hmpg.jpg
Titlej (1).jpg

Thơ văn

CAO VỊ KHANH

Montreal, Canada

CHS PTG-CGS Nguyễn Trung Trực, Rạch Giá

___________________

CVK_Kedaovong.JPG

Chiều tháng tư về qua sông Cổ Chiên

 

Gió quậy tư bề sóng nhọn hoắc

Thuyền quay như lá cuối mùa rơi

Người qua sông muộn tay ghìm chặt

Vực trống chìm sâu đến rụng rời

 

Nước chảy hung hăng lở sạt bờ

Tưởng ngàn vó ngựa sải qua mau

Người về từ cõi đầy xương sọ

Lòng bể trăm chiều miểng cứa đau

 

Nước vẫn tuôn tuôn, sầu cuộn cuộn

Ngó lục bình trôi tưởng rã hàng

Người xưa có đợi ? Chờ có muộn ?

Mà cứ trông chừng một bóng sang

 

Thuở nhỏ qua sông ý đã liều

Thách trời, kiêu ngạo cả hư vô

Hai mươi năm lẻ về vội vã

Nước mất, đường quê rặt bóng mồ

 

Gió đẩy thuyền đi, hận quá giang

Cồn xa bỗng lạnh rợn âm quen

Chiêng trống thời xưa gào xung trận

Trách kẻ đời nay để phận hèn

 

 CAO VỊ KHANH _____________

CVK_Paris.JPG

Khi về rồi, tôi mới phát giác ra một điều kỳ diệu. Tôi yêu em nhiều hơn tôi tưởng. Tôi mà bản chất kiêu ngạo và phóng đãng từ khi còn rất trẻ, lại bỏ dạ yêu em nhiều hơn cả tôi yêu tôi. Vậy sao. 

Tôi yêu một người đàn bà trẻ hơn tôi cả một vòng quay của lịch số. Tôi yêu một người đàn bà non dại hơn tôi cả một trang lịch sử tang thương. Và yêu nhiều hơn cả cái thói quen hư hỏng của tôi, coi yêu thương trai gái là một thứ trò đùa, giỡn hớt với lề thói của xả hội. 

Vậy sao. Tôi mà tình yêu được coi là những vòng nguyệt quế để khoác lên những chiến tích trên tình trường. 

Vậy mà lần này, tình yêu em đã cải hóa lòng tôi. Sao lạ vậy em. Làm sao tôi giải thích được. Ờ có những điều kỳ diệu mà lặn lội gần suốt một đời tôi có lần nào vấp phải đâu em. 

 

Buổi sáng đó, mùa thu chỉ mới chớm vàng đâu đây, ở bên này một khung cửa hẹp, tôi nhìn thấy em lên xe ra phi trường. Vóc em nhỏ nhắn, nhẫn nhịn. Có một thoáng tôi thấy em nhìn lên. Em nhìn lên, nhưng tôi biết em chỉ thấy một màn cửa lay động. Làm sao thấy nhau khi sương đêm chưa kịp tan. Và lòng người quanh em rào cản. Vậy rồi, chiếc bus chở du khách chạy khuất sau một ngã rẽ. Tôi đứng sững. Và mơ hồ, một giọt nước mắt ứa nhanh. 

Vậy rồi, em xa tôi. Em xa tôi như tự đã bao giờ. Em xa tôi như cái vận số đã xô tôi ra khỏi quê hương mình, nơi chốn mà tôi yêu thương biết mấy. 

 

Khi về rồi, ở bên nây một lằn ranh sông nước, tôi mới khám phá ra một điều lạ thường. Trái tim già cỗi của tôi sao bỗng dưng đập lại nhịp rộn ràng y như thời mới lớn, y như lần đầu xáo động trước những cợt đùa của thứ tình cảm còn rất mong manh. Không, hơn vậy nữa. Tim tôi trẻ lại mà hồn tôi chín muồi thêm bao nhiêu đằm thắm của ân tình em mang đến. Nó ngọt ngào như môi hôn vụn trộm, nó nhẹ tênh như ve vuốt mơ hồ mà mặn mà như giọt nước mắt em rơi đêm đầu tiên gặp lại. Cái cảm giác sương khói cặn lại lòng tôi như những lời vỗ về thầm lặng, thấm vào tim tôi rồi len qua bao nhiêu ngỏ ngách của thể xác và tâm trí như để nuôi nấng một sức sống sắp tàn. Tôi nhớ em. Ôi tôi nhớ em. 

Vậy đó em. Thứ tình yêu muộn màng em hiến tặng đã khiến tôi từ một kẻ đã tự nép mình đứng bên lề cuộc sống bỗng dưng rộn lên những kêu đòi trở lại. Khổ cho tôi, tội cho em, tôi còn có cái quyền lực đó đâu em.

Vậy sao mình cứ lại thiết tha, gượng nhẹ từng sợi tơ đã mắc míu đâu tự một thuở nào. Thuở nào em hả ?

Có phải từ hơn ba mươi năm trước, sau cơn thất tán bể dâu. Em chạy chết. Tôi chạy chết. Qua sông qua núi.  Qua trời qua biển. Qua bao nhiêu tang thương. Chạy chết như không còn đâu là đất sống. Và em và tôi, như những nhúm bọt bèo trôi dạt, lặng chìm không để sót chút tăm hơi. Cơ duyên nào cho chúng ta tìm lại nhau, mơ hồ như những tín hiệu truyền qua sóng điện. Chút thăm hỏi vu vơ. Mấy lời chia sớt mưa nắng. Khi biết tôi đã lập gia đình, tự dưng rồi im bặt. Mấy giây ? Mấy phút ? Rồi tiếng nói vui trở lại không kềm giữ. Em yên tâm. Vậy thôi. Rồi bắt quàng qua những quen biết cũ. Từ đó, ở hai đầu một lục địa mênh mông, nhắc nhở một viên thuốc cảm khi trái gió trở trời, kể lể một kỷ niệm mơ hồ về một thời có hoa có bướm ... Trong cái cõi không gian mịt mùng đó, ở đâu đó, trước khi gặp lại, từ nhiều năm trước, em thiếu nữ trở thành thiếu phụ giữa bao nhiêu sầu tủi. Vậy mà rồi vẫn chung thủy cùng tôi những nhắn hỏi, đều đặn như thời tiết đổi mùa, hết hạ sang thu ... Dòng đời mịt mù xoay không trở lại. Em xa xôi vẫn mãi một giọng nói thiết tha, hiền hòa gởi gắm những hỏi han, nhắc nhở ... nhất là những vỗ về an ủi cho những nhục nhằn tôi đã gánh chịu từ cuộc đổi đời năm ấy. Em đâu đó, bất kể sớm hôm mưa nắng, vẫn nguyên cái giọng ân cần và đều đặn, có một chút người lạ và một chút người thân. Phải từ đó không em. Ờ, mà dường như không hẵn vậy.

Dường như còn lâu hơn vậy nữa. Xa hơn cái trí nhớ đã bắt đầu mòn mõi của tôi. Xa đâu từ thời em còn là cô học trò mới lớn, cõi lòng chỉ mới vừa xao xác những thoáng nghĩ vu vơ.  Vậy đó mà tôi quen em do một tình cờ trái oan của định mệnh. Em tan trường về, làm rơi một tờ giấy trắng, bay vất vơ rồi tắp vào chân tôi khi tình cờ tôi có việc đi ngang. Cúi lượm tôi thoáng nhìn mấy hàng chữ .... trải vách quế gió vàng hiu hắt, mảnh vũ y lạnh ngắt như đồng, à ... Cung Oán Ngâm Khúc, tác phẩm cổ văn mà tôi rất thích khi còn ở trung học. Khi tới gần để trao trả, tôi nhìn thấy đôi mắt mở lớn đen nhánh và đôi má ửng hồng dưới nắng tháng năm. Chiếc áo dài trắng bằng vải nội hóa thả lỏng, chưa thắt thỏm đường eo. Tự nhiên tôi gợi chuyện. Em trả lời vụn vặt. Vừa rụt rè vừa tinh quái. Thơ gì khó học muốn chết. Mà ông thầy quốc văn ổng khó quá trời. Tui chép vô giấy để vừa đi vừa học. Có muốn dễ học hông tui chỉ cho. Làm sao. Về đốt thành tro rồi uống tuốt vô bụng. Cái nguýt mắt dài còn hơn mấy lượn sóng ngày trở gió. Quanh em những chiếc áo dài trắng chập chờn như đàn bướm ghẹo. Thêm vài câu qua lại nắng mưa rồi em rẽ vào cổng nhà có chiếc hồ sen nho nhỏ. Tôi đi thẳng mà còn kịp thấy được cái ngoái đầu nhìn lại của em khi vừa khuất sau hàng cửa lá sách sơn xanh. Thêm đôi ba lần chào hỏi kín đáo trên đường tan trường khi tôi cố tình rẽ ngang thay vì đi thẳng tới sở. Việc làm mới, hai mươi ba tuổi bỏ Sài-gòn về tỉnh, tôi lao đao với những lề thói mới của tỉnh nhỏ trong khi lòng còn vướng bận hoài với những phung phá thời đại học. Tự một góc kín của lòng, tôi hục hặc với chính tôi vì nếp sống lặng lờ của tỉnh lẻ. Vậy rồi ngày một ngày hai, thêm một cợt đùa của định mệnh, em là bạn học của cô con gái chủ nhà tôi ở trọ. Tôi có dịp gần em hơn qua những lần hỏi han bài vở. Cô con gái chủ nhà nhờ tôi sửa hộ một bài sinh ngữ rồi kéo em nhập chung cho có bạn. Từ đó tôi trở thành một thứ gia sư kèm-trẻ nửa mùa . Do vậy, tôi có dịp giải tiếp cho em một phương trình đại số, nhắc nhở em một lỗi chính tả, đôi khi còn lạc nẻo vô mấy ngõ phố Sài-gòn với những ngày làm sinh viên không-sách-vở-cầm-tay ... Tôi kể em nghe quảng đời đại học, những hành lang hút gió, những giảng đường rộng thênh thang, những đêm cà-phê thuốc lá nghe Khánh Ly đi chân trần hát nhạc Trịnh Công Sơn, những đêm chắt mót từng đồng theo bè bạn la cà ở mấy cái vũ trường có rượu có nhạc và có cả những cô ca-ve chạy bàn như chạy giặc ... kể cả những chuyện phim Tây phim Nhựt vừa coi vừa ngủ gật trong bóng tối rạp ci-né Lê Lợi ... Tôi kể em nghe cả những chuyện tình sáng nắng chiều mưa tôi đa mang những ngày xa nhà học đòi lữ thứ. Đôi mắt thông minh, linh hoạt lấp lánh một niềm tin cậy kỳ lạ, em làm tôi lắm khi nổi hứng lang bang luôn tới mấy câu thơ tiền chiến, vói luôn tới những văn phẩm cổ điển tuyệt vời của văn học nước mình mà quên phức tôi là một người thầy giáo ... giả. Những lời tôi nói, dĩ nhiên không thiếu phần trang trọng và thành khẩn, nhưng tôi có phải là thầy dạy học của em đâu. Vậy mà sao, những lời đó, gần hai mươi mấy năm sau, khi liên lạc lại được lần đầu qua điện thoại, có khi em bỗng nhắc. Em bồi hồi. Tôi bồi hồi. Điều gì đã làm chúng ta dưng không như sống lại cả một đoạn đời đã cũ. Giọng ấm, bình dị, nghe thân mật  như chưa từng vẫn đục bởi gió bụi của thời gian. Bỗng dưng, rồi không đâu tôi thấy lại hết những ngày ở đó. Những ngày em con gái, mộng cao, chăm chỉ học hành, theo tôi han hỏi chuyện trời cao đất rộng. Em nhắc lại một lời hứa tôi đã lỡ quên, một chuyện phim tôi kể nửa chừng, một bài thơ tôi làm lở dỡ ... ngay cả chuyện em tìm đến thăm tôi quá trễ, khi chuyến xe tù đã đưa tôi vào trại cải tạo. Em nói em có mang theo một chiếc áo lạnh mua gấp ngoài chợ trời. Rồi chiếc áo đó em mặc ấm trong những ngày vượt biên lênh đênh trên biển. Tôi nghe và lòng tôi nhói đau. Rồi thôi. Rồi sau đó, em sống đời em, tôi đời tôi.

Xứ người em học hành thành đạt, dựng xây lại cái tương lai đã bị dùi vập ở quê hương. Rồi em lập gia đình. Rồi tan vở. Rồi em có bạn mới. Ở xa, đôi ba tháng, ngày tư ngày tết, em gọi thăm hỏi. Đôi khi em kể tôi nghe nếp sống thường nhật của em, chuyện nhà cửa, việc làm, chuyện sức khỏe, chuyện những quen biết vu vơ thời mới lớn. Vẫn cái tiếng nói vui và ấm, thân mật và ân cần với hết tấm lòng nhân hậu. Lâu lâu lại tìm mua vài ba quyển sách mới gởi sang dặn tôi đọc trong những giờ giải lao. Thỉnh  thoảng đọc đâu vài ba câu thơ cỗ lại kêu tôi giảng tiếp. Tôi không nghề không nghiệp ở xứ lạ, cày cục tìm miếng ăn hằng ngày. Vậy rồi sao, đôi khi giữa cơn chạng vạng của niềm tin, tiếng em gọi bỗng làm tôi vui lại. Vui lại rồi thôi. Em sống đời em, tôi đời tôi. 

Hai mươi lăm năm qua, ba chục năm rồi qua. Vẫn những ân cần thăm hỏi, nhắc nhở, dặn dò, khuyến khích ... Vẫn tiếng nói xa, lắm khi nghe ra vỗ về đến se thắt lòng tôi. Có lần còn hỏi xin tôi những bài thơ làm trong tù. Rồi gom lại muốn đem in thành sách. Tôi hỏi bộ em muốn làm tôi bất tử. Em không trả lời mà sao bên kia đầu giây tôi nghe tiếng gì như tiếng nấc cố dìm. Cả đời tôi, tôi có giữ gìn bao giờ ba cái thơ văn tôi đã cặm cụi viết lách rồi bỏ quên đâu đó. Sao em, ờ sao em lại để tâm ?

Vậy đó, vậy đó. Ngày qua ngày. Tháng qua tháng. Năm qua năm. Mối giao cảm lung linh và mơ hồ như khói sóng. Chẳng có gì rõ ràng. Không mảy may xác nhận. Vậy sao hoài những tiếng chuông điện thoại reo vang, những khuya sớm, những giờ phút không ai ngờ nhất. 

 

Cho đến tháng mười năm ngoái. Tôi tới Paris khi hay tin người bạn thân duy nhất đã tới giai đoạn cuối cùng của căn bệnh quái ác. Tin dồn dập xô đẩy tôi không kịp chuẩn bị, lấy chuyến bay đêm, hừng sáng tôi xách chiếc túi nhỏ lần tới một khách sạn ở quận 13 cùng lúc với một đoàn khách du lịch cũng vừa đổ tới. Trong cái không khí chộn rộn lăng xăng của phòng khách hẹp té, chúng ta bỗng nhìn ra nhau. Chúng ta bỗng nhìn ra nhau sau hơn ba mươi năm không thấy lại. Em đó sao, cô học trò tôi đã giải thích giùm một định đề khó hiểu. Cô gái mới lớn tôi đã đưa đẩy vào một thế giới viễn mơ. Vẫn cái dáng dấp trầm lặng tới độ nhẫn nhịn. Vẫn cặp mắt sáng, tinh quái mà hiền lành. Và cái giọng nói ngọt ngào như muốn làm vừa lòng với hết thảy ai ai. Em thêm mớ tuổi đời nhưng không giấu được cái vẻ liếng thoắng kín đáo của ngày xưa. Có một chút sững sờ. Và một tiếng kêu hớt hải. Rồi chúng ta bước vội tới gần nhau mặc kệ cái đám đông xô bồ chen chúc. Mũi tôi như nghẽn. Mắt em mơ hồ chút bụi sương. Rồi là những câu thăm hỏi xả giao. Em đi du lịch với người đàn ông đã san sẻ với em nửa phần đời sau và đứa con gái duy nhất. Rồi thôi. Em đi với bên đó và đoàn khách du lịch. Tôi tới cùng với bạn tôi, mảng cuối của một cuộc đời. 

Ba ngày sau. Người bạn tôi mất. Tang lễ đơn giản như ước muốn của người chết. Tôi còn lại, bơ vơ giữa một kinh thành hoa lệ, nơi mà tôi đã nhiều lần mơ ước từ tuổi còn học trò. Đêm thứ tư, còn ba ngày nữa tôi sẽ rời Paris trở lại cái thành phố buồn hiu, nơi tôi đã sống chôn mình trong quên lãng từ mấy mươi năm nay, tôi ngồi uống rượu một mình nơi quầy cuối phòng khách. Đoàn du lịch về tới. Em ghé lại chào hỏi và để lại một mẩu giấy khăn ăn xếp gọn. Em nhắn tôi giờ giấc và địa chỉ của thánh đường Sacré Coeur. 

Buổi sáng hôm đó, tôi lặng lẽ rời phòng từ sớm, lấy métro đến trạm Anvers rồi ghé vô quán còn vắng khách. Ngày mùa thu, Paris dậy muộn. Trên hè phố đã thấy lác đác lá thu rơi. Siết chặt chiếc khăn quàng cổ, tôi gọi tách cà phê đầu ngày, rồi ngồi ngó mông lung ra đường. Điếu thuốc vừa tan làn khói chót thì em tới. Chiếc taxi vụt chạy, em ngó quanh vừa khi tôi tới bên. Áo choàng đen và khăn cổ xanh lơ, em buông mình dựa vào tôi, hai vòng tay cùng siết chặt, nước mắt em bật ra cùng với tiếng kêu “anh” thảng thốt. 

Ba mươi mấy năm bỗng chốc ùa về, tôi đưa tay vuốt bờ tóc rối có những sợi úa màu thu đã muộn, em ngửa mặt, mùi J’adore của Dior thoang thoáng và chúng ta hôn nhau. Chiếc hôn đầu tiên của nụ tình nở muộn. Trễ nhau hai phần ba đời mình mà lẻ ra đã đúng độ ngay từ lúc còn ở bên kia một đại dương ngăn ngắt. 

Ngày hôm đó, chúng ta đi bên nhau, đi suốt một dãy quá khứ buồn rầu dù lòng ai cũng thấy hớn hở. Phố xá trước mặt, và người qua lại chỉ còn như một phụ cảnh mờ, chúng ta đi bên nhau, chân nhẹ hẩng và lòng nặng trĩu, trôi nỗi bềnh bồng giữa hiện tại xa và quá khứ gần. Gió sớm gai gai lạnh, tôi choàng tay qua vai kéo sát em vào người, chúng ta đi như để mặc cho hai đôi chân tự ý đẩy đưa ngang qua thánh đường Sacré-Coeur, rồi vòng xuống phố Montmartre. Tẻ qua khoảng đường có những người vẽ và bán tranh, em hỏi tôi có còn nhớ mấy câu thơ của Nguyên Sa tôi đã đọc cho em nghe ngày nào. Paris có gì lạ không em. Tôi nói tôi đâu có quên. Em đọc lầm thầm, tiếng nhỏ. Mai anh về em có còn ngoan. Rồi ngước nhìn tôi. Đôi mắt có hàng trăm lời xác nhận. Chỉ tiếc anh không về kịp. Ai đó đã nói thầm. Tôi đưa em lần theo lối đi lấp lửng những chiếc lá rụng từ đêm qua, lòng thắc thỏm những hình ảnh ố vàng, giờ bỗng dưng rựng sáng giữa hồn nhau. Anh biết không, sao em  chưa bao giờ quên những câu anh nói, từ một lời diễn giải đến một câu đùa cợt, từng chữ từng lời dù hoa mỹ hay nôm na. Lời anh nói cứ lẩn quẩn bên em, quấn quýt trong đầu em ban ngày, ban đêm, từ theo ba má bước chân xuống ghe, từ khi biết rồi không còn bao giờ mình gặp lại nhau nữa. Em nói và nước mắt em ứa ra. Tôi úp mặt hôn vào gò má em, và nghe môi mình mằn mặn. Tôi nói gì với em đây. Có lời nào để tôi phân trần. Có lời nào đủ lấp cái khoảng cách đã lỡ để lạc loài nhau. 

Chúng ta dìu nhau đi lang thang không chủ đích. Y như hai đám mây theo gió đẩy đưa tạt ngang qua thành phố. Mắt nhìn quanh mà mắt chỉ thấy nhau. Mình đi giữa một Paris đang trở giấc vào thu mà lòng cứ trở lại một góc tỉnh nhỏ xưa đã xa tăm tắp. Bởi vậy, quanh quanh bắt đầu kẻ qua người lại mà chúng ta có để ý gì đâu dù tiệm buôn đang rục rịch mở cửa, quán xá bắt đầu kê lại bàn ghế ngoài hàng ba và những tách cà-phê được dọn ra, bốc khói Chúng ta đi trên đường phố lạ mà làm như chỉ ngắm tìm lại những hình ảnh thân quen. Những buổi sáng buổi chiều trong một góc vườn nhỏ có mặt hồ im đựng bóng hoa sen. Có bóng mát cây mận hồng đào và hàng rào bông bụp em hay ngắt cắm lên chiếc bàn học kê dưới gốc một cây mai đã cỗi. Những buổi trưa im vắng, tôi tạt ngang, em chờ với tập vở, đôi mắt long lanh và niềm tin lóng lánh. Có khi là một ly chanh đường. Có khi là một chén chè đậu xanh thơm ngát. Buổi trưa tỉnh nhỏ êm như ru. Và tôi ru em bềnh bồng theo những đẩy đưa của tình tự dân tộc. Ngoài những bài toán hóc búa em đem từ trường về. Hoặc những cách chia động từ rắc rối của bài tập Pháp văn. Ờ, những buổi học giữa trời, vang tiếng ve kêu và đôi khi có tiếng vổ cánh của một con cò trắng lẻ bạn. Ờ những buổi học mấy ngày sau tết, có lần gió thổi tung những cánh mai vàng rụng đầy lên trang chữ, bám vào mái tóc em thắt bím trông ngộ như một cảnh đào nguyên. Những hình ảnh đâu đâu bỗng trở về lấp ló. Tưởng đã quên lâu, sao sống lại, bây giờ. 

Chúng ta đi giữa đời thực như hai kẻ mộng du. Qua hàng phố, nhà thờ, lâu đài, công viên ... ngã tư, ngã năm, ngã sáu rộn rịp xe cộ mà có lúc tưởng chừng đang qua vội những lề đường đầy cỏ dại chen chúc những bụi hoa mắc cở, dưới bóng mát những tàng lá me lay lắt, hay băng qua chiếc cầu đúc bắt sát mặt sông có con nước lặng lờ xuôi ra cửa biển, và những bầy hải âu vừa bay vừa kêu hớt hải. Con đường lớn dẩn vào thành phố có em ngày hai buổi đến trường. Và tôi, tôi như một khách xa, đến đi không hay báo trước. Tại vậy mà nên nỗi. 

Rồi bỗng em kéo tay tôi, dừng lại trước một sạp báo hỏi mua tấm bản đồ thành phố. Rồi ngón tay thon dò theo con đường đang đi, lần tới một địa điểm quen tên. À xóm St-Germain-des-Prés, bên tả ngạn sông Seine. Mình đi tới đó đi anh. Trời ơi, em còn nhớ. Em nhớ những huyênh hoang ngày tôi tuổi đôi mươi. Em nhớ cái mộng đời tôi lở dở. Em nhắc lại y nguyên lời tôi kể em nghe khu xóm nức tiếng một thời của Paris văn chương triết lý và nghệ thuật. Em nhớ cái ước mơ của tôi đã nói với em một lần. Được có ngày lang thang qua những nhà hàng, tiệm rượu, hộp đêm, hầm tối mù mù khói thuốc và xập xình tiếng nhạc ... có J.P. Sartre với chủ thuyết hiện sinh, có Simone de Beauvoir kêu đòi cho sự có mặt của phái tính thứ hai, có Jacques Prévert với thơ lề đường, có tiếng kèn đồng huyển hoặc của Boris Vian, có Julliette Créco giọng dẻo nhẹo như quến đặc nhựa thuốc lá đốt liền tay...

Ngang qua tiệm Les deux magots em đòi ghé lại. Bàn ghế bày biện vẫn y nguyên như những bức hình tôi đã thấy. Tôi gọi hai tách cà-phê, nhắp từng ngụm nhỏ. Bên kia bàn, hơi khói thơm ngát rịn mướt trên vành son môi tô khéo. Em ngước nhìn tôi, con mắt xa xăm. Có phải nơi này anh nói Ernest Hemingway đã viết Le soleil se lève aussi ... Và trước nữa chàng lãng tử Rimbeaud của anh đã làm thơ Le bateau ivre. Em ơi, hơn ba mươi mấy năm trời sao em còn nhớ. Sao em vẫn chưa quên. Tôi nhìn xuống màu cà-phê đen thẳm, thấy mắt mình như có chút khói cay. Trời ơi sao em nhớ từng chút một những say mê từ thuở tôi còn trai trẻ mà những khi rảnh rỗi tôi hay kể em nghe. Sáng nay em nói dối với mọi người để được cùng anh đi với giấc mơ anh. Dứt câu, em lấy cặp kính đen đeo lên mắt nhưng làm sao em giấu được tôi. Qua Mỹ như mọi người với mọi khó khăn, chính mấy câu khích lệ của anh đã thúc đẩy em đeo xe bus lội tuyết tiếp tục theo đại học trong sự thiếu thốn thường trực. Bốn năm em đi học là bốn năm em hy vọng, ngày gặp lại anh, em không làm anh thất vọng. Rồi em đổ đạt. Và anh, anh thì vẫn biệt tăm. Cặp mắt em giấu sau cặp kính đen. Nhưng giọng nói em làm sao giấu được. Em chắp hai tay che miệng và tôi nghe tiếng em nấc nghẹn. Hai vai em rung rung. Ngực em tức tưởi dù cố nén. Giọt nước mắt nào để sót chen qua gọng kính, loang ướt một dòng trên gò má phải. Tôi chồm người qua bàn, nắm hai bàn tay em trong hai bàn tay tôi. Sau cùng cả hai đều khóc. Tôi kềm giọng. Cho đến lần cuối gặp nhau tháng ba năm đó, anh có ngờ ngợ một điều gì đó nơi em. Nhưng em nhớ coi, lúc đó em mười bảy, thùy mị mà lại quá kín đáo, chúng ta lại ở hai vị trí nghịch thường. Tỉnh nhỏ, lòng người ... Rồi hết giặc giã, chưa kịp mừng anh đã đi tù, gia đình thất tán, mất hết mọi liên lạc ... 

Tôi sẽ nói gì thêm. Mọi lời nói đều là những phân trần vô nghĩa khi người ta đã lỡ trệch ra khỏi một toan tính với định mệnh. Lực ly tâm sẽ càng lúc càng bắn đi xa. Mỗi lúc rồi mỗi thêm xa. Tôi lập lại câu nói đã lập đi lập lại mấy lần từ khi liên lạc lại. Khi ra tù, hơn bốn năm sau, anh bị đuổi về nguyên quán. Ở quê, ba má anh cũng bị cướp nhà phải trở về làng làm ruộng khi đã gần bảy mươi. Nhà có bốn anh em trai, ba người anh còn chưa biết sống chết ra sao trong các trại tù ngoài Bắc, duy nhất chỉ còn anh ... Điều đó có cần không khi người ta đã nghe đi nghe lại bao nhiêu lần. Có điều nếu không nói vậy, tôi sẽ nói gì đây. Cái sự thật cũ càng đến độ làm xót xa chính người nói. 

Nói xong tôi thấy mình như tên hề mới vừa lau xong lớp phấn son nhễ nhãi. Mặt trời lên cao rọi xuyên qua hàng cửa mở, rải lên tóc em lớp bụi nắng óng ánh như sao. Tách cà-phê trở nguội, đắng nghét. Em đứng lên, quyết chắc. Khoác vội túi xách tay, tay cầm tấm bản đồ xếp tư, tay níu tôi đi nhanh ra cửa. Rồi như vậy, mỗi bước lần dò chúng ta đi về phía khu Latin. Gió từ mạn sông Seine thổi ngược lên mùi hơi nước pha sương. Ghé lại mấy quán sách cũ dọc bờ sông, nhìn ngắm rờ rẩm những pho sách cũ lòng tôi nổi lên một niềm ân hận không đâu. Bỗng nhiên tôi nhớ đến những quyển sách tôi đã mua, đã nghiền ngẫm, đã giữ gìn phút chốc biến thành tro than những ngày tang thương đó. Thấy tôi ra chiều thờ thẩn, em vuốt nhẹ lên bàn tay buông thỏng của tôi rồi đọc nhỏ câu thơ của Vũ Hoàng Chương. Chúng ta mất hết chỉ còn nhau. Tôi quay lại nhìn em. Và thấy lại hết những mất mát của đời tôi như tụ đọng lại trong mắt em. Cặp mắt nhìn tôi gần mà như xa hun hút. Ôi tình tôi. 

Vậy rồi chúng ta đi gần lại khu công viên nổi tiếng. Em kéo tôi đi nhanh hơn. Mùa thu rớt nhanh sạm mặt khi nắng chiều rơi chút vụn tàn trên hàng cây dẩn đến vườn Luxembourg. Không ngó tôi, em đọc lầm thầm mấy câu văn của Anatole France mà lần nào tôi đã đọc cho em nghe. Tiếng còn tiếng mất lẫn trong hơi gió nhẹ ....

... Tôi sẽ nói với bạn điều mà hằng năm làm cho tôi nhớ lại, đó là bầu trời mùa thu vần vũ, những bửa ăn tối dưới ánh sáng ngọn đèn và những chiếc lá bắt đầu vàng trên hàng cây lay động ...

Tim tôi thắt lại. Tôi siết chặt vai em, miệng mấp máy những chữ tôi còn nhớ. 

Trời ơi, dễ chừng đã hơn ba mươi mấy năm qua, câu văn dịch mùa tựu trường năm ấy. Em lên mười bảy tuổi. Tôi tâm sự với em. Nhìn tuổi em và bạn bè mấy ngày nay sắm sửa sách vở, tự nhiên tui thấy nao nao. Biết chừng nào tui sống lại cái thời hồn nhiên đã qua em hả. Rồi tôi đọc lại cho em nghe câu văn mà tôi thích nhất. Tôi nói tôi thích còn hơn bài tựu trường nổi tiếng của Thanh Tịnh. Cũng chính lần đó, tôi đã ngỏ lời khen em và chắc lòng tin em sẽ thành công mai sau. Anh thấy lại chưa anh cậu bé học trò của anh đó. Em nói mà không nhìn tôi. Em nói mà như cố soi tìm lại những gì đã mất. Anh còn nhớ bữa em khóc vì giải trật một bài đại số. Anh giễu em mít ướt làm em khóc mùi mẫn. Rồi anh đền em bằng chuyện phim Les dimanches de Ville-d’Avray. Chuyện phim buồn quá làm nghe xong em lại khóc ồ lên làm anh luống cuống sợ trong nhà hiểu lầm. Anh nhớ hông. Em cười nửa nụ mà lòng tôi chết điếng. Mà anh biết hông, nhờ anh mà em học giỏi, mà em thi đậu hạng cao. Nhất là anh tạo cho em một thứ mỹ cảm để thích văn thơ nghệ thuật ... Em nói một hơi rồi nín bặt. Tôi nghe lòng mình tan tác như đám lá rụng mỗi lần gió thổi tốc cả xiêm y. Tôi nói sao hơn nữa khi mọi sự đều có nguyên do. Hai người đi chậm bước khi ngày sắp sửa bỏ đi. Bước chậm như cố kềm thời gian lại. Nhưng làm sao được ! Làm sao kéo lại giờ khắc, mùa màng, thời tiết ... khi tóc xưa cài bướm giờ đã cắt ngắn pha sương, cậu bé tung tăng mang cặp vở chỉ là chiếc bóng tiếc nuối của một hiện thực tỉnh thức vốn đã dập vùi thế sự.

Tôi ôm ngang thắt lưng em dìu đi những bước thơ thẩn. Lòng cảm động khi tận mắt nhìn thấy một cảnh tượng trước đây chỉ có trong mơ. Ngang qua bức tượng L’acteur Grec, em dừng lại ngắm nghía, thích thú khi tình cờ có một con chim đậu ghé trên đầu vai. Khách du ngoạn kéo qua lại từng nhóm, những đứa bé con chạy nhảy vui như hội. Tôi đưa tay vén mấy sợi tóc rối rớt trên đuôi mắt em và thấy chiều xuống trên mấy dấu chân chim đã mỏi. Bóng tối len dần vào từng bờ cây vạt cỏ. Chiều xuống. Ngày của chúng ta sắp hết. Em phải về trước khi đoàn du lịch trở về. Em nấn níu nhìn tôi như hốt hoảng. Em ơi em, tôi làm gì đây. Tôi làm được gì đây khi đời tôi như con nắng chiều thu, đã và không còn sức để chặn ngang bóng tối của mùa đông sắp sửa. Khi đời tôi đã phôi pha từ những năm tháng tù đày, từ những lê lết cày cục để nuôi lớn bầy con bỏ xứ và cha mẹ già quạnh quẽ ở quê nhà. 

Tôi nắm tay em đi dần ra cổng, gọi taxi để trở lại khách sạn. Xe chạy quanh quanh qua đường phố. Thấp thoáng Paris lên đèn. Trên xe, cả hai ngồi yên như hai pho tượng. Gần tới, em ra dấu ngừng xe. Còn lại hai dốc phố. Chúng ta xuống xe đi nép vào bờ tường đá. Gió chiều thổi thốc mớ lá rụng bám vào mỗi bước chân đi. Thinh im.  Rẽ ngoặt qua lối chót, cái nóc của khách sạn lấp ló sau mấy chòm cây thưa lá.

Con đường lót đá từ trăm năm cũ, xộc xệch dưới gót giày nhọn làm lắm lúc em phải dựa hẵn vào tôi. Vẫn mùi nước hoa sớm thoang thoáng lẫn thêm mùi da thịt đàn bà nồng giấc xế chiều có lúc làm tôi ngầy ngật. Tôi muốn ôm em, ghịt sát vào tôi khi qua một góc hẽm vắng. Cơn mê nào chợt dậy, lay động nỗi ham muốn gần kề. Em dịu hoặc trong tay tôi. Cặp mắt thoáng vẻ ngập ngừng rồi quyết đoán. Em nhóng lên ngửa mặt. Tôi tựa em vào vách đá, áp môi mình lên môi em, lưỡi quyện vào nhau, quấn quíu. Và chúng ta hôn nhau hối hả. Hối hả. Bỗng chốc trăm ngàn hờn tủi, bỗng chốc muôn vàn tiếc thương đổ về kêu rêu, trách móc, thở than ... Và tôi và em và nụ hôn nóng sốt và chút lệ ứa nhanh. Và tôi và em và mấy chục năm đằng đẵng và oan nghiệt. Và ... oan nghiệt.

 

Tôi hôn em bao lâu. Chúng ta hôn nhau bao lâu. Có ai đếm được niềm đam mê bốc cháy đâu em. Có ai đo được hơi thở mình ngắn dài khi tình yêu trở thành mạch sống, háo hức, kêu đòi, buông thả ... khi hai con mắt em lim dim chấp chới, khi ngực em áp sát ngực tôi như tỏ lộ điều son sắt, rồi tôi cảm được hai chân em muốn khụyu xuống. Và tôi, tôi ...

Chúng ta buông nhau ra. Buông nhau ra khi cơn mê lên đến cực điểm. Buông nhau ra khi hai vòng tay đã khít lại như một. Và khoảng cách của hai thân xác đã gần như vô nghĩa. Và chúng ta buông nhau ra. Bỏ nhau ra. 

Em đi trước. Áo chùng đen. Tôi đứng lại, tựa vào vách tường, lòng đá tảng. Tôi móc điếu thuốc gắn vội lên môi, châm lửa. Mới đi được mấy bước bỗng em ngoái lại. Hai con mắt, ơi em, hai con mắt. Tôi ném vội điếu thuốc, chạy tới. Và em khóc. Nước mắt nhạt nhòa. Chúng ta ôm chầm lấy nhau. Và môi tôi ngậm lấy môi em. Và nước mắt tôi hòa lấy nước mắt em. Và bóng tối chìm chúng ta vào quá khứ. 

 

Sớm hôm sau, em ra phi trường. Tôi còn ngày cuối ở lại Paris. Cả ngày tôi lẩn quẩn trong phòng. Tính giờ bay, tính giờ em về tới bển. Xế ngày, tôi xách chai rượu quí người bạn xưa đã dặn dò tặng lại, xuống nhà hàng, chọn chiếc bàn nhỏ khuất trong góc, nhờ khui và rót rượu uống một mình. Bạn bỏ đi. Rượu cay nồng từng ngụm. Em bỏ về. Rượu đắng chát từng giọt. Tôi uống từng ngụm nhỏ. Rượu thấm vào hiện tại tôi. Rượu ngấm vào quá khứ tôi. Rượu ngập chìm tôi trong nuối tiếc muộn màng. Đến một lúc sao quanh tôi chỉ còn lại những đôi mắt em. Đôi mắt hiền như đóa từ bi. Không chút oán trách. Không mảy may kêu đòi. Nhưng em ơi, làm sao tôi không thấy, từ đôi mắt em, sự chịu đựng ẩn nhẫn đến chạnh lòng. Em đã lặng thinh ra về, yên phận. Vậy rồi sao nước mắt tôi ứa ra, lặng lẽ. Lặng lẽ từ đêm qua khi bóng em khuất sau cổng khách sạn. Lặng lẽ từ sớm mai khi từ trên lầu cao tôi nhìn thấy em bước lên xe đi khuất. Lặng lẽ xế chiều nay khi tôi châm đầy thêm tấm lòng tôi đã cạn bằng chất nước cay sóng sánh ánh vàng. Tôi ngửa cổ nốc từng ngụm như nuốt ngược vào người từng ấy giọt lệ tình em. Em không đòi nhưng tim tôi thắc thỏm. Làm sao tôi không biết sức nặng trì trì của ngày tháng vô vọng, khi em chưa là thiếu phụ. Thời gian thì vô tình và đời sống cũng vô tình. Em lẻ loi, quay quắt giữa xứ người. Vây quanh em chực hờ bao nhiêu là cạm bẩy. Tội tình em một thân một mình, ai đỡ đần những khi đời làm giông bão. Vậy mà em, đã vừa lo thân vừa còn lo chờ lo đợi. Chờ đợi một người tình chưa hứa được nhau một tiếng hẹn hò. Năm này qua năm khác. Rồi đến lúc mọi chuyện cũng phải xuôi theo cái chiều thuận của giòng đời. Có ai lội ngược giòng đời được mãi đâu em.  

Thì thôi em, tội tình nhau, cũng đành gánh chịu. Chỉ cầu xin em được vuông tròn. Tôi thầm thì một mình khi đêm đã gần sáng. Về phòng thu xếp rồi tôi gọi xe ra phi trường. 

Paris mờ mờ trong sương sớm. Gió luồng qua phố vắng nghe như tiếng mùa hú gọi. Những tàng cây run rẩy rải lá đầy đường. Tôi khép chặt vạt áo choàng mà nghe hơi thu lạnh xuống đầy vai. Tự dưng, tôi nghĩ mình như một tên tội phạm đang trốn chạy dù chẳng có ai rượt đuổi. Chỉ là tôi trốn chạy ... tôi !

Khi máy bay lượn cánh lần chót, nhìn xuống tôi thấy Paris nhợt nhạt như một cơn mơ. 

.................

Đến chừng về rồi tôi mới biết tôi yêu em, tôi yêu em nhiều hơn tôi tưởng. 

 

 

Cao Vị khanh                     

CVK_demtamtinh.JPG

Năm 1958, ông Nguyễn Mạnh Côn xuất bản tập sách “ĐEM TÂM TÌNH VIẾT  LỊCH SỬ”. Đó là một cuốn sách giá trị tuyệt đối về mọi mặt. Kẻ hậu ... hậu bối về mọi mặt như tôi chẳng có ý gì dám mó mé tới cạnh bên. Chẳng qua tôi khoái cái  tựa. Thường khi viết sử, từ đời xưa đời xửa ở bên Tàu, nghĩa là khi còn mấy ông  tự nhận con trời ( thiên tử ) làm vua làm chúa làm cha thiên hạ, oai quyền tột  đỉnh nghĩa là muốn làm gì thì làm, vậy mà người ta cũng đã đặt ra chức sử quan. Ông-quan-viết-sử ăn bổng lộc chuyên môn ghi chép chuyện nước non,  từng ngày từng giờ từng phút từng giây. Nghĩa là không được bỏ sót một chi tiết,  một biến cố nào đã xảy ra trong triều ngoài nội. Nhất là có-sao-viết-vậy-người-ơi! Có lẽ gọi là chép-sử sẽ rõ nghĩa hơn chăng. Viết có nghĩa chủ động, dễ lạc bút.  Chép nghĩa là ghi chép, có gì nói nấy không thêm bớt, không sửa chữa, một là một, hai là hai, không có on-đơ gì hê ́̉t. Khác nhau như chụp ảnh và vẽ tranh. Sự

thật của lịch sử là điều cấm kỵ, tối thượng, không được tô son thoa phấn mà cũng chẳng được bôi tro trét trấu. Muốn được vậy, người chép sử phải có đủ mọi đức tính, từ trung thực đến liêm sĩ, kể cả sự can trường, uy-vũ-bất-năng khuất. Ngay cả trong bộ Kinh Xuân Thu mà Khổng Tử đã san định, ổng cũng đã đòi như vậy. 

Thế mà ông Nguyễn lại đem tâm tình mà viết lịch sử ! Tâm tình là cái thứ lộn xộn  nhất của con người. Nay vui mai buồn mốt giận bữa kia hờn. Thứ tình cảm bộp  chộp đó dễ làm sai lạc mọi nhận định. Vậy mà ông Nguyễn đòi viết lịch sử bằng  tâm tình có mâu thuẩn lắm không. Thật ra dụng ý của ông u uẩn và thâm thúy  hơn nhiều khi đem-tâm-tình viết về thời kỳ hổn mang đó. Ba chữ “Đem tâm tình” cốt để xác định sự thành tâm, để bảo đảm sự chính trực của mình khi đặt bút  viết lại những dòng hận sử, với ước vọng soi lại đường đi cho tuổi trẻ sau khi đã lạc bước vì những tuyên truyền đường mật của loại chính trị lọc lừa. Cái tựa với  lối chơi chữ thượng thừa đó đã dựng lại một giai đoạn đen tối của lịch sử Việt  Nam cận đại, và làm sáng mắt cho không ít tuổi trẻ còn mù mờ vì sự quỉ quyệt của người cộng sản. Vậy mà rồi, đâu lại vào đó. Người tin, người không tin để cho lịch sử trớ trêu, kẻ nuốt hận chui đầu vào rọ, kẻ quính quáng nhào ra khơi  bán mạng cho sóng gió vô tình !!! 

Cái chuyện tôi bắt chước ông ở đây chẳng qua vì lòng ngưỡng mộ của một kẻ đến sau biết ơn người đến trước nên chẳng ngại ... bắt chước ... cái tựa. Dẫu  vậy, vẫn phải cúi đầu xin lỗi bậc trưởng thượng. Bởi vì chữ ông Nguyễn viết là máu xương là cốt tủy của một đời người thao thức vì vận mệnh của dân tộc. Còn  thứ tôi viết chỉ là chuyện càm ràm qua ngày đoạn tháng. Lựa cái tựa như vậy cốt  để nói rằng ... dốt mà hay nói chữ. Thiệt vậy, tôi vốn là một kẻ dốt nhạc mà lại  bỗng nổi hứng muốn viết về nhạc, thành ra, nói về nhạc mà nói bằng ... tâm tình  chớ không bằng ... nhạc lý như mấy ông maestro vẫn thường hay múa đủa mà sửa méo sửa tròn mấy dàn giàn nhạc giao hưởng. Nhạc tôi muốn nghe, muốn  kể lể là thứ nhạc đã có một lúc bị xử ức oan tình. Rằng thì là nhạc Boléro, nhạc  máy nước, kể cả ... nhạc-sến. Có một thời tiếng Việt của chúng ta sung mãn  lắm. Ngoài cái kho ngữ vựng đã dùng lâu dùng quen mà ai cũng rành, đã được  ghi chép hẵn hoi vô tự điển với lời giải thích rạch ròi, hằng khi vẫn phát sinh  những tiếng, những chữ mới hoặc những chữ cũ với nghĩa mới có khi chỉ nhằm  để chỉ trích hay giễu cợt một hiện tượng xả hội nào đó ... Riết rồi thành quen,  nhập tâm và xài mát tay lúc nào không biết. Giã sử chữ ... “sến”. Nếu không lầm,  dường như danh từ marie-sến đã sanh ra và phổ biến đâu từ những thiên phóng  sự với giọng văn khinh bạc trên những tờ báo hằng ngày xuất bản ở Sài Gòn, để ám chỉ những người đi ở mướn, ở đợ, giữ em, tối tối xách thùng thiếc biến chế từ thùng dầu lửa 20 lít, ra mấy cái phông-ten nước ở đầu đường, chờ chực để hứng rồi gánh nước-máy về cho chủ. Ẩn ý nhằm chê bai trình độ học thức cũng  như thứ “mỹ cảm” bình dân, ít học ... Đến một lúc, chữ “sến” tách riêng ra trở thành một tính từ độc lập, hàm ý nhà-quê, dở ẹt, thấp kém ... được phát biểu với giọng điệu khinh thị, khích bác, chế giễu ... Vậy rồi, cho đến một lúc, dường như  vào những năm 90, bỗng nghe lõm bõm đâu đó trên môi mép của quí vị tự cho  mình có thẩm quyền về âm nhạc, một danh từ mới : nhạc-sến. Nhạc-sến, hình  dung như một cái bĩu môi khi nói về một bản nhạc cũ đã có thời phổ biến rộng  rãi ở nửa phần đất phía Nam và sau này vẫn tiếp tục phổ biến ở đó, luôn cả nửa  phần đất phía Bắc bất kể có bị cấm lên cấm xuống tới nỗi riết rồi ai cũng biết ...  cũng mê ! 

Đã không rành nhạc lý, từ mấy nốt “đô” “rế” “mì” ... đến cung thứ rồi cung  trưởng, rồi trường canh, từ điệu Tango rồi Rumba, Cha-cha-cha ... nói gì đến cái  thứ nhạc cổ điển mà ai nấy đều tấm tắc khen hay dẫu có khi hai tai cứ loạn xà ngầu vì mớ âm thanh phát ra loạn cào cào của hằng chục thứ nhạc khí phát ra  cùng một lúc ! Dẫu vậy, dẫu vậy tôi cũng sẽ viết về nhạc, nhạc-sến, với tâm tình  của một người thích, khoái đến độ lắm khi muốn chảy nước mắt vì nhạc-sến. Ờ mà sến, hay máy nước, hay boléro hay nhạc vàng hay ... hay gì đi nữa miễn là khoái tai, vừa ý, thỏa lòng thì sến hay không sến cũng có sá gì đâu.  Mà cái vụ khoái nhạc-sến này cũng phải nói cho rõ, không phải do bẩm sinh  cũng không phải bị tẩy nảo. Mà là do nhu cầu thiết yếu của thời học đòi làm  người lớn. Từ khi ... lỡ-yêu-rồi-làm-sao-quên-được ...-NẾU ANH ĐỪNG HẸN-LÊ DINH Thử nghĩ coi, ngay lúc tuổi vừa mới lớn ở cái xứ Việt miền Nam đó, những năm  năm mươi mấy sáu mươi, lỡ có muốn tỏ lòng ái mộ ai đó mà cứ moi ra mấy cái  Symphonie no 9 của Beethoven hay Concerto no 1 của Chopin mà tán tỉnh thì chắc chắn là có màn thất bát dài dài ... Thuở đó, đầu trên xóm dưới, trong làng  ngoài tỉnh, bằng cấp cả xấp hay chỉ mới bập bẹ ba chữ i tờ gì cũng vậy ... chỉ có lắp ba lắp bắp theo ông Trúc Phương Ai cho tôi tình yêu của ngày thơ ngày mộng / Tôi  xin dâng vòng tay mở rộng / Và đón người đi vào tim tôi / Bằng môi trên bờ môi ... là mới hy  vọng có thể mở được đường-vào-tình-yêu –AI CHO TÔI TÌNH YÊU-TRÚC PHƯƠNG. Mà chắc cũng không phải chỉ mình tôi tin như vậy. Còn tin hay không là quyền của  bá tánh. Có điều, chuyện đờn-ca-hát-xướng ở miền Nam thuở trước không đúng  hẵn cũng hao hao như vậy. Nếu không vậy, làm sao nhà xuất bản Tinh Hoa in  nhạc với tờ giấy xếp đôi có trang bìa là hình vẽ của họa sĩ Duy Liêm, mấy cái  phòng trà, mấy chỗ sang lậu băng ca-sét, chưa kể quí vị được trời cho cái giọng  thiên phú ... làm sao sống nỗi một cách vinh quang trong một xứ sở mà tiếng  đạn bay mìn nổ nghe riết đã muốn lãng tai ! Nói như vậy để thấy cả một nền âm  nhạc mà người ta gọi là nhạc-sến cho đành đó, là cả một gia-tài-của-mẹ-TRỊNH  CÔNG SƠN. Chớ có phải chơi đâu.  

Thử nghĩ coi, nghệ thuật để làm gì nếu không phải là để đáp ứng cho khát vọng  đi tìm “cái đẹp” của nhân sinh. Dẫu có chọn cho mình một đường hướng nào đi  nữa, nghệ thuật mà không có người thưởng thức thì chỉ có đem vô mấy trại cải  tạo của việt-cộng mà làm trò tẩy nảo. Ngay cả chủ trương nghệ thuật vị nghệ 

thuật đi nữa, rốt lại, vẽ, làm thơ, viết nhạc ... mà không có ai trố mắt nhìn, vểnh  tai nghe, chong mắt đọc thì cũng y như kiểu ... nói chuyện với đầu gối. Vậy thôi. Như vậy, nhạc mà làm mê mẩn cả mấy thế hệ người nghe thì nếu không gọi là nghệ thuật thì gọi là gì cho phải đây ?! Vã lại, y như mọi ngành nghệ thuật khác, 

nhạc như thơ cũng cần sự cảm thông bằng trực giác trước khi bỏ lên bàn mổ.  Hãy thử bắt chước Xuân-Diệu-thời-tiền-chiến ... ai đem phân chất một mùi  hương / hay bản cầm ca tôi chỉ thương / chỉ lặng truồi theo dòng cảm xúc / như  thuyền ngư phủ lạc trong sương. Được chăng ? 

Bởi vậy, nói gì thì nói đem mớ ca nhạc một thời đó ra giễu cợt, dè biểu chẳng  qua chỉ là chuyện tự dối lòng của mẫu người tự cao tự đại, thiếu thành thật ngay  cả với chính mình. Nê  u không, có thể là một cách thức phản-tuyên-truyền của  đám cầm quyền cộng sản, muốn cấm đoán, muốn tiêu hủy mà bất lực trước sự thưởng thức dù có khi phải lén lút của đại đa số người hâm mộ, ở ngoài cũng  như còn kẹt ở trong nước. Y kiểu mấy mụ đàn bà xấu tánh, ham muốn hay cấm  đoán hoài mà không được bèn quay qua nói xấu cho ... hả giận ! 

Trở lại với dòng nhạc của một thời đã qua, đang qua, và sẽ còn qua nữa ... Ai sao không biết, còn tôi, sau khi dong ruổi ba đồng bảy đổi trong cái thế giới  âm nhạc tây tàu, xưa nay, cũ mới ... new age, kể cả ráp riết v.v... cuối đường  lạng quạng xin được quày đầu trở về với dòng nhạc mà số phận đa đoan chẳng  kém vì người làm ra nó và người yêu thích nó. Thứ nhạc mà người ta phán cho  là nhạc-sến ! 

Nếu nhớ không lầm thì cái “gu” cũ-người-mới-ta này đã lậm thêm vào người đâu chừng đôi mươi năm nay, nhất là từ khi sẩy bước xuống ghe tìm đường bôn tẩu  khỏi cái chế độ quỷ quái ma đầu ma cô ma mị ... Số là sau khi bôn tẩu trên dặm  nghìn sóng nước, được đặt chân lên đất lạ rồi được đặc ân cho làm người ra  giống người, được ăn thêm bơ sửa, bánh mì, pizza ... no nứt bụng rồi có lúc  bỗng quay ra thèm đến chảy nước miếng cái mùi mằn mặn tanh tanh của nước  mắm pha chút dấm chút tỏi, dầm chút ớt chút tiêu ... Khổ nỗi, thời đó người cùng  giống rồng-tiên (!) bỏ ổ còn quá ít ỏi nên lắm khi cũng đành tìm quên với nước  tương xì-dầu của mấy chú con trời ở China town. Vậy rồi nhờ vận rủi may, người  bỏ xứ trốn tự-do-hạnh-phúc-độc-lập của bác-và-đảng càng lúc càng đông nên  nước mắm và hương vị quê hương càng lúc càng bay mùi thơm phức trên xứ người. Có nước mắm, phở tái chín nạm gầu gân sách ... tạm lấp đầy cái bao tử 

tha hương rồi là nổi chứng nhớ thương mấy cái vụ đờn ca xướng hát của một  thời Sài-gòn đèn xanh đèn đỏ. Nhất là những hôm giáp tết xứ người. Trời mùa  đông lạnh cóng, hoa mai hoa đào đâu không thấy, chỉ thấy tuyết bay mù mắt,  phủ trắng cây cỏ núi đồi phố xá, phủ trắng cả tấm lòng của những kẻ mất quê  hương. Chiều ba mươi, nấu mâm cơm cúng vái ông bà, dọn ra bàn chưa kịp  thắp mấy nén nhang là trong lòng đâu như ai đã dạo sẵn mấy nốt hò xự xang xê  cống líu rồi bắt giọng mà ngân nga để sửa soạn xuống xề. Cứ mỗi lần thấy bông ô  môi nở hồng trong gió sớm, mỗi lần nghe tiếng quết bánh phồng vội vã đón xuân sang, cứ mỗi  lần có dịp về Vĩnh Long ngang làng Tân Ngải chợ Trường An ... – TUYỆT TÌNH CA-HÀ TRIỀU HOA  PHƯƠNG . Ngay lúc đó, mà đâu đó lại bồi thêm mấy câu tân nhạc của Trịnh Lâm Ngân nữa thì thôi khỏi nói. Con biết bây giờ mẹ chờ tin con / Khi thấy mai đào nở vàng bên nương / Năm trước con hẹn đầu xuân sẽ về / Nay én bay đầy trước ngõ / Mà tin con vẫn xa ngàn  xa- XUÂN NÀY CON KHÔNG VỀ-TRỊNH LÂM NGÂN 

Con mắt đâu ai xát muối mà cứ cay cay, đầu mũi muốn rục rịch mà cứ ráng kềm  sợ con nít nó cười. Dẫu vậy, cái đầu lại cứ quay mòng mòng với bao nhiêu hình  ảnh cũ dẫu đã xa mút ... mù xa. Cái thuở trời miền Nam nắng vàng như nghệ, đêm châu thổ nồng ẩm như hơ, những cơn mưa mùa vụt chạc, những con kinh  dậy phèn, những lạch nước úng bùn, những bến đò thắc thẻo người sang, những chái liếp hở hang, những cội tre xơ xác, những chùm lá me tíu tít, những  gốc phượng đỏ hè, những mái trường lợp thiếc, những chiếc áo dài trắng lắt lay,  những chợ chiều hiu hắt, những xề bánh khọt lề đường, những xe nước mía ngã tư, những con đường liên tỉnh mấp mô, những con đường mòn lẫn lút ... Và những mặt người. Ờ, những mặt người quen kẻ lạ, những thân thuộc đã sinh ly,  những ruột rà đã tử biệt ngay khi vừa mới quay lưng chưa kịp nhìn lại một lần ... ghe đã tách bến ! Sài-gòn, Vĩnh-long, Rạch-giá, Mỹ-tho, Cần-thơ, Cà-mau ... chỉ là những tên gọi hay vốn là thịt da máu huyết chảy luồn tận trong tim, đóng chốt  trong nảo từ hồi nào không biết.  

Lâu rồi, tưởng đã quên luôn. Vậy mà ... vẫn nhớ ! 

Y như ông Thế Uyên có lần đã viết, ̣đại khái như là nghe nhạc là sống lại kỷ niệm, rõ ràng, với tôi, lắm khi nghe lại những bản nhạc của một thời muốn-quên mà-cứ-nhớ đó, là sống lại y khuôn một thời quá vãng, thuở còn loi choi giữa tuổi con nít và người lớn, học đòi mơ mộng giữa thực tại và trăng sao, giữa những  nề nếp rành rọt như một bài học-thuộc-lòng. Song song với cái tuổi lưng chừng  đó là cả một thế giới âm thanh, dù phải chen lấn với tiếng đạn réo mìn gầm, vẫn  đủ sức đem lại cả một trời mơ mộng với hoa với bướm. Y như một thứ nhạc  đệm cho cảnh cũ tình xưa. Tình nào nhạc nấy. Đến lúc mọi kỷ niệm đã mù mịt,  thì những nốt nhạc cũ đó trở thành dấu chỉ cho một bước tìm về. Quê cũ. Nẻo  cũ. Nhà cũ. Trường cũ. Tình cũ ... Ôi, biết bao ân tình ân nghĩa đã bị lấp liếm  đằng sau bao nhiêu dâu bể ! Bao nhiêu dấu vết đã mờ mà cái trí nhớ còm cõi  càng lúc càng lệch lạc ! Còn lại chăng, những dòng nhạc cũ như một nhắc nhở,  dẫn đường cho những hồi ức về một cõi đời đã xa ... xa đâu đến tận ngoài tầm nhớ ! 

Nghĩ coi, một lần nào, một lần nào trong hơn mười bốn ngàn đêm sống lạc trên  xứ người, bỗng vọng lại tiếng ai hát, lẫn lẫn trong điệu nhạc rumba ... đường xưa  lối cũ, có me tôi tóc rưng rưng trong hôn hoàng .. Rồi đổi sang điệp khúc ... khi tôi về nghẹn  ngào trong nắng / tưởng mẹ tôi rưng rưng đứng đón con về / nào ngờ mẹ tôi ra đi bên kia cuộc  đời / không lời từ ly cuối cùng trước khi phân kỳ – ĐƯỜNG XƯA LỐI CŨ-HOÀNG THI THƠ. Ngay lúc  đó, nghe mà lòng không nhúc nhích thì chắc nếu không phải là Tây thì cũng là Tàu!  

Nhiều, nhiều lắm, làm sao kể ra cho xiết. Thứ ân tình, ân nghĩa đã nuôi dưỡng  hồn người bằng âm điệu ngọt ngào, đỡ đần cho những lời lẽ quen thuộc, cùng  với tám nốt nhạc nương theo năm dấu giọng đã nằm lòng ngay từ buổi mới bập  bẹ mấy tiếng mẹ cha. Tai nghe vậy mà lòng trơ trơ sao nở ?!

Đành quên sao anh, những con đường mùa trăng ấy, thao thức đêm trường nghe từng bước em  đi / Đành quên sao anh, đáy mắt hiền trong xóm vắng, nắng thu vàng nhìn ngơ ngẩn bóng người  đi -ĐÀNH QUÊN SAO-HOÀNG THI THƠ 

Từ khởi thủy, khi còn gọi là âm nhạc cải cách, đến khi bỏ chạy tuốt vô trong Nam  sau năm 54, trải suốt mấy chục năm trời nương theo dòng sinh mệnh của dân  tộc, thứ âm nhạc đó đã nói giùm cho chúng ta hết mọi nỗi niềm, từ khổ đau đến  hạnh phúc, từ kỷ niệm đến viễn mơ ..., từ một rung động nhẹ như tơ trời đến một  xúc cảm mạnh như gió bão, từ một vọng tưởng đến một hoài niệm v.v ... và v.  v... chuyện tình riêng, chuyện nước non ... nhất là từ khi cả một dân tộc vô tội bị lùa vào làm mồi cho lửa đạn vì tham vọng của một số người cuồng tín. Chính từ đó phát sinh thêm một loại nhạc mà người ta gọi là Nhạc Lính. Ở một xứ sở mà lính tráng chiếm gần 1/20 dân số, chuyện đó cũng chẳng có gì khó hiểu. Có điều  qua cái kho nhạc lính đó, người ta khám phá ra một sự thật. Trong khi những  cán binh ngoài Bắc được nhồi sọ sùng sục một mối căm thù đồng chủng ngay từ lúc mới biết đọc biết viết, người lính miền Nam, dù vẫn phải gánh trên vai cả một  núi nợ nước non vẫn là những con người bình thường, rất đỗi bình thường với  hết mọi thứ yêu thương hờn giận ... Dù cho đó có thể là một phần nguyên nhân  của cuộc bại trận tức tưởi. Nhưng biết sao hơn, làm người với đủ đầy nhân tính ! Thử nghe lại vài câu hát của Trần Thiện Thanh. 

Từ khi anh thôi học, từ khi anh khoác áo treilli / Từ khi anh xa nhà, một ngàn đêm nhung nhớ giữa trời mây / Ngại chăng dêm di hành và thường khi dừng bước giữa hoang vu / Một thằng  ước ao để một thằng khát khao, còn mình thì nằm đếm sao 

... Đồn anh bên sông cạn / Và hoàng hôn ướt đẫm đáy sông thưa / Nhiều tên trong đơn vị gọi  đùa anh chiến sĩ của mộng mơ- THƯ TÌNH CỦA LÍNH. 

 

Còn gì dễ thương mà xác thực hơn nữa. Những người trẻ tuổi, mười tám đôi  mươi từ giữa những năm 50 đến giữa những năm 70, ở miền Nam Việt Nam,  đã phải dang thân chống giữ xóm làng bằng xương máu của chính mình nhưng  chưa bao giờ đánh mất nhân tính. Họ vẫn mơ mộng, vẫn cắn răng chiến đấu và 

vẫn giữ trọn lòng nhân ái. Chẳng bù với những người đối đầu với họ ! 

Xét về phương diện nhạc lý, có thể có người cho là dễ dãi, là nghèo nàn ... tuy  nhiên thử sống lại thời buổi chiến tranh đó, khi mà mọi thứ đều gần như bị giới  hạn bởi điều kiện ... chiến tranh, ai sẽ làm hơn được nữa. Chúng ta sống thuở đó trong điều kiện sống thu hẹp, bởi mọi thứ lý do. Một bản nhạc được trình diễn  nhiều lắm với một ban nhạc năm bảy người với dàn trống, một hai tay kèn, vài  tay đàn giây ... đã là lý tưởng. Dương cầm là phải chui tuốt vô trong mấy cái  phòng trà tiệm nhảy. Còn ngoài ra, nhiều khi một cây tây-ban-cầm đã quá đủ.  Những buổi sinh hoạt ngoài trời, trong một lớp học, giữa một giảng đường, trên  một bãi cỏ cạnh cổng một quân trường ... âm nhạc thời chiến không thể đòi hỏi  hơn nữa. Vậy mà, dường như cái loại nhạc ... sến đó đã làm đủ phận mình, xoa  dịu được những nỗi lòng sầu muộn vì ngăn cách hay hớn hở khi sum vầy. Loại  nhạc ... sến đó đã thay người ta cười, khóc ... theo vận nước, thay người ta  buồn bã lúc tình xa, rộn rã khi đón người về, khóc giùm ta cho một người nằm xuống, mơ giùm ta một ngày trả súng về xây lại quê hương ... Nói sao cho hết  những diệu kỳ của sự phối hợp giữa những nốt nhạc với chữ nghĩa của một  thời. Thử một thí dụ vài ba chữ với vài ba nốt nhạc của người mà thiên hạ phong  là Ông Vua Boléro, nhạc sĩ Trúc Phương. Trong một bài hát rất được ưa thích  thời đó, thời của những trại lính, những quân trường, những trận mạc ... Bài 24  giờ phép.

 

Từ xa tôi về phép hai mươi bốn giờ / Tìm người thương trong người thương / Chân nghe quen  từng viên sỏi đường nhà / Chiều nghiêng nghiêng nắng đổ / Và người yêu đứng chờ  ngoài đầu ngỏ bao giờ 

Cửa tâm tư là mắt nên khi đối mặt / Chuyện buồn dương gian lẩn mất / Ðưa ta đi về nguyên thủy  loài người / Lời yêu khi muốn ngỏ vụng về / Ngôn ngữ tình làm bằng dấu đôi tay

Phải công nhận người ta phong vương cho ông cũng là phải. Ông đặt nhạc đã êm tai dù lắm khi lắt léo âm điệu, đảo nghịch cung bậc đến não nùng. Ông xài  chữ còn thuộc loại bậc thầy. Người con trai đi lính chỉ có được 24 giờ phép về thăm vợ trẻ, (hay người tình) mà đã mất hết 8 tiếng đồng hồ đi lại. Thời gian  không ai thúc mà cũng tự nhiên thành gấp rút. Gặp nhau rồi vội vội vàng vàng.  Khổ nỗi, bao nhiêu thương nhớ, bao nhiêu thiết tha, bao nhiêu tức tưởi ... nói  sao cho kịp, nói làm sao cho hết. Trong điều kiện không gian chật chội thời gian  hấp tấp đó, ông giải quyết cái một. Lời yêu khi muốn ngỏ vụng về / Ngôn ngữ tình làm  bằng dấu đôi tay. Nói năng lắp ba lắp bắp, mà càng gấp gáp người ta càng lập bập ... Hay nhất là để cho hai bàn tay mười ngón nói thay giùm ! Ngôn ngữ tình làm bằng  dấu đôi tay. Nhất ông, ông nhạc sĩ Trúc Phương ! Vừa gọn gàng mà sát nghĩa mà tượng hình mà ...  

Những dẫn dụ như vậy nhiều lắm, những người nhạc sĩ tài ba một thời ở đất  nước tôi. Kể ra làm sao cho hết ! Chỉ tiếc là ông trời ổng tính sao mà làm cho  ngược đời ráo trọi.

 

Nghe lại những bản nhạc thịnh hành thuở đó, và còn thịnh hành gần nửa thế kỷ sau, ở bên ngoài đất nước, hay chính ngay trong lòng đất nước đã mất, mới thắy  ảnh hưởng của dòng nhạc nhân ái đó như thế nào. Không hay sao còn làm rung  động mãi tới bây giờ ở cả hai phe vốn đã một thời thù địch. Không hay sao cứ như con phượng hoàng sống dậy từ lửa đỏ. Thứ lửa đỏ mà đám người cuồng tín  đã đốt phừng lên sau năm 75 cốt để tiêu hủy hết mọi thứ gọi là ... đồi trụy, phản  động. Vậy mà không ! Không ! Hơn bốn mươi năm sau, cái mớ phản động đó vẫn còn ... động đậy. Mà động mạnh nữa chớ. Hồi trước chỉ hát trong nhà, trong  phòng, trong rạp ... bây giờ thì hát cả ngoài đường, trên hè phố, giữa chợ cá đồng cá biển ... Hổng tin lên You tube mà coi, ở cái xứ gọi là CHXHCN Việt Nam  bây giờ, người ta đẩy cả thùng loa ra phố xá mà ca hát những bản nhạc bị cấm  đoán một thời. Nói vậy cũng không có nghĩa tất cả đều là tuyệt phẩm. Nhưng thử nghĩ coi ngó một bãi cỏ vào xuân thấy xanh mướt, vậy mà vẫn có lẫn lộn những  cọng cỏ dại đó đây. Ông trời ổng còn không cản nỗi nói chi cái đám nhốn nháo nơi cõi hồng trần. Vã lại có xấu mới thấu cái đẹp. Đó cũng là cái thói trớ trêu của  tạo hóa. Sao đem gom-đủa-cả-nắm cho đành !!! 

Lại nữa, còn nghe kể lại chuyện xưa, có một lúc nào đó, ở ngoài Bắc, ngay cái ổ của chế độ tồi tệ nhất lịch sử, vào những năm 50-60 có người còn bị nhốt lên  nhốt xuống chỉ vì cái tội mê nhạc, loại nhạc mà những kể cầm quyền gọi là Nhạc  Vàng (*). Dụng ý chắc là để phân biệt với loại nhạc đỏ ... viết bằng máu ! Nhưng  

kể ra gọi là vàng thì cũng đúng. Đó là thứ vàng thiệt vàng ròng.  Nhắc lại vậy không có ý lẫn lộn giữa dòng nhạc gọi là tiền chiến với nhạc ở miền Nam sau năm 1954, nhưng ít hay nhiều cả hai đều có chung một nguồn cảm  hứng, xuất phát từ những rung động chân thành của tình người, tình nước vốn  được nuôi dưỡng trong lòng một nền văn hóa đã ngàn năm nhân bản. Trái hẵn  với lối sắt máu của một thứ chủ nghĩa ngoại lai, được nhập cảng bằng máu,  nước mắt, xiềng xích với tù đày. Và đẻ ra thứ âm nhạc quái thai kiểu Cô gái vót chông, Cô gái SG đi tải đạn, Bác vẫn cùng chúng cháu hành quân ... mà đâu đó ít lâu sau bỗng tắt tiếng im hơi vì ... chẳng còn ai muốn nghe.  

Kể lể lăng nhăng cho vui rồi lại thấy buồn buồn. Thiệt y như chuyện ... hồng  nhan bạc mệnh. Hết bị đày ải ... rồi phỉ nhổ, đủ thứ trò phụ rẫy mà sao vẫn một  dạ thủy chung hết lòng mua vui cho thiên hạ. Hổng tin, cỡ này, thời buổi đại dịch,  nếu có dịp chui xuống mấy cái hầm nhà của đám người Việt bỏ nước lưu vong,  ở mọi nơi trên mặt đất mênh mông này, sẽ thấy không ít nhà nào nhà nấy đều có “sân khấu” dựng quanh một giàn máy gọi là ca-ra-ô-kê, mà vốn liếng trình diễn  chính là mớ nhạc Việt xưa ... được (bị) gọi là ... nhạc sến đó. Kể ra cũng đỡ buồn cho cái đám lỡ làng ngay thời buổi cấm cung, có chút phương tiện để thả hồn thoát ra khỏi bốn vách nhà mà không sợ bị “lây nhiễm” ! 

Đã gần nửa thế kỷ trôi qua, tròm trèm hai phần ba đời người, những người chết  đã chết, những người còn sống lưu lạc xứ người hay vật vờ nơi đất mẹ, mọi thứ giá trị ít hay nhiều đã được sàn lọc. Cái mất đi có lý do của sự tiêu hủy. Cái còn  lại cũng có lý do của sự tồn tại.

 

Ai gọi nhạc-sến thì cứ gọi. Còn tôi, tôi nghe nhạc với tâm tình của tôi. Âm nhạc không chỉ tính bằng nốt thăng nốt giáng. Âm nhạc còn tính bằng sự rung động của những tấm lòng mộ điệu.  

CaoVị Khanh

(*) TRÍCH RFA-ĐÀI Á CHÂU TỰ DO 

Tôi sinh ra và lớn lên tại Hà Nội, bạn bè gọi tôi là Lộc Vàng vì ngày xưa tôi mê nhạc vàng, tôi  hay hát nhạc vàng. 

Nhạc vàng là dòng nhạc từ trước 1954, khi đất nước Việt Nam là một nước, thì những nhạc sĩ  sáng tác những nốt nhạc những lời văn quí như vàng cho nên người ta gọi đó là nhạc vàng .  Đấy là dòng nhạc trữ tình của Việt Nam, thí dụ như những tác phẩm của Văn Cao, Đoàn  Chuẩn Từ Linh, Nguyễn Văn Khánh, Nguyễn Văn Tý, Đặng Thế Phong, Châu Kỳ, và cả Phạm  Duy nữa... mà người ta gọi là nền tân nhạc cũng là đúng. 

Tù tội vì trót yêu nhạc vàng 

Năm 1965, ba cậu thanh niên cùng mê nhạc vàng là Thành, Toán Xồm và Lộc Vàng gặp nhau: 

Anh Toán nhiều tuổi hơn tôi, sinh năm 1932, còn anh Thành sinh năm 1944, hơn tôi một tuổi.  Ba anh em đều thích đàn thích hát, tập trung với nhau thành một tốp 3 người đóng cửa hát ở trong nhà. Toàn hát nhạc tiền chiến ngày xưa thôi, bạn bè ai thích nghe thì đến. Cứ đóng cửa hát với bnhau, hát dấm hát dúi, hát không cho hàng xóm nghe. Bọn tôi thậm chí một bao thuốc lá một ấm trà có thể ngồi hát thâu đêm suốt sáng được. 

-Nghệ sĩ Lộc Vàng 

Bởi duyên nợ ba sinh với nhạc vàng, ông Lộc Vàng kể tiếp, năm 1968 cả 3 anh em Toán Xồm,  Thành, Lộc Vàng bị bắt và bị nhốt tại Hòa Lò. Cho đến năm 1971 mới được mang ra xét xử tại  tòa án thành phố Hà Nội: 

Họ bảo bọn tôi phản động, tuyên truyền văn hóa trụy lạc của chủ nghĩa đế quốc, chống lại  chính sách của nhà nước, phá hoại nền văn hóa của chủ nghĩa xã hội. 

Ngưởi ta cũng nghi là bọn tôi ăn lương ở trong miền Nam, tung tiền cho bọn tôi ăn chơi. 

Kết quả, ông Toán Xồm bị kêu án 15 năm tù cộng 5 năm mất quyền công dân, ông Lộc Vàng  10 năm tù cộng 4 năm mất quyền công dân, ông Thành 5 năm tù và 3 năm mất quyền công  dân.

_____________________________________

CVK_TramTuThieng.JPG

Đã có lần viết về nhạc Trầm Tử Thiêng. Lần đó không biết sao mà bị rúng động quá mạng, tôi đã không dìm được những dư ba trong lòng sau khi bất chợt nghe được bài hát Tưởng Niệm nên đã bất chấp sự dốt nát của mình về âm nhạc, đêm về cắm cúi viết về bài nhạc đó, gần tới rựng sáng, sau một ngày vật vã chạy vạy kiếm ăn. Chẳng nhớ đã nốc bao nhiêu ng̣ụm cà-phê đen, đốt cháy bao nhiêu điếu thuốc lá thành khói ... độc. Đại khái như vầy...

 

“ ... Tôi nghe bài hát Tường Niệm của Trầm Tử Thiêng lần đầu tiên khi đang lái xe một mình trên xa lộ ở phía tây thành phố. Con đường len qua một khoảng rừng thưa, chùi xuống một thung lũng xanh mù rồi chồ̀m lên một dốc cao đúng lúc mặt trời đang lặn xuống ngay trước mặt, rải xuống trần thứ nắng quái làm hực lên giữa lòng ta cái lộng lẫy của sự thế tàn phai. Đường vắng, ngấm men rượu bạn bè, hứng chí phóng gần trăm hai trăm ba cây số một giờ. Xe hạ kiếng, gió thổi ngược thốc tháo vô mặt mũi, thổi bay tóc tai hối hả, thổi luồn vô áo thả nút ngực bung căng buồng phổi. Mắt chú mục con đường thẳng băng trước mặt, tay lái run run dù đã ghìm chặt, tim đập giựt ngược, hơi rượu bốc lên, chân ga trì xuống, trăm ba ... trăm tư ... sàn xe run run ... tay lái run run ... chiếc xe như ngựa sút chuồng ... một-xe-trong-cõi-hồng-trần-như-bay... 

... thoáng chốc tôi như bay...

... thoáng chốc, miệng hư vô hả toác hoác...

đầu óc thả lỏng như ngựa sút cương. Và một thoáng nghĩ như tia chớp, giả sử bây giờ buông tay... cái miệng hư vô táp táp... rồi phụp một cái. Hết. Ngon ơ !

... ngay lúc đó, tôi nghe từ cái máy CD mở lớn hết cở vọng ra tiếng hát ... ta nghiêng tai nghe lại cuộc đời thì hãi hùng hoàng hôn trờ tới .. giọng nam đục, khàn ... ta nghiêng vai soi lại tình người thì bóng chiều chìm xuống đôi môi ... Bài hát đến với tôi đúng nơi, đúng lúc khi  chiều vừa chạng vạng, cái thời khắc đặc biệt nhùn nhằng giữa sống và chết, giữa ngày và đêm, giữa ánh sáng và bóng tối, mặt trời với thứ ánh nắng huyển hoặc, không vàng không cam không đỏ không tím mà lại có vàng có cam có đỏ có tím, ở phía chân trời ... y như thứ màu vàng cam nóng hổi mà làm lạnh ngắt lòng người trong tranh của Van Gogh ”

 

Bài hát có cả thảy 12 câu, kể cả điệp khúc, được viết đâu từ năm 1972, theo điệu Boston, nhịp ¾, “ ton” thứ, đã được hát đi hát lại không biết bao nhiêu lần, từ sân khấu đến ngoài đường phố, từ những mấp máy môi miệng cho vui - dù đúng ra bài hát không vui chút nào - cho đến những ca sĩ chuyên nghiệp mà thật ra không chuyên nghiệp chút nào khi vô tình hay cố ý đổi một chữ tuyệt vời của tác giả, trờ tới thành chợt tới trong câu thứ nhất ! Ô hô ! Ai tai ! (*)

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Bài viết đã trên dưới mười mười lăm năm. Từ đó tôi đã nghe đi nghe lại Tưởng Niệm không biết bao nhiêu lần. Có khi ngay sau hớp cà-phê và ngụm khói đầu ngày. Có khi giữa đêm khuya lơ khuya lắc khi phố người đã ngủ yên. Có khi sau một bữa tiệc cưới. Có khi sau một đám tang ma ... Gì thì gì, cứ sau mỗi bận nghe Tưởng Niệm là tôi lại thấy xốn xang. Y như có điều gì vừa vuột khỏi hồn tôi. Y như tôi vừa mất thêm lần nữa một phần đời tôi đã mất. Quê hương. Gia đình. Tuổi trẻ. Tình yêu. Hạnh phúc. Đau khổ ... Mọi thứ mọi điều, dù đã xa biền biệt lại lộn ngược về, trong tôi, để lại mất thêm lần nữa. Từ đó, nỗi buồn -không tên- không tăng thêm cấp số cộng, mà tăng thêm cấp số nhân. Từ đó ... mà lại cứ nghe hoài Tưởng Niệm của Trầm Tử Thiêng. Nghe có lạ không. Cũng là lạ. Nhưng mà ... ta-cũng-nòi-tình-thương-người-đồng-điệu !

 

Tôi không là nhạc sĩ, càng không phải là người phê bình âm nhạc, nhưng có cần không để nghe và nói về -nói thêm nữa- một bài hát ... mà thiên hạ cũng đã nhắc nhở nhiều hơn một lần.

 

Đã có ai trong khi lặn lội suốt dọc đời mình, một lần nào đó nghiêng tai nghe lại cuộc đời, ẩn dụ quá sức là độc đáo. Đời người nói chung hay đời ta nói riêng có phải là một bản trường ca hay một đoản khúc, có khi nhịp sống hối hả có khi lặng lờ, có khi dồn dập như điệu nhảy samba hay lướt thướt như bước slow dịu hoặc ... gì thì gì, đã có ai, một lần nào đó, buổi sáng buổi trưa buổi chiều buổi tối, chịu ngồi lại, nơi một góc khuất, để hồi tưởng lại chuyện mới hôm qua hay hôm kìa, chuyện tháng trước hay năm ngoái ... để suy ngẫm, để tiếc nuối hay để vui để buồn ... hay... chẳng để làm gì hết ! Cuộc sống, dòng đời, kiếp người ... đi, trôi, chảy, tuột ... dù nhanh dù chậm ... vẫn chỉ có một chiều như một con nước đổ dốc. Chỉ có xuôi theo mà chẳng quày ngược lại bao giờ. Người ta bị cuốn theo như chiếc lá bị cuốn theo chiều gió, một buổi cuối thu. Vậy rồi, đến lúc giựt mình, ngoảnh lại ...

 

Ta nghiêng tai nghe lại cuộc đời thì hãi hùng hoàng hôn trờ tới
Ta nghiêng vai soi lại tình người thì bóng chiều chìm xuống đôi môi

Ông Trầm Tử Thiêng có lúc đã làm chuyện đó. Ông nghiêng tai nghe lại cuộc đời. Giả sử nếu mượn được hình ảnh một bầy đàn đang đun đẩy nhau một cách vô thức để lũ lượt kéo đi theo một sức hút vô hình nào đó, bỗng có lúc bất chợt khựng lại – cũng vô thức như khi lũ lượt đùn đẩy nhau đi – khựng lại để vểnh tai nghe ngóng mà chẳng biết nghe ngóng cái gì !... Hình ảnh đó có bi thiết quá không khi đem so sánh với dòng nhạc mở đầu của bài Tưởng Niệm. Thiệt ra là không. Không, nên nghe lời mở đầu mà giựt mình như khải ngộ ! Nhất là khi tiếng hát dứt, tiếng nhạc ngưng, tiếng vọng âm trầm trầm quấn quíu nhau như sợi khói tàn hương khi nhang đèn chợt tắt, bỏ lại cõi trống mù mù càng làm lộ ra cái vẻ tàn tạ của sự thế oái ăm mỗi khi đời trở chứng. - Sol sol sol sol rề sol rề rê mi rề rề la sol sí - ta nghiêng tai nghe lại cuộc đời thì hãi hùng hoàng hôn trờ tới. Đô đô đô đô sì đô si si lá rề rê si la la - ta nghiêng vai soi lại tình người thì bóng chiều chìm xuống đôi môi -

 

Một cách nói khác, người nhạc sĩ ở độ tuổi mới vừa chín tới, trên dưới 30, dẫu đang đi xuôi theo dòng đời một cách thuận thảo,-hay hục hặc !?- có một lúc nào đó, chợt nhiên khựng lại, quày ngó lại ngày tháng mình đã sống, đã vui, đã buồn, đã cười, đã khóc, đã yêu thương, đã hờn giận, đã ... và  đã ... Và ông thấy gì, ông thấy hình ảnh một bóng hoàng hôn đang trờ .. tới. Rồi lại một bóng chiều đang chìm xuống. Hoàng hôn, bóng chiều là những ẩn dụ mà trong thơ văn người ta vẫn thường dùng để biểu hiện cho đoạn cuối của một sự thế đang tới hồi kết cuộc. Kiểu như cho bóng chiều rụng xuống tàng cây hay rơi trên mái nhà tranh có hiu hiu vài sợi khói. Cũng chẳng có gì là lạ. Lắm khi lại tạo cảm gíác êm đềm nữa là khác. Đằng này, ở đây, lại gây ấn tượng mạnh vì bởi hai chữ “hãi hùng”, như thứ phản ứng hốt hoảng trước một phát giác đột ngột, cực tả tâm trạng rối loạn của người trong cuộc. Hoàng hôn ở đây không còn biểu thị cho khoảng thời gian vật lý mà là biểu hiện cho cảnh tàn tạ của đời người do sự tự hủy của chính mình. Từ đó làm liên tưởng đến bức tranh Le Cri của Edvard Munch vẽ mặt người bịt tai, hai con mắt mở trao tráo như hai lỗ hủng không đáy và miệng thì há hốc mà tiếng thét vô thanh, đằng sau lưng đỏ hực lên một mặt trời chiều sắp tắt. Bức tranh được coi là biểu tượng cho cơn khủng hoảng ý thức về cuộc hiện sinh vô nghĩa của con người, những năm đầu thế kỷ 20. Sự liên tưởng làm tiếng nhạc lời ca không còn trừu tượng nữa. Bỗng dưng, mọi chuyện như có thật !

Rồi chắc để cho hồn người dịu xuống, bớt bi kịch mà thêm đôi phần lãng mạn, tác giả lại xếp cho cái đoạn cuối ngày đó, lần này, chìm-xuống trên một đôi môi vốn dĩ là cửa ngỏ của mọi sự giao tiếp. Vui buồn giận hờn yêu ghét ... gì cũng thoát ra từ hai vành môi đó. Chính trên đôi môi nào đó đã một lần thì thầm hai tiếng yêu đương. Chính trên đôi môi nào đó đã có lần làm môi giới cho sự phối hợp âm dương. Phải không ? Vậy mà lần này cũng chính từ đôi môi đó, người ta đón nhận sự tan vở. Thử tưởng đến một nụ cười nở gượng khi mọi sự đang tới hồi kết thúc. Sự tương phản của hai biểu tượng làm câu hát nghe ra như một lời thú nhận đau đớn về sự buông xuôi tức tưởi của người trong cuộc trước sự thế chẳng đặng đừng. Câu nhạc cao thấp chỉ quá một bát độ chút xíu mà vặn vẹo hồn người, ép người nghe tới chỗ đối diện với chính phận mình -nghe và nhận cho ra sự thật lấp liếm đằng sau những ma mị của tuồng ảo hóa. Để ... thấy mình quả tình bèo bọt. Nhạc và lời như ngón tay ngắt véo mấy tầng ý thức, gọi dậy hồn mê muội. Hai mươi tám nốt nhạc cộng với hai mươi tám chữ tròng tréo nhau để lại âm vang rền rĩ suốt cả hiện thân. 

Thói thường, người ta sống như một cái gì tự nhiên nhất. Như hạt giống gieo xuống đất thì nẩy mầm, như hoa búp rồi thì hoa nở. Dẫu người ta vẫn biết hoa nở rồi hoa sẽ tàn. Nhưng có mấy ai ngay khi hoa mãn khai lại đem lòng nghĩ đến lúc hoa tàn phai. Người ta còn mãi bận bịu với thứ hạnh phúc chụp bắt được. Người ta còn bận sống, thở, ăn, ngủ, làm tình ... như là sẽ thở, ăn, ngủ, làm tình ... mãi mãi. Điều ông phát giác ở đây không có gì tầm thường hơn nhưng chính cái tầm thường đó là một khải ngộ cực kỳ hiếm hoi.  Hiếm hoi và nghịch thường với phát giác của nhà sư Mãn Giác đời Lý – mạc vị xuân tàn hoa lạc tận, đình tiền tạc dạ nhất chi mai – là một phác giác của hy vọng, của niềm tin, của hạnh phúc ... Còn phát gíác, mà thật sự có phải là một phát giác, của người nhạc sĩ ở đây chính thị chỉ là sự xác nhận một sự thật nhãn tiền mà ai cũng cố tình quên lãng, cái kết cuộc y khuôn mà con người ai cũng sẽ gánh chịu như nhau kể từ khi mang-tiếng-khóc-bưng-đầu-mà-ra. 

Mấy nốt nhạc chuyển âm lắt léo dù không cách nhau quá nhiều âm vực, nghe như tiếng thở đứt hơi của một kỳ trăn trối, nếu không là vọng âm từ một cõi đời đã quá hạn. Những chữ những lời rồi ra chỉ là sự thú nhận bất lực của phần số con người trước cơn bạo hành của số phận. Mỗi câu là sự kết hợp của những nghịch đảo, khéo tới độ làm đau đớn người nghe. 

 

Đang mân mê cho đời nở hoa /chợt bàng hoàng đến kỳ trăn trối

Đang nâng niu cuộc tình lộng lẫy / bỗng ngỡ ngàng hụt mất trên tay

Đang-Thì-Chợt-Bỗng ! Cả bốn chữ đều biểu hiện cho thời-điểm-hiện-tại ( temps présent ) để ám chỉ sự trùng hợp của hai sự việc đối nghịch xảy ra cùng một lúc. Đúng lúc. Ngay bon. Cùng thời. Hình dung cuộc đời như một cái cân, bên tám lượng thì bên kia phải nửa cân. Cho bằng. Cho đều. Vui một, buồn một. Vui hai, buồn hai. Làm như cuộc đời lúc nào cũng rình rập, so đo ... để bù đắp hay trả đủa cho xứng với những vọng động của con người. Buồn. Vui. Khổ đau. Hạnh phúc. Rồi có phải chỉ là hai mặt phải-trái thiệt-giả của cùng một thực thể. Hay chỉ là những giả tưởng mà thế nhân đã quay theo mòng mòng suốt một đời, phù thế. 

Cái lắt léo của những phận người ... thấu thị là ở chỗ biết vậy mà không tránh khỏi, biết vậy mà cứ vướng mắc như bầy dơi mù lòa. Rồi người ta buồn một họ buồn hai. Người ta khổ hai họ khổ bốn. Tính như vậy mà lũy thừa lên theo cấp số nhân. Ôi cũng một giống nòi tình, biết vậy mà cứ đâm đầu vô. Ờ mà không đâm đầu vô làm sao đời còn có những câu chữ sắc mắc làm thương tích những trái tim sầu muộn. Không đâm đầu vô làm sao đời còn nghe được những uẩn khúc đoạn trường. 

Từ câu hát đầu tiên, rõ ra, chúng ta chỉ là những kẻ nhẹ dạ chơi trò cút-bắt với định mệnh. Tất cả, rồi ra chỉ là những trễ tràng, những hụt hẫng, những trúc trắc, những ngộ nhận ... Tất cả, rồi ra chỉ là những bất khả, kể cả tưởng đã nắm chặt trong tay rồi ra cũng chỉ phù du. Con người có khác gì một loài thiêu thân lao đầu vào vũng sáng để châm lửa vào mình làm cuộc tự thiêu bất tận. Cái còn lại lả gì nếu không phải là tro than của cuộc đuổi bắt trường kỳ và vô vọng của con người. Hạnh phúc mà người ta tưởng vừa níu bắt được rồi ra chỉ là ảo giác của những ước muốn vô vọng của chính mình. 

Y như đứa bé chơi trò bong bóng nước. Vừa thấy đó, vói tay chụp bắt thì chiếc bóng đã vỡ tan. Nghịch thường hơn nữa là khi chiếc bóng nước tan ngay trên mấy đầu ngón tay vừa vói tới. Đang nâng niu cuộc tình lộng lẫy, bỗng ngỡ ngàng hụt mất trên tay. Thử tưởng đến tình cảnh những tình nhân trễ tràng. Có phải càng muộn màng thì cuộc tình càng lộng lẫy ? Ờ mà có cuộc tình nào không lộng lẫy. Nhất là khi đời đã trễ muộn. Đó có phải biểu tượng đúng nhất cho sự tréo nghoe thường hằng của kiếp làm người. Trong thiếu hụt càng làm tăng ham muốn. Càng ham muốn càng sinh ảo giác. Cuộc tình trễ muộn nào rồi cũng lộng lẫy như bong bóng nước. Càng cay đắng càng vọng tưởng-vọng tưởng như để bù lại chỗ thiếu hụt. Rốt lại, cái ảo giác lộng lẫy vừa là phần thưởng vừa là bản án cực hình của kẻ yêu đương trái mùa trễ chuyến. 

Chẳng vậy mà người xưa cứ hay dùng hai chữ “con tạo” như một đứa bé nghịch ngợm để ám chỉ những khúc khuỷu của đường đời. Cuộc đuổi bắt hạnh phúc của đám nhân loại nghĩ ra ngây thơ đến tội tình. Hay đúng ra, con người được tạo ra chỉ để làm đồ chơi cho ... cho một trò chơi tung hứng ! 

 

Điệp khúc có bốn câu, cắt ra tám vế ngắn ngủn, gọn bâng như một bài thơ năm chữ mà nói ra trăm điều, bổ xung cho cái khám phá hãi hùng về ý nghĩa của cuộc nhân sinh.

 

Ta khổ đau một đời, 

để chết trong tình cờ
Ta tìm nhau một thời,

để mất nhau vài giờ
Bàn tay làm sao níu,

một đời vừa đi qua
Bàn tay làm sao giữ, 

một thời yêu thiết tha

... như thêm lời giải thích cho đoạn rao giảng mở đầu. Không thấy sao ? Không hãi hùng sao được khi ngày chưa đi mà hoàng hôn đã trờ tới, rõ ràng là cái bất khả đã nằm trong khả thể, y như Nguyễn Đình Toàn có lần cũng đã hô hoán lên ngày thần tiên em bước lên ngôi đã nghe son vàng tả tơi. Lần nữa, Trầm Tử Thiêng liệt kê ra những dấu hiệu của một cuộc chạy đuổi trong vô vọng.

Này, có chạy tìm nhau cũng chỉ để mất nhau, có nấn níu dằng co trì kéo thì rồi cũng sẽ vuột nhau vì một khi đã ngược chiều với vòng quay của định mệnh thì dẫu có thiết tha cách mấy cũng chỉ để ... ngậm ngùi. Mỗi câu hỏi được đặt ra đã chứa sẵn trong đó câu trả lời phủ định. Nhất ông ! 

Đời người có phải là một cuộc trường chinh bắt đầu từ số không để về tận đến ... số không. Có thực hay không, cái kinh nghiệm sống khủng khiếp đó. 

 

Bốn câu đầu như là một cáo thị chung chung cho cái đám nhân quần còn đang lăng xăng với trò chơi đuổi bắt đó. Đến bốn câu cuối mới thiệt là lời tự sự với chính mình. 

 

Mang ơn em trao tình một lần là kỷ niệm dù không đầm ấm
Mang ơn em đau khổ thật đầy là nắng vàng dù nhốt trong mây
Mang ơn trên cho cuộc đời ta vài vạn ngày gió cuồng mưa lũ
Trong cơn đau một vừng nhang khói kéo ta về, về cõi hư vô .

Nhìn ngó quanh quanh rồi nhìn lại đời mình. Sau hết, cái còn lại ? Tiền tài ?  Công danh ? Sự nghiệp ? Tất cả rồi từa tựa áng mây trôi. Có ! Không ! Không ! Có ! Cái có thật còn lại, sau cùng, phải chăng chính là sự kết hợp với tha nhân. Cái còn lại, sau hết, là mối giao tình giữa người với người. Bốn câu cuối của bài hát nghe ra như một lời tạ tình vô cùng hào sảng.

Hồn sắc sảo bao nhiêu thì lòng đôn hậu bấy nhiêu. Chuyện yêu đương hẵn vui ít buồn nhiều, vậy mà ở cuối con đường suy niệm về lẽ vô thường, ông còn quày trở lại để được một lần nói hai tiếng tạ ơn. 

Quả là một người thủy chung rất mực, tình dẫu ba đào nhưng còn đó, những dư ba. Bởi vậy, làm sao mà quên phứt cho đành. Sau rốt, ông tìm quay lại với cái một-nửa của mình, cái thiết-thân-một-thời, cái đã có lần để hồn chìm trong đáy mắt, cái đã có lần níu chặt trong tay, kề sát bên vai ... đã cho ông nếm vị đắng của những lời tình ngọt, lẫn lẫn với vị ngọt của một đời tình lỡ. Hạnh phúc có thật hay không, phải chăng chính là chút vui vầy khi còn đôi lứa. Dẫu rồi có dở dang hẵn cũng đã có lần đưa nhau tới mấp mé cửa thiên đàng. Làm sao mà không biết ơn nhau cho đành. Ôi diệu kỳ cho dù chỉ còn là kỷ niệm, dẫu chỉ một lần trao tình cũng đã đủ giúp nhau chạm mặt hạnh phúc ! Mấy tiếng mang-ơn nghe ra sao mà chân tình quá đỗi ! Vừa tha thiết vừa trân trọng. Ân cần đến độ ai đó chắc mũi lòng. Đã có lời nhạc tình nào mà nhân nghĩa tới vậy đâu ! 

Ôi ông Trầm, nghe ông là người ít tiếng kín lời mà sao lời nào ông nói nếu không xoáy đau tới tâm phủ thì lại nghe ra mát rượi như nước mưa tắm gội giữa trưa hè quê mẹ ! Xin cúi đầu tâm phục. 

 

Nhạc tây nhạc tàu gì không biết, nghe nhạc ông tôi chỉ nghe ra tiếng thì thầm u uẩn của một tấm lòng nhân hậu. Quãng đại. Sắc sảo mà chân thành. Chân thành đến nỗi làm muối mặn đọng lòng, ngay cả người nghe là người dưng nước lã. Đã vậy, nói chuyện tư riêng cũng chỉ là để bắt quàng sang chuyện lớn, chuyện trời cao bí hiểm, chuyện đất sâu huyển hoặc, chuyện thiên địa mang mang, chuyện nằm tuốt trong sâu thẳm mấy tầng vô thức ... Gì thì gì, một khi đã ló mặt ra với cuộc đời này - dù không được hỏi ý kiến ! - bổn phận đầu tiên và sau cùng của con người là sống đời mình cho đúng nghĩa ... làm người. Còn ngoài ra thì phó mặc cho ... định mệnh !

 

Cuối lời, như còn cố thêm một dặn dò :

 

Mang ơn trên cho cuộc đời ta vài vạn ngày gió cuồng mưa lũ
Trong cơn đau một vừng nhang khói kéo ta về, về cõi hư vô .

quả là minh triết ! Dẫu biết thiên-địa-bất-nhân-dĩ-vạn-vật-như-sô-cẩu mà vẫn tâm đại lượng, không oán trách cũng chẳng kêu than, chấp nhận mọi việc mọi sự như vậy là vậy. Như thị. Hơn nữa, bài hát nghe thì như kêu rêu mà nghĩ lại thì còn như một lời tạ ơn nữa. Tạ ơn đời mặc mưa-cuồng-gió-lũ. Tạ ơn người mặc kỷ-niệm-không-đầm-ấm. Thắm thiết biết bao lời dặn dò, gởi lại. Nghĩ lại coi, không phải vậy sao. Dẫu mưa nắng giá băng lắm khi trái ý nhưng nghĩ cho cùng, ơn nghĩa trời đất và cuộc đời dẫy đầy ra đó. Cốt yếu là mình có nhận ra được không. Một buổi mai, sau trọn đêm tuyết lạnh, hừng sáng, mặt trời hiện ra, chói lọi một vừng hào quang, xuyên qua hết mọi tầng mây, len qua hết mọi lớp không khí vẩn đục, chiếu thẳng vào góc bàn viết có chậu cúc vàng vừa nở trái mùa, có khác gì mấy lời phủ dụ của thiên nhiên. Lần khác nữa, tình cờ đọc được đâu đó một câu thơ, chữ nghĩa vần điệu mơn man nhau mướt rượt nghe như ai đó vỗ về làm nỗi sầu riêng bỗng dưng rồi nhẹ hửng. Góc núi, lưng đồi ... một buổi chớm thu, tiếng chào, câu hỏi ... mỗi lượt đi về ... mỗi mỗi đều chứa trong đó thứ ân sủng của trời đất và lòng người, mãi mãi có đó, ràn rụa như sương mai. Vậy mà không mang ơn thì còn biết mang gì cho khỏi cồng kềnh cái phận người đã quá đỗi đa đoan.

 

Sau hết, bài hát kết lại một cách gọn bâng :

Cuối cùng, mọi thứ mọi điều, giàu nghèo sang hèn đẹp xấu tài hoa hay thô kệch... mọi kiểu mọi cách, thành công thất bại, hạnh phúc hay khổ đau ... rốt lại chỉ là ...

chỉ là :

Một vừng nhang khói

Kéo ta về

Về cõi hư vô.

Nói gì cho đúng hơn nữa. Đoạn kết hẵn là đoạn đành. Nhưng có nói ngược lại được đâu. Chắc vậy cho yên, lòng thôi vọng đọng.

 

Câu cuối, nhạc xuống “ton”, người hát hạ giọng, luyến láy làn hơi lên bổng xuống trầm, ngân dài mặc tình theo hơi thở rồi bỏ trôi theo nốt cuối lưng lửng, không cao không thấp, lưng chừng ... làm cõi quạnh quanh quanh tưởng như tấm màn the có hơi gió thổi nhè nhẹ lắt lay theo, người nghe nín thở để hồn lặn truồi theo dòng cảm xúc, lung lay theo cung nhạc rồi nhè nhẹ, nhè nhẹ buông xuôi, buông xuôi tới tận ... cõi hư vô !

 

Ông Trầm, ông làm nhạc mà như giảng kinh. Nghe mà rã mềm phế phủ, cảm như có vết mực loang ra trên tờ giấy thấm, càng lúc càng đậm đặc ... 

 

Mà thiệt tình, tui có muốn tu đâu !!!

 

 


 

VIẾT THÊM 

Chắc cũng nên dông dài thêm chút đỉnh về những nhạc phẩm của Trầm Tử Thiêng, đặc biệt là phần viết lời. Ai sao không biết, chớ tôi nghe nhạc của ông mà lắm khi cảm chữ nghĩa (lời) của ông như một cõi thơ rất riêng. Chữ nghĩa thường bình dị, nhưng đặc biệt ở chỗ bình thường mà không tầm thường. Vấn đề là đặt chữ đúng chỗ của nó, chữ có thể bỗng dưng ảo hóa thành mỹ từ như phù thủy. Có những chữ như trong ngôn ngữ nói hằng ngày, không cao xa cũng chẳng hoa mỹ, có khi quen thuộc, vậy mà chọn đúng nơi đúng lúc cộng thêm cái nốt nhạc đúng độ đúng “ton” làm người nghe cảm thấy... thốn tận tâm can. Kể cả cách đặt câu, có khi gần như phá thể, như một ý hướng tìm tòi đột phá, làm mới ngôn ngữ vậy.

Nội cái chữ “trờ” trong câu hát đầu tiên đã là một diệu thủ của chữ nghĩa. 

 

(*)TRỜ ( hoàng hôn trờ tới)

“Trờ tới”  y như cầm dao mà cứa thịt. Chặt cái bụp ít đau. Cứa, đau gấp bội. Chữ nghĩa của người ta diệu kỳ như vậy mà quí vị ca sĩ nam nữ bất chấp, cứ ngang nhiên ngân nga thành ... chợt tới. “Chợt”, phù bình thanh, cụt ngủn cụt ngẳn, phát ra không có âm vang. “Trờ”, trầm bình thanh, âm phát ra tự nhiên kéo dài, mới diễn tả hết ý được sự cò kè, cù cưa, trì kéo của ... định mệnh. 

 

-Thử ráng phân tích thêm một chút về nghệ thuật viết lời ( văn ) của tác giả.

Câu hát áp chót - Mang ơn em đau khổ thật đầy là nắng vàng dù nhốt trong mây. Tuyệt vời ! Thử tưởng ra một buổi chiều có nắng mà đầy mây. Nắng thì vàng hực mà mây thì xám xịt. Hai màu sắc tương phản như vui với buồn. Mặt trời lặn chậm như không muốn lặn. Đám mây vô định thì cứ vẩn vơ qua lại như không biết chỗ phải ngừng. Cứ như vậy mà lắm khi vô tình nhốt sắc vàng lộng lẫy buổi chiều hôm đằng sau lớp màu xám chẳng ra xám đen chẳng ra đen. Sự tương phản đó là ẩn dụ vô cùng thi vị cho một nỗi buồn thất tình bị giấu kín, giấu kín đằng sau bộ mặt giả bộ trơ trơ, đằng sau những cử chỉ ra bộ dứt khoát ... mà trong lòng thì ruột đứt không biết bao nhiêu khúc ... mà đau khổ không biết bao nhiêu lần ... mà tình yêu cũ, trễ, lỡ ... vẫn sáng lán trong thăm thẳm lòng, y như nắng vàng bị nhốt trong mây. Có biểu tượng nào cho chuyện thất tình đẹp và rộng lượng tới vậy đâu ! Viết nhạc mà như nhốt thơ vào trong đó, quả là tài hoa hết mức. 

 

Ôi văn chương âm nhạc ai đem chia biệt cho đành !

 

Lang bang thêm chút nữa, nghe thêm nhạc của Trầm Tử Thiêng, lại nghĩ ra một điều : trong nỗi buồn riêng ông, luôn luôn lẫn lút nỗi buồn chung về quê hương và thân phận con người của một thời quá đỗi điêu linh. Lắm lúc nghe mà tưởng như đọc rồi chìm lĩm trong thơ Tô Thùy Yên với những chữ những nghĩa u trầm như vọng về đâu từ một cõi nào xa mút cõi người 

 

Ôi những bậc “vương tôn miền trí tuệ” ! -chữ của Tô Thùy Yên-

 

cvk

cvk_TTThieng_tuongniem.JPG
CVK_Signature.JPG
CVK_TenDangTu.png
CVK_Thư gởi thơ không gởi.JPG
CVK_Lonkhoi.png

 Từ tiền chiến, Nguyễn Xuân Sanh, người làm thơ tượng trưng đã viết một câu tượng trưng hết sẩy. Thư, gởi. Thơ, không gởi. Thư, gởi. Thơ, không gởi.

 

Năm chữ ngắn ngủi, cộc lốc, rạch ròi đủ tỏ ra cái vẻ dứt khoát, thẳng thừng, không có gì để bàn cải nữa. Thư, viết thì gởi – dẫu đã có biết bao nhiêu lá thư đã được viết ra mà không được gởi kiểu ông Lôi Tam từ những năm sáu mươi. Nếu em trách tôi sao hờ hững, tôi chỉ mỉm cười mà chẳng dám thanh minh. Em đâu biết tôi đã thức suốt năm canh viết lên bóng tối muôn vạn bức thư tình chẳng bao giờ chấ́ ́́m dứt ... (Ờ nhưng mà đó lại là chuyện khác, thứ chuyện nhủn nhẳn nhùng nhằn, loại có có không không ma mị của địa hạt ... ái tình !). Còn thơ, dù viết, làm hay mần gì cũng đều dứt khoát là không gởi. Đã có lần Dương Khuê nói về cái chuyện thơ-không-gởi này nghe mà thương hết sức. Câu thơ nghĩ đắn đo không viế́ ́́t. Viết đưa ai ai biế́ ́́t mà đưa.

 

Gởi hay Không gởi. That is the question.

 

Từ đó đặt ra mối tương quan giữa thơ và người làm thơ với người đọc thơ. Và như vậy không khéo lại lần xần đụng chạm tới cái chuyện nhức đầu kinh niên của nhân loại. Nghệ thuật vị cái gì, vị nghệ thuật hay vị nhân sinh ? Ôi cái chữ “vị” tội nghiệt, đầu mối của bao nhiêu oan trái ! Cái vấn đề bất kham, to lớn, nặng nề, nhức đầu, mệt óc, làm bộ làm tịch, kiến trắng gọng vàng … mà chẳng đem lại được chút gì “thư giản” cho cái cõi thế nhân đã quá đỗi bôn ba. Nhất là chẳng thêm thắt được chút gì mặn ngọt cho nghệ thuật mà hương vị vốn đã đủ mùi. Trong khi văn-chương-hạ-giới thì cũng vẫn cứ rẽ-như-bèo y như thời ông Tản Đà đã có lần cảm thán.

Vã lại, này ... quân bất kiến hoàng hà chi thủy thiên thượng lai bôn lưu đáo hải bất phục hồi ... ! (*)

 

Vậy thì còn bày đặt làm chi mà gởi hay không gởi.

Thì cũng bởi cái thói thày lay, thấy đâu nói đó, mà nói rồi thì bỏ. Cho vui.

 

Vấn đề không phải là gởi hay không gởi. Vấn đề là có gì để gởi hay không. That is the question.

 

Cái chuyện thư thì chắc khỏi nói khỏi bàn. Còn lại cái chuyện thơ, thì có nói có bàn tới mơi cũng không hết. Đã không hết mà cũng không thông. Và chắc chắn là chuyện đâu còn nguyên đó, kiểu như ... cạn ly đầy rồi rót đầy ly cạn. Chỉ tội cho mấy cái vỏ chai không rồi bỏ lăn lóc giữa đàng.

 

Như vậy, thư thì bảo đảm gởi dẫu không phải lúc nào cũng cần gởi bảo đảm thư. Hổng gởi sao viết. Thăm hỏi. Tỏ tình. Kể lể. Xin xỏ. Hăm dọa. Đòi tiền đòi nợ. Vân vân và vân vân ... Có một ngàn lẻ một lý do để viết một lá thư. Đầu thư thì đề ngày đề tháng đề năm. Cuối thư thì ký tên (thiệt giả thì lại là chuyện khác).

Luận văn thị phạm đã rành rành như vậy. Thơ, làm thì làm, mần thì mần. Vậy thôi. Có khi có chuyện gì đó thì làm mà có khi không có chuyện gì hết cũng mần. Lu bu là ở chỗ đó. Rồi có khi có chuyện thì hay mà không có chuyện gì hết cũng hay. Lại lắm lúc có chuyện mà lại dở òm. Cho nên gởi hay không gởi cũng là ở đó.

 

Nguyễn Xuân Sanh. Quỳnh hoa chiều đọng nhạc trầm mi. Hồn xanh ngát trở dấu xiêm y.

 

Gởi cái gì trong hai câu thơ này. Mà gởi để làm gì. Trong bao nhiêu người đọc có bao nhiêu người hiểu. Mà hiểu, chắc gì đã hiểu đúng. Mà thế nào là đúng thế nào là sai. Hơn bốn mươi năm trước đọc tới câu Kiều biế́ ́́t thân đến bước lạc loài nhụy đào thà bẻ cho người tình chung đã tấm tắc khen hay. Bốn mươi năm sau đọc lại cũng thấy hay. Cái hay trước là cái hay của cô Kiều tiếc nuối cái chuyện để lỡ của cổ. Cái hay sau là cái hay của chính mình tiếc nuối cái chuyện bỏ lỡ của mình. Cái tiếc sau nó đau hơn cái tiếc trước. Vậy thì cái tiếc nào đúng ý Nguyễn Du hơn. Hiểu hơn (khác) cái ý của tác giả có phụ lòng tác giả không ?

 

Người ta cứ hay than phiền cái chuyện vẽ rắn thêm chân. Rồi người ta cũng đã bỏ ra không biết bao nhiêu công sức để tra cứu, hiệu đính, bổ túc, đính chánh ... cốt để phục hồi cho bằng được nguyên bản của các tác giả cổ điển. Làm như lộn một chữ, sai một nghĩa là phản bội tổ tông. Vậy chớ chừng cắt nghĩa, bình giải ... đã chắc gì đúng phóc cái ý của ông bà, đã sống và làm thơ từ vài ba mươi năm, một hai trăm năm trước. Đời xa người cũng xa. Hổng chừng hồi nẳm khi làm thơ ổng bả đâu có nghĩ như trong mấy cái cái cuốn giảng luận giảng văn sau này mà bao nhiêu thế hệ học trò trung học đã dùi-mài-kinh-sử. Mình có phải là bà huyện của huyện Thanh Quan đâu mà dám biểu bả không có tình ý gì khác hết ngoài cái tình non non nước với phu phu phụ phụ cùng ông huyện Thanh Quan trong hai câu kẻ chố́ ́́n chương đài người lữ thứ lấy ai mà kể nỗi hàn ôn. Trang Tử đâu có phải là cá mà nói đúng chuyện cá.

 

Hồi còn dạy học, khi giảng Chinh Phụ Ngâm tới câu nhủ rồi nhủ lại cầm tay, bước đi một bước giây giây lại dừng, trước mấy chục cặp mắt nai tơ (hay gấu con) đang hau háu nhìn lên thán phục, tôi hay nổi hứng bất tử bỏ bài bản sửa lại theo cái câu đã đọc được đâu đó một lần nhủ rồi nhủ lại cầm tay, bước đi một bước lại vin áo chàng. Chắc bà Đoàn thị Điểm điềm đạm đoan trang hơn tôi (cái đó là cái chắc) nên chỉ dám đứng ở xa xa mà dùng dằng nửa đi nửa ở. Chớ còn tôi thì tôi khoái cái kiểu tình-tứ-sát-mà-không-sát của cái động từ “vin” hơn nhiều. Đọc lên nghe đã đã mà nghĩ ra lại còn đã hơn nữa. Nấn níu. Muốn kềm mà không dám. Muốn buông mà không đành. Sao mà tình tứ, dịu dàng, e ấp, vịn mà không vịn, rờ mà không rờ, níu mà không níu. Chỉ “vin” thôi !

 

Ôi cái cảnh biệt ly sao mà lê thê đến vậy ! Mà giảng như vậy có quá ý bà Đoàn thị Điểm hay là có bị gán cho cái tội phạm thuần phong mỹ tục hay không (chắc là có !) Tôi không biết. Có điều tôi cóc cần. Hai ba trăm năm qua rồi. Người làm thơ làm theo ý mình. Tôi đọc thơ theo ý tôi. Mấy ông khoa bảng học giả nghiên cứu gia ... làm chuyện của mấy ổng. Tôi đọc thơ (làm lại thơ) theo tâm hồn tôi, theo “sáng tạo” tôi ... nghĩa là thơ có chủ ý gởi hay không, tôi cứ nhận theo cách của tôi vậy.

 

Thư, gởi. Thơ, không gởi.

Vì thơ không gởi nên cái chuyện lu bu ở trên càng dễ tính hơn nữa. Người làm thơ, trước hết, làm thơ là làm cho chính mình. Kể cả mấy bài thơ tán tỉnh tỏ tình ... có kêu tên khai tuổi hẳn hoi. Đầu tiên và sau cùng, hồn thơ vẫn là của riêng tây, nỗi xúc động, cơn hứng tình vẫn mãi là cái hoạt động bí ần và cá nhân nhất của mỗi người, cho nên thơ, đầu tiên và sau cùng, vẫn mãi riêng là của người đó. Cô tình nhân, bà hàng xóm, nàng láng giềng ... hay gì gì đi nữa vẫn là ngôi thứ hai, vẫn là cái vật ngoại thân -cùng lắm là đối tượng mà hể là đối tượng tức là có ta và người (cái lối mơ mơ màng màng mình-với-ta-tuy-hai-mà- một-ta-với-mình-tuy-một-mà-hai chẳng qua là lời dỗ ngọt khi người ta tìm cách trộn lộn vào nhau máu huyết xương thịt, chớ còn chuyện thơ văn thì ... thiệt tình là … hồn ai nấy giữ ). Mọi thứ, kể cả trời trăng mây nước, mùa màng thời tiết, hoa lá với bướm ong, mỹ nữ với giai nhân, v.v... và v.v... mọi thứ mọi vật mọi người mọi chuyện trên cái cõi đời chằng chịt giây mơ rễ má này đều có thể trở thành chất xúc tác, tạo cảm hứng để làm thơ nhưng rồi ra cũng chẳng ăn nhằm gì hết với cái hoạt động bí ẩn, mù mù mờ mờ không có gì là luận lý ráo trọi của cái-việc-gọi-là-làm-thơ. Dẫu có nói là hứng tới đâu mà làm không ra thơ là ... không ra thơ. Làm thơ ! Đó là một hoạt động trí năng ở mức độ sơ đẳng nhất, nghĩa là hồn nhiên nhất. Dẫu có học thiên kinh vạn quyển, có vài ba cái bằng bác sĩ, thạc sĩ, tiến sĩ ... ( ý là chưa kể đến mấy ông phó-tiến-sĩ ở quê tôi vốn đã mất dạng đằng sau không biết bao nhiêu là tầng khói-sóng ), nghĩa là chữ nghĩa dù có đào luyện trau dồi nhuần nhuyển cách mấy đi nữa, ngôn ngữ có uyên bác tới đâu đi nữa mà không làm được thơ là không làm được thơ ! (dĩ nhiên ở đây nói thơ là thơ chớ không phải là mấy bài vè quảng cáo, mấy câu gọi là thơ-chúctết của ông-bác-đã-chết-mãi trong-lòng-chúng-ta, hay chúc thọ chúc phúc lẫn nhau mỗi năm tết đến ... )

 

Như vậy nếu có gởi cũng chỉ là một tác động phụ thuộc, thứ yếu. Bài thơ trước sau vẫn là của riêng người làm thơ. Không gởi.

 

Vậy, nếu đã không có chủ ý gởi thì cái việc nhận là chủ ý của người đọc. Chính người đọc tìm đến với thơ, chính người đọc thơ làm cái việc mà người làm thơ không màng tới mà dẫu có màng tới cũng chẳng thể sơ múi được gì. Thơ không ra thơ thì dẫu có tiền vàng bạc biển người ta cũng không mê. Thơ mà hay thì dẫu có đào mồ chôn kín cũng có ngày người ta đào lên mà mằn mò mê mẩn. Cái đẹp tự nhiên của thơ hay nói chung của nghệ thuật là ở đó. Người làm thơ lơ lửng như trăng và người đọc thơ cũng lửng lơ như gió. Gió đưa trăng thì trăng đưa gió. Nó lả lướt, lãng ̣đãng, nhẹ nhàng và phiêu hốt vậy đó. Ở đây không ai trách nhiệm với ai, không ai dụ dỗ ai, không ai đổ thừa cho ai hết. Ở đây là một cuộc đối thoại thầm lặng, bi tráng và tự chủ. Gió đưa trăng thì trăng đưa gió.

 

Xuân Diệu. Ai đem phân chất một mùi hương.

Hay bản cầ̀ ̀̀m ca, tôi chỉ thương

Chỉ lặng truồi theo dòng cảm xúc

Như thuyền ngư phủ lạc trong sương

 

Vâng, đọc thơ là vậy đó. Đọc thơ là trực giác. Đọc thơ, khoái thì nói khoái. Không khoái là không khoái. Có một sát na gì đó không ăn khớp. Có một mảy may nào đó bị trật chìa. Khỏi bỏ công tìm hiểu, khỏi thắc mắc lôi thôi. Không ai mượn.

 

Toại Khanh. Ba ngàn thế giới vo tròn

Nhỏ lên giọt mực chỉ̉ ̉̉còn trang thơ.

 

Đủ quá rồi. Nói gì nữa. Hãy im lặng cho bằng cái im lặng trầm thống của thơ. Người làm thơ đã không có ý gởi thì người đọc thơ cứ sảng khoái mà đọc thơ. Đừng khiên cưỡng làm chi mà tủi hồn thơ. Người làm thơ đã làm thơ trong tình cảnh cô độc cùng cực của mình. Khi đó chỉ có hắn trực diện với đoạn trường mình, chỉ có hắn đánh đu với định mạng mình, chỉ có hắn xoay trở với tài hoa mình ... Làm được thơ hay không cũng chỉ có hắn và hắn mà thôi, không vợ con bồ bịch nào mó vô được cũng như không có chính ủy với đảng ủy nào xía vô được ...

 

Thì người đọc thơ, một cách công bằng, hãy tôn trọng cái tâm cảnh nghiệt ngã mà vô cùng ngạo nghễ đó. Nghĩa là hãy đọc vì mình chớ không vì người. Nghĩa là hãy đọc rồi chờ cho tiếng thơ đó lắng dội vào lòng mình ... những dư ba !

 

Và từ đó, mỗi một người thụ cảm một cách riêng, bằng kinh nghiệm của chính riêng mình. Không ai giống ai.

 

Và điều đó cũng có nghĩa là, bạn ơi, hãy ngạo nghễ làm thơ. Làm thơ cho mình và không gởi. Mà có gởi đi ( đi đâu? ) thì cũng coi như gởi-gió-cho-mây-ngànbay kiểu như hai ông Đoàn Chuẩn với Từ Linh đã gởi từ mấy mươi năm trước. Ai có đọc thì cám ơn. Mà không đọc được ... cũng cám ơn.

 

Cao Vị khanh

(*) Tương tiến tửu-Lý Bạch

_______________________________________

CVK_thang9.JPG
CVK_thangchin2.JPG

Tháng     chín          cvk          

CVK_Đưa học trò đi lính_2.JPG
CVK_Đưa học trò đi lính.JPG

CAO VỊ KHANH: Lệ ngoài thiên thu:

le-ngoai-thien-thu-cvk-1.pdf | Cao Vị Khanh (caovikhanh.com)

CVK_Le ngoài thiên thu.JPG
cvk_conhan.jpg

CAO VỊ KHANH: Như khói như sương

http://www.caovikhanh.com/pdf/nhu-khoi-nhu-suong-cvk.pdf

nhu-khoi-nhu-suong-cvk.pdf | Cao Vị Khanh (caovikhanh.com)

CVK_nhukhoinhusuong.JPG

CAO Vị KHANH: Làm thơ thời chiến

 

http://www.caovikhanh.com/pdf/lam-tho-thoi-chien.pdf

CVK_Lamthothoichien.JPG

Năm 72, giặc đánh lớn, lệnh đôn quân. Học trò giữa năm đệ nhị đệ nhứt quá tuổi ấn định được gọi trình diện Trại nhập ngủ số 4.
Mấy đứa con trai mặt mũi non choẹt, thằng dửng dưng, đứa mếu máo cùng ông thầy trẻ chênh lệch nhau chừng vài tuổi kéo nhau ra quán bày tiệc bồ đào. Rượu vào lời ra. Và thơ ra luôn. Ngày mai em xa trường. Chiều nay uống rượu suông. Em mời tôi quán nhỏ. “ Dô”, thầy. “ Dô”, lệ tuôn. 

Không khí bữa đó đã chờn vờn đâu sẵn mớ dấu hiệu phong ba. Mấy trận đánh lớn ở Quảng Trị, cao nguyên và Vùng ba từ vài tháng trước như còn thổi tạt mùi khói súng khét lẹt xuống tận mấy cái khu phố đồng bằng vốn yên tỉnh như mặt nước biển của một vùng vịnh kín ... Chiều gần tắt mà nắng còn lướt thướt rướm vàng trên mấy đọt sao thưa. Quán là một căn nhà vách ván lợp tôn được ngăn ra làm hai. Một nửa trước được chủ nhân kê mấy bộ bàn ghế cũ, ọp ẹp làm nơi tiếp khách. Và nửa sau độ chục thước vuông làm nơi ăn ở cho gia đình với hai đứa con nhỏ. Người chồng là thương phế binh, giải ngủ với cánh tay cụt. Người vợ, khuôn mặt lúc nào cũng đỏ hồng vì lửa củi, đôi khi vừa nấu nướng vừa chăn giữ hai đứa nhỏ. Quán còn một cô gái nửa tỉnh nửa quê làm chiêu đãi, đi ra đi vô bưng dọn, thỉnh thoảng nháy nháy con mắt hiền khô liếc tình mấy chàng chuẩn-chiến-binh mặt mày còn búng ra sửa. Hẵn cô đâu biết chiều nay cái quán nhỏ xập xệ của cô bỗng trở thành một quán biên đình, chỗ chia tay “ hảo hớn” !
Sau mấy tuần rượu nếp than đỏ quạch, bữa nhậu chỉ còn là một cái cớ. Học trò có đứa mới uống rượu lần đầu bắt đầu rươm rướm nước mắt, có đứa lì lợm hơn không khóc mà con mắt bỗng dưng hiền khô như mắt nai. Từ quầy thu tiền, cái ra-dô-ấp-chiến-lược vừa phát ra bản tin chiến sự trong ngày. Lại ... quân ta vô sự, địch bỏ lại mươi ... con.

Ông thầy có một lúc cũng không nhớ mình làm thầy, gật gù cụng ly rồi lẩm nhẩm mấy câu thơ tàu cho học trò mình nghe ... khuyến quân cánh tận nhất bôi tửu ... tây xuất Dương Quan vô cố nhân ... Học trò nửa hiểu nửa mù mờ cũng gật gù làm ra vẻ thấm thía lắm, ngửa cổ nốc ực cái ly cối bự tổ chảng ... làm trai thời chiến ... anh đi quân dịch là̉ thương nòi giống ... 

                                                                                                                     Ngày mai em xa trường
                                                                                                                 Chiều nay uố́ng rượu suông

                                                                                                                            Em mời ta quán nhỏ
                                                                                                                          Dô, thầy. Dô, lệ tuôn !

Vậy đó, có một thời người ta sống giữa cái chết. Và người ta làm thơ. Mà thơ tận tình. Móc ruột moi tim ra mà làm. Từ đó thơ bay phơi phới giữa khói súng và lằn đạn. Từ đó thơ bay thênh thang trên hoang tàn của sông nước và thương phế của lòng người. Thơ lênh láng như vết thương hở miệng nhưng thơ không nhuốm máu căm thù. Thơ chỉ biểu lộ lòng nhân hậu ngay cả khi hồn thơ còn bị dùi vập trong sắt thép đạn mìn, hầm chông và sự cuồng tín ngu muội. 

Đọc lại trong một số báo cũ, bài thơ của Nguyễn Bắc Sơn về cái chuyện người lính sáng sớm đi kích đêm về, ghé quán vệ đường khi áo trận còn nhuốm lạnh mùi sương, ngồi ghếch chân lên bàn, vừa nhấm nháp cái vị đăng đắng của cốc xây-chừng nóng hổi vừa hít hít cái mùi khen khét của khói thuốc Ruby-quân-tiếp-vụ ... mà biết mình còn sống ... (và hẵn rằng lẫn trong đó, mơ hồ một niềm vui mỏng manh khi thấy cuộc sống chung quanh vẫn còn tiếp diễn bình thường sau một đêm căng cứng trên đầu súng mình canh giữ )

                                                                                Người lính đêm qua đi kích về ghếch chân lên ghế
                                                                                              Chiếc xe chở những ổ mì vàng nóng hổi
                                                                                                        Cười nụ cười đầu tiên trong ngày
                                                                                                                  Và bật que diêm hút thuốc

 

Sao tôi yêu cái hình ảnh đó quá. Ghếch-chân-lên-ghế. Nó kiêu kỳ một cách lặng lẽ. Nó du côn một cách thi vị. Và nó lãng-mạn-tiểu-tư-sản một cách hồn nhiên. Và que diêm. Và khói thuốc. Và mặt trời sẽ mọc. Và một ngày sẽ đến. ... Nghĩa là tôi chưa chết. Nghĩa là cuộc sống vẫn còn đó với đủ thứ mật ngọt và trái đắng, còn đó với đầy đủ môi hôn - môi hôn lần tới sẽ khít khao hơn và tay nắm - tay nắm lần tới sẽ ghịt riết hơn, còn đó với đầy đủ chuyện như ý và bất như ý, chuyện trong sạch và chuyện tham nhủng, chuyện anh hùng và chuyện cà-chớn nghĩa là còn đủ thứ hầm-bà-lằn-xắn-cấu chuyện đáng nói và không đáng nói ... mà còn chuyện gì nữa ở đằng sau những thi ảnh quen thuộc đến tầm thường mà lại chân thật hơn bất kỳ thứ lý tưởng nào được kê trong những tuyên ngôn lằng nhằng như toa thuốc bắc – tiền đồn chống cộng, chiến sĩ tự do ... kể cả độc lập, tự do, hạnh phúc dù có được viết hoa thiệt bự. Đổi cái huy chương anh dũng bội tinh với cái bữa điểm tâm sơ sài đó, chắc có người không đổi ! Tôi biết đối với một người thường - chữ thường được hiểu như là ... thường, thì cái chuyện uống ly cà-phê buổi sáng cũng sẽ đăng đắng mà trưa trưa chiều chiều thì ly cà-phê cũng đắng đắng y chang. Còn lại cái loài thi sĩ thì là cái giống khác. Một người làm thơ gốc lính khác, Trần Hoài Thư, dù trong cái buổi sáng sớm y như trăm ngàn buổi sáng khác, vẫn tìm ra trong đó một ... vị thơ.

                                                                                                                   Gọi cốc cà-phê un khói gió
                                                                                                      Mấy thằng râu tóc chụm thanh xuân
                                                                                                          Vách trống, sát vào nhau đỡ lạnh
                                                                                                    Trời ngoài kia sương phủ mênh mông

 

Cà-phê ở đâu, thời nào cũng là cà-phê. Mà sao cà-phê trong thời loạn lạc đó nghe ra nó phê mút chỉ. Thì cũng là loại cà-phê bít-tất trong một góc quán vệ đường, thứ quán xá mở cửa thật sớm cho những người mất ngủ – dân lao động, gái giang hồ, lính tráng ... trở về sau những cuộc mần ăn đêm. Chỉ khác cái chỗ cà-phê ở đây không ướp va-ni, không trộn xác cau khô hay pha chút sái nhựa, cà-phê này lại đi un khói-gió - thứ gió Lào khô khốc, thứ gió chướng thổi bung tóc mai dựng đứng tóc gáy, thứ gió bấc cứa xương đục đẽo lên mặt người nỗi đau của đá ... cho nên cà-phê, chất cà-phê thi vị đó trở thành chất xúc tác huyền nhiệm làm bật dậy cuộc sống, như để dằn xuống một đêm ( tai ương ) vừa qua và chào đón một ngày ( hy vọng ) sắp đến. Chất cà-phê pha loảng mà đặc quánh hơi thở nhịp tim của những người trở về từ một cõi chết. 


Thôi, chắc lại sắp vẽ rắn thêm chân ... 

Có điều trong suốt cuộc-chiến-gọi-là-ý-thức-hệ đó ( tính luôn cả hai bên nam bắc với lại mớ đồng-minh-da-trắng-đồng-chí-da-vàng đó ) có mấy ai làm thơ ngông nghênh mà hiền như cục đất vầy chưa 

                                                                                                             Nếu mai đụng trận ta còn sống
                                                                                                           Về ghé Sông Mao phá phách chơi
                                                                                                            Chia sớt nỗi buồn cùng gái điếm
                                                                                                               Đốt tiền mua vội một ngày vui
                                                                                                                                                  NBS

Nghe mà thương ơi là thương cái đám lính tráng thời loạn đó. Đi trận mà, rừng bịt mắt, bùn níu chân, cực khổ cầm chắc, chết chóc không chừng, lần này về, lần tới biết có về không ... thì thôi về được thì ghé xóm thăm-dân-cho-biết-sự-tình một phát cho chắc ăn, rồi sao nữa tính sau. Cái nhân sinh quan đó, nếu gọi được là nhân sinh quan, nghe nó vừa chịu chơi vừa bi quan quá thể. Tại vậy thơ đọc thì tai nghe vui mà lòng thì ngẫm ra mấy nỗi ngậm ngùi. Có phải chính sự bức bách của tình thế, sự mập mờ của ý thức, sự lẫn lộn của màu da ... đã làm thơ ra nỗi ấy. Tuy nhiên cái điều kỳ diệu là dù có bi quan cách mấy thì vẫn còn đó cái tính nhân bản cố hữu và tuyệt vời đã làm thơ nhìn thấy những điều khó thấy trong cuộc chiến-tranh-mà-mắt vừa qua 

                                                                                                                  Cô hàng ơi cho một ly không
                                                                                                              Tôi rót mời một người lính Bắc
                                                                                                     Hắn nằm banh thây dưới hầm bí mật
                                                                                                          Trên người vẫn còn sót lại bài thơ
                                                                                                                                                    THT

Bài thơ trên xác kẻ địch ! Thi ảnh đẹp đến rợn người. Thử tưởng đến cảnh đạn xẹt tứ tung, khói súng khét lẹt, máu me tùm lum, thịt thà nát bấy ... mà đâu đó lấp ló tỉnh bơ một trang thơ mới làm ( thơ = trời xanh mây trắng, thơ = nhớ cha nhớ mẹ, thơ = hoa bướm rủ ren, thơ = nhớ bồ nhớ bịch ... ) Vấn đề là làm sao cho con mắt thấy ( đã lắm khi con mắt nhìn trao tráo mà chẳng thấy gì ráo ! ) Và làm thơ cũng từ cái thấy của con mắt nhân ái đó, phải không ?


Hỏi khắp cả bộ-đội-xẻ-dọc-Trường-sơn-đi-cứu-nước ( kể cả anh nuôi chị nuôi tập kết nằm vùng ... ) có ai trong suốt cuộc-chiến-giải-phóng-thần-thánh vừa qua đã lần nào nhìn thấy trên khuôn mặt xác chết lính miền Nam một nét gì thân thiện, đồng chủng, anh em, ruột rà ... , đã có lần nào “ bức xúc ” dù chỉ một thoáng, dù chỉ một chớp mắt băn khoăn ... ? Hay chỉ thấy toàn ác-ôn-mỹ-ngụy-mặt-xanh-nanh-vàng ... dù người chết đã ... chết ! Hay đã có mà không dám lộ ra ! Hay chỉ mới chợt thoáng nghĩ là đã hốt hoảng lảng qua chuyện khác vì sợ kiểm thảo, sợ phê bình, sợ mất lập trường, sợ xuống cấp, sợ mất chế độ, sợ học tập, sợ cải tạo, trăm thứ sợ làm tê liệt thần kinh như con chuột xuội lơ trước cặp mắt hớp hồn của loài rắn độc. 

Nhớ cái thời sau 75, ở miền Nam nghe loáng thoáng người ta nhắc hai câu thơ của ai đó – ai mà biết ai, mà có lỡ ai biết thì có đường tác giả đi cải tạo mút mùa – mà hổng chừng cũng đã biệt tăm mất dạng hồi nào trong cái mê cung tẩy nảo chỉ có đường vô không có đường ra. Thơ, thơ lắm chớ. Mà không ai nhận –ai mà dám nhận – đành bỏ làm thơ hoang !  Đôi dép râu buộc chặt đời trai trẻ. Nón tai bèo che kín cả tương lai.
À thì ra vậy. 


Có lúc cái đám bộ-đội-tình-nguyện-xung-phong đi B hay cái đám du-kích- khăn-rằn cũng hơi hơi hay xém xém lao chao chút đỉnh. Nhưng rồi đường lối chỉ đạo vừa sâu vừa sát vừa át vừa ép nên cả đạo quân viễn chinh vẫn tỏ lộ trên dưới một lòng, cả ngày cả đêm khăng khăng nói quyết tới cái chuyện ôm-bom-ba-càng hay lấp-lổ-châu-mai ... bất kể cha già mẹ yếu vợ dại con thơ, phó mặc nhân tình nhân ngải cho Bác lo, bỏ xó nhà cửa ruộng vườn cho Đảng ôm trọn... miễn sao chiếm cho được cái vựa lúa miền Nam để có ngày dưng cho quan thầy phương Bắc, thành ra rốt lại cả mấy chục năm ròng rã đóng chốt trên chiến trường miền Nam không nghe ra được nửa tiếng thơ nhân ái ...

Tại vậy làm sao không vẽ rắn thêm chân cho đành, những  bài thơ được làm ở miền Nam trong một thời chiến trận mịt mù mà hồn thơ không vướng víu chút mảy may thù hận.
Hãy thử đọc lại coi. 

Có phải câu hỏi của Tô Thùy Yên trong bài Chiều trên phá Tam Giang vẫn mãi là ngón tay tra vấn gỏ hoài lên tấm cửa định mệnh cứ đóng bít bùng

 

                                                                                                                Nghĩ cho cùng, nghĩ cho cùng
                                                                                                Ví dầu các việc ngươi làm, các việc ta làm
                                                                                                                             Có cùng gom góp lại
                                                                                                     Mặt đất này đổi khác được bao nhiêu
 

 

Câu hỏi đẩy sự bất lực của bậc vương-tôn-miền-trí-tuệ đến chỗ cực cùng trước nỗi hung hãn bất kể của thiên-địa-bất-nhân. Hay chính là lời tán thán ai oán của kẻ sĩ  trước thứ bạo lực mù quáng của Ác tính đội lốt con người. 

Đọc lại nữa coi, Nguyễn Bắc Sơn, kẻ-sĩ-xuân-thu đầu thai nhầm lúc nên đi đánh giặc mà như đi rong thuyết khách, giận-đời-ghê-những-bàn-tay-bẩn-đưa-đẩy-ngươi-trong-cát-bụi-mù. Làm sao, làm sao giữa thời buổi bom đạn hỗn mang và lòng người nhiễm độc đó mà thơ thoát ra, lau lách như khói hương và hiền lành như tâm Phật

 

                                                                                                        Một ngày chúa nhật phơi giày trận
                                                                                                             Ta bỗng tìm ra một vết thương
                                                                                                           Vết thương bàng bạc như là khói
                                                                                                           Ngưng đọng nhà ai ở cuối đường
                                                                                                                                                    NBS

 

Vết-thương-như-là-khói.  Ẩn dụ bao nhiêu, bao dung bấy nhiêu. Vết thương không còn là dấu tích của thù hận. Vết thương thành khói bay đi phải chăng chính là niềm ao ước xóa bỏ hận thù ngay từ lúc hận thù còn được tận dụng như  vũ khí của chiến tranh. Ước vọng đó có thật trong lòng người miền Nam ngay trước khi bại trận. Phải chi lịch sử đổi ngược lại chắc khỏi phải kêu rêu ra rả tới bây giờ. 

Kêu ra rả tới bây giờ như tiếng quạ gọi âm hồn dội động u u giữa vòm đêm lịch sử mà vẫn không xóa được nỗi oan khiên của một dân tộc bị lường gạt.

                                                                                                                        Lũ quạ trốn đi từ dạo ấy
                                                                                                            Để giờ đây kêu động rừng phong
                                                                                                          Quạ gọi bầy tháng năm tháng bảy
                                                                                                          Sao ta gọi bầy thăm thẳm mù tăm
                                                                                                                                                     THT

 

Làm thơ là đem tấm lòng thiên cổ đọ với nhân gian. Thì sá chi chuyện chim sẻ mà làm bợn lòng hồng hộc.

 

Chiến tranh dẫu ba mươi, năm mươi năm vẫn là giai đoạn. Đánh giặc là chuyện đoản kỳ. Làm thơ mới là chuyện mai hậu. Sống trong thời buổi chiến tranh, làm thơ hẵn không tránh khỏi lòng thòng phe kia phái nọ. 
Mà điều để cho thơ mang tiếng bất nhân âu cũng là điều bất nhân lắm vậy. 

Cũng may, ngay trong thời súng đạn, còn có những bài thơ làm với mấy tấm lòng đã sống vượt qua cái thời giặc giã. 

 

 Cao vị khanh

* Thơ văn chỉ là phù hoa. Chớ cái biển oan khiên của người bại trận có tát đến ... khuya cũng không cạn được giọt nào! 

 

____________________________
 

 

 

 

 

 

 

lục bát cao vi khanh__________________

VÌ EM, LỤC BÁT SỤT SÙI

VÌ EM, LỤC BÁT DẬP VÙI BIỀN DÂU

 

ĐẠO NGỘ GIỮA ĐƯỜNG

Chào em conm ắt người dưng

Con tim ngoan cố rưng rưng ngươi tình

Con đường trở chứng điêu linh

Tình in như có mà hình như không.

 

CÕI TRONG

Ơi nhân gian, cõi vô cùng

Trống trơn cõi có, bít bùng cõi không

Trong ta cõi đặc chập chùng

Trong em, khe hở, cõi chung, não nùng.

 

VỊ TÌNH

Giùm anh nếm chút miếng ngon

So đôi đủa lẻ môi còn rượng môi

Miếng buồn trộn với miếng vui

Chấm thêm miếng nhớ nuốt trôi vị tình

 

YÊU CHẾT

Mốt mai mắt lệ có đầ y

Con tim xây xát có trầy trật yêu

Ruột đau c ó đứt chín chiề u

Người ơi nối sợi tơ điều, buộc thêm

 

THƯ GIẢN

Ví dầu thư giản, thảng dư

Gặp nhau trong cõi cộng trừ tử sinh

Thì xin chia cái thình lình

Để trăm năm khỏi giựt mình, tủi thân.

 

TÌNH HỜ

Xa nhau chăn chiếu lạnh giường

Tay trơn lạnh nhớ, mình suông lạnh thèm

Đau tình, trăng bệnh, buồn thêm

Thơ đau kêu tiếng, thịt mềm đau im

Lập lờ ngọn sáp đau chìm

Phần em, em giữ. Tôi ghìm phận tôi.

Tình hờ, đau nỗi chẻ đôi! *

 

Lục bát để lại cho em

L à thơ? Hay chỉ ... từng đêm ngậm ngùi!

C A O V Ị K H A N H

 

VÍ DẦU, LỤC BÁT ..

CÂU SẦU

Nửa trăng, gối chiếc gợi hình

Nghiêng vai gợi nhớ, trở mình gợi nhau

Tóc mai gợi mấy câu sầu

ăn-cơm-chẳng-đặng-ăn -trầu-giải-khuây *

 

TÓC MAI

Vẻ duyên thì cũng một thời

Chính chuyên thì cũng một đời, chiêm bao

Câu vui ai đổi câu sầu

Áo xưa còn nhớ qua - cầu -gió -bay

Ví dầu em chốn trang đài

Cũng xin mấy sợi tóc-mai-vắn-dài

Lỡ sau trínhớ tàn phai

Cũng còn biết chỗ thương -hoài-ngàn -năm *

 

* ca dao

 

ƠN EM

Ơn em ngọt suối ngọt đồi

Ngọt sông, ngọt nước, ngọt trời biển tôi

Ngọt ngày tháng đã mù khơi

Ngọt sầu hận cũ, ngọt lời oán than

Ngọt niềm lo, nỗi hoang mang

Ngọt chia cách, ngọt tình lang mỏi m òn

Ơn em, ngọt xớt môi son .

 

RU EM

Trong ta, em ngủ giấc nồng

Trong ta, bờ bến không cùng đâu em

Trong ta cỏ mịn nhung mềm

Trong ta rả thịt lót êm chỗ nằm

Trong ta còn giọt lệ câm

Từ thiên cổ lụy lâm râm mưa về

Này em, tim dựa gần kề

Ngủ ngoan đi nhé, ta lê cuộc đời .

 

KIM CHỈ

Tay em xe sợi chỉ điều

Sợi phăng mối cũ, sợi lần gút xa

Sợi cào thịt, sợi xước da

Sợi đau rối chỉ, sợi tà mũi kim

Sợi nào xỏ cũng luồn tim .

 

KÝ THÁC

Ví dầu lục b át lao xao

Gởi cho em, giữ bể dâu chuyện mình

Rủi mai, lỡ có làm thinh

Xa nhau còn biết chỗ mình … chiêm bao!

 C A O V Ị K H A N H

 

CHỖ TRĂM NĂM ĐỌNG NỬA TA ... NỬA MÌNH

RỦ

Mời anh sông núi suối nguồn

Rong chơi cuối bải đầu cồn thiết tha

Đi về những chỗ lá hoa

Chỗ trăm năm đọng, nửa ta nửa mình.

 

DỤ

Như trời dụ đất ra cây

Như trăng dụ gió, như mây dụ mùa

Như sương dụ nắng về mưa

Như anh dụ bướm về đùa quanh em .

 

YÊU CHẾT

Cho nhau tới cái tận cùng

Cho nhau quá cái não nùng thịt da

Cho nhau từ cái xuýt xoa

C ái rên rỉ, cái h ít hà bậm môi

Cho nhau từ giọt mồ hôi

C ái xuôi thuận thảo, cái trồ̀̀̀i ngược ngang

Cái cong nhánh liễu sẽ sàng

Cái sâu thấu tận, cái ràn rụa đau

Cái vật vã của tình sầ̀̀̀ u

Nửa trong -nước - mắt, nửa ngầu - đục -mê .

 

TAN CHẢY

 Đã trong nhau, đến sát cùng

Đã tận tuyệt đến vở bùng trăng sao

Đã siết chặt đến nghẹn ngà o

Đã tan thành nước chảy vào thiên thu.

 

SỢ

Rờ tay em cái sợ mòn

Ướm môi em cái sợ son phai hường

Yêu em sợ nát chiếu giường

Không yêu bỏ cái vô thường, tội ghê!

 

CÕI TÌNH

Trăm năm trong cõi lộn vòng

Kẻ xuôi người ngược phập phồng xôn xao

Trăm năm trăm cách lộn vèo

Cách nào cũng chỉ nôn nao một gò!

C A O V Ị K H A N H

____________________________

CÓ MỘT THỜI THỦ ĐỨC

        Thơ Trần Bang Thạch & Cao Vị Khanh                                     

cvk_giaysaut.JPG

trần bang thạch

VIẾT TỪ KBC 4100

THƯ CHO HỌC TRÒ Ở CHÂU ĐỐC

Thanh gươm cật ngựa lên đồi

Từ đây thầy đã thành người đao cung

Những đêm ứng chiến mịt mùng

Mưa Tăng Nhơn, nhớ nước nguồn Thất Sơn

 

THƯ CHO VỢ CON Ở CẦN THƠ

Một mai trả súng lại đời

Ta về ngủ thiếp bên người tình chung

Bên ta con ngủ an lành

Bên ta vợ bỗng trở mình, gọi : Anh

 

THƯ CHO SƠN Ở HỘI AN

Mầy còn ở đó không Sơn

Mả mồ mày chắc cỏ non úa vàng?

Tao ngồi đây giữa chiều tàn

Nhìn quanh quanh thấy hàng hàng mộ bia!

 

THƯ CHO NGƯỜI TÌNH PHỤ Ở ĐẠI HỌC XÁ TRẦN QUÍ CÁP

Con đường còn xanh lá me

Em còn kẹp tóc còn che dù điều

Trời còn làm gió hắt hiu

Ta còn ngồi nhớ thật nhiều dáng em

 

T R Ầ N B A N G T H Ạ C H

cvk_ThuDuc.JPG

cao vị khanh

CHÀO THỦ ĐỨC

 

Theo mưa Thủ Đức ta về

Chào Tăng Nhơn Phú chào bè bạn xưa

Chào hàng bã đậu, lá thưa

Chào nắng ngày lửa, chào mưa đêm mù

Chào ba-lẻ-một, cơm tù

Theo em nhảy phố đền bù trúc mai

Ngôn-ngữ-tình, dấu-đôi-tay (*)

Lời yêu chưa kịp đã ngầy ngật xa

Chào ly rượu nếp bê tha

Bốn giờ sáng đứng la đà điểm danh

Chào Phú Nhuận chào Hàng Xanh

Chào chị-em-mới chào anh-dẫn-đường

Chào tuổi trẻ, đường chiến binh

Chào mày-đã-chết-mà-tình-còn-đây

 .............................

Chào Thủ Đức, cuối chân mây

Chào nhau con mắt ... đã lầy vết thương

Chào sỏi đá vũ đình trường

Chào hồn sông núi còn vương ... nỗi niềm

 

C A O V Ị K H A N H

(*) Chữ Trúc Phương

_________________________-

CVK_RachGia.JPG
NguyetMai_Tavenhinlai.JPG

Thơ Cao Vị Khanh - Trần Thị Nguyệt Mai              

 

RẠCH GIÁ

 

Nếu có lần người về qua Rạch Gíá

Ghé giùm tôi dãy phố cũ sậm màu

Bước giùm tôi hè đá lở thấp cao

Dẫm lại nhịp bước xuân thời phiêu lãng?

 

Có một thuở trời miền Nam rực nắng

Áo dài bay thổi gió suốt lòng trai

Tuổi đương thì hừng hực tưởng chừng say

Áo phanh ngực hứng đầy hương gió bạn

 

Nếu có lần người về qua Bến Cảng

Tìm giùm tôi chiếc cầu đá vẹo xiêu

Ngồi giùm tôi góc quán nhỏ vắng thiu

Còn vết khắc tên người xưa bạc phận?

 

Nếu có dịp người về qua một bận

Ghé giùm tôi ngôi trường cũ xanh rêu

Nhìn giùm tôi hàng khuynh diệp liêu xiêu

Có sót dấu chim bầy xưa, tứ tán?

 

Thương quá đỗi bóng mùa đi lãng đãng

Chút nắng vàng, chút khói nhẹ, chút sương bay

Chút gì say hong má đỏ hây hây

Nghe trong gió có chút gì lãng vãng

 

Ôi thương nhớ lúc năm cùng tháng tận

Lạnh xóm nghèo ngõ hẹp tối buồn hiu

Ngọn đèn treo không đủ ấm cơm chiều

Nghe áo mỏng nhắc chừng cơn bấc hẹn

 

Người có về xin cho tôi được nhắn

Cho gởi lời thương nhớ dẫu xa xôi

Góc đường quen phố thuộc, nửa môi cười

Và chút gió gợn tóc ai nhuộm nắng

 

Nếu người về lỡ ai tìm hỏi bạn

Cho gởi lời tạ lỗi dẫu muộn màng

Chén trà khuya, hơi thuốc đẫm thâm ân

Và tay chuốc rượu nồng đâu đã cạn

 

Người có nhắn, chắc chỉ toàn u ẩn!

Bao nhiêu sông, ngàn con nước chìm sâu.

Có ai còn ngồi khóc dưới chân cầu

Đời đã muộn cho những lòng lận đận!

 

C A O V Ị K H A N H

________________________

TA VỀ NHÌN LẠI

Kính tặng anh Trần Bang Thạch

 

Ta về nhìn lại muôn nơi

chẳng còn đâu nữa bóng người ngày xưa

khuất xa mấy nẻo đò đưa

sông buồn bến lặng nắng mưa vỗ về...

 

T R Ầ N T H Ị N G U Y Ệ T M A I

______________________

CVK_TuyButThangTu.JPG

Giả sử bắt chước Thanh Tịnh ...

... Hằng năm cứ vào cuối thu, khi lá ngoài đường rụng nhiều và trên không có những đám mây bàng bạc, lòng tôi lại nao nức những kỷ niệm hoang mang của  buổi tựu trường ...

mà viết lại ...

... Hằng năm cứ vào đầu xuân khi lá ngoài đường trổ xanh và trên không bỗng bay về những bầy chim trốn tuyết, lòng tôi lại xốn xang những kỷ niệm bàng hoàng của buổi tan trường ... năm đó.

 

Nghĩ ra mà thấy ông Thanh Tịnh may mắn hơn chúng ta. Ông giữ lại mãi trong trí nhớ ông hình ảnh một kỷ niệm ôi-thương-làm-sao của buổi tựu trường đầu tiên trong đời. Đứa bé lên năm lên bảy, tóc tai chẻ thẳng đường ngôi, quần áo tươm tất hơn mọi khi, vai đeo cặp hay tay cầm sách vở, tay nắm tay mẹ hay cha, đi những bước chân nhún nhảy như chim sẻ, buổi sáng đầu tiên đi học. Có thể nó sẽ học đến nơi đến chốn. Có thể không, lở dở nửa chừng. Nhưng hề gì, điều quan trọng là nó đã được sống thứ giờ khắc hiếm hoi mà người ta chỉ bắt gặp một lần trong một đời. Y như Thanh Tịnh đã viết thêm. Con đường này tôi đã đi lại lắm lần nhưng lần này tôi thấy lạ. Và ông khẳng định ngon ơ. Thấy lạ vì ... Tôi đi học. 

 

Ờ có những chuyện người ta hay quên. Cũng như có những chuyện người ta cứ nhớ ... Nhớ, quên là những thuộc tính tiên thiên của con người. Có điều người ta có thể chọn lựa giữa nhớ hay quên hay cũng chỉ là những ngẫu nhiên như những tình cờ ngẫu nhỉ, nói theo điệu ông Bùi Giáng. 

 

Vậy đó, có những chuyện muốn nhớ lại cứ quên. Ngược lại, nhiều chuyện đáng quên lại cứ nhớ.

... Hằng năm cứ vào đầu xuân khi lá ngoài đường trổ xanh và trên không bỗng bay về những bầy chim trốn tuyết, lòng tôi lại xốn xang những kỷ niệm bàng hoàng của một ngày tháng tư ... năm đó.

Dĩ nhiên, chuyện đáng quên mà cứ nhớ của tôi hay của hằng triệu người miền Nam Việt Nam vốn dĩ là những kỷ niệm nhuộm đầy máu và nước mắt và uất hận. Máu thì đóng vảy rồi tróc mất. Nước mắt khóc cho cùng rồi cũng cạn khô. Sao lòng ta vẫn cứ tức tưởi như u ẩn hoài một oan ức không thôi. Chuyện xảy ra, đã 46 năm, thêm ba bốn năm nữa là đã trọn một nửa vòng thế kỷ. Nếu được đúc khuôn thành tượng đồng kỷ niệm, hẵn đã đóng mờ không biết bao nhiêu là lớp bụi thời gian. Khổ nổi, muốn gói lại, giấu kín, chôn sâu mà sao lại cứ y như Tú Xương khi con sông Nam Định ở quê ông bị lấp kín, cứ đêm nghe hoài ... tiếng ếch bên tai, giật mình lại tưởng tiếng ai gọi đò. 

Chuyện con sông với cái bến đò nào đó, một khi bị dẹp bỏ, đâu phải chỉ có riêng ông là chịu thiệt thòi. Hẵn, bao nhiêu người qua lại mỗi ngày, ai chắc cũng có đôi điều tưởng tiếc. Nhưng đôi ba ngày, đôi ba tháng ... rồi thôi. Sao riêng ông, ông cứ thấy ngậm ngùi !

Tại người hay tại mình cứ chuốc lấy cho mình mọi điều phiền não. Chuyện đất nước, tai họa là tai họa chung. Ai nấy đều có phần. Hẵn nhiên chia đều cũng là điều không tưởng. Tuy nhiên, sao lại giành chịu cái phận hẩm hiu. 

 

Những năm 80, khi mới bỏ xứ trôi dạt tới xứ người, tình cờ đọc được đâu đó mấy câu thơ của Thanh Nam, người văn thi sĩ vốn là tay phong lưu tài tử một thời, cũng đã bỏ Sài-gòn và đang lưu lạc đâu đó trên dãy lục địa mênh mông ...

 

Biền biệt thời gian mòn mõi đợi

Rối bời tâm sự tuyết đan tơ

Một năm người có mười hai tháng 

Ta chỉ năm dài một tháng tư (*)

 

Đọc thơ người mà lấy làm cảm thán phận mình. Nhưng rồi lại nghĩ đó là ... thơ. Mà thơ thì đôi khi hay bốc lên như khi diều gặp gió. Người làm thơ lắm khi vì vần điệu, đôi khi chữ nghĩa lại ra tuồng ẩn dụ ... nhiều khi ý tại ngôn ngoại ... v.v... và v.v... Nghĩ vậy rồi thôi. Rồi chúi đầu vọc tay vào ba cái chuyện kiếm miếng ăn mà ... tìm quên. Nhưng không. Không !

Không phải vậy. Ông Thanh Nam làm thơ mà nói thiệt. Ta-chỉ-năm-dài-một-tháng-tư.

 

Một năm qua. Hai năm qua. Ba ... Bốn ...

Mỗi cái tết tha hương đến, lòng lại nhớ cha, nhớ mẹ, nhớ anh em ruột thịt, nhớ lan đến cả bè bạn thân sơ. Nhớ mùi hương khói đêm ba mươi trừ tịch, cả nhà quây quần cúng rước ông bà. Mà riết rồi cũng chẳng phải đợi đến tết nhứt. Bữa nào cũng nhớ. Đi chợ tây lại nhớ phố xá thứ bảy chiều Lê Lợ̣i. Húp miếng súp đậu lợn cợn thịt thà lại nhớ phở Pasteur. Gặm miếng pizza mà nhớ khúc bánh mì thịt nguội Dakao thay bữa cơm cuối tháng. Táo tây, nho Mỹ, cam Maroc, khóm Mễ Tây Cơ ... gì cũng mặc. Cắn miếng nào nhớ miếng nấy. Từ miếng khóm ngọt lịm khi xe qua cầu Bến Lức tới giỏ mận hồng đào khi đợi phà Mỹ Thuận qua sông. Nhớ hơi nồng ly rượu đế Đường Xuồng đưa cay bằng hớp canh chua cá bông lau Rạch Giá ... Nhớ thê nhớ thiết nhớ riết rồi quanh đi quẩn lại nhớ thơ Thanh Nam. Ơi hởi quê hương bè bạn cũ. Những ai còn ai mất giữa sa mù. Mất nhau từ buổi tàn xuân đó. Không một tin nhà một cánh thư (*). Rồi chém chết cũng lại Một năm người có mười hai tháng. Ta chỉ năm dài một tháng tư (*) !!!

 

Mỗi tháng qua, cộng trừ nhơn chia, chuyện vui, chuyện buồn, chuyện xăng nhớt thịt cá, cà-phê thuốc lá, văn thơ phim ảnh, thuế má v.v... và v.v ... , tính tới tính lui, cái còn lại, cái còn lại là một khoảng trống không bờ không bến, rộng đến bơ vơ, cái còn lại là một sự hụt hẩng triền miên năm này qua năm khác. Là ...công cha nghĩa mẹ ơn thầy, phố đêm Lê Lợi đường ngày Tự Do, là bến nước cầu ao, là bụi tre khẳng khiu gốc chuối xơ xác, là lộ đá khấp khểnh cầu khỉ lêu khêu ...  là ... là ... Y như người thi sĩ dày dạn phong trần đã nói ... Ta chỉ năm dài một tháng tư !!! Y chang. Đúng phóc. 

Xa quê rồi là thiếu mọi thứ mọi điều. Mà nguyên nhân rốt lại cũng chỉ từ một tháng tư. Tháng tư, năm đó !

Tháng tư vì vậy trong câu thơ không còn để gọi ngày kêu tháng, tháng tư ở đây là biểu hiện của một sự mất mát thường xuyên, một sự thất thoát miên trường. Hóa ra câu thơ là một lời tiên tri thấu thị. Ta chỉ năm dài một tháng tư. Hóa ra tháng tư là biểu hiện của một thứ hố-đen thăm thẳm, đã hút mất dìm sâu trong đó tất cả Sài-gòn, Huế, Nha Trang, Quảng Nam, Quảng Ngải, Phan Thiết, Phan Rang, Mỹ Tho, Vĩnh Long, Cần Thơ, Sa Đéc, Rạch Giá, Cà Mau ... đã lấp kín vùi sâu trong đó hết mọi nơi chốn ta đã sanh ra, đã lớn lên trong tay cha mẹ bế bồng, đã trưởng thành với ruộng lúa trổ đòng đòng, với tép tôm thịt cá ê hề, với gói xôi lá cẩm, viên chè xôi nước, ơ cá kho khô, dĩa tép rang muối ... với lễ phép dạ-thưa, kính trên nhường dưới, với lời căn dặn lá-lành-đùm-lá-rách, với câu ca dao ngọt xớt, bài vọng cỗ mùi rệu, điệu hát huê tình mộc mạc mà lẳng lơ hết mức lẫn trong tiếng ầu ơ êm ái như tiếng lá tre xao xác ngoài hiên ... Còn nữa, còn cả một nền giáo dục nhân bản và khai phóng, dù chưa hẵn là hoàn mỹ, vẫn đủ chắp cánh cho tuổi trẻ miền Nam bay suốt những vùng trời kỳ ảo mà nhân loại đã nối tay khai mở, chẳng bù với lớp tuổi đồng lứa ở phía Bắc, bị bịt tai che mắt suốt hơn hai mươi mấy năm trời ... Còn nụ hôn đầu vụng về lén lút, núp sau gốc me già ... Còn nữa ... Còn mớ sách vở từ ông bà rồi cha mẹ để lại mà trên từng trang giấy in đầy chữ nghĩa như thêu hoa kết bướm, chắt lọc từ bao nhiêu tinh hoa của dân tộc, sau bao nhiêu thăng trầm của lịch sử... Mà làm sao kể hết, làm sao tính hết những của cải vật chất và tinh thần bị cướp giựt ngay từ khi giặc mới tràn về. Rồi làm sao nhớ hết những bỏ quên, những mất mát, những rơi rớt dọc theo bao dặm đường lưu lạc ... kể từ sau cái tháng tư quái ác như trận nổ hồng hoang, xóa sạch hết mọi truyền thống nghĩa nhân từ thuở 18 đời vua Hùng lập quốc ... 

 

Và cứ như vậy, năm này qua năm khác. Năm khác nữa ...

 

Tháng tư như một vết sẹo gần

Tưởng quên rồi lại bồi hồi nhớ

Khi máu trong tim vụt trở trăn ...

 

Không phải không muốn quên mà sao cứ nhớ. Nhớ đêm thứ ba 29 tháng 4 còn ngủ vật vờ trong góc lớp trường xưa. Sáng thứ tư, ngày 30 bật dậy đời đã quay ngược, lộn đầu lộn đuôi, tốt hóa xấu, đúng thành sai, phải thành trái ... Mọi chuyện y như một vở bi hài kịch mà tên đạo diển bất tài, bất lực bỏ mặc cho đào kép sắm tuồng tùy tiện.

Không phải không muốn quên mà sao cứ nhớ. Nhớ phố xá bỗng đỏ lờm cờ máu, loa phóng thanh eo éo, kêu réo ỏm tỏi như quảng cáo cao đơn hoàn tán của mấy gánh sơn đông mãi võ, súng dài súng ngắn, nghễnh ngãng đầu đường xó chợ rồi chui tuốt vô nhà dân bất kể giàu nghèo sang hèn, thầy chú hay khố rách áo ôm ...

Không phải không muốn quên mà sao cứ nhớ. Trọn bộ một nền văn hóa gia-tài-của-mẹ bị tom góp, hốt chụp tống lên xe cây đem chụm cho lửa-cách-mạng cháy phừng phừng. Hay để xứng đáng là đỉnh-cao-trí-tuệ bèn hè nhau chia chác cân ký bán ra chợ đời gói cá gói thịt ...

Không phải không muốn quên mà sao cứ nhớ. Nhớ những trại tù mọc lên như nấm dại. Nhớ bàn tay trần rướm máu cào đất xẻ kinh. Nhớ đôi vai trần thay trâu thay bò kéo cày kéo trục. Nhớ những cơn bệnh ngặt nghèo không một viên thuốc đỡ đần. Nhớ những rào kẻm gai vắt vẻo xác người tù trẻ ...

Không phải không muốn quên mà sao cứ nhớ. Nhớ sự nhỏ nhen hèn mạt của lũ người cùng máu đỏ da vàng, nuôi căm thù lẫn với ganh tị đem trút lên đồng chủng đã buông súng vì một lời hứa hẹn ... hòa bình. 

Nhớ bao nhiêu nữa cho vừa, những thứ chẳng có gì đáng nhớ.

.........

.........

Ờ mà cái bộ nhớ kỳ cục, toàn làm chuyện trái cựa. Chuyện ép nhớ thì không. Chuyện không nên thì nhớ. Y như lúc trong trại tù cải tạo. Người ta lặn lội từ Bắc vô Nam, dạy dỗ o ép đủ kiểu đủ cách, lắm khi hăm he hù dọa trói-tay-còng-chân-nhốt-conex đủ trò, cốt để biểu quên cho được cái đạo-làm-người, nhớ cho kỹ mấy lời bác-hồ-dạy ... mà cái đầu cứ trơ trơ ra như gỗ đá. Quản giáo ngồi chồm hổm trên ghế đẩu, gân cổ như con két ba điều bốn chuyện về ba-giòng-thác-cách-mạng đang làm nổ tung quả địa cầu mà cái đầu mình thì cứ hết so đo với Đem Tâm Tình Viết Lịch Sử của Nguyễn Mạnh Côn, rồi lại quay qua lơ mơ với Mười Đêm Ngà Ngọc của Mai Thảo. Kỳ thiệt há. 

Chắc tại vậy mà bốn mươi sáu năm rồi, chuyện cũ cứ y nguyên không chịu mờ đi một nét, dù thiệt tình có muốn nhớ làm chi.  Cứ y nguyên nỗi phẫn hận vì sự bội phản của đồng minh. Cứ y nguyên nỗi ê chề của thân phận nhược tiểu. Cứ y nguyên niềm uất ức vì sự nhẹ dạ của hai mươi mấy triệu người cùng một lúc đút đầu vào thòng lọng. Cứ y nguyên sự hổ thẹn của một kẻ thất phu suốt mấy năm trời gần như đứng bên lề cuộc chiến, cứ an nhiên trèo lên bục giảng để ê a mấy cái chuyện trên trời dưới đất trong khi súng đạn, mã tấu, dao găm, mìn bẫy tù ngục ... đang kề sát tận cổ. Cứ y nguyên hình ảnh thịt xương máu me be bét của bầy em nhỏ trường tiểu học Cai Lậy, sáng sớm đến trường lảnh nguyên mấy trái đạn súng cối của đám du kích bắn xong rồi bỏ chạy. Cứ y nguyên con đường quốc lộ số 1 -đại lộ kinh hoàng- từng đám dân miền Trung khốn khổ, dắt díu nhau tay ẳm tay bồng, chạy trối chết xuôi Nam trong khi pháo chùm pháo chụp của những người lính Bắc Việt nả trên đầu họ từng tràng đạn bất kể. Cứ y nguyên hình ảnh người mẹ chạy giặc, cứ mãi miết đút vú cho con bú móm khi đứa con xác đã lạnh từ hồi nào. Cứ y nguyên ... Cứ y nguyên ... Y nguyên ...

 

Thiên hạ đã bỏ công đếm tới đếm lui số người chết vì bom đạn trong suốt cuộc chiến bắt đầu ngay khi chữ ký hòa bình chưa khô mực ở Genève năm 1954. Người ta cũng bỏ lòng tính số người chết mất xác trên biển từ năm 1975 sau khi chữ ký hòa bình còn mới nguyên ở Paris năm 1973. Cộng trừ nhơn chia san qua sớt lại đã có đáng đủ chưa để dựng lên một đất nước kỳ quái như hôm nay mà nhân phẩm của con người bị coi như đồ xa xỉ, mà quyền sống của con người như món hàng mặc cả theo lợi lộc riêng tư của đám quyền thế, mà nhà cửa ruộng vườn của con dân bị cướp giựt bất kể tiếng kêu gào khóc lóc như mưa, mà sông hồ ao biển của tổ tiên dày công gầy dựng bằng mấy ngàn năm xương máu bị ngoại bang lấn chiếm mà chẳng dám một tiếng kêu ca ... Mà ... Mà ... !!!!!!

 

Vậy đó biểu làm sao quên, biểu làm sao không nhớ ngày đó tháng đó, làm sao không nguyền rủa cái chuyện bày trò xương máu, giành giựt cho được mảnh đất quê mẹ vốn đã rách bươm để rồi thẳng tay cấu xé, chia chác, thẳng chân chà đạp, dày xéo cho tới nỗi mang danh là một quốc gia độc lập mà thiệt tình nếu gọi là độc ... địa chắc chẳng sai chút nào. Nhất là cái điều mà không có một thống kê nào kiểm chứng được, đó là cái hồn tính dân tộc thể hiện trong từng tiếng dạ- thưa nề nếp, từng nếp văn hóa cổ truyền của một dân tộc đã chọn nhân nghĩa làm đầu, từng dấu phẩy dấu chấm trong câu văn câu nói đã thành tựu sau bao nhiêu vật vã thăng trầm, đến lối sống giản dị, chân thành, nặng tính cưu mang của xóm giềng lan rộng ra khuôn phép đạo đức ngoài xả hội ... thử xét lại có còn phải là khuôn mẫu Việt Nam !

 

Cỡ này, lắm khi do vô tình hay sẩy tay bấm nút, thấy trên màn hình những tòa nhà cao ngất ngưởng, những đường xá người qua kẻ lại chen lấn với xe cộ dập dìu, những quần áo lụa là kiểu cách tới độ hổng chừng đào kép ci-nê bên Tây bên Mỹ cũng nghệch mặt chào thua ... xen lẫn với cách nói năng dẫu bằng chính thứ tiếng mẹ đẻ mà nghe ra lại ngờ ngợ như lỡ trệch đường vào một xứ nào lạ hoắc ! 

 

Sự giàu có của một quốc gia có chỉ tính trên nhà lầu chục từng, đường lộ chi chít, tượng đài ngàn tỷ, những con số thống kê ngụy tạo, những kế hoạch, báo cáo, chỉ tiêu đọc lên nghe dòn tan như bắp rang ... hay là chính trên niềm tin và hy vọng vào tương lai của từng người dân và sự phân bổ đồng đều khả năng thực hiện hy vọng và niềm tin đó của từng cá nhân ? (**) .Hỏi, nhưng câu trả lời hẵn đã nằm sẵn trong mỗi tình cảnh hẩm hiu của đám dân đen bị dồn ra bên lề của con đường tiến lên thứ chủ nghĩa xả hội quái đản mà đám cầm quyền và bè đảng vẫn ra rả rêu rao.

 

Bởi vậy, 46 năm rồi, sao không quên đi cho thư thả. Lịch sử nhân loại cũng đã thay trang không biết bao nhiêu lần. Hiền nhân cứ hay khuyên bảo phải biết chấp nhận. Nhất là để cho yên ổn chính lòng mình. Được không ? Bỗng nhiên mang máng nhớ câu nói của một ông tây nào đó. Đại khái người ta có thể xóa dấu một tội ác, nhưng không bao giờ xóa sạch được vết tích tội ác đó trong trí nhớ của con người.(***)

 

Phải vậy không ? 

Sẽ đến một ngày, mọi lấp liếm rồi sẽ bị phơi trần dưới ánh sáng của công tâm. Như mặt trời làm tan hết mọi lớp băng, khi mùa xuân trở lại.

 

Ôi, tháng tư ...

 

Cao vị khanh

 

(*) Thơ xuân đất khách- Thanh Nam 

(**) Kinh tế gia người Ấn đoạt giải Nobel năm 1998 là Amartya Sen. Một cách tổng quát, Sen chủ trương đời sống của người dân không đo lường bằng tài sản mà bằng bất bình đẳng (inégalité) và khả năng hành động (capabilité). Một quốc gia, dù cho giàu có, phong phú tài nguyên mà người dân vẫn cảm nhận nghèo khổ, thiếu thốn, nếu sống trong một môi trường bất bình đẳng, bất an. Trái lại người dân một quốc gia kém tài nguyên mà vẫn có thể hưởng được một cuộc sống khả quan nếu chính phủ biết sử dụng khéo léo tài nguyên và nhân lực.

(***) -JF Sliwinski "Pardonner c'est pouvoir cicatriser une plaie mais la cicatrice ne s' oublie jamais car on la voit chaque jour sur son âme"  Tạm dịch : Tha thứ, là làm lành một vết thương nhưng vết sẹo còn đó mãi mãi vì người ta thấy nó hằng ngày trong lòng mình.

___________________________________________

CVK_Nguoibanvongnien_PHV.JPG

Tháng 6 năm 1970 khi tôi xếp bút nghiên để sửa soạn cầm thước gỏ thì anh đã gỏ-đầu-trẻ đâu đó lâu lắm rồi. Nếu xếp về thứ bậc và tuổi tác, hổng chừng tôi phải gọi anh là thầy nữa là khác. Anh ra trường dạy dỗ đã lâu, có lúc nghe nói đã từng leo lên leo xuống mấy con dốc mà có lần nhà thơ Vũ Hữu Định đã kể lể ... phố núi cao phố núi đầy sương, anh khách lạ đi lên đi xuống .... Học trò cũ của anh có người tròm trèm tuổi tôi. Vậy mà hổng biết sao, ngay khi vừa gặp nhau, ngay giữa chỗ mà người ta thường nghiêm mặt lên giọng gọi là cửa Khổng sân Trình, giữa anh và tôi đã như quen biết lâu rồi ... Ngộ lắm.  Cái gì đó ... cũng chẳng rõ là cái gì. Chỉ biết làm như có chỗ rất tương đồng. Ngặt cái, dù kể ra là đồng nghiệp mà cái chỗ tương đồng thì chẳng ăn nhằm gì hết với cái nghiệp mà đời đã đưa đẩy chúng tôi đến gặp nhau. Dù xuất thân từ chung một lò, được dạy dỗ uốn nắn mấy năm trường gần như cùng chung một sách, vậy mà khi gặp nhau, chúng tôi lại thấy giống nhau ở cái chỗ không ... có sách nào dạy. Thời đó, từ nhà trường đến xả hội, hai cái chữ dù không được sơn son thếp vàng đóng khung treo trong đình trong miểu nhưng vẫn coi như treo lủng lẳng một cách vô hình trên đầu quí vị làm nghề ... dạy học. Từ dạy con nít mới bập bẹ i tờ tới con trẻ đã đọc ro ro chữ quốc ngữ. Dạy gì không biết, chỉ biết mỗi ngày đóng bộ vận vô ra trường lớp là phải ... mô phạm. Y như quí vị sư sải ni cô là lúc nào cũng phải chắp tay ... mô ... phật vậy đó. 

Vậy mà, vừa khi gặp nhau, chúng tôi đã nhận ra nhau ở cái chỗ hao hao đó. Kiểu như hồi xưa người ta nói ... đồng thanh tương ứng. Giống nhau ở cái chỗ không giống ai giữa cái chỗ ai cũng giống nhau. Mô ... phạm. 

 

Tôi thì mới hai mươi ba, ngựa non háu đá. Anh thì đã dầy công hãn mã, trường ốc cũng đã mấy phen chìm nổi. Tôi, dân nam-kỳ-lục tỉnh. Anh, gốc Bắc 54, nghe đâu chung khóa với ông thứ trưởng giáo dục thời đó. – người ta ở thủ đô thăng quan tiến chức nghe mà ham, còn anh thì cứ tà tà hết cao nguyên sỏi đá tới đồng bằng mé mé rừng tràm, vô ra trường giảng Kiều với lại oán khúc cung phi cho em út. Tôi gọi anh là ... anh. Anh gọi lại tôi là ... ông. “Ông” không phải tại chức cao quyền trọng, không phải tại lớn tuổi ... Gọi là “ông” vì không biết gọi là gì cho xứng hợp. Phải chi tôi quê miền Bắc thì chắc anh gọi tôi là anh như cung cách xưng hô phải đạo của người ngoài ấy. Anh Chị dù đáng tuổi em út. Đằng này, tôi người Nam, sanh đẻ chưa tới tận cùng Cà Mau nhưng cũng đã xém xém miệt dưới. Dĩ nhiên, tiếng  “ông” anh gọi tôi không kiểu cách, cũng chẳng ra điều trịnh trọng. Anh gọi tôi là  “ông”, mà lại nghe gần gũi, chiều chuộng, nam-kỳ-quốc như là gọi ... chú em vậy đó.

Ờ, thân mật lắm. Giữa anh và tôi. 

5 năm, cùng dưới một mái trường trung học, anh và tôi như hai người đồng nghiệp chí thân. Nữa ! Lại đồng nghiệp ! Không, không phải đồng nghiệp. Đồng nghiệp nghe ra ... mô phạm lắm. Nếu cần, thêm vào một chữ nữa thì không chừng ... vẹn vẽ hơn. Đồng nghiệp ... chướng ! Kiểu như Bạch Cư Dị khi bị đày xuống Giang Nam rồi tình cờ gặp nàng ca kỷ trên bến Tầm Dương mà phán rằng cùng-một-lứa-bên-trời-lận-đận-gặp-gỡ-nhau-chẳng-lọ-quen-nhau vậy đó. Chúng tôi thân nhau không phải vì cùng nghề cùng nghiệp. Chúng tôi thân nhau vì cả hai đều lăm le muốn ... phá cái rào của nghề nghiệp. Thứ rào cản người ta đặt ra cho chúng tôi như cái khuôn bánh bông lan. Bột đổ vô rồi khuôn nào ra bánh nấy. Dĩ nhiên không đến nỗi ngây ngô như cái lối bảy-bước-lên-lớp từ ngày bác-hồ vô Nam cách cái mạng dân miền Nam. Nhưng mà cũng ba điều bốn chuyện lắm. Rằng thì là làm-thầy thì phải làm gương cho học trò. Học trò thì đồng phục áo trắng quần xanh, đầu tóc phải gọn gàng, hổng hớt cua thì cũng phải bảy ba cho vén khéo. Học trò đã vậy thì thầy cũng không được để tóc ... thề phủ ót. Học trò áo sơ-mi trắng ngắn tay, thầy áo sơ-mi tay khỏi ngắn mà điều khuy nút phải cài. Dài ra dài, không có cái lối tay dài mà xăn lên cho ngắn. Đi đứng phải chửng chạc, không có cái lối ngả ngả nghiêng nghiêng. Nói năng chi phải chừng mực, đâu ra đó. Nhất là quan hệ thầy trò thì dẫu đã hạ bệ rồi cái khung quân-sư-phụ nhưng trong nhà ngoài ngõ vẫn trao tráo những cặp mắt dõi soi. Còn bài vở thì khỏi nói, chương trình biểu sao nghe vậy. Sách giáo khoa in sẵn, cứ y theo đó mà ... trả bài ! Quí vị đồng nghiệp cao niên của tôi như những tấm gương sáng bóng, cứ soi bóng mình trong gương sáng đó mà hành đạo. 

Chẳng vậy, mà mới gặp nhau, tôi với anh như hai kẻ lạc dòng, bỗng nhiên tìm ra cái bóng của chính mình, đang cùng lội lạc cái dòng mà mọi người chung quanh đang lội ... vòng vòng. Nghe đâu, những bài giảng của anh lắm khi cũng hay bốc tới cõi ... trời-trăng-mây-nước. Y như tôi, dạy Chinh Phụ Ngâm của bà Đoàn thị Điểm mà cứ lạc vô lục bát của Lê Thị Ý ngày-mai-đi-nhận-xác-chồng. Chẳng vậy mà chuyện phải đến đã đến. Chúng tôi như tìm được nhau ở cái chỗ không ai tìm đến. Bên ngoài trường lớp, những ly xây-chừng đen ngòm ở mấy cái tiệm nước của chú ba, pha đậm thêm bằng vài câu Đường Thi xa tít mù xa, vài hơi thuốc Capstan lơ lửng chút khói sương ở cái xứ mằn mặn mùi muối biển, trộn lộn với hơi giọng khàn khàn khi Lệ-Thu ngậm ngùi nắng-chia-nửa-bãi. Có khi ngồi lặng nhìn nhau nghe tin dữ từ một trận đánh đâu ở gần Miệt Thứ, những chuyển động chính trị phe nhóm ở Sài-gòn, những cò kè trả giá bốn bên hai phía ở Paris ... Rồi những chuyến rong chơi cuối tuần qua mấy khu vườn dừa, rẩy khóm ... Lắm khi xúi bẩy nhau bỏ lớp, có giang ghe xịp ghe cào tắp vô mấy hòn đảo hoang ngoài khơi ... đêm nằm trần trên những bãi cát vắng chân người, lắng nghe sóng vổ miên man vào lòng thiên cổ. Và vổ ngay vào chốn thăm thẳm của lòng mình. Rồi cùng cảm thán cái mênh mông vũ trụ, cái dằng dặc thời gian và cái vô nghĩa phận người ... từ đó, cùng tìm ra cái thân thiết vô ngôn dù tuổi tác chênh lệch. Anh thì đã vợ con đề huề, tôi thì vẫn còn ... sầu-lẻ-bóng. Mỗi lần ghé nhà, nhìn anh giữa một bầy con tíu tít, tôi cứ băn khoăn làm sao anh có thể hòa đồng được cái đầu thường vẫn lơ lửng giữa trăng sao với cái bổn phận làm chồng làm cha. Khó dữ đa. Vậy mà ngày tháng qua, anh vẫn đi lại giữa đời một cách an nhiên tự tại. Người ta có thể sống hai đời trong một kiếp ? Cạnh đó, cái khung mô phạm dựng sừng sững trước mặt, anh vẫn thản nhiên tới lui, thản nhiên không một chút e dè, nhẹ nhàng, lãng lướt không thua gì bộ pháp Lăng Ba Vi Bộ của Đoàn Dự trong Lục Mạch Thần Kiếm.

Dẫu vậy, giữa cuộc phong trần, cũng không làm sao mà không trầy trụa. Đã có lúc, với tất cả mọi bẩn chật của một xả hội đang giãy giụa giữa hai lằn đạn của một cuộc chiến tranh ý thức hệ, anh cũng không thoát khỏi những va chạm, lắm lúc dù không đổ máu, cũng không thể còn lành lặn. Tôi biết, đã có lúc anh cũng phân vân chao đảo như không ít người trí thức thời đó. Bom đạn, chết chóc trên những bản tin chiến sự hằng ngày, cùng với những tệ nạn xả hội như hậu quả tất nhiên của một thời loạn lạc ... hẵn đã có lúc cũng làm anh băn khoăn về cái vị trí của mình giữa sự dằn co của hai chủ thuyết ... Cùng lúc với những va chạm vụn vặt hằng ngày giữa một bên là kẻ nắm chức vụ có bổn phận duy trì những giáo điều của trường lớp với một bên là người cứ chực chờ phá vở cái khung hẹp đó, dẫu không cố ý. Đã nhiều lần, giữa hai giờ lên lớp, lúc nghỉ xả hơi, trong cái phòng giáo sư hẹp té, anh ném ly tách vở tung lên bốn phía tường vách. Ai hiểu được gì những dày vò trong cái đầu vốn dĩ hay lẩn quẩn giữa cõi trăng sao mà cứ bị giữ rịt lại giữa nhỏ nhoi trần thế !

Một buổi chiều thứ năm, giữa mùa học năm nào, không biết có ai còn nhớ? Anh đăng đàn, thuyết giảng thơ Phạm Thiên Thư. Cả hội trường vài trăm người gồm bạn đồng nghiệp và học trò gần như có lúc cũng mê hoảng theo cơn mê hoảng của anh, không còn là một người làm thơ nói về một người làm thơ khác, không còn là một giáo sư văn chương nói về một dòng thơ lục bát, không còn là một Phạm Huy Viên nói về Phạm Thiên Thư. Mọi thứ, có lúc như ảo hóa, buổi chiều không còn là lúc ngày sắp tắt, hội trường không còn là chỗ hợp mặt thầy trò, thơ không còn là mớ chữ sáu tám nối kết nhau theo bằng trắc ... Tất cả đã hóa thân, đã hòa nhập, đã trộn lộn ... đến độ không còn biết đâu là thật đâu là giả, đâu là thực đâu là mộng, đâu là Phạm Thiên Thư đâu là Phạm Huy Viên ... Không. Không còn cõi đời cõi mộng. Trước mặt mọi người, trong lòng trong đầu mọi người lúc đó chỉ còn một ... gã-từ-quan-lên-non-tìm-động-hoa-vàng-ngủ-say ! (*)

 

Các bạn mến ! Các em mến ! Hôm nay, một ngày đẹp trời của Rạch giá.Tôi lạnh lùng nói tới Phạm Thiên Thư. Tôi say sưa trôi về thơ Phạm Thiên Thư với ngàn con sông, ngàn ngọn suối hoa vàng bập bùng trôi trong vô thức khi thế gian còn sáng chói tình yêu. Khi thế gian toàn là mai mơ với đỉnh núi trăng vần, với vực sâu trăng té, tà áo em trăng thõng thượt và mái tóc em trăng ngủ vùi. Từ chim thuở núi xa xưa, về đây rớt lại hạt mơ cuối rừng, từ em khép nép hài xanh, về qua giục nở hồn anh đoá sầu. Ừ ! Thì mình ngại mưa mau, cũng đưa anh đến bên cầu nước xuôi, sông này chảy một giòng thôi, mây đầu sông thẫm tóc người cuối sông. ! (**)

 

Những năm 70 đó, thơ Phạm Thiên Thư đang là cái mode. Ai nấy, không nhiều thì ít, trên môi cũng lẩm nhẩm được vài ba câu lục bát Động Hoa Vàng. Buổi chiều đó, anh đã đem thơ xuống đời. Và nâng đời lên cõi thơ tuyệt đỉnh. Anh đã rao giảng thứ tình yêu Hoa Không có có không không cũng như không không mà có có. Tuyệt lắm. 

Người quen, kẻ lạ, sau buổi chiều đó  ... có ai nhìn ra được một Phạm Huy Viên, kẻ lãng tử sinh không nhằm lúc nhằm nơi !!!

Ít lâu sau, vì một lý do không ai rõ nhưng ai cũng biết, anh bị đổi đi một trường khác, ở đâu miệt Phụng Hiệp, Cần Thơ. Liên lạc trở thành thưa thớt. Cho đến đâu khoảng một tuần trước ngày 30 tháng 4 năm 75, anh bỏ nhiệm sở quay về Rạch Giá, ghé tìm tôi một đêm. Vài câu thăm hỏi thông lệ. Và một kết luận. Mọi chuyện đã an bày. 

Những ngày đầu tháng 5 bi phẫn đó, người ta thấy anh lăng xăng theo những đoàn học sinh đi ... tiếp quản những cơ quan chính quyền cũ. Có người xì xào. Nhưng tôi, tôi biết, vốn dĩ anh là một người lý tưởng. Thứ lý tưởng trong sáng đến độ gần như ... ngây thơ, tin rằng ở bên kia tấm vách núi sừng sững có đầy hoa thơm cỏ lạ. Y như không ít những người trí thức miền Nam thuở đó. 

Còn tôi, thì vốn dĩ biết rõ gốc gác mình, tôi chờ lệnh ... tập-trung-học-tập-cải-tạo.

Tháng 7, bừng-con-mắt-dậy thấy mình đứng giữa Khám Lớn Rạch Giá cùng với vài chục đồng nghiệp và đồng loại, chờ được xếp hạng phân hệ ... đưa đi học đào mương, gánh đất, gở rào, dọn đường ... hầu trở thành con-người-mới-xhcn. Năm ba bữa qua, chưa thấy nhúc nhích lệnh lạc, một buổi sáng giữa nhà giam, bỗng thấy công an gác tù đưa anh vào nhập bọn. Cả đám xôn xao. Hóa ra anh vừa trải qua một hoàn cảnh dở khóc dở cười trong chính sách bắt lầm hơn thả lầm của cộng sản. Do một ngộ nhận, đám công an đòi bắt giam chị khi chị đang bụng mang dạ chữa. Chẳng đặng đừng, anh đứng ra nhận thay cho chị. Vì vậy, khi không, anh lại vô tù nhập bọn cùng tôi. Dù cả hai, xét về lý lịch chẳng có chút nào tương đồng. Từ đó, chúng tôi lại có dịp sống gần nhau, dĩ nhiên trong một hoàn cảnh không lấy gì làm dễ chịu. Tuy vậy, giống như mọi thứ nhà tù trên mặt đất này, người ta có thể giam giữ thể xác tù nhân nhưng không kềm hãm được tinh thần của họ. Mặc cho mọi hò hét, hù dọa rồi dụ dỗ, đâu vẫn hoàn đó, cái đám tù cải tạo. Và riêng tôi, tôi thêm dịp sống gần anh, thêm lắm điều đồng điệu.

Hơn năm trời trôi qua, trong nhà giam được mỹ hóa là trại cải tạo, rõ ràng anh là hiện thân của nhân vật Moritz  trong tiểu thuyết Giờ thứ 25 của Virgil Gheorghiu. Người ta đi tù vì hoặc là sĩ quan hoặc chức tước của chế độ cũ. Anh không là sĩ quan. Anh cũng không chức tước ngoài cái danh xưng giáo sư trung học đệ nhị cấp có tiếng mà không có miếng. Anh chỉ là người đi dạy học. Dạy học thì khỏi đi tù. Mà anh thì đi tù cho được. Vậy nên khi vào tù, anh không thuộc loại nào hết sau khi người ta đã phân chia đủ thứ loại hạng. Bởi vậy, anh sống tấp vô đám tụi tôi với danh nghĩa là sĩ quan biệt phái mà gốc gác thì chẳng có một ngày thâm niên quân vụ. Vậy mà vẫn an nhiên ... ở tù chung với cái đám-tù-không-bản-án, và không-biết-ngày-ra. Chẳng vậy, mà qua đó, tôi được anh chỉ dẩn cho lắm điều mà không có trường lớp nào giảng dạy. Ngay trong góc tối mù của lòng thù hận, anh vẫn tìm ra niềm tin để giữ mình thong dong chịu đựng giữa vòng dây kềm kẹp. Biết bao nhiêu chuyện có thể kể ra những ngày tù tội dưới mấy cặp mắt cú vọ của cái đám gọi là quản huấn với lại quản giáo từ ngoài Bắc viện trợ vô. Mà thôi, ông Hà Thúc Sinh đã kể ra gần đủ trong bộ sách Đại Học Máu của ông rồi. 

Chỉ biết là trong hơn năm trời, ngủ chung trên những tấm thiếc lợp nhà được gở ra từ những trại gia binh cho đến ăn chung trong những lon sửa guigoz được chế biến thành chén dĩa cũng như bếp lò nồi niêu xoang chảo, anh lại còn tỏ lộ ra vẻ trải đời và đa tài rất mực. Vẫn với một thái độ ung dung của thi nhân-triết gia, anh nhận chịu mọi đày đọa bằng một thái độ ung dung tự tại. Chẳng vậy, ngay đến những chuyện chế-biến-nấu-nướng-đàn-bà anh cũng thông thạo một cách huê dạng. Bữa đó, gạo tù chắc được tịch thu trong các vựa lẫm của quí vị xì-thẩu, cá mắm thì là loại cá liệt, bị loại  bỏ từ các ghe cào ghe xịp cặp bến mỗi chiều. Cứ như vậy ngày này qua tháng khác. Anh đâu chịu vậy. Mỗi bữa cơm, sau một ngày lao-động-vinh-quang, bằng mấy cái lon sửa guigoz đã được cắt gọt uốn ép thành bếp núc với lại nồi chảo, anh chế biến món này món nọ một cách tài tình. Anh chỉ dạy tôi cách cắt gọt rau cải, lượm lặt được ngoài ruộng rẫy bỏ hoang, đun nước nấu canh, chế biến thêm thắt cho bữa ăn có thêm chút mặn mà. Anh làm một cách nhẩn nha, từ tốn như đang sửa soạn cao lương mỹ vị. Tôi học được ở anh một bài học vô giá, sự thích ứng với hoàn cảnh !

Vậy rồi tới lúc, thả tù. Dĩ nhiên, nhốt thì dễ mà thả thì khó. Lùa vô tù thì dễ như lùa vịt vô chuồng. Nhưng khi thả tù thì kỹ lưỡng rất mực. Họ lọc lựa, xét nét, từng loại, từng đợt mà họ gọi là hệ. Tới phiên cái đám gọi là hệ biệt phái như tôi được thả ra thì anh lại lọt sổ. Mà tới khi cái đám gọi là nợ-máu-với-nhân-dân, kẻ bị đày vô U Minh người bị đưa ra tận ngoài Bắc, cũng không có tên anh. Vậy là anh ở lại tiếp tục ... làm người tù không danh số. 

... Nhưng mà nhốt hoài chắc cũng thấy ... vô duyên, đến một lúc anh lại được thả ra cũng không có lý do như khi bị bắt vô –hoặc có lý do mà chắc chỉ có mấy cái túi vàng của đám cán bộ thời đó mới biết rõ. 

Ra khỏi cái rọ nhỏ của trại giam, nhập vào cái rọ lớn của đời sống bên ngoài đang tới hồi bon chen manh mún kịch liệt để kiếm miếng ăn, anh vẫn an nhiên tự tại như cái ngày đứng trên bục giảng mà kể lể chuyện kiều nhi thanh lâu hai lượt thanh y hai lần. 

Tù về, phủi tay cái một, anh vác cuốc đi làm rẫy. Mà làm cũng thong dong, điệu nghệ không kém gì làm lãng tử. Khoanh đất nhỏ nằm cạnh bờ vịnh, có nắng lửa nhưng cũng có gió mát, có mồ hôi nhưng cũng có những mầm xanh, anh chăm sóc mấy bụi chuối lão, mấy luống rau thơm, mấy con gà con vịt ... không thua gì lúc chăm chút mấy cái vần bằng vần trắc. 

Có lúc hết việc, tạt qua thăm, anh đãi tôi ly trà nóng, vấn điếu thuốc rê phì phà hơi khét lẹt, kể tôi nghe chuyện thời Chiến quốc rồi cười khinh khỉnh chuyện thay chúa đổi ngôi. 

Có hôm tình cờ gặp người học trò cũ bứng cho bụi bông súng, tôi than với anh không biết lội nên không dám lặn xuống ao nhà để cắm rễ xuống đáy. Tốt bụng như tự bao giờ, anh đạp xe tới nơi xắn quần nhảy ùm xuống nước, lặn sâu hai ba thước trồng cho được bụi bông súng quê mùa.

......................

Ngày tháng qua đi, ục ịch hay thoăn thoắt, đánh-tư-sản-mại-bản hay đốt sách văn-hóa-đồi-trụy, kinh-tế-mới hay cải-tạo-công-thương-nghiệp, dẹp khờ-me-đỏ hay chống bọn-bành-trướng-phương-Bắc, anh và tôi vẫn có dịp qua lại gặp nhau, năm ba bữa nửa tháng. Có khi anh đạp xe lọc cọc tìm tôi, có khi tôi lếch thếch lội bộ tìm anh, gặp nhau vẫn thân thiết như bao giờ dù thời buổi đó ai nấy cũng hay giữ lòng giữ kẽ. Khoảng thời gian đó, hẵn cũng như nhiều người nội trợ khác, trước mức sống bị tụt xuống đến mức thảm hại, chị đã dấn thân ra .. chợ trời. Chắc nhờ vậy, anh lại vung tay hào sảng như hồi cách-mạng chưa thành công. Đầu ngõ vào nhà, có một tiệm nước. Chị mở cho anh một trương mục ở đó. Nói là trương mục cho có vẻ hiện đại. Chớ hồi đó, gọi là ghi sổ. Ăn uống gì xong, thì búng tay gọi chủ. Chủ tiệm cứ mở sổ ra ghi, cuối tháng chị tạt ngang, sẽ thanh toán một lần. 

Năm lần bảy lượt, anh hay rủ rôi ghé tiệm, gọi hai cái xây-chừng, vài ba điếu thuốc lá lẻ, rồi hai anh em phì phà tâm sự, chuyện đầu trên xóm dưới, chuyện cá chậu chim lồng ... Thuở đó tôi nghèo sát ván. Đi tù về, tay chân vác mướn cơm cháo còn chưa đủ nuôi thân nói gì cà phê cà pháo. Nhờ có anh mà tôi có lại chút hơi hướm ngày xưa ... Tính ra ân tình lấy gì đong cho hết !

Vậy đó, rồi mấy năm sau, nhờ may mắn được người quen cho có giang vượt biển. Tôi bỏ đi, cũng y như hàng triệu người miền Nam bỏ nước ra đi không kịp một lời từ giả.

Ở xa, dặm trường đã xa mà cảnh tình càng xa lăm lắm. Bạn bè sống hai đời đối nghịch nhau. Bên nây ngày thì bên kia đêm. Chính trị thì như đêm với ngày. Vã lại, tôi còn nợ một lời nguyền với chính tôi. Tại vậy, mà xa rồi là xa luôn. Không còn dịp gặp lại. Anh sống đời anh. Tôi đời tôi. Nắng mưa, đói no, bệnh hoạn mạnh ai nấy chịu. Lòng băn khoăn mà cứ chừng như thời gian vẫn đợi ...

Hai mươi, rồi ba mươi, rồi bốn mươi năm. Chớp mắt.

 

Thứ sáu rồi, 26-3-2021, hồi 8 giờ 8 phút sáng, ngụm cà-phê đầu ngày còn nửa chừng trong miệng, điện thư của người quen báo tin anh mất, quê nhà. Một chút sững sờ. Một tiếng chắc lưỡi. Rồi thôi. Tôi làm gì đây khi dòng đời thì chảy xuôi ... Và chúng ta cũng trôi xuôi theo cái dòng chảy không ngừng nghĩ đó. Thệ giả như tư phù bất xả trú dạ.

Thêm một chút ngậm ngùi cho cái số nghiệt ngã của phận mình, phận anh phận tôi, chung cùng trong một phận nước.

Dẫu không liên lạc, nhiều năm nay, đôi khi tôi mơ hồ biết chút tin anh. Đôi khi một bài thơ, đôi khi một bài nghiên cứu về lịch sử, địa dư, một giai thoại văn chương ... với một bút hiệu lạ nhưng cũng là anh, nửa ẩn nửa hiện. 

Bốn mươi năm. Nhắm mắt tôi còn hình dung ra anh, cao, gầy, giọng Bắc đã pha ít nhiều phù sa sông Cữu, ăn nói từ tốn nhưng không kém phần uyên bác. 

Bốn mươi năm. Đủ để xóa nhòa hết mọi di tích một thể chế. Nhưng trong tôi, anh vẫn nguyên vẹn tiếng nói-giọng cười-dáng đi và nhất là mớ kỷ niệm chung của một thời có hoa có bướm, lẫn lẫn đâu sau mấy vạt áo tơ dài, thõng thượt(**) như câu thơ nửa chừng ... bỏ lửng.

 

... Rồi người cũng bỏ đi xa

Bỏ trăng gió úa, bỏ hoa mộng tàn

Câu thơ bỏ lỡ, ngỡ ngàng !

Về tìm lại Động Hoa Vàng ngủ say

Nối thêm cho đủ mộng dài ...

 

Yên nghĩ anh há !

 

C A O V Ị K H A N H

 

(*) thơ Phạm Thiên Thư (**) trích bài nói chuyện về thơ Phạm Thiên Thư của Phạm Huy Viên  (***) chữ của PHV

THƠ HỌC TRÒ

Trần Bang Thạch, Hoàng Xuân Sơn, Cao Vị Khanh 

Nguồn: Blog: caovikhanh.com

CVK_tho hoc tro.jpg
CVK_Saucau.jpg
cvk_onceuponatime.JPG

                                                                            sao câu vọng cổ buồn đứt ruột 

                                                                            phải oán tiền khiên xúi đoạn trường 

Đã có lần, đâu đó nơi một thành phố cực bắc còn lạ hoắc lạ huơ, trời cuối năm  co quắp dưới chục lần độ đông, tê cứng. Phòng ấp xóm nghèo cửa nẻo đóng  chặt vẫn để lọt tiếng rít rợn người của âm phong trắng. Quanh tấm vải trải càng  giữa phòng khách, chai lọ ngổn ngang, bảy tám tên đàn ông mới xa quê nằm  ngồi ngất ngưởng. Giữa mâm, rượu thịt đã nguội tanh và trong lòng người, đã có niềm hiu quạnh. Bữa tiệc kéo dài đã quá lâu. Hai ba người khật khưởng bỏ ra về

... Bỗng dưng ... bỗng dưng từ một góc khuất có tiếng ai hát lầm thầm, lúc đầu  có vẻ rụt rè rồi càng lúc càng tỏ bộ quyết chắc khi thấy cả đám đông đang ồn ào  bỗng nhiên im phắc ... đâu như cái bài hát mà ông Út Trà Ôn đã làm người ta  chảy nước mắt những năm sáu mươi bảy mươi ở Sài gòn và lòng vòng mấy  miệt lục tỉnh, nghe sao là lạ quen quen ... Giọng khàn pha trong hơi rượu ẩm làm  bài ca như tươm ra cái nỗi buồn ướp sẵn ... nhứt là mỗi lần tôi thấ́́́y bông ô môi mới  điể̉̉̉m hồng trong gió chướng. Mỗi lần nghe tiếng quết bánh phồng rộn rã đón xuân sang.  Mỗi lần có dịp về Vĩnh Long đi ngang Tân Ngải thấy nhà chợ Trường An là mỗi lần tôi nhớ mùa xuân của đầu năm binh lửa. Nhớ tới dáng người vợ nhỏ chèo xuồng qua sông Mỹ 

Thuận để đưa tôi rời (ời) ... tỉnh (inh ...ỉnh) ... Long ... (ong ... ong .... ong) ... Hồ ... (ồ ... ồ ...  ồ)  

 

Tôi về̀̀̀ Mỹ Tho để lo đùm bọc cho mẹ con bà ... 

Nay đã ngót hai mươi năm dâu bể tôi không hề được tin tức của người xưa, mẹ con của nó còn hay đã chế́́́t, bởi vậy đêm đêm tôi nằm trằn trọc một mình đối diện với  lương tâm, phải đâu khi xuồng vừa tách bến sông là tôi ... đã chấm dứt tì̀̀̀nh thâm phụ (ư ...  ư) tử (ư ... ư ... ) (*) 

Tên bạn trẻ dứt câu một ngon ơ, lại còn ráng bắt chước đúng điệu ông cò-quận-chín nói lối rành mạch từng tiếng một, thiếu điều muốn đánh vần từng  chữ cái như để lột trần cái vỏ chữ sù sì ra cho người nghe, nghe và hiểu và cảm  đúng y bon cái ý cái tình của người trong cuộc. Tới chừng vô-sáu-câu đến chữ “rời” (vần bằng trầm bình thanh) làn hơi chợt đùn xuống y thể như lực sĩ nhảy  cao rùng mình lấy trớn phóng vọt lên chụp lấy chữ “tỉnh” (vần trắc) lắt léo ở trên cao. Chừng chụp được rồi lại ngậm hơi đong đưa ở đó như kẻ treo mình trên  miệng vực để chồm qua níu cho bằng được cái chữ “long” (vần bằng phù bình  thanh) treo lúc lắc ở bên kia bờ chênh vênh ... làm cho ai nấy cũng phải trân  mình nín thở đu theo cho đến khi hắn xuống hò ngon ơ cái chữ “hồ” , mọi người  như thở phào ra ... nhẹ nhỏm. Không ai đưa tay kịp phựt một ánh đèn màu (? )  mà rồi chỉ có những ngón tay đưa lên len lén quẹt nước mắt ... giấu lại. ( Bề gì cũng ̣đàn ông ai mà yếu xìu “dậy” cha nội, tụi nó cười chết. Nhất là ... chỉ tại cái  câu vọng cổ ... quê mùa ! ) 

 

Ở Bi-đông cuối những năm 70, cái hòn đảo nhỏ xíu không ai biết tới bỗng dưng  trở thành cái bến đỗ của hàng triệu người chạy chết. Ở đó, giữa những đêm  rừng mù mịt, khi những vết cắt đoạn lìa còn nguyên si máu mủ, khuất lấp dưới  những chòi trại che dựng sơ sài đã có hơn một người mủi lòng ôm mặt khóc  ngang xương khi ai đó vô tình rỉ rả mấy câu vọng cổ của Nguyệt Ánh. Ai ra đi mà 

không nhớ về người nơi chốn cũ, ai đã ra đi mà không ngậm ngùi đau xót khi con tàu đêm  rời bỏ quê ... nhà. 

 

Ai đã ra đi một chuyế́́́n không về. 

Có nhớ gì chăng những con đường mòn vắng, nhớ tiếng chuông chùa rộn rã lúc  hoàng hôn, nhớ bóng ai quảy gánh đầ̀̀̀u làng, nhớ tiếng ai rao hàng giữa chợ hay nhớ vườn cau xanh ngắt một màu, nhớ miếng trầ̀̀̀u cay hay nhớ màu vôi thắm.  

... Bạn trăm năm vẫn đêm ngày trông ngóng, mơ bóng người đi biền biệt phương  trời. Đâu biết một lần đi là ngàn năm chia cách nhau rồi. Thôi cũng đành muôn đời vĩnh  biệt, chỉ̉̉̉ xin người đừng quên vội quê hương. Đám em khờ còn mỏi mắt chờ mong, cha  già yếu mẹ mù lòa tàn tật. Em lớn khôn bị lưu đày phương bắc, chắc xanh rồ̀̀̀i mồ không  khói không nhang ... (**)

Cũng y cái tiếng ̣đàn vừa bấm nốt vừa nhấn nhấn trên những phím đã được móc  sâu cho âm thanh rung rung như tiếng khóc rưng rưng ... 

Cũng y cái lối hát phanh phui chữ nghĩa như móc ruột ra mà giải bày ... (còn nhớ không em, những tiếng khóc thút thít trong đêm, những con mắt ráo hoảnh ngó trao tráo vào cõi lòng trống hoác như mới vừa thấy lại được tận mắt cái chỗ trống trơn bỏ lại ở một xó quê nhà, như sờ được tận tay cái tan hoang của một  

cơn thất tán) 

 

Dẫu không có ý so sánh về giá trị của từng loại âm nhạc, chắc cũng khó có một  bài tân nhạc nào - dù không phải không hay – đã làm chảy được nước mắt  người nghe nhiều đến như mấy điệu vọng cổ trong cuộc tang thương đó. Dường  như chính cái lối ngân nga luyến láy qua nhiều âm vực khác nhau của cùng một  cung bậc làm độ rung của tiếng đàn thêm áo não, làm âm sắc của lời ca thêm nỉ 

non. Cái khéo của vọng cổ là đã chọn khoảng thang âm đúng phóc ngay cái mức  độ xúc cảm của con người. Không cao quá không thấp quá mà ngang tầm với  cái độ rung của tơ lòng. Thành ra y như cái kiểu đồng thanh tương ứng vậy.  Chổ xuống-hò mà người ta hay gọi là xuống-vọng-cổ là một tính toán tuyệt diệu  của sự phối âm. Thử tưởng như lòng người là một mặt nước phẳng lờ, âm thanh  là những viên đá cuội, xuống-vọng-cổ là ném đá phá sự yên tĩnh đó. Cao quá,  độ rớt quá mạnh, đá rơi tỏm và chìm lĩm. Thấp quá, độ rớt quá nhẹ, nước chỉ vừa cau mặt, không đủ lao xao. Xuống-hò là thả cho tiếng hát vút lên tới một độ cao vừa đúng mức thì buông mình hạ xuống như một cánh én liệng vòng. Âm  thanh rớt xuống như viên sỏi ném lên mặt hồ đúng độ làm dư ba càng lúc càng  sâu lắng, sâu lắng tới tận đáy những cõi lòng. Người nghe, nghe thấy buồn là sức dội ngược của âm thanh miết sâu vào tâm não-thứ tâm não vốn đầy ắp  những kỷ niệm. Đến chỗ thắt ngặt quá thì vỡ ra thành ... nước mắt.  

 

Người hát vọng cổ hát rõ từng lời một, không nuốt chữ, giọng “nam kỳ” mới đúng  điệu. Cái điệu hát không ra hát, nói không ra nói, mà là vừa hát vừa nói hay hát  bằng cách nói theo đúng âm sắc của từng chữ. Chữ lắm khi có sáo nhưng  không rỗng, vẫn là thứ chữ nằm trên đầu môi hằng ngày nhưng đặt vào đúng nơi  đúng lúc của nó, chữ bỗng có da có thịt, có máu huyết ruột rà, có ý sáng trưng  và có tình nồng nã ... nghĩa là có đầy đủ sức thuyết phục để người ta chấp nhận  và truyền cảm để người ta ... khóc ròng. Cảm tính của chữ ở chỗ nghĩa vừa sâu  vừa sát, vừa gần gũi vừa quen thuộc, vừa nôm na vừa bóng bẩy, làm cái đầu và con tim người nghe hiểu và cảm ngay cùng một lúc như tia chớp của trực giác,  không phải qua một trung gian nghĩ ngợi lôi thôi, vừa chậm trễ vừa so le. Cái độ sát phạt của âm thanh và chữ nghĩa vì vậy trở nên mạnh như một cú đấm direct  vào ngay bụng dạ con người làm rụng rún như chơi.  

 

Như vậy đã có lúc không có gì làm vừa ý vừa lòng vừa thân vừa phận nhất  (hổng vậy sao chảy nước mắt) bằng chính mấy câu vọng cổ 32 nhịp đó. Mà sao phải đợi đến cái lúc bỏ nhà bỏ xứ bỏ cha bỏ mẹ đi biệt rồi mới thấy thấm qua da  thịt tới xương tủy cái âm điệu ngai ngái mùi sình lầy úng thủy miệt sông Tiền  sông Hậu pha lẫn cái hơi oán của giọng Hời đau cố thổ. Bộ vọng cổ chỉ hát và nghe được những lúc đời tuyệt tận thôi sao. Mà điều không chừng cũng phải  vậy. Vọng cổ chỉ nên hát điệu tình buồn tình sầu tình đau tình lỡ tình trách tình  hờn. Vọng cổ là để kể lể, để than thở, để trách móc, để ủ ê, để tê tái và cùng lắm  là để bi phẩn. Tự bản chất đã nỉ non ai oán thì nài hoa ép liễu làm chi mà bắt  phải cười cợt khôi hài. Ép như vậy chẳng khác nào bắt Bao Tự bỏ cái mặt sầu bi  nên mười phần đã hư hết chín rưởi. Từ khi người ta bày đặt ra cái gọi là vọng cổ-hài-hước, ai vui đâu không biết chớ còn vọng cổ chắc chỉ thấy buồn thôi ! Lại thêm cái trò tân cổ giao duyên hai cái duyên vốn không nợ nần gì nhau thành  ra nghe cứ như ép duyên ép nợ. Cho nên chỉ thấy hục hặc giống như cái cảnh  đồng sàng mà dị mộng.  

 

Thật ra không phải đợi đến chừng đó, sáu câu vọng cổ mới đục phá ruột gan  người ta dữ vậy. Nó mùi rệu đâu từ hồi xưa hồi xửa, từ cái thời ông Sáu Lầu  buồn chuyện vợ chồng xách đờn ra che trại ngoài đồng trống, rồi dùng ngũ âm  của cổ nhạc để viết nên điệu Dạ cổ hoài lang. Từ mộ̣t bài nhạc hát riêng một nỗi  buồn riêng chẳng mấy chốc trở thành cái điệu buồn chung của cả một phần đất  phía nam. Người ta thi nhau thêm thắt sửa chửa đặt lời ca mới ... Những cô Tư  Sạng, cô ba Trà Vinh, ông Tư Chơi, ông Tám Thưa ... đã ngân nga cái điệu buồn  lê thê hò-xự-xang-xê-cống vào lòng người miền nam vốn dĩ là dân tứ xứ. Hồn  lưu lạc đó, chắc là tìm được trong cái âm giai buồn bã đó, từng nỗi niềm chung  chạ. Cho nên chính vọng cổ chớ không là gì khác đã trở thành một thuộc tính  của người miền nam như miếng mắm lóc, con khô cá sặt ... hay tô cháo lòng  hoặc nồi thịt kho dưa giá ... Và cũng chính điệu vọng cổ chớ không là gì khác đã thể hiện đúng nhất cho tinh thần khai phá của đám người đi mở xứ. Người ta  đàn hát như đùa giỡn với nhịp điệu và chữ nghĩa. Dù vẫn phải giữ cho đúng nhịp  ở cuối câu, người đàn và hát vẫn có thể mặc tình rong chơi ngón đàn hay bay  bướm lời ca ở giữa lưng chừng hai nhịp. Đâu có cái lối đờn-ca-xướng-hát nào  mà để cho người nghệ sĩ tự do đến vậy. Điều đó hẵn nhiên đã không ít thì nhiều  giúp cho người trình diễn có cơ hội bộc lộ thả dàn mọi xúc cảm mà không cần  phải gò ép sít sao như trong âm nhạc cải cách mà mỗi nốt nhạc là chỉ để diễn tả cho một từ (lời). Cộng thêm đó là cái nết tài hoa địa phương tự do đóng góp  thêm nét độc sáng của mỗi miền làm giàu có thêm điệu nhạc vốn dĩ cũng đơn  giản buổi đầu. Mỗi người một cách mỗi nơi một điệu. Đến nỗi chỉ nội cái giây tơ  mà ôi thôi cũng đủ loại. Nào là giây tứ nguyệt, giây ngân giang, giây Rạch giá,  giây lai giây hò ... rồi nhịp thì 16 rồi 64 rồi 32 … Cái lối chơi nhạc Flamenco có điểm gì tương đồng không vậy ? 

Lần lữa, những Phùng Há, Năm Phỉ, Bảy Nhiêu, Năm Châu, Năm Nghĩa, Bảy  Cao ... Rồi Út Trà Ôn, Hữu Phước, Thành Được, Thanh Nga, Út Bạch Lan,  Phượng Liên, Thanh Sang, Thanh Hải, Ngọc Giàu, Bạch Tuyết ... ôi thôi kể ra không xiết những giọng kim giọng thổ, giọng nam giọng bắc, thứ ngọt lịm như  mía lùi, thứ bùi bùi như khoai lang vùi lửa than chín tới ... với Chín Trích đờn  tranh, Sáu Tửng đờn kìm, Văn Giỏi đờn sách, Bảy Bá đờn cò và đặc biệt Văn Vĩ với cây độc huyền huyển hoặc. Những soạn giả như Trần Huyền Trang, Viễn  Châu, Thu An, Quy Sắc, Hà Triều Hoa Phượng, Hoàng Khâm, Loan Thảo ... và biết bao nhiêu soạn giả ẩn danh hay vô danh khác đã không ngừng đặt lời cho  điệu nhạc duy nhất đó mà mỗi người một ý, mỗi người một cách thức sáng tạo  đã đưa vọng cổ đi suốt con đường trầm luân của nó.  

 

Thử tính coi trên đời này có một điệu nhạc nào, độc nhất có một điệu, mà lại có không biết cơ man nào mà kể những đoạn lời. Đề tài nào ráp vô cũng được,  cũng mùi mẩn. Cũng bấy nhiêu âm khúc đó mà tình nào lời nấy, không ngượng  ngập hay khiên cưỡng. Cũng bấy nhiêu cung bậc đó mà người nghe nghe tới  nghe lui hết lời này đến lời khác mà có kêu rêu than phiền gì đâu. Kể ra cũng  ngộ. Ông bà cha mẹ đã nghe. Chú bác cô dì đã nghe. Rồi con cháu cũng nghe.  Hồi đó nghe bây giờ nghe mà hổng chừng mai sau rồi cũng nghe y vậy. Nghe  vọng cổ mà như nghe thiên cổ ! 

Đã có thời trên những cánh đồng trầm thủy buồn đến mênh mông, điệu vọng cổ đã là cái nguồn giải sầu (?) vô tận. Chẳng vậy mà luồn theo nhịp sóng thương  hồ, giữa hai hồi mỏi mê chèo chống, còn gì bằng tụm năm tụm bảy, làm bậy vài  xị đế với miếng khô cá sặt đưa cay, vửa khi sông nước tươm khói rưng rưng, nổi  hứng hò chơi vài điệu huê tình rồi bắt trớn làm một hơi sáu câu Sầu vương biên  ải ... Có cây lục huyền cầm tích tịch tình tang cũng tốt, mà không thì đôi đủa tre  hay cái muổng thiếc gỉả nhịp song lang lắc cắc cũng đủ thấy đời ... vui dù hát  vọng cổ mười lần thì đã hết chín lần thấy hiu hiu buồn lại. Người miền nam già 

trẻ lớn bé người nào mà không thuộc lỏm bỏm một vài câu ... Hát đúng nhịp  cũng tốt mà sai cũng không sao. Ai hơi đâu mà bắt bẻ cơn hứng tình bất tử.  “Dui” thôi mà. Tôi với em là gió là mây là hoa là bướm. Ôi gió thoảng mây bay hoa tàn  bướm lượn, mới yêu nhau mà đã gọi cố nhân ... rồi. (***) 

Dĩ nhiên không phải cổ nhạc miền nam chỉ rặt có một điệu vọng cổ thôi đâu. Còn  nhiều bài bản lắm. Những là ba nam sáu bắc, xàng xê, kim tiền, lý con sáo, sơn  đông hướng mã, thủ phong nguyệt, rồi khốc hoàng thiên, tây thi ... rồi còn đảo  ngũ cung, tứ đại oán ... gì gì nữa ... mà điều có phải đào kép gì đâu mà phải  rành-sáu-câu dữ vậy... chỉ cần sáu-câu-vọng-cổ là đã đủ đi ăn giỗ dài dài rồi.  Phải không ? 

 

Nghe hung tín nhị ca đà thọ khốn 

Hồng Đào Sơn em phi ngựa trở về đây 

Giữa pháp trường đá chạy cát bay 

Quân đao phủ sắp ra tay hành quyết 

Bớ La Thành ... vậy chớ Đơn nhị ca tội gì mà mày giế́́́t ... Đơn nhị ca ơi, tiền đồng  tịch kim bằng cộng lạc, hậu lâm nguy bất kiế́́́n đệ huynh khiế́́́n cho Tần Quỳnh đây ruột  thắt gan ... bào . (****) 

 

Hổng biết hồi xưa ông Đơn Hùng Tín mặt xanh oan ức ra sao chớ bây giờ quanh  mâm giỗ, cái câu hát nửa chữ nửa nôm đó âm vang rổn rảng như một cáo bạch  bi tráng về hai chữ thủy chung, nghe mà khoái đến vểnh râu dựng tóc ! Sẵn vậy  ngửa cổ nốc ực một hơi cái ly đế còn ngần ngại, há không sướng lắm ru ! 

Vậy mà sao có thời vọng cổ bị xếp hạng với nhà quê, như một thứ nghệ thuật  hạng nhì, theo kiểu cải lương hát rạp bình dân. Có phải sự gán ghép, đồng hóa  vọng cổ với cải lương là cái số đoạn trường của nó dù thật ra vọng cổ cũng chỉ là một bài bản trong nhiều bài bản mà người ta đã dùng để dựng tuồng. Hiểu  theo nghĩa những tuồng tích lai căng, dễ dãi, tạp nhạp, từ cách dựng chuyện đến  lối phân cảnh, diễn xuất, ca hát hết sức cường điệu chìu theo thị hiếu của khán  giả khi trình độ thưởng thức còn ở mức phôi thai. Dĩ nhiên ở đây phải hết sức  thận trọng để phân biệt với những công trình làm mới của ông Năm Châu từ vở 

 

Sân khấu về khuya và sau đó với nhóm Hà Triều Hoa Phượng hay Hoàng Khâm  hay ... Nhưng mà dẫu mới dẫu cũ, cải cách hay canh tân, gì thì gì, tuồng tích dù hấp dẩn hay lảng nhách, xả hội hay hương xa, đánh kiếm hay bắn súng, đào kép  điệu nghệ hay dở òm, bao giờ cũng vậy, vọng cổ luôn là cái bài bản đã được  dành sẵn cho những lúc gay cấn nhất, những hồi lâm ly nhất, những khi trầm  trọng nhất, những cảnh “ăn khách” nhất của một vở tuồng. Ngay đúng lúc đó, vô  sáu câu, (phựt đèn màu !) ... là bảo đảm ăn chắc, trăm lần như một, không có cái  vụ trả giấy đòi tiền lại bao giờ.  

 

Nghĩ thêm chút nữa, rồi có phải vọng cổ cũng chỉ là nạn nhân của sự phổ thông  quá mức của chính mình. Tại người ta yêu thích quá nên người ta gán ghép cho  nó những vai trò mà lắm khi nên tránh bớt. Nhưng biết nói sao bây giờ khi số phận của vọng cổ là số phận của những “siêu-sao” ! 

Vậy sao không trả lại cho vọng cổ cái vòng hoa nguyệt quế của nó. 

Và sao không thử hát lên để nghe lại một lần ... một lần nào đó, bỗng thấy mình  lang thang dọc một bờ sông rất lạ mà lại nhắc đến một bờ nước rất quen, hát lên  đi để nghe thử cái âm vang buồn kỳ cục dội lao xao như sóng vổ vào một bờ bến đã mù ... 

 

... tôi đứng đây mà tưởng chừng đứng trên bờ sông Mỹ Thuận, khi mình quay  xuồng tách bến để trở lại với hai con. 

Bờ cây xa mờ nhuộm khói hoàng hôn. Con nước lớn lục bình trôi rời rạc. Chiề̀̀̀u đã xuô ́́ng mặt trường giang bát ngát mà bóng người thương lẫ̃̃̃n khuất giữa  sông ... đầy. 

Tôi liên tưởng đế́́́n ngày sau mình cũng lận đận trên dòng đời ... (*****)

 

Nghe lại chưa, cái tiếng đoạn trường đó ... 

 

Cao vị khanh 

(*) (*****) Tuyệt tình ca-Hoa Phượng Ngọc Điệp 

(**) Nguyệt Ánh 

(***) (****) Không rõ tác giả 

. tranh Picasso 

-Tuyệt tình ca 

https://www.youtube.com/watch?v=Cri88N0X57M 

-Tần Quỳnh khóc bạn 

https://www.youtube.com/watch?v=_ABBLSsAgfc

cvk_camta.jpg
cvk_Moinamhoadaono.JPG

                                                      Mỗi năm hoa đào nở...

 

... câu thơ gỏ từng chữ vào lòng như ngón tay gỏ vào từng phím nhớ của một bản hoài cảm đã được dạo đi dạo lại nhiều lần, hằng năm một, và sẽ còn được dạo lại thêm những lần nào nữa? Câu thơ như nhản hiệu một sản phẩm đãđược-cầu-chứng-tại-tòa, không thể đánh tráo, không thể lầm lẫn, không thể gian lận vào đâu được.

 

Mỗi năm hoa đào nở...

 

...ờ ở đâu mà bỗng bay về những tấm giấy hồng điều lấp láy lớp kim nhủ mới tinh trên sợi giây giăng ngang hai đầu một tường vôi lở ... ờ có cơn gió sớm làm gây gây lạnh trên chút da để hở thổi lại từ hướng nào ... dường như từ hướng bờ sông cái theo con đường lớn có hai hàng me già mới thay lá non xèo ... ờ chiếc áo dài đen cũ rích tới sờn bâu có in hình mấy chữ thọ, chiếc khăn đóng chít hình chữ nhân ngay giữa trán, mấy ngón tay thuông xương xẩu, chòm râu bạc lốm đốm và đôi mắt, đôi mắt đục lờ có một vẻ gì vừa kiêu hảnh vừa nhẩn nhịn ... Ngoài trời mưa bụi bay ...

 

Vậy đó. Hễ cứ mỗi năm hoa đào nở là ... là lại thấy ông đồ già ... là ... là cứ y như ... tết đến.

 

Hiển nhiên như một phản ứng hóa học, không sai chạy một ly tử, và gọn gàng như một cái búng tay, câu thơ gọi về những hồn xưa đã tản lạc, dựng dậy những cảnh cũ còn trầm tích dưới mấy lớp nhớ hư hao, làm nở lại một bông hoa vàng đã héo, lay dậy một hơi gió đã mỏi, dựng dậy một góc phố một lề đường một ngã tư một hẻm chợ ... rồi là những mặt người những dáng dấp ... rồi tiếng nói tiếng cười tiếng kêu tiếng la tiếng o bế tiếng cự nự tiếng gà vịt đập cánh phành phạch tiếng heo con ăng ẳng tiếng heo nái ủng ỉnh tiếng chuông xe đạp leng keng tiếng bố thắng xích-lô ken két tiếng quần lãnh sột soạt tiếng trẻ nít rượt đuổi tiếng con trai chọc gái tiếng cô hai cô ba xì xò nguýt háy tiếng cô tư cô năm đỏng đảnh làm duyên tiếng chệt-hàng-xén ngọng nghệu tiếng chú-bảy-chà-và lơ lớ tiếng trả giá cò kè tiếng nài nỉ thêm bớt ... rồi là cái mùi hăng hắt của rau cải úng nước, mốc meo của vải vóc ủ kho, tanh tanh của thịt cá ế thiu, nồng nặc của cống rảnh ứ đọng, của mồ hôi đúng ngọ, của bả trầu xế trưa, của dầu thơm rẻ tiền, của bi-giăng-tin bóng lưởn, của ... của một-ngàn-lẻ-một thứ vật thực trần gian đã ứ đọng ở đó từ bao nhiêu đời, cộng thêm một-ngàn-lẻ-một thứ vật thực y như vậy nhưng còn mới nguyên, cộng thêm cái mùi thơm phức ngọt bùi béo ngậy của mứt dừa-mứt bí-thèo lèo-cứt chuột-nội địa của chà là-hồng khô-nhập cảng một-năm-mới-có-một-lần họp lại thành một thứ mùi ... rất-chợ-tết. Cái hoạt cảnh cứ diển ra hàng năm mà mỗi năm cứ mỗi mới mỗi vui ... người qua lại vội vã mua sắm, những sạp hàng bày vội chen lấn ra mặt đường đã cấm xe từ sau ngày đưa ông táo, chưng dọn mớ trái cây bánh mứt, rượu tây, trà tàu... như cả năm chưa bao giờ được chưng dọn như vậy... những hình ảnh vụn vặt những âm thanh tứ tán đó bỗng chấp chới tụ về, chắp chắp nối nối... để ráp lại nguyên hình một mùa xuân trong quá khứ, một cái tết nhất định ở một nơi nhất định - một cái tết sẽ không đầy đủ nếu đâu đó trên cái bối cảnh hỗn tạp đó không có chấm phá mấy nét thiệt tiêu sơ ...

 

... ở một góc rất khuất, khiêm nhường như chính cái mặt hàng được móc treo trên mấy sợi giây nhỏ xíu, những nét chấm phá ngang dọc dù có bay lượn rồng rắn cũng không làm vui hơn cái dáng điệu buồn rầu của ông hàng chữ cuối mùa ... Người thuê viết nay đâu. Giấy đỏ buồn không thắm. Mực đọng trong nghiên sầu. Mãi về sau nữa, lâu lắm, dù đã ở một nơi rất trái mùa. Mỗi năm hoa đào nở. Sắt son như một lời hẹn. Câu thơ làm con én đưa tin. Người ta thấy lại bằng con mắt tâm linh ông đồ già bày mực tàu giấy đỏ ... Người ta ngửi lại mùi xuân bằng cái mũi hồi ức ... Và rồi người ta đón tết, vơi vơi kỷ niệm...

 

Ở một tỉnh nhỏ nằm chen giữa hai nhánh sông lớn của miền Nam, trời mưa nắng hai mùa, mỗi năm không có hoa đào nở mà chỉ có hoa mận, hoa bưởi, hoa cam ... chỉ có hoa mai mà lại còn phải lặt lá từ rằm tháng chạp... Trời đất đâu có gởi tới một dấu hiệu riêng nào ngoài một chút gió bấc làm lạnh se da những buổi sáng thức sớm theo cha ra tỉa kiểng. Thành ra lớn lên đi học rồi cứ theo ông đồ của Vũ Ðình Liên mà đón tết. Bài học đâu từ cái thời tiểu học vậy mà làm nhớ dai nhớ dẳng. Lớn lên rồi trèo lên trung học đại học vẫn còn nhớ hoài nhớ hũy cái hình ảnh gợi tết rất ngậm ngùi đó. Mỗi năm, dù đang ở đâu, cứ vừa nghe trời đất rậm rật trở mình là câu thơ bật nhớ... mặc kệ những tất tả của tháng cuối năm. Mỗi năm hoa đào nở. Cứ vậy đó, mỗi năm, hằng năm, năm này sang năm khác ... theo cái nhịp quay rất đều tay của thời gian lại thấy ông đồ già bày mực tàu giấy đỏ trên phố đông người qua ... để cho tết đến. Rồi năm nào như năm nấy cũng thấy lại ... y nguyên cái dãy phố tàu chưng dọn se sua một cách lộn xộn như... phố tàu, nhà lồng chợ cũ kỷ được che thêm trại dựng thêm rạp làm đã vốn luộm thuộm càng thêm lộn xộn, bạn hàng đi đi lại lại chộn rộn ra vẻ còn chộn rộn hơn trong năm, cái bến nước nằm kề khu chợ cá bỗng dưng tấp nập ghe xuồng, chúc mũi đổ lên bờ những người khách xa đâu từ những thôn ấp hẻo lánh rủ nhau đi chợ tết. Chợ tưng bừng sinh khí mới. Và vẫn vậy...

 

... vẫn vậy... ở một góc phố khiêm nhường nhất, cũng lại cái hình ảnh lặng lẽ nhất mà lại mang lòng nguyên đán nhất lại nhẫn nại xuất hiện, chậm rãi trải chiếu trải khăn, khoan thai mài mực tàu trịnh trọng phơi giấy đỏ ... rồi vén áo gò lưng ngạo nghễ phóng tay phác những nét phượng múa rồng bay mặc kệ cái dửng dưng vô tình nhất của người thiên hạ... Ngoài trời mưa bụi bay.

 

Rồi là những chữ thảo, chữ triện, chữ chân phương ... thi nhau xổ móc tung hoành, những lời chúc, lời cầu, lời xin thi nhau bay lượn. Ba cái chữ phước- lộcthọ thì tròn trịa như chính sự sung mãn, những câu thơ chữ Hán quen thuộc năm-nào-như-năm-nấy-từ-đã-mấy-ngàn-năm. Thiên tăng tuế nguyệt, nhân tăng thọ. Xuân mãn càn khôn, phúc mãn gia ... đọc lên nghe rổn rảng cứ y như là phường tuồng. Vậy mà vui lắm. Mà chí tình lắm. Ðủ để người ta nghe hớn hở, nghe náo nức, nghe rộn ràng, nghe hy vọng dù có đang chạy chết để lo ba bữa tế t... Vậy chớ mùa xuân không phải là mùa hy vọng sao, tết không phải là hy vọng sao. Cho nên bỏ ra vài đồng bạc để mua về tấm giấy đỏ treo nhà cũng được, mà không mua cũng không sao, lời chúc lành đã bay đầy trời đó .... Ai cũng được hưởng phước lây...

 

Rõ ràng là ăn-tết ăn gì cũng được, nem, bì, bánh tét, bánh ít, thịt kho dưa giá xàbần, bánh phồng tôm, bánh phồng-mì-va-ni-nước-cốt-dừa-đường-cát-trắng... gì gì cũng được. Nhưng cái không thiếu được là mấy tấm giấy đỏ chữ đen mang một lời chúc lành không biết có ứng kịp hay không trong năm. Mà điều ứng hay không lại là chuyện khác. Chuyện ở đây là cái vẻ tết mà ông đồ và mớ giấy đỏ của ông đã tạo nên trong sinh hoạt dân gian. Làm như cả hai, ông đồ và ngày tết, đã được gắn liền vào nhau bất khả phân ly. Nói như vậy không có nghĩa là phụ bạc cái công đóng góp rất khoái khẩu của dưa hấu, của hột dưa -ôi cái miệng cắn hột dưa kêu lách tách còn trây trét lại trên môi dấu đỏ xinh xắn như một vết răng cắn phạm !-, của hột sen, của chuối ngào gừng, của bánh mứt, của la de tôm khô củ kiệu ... Nói như vậy chẳng qua là ngầm hảnh diện cái tánh trọng văn của người Việt. Bởi vì làm như ba cái thứ đồ ăn thức uống đó mới chỉ là da là thịt của tết. Còn chính mấy tấm liễn đỏ của ông đồ già mới là cái phần hồn làm nên phong vị. Dĩ nhiên cái nào có phần nấy, không có kỳ thị gì hết. Tuy nhiên mấy chục năm rồi, ở đâu đó trên mặt đất này, ngoại trừ cái chỗ chúng ta đã sinh ra và “ăn tết” trước khi bỏ trốn, những cái tết qua đi nếu không lãng nhách thì cũng lãng òm mặc dầu thì cũng thịt kho dưa giá, khổ qua dồn thịt, rượu tây rượu tàu ... chính là vì có còn cái phong vị đó đâu. Chẳng phải chỉ riêng cái đó làm nên tết đâu, mà là một tổng thể còn nhiều thứ khác nữa, nhưng thiếu gì thì thiếu mà thiếu cái hình ảnh lãng đãng đó nên mọi cái khác có đó mà như mất hồn ...

 

Người ở xa, xa tăm tắp quê hương, không những chỉ quan san ngoài sông núi, mà quan san ngay chính giữa lòng mình. Biển xanh thì cứ y nguyên dặm trường mà lòng người thì tang thương đã quá độ. Trí nhớ thì cứ như một người tình khó tánh, nay vầy mai khác, cái muốn nhớ thì quên, cái muốn quên thì lại nhớ. Ai đời đã xa ơi là xa trời đất đó, khí hậu đã lộn lạo, mùa màng đã sang đàng mà mỗi năm cứ gở tới tờ lịch Tam tông miếu cuối (ấn bản hải ngoại) là lòng cứ thấy băn khoăn rồi năm nay sẽ ăn tết ra sao. Hỏi thì cứ hỏi chớ câu trả lời thì đã sẵn đâu từ hồi mới bỏ xứ mà đi. Ở đây có tết đâu mà ăn. Mà có ăn thì cũng trệu trạo ba cái món cam-giang-nam-đem-trồng qua-giang-bắc cũng chỉ thấy nhạt phèo. Chỉa đủa gắp miếng thịt đọng mở đục ngầu là cái bụng lại ớn ngược nhớ miếng thịt phay trụng nước sôi trong vắt. Nhai miếng dưa-cải-bọc-ny-lon-made-in-Thailand là cái răng tê tái nhớ miếng dưa-cải-má-muối-trong-khạp-đậy-bằng-lá-chuối-sauvườn ... Còn ba cái hội xuân chợ tết cũng phải kéo nhau vào trốn lạnh trong những hội trường cửa nẻo kín bưng tới nỗi áo dài người xưa tha thướt đến vậy mà bây giờ hai vạt cũng đành buông thỏng ngây đơ đến tội tình. Ôi ! Áo màu không gió cũng thôi vàng. Trong ta còn lại đìu hiu vắng ...

 

Nói vậy rồi ngẫm nghĩ lại mà thấy băn khoăn. Hóa ra cái ăn cái mặc của người ta coi vậy mà quan trọng hết sức. Người lưu vong ở xứ người ăn uống đủ thứ thập vật. Nhất là ở những xứ gọi là họp chủng đa văn hóa này, thực phẩm là cái món được chủ trương cho sống chung hòa bình nhất. Từ cái món cầm tay " to go " đơn giản nhất tới cái món nấu nướng cầu kỳ nhất, từ cái kiểu ngồi bệt ăn bốc ăn hốt đến cái kiểu ngồi thẳng lưng ăn ly tách dao nỉa lỉnh kỉnh nhất ... phải nói là không thiếu cái chi. Thử, nếm, chấm, mút ... ôi thôi tha hồ. Thiếu điều riết rồi có khi phải tự đặt cho mình những kỷ luật kiêng cữ còn nghiêm nhặt hơn kỷ luật nhà binh nữa. Vậy mà xét ra chưa đủ. Bởi vì như đã nói ăn gì thì ăn lang bang được mà ăn tết lạ chỗ thì không được. Ăn tết ở xứ người trăm phần không thấy ngon. Muốn ngon miệng phải về ăn tết tận quê tận nơi tận chỗ. Phải ăn tết với tất cả cái phụ tùng cần thiết của nó. Một nhánh mai, một cành đào, một chậu thủy tiên, một đòn bánh tét nấu đêm giao thừa bằng nồi đất chụm lửa củi, một miếng bánh phồng nướng lửa than ... một bao thơ đỏ, một tấm liễn hồng điều ... và nếu được đôi ba chùm pháo chuột lại càng vui như ... tết.

 

Chẳng vậy mà mới nghe phong phanh tết đến đã không ít người vội vã chầu chực, chạy chọt, xin xỏ cho được cái visa (dù mình về quê mình) để ... ăn tết. Tin trong một tờ báo ở đây năm nay có đâu khoảng 300.000 việt kiều hồi hương ăn tết. Nghe mà thương nhưng buồn. Hóa ra hằng năm dù ở đậu nhưng cũng ăn nhờ không biết bao nhiêu lễ lạc lớn nhỏ của người ta, từ tạ ơn đến giáng sinh, từ halloween đến tết tây... vẫn là chưa đủ. Lòng việt kiều vẫn muốn khều cành nam. Ðồng đô la xanh vẫn mạnh hơn đồng đô la vàng. Và nhờ đó, tết nhứt lại có chiều nhứt dạ đế vương (không giương cũng uổng !!! )

 

Trách ai bây giờ. Người ta về quê ăn tết cũng là hợp với cái luận lý nước chảy về nguồn, dù cái nguồn đó có đôi khi làm người ta tá hỏa tam tinh như Từ Thức về trần. Thì thôi ăn tết ở đâu cũng vậy, ăn tết ở quê nhà ... nhà nước cám ơn.

 

Chỉ đáng đời cho cái đám thân đã quy Tào mà hồn còn Từ Thứ, bắt chước Bá Di với lại Thúc Tề, cứ ráng gồng mình chịu rét làm cái thân thông suông đuột đứng giữa trời mà kêu réo, đến ngày tư ngày tết trùm khăn trùm áo, mang ủng lội tuyết đi đón xuân ở một nơi chưa tới kỳ xuân, làm bộ ăn tết ở một chỗ không có gì là tết. Chừng không thấy tết ở đâu thì buồn mà khi có người dổ ngọt về quê thì dẩy nẩy như đạp phải đinh chong tẩm độc...

 

Mà điều nói thì nói vậy, chớ ngó trước ngó sau rồi càng lúc càng thưa thớt những tấm lòng lạc điệu đó. Mỗi một năm một vắng... chẳng khác gì cái ông đồ già trong thơ Vũ Ðình Liên ... Nhưng mỗi năm mỗi vắng ...

 

Ông đồ vẫn ngồi đây

Qua đường không ai hay

 

Qua đường không ai hay !!!

 

Caovị khanh

 

* tựa và chữ in đậm, trích thơ của Vũ Ðình Liên

____________________________________________

CVK_cuoinamdocNB.JPG

Nguyễn Bính đã có lần từ Bắc vào Nam. Con đường xe lửa xuyên Việt thời đó kể đã là thiên lý. Bỏ xứ đi xa đằng đẳng như vậy thì làm hành là phải lắm. Hành Phương Nam.

 

Đôi ta lưu lạc phương nam này.

Trải mấy mùa qua én nhạn bay

Xuân đến...(*)

 

Tâm cảnh đã không yên thì xuân đến hay xuân đi cũng chỉ là cái cớ. Lòng đã ở ngoài đó thì trời nước trong này chỉ là một dãy bơ vơ. Đầu năm hay cuối năm có khác gì nhau khi thời gian chỉ là thứ dấu mốc cắm chia những đoạn đời hồi ức.

Ta đã làm gì đời ta. Ý nối ý quấn quít, chữ níu chữ không rời làm thơ tuôn ra như bầy ngựa sút cương, xổ bờm mà chạy. Hành. Đọc lên thấy bồi hồi xốn dạ...

Xuân đến khắp trời hoa rượu nở.

Riêng ta với ngươi buồn vậy thay

Lòng đắng sá gì muôn hớp rượu

Mà không uống cạn mà không say (*)

 

Say. Uống cạn. Mà chắc gì uống cạn rồi say. Khi ruột đã đau-chín-chiều thì uống bao nhiêu cho cạn nhớ. Túy đảo túy điên sầu tự sầu.

Cuối năm. Đất khách. Thơ ai không nhớ lại nhớ thơ ông. Lại nhớ đúng cái bài hành ông đã làm khi lưu lạc trong nam, lúc năm cùng tháng tận.

Hành.

Những bài thơ dài như không muốn hết. Những ý tình lơ lửng như không biết bám vào đâu. Những câu thơ bảy chữ âm vận mang mang như nỗi lòng sấp ngửa.

Hành. Trăm mối ngổn ngang. Chữ nghĩa ba đào dậy từ lòng lữ thứ.

Đôi ta lưu lạc phương nam này

Trải mấy mùa qua én nhạn bay(*)

 

Phương Nam. Trời Nam ngàn dặm thẳm, mây nước một màu sương. Nguyễn Bá Trác.

Đọc hành rồi biết ông ở nam mà nhớ bắc nên lòng tôi lại cứ chực chờ đổ ngược mà xuôi nam.

Miền nam. Quê tôi đó. Miền nam, Sài-gòn, lục tỉnh. Miền nam, Vĩnh long, Rạch giá... Miền nam, cái miền đất mưa nắng hai mùa chán phèo, không gợn chút heo may để làm nhớ, không thấm chút mưa phùn để vướng lạnh vai ai. Vậy mà tôi cũng nhớ lắm như ông nhớ quê ông vậy. Xuân đến khắp trời hoa rượu nở. Riêng ta với ngươi buồn vậy thay.

Ông bỏ đất bắc vào nam có non ngàn cây số đã coi là lưu lạc. Tôi ở đất trích mịt mù san dã chắc phải nói là lưu lạc tới chục lần. Ông xa quê vì lý do nào không rõ nhưng dù cay đắng cách mấy ông vẫn còn có chỗ để quay về. Chớ còn tôi bỏ quê vì một lý do rất rõ nên không còn nơi để trở lại. Ông làm thơ giọng điệu cao kỳ ngất ngưởng mà nghe ra sao cứ thấy ngậm ngùi... Ngươi sang bên ấy sao mà lạnh. Nhịp trúc ta về lạnh mấy mươi. Tôi đọc thơ ông rồi cũng ngậm ngùi theo. Lúc năm cùng tháng tận, tôi thương ông rồi lại thương tôi...

Xuân đến khắp trời hoa rượu nở (*)

Hoa rượu ?

Mà nào tôi có thấy hoa rượu ra sao. Sao không đọc thử lên như giữa lòng tôi, đã thấy.

Xuân đến khắp trời “hoa mận” nở

Xuân đến khắp trời “hoa mận” nở

Hoa mận. Thứ hoa nở thành chùm trắng muốt cứ rung rinh mớ nhụy vàng như để dỗ ong bướm về chơi. Hồi đó hơi sức đâu mà để ý tới cái thứ bông hoa quêmùa kiểu lòng mương ý rạch. Vậy mà bây giờ sao lại nhớ ơi là nhớ. Nhớ con đường số 4 chạy miệt mài qua những vườn mận Trung lương Bến Lức. Nhớ lớp đất đen vét mương vun gốc bốc dậy mùi sình non sỗ sàng. Nhớ giỏ mận hồng  đào mịn mướt như má con gái dậy thì chất đống hai bên bờ bắc Mỹ thuận. Nhớ cây mận lão đầu nhà cháy nám đạn bom vẫn thủy chung ngọt lịm. Nhớ bầy kiến vàng kiên nhẫn bò ra bò vô nếm mút tranh kình với đàn ong đám bướm. Hồi đó. Cả một giồng đất phù sa từ miệt Cái bè Cai lậy đổ dài tới Sa đéc Vĩnh long bỗng trở mình thơm ngát khi gió cuối năm chớm lạnh làm nở bừng từng chùm hoa mận trắng tươi. Tinh sương, hương đã dậy đồng, bay qua vườn qua rẩy, len qua mấy cánh cửa lá sách, chui vô mấy cánh mũi phập phồng như để chọc ghẹo cái khứu giác còn ngái ngủ. Xuân đến khắp trời hoa mận nở. Một trời bông mận nở.

Quê tôi bừng dậy náo nức theo nhịp mùa sang. Năm sắp hết. Lúa mới phơi giữa sân. Sau nhà đã nghe tiếng chày quết bánh phồng inh ỏi... Rồi Tết đến, rồi...

Chút vậy thôi “hoa rượu” của ông đã làm dậy cả trong tôi mùa màng thời tiết cây trái của một vùng đất thân quen đã bắt đầu lạ lẫm. Chút vậy thôi “hoa mận” của tôi bỗng làm nhớ đến cả những con người ở đó, đã có lúc keo sơn gắn bó giờ thì xa đến ngăn ngắt một biển dâu. Người còn sống, thắc thỏm. Người đã chết, uất hận. Và sự sai chạy của một hẹn thề.

Lời thề buổi ấy cầu Tư Mã

Mà áo khinh cừu chưa ai may

Ngươi giam chí lớn vòng cơm áo

Ta trói thân vào lụy nước mây

 

Ai biết thương nhau từ buổi trước

Bây giờ gặp nhau trong phút giây

Nợ thế trả chưa tròn một món

Sòng đời thua trắng đến hai tay(*)

 

Ta có làm gì đời ta. Hay ta chỉ bội phản đời ta. Đã có lần nào ngồi lại, ngó ngược ngó xuôi, tính lui tính tới để thấy ta đã làm gì đời ta. Bỏ nước ra đi đâu phải để cầu tư mã. Vậy mà đôi năm đã nhụt chí sờn tâm. Vậy mà mươi năm chuyện nước non đã trơn trớt ngoài đầu môi chót lưỡi. Quanh đi quẩn lại phường tuồng vẫn còn đó, chỉ có cái chữ sắt son là thua thiệt.

Tâm giao mấy kẻ thì phương bắc

Ly tán vì cơn gió bụi này

Người ơi, buồn lắm mà không khóc

Mà vẫn cười qua chén rượu đầy(*)

 

Ngày Kinh Kha ngược sóng sang Tần, mấy ngàn con dân nước Yên đầu chit khăn trắng vòng tay tiễn ra tận bờ sông Dịch. Việc không thành nhưng ít nữa cũng không phụ lòng Phàn Ô Kỳ tặng đầu và mỹ nữ đã hiến tay-chuốc-chén.

Hỡi ơi Nhiếp Chính mà băm mặt

Giữa chợ ai người khóc nhận thây

Kinh Kha quán lạnh sầu nghiêng chén

Ai kẻ dâng vàng kẻ biếu tay(*)

 

Ông Nguyễn Bính ơi, ông nói chuyện ông mà lồng chuyện đời chiến quốc, cái thuở có những hào sĩ mài dao trủy thủ, ngậm than, rạch mặt, nằm giường gai, nếm mật đắng ... để giữ một lời thề...

Lời thề. Lời nguyền. Rồi ra chỉ là cố sự.

Cuối năm, đọc tới đọc lui mới thấy thơ ông làm mấy chục năm trước mà vẫn còn mới nguyên tới bây giờ. Đời nào con mắt thế nhân cũng trắng dã. Tâm của ông là tâm kẻ thất chí mà thơ của ông là thơ kẻ ngang tàng. Giọng tha thiết kêu rêu mà vang âm lạnh lẽo có khác gì tiếng cười gằn, khinh bạc. Cái kiểu nói cười sang sảng mà bụng dạ rầu rĩ đã quắt queo. Sao không một lần vung tay cho huê dạng.

Vẫn dám tiêu hoang cho đến hết.

Ngày mai ra sao rồi hãy hay(*)

 

Ném tới đồng bạc chót vào cuộc chơi. Hay xả thân tới cùng cho một lý tưởng.

Nhìn từ một góc độ nào đó, cả hai có khác gì nhau. Dẫu sao cũng còn tiếng taychơi-thứ-thiệt. Chẳng hơn cái đám mày râu nhẳn nhụi, sĩ-khí-rụt-rè-gà-phải-cáo, hai con mắt láo liên chỉ chực chờ đón hướng gió mà náu thân. Hai chữ hão hớn, rồi ra, chỉ còn để gọi cho đám yên hùng ngoài bến nước.

Ông có điều khó nói mượn chuyện xưa mà cay đắng chuyện nay. Tôi đọc ông mà thấy nguyên hình kẻ thất thế, bó tay đành đoạn. Giày cỏ, gươm cùn, ta đi đây. Đi đâu? Chẳng qua cũng chỉ để dối lòng. Còn chỗ nào để tới khi cái chỗ phải về đã bít lối, chỉ còn qượn từng đám mây trắng tha hồ, khi ngoảnh lại.

Mây trắng. Vân hoành Tần lĩnh gia hà tại.

Ở đây không có núi nên không có mây vắt ngang đầu núi. Tôi lại đâu có được cái nghênh ngang như ông tướng tàu nào đó mà chỉ tay cảm thán. Vậy mà đọc thơ ông vẫn thấy mây bay cuồn cuộn về nam. Về Nam.

... trời Nam mù mịt. Hồ trường. Sao lại nhớ Nguyễn Bá Trác. Trai trẻ bao lâu mà đầu bạc, trăm năm thân thế bóng tà dương. (**)

Ta đã làm chi đời ta !

Người ơi buồn lắm mà không khóc !

 

Cao vị khanh

(*) thơ Nguyễn Bính (**) thơ Nguyễn Bá Trác

________________________________

CVK_Su thi.JPG

SỬ THI

 

HUYỀN TRÂN

em ngồi con-mắt-huyền-trân

tôi qua cửa lớp không dưng ... buồn buồn!

em buồn điệu quá ải quan

tôi buồn cái điệu tướng Trần, ngậm cay.

 

NGUYỆT NGA

em ngồi con-mắt-nguyệt-nga

cái môi cắn chỉ như "tha" bả trầu

nhỏ ơi thương nhỏ mà rầu

lỡ làm quân tử hảo cầu sao đang.

 

MỊ NƯƠNG

em ngồi con-mắt-mị-nương

tay che nửa mặt điệu buồn cổ thi

từ em, tiếng ấy thầm thì

tim tôi chén ngọc Trương Chi…vỡ òa.

 

GIÁNG KIỀU

em ngồi con-mắt-giáng-kiều

tôi rao Kỳ ngộ thiếu điều ruột đau

làm sao về lại Bích Câu

khi em áo lỡ qua-cầu-gió-bay.

cao vị khanh

_____________

CVK_và rồi những cuộc chia tay.JPG

Có lần tin đến muộn, rất muộn, nhưng dẫu sớm hơn cũng chẳng níu giữ được ai, họa sĩ Chóe tức Nguyễn Hải Chí vừa từ giã cõi đời. Những nét minh họa bén như dao khắc trên tuần báo Khởi Hành những năm 60-70 đã từng làm sửng sốt hơn một người xem.

 

Trước đó tin ca sĩ Duy Khánh qua đời. Tiếng hát trúc trắc của miền Trung trục trặc dẫu thích hay không vẫn rất thân quen trong cái sinh hoạt văn nghệ rất mực trăm-hoa-đua-nở của miền Nam ngay từ lúc bom đạn còn đương mù mịt. Chừng đâu tháng trước nữa, ở Úc, điêu khắc gia Lê Bá Ðảng cũng bỏ đồng bỏ đá bỏ dao cọ mà đi...

 

Dẫu trước hay sau rồi cũng lần lượt bỏ đi, nhà văn Mai Thảo, nhà thơ Nguyễn Tất Nhiên ... lâu hơn nữa những Việt Hùng kép đẹp của Ðầu xanh vương khổ hận, Hùng Cường kép mùi của Tướng cướp Bạch Hải Ðường, nhà văn kịch tác gia Vũ Khắc Khoan của Thần tháp rùa, nhạc sĩ Phạm Ðình Chương của Mộng dưới hoa, nhạc sĩ Trúc Phương mà ai đã có lần qua cổng một trung tâm nhập ngũ nào đó lại không nhớ thứ ngôn ngữ tình đặc biệt làm bằng dấu đôi tay, nhạc sĩ Trầm Tử Thiêng với cái phát giác rụng rời ta nghiêng vai nghe lại cuộc đời thì hãi hùng hoàng hôn trờ tới, rồi Nguyên Sa của nắng Sài gòn anh đi mà chợt mát, rồi còn Lê Uyên Phương và Vũng lầy của chúng ta, rồi ở tận bên nhà Út Trà Ôn ôngcòquận-chín, lâu lâu hơn nữa nhà thơ nhà báo Thanh Nam của Bài hành bốn mươi... Bao nhiêu tên tuổi của một thời đã lần lượt bỏ cuộc chơi mà đi mất... Và còn ai nữa... còn ai nữa...

Tích nhân dĩ thừa hoàng hạc khứ

Thử địa không dư hoàng hạc lâu

 

Cái mặt đất này rồi đến lúc trơ trụi như cái lầu hoàng hạc và ánh chiều tà của một ngày xa xứ sẽ đìu hiu biết bao nhiêu...

 

Có những tên tuổi rất quen và còn bao nhiêu tên tuổi không quen biết, đã đến rồi đi, giữa cơn trường hận này...

 

Hơn ba mươi mấy năm trước, giựt mình bỏ chạy, có mấy người liệu được ngày gởi thây đất khách. Vậy mà ngày về rồi xa lắc xa lơ... Rồi tuổi tác, rồi bệnh hoạn, rồi gói mộng mà đi...

 

Cái chuyện người nhắm mắt xuôi tay cũng thường như cái chuyện người mở mắt chào đời, hằng hà sa số, ai hơi đâu mà kể lể. Có họa chăng mấy kẻ thân thích hoặc khóc hoặc cười... Mà điều, trong cái hoàn cảnh dở khóc dở cười của tôi, của anh của chị, của những người nửa đời nửa đoạn sao nghe ra cứ thấy ... ngậm ngùi. Có một cái gì đó đã qua đi, đang qua đi và sẽ qua đi mất... Cái gì đó là cái thời của chúng ta liền với một khoảnh đất, dù vinh quang hay tủi nhục, vẫn là suốt một thời chúng ta đã góp mặt, cùng khóc cười theo vận nước nổi trôi.

Tùng cúc lưỡng khai tha nhật lệ

Cô chu nhất hệ cố viên tâm.

Giọt nước mắt ngày nào. Tấm lòng vườn cũ. Chữ của Đỗ-Phủ-lưu-lạc đôi khi mới thoáng nhớ đã nghe như nước mắt chực chờ ! Tội tình chi đeo đẳng khi đã cuối một đoạn trường ...

 

Xứ người gần bốn mươi năm vẫn thấy lạ trời lạ đất. Làm sao không lạ lẫm những tấm lòng. Còn lại chút quen-hơi-bén-tiếng dẫu không thân thích vẫn nghe ra rất ruột rà. Chút tơ-lòng-đã-cũ cứ làm nhớ triệu điều tha thiết cũ. Ở đây đôi khi nghe lại một tiếng hát một đoạn nhạc đã nghe từ khi còn ở quê lòng bỗng bồi hồi như thấy lại mình một ngày nào ở đó, đọc một câu thơ một bài văn của một người mình đã mến mộ từ khi chưa đi xa lòng bỗng thấy như thâu ngắn lại được chút nào cái khoảng cách trời cách biển. Làm như có một cái gì đó lẫn lộn giữa quê hương và người nghệ sĩ, kẻ thừa tự đầu tiên và cuối cùng mọi ân phước cũng như oan khiên của đất nước. Trong một liên hệ nhân quả nào đó, có phải nghệ sĩ là kẻ đã thừa hưởng cái tài hoa của dân tộc, ân huệ của đất đai thổ trạch, của sông ngòi kinh rạch, của mùa màng thời tiết nơi họ đã được sanh ra, lớn lên và un đúc nên vóc nên tài. Có phải chỉ chút gió lạnh đổi chiều đã làm lòng họ sang thu. Có phải hoa mới ngập ngừng đơm nụ mà hồn họ đã vô vàn cánh bướm. Họ hưởng trước ai hết và trả sau ai hết cả vốn lẫn lời từ hạnh phúc đến khổ đau của một dân tộc. Họ đã và đang làm cái kiếp con tằm cố trả hết nợ cho dâu. Có phải trọn hết cái hồn hậu của phù sa mấy miệt lục tỉnh đã trộn lộn lại cho mình ên ông Út ở Trà Ôn cái hơi vọng cỗ nghe mùi đến tận mạng. Có phải thi sĩ là kẻ đã thở cùng hơi với hương đồng cỏ nội hai bên bờ Cữu Long bát ngát, đã nhịp cùng mạch với nhấp nhô núi cả đèo cao suốt dọc dãi Trường Sơn ... Từ đó, tiếng họ ru hời có lẫn tiếng à ơi của mẹ già bỏ lại. Tiếng họ thở than có tiếng rên siết của quê hương tù đày, nghe họ hát hò, viết văn làm thơ, vẽ khắc ... làm sao không thấy lại cả một trời quê hương được dựng lại. Dẫu có mông lung.

Ờ, họ dính liền với quê hương như một. Nghe họ là nghe quê hương lên tiếng. Ðọc họ như thấy chính quê hương tâm sự. Trong một lúc. Vào một thời. Có ta ở đó. Mấy chục năm nay cứ bám víu vào họ mà sống, mà buồn vui... mà tự nhủ còn đó, còn đó... cái thời của chúng ta.

 

Có nhớ không chính những nét vẽ của Chóe đã làm nôn nao người thầy trẻ mỗi tuần chờ báo Khởi Hành trong một tiệm sách nhỏ dưới gốc cây me già ở một tỉnh miền tây. Những năm 70. Không khí tỉnh lẻ. Cái gì cũng chừng chừng phải phải. Ông thầy trẻ hai mươi mấy tuổi lại cứ thích để tóc dài, quần jean bạc thếch áo phạch banh nút ngực... thả lang ngoài phố như một tên du đảng.. Ờ nét vẻ của Choé ngang tàng trái cựa y hệt như một tuổi thanh niên cứ muốn thách đố với đời.

 

Vài năm trước nữa, những ngày thứ bảy lượn dài trên hè phố Lê Lợi, đợi nắng xuống chiều lên khi mấy cây me già vừa thả lá, kéo nhau vào quán Cái Chùa, gọi tách cà phê hay cốc rượu ngọt, đốt điếu Gitane thả khói loanh quanh rồi nghe Joe Marcel hát Phạm Ðình Chương bằng cái giọng rất lừng khừng chưa gặp em tôi đã biết rằng có người thiếu nữ đẹp như trăng... ... Ờ sao mà quên được, quên làm sao được, Sài gòn thuở đó thở nồng hơi nhiệt đới, má ửng hồng mà chẳng chút phấn son, tóc mai quến mấy giọt mồ hôi thoang thoáng, lưng áo vải tetoron vô ý mà hữu tình, ai mà không thích Lê Uyên Phương, khi có lần từ một căn gác trọ bước theo em xuống phố trưa nay mà đang còn nhức mỏi đôi vai...

 

Vâng những người nghệ sĩ đó họ đã nói giùm ta điều ta nghĩ -mà nói rất điệu, vào một lúc nào đó, ở một chỗ nào đó... Và như vậy, họ chính là ta vào lúc ấy, ở chỗ ấy... Cái lúc cái chỗ ở riết thành quen mà xa rồi là nhớ ơi là nhớ. Cái chỗ người ta nói tiếng Việt Nam, hát tiếng Việt Nam, làm thơ viết văn bằng tiếng Việt Nam, yêu nhau bằng tiếng Việt Nam và gây gổ chửi rủa bằng tiếng Việt Nam ... Họ là tiếng nói của một thời, là nhân dáng của một thuở. Nghe họ thấy họ làm như còn thấy lại một mảnh giang sơn đã rách bươm, từ lúc bỏ đi ... Ðọc họ nhìn họ như còn thấy lại cái góc vườn-cũ, của lần gặp đầu, của buổi chia tay, đường quen phố thuộc, chòm xóm thân quen, những giòng sông hẹn, những bến đò đưa... Những ca nhạc sĩ của một thời, những văn thi sĩ, những họa sĩ đã rung lòng theo nhịp rung của thời đại, những năm giặc giã, những năm chia lìa, bây giờ đang lần lượt ra đi, mang theo với họ sợi dây chằng giữ con thuyền lưu lạc với cái bến cũ đìu hiu.

 

Họ bỏ đi, chúng ta mất thêm lần nữa, quê hương.

 

Và nhất là nhìn từ một góc nào đó, họ còn là hình ảnh của sự tái tạo từ tro than, của sự phục sinh từ cơn bức tử. Hay nói cách khác, của một giấc mơ vĩnh cữu về một cảnh đời tạm bợ.

 

Họ đi rồi, bỏ lại dở dang ta, những hồi mơ xuân hiếm muộn.

 

Jorge Luis Borges. Tâm hồn thi sĩ có bao giờ thôi ước hẹn với thanh xuân.

 

Khi những ngôi sao bắt đầu tắt lửa, vòm trời giống y như một cõi lòng trống trơn.

 

Cao vị khanh

 

* Hơn 10 năm trước, viết với đề tựa Bắt đầu ... Mười mấy năm sau, dẫu không muốn rồi cũng phải sửa lại ... Và rồi ... và rồi những cuộc chia tay vĩnh viễn!

 

viết thêm

 

* Nguyễn Tất Nhiên “ Ngày 3 tháng 8 năm 1992, người ta thấy anh nằm chết trong một xe hơi cũ, đậu dưới bóng cây trong sân chùa tại California ” - Wikipédia. 

Thi sĩ Gởi theo NTN , người thi sĩ bạc mệnh

 

Tôi chắc người buồn từ một thuở

Đất trời còn dậy dáng hoang sơ

Cõi trong chưa tỏ niềm trăn trở

Người hãy còn chơi một cõi mơ

 

Tôi biết người vui chỉ phút giây

Đáy ly rượu cặn chát men say

Những hình hư ảo xoay cuồng vội

Tắt lịm khi trời trắng bóng mây

 

Tôi biết những người khóc lẻ loi *

Lệ nghẽn đường tim chẹn khóe môi

Gởi trả nợ tầm vay lỡ kiếp

Gối vòng nguyệt quế ngủ quên đời *

 

Thanh Tâm Tuyền

* Mai Thảo mất ngày 10 tháng 1 năm 1998 tại Santa Anna, Ca

Rượu khôn cầm

gởi theo Mai Thảo

 

Ta vẫn ngồi yên, đối bóng im

Người đi, chân nhủn có ai kềm

Chén rượu trần gian chừng đã cạn Chần chờ chi nữa, có gì thêm?

Người đi bất chợt thế mà hay

Rượu đã khôn cầm, cứ uống say

Rồi mai đập chén vào hư ảo

Rượu của trần gian trả lại mây

Rượu đỏ như lòng thuở mới yêu

Rót tràn theo mấy bóng đời xiêu Ngoài kia phố thị chiều thay áo

Quán nhỏ người xanh mắt tịch liêu

 

Ta với người chung một tuổi sầu

Dẫu đời kiêu hãnh giấu niềm đau

Đêm say bốc rượu cay tròng mắt Lòng vẫn ngùi thương chuyện bể dâu

 

Hãy giả vờ vui đêm trắng đêm

Tay xuôi oằn mỏi thiếu vai mềm Người đi ngoài cõi mù sương trắng Bãi trống loang dài một vết chim ...

(cuối tháng giêng chín-tám)

- Gởi thêm

Rồi miếu đền xưa cũng vắng tanh

Thơ bay cứ vướng một điệu hành

Hàng hàng xác chữ nằm thoi thóp

Đợi lửa phần thư cháy đoạn đành.

(tháng mười một chín-tám)

-Nhắn người đi ...

Nhắn Mai Thảo viên đạn đồng chữ nổi

Vẫn còn ghim trên chót đỉnh ngọn trời

Bãi cỏ non theo từng tháng giêng tươi

  Hình vẫn sáng giữa miếu đền trung thực

(chữ nổi – trích tựa vài tác phẩm của Mai Thảo)

***

... từ bài viết tới nay, đã thêm bao nhiêu cuộc chia tay, ồn ào hay thầm lặng, thì cũng là những cuộc chia tay ... vĩnh viễn!

Ờ, vĩnh viễn ... vì có bao giờ còn thấy nữa những trang chữ nghĩa tinh tế kiểu chẻ-sợi-tóclàmtư của Võ Phiến, những thao thức cội nguồn của Bình Nguyên Lộc, những hào hoa phóng lãng của Nguyễn Xuân Hoàng, những điên đảo phiêu bồng của Bùi Giáng, những nghênh ngang ngất ngưởng của Phạm Công Thiện, những và những

... Ờ, vĩnh viễn .... vì bên giáo-đường đã im bóng Quỳnh Giao, vì Hà Thanh đã thôi lướt thướt qua những-chiều-mưa-biên-giới, vì “ sầu nữ ” Út Bạch Lan đã tắt nhịp não nùng, vì Đinh Cường đã bỏ màu buông cọ, vì nhạc sĩ Thanh Bình đã bỏ-ta-trong-mưa-bay thì làm sao còn thấy lại được những mùa-thu-vàng-sau-lưng-ta nữa

... Rồi Phạm Ngọc Lư với Biên Cương Hành cũng vừa vượt cương tỏa bỏ tới vô biên...

Rồi ....

     Rồi ...