hmpg.jpg
TL_HaveANiceDay.gif

Cần xem tiết mục nào xin click vào Trang bài / webpage trong MENU dưới đây:

TRANG CHÍNH / HOME  . BÀI MỚI ĐĂNG SINH HOẠT HOUSTON, TX  .  ĐH XXIII-MARYLAND 2019  .  ĐH XXII-SAN JOSE 2018  .  ĐH XXI-HOUSTON 2017   .  SINH HOẠT CANADA  .  SINH HOẠT ÚC CHÂU  CÁC ĐẶC SAN ĐH  .  SINH HOẠT BẮC - NAM CALI  - SINH HOẠT VÙNG NEW ENGLAND -  SINH HOẠT VIỆT NAM - TIN SINH HOẠT CÁC NƠI  GÓC SÂN TRƯỜNG NHÀ  .  VĂN HỌC - NGHỆ THUẬT  .  VÒNG TAY NGHĨA TÌNH  .  CHIA BUỒN - CHUNG VUI  TÌM NGƯỜI - NHẮN TIN

TÁC GIẢ: Anh Tú, Cao Vị KhanhChân Diện MụcDương Hồng ThủyĐan Quế PhongĐoàn Xuân ThuĐỗ Chiêu ĐứcĐỗ Mỹ ThuậtHoàng Thị Tố LangHồ NguyễnHồ Trung ThànhHương Sơn Lê Khánh Duệ, Kim LoanKim Quang, La Thanh Khải, La Tuấn DzũngLê Cần ThơLê Dung, Lê Trúc KhanhLương Liên HoaLương Ngọc Thành, MailocMỹ Trinh, Ngô Thị Trường XuânNguyên Nhung, Nguyễn Đấu Lộc, Nguyễn Hồng Tuyền, Nguyễn Như HùngNguyễn Ngọc Tuyết, Nguyễn Thanh BìnhNguyễn Thiên Long, Nguyễn Thị Thanh Dương, Nguyễn Trung Nam, Nguyễn Văn TrườngNguyễn Vĩnh LongNgười Ô MônPhan Thượng Hải, Phạm Khắc Trí, Phạm Khắc Trí & Các Thi Hữu, Phạm Trinh CátPhương Hà, Phượng TrắngSongquang, Thái Vĩnh Thụy Biên, Thanh VũTrầm Vân, Trần Bang ThạchTrần Bá Xử, Trần Cẩm Quỳnh NhưTrần Phù Thế, Trương Nhị Kiều, Võ Thị Bạch Nữ

KimLoan_pic.JPG

Thơ - Truyện  
Kim Loan
Edmonton, Canada

TL_mai.jpg

NỖI NHỚ TẾT DỊU DÀNG


1. ĐÊM BA MƯƠI HUYỀN DIỆU


Ông bà mình có câu “Thấy 30 chưa phải là Tết” với nghĩa bóng, rằng sự gì chưa nắm trong tay là chưa vội mừng, chưa chắc ăn. Nhưng với nghĩa đen, theo tôi, thì không hẳn thế, vì Ba Mươi mới chính là Tết, thậm chí còn…vui hơn Tết, nên mới có lời thơ “Còn đêm nào vui bằng đêm Ba Mươi” đấy thôi!
Ngày Ba Mươi, sau một tuần bận rộn dọn dẹp kể từ ngày 23 Ông Táo, là ngày cuối cùng gấp rút cho mọi công việc để đón năm mới. Cứ khoảng 6-7 giờ tối, sau khi nhà cửa yên ổn sạch sẽ, chỉ còn dưới bếp bà chị Hai vẫn âm ỉ vài món ăn cho đêm Giao Thừa và sáng Mồng Một, tôi và nhỏ bạn thân có thói quen rủ nhau chạy xe lên chợ Xóm Mới mua bánh gai nóng hổi mới ra lò, mang về bày biện thêm cho mâm thức ăn ngày Tết. Đường đi chỉ hơn cây số, lại chạy xe máy, nhưng phải dừng lại rất nhiều lần vì các trạm…đốt pháo của đám thanh niên nghịch phá giữa đường. Mà hình như họ chỉ chờ phụ nữ hay con gái đi ngang, là bắt đầu đặt ngay viên pháo, úp cái lon sữa bò lên, rồi hò hét nhau bịt lỗ tai…chạy xa. Chúng tôi, cũng nhờ có “thâm niên kinh nghiệm” nên thường tránh kịp, dừng xe lại, chờ pháo nổ…banh ta lông rồi tiếp tục đi tiếp. Có nơi, đám thanh niên lại chơi kiểu quăng pháo, cũng may là họ quăng trước hay sau xe, chứ không trúng vào người, nhưng cũng gây ra bao phen ú tim, la hét tưng bừng…
Cứ như thế, cả đường đi lẫn đường về, cộng với thời gian mua bánh gai (có khi còn đứng ăn tại chỗ một cái trước cho ấm bụng và lấy sức…tránh pháo), thì mất cỡ một hai tiếng, về đến nhà thì trời thật sự “tối đen như đêm 30”, vẫn còn hồi hộp, run lẩy bẩy vì những “trạm pháo phá làng phá xóm” ngoài kia!
Sợ thì sợ vậy, mà cũng thật mau quên, thành ra tối Ba Mươi năm nào cũng phải đi mua bánh gai, hay vì nhớ cái cảm giác phiêu lưu, tim đập mạnh, dáo dác nhìn hai bên đường để tránh pháo, mà lòng lại vui lâng lâng, niềm vui đêm giao thừa của tuổi trẻ?
(Đúng là…yếu mà khoái ra gió)

Và như thế, dù hồi đó cũng có một, hai mối tình vắt vai, nhưng tôi chưa bao giờ được một lần lãng mạn “Em đến thăm anh đêm Ba Mươi” như bài hát của Vũ Thành An, vì còn phải bận đi mua…bánh gai!


2. XÓM CŨ THÂN YÊU


Nhà tôi, thuở đó, thuộc Phường 10 Quận Gò Vấp, vùng ven đô, hay còn được gọi là vùng “nửa chợ nửa quê”, vì nó không xa phố thị Sài Gòn và cũng rất gần ruộng vườn.
Nếu đi từ Ngã Năm Chuồng Chó, chạy xe đạp, lên Phú Nhuận cỡ chừng 10 phút, rồi chạy thêm khoảng 15 phút nữa là đến trung tâm đường Hai Bà Trưng, rồi lên đường Đồng Khởi, Nhà Thờ Đức Bà, Chợ Bến Thành… Nếu đi hướng ngược lại, về An Nhơn, là đến An Phú Đông rợp bóng mát cây xanh, vườn tược, mà còn có cả con sông bé tí, với một bến đò ngang thơ mộng. Hoặc đi theo hướng Thông Tây, nếu rẽ phải là lên Xóm Mới, một thời oanh liệt với nhiều lò sản xuất pháo lừng danh, qua cầu Sắt là gặp Xa Lộ Thủ Đức gió lộng, còn rẽ trái là lên phường 12 Thông Tây, nơi từng nổi tiếng là vườn trồng hoa Tết, cung cấp rất nhiều cho thị trường Sài Gòn mỗi dịp Xuân về.
Từ giữa tháng Chạp là thời gian nhộn nhịp nhất, khu vườn hoa rực rỡ đủ sắc màu cả một vùng không gian. Dòng người đi tảo mộ ở những nghĩa trang gần đó đều ghé vào mua những bó hoa tươi thắp mộ cho người thân. Tôi và lũ bạn, khi tan học, ghé nhà đứa bạn có vườn vú sữa, cả đám ngồi dưới tàn cây, đàn ca và ăn vú sữa… rụng trong gió Xuân hây hẩy, rồi trên đường về, ngang qua những vườn hoa toả mùi thơm ngào ngạt. Dân xóm tôi hay rủ nhau đi mua hoa thật trễ (ỷ nhà gần vườn mà), lúc đó giá hoa rất rẻ, có khi gần như là cho không, nhất là hoa vạn thọ hay hoa cúc vàng, các chủ vườn hớn hở hào phóng, cám ơn những vị khách muộn màng giúp họ thanh toán những luống hoa cuối cùng để còn lo dọn dẹp đón Tết.
Những buổi chiều cuối năm, tôi thích ngồi trước quán nước nhà mình, ngắm những chiếc xe ba gác chở đầy hoa từ vườn Thông Tây hoặc chở đầy pháo từ Xóm Mới, trực chỉ trung tâm Sài Gòn cho người người mua sắm.
Thế đấy, cần gì phải chờ đến Tết, khi mà những buổi sáng trời trong veo, nhà nhà mang lư đồng, chén dĩa kiểu, bàn tủ ra sân chùi rửa rộn ràng. Đám con nít trong hẻm cũng biết lợi dụng thời cơ lúc ba má dọn dẹp cửa nhà để gầy các sòng bầu cua cá cọp cãi nhau ồn ào. Mấy chị em tôi mang dưa kiệu ra mảnh sân xi măng sau nhà phơi khô và khi chiều tối, nhóm thanh niên có máu văn nghệ ngồi đàn đúm bên bếp lửa canh nồi bánh chưng của nhà kế bên, với cây guitar thùng, bập bùng những điệu nhạc bolero thiết tha, nồng nàn: “Đón Xuân này tôi nhớ xuân xưa, hẹn gặp nhau khi pháo giao thừa …” là đã thấy cả Mùa Xuân đang đến rồi.

Một phần tư thế kỷ trôi qua, xóm nhỏ của tôi theo bể dâu biến đổi, hàng xóm bè bạn cũng lưu lạc bốn phương trời. Tôi nhớ có lời đồn rằng, vì sinh ra và lớn lên ở vùng “nửa chợ nửa quê”, nên nhiều cư dân nơi này thường có tính khí…ba rọi, nửa tỉnh nửa mê. Ngẫm mà đúng thật, vì có tôi đây, nơi xứ tuyết trắng Canada, đang mê man thương nhớ về những ngày Tết nắng rực vàng, của một thời xa lắc xa lơ…

Edmonton, Xuân Nhâm Dần 2022

KIM LOAN

_______________________

TIỄN VONG 2021

 

Năm ngoái tôi viết bài Tiễn Vong 2020 với một tâm trạng đầy hy vọng cho năm nay, cuộc sống sẽ thật sự hồi sinh sau cơn đại dịch Cúm Tàu, nhưng như mọi người thấy rồi đấy, đời chưa như là… mơ,  nên tôi lại phải viết tiếp bài này.

Nhớ lại hồi đầu năm 2020 khi dịch mới xuất hiện bên Vũ Hán, rồi lây lan qua bên Bắc Mỹ, cô bạn làm thợ may của tôi nhắn tin sẽ may tặng tôi một số khẩu trang (masks), tôi mỉm cười, bảo chỉ cần vài cái thôi, vì tôi sẽ không xài kịp thì hết dịch. Ai ngờ, tôi chẳng những xài hết cả chục cái, mà còn mua thêm một mớ khác, đó là chưa kể cả thùng medical Masks để sẵn trong nhà.

Tôi nhớ, lúc mọi người đổ xô đi mua gạo, toilet papers, mắm muối về chất trong kho, tôi có bài viết đầu tiên gửi cho Báo Trẻ là bài “Lời Thề Mùa Dịch”, đại khái là tôi xin thề sẽ không đi vơ vét hàng hoá vì xứ Mỹ xứ Canada có bao giờ để cho người dân thiếu thốn đâu nà! Viết xong bài đó, tôi vẫn ngỡ rằng sẽ không còn bài viết nào về dịch nữa, bởi tôi vẫn rất lạc quan, tin tưởng các nhà khoa học, các chính quyền sẽ hợp sức mời Cúm Tàu đi chỗ khác chơi trong thời gian ngắn. Thế mà, chính tôi cũng không ngờ, tôi đã viết thêm hàng loạt bài liên quan đến “nó”, con Covid lì lợm: Chồng Em Mùa Dịch, Nấu Ăn Mùa Dịch, Bầu Cử Mùa Dịch, Chuyện Dài Vaccine, Chích Hay Không Chích, Chích Vaccine Không Đau, Chuyến Đi Bão Táp …

 

Cuối năm 2020 tình hình thế giới nóng lên vì cuộc bầu cử lịch sử của Tổng Thống Mỹ, cũng là lúc có những tín hiệu sáng sủa về vaccine cứu rỗi nhân loại. Thế là năm 2021 bắt đầu với những ngày nới lỏng giãn cách xã hội, cuộc sống có vẻ như bắt đầu hồi sinh khi những lô vaccine đầu tiên đến với người dân. Nhà hàng, quán xá, các nơi công cộng, nhà thờ nhà chùa cũng hé mở đón người ra vào dù số lượng người vẫn còn hạn chế, nhưng dù sao có còn hơn không.

Mọi người hớn hở an tâm đợi chờ đến lượt chích vaccine mũi đầu, rồi mũi thứ hai, dù vẫn còn một số người cương quyết không chích vì nhiều lý do khác nhau, trong đó có cả lý do “chính trị chính em” của xứ Mỹ.

Dù sao, số người chích vaccine vẫn nhiều hơn người chưa và không chích, nên dấu hiệu lây lan Covid có phần dịu lại từ cuối tháng ba nên mùa hè 2021 có thể được gọi là mùa hè tươi đẹp sau những tháng ngày vật vã với dịch.

Tạ ơn Pfizer, Moderna, J&J, AstraZeneca, và các vaccine khác đã đem lại niềm tin yêu đời và nhờ vậy, một số events bị hoãn từ năm 2020 đã được tổ chức vào năm 2021.

 

Đầu tiên là mùa giải Euro, khi bên Châu Âu đã chích vaccine tương đối đông đủ, nhưng số lượng cổ động viên được vào sân xem đá banh vẫn vắng vẻ. Tuy nhiên, điều đó không làm giảm sức nóng quyễn rũ của bộ môn thể thao Vua này. Vợ chồng tôi đã có những ngày mãn nhãn theo dõi giải Euro, được sống lại những cảm xúc vụi buồn, hồi hộp căng thẳng rồi vỡ tung lồng ngực khi đội bóng yêu thích ghi bàn. Đội Ý đã chiến thắng, trở thành Euro Champion 2021 và nâng hạng đội bóng quốc gia lên hạng thứ 4 thế giới theo bảng xếp hạng của FIFA.

Nối tiếp sau Euro là Tokyo Summer Olympic. Thời điểm đó (cuối tháng 7 và tháng 8) bên Châu Á đang vật lộn trở lại với Covid nên các đấu trường Olympic không có khán giả, các vận động viên chỉ thi đấu với nhau, vắng tiếng vỗ tay cổ vũ của người hâm mộ. Tôi cũng yêu thích Olympic và từng say mê theo dõi các bộ môn bơi lội, trượt băng nghệ thuật, chạy việt dã, nhưng những tin buồn mất mát liên tiếp vì Covid của những người thân từ quê nhà (và cả nỗi buồn riêng khi Ba tôi qua đời tại Texas) làm tôi không còn hứng thú để tâm đến Olympic.

Có thể nói, tình hình Covid tại Việt Nam thê thảm đến không ngờ. Thật ra, nếu đó là một chính quyền đúng nghĩa “vì dân, lo cho dân” thì hậu quả đã không đến nỗi tang thương như thế. Nhiều người trong chúng ta, ở hải noại, cũng có một người quen, một người hàng xóm …đã qua đời oan ức trong cơn đại dịch tại Việt Nam. Chẳng có nỗi đau buồn nào hơn khi người dân nghèo khó lại càng nghèo hơn trong khi quan tham nhởn nhơ đi ăn “bò dát vàng” bên trời Tây.

 

Đến Tháng 10, sau khi rục rịch những mũi booster thứ 3, Tổ Chức Y Tế Thế Giới (WHO) đã dự đoán dịch sẽ tiêu tan giữa tháng 3/2022. Cá nhân tôi, lúc ấy, tự suy xét, cũng tin rằng đến 2022 thì đại nạn Covid sẽ bị đẩy lùi vì những lý do sau đây:

- Trẻ em 5-11 tuổi cũng sẽ được chích ngừa.

- Số người chích mũi thứ 3 đang tăng dần lên.

- Số người đã được chích ngừa hay đã có đề kháng vì vướng bệnh sẽ chiếm số đông trong dân chúng nên Covid không có đất dụng võ, phải tự xách va ly ra đi (herd immunity, tức là miễn dịch cộng đồng).

- NẾU không xuất hiện thêm biến chủng bất trị mới.

 

Tôi vừa nói xong chữ Nếu còn chưa ráo mực thì nay biến chứng mới lù lù xuất hiện từ Nam Phi với cái tên nghe rất ư là hắc ám: Omicron. (hoá ra tôi còn …sáng suốt hơn WHO vì viết thòng thêm chữ Nếu). Bà chị Thanh Dương bảo tôi cái miệng ăn mắm ăn muối. Số là khi Ban Biên Tập Báo Trẻ nhắn tin các cộng tác viên viết bài cho Báo Xuân Nhâm Dần 2022 với chủ đề Hồi Sinh, tôi có nói với chị:

- Từ đầu mùa dịch đến giờ, em đã mỏi tay viết các bài về dịch, riết rồi quen sống chung với dịch, (cứ ngỡ “nó” là …một phần của đời sống), nên chưa thấy dấu hiệu Hồi Sinh, chắc em sẽ viết …Hồi Xuân coi bộ dễ có cảm hứng hơn.

Ở giáo xứ của tôi, cuối năm ngoái cũng bầu lại Hội Đồng Mục Vụ mới, anh tân Chủ Tịch là bạn thân thiết với tôi. Tôi cũng đùa với anh ấy:

- Anh yên chí nhé, nhiệm kỳ bốn năm của Joe Biden sẽ khổ sở với dịch và dĩ nhiên nhiệm kỳ 3 năm của anh cũng thế thôi, nhưng anh sướng hơn Biden, là anh lãnh đạo giáo xứ qua …emails, anh có số sướng, làm chủ tịch mà chẳng phải làm gì!

Nói đùa mà thành ra thật, mùa Giáng Sinh năm nay là Giáng Sinh thứ hai buồn tênh, không có Canh Thức đêm Vọng Giáng Sinh, ca đoàn chúng tôi không được ca hát rầm rộ, và thánh lễ chỉ được 1/3 số người theo diện tích của Nhà Thờ, phải tiếp tục ghi danh đi lễ,  ai chậm tay ghi danh thì xem lễ online, có buồn không chứ!?

Thôi từ nay tôi xin hứa, không mở miệng “ăn mắm ăn muối” nói đùa nói chơi với con Virus Vũ Hán này nữa.

Tình hình cuối năm nào có khá hơn năm ngoái! Bên xứ Mỹ lùm xùm vụ án Kyle Rittenhouse, rồi sau ngày Thanksgiving là Black Friday, các shopping centers dường như u ám hơn khi những vụ cướp đồ trong các cửa tiệm tại một số thành phố thuộc tiểu bang Dân Chủ. Ôi chu choa, tôi xem tin tức và các video clips trên truyền hình mà xót xa. “Giai cấp vô sản” hớn hở kéo nhau đi “lấy của người giàu chia cho người nghèo”, họ tuyên bố đó là “reparation”, là “sự đền bù cho những tháng năm quá khứ tổ tiên họ đã làm nộ lệ”, ngon dữ đa!

Tôi là dân Canada, thích hóng chuyện xứ hàng xóm, và “thấy sao nói dzậy người ơi!”. Cũng vào những ngày tháng này, theo khảo sát chung, thì mức độ tin tưởng của dân Mỹ dành cho TT Biden sau một năm nắm quyền đã xuống rất thấp, (còn mức độ tín nhiệm nàng Phó Harris còn thảm hại hơn). Dân chúng dành cho “Cặp Hoàn Hảo” này một từ ngắn gọn là “ incompetent”, nói theo tiếng “ba tàu” bình dân là “mụ dùng”, còn theo tiếng Việt là “vô tích sự”.  Chả lẽ con Covid nó kéo cả thế giới lao đao, và kéo luôn nước Mỹ “đầu tàu” mãi sao!?

 

Ngoài ra, năm 2021 còn có một tin nóng hổi, không thua gì độ “hot” của lũ Covid, làm cả thế giới bất ngờ, xuýt xoa, tiếc nuối, đó là vợ chồng nhà tỉ phú Bill Gates kéo nhau ra toà ly dị. Hầu như ngày hôm đó, khắp các trang báo, tin tức trên Tivi và đặc biệt là trên mạng Facebook dày đặc chỉ một thông tin “động trời” ấy. Mọi người tạm quên đi nỗi sầu Covid để bàn tán xôn xao, về ý nghĩa của hạnh phúc, về đời sống hôn nhân, về “nhà giàu cũng khóc”, về câu nói của ai đó đã từng nói “tiền nhiều để làm gỉ”!

Thế là Bill Gates bỗng nhiên trở lại tình trạng …độc thân vui tính (và… giàu có nữa chớ), khiến bao nhiêu trái tim của các bà các cô …hồi hộp, ngẩn ngơ. Nhưng trong số đó không có tôi đâu nhé, vì tôi đã mau mắn làm một bài thơ để …trấn an ông xã:

 

CHỒNG EM

 

Em yêu chồng em có đủ ...tiền

Chẳng cần cuộc sống sướng như tiên

Cơm ngày vài bữa không thiếu thốn

Cuối tuần: nhà hàng đi ăn thêm!!

 

Áo quần đầy tủ mặc chưa hết

(Vì em khoái mua hàng...on Sale)

Kim cương hột xoàn (giả) ...cả rổ

"Lấp lánh" đeo vào nào thua ai!

 

Xe hả, Mercedes cũng thích

BMW, Lexus cũng ham

Nhưng em chỉ mê ...Nissan Nhật

Vừa chạy vừa ...làm thơ thênh thang

 

Vacation mỗi năm một chuyến

(Chưa kể...road trips vui ngất ngây)

Ai có máy bay riêng, mặc họ

Boeing 787 ...em bay!!

 

Nhà em không bát ngát bao la

Vì em yếu bóng vía, sợ ...ma

Vài phòng thôi, miễn là ấm cúng

(Còn dư phòng đọc sách nữa nà!!!)

 

Em yêu chồng em, có đủ ...tình

Duyện nợ vợ chồng biết hy sinh

Nhường nhịn nhau, thương "hoa cẩm chướng"

(Đời có bao lâu... chớ bực mình!)

 

Mỗi căn nhà, đằng sau cánh cửa:

Có buồn vui, hạnh phúc khổ đau

Em không nhìn hàng xóm ...mộng ảo

Cỏ nhà em cũng xanh một màu!

 

Chồng em: tiền, tình đều ...vừa đủ

So sánh chồng người, được chi đâu!

Cho nên Bill Gates có quỳ gối

Cầu hôn, em xin hẹn ...kiếp sau

 

 

Chuyện năm 2021 chắc còn nhiều điều để bàn luận, tôi xin được tạm dừng nơi đây, vì càng nói càng nhức cái đầu.

Năm 2021 đang đi qua, chúng ta hãy vui vẻ welcome 2022. Riêng tôi cũng như nhiều fans của FIFA, ngoài mong ước thế giới trở lại bình thường, là ước mong được xem giải World Cup tại Qatar trong không khí tưng bừng chớ không phải lặng lẽ như Euro và Olympic vừa qua.

Nếu như nhạc sĩ Vũ Thành An có 9 bài Không Tên, đến bài số 10 mới là Bài Không Tên Cuối Cùng, thì tôi tin rằng, Bài Tiễn Vong năm ngoái của tôi là Bài Tiễn Vong Số 1, năm nay là Bài Tiễn Vong Số 2, thì qua năm sau, con Omicron sẽ bị đánh bại, tôi sẽ có Bài Tiễn Vong Số 3 cũng là Bài Tiễn Vong Cuối Cùng!

Và sau cơn mưa trời lại sáng, để tôi được viết những bài tiễn đưa năm cũ trong lưu luyến thương yêu!

 

Edmonton, cuối năm 2021

KIM LOAN

KimLoan_LamPhuong.jpg

TÌNH CHẾT THEO MÙA ĐÔNG (*)

(Nhớ Nhạc Sĩ Lam Phương)                        

 

Tháng Mười Hai năm ngoái, tôi nhận được cuốn sách “Lam Phương-Trăm Nhớ Ngàn Thương” từ bên quê nhà gửi qua. Nói thiệt, cầm cuốn sách mỏng dính trên tay, xem qua các mục lục, tôi bỗng thấy…giận hờn và chỉ biết thở dài.

Cũng là “cây cao bóng cả” trong giới sáng tác thời Việt Nam Cộng Hoà, mà nhạc sĩ Phạm Duy có Hồi Ký đến 4 cuốn (cuốn nào cũng khá dầy), hoặc nhạc sĩ Anh Bằng với cuốn sách in tại hải ngoại, giấy trắng tinh, dài 472 trang, font chữ nhỏ, đều đặn, đọc mãi vẫn sợ…hết. Còn sách Lam Phương, in tại Việt Nam, người chấp bút bên Việt Nam, chỉ có 256 trang, font chữ bự tổ chảng, trình bày sơ sài, và nội dung thì ôi thôi, chỉ là những phần lắp ghép, vội vàng, cẩu thả.

Tuy là 256 trang, nhưng bao gồm phần Phụ Lục Một in các bài hát nổi tiếng (có lời, có nốt nhạc) của Lam Phương. Chi dzậy? Người ta cần thì lên Googles có thể tìm ra tất cả các bài nhạc của bất cứ nhạc sĩ nào! Phần Phụ Lục Hai là trích hai đoạn viết xưa hơn trái đất về Lam Phương trên báo Thanh Niên và Giai Phẩm Người Việt, rồi thêm một bài ngắn cỡ vài hàng (xin nhắc lại là: vài hàng) của Giáo Sư Trần Quang Hải, và vài câu tâm tình của người chấp bút, tổng cộng hơn 60 trang.

Cuối cùng, còn lại đúng 190 trang viết về Lam Phương, mà trong đó cũng đã nhồi vào một số hình ảnh xưa và nay của nhạc sĩ, hình các bài báo trước 1975 về Ông, vài trang tiểu sử loa qua, vài bài nói về hoàn cảnh sáng tác các bài hát tiêu biểu: Kiếp Nghèo, Tình Bơ Vơ, Thành Phố Buồn, Phút Cuối, Chuyến Đò Vỹ Tuyến…Chữ thì to như cho trẻ con đọc, trích đoạn nhiều câu hát thật dài, kéo xuống dòng cho đầy trang giấy. Có vẻ như tác giả và người chấp bút chẳng biết nói gì viết gì để tránh bị chính quyền Cộng Sản Việt Nam kiểm duyệt chăng?

Tôi chả hiểu tại sao em gái của Ông là người quyết định chuyện này, lại để cho người chấp bút bên Việt Nam, xuất bản bên Việt Nam, vì tiền hay vì chút ủi an người nhạc sĩ đang nằm trên giường bệnh? Nhưng với bề dầy sáng tác, sức ảnh hưởng âm nhạc của Lam Phương cho đến tận hôm nay, thì cuốn sách mỏng tang, chắp vá, hời hợt này thà đừng ra đời còn hơn! Câu nói cửa miệng của người Việt mình theo một câu thơ của Nguyễn Tất Nhiên “có còn hơn không”, trong trường hợp cuốn sách này, tôi rất tiếc phải thốt lên rằng “thà không còn hơn có”.

Dù sao, tôi cũng cám ơn người tặng sách, đã nhiệt tình đi tìm ngay khi nó được xuất bản rồi gửi qua cho tôi từ bên nửa quả địa cầu và xin đừng buồn khi đọc những cảm nghĩ thất vọng này. Bởi vì “vượt lòng đại dương, mình gặp lại đây, sau cơn khát dài, thương nhớ bao ngày, giờ nghe … chua cay” (Lời bài hát Mùa Thu Yêu Đương của Lam Phương tôi xin sửa lại hai chữ cuối, cho tôi và cuốn sách này).

Mà thực ra, đâu cần so sánh với Phạm Duy, Anh Bằng, mà nhìn lại những cuốn khác của Kim Cương, Ái Vân, Khánh Ly thì mới thấy… “trăm tiếc ngàn đau” cho Lam Phương.

Và đúng như tôi dự đoán khi bắt đầu đọc cuốn sách, người chấp bút không dám nhắc đến bài hát nổi tiếng Chiều Tây Đô của Lam Phương với câu ca mà dân Miền Nam từ vĩ tuyến 17 trở xuống đều thấm thía: “Bao năm giải phóng như thế này phải không em?”

 

Giờ đây, người nhạc sĩ hiền lành dễ thương của chúng ta vừa từ trần sau một thời gian bệnh, yếu. Nhạc của Ông, nói mãi cũng vẫn thiếu, khán giả mến mộ con người và lời hát điệu đàn của Ông, kể mãi vẫn không bao giờ đủ.

Ông đã từng nói: “Tôi làm khoảng 300 bài nhạc tình, đâu có nghĩa là có ba trăm người yêu”. Trong cuốn “Lam Phương, Trăm Nhớ Ngàn Thương” cũng nói về một số bài hát từ hoàn cảnh thật của tác giả. Nhưng cũng có một số bài, chỉ là cảm xúc bất chợt trước khung cảnh hữu tình, không hề có bóng dáng của một cô gái nào, mà là trí tưởng tượng lồng vào một cuộc tình dở dang, rồi tác giả thả hồn bay bổng theo Đồi Cù, Thung Lũng Tình Yêu, Nhà Thờ Con Gà với mây gió trời trăng, để ý nhạc tuôn trào thành bài hát Thành Phố Buồn bất hủ.

Với tôi, đó là bài hát hay nhất viết về Đà Lạt, dù Ông chẳng mô tả gì nhiều, chỉ là “thành phố nào vừa đi đã mỏi” với “cơn gió chiều lạnh buốt tâm hồn”, để rồi “và con đường ngày xưa lá đổ”, nghe “tiếng chuông chiều chầm chậm thê lương”, trách móc người “quên núi đồi quên cả tình yêu” mà làm hàng triệu trái tim thổn thức.

Bài hát Một Mình buồn day dứt, nhưng lại được Ông viết trong một buổi sớm bình yên hạnh phúc bên người đẹp Cẩm Hường trên đất kinh thành Paris. Chàng ngồi bên cửa sổ uống café ngắm nàng quét lá rụng ngoài sân, và giai điệu cô đơn từ sâu thẳm bỗng trỗi dậy: “Nắng xuyên qua lá, hạt sương lìa cành/ Đời mong manh quá, kể chi chuyện mình/Nắng buồn cuộc tình, bỗng tắt bình minh”.

 

Chỉ có trái tim nghệ sĩ, tâm hồn đa sầu đa cảm, giữa đám đông vẫn thấy lạc lõng, trong hạnh phúc đã mơ hồ chia ly, và “trong bơ vơ anh mơ thêm một lần dang dở ” (bài Xót Xa), mới để lại cho đời hàng trăm bản tình ca xuyến xao lòng người đến như thế!

 

Trong một bài phỏng vấn lúc còn sinh thời, khi được hỏi:

- Tại sao các bóng hồng đi qua đời ông: Ca sĩ Bạch Yến, kịch sĩ Tuý Hồng, và nàng Cẩm Hường …đều là những phụ nữ đẹp và …rất đẹp?

Ông đã cười hiền hậu và trả lời rằng:

- Tại vì tui …xấu nên tui khoái yêu người đẹp!

Xấu hồi nào đâu nà! “Xấu” mà có nhiều nữ khán giả ái mộ. “Xấu” mà có duyên ngầm làm cho các nàng mộng mơ nức nở  “Trăm Nhớ Ngàn Thương”, “Xấu” mà đào hoa đa tình như bác thì ai cũng muốn ... “xấu” á, bác Lam Phương ạ!

 

Chẳng cần danh hiệu “ưu tú” hay “nhân dân”, nhạc của Lam Phương đi vào lòng mọi thế hệ, vượt thời gian, không những của đồng bào Miền Nam ra tới hải ngoại, mà cả dân chúng miền Bắc của “bên thắng cuộc” bên kia vĩ tuyến. Chẳng còn lạ gì, tại một phiên chợ vùng cao, gió rét lạnh căm bên quán ăn, người ta vây quanh chảo thắng cố nóng hổi, hút thuốc lào, thả khói mơ màng nghe tiếng nhạc Chế Linh hát Tình Bơ Vơ:  “Về làm chi rồi em lặng lẽ ra đi, gom góp yêu thương quê nhà, dâng hết cho người tình xa”. Chắc là do đám dân buôn miền xuôi đem “nhạc vàng” lên “đầu độc” người dân tộc miền ngược, chớ lẽ nào mấy bà thím mặc váy thổ cẩm, mang gùi, làm nương rẫy, ăn mèn mén rồi…đi đẻ sồn sồn như đi chợ lại biết mê nhạc Lam Phương?

 

Nói nào xa, ông anh họ mấy đời bắn cà nông chưa tới của tôi đang ở quê ngoài Hải Dương đã cài nhạc hiệu trên phone, hễ có ai gọi tới là phone lại vang lên rên rỉ: “Em ơi suốt đêm thao thức vì em, vì lời giã từ lúc anh ra về…”

 

Lần này Ông giã từ “cuộc chơi” ngay mùa Giáng Sinh 2020 còn đang u ám bởi Virus Tàu. Tôi hơi chạnh lòng vì một cây cổ thụ âm nhạc Việt Nam “ra đi” mà không thấy cư dân mạng rầm rộ chuyển tin, tiếc nuối. Vì mùa lễ bận rộn, hay vì ông “ra đi” êm đềm không kịch tính, không bất ngờ như người nghệ sĩ khác vừa “ra đi” trước đó?

 

Mà thôi, vốn dĩ chân thật hoà nhã, Ông cũng không cần ầm ĩ phô trương, những thứ phù phiếm bề ngoài chóng phai!

 

Tôi là người hâm mộ tài năng Lam Phương, yêu thích con người tác giả, giữa trời tuyết lạnh của Canada, nghe tin Ông qua đời, mà man mác buồn. Dường như khối tình thương mến cũng đang tái tê chết theo mùa đông như một nén hương lòng gửi đến chàng nhạc sĩ Miền Nam hiền hậu, tài ba và …không hề xấu, chàng chỉ khiêm nhường nói đùa thế thôi!

 

Người đi hoa lá chết trong mùa nhớ!!! (*)

 

Edmonton, 28.12.2020

KIM LOAN

(*): Các lời nhạc của Lam Phương

NƠI ẤY MÙA ĐÔNG                       

Nơi ấy trời đã vào đông chưa

Có nghe gió lạnh chuyển sang mùa

Ở đây hoa tuyết bay cứ ngỡ

Áo trắng ai về ấm chiều mưa

 

Nơi ấy trời đã vào đông chưa

Giọt nắng ngoài sân đẹp tình cờ

Ở đây mặt trời chiều vắng sớm

Mây xám buồn theo vào giấc mơ

 

Nơi ấy trời đã vào đông chưa

Xuống phố nhẹ sương rớt hững hờ

Ở đây mùa đông như vô tận

Bếp lửa hồng giăng sầu đong đưa

 

Nơi ấy trời đã vào đông chưa

Nỗi nhớ làm sao đếm cho vừa

Một chốn quê nhà xa vời vợi

Sưởi ấm hồn tôi những Đông xưa

 

Nơi ấy trời đã vào đông chưa?…

 

Edmonton 10.11.2019

KIM LOAN

THÁNG MƯỜI HAI NHỚ BẠN

 

Bốn đứa chúng tôi chơi rất thân, từ khi còn là giáo sinh Sư Phạm cho đến lúc ra trường mỗi đứa dạy một nơi nhưng vẫn gặp gỡ nhau thường xuyên vì hợp tính tình hay quậy phá, và có chút…máu điên.

Trong nhóm, tôi với Trang là hai đứa có sở thích đọc sách và “gu” nghe nhạc giống nhau. Gia đình Trang thuộc loại khá giả, ngoài căn nhà nó ở với ba má cùng hai đứa em ở khu Hàng Xanh, nó còn có nhà ông bà ngoại ngay mặt đường Hiền Vương sầm uất, (sau này là đường Võ Thị Sáu), đó là căn nhà lầu đúc 3 tầng kế bên tiệm giò chả Phú Hương thuở xưa, và một căn nhà trong hẻm lớn gần đó, đi bộ hai phút là ra phở Hoà Pasteur và viện Pasteur ngay đầu ngõ. Cả ba căn nhà này, tôi đã nhiều lần đến chơi, ăn dầm nằm dề những ngày cuối tuần, hoặc mùa hè rảnh rỗi …

Trang có nét đẹp đậm đà, đôi mắt to, lông mì dài, chiếc mũi cao xinh xắn, nhất là cặp lông mày dày và đen, dù trang điểm hay không, nó vẫn nổi bật nhất trong nhóm bốn đứa.

Nó cũng biết yêu sớm, với mối tình “high school sweetheart” kéo dài từ ba năm trung học cho tới lúc nó ra trường làm cô giáo. Long, người yêu của nó, là chàng công tử con nhà giàu nhất nhì khu cư xá Thanh Đa. Long học Đại Học Tổng Hợp môn Tiếng Anh vì chủ đích cùng gia đình chờ ngày qua Mỹ diện ODP. Long cao ráo, trắng trẻo và đẹp trai, ăn nói lanh lợi và rất có duyên.

Tôi hỏi Trang:

- Long sẽ đi định cư qua Mỹ, tụi bay tính sao? Tình đang rất đẹp và thơ mộng biết bao!!!

Nó buồn buồn:

- Thì Long hẹn tao ba năm sau, nếu tao không đi vượt biên thì Long sẽ quay về Việt Nam cưới tao.

- Úi, nghe sao xa vời và mong manh quá …

- Biết làm sao hơn khi hoàn cảnh như thế, mà thôi, đây cũng là thử thách cho cả hai đứa.

 

Ngày tiễn Long ra phi trường, theo lời Trang tả, là mưa ào ạt nhưng vẫn chưa nhiều bằng nước mắt của Trang. Chàng và nàng cứ đứng nắm tay không rời, Long bị loa phóng thanh phi trường gọi tên mấy lần mới dứt được nhau. Rồi nàng chạy xe thẳng về nhà tôi, nằm khóc vùi suốt buổi chiều.

Thư qua tin lại cho vơi nỗi nhớ nhung được khoảng một năm, thì cô bạn cũ thời trung học của cả chàng và nàng đi vượt biên qua trại tỵ nạn Bidong, Malaysia, sau đó qua định cư bên Mỹ chung thành phố với chàng. Ban đầu, cô bạn giữ lời hứa “chăm sóc” chàng giùm nàng, rồi sau đó tiện thể (dù không được nhờ vả), đã chăm sóc luôn cả trái tim và cuộc đời của chàng. Người ta bảo xa mặt cách lòng quả không sai, và lửa gần rơm lâu ngày cũng đã bén!

Thế là “thiệp hồng viết tên Anh và…con kia” đã gửi về Việt Nam cho nàng đúng vào những ngày rét mướt của Sài Gòn giữa tháng mười hai. Nhận tin sét đánh ngang tai, nàng khóc lóc vật vã hận đời (còn tin ai trên cõi đời này nữa chớ, khi mà người yêu và bạn thân rủ nhau phản bội bất ngờ!). Chúng tôi chẳng biết nói gì để khuyên lơn ủi an nó, ngoài việc đến thăm, đưa nó đi chơi cho khuây khoả. Tưởng vết thương lòng rồi sẽ nguôi ngoai, đùng một cái, chúng tôi nghe tin nó...“mất dạy”, bỏ trường lớp bỏ học trò, bỏ Sài Gòn trốn về Đà Lạt vì không chịu nổi sự cô đơn, lạnh lẽo của Mùa Noel đang đến. (Ở Đà Lạt không lạnh sao, con dở hơi!?).

Chúng tôi tá hoả, chưa biết tính toán sao, một đứa trong nhóm còn đổ thêm dầu vào lửa, bảo rằng:

- Đà Lạt là thành phố Tình Yêu của đôi lứa, nhất là mùa Noel, nó đến đó, cái “ Thành Phố Buồn, lắm tơ vương, cơn gió chiều lạnh buốt tâm hồn …” của ông Lam Phương khi đang thất tình, nó dám nhảy xuống hồ Than Thở lắm á!

Đứa kia cũng đồng tình:

- Đúng rồi! Người ta có Đồi Thông Hai Mộ còn nó sẽ là Đồi Thông Một Mộ…lẻ loi, tội quá!

Tôi cuống cuồng:

- Vậy thì ba đứa tụi mình phải lên ngay Đà Lạt giải cứu nó, mang nó về Sài Gòn …. 

 

Chúng tôi bàn qua tính lại vài ngày rồi quyết định đi lên thành phố sương mù, chấp nhận để lại Sài Gòn sau lưng, để lại “người thương” để đi tìm bạn. Đến ngày lên đường, thì đứa em nó chạy đến tìm tôi, báo tin:

- Chị Trang đã về nhà rồi mấy chị ơi!

Tôi vui mừng, thở phào nhẹ nhõm rồi đùa với em nó:

- Vậy là quá tốt! Té ra nó cũng nhát, chưa dám nhảy xuống hồ Than Thở, chắc sợ …lạnh, mà nó cũng chẳng biết bơi! Để chiều này tụi chị sẽ ghé thăm liền.

- Dạ không được rồi chị ơi!!

- Là sao??? Có chuyện gì nữa ?

- Chị ấy về chiều qua, người mệt mỏi rã rời, chẳng nói với ai lời nào, rồi đi nghỉ trong phòng. Đến tối chị ấy bảo đi ra đường cho khuây khoả, mà đến giờ vẫn chưa thấy về, gia đình em lo sợ quá chị ơi!!!

Mấy cái “chị ơi!!!” của thằng em nó làm chúng tôi thêm rối bời, hoang mang, âu sầu não nề giữa trời Sài Gòn hiu hiu gió lạnh.

 

Suốt cả tuần lễ sau đó, vào mỗi buổi chiều tối sau giờ đi dạy, ba đứa tôi đạp xe đi khắp nơi tìm nó. Đến nhà các người thân, bạn bè quen biết, đến các quán café mà nó và Long thường hẹn hò, thậm chí đến cả phi trường Tân Sơn Nhất …cũng chẳng có tăm hơi của nó. Thành phố lung linh muôn sắc màu của mùa Giáng Sinh đang tới, mà chúng tôi buồn so, rầu rĩ, mấy giai điệu nhạc Noel bỗng trở nên nhạt nhẽo không còn gợi chút cảm hứng lâng lâng như ngày nào. Có ai định nghĩa hết được Tình Bạn không? Bạn, một chữ ngắn gọn nhưng hàm chứa biết bao ân tình tuyệt vời, khó quên…

 

Cho đến hôm nay, khi tôi viết những dòng chữ này, thì nó vẫn độc thân, chưa bao giờ lập gia đình, sống một mình ở Sài Gòn, nhưng tâm trí vẫn đi…lang thang…

Năm 2009, tôi có về Sài Gòn, bạn bè mấy đứa gặp nhau đi ăn uống tâm tình, nó vẫn bình thường khi nói về những tháng ngày đi học vui vẻ, nhưng chỉ một lát sau, nó lại chuyển qua nói huyên thuyên những chuyện tầm phào, không đầu không đuôi, đầy hoang tưởng. 

Chúng tôi cố khuyên nhủ, đưa nó về thực tại, nhưng hễ nó bắt đầu hoang tưởng thì chẳng còn để ý đến xung quanh, cứ độc thoại một mình, khi nào xong mới thôi, không ai có thể cản nổi .

Ông bà ngoại và ba má nó đều đã mất, căn nhà ở Hàng Xanh cũng đã bán, hai đứa em trai nó có vợ con chia nhau ở căn nhà mặt tiền đường Võ Thị Sáu, còn nó được riêng cả căn nhà trong hẻm phở Hoà, gặm nhấm nỗi cô đơn với căn bệnh hoang tưởng ngày càng trở nặng !

Tháng Mười Hai lại về, ước gì nó đừng nghe tiếng vọng của quá khứ, đừng nhớ lại cái tháng Mười Hai oan nghiệt thuở nào, cái tháng làm nó trở nên điên dại, đớn đau, đi hoang để chúng tôi phải khổ sở đi tìm khắp các ngõ ngách Sài Gòn giữa những âm điệu bơ bơ tái tê của những bài nhạc Giáng Sinh thật buồn ....

 

Trang ơi! Tụi mình bốn đứa có chút “máu điên” cho đời thêm vui, sao mày lại điên thật??

 

Edmonton, 12/2021

Kim Loan

KIM LOAN

 

ROAD TRIPS: MỸ VÀ CANADA

 

Vợ chồng tôi, có một điểm “hoà hợp” khi đến với nhau, đó là cùng từng vỡ tan …mối tình đầu với xứ Hoa Kỳ.

Hồi tôi ở trại tỵ nạn, trầy trật bốn năm trời mới vượt qua cuộc thanh lọc đáng ghét, và khi gặp phái đoàn Mỹ phỏng vấn thì bị từ chối, mặc dù tôi có đầy đủ gia đình ở bển.

Còn chồng tôi, cả giòng họ rủ nhau đi vượt biên rất sớm, năm 1977 khi cả miền Nam đang vào cơn tàn tạ dưới bàn tay của “bên thắng cuộc”. Trong khi ở trại Mã Lai chờ phái đoàn Mỹ , thì phái đoàn Canada lơn tơn xuất hiện, gia đình chồng tôi nôn nóng thoát khỏi cuộc sống tù túng ở trại nên nhắm mắt đưa chân qua Canada định cư luôn một lèo. Sau đó, chồng tôi đi học, vào cấp ba rồi Đại Học, quyết chí thực hiện giấc mơ Mỹ Quốc năm xưa, bèn nộp vào trường Medicine tại New York. Khi nộp đơn thì hào hứng, đến khi được nhận thì bị bà má chồng “bàn ra”, vì sợ tốn kém với số student loan quá lớn, chồng tôi cũng bị nản chí, không qua đó học nữa.

Dù sao, Canada và Mỹ cũng là hàng xóm. Chúng tôi quen dần với xứ lạnh tình nồng, hàng năm lại hào hứng với những chuyến du lịch đó đây. Ai đi đông đi Tây, ai đi xa đi gần, chứ gia đình tôi, ngoài vài lần đi Mexico, chồng tôi đi Conference bên Cuba, Puerto Rico, còn lại những chuyến vacation đều trong Canada và Mỹ.

Đi Cruise thì tôi kiên quyết là không bao giờ (dù vẫn biết never say never), thứ nhất là tôi hay bị say sóng, thứ hai, quan trọng hơn, là chuyến vượt biên của tôi 30 năm trước, tàu bị mưa bão, máy thoát nước bị hư, trong đêm tối bão bùng, tôi đã thấy biển là con quái vật hung dữ bạo tàn, nên tôi không muốn sống lại cảm giác đó một lần nào nữa!

 

Mỗi lần gia đình tôi bay đến một nơi nào đó trên xứ Mỹ hay Canada, thường sẽ mướn xe làm tiếp một chuyến mini road trip đến các thành phố lân cận.

Bay đến Vancouver (Canada) thì sẽ đi qua Seattle, hay Oregon (Mỹ), đến Toronto (Canada) thì đi Buffalo, New York, Philadelphia, Atlantic City (Mỹ), hoặc ngược miền Đông Canada về Ottawa, Montreal, Quebec. Khi bay đến Nam California thì lái xe qua Las Vegas, Arizona, và nếu bay đến Arlington Texas thì road trips thẳng tiến Dallas, Houston, San Antonia, Oklahoma, New Orleans. Thời gian cho mini road-trips thường từ 5 cho đến 10 tiếng lái xe.

Nhưng đã có hai lần, gia đình tôi có hai chuyến Road Trips thật sự, được tính bằng ngày và đêm. Chuyến đầu tiên là lái từ Edmonton xuyên qua ¾ chiều ngang nước Canada, vượt qua các tỉnh bang Saskatchewan, Manitoba, để đến Toronto, Ontario.

Chuyến thứ hai, chúng tôi bay từ Edmonton qua Toronto, rồi từ Toronto lái xe xuống Texas (Mỹ) băng qua các tiểu bang New York, Pennsylvania, Ohio, Kentucky, Tennessee, Arkansas …

Rất tiếc thuở đó chưa có iphone để chụp nhiều hình và “livestream” nhưng tôi có video camera ghi lại những cung đường quan trọng, để lại nhiều cảm xúc. Chúng tôi đi từ sớm cho đến tối mịt, dừng tại motel để tắm rửa và ngủ, hôm sau lại dậy đi tiếp. Khi qua một thành phố lớn, chúng tôi vào thẳng trung tâm thành phố, ăn uống, đổ xăng và “cưỡi ngựa xem hoa” những công trình tiêu biểu nơi đó.

Kỷ niệm vẫn còn đầy ắp, nào cơn mưa giông dữ dội trên highway Ohio, nào buổi breakfast tại một quán thôn quê bên rẻo đường nông trại vùng Regina, nào nửa đêm dừng xe vì con nai chết dọc đường vùng Sault Ste Marie để vào tiệm café Tim Hortons nhờ gọi cảnh sát mang con nai đi, nào nắng lấp lánh vùng ngoại ô thành phố Little Rock, Arkansas có những căn nhà bé nhỏ, cổng rào gỗ nhiều màu sắc với những bụi hoa nở tươi tắn dưới bóng lá cờ Mỹ bay phất phới trong gió, xinh đẹp như một khung cảnh trong các phim Hollywood.

Đôi khi, chỉ là một vách đá cheo leo giữa hoang vu, cũng gợi cho tôi những nỗi niềm bâng quơ như nhạc sĩ Diệu Hương… “Em hỏi tôi phiến đá có tình yêu không/ Em hỏi tôi, phiến đá có linh hồn không?/ Linh hồn tôi nay là đá sỏi /Nhưng đá nằm, khổ đau với tình yêu em…” , những cảm xúc đó, nếu bay trên mấy tầng mây, sẽ không bao giờ có được!

 

Trong các chuyến road trips, tôi thấy sự khác biệt rất rõ giữa Mỹ và Canada, đó là dân Mỹ rất chịu khó treo cờ trước nhà, các nơi business, công sở, suốt đoạn đường xuyên quốc gia, tôi đếm không xuể những lá cờ Mỹ mà người dân hẳn rất say mê và yêu quý lắm. Còn bên Canada cờ thưa thớt hơn, dọc đường xa lộ, thỉnh thoảng qua các nông trại, xí nghiệp, hay khu nhà dân, lác đác mới thấy cờ Lá Phong. Hầu như chỉ có một ngày dân Canada được thấy cờ bay rợp trời đó là ngày Quốc Khánh (Canada Day), còn bên Mỹ thì họ treo cờ bất cứ nơi đâu mà chẳng cần lý do.

Tôi chẳng hiểu vì sao, bèn hỏi bác Gù Gồ thì thật thú vị khi có ngay một tiêu đề  “Why American are so crazy about the flag”! Thì ra chuyện dân Mỹ “điên cuồng” về lá cờ của họ là có thật. Theo thống kê, hàng năm có 150 triệu lá cờ Mỹ với đủ sizes lớn nhỏ được bán ra. Họ tự hào với “lá cờ đẹp nhất thế giới” có13 sọc và 50 ngôi sao của 50 tiểu bang, là biểu tượng của sự hoà hợp, gắn kết, tạo nên sức mạnh tuyệt vời của United State, nên họ “điên cuồng” treo cờ từ thành thị tới thôn quê, trên mái nhà, bên ngọn cây, bên cửa xe, dưới garage, sau vườn nhà, ngay cả trên nón mũ, áo quần và giầy dép… nói chung, đi bất cứ nơi đâu trên đất Mỹ đều dễ dàng nhìn thấy Old Glory.

Rồi tôi cũng tò mò, hỏi bác Gú Gồ tại sao dân Cà Na Điên hổng khoái treo cờ, kết quả cũng khá bất ngờ và …khá buồn! Không phải riêng tôi, mà đã từng có nhiều người cũng đã nêu thắc mắc đó, họ còn dẫn chứng bên xứ Mỹ láng giềng người ta mê cờ của nước người ta lắm kìa. Thế là một số người nhảy ra phản pháo: Chúng ta yêu nước yêu lá cờ từ trong đáy tim, chớ không cần phải “show off” như …ai kia! Có kẻ còn la lên: tại sao phải …giống Mỹ !!! Thậm chí, đôi lần nơi quốc hội, một số nhà chính khách cũng vận động phong trào treo cờ, nhưng dân chúng vẫn hững hờ, họ bảo họ vẫn “proud to be Canadian”, tự hào với Cờ Lá Phong trong các đại hội Olympic, Stanley Cup, Canada Day, và nhất định khi đi du lịch qua Châu Âu họ luôn mang theo lá cờ nhỏ nơi hành lý để hải quan bên đó đừng tưởng họ là …dân Mỹ, ghê chưa! Ai bảo dân Cà Na Điên hiền nữa không nà?

Chuyện một số ít người Mỹ và Canada không ưa nhau, là có thật, và là chuyện dài nhiều tập. Khi nào có …chiến tranh Mỹ-Canada thì lúc ấy tôi sẽ khai thác đề tài này, còn hiện nay, đa số dân hai bên đều vui vẻ thân thiện, cùng nhau gìn giữ hoà bình khu vực, thì dại gì mà đụng vào “ổ kiến lửa”, dễ …xa nhau lắm á!!

Cũng nhân chuyện Mỹ-Canada, vừa qua tôi có tham dự cuộc thi “Viết Về Nước Mỹ” do toà soạn Việt Báo bên California tổ chức hàng năm. Tiêu chí chấm giải của Ban Giám Khảo, là ngoài đề tài nước Mỹ, họ chấm luôn cả sức viết của các tác giả tham gia cuộc thi. Với chủ đích “giựt giải”, tôi đã gửi cỡ …chục bài dự thi để …khủng bố Ban Giám Khảo, có lẽ nhờ vậy mà tôi được một giải thưởng, (trước đó ông xã tôi cũng đã trao cho tôi giải …Can Đảm và giải Điếc Không Sợ Súng!). Cậu em chung trại tỵ nạn ngày xưa, nay ở bên Mỹ, theo dõi các bài dự thi của tôi, khi biết tôi được giải, bèn cảm khái la lên: “Nói thiệt với chị nghen, cái ông phái đoàn Mỹ hồi đó đã từ chối chị, không cho chị qua Mỹ, quả là một sai lầm lớn lao. Lẽ ra chị là công dân Mỹ mới phải!”. Tôi đáp liền: “ Tình chỉ đẹp khi còn dang dở mà cưng! Nếu chị ở Mỹ thì biết đâu lại viết về Canada hiền hoà, mùa đông tuyết phủ rợp trời, White Xmas đẹp như những tấm postcards!?”

Mà thôi, định mệnh cũng đã an bài, nhờ vậy mà gia đình tôi yêu luôn cả hai xứ sở, để tôi lại mong chờ những chuyến road trips tiếp theo trên đất Mỹ và Canada!

 

Edmonton, Tháng 11/2021

KIM LOAN

TL_teacherDay.png

THẦY ƠI!

(Kính dâng hương hồn Thầy Trần Văn Triệu, Hiệu Trưởng trường Cấp II Quang Trung, Gò Vấp, nhân ngày Nhà Giáo 20/11)

 

Thầy của tôi, bây giờ nếu còn sống

Tóc bạc đầu và mắt có còn trông

Lũ học trò ngày xưa mấy ai nhớ

Đến thăm Thầy ngày Nhà Giáo Việt Nam?

 

Tôi biết Thầy chẳng đợi mong điều ấy

Bởi cả đời Thầy miệt mài niềm vui

Đứng trên bục giảng: mỗi ngày hạnh phúc

Dạy các em điều tốt để nên người

 

Thầy không đợi hoa thơm hay quà bánh

Thầy không cần lời chúc tụng, tôn vinh

Thầy chỉ muốn nhìn các em, ngày cũ

Trưởng thành nên người như Thầy ước mong

 

Em và Thầy giờ cách xa vạn nẻo

Em vẫn nhớ Thầy, Thầy ơi có hay?

Thầy đang ở nơi đất sâu, lạnh lẽo

Nén nhang nào ấm lại ngày hôm nay?

 

Dù không đến được, lòng em vẫn thắp

Lời tri ân vô bờ bến gửi Thầy

Ngôi trường Quang Trung một thời ủ ấp

Trái tim em những ước mộng đong đầy

 

Nơi ấy có Thầy, vâng, là Thầy đó

Nâng cánh cho em bay đến tương lai

Lời Thầy bảo ban, em còn nhớ rõ

Như con đường đến trường buổi sớm mai

 

Rồi em và Thầy trở thành đồng nghiệp

Có những lần cùng đi uống cà phê

Bài thơ của Thầy vừa đăng trên báo

Giọng nói Thầy trầm ấm, kể em nghe

 

Em thương Thầy, cuộc đời nhiều hoài bão

Khi cô đơn, Thầy đọc sách, làm thơ

Mắt Thầy buồn, da bắt đầu nhăn, rám

Vẫn lẻ bóng đi, về… dù sớm, khuya

 

Thầy đã hiến dâng đời cho lớp trẻ

Quên tuổi xuân, quên hạnh phúc riêng tư

Bao lần mưa rơi, hè sang phượng nở

Gió đêm về, Thầy có lạnh bơ vơ?

 

Một lần thôi, cho em xin tạ tội

Thầy mất rồi, em chẳng được tiễn đưa

Nơi tha hương em nhớ về nguồn cội

Nghĩa nặng ơn dầy, Thầy cũ trường xưa

 

Hôm nay nhớ Thầy, làm sao em đến?

Nén hương lòng gửi theo gió mây trôi

Mộ Thầy hôm nay chắc nhiều hoa, nến…

Ngủ yên nhé Thầy ơi, trong hương khói tuyệt vời!

 

KIM LOAN

TL_Fall.jpg

NHAN SẮC …MÙA THU        

Kim Loan

Cũng giống như nhiều thành phố khác của Canada và của các nước xứ lạnh trên thế giới, Edmonton của tôi đón mùa thu vàng xao xuyến lòng người mỗi độ “gió heo may lại về…”

Lái xe qua khắp các nẻo đường của thành phố, dù muốn hay không muốn, người ta vẫn bị bâng khuâng bởi những cây lá đổi màu, đẹp như “thiên đường trần gian” mà tạo hoá đã ban tặng cho loài người. Khi đi bộ, đi hiking trong những rẻo mini trails, với người đam mê chụp ảnh thì thời gian dừng lại chụp hình hoặc selfie còn… dài hơn cả thời gian đi bộ. Cuối tuần, người ta lại rủ nhau đi picnic ở các công viên, tận hưởng giờ phút ăn uống nghỉ ngơi bên hồ nước soi bóng những lá vàng rụng rơi theo từng cơn gió, vì chẳng bao lâu nữa là bước vào mùa đông giá rét.

Xóm tôi ở gần một trong những “danh lam thắng cảnh” khi Thu về của miền bắc thành phố Edmonton, con đường số 97 street. Từ khi lá mới chớm màu, cho đến khi Thu chín rực trên các hàng cây với màu vàng, cam, nâu, xanh lẫn lộn, tạo nên một bức tranh lộng lẫy cả một đoạn đường hơn một cây số. Người ta từ khắp nơi, bắt đầu đổ bộ lai rai xuống những tàn cây để chụp hình kỷ niệm.

Hàng ngày đi làm, đi chợ, hay đi công việc, tôi đều đi qua đoạn đường Lá Vàng này, nhất là khi chiều buông, thấy cả hàng xe nối đuôi nhau, thả từng nhóm người xuống, có khi còn mang theo “phụ kiện” cho những tấm hình thêm sống động: nào cây đàn guitar, nào tấm trải, giỏ picnic, nào cả va li aó quần để thay đổi, thậm chí có cả …chó và mèo cưng nữa. Đôi khi, có những nhiếp ảnh gia chuyên nghiệp, đem theo lỉnh kỉnh đồ nghề tác nghiệp, khuân ra vác vào, làm vui nhộn và rộn ràng cả khúc đường. Thỉnh thoảng còn có cả những cặp tân hôn, còn nguyên váy áo cô dâu chú rể, cả đoàn xe cưới kéo đến đây chụp hình, náo động tưng bừng, trao lời thề nguyền yêu nhau cho đến …mùa thu cuộc đời! Chẳng biết sở Cảnh Sát có cho biết thống kê tai nạn xe cộ ở con đường này chưa, vì hầu như lần nào tôi đi qua đây đều phải ghé mắt nhìn, nhiều lần bị những xe phía sau bóp còi inh ỏi.

Tuy nhiên, tôi để ý, hầu hết các nhóm người đổ bộ xuống con đường Lá Vàng đều là những sắc dân di dân, như Việt Nam, Philippines, Tàu, Ấn Độ, Trung Đông …mà  rất ít những người dân bản xứ da trắng. Chẳng lẽ họ không có tâm hồn lãng mạn, yêu thiên nhiên như người di dân chúng ta, không rung động trước những lùm cây màu vàng ngây ngất, bên thảm lá khô xào xạc (dù không có …con nai vàng ngơ ngác…)??

Ông xã tôi thì cho rằng, dân da trắng sinh ra và lớn lên nơi này, nên họ đã quá quen với sự thay đổi thời tiết bốn mùa, vì vậy họ không ngạc nhiên, trầm trồ như chúng ta.

Còn tôi thì nghĩ, có lẽ người bản xứ da trắng không chơi… facebook, chớ dân Việt mình mùa này thì trên facebook đầy những hình Thu Vàng, xem mà loá con mắt. Rõ ràng là “tụi Tây” không bằng chúng ta cái vụ này!

Những năm đầu mới định cư ở Canada, đến khi các con còn bé, gia đình chúng tôi cũng từng hăng hái bon chen đi chụp những tấm hình đủ kiểu đứng ngồi quỳ nằm trong rừng thu, hình còn đầy trong các cuốn albums trong nhà. Đến bây giờ thì thật sự ngán ngẩm, thay vào đó là chiều chiều, tôi ngồi nhìn qua cửa sổ, ngắm “mùa thu lá bay anh đã đi rồi” mà than vãn, hờn giận vu vơ và…chế thơ Xuân Diệu:

 

Thu của đất trời nay mới đến

Trong tôi Thu đến đã …lâu rồi

Từ lúc tóc xanh pha tóc bạc

Đêm về thương tiếc tuổi đôi mươi!

 

Mà Thu xứ này ngắn ngủi quá! Nào có xa xôi gì đâu! Chỉ mới một hai tuần trước thôi, con đường Lá Vàng còn rực rỡ một khung trời của Mùa Thu chín, những hàng cây điệu đà với muôn sắc màu của lá, chiều nào cũng dập dìu người và xe dừng lại, thưởng thức ngắm nghía, chụp hình tới tấp, dạo chơi vui vẻ trong tiếng rơi lả lơi của những chiếc lá nhẹ bay …

Nhưng khi quý vị độc giả đọc được bài này thì những hàng cây đang rụng lá, khẳng khiu, trơ trọi giữa những cơn gió cuốn cuối mùa, lạnh lẽo theo những vầng mây xám vây quanh. Và người ta vẫn chạy xe qua con đường ấy, nhưng chẳng còn ai dừng lại, (dù là nửa con mắt) để nhìn vùng lá khô ấy, dù chỉ là một phút thôi. Con người ta vô tình quá đỗi, hờ hững như chưa hề đắm đuối say mê, chưa từng suýt xoa chiêm ngắm, chưa từng ôm ấp mộng mị làm thơ nhớ nhung, khi nơi đây còn là một tuyệt tác mỹ miều, rạo rực lòng người, tôi cũng buồn lây mà cảm hứng xót xa giùm …Mùa Thu:

 

Thu lộng lẫy nồng nàn

Bao kẻ đón người đưa

Thu cuối mùa tàn úa

Giận ai kia hững hờ …

Đời bạc thế!! Bởi vậy, các ca sỹ, nghệ sỹ, các bà cô …khi vào tuổi “lá úa khóc người đi” cũng nên chấp nhận sự thật phũ phàng này. Ai cũng chỉ có một thời thanh xuân rất đẹp (cái thời mà không cần trang điểm, không kẻ mắt tô son, mà vẫn đẹp xinh, đầy sức sống). Đừng nên cố gắng níu kéo một cách thái quá. Nhiều người không chịu …già, vẫn diện những bộ áo quần rất “trẻ trung” hơn mức cần thiết, tóc cắt kiểu “maika” để thêm phần …nhí nhảnh, rồi đi thẩm mỹ viện cắt mắt để vẫn …mơ màng ngây thơ, đi bơm môi để vẫn có làn “môi cherry” đỏ mọng xinh xinh nũng nịu. Nhưng đó chỉ là những cứu vãn bên ngoài, nhìn xa xa thì cũng hấp dẫn, chớ lại gần thì …hổng phải vậy, chồng con trong nhà biết rõ lắm á, nhất là mỗi sáng ngủ dậy…giật mình cứ tưởng còn Halloween. Bởi thế tôi đã từng làm thơ nịnh chồng:

Không có đờn ông, chắc đời …buồn lắm

Ai sẽ cùng ta thức dậy mỗi ngày?

Ta chưa điểm trang, tô vẽ lông mày

Người vẫn nhìn ta dù ta đang …xấu !!

 

Tôi không phản đối thẩm mỹ khi cần thiết, miễn sao đừng quá lố mà phản tác dụng. Tôi phải nói vậy, vì biết đâu sau này, nổi hứng …hồi xuân bất chợt, tôi lại đi trùng tu nhan sắc đang về chiều của mình, dù rằng tôi không bao giờ có ý định đó, nhưng never say never, phải không quý vị!?

Nói chung, ở tuổi mùa thu hay mùa đông của cuộc đời, tâm hồn lạc quan tươi trẻ, tinh thần vui vẻ, bao dung...mới là điều quan trọng .

Hình như tôi đang đi …lạc đề thì phải? Đang nói đến Mùa Thu đẹp thế cơ mà! Dù Thu Vàng hay Thu Sầu lá héo khô, cũng cho chúng ta những phút giây thổn thức và những bài thơ bài nhạc tuyệt vời ngẩn ngơ, thấm thía tim gan. Vì Mùa Thu mà có thi nhân hay vì có thi nhân mà Thượng Đế phải tạo ra Mùa Thu?

Cái nào cũng được, xin cám ơn cuộc đời, cám ơn Mùa Thu!

Edmonton, Mùa Thu 2021

KIM LOAN

 

" Father, forgive them, for they do not know what they are doing"

                                                -Luke 23:34-

TL_CanadaTG.jpg

Nhân Ngày Lễ Tạ Ơn Canada Monday, Oct 11, 2021, mời đọc Chuyện kể về 24 giờ đầu tiên mới đến Canada "hai lúa và ngáo ộp" như thế nào, cũng là lời Tạ Ơn quê hương thứ hai của tác giả.

 

THANK YOU CANADA

Tôi đến thủ đô Ottawa của Canada vào một tối mùa đông lạnh lẽo sau gần hai mươi tiếng dài ngồi trên máy bay từ Bangkok (Thailand), có dừng nghỉ tại Frankfurt (Đức Quốc).
Nhóm chúng tôi 6 người được nhân viên chính phủ đón tại sân bay rồi đưa về Reception House trên đường King Edward gần Byward Market. Đây là một chung cư nhỏ, gồm một tầng trệt và một tầng lầu, tổng cộng khoảng hơn chục phòng, mỗi phòng chứa được 3-4 người. Tôi là phụ nữ duy nhất trong nhóm nên được đưa vào chung phòng có hai cô người Miến Điện cũng mới đến trước đó vài ngày. Mệt mỏi rã rời, tâm trí còn vương vấn trại tỵ nạn Panatnikhom, giờ này chắc mọi người đang đi dạo chơi trong trại, có ai… nhớ tôi không?.


Sau khi nhận phòng trời cũng tối thui, họ dẫn chúng tôi xuống nhà bếp ăn tối với một món macaroni & cheese! Lần đầu tiên trong đời nhìn thấy món nui với pho-mai tan chảy, tôi chỉ thấy một mùi khó chịu vì đã quen ăn món này từ Việt Nam phải là nui xào thịt ăn với nước tương dằm ớt mới …đúng điệu!
Tôi lắc đầu, chả thiết ăn uống, chỉ muốn đi tắm rồi ngủ, giấc ngủ đầu tiên trên xứ Canada khi bên ngoài tuyết đang rơi để xem cảm giác ra sao. Cô gái người Miến dẫn tôi vào phòng tắm, chỉ dẫn cho tôi hai vòi nước nóng, nước lạnh trong bathtub, rồi đi ra ngoài. Tôi lớ ngớ, không hề biết rằng có thể vặn cả hai vòi cùng lúc rồi điều chỉnh cho vừa độ ấm rồi ấn nút shower. Tôi mở nước nóng thì nóng quá, mở nước lạnh thì lạnh như nước đá, chả biết phải làm sao! (Lỡ ...cởi đồ rồi, sao dám chạy ra hỏi!). May quá, có cái thau nhỏ trong bồn tắm, tôi mở nước nóng nửa thau, rồi mở nước lạnh nửa thau hoà chung cho đủ ấm, và ngồi xối nước tắm như khi ở trại.
Trên bathtub có để chai shampoo hiệu “head & shoulders”, tôi biết đó nghĩa là “đầu và vai”. Tôi nhìn quanh tìm thêm soap nhưng không có, rồi tự hỏi : “Chai shampoo ghi head&shoulders, là dành cho đầu và …vai, vậy còn các …bộ phận khác thì sao?”! Hỏi thì hỏi chớ đâu có câu trả lời, thế là tôi dùng nó để gội đầu (vì là shampoo), xong tôi còn lấy thêm chút shampoo để chà trên hai vai của tôi (vì chữ …head&shoulders rành rành đó!), và chỉ dùng đúng cho đầu và …vai thôi nhé, dứt khoát không xài cho …khúc dưới!!

Sáng hôm sau ngủ dậy tại Reception House, bụng đói meo vì tối qua bỏ bữa, tôi xuống phòng ăn thì lại càng không ăn được món oatmeal chan sữa tươi. Cái xứ gì mà ăn uống kỳ cục! Tôi bỗng thèm dĩa bánh cuốn, ổ bánh mì thịt, hoặc chí ít cũng là gói xôi bắp để trong lá chuối thơm mùi hành phi và đậu xanh hấp. Cũng may là còn có bình cà phê ngay góc phòng, tôi làm liền một ly, cho thật nhiều đường và cream để…cứu đói!
Lát sau có một người từ Nhà Thờ Công Giáo Việt Nam tại Ottawa đến thăm chúng tôi. Anh tên Thành, đại diện giáo xứ đến tặng phong bì, tem thư, giấy viết, và hỏi chúng tôi dù có đạo hay không, nếu muốn đi lễ thì thứ bảy anh sẽ đến đón.
Nghe xong, chú lớn tuổi nhất trong nhóm lên tiếng, chả liên quan gì đến việc …đi lễ:
- Nói cậu đừng cười, giờ chúng tôi …đói lắm vì chưa quen ăn đồ Tây, nếu nhà thờ cho chúng tôi ít mì gói thì tốt quá!
Anh Thành mỉm cười sốt sắng:
- Dạ, cháu cũng đang tính hỏi chuyện đó, cháu sẽ phone cho người bạn mang đến.
Thấy anh Thành dễ dãi, chú ấy …làm tới, được voi đòi...Hai Bà Trưng: 

- Mà cậu ráng hỏi họ tìm đúng mì Mama của Thailand nha, vì mấy năm qua chúng tôi chỉ quen ăn loại đó ở trại thôi à…
(Tôi cản chú ấy không kịp, trời ơi, chú tưởng mình là ai chớ!!)
Nhưng anh Thành lại tiếp tục mỉm cười thân thiện, và quả thật, nửa tiếng sau có người mang đến, không phải vài gói, mà là một thùng mì gói Mama.
Cả ngày hôm đó tôi túc trực dưới Văn Phòng của Reception House vì đợi phone của bố, các anh chị em, họ hàng chú bác bên Mỹ gọi qua để chúc mừng và nói chuyện cho tôi đỡ tủi thân. Vừa ngắm tuyết rơi bên ngoài, vừa xem các cuốn tạp chí, vừa uống café, tôi nói chuyện với người trực ban (để thực tập English), vì ông ta bắt chuyện với tôi khi thấy tôi nói phone với người thân mà lúc khóc nức nở lúc lại cười vui vẻ:
- Ủa, sao gia đình cô bên Mỹ mà cô lại lạc loài qua đây, mà nãy giờ tôi thấy cả chục cú phone rồi đó, chắc gia đình cô ở bển đông lắm hả!?
Ông này chắc cũng cỡ …ông Tám quá! Tôi đáp:
- Thôi, ông đừng nhắc đến vết thương lòng của tôi nghen, mà chuyện dài lắm, ông chả hiểu được đâu!
Nghe vậy, ông chuyển qua đề tài khác, chuyện thời tiết, chuyện thủ đô Ottawa có gì lạ, chuyện dân nhập cư, tỵ nạn, rồi cuối cùng là chuyện …ăn uống. Như được rà trúng đài, tôi than thở:
- Thú thật với ông, từ tối qua đến giờ tôi chưa có gì trong bụng ngoài ly café và chút mì gói.
- Thế à? Cô chưa quen với thức ăn bên đây sao?
- Dĩ nhiên là chưa, chúng tôi mới đến đây chưa đầy 24 giờ đồng hồ, ông quên rồi sao?
- Ừ nhỉ…
Tôi chống cằm, mơ màng nhìn ra cửa sổ ngắm tuyết cho… đỡ đói, rồi nói bâng quơ với ông ấy:
- Ước gì bữa ăn tối nay có một nồi cơm! (Lúc ấy tôi nghĩ đến món cơm trộn với canh mì gói, là món “ngon” ở trại tỵ nạn)
Ông ấy nhìn tôi, thương cảm:
- Ở dưới bếp có gạo, mà cô ăn cơm với gì, để tôi cố gắng nhắn với nhà bếp xem sao, dù rằng tôi không dám hứa.
Thấy tôi xịu mặt mất hứng, ông vội vàng xua tay:
- Ý tôi là không dám hứa vụ thức ăn kìa, còn nồi cơm thì bảo đảm là có, cô cứ yên tâm. Giờ nói cho tôi nghe cô muốn ăn cơm với gì nào?
Được khuyến khích, cộng thêm cái bao tử đang réo gọi, tôi thoải mái ước mơ:
- Người Việt chúng tôi ăn cơm với rau, và với thịt heo, bò, cá, gà, vịt …nói chung là luộc, nướng, kho, xào, hấp, quay, khìa …đủ kiểu hết á!
Chẳng biết ông ấy có hiểu tôi nói gì không, nhưng vẫn chăm chú, gật gù theo trí tưởng tượng của tôi với các món ăn nóng sốt đang làm tôi …nuốt nước miếng.

Đến giờ dinner, bà bếp trưởng da đen gọi nhóm Việt Nam đến. Trong khi các nhóm Somalia, Miến Điện rộn ràng bên bàn ăn với những dĩa spaghetti phủ đầy tomato sauce đang bốc khói thì nhóm chúng tôi, còn hơn cả mong đợi, có một nồi cơm trắng và chảo bắp cải xào thịt bò hộp. Tôi hỏi thịt gì mà ngon thế, bà đưa cái lon đồ hộp cho chúng tôi xem, ghi là corned-beef, không phải có “bắp”, không phải thịt xay, vì các xớ thịt nhỏ xíu vẫn còn, nêm nếm thật đậm đà, thịt bò mềm rục quyện với chất ngọt của bắp cải. Chúng tôi hồ hởi ăn hết sạch cả cơm lẫn thức ăn trong ánh mắt vui sướng của bà đầu bếp người Jamaica.
Có lẽ Canada (và các nước Mỹ, Úc, Châu Âu …) mắc nợ người Việt tỵ nạn từ …kiếp trước, nên kiếp này họ phải rước chúng ta qua, đón tiếp nồng hậu đám người chân ướt chân ráo mới đến còn ngơ ngơ ngáo ngáo chính hiệu “con nai vàng”, chưa đóng góp được gì cho đất nước người ta, mà chỉ biết đòi hỏi toàn …đồ ăn!
Thương cái xứ “tư bản giãy hoài chưa chết” này quá thôi!!!


Edmonton, Thanksgiving 2020
KIM LOAN

_______________________

KimLoan_CanLaborDay.jpg

TÔI CHỜ …ĐỂ BÂNG KHUÂNG …

Bên Canada năm học mới được khai giảng ngay sau ngày Lễ Labour Day. Theo một cuộc thăm dò, thì đa số dân chúng, đặc biệt là giới học sinh Canada đều không mấy mặn mà cái long weekend của Labour Day này, bởi vì các long weekends khác trong năm đều thực sự được enjoy nghỉ ngơi thoải mái, quên chuyện bài vở, còn Labour Day thì lại bận rộn chuẩn bị cho ngày hôm sau nhập học, có gì dzui!

Mấy hôm nay các quảng cáo “Back To School” đầy rẫy khắp nơi, đi ngang qua khu shopping lòng tôi nôn nao buồn vui lẫn lộn. Nhìn các thứ backpacks, giấy bút, lunch boxes... một thời tôi cũng đã lang thang cùng các con mua sắm, giờ chúng không còn xài nữa, tôi cứ ngỡ chẳng còn ai bán những thứ này. Chồng tôi bảo:

- Bộ em nghĩ chỉ có con em đi học thôi sao?

Tôi e lệ:

- Lòng mẹ nào cũng luôn ghi nhớ kỷ niệm của con mình. Em nhớ khi chúng qua tuổi mang diapers, baby food, em cũng đi qua khu bán đồ baby và tự hỏi, vẫn còn người mua các món này ư, và các hãng sản xuất các phim Cinderella, Pokemon, Toy Story, Barney, Wiggles chắc cũng đã …dẹp tiệm vì con mình hết xem?!

Thực ra đó chỉ là cách tôi bày tỏ cảm xúc lưu luyến khi thời gian trôi qua nhanh, các con trưởng thành, và mỗi mùa khai giảng cũng là lúc đón mùa thu sang, lá bắt đầu úa vàng để nhắn nhủ người ta, rằng sắp qua một năm, thêm một tuổi đời…

Nhìn những chiếc school bus đưa đón học sinh, một quãng thời gian chợt sống lại, như mới vừa hôm qua. Từ sáng sớm tôi bận rộn thức dậy, bỏ các luch boxes vào backpacks của con, kêu chúng ra khỏi giường, dọn bàn ăn sáng rồi đẩy chúng ra cửa kẻo trễ xe bus…

Giờ đây chúng đã lớn thật rồi, à mà không, chúng đã “lớn” khi bước vào tuổi 18, cái tuổi được đi bỏ phiếu bầu cử, được quyền ra ở riêng, được vào casino và được vào bar để “le lói” với mấy đứa chưa đủ tuổi.

Khi con gái tôi vừa tròn 18, theo “truyền thống” (hay phong trào) của đám trẻ bên đây, vào cuối tuần đó chúng nó hớn hở kéo nhau đi “bar” để đánh dấu giai đoạn quan trọng của cuộc đời: bắt đầu là “người lớn” và ngang nhiên vào “bar” mà không sợ bị đuổi về.

Nó hẹn đi với nhỏ bạn thân học chung từ tiểu học, người Iran. Hai đứa lí lắc và có máu đùa giỡn nghịch ngợm như nhau. Hồi năm lớp Bảy, sau khi xem tivi cuộc thi Miss Universe, hai đứa cũng bày trò ngay tại phòng khách nhà tôi, thay đủ kiểu áo tắm, đầm dạ hội, chúng mời tôi làm giám khảo đặt câu hỏi cho chúng trả lời phần ứng xử, mỗi đứa đại diện cho quốc gia của mình, từ đó tôi gọi chúng là Miss Iran và Miss Sài Gòn.

Theo dự tính, tôi chở hai đứa đến bar dưới downtown, sau khi chơi ở bar xong, Miss Iran về nhà tôi ngủ, sáng hôm sau má nó xong ca trực ở bệnh viện sẽ đón nó về. Tụi nó chơi thân đã lâu nên sleep over nhà nhau là chuyện thường tình, thậm chí chúng cùng gọi tôi là Mom.

Tôi bàn với hai đứa, dĩ nhiên là bằng English vì Miss Iran đâu hiểu tiếng Việt. Tôi nói:

- Mẹ sẽ chở đi và đón về nhà.

Miss Sài Gòn phản đối:

- Mẹ chỉ cần đưa tụi con tới đó, rồi khi nào xong tụi con đón taxi về.

Tôi cũng kịch liệt phản đối:

- No! No! No… Đêm hôm khuya vắng rất nguy hiểm. Để mẹ đưa đến nơi đón về đến chốn, các con còn bé chưa hiểu …sự đời bằng mẹ đâu, không được cãi!

Miss Iran liền nhào vô:

- Mấy đứa chung lớp đều đón taxi, tụi con cũng muốn giống tụi nó, tụi con biết cảnh giác mà, please please …

Rồi hai đứa chắp tay năn nỉ, thiếu điều muốn quỳ xuống, làm tôi cũng xiêu lòng:

- Ok, mẹ đồng ý, nhưng với một điều kiện, là khi ra đón taxi, một đứa phải nhanh nhẹn chụp ngay bảng số xe taxi rồi gửi ngay cho Mẹ yên tâm.

Hai đứa nhìn tôi ngạc nhiên:

- Why??

Tôi nghiêm nghị:

- Tụi con đứa nào cũng xinh đẹp, mẹ không muốn kẻ xấu bắt cóc Miss Iran và Miss Sài Gòn của mẹ đâu á!

Tụi nó bật cười nhưng thấy tôi serious quá, nên gật gù chấp nhận, kẻo tôi lại tiếp tục đòi đi đón thì vỡ lỡ chương trình “mười tám tuổi” mà chúng đã đợi chờ từ lâu. Tôi vẫn chưa yên lòng, nói thêm:

- Mà nè, khi chui vào taxi, nếu có thể chụp mặt của người tài xế gửi cho mẹ luôn nhe, lỡ hắn có ý đồ xấu thì có mà chạy đàng trời, hiểu chưa?!

Tụi nó gật đầu lia lịa rồi đi thay quần áo, trang điểm, ríu rít các cuộc phone với mấy đứa bạn khác, rộn ràng náo nức làm tôi cũng vui lây.

 

Tôi lái xe chở chúng đến bar lúc 6 giờ chiều, rồi về lo cơm nước, tụi nó dặn đừng nhắn tin hay gọi phone “hỏi thăm” vì trong bar rất ồn ào và đèn đóm thì mờ ảo. Tôi giết thời gian bằng cách dọn dẹp nhà cửa và xem phim. Chồng tôi thảnh thơi đi ngủ, và khuyên tôi:

- Em nên đi ngủ sớm, chúng nó lanh lợi hiểu biết, đã từng làm MC văn nghệ văn gừng trong trường học, chúng không ăn hiếp ai thì thôi, ai dám ăn hiếp chúng!

- Anh nói hay nhỉ! Dù gì chúng cũng còn ngây thơ, mới lần đầu đi bar khuya khoắt…

- Nhưng chúng đi cả nhóm đông bạn bè, và khi ra về thì hai đứa đi với nhau, em nên bớt lo âu thái quá và đa nghi thiên hạ, đâu phải ngoài đường ai cũng là kẻ xấu!

 

Mặc kệ, tôi vẫn cứ thức và chờ con tôi, đằng nào tôi cũng hay thức khuya, nay có lý do chính đáng được xem phim muộn màng, một công đôi việc cũng tiện lợi. Coi được mấy tập phim, mỏi mắt lim dim trên sofa thì có tiếng phone reng, tôi bật dậy mở phone, nghe tiếng láo nháo, tiếng cười rũ rượi xen lẫn tiếng nói khi được khi mất. Tôi hốt hoảng:

- Có chuyện gì vậy, sao lại phone cho mẹ?

- Mẹ ơi! Mở facetime con cho mẹ nhìn mặt ông tài xế taxi nà!!

- Chúng mày đang say hay chúng mày điên hở, mẹ nói chụp hình lén kia mà!?

- Thì tụi con làm theo lời mẹ, nhưng bị ông taxi bắt gặp, con đành nói thật với ổng, là mẹ tôi dặn phải làm như thế, để nếu có bị ông bắt cóc thì mẹ tôi sẽ báo cho cảnh sát đầy đủ hình ảnh và số xe …

Tôi chưa kịp phản ứng thì ông taxi xuất hiện trên màn hình iphone với nụ cuời tươi rói dù đã qua 1 giờ khuya:

- Good evening Madam! Do not worry, I will bring your pretty ladies home safely!

Tôi nhìn thấy một ông có vẻ là người Ấn Độ, đứng tuổi, vui vẻ và hiền hậu, liền nói lời cám ơn rồi quay qua nói tiếng Việt với con gái:

- Nhưng vẫn phải gửi ngay số xe cho mẹ, nghe chưa!? Bao giờ tụi con về đến nhà nguyên vẹn bằng xương bằng thịt thì mới chắc ăn, ba mươi chưa phải là Tết, nhớ đấy!

 

Thấm thoát tuổi 18 của con cũng đã xa vời! Nếu như nhà văn Thanh Tịnh bồi hồi “ Cứ vào cuối thu, lá ngoài đường rụng nhiều và trên không có những đám mây bàng bạc, lòng tôi lại nao nức những kỷ niệm mênh mang của buổi tựu trường”. Hoặc như ai đó đã viết, “ Hằng năm, tôi đợi mùa Thu tới, để …buồn”, thì tôi cũng vậy, khi trời Canada bắt đầu những cơn gió mát đầu mùa, tôi ngắm nhìn lũ trẻ trong xóm đi bộ ra đầu ngõ đón school bus, để…bâng khuâng!

 

Edmonton, Labour Day /2021

KIM LOAN

_______________________________________

TL_redwhiteroses.jpg

 TẢN MẠN XÓM CHÙA

TU LÀ CÕI PHÚC

Nhà tôi có một quán nước ở mặt đường khu Xóm Đạo, và căn nhà trong hẻm, nằm giữa Xóm Chùa.

Tôi đã viết về Xóm Đạo qua bài NGỌC LAN, nay xin hầu quý vị về Xóm Chùa!

Năm ấy, ở xóm trên có một gia đình, vợ vừa mất, chồng đi bước nữa, có đứa con gái chừng 9-10 tuổi, được nhà người bác ruột đem về nuôi, rồi sau đó nghĩ sao, đem nó vào gửi trong Chùa, hy vọng nó sẽ có đường tu, tránh xa khổ ải trần đời. Rồi nó được cạo đầu, chừa 3 chỏm tóc, mặc áo nâu, có tên pháp danh là Diệu Vinh, xóm chúng tôi cứ gọi nó là Tiểu Vinh.

Cô (Tiểu) Vinh này thiệt là lí lắc và sôi động. Không biết thời khoá biểu trong chùa của Tiểu ra sao, mà hầu như cả ngày tôi thấy Tiểu ở ngoài đường, lúc thì nhí nhố đi học với lũ trẻ trong xóm, lúc thì chơi nhảy dây, chơi tạt lon….Cái tà áo nâu của nhà Chùa chưa bao giờ làm Tiểu vướng bận, khi chơi bịt mắt bắt dê, Tiểu cột hai tà áo lại trước bụng cho chặt để tha hồ chạy nhảy. Chơi tạt lon, Tiểu xắn quần lên tận đùi, và khi chơi nhảy dây, mái tóc “ba vá” của Tiểu cứ lắc lư theo cái đầu và đôi mắt lanh lợi, láo liên của Tiểu thật dễ thương. Cho nên màu da của TiểuVinh ngày càng ngăm ngăm, rám nắng, với hàm răng trắng tươi có chiếc răng khểnh lồ lộ, chưa kể cái miệng nói “không lành da non” của Tiểu làm ríu rít, ồn ào bất cứ nơi đâu Tiểu có mặt. Không biết nó tu tập tới đâu, mà nghe trẻ con trong xóm kể rằng, hầu như ngày nào Tiểu cũng bị Sư Bà phạt quỳ nhang (tức là quỳ trước chánh điện, cho đến khi cây nhang tàn thì thôi). Quỳ đau gối, Tiểu khóc nức nở, nhưng ngày mai…đâu lại vào đấy, vẫn mải chơi say mê, quên cả lời Sư Bà dặn dò.

Một sáng chúa nhật, tôi thấy Tiểu tung tăng hớn hở đi từ phía chợ về xóm, trên tay lủng lẳng con khô lóc, tôi chạy lại hỏi: “Tiểu Vinh ơi, đi tu Chùa đâu được ăn thịt cá”, Tiểu trả lời ngon ơ: “Dạ Tiểu biết, mà lâu quá hổng ăn nên thèm quá, bữa nay ghé nhà bác cho tiền, Tiểu muốn ăn miếng cá khô chiên”. Chẳng biết hôm đó Tiểu có được ăn cá hay bị quỳ nhang gì không, chỉ biết một thời gian sau, gia đình người bác đến xin Chùa được mang Tiểu về nhà, hoàn tục, trở về cuộc sống đời thường.

Thế là từ đó, Tiểu Diệu Vinh, hay đúng hơn là cô bé Trần Thị Hoa Hồng, mặc chiếc áo đầm xanh, cột tóc đuôi gà, đeo cặp táp, tươi tắn bước chân sáo với đám bạn trên đường đi học, nhăn mặt ăn cóc ngâm hay xuýt xoa nhai khô bò, toác miệng cười, mới chính là hình ảnh của một cô bé, đang sống đúng với tuổi thơ của mình.

Dẫu biết rằng “Tu là cõi phúc”!

 

TÌNH LÀ GIÂY OAN

Thực ra, trước khi Tiểu Vinh có mặt, thì ngôi Chùa không phải lúc nào cũng êm ả như dòng sông, mà có lúc, bỗng nổi sóng ba đào.

Chùa chỉ có hai người, là Sư Bà Đàm Nhung và Sư Cô Diệu Huyền. Cô Huyền cũng được gia đình, là dân ở xóm bên, đưa đến Chùa tu lúc bé xíu. Khi tôi lớn lên thì Sư Cô Huyền là một Sư Cô xinh đẹp, nhan sắc nổi bật dù khoác áo chàm, đâu đội khăn tu. Khuôn mặt trái soan, nước da trắng, đôi mắt đen hình hạt dẻ, lông mày đậm trên sóng mũi cao thanh tú, cùng nụ cười duyên và giọng nói ngọt ngào thánh thót, làm bất cứ người đối diện nào cũng đem lòng cảm mến.

Người ta nói, thanh niên xóm chợ và xóm chùa, thường không phải…dạng vừa. Xóm tôi, vừa là Xóm Chợ vừa là Xóm Chùa nữa cơ, nên có đám thanh niên rảnh rỗi, làm ít chơi nhiều, thường hay tụ tập ngay gò mả cạnh Chùa, đờn ca hát xướng, ăn nhậu và chọc ghẹo những thiếu nữ nào đi ngang qua khu này. Nhiều buổi tối đi học thêm về, chạy xe vào đầu ngõ Chùa, tôi cũng bị mấy anh thả lời đùa giỡn là chuyện bình thường, nhưng với Sư cô Huyền, mấy ảnh cũng…không tha. Hễ thấy bóng cô, là các anh trổ tài hát nhạc bolero (có sửa chút lời) đoại loại như: “ Em tôi xinh đẹp hơn người tưởng, không áo xanh áo đỏ thơm hương, nhưng khi vườn Chùa lá thu rơi, ôi dịu dàng đôi mắt em tôi …”, có khi còn cao hứng lên sáu câu vọng cổ tha thiết chuyện tình Lan và Điệp, “Sao em nỡ cắt dây chuông, để anh mang một nỗi buồn thiên thu?”…Lần nào sư cô cũng nhẹ nhàng mỉm cười, bởi dù sao cũng toàn là người cùng xóm, chớ có xa lạ gì đâu nà. Thành ra mỗi khi Chùa có dịp lễ lớn như Tết nhứt, Vu Lan, Phật Đản là bà con thấy mấy anh có chút máu giang hồ, “phá làng phá xóm” đó hì hục dọn dẹp sân Chùa, cắt cỏ, quét lá, tưới cây dưới sự chỉ đạo của Sư cô Huyền. Trời nắng chang chang, mồ hôi lấm tấm trên khuôn mặt, và đôi má ửng hồng của Sư Cô thiệt là duyên dáng. Còn mấy anh, thì khỏi nói, lao động hăng say, chạy qua chạy lại như con thoi, có nụ cười của Sư cô thì…hổng biết mệt là gì hết á! (Bởi ta nói, dù ở bất cứ nơi đâu, ngoài xã hội, công sở, xưởng thợ, hay ngay chốn cửa Phật này, có chút nhan sắc là khác liền hà!)

Một buổi tối, khi cả xóm đang chuẩn bị đi ngủ, thì nghe bên Chùa có tiếng la mắng rất lớn của Sư Bà, kèm theo tiếng khóc thút thít của Sư Cô sau mỗi làn roi đánh của Sư Bà. Tôi cũng nhanh chân hoà nhập vào nhóm người có mặt ngay cánh cổng sắt của Chùa, dòm qua khe hở, thấy xa xa, Sư Cô quỳ chắp tay van xin, trả lời lí nhí những câu chất vấn của Sư Bà:

-    Tại sao xài kem Hoa Lan?

-    Dạ …dạ …

-    Tu hành không cần làm đẹp, nghe chưa? Mà muốn dưỡng da, sao không xin tiền nhà Chùa đi mua mà lấy của người ta! Ai cho?!…

Bên ngoài, nghe câu được câu không, chỉ nghe rõ tiếng khóc của Sư Cô và giọng hét như lệnh vỡ của Sư Bà. Không cần chờ đợi lâu, một "bà Tám" lớn tuổi đã giải toả thắc mắc của đám đông tò mò:

-    Biết ai tặng mấy hộp kem Hoa Lan cho cô Huyền không? Hùng Đại Ca đó!

Thì ra là Hùng Đại Ca, nhà ngay sát bên hông Chùa. Sau năm 1975, gia đình Hùng đi vùng kinh tế mới, còn anh gia nhập Thanh Niên Xung Phong theo lời kêu gọi đi tìm “lý tưởng” của ông Võ Văn Kiệt. Chẳng bao lâu, gia đình anh bồng bế nhau trở lại vì chẳng thấy “có sức người sỏi đá cũng thành cơm” gì ráo, mà ba anh còn để lại xác thân nơi đồng khô cỏ cháy. Anh cũng bỏ Thanh Niên Xung Phong về nhà, làm nghề “mánh mung chợ trời”, hay theo như lý lịch ngoài phường ghi là “nghề nghiệp không ổn định”. Chiều tối thì tụ tập đám thanh niên trong xóm ngồi đàn ca giải sầu. Công bằng mà nói, Hùng Đại Ca không phải là người xấu. Ở đâu không biết, chớ ở cái xóm Chùa này, anh sống có tình, hành động nghĩa hiệp, giúp đỡ hàng xóm khi có ai cần nhờ vả những chuyện tay chân đàn ông. Có lần tôi đi học về khuya, khi ngang qua “ban nhạc bolero” của anh, bị mấy thanh niên trêu ghẹo, tôi vừa bối rối vừa run, làm rớt chiếc kẹp tóc. Sáng hôm sau, anh sai người mang đến tận quán nước nhà tôi trả lại. Hùng, chàng Đại Ca vì thời cuộc, Lục Vân Tiên không gặp thời, và trận đòn của Sư cô Huyền tối nay, cho chúng tôi biết thêm, anh còn là chàng lãng tử, lãng mạn…không đúng chỗ!

Sau đêm đó, cư dân Xóm Chùa đợi chờ ngày Cô Huyền khăn gói ra khỏi Chùa, về đời thường trần tục, nhưng chỉ thấy Sư Cô vẫn đều đặn đạp xe đi tu học hàng ngày trên Chùa Vĩnh Nghiêm, rồi về Chùa sinh hoạt kinh kệ, gõ mõ, thỉnh chuông đều đặn. Chỉ có điều, Hùng Đại Ca bỏ đi biệt xứ, nghe đâu lên tận Bảo Lộc trồng cà phê phụ giúp người quen.

 

Giờ đây, ở tuổi xấp xỉ 60, Sư Cô Huyền đang là trụ trì của Chùa, sau khi Sư Bà qua đời. Vậy là Cô Huyền có căn tu, dù trên con đường ấy, có lần Cô thoáng chút vấn vương nhẹ nhàng với luyến ái. Và như cơn gió chợt đến rồi đi, Sư Cô đã vượt qua được cái quyến rũ phù du của “Tình Là Giây Oan”

 

KIM LOAN

Người Thứ Ba


Khi ra trường, bốn đứa chúng tôi nhận nhiệm sở bốn trường khác nhau, nhưng cứ vài ba tuần lại tụ họp gặp gỡ, đi chơi. Bữa đó, cô nàng ít nói nhất trong đám thông báo mới có người yêu. Chúng tôi hớn hở:
- Tin vui! Tin vui! Chàng nào có thể phá tan trái tim băng giá của nhà ngươi vậy?
Nó e dè thú nhận:
- Là thầy Hiệu Trưởng trường tao đang dạy đó!
Chúng tôi đồng thanh… hốt hoảng:
- Trời! Cái ông Thầy hơn mày mười bốn tuổi, đang có vợ và hai con đó sao?
- Thế giới này thanh niên trẻ trung nhan nhản, sao lại nhào vô con đường “em mới yêu lần đầu, còn anh đã yêu… nhiều lần sau”?
- Xinh đẹp như mày, gật đầu là bao nhiêu cây si run rẩy, hà cớ gì đi chọn hàng đã có chủ?
Nó nhìn chúng tôi một lượt rồi phân trần:
- Mấy bà cũng đã và đang yêu phải không, chắc cũng biết con tim có lý lẽ riêng…
Tôi cướp lời nó:
- Đồng ý, đồng ý! Nhưng trong trường hợp này, phải cố quên đi, nhất định phải quên đi!
Nó đáp không cần suy nghĩ:
- Trái tim chớ có phải cái máy đâu, mà kêu đóng là đóng, kêu mở thì mở! Mong mấy bà thông cảm và tôn trọng chuyện của tui.
Nó yêu cầu sao thì tụi tôi nghe vậy, mà trong lòng ai cũng tiếc nuối, hoang mang. Nó là đứa hiền nhất, và cũng xinh đẹp nhất nhóm. Trong khi chúng tôi quậy phá thì nó luôn đóng vai trò tháp tùng, không tham gia nhưng luôn mủm mỉm cười ủng hộ những trò đùa của nhóm. Tôi hay ngắm đôi mắt đẹp trên khuôn mặt ngây thơ thánh thiện của nó, rất giống khuôn mặt nàng Meggie trong bộ phim “Những Con Chim Ẩn Mình Chờ Chết” (bản tiếng Anh là The Thorn Birds). Ai dè, cô bé Meggie trong phim có mối tình ngang trái với Cha Ralph, thì nhỏ bạn “Meggie Việt Nam” của chúng tôi lại rơi vào mối tình đầu cũng trái ngang không kém. Nhưng Cha Ralph còn có “nhan sắc” vạn người mê, xứng đôi vừa lứa với Meggie, còn nhỏ bạn tôi, nghĩ sao đi yêu ông Thầy Hiệu Trưởng chả có gì nổi bật, thấp người, hơi đen, khuôn mặt dưới trung bình và tội nặng nhất là đang có vợ con đùm đề. Chẳng lẽ nó nói đúng, con tim có tiếng nói riêng, hoặc là “bùa mê thuốc lú” là có thật? Khỏi nói cũng biết gia đình nó bị shocked cỡ nào!

Nó và tôi thân nhau lắm, vì hai đứa cùng tuổi Ngọ, cùng nhỏ hơn hai nàng còn lại một hai tuổi, và cùng mồ côi mẹ. Trong lớp, nó ngồi cạnh tôi, được tôi nhiều lần cho copy bài kiểm tra, bù lại, mỗi khi lãnh gạo và thịt tiêu chuẩn cho giáo sinh Sư Phạm thì sau giờ học nó ở lại lãnh giùm tôi. Nó là con nhà giàu, ở ngay trung tâm phố thị, căn nhà lầu đúc bốn tầng, số 400 đường Hai Bà Trưng, Quận Một (khác với địa chỉ nhà tôi có tới mấy cái "sẹc" và vài con hẻm, lần đầu ai đi tìm nhà tôi cũng phải lạc vào… mê cung). Tôi thường xuyên ghé qua nhà nó ăn ngủ lúc còn đi học. Những ngày gần Tết, hai đứa ngồi trên sân thượng lộng gió nhìn xuống đường, xe cộ ngược xuôi về hướng chợ Tân Định sắm Tết, lòng cũng rộn ràng theo không khí nao nức mùa xuân. Trước khi tôi ra về, nó thường dẫn tôi qua quán ăn vặt kế bên nhà, của một bác người Bắc chuyên bán các món ăn chơi thanh lịch, món nào cũng trong cái chén nhôm nhỏ xíu, để trong tủ lạnh: bánh Flan, bánh bông lan, sương sa, chè bồ cốt, xôi vò, rượu nếp… rất ngon. Nó đến hẻm nhà tôi cũng mê mẩn khoai mì trộn dừa, cóc ổi ngâm, chuối chiên, khoai chiên, vậy là công bằng, chẳng ai nợ nần gì ai, dù tính ra thành tiền, tôi… có lời chút đỉnh!
Nó thương và tin tưởng tôi nhất trong nhóm. Từ ngày yêu ông Thầy, nó hay tâm sự cho tôi nghe những lần đi chơi lén lút với Thầy. Tôi là người duy nhất nó lôi cả ruột gan phèo phổi ra chia sẻ, rủ tôi đến nhà ông Thầy (lúc ổng vắng nhà) để quan sát gia cảnh, vợ con của ổng. Nghe nó kể lể (có khi còn khóc lóc) thấy thương lắm, nhưng sau đó tôi lại áy náy, có cảm giác đang lừa dối gia đình nó, vì có lần nó đi Vũng Tàu với ông Thầy mà nói là đi... với tôi! Mẹ nó mất sớm, ba nó lúc ấy đang nằm bệnh triền miên, mấy anh chị nó thương tôi như em gái trong nhà, họ rất tin tưởng và nhờ tôi khuyên bảo nó rời xa mối tình này. Tôi bị kẹt cứng giữa hai bên, biết chọn ai bỏ ai?
Tôi bàn với hai cô bạn còn lại, và trong một lần lý trí mạnh mẽ, chúng tôi quyết định theo phe “chính nghĩa”, bí mật báo cáo cho gia đình nó nhất cử nhất động của nó cũng như những buổi hẹn hò với ông Thầy.

Một thời gian sau, phát hiện ra tôi là “điệp viên hai mang”, nó nổi giận đùng đùng và từ mặt cả ba đứa chúng tôi. Nếu chúng tôi tìm đến nhà thì nó chui vào phòng khóa cửa, để chúng tôi dưới phòng khách nói chuyện với anh chị của nó, có khi nó ló đầu trên cầu thang, đuổi chúng tôi về. Nếu chúng tôi tìm đến trường thì nó quăng cục lơ nhìn đi chỗ khác, thậm chí có lần nó còn chỉ thẳng vào mặt tôi:
- Bà đó! Tôi tin tưởng bà thế nào, mà bà lại nhẫn tâm bán đứng tôi? Từ nay bà đừng nhìn mặt tôi nữa, đừng bao giờ, nhớ chưa!!!
Tôi cúi đầu, líu ríu chấp nhận thương đau, chớ nào dám thanh minh thanh nga thanh kim huệ với con tim đang yêu say đắm của nàng, vì nó nói cũng… không sai. Tôi đã không giữ lời hứa, đã phản bội lòng tin của nó, đã “đâm sau lưng chiến sĩ”, còn biết mở miệng than vãn “oan Thị Màu” với ai?

Hai năm sau, chúng tôi nghe tin ông Thầy ly dị vợ và sắp làm đám cưới với nó (gia đình nó đã chịu thua). Được nó hẹn đến nhà để lấy thiệp cưới, chúng tôi sung sướng vội vã kéo đến. Sung sướng vì nó còn thương chúng tôi, tình bạn vẫn còn. Lúc ba đứa tôi gặp mặt nó sau một thời gian dài, ai cũng ngượng ngùng, không nói nên lời, vì biết bao nhiêu công sức đổ ra, tìm “mưu kế” cùng với gia đình nó để… đánh phá, chia rẽ, hãm hại mối tình này, nhưng kết quả thì ngược lại, “đôi trẻ” vẫn yêu nhau trong sóng gió phong ba, đạp lên dư luận thị phi để đến với nhau công khai, danh chính ngôn thuận. Chúng tôi nhận thiệp, chưa kịp nói gì, nó đã phán một câu xanh rờn:
- Người đời chỉ biết lên án, kết tội người thứ ba, chớ đâu ai hiểu trong chăn mới biết chăn có rận. Nếu một gia đình thật sự hạnh phúc thì chẳng có ai chen chân vô được hết á!
Tôi tính lên tiếng tranh luận theo thói quen, nhưng nhìn mặt nó nghiêm nghị quá, tôi không dám hé môi, sợ nó lại nổi giận... đòi lại thiệp cưới.
Lúc tiễn chúng tôi ra về, tôi nán lại đứng riêng với nó, cười thẹn thùng:
- Giờ bà còn giận tui nữa không nà?
Nó liếc tôi:
- Giận thì đứng đây với bà làm chi? Nhưng tui đã hứa với lòng, nếu kiếp sau còn vướng vào tình yêu gập ghềnh nữa thì sẽ không bao giờ kể cho bà nghe.

Vậy là tôi đã mất hết “uy tín” với nó rồi sao? Mà thôi, kiếp sau còn xa lắm, tôi còn dư thời gian để sửa đổi cái tánh... thèo lẻo.
Đám cưới diễn ra ấm cúng trên lầu hai của căn nhà. Chúng tôi âm thầm rủ nhau mặc đồ gọn gàng đến chung vui với nó nhưng vẫn cảnh giác, lỡ bà vợ cũ của ông Thầy xuất hiện “phá đám” thì còn chạy cho lẹ, kẻo mang vạ vào thân.

Từ đó, vợ chồng nó sống hạnh phúc cho đến nay với hai đứa con. Thằng con trai giống mẹ nên đẹp trai, hiền lành, đã tốt nghiệp Đại Học Bách Khoa. Đứa con gái giống bố, cái mỏ dầy cong vếu không khép lại được, nhưng được cái đôi mắt ướt rượt, khéo ăn khéo nói, vừa đậu vào Đại Học Y Khoa Phạm Ngọc Thạch, Sài Gòn. Còn nó, chưa bao giờ gọi chồng là Anh, mà vẫn gọi Thầy xưng Em ngọt xớt suốt bao nhiêu năm qua, dễ thương không bà con?
Hồi cuối năm tôi phone thăm nó, nghe tiếng bếp núc lạch cạch, tôi hỏi:
- Thầy của bà đâu rồi?
- Kế bên đây chớ đâu! Hai vợ chồng về hưu suốt ngày xem phim nghe nhạc, cơm nước với nhau, vì hai đứa nhỏ đi làm đi học miết.
- Bà đang làm gì đó?
- Từ hồi có dịch tới giờ, tui vẫn làm ruốc chà bông dự trữ trong nhà, Thầy thích món này lắm.
Tiếng Thầy vọng vào phone:
- Nàng ấy thích mà cứ đổ thừa cho Thầy đó Loan ơi!
Tôi nghe nó nguýt Thầy một cái rồi cười khúc khích...

Thì ra câu "tình chỉ đẹp khi còn dang dở…" đúng với ai không biết, còn nó thì "đời vẫn vui khi đã vẹn câu thề"!


Kim Loan
(Edmonton, Canada)
___________________________

CHÍCH VACCINE KHÔNG ĐAU

 

Hồi tháng Ba năm nay, sau một thời gian chích Covid vaccine (Pfizer) cho Health workers và những người trên 65 tuổi, chính phủ tiểu bang Alberta thông báo cho người dân từ 50 tuổi trở lên được ghi danh chích thuốc AstraZeneca. Dù tôi nằm trong nhóm “trên 50”, dù lúc ấy AstraZeneca chưa có sự cố “blood clotting”, tôi vẫn không có ý định đi chích. Tôi nghĩ không cần phải vội vã, cứ thong thả cho bớt tình trạng đông đúc vì tâm lý nôn nóng của nhiều người mong mỏi được chích vaccine. Và lý do tiếp theo, cũng rất …quan trọng, là ở phía dưới phần thông báo, chính phủ cũng ghi chú rằng, những ai muốn được chích Pfizer hoặc Moderna thì có thể chờ đến tháng Năm. Từ tháng Ba đến tháng Năm có là bao xa, nên tôi càng vui vẻ đợi chờ. Mấy bà chị tuổi 60 trong ca đoàn rộn rịp ghi danh chích AstraZeneca, trong đó có một chị sức khoẻ hơi yếu sau một lần mổ tim nên muốn đi chích cho an tâm. Chị hỏi tôi:

- Sao em chưa chịu đi chích, đâu nhất thiết lúc nào cũng “mê Mỹ” hả em, chích càng sớm càng tốt.

Tôi trả lời:

- Em không muốn bon chen, em muốn nhường cho những ai cần chích trước, chớ không hẳn vì “mê Mỹ”. Mà suy cho cùng, xưa nay hàng Mỹ đồ Mỹ luôn có chất lượng tốt, chờ được cả năm thì chờ thêm vài tháng có gì mà ngại!

Chị ấy đâm ra lo lắng:

- Vậy theo em, chị có nên bỏ cái hẹn Astrazeneca để chờ Pfizer không? Thiệt tình, cả năm nay chị chẳng dám đi đâu, bước ra ngoài sợ lây bệnh, nay tới lượt được chích thì tại sao không đi? Em cho chị ý kiến nhé!

Trời! Ngu sao mà dám “tư vấn” mấy chuyện trọng đại liên quan đến sức khoẻ của người khác, trong khi tôi không hề có bằng M.D?!

- Chị à, chuyện này chị phải tự quyết định, mỗi người có một hoàn cảnh gia đình, sức khoẻ, sinh hoạt …khác nhau, em không thể ý kiến ý cò gì đâu!

Rồi chị ấy và chồng cùng đi chích, sau đó tin tức rộ lên một vài trường hợp bị “blood clotting” sau khi chích AstraZeneca, dù tỷ lệ rất ít nhưng cũng đủ làm cho một số nước quyết định ngưng xài AstraZeneca đối với phụ nữ và tuổi trên 65. Chị ấy hốt hoảng phone cho tôi:

- Em ơi, cái vụ AstraZeneca làm chị lo quá, giờ tính sao đây?

Tôi trấn an chị ngay:

- Chị không phải lo, vì vợ chồng chị đã chích cả tuần nay, không có triệu chứng gì, nghĩa là ổn rồi. Hơn nữa xác xuất bị “blood clotting” cũng rất ít, coi như anh chị nằm trong nhóm người may mắn, an toàn.

- Biết vậy chị theo em, chờ Pfizer cho rồi, tự dưng nhanh nhẩu đi chích rôi lại mang cái lo vào thân!

- Đời ai biết trước chuyện gì đâu chị. Ngay cả Pfizer, Moderna tuy là hiệu quả rất tốt cho đến giờ phút này, nhưng những hệ luỵ biến chứng về lâu về dài thì tất cả các vaccine hiện nay đều chẳng có gì là bảo đảm, vì đây là loại vaccine đặc biệt đươc chế tạo cấp tốc để đánh lại con virus nguy hiểm trời giáng đến từ China. Càng nghĩ càng hận lũ Cúm Tàu chị ạ, thôi em cúp phone nha, kẻo em lại nổi cơn điên vì nhắc đến lũ Tàu Cộng!

 

Đúng lời hứa của chính phủ, đầu tháng Năm tôi được gọi đi chích mũi Pfizer đầu tiên. Nói thiệt, tôi vẫn chưa sẵn sàng. Nỗi đau và những thiệt hại khủng khiếp mà Covid gây ra đã làm tôi …sợ chích. Hàng năm chích ngừa Flu tôi đâu có ngán, nhưng vì Covid như một bóng ma quá lớn, làm cả nhân loại lao đao, một số người lại tuyên bố không muốn chích “thuốc độc” vào người, nên tôi đâm ra hoang mang. Tôi đến điểm hẹn, ngay từ cửa đã hỏi nhân viên y tế: “Bữa nay tôi được chích Pfizer phải không?” Họ gật đầu xác nhận, tôi mới tiếp tục đi vào trong, ngồi xuống ghế, hỏi tiếp cô y tá câu tương tự. Cô ấy mỉm cười thân thiện: “Yes, Pfizer!”, được thể, tôi bắt đầu …chảnh: “ Tui phải hỏi cho rõ ràng, vì nếu không phải Pfizer như chính phủ hứa là tôi …ra về liền á!!” Chích xong xuôi, ngày hôm sau tôi chẳng thấy bắp tay bị đau nhức như nhiều người mô tả, tôi nói với ông xã:

- Anh ơi, sao hôm qua em chích bên tay trái, mà hôm nay không bị nhức, mà hình như lại hơi hơi nhức bên …tay phải??

- Chuyện tào lao, phản khoa học! Em bị thần hồn nát thần tính thôi. Tóm lại, em chẳng bị đau nhức gì cả, vậy là tốt rồi.

Đến hôm thứ sáu tuần rồi, tôi được gọi đi chích mũi thứ hai (vì chính phủ Canada ưu tiên chích mũi thứ nhất cho càng nhiều người càng tốt, nên mũi thứ hai phải chờ dài hơn 4 tuần). Lần chích thứ hai này, tôi càng lo hơn lần trước vì đã nghe nhiều người cảnh báo, nào là đau nhức mình mẩy, nào là sốt mê man như cọng bún thiu, thậm chí có người còn sốt kéo dài 2-3 ngày. Tôi thỏ thẻ với ông xã:

- Anh ơi, thứ bảy có hai trận đấu Euro hấp dẫn, nhất là trận Italy gặp Austria, nếu thứ sáu em đi chích rồi hôm sau bị thuốc hành nóng sốt thì em có đủ sức ...xem Euro được không?

- Đằng nào cũng phải chích, đó là chuyện quan trọng hơn Euro, em đừng có mà kiếm cớ hoãn binh!

Thế là tôi đi chích với tâm trạng… buồn nhiều hơn vui. Về nhà, trước khi đi ngủ, tôi để lọ Advil đầu giường sẵn sàng khi “có biến”, chuẩn bị tinh thần ngày mai bị sốt tôi sẽ order thức ăn ngoài nhà hàng và bất cứ giá nào tôi cũng xem Euro dù phải trùm mền rên hư hử...

Sáng hôm sau tỉnh giấc, tôi trở mình qua lại hai bên để xem có đau nhức gì không, nhưng chả thấy gì. Tôi ngồi dậy nhẹ nhàng, ngạc nhiên hết sức, chẳng nóng sốt nhức đầu chóng mặt, lạ quá, chả lẽ tôi đang ngủ mơ? Tôi chạy bay xuống lầu, ông xã đang uống cà phê giật cả mình vì tưởng …cháy nhà:

- Anh ơi... anh ơi.... sao em chích xong mà không bị sốt như người ta?

- Người ta cũng có người không bị đấy, em phải mừng chớ sao lại lo?

- Không! Em muốn bị …sốt cơ, như thế mới bình thường, như anh đã bị, như chị Thanh bên Texas, như mấy người quen trong nhà thờ, như vậy em mới …chịu! Mà có khi nào họ chích thuốc kém phẩm chất cho em không? Em phải đến nơi hỏi cho ra ngô ra khoai!!

- Trời ơi, tiệm thuốc của anh chích cho bao nhiêu người, có thấy ai đến mắng vốn vì không bị đau bị sốt đâu nà! Em phải nên ăn mừng, đi mua vịt quay heo quay về mà thưởng thức Euro.

Nhỏ bạn trong nhà thờ nghe tôi kể liền cười lớn:

- Sao chuyện nào dính tới bà cũng…hổng giống ai! Mũi thứ nhứt bà chích tay trái mà đau tay phải, nên mũi thứ hai nếu bà không sốt thì chắc chắn chồng bà sẽ bị …sốt thế cho bà.

- Nhưng ổng đang uống cà phê ngon lành, có bị gì đâu!

- Vậy bà qua nhà ông …hàng xóm xem ổng có bị không?

- Quỷ sứ à!!!

Rồi nó kết luận:

- Xứ này đâu phải xứ cộng sản mà sợ thuốc dzỏm, mỗi lần chích họ đều ghi rõ lô thuốc số mấy, hạn sử dụng và thuốc loại gì để tiện theo dõi, bà cứ thoải mái xem đá banh!

 

Ừ nhỉ, tôi tươi tỉnh hẳn lên, bên Việt Nam người ta đang ùn ùn kéo đến điểm chích ngừa Covid, chen chúc nhau y như sắp giành giựt đồ cúng cô hồn rằm tháng Bảy, mà không hề được thông báo loại thuốc tên gì. Còn tôi ở bên đây, được quyền chọn loại vaccine, biết đâu mai kia còn được...trúng thưởng, tôi chưa cám ơn chính phủ Canada mà còn đa nghi hơn Tào Tháo!

 

Edmonton, June 28/2021

KIM LOAN

ĐỪNG HỎI VÌ SAO …

 

Xin đừng hỏi vì sao tôi yêu lính

Việt Nam Cộng Hoà hùng dũng, oai phong

Quên thân mình để bảo vệ non sông

Cho Miền Nam an bình và hạnh phúc

 

Ai dãi nắng dầm sương cùng trời đất

Lội bùn dơ khắp các nẻo hành quân

Dừng chân bên bờ suối thoáng bâng khâng

Đọc lá thư của người em hậu tuyến

 

Ai mộng mơ ngắm những chùm hoa biển

Dệt vần thơ nhung nhớ tặng người thương

Bọt sóng mênh mông làm bạn đêm trường

Tình non nước nặng theo từng hải lý

 

Ai hào hoa chiều Sài Gòn đẹp ý

Áo nhà binh vương gió bụi ven rừng

Mũ đỏ hiên ngang bước dạo phố phường

Hai bốn giờ phép của trai thời loạn

 

Ai bồng bềnh theo mây trời gió lộng

Cánh đại bàng vi vút giữa tầng cao

Đồi Pleime, Khe Sanh hay Hạ Lào

Phút hiểm nguy đồng đội chờ tiếp ứng

 

Ai miệt mài giữa bao mùa mưa nắng

Trấn giữ tiền đồn, thành thị, xóm thôn

Cho em thơ ngày hai buổi đến trường

Mái nhà reo vui tiếng cười của mẹ

 

Ai đã để lại một phần thân thể

Nơi rừng sâu hay dưới giao thông hào

Người thương binh trong nắng chiều xôn xao

Có cô hàng xóm thẹn thùng đôi má

 

Ai nằm xuống, trận giao tranh nghiệt ngã

Phút cuối cùng trời đau đớn lặng thinh

Tấm thẻ bài trên ngực anh buồn tênh

Chiếc nón sắt lạc loài bên đồi máu

 

Cờ Vàng ôm anh trở về nương náu

Nghĩa Trang Biên Hoà tìm giấc bình yên

Giải khăn sô trên mái tóc vợ hiền

Những đêm dài nhớ anh trong nước mắt

 

Ai bại tướng, nhưng trung kiên bất khuất

Không đầu hàng lùi bước trước Cộng quân

Tuẫn tiết, lưu danh tiếng thơm muôn năm

Vì” Tổ Quốc, Danh Dự và Trách Nhiệm”

 

Ai gian nan nơi rừng thiêng nước độc

Trong trại tù cay đắng nỗi oan khiên

Mệnh nước đổi thay, lòng người đảo điên

“ Kẻ thắng cuộc” gây hờn căm, tủi nhục

 

Ai lưu vong không quên ngày Quốc Hận

Nhắc cháu con nhớ nguồn cội quê hương

Để mai sau về đất Mẹ yêu thương

Lấy lại tên Sài Gòn xưa yêu mến

 

Cám ơn Anh, những chàng trai thời chiến

Từ Lam Sơn, Đồng Đế hay Quang Trung

Trả nợ máu xương, xứng kiếp kiêu hùng

Nên đừng hỏi vì sao tôi yêu Lính!

 

KIM LOAN

 NHẬT TRƯỜNG-TRẦN THIỆN THANH: YÊU LÍNH, LÍNH YÊU …

 

Sau 1975 gia đình tôi còn giữ lại được một số tờ nhạc rời của Phạm Duy, Trần Thiện Thanh và vài cassette tapes tiếng hát Thái Thanh, Nhật Trường. Bà chị Cả của tôi, chồng đi học “cải tạo”, chị tập tành học đờn guitare, tối tối đem bài nhạc Từ Đó Em Buồn của Trần Thiện Thanh ra gảy, tôi nằm kế bên cũng nẫu ruột theo. Nhưng tôi bắt đầu mê nhạc do chính Nhật Trường ca. Chỉ mười mấy tuổi đầu, tim tôi đã biết rung động vì giọng hát điệu đà, ngọt ngào đầy quyến rũ này từ các bài hát: Chuyện Tình Mộng Thường, Chuyến Đi Về Sáng, Hành Trang Giã Từ ….Nếu có cuộc bình chọn, tôi sẽ vote Nhật Trường là ca nhạc sĩ “điệu chảy nước” nhất của Miền Nam VNCH. Nhỏ bạn hay nói với tôi:

- Tao thấy nhà ngươi chỉ điệu vừa vừa mà sao toàn mê giọng hát “điệu hết cỡ” như Thái Thanh, Nhật Trường vậy cà ?!

- Thì luật bù trừ đó thôi!

Nói tới Trần Thiện Thanh-Nhật Trường, nói Yêu Lính-Lính Yêu vẫn chưa đủ, vì đúng là Nhật Trường yêu lính, vì đã từng là lính, còn lính yêu Nhật Trường là chuyện đương nhiên, nhưng còn có cả hàng triệu khán thính giả khắp nơi yêu Nhật Trường vì những bài hát của Ông.

Tôi sẽ không viết những điều ai cũng biết về Trần Thiện Thanh, chỉ xin kể lại những “kỷ niệm” của riêng tôi với chàng ca nhạc sĩ lắm tài nhiều tình này.

Nói “kỷ niệm” cho …oai chút thôi, chớ nếu ai ở dưới suối vàng hỏi Nhật Trường có biết tôi không thì sẽ có câu trả lời rằng " Ủa, con nhỏ này là ai ", bởi vì đây chỉ là “kỷ niệm” của riêng một mình tôi (sao giống …tình đơn phương quá !!)

Khoảng đầu thập niên 80s, các đoàn kịch nói Kim Cương (của kịch sĩ Kim Cương), đoàn Bông Hồng (của Thẩm Thuý Hằng), thỉnh thoảng về diễn gần nhà là tôi đi xem, có khi một vở xem vài lần. Trước giờ diễn kịch là phần ca nhạc ngắn gọn, bữa đó, tôi sung sướng đến bất ngờ vì có bài song ca “Con Kinh Ta Đào” do Nhật Trường và Kim Dung trình bày. Trời ơi, xưa nay chỉ được nhìn hình trên tờ giấy nhạc và nghe giọng ca mượt mà mỗi đêm, bây giờ mới được gặp chàng bằng xương bằng thịt, chỉ tiếc là khoảng cách quá xa, người trên sân khấu rực rỡ ánh đèn với tấm màn nhung, còn tôi dưới hàng ghế khán giả (hạng …cá kèo), có khác gì… nghìn trùng xa cách như mấy câu thơ của Lưu Trọng Lư:

Em ngồi bên song cửa /Anh đứng tựa tường hoa /Nhìn nhau mà lệ ứa/ Có nói cũng không cùng ...

Hình như anh chàng soát vé, lúc ấy cũng ngồi ở cuối rạp, gần chỗ tôi và cô bạn, hiểu được “nỗi lòng thầm kín” của tôi, bèn mách bảo:

- Chút nữa hết giờ ca nhạc là phần giải lao chờ xem kịch, mấy cô chạy ra cửa bên hông rạp, sẽ thấy mấy ca sĩ ra về, tha hồ mà xin chữ ký. Tui mở cửa cho, đừng lo!

Nhưng xui xẻo thay, mặc dù có sự hậu thuẫn đắc lực của anh soát vé, chúng tôi chạy thật nhanh ra cửa hông, chỉ còn vài ca sĩ cuối cùng bước ra, còn Nhật Trường đã đi về từ lâu.

Chuyện đến đó là hết, đi vào dĩ vãng theo đời bận rộn.

Vài năm sau, tôi trở thành thiếu nữ, trong một lần đi xem ca nhạc ngoài trời ở Câu Lạc Bộ Lao Động ngoài Sài Gòn, tôi lại được tái ngộ Nhật Trường khi chàng trên sân khấu solo bài hát “Cho Anh Xin Số Nhà”. Bài này đúng sở trường “điệu hết cỡ thợ mộc, lẳng lơ, lả lướt” của chàng, vừa nhún nhảy vừa nháy mắt cười duyên với khán giả. Cô bạn thân, người luôn tháp tùng tôi mọi nơi để đền đáp công ơn tôi luôn sẵn sàng theo nó đi xem bói mỗi khi nó thất tình, nói với tôi rằng:

- Vậy là mày …có duyên với “người ấy” rồi đó! Còn ngại gì mà không lên bày tỏ niềm thương nỗi nhớ, nhất là sau lần …hụt mấy năm trước?

- Mày cứ làm như tao sắp …tỏ tình với người trong mộng! Thôi, "người ấy" ....đáng tuổi chú tao.

- Tuổi tác nghĩa lý gì, tình không biên giới.

- Tao chỉ mến mộ tài năng, chứ chả dám cảm …người, mấy ông nhạc sĩ thi sĩ đa tình lắm, nhứt là ông này, chớ rước sầu khổ vào thân!

(Giờ nghĩ lại, tôi thấy mình cũng nói được một câu …sáng suốt. Ngay như nhạc sĩ Lam Phương, ai cũng bảo chàng Miền Nam hiền lành, dễ thương, nhưng số “sát gái” thì đếm không xuể.)

Cô bạn lại sốt sắng:

- Nhà ngươi chờ đây, tao chạy đi kiếm cách để gặp ổng!

Nó chạy đi chưa thấy quay lại thì trên kia Nhật Trường đã kết thúc phần trình diễn bằng câu hát dẻo quẹo, nhưng đủ sắc “dao vết ngọt đâm” vào trái tim các nữ hâm mộ: “ Cho anh xin số nhà và cho anh biết tên đường, và …và …và …(ngừng lại đảo mắt một vòng khán giả để cho những trái tim đàn bà con gái dưới sân khấu trong đó có tôi ngất ngây...tan chảy, chàng mới.....quăng nốt câu cuối thật đắm đuối) …làm ơn cho anh... biết tên... em luôn”. Vừa hát vừa phăng, ỷ mình viết nhạc giỏi, hát hay, đẹp trai nên với tâm hồn nghệ sĩ, điệu đàng lơi lả là nghề của chàng!

Một lần nữa, chuyện cũng đi vào dĩ vãng, cho đến nhiều năm sau, khi tôi qua định cư ở Canada, rồi lần đầu tiên du lịch California. Tôi dành một buổi để đi đến nhà sách và các hàng bán băng nhạc. Hữu duyên thiên lý, trời xui đất khiến, tôi đến ngay một strip mall có một bảng hiệu đập vào mắt tôi: “Trung Tâm Băng Nhạc Nhật Trường”. Tôi liền bước vào, lại …sững sờ, vì trong tiệm "vắng tanh bà Đanh" chẳng có ai, ngoài ông chủ tiệm Nhật Trường và …tôi. Giây phút “chỉ có đôi ta” làm tôi thật sự bối rối, bao nhiêu cảm nghĩ của những lần trước, giờ bỗng tan biến, dù khoảng cách không còn “xa vời vợi” như trên sân khấu, mà chỉ ngăn cách bởi tủ kính đựng CDs, tôi vẫn không thể mở miệng nói nên lời. Lúc ấy chưa có iphone để tôi đỡ thừa thãi tay chân, xin chụp vài tấm “selfie” với chàng. Thật ra, chúng tôi có mang theo máy chụp hình nhưng chồng tôi đang giữ nó, lại đang ở tiệm cắt tóc cách đó một block đường! (Tôi vẫn chưa hỏi tội chồng tôi tại sao đi từ Canada qua Cali để …hớt tóc!). Thấy tôi lúng túng, Nhật Trường mỉm cười thân thiện, rồi châm điếu thuốc nhìn mông lung …ra ngoài cửa, chắc là để tôi tự do thoải mái chọn băng nhạc. Chu choa, nhìn chàng thả khói thuốc y như bài thơ của Hồ Dzếnh tôi xin sửa lại cho hợp cảnh của chúng tôi: “ Em cứ ngại, thôi em đừng …nói nhé/ Để một mình anh hút thuốc vu vơ/ Ngó trên tay điếu thuốc cứ vơi dần/ Anh khẽ bảo, gớm …sao mà lựa nhạc lâu thế!?”

Thế mà vẫn chưa có thêm người khách nào vào tiêm, uớc gì tôi là ...đại gia để mua hết cả quầy CDs . Tôi vội vàng quơ hai dĩa Tiếng Hát Nhật Trường, chẳng thốt được câu ái mộ nào cho đẹp lòng chàng. 

Vậy đó, ba lần “gặp gỡ” của những ngày son trẻ thật đẹp. Giá mà tôi giống như các “fan cuồng” khác, gặp thần tượng là rú lên, gọi tên, sấn tới ôm vai bá cổ xin chụp hình, bất chấp xung quanh, thì giờ đây cũng có một vài tấm hình kỷ niệm.

 

Tôi xin kết thúc bài viết bằng lời cám ơn đến hương hồn Ca Nhạc Sĩ Trần Thiện Thanh Nhật Trường, nhân ngày Quân Lực VNCH, đã để lại cho đời và lớp con cháu, những hình ảnh sống mãi của chiến sĩ VNCH: kiêu hùng, lãng mạn nhưng không bi luỵ qua các bài nhạc bất hủ: Anh Không Chết Đâu Anh, Rừng Lá Thấp, Biển Mặn, Tạ Từ Trong Đêm, Mùa Xuân Lá Khô …

Vâng, nếu Miền Nam không bị “giải phóng” thì có thể tôi đã là Người Yêu Của Lính nhưng chắc chắn không phải là của ...người lính Trần Thiện Thanh- Nhật Trường. 

Người tài hoa này chỉ là "chàng thơ"  trong mộng của tôi mà thôi.

 

Edmonton, Tháng 6/2021

KIM LOAN

KL_muamua.jpg

“ Về đây với những bước chân trìu mến,

Những bước chân êm trên phố phường quen,

Nếu mưa rơi sẽ mát lòng em…”

(Nhạc PD)

 

Tôi có nhiều kỷ niệm mưa với Quang.

Nhà tôi và nhà Quang sát vách nhau. Hai gia đình quen biết từ thuở mới di cư vào Nam, về ở xóm này, cùng làm ăn lập nghiệp, nhà tôi mở quán nước giải khát, nhà Quang bán bún riêu, thân nhau như người trong nhà.

Thời đó với chúng tôi, lũ trẻ con vùng ven đô, những cơn mưa mùa hè đồng nghĩa với những niềm vui, đơn sơ mà hạnh phúc. Cứ hễ trời gầm gừ, cả lũ lại réo nhau, chuẩn bị nhào ra ngoài khi những hạt mưa đầu tiên vừa chạm mặt đất. Quang luôn là người đầu tiên đến kéo tôi đi tắm mưa, có hôm tôi ngủ quên trên gác, Quang phải chạy lên đánh thức tôi dậy kẻo tôi lỡ…cuộc vui!

Trước khi đi tắm mưa khắp xóm, hai đứa tôi có nhiệm vụ mang mấy cái thau ra hứng nước mưa trước hiên nhà, đổ đầy thùng phi nước cho gia đình xài. Sau đó chúng tôi nhập bọn với mấy đứa khác, thỏa thích chơi dưới trời mưa, có khi chỉ là giành nhau đứng dưới một cái máng xối để cảm nhận những trận nước mát lạnh bao phủ toàn thân, hay nằm vẫy vùng dưới sàn xi măng bóng loáng của một sân nhà ai mà tưởng như đang bơi trong hồ nước thiên nhiên. Cho đến khi thấm lạnh mệt nhoài, chúng tôi mới chịu trở về, tắm rửa và trùm mền ấm áp chờ bữa cơm chiều. Hôm nào mưa to có sấm chớp, chúng tôi không được phép tắm mưa, tôi và Quang ngồi dưới mái hiên, buồn xo, nhìn bâng quơ nước mưa tuôn qua mái tôn xuống những thau chậu trước nhà. Rồi chúng tôi nghĩ ra trò chơi xếp những con thuyền giấy, thả xuống dòng nước đang cuồn cuộn chảy, thích thú reo hò xem thuyền của ai vững vàng hơn khi vượt qua sóng gió quanh co, và lúc nào cũng kết thúc bằng những trái bắp luộc nóng hổi mà má tôi hay má Quang mua được ngoài vườn hàng xóm.

Có một kỷ niệm với mưa mà sau này chúng tôi lớn lên, gặp nhau thường đem ra nhắc lại. Vào đầu hè năm ấy, chúng tôi vừa học xong lớp năm, cả nhóm được phép đi Sở Thú chơi. Đến chiều khi đón xe bus trở về thì bị lộn xe, đưa chúng tôi đến một vùng lạ hoắc,  chúng tôi ngơ ngác hỏi bác tài xế:

- Ủa, phải ngã năm Gò Vấp không vậy bác?

- Gò Vấp gò té gì ở đây! Chỗ này là Lăng Ông.

Chúng tôi mếu máo vì không còn đồng xu dính túi, những đồng bạc cuối cùng đã được xài ở Sở Thú trước khi ra bến xe. Cả đám đứng giữa đường, chưa biết phải làm gì thì trời kéo mây đen thui và ngay sau đó là những hạt mưa nặng chịch đổ xuống ào ào, chúng tôi vội tấp vào quán sửa xe đạp vỉa hè, cùng trú mưa với những người khác. Dù muốn dù không, khi mưa nhẹ bớt, chúng tôi phải đi bộ về nhà, đi tới đâu hỏi đường tới đó chứ không còn cách nào khác. Trời sẫm tối thật mau, mưa nhẹ hạt dần, mấy đứa đội mưa rảo bước trên đường, run như cầy sấy, răng đánh vào nhau cầm cập. Tôi bật khóc nức nở vì nhớ nhà, mấy đứa bạn xúm vào hỏi han, tôi càng khóc to hơn vì tủi thân, đến khi Quang dỗ dành thì tôi mới chịu…hết khóc. Quang cũng thường bênh vực che chở tôi trong các cuộc chơi trong xóm. Chơi trò bịt mắt bắt dê, tạt lon, nhảy dây, hễ tôi bị “đừ” lâu là Quang đòi tha cho tôi, Quang lớn tuổi hơn trong nhóm nên đứa nào cũng nghe lời, chơi lại từ đầu. Những buổi đi sinh hoạt đoàn đội, cắm trại hè, Quang luôn ở bên bảo vệ tôi khi cần thiết (kể cả những khi không cần thiết). Đôi lần, tôi ngắm Quang và ngây thơ thầm nghĩ:“ Mai mốt lớn lên, nếu không ai chịu lấy mình, thì mình ...cưới Quang cũng được chứ nhỉ!”

Lên cuối cấp hai, nhóm chúng tôi bắt đầu xa nhau. Một vài đứa nghỉ học lo mưu sinh giúp cha mẹ, tôi và Quang vẫn đi học nhưng khác trường. Gia đình tôi dọn vào căn nhà trong hẻm xóm trên, còn căn nhà mặt tiền kế bên nhà Quang chỉ để buôn bán. Vì thế, tôi ít có dịp về xóm cũ, những trò chơi tuổi thơ chỉ còn là kỷ niệm. Chúng tôi không còn gọi nhau mày tao, mà xưng tên, nghe cũng dễ thương. Thỉnh thoảng tôi có ghé qua quán nhà tôi buổi sáng để uống sữa đậu nành ăn gói xôi trước khi đi học, có gặp Quang hay bạn bè cũ, cũng chỉ kịp nhìn nhau cười, rồi thôi.

Một chiều chúa nhật, tôi rảnh rang đi tìm bạn xóm cũ, chẳng gặp đứa nào, nhưng may mắn còn có Quang đang ngồi trước cửa lặt rau muống phụ gia đình bán bún riêu. Tôi sà vào cùng nhặt rau, hai đứa hỏi thăm qua lại, nhắc vài chuyện “khi xưa ta bé” rồi bâng khuâng tiếc thời gian qua mau. Quang bỗng nhìn tôi, ánh mắt…dễ thương lạ lùng:

- Em thua anh hai tuổi, phải gọi bằng “anh” chứ!

Tôi mắc cở, không trả lời, nhưng cả buổi tối về nhà, lòng lâng lâng một cảm giác vui sướng nhẹ nhàng.

Lên cấp ba, chúng tôi càng xa nhau hơn. Tôi bận rộn với sách vở, môi trường mới, bạn bè mới, kỷ niệm với lũ bạn xóm cũ càng lùi dần vào dĩ vãng.

 

Khi tôi ra trường đi dạy, Quang đã học xong trường Cao Đẳng Kỹ Thuật, đi làm ở xưởng Don Bosco gần chợ Gò Vấp.  Một ngày đầu năm học, mưa đang cuối mùa, trời bỗng nổi cơn mưa như thác đổ ngay giờ tan trường, tôi và một ít học sinh phải nán lại, co ro trong lớp chờ cơn mưa tạnh. Bỗng có đứa học trò chạy từ ngoài cửa vào, hớn hở la lớn:

- Cô ơi! Cô ơi! Có…Thầy tới đón cô nè!

Báo “tin vui” xong, nó nhe răng cười rồi biến mất ngoài hành lang. Tôi nhìn ra cửa lớp, thấp thoáng trong tranh sáng tranh tối của gió mưa và những loạt sấm chớp từng hồi, là dáng cao dong dỏng của Quang với chiếc áo mưa màu ghi dài, mái tóc ướt nước, nụ cười bừng sáng và đôi mắt trìu mến. Tôi vui đến ngỡ ngàng, nhưng vẫn không quên quay qua đám học trò nghịch ngợm đang xúm lại cười rúc rích, nghiêm giọng ra oai:

- Chú này là bạn hàng xóm thân thiết của cô, không phải …Thầy, nghe chưa!?

Tôi bước đến, hỏi Quang:

- Ngọn gió nào đưa anh đến đây vậy?

Quang cười, nụ cười vẫn hiền như thuở xưa:

- Anh đi làm về ngang trường, thấy mấy lớp học còn sáng đèn, nên ghé vào.

Tôi hỏi cắc cớ:

- Vậy có mang áo mưa cho người ta mượn không đó?

Quang bối rối, phủi mấy hạt mưa trên áo:

- Anh chỉ có chiếc áo này thôi! Em mặc về nhà trước, trời sắp tối rồi!

Tôi lắc đầu:

- Trời! Ai nỡ lòng nào lấy áo của anh chớ! Nếu anh rảnh thì ngồi đây chơi với em và tụi nhỏ…

Quang cởi áo mưa, nhìn ra ngoài trời, những chiếc lá bàng rụng tả tơi trong sân trường lấp lánh dưới ánh đèn mờ, rồi ngân nga: “Tháng sáu trời mưa, trời mưa không dứt, trời không mưa, anh cũng lạy trời mưa …”

Tôi nhắc:

- Bây giờ là tháng chín nghen anh!

- Thì bài hát tác giả viết sao, anh hát vậy mà …

Mưa vẫn không có dấu hiệu ngừng lại, trời thì càng âm u, các em học sinh cũng đã được phụ huynh đến đón về, chỉ còn tôi và Quang đứng nơi hành lang lớp học. Quang đưa tay ra ngoài trời hứng mưa, rồi bước lại gần tôi, ngập ngừng:

- Thật ra, anh có ý định đến đây mời em đi uống cà phê và ăn hủ tíu ngoài chợ, em thấy sao?

- Dĩ nhiên là em không từ chối, nhưng trời tối thui và ướt át thế này, em xin hẹn lần sau. Giờ em chỉ muốn về nhà, ăn lẹ miếng cơm rồi lên giường nằm nghe nhạc, nghỉ ngơi.

- Thôi cũng được! Nào, em mặc áo mưa vào rồi cùng về.

- Thế còn anh?

- Mưa nhẹ rồi mà, anh ướt một tí cũng chả sao!

- Vậy thì em cũng chẳng cần áo mưa!

- Em biết cứng đầu từ khi nào thế? Hồi bé em ngoan hiền, có cãi lời anh bao giờ đâu?

- Chuyện này thì khác! (vả lại, em không …hiền đâu ạ!), em dứt khoát không thể mặc áo mưa trong khi anh phải chịu ướt. Mà nè, hai đứa mình cùng đi dưới mưa như hồi bé, ôn lại cảm giác xưa, cũng thú vị đấy.

Thế là chúng tôi đạp xe chầm chậm về nhà dưới làn mưa lất phất. Đêm ấy, tôi ngồi soạn giáo án mà còn thả hồn theo mưa gió bên ngoài, tưởng tượng vài vần thơ dự định sẽ khoe với Quang, có đoạn cuối …rất tình:

 

Chiều dần tàn, cơn mưa chưa dứt

Hai người, chỉ một áo mưa che

Nhường qua nhường lại, thôi cùng ướt

(Đêm về tôi cảm, người biết chưa?)

 

Chia tay, hẹn gặp nhau lần tới

Xóm nhỏ đỏng đảnh thật dễ thương

(Cũng giống như tôi- người thường nói)

Chỉ một cơn mưa làm vấn vương!!

 

Có ai ngờ đó là mùa mưa cuối cùng của chúng tôi, và bài thơ tôi viết còn mãi dang dở. Tuần lễ sau, Quang lên đường vượt biển. Thì ra, hôm ấy Quang đến mời tôi đi uống cà phê để tạm biệt, nhưng chỉ vì cơn mưa mà chúng tôi mất cơ hội nói lời giã từ. Quang đi hai tháng vẫn chưa có tin tức gì, gia đình Quang mỏi mòn chờ đợi, và tôi cũng lên đường.

Dù là đầu tháng mười hai, nhưng hình như là một cơ duyên với mưa, tàu của tôi gặp một cơn mưa bão bất ngờ chỉ sau hơn vài giờ ra khơi. Mưa biển thật dữ dội, điên cuồng và khủng khiếp. Máy thoát nước dưới hầm tàu bị hư, chúng tôi hứng chịu những đợt nước mưa lạnh buốt, trong tiếng sóng gào thét của biển cả và tiếng lòng cầu ơn Đấng cứu tinh. Rồi thì sau cơn mưa trời lại sáng, biển tàn bạo nhưng biển cũng bao dung, đưa chúng tôi đến bến bờ bình an, nhưng nỗi ám ảnh về cơn mưa trên biển làm tôi …sợ mưa!

Nhưng tôi chỉ sợ mưa biển, còn mùa mưa của chúng tôi vẫn luôn là một miền ký ức tươi đẹp, ngọt ngào. Dù biết đời bể dâu biến đổi, cảnh cũ người xưa chỉ còn trong trí nhớ, tôi vẫn cứ mơ một ngày (có ai đánh thuế ước mơ bao giờ!), tôi được về lại xóm cũ, một chiều mưa (dĩ nhiên!), tôi sẽ thả những chiếc thuyền giấy xuống “dòng sông nhỏ” trước hiên nhà, cùng với đám bạn thuở ấu thơ, kể cho nhau nghe nỗi vấn vương những sợi mưa dệt đầy một trời thương nhớ.

Quang ơi, bây giờ anh ở đâu? Tháng sáu về rồi đấy, anh có lạy trời mưa?!

 

Edmonton Tháng 6/2021

KIM LOAN

 

____________

 

TL_phuongroad.JPG

 HÈNỖI NHỚ

Tôi muốn làm cánh gió
Bay về phố phường xưa
Một thời tôi ở đó
Buồn vui theo nắng mưa

Ngày tôi rời mái trường
Ra đời làm cô giáo
Bao kỷ niệm thân thương
Tôi vẫn còn nhớ mãi

Cô giáo tuổi đôi mươi
Mắt sáng với môi hồng
Sau những giờ lên lớp
Còn mơ chuyện viễn vông

Trời mưa làm cô khóc
Nắng vàng cô xuyến xao
Lá rơi bên cửa lớp
Đưa cô vào chiêm bao

Tiếng trống trường rộn rã
Hàng cây bàng nhẹ lay
Xôn xao bầy trò nhỏ
Tan trường tà áo bay

Anh chờ cô bên cổng
Chiếc xe đạp ngập ngừng
Từng vòng quay lặng lẽ
Anh giận cô lắm không ?

Chắc rồi anh đã hiểu
Cô giáo trẻ ngây thơ
Say mê trên bục giảng
Quên tình anh bơ vơ

Xuân sang rồi hè đến
Phượng rực rỡ mong chờ
Bao học trò rời bến
Cô lặng nhìn, ngẩn ngơ

Cô chờ anh trở lại
Mang mắt nhìn thiết tha
Cổng trường in nắng quái
Cô buồn, anh biết chưa?

Quạnh hiu con phố nhỏ
Anh đi rồi mới hay
Bụi cay đôi mắt đỏ
Trưa hè mây ngừng bay

Ôi một thời tươi trẻ
Giờ đã quá xa xôi
Bao nhiêu mùa phượng nở
Bao cuộc tình phai phôi

Sân trường và lớp học:
Mối tình đầu của tôi
Dẫu đi hết cuộc đời
Vẫn nhớ hoài, tình ơi!!


Edmonton, June 2021

KIM LOAN

____________________________

TL_memorialDay.jpg

GỬI NGƯỜI LÍNH MỸ

(Cho ngày Memorial Day Tháng Năm)

 

Sao anh lại đến quê hương tôi

Từ nửa vòng trái đất xa xôi?

Biết đâu cuộc chiến tàn khốc quá

Lý tưởng hay là mộng mơ thôi

 

Những lá thư anh gửi về nhà

New York, Utah, Alabama…

Có cả niềm vui và nỗi sợ

Cô đơn đêm vắng giữa rừng già

 

Mẹ Cha thương nhớ biết bao lần

Trông ngóng từng ngày dạ băn khoăn

Bản đồ Việt Nam treo bên cửa

Dõi theo từng bước anh hành quân

 

Những địa danh xa, bỗng thật gần:

Quảng Trị, Hạ Lào hay Khe Sanh…

Sài Gòn, Đà Nẵng anh nghỉ phép

Bên kia dâng Chúa những lời kinh

 

Noel về, người lính xôn xao

Nhớ cô bạn cùng lớp năm nao

Bên hố bom côn trùng thao thức

Mơ tuyết rơi, kỷ niệm ngọt ngào

 

Ôi những chàng trai tuổi đôi mươi

Tâm hồn phơi phới mùa xuân tươi

Vâng lệnh Tổ Quốc đi chiến đấu

Gìn giữ tự do cho muôn nơi

 

Vì sao anh đến với Miền Nam?

Phải đâu cùng máu đỏ da vàng?

Để yêu thêm nơi này tha thiết

Đồng ruộng bạt ngàn, phố thênh thang

 

Rồi đến một ngày anh ngã xuống

Có thể trong giây phút giao tranh

Hoặc vì bẫy mìn của Việt Cộng

Lìa đời khi mộng ước còn xanh

 

Và anh đã trở về quê hương

Trong chiếc quan tài ngày mù sương

Quốc kỳ phủ kín đầy kiêu hãnh

Quân nhạc hào hùng điệu tiếc thương

 

Đất Mẹ dịu dàng ôm xác anh

Những giọt nước mắt của người thân

Nhiều đồng đội vẫn còn tay súng

Ngày về rất gần hay xa xăm?

……………

 

Giờ nơi nghĩa trang, anh yên nghỉ

Arlington*, mùa thu lá vàng

VietNam War đã là quá khứ

Cám ơn anh, dẫu biết muộn màng

 

KIM LOAN

(Edmonton, Canada)

 

* Nghĩa trang quân đội Arlington, ở Virginia, Washington

____________________________

CANADA LÀ …DZẬY ĐÓ

 

Hồi ở trại tỵ nạn Thailand, khi đậu thanh lọc từ Sikiew lên Panat, tôi chỉ mong muốn được đi Mỹ đoàn tụ đại gia đình của tôi. Chờ gần cả năm trời, lên phỏng vấn, bị phái đoàn Mỹ cho rớt cái bịch. Sau đó, theo lời khuyên của gia đình, tôi xin đi Canada, dù sao cũng là hàng xóm thân thiết của Mỹ . Phải công nhận phái đoàn Canada thiệt…dễ thương, nhìn qua hồ sơ của tôi có đầy đủ gia đình bên Mỹ mà vẫn nhận tôi vào Canada, không gây khó dễ gì! Tôi xúc động, cảm khái, hỏi thiết tha tận đáy lòng: “Sao mấy ông tốt với tui vậy?”. Ông ấy nhìn tôi với nụ cười ấm áp, hiền hoà và nháy mắt đầy tự hào: “It’s Canada” mà tôi xin được tạm dịch theo lối văn chương bình dân là : “Canada là…dzậy đó!”

 

Qua đến Ottawa đúng mùa đông…bão bùng, tháng 12, cao điểm tuyết trắng rơi ào ào không kịp vuốt mặt. Mỗi ngày đón xe bus đến trường với vài lớp áo quần, mang giầy boots, mang bao tay, quấn khăn đầu, khăn quàng cổ, khăn che miệng, (như gái…Hồi Giáo), leo lên được xe bus, lại tháo bao tay, tháo khăn che miệng, tháo khăn quàng cổ, tháo mũ len trên đầu…để tìm tiền lẻ mua vé xe, bác tài xế không đủ kiên nhẫn chờ đợi, nên có vài lần cho đi…free! Riết rồi…thân với bác tài, thỉnh thoảng bác cho đi “free”, tôi cám ơn rối rít, bác chỉ xua tay độ lượng: “ Canada là…dzậy đó!”

 

Vào trường học, bắt đầu quen biết bạn bè Việt Nam và bạn bè bốn phương. Giờ giải lao, trước cổng trường có xe bán hàng dạo, đắt hàng nhất là món French Fries (khoai tây chiên) nóng hổi. Giữa cái lạnh giá rét, ngồi trên ghế đá, ngước mặt nhìn…trời, hứng từng bông tuyết mát rượi mà nhâm nhi fries thì quả là…trên cả tuyệt vời. Lần đó, ông thầy giáo trẻ dạy môn biology mà tôi hay nói chuyện, rủ tôi ra xe ăn trưa để giới thiệu với tôi một món ăn mới, rất đặc trưng của xứ Canada, là món Poutine (tức là khoai tây chiên giòn, trên đó rải một lớp cheese curds, rồi rưới lên gravy nóng hổi). Tôi la oai oái, vậy thì khoai hết giòn, ăn sao được! Ổng bảo tôi chớ có đỏng đảnh, cứ thử đi, rồi sẽ…mê, và tôi đã mê thiệt (hổng biết mê …Thầy hay mê poutine), nhưng vẫn ngoan cố, gọi đó là “món ăn kỳ quặc nhất trần đời”. Sau đó, ông thầy có nhiều dịp hóm hỉnh cười mỉm chi (cọp) mỗi khi bắt quả tang tôi xếp hàng mua Poutine và tiến đến, ghé vào tai tôi …chọc quê: “Canada là …dzậy đó!”

 

Khi gia đình tôi dọn từ Ottawa đến Edmonton (từ bờ Đông sang bờ Tây Canada), mang theo chiếc xe còn bảng số Ontario chưa kịp đổi. Một lần đi downtown, xong việc bước ra xe, tôi thấy trên cửa kính một mảnh giấy :“Bạn đã đậu xe sai chỗ quy định, nhưng chúng tôi không phạt, vì biết bạn là cư dân mới”. Đang bâng khuâng sung sướng, thì anh chàng cảnh sát cao to, oai phong như James Bond tiến tới, với nụ cười…toả nắng: “Thôi lái xe về đi, lần sau cẩn thận nhé. Welcome to Edmonton”! Tôi run rẩy lắp bắp, không nói nên lời dù chỉ là hai tiếng cám ơn thì anh ta quay đi, phớt tỉnh Ăng-lê, sau khi để lại một câu rất đỗi…ngọt ngào: “Canada là …dzậy đó!”

 

Cách đây ba năm, khi tôi phát hành cuốn sách Buồn Vui Đời Tỵ Nạn (dày 325 trang, nặng 300 gram), mang đến bưu điện gửi đi các “khách hàng” khắp nơi. Giá gửi 1 cuốn qua Mỹ là $12, và giá gửi 1 cuốn trong Canada là…$14! Tôi bèn thắc mắc, hỏi nhân viên bưu điện là tại sao lại có chuyện ngược đời, khi mà gửi trong nước lại đắt hơn gửi qua Mỹ. Cô nàng nhìn tôi như người hành tinh khác mới rớt xuống, nhún vai lắc đầu, phán một câu xanh rờn: “Canada là…dzậy đó”.

 

Cái câu cuối này, tôi không hài lòng à nha! Đến giờ cũng chưa tìm được câu trả lời thoả đáng! Nhưng mà thôi, chỉ là chuyện nhỏ, bỏ qua đi Tám, “Canada là…dzậy đoá”!!!

 

KIM LOAN

(Edmonton, Canada)

_________________________

TL_MeCon.jpg

MẸ VỀ TRONG MƠ

Con biết rằng Mẹ vẫn trở về thăm
Đứa con gái yêu thương và bé bỏng
Phận mồ côi lúc tuổi đời hoa mộng
Tóc còn xanh nhưng đôi mắt chớm sầu

Để những khi tỉnh dậy giữa đêm thâu
Nỗi trống vắng chưa quen, len lén đến
Hình bóng Mẹ yêu vẫn còn quyến luyến
Cho con đi vào lại giấc nồng say

Vì Mẹ biết con yếu đuối, thơ ngây
Giông bão cuộc đời còn ở phía trước
Rồi mai đây ai đi theo từng bước
Khuyên nhủ bảo ban, dạy con lớn khôn?

Vì Mẹ biết con sẽ rất cô đơn
Ngày hè khô khan hay đêm đông lạnh
Nước mắt tủi thân trời chiều hiu quạnh
Thổn thức cõi lòng đón gió Thu sang

Nên Mẹ vẫn về âu yếm, dịu dàng
Âm thầm ru con giấc ngủ dịu êm
Sưởi hồn con, nếu mưa rơi mái hiên
Hôn lên tóc giữa những cơn mộng mị

Dẫu buồn dẫu vui, chẳng cần lo sợ
Con vẫn cười khi hạnh phúc trong tay
Hay khi khổ đau, thất vọng dâng đầy
Vì có Mẹ, nên con thoả thuê khóc

Đã nhiều năm rồi, âm dương xa cách
Là biết bao lần Mẹ đã về thăm
Nơi chốn hẹn hò xoá hết băn khoăn
Con nương tựa khi sóng đời xô ngã

Và từ đó, con trưởng thành mạnh mẽ
Ngày từng ngày, theo năm tháng đi qua
Khắc ghi lòng, tình mẫu tử bao la
Mẹ cho con, suốt đời và mãi mãi


KIM LOAN
(Edmonton, Canada)


 

CÂU CHUYỆN NƯỚC MỸ CỦA ANH TÔI

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Gia đình tôi có tám anh chị em, anh Hai tôi là con trai lớn, sau bà chị Cả. Trước năm 1975, ba tôi làm Cảnh Sát Quốc Gia Việt Nam Cộng Hoà, má tôi mở quán cà phê giải khát tại nhà, đối diện khu Lục Quân Công Xưởng ở Hạnh Thông Tây, Gò Vấp.

Anh Hai, là con trai trưởng, đã sớm ý thức việc học hành để làm gương cho lũ em nhỏ, hầu sau này tiến thân, không phải vất vả. Anh học rất giỏi, vì yêu thích Y Khoa, anh vào học Khoa Học Sài Gòn. Nhưng vì Mùa Hè Đỏ Lửa tổng động viên năm 1972 anh phải từ bỏ giấc mộng Bác Sỹ, vào trường Sư Phạm. Miền Nam bị cưỡng chiếm, đưa biết bao người vào bước ngoặt mới của cuộc đời, trong đó có gia đình tôi. Má tôi mất sau đó một tháng, ba đi tù “cải tạo” về chưa có việc làm, mọi việc trong nhà đều đặt nặng trên vai bà chị Cả và anh Hai vì lũ chúng tôi còn trong lứa tuổi ăn chưa no lo chưa tới.

Lúc đó anh đang dạy học ngoài Cần Thơ, nhưng là thủ lĩnh tinh thần của cả nhà. Một vài tuần anh bắt xe về thăm nhà, dặn dò mọi điều, rồi trở về Cần Thơ. Anh cũng là người cương quyết không cho gia đình nghe lời dụ dỗ và ép uổng của chính quyền đi kinh tế mới. Và cũng chính anh, là người nhen nhóm trong nhà tôi hai chữ “vượt biên”, vì như theo lời anh nói, “không thể sống chung với cộng sản”.

Lần đó anh về thăm nhà như thường lệ, rồi họp cả gia đình, báo tin buồn, anh bị “trúng tuyển nghĩa vụ quân sự” theo chỉ tiêu của nhà trường để đáp ứng nhu cầu gửi quân qua biên giới Campuchia. Bà chị Cả khóc lóc, ba tôi rầu rĩ, mấy anh em khác thì lặng im che dấu nỗi buồn, nhưng anh Hai tôi mỉm cười cho mọi người lên tinh thần. Sau đó anh nói:
- Đây chính là cơ hội để con tìm đường đi bộ qua biên giới, vào Thailand tỵ nạn, xin mọi người bình tâm mà cầu nguyện cho đầu xuôi đuôi lọt.

Nói rồi anh lấy trong túi xách ra tấm bản đồ biên giới Campuchia-Thailand mua ngoài chợ trời. Tấm bản đồ bằng Tiếng Anh, nhưng với vốn liếng mấy năm học ở Hội Việt Mỹ trước năm 1975, và giáo viên dạy Anh Văn tại trường Phan Thanh Giản Cần Thơ, thì tờ bản đồ anh xem không khó gì. Anh vẽ chi chít và ghi chú cẩn thận trên bản đồ, và chỉ cho mọi người xem dự tính của anh, sẽ đào ngũ, đi qua Siêm Riệp, rồi từ đó theo đường mòn biên giới vào Thái. Nghe anh nói ngon ơ, nhưng ai cũng biết là biết bao hiểm nguy chờ đợi. Bọn Khmer Đỏ còn rình rập giết chóc, đường rừng ngập các bãi mìn, chưa kể là lính đào ngũ còn bị quân đội Việt Nam tìm bắt ráo riết, chạy đâu cho thoát.

Cả nhà ngày đêm cầu nguyện, lắng lo thì bỗng ba tuần sau anh về nhà, báo tin vui, vì nhà trường cần những giáo viên giỏi như anh, nên đã xin đặc biệt cho vài giáo viên được tạm hoãn thi hành “nghĩa vụ quân sự”.
Sau lần đó, anh vẫn kiên quyết tìm đường vượt biển, nên mùa hè năm tới anh ra khơi, và xui xẻo thay, cả nhóm bị bắt khi đang chờ tàu lớn, rồi bị giam lại Long Đất chín tháng trời. Khi ra tù, anh mất việc, mất cả hộ khẩu nên tìm về Sài Gòn, ở nhà “ ăn không ngồi rồi” đợi chờ cơ hội tiếp theo. Trong thời gian này, anh lại đi tìm ngoài chợ trời mua sách của Hải Quân VNCH, và la bàn đi biển để học cách làm hoa tiêu. Anh vào thư viện tìm thêm tài liệu, lục lọi các tiệm sách cũ…và rồi cuối cùng, nhờ bạn bè giới thiệu với một chủ tàu, anh được mời đi vượt biên miễn phí với tư cách là hoa tiêu. Họ còn cho anh dẫn theo một người, mà trong gia đình tôi lúc đó, tôi là “ứng cử viên” sáng giá nhất cho chuyến đi vì tuổi mới lớn, vừa bước vào trung học, có cơ hội học tiếp khi qua Mỹ.

Anh đã trằn trọc mấy đêm liền, không biết có nên mang tôi theo hay không. Vì lúc đó thời tiết bị ảnh hưởng bão nên mưa gió, ngoài biển đâu phải lúc nào cũng êm ả. Mà chuyện đi vượt biên thì đầy may rủi, “con nuôi má” thì ít, mà “con nuôi cá” và “má nuôi con” cũng chẳng hiếm, chưa kể nạn cướp biển đang hoành hành. Xóm tôi cũng đã có mấy gia đình cho con cái đi mà chẳng bao giờ đến nơi, cũng không trở về nhà.
Đêm cuối cùng trước khi ra biển, anh thao thức đến khi trời gần sáng. Không ngủ được, anh ra ngoài phòng khách tìm nước uống. Lúc đi ngang qua chiếc giường thấy tôi đang ngủ say, bên cạnh là chiếc bàn học của tôi sách vở xếp gọn gàng với chiếc cặp táp chuẩn bị đến trường ngày mai. Thế là anh quyết định dứt khoát, anh sẽ ra đi một mình, để tôi được tiếp tục những ngày tươi đẹp hồn nhiên của tuổi học trò. Vì anh là “mạng cùi”, không còn gì để mất, còn tôi là “mạng vàng”, mới lớn ngây thơ, anh không dám mang ra biển cả gian nguy trăm bề.

Trời không phụ lòng người, chuyến đi may mắn thành công, cập bến Bidong, Malaysia dù anh mới lần đầu làm hoa tiêu. Thuyền vừa vào bờ đất Mã, mọi người sung sướng lạy trời lạy đất cảm tạ, còn anh thì thẫn thờ xót xa khi để tôi ở lại nhà. Suốt thời gian ở trại, mỗi lần ra cầu Jetty đón người mới đến, hay khi đứng trên lớp dạy Tiếng Anh cho đồng bào tỵ nạn, anh vẫn chưa nguôi nỗi day dứt đó. Vì vậy, anh quyết tâm bằng mọi giá, sẽ bảo lãnh toàn bộ gia đình qua Mỹ trong thời gian sớm nhất.

Từ trại tỵ nạn, anh đến định cư tại thành phố Wichita, Kansas là bắt đầu tìm hiểu chuyện học đại học. Giấc mơ Y Khoa năm nào chợt bừng sống lại, nhưng ở độ tuổi ngót nghét ba mươi, chương trình học Y vừa dài vừa tốn kém. Vì mục tiêu lớn hơn là cứu gia đình còn kẹt lại Việt Nam, một lần nữa, anh phải từ bỏ ước mơ của mình, vào học ngành Engineer. Anh vừa đi học vừa đi làm cuối tuần để một vài tháng “tiếp tế” cho gia đình một thùng quà giá trị. Hàng xóm chung quanh hay nói với tôi:
- Nhà người ta có con gái qua Mỹ gửi đồ về là hãnh diện lắm, vì con gái biết thu vén tối đa cho gia đình. Còn nhà cô, chỉ cần một ông anh thôi cũng bằng hai, ba cô con gái nhà người ta cộng lại.

Nhờ thông minh, siêng năng cần cù, dù vừa học vừa đi làm, anh tốt nghiệp Electrical Engineer với điểm xuất sắc (Cum Laude), được chọn ghi tên vào cuốn sách Who’s Who Among Students in American Universities. Vừa ra trường, anh đầu quân cho hãng Boeing, sau làm cho Kelly Air Force Base ở San Antonio, Texas. Khi Base này đóng cửa anh chuyển qua Tinker Air Force Base ở Oklahoma, rồi lại qua Defense Contract Management Agency (DCMA) under U.S. Department of Defense tai Dallas, Texas cho đến ngày nay.
Ngay khi vừa vào đại học, anh đã bắt tay vào việc bảo lãnh gia đình. Trong khi nhiều người bạn học khác chỉ lo học hoặc đi làm, chưa thấy được tầm quan trọng của việc bảo lãnh thân nhân, thì anh đã xúc tiến từng bước thủ tục. Anh tự tìm hiểu qua phone hoặc trên giấy tờ (thuở ấy chưa có internet để lên mạng dễ dàng như ngày nay). Không cần đến văn phòng luật sư, anh sử dụng khả năng English rất kiên nhẫn, tự tin, theo dõi cập nhật hồ sơ một cách khoa học, đúng trình tự.
Cuối năm 1989, vì nôn nóng không thể đợi giấy tờ bảo lãnh hiệu lực, gia đình đã cho tôi đi vượt biên, và tôi đến trại tỵ nạn Panatnikhom, Thailand. Nghe tin tôi đến trại, anh mừng rỡ vô cùng. Mỗi tháng anh gửi tiền chu cấp đều đặn. Khi những người xung quanh tôi, cũng có thân nhân nước ngoài, người thì nhận tiền nhỏ giọt, người thì tháng có tháng không, còn tôi thì cứ tuần đầu tháng là có thư, vì cứ mỗi ngày mồng một của tháng, anh hoặc vợ anh (lúc ấy anh mới lập gia đình) đi gửi tiền, suốt bốn năm như thế, chưa trễ một lần nào.


Đặc biệt, lúc đó, anh tôi còn “nổi tiếng” trong trại, ít nhất là khu tôi ở, vì sự chăm lo “có một không hai” dành cho cô em gái. Sợ tôi bị rớt thanh lọc, anh bảo tôi cứ bình tĩnh để anh tìm cách, chứ dứt khoát không để tôi phải quay về Việt Nam. Anh nghĩ ra cách đăng trên mục “Tìm Bạn Bốn Phương” của Mỹ giùm tôi, với ước mong sẽ tìm được một người nào đó, tốt đẹp, và biết đâu sẽ tiến xa hơn, đưa tôi qua khỏi cuộc thanh lọc. Nên mới có chuyện một buổi sáng kia, cả dòng người xếp hàng chờ thư bên bưu điện xôn xao vì tôi có hơn 20 lá thư trên list, mà toàn là từ Mỹ và tên người gửi cũng là tên Mỹ. Nhưng rồi giải pháp đó cũng chẳng có kết quả gì.


Còn nữa, sợ viết trong thư không thể nói hết về nước Mỹ để tôi mở mang kiến thức, anh còn ngồi thâu băng cassette, kể chuyện nước Mỹ cho tôi nghe. Kể về thành phố Wichita thời sinh viên của anh, về thành phố San Antonio nơi gia đình anh đang sinh sống, về các trường đại học, về cuộc sống người Việt và người Mỹ, về mọi thứ trên đất Mỹ. Đêm đêm tôi mở cuộn băng “Nước Mỹ” cho cả lô nhà cùng nghe (bằng cái máy cassette nho nhỏ chạy bằng “pin” ). Mọi người nằm nghe say mê, rồi đi vào giấc mộng mơ màng với nước Mỹ bên kia bờ đại dương. Một hôm, có người tìm đến căn nhà tỵ nạn tôi, hỏi lớn:
- Cô Loan ơi, cho tôi mượn cái băng cassette.
- Băng ca sỹ Ngọc Lan hả anh? (Vì chị dâu tôi cũng hay gửi băng nhạc cho tôi nghe, bà con xung quanh cũng hay qua mượn)
- Khồng…ồng …!! Tui muốn cái băng “Nước Mỹ” mà anh cô kể chuyện hấp dẫn đó.

Tôi đâu ngờ sự “nổi tiếng” của anh tôi đã vượt ra khỏi lô nhà tôi đang ở, mà lan truyền qua cả những lô khác. Cho người đó mượn băng “Nước Mỹ” hơn hai tuần chưa thấy trả lại, tôi đến tìm, họ xin lỗi rồi khai thiệt là đã chuyền tay cho người này, người nọ cùng nghe. Cuối cùng, tôi tìm được nhà chú kia, người thứ bao nhiêu sau khi chuyền tay cũng chẳng nhớ. Chú ấy phân trần:
- Chẳng dấu gì cô, tui cũng có thằng con bên Mỹ. Tiền viện trợ nó gửi còn thưa thớt, tháng nhớ tháng quên, chớ đừng nói gì đến chuyện kể về nước Mỹ cho tui nghe.
- Dạ, vậy bây giờ chú nghe băng “Nước Mỹ” xong chưa, cho con xin về cho người khác mượn.
- Cô để thủng thẳng tui nói hết đã chứ. Tuần sau cô quay lại lấy được không, vì tôi đem cuốn băng đó ra tiệm nhờ sang ra hai ba cuốn, mà họ làm chưa xong!
- Úi trời, chú sang ra hai ba cuốn làm gì?
- Thì để cho bà con chung trại cùng nghe, và một cuộn tôi sẽ gửi về Việt Nam cho vợ con tui biết về nước Mỹ, cô thông cảm nha!

Nhờ may mắn, có thêm sự “cố vấn” của anh, tôi đã vượt qua cửa ải thanh lọc, nhưng “phúc bất trùng lai”, tôi bị phái đoàn Mỹ từ chối tại cuộc phỏng vấn, và theo lời khuyên của anh, tôi xin định cư bên Canada. Vừa qua Canada chưa kịp nóng chỗ, anh đã lên ngay chương trình “giải cứu” tôi qua Mỹ, nhưng “người tính không bằng trời tính”, tôi có nợ có duyên với xứ lạnh tình nồng cho đến nay.


Trong thời gian bốn năm tôi bị kẹt bên trại, gia đình tôi bên Việt Nam lần lượt đi qua Mỹ theo diện ODP bảo lãnh của anh tôi. Vậy là anh đã thoả mãn ước mong, không còn một thân nhân ruột thịt nào còn lại với chế độ Cộng Sản. Mấy người bạn cũ thời đại học Wichita của anh, có người lận đận mãi mới đưa được người nhà qua đây, thậm chí có người vẫn còn cha mẹ bên quê nhà, chỉ vì hồi đó chủ quan và…làm biếng! Họ nói với anh:
- Tụi tôi phục ông sát đất! Không tốn một đồng xu nào cho luật sư mà đưa được cả gia đình, bố và anh chị em qua đây đầy đủ. Hồi đó tụi tôi không chịu nghe lời khuyên của ông, giờ hối hận thì đã muộn!!

Là người đi trước, anh hướng dẫn, chỉ bảo kinh nghiệm cho các anh chị em trong nhà những bước đầu hội nhập trên xứ Mỹ. Tới đám con, cháu, thế hệ thứ hai, anh luôn khuyến khích hướng tới các ngành đại học sáng giá, dễ kiếm việc, nhất là Y Khoa, mà anh đã phải từ bỏ.


Anh là cuốn “Từ Điển Bách Khoa” của đại gia đình tôi với trí nhớ dẻo dai, hiểu biết rộng và chính xác. Mỗi lần qua Mỹ, tôi say sưa ngồi nghe anh nói chuyện hàng giờ mà vẫn chưa đủ. Tên quốc tịch của anh là David, và tôi hay gọi một cách thân thương là “anh Dave thông thái của chúng ta”. Riêng kiến thức về nước Mỹ thì anh có thể nói không cạn đề tài. Ngoài lãnh vực chuyên môn nghề nghiệp, còn có chuyện chính trị, xã hội, y tế …vì anh là một công dân Mỹ gương mẫu, yêu nước Mỹ và tự hào về nước Mỹ. Các gia đình anh chị em chúng tôi (kể cả tôi bên Canada) đều treo tấm bản đồ nước Mỹ trong nhà, là món quà đầu tiên anh tặng cho mỗi gia đình.


Cứ ngỡ anh đã an phận vì “giấc mơ Mỹ Quốc” của gia đình đã trọn vẹn, nhưng anh vẫn quan tâm giúp đỡ những người quen khác còn ở Việt Nam. Hàng năm vào dịp Tết, anh đều đặn gửi tiền cho vài người hàng xóm vẫn còn lao đao nghèo khó. Chị Nga Sún bán khoai luộc đầu xóm mỗi lần nhận tiền đều cười vui vẻ, khoe:
- Ôi, hồi đó mỗi lần ảnh từ Cần Thơ về xóm là chiều chiều đi ngang qua nhà tui. Thằng con tui thấy ảnh về là mang bài tập qua hỏi thầy giáo liền á!
Bác Sương kế bên nhà tôi từng tâm sự:
- Nói thiệt, hồi đó tui chỉ mong cậu ấy ngắm nghía con gái tui là tui bắt về làm rể. Ai ngờ, cậu ấy ôm mộng vượt biên!
Riêng tôi còn nhớ chị Quỳnh Giao, xinh đẹp thuỳ mị nhất nhì trong xóm, có lần đến thăm anh khi anh mới về thăm nhà. Hai người ngồi ngay phòng khách nói chuyện tới khuya. Chiếc giường ngủ của tôi kế bên đó, tôi nghe được những câu dịu dàng chị đã trách móc anh tôi:
- Lần nào anh về cũng không có thời giờ qua nhà thăm em sao? Em chờ hoài chẳng thấy nên đành phải…xuống nước qua đây tìm anh đó, anh hiểu không?
Hình như anh có cười xin lỗi, và chắc sau này chị ấy đã hiểu, anh phải gạt bỏ chuyện tình yêu để ưu tiên cho chuyện vượt biên, tìm tương lai tươi sáng và lo cho gia đình.

Với những học trò trường Phan Thanh Giản xưa và những họ hàng xa ngoài miền Bắc, anh làm theo phương châm “giúp họ câu cá tốt hơn là cho họ cá”, vì quà cáp cho họ anh cũng vẫn làm, nhưng biết bao giờ mới đủ? Ai đang độ tuổi kết hôn, hoặc đã dang dở hôn nhân, nếu có ước muốn, anh đều giúp bước đầu bằng cách đăng mục Tìm Bạn Bốn Phương của Mỹ (kiểu này nhanh hơn Tìm Bạn Bốn Phương với Việt Kiều). Sau đó tuỳ theo duyên phận của từng người, mà kết quả đã có vài mối lương duyên Việt-Mỹ, đang có happy ending trên đất Cờ Hoa.

Mới đây trong lần Family Reunion bên Texas nhân dịp đám cưới đứa cháu, tôi hỏi đùa anh:
- Giờ anh có còn muốn đưa ai qua Mỹ nữa không nà?
Anh cười lớn:
- Nếu được, anh ước gì mang toàn dân Việt Nam qua đây, cho họ nếm mùi “tư bản rẫy chết” của Mỹ, nhưng coi bộ khó quá. Thôi thì chỉ cầu mong cho quê hương mau dẹp tan cái đảng Cộng Sản ăn hại, cho người dân được nhờ.

Edmonton, Tháng 3.2020

KIM LOAN

 

_______________________
 

KL_KLThang.JPG
KimLoan_doikhongnhulaten.JPG

Đời không như là… tên

Kim Loan _______________________________

 

Người Việt mình, khi đặt tên cho con cái, thường chọn tên có ý nghĩa hoặc gửi gắm theo tình yêu thương với niềm mơ ước, nhưng cũng lắm khi…. “đời không như là tên”.

Hồi đó, cách nhà tôi vài căn, có chị Nguyễn Thị Ngọc Ngà. Lẽ ra, là “ngọc ngà châu báu” phải được nâng niu, quý hoá, nhưng chị thì ngược lại, chồng say xỉn thường xuyên rồi lên cơn, đem “ngọc ngà” ra… tra tấn, thượng cẳng tay hạ cẳng chân và cả bằng đòn gánh. Hàng xóm trong đó có anh rể tôi phải xông vào giải cứu chị. Nghe nói hiện nay chồng chết, chị thoát được chồng, nhưng tiếp tục khổ vì con, vì cháu!

Cùng ngõ là nhà Bác Cả goá phụ với hai người con, là chị Vui và thằng Sướng. Chị Vui cả ngày tất bật lam lũ phụ bác Cả bán buôn lặt vặt với cuộc sống giật gấu vá vai, người lúc nào cũng đầu bù tóc rối. Còn thằng Sướng chẳng hiểu buồn khổ gì mà vào một ngày trời âm u, nó đã thắt cổ tự vẫn, tìm về thế giới bên kia, để lại cho Bác Cả và chị “Vui” nỗi đau giằng xé tâm can.

Ngược ra xóm chợ, nhà bà Tám Sương Sa, tôi học chung với hai đứa con bác ấy, thằng Sang con Giàu. Mà nào có sang có giàu gì đâu, thau sương sa của bà Tám chỉ đủ cơm cháo qua ngày, lắm khi đi học chúng không có củ khoai mì ăn sáng.

 

Lúc tôi vào lớp Sáu, mới “giải phóng” được vài năm, trường chúng tôi đón nhận một số học sinh miền Bắc theo cha mẹ vào Nam rất sớm. Mấy đứa con gái trong nhóm đó có tên cũng bình thường, nhưng mấy thằng con trai thì tên khá đặc biệt, nghe là biết ngay lý lịch xuất xứ, khỏi cần suy nghĩ. Trong khối lớp tôi, có hai anh em sanh đôi, Nguyễn Văn Thống Nhất và Nguyễn Văn Hữu Nghị. Thống Nhất là anh, có vẻ hiền lành, hắn muốn la cà kết thân với chúng tôi như cái tên của hắn. Nhưng khổ nỗi, lũ chúng tôi tuy còn bé nhưng đã biết ảnh hưởng từ gia đình chòm xóm, trước cảnh chia lìa tù “cải tạo”, kinh tế mới, cảm nhận tiếng thở dài của cha mẹ trong cuộc đổi đời, nên chúng tôi rất… phản động, dứt khoát tránh xa đám “bên kia”, không chơi với hắn, không cho hắn “thống nhất” chúng tôi. Còn thằng em tên Hữu Nghị thì ngược lại, không hề “hữu nghị” tí chút nào, hắn luôn luôn hùng hổ gây sự với chúng tôi mỗi khi có chuyện tranh cãi (có lẽ hắn hiểu được nguyên nhân sự e dè lạnh lùng của đám Miền Nam chăng?).

Tuy nhiên, chung lớp tôi có một đứa khá dễ thương. Hắn nói giọng nửa Nam nửa Bắc, vì cha mẹ hắn là dân tập kết. Hắn tên Lê Anh Nuôi, bản tính vui vẻ hoà đồng. Tôi hỏi:

– Thà ông mang tên như anh em thằng Thống Nhất Hữu Nghị, hoặc đại loại như Quyết Thắng, Bất Khuất, Kiên Cường… tôi còn dễ hiểu. Còn Anh Nuôi là cái gì thế?!

Hắn cười vang:

– Bà đúng là… nhà quê! Hồi ba tui ở trong bưng, ba tui nấu ăn cho đồng đội, gọi là “anh nuôi”, nên má tui đặt tên này cho tui làm kỷ niệm đó! Mà nè, bà nên gọi tui là…anh nhé, vì tui hơn bà một tuổi, và tên tôi là…Anh Nuôi.

Tôi chu mỏ:

– Còn khuya! Ông về rừng mà nghe người ta gọi là anh, còn tui nhà quê đâu dám!

Nhưng đặc biệt trong nhóm đó, có một cái tên mà tôi nhớ mãi cả tên lẫn… người! Hắn trắng trẻo, dáng thư sinh con nhà giàu (tôi đoán ba má hắn phải thuộc hàng tiểu thư công tử trí thức Hà Nội, vượt Trường Sơn vào Nam với chức vụ cao chót vót, nên được ở nhà ngay khu sĩ quan trong khu Quân Cụ mà trước đây chỉ dành cho những gia đình sĩ quan quân đội VNCH). Hắn có đôi mắt đẹp, cái miệng duyên với môi dưới hơi trề rất hấp dẫn, tổng thể là một khuôn mặt đẹp trai, và cái tên của hắn càng hấp dẫn hơn: Mai Kiêu Hùng!

Ðược cái, hắn thờ ơ chuyện xung quanh trường lớp, không quan tâm chúng tôi chia phe “Nam-Bắc” cãi nhau chí choé, không thân thiện mà cũng không xích mích với ai. Chẳng biết sau này lớn lên hắn có “kiêu hùng” với lý lịch nhà hắn, với vẻ đẹp trai của hắn hay không, chớ lúc đó hắn rất vô tư, một vài lần đụng mặt tôi ở trường, hắn mỉm cười nhìn tôi với ánh mắt bối rối, có thấy “kiêu hùng” gì đâu, khiến tim tôi… tan chảy và mủi lòng thương (quên cả chuyện giai cấp). Cũng may là sau năm học đó gia đình hắn chuyển đi nơi khác, chớ nếu hắn còn học tiếp với tôi, biết đâu tôi lại…cảm cái nét đẹp khi bối rối của hắn, rồi sẽ ra sao khi lập trường “hai đứa hai khung trời khác biệt”, liệu gia đình tôi bị chính quyền mới xếp hạng là “nguỵ quân nguỵ quyền” có chấp nhận hắn không, căng lắm chớ chẳng chơi! (Ủa, mà biết hắn có… cảm tôi không mà lo xa chi cho mệt!!!).

o O o

Vui nhất là khi vào học trường Sư Phạm, có một anh chàng trong ban văn nghệ, thỉnh thoảng ôm cây đàn guitar ngồi dưới gốc phượng trong sân trường đàn hát, bạn bè vây quanh ngưỡng mộ, nhất là mấy nường nữ sinh. Tên của hắn cũng rất ư đặc biệt, khó có một người thứ hai trùng tên: Mai Cúc Trường Sơn.

Tôi bĩu môi, nói với nhỏ bạn:

– Gì chớ, nghe hai chữ Trường Sơn là tao…dị ứng từ bài hát “cùng mắc võng trên rừng…” á!!

Nhỏ bạn nguýt tôi:

– Úi dào, “ếch ngồi đáy giếng” tội chưa! Bà tưởng Trường Sơn là của riêng mấy ổng bên kia sao? Nói cho bà dỏng tai lên nghe rõ nè: hắn là con trai của sĩ quan VNCH đang ở trong trại “cải tạo” chưa về, còn má của hắn là người nổi tiếng, bà muốn biết là ai không?

Tôi hơi bị quê, liền đổi giọng tươi tỉnh làm huề:

– Là ai thì bà nói luôn đi, còn úp úp mở mở chi nữa?

– Là cô Hồng Vân, người ca sĩ có tài ngâm thơ, mới đây hát các bài hát được công chúng mê mẩn: “Người Ði Xây Hồ Kẻ Gỗ”, “Có Anh Ba Hưng”…

– Bà nói ca sĩ Hồng Vân ngâm thơ là tui biết rồi, khỏi cần dài dòng. Té ra, hắn là phe ta?!

Lần này thì nhỏ bạn vênh mặt lên:

– Ừa, hắn học chung với tui hồi cấp ba đó, giờ có muốn làm quen với chàng không nà, tui bắc cầu cho!

– Quỷ sứ! Mà tao chịu… cái tên lắm nha. Tao mà lấy hắn, sanh con tha hồ đặt tên, Mai Cúc Mùa Xuân, Mai Cúc Thắm Tươi …

o O o

Sau này ra đời đi làm, rồi qua trại tỵ nạn, tôi còn biết thêm nhiều cái tên “ấn tượng” rổn rảng: Phạm Thông Thái, Trần Triệu Phú, Phan Huy Hoàng, Cao Uy Tín, Huỳnh Thiên Tài, Ðỗ Thủ Khoa, Nguyễn Như Ý…mà có mấy ai được “đời giống như tên”?

Và… tôi nữa, má muốn đặt tên tôi là Kim Thoa cùng vần Th với anh chị em trong nhà, nhưng khi ba lên xã làm khai sanh, lúc ấy ca sĩ Kim Loan đang nổi với “Căn Nhà Ngoại Ô” nên ông nhân viên hộ tịch mơ mộng đã ghi lộn tên tôi thành Kim Loan. Mang tên của một ca sĩ nổi tiếng nhưng kết quả thế nào thì mọi người biết rồi đấy: “tôi ca không hay, tôi đàn nghe cũng dở”.

Qua đến Canada thì tên “Loan” của tôi có nghĩa là “Nợ”, nhiều người khi đi học, mua xe, mua nhà đều trải qua, rồi than vãn: “ Sầu vì… Loan” “Nghèo vì… Loan”.  Hãi hùng nhất là các quảng cáo của mấy chuyên gia cố vấn tài chánh, nào là:  “Nói Không Với Loan”, “Tránh Xa Loan Xấu”, “Làm Thế Nào Ðể Thanh Toán Loan Mau Lẹ”… thiệt là đau lòng!

Dù sao cũng có chút an ủi, tuy tên “Loan” nhưng tôi không nợ nần tiền bạc gì của ai (nợ… chuyện khác thì có, để kiếp sau trả!)

Ðời không như là tên, đôi khi còn ngược lại, nhưng có ai nỡ đặt tên con là Nguyễn Vô Phước để sẽ được Hữu Phước, hoặc Lê Văn Nghèo để sẽ thành người giàu có, phải không quý vị?!

KIM LOAN

______________________________________

NGÀY XƯA NGUYỄN THỊ …

Sài Gòn bị đổi chủ khi tôi mới chín tuổi, chưa kịp biết mộng mơ với những bản nhạc tình trước năm 1975. May mắn thay, vài năm sau đó, khi phong trào “đốt sách trả thù” của chính quyền Cộng Sản lắng xuống, mấy anh chị lớn trong nhà còn giữ lại được một số tờ nhạc, băng nhạc cũ, đem ra nghe lén mỗi đêm khuya vắng. Các tờ nhạc đa số là nhạc Phạm Duy, Trần Thiện Thanh, nghe mấy ông anh ôm đàn và hát, tôi thích lắm. Băng nhạc cassette thì chỉ có một hai băng của ca sĩ Thái Thanh, nghe đi nghe lại, nào Ngàn Thu Áo Tím, Nghìn Trùng Xa Cách, Kỷ Vật Cho Em…nhưng chả hiểu sao đọng lại trong tôi nhiều nhất, là Ngày Xưa Hoàng Thị, có lẽ vì câu chuyện tình lãng mạn của tuổi học trò làm tôi xao xuyến. Thuở ấy, không có báo chí để tra hỏi, nên tôi nào rành rẽ về bài thơ hay bài nhạc, chỉ biết yêu vô cùng lời nhạc, lời thơ, thế thôi.

Thế là tôi yêu tiếng hát Thái Thanh dù sau đó gia đình tôi có thêm các tiếng ca khác mà anh chị tôi thu thập từ bạn bè hoặc từ các tiệm sang băng lậu ngoài chợ trời Tạ Thu Thâu: Thanh Thuý, Nhật Trường, Thanh Lan, Phương Dung, Duy Quang, Elvis Phương… với nhiều bài hát mới.
Riêng bài Ngày Xưa Hoàng Thị sống lâu nhất trong trái tim tôi, vì một buổi trưa đầu hè năm lớp 12, tôi bước vào lớp, thấy trong hộc bàn một tờ giấy màu xanh lơ, có ép một cánh bướm làm từ hoa phượng và mấy câu thơ: “Em tan trường về- cuối đường mây đó- Anh tìm theo Ngọ-Dáng lau lách buồn-Tay nụ hoa thuôn-Vương bờ tóc suối-Tìm lời mở nói- Lòng sao ngập ngừng …”, chẳng có tên người gửi, cũng chẳng ghi tên người nhận. Lập tức, đám “thám tử” con gái lớp tôi chạy đi “điều tra lý lịch” tác giả lá thư. Được biết, người ngồi cùng chỗ đó của tôi (lớp buổi sáng) là chàng tuổi trẻ tên là Hồng Ân, nhỏ hơn tôi một tuổi ( học lớp 11), trắng trẻo, đẹp trai, con nhà giàu ngay ngã tư chợ Xóm Mới. Nhưng các “thám tử” không thể tìm ra, là lá thư ấy chàng trẻ tuổi cố ý gửi cho tôi, hay tính gửi cho… con bé nào khác mà để quên trong hộc bàn? Tôi chả quan tâm chuyện đấy, thư để trong hộc bàn của tôi, rất ngay ngắn gọn gàng, nghĩa là gửi cho tôi. (Ai cấm em trai tương tư…bà chị học trên lớp hở mấy nàng “thám tử” rách việc kia?). Cánh bướm đẹp quá, tờ thư xinh quá, và nhất là mấy câu thơ lần đầu tiên tôi được đọc. Dù chỉ có mấy câu, tôi cũng đoán cả bài Thơ sẽ còn hay hơn nhiều. Tôi bỏ lá thư trong cặp, mang về nhà, đọc đi đọc lại nhiều lần, và mong “người ta” gửi tiếp cho trọn…bài thơ!

Tôi cũng chẳng ngờ bài hát đó lại có duyên, theo tôi đến tận con đường vượt biển, qua trại tỵ nạn Thailand. Hôm ấy, tôi đang say giấc nồng trưa hè thiu thiu thì bỗng nghe bên nhà hàng xóm mở cassette (xài bằng bình acquy) bài Ngày Xưa Hoàng Thị qua giọng ca Thái Thanh. Tôi bỗng tỉnh ngủ, như chợt gặp lại “người xưa”, cầm theo giấy bút chạy qua để thưởng thức điệu nhạc quen thuộc và chép lời. Chị chủ nhà, cũng là người chung chuyến tàu với tôi, rất vui vẻ quay đi quay lại bài hát gần chục lần (sắp nhão cả tape) để tôi kịp ghi lại đầy đủ bài hát. Từ đó tôi cứ lẩm nhẩm bài này với bạn bè cùng lô nhà và cả khi chúng tôi tụ tập nhóm “đờn ca tài tử”.
Nhóm chúng tôi, những thanh niên thiếu nữ, trong đó Dzũng Lé là tay guitar cừ khôi, trước khi đi vượt biên, từng chơi cho các nhóm nhạc “Ca Khúc Chính Trị” tại Sài Gòn. Còn có Trung, chàng thư sinh Nhạc Viện, đi vượt biên ôm theo cây đàn Violin, khi tàu bị bão tố trên biển đông, hành lý phải quăng ra biển cho nhẹ con tàu, Trung vẫn cương quyết ôm cây đàn, che chở bảo vệ nó, mang nó vào trại tỵ nạn. Những buổi tối gió lạnh nhớ nhà, chúng tôi đề nghị Trung kéo đàn những bài tango nổi tiếng, như La Comparsita (mà nhạc sỹ Phạm Duy đặt lời Việt là Vũ Nữ Thân Gầy), La Paloma (Phạm Duy viết thành Cánh Buồm Xa Xưa), hay điệu Valse với nhạc phẩm trứ danh Blue Danube (Phạm Duy viết thành Giòng Sông Xanh). Giữa đêm đông se lạnh tha phương, tiếng đàn violin réo rắt, tha thiết, bay bổng đến lặng người. Rồi tiếng đàn chuyển qua những nhạc phẩm trữ tình khác, nào Dấu Tình Sầu, nào Niệm Khúc Cuối, Đêm Nay Ai Đưa Em Về…khiến mọi người rưng rưng thổn thức.
Tôi không có giọng hát hay nhưng thuộc nhóm “hay hát”, nên sau phần độc tấu violin và phần solo của những giọng ca quyến rũ người nghe, cuối cùng cũng đến lượt tôi được… cầm giấy ca bài “tủ” của mình, rất hào hứng, say sưa: “Em tan trường về …”
Cứ ngỡ ca chơi trong nhóm cho vui, ai ngờ Dzũng Lé đã cho tôi một bất ngờ nhớ đời. Mùa Giáng Sinh 1992, trường Việt Ngữ và nhóm nhân viên ngoại quốc YWAM (Youth With A Mission) tổ chức buổi tiệc tiễn đưa cô hiệu trưởng Sue về Australia. Tôi là cựu giáo viên nên được mời và được yêu cầu mặc áo dài với các cô khác vì cô Sue cũng mặc áo dài. Tôi hớn hở đến dự, thảnh thơi ngồi ăn uống, xem văn nghệ có Dzũng Lé chơi đàn guitar trong ban nhạc. Đến giữa chương trình, Dũng Lé ghé tai người MC thì thầm gì đó, rồi anh MC ra giới thiệu:
- Kính thưa quý vị, sau đây là một giọng ca…bình thường, nhưng tâm hồn văn nghệ thì trên cả bình thường! Cô chưa bao giờ vắng mặt trong các nhóm văn nghệ bỏ túi trong các khu nhà trong trại. Xin mọi người cho một tràng pháo tay cho cô cựu nhân viên bưu điện và hiện nay là nhân viên Cao Uỷ Định Cư…
Tôi chưa kịp phản ứng gì, bà con vỗ tay rầm rộ và đẩy tôi lên sân khấu. Tôi nhăn mặt, liếc Dzũng Lé:
- Ca bài gì bây giờ?
- Thì cái bài Ngày Xưa Hoàng Thị bà hay ca đó.
- Nhưng tui không thuộc.
- Nhớ tới đâu ca tới đó, dễ mà.
- Nhưng chưa tập dợt với ban nhạc gì ráo.
- Bà khỏi lo, cứ tập trung vào chuyên môn…ca hát, tụi tui sẽ…đuổi theo bà!
Tôi đành bấm bụng làm ca sĩ. Ban nhạc đánh bài Ngày Xưa Hoàng Thị theo điệu valse hơi nhanh, nhưng tôi bị ảnh hưởng cách hát luyến láy, “điệu chảy nước” của cô Thái Thanh nên mở đầu câu hát thật dẻo, thật dịu dàng đong đưa, rồi lên cao vút, thành ra ban nhạc bị trật nhịp, nhạc chơi đường nhạc, tôi hát đường tôi, họ ra sức …rượt theo, vã mồ hôi hột. Đã vậy, lời bài hát cứ lập đi lập lại: “ Em tan trường về …Anh theo Ngọ về ….Em tan trường về …Mưa bay mờ mờ …”, tôi run quá, không nhớ lời kết, cứ đứng đó ca tới ca lui: “Em tan …Anh theo …Em tan …Anh theo …”, khán giả ở dưới cũng nhận ra điều ấy, càng vỗ tay lớn hơn theo nhịp để cổ vũ tôi đang mặt mũi xanh lè vì bối rối. Dù sao, Dzũng Lé cũng là tay guitar chuyên nghiệp, đã nhanh miệng làm “đạo diễn”, dẫn dắt ban nhạc xuống “tông”, và nhắc tôi từ từ bình tĩnh, có Dzũng hát kèm phía sau, dìu tôi vào câu “coda”, kết thúc rất ngoạn mục trong tiếng reo hò của cả hội trường.
Sáng hôm sau tôi ra bưu điện dò thư, mấy anh bưu điện nhìn tôi cười mỉm chi:
- Chào em…Ngọ, chiều qua hát bài hát không có… lối ra luôn hen!
Từ đó, họ gọi tôi là “ bé Ngọ”, và tôi cũng thích tên “ Nguyễn Thị… Ngọ” vì tôi “đường đường chính chính” sinh năm Bính Ngọ, chớ không có ý nhận vơ mình là “nàng thơ” trong bài hát, bởi tôi biết, khi thi sĩ Phạm Thiên Thư “chân anh nặng nề, lòng anh nức nở” thì tôi chưa được sinh ra hoặc còn đang bận rộn…tắm mưa ngoài đường!
Và cũng nhờ “tiếng tăm” của buổi làm “ca sĩ ” lan xa trong trại, mà chú nhà báo Hồ Ông (trước 1975 là cây viết châm biếm của tờ Con Ong, hiện đang định cư bên Úc) đem đến cho tôi tờ tạp chí Làng Văn viết về Phạm Thiên Thư có cả nguyên vẹn bài thơ “Ngày Xưa Hoàng Thị”. Tôi mừng rỡ sung sướng chép lại trên cuốn sổ Thơ của mình, và còn giữ đến nay trong tủ sách gia đình.
Kỷ niệm về Ngày Xưa Hoàng Thị và Thái Thanh thì còn nhiều lắm. Đến giờ giới nghiêm, cả trại im lìm trong bóng đêm, tôi và chị bạn chui vào mùng mở máy cassette nho nhỏ chạy bằng “pin”, nghe Thái Thanh phải nghe đêm khuya mới thấm. Có lần chú Tám kế bên vách vọng sang thì thào:
- Cô Loan ơi, cô làm ơn mở volume lên chút xíu cho tôi nghe rõ giọng Thái Thanh, được không cô?
Tôi sung sướng:
- Ủa, chú cũng mê tiếng hát Thái Thanh sao? Hổm rày con đâu biết!
- Chả giấu gì cô, tui chỉ mê nhạc mùi của Tuấn Vũ, Chế Linh. Nhưng giọng cô Thái Thanh làm tôi …dễ ngủ, tôi vốn mắc chứng mất ngủ…
Dễ giựn không nà! Nhưng mà thôi, mục đích nào cũng tốt hết á. Chúng tôi bên này thả hồn theo từng điệu nhạc lời ca mượt mà điệu đà của Thái Thanh, còn bên kia chú Tám…ngủ ngon!

Thực ra, suốt một thời gian rất dài, tôi luôn ngại ngùng thú nhận mình là “fan” của Thái Thanh, vì nhiều lần bị bạn bè chọc ghẹo:
- Úi dào, Thái Thanh là tiếng ca dành cho …người già, thích loại nhạc …khó hiểu, cao vời! Sao không nghe bolero cho… dễ thở??
Mới đây tôi có nói với tụi bạn:
- Giờ tao đã là lứa tuổi trên 50, có thể công khai tuyên bố là “fan” của Thái Thanh là đủ tiêu chuẩn rồi nha, tụi bay chớ mà ý kiến ý cò!

Bất cứ lúc nào, hễ nghe ai nhắc Thái Thanh và Ngày Xưa Hoàng Thị thì trong tôi lại xốn xang những đoạn đời dấu yêu của “Ngày Xưa Nguyễn Thị…Tôi”, ùa về như thác đổ, lúc vui lúc buồn, có khi làm tôi thao thức mất ngủ cả đêm vì bồi hồi, nhớ nhung…
Ai mang bụi đỏ đi rồi?!


KIM LOAN


TIẾNG HÁT MUÔN ĐỜI

Thái Thanh đi rồi, “Nghìn Trùng Xa Cách”
“Ngày Xưa Hoàng Thị”, giờ biết tìm đâu?
Đêm nức nở nghe “Nửa Hồn Thương Đau”
Xót xa nhớ “Mùa Thu Không Trở Lại”

“Cơn Mê Chiều”, man mác sầu tê tái
Hương “Ngọc Lan” còn thoảng dấu ngất ngây
“Màu Kỷ Niệm” như quanh quẩn nơi đây
“Đường Chiều Lá Rụng”, “Cỏ Hồng” da diết

“Chiều Về Trên Sông” tình quê xao xuyến
“Áo Anh Sứt Chỉ Đường Tà” chưa quen
Còn lời nào thay “Kỷ Vật Cho Em”?
“Đưa Em Tìm Động Hoa Vàng” ký ức

“Tình Cầm” ơi, “Ngày Trở Về”, đừng khóc
“Trả Lại Em Yêu” những tháng ngày buồn
Xa cố hương, “Đêm Nhớ Trăng Sài Gòn”
Vẫn vút cao lời ca “Thuyền Viễn Xứ”

“Tìm Nhau”-Tìm Nhau ấm hồn lữ thứ
“Tình Hoài Hương” xao xuyến mảnh tim côi
Nhớ nghẹn ngào “Người Đi Qua Đời Tôi
Và dĩ vãng “Còn Chút Gì Để Nhớ”

“Kiếp Nào Có Yêu Nhau” để “Tình Lỡ”
“Hẹn Hò” cố nhân “Nha Trang Ngày Về”
“Ngàn Thu Áo Tím” một thời say mê
“Ngày Em Hai Mươi Tuổi” đầy mộng ước

“54-75” nổi trôi theo mệnh nước
“Mẹ Việt Nam Ơi” quá đỗi ngọt ngào
“Tình Ca”, ôi tiếng nước tôi dạt dào
“Nước Mắt Rơi” thương “Quê Nghèo” xa cách

Xin chào tiếng ca muôn đời tha thiết
“Hội Trùng Dương” mang theo phút “Biệt Ly”
“Bài Hương Ca Vô Tận” tiễn người đi
“Đường Xưa Lối Cũ” –“Nghìn Thu”- yên nghỉ!


KIM LOAN
Tháng 3/2021

ĂN ĐỂ MÀ SỐNG

Khi mùa dịch Covid ập đến, với một số người Việt tại Canada (tôi đoán chừng) là không có hiện tượng chạy vào Costco hay các chợ khác mua nhiều gạo mắm hay thức ăn tích trữ, ngoại trừ những người nhẹ dạ, lo xa …
Bởi vì khí hậu Canada tuy có đầy đủ bốn mùa, nhưng trong đó có hai mùa …giá băng, mấy tháng lạnh lẽo kéo dài, nên gia đình tôi, cũng giống như nhiều gia đình Việt khác, đều có tủ đông lạnh (freezer) loại nhỏ để dưới basement, dành cho việc chứa thêm các loại thịt thà, cá mắm, phòng hờ cho mùa đông lỡ có bão tuyết hoặc đường trơn trợt không thể đi chợ thường xuyên…Do vậy, dịch đến hay dịch đi, tủ thức ăn dự trữ lúc nào cũng đầy ắp!


Và rồi chúng ta đã bắt đầu chung sống với dịch. Kể từ lúc dịch ở đỉnh cao cho đến nay, khi lệnh cách ly đã được nới lỏng, chuyện chợ búa của nhà tôi cũng vẫn duy trì phương châm “đơn sơ, nhanh, gọn”: mua vịt quay heo quay ăn với dưa leo bánh mì, xen kẽ mỗi tuần đi chợ Việt hoặc chợ Canada gần nhà. Vào đó, tôi quơ thiệt lẹ vài loại thịt bò gà heo, lấy vài mớ rau và các thứ trái cây (cam quít, chuối, táo …), thế là đủ sống!


Hôm nọ chồng tôi muốn ăn Phở Bò. “Chuyện nhỏ!” Tôi lục tủ đông lạnh có đủ xương bò, đuôi bò, nạm bò, bò viên. Tôi cũng kịp mua đủ bánh phở tươi, rau quế, ngò gai, giá, chanh, củ hành, gừng …nói chung là đầy đủ cho một nồi phở. Ui cha, nồi nước lèo thơm ngất ngây, lan toả khắp căn nhà từ trên lầu xuống dưới phòng khách, bay ra cả vườn sau nơi chồng tôi đang cắt cỏ. Xong việc vườn tược, chồng tôi đi tắm, tôi hoàn tất những giai đoạn cuối cùng của nồi phở và chuẩn bị dọn ra cho cả nhà thưởng thức. Mọi thứ đã bày biện sẵn sàng ngoài bàn, tôi mới tá hoả tam tinh khi lục mãi trong tủ lạnh chẳng thấy mấy chai tương đen tương đỏ ở đâu. Vậy là nhà đã hết tương ăn phở mà tôi không biết. Mà cái món phở chúng tôi đã ăn theo thói quen bao nhiêu năm nay là phải có tương, giờ biết làm sao?


Tôi bỗng nhớ lại lần ra Hà Nội chơi năm 1986 (trước khi đi vượt biên), buổi sáng ra chợ Đồng Xuân, ngay Cửa Nam, vào quán phở, gọi hai bát phở chung với cô bạn. Họ đem ra đúng …hai bát phở. Tôi nhìn bát phở “solo” mà quá đỗi ngạc nhiên, bèn …đổi giọng Bắc Kỳ hỏi chủ quán:
- Chị ơi, em bảo này, cho em tí rau giá, được không ạ?
Chị chủ quán khựng lại, nhận ra tôi là gái Sài Gòn giả giọng Hà Nội, bèn lên giọng chanh chua chát:
- Đây là Phở Bắc nhé, chẳng rau giá gì sất!!
Có chút ngơ ngác cộng với bất ngờ, nhưng tôi vẫn vớt vát:
- Thế quán nhà mình không có tương đen tương đỏ hở bác?
Chị chủ lại nhìn tôi, lần này thì trợn mắt, sẵng giọng the thé:
- Đây là Phở Bắc nhá! Đây là Phở “Hà Lội” nhá! Muốn tương thì về Lam (Nam) mà ăn! Rách việc!!!


Chả nhớ bát phở hôm ấy có ngon không, chỉ nhớ cảm giác thiếu thiếu sao đó! Nhưng nhớ nhất vẫn là nỗi lòng bực mình, khó chịu vì bị đối xử như gáo nước lạnh nơi thủ đô nghìn năm văn hiến.


Về Sài Gòn, và sau này qua Canada, hay những khi qua Mỹ chơi, tôi vẫn tiếp tục được ăn phở phải có tương. Riêng bà chị Cả của tôi ở Arlington, Texas thì xưa nay vẫn ăn theo kiểu Bắc (không tương). Chị ấy bảo, nồi phở đang thơm, bát phở đang nồng nàn, mày cho tương vào là hỏng hết! Nhưng biết nói sao với một thói quen đã bao nhiêu năm, nên tôi vẫn …ngoan cố ăn phở có tương, và gân cổ…cãi chầy cãi cối:
- Ối, phở không tương thì còn gì là …phở?


Thế đấy, mới biết khẩu vị ăn uống của mỗi người là “chín người mười một ý”. Kẻ thích tương người thì bảo làm hư phở, người thích giá sống giòn rụm kẻ lại ưng giá chụm, người thích chín nạm gầu kẻ lại mê tái sống bò viên, chưa hẳn đã giống nhau, và cũng không bao giờ có một “chân lý” bất di bất dịch cho bất cứ một món ăn nào!

Trở lại nồi phở mùa dịch của nhà tôi, dù biết thiếu tương là mất ngon nhưng dĩ nhiên, tôi không muốn chạy xe gần nửa tiếng ra chợ phố Việt, rồi có khi phải xếp hàng thêm nửa tiếng nữa (vì mùa dịch nên số người vào chợ bị giới hạn) để chỉ mua hai chai tương! Tôi nghĩ, bà chị Cả tôi và nhiều người khác vẫn ăn theo kiểu Bắc không tương thì đã sao. Tôi cũng nhớ lại lần ăn phở Bắc bất đắc dĩ năm xưa tại chợ Đồng Xuân, tôi vẫn ăn hết sạch… cả bát phở, có chết “thằng Tây” nào đâu nà!? Do vậy, tôi quyết định sẽ thử ăn phở kiểu Bắc lần này nữa xem sao, cái khó là thuyết phục chồng, con kìa!
Tôi liền mở đầu, dịu dàng:
- Hôm nay nhà mình hết tương, nên chúng ta chịu khó ăn phở không tương theo đúng kiểu …Bắc Kỳ nhé (chồng tôi người Nam, gốc Mỹ Tho).
Chồng tôi nhăn mặt, lập lại y chang câu nói tôi từng nói với bà chị:
- Trời đất, phở không tương thì còn gì là …phở?
Đứa con gái cũng hùa theo ba nó:
- Không có tương làm sao con chấm ăn bò viên?
Tôi phải dịu giọng, ngọt ngào:
- Mẹ xin lỗi vì quên mua tương. Nhưng bây giờ mà chạy ra chợ thì chắc đến… khuya mới được ăn phở! Thôi cả nhà mình chịu khó ăn bữa nay thôi, rồi ngày mai ăn tiếp sẽ có đầy đủ tương đen tương đỏ …
Thế là cả nhà ngồi ăn phở không tương. Quả thật, tôi đã nếm được một mùi vị rất tuyệt vời của nước lèo, thơm béo mùi thịt và xương bò, thanh thanh vị của chanh, dẻo dai miếng bánh phở. Thậm chí tôi còn thấy tô phở nhìn hấp dẫn hơn, đẹp hơn như một bức tranh đa màu sắc: màu vàng nâu trong veo lấp lánh mỡ của nước lèo, màu trắng ngần của bánh phở tươi, điểm xuyết xanh rờn của hành ngò xắc nhuyễn, xen lẫn với màu tiêu đen và những lát củ hành bào, cùng những lát ướt tươi đỏ rực, bên cạnh dĩa rau giá mát rượi. Chồng tôi cũng gật gù, thú nhận rằng, không có tương cũng …chả sao cả, không đến nỗi …tận thế, dù dịch Tàu đang hoành hành! Tuy vậy, ngày hôm sau ăn phở “tập hai” thì chồng, con tôi vẫn lại hớn hở nêm tương như thói quen cũ, còn tôi thì đã thực sự thích kiểu phở Bắc (gái Bắc có khác!) nhưng có chút …lai Nam Kỳ khi ăn kèm thêm rau giá, (có ai cấm đâu!)

Chẳng ai mong chờ đại dịch, nhưng cũng “nhờ” nó, mà chúng ta ngộ ra nhiều điều đơn giản và thấm thía trong cuộc sống mà xưa nay không chú ý. Mọi người đã nói đến chuyện đời phù du, hãy yêu thương và tha thứ cho nhau, hãy tận hưởng những niềm vui nho nhỏ thường ngày dù vẫn còn bóng tối Covid bủa vây, hãy trân trọng hạnh phúc hiện tại với những người thân yêu xung quanh …
Còn tôi, thì nói chuyện …ăn uống! Vâng, hãy bớt đòi hỏi khắt khe, trông chờ món ăn phải đúng chuẩn, gia vị này gia vị kia cho vừa khẩu vị hoặc thói quen lâu năm (cuộc đời này vốn dĩ đã không hoàn hảo, có phải?).
Cho nên, nhân dịp “sự cố Phở Bắc” này, tôi cũng đã cảnh báo chồng con chuẩn bị tinh thần “có sao ăn dzậy người ơi” và đón nhận những món ăn “không hoàn hảo” trong tương lai (dù còn dịch hay hết dịch) do tôi …đảm trách: Canh chua không ngò ôm, cà ry thiếu nước dừa, cơm tấm gạo dài không mỡ hành, bún bò Huế không mắm ruốc, bún riêu thiếu…gạch cua ….và còn nhiều nữa 
Hãy đợi đấy!!!


Edmonton, Canada
KIM LOAN

 

KimLoan_valentinePic_2.jpg

                                  (Cảm xúc từ mối tình Trò-Thầy tại trường PTTH Nguyễn Trung Trực)

Trở về rồi, Thầy có thấy gì không?

Đôi mắt em, trên hàng cây phượng đỏ
Khi đầu hè hoa trổ bông rực rỡ
Sợ ngày chia tay lá khép chờ mong

Cuối thu tàn, chớm lạnh trời vào đông
Hành lang lớp học dài như nỗi nhớ
Chiều tan trường, em bâng khuâng đứng đó
Thầy đâu rồi, bước về chỉ mình em

Trở về rồi, Thầy có thấy thân quen?
Nơi bục giảng, tay ai run rẩy vẽ
Đường tròn chẳng tròn như tim em rất trẻ
Rung động đầu đời nói chẳng thành câu

Giờ Toán học, em chỉ muốn thật lâu
Dẫu khô khan phương trình, và ẩn số
Công thức nào em rối bời chưa ngỏ
Định nghĩa Tình Yêu em vẫn đi tìm

Trở về rồi, Thầy có thấy chợt buồn?
Chỗ em ngồi năm xưa, giờ trống vắng
Còn đâu nữa nụ cười hiền toả nắng
Phút ngại ngùng đôi ánh mắt gặp nhau

Để đêm về em thao thức canh thâu
Nắn nót viết tên Thầy trên thước kẻ
Quà tặng của em đơn sơ, bé nhỏ
Rất nồng nàn, say đắm một tình Thơ

Trở về rồi, Thầy có thấy ngẩn ngơ?
Chiều hôm ấy hồn em lạnh rét mướt
Mắt em nhạt nhoà hay vì mưa ướt
Ngày Tân Hôn, Thầy vui bước qua cầu

Thầy vô tình, Thầy có biết gì đâu!
Cô bé lang thang một mình hờn dỗi
Trái tim mới lớn mong manh quá đỗi
Gặm nhấm nỗi buồn, thèm khát yêu đương

Trở về rồi, Thầy có thấy vấn vương?
Ghế đá, hàng cây, sân trường…im lặng
Mây lững lờ trôi như đang hờn trách
Tuổi học trò thần thánh ai mang đi

Thuyền xuôi dòng nhưng em mãi khắc ghi
Sẽ quay lại, dù đôi lần em khóc
Em vô duyên, chẳng nên phận tơ tóc
Nghĩa Thầy Trò, mình mãi mãi nhớ nhau!


KIMLOAN

(Edmonton, Canada)


 

KimLoan_boatpeople.JPG

CON CỦA HẢI TẶC

            truyện @ Kim Loan

Mới tắm xong, trên đường đi về nhà, thấy dáng te tái bước thấp bước cao của chị Ngao (chị vốn bị thọt chân) hớt ha hớt hải đi về phía tôi, nói không kịp thở:
- Nãy giờ em đi tắm, hèn chi chị tìm không ra. Nè, con Phương đau bụng đẻ dữ dội, mấy người mới đưa nó lên bệnh viện đó, em đi với chị ra đó ngay!


Trước khi kể tiếp, tôi xin mở ngoặc nói về cái tên “Ngao” của chị…Ngao. Nhóm chúng tôi gồm bốn đứa con gái còn trẻ, hay đùa phá, nên thấy trong trại hễ ai có đặc điểm gì vui vui…khác người là chúng tôi đặt ngay “biệt danh” . Chị Ngao, có cái tên khai sanh rất đẹp là Hương Giang, nhưng chồng của chị có khuôn mặt to bè, lại đeo cái kiếng đen suốt ngày, chưa kể cái miệng trễ méo xẹo y chang như nhân vật thầy bói Ngao trong tuồng cải lương “Ngao Sò Ốc Hến”, nên chúng tôi tặng ngay tên Ngao cho cặp vợ chồng này là “anh chị Ngao”. (Chị Ngao, dạ quên, chị Hương Giang, nếu chị đọc được bài này, xin chị thông cảm và bỏ qua cho chúng em vì đã goị chị với cái tên khác, nhưng với tất cả sự thân mật, gần gũi, thương mến nhau, và cái tên đó đáng yêu lắm cơ!)
Trở lại cái chuyện chị Ngao báo tin con Phương đau bụng đẻ. Sở dĩ chị chạy đến kêu tôi, một phần vì tôi là hàng xóm cùng lô nhà. Phần khác, quan trọng hơn, là tôi quen với chàng bác sỹ người Việt làm trong bệnh viện, cho nên cứ có chuyện đau bụng nhức đầu, cảm cúm giữa đêm khuya là chị cứ réo tôi, để tôi cho thuốc (có sẵn trong nhà, do chàng bác sỹ…cung cấp), hoặc nếu cần thiết thì cùng tôi kéo nhau ra bệnh viện, nơi anh chàng bác sỹ ngủ ở đó mỗi đêm. Nhìn bộ mặt quan trọng của chị Ngao, tôi càng luống cuống:
- Chị chờ em vô nhà chải đầu nhe, mới tắm xong, ướt nhẹp hà…
Chị Ngao xua tay:
- Thôi khỏi, trại tỵ nạn ai cũng như ai mà, làm đẹp cho ai ngắm? Mình phải lên bệnh viện ngay coi nó có làm sao không chớ!
Tôi đành nghe lời, quăng vội mớ đồ dơ vào nhà, để nguyên si cái đầu bù tóc rối, chạy theo chị như bị ma đuổi. Tới nơi thì mấy chị hồi nãy (tạm gọi là mấy chị Tám) đưa Phương lên đây đã đứng sẵn ngoài cổng, báo tin:
- Bể nước ối rồi, mới được xe chở ra bệnh viện lớn ngoài trại.
Tôi hỏi, theo thói quen:
- Bác sỹ Đức đâu?
- Ra ngoải luôn rồi!
Cả đám nhìn nhau, rồi đi về nhà chị Ngao tán dóc trong khi chờ tin tức từ ngoải đưa về.
Chị Ngao chủ toạ, thở dài:
- Hổng biết con trai hay con gái đây? Hy vọng con Phương cố gắng mà rặn, chớ đừng để mổ, không tốt chút nào, hại sức khoẻ lắm…
Tôi phụ hoạ:
- Chiều nào hai vợ chồng nó cũng đi bộ mấy vòng quanh khu nhà, chắc không cần phải mổ đâu, nó dư sức mà.
Các chị Tám khác thay phiên nhau vào chuyện:
- Cầu mong cho ra con gái, và phải đẹp giống mẹ à nha, nước da trắng bóc, mũi cao, mắt nâu nâu hiền dịu…
- Ừa, nếu không giống mẹ mà giống…hải tặc thì tội nghiệp cho thằng Minh quá, tủi thân lắm á!
- Bà nói gì đâu không à! Khi chuyến tàu gặp hải tặc hãm hiếp, lúc lên trại gặp Cao Uỷ có cho các bà các cô uống thuốc phá thai phòng hờ, nhưng vợ chồng thằng Minh con Phương khi biết nó có thai đã nhứt định giữ cái thai lại. Tụi nó nói làm như vậy ác nhơn ác đức lắm, cứu một mạng người còn hơn xây mười cái Chùa, đứa bé nào có tội tình gì!
- Đúng rồi, suốt thời gian mang thai, con Phương được thằng Minh cưng chiều chăm sóc như trứng mỏng, thiệt là có phước lắm mới có được thằng chồng hiền lành hiểu biết như vậy.
- Thì dù sao, thằng Minh cũng biết vợ nó đâu có lỗi gì. Lỗi là lỗi tày trời mấy thằng hải tặc Thái Lan kìa. Cái lũ khốn kiếp tàn ác, hổng có lương tâm…
Mỗi người vài câu, nắng chiều tắt hồi nào không hay, mà tin tức từ ngoải vẫn im re.
Chị Ngao lại tiếp tục đúc kết với vai trò chủ nhà và chủ toạ:
- Ta nói, mình sợ Cộng Sản mới đi vượt biên, ra biển thì lại sợ nạn hải tặc. Cái đám đó sao trời không chu đất không diệt chúng cho tan thây! Mà tàu nào chúng hiếp, rồi cho đi tiếp là còn may phước mấy đời đó nghen, chớ nhiều tàu bị chúng hiếp xong là bắn vỡ tàu, cho chìm hết xuống biển để phi tang, coi như tiêu đời mất mạng. Tao nghe tả mấy thằng hải tặc bặm trợn, cởi trần trùng trục, da đen bóng loáng, xâm xổ đầy mình… mà ớn da vịt da gà. Nói thiệt nha, tàu tao mà gặp chúng nó, thà tao nhảy xuống biển liều chết sướng hơn!
Thế là các chị Tám lại lao nhao, lên án hải tặc, càng lúc càng hăng, chỉ thiếu điều muốn đứng lên hô khẩu hiệu “Đả đảo hải tặc, đả đảo hải tặc!!!”

Hai ngày sau, tôi đang làm ở bưu điện, chị Ngao lấp ló ngoài cửa. Tôi biết chuyện gì nên xin phép bà boss người Úc cho về sớm, chạy ra gặp chị Ngao:
- Phương sao rồi chị? Trai hay gái?
Chị Ngao nở nụ cươi tươi rói:
- Con trai!! Tụi mình đến thăm nha.
- Để em ghé qua chợ mua cho nó hộp sữa đặc.
Chị kéo tay tôi đi một mạch:
- Quà cáp để nay mai đưa cũng được, giờ ghé qua coi mẹ tròn con vuông ra sao, coi cái thẳng lủng đó như thế nào, tao nôn quá chừng…


Đến nơi, các chị Tám bữa trước đã có mặt đông đủ. Phương đang ẵm đứa bé, âu yếm nhìn nó dịu dàng, còn chồng Phương ngồi cạnh vợ, sờ nắn tay chân con với tất cả sự vụng về chân thành.
Tôi ghé xuống nhìn thằng bé, trời đất, nó không giống mẹ tí chút nào! Ngược lại, nước da nó màu nâu đen sậm, nhưng đậm đà, khoẻ mạnh và đôi mắt đen láy to tròn với hàng mi dài. Chắc mới bú no nên mặt nó tươi cười rạng rỡ. Chị Ngao tiến tới mở lời:
- Cho tao ẵm nó miếng coi!
Rồi đón lấy thằng bé, hun chụt chụt vào đôi má bầu bĩnh của nó và nựng:
- Tổ cha mày chứ, thấy ghét quá à.
Mấy bà Tám kia cũng xúm lại, cưng nựng mỗi người mỗi kiểu:
- Ui chu choa, cái môi cong cong kìa, cha mày!
- Trời ơi, cái mắt ướt rượt kìa, thằng cha mày!!
- Mèn ơi…Miệng cười này mai mốt con gái xếp hàng dài dài à nha…


Tôi bước ra cửa, vì biết không giành nổi với mấy bà đang chết mê chết mệt thằng bé con và thầm mỉm cười.


Mới hôm kia, bà nào cũng hăng máu đả đảo hải tặc rất quyết liệt, tưởng như không có gì cản nổi, mà bữa nay ôm cưng thằng…con hải tặc quên trời đất, mà câu nào cũng có chữ “cha mày, cha mày” thiệt là âu yếm, đáng yêu làm sao!

KIM LOAN

TRỞ VỀ NHÀ NGÀY 30 TẾT

 

Tôi khởi hành từ thành phố mùa đông

Bầu trời thấp, quê người giăng tuyết trắng

Bay về Việt Nam ngày ba mươi Tết

Căn nhà xưa ấm áp đợi tôi về

 

Tôi biết mẹ cũng thấp thỏm đợi chờ

Đứa con xa đã lâu chưa gặp mặt

Tôi bận rộn giữa vòng đời quay quắt

Kỷ niệm có khi là một giấc mơ

 

Mẹ đã chuẩn bị nấu bánh chưng chưa

Đợi tôi về đêm Ba Mươi nhóm lửa?

Góc bếp năm nào ngày tôi còn bé

Mắt long lanh như bếp lửa bập bùng

Đêm ba mươi Tết huyền diệu vô cùng

Nồi bánh sôi như lòng tôi rạo rực

Chợt tiếng pháo giao thừa về là lúc

Tôi thấy mình vừa mới lớn khôn hơn

 

                             

Kim Loan                                        

                                                  TIỄN VONG 2020

 

Tôi đã đón chào năm 2020 với niềm vui và hy vọng, bởi đó là con số đều và đẹp. Ngày đầu năm 1/1 tôi đã có mặt tại Arlington, Texas “xuất hành” về Houston, rồi trực chỉ New Orleans với tâm trạng bồng bềnh vì những dự định cho một năm mới đang đến.

Xong chuyến vacation, gia đình chúng tôi trở về nhà đang mùa băng giá nhưng cõi lòng ấm áp, chuẩn bị ăn Tết Canh Tý. Lúc ấy bắt đầu nghe tin về loại virus gì đó từ Vũ Hán bên Trung Quốc, gây chết người và lây lan mau lẹ. Tôi cười mỉm chi, ung dung tự tại: “Ối! Chuyện bên kia bờ đại dương, cách nửa quả địa cầu, hơi đâu mà lo!”. Tôi còn nhắn tin nhắc nhở bạn bè bên Việt Nam, chúc họ “bình an và bảo trọng”.

Rồi chỉ vài tuần sau, loại virus ấy đã bay đến Mỹ, tiểu bang California, New York và Washington, còn bên Canada có thành phố Toronto, Vancouver cũng …tiên phong trong việc “nhập khẩu” virus đáng sợ ấy. Tôi bắt đầu lắng lo, và việc gì đến cũng đã đến, con virus hiểm nguy đó được đặt tên COVID-19 bắt đầu tung hoành khắp thế giới với mức độ gia tăng chóng mặt. Tôi vốn là người “yếu bóng vía” nên vào giữa tháng ba, thành phố vừa ra thông báo nhắc nhở mọi người “stay home”, “stay safe”, tránh ra đường khi không cần thiết, tôi đã chủ động xin nghỉ làm vài tháng không ăn lương.

Đó là những tháng ngày u buồn chưa từng có. Cả thành phố bỗng hoang vu, vắng vẻ, khi luật “lockdown” có hiệu lực. Các hàng quán, shopping đóng cửa im lìm. Giá xăng rẻ đến mức không thể rẻ hơn nữa, khoảng 50 cents một lít, nhưng có “ma” nào dám đi đâu vào mùa này! Chiều chiều, tôi thay quần áo đi …đổ xăng ngoài đầu xóm, rồi tiện thể dạo “car ride” một vòng thành phố cho đỡ cuồng chân, vừa lái xe vừa thấm thía tâm trạng “đường thênh thang, gió lộng một mình ta!”.

Đến giữa tháng năm, mọi hy vọng Mùa Phục Sinh đẩy lùi Cúm Tàu thật sự vụt tắt, người chủ quan cỡ nào cũng bắt đầu lung lay niềm tin. Dân bản xứ da trắng chưa quen với việc đeo khẩu trang, nay cũng phải chấp hành, không còn tụ tập đông người, “ai ở đâu yên đó” mới chính là giúp xã hội, giúp cộng đồng.

Thật là khó chấp nhận, nhưng “nó” đã xảy ra, các sự kiện “đẹp” của năm “đẹp” đều đã bị huỷ bỏ hoặc dời lại vô thời hạn.

Đầu tiên phải nói đến Olympic Mùa Hè tại Japan. Chắc chắn số tiền thiệt hại không phải ít, vì chính phủ Nhật Bản hẳn cũng đã chuẩn bị mọi thứ sẵn sàng cho Olympic từ cả năm trước. May áo quần giầy dép cho các vận động viên có số đẹp 2020, in ấn các pano quảng cáo, các bảng hiệu, các địa danh nơi chốn, nói chung là mọi thứ liên quan đến Olympic và con số 2020, để rồi cơn dịch đã phá hỏng mọi kế hoạch. Khác với Olympic Mùa Đông chỉ có một số bộ môn và một số khán giả nhất định, chủ yếu là dân xứ lạnh, thì Olympic Mùa Hè được xem là sự kiện lớn trên toàn thế giới. Bốn năm mới có một lần, với hàng tỷ khán giả (thống kê tại Olympic 2016 ở Rio de Janeiro, Brazil là 3.6 tỷ người xem), nhiều bộ môn thi đấu, hấp dẫn người hâm mộ trên khắp hành tinh, trong đó có tôi. Nhớ làm sao những trưa hè, ăn ly kem mát lạnh trong phòng khách, thưởng thức các màn thi đấu bơi lội, thể dục dụng cụ, chạy đua tiếp sức, chạy việt dã … nay đã là dĩ vãng!

 

Tiếp theo là Giải Bóng Đá Châu Âu Euro 2020. Cũng giống như Olympic Japan, thì giải này cũng là sự kiện được các Soccer fans trông đợi, trong đó cũng …có tôi! Thú thật, tôi chỉ xem hai giải bóng đá lớn, đó là World Cup và Euro, dù tôi chẳng hiểu gì về bóng đá. Đừng hỏi tôi thế nào là việt vị, làm sao được phạt góc, vì sao có phạt đền (biết chết liền!), còn vụ thẻ vàng thẻ đỏ, tôi lại càng…không biết!

Dù sao, tôi cũng phải thú nhận một điều, là giống như nhiều phụ nữ xem World Cup và Euro, tôi cũng xem bóng đá với cảm tính nhiều hơn. Thấy cầu thủ nào trẻ, đẹp trai, có duyên là …thích ngay và luôn, đội nào nhiều “trai hùng” với thành tích lẫy lừng là cứ theo ủng hộ là …chắc ăn như bắp (tình yêu không có tội!). Nhưng ít ra, tôi vẫn biết khi trái bóng vào khung thành đối phương là ghi bàn, và dĩ nhiên tôi cũng biết la hét, run rẩy hồi hộp khi xem đá phạt đền luân lưu để quyết định thắng bại cho hai bên, như vậy đã đủ điều kiện để làm fan bóng đá chưa nhỉ? Thế mà hè năm nay, chỉ vì con Cúm Tàu mà tôi mất đi niềm hứng khởi tưng bừng với Ronaldo, Mendy, Muller… hỏi sao không buồn, không tức?!

 

Với dân ghiền phim huyền thoại James Bond (một lần nữa, lại …có tui), thì lẽ ra từ tháng tư năm nay đã được chiêm ngưỡng người hùng “license to kill”, lãng tử lạnh lùng với sở thích thức uống độc đáo: Vesper Martini “shaken not stirred”. Lần đi vacation tại Cancun vài năm trước, tôi đã yêu cầu được uống món này tại quầy bar của hồ bơi, mấy anh bồi người Mễ nhìn tôi đầy chứa chan trìu mến, có lẽ mấy ảnh nhận ra tâm hồn “đồng điệu” cùng ái mộ điệp viên 007 làm tôi nổi hứng “xuất khẩu thành thơ”:

Martini, người có mời tôi uống?

Trời Cancun thấp thoáng bóng chiều rơi

Đôi mắt Mễ Tây Cơ như mỉm cười

Hồn du khách lênh đênh theo biển sóng…

Giờ đây, chắc rằng họ cũng như tôi, phải dài cổ đếm từng ngày để gặp lại Mr.Bond!

 

Nền kinh tế toàn cầu bị trì trệ, nạn thất nghiệp tràn lan là điều không tránh khỏi. Học sinh sinh viên nghỉ ở nhà, thương nhất là các em ra trường năm nay với con số 2020 tưởng như đầy may mắn. Con gái tôi cũng là nạn nhân, sau sáu năm dài trên giảng đường Đại Học, có ai ngờ mùa ra trường lại “buồn như chấu cắn”. Tội hơn nữa là các em tốt nghiệp High School vì đây là cột mốc đẹp nhất của đời học sinh. Bao công sức chuẩn bị cho lễ tốt nghiệp, nữ sinh thì áo đầm xinh xắn, nam sinh thì vest bảnh bao, hồi hộp mong chờ đến “proms” là điệu khiêu vũ đầu tiên của đêm dạ hội tuyệt vời. Đứa em họ bên chồng tôi ở Atlanta kể, con gái nó cứ nhìn bộ áo đầm treo trong tủ mà khóc nức nở. Thương con, đến ngày “ra trường”, bố mẹ ông bà và anh em trong nhà cùng nhau diện áo quần trang trọng, kéo nhau ra …vườn sau nhà, có trang trí đầy đủ bong bóng, hoa tươi, “nhân vật chính” mặc đầm thướt tha, đầu đội “graduation hood”, rồi chụp hình, chúc mừng ăn uống để nó đỡ tủi thân.

 

Cộng đồng Việt Nam hải ngoại cũng bị ảnh hưởng não nề, khi ngày Quốc Hận 45 năm trôi qua trong âm thầm lặng lẽ. Năm nay, nếu không có con Virus Tàu phá đám thì cộng đồng chúng ta đã có những hoạt động tưởng niệm ghi dấu 45 năm Quốc Hận, cùng ôn lại trang sử bi hùng của tháng 4/1975 cũng như truyền lại cho thế hệ mai sau ghi nhớ. Bởi vậy mà cô bạn của tôi, là thợ may, biết tôi không có khẩu trang để đeo mùa dịch, đã may tặng tôi chiếc khẩu trang Cờ Vàng làm kỷ niệm Mùa Quốc Hận 2020 u hoài.

 

Riêng cá nhân tôi, cũng có những dự định không thành. Chiếc áo dài của nhỏ em thân thiết bên Việt Nam gửi qua để tôi “diện” mừng Chúa Phục Sinh cũng còn nằm nguyên trong tủ. Cái áo đầm cô em kết nghĩa từ thời trại tỵ nạn, chăm chút kỹ lưỡng từng mũi chỉ đường kim để tôi được… “toả sáng” tại đám cưới của đứa cháu tại Seattle vào tháng sáu cũng đành để đấy, (dự trù là sau mùa dịch, cả chiếc áo dài và áo đầm chỉ để …ngắm chơi, vì tôi sẽ không mặc vừa nữa). Lời hẹn bay qua San Francisco ăn Phở Gà chạy bộ gia truyền với cô bạn học cũng phải huỷ bỏ.

Còn biết bao nhiêu thiệt hại khắp nơi, sẽ chẳng bao giờ có con số thống kê chính xác, nhất là thiệt hại về tinh thần, làm sao bù đắp cho đầy đủ?!

Nhưng chẳng lẽ chúng ta cứ chịu cảnh tê liệt này mãi, cuộc sống vẫn phải tiếp diễn, niềm hy vọng sẽ vẫn thắp lên.

Thế là từng bước một, nới lỏng các quy định, các hàng quán, các cơ sở dịch vụ, các tụ điểm công cộng, nhà thờ, được mở cửa (dù là mở …he hé). Tôi cũng hào hứng đi làm lại, nghiêm chỉnh tuân thủ những “khẩu hiệu” ai cũng thuộc nhuyễn như cháo sườn: “keep your distance”, “wear your mask”, “wash your hands”, “sanitize”.

Trở lại chẳng được bao lâu, chỗ làm của tôi có người bị dính Covid. Tôi lại phải ở nhà hai tuần “quarantine” và thử Covid Test. Trong lúc chờ đợi kết quả, tôi cũng bị chính gia đình mình cho “cách ly” trong phòng riêng, đeo mask trong nhà vì vẫn phải làm việc nhà nhất là chuyện cơm nước, tôi nấu riêng cho tôi, còn món nào của chồng con, tôi quăng mắm muối vào nồi theo kiểu ước chừng, mặn lạt …hên xui ráng chịu!

Khi nhận kết quả “negative to Covid”, tôi vẫn chưa thật sự yên tâm, (con gái tôi bảo, bộ mẹ muốn positive mới chịu hả!), tôi vẫn sống như người …có bệnh, tiếp tục uống nước xả, gừng vắt thêm chanh và mật ong, thà… dư còn hơn thiếu!

Khắp nơi, xìu xìu ển ển, có lúc giống như sắp “the end of the world”, xính vính tinh thần dữ dội. Tôi nói “tinh thần” vì tôi đoán chừng người Việt mình tại hải ngoại ít bị ảnh hưởng về tiền bạc, vật chất. Tiền thất nghiệp, tiền trợ cấp mùa dịch đã có chính phủ chi trả đầy đủ, tuy không nhiều như khi đi làm, nhưng chắc chắn là đủ sống. Dân Tây dân Mỹ ăn xài hoang phí thì chưa quen, chớ dân mình, trải qua thời chiến tranh bom đạn, chạy loạn, bị cướp tài sản và đoạ đày kinh tế mới bởi “bên thắng cuộc”, ăn bo bo khoai sắn kể cả trong tù nhỏ (trại “cải tạo”) và tù lớn ngoài xã hội, rồi kéo nhau đi vượt biên, nếm mật nằm gai, qua trại tỵ nạn, nên chúng ta quá quen với chuyện “thắt lưng buộc bụng”. Đến xứ tự do này, ai cũng chí thú làm ăn, có “của ăn của để” dành dụm trong bank, (ngoại trừ một số người làm ít xài nhiều, có máu “bác thằng bần”, hút chích ăn chơi, hoặc mấy ông thích đèo bồng chán cơm thèm phở), thì đây là lúc xài chớ để làm chi, (mà có gì để xài trong thời buổi cấm chợ ngăn sông này!?)

Đến đầu tháng Mười Một, cuộc bầu cử Tổng Thống Mỹ rầm rộ hơn cả Cúm Tàu. Đương kim TT Trump lao đao vì Covid, là “vũ khí” duy nhất mà đảng đối thủ tận dụng để tranh phiếu vào Nhà Trắng. Cả thế giới hồi hộp “xem kịch” với hai nhân vật chính có nicknames do các “anh hùng bàn phím” trao tặng là “Đại ca Chum” và “ Bác Ba Đần”. Có người còn tin rằng, chính quyền Tàu Cộng đã tung virus đánh phá nước Mỹ, để trả thù “đại ca Trump”, có kết quả TT chính thức là hết dịch liền hà, thực hư thế nào, có Trời mới biết!

 

Cuộc bầu cử này “có một không hai” trong lịch sử Mỹ Quốc vì đã làm… dân Việt mình chia rẽ chửi nhau trên “phây” loạn cào cào. Tôi sợ mấy chuyện “trâu bò guýnh nhau ruồi muỗi chết” nên giữ thái độ “im lặng là vàng”, nhỏ em trong xóm thắc mắc:

- Bộ chị …hổng bị gì sao? Bà con hớn hở có, buồn bã có, tức giận có, rần rần kìa!

- Gỗ đá sao mà không bị?? Mà thôi, “lòng trần còn mơ vương khanh tướng, thì đời còn mưa bay gió cuốn”, mọi việc đã xong rồi, đừng khơi ra làm chi nữa.

Trong lúc mọi người chú ý vào chuyện bầu cử, thì lũ virus lì lợm bắt đầu trỗi dậy như bóng quế hồn ma, khiến số ca nhiễm và tử vong lại tăng lên, (lần đầu tiên có một thứ “made in China” sống dai hơn đỉa đói!). Nhiều thành phố lại cảnh báo bà con, hạn chế các dịp ăn uống họp mặt trong nhà, kể cả lễ Giáng Sinh và tiệc New Year.

 

Dù muốn dù không, tôi cũng phải đi shopping để mua một số thứ cần thiết cho gia đình. Chùa Bà Đanh vắng như thế nào tôi không biết, nhưng tôi bảo đảm shopping mall này vắng hơn … Chùa Bà Đanh, nhiều tiệm đóng cửa kín mít, không hẹn ngày mở cửa. Tôi bước vào tiệm quần áo yêu thích của tôi. Đây là tiệm khá đắt tiền vì hàng hoá chất lượng tốt. Bình thường tiệm này ít khi bán sale, mà có sale thì cũng chỉ 20-25% off, vậy mà giờ đây treo bảng bự tổ chảng: “Everything 75% off” làm tôi cứ ngỡ mình nhìn lầm. Tôi lựa được hơn chục món, cô bạn đi chung cũng tìm được gần hai chục món (cô ấy bảo chờ hết dịch đem về Việt Nam cho anh chị em còn ở bển). Ra quầy tính tiền, cả khách lẫn người bán hàng đều mang bộ mặt buồn thiu. Theo lời cô nhân viên, tiệm đang thanh lý hàng hoá để chuẩn bị khai “bankruptcy”, dẹp tiệm, tôi nghe mà lòng đau khôn xiết, rồi mai này tôi sẽ mua quần áo ở đâu?!

Khệ nệ ôm bịch đồ về nhà, tôi kể nỗi lòng của mình cho ông xã, ổng nói:

- Nãy giờ anh thấy em đứng trước gương thử hết bộ này đến bộ kia, mỉm cười mãn nguyện vì mấy chiếc áo ưng ý giá …rẻ, có thấy buồn bã gì đâu?!

- Mình không mua thì người khác cũng mua. Anh nhớ hồi còn bên quê nhà, mỗi khi cắt cổ gà làm thịt, có khi con gà chưa chết hẳn mà giãy giụa trên sàn đất, người ta phải cứa thêm một nhát dao “nhân đạo” cho nó mau thoát kiếp, thì bữa nay em cũng vậy, mạnh tay mua nhiều nhiều để giúp cho tiệm mau …phá sản!

 

Giờ thì năm 2020 đang đi qua với những “kỷ niệm” …ám ảnh. Tuy nhiên, những tin tức tốt đẹp về vaccine vừa hé mở, chắc chắn năm 2021 sẽ là một năm tươi sáng.

Nói có Chúa làm chứng, tôi mơ từng ngày từng giờ, các hàng quán sẽ mở lại rộn ràng, tôi sẽ đi ăn và order takeout thường xuyên (suốt thời gian qua tôi phải gồng mình đảm đang nội trợ, oải lắm rồi!), các rạp chiếu phim hãy sáng đèn, cho tôi được tái ngộ người hùng James Bond, các shopping centers không cần “sale” phần trăm nào hết á, tôi sẽ đi mua sắm, các hãng máy bay, các resorts hãy lên chương trình đón khách, giá cả không quan trọng, gia đình tôi sẽ đi du lịch.

Tôi chẳng phải “đại gia”, triệu phú, nhưng ai đó đã nói “tiền nhiều để làm gì?”, nghĩa là có nhiều xài nhiều, có ít xài ít (tóm lại là có nhiêu xài nhiêu), chúng ta sẽ hợp sức làm hồi sinh cuộc sống này.

Tôi tin rằng, rất nhiều người cũng giống như tôi, đang tiễn “vong” 2020 trong niềm hân hoan, không hề hối tiếc.

 

Edmonton, những ngày cuối năm 2020

KIM LOAN

Mẹ đã mua chưa những chậu hoa thơm?

Cành mai vàng trong căn phòng khách nhỏ

Tôi vẫn thấy mình đứng bên cửa sổ

Nhìn ra ngoài mơ mộng một trời Xuân

 

Chuyến bay miệt mài đi giữa màn đêm

Vượt đại dương mang theo hồn lữ thứ

Tạm biệt tuyết rơi, gió lạnh viễn xứ

Đứa con thân yêu đang trở về nhà

 

Nỗi vui mừng, vội vàng phố tôi qua

Hàng cây cũ nhìn tôi như chào đón

Những khuôn mặt quen bạn bè, lối xóm

Tất cả là ba mươi Tết trong tôi

 

Đêm nay tôi sẽ thức, sẽ rong chơi

Về quá khứ tìm mùa Xuân đã mất

Xin chào quê hương ngày Ba Mươi Tết

Đêm nay giao thừa tôi trẻ lại như xưa

 

Kim Loan