giải thích thế nào, nhưng mà chuyện cái thẻ giờ tính sao, cũng quá giờ lắm rồi.

-          Thôi chúng ta phải ra về thôi, chuyện cái thẻ tôi sẽ viết notes cho ca sáng, rồi họ sẽ tìm ra đâu đó hoặc thay cái mới. Chúc cô một buổi tối an lành.

Tôi mỉm cười, thật lòng hối hận, cám ơn bà “phù thủy”. Ra tới ngoài gặp cô cashier tôi lại ráng nở một nụ cười hối hận thứ hai, cô ấy đang đứng bên quầy với cái giỏ xách tay để bên cạnh, chỉ đợi tiễn tôi ra khỏi cửa là cô ra về.

- Tôi xin lỗi nhé. Vì tôi mà chiều nay cô về muộn một chút.

-  Không có chi.

Về đến nhà, tôi vào bếp uống ly nước ấm, rồi lên lầu vào phòng, quăng cái giỏ lên giường, thay quần áo, và bất ngờ, chiếc thẻ số 4 rớt ra từ cái giỏ, nằm chình ình trên giường . Vậy là trong lúc vội vã gom đồ chạy ra ngoài phòng thử đồ, tôi đã bỏ cái thẻ vào giỏ mà không biết. Tôi lẳng lặng đi đánh răng rửa mặt, không dám kể cho ông xã nghe chuyện vừa xảy tại tiệm Marshalls kẻo bị chồng mắng với 3 tội danh, thứ nhất là lúc nào cũng mê shopping, thứ hai là đánh giá người khác qua vẻ bên ngoài, chồng sẽ nói em mà là quan tòa thì bảo đảm khối người sẽ bị xử oan và thứ ba là hay hoang tưởng, mê tín dị đoan, nhìn đâu cũng thấy... ma.

Trước đây có một lần trên đường đi làm về buổi tối, khi lái xe qua khu bệnh viện bỏ hoang mà người xung quanh gọi là bệnh viện “ma”, trong xe của tôi bỗng nhấp nháy dấu hiệu nhắc nhở cài seat belt mặc dù trên xe chỉ có một mình tôi và tôi đã cài seat belt ngay từ khi rời chỗ làm, vậy dấu hiệu nhắc nhở seat belt là dành cho ghế trống bên cạnh ghế người lái là tôi, mà tôi có chở ai đâu, tại sao vừa tới khu bệnh viện hoang “nó” mới nhắc nhở, nghĩa là có “ai đó” đã chui vào xe ngồi cạnh tôi chăng? Tôi hoảng hồn, lo sợ, đọc kinh tá lả, cầu Chúa cầu Phật cầu Thánh Ala, cầu xin “ai đó” đang đi nhờ xe tôi làm ơn xuống xe cho tôi về nhà, sau đó dấu hiệu seat belt liền biến mất. Về nhà không những không được ông xã an ủi mà còn bị mắng vì tội “mê tín dị đoan”, rằng “chiếc xe nào mà chẳng có đôi khi bị lỗi kỹ thuật, dấu hiệu này kia bất ngờ xuất hiện là chuyện bình thường, lại đúng lúc em đi qua bệnh viện hoang mà thôi, chẳng có ma cỏ gì sất!”

Ai tin hay không tin chuyện ma quỷ nhưng hàng năm mùa Halloween cả vùng Bắc Mỹ cùng chào đón chuyện quỷ ma, người lớn làm tiệc tùng khiêu vũ và trẻ em thì hớn hở sắm sửa quần áo hóa trang, bày biện trang hoàng những hình ảnh máu me, kinh hoàng rùng rợn cho đêm Halloween.

Nhớ hồi mùa dịch Covid phải ngưng chuyện đón Halloween một năm, chồng tôi đề nghị:

-          Ngày xưa con mình còn bé, nhân tiện đưa chúng đi Trick or Treat thì nhà mình cũng phát bánh kẹo cho vui, nay chúng đã lớn hết rồi, chúng ta cũng nên dẹp bỏ vụ Halloween, cứ nghĩ đến mấy ngày leo trèo lên nóc nhà, các cành cây, bày biện trang hoàng mỗi mùa Halloween anh thấy ớn và mệt quá.

Tôi trả lời ngay tức thì:

-          Nói vậy mà nói được à, con chúng mình lớn, nhưng vẫn còn những đứa trẻ trong xóm hàng năm chỉ mong chờ đêm Halloween để được vui vầy với chúng bạn, đi từng nhà trong khu phố, gõ cửa xin kẹo, dù có khi mưa gió lạnh lẽo hoặc lất phất tuyết rơi mà chúng vẫn hăng say vui vẻ lên đường. Nội nhiêu đó thôi cũng đủ để thương, đủ để chúng ta “hy sinh” chút thời gian tiền bạc và công sức, góp vào niềm vui chung của đêm lễ hội truyền thống Halloween. Vợ chồng Rob và Connie đối diện nhà mình từng bị lũ trẻ đạp đổ một số cây cảnh trong sân khi Trick Or Treat, cô vợ xót của không muốn tiếp tục phát kẹo năm sau, anh chồng kịch liệt phản đối, bảo rằng tụi nhỏ ham vui phá phách chút đỉnh, mình sẽ rút kinh nghiệm bày biện sân cỏ gọn gàng, chứ dứt khoát không thể bỏ phong tục này, vì không muốn tụi nó thất vọng. Đó, anh thấy chưa, có ai nỡ lòng nào tước đi niềm vui của trẻ thơ!?

Thực ra vì ông xã tôi quá bận rộn, nhiều khi việc làm ở tiệm còn phải đem về nhà, nên hầu như không có đêm Halloween nào cùng tôi ngồi phát kẹo cho lũ trẻ, còn mấy mẹ con tôi vẫn say mê dù nay chúng đã lớn. Hồi con gái còn học Đại Học, tối Halloween phải lên lầu học bài mà thỉnh thoảng vẫn text phone tôi ở dưới lầu: “Mẹ ơi, được bao nhiêu đứa đến xin kẹo rồi, nhà mình còn đủ chocolate không?”.  Có năm trời mưa gió lạnh, chỉ lác đác vài nhóm đến gõ cửa, tôi vẫn kiên nhẫn sáng đèn tới khuya, con gái xuống cùng tôi, hai mẹ con vừa ăn chips, uống hot chocolate, mong đón những vị khách cuối cùng để chúng tôi sẽ thưởng cho chúng không phải một vài cái kẹo mà là cả một hai vốc thiệt bự, bõ công chúng lặn lội trong gió lạnh ướt át và cũng để thanh toán hết mấy thùng kẹo còn ế ẩm.

Tôi miên man nghĩ suy trong khi chờ đợi giấc ngủ thảnh thơi không mộng mị. Ngày mai, tôi sẽ trở lại tiệm Marshalls để trả lại cái thẻ, và mua 2 cái áo tôi đã thích, coi như lời xin lỗi âm thầm với bà nhân viên già mà trong lúc bực bội tôi đã phong tặng danh hiệu “mụ phù thủy”.

Rồi tôi sẽ đi shopping mua kẹo bánh và vài đồ trang trí trước sân nhà cho mùa Halloween thay thế cho một số vật dụng đã cũ từ những năm trước. Tôi rất thích tập tục đáng yêu này và không năm nào quên, vì tôi biết chắc lũ trẻ trong xóm sẽ rất buồn, rất ngỡ ngàng nếu nhà tôi tắt đèn tối thui, sân nhà im ắng không trang hoàng nhộn nhịp, và chúng sẽ nhớ khoảnh khắc nhìn thấy cô chủ nhà ... không còn trẻ lắm (là tôi) mở cánh cửa, phát kẹo cho chúng trong bộ đồ costume của một “bà tiên” vui tính nhất trần đời!


Edmonton, Tháng 10/2023

KIM LOAN 
 
 
"Father, forgive them, for they do not know what they are doing"

                                               -Luke 23:34-

tl_thu.jpg

MÙA THU BỎ LẠI

 

Tôi đi bỏ lại một trời thương

Ngày tháng vui tươi dưới mái trường

Thu sang êm ái ngoài cửa lớp

Cô bé học trò biết vấn vương

 

Dòng sông ký ức tươi đẹp quá

Tôi ngụp lặn mình trong thoả thuê

Cánh diều mộng ước chiều no gió

Mây trắng bồng bềnh cơn mộng mê

 

Tôi đi bỏ lại một phố xưa

Ngỏ hẻm lung linh ánh đèn khuya

Lá rơi hay bước chân người đến

Giấc ngủ chập chờn tôi ngẩn ngơ

 

Chiều buông bên giàn bông giấy đỏ

Heo may về cánh mỏng mong manh

Có tôi thổn thức theo cơn gió

Có người cùng tôi chờ trăng lên

 

Ra đi chiều thu vàng giăng mắc

Chẳng kịp trao ai lời giã từ

Người vẫn theo tôi bằng đôi mắt

Lặng lẽ, trách tình tôi hững hờ

 

Tôi đi bỏ lại thuở yêu đương

Căn nhà xưa, và những con đường

Tuổi trẻ, mối tình đầu trong sáng

In dấu trong tim chút mộng thường

 

Tôi đi bỏ lại một quê hương !!

 

Edmonton, Tàn Thu 2023

KIM LOAN

 

 

ĐI DỰ TIỆC CƯỚI

Hồi đầu tháng, ông xã tôi nhắc:

-         Cuối tháng này tụi mình đi đám cưới nhé em.

-         Em biết rồi, đám cưới cậu pharmacist trong tiệm anh chớ gì, mà em quên hỏi, cậu ấy người Việt hay Tây?

-         Cậu ấy là dân gốc Afghanistan, lấy vợ là người da trắng, cũng là nhân viên trong tiệm, nói chung đây là đám cưới mà cả cô dâu chú rể đều là “lính” của anh, cho nên vợ chồng mình cố gắng đi chung vui với họ. Mà em hỏi chi vậy?

-         À, nếu là đám cưới người Việt thì mình sẽ...thong thả chút xíu.

-         Đây là đám cưới Tây, hơn nữa anh là boss của họ, mình không những đến đúng giờ mà  nên đi sớm để bày tỏ sự quan tâm, trân trọngngày vui của hai đứa.

-         Em biết rồi, anh khỏi phải nhắc.

Thật ra, anh ấy nhắc không thừa và không oan tí nào, mà cũng đâu phải lỗi tại tôi, chỉ tại các tiệc cưới Người Việt Nam luôn luôn trễ giờ hơn cả tiếng so với giờ mời trên thiệp, đã từng làm bụng tôi đói cồn cào, choáng váng mặt mũi xanh lè như tàu lá chuối. Từ đó, hễ đi ăn cưới dân Việt là tôi ăn trước chút snack, và đến trễ khoảng mười lăm phút hoặc nửa tiếng. Chồng bảo tôi qua xứ này rồi mà chưa học hỏi thói quen đúng giờ của người ta, nhưngkhổ quá, dù tôi đã vài lần đến đúng giờ thì tình trạng là “vũ như cẩn”, ngồi ngáp dài ngáp ngắn mỏi cả lưng, nên tôi chọn kiểu “lưng chừng”, đi trễ chút xíu nhưng vẫn trong nhóm đến sớm, đợi chờ những người đến sau.

Thiệp mời cocktail 6 giờ và tiệc chính thức 7 giờ, vì chồng tôi còn bận làm việc nên chúng tôi chọn giờ vào tiệc, có mặt lúc 6 giờ45 phút, khi mọi người đã xong phần cocktail đang ngồi yên vị nhỏ to chuyện trò trong tiếng nhạc dịu êm chờ giờ khai mạc. Chúng tôi chào hỏi vài người xung quanh, quan sát không gian nơi tổ chức tiệc, được một lúc thì người MC bước lên podium thông báo, giờ khắc quan trọng đã đến, đôi tân lang sẽ xuất hiện trong giây lát. Mọi người cùng im lặng, hướng ra ngoài cửa, tôi nhìn đồng hồ, đúng 7 giờ, hay nói chính xác hơn là còn 3 phút nữa mới đúng 7 giờ!

Tôi nhớ có lần đi dự một đám cưới người Việt trong  cộng đồng, vợ chồng tôi như thường lệ rời nhà đúng giờ ... mời trên thiệp (nghĩa là sẽ đến nơi trễ mười lăm, hai mươi phút). Ra đường chồng tôi mới nhớ xe gần hết xăng, tôi bảo:

-         Còn sớm mà anh, cứ từ từ đi đổ xăng cho đầy.

Đổ xong xuôi, xe chạy bon bon hướng ra highway về dưới phố, tôi nhẩn nha nghe nhạc và soi gương trên xe, bỗng phát hiện ra tôi đã quên tô son môi, vì trước đó bận rộn thử đi thử lại mấy cái áo đầm để chọn một cái ưng ý, rồi chồng tôi thúc giục sợ trễ nên tôi sơ sót trong lúc trang điểm chăng? Bình thường trong bóp tôi luôn có cây son, và chai nước hoa nhỏ, vậy mà bữa đó trời xui đất khiến tôi đổi chiếc bóp khác, rồi lại quên bỏ son vào, báo hại tôi phải năn nỉ chồng:

-         Anh ơi, làm ơn quay về nhà, em quên cây son rồi.

Chồng tôi cằn nhằn:

-         Mình đã trễ 15 phút rồi đấy.

-         Ôi, chạy về nhà thì mình trễ nửa tiếng, cũng vẫn là ... sớm, anh tin em đi.

-         Anh biết, nhưng thà mình đến đó ngồi chờ, còn hơn là vác cái mặt đến quá trễ, anh không làm được.

-         Thì dù sao cũng chỉ trễ... nửa tiếng thôi mà, đôi môi em tái nhợt thế này thà em chết còn sướng hơn đó. 

Chồng đành phải đưa tôi về, tôi chạy lên phòng tô son, cẩn thận bỏ cây son vào bóp, rồi vội vàng ra xe, trực chỉ đến tiệc cưới. Nhưngthật không ngờ, “họa vô đơn chí” là có thật, nghe nói ngay trên giữa highway vừa có một tai nạn, hai xe tông ngược chiều vào nhau, đầu xe bể tan tành, xe cứu hỏa, ambulance và xe cảnh sát nhốn nháo chặn đường chỉ còn 1 lane cho mỗi bên. Chúngtôi khổ sở nhích từng đoạn đường, cuối cùng đến nơi parking trễ 1 tiếng 15 phút. Hai vợ chồng hối hả đi vào nhà hàng tiệc cưới, chẳng dám nhìn ai vì xấu hổ, nhưng ô kìa, tiệc vẫn chưa bắt đầu, người ta vẫn đứng ngồi lai rai cụng bia, tán dóc. Chị Bảy, được nhiều người Việt ở thành phố tặng cho danh hiệu “chuyên gia đi trễ” của cộng đồng, luôn luôn có mặt sau cùng ở các buổi tiệc, thấy tôi liền chạy đến chào rồi mỉm cười:

-         Chị tưởng chị là “nữ hoàng đến muộn” mà hôm nay vẫn ... sớm hơn em.

Tôi lí nhí:

-         Bị kẹt xe, tai nạn trên highway chị ơi.

-         Vậy à, nhưng em yên tâm , em vẫn còn sớm hơn ... nhơn vật chính là cô dâu.

-         Có chuyện gì hở chị?

Chị Bảy lắc đầu, thở dài:

-         Thiệt là xui xẻo tận mạng, hồi trưa đi chụp hình cưới ngoài park , cô dâu vướng víu đuôi áo soa rê và giày cao gót, bị té dập mặt xuống bãi đá nhọn, máu me lênh láng, đưa đi cấp cứu, mới được xuất viện cách đây một giờ, đang đi tiệm make up và làm tóc lại toàn bộ.

Dù chúng tôi thoát nạn vượt qua “danh hiệu nữ hoàng”đi trễ của chị Bảy, ông xã nhất quyết từ nay phải luôn đến đúng giờ, dù là tiệc của người Việt, người da trắng da đỏ hay da màu.

Tiếng nhạc xập xình đưa tôi về với tiệc cưới hiện tại. Ôi, đám cưới Tây có khác, ngoài việc giờ giấc y boong, là những thủ tục giới thiệu cha mẹ hai bên rất gọn gàng (không dài dòng, diễn văn lê thê), và tuyệt nhiên không có tiếng cụng ly ồn ào “dzô dzô chăm phần chăm”, nhất là khi cô dâu chú rể cùng đại diện hai họ lên phát biểu, cả gian phòng chăm chú lắng nghe, cùng những tràng vỗ tay không dứt mừng cho đôi uyên ương.

Đến lúc xếp hàng đi lấy thức ăn kiểu buffet, ông xã tôi dừng lại nói chuyện với ba má chú rể, họ mặc trang phục Afghanistan trang trọng, vui vẻ đưa dĩa cho từng vị khách, nhưng lại đượm buồn khi nói về sự thiếu vắng một số thân nhân còn ở lại Afghanistan kể từ ngày quân Taliban tiến về “giải phóng Kabul” cách đây hơn hai năm.

Làm sao tôi quên được ngày đó, vì cũng là ngày funeral của Ba tôi. Ngày 16 tháng 8 năm 2021 khi đại gia đình chúng tôi trở về nhà ăn tối sau khi an táng Ba yên nghỉ tại nghĩa trang Arlington, Texas, vừa xem tin tức nóng hổi những hình ảnh quân Taliban tràn ngập thủ đô Kabul trong khi nhiều người dân hoảng hốt “chạy giặc”, cố bám theo chiếc máy bay sắp cất cánh đưa những người Afghan tỵ nạn rời khỏi quê hương.

Có khác gì sư hỗn loạn ngày 30 tháng 4 năm xưa khi Sài Gòn bị “giải phóng”? Những khuôn mặt căng thẳng, lo sợ, bằng cả mạng sống muốn chạy khỏi quân khát máu đang thâu tóm quê hương. Rồi hình ảnh đám quân Taliban ùa vào dinh Tổng Thống Ashraf Ghani (lúc ấy đã bay ra khỏi nước, hiện đang tỵ nạn ở Ả Rập), chúng sờ mó chiêm ngắm các vật dụng sang trọng trong dinh cũng như những máy móc hiện đại tối tân với những cặp mắt ngưỡng mộ đầy kinh ngạc (tội nghiệp chúng bao năm ở rừng rú hang động, nào được tiếp xúc với văn minh loài người). Cũng y chang như những câu chuyện chúng ta thường nghe dân Sài Gòn truyền tai nhau về sự ngây ngô (mà khoái nổ) của các anh cán ngố Cộng Sản ViệtNam.

Lúc ấy, tôi đang học tiểu học trường Đồng Tháp, trước đây là khu quân đội của chính quyền VNCH, xung quanh trường học là những khu cư xá sỹ quan, các ngôi nhà lầu đúc một tầng, có lan can xinh xắn trước nhà, và mảnh sân nhỏ trồng cây tỏa bóng mát rất đẹp. Sau 1975, các gia đình cán ngố dọn vào ở. Chèn đéc ơi, sân trước chúng rào lại, chặt bỏ những cây điệp, cây trứng cá, thay vào đó là trồng rau muống, nuôi lợn “cải thiện đời sống”.  Chưa hết đâu nhé, balcony thơ mộng với những chậu hoa leo cũng bị chúng vứt bỏ, rồi giăng dây kẽm phơi quần áo màu xanh ...“bộ đội”, đôi khi còn treo cả nón cối và dép râu ở ngoài hiên nữa cơ, cứ như sợ ngườita không nhận ra “bố mày là ai” hay sao á!

(Ủa, hình như tôi đang đi ... lạc đề!? Thôi dừng lại ở đây, kẻo viết nữa thì bài này sẽ bị/được xếp qua bài chủ đề tháng 4 Đen năm tới)

Nhạc lại đươc trỗi dậy, đèn trong khán phòng tắt hết, mọi người ra sàn nhảy theo điệu nhảy truyền thống của Afghanistan rộn ràng. Các chàng trai và thiếu nữ múa xung quanh dàn trống, dâng các rổ quà cho đôi uyên ương theo đúng phong tục. Vợ chồng tôi cũng bước ra tham gia, gia đình bạn bè da trắng phía bên cô dâu cũng hòa vào đám đông nhảy nhót, khung cảnh “đa văn hóa đa màu da” thật đẹp. Chúng tôi ngắm các em gái nhỏ mặc đầm kiểu Afghan sặc sỡ, các em thiếu niên hớn hở rạng ngời, các bà các cô và các người lớn tuổi nhìn đám con cháu cũng vui lây, và trong khóe mắt của họ thỉnh thoảng chợt rươm rướm nỗi sầu vì thương nhớ những thân nhân, đồng bào máu mủ còn kẹt lại quê nhà với chế độ độc tài Taliban.

Trời ơi, chưa có đám cưới (không phải người Việt) nào làm cho tôi có nhiều cảm xúc vui buồn như cái đám cưới này!

Edmonton, Tháng 10/2023

KIM LOAN

" Father, forgive them, for they do not know what they are doing"

                                                -Luke 23:34-

LẠI CHUYỆN THẦY TRÒ

Hồi ở trại tỵ nạn Thailand, tôi có lúc đã quay cuồng “chạy sô” đi học 4 thứ tiếng.

Thứ nhất, là tiếng Thailand. Vì nghe bà con rỉ tai bảo nhau, nếu chẳng may bị rớt thanh lọc không được đi định cư nước thứ ba, thì dứt khoát không quay về Việt Nam mà trốn ra ngoài Thái sinh sống, làm ăn rồi lấy chồng Thái để... trả thù dân tộc và để…gỡ lại vốn 3 cây vàng tiền vượt biên. Và trước mắt là phải biết mấy câu tiếng Thái để khi đi phỏng vấn thanh lọc mà chào hỏi mấy anh chị luật sư người Thái.

Thầy dạy tiếng Thái là người Việt tỵ nạn, nhưng có thời gian dài sinh sống ở vùng biên giới Cambodia-Thailand nên rành luôn hai tiếng đó. Lớp học hơn chục người, vui như Tết, vì có gì thắc mắc cứ hỏi bằng tiếng Việt, thầy tận tình chỉ dẫn . Mỗi buổi học xong, tôi và nhỏ bạn hớn hở đi thẳng ra khu chợ trong trại để thực tập tiếng Thái với mấy chế bán hàng, dễ nhất là “Sawa đi kha” (Chào anh/ chị) và “khap khun” (cám ơn) rồi cười đau cả bụng khi nói sai nói lộn các câu khác, hiểu ra ý tùm lum tà la.

Thứ hai, là tiếng Tàu. Dĩ nhiên, chúng tôi chẳng muốn qua China định cư, nhưng dân Tàu “đông hơn quân Nguyên”, có mặt khắp các ngõ ngách trên trái đất này, nên cứ học chút tiếng Tàu để đấy, phòng xa, thừa còn hơn thiếu. Ông Thầy này là người Việt gốc Tàu Chợ Lớn nhưng chả hiểu sao không nói rành tiếng Việt, báo hại chúng tôi phải nói chuyện với Thầy bằng tiếng Anh hoặc Tiếng Tàu mới lõm bõm cấp “abc”, mỏi cả miệng. Phải nói không ngoa rằng tiếng Tàu là tiếng khó học và phức tạp nhất hành tinh này, nội bảng chữ với các hình phải nhớ là nhức cả đầu nên chỉ mới hơn hai tuần, chúng tôi đành bỏ cuộc.

Thứ ba, là tiếng Pháp. Nước Pháp thì có liên quan gì đâu nà!? Có lẽ do ảnh hưởng một thời nghe ca sỹ Thanh Lan và Elvis Phương hát các bài nhạc Pháp lời Việt mà mê mẩn, và đọc sách báo mơ mộng về kinh đô ánh sáng, có tháp Eiffel, có dòng sông Seine, có vườn Luxembourg lãng mạn trữ tình. Nhưng lý do quan trọng nhứt, là …thầy giáo dạy tiếng Pháp là chàng người Cambodia lai Tàu, cao to, trắng trẻo, đeo cặp kiếng trắng thư sinh, đẹp trai như tài tử Hàn Quốc Hyun Bin.

Thầy này, nói đúng hơn, là đồng nghiệp nhân viên Cao Ủy giống như tôi, nhưng tôi làm ở Văn Phòng dành cho người tỵ nạn Việt Nam, còn hắn thì ở văn phòng cho người Lào Hmong và Cambodia. Những buổi trưa im vắng rảnh rỗi, ít dân tỵ nạn lên hỏi han chuyện giấy tờ, tôi ngồi từ văn phòng của mình nhìn qua cửa sổ về phía bên kia, hắn cũng tươi cười vui vẻ, rồi ra hiệu cho tôi, đại khái là hắn đi qua ngồi nói chuyện cho vui, nhé?! Tôi gật đầu, và hai đứa chúng tôi ríu rít chuyện trò, với mục đích ban đầu và duy nhất là “ practice English” lẫn nhau, riết rồi ngày nào cũng “tám”, lôi cả chuyện gia đình, chuyện quá khứ ra kể lể vì hắn và tôi cùng tuổi.

 

Hắn bảo, hắn đang học trong trường huấn luyện pilot dân sự với ước mộng đưa khách du lịch bay lượn trên bầu trời, nhưng rồi ba má hắn ra lệnh cả gia đình phải vượt biên qua biên giới Thailand vào trại tỵ nạn, hy vọng sẽ được định cư bên Mỹ, đổi đời .

Khi ở Cambodia hắn được học trong trường nói tiếng Pháp nên hắn khá sành sõi và dụ dỗ tôi học thêm ngôn ngữ này, hắn tình nguyện mời tôi vào lớp học miễn phí, khỏi phải đóng tiền như các học viên khác. Thế là từ đó, các buổi nói chuyện của chúng tôi tại văn phòng Cao ủy thêm rộn ràng vì có phần “practice French” mà chủ yếu là “thầy” khảo bài tôi, và tôi thì luôn luôn “hổng thuộc bài” để hắn lại phải kiên nhẫn giảng giải thêm. Bà boss văn phòng Cao Ủy vui tính hiểu chuyện, thỉnh thoảng mang bịch bánh qua bàn cho tôi bồi dưỡng vì “học hành căng thẳng”, nhưng khi còn lại một mình tôi, bà nháy mắt hỏi:

-          Hai đứa bay có ... yêu nhau không vậy? Xứng đôi vừa lứa lắm đó.

 Tôi cũng nháy mắt, đáp lời bà:

- Tôi hổng có cảm giác đó, còn hắn thì ... ai biết đâu nà!

Tuy vậy, lớp học tiếng Pháp cũng chỉ được vài tháng vì trại có biến cố biểu tình, toàn bộ dân Việt tỵ nạn bị chuyển qua trại Sikiew, còn dân Cambodia và Hmong vẫn ở lại trại cũ, chúng tôi “thầy đi đường thầy, tôi đi đường tôi”, chẳng còn dịp nào gặp lại nhau.

Thứ tư, là như mọi người khác trong trại, tôi phải học tiếng Anh.

Nghe thiên hạ đồn có “bác” nào đó ra đi tìm đường cứu nước, rồi phiêu bạt sang trời Tây làm phụ bếp trên tàu, nói được 29 thứ tiếng, tôi bán tín bán nghi, vì lúc tôi học cùng một lúc 4 thứ tiếng đã mệt bở hơi tai, tẩu hoả nhập ma, đêm ngủ nói nhảm liên hồi,  mệt mỏi bơ phờ may mà chưa…phát điên.

Dù sao thì sau khi rơi rớt ở các lớp học tiếng Thái, tiếng Tàu, tiếng Pháp, thì tôi vẫn miệt mài ở các lớp Tiếng Anh. Suốt bốn năm ở trại, tôi học với vài Thầy khác nhau theo từng trình độ, để rồi năm cuối cùng tôi đủ mạnh dạn vào trường ESL làm cô giáo dạy lớp Tiếng Anh vỡ lòng cho đồng bào tỵ nạn. Kỷ niệm với các Thầy thì nhiều lắm, nhưng có một kỷ niệm tôi nhớ hoài.

Hôm ấy đang đi lang thang trong trại tỵ nạn Panatnikhom, tôi gặp lại người bạn đồng hương Gò Vấp. Hắn hỏi tôi có đi học Anh Văn ở đâu chưa, tôi trả lời, thì cũng có, nhưng trình độ lớp hơi thấp, tôi muốn học lớp cao hơn chút. Nghe vậy, hắn giới thiệu tôi vào một lớp Anh Văn ngay khu nhà hắn. Tôi hỏi giá cả, hắn bảo, tỵ nạn mà, có nhiêu trả nhiêu, Thầy giáo rất linh động vì Thầy cũng là thân phận tỵ nạn.

Rồi tôi theo lời chỉ dẫn của hắn đến lớp học, chào Thầy, rồi hỏi han mấy người chung lớp, họ cũng nói giống bạn tôi, rằng giá chung chung là như thế, nhưng có tiền thì đóng, không có thì tháng sau, có lúc nào trả lúc đó, hoặc trả theo khả năng, tỵ nạn mà. (Nghe thấy thương làm sao ba chữ “tỵ nạn mà!”). Vì thế tôi an tâm đến lớp mỗi ngày, chờ đến đầu tháng có thư có tiền bên Mỹ gửi qua, tôi sẽ thanh toán cho Thầy.

Đến ngày có tiền, tôi nhớ mấy lần thấy mấy chị trong lớp cứ xòe mấy tờ tiền đưa thẳng cho Thầy, đôi khi làm Thầy hơi mắc cỡ khi nhận tiền. Vốn bản tính lâu lâu thích làm chuyện “khác người”,  nghĩ ra “fancy things” cho đời tỵ nạn bớt nhàm chán, tôi chạy qua nhà kế bên xin cái phong bì vì tôi hết phong bì chưa kịp mua. Nhưng chị hàng xóm không có phong bì trắng, chị lục lọi một hồi chỉ còn loại màu hồng, có hoa lá cành viền xung quanh, nhìn cũng đẹp. Thôi thì có còn hơn không, vả lại cũng tới giờ đến lớp, không còn thời giờ chạy ra chợ mua phong bì khác như ý muốn.

Tôi bỏ tiền vào chiếc phong bì màu hồng sạch sẽ, lịch sự, thơm tho rồi đến lớp. Tan học, chờ mọi người về hết, tôi nán lại, trao cho Thầy phong bì. Lúc ấy tôi chợt thấy màu hồng cũng hơi... sến súa (sến nhứt là chùm hoa lá cành in bên ngoài nữa chớ), nhưng đã lỡ rồi, nên tôi bỗng dưng bẽn lẽn, nói lí nhí :

-         Em gửi Thầy cái này!

Thầy hơi bất ngờ, nhìn tôi ngại ngùng, mặt đỏ bừng, không nói nên lời, tay run run đón lấy chiếc phong bì. Tôi cũng không nghĩ tình huống lại như thế, chẳng biết phải giải thích tại sao dùng phong bì, và chẳng biết nói sao về cái phong bì màu hồng rất ư là ...cải lương, tôi bèn quay đi, thì Thầy vội vàng giữ tôi lại, nhìn tôi, đôi mắt thiết tha, rồi ấp úng:

-          Em viết gì trong đó cho tôi vậy, thơ hả? Nghe nói em biết làm thơ, và tôi cũng rất thích Thơ. 

Giờ thì đến lượt tôi bất ngờ, mới thấy cái bản tính “fancy” của tôi không phải lúc nào cũng hay ho. Biết thế cứ đưa tiền ra như mọi người khác cho xong, khỏi bày vẽ “phong” với chả “bì”. Nhìn vẻ mặt bối rối, lúng túng của Thầy, tôi thấy có lỗi, dở khóc dở cười, đành lấy hết can đảm trước khi bước đi, nói rất nhanh, một sự thật  phũ phàng trần trụi:

 

-         Dạ không, là tiền học phí tháng này đó Thầy!

 

Edmonton, tháng8/ 2023

KIM LOAN

_________________

KimLoan_Hai dien.JPG

Hiện đại là… hại điện!

 

Thời buổi công nghệ tiến triển như hiện nay, lợi ích cũng có mà lợi hại cũng kèm theo y như combo không thể thiếu. Ai dùng facebook, yahoo đều biết lúc này chuyện kẻ gian (mà chúng ta gọi là hackers) xâm nhập tài khoản của chúng ta, rồi giả mạo là chủ nhân, liên lạc chỗ này chỗ kia trong friend list để xin xỏ, lừa lọc tiền bạc, rồi dính chùm nhau mắc lừa, hackers lại tung hoành đi phá hoại tiếp những người khác.


Cách đây vài tháng, bỗng dưng cô em quen biết bên Texas nhắn trên facebook messenger hai chữ gọn lỏn: “Hi chị”. Với nhiều kinh nghiệm được bạn bè chia sẻ trên facebook tôi thắc mắc ngay vì tôi với cô em này chưa bao giờ chuyện trò với nhau cả trên facebook lẫn ngoài đời. Cô em này, nói cho rõ ngọn ngành, là con dâu của một gia đình hàng xóm cũ của tôi từ bên Việt Nam, hiện nay họ định cư bên Texas. Có nhiều lần tôi qua đó thăm cả gia đình này, có cả dâu, rể và các cháu, nhìn nhau chào nhau mỉm cười, rồi sau đó “gặp” trên facebook thì kết “bạn” dây mơ rễ má, lâu lâu bấm like những tấm hình cho vui, vậy thôi. Do vậy, chẳng có lý do gì cô em này muốn nói chuyện riêng với tôi, nhưng dù sao tôi cũng muốn thử hacker, tôi đáp lại:
– Chào cưng! Có chuyện gì không cưng?
Nó đáp lại liền:
– Chị ơi, facebook của em bị trục trặc, không vào được, họ hỏi em có vài người thân quen vào link dưới đây xác nhận giùm em nha.
Thôi rồi, đích thị là kẻ gian, nhưng tôi chưa trả lời, bèn nhắn messenger chồng của cô em này:
– Em ơi, vợ của em mới nhắn chị mở link gì đó, phải không em?
– Không chị ơi! Facebook của vợ em bị hacked rồi, chị cẩn thận nhe.
Không còn gì để nghi ngờ nữa, tôi sẽ tìm cách ... xử kẻ gian này. Thông thường, theo như một số người quen trên facebook kể lại, khi xác định là hacker, họ bắt đầu nói thẳng vào “mặt” nó, đại khái là: “Xưa rồi Diễm ơi, dẹp cái trò này nhé!” hoặc nặng nề hơn: “Ê, quởn quá không có việc làm, rồi đi lừa đảo kiếm cơm hả”, nhưng tôi không thể làm như vậy, tôi không nỡ mắng mỏ, lột chân tướng kẻ khác theo kiểu đó. Dù biết rằng đó là kẻ gian, mà sao tôi vẫn thấy... thương hại hơn là rủa xả nặng lời. Thế là tôi nhẹ nhàng lịch sự:
– Cưng ơi, lúc này hackers lộng hành quá, nên trước khi bấm vào link giúp cưng, chị muốn biết chắc đó là cưng, vậy ba má chồng của cưng tên gì?
Nó suy nghĩ một vài phút rồi nhắn tiếp:
– Chị không tin em thì chị gọi phone cho em đi!
Úi dào, nó dám kêu tôi phone cho nó nữa kìa, là sao? Tôi bắt đầu thấy sợ, nên chẳng thèm nhắn lại, coi như kết thúc, nhưng bỗng nhiên tiếng phone réo lên ầm ĩ, tôi giật mình, thì ra nó gọi. Tim tôi đập thình thịch, tay tôi run rẩy không dám đụng vào phone vì sợ lỡ tay mở ra nghe thì chắc tôi chết giấc, mồ hôi của tôi bắt đầu rơi lịch bịch, tôi chạy vào phòng, để mặc cái iphone ngoài bếp cho đến khi không còn tiếng reng.
Có ai như tôi không, kẻ gian phải sợ mình, còn tôi thì sợ kẻ gian? Buổi chiều tôi kể lại cho ông xã, anh ấy khuyên tôi:
– Ngay từ đầu em không nên trả lời là tốt nhất, lần sau chừa nhé.
Con gái tôi đoán già đoán non:
– Nếu mẹ nghe phone, có thể nó sẽ lấy hết info của mẹ từ cuộc nói phone? Nhưng ít nhất nó cũng có được giọng nói của mẹ, sau đó đi lừa tiếp những người khác trong friend list của mẹ, vì bây giờ AI (artificial intelligence) giả giọng người y chang luôn đó!
Thôi cũng là rút kinh nghiệm, tôi tự nhủ lòng từ nay sẽ cẩn thận hơn, thì chiều hôm qua chị Nga hàng xóm cũ đang ở Việt Nam nhắn messenger cho tôi:
– Em ơi, em cho chị 200 đô qua số tài khoản xxxx nhe, chị cần gấp lắm!
Chị Nga là hộ nghèo quanh năm từ khi tôi còn ở Việt Nam, chồng chị cờ bạc say sưa rượu chè, nay chồng chị đã qua đời, chị vẫn tiếp tục khổ vì con vì cháu. Thỉnh thoảng vào dịp cuối năm, mấy anh chị em tôi gom tiền gửi về giúp vài hàng xóm khó khăn trong đó có chị Nga, và đây là lần đầu tiên chị nhắn cho riêng tôi.

Tôi nhanh nhẩu:
– Có chuyện gì vậy chị?
– Con gái chị vào bệnh viện cấp cứu! Em ơi, cứu con gái chị với!
– Ok chị, vì em đang ở chỗ làm, chút về em sẽ nhắn bạn em chuyển cho chị liền.
Trả lời xong, tôi bừng tỉnh, nhớ ra bài học “ai kêu bấm link hoặc chuyển tiền thì phải cẩn thận”, nên vội vã nhắn lại chị hàng xóm:
– À chị Nga ơi, em nói điều này chị thông cảm, vì lúc này có nhiều trường hợp lừa đảo qua Facebook nên em xin chị vui lòng trả lời câu hỏi để em biết chắc là chị, em mới dám gửi tiền: chị cho em biết tên của 7 người em trong gia đình chị nha?
Hiểu được ý tôi, chị ấy nhắn lại thiệt dài, không những kể đầy đủ tên 7 người em chị ấy, mà còn... bonus thêm, liệt kê tên 8 anh chị em của gia đình tôi, theo thứ tự từ lớn đến nhỏ, và tên ba má tôi, vượt yêu cầu quá xá!
Tôi nhìn đồng hồ, giờ này bên Việt Nam 4 giờ sáng, con gái chị Nga trong phòng cấp cứu, nếu không có tiền sớm chắc sẽ khốn khổ với hệ thống “hành là chính” của các bệnh viện, tôi bèn nôn nóng lấy phone ra nhắn messenger cho Đào, bạn tôi. Vợ chồng nó có đứa con du học bên Toronto, Canada, khi tôi cần chuyển tiền giúp ai đó, thì nhờ nó chuyển bên đó, còn bên đây tôi etransfer cho con nó, tiện lợi và mau lẹ. Nhà nó là lò làm bánh phở, từ khuya công nhân đã đến để nhập gạo vào kho, rồi các máy bánh phở bắt đầu hoạt động để kịp sáng sớm giao hàng nên Đào thức dậy rất sớm. Vì còn trong chỗ làm nên tôi nhắn vội cho nó:
– Đào ơi, chuyển ngay 200 đô vào số tài khoản xxxx nhe, chút nữa mình sẽ nói rõ hơn.
Gửi tin nhắn xong, tôi mỉm cười, trở lại làm việc, lòng vui vui vì đã giúp được chị hàng xóm cũ trong lúc ngặt nghèo. Mười phút sau, tôi check messenger, chưa thấy Đào trả lời, dù có dấu hiệu nó đã thấy tin nhắn. Sao kỳ vậy cà, bình thường nó rất mau lẹ vì tôi với nó là bạn thân cùng lớp từ cấp hai lên cấp ba, hễ tôi nhắn tin thì nó bắt đầu lạch cạch “typing” hầu như ngay lập tức, mà lần này, nó đã đọc xong mà vẫn im lặng.
Tôi chợt có ý nghĩ, hay là nó cũng đang nghi ngờ tôi là hacker “xin tiền”? Tôi đọc lại tin nhắn của tôi và hiểu ngay lý do của sự im lặng: tôi và nó luôn gọi nhau là “nhỏ” và xưng “tớ”, luôn mở đầu bằng câu “nhỏ ơi”, tự dưng bữa nay trong lúc gấp gáp, tôi lại rất nghiêm chỉnh, gọi tên nó rồi xưng là “mình”, hỏi sao nó không nghi?
Đúng lúc ấy, hiện lên tin nhắn của Đào, cũng... nghiêm chỉnh không kém:
– Bạn ơi, lúc này hackers nhiều lắm, mình bị mấy vố rồi, nên xin được hỏi bạn một câu để làm tin nhé, bạn trả lời xem,thầy chủ nhiệm lớp 12 chúng ta tên gì và vợ Thầy tên gì?
Haha! Tôi bật cười thành tiếng, trời ơi, tôi mới test chị Nga hàng xóm cũ, thì giờ đến lượt tôi bị nhỏ bạn thân test lại. Tôi xin phép supervisor đi nghỉ break, ra ngoài hành lang, thong thả nhắn Đào:
– Nhỏ ơi, hồi nãy tớ nhắn vội vì muốn chị hàng xóm nhận được tiền sớm, con chị ấy đang cấp cứu. Nghe nè nhỏ: thầy Phiệt chủ nhiệm 12A1, vợ thầy tên Lang (có g), “khuyến mãi” thêm nhe: hai đứa mình ngồi cùng bàn với Huệ, trên bàn mình là Thu với Bính, Trinh, và sau bàn mình là chàng Sơn chàng Lãm, vậy rõ chưa nhỏ?
Lần này thì nó mau chóng:
– Ok ok, hihihi... tớ sẽ chuyển khoản ngay bây giờ.
Vậy đó, tự bao giờ mà chúng ta, những bạn bè quen biết từ lâu, bỗng dưng nghi ngờ cảnh giác lẫn nhau? “Hiện đại là hại điện” đấy thôi, mọi sự phát triển luôn kèm theo những bất cập, những sơ hở hiểm nguy, mà ngày nay ChatGPT và AI đang bắt đầu mang đến cho nhân loại những lợi ích kèm theo... lợi hại nếu chúng ta không đề phòng.

– Kim Loan

(Edmonton, tháng 8/2023)

KimLoan_self_new.png
KimLoan_MuaHacuoicung.jpg

Yêu người, yêu phượng, yêu mùa hè

Buổi học cuối cùng, sầu tiếng ve

Sân trường nắng đổ buồn lưu luyến

Nặng trĩu bước chân em đi về

 

Ngẩn ngơ Thầy nán lại bục giảng

Bàn ghế im lìm nhớ dáng ai

Từ nay sẽ không còn thấy nữa

Má đỏ môi hồng, đôi mắt nai …

 

Cổng trường vừa khép, em bâng khuâng

Ngàn lời muốn nói bỗng ngại ngần

Rộn rã những giờ Thầy lên lớp

Đâu ngờ ngày vui trôi qua nhanh

 

Bóng em xa khuất cuối con đường

Hành lang lớp học, Thầy vấn vương

Vì cô bé có chiếc răng khểnh

Áo trắng ngây thơ buổi tan trường

 

Ép đôi cánh phượng vào lưu bút

Nâng niu kỷ niệm một mùa hè

(Em viết tên Thầy vào trang cuối

Với những câu  thơ …dẫu vụng về)

 

Bên bài giáo án, Thầy thao thức

Ngọn đèn khuya, điếu thuốc trên môi

Dòng nhật ký em ghi dang dở

Nhìn ánh sao đêm nhớ một người

 

Thế là ngày mai ta xa nhau

Mùa Hạ cuối cùng, hai trái tim đau!

KIM LOAN

 

 

SAO LẠI KHÔNG ƯỚC MƠ??

Thỉnh thoảng, tôi vẫn hồi tưởng lại thời gian hai năm dịch Covid hoành hành, chuyện khẩu trang, cách ly, hand sanitizers, vaccine Pfizer, Astrazeneca ... đặng mai mốt còn kể lại cho đám cháu chắt nghe. Chúng sẽ không thể tưởng tượng nổi những cảm xúc mà chúng ta đã trải qua, lo lắng, buồn phiền, âu sầu với những hệ lụy còn kéo dài sau đó. Nhưng hôm nay tôi xin nhớ lại chuyện vui, dẫu sao cũng là chút “điểm sáng vui vẻ” trong những tháng ngày u ám đó.

Hôm ấy, sáng thứ sáu, như thường ngày tôi xuống dưới nhà pha café, nướng miếng bánh mì rồi vào check mails và xem tin tức qua mạng. Lát sau ông xã tôi cũng xuống pha cafe, mặc áo chemise, thắt caravat chỉnh tề nhưng vẫn là cái quần pyjamas, tôi hỏi:

- Ủa, anh chuẩn bị đi làm hả, mà …quần đâu?

Ổng chỉ xuống cái quần:

- Đây chớ đâu!

- Không, ý em là mặc quần tây chớ, anh quên chưa thay quần à, chưa tới 60 mà lẫn rồi!

- Em không nhớ thiệt sao, lẽ ra giờ này anh đang ở San Diego bên Mỹ dự Annual Conference, nhưng năm nay vì dịch nên chỉ có virtual conference thôi, chút anh lên lầu “dự” qua Zoom.

- Ừ hen, mà liên quan gì đến chuyện …không thay quần?

- Thì qua Zoom chỉ thấy khúc trên thôi mà, nên chỉ cần tập trung ủi cái áo thẳng thớm, chiếc cà vạt rực rỡ đẹp đẽ, còn khúc dưới không cần, có ai thấy đâu mà lo. 

Vậy đó, vì lũ cúm Tàu mà thế giới đình trệ, ở đâu không biết, riêng Mỹ và Canada thì mọi thứ xìu xìu ển ển như bánh bao chiều. Học sinh sinh viên khắp nơi về nhà học online, người đi làm văn phòng thì work from home, ngoại trừ các front-line workers thì các buổi họp hành, thông báo, conference đều là videoconference (skype, Zoom, Meet, Teams, Viber, Facetime). Ông xã tôi cũng thế, hàng năm đều được vi vu qua các thành phố lớn của Mỹ, Canada, có khi qua cả Mexico, Puerto Rico vừa dự conference vừa kết hợp du lịch do Head Office đãi đằng. Còn bữa nay chỉ cần ngồi nhà, vào zoom, gặp gỡ các nhơn vật chủ chốt, nghe lecture, hội thảo, update công việc cũng như information của Pharmacy.

Các hội đoàn, các nhóm bè bạn người Việt Nam ở hải ngoại cũng mau chóng hoà nhập phong trào “everything is online” , nào là họp ban quản trị online, thi ca hát online, hát cho nhau nghe online, nào là bầu bán, buôn bán online, nói chung là không thiếu món gì.

Khoảng hai tiếng sau là đến giờ giải lao (virtual conference mà cũng y chang như thiệt, có giải lao, có tặng quà như bình thường, có điều thùng quà đã được gửi đến nhà bằng đường bưu điện mấy ngày trước), ông xã lại xuống lầu tìm café và snacks, tôi nói:

- Ý kiến của anh hay á!

- Cái gì hay?

- Thì cuối tuần này em cũng có hai buổi zoom meeting, một cái với nhóm bạn High School, một cái với mấy chị trong nhóm thân hữu Văn Thơ, em cũng sẽ chỉ chăm chút phần trên, mặt mũi tóc tai và cái áo, và khỏi lo “khúc dưới”.

- Vậy là có thêm mục “tám online” cho phụ nữ đỡ nhớ “nghề” rồi đây.

Các anh chị em trong gia đình tôi, kẻ ở California, người Oklahoma, mấy người ở Texas và tôi ở Edmonton Canada cũng rủ nhau họp gia đình kiểu virtual. Thực ra, chẳng cần đợi dịch đến, gia đình chúng tôi vẫn bay qua bay lại gặp nhau mỗi năm, rồi sau đó là gọi phone, email kể chuyện gia đình rất thường xuyên. Nhưng thôi, cứ theo trend cho đúng …kiểu mùa dịch, để nhìn thấy “dung nhan mùa dịch” của nhau, cũng vui vui. Vì là gia đình thân thuộc, nên tôi chẳng quan trong “khúc trên khúc dưới”, mà còn thoải mái để phone ngay bếp, cho mọi người nhìn thấy tôi đang nấu ăn, dọn dẹp nhà cửa và tôi còn mang phone “lia” khắp nhà, theo yêu cầu, để cho các thành viên khác trong gia đình tham gia vào “meeting” dù chỉ là câu “hello”.

Bà chị Cả ở Texas trong cảm khái, xuýt xoa:

- Thời đại điện tử có khác, ở xa cũng thành gần, nhìn thấy nhau dễ dàng, bất cứ lúc nào, bất cứ ở đâu.

Ông anh Oklahoma lên tiếng đáp lời bà chị:

- Chị ơi, em còn nhớ khoảng năm 1974 khi em còn học English ở Hội Việt Mỹ, Sài Gòn, chính xác là trong cuốn English For Today 4, có bài đọc nói về điện thoại. Ông Bell là người đầu tiên phát minh ra điện thoại, làm cho mọi người được nghe tiếng nói của nhau, và đó trở thành một phát minh có tính lịch sử của nhân loại. Cũng trong bài đọc đó, người ta còn kết luận bằng một dự đoán, rằng trong tương lai, loài người chúng ta không chỉ gọi nhau nghe tiếng nói mà còn thấy cả hình nhau, sống động như đang xem phim. Lúc ấy, em cứ mỉm cười vì nghĩ đó là câu chuyện … khoa học giả tưởng, mà nếu có xảy ra thì chắc gì em còn sống để mà chứng kiến. Thế mà giờ đây đã thành sự thật rồi đấy, chỉ khoảng hơn 40 năm thôi mà, có ai ngờ…

Nghe vậy, tôi liền có ngay một ước mơ, sao lại không nhỉ, sẽ có ngày có một loại máy có thể đọc được những ý tưởng thơ văn trong đầu người ta rồi tự động “viết” xuống computer giùm tác giả thì tuyệt vời biết bao. Bởi vì, có nhiều lúc lái xe đi chợ, đi làm, hoặc ngay cả trong khi làm việc nhà như rửa chén, tập thể dục, tưới cây… tôi chợt bắt gặp một ý hay, dự định sẽ đem vào một bài viết nào đó của mình, có khi là một vần thơ ưng ý, nhưng lu bu bận rộn chuyện này chuyện kia, thời gian gấp gáp, rồi quên, cũng tại làm biếng ngồi xuống gõ máy, thế là ý tưởng tiêu tan, không còn nhớ đến nữa.

Cứ tưởng rằng đó là ước mơ viễn vông trong một phút mộng mơ, hoặc ít ra nếu thành sự thật thì  chắc cũng cỡ… 40 năm như “nói chuyện phone thấy mặt nhau” kể từ khi Bell cho người ta nghe tiếng nói của nhau , thế nhưng, chưa đầy hai năm sau, tính đến thời điểm khi tôi đang viết những dòng này năm 2023, thì có vẻ như ước mơ của tôi sắp trở thành hiện thực với sự xuất hiện đầy thú vị không ngờ của Chat GPT (Generative Pre Trained Transformer) khi “nó” được sử dụng trong dịch thuật,  phân loại các văn bản, sáng tạo câu chuyện, trả lời câu hỏi, tìm kiếm thông tin rất mau chóng, tiện lợi.

 

Thú thật, tôi thuộc loại “low- tech”, lâu lâu vẫn nhờ con gái, ông xã, hoặc mấy người bạn trong ca đoàn nhà thờ trợ giúp khi gặp trục trặc trong việc sử dụng computer, laptop, iphone nên chẳng dám liều mạng bén mảng tìm hiểu để xài Chat GPT cho thêm rắc rối nhức đầu, nhưng cũng có chút hứng thú tò mò khi đọc những tin tức về “nó”!

Với khả năng học hỏi và suy nghĩ giống như con người, Chat GPT dùng trí thông minh nhân tạo để tạo ra các ứng dụng thực tế trong y tế, giáo dục, tài chính, buôn bán, quảng cáo và rất nhiều lĩnh vực khác. Nghe nói, “nó” trò chuyện thân thiện gần gũi, ngắn gọn cụ thể, khiến nhiều người thích thú hơn so với Google.

Nghe đâu, “nó” còn rành rọt chiếm lĩnh luôn việc giúp con người rất nhiều trong hội họa, âm nhạc, nhiếp ảnh... nữa kìa.

Không những thế, “nó” còn có thể sáng tác thơ, văn, viết kịch bản, văn bản đủ các kiểu. Người ta còn đang tính tới chuyện cung cấp cho “nó” một số đặc điểm nhân vật với cá tính, tuổi tác, bối cảnh , rồi “nó” sẽ viết ra một chuyện ngắn hoặc cuốn tiểu thuyết hấp dẫn, và như thế ước mơ của tôi sắp thành hiện thực cũng chẳng ngoa.

Ủa, dưng mà tôi tự hỏi, liệu “nó” có viết ra như ý tôi mong muốn, với những câu văn “dzui dzẻ”, “tưng tửng” đúng như “phong cách” của tôi không nà!? Nếu “nó” không kham nổi, hoặc cho ra đời bài văn “hổng giống tui” thì thôi vậy, tôi lại vẫn cố làm siêng, ngồi vào bàn, bên ô cửa sổ sau vườn, vừa ngắm tuyết mùa đông, hoa cỏ mùa hè, lá vàng heo may mùa thu mà gõ máy say sưa đến dòng cuối bài, hài lòng ký tên mình, xác nhận một bài viết, bài thơ “chính chủ” một trăm phần trăm, vẫn hơn là nhờ vả “nó” chứ!?

 

Edmonton 18/5/2023

KIM LOAN

 

 

" Father, forgive them, for they do not know what they are doing"

                                                -Luke 23:34-

________________________

TL_happyFatherDay.png

NHỚ BA

Ngày Fathers Day năm nay, là năm thứ hai anh chị em chúng tôi thiếu vắng Ba . Tháng sáu Canada thời tiết đẹp, tôi ngồi bên vườn sau nhà, tưởng tượng bên nghĩa trang Moore ở thành phố Arlington, Texas, phong cảnh đẹp đẽ với những con đường trải sỏi dưới hàng cây Magnolia to cao xòe bóng mát, chắc đang nở những hoa trắng thơm hương tinh khiết và bên những ngôi mộ, là thảm cỏ xanh có ngọn nước phun lên mặt hồ tung bọt trắng xóa, Ba đang nghỉ ngơi trong không gian và thế giới êm đềm đó. 

Tôi đã từng kể về xuất xứ cái tên KimLoan của tôi, lẽ ra là tôi tên Thoa như Má tôi muốn, nhưng Ba đã ...nhẹ dạ vô tư nghe theo lời ông nhân viên hộ tịch, muốn tôi được mang tên của nàng ca sĩ “Căn Nhà Ngoại Ô” đang nổi như cồn lúc bấy giờ . Sau này có lần tôi nói đùa với Ba :

-          Tại Ba đó, con có hai tên, mà cái tên KimLoan chả có gì đặc biệt!

Ba bảo:

-          Tên ca sĩ nổi tiếng mà còn khiếu nại gì chớ ??

Chắc rằng nàng ca sĩ ấy có giọng ca ngây thơ nũng nịu, khuôn mặt đẹp xinh lắm nên chẳng riêng gì Ba tôi, mà còn nhiều ông bố bà mẹ khác đã lấy tên nàng đặt tên cho con gái của mình, bằng chứng là khi tôi đi thi Đại Học bên Việt Nam, cả cái phòng thi của tôi, hơn 50 thí sinh đều có tên “Thị Kim Loan” chỉ là khác nhau họ Nguyễn, Lê, Trần, Phạm ...mà thôi! Ui chao, nổi tiếng đâu chả thấy, chỉ thấy tên mình ...đại trà bao la vô số kể, như ...cá cơm được mùa !

Má tôi mất sớm, đôi khi Ba lo việc cơm nước phụ với bà chị Cả, mà hễ Ba nấu món gì là chúng tôi mê mẩn tới đó, dù chỉ là món đơn giản như canh bí, rau muống xào tỏi . Những ngày vừa hết Tết còn ngán với thịt mỡ bánh chưng, sau đó Ba tôi gom hết các hũ dưa chua, hành muối, củ kiệu, cùng nồi  thịt kho tàu còn dư, nấu thành một món canh dưa thập cẩm ngon thần sầu, có đổi cao lương mỹ vị tôi cũng không chịu đâu nhé.

Hồi Ba mất, tháng 8 năm 2021, thằng bạn học cũ nhắn tin:

 “Xin chia buồn cùng bạn, về sự ra đi của người Bố vô địch cờ tướng quận Gò Vấp”!

Ái chà, hắn hơi nói thách, chớ Ba tôi cũng là vô địch Cờ Tướng, mà chỉ cỡ cấp phường khóm thôi . Đó là niềm đam mê vô bờ bến của Ba . Ba có thể ngồi đấu cờ tại quán cafe của gia đình tôi cả ngày, quên cả ăn cơm . Có lần Ba chạy xe đạp đi chợ, sau khi mua xong các thứ, Ba dắt xe ra ngoài cổng chợ thì thấy đám đông vây quanh một bàn cờ tướng, người ta đặt một thế cờ khó mời các “cao thủ” vào giải, Ba liền hào hứng “nổi máu anh hùng” nhảy vào bàn cờ, rộn ràng những tiếng góp ý của các “quân sư” ồn ào cả một góc đường , một hồi sau, tàn cuộc cờ thì chiếc xe đạp và mớ thức ăn đã không cánh mà bay!! Hôm sau tôi đi học, thằng bạn cùng lớp khoe:

-          Hôm qua tui chứng kiến Ba của bà oai phong lẫm liệt tại bàn cờ, ai cũng trầm trồ nể phục, vì đã giải một nước cờ hóc búa, mọi người vỗ tay khen ngợi rần rần!

-          Ừa, rồi sau đó ông có chứng kiến... hồi kết, lúc Ba tui mất chiếc xe đạp có còn “oai phong lẫm liệt” nữa không? Còn mấy chị em tui phải chạy ra xóm mua mấy trái trứng về chiên cơm ăn cho xong bữa.

Một lần khác, Ba chạy xe gắn máy đến miệt Long Khánh thăm người làng xưa, đến chiều chạy xe về, đỗ ngay cổng nhà, kêu chúng tôi ra lấy trái mít đem vào, nhưng khi chúng tôi mừng rỡ chạy ra thì chẳng thấy mít ở đâu, thì ra trái mít đã rớt ở dọc đường mà Ba không hề hay biết, vẫn cứ phăng phăng lái xe trên xa lộ . Mấy bà hàng xóm bu lại bảo:

-          Ba của chúng mày là người đàn ông vô tư vô lo nhất trần đời!

Có lẽ vì ngày xưa Má tôi đảm đang quá, Ba đi làm Cảnh Sát Quốc Gia, còn Má trông coi cả tiệm giải khát, nuôi một bầy con tám đứa, Ba chỉ phụ hợ má lúc sáng sớm khi chuẩn bị mở quán .

 Mà nào Ba vô tư, trên đường đi làm ngang qua đường Mạc Đỉnh Chi thấy người ta mang con cái vào học Hội Việt Mỹ, Ba cũng nhanh chân vào tìm hiểu rồi ghi danh cho các anh của tôi lần lượt vào học, nếu không có biến động tháng 4 năm 1975 thì chắc chắn cũng đã đến lượt tôi rồi .

Mà nào Ba vô tư, bữa đó ba đang ngồi đánh cờ tướng trong nhà vơi ông bác ruột của tôi. Hai ông già chưa phân thắng bại gần một ngày trời, tôi đứng sớ rớ gần đó với khuôn mặt sưng phồng đỏ vì bôi thuốc lang-ben quá liều lượng. Ai dè Ba nhìn thấy, bỏ bàn cờ kêu tôi lại gần hỏi nguồn cơn. Tôi vừa khóc nức nở vừa trình bày rằng, vì muốn da mặt mau hết lang ben nên tôi lỡ ...mạnh tay tra thuốc ào ào, những tưởng sẽ mau hết lang ben, nhưng ngược lại nó làm da tôi rát bỏng, đau đớn. Nghe xong Ba nổi nóng, mắng tôi một trận, rồi săm soi khuôn mặt tôi, bắt tôi ngày mai theo Ba đi bác sĩ để tìm cách...cứu làn da của tôi, kẻo tôi mang sẹo. Vậy đó, mê cờ mà Ba sẵn sàng bỏ ngang chỉ vì sợ còn gái cưng bị ...xấu!

Ba qua Mỹ lúc tuổi hơn 60. Ba vẫn xin đi làm hãng cho đến ngày nghỉ hưu. Đến tuổi 80 ba vẫn chạy xe đạp loanh quanh gần nhà . Mỗi khi gia đình chúng tôi từ Canada qua thăm, ba hăng hái đạp xe ra Phước Lộc Thọ mua trái cây, bánh mì, mua thêm vài tờ báo Việt Ngữ cho tôi đọc . Thuở đó, các tài xế vùng Bolsa có phải dừng xe ngay ngã tư nhường đường cho một ông già mảnh mai, tóc bạc trắng, áo quần mũ nón chỉnh tề, đạp xe bon bon với túi trái cây và mấy tờ báo, thì đó chính là Ba tôi đấy .

Qua tuổi 90, Ba không còn chạy xe đạp, một phần vì mắt kém, và cũng vì phản xạ chân tay đã chậm, dù sức khỏe vẫn còn tốt, chưa phải uống một viên thuốc bệnh nào, không bị “ba cao một thấp” như các cụ lớn tuổi khác . Ba thường bảo, sống tới tuổi này là quá đủ rồi, nên mỗi ngày còn lại của Ba là mỗi ngày sống rất...vui vẻ, ăn uống nghỉ ngơi để ...chờ ngày về gặp Ông Bà tổ tiên.

Những ngày tháng cuối đời, Ba về ở Arlington, Texas vì có đông con cháu hơn bên California.

Tôi nhớ, lúc ông nội tôi mất khi tôi mười tuổi. Trước lúc nhập quan, bà nội tôi dặn dò đám con cháu: chút nữa các cháu nhớ khóc thật to vào, càng to càng tốt, gào lên kể lể nữa nhá…

Trong đám tang của Ba, chúng tôi bảo nhau, mừng cho Ba đã sống 95 năm đầy đủ một kiếp người, chưa bao giờ sống trong viện dưỡng lão, không dầm dề bệnh tật trong hospital, không đớn đau triền miên, nên chúng tôi đã làm theo lời dặn của Ba khi sinh thời, là hãy đón nhận chuyện ba ra đi, và celebrate 95 năm cuộc đời của Ba, để Ba ra đi thanh thản, không vướng bận ngậm ngùi ...

Thế nên, tại nhà quàn, sau nghi thức phát tang, hai đứa cháu trong gia đình ngồi vào cây đàn piano (của nhà quàn có sẵn) và hát liên tục những bài tình ca êm ái, nhẹ nhàng tỏa bay như làn khói hương nơi bàn thờ, làm nhạc nền background mỗi khi có khách đến viếng, và ngày hôm sau tại nghĩa trang, bên cạnh những giọt nước mắt xúc động của phút tử biệt khi hạ huyệt, chúng tôi đã cùng cất tiếng hát ...

Hát cho người ra đi và hát cho những người ở lại:

 “ ...Lá úa trên cao rụng đầy

Cho trăm năm vào chết một ngày ...” (nhạc TCS)

Edmonton, Fathers Day 2023

KIM LOAN

 

 

" Father, forgive them, for they do not know what they are doing"

                                                -Luke 23:34-

____________________

TL_MotherDay.JPG

MẸ ƠI

 

Gửi đến Mẹ tình yêu của con

Mong Mẹ nơi xa ấm linh hồn

Đời con kể từ khi vắng Mẹ

Chẳng còn nỗi buồn nào buồn hơn

 

Trong tám anh chị em tôi, Mẹ cưng chiều tôi nhiều hơn, có lẽ vì tôi thuộc nhóm út ít và …dữ như bà chằng (ai biểu Mẹ sinh ra tôi với cái mũi tẹt và cái trán dồ làm chi!).

Đi đâu Mẹ cũng đưa tôi theo, hoặc do tôi đòi theo, thì dù có bận rộn thế nào mẹ cũng cho đi, còn hơn là để con bé đùng đùng giãy khóc.

Buổi sáng hai mẹ con thường ra chợ nhỏ trong xóm, mấy bà bán hàng nhìn thấy hai mẹ con, gọi đùa tôi là  “bé Tẹt cục vàng” của Mẹ, khiến tôi hãnh diện vênh vênh cái mặt tròn như bánh cam với mái tóc muỗm dừa. Trong lúc Mẹ lo chuyện chợ búa thì tôi tha hồ ăn hàng, các bà bán hàng quen Mẹ nên bán quà cho tôi hậu hỉ hơn người khác.

Thỉnh thoảng Mẹ dẫn tôi bắt taxi ra Sài Gòn đến ngân hàng Việt Nam Thương Tín gửi tiền rồi ghé qua Chợ Bến Thành mua sắm. Đi chợ xa, như cá gặp nước, tôi đòi Mẹ mua các thứ “thời trang” điệu đà. Mới 7-8 tuổi đầu, mà tôi có đầy đủ: guốc gỗ bước đi nghe lộc cộc, áo dài màu vàng, cây dù đỏ chói loá, bóp đầm màu hồng tía, và cả đôi mắt kiếng “thời thượng”, đó là chưa kể bông tai, dây chuyền vàng (giả) đeo khắp người.

Mỗi lần mua sắm lung tung như thế, về đến nhà, hai mẹ con phải canh chừng nếu có anh Hai của tôi ở nhà thì sẽ...né. Anh đang học Đại Học Khoa Học, anh rất siêng năng chăm chỉ vì quyết chí vào Y Khoa. Anh thường ngồi ngay chiếc bàn giữa nhà, anh nhét bông gòn vào hai lỗ tai để khỏi phải nghe những tiếng động xung quanh. Anh cúi đầu vào sách vở, dùng hai bàn tay che hai bên mắt để tập trung toàn bộ chuyện học hành. Tôi đứng thập thò ngoài cửa với những túi đồ mới sắm, Mẹ rón rén vào trước, nếu thấy anh không nghe biết gì, Mẹ vẫy tay ra dấu, lúc ấy tôi mới từ từ, nhẹ nhàng lách vào nhà, tới cầu thang leo lên gác coi như …thoát nạn thành công.

Anh Hai hay phàn nàn Mẹ chiều con Tẹt quá, mua sắm cho nó đủ thứ mai mốt nó sẽ quen thói đua đòi và với tôi thì anh nghiêm trang răn dạy, kể cả đe dọa bắt quỳ gối đánh đòn nếu tôi vẫn vòi vĩnh Mẹ.

Mỗi lần bị anh Hai mắng, tôi tìm Mẹ để khóc bắt đền. Mẹ lại dỗ dành và hứa hẹn lần sau Mẹ sẽ mua cho tôi… nhiều hơn.

Có lần, Mẹ tiễn tôi ra cửa đi học. Trường cách nhà một con đường nên tôi đi bộ đến trường. Mẹ cho tôi 2 đồng như thường lệ để ăn quà, hôm đó tôi lại xin 5 đồng để mua thêm món đồ chơi, lần này Mẹ không chiều tôi vì tôi đã có một mớ đồ chơi còn cất dấu trên gác. Tôi vùng vằng trả lại Mẹ 2 đồng và bước đi. Được vài bước, tôi nghe Mẹ gọi với theo: “ Tẹt ơi, quay lại lấy 5 đồng đi con!”

Mẹ đã chịu thua tôi, thế mà tôi vẫn giận Mẹ, lầm lì bỏ đi một mạch, không thèm 2 đồng hay 5 đồng, mặc kệ Mẹ đứng đó nhìn theo.

 

Mẹ đổ bệnh vào thời điểm tháng tư 1975, ngay như bà chị Cả mới hơn hai mươi tuổi đầu còn chưa hiểu thấu, huống gì những anh chị em còn lại, ở tuổi xấp xỉ nhau, “ăn chưa no lo chưa tới”. Rồi Sài Gòn bị “giải phóng”, căn bệnh của Mẹ không phải là bệnh hiểm nghèo, nhưng trong lúc xã hội nhiễu nhương, bệnh viện thiếu thốn từ bác sĩ đến thuốc men nên Mẹ đã ra đi khi tôi vừa chín tuổi. Ở cái tuổi còn quá ngây thơ, tôi đã khóc khi biết mình mất Mẹ, nhưng nỗi buồn cũng thoáng qua mau.

Đêm cuối cùng trước khi Mẹ được đem ra nghĩa trang, tôi nằm ngủ trên gác, trong chiếc mùng rộng với một số anh chị em họ hàng khác. Chúng tôi nằm chồng chéo, ngổn ngang vì mệt nhoài của những ngày đám tang. Nửa đêm trong cơn mộng mị, tôi thấy Mẹ vén mùng, vào đắp mền cho tôi như mọi khi, nhưng lần này Mẹ mặc áo dài, tà áo dài của Mẹ, màu dưa cải bằng vải “tê tơ rông” mềm mại, lướt trên người tôi êm ái, phảng phất một mùi hương quen thuộc, mùi của Mẹ. Mẹ cúi xuống ngắm khuôn mặt tôi rất gần, hình như Mẹ muốn ôm tôi. Nhưng tôi bỗng choàng tỉnh dậy vì những tiếng động dưới nhà chuẩn bị cho buổi lễ di quan, đưa tôi trở về thực tại, và tôi nhận ra chiếc áo dài hồi nãy trong mơ chính là chiếc áo dài Mẹ đang mặc trong quan tài. Thế là tôi bật khóc nức nở như chưa bao giờ được khóc. Bà thím và bà chị họ nằm mùng bên cạnh liền qua hỏi han, dỗ dành, tôi càng khóc lớn hơn và mếu máo nói, rõ ràng tôi vừa thấy Mẹ về, làm bà thím và bà chị họ cũng sụt sùi khóc theo.

Mẹ đi rồi, nhà vắng buồn tênh, lại là khoảng thời gian đối đầu với chế độ mới, bận rộn mưu sinh, thiếu Mẹ là thiếu người lo toan cho chúng tôi từ việc nhỏ đến việc lớn: món ăn ngon Mẹ tẩm bổ cho anh tôi thức đêm học thi, nhắc nhở tấm áo dơ tôi chưa kịp thay cho Mẹ giặt ...Những thời gian đầu vắng Mẹ ấy, chúng tôi thường nhìn ảnh Mẹ trên bàn thờ mà khóc. Đầu óc thơ trẻ của tôi ước ao có phép lạ cho Mẹ sống lại, để tôi vẫn được theo Mẹ ra chợ, đi chơi và về nhà với các món hàng tôi đòi Mẹ mua sắm.

Mẹ có “về” thăm một người hàng xóm thân thiết của gia đình. Bà ấy kể, Mẹ nói nhớ chúng tôi lắm, nhưng biết chúng tôi yếu bóng vía, sợ ma, nên Mẹ không dám “về” với chúng tôi.

 

Rồi tôi cũng lớn dần theo thời gian, hình bóng Mẹ còn đầy ắp trong căn nhà và trong lòng chúng tôi. Trên gác, tủ quần áo của Mẹ vẫn còn một vài món đồ chơi của tôi mà hai mẹ con đã cất dấu trong đó, tôi không dám mở tủ vì biết mình sẽ khóc òa với bao kỷ niệm.

Vào tuổi thiếu niên, những buổi chiều tối chơi với lũ bạn trong xóm, chúng được mẹ ra tận nơi gọi về ăn cơm hay đi ngủ, còn tôi thì …tự đi về, tôi lại cảm thấy nhớ Mẹ vô cùng.

Hồi tôi học cấp hai, trường có tổ chức buổi picnic mùa hè cho các học sinh. Tôi đến nhà nhỏ bạn thân từ mờ sáng chờ nó cùng đi ra chỗ picnic. Nó vẫn chưa chuẩn bị xong vì mẹ nó còn lúi húi gói cho nó miếng xôi mới nấu, dặn dò nó đủ thứ linh tinh và đưa cả túi quần áo thiệt bự có cả dầu gió, thuốc thang tùm lum. Tôi chạnh lòng, bỏ ra ngoài sân và tự nhủ: “Mình không còn Mẹ, nhưng mình còn Ba và bảy anh chị em khác nữa. Cả nhà mình yêu thương, chăm sóc lẫn nhau, mình được ăn học đầy đủ, tử tế. Còn nhỏ bạn này, nó không có anh chị em, nên mẹ nó không lo cho nó thì lo cho ai?!”. Trấn an mình xong, tôi thấy mình rất can đảm và mạnh mẽ.

Nói thì nói thế, càng lớn khôn thêm, tôi càng đa sầu đa cảm, dễ xúc động, mong manh. Mỗi khi nghe bài hát Kỷ Niệm của Phạm Duy: “Cho tôi lại ngày nào/Trăng lên bằng ngọn cau/Me tôi ngồi khâu áo /bên câу đèn dầu hao /Ϲha tôi ngồi xem báo/ Phố xá vắng hiu hiu/ Trong đêm mùa khô ráo /tôi nghe tiếng còi tàu…” là lòng tôi lại thổn thức!

Dẫu sao, sau mỗi lần yếu đuối, khóc thương, tôi lại thấy mình thêm trưởng thành. Có lẽ Mẹ biết vậy, nên đã “về” thăm tôi một lần trong giấc mơ.

Tôi thấy một buổi tối, cả xóm cúp điện lặng im như tờ, tôi đi lang thang vô định ra đầu ngõ. Đúng lúc ấy, một chiếc xe bus dừng lại để tôi bước lên. Cả chiếc xe vắng tênh mờ ảo, chỉ thấy bóng người tài xế và một hành khách ngồi bất động nơi cuối xe. Tôi tiến về phía đó thì nhận ra Mẹ, tôi mừng rỡ kêu lên “Mẹ Ơi!” rồi ngồi thụp xuống dưới chân Mẹ, vùi đầu vào lòng Mẹ. Mẹ không nói gì, chỉ cúi xuống xoa mái tóc tôi. Tôi lặng im tận hưởng những phút giây ấm áp sung sướng đó. Rồi xe bus dừng lại, tôi phải đứng dậy xuống xe, mà Mẹ vẫn ngồi im. Tôi hỏi: “Mẹ về nhà với con không?” Mẹ vẫn không nói mà chỉ lắc đầu. Nước mắt tôi ràn rụa bước ra khỏi xe như cơn mộng du. Rồi tiếng reo hò của lũ trẻ con trong xóm vang lên: “Có điện! Có điện!” khiến tôi bừng tỉnh giấc chiêm bao. Chiếc áo gối đã ướt đẫm nước mắt và mồ hôi của tôi tự lúc nào.

Đó là giấc mơ tôi gặp Mẹ “ về”, cùng với giấc mơ đêm nào trước khi tiễn Mẹ ra nghĩa trang, sẽ mãi mãi theo tôi suốt cuộc đời!

Con bé Tẹt mê "shopping" của Mẹ ngày xưa, bây giờ vẫn thích "shopping" mua sắm điệu đàng, nhưng không đua đòi như anh Hai đã từng lo xa và nhất là không còn bướng bỉnh như đã từng "hành hạ" Mẹ nữa.

Mẹ ơi, nếu giờ đây vẫn còn Mẹ, dù con có luôn gần kề Mẹ, chăm sóc chiều chuộng Mẹ thật nhiều lúc tuổi già, thì cũng không thể nào đền đáp đầy đủ tình yêu Mẹ đã dành cho con một thuở bé thơ.

 

KIM LOAN

Tháng5/2023

 

 

" Father, forgive them, for they do not know what they are doing"

 

                                                -Luke 23:34-

IF YOU ARE NOT HAPPY …

 

Hễ mỗi lần nghe nói ai mới qua định cư xứ tự do, mà họ bày tỏ lòng biết ơn, cảm kích với quê hương thứ hai, tôi cũng thấy mát lòng mát dạ sao á!

 

Như trường hợp vợ chồng chị bạn thân, là người chung nhóm với tôi ở trại tỵ nạn Thailand. Anh chị gặp nhau và yêu nhau ở trại, được làm phép hôn phối tại Nhà Thờ trại Panatnikhom. Nhưng họ không được may mắn, cả hai cùng lần lượt rớt thanh lọc, khi chị mới sanh đứa con đầu lòng.

Sau một thời gian nghĩ suy bàn bạc, chị ôm đứa con trai và cái bụng…mới có bầu nữa về nước, anh ở lại trại tỵ nạn, khu biệt giam, quyết chí tuyệt thực, mổ bụng chống đối hồi hương, vào ra bệnh viện cấp cứu mấy lần, cuối cùng vẫn bị cưỡng bách về Việt Nam khi trại tỵ nạn khắp Đông Nam Á chính thức bị xoá sổ.

Về nhà, anh chị buồn quá, đẻ …thêm đứa nữa, lao vào buôn bán làm ăn kiếm sống, khá chật vật cho một gia đình với năm miệng ăn. Bên cạnh đó, anh liên lục lên văn phòng Toà Đại Sứ Mỹ tại Sài Gòn kiện cáo, đấu tranh, nộp đơn khiếu nại. Lý do vì gia đình anh thuộc diện “dân hư”, vượt biên và hồi hương, bản thân anh có trong danh sách “hồ sơ đen” vì từng chống đối chương trình cưỡng bách hồi hương và đặc biệt, anh là thành viên sinh hoạt rất tích cực của tổ chức “Việt Nam Quốc Dân Đảng” trong trại tỵ nạn, nên cả gia đình anh đã bị chính quyền Cộng Sản Việt Nam gây khó dễ khi trở về hoà nhập cuộc sống. Nhờ cố gắng, bền bỉ không nản lòng suốt mười mấy năm trời, “lên bờ xuống ruộng” với Văn Phòng Toà Đại Sứ Mỹ, kết quả là cả gia đình đã được phỏng vấn, được chấp thuận qua Mỹ định cư diện “chính trị đặc biệt” giữa năm 2012.

Nhận được tin, tôi vui sướng mấy ngày liền. Vừa qua đến Nam California, anh phone ngay cho tôi:

- Tạ ơn Chúa! Gia đình anh chị đã được cứu vớt lên thiên đàng. À mà không, phải nói rõ hơn là được đưa từ địa ngục lên thiên đàng. Không còn từ ngữ nào diễn tả được niềm hạnh phúc này. Được hít thở không khí dân chủ, được tự do ngôn luận, được quyền làm người.

Chị cũng hào hứng không kém gì chồng:

- Ba đứa con của anh chị đã được đi học ngay lập tức, chẳng tốn một xu học phí nào, đứa nhỏ còn có xe bus đón đưa mỗi ngày. Có tưởng tượng chị cũng không dám nghĩ đến ngày này em ơi!

Anh vẫn còn say sưa niềm vui lớn lao:

- Anh hài lòng và mãn nguyện với những gì anh đã hy sinh, kiên nhẫn đợi chờ, bù đắp lại là tương lai tươi sáng của các con, đó là điều vô giá, không có bạc tiền nào so sánh được. Bao nhiêu người ở Việt Nam có tiền tỷ nhưng đâu dễ được qua đây cả nhà năm người làm công dân xứ Hoa Kỳ? Gia đình anh còn hơn trúng số độc đắc em ơi. Tạ ơn nước Mỹ, cám ơn cuộc đời!

Anh chị thay phiên nhau nói liên tục, có cho tôi mở miệng được câu nào đâu nà! Mà thôi, tôi có thể hiểu được nỗi niềm lâng lâng ngất ngây ấy, nhất là anh, cứ lập đi lập lại hai câu “trúng số độc đắc” và “anh chị là …triệu phú tiền đô và tỷ phú tiền Việt Cộng, chứ còn gì nữa, phải không em?”

Giờ đây, chị có công việc ổn định, đi làm Nails cho tiệm của một người bà con, làm cả ngày vẫn không biết mệt mỏi. Anh vì sức khoẻ yếu hơn sau mấy lần mổ bụng ở trại, nên chỉ đi làm parttime. Thằng con trai lớn, ngày xưa được sinh ra ở trại tỵ nạn, vừa ra trường về ngành Cảnh Sát, đứa con trai kế cũng sắp tốt nghiệp College và cô con út đang học Đại Học. Cuối tuần, anh chị dành thời gian lái xe ra vùng ngoại ô, ngắm cảnh, câu cá, nghỉ ngơi hoặc chăm lo vườn tược rau trái sân nhà.

 

Còn một trường hợp bên xứ lạnh tình nồng là hai người em hàng xóm cũ của tôi. May mắn thay, cách đây khoảng hơn chục năm, thời kỳ Canada mở cửa cho người vào định cư theo diện có tay nghề (không cần bằng cấp cao hay tiền bạc), mà họ được qua Winnipeg với sự bảo trợ của người cô ruột.

Lần gặp nhau ở thành phố Edmonton của tôi, nghe tụi nó rộn ràng tâm sự:

- Tụi em vẫn còn nghĩ mình nằm mơ chị à. Qua đây, con gái em đi học, nó thích lắm. Được thoải mái học hỏi những điều mới lạ, không phải lo sợ “sao đỏ học đường” theo dõi, không gò mình theo thành tích, chỉ tiêu. Hôm nọ chồng em bị đau ruột thừa, vào bệnh viện cấp cứu, được mổ và nằm viện mấy ngày, bác sỹ y tá chăm lo với trách nhiệm lương tâm và tình người. Trong bệnh viện có tủ lạnh có sữa, nước trái cây, yogurt, bánh mì, người nhà bệnh nhân nếu đói cứ việc lấy thoải mái, vậy mà khi xuất viện, tụi em chỉ việc …xách giỏ ra về, không phải trả một đồng nào. Nói thiệt với chị, hai vợ chồng đi bộ ra bãi đậu xe mà không dám đi nhanh, vì nghĩ nếu họ quên thu tiền, nên có ý chờ họ kêu lại để trả viện phí.

Nhìn mặt chúng nó rạng rỡ như hoa mới nở, thấy thương ghê nơi! Tôi nói:

- Thì Canada nổi tiếng với chương trình Y Tế toàn dân mà. Còn công ăn việc làm thì sao, hai đứa có khó khăn gì không?

Hai vợ chồng phá lên cười, giành nhau nói:

- Xời ơi, chỉ sợ không đủ sức làm 2-3 jobs thôi chị! Ở xóm mình, em đã không ngại đi làm quán ăn, chồng em đi làm thợ hàn nóng nực cực khổ, thì qua đây chẳng có việc gì làm khó được tụi em hết á, chịu khó thì cái gì rồi cũng có.

- Vợ em ban ngày đi làm hãng thịt gà, chiều tối và weekends thì làm bánh trái thức ăn bán cho bà con đồng hương xung quanh kiếm thêm tiền, vì tụi em còn gia đình hai bên ở Việt Nam. Tụi em say sưa đi làm trong niềm vui được lo cho người thân khi họ cần giúp đỡ, cảm giác đó hạnh phúc biết bao. Chúng em nhớ ơn Canada vô vàn, Canada thật tuyệt vời!

 

Cả hai trường hợp trên, họ đã mua nhà, ổn định cuộc sống, và việc trả nợ nhà cũng chỉ là vấn đề thời gian.

Ai cũng biết, quê hương mình, nơi chôn nhau cắt rốn của mình, vẫn là đẹp nhất. Nhưng khi quê hương bị tàn phá bởi độc đảng, bất tài, tham nhũng, hèn ác…thì người dân đành dứt áo ra đi, dẫu biết cuộc đánh đổi nào cũng có mất mát, hy sinh.

Vậy mà có một số người, sau khi mỏi mòn chờ đợi, trầy trật để qua được xứ tự do, thì cứ than vắn thở dài, như là bị “trời đày”, thậm chí còn chê bai này nọ. Nếu họ là người già cả, như cây cổ thụ bị bưng gốc qua xứ khác không thể thích nghi, thì có thể thông cảm. Còn nhiều người, tiếc thay, lại than vãn những chuyện vớ vẩn, thậm chí chỉ vì tiếc món bún riêu cua đồng, bún mắm, ốc bươu luộc chấm mắm gừng, trà sữa, bánh tráng trộn…Trời ạ, có cho không biếu không tôi mấy món “Ma- dzê in Việt Nam” đó, tôi cũng xin phép…“no, thanks!”.

Riêng tôi, hễ nằm ngủ mơ thấy ngôi nhà cũ cùng cha mẹ anh chị em ruột rà, hàng xóm thân thương, hoặc kỷ niệm dưới mái trường với bạn bè, người xưa …thì không sao. Chớ đêm nào mơ thấy “màu vàng xanh” của mấy tên công an khu vực, “màu xám đặc cán mai” của các cán bộ mặt mỡ bụng phệ chèn ép người dân, “màu tương lai tối thui” của đồng bào Thủ Thiêm, Lộc Hưng, hoặc “màu đỏ máu” của màn “tự té lầu” trong nội bộ “đồng chấy đồng rận”… là mồ hôi hột của tôi vã ra như tắm. Bừng tỉnh dậy sau cơn ác mộng, nhìn qua cửa sổ thấy tuyết đang rơi, nhéo người cùng giường một cái cho …chắc ăn, tôi mới hoàn hồn sung sướng, biết mình đang ở Canada.

Tôi bỗng nhớ câu nói nổi tiếng của Tổng Thống Trump: “ Nếu bạn không hài lòng với đất nước mới này, bạn có thể rời khỏi nơi đây!”

Còn câu nói sau đây là của…tôi:

“ Tôi thề, sẽ không năn nỉ níu kéo, và sẽ tiễn bạn ra đến tận cổng phi trường!”

Xin thề!!!

 

KIM LOAN

 

 

 

 

" Father, forgive them, for they do not know what they are doing"

 

                                                -Luke 23:34-

KL_Traitimkieuhanh.jpg

Anh không cần phải nói lời xin lỗi

Vì đã từng làm trái tim tôi đau

Tuổi trẻ dại khờ, chẳng trách gì nhau

Ai chẳng qua những tháng ngày sôi nổi?

 

Tôi đã mến anh, dù không dám nói

Vì trái tim kiêu hãnh (đợi chờ thôi)

Anh vô tình, tôi thao thức lẻ loi

Những vần thơ ngọt ngào trong đêm vắng

 

Nhưng tôi cũng vui theo đời mưa nắng

Cuộc sống muôn màu vẫy gọi ngoài kia

Bốn mùa rộn ràng êm ái cỏ hoa

Tôi quên anh như chưa một lần nhớ

 

Đời vẫn đẹp, yêu đương vẫn rực rỡ

(Thế gian này đâu chỉ có… mình anh)

Những chiều cuối tuần tôi vẫn tươi xinh

Bước chân sáo, cùng bạn bè dạo phố

 

Nếu có một ngày trời xanh nhắc nhở

Tâm hồn tôi ngơ ngẩn áng mây chiều

Bóng hình anh từ ký ức rong rêu

Tôi mỉm cười vu vơ trong khoé mắt

 

Anh đã là kỷ niệm xưa xa lắc

Đến rồi đi như cơn gió chiều nay

Đã qua rồi những chợt buồn ngất ngây

(Tôi rung động thêm vài lần khác nữa)

 

Để bây giờ gió Xuân về lại nhớ

(Làm sao quên thuở mơ mộng trong đời?)

Xin cám ơn những rung cảm tuyệt vời

Trái tim kiêu hãnh, không cần lời xin lỗi!

KIM LOAN

XƯA RỒI... HÙNG ƠI!

Buổi sáng cuối tuần, tôi vừa mở facebook thấy liền mấy cái friend requests trong đó có một tên khiến tôi phải dừng lại: BS Hoàng Hùng. Cái tên rất đặc biệt khó quên cho dù bao nhiêu năm đã trôi qua. Tôi liền vào xem profile, và đúng như trí nhớ của tôi, đó chính là người đã từng “thoáng qua đời tôi”.

Hè năm ấy, vừa thi xong Đại Học, nhỏ Thủy rủ rê:

-          Chủ nhật này tụi mình đi Lái Thiêu chơi.

-          Nhân dịp gì vậy, có ai nữa không?

-          Anh Tuấn của tao mở tiệc sinh nhật với vài người bạn thân, ảnh cho tao đi theo để bồi dưỡng sau mấy tháng học thi vất vả, ảnh cũng cho tao rủ thêm mày vì ảnh biết tao với mày là “trời sinh một cặp”.

-          Haha! Vậy thì ngu gì hổng đi chơi, mà chạy xe đạp coi bộ xa đó.

-          Mày khỏi lo, nhà một người bạn của anh Tuấn là chủ tiệm bánh Hồng Khanh ở chợ Xóm Mới có xe chở hàng cỡ như chiếc xe lam, anh ấy kêu tài xế chở cả đám sáng đi chiều về.

Sáng ngày hẹn, tôi có mặt tại nhà Thủy, đã có đủ các bạn của anh Tuấn, cả nam lẫn nữ cộng với hai đứa tôi là gần chục người. Chúng tôi phụ khiêng lên xe mấy thùng bia, nước ngọt, thùng đá lạnh, bánh mì, chả lụa, vài hộp bánh, cây đàn guitar và đồ linh tinh khác. Xe khởi hành, mọi người vừa ăn xôi đậu muối mè vừa nói chuyện cười đùa rôm rả, chẳng mấy chốc đã đến khu du lịch Cầu Ngang khi trời còn sớm, chưa có nhiều khách, nên chúng tôi dễ dàng mướn được một khu vườn ưng ý. Vì ai cũng còn no bụng nên anh Tuấn kêu chủ vườn đem ra mấy trái sầu riêng chín cây thơm ngát, uống với bia lạnh giải khát, rồi thông báo mọi người có thể đi chơi tự do khoảng một tiếng, sau đó trở về vườn bắt đầu tiệc sinh nhật.

Tôi và Thủy hớn hở đi dạo khắp các vườn xung quanh, hứng thú nhảy nhót qua các mương đào trong vườn, sau đó đi bộ ngược ra Cầu Ngang ngắm cảnh, dừng chân tại các cần xế chôm chôm, măng cụt, sầu riêng, bòn bon người ta bán dọc lối đi, bỗng nghe có tiếng từ phía sau:

-          Hai đứa muốn mua trái cây thì chờ lúc chiều ra về hẵng mua, chớ mua bây giờ đem vào trong chủ vườn không chịu đâu nhé.

Chúng tôi quay đầu lại, nhỏ Thủy nhanh nhẩu:

-          Tụi em chỉ ngắm thôi anh Hùng ơi!

Tôi nhìn anh, anh nhìn lại tôi trìu mến, trái tim mới lớn vui rộn ràng vì gặp đúng... người trong mơ. Hồi sáng trên xe, khi cả nhóm giới thiệu tên nhau, tôi đã “ấn tượng” bởi cái tên của anh, Ngô Văn Hoàng Hùng, thêm dáng người cao ráo, chiếc răng khểnh và cặp kiếng trắng trên khuôn mặt điển trai, nhưng chưa hết đâu nhé, anh đang là sinh viên Y Khoa, đó là chưa kể tài lẻ là giọng ca hay với ngón đàn guitare vì anh là Ca Trưởng của Ca Đoàn. Nói chung là bao nhiêu điều tốt đẹp anh ấy đều sở hữu hết trơn, ông trời thiệt bất công.

Tôi đứng im ngại ngùng trước “người mơ” thì nhỏ Thủy la lên:

-          Ôi, em phải về chỗ phụ mấy chị làm bánh mì chả lụa chuẩn bị bữa tiệc, anh Hùng dẫn bạn em đi một vòng cho biết nha.

Lẽ ra tôi phải đi theo Thủy, nhưng chân tôi cứ như chôn chặt dưới đất, anh ấy đến bên tôi, bắt chuyện, tôi mới dần dà lấy tại tự nhiên đi dạo cùng anh. Để giải thích cho cái tên “dài cả cây số” anh cười tươi:

-          Ba anh tên Ngô Văn Hoàng, nên các anh em trai nhà anh mang tên: Ngô Văn Hoàng Hùng, Ngô Văn Hoàng Dũng và Ngô Văn Hoàng Công.

Tôi nói thiệt lòng:

-          Tên anh là đẹp nhất, nghe rất “kêu”, rất oai phong lẫm liệt.

-          Ừ, mấy đứa bạn anh cũng bảo thế.

Hình như anh đọc được trong mắt tôi niềm yêu mến ngưỡng mộ ngành Y nên anh nói rất nhiều về việc học của anh, nào là anh phải ra khỏi nhà từ lúc sáng sớm, rồi về nhà khi tối mịt, mấy năm nay hổng biết khu phố anh ở tròn méo ra sao, nào là những lần vào nhà xác thực tập, lần đầu vừa sợ vừa run, có người lập tức ói mửa, những lần trực khuya, bài vở căng thẳng. Tôi cứ nghĩ mình là người... khoái nói, nhưng so với anh thì còn thua xa, nhưng mà thôi, tôi sẵn sàng nghe “thần tượng” nói, đâu dễ gì có cơ hội quý giá này.

Sau chuyến đi Lái Thiêu vài ngày, Thủy qua nhà tôi:

-          Ê, bữa đó ông Hùng có... tán mày không?

Tôi mắc cỡ sung sướng, trả lời lấp lửng:

-          Tao cũng hổng biết nữa, nhưng anh ấy hỏi địa chỉ nhà để bữa nào mời tao đi ăn chè.

-          Thôi thôi nghen! Báo cho nhà ngươi biết, anh đã có người yêu rồi. Người yêu của ảnh là cô bạn chung xóm, chung ca đoàn nhà thờ, là giọng ca solo hay thần sầu của giáo xứ và là hoa khôi rực rỡ của cả khu giáo họ Gò Vấp.

Tôi nổi quạu:

-          Tao đâu cần mày liệt kê mấy cái vụ “giọng ca thần sầu và hoa khôi rực rỡ”, những thứ mà tao hổng có.

-          Thì tao có sao nói vậy thôi, nhưng ổng đào hoa ga lăng bay bướm lắm, dính vào chỉ mang khổ thôi.

-          Giờ tao hỏi tội mày, vậy tại sao bữa đó mày cố tình bỏ đi để tao và anh Hùng ở lại nói chuyện riêng?

-          Nói thiệt, tao thấy ổng nhìn mày tha thiết quá nên không muốn làm ổng mất hứng, và tao cũng muốn cho mày...vài phút giây phù du để có hứng làm thơ.

Tôi thú nhận yếu ớt:

-          Mày đúng là bạn tao, đêm đó về tao có làm xong một bài thơ.

Tôi đứa nó xem, đọc tới đâu nó xuýt xoa tới đó:

-          Trời ơi, lãng mạn quá ngọt ngào quá, cho tao mượn chép lại.

Tôi giải thích:

-          Nghe tao nói nè, khi làm thơ, nhất là thơ tình, đôi lúc vì tìm vần cho phù hợp câu cú, nên phải xài những từ ướt át bay bổng chớ thực tế hổng phải vậy, hiểu chưa? Tao tặng mày bài thơ, tao chẳng cần nữa.

Chuyện tới đó là xong, tôi xếp anh vào ngăn dĩ vãng cho bụi bám thì hai năm sau, nhỏ Thủy thông báo:

-          Ê mày, chàng Hoàng Hùng mới cưới vợ.

Tôi hờ hững:

-          Vậy sao? Lấy cái cô “hát hay xinh đẹp” đó hả?

Thủy chề môi:

-          Thế thì còn gì để nói! Anh ấy đã bỏ người yêu thời thanh mai trúc mã để lấy con gái của ông bác sĩ trưởng khoa nơi bệnh viện anh đang làm. Gia đình nhà họ giàu có, lại đang chờ giấy tờ xuất cảnh qua Mỹ.

-          Nhưng kệ người ta mày ơi, người ta giỏi người ta đẹp trai thì người ta có quyền.

-          Mà tao ghét thì tao nói đó! Anh Tuấn tao nói bạn bè cũng bớt chơi với anh Hùng vì bản tính kiêu căng tự phụ. Hồi đó đi học ổng ký tên hai chữ Hoàng Hùng thôi, mà từ khi ra trường làm bác sĩ chứ ký của ổng có thêm hai chữ “BS”, sợ hổng ai biết nghề của mình hay sao á, nhìn ngứa con mắt!

Rồi một hôm, tôi có dịp đạp xe qua bệnh viện Gia Định đúng lúc anh Hùng từ cổng bệnh viện chạy chiếc Honda ra ngoài, anh reo lên:

-          Ôi, lâu quá không gặp Loan, em đến bệnh viện có việc gì không?

-          Dạ đâu có, em đến nhà người bạn ở hẻm Vạn Kiếp mới về, đi ngang đây thôi, anh làm ở đây hả?

Vừa dứt lời trời bỗng đổ mưa lớn, anh ấy kéo tôi vào quán nước ven lề đường. Sau khi thăm hỏi vài câu về cuộc sống hiện tại, anh nhìn tôi... âu yếm:

-          Loan nè, anh cám ơn em đã âm thầm mến thương và rung động vì anh, và cám ơn bài thơ, đời anh chưa có người con gái nào làm thơ cho anh, anh thuộc luôn bài thơ và thích nhất bốn câu này:

“Ước gì anh nắm lấy tay em

Một lần thôi, em sẽ không quên

Chắc hẳn là bàn tay anh ấm

Em sẽ run những ngón tay mềm...”

Tôi quê xệ lắm nhưng vẫn bình thản:

-     Ủa, nhỏ Thủy xí xọn đưa bài thơ cho anh hả?

-          Em đừng nghĩ oan cho bạn. Có lần anh ghé nhà Tuấn, anh và Tuấn vô tình nhìn thấy bài thơ trong cuốn vở của Thủy. Sau đó anh có ghé nhà em hai lần nhưng em vắng nhà. Hôm nào em làm Thơ tặng anh nữa nha, anh thích thơ em.

Tôi mỉm cười nghĩ thầm, mặt tui dễ dụ lắm sao? Tự dưng tôi nhớ tuồng cải lương Lan Và Điệp có câu Lan giận hờn: “có vợ rồi bỗng tử tế với người ta”, mặc dù hổng liên quan chút xíu nào. Nhưng tôi vẫn ngồi nghe anh ấy tuôn ra những lời dẻo hơn đường mật, vỗ về đưa tôi vào... mê cung. Chẳng lẽ tôi lại giải thích làm thơ là thế đó, là tha hồ tưởng tượng theo cảm xúc, là theo vần theo câu nên đôi khi phải dùng từ mùi mẫn, và chẳng lẽ tôi nói thẳng thừng rằng anh không còn cho tôi cảm hứng làm thơ nữa, vì anh đã ra khỏi tâm trí tôi ngay khi tôi biết anh có người yêu.

Bạn bè thân quen đều biết tánh tôi, hễ tôi thích người nào mà người ta không quan tâm để ý thì tôi mau chóng... chuyển hướng qua đối tượng khác, còn nếu biết “hoa đã có chủ” thì tôi càng bái bai mau lẹ, không thèm vấn vương. Cuộc đời còn nhiều người cho ta lựa chọn kiếm tìm, cớ sao phải sầu đau, yêu đơn phương, lụy tình, thậm chí tự tử vì tình, chi cho khổ! Cái đó hổng có tôi nghen, tôi đâu có ngu dữ vậy.

Mặc cho anh ấy độc thoại, tôi thong thả ban cho anh những phút “phù du”, dù sao trời cũng còn mưa xối xả, muốn ra về cũng không được, và tôi tranh thủ nhân dịp này “trả thù” chuyện xưa bằng cách uống hết ly sinh tố bơ bự tổ chảng rồi gọi thêm mấy cái bánh bao chiên cho bõ ghét.

Một lần nữa tôi đã xếp anh vào ngăn quá khứ cho bụi bám, giờ đây sau mấy chục năm, anh lại trồi lên facebook muốn kết bạn với tôi, lẽ nào tôi và anh ấy còn nợ nần gì nhau?

Đang xem profile thì tôi chợt thấy một tin nhắn của anh qua messenger: “Hello Kim Loan ơi, còn nhớ anh không, Bác Sĩ Hoàng Hùng, bạn của anh Tuấn đây. Cuộc sống và gia đình em ra sao, anh định cư ở Seattle gần Canada của em đấy. Rất vui được tìm lại em!”

Tôi trở lại profile anh ấy, mục tình trạng gia đình là “độc thân”, vậy là vợ anh ấy qua đời, hay là ly dị? bỏ vợ hay vợ bỏ? Anh qua Mỹ khi nào, có lấy lại bằng để tiếp tục hành nghề không? Vậy thì phải ký tên Hoàng Hùng M.D cho đúng kiểu Mỹ chớ!

Người có thể giải đáp cho tôi là nhỏ Thủy thì đã nằm sâu dưới lòng đại dương từ chuyến vượt biên năm nào. Tôi vào xem phần photos, chỉ có vài tấm hình, trong đó có một tấm thuở anh còn là sinh viên Y Khoa bên Việt Nam, rồi tấm hình mới đây, anh đứng bên Golden Gate ở San Francisco. So với nhiều đàn ông cùng tuổi, anh vẫn còn phong độ, không bụng bự, không “tóc gió thôi bay”, anh mặc chiếc quần kaki với chiếc áo thun gọn gàng, cặp mắt kiếng vẫn y chang, khuôn mặt có thay đổi theo thời gian nhưng tôi vẫn nhận ra.

Tôi phân vân suy nghĩ giữa hai nút “confirm” hay “delete”. Anh ấy liên lạc với tôi để làm gì nhỉ! Nhìn anh vẫn còn... “ngon cơm” lắm, máu đào hoa bay bướm chắc cũng vẫn còn? Sai địa chỉ rồi anh ơi! Tôi đã qua rồi thuở mới lớn mộng mơ, trái tim tôi đã khác rồi, hơn nữa, tôi chưa hề và sẽ không bao giờ tin vào những câu ngôn tình, những lời thề hứa “yêu em dài lâu”, “chỉ có mình em”, “ngàn năm vẫn đợi”, lại càng không tin “yêu em đến... kiếp sau” (điên à?), và sợ nhứt là câu: “trải qua... hàng chục cuộc tình, anh nhận ra em mới chính là tình yêu của anh” (hổng dám đâu!).  Anh nghĩ tôi đang hồi Xuân, muốn thả lời ong bướm, cho tôi vài câu đùa cợt phù du như ngày đó ư, thôi đi chớ, xưa rồi Diễm, ý lộn, xưa rồi Hùng ơi!

Nhưng tôi cũng do dự, biết đâu anh ấy cũng đã khác, chỉ là tìm lại những người bạn đồng hương Gò Vấp cũ trong đó có tôi để chia sẻ buồn vui nơi xứ người, ôn lại kỷ niệm thanh xuân thì sao, tôi có nghi oan cho người ta không? Suy nghĩ như thế mà chẳng hiểu “ma xui quỷ khiến” thế nào, tay tôi vẫn mau mắn ấn nút “delete” cái rụp.

Thây kệ đi, vậy là... ý trời, thà “delete lầm còn hơn bỏ sót” để tránh ... hậu họa về sau, ông bà ta vẫn nói “phòng bệnh hơn chữa bệnh” đấy thôi.

Xin lỗi anh nhé, BS Hoàng Hùng!

Edmonton, Tháng 3/2023

KIM LOAN

 

 

 

" Father, forgive them, for they do not know what they are doing"

                                                -Luke 23:34-

HELLO …

(Cảm tác theo bài hát Hello do Adele hát, lay động hàng triệu trái tim khán thính giả)

 

Hello!? Anh ơi hãy nhấc phone

Sao anh lặng im, để em buồn

Đã bao nhiêu năm rồi anh hỡi

Tháng ngày theo mạch sống trào tuôn

 

Em tự hỏi, nếu mình gặp lại

Trải lòng về những chuyện đã qua

Với em, thời gian không thể xoá

Như người ta nói, vết thương xưa

 

Hello, anh ơi, anh có hay

Em đang trở lại nơi chốn này

Thuở đó chúng mình yêu say đắm

Mối tình đầu kỷ niệm còn đây

 

Nhưng rồi, em và anh xa lắm

Bao dặm đường, lòng cũng cách ngăn

Em muốn nói ngàn lời xin lỗi

Vì đã làm tim anh vỡ tan

 

Anh vắng nhà, phone reo quạnh hiu

Dù em vẫn gọi, gọi rất nhiều

Với anh, giờ chỉ là vô nghĩa

Hờ hững, ơ thờ chuyện tình yêu?

 

Em biết, em biết, và em biết…

Anh chẳng còn bận tâm nữa đâu

Dù mình đã từng yêu tha thiết

Dù mình đã từng là của nhau

 

Em nhớ, em nhớ, và em nhớ…

Dù anh sẽ chẳng trả lời phone

Phố cũ nơi đôi ta hò hẹn

Nắng cũng thay màu cả hoàng hôn

 

Em đã ra khỏi cuộc đời anh?

Một lần nữa thôi, nghe đi anh

“Hello?”, em mong anh vẫn khoẻ

Dẫu biết lời theo gió mong manh!

 

KIM LOAN

CHUYỆN TÌNH YÊU MUÔN THUỞ

Tôi vừa đạp xe về tới cổng nhà, thấy chị Hạnh ngồi trước cửa nhà chị ấy khóc nức nở, đôi mắt sưng húp. Tôi bỏ xe vào sân rồi chạy qua bên chị:

- Lại bị ổng goánh nữa hả chị? Thôi vô nhà đi, còn trái cây gì chưa bán hết, em lấy nhe! 

Tôi đưa chị vào nhà, bàn ghế chỏng chơ, lạnh lẽo, góc nhà là tủ kiếng bán trái cây của chị, còn sót vài miếng thơm (dứa) và tô muối ớt. Tôi lấy thơm, ngồi chấm muối ớt, ăn giùm chị, trong lúc chị dọn dẹp các thứ ngổn ngang trong nhà.