top of page
hmpg.jpg
Titlej (1).jpg

Thơ văn

CAO VỊ KHANH

Montreal, Canada

CHS PTG-CGS Nguyễn Trung Trực, Rạch Giá

___________________

cvk_thovecoquan_2.jpg
cvk_thang gieng.JPG

Rồi tết qua đi, sầu ở lại

Quê nhà xa huốt một đường bay

Rượu xuân ai ướp mùi quan ải

Mà thấm xa thêm những dặm dài !

 

Bốn câu hai mươi tám chữ, cụt ngủn. Lỡ có muốn thêm cũng chẳng biết thêm gì. Mà có thiếu gì không, mấy câu gọi là thơ, buổi chiều mùng-ba năm đầu tiên ăntết ở xứ người.

Một năm trước đó, ngay bửa ba-mươi-tết, tôi bồng đứa con gái đầu lòng lên năm, đeo xe đò từ một tỉnh ở phía cực tây, về thăm cha mẹ ở một làng quê giữa hai nhánh sông Tiền và sông Hậu. Luôn thể để báo tin một chuyến đi xa. Xa lắm, không biết có tới nơi tới chốn. Mà cũng chẳng biết ... rồi sẽ có một ngày về. Gia đình đông con, bốn trai năm gái. Nhưng lần ấy, ba anh em trai còn đâu đó trong các trại tù heo hút mấy miệt rừng núi Lào Kai, Yên Bái ... Mấy chị em gái cũng bận đi nuôi chồng trong các trại lán lẩn lút giữa một miền Nam thân quen bỗng sớm chiều trở thành lạ lẫm.

Chỉ còn tôi và đứa cháu gái ngu ngơ hớn hở vì được về thăm nội dù từ khi lọt lòng chưa một lần được nội ẳm bồng.

Đêm ba mươi. Ba tôi thắp ngọn đèn dầu leo lét trên bàn thờ tổ tiên cho tôi lạy từ biệt đất nước ông bà. Ngôi nhà gạch xinh xắn có giàn bông giấy tím ở tỉnh bị cướp trên tay, đổi thành căn nhà lá vách tre đứng chênh vênh trên doi đất vói ra vàm kinh Bình Phụng. Đêm cuối năm, trăng sao trốn biệt. Đêm trừ tịch, gió rền rĩ lẫy hờn. Đêm sinh ly, sóng vổ bờ như vổ vào chính lòng tôi, từng điệu oán.

Lễ xong, tôi xoay qua, mếu máo quỳ lạy sống ba má tôi, lần đầu mà nghĩ là lần cuối. Con gái thấy lạ cười ngặt nghẽo trên tay bà nội.

Sáng hôm sau, bồng con quày trở lại nơi mai mốt sẽ khởi đầu cho chuyến đi vô định.

Mùng chín tết năm đó, tôi rời Việt Nam.

Một năm sau, tôi ăn tết ở một nơi không có bàn thờ ông bà, không cha không mẹ, không anh chị em, không hoa mai cũng chẳng mứt gừng mứt bí... Chung quanh tôi, tuyết trắng, trắng đến mênh mông như một cõi lòng đã lạnh. Trái đất quay, quay theo chiều quay nghiệt ngã. Xuân ở quê nhà, quê người đã quá nửa chừng đông.

Giữa đêm, trời đổ tuyết. Từng nhúm tuyết mịn bân mà nhẹ hửng như bông gòn thổi bay xối xả, nhuộm trắng cả đêm đen. Gió réo, tuyết loay hoay xoay chiều, lắm khi luống cuống như lạc nẻo, quẩy đập vào nhau vật vã như tiếng kêu khổ của mùa. Đêm gượng sáng mà có ngó ra thử tìm hướng cố hương cũng chỉ thấy mù thêm hai con mắt vốn đã thất lạc, từ khi. Nhìn tuyết trắng trời mà cảm thán tới muốn sửa thơ Nguyễn Bính tiếc Huyền Trân. Giờ đây chín vạn bông trời nở / Riêng có lòng ta khép lại thôi. Ông ta tả hoa lá mùa xuân rực rỡ ở đâu không biết. Chớ ở đây, cõi tôi gá thân chỉ có trắng một trời bông tuyết nở ! Lòng người xa xứ, có khép lại, cũng đành.

................................ ............................

Vậy mà rồi hơn bốn mươi năm. Bốn mươi năm biệt xứ, không về lại một lần. Tang cha, tang mẹ, trắng xé lòng, mỗi lượt. Ở xa, tôi không đi chùa đi miểu. Mỗi lượt, tôi, mình tôi, chẳng đạo chúa, trốn vô ngôi nhà thờ nhỏ ở góc phố vắng. Trưa im im, lặng ngắt, đèn thờ không sáng nổi mặt tượng. Không gian nhốt kín, cả đến gió thu cũng bị chận lại bên ngoài. Mình tôi, riêng lẻ mình tôi, thu mình trong một góc khuất, nhìn cái trống không giữa những vòm cong thánh đường. Tôi ngồi ở đó, bất động. Rồi thấy lại tôi chín mười tuổi chạy nhảy thênh thang giữa tấm lòng trải rộng đến mênh mông của cha mẹ. Thấy lại tôi trưởng thành vẫn y nguyên một nỗi cưu mang như khi còn đòi bồng ẵm. Thấy lại tôi với lời tự hứa báo hiếu ngày mới ra trường. Thấy lại tôi bỏ cha bỏ mẹ ngay đúng lúc tuổi già xế bóng ... Thấy lại tôi với tội nghiệt tôi ...

Tôi ngồi ở đó, khóc, lặng lẽ mãi đến khi chiều xuống.

Rồi ra về với huyệt mộ chôn kín trong lòng.

Hôm sau, đã ba chân bốn cẳng chạy theo miếng ăn, giữa xứ người rộn rã mà quạnh quẽ tiếng hỏi câu chào.

Mươi năm sau, nghe người về, rủ rê. Sao lòng tôi lạnh tanh. Tôi không yêu quê tôi sao. Không ! Tôi yêu quê tôi lắm chớ. Ở đó còn mồ mã ông bà dù đã lạn. Còn bao nhiêu mồ mã vô danh khác dù đã tan thành cát bụi để tựu hình mảnh đất hình chữ S nằm nghênh ngang một cõi bờ Đông Hải, gần suốt hai mươi thế kỷ. Còn riêng trong một góc nhỏ, hai nấm mộ lạnh tanh. Nơi đó, tôi đã lớn lên, ngoài sự chăm lo đùm bọc của mẹ cha, còn nguyên cả một chiếc nôi đồ sộ mà tổ tiên tôi ... đã chụm tay kết thành bằng mồ hôi, máu, nước mắt và cả một tinh thần nhân bản tuyệt vời. Quê hương tôi đã nuôi tôi lớn lên bằng cơm gạo, cá mắm, thịt thà ... kết tụ từ đất đai sông nước mà người trước tôi đã gầy dựng, giữ gìn. Quê hương tôi đã dạy tôi sự nhẫn nại cùng cực của một dân tộc đã bị đày đọa gần suốt hai ngàn năm dưới sự thống trị của đám giặc phương bắc mà vẫn còn nguyên lành bản chất như nhánh tre già, qua bao nhiêu bão dữ vẫn dẻo dai vươn mình. Quê hương tôi đã cho tôi cả một kho ca dao mà từng câu lục bát ngọt ngào đến độ mẹ ru con thành tiếng ầu ơ. Quê hương tôi đã cho tôi nghìn trùng lời hay ý đẹp trong mỗi câu mỗi chữ mà ngôn từ cấu tứ đẹp như gấm như hoa, của ba ngàn hai trăm năm mươi bốn câu lục bát kể chuyện đoạn trường Thúy Kiều, ba trăm năm mươi sáu câu song thất lục bát than thở nỗi buồn Cung Oán, bốn trăm lẻ tám câu kể lể nỗi chờ mong Chinh Phụ ... Những bài hát nói mà âm tiết nghe reo vui như tiếng cười khúc khích khi đời chưa dâu bể. Những câu thơ 7 chữ 8 chữ ... của những người làm Thơ Mới mà chữ nghĩa được nhã luyện đến thành văn vẻ, được chuốc lọc để trở nên óng ánh như trăng sao ... Quê hương tôi đã dạy tôi ăn ở lễ nghĩa trong gia đình, ân cần ngoài xả hội như chính tấm lòng của kẻ sĩ Nguyễn Trải, ngay khi ở phương tây người ta còn thiêu sống nhau vì ba cái trò ngụy tín. Còn bao nhiêu nữa làm sao kể hết. Làm sao tôi quên. Làm sao tôi không nhớ.

Vậy rồi tới khi bỏ xứ mà đi, coi như phủi sạch nợ nần. Làm sao lòng không lấn cấn.

Xứ người, lạ từng cọng cỏ ngọn cây. Lạ tới tiếng hỏi câu chào. Lắm khi buồn ngẩn buồn ngơ. Dẫu có an thân sao vẫn cứ thấy mình tạm bợ.

Mà biểu về, chẳng lẻ lại cúi gập mặt mà về để khỏi nhìn thấy những thay đổi não lòng. Ở đó, những thằng trọc phú quyền thế ! Ở đó những người nghèo mạt hạng không chút đỡ đần ! Và cả một tinh thần nhân nghĩa từ ngàn đời bị dày đạp chẳng làm xao xuyến được một cái nhíu mày !

.......................... ..............................

Rồi tết qua đi, sầu ở lại ! ...

Lại thêm một cái tết quê người. Mươi năm đầu, còn nguyên một hy vọng, kềm lòng giữ chí như ngày ra đi. Vẫn mơ một ngày về lại cố hương, thắp nén nhang, quỳ xin tội với vong linh người khuất mặt. Rồi dấn mình vào cuộc trùng hưng. Nhưng rồi, từng năm qua, từng cơn mơ bị giựt dậy phũ phàng ...

Tôi đã làm gì đời tôi. Ngoài miếng ăn, từng bữa ... Và quê hương vẫn rền rĩ giọng hờn !

Vậy rồi bốn mươi năm đã qua. Qua ngọt xớt như mới hôm qua hôm kia. Thời gian lẳng lặng thoát đi như sao xẹt.

Tôi còn ở đây, bên này biển lớn, giữa bãi bờ trắng toát ...

Mấy ngày qua, chiếc độc bình cũ được cắm thêm nhánh mai giả, phủi hoài mà bụi vẫn thâm đen. Săm soi rồi thấy mũi lòng. Hoa giả vô tình mà cũng tàn tạ. Nói gì tới người ...

Năm này sang năm khác, thói thường rồi phải quen. Quen với sự dư thừa cũng như sự thiếu thốn.

Bốn mươi năm rồi. Đủ để quen bao nhiêu thứ lạ mà sao vẫn không quen với cái thói lãng quên. Quen với ngọn thông xanh sừng sững sao không quen với cái trống trải vì vắng bóng bụi tre già. Đã nhẳn mặt với đường lộ phẳng phiu sao còn thắt thỏm hoài lối về làng trầy trật, ngang qua bến nước với chiếc cầu tre lắt lẻo .

...................... .........................

Bốn mươi năm rồi, sao còn lấn cấn với ba cái chuyện phải quên. Làm như quá khứ giành giựt hoài với hiện tại, bốn mươi năm rồi vẫn không chịu buông tay ! Cái thói quen hay tục lệ mà mỗi năm tết đến là ai nấy dù bôn ba đâu đó cũng lo thu xếp về quê, mừng tuổi mẹ cha, vung đắp mồ mã, cúng vái ông bà ... làm như nhiểm trong máu huyết hay sao. Vậy mà rồi, bỗng dưng, bít hết mọi đường về !

Bốn mươi cái tết xa quê. Lẽ ra đâu còn lạ cái lạnh cóng người của mùa xuân vọng tưởng. Lẽ ra mọi ấm ức phải dìm sâu, chôn kín dưới mấy tầng huyệt thời gian. Vậy mà cứ mỗi lần nghe nhắc tết, lòng sao lại băng hăng bó hó như lỡ thiếu sót một điều gì. Chút lễ vật, trái cây, nhang đèn ... đã có đó, tàm tạm. Làm sao đòi hỏi hơn nữa, chỗ đất trời lạ lẫm.

Mà dẫu có thiếu rồi cũng có làm sao. Kiểu ăn nhờ ở đậu. Được chừng một hai bữa. Rồi tết nhứt cũng qua. Ai nấy trở lại với nhịp sống mới đã thành nếp. Sao riêng mình, cứ mãi chút băn khoăn ...

Tết tha hương rồi thoáng qua như bóng mây váng vất ...

Còn lại không là chút khói hương lẫn lẫn trong gian nhà kín cửa. Chút khói hương quến lại như chút quà tết ai đó bỏ quên. Khổ nỗi, của bỏ quên mà sao gợi đầy mùi nhớ. Những thề nguyền !

Có phải vẫn mãi là nỗi ân hận của một kẻ trốn chạy, bỏ cuộc ... giữa chừng ! Có phải vẫn mãi là nỗi chua cay của một kẻ bị giựt dậy giữa cơn trường mộng ! Có phải vẫn mãi là sự hổ thẹn của một kẻ đã thất hứa dẫu thệ nguyền chưa bao giờ được khắc đá đề tên !

Trong giờ khắc linh thiêng của một năm, sao lại nhớ, nhớ như mới hôm qua hôm kia, nhớ như từng chữ từng lời đã đục đẽo vào tim ...

Tết qua rồi, nhang đèn đã lạnh. Sao lời thư năm nào, tháng nào, ngày nào đó ... vẫn lắt lay trong trí nảo đã gần như mòn nhẵn

“ Ở xa, con ăn tết ra sao ? Tết nhứt ba không chờ quà cáp. Ba chờ tụi con gởi về tin vui chung cho hết thảy mọi người ’’

Mấy dòng chữ mực xanh, nét sắc như dao khắc ... vẫn còn như từng mũi nhọn.

Vậy đó tưởng quên mà vẫn nhớ. Mười năm một giấc mộng không thành. Người chờ cho hết đời cô quạnh. Ta đứng bên trời, lệ chảy nhanh.

Rồi tết qua đi, sầu ở lại !

 

Cao Vị Khanh

CVK_Tuyetdaumua.png
cvk_chiabiet.jpg
cvk_Varoi.JPG

Cho đến khi giựt mình nhìn lại, cả bọn không ai còn trẻ. Cho dù tuổi tác chưa đến đổi quằn vai nhưng sức trì của một quá khứ oan khuất vẫn trìu trĩu sau lưng như một lực quán tính khó cưỡng. Cuộc chiến mà chúng ta đã sống trọn một tuổi thanh niên đã kéo dài quá sự cần thiết để tỏ ra cho hết cái vô nghĩa của nó. Rồi cái kết cuộc lãng nhách chỉ làm bẽ bàng thêm cho một sự dấn thân đã bị bội phản từ đầu. Thân xác chúng ta có tàn phế sau những trận pháo tung tóe, nhưng chính hồn chúng ta thì đã tử thương từ khi tiếng súng im hơi. Chính trong những trại tù (cải tạo !?) núp giấu giữa rừng thiêng nước độc, đã bày ra một cuộc thảm sát mới, thầm lặng nhưng không kém phần cuồng nộ, để tiêu diệt hồn tính con người. Bằng mọi cách, từ rào kẽm gai đến phên nứa tướt nhọn, từ đày đọa khổ sai đến bỏ đói kiệt lực, cùm gông đến biệt giam, trói thúc ké đến bò lết… từ con người đến con vật người…

 

Năm bảy năm, mười mươi năm…

 

Thoát ra, mọi người còn cái xác xơ vơ xửng vửng, hồn thì vật vờ như lỡ nếm cháo lú qua sông Nại Hà dù đã bịt miệng bịt mũi. Thoát ra, mạnh ai nấy chạy. Chạy chết. Qua sông. Qua rừng. Qua biển… Chừng đứng lại, giữa một chỗ lạ lẫm đến ngỡ ngàng, cả bọn dù chưa già thì cũng đã cỗi, cỗi như chính cái dòng lịch sử bầm dập đã chảy ròng rã và đục khoét đêm ngày lên đời sống chúng ta.

 

Bằng cách nào thì sự sống sót qua cuộc sinh tử đó cũng có cái giá của nó.

 

Hơn 30 năm tranh sống với cái chết giữa đường tơ kẽ tóc, thêm năm mười năm cùng kiệt trong các trại tù ngụy danh hay vật vờ giữa một xả hội đảo điên, còn lại gì nếu không là một sự chán chường tột độ và nghi ngờ hết mức về những giá trị được gọi là nhân bản. Súng đạn thì giết người ngọt lịm mà lửa phần thư thì đốt người âm ỉ. Giàn hỏa thiêu sách vở là một cuộc tru di chậm nhưng chắc. Và mục đích của nó tồi tệ hơn bất cứ một hành vi man rợ nào. Lửa đốt từng trang sách là lửa đốt từng nếp văn hóa đã có thời rực rỡ, giữa lòng ta. Nhiều năm sau, khi đã lang thang mòn mõi trên xứ người, vậy mà lớp tro than cũ vẫn cứ còn âm ỉ… Nhật Tiến đã có lần viết « Trận đánh cuối cùng của một kẻ sĩ » kể lại cuộc chiến vô vọng của một kẻ thất thế muốn giành giữ lại mớ gia tài sách báo của một thời…

 

Dĩ nhiên sách vở cũng chỉ là những trang giấy, không đốt thì cũng có lúc mối mục ruỗng mòn. Chữ viết cũng chỉ là những dấu ký âm có lúc cũng sẽ phai lợt theo ngày tháng. Cái đáng nói chính là ý hướng phụng vụ trong hành động sáng tạo của bao người đã hiến mình cho một lý tưởng nghệ thuật hay khoa học được ghi chép lại trên những trang giấy, qua những hàng chữ, những đêm những ngày, những tháng những năm, những cặm cụi, những nghiền ngẫm hết một đời, những suy tư qua nhiều kiếp… chắt lọc, tích lũy, lưu truyền. Ðiều đáng nói nữa là cái dòng sống chính thống, chân chất và hồn hậu của một dân tộc đã được nuôi dưởng ở phần đất bên nầy, phía Nam vĩ tuyến 17, cái mạch nối liền lạc của tinh thần nhân văn của một dân tộc dù đã lắm bôn ba… thể hiện trong tầng tầng sách vở của miền Nam bỗng chốc bị đem ra phóng hỏa. Lửa cháy từ giàn hỏa cháy lan cả phận người. Ðể từ đó, cả nước là một cuộc hỏa thiêu toàn diện…

 

Nhiều năm sau nữa, lũ chúng ta-dù đã yên thân hay vẫn đang cày cục trên xứ người, bỗng có lúc rồi ngồi... ngơ ngẩn. Những câu thơ đã một thời ưa thích vụt nhớ vụt quên. Những trang sách đã một thời gối đầu không còn tìm đâu thấy nữa…Trên đất khách mênh mông, chúng ta như một giống người không có quá khứ, không có cả chiếc bóng để tự vỗ về mình. Chúng ta trần truồng dù quần áo đã thôi chắp vá, chúng ta trơ trọi dù phố xá cứ đông nghẹt người qua, chúng ta ngu ngơ dù quanh ta tràn ngập sách báo phim ảnh với đủ mọi thứ ngôn từ. Mà điều quan trọng nhất còn là nỗi não nề về một sự đảo lộn giá trị đến cùng cực, đã và đang được áp đặt trên cái quê hương khốn khổ mình đã bỏ đi. Cái đen thành trắng. Cái tốt thành xấu. Kể cả thứ chữ viết và tiếng nói mẹ đẻ đã được (bị) trong-sáng-hóa đến mức tối hù.

 

rong cơn chao đảo của niềm tin, mỗi người trong chúng ta không ai không thấy một sự hụt hẩng nào đó trong lòng, ngay giữa một cuộc sống mới chẳng những không thiếu một thứ gì mà còn gần như có đến thừa mứa...

 

Có lẽ một trong những thú vui mà ai nấy không quên được, từ cái thuở trấn đóng tiền đồn trên một đỉnh núi ngập mây, hay dạy học ở một tỉnh lẻ, những thứ ba thứ năm hay thứ bảy, đón chuyến xe liên lạc lên từ hậu cứ hay chuyến xe liên tỉnh từ Sài-gòn về, lòng như có chút gì nôn nao khi chờ người ta bóc dở những gói báo, những thùng sách…còn thơm y nguyên mùi giấy mực. Nhưng dù mua sớm hay mua trễ, sau đó, chính trong góc khuất của một quán vắng, hay trong góc kín của một giao thông hào, có khi bên cạnh một tách cà-phê đặc sệt hay chỉ là một hơi thuốc lá mỏng như sương, một mình, chỉ một mình, chúng ta đã sống những giây phút lâng lâng của một gặp gỡ thân tình bậc nhất. Khi bàn tay xòe ra vuốt sơ qua mặt bìa láng lẩy hay thô nhám, có khi là hình chụp một bức tranh hay chỉ là bảng liệt kê tên tác giả, khi ngón tay cọ lên góc giấy còn thẳng băng chưa có một dấu gấp, ngón tay ta sao cứ gượng nhẹ y như đang vuốt má một người tình, sợ giấy mực đau y như ngại làm đau đôi gò má mỏng tanh li ti những đường gân máu. Có cái gì đó trinh nguyên làm ta trân trọng. Có cái gì đó thăm thẳm làm ta ngại ngần. Cái gì như cái đau đáu của trang giấy chờ mãi phút-linhkhông-về, cái gì như cái thắc thỏm của ngòi bút ngần ngừ để lỡ một thoáng ý qua nhanh, cái gì như cái bóng gảy gập của người viết đang làm chuyện đẻ-đau chập chùng trên tay ta, giữa những trang chữ…

 

Sau những năm 60 với Hiện Ðại của Nguyên Sa đem về hơi sương của sông Seine, Sáng Tạo của Mai Thảo, Văn Nghệ của Lý Hoàng Phong, rồi Văn Hóa Ngày Nay của Nhất Linh với thuở trồng lan bên suối Ðam Mê, Tân Phong, Ðông Phương … là những năm 70 với Văn, Bách Khoa, Khởi Hành… Nghệ Thuật, Vấn Ðề, Thế Kỷ Hai Mươi, Thời Tập… chưa kể những tuần báo, nguyệt san hay bán nguyệt san có tính cách đại chúng như Văn Nghệ Tiền Phong, Phụ Nữ Diễn Ðàn, Phụ Nữ Ngày Mai, Kịch Ảnh, Ðiện Ảnh, Thời Nay, Phổ Thông… chưa kể những Tuổi Hoa, Tuổi Ngọc… mua hết không chừa. Cạnh đó, trên những giá kệ trong những quán nhỏ dọc đường hay trong những tiệm sách bề thề bên hè đại lộ, là ôi thôi sách báo ê hề như trăm hoa đua nở. Những thơ, những văn, những truyện dài truyện ngắn, những nghiên cứu khảo luận, những bút chiến phê bình... Mơ mộng ở đó, vui buồn ở đó, mà nghĩ ngợi học hỏi cũng ở đó. Ðọc ở đó để thấy sự lãng mạn tuyệt vời của một phần dân tộc đang bị đày đọa giữa cuộc chiến tương tàn, để thấy niềm hy vọng lấp ló trong những chùm hoa nở trên sợi kẽm gai, để thấy trong cùng khổ con người vẫn vươn lên như đám mạ non vươn lên từ một đêm tối. Ðọc ở đó để thấy những cánh huyết hoa nở ra từ những bãi máu.

 

Thử nghĩ đến những người thắp ngọn điện câu leo lét mà viết. Thử nghĩ đến những người che poncho đốt ngọn đèn cầy mà viết. Những cô học trò chưa hết tuổi hồn nhiên. Những anh sinh viên mộng vói tới trời. Những bậc học giả ngày đêm nghiền ngẫm. Những văn thi sĩ chưa bao giờ đong gạo bằng văn thơ rút ruột của mình... Ðủ hết. Mọi kiểu mọi cách. Người viết tha hồ viết, lặng lẽ hay huênh hoang. Người đọc tha hồ đọc, chấp nhận hay khích bác. Có điều phải nhận rằng dù thích hay không thích, không ai có thể phủ nhận cái đẹp đã thành tựu trong văn chương ở miền Nam buổi đó. Câu văn có trau chuốt hay không cũng đã sáng sủa, trôi chảy, biểu lộ sự trưởng thành của một thể loại chỉ mới vừa sinh ra từ đầu thế kỷ. Ngay cả cái kho ngữ vựng Hán-Việt cũng đã rạch ròi, trong sáng và phổ quát không kém gì mớ vốn liếng nôm na. Thơ buổi đó bay lượn trên đầu súng, tung hê thỏa thích. Văn buổi đó luồn lỏi giữa những đường bay của bom đạn sát nhân mà vẫn đằm thắm tình người, đủ sức khai triển đến nơi đến chốn những khái niệm trừu tượng và siêu hình, bằng một văn phong trong sáng, hợp lý và hoàn chỉnh.

 

Chẳng bằng với cái loại chữ nghĩa hổ lốn đổ xô vào miền Nam sau khi bị giải phóng, rồi được “du nhập” sang đây bằng mọi cách mọi kiểu. Từ những chuyến qua lại rập rình của những khúc-ruột-ngàn-dặm ... rồi nghị quyết 36 ... rồi giao lưu văn hóa ... Lắm khi cũng để cợt đùa mà rồi vô thức bị tiêm nhiễm lúc nào không hay...

 

Ðành rằng ngôn ngữ cũng có đời sống hẵn hoi (chẳng vậy mà có những loại chữ đã thành tử ngữ), nghĩa là cũng trải qua một quá trình sinh tử, có sinh có hũy, có sự tiến hóa hay thoái trào như mọi chủng loại khác. Nhưng tiến hóa phải có nghĩa là tiến từ thấp lên cao, từ tối tới sáng, từ dở tới hay chớ sao lại có sự tiến hóa ngược đời ? Cái tiếng gọi “nhà bảo sanh” thì ngay cho đến đứa nhỏ học lớp năm cũng hiểu được, thì nhân danh một sự trong-sáng-hóa ( ? ! ) nào mà đổi thành “nhà đẻ” cho đành. Đó chỉ là một thí dụ cỏn con chớ nếu kể ra hết hổng chừng không đủ chỗ mà còn gây tác hại cho mấy cái mạch máu đang hì hục lưu thông! Cũng như cái lối viết với câu cú trục trặc, trắc tréo, trặc trẹo… nhan nhản trong sách báo cũng như trong giấy tờ, hồ sơ, công văn, nghị quyết, thông cáo... của nhà cầm quyền cộng sản ở miền Nam Việt Nam sau năm 75, ở cái thời người ta gọi là thời-giải-phóng.(*) Tưởng chạy thoát là thoát luôn nạn chữ sau nạn nước, ngờ đâu rồi y như ba cái loài bệnh dịch, lây tràn không biên giới, đến lúc không ai trong chúng ta không khổ tâm, khó chịu, mắc cở... khi ở quê người còn phải tiếp tục chịu đựng cái lối “ngây ngô hóa” mớ tiếng Việt đáng thương của chúng ta. Cái hay sao không bắt chước, bắt chước chi cái dở cho đành !

 

Giữa bối cảnh bát nháo của chợ người chợ đời, dẫu trong sự lặng lẽ đến cô đơn, có một lúc nào đó, những người đã bỏ nước ra đi, bỏ lại gì thì bỏ mà vẫn giữ rịt theo mình mớ chữ nghĩa đã chắt chiu ngay từ lúc hồn trẻ còn đu đưa theo hai tiếng ầu ơ, cảm thấy bứt rứt, chữ nghĩa bám theo hồn người bắt đầu rục rịch kêu đòi... Bất kề lưu lạc đâu đâu nơi xứ người, may mắn trong một văn phòng có máy lạnh hay cắm đầu cắm cổ dùi đục trong một xưởng máy nóng hực, giữa một trời xuân bát ngát mùi nhựa thông hay xì xụp giữa bãi tuyết lạnh tanh, nói tiếng Tây tiếng Mỹ lưu loát hay vừa nói vừa múa tay dậm chưn, trong đầu của họ vẫn lấp ló mớ chữ nghĩa thân yêu, mớ bằng trắc ngọt lịm của lục bát dổ em hay những câu văn nhẹ nhàng mà chắc nịch ý nghĩa... Họ nhớ không thôi. Và như vậy, như có một thúc hối vô hình, họ bắt đầu làm thơ viết văn trở lại bằng chữ mẹ đẻ từ ngay trong vô thức, khi chưa có điều kiện để ngồi lại một góc bàn viết. Họ viết... viết... dù lắm khi cũng chẳng biết để làm gì.

 

Khởi đầu là một đôi câu thơ làm bên giàn máy bê bết dầu mở, rồi quên lửng trong tiếng động ì ầm, cũng có khi là một vài đoạn viết rời, bỏ kẹt trong hốc tủ được lục ra, phủi bụi… Thì ra suốt mươi năm im lặng vẫn là một nỗi thống thiết không nguôi với mớ chữ nghĩa đã có lần là lẽ sống. Trên góc khuất một tờ báo địa phương rặt mùi quảng cáo, một đặc san nhân dịp hợp mặt đồng hương ... cho tới lúc hè nhau in ấn một tập báo văn chương, hay gom góp chút dư thừa èo uột để xuất bản một quyển sách ... những người Việt lưu vong, ở đâu đó trên khắp cùng mặt đất vẫn luôn ôm ấp, luôn hoài niệm về một nền văn chương đã bị bức tử. Và lặng lẽ nối lại dòng sinh hoạt đã phải bỏ dở, từ khi.

 

Từ đó, dòng thơ văn cũ của miền Nam như bừng sống lại. Từ đó, bằng mọi phương tiện, từ những tờ báo in trên giấy cho đến khi bay vọt lên mây, từ những tập giấy mỏng tanh đến những bộ hợp tuyển dày như tự điển, mọi thể thơ từ cổ điển đến tân thời, mọi thể loại từ truyện ngắn truyện dài đến biên khào... có giá bán cốt để trừ tiền ấn phí hay chỉ in-để-tặng-không... mọi kiểu mọi cách tiếp tục xuất hiện như những lời nhắc nhở, thúc hối, khuyến khích, … anh viết, chị viết, tôi viết… Bỗng chốc rồi một cơn hứng khởi mới… Bỗng chốc rồi con tim mệt mỏi bắt lại cái nhịp thúc hối của lục bát, cái nhịp sắc mắc của bảy chữ... Bỗng chốc rồi thơ ở đâu ùa về, văn ở đâu đổ tới, người ta sống lại nỗi say mê của một thời tuổi trẻ, thở lại cái hơi ngất ngưởng của chữ nghĩa trên đầu ngọn bút những năm 60, 70… Mùi giấy mực từ một quá khứ thổi về làm căng lại lồng ngực… Rồi là những đêm những ngày miệt mài viết, xóa, viết, xóa… Trong giờ ăn giữa hai suất khuân vác đục đẻo, viết ngoài bãi đậu xe, trong góc bếp một căn chung cư hẹp té ... bất kể ở đâu đâu, trên tay lái một chiếc xe giao hàng ngừng ở ngả tư đèn đỏ, lúc nửa khuya vì một ánh trăng lẻ loi chợt rớt trên đầu giường... Họ viết, viết ngay cả khi không biết viết để làm gì... Chẳng vậy mà bỗng chốc giữa cuộc sống xô bồ, nồng nực mùi hương lạ, chúng ta tìm lại được mấy chút hương xưa.

 

Dẫu mang nhiều tâm ý vẫn là một cuộc chơi. Ðã chơi thì có kể gì thành bại. Cái đáng nói là sau hết, đâu đây, vẫn còn đó… những con mắt xanh thấp thỏm. Từ biệt xứ, không hẹn mà đây đó đã vọng lại những tiếng gọi thầm lặng, rủ rê nhau tiếp tục cái công việc đã bị bỏ dở từ cơn trường hận tháng tư-bảy lăm. Suốt những năm lao đao làm quen với mùa màng cây cỏ lối xóm láng giềng lạ hoắc, người Việt tha hương ở mọi nơi vẫn không ngừng gióng tiếng gọi đàn của bầy chim thất lạc. Từ đó những vần thơ thê thiết, những câu văn bay bướm hay dõng dạc đã không ngừng xác nhận sự có mặt của một dòng văn chương bị hủy diệt tức tưởi ở ngay trên chính quê hương mình. Từ đó, trên khắp cùng mặt đất, những người Việt quấn quít với hồn vía quê mẹ đã và vẫn không ngừng lên tiếng để nuôi dưởng nếp sinh hoạt nhân văn đã có hồi rực rỡ. Cơm gạo có thể thay thế bằng bánh mì, bơ, sửa... Nhưng văn chương làm sao thay thế dẫu với những kiệt tác được viết bằng tiếng nước người. Vốn liếng ngoại ngữ có thể giúp người ta hiểu ý người sáng tạo bằng chữ nước người. Nhưng để cảm, để rung động, để hòa cùng nhịp tim, để nhập chung dòng cảm xúc dường như còn đòi hỏi cùng chung cả một chiếc nôi văn hóa đồng dạng tự đã ngàn đời. Ấy chỉ là văn xuôi. Còn thơ ? Hẵn còn khó hơn bội phần. Chẳng vậy mà người ta hay nói ... “dịch” là “phàn” !

 

Những người mài miệt làm cái công việc viết lách ở một nơi không phải quê mình, kể ra họ đã góp phần không nhỏ cho chuyện an cư của đám người lưu lạc. Không có họ, đất khách sẽ mênh mông và kiếp lưu vong sẽ lạc loài biết mấy. Lớp đã thành danh từ trước cơn hồng thủy, bỏ nước ra đi đã không quên mang theo mớ hành trang chữ nghĩa, đến lúc trải lòng ra, nối tiếp lại cái thiên chức đã bị cướp giựt một cách ngang xương... Rồi như ngọn sóng triều lên, lan sang cả những người chưa từng cầm bút nhưng ẩn ức vì một quá khứ vàng son cũng hè nhau lên tiếng... Rồi là đám trẻ tập tểnh nối bước cha anh. Dẫu còn phải chen chúc với chữ nghĩa nơi họ phải hội nhập vì cuộc sống, vẫn cố lội ngược dòng để không bỏ mai một mớ chữ nghĩa mà cha mẹ đã móm môi khi vừa mới lọt lòng. Văn thơ chữ Việt, suốt cuộc đổi đời tàn khốc, vẫn tiếp tục bay lượn ở một chỗ không phải là chỗ của mình.

 

..........................

 

Vậy mà rồi cũng mấy chục năm qua đi. Mấy chục năm. Tròm trèm nửa thế kỷ. Nói nghe gọn bâng như một tiếng chắc lưởi. Mà thật ra, thời gian dù có thun dản tới đâu cũng vẫn có tác dụng hủy hoại vô chừng. Được cái là suốt cuộc tha hương, ai nấy xa quê mà tường chừng còn gần lắm. Gần vì hằng buổi vẫn nghe quanh quanh thứ tiếng nói với sáu dấu giọng lên xuống trầm bổng tự nhiên, vẫn thấy quanh quanh những câu văn dài ngắn bất kể mà dấu phẩy dấu chấm, cấu trúc văn phạm còn đúng y thứ ngữ pháp đã thành nếp từ cái thuở ... ông Bảo Đại còn làm trùm. Nghĩa là từ cái thời ông HCM còn xin xuống tàu Pháp làm bồi. Bởi đó, đời lưu lạc đỡ buồn biết mấy !

 

Nhưng mà, vấn đề không ngừng ở đó. Vấn đề là sẽ tới một lúc, thứ chữ Việt hoa lệ đó sẽ trở thành tử ngữ. Vì tuổi tác của lớp người viết lách và số độc giả đã đồng hành cùng họ. Số người rời khỏi nước từ năm 1975 ngay trong lứa tuổi hoa niên-những người đã thấm nhuần thứ văn chương nền nếp đó- tính tới nay hẵn cũng đã tròm trèm tới tuổi cỗ-lai-hy. Lớp độc giả trung kiên đó rồi sẽ như lá mùa thu rụng. Lớp trẻ đôi mươi lớn lên bên nầy đại dương dù có muốn kéo níu hẵn cũng sẽ nao lòng trước sự thưa thớt mỗi ngày một tỏ lộ. Viết mà không ai đọc thì làm sao mà viết. Viết mà dẫu có người muốn đọc ở bên kia biển lớn nhưng vì đã bị cách ly bằng mấy bức-tường-lửa thành ra đã trật trịa cách thức suy nghĩ cũng như cú pháp hành văn, nhất là đã sai lệch cảm quan nghệ thuật thì làm sao tìm được sự cảm thông, dẫu ở đó vẫn còn những tấm lòng thao thức. Nhưng thao thức rồi sao hay chỉ để làm khổ chính mình- nhất là phần lớn cũng đã mấp mé bên lề sinh tử, trong khi đại đa số già trẻ lớn bé đã hồ như chấp nhận dù có là khiên cưỡng, những trái cựa tới độ phi lý. Nhất là lớp trẻ sinh sau đẻ muộn, lớn lên cùng với sự nạo vét óc nảo đến tận cùng mọi thứ được gọi là lương tri. Buồn thay. Trong khi ở bên nầy đại dương, người xa quê cố gắng gìn giữ nết văn hóa diểm lệ đó thì bên kia đại dương, nơi quê cũ đám cầm quyền vẫn ra sức hủy diệt mọi thành tựu văn học của lớp người đi trước mà đã có lần họ gọi là văn hóa phản động... Mà nhất là đã cố tình làm thay đổi hẵn lối suy nghĩ nhân bản truyền thống bằng một thứ chủ nghĩa quái đản dựa trên duy vật sử quan, đấu tranh giai cấp với lối giáo dục nhồi sọ một chiều, đưa đến kết quả là tiêu hủy cả hồn tính dân tộc đã được nuôi dưởng từ thuở 18 đời vua Hùng dẫu có là huyền sử. Từ đó, lật ngược hẵn mọi cách thức đánh giá tốt xấu. Và cũng từ đó làm sai biệt hẵn mọi nấc thang giá trị. Còn làm sao tìm được những tấm lòng đồng điệu !

 

Hơn 40 năm qua, tất nhiên ở đó có quá nhiều thay đổi. Nhà lầu có cao hơn, cầu cống đường lộ có phẳng phiu hơn... Mà chữ nghĩa thì “lồi lõm lở loét” còn hơn đường xá thời buổi bị mấy ông du kích đắp mô gài mìn lúc còn giặc giã. Thử đọc một đoạn ngắn trong bài viết của ông Ngô Nhân Dụng mới vừa đăng trên Diễn Đàn Thế Kỷ hôm 23 tháng 9 năm 2022, ngay bon lúc nhà-nước đang lên “kế hoạch 8 năm” nhằm viện trợ tiếng Việt cho đồng bào ruột thịt! ̣ ̣( sic) “Theo ký giả Sen Nguyen, trên the South China Morning Post ở Hồng Kông ngày10 tháng Chín, 2022, một ông phó thủ tướng tên là Phạm Quang Hiêu (Hiếu, Hiệu, hoặc Hiểu, …), nói đã có một “kế hoạch 8 năm” nhằm viện trợ tiếng Việt cho đồng bào ruột thịt! Trong khi chờ đợi “kế hoạch 8 năm” được thi triển, bà con di cư tị nạn muốn nếm thử một chút ít “tiếng Việt Cộng” có thể tìm đọc ngay trên báo Nhân Dân, là Báo Nhân Dân ngày 19 tháng 9 năm 2022, có một bản tin về “tai nạn giao thông nghiêm trọng” hôm trước. Một chiếc “ô-tô tải” do một anh tên Triều lái đã tông vào một “xe mô-tô” do một anh khác lái chở theo một Việt kiều từ Mỹ về chơi.

 

Thay vì viết anh Triều “lái” chiếc xe, “Tiếng nói của Đảng, Nhà nước ...” đã viết rằng chiếc xe do anh “điều khiển lưu thông.” Người lái chiếc mô-tô cũng được mô tả là “điều khiển” chiếc xe gắn máy. Sau đó, chiếc ô-tô tải bị lật nhưng lại đụng vào một chiếc xe đạp do một “học sinh lớp 10 điều khiển.” Không nói “Lái xe,” xe hơi, xe bình bịch hay xe đạp, phải nói “điều khiển.” Thêm một chữ nữa: “va chạm.” Báo Nhân Dân viết tiếp, “Sau khi va chạm vào mô-tô,” chiếc xe tải “tiếp tục va chạm” vào chiếc xe đạp, chúng tôi in chữ nghiêng. Thông thường người Việt dùng hai chữ “va chạm” để tả hai vật hay hai người đụng chạm hoặc va nhau, một cách nhẹ nhàng. Nhưng trong báo Nhân Dân các “va chạm” đó làm chết hai người! Trên cùng trang nhất tờ báo này, thấy “vụ việc một du khách nước ngoài va chạm với đoàn xe lửa Lào Cai-Hà Nội,” may mắn thoát chết! Nhưng “Đoàn tàu … va chạm với du khách” đã “phải dừng lại giải quyết sự cố, tuyến đường … ùn tắc.” Tốt nhất, bà con ở nước ngoài, dù gặp cảnh “sự cố ùn tắc” cũng nên tránh không “va chạm” với chữ nghĩa của các ông cộng sản. Hai chữ “sự cố” cũng như chữ “sự kiện” được dùng tự do, thả dàn trên báo đài trong nước. Một tờ báo viết về cô ca sĩ: “Bà mẹ một con … trẻ trung, xinh đẹp như thiếu nữ đôi mươi tại sự kiện.” Tại “sự kiện?” Những “sự kiện” đó là cái gì!

 

Một bài khác viết về Nữ hoàng Elizabeth II, nói bà thích một nhãn hiệu đồng hồ nổi tiếng, bà “thường xuyên được bắt gặp đeo thương hiệu đồng hồ … đến các sự kiện xa hoa, … bà thậm chí còn cho mượn đồ của mình khi đi sự kiện.” Bà nữ hoàng “đi sự kiện.” Tức là bà đến dự một lễ lạc. Bà lại “được bắt gặp” đeo đồng hồ! Đây là những cách nói tiếng Việt mới lạ chưa từng thấy. Người ta dùng chữ“sự kiện” để dịch nguyên văn chữ “event” trong tiếng Anh, vì lười, không muốn tìm những tiếng Việt chính xác hơn!

 

Chữ “Event” hay “sự kiện” nói về nhiều thứ khác nhau. Có thể viết “sự kiện” thay vì lễ hội, tập họp, một buổi trình diễn, trưng bày nghệ thuật, một tổ chức, hội thảo, một trận đấu thể thao, một trường hợp, hoàn cảnh, nghi lễ, sự việc, vân vân. Những chữ sự cố, hay biến cố, nói về một chuyện đã xảy ra, chữ “cố” với ý nghĩa là đã xong rồi, cũng được thay thế bằng chữ “sự kiện.”

 

Nếu ông Phạm Quang Hiêu muốn viện trợ ngôn ngữ cho đồng bào ở nước ngoài, ông có thể gửi những chuyến máy bay chở 1,000 thùng chữ “điều khiển,” 1,000 thùng chữ “va chạm,” 15,000 thùng những chữ “điều khiển,” “sự kiện,” “sự cố,” vân vân, tặng cho bà con người Việt sống ở Paris, Los Angeles hoặc Melbourne. Họ sẽ mở mắt ra, thấy không cần dùng những chữ cổ lỗ như “lái xe,” “buổi họp” hay “bữa tiệc” nữa.

 

Nhưng báo Nhân Dân còn có thể cung cấp nhiều hơn những chữ lẻ tẻ như “sự kiện,” “va chạm” hoặc điều khiển.” Ông Hiêu có thể gói tặng bà con những đoạn văn dài đầy chữ nghĩa. Mời quý vị đọc thử mấy câu dưới đây (xin ngưng đọc ngay, nếu cảm thấy khó thở, chóng mặt, hoặc buồn nôn).

 

Đây là văn chương báo Nhân Dân: viết về “Công nghiệp văn hóa.”

 

“Công nghiệp văn hóa tạo ra nhiều cơ hội học tập mới cho người lao động, góp phần thu hẹp khoảng cách về trình độ dân trí giữa các vùng miền, nâng cao đời sống tinh thần cho nhân dân nói chung. ... Hệ thống các sản phẩm và dịch vụ văn hóa ngày càng đa dạng. Di sản văn hóa trở thành nguồn cung cấp nguyên liệu đầu vào phong phú cho nhiều ngành công nghiệp như âm nhạc, điện ảnh, trò chơi điện tử, từ đó giúp thiết lập lợi thế cạnh tranh, sự độc đáo và nhận diện thương hiệu cho những ngành này ở thị trường trong nước, cũng như thị trường khu vực và thế giới.”

 

Cảm tưởng đầu tiên là nó “Rất khó tiêu!”

 

Đọc hết cả đoạn trên cũng chưa hiểu “Công nghiệp văn hóa” là những thứ gì. “Thu hẹp khoảng cách về trình độ dân trí” là thế nào? “Hệ thống các sản phẩm và dịch vụ văn hóa” nghĩa là gì? Di sản văn hóa cung cấp “nguyên liệu đầu vào”… “cho nhiều ngành công nghiệp!” Nghe như kể chuyện một nhà máy xay lúa!

 

Đây là một căn bệnh thâm căn cố đế trong các chế độ cộng sản: Ăn to, nói lớn. Khoe khoang chữ nghĩa. Hô khẩu hiệu! Xác định lập trường! Không khác gì nhà giàu hợm hĩnh khoe của. Căn bệnh này không chỉ xuất hiện trên báo chí mà đã lan truyền trong cuộc sống hàng ngày của tất cả mọi người. Bên bờ hồ Hoàn Kiếm quý vị có thể thấy hai tấm bảng treo trên một cửa ra vào, viết giống hệt nhau, một cái treo ngoài đường, một cái ở trước cửa bên trong. Tấm bảng xanh lá cây viết bốn hàng chữ trắng, tất cả viết hoa, như thế này: CÔNG TY TNHH NHÀ NƯỚC MỘT THÀNH VIÊN MÔI TRƯỜNG ĐÔ THỊ XÍ NGHIỆP MÔI TRƯỜNG ĐÔ THỊ SỐ 2 NHÀ VỆ SINH CÔNG CỘNG – TOILET

ĐỊA CHỈ: SỐ 8 LÊ THÁI TỔ, HOÀN KIẾM, HÀ NỘI – ĐT : 043.8288072 – 043.9288508

 

Tất cả tấm bảng 41 chữ và số, cuối cùng, chỉ có một chữ mọi người cần biết, là “Toilet!” Người đi đường, các du khách chỉ cần đọc chữ “Toilet” hay “Toa Lét” là hiểu ngay! Không hiểu tại sao người ta phải đọc 25 chữ VIẾT HOA lòng thòng rồi mới được thấy chữ “Toilet!” Cũng không hiểu tại sao phải ghi cả địa chỉ cái toa lét này? Người di tìm toa lét có ai chọn một địa chỉ trước, đúng địa chỉ mới vào, hay không? Lại còn số điện thoại nữa! Có cần gọi điện thoại xin hẹn trước, giữ chỗ, mới được dùng toa lét hay không?

 

Người Việt Nam sống ở nước ngoài chắc không ai muốn dùng tiếng Việt theo đường lối nhiêu khê của Đảng! ”

 

Gì đi nữa thì cũng xin lỗi đã làm ai đó cười-ra-nước-mắt khi lỡ phải đọc thứ tiếng Việt-sau-khi-được-giải-phóng và đương thẳng đường tiến-lên-xả-hội-chủ-nghĩa. Từ chủ nước đến tôi tớ, kể cả đám bàn dân thiên hạ, sau mấy chục năm bị nhồi nhét đến no ứ thứ chủ nghĩa phi nhân đó, cứ mở miệng ra hay viết lách gì đó là ôi thôi chữ nghĩa cứ như bị trúng đạn AK, thịt thà xương xóc gì cũng tung tóe, lặt lìa lặt lọi. Danh từ, động từ, túc từ, nghĩa đen, nghĩa bóng, chữ tàu, chữ ta... gì gì cũng lộn tùng phèo như một đống thịt bầy nhầy... lỡ nhin thấy mà muốn ứa nước mắt. Ô hô ! Ai tai !

 

Rồi mốt mai đây, lỡ đầu thai trở lại làm dân nước Việt, hổng lẻ lớ ngớ như người-nước-ngoài vì sống trên quê hương mình mà cứ ú a ú ớ nhìn không ra chữ nghĩa quê mình.

 

Rồi hổng lẻ lại ... vượt biên lần nữa !

 

Thiệt là tình !!!

Buồn ơi, chào mi !!!

 

Cao Vị khanh

 

(*) cho tới giờ phút này, thứ tiếng Việt quái gở đó dường như đã trở thành thứ ngôn ngữ chính thức ở đó !!!!!!!!!!!!

________________________________

CVK_Tratvuot.jpg
cvk_xatronggangtac.JPG

Không biết tại sao tự dưng có lúc cả ba người đều ngừng nói. Ngọn nến đặt ở giữa bàn cũng thôi lắt lay làm mấy cái bóng trên tường im sựng lại.

 

Không khí nhủn ra, bứt rứt. Chỉ còn tiếng nhạc vặn nhỏ làm như thủ thỉ bên tai mà lại nghe xa như đến từ một cõi nào khác. Cái cõi đã mất trong tầm mắt mà lại còn nguyên trong trí tưởng chỉ vì bản nhạc là một sérénade đã có thời chia chung nhau một ý thích.

Bữa tiệc đang hào hứng. Mấy món ăn khéo nấu ngon miệng. Rượu chát cất giữ lâu năm quến khách không thua gì mùi nhân tình mới bén. Chủ luôn miệng mời mọc. Khách thân từ ba mươi năm trước, xa liền một lúc hơn hai mươi năm rồi bỗng dưng khi không mà gặp lại. Cho nên làm sao mà không chuyện trò hỏi han cho hả. Có biết bao nhiêu điều cần biết. Căn vặn đến không kịp trả lời. Vậy mà bỗng nhiên ngưng ngang sau câu hỏi của người chồng. Sao mày không cưới vợ. Câu hỏi bất chợt buột ra theo đà câu chuyện làm người khách bỗng buồn ngang xương. Cùng lúc nhạc chuyển sang mấy bản độc tấu trung hồ cầm. Âm thanh của mấy sợi giây tơ cọ nhau đến rát dạ. Có từng nỗi xót đau trong mỗi phiếm đàn. Anh ta nuốt vội ngụm rượu đang uống nửa chừng, đặt ly xuống rồi chắp hai tay chống càm nhìn vói ngang vai người đàn bà bức tranh của Modigliani vẻ mặt con gái với cái cổ cao như cổ hạc. Màu tươi mà dáng vẻ lại buồn. Một giây. Người thiếu phụ ngồi đối diện đang gắp cho chồng miếng chả chiên làm như có một chút bối rối, thoáng nhanh, chắc không ai biết ngoài nàng. Nàng cẩn thận để miếng cá vào chén, rồi buông đủa đứng lên làm như phải đi vào bếp. Mà thật sự nàng cũng không biết vào bếp để làm gì nữa. Nàng chỉ đứng dậy, đi vài bước như phải làm một cái gì vậy thôi. Ngoài bàn, đã nghe tiếng cười rất ấm của khách. Thì mày biết rồi tao đã thề sẽ ở vậy nuôi con suốt đời mà. Cái thằng lúc nào cũng giỡn. Tao hỏi thiệt chớ còn bà N. bà B. đâu hết rồi. Ai mà bằng mày đào hoa chi số, đàn bà con gái đeo như đĩa. Sao để cho rớt đâu hết mà hai chục năm rồi vẫn độc thân tại chỗ vậy. Nói vậy chớ đâu phải vậy mậy. Thương là một chuyện mà lấy nhau lại là chuyện khác... Hai người đàn ông, bạn cũ đã có thời như một cặp bài trùng, đun đẩy qua lại những câu nói đùa vô thưởng vô phạt. Người đàn bà vào đến bếp đứng trước tủ lạnh, mở cửa nhìn vào trong mà không biết mình tìm gì. Có một cái gì đó lộn xộn trong lòng như đống đồ ăn sắp đứng sắp nằm đầy nhóc trong tủ. Nàng đưa tay xốc xốc mớ trái cây chẳng mắc mớ gì giữa bữa ăn. Rồi như thấy mình vắng mặt không đúng lúc, nàng lên tiếng nói vọng ra . Anh M. ảnh có chịu cho ai lấy ảnh đâu. Ảnh né còn nhanh hơn chim cắt nữa đó. Ngoài phòng ăn hai người bạn cười lớn. Trong này, bỗng dưng người đàn bà khựng mình, nín thinh. Phải vậy không ? Phải ảnh né nhanh hơn chim cắt không. Không đâu nàng thấy mất vui. Có một cái gì đó, nặng như đá bỗng rớt ngay lồng ngực đè mất một nhịp thở. Phải vậy không, phải tại ảnh không ? Nàng bỏ ra nhìn hai người đàn ông cụng ly. Màu rượu đỏ bầm như màu áo huyết dụ nàng đang mặc. A. dang tay kéo vợ sát vào mình, đưa ly rượu. Uống chút đi em. Mừng thằng độc thân hai thế kỷ. M ngó ly rượu rồi ngước lên nhìn ngay vào mắt nàng. Tia nhìn dài như quấn lấy đuôi mắt đã chớm mỏi. Phải rồi mời bà uống mừng tánh lỳ lợm của tôi. Người đàn bà nhắp vội hớp rượu, lớp son môi rịn ướt trông ngon như nửa miếng mận hồng đào. Tự nhiên hai cặp mắt rời nhau, lẫn tránh mà không giấu kịp một chút nấn níu vừa dấy lên, chộn rộn đến không ngờ. Mà có phải mới mẻ gì đâu. Hơn hai mươi năm rồi. Sao trái tim nhớ dai vậy. Người chồng thì vô tình cứ huyên thuyên chuyện trời trăng mây nước. Người vợ càng lúc càng như con sâu nhỏ, chỉ muốn rút mình quấn kín trong chiếc kén kỷ niệm. Người khách thì đã buồn mà cứ giả bộ làm vui. Bữa tiệc hội ngộ kéo dài nhùn nhằng không chịu tàn. Mọi người còn quấn quýt với mớ hình ảnh ố vàng thất lạc lâu ngày mới lục lại được. Nó nhắc họ nhớ tới người này cảnh nọ, khi thì đông đủ chùm nhum tại một góc sân trường, lúc giận hờn thui thủi ở một góc phố khuất sau hàng me già sụ, giữa một thị trấn ven biển hay có những cơn giông đầu hạ. Hồi đó cả bọn có hết thảy năm người. Ba cậu hai cô. Con gái mười bảy mười tám mỏng mảnh như lá cỏ. Đẹp trong veo như mấy hạt sương sớm. Còn mấy đứa con trai thì cứ lính qua lính quýnh, chộn rộn như mấy con chim trống gù mái. Mặc kệ cuộc sống của người lớn phiền toái ở chung quanh, mặc kệ chiến tranh gầm gừ hù dọa, cả bọn vui nông nổi như bầy sẻ buổi sáng. Mà cũng ngộ, ở cái thị trấn đầy lời ong tiếng ve đó mà có một bọn trai gái được dịp kết bạn khắn khít thì phải kể là hiếm có. Phải nói là hồi đó học trò trai gái rất khó quen nhau. Vậy mà không biết mấy ông thầy năm đó nổi hứng thế nào mà lại bỏ về quê ăn tết sớm để đám học trò khác lớp côi cút không người hướng dẩn họp lại tự động tổ chức tiệc tất niên rầm rộ. Mấy anh trai lớn sức vóc lo chạy vòng ngoài. Con gái thì lo bếp núc. Rồi lại còn tập ca tập hát. Hết dợt Ly rượu mừng thì tới Nếu xuân này vắng anh. Mấy anh đàn mấy em hát. Nhạc vui nhạc buồn gì cũng bè nhau mà hát. Vậy mà vui đáo để. Vui nhất là sau cái tết đó, cả bọn quến nhau như hoa với bướm. Rồi cũng không biết lọc lừa ra sao mà thành nhóm riêng năm đứa. M. A. và S., ba đứa con trai tốt số, tướng tá dễ coi, học hành cũng tạm được. Còn hai cô gái, T. và Ch. vẫn nổi tiếng là hoa khôi của mấy ngôi trường tỉnh. Học hành chơi đùa gì cũng thành nhóm, xúm xa xúm xít như một chùm mận sai trái. Ở trong trường rồi ra luôn ngoài phố. Hồi đó, trời biển phố xá gì cũng gom lại có một căn gác nhỏ, khuất sau mấy hàng dương lả ngọn, nơi cả bọn hay tụ lại những ngày nghỉ học. Đàn ca, trửng giỡn, chọc ghẹo ... vui không kể hết. Ngôi nhà có căn gác lẻ ở cuối xóm biển, ngó thẳng ra một góc vịnh xanh lơ, đứng biệt lập nên mặc tình mà vui đùa, hát hò chẳng ai dòm ngó. Ở đó, những đêm rằm, cả bọn tụ lại nấu chè đậu xanh, bày ra lan can bắt chước thói lãng mạn của mấy nghệ sĩ thưởng trăng. M. ôm đàn guitar gảy tới gảy lui mấy đoạn Romance mới vừa học lóm được. Rồi có khi Ch. bắt chước Hồng Vân ngâm thơ Hàn Mặc Tử. Giọng Ch. nghe hay lắm. Vừa non vừa trữ tình. Có khi ngâm xong lại khóc thút thít. Cả bọn xúm nhau lại dỗ. Chút sau đã lại cười toe toét. Rồi cũng hết cả nồi chè đậu. Căn gác đi về rộn ràng tới nỗi có lúc cả đám gọi là “ lồng chim”. Tên gọi như một cõi bình yên ai mơ đâu trong vô thức. Ai nấy tưởng như đời cứ mãi là cái lồng chim nhỏ xíu và hiền lành đó. Nhưng rồi cả bọn mỗi ngày mỗi lớn lên một chút để thấy cái lồng đó nhỏ lại một chút. Cho đến một lúc căn gác nhỏ không còn đủ sức chứa những gió bão trong lòng người nữa. Năm cuối trung học S. bỏ đi mất biệt. Bạn bè bàn tán S. bị dụ dỗ theo phía bên kia vì gia đình vốn ở trong vùng xôi đậu. Cả bọn ở lại buồn xo. Mới được đâu chừng nửa năm đã nghe tin S. chết, xác đeo vắt vẻo trên rào kẻm gai của một đồn binh ở Miệt Thứ. Cả đám như bị mất hồn. Không biết thương hay giận. Chỉ thấy bàng hoàng như mất một cái gì không đáng mất. Có điều sau vụ đó mọi người thay đổi nhiều lắm. Cuộc sống làm như mất hết vẻ trơn tru dễ chịu. Nó rút ngắn lại thời hoa mộng của họ, đột ngột thảy họ vào cái thế giới rối beng của người lớn. Họ chưng hửng khám phá ra cái trường đời nhiễu nhương ở bên ngoài trường học. Và nhất là nỗi cô đơn của lớp trẻ già trước tuổi. Khám phá đó kéo họ xích lại gần nhau hơn. Nhưng là một gần gũi không còn vô tư nữa. Không còn mối liên hệ trong sáng, sòng phẳng và suông sẻ như cái thời tiết gom lại chỉ có hai mùa mưa nắng. Nó trở thành gút mắc, rối rắm, khó hiểu như chính niềm bí ẩn của con tim, cái con tim nghịch ngợm đi xúi họ yêu thương ngược ngạo. Dĩ nhiên đâu có ai sắp đặt được gì đâu. A. thằng con nhà giàu, học hành giỏi dắn đem lòng yêu thương Ch., Ch. không yêu lại mà đi yêu M., cái đứa lang bang nhất. Mà M. có yêu lại Ch. hay không thì không biết, chỉ thấy đối với ai hắn cũng ân cần như chỉ có hắn là người tình chăm chỉ nhất. Còn lại có T. là hiền như ni cô, lúc nào cũng lo nhường nhịn, chăm sóc hết thảy mọi người. Cái mối tình tay ba nhùng nhằng rồi cũng chẳng đi tới đâu ngoài cái chuyện cắn đắng, hờn mát, tốn thêm tiền mua giấy pelure xanh, pelure tím. Có đôi khi, pha thêm chút nước mắt ngắn dài. Nhưng mà thuở đó, những năm sáu mươi bảy mươi ở tỉnh nhỏ, học trò yêu nhau chỉ để lấy tiếng, chớ họ vẫn còn lành lắm. Lành đến nỗi cầm tay nhau còn chưa dám chớ đừng nói đến nọ kia. Tuy nhiên mấy cái chuyện lục đục cũng làm cho cả bọn tốn nhiều thì giờ, T. cứ phải đóng vai bà Tùng Long đi gở rối tơ lòng cho hết người này đến người khác. Vậy rồi trong khi cuộc chạy đuổi nhau chưa kịp đến mức ăn thua thì A. được cha mẹ lo cho đi Thụy Sĩ du học ngay khi chiến cuộc đang nổ lớn. Trong khi còn đang lo thủ tục xuất ngoại, A. đòi cha mẹ đến dạm hỏi Ch. với lời hứa sẽ lo cho cả Ch. đi theo. Bởi vậy mà dưới áp lực gia đình và chắc cũng có phần giận lẫy, Ch. cứ xỏ tay đeo nhẩn đính hôn mà lòng thì cứ băn khoăn với hình bóng của M. Giữa bữa tiệc rình rang, Ch. ứa nước mắt khi nghe M. lăng xăng chúc tụng. Chuyện tưởng vậy là yên, mối tình non dại coi như nhưn nhị làm duyên cho tuổi học trò. Rồi sẽ quên thôi. A. đi xa, còn lại ba đứa bạn cũ kéo lên Sài gòn vào đại học. Ai dè chính trong giai đoạn xa nhà đi ở trọ này, do sự qua lại giúp đỡ lẩn nhau, Ch. mới biết rằng M. cũng yêu mình nhưng lại bậm gan làm mặt lạnh tại vì tánh khí kiêu kỳ. Căn dặn mới biết anh chàng như gà con háu đá, nghe A. than thở bèn lên mặt anh hùng. Biết vậy, Ch. lại càng yêu M. nhiều hơn nữa. Khổ nỗi, vừa yêu M. Ch. vừa tiếp tục nhận thư của A. từ Thụy Sĩ gởi về, thư nào cũng sụt sùi thương nhớ. Tội nghiệp cho Ch., trái tim thì nhỏ xíu mà chuyện đời thì gay cấn còn hơn tuồng cải lương. Nàng khổ sở không thua gì mấy cô đào thương bi lụy bị dằn co bên nghĩa bên tình. M. cũng vậy. Không gặp thì nhớ mà lại gần thì bị mặc cảm phạm tội. Mới đôi mươi mà tình như thuốc độc. Hẹn hò thì vui mà chừng về thì ray rứt, hội họp bạn bè thì cứ phải giả bộ ngó lơ. Khó nhất là mỗi khi mọi người chọc ghẹo nhắc nhở đến người bạn ở xa, cả hai lại cứ phải đẩy đưa cho qua chuyện mà trong bụng thì rối như tơ vò. Mà thói đời cũng khổ, tình càng cay thì yêu thương càng mặn. Đã có lần khi nhận được giấy tờ xuắt ngoại, Ch. bỏ về nhà khóc lóc với mẹ cha đòi từ hôn. Nhưng mà đâu phải dễ, chuyện hôn nhân do người lớn cam kết chớ đâu phải chuyện con nít mà muốn thay đổi lúc nào cũng được. Vả lại ai mà không muốn cho con cái được sung sướng nhất là được sang ở tuốt bên tây khỏi còn lo giặc giã. Bởi vậy mà cả nhà bu lại khuyên dỗ ỉ ôi tới hết lời, thiếu điều mẹ nàng đòi tự vận mới yên. Đêm ba mươi tết năm đó, Ch. trốn nhà đến gặp M. tại căn gác cũ. Hai người ôm nhau khóc mùi mẩn. Gió từ biển thổi luồn qua phố xá đẩy mấy hàng dương lật lá kêu đau. Trong nhà, Ch. tủi thân muốn làm liều. Nàng đòi M. đi mua thuốc chuộc. M. rối trí tết nhứt đâu có tiệm nào mở cửa. Đến một lúc bí lối, Ch. nghĩ đến chuyện hiến thân cho người tình. Con gái gan lắm, cứ sợ lỡ mất nhau rồi sẽ hối tiếc như cô Kiều. Nàng ôm M. mê đắm, áo bà ba trệch nút, tóc mai ướt rịn lẩy bẩy theo hơi thở gấp. Đến chừng đó M. lại thấy hoảng. Bóng dáng cụ Khổng không biết ở đâu mà hiện về đứng ngay đầu giường. Thêm nữa, M. thấy thương Ch. quá đỗi, thương hơn cả thương mình, cứ sợ mai kia mốt nọ Ch. khó ăn khó nói với chồng. Bề gì cũng chỗ thân tình ai mà nỡ muối mặt làm vậy cho được. M. sực tỉnh đưa tay gài lại nút áo cho Ch., vỗ về nàng như em nhỏ. Gần đến giao thừa, M. đưa Ch. về ngang qua trường cũ. Hai người không ai mở miệng, lòng im như mấy lá cỏ ngậm sương.

 

Ra giêng, Ch. lên máy bay đi Thụy Sĩ. M. có đưa theo tới phi trường. Nhưng nửa chừng thì bỏ về. Vậy mà lại hay. Bởi vì M. biết chắc lát nữa Ch. sẽ khóc. Mà không chừng M. cũng sẽ khóc theo. Chẳng thà về khóc một mình, ở đâu cũng được miễn không ai biết. Buổi tối đó, trong một góc quán ở cuối đường Hiền Vương, M. ngồi gọi bia uống tới khuya. Càng uống, nước mắt càng chảy ra trộn lộn với bọt bia đến chát ngắt. Chừng say, cứ thấy Ch. về cười nói chơi vơi.

 

Gần năm sau thì T. bỏ đi tu như đã nguyện từ khi mẹ bị bạo bệnh. Còn lại một mình giữa thành phố với thỉnh thoảng những lá thư xa kể chuyện xứ người không đủ làm vui, M. sống lủi thủi ở Sài gòn buồn lắm. Có đôi khi muốn về quê lại không dám sợ thấy kỷ niệm mà buồn thêm. Rồi theo hạn tuổi động viên, M. bị gọi đi Thủ Đức. Suốt thời gian ở quân trường, có mấy lần nhận thư riêng của Ch. nhắc gần nhắc xa chuyện cũ, M. nín luôn. Năm 71, A. và Ch. theo đoàn sinh viên du học về thăm quê thì M. kẹt chuyện lính tráng. Hành quân liên miên đâu tận miền đông, có được nhắn mà không phép về. Cuối năm sau nữa, A. tốt nghiệp cùng lúc Ch. sinh con gái đầu lòng mắt sâu như mắt mẹ. Hình chụp hai mẹ con ngồi trước lò sưởi có A. đứng dựa bên, hạnh phúc đầy vun trên cặp má đỏ hồng. Tấm hình đó M. còn giữ suốt mấy năm đầu đi tù cải tạo cho đến khi bị chuyển trại nhiều lần quá rồi mất luôn. Cũng như rồi mất luôn liên lạc với gần hết ruột rà thân thíết. M. đi tù suốt năm năm. Chừng về cha mẹ chết hết không kịp thấy mặt ai, phải bỏ theo người quen ra Phú Quốc làm than. Thỉnh thoảng theo ghe vào đất liền ghé chùa hỏi thăm T. tin tức bạn bè cũng không biết ai còn ai mất. Cuộc đổi đời dữ dội quá đến nỗi mạnh ai nấy lo thân, bạn kề bên còn tứ tán nói gì đến bạn đi quá xa. Vậy rồi quá khứ coi như xóa bỏ. Mọi người như đầu thai kiếp khác, sạch trơn kỷ niệm. Mãi gần cuối năm 81, M. mới vượt biên được nhờ T. móc nối với đám chủ ghe hay đi lễ chùa. Bữa cuối, T. ngồi khâu đôi khoen vàng giữ từ thời con gái lộn giấu trong bâu áo, gói thêm cái khăn bông cũ cho M. căn dặn đừng quên quấn cổ khi ra biển lỡ trời trở gió. Nàng nói mà không nhìn lên. Sao bỗng nhiên M. cảm thấy có điều gì lấn cấn trong giọng nói ra điệu thản nhiên. Một chút vậy thôi rồi M. không dám nghĩ tiếp nữa. Cả hai đứng thật lâu ngoài hiên chùa đến khi cây ngọc lan nở khuya thơm ngát, tấm áo vạt hò rộng thùng thình mà như không giấu hết được một điều muốn giấu. Trước khi khuất bóng vào hậu liêu T. còn ngoái lại dặn M. rán tìm A. và Ch. để có khi còn nhờ vả. Nói vậy chớ dễ gì gặp lại ai. Bứt khỏi cái nôi rồi thì cứ như bóng chim tăm cá vậy thôi. Lâu lâu nhận được thư T. nhắc nhở, thúc hối làm như trái đất này nhỏ như cái chợ chồm hổm bên nhà, hể ra đường hú mấy tiếng là tụ lại hết. Vả lại sao M. thấy có gì bất tiện. Gặp lại để làm chi khi hồn xác mọi người chắc gì còn nguyên được như xưa. M. cũng có nghe kể đôi ba chuyện ngỡ ngàng về những người đi trước với đi sau lắm khi cũng không suông sẻ gì cho lắm, tự nhiên rồi thành ra nhiều giới lắm điều. Thôi thì phần ai nấy chịu, cho yên. Có đôi khi buồn buồn, M. nghĩ vậy mà hay hơn. Cho nên dù có nghe phong phanh vợ chồng A. dọn sang sống ở Mỹ, đâu miệt Cali, mà chưa bao giờ M. có ý kiếm tìm. Cứ nghĩ tới cảnh mỗi người mỗi phận, gặp nhau rồi khó ăn khó nói, thêm phiền. Hết thư này rồi thư khác. M. cứ nấn ná, hẹn lần hẹn lữa với T. Lật bật rồi ngày tháng qua tưởng như chẳng còn gì để nấn nuối. Mãi cho đến gần đây, M. nhận được thư T. cho hay mắc bệnh lao, sức đã yếu lắm. Bỗng dưng M. thấy xót ruột như đã làm điều gì không phải với T. Chẳng phải có lần chính M. đã hứa sẽ tìm gom lại những thân tình cũ cho đỡ hao hớt tấm lòng đôn hậu đó sao. Còn đang lần khần thì năm ngoái A. và Ch. đi du lịch ra vùng biển phía đông bắc. Chừng xuống tàu đi xem cá voi thì gặp M. đang làm thủy thủ trên tàu. Đầu thu, biển động nhẹ cũng đủ làm Ch. ngầy ngật không được tỉnh táo để biết vui hay buồn. Nàng ngồi dã dượi trong khoang, nhìn ra ngoài thấy hai người bạn trai cũ nói năng chỉ chỏ huyên thuyên rồi ngủ quên vì ngấm thuốc say sóng. Khi cặp bến, nghe chồng khẩn khoản mời M. sang chơi, Ch. đã thấy bồn chồn nhưng mệt lắm phải rời tàu leo vội lên xe buýt chỉ vừa kịp thắc mắc sao thấy M. gầy quá, như chiếc bóng gãy ngang. Thốt nhiên Ch. ngoái nhìn mình trên cửa kiến. Một ý nghĩ gì đó thoáng qua bỗng làm nàng thấy nao nao.

 

Sau nửa năm cả bọn gặp lại nhau ở nhà A. Khu nhà mới sáng hực dưới nắng Cali. Bông trúc đào đương mùa nở đầy cả góc phố. Lúc nãy khi xuống taxi, M. bỗng nhớ mấy câu thơ phổ nhạc của người thi sĩ tự vận khi còn rất trẻ có nhắc đến mấy bông trúc đào rơi lạc nhà ai mà thấy ngẩn ngơ. Ngó hoa rụng dưới chân còn nguyên cánh đỏ sao bỗng nhiên M. muốn quay về. Nhưng rồi vợ chồng bạn đã vồn vã ngoắc kêu trước cửa. M. lỡ bộ đành theo vào nhà. Ăn cơm uống rượu, chuyện trò suốt mấy tiếng đồng hồ mà lòng cứ lưng lửng bởi vì mọi người ngồi đối diện nhau mà sao thấy xa lắc xa lơ. Nhắc chuyện ai đâu thì ra rả mà kể tới chuyện mình thì cứ ngoắc ngéo lẫn quanh. A. thì cạn sớt như tự bao giờ, nói cười ha hả, đùa bạn rồi ghẹo vợ. Có lúc còn đòi góp tiền cho M. về Việt Nam cưới quách T. cho yên bề.

 

Bà T. Bả tu làm chi để cho lẻ bạn. Tao biết bả thương mày lắm. Tại mày lung tung quá bả sợ chớ gì. Có lần bả còn hăm với tao ...

 

Đến chừng Ch. gắt lên mới thôi. M. sượng sùng, im lặng ngó bàn ăn còn ngổn ngang chén dĩa tự dưng thấy bất an. Chút tình bạn cũ nồng nã tự nãy giờ làm như nguội đi một chút. Có một cái gì đó khi không nổi lên chắn ngang làm e dè một câu nói đùa, làm đứt ngang nửa chừng một câu muốn hỏi. Ai nấy như bỗng thấy rụt rè, dò dẫm như sợ làm sút cái gút mới nối lại được. Mà khổ nỗi mấy mối cột lăng nhăng hồi trước tưởng vậy mà có tháo ra hết được đâu. Nó vắt lơ lửng đâu đó mà hể có dịp là quấn siết lại, đau nhói. Người con gái đã có thời yêu say đắm bỗng chập chờn hồi sinh trong lòng người đàn bà chiều nay. Nàng ngồi đó, trước mặt chồng và người tình cũ, đã có lúc thật sự thấy lao đao. Khuôn mặt cũ lâu lắm nàng chỉ nhớ mơ hồ còn y nguyên vết sẹo dưới đuôi con mắt trái, cái miệng cười nhếch mép rất bất cần đời bây giờ lẫn thêm vẻ khinh bạc. Và hơn hết, mái tóc hồi xưa mịn bao nhiêu bây giờ ngó khô như nắm rạ cũng như làn da khét nắng mốc sương bỗng làm nàng bồi hồi như chính mình gây ra nông nổi. Câu nói đùa lúc nãy như đổ tội cho người khác làm nàng thấy chạnh lòng. Khi hai người xa nhau, hai người còn yêu nhau lắm. Áp lực của gia đình hay áp lực của chính lòng nàng đã chọn lựa. Hình ảnh cùa một tương lai bảo đảm hay hình ảnh của ngày tháng lêu bêu đã làm sự so sánh giùm nàng. Nàng không muốn suy nghĩ nữa mà đột nhiên chỉ muốn khóc. Khóc thành tiếng. Khóc rõ to cho đã nư những hờn tủi từ bao lâu đã bị dìm khuất dưới mấy lượt tiềm thức. Mặt người chồng trắng trẻo, phởn phơ da thịt. Mặt người tình khô nám, cằn cỗi. Rồi mặt bạn bè xưa, kẻ chết, người thất lạc từ mấy hồi kể lể bỗng hiện về chập chùng ngồi quanh bàn tiệc, cùng nàng. Ngọn nến thắp làm duyên giữa bàn soi mói từng mặt người, leo lét. Người thân, người sơ nhưng ai nấy đều mang chung một vẻ chịu đựng, nhẫn nhục đến tội nghiệp. Đến một lúc tất cả như gom lại lấp ló sau mấy lớp nhăn trên khuôn mặt người tình cũ. Trong loáng thoáng hoang mang sao Ch. muốn được một lần hôn lên từng nếp nhăn đó như hôn lên chính nỗi đau đớn, niềm cay đắng mà bạn bè nàng, anh em nàng đã chịu đựng suốt cuộc bể dâu đó. Nàng bỏ nước đi đã lâu quá, nàng không có ở đó làm sao biết được thế nào, chuyện trần ai. Ch. cảm thấy có một nỗi ân hận nào lạ lắm như mấy vết rạn trên một món đồ cỗ cứ lan ra hoài mà không cầm lại được. Cũng giống như trái tim nàng vậy thôi, đã có dấu nứt, bề gì cũng phải vở ra một lần cho xong. Hai người đàn ông ngồi trước mặt như hai hình nhân trù ếm chẻ hai tình nàng ra mà giành giựt. Nàng ở giữa long đong, lòng lao đao như bèo giạt. Dĩ nhiên còn có chọn lựa nào đâu, nhưng dễ gì sòng phẳng cho đành. Nàng có bớt thương chồng đâu, hai mươi mấy năm tình nghĩa chớ có vừa giỏi gì, vậy mà sao nàng vẫn muốn ngã đầu một lần lên vai người tình cũ mà khóc. Nước mắt này đề giải oan cho mối tình chết yểu của hai người. Mấy hớp rượu chát làm căng hai gò má, hơi rượu rướm cay quanh viền mắt, con tim chuếnh choáng nhìn ra hai mặt người nhập nhòe như một. Dẫu sao cũng cho tôi được chia xẻ một chút, nỗi đau muôn vàn đó. Nữ tính mênh mông trong lòng người đàn bà bất chợt trổi dậy dổ nàng ngó lại chỗ thiệt thòi. Ch. hơi chồm người tới, môi run. Vừa lúc A. lên tiếng, giọng mơn man như kéo vợ về phía mình. Sao vậy em, sao mặt mày xanh lét vậy. Bộ trúng gió hả ? Nói rồi cười mơn vừa đưa tay xoa xoa vai vợ. Ch. giựt mình như cắn phạm trái cấm, đưa mắt ngó A. rồi ngó M. như muốn phân trần. Mà đâu có ai để ý. Cả hai còn đang bận bịu với ly rượu mạnh A. vừa mới rót. Phải có cognac mới kết đẹp bữa nay nhen mậy. A. nói rồi đưa ly lên, giọng bắt đầu lè nhè. Chất rượu mạnh màu hổ phách, sóng sánh theo bàn tay lắc lắc của A. Hai người đàn ông bưng ly uống ực một hơi như dẫu sao cũng bằng lòng lắm cuộc tái ngộ này. Bề gì cũng may tụi mình còn gặp lại. Tao tưởng đã ngàn thu vĩnh biệt rồi chớ. T. ở bển sẽ mừng lắm biết tụi mình nhậu nhẹt bữa nay. M. nói một hơi như cố tình làm cho đêm vui trở lại. Nhưng có được đâu. Bởi vì Ch. thấy rõ trong mắt nhìn của M. như giấu đầy bụi nước. Lớp bụi ẩm hao hao sương khói cũ vừa dấy lên đã lây mờ sang cả mắt Ch. Chỉ có A. là không thấy vì đã lảo đảo bỏ vào phòng ngủ sau khi vỗ vỗ vai M. như thể xin lỗi. Còn lại đó, hai người tình cũ ngồi đối diện qua chiếc bàn rộng thênh thang. Ch. muốn đứng dậy dọn dẹp nhưng không biết nghĩ sao mà ngồi lại. M. muốn bỏ ra ngoài đốt điếu thuốc nhưng rồi cũng không nhúc nhích. Có một cái gì đó như dán dính họ xuống ghế, một chút hơi hướm của hè Lê Lợi, của hành lang Eden, của tàng lá me Tự Do hai đứa che nhau đụt mưa mà cứ sợ người ta bắt gặp ... Còn nữa, xa hơn một chút, còn hơi hướm của bực thạch ngồi ven góc biển, của ngôi trường trung học trống gió làm vạt áo dài cứ lính quýnh qua sân, còn căn gác như cái lồng nhỏ xíu của bầy chim chưa xổ cánh, còn đêm giao thừa toan tính trao thân, còn tiếng khóc tiếng cười của một thời mới lớn ... Giữa hai người, cách một góc bàn mà sát đầy kỷ niệm. Giữa hai người là một khoảng trống trắc trở mà thật ra chỉ bằng một vói tay. Cái vói tay ngắn ngủn trong lòng mà ngoài mặt thì xa lắm, xa đến không có tay nào vói tới. Hai người ngồi lại đó, hồn loay hoay vơ chụp những hình không bóng ảo, cũng đành. Sau cùng, Ch. lên tiếng, giọng lạ như không phải của nàng. Sao anh không ở lại đây đêm nay. Anh A. đã dọn sẵn phòng cho anh. Về khách sạn có một mình. Tự nhiên M. muốn nói một câu hờn mát mà không hiểu sao lại xoay ra từ chối thật điềm đạm. Về đằng ấy để sáng ra phi trường sớm cho tiện. Như vầy đã quá đủ. Thấy A. thành công, Ch. hạnh phúc tôi mừng lắm. Dẫu sao thư cho T. tôi đã có thêm điều vui để kể. Bọn mình ít nữa cũng còn vớt vát được chút gì sau lần mất mát qua lớn ...

 

Đêm đó khi Ch. tiễn M. ra cổng, hai người đều biết không chừng là lần cuối. Cả hai không ai muốn xô nhau vào chỗ không phải. Hồi nãy, trong lặng thinh hai người đã nói với nhau hết mọi điều cần nói. Kẻ cả nụ hôn muộn màng, rất muộn màng mà người cho và người nhận chưa ai hay biết cũng đã in dấu lại trong nắm tay siết chặt trước khi quay lưng. Không ai chịu làm kẻ phản bội với một quá khứ còn đẹp nguyên si. Cho nên không ai hẹn ngày gặp lại.

 

Lên taxi đi rồi, chừng vòng ngang bờ biển, M. đòi ngừng rồi xuống thả bộ dọc theo bãi vắng. Gió đêm trở lạnh. M. kéo cao cổ áo, đốt điếu thuốc ngó lung ra xa. Trời biển gì cũng tối mịt. Tiếng sóng kêu rì rầm, đều đặn như không biết nãn. Bỗng dưng M. nghĩ tới S. đã chết, tới A. đang ngủ, tới T. bên ấy mới thức sửa soạn tụng thời kinh sớm, nhất là tới Ch. giờ này chắc còn thao thức. Bỗng thấy cuộc đời giống hệt mấy lượn sóng đêm cứ vỗ hoài vỗ hủy lên bờ mà vẫn thấy dập dềnh như đứng yên một chỗ. Cũng như hết thảy mọi người, bạn bè xưa cũ đó, cứ tưởng đã xa như trời xa biển mà sao còn đó, còn gần hơn cả tấc gang.

 

Người ta có xa lạc gì đâu !

 

Cao Vị khanh

Rồi, hai mươi mấy năm sau ...

_________________________________________

CVK_Hasta.jpg
CVK_Kedaovong.JPG

Chiều tháng tư về qua sông Cổ Chiên

 

Gió quậy tư bề sóng nhọn hoắc

Thuyền quay như lá cuối mùa rơi

Người qua sông muộn tay ghìm chặt

Vực trống chìm sâu đến rụng rời

 

Nước chảy hung hăng lở sạt bờ

Tưởng ngàn vó ngựa sải qua mau

Người về từ cõi đầy xương sọ

Lòng bể trăm chiều miểng cứa đau

 

Nước vẫn tuôn tuôn, sầu cuộn cuộn

Ngó lục bình trôi tưởng rã hàng

Người xưa có đợi ? Chờ có muộn ?

Mà cứ trông chừng một bóng sang

 

Thuở nhỏ qua sông ý đã liều

Thách trời, kiêu ngạo cả hư vô

Hai mươi năm lẻ về vội vã

Nước mất, đường quê rặt bóng mồ

 

Gió đẩy thuyền đi, hận quá giang

Cồn xa bỗng lạnh rợn âm quen

Chiêng trống thời xưa gào xung trận

Trách kẻ đời nay để phận hèn

 

 CAO VỊ KHANH _____________

CVK_Paris.JPG

Khi về rồi, tôi mới phát giác ra một điều kỳ diệu. Tôi yêu em nhiều hơn tôi tưởng. Tôi mà bản chất kiêu ngạo và phóng đãng từ khi còn rất trẻ, lại bỏ dạ yêu em nhiều hơn cả tôi yêu tôi. Vậy sao. 

Tôi yêu một người đàn bà trẻ hơn tôi cả một vòng quay của lịch số. Tôi yêu một người đàn bà non dại hơn tôi cả một trang lịch sử tang thương. Và yêu nhiều hơn cả cái thói quen hư hỏng của tôi, coi yêu thương trai gái là một thứ trò đùa, giỡn hớt với lề thói của xả hội. 

Vậy sao. Tôi mà tình yêu được coi là những vòng nguyệt quế để khoác lên những chiến tích trên tình trường. 

Vậy mà lần này, tình yêu em đã cải hóa lòng tôi. Sao lạ vậy em. Làm sao tôi giải thích được. Ờ có những điều kỳ diệu mà lặn lội gần suốt một đời tôi có lần nào vấp phải đâu em. 

 

Buổi sáng đó, mùa thu chỉ mới chớm vàng đâu đây, ở bên này một khung cửa hẹp, tôi nhìn thấy em lên xe ra phi trường. Vóc em nhỏ nhắn, nhẫn nhịn. Có một thoáng tôi thấy em nhìn lên. Em nhìn lên, nhưng tôi biết em chỉ thấy một màn cửa lay động. Làm sao thấy nhau khi sương đêm chưa kịp tan. Và lòng người quanh em rào cản. Vậy rồi, chiếc bus chở du khách chạy khuất sau một ngã rẽ. Tôi đứng sững. Và mơ hồ, một giọt nước mắt ứa nhanh. 

Vậy rồi, em xa tôi. Em xa tôi như tự đã bao giờ. Em xa tôi như cái vận số đã xô tôi ra khỏi quê hương mình, nơi chốn mà tôi yêu thương biết mấy. 

 

Khi về rồi, ở bên nây một lằn ranh sông nước, tôi mới khám phá ra một điều lạ thường. Trái tim già cỗi của tôi sao bỗng dưng đập lại nhịp rộn ràng y như thời mới lớn, y như lần đầu xáo động trước những cợt đùa của thứ tình cảm còn rất mong manh. Không, hơn vậy nữa. Tim tôi trẻ lại mà hồn tôi chín muồi thêm bao nhiêu đằm thắm của ân tình em mang đến. Nó ngọt ngào như môi hôn vụn trộm, nó nhẹ tênh như ve vuốt mơ hồ mà mặn mà như giọt nước mắt em rơi đêm đầu tiên gặp lại. Cái cảm giác sương khói cặn lại lòng tôi như những lời vỗ về thầm lặng, thấm vào tim tôi rồi len qua bao nhiêu ngỏ ngách của thể xác và tâm trí như để nuôi nấng một sức sống sắp tàn. Tôi nhớ em. Ôi tôi nhớ em. 

Vậy đó em. Thứ tình yêu muộn màng em hiến tặng đã khiến tôi từ một kẻ đã tự nép mình đứng bên lề cuộc sống bỗng dưng rộn lên những kêu đòi trở lại. Khổ cho tôi, tội cho em, tôi còn có cái quyền lực đó đâu em.

Vậy sao mình cứ lại thiết tha, gượng nhẹ từng sợi tơ đã mắc míu đâu tự một thuở nào. Thuở nào em hả ?

Có phải từ hơn ba mươi năm trước, sau cơn thất tán bể dâu. Em chạy chết. Tôi chạy chết. Qua sông qua núi.  Qua trời qua biển. Qua bao nhiêu tang thương. Chạy chết như không còn đâu là đất sống. Và em và tôi, như những nhúm bọt bèo trôi dạt, lặng chìm không để sót chút tăm hơi. Cơ duyên nào cho chúng ta tìm lại nhau, mơ hồ như những tín hiệu truyền qua sóng điện. Chút thăm hỏi vu vơ. Mấy lời chia sớt mưa nắng. Khi biết tôi đã lập gia đình, tự dưng rồi im bặt. Mấy giây ? Mấy phút ? Rồi tiếng nói vui trở lại không kềm giữ. Em yên tâm. Vậy thôi. Rồi bắt quàng qua những quen biết cũ. Từ đó, ở hai đầu một lục địa mênh mông, nhắc nhở một viên thuốc cảm khi trái gió trở trời, kể lể một kỷ niệm mơ hồ về một thời có hoa có bướm ... Trong cái cõi không gian mịt mùng đó, ở đâu đó, trước khi gặp lại, từ nhiều năm trước, em thiếu nữ trở thành thiếu phụ giữa bao nhiêu sầu tủi. Vậy mà rồi vẫn chung thủy cùng tôi những nhắn hỏi, đều đặn như thời tiết đổi mùa, hết hạ sang thu ... Dòng đời mịt mù xoay không trở lại. Em xa xôi vẫn mãi một giọng nói thiết tha, hiền hòa gởi gắm những hỏi han, nhắc nhở ... nhất là những vỗ về an ủi cho những nhục nhằn tôi đã gánh chịu từ cuộc đổi đời năm ấy. Em đâu đó, bất kể sớm hôm mưa nắng, vẫn nguyên cái giọng ân cần và đều đặn, có một chút người lạ và một chút người thân. Phải từ đó không em. Ờ, mà dường như không hẵn vậy.

Dường như còn lâu hơn vậy nữa. Xa hơn cái trí nhớ đã bắt đầu mòn mõi của tôi. Xa đâu từ thời em còn là cô học trò mới lớn, cõi lòng chỉ mới vừa xao xác những thoáng nghĩ vu vơ.  Vậy đó mà tôi quen em do một tình cờ trái oan của định mệnh. Em tan trường về, làm rơi một tờ giấy trắng, bay vất vơ rồi tắp vào chân tôi khi tình cờ tôi có việc đi ngang. Cúi lượm tôi thoáng nhìn mấy hàng chữ .... trải vách quế gió vàng hiu hắt, mảnh vũ y lạnh ngắt như đồng, à ... Cung Oán Ngâm Khúc, tác phẩm cổ văn mà tôi rất thích khi còn ở trung học. Khi tới gần để trao trả, tôi nhìn thấy đôi mắt mở lớn đen nhánh và đôi má ửng hồng dưới nắng tháng năm. Chiếc áo dài trắng bằng vải nội hóa thả lỏng, chưa thắt thỏm đường eo. Tự nhiên tôi gợi chuyện. Em trả lời vụn vặt. Vừa rụt rè vừa tinh quái. Thơ gì khó học muốn chết. Mà ông thầy quốc văn ổng khó quá trời. Tui chép vô giấy để vừa đi vừa học. Có muốn dễ học hông tui chỉ cho. Làm sao. Về đốt thành tro rồi uống tuốt vô bụng. Cái nguýt mắt dài còn hơn mấy lượn sóng ngày trở gió. Quanh em những chiếc áo dài trắng chập chờn như đàn bướm ghẹo. Thêm vài câu qua lại nắng mưa rồi em rẽ vào cổng nhà có chiếc hồ sen nho nhỏ. Tôi đi thẳng mà còn kịp thấy được cái ngoái đầu nhìn lại của em khi vừa khuất sau hàng cửa lá sách sơn xanh. Thêm đôi ba lần chào hỏi kín đáo trên đường tan trường khi tôi cố tình rẽ ngang thay vì đi thẳng tới sở. Việc làm mới, hai mươi ba tuổi bỏ Sài-gòn về tỉnh, tôi lao đao với những lề thói mới của tỉnh nhỏ trong khi lòng còn vướng bận hoài với những phung phá thời đại học. Tự một góc kín của lòng, tôi hục hặc với chính tôi vì nếp sống lặng lờ của tỉnh lẻ. Vậy rồi ngày một ngày hai, thêm một cợt đùa của định mệnh, em là bạn học của cô con gái chủ nhà tôi ở trọ. Tôi có dịp gần em hơn qua những lần hỏi han bài vở. Cô con gái chủ nhà nhờ tôi sửa hộ một bài sinh ngữ rồi kéo em nhập chung cho có bạn. Từ đó tôi trở thành một thứ gia sư kèm-trẻ nửa mùa . Do vậy, tôi có dịp giải tiếp cho em một phương trình đại số, nhắc nhở em một lỗi chính tả, đôi khi còn lạc nẻo vô mấy ngõ phố Sài-gòn với những ngày làm sinh viên không-sách-vở-cầm-tay ... Tôi kể em nghe quảng đời đại học, những hành lang hút gió, những giảng đường rộng thênh thang, những đêm cà-phê thuốc lá nghe Khánh Ly đi chân trần hát nhạc Trịnh Công Sơn, những đêm chắt mót từng đồng theo bè bạn la cà ở mấy cái vũ trường có rượu có nhạc và có cả những cô ca-ve chạy bàn như chạy giặc ... kể cả những chuyện phim Tây phim Nhựt vừa coi vừa ngủ gật trong bóng tối rạp ci-né Lê Lợi ... Tôi kể em nghe cả những chuyện tình sáng nắng chiều mưa tôi đa mang những ngày xa nhà học đòi lữ thứ. Đôi mắt thông minh, linh hoạt lấp lánh một niềm tin cậy kỳ lạ, em làm tôi lắm khi nổi hứng lang bang luôn tới mấy câu thơ tiền chiến, vói luôn tới những văn phẩm cổ điển tuyệt vời của văn học nước mình mà quên phức tôi là một người thầy giáo ... giả. Những lời tôi nói, dĩ nhiên không thiếu phần trang trọng và thành khẩn, nhưng tôi có phải là thầy dạy học của em đâu. Vậy mà sao, những lời đó, gần hai mươi mấy năm sau, khi liên lạc lại được lần đầu qua điện thoại, có khi em bỗng nhắc. Em bồi hồi. Tôi bồi hồi. Điều gì đã làm chúng ta dưng không như sống lại cả một đoạn đời đã cũ. Giọng ấm, bình dị, nghe thân mật  như chưa từng vẫn đục bởi gió bụi của thời gian. Bỗng dưng, rồi không đâu tôi thấy lại hết những ngày ở đó. Những ngày em con gái, mộng cao, chăm chỉ học hành, theo tôi han hỏi chuyện trời cao đất rộng. Em nhắc lại một lời hứa tôi đã lỡ quên, một chuyện phim tôi kể nửa chừng, một bài thơ tôi làm lở dỡ ... ngay cả chuyện em tìm đến thăm tôi quá trễ, khi chuyến xe tù đã đưa tôi vào trại cải tạo. Em nói em có mang theo một chiếc áo lạnh mua gấp ngoài chợ trời. Rồi chiếc áo đó em mặc ấm trong những ngày vượt biên lênh đênh trên biển. Tôi nghe và lòng tôi nhói đau. Rồi thôi. Rồi sau đó, em sống đời em, tôi đời tôi.

Xứ người em học hành thành đạt, dựng xây lại cái tương lai đã bị dùi vập ở quê hương. Rồi em lập gia đình. Rồi tan vở. Rồi em có bạn mới. Ở xa, đôi ba tháng, ngày tư ngày tết, em gọi thăm hỏi. Đôi khi em kể tôi nghe nếp sống thường nhật của em, chuyện nhà cửa, việc làm, chuyện sức khỏe, chuyện những quen biết vu vơ thời mới lớn. Vẫn cái tiếng nói vui và ấm, thân mật và ân cần với hết tấm lòng nhân hậu. Lâu lâu lại tìm mua vài ba quyển sách mới gởi sang dặn tôi đọc trong những giờ giải lao. Thỉnh  thoảng đọc đâu vài ba câu thơ cỗ lại kêu tôi giảng tiếp. Tôi không nghề không nghiệp ở xứ lạ, cày cục tìm miếng ăn hằng ngày. Vậy rồi sao, đôi khi giữa cơn chạng vạng của niềm tin, tiếng em gọi bỗng làm tôi vui lại. Vui lại rồi thôi. Em sống đời em, tôi đời tôi. 

Hai mươi lăm năm qua, ba chục năm rồi qua. Vẫn những ân cần thăm hỏi, nhắc nhở, dặn dò, khuyến khích ... Vẫn tiếng nói xa, lắm khi nghe ra vỗ về đến se thắt lòng tôi. Có lần còn hỏi xin tôi những bài thơ làm trong tù. Rồi gom lại muốn đem in thành sách. Tôi hỏi bộ em muốn làm tôi bất tử. Em không trả lời mà sao bên kia đầu giây tôi nghe tiếng gì như tiếng nấc cố dìm. Cả đời tôi, tôi có giữ gìn bao giờ ba cái thơ văn tôi đã cặm cụi viết lách rồi bỏ quên đâu đó. Sao em, ờ sao em lại để tâm ?

Vậy đó, vậy đó. Ngày qua ngày. Tháng qua tháng. Năm qua năm. Mối giao cảm lung linh và mơ hồ như khói sóng. Chẳng có gì rõ ràng. Không mảy may xác nhận. Vậy sao hoài những tiếng chuông điện thoại reo vang, những khuya sớm, những giờ phút không ai ngờ nhất. 

 

Cho đến tháng mười năm ngoái. Tôi tới Paris khi hay tin người bạn thân duy nhất đã tới giai đoạn cuối cùng của căn bệnh quái ác. Tin dồn dập xô đẩy tôi không kịp chuẩn bị, lấy chuyến bay đêm, hừng sáng tôi xách chiếc túi nhỏ lần tới một khách sạn ở quận 13 cùng lúc với một đoàn khách du lịch cũng vừa đổ tới. Trong cái không khí chộn rộn lăng xăng của phòng khách hẹp té, chúng ta bỗng nhìn ra nhau. Chúng ta bỗng nhìn ra nhau sau hơn ba mươi năm không thấy lại. Em đó sao, cô học trò tôi đã giải thích giùm một định đề khó hiểu. Cô gái mới lớn tôi đã đưa đẩy vào một thế giới viễn mơ. Vẫn cái dáng dấp trầm lặng tới độ nhẫn nhịn. Vẫn cặp mắt sáng, tinh quái mà hiền lành. Và cái giọng nói ngọt ngào như muốn làm vừa lòng với hết thảy ai ai. Em thêm mớ tuổi đời nhưng không giấu được cái vẻ liếng thoắng kín đáo của ngày xưa. Có một chút sững sờ. Và một tiếng kêu hớt hải. Rồi chúng ta bước vội tới gần nhau mặc kệ cái đám đông xô bồ chen chúc. Mũi tôi như nghẽn. Mắt em mơ hồ chút bụi sương. Rồi là những câu thăm hỏi xả giao. Em đi du lịch với người đàn ông đã san sẻ với em nửa phần đời sau và đứa con gái duy nhất. Rồi thôi. Em đi với bên đó và đoàn khách du lịch. Tôi tới cùng với bạn tôi, mảng cuối của một cuộc đời. 

Ba ngày sau. Người bạn tôi mất. Tang lễ đơn giản như ước muốn của người chết. Tôi còn lại, bơ vơ giữa một kinh thành hoa lệ, nơi mà tôi đã nhiều lần mơ ước từ tuổi còn học trò. Đêm thứ tư, còn ba ngày nữa tôi sẽ rời Paris trở lại cái thành phố buồn hiu, nơi tôi đã sống chôn mình trong quên lãng từ mấy mươi năm nay, tôi ngồi uống rượu một mình nơi quầy cuối phòng khách. Đoàn du lịch về tới. Em ghé lại chào hỏi và để lại một mẩu giấy khăn ăn xếp gọn. Em nhắn tôi giờ giấc và địa chỉ của thánh đường Sacré Coeur. 

Buổi sáng hôm đó, tôi lặng lẽ rời phòng từ sớm, lấy métro đến trạm Anvers rồi ghé vô quán còn vắng khách. Ngày mùa thu, Paris dậy muộn. Trên hè phố đã thấy lác đác lá thu rơi. Siết chặt chiếc khăn quàng cổ, tôi gọi tách cà phê đầu ngày, rồi ngồi ngó mông lung ra đường. Điếu thuốc vừa tan làn khói chót thì em tới. Chiếc taxi vụt chạy, em ngó quanh vừa khi tôi tới bên. Áo choàng đen và khăn cổ xanh lơ, em buông mình dựa vào tôi, hai vòng tay cùng siết chặt, nước mắt em bật ra cùng với tiếng kêu “anh” thảng thốt. 

Ba mươi mấy năm bỗng chốc ùa về, tôi đưa tay vuốt bờ tóc rối có những sợi úa màu thu đã muộn, em ngửa mặt, mùi J’adore của Dior thoang thoáng và chúng ta hôn nhau. Chiếc hôn đầu tiên của nụ tình nở muộn. Trễ nhau hai phần ba đời mình mà lẻ ra đã đúng độ ngay từ lúc còn ở bên kia một đại dương ngăn ngắt. 

Ngày hôm đó, chúng ta đi bên nhau, đi suốt một dãy quá khứ buồn rầu dù lòng ai cũng thấy hớn hở. Phố xá trước mặt, và người qua lại chỉ còn như một phụ cảnh mờ, chúng ta đi bên nhau, chân nhẹ hẩng và lòng nặng trĩu, trôi nỗi bềnh bồng giữa hiện tại xa và quá khứ gần. Gió sớm gai gai lạnh, tôi choàng tay qua vai kéo sát em vào người, chúng ta đi như để mặc cho hai đôi chân tự ý đẩy đưa ngang qua thánh đường Sacré-Coeur, rồi vòng xuống phố Montmartre. Tẻ qua khoảng đường có những người vẽ và bán tranh, em hỏi tôi có còn nhớ mấy câu thơ của Nguyên Sa tôi đã đọc cho em nghe ngày nào. Paris có gì lạ không em. Tôi nói tôi đâu có quên. Em đọc lầm thầm, tiếng nhỏ. Mai anh về em có còn ngoan. Rồi ngước nhìn tôi. Đôi mắt có hàng trăm lời xác nhận. Chỉ tiếc anh không về kịp. Ai đó đã nói thầm. Tôi đưa em lần theo lối đi lấp lửng những chiếc lá rụng từ đêm qua, lòng thắc thỏm những hình ảnh ố vàng, giờ bỗng dưng rựng sáng giữa hồn nhau. Anh biết không, sao em  chưa bao giờ quên những câu anh nói, từ một lời diễn giải đến một câu đùa cợt, từng chữ từng lời dù hoa mỹ hay nôm na. Lời anh nói cứ lẩn quẩn bên em, quấn quýt trong đầu em ban ngày, ban đêm, từ theo ba má bước chân xuống ghe, từ khi biết rồi không còn bao giờ mình gặp lại nhau nữa. Em nói và nước mắt em ứa ra. Tôi úp mặt hôn vào gò má em, và nghe môi mình mằn mặn. Tôi nói gì với em đây. Có lời nào để tôi phân trần. Có lời nào đủ lấp cái khoảng cách đã lỡ để lạc loài nhau. 

Chúng ta dìu nhau đi lang thang không chủ đích. Y như hai đám mây theo gió đẩy đưa tạt ngang qua thành phố. Mắt nhìn quanh mà mắt chỉ thấy nhau. Mình đi giữa một Paris đang trở giấc vào thu mà lòng cứ trở lại một góc tỉnh nhỏ xưa đã xa tăm tắp. Bởi vậy, quanh quanh bắt đầu kẻ qua người lại mà chúng ta có để ý gì đâu dù tiệm buôn đang rục rịch mở cửa, quán xá bắt đầu kê lại bàn ghế ngoài hàng ba và những tách cà-phê được dọn ra, bốc khói Chúng ta đi trên đường phố lạ mà làm như chỉ ngắm tìm lại những hình ảnh thân quen. Những buổi sáng buổi chiều trong một góc vườn nhỏ có mặt hồ im đựng bóng hoa sen. Có bóng mát cây mận hồng đào và hàng rào bông bụp em hay ngắt cắm lên chiếc bàn học kê dưới gốc một cây mai đã cỗi. Những buổi trưa im vắng, tôi tạt ngang, em chờ với tập vở, đôi mắt long lanh và niềm tin lóng lánh. Có khi là một ly chanh đường. Có khi là một chén chè đậu xanh thơm ngát. Buổi trưa tỉnh nhỏ êm như ru. Và tôi ru em bềnh bồng theo những đẩy đưa của tình tự dân tộc. Ngoài những bài toán hóc búa em đem từ trường về. Hoặc những cách chia động từ rắc rối của bài tập Pháp văn. Ờ, những buổi học giữa trời, vang tiếng ve kêu và đôi khi có tiếng vổ cánh của một con cò trắng lẻ bạn. Ờ những buổi học mấy ngày sau tết, có lần gió thổi tung những cánh mai vàng rụng đầy lên trang chữ, bám vào mái tóc em thắt bím trông ngộ như một cảnh đào nguyên. Những hình ảnh đâu đâu bỗng trở về lấp ló. Tưởng đã quên lâu, sao sống lại, bây giờ. 

Chúng ta đi giữa đời thực như hai kẻ mộng du. Qua hàng phố, nhà thờ, lâu đài, công viên ... ngã tư, ngã năm, ngã sáu rộn rịp xe cộ mà có lúc tưởng chừng đang qua vội những lề đường đầy cỏ dại chen chúc những bụi hoa mắc cở, dưới bóng mát những tàng lá me lay lắt, hay băng qua chiếc cầu đúc bắt sát mặt sông có con nước lặng lờ xuôi ra cửa biển, và những bầy hải âu vừa bay vừa kêu hớt hải. Con đường lớn dẩn vào thành phố có em ngày hai buổi đến trường. Và tôi, tôi như một khách xa, đến đi không hay báo trước. Tại vậy mà nên nỗi. 

Rồi bỗng em kéo tay tôi, dừng lại trước một sạp báo hỏi mua tấm bản đồ thành phố. Rồi ngón tay thon dò theo con đường đang đi, lần tới một địa điểm quen tên. À xóm St-Germain-des-Prés, bên tả ngạn sông Seine. Mình đi tới đó đi anh. Trời ơi, em còn nhớ. Em nhớ những huyênh hoang ngày tôi tuổi đôi mươi. Em nhớ cái mộng đời tôi lở dở. Em nhắc lại y nguyên lời tôi kể em nghe khu xóm nức tiếng một thời của Paris văn chương triết lý và nghệ thuật. Em nhớ cái ước mơ của tôi đã nói với em một lần. Được có ngày lang thang qua những nhà hàng, tiệm rượu, hộp đêm, hầm tối mù mù khói thuốc và xập xình tiếng nhạc ... có J.P. Sartre với chủ thuyết hiện sinh, có Simone de Beauvoir kêu đòi cho sự có mặt của phái tính thứ hai, có Jacques Prévert với thơ lề đường, có tiếng kèn đồng huyển hoặc của Boris Vian, có Julliette Créco giọng dẻo nhẹo như quến đặc nhựa thuốc lá đốt liền tay...

Ngang qua tiệm Les deux magots em đòi ghé lại. Bàn ghế bày biện vẫn y nguyên như những bức hình tôi đã thấy. Tôi gọi hai tách cà-phê, nhắp từng ngụm nhỏ. Bên kia bàn, hơi khói thơm ngát rịn mướt trên vành son môi tô khéo. Em ngước nhìn tôi, con mắt xa xăm. Có phải nơi này anh nói Ernest Hemingway đã viết Le soleil se lève aussi ... Và trước nữa chàng lãng tử Rimbeaud của anh đã làm thơ Le bateau ivre. Em ơi, hơn ba mươi mấy năm trời sao em còn nhớ. Sao em vẫn chưa quên. Tôi nhìn xuống màu cà-phê đen thẳm, thấy mắt mình như có chút khói cay. Trời ơi sao em nhớ từng chút một những say mê từ thuở tôi còn trai trẻ mà những khi rảnh rỗi tôi hay kể em nghe. Sáng nay em nói dối với mọi người để được cùng anh đi với giấc mơ anh. Dứt câu, em lấy cặp kính đen đeo lên mắt nhưng làm sao em giấu được tôi. Qua Mỹ như mọi người với mọi khó khăn, chính mấy câu khích lệ của anh đã thúc đẩy em đeo xe bus lội tuyết tiếp tục theo đại học trong sự thiếu thốn thường trực. Bốn năm em đi học là bốn năm em hy vọng, ngày gặp lại anh, em không làm anh thất vọng. Rồi em đổ đạt. Và anh, anh thì vẫn biệt tăm. Cặp mắt em giấu sau cặp kính đen. Nhưng giọng nói em làm sao giấu được. Em chắp hai tay che miệng và tôi nghe tiếng em nấc nghẹn. Hai vai em rung rung. Ngực em tức tưởi dù cố nén. Giọt nước mắt nào để sót chen qua gọng kính, loang ướt một dòng trên gò má phải. Tôi chồm người qua bàn, nắm hai bàn tay em trong hai bàn tay tôi. Sau cùng cả hai đều khóc. Tôi kềm giọng. Cho đến lần cuối gặp nhau tháng ba năm đó, anh có ngờ ngợ một điều gì đó nơi em. Nhưng em nhớ coi, lúc đó em mười bảy, thùy mị mà lại quá kín đáo, chúng ta lại ở hai vị trí nghịch thường. Tỉnh nhỏ, lòng người ... Rồi hết giặc giã, chưa kịp mừng anh đã đi tù, gia đình thất tán, mất hết mọi liên lạc ... 

Tôi sẽ nói gì thêm. Mọi lời nói đều là những phân trần vô nghĩa khi người ta đã lỡ trệch ra khỏi một toan tính với định mệnh. Lực ly tâm sẽ càng lúc càng bắn đi xa. Mỗi lúc rồi mỗi thêm xa. Tôi lập lại câu nói đã lập đi lập lại mấy lần từ khi liên lạc lại. Khi ra tù, hơn bốn năm sau, anh bị đuổi về nguyên quán. Ở quê, ba má anh cũng bị cướp nhà phải trở về làng làm ruộng khi đã gần bảy mươi. Nhà có bốn anh em trai, ba người anh còn chưa biết sống chết ra sao trong các trại tù ngoài Bắc, duy nhất chỉ còn anh ... Điều đó có cần không khi người ta đã nghe đi nghe lại bao nhiêu lần. Có điều nếu không nói vậy, tôi sẽ nói gì đây. Cái sự thật cũ càng đến độ làm xót xa chính người nói. 

Nói xong tôi thấy mình như tên hề mới vừa lau xong lớp phấn son nhễ nhãi. Mặt trời lên cao rọi xuyên qua hàng cửa mở, rải lên tóc em lớp bụi nắng óng ánh như sao. Tách cà-phê trở nguội, đắng nghét. Em đứng lên, quyết chắc. Khoác vội túi xách tay, tay cầm tấm bản đồ xếp tư, tay níu tôi đi nhanh ra cửa. Rồi như vậy, mỗi bước lần dò chúng ta đi về phía khu Latin. Gió từ mạn sông Seine thổi ngược lên mùi hơi nước pha sương. Ghé lại mấy quán sách cũ dọc bờ sông, nhìn ngắm rờ rẩm những pho sách cũ lòng tôi nổi lên một niềm ân hận không đâu. Bỗng nhiên tôi nhớ đến những quyển sách tôi đã mua, đã nghiền ngẫm, đã giữ gìn phút chốc biến thành tro than những ngày tang thương đó. Thấy tôi ra chiều thờ thẩn, em vuốt nhẹ lên bàn tay buông thỏng của tôi rồi đọc nhỏ câu thơ của Vũ Hoàng Chương. Chúng ta mất hết chỉ còn nhau. Tôi quay lại nhìn em. Và thấy lại hết những mất mát của đời tôi như tụ đọng lại trong mắt em. Cặp mắt nhìn tôi gần mà như xa hun hút. Ôi tình tôi. 

Vậy rồi chúng ta đi gần lại khu công viên nổi tiếng. Em kéo tôi đi nhanh hơn. Mùa thu rớt nhanh sạm mặt khi nắng chiều rơi chút vụn tàn trên hàng cây dẩn đến vườn Luxembourg. Không ngó tôi, em đọc lầm thầm mấy câu văn của Anatole France mà lần nào tôi đã đọc cho em nghe. Tiếng còn tiếng mất lẫn trong hơi gió nhẹ ....

... Tôi sẽ nói với bạn điều mà hằng năm làm cho tôi nhớ lại, đó là bầu trời mùa thu vần vũ, những bửa ăn tối dưới ánh sáng ngọn đèn và những chiếc lá bắt đầu vàng trên hàng cây lay động ...

Tim tôi thắt lại. Tôi siết chặt vai em, miệng mấp máy những chữ tôi còn nhớ. 

Trời ơi, dễ chừng đã hơn ba mươi mấy năm qua, câu văn dịch mùa tựu trường năm ấy. Em lên mười bảy tuổi. Tôi tâm sự với em. Nhìn tuổi em và bạn bè mấy ngày nay sắm sửa sách vở, tự nhiên tui thấy nao nao. Biết chừng nào tui sống lại cái thời hồn nhiên đã qua em hả. Rồi tôi đọc lại cho em nghe câu văn mà tôi thích nhất. Tôi nói tôi thích còn hơn bài tựu trường nổi tiếng của Thanh Tịnh. Cũng chính lần đó, tôi đã ngỏ lời khen em và chắc lòng tin em sẽ thành công mai sau. Anh thấy lại chưa anh cậu bé học trò của anh đó. Em nói mà không nhìn tôi. Em nói mà như cố soi tìm lại những gì đã mất. Anh còn nhớ bữa em khóc vì giải trật một bài đại số. Anh giễu em mít ướt làm em khóc mùi mẫn. Rồi anh đền em bằng chuyện phim Les dimanches de Ville-d’Avray. Chuyện phim buồn quá làm nghe xong em lại khóc ồ lên làm anh luống cuống sợ trong nhà hiểu lầm. Anh nhớ hông. Em cười nửa nụ mà lòng tôi chết điếng. Mà anh biết hông, nhờ anh mà em học giỏi, mà em thi đậu hạng cao. Nhất là anh tạo cho em một thứ mỹ cảm để thích văn thơ nghệ thuật ... Em nói một hơi rồi nín bặt. Tôi nghe lòng mình tan tác như đám lá rụng mỗi lần gió thổi tốc cả xiêm y. Tôi nói sao hơn nữa khi mọi sự đều có nguyên do. Hai người đi chậm bước khi ngày sắp sửa bỏ đi. Bước chậm như cố kềm thời gian lại. Nhưng làm sao được ! Làm sao kéo lại giờ khắc, mùa màng, thời tiết ... khi tóc xưa cài bướm giờ đã cắt ngắn pha sương, cậu bé tung tăng mang cặp vở chỉ là chiếc bóng tiếc nuối của một hiện thực tỉnh thức vốn đã dập vùi thế sự.

Tôi ôm ngang thắt lưng em dìu đi những bước thơ thẩn. Lòng cảm động khi tận mắt nhìn thấy một cảnh tượng trước đây chỉ có trong mơ. Ngang qua bức tượng L’acteur Grec, em dừng lại ngắm nghía, thích thú khi tình cờ có một con chim đậu ghé trên đầu vai. Khách du ngoạn kéo qua lại từng nhóm, những đứa bé con chạy nhảy vui như hội. Tôi đưa tay vén mấy sợi tóc rối rớt trên đuôi mắt em và thấy chiều xuống trên mấy dấu chân chim đã mỏi. Bóng tối len dần vào từng bờ cây vạt cỏ. Chiều xuống. Ngày của chúng ta sắp hết. Em phải về trước khi đoàn du lịch trở về. Em nấn níu nhìn tôi như hốt hoảng. Em ơi em, tôi làm gì đây. Tôi làm được gì đây khi đời tôi như con nắng chiều thu, đã và không còn sức để chặn ngang bóng tối của mùa đông sắp sửa. Khi đời tôi đã phôi pha từ những năm tháng tù đày, từ những lê lết cày cục để nuôi lớn bầy con bỏ xứ và cha mẹ già quạnh quẽ ở quê nhà. 

Tôi nắm tay em đi dần ra cổng, gọi taxi để trở lại khách sạn. Xe chạy quanh quanh qua đường phố. Thấp thoáng Paris lên đèn. Trên xe, cả hai ngồi yên như hai pho tượng. Gần tới, em ra dấu ngừng xe. Còn lại hai dốc phố. Chúng ta xuống xe đi nép vào bờ tường đá. Gió chiều thổi thốc mớ lá rụng bám vào mỗi bước chân đi. Thinh im.  Rẽ ngoặt qua lối chót, cái nóc của khách sạn lấp ló sau mấy chòm cây thưa lá.

Con đường lót đá từ trăm năm cũ, xộc xệch dưới gót giày nhọn làm lắm lúc em phải dựa hẵn vào tôi. Vẫn mùi nước hoa sớm thoang thoáng lẫn thêm mùi da thịt đàn bà nồng giấc xế chiều có lúc làm tôi ngầy ngật. Tôi muốn ôm em, ghịt sát vào tôi khi qua một góc hẽm vắng. Cơn mê nào chợt dậy, lay động nỗi ham muốn gần kề. Em dịu hoặc trong tay tôi. Cặp mắt thoáng vẻ ngập ngừng rồi quyết đoán. Em nhóng lên ngửa mặt. Tôi tựa em vào vách đá, áp môi mình lên môi em, lưỡi quyện vào nhau, quấn quíu. Và chúng ta hôn nhau hối hả. Hối hả. Bỗng chốc trăm ngàn hờn tủi, bỗng chốc muôn vàn tiếc thương đổ về kêu rêu, trách móc, thở than ... Và tôi và em và nụ hôn nóng sốt và chút lệ ứa nhanh. Và tôi và em và mấy chục năm đằng đẵng và oan nghiệt. Và ... oan nghiệt.

 

Tôi hôn em bao lâu. Chúng ta hôn nhau bao lâu. Có ai đếm được niềm đam mê bốc cháy đâu em. Có ai đo được hơi thở mình ngắn dài khi tình yêu trở thành mạch sống, háo hức, kêu đòi, buông thả ... khi hai con mắt em lim dim chấp chới, khi ngực em áp sát ngực tôi như tỏ lộ điều son sắt, rồi tôi cảm được hai chân em muốn khụyu xuống. Và tôi, tôi ...

Chúng ta buông nhau ra. Buông nhau ra khi cơn mê lên đến cực điểm. Buông nhau ra khi hai vòng tay đã khít lại như một. Và khoảng cách của hai thân xác đã gần như vô nghĩa. Và chúng ta buông nhau ra. Bỏ nhau ra. 

Em đi trước. Áo chùng đen. Tôi đứng lại, tựa vào vách tường, lòng đá tảng. Tôi móc điếu thuốc gắn vội lên môi, châm lửa. Mới đi được mấy bước bỗng em ngoái lại. Hai con mắt, ơi em, hai con mắt. Tôi ném vội điếu thuốc, chạy tới. Và em khóc. Nước mắt nhạt nhòa. Chúng ta ôm chầm lấy nhau. Và môi tôi ngậm lấy môi em. Và nước mắt tôi hòa lấy nước mắt em. Và bóng tối chìm chúng ta vào quá khứ. 

 

Sớm hôm sau, em ra phi trường. Tôi còn ngày cuối ở lại Paris. Cả ngày tôi lẩn quẩn trong phòng. Tính giờ bay, tính giờ em về tới bển. Xế ngày, tôi xách chai rượu quí người bạn xưa đã dặn dò tặng lại, xuống nhà hàng, chọn chiếc bàn nhỏ khuất trong góc, nhờ khui và rót rượu uống một mình. Bạn bỏ đi. Rượu cay nồng từng ngụm. Em bỏ về. Rượu đắng chát từng giọt. Tôi uống từng ngụm nhỏ. Rượu thấm vào hiện tại tôi. Rượu ngấm vào quá khứ tôi. Rượu ngập chìm tôi trong nuối tiếc muộn màng. Đến một lúc sao quanh tôi chỉ còn lại những đôi mắt em. Đôi mắt hiền như đóa từ bi. Không chút oán trách. Không mảy may kêu đòi. Nhưng em ơi, làm sao tôi không thấy, từ đôi mắt em, sự chịu đựng ẩn nhẫn đến chạnh lòng. Em đã lặng thinh ra về, yên phận. Vậy rồi sao nước mắt tôi ứa ra, lặng lẽ. Lặng lẽ từ đêm qua khi bóng em khuất sau cổng khách sạn. Lặng lẽ từ sớm mai khi từ trên lầu cao tôi nhìn thấy em bước lên xe đi khuất. Lặng lẽ xế chiều nay khi tôi châm đầy thêm tấm lòng tôi đã cạn bằng chất nước cay sóng sánh ánh vàng. Tôi ngửa cổ nốc từng ngụm như nuốt ngược vào người từng ấy giọt lệ tình em. Em không đòi nhưng tim tôi thắc thỏm. Làm sao tôi không biết sức nặng trì trì của ngày tháng vô vọng, khi em chưa là thiếu phụ. Thời gian thì vô tình và đời sống cũng vô tình. Em lẻ loi, quay quắt giữa xứ người. Vây quanh em chực hờ bao nhiêu là cạm bẩy. Tội tình em một thân một mình, ai đỡ đần những khi đời làm giông bão. Vậy mà em, đã vừa lo thân vừa còn lo chờ lo đợi. Chờ đợi một người tình chưa hứa được nhau một tiếng hẹn hò. Năm này qua năm khác. Rồi đến lúc mọi chuyện cũng phải xuôi theo cái chiều thuận của giòng đời. Có ai lội ngược giòng đời được mãi đâu em.  

Thì thôi em, tội tình nhau, cũng đành gánh chịu. Chỉ cầu xin em được vuông tròn. Tôi thầm thì một mình khi đêm đã gần sáng. Về phòng thu xếp rồi tôi gọi xe ra phi trường. 

Paris mờ mờ trong sương sớm. Gió luồng qua phố vắng nghe như tiếng mùa hú gọi. Những tàng cây run rẩy rải lá đầy đường. Tôi khép chặt vạt áo choàng mà nghe hơi thu lạnh xuống đầy vai. Tự dưng, tôi nghĩ mình như một tên tội phạm đang trốn chạy dù chẳng có ai rượt đuổi. Chỉ là tôi trốn chạy ... tôi !

Khi máy bay lượn cánh lần chót, nhìn xuống tôi thấy Paris nhợt nhạt như một cơn mơ. 

.................

Đến chừng về rồi tôi mới biết tôi yêu em, tôi yêu em nhiều hơn tôi tưởng. 

 

 

Cao Vị khanh                     

CVK_demtamtinh.JPG

Năm 1958, ông Nguyễn Mạnh Côn xuất bản tập sách “ĐEM TÂM TÌNH VIẾT  LỊCH SỬ”. Đó là một cuốn sách giá trị tuyệt đối về mọi mặt. Kẻ hậu ... hậu bối về mọi mặt như tôi chẳng có ý gì dám mó mé tới cạnh bên. Chẳng qua tôi khoái cái  tựa. Thường khi viết sử, từ đời xưa đời xửa ở bên Tàu, nghĩa là khi còn mấy ông  tự nhận con trời ( thiên tử ) làm vua làm chúa làm cha thiên hạ, oai quyền tột  đỉnh nghĩa là muốn làm gì thì làm, vậy mà người ta cũng đã đặt ra chức sử quan. Ông-quan-viết-sử ăn bổng lộc chuyên môn ghi chép chuyện nước non,  từng ngày từng giờ từng phút từng giây. Nghĩa là không được bỏ sót một chi tiết,  một biến cố nào đã xảy ra trong triều ngoài nội. Nhất là có-sao-viết-vậy-người-ơi! Có lẽ gọi là chép-sử sẽ rõ nghĩa hơn chăng. Viết có nghĩa chủ động, dễ lạc bút.  Chép nghĩa là ghi chép, có gì nói nấy không thêm bớt, không sửa chữa, một là một, hai là hai, không có on-đơ gì hê ́̉t. Khác nhau như chụp ảnh và vẽ tranh. Sự

thật của lịch sử là điều cấm kỵ, tối thượng, không được tô son thoa phấn mà cũng chẳng được bôi tro trét trấu. Muốn được vậy, người chép sử phải có đủ mọi đức tính, từ trung thực đến liêm sĩ, kể cả sự can trường, uy-vũ-bất-năng khuất. Ngay cả trong bộ Kinh Xuân Thu mà Khổng Tử đã san định, ổng cũng đã đòi như vậy. 

Thế mà ông Nguyễn lại đem tâm tình mà viết lịch sử ! Tâm tình là cái thứ lộn xộn  nhất của con người. Nay vui mai buồn mốt giận bữa kia hờn. Thứ tình cảm bộp  chộp đó dễ làm sai lạc mọi nhận định. Vậy mà ông Nguyễn đòi viết lịch sử bằng  tâm tình có mâu thuẩn lắm không. Thật ra dụng ý của ông u uẩn và thâm thúy  hơn nhiều khi đem-tâm-tình viết về thời kỳ hổn mang đó. Ba chữ “Đem tâm tình” cốt để xác định sự thành tâm, để bảo đảm sự chính trực của mình khi đặt bút  viết lại những dòng hận sử, với ước vọng soi lại đường đi cho tuổi trẻ sau khi đã lạc bước vì những tuyên truyền đường mật của loại chính trị lọc lừa. Cái tựa với  lối chơi chữ thượng thừa đó đã dựng lại một giai đoạn đen tối của lịch sử Việt  Nam cận đại, và làm sáng mắt cho không ít tuổi trẻ còn mù mờ vì sự quỉ quyệt của người cộng sản. Vậy mà rồi, đâu lại vào đó. Người tin, người không tin để cho lịch sử trớ trêu, kẻ nuốt hận chui đầu vào rọ, kẻ quính quáng nhào ra khơi  bán mạng cho sóng gió vô tình !!! 

Cái chuyện tôi bắt chước ông ở đây chẳng qua vì lòng ngưỡng mộ của một kẻ đến sau biết ơn người đến trước nên chẳng ngại ... bắt chước ... cái tựa. Dẫu  vậy, vẫn phải cúi đầu xin lỗi bậc trưởng thượng. Bởi vì chữ ông Nguyễn viết là máu xương là cốt tủy của một đời người thao thức vì vận mệnh của dân tộc. Còn  thứ tôi viết chỉ là chuyện càm ràm qua ngày đoạn tháng. Lựa cái tựa như vậy cốt  để nói rằng ... dốt mà hay nói chữ. Thiệt vậy, tôi vốn là một kẻ dốt nhạc mà lại  bỗng nổi hứng muốn viết về nhạc, thành ra, nói về nhạc mà nói bằng ... tâm tình  chớ không bằng ... nhạc lý như mấy ông maestro vẫn thường hay múa đủa mà sửa méo sửa tròn mấy dàn giàn nhạc giao hưởng. Nhạc tôi muốn nghe, muốn  kể lể là thứ nhạc đã có một lúc bị xử ức oan tình. Rằng thì là nhạc Boléro, nhạc  máy nước, kể cả ... nhạc-sến. Có một thời tiếng Việt của chúng ta sung mãn  lắm. Ngoài cái kho ngữ vựng đã dùng lâu dùng quen mà ai cũng rành, đã được  ghi chép hẵn hoi vô tự điển với lời giải thích rạch ròi, hằng khi vẫn phát sinh  những tiếng, những chữ mới hoặc những chữ cũ với nghĩa mới có khi chỉ nhằm  để chỉ trích hay giễu cợt một hiện tượng xả hội nào đó ... Riết rồi thành quen,  nhập tâm và xài mát tay lúc nào không biết. Giã sử chữ ... “sến”. Nếu không lầm,  dường như danh từ marie-sến đã sanh ra và phổ biến đâu từ những thiên phóng  sự với giọng văn khinh bạc trên những tờ báo hằng ngày xuất bản ở Sài Gòn, để ám chỉ những người đi ở mướn, ở đợ, giữ em, tối tối xách thùng thiếc biến chế từ thùng dầu lửa 20 lít, ra mấy cái phông-ten nước ở đầu đường, chờ chực để hứng rồi gánh nước-máy về cho chủ. Ẩn ý nhằm chê bai trình độ học thức cũng  như thứ “mỹ cảm” bình dân, ít học ... Đến một lúc, chữ “sến” tách riêng ra trở thành một tính từ độc lập, hàm ý nhà-quê, dở ẹt, thấp kém ... được phát biểu với giọng điệu khinh thị, khích bác, chế giễu ... Vậy rồi, cho đến một lúc, dường như  vào những năm 90, bỗng nghe lõm bõm đâu đó trên môi mép của quí vị tự cho  mình có thẩm quyền về âm nhạc, một danh từ mới : nhạc-sến. Nhạc-sến, hình  dung như một cái bĩu môi khi nói về một bản nhạc cũ đã có thời phổ biến rộng  rãi ở nửa phần đất phía Nam và sau này vẫn tiếp tục phổ biến ở đó, luôn cả nửa  phần đất phía Bắc bất kể có bị cấm lên cấm xuống tới nỗi riết rồi ai cũng biết ...  cũng mê ! 

Đã không rành nhạc lý, từ mấy nốt “đô” “rế” “mì” ... đến cung thứ rồi cung  trưởng, rồi trường canh, từ điệu Tango rồi Rumba, Cha-cha-cha ... nói gì đến cái  thứ nhạc cổ điển mà ai nấy đều tấm tắc khen hay dẫu có khi hai tai cứ loạn xà ngầu vì mớ âm thanh phát ra loạn cào cào của hằng chục thứ nhạc khí phát ra  cùng một lúc ! Dẫu vậy, dẫu vậy tôi cũng sẽ viết về nhạc, nhạc-sến, với tâm tình  của một người thích, khoái đến độ lắm khi muốn chảy nước mắt vì nhạc-sến. Ờ mà sến, hay máy nước, hay boléro hay nhạc vàng hay ... hay gì đi nữa miễn là khoái tai, vừa ý, thỏa lòng thì sến hay không sến cũng có sá gì đâu.  Mà cái vụ khoái nhạc-sến này cũng phải nói cho rõ, không phải do bẩm sinh  cũng không phải bị tẩy nảo. Mà là do nhu cầu thiết yếu của thời học đòi làm  người lớn. Từ khi ... lỡ-yêu-rồi-làm-sao-quên-được ...-NẾU ANH ĐỪNG HẸN-LÊ DINH Thử nghĩ coi, ngay lúc tuổi vừa mới lớn ở cái xứ Việt miền Nam đó, những năm  năm mươi mấy sáu mươi, lỡ có muốn tỏ lòng ái mộ ai đó mà cứ moi ra mấy cái  Symphonie no 9 của Beethoven hay Concerto no 1 của Chopin mà tán tỉnh thì chắc chắn là có màn thất bát dài dài ... Thuở đó, đầu trên xóm dưới, trong làng  ngoài tỉnh, bằng cấp cả xấp hay chỉ mới bập bẹ ba chữ i tờ gì cũng vậy ... chỉ có lắp ba lắp bắp theo ông Trúc Phương Ai cho tôi tình yêu của ngày thơ ngày mộng / Tôi  xin dâng vòng tay mở rộng / Và đón người đi vào tim tôi / Bằng môi trên bờ môi ... là mới hy  vọng có thể mở được đường-vào-tình-yêu –AI CHO TÔI TÌNH YÊU-TRÚC PHƯƠNG. Mà chắc cũng không phải chỉ mình tôi tin như vậy. Còn tin hay không là quyền của  bá tánh. Có điều, chuyện đờn-ca-hát-xướng ở miền Nam thuở trước không đúng  hẵn cũng hao hao như vậy. Nếu không vậy, làm sao nhà xuất bản Tinh Hoa in  nhạc với tờ giấy xếp đôi có trang bìa là hình vẽ của họa sĩ Duy Liêm, mấy cái  phòng trà, mấy chỗ sang lậu băng ca-sét, chưa kể quí vị được trời cho cái giọng  thiên phú ... làm sao sống nỗi một cách vinh quang trong một xứ sở mà tiếng  đạn bay mìn nổ nghe riết đã muốn lãng tai ! Nói như vậy để thấy cả một nền âm  nhạc mà người ta gọi là nhạc-sến cho đành đó, là cả một gia-tài-của-mẹ-TRỊNH  CÔNG SƠN. Chớ có phải chơi đâu.  

Thử nghĩ coi, nghệ thuật để làm gì nếu không phải là để đáp ứng cho khát vọng  đi tìm “cái đẹp” của nhân sinh. Dẫu có chọn cho mình một đường hướng nào đi  nữa, nghệ thuật mà không có người thưởng thức thì chỉ có đem vô mấy trại cải  tạo của việt-cộng mà làm trò tẩy nảo. Ngay cả chủ trương nghệ thuật vị nghệ 

thuật đi nữa, rốt lại, vẽ, làm thơ, viết nhạc ... mà không có ai trố mắt nhìn, vểnh  tai nghe, chong mắt đọc thì cũng y như kiểu ... nói chuyện với đầu gối. Vậy thôi. Như vậy, nhạc mà làm mê mẩn cả mấy thế hệ người nghe thì nếu không gọi là nghệ thuật thì gọi là gì cho phải đây ?! Vã lại, y như mọi ngành nghệ thuật khác, 

nhạc như thơ cũng cần sự cảm thông bằng trực giác trước khi bỏ lên bàn mổ.  Hãy thử bắt chước Xuân-Diệu-thời-tiền-chiến ... ai đem phân chất một mùi  hương / hay bản cầm ca tôi chỉ thương / chỉ lặng truồi theo dòng cảm xúc / như  thuyền ngư phủ lạc trong sương. Được chăng ? 

Bởi vậy, nói gì thì nói đem mớ ca nhạc một thời đó ra giễu cợt, dè biểu chẳng  qua chỉ là chuyện tự dối lòng của mẫu người tự cao tự đại, thiếu thành thật ngay  cả với chính mình. Nê  u không, có thể là một cách thức phản-tuyên-truyền của  đám cầm quyền cộng sản, muốn cấm đoán, muốn tiêu hủy mà bất lực trước sự thưởng thức dù có khi phải lén lút của đại đa số người hâm mộ, ở ngoài cũng  như còn kẹt ở trong nước. Y kiểu mấy mụ đàn bà xấu tánh, ham muốn hay cấm  đoán hoài mà không được bèn quay qua nói xấu cho ... hả giận ! 

Trở lại với dòng nhạc của một thời đã qua, đang qua, và sẽ còn qua nữa ... Ai sao không biết, còn tôi, sau khi dong ruổi ba đồng bảy đổi trong cái thế giới  âm nhạc tây tàu, xưa nay, cũ mới ... new age, kể cả ráp riết v.v... cuối đường  lạng quạng xin được quày đầu trở về với dòng nhạc mà số phận đa đoan chẳng  kém vì người làm ra nó và người yêu thích nó. Thứ nhạc mà người ta phán cho  là nhạc-sến ! 

Nếu nhớ không lầm thì cái “gu” cũ-người-mới-ta này đã lậm thêm vào người đâu chừng đôi mươi năm nay, nhất là từ khi sẩy bước xuống ghe tìm đường bôn tẩu  khỏi cái chế độ quỷ quái ma đầu ma cô ma mị ... Số là sau khi bôn tẩu trên dặm  nghìn sóng nước, được đặt chân lên đất lạ rồi được đặc ân cho làm người ra  giống người, được ăn thêm bơ sửa, bánh mì, pizza ... no nứt bụng rồi có lúc  bỗng quay ra thèm đến chảy nước miếng cái mùi mằn mặn tanh tanh của nước  mắm pha chút dấm chút tỏi, dầm chút ớt chút tiêu ... Khổ nỗi, thời đó người cùng  giống rồng-tiên (!) bỏ ổ còn quá ít ỏi nên lắm khi cũng đành tìm quên với nước  tương xì-dầu của mấy chú con trời ở China town. Vậy rồi nhờ vận rủi may, người  bỏ xứ trốn tự-do-hạnh-phúc-độc-lập của bác-và-đảng càng lúc càng đông nên  nước mắm và hương vị quê hương càng lúc càng bay mùi thơm phức trên xứ người. Có nước mắm, phở tái chín nạm gầu gân sách ... tạm lấp đầy cái bao tử 

tha hương rồi là nổi chứng nhớ thương mấy cái vụ đờn ca xướng hát của một  thời Sài-gòn đèn xanh đèn đỏ. Nhất là những hôm giáp tết xứ người. Trời mùa  đông lạnh cóng, hoa mai hoa đào đâu không thấy, chỉ thấy tuyết bay mù mắt,  phủ trắng cây cỏ núi đồi phố xá, phủ trắng cả tấm lòng của những kẻ mất quê  hương. Chiều ba mươi, nấu mâm cơm cúng vái ông bà, dọn ra bàn chưa kịp  thắp mấy nén nhang là trong lòng đâu như ai đã dạo sẵn mấy nốt hò xự xang xê  cống líu rồi bắt giọng mà ngân nga để sửa soạn xuống xề. Cứ mỗi lần thấy bông ô  môi nở hồng trong gió sớm, mỗi lần nghe tiếng quết bánh phồng vội vã đón xuân sang, cứ mỗi  lần có dịp về Vĩnh Long ngang làng Tân Ngải chợ Trường An ... – TUYỆT TÌNH CA-HÀ TRIỀU HOA  PHƯƠNG . Ngay lúc đó, mà đâu đó lại bồi thêm mấy câu tân nhạc của Trịnh Lâm Ngân nữa thì thôi khỏi nói. Con biết bây giờ mẹ chờ tin con / Khi thấy mai đào nở vàng bên nương / Năm trước con hẹn đầu xuân sẽ về / Nay én bay đầy trước ngõ / Mà tin con vẫn xa ngàn  xa- XUÂN NÀY CON KHÔNG VỀ-TRỊNH LÂM NGÂN 

Con mắt đâu ai xát muối mà cứ cay cay, đầu mũi muốn rục rịch mà cứ ráng kềm  sợ con nít nó cười. Dẫu vậy, cái đầu lại cứ quay mòng mòng với bao nhiêu hình  ảnh cũ dẫu đã xa mút ... mù xa. Cái thuở trời miền Nam nắng vàng như nghệ, đêm châu thổ nồng ẩm như hơ, những cơn mưa mùa vụt chạc, những con kinh  dậy phèn, những lạch nước úng bùn, những bến đò thắc thẻo người sang, những chái liếp hở hang, những cội tre xơ xác, những chùm lá me tíu tít, những  gốc phượng đỏ hè, những mái trường lợp thiếc, những chiếc áo dài trắng lắt lay,  những chợ chiều hiu hắt, những xề bánh khọt lề đường, những xe nước mía ngã tư, những con đường liên tỉnh mấp mô, những con đường mòn lẫn lút ... Và những mặt người. Ờ, những mặt người quen kẻ lạ, những thân thuộc đã sinh ly,  những ruột rà đã tử biệt ngay khi vừa mới quay lưng chưa kịp nhìn lại một lần ... ghe đã tách bến ! Sài-gòn, Vĩnh-long, Rạch-giá, Mỹ-tho, Cần-thơ, Cà-mau ... chỉ là những tên gọi hay vốn là thịt da máu huyết chảy luồn tận trong tim, đóng chốt  trong nảo từ hồi nào không biết.  

Lâu rồi, tưởng đã quên luôn. Vậy mà ... vẫn nhớ ! 

Y như ông Thế Uyên có lần đã viết, ̣đại khái như là nghe nhạc là sống lại kỷ niệm, rõ ràng, với tôi, lắm khi nghe lại những bản nhạc của một thời muốn-quên mà-cứ-nhớ đó, là sống lại y khuôn một thời quá vãng, thuở còn loi choi giữa tuổi con nít và người lớn, học đòi mơ mộng giữa thực tại và trăng sao, giữa những  nề nếp rành rọt như một bài học-thuộc-lòng. Song song với cái tuổi lưng chừng  đó là cả một thế giới âm thanh, dù phải chen lấn với tiếng đạn réo mìn gầm, vẫn  đủ sức đem lại cả một trời mơ mộng với hoa với bướm. Y như một thứ nhạc  đệm cho cảnh cũ tình xưa. Tình nào nhạc nấy. Đến lúc mọi kỷ niệm đã mù mịt,  thì những nốt nhạc cũ đó trở thành dấu chỉ cho một bước tìm về. Quê cũ. Nẻo  cũ. Nhà cũ. Trường cũ. Tình cũ ... Ôi, biết bao ân tình ân nghĩa đã bị lấp liếm  đằng sau bao nhiêu dâu bể ! Bao nhiêu dấu vết đã mờ mà cái trí nhớ còm cõi  càng lúc càng lệch lạc ! Còn lại chăng, những dòng nhạc cũ như một nhắc nhở,  dẫn đường cho những hồi ức về một cõi đời đã xa ... xa đâu đến tận ngoài tầm nhớ ! 

Nghĩ coi, một lần nào, một lần nào trong hơn mười bốn ngàn đêm sống lạc trên  xứ người, bỗng vọng lại tiếng ai hát, lẫn lẫn trong điệu nhạc rumba ... đường xưa  lối cũ, có me tôi tóc rưng rưng trong hôn hoàng .. Rồi đổi sang điệp khúc ... khi tôi về nghẹn  ngào trong nắng / tưởng mẹ tôi rưng rưng đứng đón con về / nào ngờ mẹ tôi ra đi bên kia cuộc  đời / không lời từ ly cuối cùng trước khi phân kỳ – ĐƯỜNG XƯA LỐI CŨ-HOÀNG THI THƠ. Ngay lúc  đó, nghe mà lòng không nhúc nhích thì chắc nếu không phải là Tây thì cũng là Tàu!  

Nhiều, nhiều lắm, làm sao kể ra cho xiết. Thứ ân tình, ân nghĩa đã nuôi dưỡng  hồn người bằng âm điệu ngọt ngào, đỡ đần cho những lời lẽ quen thuộc, cùng  với tám nốt nhạc nương theo năm dấu giọng đã nằm lòng ngay từ buổi mới bập  bẹ mấy tiếng mẹ cha. Tai nghe vậy mà lòng trơ trơ sao nở ?!

Đành quên sao anh, những con đường mùa trăng ấy, thao thức đêm trường nghe từng bước em  đi / Đành quên sao anh, đáy mắt hiền trong xóm vắng, nắng thu vàng nhìn ngơ ngẩn bóng người  đi -ĐÀNH QUÊN SAO-HOÀNG THI THƠ 

Từ khởi thủy, khi còn gọi là âm nhạc cải cách, đến khi bỏ chạy tuốt vô trong Nam  sau năm 54, trải suốt mấy chục năm trời nương theo dòng sinh mệnh của dân  tộc, thứ âm nhạc đó đã nói giùm cho chúng ta hết mọi nỗi niềm, từ khổ đau đến  hạnh phúc, từ kỷ niệm đến viễn mơ ..., từ một rung động nhẹ như tơ trời đến một  xúc cảm mạnh như gió bão, từ một vọng tưởng đến một hoài niệm v.v ... và v.  v... chuyện tình riêng, chuyện nước non ... nhất là từ khi cả một dân tộc vô tội bị lùa vào làm mồi cho lửa đạn vì tham vọng của một số người cuồng tín. Chính từ đó phát sinh thêm một loại nhạc mà người ta gọi là Nhạc Lính. Ở một xứ sở mà lính tráng chiếm gần 1/20 dân số, chuyện đó cũng chẳng có gì khó hiểu. Có điều  qua cái kho nhạc lính đó, người ta khám phá ra một sự thật. Trong khi những  cán binh ngoài Bắc được nhồi sọ sùng sục một mối căm thù đồng chủng ngay từ lúc mới biết đọc biết viết, người lính miền Nam, dù vẫn phải gánh trên vai cả một  núi nợ nước non vẫn là những con người bình thường, rất đỗi bình thường với  hết mọi thứ yêu thương hờn giận ... Dù cho đó có thể là một phần nguyên nhân  của cuộc bại trận tức tưởi. Nhưng biết sao hơn, làm người với đủ đầy nhân tính ! Thử nghe lại vài câu hát của Trần Thiện Thanh. 

Từ khi anh thôi học, từ khi anh khoác áo treilli / Từ khi anh xa nhà, một ngàn đêm nhung nhớ giữa trời mây / Ngại chăng dêm di hành và thường khi dừng bước giữa hoang vu / Một thằng  ước ao để một thằng khát khao, còn mình thì nằm đếm sao 

... Đồn anh bên sông cạn / Và hoàng hôn ướt đẫm đáy sông thưa / Nhiều tên trong đơn vị gọi  đùa anh chiến sĩ của mộng mơ- THƯ TÌNH CỦA LÍNH. 

 

Còn gì dễ thương mà xác thực hơn nữa. Những người trẻ tuổi, mười tám đôi  mươi từ giữa những năm 50 đến giữa những năm 70, ở miền Nam Việt Nam,  đã phải dang thân chống giữ xóm làng bằng xương máu của chính mình nhưng  chưa bao giờ đánh mất nhân tính. Họ vẫn mơ mộng, vẫn cắn răng chiến đấu và 

vẫn giữ trọn lòng nhân ái. Chẳng bù với những người đối đầu với họ ! 

Xét về phương diện nhạc lý, có thể có người cho là dễ dãi, là nghèo nàn ... tuy  nhiên thử sống lại thời buổi chiến tranh đó, khi mà mọi thứ đều gần như bị giới  hạn bởi điều kiện ... chiến tranh, ai sẽ làm hơn được nữa. Chúng ta sống thuở đó trong điều kiện sống thu hẹp, bởi mọi thứ lý do. Một bản nhạc được trình diễn  nhiều lắm với một ban nhạc năm bảy người với dàn trống, một hai tay kèn, vài  tay đàn giây ... đã là lý tưởng. Dương cầm là phải chui tuốt vô trong mấy cái  phòng trà tiệm nhảy. Còn ngoài ra, nhiều khi một cây tây-ban-cầm đã quá đủ.  Những buổi sinh hoạt ngoài trời, trong một lớp học, giữa một giảng đường, trên  một bãi cỏ cạnh cổng một quân trường ... âm nhạc thời chiến không thể đòi hỏi  hơn nữa. Vậy mà, dường như cái loại nhạc ... sến đó đã làm đủ phận mình, xoa  dịu được những nỗi lòng sầu muộn vì ngăn cách hay hớn hở khi sum vầy. Loại  nhạc ... sến đó đã thay người ta cười, khóc ... theo vận nước, thay người ta  buồn bã lúc tình xa, rộn rã khi đón người về, khóc giùm ta cho một người nằm xuống, mơ giùm ta một ngày trả súng về xây lại quê hương ... Nói sao cho hết  những diệu kỳ của sự phối hợp giữa những nốt nhạc với chữ nghĩa của một  thời. Thử một thí dụ vài ba chữ với vài ba nốt nhạc của người mà thiên hạ phong  là Ông Vua Boléro, nhạc sĩ Trúc Phương. Trong một bài hát rất được ưa thích  thời đó, thời của những trại lính, những quân trường, những trận mạc ... Bài 24  giờ phép.

 

Từ xa tôi về phép hai mươi bốn giờ / Tìm người thương trong người thương / Chân nghe quen  từng viên sỏi đường nhà / Chiều nghiêng nghiêng nắng đổ / Và người yêu đứng chờ  ngoài đầu ngỏ bao giờ 

Cửa tâm tư là mắt nên khi đối mặt / Chuyện buồn dương gian lẩn mất / Ðưa ta đi về nguyên thủy  loài người / Lời yêu khi muốn ngỏ vụng về / Ngôn ngữ tình làm bằng dấu đôi tay

Phải công nhận người ta phong vương cho ông cũng là phải. Ông đặt nhạc đã êm tai dù lắm khi lắt léo âm điệu, đảo nghịch cung bậc đến não nùng. Ông xài  chữ còn thuộc loại bậc thầy. Người con trai đi lính chỉ có được 24 giờ phép về thăm vợ trẻ, (hay người tình) mà đã mất hết 8 tiếng đồng hồ đi lại. Thời gian  không ai thúc mà cũng tự nhiên thành gấp rút. Gặp nhau rồi vội vội vàng vàng.  Khổ nỗi, bao nhiêu thương nhớ, bao nhiêu thiết tha, bao nhiêu tức tưởi ... nói  sao cho kịp, nói làm sao cho hết. Trong điều kiện không gian chật chội thời gian  hấp tấp đó, ông giải quyết cái một. Lời yêu khi muốn ngỏ vụng về / Ngôn ngữ tình làm  bằng dấu đôi tay. Nói năng lắp ba lắp bắp, mà càng gấp gáp người ta càng lập bập ... Hay nhất là để cho hai bàn tay mười ngón nói thay giùm ! Ngôn ngữ tình làm bằng  dấu đôi tay. Nhất ông, ông nhạc sĩ Trúc Phương ! Vừa gọn gàng mà sát nghĩa mà tượng hình mà ...  

Những dẫn dụ như vậy nhiều lắm, những người nhạc sĩ tài ba một thời ở đất  nước tôi. Kể ra làm sao cho hết ! Chỉ tiếc là ông trời ổng tính sao mà làm cho  ngược đời ráo trọi.

 

Nghe lại những bản nhạc thịnh hành thuở đó, và còn thịnh hành gần nửa thế kỷ sau, ở bên ngoài đất nước, hay chính ngay trong lòng đất nước đã mất, mới thắy  ảnh hưởng của dòng nhạc nhân ái đó như thế nào. Không hay sao còn làm rung  động mãi tới bây giờ ở cả hai phe vốn đã một thời thù địch. Không hay sao cứ như con phượng hoàng sống dậy từ lửa đỏ. Thứ lửa đỏ mà đám người cuồng tín  đã đốt phừng lên sau năm 75 cốt để tiêu hủy hết mọi thứ gọi là ... đồi trụy, phản  động. Vậy mà không ! Không ! Hơn bốn mươi năm sau, cái mớ phản động đó vẫn còn ... động đậy. Mà động mạnh nữa chớ. Hồi trước chỉ hát trong nhà, trong  phòng, trong rạp ... bây giờ thì hát cả ngoài đường, trên hè phố, giữa chợ cá đồng cá biển ... Hổng tin lên You tube mà coi, ở cái xứ gọi là CHXHCN Việt Nam  bây giờ, người ta đẩy cả thùng loa ra phố xá mà ca hát những bản nhạc bị cấm  đoán một thời. Nói vậy cũng không có nghĩa tất cả đều là tuyệt phẩm. Nhưng thử nghĩ coi ngó một bãi cỏ vào xuân thấy xanh mướt, vậy mà vẫn có lẫn lộn những  cọng cỏ dại đó đây. Ông trời ổng còn không cản nỗi nói chi cái đám nhốn nháo nơi cõi hồng trần. Vã lại có xấu mới thấu cái đẹp. Đó cũng là cái thói trớ trêu của  tạo hóa. Sao đem gom-đủa-cả-nắm cho đành !!! 

Lại nữa, còn nghe kể lại chuyện xưa, có một lúc nào đó, ở ngoài Bắc, ngay cái ổ của chế độ tồi tệ nhất lịch sử, vào những năm 50-60 có người còn bị nhốt lên  nhốt xuống chỉ vì cái tội mê nhạc, loại nhạc mà những kể cầm quyền gọi là Nhạc  Vàng (*). Dụng ý chắc là để phân biệt với loại nhạc đỏ ... viết bằng máu ! Nhưng  

kể ra gọi là vàng thì cũng đúng. Đó là thứ vàng thiệt vàng ròng.  Nhắc lại vậy không có ý lẫn lộn giữa dòng nhạc gọi là tiền chiến với nhạc ở miền Nam sau năm 1954, nhưng ít hay nhiều cả hai đều có chung một nguồn cảm  hứng, xuất phát từ những rung động chân thành của tình người, tình nước vốn  được nuôi dưỡng trong lòng một nền văn hóa đã ngàn năm nhân bản. Trái hẵn  với lối sắt máu của một thứ chủ nghĩa ngoại lai, được nhập cảng bằng máu,  nước mắt, xiềng xích với tù đày. Và đẻ ra thứ âm nhạc quái thai kiểu Cô gái vót chông, Cô gái SG đi tải đạn, Bác vẫn cùng chúng cháu hành quân ... mà đâu đó ít lâu sau bỗng tắt tiếng im hơi vì ... chẳng còn ai muốn nghe.  

Kể lể lăng nhăng cho vui rồi lại thấy buồn buồn. Thiệt y như chuyện ... hồng  nhan bạc mệnh. Hết bị đày ải ... rồi phỉ nhổ, đủ thứ trò phụ rẫy mà sao vẫn một  dạ thủy chung hết lòng mua vui cho thiên hạ. Hổng tin, cỡ này, thời buổi đại dịch,  nếu có dịp chui xuống mấy cái hầm nhà của đám người Việt bỏ nước lưu vong,  ở mọi nơi trên mặt đất mênh mông này, sẽ thấy không ít nhà nào nhà nấy đều có “sân khấu” dựng quanh một giàn máy gọi là ca-ra-ô-kê, mà vốn liếng trình diễn  chính là mớ nhạc Việt xưa ... được (bị) gọi là ... nhạc sến đó. Kể ra cũng đỡ buồn cho cái đám lỡ làng ngay thời buổi cấm cung, có chút phương tiện để thả hồn thoát ra khỏi bốn vách nhà mà không sợ bị “lây nhiễm” ! 

Đã gần nửa thế kỷ trôi qua, tròm trèm hai phần ba đời người, những người chết  đã chết, những người còn sống lưu lạc xứ người hay vật vờ nơi đất mẹ, mọi thứ giá trị ít hay nhiều đã được sàn lọc. Cái mất đi có lý do của sự tiêu hủy. Cái còn  lại cũng có lý do của sự tồn tại.

 

Ai gọi nhạc-sến thì cứ gọi. Còn tôi, tôi nghe nhạc với tâm tình của tôi. Âm nhạc không chỉ tính bằng nốt thăng nốt giáng. Âm nhạc còn tính bằng sự rung động của những tấm lòng mộ điệu.  

CaoVị Khanh

(*) TRÍCH RFA-ĐÀI Á CHÂU TỰ DO 

Tôi sinh ra và lớn lên tại Hà Nội, bạn bè gọi tôi là Lộc Vàng vì ngày xưa tôi mê nhạc vàng, tôi  hay hát nhạc vàng. 

Nhạc vàng là dòng nhạc từ trước 1954, khi đất nước Việt Nam là một nước, thì những nhạc sĩ  sáng tác những nốt nhạc những lời văn quí như vàng cho nên người ta gọi đó là nhạc vàng .  Đấy là dòng nhạc trữ tình của Việt Nam, thí dụ như những tác phẩm của Văn Cao, Đoàn  Chuẩn Từ Linh, Nguyễn Văn Khánh, Nguyễn Văn Tý, Đặng Thế Phong, Châu Kỳ, và cả Phạm  Duy nữa... mà người ta gọi là nền tân nhạc cũng là đúng. 

Tù tội vì trót yêu nhạc vàng 

Năm 1965, ba cậu thanh niên cùng mê nhạc vàng là Thành, Toán Xồm và Lộc Vàng gặp nhau: 

Anh Toán nhiều tuổi hơn tôi, sinh năm 1932, còn anh Thành sinh năm 1944, hơn tôi một tuổi.  Ba anh em đều thích đàn thích hát, tập trung với nhau thành một tốp 3 người đóng cửa hát ở trong nhà. Toàn hát nhạc tiền chiến ngày xưa thôi, bạn bè ai thích nghe thì đến. Cứ đóng cửa hát với bnhau, hát dấm hát dúi, hát không cho hàng xóm nghe. Bọn tôi thậm chí một bao thuốc lá một ấm trà có thể ngồi hát thâu đêm suốt sáng được. 

-Nghệ sĩ Lộc Vàng 

Bởi duyên nợ ba sinh với nhạc vàng, ông Lộc Vàng kể tiếp, năm 1968 cả 3 anh em Toán Xồm,  Thành, Lộc Vàng bị bắt và bị nhốt tại Hòa Lò. Cho đến năm 1971 mới được mang ra xét xử tại  tòa án thành phố Hà Nội: 

Họ bảo bọn tôi phản động, tuyên truyền văn hóa trụy lạc của chủ nghĩa đế quốc, chống lại  chính sách của nhà nước, phá hoại nền văn hóa của chủ nghĩa xã hội. 

Ngưởi ta cũng nghi là bọn tôi ăn lương ở trong miền Nam, tung tiền cho bọn tôi ăn chơi. 

Kết quả, ông Toán Xồm bị kêu án 15 năm tù cộng 5 năm mất quyền công dân, ông Lộc Vàng  10 năm tù cộng 4 năm mất quyền công dân, ông Thành 5 năm tù và 3 năm mất quyền công  dân.

_____________________________________

CVK_TramTuThieng.JPG

Đã có lần viết về nhạc Trầm Tử Thiêng. Lần đó không biết sao mà bị rúng động quá mạng, tôi đã không dìm được những dư ba trong lòng sau khi bất chợt nghe được bài hát Tưởng Niệm nên đã bất chấp sự dốt nát của mình về âm nhạc, đêm về cắm cúi viết về bài nhạc đó, gần tới rựng sáng, sau một ngày vật vã chạy vạy kiếm ăn. Chẳng nhớ đã nốc bao nhiêu ng̣ụm cà-phê đen, đốt cháy bao nhiêu điếu thuốc lá thành khói ... độc. Đại khái như vầy...

 

“ ... Tôi nghe bài hát Tường Niệm của Trầm Tử Thiêng lần đầu tiên khi đang lái xe một mình trên xa lộ ở phía tây thành phố. Con đường len qua một khoảng rừng thưa, chùi xuống một thung lũng xanh mù rồi chồ̀m lên một dốc cao đúng lúc mặt trời đang lặn xuống ngay trước mặt, rải xuống trần thứ nắng quái làm hực lên giữa lòng ta cái lộng lẫy của sự thế tàn phai. Đường vắng, ngấm men rượu bạn bè, hứng chí phóng gần trăm hai trăm ba cây số một giờ. Xe hạ kiếng, gió thổi ngược thốc tháo vô mặt mũi, thổi bay tóc tai hối hả, thổi luồn vô áo thả nút ngực bung căng buồng phổi. Mắt chú mục con đường thẳng băng trước mặt, tay lái run run dù đã ghìm chặt, tim đập giựt ngược, hơi rượu bốc lên, chân ga trì xuống, trăm ba ... trăm tư ... sàn xe run run ... tay lái run run ... chiếc xe như ngựa sút chuồng ... một-xe-trong-cõi-hồng-trần-như-bay... 

... thoáng chốc tôi như bay...

... thoáng chốc, miệng hư vô hả toác hoác...

đầu óc thả lỏng như ngựa sút cương. Và một thoáng nghĩ như tia chớp, giả sử bây giờ buông tay... cái miệng hư vô táp táp... rồi phụp một cái. Hết. Ngon ơ !

... ngay lúc đó, tôi nghe từ cái máy CD mở lớn hết cở vọng ra tiếng hát ... ta nghiêng tai nghe lại cuộc đời thì hãi hùng hoàng hôn trờ tới .. giọng nam đục, khàn ... ta nghiêng vai soi lại tình người thì bóng chiều chìm xuống đôi môi ... Bài hát đến với tôi đúng nơi, đúng lúc khi  chiều vừa chạng vạng, cái thời khắc đặc biệt nhùn nhằng giữa sống và chết, giữa ngày và đêm, giữa ánh sáng và bóng tối, mặt trời với thứ ánh nắng huyển hoặc, không vàng không cam không đỏ không tím mà lại có vàng có cam có đỏ có tím, ở phía chân trời ... y như thứ màu vàng cam nóng hổi mà làm lạnh ngắt lòng người trong tranh của Van Gogh ”

 

Bài hát có cả thảy 12 câu, kể cả điệp khúc, được viết đâu từ năm 1972, theo điệu Boston, nhịp ¾, “ ton” thứ, đã được hát đi hát lại không biết bao nhiêu lần, từ sân khấu đến ngoài đường phố, từ những mấp máy môi miệng cho vui - dù đúng ra bài hát không vui chút nào - cho đến những ca sĩ chuyên nghiệp mà thật ra không chuyên nghiệp chút nào khi vô tình hay cố ý đổi một chữ tuyệt vời của tác giả, trờ tới thành chợt tới trong câu thứ nhất ! Ô hô ! Ai tai ! (*)

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Bài viết đã trên dưới mười mười lăm năm. Từ đó tôi đã nghe đi nghe lại Tưởng Niệm không biết bao nhiêu lần. Có khi ngay sau hớp cà-phê và ngụm khói đầu ngày. Có khi giữa đêm khuya lơ khuya lắc khi phố người đã ngủ yên. Có khi sau một bữa tiệc cưới. Có khi sau một đám tang ma ... Gì thì gì, cứ sau mỗi bận nghe Tưởng Niệm là tôi lại thấy xốn xang. Y như có điều gì vừa vuột khỏi hồn tôi. Y như tôi vừa mất thêm lần nữa một phần đời tôi đã mất. Quê hương. Gia đình. Tuổi trẻ. Tình yêu. Hạnh phúc. Đau khổ ... Mọi thứ mọi điều, dù đã xa biền biệt lại lộn ngược về, trong tôi, để lại mất thêm lần nữa. Từ đó, nỗi buồn -không tên- không tăng thêm cấp số cộng, mà tăng thêm cấp số nhân. Từ đó ... mà lại cứ nghe hoài Tưởng Niệm của Trầm Tử Thiêng. Nghe có lạ không. Cũng là lạ. Nhưng mà ... ta-cũng-nòi-tình-thương-người-đồng-điệu !

 

Tôi không là nhạc sĩ, càng không phải là người phê bình âm nhạc, nhưng có cần không để nghe và nói về -nói thêm nữa- một bài hát ... mà thiên hạ cũng đã nhắc nhở nhiều hơn một lần.

 

Đã có ai trong khi lặn lội suốt dọc đời mình, một lần nào đó nghiêng tai nghe lại cuộc đời, ẩn dụ quá sức là độc đáo. Đời người nói chung hay đời ta nói riêng có phải là một bản trường ca hay một đoản khúc, có khi nhịp sống hối hả có khi lặng lờ, có khi dồn dập như điệu nhảy samba hay lướt thướt như bước slow dịu hoặc ... gì thì gì, đã có ai, một lần nào đó, buổi sáng buổi trưa buổi chiều buổi tối, chịu ngồi lại, nơi một góc khuất, để hồi tưởng lại chuyện mới hôm qua hay hôm kìa, chuyện tháng trước hay năm ngoái ... để suy ngẫm, để tiếc nuối hay để vui để buồn ... hay... chẳng để làm gì hết ! Cuộc sống, dòng đời, kiếp người ... đi, trôi, chảy, tuột ... dù nhanh dù chậm ... vẫn chỉ có một chiều như một con nước đổ dốc. Chỉ có xuôi theo mà chẳng quày ngược lại bao giờ. Người ta bị cuốn theo như chiếc lá bị cuốn theo chiều gió, một buổi cuối thu. Vậy rồi, đến lúc giựt mình, ngoảnh lại ...

 

Ta nghiêng tai nghe lại cuộc đời thì hãi hùng hoàng hôn trờ tới
Ta nghiêng vai soi lại tình người thì bóng chiều chìm xuống đôi môi

Ông Trầm Tử Thiêng có lúc đã làm chuyện đó. Ông nghiêng tai nghe lại cuộc đời. Giả sử nếu mượn được hình ảnh một bầy đàn đang đun đẩy nhau một cách vô thức để lũ lượt kéo đi theo một sức hút vô hình nào đó, bỗng có lúc bất chợt khựng lại – cũng vô thức như khi lũ lượt đùn đẩy nhau đi – khựng lại để vểnh tai nghe ngóng mà chẳng biết nghe ngóng cái gì !... Hình ảnh đó có bi thiết quá không khi đem so sánh với dòng nhạc mở đầu của bài Tưởng Niệm. Thiệt ra là không. Không, nên nghe lời mở đầu mà giựt mình như khải ngộ ! Nhất là khi tiếng hát dứt, tiếng nhạc ngưng, tiếng vọng âm trầm trầm quấn quíu nhau như sợi khói tàn hương khi nhang đèn chợt tắt, bỏ lại cõi trống mù mù càng làm lộ ra cái vẻ tàn tạ của sự thế oái ăm mỗi khi đời trở chứng. - Sol sol sol sol rề sol rề rê mi rề rề la sol sí - ta nghiêng tai nghe lại cuộc đời thì hãi hùng hoàng hôn trờ tới. Đô đô đô đô sì đô si si lá rề rê si la la - ta nghiêng vai soi lại tình người thì bóng chiều chìm xuống đôi môi -

 

Một cách nói khác, người nhạc sĩ ở độ tuổi mới vừa chín tới, trên dưới 30, dẫu đang đi xuôi theo dòng đời một cách thuận thảo,-hay hục hặc !?- có một lúc nào đó, chợt nhiên khựng lại, quày ngó lại ngày tháng mình đã sống, đã vui, đã buồn, đã cười, đã khóc, đã yêu thương, đã hờn giận, đã ... và  đã ... Và ông thấy gì, ông thấy hình ảnh một bóng hoàng hôn đang trờ .. tới. Rồi lại một bóng chiều đang chìm xuống. Hoàng hôn, bóng chiều là những ẩn dụ mà trong thơ văn người ta vẫn thường dùng để biểu hiện cho đoạn cuối của một sự thế đang tới hồi kết cuộc. Kiểu như cho bóng chiều rụng xuống tàng cây hay rơi trên mái nhà tranh có hiu hiu vài sợi khói. Cũng chẳng có gì là lạ. Lắm khi lại tạo cảm gíác êm đềm nữa là khác. Đằng này, ở đây, lại gây ấn tượng mạnh vì bởi hai chữ “hãi hùng”, như thứ phản ứng hốt hoảng trước một phát giác đột ngột, cực tả tâm trạng rối loạn của người trong cuộc. Hoàng hôn ở đây không còn biểu thị cho khoảng thời gian vật lý mà là biểu hiện cho cảnh tàn tạ của đời người do sự tự hủy của chính mình. Từ đó làm liên tưởng đến bức tranh Le Cri của Edvard Munch vẽ mặt người bịt tai, hai con mắt mở trao tráo như hai lỗ hủng không đáy và miệng thì há hốc mà tiếng thét vô thanh, đằng sau lưng đỏ hực lên một mặt trời chiều sắp tắt. Bức tranh được coi là biểu tượng cho cơn khủng hoảng ý thức về cuộc hiện sinh vô nghĩa của con người, những năm đầu thế kỷ 20. Sự liên tưởng làm tiếng nhạc lời ca không còn trừu tượng nữa. Bỗng dưng, mọi chuyện như có thật !

Rồi chắc để cho hồn người dịu xuống, bớt bi kịch mà thêm đôi phần lãng mạn, tác giả lại xếp cho cái đoạn cuối ngày đó, lần này, chìm-xuống trên một đôi môi vốn dĩ là cửa ngỏ của mọi sự giao tiếp. Vui buồn giận hờn yêu ghét ... gì cũng thoát ra từ hai vành môi đó. Chính trên đôi môi nào đó đã một lần thì thầm hai tiếng yêu đương. Chính trên đôi môi nào đó đã có lần làm môi giới cho sự phối hợp âm dương. Phải không ? Vậy mà lần này cũng chính từ đôi môi đó, người ta đón nhận sự tan vở. Thử tưởng đến một nụ cười nở gượng khi mọi sự đang tới hồi kết thúc. Sự tương phản của hai biểu tượng làm câu hát nghe ra như một lời thú nhận đau đớn về sự buông xuôi tức tưởi của người trong cuộc trước sự thế chẳng đặng đừng. Câu nhạc cao thấp chỉ quá một bát độ chút xíu mà vặn vẹo hồn người, ép người nghe tới chỗ đối diện với chính phận mình -nghe và nhận cho ra sự thật lấp liếm đằng sau những ma mị của tuồng ảo hóa. Để ... thấy mình quả tình bèo bọt. Nhạc và lời như ngón tay ngắt véo mấy tầng ý thức, gọi dậy hồn mê muội. Hai mươi tám nốt nhạc cộng với hai mươi tám chữ tròng tréo nhau để lại âm vang rền rĩ suốt cả hiện thân. 

Thói thường, người ta sống như một cái gì tự nhiên nhất. Như hạt giống gieo xuống đất thì nẩy mầm, như hoa búp rồi thì hoa nở. Dẫu người ta vẫn biết hoa nở rồi hoa sẽ tàn. Nhưng có mấy ai ngay khi hoa mãn khai lại đem lòng nghĩ đến lúc hoa tàn phai. Người ta còn mãi bận bịu với thứ hạnh phúc chụp bắt được. Người ta còn bận sống, thở, ăn, ngủ, làm tình ... như là sẽ thở, ăn, ngủ, làm tình ... mãi mãi. Điều ông phát giác ở đây không có gì tầm thường hơn nhưng chính cái tầm thường đó là một khải ngộ cực kỳ hiếm hoi.  Hiếm hoi và nghịch thường với phát giác của nhà sư Mãn Giác đời Lý – mạc vị xuân tàn hoa lạc tận, đình tiền tạc dạ nhất chi mai – là một phác giác của hy vọng, của niềm tin, của hạnh phúc ... Còn phát gíác, mà thật sự có phải là một phát giác, của người nhạc sĩ ở đây chính thị chỉ là sự xác nhận một sự thật nhãn tiền mà ai cũng cố tình quên lãng, cái kết cuộc y khuôn mà con người ai cũng sẽ gánh chịu như nhau kể từ khi mang-tiếng-khóc-bưng-đầu-mà-ra. 

Mấy nốt nhạc chuyển âm lắt léo dù không cách nhau quá nhiều âm vực, nghe như tiếng thở đứt hơi của một kỳ trăn trối, nếu không là vọng âm từ một cõi đời đã quá hạn. Những chữ những lời rồi ra chỉ là sự thú nhận bất lực của phần số con người trước cơn bạo hành của số phận. Mỗi câu là sự kết hợp của những nghịch đảo, khéo tới độ làm đau đớn người nghe. 

 

Đang mân mê cho đời nở hoa /chợt bàng hoàng đến kỳ trăn trối

Đang nâng niu cuộc tình lộng lẫy / bỗng ngỡ ngàng hụt mất trên tay

Đang-Thì-Chợt-Bỗng ! Cả bốn chữ đều biểu hiện cho thời-điểm-hiện-tại ( temps présent ) để ám chỉ sự trùng hợp của hai sự việc đối nghịch xảy ra cùng một lúc. Đúng lúc. Ngay bon. Cùng thời. Hình dung cuộc đời như một cái cân, bên tám lượng thì bên kia phải nửa cân. Cho bằng. Cho đều. Vui một, buồn một. Vui hai, buồn hai. Làm như cuộc đời lúc nào cũng rình rập, so đo ... để bù đắp hay trả đủa cho xứng với những vọng động của con người. Buồn. Vui. Khổ đau. Hạnh phúc. Rồi có phải chỉ là hai mặt phải-trái thiệt-giả của cùng một thực thể. Hay chỉ là những giả tưởng mà thế nhân đã quay theo mòng mòng suốt một đời, phù thế. 

Cái lắt léo của những phận người ... thấu thị là ở chỗ biết vậy mà không tránh khỏi, biết vậy mà cứ vướng mắc như bầy dơi mù lòa. Rồi người ta buồn một họ buồn hai. Người ta khổ hai họ khổ bốn. Tính như vậy mà lũy thừa lên theo cấp số nhân. Ôi cũng một giống nòi tình, biết vậy mà cứ đâm đầu vô. Ờ mà không đâm đầu vô làm sao đời còn có những câu chữ sắc mắc làm thương tích những trái tim sầu muộn. Không đâm đầu vô làm sao đời còn nghe được những uẩn khúc đoạn trường. 

Từ câu hát đầu tiên, rõ ra, chúng ta chỉ là những kẻ nhẹ dạ chơi trò cút-bắt với định mệnh. Tất cả, rồi ra chỉ là những trễ tràng, những hụt hẫng, những trúc trắc, những ngộ nhận ... Tất cả, rồi ra chỉ là những bất khả, kể cả tưởng đã nắm chặt trong tay rồi ra cũng chỉ phù du. Con người có khác gì một loài thiêu thân lao đầu vào vũng sáng để châm lửa vào mình làm cuộc tự thiêu bất tận. Cái còn lại lả gì nếu không phải là tro than của cuộc đuổi bắt trường kỳ và vô vọng của con người. Hạnh phúc mà người ta tưởng vừa níu bắt được rồi ra chỉ là ảo giác của những ước muốn vô vọng của chính mình. 

Y như đứa bé chơi trò bong bóng nước. Vừa thấy đó, vói tay chụp bắt thì chiếc bóng đã vỡ tan. Nghịch thường hơn nữa là khi chiếc bóng nước tan ngay trên mấy đầu ngón tay vừa vói tới. Đang nâng niu cuộc tình lộng lẫy, bỗng ngỡ ngàng hụt mất trên tay. Thử tưởng đến tình cảnh những tình nhân trễ tràng. Có phải càng muộn màng thì cuộc tình càng lộng lẫy ? Ờ mà có cuộc tình nào không lộng lẫy. Nhất là khi đời đã trễ muộn. Đó có phải biểu tượng đúng nhất cho sự tréo nghoe thường hằng của kiếp làm người. Trong thiếu hụt càng làm tăng ham muốn. Càng ham muốn càng sinh ảo giác. Cuộc tình trễ muộn nào rồi cũng lộng lẫy như bong bóng nước. Càng cay đắng càng vọng tưởng-vọng tưởng như để bù lại chỗ thiếu hụt. Rốt lại, cái ảo giác lộng lẫy vừa là phần thưởng vừa là bản án cực hình của kẻ yêu đương trái mùa trễ chuyến. 

Chẳng vậy mà người xưa cứ hay dùng hai chữ “con tạo” như một đứa bé nghịch ngợm để ám chỉ những khúc khuỷu của đường đời. Cuộc đuổi bắt hạnh phúc của đám nhân loại nghĩ ra ngây thơ đến tội tình. Hay đúng ra, con người được tạo ra chỉ để làm đồ chơi cho ... cho một trò chơi tung hứng ! 

 

Điệp khúc có bốn câu, cắt ra tám vế ngắn ngủn, gọn bâng như một bài thơ năm chữ mà nói ra trăm điều, bổ xung cho cái khám phá hãi hùng về ý nghĩa của cuộc nhân sinh.

 

Ta khổ đau một đời, 

để chết trong tình cờ
Ta tìm nhau một thời,

để mất nhau vài giờ
Bàn tay làm sao níu,

một đời vừa đi qua
Bàn tay làm sao giữ, 

một thời yêu thiết tha

... như thêm lời giải thích cho đoạn rao giảng mở đầu. Không thấy sao ? Không hãi hùng sao được khi ngày chưa đi mà hoàng hôn đã trờ tới, rõ ràng là cái bất khả đã nằm trong khả thể, y như Nguyễn Đình Toàn có lần cũng đã hô hoán lên ngày thần tiên em bước lên ngôi đã nghe son vàng tả tơi. Lần nữa, Trầm Tử Thiêng liệt kê ra những dấu hiệu của một cuộc chạy đuổi trong vô vọng.

Này, có chạy tìm nhau cũng chỉ để mất nhau, có nấn níu dằng co trì kéo thì rồi cũng sẽ vuột nhau vì một khi đã ngược chiều với vòng quay của định mệnh thì dẫu có thiết tha cách mấy cũng chỉ để ... ngậm ngùi. Mỗi câu hỏi được đặt ra đã chứa sẵn trong đó câu trả lời phủ định. Nhất ông ! 

Đời người có phải là một cuộc trường chinh bắt đầu từ số không để về tận đến ... số không. Có thực hay không, cái kinh nghiệm sống khủng khiếp đó. 

 

Bốn câu đầu như là một cáo thị chung chung cho cái đám nhân quần còn đang lăng xăng với trò chơi đuổi bắt đó. Đến bốn câu cuối mới thiệt là lời tự sự với chính mình. 

 

Mang ơn em trao tình một lần là kỷ niệm dù không đầm ấm
Mang ơn em đau khổ thật đầy là nắng vàng dù nhốt trong mây
Mang ơn trên cho cuộc đời ta vài vạn ngày gió cuồng mưa lũ
Trong cơn đau một vừng nhang khói kéo ta về, về cõi hư vô .

Nhìn ngó quanh quanh rồi nhìn lại đời mình. Sau hết, cái còn lại ? Tiền tài ?  Công danh ? Sự nghiệp ? Tất cả rồi từa tựa áng mây trôi. Có ! Không ! Không ! Có ! Cái có thật còn lại, sau cùng, phải chăng chính là sự kết hợp với tha nhân. Cái còn lại, sau hết, là mối giao tình giữa người với người. Bốn câu cuối của bài hát nghe ra như một lời tạ tình vô cùng hào sảng.

Hồn sắc sảo bao nhiêu thì lòng đôn hậu bấy nhiêu. Chuyện yêu đương hẵn vui ít buồn nhiều, vậy mà ở cuối con đường suy niệm về lẽ vô thường, ông còn quày trở lại để được một lần nói hai tiếng tạ ơn. 

Quả là một người thủy chung rất mực, tình dẫu ba đào nhưng còn đó, những dư ba. Bởi vậy, làm sao mà quên phứt cho đành. Sau rốt, ông tìm quay lại với cái một-nửa của mình, cái thiết-thân-một-thời, cái đã có lần để hồn chìm trong đáy mắt, cái đã có lần níu chặt trong tay, kề sát bên vai ... đã cho ông nếm vị đắng của những lời tình ngọt, lẫn lẫn với vị ngọt của một đời tình lỡ. Hạnh phúc có thật hay không, phải chăng chính là chút vui vầy khi còn đôi lứa. Dẫu rồi có dở dang hẵn cũng đã có lần đưa nhau tới mấp mé cửa thiên đàng. Làm sao mà không biết ơn nhau cho đành. Ôi diệu kỳ cho dù chỉ còn là kỷ niệm, dẫu chỉ một lần trao tình cũng đã đủ giúp nhau chạm mặt hạnh phúc ! Mấy tiếng mang-ơn nghe ra sao mà chân tình quá đỗi ! Vừa tha thiết vừa trân trọng. Ân cần đến độ ai đó chắc mũi lòng. Đã có lời nhạc tình nào mà nhân nghĩa tới vậy đâu ! 

Ôi ông Trầm, nghe ông là người ít tiếng kín lời mà sao lời nào ông nói nếu không xoáy đau tới tâm phủ thì lại nghe ra mát rượi như nước mưa tắm gội giữa trưa hè quê mẹ ! Xin cúi đầu tâm phục. 

 

Nhạc tây nhạc tàu gì không biết, nghe nhạc ông tôi chỉ nghe ra tiếng thì thầm u uẩn của một tấm lòng nhân hậu. Quãng đại. Sắc sảo mà chân thành. Chân thành đến nỗi làm muối mặn đọng lòng, ngay cả người nghe là người dưng nước lã. Đã vậy, nói chuyện tư riêng cũng chỉ là để bắt quàng sang chuyện lớn, chuyện trời cao bí hiểm, chuyện đất sâu huyển hoặc, chuyện thiên địa mang mang, chuyện nằm tuốt trong sâu thẳm mấy tầng vô thức ... Gì thì gì, một khi đã ló mặt ra với cuộc đời này - dù không được hỏi ý kiến ! - bổn phận đầu tiên và sau cùng của con người là sống đời mình cho đúng nghĩa ... làm người. Còn ngoài ra thì phó mặc cho ... định mệnh !

 

Cuối lời, như còn cố thêm một dặn dò :

 

Mang ơn trên cho cuộc đời ta vài vạn ngày gió cuồng mưa lũ
Trong cơn đau một vừng nhang khói kéo ta về, về cõi hư vô .

quả là minh triết ! Dẫu biết thiên-địa-bất-nhân-dĩ-vạn-vật-như-sô-cẩu mà vẫn tâm đại lượng, không oán trách cũng chẳng kêu than, chấp nhận mọi việc mọi sự như vậy là vậy. Như thị. Hơn nữa, bài hát nghe thì như kêu rêu mà nghĩ lại thì còn như một lời tạ ơn nữa. Tạ ơn đời mặc mưa-cuồng-gió-lũ. Tạ ơn người mặc kỷ-niệm-không-đầm-ấm. Thắm thiết biết bao lời dặn dò, gởi lại. Nghĩ lại coi, không phải vậy sao. Dẫu mưa nắng giá băng lắm khi trái ý nhưng nghĩ cho cùng, ơn nghĩa trời đất và cuộc đời dẫy đầy ra đó. Cốt yếu là mình có nhận ra được không. Một buổi mai, sau trọn đêm tuyết lạnh, hừng sáng, mặt trời hiện ra, chói lọi một vừng hào quang, xuyên qua hết mọi tầng mây, len qua hết mọi lớp không khí vẩn đục, chiếu thẳng vào góc bàn viết có chậu cúc vàng vừa nở trái mùa, có khác gì mấy lời phủ dụ của thiên nhiên. Lần khác nữa, tình cờ đọc được đâu đó một câu thơ, chữ nghĩa vần điệu mơn man nhau mướt rượt nghe như ai đó vỗ về làm nỗi sầu riêng bỗng dưng rồi nhẹ hửng. Góc núi, lưng đồi ... một buổi chớm thu, tiếng chào, câu hỏi ... mỗi lượt đi về ... mỗi mỗi đều chứa trong đó thứ ân sủng của trời đất và lòng người, mãi mãi có đó, ràn rụa như sương mai. Vậy mà không mang ơn thì còn biết mang gì cho khỏi cồng kềnh cái phận người đã quá đỗi đa đoan.

 

Sau hết, bài hát kết lại một cách gọn bâng :

Cuối cùng, mọi thứ mọi điều, giàu nghèo sang hèn đẹp xấu tài hoa hay thô kệch... mọi kiểu mọi cách, thành công thất bại, hạnh phúc hay khổ đau ... rốt lại chỉ là ...

chỉ là :

Một vừng nhang khói

Kéo ta về

Về cõi hư vô.

Nói gì cho đúng hơn nữa. Đoạn kết hẵn là đoạn đành. Nhưng có nói ngược lại được đâu. Chắc vậy cho yên, lòng thôi vọng đọng.

 

Câu cuối, nhạc xuống “ton”, người hát hạ giọng, luyến láy làn hơi lên bổng xuống trầm, ngân dài mặc tình theo hơi thở rồi bỏ trôi theo nốt cuối lưng lửng, không cao không thấp, lưng chừng ... làm cõi quạnh quanh quanh tưởng như tấm màn the có hơi gió thổi nhè nhẹ lắt lay theo, người nghe nín thở để hồn lặn truồi theo dòng cảm xúc, lung lay theo cung nhạc rồi nhè nhẹ, nhè nhẹ buông xuôi, buông xuôi tới tận ... cõi hư vô !

 

Ông Trầm, ông làm nhạc mà như giảng kinh. Nghe mà rã mềm phế phủ, cảm như có vết mực loang ra trên tờ giấy thấm, càng lúc càng đậm đặc ... 

 

Mà thiệt tình, tui có muốn tu đâu !!!

 

 


 

VIẾT THÊM 

Chắc cũng nên dông dài thêm chút đỉnh về những nhạc phẩm của Trầm Tử Thiêng, đặc biệt là phần viết lời. Ai sao không biết, chớ tôi nghe nhạc của ông mà lắm khi cảm chữ nghĩa (lời) của ông như một cõi thơ rất riêng. Chữ nghĩa thường bình dị, nhưng đặc biệt ở chỗ bình thường mà không tầm thường. Vấn đề là đặt chữ đúng chỗ của nó, chữ có thể bỗng dưng ảo hóa thành mỹ từ như phù thủy. Có những chữ như trong ngôn ngữ nói hằng ngày, không cao xa cũng chẳng hoa mỹ, có khi quen thuộc, vậy mà chọn đúng nơi đúng lúc cộng thêm cái nốt nhạc đúng độ đúng “ton” làm người nghe cảm thấy... thốn tận tâm can. Kể cả cách đặt câu, có khi gần như phá thể, như một ý hướng tìm tòi đột phá, làm mới ngôn ngữ vậy.

Nội cái chữ “trờ” trong câu hát đầu tiên đã là một diệu thủ của chữ nghĩa. 

 

(*)TRỜ ( hoàng hôn trờ tới)

“Trờ tới”  y như cầm dao mà cứa thịt. Chặt cái bụp ít đau. Cứa, đau gấp bội. Chữ nghĩa của người ta diệu kỳ như vậy mà quí vị ca sĩ nam nữ bất chấp, cứ ngang nhiên ngân nga thành ... chợt tới. “Chợt”, phù bình thanh, cụt ngủn cụt ngẳn, phát ra không có âm vang. “Trờ”, trầm bình thanh, âm phát ra tự nhiên kéo dài, mới diễn tả hết ý được sự cò kè, cù cưa, trì kéo của ... định mệnh. 

 

-Thử ráng phân tích thêm một chút về nghệ thuật viết lời ( văn ) của tác giả.

Câu hát áp chót - Mang ơn em đau khổ thật đầy là nắng vàng dù nhốt trong mây. Tuyệt vời ! Thử tưởng ra một buổi chiều có nắng mà đầy mây. Nắng thì vàng hực mà mây thì xám xịt. Hai màu sắc tương phản như vui với buồn. Mặt trời lặn chậm như không muốn lặn. Đám mây vô định thì cứ vẩn vơ qua lại như không biết chỗ phải ngừng. Cứ như vậy mà lắm khi vô tình nhốt sắc vàng lộng lẫy buổi chiều hôm đằng sau lớp màu xám chẳng ra xám đen chẳng ra đen. Sự tương phản đó là ẩn dụ vô cùng thi vị cho một nỗi buồn thất tình bị giấu kín, giấu kín đằng sau bộ mặt giả bộ trơ trơ, đằng sau những cử chỉ ra bộ dứt khoát ... mà trong lòng thì ruột đứt không biết bao nhiêu khúc ... mà đau khổ không biết bao nhiêu lần ... mà tình yêu cũ, trễ, lỡ ... vẫn sáng lán trong thăm thẳm lòng, y như nắng vàng bị nhốt trong mây. Có biểu tượng nào cho chuyện thất tình đẹp và rộng lượng tới vậy đâu ! Viết nhạc mà như nhốt thơ vào trong đó, quả là tài hoa hết mức. 

 

Ôi văn chương âm nhạc ai đem chia biệt cho đành !

 

Lang bang thêm chút nữa, nghe thêm nhạc của Trầm Tử Thiêng, lại nghĩ ra một điều : trong nỗi buồn riêng ông, luôn luôn lẫn lút nỗi buồn chung về quê hương và thân phận con người của một thời quá đỗi điêu linh. Lắm lúc nghe mà tưởng như đọc rồi chìm lĩm trong thơ Tô Thùy Yên với những chữ những nghĩa u trầm như vọng về đâu từ một cõi nào xa mút cõi người 

 

Ôi những bậc “vương tôn miền trí tuệ” ! -chữ của Tô Thùy Yên-

 

cvk

cvk_TTThieng_tuongniem.JPG
CVK_Signature.JPG
CVK_TenDangTu.png
CVK_Thư gởi thơ không gởi.JPG
CVK_Lonkhoi.png

 Từ tiền chiến, Nguyễn Xuân Sanh, người làm thơ tượng trưng đã viết một câu tượng trưng hết sẩy. Thư, gởi. Thơ, không gởi. Thư, gởi. Thơ, không gởi.

 

Năm chữ ngắn ngủi, cộc lốc, rạch ròi đủ tỏ ra cái vẻ dứt khoát, thẳng thừng, không có gì để bàn cải nữa. Thư, viết thì gởi – dẫu đã có biết bao nhiêu lá thư đã được viết ra mà không được gởi kiểu ông Lôi Tam từ những năm sáu mươi. Nếu em trách tôi sao hờ hững, tôi chỉ mỉm cười mà chẳng dám thanh minh. Em đâu biết tôi đã thức suốt năm canh viết lên bóng tối muôn vạn bức thư tình chẳng bao giờ chấ́ ́́m dứt ... (Ờ nhưng mà đó lại là chuyện khác, thứ chuyện nhủn nhẳn nhùng nhằn, loại có có không không ma mị của địa hạt ... ái tình !). Còn thơ, dù viết, làm hay mần gì cũng đều dứt khoát là không gởi. Đã có lần Dương Khuê nói về cái chuyện thơ-không-gởi này nghe mà thương hết sức. Câu thơ nghĩ đắn đo không viế́ ́́t. Viết đưa ai ai biế́ ́́t mà đưa.

 

Gởi hay Không gởi. That is the question.

 

Từ đó đặt ra mối tương quan giữa thơ và người làm thơ với người đọc thơ. Và như vậy không khéo lại lần xần đụng chạm tới cái chuyện nhức đầu kinh niên của nhân loại. Nghệ thuật vị cái gì, vị nghệ thuật hay vị nhân sinh ? Ôi cái chữ “vị” tội nghiệt, đầu mối của bao nhiêu oan trái ! Cái vấn đề bất kham, to lớn, nặng nề, nhức đầu, mệt óc, làm bộ làm tịch, kiến trắng gọng vàng … mà chẳng đem lại được chút gì “thư giản” cho cái cõi thế nhân đã quá đỗi bôn ba. Nhất là chẳng thêm thắt được chút gì mặn ngọt cho nghệ thuật mà hương vị vốn đã đủ mùi. Trong khi văn-chương-hạ-giới thì cũng vẫn cứ rẽ-như-bèo y như thời ông Tản Đà đã có lần cảm thán.

Vã lại, này ... quân bất kiến hoàng hà chi thủy thiên thượng lai bôn lưu đáo hải bất phục hồi ... ! (*)

 

Vậy thì còn bày đặt làm chi mà gởi hay không gởi.

Thì cũng bởi cái thói thày lay, thấy đâu nói đó, mà nói rồi thì bỏ. Cho vui.

 

Vấn đề không phải là gởi hay không gởi. Vấn đề là có gì để gởi hay không. That is the question.

 

Cái chuyện thư thì chắc khỏi nói khỏi bàn. Còn lại cái chuyện thơ, thì có nói có bàn tới mơi cũng không hết. Đã không hết mà cũng không thông. Và chắc chắn là chuyện đâu còn nguyên đó, kiểu như ... cạn ly đầy rồi rót đầy ly cạn. Chỉ tội cho mấy cái vỏ chai không rồi bỏ lăn lóc giữa đàng.

 

Như vậy, thư thì bảo đảm gởi dẫu không phải lúc nào cũng cần gởi bảo đảm thư. Hổng gởi sao viết. Thăm hỏi. Tỏ tình. Kể lể. Xin xỏ. Hăm dọa. Đòi tiền đòi nợ. Vân vân và vân vân ... Có một ngàn lẻ một lý do để viết một lá thư. Đầu thư thì đề ngày đề tháng đề năm. Cuối thư thì ký tên (thiệt giả thì lại là chuyện khác).

Luận văn thị phạm đã rành rành như vậy. Thơ, làm thì làm, mần thì mần. Vậy thôi. Có khi có chuyện gì đó thì làm mà có khi không có chuyện gì hết cũng mần. Lu bu là ở chỗ đó. Rồi có khi có chuyện thì hay mà không có chuyện gì hết cũng hay. Lại lắm lúc có chuyện mà lại dở òm. Cho nên gởi hay không gởi cũng là ở đó.

 

Nguyễn Xuân Sanh. Quỳnh hoa chiều đọng nhạc trầm mi. Hồn xanh ngát trở dấu xiêm y.

 

Gởi cái gì trong hai câu thơ này. Mà gởi để làm gì. Trong bao nhiêu người đọc có bao nhiêu người hiểu. Mà hiểu, chắc gì đã hiểu đúng. Mà thế nào là đúng thế nào là sai. Hơn bốn mươi năm trước đọc tới câu Kiều biế́ ́́t thân đến bước lạc loài nhụy đào thà bẻ cho người tình chung đã tấm tắc khen hay. Bốn mươi năm sau đọc lại cũng thấy hay. Cái hay trước là cái hay của cô Kiều tiếc nuối cái chuyện để lỡ của cổ. Cái hay sau là cái hay của chính mình tiếc nuối cái chuyện bỏ lỡ của mình. Cái tiếc sau nó đau hơn cái tiếc trước. Vậy thì cái tiếc nào đúng ý Nguyễn Du hơn. Hiểu hơn (khác) cái ý của tác giả có phụ lòng tác giả không ?

 

Người ta cứ hay than phiền cái chuyện vẽ rắn thêm chân. Rồi người ta cũng đã bỏ ra không biết bao nhiêu công sức để tra cứu, hiệu đính, bổ túc, đính chánh ... cốt để phục hồi cho bằng được nguyên bản của các tác giả cổ điển. Làm như lộn một chữ, sai một nghĩa là phản bội tổ tông. Vậy chớ chừng cắt nghĩa, bình giải ... đã chắc gì đúng phóc cái ý của ông bà, đã sống và làm thơ từ vài ba mươi năm, một hai trăm năm trước. Đời xa người cũng xa. Hổng chừng hồi nẳm khi làm thơ ổng bả đâu có nghĩ như trong mấy cái cái cuốn giảng luận giảng văn sau này mà bao nhiêu thế hệ học trò trung học đã dùi-mài-kinh-sử. Mình có phải là bà huyện của huyện Thanh Quan đâu mà dám biểu bả không có tình ý gì khác hết ngoài cái tình non non nước với phu phu phụ phụ cùng ông huyện Thanh Quan trong hai câu kẻ chố́ ́́n chương đài người lữ thứ lấy ai mà kể nỗi hàn ôn. Trang Tử đâu có phải là cá mà nói đúng chuyện cá.

 

Hồi còn dạy học, khi giảng Chinh Phụ Ngâm tới câu nhủ rồi nhủ lại cầm tay, bước đi một bước giây giây lại dừng, trước mấy chục cặp mắt nai tơ (hay gấu con) đang hau háu nhìn lên thán phục, tôi hay nổi hứng bất tử bỏ bài bản sửa lại theo cái câu đã đọc được đâu đó một lần nhủ rồi nhủ lại cầm tay, bước đi một bước lại vin áo chàng. Chắc bà Đoàn thị Điểm điềm đạm đoan trang hơn tôi (cái đó là cái chắc) nên chỉ dám đứng ở xa xa mà dùng dằng nửa đi nửa ở. Chớ còn tôi thì tôi khoái cái kiểu tình-tứ-sát-mà-không-sát của cái động từ “vin” hơn nhiều. Đọc lên nghe đã đã mà nghĩ ra lại còn đã hơn nữa. Nấn níu. Muốn kềm mà không dám. Muốn buông mà không đành. Sao mà tình tứ, dịu dàng, e ấp, vịn mà không vịn, rờ mà không rờ, níu mà không níu. Chỉ “vin” thôi !

 

Ôi cái cảnh biệt ly sao mà lê thê đến vậy ! Mà giảng như vậy có quá ý bà Đoàn thị Điểm hay là có bị gán cho cái tội phạm thuần phong mỹ tục hay không (chắc là có !) Tôi không biết. Có điều tôi cóc cần. Hai ba trăm năm qua rồi. Người làm thơ làm theo ý mình. Tôi đọc thơ theo ý tôi. Mấy ông khoa bảng học giả nghiên cứu gia ... làm chuyện của mấy ổng. Tôi đọc thơ (làm lại thơ) theo tâm hồn tôi, theo “sáng tạo” tôi ... nghĩa là thơ có chủ ý gởi hay không, tôi cứ nhận theo cách của tôi vậy.

 

Thư, gởi. Thơ, không gởi.

Vì thơ không gởi nên cái chuyện lu bu ở trên càng dễ tính hơn nữa. Người làm thơ, trước hết, làm thơ là làm cho chính mình. Kể cả mấy bài thơ tán tỉnh tỏ tình ... có kêu tên khai tuổi hẳn hoi. Đầu tiên và sau cùng, hồn thơ vẫn là của riêng tây, nỗi xúc động, cơn hứng tình vẫn mãi là cái hoạt động bí ần và cá nhân nhất của mỗi người, cho nên thơ, đầu tiên và sau cùng, vẫn mãi riêng là của người đó. Cô tình nhân, bà hàng xóm, nàng láng giềng ... hay gì gì đi nữa vẫn là ngôi thứ hai, vẫn là cái vật ngoại thân -cùng lắm là đối tượng mà hể là đối tượng tức là có ta và người (cái lối mơ mơ màng màng mình-với-ta-tuy-hai-mà- một-ta-với-mình-tuy-một-mà-hai chẳng qua là lời dỗ ngọt khi người ta tìm cách trộn lộn vào nhau máu huyết xương thịt, chớ còn chuyện thơ văn thì ... thiệt tình là … hồn ai nấy giữ ). Mọi thứ, kể cả trời trăng mây nước, mùa màng thời tiết, hoa lá với bướm ong, mỹ nữ với giai nhân, v.v... và v.v... mọi thứ mọi vật mọi người mọi chuyện trên cái cõi đời chằng chịt giây mơ rễ má này đều có thể trở thành chất xúc tác, tạo cảm hứng để làm thơ nhưng rồi ra cũng chẳng ăn nhằm gì hết với cái hoạt động bí ẩn, mù mù mờ mờ không có gì là luận lý ráo trọi của cái-việc-gọi-là-làm-thơ. Dẫu có nói là hứng tới đâu mà làm không ra thơ là ... không ra thơ. Làm thơ ! Đó là một hoạt động trí năng ở mức độ sơ đẳng nhất, nghĩa là hồn nhiên nhất. Dẫu có học thiên kinh vạn quyển, có vài ba cái bằng bác sĩ, thạc sĩ, tiến sĩ ... ( ý là chưa kể đến mấy ông phó-tiến-sĩ ở quê tôi vốn đã mất dạng đằng sau không biết bao nhiêu là tầng khói-sóng ), nghĩa là chữ nghĩa dù có đào luyện trau dồi nhuần nhuyển cách mấy đi nữa, ngôn ngữ có uyên bác tới đâu đi nữa mà không làm được thơ là không làm được thơ ! (dĩ nhiên ở đây nói thơ là thơ chớ không phải là mấy bài vè quảng cáo, mấy câu gọi là thơ-chúctết của ông-bác-đã-chết-mãi trong-lòng-chúng-ta, hay chúc thọ chúc phúc lẫn nhau mỗi năm tết đến ... )

 

Như vậy nếu có gởi cũng chỉ là một tác động phụ thuộc, thứ yếu. Bài thơ trước sau vẫn là của riêng người làm thơ. Không gởi.

 

Vậy, nếu đã không có chủ ý gởi thì cái việc nhận là chủ ý của người đọc. Chính người đọc tìm đến với thơ, chính người đọc thơ làm cái việc mà người làm thơ không màng tới mà dẫu có màng tới cũng chẳng thể sơ múi được gì. Thơ không ra thơ thì dẫu có tiền vàng bạc biển người ta cũng không mê. Thơ mà hay thì dẫu có đào mồ chôn kín cũng có ngày người ta đào lên mà mằn mò mê mẩn. Cái đẹp tự nhiên của thơ hay nói chung của nghệ thuật là ở đó. Người làm thơ lơ lửng như trăng và người đọc thơ cũng lửng lơ như gió. Gió đưa trăng thì trăng đưa gió. Nó lả lướt, lãng ̣đãng, nhẹ nhàng và phiêu hốt vậy đó. Ở đây không ai trách nhiệm với ai, không ai dụ dỗ ai, không ai đổ thừa cho ai hết. Ở đây là một cuộc đối thoại thầm lặng, bi tráng và tự chủ. Gió đưa trăng thì trăng đưa gió.

 

Xuân Diệu. Ai đem phân chất một mùi hương.

Hay bản cầ̀ ̀̀m ca, tôi chỉ thương

Chỉ lặng truồi theo dòng cảm xúc

Như thuyền ngư phủ lạc trong sương

 

Vâng, đọc thơ là vậy đó. Đọc thơ là trực giác. Đọc thơ, khoái thì nói khoái. Không khoái là không khoái. Có một sát na gì đó không ăn khớp. Có một mảy may nào đó bị trật chìa. Khỏi bỏ công tìm hiểu, khỏi thắc mắc lôi thôi. Không ai mượn.

 

Toại Khanh. Ba ngàn thế giới vo tròn

Nhỏ lên giọt mực chỉ̉ ̉̉còn trang thơ.

 

Đủ quá rồi. Nói gì nữa. Hãy im lặng cho bằng cái im lặng trầm thống của thơ. Người làm thơ đã không có ý gởi thì người đọc thơ cứ sảng khoái mà đọc thơ. Đừng khiên cưỡng làm chi mà tủi hồn thơ. Người làm thơ đã làm thơ trong tình cảnh cô độc cùng cực của mình. Khi đó chỉ có hắn trực diện với đoạn trường mình, chỉ có hắn đánh đu với định mạng mình, chỉ có hắn xoay trở với tài hoa mình ... Làm được thơ hay không cũng chỉ có hắn và hắn mà thôi, không vợ con bồ bịch nào mó vô được cũng như không có chính ủy với đảng ủy nào xía vô được ...

 

Thì người đọc thơ, một cách công bằng, hãy tôn trọng cái tâm cảnh nghiệt ngã mà vô cùng ngạo nghễ đó. Nghĩa là hãy đọc vì mình chớ không vì người. Nghĩa là hãy đọc rồi chờ cho tiếng thơ đó lắng dội vào lòng mình ... những dư ba !

 

Và từ đó, mỗi một người thụ cảm một cách riêng, bằng kinh nghiệm của chính riêng mình. Không ai giống ai.

 

Và điều đó cũng có nghĩa là, bạn ơi, hãy ngạo nghễ làm thơ. Làm thơ cho mình và không gởi. Mà có gởi đi ( đi đâu? ) thì cũng coi như gởi-gió-cho-mây-ngànbay kiểu như hai ông Đoàn Chuẩn với Từ Linh đã gởi từ mấy mươi năm trước. Ai có đọc thì cám ơn. Mà không đọc được ... cũng cám ơn.

 

Cao Vị khanh

(*) Tương tiến tửu-Lý Bạch

_______________________________________

CVK_thang9.JPG
CVK_thangchin2.JPG

Tháng     chín          cvk          

CAO VỊ KHANH: Lệ ngoài thiên thu:

le-ngoai-thien-thu-cvk-1.pdf | Cao Vị Khanh (caovikhanh.com)

CVK_Le ngoài thiên thu.JPG
cvk_conhan.jpg

CAO VỊ KHANH: Như khói như sương

http://www.caovikhanh.com/pdf/nhu-khoi-nhu-suong-cvk.pdf

nhu-khoi-nhu-suong-cvk.pdf | Cao Vị Khanh (caovikhanh.com)

CVK_nhukhoinhusuong.JPG

CAO Vị KHANH: Làm thơ thời chiến

 

http://www.caovikhanh.com/pdf/lam-tho-thoi-chien.pdf

CVK_Lamthothoichien.JPG

Năm 72, giặc đánh lớn, lệnh đôn quân. Học trò giữa năm đệ nhị đệ nhứt quá tuổi ấn định được gọi trình diện Trại nhập ngủ số 4.
Mấy đứa con trai mặt mũi non choẹt, thằng dửng dưng, đứa mếu máo cùng ông thầy trẻ chênh lệch nhau chừng vài tuổi kéo nhau ra quán bày tiệc bồ đào. Rượu vào lời ra. Và thơ ra luôn. Ngày mai em xa trường. Chiều nay uống rượu suông. Em mời tôi quán nhỏ. “ Dô”, thầy. “ Dô”, lệ tuôn. 

Không khí bữa đó đã chờn vờn đâu sẵn mớ dấu hiệu phong ba. Mấy trận đánh lớn ở Quảng Trị, cao nguyên và Vùng ba từ vài tháng trước như còn thổi tạt mùi khói súng khét lẹt xuống tận mấy cái khu phố đồng bằng vốn yên tỉnh như mặt nước biển của một vùng vịnh kín ... Chiều gần tắt mà nắng còn lướt thướt rướm vàng trên mấy đọt sao thưa. Quán là một căn nhà vách ván lợp tôn được ngăn ra làm hai. Một nửa trước được chủ nhân kê mấy bộ bàn ghế cũ, ọp ẹp làm nơi tiếp khách. Và nửa sau độ chục thước vuông làm nơi ăn ở cho gia đình với hai đứa con nhỏ. Người chồng là thương phế binh, giải ngủ với cánh tay cụt. Người vợ, khuôn mặt lúc nào cũng đỏ hồng vì lửa củi, đôi khi vừa nấu nướng vừa chăn giữ hai đứa nhỏ. Quán còn một cô gái nửa tỉnh nửa quê làm chiêu đãi, đi ra đi vô bưng dọn, thỉnh thoảng nháy nháy con mắt hiền khô liếc tình mấy chàng chuẩn-chiến-binh mặt mày còn búng ra sửa. Hẵn cô đâu biết chiều nay cái quán nhỏ xập xệ của cô bỗng trở thành một quán biên đình, chỗ chia tay “ hảo hớn” !
Sau mấy tuần rượu nếp than đỏ quạch, bữa nhậu chỉ còn là một cái cớ. Học trò có đứa mới uống rượu lần đầu bắt đầu rươm rướm nước mắt, có đứa lì lợm hơn không khóc mà con mắt bỗng dưng hiền khô như mắt nai. Từ quầy thu tiền, cái ra-dô-ấp-chiến-lược vừa phát ra bản tin chiến sự trong ngày. Lại ... quân ta vô sự, địch bỏ lại mươi ... con.

Ông thầy có một lúc cũng không nhớ mình làm thầy, gật gù cụng ly rồi lẩm nhẩm mấy câu thơ tàu cho học trò mình nghe ... khuyến quân cánh tận nhất bôi tửu ... tây xuất Dương Quan vô cố nhân ... Học trò nửa hiểu nửa mù mờ cũng gật gù làm ra vẻ thấm thía lắm, ngửa cổ nốc ực cái ly cối bự tổ chảng ... làm trai thời chiến ... anh đi quân dịch là̉ thương nòi giống ... 

                                                                                                                     Ngày mai em xa trường
                                                                                                                 Chiều nay uố́ng rượu suông

                                                                                                                            Em mời ta quán nhỏ
                                                                                                                          Dô, thầy. Dô, lệ tuôn !

Vậy đó, có một thời người ta sống giữa cái chết. Và người ta làm thơ. Mà thơ tận tình. Móc ruột moi tim ra mà làm. Từ đó thơ bay phơi phới giữa khói súng và lằn đạn. Từ đó thơ bay thênh thang trên hoang tàn của sông nước và thương phế của lòng người. Thơ lênh láng như vết thương hở miệng nhưng thơ không nhuốm máu căm thù. Thơ chỉ biểu lộ lòng nhân hậu ngay cả khi hồn thơ còn bị dùi vập trong sắt thép đạn mìn, hầm chông và sự cuồng tín ngu muội. 

Đọc lại trong một số báo cũ, bài thơ của Nguyễn Bắc Sơn về cái chuyện người lính sáng sớm đi kích đêm về, ghé quán vệ đường khi áo trận còn nhuốm lạnh mùi sương, ngồi ghếch chân lên bàn, vừa nhấm nháp cái vị đăng đắng của cốc xây-chừng nóng hổi vừa hít hít cái mùi khen khét của khói thuốc Ruby-quân-tiếp-vụ ... mà biết mình còn sống ... (và hẵn rằng lẫn trong đó, mơ hồ một niềm vui mỏng manh khi thấy cuộc sống chung quanh vẫn còn tiếp diễn bình thường sau một đêm căng cứng trên đầu súng mình canh giữ )

                                                                                Người lính đêm qua đi kích về ghếch chân lên ghế
                                                                                              Chiếc xe chở những ổ mì vàng nóng hổi
                                                                                                        Cười nụ cười đầu tiên trong ngày
                                                                                                                  Và bật que diêm hút thuốc

 

Sao tôi yêu cái hình ảnh đó quá. Ghếch-chân-lên-ghế. Nó kiêu kỳ một cách lặng lẽ. Nó du côn một cách thi vị. Và nó lãng-mạn-tiểu-tư-sản một cách hồn nhiên. Và que diêm. Và khói thuốc. Và mặt trời sẽ mọc. Và một ngày sẽ đến. ... Nghĩa là tôi chưa chết. Nghĩa là cuộc sống vẫn còn đó với đủ thứ mật ngọt và trái đắng, còn đó với đầy đủ môi hôn - môi hôn lần tới sẽ khít khao hơn và tay nắm - tay nắm lần tới sẽ ghịt riết hơn, còn đó với đầy đủ chuyện như ý và bất như ý, chuyện trong sạch và chuyện tham nhủng, chuyện anh hùng và chuyện cà-chớn nghĩa là còn đủ thứ hầm-bà-lằn-xắn-cấu chuyện đáng nói và không đáng nói ... mà còn chuyện gì nữa ở đằng sau những thi ảnh quen thuộc đến tầm thường mà lại chân thật hơn bất kỳ thứ lý tưởng nào được kê trong những tuyên ngôn lằng nhằng như toa thuốc bắc – tiền đồn chống cộng, chiến sĩ tự do ... kể cả độc lập, tự do, hạnh phúc dù có được viết hoa thiệt bự. Đổi cái huy chương anh dũng bội tinh với cái bữa điểm tâm sơ sài đó, chắc có người không đổi ! Tôi biết đối với một người thường - chữ thường được hiểu như là ... thường, thì cái chuyện uống ly cà-phê buổi sáng cũng sẽ đăng đắng mà trưa trưa chiều chiều thì ly cà-phê cũng đắng đắng y chang. Còn lại cái loài thi sĩ thì là cái giống khác. Một người làm thơ gốc lính khác, Trần Hoài Thư, dù trong cái buổi sáng sớm y như trăm ngàn buổi sáng khác, vẫn tìm ra trong đó một ... vị thơ.

                                                                                                                   Gọi cốc cà-phê un khói gió
                                                                                                      Mấy thằng râu tóc chụm thanh xuân
                                                                                                          Vách trống, sát vào nhau đỡ lạnh
                                                                                                    Trời ngoài kia sương phủ mênh mông

 

Cà-phê ở đâu, thời nào cũng là cà-phê. Mà sao cà-phê trong thời loạn lạc đó nghe ra nó phê mút chỉ. Thì cũng là loại cà-phê bít-tất trong một góc quán vệ đường, thứ quán xá mở cửa thật sớm cho những người mất ngủ – dân lao động, gái giang hồ, lính tráng ... trở về sau những cuộc mần ăn đêm. Chỉ khác cái chỗ cà-phê ở đây không ướp va-ni, không trộn xác cau khô hay pha chút sái nhựa, cà-phê này lại đi un khói-gió - thứ gió Lào khô khốc, thứ gió chướng thổi bung tóc mai dựng đứng tóc gáy, thứ gió bấc cứa xương đục đẽo lên mặt người nỗi đau của đá ... cho nên cà-phê, chất cà-phê thi vị đó trở thành chất xúc tác huyền nhiệm làm bật dậy cuộc sống, như để dằn xuống một đêm ( tai ương ) vừa qua và chào đón một ngày ( hy vọng ) sắp đến. Chất cà-phê pha loảng mà đặc quánh hơi thở nhịp tim của những người trở về từ một cõi chết. 


Thôi, chắc lại sắp vẽ rắn thêm chân ... 

Có điều trong suốt cuộc-chiến-gọi-là-ý-thức-hệ đó ( tính luôn cả hai bên nam bắc với lại mớ đồng-minh-da-trắng-đồng-chí-da-vàng đó ) có mấy ai làm thơ ngông nghênh mà hiền như cục đất vầy chưa 

                                                                                                             Nếu mai đụng trận ta còn sống
                                                                                                           Về ghé Sông Mao phá phách chơi
                                                                                                            Chia sớt nỗi buồn cùng gái điếm
                                                                                                               Đốt tiền mua vội một ngày vui
                                                                                                                                                  NBS

Nghe mà thương ơi là thương cái đám lính tráng thời loạn đó. Đi trận mà, rừng bịt mắt, bùn níu chân, cực khổ cầm chắc, chết chóc không chừng, lần này về, lần tới biết có về không ... thì thôi về được thì ghé xóm thăm-dân-cho-biết-sự-tình một phát cho chắc ăn, rồi sao nữa tính sau. Cái nhân sinh quan đó, nếu gọi được là nhân sinh quan, nghe nó vừa chịu chơi vừa bi quan quá thể. Tại vậy thơ đọc thì tai nghe vui mà lòng thì ngẫm ra mấy nỗi ngậm ngùi. Có phải chính sự bức bách của tình thế, sự mập mờ của ý thức, sự lẫn lộn của màu da ... đã làm thơ ra nỗi ấy. Tuy nhiên cái điều kỳ diệu là dù có bi quan cách mấy thì vẫn còn đó cái tính nhân bản cố hữu và tuyệt vời đã làm thơ nhìn thấy những điều khó thấy trong cuộc chiến-tranh-mà-mắt vừa qua 

                                                                                                                  Cô hàng ơi cho một ly không
                                                                                                              Tôi rót mời một người lính Bắc
                                                                                                     Hắn nằm banh thây dưới hầm bí mật
                                                                                                          Trên người vẫn còn sót lại bài thơ
                                                                                                                                                    THT

Bài thơ trên xác kẻ địch ! Thi ảnh đẹp đến rợn người. Thử tưởng đến cảnh đạn xẹt tứ tung, khói súng khét lẹt, máu me tùm lum, thịt thà nát bấy ... mà đâu đó lấp ló tỉnh bơ một trang thơ mới làm ( thơ = trời xanh mây trắng, thơ = nhớ cha nhớ mẹ, thơ = hoa bướm rủ ren, thơ = nhớ bồ nhớ bịch ... ) Vấn đề là làm sao cho con mắt thấy ( đã lắm khi con mắt nhìn trao tráo mà chẳng thấy gì ráo ! ) Và làm thơ cũng từ cái thấy của con mắt nhân ái đó, phải không ?


Hỏi khắp cả bộ-đội-xẻ-dọc-Trường-sơn-đi-cứu-nước ( kể cả anh nuôi chị nuôi tập kết nằm vùng ... ) có ai trong suốt cuộc-chiến-giải-phóng-thần-thánh vừa qua đã lần nào nhìn thấy trên khuôn mặt xác chết lính miền Nam một nét gì thân thiện, đồng chủng, anh em, ruột rà ... , đã có lần nào “ bức xúc ” dù chỉ một thoáng, dù chỉ một chớp mắt băn khoăn ... ? Hay chỉ thấy toàn ác-ôn-mỹ-ngụy-mặt-xanh-nanh-vàng ... dù người chết đã ... chết ! Hay đã có mà không dám lộ ra ! Hay chỉ mới chợt thoáng nghĩ là đã hốt hoảng lảng qua chuyện khác vì sợ kiểm thảo, sợ phê bình, sợ mất lập trường, sợ xuống cấp, sợ mất chế độ, sợ học tập, sợ cải tạo, trăm thứ sợ làm tê liệt thần kinh như con chuột xuội lơ trước cặp mắt hớp hồn của loài rắn độc. 

Nhớ cái thời sau 75, ở miền Nam nghe loáng thoáng người ta nhắc hai câu thơ của ai đó – ai mà biết ai, mà có lỡ ai biết thì có đường tác giả đi cải tạo mút mùa – mà hổng chừng cũng đã biệt tăm mất dạng hồi nào trong cái mê cung tẩy nảo chỉ có đường vô không có đường ra. Thơ, thơ lắm chớ. Mà không ai nhận –ai mà dám nhận – đành bỏ làm thơ hoang !  Đôi dép râu buộc chặt đời trai trẻ. Nón tai bèo che kín cả tương lai.
À thì ra vậy. 


Có lúc cái đám bộ-đội-tình-nguyện-xung-phong đi B hay cái đám du-kích- khăn-rằn cũng hơi hơi hay xém xém lao chao chút đỉnh. Nhưng rồi đường lối chỉ đạo vừa sâu vừa sát vừa át vừa ép nên cả đạo quân viễn chinh vẫn tỏ lộ trên dưới một lòng, cả ngày cả đêm khăng khăng nói quyết tới cái chuyện ôm-bom-ba-càng hay lấp-lổ-châu-mai ... bất kể cha già mẹ yếu vợ dại con thơ, phó mặc nhân tình nhân ngải cho Bác lo, bỏ xó nhà cửa ruộng vườn cho Đảng ôm trọn... miễn sao chiếm cho được cái vựa lúa miền Nam để có ngày dưng cho quan thầy phương Bắc, thành ra rốt lại cả mấy chục năm ròng rã đóng chốt trên chiến trường miền Nam không nghe ra được nửa tiếng thơ nhân ái ...

Tại vậy làm sao không vẽ rắn thêm chân cho đành, những  bài thơ được làm ở miền Nam trong một thời chiến trận mịt mù mà hồn thơ không vướng víu chút mảy may thù hận.
Hãy thử đọc lại coi. 

Có phải câu hỏi của Tô Thùy Yên trong bài Chiều trên phá Tam Giang vẫn mãi là ngón tay tra vấn gỏ hoài lên tấm cửa định mệnh cứ đóng bít bùng

 

                                                                                                                Nghĩ cho cùng, nghĩ cho cùng
                                                                                                Ví dầu các việc ngươi làm, các việc ta làm
                                                                                                                             Có cùng gom góp lại
                                                                                                     Mặt đất này đổi khác được bao nhiêu
 

 

Câu hỏi đẩy sự bất lực của bậc vương-tôn-miền-trí-tuệ đến chỗ cực cùng trước nỗi hung hãn bất kể của thiên-địa-bất-nhân. Hay chính là lời tán thán ai oán của kẻ sĩ  trước thứ bạo lực mù quáng của Ác tính đội lốt con người. 

Đọc lại nữa coi, Nguyễn Bắc Sơn, kẻ-sĩ-xuân-thu đầu thai nhầm lúc nên đi đánh giặc mà như đi rong thuyết khách, giận-đời-ghê-những-bàn-tay-bẩn-đưa-đẩy-ngươi-trong-cát-bụi-mù. Làm sao, làm sao giữa thời buổi bom đạn hỗn mang và lòng người nhiễm độc đó mà thơ thoát ra, lau lách như khói hương và hiền lành như tâm Phật

 

                                                                                                        Một ngày chúa nhật phơi giày trận
                                                                                                             Ta bỗng tìm ra một vết thương
                                                                                                           Vết thương bàng bạc như là khói
                                                                                                           Ngưng đọng nhà ai ở cuối đường
                                                                                                                                                    NBS

 

Vết-thương-như-là-khói.  Ẩn dụ bao nhiêu, bao dung bấy nhiêu. Vết thương không còn là dấu tích của thù hận. Vết thương thành khói bay đi phải chăng chính là niềm ao ước xóa bỏ hận thù ngay từ lúc hận thù còn được tận dụng như  vũ khí của chiến tranh. Ước vọng đó có thật trong lòng người miền Nam ngay trước khi bại trận. Phải chi lịch sử đổi ngược lại chắc khỏi phải kêu rêu ra rả tới bây giờ. 

Kêu ra rả tới bây giờ như tiếng quạ gọi âm hồn dội động u u giữa vòm đêm lịch sử mà vẫn không xóa được nỗi oan khiên của một dân tộc bị lường gạt.

                                                                                                                        Lũ quạ trốn đi từ dạo ấy
                                                                                                            Để giờ đây kêu động rừng phong
                                                                                                          Quạ gọi bầy tháng năm tháng bảy
                                                                                                          Sao ta gọi bầy thăm thẳm mù tăm
                                                                                                                                                     THT

 

Làm thơ là đem tấm lòng thiên cổ đọ với nhân gian. Thì sá chi chuyện chim sẻ mà làm bợn lòng hồng hộc.

 

Chiến tranh dẫu ba mươi, năm mươi năm vẫn là giai đoạn. Đánh giặc là chuyện đoản kỳ. Làm thơ mới là chuyện mai hậu. Sống trong thời buổi chiến tranh, làm thơ hẵn không tránh khỏi lòng thòng phe kia phái nọ. 
Mà điều để cho thơ mang tiếng bất nhân âu cũng là điều bất nhân lắm vậy. 

Cũng may, ngay trong thời súng đạn, còn có những bài thơ làm với mấy tấm lòng đã sống vượt qua cái thời giặc giã. 

 

 Cao vị khanh

* Thơ văn chỉ là phù hoa. Chớ cái biển oan khiên của người bại trận có tát đến ... khuya cũng không cạn được giọt nào! 

 

____________________________
 

 

 

 

 

 

 

lục bát cao vi khanh__________________

VÌ EM, LỤC BÁT SỤT SÙI

VÌ EM, LỤC BÁT DẬP VÙI BIỀN DÂU

 

ĐẠO NGỘ GIỮA ĐƯỜNG

Chào em conm ắt người dưng

Con tim ngoan cố rưng rưng ngươi tình

Con đường trở chứng điêu linh

Tình in như có mà hình như không.

 

CÕI TRONG

Ơi nhân gian, cõi vô cùng

Trống trơn cõi có, bít bùng cõi không

Trong ta cõi đặc chập chùng

Trong em, khe hở, cõi chung, não nùng.

 

VỊ TÌNH

Giùm anh nếm chút miếng ngon

So đôi đủa lẻ môi còn rượng môi

Miếng buồn trộn với miếng vui

Chấm thêm miếng nhớ nuốt trôi vị tình

 

YÊU CHẾT

Mốt mai mắt lệ có đầ y

Con tim xây xát có trầy trật yêu

Ruột đau c ó đứt chín chiề u

Người ơi nối sợi tơ điều, buộc thêm

 

THƯ GIẢN

Ví dầu thư giản, thảng dư

Gặp nhau trong cõi cộng trừ tử sinh

Thì xin chia cái thình lình

Để trăm năm khỏi giựt mình, tủi thân.

 

TÌNH HỜ

Xa nhau chăn chiếu lạnh giường

Tay trơn lạnh nhớ, mình suông lạnh thèm

Đau tình, trăng bệnh, buồn thêm

Thơ đau kêu tiếng, thịt mềm đau im

Lập lờ ngọn sáp đau chìm

Phần em, em giữ. Tôi ghìm phận tôi.

Tình hờ, đau nỗi chẻ đôi! *

 

Lục bát để lại cho em

L à thơ? Hay chỉ ... từng đêm ngậm ngùi!

C A O V Ị K H A N H

 

VÍ DẦU, LỤC BÁT ..

CÂU SẦU

Nửa trăng, gối chiếc gợi hình

Nghiêng vai gợi nhớ, trở mình gợi nhau

Tóc mai gợi mấy câu sầu

ăn-cơm-chẳng-đặng-ăn -trầu-giải-khuây *

 

TÓC MAI

Vẻ duyên thì cũng một thời

Chính chuyên thì cũng một đời, chiêm bao

Câu vui ai đổi câu sầu

Áo xưa còn nhớ qua - cầu -gió -bay

Ví dầu em chốn trang đài

Cũng xin mấy sợi tóc-mai-vắn-dài

Lỡ sau trínhớ tàn phai

Cũng còn biết chỗ thương -hoài-ngàn -năm *

 

* ca dao

 

ƠN EM

Ơn em ngọt suối ngọt đồi

Ngọt sông, ngọt nước, ngọt trời biển tôi

Ngọt ngày tháng đã mù khơi

Ngọt sầu hận cũ, ngọt lời oán than

Ngọt niềm lo, nỗi hoang mang

Ngọt chia cách, ngọt tình lang mỏi m òn

Ơn em, ngọt xớt môi son .

 

RU EM

Trong ta, em ngủ giấc nồng

Trong ta, bờ bến không cùng đâu em

Trong ta cỏ mịn nhung mềm

Trong ta rả thịt lót êm chỗ nằm

Trong ta còn giọt lệ câm

Từ thiên cổ lụy lâm râm mưa về

Này em, tim dựa gần kề

Ngủ ngoan đi nhé, ta lê cuộc đời .

 

KIM CHỈ

Tay em xe sợi chỉ điều

Sợi phăng mối cũ, sợi lần gút xa

Sợi cào thịt, sợi xước da

Sợi đau rối chỉ, sợi tà mũi kim

Sợi nào xỏ cũng luồn tim .

 

KÝ THÁC

Ví dầu lục b át lao xao

Gởi cho em, giữ bể dâu chuyện mình

Rủi mai, lỡ có làm thinh

Xa nhau còn biết chỗ mình … chiêm bao!

 C A O V Ị K H A N H

 

CHỖ TRĂM NĂM ĐỌNG NỬA TA ... NỬA MÌNH

RỦ

Mời anh sông núi suối nguồn

Rong chơi cuối bải đầu cồn thiết tha

Đi về những chỗ lá hoa

Chỗ trăm năm đọng, nửa ta nửa mình.

 

DỤ

Như trời dụ đất ra cây

Như trăng dụ gió, như mây dụ mùa

Như sương dụ nắng về mưa

Như anh dụ bướm về đùa quanh em .

 

YÊU CHẾT

Cho nhau tới cái tận cùng

Cho nhau quá cái não nùng thịt da

Cho nhau từ cái xuýt xoa

C ái rên rỉ, cái h ít hà bậm môi

Cho nhau từ giọt mồ hôi

C ái xuôi thuận thảo, cái trồ̀̀̀i ngược ngang

Cái cong nhánh liễu sẽ sàng

Cái sâu thấu tận, cái ràn rụa đau

Cái vật vã của tình sầ̀̀̀ u

Nửa trong -nước - mắt, nửa ngầu - đục -mê .

 

TAN CHẢY

 Đã trong nhau, đến sát cùng

Đã tận tuyệt đến vở bùng trăng sao

Đã siết chặt đến nghẹn ngà o

Đã tan thành nước chảy vào thiên thu.

 

SỢ

Rờ tay em cái sợ mòn

Ướm môi em cái sợ son phai hường

Yêu em sợ nát chiếu giường

Không yêu bỏ cái vô thường, tội ghê!

 

CÕI TÌNH

Trăm năm trong cõi lộn vòng

Kẻ xuôi người ngược phập phồng xôn xao

Trăm năm trăm cách lộn vèo

Cách nào cũng chỉ nôn nao một gò!

C A O V Ị K H A N H

____________________________

CÓ MỘT THỜI THỦ ĐỨC

        Thơ Trần Bang Thạch & Cao Vị Khanh                                     

cvk_giaysaut.JPG

trần bang thạch

VIẾT TỪ KBC 4100

THƯ CHO HỌC TRÒ Ở CHÂU ĐỐC

Thanh gươm cật ngựa lên đồi

Từ đây thầy đã thành người đao cung

Những đêm ứng chiến mịt mùng

Mưa Tăng Nhơn, nhớ nước nguồn Thất Sơn

 

THƯ CHO VỢ CON Ở CẦN THƠ

Một mai trả súng lại đời

Ta về ngủ thiếp bên người tình chung

Bên ta con ngủ an lành

Bên ta vợ bỗng trở mình, gọi : Anh

 

THƯ CHO SƠN Ở HỘI AN

Mầy còn ở đó không Sơn

Mả mồ mày chắc cỏ non úa vàng?

Tao ngồi đây giữa chiều tàn

Nhìn quanh quanh thấy hàng hàng mộ bia!

 

THƯ CHO NGƯỜI TÌNH PHỤ Ở ĐẠI HỌC XÁ TRẦN QUÍ CÁP

Con đường còn xanh lá me

Em còn kẹp tóc còn che dù điều

Trời còn làm gió hắt hiu

Ta còn ngồi nhớ thật nhiều dáng em

 

T R Ầ N B A N G T H Ạ C H

cvk_ThuDuc.JPG

cao vị khanh

CHÀO THỦ ĐỨC

 

Theo mưa Thủ Đức ta về

Chào Tăng Nhơn Phú chào bè bạn xưa

Chào hàng bã đậu, lá thưa

Chào nắng ngày lửa, chào mưa đêm mù

Chào ba-lẻ-một, cơm tù

Theo em nhảy phố đền bù trúc mai

Ngôn-ngữ-tình, dấu-đôi-tay (*)

Lời yêu chưa kịp đã ngầy ngật xa

Chào ly rượu nếp bê tha

Bốn giờ sáng đứng la đà điểm danh

Chào Phú Nhuận chào Hàng Xanh

Chào chị-em-mới chào anh-dẫn-đường

Chào tuổi trẻ, đường chiến binh

Chào mày-đã-chết-mà-tình-còn-đây

 .............................

Chào Thủ Đức, cuối chân mây

Chào nhau con mắt ... đã lầy vết thương

Chào sỏi đá vũ đình trường

Chào hồn sông núi còn vương ... nỗi niềm

 

C A O V Ị K H A N H

(*) Chữ Trúc Phương

_________________________-

CVK_RachGia.JPG
NguyetMai_Tavenhinlai.JPG

Thơ Cao Vị Khanh - Trần Thị Nguyệt Mai              

 

RẠCH GIÁ

 

Nếu có lần người về qua Rạch Gíá

Ghé giùm tôi dãy phố cũ sậm màu

Bước giùm tôi hè đá lở thấp cao

Dẫm lại nhịp bước xuân thời phiêu lãng?

 

Có một thuở trời miền Nam rực nắng

Áo dài bay thổi gió suốt lòng trai

Tuổi đương thì hừng hực tưởng chừng say

Áo phanh ngực hứng đầy hương gió bạn

 

Nếu có lần người về qua Bến Cảng

Tìm giùm tôi chiếc cầu đá vẹo xiêu

Ngồi giùm tôi góc quán nhỏ vắng thiu

Còn vết khắc tên người xưa bạc phận?

 

Nếu có dịp người về qua một bận

Ghé giùm tôi ngôi trường cũ xanh rêu

Nhìn giùm tôi hàng khuynh diệp liêu xiêu

Có sót dấu chim bầy xưa, tứ tán?

 

Thương quá đỗi bóng mùa đi lãng đãng

Chút nắng vàng, chút khói nhẹ, chút sương bay

Chút gì say hong má đỏ hây hây

Nghe trong gió có chút gì lãng vãng

 

Ôi thương nhớ lúc năm cùng tháng tận

Lạnh xóm nghèo ngõ hẹp tối buồn hiu

Ngọn đèn treo không đủ ấm cơm chiều

Nghe áo mỏng nhắc chừng cơn bấc hẹn

 

Người có về xin cho tôi được nhắn

Cho gởi lời thương nhớ dẫu xa xôi

Góc đường quen phố thuộc, nửa môi cười

Và chút gió gợn tóc ai nhuộm nắng

 

Nếu người về lỡ ai tìm hỏi bạn

Cho gởi lời tạ lỗi dẫu muộn màng

Chén trà khuya, hơi thuốc đẫm thâm ân

Và tay chuốc rượu nồng đâu đã cạn

 

Người có nhắn, chắc chỉ toàn u ẩn!

Bao nhiêu sông, ngàn con nước chìm sâu.

Có ai còn ngồi khóc dưới chân cầu

Đời đã muộn cho những lòng lận đận!

 

C A O V Ị K H A N H

________________________

TA VỀ NHÌN LẠI

Kính tặng anh Trần Bang Thạch

 

Ta về nhìn lại muôn nơi

chẳng còn đâu nữa bóng người ngày xưa

khuất xa mấy nẻo đò đưa

sông buồn bến lặng nắng mưa vỗ về...

 

T R Ầ N T H Ị N G U Y Ệ T M A I

______________________

CVK_TuyButThangTu.JPG

Giả sử bắt chước Thanh Tịnh ...

... Hằng năm cứ vào cuối thu, khi lá ngoài đường rụng nhiều và trên không có những đám mây bàng bạc, lòng tôi lại nao nức những kỷ niệm hoang mang của  buổi tựu trường ...

mà viết lại ...

... Hằng năm cứ vào đầu xuân khi lá ngoài đường trổ xanh và trên không bỗng bay về những bầy chim trốn tuyết, lòng tôi lại xốn xang những kỷ niệm bàng hoàng của buổi tan trường ... năm đó.

 

Nghĩ ra mà thấy ông Thanh Tịnh may mắn hơn chúng ta. Ông giữ lại mãi trong trí nhớ ông hình ảnh một kỷ niệm ôi-thương-làm-sao của buổi tựu trường đầu tiên trong đời. Đứa bé lên năm lên bảy, tóc tai chẻ thẳng đường ngôi, quần áo tươm tất hơn mọi khi, vai đeo cặp hay tay cầm sách vở, tay nắm tay mẹ hay cha, đi những bước chân nhún nhảy như chim sẻ, buổi sáng đầu tiên đi học. Có thể nó sẽ học đến nơi đến chốn. Có thể không, lở dở nửa chừng. Nhưng hề gì, điều quan trọng là nó đã được sống thứ giờ khắc hiếm hoi mà người ta chỉ bắt gặp một lần trong một đời. Y như Thanh Tịnh đã viết thêm. Con đường này tôi đã đi lại lắm lần nhưng lần này tôi thấy lạ. Và ông khẳng định ngon ơ. Thấy lạ vì ... Tôi đi học. 

 

Ờ có những chuyện người ta hay quên. Cũng như có những chuyện người ta cứ nhớ ... Nhớ, quên là những thuộc tính tiên thiên của con người. Có điều người ta có thể chọn lựa giữa nhớ hay quên hay cũng chỉ là những ngẫu nhiên như những tình cờ ngẫu nhỉ, nói theo điệu ông Bùi Giáng. 

 

Vậy đó, có những chuyện muốn nhớ lại cứ quên. Ngược lại, nhiều chuyện đáng quên lại cứ nhớ.

... Hằng năm cứ vào đầu xuân khi lá ngoài đường trổ xanh và trên không bỗng bay về những bầy chim trốn tuyết, lòng tôi lại xốn xang những kỷ niệm bàng hoàng của một ngày tháng tư ... năm đó.

Dĩ nhiên, chuyện đáng quên mà cứ nhớ của tôi hay của hằng triệu người miền Nam Việt Nam vốn dĩ là những kỷ niệm nhuộm đầy máu và nước mắt và uất hận. Máu thì đóng vảy rồi tróc mất. Nước mắt khóc cho cùng rồi cũng cạn khô. Sao lòng ta vẫn cứ tức tưởi như u ẩn hoài một oan ức không thôi. Chuyện xảy ra, đã 46 năm, thêm ba bốn năm nữa là đã trọn một nửa vòng thế kỷ. Nếu được đúc khuôn thành tượng đồng kỷ niệm, hẵn đã đóng mờ không biết bao nhiêu là lớp bụi thời gian. Khổ nổi, muốn gói lại, giấu kín, chôn sâu mà sao lại cứ y như Tú Xương khi con sông Nam Định ở quê ông bị lấp kín, cứ đêm nghe hoài ... tiếng ếch bên tai, giật mình lại tưởng tiếng ai gọi đò. 

Chuyện con sông với cái bến đò nào đó, một khi bị dẹp bỏ, đâu phải chỉ có riêng ông là chịu thiệt thòi. Hẵn, bao nhiêu người qua lại mỗi ngày, ai chắc cũng có đôi điều tưởng tiếc. Nhưng đôi ba ngày, đôi ba tháng ... rồi thôi. Sao riêng ông, ông cứ thấy ngậm ngùi !

Tại người hay tại mình cứ chuốc lấy cho mình mọi điều phiền não. Chuyện đất nước, tai họa là tai họa chung. Ai nấy đều có phần. Hẵn nhiên chia đều cũng là điều không tưởng. Tuy nhiên, sao lại giành chịu cái phận hẩm hiu. 

 

Những năm 80, khi mới bỏ xứ trôi dạt tới xứ người, tình cờ đọc được đâu đó mấy câu thơ của Thanh Nam, người văn thi sĩ vốn là tay phong lưu tài tử một thời, cũng đã bỏ Sài-gòn và đang lưu lạc đâu đó trên dãy lục địa mênh mông ...

 

Biền biệt thời gian mòn mõi đợi

Rối bời tâm sự tuyết đan tơ

Một năm người có mười hai tháng 

Ta chỉ năm dài một tháng tư (*)

 

Đọc thơ người mà lấy làm cảm thán phận mình. Nhưng rồi lại nghĩ đó là ... thơ. Mà thơ thì đôi khi hay bốc lên như khi diều gặp gió. Người làm thơ lắm khi vì vần điệu, đôi khi chữ nghĩa lại ra tuồng ẩn dụ ... nhiều khi ý tại ngôn ngoại ... v.v... và v.v... Nghĩ vậy rồi thôi. Rồi chúi đầu vọc tay vào ba cái chuyện kiếm miếng ăn mà ... tìm quên. Nhưng không. Không !

Không phải vậy. Ông Thanh Nam làm thơ mà nói thiệt. Ta-chỉ-năm-dài-một-tháng-tư.

 

Một năm qua. Hai năm qua. Ba ... Bốn ...

Mỗi cái tết tha hương đến, lòng lại nhớ cha, nhớ mẹ, nhớ anh em ruột thịt, nhớ lan đến cả bè bạn thân sơ. Nhớ mùi hương khói đêm ba mươi trừ tịch, cả nhà quây quần cúng rước ông bà. Mà riết rồi cũng chẳng phải đợi đến tết nhứt. Bữa nào cũng nhớ. Đi chợ tây lại nhớ phố xá thứ bảy chiều Lê Lợ̣i. Húp miếng súp đậu lợn cợn thịt thà lại nhớ phở Pasteur. Gặm miếng pizza mà nhớ khúc bánh mì thịt nguội Dakao thay bữa cơm cuối tháng. Táo tây, nho Mỹ, cam Maroc, khóm Mễ Tây Cơ ... gì cũng mặc. Cắn miếng nào nhớ miếng nấy. Từ miếng khóm ngọt lịm khi xe qua cầu Bến Lức tới giỏ mận hồng đào khi đợi phà Mỹ Thuận qua sông. Nhớ hơi nồng ly rượu đế Đường Xuồng đưa cay bằng hớp canh chua cá bông lau Rạch Giá ... Nhớ thê nhớ thiết nhớ riết rồi quanh đi quẩn lại nhớ thơ Thanh Nam. Ơi hởi quê hương bè bạn cũ. Những ai còn ai mất giữa sa mù. Mất nhau từ buổi tàn xuân đó. Không một tin nhà một cánh thư (*). Rồi chém chết cũng lại Một năm người có mười hai tháng. Ta chỉ năm dài một tháng tư (*) !!!

 

Mỗi tháng qua, cộng trừ nhơn chia, chuyện vui, chuyện buồn, chuyện xăng nhớt thịt cá, cà-phê thuốc lá, văn thơ phim ảnh, thuế má v.v... và v.v ... , tính tới tính lui, cái còn lại, cái còn lại là một khoảng trống không bờ không bến, rộng đến bơ vơ, cái còn lại là một sự hụt hẩng triền miên năm này qua năm khác. Là ...công cha nghĩa mẹ ơn thầy, phố đêm Lê Lợi đường ngày Tự Do, là bến nước cầu ao, là bụi tre khẳng khiu gốc chuối xơ xác, là lộ đá khấp khểnh cầu khỉ lêu khêu ...  là ... là ... Y như người thi sĩ dày dạn phong trần đã nói ... Ta chỉ năm dài một tháng tư !!! Y chang. Đúng phóc. 

Xa quê rồi là thiếu mọi thứ mọi điều. Mà nguyên nhân rốt lại cũng chỉ từ một tháng tư. Tháng tư, năm đó !

Tháng tư vì vậy trong câu thơ không còn để gọi ngày kêu tháng, tháng tư ở đây là biểu hiện của một sự mất mát thường xuyên, một sự thất thoát miên trường. Hóa ra câu thơ là một lời tiên tri thấu thị. Ta chỉ năm dài một tháng tư. Hóa ra tháng tư là biểu hiện của một thứ hố-đen thăm thẳm, đã hút mất dìm sâu trong đó tất cả Sài-gòn, Huế, Nha Trang, Quảng Nam, Quảng Ngải, Phan Thiết, Phan Rang, Mỹ Tho, Vĩnh Long, Cần Thơ, Sa Đéc, Rạch Giá, Cà Mau ... đã lấp kín vùi sâu trong đó hết mọi nơi chốn ta đã sanh ra, đã lớn lên trong tay cha mẹ bế bồng, đã trưởng thành với ruộng lúa trổ đòng đòng, với tép tôm thịt cá ê hề, với gói xôi lá cẩm, viên chè xôi nước, ơ cá kho khô, dĩa tép rang muối ... với lễ phép dạ-thưa, kính trên nhường dưới, với lời căn dặn lá-lành-đùm-lá-rách, với câu ca dao ngọt xớt, bài vọng cỗ mùi rệu, điệu hát huê tình mộc mạc mà lẳng lơ hết mức lẫn trong tiếng ầu ơ êm ái như tiếng lá tre xao xác ngoài hiên ... Còn nữa, còn cả một nền giáo dục nhân bản và khai phóng, dù chưa hẵn là hoàn mỹ, vẫn đủ chắp cánh cho tuổi trẻ miền Nam bay suốt những vùng trời kỳ ảo mà nhân loại đã nối tay khai mở, chẳng bù với lớp tuổi đồng lứa ở phía Bắc, bị bịt tai che mắt suốt hơn hai mươi mấy năm trời ... Còn nụ hôn đầu vụng về lén lút, núp sau gốc me già ... Còn nữa ... Còn mớ sách vở từ ông bà rồi cha mẹ để lại mà trên từng trang giấy in đầy chữ nghĩa như thêu hoa kết bướm, chắt lọc từ bao nhiêu tinh hoa của dân tộc, sau bao nhiêu thăng trầm của lịch sử... Mà làm sao kể hết, làm sao tính hết những của cải vật chất và tinh thần bị cướp giựt ngay từ khi giặc mới tràn về. Rồi làm sao nhớ hết những bỏ quên, những mất mát, những rơi rớt dọc theo bao dặm đường lưu lạc ... kể từ sau cái tháng tư quái ác như trận nổ hồng hoang, xóa sạch hết mọi truyền thống nghĩa nhân từ thuở 18 đời vua Hùng lập quốc ... 

 

Và cứ như vậy, năm này qua năm khác. Năm khác nữa ...

 

Tháng tư như một vết sẹo gần

Tưởng quên rồi lại bồi hồi nhớ

Khi máu trong tim vụt trở trăn ...

 

Không phải không muốn quên mà sao cứ nhớ. Nhớ đêm thứ ba 29 tháng 4 còn ngủ vật vờ trong góc lớp trường xưa. Sáng thứ tư, ngày 30 bật dậy đời đã quay ngược, lộn đầu lộn đuôi, tốt hóa xấu, đúng thành sai, phải thành trái ... Mọi chuyện y như một vở bi hài kịch mà tên đạo diển bất tài, bất lực bỏ mặc cho đào kép sắm tuồng tùy tiện.

Không phải không muốn quên mà sao cứ nhớ. Nhớ phố xá bỗng đỏ lờm cờ máu, loa phóng thanh eo éo, kêu réo ỏm tỏi như quảng cáo cao đơn hoàn tán của mấy gánh sơn đông mãi võ, súng dài súng ngắn, nghễnh ngãng đầu đường xó chợ rồi chui tuốt vô nhà dân bất kể giàu nghèo sang hèn, thầy chú hay khố rách áo ôm ...

Không phải không muốn quên mà sao cứ nhớ. Trọn bộ một nền văn hóa gia-tài-của-mẹ bị tom góp, hốt chụp tống lên xe cây đem chụm cho lửa-cách-mạng cháy phừng phừng. Hay để xứng đáng là đỉnh-cao-trí-tuệ bèn hè nhau chia chác cân ký bán ra chợ đời gói cá gói thịt ...

Không phải không muốn quên mà sao cứ nhớ. Nhớ những trại tù mọc lên như nấm dại. Nhớ bàn tay trần rướm máu cào đất xẻ kinh. Nhớ đôi vai trần thay trâu thay bò kéo cày kéo trục. Nhớ những cơn bệnh ngặt nghèo không một viên thuốc đỡ đần. Nhớ những rào kẻm gai vắt vẻo xác người tù trẻ ...

Không phải không muốn quên mà sao cứ nhớ. Nhớ sự nhỏ nhen hèn mạt của lũ người cùng máu đỏ da vàng, nuôi căm thù lẫn với ganh tị đem trút lên đồng chủng đã buông súng vì một lời hứa hẹn ... hòa bình. 

Nhớ bao nhiêu nữa cho vừa, những thứ chẳng có gì đáng nhớ.

.........

.........

Ờ mà cái bộ nhớ kỳ cục, toàn làm chuyện trái cựa. Chuyện ép nhớ thì không. Chuyện không nên thì nhớ. Y như lúc trong trại tù cải tạo. Người ta lặn lội từ Bắc vô Nam, dạy dỗ o ép đủ kiểu đủ cách, lắm khi hăm he hù dọa trói-tay-còng-chân-nhốt-conex đủ trò, cốt để biểu quên cho được cái đạo-làm-người, nhớ cho kỹ mấy lời bác-hồ-dạy ... mà cái đầu cứ trơ trơ ra như gỗ đá. Quản giáo ngồi chồm hổm trên ghế đẩu, gân cổ như con két ba điều bốn chuyện về ba-giòng-thác-cách-mạng đang làm nổ tung quả địa cầu mà cái đầu mình thì cứ hết so đo với Đem Tâm Tình Viết Lịch Sử của Nguyễn Mạnh Côn, rồi lại quay qua lơ mơ với Mười Đêm Ngà Ngọc của Mai Thảo. Kỳ thiệt há. 

Chắc tại vậy mà bốn mươi sáu năm rồi, chuyện cũ cứ y nguyên không chịu mờ đi một nét, dù thiệt tình có muốn nhớ làm chi.  Cứ y nguyên nỗi phẫn hận vì sự bội phản của đồng minh. Cứ y nguyên nỗi ê chề của thân phận nhược tiểu. Cứ y nguyên niềm uất ức vì sự nhẹ dạ của hai mươi mấy triệu người cùng một lúc đút đầu vào thòng lọng. Cứ y nguyên sự hổ thẹn của một kẻ thất phu suốt mấy năm trời gần như đứng bên lề cuộc chiến, cứ an nhiên trèo lên bục giảng để ê a mấy cái chuyện trên trời dưới đất trong khi súng đạn, mã tấu, dao găm, mìn bẫy tù ngục ... đang kề sát tận cổ. Cứ y nguyên hình ảnh thịt xương máu me be bét của bầy em nhỏ trường tiểu học Cai Lậy, sáng sớm đến trường lảnh nguyên mấy trái đạn súng cối của đám du kích bắn xong rồi bỏ chạy. Cứ y nguyên con đường quốc lộ số 1 -đại lộ kinh hoàng- từng đám dân miền Trung khốn khổ, dắt díu nhau tay ẳm tay bồng, chạy trối chết xuôi Nam trong khi pháo chùm pháo chụp của những người lính Bắc Việt nả trên đầu họ từng tràng đạn bất kể. Cứ y nguyên hình ảnh người mẹ chạy giặc, cứ mãi miết đút vú cho con bú móm khi đứa con xác đã lạnh từ hồi nào. Cứ y nguyên ... Cứ y nguyên ... Y nguyên ...

 

Thiên hạ đã bỏ công đếm tới đếm lui số người chết vì bom đạn trong suốt cuộc chiến bắt đầu ngay khi chữ ký hòa bình chưa khô mực ở Genève năm 1954. Người ta cũng bỏ lòng tính số người chết mất xác trên biển từ năm 1975 sau khi chữ ký hòa bình còn mới nguyên ở Paris năm 1973. Cộng trừ nhơn chia san qua sớt lại đã có đáng đủ chưa để dựng lên một đất nước kỳ quái như hôm nay mà nhân phẩm của con người bị coi như đồ xa xỉ, mà quyền sống của con người như món hàng mặc cả theo lợi lộc riêng tư của đám quyền thế, mà nhà cửa ruộng vườn của con dân bị cướp giựt bất kể tiếng kêu gào khóc lóc như mưa, mà sông hồ ao biển của tổ tiên dày công gầy dựng bằng mấy ngàn năm xương máu bị ngoại bang lấn chiếm mà chẳng dám một tiếng kêu ca ... Mà ... Mà ... !!!!!!

 

Vậy đó biểu làm sao quên, biểu làm sao không nhớ ngày đó tháng đó, làm sao không nguyền rủa cái chuyện bày trò xương máu, giành giựt cho được mảnh đất quê mẹ vốn đã rách bươm để rồi thẳng tay cấu xé, chia chác, thẳng chân chà đạp, dày xéo cho tới nỗi mang danh là một quốc gia độc lập mà thiệt tình nếu gọi là độc ... địa chắc chẳng sai chút nào. Nhất là cái điều mà không có một thống kê nào kiểm chứng được, đó là cái hồn tính dân tộc thể hiện trong từng tiếng dạ- thưa nề nếp, từng nếp văn hóa cổ truyền của một dân tộc đã chọn nhân nghĩa làm đầu, từng dấu phẩy dấu chấm trong câu văn câu nói đã thành tựu sau bao nhiêu vật vã thăng trầm, đến lối sống giản dị, chân thành, nặng tính cưu mang của xóm giềng lan rộng ra khuôn phép đạo đức ngoài xả hội ... thử xét lại có còn phải là khuôn mẫu Việt Nam !

 

Cỡ này, lắm khi do vô tình hay sẩy tay bấm nút, thấy trên màn hình những tòa nhà cao ngất ngưởng, những đường xá người qua kẻ lại chen lấn với xe cộ dập dìu, những quần áo lụa là kiểu cách tới độ hổng chừng đào kép ci-nê bên Tây bên Mỹ cũng nghệch mặt chào thua ... xen lẫn với cách nói năng dẫu bằng chính thứ tiếng mẹ đẻ mà nghe ra lại ngờ ngợ như lỡ trệch đường vào một xứ nào lạ hoắc ! 

 

Sự giàu có của một quốc gia có chỉ tính trên nhà lầu chục từng, đường lộ chi chít, tượng đài ngàn tỷ, những con số thống kê ngụy tạo, những kế hoạch, báo cáo, chỉ tiêu đọc lên nghe dòn tan như bắp rang ... hay là chính trên niềm tin và hy vọng vào tương lai của từng người dân và sự phân bổ đồng đều khả năng thực hiện hy vọng và niềm tin đó của từng cá nhân ? (**) .Hỏi, nhưng câu trả lời hẵn đã nằm sẵn trong mỗi tình cảnh hẩm hiu của đám dân đen bị dồn ra bên lề của con đường tiến lên thứ chủ nghĩa xả hội quái đản mà đám cầm quyền và bè đảng vẫn ra rả rêu rao.

 

Bởi vậy, 46 năm rồi, sao không quên đi cho thư thả. Lịch sử nhân loại cũng đã thay trang không biết bao nhiêu lần. Hiền nhân cứ hay khuyên bảo phải biết chấp nhận. Nhất là để cho yên ổn chính lòng mình. Được không ? Bỗng nhiên mang máng nhớ câu nói của một ông tây nào đó. Đại khái người ta có thể xóa dấu một tội ác, nhưng không bao giờ xóa sạch được vết tích tội ác đó trong trí nhớ của con người.(***)

 

Phải vậy không ? 

Sẽ đến một ngày, mọi lấp liếm rồi sẽ bị phơi trần dưới ánh sáng của công tâm. Như mặt trời làm tan hết mọi lớp băng, khi mùa xuân trở lại.

 

Ôi, tháng tư ...

 

Cao vị khanh

 

(*) Thơ xuân đất khách- Thanh Nam 

(**) Kinh tế gia người Ấn đoạt giải Nobel năm 1998 là Amartya Sen. Một cách tổng quát, Sen chủ trương đời sống của người dân không đo lường bằng tài sản mà bằng bất bình đẳng (inégalité) và khả năng hành động (capabilité). Một quốc gia, dù cho giàu có, phong phú tài nguyên mà người dân vẫn cảm nhận nghèo khổ, thiếu thốn, nếu sống trong một môi trường bất bình đẳng, bất an. Trái lại người dân một quốc gia kém tài nguyên mà vẫn có thể hưởng được một cuộc sống khả quan nếu chính phủ biết sử dụng khéo léo tài nguyên và nhân lực.

(***) -JF Sliwinski "Pardonner c'est pouvoir cicatriser une plaie mais la cicatrice ne s' oublie jamais car on la voit chaque jour sur son âme"  Tạm dịch : Tha thứ, là làm lành một vết thương nhưng vết sẹo còn đó mãi mãi vì người ta thấy nó hằng ngày trong lòng mình.

___________________________________________

CVK_Nguoibanvongnien_PHV.JPG

Tháng 6 năm 1970 khi tôi xếp bút nghiên để sửa soạn cầm thước gỏ thì anh đã gỏ-đầu-trẻ đâu đó lâu lắm rồi. Nếu xếp về thứ bậc và tuổi tác, hổng chừng tôi phải gọi anh là thầy nữa là khác. Anh ra trường dạy dỗ đã lâu, có lúc nghe nói đã từng leo lên leo xuống mấy con dốc mà có lần nhà thơ Vũ Hữu Định đã kể lể ... phố núi cao phố núi đầy sương, anh khách lạ đi lên đi xuống .... Học trò cũ của anh có người tròm trèm tuổi tôi. Vậy mà hổng biết sao, ngay khi vừa gặp nhau, ngay giữa chỗ mà người ta thường nghiêm mặt lên giọng gọi là cửa Khổng sân Trình, giữa anh và tôi đã như quen biết lâu rồi ... Ngộ lắm.  Cái gì đó ... cũng chẳng rõ là cái gì. Chỉ biết làm như có chỗ rất tương đồng. Ngặt cái, dù kể ra là đồng nghiệp mà cái chỗ tương đồng thì chẳng ăn nhằm gì hết với cái nghiệp mà đời đã đưa đẩy chúng tôi đến gặp nhau. Dù xuất thân từ chung một lò, được dạy dỗ uốn nắn mấy năm trường gần như cùng chung một sách, vậy mà khi gặp nhau, chúng tôi lại thấy giống nhau ở cái chỗ không ... có sách nào dạy. Thời đó, từ nhà trường đến xả hội, hai cái chữ dù không được sơn son thếp vàng đóng khung treo trong đình trong miểu nhưng vẫn coi như treo lủng lẳng một cách vô hình trên đầu quí vị làm nghề ... dạy học. Từ dạy con nít mới bập bẹ i tờ tới con trẻ đã đọc ro ro chữ quốc ngữ. Dạy gì không biết, chỉ biết mỗi ngày đóng bộ vận vô ra trường lớp là phải ... mô phạm. Y như quí vị sư sải ni cô là lúc nào cũng phải chắp tay ... mô ... phật vậy đó. 

Vậy mà, vừa khi gặp nhau, chúng tôi đã nhận ra nhau ở cái chỗ hao hao đó. Kiểu như hồi xưa người ta nói ... đồng thanh tương ứng. Giống nhau ở cái chỗ không giống ai giữa cái chỗ ai cũng giống nhau. Mô ... phạm. 

 

Tôi thì mới hai mươi ba, ngựa non háu đá. Anh thì đã dầy công hãn mã, trường ốc cũng đã mấy phen chìm nổi. Tôi, dân nam-kỳ-lục tỉnh. Anh, gốc Bắc 54, nghe đâu chung khóa với ông thứ trưởng giáo dục thời đó. – người ta ở thủ đô thăng quan tiến chức nghe mà ham, còn anh thì cứ tà tà hết cao nguyên sỏi đá tới đồng bằng mé mé rừng tràm, vô ra trường giảng Kiều với lại oán khúc cung phi cho em út. Tôi gọi anh là ... anh. Anh gọi lại tôi là ... ông. “Ông” không phải tại chức cao quyền trọng, không phải tại lớn tuổi ... Gọi là “ông” vì không biết gọi là gì cho xứng hợp. Phải chi tôi quê miền Bắc thì chắc anh gọi tôi là anh như cung cách xưng hô phải đạo của người ngoài ấy. Anh Chị dù đáng tuổi em út. Đằng này, tôi người Nam, sanh đẻ chưa tới tận cùng Cà Mau nhưng cũng đã xém xém miệt dưới. Dĩ nhiên, tiếng  “ông” anh gọi tôi không kiểu cách, cũng chẳng ra điều trịnh trọng. Anh gọi tôi là  “ông”, mà lại nghe gần gũi, chiều chuộng, nam-kỳ-quốc như là gọi ... chú em vậy đó.

Ờ, thân mật lắm. Giữa anh và tôi. 

5 năm, cùng dưới một mái trường trung học, anh và tôi như hai người đồng nghiệp chí thân. Nữa ! Lại đồng nghiệp ! Không, không phải đồng nghiệp. Đồng nghiệp nghe ra ... mô phạm lắm. Nếu cần, thêm vào một chữ nữa thì không chừng ... vẹn vẽ hơn. Đồng nghiệp ... chướng ! Kiểu như Bạch Cư Dị khi bị đày xuống Giang Nam rồi tình cờ gặp nàng ca kỷ trên bến Tầm Dương mà phán rằng cùng-một-lứa-bên-trời-lận-đận-gặp-gỡ-nhau-chẳng-lọ-quen-nhau vậy đó. Chúng tôi thân nhau không phải vì cùng nghề cùng nghiệp. Chúng tôi thân nhau vì cả hai đều lăm le muốn ... phá cái rào của nghề nghiệp. Thứ rào cản người ta đặt ra cho chúng tôi như cái khuôn bánh bông lan. Bột đổ vô rồi khuôn nào ra bánh nấy. Dĩ nhiên không đến nỗi ngây ngô như cái lối bảy-bước-lên-lớp từ ngày bác-hồ vô Nam cách cái mạng dân miền Nam. Nhưng mà cũng ba điều bốn chuyện lắm. Rằng thì là làm-thầy thì phải làm gương cho học trò. Học trò thì đồng phục áo trắng quần xanh, đầu tóc phải gọn gàng, hổng hớt cua thì cũng phải bảy ba cho vén khéo. Học trò đã vậy thì thầy cũng không được để tóc ... thề phủ ót. Học trò áo sơ-mi trắng ngắn tay, thầy áo sơ-mi tay khỏi ngắn mà điều khuy nút phải cài. Dài ra dài, không có cái lối tay dài mà xăn lên cho ngắn. Đi đứng phải chửng chạc, không có cái lối ngả ngả nghiêng nghiêng. Nói năng chi phải chừng mực, đâu ra đó. Nhất là quan hệ thầy trò thì dẫu đã hạ bệ rồi cái khung quân-sư-phụ nhưng trong nhà ngoài ngõ vẫn trao tráo những cặp mắt dõi soi. Còn bài vở thì khỏi nói, chương trình biểu sao nghe vậy. Sách giáo khoa in sẵn, cứ y theo đó mà ... trả bài ! Quí vị đồng nghiệp cao niên của tôi như những tấm gương sáng bóng, cứ soi bóng mình trong gương sáng đó mà hành đạo. 

Chẳng vậy, mà mới gặp nhau, tôi với anh như hai kẻ lạc dòng, bỗng nhiên tìm ra cái bóng của chính mình, đang cùng lội lạc cái dòng mà mọi người chung quanh đang lội ... vòng vòng. Nghe đâu, những bài giảng của anh lắm khi cũng hay bốc tới cõi ... trời-trăng-mây-nước. Y như tôi, dạy Chinh Phụ Ngâm của bà Đoàn thị Điểm mà cứ lạc vô lục bát của Lê Thị Ý ngày-mai-đi-nhận-xác-chồng. Chẳng vậy mà chuyện phải đến đã đến. Chúng tôi như tìm được nhau ở cái chỗ không ai tìm đến. Bên ngoài trường lớp, những ly xây-chừng đen ngòm ở mấy cái tiệm nước của chú ba, pha đậm thêm bằng vài câu Đường Thi xa tít mù xa, vài hơi thuốc Capstan lơ lửng chút khói sương ở cái xứ mằn mặn mùi muối biển, trộn lộn với hơi giọng khàn khàn khi Lệ-Thu ngậm ngùi nắng-chia-nửa-bãi. Có khi ngồi lặng nhìn nhau nghe tin dữ từ một trận đánh đâu ở gần Miệt Thứ, những chuyển động chính trị phe nhóm ở Sài-gòn, những cò kè trả giá bốn bên hai phía ở Paris ... Rồi những chuyến rong chơi cuối tuần qua mấy khu vườn dừa, rẩy khóm ... Lắm khi xúi bẩy nhau bỏ lớp, có giang ghe xịp ghe cào tắp vô mấy hòn đảo hoang ngoài khơi ... đêm nằm trần trên những bãi cát vắng chân người, lắng nghe sóng vổ miên man vào lòng thiên cổ. Và vổ ngay vào chốn thăm thẳm của lòng mình. Rồi cùng cảm thán cái mênh mông vũ trụ, cái dằng dặc thời gian và cái vô nghĩa phận người ... từ đó, cùng tìm ra cái thân thiết vô ngôn dù tuổi tác chênh lệch. Anh thì đã vợ con đề huề, tôi thì vẫn còn ... sầu-lẻ-bóng. Mỗi lần ghé nhà, nhìn anh giữa một bầy con tíu tít, tôi cứ băn khoăn làm sao anh có thể hòa đồng được cái đầu thường vẫn lơ lửng giữa trăng sao với cái bổn phận làm chồng làm cha. Khó dữ đa. Vậy mà ngày tháng qua, anh vẫn đi lại giữa đời một cách an nhiên tự tại. Người ta có thể sống hai đời trong một kiếp ? Cạnh đó, cái khung mô phạm dựng sừng sững trước mặt, anh vẫn thản nhiên tới lui, thản nhiên không một chút e dè, nhẹ nhàng, lãng lướt không thua gì bộ pháp Lăng Ba Vi Bộ của Đoàn Dự trong Lục Mạch Thần Kiếm.

Dẫu vậy, giữa cuộc phong trần, cũng không làm sao mà không trầy trụa. Đã có lúc, với tất cả mọi bẩn chật của một xả hội đang giãy giụa giữa hai lằn đạn của một cuộc chiến tranh ý thức hệ, anh cũng không thoát khỏi những va chạm, lắm lúc dù không đổ máu, cũng không thể còn lành lặn. Tôi biết, đã có lúc anh cũng phân vân chao đảo như không ít người trí thức thời đó. Bom đạn, chết chóc trên những bản tin chiến sự hằng ngày, cùng với những tệ nạn xả hội như hậu quả tất nhiên của một thời loạn lạc ... hẵn đã có lúc cũng làm anh băn khoăn về cái vị trí của mình giữa sự dằn co của hai chủ thuyết ... Cùng lúc với những va chạm vụn vặt hằng ngày giữa một bên là kẻ nắm chức vụ có bổn phận duy trì những giáo điều của trường lớp với một bên là người cứ chực chờ phá vở cái khung hẹp đó, dẫu không cố ý. Đã nhiều lần, giữa hai giờ lên lớp, lúc nghỉ xả hơi, trong cái phòng giáo sư hẹp té, anh ném ly tách vở tung lên bốn phía tường vách. Ai hiểu được gì những dày vò trong cái đầu vốn dĩ hay lẩn quẩn giữa cõi trăng sao mà cứ bị giữ rịt lại giữa nhỏ nhoi trần thế !

Một buổi chiều thứ năm, giữa mùa học năm nào, không biết có ai còn nhớ? Anh đăng đàn, thuyết giảng thơ Phạm Thiên Thư. Cả hội trường vài trăm người gồm bạn đồng nghiệp và học trò gần như có lúc cũng mê hoảng theo cơn mê hoảng của anh, không còn là một người làm thơ nói về một người làm thơ khác, không còn là một giáo sư văn chương nói về một dòng thơ lục bát, không còn là một Phạm Huy Viên nói về Phạm Thiên Thư. Mọi thứ, có lúc như ảo hóa, buổi chiều không còn là lúc ngày sắp tắt, hội trường không còn là chỗ hợp mặt thầy trò, thơ không còn là mớ chữ sáu tám nối kết nhau theo bằng trắc ... Tất cả đã hóa thân, đã hòa nhập, đã trộn lộn ... đến độ không còn biết đâu là thật đâu là giả, đâu là thực đâu là mộng, đâu là Phạm Thiên Thư đâu là Phạm Huy Viên ... Không. Không còn cõi đời cõi mộng. Trước mặt mọi người, trong lòng trong đầu mọi người lúc đó chỉ còn một ... gã-từ-quan-lên-non-tìm-động-hoa-vàng-ngủ-say ! (*)

 

Các bạn mến ! Các em mến ! Hôm nay, một ngày đẹp trời của Rạch giá.Tôi lạnh lùng nói tới Phạm Thiên Thư. Tôi say sưa trôi về thơ Phạm Thiên Thư với ngàn con sông, ngàn ngọn suối hoa vàng bập bùng trôi trong vô thức khi thế gian còn sáng chói tình yêu. Khi thế gian toàn là mai mơ với đỉnh núi trăng vần, với vực sâu trăng té, tà áo em trăng thõng thượt và mái tóc em trăng ngủ vùi. Từ chim thuở núi xa xưa, về đây rớt lại hạt mơ cuối rừng, từ em khép nép hài xanh, về qua giục nở hồn anh đoá sầu. Ừ ! Thì mình ngại mưa mau, cũng đưa anh đến bên cầu nước xuôi, sông này chảy một giòng thôi, mây đầu sông thẫm tóc người cuối sông. ! (**)

 

Những năm 70 đó, thơ Phạm Thiên Thư đang là cái mode. Ai nấy, không nhiều thì ít, trên môi cũng lẩm nhẩm được vài ba câu lục bát Động Hoa Vàng. Buổi chiều đó, anh đã đem thơ xuống đời. Và nâng đời lên cõi thơ tuyệt đỉnh. Anh đã rao giảng thứ tình yêu Hoa Không có có không không cũng như không không mà có có. Tuyệt lắm. 

Người quen, kẻ lạ, sau buổi chiều đó  ... có ai nhìn ra được một Phạm Huy Viên, kẻ lãng tử sinh không nhằm lúc nhằm nơi !!!

Ít lâu sau, vì một lý do không ai rõ nhưng ai cũng biết, anh bị đổi đi một trường khác, ở đâu miệt Phụng Hiệp, Cần Thơ. Liên lạc trở thành thưa thớt. Cho đến đâu khoảng một tuần trước ngày 30 tháng 4 năm 75, anh bỏ nhiệm sở quay về Rạch Giá, ghé tìm tôi một đêm. Vài câu thăm hỏi thông lệ. Và một kết luận. Mọi chuyện đã an bày. 

Những ngày đầu tháng 5 bi phẫn đó, người ta thấy anh lăng xăng theo những đoàn học sinh đi ... tiếp quản những cơ quan chính quyền cũ. Có người xì xào. Nhưng tôi, tôi biết, vốn dĩ anh là một người lý tưởng. Thứ lý tưởng trong sáng đến độ gần như ... ngây thơ, tin rằng ở bên kia tấm vách núi sừng sững có đầy hoa thơm cỏ lạ. Y như không ít những người trí thức miền Nam thuở đó. 

Còn tôi, thì vốn dĩ biết rõ gốc gác mình, tôi chờ lệnh ... tập-trung-học-tập-cải-tạo.

Tháng 7, bừng-con-mắt-dậy thấy mình đứng giữa Khám Lớn Rạch Giá cùng với vài chục đồng nghiệp và đồng loại, chờ được xếp hạng phân hệ ... đưa đi học đào mương, gánh đất, gở rào, dọn đường ... hầu trở thành con-người-mới-xhcn. Năm ba bữa qua, chưa thấy nhúc nhích lệnh lạc, một buổi sáng giữa nhà giam, bỗng thấy công an gác tù đưa anh vào nhập bọn. Cả đám xôn xao. Hóa ra anh vừa trải qua một hoàn cảnh dở khóc dở cười trong chính sách bắt lầm hơn thả lầm của cộng sản. Do một ngộ nhận, đám công an đòi bắt giam chị khi chị đang bụng mang dạ chữa. Chẳng đặng đừng, anh đứng ra nhận thay cho chị. Vì vậy, khi không, anh lại vô tù nhập bọn cùng tôi. Dù cả hai, xét về lý lịch chẳng có chút nào tương đồng. Từ đó, chúng tôi lại có dịp sống gần nhau, dĩ nhiên trong một hoàn cảnh không lấy gì làm dễ chịu. Tuy vậy, giống như mọi thứ nhà tù trên mặt đất này, người ta có thể giam giữ thể xác tù nhân nhưng không kềm hãm được tinh thần của họ. Mặc cho mọi hò hét, hù dọa rồi dụ dỗ, đâu vẫn hoàn đó, cái đám tù cải tạo. Và riêng tôi, tôi thêm dịp sống gần anh, thêm lắm điều đồng điệu.

Hơn năm trời trôi qua, trong nhà giam được mỹ hóa là trại cải tạo, rõ ràng anh là hiện thân của nhân vật Moritz  trong tiểu thuyết Giờ thứ 25 của Virgil Gheorghiu. Người ta đi tù vì hoặc là sĩ quan hoặc chức tước của chế độ cũ. Anh không là sĩ quan. Anh cũng không chức tước ngoài cái danh xưng giáo sư trung học đệ nhị cấp có tiếng mà không có miếng. Anh chỉ là người đi dạy học. Dạy học thì khỏi đi tù. Mà anh thì đi tù cho được. Vậy nên khi vào tù, anh không thuộc loại nào hết sau khi người ta đã phân chia đủ thứ loại hạng. Bởi vậy, anh sống tấp vô đám tụi tôi với danh nghĩa là sĩ quan biệt phái mà gốc gác thì chẳng có một ngày thâm niên quân vụ. Vậy mà vẫn an nhiên ... ở tù chung với cái đám-tù-không-bản-án, và không-biết-ngày-ra. Chẳng vậy, mà qua đó, tôi được anh chỉ dẩn cho lắm điều mà không có trường lớp nào giảng dạy. Ngay trong góc tối mù của lòng thù hận, anh vẫn tìm ra niềm tin để giữ mình thong dong chịu đựng giữa vòng dây kềm kẹp. Biết bao nhiêu chuyện có thể kể ra những ngày tù tội dưới mấy cặp mắt cú vọ của cái đám gọi là quản huấn với lại quản giáo từ ngoài Bắc viện trợ vô. Mà thôi, ông Hà Thúc Sinh đã kể ra gần đủ trong bộ sách Đại Học Máu của ông rồi. 

Chỉ biết là trong hơn năm trời, ngủ chung trên những tấm thiếc lợp nhà được gở ra từ những trại gia binh cho đến ăn chung trong những lon sửa guigoz được chế biến thành chén dĩa cũng như bếp lò nồi niêu xoang chảo, anh lại còn tỏ lộ ra vẻ trải đời và đa tài rất mực. Vẫn với một thái độ ung dung của thi nhân-triết gia, anh nhận chịu mọi đày đọa bằng một thái độ ung dung tự tại. Chẳng vậy, ngay đến những chuyện chế-biến-nấu-nướng-đàn-bà anh cũng thông thạo một cách huê dạng. Bữa đó, gạo tù chắc được tịch thu trong các vựa lẫm của quí vị xì-thẩu, cá mắm thì là loại cá liệt, bị loại  bỏ từ các ghe cào ghe xịp cặp bến mỗi chiều. Cứ như vậy ngày này qua tháng khác. Anh đâu chịu vậy. Mỗi bữa cơm, sau một ngày lao-động-vinh-quang, bằng mấy cái lon sửa guigoz đã được cắt gọt uốn ép thành bếp núc với lại nồi chảo, anh chế biến món này món nọ một cách tài tình. Anh chỉ dạy tôi cách cắt gọt rau cải, lượm lặt được ngoài ruộng rẫy bỏ hoang, đun nước nấu canh, chế biến thêm thắt cho bữa ăn có thêm chút mặn mà. Anh làm một cách nhẩn nha, từ tốn như đang sửa soạn cao lương mỹ vị. Tôi học được ở anh một bài học vô giá, sự thích ứng với hoàn cảnh !

Vậy rồi tới lúc, thả tù. Dĩ nhiên, nhốt thì dễ mà thả thì khó. Lùa vô tù thì dễ như lùa vịt vô chuồng. Nhưng khi thả tù thì kỹ lưỡng rất mực. Họ lọc lựa, xét nét, từng loại, từng đợt mà họ gọi là hệ. Tới phiên cái đám gọi là hệ biệt phái như tôi được thả ra thì anh lại lọt sổ. Mà tới khi cái đám gọi là nợ-máu-với-nhân-dân, kẻ bị đày vô U Minh người bị đưa ra tận ngoài Bắc, cũng không có tên anh. Vậy là anh ở lại tiếp tục ... làm người tù không danh số. 

... Nhưng mà nhốt hoài chắc cũng thấy ... vô duyên, đến một lúc anh lại được thả ra cũng không có lý do như khi bị bắt vô –hoặc có lý do mà chắc chỉ có mấy cái túi vàng của đám cán bộ thời đó mới biết rõ. 

Ra khỏi cái rọ nhỏ của trại giam, nhập vào cái rọ lớn của đời sống bên ngoài đang tới hồi bon chen manh mún kịch liệt để kiếm miếng ăn, anh vẫn an nhiên tự tại như cái ngày đứng trên bục giảng mà kể lể chuyện kiều nhi thanh lâu hai lượt thanh y hai lần. 

Tù về, phủi tay cái một, anh vác cuốc đi làm rẫy. Mà làm cũng thong dong, điệu nghệ không kém gì làm lãng tử. Khoanh đất nhỏ nằm cạnh bờ vịnh, có nắng lửa nhưng cũng có gió mát, có mồ hôi nhưng cũng có những mầm xanh, anh chăm sóc mấy bụi chuối lão, mấy luống rau thơm, mấy con gà con vịt ... không thua gì lúc chăm chút mấy cái vần bằng vần trắc. 

Có lúc hết việc, tạt qua thăm, anh đãi tôi ly trà nóng, vấn điếu thuốc rê phì phà hơi khét lẹt, kể tôi nghe chuyện thời Chiến quốc rồi cười khinh khỉnh chuyện thay chúa đổi ngôi. 

Có hôm tình cờ gặp người học trò cũ bứng cho bụi bông súng, tôi than với anh không biết lội nên không dám lặn xuống ao nhà để cắm rễ xuống đáy. Tốt bụng như tự bao giờ, anh đạp xe tới nơi xắn quần nhảy ùm xuống nước, lặn sâu hai ba thước trồng cho được bụi bông súng quê mùa.

......................

Ngày tháng qua đi, ục ịch hay thoăn thoắt, đánh-tư-sản-mại-bản hay đốt sách văn-hóa-đồi-trụy, kinh-tế-mới hay cải-tạo-công-thương-nghiệp, dẹp khờ-me-đỏ hay chống bọn-bành-trướng-phương-Bắc, anh và tôi vẫn có dịp qua lại gặp nhau, năm ba bữa nửa tháng. Có khi anh đạp xe lọc cọc tìm tôi, có khi tôi lếch thếch lội bộ tìm anh, gặp nhau vẫn thân thiết như bao giờ dù thời buổi đó ai nấy cũng hay giữ lòng giữ kẽ. Khoảng thời gian đó, hẵn cũng như nhiều người nội trợ khác, trước mức sống bị tụt xuống đến mức thảm hại, chị đã dấn thân ra .. chợ trời. Chắc nhờ vậy, anh lại vung tay hào sảng như hồi cách-mạng chưa thành công. Đầu ngõ vào nhà, có một tiệm nước. Chị mở cho anh một trương mục ở đó. Nói là trương mục cho có vẻ hiện đại. Chớ hồi đó, gọi là ghi sổ. Ăn uống gì xong, thì búng tay gọi chủ. Chủ tiệm cứ mở sổ ra ghi, cuối tháng chị tạt ngang, sẽ thanh toán một lần. 

Năm lần bảy lượt, anh hay rủ rôi ghé tiệm, gọi hai cái xây-chừng, vài ba điếu thuốc lá lẻ, rồi hai anh em phì phà tâm sự, chuyện đầu trên xóm dưới, chuyện cá chậu chim lồng ... Thuở đó tôi nghèo sát ván. Đi tù về, tay chân vác mướn cơm cháo còn chưa đủ nuôi thân nói gì cà phê cà pháo. Nhờ có anh mà tôi có lại chút hơi hướm ngày xưa ... Tính ra ân tình lấy gì đong cho hết !

Vậy đó, rồi mấy năm sau, nhờ may mắn được người quen cho có giang vượt biển. Tôi bỏ đi, cũng y như hàng triệu người miền Nam bỏ nước ra đi không kịp một lời từ giả.

Ở xa, dặm trường đã xa mà cảnh tình càng xa lăm lắm. Bạn bè sống hai đời đối nghịch nhau. Bên nây ngày thì bên kia đêm. Chính trị thì như đêm với ngày. Vã lại, tôi còn nợ một lời nguyền với chính tôi. Tại vậy, mà xa rồi là xa luôn. Không còn dịp gặp lại. Anh sống đời anh. Tôi đời tôi. Nắng mưa, đói no, bệnh hoạn mạnh ai nấy chịu. Lòng băn khoăn mà cứ chừng như thời gian vẫn đợi ...

Hai mươi, rồi ba mươi, rồi bốn mươi năm. Chớp mắt.

 

Thứ sáu rồi, 26-3-2021, hồi 8 giờ 8 phút sáng, ngụm cà-phê đầu ngày còn nửa chừng trong miệng, điện thư của người quen báo tin anh mất, quê nhà. Một chút sững sờ. Một tiếng chắc lưỡi. Rồi thôi. Tôi làm gì đây khi dòng đời thì chảy xuôi ... Và chúng ta cũng trôi xuôi theo cái dòng chảy không ngừng nghĩ đó. Thệ giả như tư phù bất xả trú dạ.

Thêm một chút ngậm ngùi cho cái số nghiệt ngã của phận mình, phận anh phận tôi, chung cùng trong một phận nước.

Dẫu không liên lạc, nhiều năm nay, đôi khi tôi mơ hồ biết chút tin anh. Đôi khi một bài thơ, đôi khi một bài nghiên cứu về lịch sử, địa dư, một giai thoại văn chương ... với một bút hiệu lạ nhưng cũng là anh, nửa ẩn nửa hiện. 

Bốn mươi năm. Nhắm mắt tôi còn hình dung ra anh, cao, gầy, giọng Bắc đã pha ít nhiều phù sa sông Cữu, ăn nói từ tốn nhưng không kém phần uyên bác. 

Bốn mươi năm. Đủ để xóa nhòa hết mọi di tích một thể chế. Nhưng trong tôi, anh vẫn nguyên vẹn tiếng nói-giọng cười-dáng đi và nhất là mớ kỷ niệm chung của một thời có hoa có bướm, lẫn lẫn đâu sau mấy vạt áo tơ dài, thõng thượt(**) như câu thơ nửa chừng ... bỏ lửng.

 

... Rồi người cũng bỏ đi xa

Bỏ trăng gió úa, bỏ hoa mộng tàn

Câu thơ bỏ lỡ, ngỡ ngàng !

Về tìm lại Động Hoa Vàng ngủ say

Nối thêm cho đủ mộng dài ...

 

Yên nghĩ anh há !

 

C A O V I