VĂN            

                 LƯƠNG NGỌC THÀNH

                              Rạch Giá 

 

Cựu học sinh PTG

___________________________

  GIÁNG SINH CỦA TÔI Ở BẢO LỘC

 

   Vào ngày 23 tháng 12 năm 1975, vừa nhận được học bổng đầu tiên- 19 đồng, tôi cũng nhận được lịch thi đấu cho giải bóng đá của Bộ Đại Học, “ Mùa Xuân 75.” Vừa mừng vừa lo và vừa thèm nhớ bạn bè, tôi đã âm thầm ra xa lộ Thủ Đức lúc 8 giờ sáng ngày hôm sau để đón xe đi Bảo Lộc.

    Tôi là người duy nhất trong “băng Cần Thơ” được tiếp tục học Đại Học. Tôi may mắn, và tôi tận dụng vận may và khả năng của tôi để thành thủ môn của đội bóng đá trường Đ.H. Sư Phạm Kỹ Thuật Thủ Đức. Vì vừa trải qua 3 môn thi học kỳ, hôm ấy rất nhiều sinh viên về quê hoặc nơi nào đó để đón Giáng sinh trong khi tôi trên đường về Bảo Lộc- nơi tôi xem như quê hương thứ hai của tôi. Xa lộ hôm ấy không có nhiều xe. Thiên hạ bận bịu việc trong nhà hay họ lo chuẩn bị cho đêm Giáng Sinh lần đầu tiên sau ngày 30 tháng 4. 

    Trước tiên, tôi chợt nhớ đến Hải Bầu, người tôi đã đưa về Cần Thơ để dạy kèm để hắn có thể thi tú tài ngành chuyên nghiệp N.L.S tại Bình Dương. Có theo Hải về nhà một lần năm ngoái, nên tôi còn nhớ rõ làm sao để đến nhà hắn. Tôi bảo xe ghé lại nhà thờ xứ Dốc Mơ- Gia Kiệm khi trời nắng nóng, gần 11 giờ. Hớn hở khi bước vào nhà hắn, tôi sững sờ nhận ra gương mặt tiều tuỵ đau khổ của mẹ nó người đã thống thiết kể lể với tôi ngay khi tôi bước chân vào nhà,

      “Mấy hôm sau ngày giải phóng, công an huyện đến tìm nó mà cứ bảo là tìm “giáo sư Hải”. Họ cứ còng tay đưa nó đi và đến nay nó biệt tăm. Nhà tôi đi cải tạo mà còn được thăm nuôi. Còn anh Hải thì… lạy Chúa tôi!”.

Tôi chẳng biết phải nói làm sao nữa nhưng tôi cương quyết từ chối khi được bà mời ở lại hôm đó. Trở ra quốc lộ 20, vừa buồn cho Hải Bầu, tôi vừa buồn cho bao nhiêu kẻ gặp vận hoạn nạn, đen đủi kỳ quặc, không thể giải thích nổi như vậy. 

Đứng chờ bên lề đường một mình, tôi quyết định thật nhanh. Nếu có xe về Sài Gòn, tôi đi về lại Thủ Đức nhưng nếu có xe lên Bảo Lộc, tôi vọt lên đó- dù chỉ có tối hôm nay thôi! Chưa uống xong ly cà phê, từ xa tôi nhận ra một xe chạy từ hướng Sài Gòn lên B.L. Tôi chen lên xe và chợt vui hẳn lên như bất cứ lần nào tôi được đi Bảo Lộc. Chuyến xe duy nhất này dừng rước bất cứ hành khách nào như tôi. Mọi người đều có chuyện riêng để đi ngày hôm ấy. Tôi đi lên chỉ mong gặp Long Kh’mer sau khi không thăm được Hải Bầu. 

     Còn nhớ hoài nét mặt đau khổ của bà mẹ của Hải Bầu, tôi chợt nhớ đến mẹ tôi. Tôi không biết so sánh thế nào nhưng chắc mẹ tôi có nhiều niềm vui vì tôi hơn nhiều người mẹ khác. Tôi hình dung ra ngay gương mặt của Má Năm- mẹ của Long người suốt cuộc đời vất vả chỉ cho chồng con mà thôi. Tôi nhớ nét nhăn trên gương mặt gầy guộc của Mạ Chánh. Tôi mong ngóng đến từng kí lô mét đường một. Chưa khi nào tôi có chuyến đi như thế này. Ôi! xe đến khu rừng Giá Tỵ, Định Quán rồi! Tôi bồn chồn nôn nao như một gã ly hương trên đường trở về quê, như một tay vừa ra tù trên đường về đoàn tụ gia đình, như một chàng trai trẻ về thăm quê hương của cô bạn gái mà chàng yêu quý. Khi xe qua đèo chuối, tôi nhớ lại ngày đầu tiên đón xe lên Bảo Lộc, tháng 6, 1971. Trời mưa dầm lạnh lẽo. Xe như chạy vào một khu rừng khá rậm, mọi thứ rất vừa vặn, từ những cung đường không quá gắt, không quá nghiêng dốc, bên phía thung lũng không quá sâu, bên triền núi đá không quá cao. Tôi cảm thấy êm đềm khi ngắm nhìn màu xanh mướt thật tươi mới từ những rừng cây dập dìu cành lá. Cơn mưa phùn làm mờ hết đường xe chạy. Mọi người trên xe như nín thở bất động. Đường đèo hôm đó vắng xe một cách lạ lùng. Ít có ai đi đâu trong ngày cận kề Noel như thế này hay sao? Tiếng máy xe nổ giòn giã như để khẳng định với những hành khách rằng chuyến đi sẽ đến đích, chuyến xe này chắc chắn sẽ đến nơi an toàn. Dẫu chỉ mặc cái áo sơ mi xuềnh xoàng, trong trời cuối tháng 12 khô, lạnh, tôi cảm thấy như bình thường. Điều tôi mong đợi là gặp được Long Kh’mer để trò chyện với nó để nghe nó kể lể cho thoả lòng của cả hai đứa tôi.    

   Khi xe lên Đèo Bảo Lộc, như nhiều lần khác, tôi cảm thấy nhẹ nhõm. Cái cảm giác vui sướng lâng lâng của chàng học trò được điểm cao, được lời khen ngợi của cô thầy khó tính nào đó. Khoảng đường dắt lên đèo Bảo Lộc bỗng đẹp hơn, trơn láng hơn. Lòng tôi thênh thang nhẹ nhàng như chiếc xe đang chạy thật êm ái chuẩn bị lên đèo. Cái đoạn đường đèo hơn 10 kilô mét này đặc biệt ý nghĩa vì nó gây cho hành khách sự chuẩn bị, sự toan tính những gì họ sẽ làm hoặc sẽ xảy ra với họ trên Bảo Lộc. Tôi dự tính gặp Long Kh’mer và chỉ có thế thôi. Điều gì có thể xảy ra với tôi nhỉ!? Có ai biết được Long cũng bị một chuyện xui rủi nào, một tai nạn nào đó hay không. Khi ấy không có cách gì để báo cho hắn biết rằng tôi sắp lên thăm. Khi ấy việc gặp nhau có rất nhiều ý nghĩa. 

    Miếu Ba Cô và tượng đài Đức Mẹ Maria trên đèo là một nơi dừng chân lý tưởng đối với khách tham quan hoặc cho những ai cần cầu xin điều gì. Vừa nhìn thấy đài Đức Mẹ xong, tôi liền nghĩ đến việc Long Kh’mer có thể đi hành hương trong lúc ấy với nhóm thanh niên ca đoàn hay hướng đạo gì gì đó. Xe chầm chậm leo lên đèo, vượt qua nhiều đoạn cua quẹo. Tôi nhìn thật kỹ lưỡng một xe đò nhỏ đang đậu và số người đang dừng chân ở khu đài Đức Mẹ. Sự vật vẫn như thế nhưng tình cảnh nay đã khác. Lòng người có thể vẫn thế nhưng trong khi mà cái ăn cái mặc, cái cảm giác bình an dù cho đơn giản nhất có thể lại khác đi rất nhiều. 

   Tôi đã không nhìn thấy có Long trong nhóm khách viếng Tượng Đức Mẹ. Tôi nhẩm đếm từng khúc cua trên đường đèo. Khúc cua thứ mười bốn là Miếu Ba Cô. Xe vẫn cứ tiến tới và tôi cũng vẫn cố hy vọng. Tính từ khi xe vừa qua cua quẹo thứ nhì sau khi qua miếu, tôi nhận ra ngay cây đàn guita quen thuộc và người mang nó trên vai, Bình Bon- lớp Công Thôn- khóa 2. Tôi nhìn chầm chập vào nhóm thanh niên đang đi bộ phía lề phải để mong tìm thấy người tôi muốn gặp. Xe cứ tiến đến cua quẹo thứ ba, thứ tư. Tôi cứ dõi mắt tìm hắn. Linh cảm rằng hắn thế nào cũng có mặt trong nhóm thanh niên thanh nữ này, khiến tôi chồm người ra cửa sau, ngay mặt ra ngoài để nhìn rõ hơn. Đến cua quẹo thứ mười hai tôi nhận ngay ra Long Kh’mer trong một nhóm hơn mười thanh niên. Tôi kêu tên hắn một cách thảng thốt và hắn giật bắn người khi nghe tiếng gọi của tôi. Chiếc xe vừa sắp qua hết khúc cua cuối cùng để lao thẳng về Bảo Lộc là lúc tôi kêu dừng xe. Chắc gã tài xế đó chưa bao giờ phải dừng vào cái lúc mà ai cũng mong mau về nhà và xe đang chạy thật ngon trớn. Cái dốc xe vừa chạy qua không cao lắm. Vừa thật sự lấy được thăng bằng sau khi nhảy xuống xe, tôi chạy hấp tấp ngược về cái dốc để mong gặp được Long càng nhanh càng tốt.

      Long Kh’mer cũng vừa chạy lên từ phía dốc bên kia vừa kêu tên tôi thật to. Không có một đạo diễn nào nghĩ ra cái pha mà hai đứa tôi gặp nhau như vậy và không có diễn viên nào có thể làm được như thế. Chúng tôi ôm nhau, trong hơi thở hổn hển, trên một đoạn đường trống trải nhưng trong lòng hai thằng tôi đầy ắp biết bao là niềm vui. Long nắm chặt tay tôi, cười thật tươi. Cái răng khểnh bên phải của nó như cũng lên tiếng chào hỏi tôi. Hai bàn tay Long trơn ướt lạnh. Trời hanh khô nhưng hai đứa tôi thấy như đang đội một cơn mưa phùn thật nhẹ. Trời dần ngã màu xẩm tối khi chúng tôi thấy có ánh sáng lên trong lòng. Chúng tôi cần có nhau như người đi lễ cần nhà thờ, như người cần xưng tội cần có cha ngồi nghe những lời khó nói ra nhất. Tại sao người ta không kề cận nhau, lắng nghe, dung thứ, khuyên bảo nhau. Tại sao người ta cứ phải liên tiếp bài kích nhau, vạch ra những lỗi lầm to nhỏ để hạ thấp nhau. Tại sao họ luôn bận tâm đến việc làm cho người khác phải toan tính , phải che đậy, dối trá vì phải tìm ra câu biện hộ này, lời giải thích bâng quơ nọ. Hai đứa tôi chỉ có kể lể, tâm tình, nghe ngóng và chỉ vậy thôi cũng đủ cho cả hai, vốn đã đau, buồn, tủi bất toại, bất ổn và bất bình.

   Con đường từ đấy về Bảo Lộc vắng vẻ trơ trọi, hai bên đường nhà nhà đóng cửa im ỉm,  nhưng chúng tôi thấy đầy ắp niềm vui, một niềm vui rất lạ lùng. Bất kể điều gì xảy ra với chúng tôi cũng đều không quan trọng vì chúng tôi vừa gặp được nhau rồi. Đêm mai nhiều người và con chiên vui Giáng Sinh tại nhà hay ở nhà thờ. Đêm nay, Long Kh’mer và tôi vui hội ngộ trên con đường vắng.   

    Chúa giáng trần mang đến sự bình an cứu rỗi. Tôi lên đây mang đến Long Kh’mer một niềm vui đơn giản. Long và họ vừa đi thăm đài Đức Mẹ về. Tôi vừa đi thăm gia đình Hải Bầu và gặp mẹ hắn. Sự mất mát, đau khổ, trông đợi, và thất vọng là những thứ ai cũng có, ai cũng phải gánh chịu. Nhưng sự bình an, hạnh phúc, những thành tựu và những điều tốt đẹp là những thứ không phải ai cũng có thể có được. Hơn hẳn những người bạn tôi- còn đi học, còn có nơi để dung thân, và còn có một tương lai đơn sơ nhỏ nhắn- tôi muốn đem lên đây chia cho Long một ít. Tôi muốn mang lên Bảo Lộc một nửa của cái tôi đang có. Tôi muốn kể lể cho nhiều người ở trên Bảo Lộc này sự thật về tôi, về cái may mắn, cái cơ hội mà sẽ khiến họ vui mừng hoặc ganh tị, lo lắng hoặc chúc mừng tôi hoặc thèm thuồng được có những điều như vậy.

   Kề vai tôi, Long Kh’mer đưa tôi về đến nhà lúc trời tối đen. Chúng tôi ăn cơm với chị Tư rồi ra quán để thăm Má Năm. Chúng tôi đã có một buổi tối bình an, đẹp đẽ như nhiều người hằng mong đợi- một buổi tối trước ngày Chúa giáng sinh.

 

 Rạch Giá 8- 12- 2010

 Thành Xì TL-71          

______________________      

BÓNG ĐÁ và CUỘC ĐỜI TÔI

 

       Nhiều nhà văn, nhiều tài liệu, phim ảnh đã nói quá nhiều về bóng đá rồi cho nên tôi chỉ biết viết ngắn gọn rằng: bóng đá đã làm thay đổi cuộc đời tôi một cách sâu sắc.

       Từ một chàng sinh viên có học lực khá nhưng bất đắc chí vì lý lịch xấu, gia đình tan nát, tôi chọn chơi bóng đá như là cách để chứng tỏ chính mình. Từ một tiền vệ trung tâm, tôi đưa đội bóng lớp tôi- 74 KNNc vào trận chung kết. Hạ đối thủ-lớp 74 KCNa, lớp tôi vô địch trường và tôi nghiễm nhiên thành một tiền vệ có đủ tài năng và uy tín. Nhận ra chàng thủ môn lớp 74 CTM không đủ tiêu chuẩn- vừa thấp vừa chậm- tôi tình nguyện làm người mang găng tay trấn giữ khung thành của đội bóng trường Đ.H Sư Phạm Kỹ Thuật từ trận đá đầu tiên- tháng 12- 1975 cho đến lúc tôi về Kiên Giang cuối tháng 3- 1980. 

    Để được yên vị và tiến bộ, tôi chỉ còn có cách tập luyện thật chăm chỉ. Hồi còn học ở Bảo Lộc năm lớp đệ nhất, để thức sớm làm bài luyện thi vào đại học, tôi cố đi ngủ lúc 9 giờ tối. Còn lúc ấy, để ngủ được hằng đêm, tôi chỉ còn có cách tập đá banh hằng buổi trưa. Vì tôi đã từng“làm con mọt sách” và tập đàn ghi ta 365 ngày một năm ở Bảo Lộc rồi, tôi cũng đã có thể tập đá bóng cũng theo mức độ ấy. Nắng mưa, cái lạnh đã không có thể cản tôi thức sớm để học, để đánh đàn, nên tôi cũng đá bóng bất chấp khi trời mưa to hay khi nắng gắt như lửa đốt. 

      Khi người tiền nhiệm- Nguyễn Hưng- lớp Cao Đẳng khóa 1, ra trường- tháng 7- năm 1976, tôi được bầu chọn làm đội trưởng. Ngay khi vừa xuất hiện trận đầu tiên trong giải đấu: “Mùa Xuân”- do Sở Giáo Dục T.p Hồ Chí Minh tổ chức- tôi đã được chọn làm 1 trong 3 thủ môn của đội tuyển Sinh Viên Sài Gòn. Suốt 4 năm học, tôi không vắng mặt một trận đá bóng nào, chơi yếu kém trong bất cứ một trận nào. 

       Đầu năm 1977, thầy Phan Văn Lân- khoá 2, Đ.H Thể Dục Thể Thao Từ Sơn về công tác tại trường tôi. Thầy Lân lập ra một quy chế cho trường, “Những trưởng ban thể thao có trách nhiệm và quyền tự chủ để phát triển bộ môn mà họ đảm nhiệm”. Tôi là người thầy Lân chọn đầu tiên. Phong trào thể thao trong toàn trường càng lớn mạnh, tôi càng có nhiều trách nhiệm và uy tín. Tôi hiểu hơn ai hết bóng đá là cái ưu điểm đặc biệt của tôi, và tôi cũng hiểu rất rõ tôi phải làm gì. Điều ấy giúp ích tôi rất nhiều như một anh nông dân biết rất rõ công việc đồng áng từng ngày một, người nghệ sĩ thuộc vai diễn như người chiến sĩ hiểu rõ từng trận đánh một. 

    Dù không phải là đoàn viên trong chi đoàn lớp, tôi được phân công làm trưởng ban bóng đá của đoàn trường và dĩ nhiên của cả chi đoàn Nông Nghiệp. Dù không được dự một khoá đào tạo nào, tôi đã cầm còi điều khiển tất cả các trận đấu trong các giải đấu trong trường như một trọng tài tốt. Môn bóng rổ theo chân sự thành công của bóng đá. Tôi- với vốn liếng đã chơi trên Bảo Lộc- lại có một dịp tốt nữa để có mặt trong đội bóng rổ nam. Vì các sinh viên nữ trong ký túc xá muốn tập chơi bóng rổ, tôi được cử làm huấn luyện viên cho họ- một thần tượng trong mắt của một số cô sinh viên xinh đẹp, năng động lúc bấy giờ.

    Các đội bóng đá chung quanh trường đều thiếu họăc không có sân tập. Đội chúng tôi trở thành cục nam châm lớn. Có rất nhiều đội mời chúng tôi thi đấu. Đội bóng công ty bột giặt Viso rất thường mời tôi và hai đồng đội khác chơi chính thức cho họ. Sau đó trường Kỹ Thuật Việt Đức và đội tuyển huyện Thủ Đức cũng cần có đôi tay nhựa của tôi.  Khi đi thực tập tại Ô Môn- Cần Thơ, tôi khiến cho nhiều người lầm tưởng tôi là thủ môn của Cần Thơ. Tại Sóc Trăng, người đội trưởng đội tuyển tỉnh khi ấy đến gặp tôi để mời tôi chơi cho họ một trận. Lên Bảo Lộc nghỉ hè, tôi cũng đã nhận một lời mời tương tự. 

    Hồi ở trung học NLS Cần Thơ, Nguyễn Bảo Toàn, Lý Thái Lâm, Hậu Bào và vài tay nữa với tôi phải đèo nhau ra sân bãi cát, sân ĐH Cần Thơ hay sân trường Lassan để tập đá hoặc đá với các sinh viên. Lên Bảo Lộc, nhờ tài nghệ của Tâm Dê và Bảy Bình, dẫu cho là cây ghi bàn thứ hai trong lớp, tôi còn khá nhút nhát. Số bàn thắng tôi đã ghi được giúp tên tôi được ghi vào danh sách “đội bóng đá tỉnh Lâm Đồng” trong giải đấu ĐH Thể Thao học sinh tại Phan Rang năm 1972. Tôi đã đá khá hay trong giải toàn quốc đó.

    Sau ngày 30- 4, tôi tự ti mặc cảm. Nhưng sau khi làm được những gì mà phong trào thể thao của trường của tôi cần, tôi tự tin. “Hồng hay chuyên” là cụm từ của ai đó thường nói qua cửa miệng. Tôi chỉ thường tự hỏi, “Tốt hay chưa”. Thay mặt toàn đội, tôi được giao trách nhiệm nhận giữ xe khi có các trận đấu lớn của huyện. Tôi nhận phần rắc vôi sân bóng, mắc lưới 2 bên cầu môn và nhận trọn khoản tiền thù lao cho đội, 25 xu mỗi người từng buổi tập hay trận đấu chính thức. Hằng các trận đấu lớn ở Sài Gòn, đội của tôi được nhận 2 vé xem tại sân Thống Nhất. 

    Khi lớp tôi đi thực tập gần 2 tháng ở 4 địa điểm khác nhau, ngoài cây đàn ghi ta đeo trên lưng, tôi còn phải mang vác theo một bao giày bóng cho đội. Theo một cách nào đó, khi nhận lời thi đấu với một địa phương- nơi chúng tôi đang thực tập, tôi đã vừa quảng bá được cái thương hiệu của trường tôi và đồng thời vừa tập luyện như một cầu thủ nghiệp dư. Tại Dưỡng Điềm, Thuộc Nhiêu, Tiền Giang, đội địa phương ấy còn rủ chúng tôi đá một trận bán vé sau khi chúng tôi có tăng cường 2 tiền vệ của tỉnh đội Bến Tre, trong đó một là em của Nguyễn Công Trực. Chỉ vì nghe những gì tôi đã làm được cho trường tôi mà vị phó phòng tổ chức của Đ.H Cần Thơ đã chính thức xin nhận tôi về công tác cho họ tháng 9- 1979.

     Khác với nhiều dự đoán, tôi được phân công làm: “Cán bộ thể thao của trường”. Tôi được cái vinh dự đó ngoài mức mong đợi. Xe đưa rước, phòng, bếp ăn riêng, chế độ cao: 19 kí lương thực, thịt, sữa, trang phục thể thao… là những thứ nhiều sinh viên khi đó thèm muốn. Người má nuôi và cũng sẽ là má vợ của tôi không còn điều gì để mong đợi ở tôi hơn nữa cả. Tôi trở về đoàn tụ với gia đình bà sau hơn một năm tôi giận người chị thứ bảy trong nhà.   

   Xong chuyện học, việc riêng tư, tôi quyết định về thăm mẹ ruột ở Sóc Xoài, Hòn Đất, Kiên Giang. Trong hành trang tôi mang theo, có một tình yêu thương mẹ nồng nàn và một tình yêu bóng đá rất mạnh mẽ nữa. Mặc bộ đồ thể thao, đi giày bóng đá của một trường ĐH, khi tôi tập tại sân bóng xã Sóc Xoài, mọi người chiêm ngưỡng tôi, xem tôi như một ngôi sao- giống hệt như chúng tôi đã ngưỡng mộ Phương Thanh- nghệ sĩ- người vào sân trường Nông Lâm Súc tập và đá cho trường một trận năm 1973. Ông Tư Dả- ông bầu đội bóng, đã ký hợp đồng cho tôi thi đấu cho đội Công Ty Vật Tư tỉnh mấy trận liền. Vì thiếu cấu thủ, đội bóng giàu mạnh nổi tiếng này- vô địch mấy năm liền- đã nhận tôi về Kiên Giang công tác và “đá bóng”. Ít ai biết rằng má nuôi của tôi chính xác là người khuyên tôi về đây để tôi có thể tiến thân, có dịp đi vượt biên, nhất là gần gũi và phụng dưỡng bà mẹ ruột.

    Cuối tháng 3 năm 1980 tôi về đây trong lúc em trai tôi còn trong trại giam, chị tôi ở kinh tế mới. Tập dợt hàng trưa, thi đấu gần như hàng nửa tháng một trận, tôi chơi khá hẳn lên. Trong giải A2 toàn quốc năm đó- 1982, tôi được chọn làm thủ môn dự bị. Đội bóng Kiên Giang được một tiền vệ của đội Cảng Sài Gòn huấn luyện. Tôi là thủ môn dự bị nhưng cũng chơi 2 trận khá hay. Hằng tuần sau khi đá bóng, tôi về thăm mẹ ruột, người hãnh diện vì:

“Ít có ai được đứa con như bà.” theo như nhiều lời đàm tiếu, bàn bạc về tôi.

    Sau khi có vị hôn thê tôi xuống thăm, sau khi chị em tôi đi vượt biên tháng 4 năm 1982, công ty của tôi đề quyết rằng tôi đã hụt chuyến đi ấy và họ tuyên bố không còn tin dùng tôi nữa. Sự thất vọng, mất niềm tin đã khiến tôi rượu chè. Không bao lâu sau khi vào “làng nhậu”, tôi có một cấp bậc khá cao. Xin cơ quan cho ra ở ngoài để làm gia sư, tôi còn hùn vốn để gia công làm phấn viết bảng. Tôi cũng tập vẽ bảng hiệu một mình như để chuẩn bị cho một bước ngoặt mới. 

    Việc có người yêu và lập gia đình giúp tôi tin vào một tương lai khá hơn. Tôi về ở rể và tiếp tục đi làm cho đến khi họ cho tôi thôi việc. Xin một vài nơi không được, tôi quyết định theo ông già vợ làm nghề nấu rượu. Trái bóng đá đã ngừng lăn trong đời tôi rồi sao? Chuyện đời yên ổn như thế à? Tôi yên lòng làm người thợ nấu rượu lậu được hả? Tôi không tin vào số phận nhưng tôi tin vào những gì Đạt- một tiền đạo có tiếng- khi đó đang là huấn luyện viên cho đội Sở Lâm Nghiệp- nói với tôi:

“Anh ráng chụp giúp cho một trận nhé anh Thành.”

    Đó là trận bán kết giải bóng đá tỉnh K.G năm 1985. Tôi chụp khá ổn định và chúng tôi thắng trận. Tôi lại được mời chụp trận kế tiếp- cái trận chung kết định mệnh ấy. Đỡ được một trái penalty trong trận đá đó, tôi gần thành người hùng rồi. Trong 5 trái đá luân lưu 11 mét phân định ngôi thứ ấy, đối thủ của chúng tôi- Xi Măng Hà Tiên 2- chắc chắn không bao giờ quên được tôi- thủ môn Thành vì tôi đỡ được cái quả đá cuối cùng để đưa đội Sở Lâm Nghiệp lên ngôi vô địch. Tôi được phó giám đốc Sở mời đi làm. Đời như vậy đấy. Tôi trở thành một giám sát công trình cho Công Ty Lâm Sản nhưng kiêm là thủ môn và đặc biệt là tay ghita accord cho đội Sở Lâm Nghiệp từ tháng 5 năm 1985 cho đến khi tôi không chịu nổi sự bạc đãi của họ. Tôi đã tự ý xin nghỉ việc vào ngay đầu năm 1989.

    Với ý chí của kẻ đã nhiều năm tự luyện tập và chơi bóng đá, tôi đã tự học Anh Văn vào tuổi 35 và may mắn trở thành một thầy giáo. Nhờ đã từng luyện tập đá banh chăm chỉ, tôi cũng đã dạy và học Anh Văn chuyên cần như thế đó. Sau 2 năm học, tôi có chứng chỉ C do Đ.H Tổng Hợp Tp Hồ Chí Minh cấp và rồi sau 4 năm nữa tôi có tấm bằng Cử Nhân Anh Văn hệ đào tạo từ xa của ĐH Ngoại Ngữ Hà Nội. Tôi đã dạy nhiều trung tâm ngoại ngữ, đủ các loại lớp, vào các giờ khác nhau, từ 5 giờ sáng đến 11 giờ tối. Tôi đã thành một trụ cột vững vàng cho gia đình 5 người của tôi.   

     Nếu việc tôi đã từ trường Phan Thanh Giản vào NLS Cần Thơ đến việc tôi lên học trên NLS Bảo Lộc hoặc việc chơi bóng đá trên đại học và việc tôi về Rạch Giá đã thay đổi cuộc đời tôi như thế nào, thì giờ đây, đến phiên “Việc học và dạy Anh Văn.” cũng như thế ấy.

    Lắm lúc, cuộc đời quả thật là ngoạn mục như một trận bóng đá!

 

Rạch Giá 30 tết năm Canh Dần

                                                                                                       Lương Lương Ngọc Thành  

_________________________________

LẦN ĐẦU TÔI UỐNG RƯỢU

   Giống như nhiều chuyện lần đầu khác, hút thuốc, tỏ tình, làm ra tiền, lần đầu tôi nhậu thật đáng nhớ vì tôi đã phải đóng giả vai trò của một cán bộ kỹ thuật khi tôi đang đi thực tập để viết đồ án tốt nghiệp, cuối tháng 3 năm 1979, và đó cũng là lần thứ nhì tôi nói dối.

   May cho tôi khi tôi nhận được đề tài: “Tìm hiểu tổ chức và hoạt động của trạm máy kéo ở Hậu Giang- Ô Môn, Sóc Trăng.”. Với 23 đồng tiền học bổng của tháng đó, với một balô nhỏ trên lưng, tôi đi Cần Thơ với hy vọng rất lớn: gặp được các bạn học NLS, nhận các lời động viên chúc may mắn của tụi nó. Đến nơi tôi mới hay đa số bạn tôi đã đi vượt biên trong tháng hai rồi. Tôi mới hiểu ra tại sao lần cuối về thăm thằng Hậu Bào, nó luôn nhắc tôi, “Tết này về với tao nghen.”

  Tôi chỉ gặp được Phùng Trương- NLS Cần Thơ- và ngủ qua đêm với nó để nghe nó kể hết sự tình, kể cách tụi nó đã chuẩn bị. Hôm sau, một mình tìm đến Chi Cục Máy Kéo Hậu Giang, tôi nhỏ nhẹ khéo léo chiếm được cảm tình của ông cán bộ hành chánh để ông ta viết cho một giấy giới thiệu với nội dung là, “Điều tra những vấn đề kỹ thuật tại trạm máy kéo ở Ô Môn và Sóc trăng”, thay vì là “sinh viên đi thực tập”.

   Nghiễm nhiên là cán bộ kỹ thuật rồi, cho nên khi ra ruộng với chiếc máy kéo với giàn cày chảo, tôi phải tỏ ra rất thuần thục. Thầy Phạm Phi Hoành đã từng hướng dẫn chúng tôi sử dụng một cái máy cày Caterpillar của Mỹ to tướng rồi còn gì, nên tôi bước lên nhảy xuống chiếc máy kéo MTZ- nhập từ Liên Xô- một cách nhẹ nhàng thuần thục. Tôi móc ngay ra cuốn sổ tay, ghi ghi chép chép. Tôi rút cây thước ra đo chỗ này, lắc lắc đầu khi sờ vào chỗ khác trong khi anh chàng lái máy kéo trả lời vài câu hỏi của người chủ đất. Hắn vội vã lên máy đang nhả khói lên bầu trời trong xanh nắng ráo. Tiếng động cơ rú lên kéo theo một vệt khói đen, hắn hành sự trong khi tôi tiến tới ông chủ đất để hỏi chuyện,

“Chú được cày đất mấy mùa rồi vậy chú?”

Ông nông dân miền tây thứ thiệt với các phát âm miệt vườn thứ thiệt,

“Mùa“gồi” tui có mần được gì đâu cán bộ ơi.”

“Sao vậy chú?”

“Cái máy cày “Gon Đia”( John Deer) của ông TámTàng bị hư nặng.

Tụi tui kêu cặp bò của Bảy Hảo kéo lớt lớt thôi chú.”

Tôi cố gây cảm tình với ông ta,

“ Mùa này có máy kéo mới chắc ngon ăn hả chú?”
”Dái chời dái Phật” mùa này “chúng” đặng tui “chả” một phần nợ.”

Ông bỏ tôi đứng một mình để lo đặt đồ cúng xuống góc của thửa đất. Chốc lát sau ông đốt nhang, lạy bốn phương tám hướng, vung mấy vốc gạo với muối trắng lên như thể ông đang rải phân trên ruộng vậy.

“Lát nữa nhậu cho đã một bữa nhe ông cán bộ.”

Tôi không trả lời ngay vì còn đang bận quan sát đường cày ải của chiếc MTZ đang phun khói chạy băng băng lui lui tới tới. Trên cánh đồng trống trải rộng mênh mông ấy, tôi đang đứng một mình nhưng trong lòng ngổn ngang nhiều nỗi mà không biết bày tỏ cùng ai. Người nông dân đó có tôi để kể lể còn tôi thì không thể làm điều ngược lại. Anh chàng lái máy cày trẻ tuổi và người thư kế toán đội đang mãi mê cái tác phẩm của họ và vì phần ngán ngẫm cái bữa nhậu giữa trưa như vầy rồi nên bỏ mặc tôi một mình.

“Thôi ngồi xuống đây đi ông cán bộ.”     

Tôi giật mình nhưng rất nhanh miệng đáp ngay,

“Có rủ ai nữa không chú?”

“Hồi tối tôi có “gủ” mấy thằng cha bạn “gồi” đó chứ. Thôi mình cứ “mần chước” đi cán bộ.”

Tôi đáp lời một cách ngon hơ,

“Mần thì mần.”

Học ở Bảo Lộc 3 năm, sống với 3 người chủ nhà gốc Bắc, học với nhiều bạn Bắc kỳ, tôi tập theo cách nói của họ rất nhanh chóng, nào là, “zét nắm”- “kinh vấy”, “uống Ziệu”, nhờ vậy nay tôi cũng “mần được” ngon lành. Trên đó tôi uống chè xanh như người miền nam ở đây uống nước trong lu vậy. Trên đó, bận áo len suốt ngày, ở dưới này tôi cởi trần suốt ngày. Và giờ đây tôi sắp chính thức uống rượu- lần đầu tiên trong đời.

“Cán bộ vô “chước” đi- khỏi tiên chủ hậu khách há.”

“Bao nhiêu đây chú?”

“Chăm phần chăm” đi. Vô cho nó ngon, “mần ăn” mới ngon chứ.”

Hít một hơi thật xâu, cầm cái ly rượu một cách điệu nghệ, tôi uống chậm chạp, ngọt ngào như cái cách người ta uống một ly trà ngon vừa nguội vậy.

“Chời ơi”! Cán bộ dô ngọt quá! Thiệt quá đả!”

Tôi làm bộ hỏi để chận lại cái choáng của ly rượu vừa uống,

“Rượu này ngon ghê.  Chú đặt đó hả?”

“Thằng em “dợ” của tui “mần gụ” lâu năm “gồi”. Nó nấu ngon nhất xã này đó. Tui thấy cán bộ “dô” ngon ơ mà ham. Thôi tui “dô”luôn hén!”

Mời tôi cái đùi gà, múc cho tôi chén cháo nóng, ông chủ đất- vốn rất hiếu khách- kể cho tôi nghe,

“Tui có ba thằng con “chai”. Không có thằng nào chịu đi học hành gì “gáo chọi”. Nghĩ mà buồn lắm chú ơi. Tui lở dốt “gồi”, “gáng mần” nuôi tụi nó ăn học, “dậy” mà…Cán bộ chắc giỏi chữ nghĩa lắm há, Kỹ sư Nông Nghiệp phải không? Còn “chẻ”ghê hén? Có “dợ” con gì chưa?”

Tôi ậm ừ. Tôi có thể nói qua loa với ông ta cho qua chuyện nhưng khó lòng mà qua hết cái chai rượu và nồi cháo gà đặc sệt đang bốc mùi thơm phức. Tôi thấy gần với ông chủ đất người đang đối ẩm với tôi, gần với cái thực tế phũ phàng- cái người này cần lại là cái mà người kia không hề để mắt tới.

“Chú phải ráng đưa mấy người con trai ra chợ học cái nghề. Tui đây phải học cực khổ lắm mới có ngày hôm nay chứ bộ.”

Người nông dân thiệt thà chất phát này vô cùng cảm kích,

“Ba má của cán bộ chắc là “dui” lắm há? Tụi con tui có chữ nghĩa đâu mà học, cán bộ ơi? Tụi nó đang đòi “lấy dợ” đây chớ. Thôi dô cho đở buồn!”

Chén thù chén tạc, tôi với người đàn ông trạc tuổi ba tôi đó đã chia nhau gần hết chai rượu một lít. Tôi cố ăn cho kịp những gì ông ta gắp vào chén tôi. Trời đứng ngọ. Liếc xuống mặt nước mương cạnh bên, mặt tôi trông thấy đỏ như ông mặt trời nhưng sự trấn tỉnh giúp tôi thản nhiên như một tay nhậu cừ khôi, một tay cán bộ thứ thiệt.

“Chút nữa tôi phải về Chi cục máy kéo để họp. Chú cần tôi đề đạt gì với chi cục máy kéo với nhà nước không?”
”Dậy hả? Thiệt “mai mắn” quá. Cán bộ hỏi giùm nhà nước để mấy ông máy kéo này cày kỹ kỹ hơn nghen. Dân ở đây biết ơn nhiều nghen, Cán bộ.”

Thật rõ rằng người dân không có cách gì để lên tiếng với nhà nước nếu không có người đến với họ, ngồi cạnh họ, hỏi chuyện họ.

“Chú yên chí đi. Tôi bắt thằng này cày kỹ cho chú, đo đất cho đàng hoàng. Họ cày có một mà báo cáo là hai, vừa ăn gian số dầu của nhà nước, vừa ăn gian tiền cày của dân nữa chứ. Tôi sẽ báo cáo với chi cục chuyện này.”

“Thiệt cán bộ tốt quá. Ai cũng được như “dầy” tụi tui đỡ khỗ biết mấy.”

     Cái bữa nhậu kết thúc sớm vì lời nói dối ngắn gọn của tôi, “phải về Chi Cục họp”, nhưng cái ý nghĩa của bữa nhậu được kéo dài ra từ lúc đó. Người chủ đất, kẻ thiệt thà, vừa được tôi, kẻ vừa nói dối, gieo cho một niềm tin- một niềm tin vào lẽ phải.

    

Rạch Giá Jan 15, 2012

THÀNH XÌ- TL 71-      

CẦN THƠ- QUYỂN TỰ ĐIỂN

 

Ai cũng biết là quyển tự điển được dùng để tra nghĩa của từ vựng. Tôi đã mua và hiện còn giữ một quyển mà tôi muốn dùng để kể về cách tôi thương mẹ tôi và tôi đã lo xa cho tương lai của tôi như thế nào.

                           

 

                                  Vào lúc học lớp đệ lục A-1, thầy Nguyễn Văn Kỷ                                                          Nghiêm đã khiến chúng tôi từ điên đầu về “chia động                                                từ” đến kinh sợ và rồi “cúp cua” 6 giờ học hằng tuần.                                                Đến lớp đệ tứ, vào Nông Lâm Súc, trong lớp tôi đứa                                                  nào cũng dốt nát tiếng Anh cả. Sau 3 năm học ở NLS                                                  Bảo Lộc, tôi đã học được chút ít Anh Văn nhờ ở                                                        chung với Nguyễn Khánh Luận, người đã có thể trò                                                  chuyện với một nhóm nhà môi trường người Mỹ đến                                                thăm trường tháng 11 năm 1973. 

 

Trong số bạn học cũ ở NLS Cần Thơ, Tài Râu giỏi tiếng Anh hơn cả. Vì nó mơ làm một chính trị gia, một nhà làm chiến lược tầm cỡ thế giới, nó phải tra cứu Anh Văn rất nhiều trong thư viện của hội Việt Mỹ. Trong thời gian tôi về Cần Thơ chuẩn bị thi Đại Học, tháng 5, 1974, tôi thỉnh thoảng gặp hắn hoặc đến nhà tôi để trò chuyện với tôi. Khi bù đầu học thi Toán, Lý và Hoá, đâu có ai màng đến tiếng Anh để mà làm gì. Tôi chẳng mong gì hơn là thi đậu vào Đại Học. Tôi chẳng mong gì hơn là làm cho mẹ tôi vui lòng. Một hôm Tài Râu đến nhà tôi và tỏ ra rất hào hứng. Hắn vào đề ngay, 

“ Hội Việt Mỹ đang “sale” sách. Có vài cuốn tự điển bỏ túi đã lắm. Tao thấy mấy tiệm trên đường Ngô Quyền cũng có nữa, mày ra mua ngay một cuốn đi. Đừng để trễ uổng lắm Thành Xì ơi.”

Tôi quý những lời khuyên như vậy và nhất là từ Tài Râu, một đứa bạn tốt, ham học hỏi và có lý tưởng. Tôi quyết định nghe lời khuyên của nó. Tôi mở hết tất cả các quyển sách đặc biệt mà tôi đã giấu tiền trong đó. Đếm đi đếm lại, tôi có được khoảng 535 đồng. Đây là số tiền tôi không chi tiêu gì gì đó từ khi tôi từ Bảo Lộc về nhà. Má tôi cho một ít, chị tôi nhét vào túi tôi một ít. Nếu tôi không cất giấu kỹ lưỡng, chắc thằng em xì ke của tôi đã chộp mất rồi. Bộ dây đàn ny lon trên cây đàn guitar yêu quý cũa tôi đã bị nó tháo mất cách đó mấy ngày rồi còn gì. Tôi đang mong có đủ tiền để mua lại một bộ dây khác. Chừng nào tôi có thêm vài khoản tiền để mua lại bộ dây mới thì tôi không rõ nhưng tôi tin lời Tài Râu rằng sách bán sale không có bao lâu đâu. Tôi quyết định đi mua cuốn tự điển với số tiền tôi đang có. 

 

   Trưa nắng nóng tháng 5 hôm đó khá gay gắt. Tôi đạp xe đến hai tiệm sách liền kề trên đường Ngô Quyền. Tiệm Đức Trí hôm đó đóng cửa. Tiệm sách Văn Nhiều có khá nhiều sách ngoại văn. Trên tủ kiếng đầu tiên, có hai cuốn tự điển khổ bỏ túi có niêm yết giá. Quyển bìa mầu đỏ “The New Merriam- Webster Pocket Dictionary” giá 500đ. Tôi tự hỏi,

“Ta có thể tìm ra một quyển hay hơn, đẹp rẻ hơn không?”

 

 

 

Dắt xe đạp qua năm căn phố trên đường Ngô Quyền, tôi nhận ra một quyển tự điển tương tự, nhưng cái bìa màu đen “The Webster Pocket Dictionary” giá 550đ.     

  

Chẳng hiểu mô tê gì về việc làm sao để chọn một quyển sách tốt hơn, tôi đã mở quyển màu đen để tra một từ đơn giản như “butterfly”. Với hình in đủ màu sắc, con bướm trông rất ấn tượng. Nhiều từ khác nữa cũng có hình màu minh hoạ. Tôi nhận ra sự khác biệt của 2 quyển và tôi cũng nhận ra ngay tôi không có đủ tiền để mua cuốn bìa màu đen đó. Biết rằng có thể bị ai đó phổng tay trên cho nên tôi đã xin người thủ quỹ cho tôi đặt cọc một khoản tiền trước. 

   “Thế em chọn mua quyển nào?” người bán sách hỏi tôi.

   “Dạ em cũng chưa quyết định xem nên chọn cuốn nào nữa.” tôi đáp lời.

   “Còn hai cuốn này thôi đó nghen. Em nhanh tay lên.”chị ta mỉm cười với tôi.

   “Em sẽ trở lại ngay.” 

   Tôi đáp nhanh để kịp phóng lên xe đạp về. 

 

   Cách cái chòi lá nhỏ ngay đầu hẻm khoảng 20 mét, tôi dừng xe vào sát lề đường Tự Đức. Từ đây tôi có thể nhìn thấy cái mặt sau của cái chòi của mẹ tôi. Tôi hình dung ra lúc ấy mẹ tôi đang dọn cơm. Tôi hình dung ra các món thức ăn bà nấu ở cái bếp che tạm bợ bằng đủ thứ loại vật liệu dễ cháy. Tôi hình dung ra cái tủ kính nhỏ vừa được dùng để đựng thuốc lá phía ngăn trên và đựng tiền trong cái hộc tủ nhỏ ở dưới. Tôi nhớ lúc nào cái hộc tủ cũng được mẹ tôi khoá lại sau khi nhận tiền hoặc thối tiền cho khách. 

 

Cái chòi lá đã được mẹ tôi tự dựng lên, ọp ẹp, chắp vá. Tự tay bà kê cái chỗ để nằm bằng miếng ván ép bà mua của mấy người bán đạp xe ba gác bán dạo. Cái sàn nước bằng các miếng ván cũ được kê trên các khúc cây tràm vụn của mấy ông làm thợ hồ bán để làm củi chụm. Hai cái bàn nhựa thấp với năm ba cái ghế cũ kỹ cũng do các người gánh ve chai bán dạo mang đến bán cho bà. Với những thứ như vậy, mẹ tôi bán cà phê- suốt ngày, một ít đồ tạp hoá, một ít đồ gia vị, nước đá cục, đá bọc, kem chuối và bất cứ thứ gì bà tự tạo ra được hàng ngày. Nhưng tôi biết rất rõ số tiền đó có một hệ số còn cao hơn môn Lâm Nghiệp của tôi- hệ số 6. Tôi biết rất rõ nỗi vất vả nhọc nhằn từng ngày, từng giây phút của mẹ tôi để có số tiền mà tôi đã nhận được trong ba năm học trên Bảo Lộc. 

   Tôi bỗng tự dưng trào nước mắt. Tôi không muốn dụi các giọt nước mắt nóng hổi, trong cái nắng nóng như bốc lửa. Tôi chỉ muốn có thêm 15 đồng để mua cái quyển tự điển có hình màu minh hoạ, có cái bìa màu đen mà tôi ưa thích hơn. Nhưng tôi sẽ có thể làm mất đi 150 phút hoặc có khi là 15 ngày làm việc vất vả của mẹ tôi. Tôi sắp có được cái tôi thích, nhưng tôi cũng sắp làm mất đi một nụ cười hay ít ra là cái vẻ mặt bình thường của mẹ tôi- điều mà từ lâu nay tôi không muốn nhìn thấy một chút nào cả. 

   Tôi tự trách mình đã không làm ra được một xu nhỏ nào cho nhu cầu của bản thân mình. Mẹ tôi không cần biết hai cuốn tự điển đó khác nhau ra sao. Bà không thể hình dung niềm vui đơn giản tôi sắp có được. Nhưng mẹ tôi, với một nét nhăn nhỏ- có thể là rất nhỏ- sẽ phải mở cái khoá nhỏ, đếm tiền lẻ để đưa cho tôi 15 đồng- một khoản tiền rất nhỏ- tôi sắp xin thêm. Tôi biết chắc đó là điều tôi có thể tránh đi được. Tôi không chắc là tôi có tránh phải bị đi lính vì thi rớt đại học hay không. Tôi không chắc rằng từ ngày hôm ấy cho đến ngày mẹ tôi mất đi, tôi còn có bao nhiêu lần tránh gây cho mẹ tôi những nếp nhăn lớn nhỏ trên trán, những phiền muộn lo toan vì tôi. Tôi không thể chắc rằng tôi có thể báo hiếu, có thể chăm sóc, có thể tạo cho mẹ tôi những nụ cười, những niềm vui hay không. Nhưng, rất chắc chắn,  tôi tránh được một nét nhăn mặt của mẹ tôi khi tôi không hỏi xin 15 đồng nào cả. 

    Người bán sách của tiệm Văn Nhiều chắc đã ngạc nhiên khi nhìn thấy tôi- mồ hôi nhuể nhại, hai mắt đỏ hoe, đạp xe trở lại rất nhanh để mua ngay quyển tự điển màu đỏ. 

 

    Bạn bè của tôi ngạc nhiên khi thấy tôi- thằng dốt tiếng Anh- lúc nào cũng để chưng quyển tự điển ấy trên đầu giường hay cái tủ nhỏ đựng vật dụng. Tài Râu thì hài lòng khi tôi nghe lời hắn. Mẹ tôi từ hôm ấy và sau nhiều nhiều năm tháng nữa không có điều gì để phiền lòng về tôi. Còn tôi thì còn nhớ mãi cái cảm giác tiếc rẻ vì đã không mua được quyển tự điển bìa màu đen có hình minh họa. Dĩ nhiên, tôi chứng minh rõ ràng như toán học tại sao tôi mua cuốn tự điển bìa màu đỏ với giá 500 đồng.

 

     Sau 43 năm, đến nay nhiều học trò của tôi ngạc nhiên khi thấy tôi rất ưa tra từ với quyển tự điển ấy. Nó chỉ chứa 5.000 từ tiếng Anh thông dụng nhưng theo tôi nó còn ẩn chứa một cụm từ tiếng Việt rất thông dụng: “Tình thương dành cho Mẹ.”

 

                                                             Rạch Giá Sep 20, 2018

                                                               Lương Ngọc Thành

NGÀY CUỐI CÙNG CỦA LONG KH’MER.

 

  Ngày cuối cùng trong đời, Long Kh’mer đã đến nhà gia đình nuôi của tôi- 20 A Võ Thị Sáu- quận nhất- Sài Gòn- với nhiều điều đặc biệt, làm nhiều điều đáng nhớ như cách nó sống cuộc đời nó cho đến tận cái ngày cuối cùng rất đặc biệt ấy- 19- 8- 1984, ngày sinh nhật của tôi.

   Sau khi đi cúng 100 ngày cho Long Kh’mer trên Bảo Lộc trở về, tôi ghé lại Sài Gòn để thăm gia đình nuôi của tôi. Lần nào cũng vậy, mọi người trong nhà nghênh đón tôi. Tôi đã gặp ngay thằng út Hải hoặc để uống cà phê tại nhà hay rủ nó ra chợ Đa Kao để lai rai. Thằng Hải- thân với tôi nhất nhà- kể lại cái ngày cuối cùng của Long. Nhắm nháp chút ít cà phê sữa, mồi một điếu thuốc Con Mèo, nó bắt đầu bằng một nhận xét về Long Kh’mer,

“Anh Long đẹp trai, duyên dáng, nhậu rất cừ và ảnh rất thương anh , thương gia đình mình.”

Hải nhớ từng chi tiết nhỏ nhặt trong ngày hôm ấy như một đạo diển trình bày cái đoạn phim quan trọng, hấp dẩn nhất vậy.

   “Ảnh nhấn chuông cửa trong khi cả nhà đang ngủ trưa, hình như hơn hai giờ gì đó...Em còn ngáy ngủ nhưng vội xuống lầu để mở cửa cho ảnh. Anh Long mặc cái áo lính cũ kĩ và rộng thùng thình- field jacket-, trên đầu có dảy băng trắng mà ảnh nói là ảnh vừa bị thương bên Kampuchia. Em nghe thấy có mùi bia- chuyện bình thường- nhưng em nhận ra anh Long hôm ấy rất khác thường.

Rít một hơi thật dài, liếc nhìn tôi, nhả hết khói thuốc ra xong, thằng Hải chậm rãi kể tiếp,

“Ảnh kể huyên thuyên vài chuyện mà em không hiểu nhưng ảnh luôn luôn nhắc về anh. Khi thấy má vừa trên lầu bước xuống, ảnh vội đến đỡ tay má. Anh Long Kh’mer dành đốt nhang bàn thờ Chúa và em mới nghe ảnh kêu “má” thật tự nhiên.”

   Hải ứa nước mắt,

Ảnh nói với má,“Để con đốt nhang cho má, nghen má!

Ba cũng nhận ra là nhà có khách quen nên bước ra tiếp chuyện. Ảnh kêu ba bằng “ba”ngọt ngào cứ y như thể ảnh là hiện thân của anh vậy.”

   Tôi ngắt lời Hải,

“Hải thấy có phải anh Long Kh’mer xỉn quá phải không?”

    Hải lắc đầu lia lịa, phân bua rằng,

“Mọi thứ đều rất bình thường trừ cái chuyện ảnh nói ảnh mới đi bộ đội bên Kampuchia về và ảnh nằng nặc kêu em nhận cái áo khoát đó để làm kỷ niệm.

Hải nhờ thằng cháu trai ra cái quán ngay bên nhà kêu giùm nó vài chai bia 333 mà không cần hỏi ý kiến tôi. Nó nheo mắt nhìn tôi,

  “Anh Thành biết không? Ảnh muốn mua cho ba một chai bia khi anh hai Tâm mới vừa đi đâu về. Anh Long nhất định đi ra cái quán trước nhà gần chổ đình thánh Trần mua bia bất chấp việc anh Tâm dành đi mua. Ảnh thiếu điều muốn cải lộn với anh Tâm,”

Hải lập lại lời của Long Kh’mer,

“Anh phải để em đi mua bia cho ba chứ. Em là con mà. Em nhỏ hơn anh...nên để em đi mua. À, em mua cho anh luôn nghen, anh hai?”

Thấy nó thật sự xúc động khi nhắc tới những chi tiết nhỏ như vậy, tôi cứ giử yên lặng ngồi chờ nó kể tiếp,

“Sau đó ảnh rủ anh Tâm và em nhậu. Ảnh nhờ em đi kêu 10 chai bia và dành trả tiền trước.”

    Tôi thấy nhớ Long Kh’mer hơn bao giờ hết. Tôi chỉ vừa quen biết nó trong những ngày tôi theo thằng Khuê lên Bảo Lộc, giửa tháng 5 năm 1975, để mong kiếm sống trên miếng đất rẫy của cậu nó đã bỏ hoang khi Bảo Lộc thất thủ cuối tháng 3 năm 1975.  

    Long Kh’mer vừa là hướng đạo sinh vừa là phật tử vừa là tay anh chị. Nó đẹp trai, hai mắt rất to hấp dẫn. Nó có tướng rất thư sinh, nhanh nhẩu và rất đa tài. Nó vẽ tranh như một họa sĩ có tài ẩn danh. Cha Điền ở giáo xứ Bảo Lộc rất mê bức tranh nó vẽ chúa Jesus- nhất là cái hàng chữ bay bướm ngay góc dưới bên phải- “Đại Ca Jesus”. Thằng Phước Mọi luôn kể cho tôi nghe bức tranh “Ơn cha nghĩa mẹ” mà Long đã tặng nó. Ba nuôi của tôi thì quý bức tranh sơn dầu “Ngũ hạc vượt trùng dương” do chính tay nó mang từ Bảo Lộc xuống SG để tặng cho gia đình, mà tôi còn gìn giử đến ngày nay ở Rạch Gía.

   Mỗi khi buồn, nó sáng tác như một nhà thơ thứ thiệt, nét chữ thật lã lướt, các tiêu đề thật độc đáo. Những bạn thơ của nó, Thành Đại Khái, Khuê Bầu, Hào Cận, rất quý tài làm thơ của nó. Nhưng khi hứng khởi, nó có thể phóng dao phóng búa như một tay chuyên nghiệp trong rạp xiếc. Nó ôm đàn guitar, hát như một nghệ sĩ. “Bài ca học trò” và “Người yêu tôi bệnh” là hai bài ca nó rất thường bắt đầu ngay khi ôm cây đàn lên. Mãi đến sau này, khi được yêu cầu hát trong một tiệc rượu nào đó, nhớ đến nó, tôi chỉ hát bài “Người yêu tôi bệnh” mà thôi.  

   Chính nó đã dắt tôi đến ngày tất niên của nhóm Du Ca Đất Việt, cuối năm 1975,  nơi tôi đã kết bạn với một vài người tài năng. Xuống Rạch Gía để dự đám cưới của tôi, trong ngày nhóm họ, nó đã làm cho mọi người thán phục cái tài trang trí đám cưới của nó bằng giấy thủ công. Nó xếp giấy màu, cắt bằng kéo nhỏ, vừa xong, nó thoa hồ dán lên tường cái giỏ hoa, cái trống đồng và chữ song hỷ nhanh như một thay thợ thủ công chuyên nghiệp.

    Tôi thấy có cái gì đấy rất giá trị trong cách Long đối với ba má tôi, và với cả mọi người trong nhà này. Có vẻ nó muốn đóng thế vai trò của tôi khi tôi đã có gia đình ở dưới tận Rạch Giá. Chúng tôi có một điểm giống nhau- nó cưới con gái của bà mẹ nuôi của nó- Như Quỳnh. Tôi đã phải bỏ học một ngày để lên bưng mâm trầu trong ngày đám hỏi của nó- cuối năm 1976.  Biết tôi yêu thương con gái của bà mẹ nuôi của tôi, nó rất mừng và cũng rất lo cho tôi.

    Lần đầu tiên tôi đưa Long đến nhà khoảng giửa năm 1976, bà mẹ nuôi của tôi đã đồng ý cho Long ở lại với tôi đêm hôm đó. Không lâu sau, bà đã nhắc lại chuyện đó với tôi,

“Nhìn vẻ mặt của con, má biết ngay con thương quý thằng Long như thế nào liền. Lúc đó nhà mình đang chứa chấp mấy người vượt biên, còn má thì đang bị cảm cúm nữa… nhưng má vì con nên cho thằng Long ngủ lại với con cho con vui.”

 Sau 7 năm với rất nhiều biến cố, thay đổi, tôi đã viết thư cho vị hôn thê của tôi- Như Ngọc- và cả bà mẹ nuôi để từ hôn. Dù biết chuyện đó, Long Kh’mer vẫn cứ ghé lại căn nhà 20 A Võ thị Sáu để thăm hỏi như những lần trước đây, như thể tôi vẫn còn là người trong gia đình đó vậy.

                        

                                                (Long Kh’mer và tôi trên đèo Prenn năm 1977)

                                                 Có lẻ nó đã quá thèm được sống trong cái gia đình                                                   như thế này- có ba mẹ, anh em, có thương yêu,                                                        hiểu biết và những cái mà không thể tìm thấy ở                                                      bất cứ đâu. Khi có niềm vui từ ai đấy- dù thân                                                          thiết hay mới làm quen, mẹ hay chị em gái của                                                        một thằng bạn nào đấy, bửa cơm đầm ấm của gia                                                    đình một ai đấy, nó thường nói với tôi,

“Tao đi vay mượn hạnh phúc của người ta.”

Trên Bảo Lộc, tôi có đến chơi và ngủ lại tại nhà nó vài lần. Từ lâu nay, ba nó nát rượu. Anh Ba của nó ngông nghênh yếm thế chán đời. Khi họ gây gổ to tiếng với nhau, Long rất buồn bả tìm nơi lánh mặt. Nó giao du rộng, đủ hạng thanh niên, mọi lứa tuổi. Có nhiều thiếu nữ- ở nhiều nơi nó đi qua- mến một, yêu thích nó. Nó rất nỗi tiếng khi về Cần Thơ chơi. Minh Ngọc- một cô gái trẻ- con chủ tiệm vàng ở chợ Cái Khế- đã yêu nó vô cùng.

  Xuống Rạch Giá thăm tôi, tại khu nhà của Công Ty tôi đang làm việc, khi tôi bận bịu chuẩn bị cho kỳ “Hội diễn văn nghệ toàn tỉnh- lần đầu tiên năm 1981”, Long đã làm cho hai nữ sinh viên thực tập phải đắm đuối, ghen tương lẩn nhau. Những nhạc công trong ban nhạc, những cán bộ trong công ty tôi phải thán phục nó, vì muốn đưa tôi lên Bảo Lộc chơi nó đã ở lại gần 10 ngày để chờ tôi trình diễn xong và xin nghỉ phép năm.

    Nhân dịp xuống Cần Thơ, nó còn đưa Quỳnh, vợ nó và Cường, đang có tình ý với nhau, xuống Rạch Giá thăm tôi khi tôi đang làm gia sư và rất khó lòng đón tiếp 3 người khách như vậy. Nhiều người biết tôi đều thắc mắc đều nghi ngờ. Họ hỏi thẳng tôi,

  “Chắc là mấy người đó xuống đây tìm đường vượt biên nhưng mượn cớ đi thăm bạn phải không!?”

 

    Đưa chai bia lên uống hết gần phân nửa, tôi thúc giục Hải kể tiếp. Mồi một điếu thuốc khác, cầm chai bia ướp lạnh cụng vào chai bia tôi vừa mới cầm lên, tu một ngụm bia, chùi mép xong, Hải mới bắt đầu vào đoạn cuối của câu chuyện,

“Anh Tâm và em uống với ảnh tại nhà vì má không cho ảnh đi ra ngoài với cái đầu băng trắng như thế. Anh còn nhớ cái lần ảnh đi với tụi mình uống bia hơi ở Tao Đàn không...ảnh xỉn quá...bị má rầy. Anh nhớ không?

Mỉm cười vui vẻ, khui thêm hai chai bia nữa cho tôi và nó, tôi cứ im lặng để nghe nó kể tiếp,

“Điều làm cho em nhớ nhất là ảnh luôn nhắc đến anh. Đặc biệt là ảnh đã nhìn thấy bức trang sơn dầu ảnh cưới của ba má mà anh đã treo trong phòng ngủ của anh. Anh Long như muốn trăn trối điều gì chăng khi mà ảnh cứ nói, “Lên Bảo Lộc chơi với anh đi, em sẽ hiểu được dân Nông Lâm Súc tụi anh.”

Nghiêng cái đầu tóc quăn dài tới bả vai, Hải hỏi tôi,

“Anh Long đâu có học Nông Lâm Súc phải không anh? Em nhớ ... anh kể với em là ảnh học tư thục, sau anh một năm học. Phải không anh?

Tôi đáp ngay,

“Đúng vậy nhưng nó chơi thân với nhiều thằng học trò NLS lắm.”

 Tôi ngậm ngùi hỏi,

“Anh Long có kể gì về chuyện hồi hai tháng trước bị một thằng phế binh đánh cái nạng bằng nhôm trên đầu của nó không?”

 Hải trợn mắt ngạc nhiên hỏi lại tôi,

“Sao vậy anh? Em đâu có nghe ảnh kể gì đâu!”

Tôi kể vắn tắc,

“Một chiều tối, từ nhà may mà hai vợ chồng nó mới gầy dựng nên, nó thằng Kiệt Chùa ra khu chợ cũ uống sữa đậu. Một thằng phế binh, ngồi cạnh bên hỏi mồi thuốc. Thay vì quay nhìn lại và đưa điếu thuốc cho thằng đi cái nạng đó, nó chìa ra cái hộp quẹt. Thằng côn đồ kia cứ cho rằng nó bị Long Kh’mer làm nhục. Nó sinh sự và đập mạnh cái nạng nhôm lên đầu của Long Kh’mer.”

Tôi để ý cái chi tiết “cái băng trắng”,

“Hải có hỏi anh Long tại sao ảnh có cái băng trắng trên đầu không?”

Thằng Hốt Dải- nick name của nó, gật gù,

“Thì ảnh cứ nói là ảnh bị thương trong khi đánh giặc bên Campuchia. Anh Tâm cũng không tin chuyện đó.”

   Tôi tự hỏi tại sao Long phải nói dối như thế, bịa ra cái chuyện hơi khó tin như thế. Tôi còn có một cách để tự giải thích thôi.

    Trước đó 3 ngày, trong chuyến xuống SG nhận một thùng quà từ gia đình bên Mỹ,  Như Quỳnh dắt Long xuống Sài Gòn tìm đến nhà thằng Quân Què bên Bình Thạnh và tụi nó ở lại đây với Quân- một người trong những thằng bạn tử tế, tài năng và quý mến nó. Sáng hôm sau, Quỳnh đưa Long đến bệnh viện Chợ Rẫy để tái khám vết thương theo giấy hẹn của bác sĩ. Sau 5 tuần giử gìn nghiêm ngặt không đụng đến chất kích thích- rượu bia, cà phê, vết rạn nứt trên đầu- do cú đánh bằng cái nạng nhôm lên đầu nó- của Long có tiến triển rất khá. Nó không còn bị nhức đầu, không còn cảm thấy chóng mặt hay buồn nôn nữa. Các y sĩ băng bó cái đầu nó rất khéo. Long Kh’mer hứa làm theo lời căn dặn của các bác sĩ điều trị rất đàng hoàng.

    Nhưng bất ngờ, sau khi biết vợ trở lên lại Bảo Lộc gấp, Long nghĩ ngay đến Cường, đang là nhân tình của nàng. Mất niền tin rằng có thể được hồi phục, có được hạnh phúc bên vợ và con gái, Long Kh’mer đã ngông nghênh, tuyệt vong nghĩ đến một cách để quyên sinh.

    Nó nói với Quân Què rằng nó đi thân gia đình một người bạn thân bên Đa Kao- trên đường Võ Thị Sáu, nhưng bắt thằng Quân dừng xe đạp cho nó xuống xe tại Lăng Cha Cả, chợ Bà Chiểu. Quân không thể cưỡng lại ý muốn của Long nỗi. Nó nằng nặc bắt thằng Quân phải đạp xe về,

“Mày yên chí đi mà. Tao đi thăm nhà bà già nuôi của thằng Thành Xì. Tao ổn mà...”

Sau này Quân Què rất hối hận vì đã để Long Kh’mer đi một mình hôm đó.

Có lẻ Long Kh’mer đã một mình uống vài chai bia trước khi tìm đến nhà tôi để thăm gia đình tôi, để uống thêm nhiều nữa và rồi để mong cái vết rạn nức trên hộp sọ của nó xuất huyết ra để đưa nó đi... Mùi bia và cái cách của nó khiến thằng Hải “lõi đời”tin chắc như thế.

   Đến sập tối, má tôi từ trên lầu xuống dưới nhà thăm chừng và bà biểu Long Kh’mer ăn cơm với cả nhà và ngủ lại đây. Má tôi trìu mến nói với nó,

“Con cứ ở đây như thằng Thành hồi lúc trước vậy. Con xỉn quá rồi. Ráng ăn một chén cơm đi rồi lên lầu ngủ với thằng Hải nghen con.”

 Từ ngày mất mẹ, Long Kh’mer thương mẹ nuôi của tôi hơn. Nó thật dể thương khi trả lời rằng,

“Dạ con cám ơn má. Để con rủ thằng Hải và Như Ngọc ra chợ Đa Kao ăn cơm Tàu với con. Con có chuyện muốn nói với hai đứa nó nữa nghen má. Má cho phép con nghen má!” 

  Như Ngọc phải chiều lòng Long Kh’mre vì nó nhắc lại lời mời hoài và thúc giục cô thay đồ mãi. Hai năm trước đó, theo tôi đi Đà Lạt chơi một tuần lễ, đã gặp Long, Như Ngọc không còn e ngại gì vì Long đã quá thân thiết với hai đứa tôi rồi. Cô ấy cũng rất xúc động khi cứ nghe Long nhắc về cái hình của ông bà già mà tôi treo ở góc phòng dưới Rạch Gía. Hải không cần chuẩn bị gì khi mà Như Ngọc trang điểm nhẹ nhàng để không nghe Long nhắc thêm một lần nữa.

  Ra khỏi nhà khoảng 7 giờ rưỡi, Long khoát vai Ngọc và Hải đi bộ ra góc đường. Nó vui vẻ huyên thuyên kể đủ chuyện như đó là lần cuối cùng nó được nói vậy.

   Tại quán cơm Diệu Ký- ngay góc Trần Quang Khải- dưới Cầu Bông- Long Kh’mer gọi thức ăn, gắp thức ăn cho Ngọc, ép cô ta ăn, mời Hải uống thêm hai chai bia nữa. Long Kh’mer đã lần cuối cùng mời ai đi ăn, lần cuối cùng kể về tôi và lần cuối cùng được uống bia với người nó thích.

    Hải không thể dành trả tiền bửa ăn được mà cũng không thuyết phục được Long Kh’mer trở vô nhà ngủ hôm nó- như nó đã từng ngủ lại đó với tôi vài năm trước mỗi khi ghé lại trường để thăm tôi. Trong lúc chia tay, Long nằn nặc bảo Hải nhận cái áo khoác của lính ngụy cũ sờn mà Long đang mặc. Mặc dù gọi xích lô cho Long Kh’mer về bên đường Bùi Hữu Nghĩa- qua Cầu Sắt- nhưng thằng Hải không an tâm. Nó hỏi đi hỏi lại,

“Tối nay anh đi đâu nữa? Anh sẽ ngủ ở đâu? Anh có về nhà ngủ không em sẽ chờ cửa nhen?”

Long Kh’mer, như chưa hề có chút men nào trong người,

“Anh qua bên cầu Sắt nè. Anh ghé thăm anh Tư, trên đường Bùi Hữu Nghĩa và chắc anh sẽ “ngủ” lại đó.”   

Thằng Hải muốn nghe Long Kh’mer xác nhận lại,

“Nhưng nhà của ai mà anh ghé ngủ vậy?” 

Long vui vẻ thản nhiên trả lời mặc dù hơi chếnh choáng,

“Anh rễ của anh. Ảnh với chị Tư chia tay mấy năm nay rồi.”

Thằng Hải không hiểu nổi Long Kh’mer lúc đó, cái lý do lạ lùng đó. Như Ngọc buộc lòng phải lên tiếng,

“Nếu anh không về, thế nào má cũng rầy tụi em cho mà xem. Má cứ nói má coi anh cũng như anh Thành vậy thôi. Tụi em biết nói với mà làm sao đây?”

Long Kh’mer chống chế, nói đi nói lại nhiều lần,

“Về nói với má đừng có lo cho anh. Anh biết anh sẽ ổn mà.”

Hai chị em Ngọc và Hải không thể nào dằn co mãi với Long bên lề đường được nữa, bên cạnh chiếc xích lô đang chờ Long bước lên. Họ đứng chờ chiếc xe xích lô quẹo vô hướng chợ Đa Kao xong mới rủ nhau đi về nhà.

     Khác hẳn với gì Long Kh’mer nói, nó có triệu chứng không ổn- vật vả- toát mồ hôi lạnh- lúc gần sáng hôm sau trên căn gác ọp ẹp của nhà anh rể. Nó hôn mê xâu trên đường đi đến bệnh viện Bình Dân và trút hơi thở cuối cùng khi không có một ai thân thích bên cạnh nó.

      Long Kh’mer ơi! Mầy đang ở đâu, có ổn không? Ai cũng nhắc mầy hết đó. Mầy có biết không?

                                                                     Rạch Giá, Sep 19- 2011

                                                            (Nhân ngày giỗ của Long Kh’mer)

                                                                         Lương Ngọc Thành