top of page
hmpg.jpg
Titlej (1).jpg

Thơ văn

CAO VỊ KHANH

Montreal, Canada

CHS PTG-CGS Nguyễn Trung Trực, Rạch Giá

___________________

cvk_chuyenchieccau.jpg

Đã lâu lắm tôi không về lại Việt Nam. Nói vậy không có nghĩa là tôi không nhớ quê hay nhớ ít hơn những người đi đi về về từ mấy năm nay. Không, tôi nhớ quê tôi lắm chớ. Tôi nhớ đâu ngay từ khi mới vừa đặt chân xuống ghe trong đêm vượt biên. Nỗi nhớ như những lọn máu nhỏ từ đời kiếp nào vẫn chảy rì rầm trong trái tim héo mỏi. Tôi có quên đâu. Thấp thoáng giữa đám lau lách của trí nhớ bội bạc, quê hương vẫn còn đó, lẻ loi như một bông cúc vàng nở muộn, đẹp đến xót xa. Tôi nhớ quê như một người tình bị phụ rẫy nhớ lời đay nghiến. Dù là một lời đay nghiến. Vậy mà tôi không về. Hay chưa về lại đó một lần. Nghe thì rắc rối như bày đặt. Nhưng mà cuộc đời cũng có suôn sẻ gì đâu.

Những năm mười tám, đôi mươi từ tỉnh nhỏ lên Sài Gòn trọ học, cách quê đâu chừng trên trăm cây số là tôi đã bắt đầu thấy nhớ. Lạ vậy đó. Vẫn có những chiều đang lang thang giữa phố, lòng bỗng nhiên chùng xuống khi chợt thấy chân mình lỡ đạp trùng lên mấy lọn nắng cũ vàng hoe. Hay những sớm thức dậy bỗng thấy buồn ngang vì một tiếng xe thổ mộ lăn lóc cóc đều đều như gõ nhịp vào thiên cổ. Có một cái gì trùng lẫn ở đâu đây. Như đã gặp rồi đâu đó, quen quen. Như đã nghe rồi đâu đó, mài mại. Ly hương, người đi xa tưởng là bỏ hình lại ở chốn cũ mà quên rằng bóng cứ lúc thúc theo sau. Nó cặp kè, léo lách, lẩn lút loanh quanh. Cứ như vậy mà dằng co níu kéo. Hết nhớ rồi quên. Hết quên rồi lại nhớ. Riết rồi tôi cứ thả mặc cho dòng đời xốc nổi, bởi gốc vốn từ đất ruộng bốc bụi bay đi thì làm sao chẳng có lúc tấp lại bên đường mà không nhớ xó đất quê!

Vậy đó, suốt mấy năm lang bạt ở Sài Gòn, dẫu người ở phố thị mà lòng vẫn đặc sệt nhà quê. Hở ra là nhớ. Nhớ từ cọng cỏ ướt sương nhớ đi. Nhớ từ bụi lúa trổ đòng đòng nhớ lại. Người tình đầu đời sao tôi quên cái một. Mà khoảnh đất quê nhà sao tôi nhớ hoài. Có lúc tôi thấy thèm về ngồi lại trên bực đá lở bên bờ sông Cái, một buổi trưa hè, lượm đá thảy lia thia trên mặt sóng mà đầu thì thả lông bông như một người vô tích sự. Có lúc tôi muốn được quay lại bãi cỏ xanh cạnh ngôi đền văn miếu cũ, chắp hai tay sau gáy nằm dài ra đó ngó lơ mơ ngủ dật dờ mặc cho cuộc đời xoay trở chung quanh. Cả cái tỉnh nhỏ mà gần như ai nấy đều biết mặt nhau, ở thì rầu muốn chết mà đi xa thì nhớ đến đứt ruột. Nhớ đủ thứ. Kể cả những thứ không đáng nhớ. Nói gì đến thứ không thể nào quên. 

Như cái bến phà Mỹ Thuận vậy đó, tôi đã đi qua lần đầu đâu thuở chín mười tuổi rồi cứ nhớ hoài mặc dầu sau này, lớn lên đã qua không biết bao nhiêu là bến đợi khác. Có một cái gì lạ lắm như nối kết tôi, thằng con trai sinh ra và lớn lên ở bên này sông cứ nhìn ngó bên kia sông như chót đỉnh của một giấc mơ phiêu lãng. Có phải con sông lớn mênh mông đó như một ranh giới vô tình đã chằng giữ những cơn mơ tuổi nhỏ. Hay chính những lượn sóng cuồn cuộn đó đã một thời đẩy đưa hồn tôi phiêu lưu đến những chân trời xa tít. Bằng lý do nào, thì đó vẫn là nơi ưa thích nhất và cũng là nơi tôi nhớ nhiều nhất. Nhất là từ lúc biết mình khó có dịp qua lại nữa.

Những năm mới bỏ xứ ra đi, năm ba hôm là lại chiêm bao thấy về quê cũ. Mà lần nào cũng vậy, cũng thấy mình trễ nãi, về tới bến rồi mà cứ hụt hoài chuyến phà chót qua sông… Thẫn thờ đứng lại đó, nhìn ngó bâng quơ rồi thấy lại y nguyên cái cõi thân quen, y nguyên như khi đời còn thơm thảo. Từng mặt người, lối tắt, đường quanh… 

Nghĩ lại cũng lạ. Lội sông lội suối đã đời rồi mà rốt lại chỉ nhớ có khúc sông trắc trở đó thôi. Dĩ nhiên điều đó chắc không ăn nhằm gì với cái vị trí quan trọng của nó trong việc thông thương ở miền tây. Quốc lộ số 4 từ Sài Gòn xuôi nam đến đó là phải khựng lại. Sông rộng mênh mông, tách nguồn từ Tiền Giang ở phía bắc chảy nghiêng nghiêng theo hướng tây nam đến đó phát đổ ròng ròng đến sạt bờ lở bãi. Thuở ấy, tiền bạc và kỹ thuật chắc còn non yếu quá, người ta chưa đủ sức bắc cầu. Xe đò, xe hàng tới đó là phải đậu lại, sắp hàng dài thậm thượt đợi lượt xuống phà qua sông. Gặp lúc có công-voa nhà binh chiếm ưu tiên là thôi chờ đợi dài người ra. Xe cộ phì phò hục hặc, khách khứa nhốn nháo, mấy chú lơ xe hấp ta hấp tấp xách thùng xuống sông múc nước đổ cho nguội máy, mấy bà mấy cô cũng vội vội vàng vàng chạy tìm mấy chỗ giải thủy cho nhẹ mình, khi thì bờ ruộng lúc lại mấy lùm cây khuất khuất hở hở. Cái hoạt cảnh ồn ào náo nhiệt không có chỗ nào giống được. Lạ lắm. Làm như đó là một nơi người ta rất mong cho mau tới, mà tới rồi lại cứ mong cho mau đi. 

Nói vậy mà lỡ có kẹt lại lâu lâu thì cũng chẳng lấy gì làm phiền hà cho lắm. Xe tắt máy, khách bước xuống bãi đậu, vung vai vặn mình vài cái cho giãn gân cốt rồi là miệng chắt lưỡi, hoặc lầm thầm rủa xả vài tiếng trong khi chân thì xắn xả nhắm hướng mấy cái quán nước hai bên đường. Mấy chốc, đời vui trở lại. Giữa đồng không rồi bỗng thành ra một buổi chợ đông. Hai bên lộ, người ta che bạt, dựng chòi lợp lá, khá hơn chút gá vài ba tấm tôn, khá hơn chút nữa tụ lại thành một dãy tiệm có cửa nẻo hẳn hòi. Mà điều lều trại hay phố xá cũng đều xập xệ như chỉ để che mưa đụt nắng qua ngày. Ờ mà đúng vậy, có ai mà nghĩ được ghé qua đây rồi ở lại luôn đây. Cái chỗ giữa đường giữa xá!

Hàng hóa thì chưng dọn luông tuồng đến luộm thuộm, đồ khô trộn lộn với đồ tươi, bánh mứt xen kẽ với túi xách giỏ đệm, đồ ăn thức uống tràn ra tới lề đường vậy mà len qua lách lại sao thấy ngồ ngộ y như những cái ngoắc tay khều vai bá cổ. Bởi vậy người qua lại rồi thấy vui tai lạ mắt. Rồi ai nấy cũng thành ra dễ tánh. Vậy đó đời vui biết mấy. Cái chỗ không phân biệt giàu nghèo sang hèn, ai đến rồi cũng phải lội bộ ngang qua. Đã không tránh được thì sao không hả lòng ra mà hưởng. Mà hơn nữa, thực phẩm trần gian thì bày ra ê hề mời đón. Người đi xa lỡ độ đường chưa đói vẫn nghe ruột dạ cồn cào. Cơm nước trái cây bốn mùa, mùa nào thức nấy. Cứ nhìn mấy giỏ mận hồng đào chín mọng là bắt khát nước, mấy giỏ ổi xá-lỵ căng da xanh mướt mà phát thèm. Những xâu mía ghim tươm nước ngọt như đọng sương mai, những trái khóm Bến Lức xẻ năm xẻ bảy rịn mật vàng lườm, những chùm nem Nha Mân treo xum xoe ngả ngớn… Điệu đời hơn nữa, những xâu chim trao trảo quay vàng ngậy, chảy mỡ bóng lưỡng chấp chới trong lồng kiếng, quyến rũ còn hơn cao lâu Chợ Lớn. Kế bên, mấy miếng thịt sườn nướng than tại chỗ bốc mùi thơm thấu tới thiên đình. Kề đó, mấy chai bia con cọp sắp hàng dọc ngang như nghinh nghinh thách đố ai mà chịu nổi. Bởi vậy mà  khách giang hồ  qua đó thế nào rồi cũng phải có lần ngả bàn nhậu dọc đường. Mà bởi vậy khách đa tình qua đó cũng không thiếu người vướng lại những cuộc tình tứ chiếng. Bà lớn bà nhỏ em gái em nuôi gì không biết chớ chuyện ghen bóng ghen gió vẫn xảy ra hà rằm làm cho cái bến đỗ vốn đã ồn ào lại được thêm phần…ầm ĩ.

 

Nhưng mà tại sao là Mỹ Thuận mà không là một cái bến khác. Dọc theo miền tây còn bao nhiêu là bến phà. Vàm Cống, Cần Thơ, Rạch Miễu, Chợ Gạo, Cổ Chiên … sao không nhớ. Mà chỉ nhớ rặt có Mỹ Thuận? Hay tại tôi cũng nòi tình như ông cò quận chín trong tuồng cải lương Tuyệt tình ca có bà vợ nhỏ ở Vĩnh Long đã chèo xuồng đưa chồng qua sông Mỹ Thuận, về Mỹ Tho thăm vợ lớn rồi biệt tăm biệt tích luôn mấy chục năm trời. Không, tôi biết cái bến phà đó từ lúc còn rất nhỏ, chưa tới tuổi có một vợ chớ đừng nói tới vợ hai. Kỷ niệm của tôi với cái bến phà đó không dính líu gì hết tới mấy cái chuyện tình duyên tấm mẳn. Nó chỉ dính líu tới cái tuổi nhỏ mà mộng lớn của tôi thôi.

 

Vốn là quê tôi cách bến phà Mỹ Thuận đâu chừng chín mười cây số gì đó. Con đường nối liền bến nước với tỉnh lỵ chạy qua những thửa ruộng nho nhỏ cắt chia bằng mấy bờ đê lúp xúp, ngang qua vài xóm nhà lá lụp xụp và một hai chiếc cầu xi-măng làm điệu bắt cong cong. Con đường hiền lành thơ mộng một cách quê mùa, cũng chẳng có gì là đặc sắc. Chỉ có điều con đường đó là cái ngõ thoát êm đềm nhất để chạy trốn nhịp sống trì trì nhàm chán của tỉnh nhỏ buồn hiu. Con đường là cái gạch nối ngắn nhất đưa đứa con trai mới lớn từ thực tế vây khốn đến mộng mị phiêu lãng qua trung gian là cái bến phà rộn rịp đầy khách lữ hành xuôi ngược. Lần đầu tiên qua đó một lần năm chín tuổi là bắt mê ngay cái không khí chộn rộn, tất tả, lăng xăng của kẻ đến người đi, của người qua kẻ lại làm như ai nấy đều vội vã lắm. Người ta sốt ruột trông cho mau đến, đến rồi sốt ruột trông cho mau đi, đi hấp ta hấp tấp như chỉ sợ trễ một chuyến qua sông là sẽ trễ luôn cả một cuộc đời. Làm như cuộc sống không chịu ngừng lại một chút, cứ phải là những chuyến lên đường.

 

Ờ, những chuyến lên đường! Hình ảnh những khách bộ hành lật đật xuống xe, tay xách nách mang kéo nhau đi như chạy qua phà là cái biểu lộ tuyệt diệu nhất cho sức hút của dặm trường thiên lý, của kiểu đời gạo chợ nước sông đã làm tôi mê mẩn suốt một thời mới lớn.

 

Hình dung trở lại đứa trẻ sinh ra ở một tỉnh nhỏ lần đầu tiên được cha mẹ dẫn cho đi Sài Gòn. Chuyến xe tài nhứt khởi hành đâu khoảng bốn giờ sáng. Trời gần tết đẫm sương. Lòng xe tối mò. Hơi khói xăng xông lên mũi kích thích. Đứa bé cố nhướng mắt thật to để nhìn cho hết con đường mơ trước mặt. Mà có được đâu. Cái ngủ đậu chực hờ trên mí mắt. Tiếng xe chạy ù ù càng ru thêm đến chín muồi. Nó chịu thua. Nhưng mà mới ngủ gà ngủ gật đâu được một chút đã giựt mình nghe tiếng anh lơ la oang oang. Bà con cô bác xuống xe qua đò. Có ăn gì thì xả rác trong xe bà con ơi…Đứa bé giựt mình mở choàng mắt dậy. Ôi thôi đâu mà đèn đuốc sáng trưng. Người qua lại rộn rịp, kêu réo thúc hối kèn cựa tự nhiên như giữa chỗ không người. Đứa bé ngơ ngác tưởng trong chiêm bao. Bỡ ngỡ, chớp chớp con mắt mấy cái là tỉnh như sáo sậu. Nó khoái chí dòm cái hoạt cảnh mới thấy lần đầu. À thì ra người ta có ngủ như nó đâu. Người ta đi đi lại lại, chạy tới chạy lui, cười giỡn nạnh hẹ nhau suốt đêm suốt ngày. Cái cõi người lớn này lạ thiệt. Đêm hào hứng như vậy cách chỗ nó ở có bao xa, bằng đâu một chớp mắt thôi. Vậy mà ở nhà mới chạng vạng ba má đã bắt nó phải lên giường ngủ một mạch cho tới sáng trưng. Như vậy ở ngoài căn nhà nó ở, ngoài con đường tráng nhựa nó đi tới trường hàng ngày, ngoài ngôi chợ lớn cạnh bờ sông thỉnh thoảng có mấy gánh sơn đông về múa võ bán cao-đơn-hườn-tán, ngoài cái rạp xi-nê chiếu phim cao bồi bắn lộn với mọi da đỏ… còn có cả một thế giới lạ lùng, vui tươi, rộn rịp, chờn vờn một sức sống mãnh liệt, bừng bừng ngay kề bên cái phố nhỏ buồn hiu của nó. Đúng là cả một khám phá kỳ diệu. Xe chạy chậm lại rồi rà rà tìm chỗ đậu. Mọi người lục tục xuống xe. Thằng bé nắm chặt tay mẹ đi những bước như nhảy. Nó cố làm ra vẻ người lớn như để được hòa hết mình vào cái thế giới sôi sùng sục quanh nó. Nó nở mũi hít thật dài một hơi không khí mát lạnh từ ngoài sông thổi tới, thấy như hít luôn cả cái chộn rộn của đoàn người đang vội vã đi bên cạnh, luôn cả cái mùi kỳ lạ pha trộn đủ thứ thập vật trần gian: hơi người, hơi gà vịt treo buộc tòn teng dưới cặp đòn gánh của mấy bà bạn hàng, hơi trái cây vừa mới hái đổ đống trên sạp, hơi nước lèo của mấy xe hủ tiếu thơm phức, hơi xăng nhớt nồng nồng, cả hơi tinh sương của một ngày đang trỗi dậy. Trong khi đó đoàn xe chạy chậm chậm cẩn thận từng chiếc một xuống phà theo sự chỉ dẫn của ông “xếp bắc”, miệng ngậm tu-huýt mặt câng câng như tự thấy mình quá sức quan trọng. Mỗi chiếc xe bò lên cầu từ tốn, vừa chạy vừa run run chắc vì lòng cầu nhỏ quá chỉ vừa lọt chí mí. Kề bên một anh lơ chạy lúp xúp tay cầm cục gỗ chặn như để sẵn sàng can thiệp khi xe lỡ trớn. Chiếc cầu sắt lót ván kêu rần rần dưới vòng bánh xe nặng trịch. Xe chạy tới đầu “bông-tông” thì ngừng lại, khục khà khục khặc như vừa thấy nguy hiểm chờn vờn trước mặt. Mà nguy hiểm thật. Ở giữa “bông-tông” là một cái cầu quay hình chữ thập, bề ngang đâu cũng chỉ vừa lọt hai bánh xe, cái nhánh thẳng nối với đường cầu đâu chỉ dài hơn chiều dài chiếc xe đò một chút mà lại đâm thẳng ra dòng sông đang chảy cuồn cuộn. Ngó mà thấy rùng mình. Hèn chi ngay đầu cầu lúc nãy thấy có một tấm bảng đỏ ghi mấy hàng chữ trắng: ”Coi chừng thử thắng xe qua phà”. Điệu này không khéo xe chạy tuốt xuống sông như chơi. À thì ra tại vậy người ta bắt bộ hành xuống xe đi bộ, bỏ mặc chiếc xe với ông tài xế thử thời vận. Mà chắc cũng quen rồi vì ông tài xế coi bộ bình tĩnh lắm, miệng ngậm trệch điếu thuốc lá, từ từ rà thắng cho xe rề rề chạy xuống tới mút bửng cầu thì ngừng lại đúng lúc ông kiểm soát khoác hai tay ra dấu ngừng. Tất cả ăn khớp đúng phốc như dứt hết sáu câu mà rơi ngay đúng nhịp song lang. Tức tốc, anh lơ xe chêm ngay hai khúc cây chặn cứng hai bánh xe hết đường nhúc nhích. Rồi đợi đâu sẵn, bốn người phu đứng ngay bốn đầu cầu quay, người kéo người đẩy vận sức xoay bàn cầu quay một phần tư vòng tròn cho đầu mũi xe hướng ngay mũi phà đã hạ bửng đợi sẵn. Chiếc xe rú một hơi dài rồi chồm lên chạy xuống phà. Vậy là xong một chiếc xe. Phà nhỏ chở được có bốn năm xe là đầy một chuyến. Ông tài công ngồi tuốt trên phòng lái ra lệnh dở bửng. Ai đó đánh một tiếng kẻng. Vậy là coi như nội ngoại bất xuất, trên dưới không được lên xuống nữa, hành khách và xe cộ không được chộn rộn chàng ràng nữa. Phà dỡ đõi rồi từ từ lùi ra bến. Trời hưng hửng sáng. Gió bốc theo khói sóng thổi phần phật mấy tấm bạt che hàng trên mui xe. Nước bắn tung toé hai bên thành phà làm ướt nhem mấy dãy băng dành cho hành khách. Mặt trời hà tiện chút ánh sáng vàng cam không soi nổi con sông lớn quẫy sóng đen ngòm. Phà chạy chậm như thong thả lắm hay là tại không có sức nhanh hơn. Máy nổ rì rì đến sốt ruột. Ngồi trên mấy cái băng gỗ có lúc người ta tưởng chừng như đang đứng yên một chỗ nếu không có mấy dề lục bình trôi phăng phăng ngược chiều. Gặp mùa lũ chướng xem chừng phà còn nhàn nhã hơn nữa. Phà qua ngang không nổi, phải thả trôi theo con nước xuống tuốt đuôi cồn rồi mới ì ạch vòng lên phía bờ bên kia. Như vậy mà chắc ăn nếu không phà tròng trành có thể lật ngang như chơi. Vậy mà thằng bé vẫn khoái như thường. Dễ chừng nó còn mong cho lâu tới nữa. Đâu phải lúc nào cũng được đi trên sông một cách nghênh ngang như vậy, ngó mấy chiếc tam bản chèo chống lê thê bị sóng tàu nhồi đờ đẫn mà tội nghiệp. Nó ngửa mặt hứng mấy giọt nước bay trong gió, tóc dựng đứng như bờm ngựa, lòng mơn man một nỗi vui kỳ lạ. Cùng lúc trời lộ hết bình minh. Con sông hiện rõ dần, lớn lao, chói lọi, bất trắc và mê hoặc như một huyền nhiệm. Đứa bé thấy con sông và bến nước lần đầu tiên mà sao có cảm tưởng như sẽ thấy đến hết đời. Tấm lòng nhỏ xíu của nó như đã dành một chỗ rất lớn cho khoảnh sông nước đó. Nó chăm bẵm cái hình ảnh của thiên nhiên cựa mình sống dậy như một khám phá bất ngờ. Và lớn lên một cách đột ngột, từ đó.

Như vậy mà tôi qua phà Mỹ Thuận lần thứ nhất. Tôi trở ngược lại qua phà lần thứ hai ít ngày sau gì đó. Cũng y như lần đầu. Chỉ khác là vào buổi chiều, trời sắp tắt nắng. Bóng đêm chực chờ càng làm con sông, chiếc phà và người ta thêm gấp gáp. Cũng cái vội vã thêm một chút lo lắng. Cũng cái ồn ào nhưng bớt đi một chút náo nhiệt. Nhưng không có vẻ gì là sắp ngừng nghỉ. Sông nước có thôi chảy đâu. Và người ta cũng đâu có hết lên đường. Ở đó là hình ảnh một dòng sống không có khởi đầu và cũng không có kết thúc.

 

Có phải tại vậy mà tôi mê cái bến Mỹ Thuận hay không? Tôi đã giữ trong tôi cái hình ảnh qua lại bất tận trên dòng sông bất tuyệt này rất lâu. Mãi đến khi lên trung học, tôi vẫn thường trốn nhà những ngày nghỉ học đạp cái xe đạp cà tàng chín cây số lên đó, đứng ngó ngu ngơ một đỗi rồi đạp xe trở về. Mệt đừ mà lòng lại thấy vui sướng như vừa làm một chuyến đi xa, hồn mê mải với cuộc mộng du giữa ban ngày ban mặt. Không biết có phải tại tôi chịu ảnh hưởng của đứa bé mê nhà ga và xe lửa trong thơ Tế Hanh hay không mà tôi cứ hay làm như nó. “Tôi đứng bơ vơ xem tiễn biệt. Lòng buồn đau xót nỗi chia xa”. Cái hình ảnh đẹp và buồn đến dại người nên tôi mê cái bến phà Mỹ Thuận đến dại dột. Bạn bè trai gái, thân sơ bất kể, ai tôi cũng mời cũng rủ rê cho được. Ở đó tôi huyên thuyên dẫn giải hoặc trầm ngâm tâm sự làm như chỗ đó là giang sơn riêng của tôi vậy. Có người cũng kiên nhẫn ngồi nghe nhưng đa số thì dẫy nẫy đòi về. Nhưng mặc. Rốt lại chỉ còn tôi với cái bến nước của riêng tôi. Nơi vừa có gió sông lồng lộng, có phà trôi rập rình, có đủ thứ quà cáp trần gian và nhất là có những vóc dáng giang hồ qua qua lại lại. 

Bến nước là nơi tao ngộ của những tay tứ chiếng, là ngã tư gặp gỡ của trăm họ miền Tây. Cà mau, Rạch Giá, Long Xuyên, Châu Đốc, Vĩnh Long, Sa Đéc, Trà Vinh… Họ băng ngang thì thôi chớ còn xổ dọc là gặp nhau ở đó. Không hẹn mà gặp. Gặp không chào không hỏi. Gặp một lần trong một đời. Rồi thôi. Rồi mất biệt như chưa từng đã gặp. Dĩ nhiên chắc họ cũng có trở đi trở lại nhưng rồi có ai gặp lại ai đâu. Tôi đã thấy ở đó bao nhiêu là mặt người, bao nhiêu là nhân dáng mà rồi có gặp lại ai bao giờ. Phải vậy không, ở đó giống y như cái cõi đời này mà một ông Tàu xưa đã cảm thán đến rơi nước mắt: “tiền bất kiến cổ nhân, hậu bất kiến lai giã, niệm thiên địa chi du du, độc thương nhiên nhi lệ hạ”. Đó là một quán trạm bên đường mà mọi người phải ghé qua trong cuộc hành thiên lý dù có muốn hay không. Ghé qua một chút, vui vẻ hay buồn rầu, nhẹ nhàng hay gồng gánh thì cũng phải ghé qua, đi tới đi lui, dòm ngó loanh quanh rồi quay lưng đi mất biệt. Đó chẳng giống cái đường trần thăm thẳm này sao mà khách lữ chính là chúng ta đó. Chúng ta đến rồi đi có ai biết, dòng đời vẫn chảy đến biệt mù cũng chẳng làm sao hay. Thuở ấy tôi đã triết lý vụn như vậy với bạn bè mà không ai chịu nghe. Thì thôi ai có phần nấy.

Vậy mà hay, bởi vì ở đó tôi đã học được bao nhiêu điều của trường đời mà trường học thì không thấy đâu có dạy. Bãi trường năm 67, tôi từ Sài-gòn về quê nghỉ hè, cô bạn con nhà giàu được cha mẹ lo cho đi du học ở Pháp, ngày đi quá bất ngờ cô ta đáp xe đò về tìm tôi từ giã. Không biết lúc ấy lòng buồn đến đâu mà sau khi đưa cô ta qua sông trở lại Sài-gòn, một mình đón phà ngược trở lại, bỗng nhiên tôi khải ngộ được một điều thắc mắc từ thuở mới mê thơ. Đưa người ta không đưa qua sông. Sao có tiếng sóng ở trong lòng. Trời ơi lần ấy tôi mới thấy hết cái tài hoa của người thi sĩ mệnh bạc. Đưa người, ông không đưa qua sông mà nghe sóng vỗ ở trong lòng. Còn tôi đưa người, tôi lại đưa ngang sông thì sóng vỗ biết cơ man nào mà kể. Con tim dù lớn cách mấy cũng chỉ bằng nắm tay thì chỉ có nước chết đuối thôi. Lần đó tôi tôn ông Thâm Tâm làm sư phụ. Mấy thằng bạn cùng tuổi, tối ngày chúi mũi vào sách vở làm sao hiểu thấu được cái lớn lao u trầm của người thơ. Đời mộng và thực như vậy đó bàng bạc trên từng ngọn sóng, từng khúc quành, từng vết xe lăn, từng chuyến phà ngang trắc trở. Sao không tới đó mà coi, không tới đó mà nghe tiếng đời kêu réo. 

Phải rồi còn cái tiếng đời huyễn hoặc này nữa, tiếng độc huyền của ông ăn mày mù ngồi trước hàng ba một tiệm nước. Ông ta ngồi đó tự lúc nào tôi không biết. Chỉ biết khi tôi bắt đầu qua lại thường xuyên thì ông ta đã có ở đó rồi. Ông ta ngồi đó lặng lẽ, nhỏ nhoi, có mà như không có, giống như cây cột đèn bữa cháy bữa không. Sự có mặt của ông có làm bận tâm ai đâu họa chăng là mấy thầy phú-lít. Nhưng mà ông ta mờ nhạt quá nên riết rồi người ta cũng lờ đi coi như một tấm phông cảnh cũ mèm bỏ quên trong một góc hậu trường sau khi gánh hát dọn đi. Ông ta ngồi yên như một khúc gỗ đẽo sần sùi, lưng cong vòng, mặt nghiêng nghiêng, đôi mắt sâu hoắm, hai chân xếp lại, gần như không nhúc nhích. Chỉ có tiếng đàn của ông là bay lượn thảm sầu. Cái giọng ỉ ôi như kêu rêu, như trách cứ mà cam phận, nghe nghèn nghẹn đến tức tưởi. Nó gần như gom hết tất cả cái gì oan nghiệt nhất, cái gì đoạn trường nhất, cái gì tang thương nhất của cuộc đời này lại rồi phát ra một lượt làm chết điếng lòng người. Đàn chỉ có một dây thôi mà đủ hết mùi trường hận. Tôi khám phá ra ông một bữa về ngang trời đổ mưa bất chợt. Mọi người chạy túa vào mấy cái mái hiên tìm chỗ đụt. Vừa tấp vào một quán nước tôi để ý tới người đàn ông mù tức khắc. Có một vẻ gì lạ lắm toát ra trên gương mặt vô tri như trét sáp. Ông ta ngồi đó, lặng lờ như một vệt khói, mặc cơn mưa rào rơi lộp độp, mặc đám phàm nhân lao xao. Ông làm như không hay biết gì hết, ông chỉ biết tiếng đàn của ông thôi. Mấy ngón tay xương xẩu, đen đúa thoăn thoắt bắt nắm sợi dây đàn độc nhất, còn bàn tay trái vặn vẹo cái cần gỗ đã lên nước bóng ngời. Tôi không biết ông đàn bản gì chỉ nghe được cái não nuột của âm thanh như từng mũi kim chích thẳng vào da thịt mình đến nhức buốt. Tiếng đàn thoát đi bay lượn lẹo trong không khí ẩm đục nghe như tiếng khóc từ cõi âm vọng lại, kêu réo, van nài làm tôi rùng mình muốn phát lạnh. Nó bay ra xa, uốn éo rồi vòng lại, oằn oại. Nó vút lên cao, lanh lảnh rồi chùi xuống thấp, rụng rời. Người ăn mày mù vẫn say mê đàn như không biết cái tiếng đàn ma quái đang truyền nhiễm về đời bóng tối của u minh, dẫn đường cho những hồn oan kéo nhau về lướt thướt. Một lúc mưa bỗng tạnh. Mọi người lục tục bỏ đi. Có bà nhón vài đồng bạc cắc bỏ nhẹ vào cái hộp thiếc đặt trên góc chiếu. Còn đa số thì chắc quá vội đi mà không kể gì đến tiếng đàn bỏ lại. Còn tôi sao tôi bỗng nhiên thấy đi không nỡ. Sao tôi có cảm giác như thiên hạ quá vô lễ với nghệ nhân. Người ăn xin mù đó đúng là một nghệ nhân. Con người đó, tiếng đàn đó sao tôi thấy tài hoa đến tột vời. Mù đã là một thiệt thòi. Mù mà tài hoa thì đúng là tội nghiệt. Có phải ông mù đã gởi tâm sự mình trong tiếng đàn tận tuyệt đó không? Tôi quay vào quán, gọi một ly cà-phê bảo người hầu bàn đem ra cho người ăn xin rồi đến ngồi trong một góc nhìn ra. Suốt buổi chiều, tôi ngồi nghe lóm hết khúc này đến khúc khác, lòng cứ thắc thỏm từng hồi theo mấy cung bạc mệnh. Mà thật ra tôi có biết bài bản nào đâu. Thuở đó đối với tôi, những kim tiền bản, khốc hoàng thiên hay gì gì nữa cũng là quê mùa hết. Tôi chỉ khoái rum-ba với lại xì-lô. Đã nói tôi còn dại dột lắm mà. Vậy mà buổi chiều đó tôi ngồi im như chết trong góc quán, hồn mỏi mê như bị ma ám, lần đầu tiên khám phá ra cây độc huyền quái đản. Tại sao có loại đàn kỳ dị như vậy. Và tuyệt diệu như vậy. Còn người mù đó nữa, có phải chính cặp mắt đục lờ đó mới nhìn thấu được tới vô thanh để biến ngũ cung thành trăm bài kinh khổ? Đã có lúc tôi tưởng chừng ông ta biến đi đâu mất tiêu mà chỉ còn tiếng đàn ở đó thay ông kêu khóc. Hay có thể nói ông ta và đàn như nhập làm một. Làm sao có sự hóa thân kỳ diệu đó nếu không là một bậc dị nhân. Có lúc thần trí tôi mê hoang tưởng như Sư Khoáng đội mồ trở về vác đàn đi tìm bạn tri âm… Rồi tiếng đàn dứt. Tôi giựt mình thấy mình ngồi ủ rũ. Trời ngoài kia đã chạng vạng, bến phà cũng thưa bớt người qua.

Bữa đó khi ra về tôi đã dốc hết tiền còn lại trong túi cho ông ta rồi nhảy lên đeo xe hàng quá giang về chợ.

Đấy cái bến Mỹ Thuận nó hỗn mang như vậy đó, nó tập trung tất cả mọi hạng người từ cùng căn mạt kiếp tới những tay đâm thuê chém mướn, coi trời bằng vung, trước ngực thì xâm “hận kẻ bạc tình” sau lưng thì xâm “thù người hại bạn”, đến người cuồng sĩ tối ngày cứ đón phà từ bờ này qua bờ kia như để đón đợi một người nào đó chưa bao giờ gặp mặt mà hễ mở miệng ra là cứ “liên hoành” với “hợp tung”. Tôi đã thấy có ông tự chặt ngón tay thề thôi cờ bạc, có ông cầm dao đòi rạch bụng khi người yêu đòi “tách bến sang ngang”, có ông dẫn cô nhân tình bụng mang dạ chửa đâu từ dưới quê lên tới đó rồi… quất ngựa truy phong bỏ cô ngồi khóc bù lu bù loa bên bờ sông định mạng. Tôi đã thấy những anh lơ xe mở miệng ra là chửi thề thí mạng mà giữ chữ tín còn hơn cả đám anh hùng Lương Sơn Bạc, những em bé bán hàng rong nhỏ như ngón tay út tối ngày chạy theo mấy chuyến xe đò ép nài từng xâu mía ghim để nuôi bà mẹ tật nguyền. Mấy ông già ngồi bán báo mà thông hiểu trời đất không sót một mảy may, bình chuyện đời xưa không thua gì Mao Tôn Cương hay Kim Thánh Thán. Thôi thì đủ thứ cảnh đời mà có học đến già người trong trường lớp cũng không làm sao biết được. Bởi vậy tôi yêu mến Mỹ Thuận như một người tình chung thủy, như một người thầy lão luyện đã dạy tôi bao nhiêu ngón khôn khéo mà cũng không biết bao nhiêu món đoạn trường. Có lúc tôi tự thấy mình giàu có như một tay hào trưởng.

Bởi vậy bỏ đi xa rồi mới thấy mất mát biết bao nhiêu.

Ở đây xa quá lắm lúc nhớ quê, tôi hay làm thơ kể lể. Có khi nhắc tô canh chua tôm nấu với bông sua đũa, nhắc tộ cá lòng tong kho khô rắc chút tiêu thơm, có khi nhớ dĩa cơm sườn ram mặn, nhắc tô hủ tiếu của chú Thoòng có cái bụng to bằng thùng nước lèo, có khi thèm nghe lại một điệu vọng cổ mà hồi trước cứ chê lên chê xuống. Trời ơi bây giờ mà cho tôi chui vào rạp Miếu Quốc Công đeo tòn teng mấy chiếc cột chỗ hạng cá kèo mà coi tuồng cải lương Nửa Đời Hương Phấn chắc là tôi sướng lắm. Nhưng mà sướng hơn nữa nếu được về đứng lại dòm ngó ngu ngơ hai bên bờ sông Mỹ Thuận như ở tuổi mới vào đời.

Vậy đó tôi vẫn nhớ quê như mọi người nhớ quê của họ. Tôi còn nhớ thêm cái bến nước ơn nghĩa của tôi nữa. Nơi mà không ai chịu nhớ tới chỉ bởi cái tội nằm ở giữa một chặng đường. Người ta chỉ nhớ nơi đi và nơi đến. Đâu ai bỏ công đi thương nhớ một trạm dừng. Rồi bây giờ nghe đâu người ta đã bỏ luôn cái bến phà đó nữa. Người ta đã cất cầu treo ở trên dòng sông lớn. Những chuyến phà chắc đã kéo vào ụ hay rã ra đem bán sắt vụn. Hàng quán hai bên bờ chắc cũng phải đóng cửa. Mấy người chủ quán chắc đã đổi nghề khác làm ăn. Con đường đá chạy xuống phà chắc bây giờ bỏ hoang cho cỏ dại mọc lan. Tôi không về nên chỉ tưởng tượng được thôi. Sông kia rày đã nên đồng. Chỗ làm nhà cửa chỗ trồng ngô khoai. Đêm nghe tiếng ếch bên tai. Giựt mình còn tưởng tiếng ai gọi đò. Đấy ông Tú Xương ngày xưa cảm khái như vậy đó sau khi con sông ở Nam Định quê ông bị Tây tới lấp đi. Nghe mà thấy tội tình. Tôi nghĩ ông chưa nói hết những điều muốn nói. Ông không chỉ nhớ tiếng gọi đò thôi đâu. Chắc chắn ông còn rất nhiều kỷ niệm khác mà ông giữ kín cho riêng mình. Bởi vì nói ra cũng không hết được. Mà lắm khi còn bị bĩu môi là hoài cổ, là không thức thời. Cũng như tôi bây giờ vậy, tôi cứ bị người quen kẻ lạ rầy rà, lắm khi mắng nhiếc khi thấy tôi cứng đầu cứ khư khư giữ riết lấy cho mình những hình ảnh cũ, những thương tiếc này, những ngậm ngùi nọ. Chi mà mệt vậy. Quên phức cái cho được việc. Cuộc đời còn hàng trăm chuyện phải lo, hàng ngàn chuyện phải làm, nhắc làm chi cái chuyện đất nước cũ xì, mốc thếch. Chuyện đời thay ngôi đổi chúa là thường tình, trăm họ có khốn khó thì cũng là vận số thôi. Thì vâng.. Nhưng vận số gì mà quái đản. Kẻ quyền thế dư ăn dư mặc thì cứ ngày một phủ phê. Còn đại đa số dân đen không bè không đảng, vốn dĩ nghèo đói thì cứ tiếp tục trần ai khổ lụy. Ra rả những tiếng kêu than uất nghẹn không thành tiếng. Mà giả sử có thành tiếng cũng chẳng ai nghe. Mà có nghe hổng chừng cũng chỉ có cai ngục trả lời. Nghĩ cũng đáng đời cho mấy chữ viết tắt “xhcn” mà người ta hay đọc trại ra là xuống-hố-cả-nút ! 

Đã không còn ngụy quân với ngụy quyền để đổ thừa, cũng không ai chen vào phá đám. Vậy thì tại sao? Chắc chắn không phải tại đám con đỏ đang chạy gạo từng bữa toát mồ hôi, càng không phải tại đám con ghẻ lang bạt kỳ hồ tứ tán ngoài cõi tạm. Vậy thì tại ai? Hỏi thì cứ hỏi chớ câu trả lời đã sờ sờ ra đó.

Gần đây bè bạn ân cần gởi cho mấy tấm hình chụp chiếc cầu trên sông Mỹ Thuận. Cầu mới tinh, cất theo kiến trúc và kỹ thuật tân kỳ, thoạt nhìn ngất ngưỡng chẳng thua gì Kim môn kiều ở Cựu Kim Sơn, chỉ thiếu có một chút sương muối lửng tha lửng thửng là lẫn lộn như chơi. Cũng mấy cột tháp cao treo mấy sợi giây cáp cong cong.

Nhìn trong hình chắc không đẹp bằng cảnh thực. Ngoài đó có con sông lớn, có gió lồng lộng, có mặt trời dát vàng buổi sáng, có mặt trăng dát bạc đêm rằm chắc còn đẹp hơn nữa. Ở xa tôi hình dung xe cộ qua lại suông sẻ, khách đi đường khỏi phải lên xe xuống phà lôi thôi. Nghĩ tới nghĩ lui thấy cũng mừng. Mặc dầu trong bụng vẫn có chút nao nao khi biết đã mất rồi nơi chốn cũ. Bến phà xưa không còn nữa thì những vóc dáng xưa chắc cũng đã biệt mù. Chén cơm nóng lỡ đường, giỏ ổi làm quà đường xa, ly nước mía mới ép ngọt lịm, người chủ quán hay kể chuyện Tam quốc mấy buổi trưa ế khách, những cuộc tình xốc nổi, những gặp gỡ bất chợt, người hành khất mù và ngón đàn tận tuyệt… tất cả rồi sẽ được xếp vào loại chuyện cổ tích mà người kể nào cũng bắt đầu bằng hai tiếng “hồi xưa…”. Có thể mấy chi tiết mà tôi vừa nhắc đã mất đâu từ nhiều năm trước. Có thể trong thời buổi gạo châu củi quế người ta phải vội vã hơn trước, ăn uống nhín nhút, nói cười dè sẻn chớ không còn bung thùa như thuở tôi còn đi lại. Có thể cái bến nước đó đã mất phong độ từ lúc mới đổi đời. Nếp tinh thần đã khác thì nếp sống cũng khác theo. Người đi lại ơ thờ thì sông nước cũng chỉ là một cõi bơ vơ có lấy gì làm thân thiết. Nếu bây giờ đường đi phải rẽ qua hướng khác để đắp cao dốc cầu, bỏ lại xóm cũ hắt hiu thì cũng chỉ là nối tiếp một cách hợp lý cái cuộc sống đã bị bỏ quên từ lâu lắm. Bởi vậy mà càng nhìn tấm hình chiếc cầu mới, tôi càng thấy buồn hơn vui. Chiếc cầu được xây cất bằng vốn liếng tiền bạc và kiến thức của người nước ngoài để nối hai bờ con sông trắc trở. Mừng thì có mừng cho việc đi lại đỡ phần vất vả nhưng sao vẫn tiếc cho một nếp đời đã ăn sâu trong lòng của một số không ít người.

Và nhất là cứ tự hỏi, sao còn hàng chục triệu chiếc cầu lỗi nhịp trong lòng người mà không chịu lo bắt lại để mọi tấm lòng người Việt không còn những bờ bến phân chia?

Chính vì những chiếc cầu lỗi nhịp đó mà tới giờ này tôi chưa trở lại được quê nhà.

Cao Vị Khanh

CVK_ThangTu.jpg
cvk_thangtu_2.JPG
cvk_thangtuvanhungheluy.png
CVK_ThangTu.jpg
cvk_chungngo.JPG
cvk_tanthanvan2.JPG

Rồi tết qua đi...

Như mọi năm... Như hơn bốn mươi mấy lần đã chắc lưỡi, nói thầm trong đầu... “rồi tết qua đi... ”

Như mọi năm.

... như mọi năm vậy mà hổng chừng... dễ chịu hơn chăng. Đằng này, ai xui đâu mà dưng không cái đầu đã cũ mèm bỗng như lọt vô mê hồn trận. Dấn vô rồi là hết biết đường ra. Ngoái nhìn đầu trên xóm dưới, từ Vĩnh Long qua Cần Thơ lên Sài Gòn về Rạch Giá, giờ chót còn lội biển qua tuốt bên Montreal chỉ còn cách Bắc cực có 45 lằn vĩ tuyến... Bốn phương tám hướng ôi mênh mông kể cả chúi mắt nhìn sâu vô hun hút cõi lòng rồi cũng gần như... vô vọng. Khi không rồi lọt vô một biển nhớ-ôi biển nhớ thì mênh mông mà bộ nhớ như chiếc xuồng con đang hồi mục rã thì chẳng khác thằng con nít mới tập lội, cứ bì bõm mà bãi bờ thì càng lúc càng lộn lạo, bờ tây cứ tưởng bờ đông... Bởi vậy nghe thiên hạ kêu rêu biển xanh là... bãi dâu thì cũng là phải phải !

 

Sự tình là vầy...

Hôm đó, y như đến-hẹn-lại-lên, khi mùa đông tới độ chín muồi là coi như lạnh và tuyết cũng vừa quá tuổi dậy thì, mặc tình mà lớn đại. Tuyết thì mịt mù và lạnh thì tới độ rút xương. Khổ nỗi, thân thì xa quê mà tết quê thì cứ đợi đúng lúc quê xa tới mất dấu mà tới. Những ngày tết ở đây chẳng có chút gì giông giống ở đó để lấy làm... tết. Bởi vậy, lịch tây lịch ta thì cứ khăng khăng là tết mà dòm quanh quất chỉ thấy ta với tuyết. Mùng một, đứng trong nhà ngó lung ra trời, mai vàng cúc đỏ mồng gà vạn thọ.... chẳng thấy đâu mà chỉ thấy... tuyết với ta. Ngó tới ngó lui cho đã rồi mới thấy quả là không có gì để ngó. Buồn xo. Hai con mắt đã vậy, còn hai tay hai chân cũng làm như buồn lây nên cũng hết nhúc nhích như đồ phế thải. Bỗng nhớ lời của mấy tay tâm lý gia hăm he chuyện... trầm cảm. Hoảng. Bèn nghĩ cách để vui... tết. Vậy thì tết nhứt dẫu giả mạo cũng không có gì bằng đi dọn dẹp nhà cửa y như lúc còn ăn tết ở bển. Vậy đó... mà đúng lúc vô sự thành ra sinh sự.

 

Lục lọi ngăn tủ bàn viết bỏ quên đâu cả vài ba chục năm nay trong một góc tối dưới hầm nhà, bỗng dưng lọt ra một khoanh giấy nhỏ ố vàng với hàng chữ viết tay. Nét chữ dối trá đến độ như gấp gáp gì lắm hay vừa viết vừa muốn giấu diếm gì đó. Chỉ trừ có em người khách nợ đến sau cùng là anh chưa trả. Ồ chữ nghĩa gì mà đọc lên nghe “trầm thống” đến vậy, không thua gì mấy câu cách ngôn học thời tiểu học. Nét chữ thì chắc chắn của mình mà ý nghĩa thì sao chép của ai đó hay của chính mình nghĩ ra. Mà của ai cũng vậy. Sao lại ghi chép rồi bỏ xó trong góc tối của lãng quên. Vấn nạn làm lu bu cái đầu vốn đã tuyên bố về vườn. Ờ, mà sao lại là thứ chuyện nợ nần tưởng đâu đã sạch trơn sau cái lần... xưng tội hôm trước. Tưởng là đã phủi tay sạch... nợ. Dè đâu mà nợ làm như con nít chơi trò cút bắt, cừ thập thò thậm thụt đâu đó rồi a thần phù nhảy xổ ra làm kẻ đã tới hồi lãng quên cũng phải giựt mình. Rồi đâm ra... bắt nhớ. Mà nhớ gì đây ? Hàng chữ viết rõ nghĩa là một xác nhận. Xác nhận rồi ... phủ nhận liền đó. Có nợ mà chưa trả nghĩa là coi như còn nợ. Nợ gì mà giấy tờ vừa khai nợ vừa khất nợ ố vàng đến mức không còn độ vàng nào để ố... Chỉ trừ có em người khách nợ đến sau cùng là anh chưa trả.

 

Nói vậy chớ lâu nay có nghe thấy ai đòi hỏi gì đâu. Bởi vì nếu thật sự mà nợ thuộc loại xanh xít đít đui của mấy chú chà-và hay mấy bà chủ nợ ác ôn kể cả mấy cái nhà băng lớn nhỏ của đám tư-bản-đang-giẫy-chết thì làm gì có thể vừa khai nợ vừa chối nợ mà nghe như thủ thỉ không bằng. Chỉ trừ có em người khách nợ đến sau cùng là anh chưa trả.

Nghĩ tới nghĩ lui rồi càng thấy rối nùi, kẻ cả đã có lúc ngồi yên, tay bợ cằm y như kiểu ngồi của bức tượng Le Penseur nổi tiếng của Rodin vẫn không tìm ra câu giải đáp. Phải chi thời gian ngược lại được vài chục năm trước, bắt chước mấy ông thầy dạy Việt văn ra đề cho học sinh bình giải, kiểu như... Trò (anh hay chị hay em) nghĩ gì về câu nói sau đây... “chỉ trừ có em....” để coi những bộ óc còn vô tư, không phe phái sẽ phê phán ra sao. Mà điều cũng khó, giao cho mớ người trẻ tuổi, tay chân mình mẫy chưa lấm bụi đời mà suy nghĩ và bàn tán về một đề tài chắc chắn là không có trong sách dạy làm văn Luận Văn Thị Phạm của ông Nghiêm Toản thì lấy đâu ra ý tứ câu cú mẫu mực mà... tập làm văn.

Loay hoay trong đầu vậy rồi càng lúc càng như chìm vào một cõi tịch lặng. Có điều cái cõi tịch lặng của Thiền tông ra sao thì không biết chớ cõi tịch lặng này làm như là cái phản ứng chết điếng hay ú ớ trước một sự cám dỗ nào đó dù thiệt tình rõ ràng là đã bị... cám dỗ. Càng làm lãng thì lại càng lạng quạng, né bên nầy lại đụng bên kia. Rồi đến lúc... cũng đành. Thiệt ra từ lúc đầu đã có manh nha một vài tia chớp mà chẳng qua tại cái tánh hay cãi chày cãi cối nên không chịu nhận. Đã có cái gì làm chột dạ khiến người ngồi đó như ngơ ngẩn... sầu. Mà không muốn sầu. Nên cứ loay hoay. Ngoài trời thì càng lúc càng trắng xóa. Cơn bão tuyết quậy từ đêm giao-thừa-ta qua sáng ngày mười-tháng hai-tây coi bộ chưa hết hơi, cứ thổi gió phun tuyết vù vù. Ngoài trời đã vậy mà lòng riêng rồi mỗi lúc một lao đao. Cuốn tròn khoanh giấy tới hết độ tròn rồi nhét sâu tới hết độ sâu vào túi trong tới hết chỗ trong của chiếc áo len, kiểu như mấy ông làm gíán điệp trong mấy bộ phim James Bond rồi leo trở lên tầng nhà trên, rót 250 ml theo lời bác sĩ dặn rượu chát đỏ, nhắp miếng môi nghe chua chua chát chát ngọt ngọt, bật ngửa trên cái ghế sofa rồi mơ mơ tỉnh tỉnh...

Thật ra, vòng vo là cốt để kéo dài thời gian theo kiểu trây trua chớ thật tình nội mấy cái danh xưng thôi là đã rõ trắng đen. Ai đời khất nợ mà xưng hô nghe ngọt sớt. Rồi thêm lối viết nghịch đảo như một cách chơi chữ, dậm thêm chất bi kịch cho nghịch cảnh. Rõ là không phải chuyện nợ tiền nợ bạc. Lại còn làm liên tưởng đến cái “điển tích văn chương” đã từng đem rêu rao thuở còn lưu lạc hành nghề. Trong truyện Đoạn Tuyệt nổi tiếng một thời của ông Nhất Linh, có một câu nói của nhân vật nữ với người tình bỏ đi kháng chiến chống Tây, đại khái như là “nợ của ai anh cũng trả, chỉ có nợ của em là anh không trả”. Trời câu nói khi chia tay giữa một cặp tình nhân hư cấu nghe ra vừa khoái tai vừa cay đắng đến nao lòng. Đem so với mớ chữ mới tìm ra, hẵn nhiên ít nhiều có liên hệ chi đây. Dĩ nhiên có thể người đời sau bắt chước người đời trước. Nhưng hệ quả hổng chừng cũng như nhau. Vã lại chuyện sao y hay tự ý cũng không phải là vấn nạn trong lúc này. Vấn đề là tại sao và lúc nào lại ghi ghi chép chép như vậy ?

 

Hồi nào ? Mấy năm rồi ? Mấy là mấy ? Năm ? Mười ? Mười lăm ? Hai mươi ? Hai mươi lăm ? Ba mươi năm ?... Làm sao định lại thời gian đây. Mẫu giấy viết ngày nào đã đổi màu tới độ hết màu để đổi. Chữ viết tháo như cua bò đến đọc muốn không ra. Mà sao dại vậy. Gọi người ta là khách nợ rồi làm sao cải chầy cải chối đây. Lại còn xác định dõng dạc là... chưa trả. Hết biết. Hẵn là có uẩn khúc chi đây. Vậy rồi, nương theo men rượu nhè nhẹ, lâng lâng theo vị rượu ngọt ngọt mà chua chua, hồn lãng tử hết thời như lướt thướt theo điệu valse mà chờn vờn ẩn hiện những quảng đời đã qua, từng khúc đoạn lộn xộn, không đầu không đuôi như mớ chỉ rối mắc mớ vào nhau, thứ rối ren mà không có bàn tay nhân thế nào có thể cột thắt vậy được. Hẵn nhiên chỉ có thể là kết quả của một sự ngẫu nhiên. Mà đã nói là ngẫu nhiên thì chỉ có thể là kết quả của bàn tay... tạo hóa. Nói vậy không có ẩn ý là để tránh trách nhiêm. Mà thật sự chỉ để minh bạch một thứ chuyện đời không ai sắp đặt được ngoài một ông mà người ta gọi là ông Trời- nếu quả thật có một ai đó có đủ tài năng tạo ra những ngược ngạo, những gút mắc, những rắc rối, những sự tình... mà ngay cả những tiểu thuyết gia diễm tình trứ danh chắc cũng phải lắc đầu chịu thua. Lắt léo. Tréo nghoe. Lộn lạo. Lu bu. Kiểu tình chị duyên em- hoặc ngược lai. Hay có duyên không nợ-hoặc ngược lại. Hay có duyên có nợ mà rốt lại duyên thì ngắn ngủn mà nợ thì dài ngoằn. v.v... và v.v...

 

Rượu càng thấm, bộ nhớ như ngựa quen đường cũ được thả lỏng dây cương, mặc tình mà lộn lại... lối xưa. Chỗ thì hình như. Chỗ thì chắc mẻm. Càng lúc mớ hình xưa bóng cũ càng ló ra, khi mờ khi tỏ . Mà mờ hay tỏ gì sao cũng giống giống nhau ở chỗ có vương vướng vài ba sợi tóc ngắn dài, có khi mướt rượt phưởng phất mùi chanh giấy, có khi rinh rích mùi mồ hôi những đêm nhiệt đới, có khi hoe hoe vàng thoang thoáng mùi Givenchy... Thiệt là hết chối cải. Ông bà đã dạy rạch ròi mà. Tóc mai sợi vắn sợi dài thương nhau chẳng đặng tiếc hoài ngàn năm. Rõ là tiên tri còn hơn phát ngôn của quí vị nổi cơn đồng bóng. Điệu này coi như hết chỗ để tránh né. Thì thôi vậy, nói gần nói xa không qua nói thiệt. Vậy là cái nợ nầy không dính líu tới chuyện tiền bạc nên không thể nào định gíá. Mà đã không thể định giá thì phải coi là vô giá. Chỗ thắt ngặt đây. Nếu đã gọi là vô giá thì làm sao tính chuyện sòng phẳng. Đã không sòng phẳng thì có nghĩa là dằng dai. Đã dằng dai thì có nghĩa là tưởng hết mà còn. Ôi thôi, rõ là oan nghiệt thứ nợ không giao kèo mà trì kéo không thua mấy sợi xích thằng, dẫu có đứt ngang... trong hay ngoài ý muốn ! Còn thứ nợ nào nhủn nhằn nhùn nhằn hơn thứ nợ tình, phải không !

Thử tưởng lại...

..........

Những năm 60, mới khoảng đâu nửa chừng trung học là đã lọt vô mắt-xanh ( nâu? đen? đen đen ? nâu nâu ) của người bạn gái cùng lớp lớn hơn một tuổi, khi thiệt tình cũng chẳng biết cái người ta gọi là tình yêu là cái chi chi. Nghe rủ lén đi coi chớp bóng xuất trưa thì buổi trưa đi coi chớp bóng. Nghe rủ đi ngồi quán vắng bờ sông thì đi ngồi bờ sông chỗ quán vắng. Tan trường về, đường trống, biểu đi chung thì đi chung. Ngày gió lớn, áo tà trắng có quấn quíu quần xanh đồng phục thì cũng có nghe ra chút chút gì đó... ngồ ngộ.

Cuối tuần, kêu tới nhà ngồi giữa vườn sau nói chuyện trên-trời-có-đám-mây-xanh mà trong nhà thì có bà má đi tới đi lui ngó qua ngó lại. Chuyện tình kéo dài đâu qua bốn kỳ thi lục cá nguyệt, rồi cuối năm thứ hai nàng rớt chàng thi đậu tú-một phải bỏ trường-cũ- tình-xưa đi học xa. Nàng ở lại. Bữa từ giã ngoài bến xe lục tỉnh nghe có gì đó rươm rướm hình-như-là-tình yêu ? Mà chẳng biết có phải không ! Cuối năm, ở xa nghe tin bị ba má bắt làm đám hỏi với con trai nhà thầu khoán. Sao tưởng như đọc tin hằng ngày trên báo Sài Gòn Mới của bà Bút Trà.

Vậy rồi quay sang tiếp tục thư từ qua lại thăm hỏi của cô em gái một chị bạn học cũng cùng lớp năm trước. Những lá thư tả trời-trăng-mây-nước giấu ép giữa mấy trang sách cho mượn... Rồi cũng chẳng tới đâu. Lòng riêng cứ vẫn lung lăng. Chân cẳng cứ vẫn tung tăng lề đường. Ù ù cạc cạc những chuyện-tìnhkhông-suy-tư.

Ờ mà thôi, mấy chuyện tình kiểu Paul et Virginie có nói cũng không cùng ! Có điều thứ tình không vết tích chắc chẳng có gì làm chứng cớ để ghi vào sổ nợ.

Cho tới khi vọt tuốt lên Sài Gòn. Con trai tỉnh lẻ mà mắt thì từ lâu cứ dòi dõi chỗ có chiều-bát-phố, có đêm-phòng-trà, có khuya-vũ-trường, có bạn-tứ-phương... Tại vậy mà vừa tới được thiên đường trần tục của mình là đã sống hết mình khi mới tập tễnh chân trong chân ngoài khu đại học mới mở đường Cường Để. Nửa học chữ nửa học chơi. Mới thoát mấy vòng tay hàm tiếu đã ngấp nghé mấy vòng tay mãn khai. Kỳ này do tuổi đời vừa chín tới, ăn khớp với mớ phim ảnh theo trào lưu Đợt Sóng Mới yêu-cuồng-sống-vội của Tây phương với lại Hippy makelove-not-war của xứ Mỹ vừa đánh giặc vừa biểu tình phản chiến, cộng thêm thứ triết lý hiện sinh học đòi nên tình yêu coi bộ có mùi có vị hơn. Một vài cuộc tình giữa biển người đô thị như những chuyến rong chơi vô vườn địa đàng của Thượng đế. Và dổ nhau nếm thử trái cấm mà Adam và Eve đã có lần cắn phạm. Có điều kết quả hoàn toàn ngược lại. Thay vì bị đày xuống trần gian như tiên tổ thì con cháu lại như bay bổng lên thiên đàng. Khởi đi từ đây, mới gọi là thực chứng tình yêu, thứ tình yêu trăm phần trăm, có nửa nầy nửa kia, trọn bộ. Và từ đó thể nghiệm thêm ca dao xứ Huế. Kim đâm vô thịt thì đau... Từ đó, người ta gọi là nợ nần với nhau chăng ? Những cuộc tình vừa lãng mạn vừa hiện thực ở cái xứ được mô tả bằng hai câu thơ thịnh hành của Nguyên Sa đã bị hiệu đính lại. Nắng Sài Gòn anh đi mà mất thở, bởi vì em mặc áo hở vòng eo. Cứ vậy mà nóng sốt đều đều.

Cho đến khi phải rời thủ đô để về tỉnh lẻ, bỏ lại đó mớ dây trầu lăng xăng mà không dây nào bắt rễ dính cây cau. Qua phà Vàm Cống là coi như qua sông Dịch thủy.

 

Mấy năm làm cái nghề gỏ-đầu-trẻ vậy mà làm như bị đưa đi chỉnh huấn. Sự bó buộc của nghề nghiệp cộng với sự tiếp xúc thực sự với lớp tuổi mộng mơ ngây thơ vô tội vạ làm như cũng chấn chỉnh lại đôi chút lối sống bung thùa. Hẵn là ít nhiều cũng thừa hưởng được phần nào phong cách của cả cha lẫn mẹ vốn đã coi giáo dục như thiên chức. Dẫu chưa bao giờ chịu cổi lốt giang hồ nhưng tự dưng rồi đâm ra yêu nghề nên cũng cam lòng làm người tử tế. Với thứ khuôn khổ mẫu mực mà đời đã giao phó. Vậy mà rồi qua năm năm hành nghề lại phát hiện ra vài dấu hiệu bất thường của phe đối diện dẫu chưa bao giờ sơ hở. Lẫn lẫn đâu trong không khí ra bộ trang nghiêm của lớp học rồi bỗng đôi lúc chấp chới vài ba cái nhìn... phạm-trường-quy. Làm thầy làm sao không biết. Khổ nỗi trong kỷ luật học đường thời đó đâu có điều lệ nào để ngăn ngừa ba cái vụ conmắt-có-đuôi. Chỉ còn lại cái kỷ luật tự thân để tự gò mình... làm ngơ. Vậy rồi đùng cái đại họa ập tới. Thầy trò bỏ chạy tứ tán. Người vô tù kẻ xuống ghe theo gia đình tìm đất sống. Chuyện tưởng vậy rồi thôi. Ai dè, hai mươi mấy năm sau, nơi cõi lạ, cái gì cũng lạ. Cả đến chuyện tưởng như chỉ có trong tiểu thuyết ba xu. Khi đời coi như đã đẩy dạt ra bên lề, nơi góc biển chân trời xui chi cho tái ngộ trong cảnh tình ngang trái. Ba bên bốn bề đều đã sừng sững mấy bức tường rêu của luân lý cổ phong. Thân trai lỡ lứa mà bổn phận và trách nhiệm thì cao lút đầu người, dấn thân vô rồi là y như trói hai tay chặt cứng rồi thúc lên võ đài mà thi đấu. Còn có cặp giò cứ phải bắt chước Đoàn Dự mà lăng-ba-vi-bộ len qua lách lại tới chóng mặt. Hết biết. Vậy mà y như ngọn đèn sáp sắp lụn, dưng không rồi phựt lên, như có ai chúm môi phà chút hơi... ấm hỉm. Chút dấu dạng quê hương của thời hoa mộng cũ, chút mỹ cảm đồng dạng cùng với trọn niềm tin yêu của thuở mới vào đời... như thổi ngược lại chút hơi hướm lãng mạn tưởng đâu đã bỏ quên bên kia biển lớn. Nhất là như làm bừng lại luồng sinh khí đã rụi tàn từ sau cơn thất tán. Thơ văn ở đâu rồi lãng đãng quay về. Em xa đâu bỗng gọi. Đâu như tuổi hai mươi. Ôi tiếng đời diệu vợi. Xa khuất mấy tầng đời.

Trong cơn mê đắm giữa nghịch cảnh trùng trùng vẫn bù cho nhau nguyên si một tấm chân tình và một lòng phụng vụ.

Làm sao kể hết...

 

Xứ người rộng đến mênh mông tới nỗi mỗi người như mỗi thế giới riêng. Vậy mà coi vậy nhưng không phải vậy. Đến nỗi lắm lúc muốn diện bích để trải nỗi niềm tâm sự. Nhưng rồi sực nhớ ông bà xưa còn dặn tai vách mạch rừng nên cứ phải tịnh khẩu mà lắm lúc nghe sóng xô sóng đẩy trong lòng. Còn ai như Chu Mạnh Trinh để phán một câu chia xẻ... ta cũng nòi tình thương người đồng điệu. Có ai đâu, ngoài ta với... ta.

Vậy rồi khi không lọt ra mảnh giấy. Hàng chữ viết tháo rồi bỗng như ngón tay ngắt véo...

Nghĩ gần nghĩ xa rồi nghĩ lại mình...

Cây muốn yên mà gió chẳng chịu ngừng. Thì thôi, còn lời nào...

Trong gần suốt cuộc trần ai lặn lội đường tình còn có lời nào để trần tình cho ra lẻ. Nghĩ đi nghĩ lại, nghĩ rộng thêm ra để thấy cuộc đời tự nó như mạng nhện. Mỗi sợi tơ mắc míu nhau rất tình cờ. Sợi nầy níu sợi nọ, sợi nọ níu sợi kia, sợi kia... lằng nhằng sợi nầy... cả một vòng lẩn quẩn loanh quanh không có chỗ dứt ra. Rõ ràng sợi nầy sợi nọ sợi kia đều có một phần dính líu với sợi kia sợi nọ sợi nầy. Cái vòng lẩn quẩn đó gợi ra chuyện quan hệ của từng sợi một. Sợi nầy vừa là nguyên nhân vừa là hậu quả tạo ra sự liên kết của sợi nọ. Và ngược lại. Như vậy sợi nào trách móc sợi nào khi lỡ có cơn gió vô tình thổi qua ! Nghĩ cho cùng có trách móc gì được đâu miễn là trong sự nấn níu đó, luôn có sự thành tâm. Hết lòng. Hết sức. Hết hơi.

Sự liên hệ đủ chiều của cá thể này với cá thể nọ quả nhiên như một kiểu nối kết rất mực lăng nhăng của thiên nhiên. Hay nên gọi là một thứ định mệnh chăng ? Ông bà xưa còn dạy rằng không có lửa làm sao có khói. Mặt lạ có thành mặt quen cũng chỉ vốn dĩ là hai mặt của một đồng tiền. Bên gỏ cửa. Bên mở cửa. Trách nhiệm, nếu có, chắc chỉ xê xích chút đỉnh. Ờ mà tại sao nhắc lại chuyện trách nhiệm ở đây ! Cái tánh lý lắc của Cupidon hồi nào tới giờ đã thành huyền thoại. Hổng nghe hai ông Lê Dinh Minh Kỳ hè nhau hợp soạn bài hát “Không Phải Tại Chúng Mình” sao. Điệu Boléro nghe như gỏ nhịp vào tai. Lời thì rạch ròi như hai với hai là bốn vậy. Không phải tại anh cũng không phải tại em. Tại trời xui khiến nên chúng mình thương nhau... Bài hát có 19 câu kể lể cả một chuyện tình trắc trở mà đã có tới 4 câu để xác định không-phải-tại-anh-không-phải-tạiem. Vậy thì làm sao mà nở đổ thừa nhau cho được.

Thêm nữa, còn nhớ khoảng những năm sáu mươi, bảy mươi ở Sài Gòn có một bản nhạc của ông Y Vân, tựa là “Ngăn Cách” theo điệu Boston trở thành bài nhạc trên đầu môi của không ít người đang trong lứa tuổi yêu đương, nhất là phía đang xấc bất xang bang vì ba cái vụ tình lỡ, tình phụ...

Mây sao quên hạn kỳ? Cho trăng buồn vì nhớ mãi câu thề. Mây đem mưa trở lại, mưa hay nhiều lời, khiến trăng mỉm cười… Không ! Trăm không ngàn lần, không ai giận hờn nếu đã hay rằng: “Lòng người như chiếc lá, nằm trong cơn gió vô tình”

Thấy hông người nhạc sĩ tài hoa nhất hạng đã phán rõ ràng “Lòng người như chiếc lá, nằm trong cơn gió vô tình”. Và chắc mẻm như đinh đóng cột. Không! Trăm không ngàn lần, không ai giận hờn Quả là minh triết. Có thua gì những bậc hiền giả đi chân không tay chống gậy lặn lội khắp bốn phương trời để tìm chân lý. Lòng người yêu ghét, thật giả... cũng chỉ là chiếc lá bữa im gió bữa lộng gió, cái chuyện lá rụng lả tả hay bay cái vèo không làm sao mà lý giải cho được.

Rồi tới ông Vũ Thành An nữa. Ông ta viết tình ca mười bài chung một cái tựa nhưng đánh số khác nhau chắc là để khỏi lộn khi phải làm tổng kết- cũng đã có lần thấy mài mại như vậy. Lòng người như lá úa trong cơn mưa chiều nhiều cơn gió cuốn xoay xoay trong hồn. Chẳng những gió cuốn mà còn xoay xoay tới chóng mặt thì làm sao mà đâu ra đó cho được. Yêu thiệt yêu, yêu muốn chết hay yêu lơ mơ, gần mà không yêu, xa vời vợi mà yêu rồi yêu độc chiếc hay yêu lũy thừa... là thứ chuyện hiểu biết vượt ngoài khả năng trí tuệ của con người.

Vậy đó thì làm sao mà giận mà trách mà kêu rêu... cho đành. Kể cả đến cái thời mà người ta tính toán chi li giỏi đến nỗi đã bay tuốt tới mặt trăng rồi còn tính bay luôn lên sao Hỏa chắc cũng phải đành chịu thua trước những những biến thái kỳ cục của cái gọi là tình yêu. Hay nói cho có vẻ trầm trọng chút như người xưa đã nói, kể cả có con-mắt-nhìn-thấu-ra-sáu-cõi-tấm-lòng-nghĩ-suốt-đến-nghìn-đời chắc cũng không hiểu ra nỗi.

Ôi lòng người như chiếc lá nằm trong cơn gió vô tình !

 

Nói gần nói xa cho đã rồi trở lại chuyện-chúng-mình. Thứ chuyện chúng mình đã không còn là... chúng mình ! Mảnh giấy vụn còn nằm sâu trong đáy túi. Nhưng rồi nói gì đây khi không xác định được chắc chắn ai-là-ai ! Không lẻ bắt chước đám chính trị gia ra thông cáo chung như lúc hội đàm Paris năm 1973 thì đâm ra láo khoét quá ể. Còn nín lặng luôn thì lại vô hậu quá mức. Nhưng rồi nếu nói mà rủi ro lầm lộn khi mớ nơ-rôn đã tới hồi rệu rã thì quả là vô tình quá mạng. Thêm chút lời có vui hơn hay bớt chút lời có buồn hơn. Gì thì gì mọi chuyện đã qua, tay đã vuột... mọi mắc míu đã bay tứ tung trong cơn gió vô tình !

Vài chục năm trước có một tựa phim rất “hình tượng”, “Người tình không chân dung”, kể lể chuyện đời của những người lính chiến, chẳng ăn nhập gì hết với chuyện muốn nói ở đây. Nhưng mấy chữ không-chân-dung nếu đem xài với kẻ có tánh ôm đồm trong chuyện yêu đương hổng chừng nghe ra cũng có lý. Lung tung quá thì làm sao mà nhận diện cho rạch ròi phân minh được. Vậy thôi khỏi biện biệt chi cho rắc rối thêm. Người tình nào không là người tình, phải không ?

 

Đã cạn thêm ly thứ hai. Ngoài trời tuyết đã thôi rơi. Bầu trời hắt lên chút sáng cuối ngày. Trời sẽ tối lại. Như đã tối tự bao giờ.

Thì thôi cứ kể như đường trần lỡ bước. Có những bước lỡ thì bước lại. Có những bước lạc rồi lạc luôn. Luôn luôn. Mà dẫu sao đi nữa, những cuộc tình gọi là... lỡ, buồn thì có buồn nhưng công bằng mà nói chắc cũng không nên hận làm gì. Dẫu sao, cũng đã cho nhau chút vui trần thế giữa cái cõi người chẳng có mấy gì vui, nên chăng ?

 

Nguyễn Đình Toàn-Vũ Thành An. Tình khúc thứ nhất. Tình vui trong phút giây thôi, ý sầu nuôi suốt đời. Thì xin giữ lấy niềm tin dẫu mộng không đền. Dù trời đem cay đắng gieo thêm cũng xin đón chờ bình yên. Vì còn đây câu nói yêu em âm thầm soi lối vui tìm đến

 

Rốt lại, viết lách dông dài, này nọ cho ra vẻ lý luận... cùn, chớ gì thì gì sau hết vẫn là một lời tạ tình, gởi tận tới... vô phương.

 

Và thêm lời... tạ lỗi. Vô vàn. (*)

 

Cao Vị Khanh

 

(*) -dẫu tình yêu thì tính làm chi lỗi phải

cvk_tettaxutay.jpg

Đã qua mấy ngày tết!

Ởđây buồn muốn chết!
Quanh quanh tuyết trắng phau!
Lấy gì đắ p đổi màu
xanh xanh hàng liễu rũ.
Gió đẩy đưa, quyến dụ
trên ngõ về thân quen.
Dáng ai đứng nghiêng nghiêng
dưới hàng hiên, bóng nhỏ.
Má già ngong ngóng ngó
trông bầy con, quan san.


Lấy gì ngỡ hoàng lan
màu hoa vàng nở vội.
Mùa xuân chưa kịp tới
chim chóc đã đầy đàn.
Má nhìn quanh, lặng lẽ
chẳng một tiếng than van.
Thân mỗi lúc một nhẹ
lòng nặng trĩu mất, còn.
đêm nằm nghe tiếng đạn
đau đáu nhớ bầy con.
Có thằng sờn áo trận
chưa hết nợ giang sơn.

Lấy gì tưởng sắc xám
tô lại nhịp Cầu Ngang
đêm về qua, trăng lặn.
Nhà má sáng thay trăng.
Lấy gì quến khói bếp
tàn lửa đỏ riu riu,
má nấu cá kho tô .
Thơm nức cả vườn chiều!

Đã qua mấy nga y tết
không một vết chân chim,
chẳng điểm một chấm màu.
Chỉ một trời bông tuyết
với gió quậy lao xao.
Lao xao? Không!
- Lao đao!


Cao Vị Khanh

cvk_thanggieng.jpg

                                                      Rồi tết qua đi, sầu ở lại

                                                      Quê nhà xa huốt một đường bay

                                                      Rượu xuân ai ướp mùi quan ải

                                                      Mà thấm xa thêm những dặm dài !

 

Bốn câu hai mươi tám chữ, cụt ngủn. Lỡ có muốn thêm cũng chẳng biết thêm gì. Mà có thiếu gì không, mấy câu gọi là thơ, buổi chiều mùng-ba năm đầu tiên ăntết ở xứ người.

Một năm trước đó, ngay bửa ba-mươi-tết, tôi bồng đứa con gái đầu lòng lên năm, đeo xe đò từ một tỉnh ở phía cực tây, về thăm cha mẹ ở một làng quê giữa hai nhánh sông Tiền và sông Hậu. Luôn thể để báo tin một chuyến đi xa. Xa lắm, không biết có tới nơi tới chốn. Mà cũng chẳng biết ... rồi sẽ có một ngày về.

 

Gia đình đông con, bốn trai năm gái. Nhưng lần ấy, ba anh em trai còn đâu đó trong các trại tù heo hút mấy miệt rừng núi Lào Kai, Yên Bái ... Mấy chị em gái cũng bận đi nuôi chồng trong các trại lán lẩn lút giữa một miền Nam thân quen bỗng sớm chiều trở thành lạ lẫm.

 

Chỉ còn tôi và đứa cháu gái ngu ngơ hớn hở vì được về thăm nội dù từ khi lọt lòng chưa một lần được nội ẳm bồng.

 

Đêm ba mươi. Ba tôi thắp ngọn đèn dầu leo lét trên bàn thờ tổ tiên cho tôi lạy từ biệt đất nước ông bà. Ngôi nhà gạch xinh xắn có giàn bông giấy tím ở tỉnh bị cướp trên tay, đổi thành căn nhà lá vách tre đứng chênh vênh trên doi đất vói ra vàm kinh Bình Phụng. Đêm cuối năm, trăng sao trốn biệt. Đêm trừ tịch, gió rền rĩ lẫy hờn. Đêm sinh ly, sóng vổ bờ như vổ vào chính lòng tôi, từng điệu oán. Lễ xong, tôi xoay qua, mếu máo quỳ lạy sống ba má tôi, lần đầu mà nghĩ là lần cuối. Con gái thấy lạ cười ngặt nghẽo trên tay bà nội. Sáng hôm sau, bồng con quày trở lại nơi mai mốt sẽ khởi đầu cho chuyến đi vô định.

 

Mùng chín tết năm đó, tôi rời Việt Nam.

 

Một năm sau, tôi ăn tết ở một nơi không có bàn thờ ông bà, không cha không mẹ, không anh chị em, không hoa mai cũng chẳng mứt gừng mứt bí... Chung quanh tôi, tuyết trắng, trắng đến mênh mông như một cõi lòng đã lạnh. Trái đất quay, quay theo chiều quay nghiệt ngã. Xuân ở quê nhà, quê người đã quá nửa chừng đông.

 

Giữa đêm, trời đổ tuyết. Từng nhúm tuyết mịn bân mà nhẹ hửng như bông gòn thổi bay xối xả, nhuộm trắng cả đêm đen. Gió réo, tuyết loay hoay xoay chiều, lắm khi luống cuống như lạc nẻo, quẩy đập vào nhau vật vã như tiếng kêu khổ của mùa. Đêm gượng sáng mà có ngó ra thử tìm hướng cố hương cũng chỉ thấy mù thêm hai con mắt vốn đã thất lạc, từ khi. Nhìn tuyết trắng trời mà cảm thán tới muốn sửa thơ Nguyễn Bính tiếc Huyền Trân. Giờ đây chín vạn bông trời nở / Riêng có lòng ta khép lại thôi. Ông ta tả hoa lá mùa xuân rực rỡ ở đâu không biết. Chớ ở đây, cõi tôi gá thân chỉ có trắng một trời bông tuyết nở ! Lòng người xa xứ, có khép lại, cũng đành.

................................ ............................

 

Vậy mà rồi hơn bốn mươi năm. Bốn mươi năm biệt xứ, không về lại một lần. Tang cha, tang mẹ, trắng xé lòng, mỗi lượt. Ở xa, tôi không đi chùa đi miểu. Mỗi lượt, tôi, mình tôi, chẳng đạo chúa, trốn vô ngôi nhà thờ nhỏ ở góc phố vắng. Trưa im im, lặng ngắt, đèn thờ không sáng nổi mặt tượng. Không gian nhốt kín, cả đến gió thu cũng bị chận lại bên ngoài. Mình tôi, riêng lẻ mình tôi, thu mình trong một góc khuất, nhìn cái trống không giữa những v

òm cong thánh đường.

 

Tôi ngồi ở đó, bất động. Rồi thấy lại tôi chín mười tuổi chạy nhảy thênh thang giữa tấm lòng trải rộng đến mênh mông của cha mẹ. Thấy lại tôi trưởng thành vẫn y nguyên một nỗi cưu mang như khi còn đòi bồng ẵm. Thấy lại tôi với lời tự hứa báo hiếu ngày mới ra trường. Thấy lại tôi bỏ cha bỏ mẹ ngay đúng lúc tuổi già xế bóng ... Thấy lại tôi với tội nghiệt tôi ...

 

Tôi ngồi ở đó, khóc, lặng lẽ mãi đến khi chiều xuống.

 

Rồi ra về với huyệt mộ chôn kín trong lòng.

 

Hôm sau, đã ba chân bốn cẳng chạy theo miếng ăn, giữa xứ người rộn rã mà quạnh quẽ tiếng hỏi câu chào.

Mươi năm sau, nghe người về, rủ rê. Sao lòng tôi lạnh tanh. Tôi không yêu quê tôi sao. Không ! Tôi yêu quê tôi lắm chớ. Ở đó còn mồ mã ông bà dù đã lạn. Còn bao nhiêu mồ mã vô danh khác dù đã tan thành cát bụi để tựu hình mảnh đất hình chữ S nằm nghênh ngang một cõi bờ Đông Hải, gần suốt hai mươi thế kỷ. Còn riêng trong một góc nhỏ, hai nấm mộ lạnh tanh. Nơi đó, tôi đã lớn lên, ngoài sự chăm lo đùm bọc của mẹ cha, còn nguyên cả một chiếc nôi đồ sộ mà tổ tiên tôi ... đã chụm tay kết thành bằng mồ hôi, máu, nước mắt và cả một tinh thần nhân bản tuyệt vời. Quê hương tôi đã nuôi tôi lớn lên bằng cơm gạo, cá mắm, thịt thà ... kết tụ từ đất đai sông nước mà người trước tôi đã gầy dựng, giữ gìn. Quê hương tôi đã dạy tôi sự nhẫn nại cùng cực của một dân tộc đã bị đày đọa gần suốt hai ngàn năm dưới sự thống trị của đám giặc phương bắc mà vẫn còn nguyên lành bản chất như nhánh tre già, qua bao nhiêu bão dữ vẫn dẻo dai vươn mình. Quê hương tôi đã cho tôi cả một kho ca dao mà từng câu lục bát ngọt ngào đến độ mẹ ru con thành tiếng ầu ơ. Quê hương tôi đã cho tôi nghìn trùng lời hay ý đẹp trong mỗi câu mỗi chữ mà ngôn từ cấu tứ đẹp như gấm như hoa, của ba ngàn hai trăm năm mươi bốn câu lục bát kể chuyện đoạn trường Thúy Kiều, ba trăm năm mươi sáu câu song thất lục bát than thở nỗi buồn Cung Oán, bốn trăm lẻ tám câu kể lể nỗi chờ mong Chinh Phụ ... Những bài hát nói mà âm tiết nghe reo vui như tiếng cười khúc khích khi đời chưa dâu bể. Những câu thơ 7 chữ 8 chữ ... của những người làm Thơ Mới mà chữ nghĩa được nhã luyện đến thành văn vẻ, được chuốc lọc để trở nên óng ánh như trăng sao ... Quê hương tôi đã dạy tôi ăn ở lễ nghĩa trong gia đình, ân cần ngoài xả hội như chính tấm lòng của kẻ sĩ Nguyễn Trải, ngay khi ở phương tây người ta còn thiêu sống nhau vì ba cái trò ngụy tín. Còn bao nhiêu nữa làm sao kể hết. Làm sao tôi quên. Làm sao tôi không nhớ.

 

Vậy rồi tới khi bỏ xứ mà đi, coi như phủi sạch nợ nần. Làm sao lòng không lấn cấn.

 

Xứ người, lạ từng cọng cỏ ngọn cây. Lạ tới tiếng hỏi câu chào. Lắm khi buồn ngẩn buồn ngơ. Dẫu có an thân sao vẫn cứ thấy mình tạm bợ. Mà biểu về, chẳng lẻ lại cúi gập mặt mà về để khỏi nhìn thấy những thay đổi não lòng. Ở đó, những thằng trọc phú quyền thế ! Ở đó những người nghèo mạt hạng không chút đỡ đần ! Và cả một tinh thần nhân nghĩa từ ngàn đời bị dày đạp chẳng làm xao xuyến được một cái nhíu mày !

.......................... ..............................

 

Rồi tết qua đi, sầu ở lại !

 

... Lại thêm một cái tết quê người. Mươi năm đầu, còn nguyên một hy vọng, kềm lòng giữ chí như ngày ra đi. Vẫn mơ một ngày về lại cố hương, thắp nén nhang, quỳ xin tội với vong linh người khuất mặt. Rồi dấn mình vào cuộc trùng hưng. Nhưng rồi, từng năm qua, từng cơn mơ bị giựt dậy phũ phàng ... Tôi đã làm gì đời tôi. Ngoài miếng ăn, từng bữa ... Và quê hương vẫn rền rĩ giọng hờn !

 

Vậy rồi bốn mươi năm đã qua. Qua ngọt xớt như mới hôm qua hôm kia.

 

Thời gian lẳng lặng thoát đi như sao xẹt.

 

Tôi còn ở đây, bên này biển lớn, giữa bãi bờ trắng toát ...

 

Mấy ngày qua, chiếc độc bình cũ được cắm thêm nhánh mai giả, phủi hoài mà bụi vẫn thâm đen. Săm soi rồi thấy mũi lòng. Hoa giả vô tình mà cũng tàn tạ. Nói gì tới người ...

 

Năm này sang năm khác, thói thường rồi phải quen. Quen với sự dư thừa cũng như sự thiếu thốn. Bốn mươi năm rồi. Đủ để quen bao nhiêu thứ lạ mà sao vẫn không quen với cái thói lãng quên. Quen với ngọn thông xanh sừng sững sao không quen với cái trống trải vì vắng bóng bụi tre già. Đã nhẳn mặt với đường lộ phẳng phiu sao còn thắt thỏm hoài lối về làng trầy trật, ngang qua bến nước với chiếc cầu tre lắt lẻo

....................... .........................

 

Bốn mươi năm rồi, sao còn lấn cấn với ba cái chuyện phải quên. Làm như quá khứ giành giựt hoài với hiện tại, bốn mươi năm rồi vẫn không chịu buông tay ! Cái thói quen hay tục lệ mà mỗi năm tết đến là ai nấy dù bôn ba đâu đó cũng lo thu xếp về quê, mừng tuổi mẹ cha, vung đắp mồ mã, cúng vái ông bà ... làm như nhiểm trong máu huyết hay sao. Vậy mà rồi, bỗng dưng, bít hết mọi đường về ! Bốn mươi cái tết xa quê. Lẽ ra đâu còn lạ cái lạnh cóng người của mùa xuân vọng tưởng. Lẽ ra mọi ấm ức phải dìm sâu, chôn kín dưới mấy tầng huyệt thời gian.

 

Vậy mà cứ mỗi lần nghe nhắc tết, lòng sao lại băng hăng bó hó như lỡ thiếu sót một điều gì. Chút lễ vật, trái cây, nhang đèn ... đã có đó, tàm tạm. Làm sao đòi hỏi hơn nữa, chỗ đất trời lạ lẫm.

 

Mà dẫu có thiếu rồi cũng có làm sao. Kiểu ăn nhờ ở đậu. Được chừng một hai bữa. Rồi tết nhứt cũng qua. Ai nấy trở lại với nhịp sống mới đã thành nếp. Sao riêng mình, cứ mãi chút băn khoăn ...

 

Tết tha hương rồi thoáng qua như bóng mây váng vất ...

 

Còn lại không là chút khói hương lẫn lẫn trong gian nhà kín cửa. Chút khói hương quến lại như chút quà tết ai đó bỏ quên. Khổ nỗi, của bỏ quên mà sao gợi đầy mùi nhớ. Những thề nguyền !

 

Có phải vẫn mãi là nỗi ân hận của một kẻ trốn chạy, bỏ cuộc ... giữa chừng ! Có phải vẫn mãi là nỗi chua cay của một kẻ bị giựt dậy giữa cơn trường mộng ! Có phải vẫn mãi là sự hổ thẹn của một kẻ đã thất hứa dẫu thệ nguyền chưa bao giờ được khắc đá đề tên !

 

Trong giờ khắc linh thiêng của một năm, sao lại nhớ, nhớ như mới hôm qua hôm kia, nhớ như từng chữ từng lời đã đục đẽo vào tim ...

 

Tết qua rồi, nhang đèn đã lạnh. Sao lời thư năm nào, tháng nào, ngày nào đó ... vẫn lắt lay trong trí nảo đã gần như mòn nhẵn

 

“ Ở xa, con ăn tết ra sao ? Tết nhứt ba không chờ quà cáp. Ba chờ tụi con gởi về tin vui chung cho hết thảy mọi người ’’

 

Mấy dòng chữ mực xanh, nét sắc như dao khắc ... vẫn còn như từng mũi nhọn.

 

Vậy đó tưởng quên mà vẫn nhớ. Mười năm một giấc mộng không thành. Người chờ cho hết đời cô quạnh. Ta đứng bên trời, lệ chảy nhanh.

 

Rồi tết qua đi, sầu ở lại !

 

Cao Vị khanh

______________

CVK_NGuyBien.JPG
CVK_Thehaiminhson.JPG
cvk_ruoukhoncam1.JPG
cvk_trantinh.jpg
cvk_haumonnhapthat.jpg
cvk_vc1.JPG
CVK_Thang11.png

Khi viên đạn được bắn ra từ một góc khuất trên căn lầu bỏ trống của cái kho sách phế thải ở một góc đường Dallas năm đó, nó đã mang theo trong đường bay của nó định mạng của một người và một dân tộc. ( giả sử có một hơi thở gấp làm ngón tay bấm cò khẻ run, một tia nắng chợt loáng qua làm nheo con mắt đang căng cứng, chiếc công xa chạy nhanh hơn một chút, chậm hơn một chút… và viên đạn trệch đi một kẻ tóc… ờ có bao nhiêu giả sử trong đời như những phải-chi vẫn mãi là những lời xin lỗi )

 

Lúc đó, trong một góc vườn nằm xa hơn một chút về phía tây bắc, lá phong cũng đã đổi màu đỏ rực.

 

Khi đó, xa hơn nữa, tận đáy cùng một lục địa da vàng tối tăm và buồn bã, người thiếu niên mới lớn là tôi như chợt thấy chính mình vừa tử thương. Trong trái tim nồng nàn của nó, thời đó, không chỉ có hoa và bướm, có thơ và mộng mà còn có thêm nữa những áp bức bất công, những chết chóc điêu tàn, những nghèo nàn ngu dốt… hậu quả của một chủ nghĩa thực dân khốc hại và đang trở thành một vùng môi sinh mầu mỡ cho chủ nghĩa cộng sản. Bộ mặt điêu tàn của một xả hội nhược tiểu càng trở nên thảm hại hơn nữa trong sự tranh chấp giữa những bạo quyền. Và cùng lúc càng lộ rõ vẻ trơ trẻn của những “thần tượng” trong cơn chạng vạng của niềm tin. Ngay lúc đó, sự xuất hiện của một người Mỹ trẻ tuổi con-nhà-giàu-học-giỏi-đẹp-trai đặc biệt với những ý tưởng cấp tiến đến độ gần như thách thức lại cả một lực lượng bảo thủ đã ăn rễ trăm năm trong xả hội (tư bản) Mỹ tự nhiên trở thành một niềm hy vọng cho hơn một người tuổi trẻ. Ðã có lúc thanh niên ở những nước kém mở mang, nô lệ nghèo đói và giặc gĩa, bỗng vui náo nức như vừa tìm được một người đồng minh thông cảm và tin cậy. Lứa tuổi của cách-mạng-lãng-mạn tìm được trong đôi mắt sáng, nụ cười ấm, và nhất là ý thức công bằng xả hội như một liều thuốc hồi sinh cho căn bệnh trầm kha của đất nước họ.

 

Buổi sáng hôm đó cái chuyện không ai ngờ được đã xảy ra, viên đạn được nhắm bắn từ một độ cao năm tầng lầu đã đi đúng hướng và nổ tung làm văng mất một phần não bộ của vị Tổng Thống trẻ tuổi thứ 35 của Hoa Kỳ, niềm hy vọng của tuổi trẻ những năm 60, bỗng như nổ tung một lần nữa, giữa tim tôi.

 

Mới vài năm trước, trong kỳ thi tú tài, tôi đã cắm cúi và hào hứng viết không kịp thở bài luận văn có đề tài rất thời thượng. “Anh hay chị nghĩ gì về câu nói của Tổng Thống J.F.Kennedy : đừng hỏi tổ quốc đã làm gì cho bạn mà hãy hỏi bạn đã làm gì cho tổ quốc” Bài thi văn có hệ số 3 và đã vớt tôi qua trót lọt kỳ thi dù rằng điểm toán nếu chẳng là zéro thì chắc cũng không khá hơn một.

 

Câu nói được khéo léo đặt theo lối nghịch đảo và mệnh lệnh cách đủ gây ấn tượng mạnh và đột ngột đặt lại mối tương quan giữa con người và đất nước. Câu nói có thể là lời nhắn gởi riêng với thanh niên của xứ sở ông ta nhưng cũng đã gây tác động không ít đến thanh niên xứ khác. Dường như đã từ lâu lắm người ta mới thấy xuất hiện một lãnh tụ thông minh và khả ái như vậy.

 

Giai nhân tự cỗ như danh tướng

Bất hứa nhân gian kiến bạch đầu

 

Tháng mười một năm nay tôi lại có dịp ghé qua Dallas. Ðúng dịp kỹ niệm 40 năm ngày thảm sát. Thành phố đã có chút dáng vẻ vào thu. Trời không còn nóng cháy và quanh tượng đài đã có lác đác lá vàng rơi. Bốn bức tường trắng vẫn đứng im ỉm như còn giữ nguyên niềm bí ẩn chưa được giải thích thỏa đáng.

 

Xa hơn một chút, trong góc vườn cũ, những lá phong cũng đã bắt đầu ửng đỏ.

 

40 năm. Lịch sử đã xóa đi và viết lại nhiều lần. Cuộc chiến ý thức hệ ở Việt Nam mới dây dưa vào thời kỳ ấy đã bộc phát dữ dội suốt mười năm sau và rồi cũng đã chấm dứt từ hơn hai mươi lăm năm nay. Người chết đã chết. Người còn sống, cay đắng, tật nguyền hoặc vui cười thỏa mãn. Và sự thật thì vẫn còn là nạn nhân đầu tiên và cuối cùng của bất kỳ một cuộc chiến tranh nào.

 

Tháng mười một thơm như một tàu lá mới. Thành phố sạch bóng như vừa được lau chùi. Và lòng người thì cũng trơn lùi kỷ niệm. Người ta có nhớ lại thì cũng chỉ một chút ngậm ngùi. (để làm gì những ngậm ngùi !) Giữa mặt đường láng lẩy ngay chỗ viên đạn nổ tung một giấc mộng có đánh dấu chữ X. Người ta đánh dấu một tội ác hay đánh dấu một tiếc nuối. (và những tiếc nuối có phải là lời tạ lỗi vô thưởng vô phạt ?)

 

Ðứng ở đó, dưới một bầu trời rất mới mà cũng rất cũ như đã y vậy tự bao giờ, lòng bỗng nhiên cảm khái như chuyện chỉ mới vừa xảy ra. Có một cái gì không phải cứ tiếp tục được lặp đi lặp lại. Con người có tự nhận là thượng đế của chính mình thì cũng chỉ là một cuộc đảo chánh vô vọng. Và, lịch sử rốt lại chỉ là một cuộc đánh tráo gian lận của định mạng. Vậy thôi. Trời đất bày vẻ đủ điều chỉ cốt để mà mắt con người và ... bi kịch, chính là ai nấy đều tưởng thật. Người ta sống với cái ảo tưởng về một quyền năng phù phiếm. Người ta ôm ấp những hoài bảo, nuôi nấng lý tưởng, năng nổ hành động như trăm năm là một khắc mà quên rằng sát na đã lố tận thiên thu. Cái phút-chốc có giá trị tiên tri của một lời sấm rủa. Và con người mãi mãi chỉ là một thứ đồ chơi rẻ tiền của tạo hóa.

 

Tháng mười một rực rỡ như một vết thương mới kéo da non.

Và… trong góc vườn thu cũ, lá phong cứ hực đỏ như một nỗi tiếc nuối bị ngậm nín lâu ngày.

Cao Vị Khanh

                        

                    THỐN TÂM

 

                                    -1-

 

      Rượu chiều chưa ngấm đủ say

hồn lưu lạc đã thấm cay vị tình.

   Ly đầu sóng sánh điêu linh

Ngày chưa ngất lịm đã hình như đêm.

   Ngật ngừ tựa bóng. Im lìm.

Trăng sao trốn biệt. Buồn chìm hiện thân

  Nâng ly cụng bước phong trần

mươi năm. Ngẫm lại tội ngần ấy mơ !

   Sá gì chút mộng làm thơ

mà đem tâm sự vổ bờ hư không.

   Đeo chi cái thói đèo bồng.

                       -2-

   Bấy lâu lòng lặng như tờ.

Lơ mơ giấy trắng. Ơ hờ mực đen.

   Cõi thơ lạc nẻo đào nguyên.

Cõi người lắt lẻo giữa triền tử sinh.

   Lòng đau thế sự gập ghình.

Bút đau thắc thỏm chuyện mình với ta .

   Mực tung tóe cõi ta bà !

Ba sinh gom lại một tà huy phai.

   Phất phơ đời ngắn tưởng dài

quơ tay vói níu, rõ hoài ! Rổng không.

   Thôi thì bỏ thói đèo bồng.

 

           c a o v ị k h a n h

CVK_ThoiTam.JPG
cvk_am tuu.JPG
cvk_BTH1.JPG
cvk_hoangphi.JPG

                                                                             tranh OSWALDO GUASAYAMIN

Ta theo ta, những dặm dài

từ đêm điếm cỏ nối ngày cầu sương.

Ai xui mộng mị dị thường

chân tù ngục, hồn dặm trường thiên nhai.

Dưng không, du tử đường dài

bốn bên bề bộn bạn bầy bỏ bê.

Kiếp chung cá chậu ê chề

thớt dao đã sẵn, tư bề. Bó thân.

 

Đường tình sắp lớp cố nhân

khít khao lắm cũng xa gần chiêm bao.

Sẩy tay, nguyệt rụng phương nào ?

Ô hay sương khói bào hao nỗi mình !

Thôi thì, huyệt mộ làm thinh,

kết hoa, tẩm liệm, cung nghinh điệu sầu.

 

Đường đời bước thấp bước cao.

Bấp bênh. Lạ lẫm. Lao nhao. Lằng nhằng.

Bốn phương tám hướng lăng xăng.

Bước lang bang. Bước hoang mang. Bước càng.

Tới. Lui. Lèn lách. Chàng ràng.

Nhơn. Chia. Trừ. Cộng. Phí thân phận người

. ........

........

 

Mỏi chân. Ngó lại. Bật cười.

Đầu đời tay trắng. Cuối đời tay trơn.

 

Cvk

cvk_gioma_2.JPG

GIỖ MÁ

Con về máy động tuổi thơ

ngủ quên đáy mắt mẹ chờ cuối năm.

Con về lau giọt lệ thầm

sót trên khóe mỏi khóc câm. Những ngày.

Con về cầm lại đôi tay

trơ xương từ buổi trời bày cuộc chia.

Con về nối lại đoạn lìa.

Má đâu đó sáng, con khuya biệt mù .

 

Cao vị khanh

CVK_Tietphungam.jpg
cvk_thang7.jpg

Tháng bảy. Tháng của bất chợt mưa đêm và lao chao cánh phượng. Tháng của trường đóng cửa và bàn ghế bỏ trống.

 

Tháng bảy. Tháng của râm ran tiếng ve đến sốt ruột và của những trang lưu bút viết vội khi đầu óc còn bàng hoàng vì dư âm của khúc nhạc tạm biệt, bây giờ nghe ra ngu ngơ mà hồi đó sao xao xuyến chi lạ. Hôm nay đây còn vui trông thấy nhau. Bên tiếng ca tiếng đàn vượt trời cao...

 

* Không đâu mà bỗng dưng nhớ lại. Những mùa bãi trường tháng bảy... của một thời đã xa và ở một chỗ không còn gần nữa.

 

Mới cuối tháng sáu, sách vở đã bị bỏ quên sau kỳ thi đệ nhị lục cá nguyệt mới vừa xong. Thầy cô còn lo chấm bài thì học trò không hẹn mà đã bắt đầu lơ là với chuyện học hành. Mà làm sao không lơ là cho được. Học trò còn bận bịu trăm ngàn chuyện khác, còn quan trọng và thiết thực hơn biết mấy cái mớ định lý với luận đề cùng những niên biểu với triều đại xa xôi như mấy cái cố sự mịt mù. Phải rồi ai mà dửng dưng cho được, khi trên trời xanh thì mây trắng cứ đong đưa, nắng thì cứ vàng hoe, ve sầu cứ kêu ra rả và lòng người ta thì chộn rộn như cái nắp vung đậy nồi xào bần ba ngày tết bị chụm lửa quá độ. Người ta đã bị o ép chín tháng trời mệt lả. Toán, lý hoá, văn chương, sử ký, địa lý... toàn là thứ cũ mèm khô hóc trong khi mấy cái món tươi roi rói kia thì cứ bị cấm đoán rầy la. Này mắt em-chưa-quen-đã-nhớ ngoài cửa lớp, này bóng anh-nhẳn-mặt-cònlạ lấp ló cuối hành lang, này tờ thư làm bộ bỏ quên trong quyển sách mới-mượnchiều-qua-đã-trả-lại-sáng-nay... - học trò còn mắc mớ với bao nhiêu là bận-bịuchẳng-ai-xúi-biểu của cái thuở vậy-đó-bỗng-nhiên-mà-họ-lớn...

 

Tháng bảy là những ngày dài rong chơi, phố gần, chợ xa, vườn rẫy, núi non, sông nước... những góc vắng tụ năm tụ ba chia lén điếu thuốc đầu đời, những tối long nhong đạp xe qua nhà ai mắt cứ liếc ngang liếc dọc, có thấy gì được đâu họa may một cái bóng vô tình mà cũng về hí ha hí hửng chép thơ-nguyên-sagặp-một-bữa-anh-mừng-một-bữa...

 

Tháng bảy. Sung sướng quá giờ cuối cùng đã hết. Ðàn chim non hớn hở rủ nhau về. Chín mươi ngày nhảy nhót ở đồng quê. Ôi tất cả mùa xuân trong mùa hạ.(**)

 

Cái mùa bãi trường tháng bảy... cái mùa xuân lộn chỗ đã làm hơn một kẻ luyến lưu... Có người còn coi đó là những kỷ niệm đẹp nhất của một đời người.

 

Vậy mà rồi mất hết khi người ta phải bỏ đi, một ngày nào đó. Ở chỗ xa, không có phượng đỏ làm sao còn thấy rơi xuống lòng ta những giọt châu. Không có bạn bè làm sao mà yêu dấu. Không có tiếng trống thùng thình làm sao mà bồi hồi. Và nhất là không có ngôi trường cũ nóc dột đã mấy đời, những gốc me gốc còng cỗi đến không còn đếm được tuổi, những xe bánh lọt đậu đỏ ngọt ngây, những rổ cốc rổ ổi chua lét, và những mái tóc và những đôi mắt... thôi đã mờ như trầm tích, lấy gì mưa xuống cho những linh hồn đã khô...

 

Vậy mà rồi mất hết... Người ta buồn bã bỏ đi. Mười năm. Mười lăm hai mươi năm. Buồn bã sống như loài ốc không hồn, bò lết trên những nhánh đời thất lạc...

 

Từ vài năm nay, tháng bảy ở Mỹ châu, ở Âu châu, ở một thành phố xa lắc tuốt bên Úc, ở một thị trấn lưng chừng đâu đây, bỗng nghe một ngày họp mặt, một buổi gặp gỡ của những người tưởng đâu đã biệt tích, ngờ đâu đã trầm luân... Rồi bỗng trở về, bàng hoàng như từ cõi trăm năm... Họ gặp lại nhau, đuôi mắt đã đầy dấu chân chim, đầu tóc đã bào hao sương tuyết... Họ níu tay, vỗ vai, cười ha hả hay khóc sụt sùi. Họ ôm chầm lấy nhau, ngỡ ngàng ngó lại quá khứ mình, rưng rưng thấy lại tuổi trẻ mình... cái quá khứ cái tuổi trẻ đã chìm khuất theo quê hương biết bao nhiêu thương nhớ mà cũng biết bao nhiêu ruồng rẫy. Họ cười nói, chuyện trò, uống chung nhau ly rượu, ăn ké nửa miếng bánh như thuở còn sẻ nhau góc tư góc tám những sợi-tóc-cứ-vương-vướng-chân-người.

 

Em kể cùng ta những dặm đường. Những hồi ly biệt, nỗi tang thương. Những sông suối cạn, cồn quạnh quẽ. Những núi tang thương, biển đoạn trường.

 

Chép lại một đoạn đã viết về một lần họp mặt đó. “

 

...Vậy đó, mỗi người đều có một ngôi trường cũ tưởng khi vội vã ra đi đã bỏ sót lại. Tưởng đâu người ta đã cướp mất luôn cái nơi chốn thân yêu sau khi đã đuổi mình đi tan tác. Nhưng không, ngôi trường cũ của em đã không bị cướp mất mà còn được nhân lên mấy lần nhiều hơn nữa. Bởi vì cái xác trường thì còn kẹt lại đó, chớ cái hồn trường thì đã theo em và bạn bè đi lưu lạc tứ phương. Bằng chứng là lâu lâu lại nghe tin buổi hợp mặt học trò trường Nguyễn Trung Trực ở chổ này, mai mốt lại nghe hợp mặt ở chổ khác. Hóa ra cái trường Nguyễn Trung Trực đâu còn ở tận cái thị xả xa xôi đó nữa. Nó ở ngay đây, kề bên em đó. Nó ở giữa phố phường đông đúc vùng vịnh biển phía tây nước Mỹ, nó cũng ở tại vùng đồi núi cheo leo phía đông. Nó nằm trên vùng cực bắc lạnh lẽo mà nó cũng có giữa đồng cỏ miền trung tây mênh mông. Nó có ở châu Âu mà cũng có tuốt bên châu Úc. Nó đã hóa thân thành muôn vạn tấm lòng rải ra khắp cùng mặt đất. Ðến đổi chừng như nơi nào có đôi ba học trò cũ là có trường mới dựng lên, hồn nhiên và thành khẩn. Những người học trò cũ đã chắt chiu mang theo từng mảng vụn để rồi dựng lại thành những ngôi trường mới, những nơi chốn mới để cùng trở lại hành hương. Ở đó em gặp lại đủ hết, thầy cô cũ, bạn bè cũ. Có thể còn thiếu sót một số người. Nhưng có sao đâu em, họ đến trễ đó thôi, vẫn còn chổ để dành riêng cho họ. Ở đó em sẽ thở lại chút hương thời tuổi dại. Em sẽ thấy lại từng mặt người quen, dù sơ hay thân vẫn là cái tình người nồng ấm, cái tình người mà tôi chắc nếu em có bỏ công lặn lội ngàn ngàn cây số để trở về, đứng lại giữa khung lớp cũ em cũng không còn tìm thấy được nữa. Người ta đã thiêu hũy nó lâu rồi. Cái tinh thần tôn sư trọng đạo, cái ý chí của bậc đại nghĩa mà trường mang tên đâu còn chỗ ở đó nữa. Tên tuổi đó bây giờ chỉ là sự ngụy trá chớ còn hồn thiêng cũng đã phưởng phất theo bầy con cháu tha phương. Chính những ngôi trường mới mà đám học trò cũ bằng tinh thần xưa gầy dựng lên ở đâu đây, một hôm nào đó mới là cái nối tiếp liền lạc của nếp văn hóa đã thành truyền thống, mà chúng ta còn hảnh diện mang tên. Tôi vẫn tin rằng, ở nơi chốn cũ, bạn bè và thầy cô, những người đã mang chung cùng em kỷ niệm, dù có lao đao lận đận vẫn gởi lòng sang trong những buổi hợp mặt này. Tôi tin em cũng không quên họ. Em đến để gặp lại những người có mặt. Mà em cũng đến để gặp lại những người vắng mặt nữa. Phải không? Giữa bàn tay siết chặt, trong vòng ôm thân ái ở đây làm gì không có thấp thoáng một dấu vết xa xôi, một lời thăm hỏi ở đây làm gì không có ngậm ngùi một câu nhắn gởi thầm cho người còn ở lại đó. Tôi tin vậy lắm bởi vì chung thủy vẫn là đức tính của người-nguyễntrung-trực và nghĩa nhân vẫn là bài học thuộc lòng mà chúng ta vì muốn nhớ nên đến nỗi phải bỏ đi. Ở ngôi trường mới đó còn bao nhiêu người em chưa hề thấy mặt nhưng tôi tin rồi em sẽ quen biết dễ dàng. Ở đó mọi cấp lớp đã bị xóa đi, mọi giờ khắc sẽ sắp trùng lại. Mọi người chỉ còn một thời dụng biểu duy nhất. Thực tập cái bài học tình thương bị bỏ dở nửa chừng. Những anh, những chị, những em sẽ không còn là những chủng tử lạc loài. Chúng ta đã có cơ may để nhập lại làm một. Một tấm lòng duy nhất. Chúng ta may mắn có ngôi trường cũ rộng mênh mông như biển đủ sức hút về hết mọi nhánh sông con. Giữa lượng biển hãi hà có giọt nước nào khác với giọt nước nào đâu, phải không em? Dường như có lần nhà thơ họ Vũ sau khi thấy hết cảnh núi lở sông bồi đã ngậm ngùi than rằng:" Chúng ta mất hết, chỉ còn nhau". Vâng, đúng rồi em, chúng ta đã mất hết, nước non, tuổi trẻ, danh vọng, tiền tài... Cái chúng ta còn lại chỉ là một tấm lòng son sắt như chút "của tin" mà Thúy Kiều đã giữ suốt mười lăm năm đòi đoạn để trân trọng giao lại cho người tình. Ðoạn trường của chúng ta đã hơn hai mươi lăm năm, chúng ta còn gì để lại cho trường cũ nếu không là chút tình nghĩa tặng cho nhau trong cơn thất tán này.

 

Và cũng chút xíu tình nghĩa đó thôi để mai kia mốt nọ có lỡ bước trên dặm đường lưu lạc vẫn còn biết có một nơi mà gởi gắm lòng về... ”

 

Ðã đủ chưa để nói về một sinh hoạt mới của đám dân lưu lạc. Hai mươi lăm năm đã quá thừa cho một câm nín. Ðã đến lúc để nhắc nhở nhau về một nơi chốn đã bỏ đi, hâm nóng lại chén đời đã lạnh, mời nhau húp lại chút cặn thừa rất tình-xưa-nghĩa-cũ. Nhưng mà có gì nồng nàn và chân thành hơn mớ dây mơ rễ má bắt đầu từ ngôi trường cũ đó, lúc mà tuổi đời không quá non để còn khờ khệch mà cũng không quá cằn để đến nỗi chai lì. Bởi vì phải không, chính ở đó mà chúng ta đã lớn lên, học hỏi trong yêu thương và tin tưởng sáng lán nhất. Chính ở đó chúng ta đã có những thầy cô gần gũi và ân cần đã hé mở cho chúng ta dấu dạng của tương lai. Và cũng chính ở đó, chúng ta đã có những người bạn mà chân tình không dễ gì tìm lại được nữa.

 

Tháng bảy năm nay tôi sẽ đi dự buổi họp mặt thầy cô và học trò cũ của ngôi trường tôi đã dạy. Chắc tôi sẽ gặp lại một số người quen biết cũ. Dù thân hay sơ, có thể họ đã già đi nhiều sau những năm lận đận, có thể họ sẽ tươi tắn hơn nhờ những thành đạt ở đây, tôi không biết tôi sẽ gặp ai, nhưng điều tôi biết chắc là tôi sẽ gặp lại những tấm lòng. Những tấm lòng dù nông sâu khác nhau đều đã được un đúc, nuôi dưỡng bằng chính tinh thần nhân ái vẫn là nền móng của những ngôi trường trung học cũ ở miền Nam trước năm 75. Cái tinh thần nhân ái đã chắp cho họ đôi cánh mỏng, giúp họ bay qua những vòm trời gió bão, và còn giúp họ bay tìm nhau sau cơn hoạn nạn chung.

 

Chúng ta vẫn còn đó, những niềm tin, phải không ?

 

Cao vị Khanh

 

* Ngày tạm biệt-Lê Dinh

** Thơ Xuân Tâm

cvk_dodo_3.jpg

“DÔ” ! “DÔ” !

 -tửu phùng tri kỷ thiên bôi thiểu

                             Âu Dương Tu

 

c a o v ị k h a n h

RƯỢU CHIỀU

Rượu chiều chưa ngấm đã say

đã hai con mắt phương đoài đăm đăm .

Người đi chẳng một vọng âm

chỉ nghe quạnh một tiếng thầm trong tôi

 

t r ầ n b a n g t hạ c h

RƯỢU CHIỀU

-CỤNG LY 1-

Ở đây dư một chỗ ngồi

thừa con mắt nhớ, thiếu lời tri âm

nhớ người tôi chuốc rượu thầm

nghe men rượu đắng từ trăm năm nào.

 

n g u y ễ n v ĩ n h l o n g

RƯỢU CHIỀU

-CỤNG LY 2-

Chiều nghiêng theo chút rượu này

Hơi men đã thấm những ngày tháng xưa

Người đi lá chợt thay mùa

Sao nghe trong tiếng tình xa ngậm ngùi

Người đi mang cả hồn tôi...

 

n g u y ễ n t h ị k h á n h m I n h

RƯỢU CHIỀU

-CỤNG LY 3-

Ở đây... lạnh một chỗ ngồi

Bước cô độc bước. Nhớ người. Tới. Lui.

Có con dế gáy sụt sùi

Cụng ly ta với đất trời mang mang.

 

b c d

RƯỢU CHIỀU

-CỤNG LY 4-

Rượu người. Tôi uống. Môi cay.

Rượu tôi. Dưới đáy. Chạm ai môi buồn.

Những chiều, những tối tuôn tuôn

Chỗ ngồi đã mõi mòn đường quan san.

______________

 

cvk_camkich.jpg
cvk_TTT1.JPG
CVK_bavacon.jpg
cvk_huongnhan.JPG

CAO VỊ KHANH: HƯỜNG NHAN

huong-nhan-v1.pdf | Cao Vị Khanh (caovikhanh.com)

CVK_ThangTuTuyenTap.JPG

CAO VỊ KHANH

 TUYỂN TẬP THƠ VĂN THÁNG TƯ :     

thang-tu-tuyen-tap.pdf | Cao Vị Khanh (caovikhanh.com)

cvk_nonan_3.jpg

Chui ra khỏi bụng mẹ là ôi thôi nợ đâu mà nợ như Chúa Chổm. Thiệt tình cũng chẳng rõ ông Chúa Chổm nợ nần ra sao mà đời trước tới đời sau, ai cũng biết, cũng rêu rao, cũng xỏ xiên... Mà hổng biết ông chúa đó rồi có thanh toán được chút nào món nợ... như-chúa-chổm đó không, chớ nhìn ra thiên hạ bốn phươngkể cả kẻ đang muốn.... trần tình này chẳng những nợ nần ngập đầu mà còn gần như là chuyên môn... giựt nợ. Từng đoạn đời là từng lần vay mà không trả. Rồi có khi có trả mà thiếu đủ cũng chẳng biết ra sao. Ý là chưa nói đến chuyện lời lỗ của chủ nợ. Vậy mà cứ dang thân đi mượn nợ gần như không biết... mắc cở là cái chi. Hết nói.

 

Lại nữa, nợ tiền nợ bạc xanh xít đít đuôi gì vậy mà dễ tính. Còn cái thứ nợ dẫu chưa bao giờ được tính phân lời, dẫu chủ nợ chưa bao giờ xắn quần xắn áo tru tréo rủa xả đòi cho bằng được... vậy mà làm như dẫu cho có muốn trả hoài trả hủy mà rồi sao thấy nợ vẫn còn... nợ. Kỳ thiệt.

 

Có khi nào rảnh rổi, ngồi buồn, mà đừng có bày đặt bắt chước Thúy Kiều-buồntrông-cửa-bể-chiều-hôm chi cho nó mỏi mòn con mắt, nhìn ngay cái chỗ gần xịt, khít rịt với mình nè, nói văn hoa chút theo kiểu ông TCS là nhìn-lại-đời-mình-đờiđã-xanh-rêu đó, coi có phải ! Ngay cái lúc mới mang-tiếng-khóc-bưng-đầu-mà- ra, nợ nần đã lút đầu lút cổ. Phải không. Làm chi mà để mấy má, mấy mẹ, mấy mệ, mấy mợ, u, bầm, măng, mom... đeo cái bầu tròn vo trước bụng, phá vở hết mọi đường cong mỹ thuật của phái đẹp, rồi lại nặng nề đêm ngày ì ạch tới lui mất cả vẻ thướt tha của phái nữ, đôi khi còn ụa mửa tới mật xanh mật vàng... Phải chi cực nhọc vậy sau 9 tháng 10 ngày rồi vọt ra cục vàng cục ngọc gì cho cam. Đằng này, chui ra đỏ hỏn huyết nhớt lòng thòng thấy mà phát gớm. Lắm khi còn bị phán cho một tiếng gọi nghe ra cũng chẳng ngọt ngào gì cho lắm: cục nợ. Mà thiệt, gọi vậy cũng đáng. Chớ nghĩ lại coi, khi không rồi những bậc thuyền quyên vốn mỏng mảnh như tơ như lụa mà thiên hạ cứ xưng tụng là liễu yếu đào tơ đó lại đau đớn tới nỗi vặn vẹo rên rỉ như bị khảo tra tùng xẻo gì đâu á. Nội cái thành ngữ banh-da-xẻ-thịt đủ cực tả cảnh lâm bồn vừa vinh quang vừa rùng rợn hết nói. Nghĩ lại mà thấy thương ơi là thương thân phận nữ nhi, dẫu khi muốn khi... lỡ, mà hễ được lên chức cái là trần ai lai khổ. Rõ ràng là bất công quá mạng. Trai nam nhi muốn làm cha sao dễ ợt. Có khi lại còn được đưa lên tới tận cõi thiên thai. Còn làm mẹ, thì ôi thôi, dẫu có lỡ dại nghe lời rù quến mà theo tới cõi đào nguyên rồi sau đó đường về trần thế ôi sao mà... đoạn trường quá đỗi.

 

Nghĩ vậy rồi dưng không mà phát hoảng ! Từ khi là cục nợ, sau suốt mấy chục năm trời, theo luật tự nhiên nợ hẵn là mỗi ngày mỗi lớn, tới nay chắc hẵn đã là cả ôm, cả đống, cả khối, cả núi nợ... không chừng. Vậy mà suốt mấy chục năm trời ròng rã đeo đẳng mà chẳng chút áy náy, mà vẫn nghênh ngang ( có lúc cũng thì thụt ) đi lại giữa đời sao tự dưng thấy lòng cảm thán quá đỗi !!!

 

Thiệt vậy, từ cái ngày gọi là lọt-lòng-mẹ, dấn mấy tấc thân mềm nhủn vào đời kể ra cũng lắm nỗi nhiêu khê cho cả ba bên bốn phía. Từ ẩm bồng, rồi bò lết, rồi đứng chựng, rồi lẫm đẫm hai ba bước cho tới khi chạy nhảy lưng tưng... cho đến khi gọi là lớn đại, đi đứng vững vàng... Từ chuyện bú móm đến chuyện rửa ráy... đã có bao nhiêu lần tay đỡ tay bồng, bao nhiêu lần tay dìu tay dắt, vỗ về, răn dạy... chưa kể những lúc ấm đầu sổ mủi... cho đến khi gọi là trưởng thành, đi đứng vững vàng... biết bao nhiêu là công lao mà người xưa gọi là dưỡng dục. Công cha vô cùng thì nghĩa mẹ cũng vô biên. Cũng chẳng phải có ý so bì nhưng dẫu sao cũng phải nhìn nhận là những việc lắt nhắt, hay gọi là lặt vặt như thay tả, tắm rửa, tay vừa bếp núc tay vừa đưa võng ầu ơ... ít khi được “ thống kê ” chính thức... nên dễ bị bỏ vào xó lãng quên trong cái đầu vốn rối mù của thế nhân. Người ta có thói quen hay nhớ cái gì to, lớn, rõ ràng, rổn rảng... Còn ba cái chuyện rủ rỉ rù rì... gọi là “dổ em” rất dễ chìm lĩm trong cái biển động ì xèo của cõi nhân sinh.

 

 

Thử nghĩ coi một cục đất sét nếu không có người nhồi, nắn... từng chút một thì làm sao thành hình cái tộ tròn vo hay cái chén tròn trịa để đem đi hầm cho cứng cáp... Nhưng rồi người ta thường hay tấm tắc khen lớp men láng lẫy hay mấy nét vẻ sơn thủy hữu tình. Ít kẻ thấy ra hai bàn tay dính đầy bùn đất...

 

Tình mẹ nuôi con như hai bàn tay dính đầy bùn đất đó...

 

Nghĩ vậy rồi quay sang người bên cạnh. Đã có ông nhà văn nào đó ở bên tây có lần phát ngôn ngon ơ : Tội lỗi ( hay hạnh phúc hay đau khổ ) chỉ có khi có đôi có cặp. Mà thiệt, một người thì có làm ra trò trống gì được. Sát bên cạnh người đàn bà cơ cực đủ thứ đó là người cha- tùy theo “vùng miền” mà đổi lại gọi là ba hay cậu hay thầy hay tía... cũng sừng sững có dẫu không cao như ngọn Thái Sơn kiểu Tàu nhưng cũng không thấp hơn dãy Trường Sơn kiểu ta khi dang thân mình che chắn, chống đỡ, răn đe, uốn nắn... nuôi dưỡng đứa con suốt từ tuổi non xèo cho tới khi chín tới...

 

Còn nhớ chăng, những bữa mưa ngày nắng, trần vai gánh nặng ngoài trời hay còng lưng trong xưởng thợ, mặt mũi tay chân lấm lem hay cặm cụi trong phòng ốc... Gì thì gì cũng để đầu tháng đem đồng lương về mua sửa, đong gạo, thuốc men, mua tấm áo mới tựu trường, sắm chiếc xe đạp ba bánh con con... Hơn nữa, đôi khi còn là tấm gương cho đứa trẻ soi mình.

 

Nói chung, cả cha cả mẹ, cả ba cả má, thầy mợ... những bậc sinh thành ra ta đó, đã một đời tranh sống để nuôi dưỡng ta lớn lên, ngày hai bữa cơm canh, còn dạy dỗ ta tình huynh đệ nghĩa bằng hữu, kính trên nhường dưới, gần gũi xóm giềng, yêu thương đồng loại, tránh cái xấu chuộng cái tốt, gìn giữ đạo làm người... Những bậc sinh thành đó, thức khuya dậy sớm trong bao năm trời để theo ta từng bước, dẩn dắt ta hướng đúng chính đạo để chờ ngày ta dong ruổi... Những bậc làm cha làm mẹ đó, đã còng lưng trải cho ta con đường sáng rỡ, hy vọng chờ ta, một ngày dấn bước...

 

Tính ra, từ sơ sinh tới trưởng thành có đứa con nào không vay mượn của mẹ cha thời gian, sức lực, tinh thần... Những nợ nần đó nếu đem đổi ra đô-la Mỹ chắc cũng đếm không xuể, còn nói tới tiền Hồ Chí Minh thì ôi thôi biết là bao nhiêu triệu triệu tỷ tỷ... hổng chừng xây không biết bao nhiêu cái lăng mộ Ba Đình mà cũng còn dư nữa là.

 

Những công lao đó nếu không là nợ nần ta đã vay thì là gì ? Là gì ? Mà rồi có trả cái món vay mượn đó không. Nếu không trả được sòng phẳng thì rõ ràng là... giựt nợ, phải không ?

 

Cùng lúc đó, vừa lên năm sáu tuổi cha mẹ đã đưa ta đến trường lớp, gởi gắm cho thầy cô. Những ông thầy bà cô luống tuổi, thân xác teo tóp mà lại cứng cáp như những nhánh tre già, kính lão trệch đùa xuống sóng mủi, đôi khi cây roi mây tưa xơ nhịp nhịp giữa mấy ngón tay khẳng khiu, đã tập cho ta đánh vần từng chữ cái, đã cầm mấy ngón tay ta tập đồ những nét chữ cong cong, tập cho ta học thuộc lòng những bài thơ chữ nghĩa nồng nã tình người tình nước... Lớn lên chút nữa, lại lớp thầy cô khác, có khi trẻ tuổi hơn nhưng cũng không kém tận tâm đã mở cửa một vòm trời mới, cao vời vợi đính đầy những tinh tú sáng ngời của kiến thức nhân loại. Từ văn chương của tình tự dân tộc đến khám phá khoa học của thế giới, không nhiều thì ít, những vị thầy cô lúc đời ta đang độ hàm tiếu đang chuyển mình qua tuổi mãn khai, đã sắm sửa hành trang và mở lối cho ta phóng mình vào cõi đời bao la đến trăm mặt.

 

Bao nhiêu là chữ nghĩa, bao nhiêu là thơ văn đầy ắp hồn tính dân tộc, bao nhiêu là kiến thức khoa học dù có sơ khai vẫn là căn bản để vững chân bước vào đời.

 

Mười mấy năm vô ra trường ốc, ai không mơ có ngày đền đáp lại công ơn giảng dạy đó, đem mớ kiến thức đã vay mượn trước trả lại cho lớp trẻ đi sau. Ai không nghĩ có ngày đền đáp lại tâm sức của thầy cô bằng cách truyền thụ lại hết lòng cho những thế hệ tới sau để cùng phục vụ đất nước đã hết mực cưu mang.

 

Những công lao đó nếu không là nợ nần ta đã vay thì là gì ? Là gì ? Mà rồi có trả cái món vay mượn đó không. Nếu không trả được sòng phẳng thì rõ ràng là... giựt nợ, phải không ?

 

Vậy đó, làm sao tính ra cho hết, những món nợ trần ai đã vay đã mượn. Dẫu không có giao kèo cũng chẳng có hạn kỳ, những món nợ vay mượn hết sức hồn nhiên đó vẫn là những món nợ, còn đeo đẳng đâu đó, để những khuya hôm mất ngủ, để những sớm mai thức dậy, chợt lòng sao áy náy, thoáng chút băn khoăn.

 

Thêm chút gì ray rứt...

 

Nghĩ cho cùng, phải đâu mánh mun chụp giựt gì cho cam. Từ buổi đầu, dẫu không có thề nguyền, vẫn in lòng đền trả...

 

Sực cái...

 

Đại nạn bất kỳ...

 

Thế nước tới hồi mạt vận. Mọi thứ thay đổi lộn tùng phèo. Chính trị, kinh tế... kể cả luân thường đạo lý vốn đã ngàn đời ăn luồn trong mạch máu... một sớm một chiều đổi trắng thành đen. Cái “dữ” lên ngôi. Dẫu đời xưa hay nói “hùm dữ không ăn thịt con” nhưng lần này thì kẻ chiến thắng đem làm thịt thiệt cái đám lơ-tơ-mơ ở phía Nam, vốn mù mờ như bầy thiêu thân thấy bóng sáng. Vậy rồi, đường cùng, cả bọn kéo nhau trốn đi. Người phước đức vớt vát được thêm cha già mẹ yếu. Còn cái đám lo thân riêng còn trật vuột nói gì vói tới được thân thích ngay cả cha mẹ mình. May mắn giàn trời mới nhét được cái thân mình lên ghe có- giang đi vượt biển. Vậy rồi...

 

-Trích truyện ngắn RAU RĂM Ở LẠI -

Khuya đó ông bà nội đốt đuốc đưa cha con mình ra bờ sông chờ đò lên tỉnh.̣(-để đi ké một chuyến ghe vượt biên, chín ngày sau ) Nước lớn mênh mông chảy lênh láng sát mé bờ. Gió như bầy thú sút chuồng rượt đuổi nhau chạy giỡn ngoài vàm trống. Ba đứng giữa quấn kín con trong chiếc khăn lông ôm sát vào lòng. Ông bà nội đứng hai bên chắn gió, dáng bà nội xiêu xiêu như tàu lá mỏng. Con chó Lu già sụm cũng lẩn quẩn chạy theo chân rồi nằm ngóc mỏ bên chân nội. Ngọn đuốc cháy lập lòe, chập chờn mấy cái bóng im im. Đêm chưa muốn sáng thấp thỏm chờ mấy vì sao đến muộn. Rồi đò tới. Ông bà nội ôm hôn ba và con lần chót. Ba quay mình bước xuống đò ngoái nhìn lên thấy bờ bãi lạnh tanh. Hình bóng nội lung linh như có như không. Đò quay mũi. Ngọn đuốc sắp rụi hắt đóm lửa cuối bùng lên đủ cho ba nhìn thấy hai khuôn mặt thân yêu lần nữa. Mặt bà nội ướt đẩm như sương. Mặt ông nội hun hút hằn sâu như khắc. Ba còn thấy kịp nữa con hình như chân bà nội khịu xuống tay ông nội dang ra đỡ rồi đuốc tắt ngấm, đò chạy xa thêm, bóng tối trùm lên mù mịt. Đò chạy xa thêm. Ba mất nội và mất cả quê hương từ lúc đó.-

 

Và từ đó, bặt tăm !

 

Năm bảy năm sau, cha mẹ qua đời, chẳng về đội được chiếc khăn tang ! Có phải là giựt nợ không ?

 

Xứ người, đổi đời thêm lần nữa. Mớ chữ nghĩa đã thu tóm được từ tiền nhân, đã cày cục mài dủa thêm cho sáng ngời ý vị, đã chăm bẳm sẽ đem truyền đạt cho lớp đời sau để vừa trả món nợ đã vay vừa nối tiếp công lao của người đi trước. Nối tiếp việc truyền tụng để rỡ ràng thêm hồn tính dân tộc, để siết chặt hơn nữa mối ràng buộc tình nghĩa đồng bào... bỗng chốc hóa ra vô nghĩa, vô ích, vô dụng. Xứ người, mớ ca dao tục ngữ, lớp văn chương nền nếp, tư tưởng tamgiáo-đồng-nguyên... đã được kết tạo và lưu truyền bằng máu huyết của cha ông rồi cũng đành xếp xó. Thay vào đó mớ chữ tây chữ u uốn éo tới méo miệng, đinh ốc bù lon kềm búa múa loạn tới chai tay... Nghĩ cho cùng, kiếm ăn bằng cách nào thì cũng là để... no bụng. Mà điều lắm khi nghĩ tới công lao của bao nhiêu người đi trước đã dày công truyền tụng, riêng mình đã tâm niệm nối bước đành đem bỏ xó, lắm khi cũng không khỏi ngậm ngùi.

 

Nói ngậm ngùi là cho ra vẻ... văn chương thi phú ! Chớ đúng ra phải nói là mắc cở. Ai đời ngay khi đất nước bị giặc phá tan hoang, bạn bầy đồng lứa, kẻ thì súng dài súng ngắn lội rừng ngủ bụi, xả thân che chắn cho yên lành trường ốc, kẻ thì vùi thây khi chưa tới tuổi đôi mươi cốt giữ cho yên lành ngày tháng tới lui làm bạn bầy với chữ nghĩa. Vậy rồi, trèo lên bục giảng học trò chưa kịp nhẵn mặt, thoắt cái đã gục mặt bỏ đi, bỏ lại hết bao nhiêu ân nghĩa đã nhận từ những kho trí tuệ uyên bác cũng như từ mạng sống của lớp lớp trai trẻ đồng thời.

 

Và từ đó, biệt dạng !

 

Mươi năm sau, chẳng trả lại được một chữ nhất ! Có phải là giựt nợ không ?

 

Ba cái chuyện quốc gia đại sự sau mấy lần nhấp nhỏm rồi thôi cũng đành. Còn lại tấm thân lưu vong rõ là bỏ xứ đi kiếm ăn đúng y kiểu người xưa đã cảm thán bằng bốn chữ tha-phương-cầu-thực. Không hơn không kém. Mớ thề nguyền trong dạ ngày trốn chui trốn nhủi xuống ghe, bỏ mặc đất nước với cha mẹ già và nền nếp dân tộc một sớm một chiều rồi y như kẻ trốn nợ. Còn hơn vậy nữa. Nói trốn nghe ra còn chút vớt vát biết đâu có ngày khấm khá, quày lại trả nợ xưa... Đằng này thành ra kẻ giựt nợ chuyên nghiệp.

 

Mà phải vậy thôi đâu, ngoài ba cái món nợ chính thức coi như dễ dàng khai báo, còn lại thứ nợ có có không không, có mà như không không mà như có... thì ôi thôi, huyền ảo còn hơn cả chuyện thần tiên chẳng biết tin vào đâu cho đúng.

 

Ngay từ cái thuở mà người ta gọi là ăn chưa no lo chưa tới, còn hí hửng ra vô mấy khung cửa lá sách nép kín dưới mái nhà lợp ngói âm dương, rõ là rổi rảnh, cơm nước thì có cha mẹ lo, chữ nghĩa thì thầy cô gánh, đầu óc lơ mơ thả lỏng như mớ mây trắng vẩn vơ trên vòm trời xanh ngắt, tới lui thong thả giữa mấy lọn nắng vàng hoe, hồn phơi phới như đám lúa mạ tươi mơn mởn... vậy đó mà khi không rồi... kiếm chuyện. Con gái người ta nuôi, chăn giữ như gìn vàng giữ ngọc, “ngoại hình” và “ nội thất” thiệt là trăm phần tương phản với mình... chẳng có tí ti gì tương đồng, vậy mà trời xui đất khiến sao không biết bỗng dưng thấy có gì ngồ ngộ trong đầu, trong lòng, trong tay trong chân tới nỗi lỡ ( hay rủi hay may ) mà gặp phải thì làm như có cái gì ngọ ngoạy trong đầu, trong tim, trong người... tới nỗi đâm ra luống cuống, tay chân như thừa thải, tim thì đập như nhảy điệu Be-bop. Vậy đó, biết sao mà nói cho hết. Thì thôi, bắt chước mấy ông thi sĩ phán đại theo kiểu làm-sao-giải-thích-được-tình-yêu-có-nghĩa-gì-đâu-mộtbuổi-chiều v.v... và v.v... Coi vậy mà ba cái vụ lùm xùm yêu-đương-hờn-giận đó lại có ép-phê hết biết. Hổng hiểu tại sao mà khi không rồi đâm ra cứ hay mơtheo-trăng-và-vơ-vẩn-cùng-mây. Thiệt tình, học hành chẳng biết giỏi dở ra sao chớ còn ba cái vụ trốn nhà hẹn hò lén lút đó vậy mà ít ra cũng có lợi hết biết. So đo thì rõ là chẳng ăn nhằm gì nhau giữa cây cỏ hoa lá mặt trăng mặt trời với ba cái vụ ái tình lắt nhắt thời mới nứt mắt. Vậy mà mỗi lần được ai đó hẹn hò, góc phố, công viên, bờ sông, bến nước... bất kể xó kẹt nào, là làm như ánh trăng đêm đó dậy lên màu ngà ngọc, là lọn nắng vàng chiều hè đó cứ lấp la lấp lánh như có gắn thêm mấy cái hột xoàn. Ôi bao nhiêu là ân nghĩa của thứ tình yêu thời miệng còn hôi sữa đã đắp đổi rồi nuôi dưởng cho hồn trẻ những thiết tha sông nước, những ân cần cây cỏ, những luyến lưu đất đai, những nồng nã tình người... Suy tới cặn cùng, có phải chính cõi trời đất đó đã un đúc ra từng cõi hồng nhan cho mình phiêu lãng. Vì vậy không yêu mến sao được. Từ đó, kể ra làm sao cho hết những lợi lộc của cái chuyện tập tành đôi lứa, những “ngún nguẩy” làm ngẩm ra ý nghĩa chữ “duyên dáng”, những “hờn mát” làm thấm thêm ý nghĩa chữ “dỗ dành”, những “nũng nịu” làm cảm rõ chữ “nồng nàn”, những “nhớ nhung” làm suy ra chữ “thiết tha”... v.v... và v.v... Những “bài học” ngữ vựng miễn phí cùng với những vui buồn nông nổi rất chân thành kiểu Paul et Virginie như hệ quả tất nhiên của thứ tình mới lớn đã vun bồi cho phì nhiêu một tấm lòng, chờ những mùa gặt hái mai sau...

 

Hổng chừng chính những bài bản thu hoạch được trong những cuộc tình tập sự đó, những điệu nghệ học hỏi rất hồn nhiên đó đã góp phần nào cho những được-mùa của những đoạn đời nối tiếp. Những mái tóc thề buông bỏ sau lưng ! Những vạt áo dài lính quính khi cơn gió vô tình ! Những sớm đưa sương mai mỏng dánh. Những chiều về nắng đón vàng hoe... Cả một cõi quê hương tụ về bằng xương bằng thịt, lượn lờ trước mắt. Để đêm về đâm ra thẩn thờ rồi sanh ra thơ thẩn. Dẫu thơ có thành vè đi nữa thì cũng đầy tình ý. Ít nữa cũng quen tay. Chẳng vậy mà vuột qua cái tuổi tình nhí nhố đó, vốn liếng cũng dầy thêm mấy thành công lực.

 

Vậy đó mà rồi, vuột tay cái mất tiêu... Những ai đó ?! Rồi quên phức luôn trong một xó tối nào của trí nhớ, vốn mỏng mảnh còn hơn tờ giấy pelure dành để viết thơ tình, một thuở ! Chẳng còn sót lại được một dấu mờ để gọi là kỷ niệm. Kể cả năm ba tấm hình đen trắng kiểu yêu-nhau-mới-tặng-ảnh-này, cở 4x6 có bốn cạnh răng cưa, đã trổ vàng như lá mùa thu héo... được “tàng trử” rồi quên khuấy giữa những trang sách quí để sau cùng rồi được chánh-phủ-lâm-thời-cáchmạng-miền-Nam-Việt-Nam hốt ráo đem bán tháo bán đổ cho quí bà bạn hàng gói thịt heo hồi “cách mạng” mới thành công ! Tuyệt bản !

 

Dẫu chỉ là chuyện... con nít, vốn chỉ thả theo dòng đời trôi xuôi mỗi lúc một lớn, theo cõi người mỗi lúc một đông, đâm ra dễ lạc bước rồi lạc lòng... Nghĩ lại rồi vẫn là bạc như vôi ăn trầu. Nhất là... đôi khi chính mình là thủ phạm đã bày ra mấy cái trò thương thương nhớ nhớ để rủ rê !

 

Vậy mà đã hết đâu ! Mãi cho tới lúc thân thế đã xấc bất xang bang, đời đã ba chìm bảy nổi, trên xứ lạ quạnh hiu, ngay khi lòng đã lạnh sau từng ấy trò dâu bể, vậy mà bỗng dưng rồi lại xảy ra những chuyện y như... tiểu thuyết. Trời đất xui chi mà bày trò oan trái. Người thân trần thế mà lòng y bồ tát. Chẳng có gì ràng buộc mà khít khao hơn cả ruột rà. Không một thề nguyền mà thủy chung như đá vọng phu. Của riêng tư còn quí hơn vòng vàng đem cho không mà biết chắc chẳng bao giờ được đáp trả. Trong khi đó, bản thân vốn đã tù túng, có vọng động cho mấy rồi cũng đành bó tay chịu trận khi đời đã trói quanh mấy vòng xích của bổn phận và trách nhiệm. Thứ dây lòi tói không có ổ khóa. Nghĩ lại rồi làm sao mà không thấy ngậm ngùi.

 

Lại nói ngậm ngùi cho ra vẻ... văn chương thi phú ! Chớ đúng ra phải nói là mắc cở. Mà thật ra có tra tự điển tìm cho hết chữ đồng nghĩa loại ... tủi hổ, hổ thẹn hay hổ ngươi... gì đó cũng không đủ để xóa tội. Dẫu chạy ra bờ Đông hải múc cạn nước biển có pha dầu của mấy chiếc tàu lạ để rửa cũng không sạch được cái bản mặt trơ trơ của kẻ giựt nợ... chuyên môn !

                                                                 ....................

 

... Kể từ cơn quốc nạn tháng tư năm đó, tới nay tròm trèm gần nửa thế kỷ. Nửa thế kỷ là nửa phận người nếu nói theo kiểu trơn tru đời người là trăm tuổi. Trời ơi, người gì dẫu thân không cao bảy thước (tàu) thì cũng tròm trèm thước bảy (ta) mà hơn nửa đời toàn là chuyện giựt nợ không vậy nè. Thiệt là hết nói !

 

Than hết nói mà sao lại cứ muốn nói. Muốn quơ quào cho đỡ thấy thui thủi một mình. Nghĩ tới nghĩ lui rồi nghĩ quanh nghĩ quẩn, sực thấy cái chuyện nợ nần đâu phải chỉ mình mình. Lâu rồi, có lần tán thán cái chuyện nàng Kiều mười lăm năm lưu lạc, ông Chu Mạnh Trinh đã cẩn bút như sau: “Cho hay danh sĩ với giai nhân cùng một kiếp hoa nghiêm nặng nợ” À thì ra ai cũng mang nợ, ngay cả danh sĩ với lại giai nhân toàn là hạng thượng thừa mà cũng không tránh khỏi cảnh nợ nần. Nợ gì thì không có kê ra. Nhưng mà nội cái chữ nợ thôi nghe ra cũng quen tai, đở tủi thân chút chút. Còn có trả hay không thì đã có ông Nguyễn Du lo.

 

Thừa cơ, lấn tới chuyện những bậc tiền bối khác theo kiểu thấy sang bắt quàng làm họ. Từ ông Tú làng Vị Xuyên vốn nghèo có tiếng, có lần lượm được đâu đó đồng tiền của ai đánh rớt đã kêu lên Muốn đem trả nợ đòi nhà lại ( chắc là đang phải cầm cố nhà cửa gì đó ! ). Vậy mà có lúc phán một câu nghe ngon ơ Ô hay công nợ âu là thế-Mà vẫn phong lưu suốt cả đời. Rõ là tay chơi thứ thiệt !

 

Rồi tới ông Nguyễn Công Trứ, người đã đi ngang qua đời còn để lại bóng mình hực hở, từ lúc hàn vi tới khi oai quyền vinh hiển cũng đã có lúc nợ nần ríu rít

Chưa chán ru mà quấy mãi đây

Nợ nần dan díu bấy lâu nay

Mang danh tài sắc cho nên nợ

Quen thói phong lưu hóa phải vay

 

Rồi ông phóng tới hai câu luận nghe mà đã tai

Quân tử lúc cùng thêm thẹn mặt

Anh hùng khi gấp cũng khoanh tay

 

À há ... đồng cảnh ?

Ậy, nhưng nhìn lại mình...

Nhưng nhìn lại mình sao thấy sang đàng cho đã rồi càng lúc càng thấy quả là mặt dạn mày dày. Tính kiếm chỗ dựa hơi cho đỡ phần... mắc cở. Mà so bì rồi lại thấy càng quanh co lại càng... ngụy biện. Nợ như quí bậc trưởng thượng kể trên nghĩ ra cũng đáng nợ. Thứ nợ của bậc phong lưu tài tử vốn thuộc loại ăn trước trả sau, sớm muộn gì cũng còn dịp để trả, lắm khi còn trả cả vốn lẫn lời.

 

Còn đằng này, mang nợ rồi bỏ quê lưu lạc xứ người mà đường về đã tắc nghẽn ngay từ một bước xuống ghe thì kể như không muốn giựt cũng đành phải giựt. Thực ra, làm người có hay ho gì mà giựt giọc. Chẳng qua rồi như một thứ bi kịch làm người. Thử nghĩ, từ bỏ xứ làm kẻ tha hương, ai không muốn có một lần trở lại. Nhưng thử hỏi lý do trở lại có giải tỏa được những khúc mắc của cái lý do bỏ đi. Hay chỉ là vô tình thỏa hiệp với những ngụy trá đã gần như thành nếp của những người cầm quyền ở đó. Về rồi, có khi nào tự hỏi, sao hồi đó bỏ đi !

 

Nên từ đó, nợ cứ dần lân... Xứ người, đất nước mênh mông, quanh đi quẩn lại cái gì cũng lạ. Vừa đặt chân tới bến, hồn lưu lạc còn lao đao chưa kịp tỉnh, thì hết chủ nợ này tới chủ nợ khác đã nhào tới gọi mời. Chủ xe mời xe. Chủ nhà mời nhà. Cứ như vậy mà nợ cũ chưa lành sẹo, nợ mới đã thương tích đầy mình. Dù vậy, mớ nợ mới này rồi ra cũng dễ tính. Mà tính hổng nổi thì ra ở “ấp”, đón xe buýt dọc đường...

 

Còn món nợ trần ai từ một nơi mưa nắng hai mùa, đã chắt chiu trong lòng từ một ngày mới lớn, đã trìu trĩu trong hồn từ một ngày biết mình thôi đã lỡ. Thứ nợ mà ai nấy đều coi là vinh dự dù có phải trả suốt một đời cũng thấy đáng. Thứ nợ bao gồm mọi thứ nợ. Thứ nợ người ta hay gọi là NỢ NƯỚC TÌNH NHÀ.

 

Biết vậy mà rồi như một loài rong rêu bị bứt rễ, vật vờ theo con nước, đã một lần bị dạt bến xa bờ rồi xa hoài, xa mãi, xa miết tới... cũng đành !

 

Ờ, biết nói sao ngoài hai tiếng... cũng đành !

 

Cao Vị khanh

CVK_Bienbac.JPG
CVK_Theo thangTu, ta ve.JPG

                                                                                                         -một lần kể lại để rồi thôi

                                                                      TÔ THÙY YÊN

 

                                                                                                                       CAO VỊ KHANH

                                                       

                                                        Ta về - một bóng trên đường lớn

                                                              Thơ chẳng ai đề vạt áo phai...

Ờ, thì lần nữa theo Tô Thùy Yên, TA VỀ, dẫu không đi cùng bước nhưng trước sau có khác gì nhau khi cùng chung kiếp nạn từ sau cơn hồng thủy đó... dẫu mươi năm đầu, kể từ một ngày cuối tháng 4 năm 1975 ông đã bị tù đày trong những trại giam được ngụy danh là trại học-tập-cải-tạo được dựng lên khắp nơi từ rừng rú đến đầm lầy như từng búng máu phun ra tung tóe trên thân xác quê mẹ, ngay cả khi súng đạn cũng đã đành im tiếng.

 

Ờ thì về theo Tô Thùy Yên, sau mười-năm-mặt-sạm-soi-khe-nước. Nhưng rồi về đâu sau cơn bức tử của quê hương !

Mà thôi, làm sao biết sẽ về đâu, khi lòng ta đã đường cùng từ sau lần lịch sử nổi cơn điên...

Lại nữa, Ta về ...Về ? Có về hẵn là đã có đi.

Đi ? Bốn phương tám hướng, đi đâu ? Câu hỏi bỗng nghe ra như mai mỉa ! Còn chỗ nào để đi trong thời của những-kẻ-giết-người. Lối đi duy nhất cho mấy trăm ngàn con dân đất Việt buổi đó là những trại-giam-không-bản-án mọc lên khắp nơi như cỏ dại. Cùng lúc với những cuộc truy lùng bức bách đến tận hang cùn ngỏ cụt bất kể ngày đêm, là những lời kêu gọi hòa-đồng-hòa-giải-dân tộc ra rả trên những chiếc loa phóng thanh treo khắp đầu trên xóm dưới. Gần nửa thế kỷ qua đi, dẫu trí óc có cùn nhụt đến nỗi nào đi nữa, người còn may mắn sống sót cũng không thể quên được những tuyên ngôn rổng tuếch, những thông báo láo khoét dối trá đến cực cùng... để lừa bịp xô đẩy quân nhân công chức của chế độ cũ vào tù cũng như lường gạt hai mươi mấy triệu người miền Nam còn đang bàng hoàng chưa kịp tỉnh sau cơn ác mộng... Thực chứng sống chết còn nguyên đó.

Khi chế độ đã là cùm gông, chính trị như cái rọ úp chụp lên phận người, bít chịt đến nghẹt thở thì làm sao mà biết đi đâu về đâu, một khi đã bó thân trong vòng rào của lòng thù hận, tị hiềm... đến tuyệt mức nhỏ nhen. Trong nhà tù lớn như thiên la địa võng, có hay không một ngỏ ngách đi-về ? Trong tình cảnh cá chậu chim lồng, thật ra giam kín đằng sau chấn song hay thả ra giữa những cặp mắt cú vọ của đám ác nhân thì cũng chịu cùng chung một ác ý. Khác nhau chăng là ở mức độ của những đòn thù.

Như vậy, có cần phải hỏi đi đâu, rồi về đâu ?!

Hay rốt ráo... hỏi cũng chỉ là một cách tự đánh tráo trong thời đại dối trá.

 

Tựa đề dẫu có gợi chút băn khoăn mà thật ra lời xác quyết về chủ thể đã làm câu hỏi trở thành vô ích. Lời đáp trả đã tiềm ẩn ngay trong đó. “Ta”, Ta về, đại danh từ ở ngôi thứ nhất, kiểu tự xưng đã ngầm chứa trong đó niềm tự hào, sự khinh mạn... của người trở về sau mười-năm-chết-dấp trong địa ngục trần gian mà lũ cai tù là loài quỷ dữ. Nghe ra không, qua đó, tiếng cười gằn, khinh bạc ! Có phải đó chính là lời xác nhận... Ta-vẫn-là-Ta. Sau hết, cùm gông, đói khát, nắng lửa đốt da, sương móc lóc thịt, tay trần đào đất, vai trần vác đá, những thùng conex biệt giam bít bùng, nước độc vàng da, bệnh hoạn không thuốc men, gạo mốc cơm thiêu, cây cỏ ếch nhái đắp đổi cho qua bữa đói khát, bao cát mót từng mảnh mục làm vải che thân, trăm lần “tự thú”, ngàn lần “tự kiểm”... hằng trăm hằng ngàn kiểu đày đọa... vừa để tra tấn vừa để triệt hạ nhân phẩm người tù, mọi kiểu mọi cách mà bọn vô nhân đã bươi móc trong cái đầu vốn dĩ đặc sệt của họ để hành tội kẻ bại trận cho đã cho bưa thứ thù hằn bệnh hoạn.

Có điều, trái với lệ thường...

Những người đi tù buổi ấy...

Ngày đi... vào tù rồi ngày về... từ cõi ngục tù, rốt lại, Ta vẫn là Ta. Cái Ta kimcương-bất-hoại. Cái Ta lừng lững giữa tầng tầng khổ nhục. Ôi ! Còn gì cảm khái cho bằng ! Ta về một bóng trên đường lớn ! Đi rồi Về, mười năm, lòng vòng một vòng tròn kín.

Về đâu chính là tự lòng ta đó thôi.

Tiếng biển lời rừng nao nức giục

Ta về cho kịp độ xuân sang

 

Trọn bài có 31 khổ 4 câu theo thể thơ 7 chữ, với hai câu mào đầu tách riêng ra hẳn chẳng phải là vô cớ. Chuyện đi-về của người tù chính trị ở đây đã vượt ra khỏi cái khung chật hẹp của chuyện tù tội. Y như một bản tuyên ngôn dõng dạc của kẻ sĩ giữa cuộc trầm luân mà mọi thứ ý thức hệ dẫu cuồng tín và hiểm độc đến đâu, mà mọi dã tâm đày đọa thân xác tới độ nào đi nữa... cũng đành thúc thủ. Người, sau rốt, vẫn nguyên vẹn là Người. Bi hùng như một bản cáo trạng. Và bi tráng như một bài ca Chính khí của người về ngược hướng.

(Chắc cần thêm một cái nháy mắt hả hê, đồng lỏa với sự tinh quái tế vi qua 14 chữ tách riêng mở đầu cho bài thơ dài 868 chữ. Tại sao lại phải thêm thắt riêng cho nằm lẻ loi vậy khi mỗi khổ thơ sẽ là 4 câu như thói thường. Ậy, có lý do riêng đó chớ. Thấy ra chưa, Ta về ... là do tiếngbiển-lời-rừng thúc giục, ta về là do mùa xuân rủ rê chớ chẳng có một quyền lực nào khác can thiệp kể cả cái đám quản giáo, quản huấn, vệ binh với súng dài súng ngắn cùng với đám lảnh tụ chớp bu trong cung cấm Ba đình... Dẫu cho chúng cứ huênh hoang là... thả tù ! Mà dẫu thiệt tình cho tù có được thả đi nữa mà người tù thả ra có chịu nhận vậy đâu. Thấy chưa, thấy cái lắt léo của thăm thẳm thơ chưa. Như một cách phủ nhận thứ cường quyền đang vây khổn suốt cả một dãy quê hương khốn khổ, trong đó có người tù thi sĩ mới vừa được thả ra khỏi... tù đã tức thời trở lại ta vẫn là... ta –sau khi đã cố giữ cái-Ta-dễ-bể đó trong suốt mười năm tù ngục)

Ta về - một bóng trên đường lớn

Thơ chẳng ai đề vạt áo phai...

Sao bỗng nghe đau mềm phế phủ ?

Mười năm, đá cũng ngậm ngùi thay.

 

Ta về, một bóng trên đường lớn. Hình ảnh bi tráng đến sững sờ. Ta về một bóng trên đường lớn ! Thử tưởng như phóng con mắt nhìn theo đường vẻ một viển cảnh xa huốt tới tận chân không. Trên con đường lớn vắng hoe chạy dài tới mút mắt đó, chung quanh không có ai, không còn ai, người tù lầm lũi đi với chiếc bóng của mình, chững chạc hay xiêu vẹo, vẫn toát ra, lặng lẽ, một niềm tự hào thầm kín. Đọc thơ sao thấy hả hê như há miệng nốc một ngụm đế Đường Xuồng vừa cay vừa nồng tới muốn bốc hơi cả hồn lẫn xác !

Mà sao rượu cạn rồi... lại lợn cợn chút gì như nửa đắng nửa cay !

 

Vĩnh biệt ta-mười-năm chết dấp

Chốn rừng thiêng im tiếng nghìn thu.

Mười năm, mặt xạm soi khe nước,

Ta hoá thân thành vượn cổ sơ.

Người tù đó, người sĩ quan của quân lực VNCH, ông thi sĩ Tô Thùy Yên, sau gần bốn ngàn ngày đêm bị biệt đày khổ sai ở một chỗ mà có lần ông Nguyễn Chí Thiện, tác giả tập thơ Hoa Địa Ngục, đã tóm tắt gọn bâng chỉ bằng 15 chữ mà cực kỳ hùng biện chẳng kém gì những bản cáo trạng dài thậm thượt, vạch trần tội ác của người cộng sản: từ-vượn-lên-người-mất-mấy-triệu-năm, từ-ngườixuống-vượn-mất-bao-năm ?- Dẫu vậy, khi ra tù mặc cho mọi thứ thâm ý hiểm độc của đám cầm quyền mới, ngoại trừ cái thân xác tiêu hao đến mềm-phế-phủ, người lính sa cơ đó, người thi sĩ lỡ vận đó, ông vẫn là ông-cũng như hằng hằng người tù vô danh khác- mặc tình bao nhiêu thủ đoạn quỷ quyệt vừa để triệt tiêu nhân phẩm người tù, vừa để hủy diệt hào khí của những người đã một thời đứng đầu sóng ngọn gió. Hãy nghĩ đến những người đàn ông, sinh ra và lớn lên ở miền Nam thuở đó, trong lứa tuổi 30, 40. Và tình cảnh oan khuất, dở khóc dở cười của họ, những năm tháng đó ! Trẻ hơn thì kể ra cũng chỉ mới váng vất hơi lửa đạn. Lớn hơn nữa thì đã quá dạn dày. Lớp người không còn non nhưng cũng chưa quá cỗi. Những người tròng vào mình bộ quân phục trên dưới hai mươi năm, suốt binh nghiệp ở đơn vị tác chiến, đối mặt ngày đêm với cái chết chực chờ. Đôi mươi năm lửa đạn có làm thui chột tính người? Không. Trăm lần không. Lịch sử cuộc nội chiến kéo dài hơn hai mươi năm đã minh chứng điều đó. Những người đó, bỗng không rồi có một lúc bỗng sững sờ nghe lệnh bỏ súng, đầu hàng. Thử nghĩ lại cái lệnh đột ngột đó, cái giây phút chết sững đó, ngay lúc đó, họ nghĩ gì, khi trong tay còn bao nhiêu sinh mạng của những người đồng đội, của những kẻ thuộc quyền, những đứa em ngày đêm đã gởi gắm sinh mạng cho họ qua bao nhiêu lần sống chết có nhau. Lại nữa, trong suốt quảng đời chinh chiến chắc ai cũng có một niềm hãnh diện nào đó, dù thầm kín, khi dang thân mình giữa cuộc tử sinh để giữ cho quê hương được sống còn trước những cơn cuồng sát, từ hơn hai mươi mấy năm qua.

Vậy rồi, trả súng, quay về hẵn không ai là không thoáng có một chút ước mơ... một thoáng nghĩ tới cuộc đoàn tụ tất nhiên với cha mẹ già đã mỏi mòn khấn nguyện, với người vợ đêm ngày thắc thỏm, với mấy đứa con thơ thiếu cha, với những người tình đã ứ thừa thương nhớ...

Có ai kịp nghĩ tới cái kết cuộc tuyệt mức bi thảm và vô lý của những trại giam đang chực hờ mở rộng cửa chờ xua họ vào cõi... địa ngục. Hãy nghĩ lại, cái giờ phút ngỡ ngàng khi biết mọi sự đã không như là họ... ngỡ. Hãy nghĩ lại, cái giờ phút mọi gian xảo để lộ ra hết mọi giả trá của một thứ hòa bình giả tạo...

Hãy nghĩ lại, tự dưng, họ trở thành những người tù khổ sai...

Hãy nghĩ lại những chiếc xe hàng phủ bạt bít bùng chạy thâu đêm, những chuyến xe lửa dài thậm thượt chạy suốt từ Nam ra Bắc, chất dồn đống những nạn nhân của một cuộc tráo trở vĩ đại như lịch sử chưa từng.

Hãy nghĩ lại...

Hãy nghĩ lại...

Thả lòng theo TA VỀ, dẫu thơ không vui mà đọc rồi lòng sao khinh khoái. Có ngả đầu bái phục bao nhiêu lần vẫn thấy dường như không đủ. Ôi rõ là bậc vươngtôn-miền-trí-tuệ. Trọn bài, hai chữ TA VỀ được lập đi lập lại 16 lần – không kể tựa đề, làm thoáng nhìn cứ ngỡ là một bài hịch với dụng ý như... gằn giọng để xác định một quyết tâm trong một tuyên cáo tuyến bố chi đó. Nhưng lạ, đọc lên rồi lại chỉ nghe ra như một lời tâm tình, rạch ròi chửng chạc mà lại thân mật gần gũi. Âm thanh không vổ đập mà lại ve vuốt hồn người. Chữ nghĩa cao kỳ mà không kiểu cách. Thứ chữ mang hơi hướm ngữ âm miền Nam, âm điệu nồng nã, trân trọng mà không khách sáo, sang cả mà vẫn gần gũi... Tuyệt hơn nữa là chữ dùng đa số với thanh “bằng”, có vọng âm “trầm” nghe ra như trần tình mà không hề than thở. Nhịp thơ rắn rỏi, gọn bâng mà để lại dư âm như lớp lớp sóng đồng tâm lay động mặt hồ ngoài kia, mỗi lúc một lan xa, lan xa... mà ở đây, xa tận tới nghe-đau-mềm-phế-phủ ! Những câu thơ phảng phất thứ thi vị hồn hậu mà thâm thúy, làm người đọc cảm thấy gần gũi, thân thiết dù nghĩa lý thì ôi thôi sâu hun hút. Xin được hảnh diện lây, dân Nam kỳ lục tỉnh vốn mang tiếng ăn nói nôm na, bộc trực ... kể cả quê mùa.

Thử nhớ lại với Tô Thùy Yên, cái thời-quỷ-ám. Như tiền đề của một chuyến trở về...

NỖI ĐỢI-

.............

Kẻ mới tới bày tòa giữa chợ,

Giải người ra, sỉ mạ ba đời,

Cho đeo bảng, dong đi khắp phố,

Bắn bỏ bên đường, cấm nhận thây.

 

Chỉa súng đuổi người ra khỏi đất,

Đày đi biền biệt miệt thiên thu.

Đuổi cả người chết ra khỏi mộ,

Cày nghĩa trang, trả vói thâm thù.

 

Quan lại sánh tày bão châu chấu

Ập xuống đồng, nghiến ngấu của dân...

Nhơn nháo chẳng cần che lấy mặt,

Mấy đời mới gặp dịp nên quan.

 

Những năm đó, làng ta đói kém.

Lúa gặt về, nhà nước trưng thâu.

Dân cùng ăn đến cả nhau đẻ,

Bán tình thâm mà mua gạo châu.

 

Con tố cha cầu được cất nhắc.

Cháu giết bà cướp nửa chỉ vàng.

Thiên hạ cùng xanh mặt trắng mắt

Nhớn nhác dòm quanh, lén cả than...

.........

Trăm họ lần lượt bỏ xứ trốn,

Biển thì hung hãn, thuyển mong manh.

Ta nghe kể lại: xác lên bãi

Nằm dài dài như lúc chiến tranh.

.........

Ngửa mặt khóc cười ba tiếng lớn,

Giận thân sao đã khứng ra đời,

Bỏ đi, khinh bạc nghiêng trời đất,

Gặp đá bên đường, cúi hổ ngươi.

..........

Cát bụi sao quên mình cát bụi,

Đành hanh nhau tàn khốc máu xương.

Mấy mươi năm chiến tranh, tù rạc,

Cười rộ vô thường một tiếng suông.

 

Đời động. Đồng rừng rêm tiếng mõ.

Ai người rao giảng điển long hoa ?

Láng giềng bị bắt lúc trời tối.

Lật bật rồi cũng đến lượt ta...

................

Có nhớ lại gì không, qua 36 câu thơ như dao khắc đá đó, cả một cuộc thảm sát mới, không bằng súng đạn-mã tấu-dao găm, mà lại cũng không kém phần tàn độc, nhằm hủy diệt một lý tưởng nhân bản đã thành nếp của nửa phần dân tộc sống ở bờ nam Bến hải.

Dẫu quên quên nhớ nhớ cũng là chuyện thường tình của người thiên hạ. Nhưng có những điều làm sao quên !

Ứ đọng trong tâm khảm người tù chính trị đằng đẵng suốt mười năm như tầng tầng trầm tích, cộng thêm những đòn thù hiểm ác từng phút từng giây mãi cho tới lúc được thả ra... cũng vô lý như khi bị bắt đi.

 

Dõi theo chân người về, sau suốt mười năm tù đày vừa rúc rỉa thân xác, vừa đục dũa nảo cân, thân phận người tù chẳng khác gì con sâu cái kiến bởi những kẻ vốn vẫn rêu rao là đi giải-phóng-dân-tộc, ông thấy gì ? Sông nước bơ vơ, cỏ cây phờ phạc, phố xá im lìm, xóm làng ngơ ngác... Và nhất là lòng người, những tấm lòng đã một thời xóm giềng, những thân sơ đã một thời núm ruột, bỗng có lúc trở thành e dè, nghi ngại lẫn nhau dưới sức ép của một chế độ công-an-trị. Phố xá làng mạc như co rúm lại trước những mũi súng chực hờ và những tia nhìn gườm gườm như mắt rình mồi của loài chó sói.

Ta ngẩn ngơ trông trời đất cũ,

Nghe tàn cát bụi tháng năm bay.

Người về từ sau cơn địa chấn kinh hoàng đã làm sụp đổ tan hoang hết mọi niềm tin vốn từ khởi thủy đã là nền tảng của một xả hội nhân hòa, để từ đó đã dựng lên một quốc gia văn hiến. Còn gì nữa đâu. Quê cũ. Đám người từ rừng rú đổ ra đã biến xóm làng thành rừng rú. Ông đã cầm lòng mà xác nhận như một sự thể đã rồi. Mọi cửa ngỏ đã bít kín. Rồi ra, quanh ông chỉ là cái nhà tù lớn, nhốt người thêm lần nữa...

 

Chỉ có thế. Trời câm đất nín.

Đời im lìm đóng váng xanh xao.

 

- (11 chữ đủ tả cái bộ mặt đặc cứng, ù lì mà trong ruột thì lộn lạo hết mức của xả hội miền Nam VN sau năm 75 như mặt hồ đóng váng lợn cợn và xanh úng rong rêu . Nhất ông, ông Tô !) -

 

Trở về sau mươi năm vật đổi sao dời để người vắng mặt bấy lâu thấy rõ hơn chuyện đổi thay đến tận cùng dâu bể. Tốt thành xấu. Sai thành đúng. Mọi nấc thang giá trị nhân bản bị đạp đổ ngang xương. Thay vào đó, con người chỉ còn là một thứ công cụ sản xuất nhằm để phục vụ cho một chế độ phi nhân. Trong tình cảnh đó, thử hỏi người trở về làm sao không thấy lạc lõng. Hổng chừng thêm một chút chua chát... phải chi hồi đó đừng bỏ súng, sống chết chỉ một lần ! Và tuyệt vọng. Kiểu như ông Trần Tế Xương có lần một-mình-đứng-giữa-quãngchơ-vơ, ông Tô chắc cũng đã quặn lòng đau mấy lượt... Nhưng rồi, dẫu vậy, dẫu đã mất hết nhưng với khí tiết của một kẻ sĩ đã được nuôi dạy ngay từ tiếng mẹ ầu ơ, sau cùng, người thi sĩ của mùa quốc nạn đã vượt lên khỏi mọi bạc đãi của lịch sử, và từ đó, như một xiển dương thầm lặng về giá trị của con người, vẫn giữ vững Cái Ta, cái của Riêng Ta, đứng ngoài và đứng trên hết mọi chuyển động của không-thời gian, của lịch sử, của tội ác. Chính từ đó mà giữa hoang tàn đổ nát của lòng người và đất nước, kẻ sĩ làm thơ vẫn giữ lại được cho riêng mình một khoảnh trời đất cũ, có yêu thương là bản vị của đời sống, có lòng nhân ái là thước đo của văn minh, có huyền thoại một mẹ trăm con là bản sắc của dân tộc. Và một hồn thơ như được trui rèn trong khổ dịch càng trở nên bi tráng. Thơ như con đường hồi sinh của kẻ oan tình, biết mình đúng, tin chắc vào Lẽ Phải. Không cao giọng mà sao thấy ra cái vẻ dửng dưng, khinh mạn của người về từ hỏa ngục. Mặc kệ những trù dập, bức bách của đám cầm quyền mới bám riết theo như ruồi bu theo miếng bánh ngọt, mọi ác tâm rồi như lớp bụi hờ bám vai người qua trần thế. Con đường thơ mở ra bát ngát. Mỗi vần thơ như mỗi tiếng chuông cứu khổ, độ người qua cửa bể trầm luân.

 

Ta về qua những truông cùng phá,

Nếp trán nhăn đùa ngọn gió may.

Ta ngẩn ngơ trông trời đất cũ,

Nghe tàn cát bụi tháng năm bay.

 

Chỉ có thế. Trời câm đất nín.

Đời im lìm đóng váng xanh xao.

Mười năm, thế giới già trông thấy.

Đất bạc màu đi, đất bạc màu...

 

Ta về như bóng chim qua trễ

Cho vội vàng thêm gió cuối mùa.

Ai đứng trông vời mây nước đó,

Ngàn năm râu tóc bạc phơ phơ.

 

Một đời được mấy điều mong ước ?

Núi lở sông bồi đã lắm khi...

Lịch sử ngơi đi nhiều tiếng động.

Mười năm, cổ lục đã ai ghi ?

 

Núi lở sông bồi đã lắm khi... đọc lên như nghe một tiếng cười khảy trước những vọng động của kẻ vô tâm.

 

Ta về cúi mái đầu sương điểm,

Nghe nặng từ tâm lượng đất trời

Cảm ơn hoa đã vì ta nở

Thế giới vui từ mỗi lẻ loi

 

Cám ơn hoa đã vì ta nở. Có thật là hoa nở vì ta. Sực nghĩ tới Lão Đam. Câu thơ như một xác nhận tuyệt vời của sự đồng cảm, một sự liên đới chằng chịt giữa ta và vạn vật, của ta trong vạn vật và vạn vật ở trong ta. Thật ra hoa tới mùa thì nở. Hoa nở rồi tàn. Có điều chắc chắn là mùa sau hoa lại nở. Như một lời hẹn thủy chung. Vấn đề là ta có nhận ra được không, cái vòng luân lưu bất diệt đó để tìm ra lối thoát cho cái vòng tù hảm đang vây kín đời ta. Một đóa hoa dại dọc đường giữa một dặm trường nắng cháy, người qua đường có thấy được nét tươi mát của hoa-nở-vì-ta để dổ lòng cháy nắng ? Và nhìn ra trong đó sự độ lượng của thiên nhiên trong cuộc tuần hoàn vô thủy vô chung. Cám ơn hoa đã vì ta nở. Nhận ra tuổi mãn khai của bông hoa chính là ngã trọn mình vào lòng thiên nhiên mà sống. Mà cũng từ đó, đâm chồi những hy vọng. Rồi ra, cái đẹp, cái thiện... vẫn còn đó và sẽ còn đó dẫu bao nhiêu dùi vập. Nhận thức được điều đó là sự hòa đồng tuyệt diệu của ta và vật, là nhịp cầu cho sự cứu rỗi. Hình tượng bônghoa-nở còn như là một hứa hẹn cho một khai mở nào đó. Mọi thứ rào chắn rồi cũng chẳng cản được chân người. Những chiếc ghe con bắt đầu bỏ bến... ra khơi... Bằng mọi cách dẫu có phải đi tìm cái sống trong cái chết, người quanh quanh vẫn lìa xứ ra đi. Bao nhiêu người tới bến ? Bao nhiêu người bỏ xác dọc đường ? Mà dẫu có là bao nhiêu cũng là một con số quá đổi oan khiên cho một dân tộc vốn tự hào là đã sinh ra từ một-mẹ-trăm con !

 

Tưởng tượng nhà nhà đang mở cửa,

Làng ta, ngựa đá đã qua sông,

Người đi như cá theo con nước,

Trống ngũ liên nôn nả gióng mừng.

 

Ta về như lá rơi về cội.

Bếp lửa nhân quần ấm tối nay.

Chút rượu hồng đây, xin rưới xuống,

Giải oan cho cuộc biển dâu này.

 

Ta khóc tạ ơn đời máu chảy

Ruột mềm như đá dưới chân ta.

Mười năm chớp bể mưa nguồn đó,

Người thức nghe buồn tận cõi xa.

 

Ta về như hạt sương trên cỏ

Kết tụ sầu nhân thế chuyển dời.

Bé bỏng cũng thì sinh, dị, diệt.

Tội tình chi lắm nữa, người ơi !

 

Trong buổi chạng vạng của niềm tin, người với thơ, như đôi bạn tâm giao dắt díu nhau tìm về chốn cũ, dẫu đã quá độ tang thương và phải lặn ngụp trong thứ không khí nghi kỵ đang phủ trùm làng xóm, sau hết vẫn gặp lại đâu đó, hồn xưa một thuở...

 

Lời thề truyền kiếp còn mang nặng

Nên mắc tình đời cởi chẳng ra.

Ta nhớ người xa ngoài nỗi nhớ.

Mười năm, ta vẫn cứ là ta.

 

Ta về như tứ thơ xiêu tán

Trong cõi hoang đường trắng lãng quên.

Nhà cũ, mừng còn nguyên mái, vách,

Nhện giăng, khói ám, mối xông nền.

...................

Ta về như tiếng kêu đồng vọng.

Rau mác lên bờ đã trổ bông.

Cho dẫu ngàn năm, em vẫn đứng

Chờ anh như biển vẫn chờ sông.

 

Đằng sau những phản trắc lồ lộ, những ép bức đến nghẹt thở, vẫn còn đó... những thủy chung như kết quả của một xả hội lấy lễ giáo làm đầu, từ đã mấy ngàn năm, dẫu bỗng không bị phủ nhận rồi gán cho hai chữ phản động để vứt bỏ. Trong tình cảnh đó, người ở lại dở khóc dở cười mà phải cắn răng chịu đựng để hy vọng một cuộc trùng phùng với người đi biệt dạng. Cái kiểu trông chờ mà không chắc có ngày về, có phải cũng là một thứ cực hình không hơn không kém. Vâng, đâu phải chỉ người đi đày mới đầy oan khuất, người ở lại cũng hứng chịu oan khuất không thôi. Cuộc đổi đời tàn khốc đó có phân biệt ai đâu. Không tù gông thì cũng phải gánh chịu bao nhiêu oan ức. Từ những lệnh lạc ngây ngô đến những ép uổng vô cớ, những thiếu thốn trăm bề, từ miếng gạo trộn bo bo tới con mắt láo liên dò la, bưới móc, những đồng bạc mồ hôi-và-nước-mắt bỗng một sớm một chiều hóa thành tờ giấy lộn, viên thuốc cảm, thước vải thô, mồ mả đào xới tan hoang, những điệu nhạc Tàu như xoáy điếc lổ tai ra rả ngày đêm qua những chiếc loa treo khắp hang cùng ngỏ hẻm, những cày cuốc nhét vào tay vốn quen mùi giấy bút. Kể cả cái đám con nít choi choi mới lớn, trai gái bất kể vừa tới tuổi giữa bậc trung học mà trước đó đã lở đầu thai vào gia đình có cha là ngụyquân-ngụy-quyền cũng bị đuổi học làm như chữ nghĩa cũng bè đảng như ai. Biết bao nhiêu oan trái người ở lại cắn răng gánh chịu để trông... để đợi... để chờ... Những người đàn bà, những người mẹ, người vợ, người tình... bỗng chốc mất đi núm ruột, mất nguồn yêu thương, mất nơi nương tựa... Hòa bình rồi mà mẹ nhớ con mòn mỏi, vợ trông chồng chẳng khác đá vọng phu... dù người đàn ông của họ vẫn còn đâu đó, giữa mạng lưới nhà tù mù mù như lưới nhện. Thử tưởng đến những người đàn bà miền Nam thuở đó, mừng chưa kịp chuyện trùng phùng sau cơn lửa đạn thì đã phải trần thân gánh lấy nợ đời mà người cha người chồng người tình của họ đã bỏ lại đó để... đi tù ở những nơi không ai biết, ngày về chẳng ai hay. Những người đàn bà khốn khổ của miền Nam buổi đó, những phụ nữ tay yếu chân mềm... bỗng chốc phải dang thân ra đứng đầu ngọn sóng để nuôi bầy con có cha mà bỗng chốc mồ côi ! Người thì tay cuốc tay len đào đào xới xới mấy miệt đất chai ruộng phèn gọi là đi-kinh-tế-mới, người thì tay nách xách mang ra mưa nắng chợ trời ... vừa nuôi con nuôi cả chồng đang đi trả món nợ chẳng biết ai vay ! Thử tưởng đến những người đàn bà miền Nam trong cuộc đổi đời năm ấy. Thử tưởng đến người vợ miền Nam sau khi được phép thăm nuôi, cụ bị gạo muối trần ai... lặn lội đến được trại giam thì tin chồng đã chết... vì đói. Thử tưởng đến người mẹ miền Nam đem gởi đứa con mới lên 10 tuổi cho người dưng dắt đi vượt biển. Ruột có đứt trăm khúc chắc chưa đau bằng tấm lòng mẩu tử... Còn bao nhiêu oán khúc phải kể ra. Mà kể ra làm sao cho đủ.

Này cha già mẹ yếu. Thử nghĩ coi sanh con hẳn ai cũng đặt vào đó bao nhiêu là kỳ vọng. Giờ, đón con về với một thân xác tàn phế khi cửa nhà đã mỗi lúc một quạnh hiu. Những bậc sanh thành đó, họ nghĩ gì khi dang tay ra... Người về đau đớn một, bậc cha mẹ còn đau đớn tới bao nhiêu ! Tình cảnh hẵn không khác gì đứa con đi làm ăn xa, nay thất bát quay về quê cũ, dẫu có mừng mừng tủi tủi nhưng làm sao giấu được nỗi bẽ bàng. Mà còn hơn vậy nữa, nỗi đau này thực tế và cụ thể hơn nhiều lắm. Họ không kịp nghĩ tới lý tưởng hay gì khác, tình cảnh này còn đau lòng hơn gấp bội khi máu huyết của họ giờ trở lại như những bộ xương khô. Họ đã đau như chính thịt da của họ bị cắt xé...

 

Ta về như đứa con phung phá

Khánh kiệt đời trong cuộc biển dâu.

Mười năm, con đã già như vậy.

Huống mẹ cha, đèn sắp cạn dầu...

 

Từng đoạn ngắn bốn câu, như một bản liệt kê những tai ương đã chia đều cho từng người một. Ẩn mật và thiết tha gói ghém từng lời tạ ơn kín đáo cho từng nỗi đợi chờ đã tưởng là vô vọng.

 

Ta gọi thời gian sau cánh cửa.

Nỗi mừng ràn rụa mắt ai sâu.

Ta nghe như máu ân tình chảy

Tự kiếp xưa nào tưởng lạc nhau.

 

Ta về dẫu phải đi chân đất

Khắp thế gian này để gặp em.

Đau khổ riêng gì nơi gió cát...

Hè nhà, bụi chuối thức thâu đêm.

 

Trở về sau khi vắng mặt hết một phần mười của đời người, dẫu không tận mắt nhưng người về làm sao không thấy được cam khổ của người ở lại. Đau thương còn sờ sờ ra đó. Sự giao cảm giữa người đi và người ở lại là bằng chứng của những tấm lòng đôn hậu vốn quen sống trong một xả hội thuần lương. Nhất là đã tin chắc vào nguyên lý tột cùng. Cái tốt, cái đẹp, cái ân, cái nghĩa, cái thủy chung... vẫn lẩn quẩn đâu đây, dẫu trần gian có đang là địa ngục. Nhất là, những đức tính vừa kể vốn là phẩm chất để phân biệt con người và thú vật. Phủ nhận những điều đó có phải là đang tự hủy diệt. Người ta sinh ra đâu phải để dối trá, đâu phải để cưởng bức, đâu phải để giết người, đâu phải để bày trò tàn khốc tru di đồng loại. Người ta sinh ra để nối tiếp dòng đời miên viễn, như sông con đổ nước về sông cái, để cùng nhau chảy miết ra biển lớn. Để rồi trở ngược lại từ đầu, tiếp tục cuộc tuần lưu vô hạn.

 

Cây bưởi xưa còn nhớ trắng hoa.

Đêm chưa khuya lắm, hỡi trăng tà !

Tình xưa như tuổi già không ngủ,

Bước chạm khua từng nỗi xót xa.

 

Thử tưởng đến cuộc trùng phùng của người chờ từ vô vọng và người về từ vô phương. Sự nối kết lại một cuộc chia lìa, bi ̣tách đôi bởi một lực cản ráo cạn nhân tình có thể coi như biểu hiện của chân lý, rồi thì cái thiện thắng cái ác, để tiếp tục dòng sống vô thủy vô chung. Đó có thể coi là nguyên lý tối thượng cho sự hiện hữu của chúng sinh. Ngày nào cái ác đại-thắng (!) ngày đó sẽ là sự hủy diệt chung cùng của nhân loại ! Chiều nay, ta sẽ đi thơ thẩn, Thăm hỏi từng cây những nỗi nhà. Hoa bưởi, hoa tầm xuân có nở ? Mười năm, cây có nhớ người xa ? ( Lời thăm hỏi ân cần đến từng cọng cỏ ngọn cây nghe ra tưởng chừng như kiểu cách. Mà thật ra đó chính là biểu tượng của sự hồn hậu, khoáng đạt, tốt bụng... được kế thừa từ truyền thống dân tộc vốn lấy nhân nghĩa làm đầu, từ đã mấy ngàn năm. Vụt cái muốn phá bỏ nền luân lý cổ truyền đó tới ráo cùng thì rồi lấy gì mà đối đãi giữa người với người. Bốn mươi tám năm sau, nhìn ngó trở lại ở bên kia bờ đại dương, có thực chứng gì không ? )

 

Rồi ra, còn đó, dẫu chút hơi tàn vẫn là ân sủng của trời đất. Còn đó, cái Ta với mọi thứ của riêng ta, vẫn là thứ vinh quang rốt ráo của kiếp người, sau khi trải qua bao nhiêu vùi dập mà hổng chừng đến sắt thép cũng bị bẻ cong. Người tù, với thịt da xương cốt mềm hơn sỏi đá vẫn lặng lẽ tồn sinh. Với kinh nghiệm của khổ ải, sau bao nhiêu trần ai, có phải niềm tin vào lẻ tuần hoàn càng thêm rõ rệt. Nhận thức ra điều đó có phải là dịp để hóa giải những trớ trêu của định mệnh, và tìm cách thuận thảo với những oái ăm của thân phận làm người. Có phải sau khổ nạn dù làm lở dở cuộc tồn sinh, người thi sĩ với cõi thơ vô biên đã tìm ra sự thỏa hiệp cần thiết để thâm cảm và khoan dung, ngay cả với trò dâu bể. Có phải đó là cách thế giữ mình giữa cuồn cuộn những tai ương. Và cũng từ đó, để xác minh cho thứ vinh-dự-lầm-than đã có lần biểu-dương đến cùng-tận.(*) Rồi ra cái Ta vẫn muôn thuở, bất kể ngoài Ta đời có nổi hung đến nỗi thừa cơ cho chó- nhảy-bàn-độc làm lộn lạo cả kiếp người. Có phải nhờ vậy, khi tâm đã định mà thơ trở lại giữa điêu tàn bằng những bước thênh thang như đời chưa từng dâu bể.

 

Điều đó có phải còn là bằng chứng về sự thất bại của chế độ gông cùm đang cố tình giam giữ hồn tính của cả một phần dân tộc. Thoát được ra khỏi cái lồng kín của sự thiển cận, hẹp hòi đến ti tiện... giữ cho mình không sa đọa vào thứ thiênđường-mù đang ngày đêm ra rả tuyên truyền chính là cuộc chiến thắng thầm lặng của lương tri với tội ác. Lòng người về mở toang ra với thế giới mênh mông của trời đất, vẫn nguyên si từ một thuở hồng hoang, như đứa con trở về ngôinhà-của-mẹ.

Trở lại sau mười năm giam cầm, dù thể xác có hư hao mà tinh thần vẫn không hề suy xuyển- cùng với hàng trăm ngàn bạn đồng tù vô danh khác, phải kể là một tuyên dương thầm lặng của ý thức nhân quyền. Tự chủ. Tự do. Chỉ có Ta làm chủ được ta. Bằng một cách nào đó, cộng với cái nhìn vô thường tự tâm vô ngã, có phải là lối thoát của tinh thần ra khỏi cái ám ảnh của chín tầng địa ngục mà đám cai tù vô học, vô nhân thừa lệnh đám cầm quyền vô thần vô hậu đã bày ra vừa để hành hạ xác thân vừa để tẩy nảo những kẻ sa cơ thất thế. Bài thơ như một chứng tích hùng hồn cho sự thất bại của lũ người cuồng tín. Trở về là vứt bỏ mọi trói buộc từ xiềng xích bằng sắt thép tới xiềng xích bằng kiểu lý luận tròng tréo của thứ chủ nghĩa sát nhân, giữ y nguyên tánh của con người vốn đã được thủy chung gìn giữ ở Miền Nam ngay cả khi phải cố giữ cái sống khi kẻ thù đem gieo rắc cái chết ở đó suốt hơn hai mươi mấy năm dài.

 

Ta về như giấc mơ thần bí

Tuổi nhỏ đi tìm những tối vui.

Trăng sáng lưu hồn ta vết phỏng.

Trọn đời, nỗi nhớ sáng không nguôi.

 

Bé ơi, này những vui buồn cũ,

Hãy sống, đương đầu với lãng quên.

Con dế vẫn là con dế ấy,

Hát rong bờ cỏ, giọng thân quen.

 

Hình ảnh “con dế” có phải là biểu trưng của một cõi đời đã mất vốn êm ấm trong vòng tay thương yêu của cha mẹ, trong bảo bọc của một xả hội công bằng với một nền giáo dục dân tộc-nhân bản-khai phóng mà tuổi trẻ miền Nam đã thừa hưởng. Có phải cũng từ đó đã vượt lên trên mọi biện biệt với cái tâm xích-tử. Ta về như lá rơi về cội. Để người “ về ” cảm thấy như chưa có lần đã... “ đi ” !

 

Ta về khai giải bùa thiêng yểm.

Thức dậy đi nào, gỗ đá ơi !

Hãy kể lại mười năm mộng dữ.

Một lần kể lại để rồi thôi.

 

Một lần kể lại để rồi thôi.

Có thể vậy không ? Hay để trấn an cho chính mình khi chữ nghĩa cứ cuồn cuộn như sóng biển ngày gió lớn. Và cuộc đời, cuộc đời thì như con sông trăm nhánh, nước khi lớn khi ròng, có bao giờ ngừng lại. Chỉ có con người là sẽ có lúc lặng tiếng, im hơi. Bởi vậy còn biết bao điều chưa nói kịp khi mà bất-tận-nỗi-đời-hunghãn-đó. (*)

 

Ta về như hạc vàng thương nhớ

Một thuở trần gian bay lướt qua.

Ta tiếc đời ta sao hữu hạn,

Đành không trải hết được lòng ta.

 

Đành không trải hết được lòng ta ! Quả là một tiếng kêu thống thiết. Sự thú nhận tính cách bất toàn và hữu hạn của đời người như một thất bại tự thân của cuộc hiện sinh quả là lời báo trước cho những kẻ tập tểnh vào đời. Hay cũng là lời an ủi cho cả một thế hệ đã... đầu-thai-nhầm-thế-kỷ.

Mà thật vậy, làm sao, làm sao nói ra cho hết, làm sao kể ra cho đủ dẫu lòng người đã vói tới mấp mé bên rìa cuộc biến thiên của Vô thủy Vô chung. Dù chữ nghĩa đã như xé rách hết mọi lớp vỏ để vét cho ráo cạn mọi nỗi niềm. Người làm thơ đã vậy. Còn người đọc thơ, có mạo muội quá không ? Hay là đọc thơ rồi nín bặt, rồi chảy nước mắt như Trần Tử Ngang trên đài U Châu, một lần nào đó !

Thật vậy, ba cái thứ chuyện lấm lem máu me xương cốt thì thiệt tình làm sao tả ra cho hết được, thứ thương tích lút sâu trong tận cùng tâm thức... Máu trên da thịt còn lau khô rồi băng bó cho lành. Còn thứ máu-me-vô-hình mà lênh láng trong các trại tù nằm lẫn lút trên dãy Hoàng Liên Sơn ở ngoài Bắc hay Suối Máu trong Nam, ( v.v... và v.v...) đã ăn luồn tới hun hút trong đầu, trong tim, trong từng giọt mồ hôi chảy xuôi như suối, trong từng giọt nước mắt nuốt ngược vào lòng thì lấy gì mà nói, mà tả ra cho hết được, tầng tầng oan khuất đó. Chữ nghĩa tới một mức nào rồi cũng phải đành bất lực.

 

Ta về như lá rơi về cội.

Bếp lửa nhân quần ấm tối nay.

Chút rượu hồng đây, xin rưới xuống,

Giải oan cho cuộc biển dâu này.

 

Đọc thơ Tô Thùy Yên có giải oan được chút nào cho những vết thương không chịu lành đó không. Câu hỏi bật ra như viên sỏi ném vào vực sâu không đáy. Làm sao có tiếng dội giữa mịt mùng ! Mà tội gì phải hỏi thêm. Chỉ biết lòng người vốn độ lượng.

Thì, cũng đành... thôi vậy !

 

Ông Tô Thùy Yên làm thơ không ít. Thể cách từ tân thời tới cổ điển. Mà thôi sá chi mớ hình thức khi mới cũ gì cũng trên tay thiên hạ. Bất chợt nhớ thêm mấy câu thơ trong bài Góa Phụ.

 

Em chạy tìm anh ngoài cõi gió

Lửa oan khốc giỡn cười ghê hồn

Tiếng kêu đá lỡ long thiên cổ

Cát loạn muôn trùng xóa dấu chôn.

 

Chữ nghĩa quả là khốc liệt. Xác chữ thì cũ mà hồn chữ thì mới, hình ảnh thì quen mà góc nhìn lại lạ, âm điệu cổ điển mà tiếng vọng dội rền tới tận cõi quên, cứ làm bật dậy những xác đời đã tẩn liệm trong quan quách của thời gian.

 

Làm thơ như ông Tô quả là thốn-tâm-thiên-cổ. Thơ mới đã mấy ai chữ nghĩa như ông. Nghe nói ông rất khó với mình. Thơ làm có khi xóa tới xóa lui làm sực nghĩ tới người đục tượng cầm dao khắc đá. Chảy máu tay là chuyện thường.

Bởi vậy không lạ khi đọc thơ ông, từng chữ từng nghĩa cứ như xoáy, như ngoáy, như khoét làm rát buốt đến tận tâm can.

Rồi lại nhớ tới đời xưa, lời bàn của Mộng Liên Đường chủ nhân cảm thơ Nguyễn Du tới độ thấy lời văn tả ra hình như máu chảy ở đầu ngọn bút, nước mắt thấm trên tờ giấy, khiến ai đọc đến cũng phải thấm thía ngậm ngùi, đau đớn như đứt ruột. Thế thì gọi tên là Đoạn trường tân thanh cũng phải. (**)Ý là Truyện Kiều dài 3254 câu lục bát, có những câu thơ ... ơi là thơ. Và có những câu cứ như là những cái gạch-nối mấy câu... thơ.

Thơ của Tô Thùy Yên có nên gọi là Đoạn Trường Tân Thanh bản 2 chăng ? Có nhận ra được với ông hết tận cùng cái tang chế của một thời đoạn trường mới chăng ? Hỏi mà dường như câu trả lời đã hiện ra trước câu hỏi. Từ bây giờ. Và còn mãi mai sau.

 

Lịch sử đang tiếp tục quay đều cái vòng quay của nó, có khi dang tay ra cố hết sức kéo ngược lại mà chẳng được bao giờ.

Dẫu vậy, có ai bắt quên khi chứng tích còn sờ sờ ra đó.

 

Thì thôi, bắt chước ông Tô Thùy Yên :

               Một lần kể lại để rồi thôi.

Dù

Người thức nghe buồn tận cõi xa.

 

Người thức nghe buồn tận cõi xa !

 

Cao Vị khanh

 

(*) Biểu dương-hãy biểu dương cùng tận

Vinh dự lầm than của kiếp người -TTY-

(**) Bài tựa Truyện Kiều viết năm 1820 của Mộng Liên Đường Chủ Nhân -

 

ĐỌC THÊM

 

Trích một đoạn phỏng vấn của Nguyễn Mạnh Trinh về thời ngục tù cộng sản sau năm 1975

Nguyễn Mạnh Trinh:

- Khi bị đối phương cầm tù, tâm trạng thực của anh ra sao? Có giống như trong những bài thơ mà sau này anh đã viết ra không?

Tô Thùy Yên :

-Tôi nghĩ lại là đại để trong tù và tâm trạng trong thơ của tôi không khác nhau. Sau ngày 30 tháng tư năm 1975 khi đã vào tù rồi, tôi luôn luôn tự nhắc nhở mỗi một điều là hãy coi mình như đã chết và đây chính là phần posthumor life của mình Đời ta sáng mượn ánh tàn dư/ đến từ một hành tinh đã tắt nghỉ… Tất cả mọi nỗ lực nhiều khi vượt sức bình sinh của mình trong thế giới đày đọa đó là phải làm thế nào gìn vàng giữ ngọc, đương đầu với mọi kỹ thuật thâm độc nhằm hủy diệt nhân cách như là cái phần duy nhất còn lại của những người bại trận. Kẻ có liêm sỉ không vỗ ngực mình là người anh hùng trong một hoàn cảnh nghiệt ngã như vậy mà chỉ có thể hài lòng là mình đã chẳng gục mặt trước bạo quyền để phải nhục nhã về sau với bạn hữu.

___________________

CVK_Cosu.jpg
CVK_le bao dung.jpg
CVK_Sanse.jpg
cvk_thovecoquan_2.jpg
cvk_thang gieng.JPG

Rồi tết qua đi, sầu ở lại

Quê nhà xa huốt một đường bay

Rượu xuân ai ướp mùi quan ải

Mà thấm xa thêm những dặm dài !

 

Bốn câu hai mươi tám chữ, cụt ngủn. Lỡ có muốn thêm cũng chẳng biết thêm gì. Mà có thiếu gì không, mấy câu gọi là thơ, buổi chiều mùng-ba năm đầu tiên ăntết ở xứ người.

Một năm trước đó, ngay bửa ba-mươi-tết, tôi bồng đứa con gái đầu lòng lên năm, đeo xe đò từ một tỉnh ở phía cực tây, về thăm cha mẹ ở một làng quê giữa hai nhánh sông Tiền và sông Hậu. Luôn thể để báo tin một chuyến đi xa. Xa lắm, không biết có tới nơi tới chốn. Mà cũng chẳng biết ... rồi sẽ có một ngày về. Gia đình đông con, bốn trai năm gái. Nhưng lần ấy, ba anh em trai còn đâu đó trong các trại tù heo hút mấy miệt rừng núi Lào Kai, Yên Bái ... Mấy chị em gái cũng bận đi nuôi chồng trong các trại lán lẩn lút giữa một miền Nam thân quen bỗng sớm chiều trở thành lạ lẫm.

Chỉ còn tôi và đứa cháu gái ngu ngơ hớn hở vì được về thăm nội dù từ khi lọt lòng chưa một lần được nội ẳm bồng.

Đêm ba mươi. Ba tôi thắp ngọn đèn dầu leo lét trên bàn thờ tổ tiên cho tôi lạy từ biệt đất nước ông bà. Ngôi nhà gạch xinh xắn có giàn bông giấy tím ở tỉnh bị cướp trên tay, đổi thành căn nhà lá vách tre đứng chênh vênh trên doi đất vói ra vàm kinh Bình Phụng. Đêm cuối năm, trăng sao trốn biệt. Đêm trừ tịch, gió rền rĩ lẫy hờn. Đêm sinh ly, sóng vổ bờ như vổ vào chính lòng tôi, từng điệu oán.

Lễ xong, tôi xoay qua, mếu máo quỳ lạy sống ba má tôi, lần đầu mà nghĩ là lần cuối. Con gái thấy lạ cười ngặt nghẽo trên tay bà nội.

Sáng hôm sau, bồng con quày trở lại nơi mai mốt sẽ khởi đầu cho chuyến đi vô định.

Mùng chín tết năm đó, tôi rời Việt Nam.

Một năm sau, tôi ăn tết ở một nơi không có bàn thờ ông bà, không cha không mẹ, không anh chị em, không hoa mai cũng chẳng mứt gừng mứt bí... Chung quanh tôi, tuyết trắng, trắng đến mênh mông như một cõi lòng đã lạnh. Trái đất quay, quay theo chiều quay nghiệt ngã. Xuân ở quê nhà, quê người đã quá nửa chừng đông.

Giữa đêm, trời đổ tuyết. Từng nhúm tuyết mịn bân mà nhẹ hửng như bông gòn thổi bay xối xả, nhuộm trắng cả đêm đen. Gió réo, tuyết loay hoay xoay chiều, lắm khi luống cuống như lạc nẻo, quẩy đập vào nhau vật vã như tiếng kêu khổ của mùa. Đêm gượng sáng mà có ngó ra thử tìm hướng cố hương cũng chỉ thấy mù thêm hai con mắt vốn đã thất lạc, từ khi. Nhìn tuyết trắng trời mà cảm thán tới muốn sửa thơ Nguyễn Bính tiếc Huyền Trân. Giờ đây chín vạn bông trời nở / Riêng có lòng ta khép lại thôi. Ông ta tả hoa lá mùa xuân rực rỡ ở đâu không biết. Chớ ở đây, cõi tôi gá thân chỉ có trắng một trời bông tuyết nở ! Lòng người xa xứ, có khép lại, cũng đành.

................................ ............................

Vậy mà rồi hơn bốn mươi năm. Bốn mươi năm biệt xứ, không về lại một lần. Tang cha, tang mẹ, trắng xé lòng, mỗi lượt. Ở xa, tôi không đi chùa đi miểu. Mỗi lượt, tôi, mình tôi, chẳng đạo chúa, trốn vô ngôi nhà thờ nhỏ ở góc phố vắng. Trưa im im, lặng ngắt, đèn thờ không sáng nổi mặt tượng. Không gian nhốt kín, cả đến gió thu cũng bị chận lại bên ngoài. Mình tôi, riêng lẻ mình tôi, thu mình trong một góc khuất, nhìn cái trống không giữa những vòm cong thánh đường. Tôi ngồi ở đó, bất động. Rồi thấy lại tôi chín mười tuổi chạy nhảy thênh thang giữa tấm lòng trải rộng đến mênh mông của cha mẹ. Thấy lại tôi trưởng thành vẫn y nguyên một nỗi cưu mang như khi còn đòi bồng ẵm. Thấy lại tôi với lời tự hứa báo hiếu ngày mới ra trường. Thấy lại tôi bỏ cha bỏ mẹ ngay đúng lúc tuổi già xế bóng ... Thấy lại tôi với tội nghiệt tôi ...

Tôi ngồi ở đó, khóc, lặng lẽ mãi đến khi chiều xuống.

Rồi ra về với huyệt mộ chôn kín trong lòng.

Hôm sau, đã ba chân bốn cẳng chạy theo miếng ăn, giữa xứ người rộn rã mà quạnh quẽ tiếng hỏi câu chào.

Mươi năm sau, nghe người về, rủ rê. Sao lòng tôi lạnh tanh. Tôi không yêu quê tôi sao. Không ! Tôi yêu quê tôi lắm chớ. Ở đó còn mồ mã ông bà dù đã lạn. Còn bao nhiêu mồ mã vô danh khác dù đã tan thành cát bụi để tựu hình mảnh đất hình chữ S nằm nghênh ngang một cõi bờ Đông Hải, gần suốt hai mươi thế kỷ. Còn riêng trong một góc nhỏ, hai nấm mộ lạnh tanh. Nơi đó, tôi đã lớn lên, ngoài sự chăm lo đùm bọc của mẹ cha, còn nguyên cả một chiếc nôi đồ sộ mà tổ tiên tôi ... đã chụm tay kết thành bằng mồ hôi, máu, nước mắt và cả một tinh thần nhân bản tuyệt vời. Quê hương tôi đã nuôi tôi lớn lên bằng cơm gạo, cá mắm, thịt thà ... kết tụ từ đất đai sông nước mà người trước tôi đã gầy dựng, giữ gìn. Quê hương tôi đã dạy tôi sự nhẫn nại cùng cực của một dân tộc đã bị đày đọa gần suốt hai ngàn năm dưới sự thống trị của đám giặc phương bắc mà vẫn còn nguyên lành bản chất như nhánh tre già, qua bao nhiêu bão dữ vẫn dẻo dai vươn mình. Quê hương tôi đã cho tôi cả một kho ca dao mà từng câu lục bát ngọt ngào đến độ mẹ ru con thành tiếng ầu ơ. Quê hương tôi đã cho tôi nghìn trùng lời hay ý đẹp trong mỗi câu mỗi chữ mà ngôn từ cấu tứ đẹp như gấm như hoa, của ba ngàn hai trăm năm mươi bốn câu lục bát kể chuyện đoạn trường Thúy Kiều, ba trăm năm mươi sáu câu song thất lục bát than thở nỗi buồn Cung Oán, bốn trăm lẻ tám câu kể lể nỗi chờ mong Chinh Phụ ... Những bài hát nói mà âm tiết nghe reo vui như tiếng cười khúc khích khi đời chưa dâu bể. Những câu thơ 7 chữ 8 chữ ... của những người làm Thơ Mới mà chữ nghĩa được nhã luyện đến thành văn vẻ, được chuốc lọc để trở nên óng ánh như trăng sao ... Quê hương tôi đã dạy tôi ăn ở lễ nghĩa trong gia đình, ân cần ngoài xả hội như chính tấm lòng của kẻ sĩ Nguyễn Trải, ngay khi ở phương tây người ta còn thiêu sống nhau vì ba cái trò ngụy tín. Còn bao nhiêu nữa làm sao kể hết. Làm sao tôi quên. Làm sao tôi không nhớ.

Vậy rồi tới khi bỏ xứ mà đi, coi như phủi sạch nợ nần. Làm sao lòng không lấn cấn.

Xứ người, lạ từng cọng cỏ ngọn cây. Lạ tới tiếng hỏi câu chào. Lắm khi buồn ngẩn buồn ngơ. Dẫu có an thân sao vẫn cứ thấy mình tạm bợ.

Mà biểu về, chẳng lẻ lại cúi gập mặt mà về để khỏi nhìn thấy những thay đổi não lòng. Ở đó, những thằng trọc phú quyền thế ! Ở đó những người nghèo mạt hạng không chút đỡ đần ! Và cả một tinh thần nhân nghĩa từ ngàn đời bị dày đạp chẳng làm xao xuyến được một cái nhíu mày !

.......................... ..............................

Rồi tết qua đi, sầu ở lại ! ...

Lại thêm một cái tết quê người. Mươi năm đầu, còn nguyên một hy vọng, kềm lòng giữ chí như ngày ra đi. Vẫn mơ một ngày về lại cố hương, thắp nén nhang, quỳ xin tội với vong linh người khuất mặt. Rồi dấn mình vào cuộc trùng hưng. Nhưng rồi, từng năm qua, từng cơn mơ bị giựt dậy phũ phàng ...

Tôi đã làm gì đời tôi. Ngoài miếng ăn, từng bữa ... Và quê hương vẫn rền rĩ giọng hờn !

Vậy rồi bốn mươi năm đã qua. Qua ngọt xớt như mới hôm qua hôm kia. Thời gian lẳng lặng thoát đi như sao xẹt.

Tôi còn ở đây, bên này biển lớn, giữa bãi bờ trắng toát ...

Mấy ngày qua, chiếc độc bình cũ được cắm thêm nhánh mai giả, phủi hoài mà bụi vẫn thâm đen. Săm soi rồi thấy mũi lòng. Hoa giả vô tình mà cũng tàn tạ. Nói gì tới người ...

Năm này sang năm khác, thói thường rồi phải quen. Quen với sự dư thừa cũng như sự thiếu thốn.

Bốn mươi năm rồi. Đủ để quen bao nhiêu thứ lạ mà sao vẫn không quen với cái thói lãng quên. Quen với ngọn thông xanh sừng sững sao không quen với cái trống trải vì vắng bóng bụi tre già. Đã nhẳn mặt với đường lộ phẳng phiu sao còn thắt thỏm hoài lối về làng trầy trật, ngang qua bến nước với chiếc cầu tre lắt lẻo .

...................... .........................

Bốn mươi năm rồi, sao còn lấn cấn với ba cái chuyện phải quên. Làm như quá khứ giành giựt hoài với hiện tại, bốn mươi năm rồi vẫn không chịu buông tay ! Cái thói quen hay tục lệ mà mỗi năm tết đến là ai nấy dù bôn ba đâu đó cũng lo thu xếp về quê, mừng tuổi mẹ cha, vung đắp mồ mã, cúng vái ông bà ... làm như nhiểm trong máu huyết hay sao. Vậy mà rồi, bỗng dưng, bít hết mọi đường về !

Bốn mươi cái tết xa quê. Lẽ ra đâu còn lạ cái lạnh cóng người của mùa xuân vọng tưởng. Lẽ ra mọi ấm ức phải dìm sâu, chôn kín dưới mấy tầng huyệt thời gian. Vậy mà cứ mỗi lần nghe nhắc tết, lòng sao lại băng hăng bó hó như lỡ thiếu sót một điều gì. Chút lễ vật, trái cây, nhang đèn ... đã có đó, tàm tạm. Làm sao đòi hỏi hơn nữa, chỗ đất trời lạ lẫm.

Mà dẫu có thiếu rồi cũng có làm sao. Kiểu ăn nhờ ở đậu. Được chừng một hai bữa. Rồi tết nhứt cũng qua. Ai nấy trở lại với nhịp sống mới đã thành nếp. Sao riêng mình, cứ mãi chút băn khoăn ...

Tết tha hương rồi thoáng qua như bóng mây váng vất ...

Còn lại không là chút khói hương lẫn lẫn trong gian nhà kín cửa. Chút khói hương quến lại như chút quà tết ai đó bỏ quên. Khổ nỗi, của bỏ quên mà sao gợi đầy mùi nhớ. Những thề nguyền !

Có phải vẫn mãi là nỗi ân hận của một kẻ trốn chạy, bỏ cuộc ... giữa chừng ! Có phải vẫn mãi là nỗi chua cay của một kẻ bị giựt dậy giữa cơn trường mộng ! Có phải vẫn mãi là sự hổ thẹn của một kẻ đã thất hứa dẫu thệ nguyền chưa bao giờ được khắc đá đề tên !

Trong giờ khắc linh thiêng của một năm, sao lại nhớ, nhớ như mới hôm qua hôm kia, nhớ như từng chữ từng lời đã đục đẽo vào tim ...

Tết qua rồi, nhang đèn đã lạnh. Sao lời thư năm nào, tháng nào, ngày nào đó ... vẫn lắt lay trong trí nảo đã gần như mòn nhẵn

“ Ở xa, con ăn tết ra sao ? Tết nhứt ba không chờ quà cáp. Ba chờ tụi con gởi về tin vui chung cho hết thảy mọi người ’’

Mấy dòng chữ mực xanh, nét sắc như dao khắc ... vẫn còn như từng mũi nhọn.

Vậy đó tưởng quên mà vẫn nhớ. Mười năm một giấc mộng không thành. Người chờ cho hết đời cô quạnh. Ta đứng bên trời, lệ chảy nhanh.

Rồi tết qua đi, sầu ở lại !

 

Cao Vị Khanh

CVK_Tuyetdaumua.png
cvk_chiabiet.jpg
cvk_Varoi.JPG

Cho đến khi giựt mình nhìn lại, cả bọn không ai còn trẻ. Cho dù tuổi tác chưa đến đổi quằn vai nhưng sức trì của một quá khứ oan khuất vẫn trìu trĩu sau lưng như một lực quán tính khó cưỡng. Cuộc chiến mà chúng ta đã sống trọn một tuổi thanh niên đã kéo dài quá sự cần thiết để tỏ ra cho hết cái vô nghĩa của nó. Rồi cái kết cuộc lãng nhách chỉ làm bẽ bàng thêm cho một sự dấn thân đã bị bội phản từ đầu. Thân xác chúng ta có tàn phế sau những trận pháo tung tóe, nhưng chính hồn chúng ta thì đã tử thương từ khi tiếng súng im hơi. Chính trong những trại tù (cải tạo !?) núp giấu giữa rừng thiêng nước độc, đã bày ra một cuộc thảm sát mới, thầm lặng nhưng không kém phần cuồng nộ, để tiêu diệt hồn tính con người. Bằng mọi cách, từ rào kẽm gai đến phên nứa tướt nhọn, từ đày đọa khổ sai đến bỏ đói kiệt lực, cùm gông đến biệt giam, trói thúc ké đến bò lết… từ con người đến con vật người…

 

Năm bảy năm, mười mươi năm…

 

Thoát ra, mọi người còn cái xác xơ vơ xửng vửng, hồn thì vật vờ như lỡ nếm cháo lú qua sông Nại Hà dù đã bịt miệng bịt mũi. Thoát ra, mạnh ai nấy chạy. Chạy chết. Qua sông. Qua rừng. Qua biển… Chừng đứng lại, giữa một chỗ lạ lẫm đến ngỡ ngàng, cả bọn dù chưa già thì cũng đã cỗi, cỗi như chính cái dòng lịch sử bầm dập đã chảy ròng rã và đục khoét đêm ngày lên đời sống chúng ta.

 

Bằng cách nào thì sự sống sót qua cuộc sinh tử đó cũng có cái giá của nó.

 

Hơn 30 năm tranh sống với cái chết giữa đường tơ kẽ tóc, thêm năm mười năm cùng kiệt trong các trại tù ngụy danh hay vật vờ giữa một xả hội đảo điên, còn lại gì nếu không là một sự chán chường tột độ và nghi ngờ hết mức về những giá trị được gọi là nhân bản. Súng đạn thì giết người ngọt lịm mà lửa phần thư thì đốt người âm ỉ. Giàn hỏa thiêu sách vở là một cuộc tru di chậm nhưng chắc. Và mục đích của nó tồi tệ hơn bất cứ một hành vi man rợ nào. Lửa đốt từng trang sách là lửa đốt từng nếp văn hóa đã có thời rực rỡ, giữa lòng ta. Nhiều năm sau, khi đã lang thang mòn mõi trên xứ người, vậy mà lớp tro than cũ vẫn cứ còn âm ỉ… Nhật Tiến đã có lần viết « Trận đánh cuối cùng của một kẻ sĩ » kể lại cuộc chiến vô vọng của một kẻ thất thế muốn giành giữ lại mớ gia tài sách báo của một thời…

 

Dĩ nhiên sách vở cũng chỉ là những trang giấy, không đốt thì cũng có lúc mối mục ruỗng mòn. Chữ viết cũng chỉ là những dấu ký âm có lúc cũng sẽ phai lợt theo ngày tháng. Cái đáng nói chính là ý hướng phụng vụ trong hành động sáng tạo của bao người đã hiến mình cho một lý tưởng nghệ thuật hay khoa học được ghi chép lại trên những trang giấy, qua những hàng chữ, những đêm những ngày, những tháng những năm, những cặm cụi, những nghiền ngẫm hết một đời, những suy tư qua nhiều kiếp… chắt lọc, tích lũy, lưu truyền. Ðiều đáng nói nữa là cái dòng sống chính thống, chân chất và hồn hậu của một dân tộc đã được nuôi dưởng ở phần đất bên nầy, phía Nam vĩ tuyến 17, cái mạch nối liền lạc của tinh thần nhân văn của một dân tộc dù đã lắm bôn ba… thể hiện trong tầng tầng sách vở của miền Nam bỗng chốc bị đem ra phóng hỏa. Lửa cháy từ giàn hỏa cháy lan cả phận người. Ðể từ đó, cả nước là một cuộc hỏa thiêu toàn diện…

 

Nhiều năm sau nữa, lũ chúng ta-dù đã yên thân hay vẫn đang cày cục trên xứ người, bỗng có lúc rồi ngồi... ngơ ngẩn. Những câu thơ đã một thời ưa thích vụt nhớ vụt quên. Những trang sách đã một thời gối đầu không còn tìm đâu thấy nữa…Trên đất khách mênh mông, chúng ta như một giống người không có quá khứ, không có cả chiếc bóng để tự vỗ về mình. Chúng ta trần truồng dù quần áo đã thôi chắp vá, chúng ta trơ trọi dù phố xá cứ đông nghẹt người qua, chúng ta ngu ngơ dù quanh ta tràn ngập sách báo phim ảnh với đủ mọi thứ ngôn từ. Mà điều quan trọng nhất còn là nỗi não nề về một sự đảo lộn giá trị đến cùng cực, đã và đang được áp đặt trên cái quê hương khốn khổ mình đã bỏ đi. Cái đen thành trắng. Cái tốt thành xấu. Kể cả thứ chữ viết và tiếng nói mẹ đẻ đã được (bị) trong-sáng-hóa đến mức tối hù.

 

rong cơn chao đảo của niềm tin, mỗi người trong chúng ta không ai không thấy một sự hụt hẩng nào đó trong lòng, ngay giữa một cuộc sống mới chẳng những không thiếu một thứ gì mà còn gần như có đến thừa mứa...

 

Có lẽ một trong những thú vui mà ai nấy không quên được, từ cái thuở trấn đóng tiền đồn trên một đỉnh núi ngập mây, hay dạy học ở một tỉnh lẻ, những thứ ba thứ năm hay thứ bảy, đón chuyến xe liên lạc lên từ hậu cứ hay chuyến xe liên tỉnh từ Sài-gòn về, lòng như có chút gì nôn nao khi chờ người ta bóc dở những gói báo, những thùng sách…còn thơm y nguyên mùi giấy mực. Nhưng dù mua sớm hay mua trễ, sau đó, chính trong góc khuất của một quán vắng, hay trong góc kín của một giao thông hào, có khi bên cạnh một tách cà-phê đặc sệt hay chỉ là một hơi thuốc lá mỏng như sương, một mình, chỉ một mình, chúng ta đã sống những giây phút lâng lâng của một gặp gỡ thân tình bậc nhất. Khi bàn tay xòe ra vuốt sơ qua mặt bìa láng lẩy hay thô nhám, có khi là hình chụp một bức tranh hay chỉ là bảng liệt kê tên tác giả, khi ngón tay cọ lên góc giấy còn thẳng băng chưa có một dấu gấp, ngón tay ta sao cứ gượng nhẹ y như đang vuốt má một người tình, sợ giấy mực đau y như ngại làm đau đôi gò má mỏng tanh li ti những đường gân máu. Có cái gì đó trinh nguyên làm ta trân trọng. Có cái gì đó thăm thẳm làm ta ngại ngần. Cái gì như cái đau đáu của trang giấy chờ mãi phút-linhkhông-về, cái gì như cái thắc thỏm của ngòi bút ngần ngừ để lỡ một thoáng ý qua nhanh, cái gì như cái bóng gảy gập của người viết đang làm chuyện đẻ-đau chập chùng trên tay ta, giữa những trang chữ…

 

Sau những năm 60 với Hiện Ðại của Nguyên Sa đem về hơi sương của sông Seine, Sáng Tạo của Mai Thảo, Văn Nghệ của Lý Hoàng Phong, rồi Văn Hóa Ngày Nay của Nhất Linh với thuở trồng lan bên suối Ðam Mê, Tân Phong, Ðông Phương … là những năm 70 với Văn, Bách Khoa, Khởi Hành… Nghệ Thuật, Vấn Ðề, Thế Kỷ Hai Mươi, Thời Tập… chưa kể những tuần báo, nguyệt san hay bán nguyệt san có tính cách đại chúng như Văn Nghệ Tiền Phong, Phụ Nữ Diễn Ðàn, Phụ Nữ Ngày Mai, Kịch Ảnh, Ðiện Ảnh, Thời Nay, Phổ Thông… chưa kể những Tuổi Hoa, Tuổi Ngọc… mua hết không chừa. Cạnh đó, trên những giá kệ trong những quán nhỏ dọc đường hay trong những tiệm sách bề thề bên hè đại lộ, là ôi thôi sách báo ê hề như trăm hoa đua nở. Những thơ, những văn, những truyện dài truyện ngắn, những nghiên cứu khảo luận, những bút chiến phê bình... Mơ mộng ở đó, vui buồn ở đó, mà nghĩ ngợi học hỏi cũng ở đó. Ðọc ở đó để thấy sự lãng mạn tuyệt vời của một phần dân tộc đang bị đày đọa giữa cuộc chiến tương tàn, để thấy niềm hy vọng lấp ló trong những chùm hoa nở trên sợi kẽm gai, để thấy trong cùng khổ con người vẫn vươn lên như đám mạ non vươn lên từ một đêm tối. Ðọc ở đó để thấy những cánh huyết hoa nở ra từ những bãi máu.

 

Thử nghĩ đến những người thắp ngọn điện câu leo lét mà viết. Thử nghĩ đến những người che poncho đốt ngọn đèn cầy mà viết. Những cô học trò chưa hết tuổi hồn nhiên. Những anh sinh viên mộng vói tới trời. Những bậc học giả ngày đêm nghiền ngẫm. Những văn thi sĩ chưa bao giờ đong gạo bằng văn thơ rút ruột của mình... Ðủ hết. Mọi kiểu mọi cách. Người viết tha hồ viết, lặng lẽ hay huênh hoang. Người đọc tha hồ đọc, chấp nhận hay khích bác. Có điều phải nhận rằng dù thích hay không thích, không ai có thể phủ nhận cái đẹp đã thành tựu trong văn chương ở miền Nam buổi đó. Câu văn có trau chuốt hay không cũng đã sáng sủa, trôi chảy, biểu lộ sự trưởng thành của một thể loại chỉ mới vừa sinh ra từ đầu thế kỷ. Ngay cả cái kho ngữ vựng Hán-Việt cũng đã rạch ròi, trong sáng và phổ quát không kém gì mớ vốn liếng nôm na. Thơ buổi đó bay lượn trên đầu súng, tung hê thỏa thích. Văn buổi đó luồn lỏi giữa những đường bay của bom đạn sát nhân mà vẫn đằm thắm tình người, đủ sức khai triển đến nơi đến chốn những khái niệm trừu tượng và siêu hình, bằng một văn phong trong sáng, hợp lý và hoàn chỉnh.

 

Chẳng bằng với cái loại chữ nghĩa hổ lốn đổ xô vào miền Nam sau khi bị giải phóng, rồi được “du nhập” sang đây bằng mọi cách mọi kiểu. Từ những chuyến qua lại rập rình của những khúc-ruột-ngàn-dặm ... rồi nghị quyết 36 ... rồi giao lưu văn hóa ... Lắm khi cũng để cợt đùa mà rồi vô thức bị tiêm nhiễm lúc nào không hay...

 

Ðành rằng ngôn ngữ cũng có đời sống hẵn hoi (chẳng vậy mà có những loại chữ đã thành tử ngữ), nghĩa là cũng trải qua một quá trình sinh tử, có sinh có hũy, có sự tiến hóa hay thoái trào như mọi chủng loại khác. Nhưng tiến hóa phải có nghĩa là tiến từ thấp lên cao, từ tối tới sáng, từ dở tới hay chớ sao lại có sự tiến hóa ngược đời ? Cái tiếng gọi “nhà bảo sanh” thì ngay cho đến đứa nhỏ học lớp năm cũng hiểu được, thì nhân danh một sự trong-sáng-hóa ( ? ! ) nào mà đổi thành “nhà đẻ” cho đành. Đó chỉ là một thí dụ cỏn con chớ nếu kể ra hết hổng chừng không đủ chỗ mà còn gây tác hại cho mấy cái mạch máu đang hì hục lưu thông! Cũng như cái lối viết với câu cú trục trặc, trắc tréo, trặc trẹo… nhan nhản trong sách báo cũng như trong giấy tờ, hồ sơ, công văn, nghị quyết, thông cáo... của nhà cầm quyền cộng sản ở miền Nam Việt Nam sau năm 75, ở cái thời người ta gọi là thời-giải-phóng.(*) Tưởng chạy thoát là thoát luôn nạn chữ sau nạn nước, ngờ đâu rồi y như ba cái loài bệnh dịch, lây tràn không biên giới, đến lúc không ai trong chúng ta không khổ tâm, khó chịu, mắc cở... khi ở quê người còn phải tiếp tục chịu đựng cái lối “ngây ngô hóa” mớ tiếng Việt đáng thương của chúng ta. Cái hay sao không bắt chước, bắt chước chi cái dở cho đành !

 

Giữa bối cảnh bát nháo của chợ người chợ đời, dẫu trong sự lặng lẽ đến cô đơn, có một lúc nào đó, những người đã bỏ nước ra đi, bỏ lại gì thì bỏ mà vẫn giữ rịt theo mình mớ chữ nghĩa đã chắt chiu ngay từ lúc hồn trẻ còn đu đưa theo hai tiếng ầu ơ, cảm thấy bứt rứt, chữ nghĩa bám theo hồn người bắt đầu rục rịch kêu đòi... Bất kề lưu lạc đâu đâu nơi xứ người, may mắn trong một văn phòng có máy lạnh hay cắm đầu cắm cổ dùi đục trong một xưởng máy nóng hực, giữa một trời xuân bát ngát mùi nhựa thông hay xì xụp giữa bãi tuyết lạnh tanh, nói tiếng Tây tiếng Mỹ lưu loát hay vừa nói vừa múa tay dậm chưn, trong đầu của họ vẫn lấp ló mớ chữ nghĩa thân yêu, mớ bằng trắc ngọt lịm của lục bát dổ em hay những câu văn nhẹ nhàng mà chắc nịch ý nghĩa... Họ nhớ không thôi. Và như vậy, như có một thúc hối vô hình, họ bắt đầu làm thơ viết văn trở lại bằng chữ mẹ đẻ từ ngay trong vô thức, khi chưa có điều kiện để ngồi lại một góc bàn viết. Họ viết... viết... dù lắm khi cũng chẳng biết để làm gì.

 

Khởi đầu là một đôi câu thơ làm bên giàn máy bê bết dầu mở, rồi quên lửng trong tiếng động ì ầm, cũng có khi là một vài đoạn viết rời, bỏ kẹt trong hốc tủ được lục ra, phủi bụi… Thì ra suốt mươi năm im lặng vẫn là một nỗi thống thiết không nguôi với mớ chữ nghĩa đã có lần là lẽ sống. Trên góc khuất một tờ báo địa phương rặt mùi quảng cáo, một đặc san nhân dịp hợp mặt đồng hương ... cho tới lúc hè nhau in ấn một tập báo văn chương, hay gom góp chút dư thừa èo uột để xuất bản một quyển sách ... những người Việt lưu vong, ở đâu đó trên khắp cùng mặt đất vẫn luôn ôm ấp, luôn hoài niệm về một nền văn chương đã bị bức tử. Và lặng lẽ nối lại dòng sinh hoạt đã phải bỏ dở, từ khi.

 

Từ đó, dòng thơ văn cũ của miền Nam như bừng sống lại. Từ đó, bằng mọi phương tiện, từ những tờ báo in trên giấy cho đến khi bay vọt lên mây, từ những tập giấy mỏng tanh đến những bộ hợp tuyển dày như tự điển, mọi thể thơ từ cổ điển đến tân thời, mọi thể loại từ truyện ngắn truyện dài đến biên khào... có giá bán cốt để trừ tiền ấn phí hay chỉ in-để-tặng-không... mọi kiểu mọi cách tiếp tục xuất hiện như những lời nhắc nhở, thúc hối, khuyến khích, … anh viết, chị viết, tôi viết… Bỗng chốc rồi một cơn hứng khởi mới… Bỗng chốc rồi con tim mệt mỏi bắt lại cái nhịp thúc hối của lục bát, cái nhịp sắc mắc của bảy chữ... Bỗng chốc rồi thơ ở đâu ùa về, văn ở đâu đổ tới, người ta sống lại nỗi say mê của một thời tuổi trẻ, thở lại cái hơi ngất ngưởng của chữ nghĩa trên đầu ngọn bút những năm 60, 70… Mùi giấy mực từ một quá khứ thổi về làm căng lại lồng ngực… Rồi là những đêm những ngày miệt mài viết, xóa, viết, xóa… Trong giờ ăn giữa hai suất khuân vác đục đẻo, viết ngoài bãi đậu xe, trong góc bếp một căn chung cư hẹp té ... bất kể ở đâu đâu, trên tay lái một chiếc xe giao hàng ngừng ở ngả tư đèn đỏ, lúc nửa khuya vì một ánh trăng lẻ loi chợt rớt trên đầu giường... Họ viết, viết ngay cả khi không biết viết để làm gì... Chẳng vậy mà bỗng chốc giữa cuộc sống xô bồ, nồng nực mùi hương lạ, chúng ta tìm lại được mấy chút hương xưa.

 

Dẫu mang nhiều tâm ý vẫn là một cuộc chơi. Ðã chơi thì có kể gì thành bại. Cái đáng nói là sau hết, đâu đây, vẫn còn đó… những con mắt xanh thấp thỏm. Từ biệt xứ, không hẹn mà đây đó đã vọng lại những tiếng gọi thầm lặng, rủ rê nhau tiếp tục cái công việc đã bị bỏ dở từ cơn trường hận tháng tư-bảy lăm. Suốt những năm lao đao làm quen với mùa màng cây cỏ lối xóm láng giềng lạ hoắc, người Việt tha hương ở mọi nơi vẫn không ngừng gióng tiếng gọi đàn của bầy chim thất lạc. Từ đó những vần thơ thê thiết, những câu văn bay bướm hay dõng dạc đã không ngừng xác nhận sự có mặt của một dòng văn chương bị hủy diệt tức tưởi ở ngay trên chính quê hương mình. Từ đó, trên khắp cùng mặt đất, những người Việt quấn quít với hồn vía quê mẹ đã và vẫn không ngừng lên tiếng để nuôi dưởng nếp sinh hoạt nhân văn đã có hồi rực rỡ. Cơm gạo có thể thay thế bằng bánh mì, bơ, sửa... Nhưng văn chương làm sao thay thế dẫu với những kiệt tác được viết bằng tiếng nước người. Vốn liếng ngoại ngữ có thể giúp người ta hiểu ý người sáng tạo bằng chữ nước người. Nhưng để cảm, để rung động, để hòa cùng nhịp tim, để nhập chung dòng cảm xúc dường như còn đòi hỏi cùng chung cả một chiếc nôi văn hóa đồng dạng tự đã ngàn đời. Ấy chỉ là văn xuôi. Còn thơ ? Hẵn còn khó hơn bội phần. Chẳng vậy mà người ta hay nói ... “dịch” là “phàn” !

 

Những người mài miệt làm cái công việc viết lách ở một nơi không phải quê mình, kể ra họ đã góp phần không nhỏ cho chuyện an cư của đám người lưu lạc. Không có họ, đất khách sẽ mênh mông và kiếp lưu vong sẽ lạc loài biết mấy. Lớp đã thành danh từ trước cơn hồng thủy, bỏ nước ra đi đã không quên mang theo mớ hành trang chữ nghĩa, đến lúc trải lòng ra, nối tiếp lại cái thiên chức đã bị cướp giựt một cách ngang xương... Rồi như ngọn sóng triều lên, lan sang cả những người chưa từng cầm bút nhưng ẩn ức vì một quá khứ vàng son cũng hè nhau lên tiếng... Rồi là đám trẻ tập tểnh nối bước cha anh. Dẫu còn phải chen chúc với chữ nghĩa nơi họ phải hội nhập vì cuộc sống, vẫn cố lội ngược dòng để không bỏ mai một mớ chữ nghĩa mà cha mẹ đã móm môi khi vừa mới lọt lòng. Văn thơ chữ Việt, suốt cuộc đổi đời tàn khốc, vẫn tiếp tục bay lượn ở một chỗ không phải là chỗ của mình.

 

..........................

 

Vậy mà rồi cũng mấy chục năm qua đi. Mấy chục năm. Tròm trèm nửa thế kỷ. Nói nghe gọn bâng như một tiếng chắc lưởi. Mà thật ra, thời gian dù có thun dản tới đâu cũng vẫn có tác dụng hủy hoại vô chừng. Được cái là suốt cuộc tha hương, ai nấy xa quê mà tường chừng còn gần lắm. Gần vì hằng buổi vẫn nghe quanh quanh thứ tiếng nói với sáu dấu giọng lên xuống trầm bổng tự nhiên, vẫn thấy quanh quanh những câu văn dài ngắn bất kể mà dấu phẩy dấu chấm, cấu trúc văn phạm còn đúng y thứ ngữ pháp đã thành nếp từ cái thuở ... ông Bảo Đại còn làm trùm. Nghĩa là từ cái thời ông HCM còn xin xuống tàu Pháp làm bồi. Bởi đó, đời lưu lạc đỡ buồn biết mấy !

 

Nhưng mà, vấn đề không ngừng ở đó. Vấn đề là sẽ tới một lúc, thứ chữ Việt hoa lệ đó sẽ trở thành tử ngữ. Vì tuổi tác của lớp người viết lách và số độc giả đã đồng hành cùng họ. Số người rời khỏi nước từ năm 1975 ngay trong lứa tuổi hoa niên-những người đã thấm nhuần thứ văn chương nền nếp đó- tính tới nay hẵn cũng đã tròm trèm tới tuổi cỗ-lai-hy. Lớp độc giả trung kiên đó rồi sẽ như lá mùa thu rụng. Lớp trẻ đôi mươi lớn lên bên nầy đại dương dù có muốn kéo níu hẵn cũng sẽ nao lòng trước sự thưa thớt mỗi ngày một tỏ lộ. Viết mà không ai đọc thì làm sao mà viết. Viết mà dẫu có người muốn đọc ở bên kia biển lớn nhưng vì đã bị cách ly bằng mấy bức-tường-lửa thành ra đã trật trịa cách thức suy nghĩ cũng như cú pháp hành văn, nhất là đã sai lệch cảm quan nghệ thuật thì làm sao tìm được sự cảm thông, dẫu ở đó vẫn còn những tấm lòng thao thức. Nhưng thao thức rồi sao hay chỉ để làm khổ chính mình- nhất là phần lớn cũng đã mấp mé bên lề sinh tử, trong khi đại đa số già trẻ lớn bé đã hồ như chấp nhận dù có là khiên cưỡng, những trái cựa tới độ phi lý. Nhất là lớp trẻ sinh sau đẻ muộn, lớn lên cùng với sự nạo vét óc nảo đến tận cùng mọi thứ được gọi là lương tri. Buồn thay. Trong khi ở bên nầy đại dương, người xa quê cố gắng gìn giữ nết văn hóa diểm lệ đó thì bên kia đại dương, nơi quê cũ đám cầm quyền vẫn ra sức hủy diệt mọi thành tựu văn học của lớp người đi trước mà đã có lần họ gọi là văn hóa phản động... Mà nhất là đã cố tình làm thay đổi hẵn lối suy nghĩ nhân bản truyền thống bằng một thứ chủ nghĩa quái đản dựa trên duy vật sử quan, đấu tranh giai cấp với lối giáo dục nhồi sọ một chiều, đưa đến kết quả là tiêu hủy cả hồn tính dân tộc đã được nuôi dưởng từ thuở 18 đời vua Hùng dẫu có là huyền sử. Từ đó, lật ngược hẵn mọi cách thức đánh giá tốt xấu. Và cũng từ đó làm sai biệt hẵn mọi nấc thang giá trị. Còn làm sao tìm được những tấm lòng đồng điệu !

 

Hơn 40 năm qua, tất nhiên ở đó có quá nhiều thay đổi. Nhà lầu có cao hơn, cầu cống đường lộ có phẳng phiu hơn... Mà chữ nghĩa thì “lồi lõm lở loét” còn hơn đường xá thời buổi bị mấy ông du kích đắp mô gài mìn lúc còn giặc giã. Thử đọc một đoạn ngắn trong bài viết của ông Ngô Nhân Dụng mới vừa đăng trên Diễn Đàn Thế Kỷ hôm 23 tháng 9 năm 2022, ngay bon lúc nhà-nước đang lên “kế hoạch 8 năm” nhằm viện trợ tiếng Việt cho đồng bào ruột thịt! ̣ ̣( sic) “Theo ký giả Sen Nguyen, trên the South China Morning Post ở Hồng Kông ngày10 tháng Chín, 2022, một ông phó thủ tướng tên là Phạm Quang Hiêu (Hiếu, Hiệu, hoặc Hiểu, …), nói đã có một “kế hoạch 8 năm” nhằm viện trợ tiếng Việt cho đồng bào ruột thịt! Trong khi chờ đợi “kế hoạch 8 năm” được thi triển, bà con di cư tị nạn muốn nếm thử một chút ít “tiếng Việt Cộng” có thể tìm đọc ngay trên báo Nhân Dân, là Báo Nhân Dân ngày 19 tháng 9 năm 2022, có một bản tin về “tai nạn giao thông nghiêm trọng” hôm trước. Một chiếc “ô-tô tải” do một anh tên Triều lái đã tông vào một “xe mô-tô” do một anh khác lái chở theo một Việt kiều từ Mỹ về chơi.

 

Thay vì viết anh Triều “lái” chiếc xe, “Tiếng nói của Đảng, Nhà nước ...” đã viết rằng chiếc xe do anh “điều khiển lưu thông.” Người lái chiếc mô-tô cũng được mô tả là “điều khiển” chiếc xe gắn máy. Sau đó, chiếc ô-tô tải bị lật nhưng lại đụng vào một chiếc xe đạp do một “học sinh lớp 10 điều khiển.” Không nói “Lái xe,” xe hơi, xe bình bịch hay xe đạp, phải nói “điều khiển.” Thêm một chữ nữa: “va chạm.” Báo Nhân Dân viết tiếp, “Sau khi va chạm vào mô-tô,” chiếc xe tải “tiếp tục va chạm” vào chiếc xe đạp, chúng tôi in chữ nghiêng. Thông thường người Việt dùng hai chữ “va chạm” để tả hai vật hay hai người đụng chạm hoặc va nhau, một cách nhẹ nhàng. Nhưng trong báo Nhân Dân các “va chạm” đó làm chết hai người! Trên cùng trang nhất tờ báo này, thấy “vụ việc một du khách nước ngoài va chạm với đoàn xe lửa Lào Cai-Hà Nội,” may mắn thoát chết! Nhưng “Đoàn tàu … va chạm với du khách” đã “phải dừng lại giải quyết sự cố, tuyến đường … ùn tắc.” Tốt nhất, bà con ở nước ngoài, dù gặp cảnh “sự cố ùn tắc” cũng nên tránh không “va chạm” với chữ nghĩa của các ông cộng sản. Hai chữ “sự cố” cũng như chữ “sự kiện” được dùng tự do, thả dàn trên báo đài trong nước. Một tờ báo viết về cô ca sĩ: “Bà mẹ một con … trẻ trung, xinh đẹp như thiếu nữ đôi mươi tại sự kiện.” Tại “sự kiện?” Những “sự kiện” đó là cái gì!

 

Một bài khác viết về Nữ hoàng Elizabeth II, nói bà thích một nhãn hiệu đồng hồ nổi tiếng, bà “thường xuyên được bắt gặp đeo thương hiệu đồng hồ … đến các sự kiện xa hoa, … bà thậm chí còn cho mượn đồ của mình khi đi sự kiện.” Bà nữ hoàng “đi sự kiện.” Tức là bà đến dự một lễ lạc. Bà lại “được bắt gặp” đeo đồng hồ! Đây là những cách nói tiếng Việt mới lạ chưa từng thấy. Người ta dùng chữ“sự kiện” để dịch nguyên văn chữ “event” trong tiếng Anh, vì lười, không muốn tìm những tiếng Việt chính xác hơn!

 

Chữ “Event” hay “sự kiện” nói về nhiều thứ khác nhau. Có thể viết “sự kiện” thay vì lễ hội, tập họp, một buổi trình diễn, trưng bày nghệ thuật, một tổ chức, hội thảo, một trận đấu thể thao, một trường hợp, hoàn cảnh, nghi lễ, sự việc, vân vân. Những chữ sự cố, hay biến cố, nói về một chuyện đã xảy ra, chữ “cố” với ý nghĩa là đã xong rồi, cũng được thay thế bằng chữ “sự kiện.”

 

Nếu ông Phạm Quang Hiêu muốn viện trợ ngôn ngữ cho đồng bào ở nước ngoài, ông có thể gửi những chuyến máy bay chở 1,000 thùng chữ “điều khiển,” 1,000 thùng chữ “va chạm,” 15,000 thùng những chữ “điều khiển,” “sự kiện,” “sự cố,” vân vân, tặng cho bà con người Việt sống ở Paris, Los Angeles hoặc Melbourne. Họ sẽ mở mắt ra, thấy không cần dùng những chữ cổ lỗ như “lái xe,” “buổi họp” hay “bữa tiệc” nữa.

 

Nhưng báo Nhân Dân còn có thể cung cấp nhiều hơn những chữ lẻ tẻ như “sự kiện,” “va chạm” hoặc điều khiển.” Ông Hiêu có thể gói tặng bà con những đoạn văn dài đầy chữ nghĩa. Mời quý vị đọc thử mấy câu dưới đây (xin ngưng đọc ngay, nếu cảm thấy khó thở, chóng mặt, hoặc buồn nôn).

 

Đây là văn chương báo Nhân Dân: viết về “Công nghiệp văn hóa.”

 

“Công nghiệp văn hóa tạo ra nhiều cơ hội học tập mới cho người lao động, góp phần thu hẹp khoảng cách về trình độ dân trí giữa các vùng miền, nâng cao đời sống tinh thần cho nhân dân nói chung. ... Hệ thống các sản phẩm và dịch vụ văn hóa ngày càng đa dạng. Di sản văn hóa trở thành nguồn cung cấp nguyên liệu đầu vào phong phú cho nhiều ngành công nghiệp như âm nhạc, điện ảnh, trò chơi điện tử, từ đó giúp thiết lập lợi thế cạnh tranh, sự độc đáo và nhận diện thương hiệu cho những ngành này ở thị trường trong nước, cũng như thị trường khu vực và thế giới.”

 

Cảm tưởng đầu tiên là nó “Rất khó tiêu!”

 

Đọc hết cả đoạn trên cũng chưa hiểu “Công nghiệp văn hóa” là những thứ gì. “Thu hẹp khoảng cách về trình độ dân trí” là thế nào? “Hệ thống các sản phẩm và dịch vụ văn hóa” nghĩa là gì? Di sản văn hóa cung cấp “nguyên liệu đầu vào”… “cho nhiều ngành công nghiệp!” Nghe như kể chuyện một nhà máy xay lúa!

 

Đây là một căn bệnh thâm căn cố đế trong các chế độ cộng sản: Ăn to, nói lớn. Khoe khoang chữ nghĩa. Hô khẩu hiệu! Xác định lập trường! Không khác gì nhà giàu hợm hĩnh khoe của. Căn bệnh này không chỉ xuất hiện trên báo chí mà đã lan truyền trong cuộc sống hàng ngày của tất cả mọi người. Bên bờ hồ Hoàn Kiếm quý vị có thể thấy hai tấm bảng treo trên một cửa ra vào, viết giống hệt nhau, một cái treo ngoài đường, một cái ở trước cửa bên trong. Tấm bảng xanh lá cây viết bốn hàng chữ trắng, tất cả viết hoa, như thế này: CÔNG TY TNHH NHÀ NƯỚC MỘT THÀNH VIÊN MÔI TRƯỜNG ĐÔ THỊ XÍ NGHIỆP MÔI TRƯỜNG ĐÔ THỊ SỐ 2 NHÀ VỆ SINH CÔNG CỘNG – TOILET

ĐỊA CHỈ: SỐ 8 LÊ THÁI TỔ, HOÀN KIẾM, HÀ NỘI – ĐT : 043.8288072 – 043.9288508

 

Tất cả tấm bảng 41 chữ và số, cuối cùng, chỉ có một chữ mọi người cần biết, là “Toilet!” Người đi đường, các du khách chỉ cần đọc chữ “Toilet” hay “Toa Lét” là hiểu ngay! Không hiểu tại sao người ta phải đọc 25 chữ VIẾT HOA lòng thòng rồi mới được thấy chữ “Toilet!” Cũng không hiểu tại sao phải ghi cả địa chỉ cái toa lét này? Người di tìm toa lét có ai chọn một địa chỉ trước, đúng địa chỉ mới vào, hay không? Lại còn số điện thoại nữa! Có cần gọi điện thoại xin hẹn trước, giữ chỗ, mới được dùng toa lét hay không?

 

Người Việt Nam sống ở nước ngoài chắc không ai muốn dùng tiếng Việt theo đường lối nhiêu khê của Đảng! ”

 

Gì đi nữa thì cũng xin lỗi đã làm ai đó cười-ra-nước-mắt khi lỡ phải đọc thứ tiếng Việt-sau-khi-được-giải-phóng và đương thẳng đường tiến-lên-xả-hội-chủ-nghĩa. Từ chủ nước đến tôi tớ, kể cả đám bàn dân thiên hạ, sau mấy chục năm bị nhồi nhét đến no ứ thứ chủ nghĩa phi nhân đ&oacu