THƠ VĂN

                             nguyễn thị thanh dương

   Arlington, Texas   __________________________                                                                                                  

THẦY ƠI…THẦY ĐÂU RỒI. ?

   

Tôi trở về Việt Nam thăm thân nhân vào một mùa hè.

Tôi thuê xe đến ngôi trường cũ, một mình tìm lại kỷ niệm xưa, không chỉ là mái trường trung học thân yêu mà còn có bóng dáng một tình yêu.Thày Chuẩn, giáo sư môn toán của tôi suốt 3 năm liền từ lớp 10 đến lớp 12.

Kể từ ngày tôi đi vượt biên được đến Mỹ định cư. Đây là lần đầu tiên tôi trở về Việt Nam và ngôi trường cũ là một kỷ niệm tôi luôn mong muốn được gặp lại.

Đứng trước ngôi trường xưa lòng tôi bồi hồi thổn thức….

Ngôi trường đã hoàn toàn thay đổi, trường được xây mới và rộng thêm, cây phượng vỹ gìa nơi sát hàng rào trường không còn nữa. Bao mùa hoa Phượng của tôi chín đỏ sân trường nay về đâu, hoa Phượng ơi, thày cô ơi, bạn bè ơi..…

Tên trường không thay đổi, vị trí trường vẫn là đây, nơi tôi từng đi về suốt mấy năm trung học.

Trường lớp đóng cổng đóng cửa im vắng trong một buổi trưa hè. Mùa khai trường sắp đến rồi, mai mốt sân trường im vắng này lại rộn rã thày trò đông vui.

Nhìn dãy hành lang trường hun hút tôi nhớ bóng dáng thày Chuẩn thường đi qua. Nhìn phòng lớp im tiếng tôi nhớ những lúc thầy đứng giảng bài và tôi thì mơ mộng nhìn ra ngoài khung cửa, bài toán thày giảng giải xong mà tôi giấc mộng chưa tròn.

Nước mắt rưng rưng tôi bâng khuâng tự hỏi:

-  Thày ơi…thày đâu rồi?

Không biết thày Chuẩn còn dạy ở trường này không? Mai này đến ngày khai trường tôi sẽ đến đây, không là cô học trò nhỏ năm xưa, chỉ là người khách lạ, tôi sẽ đứng ngoài cổng như thế này để tìm trong đám đông thày trò một bóng dáng thày. Nhất định tôi sẽ nhận ra thày, con người ấy, nét mặt ấy tôi vẫn chưa quên dù 20 năm đã xa, 20 năm chưa gặp lại thậm chí chưa nghe tin tức gì về thày.

Suốt bao năm tôi mải lo cuộc sống hiện tại nơi quê người và mối tình học trò mong manh nơi quê nhà luôn là kỷ niệm đẹp.

Năm tôi lên lớp 10 thày Chuẩn mới đổi về trường dạy môn toán, ngày đầu tiên thày vào lớp lũ học trò con gái chúng tôi xôn xao vì thày giáo trẻ tuổi đẹp trai lại vui tính ăn nói ngọt ngào.

Chúng tôi đã nhanh chóng điều tra ra “lý lịch” của thày, độc thân đẹp trai học giỏi chỉ mỗi tội con nhà nghèo.

Tôi còn nhớ bạn Kim Sa nói:

- Thày chỉ đáng tuổi anh chúng mình thôi, tao chẳng muốn gọi bằng “thày”.

Tôi cũng nghĩ thế và tôi chỉ muốn gọi thày bằng “Anh”.

Tôi thầm yêu thày ngay năm học đầu tiên, chờ mong từng giờ học với thày, mừng vui khi thấy bóng dáng cao cao của thày xuất hiện, hồi hộp khi thấy đôi mắt hiền sau cặp kính cận của thày nhìn tôi dù chỉ là cái nhìn bình thường hay thoáng qua.

Có lần trong hành lang trường, từ xa thấy thày đang đi đến gần tôi đâm ra luống cuống vụng về làm rơi cả mấy quyển vở đang cầm trên tay. Thày đã cúi xuống nhặt lên đưa cho tôi. Giây phút đối diện và chạm tay ấy tôi không bao giờ quên.

Thời kỳ bao cấp cuộc sống ai cũng ít nhiều khó khăn, tôi đã chứng kiến cảnh các giáo viên chia nhau nhu yếu phẩm gạo thịt tiêu chuẩn tại văn phòng. Tôi thương thày giáo độc thân của tôi cũng không thoát khỏi cảnh đời thực tế này, nhưng dường như tôi ít khi thấy thày Chuẩn mang những thứ nhu yếu phẩm ấy về nhà.

Một học trò lớp tôi nghỉ bệnh mấy ngày ở nhà, gia cảnh nó khó khăn, thày Chuẩn là thày giáo chủ nhiệm sẽ tổ chức một buổi đến thăm để “động viên” học trò. Tôi là trưởng lớp được đi cùng thày.

Tôi bất ngờ khi thấy thày mang theo miếng thịt heo nửa ký và bịch gạo 12 ký là tiêu chuẩn của thày vừa lãnh. Thấy tôi có vẻ ngạc nhiên, thày nói:

- Nghe nói gia cảnh trò Hoa nghèo, lại ốm đau nghỉ học thày chẳng biết mang qùa gì, sẵn hôm nay có tiêu chuẩn gạo thịt này…

Tôi ngại ngùng và thương cảm…cho thày, chứ không phải cho bạn:

-  Thế…tháng này thày không có gạo thịt ăn hả? thày báo tin thăm Hoa đột xuất qúa em chẳng kịp góp phần mua qùa…

Thày Chuẩn mỉm cười:

- Lo cho người bệnh chứ việc gì lo cho thày. Tháng này thày sẽ…ăn chực bố mẹ.

Sau này tôi biết thêm thày Chuẩn vẫn thỉnh thoảng nhường phần gạo thịt tiêu chuẩn của thày cho một vài bạn đồng nghiệp đông con hay gia cảnh khó khăn dù thày cũng chẳng khá gỉa .

Một nhà giáo chăm chỉ yêu nghề hết lòng chỉ dạy học trò, một nhà giáo luôn giúp đỡ bạn bè cả vật chất lẫn tinh thần, khi thì nhường tiêu chuẩn nhu yếu phẩm, khi thì thay bạn đứng lớp lúc họ bận việc hay ốm đau.

Lũ học trò chúng tôi đã “phát giác” ra những điều ấy không khó gì.

Thày là một chàng trai trẻ phóng khoáng và bao dung trong bộn bề cuộc sống.

Càng ngưỡng mộ thày tôi càng yêu mến thày.

Mùa hè năm lớp 12, mùa hè cuối cùng rồi mỗi người vào đời một hướng rẽ. Tôi sẽ đi xa hơn, cuộc chia tay này không thể nói cùng ai, gia đình tôi chuẩn bị cho hai chị em tôi đi vượt biên.

Ngày cuối cùng trước khi nghỉ hè tôi cố tình đợi để đối diện thày nơi hành lang lớp, lần này tôi không vụng về làm rơi cuốn vở mà vụng về nói chia tay với thày:

-  Em …chúc thày…ở lại… một mùa hè vui vẻ.

Thày ân cần :

-         Thày chúc em thi đậu đại học và tương lai mở ra phía trước. Còn thày dĩ nhiên vẫn ở lại làm “ông lái đò chở người qua sông”

“Anh lái đò” ơi, ước gì anh không chở em qua sông mà chở em trên suốt con sông dài cuôc đời nhỉ…

Tôi lãng mạn nghĩ thế. Thấy tôi không nói gì thêm thày định bước đi, tôi chợt tỉnh cơn mơ vội nói với theo:

-  Thày ơi…thày nhớ lo cho chính bản thân mình, giữ gìn sức khỏe…

Thày hiểu ý tôi và mỉm cười:

- Em muốn nhắc lại chuyện thày đi thăm em Hoa với phần tiêu chuẩn lương thực của thày chứ gì. Xem này, thày có gày ốm đi tí nào đâu.

Khi bóng thày rẽ khuất vào một lớp học, tôi đứng ngẩn ngơ gọi thầm hai tiếng thân thương : “Thầy ơi…”.

Xa lớp xa trường đã buồn, xa thày tôi càng buồn hơn. Tôi ra đi mang theo một mối tình câm tuyệt vọng.

Để rồi hơn 20 năm sau trở về kỷ niệm năm nào bỗng thức dậy. Trong tôi vẫn còn hình bóng thày Chuẩn cao cao đẹp trai và rất đàn ông tính rộng rãi bao dung.

Bây giờ chắc thày đã có gia đình vợ con và vẫn là thày như thuở độc thân vui tính.

Tôi muốn biết thày còn dạy ở trường cũ không, để ngày khai trường sắp đến đây tôi nhất định sẽ đến trường, chỉ để nhìn thày bây giờ ra sao.

Tôi tự trách mình bấy lâu đã không tìm liên lạc với bạn bè đồng môn cũ để biết tin về thày.

Tôi cố moi óc nhớ lại những bạn bè cùng lớp cũ và nhớ ra nhà Kim Sa ở gần nhà tôi nhất nên đến thăm hỏi, Kim Sa đã dọn đi kể từ khi lập gia đình. Tôi xin được số điện thoại của Kim Sa..

Khi tôi gọi phone cho Kim Sa, nó mừng rỡ, chúng tôi cùng nhắc lại ngôi trường cũ bạn bè xưa. Tôi hỏi :

-   Kim Sa ơi, thày giáo Chuẩn đẹp trai, thần tượng ngày xưa của chúng mình đâu rồi ? thày còn dạy ở trường mình không?

-  Kim Sa định kể đây, thày Chuẩn đặc biệt nhất nên để dành kể sau cùng.

Tôi mừng rỡ, không kịp kìm nén lòng mình reo lên:

-   Thày Chuẩn đặc biệt là phải rồi. Một người tốt tính như thày chắc luôn gặp nhiều may mắn trong cuộc sống.

-   Chỉ đúng một nửa, thày gặp…may mắn trong cuộc sống nhưng không còn đi dạy học nữa.

Kim Sa kể thày Chuẩn bây giờ giàu sang vào hàng đại gia. Thày lập gia đình với con gái một cán bộ cao cấp, gia đình vợ đã lo cho thày một chức vụ trong ngành giáo dục. Bao nhiêu năm qua thày làm giàu nhờ chạy điểm cho học sinh, muốn con em vào trường tốt, muốn con em vào đại học đều qua tay thày.

Nghe đến đâu tôi bàng hoàng đến đấy. Chàng tuổi trẻ thuở vào đời với tấm lòng hồn nhiên cởi mở, với nhiệt huyết yêu nghề yêu chữ đâu rồi?

- Lẽ nào thày Chuẩn lại thế??

Tôi cố tình chưa tin dù biết bạn đang nói thật, nói đúng. Kim Sa thản nhiên:

- Bạn sống ở Mỹ nên không quen với những trò tiêu cực trong xã hội như thế này, chúng tôi ở Việt Nam thì là chuyện bình thường. Thời buổi này xã hội này ai có quyền lực trong tay mà không giàu mới là lạ.

Kim Sa nửa đùa nửa thật:

- Thế bạn có muốn đến thăm thày xưa không?

Và Kim Sa tự nhanh nhẩu trả lời:

-  Đừng nhé, không ai tiếp bạn đâu. Vào cửa nhà thày phải có người giới thiệu, thày chẳng có thì giờ tiếp chuyện vớ vẩn những đứa học trò xưa. Với lại mùa hè này vợ chồng con cái thày đang đi du lịch Châu Âu chưa về.

Tôi chán nản nhưng vẫn mong là nãy giờ bạn…nói đùa:

- Kim Sa đùa thế đủ chưa? Làm sao mà Kim Sa biết rõ về thày như thế ?

-  Ai dám nói đùa nói xấu một con người, lại là thày giáo cũ mà mình từng ngưỡng mộ. Từ một người bà con bên vợ của thày kể ra cho bạn bè anh ta và truyền đến bọn mình. Không tin thì cứ nhìn căn biệt thự lộng lẫy của gia đình thày cũng là một câu giải đáp. Thời buổi này nhà giáo chân chính có dạy trường điểm, dạy thêm ngoài giờ đến hao mòn sức khỏe, ho lao khạc ra máu cũng chỉ đủ sống chứ ai làm giàu cho nổi…

 

Tôi buông phone, những lời nói của Kim Sa đang bủa vây xung quanh tôi. Thày giáo trẻ tuổi đẹp trai con nhà nghèo nhưng tâm hồn không vướng bận vật chất lợi danh của ngày xưa đã thay thế bằng một ông cán bộ ngành giáo dục tham hư danh quyền lợi, bán rẻ lương tâm nhà giáo chỉ vì tiền.

Tôi đã mất thày rồi, tôi trách hoàn cảnh xã hội, trách người phụ nữ làm vợ thày đã lấy đi trong tôi hình ảnh đẹp của thày, lấy đi mối tình đầu đời tuổi học trò mới lớn của tôi, những thứ mà tôi từng trân trọng cất dấu trong đời..

Tôi thốt kêu lên trong thất vọng:

- Thày ơi…thày đâu rồi ??

  Nguyễn Thị Thanh Dương.

    ( August, 18, 2018)

TÌM VUI CUỐI ĐỜI

 

Mẩu đăng tìm bạn bốn phương trên báo làm bà Phượng cảm động và ngưỡng mộ : " Người đàn ông cô đơn mỗi tuần mang hoa đến mộ phần của vợ, 70 tuổi, nhà cửa ổn định, tài chính vững vàng, tinh thần thảnh thơi, bao dung vị tha. Muốn tìm một phụ nữ 65 tuổi trở xuống để cùng nhau tìm niềm vui cuối đời.".

Người đàn ông tuổi xế chiều có nhà cửa và tài chính vững vàng đương nhiên là người khá gỉa lại thêm tấm lòng bao dung vị tha. Bà thú vị hào hứng nhất điều này.

Ông chắc là người chồng tốt luôn thương yêu vợ. Bà ước gì sau này bà qua đời có một người đàn ông nào sẽ vì bà hàng tuần mang hoa đến viếng mộ vợ như thế. Vừa thắm thiết tình vừa lãng mạn biết bao.

Bà Phượng đang cần tìm một người đàn ông có đủ hai điều kiện tình cảm và tiền bạc.

Bà hài lòng lời rao tìm bạn vì mình đúng tiêu chuẩn ông ta mong muốn và ngược lại ông ta cũng là mẫu người bà đang tìm kiếm.

Hai người đã email qua lại và gọi phone để tìm hiểu về nhau. Ông Năng góa vợ hai năm nay, các con thì ở xa. Ông muốn tìm người phụ nữ khác để bù đắp cho bao lâu nay phải chăm sóc và chiều chuộng người vợ suốt mấy năm trời nằm liệt giường sống đời thực vật sau cơn stroke rồi mới chịu ra đi.

Bà Phượng thì khác hoàn cảnh. Chồng bà mê bồ trẻ, bỏ bê bà. Hai vợ chồng li dị và không con cái..

Bà muốn tìm người đàn ông tử tế, rộng lượng, cùng nhau vui hưởng hạnh phúc sau mấy năm trời cuộc sống gia đình sóng gió làm bà tiêu điều héo hon và có thêm người cùng bà trả cho hết gánh nợ nhà cửa bà đang cưu mang.

Hai tâm hồn cô đơn khắc khoải bỗng gặp nhau cuối đường.

Sau những hình ảnh gởi trao họ hẹn ngày gặp mặt.

Bà Phượng ở nam California, ông Năng ở tiểu bang khác sẽ bay đến Calif. và ở nhà đứa con trai. California của cộng đồng người Việt không xa lạ gì với ông.

Địa điểm hẹn thơ mộng, là một bờ biển đẹp của thành phố Newport Beach.

Bà Phượng đã chuẩn bị kỹ cho lần đầu hội ngộ, mái tóc nhuộm màu hung tươi trẻ, bộ váy aó gọn xinh, cái áo khóac buông lơi trên bờ vai, dĩ nhiên không thể thiếu mùi nước hoa thơm nhẹ nhàng quyến rũ. Không ai có thể tin người phụ nữ này đã 65 tuổi.

Ông Năng đầu đội chiếc mũ kiểu Scotland cổ điển nhưng không bao giờ lỗi thời, cổ quàng khăn màu xám bên chiếc áo sơ mi màu mận chín, ông trẻ trung thanh lịch và tao nhã như một văn nhân đúng như bà Phượng đã hình dung và mơ ước.

Nàng thơ và chàng văn cùng sánh vai đi bộ dọc theo bãi biển, gió biển lồng lộng, tiếng sóng vỗ vào ghềnh đá rì rào, mùi hương thơm từ hai phía trao nhau theo mỗi cơn gió càng làm hai trái tim thêm mơ màng say sóng dù sóng biển kia chỉ chạm nhẹ theo bước chân họ trên bãi cát mềm.

Chàng đã cầm tay nàng âu yếm hỏi:

-         Mình về với nhau nhé?

Nàng dịu dàng ngoan ngoãn như cô gái mới mười bảy tuổi:

-         Vâng ạ..

**************.

Ông Năng sẽ thu xếp nhà cửa để dọn về California ở chung với bà Phượng vì bà không muốn rời khỏi nơi đây. Thương yêu vợ cách mấy ông cũng đành để bà ở lại rồi thỉnh thoảng về thăm mộ phần chắc bà ấy cũng thông cảm cho.

Bà Phượng muốn ông Năng về ở chung là có ý đồ riêng, hi vọng ông Năng sẽ giúp bà trả góp tiền nhà hàng tháng hay biết đâu ông hào hoa lịch sự móc tiền túi ra trả hết nợ cho bà thì bà sẽ hoàn toàn làm chủ căn nhà này.

Bà Phượng nôn nao chờ đợi người mới, cuộc sống mới với bao hi vọng tràn trề. Mấy bà bạn thân của bà Phượng bàn tán:

-    Phượng muốn tìm lại hạnh phúc đánh mất từ người chồng phản bội trước kia đấy

Bà khác thì thực tế:

-         Nghe đâu ông này giàu có lắm, chắc Phượng vừa tìm người chồng, vừa tìm người phụ trả tiền nhà.

-         Ừ nhỉ, sau khi li dị Phượng lấy căn nhà, tiếp tục trả mortgage, một mình làm sao trả cho nổi.

Một bà khác lại thực tế hơn:

- Tôi như Phượng cứ ở một mình, hoa mộng gì, tình yêu gì ở cái tuổi cuối mùa, ai cũng trở tính trở nết rồi thành "hoa cẩm chướng" của đời nhau.

Ông Năng đã dọn đến ở với bà Phượng sau một buổi tiệc ra mắt họ hàng, con cái và bạn bè đôi bên.

Chẳng biết nhà cửa tiền bạc ông đã tính toán và để nơi đâu, bà Phượng chưa tiện hỏi, ông đến với bà cùng chiếc xe hơi cũ mèm, ông giải thích:

-         Chiếc xe mua từ lúc mới tinh đến giờ, là kỷ niệm yêu qúy của vợ chồng anh nên dù cũ anh cũng chẳng nỡ rời.

Ông ăn ở thật có tình có nghĩa.

Bà Phượng cũng khéo léo "khoe" căn nhà tình nghĩa của mình:

-         Căn nhà của em cũng thế, mua từ lúc hai vợ chồng hạnh phúc ấm êm, nay dù tình duyên gãy đổ nhưng em vẫn muốn giữ làm kỷ niệm trong đời dù hàng tháng trả mortgage cũng vất vả lắm.

Bà nhấn mạnh:

- Nay có anh về căn nhà càng có ý nghĩa đối với em.

Khi về ở với nhau ông Năng không thể cả ngày đội chiếc mũ flat cap điệu đàng. Thì ra đầu ông bị hói nặng, từ phía trước tới đỉnh đầu không còn lấy một sợi tóc để gió có cớ thổi bay.

Bà Phượng thất vọng nhưng nhìn ngày này qua ngày nọ thành quen và bà tự an ủi thì mái tóc mình cũng bạc và xác xơ dần. Vấn đề chính là ông Năng giàu có và bao dung kìa.

Bà vẫn cố giữ gìn hình ảnh đẹp trước mắt ông, mỗi tháng nhuộm tóc một lần khi màu tóc bạc chớm hiện ra nơi chân tóc đường ngôi.

Khi đã được chồng yêu thì nói gì chồng chẳng nghe theo.

Họ xứng đôi vừa lứa, hai người cùng cảm thấy đủ yên vui hạnh phúc trong thời gian đầu cuộc tình còn mới mẻ .

Chiếc xe cũ của ông Năng từ ngày về California nó thường xuyên dở chứng, nay hư cái này mai hỏng cái khác nằm ì một chỗ, lại thấy ông Năng mang ra tiệm sửa.

Bà Phượng thăm dò góp ý:

-         Anh bán xe cũ mua xe mới mà đi cho khỏe thân. Anh thấy xe của em từ ngày anh về đây có hư hỏng gì đâu. Đi gần hay đi xa em đều an tâm.

Ông trả lời cho xong:

-         Ừ.. ừ.. để anh tính .

Nhưng ông vẫn cố xài cái xe cũ cho bằng được dù mấy lần công sửa chắc cũng bằng gía trị rẻ mạt của chiếc xe đã lỗi thời và cũ kỹ. Có khi ông Năng phải mượn xe bà Phượng.

Bà tò mò và thắc mắc nghĩ thầm, tiền bạc của cải ông để dành làm gì mà không lấy ra xài cho những chuyện hợp lý như mua xe? con cái ông đều khá gỉa chúng đâu cần ông để của hồi môn. Hay là ông Năng chưa tin cậy bà nên vẫn giữ của phòng thân ?

Sau một năm đời bỗng chẳng bình yên, tai họa ập đến, bà Phượng bị té ngã từ thang lầu xuống đất, vào nằm bệnh viện và về nhà với cái chân bó bột phải nằm trên giường dài hạn.

Ông Năng chăm sóc từ miếng ăn giấc ngủ, từ thay quần áo đến giúp đỡ bà vệ sinh cá nhân.

Trưa nay ông Năng vừa nấu xong nồi cháo thịt, đang lúi húi lục trong rổ bát tìm cái môi để múc ra một bát cháo cho nguội thì bà Phượng nũng nịu nhờ vả:

- Anh ơi trong lúc chờ cháo nguội anh pha cho em ly trà chanh với lại thay cho em cái khăn lau tay khác đi và anh giặt nốt.......

Chắc lục đục trong bếp nãy giờ mới nấu xong nồi cháo, lại chưa tìm thấy cái môi nên ông Năng bực mình sỗ sàng  ngắt ngang:

-         Nấu xong nồi cháo đi tìm gia vị hành ngò tiêu ớt đã mệt cả người, chưa kịp xong  bà lại sai tiếp. Muốn có ly trà chanh thì bà phải nói hộp trà bà cất nơi nào, chanh bà để nơi đâu và đợi tôi nấu nước sôi pha trà. Bà hành tôi vừa vừa chứ.

Bà hờn mát đổi cách xưng hô:

-         Thế mà ông đã hứa sẽ yêu tôi, chiều chuộng tôi đến ngàn đời.

Ông Năng chưa hết bực, quát lên:

-  Phải, Nhưng nếu bà không nằm ăn vạ một đống như thế này..

Bà Phượng kinh ngạc và tức tưởi:

-         Ối giời ôi, ông ăn nói thô lỗ với tôi thế hả...

Nỗi lòng ông được dịp tuôn ra:

-         Tôi thế đấy. Nói thật với bà nhé, suốt năm qua chung sống với bà tôi cố giữ hình ảnh người đàn ông tao nhã, mỗi lần chúng ta sánh đôi ra ngoài đường tôi phải ăn mặc chỉnh tề, quàng khăn lên cổ, đội mũ lên đầu và ăn nói văn hoa cho bà vừa lòng, tôi ngao ngán đến tận cổ rồi.

Bà Phượng bẽ bàng:

- Tôi đang định sau khi khỏi bệnh sẽ thưởng công ông chăm sóc tôi, mua tặng ông mấy cái khăn quàng nữa cho ông tha hồ chưng diện ...

-         Thôi khỏi...người ta làm diễn viên lên sân khấu chốc lát là xong vai, còn tôi diễn cả năm trời oải lắm rồi.

-         Vậy mà tôi cứ tưởng ông mãi là người trong mộng của đời tôi.

-         Thực tế đi bà ơi, ban đầu tôi cũng nghĩ bà là nàng thơ mà tôi may mắn bắt gặp giữa đường đời. Nhìn kìa, bà nằm trên giường bệnh hơn tháng nay tóc tai xác xơ bạc thếch chưa nhuộm và khuôn mặt bơ phờ với những vết nhăn nơi khóe môi, khóe mắt...

Bà Phượng giật mình nhớ ra mái tóc đã qúa hạn chưa nhuộm. Bà cố bào chữa:

-         Thì ai gìa mặt không có vết nhăn, đừng có thấy mấy bà tuổi từ 50, 60 trở đi mặt không có vết nhăn mà tưởng họ trẻ lâu, thẩm mỹ viện căng da cả đấy.. Còn mái tóc này ư, mai mốt khỏi bệnh tôi sẽ nhuộm lại...

-         Thôi khỏi. Điều ấy không quan trọng với tôi nữa.

Bà Phượng mai mỉa :

-         Ông nhìn lại ông đi, những lần gặp gỡ đầu tiên ông đội mũ tôi nào biết ông cố tình che đi cái đầu hói. Tôi còn có tóc để chải để nhuộm đỡ hơn ông đấy.

Ông Năng thẳng thừng:

-         Ván bài lật ngửa rồi, tôi với bà bất phân thắng bại nghe.

Bà Phượng tủi thân ôm mặt khóc, ông Năng đe dọa:

-         Bà có thôi khóc đi không, đừng làm tôi điên máu thêm thì khỏi có trà chanh gì nữa, nước lạnh cũng không luôn...

-         Này... này...ông đừng có ....khoe thói vũ phu, chồng tôi khi xưa tuy có bồ bịch lăng nhăng nhưng chưa đối xử vô văn hoá với tôi đâu nhé..

-         Này...này..bà nói ai vô văn hoá, hả?hả? vợ tôi khi xưa tuy ốm đau nằm liệt giường nhưng chưa hành hạ tôi tàn khốc như bà nhé...

Bà Phượng giảm tốc độ nức nở, không dám trách ông Năng, dù sao ông cũng đã chăm sóc bà cả tháng nay và còn tiếp tục sau mấy lần tái khám nữa. Bà vẫn cần ông, đang chiêu dụ ông một ngày nào đó sẽ cảm thông và giúp đỡ bà trả tiền nhà. Bà dịu giọng nói như an ủi ông:

-         Tôi bệnh rồi sẽ khỏi mà. Chỉ còn một tuần nữa là đủ hai tháng để tháo băng.

Ông Năng vẫn hậm hực:

-         Người gìa té ngã gãy xương chưa chết là may.Với lại ai dám bảo đảm là bà sẽ không xớn xác té ngã cầu thang hay trong phòng tắm lần nữa chứ? Tôi lại phải hầu...

-         Trời ơi, ông trù ẻo tôi đấy hả? Ông biết chiều chuộng vợ lắm mà, người đàn ông mỗi tuần mang hoa đến mộ phần vợ từng làm tôi cảm động đâu rồi?

Ông Năng cười khan:

-         Ai rảnh mà mỗi tuần đi thăm mộ vợ và tốn tiền mua hoa chứ, tiền mua bó hoa tôi  ăn tô phở cho sướng thân. Thoát được cảnh hầu hạ bà vợ nằm liệt giường, ai ngờ nay lại phải hầu hạ bà.. .

Bà Phượng được dịp vỡ òa những ấm ức bấy lâu:

-           Bây giờ tôi mới hiểu vì sao ông vẫn đi cái xe cà tàng cũ rích, chắc chắn không phải vì nhớ thương hình bóng người vợ cũ, mà vì ông hà tiện, tiền bạc để dành cho nó mục nát ra à, để về bên kia thế giới tiêu xài với ma à ?

Bà hăng máu gào thêm:

-         Về ở với tôi cái gì ông cũng xài chung xài ké. Hôm nọ mượn tiền tôi mấy trăm đồng sửa xe còn chưa trả đấy nhé

-   Nợ tôi sẽ trả, hàng tháng tôi đều đưa bà mấy trăm đồng chứ có ăn nhờ ở đậu nhà bà đâu

Bà Phượng cười khinh khỉnh:

-         Vài trăm đồng một tháng của ông chưa đủ tiền một đứa share phòng trong khi căn nhà này mỗi tháng tôi trả mortgage gần ba ngàn đồng bạc.Thế mà đăng lời rao tìm bạn vừa hoa mỹ vừa oai phong lẫm liệt nào ôm hoa đến mộ vợ, nào nhà cửa ổn định, tài chính vững vàng, tinh thần thảnh thơi, bao dung vị tha....

Ông Năng giải thích:

-         Tôi đăng ôm hoa đến mộ vợ cho thơ mộng với cuộc đời, ý tôi  muốn nói vẫn thương người vợ cũ, những điều còn lại tôi dí dỏm cho vui chứ không có ý lừa dối ai cả. Tôi nghèo mạt rệp, nhà cửa ổn định là ở diện housing đấy, tài chính vững vàng là tiền gìa lãnh hàng tháng cho đến chết đấy, có bảo hiểm sức khỏe chẳng tốn đồng nào là tinh thần thảnh thơi vô lo đấy. Ở tuổi già không phải lệ thuộc nhờ vả con cái, với tôi thế là qúa sung sướng. Tôi chỉ nói lên sự thật tại bà qúa giàu tưởng tượng mà thôi..

-         Thế sao ông không nói huỵch toẹc ra cho tôi biết sớm.

-         Tôi tưởng sẽ gặp người tình tri kỷ, ở với nhau sẽ hiểu nhau, nhưng bà chỉ dòm ngó tìm hiểu "gia tài" của tôi làm tôi càng ngại ngùng khó nói. Thôi thì tôi với bà chắp nối không có gì ràng buộc, bây giờ không hợp nhau thì chia tay.

Bà Phượng lại gào lên:

-         À, thì ra thế, đằng nào cũng rút lui nên ông không cần che đậy sự giả dối thêm nữa. Ông thách thức tôi đấy hả? Mời ông ra khỏi nhà tôi. Mời ông ra khỏi cuộc đời tôi.

-         Bà khỏi phải đuổi tôi cũng chạy bà luôn, tôi tưởng bà là một phụ nữ đã nếm mùi khổ đau sẽ cùng tôi tìm niềm vui cuối đời, nhưng tôi đã lầm và tiếc lắm. Bà biết tôi tiếc gì không?...

-         Cuối cùng ông cũng phải tiếc tôi thôi.....

-         Tôi tiếc..... đã từ bỏ diện housing ổn định để dọn về đây ở với bà, trở về thành phố cũ tôi phải làm giấy tờ xin lại từ đầu mất nhiều công sức lắm. Bà rõ chưa...

                  ****************

Ông Năng trở về thành phố cũ của ông. Vài tháng sau bà Phượng đọc thấy lời rao tìm bạn bốn phương của ông lại xuất hiện trên báo, lần này ông kinh nghiệm đăng rất thực tế rõ ràng : "Người đàn ông nghèo và cô đơn luôn mơ ước có tiền để mua hoa mỗi tuần đến thăm mộ vợ, 70 tuổi, nhà ở housing, tiền gìa, medicaid đầy đủ. Muốn tìm một phụ nữ để tri kỷ, để yêu thương nhau suốt quãng đời còn lại" .

Thôi thì bà cũng cầu mong ông Năng tìm được một người tình tri kỷ, nếu không thì cũng vớ được một bà gìa handicap hay bà nhà quê chán con chán cháu đang ăn welfare muốn tìm chồng ra ở riêng, may ra sẽ ở với nhau lâu dài.

Còn bà, bà sẽ cho share phòng để có thêm lợi tức trả tiền nhà và yên phận sống một mình. Tìm được một tình yêu đã khó bà không mong gì tìm một lúc được cả tình lẫn tiền ở cái tuổi gìa này nữa.

  

  Nguyễn Thị Thanh Dương.

( November, 16, 2017)

 

__________________________________

  

 

 

 

 

 

 

 

 

BÃO VỀ TEXAS.

( Bão Harvey đổ vào thành phố Corpus Christi và Houston TX).

 

Harvey đến Texas,

Với sức gió kinh hoàng,

Thành phố nhỏ Rockport,

Sau một đêm điêu tàn.

 

Biển Corpus Christi,

Giờ đã lặng sóng chưa,

Những con đường ẩm ướt,

Cây gãy đổ bơ vơ.

 

Harvey vào đất liền,

Thành cơn bão nhiệt đới,

Mưa xuống vùng Houston,

Phố chìm trong lụt lội.

 

Mưa như không ngừng nghỉ,

Cơn mưa không mong chờ,

Tội nghiệp những thành phố,

Đắm chìm trong gió mưa.

 

Bảng tên đường che khuất,

Biết đi đâu về đâu?

Bốn bề mênh mông nước,

Đời như một bể sầu.

 

Con người thành bé nhỏ,

Trước cuồng nộ thiên nhiên,

Hàng cây buồn tơi tả,

Cột điện buồn ngả nghiêng.

 

Thuyền trôi trên phố nước,

Trực thăng trên mái nhà,

Giúp người dân di tản,

Trời vẫn còn gió mưa.

 

Tạm biệt mái nhà yêu,

Đến một nơi nào đó,

Chờ gió lặng, mưa thôi,

Ta lại về chốn cũ.

 

Harvey đến Texas,

Mai bão đến nơi nào,

Lời chúc lành cho nhau,

Được bình yên may mắn.

 

Nguyễn Thị Thanh Dương

 ( August, 29, 2017) 

 

 

________________________________________________________

 

 

TÌNH KHÔNG ĐẸP NHƯ THƠ!!

 

 

 

   Chị đến Mỹ muộn màng và yêu cũng muộn màng. Các anh chị của chị đến Mỹ từ lâu, họ làm bảo lãnh Cha Mẹ, rồi đến chị, diện anh chị em không được ưu tiên cao. Nên lá đơn bảo lãnh nộp sở di trú khi chị 25 tuổi, đến 37 tuổi, chị mới được đặt chân đến Mỹ.

    Mười hai năm chờ đợi ấy, chị đã phải hi sinh rất nhiều, không dám yêu ai và chẳng dám đáp lại tình ai. Bố mẹ chị đã răn đe: " Bất cứ giá nào cũng phải đợi đi Mỹ để đoàn tụ với gia đình, con nhé. Không được yêu thương thằng nào hết!" 

   Chị vừa vâng lời Cha Mẹ, vừa mộng mơ, tưởng tượng. Thôi thì ráng hy sinh những tình cảm bên này, qua bên ấy, tha hồ lựa chọn một tấm chồng. Cỡ bác sĩ, kỹ sử trở lên, thà muộn mà ngon lành, còn hơn sớm, phải ở lại Việt-Nam, tình yêu nào cũng sẽ lụi tàn, mà chuyện áo cơm thì vất vả cả đời. Và chị hớn hở chờ đợi.

 

    Qua Mỹ, đến nay đã 3 năm, chị đã sốt cả ruột mà chưa tìm đâu ra một ông bác sĩ, hay kỹ sư. Vậy mà ở Việt-Nam, người ta cứ đồn rằng qua Mỹ lấy chồng dễ ợt, bạn bè, hàng xóm khoe con em họ lấy chồng có đủ loại bằng cấp nọ kia. Dù những cô gái may phước đó chẳng đẹp hơn chị là bao! Thì chị cũng có quyền hy vọng như thế lắm chứ.
   Bây giờ chị mới hiểu rằng, người Việt-Nam ở Mỹ, học hành, thành đạt thật đấy, nhưng con gái Việt-Nam ở đây không còn khan hiếm nữa, những thế hệ sau này đã lớn lên, đủ cung cấp nhu cầu tại chỗ, chưa kể thị trường trong nước Việt-Nam thì vô tận, các cô gái trẻ đẹp luôn khao khát. Chờ mong được Việt Kiều về cưới và mang họ qua Mỹ.

 

    Thế nên chị lạc lỏng giữa dòng đời, giữa xứ Mỹ và giữa cái tuổi không còn trẻ và chưa đủ già của chị...

   Nước Mỹ, sau vụ 9-11 kinh tế khó khăn, công ăn việc làm bị hạn chế, chị không có tay nghề, kinh nghiệm, vốn liếng tiếng Anh dăm ba chữ. Nên chị xin việc hãng nào là cầm chắc bị hãng đó từ chối!!! Cuối cùng, chị cũng được một chỗ làm để kiếm ra tiền, khỏi sống nhờ vào các anh chị, là làm may cho một shop của người Việt-Nam, họ chỉ cần chị biết may, thế là đủ.

 

    Cả ngày chị cặm cụi vào cái máy may, vào những miếng vải cắt sẵn, và dăm ba câu chuyện vặt với người bạn may bên cạnh, dần dần cũng thành tẻ nhạt. Người ta có chồng có con, nên cứ nói đến đề tài này là chị né.Vì sợ động vào nỗi đau âm thầm của chị. Chị chỉ còn một niềm vui duy nhất đó là cuối tuần đi chợ, nhìn đủ các gương mặt lạ, những hàng hoá, thực phẩm để nghĩ đến những món ăn ngon sẽ nấu, và nhất là xin được mấy tờ báo về nhà nằm khểnh đọc chơi. 

   Ở thành phố này có bao nhiêu tờ báo phát hành, chị đều xăng xái xin đủ cho bằng được, thiếu một tờ là chị áy náy. Báo free mà, không mất tiền thì cứ hưởng tối đa, không đọc được mục này thì cũng đọc mục nọ. Mà nếu không đọc gì hết cũng chẳng sao, tờ báo sẽ đem ra lót bàn, đựng rác. Khi gọt trái cây, dùng để đựng vỏ, đựng hột, và túm lại dễ dàng trước khi nhét vào thùng rác. Tiện lợi mọi bề!

 

    Thường thì chị hay đọc mục "Tìm bạn bốn phương", thấy người ta đăng báo tìm bạn, chị cũng ham quá. Nhưng vẫn thấy ngần ngại, sợ Cha Mẹ, anh chị biết rõ tâm địa chị đang muốn lấy chồng. Nên chị chưa bao giờ có ý định đăng lên những lời khao khát của chính mình!

 

    Một hôm, chị ngồi buồn chẳng biết làm gì bèn gọt một trái xoài ăn chơi. Trải tờ báo ra bàn, chị vừa gọt vỏ xoài vừa lơ đãng đọc một bài thơ nằm chình ình trên trang báo trước mặt chị. Bài thơ than thân, trách phận và oán đời, nghe mà não nề của tác giả Phong-Trần!!!

   Bài thơ đã làm chị xúc động, cái bút hiệu Phong-Trần càng làm chị xúc động hơn, chị tưởng tượng nhà thơ Phong-Trần dày dạn gió sương, cũng đang là một kẻ cô đơn, mòn mỏi như chị. Chị muốn cắt bài thơ ra để dành, nhưng những vỏ xoài đã dính lên bài thơ làm ướt nhẹp. Nghĩ mà tội nghiệp cho nhà thơ, có biết đâu tác phẩm tim óc của mình bị ngược đãi ơ hờ như thế. Nếu chị không vừa gọt trái xoài vừa liếc mắt đọc bài thơ cho đỡ sốt ruột, thì có lẽ chẳng bao giờ chị biết đến nhà thơ Phong-Trần cả!

 

    Từ hôm ấy trở đi mỗi tuần chị đều chăm chú giở từng trang, tờ báo mà chị đã gặp. Nhà thơ Phong-Trần trong lúc gọt xoài, để tìm thơ anh. Chị đọc từng chữ, từng dòng và ghiền thơ anh hồi nào không hay. Chị liền bạo gan, gọi phone tới toà soạn báo để hỏi thăm và xin số điện thoại của nhà thơ Phong-Trần với tấm lòng ái mộ. Chị không ngờ, cú phone đầu tiên chị gọi nhà thơ Phong-Trần được hân hoan đón nhận đến thế, nghe chị nói rất thích thơ anh, nhà thơ Phong-Trần đã kiên nhẫn chép tay cả chục bài thơ và gởi bằng bưu điện cho chị.

    Từ đấy, ngành bưu điện đang hồi ế ẩm, bỗng nhiên vớ được hai khách hàng chăm chỉ viết thư cho nhau, nhờ bưu điện chuyển giùm. Và cũng từ đấy, mỗi lần thơ anh đăng lên báo, đều ghi tặng tên chị phía dưới, những bài thơ anh dịu dàng hơn, tình tứ hơn, làm chị cảm động.

 


   Chị mang đến shop may một trái tim vui đang yêu, chị dò dẫm để khoe khéo với bà thợ may bên cạnh mà chị từng trò chuyện mỗi ngày:

     - Nhà chị có hay đọc báo chí Việt-Nam không?

     - Có chứ, cả nhà cùng đọc, ở xứ Mỹ buồn thấy bà! Cuối tuần có báo chùa đọc cũng vui.

 

 

 

      - Thế chị có đọc tờ báo không?

   Bà kia cướp lời, nhanh nhẩu:

     - Ðã nói là báo nào cũng đọc hết trơn, báo cuốn, báo tờ có đủ cả. Một mặt ông xã đi lấy, một mặt tôi đi chợ xin thêm, nên không sót tờ nào. Có khi còn lấy dư, ê hề chật cả nhà.

    Chị vừa trách vừa thấp thỏm vui mừng:

     - Lần sau lấy báo vừa đủ coi thôi, lấy dư người khác không có đọc, tội người ta. Thế chị có đọc thơ của nhà thơ Phong-Trần không?

   Bà bạn may khựng lại:

     - Ủa!...thằng đó là thằng nào?

     - Sao chị bảo báo nào cũng đọc hết? Phong-Trần là một nhà thơ.

    Bà kia lại nhanh nhẩu:

     - Ôi, ai hơi đâu để ý tới mục thơ thẩn, tôi chỉ khoái coi mục tử vi hàng tuần thôi hà! Thơ của thằng Phong-Trần hay của bất cứ ai cũng không nhằm nhò gì với tôi hết.

    Chị bực mình, nghĩ thầm: Con mẹ này trước ở Việt-Nam chuyên mua bán ve chai lông vịt, trình độ đâu mà đọc văn thơ?

 

Chị lại gói niềm riêng, đợi khi nào gặp được người cao cấp hơn sẽ hỏi. Một hôm, có cặp vợ chồng, bạn của người anh, đến nhà chị chơi, cả hai đều là kỹ sư điện, họ rất thân với gia đình chị, chị liền lân la đến gần người vợ để chuyện trò:


     - Chị ơi, chị có thích đọc thơ của nhà thơ Phong-Trần đăng trên báo Việt-Nam ở đây không?

   Bà kỹ sư điện trả lời nhanh như điện:

     - Chị không có thì giờ đọc mấy bài thơ đăng trên báo chợ đâu em ạ, thơ chẳng ra thơ, vần một nơi, ý một nẻo. Có đọc chỉ thêm bực mình.

    Chị cố gỡ gạc, giải thích:

     - Cũng tuỳ chứ chị. Em thấy thơ của nhà thơ Phong-Trần có hồn lắm?

   Bà kỹ sư vẫn chua ngoa:

     - Ở Mỹ người ta ai cũng lo đi cày để kiếm tiền. Đa số những đứa dở hơi mới rảnh để làm thơ đăng báo hay tự đăng trên net và cũng được gọi là thi sĩ, là nhà thơ.

 

    Rồi bà hùng hồn chỉ trích:

     - Báo chí ở Mỹ ai làm chả được. Trước kia ở Việt-nam, là một anh thợ mổ thịt heo hay đạp xe 3 bánh, sang đây cũng có thể làm chủ báo ngon lành, bài vở lên internet lấy xuống, hay nhờ người dịch vớ vẩn từ báo Mỹ! Lại thêm có những đứa dở hơi như nhà thơ Phong-Trần nào đó, cặm cụi, bỏ thì giờ, sáng tác thơ văn, gởi về đóng góp cho tờ báo.

 

     Chắc bà kỹ sư ngày xưa thất tình một anh nhà báo. Nên mới cay cú thậm tệ giới này? Làm một tờ báo ít nhiều cũng phải có kiến thức, hay năng khiếu về báo chí văn thơ, và nhất là lòng yêu nghề thì tờ báo mới sống còn. Chị chẳng hơi đâu tranh luận vấn đề này làm gì.

 

    Chị buồn quá, thế là từ thành phần lao động đến trí thức, không ai biết đến nhà thơ Phong-Trần của chị cả! Nói gì đến tên chị đứng khiêm nhường bé nhỏ dưới mỗi bài thơ của anh? Thì thôi, mình chị đọc thơ anh, mình chị hãnh diện vậy.

 

    Mối tình thơ của hai người kéo dài được hơn hai chục số báo và mấy chục lá thư qua đường bưu điện, thì họ bắt đầu hẹn để nhìn mặt nhau cho thoả lòng thương trộm nhớ thầm!!! 

   Lần đầu tiên gặp chị đã e ấp nhìn anh :

     - Anh ơi, tại sao anh lấy bút hiệu Phong-Trần, nghe lãng mạn và bụi đời thế?

 

   Anh trả lời thản nhiên:

     - Có gì đâu, tên anh là Trần-Văn-Phong. Ðọc theo kiểu Mỹ là Phong-Trần.

    Thì ra thế! tên anh Trần-Văn-Phong viết ngược theo kiểu Mỹ thành Phong-Trần. Vô tình trở nên lãng mạn, rất thích hợp cho một người làm thơ như anh. Chứ anh có phải cất công suy nghĩ cho cái bút hiệu của mình đâu!?

 


   Chị không đẹp lắm, độc thân và trinh nguyên, nhưng hơi cứng tuổi. Còn anh, hơn chị đúng 10 tuổi, đã một đời vợ, li dị, hai con theo Mẹ. Cho nên mấy năm nay anh trở thành người đàn ông độc thân, đi về một bóng, anh mong có một người đàn bà cho căn nhà ấm lên, cho lòng anh đỡ trống trải.

 

    Thế là họ không có gì để chê nhau cả, mối tình thơ đã đi đến đoạn kết mong muốn: Họ cưới nhau.

 

     Chị lấy anh vì sau 3 năm sống ở Mỹ, chị đã thực tế biết rằng khó có thể kiếm một tấm chồng bằng cấp Bác sĩ, kỹ sư, khi trình độ học vấn thấp, tuổi đã xế chiều và nhan sắc chẳng có gì đáng nhớ. Như món hàng ế ẩm, muốn bán được, cần phải hạ giá đến đại hạ giá! Chị đã ON SALE cuộc đời chị, lấy một người chồng chẳng những đã không bằng cấp cao, mà còn có một quá khứ lòng thòng vợ con. Dù anh hết tình hết nghĩa với người vợ, nhưng hai đứa con, chắc vẫn đậu lại trong lòng anh nỗi thương nhớ xót xa!? Trái tim anh có yêu chị cách mấy, đôi khi cũng tạm ngừng nghỉ để quay về với hai con. Chị cũng đành thôi, ở đời có gì tuyệt đối đâu?

 

    Khi đọc một bài thơ, không nhìn thấy tác giả, bài thơ hay sẽ làm rung cảm lòng người, nhưng khi nhìn thấy tác giả thì những rung cảm ấy sẽ giảm đi một ít, và nếu sống cùng một nhà với tác giả, thì bài thơ bỗng trần trụi như đời thường của người đã sáng tác ra nó.

 

    Những ngày, những tháng trôi qua, chị không còn thấy thơ anh hay nữa. Dù mỗi khi đăng báo, anh vẫn đề tặng tên chị, và chị đã ngạc nhiên không hiểu sao chị lại thay đổi nhanh chóng thế?

   Nhà thơ Phong-Trần mà chị ngưỡng mộ và yêu mến ngày nào, bây giờ là một thằng đàn ông suốt ngày cởi trần trùng trục vào mùa Hè, anh mặc duy nhất cái quần đùi, đôi vai anh gầy, nhô lên, tưởng gío cũng có thể lung lay. Vậy mà trước kia anh đã làm bài thơ với câu: Ðôi vai anh sẽ là nơi em tựa. Thơ chỉ là bịa đặt và hoang tưởng.

 


   Anh thường ngồi ở ghế, hai chân thô lỗ gác lên bàn, vừa nhâm nhi ly trà nóng vừa sáng tác thơ. Trong khi ngoài bếp, chị đang nấu nướng, dao thớt khua lên, chảo mỡ kêu ì xèo! Và trong phòng thì thằng cu Tí bé bỏng của hai người đang nằm o-oe chơi một mình. Nhưng khi nó khóc ré lên, chính anh là người phải vội vàng hạ chân xuống bàn, cắt đứt dòng tư tưởng đang tuôn ra để chạy lại tủ lạnh, lấy bình sữa hâm cho bớt lạnh, và nhét vô miệng thằng con, hoặc tệ hại hơn, anh phải thay diaper cho nó, mất nhiều thời gian hơn, xong việc thì ý thơ cũng bay xa. Tác phẩm bằng xương bằng thịt đã hại tác phẩm tinh thần của anh.

     Có lần, anh ngồi lì để viết cho xong một ý thơ, không chạy ra đáp ứng ngay tiếng khóc của thằng Cu Tí, thì vợ anh đã lớn tiếng:

     - Không ra mà lo cho nó đi! Thơ với thẩn, để thằng nhỏ chết đói bây giờ!

   Anh tức giận nhìn nàng thơ của anh, người đã từng dịu dàng, âu yếm đi vào những bài thơ của anh. Bây giờ hiện nguyên hình là một con mẹ khô cằn sỏi đá, đầu óc lúc nào cũng toan tính đến chuyện thực tế, đói no, bạc tiền!!! Trước chị ngưỡng mộ anh, coi thơ anh là hương hoa trong cuộc sống. Bây giờ những hương hoa ấy đã bay đi, đã trở thành những món phụ tùng không cần thiết. 

 


   Một buổi sáng thức dậy, trời chuyển gió lạnh, lòng anh bỗng vu vơ cảm xúc yêu thương khi nhìn ra ngoài trời những chùm lá cây đẩy đưa trong gió. Anh thèm được rủ chị cùng anh đi sóng đôi trong cái không gian lạnh lẽo ấy để tìm hơi ấm của lòng nhau. Anh phấn khởi hỏi chị:

     - Em ơi, ngoài kia đang gió lạnh. Em có biết anh đang mơ ước gì không?

   Chị chu mỏ đáp sỗ sàng:

     - Mơ ước có một tô phở nóng hổi với đầy đủ tương ớt, ngò gai, húng quế ngay trước mặt để ăn cho ấm người chứ gì!? Hôm nay tôi không có rảnh mà hầm xương nấu phở cho anh đâu!!!

   Trời ơi! Khi không mà anh thấy lạnh cả lòng, lạnh hơn cả những chùm lá trên cây đang run lên vì gió lạnh ngoài kia!

   Nhưng cũng chưa lạnh, chưa đau bằng những bài thơ anh đang viết dở dang, những ý thơ chợt đến anh đã ghi vội trên tờ giấy để trên bàn đã bị chị dọn dẹp vứt vô thùng rác thẳng tay, không một thắc mắc. Anh tiếc đứt ruột, trách chị, thì chị nghênh mặt lên, đe doạ:

     - Quý hoá gì? Thơ với thẩn viết lung tung rác cả nhà. Lần sau, anh còn để bừa bộn tôi giục thùng rác nữa đó.

 

    Anh đành ngậm ngùi, ra moi thùng rác tìm lại mảnh giấy thơ lẫn lộn với những tã dơ của Cu Tí và những thứ rác rưới khác. Chị đâu biết rằng một cảm xúc nào đó đã qua rồi đâu dễ gì tìm lại được, nếu không ghi vội trên những mảnh giấy kia.
   Thỉnh thoảng anh gọi phone thăm hai đứa con của đời vợ trước, một đứa đã lớn, một đứa còn đang học high school. Thương con, anh muốn gởi cho nó một hai trăm làm quà. Nàng thơ của anh đã trề môi mai mỉa:

     - Lương công nhân có là bao, mà hứa hẹn cho nó tiền? Hãy làm bài thơ tặng nó cho có tình cảm. Thế mới là vô giá!!!

   Anh đau xót và tủi quá, chẳng lẽ lại cãi nhau, lại ly dị? Cuộc đời đâu có đủ dài cho con người, để họ thử thách lấy nhau, bỏ nhau, như trò chơi trẻ con? Thích đó, rồi lại chán chê, muốn bỏ?!?

   Anh vẫn đi làm công nhân và vợ anh đi làm ở shop may, thằng Cu Tí đem gởi bà ngoại chiều tối mới mang về. Vợ anh đang chạy đua với thời gian, chị sang Mỹ muộn, lấy chồng muộn và có con muộn. Nên muốn làm gấp rút, kiếm nhiều tiền để mua nhà như người ta, ở nhà thuê, trả tiền tháng nào là mất luôn tháng đó.

 

    Ước mơ bình thường thế, mà trời cũng không để yên! Anh bị lay off, anh không có tội gì cả, hãng không có việc nên phải giảm bớt nhân viên! Vậy mà chị đổ tội cho anh:

     - Sao bao nhiêu người hãng không lay off mà lại là anh? Chắc tại anh mải nghĩ thơ nghĩ thẩn làm không được việc, nên họ đuổi cho bõ ghét chứ gì?

 

   Anh làm ngơ, chấp chi con đàn bà nông cạn. Anh lo đi làm giấy tờ xin hưởng tiền thất nghiệp, rồi thủng thỉnh xin việc làm sau. Nhân lúc rảnh rỗi bất đắc dĩ này anh nghỉ ngơi và làm thơ. Cuộc đời là thế, ngay cả khi hoạn nạn, cay đắng cũng có thể thành thơ! 

    Nhưng con vợ không để anh yên, chị đi ra, đi vào, lườm nguýt. Thấy anh vẫn cầm bút, vùi đầu vào trang giấy, chị chịu không nổi, ghé mắt vào sinh sự:

     - Anh đang làm gì đó?

 

   Anh cười, dù thật lòng chẳng muốn cười:

     - Làm thơ!

   Chị kêu lên, như chưa từng thấy anh làm thơ bao giờ:

     - Trời ơi, không lo viết đơn xin việc, mà còn ngồi làm thơ? Thơ có ăn được không? Có đổi ra tiền để đi chợ hay trả bill được không?

 

   Anh kiên nhẫn:

     - Tất nhiên là không. Nhưng nó cho anh một niềm vui.

 

Nàng thơ ngày nào của anh lồng lộn lên:

     - Anh sống không có lập trường như thế à? Phải đối diện với thực tế, phải đi tìm việc làm chứ!?

   Rồi chị nghẹn ngào như một người vợ đau khổ khi bị chồng phụ rẫy:

     - Bây giờ tôi mới hiểu lời của chị kỹ sư, bạn của anh tôi, chị ấy nói:Mấy đứa làm thơ toàn là mấy đứa dở hơi, sống trên mây.

 

      - Em cứ làm như nếu anh không đi làm, thì vợ con chết đói ngay ấy. Ở Mỹ, chuyện lay off thất nghiệp đến với tất cả mọi người, bất cứ lúc nào. Việc gì em phải đau khổ thế? Rồi anh cũng sẽ xin được việc làm khác thôi, nhưng trong lúc rảnh rỗi, anh vẫn có quyền mơ mộng, làm thơ. Thơ đến với anh những lúc hạnh phúc và cả khi thất vọng, khổ đau.

 

    Nhìn vẻ mặt nghiêm trang của anh, nhìn đôi mắt anh ngời sáng long lanh đang nhìn thẳng vào mắt chị với sự phản kháng âm thầm mà mãnh liệt. Chị bỗng thấy khớp không dám làm ầm ĩ thêm nữa! Chị chợt nhớ đã mấy lần Mẹ chị khuyên chị rằng: Mày có thằng chồng hiền lành, thương vợ thương con là tốt phước rồi. Đừng hiếp đáp nó, con chó bị dồn đến nước cùng cũng quay đầu lại cắn chủ. Nó mà tức giận quá, mất khôn, nó ly dị, thì mày chỉ có nước ôm con nuôi tới già. Còn nó, nếu ham vui như người ta, về Việt-Nam lấy vợ trẻ, vợ đẹp vẫn còn được.

 

    Cho nên chị không dám quát tháo thêm nữa, chị đành bỏ đi làm việc khác sau khi đã quẳng lại cho nhà thơ một cái nguýt mắt đầy đanh đá.

 

   Một mình anh ngồi lại, giận vợ nhưng cũng thương vợ, đàn bà thường thực tế và nông cạn như thế. Anh hiểu, cái tình yêu thơ mộng mới ngày nào đã thay thế bằng những lo âu, toan tính trong cuộc sống. Chị quá lo cho gia đình, cho tương lai của con. Chị sợ tuổi đời của cả hai người không đủ dài, để làm nên cơ nghiệp như chị mong muốn.

 

    Trên tờ báo hàng tuần vẫn tiếp tục đăng thơ anh, thơ anh vẫn tình tứ, vẫn ướt át. Nhưng nếu người ta để ý, thì dưới mỗi bài thơ, anh không còn ghi lời tặng cho chị nữa.

    Mục tiêu của đời chị là có tiền để mua nhà, để dành lo cho tương lai thằng Cu Tí, làm đến cả đời chưa chắc xong. Nên chị cần quái gì điều đó, cái tên chị có dính trên báo cũng chả làm túi tiền chị tăng thêm một xu nào!    Những bài thơ của anh đã trở thành vô nghĩa. Và mối tình thơ của chị đã chết tự lúc nào.

 

      Nguyễn Thị Thanh Dương

 


 

 

 

 

 

 

MÙI HƯƠNG YÊU.

 

Bất chợt một mùi hương từ ai đó,

Bỗng làm ta nhớ lại một thân quen,

Bao chuyện đời phai nhạt với thời gian,

Nhưng bất tử một mùi hương kỷ niệm.

 

Mùi kỷ niệm đã đi vào tiềm thức,

Gợi cho ta những cay đắng, ngọt ngào,

Của một thời ta đã sống và yêu,

Của một thời ta đã xa và nhớ.

 

Đến từ đất trời hương thơm hoa cỏ,

Mùi hoa chanh hoa bưởi ở quê nhà,

Mùi cỏ dại thơm sau một cơn mưa,

Mùi đất mới vừa cấy cầy gieo hạt.

 

Mùi hương quê cũng là tình bát ngát,

Bụi hoa ngâu nở rực rỡ đêm hè,

Hương vị hoa ngâu trong một tách trà,

Em uống mãi tách trà không vơi cạn.

 

Mái tóc đẹp mượt mà mùi bồ kết,

Mùi hương nhu thoang thoảng để anh thương,

Tóc không cần tẩm mùi vị đinh hương,

Hoa thiên lý thơm hương đồng cỏ nội.

 

Mùi thơm quyến rũ trầm tư nhang khói,

Từ thời Ai Cập cổ đại lâu đời,

Nhang trầm thơm tho từng ngón tay người,

Em thắp lên một đêm tình trăng mật.

 

Những mùi thơm đến từ trong đời thật,

Gỗ đàn hương, hoa huệ trắng, hoa nhài,

Nắng hạ về hoa hồng nở đắm say,

Bỗng hóa thành mùi tình yêu huyền thoại.

 

Ôi những mùi hương làm đời mê mải,

Hoa oải hương tím theo áo em về,

Nghệ tây vàng, đóa hoa sứ nên thơ,

Linh lan trắng, qủa tim tình trong trắng.

 

Ôi những mùi hương cho đời thêm đẹp,

Có mùi hương nào là của cố nhân ?

Đôi lúc ngẩn ngơ đi giữa phố đông,

Em bỗng tiếc một bóng hình xa vắng..

 

Nguyễn Thị Thanh Dương.

( Feb.08- 2017)