VĂN            

                 LƯƠNG NGỌC THÀNH

                              Rạch Giá 

 

Cựu học sinh PTG

___________________________

                                                   CÁI ĐỒNG HỒ

 

      Trong số học trò có tiếng là chơi ngông, liều lĩnh, tôi là một ngoại lệ, thật thà chất phát cho nên tôi rất ngỡ ngàng khi theo thằng Hậu Bào vào quán cơm “Miền Tây” ở Bình Tuy cuối năm 1971.

     Theo lời mời của Bảy Bình, băng Cần Thơ chúng tôi theo nó về nhà nó ở Long Khánh trước dịp có 5 ngày nghỉ Noel năm 1971, năm học lớp đệ tam. Là anh em cô cậu với Bảy Bình, Thắng Cọ cũng đi theo chúng tôi. Nhóm khách chúng tôi đến nhà thằng Bình tới 6 thằng. Đầu tiên chúng tôi cần những bữa cơm gia đình, một chỗ ngồi buổi tối hoặc bất cứ cái gì tốt nhất mà “vị tiểu chủ gia” có thể cho chúng tôi được. Bảy Bình tiếp chúng tôi không nồng nhiệt như cách dân miền Tây chúng tôi mong đợi. Cái depot nước giải khát nước đá khá lớn ở khu vực này chứa đầy các két bia, nước ngọt. Ba má của Bảy Bình cũng đã không vồn vã với mấy thằng khách trẻ- bạn học của con trai duy nhất của họ. Hậu Bào và tôi thấy nhột nhạt vì sự tiếp đãi không mặn mòi gì cho lắm của Bảy Bình, và cũng để trút bớt gánh nặng “tiếp khách” của nó nên 2 đứa tôi bàn với nhau về chuyến đi Bình Tuy nơi thằng Hậu có ông chú Tám, người lập nghiệp được 20 năm trời và thiếm Tám có một tiệm may khá nỗi tiếng- Ngọc Huyền. Hậu mỉm cười nói nhỏ với tôi,

"Chỉ tao với mày đi thôi. Để tao lo hết cho."

Cũng không muốn ở đây thêm nữa, nghĩ ngay đến biển Bình Tuy, tôi trả lời ngay,

"Ừ há, tụi mình ra đó tắm biển cho đã luôn."

Thằng Hậu tiếp lời tôi,

"Chú Thiếm tao chắc mừng lắm."

  Hồi còn học ở trường Phan Thanh Giản, chơi bóng rỗ hay nhất nhì so với thằng Hà Thanh Mẫn có tiếng trong những người hâm mộ môn thể thao này, thằng Hậu- lớp A 3, nổi lên như một thần tượng so với thằng Phùng Trương lớp A1 của tôi. Tụi nó có thân thể cân đối, cao 1 mét 62, dẽo dai, ném rỗ hay, chuyền banh rất chính xác và có phong cách của người thủ lãnh so với cái thằng cao kều, mắc nhiều lỗi kỹ thuật thông thường, mém bóng ra ngoài nhiều hơn vào rỗ của tôi. Theo cách chia giờ của khối lớp đệ thất của tụi tôi, thỉnh thoảng hai lớp A3- A1 chúng tôi đánh bóng rỗ 30 phút. Thằng Hậu và Phùng Trương là hai ngôi sao sáng, ghi điểm nhiều nhất. Tôi không có gì khiến cho nó chú ý nhưng tôi thầm mong có ngày chơi được cở như nó, điềm tĩnh, chắc chắn.

  Vào Nông Lâm Súc, Hậu học cùng lớp với tôi và chúng tôi bắt đầu thân nhau. Tôi ngồi trên cái thanh ngang nhỏ của chiếc xe đòn giông của nó để nó đạp xe đưa 2 đứa tôi đến trường. Có dịp giỗ chạp hay vào mùa gặt lúa, tôi theo nó về quê nội của nó, Cái Vồn Bình Minh. Chúng tôi còn có một điểm chung- ăn mặc. Nó rủ tôi may quần ống loa màu trắng. Nó mang mấy cái áo sơmi, kaki vàng, quần Jeans của 2 ông anh nó đến nhà cho tôi sửa lại cho vừa. Vài buổi tối trong tuần, tôi cùng nó ra sân bóng rỗ Thọ Nhơn để coi các cầu thủ người Hoa tập dượt hoặc ngồi trước hẻm nhà nó trên đường Nguyễn Huỳnh Đức và vài thằng khác để ngắm thiên hạ chạy Honda qua lại.

   Đã từng theo nó qua Cái Vồn Bình Minh nhiều lần kể cả hai cái tết, tôi có nghe nói chút ít về chú Tám nhưng chưa hề gặp chú bao giờ. Tôi vui mừng vì đoán rằng thế nào thằng Hậu và tôi sẽ được đón tiếp tử tế.

    Khi trên đường quốc lộ 1 rất ít xe vắng người vì sáng 26 tháng 12 người ta còn ngủ vùi sau đêm Noel tối hôm qua, tôi mới biết là mình thật diễm phúc, bất ngờ được đi chơi. Vượt qua suốt một đoạn đường dài cát trắng từ ngả rẻ bên phải quốc lộ 1, xe đò của chúng tôi ghé vào bến xe khi trời rực nắng nóng với gió biển rát mặn. Đi bộ một đổi, thật dễ dàng cho tụi tôi để tìm ra tiệm may Ngọc Huyền, tên hai đứa con gái của chú Tám nhưng thật không dễ dàng gì để nói với 2 cô bé rằng chúng tôi rất đói bụng trong khi chú thiếm Tám đi vắng. Hai đứa con gái nhỏ, khoảng 10 hay 12 tuổi, chắc chưa biết nấu nướng hoặc tụi nó đã ăn hàng bánh thay buổi ăn trưa. Thằng Vũ em út, mới 5 tuổi, rất vui khi có hai ông anh từ Cần Thơ ra thăm. Có lẽ nó chưa hề gặp thằng Hậu nhưng tình anh em chú bác khiến nó cứ nắm tay, quấn quýt thằng Hậu.

   Liếc nhìn vô cái tủ chén trống không, thằng Hậu nhìn tôi nhún vai, nháy mắt. Nó dắt tôi lên lầu trống tênh. Cái phòng ngủ không đóng cửa. Tôi yên chí rằng tôi sẽ có một đêm ngủ ngon giấc nhất là sau một buổi tắm biển chút nữa đây. Gió biển mát rượi thổi từ phía sau làm tôi thấy thật nhẹ nhàng thoải mái.

   Một lúc sau, từ dưới nhà thằng Hậu rủ tôi ra biển dạo một vòng cho quên cơn đói.  Để nguyên bộ đồ đi đường, áo nâu, quần màu xẫm, hai thằng tôi thả bộ đi theo phía hai đứa em gái hướng dẩn. Tóc hơi dài, nước da có vẻ trắng hơn so với thanh niên dân biển rám nắng ăn mặc dơ dáy sốc sếch ở đây, chúng tôi bị biết bao nhiêu ánh mắt xoi bói, dò xét.

   Nhìn thấy màu nước biển sau hơn 3 tháng với màu xanh cỏ cây trên Bảo Lộc, chúng tôi thật thỏa mản nhưng cái bao tử chúng tôi thì không. Máu ngông nỗi lên đến tận cổ, thằng Hậu tuyên bố,

“Ghé vào chỗ nào ăn trưa đi Thành Xì. Tao đói bụng quá. Chú thiếm Tám có khi đến chiều mới về.”

Tôi đồng tình ngay nhưng lo ngại,

"Ăn gì?"

Quen giờ cơm trên B’lao rồi, tôi cũng phải đói cở như thế nên làm theo lời nó. Đi ngang một quán cơm “Miền Tây” với hàng chữ quảng cáo khá lớn,

“Đủ các món cá đồng tươi của miền tây.”

Tôi ngập ngừng dù nó vừa gãi đúng chỗ ngứa của tôi. Đoán rằng nó đã hỏi hai đứa em gái một số tiền đủ để hai cái bao tử của chúng tôi được lắp đầy, tôi hơi bỡ ngỡ theo nó vô quán. Hơn một giờ trưa nên quán vắng khách. Chúng tôi ngồi ngay một bàn giữa quán ăn. Các bàn ăn đã được dọn, sàn nhà cũng đã lau chùi sạch sẽ. Thực đơn được cô bồi bàn mang ra và tôi biết rõ chúng tôi chỉ có thể trả được 2 đĩa cơm trắng với một đĩa thịt hay trứng chiên vì hồi sáng này tôi đã nhìn thấy Thắng Cọ dúi vào tay Hậu Bào một số tiền nho nhỏ để đi xe ra đây, ăn quà vặt hay thuốc lá cho thằng Hậu.

“Ăn gì mậy?”

Đẩy tờ thực đơn về phía tôi, Hậu vừa mỉm cười vừa hỏi tiếp.

“Mầy kêu gì cũng được mà.”

Tôi trả lời như một cái máy,

"Thôi mầy cứ chọn đi!"

   Không để cô hầu bàn chờ lâu, Hậu Bào thản nhiên gọi một tô canh chua cá lóc và cá rô kho tộ, hai món tiêu biểu của món ăn nam bộ.

  Hơn ba tháng trên Bảo Lộc, bà chủ nhà nấu cho 10 đứa chúng tôi canh rau đay, trứng chiên, cá biển kho vừa lạc lẽo, thiếu hương vị, vừa thiếu dưỡng chất. Dẫu cho những bữa cơm tháng trên đó thiếu thức ăn, 10 đứa tôi tận hưởng, vét sạch tất cả trên mâm cơm. Sau khi Trọng Cọp dắt chúng tôi đi trộm chuối và khoai trong một miếng vườn mà nó nói phét là của Bác nó, chúng tôi có thêm những củ khoai nhiều tinh bột thơm ngọt để lấp dạ lúc khuya sau khi học bài hay sáng sớm trước khi đi học. Nhưng giờ đây, trên bàn ăn chỉ có hai thằng với hai món ăn nhà hàng miền tây. Đồ ăn thì rõ ràng là thừa thải, ngon tuyệt, nhưng trong dạ dày của tôi có cái gì như bị tê liệt. Vừa đói vừa mệt và vừa quá ngon miệng, hai đứa tôi cũng đã tém sạch những thứ có trên bàn, kể cả hai trái chuối tráng miệng và hai ly trà đá. Cô bé hầu bàn- lúc đó vừa rỗi việc- chống cầm cười mỉm chi nhìn chúng tôi ăn cơm như chưa hề thấy ai “ăn” bao giờ trước đây. Nếu mà tụi bạn lớp tôi thấy được cái cách chúng tôi “thưởng thức” bữa cơm có một không hai này, nếu mà gia đình chúng tôi thấy cái cảnh học trò ở xa ăn cơm nhà hàng như thế nào, nếu mà chúng tôi có đủ tiền để được ăn cơm như thế trên Bảo Lộc, mọi người chắc vui lắm.

  Việc gì đến phải đến. “Tính tiền” là chuyện mà Hậu Bào phải làm vì nó là người mời cơ mà. Khi cô bé hầu bàn mang tờ hóa đơn ra và đặt nó trên bàn, Hậu, đẩy tờ giấy về phía tôi, mỉm cười nói với tôi,

“Tính tiền đi mậy.”

Như muốn độn thổ, tôi lúng túng trả lời ngay,

“Thì mày tính đi!”

Tôi ước gì tôi đang ngồi ngay gần nhà để có thể chạy về xin tiền mẹ. Tôi ước gì tôi có thể ra ngay đàng sau rửa chén đĩa để lấy công bù cho số tiền của bữa ăn này. Thằng Hậu thản nhiên như không có việc gì lạ cả. Lòn tay dưới bàn nó dúi vào tay tôi một cái đồng hồ.

“Mày đi lo đi.”

Tôi liếc xuống thật nhanh để “địa” cái “thứ ấy”. Đó là cái đồng hồ cũ xì, hơi dẹp, mặt tròn kính có vài vết trầy, dây da sờn cũ. Nếu ai đó trao nó cho hai đứa tôi, chắc nó hoặc tôi cũng chẳng buồn nhận nữa. Trán tôi tươm mồ hôi. Áo sơ mi của tôi thấm mồ hôi. Tôi hơi tái mặt rụt tay lại trong lúc nó vẫn thản nhiên như không có việc gì lớn lao cả. Nó hỏi cô gái đang đứng chờ nảy giờ,

“Bà chủ đâu rồi em?”

Cô bé hơi ngạc nhiên hỏi lại,

“Chi vậy anh?”

“Thì anh có chuyện muốn gặp vậy mà.”

     Nhìn về hướng nhà bếp, đi theo cô bé, Hậu ung dung bước đi sau khi nháy mắt với tôi và đưa hai ngón tay ra để ám hiệu “V”. Thời chiến tranh ấy, V- victory- là dấu hiệu chiến thắng. Hai đứa tôi chiến thằng ai đây? Ý nó muốn bảo tôi yên tâm đi, nó sẽ chiến thắng bữa ăn “quỵt” này hay sao? Hay nó sẽ ngồi đây chờ chú Tám đến trả tiền? Tôi phải làm gì đây để giúp nó một tay? Đúng là “thứ nhất là ma, thứ nhì là quỷ, thứ ba là học trò.” Nó đứng kia trước quầy, mặt đối mặt với bà chủ quán. Tôi thấy nó móc bóp ra để lấy tấm căn cước. Tôi nhận ra nét mặt khó chịu của người chủ quán nhưng cứ như thế này tôi sẽ được giải thoát rồi. Tôi nhỏm đứng lên để xem sự tình khi mà Hậu ra hiệu biểu tôi ngồi xuống. Đút chiếc đồng hồ cũ vào túi áo, rồi nhét cái bóp vào túi quần tây, nó quay trở lại bàn trong khi tôi thở phào nhẹ nhõm như vừa làm xong bài toán khó của thầy Minh Còi, trả bài Vạn Vật của thầy Minh Híp hoặc điền được một từ khó viết vào câu tiếng Anh khó hiểu của thầy Hùng Đô vậy.

     Chiều tối hôm đó, áo sơ mi tay dài trắng muốt, quần xanh đậm, hai đứa tôi trông rất đàng hoàng so với những thanh niên dân chài, xóm biển. Nhận được một số tiền của chú Tám và lời trách móc nhẹ, Hậu cùng tôi trở lại quán trong một tư thế khác hẳn. Nó trả tiền bữa cơm rồi nhận lại tấm căn cước đã để lại làm bằng chứng hồi trưa. Tôi không kềm được sự tò mò nữa,

“Cái đồng hồ đó ở đâu ra vậy?”

Nó bật cười,
“Tao ép thằng Trọng Thỏ đưa cho tao.”

Tôi chau mày thắc mắc,

“Làm sao cái thằng “Thỏ” ấy chịu đưa cho mầy cái thứ ấy cơ chứ?”

Thằng Hậu cười to khoái trá,

“Phải có chiêu mới thắng được nó thôi mầy ơi! Tao nói với nó ở Bình Tuy tao có ông anh họ chuyên sửa đồng hồ. Để tao mang ra nhờ ổng làm mới lại mà không tốn một xu nào. Cái thằng ích kỹ đó vui vẻ đưa ngay cho tao và còn nhờ tao chuyển lời cảm ơn ông chú nữa đấy. ”

Cho nó cười thỏa thích xong, tôi mới hỏi thêm,

“Thế hồi trưa này, mày đã nói gì với bà chủ quán vậy?”

Thằng Hậu chậm rải kể lại,

“Tao phải phịa rằng cái đồng hồ đó hiệu Rolex của ông già tao cho, giá trị lắm. Nhưng bả nói đây không phải là tiệm cầm đồ. Tao phải tuôn ra rằng chú Tám tao, Nguyễn Phước Chiêu, phó ty Giáo Dục, thiếm tao là chủ tiệm may Ngọc Huyền bả mới vui vẻ nhận tạm cái căn cước của tao đó chứ.”

    Đâu phải học trò nào cũng biết nói dóc đâu. Nhưng Thằng Hậu Bào thật có tài để dụ lấy cái đồng hồ trước khi đi Bình Tuy và còn tính dụ bà chủ quán để cầm cố nó. Rủi thay lúc ấy cái đồng hồ đã chết ngắt tự lúc nào rồi.

 

 Rạch Giá Apr 6, 2011

                                                                                                                   Lương Ngọc Thành

   PHÒNG HỌC 903

 

   Từ Cần Thơ vào tuổi 15 tôi đã rời gia đình ở Cần Thơ để lên Bảo Lộc học Lâm Nghiệp và rồi ở tuổi 53 tôi đã rời nhà ở Rạch Giá để lên Sài Gòn dạy Anh Văn.

     Sau khi dạy lần lượt tại một trung tâm nhỏ, hai trung tâm lớn: IES, Cao Đẳng nghề Việt Mỹ, trường Infoworld School, hai trung tâm ngoại ngữ của ĐH Ngoại Thương và Ngân Hàng, dạy kèm hai tư gia tại Q: 8 và Q: 12, làm “cố vấn ngôn ngữ” cho trung tâm bóng đá “Arsenal- Vinamilk, dạy thị nguyện với một người bạn Mỹ  và rồi dịch thuật cho một công ty, tôi đã có một cách kiếm sống khá độc đáo: dạy kèm trong căn phòng thuê trên lầu 9 khách sạn Công đòan, phòng 903, số 1 Bùi Thị Xuân, Q: 1, Sài Gòn. 

    Dĩ nhiên tôi phải có những chuẩn bị nhất định cho cái lớp đặc biệt có một không hai ấy. Bàn học là điều thứ nhất. Tôi đã nhặt cái bàn xếp cũ kĩ đã bị ai đó vứt đi lâu nay trong một góc. Dùng thanh gỗ giăng mùng, tôi đã ghép nối 4 chân bàn mụt sét để cho nó “đứng” lại được. Tôi dùng dây kẽm cột cố định và sơn mới 4 chân bàn. Mặt bàn được tôi dán decal màu vàng vỏ hột gà. Cái gáy bằng nẹp gỗ tróc lớp vecni dơ bẩn được tôi dán băng keo dầy cùng màu. Sau hai buổi sáng, tôi đã tái tạo cái thứ vứt đi ấy thành ra cái bàn dạy học.

    Hai cái ghế nhựa cùng màu bị ai đó bỏ quên ngoài phòng được tôi mang lên phòng tôi lúc sáng sớm để tránh bị bắt gặp. Căn phòng 25 mét vuông được tôi ngăn làm hai bằng cái màn vải. Quanh tường vôi cũ, tôi trang hòang bằng những câu tiếng Anh, những hình phong cảnh trong tờ lịch cũ. Tôi vá víu các nền sàn bằng những mẫu decal hợp với cái hiện trang loang lỗ của nó. Dùng “au de javel”, tôi chùi sạch mọi thứ bằng nhựa, trên tường. Tôi kéo chèn gọn ghẽ các dây điện trong phòng. Tôi đã biến cái phòng ở trọ của 4 người thành cái phòng học một cách được nhiều người sinh viên, nhiều khách ghé qua phải khâm phục.  

    Người học trò đầu tiên, dược sĩ Trần Đoan Trinh- đang làm cho Zuellieg Pharma VietNam, rất hài lòng cái “lớp học ấy” và cả cái chất lượng của lớp học do một mình tôi đảm nhiệm. Sau khi thử học một buổi chung với một nhóm y bác sĩ, D.S Trinh tự quyết định hỏi tôi học riêng và đồng ý nơi học, giờ học và học phí 5 đô la một tiết học. Sau khi hết 24 tiết, sau những bài học, những cuộc đàm thoại, những niềm vui của cả hai phía, cô ấy bằng hai tay lễ phép trao tay tôi một phong bì có chứa tờ 100 đô la Mỹ, tờ giấy bạc sạch sẽ nhất thế giới, một khoản tiền tôi cho là to tát nhất mà tôi kiếm được trong đời. Trinh- vốn là học sinh giỏi Hóa của Đà Lạt được tuyển thẳng vào Đại Học Y Dược- đã giới thiệu một vị dược sĩ khác người có cùng thành tích ấy nhưng từ tỉnh Long An. 

   Thay vì giấu nhẹm cái “lớp bất hợp pháp” đó, tôi thì thầm nhỏ to với các cô tiếp tân,

“Các cô chọn giờ rảnh lên phòng tôi học nhé.” hoặc 

“Tụi em cứ gọi hỏi tôi những câu tiếng Anh cần nói với khách ngoại quốc nghen.” 

Và sau cùng tôi đã lên tiếng với vị phó G.Đ Khách Sạn- người tin rằng tôi đang ở đây vừa làm vừa đi học,

“Tôi rất mong được anh ủng hộ.”

 Bắt tay tôi, ông ấy nhã nhặn, trân trọng đáp lời tôi,

“Thầy cứ dạy.  Đừng để mất trật tự hoặc gây ồn ào thôi. Chúng tôi cũng rất  muốn giúp thầy.”

   Một nhóm nhỏ bác sĩ cũng nghe theo lời giới thiệu của hai nữ dược sĩ ấy lên phòng học “903” của tôi. Lớp của tôi đã âm thầm từng bước phát triển. Một cô công nhân ở tầng dưới tìm tôi để học riêng từ 5 giờ15 hàng sáng. B.S Loan từ Gia Lai gọi tôi để xin cho cô con gái học. Cháu Linh, sinh viên năm thứ 2, từ Gò Vấp đến đúng 1: 30 trưa một cách thật đáng kinh ngạc và cháu đã tiến bộ một cách tôi phải nể phục. Có một sinh viên nam khác học cùng giờ, tôi cho hai học trò hai bài học khác nhau, hai chỗ ngồi khác nhau. Có học trò chọn buổi học rất đặc biệt, từ 9:30 tối. Tôi thường xuyên phải ngả lưng trên cái ghế bố sau tấm màn một tí để qua cơn buồn ngủ đến sập mí mắt. 

   Một đứa cháu gọi tôi bằng ông chú đã rất thích thú với các bài học của tôi. Cô bé chạy xe gắn máy từ nhà ở Hốc Môn mất hơn một giờ mỗi bận để đến học. Vừa về đến nhà, nó mang bài học đi khoe với nhiều chúng bạn kẻ từng học lâu nay tại Hội Việt Mỹ. Ba đồng môn của tôi ở Bảo Lộc cũng đưa con đến học. Một ông thầy tóan đã tự tay đưa học trò lên tận phòng tôi, một loại lớp học rất mới. Họ phải gửi xe ở tầng hầm, đi thang máy đến lầu 6 rồi đi bộ lên lầu 9. Khi có ai hỏi đi lên phòng nào, tìm ai, họ thản nhiên trả lời,

“Lên phòng 903 học Anh Văn.”

Đúng là một chuyện mới lạ. Và tôi cũng đã bắt đầu có một niềm tin mới lạ. 

    Lớp học “903” trên lầu 9 Khách Sạn Công Đòan đã góp phần làm thay đổi cái nhìn nhận của mọi người về tôi và cái tôi nhìn nhận về điều mà đa số gọi là “số phận”. Chính tôi, hai bàn tay tôi, khối óc và Anh Văn của chính tôi, chứ không phải ai khác, điều gì khác đã làm cái lớp đó hiện hữu. 

   Thế không phải tôi đã từng cuốc đất ruộng phồng tay, bừa ruộng bằng cái băng ghế dài, từng nấu cơm bằng nước ao, ăn bánh mì chấm nước đá chanh thay cơm trưa, ngủ trên bàn học trong phòng lớp 92 ở N.L.S Cần Thơ đó sao? Thế tôi đã chẳng từng kể rằng tôi đã ăn khoai lang để trừ cơm thay cho món điểm tâm nhiều ngày tháng trên NLS Bảo Lộc đó hay sao? Trong thời sinh viên, tôi không phải đã từng trốn học, bất chấp bị kiểm điểm, để đi đá banh cho đội Bột Giặt Viso chỉ vì một bữa cơm chiều đó hay sao? Và còn ba lần nghỉ hè tôi đã lên Bảo Lộc? Chắc không phải vì lý do gì khác hơn là: kiếm cơm! Thế tôi không phải từng về Kiên Giang đá “chầu” đó sao? Gò lưng, buộc bụng làm cho một công ty có tiếng tăm với mức lương hạng bét, tôi đã vì cái gì nào? Bán sữa đậu nửa năm, nấu rượu gần cả năm trời, đứng trên thang tre cheo leo ngoài trưa nắng như đổ lửa để kẻ vẽ bảng hiệu và đi chụp hình dạo suốt ba ngày tết, tôi đã muốn gì nếu không phải là để tìm miếng cơm manh áo chứ? 

   Tôi đã thật tự hào vì đã làm được điều tôi hằng mơ ước, “Vì hết gạo tôi phải chạy rong, đã kiếm sống chính bằng cái sức mọn tài hèn và cái tấm lòng của chính tôi tại phòng 903 khách sạn Công Đoàn.”

 

                                                                   Rạch Giá Ngày 31-8-2012

                                                                   Thành Xì TL-71

CON MA BAN NGÀY

 

  Huỳnh Văn Ron- lớp Công Thôn khóa 3 trường N.L.S. Bảo Lộc-71-74- vào đại học SPKT với tôi. Không có điều gì Ron hơn hẳn chúng tôi ngoại trừ việc hắn được ở tại một gia đình quen biết với ba nó, số 46 Nguyễn Hữu Cầu, P. Đa Kao, Q.1, nơi mà sau ngày 30 tháng 4, có một con ma trong nhà đó đã cố tình đeo đuổi hắn.

 

  Huỳnh Văn Ron thiệt thà chất phát từ cách ăn mặc đi đứng và lối sống. Có lẽ hắn thuộc loại người vô tư lự và không có vấn đề gì lớn. Trên Bảo Lộc, nó ở nhà Thầy Minh Còi dạy toán cùng với Đoàn Ngọc Liên- Canh Nông 71- người cùng quê Long Thành với hắn. Mọi việc đã diễn ra suôn sẻ, tốt đẹp.

  Có con trưởng nam lên đại học, ba hắn lặn lội xuống Sài Gòn tìm chỗ cho hắn ở. Từ khi nhận lời giúp hắn, tháng 9-1974, cái phòng này được người chủ nhà- bạn thân của ba hắn- làm ra cho hắn ở để “đi ăn học.” Cả nhà ‎này thương mến và coi cái anh chàng lành tính lành nết, nói khá nhanh mà hơi cà lăm này như một người trong gia đình của họ. Nhưng sau ngày 30 tháng 4, được triệu tập học lại tại Sư Phạm Kỹ Thuật Thủ Đức, hắn tiếp tục ngụ tại căn nhà cũ ấy, một tiệm bán tạp hóa giữa dãy phố bên phải của chợ Tân Định khá sầm uất.

   Phòng của hắn, trên tầng 3 của căn nhà, là một căn gác gỗ, 18 m2, có giường 1m4, tủ quần áo, bàn học, kệ sách và có cửa sổ nhìn xuống dưới chợ. Sinh hoạt của hắn và mọi chuyện cứ diễn ra suôn sẻ, tốt đẹp cho đến một ngày đẹp trời, đẹp duyên, đẹp số!

   Đó là một buổi sáng chủ nhật, ngày 14 tháng 10 năm 1975. Sau một lúc học bài, ngay khi vừa nằm xuống giường để nghỉ lưng, thì từ đâu đó bên phía tay phải, có một bàn tay không rõ nét chìa ra trước mặt hắn một miếng giấy vở học trò cũ kĩ được xếp làm tư. Thản nhiên như đây là một chuyện có thật, hắn mở miếng giấy ra xem. Hàng chữ tàu không thẳng hàng và hơi nhòe mực khiến hắn giật mình ngồi bật dậy và ngay khi ấy miếng giấy cũng biến mất. Tiếng ồn ào từ dưới chợ vọng lên, cái nóng từ mái tole hắt xuống và ánh sáng từ cửa sổ lùa vào căn phòng như nhắc nhở với hắn rằng đây đúng là cõi dương trần. Hắn nhìn chung quanh vài lượt. Không có điều gì làm hắn e ngại hay hoảng sợ cả. Đồng hồ treo tường chỉ 10 giờ 25 phút.

     Sau khi bước tới bước lui một lúc, hắn cho rằng chắc là hắn bị choáng hay hoa mắt gì đó thôi. Vừa đặt lưng nằm xuống giường lần thứ hai, hắn lại cảm thấy như có ai chìa ra cho hắn xem một bức ảnh chân dung bán thân khổ 9-16cm, cũng không rõ nét. Khi hắn vừa cố tình ngồi dậy và nắm lấy bức ảnh, nó cũng chợt biến mất.

“Có ai đó muốn tự giới thiệu với mình!”

Hắn thật dạn dĩ, thật hồn nhiên khi nghĩ thầm như vậy. Và hắn cũng tỉnh táo để nhận ra rằng “người ấy” chỉ hành sự khi hắn nằm trên giường.

   Vì tự thấy rằng mình chẳng có tư thù, gây ác với ai, chẳng có một nỗi ám ảnh gì, và để tự kiểm chứng, hắn cố tình nằm xuống giường lần thứ ba. Ngay tức khắc, hắn bị một cái bấu vào cánh tay trái và một lực kéo hắn về phía vách có cái cửa sổ. “Người ấy”dường như muốn kéo hắn chồm lên để nhìn xuống dưới đường. Hắn cố níu kéo lại. Hắn muốn hét to lên để có ai từ tầng dưới chạy lên gác để phụ hắn một tay. Dùng chân phải đạp thật mạnh vào cái vách, hắn thoát ra cái sức kéo ấy. Mồ hôi tuôn ra như tắm, hắn đi xuống gác. Vừa kể vừa mỉm cười với mọi người, đang làm bánh bao ở tầng dưới căn gác,

“Mới có con ma trên gác nó cho tôi coi một bức thư, một tấm hình rồi còn lôi tui ra cửa sổ nữa chứ.”

Có tiếng của một phụ nữ trẻ hỏi hắn như trêu chọc,

“Con ma đó đẹp hông anh?Nó còn cho anh coi cái gì nữa không?”

Hơi cà lăm nhưng rất rắn giọng, hắn vung tay để cố phân bua rằng,

“Tui chưa kịp thấy thì nó biến đâu mất tiêu rồi. Chắc nó lầm tui với ai đó. Từ xưa đến giờ tôi có làm gì hại ai đâu, có tư thù gì với ai đâu chớ hả.”

Một tiếng cười thật lớn của nhiều người khiến hắn ngượng ngùng đỏ mặt. Hắn bỏ đi xuống dưới nhà như để tìm cách khuây khỏa và để cho con ma đó lãng quên hắn.

    Khoảng giữa chợ Tân Định, ngay trên lề đường, các dãy hàng quán bán đồ ăn, gánh gióng liên tiếp nhau. Nhiều thực khách đang thưởng thức bữa ăn sáng muộn. Các bà nội trợ vội vã bước về nhà hoặc tìm xe của người thân đang chờ hoặc đón những chiếc xích lô đạp quen thuộc. Nhiều khách mua sắm khu chợ bán đồ cũ khá nổi tiếng tại chợ Tân Định này. Tuyệt nhiên, không ai trong số họ có thể tưởng tượng được chuyện gì vừa xảy ra với hắn, với Huỳnh Văn Ron bằng xương bằng thịt. Hắn chợt thấy mình quá cô đơn, kỳ quái. Hắn tức tối tự nhủ thầm rằng mọi chuyện sẽ đâu vào đấy ngay thôi. Hắn nghĩ trong dòng thác người ngược xuôi ấy, đâu có ai hay biết hắn đang đau khổ, cái khổ vì bị một con ma hành giữa ban ngày ban mặt.

    Lần này trở lên căn gác, thật tỉnh táo, thật tự tin, hắn tự nhủ,

“Ai muốn làm gì ta thì cứ việc.”

Bước lui tới một đỗi, hắn không nhận được một sự tiếp xúc nào của con ma.

Nhưng ngay khi hắn vừa đặt lưng xuống giường, như là giận dỗi lắm, con ma níu lấy tay phải của hắn để lôi hắn ra phía cửa sổ như là cách để kéo hắn ra khỏi cái kiếp sống này vậy. Kháng cự với sức trai trẻ, bản năng sinh tồn, vùng ra được cái níu tay ấy, hắn đã tự giải thoát. Không thể còn cách nào khác ngoài việc phải rời bỏ cái gác này ngay. Lần này hắn xuống dưới gác để rủ một người làm nhân chứng. Thằng Tám Tàng, một lính ngụy trẻ gan dạ, từng nả nhiều băng đạn, tung nhiều quả lựu đạn, từng nằm cạnh nhiều xác chết của cả hai sắc áo, từng đi di tản từ Quảng Trị về Sài Gòn, vội vã quệt hai tay đang dính đầy bột mì, nói lớn với Ron,

“Để tui coi nó làm gì được tui. Chắc là một con ma đói nào đấy thôi!”

   Hai người ở trên gác cho đến giờ ăn trưa. Đã không có chuyện gì xảy ra cả. Có thể con ma không muốn cho người thứ hai biết tung tích của nó. Tám Tàng cứ cho rằng Ron bị ám ảnh trong khi Ron luôn miệng kêu oan.

Sau buổi ăn trưa chung với cả nhà, Ron gần như quên chuyện xảy ra vào buổi sáng. Ngay vừa bước lên bước thanh gác cuối cùng, Ron tự nhiên thấy rờn rợn như đang lúc nửa đêm trong một bãi tha ma lạnh lẽo hoang vắng khi đồng hồ trên tường chỉ một giờ, 15 phút. Hắn không quen có một giấc ngủ trưa ngắn. Nhưng hắn muốn cố thử một lần nữa xem sao. Ron nói thầm và mong có một thay đổi trong cách “kẻ đó” tiếp xúc với hắn,

“Tui chỉ là học trò thôi mà, đâu có làm gì ác, đâu có hãm hại ai đâu?! Để cho tôi ở yên đây, để đi học nghen.”

Ngay khi mà phần cuối của cái lưng chạm xuống cái giường, một sức mạnh của một con người đè lên người hắn như người ấy muốn ôm xiết hắn, như muốn tỏ tình một cách thô bạo. Cái trọng lượng ấy phải là của ai đó nặng cân hơn hắn. Dùng hết sức bình sinh, hết cách để vùng vẫy, hết cách có thể có được, hắn gần kiệt sức khi có tiếng của thằng Tám Tàng hỏi lớn,

“Anh Ron ơi, xuống uống chút cà phê cho tỉnh táo, anh Ron ơi!”

Không thể làm sao để kêu cứu, Ron muốn thét thật to lên vì đã bất lực nhưng hắn không còn đủ sức nữa.

“Anh ngủ nãy giờ hả? Xuống dưới chơi!”
Tiếng nói của Tám Tàng khi vừa lên gác đủ lớn để làm cho con ma ấy biến mất và làm cho Ron thoát ra. Người ướt như vừa xông hơi, Ron cà lăm hơn bao giờ hết,
”Con… ma, con… ma đó… muốn… giết… giết… tui.”

    Ron chạy xuống tận nhà dưới, cà lăm cà lặp xin ông Hái cho nó về nhà liền ngày hôm đó và nó phải nhờ thằng Tám Tàng lên gác lấy cho nó một bộ đồ và những cuốn vở nó cần mang về nhà học. Ba nó không thể hiểu được tại sao có một ai đó khuất mày khuất mặt theo đuổi và hành hung con ông đến như thế được. Hai hôm sau, hai cha con đi Sài Gòn sớm. Tại ngã tư Thủ Đức, Huỳnh văn Ron ghé lại trường để làm 2 môn thi, còn ba nó đi thẳng về nơi nó ở trọ, chợ Tân Định. Ông ta và ông Hái trò chuyện bàn bạc về một nơi ở khác để tránh xa “kẻ ấy”, để cho Ron có thể học được.

      Nghe lóm câu chuyện, thằng Tám Tàng nhanh nhẩu chạy chiếc Honda SS.67 về nhà để xin với ba má nó cho Ron ở trọ, một căn nhà nhỏ trong hẻm gần chợ ĐaKao. Ông Bà Bảy thương binh nhận lời cho Ron ăn và ở ngay từ hôm đó. Và không bao lâu sau, Ron và Tám Tàng kết thân với nhau. Năm nào cũng vậy, Ron ghé lại thăm ông bà Hái một vài lần nhưng đến lúc ra trường- đầu tháng 9 năm 1979- Ron có một cách làm vừa thiệt thà vừa nhân hậu. Được biết căn gác vẫn còn bỏ trống từ ngày Ron dọn đi, nó xin phép ông Hái cho nó lên thăm chỗ ở cũ và biết đâu thăm được luôn “kẻ ấy”.

    Dùng cái chổi lông gà quét bụi bám trên cái chiếu cũ vài lần, bình tĩnh ngồi xuống mép giường, Ron nhẹ nhàng đặt lưng xuống giường trong một sự tỉnh táo sáng suốt hơn bao giờ hết. Ngay lập tức một áp lực đè lên người, lên đều hai tay chân của Ron. Vừa định mở miệng kêu cứu thì như có một bàn tay chận miệng của nó lại. Nếu Tám Tàng không chạy vội lên gác sau đó 15 giây để lôi Ron ra khỏi giường, “kẻ ấy” có thể làm Ron mất mạng vì ngộp thở. Nó vừa bước xuống cầu thang vừa nói trỗng với “người vừa tấn công” nó,

“Làm gì ghê vậy? Có..có gì thì nói chứ... sao..sao làm.. kỳ cục vậy chứ?”

   Sau khi ra trường, làm việc tại một trại chăn nuôi gia cầm lớn nhất ở Long Thành, cũng như biết bao nhiêu người trẻ tuổi được ăn học, có bằng cấp khác, Huỳnh Văn Ron bị kỳ thị, bóc lột công sức làm việc. Nó than thở với ba nó và buồn bã thở dài hoài đến độ ba nó không chịu nổi. Ba nó đã cho nó 10 cây vàng để nó có một chỗ đi chính thức ở Biên Hòa. Ron may mắn được chính phủ Úc tiếp nhận sau nửa năm ở trại tị nạn bên Mã lai.

    Có ai biết “kẻ ấy” đã muốn theo hắn qua bên Úc hay không? Có ai biết Huỳnh Văn Ron đã trở lại căn gác xưa để thử xem “kẻ ấy” có còn ở đó để chờ đợi hắn hay đã có một ai khác rồi? Thiệt tội nghiệp cho anh chàng lành tính, lành nết, thiệt thà nhất trong ban Công thôn của trường Nông Lâm Súc Bảo Lộc, người hiện giờ là một thương gia thành đạt bên Melbourne, Úc Châu. Không ai biết cái con ma đó muốn theo hắn qua đây không nữa?

   Huỳnh Văn Ron ơi! nhiều đồng môn và tao rất mong gặp mày để được nghe mày kể thêm về “kẻ ấy”. Thiệt...thiệt.. mà!

                                                                                    Sydney, Jul 12, 2014

                                                                                   Lương Ngọc Thành

RICHARD CULSHAW- NGƯỜI BẠN TÂY

 

    Tôi không chắc Rick có phải đúng là người bạn lớn của tôi hay chưa nhưng những gì hắn đã kể cho tôi, những câu trả lời rất thẳng thắn tôi đã hỏi hắn có vẻ đúng là một bài học rất lớn đối với tôi về, “Sự cô đơn và khí phách của đàn ông”.

     Một học trò của tôi đã đưa hắn đến nhà tôi buổi sáng ngày 19 - 11 năm 2005 để hắn có thể hỏi được nhiều điều mà hắn muốn tìm hiểu hơn. Hắn viết ra tên của hắn là Richard Culshaw, lớn hơn tôi 9 tuổi, một thợ lặn sò Abalone chuyên nghiệp ở Port Lincoln, gần Adelaide, Nam Úc. Hắn tự nhiên thật thà hỏi tôi rất nhiều chuyện, nhiều chi tiết về hải sản, về các đảo, bờ biển, về việc săn bắt dưới biển và về khả năng hắn có thể xin phép lặn ở hay đây. Hắn khoe với tôi rằng hắn là một trong những người có giấy phép hành nghề chuyên nghiệp bên Nam Úc. Để làm rõ ràng những gì hắn muốn hỏi, tôi đưa cho hắn vài tờ giấy trắng và viết chì. Để lai rai và để có thể kết thân, tôi mời hắn uống bia ngay tối hôm đó sau khi giới thiệu cho hắn một vị nha sĩ cho hắn đến trám răng sáng hôm sau.

 

 

   Giống như tôi, hắn cũng thích tôi ngay nhất là cái cách tôi hỏi chuyện, cách tôi tiếp xúc với hắn. Nhìn thấy bàn thờ mẹ tôi, gặp vợ và hai đứa con tôi, hắn hiểu ngay tôi đang làm gì và làm như thế nào. Tôi thích ngay cái tính cách, cái vốn sống như một tàn thư của Rick, giọng nói khá dễ nghe và hơn thế nữa hắn có nhà ở Adelaide, nơi chị Tư tôi sinh sống. Chúng tôi uống bia và trò chuyện với nhau thật vui thú đến nửa đêm. Biết hắn ly dị đã lâu và thích phụ nữ Việt Nam, tôi giới thiệu hắn với một cô bạn tôi mới quen trên Sài Gòn, Hiền Thu, người có những điểm có vẻ không gây hắn ấn tượng lắm.  Sau đó, tôi đặc biệt kể nhiều hơn về một học trò của tôi- Ngọc Châu, một nữ tài xế kiêm hướng dẫn viên du lịch, tuổi giữa 40 mà cũng còn khá dễ nhìn- nói tiếng Anh rất khá, đang làm cho một công ty của Đài Loan ở Vũng Tàu. Tôi gọi ngay cho Châu và cô ấy cho Rick số điện thoại. Tôi đưa cho Rick nói chuyện với Châu. Vì cái quán nhậu khi đó khá ồn ào, họ nói chuyện chút ít nhưng có vẻ cũng thích nhau. Tôi bất ngờ khi hắn nhắc tôi rằng hắn sẽ trả tiền cho cuộc gọi điện thoại ngắn ngủi ấy. Hắn hứa sẽ gặp Châu vì thế nào hắn cũng sẽ ghé thăm Vũng Tàu, nơi có biển chứ không phải có nhiều du khách đến, theo lời hắn nói. Hắn về nhà trọ và sau đó dọn đến một khách sạn gần nhà tôi cho tiện việc gặp tôi.

     Xế trưa ngày hôm sau đó, vào ngày Nhà Giáo 20-11, tôi phải đi dự một tiệc cưới của một học trò ở một huyện Tân Hiệp, cách 16 Km mà không tiện mời hắn đi theo, tôi đã để lại lời nhắn tại khách sạn rằng tôi sẽ gặp lại hắn hôm sau. Nhưng bất ngờ thay, hắn đã trả phòng ngay đêm tối hôm đó.

   Biết là tây balô đến rồi đi, tôi đã không có gì tiếc rẻ hoặc thắc mắc về hắn cả cho đến một hôm tôi gọi hỏi thăm Ngọc Châu. Cô ta cũng thật bất ngờ không kém. Châu đã kể lại rằng,

“Em nghe giọng của Rick chào hỏi em trên điện thoại. Ông hẹn gặp em chiều hôm sau đó. Em spell địa điểm gặp và nhắc lại hai lần. Đinh ninh rằng ít nhất em cũng có được một ông tây để kết thân.”

Châu kể đến đây xong bị tôi cắt lời.

“Rồi sao nữa.”

“Vừa đến nơi hẹn, em vừa chợt thấy một người đàn ông đi ra. Em chờ một lúc sau và nhận ra rằng hắn chợt đổi ý khi vừa thấy em đến.”

 

    Không bao lâu sau, tôi quên bẵng cái chuyện đó. Nhưng rồi trong lúc vòng chung kết giải bóng đá thế giới- World cup- đang diễn ra- từ ngày 27-6- 2006, Rick lù lù xuất hiện sau 7 tháng trời không hề có một thông tin gì.

Hắn vui vẻ hơn, khá mập hơn, chậm chạp hơn đôi chút nhưng thân mật hơn lần ghé trước nhiều. Hắn nhắc mấy lần rằng hắn vừa chia tay với một cô gái bên Campuchia để ghé đây thăm tôi và một học trò của tôi người mà hắn rất ngưỡng mộ, B.S Cường. Đang bị đau tendons bên chân phải, hắn hỏi tôi về một bác sĩ châm cứu. May thay khoảng giữa nhà tôi và khách sạn nơi hắn ở, có một phòng châm cứu. Sáng hắn ghé tôi chơi, ngồi suốt buổi để coi tôi dạy học, đến trưa hắn đi bộ đến phòng châm cứu. Có một buổi trưa hắn đến với vài lon CoCa và một chai rượu Rhum đỏ. Hắn đi ra phía sau nhà và hỏi xin vài cục nước đá, rồi chính tay pha mời tôi như thể chúng tôi uống cà phê với nhau vậy. Rick tự kể cho tôi nghe rất nhiều điều về hắn, về 7 tháng hắn vừa trải qua còn tôi thì cố tìm hiểu hắn, người đã vào nghề quá sớm, đi quá nhiều và sống dưới biển quá lâu và những gì hắn tận mắt chứng kiến. Tôi cũng hỏi Rick bất cứ điều gì cuộc đời, sự nghiệp, kinh nghiệm sống của hắn về đàn bà, về chính phủ Úc, về những nơi hắn đến, Cuba, Hong Kong, Indonesia, nơi mà có một phụ nữ trẻ, em của một tay tài phiệt, chính thức lên tiếng muốn lấy hắn, và về những người bạn đồng nghiệp, về chuyện nuôi dạy con cái và về mọi thứ khác tôi có thể nghĩ ra.

   Từ thưở nhỏ là một học sinh ốm yếu, hắn tập bơi. Từ việc mê bơi, Rick đã trở thành tay bơi số hai toàn nước Úc năm 17 tuổi. Từ số tiền nhỏ ba hắn tặng nhân ngày sinh nhật thứ 19 của hắn, Rick mua một chiếc thuyền độc mộc, dây, lưởi câu rồi trở thành một thợ câu. Từ thợ câu, hắn lặn tìm thứ có giá trị hơn và hắn trở thành tay thợ lặn chuyên nghiệp thứ 22 ở Nam Úc. Hắn được mệnh danh là, “Rick- the rapist” vì khả năng khai thác khủng khiếp của hắn. Một trong những điều mà tôi đã hỏi hắn đó là chuyện ly dị. Hắn làm tôi ngạc nhiên vô cùng khi kể về tấm thảm kịch mà ông già vợ hắn đã gây ra. Sau đó vợ và hai người chị gái bị một “phobia kinh sợ gớm ghiết đàn ông.” Để chứng minh với tôi hắn vẫn luôn nghĩ đến gia đình, sáng hôm sau hắn mang đến nhà tôi hình vợ con hắn.  

    Tôi học từ hắn như một sinh viên đọc sách trong thư viện. Tối hôm sau, hắn và tôi tình cờ ghé vào một quán vắng khách, lộng gió, yên tĩnh khiến hắn càng có thời gian để nói hơn.  Tôi hỏi những câu mà hắn chưa hề được ai hỏi. Hắn có người để kể những chuyện hắn rất muốn kể. Những đêm đó, hắn đều dành trả tiền hoá đơn và có lần hắn tuyên bố với tôi rằng nếu hắn muốn ở lại đây, hắn sẽ gọi cho cô con gái lớn để gởi qua cho hắn khoảng 10 ngàn đô ngay tức khắc. Hắn thật tình và gây cho tôi cái ấn tượng khó quên rằng:“Ai cũng cần tình bạn”. Trong con người hắn, tôi nhận ra một phần của bạn tôi, Long Kh’mer, những người bạn thân của tôi đã ra đi quá sớm. Một trong những câu hỏi của tôi mà hắn rất thích là,

“How would you want to die?” “You hổng chừng muốn chết như thế nào?”

Câu mà hắn rất lúng túng khi trả lời là:

“If you were young again, whom would you choose to be your wife?”

“Nếu you có thể nào trẻ lại, you chọn ai để cưới làm vợ?”

Hắn cũng hỏi tôi một số ý kiến và vài câu hỏi như:

“What did you learn from your Agricultural high school?”

“You đã học được gì từ trường Trung học N.L.S?”

“How did you turn yourself into a teacher of English?”

“Làm thế nào you tự chuyển thành thầy giáo dạy Anh Văn?”

   Hắn đặc biệt kể cho tôi nghe về cô gái hắn gặp bên Campuchia, Thu Hồng, gốc Sài Gòn, khoảng 30 tuổi, có ít tiếng Anh, nhưng khá nhiều về nhan sắc, nhưng theo hắn, có rất nhiều cá tính tốt.

   Hồng trước đó không lâu đã theo bạn trai qua đó lập nghiệp nhưng họ có chuyện bất hoà và hắn đã bỏ về. Hồng mưu sinh bằng cách nhận đồ giặt ủi từ khách “Tây ba lô.” Rick mô tả khá chi tiết rằng Hồng và Rick sống chung êm ấm tốt đẹp được 1 tuần như thế nào cho đến khi hắn muốn qua Rạch Giá để thăm tôi. Hắn cho nàng ít tiền đi xe về Sài Gòn và bảo nàng ở nhà chờ hắn đến thăm. Rick đưa tôi xem địa chỉ của Hồng và hắn tính sẽ đi tìm nàng. Tôi nhanh chóng gọi điện cho Hoàng Cận- một bạn học cũ để nhờ thằng bạn thân này đi tìm địa chỉ ấy quận Bình Tân. Rick có ý định chu cấp cho nàng sống ở Sài Gòn. Với những tài sản, bất động sản hắn có bên Úc, tôi nhẩm tính Rick có khoảng 2 triệu đô Úc nhưng hơn tất cả hắn còn là người đích thực có trái tim nhân hậu, rất tích cực làm việc, rất khỏe mạnh- tinh thần lẫn thể xác.

      Hắn kể với tôi về rất nhiều người phụ nữ, về vợ con của hắn, về mọi điều hắn đã trải qua. Tôi học được từ hắn quá nhiều điều về chuyện đời, chuyện đi và khám phá. Hắn và tôi hợp nhau vì cái quan điểm, cách nhận định về cái thế giới này. Với tính ham học hỏi, tôi đâu có quên hỏi hắn những chuyện lớn hơn, thời sự quốc tế, cái nhìn của một số nước về Mỹ trong vụ can thiệp vào Iraq, chuyện Bill Clinton với vụ Monica, chuyện đóng thuế của ngưòi Úc, chuyện dân Cuba sống ra sao khi đem so sánh với dân Việt… Khi được hỏi về triết lý sống, hắn không có một chút do dự,

“Living a full qualified life.” “Sống một cuộc đời đầy đủ chất lượng.”

     Vì được phô diễn cho tôi nghe những quan điểm, vài bài thuyết trình, hắn ngày càng tỏ ra thích thú. Có khi trưa hắn cũng đến. Rick thích cách tôi dạy học. Tôi cho hắn nghe các trích đoạn ngắn tôi vừa thu từ đài VOA về kết quả các trận đá ngày hôm đó. Hắn thích các học trò của tôi. Nắm tay Thuỳ Dương, 21 tuổi, xinh đẹp, duyên dáng, hắn hỏi cô ấy có chịu để hắn bảo lãnh đi Úc không. Hắn khen cách cô học trò khác của tôi- Ngọc Phúc ghi chép, nhanh chóng chính xác. Hắn rất nể B.S Cường- người một mình đến học với tôi lúc 9 giờ tối hằng ngày. Nhưng hắn không thích cái cách Trung Hoa- một học trò học để thi IELTS đi du học Úc. Hắn tìm tôi như Long Kh’mer trước đó đến thăm tôi vậy, vui mừng kể lể và trả lời các câu hỏi của tôi- từ những câu rất chung đến những câu rất chi tiết. Hắn rủ tôi xem với hắn trận chung kết Pháp- Ý, ngày 9-7-2006 và đó là đêm cuối cùng hắn ở Rạch Giá. Giải đấu đã đóng lại nhưng tôi mong tình bạn của chúng tôi vừa hé mở thêm. Hắn có nói dịp sau sẽ ghé lại Rạch Giá thăm tôi và đặc biệt hơn là việc hắn có thể mời tôi qua Úc chơi 1 tháng. Lập tức tôi hứa sẽ viết cho hắn một truyện ngắn về cuộc đời và những chuyến đi nước ngoài của hắn. 

   Sáng hôm sau tôi giúp mua cho hắn một vé xe đi SG, gọi Thùy Dương và Phúc ra tận xe để chia tay hắn.. Ngày 12-7, từ Sài Gòn, Rick gọi điện chia tay tôi để về làm lại sau hơn 7 tháng holiday và rất mong sớm gặp lại tôi. Tiếc thay cái địa chỉ mail của thằng con rể mà hắn viết cho thầy trò tôi dường như không đúng hay nó đã bị hủy bỏ.

   Đến nay, tôi luôn mong Rick trở lại như thể tôi rất mong một người bạn thân đến thăm.

                               

     Rạch Giá, Aug 29, 2014

    Lương Ngọc Thành

 MỘT PHONG BÌ LÌ XÌ

 

      

 

 

 

 

 

 

   

 

     Vì là một giáo viên dạy tại nhà, không có thu nhập tháng nghỉ tết, tôi rất mừng vì hôm nay, chỉ mới là ngày 17 tháng chạp, tôi nhận được một phong bì lì xì của Ngô Huỳnh Hiếu, một cô học trò cũ hiện đang ở Canada.

 

      Khoảng tháng 7 năm 2003, tôi được mời làm cố vấn kỹ thuật cho Câu lạc bộ nói tiếng Anh trong công ty của Hiếu- Kigimex Kiên Giang. Được dịp chứng tỏ cái kết quả luyện nghe VOA Special English của tôi, bất cứ khi nào nói tiếng Anh, tôi nói thật kỹ lưỡng chậm rõ và tôi đã tạo ấn tượng rất tốt đẹp trong lòng mọi người. Không bao lâu sau, tôi được mời dạy một lớp cho công ty đó. Trong ban tổ chức lớp cũng như Câu lạc bộ, Huỳnh Hiếu là người gây cho tôi một ấn tượng khá xâu sắc. Cô gái ấy có nước da trắng của một người con lai, tóc thưa suông thẳng dài hơn nửa lưng. Thường cười mĩm chi với tôi, Huỳnh Hiếu khiến tôi chú ý hơn ai hết. Nhưng khi nói tiếng Anh, Hiếu, cũng như mọi người ở đó khiến tôi hơi thất vọng. Tôi luôn đến đúng giờ. Tôi có vài sáng kiến. Tôi mang đàn organ hoặc ghita đến, hát mẫu các đoạn nhạc hay và tập họ hát như một ông thầy giáo dạy nhạc. Tôi được hầu hết mọi người quý trọng, mến mộ kể cả cô Mỹ Trang, cử nhân Anh Văn, tốt nghiệp từ trường ĐH Tổng Hợp T.p Hồ Chí Minh.

 

      Một buổi chiều đầu tháng 9 năm 2004, Hiếu đã đến nhà tôi. Cô lo lắng kể cho tôi nghe hết sự tình. Người anh cả của Hiếu- đang làm hồ sơ cho cha mẹ qua đoàn tụ, nay lại muốn lãnh Hiếu qua Canada để học Thạc sĩ. Cô cho tôi biết rằng dịch vụ du lịch đã cho rằng cô ta rất ít có khả năng đi. Hai tháng trước ngày phỏng vấn, vì không muốn bị quá lúng túng trong cuộc thử thách khó khăn ấy và cũng vì muốn tập nghe nói, Hiếu đến học với tôi. Sáng sớm trước giờ làm việc, sau khi tan sở, 2 lần trong ngày, Hiếu đến học một cách ngoan ngoãn tự nhiên như một học sinh trung học. Khi ấy 27 tuổi, chưa có bạn trai, tốt nghiệp ĐH Ngoại Thương, Hiếu là một trong những học trò khá đặc biệt của tôi. Khi tôi cho cô ấy nghe những bài hay, cô xuýt xoa khen ngợi. Khi tôi sửa chữa các lỗi thông thường của Hiếu, cô ta tự thú rằng cô ta chưa hề tự tập nghe gì cả. Khi đến học sáng sớm, Hiếu mục kích cách tôi rèn luyện - nghe một mặt băng cassette tiếng Anh trong lúc nhảy dây 1000 lần để giảm cân. Cô ta không ngờ tôi đã tập thể dục để giảm cân nhanh và luyện nghe cái cách như thế. Thấy cái phù hiệu trường Nông Lâm Súc Bảo Lộc tôi treo trên tường, cô ta biết rõ là tôi đã không có một vốn liếng tiếng Anh hoặc sư phạm gì cả như đa số các thầy cô khác. Tôi đã nhận học phí của Hiếu khá thấp vì tôi biết rằng thu nhập của cô ấy có cao đâu. Thầy trò tôi càng ngày càng thân thiết với nhau hơn cho đến một hôm tôi có một sáng kiến.

 

     Bằng tiếng Anh, tôi trình bày với Hiếu cái nguyên cớ cô ấy xin qua Canada học thay vì được anh lãnh đi:

“Tôi đã được một ông thầy dạy mời hợp tác. Ông ta dự tính mở một trường Anh Văn tư thục. Tôi không hài lòng với cái công việc tôi hiện có. Tôi cần qua Canada học thạc sĩ trong khi thầy tôi xây dựng trường trên nền đất nhà- trị giá 20 ngàn đô la…” 

Khi Hiếu gọi điện thoại cho công ty dịch vụ để kể cho họ nghe cái nguyên cớ tôi đã nghĩ ra, họ đánh giá rất cao cái ý tưởng ấy của tôi. Tôi chỉ biết tìm cách giúp được ai và dạy được ai càng nhiều càng tốt. Thế thôi.

 

     Trong chuyến đi lên Sài Gòn để chuẩn bị cho cuộc phỏng vấn, Hiếu mời tôi đi theo để động viên tinh thần. Tôi nhận lời và cũng nhân đó tôi có dịp thăm thằng em của tôi- đang trị bệnh trên Sài Gòn. Sáng hôm sau, tôi đến nơi mà Hiếu trú ngụ để tập cho cô ấy và cũng để trả lời những thắc mắc cô ấy mới nghĩ ra. Tôi trở về vì cho rằng sáng hôm sau, từ lãnh sự  quán Canada họ có thể gọi phỏng vấn tôi về trường hợp của Hiếu và tôi cũng chẳng có gì khiến tôi phải ở lại trên đó. Đúng như tôi tiên đoán, khoảng 9 giờ sáng hôm sau, ngày 22-10-2004, tôi có một cuộc điện thoại. Một giọng nữ sắc xảo, mạch lạc hỏi tôi về trường hợp của Hiếu và cái dự án mở trường tư của tôi:

   “Tại sao ông chọn cô Ngô Huỳnh Hiếu để mời dạy cho ông?”
  “Dựa vào đâu mà ông mở trường Anh Văn Tư Thục?”

   “Ông đến nay có những thuận lơị gì để mở trường?”

Tôi trả lời một cách trôi chảy tự tin không kém gì người đã hỏi tôi. Khoảng nữa giờ sau, Hiếu gọi cho tôi với giọng nói thật vui,

   “Thầy ơi, em đậu rồi. Em được cấp visa rồi. Anh Hai  của em nhắn lời cám ơn thầy nhiều lắm.”

 

    Giọng nói của Hiếu rung rung vì nghẹn ngào vui sướng và nó cũng khiến tôi xúc động. Hiếu mời tôi về nhà để gia đình khoản đãi tôi. Tôi từ chối ngay vì tôi cũng chẳng muốn được như vậy. Theo lời khuyên của tôi, sau khi bàn giao công việc, trước ngày đi, cùng với những người nàng sắp chia tay, Hiếu mời tôi dự tiệc tại “quán Nướng”. Trước lúc tàn tiệc, tôi được Hiếu trao cho một món quà- một cái đồng hồ. Tôi chỉ còn biết nhận, cám ơn và chúc cô ta học giỏi, hạnh phúc. 

 

    Hai năm sau, Hiếu về Việt Nam để thăm cha bệnh và để làm đám cưới với một Việt Kiều Canada- một thanh niên hiền hậu, lịch sự. Trong ngày cưới đơn sơ ấy, 20-11- 2006, ngày Nhà Giáo Việt Nam, tôi được anh chị hai của Hiếu từ Canada về và nhiều người cám ơn tôi. Tôi vui vì ít có dịp nào tôi giúp được ai nhiều như thế. Ngày mồng hai tết năm ấy, từ Canada Hiếu và chồng gọi điện thoại chúc tết tôi- cuộc điện thoại ý nghĩa nhất trong đời làm thầy giáo của tôi. Giữa hai chúng tôi, có một thứ mà người đời gọi là “Tình thầy trò.” Vì lúc nào cũng chăm chú việc dạy tốt người này, giúp người nọ phát triển và vì bận bịu công việc dạy học, tôi quên bẳng đi cô học trò cũ ngày nào: Ngô Huỳnh Hiếu.

 

       Sáng nay tôi có hai người khách trung niên, một học trò cũ tên Ngọc Thúy và Huỳnh Mai- chị ba của Ngô Huỳnh Hiếu. Cả hai xin phép tôi để qua tết học. Mai kể cho tôi nghe về Hiếu. Cô ta hiện có hai con, sống hạnh phúc với người chồng tốt và hiện làm việc cho một nhà xuất bản. Trước khi chào tôi ra về, Mai trao tôi một phong bì- được gọi là quà của Ngô Huỳnh Hiếu. Sau khi tiễn khách, tôi mở phong bì và nhận thấy một tờ giấy bạc 100 đôla Canada.  

 

     Tết năm nay, cả nhà tôi chắc sẽ sung túc hơn một tí nhưng tôi chắc sẽ có một mùa xuân vui vẻ hơn rất nhiều.

                                                                    Ngày 7 tháng Chạp, năm con Mèo.

                                                                           Lương Ngọc Thành  

        NHỮNG NGÀY CUỐI CÙNG CỦA MẸ TÔI


 

     Tôi là người có diễm phúc được kề cận với mẹ tôi cho đến giây phút sau cùng. Mẹ tôi đã ra đi quá êm đẹp đến nỗi nhiều người phải tin ngay rằng bà đã thể hiện quá rõ ràng tình thương của bà dành cho các con yêu của bà, hơn hai ngày chăm sóc và với rất ít tốn kém.

     Trừ những ai làm việc trong ngành Y tế hoặc đang làm ở trong một bệnh viện công, ít có bệnh nhân nào nhận được sự chăm sóc hết sức chu đáo trong hai ngày cấp cứu như mẹ tôi. Ngay sáng hôm sau khi mẹ tôi nhập viện vì một cơn ngưng tim, một bác sĩ học trò cũ của tôi- B.S Hồng Hoa- đã báo tin xấu này trong buổi giao ban đầu tuần, ngày 11-6-2001. Bác sĩ Thủy- phó giám đốc- xuống tận giường bệnh để thăm hỏi tôi. Sau đó ít lâu, hàng giờ có những bác sĩ đến làm các xét nghiệm cho mẹ tôi. Bác sĩ Thanh, một học trò khác, cho tôi biết khả năng xấu nhất sắp xảy ra và khuyên tôi bình tĩnh. 

  Tôi chỉ biết ngồi suốt bên giường bệnh, làm vệ sinh cho mẹ tôi. Tôi bỗng dưng bình tâm vì có lẽ người mẹ đang nằm hôn mê bất động đấy rất thấu hiểu và rất thương tôi. Tôi phải đóng vai trò của con gái chăm sóc, vệ sinh cho mẹ. Chị hai tôi ở Sài Gòn đã hay tin nhưng chưa có hồi âm. Hai đứa con của chỉ được mẹ tôi mang về đây nuôi dưỡng nhiều năm cũng không có tin gì xuống cho tôi. 

    Em và chị tôi từ bên Úc gọi điện báo rằng họ sẽ về. Em tôi vì sắp làm ăn lớn, và vì dị đoan, đã điện về nói rõ là nó muốn sao mẹ tôi ra đi vào ngày tốt, sau đó đúng 2 ngày. Tôi yên chí vì sẽ có đủ anh chị em tôi tề tựu bên cái quan tài của mẹ tôi rồi. Tôi gọi điện báo hung tin này và xin trung tâm Anh văn cho tôi nghỉ dạy một tuần. Vợ tôi ở nhà chăm sóc hai con, trai 10, gái 2 tuổi. Một đứa học trò thân thiết đến thăm tôi vào ban đêm. Ngồi ngay dưới chân bà, tôi âm thầm ngoan ngoãn ở bên mẹ tôi- không ai có thể nói với ai một lời nào. 

    Theo ý mẹ tôi, bà muốn được hoả thiêu và được tôi gìn giữ xương cốt của bà tại nhà. Cách đây 21 năm, tôi đã từ Sài Gòn về Rạch Giá để mong được cái ngày này. Cách đây 19 năm, tôi đã từ chối vượt biên một chuyến với chị em tôi cũng vì cái giờ phút này. Tôi luôn bình tĩnh, ngồi bên giường của mẹ tôi hồi tưởng lại những gì tôi đã làm được cho bà, những gì tôi đã chưa làm được. Như một cậu bé con hiền hậu, tôi có thể rành rẻ kê ra một danh sách về những điều ấy. Mỗi điều tôi nghĩ đến làm cho một hàng nước mắt tôi trào ra. Tôi chợt rùng mình, ràn rụa nước mắt vì không có một điều gì, bất cứ một người con hiếu thảo nào có thể làm được để khiến mẹ của họ có thể sống lại được. Tôi bổng tiếc nuối khủng khiếp những khoảnh khắc tôi đã làm mẹ tôi không được vui như tôi trước đó hằng mong muốn. Tôi tự trách chính mình vì đã không làm gì hơn thế được. 

    Mẹ tôi đã trước đó bị tiểu đường 15 năm và đã trước đó bị hở van tim phải 2 năm. Bây giờ bà nằm đó, bất động và tôi ngồi cạnh người đây, bên người mẹ đã chịu đựng quá nhiều điều bất hạnh, khổ sở. Cái khoảng 2 gang tay giửa hai mẹ con tôi sắp trở thành một khoảng cách vô tận. Cái khoảng cách vô tận ấy có thể được rút ngắn lại hay không còn tùy vào hai trái tim của chúng tôi. Trong tim tôi, mẹ tôi luôn ở trong đó. Còn trong tim bà, tôi chẳng biết rõ là tôi ở trong một xó xỉnh nào nữa. Từ trước đến giây phút đó, mẹ tôi luôn luôn hiện diện để âm thầm thúc đẩy tôi tiến lên. Người luôn luôn ở trong tim tôi.

    “Thưa thầy, nhờ thầy điền vào bệnh án của bà ạ.” 

Lời mời nhỏ nhẹ của cô y tá làm tôi giật mình. Tôi vào văn phòng khoa cấp cứu để viết lách cho rõ. Mọi người trong phòng nhìn tôi vừa kính, vừa mến, vừa như muốn gánh bớt cái đau của tôi- một ông thầy dạy Anh văn cho bệnh viện. 

   Cách đây một năm, tôi được một cú điện thoại của một bác sĩ học trò khác mời gấp vào bệnh viện để phiên dịch. Một phái đoàn của Bộ Y tế vào để cùng một đại diện của Y tế của CHLB Đức khảo sát điều đình một khả năng cho bệnh viện Kiên Giang vay 5 triệu đô la để mua thiết bị y khoa. Sau đó hai lần nữa, tôi lại được mời làm phiên dịch- một khi có hai chuyên gia về tài chính đến. Trong lúc đến các khoa phòng trong bệnh viện, những ai từng biết tôi đều ngạc nhiên vì cách tôi phiên dịch lưu loát. Với dòng máu nóng sẵn có trong cơ thể- lúc nào và với việc gì khó khăn, tôi đều làm được.

     Và vào lần cuối khi một tiến sĩ Y khoa, Schumacher, từng làm giám đốc một bệnh viện ở Lesoto, Châu Phi, với một mức lương $6.000 một tháng- đến để xác định tính khả thi của dự án. Trong hai ngày đi khảo sát tại bệnh viện Kiên Giang và hai huyện An Minh, Hà Tiên, tiến sĩ Schumacher luôn hỏi tôi xem có phải tôi làm trong bệnh viện không. Khi nghe tôi kể rằng tôi học NLS, ngành Lâm Nghiệp, Đ.H ngành Nông Nghiệp và bắt đầu học anh văn từ năm 35 tuổi và hiện đang là giáo viên tự do, ông ta bắt tay tôi và nhún vai,

“I can’t put it into words- Tôi không biết phải nói sao nữa.”

Trò chuyện về gia đình nhau, ông ta kể rằng mẹ ông đang ở nhà dưỡng lão còn bà vợ và hai đứa con của ngài thường bận bịu với chuyện cộng đồng và bạn bè. Tôi hớn hở kể cho ông ta nghe về gia đình 5 người của tôi, về việc mẹ tôi đã được chúng tôi chăm lo thế nào. Ông nói nhỏ với tôi,

“What a family!” “Quả đúng là một gia đình!”

    Những ai ra vào phòng cấp cứu hai ngày ấy, nhất là ai đến thăm mẹ tôi, đều thắc mắc về những dụng cụ, thiết bị y khoa, về số lượt và về cách mà các y, bác sĩ chăm sóc cho mẹ tôi. Tôi không hề có một yêu cầu nào, thậm chí tôi còn cảm thấy ái ngại vì việc nhận được quá nhiều sự quan tâm. Nếu mẹ tôi có thể nghe tôi nói, tôi sẽ thì thầm vào tai mẹ tôi, 

“Má thấy người ta chăm sóc má tử tế và chu đáo như thế nào không? Má cứ yên tâm nhé! Con luôn ở bên cạnh má đây. Các bác sĩ luôn luôn đến lo cho má!”

    Đêm thứ ba trong bệnh viện, gần 3 giờ sáng, tôi nhận thấy mẹ có những biến động khác thường và vội báo cho phòng trực. Một bác sĩ trẻ và một y sĩ vội đến để cấp cứu. Họ đã làm tất cả những gì họ có thể. Sau khỏang mười phút, cả hai nhìn tôi, rất buồn bã, 

“Thưa thầy, tụi em xin... chia buồn với thầy”.

        Tôi rùng mình nỗi gai ốc và nghẹn lời khi cảm ơn họ. Ràn rụa nước mắt, tôi chợt kêu rú lên trong lúc tôi ghì cánh tay của mẹ tôi,

“Má ơi! má không chờ để chị và em con về để nhìn thấy má sao... má ơi!”

    Trong một giây khắc, tôi như rơi lọt vào một thung lũng sâu đến tận cùng. Tôi cảm thấy đang rơi tự do từ trên một tầng mây cao trên trời. Bỗng chốc tôi như một đứa trẻ gầy gò hom hem bị ném bỏ vào một cái hang động tối ẩm ướt, lạnh lẽo. Tôi như một đứa bé con vừa được sinh ra rồi bị bỏ rơi đâu đó trên lề đường, trong một cái giỏ nhỏ. Tôi bỗng thấy mình như một hành khách trong một chuyến đi vượt biên bị cướp biển ném xuống biển sâu lúc nửa đêm. Tôi thẫn thờ như một bệnh nhân tâm thần được cho xuất viện- không có nơi đến- không có ai đón- không có gì để làm và không có gì để mất. Tôi gần giống như một gã quê mùa bị dụ dỗ vào một chốn đàn đúm, sa đọa, nguy hiểm. 

   

   Cố trấn tĩnh nhìn đồng hồ, 2 giờ 56 sáng, tôi điện thoại báo tin cho nhà tôi. Tôi run run ký tên vào hồ sơ bệnh án. Tôi tĩnh táo nhớ đến việc xin xe chở xác mẹ tôi về. Tôi gọi B.S Tiếu- phó giám đốc- một học trò cũ- và được phúc đáp ngay. Quả đúng là tôi được những thứ một người bình thường không thể có được. Ngay sau khi đưa mẹ tôi về nhà, tôi gọi ngay cho các đồng môn Nông Lâm Súc Bảo Lộc, và Phan Thanh Giản bên Cần Thơ. Mỗi khi tôi có tin vui hay buồn gì, chúng tôi cũng cần có nhau, hơn thế nữa tụi nó đều là những người kính quý mẹ tôi và sẵn lòng mỗi khi tôi cần đến.

          “Mẹ ta đang ở nhà.” tôi căn dặn mình như thế. 

          “Mẹ tôi đang nằm nghỉ đấy thôi mà!” tôi muốn nói thì thầm với mọi người. 

Nhưng khi trả lời điện thoại của Khuê Bầu, tôi im lặng 3 phút vì nghẹn ngào không nói ra được nửa lời. Tôi cần nó và những đứa bạn khác qua đây với tôi. Tôi không biết phải làm sao lấp cái khoảng trống đang lan rộng, đang bao trùm lấy tôi. Cái khoảng trống mà bất kỳ người con thương mẹ nào cũng phải trải qua, phải ngập chìm trong đó cho đến bất tận, cho đến hết cuộc đời họ. 

      Tôi lặng lẽ ngồi bất động bên giường mẹ tôi. Nếu có được một phép mầu, tôi chỉ xin được thay chỗ: “Mẹ tôi ngồi đây để tôi đổi lại nằm chỗ kia.” Ôi! Cái hoán đổi nhỏ nhặt đơn giản vậy thôi sao mà khó thế.!

                                                                Rạch Giá, 12, 10, 09

                                                                Lương Ngọc Thành

  GIÁNG SINH CỦA TÔI Ở BẢO LỘC

 

   Vào ngày 23 tháng 12 năm 1975, vừa nhận được học bổng đầu tiên- 19 đồng, tôi cũng nhận được lịch thi đấu cho giải bóng đá của Bộ Đại Học, “ Mùa Xuân 75.” Vừa mừng vừa lo và vừa thèm nhớ bạn bè, tôi đã âm thầm ra xa lộ Thủ Đức lúc 8 giờ sáng ngày hôm sau để đón xe đi Bảo Lộc.

    Tôi là người duy nhất trong “băng Cần Thơ” được tiếp tục học Đại Học. Tôi may mắn, và tôi tận dụng vận may và khả năng của tôi để thành thủ môn của đội bóng đá trường Đ.H. Sư Phạm Kỹ Thuật Thủ Đức. Vì vừa trải qua 3 môn thi học kỳ, hôm ấy rất nhiều sinh viên về quê hoặc nơi nào đó để đón Giáng sinh trong khi tôi trên đường về Bảo Lộc- nơi tôi xem như quê hương thứ hai của tôi. Xa lộ hôm ấy không có nhiều xe. Thiên hạ bận bịu việc trong nhà hay họ lo chuẩn bị cho đêm Giáng Sinh lần đầu tiên sau ngày 30 tháng 4. 

    Trước tiên, tôi chợt nhớ đến Hải Bầu, người tôi đã đưa về Cần Thơ để dạy kèm để hắn có thể thi tú tài ngành chuyên nghiệp N.L.S tại Bình Dương. Có theo Hải về nhà một lần năm ngoái, nên tôi còn nhớ rõ làm sao để đến nhà hắn. Tôi bảo xe ghé lại nhà thờ xứ Dốc Mơ- Gia Kiệm khi trời nắng nóng, gần 11 giờ. Hớn hở khi bước vào nhà hắn, tôi sững sờ nhận ra gương mặt tiều tuỵ đau khổ của mẹ nó người đã thống thiết kể lể với tôi ngay khi tôi bước chân vào nhà,

      “Mấy hôm sau ngày giải phóng, công an huyện đến tìm nó mà cứ bảo là tìm “giáo sư Hải”. Họ cứ còng tay đưa nó đi và đến nay nó biệt tăm. Nhà tôi đi cải tạo mà còn được thăm nuôi. Còn anh Hải thì… lạy Chúa tôi!”.

Tôi chẳng biết phải nói làm sao nữa nhưng tôi cương quyết từ chối khi được bà mời ở lại hôm đó. Trở ra quốc lộ 20, vừa buồn cho Hải Bầu, tôi vừa buồn cho bao nhiêu kẻ gặp vận hoạn nạn, đen đủi kỳ quặc, không thể giải thích nổi như vậy. 

Đứng chờ bên lề đường một mình, tôi quyết định thật nhanh. Nếu có xe về Sài Gòn, tôi đi về lại Thủ Đức nhưng nếu có xe lên Bảo Lộc, tôi vọt lên đó- dù chỉ có tối hôm nay thôi! Chưa uống xong ly cà phê, từ xa tôi nhận ra một xe chạy từ hướng Sài Gòn lên B.L. Tôi chen lên xe và chợt vui hẳn lên như bất cứ lần nào tôi được đi Bảo Lộc. Chuyến xe duy nhất này dừng rước bất cứ hành khách nào như tôi. Mọi người đều có chuyện riêng để đi ngày hôm ấy. Tôi đi lên chỉ mong gặp Long Kh’mer sau khi không thăm được Hải Bầu. 

     Còn nhớ hoài nét mặt đau khổ của bà mẹ của Hải Bầu, tôi chợt nhớ đến mẹ tôi. Tôi không biết so sánh thế nào nhưng chắc mẹ tôi có nhiều niềm vui vì tôi hơn nhiều người mẹ khác. Tôi hình dung ra ngay gương mặt của Má Năm- mẹ của Long người suốt cuộc đời vất vả chỉ cho chồng con mà thôi. Tôi nhớ nét nhăn trên gương mặt gầy guộc của Mạ Chánh. Tôi mong ngóng đến từng kí lô mét đường một. Chưa khi nào tôi có chuyến đi như thế này. Ôi! xe đến khu rừng Giá Tỵ, Định Quán rồi! Tôi bồn chồn nôn nao như một gã ly hương trên đường trở về quê, như một tay vừa ra tù trên đường về đoàn tụ gia đình, như một chàng trai trẻ về thăm quê hương của cô bạn gái mà chàng yêu quý. Khi xe qua đèo chuối, tôi nhớ lại ngày đầu tiên đón xe lên Bảo Lộc, tháng 6, 1971. Trời mưa dầm lạnh lẽo. Xe như chạy vào một khu rừng khá rậm, mọi thứ rất vừa vặn, từ những cung đường không quá gắt, không quá nghiêng dốc, bên phía thung lũng không quá sâu, bên triền núi đá không quá cao. Tôi cảm thấy êm đềm khi ngắm nhìn màu xanh mướt thật tươi mới từ những rừng cây dập dìu cành lá. Cơn mưa phùn làm mờ hết đường xe chạy. Mọi người trên xe như nín thở bất động. Đường đèo hôm đó vắng xe một cách lạ lùng. Ít có ai đi đâu trong ngày cận kề Noel như thế này hay sao? Tiếng máy xe nổ giòn giã như để khẳng định với những hành khách rằng chuyến đi sẽ đến đích, chuyến xe này chắc chắn sẽ đến nơi an toàn. Dẫu chỉ mặc cái áo sơ mi xuềnh xoàng, trong trời cuối tháng 12 khô, lạnh, tôi cảm thấy như bình thường. Điều tôi mong đợi là gặp được Long Kh’mer để trò chyện với nó để nghe nó kể lể cho thoả lòng của cả hai đứa tôi.    

   Khi xe lên Đèo Bảo Lộc, như nhiều lần khác, tôi cảm thấy nhẹ nhõm. Cái cảm giác vui sướng lâng lâng của chàng học trò được điểm cao, được lời khen ngợi của cô thầy khó tính nào đó. Khoảng đường dắt lên đèo Bảo Lộc bỗng đẹp hơn, trơn láng hơn. Lòng tôi thênh thang nhẹ nhàng như chiếc xe đang chạy thật êm ái chuẩn bị lên đèo. Cái đoạn đường đèo hơn 10 kilô mét này đặc biệt ý nghĩa vì nó gây cho hành khách sự chuẩn bị, sự toan tính những gì họ sẽ làm hoặc sẽ xảy ra với họ trên Bảo Lộc. Tôi dự tính gặp Long Kh’mer và chỉ có thế thôi. Điều gì có thể xảy ra với tôi nhỉ!? Có ai biết được Long cũng bị một chuyện xui rủi nào, một tai nạn nào đó hay không. Khi ấy không có cách gì để báo cho hắn biết rằng tôi sắp lên thăm. Khi ấy việc gặp nhau có rất nhiều ý nghĩa. 

    Miếu Ba Cô và tượng đài Đức Mẹ Maria trên đèo là một nơi dừng chân lý tưởng đối với khách tham quan hoặc cho những ai cần cầu xin điều gì. Vừa nhìn thấy đài Đức Mẹ xong, tôi liền nghĩ đến việc Long Kh’mer có thể đi hành hương trong lúc ấy với nhóm thanh niên ca đoàn hay hướng đạo gì gì đó. Xe chầm chậm leo lên đèo, vượt qua nhiều đoạn cua quẹo. Tôi nhìn thật kỹ lưỡng một xe đò nhỏ đang đậu và số người đang dừng chân ở khu đài Đức Mẹ. Sự vật vẫn như thế nhưng tình cảnh nay đã khác. Lòng người có thể vẫn thế nhưng trong khi mà cái ăn cái mặc, cái cảm giác bình an dù cho đơn giản nhất có thể lại khác đi rất nhiều. 

   Tôi đã không nhìn thấy có Long trong nhóm khách viếng Tượng Đức Mẹ. Tôi nhẩm đếm từng khúc cua trên đường đèo. Khúc cua thứ mười bốn là Miếu Ba Cô. Xe vẫn cứ tiến tới và tôi cũng vẫn cố hy vọng. Tính từ khi xe vừa qua cua quẹo thứ nhì sau khi qua miếu, tôi nhận ra ngay cây đàn guita quen thuộc và người mang nó trên vai, Bình Bon- lớp Công Thôn- khóa 2. Tôi nhìn chầm chập vào nhóm thanh niên đang đi bộ phía lề phải để mong tìm thấy người tôi muốn gặp. Xe cứ tiến đến cua quẹo thứ ba, thứ tư. Tôi cứ dõi mắt tìm hắn. Linh cảm rằng hắn thế nào cũng có mặt trong nhóm thanh niên thanh nữ này, khiến tôi chồm người ra cửa sau, ngay mặt ra ngoài để nhìn rõ hơn. Đến cua quẹo thứ mười hai tôi nhận ngay ra Long Kh’mer trong một nhóm hơn mười thanh niên. Tôi kêu tên hắn một cách thảng thốt và hắn giật bắn người khi nghe tiếng gọi của tôi. Chiếc xe vừa sắp qua hết khúc cua cuối cùng để lao thẳng về Bảo Lộc là lúc tôi kêu dừng xe. Chắc gã tài xế đó chưa bao giờ phải dừng vào cái lúc mà ai cũng mong mau về nhà và xe đang chạy thật ngon trớn. Cái dốc xe vừa chạy qua không cao lắm. Vừa thật sự lấy được thăng bằng sau khi nhảy xuống xe, tôi chạy hấp tấp ngược về cái dốc để mong gặp được Long càng nhanh càng tốt.

      Long Kh’mer cũng vừa chạy lên từ phía dốc bên kia vừa kêu tên tôi thật to. Không có một đạo diễn nào nghĩ ra cái pha mà hai đứa tôi gặp nhau như vậy và không có diễn viên nào có thể làm được như thế. Chúng tôi ôm nhau, trong hơi thở hổn hển, trên một đoạn đường trống trải nhưng trong lòng hai thằng tôi đầy ắp biết bao là niềm vui. Long nắm chặt tay tôi, cười thật tươi. Cái răng khểnh bên phải của nó như cũng lên tiếng chào hỏi tôi. Hai bàn tay Long trơn ướt lạnh. Trời hanh khô nhưng hai đứa tôi thấy như đang đội một cơn mưa phùn thật nhẹ. Trời dần ngã màu xẩm tối khi chúng tôi thấy có ánh sáng lên trong lòng. Chúng tôi cần có nhau như người đi lễ cần nhà thờ, như người cần xưng tội cần có cha ngồi nghe những lời khó nói ra nhất. Tại sao người ta không kề cận nhau, lắng nghe, dung thứ, khuyên bảo nhau. Tại sao người ta cứ phải liên tiếp bài kích nhau, vạch ra những lỗi lầm to nhỏ để hạ thấp nhau. Tại sao họ luôn bận tâm đến việc làm cho người khác phải toan tính , phải che đậy, dối trá vì phải tìm ra câu biện hộ này, lời giải thích bâng quơ nọ. Hai đứa tôi chỉ có kể lể, tâm tình, nghe ngóng và chỉ vậy thôi cũng đủ cho cả hai, vốn đã đau, buồn, tủi bất toại, bất ổn và bất bình.

   Con đường từ đấy về Bảo Lộc vắng vẻ trơ trọi, hai bên đường nhà nhà đóng cửa im ỉm,  nhưng chúng tôi thấy đầy ắp niềm vui, một niềm vui rất lạ lùng. Bất kể điều gì xảy ra với chúng tôi cũng đều không quan trọng vì chúng tôi vừa gặp được nhau rồi. Đêm mai nhiều người và con chiên vui Giáng Sinh tại nhà hay ở nhà thờ. Đêm nay, Long Kh’mer và tôi vui hội ngộ trên con đường vắng.   

    Chúa giáng trần mang đến sự bình an cứu rỗi. Tôi lên đây mang đến Long Kh’mer một niềm vui đơn giản. Long và họ vừa đi thăm đài Đức Mẹ về. Tôi vừa đi thăm gia đình Hải Bầu và gặp mẹ hắn. Sự mất mát, đau khổ, trông đợi, và thất vọng là những thứ ai cũng có, ai cũng phải gánh chịu. Nhưng sự bình an, hạnh phúc, những thành tựu và những điều tốt đẹp là những thứ không phải ai cũng có thể có được. Hơn hẳn những người bạn tôi- còn đi học, còn có nơi để dung thân, và còn có một tương lai đơn sơ nhỏ nhắn- tôi muốn đem lên đây chia cho Long một ít. Tôi muốn mang lên Bảo Lộc một nửa của cái tôi đang có. Tôi muốn kể lể cho nhiều người ở trên Bảo Lộc này sự thật về tôi, về cái may mắn, cái cơ hội mà sẽ khiến họ vui mừng hoặc ganh tị, lo lắng hoặc chúc mừng tôi hoặc thèm thuồng được có những điều như vậy.

   Kề vai tôi, Long Kh’mer đưa tôi về đến nhà lúc trời tối đen. Chúng tôi ăn cơm với chị Tư rồi ra quán để thăm Má Năm. Chúng tôi đã có một buổi tối bình an, đẹp đẽ như nhiều người hằng mong đợi- một buổi tối trước ngày Chúa giáng sinh.

 

 Rạch Giá 8- 12- 2010

 Thành Xì TL-71          

______________________      

BÓNG ĐÁ và CUỘC ĐỜI TÔI

 

       Nhiều nhà văn, nhiều tài liệu, phim ảnh đã nói quá nhiều về bóng đá rồi cho nên tôi chỉ biết viết ngắn gọn rằng: bóng đá đã làm thay đổi cuộc đời tôi một cách sâu sắc.

       Từ một chàng sinh viên có học lực khá nhưng bất đắc chí vì lý lịch xấu, gia đình tan nát, tôi chọn chơi bóng đá như là cách để chứng tỏ chính mình. Từ một tiền vệ trung tâm, tôi đưa đội bóng lớp tôi- 74 KNNc vào trận chung kết. Hạ đối thủ-lớp 74 KCNa, lớp tôi vô địch trường và tôi nghiễm nhiên thành một tiền vệ có đủ tài năng và uy tín. Nhận ra chàng thủ môn lớp 74 CTM không đủ tiêu chuẩn- vừa thấp vừa chậm- tôi tình nguyện làm người mang găng tay trấn giữ khung thành của đội bóng trường Đ.H Sư Phạm Kỹ Thuật từ trận đá đầu tiên- tháng 12- 1975 cho đến lúc tôi về Kiên Giang cuối tháng 3- 1980. 

    Để được yên vị và tiến bộ, tôi chỉ còn có cách tập luyện thật chăm chỉ. Hồi còn học ở Bảo Lộc năm lớp đệ nhất, để thức sớm làm bài luyện thi vào đại học, tôi cố đi ngủ lúc 9 giờ tối. Còn lúc ấy, để ngủ được hằng đêm, tôi chỉ còn có cách tập đá banh hằng buổi trưa. Vì tôi đã từng“làm con mọt sách” và tập đàn ghi ta 365 ngày một năm ở Bảo Lộc rồi, tôi cũng đã có thể tập đá bóng cũng theo mức độ ấy. Nắng mưa, cái lạnh đã không có thể cản tôi thức sớm để học, để đánh đàn, nên tôi cũng đá bóng bất chấp khi trời mưa to hay khi nắng gắt như lửa đốt. 

      Khi người tiền nhiệm- Nguyễn Hưng- lớp Cao Đẳng khóa 1, ra trường- tháng 7- năm 1976, tôi được bầu chọn làm đội trưởng. Ngay khi vừa xuất hiện trận đầu tiên trong giải đấu: “Mùa Xuân”- do Sở Giáo Dục T.p Hồ Chí Minh tổ chức- tôi đã được chọn làm 1 trong 3 thủ môn của đội tuyển Sinh Viên Sài Gòn. Suốt 4 năm học, tôi không vắng mặt một trận đá bóng nào, chơi yếu kém trong bất cứ một trận nào. 

       Đầu năm 1977, thầy Phan Văn Lân- khoá 2, Đ.H Thể Dục Thể Thao Từ Sơn về công tác tại trường tôi. Thầy Lân lập ra một quy chế cho trường, “Những trưởng ban thể thao có trách nhiệm và quyền tự chủ để phát triển bộ môn mà họ đảm nhiệm”. Tôi là người thầy Lân chọn đầu tiên. Phong trào thể thao trong toàn trường càng lớn mạnh, tôi càng có nhiều trách nhiệm và uy tín. Tôi hiểu hơn ai hết bóng đá là cái ưu điểm đặc biệt của tôi, và tôi cũng hiểu rất rõ tôi phải làm gì. Điều ấy giúp ích tôi rất nhiều như một anh nông dân biết rất rõ công việc đồng áng từng ngày một, người nghệ sĩ thuộc vai diễn như người chiến sĩ hiểu rõ từng trận đánh một. 

    Dù không phải là đoàn viên trong chi đoàn lớp, tôi được phân công làm trưởng ban bóng đá của đoàn trường và dĩ nhiên của cả chi đoàn Nông Nghiệp. Dù không được dự một khoá đào tạo nào, tôi đã cầm còi điều khiển tất cả các trận đấu trong các giải đấu trong trường như một trọng tài tốt. Môn bóng rổ theo chân sự thành công của bóng đá. Tôi- với vốn liếng đã chơi trên Bảo Lộc- lại có một dịp tốt nữa để có mặt trong đội bóng rổ nam. Vì các sinh viên nữ trong ký túc xá muốn tập chơi bóng rổ, tôi được cử làm huấn luyện viên cho họ- một thần tượng trong mắt của một số cô sinh viên xinh đẹp, năng động lúc bấy giờ.

    Các đội bóng đá chung quanh trường đều thiếu họăc không có sân tập. Đội chúng tôi trở thành cục nam châm lớn. Có rất nhiều đội mời chúng tôi thi đấu. Đội bóng công ty bột giặt Viso rất thường mời tôi và hai đồng đội khác chơi chính thức cho họ. Sau đó trường Kỹ Thuật Việt Đức và đội tuyển huyện Thủ Đức cũng cần có đôi tay nhựa của tôi.  Khi đi thực tập tại Ô Môn- Cần Thơ, tôi khiến cho nhiều người lầm tưởng tôi là thủ môn của Cần Thơ. Tại Sóc Trăng, người đội trưởng đội tuyển tỉnh khi ấy đến gặp tôi để mời tôi chơi cho họ một trận. Lên Bảo Lộc nghỉ hè, tôi cũng đã nhận một lời mời tương tự. 

    Hồi ở trung học NLS Cần Thơ, Nguyễn Bảo Toàn, Lý Thái Lâm, Hậu Bào và vài tay nữa với tôi phải đèo nhau ra sân bãi cát, sân ĐH Cần Thơ hay sân trường Lassan để tập đá hoặc đá với các sinh viên. Lên Bảo Lộc, nhờ tài nghệ của Tâm Dê và Bảy Bình, dẫu cho là cây ghi bàn thứ hai trong lớp, tôi còn khá nhút nhát. Số bàn thắng tôi đã ghi được giúp tên tôi được ghi vào danh sách “đội bóng đá tỉnh Lâm Đồng” trong giải đấu ĐH Thể Thao học sinh tại Phan Rang năm 1972. Tôi đã đá khá hay trong giải toàn quốc đó.

    Sau ngày 30- 4, tôi tự ti mặc cảm. Nhưng sau khi làm được những gì mà phong trào thể thao của trường của tôi cần, tôi tự tin. “Hồng hay chuyên” là cụm từ của ai đó thường nói qua cửa miệng. Tôi chỉ thường tự hỏi, “Tốt hay chưa”. Thay mặt toàn đội, tôi được giao trách nhiệm nhận giữ xe khi có các trận đấu lớn của huyện. Tôi nhận phần rắc vôi sân bóng, mắc lưới 2 bên cầu môn và nhận trọn khoản tiền thù lao cho đội, 25 xu mỗi người từng buổi tập hay trận đấu chính thức. Hằng các trận đấu lớn ở Sài Gòn, đội của tôi được nhận 2 vé xem tại sân Thống Nhất. 

    Khi lớp tôi đi thực tập gần 2 tháng ở 4 địa điểm khác nhau, ngoài cây đàn ghi ta đeo trên lưng, tôi còn phải mang vác theo một bao giày bóng cho đội. Theo một cách nào đó, khi nhận lời thi đấu với một địa phương- nơi chúng tôi đang thực tập, tôi đã vừa quảng bá được cái thương hiệu của trường tôi và đồng thời vừa tập luyện như một cầu thủ nghiệp dư. Tại Dưỡng Điềm, Thuộc Nhiêu, Tiền Giang, đội địa phương ấy còn rủ chúng tôi đá một trận bán vé sau khi chúng tôi có tăng cường 2 tiền vệ của tỉnh đội Bến Tre, trong đó một là em của Nguyễn Công Trực. Chỉ vì nghe những gì tôi đã làm được cho trường tôi mà vị phó phòng tổ chức của Đ.H Cần Thơ đã chính thức xin nhận tôi về công tác cho họ tháng 9- 1979.

     Khác với nhiều dự đoán, tôi được phân công làm: “Cán bộ thể thao của trường”. Tôi được cái vinh dự đó ngoài mức mong đợi. Xe đưa rước, phòng, bếp ăn riêng, chế độ cao: 19 kí lương thực, thịt, sữa, trang phục thể thao… là những thứ nhiều sinh viên khi đó thèm muốn. Người má nuôi và cũng sẽ là má vợ của tôi không còn điều gì để mong đợi ở tôi hơn nữa cả. Tôi trở về đoàn tụ với gia đình bà sau hơn một năm tôi giận người chị thứ bảy trong nhà.   

   Xong chuyện học, việc riêng tư, tôi quyết định về thăm mẹ ruột ở Sóc Xoài, Hòn Đất, Kiên Giang. Trong hành trang tôi mang theo, có một tình yêu thương mẹ nồng nàn và một tình yêu bóng đá rất mạnh mẽ nữa. Mặc bộ đồ thể thao, đi giày bóng đá của một trường ĐH, khi tôi tập tại sân bóng xã Sóc Xoài, mọi người chiêm ngưỡng tôi, xem tôi như một ngôi sao- giống hệt như chúng tôi đã ngưỡng mộ Phương Thanh- nghệ sĩ- người vào sân trường Nông Lâm Súc tập và đá cho trường một trận năm 1973. Ông Tư Dả- ông bầu đội bóng, đã ký hợp đồng cho tôi thi đấu cho đội Công Ty Vật Tư tỉnh mấy trận liền. Vì thiếu cấu thủ, đội bóng giàu mạnh nổi tiếng này- vô địch mấy năm liền- đã nhận tôi về Kiên Giang công tác và “đá bóng”. Ít ai biết rằng má nuôi của tôi chính xác là người khuyên tôi về đây để tôi có thể tiến thân, có dịp đi vượt biên, nhất là gần gũi và phụng dưỡng bà mẹ ruột.

    Cuối tháng 3 năm 1980 tôi về đây trong lúc em trai tôi còn trong trại giam, chị tôi ở kinh tế mới. Tập dợt hàng trưa, thi đấu gần như hàng nửa tháng một trận, tôi chơi khá hẳn lên. Trong giải A2 toàn quốc năm đó- 1982, tôi được chọn làm thủ môn dự bị. Đội bóng Kiên Giang được một tiền vệ của đội Cảng Sài Gòn huấn luyện. Tôi là thủ môn dự bị nhưng cũng chơi 2 trận khá hay. Hằng tuần sau khi đá bóng, tôi về thăm mẹ ruột, người hãnh diện vì:

“Ít có ai được đứa con như bà.” theo như nhiều lời đàm tiếu, bàn bạc về tôi.

    Sau khi có vị hôn thê tôi xuống thăm, sau khi chị em tôi đi vượt biên tháng 4 năm 1982, công ty của tôi đề quyết rằng tôi đã hụt chuyến đi ấy và họ tuyên bố không còn tin dùng tôi nữa. Sự thất vọng, mất niềm tin đã khiến tôi rượu chè. Không bao lâu sau khi vào “làng nhậu”, tôi có một cấp bậc khá cao. Xin cơ quan cho ra ở ngoài để làm gia sư, tôi còn hùn vốn để gia công làm phấn viết bảng. Tôi cũng tập vẽ bảng hiệu một mình như để chuẩn bị cho một bước ngoặt mới. 

    Việc có người yêu và lập gia đình giúp tôi tin vào một tương lai khá hơn. Tôi về ở rể và tiếp tục đi làm cho đến khi họ cho tôi thôi việc. Xin một vài nơi không được, tôi quyết định theo ông già vợ làm nghề nấu rượu. Trái bóng đá đã ngừng lăn trong đời tôi rồi sao? Chuyện đời yên ổn như thế à? Tôi yên lòng làm người thợ nấu rượu lậu được hả? Tôi không tin vào số phận nhưng tôi tin vào những gì Đạt- một tiền đạo có tiếng- khi đó đang là huấn luyện viên cho đội Sở Lâm Nghiệp- nói với tôi:

“Anh ráng chụp giúp cho một trận nhé anh Thành.”

    Đó là trận bán kết giải bóng đá tỉnh K.G năm 1985. Tôi chụp khá ổn định và chúng tôi thắng trận. Tôi lại được mời chụp trận kế tiếp- cái trận chung kết định mệnh ấy. Đỡ được một trái penalty trong trận đá đó, tôi gần thành người hùng rồi. Trong 5 trái đá luân lưu 11 mét phân định ngôi thứ ấy, đối thủ của chúng tôi- Xi Măng Hà Tiên 2- chắc chắn không bao giờ quên được tôi- thủ môn Thành vì tôi đỡ được cái quả đá cuối cùng để đưa đội Sở Lâm Nghiệp lên ngôi vô địch. Tôi được phó giám đốc Sở mời đi làm. Đời như vậy đấy. Tôi trở thành một giám sát công trình cho Công Ty Lâm Sản nhưng kiêm là thủ môn và đặc biệt là tay ghita accord cho đội Sở Lâm Nghiệp từ tháng 5 năm 1985 cho đến khi tôi không chịu nổi sự bạc đãi của họ. Tôi đã tự ý xin nghỉ việc vào ngay đầu năm 1989.

    Với ý chí của kẻ đã nhiều năm tự luyện tập và chơi bóng đá, tôi đã tự học Anh Văn vào tuổi 35 và may mắn trở thành một thầy giáo. Nhờ đã từng luyện tập đá banh chăm chỉ, tôi cũng đã dạy và học Anh Văn chuyên cần như thế đó. Sau 2 năm học, tôi có chứng chỉ C do Đ.H Tổng Hợp Tp Hồ Chí Minh cấp và rồi sau 4 năm nữa tôi có tấm bằng Cử Nhân Anh Văn hệ đào tạo từ xa của ĐH Ngoại Ngữ Hà Nội. Tôi đã dạy nhiều trung tâm ngoại ngữ, đủ các loại lớp, vào các giờ khác nhau, từ 5 giờ sáng đến 11 giờ tối. Tôi đã thành một trụ cột vững vàng cho gia đình 5 người của tôi.   

     Nếu việc tôi đã từ trường Phan Thanh Giản vào NLS Cần Thơ đến việc tôi lên học trên NLS Bảo Lộc hoặc việc chơi bóng đá trên đại học và việc tôi về Rạch Giá đã thay đổi cuộc đời tôi như thế nào, thì giờ đây, đến phiên “Việc học và dạy Anh Văn.” cũng như thế ấy.

    Lắm lúc, cuộc đời quả thật là ngoạn mục như một trận bóng đá!

 

Rạch Giá 30 tết năm Canh Dần

Lương Ngọc Thành  

_________________________________

LẦN ĐẦU TÔI UỐNG RƯỢU

   Giống như nhiều chuyện lần đầu khác, hút thuốc, tỏ tình, làm ra tiền, lần đầu tôi nhậu thật đáng nhớ vì tôi đã phải đóng giả vai trò của một cán bộ kỹ thuật khi tôi đang đi thực tập để viết đồ án tốt nghiệp, cuối tháng 3 năm 1979, và đó cũng là lần thứ nhì tôi nói dối.

   May cho tôi khi tôi nhận được đề tài: “Tìm hiểu tổ chức và hoạt động của trạm máy kéo ở Hậu Giang- Ô Môn, Sóc Trăng.”. Với 23 đồng tiền học bổng của tháng đó, với một balô nhỏ trên lưng, tôi đi Cần Thơ với hy vọng rất lớn: gặp được các bạn học NLS, nhận các lời động viên chúc may mắn của tụi nó. Đến nơi tôi mới hay đa số bạn tôi đã đi vượt biên trong tháng hai rồi. Tôi mới hiểu ra tại sao lần cuối về thăm thằng Hậu Bào, nó luôn nhắc tôi, “Tết này về với tao nghen.”

  Tôi chỉ gặp được Phùng Trương- NLS Cần Thơ- và ngủ qua đêm với nó để nghe nó kể hết sự tình, kể cách tụi nó đã chuẩn bị. Hôm sau, một mình tìm đến Chi Cục Máy Kéo Hậu Giang, tôi nhỏ nhẹ khéo léo chiếm được cảm tình của ông cán bộ hành chánh để ông ta viết cho một giấy giới thiệu với nội dung là, “Điều tra những vấn đề kỹ thuật tại trạm máy kéo ở Ô Môn và Sóc trăng”, thay vì là “sinh viên đi thực tập”.

   Nghiễm nhiên là cán bộ kỹ thuật rồi, cho nên khi ra ruộng với chiếc máy kéo với giàn cày chảo, tôi phải tỏ ra rất thuần thục. Thầy Phạm Phi Hoành đã từng hướng dẫn chúng tôi sử dụng một cái máy cày Caterpillar của Mỹ to tướng rồi còn gì, nên tôi bước lên nhảy xuống chiếc máy kéo MTZ- nhập từ Liên Xô- một cách nhẹ nhàng thuần thục. Tôi móc ngay ra cuốn sổ tay, ghi ghi chép chép. Tôi rút cây thước ra đo chỗ này, lắc lắc đầu khi sờ vào chỗ khác trong khi anh chàng lái máy kéo trả lời vài câu hỏi của người chủ đất. Hắn vội vã lên máy đang nhả khói lên bầu trời trong xanh nắng ráo. Tiếng động cơ rú lên kéo theo một vệt khói đen, hắn hành sự trong khi tôi tiến tới ông chủ đất để hỏi chuyện,

“Chú được cày đất mấy mùa rồi vậy chú?”

Ông nông dân miền tây thứ thiệt với các phát âm miệt vườn thứ thiệt,

“Mùa“gồi” tui có mần được gì đâu cán bộ ơi.”

“Sao vậy chú?”

“Cái máy cày “Gon Đia”( John Deer) của ông TámTàng bị hư nặng.

Tụi tui kêu cặp bò của Bảy Hảo kéo lớt lớt thôi chú.”

Tôi cố gây cảm tình với ông ta,

“ Mùa này có máy kéo mới chắc ngon ăn hả chú?”
”Dái chời dái Phật” mùa này “chúng” đặng tui “chả” một phần nợ.”

Ông bỏ tôi đứng một mình để lo đặt đồ cúng xuống góc của thửa đất. Chốc lát sau ông đốt nhang, lạy bốn phương tám hướng, vung mấy vốc gạo với muối trắng lên như thể ông đang rải phân trên ruộng vậy.

“Lát nữa nhậu cho đã một bữa nhe ông cán bộ.”

Tôi không trả lời ngay vì còn đang bận quan sát đường cày ải của chiếc MTZ đang phun khói chạy băng băng lui lui tới tới. Trên cánh đồng trống trải rộng mênh mông ấy, tôi đang đứng một mình nhưng trong lòng ngổn ngang nhiều nỗi mà không biết bày tỏ cùng ai. Người nông dân đó có tôi để kể lể còn tôi thì không thể làm điều ngược lại. Anh chàng lái máy cày trẻ tuổi và người thư kế toán đội đang mãi mê cái tác phẩm của họ và vì phần ngán ngẫm cái bữa nhậu giữa trưa như vầy rồi nên bỏ mặc tôi một mình.

“Thôi ngồi xuống đây đi ông cán bộ.”     

Tôi giật mình nhưng rất nhanh miệng đáp ngay,

“Có rủ ai nữa không chú?”

“Hồi tối tôi có “gủ” mấy thằng cha bạn “gồi” đó chứ. Thôi mình cứ “mần chước” đi cán bộ.”

Tôi đáp lời một cách ngon hơ,

“Mần thì mần.”

Học ở Bảo Lộc 3 năm, sống với 3 người chủ nhà gốc Bắc, học với nhiều bạn Bắc kỳ, tôi tập theo cách nói của họ rất nhanh chóng, nào là, “zét nắm”- “kinh vấy”, “uống Ziệu”, nhờ vậy nay tôi cũng “mần được” ngon lành. Trên đó tôi uống chè xanh như người miền nam ở đây uống nước trong lu vậy. Trên đó, bận áo len suốt ngày, ở dưới này tôi cởi trần suốt ngày. Và giờ đây tôi sắp chính thức uống rượu- lần đầu tiên trong đời.

“Cán bộ vô “chước” đi- khỏi tiên chủ hậu khách há.”

“Bao nhiêu đây chú?”

“Chăm phần chăm” đi. Vô cho nó ngon, “mần ăn” mới ngon chứ.”

Hít một hơi thật xâu, cầm cái ly rượu một cách điệu nghệ, tôi uống chậm chạp, ngọt ngào như cái cách người ta uống một ly trà ngon vừa nguội vậy.

“Chời ơi”! Cán bộ dô ngọt quá! Thiệt quá đả!”

Tôi làm bộ hỏi để chận lại cái choáng của ly rượu vừa uống,

“Rượu này ngon ghê.  Chú đặt đó hả?”

“Thằng em “dợ” của tui “mần gụ” lâu năm “gồi”. Nó nấu ngon nhất xã này đó. Tui thấy cán bộ “dô” ngon ơ mà ham. Thôi tui “dô”luôn hén!”

Mời tôi cái đùi gà, múc cho tôi chén cháo nóng, ông chủ đất- vốn rất hiếu khách- kể cho tôi nghe,

“Tui có ba thằng con “chai”. Không có thằng nào chịu đi học hành gì “gáo chọi”. Nghĩ mà buồn lắm chú ơi. Tui lở dốt “gồi”, “gáng mần” nuôi tụi nó ăn học, “dậy” mà…Cán bộ chắc giỏi chữ nghĩa lắm há, Kỹ sư Nông Nghiệp phải không? Còn “chẻ”ghê hén? Có “dợ” con gì chưa?”

Tôi ậm ừ. Tôi có thể nói qua loa với ông ta cho qua chuyện nhưng khó lòng mà qua hết cái chai rượu và nồi cháo gà đặc sệt đang bốc mùi thơm phức. Tôi thấy gần với ông chủ đất người đang đối ẩm với tôi, gần với cái thực tế phũ phàng- cái người này cần lại là cái mà người kia không hề để mắt tới.

“Chú phải ráng đưa mấy người con trai ra chợ học cái nghề. Tui đây phải học cực khổ lắm mới có ngày hôm nay chứ bộ.”

Người nông dân thiệt thà chất phát này vô cùng cảm kích,

“Ba má của cán bộ chắc là “dui” lắm há? Tụi con tui có chữ nghĩa đâu mà học, cán bộ ơi? Tụi nó đang đòi “lấy dợ” đây chớ. Thôi dô cho đở buồn!”

Chén thù chén tạc, tôi với người đàn ông trạc tuổi ba tôi đó đã chia nhau gần hết chai rượu một lít. Tôi cố ăn cho kịp những gì ông ta gắp vào chén tôi. Trời đứng ngọ. Liếc xuống mặt nước mương cạnh bên, mặt tôi trông thấy đỏ như ông mặt trời nhưng sự trấn tỉnh giúp tôi thản nhiên như một tay nhậu cừ khôi, một tay cán bộ thứ thiệt.

“Chút nữa tôi phải về Chi cục máy kéo để họp. Chú cần tôi đề đạt gì với chi cục máy kéo với nhà nước không?”
”Dậy hả? Thiệt “mai mắn” quá. Cán bộ hỏi giùm nhà nước để mấy ông máy kéo này cày kỹ kỹ hơn nghen. Dân ở đây biết ơn nhiều nghen, Cán bộ.”

Thật rõ rằng người dân không có cách gì để lên tiếng với nhà nước nếu không có người đến với họ, ngồi cạnh họ, hỏi chuyện họ.

“Chú yên chí đi. Tôi bắt thằng này cày kỹ cho chú, đo đất cho đàng hoàng. Họ cày có một mà báo cáo là hai, vừa ăn gian số dầu của nhà nước, vừa ăn gian tiền cày của dân nữa chứ. Tôi sẽ báo cáo với chi cục chuyện này.”

“Thiệt cán bộ tốt quá. Ai cũng được như “dầy” tụi tui đỡ khỗ biết mấy.”

     Cái bữa nhậu kết thúc sớm vì lời nói dối ngắn gọn của tôi, “phải về Chi Cục họp”, nhưng cái ý nghĩa của bữa nhậu được kéo dài ra từ lúc đó. Người chủ đất, kẻ thiệt thà, vừa được tôi, kẻ vừa nói dối, gieo cho một niềm tin- một niềm tin vào lẽ phải.

    

Rạch Giá Jan 15, 2012

THÀNH XÌ- TL 71-      

CẦN THƠ- QUYỂN TỰ ĐIỂN

 

Ai cũng biết là quyển tự điển được dùng để tra nghĩa của từ vựng. Tôi đã mua và hiện còn giữ một quyển mà tôi muốn dùng để kể về cách tôi thương mẹ tôi và tôi đã lo xa cho tương lai của tôi như thế nào.

                           

 

                                  Vào lúc học lớp đệ lục A-1, thầy Nguyễn Văn Kỷ                                                          Nghiêm đã khiến chúng tôi từ điên đầu về “chia động                                                từ” đến kinh sợ và rồi “cúp cua” 6 giờ học hằng tuần.                                                Đến lớp đệ tứ, vào Nông Lâm Súc, trong lớp tôi đứa                                                  nào cũng dốt nát tiếng Anh cả. Sau 3 năm học ở NLS                                                  Bảo Lộc, tôi đã học được chút ít Anh Văn nhờ ở                                                        chung với Nguyễn Khánh Luận, người đã có thể trò                                                  chuyện với một nhóm nhà môi trường người Mỹ đến                                                thăm trường tháng 11 năm 1973. 

 

Trong số bạn học cũ ở NLS Cần Thơ, Tài Râu giỏi tiếng Anh hơn cả. Vì nó mơ làm một chính trị gia, một nhà làm chiến lược tầm cỡ thế giới, nó phải tra cứu Anh Văn rất nhiều trong thư viện của hội Việt Mỹ. Trong thời gian tôi về Cần Thơ chuẩn bị thi Đại Học, tháng 5, 1974, tôi thỉnh thoảng gặp hắn hoặc đến nhà tôi để trò chuyện với tôi. Khi bù đầu học thi Toán, Lý và Hoá, đâu có ai màng đến tiếng Anh để mà làm gì. Tôi chẳng mong gì hơn là thi đậu vào Đại Học. Tôi chẳng mong gì hơn là làm cho mẹ tôi vui lòng. Một hôm Tài Râu đến nhà tôi và tỏ ra rất hào hứng. Hắn vào đề ngay, 

“ Hội Việt Mỹ đang “sale” sách. Có vài cuốn tự điển bỏ túi đã lắm. Tao thấy mấy tiệm trên đường Ngô Quyền cũng có nữa, mày ra mua ngay một cuốn đi. Đừng để trễ uổng lắm Thành Xì ơi.”

Tôi quý những lời khuyên như vậy và nhất là từ Tài Râu, một đứa bạn tốt, ham học hỏi và có lý tưởng. Tôi quyết định nghe lời khuyên của nó. Tôi mở hết tất cả các quyển sách đặc biệt mà tôi đã giấu tiền trong đó. Đếm đi đếm lại, tôi có được khoảng 535 đồng. Đây là số tiền tôi không chi tiêu gì gì đó từ khi tôi từ Bảo Lộc về nhà. Má tôi cho một ít, chị tôi nhét vào túi tôi một ít. Nếu tôi không cất giấu kỹ lưỡng, chắc thằng em xì ke của tôi đã chộp mất rồi. Bộ dây đàn ny lon trên cây đàn guitar yêu quý cũa tôi đã bị nó tháo mất cách đó mấy ngày rồi còn gì. Tôi đang mong có đủ tiền để mua lại một bộ dây khác. Chừng nào tôi có thêm vài khoản tiền để mua lại bộ dây mới thì tôi không rõ nhưng tôi tin lời Tài Râu rằng sách bán sale không có bao lâu đâu. Tôi quyết định đi mua cuốn tự điển với số tiền tôi đang có. 

 

   Trưa nắng nóng tháng 5 hôm đó khá gay gắt. Tôi đạp xe đến hai tiệm sách liền kề trên đường Ngô Quyền. Tiệm Đức Trí hôm đó đóng cửa. Tiệm sách Văn Nhiều có khá nhiều sách ngoại văn. Trên tủ kiếng đầu tiên, có hai cuốn tự điển khổ bỏ túi có niêm yết giá. Quyển bìa mầu đỏ “The New Merriam- Webster Pocket Dictionary” giá 500đ. Tôi tự hỏi,

“Ta có thể tìm ra một quyển hay hơn, đẹp rẻ hơn không?”

 

 

 

Dắt xe đạp qua năm căn phố trên đường Ngô Quyền, tôi nhận ra một quyển tự điển tương tự, nhưng cái bìa màu đen “The Webster Pocket Dictionary” giá 550đ.     

  

Chẳng hiểu mô tê gì về việc làm sao để chọn một quyển sách tốt hơn, tôi đã mở quyển màu đen để tra một từ đơn giản như “butterfly”. Với hình in đủ màu sắc, con bướm trông rất ấn tượng. Nhiều từ khác nữa cũng có hình màu minh hoạ. Tôi nhận ra sự khác biệt của 2 quyển và tôi cũng nhận ra ngay tôi không có đủ tiền để mua cuốn bìa màu đen đó. Biết rằng có thể bị ai đó phổng tay trên cho nên tôi đã xin người thủ quỹ cho tôi đặt cọc một khoản tiền trước. 

   “Thế em chọn mua quyển nào?” người bán sách hỏi tôi.

   “Dạ em cũng chưa quyết định xem nên chọn cuốn nào nữa.” tôi đáp lời.

   “Còn hai cuốn này thôi đó nghen. Em nhanh tay lên.”chị ta mỉm cười với tôi.

   “Em sẽ trở lại ngay.” 

   Tôi đáp nhanh để kịp phóng lên xe đạp về. 

 

   Cách cái chòi lá nhỏ ngay đầu hẻm khoảng 20 mét, tôi dừng xe vào sát lề đường Tự Đức. Từ đây tôi có thể nhìn thấy cái mặt sau của cái chòi của mẹ tôi. Tôi hình dung ra lúc ấy mẹ tôi đang dọn cơm. Tôi hình dung ra các món thức ăn bà nấu ở cái bếp che tạm bợ bằng đủ thứ loại vật liệu dễ cháy. Tôi hình dung ra cái tủ kính nhỏ vừa được dùng để đựng thuốc lá phía ngăn trên và đựng tiền trong cái hộc tủ nhỏ ở dưới. Tôi nhớ lúc nào cái hộc tủ cũng được mẹ tôi khoá lại sau khi nhận tiền hoặc thối tiền cho khách. 

 

Cái chòi lá đã được mẹ tôi tự dựng lên, ọp ẹp, chắp vá. Tự tay bà kê cái chỗ để nằm bằng miếng ván ép bà mua của mấy người bán đạp xe ba gác bán dạo. Cái sàn nước bằng các miếng ván cũ được kê trên các khúc cây tràm vụn của mấy ông làm thợ hồ bán để làm củi chụm. Hai cái bàn nhựa thấp với năm ba cái ghế cũ kỹ cũng do các người gánh ve chai bán dạo mang đến bán cho bà. Với những thứ như vậy, mẹ tôi bán cà phê- suốt ngày, một ít đồ tạp hoá, một ít đồ gia vị, nước đá cục, đá bọc, kem chuối và bất cứ thứ gì bà tự tạo ra được hàng ngày. Nhưng tôi biết rất rõ số tiền đó có một hệ số còn cao hơn môn Lâm Nghiệp của tôi- hệ số 6. Tôi biết rất rõ nỗi vất vả nhọc nhằn từng ngày, từng giây phút của mẹ tôi để có số tiền mà tôi đã nhận được trong ba năm học trên Bảo Lộc. 

   Tôi bỗng tự dưng trào nước mắt. Tôi không muốn dụi các giọt nước mắt nóng hổi, trong cái nắng nóng như bốc lửa. Tôi chỉ muốn có thêm 15 đồng để mua cái quyển tự điển có hình màu minh hoạ, có cái bìa màu đen mà tôi ưa thích hơn. Nhưng tôi sẽ có thể làm mất đi 150 phút hoặc có khi là 15 ngày làm việc vất vả của mẹ tôi. Tôi sắp có được cái tôi thích, nhưng tôi cũng sắp làm mất đi một nụ cười hay ít ra là cái vẻ mặt bình thường của mẹ tôi- điều mà từ lâu nay tôi không muốn nhìn thấy một chút nào cả. 

   Tôi tự trách mình đã không làm ra được một xu nhỏ nào cho nhu cầu của bản thân mình. Mẹ tôi không cần biết hai cuốn tự điển đó khác nhau ra sao. Bà không thể hình dung niềm vui đơn giản tôi sắp có được. Nhưng mẹ tôi, với một nét nhăn nhỏ- có thể là rất nhỏ- sẽ phải mở cái khoá nhỏ, đếm tiền lẻ để đưa cho tôi 15 đồng- một khoản tiền rất nhỏ- tôi sắp xin thêm. Tôi biết chắc đó là điều tôi có thể tránh đi được. Tôi không chắc là tôi có tránh phải bị đi lính vì thi rớt đại học hay không. Tôi không chắc rằng từ ngày hôm ấy cho đến ngày mẹ tôi mất đi, tôi còn có bao nhiêu lần tránh gây cho mẹ tôi những nếp nhăn lớn nhỏ trên trán, những phiền muộn lo toan vì tôi. Tôi không thể chắc rằng tôi có thể báo hiếu, có thể chăm sóc, có thể tạo cho mẹ tôi những nụ cười, những niềm vui hay không. Nhưng, rất chắc chắn,  tôi tránh được một nét nhăn mặt của mẹ tôi khi tôi không hỏi xin 15 đồng nào cả. 

    Người bán sách của tiệm Văn Nhiều chắc đã ngạc nhiên khi nhìn thấy tôi- mồ hôi nhuể nhại, hai mắt đỏ hoe, đạp xe trở lại rất nhanh để mua ngay quyển tự điển màu đỏ. 

 

    Bạn bè của tôi ngạc nhiên khi thấy tôi- thằng dốt tiếng Anh- lúc nào cũng để chưng quyển tự điển ấy trên đầu giường hay cái tủ nhỏ đựng vật dụng. Tài Râu thì hài lòng khi tôi nghe lời hắn. Mẹ tôi từ hôm ấy và sau nhiều nhiều năm tháng nữa không có điều gì để phiền lòng về tôi. Còn tôi thì còn nhớ mãi cái cảm giác tiếc rẻ vì đã không mua được quyển tự điển bìa màu đen có hình minh họa. Dĩ nhiên, tôi chứng minh rõ ràng như toán học tại sao tôi mua cuốn tự điển bìa màu đỏ với giá 500 đồng.

 

     Sau 43 năm, đến nay nhiều học trò của tôi ngạc nhiên khi thấy tôi rất ưa tra từ với quyển tự điển ấy. Nó chỉ chứa 5.000 từ tiếng Anh thông dụng nhưng theo tôi nó còn ẩn chứa một cụm từ tiếng Việt rất thông dụng: “Tình thương dành cho Mẹ.”

 

                                                             Rạch Giá Sep 20, 2018

                                                               Lương Ngọc Thành

NGÀY CUỐI CÙNG CỦA LONG KH’MER.

 

  Ngày cuối cùng trong đời, Long Kh’mer đã đến nhà gia đình nuôi của tôi- 20 A Võ Thị Sáu- quận nhất- Sài Gòn- với nhiều điều đặc biệt, làm nhiều điều đáng nhớ như cách nó sống cuộc đời nó cho đến tận cái ngày cuối cùng rất đặc biệt ấy- 19- 8- 1984, ngày sinh nhật của tôi.

   Sau khi đi cúng 100 ngày cho Long Kh’mer trên Bảo Lộc trở về, tôi ghé lại Sài Gòn để thăm gia đình nuôi của tôi. Lần nào cũng vậy, mọi người trong nhà nghênh đón tôi. Tôi đã gặp ngay thằng út Hải hoặc để uống cà phê tại nhà hay rủ nó ra chợ Đa Kao để lai rai. Thằng Hải- thân với tôi nhất nhà- kể lại cái ngày cuối cùng của Long. Nhắm nháp chút ít cà phê sữa, mồi một điếu thuốc Con Mèo, nó bắt đầu bằng một nhận xét về Long Kh’mer,

“Anh Long đẹp trai, duyên dáng, nhậu rất cừ và ảnh rất thương anh , thương gia đình mình.”

Hải nhớ từng chi tiết nhỏ nhặt trong ngày hôm ấy như một đạo diển trình bày cái đoạn phim quan trọng, hấp dẩn nhất vậy.

   “Ảnh nhấn chuông cửa trong khi cả nhà đang ngủ trưa, hình như hơn hai giờ gì đó...Em còn ngáy ngủ nhưng vội xuống lầu để mở cửa cho ảnh. Anh Long mặc cái áo lính cũ kĩ và rộng thùng thình- field jacket-, trên đầu có dảy băng trắng mà ảnh nói là ảnh vừa bị thương bên Kampuchia. Em nghe thấy có mùi bia- chuyện bình thường- nhưng em nhận ra anh Long hôm ấy rất khác thường.

Rít một hơi thật dài, liếc nhìn tôi, nhả hết khói thuốc ra xong, thằng Hải chậm rãi kể tiếp,

“Ảnh kể huyên thuyên vài chuyện mà em không hiểu nhưng ảnh luôn luôn nhắc về anh. Khi thấy má vừa trên lầu bước xuống, ảnh vội đến đỡ tay má. Anh Long Kh’mer dành đốt nhang bàn thờ Chúa và em mới nghe ảnh kêu “má” thật tự nhiên.”

   Hải ứa nước mắt,

Ảnh nói với má,“Để con đốt nhang cho má, nghen má!

Ba cũng nhận ra là nhà có khách quen nên bước ra tiếp chuyện. Ảnh kêu ba bằng “ba”ngọt ngào cứ y như thể ảnh là hiện thân của anh vậy.”

   Tôi ngắt lời Hải,

“Hải thấy có phải anh Long Kh’mer xỉn quá phải không?”

    Hải lắc đầu lia lịa, phân bua rằng,

“Mọi thứ đều rất bình thường trừ cái chuyện ảnh nói ảnh mới đi bộ đội bên Kampuchia về và ảnh nằng nặc kêu em nhận cái áo khoát đó để làm kỷ niệm.

Hải nhờ thằng cháu trai ra cái quán ngay bên nhà kêu giùm nó vài chai bia 333 mà không cần hỏi ý kiến tôi. Nó nheo mắt nhìn tôi,

  “Anh Thành biết không? Ảnh muốn mua cho ba một chai bia khi anh hai Tâm mới vừa đi đâu về. Anh Long nhất định đi ra cái quán trước nhà gần chổ đình thánh Trần mua bia bất chấp việc anh Tâm dành đi mua. Ảnh thiếu điều muốn cải lộn với anh Tâm,”

Hải lập lại lời của Long Kh’mer,

“Anh phải để em đi mua bia cho ba chứ. Em là con mà. Em nhỏ hơn anh...nên để em đi mua. À, em mua cho anh luôn nghen, anh hai?”

Thấy nó thật sự xúc động khi nhắc tới những chi tiết nhỏ như vậy, tôi cứ giử yên lặng ngồi chờ nó kể tiếp,

“Sau đó ảnh rủ anh Tâm và em nhậu. Ảnh nhờ em đi kêu 10 chai bia và dành trả tiền trước.”

    Tôi thấy nhớ Long Kh’mer hơn bao giờ hết. Tôi chỉ vừa quen biết nó trong những ngày tôi theo thằng Khuê lên Bảo Lộc, giửa tháng 5 năm 1975, để mong kiếm sống trên miếng đất rẫy của cậu nó đã bỏ hoang khi Bảo Lộc thất thủ cuối tháng 3 năm 1975.  

    Long Kh’mer vừa là hướng đạo sinh vừa là phật tử vừa là tay anh chị. Nó đẹp trai, hai mắt rất to hấp dẫn. Nó có tướng rất thư sinh, nhanh nhẩu và rất đa tài. Nó vẽ tranh như một họa sĩ có tài ẩn danh. Cha Điền ở giáo xứ Bảo Lộc rất mê bức tranh nó vẽ chúa Jesus- nhất là cái hàng chữ bay bướm ngay góc dưới bên phải- “Đại Ca Jesus”. Thằng Phước Mọi luôn kể cho tôi nghe bức tranh “Ơn cha nghĩa mẹ” mà Long đã tặng nó. Ba nuôi của tôi thì quý bức tranh sơn dầu “Ngũ hạc vượt trùng dương” do chính tay nó mang từ Bảo Lộc xuống SG để tặng cho gia đình, mà tôi còn gìn giử đến ngày nay ở Rạch Gía.

   Mỗi khi buồn, nó sáng tác như một nhà thơ thứ thiệt, nét chữ thật lã lướt, các tiêu đề thật độc đáo. Những bạn thơ của nó, Thành Đại Khái, Khuê Bầu, Hào Cận, rất quý tài làm thơ của nó. Nhưng khi hứng khởi, nó có thể phóng dao phóng búa như một tay chuyên nghiệp trong rạp xiếc. Nó ôm đàn guitar, hát như một nghệ sĩ. “Bài ca học trò” và “Người yêu tôi bệnh” là hai bài ca nó rất thường bắt đầu ngay khi ôm cây đàn lên. Mãi đến sau này, khi được yêu cầu hát trong một tiệc rượu nào đó, nhớ đến nó, tôi chỉ hát bài “Người yêu tôi bệnh” mà thôi.  

   Chính nó đã dắt tôi đến ngày tất niên của nhóm Du Ca Đất Việt, cuối năm 1975,  nơi tôi đã kết bạn với một vài người tài năng. Xuống Rạch Gía để dự đám cưới của tôi, trong ngày nhóm họ, nó đã làm cho mọi người thán phục cái tài trang trí đám cưới của nó bằng giấy thủ công. Nó xếp giấy màu, cắt bằng kéo nhỏ, vừa xong, nó thoa hồ dán lên tường cái giỏ hoa, cái trống đồng và chữ song hỷ nhanh như một thay thợ thủ công chuyên nghiệp.

    Tôi thấy có cái gì đấy rất giá trị trong cách Long đối với ba má tôi, và với cả mọi người trong nhà này. Có vẻ nó muốn đóng thế vai trò của tôi khi tôi đã có gia đình ở dưới tận Rạch Giá. Chúng tôi có một điểm giống nhau- nó cưới con gái của bà mẹ nuôi của nó- Như Quỳnh. Tôi đã phải bỏ học một ngày để lên bưng mâm trầu trong ngày đám hỏi của nó- cuối năm 1976.  Biết tôi yêu thương con gái của bà mẹ nuôi của tôi, nó rất mừng và cũng rất lo cho tôi.

    Lần đầu tiên tôi đưa Long đến nhà khoảng giửa năm 1976, bà mẹ nuôi của tôi đã đồng ý cho Long ở lại với tôi đêm hôm đó. Không lâu sau, bà đã nhắc lại chuyện đó với tôi,

“Nhìn vẻ mặt của con, má biết ngay con thương quý thằng Long như thế nào liền. Lúc đó nhà mình đang chứa chấp mấy người vượt biên, còn má thì đang bị cảm cúm nữa… nhưng má vì con nên cho thằng Long ngủ lại với con cho con vui.”

 Sau 7 năm với rất nhiều biến cố, thay đổi, tôi đã viết thư cho vị hôn thê của tôi- Như Ngọc- và cả bà mẹ nuôi để từ hôn. Dù biết chuyện đó, Long Kh’mer vẫn cứ ghé lại căn nhà 20 A Võ thị Sáu để thăm hỏi như những lần trước đây, như thể tôi vẫn còn là người trong gia đình đó vậy.

                        

                                                (Long Kh’mer và tôi trên đèo Prenn năm 1977)

                                                 Có lẻ nó đã quá thèm được sống trong cái gia đình                                                   như thế này- có ba mẹ, anh em, có thương yêu,                                                        hiểu biết và những cái mà không thể tìm thấy ở                                                      bất cứ đâu. Khi có niềm vui từ ai đấy- dù thân                                                          thiết hay mới làm quen, mẹ hay chị em gái của                                                        một thằng bạn nào đấy, bửa cơm đầm ấm của gia                                                    đình một ai đấy, nó thường nói với tôi,

“Tao đi vay mượn hạnh phúc của người ta.”

Trên Bảo Lộc, tôi có đến chơi và ngủ lại tại nhà nó vài lần. Từ lâu nay, ba nó nát rượu. Anh Ba của nó ngông nghênh yếm thế chán đời. Khi họ gây gổ to tiếng với nhau, Long rất buồn bả tìm nơi lánh mặt. Nó giao du rộng, đủ hạng thanh niên, mọi lứa tuổi. Có nhiều thiếu nữ- ở nhiều nơi nó đi qua- mến một, yêu thích nó. Nó rất nỗi tiếng khi về Cần Thơ chơi. Minh Ngọc- một cô gái trẻ- con chủ tiệm vàng ở chợ Cái Khế- đã yêu nó vô cùng.

  Xuống Rạch Giá thăm tôi, tại khu nhà của Công Ty tôi đang làm việc, khi tôi bận bịu chuẩn bị cho kỳ “Hội diễn văn nghệ toàn tỉnh- lần đầu tiên năm 1981”, Long đã làm cho hai nữ sinh viên thực tập phải đắm đuối, ghen tương lẩn nhau. Những nhạc công trong ban nhạc, những cán bộ trong công ty tôi phải thán phục nó, vì muốn đưa tôi lên Bảo Lộc chơi nó đã ở lại gần 10 ngày để chờ tôi trình diễn xong và xin nghỉ phép năm.

    Nhân dịp xuống Cần Thơ, nó còn đưa Quỳnh, vợ nó và Cường, đang có tình ý với nhau, xuống Rạch Giá thăm tôi khi tôi đang làm gia sư và rất khó lòng đón tiếp 3 người khách như vậy. Nhiều người biết tôi đều thắc mắc đều nghi ngờ. Họ hỏi thẳng tôi,

  “Chắc là mấy người đó xuống đây tìm đường vượt biên nhưng mượn cớ đi thăm bạn phải không!?”

 

    Đưa chai bia lên uống hết gần phân nửa, tôi thúc giục Hải kể tiếp. Mồi một điếu thuốc khác, cầm chai bia ướp lạnh cụng vào chai bia tôi vừa mới cầm lên, tu một ngụm bia, chùi mép xong, Hải mới bắt đầu vào đoạn cuối của câu chuyện,

“Anh Tâm và em uống với ảnh tại nhà vì má không cho ảnh đi ra ngoài với cái đầu băng trắng như thế. Anh còn nhớ cái lần ảnh đi với tụi mình uống bia hơi ở Tao Đàn không...ảnh xỉn quá...bị má rầy. Anh nhớ không?

Mỉm cười vui vẻ, khui thêm hai chai bia nữa cho tôi và nó, tôi cứ im lặng để nghe nó kể tiếp,

“Điều làm cho em nhớ nhất là ảnh luôn nhắc đến anh. Đặc biệt là ảnh đã nhìn thấy bức trang sơn dầu ảnh cưới của ba má mà anh đã treo trong phòng ngủ của anh. Anh Long như muốn trăn trối điều gì chăng khi mà ảnh cứ nói, “Lên Bảo Lộc chơi với anh đi, em sẽ hiểu được dân Nông Lâm Súc tụi anh.”

Nghiêng cái đầu tóc quăn dài tới bả vai, Hải hỏi tôi,

“Anh Long đâu có học Nông Lâm Súc phải không anh? Em nhớ ... anh kể với em là ảnh học tư thục, sau anh một năm học. Phải không anh?

Tôi đáp ngay,

“Đúng vậy nhưng nó chơi thân với nhiều thằng học trò NLS lắm.”

 Tôi ngậm ngùi hỏi,

“Anh Long có kể gì về chuyện hồi hai tháng trước bị một thằng phế binh đánh cái nạng bằng nhôm trên đầu của nó không?”

 Hải trợn mắt ngạc nhiên hỏi lại tôi,

“Sao vậy anh? Em đâu có nghe ảnh kể gì đâu!”

Tôi kể vắn tắc,

“Một chiều tối, từ nhà may mà hai vợ chồng nó mới gầy dựng nên, nó thằng Kiệt Chùa ra khu chợ cũ uống sữa đậu. Một thằng phế binh, ngồi cạnh bên hỏi mồi thuốc. Thay vì quay nhìn lại và đưa điếu thuốc cho thằng đi cái nạng đó, nó chìa ra cái hộp quẹt. Thằng côn đồ kia cứ cho rằng nó bị Long Kh’mer làm nhục. Nó sinh sự và đập mạnh cái nạng nhôm lên đầu của Long Kh’mer.”

Tôi để ý cái chi tiết “cái băng trắng”,

“Hải có hỏi anh Long tại sao ảnh có cái băng trắng trên đầu không?”

Thằng Hốt Dải- nick name của nó, gật gù,

“Thì ảnh cứ nói là ảnh bị thương trong khi đánh giặc bên Campuchia. Anh Tâm cũng không tin chuyện đó.”

   Tôi tự hỏi tại sao Long phải nói dối như thế, bịa ra cái chuyện hơi khó tin như thế. Tôi còn có một cách để tự giải thích thôi.

    Trước đó 3 ngày, trong chuyến xuống SG nhận một thùng quà từ gia đình bên Mỹ,  Như Quỳnh dắt Long xuống Sài Gòn tìm đến nhà thằng Quân Què bên Bình Thạnh và tụi nó ở lại đây với Quân- một người trong những thằng bạn tử tế, tài năng và quý mến nó. Sáng hôm sau, Quỳnh đưa Long đến bệnh viện Chợ Rẫy để tái khám vết thương theo giấy hẹn của bác sĩ. Sau 5 tuần giử gìn nghiêm ngặt không đụng đến chất kích thích- rượu bia, cà phê, vết rạn nứt trên đầu- do cú đánh bằng cái nạng nhôm lên đầu nó- của Long có tiến triển rất khá. Nó không còn bị nhức đầu, không còn cảm thấy chóng mặt hay buồn nôn nữa. Các y sĩ băng bó cái đầu nó rất khéo. Long Kh’mer hứa làm theo lời căn dặn của các bác sĩ điều trị rất đàng hoàng.

    Nhưng bất ngờ, sau khi biết vợ trở lên lại Bảo Lộc gấp, Long nghĩ ngay đến Cường, đang là nhân tình của nàng. Mất niền tin rằng có thể được hồi phục, có được hạnh phúc bên vợ và con gái, Long Kh’mer đã ngông nghênh, tuyệt vong nghĩ đến một cách để quyên sinh.

    Nó nói với Quân Què rằng nó đi thân gia đình một người bạn thân bên Đa Kao- trên đường Võ Thị Sáu, nhưng bắt thằng Quân dừng xe đạp cho nó xuống xe tại Lăng Cha Cả, chợ Bà Chiểu. Quân không thể cưỡng lại ý muốn của Long nỗi. Nó nằng nặc bắt thằng Quân phải đạp xe về,

“Mày yên chí đi mà. Tao đi thăm nhà bà già nuôi của thằng Thành Xì. Tao ổn mà...”

Sau này Quân Què rất hối hận vì đã để Long Kh’mer đi một mình hôm đó.

Có lẻ Long Kh’mer đã một mình uống vài chai bia trước khi tìm đến nhà tôi để thăm gia đình tôi, để uống thêm nhiều nữa và rồi để mong cái vết rạn nức trên hộp sọ của nó xuất huyết ra để đưa nó đi... Mùi bia và cái cách của nó khiến thằng Hải “lõi đời”tin chắc như thế.

   Đến sập tối, má tôi từ trên lầu xuống dưới nhà thăm chừng và bà biểu Long Kh’mer ăn cơm với cả nhà và ngủ lại đây. Má tôi trìu mến nói với nó,

“Con cứ ở đây như thằng Thành hồi lúc trước vậy. Con xỉn quá rồi. Ráng ăn một chén cơm đi rồi lên lầu ngủ với thằng Hải nghen con.”

 Từ ngày mất mẹ, Long Kh’mer thương mẹ nuôi của tôi hơn. Nó thật dể thương khi trả lời rằng,

“Dạ con cám ơn má. Để con rủ thằng Hải và Như Ngọc ra chợ Đa Kao ăn cơm Tàu với con. Con có chuyện muốn nói với hai đứa nó nữa nghen má. Má cho phép con nghen má!” 

  Như Ngọc phải chiều lòng Long Kh’mre vì nó nhắc lại lời mời hoài và thúc giục cô thay đồ mãi. Hai năm trước đó, theo tôi đi Đà Lạt chơi một tuần lễ, đã gặp Long, Như Ngọc không còn e ngại gì vì Long đã quá thân thiết với hai đứa tôi rồi. Cô ấy cũng rất xúc động khi cứ nghe Long nhắc về cái hình của ông bà già mà tôi treo ở góc phòng dưới Rạch Gía. Hải không cần chuẩn bị gì khi mà Như Ngọc trang điểm nhẹ nhàng để không nghe Long nhắc thêm một lần nữa.

  Ra khỏi nhà khoảng 7 giờ rưỡi, Long khoát vai Ngọc và Hải đi bộ ra góc đường. Nó vui vẻ huyên thuyên kể đủ chuyện như đó là lần cuối cùng nó được nói vậy.

   Tại quán cơm Diệu Ký- ngay góc Trần Quang Khải- dưới Cầu Bông- Long Kh’mer gọi thức ăn, gắp thức ăn cho Ngọc, ép cô ta ăn, mời Hải uống thêm hai chai bia nữa. Long Kh’mer đã lần cuối cùng mời ai đi ăn, lần cuối cùng kể về tôi và lần cuối cùng được uống bia với người nó thích.

    Hải không thể dành trả tiền bửa ăn được mà cũng không thuyết phục được Long Kh’mer trở vô nhà ngủ hôm nó- như nó đã từng ngủ lại đó với tôi vài năm trước mỗi khi ghé lại trường để thăm tôi. Trong lúc chia tay, Long nằn nặc bảo Hải nhận cái áo khoác của lính ngụy cũ sờn mà Long đang mặc. Mặc dù gọi xích lô cho Long Kh’mer về bên đường Bùi Hữu Nghĩa- qua Cầu Sắt- nhưng thằng Hải không an tâm. Nó hỏi đi hỏi lại,

“Tối nay anh đi đâu nữa? Anh sẽ ngủ ở đâu? Anh có về nhà ngủ không em sẽ chờ cửa nhen?”

Long Kh’mer, như chưa hề có chút men nào trong người,

“Anh qua bên cầu Sắt nè. Anh ghé thăm anh Tư, trên đường Bùi Hữu Nghĩa và chắc anh sẽ “ngủ” lại đó.”   

Thằng Hải muốn nghe Long Kh’mer xác nhận lại,

“Nhưng nhà của ai mà anh ghé ngủ vậy?” 

Long vui vẻ thản nhiên trả lời mặc dù hơi chếnh choáng,

“Anh rễ của anh. Ảnh với chị Tư chia tay mấy năm nay rồi.”

Thằng Hải không hiểu nổi Long Kh’mer lúc đó, cái lý do lạ lùng đó. Như Ngọc buộc lòng phải lên tiếng,

“Nếu anh không về, thế nào má cũng rầy tụi em cho mà xem. Má cứ nói má coi anh cũng như anh Thành vậy thôi. Tụi em biết nói với mà làm sao đây?”

Long Kh’mer chống chế, nói đi nói lại nhiều lần,

“Về nói với má đừng có lo cho anh. Anh biết anh sẽ ổn mà.”

Hai chị em Ngọc và Hải không thể nào dằn co mãi với Long bên lề đường được nữa, bên cạnh chiếc xích lô đang chờ Long bước lên. Họ đứng chờ chiếc xe xích lô quẹo vô hướng chợ Đa Kao xong mới rủ nhau đi về nhà.

     Khác hẳn với gì Long Kh’mer nói, nó có triệu chứng không ổn- vật vả- toát mồ hôi lạnh- lúc gần sáng hôm sau trên căn gác ọp ẹp của nhà anh rể. Nó hôn mê xâu trên đường đi đến bệnh viện Bình Dân và trút hơi thở cuối cùng khi không có một ai thân thích bên cạnh nó.

      Long Kh’mer ơi! Mầy đang ở đâu, có ổn không? Ai cũng nhắc mầy hết đó. Mầy có biết không?

                                                                     Rạch Giá, Sep 19- 2011

                                                            (Nhân ngày giỗ của Long Kh’mer)

                                                                         Lương Ngọc Thành