Thơ văn

CAO VỊ KHANH

 

Montreal, Canada

CHS PTG-CGS Nguyễn Trung Trực, Rạch Giá

____________________________

                  thu, vàng mấy đỗi ...

 

Tự dưng …

... tự dưng rồi trời đổ sương đầy những sớm mai. Sương như hơi thở nấn níu của đêm sắp bỏ đi. Đồi núi, phố xá, cỏ cây lẫn lẫn trong hơi sớm mù mù. Sương bay là là, sương rơi lả lả. Sương từ vạt núi tuôn xuống. Sương từ mặt sông bốc lên. Sương váng vất ngoài đầu ngõ. Sương len lách vào hẻm phố. Sương tràn ngoài xa lộ. Sương thổi từng giòng khói trắng bay lan man vào từng lối tắt đường quanh, vắt lên cái nóc tháp chuông nhà thờ dát bạc, luồn vào khung cửa sổ khép hờ làm ai đó vội kéo góc chăn lên phủ kín bờ vai bỏ hở. Sương lấp lửng trườn lên hàng ghế đá công viên, rồi lặng lờ sà xuống tưới đẩm những luống cỏ rướm vàng. Sương tự trời cao nghiêng xuống hay sương từ đất thấp vói lên mà sương thấm vào vai người bộ hành dậy sớm làm ai đó rùng mình rồi chợt ... một thoáng nghĩ … ờ … vậy mà đã thu rồi!

Hôm kia, mà cũng đâu chắc hôm nào, từ những góc phố khuất, từng bầy chim rủ nhau tụ về vần vũ, bay liệng như thoi đưa, miệng kêu hớt hải vừa như thúc giục vừa như chần chừ trước một chuyến đi xa, xa lắm. Người qua đường bước chân bỗng có hồi như khựng lại, rồi… rảo bước nhanh hơn. Đường phố chợt có khi như ngừng đọng, rồi…vội vã bắt lại cái nhịp vừa để lỡ. Lòng người có một thoáng như ráo hoảnh… Có một cái gì bảng lảng đâu đây. Có một cái gì chực hờ muốn nói ... mà môi không hở được ra lời.

 

Mùa thu trở về, lạ lẫm như mọi khi.

 

Ngày hôm trước nữa, trên bãi đất trống phía tây thành phố, gánh xiệc dạo đã lo cuốn lều hạ rạp, cái vòng quay khổng lồ treo đèn kết tuội đã quay suốt một mùa hè giờ được tháo ra, chất chồng như một đống phế liệu. Mấy cái loa phóng thanh phát rân những bài nhạc vui nhộn cũng đã được gở ra khỏi mấy cọc sắt, vất bừa bãi xộc xệch như những cái miệng mếu máo. Bên những chiếc xe van biến chế làm nơi ăn ngủ, những nghệ nhân hết việc đang vội vã thu xếp đồ nghề vào mấy chiếc rương cũ kỷ. Khuất sau tấm bảng quảng cáo sơn phai nhoè nhoẹt, chú hề quen thuộc, không còn cái áo rằn ri và cái quần thùng đóng bộ, bôi mất lớp phấn son ngây ngô, ngồi một mình, cô đơn và lạt lẽo như một pho tượng cũ bỏ quên.

 

Mùa thu dợm đến, có một lúc mọi sự tưởng chừng như ngừng lại. Một khoảnh khắc nào đó. Một khoảng trống nào đó hay chính là một khắc khoải nào đó. Biết đâu.

Mà có thực. Trời đất cỏ cây và lòng người. Tự dưng rồi thấy một chút bâng khuâng. Một cái gì đó xao xác. Một thứ gì đó không yên. Tự dưng rồi thấy nao nao. Thấy là lạ dù vẫn đất trời đó, sông nước đó, gió mây đó, cỏ cây hoa lá đó. Có điều trời đất đó dưng không ra chiều lãng đãng. Gió mây đó bỗng nằng nặng nỗi niềm. Cũng là cơn gió quen nhưng trưa nay sao thấy hiu hiu. Vẫn là vạt mây đó sao hoàng hôn này lại ngan ngát. Có cái gì đó đang trở dậy, cựa mình, dù đã thúc thủ nằm yên từ lâu lắm trong cái góc khuất nhất của lòng ta.

 

Cái gì đó ? Ai mà biết được. Nhưng rõ ràng nó đang cọ quậy, đang vùng vẩy cho rớt lớp phấn bụi thời gian. Một ấm ức chưa được giải thông ? Một chuyện đôi co chưa ngã ngũ ? Một niềm vui chưa từng ? Một nỗi buồn chưa tỏ ? Hay một dáng người ? Có đôi khi chỉ một tiếng cười ? Rất có thể chỉ một tiếng khóc ? Ngọn đuốc cháy lập loè trên khuôn mặt sinh ly. Giọt nước mắt tử biệt khóc ngoài ngàn dặm. Ánh trăng xanh mướt một đêm mười bảy. Ngón tay ngoéo hờ giữa góc phố trăm năm. Tưởng đã khuất lấp. Tưởng đã chôn vùi dưới tầng tầng tất bật của từng ngày qua, từng đêm tới, tuần tuần, tháng tháng, năm năm…. Vậy mà không. Rõ ràng là không. Nó đang trổi dậy kìa, trong cái cạn sớt và thăm thẳm của lòng ta. Nó theo cái quạnh quẽ của hơi thu mà máy động. Rồi thì là một hoạt cảnh. Hoặc chỉ là một ấn tượng. Có khi chỉ là một cái ngoái nhìn hồi nào mà làm xốn xang lại cả dạ. Có khi chỉ là một trách móc không đâu lại làm trìu trĩu đến bây giờ. Hay khi không rồi một bước chân nhún nhảy của ai đâu một lần nào đó, bỗng làm rộn rã lại đến tội nghiệp con tim đã quá chừng mệt mỏi. Một chút xíu thôi, chút thôi. Nhưng mà quả tình có đó, còn đó.

Lòng ta đã vậy. Trời đất lại mang mang…

Trời đất quả thật là mang mang…

Nắng không ra nắng. Mưa chẳng ra mưa. Không gian cứ ui ui, thời tiết ấm ấm lạnh lạnh. Trời đất như có gì băn khoăn lắm, như cứ ray rứt gì đâu, như muốn bỏ một cái gì mà không nở, muốn giữ một cái gì mà chưa định. Ngày vẫn lên mà chừng như uể oải. Đêm mỏi mòn mỗi lúc một lê thê hơn. Giữa trời và đất như có gì lung linh nối lại, giữa ngày và đêm nấn níu những giờ khắc loảng. Cứ như vậy, giữa những đối cực bỗng nhùn nhằng cái khoảng trống không tên, cái gì không biết là cái gì, mà như sương, như khói, như hiu hắt, như tiêu sơ… Như có đó mà không có đó. Như không có đó mà không là không có đó. Không gian như có dây tơ. Bước đi sẽ đứt động hờ sẽ tiêu… (*)

Vậy đó… vậy đó ...

 

... Rồi một buổi sáng, choàng mắt dậy, có cái gì lốm đốm ngoài vườn, trên hàng phố, xa một chút trong công viên, xa hơn nữa trên sườn núi… một đốm vàng…Ờ, một đốm vàng giữa chòm lá hôm qua còn xanh mướt, một dãy đỏ trên rừng cây hôm kia còn xanh rì. Thu tới thật rồi, tới hồi khuya khi núi còn trầm mặc, sông đương lững lờ, phố xá im ỉm và người, người còn đang chìm nổi giữa chiêm bao. Thu tới như một bất ngờ dù đã từng phen dọ dẩm. Thu tới, e dè một chiếc lá...

… Rồi hai chiếc lá trở màu, rồi ngàn chiếc lá, rồi trăm ngàn, rồi triệu triệu chiếc lá trở màu cùng một lượt. Cái biển lá xanh ngát hôm qua hôm kia còn làm gợi lên sự yên bình rất đỗi, bỗng đâu chen chúc từng vệt màu nóng hổi, đủ hơ ấm cả một tấm lòng đang lạnh. Vàng, vàng vàng, đỏ, đo đỏ, tím, tim tím, nâu, nâu nâu… Xanh chen vàng, chen đỏ, chen tím, chen nâu. Rồi vàng đỏ tím nâu chen xanh. Rồi tới lúc đỏ con mắt mới thấy được một đốm xanh, lẻ mọn.

Chẳng mấy lúc, thu đúng mùa chín rộ, nở bừng ra lộng lẫy. Lộng lẫy tới độ làm lòng người cũng vui lây. Ngó lên núi, cả một núi gấm hoa. Nhìn ra xa, gần, trước, sau, phải, trái, chỗ nào cũng sắc với màu, cũng phấn son của trời đất. Lang thang vào rừng phong một ngày nắng tốt như len lách giữa trùng trùng trái tim còn rất trẻ. Hồng hào. Tươi rói. Mỗi bận gió thổi qua, cả một rừng tim đỏ cùng réo lên cái nhịp thanh xuân.. Vói tay ngắt chiếc lá, cọ nhẹ vào môi nghe mềm mại, mặt lá ửng hồng túa ra li ti những đường gân nhỏ như ngàn mạch máu vân vi trên má ai ngày xưa, nhan sắc.

 

Những ngày nắng, thứ nắng trong vắt và hiền hòa của mùa thu, biển lá còn được dát lên ngân nhủ, nhìn xa như một bức gấm thêu hoa mà bàn tay ngọc ngà đã điểm xuyết thêm đây đó những sợi tơ kim tuyến. Mùa thu đã thay lá thành hoa. Cả một vùng núi non, rừng rậm, ao hồ… biến thành một vườn hoa không rào chắn, thứ hoa không có ong bướm cợt đùa mà chỉ có toàn gió lượn. Có lạc vào rừng thu một ngày trở gió, thấy gió bốc lên cả một khối màu sắc lung linh lung linh mới thấy cái thâm ân của trời đất. Thiên địa đâu có bất nhân. Mặt đất này toàn là thực phẩm trần gian, no được hay không chính là do lòng ta đó.

Rồi lắm khi những cơn mưa bất chợt, mưa bay nghiêng làm như nước cũng đổi màu. Mưa thu không nặng hột, chứa trong cái túi long lanh của nó những đốm xanh đỏ tím vàng, cuốn theo gió thổi, rải tung màu sắc ra trời như bông giấy rải trong mùa lễ hội. Dứt mưa, nước thấm vào thân cây đen sẩm, tàng lá đã đỏ, ửng đỏ thêm, chòm lá đã vàng, hực vàng thêm, tuyệt tác.

Những buổi chiều không mây, mặt trời mùa thu rất nguội, rải đều hết thứ nắng ấm, vàng và trong như hổ phách, mọi thứ, mọi vật kể cả cái biển lá đủ màu rồi cũng nhòa tan vào cái màu vàng lồng lộng đó. Trên những con đường qua lại, những chòm cây chụm đầu thường đồng lõa cho người ta núp bóng tình tự, bỗng chốc hực hỡ, sáng trưng vì những chiếc lá vàng ăn nắng làm cả phố lá vàng thêm. Những tình nhân e thẹn được dịp cũng muốn tung hê ra cho hết, một lần. Khu phố xưa không chừng cũng bớt đi cái vẻ cau có ủ ê của tháng năm cằn cỗi khi ngọn nắng vàng thu len vào tới những hóc hẻm bỏ quên, làm tươi lại cả những vì tường bệ cửa đã rong rêu. Đến đá xanh chừng như cũng muốn ửng vàng như lá…

Chỉ có điều, chỉ có điều, trên những hàng dây điện càng lúc càng thấy vắng bặt dấu chim… những bầy chim dần dần đã bỏ đi hết. Ngày đã thấm lạnh. Gió đã đổi chiều, từ mạn bắc thổi xuống… miên man, miên man.

 

Cái lộng lẫy rồi có phải, chẳng qua … cũng chỉ là tín hiệu của một sự tàn phai, sẽ đến.

 

Thử tưởng đến cái màu vàng trong những bức tranh của Van Gogh, thứ màu vàng nóng sốt, chói chang đến quay cuồng trong cặp mắt buồn bã của người họa sĩ mang tâm bệnh. Màu vàng của thứ nắng quái chiều hôm, rồi ra, chỉ là dấu hiệu của một ngày sắp tắt.

Mùa thu cũng vậy. Thu vàng lịm, thu tím thẩm, thu đỏ quạch… vẻ rực rỡ đó của mùa thu dường như cũng chính là cái hơi thở hắt của đất trời trước khi tịch diệt, là lần gượng dậy cuối cùng của một năm đã tới hồi mệt mỏi.

Gió trở chiều. Mưa nắng, nắng mưa mấy đổi, từng ngày ngày một lạnh thêm…

Mùa thu đã đến bằng những bước chân thật từ tốn thì khi bỏ đi, những bước chân thu lại rất vội vàng. Một sớm, một chiều…Từng chiếc lá rứt khỏi cành, vèo bay, tấp vào một vạt cỏ úa hay mắc lại trên khung cửa nhà ai đó. Lá rơi trên vai pho tượng trắng, trên ghế đá, trên bờ thạch ngoài bến nước. Lá rơi trên vai người đi bộ rảo bước, trên tóc rối người chờ người trong góc khuất công viên. Lá rơi theo mưa, thầm thì theo mưa. Lá rơi theo gió, run rẩy theo gió. Rồi khi không gió cũng chẳng mưa mà lá vẫn rơi rơi. Lá rơi, rơi hoài rơi hũy… rơi cho đến lúc chỗ nào cũng đầy xác thu vàng. Hàng ba, hè phố, mái hiên, những lối tắt, những đường ngang. Lá rụng từng chiếc một, rồi lá rụng từng chùm, từng bựng… lá rụng tất tả, rụng ngược xuôi, rụng bời bời, rụng không kịp nghỉ… Lá rụng như cả một trời thu rụng. Xanh vàng tím đỏ tung hê, tan tác. Ngày vội vã lắm rồi. Chiều tới sớm. Đêm nơm nớp đâu đây.

Dưới gốc cây phong, lá khô nằm sắp lớp. Lá thu năm nay nằm đè lên lá những mùa thu trước. Lớp đã khô dòn. Lớp còn âm ẩm. Dẫm từng bước nhẹ, có nghe không, tiếng thu kêu xào xạc. Trên những bãi lá thành phố, không có con nai vàng nào ngơ ngác, nhưng chắc sẽ có hơn một người bỗng thấy mình ngớ ngẩn khi thấy sự đổi thay quá đột ngột của đất trời. Mới đó ! Đã quạnh hiu ! Cây lá trống không. Đất trời trống không.

Ai đó đã qua đây, rồi có để lại gì không, kể cả một dấu chân đã dẫm lên mấy lần lá úa. Lá sẽ rơi lấp lên tất cả, con đường, bãi cỏ, ngõ phố, công viên, tiếng cười lanh lảnh một mùa hè, giọt nước mắt lẫn vào giọt mưa bất chợt, ngón tay cong như một lời hẹn vu vơ… Ai đó đã kể chuyện một con sên đi chôn một chiếc lá vàng, có cần không, khi mỗi bận thu qua, mọi thứ rồi chỉ còn là một phần mộ lớn. Mỗi chiếc lá là một kỷ niệm. Mỗi chiếc lá sẽ rả đi, theo hạn kỳ của nó. Mọi kỷ niệm sẽ lịm dần trong huyệt sâu của tưởng nhớ, chỉ không biết khi nào.

Vàng thu chỉ là ảo ảnh. Và tình thu chỉ là một thứ đoạn trường.

 

Mùa thu đi rồi, đi rất vội. Mùa thu đi mang theo hết với nó những niềm vui chung, chỉ còn lại những tấc lòng riêng. Những tấc lòng quạnh quẽ một mình.

Mang theo hết đi, mang theo hết đi, mùa thu.

Để lại chăng, đôi khi chỉ là một chiếc lá vàng mà ai đó ép khô giữa hai trang sách cũ, rồi bỏ quên giữa mối mục thời gian…

Làm chi mấy lớp sương thu, để hai con mắt tôi mù hướng em. Tìm đâu thấy, dấu đã chìm ?

có chăng trong xác lá lìm lịm khô….

(*) Xuân Diệu

__________________

                                                                              Ảnh trên: Thủ bút của Jacques Prévert

 

Bấm link để nghe nhạc: YVES MONTAND - Les Feuilles Mortes

 

 

Trong suốt cuộc yêu thương mà chừng như bội bạc, đã có lần nào tôi kể em nghe về một bài hát cũ mà người ta đã hát thay cho một tiếng thở dài.

 

Ờ như một tiếng thở dài vậy em.

 

Bài hát là một tình khúc nổi tiếng từ những năm 40, 50 của thế kỷ trước mà cho đến nay, hơn bảy mươi năm rồi... vẫn chưa thôi gây xốn xang trong lòng người, mỗi bận tình cờ nghe lại ...Thơ của Jacques Prévert, người thi sĩ thích đùa giỡn với chữ nghĩa như đã bung thùa tuổi trẻ mình trên đường phố Paris. Bài thơ đó, Les feuilles mortes, được viết dựa theo một điệu nhạc soạn cho vũ khúc ballet bởi Joseph Kosma rồi được dùng làm nhạc đề cho một cuốn phim của Marcel Carné. Công trình họp soạn là một cách thức phá thể, như ý muốn vượt thoát cái hiện thế điêu tàn và trì trệ của một thời vừa im tiếng súng. Ra đời trong sự thờ ơ của người đương thời nhưng rồi chẳng mấy chốc trở thành bài ca ưa chuộng của hàng triệu người khắp nơi trên thế giới.

 

Trong số đó, hẵn không ít kẻ đã nghe ra như một niệm khúc cho riêng mình. Bài hát được trình bày theo thể điệu Jazz, nhịp bốn-bốn mở đầu với cung trưởng và kết thúc bằng cung thứ, với những chuyển cung vừa lả lướt vừa điệu nghệ, những âm giai thay đổi lên xuống bất chợt, có khi đẩy nốt nhạc lên tới quảng 5 quảng 8 làm như mỗi nốt nhạc là một chiếc lá lìa cành, bay chập choạng rồi để mặc gió cuốn đi vất vưởng ... vất vưởng như những tình nhân trong cuộc xô đẩy phũ phàng của định mệnh.

 

Nếu có dịp may một lần nào nữa, tôi sẽ lục tìm để cùng em nghe lại, Yves Montand... Giọng nam, khàn đục như quến khói, trầm uất như thoát ra từ một cõi đời đã lạnh. Bài hát mở đầu không bằng tiếng ca mà bằng mấy câu thơ được đọc lên như chỉ để nói thầm, như chỉ nói cho mình mình nghe. Dù ngay câu nói đầu tiên đã bật ra một tiếng gọi. Đại danh từ ngôi thứ hai. Tu. Em. Có điều tiếng gọi chìm lấp trong âm sắc u ẩn của giọng kèn saxo, làm người nghe có cảm gíác dường như người được gọi đã lánh mặt vào một cõi đời nào khác. Oh, je voudrais tant que tu te souviennes. Des jours heureux quand nous étions amis. Bởi vậy rốt lại chỉ còn là một lời độc thoại mà sao nghe ra thủ thỉ như o ấp từng chữ một, làm như người kia đâu đó ... vẫn kề bên. Tôi mong ước làm sao cho em còn nhớ lại. Những ngày hạnh phúc khi chúng ta sống bên nhau. Những ngày tháng đó, đời đẹp biết bao nhiêu. Và mặt trời ấm áp hơn bây giờ rất nhiều

 

Oh, je voudrais tant que tu te souviennes,

Des jours heureux quand nous étions amis,

Dans ce temps-là, la vie était plus belle,

Et le soleil plus brûlant qu'aujourd'hui.

Les feuilles mortes se ramassent à la pelle,

Tu vois, je n'ai pas oublié...

Les feuilles mortes se ramassent à la pelle,

Les souvenirs et les regrets aussi

Et le vent du nord les emporte

Dans la nuit froide de l'oubli.

Tu vois, je n'ai pas oublié

La chanson que tu me chantais.

 

Rồi cả dàn nhạc trổi lên quấn quýt theo tiếng kèn đồng não nuột đưa đẩy cho tiếng hát vuột ra, bộc bạch từng nỗi xót xa

 

... C'est une chanson qui nous ressemble

Toi, tu m'aimais et je t'aimais

 

Tiếng hát so đo từng lời, kể lể từng chữ như muốn phanh phui từng nghĩa, mơn trớn như hơi thở nồng nàn mà âm vọng lại nằng nặng như bàn tay gầy, thô, ve vuốt lên miệng một vết thương chưa lành, ve vuốt mà làm đau râm ran theo từng ngón vỗ về. Tiếng hát lặng lờ bay đi, tiếng buồn dội lại đè nặng lên lồng ngực, ray rứt như tiếng nứt rạn của mặt băng dưới sức ép của thời tiết đổi mùa. Nhịp slow chậm, trì trì như ngày tháng mỏi mòn dẫm đau lên những đợi chờ đã vô vọng

... Mais la vie sépare ceux qui s'aiment

Nhưng rồi cuộc đời chia cách những người yêu nhau

Tout doucement, sans faire de bruit

Lặng lẽ chẳng để lại một tiếng vang

 

Nghe như một tiếng thở dài hơn là một điều than oán. Chỉ là một tiếng thở dài. Rất lặng lẽ. Không một trách móc. Không một oán hờn.

Et la mer efface sur le sable

Les pas des amants désunis.

 

Và rồi biển cả xóa dần những dấu chân trên cát của những cặp tình nhân bị chia lìa.

 

Có phải đã xa rồi, xa lắm rồi, ngày tháng đó, mùa hè ấm, góc phố xưa, đêm lễ hội gần tàn, ly rượu cuối ngày ngoài hiên một quán thưa khách, nghiêng đầu bụm tay che gió thắp thêm điếu thuốc, vừa khi ngẩng lên, bất chợt, một thoáng hiện... Ai kìa. Bỗng dưng trăm dấu nhớ. Tim hụt nhịp. Dáng nữ kiêu sa. Mái tóc rối gió vẫn nguyên đường ngôi chẻ lệch. Tia nhìn lặng mà lao xao réo gọi. Ờ hai con mắt vốn đã xốn xang, bây giờ se thắt thêm mấy dấu chân chim đã mỏi. Ơ .. ơ ... có phải là ... ? Ồ ! Em ! Rồi vòng tay siết vội. Phút chốc, hương mùa yêu cũ. Tiếng cười nhẹ trên đôi môi đã thiếu phụ. Khóe mắt rươm rướm hồ như đọng một thoáng sương đêm. Rồi bỗng nhiên hiện tại nhòa đi. Rồi cả một quá khứ bỗng ùa về... Mấy chục năm trời biệt dạng. Một tích tắc, nguyên vẹn như thuở... ngày xưa.

 

Như vậy đó chúng ta gặp lại. Bất ngờ như mọi thứ tình cờ. Đêm còn lại toàn dấu tích.

 

Hai mươi lăm năm bỗng như chớp mắt. Tình yêu trở ngược mạnh như cơn gió dữ, thổi tan hết mọi ngại ngần.

Và rồi... nụ hôn không kềm giữ dưới chân bức tường đá, cũ từ đã trăm năm. Quá khứ trùng vây. Tương lai bất định. Mặc kệ. Ôi nụ hôn mang đôi cánh thiên thần đưa người ta vượt cõi trần gian tù ngục. Phút chốc mà thiên thu. Phút chốc thành định mệnh.

 

Ờ, tôi nghĩ em còn nhớ. Dù bây giờ chúng ta đã xa nhau như hai tinh cầu thất lạc. Xa đến nỗi khoảng cách không tính được bằng lời. Dù vậy làm sao mà quên được hả em. Những giây phút mà người ta chỉ sống một lần, trong một đời. Làm sao quên được em, dù trí nhớ là thói quen bạc bẽo nhất của con người. Năm ba năm, mười mươi năm, rồi bây giờ, những ngày tháng cuối, tôi vẫn còn nhớ. Dù như những chiếc lá khô rụng lả tả đã được xúc đi từng bựng. Kể cả những kỷ niệm và ngay cả những hối tíếc đã bị thời gian cuốn đi rồi lấp kín trong bóng tối thăm thẳm của lãng quên. Tôi nghĩ em vẫn còn nhớ. Cũng như tôi.

 

Mùa hè năm đó. Oh, je voudrais tant que tu te souviennes. Cả một thế giới mênh mông bỗng thu nhỏ lại. Giờ giấc nhập nhằng không còn định được bằng dấu mốc của thời gian. Mặt trời mặt trăng sông nước núi non góc đường nẻo phố, mọi thứ trở nên thừa thải. Chúng ta có cần đến đâu. Hoa lá cỏ cây dù đương lúc mãn khai cũng không còn sức quyến dụ. Mùa hè năm đó. Khi chúng ta có nhau. Khi chúng ta bên nhau. Sau hai mươi lăm năm bặt tung tăm tích. Mùa hè đó. Thời tiết mùa màng đã vì chúng ta mà rạng rỡ. Những lọn nắng vàng cứ tha thiết vờn lên mái tóc em ngoan. Những ngọn gió ấm từ phía nam thổi tới ve vuốt hoài hai bờ vai bỏ hở. Trong tay tôi, em phó mặc mọi điều. Trong nhau, chúng ta quên hết mọi thứ. Chiến tranh. Nghề nghiệp. Bổn phận. Trách nhiệm. Giáo điều. Hết thảy mọi thứ đã kéo dạt chúng ta ra hai phía suốt hai mươi lăm năm đằng đẳng. Chỉ còn tôi. Chỉ còn em. Chỉ còn chúng ta. Ôi mùa hè năm ấy.

Des jours heureux quand nous étions amis,

Dans ce temps là, la vie était plus belle,

.......................

Nous vivions, tous les deux ensemble,

Toi qui m'aimais, moi qui t'aimais.

 

Với nhau mọi thứ đều trở nên tuyệt vời. Em nhớ không. Có phải khi hạnh phúc người ta trở nên dễ tánh. Có nhau, người ta có cần gì hơn nữa đâu. Ngay cả miếng bánh chiên ăn vội bên lề đường. Ngay cả ngụm cà phê bán trong ly giấy, tay cầm, tay quàng lưng nhau vừa đi vừa uống, len lách qua đám đông mỗi bận xuống phố. Ngay cả căn phòng khách sạn nhỏ xíu như cái tổ chim tìm mướn vội vàng, khi trời hửng sáng bữa gặp lại, sau gần một đêm thức trắng đưa nhau lội lang thang qua những đường phố vắng tanh. Kể lể. Phân trần. Nhưng có cần đâu. Trong tận cùng cái góc kín nhất của lòng nhau, đã có bao giờ chúng ta mất nhau. Suốt đoạn trường đó. Bởi vậy khi gặp lại, hạnh phúc như chút bọt bèo vớt vát được sau cơn hồng thủy thành ra giản dị biết bao nhiêu. Giản dị đến độ nhỏ nhoi, đến gần như vô nghĩa. Chỉ cần sự có mặt của nhau đã là nguồn cơn hạnh phúc. Mùa hè đó, mọi thứ trở nên hoàn hảo. Ngay cả mặt trời dường như ấm hơn mọi khi. Làm sao không ấm hơn khi tình yêu luôn là ngọn lửa hừng hực, đốt cháy da thịt người trong suốt cuộc yêu đương.

Et le soleil plus brûlant qu'aujourd'hui

Em nghĩ coi. Có phải những câu hát đã nói giùm ta như vậy.

 

Làm sao quên hả em. Người đã yêu tôi thầm kín thời con gái, từ hai mươi lăm năm trước.

Làm sao biết được, thoáng yêu rồi... rồi mất biệt nhau luôn.

Dòng đời trôi xa. Em lưu lạc đâu đâu. Tôi xô dạt phương nào. Ai biết được. Vậy rồi, dưng không, chúng ta gặp lại nhau.

 

Thử hỏi, trong suốt khoảng thời gian thăm thẳm đó, có lần nào nghe ngóng được chút tăm hơi. Vậy mà gặp lại rồi, y như mới hôm qua hôm kia. Y như 4 giờ sáng bữa mới vào xuân, chuyến xe liên tỉnh, đèn ngoại ô vàng không giấu được nét hốt hoảng trong mắt nhìn bỗng dưng thất lạc, bàn tay níu không muốn rời như dự cảm một hiểm họa chực chờ, buổi sáng em đưa tôi về quê. Rồi tai ương ụp xuống. Rồi quốc lộ bị cắt đứt. Rồi tù tội. Rồi biển xa. Rồi thôi. Rồi thôi. Dẫu vậy làm sao người ta cắt đứt được một thứ không thể cắt đứt. Sau hai mươi lăm năm. Mọi thứ vụt nối lại như chưa từng bị bứt rời.

 

Dù hai mươi lăm năm có ngắn đâu em. Hai mươi lăm năm dài lắm, dài đằng đẳng. Dài đến nỗi em đã là thiếu phụ. Nghĩ cho cùng hai chữ thiếu phụ buồn lắm em. Tôi có muốn nghĩ tới đâu mà rồi cứ phải đắn đo, mỗi lượt gặp nhau.

 

Trong tình yêu, có chi mà trách cứ. Người ta tìm đến nhau, đâu có ai mời gọi ai, đâu có ai kéo níu ai. Trong tình yêu, người ta tìm đến nhau rất tình cờ. Tình cờ như hằng hà sa số lần gặp gỡ trong cõi đời nghìn muôn vạn nẻo này. Rồi người ta xa nhau. Cũng tình cờ như hằng hà sa số chuyện đổ vở kể từ khi người ta biết yêu nhau.

Làm sao người ta dự đoán được sẽ gặp nhau, rồi yêu nhau, rồi xa nhau... buổi sáng mai, lúc chiều xuống, giữa khuya hôm... đầu mùa xuân, bữa cuối thu hay ngay giữa ngày đông mà ai cũng cần một vòng tay ấm...

Tất cả rồi chỉ là trò chơi của định mệnh. Và con người, con người rồi ra chỉ là những chiếc lá rơi trong vòng xoáy của cơn gió vô tình...

 

Mặc kệ những hẹn thề hay bội ước, bất kể sắt son hay ruồng rẫy, cho dù thắm thiết hay lạt lẽo, rồi hạnh phúc hay khổ đau, tất cả, tất cả cũng chỉ là hai mặt của một đồng tiền đang quay tròn, quay tròn hết sức mình. Sấp. Ngửa. Sẽ đến lúc, một lúc nào đó, vòng quay phải ngừng lại. Và tất cả, những người yêu nhau, và tôi và em, ai có phần nấy ...

 

Dẫu vậy, em thấy đó, làm sao tôi có thể quên...

Tu vois je n'ai pas oublié.

( dù như ) vô số những chiếc lá chết được xúc đổ đi,

Les feuilles mortes se ramassent à la pelle,

những kỷ niệm yêu dấu của chúng ta, ngay cho dù là những tiếc nuối

Les souvenirs et les regrets aussi,

cũng sẽ bị gió từ phương bắc thổi về cuốn đi

Et le vent du nord les emporte,

chôn kín hết vào bóng tối lạnh lùng của quên lãng

Dans la nuit froide de l'oubli.

Vâng, tôi có quên đâu. Nhưng dẫu vậy, tôi có giữ lại được gì khi đời sống như biển lạ. Và những tình cờ như những con sóng vô tình cứ vổ vật vờ lên bờ bãi đời ta. Mọi thứ rồi chỉ là bọt bèo trôi tắp theo đẩy đưa bất định của dòng đời miên viễn... không khởi đầu cũng chẳng chung cuộc. Ai nói được sẽ ra sao... ngày sau ! Bởi vậy oán trách gì nhau khi hạnh phúc đã chứa sẵn mầm thiên tai. Trong tái ngộ đã hiển hiện lần ly biệt. Đã có lần Nguyễn Đình Toàn và Vũ Thành An nhắc nhở... ngày thần tiên em bước lên ngôi, đã nghe son vàng tả tơi...Tại chúng ta quàng vai đun đẩy nhau vào khu vườn cấm ... Ôi những cánh dơi mù lòa ... đáng thương. Và đáng trách ? Không, tại sao ... Tại sao oán trách khi yêu đương đã là viên đá mà lời sấm rủa đã bắt Sisyphe phải lăn lên tới chót đỉnh trong khi cái chỗ của nó là ở dưới chân núi. Bởi vậy khổ dịch của Sisyphe có phải là số phận của những tình nhân yêu thương nhau trong tuyệt vọng. Như... tôi và em. Không gặp. Đời có gì vui. Gặp. Đời như nhắp chút rượu thơm rồi dư vị đắng chát cặn lại không thôi. Nhịp đời nặng thê thiết như một điếu khúc được phát ra từ một đĩa hát cũ được quay đi quay lại. Đã dặn em đừng chờ đừng đợi. Nhưng sao vẫn cứ chờ cứ đợi. Đã nhắc tôi đừng đợi. Nhưng sao vẫn cứ đợi cứ chờ. Ôi những cánh dơi mù lòa ... Bởi vậy, gặp lại rồi, rồi lại phải xa nhau. Xa nhau mãi. Mãi mãi.

Tu vois, je n'ai pas oublié,

Em thấy đó, tôi đâu có quên

La chanson que tu me chantais...

Bài ca em đã hát cho tôi nghe

C'est une chanson, qui nous ressemble,

Khúc hát giống hệt như chúng ta

Toi qui m'aimais, moi qui t'aimais.

Em, người đã yêu tôi, và tôi, đã yêu em

Nous vivions, tous les deux ensemble,

Chúng ta, cả hai chỉ là một.

 

Dẫu vậy em thấy đó, tôi có quên đâu. Những gặp gỡ len lách. Những hẹn hò tránh né. Những kỷ niệm. Bài hát lần nào em đã ru tôi giữa gối chăn xô lệch. Thần tiên gảy cánh đêm xuân. Bước lạc sa xuống trần. Thành tình nhân đứng giữa trời không. Khóc mộng thiên đường. Câu thơ nào tôi đã viết lên bóng tối từng trang thương nhớ sau những ngụm rượu đắng từng đêm. Ta sẽ chờ nhau giữa mịt mùng. Khi ngày mất tích đêm thất tung. Khi năm khánh kiệt đời tuyệt tận. Em bồ tát khóc lệ bao dung. Và còn bao nhiêu trang chữ chưa bao giờ viết ra. Mà làm sao viết ra cho hết, nỗi lòng tôi, tâm sự em. Tình yêu trễ muộn của chúng ta. Dù ngay từ lần đầu tiên gặp lại, làm sao chúng ta không biết, con đường chúng ta đi sẽ là con đường khổ nạn. Và em, em sẽ là người mang đội vòng gai. Con đường em đi sỏi đá, đồi Golgotha dốc ngược, chân trần, em dang thân gánh tội để đền tôi. Làm sao đây em, làm sao nói được hết, uẩn khúc em, oan nghiệt tôi. Đời bủa vây giữa trùng trùng oan trái. Và chúng ta, ôi những cánh dơi mù, bay chập choạng giữa mịt mùng cạm bẫy. Hạnh phúc giương tay đón gọi rồi xô giạt người tới phũ phàng. Hạnh phúc rót mời từng ly rượu ngọt pha dậm cường toan. Rượu càng nhắp càng say, độc dược càng ngấm. Từng ngày qua, từng đêm tới. Mỗi một ngụm tình là một tự hủy. Càng lúc chúng ta càng hốt hoảng khi tình yêu và cuộc đời như hai mặt của một lời chúc dữ. Người ta chỉ được chọn lựa một trong hai. Không bao giờ được cả đôi. Đó có phải là thân phận bất toàn của chúng ta, con vật người trần trụi và hèn mọn trước quyền lực của siêu nhiên... Em thấy đó. Tình yêu của chúng ta, thứ của cải vô giá của chúng ta, có đáng gì đâu so với sức tàn phá mãnh liệt của thời gian, ép uổng của định mệnh, xô đẩy bất chấp bởi những tình cờ chẳng ai ngờ được. Chúng ta sống chết, thù hận hay yêu đương, hạnh phúc hay đau khổ cho đến gặp gỡ hay biệt ly... cũng chỉ là cười khóc múa may như những hình nhân vô tích sự. Mình có quyết định được gì cho số phận của mình đâu. Tôi. Em. Đã có ai chờ đợi ai như chúng ta đã chờ đợi nhau. Đã có ai tặng cho nhau nỗi đắm say, niềm quyến luyến... và nhất là tiếng cười lanh lảnh của tuổi trẻ tìm lại được từ sau những mất mát vì thời cuộc như chúng ta đã tặng cho nhau. Vậy mà, em ơi, rồi cũng có mấy ai được may mắn như gã Thôi Giao trong tích xưa. Hầu môn nhất nhập thâm như hải. Tòng thử Tiêu Lang thị lộ nhân. Có phải đã một lần bước chệch khỏi đời nhau là mãi mãi như hai tinh cầu đã bay lệch vào hai hướng khác nhau. Chuyện sum hợp chẳng qua chỉ là một thứ huyền thoại để tự vỗ về của những tâm hồn đã hơn một lần tuyệt vọng. Mùa hè năm đó qua đi, dòng đời quay trở lại cái vòng quay bất tuyệt của nó. Và chúng ta, chúng ta như hai viên sỏi bọt bèo bị bắn văng ra hai hướng bởi cái sức ly tâm tàn nhẫn của đời sống với mọi thứ định chế từ đã ngàn đời. Tội nghiệp em. Tội nghiệp tôi. Chúng ta yêu quý nhau biết bao nhiêu. Chúng ta mê đắm nhau biết bao nhiêu. Vậy mà ...

Toi qui m'aimais, moi qui t'aimais.

Cuộc đời cắt chúng ta ra làm hai mảnh, ném đi hai ngã không chút nương tay. Cuộc đời xô chúng ta ra hai hướng chẳng thèm chút ngó ngàng. Chia đôi một cặp tình nhân đắm đuối như phủi một hạt bụi váng vất chẳng làm cau một nét mày.

Et la vie sépare ceux qui s'aiment,

Tout doucement, sans faire de bruit.

Đành đoạn.

 

Nghe lại đi em, một lần nữa, đoạn cuối của bài nhạc, tiếng kèn đồng vút lên rồi chùi xuống thê thiết, như muốn dìm sâu hết mọi dấu tích tình nhân vào mớ dư âm đang dần dần lịm tắt. Mọi dấu vết, kể cả những kỷ niệm cho dù nhạt nhẽo nhất vẫn không thoát khỏi những lượn sóng thời gian xô dạt vào quên lãng... Như sóng biển cứ xóa hoài những vết chân trên cát, những dấu chân sóng đôi đã dìu nhau qua đó, một lần nào ...

Et la mer efface sur le sable,

Les pas des amants désunis.

Rồi còn lại gì, còn lại gì đâu, những mắt rủ môi mời, những ngọt lời đẹp ý, những nhắc nhở nôn nao, những đổi trao tha thiết, những đắp đổi đền bù, và ... và những tay quíu chân kềm khi đêm mê đắm vở òa hạnh phúc ... Còn gì đâu ... có còn lại gì đâu ...

 

Dẫu vậy, như đã tự hứa với chính mình, tôi sẽ giữ mãi trong tôi, dù chỉ là những hình ảnh, dù chỉ là những vang bóng của mùa hè năm ấy, khi tay trong tay, chúng ta đi những bước thênh thang ngay trên con đường thập giá, giữa những nguyền rủa của số mệnh và bây giờ giữa những tang thương sót lại sau những mất mát không thế nào, không có gì, bù đắp lại được. Nhen em, lời tôi kể lể nghe ra như một tiếng thở dài hơn là một điều than oán. Như chính bài hát cũ. Chỉ là một tiếng thở dài. Rất lặng lẽ. Không một trách móc. Chẳng một oán hờn.

 

...............................

 

Em biết không, câu kết của bài thơ, dù không được nhắc đến trong bài hát, vẫn là một lời hứa, dù chỉ là ... hứa với chính mình

Et la chanson que tu chantais

Toujours, toujours je l'entendrai!

Và bài ca em đã hát cho tôi nghe lần nào, tôi còn nhớ...

... hoài hoài!

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

* từ đó đến nay, bài hát đã được trình diễn hơn 600 cách thức khác nhau. Bài nhắc ở đây là phiên khúc do Yves Montands hát từ những năm 50

____________________

                                Tháng chín, mùa thu...

                                         ... Ở hai đầu nỗi nhớ!

 

 

 

Tháng chín. Tháng của rỉ rả mưa đêm, của lả chả cánh phượng và hiu hiu mùa chuyển.

Tháng chín. Tháng của líu ríu chim sẻ rủ nhau bỏ đi và xôn xao học trò xôn xao rủ rê trở lại.

Tháng chín ... khi lá ngoài đường rụng nhiều và trên không có những đám mây bàng bạc...

Tháng chín bây giờ, xứ lạ đã thành quen và tháng chín hồi đó, rất quen mà như chừng đã lạ.

Tháng chín ở một thành phố nhỏ, giữa miền Nam nắng cháy mưa lầy, nơi tôi đã sống lụy như tình nhân và tấm tức bỏ đi như người bị ruồng rẫy.

Tháng chín ở đó với không biết bao nhiêu là kỷ niệm của những mùa thu giả tưởng. Lá thư tình ngây ngô viết vội cuối tháng sáu khi trường học sắp đóng cửa và cô bạn mắt-nai-tóc-thề sắp sửa hành lý về quê. Trời nắng rực sửa soạn vào hè mà quýnh quáng quơ vội quơ vàng phong vị mùa thu vào trang giấy học trò để tả tình tả oán về nỗi nhớ-thương-học-lóm của chim xa-bầy-thương-cây-nhớ-cội. Cũng chẳng nhớ rồi lá thơ nhét trong tập sách cho mượn có nhận được hồi âm ? Mà điều có cần đâu. Cái thuở bạ đâu thích đó, có biết vân mồng gì đâu cái-gọi-là-tình-yêu.

Ôi những mùa-thu-giả-bộ ở cái tỉnh nhỏ êm đềm, sớm chiều như ngái ngủ. Thời tiết chuyển mùa mơ hồ như có như không. Nắng rồi mưa, mưa rồi nắng. Vậy mà lòng con trai mới lớn cứ phiêu bồng như lãng tử chạy đuổi theo mùa màng cho được. Thật ra có gì khác lạ đâu ở bên ngoài lòng người. Nhiều lắm là chút khang khác giữa cái nóng hừng hực và cái nóng hâm hấp, màu xanh rì của tàng lá xum xuê và màu xanh thoang thoáng của chùm lá non mới trổ. Vậy mà mỗi lượt nghe ai đó cất giọng rầu rĩ thu-đi-cho-lá-vàng rơi ... là bụng dạ lại cứ nao nao ... làm như nghe được cả tiếng chân thu đang chuyển dịch sẽ sàng. Chỉ tại cái lòng quá mơ mộng. Hay tại vì nhịp mùa có chuyển cũng chuyển từ trong tâm tưởng. Trời đất thay đổi rất vô tình. Tại mình tiếp tay với trời đất cho nên mùa màng mới có chuyện. Xứ sở đâu có bốn mùa vẫn cứ cố bày ra cho được. Trời miền Nam quanh năm suốt tháng nắng nướng dòn da mà cái đầu thì cứ mê muội bày đặt đủ thứ tứ thời tám tiết. Hết xuân hồng ta muốn cắn vào ngươi đến anh vẫn thấy em ngồi đây tóc ngắn mà mùa thu dài lắm ở chung quanh ... Mình lợi dụng trời đất vào tình riêng riết rồi lậm lúc nào không hay. Đến nỗi hể nghe xuân tới là cứ rậm rật hy vọng mà nghe tin thu về thì lại đâm ra buồn ngẩn buồn ngơ, buồn tới lơ ngơ cả ngày.

Truy cho ra nguyên ủy, chắc cũng đã xa lăm lắm, đâu từ đời Đường đời Tống bên Tàu, có thể gần hơn một chút thì Lamartine với Chateaubriand bên Tây. Gần hơn chút nữa thì cũng cỡ những năm 20 khi bà Tương Phố viết Giọt lệ thu buồn đến ngất ngư làm cái đám sanh sau đẻ muộn lỡ học phải rồi cũng đâm ra sầu thu đến chảy nước mắt, từ đó. Ai biểu.

 

Vài chục năm sau, ở một thành phố nằm trên vĩ độ 45 bắc, đột nhiên giữa một buổi chiều cuối tháng chín, tôi thấy mùa thu thật sự trở lại. Đúng ra chắc cũng đã rục rịch từ nhiều ngày trước mà không ai hay, từ bên kia dãy núi chắn ngang phía bắc thành phố. Ở đó rừng núi mênh mông, cây lá mênh mông, mặc tình cho trời đất xun xoe làm dáng. Ở đó, trên những chỏm núi ngất ngưởng cao đã thấy quầng thâm những ngụm mây xám. Và ở đó, chắc cây lá cũng đã len lén đổi màu từ khi mặt trời cứ bỏ đi ngủ sớm. Ở dưới này, giữa lòng phố, ngày đã ngắn lại đâu từ giữa tháng, mỗi ngày một chút. Và gió cũng đã đổi hướng, mỗi lúc một lạnh. Lòng người ta bén nhạy còn hơn đài khí tượng, đánh hơi mùa từ khi máy móc chưa kịp tính toán xong.

Vậy đó, một buổi chiều cuối tháng chín, tôi bỗng thấy mùa thu trở lại. Mặc dù mùa hè còn nấn níu chưa chịu bỏ đi.

 

Bắt đầu là một cơn gió lạ. Cũng không biết từ đâu thổi tới. Chỉ biết khi tôi thấy thì nó đã ra tới giữa lòng đường. Lúc đó đâu khoảng giờ cơm chiều nên lòng đường trống trơn, duổi dài như một cánh tay buông xuôi sau khi đã vật vã mệt nhoài với mớ xe cộ hối hả qua lại lúc nãy, khi tan sở. Mặt đường xám ngắt, lì lì giữa hai hàng cây im sững. Cơn gió lách tới bất ngờ, qượn qua qượn lại một chút rồi bốc thẳng lên, mang theo nhúm bụi mờ và một chiếc lá vàng nằm sẵn đó tự hồi nào, thổi ngược vào lề thả lá bay vất vưởng một đổi rồi bỏ mặc chiếc lá khô nằm chết bên cạnh về tường nứt nẻ. Cơn gió bỏ đi để lại chút gay gay lạnh trên cánh tay trần của người khách bộ hành vừa trờ tới. Một chút động đậy thôi trong một giờ chiều rất tịnh, bỗng nhiên làm quậy lên lao xao một cái gì rất lạ. Một cái gì rất mơ hồ, nhẹ hửng, chẳng đâu ra đâu vậy mà như đủ sức khều dậy giữa lòng người một ý niệm, hay đúng hơn, một ấn tượng ... Ngô đồng nhất diệp lạc. Thiên hạ cộng tri thu.

 

Vậy rồi đâm ra buồn ngang buồn ngửa, buồn ngất trên vai áo theo kiểu của thi sĩ du tử họ Lê.

Mà buồn cái gì ? Mùa thu ở vùng đông bắc Mỹ châu này rồi sẽ đẹp gần chết mà buồn nỗi gì. Trời hanh nắng, gió hiu hiu lạnh, khoác hờ chiếc áo dạ đen bỏ hở hàng nút, kéo cao cổ áo phủ ót, một tay đút túi, một tay quơ quơ hốt nắm sương la đà, thả cho đôi chân lang thang, rồi học đòi Hồ Dzếnh nhớ nhà châm điếu thuốc khói huyền bay lên cây là hết sẩy. Nhất là ngay lúc đó, trời đất đang rục rịch chuyển mình. Lá xanh không còn xanh nữa. Ngàn lá, triệu lá, triệu triệu chiếc lá như có hẹn tự bao giờ rủ nhau thay sắc. Xanh vàng tím đỏ rồi xanh xanh vàng vàng tim tím đo đỏ. Rồi nâu, rồi nâu nâu. Rồi cả những sắc màu pha trộn không gọi được tên lao xao dưới nắng thu trong như hổ phách. Dẫu có loạn thị cách mấy cũng phải chịu là đẹp. Vậy tại sao lại còn đòi buồn đòi tủi !?

 

Ờ ... thì đẹp. Mà điều cái đẹp là cái bây giờ, ở đây. Còn cái buồn là cái hồi đó, còn vận đến chừng này, trong tâm tưởng.

 

Ngoài hiên giọt mưa thu thánh thót rơi. Trời lắng u buồn mây hắt hiu ngừng trôi. Nghe gió thoảng mơ hồ trong mưa thu, ai khóc ai than hờ ...

Đố ai đã từng nghe Giọt mưa thu của Đặng Thế Phong một lần mà không thấy bùi ngùi tới xót ruột. Nhất là ở cái thời mới lớn. Lạ lắm. Tình buồn, nếu có là của riêng người nhạc sĩ. Ông sống cái mùa thu của ông ở đâu tận ngoài bắc xa mù mà rồi qua mấy nốt nhạc ông xô ùa cái mùa thu chưa từng đó vào lòng đám trẻ mới lớn ở miền Nam cái một. Từ đó, ở miền Nam có một mùa thu.

Rồi suốt dọc theo thời tiền chiến, cái mốt mới gọi là lãng mạn theo ông Tây đổ dập sang, cuốn theo không biết bao nhiêu là hồn thi văn nhân nhạc sĩ kèm theo đó là cái mớ độc giả khán thính giả bị “lây lan”. Khỏi nói lãng mạn với mùa thu là một cặp bài trùng anh-đâu-em-đó. Đã lãng mạn thì chạy đâu cũng không khỏi mùa thu.

Đoàn Chuẩn-Từ Linh. Lá đổ muôn chiều. Thu đi cho lá vàng rơi. Lá rơi cho đám cưới về. Người em nhỏ bé ngồi trong thuyền hoa tình duyên đành dứt ... Cưới hồi nào không cưới đợi ngay tới cái lúc thu-đi-cho-lá-vàng-rơi rồi hè nhau bỏ bến cũ ôm tinh sang thuyền khác. Cứ như vậy đó hỏi làm sao mùa thu không tạo ra những cõi-lòng-mít-ướt.

Rồi dọc theo cái thời tập tành làm người lớn, chập chững chân trong chân ngoài con đường tình ái hẵn là không biết bao nhiêu mùa thu nữa lãng đãng theo mấy nốt nhạc làm phông cho chàng trẻ tuổi thả trái tim mình ba chìm bảy nổi theo mấy dòng tóc mây thu. Dĩ nhiên là chắc chìm nhiều hơn nổi cho nên rốt lại cứ nghe tới thu là đâm ra rầu miết.

 

Đến khi Phạm Duy đem nhạc phổ thơ Adieu * của Apollinaire thì ôi thôi chắc mẻm thu ơi thu sao mà buồn lắm vậy. Em ngắt đi một cùm hoa thạch thảo. Em biết cho mùa thu đã chết rồi ... Mùa thu đã chết ...

Adieu của Apollinaire vỏn vẹn có năm câu, nhắc đến chuyện chết của mùa thu một lần. Rồi báo động chuyện người ta sẽ không còn gặp nhau trên mặt đất này nữa mới là hệ lụy. Nhưng rồi khi phổ nhạc, chắc do điều kiện hoà âm phối khí gì đó tôi mù tịt, bài nhạc phổ thơ cứ kêu rêu làm như mùa thu chết đi chết lại tới năm lần ... bởi vậy mà nghe tới nghe lui, phòng trà quán nhạc tiệm kem vũ trường nào cũng in hệt một lời cáo phó của mùa thu ... Mùa thu đã chết ...ngon ơ. Chết thì buồn là cái chắc.

 

Thêm nữa, hồi đó, những năm sáu mươi bảy mươi, mấy ông nhạc sĩ tài hoa của chúng ta hẵn cũng rất lậm mùa thu. Chuyện gì không biết, mà hể nhắc tới tình lở tình trễ tình phụ tình hờn ... là thẳng tay kéo mùa thu vào cho được. Làm như thất tình vào mùa thu thì rõ chắc là thất tình, không có cải chối gì được. Nghe thử một bài cũng rất thịnh hành hồi đó coi. Y chang. Biệt xứ hồi nào hổng biết, mà khi trở lại phố xưa tìm về dĩ vãng là chàng nhớ lại chuyện dang dở của mình : nàng đi lấy chồng cũng vào một ngày mùa thu. Điệp khúc ** nhắc rằng ... thu đến thu đi cho lá vàng nhẹ rơi, em theo bước vè nhà ai ... Cũng lại mùa ... thu ! Thu buồn thu khổ thu sầu thu tủi thu hờn thu hận ... trăm chuyện đổ đầu thu. Ngay cả có khi đã bỏ nước ra đi, lang thang tuốt đâu bên Paris long lánh ánh sáng mà cũng không thoát khỏi cái mùa thu ảm đạm này.

Phạm Trọng Cầu. Em ra đi mùa thu. Mùa thu không trở lại. Em ra đi mùa thu. Sương mù giăng âm u. .. Ngày em đi nghe chơi vơi não nề qua vườn Luxembourg ...

Thiệt là chạy-trời-không-khỏi-nắng ... thu !

 

Mà đâu chỉ vậy thôi. Nhạc đã vậy, còn văn thơ thì khỏi nói. Trong một chục bài văn thu với thơ thu thì đã có tới chín mươi chín phần trăm nói về thu buồn thu khổ thu sầu thu tủi thu hờn thu hận ... thu nước mắt ngắn nước mắt dài ... ( đến nỗi mới nghe tới hơi thu là đã ngửi ngay ra mùi ẩm mốc, dầu rằng thiếu chi ngày thu khô ráo )

Hãy nghe bà Tương Phố ở cái thời mà tâm sự đàn bà còn giấu kín hơn cả giấu hột xoàn cũng đã đem thu ra than van thảm thiết ... về với anh mùa thu, tiễn đưa anh mùa thu, mất anh cũng lại mùa thu, cho nên mỗi năm cứ đến độ thu sang thì em lại bồi hồi nhớ trước tưởng xưa mà lòng thu một tấm cũng ngây ngất sầu ... thì đến đá tảng khi đụng tới mùa thu cũng phải rã rời nói chi trái tim con trai mới lớn mềm còn hơn mấy sợi bún thiu.

Tới ông Tản Đà, thì thu thiệt tình là buồn đến hết nói. Trận gió thu phong rụng lá hồng. Lá rơi tường bắc lá sang đông. Hồng bay mấy lá năm hồ hết. Thơ thẩn kìa ai vẫn đứng không. Đâu mà toàn là chuyện trắc trở với lại phòng không chiếc bóng. Nghe mà nhảo cả người.

Rồi Nguyễn Bính giang hồ rất mực, ra bắc vào nam như cơm bữa mà lại cũng chọn cho được ngay mùa thu để thất tình. Tôi về gom hết ba thu lại. Đốt hết cho cô khỏi thẹn lời.

 

Thậm chí ngay cái hồi chưa có chữ viết, chỉ mới bịa chuyện bằng môi miếng kể cho con nít nghe cho ... vui mà rồi cũng hổng ̣được vui trọn. Tại vậy mà mới nứt mắt ra là ngốn không biết bao nhiêu chuyện tình có oan gia với mùa thu. Mở đầu là câu chuyện của anh chàng chăn trâu Ngưu Lang với cô nàng dệt vải Chức Nữ. Yêu chi mà yêu khổ. Yêu chi mà một năm ba trăm sáu mươi lăm ngày chỉ cho gặp nhau có mỗi một lần. Mà rồi còn phải cậy nhờ bầy chim ô thước nối cánh bắt cầu cho qua sông Ngân tái ngộ. Đêm mùng bảy tháng bảy. Khóc mừng hay khóc tủi mà lụt lội trần gian.

Gió xa xôi vẫn về

Mưa giăng mù lê thê

Đến bao năm nữa trời ...

... Vợ chồng Ngâu thôi khóc vì thu ***

.....................................

Mà thôi, tàm tạm vậy đi, chớ mà lục cho hết trong mớ văn thơ năm châu bốn biển hổng chừng có gom hết ba cái khăn tay khăn tắm khăn quàng trong nhà cũng không đủ lau khô hết mấy hàng nước mắt.

 

Kể ra thì cũng oan ức cho cái mùa thứ ba của trời đất. Mùa nào không lấy cứ đè mùa thu ra mà gán ép cho bao nhiêu là oái oăm oan trái thất bát ái tình. Hổng phụ tình thì cũng tình phụ. Hổng dở dang thì cũng dang dở. Bộ yêu nhau rồi phụ nhau vào mùa xuân không được sao ? Hay mùa hè ? Hay mùa đông ? Mà cũng kỳ thiệt. Thiên hạ yêu nhau hồi nào đâu không biết mà hể tới lúc chia tay rẻ rúng rẫy ruồng em về lấy chồng anh đi hỏi vợ là cứ kéo cho được mùa thu ra làm cảnh và làm chứng. Cả cái cô Thúy Kiều và ông thương gia Thúc Sinh cũng cùng một điệu. Người lên ngựa kẻ chia bào. Rừng phong thu đã nhuốm màu quan san.

Riết rồi ai nấy cứ khăng khăng là mùa thu thì phải buồn, cho dẫu tôi-buồn-không-biết-vì-sao-tôi-buồn, mùa thu là phải nhớ, dẫu là nhớ vơ nhớ vẩn hay là nhớ có nơi có chỗ, nhớ độc chiếc hay là nhớ song phương, nhớ tam giác hay ngũ lục giác gì cũng được. Miễn là có buồn, có nhớ cho ra điệu ... thu sầu. Mùa thu thưa nắng gió mang niềm nhớ ... (****)

 

Bởi vậy, dẫu đâu có ai xúi biểu, mà rồi dù muốn hay không, thì ở đây, nơi mùa thu được coi là lộng lẫy nhất trần gian, khách tha hương cứ cảm thấy ... sao á, có cái gì như nghèn nghẹn, có chút gì như quá đáng mà lại như thiêu thiếu, thiếu chút thân quen. Xứ người, mùa thu chín rộ đẹp toàn bích như một thứ hạnh phúc thừa thải càng làm thắc thỏm lòng khi nhớ về cái chỗ đã bỏ đi sao mà chắt chiu toàn khổ hạnh. Làm như rốt lại, vài ba mươi năm rồi vẫn nguyên hình ... khách lạ ! Ăn ở nơi đất người mà vui buồn thì cứ vui buồn tận ở quê xưa !

 

Bởi vậy mà nên nỗi. Giữa khi trời đất trổ vàng hực hở thì lòng người bỗng chùng xuống, tối mịt những kỷ niệm. Mà kỷ niệm thì không vui. Kỷ niệm chỉ có buồn thôi vì kỷ niệm là cái đã mất. Giống như mùa thu chỉ để buồn thôi vì mùa thu chỉ là sự gắng gượng làm vui của trời đất khi sắp lịm vào cơn mê thiếp, khi âm phong sắp sửa trở mình thổi trắng cõi nhân gian ...

 

Dẫu vậy, nói ra cũng kỳ. Ở đậu xứ người mà không chịu vui với người. Người ta tung hô sự huyền diệu của thiên nhiên. Người ta đưa nhau lên núi, đưa nhau vào rừng, dắt nhau đi trên những lối mòn đã mất dấu dưới mấy lớp lá thay mùa, phủi cho nhau chiếc lá đỏ bám đầu vai, gở cho nhau chiếc lá tím vướng tóc, mời nhau nếm chút ngọt ngào của rượu nho đã ủ kín từ cuối mùa thu trước ... Cả một hoạt cảnh vừa thơ mộng vừa tình tứ vừa hoạt náo vừa êm đềm cứ diển ra hằng ngày suốt một mùa thu năm này qua năm khác.. Người ta rủ nhau đàn ca múa hát từ đồi cao đến phố thấp. Và lê la lề đường tới đêm hôm khuya khoắc như muốn kéo dài thêm khúc hoan ca của cây lá. Người ta thay nhau tổ chức hết lễ lá đến lễ màu. Vậy mà sao giữa lòng mình chỉ có mỗi một lễ duy nhất. Lễ nhớ. Mà hể nhớ thì buồn. Mà đã buồn thì lại nhớ. Tại cái mùa thu đó, nó gợi nhớ. Hay tại mình, mình không chịu quên.

 

Không dưng mà lại nhớ đến một câu trong bài tùy bút của Đinh Hùng viết đâu đã vài ba mươi năm trước về một mùa thu trở lại. Lâu quá đã quên gần hết. - Ờ mà sao lại không quên luôn. Lại nhớ chi loáng thoáng, vài ba hàng, đôi mươi chữ để cứ khượi lại những vết tích đã mờ ... Nắng ở đây vẫn là nắng ấm ngày xưa và linh hồn tôi vẫn là linh hồn tôi năm trước. Tôi đem lòng về để gặp lại mùa thu thương nhớ cũ ...

Ờ linh hồn tôi vẫn là linh hồn tôi năm trước. Năm nảo năm nao. Mà có cần và có thể xác định một thời điểm chính xác trong cái chuổi nhớ thương dằng dặc đó. Năm nào mà chẳng được. Khi đã là quá khứ thì ngày tháng cũng mù sương. Trí nhớ chập chùng. Kỷ niệm thì trùng điệp. Nhưng vẫn có đó. Đôi khi lộn đầu lộn đuôi. Nhưng có cần không một thời biểu rõ ràng cho mớ hình sương bóng khói.

 

Mùa thu. Mùa của năm học bắt đầu. Những buổi tựu trường. Tiếng trống giục giã. Áo trắng quần xanh. Tóc rẽ bảy ba. Sách vở, viết mực, hàng chữ nắn nót. Rồi phấn trắng bảng đen, thi cử, ly cà phê đen trắng mắt, lá thư tình thứ nhất.

 

Mùa thu. Mùa của tụ năm tụ bảy. Của góc phố đứng đường. Của hơi thuốc lá tập tành. Của lê la quán xá.

 

Mùa thu. Mùa của trăng đêm hò hẹn. Của giận hờn. Của xin lỗi. Của vụn dại dễ thương. Của lầm lỡ.. cố ý.

 

Mùa thu. Mùa của đưa người qua bên kia bờ Mỹ Thuận, trở ngược về nhớ Tống Biệt hành của Thâm Tâm. Đưa người ta không đưa qua sông...

 

Mùa thu. Mùa của chia tay giữa đường khi trời đông bắc mới sang thu. Gió sớm lung lay mấy sợi nắng mai làm biển lá đổi màu, lung linh như tranh tân ấn tượng của George Seurat. Sót một nụ hôn từ biệt làm đường xa thêm vạn dặm. Quanh co rừng núi sông hồ, đèo mây dốc đá, phố xá ngái ngủ và làng mạc còn thiêm thiếp, con đường lạc giữa sương thu, tôi về chạy giữa mùa thu lạc người.

 

Mùa thu. Mùa của sinh ly tử biệt. Của cửa sông đen ngòm. Của ngọn đuốc lập lòe. Của bỏ cha bỏ mẹ, bỏ bầy bỏ bạn, bỏ nước bỏ quê.

 

Mùa thu. Mùa của điêu tàn. Của nát tan. Của khúc ruột đứt lìa. Của ngón tay vuột mất.

 

Ôi mùa thu thương khó từ trong tâm thức. Có nhớ có thương năm nay thì cũng chỉ là nối tiếp cái thói quen thương nhớ từ năm kia năm kìa. Mà sao cứ nhớ thương hoài vậy. Rồi không chừng lại nhớ tiếp luôn tới năm sau, năm sau nữa. Bộ khoảng giữa của hai đầu thương nhớ nó nhủn nhẳn nhùn nhằn như cao su vậy sao mà kéo dài tới chừng nào cũng được.

Bộ chỉ có trí nhớ là đức tính cần thiết và dai dẳng đến vậy sao ?

 

Còn đến chừng nào thì lãng quên sẽ là đức tính cần thiết hơn nữa ?

 

                                                               Cao vị khanh

 

* - L’Adieu- Apollinaire

 

J’ai cueilli ce brin de bruyère

L’automne est morte souviens-t’en

Nous ne nous verrons plus sur terre

Odeur du temps brin de bruyère

Et souviens-toi que je t’attends

 

**- Xin gọi nhau là cố nhân. Song Ngọc

Tôi trở về đây lúc đêm vừa lên

Giăng mắt trời mưa phố xưa buồn tênh

Gót mòn tìm dư hương ngày xưa

Bao nhiêu kỷ niệm êm ái

Một tình yêu thoát trên tầm tay

.........

Điệp khúc

Thu đến thu đi cho lá vàng lại bay

Em theo bước về nhà ai

Ân tình xưa đã lỡ

Thời gian nào bôi xóa

Kỷ niệm đầu ai đành lòng quên?

*** Giọt mưa thu – Đặng Thế Phong

**** Lam Phương

____________________________

               và rồi ...

               ... những cuộc chia tay vĩnh viễn

 

Có lần tin đến muộn, rất muộn, nhưng dẫu sớm hơn cũng chẳng níu giữ được ai, họa sĩ Chóe tức Nguyễn Hải Chí vừa từ giã cõi đời. Những nét minh họa bén như dao khắc trên tuần báo Khởi Hành những năm 60-70 đã từng làm sửng sốt hơn một người xem.

Trước đó tin ca sĩ Duy Khánh qua đời. Tiếng hát trúc trắc của miền Trung trục trặc dẫu thích hay không vẫn rất thân quen trong cái sinh hoạt văn nghệ rất mực trăm-hoa-đua-nở của miền Nam ngay từ lúc bom đạn còn đương mù mịt.

Chừng đâu tháng trước nữa, ở Úc, điêu khắc gia Lê Bá Ðảng cũng bỏ đồng bỏ đá bỏ dao cọ mà đi...

 

Dẫu trước hay sau rồi cũng lần lượt bỏ đi, nhà văn Mai Thảo, nhà thơ Nguyễn Tất Nhiên ... lâu hơn nữa những Việt Hùng kép đẹp của Ðầu xanh vương khổ hận, Hùng Cường kép mùi của Tướng cướp Bạch Hải Ðường, nhà văn kịch tác gia Vũ Khắc Khoan của Thần tháp rùa, nhạc sĩ Phạm Ðình Chương của Mộng dưới hoa, nhạc sĩ Trúc Phương mà ai đã có lần qua cổng một trung tâm nhập ngũ nào đó lại không nhớ thứ ngôn ngữ tình đặc biệt làm bằng dấu đôi tay, nhạc sĩ Trầm Tử Thiêng với cái phát giác rụng rời ta nghiêng vai nghe lại cuộc đời thì hãi hùng hoàng hôn trờ tới, rồi Nguyên Sa của nắng Sài gòn anh đi mà chợt mát, rồi còn Lê Uyên Phương và Vũng lầy của chúng ta, rồi ở tận bên nhà Út Trà Ôn ông-cò-quận-chín, lâu lâu hơn nữa nhà thơ nhà báo Thanh Nam của Bài hành bốn mươi... Bao nhiêu tên tuổi của một thời đã lần lượt bỏ cuộc chơi mà đi mất... Và còn ai nữa... còn ai nữa...

 

Tích nhân dĩ thừa hoàng hạc khứ

Thử địa không dư hoàng hạc lâu

 

Cái mặt đất này rồi đến lúc trơ trụi như cái lầu hoàng hạc và ánh chiều tà của một ngày xa xứ sẽ đìu hiu biết bao nhiêu...

 

Có những tên tuổi rất quen và còn bao nhiêu tên tuổi không quen biết, đã đến rồi đi, giữa cơn trường hận này...

 

Hơn ba mươi mấy năm trước, giựt mình bỏ chạy, có mấy người liệu được ngày gởi thây đất khách. Vậy mà ngày về rồi xa lắc xa lơ... Rồi tuổi tác, rồi bệnh hoạn, rồi gói mộng mà đi...

 

Cái chuyện người nhắm mắt xuôi tay cũng thường như cái chuyện người mở mắt chào đời, hằng hà sa số, ai hơi đâu mà kể lể. Có họa chăng mấy kẻ thân thích hoặc khóc hoặc cười... Mà điều, trong cái hoàn cảnh dở khóc dở cười của tôi, của anh của chị, của những người nửa đời nửa đoạn sao nghe ra cứ thấy ... ngậm ngùi. Có một cái gì đó đã qua đi, đang qua đi và sẽ qua đi mất... Cái gì đó là cái thời của chúng ta liền với một khoảnh đất, dù vinh quang hay tủi nhục, vẫn là suốt một thời chúng ta đã góp mặt, cùng khóc cười theo vận nước nổi trôi.

 

Tùng cúc lưỡng khai tha nhật lệ

Cô chu nhất hệ cố viên tâm.

 

Giọt nước mắt ngày nào. Tấm lòng vườn cũ. Chữ của Đỗ-Phủ-lưu-lạc đôi khi mới thoáng nhớ đã nghe như nước mắt chực chờ ! Tội tình chi đeo đẳng khi đã cuối một đoạn trường ...

 

Xứ người gần bốn mươi năm vẫn thấy lạ trời lạ đất. Làm sao không lạ lẫm những tấm lòng. Còn lại chút quen-hơi-bén-tiếng dẫu không thân thích vẫn nghe ra rất ruột rà. Chút tơ-lòng-đã-cũ cứ làm nhớ triệu điều tha thiết cũ. Ở đây đôi khi nghe lại một tiếng hát một đoạn nhạc đã nghe từ khi còn ở quê lòng bỗng bồi hồi như thấy lại mình một ngày nào ở đó, đọc một câu thơ một bài văn của một người mình đã mến mộ từ khi chưa đi xa lòng bỗng thấy như thâu ngắn lại được chút nào cái khoảng cách trời cách biển. Làm như có một cái gì đó lẫn lộn giữa quê hương và người nghệ sĩ, kẻ thừa tự đầu tiên và cuối cùng mọi ân phước cũng như oan khiên của đất nước. Trong một liên hệ nhân quả nào đó, có phải nghệ sĩ là kẻ đã thừa hưởng cái tài hoa của dân tộc, ân huệ của đất đai thổ trạch, của sông ngòi kinh rạch, của mùa màng thời tiết nơi họ đã được sanh ra, lớn lên và un đúc nên vóc nên tài. Có phải chỉ chút gió lạnh đổi chiều đã làm lòng họ sang thu. Có phải hoa mới ngập ngừng đơm nụ mà hồn họ đã vô vàn cánh bướm. Họ hưởng trước ai hết và trả sau ai hết cả vốn lẫn lời từ hạnh phúc đến khổ đau của một dân tộc. Họ đã và đang làm cái kiếp con tằm cố trả hết nợ cho dâu. Có phải trọn hết cái hồn hậu của phù sa mấy miệt lục tỉnh đã trộn lộn lại cho mình ên ông Út ở Trà Ôn cái hơi vọng cỗ nghe mùi đến tận mạng. Có phải thi sĩ là kẻ đã thở cùng hơi với hương đồng cỏ nội hai bên bờ Cữu Long bát ngát, đã nhịp cùng mạch với nhấp nhô núi cả đèo cao suốt dọc dãi Trường Sơn ... Từ đó, tiếng họ ru hời có lẫn tiếng à ơi của mẹ già bỏ lại. Tiếng họ thở than có tiếng rên siết của quê hương tù đày, nghe họ hát hò, viết văn làm thơ, vẽ khắc ... làm sao không thấy lại cả một trời quê hương được dựng lại. Dẫu có mông lung.

Ờ, họ dính liền với quê hương như một. Nghe họ là nghe quê hương lên tiếng. Ðọc họ như thấy chính quê hương tâm sự. Trong một lúc. Vào một thời. Có ta ở đó.

 

Mấy chục năm nay cứ bám víu vào họ mà sống, mà buồn vui... mà tự nhủ còn đó, còn đó... cái thời của chúng ta.

 

Có nhớ không chính những nét vẻ của Chóe đã làm nôn nao người thầy trẻ mỗi tuần chờ báo Khởi Hành trong một tiệm sách nhỏ dưới gốc cây me già ở một tỉnh miền tây. Những năm 70. Không khí tỉnh lẻ. Cái gì cũng chừng chừng phải phải. Ông thầy trẻ hai mươi mấy tuổi lại cứ thích để tóc dài, quần jean bạc thếch áo phạch banh nút ngực... thả lang ngoài phố như một tên du đảng.. Ờ nét vẻ của Choé ngang tàng trái cựa y hệt như một tuổi thanh niên cứ muốn thách đố với đời.

 

Vài năm trước nữa, những ngày thứ bảy lượn dài trên hè phố Lê Lợi, đợi nắng xuống chiều lên khi mấy cây me già vừa thả lá, kéo nhau vào quán Cái Chùa, gọi tách cà phê hay cốc rượu ngọt, đốt điếu Gitane thả khói loanh quanh rồi nghe Joe Marcel hát Phạm Ðình Chương bằng cái giọng rất lừng khừng chưa gặp em tôi đã biết rằng có người thiếu nữ đẹp như trăng...

... Ờ sao mà quên được, quên làm sao được, Sài gòn thuở đó thở nồng hơi nhiệt đới, má ửng hồng mà chẳng chút phấn son, tóc mai quến mấy giọt mồ hôi thoang thoáng, lưng áo vải tetoron vô ý mà hữu tình, ai mà không thích Lê Uyên

Phương, khi có lần từ một căn gác trọ bước theo em xuống phố trưa nay mà đang còn nhức mỏi đôi vai...

 

Vâng những người nghệ sĩ đó họ đã nói giùm ta điều ta nghĩ -mà nói rất điệu, vào một lúc nào đó, ở một chỗ nào đó... Và như vậy, họ chính là ta vào lúc ấy, ở chỗ ấy... Cái lúc cái chỗ ở riết thành quen mà xa rồi là nhớ ơi là nhớ. Cái chỗ người ta nói tiếng Việt Nam, hát tiếng Việt Nam, làm thơ viết văn bằng tiếng Việt Nam, yêu nhau bằng tiếng Việt Nam và gây gổ chửi rủa bằng tiếng Việt Nam ... Họ là tiếng nói của một thời, là nhân dáng của một thuở. Nghe họ thấy họ làm như còn thấy lại một mảnh giang sơn đã rách bươm, từ lúc bỏ đi ... Ðọc họ nhìn họ như còn thấy lại cái góc vườn-cũ, của lần gặp đầu, của buổi chia tay, đường quen phố thuộc, chòm xóm thân quen, những giòng sông hẹn, những bến đò đưa... Những ca nhạc sĩ của một thời, những văn thi sĩ, những họa sĩ đã rung lòng theo nhịp rung của thời đại, những năm giặc giã, những năm chia lìa, bây giờ đang lần lượt ra đi, mang theo với họ sợi dây chằng giữ con thuyền lưu lạc với cái bến cũ đìu hiu.

 

Họ bỏ đi, chúng ta mất thêm lần nữa, quê hương.

 

Và nhất là nhìn từ một góc nào đó, họ còn là hình ảnh của sự tái tạo từ tro than, của sự phục sinh từ cơn bức tử. Hay nói cách khác, của một giấc mơ vĩnh cữu về một cảnh đời tạm bợ.

 

Họ đi rồi, bỏ lại dở dang ta, những hồi mơ xuân hiếm muộn.

 

Jorge Luis Borges. Tâm hồn thi sĩ có bao giờ thôi ước hẹn với thanh xuân.

 

Khi những ngôi sao bắt đầu tắt lửa, vòm trời giống y như một cõi lòng trống trơn.

 

Cao vị khanh

 

* Hơn 10 năm trước, viết với đề tựa Bắt đầu ... Mười mấy năm sau, dẫu không muốn rồi cũng phải sửa lại ... Và rồi ... và rồi những cuộc chia tay vĩnh viễn !

 

Viết thêm

 

... từ bài viết tới nay, đã thêm bao nhiêu cuộc chia tay, ồn ào hay thầm lặng, thì cũng là những cuộc chia tay ... vĩnh viễn !

Ờ, vĩnh viễn ... vì có bao giờ còn thấy nữa những trang chữ nghĩa tinh tế kiểu chẻ-sợi-tóc-làm-tư của Võ Phiến, những thao thức cội nguồn của Bình Nguyên Lộc, những hào hoa phóng lãng của Nguyễn Xuân Hoàng, những điên đảo phiêu bồng của Bùi Giáng, những nghênh ngang ngất ngưởng của Phạm Công Thiện, những và những ...

Ờ, vĩnh viễn .... vì bên giáo-đường đã im bóng Quỳnh Giao, vì Hà Thanh đã thôi lướt thướt qua những-chiều-mưa-biên-giới, vì “ sầu nữ ” Út Bạch Lan đã tắt nhịp não nùng, vì Đinh Cường đã

bỏ màu buông cọ, vì nhạc sĩ Thanh Bình đã bỏ-ta-trong-mưa-bay thì làm sao còn thấy lại được những mùa-thu-vàng-sau-lưng-ta nữa ...

 

Rồi Phạm Ngọc Lư với Biên Cương Hành cũng vừa vượt cương tỏa bỏ tới vô biên...

 

Rồi .... 

     Rồi ...

         Rồi ...

 

Thì thôi. Đã có đến thì sẽ có đi. Ai đó đã nói cuộc đời như quán trọ và ai nấy cũng chỉ là những người khách qua đường.

Nhưng làm sao quên được ! Những vang bóng của một thời !

...

Cõi người có bao nhiêu

Mà ti ̀nh sâ ̀u vô lượng

Còn chi trong giã tưởng

Hay một vê ́t chim bay *

...

Một vết chim bay ?

Hay một câu thơ ? Một nét chữ ? Một tiếng hát? ... đã làm ai đó vui tai vui mắt vui lòng một giây một phút một giờ một thoáng trong cõi sầu vô lượng này.

Xin cám ơn. Và xin an nghĩ .

 

Còn lại đây ... vẫn đăm đăm cái khoảng trống vô chừng !!!!!!

 

Cao vị khanh

(* Phạm Thiên Thư)

 

Tái bút

17- 6 – 2017 Phạm Ngọc Lư

Phạm Ngọc Lư

Chợt tin ... người đã ... thiên thu

Dưng không trời bỗng sa mù quanh tôi

Mươi năm chuốt chữ trau lời

Đan Tâm một tấm gởi đời lệ riêng

Này vui, này muộn, này phiền

Đế́m đi đế́m lại còn nguyên nỗi mình

Thôi , anh đi ! Một chút tình

Vẫn tôi góc biể̉n, khóc mình, lệ chung !

 

 

Tái ... tái bút ...

21-5-2019 Tô Thùy Yên

Từ. Tạ. Tô Thùy Yên

Chợt tin người đã thiên thu

Dưng không trời bỗng sa mù trong tôi

Ôi Trời ! Ôi Đất ! Ơi Người !

Sao đi để chữ mồ côi, từ rày !

 

Lại ... tái ... tái bút ....

14-9-2020 Nhật Tiến

Giữa khuya đêm qua lại hay tin, Nhật Tiến của Chim hót trong lồng, của Thềm hoang ... đã lại bỏ đi. Tác giả đã góp phần không nhỏ cho sự nghiệp văn học miền Nam trước năm 75 và ngay sau này, khi đã bỏ nước ra đi. Xin gởi theo một nén tâm hương !

 

 

Bấm vào link để nghe lại ... dư âm

Hà Thanh https://youtu.be/ghv1Dxtte2E

 

Út Bạch Lan https://youtu.be/EwSIpG_Z6Xk

 

El Silencio https://youtu.be/LBtIFIIQg-8

_____________________________

                                                  -Thơ của kẻ sĩ ở cuối cuộc phong trần-

 

 

Đã có thời tôi làm nghề dạy học. Nói dạy học là nghề sao nghe ra có vẻ cay đắng thế nào, kiểu như mấy ông lái đò... đưa khách qua sông rồi khách bỏ đi luôn, quên cả ngoái lại. Đúng ra chuyện làm thầy của tôi cũng không đến nỗi bẽ bàng như vậy. Dẫu có chút đỉnh hục hặc lúc mới khởi đầu nhưng rồi đâu vào đó. Có thể nói là khá suông sẻ nữa. Và dẫu không quá mươi năm vẫn để lại trong tôi nhiều dư vị ngọt ngào hơn là đắng chát. Cái đám em út đó dẫu vì nạn nước phải lưu lạc tứ phương vẫn giữ nguyên cái nghĩa thầy trò rất mực là... thầy trò. Đôi khi vẫn gợi lại trong tôi những hình ảnh hết sức dễ chịu khi đời tôi đã quá sức khó chịu vì sức nặng trì trì của ngày tháng, vì những oán hờn trầm tích từ cuộc đổi đời cũ vẫn không tan, vì những hy vọng cho một cuộc đổi đời mới ở quê nhà càng lúc càng trở nên vô vọng ... Vâng, tại vậy đó, đôi khi một tách cà-phê, một bữa rượu mời mọc ân cần của một người học trò cũ gặp lại tình cờ giữa một độ đường lữ thứ, đôi khi chỉ một lời thăm hỏi sức khỏe văng vẳng từ một đường giây viễn liên nào đó, bỗng làm vui lại một khuya hôm trằn trọc... Vâng người già hay sống với kỷ niệm, vui hay buồn, đắng cay hay ngọt ngào... Những ngày đã qua ! Những chuyện đã qua!

 

Cái không gian hẹp té giữa bốn bức tường trường lớp vậy mà không thiếu chuyện để nhớ. Coi vậy mà cái thế giới bít bùng đó không hẵn phẳng lờ và suông sẻ như mấy trang sách quốc-văn-giáo-khoa-thư. Dẫu vậy, vẫn vui nhiều hơn buồn, vẫn ân tình ân nghĩa hơn cái trường đời mênh mông ở bên ngoài cửa lớp. Bởi vậy mà lắm lúc lại nhớ vơ nhớ vẩn, hay nhớ có tuồng có tích, thì vẫn là nhớ... nhớ thuở làm thầy dạy... văn chương cho đám học trò đã hết nhỏ mà còn chưa lớn.

Mùa cuối thu rồi mà không biết vương vấn ra sao lại cứ dùng dằng không chịu cuốn theo gió mà đi, cứ lẩn tha lẩn thẩn rắc lá ngày này qua ngày khác. Lá rơi phủ vai bức tượng trắng sau nhà, lấp đầy chiếc hồ cá nhỏ, rồi che khuất cả lối ra vào. Cái người rổi việc nhất là tôi, lại có việc làm ... tiễn mùa thu đi bằng cách quơ tay hốt từng bựng lá vàng, gom thành đống vào những góc khuất, đợi cơn tuyết đầu mùa ủ kín, lấp cho quên vết mùa thu cũ. Chuyện chẳng có gì mà rồi sinh chuyện. Có hôm ra sân, trời không nắng không mưa, chỉ hiu hiu gió. Thứ gió mùa thu, nhẹ như hơi thở người tình đã có lần đi vội qua đời mình mà không có dịp ngó lại, thổi gờn gợn lên cánh tay trần chút hơi lạnh đâu đâu. Bãi cỏ chỉ mới úa, mấy luống hoa cũng chỉ mới vừa rũ cánh dẫu chưa phai màu. Khổ nỗi, phải chi rụng thì cứ rụng, lằng nhằng chi đến lê thê lếch thếch mà xui chi cho lại nhớ thương. Mà nhớ gì thương chi cũng chẳng biết. Chỉ biết sao như có tơ giăng ngang mắt, chằng giữa tim làm mỗi bóng mây qua sao có gì vướng víu, mỗi cuối ngày đi sao có gì nấn nuối ... Khổ nổi chẳng biết tơ nhện ấy gút mắt từ đâu nữa.

Vậy rồi trong cái không khí váng vất nửa hư nửa thật, nửa ấm nửa lạnh, nửa xưa nửa nay, có bữa nghỉ tay, chợt ngẩng lên nhìn trời, thấy trời xanh biêng biếc, chẳng một gợn mây, lòng chợt phân vân rồi dưng không nhớ đến một người, một người đã xa, xa lắm, xa như cái dòng lịch sử mịt mù đã cuốn trôi đi tất cả.

Da trời ai nhuộm mà xanh ngắt

Mắt lão không vầy cũng đỏ hoe

 

À, Nguyễn Khuyến, danh sĩ giữa khi thế nước tới hồi mạt vận cuối thế kỷ 19, cuộc đời đã được phanh phui không sót một cái chắc lưỡi trong mấy bộ văn học sữ được đem giảng dạy trong các trường trung học ở Miền Nam thưở nọ. Tôi cũng vậy, do theo nghiệp vận tôi cũng đã nhiều phen lên lớp dở giọng ngùi ngùi kể lể phê phán khen chê ... Mà điều, thú thật, ở cái tuổi mới vừa chín tới, tôi nói mà lắm lúc ngần ngại. Rằng thì là ái quốc tiêu cực, rằng thì là phúng thích mơ hồ, ... gịọng thơ thiếu khí phách ngang tàng của kẻ sĩ giữa cơn đọa lạc v.v... và v.v... Ờ mà có thể đòi hỏi nhiều hơn nữa không?

Những kẻ sĩ ở cuối cuộc phong trần ! Thử nghĩ lại, miền Nam, sau ngày 30 tháng 4 !!!

........... Nguyễn Khuyến, sống cái tuổi trẻ của mình trong sự chộn rộn của lịch sử. Đến tuổi 50- ngủ thập nhi tri thiên mạng, người Pháp coi như thực sự chiếm trọn Việt Nam, dù dưới bất cứ danh hiệu mỹ miều nào. Triều Nguyễn chỉ còn là cái bóng của chính mình. Nhợt nhạt, lao đao, quờ quạng ... giữa sóng gió dữ dằn của thời cuộc. Thân phận của những người đã vinh danh nhờ vào cái trật tự phong kiến đó, rồi cũng sẽ và phải lao đao, nhợt nhạt ... theo cái khung mình đã dang tay chống đỡ và cũng đã che chở lại cho mình. Dĩ nhiên không phải không có người dang thân ra gánh vác, nhưng rồi cũng chỉ như đem trứng chọi đá. Còn ngoài ra, chỉ có cái lối phản kháng tiêu cực là thịnh hành. Không xoay chuyển được thời thế thì ... rũ áo từ quan, về nhà đuổi-gà-cho-vợ. Nói mà không có ý mỉa mai. Chỉ là để ... ngậm ngùi.

Nhưng nếu không làm vậy, thì sẽ làm gì ?

Tay chân thì ... trói gà không chặt.

Đầu óc thì ngoài cái mớ chữ nghĩa chép đầy trong mấy bộ tứ thư ngũ kinh chi hồ giả dả cũ đâu từ cái thời ... không còn chỗ nào để cũ nữa.

Đám “ bạch quỷ ” thì ngoài súng mút-cơ-tông, lại còn có thêm tàu bọc sắt chạy bằng hơi nước phun khói mịt mù ...

Ngóng vô triều thì triều cũng đang ngóng cổ ngóng mấy ông con trời phía bắc cũng đang ôm đầu chạy có cờ ...

Vậy thì, còn ngõ nào để chờ đợi, để trông cậy hay để vung tay phất cờ ...

 

Vâng, tình hình cuối thế kỷ 19 của xứ Đại Nam ta là như vậy. Có gì khang khác hay giông giống tình trạng của miền nam Việt Nam những ngày cuối tháng ba, đầu tháng tư năm một chín bảy lăm ... Tôi, và những người trang lứa trên dưới ba mươi, chúng ta đã sống thế nào, nghĩ thế nào, làm gì ... ? Lo lắng ! Nghĩ ngợi ! Lăng xăng ! Lính quýnh ! Ngó tới ngó lui rồi ngó lại mình ? Ngó lại mình ? Rồi sao ? Rồi sao nữa ? Rồi không ra sao hết ! Hay là rồi nhảo nhẹt như cục bột thấm nước ...

Bốn mươi mấy năm sau cơn thất tán, đọc lại mấy bài thơ thu của Nguyễn Khuyến, rồi sao buồn quá đỗi, nhìn ngược lại đời ông, nhìn ngược lại đời mình ... Mắt lão không vầy cũng đỏ hoe .

 

Thử nghĩ đến mùa thu ở một vùng đất phía bắc Việt Nam. Mà thật ra ở đâu đó cũng vậy. Vì ở đâu đó mà nếu còn trên mặt đất này cũng đều không vui. Tại vốn dĩ mùa thu đã được gán cho cái tánh buồn. Nắng buồn ít. Mưa buồn nhiều. Mà không nắng không mưa cũng buồn, không nhiều thì ít. Vậy rồi, trong một ngôi làng nhỏ, một buồi sáng, một buổi trưa hay một buổi chiều, một người đàn ông đã luống tuổi, dù chưa cỗi như gốc đa đầu làng nhưng cũng đủ già để xóm giềng vị nể, nhất là kể ra cũng đã hàng danh phận, sống thu mình, lặng lẽ như chiếc bóng của chính mình. Tuổi trẻ, dù có chút lận đận, ông cũng đổ đầu ba kỳ thi cả nước, làm quan dẫu không tột đỉnh cũng bậc phụ mẩu chi dân, lại giữa chốn yên hoa cũng là tay phong lưu rất mực. Khoan nghĩ về đời sống xả hội mà nhớ về cõi riêng tư, góc cạnh thể hiện rõ nhất cho cá tính. Nội mấy câu lục bát nôm na đã thấy rõ bản tính người tài tử. Rượu ngon không có bạn hiền. Không mua không phải không tiền không mua. Rồi đến lúc người bạn-hiền đó xuôi tay nhắm mắt, lại kêu lên Bác Dương thôi đã thôi rồi. Nước mây man mác ngậm ngùi lòng ta. Rõ là kẻ chí tình rất mực. Lại nữa, bài hát nói nghe đùa hoa giỡn nguyệt mà lộ rõ như mực đen trên giấy trắng cái bản chất nòi tình của bậc văn-chương-nết-đất. Hồng Hồng Tuyết Tuyết. Mới ngày nào chửa biết cái chi chi. Mười lăm năm thắm thoát có ra gì. Chợt ngoảnh lại đã tới kỳ tơ liễu. Ấy là chưa nhắc đến mấy câu mưỡu đầu đọc lại mà muốn ... giựt mình (**). Hãy nghĩ tới trong thời mà nền đạo đức cổ truyền như là cái gông siết cổ, một bậc văn nhân ( trí thức ) có tiếng như ông mà xổ thơ trai gái lả lướt như tay phóng đãng bất cần đời, thì so ra có thua gì Đỗ-Mục-mười-năm-tỉnh-mộng Dương-châu !

Vậy mà ông vẫn làm tròn cái vị trí xã hội của mình. Sách vở còn ca tụng.

 

12 tuổi đã thuộc kinh sử, 14 tuổi văn lý đã thông, 15 tuổi đổ đầu kỳ hạch tỉnh... Chánh sự mẩn cảm, thanh liêm, lại tỏ ra có tài thao lược trong nhiều vụ tiểu phỉ. Một lần dâng sớ xin về hưu nhưng vua Tự Đức không ưng, triệu về kinh làm Sử quán Toản tu ... Rồi được cử giữ Tổng Đốc Sơn Hưng Tuyên... Năm 1884, sau khi vua Tự Đức băng, triều đình ký hòa ước Patenôtre, công nhận cho Pháp bảo hộ Bắc và Trung kỳ. Năm sau, Nguyễn Khuyến lấy cớ đau mắt xin về hưu (***)

Dọc theo sự nghiệp quan trường đó, sự nghiệp văn chương cũng chẳng thua kém chi ai. Mọi thể loại, mọi đề tài đều có lượt vung tay phóng bút.

Nói vậy, để thương cảm thêm cho một kiếp tài-tình-thiên-cổ-lụy. Dĩ nhiên, đời xa người khuất, không ai đem phân tâm học mà giải bày. Tuy nhiên, dù không trăm phần, cũng không đến nỗi lạc nẻo. Con người đó, với bổn phận trách nhiệm đeo đai, bằng cách này cách khác, vẫn sống cái phần hồn chân thực nhất của họ, bên cạnh vai trò mà xả hội đã áp đặt. Nghĩ vậy rồi, làm sao mà không cảm mộ. Họ sống đời riêng của họ song song với đời chung của thiên hạ. Họ sầu cái sầu riêng họ mà họ còn sầu cái sầu chung của thế nhân. Họ đau những mất mát tư riêng mà còn đau thêm nỗi hờn vong quốc. Thử nghĩ đến tình cảnh một người mang nỗi buồn lũy thừa theo cấp số nhân ...

 

Một ngày mùa thu, người đàn ông đó, thả bộ loanh quanh mấy cái ngõ trúc vắng hoe, hoặc lơ đãng thả dây câu xuống mặt hồ lặng ngắt hay nhắp chút rượu chiều khi ngày sắp hết ... hay làm bất cứ một chuyện gì đó, mà có cần chuyện gì là chuyện gì, khi tới lúc đời đã vuột ngoài tầm tay, khi mọi vui buồn oán hận đã là cố sự, nhất là khi quê hương có đó mà như không có đó ... người đàn ông đó, ông ta làm mà như chỉ để làm, làm mà như không để chờ kết quả.

Vậy rồi ... có khi ông phóng bút làm thơ.

Văn sử không cho biết chính xác Nguyễn Khuyến viết ba bài thơ Thu điếu, Thu ẩm và Thu vịnh lúc nào trong số thơ văn ông để lại. Điều chắc nhất là thơ làm vào một mùa thu nào đó trong suốt những mùa thu đã đi qua đời ông.

 

Rồi ... cũng lại một ngày mùa thu, thứ mùa thu bất biến của trăm năm trước hay trăm năm sau, từ một cõi xa tít ở bên này biển Thái Bình không ngớt sóng dữ, trời có có cao xanh hay trời nặng trĩu sương mù ... thì cũng vẫn cùng một tâm cảnh. Trong cái rưng rưng của đất trời, dưng không rồi nhớ lại mấy bài thơ cũ. Dưng không rồi lại thấy băn khoăn. Băn khoăn, thứ xúc cảm nhẹ như có như không, một thứ chuyển động mơ hồ y như chiếc lá rụng xuống mặt nước làm gợn chút sóng lăn tăn rồi ... lặn mất. Dẫu vậy, vẫn băn khoăn ...

Có thật, từ nhiều năm trước, khi còn đứng trên bục giảng để giải thích, phê bình, khen ngợi, chê bai ... những bài thơ xưa đó cho đám em nhỏ, lòng trắng trinh như mấy tờ giấy học trò, có lúc đã nói như vậy, đã khen như vậy, đã chê như vậy ... ! Mà thiệt ra, ở cái lứa tuổi đôi mươi đó, đã hiểu gì, đã cảm ra sao ... mà nói không ngại ngùng, mà giảng với dạy thứ văn chương của những người trăm năm trước. Thứ văn học giáo khoa, đóng khung trong mớ giáo điều sư phạm có nói ra được hết- mà có quyền nói ra hết, những thứ tâm động sâu đến khôn dò của lòng người. Tuổi thanh niên loạn lạc những năm 70 của thế kỷ 20 hiểu được gì cõi lòng rất đỗi nhiểu nhương của những bậc vãn niên những năm 30, 40 của thế kỷ 19 ? !!!!

Thơ vốn dĩ là của riêng người làm kể cả thơ làm để tặng. Người đó, lúc đó, chữ có nghĩa lúc đó, ngay lúc đó. Người đọc thơ, đã trễ đi một tích tắc ... có còn là chữ và nghĩa của lúc thơ ... bất chợt hiện ra. Người làm thơ là làm thơ cho họ với xúc cảm của riêng họ. Người đọc thơ là đọc thơ cho mình với hỉ nộ ái ố lạc dục của riêng mình. Hôm nay không còn là ngày hôm trước, ngày hôm sau nữa, năm mười năm ... trăm năm sau đã lạc dấu biệt mù ... Trời đất bên ngoài, vũ trụ trong ta có bao giờ thường trụ. Lấy gì làm mốc để biểu là hiểu đúng, để xỉ xỏ này nọ nọ kia .Thích thì rủ rỉ tâm tình. Không thích thì nín. Vậy thôi.

Cho nên ... ngày tháng này, ở đoạn cuối một cuộc phong trần, lòng không khỏi ngậm ngùi khi bất chợt nhớ ông, nhớ nếp sống sau khi treo ấn từ quan, lui về quê cũ, lưu vong ngay trên chính quê hương mình, với những giằng co giữa chống đối và thỏa hiệp, giữa ý thức trách nhiệm của kẻ sĩ và sự bất lực của văn nhân, giữa nết tài hoa của bậc phong lưu và nếp đạm bạc của kẻ ẩn cư ... từ đó ... ngày tháng qua, tuổi tác rụng dần theo những mùa thu thay lá.

 

Đọc lại thơ, lần này là đọc lại cho mình, sau bao nhiêu vật vã với tang thương. Đọc lại ... để hồn truồi theo cảm xúc của người xưa, để vui với, buồn vì, hận theo với người đã trăm năm khuất bóng ... rồi thấy xót xa mà thương ơi một tấm lòng vốn mẩn cảm với đời, với người ... kể cả rưng rưng với từng nhịp mùa rơi mỗi độ thu đến rồi thu đi...

Thử lần lượt đọc lại thêm một lần ba bài thơ thu cũ ...

 

Thu điếu

Ao thu lạnh lẽo nước trong veo, Một chiếc thuyền câu bé tẻo teo. Sóng biếc theo làn hơi gợn tí, Lá vàng trước gió sẽ đưa vèo. Tầng mây lơ lửng trời xanh ngắt, Ngõ trúc quanh co khách vắng teo, Tựa gối, buông cần lâu chẳng được. Cá đâu đớp động dưới chân bèo.

 

Thu ẩm

Năm gian nhà cỏ thấp le te, Ngõ tối đêm sâu đóm lập lòe. Lưng giậu phất phơ màu khói nhạt, Làn ao lóng lánh bóng trăng loe. Da trời ai nhuộm mà xanh ngắt ? Mắt lão không vầy cũng đỏ hoe. Rượu tiếng rằng hay, hay chả mấy, Độ năm ba chén đã say nhè.

 

Thu vịnh

Trời thu xanh ngắt mấy tầng cao, Cần trúc lơ phơ gió hắt hiu. Nước biếc trông như tầng khói phủ Song thưa để mặc ánh trăng vào. Mấy chùm trước giậu hoa năm ngoái, Một tiếng trên không ngỗng nước nào ? Nhân hứng cũng vừa toan cất bút, Nghĩ ra lại thẹn với ông Đào

 

Đọc thôi, đọc bằng cái giọng bình thường nhất, nhỏ nhẹ nhất ... để thấy cái trong veo của một tấm lòng trong suốt. Đã hết những vọng động của tuổi trẻ, những mắc míu của đời sống mà rồi sao như vẫn còn vướng vít những dư âm của lịch sử buồn. Dẫu vậy, thơ nhẹ như mây. Mây thì trôi nổi, bềnh bồng. Vô sở trụ.

 

Thường, thơ làm theo lối Đường thi phải đúng phép tắc. Vị trí của từng câu, từng chữ, nghĩa lý đối đãi khít khao như đổ khuôn. Luật lệ rạch ròi như đinh đóng cột. Lại thêm điển tích với lại điển cố cứ khệnh khạng như bộ dáng hát bội ... làm bài thơ rồi nặng nề từ hình thức tới nội dung. Thơ thu của ông, dẫu cũng bảy chữ tám câu như bao giờ, lại thoát ra được cái câu nệ thường tình của thi pháp cổ điển. Thứ bố cục khít rim với phân nhiệm chặt chẽ, nào mở nào thực nào luận rồi kết, nhất nhất không được sai chạy. Rồi chữ đối chữ, nghĩa đối nghĩa ... như những rào cản giữ ghịt hồn thi nhân lại bên nây bờ mộng tưởng, con đường sáo mòn cứ o ép riết lấy mà đi ... Kể cả chữ – phương tiện để làm thơ, cũng phải được chọn lọc, gò gẫm, trau tria ... sao cho không thường, sao cho cao sang, sao cho phảng phất thứ hơi hướm của một thuở Đường thi Tống từ đã đi vào huyền sử !

Vậy mà thơ thu của Nguyễn Khuyến, dù không phá lề mà sao như vượt thoát khỏi luật. Cái hay ở đó mà cái khéo cũng từ đó. Ồ mà không, không phải khéo. Khéo là cố công, là tỉ mỉ. Đằng này, thơ tự nhiên như nước suối róc rách từ nguồn chảy ra, chảy ra léo lách qua bờ bụi, len lỏi qua vách đá, tự nhiên, uyển chuyển ... Chảy thong dong, nhẹ nhàng ... không cần gió đẩy gió đưa cũng chẳng cần phải chèo chống mỏi mê. Chảy như nước thì ... chảy. Thơ ... như thơ.

 

Vần eo là loại vần ... rất ... trặc trẹo – mà ông gieo nhẹ như hơi gió thổi liêu xiêu ( veo, teo, vèo, teo, đèo ... ). Những câu thơ toàn bằng chữ Việt thuần nôm. Thứ chữ mà đã có thời người ta ghét bỏ vì cho rằng ... nôm na là cha mách qué ! Người có học – hay coi như có học- suốt thời lịch triều gần như tránh né. Vậy mà một người từng ba lần đổ đầu cả xứ với thứ chữ được coi là thông thái, lại phóng tay làm thơ ... bằng thứ chữ bị coi là quê mùa. Nội chút đó thôi đủ để cảm phục thêm tấm lòng quan hoài của bậc danh sĩ vốn nặng lòng với quê hương làng xóm. Mà làm thiệt hay. Vừa tự thoát ra cái mặc cảm tự tôn của người hay chữ, vừa biểu lộ một phong cách ung dung tự tại của kẻ sĩ cuối đời, phủi tay xóa sạch mọi phiền toái của cái xả hội đang hồi lộn lạo.

 

Đọc suốt bài Thu điếu kể chuyện đi câu cá, mà có thấy đâu chuyện cá ăn câu. Với giọng thơ nhẹ nhàng, thanh thoát và mang mang chút thiền vị, chỉ nhận ra được cái phong thái ung dung, tự tại của một kẻ biết ta biết người, thả thuyền câu chỉ là cái cớ, để trám cái trống không của một ngày coi như đã dư thừa. Thời gian của chuyện đi câu là thời gian bất động. Ngồi câu là dang tay níu đứng lại thời gian, là ngồi tịnh giữa dòng dời đang cuộn chảy, là cách thế thoát ra những vọng động của lịch sử. Là ta tìm lại chính ta sau tầng tầng dâu bể.

Sực nhớ đến Liễu Tông Nguyên, đời Đường, cũng đã có lần gieo mình giữa mênh mông thiên địa. Thiên sơn điểu phi tuyệt. Vạn kính nhân tung diệt. Cô chu thôi lạp ông. Độc điếu hàn giang tuyết. Một thuyền, một bóng, một dòng sông. Không một vết chim đến tuyệt cùng. Chẳng một vết chân ngoài vạn lý. Ngồi câu, người với tuyết mênh mông !

Có phải không, ngồi câu là ngồi lại với chính ta, là ta tìm lại ta giữa hỗn mang của trời đất, giữa hỗn loạn của lịch sữ, giữa hỗn độn của lòng người.

Mà có tìm được hay không lại là chuyện khác. Chuyện cần là lách mình ra khỏi những vọng động của đời thực để thế sự rồi mơ hồ như vọng âm của tiếng cá quẩy động ở đâu đâu.

Tựa gối, buông cần lâu chẳng được, Cá đâu đớp động dưới chân bèo !

 

Rồi lại khi đối ẩm với ... mùa thu !

Năm gian nhà cỏ thấp le te, Ngõ tối đêm sâu đóm lập lòe

Vẫn cái giọng thơ nhẹ nhàng, giản dị tới độ bình dị, chữ nghĩa rặt nôm làm nghe ra thân thuộc dù đời xa đã xa hằng bao thế hệ. Bởi vậy, đọc thơ rồi sao thấy cùng một nỗi cảm hoài.

Ba cái thứ chữ dân gian, thứ ngôn ngữ nói, nghe ra thì dễ dãi hết sức mà đưa vào thơ làm rõ thêm ra cái cảnh trí nhà quê thân thuộc - năm gian nhà nhỏ thấp le te, ngõ tối đêm sâu, đốm lập lòe - hình quen cảnh thuộc làm như đâu mới hôm qua hôm kia còn chạy nhảy lúp xúp trên những bờ đê nức nẻ, còn núp cột đình coi cọp tuồng San hậu, còn lăng xăng qua lại mấy nhịp cầu tre lắt lẻo ... thứ thân thuộc giờ chỉ còn trong tưởng vọng dưng không làm dậy lên từng nỗi xót xa. Xóm vắng, năm ba gian nhà lá thấp chủm, lượn lờ vạt khói cơm chiều và con trăng sớm nhỏ nhẹ dọi xuống lòng ao hẹp ... Quê mình đó chăng ? Bao lâu rồi chưa thấy lại ! Ông Nguyễn ơi, có phải hình ảnh một xóm làng đìu hiu từ cơn nạn nước làm ông chảy nước mắt dù ông còn nán lại quê ông. Và tôi, kẻ xa quê cũng vì nạn nước, giữa hồi chạng vạng làm sao còn thấy kịp lại quê nhà !

Thơ đọc lên nghe thì dễ dãi mà lại sắc mắc như giấu đâu gai góc làm xước máu mấy con tim cứ hay hoài vọng cố hương ... Có phải tại chính cái trơn lùi của chữ nghĩa vốn quen miệng tới ngọt xớt của tiếng nói câu chào làm người ta thấy gần gũi, thân thiết rồi ... cảm. Thơ đó chăng ? Hóa ra tìm chi chữ cao kỳ, nghĩa bí hiểm ... cho mệt.

Lại nữa, khi không giữa lúc lòng đang rười rượi mớ hình xưa bóng cũ, lại bày rượu ra mà độc ẩm. Uống rượu với thu thì có khác chi là ... uống rượu một mình.

Rượu. Tửu phùng tri kỷ thiên bôi thiểu. Thoại bất đầu cơ bán cú đa. Âu Dương Tu.

Rượu. Hô nhi tương xuất hoán mỹ tửu. Dữ nhĩ đồng tiêu vạn cổ sầu. Lý Bạch.

Rượu rót ra là để cùng san sớt. Rượu một mình là miếng đắng trộn miếng cay. Đắng cay không vì men rượu. Đắng cay vì thiếu người đối ẩm.

Da trời ai nhuộm mà xanh ngắt

Mắt lão không vầy cũng đỏ hoe

Đến một lúc rồi ngó quanh ngó quất, dẫu cũng người qua kẻ lại mà lấy ai để san sẻ chút vị nồng. Lọc lừa sau bao nhiêu dâu bể thăng trầm, lắm khi rồi chỉ còn lại ta-với-ta. Cái nhóm chữ này coi vậy mà sau rốt rồi không thiếu người san sẻ. Ly rượu chiều chưa cạn. Lòng đã lạnh đầu hôm. Ngửa cổ nốc ngụm chót. Rượu đắng, lệ khôn cầm.

 

Mắt lão không vầy cũng đỏ hoe. Đọc mà nghe thương quá. Rượu một mình. Y như mình đối bóng. Thứ bóng ngồi đó mà nín khe. Phải chi ông Dương còn bên để san chút rượu sớt chút lòng hẵn là rượu có nồng cũng chỉ làm tiếng cười thêm hào sảng. Đằng này, rượu một mình, nói chi tới năm ba chén, rượu mới bốc mùi thôi, đã bao nhiêu rộn ràng quá vãng đủ làm chao đảo một hiện tại cô đơn. Độ năm ba chén đã say nhè. Lời thật hay chỉ là lời tự biếm. Lời tự biếm hay cũng chính là lời tự thú nhận về sự bất lực của mình trước những đổi thay của thời thế cũng như của chính thân phận mình. Buồn ơi, chào mi !

 

Mùa thu của Nguyễn Khuyến đẹp như bức tranh thủy mặc. Phong vị tiêu sái dễ làm người thoát tục. Lúc nào trời cũng xanh ngắt, cao vời vợi. Chấm phá đôi ba nét thiệt nhẹ, mơ hồ làm trời nước bỗng lung linh. Trời thu xanh ngắt mấy từng cao. Cần trúc lơ phơ gió hắt hiu. Nước biếc trông như tầng khói phủ. Song thưa để lọt bóng trăng vào. Cái đẹp mong manh như dễ vở, dễ xui lòng người chiêm nghiệm đến cõi vô thường. Từ đó bỏ quên thực tại như một cố gắng vượt thoát. Nhưng khổ nỗi, muốn là một chuyện mà lòng người trăm nỗi là giây tơ chằng chịt, giữ khịt người ta lại với hiện tại, thứ hiện tại thất quốc vong thân. Mãi mãi vẫn là tâm trạng của kẻ thua cuộc.

Trời xanh cao vút, lất phất vài nhánh trúc đẩy đưa như ngoắc gọi con trăng chèn qua mấy chấn song thưa vào làm bạn. Tâm cảnh đã không vui thì cái đẹp càng gợi ra cái buồn. Mấy chùm trước giậu hoa năm ngoái. Một tiếng trên không ngỗng nước nào. Thấy hoa năm nay sao lại nhớ hoa năm ngoái ? Luyến tiếc gì chăng ? Mà sao lại hoa-năm-ngoái ? Tiếng chim kêu chiều lạc lõng có phải là biểu hiện cho tình cảnh bơ vơ của người dân mất nước. Chim lạc bầy có biết tổ đâu mà về ! Ngỗng-nước-nào ? Có phải rồi bỗng nhớ Đỗ Phủ ! Tùng cúc lưỡng khai tha nhật lệ. Cô chu nhất hệ cố viên tâm. Ông ở quê mà hồn ông ở đâu ? Có phải như ông Đỗ ! Hai lần cúc nở, bao nhiêu lệ. Một chiếc thuyền neo, mấy khóa sầu. Có phải nước mất, người ta dẫu sống trên quê mà hồn đã viễn xứ. Lại nữa, giữa nạn chung, còn bao nhiêu nạn riêng. Những thúc ép bó buộc của một cuộc đổi đời tàn tệ. Sử chép lại như sau :

... Người Pháp sau khi dẹp yên giặc giã tìm cách thu phục nhân tâm, mua chuộc các sĩ phu có danh vọng trước, nên có ủy cho Hoàng Cao Khải rồi Vũ văn Báo nhiều lần mời ông ra làm quan. Nhưng ông nhứt định khước từ. Tuy nhiên để Pháp khỏi ngờ, để cho những ngày già được yên ổn, ông vẫn phải nhận sự thăm hỏi của phe hợp tác, và cho con là phó bảng Nguyễn Hoan ra nhận một chức quan nhỏ với Tân Trào... (**)

 

Khổ thân người vốn đã bỏ đi lánh đời. Nhưng đời có chịu bỏ người đâu. Bắt phong trần phải phong trần. Cho thanh cao mới được phần thanh cao. Dẫu vậy, bằng mọi cách, dù không tích cực, ông vẫn mặc nhiên xác nhận tư cách kẻ sĩ, khi đời loạn lạc. Cứ tưởng đến hoàn cảnh của cá trong chậu chim trong lồng mà thương. Cứ nghĩ đến Nguyễn Du hơn nửa thế kỷ trước trong cảnh thay ngôi đổi chúa. Một phen thay đổi sơn hà. Mảnh thân chiếc lá biết là về đâu. Nghĩ thêm chút nữa đến người miền Nam sau cơn vỡ trận bẽ bàng cuối tháng ba năm đó. Người dốt nát đã khổ. Người có chữ càng khổ thêm mấy lần vì cái đầu vốn hay nghĩ ngợi. Mà càng nghĩ ngợi thì càng thêm bế tắc. Lúng ta lúng túng ...

 

Nhân hứng cũng vừa toan cất bút

Nghĩ ra lại thẹn với ông Đào.

Đọc lên hai câu chót mà cảm thán đến chạnh lòng. Làm sao nói hết được thứ mặc cảm của kẻ sĩ lỡ thời. Biết trách nhiệm đó, biết bổn phận đó. Nhưng biết rồi làm sao. Nhập cuộc thì không đủ sức. Đứng nép ra bên lề khi thế sự cứ cuồn cuộn thì y như trốn chạy. Làm sao ? Làm sao ! Nghĩ thẹn với Đào Uyên Minh, người viết bài Qui khứ lai từ như một tuyên ngôn phủ nhận hết mọi liên hệ với cuộc đời chẳng qua cũng chỉ là một cách né tránh, khi không thể trực diện với vấn nạn của một kẻ sĩ khi nước mất nhà tan. Chỉ là vì khó ăn khó nói với đời. Mà nhất là vì khó ăn khó nói với chính mình, khi chính mình đã biết câu trả lời phải là ... một sự dấn thân tích cực, ở bên này hay bên kia chiến tuyến. Phong cách Lão Trang có phải chỉ là những biện hộ lấp liếm đến tội nghiệp. Biết vậy, nhưng rồi giữa những thúc bách của lịch sử và hạn chế của thân thế, ông đã chọn cho mình lối xuất xử ít tệ hại nhất. Bên cạnh miếng mồi nhử đỉnh chung, bất hợp tác cũng đã là thái độ liêm sĩ tối thiểu của một văn nhân. Đã không ít kẻ còn làm ngược lại !

Nhưng rồi, thử đặt lại câu hỏi, người về ở ẩn khi nước mất vào tay ngoại bang, kể cả lọt vào tay kẻ đồng chủng mà không đồng tình, rồi có yên lòng sống nốt quảng đời còn lại. Hay rồi vẫn là những ray rứt, những băn khoăn, những đêm sâu thắc thẻo ...

 

Những bài thơ thu của Nguyễn Khuyến rốt lại chỉ là những thầm thì với chính mình, như một cách xoa dịu thứ mặc cảm bỏ cuộc, trốn chạy ... của một kẻ vốn đã có danh phận với đời. Hơn nữa, như một cách gá bạn để chia bớt lẻ loi !

 

Hồi đó, lúc còn trên bục giảng, mình có nghĩ ra được vậy không ?

Lời tự vấn hẵn là lời tự trách !!!

 

Uống rượu, câu cá, vịnh thơ, họa thơ ... hay gì đi nữa cũng chỉ là để lấp đầy cái khoảng trống khủng khiếp bày ra hằng giờ hằng phút trước mặt người tự thấy mình đã thành ... vô ích. Kẻ bị xô ra –hay tự ý - đứng bên lề khi dòng đời cứ lạnh lùng xoay trở đến vô thủy vô chung có phải là kẻ đã bị lưu đày - hay tự lưu đày - vào cái xó riêng. Ở đó, rất đỗi một mình, lặng lẽ đón từng ngày đến, đưa từng mùa đi, những mùa thu của đời mình.

 

Đến một lúc, mặc những mùa thu đến rồi đi, có còn ai ... đưa tiễn !

 

Cao vị khanh

 

 

(*) tựa bài nhạc của Trịnh Công Sơn

(**) Ngày xưa Tuyết muốn lấy ông

Ông chê Tuyết bé, Tuyết không biết gì

Bây giờ Tuyết đã đến thì

Ông muốn lấy Tuyết, Tuyết chê ông già

(***)Việt Nam văn học sử giảng ước tân biên- Phạm Thế Ngũ

 

 

Ngoài lề-

Lẻ ra chắc cũng đã đủ cho mớ cảm hoài bất chợt. Nhưng rồi sao thấy như thiêu thiếu khi chưa xuýt xoa thêm chút xíu về tài hoa thơ phú của ông. Thật ra sách vở mấy đời đã nói gần như không sót chút nào. Chỉ có điều vốn là người miền Nam rặt nòi lục tỉnh, khoái cái lối nói nôm na mà ởm ờ kiểu như hôm-qua-qua-nói-qua-qua-mà-qua-hổng-qua ... vậy mà mới nhớm lại mấy câu thơ cũ trên môi, cả mùa-thu-Nguyễn-Khuyến như đã hiu hắt trong đầu, tiếng-thu-Nguyễn-Khuyến đã xao xác trong tai. Thử vẽ vời hai câu thực của bài Thu điếu, Sóng biếc theo làn hơi gợn tí đã muốn kêu lên ... “ giời ơi sao mà tuyệt thế ! ” Mà quả tình tuyệt thiệt ... Làn hơi gợn tí. Gợn tí thôi, tí thôi. Miền Nam nói “ chút hà ”. Người Bắc nói “ tí thôi ”. Đặt vô đây đúng boong cái chỗ của chữ. Sóng có gợn mà như không gợn. Chỉ gợn tí thôi. Chút sóng li ti làm mặt ao tưởng là phẳng lì mà vốn là động đậy. Y như cái ảo giác ngược lại khi nhìn nắng giữa trưa hè thấy nắng lung linh mà thật ra nắng có nhúc nhích gì đâu. Ông cho ta cái cảm tưởng như ông làm thơ mà gượng nhẹ từng chữ, làm như sợ chữ ... đau. Ông xài chữ mà như rón rén chọn chữ. Sóng có gợn mà gợn chút xíu thôi hà. Mà điều “chút xíu” cùng nghĩa mà lại không cùng âm sắc với “ tí ”. Chữ “ tí ” vừa làm hẹp không gian, thu ngắn thời gian lẫn gây tác động tâm lý làm mường tượng chuyện có có không không. Tĩnh mà Động. Giả sử làm gan sửa lại ... sóng biếc theo làn hơi gợn ... chút. Dĩ nhiên nghĩa vẫn y nguyên, có sai chạy gì đâu. Mà điều, nghe rồi làm như hơi thu nằng nặng, trời thu đùng đục, sóng thu lợn cợn, bước thu đi thành ra trì trệ làm tình thu mất đi cái vẻ thanh thoát tự ban đầu. Rồi đến chuyện ba cái lá vàng. Lá vàng trước gió sẽ đưa vèo. Đến mùa rơi thì lá rụng. Lá rụng là chuyện của lá, mà đưa đẩy là chuyện của gió. Lá thả mình ra khỏi cành thì gió sẽ hứng lấy mà đưa đi. Ào ào đưa đi hay se sẻ đưa đi. Gió se sẻ đưa đi mà rồi lá rơi cái ... “vèo” cũng nghĩa y như gió se sẻ đưa đi mà rồi lá rơi ... cái một. Nhưng mà rơi cái “vèo” làm cho tiếng rơi nghe sắc lẻm, dứt khoát, quyết liệt ... không sót lại chút dư thanh ... càng làm nghe ra cái điệu hấp tấp vội vàng của bước thời gian đang chuyển. Người trong cuộc rồi tự thấy mình vô nghĩa, có đó mà không đó. Nhất ông ! Ông Tam Nguyên Yên Đổ làm thơ theo tiếng địa phương ngay chỗ này nghe ra quả tình là đắc địa. Chữ và nghĩa và âm thanh đúng chỗ đúng độ làm ý thơ lồ lộ, lồ lộ mà mông lung khiến người đọc như té vào ... khoảng không ... êm ru. Động mà Tĩnh.

 

Tưởng vậy mà không phải vậy. Không phải vậy mà là vậy. Động-Tĩnh Tĩnh-Động thành vô định. Có-Không Không-Có hóa phù du. Tuyệt !. Mùa thu của Nguyễn Khuyến là mùa thu của kẻ ẩn cư, của người đã xa tục lụy nên mọi chuyển động dường như cũng nhịp theo nhịp đập của con tim đã tới hồi đổi nhịp ... lửng lơ.

 

cvk

________

“người đưa thư                     đã

      đi qua… ” (*)

Nhà tôi ở lưng chừng một con dốc. Con dốc là cái rướn mình nấn níu của dãy núi chạy đùa xuống từ hướng bắc, tới giữa đảo bỗng khựng ngang, rồi cố trườn về phía con sông nước chảy xiết sau mấy dặm rừng thưa. Những ngày trở gió, hơi nước ẩm luồn qua các rặng cây cổ thụ, thổi thốc vô mặt mũi cái mùi thảo dã của đồng cỏ phía bắc. Những cơn gió thổi chừng không biết mệt, kéo ghịt người đi bộ lại từng bước. Áo choàng thả lỏng kêu phần phật, người đi lầm lũi giành từng thước đường lên. Cái hoạt cảnh đó diễn ra hằng ngày trước mắt tôi, sớm trưa chiều tối, từ hạ sang đông. Không vậy mà nhiều người vẫn cố tránh. Dễ chừng nếu không có gì hệ trọng, hẵn họ đã rẽ sang ngõ khác. Nhưng có một người không thể tránh, nắng mưa kể cả tuyết giá, ông ta vẫn lầm lì lội bộ lên cái đoạn đường quái ác đó. Người đưa thư của xóm tôi. Bộ đồng phục màu xanh biển và chiếc túi xách trì một bên vai vẫn là cái nét quen thuộc duy nhất của một khu gia cư mà những căn nhà thường đóng cửa im ỉm vốn không gợi được chút nào niềm thân mật.

 

Mỗi buổi sáng, khoảng 10g, người đưa thư đi qua…

 

Ở mấy cái xứ tân tiến này, nghề đưa thư không hẵn là một nghề hạ bạc. Mà không chừng với tổ chức nghiệp đoàn, họ còn sướng hơn nhiều lần những nghề khác. Không phải là cái hình ảnh gầy còm, hốc hác, thui thủi …

 

Không. Ở đâu không biết, chớ ở đây, họ hồng hào, tươi tắn, khỏe mạnh …

 

Vậy mà sao, trong tôi, hình ảnh người đưa thư vẫn phảng phất một vẻ gì đó lãng đãng rất phong sương. Có phải vì trong cái túi đeo vai của họ đang căng phồng gió bụi của đường xa còn bám đầy những phong thư kín chữ, gói ghém những thao thức nhớ, những nỗi niềm mong. Những người đưa thư đó đang làm cái việc nối lại những khoảng không vốn vẫn hay chia cách những tấm lòng.

 

Ðã lâu, khi mà người ta còn tụm năm tụm ba thành những chòm xóm tản mác xa xôi, cách núi ngăn sông, người đưa thư đã là những cánh tay nối dài, dài lắm.. từ một góc bàn viết, một khung cửa sổ hay cạnh một góc giường đơn chiếc … đến một góc bàn viết khác, một khung cửa sổ khác hay một cạnh giường đơn chiếc khác … từ một sườn núi nối tới một vực biển, từ một bờ sông nối qua một vàm rạch … Rồi từ xóm làng lan dần ra đường phố. Họ tẳn mẳn tỉ mỉ nhìn soi một số nhà, len lỏi một hóc hẻm, băng qua một đại lộ hay trèo lên một nấc thang. Họ biết hết, ông triệu phú trong ngôi biệt thự lộng lẫy, anh thư ký quèn trên căn gác lợp tôn, bà giáo già có đứa con trai đi trận, cô gái điếm còn bà mẹ ở quê … Họ biết mặt từng người, họ còn biết luôn cả tâm trạng của người đối diện. Họ đong lường được cái chờ mong, cái sốt ruột, cái hân hoan cũng như cả cái hững hờ. Có một thời, những tờ giấy, những ngòi bút và những dòng chữ… ờ những dòng chữ. Những dòng chữ với nét chấm phá gọn và sắc như có lá trúc xen ngang. Những dòng chữ ngoằn nghèo như phù phép bùa chú. Những dòng chữ thẳng đứng trượng phu. Những dòng chữ nghiêng nghiêng điệu cò bay lả cánh. Những ngòi bút lá tre chấm mực xanh xanh tim tím, những đầu bút tròn vo như viên bi … Còn những tờ giấy, ờ những tờ giấy trắng tinh thơm phức mùi nhựa thông đầu núi, những tờ giấy hồng phơn phớt chút hương hoa …

 

Có một thời, mọi thứ đó đã là vật tối cần thiết cho đời sống tinh thần và tình cảm của con người.

 

Lướt thướt trên mặt giấy lặng thinh, người ta cân nhắc một nét phẩy, một dấu chấm. Người ta nghĩ ngợi, người ta so đo. Nhớ thương vui buồn oán hận trách móc. Thăm hỏi hứa hẹn … Ðủ thứ, kể cả đôi khi chỉ vơ vẩn thứ chuyện mưa xuân với nắng hè …Trong sự yên lắng cùng cực của mặt giấy mênh mông, người ta nói chuyện với một người. Thầm thì hay rạo rực. Xốc nổi hay điềm đạm. Người ta nói, nói miên man, nói thay cho những đêm tỉnh mịch, nói thay cho những ngày vật vã. Những lá thư. Ờ, những lá thư. Những lá thư thay cho một tiếng kêu vui, những lá thư thay cho một tiếng khóc nghẹn. Khi những khoảng cách còn là những dặm trường. Những sông ngăn núi trở. Những yêu-em-anh-cũng-muốn-vô sợ-truông-nhà-Hồ-sợ-phá-Tam-Giang. Khi những khoảng cách mãi là những bức tường thành được dựng lên bằng lề thói xả hội, bằng tôn giáo, bằng giai cấp, bằng giàu nghèo sang hèn. Khi những khoảng cách giữa người và người được rào chắn bằng mọi kiểu, mọi cách, mọi thứ vô lý vô nghĩa vô nhân vô tình nhất.

 

Bất chấp cái đầu và con tim của con người chẳng có gì ngăn cách được.

 

Roméo và Juliette. Thử tưởng đến những dòng chữ ân tình đã lén lút viết gởi cho nhau bằng mực và nước mắt qua mấy bức vách đá lầm lì và những tấm lòng thù hận sân si. Những bức thư mà tiếng Việt còn gọi là những cánh thư dù những bức thư không có cánh. Phải chăng đó là một dụng ý rất tế nhị để gọi thứ phương tiện truyền đạt khi người ta không thể gặp nhau vì bất cứ một thứ trở ngại nào đó. Cánh, cánh chim, cánh thư ! Có còn một ẩn dụ nào kỳ diệu hơn nữa !

 

Ờ, những lá thư không mang cánh chim bằng mà bay qua vạn dặm để nối kết hai đầu của một nỗi nhớ mênh mông. Những cánh thư mỏng dánh mà xóa nhòa hết mọi biên giới trần gian để làm sum họp những đoạn lìa tức tưởi. Đã có một thời, những cánh thư ... Ờ đã có một thời, từ hai bên bờ một đại dương ngăn ngắt, những cánh thư bay qua bay lại để gởi nỗi héo hon của người ở lại tới người vừa bỏ ra đi. Và mang trả về bên bển, con mắt trao tráo của khuya hôm mất ngủ vì chợt đâu có một bóng trăng rơi xuống đầu giường. Những cánh thư mang theo từng cơn thắc thẻo của cha mẹ già khi bị bứt lìa xa từng núm ruột. Những cánh thư vàng vọt dấu thời gian, chui lách qua chằng chịt những cặp mắt cú vọ của đám giặc bất nhân, rồi bay chập chờn qua mù mịt biển...

 

Những ngày đó, từ sau cửa sổ, dòm chừng con dốc cao, khi bóng người đưa thư vừa trờ tới, đã có bao nhiêu lần trái tim còn trẻ bỗng như đập hụt một nhịp. Và một ý nghĩ thoáng qua. Cha mẹ mõi mòn bên đó. Trông thư . Mà lại cứ sợ một lá thư ... ! Bởi vậy thuở đó cứ vừa trông vừa sợ người đưa thư ghé lại nhà !

 

Thư tới chậm quằn đôi cánh mõi. Giấy võ vàng héo muộn đường xa. Dấu chấm nặng như từng viên sỏi. Ném vào tim ngàn trận phong ba ...

 

Dẫu vậy, những lá thư đâu chỉ để làm buồn. Những lá thư còn là những cánh én mang dấu hiệu của mùa xuân mới. Của thứ tình cảm dễ hiểu và cũng khó hiểu nhất của con người. Kiểu những Lá Thư dập dìu sóng nhạc của Đoàn Chuẩn Từ Linh viết đâu từ một thời tiền chiến Nhớ tới mùa thu năm xưa gửi nhau phong thư ngào ngạt hương nét bút đa tình lả lơi nhớ phút ngập ngừng lòng giấy viết rằng chờ đến kiếp nào tình đầu trong gió mùa (*)

 

Ờ những lá thư - giấy trắng mực đen hay giấy hồng mực tím - chứng tích của tình vui tình buồn tình thương tình nhớ tình sầu tình đau tình hận .. hầm bà lằn xắn cấu tình, tình nào cũng có, đã được ép giấu như xác bướm khô trong những tập sách hay được xếp cất cẩn thận trong hộp sắt hộp gỗ như đồ gia bảo hay đã bị ... phóng hỏa cho hả cơn ... thất tình.

 

Thử nhớ lại một thời mới lớn, giữa lúc mà lễ giáo nho phong còn là cái khung kềm giữ mọi động tịnh xả hội, gái trai thì muôn đời vẫn là ong bướm đương xuân, thì làm sao mà kềm giữ cho đành. Vậy rồi lỡ có mắt liếc mày ưa thì làm sao mà tỏ dạ. Những lá thư, ờ những lá thư. Những trang giấy xé ra từ tập vở học trò, mực tím mực xanh, chép vụng về một câu thơ bóng gió của ai đó, hay khá hơn, cắn bút, cặm cụi tả trời trăng mây nước để vụng ý một tâm tình, rồi cẩn thận xếp đôi xếp ba, nhét vào phong bì rồi nắn nót đề tên địa chỉ “ ai đó “ rồi len lén ghé một trạm bưu điện, rồi ngó trước ngó sau nhét đại vào thùng thơ rồi vội vã quay lưng bỏ đi như vừa làm một việc tày trời cứ sợ người quen bắt gặp. Mà cũng phải, ở cái tuổi mới nứt mắt thì có chuyện gì trọng đại mà phải thư với từ ngoài cái chuyện gởi thư với tình, thứ chuyện động trời thời đó. Thư đó. Thư tình mới lớn.

 

Lớn lên chút nữa. Anh tiền tuyến em hậu phương. Giữa cái thời nhộn nhạo lửa đạn thì ôi thôi hẵn không biết đã có bao nhiêu trang thư viết tay đã bay tới bay lui để kéo lại gần nhau một thành phố và một góc rừng, để nối lại một môi hôn còn lở dở. Thời đó, những người lính quân bưu đã vác những bọc thư với những địa chỉ KBC lạ hoắc theo những chiếc trực thăng bay tuốt lên những đồn binh treo lắt lẻo trên những chỏm núi vắt mây hay lún chân trong những bãi sình lầy để trao tận tay người ở đó mấy lời hỏi han lo lắng cầu nguyện ... của người ở nhà. Rồi len lách qua những ngõ hẻm, lặn lội qua những làng xóm ... người đưa thư ở thành phố lại đem về một lời trấn an, một câu dặn dò, một ước hẹn ... của người đi xa. Vậy đó, những lá thư và những người đưa thư thời đó đã cầm giữ, níu chặt từng mối thâm tình đang bị gió bão lung lay. Cho đến giờ, dẫu có cứng lòng cách mấy, mà có dịp nghe hay đọc lại một đoạn nhạc và lời của ông Trần Thiện Thanh trong cái thời lửa đạn đó mà không xúc động Thư của lính, ba lô làm bàn nên nét chữ không ngay Nhưng thư của lính ghi giữa rừng cây khi nhớ em thật đầy (**)

 

Ờ những lá thư viết từ một góc núi, ở một bìa rừng, kê giấy lên ba-lô, lên một tảng đá mà viết mà tâm tình mà hẹn hò ... dù năm bảy phút sau, lá thư đã bị bỏ dở nửa chừng vì một viên đạn quái ác. Ờ những lá thư, nét chữ run rẩy như những câu tâm kinh đứt khúc của bà mẹ xa con, của người vợ sinh con đầu lòng mà không thấy mặt chồng, của người tình trẻ nhớ một người tình trẻ ...

 

Thương hông, làm sao không xúc động. Đã có một thời, người ta viết thư cho nhau bất cứ ở đâu, bất cứ lúc nào vì sống và chết đã không còn ranh giới, vì sum họp và chia lìa không ai hẹn được. Chỉ còn những lá thư, với người đưa thư như những chiếc phao cuối cùng nấn níu cho những tâm tình sắp đuối.

 

Tình sử còn đầy những trang thư kín chữ mà mỗi dấu phẩy dấu chấm là những thao thức dằng dặc, mà mỗi tái bút là một ước mơ trăn trở, mà mỗi đợi chờ đã hiển hiện ngay từ khi vừa gác bút. Những lá thư tình của Napoléon và Joséphine mà chữ nghĩa quến đặc như mật ngọt dậy men.. Những lá thư của George Sands và Alfred de Musset mà tình ý đắm đuối ẩn tàng trong từng lớp vỏ chữ bọc ngoài (***). Gần với chúng ta hơn, 55 năm sau ngày mất, người con gái của Albert Camus đã cho phổ biến Correspondance 1944-1959, gồm 1255 ̣( một ngàn hai trăm năm mươi lăm ) trang chi chít chữ nghĩa say đắm như hoa với bướm, được trao qua đổi lại giữa nhà văn và người nhân tình giấu mặt, nữ kịch sĩ Maria Casarès. Một ngàn hai trăm năm mươi lăm trang kể lể nhớ thương, kêu rêu cách trở, và nồng nàn hơi hướm tình nhân ... của một nhà văn mà mỗi tác phẩm đều là một tra vấn sắc lạnh về bản thể của cuộc đời, mà tha-nhân-là-địangục, mà mọi tương giao chỉ là ngộ nhận, mà mỗi người trong chúng ta từ sinh ra đã chịu chung lời nguyền Sisyphe ...

 

Dưới ngòi bút của một văn nhân, tình yêu hiện ra lóng lánh muôn màu muôn sắc. Chữ và nghĩa không còn là những ký hiệu vô tình, mà ngược lại được vỗ về bằng chính sự chân thành, nỗi thiết tha, niềm đam mê, lòng trân trọng ... chữ nghĩa đó đã bay tung lên như đàn bướm lượn để tụng ca tình yêu. Và ngược lại, nhờ vậy tình yêu cũng trở nên tươi thắm như lá hoa được tắm mát mưa nguồn. Người ta yêu nhau. Và hạnh phúc trần gian là một cái gì có thật. Kể cả đến khi mất nhau vì định mệnh, niềm luyến ái giữa hai người vẫn không chút lạt phai. Maria Casarès. Quand on a aimé quelqu’un, on l’aime toujours. Lorsqu’une fois, on n’a plus été seule, on ne l’est plus jamais.

 

Làm sao kể ra hết được những lá thư tình giấu mặt, bay lẫn lút trong cõi thế gian vô tình, bay chấp chới trong cõi không gian vô tận. Vậy đó mà những cánh thư bay qua bay lại, mà nối kết những chia lìa, mà xóa mất những ranh giới nhân tạo ngăn cách những tấm lòng.

 

Đã có một thời, những người đưa thư ...

 

Thử tưởng đến những kỵ sĩ phóng ngựa trong đêm, qua đèo qua suối, để trao cho kịp một phong thư, nối cho kịp hai đầu một nỗi nhớ . Nắng lửa, mưa dầm, gió cuốn, sương sa ... đã có bao giờ làm chùn bước ... những người đưa thư ! Không. Tự như thời xưa họ đã gò mình trên lưng ngựa, qua truông qua ải, đến thời sau họ vẫn lầm lũi xuôi ngược khắp phố phường, qua ngã năm ngã bảy, len lỏi những hóc hẻm, leo trèo những bậc thang để giao tận tay một nỗi vui, một niềm buồn, một trách móc hay một chờ trông ... kể cả thắp lại cho những kẻ lỡ đường lạc bước từng chút niềm hy vọng. Làm sao quên được câu chuyện đẹp như một bài thơ của anh phát thư Mario mù chữ, mỗi ngày cong mình trên chiếc xe đạp cũ mèm, bánh lăn lao xao qua triền núi quanh co, trên một hòn đảo nhỏ ngoài khơi Địa Trung Hải để tận tay giao cho Pablo Neruda từng lá thư quê nhà khi nhà thơ bị kết án lưu vong, phải bỏ xứ ra đi. Từ đó nẩy sinh một mối giao cảm lạ lùng. Anh đưa thư nghèo mạt rệp trao tận tay người thi sĩ danh giá hình bóng của quê hương ngàn trùng. Đổi lại thi hào đã từng đoạt giải Nobel văn chương chuyển lại cho chàng trai quê mùa và dốt nát những ẩn dụ thi ca tuyệt tác. Chuyện phim dù là tưởng tượng nhưng sáng ngời tính nhân bản trong mối liên hệ giữa người và người. (****)

 

Những lá thư và những người đưa thư đã có một thời dính liền nhau như một. Và quí giá và cần thiết không kém gì cơm gạo bánh mì nước lọc ...

 

Vâng đã có một thời, những lá thư – không hạn định số câu số chữ mà chỉ bị giới hạn bằng chính xúc cảm của người viết, nghĩa là bằng chính một phần đời sống thật, lửng lơ hay cuồn cuộn, rạo rực hay rã rời ... Và người đưa thư, những bước chân đi nối lại những dặm trường ...

 

Vậy mà cái thời đó đã mất, hay sắp mất. Mà đã hay sắp thì cũng là đang mất.

 

Những lá thư chưa bao giờ có giới hạn vì lòng con người có gì để giới hạn đâu. Người ta vui, làm sao tính được vui mấy chữ mấy hàng. Người ta buồn, làm sao tính được buồn mấy câu mấy đoạn. Vậy mà đã tới lúc phải tính.

 

Cái thời đại tin học coi vậy mà ác nghiệt. Chẳng cấm chẳng cản mà rồi đến một lúc dưng không người ta quên mất những câu viết ân tình. Dường như đã đến lúc mọi chuyện, hỏi han, hẹn hò, nhắc nhở, than thở, trần tình ... ngay cả giữa những tình nhân còn đang lúc mặn nồng cũng đâm ra tiết kiệm từng chữ ... từng lời. Mấy cái «ấp » (app) trên mấy cái điện thoại cầm tay ( hay còn được gọi là điện thoại tinh khôn ) đã được tính toán sao cho gọn cho nhanh cho kịp ... tới nỗi rồi ra chỉ còn từng mẫu đối thoại cụt ngủn cụt ngẳn, cắt đầu ngắt đuôi ... dĩ nhiên chưa đến nỗi như Twitter hạn chế hỉ-nộ-ái-ố-ai-lạc-dục đầu đuôi vào 140 chữ, nhưng do tính chất và điều kiện xử dụng, tự ban đầu có mục đích là để nhắn tin, riết rồi thành thứ phương tiện thông tin, truyền bá, bày tỏ, thăm hỏi, rủ rê, mời gọi ... kể cả tự tình ... phổ biến phổ thông phổ cập nhất đời. Đôi khi để nhanh gọn hơn nữa, óc sáng tạo của con người sáng tới tạo ra những hình tượng emoji để thay cho chữ viết, thứ ký hiệu ngoằn nghoèo mà lắm khi vì vội vã bấm sai bấm lộn lại phải bấm lại, dấu hỏi hay dấu ngã, có “g” hay không có “g”, nghĩa là thay luôn cái giọng điệu ngọt ngào âu yếm nũng nịu vui mừng ... hay ngún ngẩy giận hờn của cái thời lãng mạn giờ xưa còn hơn trái đất xưa. Một trái tim là yêu. Hai trái tim là hai lần yêu hơn. Ba trái tim là yêu gấp ba. Và cứ vậy mà yêu thương thả dàn, cứ đếm số trái tim mà đo lường nồng độ của tình cảm. Tình phụ thì trái tim bị chẻ đôi. Dễ ợt và chính xác như một cộng một là hai. Vui ( thích, khoái, chịu ... ) thì hình vẽ cái mặt tròn quay với cái miệng toe toét hai khóe cong lên như cái dấu á “ v ” , còn buồn ( quạo, giận, hờn... ) thì cong xuống như cái dấu ớ “^”. Hay thì ngón cái giơ lên. Dỡ thì ngón cái chúc xuống. Rủ uống cà-phê thì có hình tách cà-phê bốc khói. Mời rượu thì có ly rượu nho đỏ hỏn. Hù dọa thì có sọ người. Dụ dỗ thì sẵn cây kẹo ngọt. V.v... và v.v... Đủ hình đủ kiểu đủ ý đủ nghĩa. Nhanh, gọn và khỏe re khỏi phải ỉ ôi dông dài dai dẳng dằng dai ... Những hình vẽ với dụng ý khôi hài, giễu cợt, ấn tượng, siêu hình, tượng trưng, tả thực ... tả-pín-lù thập cẩm vậy mà ăn khách vô cùng, vậy mà trám vừa đủ chỗ cho cái kho tàng ngôn ngữ và chữ viết của mọi giống người đủ mọi gốc gác. Cái tháp Babel có cơ may được dựng lại. Ở hai đầu một mối thân sơ, hai bên đều thoả mãn cái lối nói dấm dẳn, vụt vặt, vu vơ ... Thời đại kỷ-thuật-số, gom lại chỉ còn cái số-không và số-một.

 

What’s ap, Messenger, Viber, SMS ... ôi thôi kể ra mà lẹo lưỡi, cái nào cũng hay cũng nhanh như sao xẹt. Chớp nhoáng. Tức thì. Nghĩ cũng phải. Khách đường xa sắp sửa đăng trình bằng những đoàn tàu Hyperloop với tốc độ cả ngàn cây số một giờ thì tiếc chi ba cái lời nhắn nhủ hay dặn dò kể lể lê thê ... Mặt đất ai nói mênh mông phút chốc gần hơn Kẻ Chợ. Kể ra tiện lợi thì không có gì tiện lời cho bằng. Lại thêm không thể không gật gù thán phục. Nhìn những người trẻ hôm nay trao đổi với nhau trên bàn phím ảo -nhỏ hơn lòng bàn tay con gái- chỉ bằng hai ngón tay cái mà thiên biến vạn hóa. Chữ nghĩa ở đâu mà hiện ra cứ vùn vụt như gió cuốn mây bay. Cho dù xa vạn dặm, mới hắt mủi là đối tượng hay liền. Thiên lý nhản với thuận phong nhỉ trong truyện tàu ngày xưa cũng chỉ thiên biến vạn hóa tới vậy là cùng. Được vậy người ta lại càng thấy gần gũi nhau đến không còn một ly cách trở. Có điều, nếu thuyết tiến hóa của Darwin mà đúng trăm phần, hổng chừng thêm năm mười thế hệ nữa, hai bàn tay sẽ chỉ có hai ngón cái là to, chắc và dẻo nhẹo, tám ngón còn lại có thể teo tóp đến nỗi chỉ còn dùng để ... phe phẩy.

 

Nhất là hết nghĩ xuôi rồi lại nghĩ ngược, nghĩ tới nghĩ lui rồi đâm ra cũng thấy ngẩn ngơ đôi chút.

 

Mai mốt còn đâu những tâm tình ẩn mật mà viết rồi lại xóa, xóa rồi lại viết, trang này sang trang khác, tờ trước nối tờ sau, thư-viết-đừng-xong-thuyền-trôi-chớ-đỗ, cho-nghìn-sau-lơ-lửng-với-nghìn-xưa ... Mai mốt còn đâu những tâm sự tỉ tê kiểu rủ rỉ rù rì không đầu không đuôi mà lê thê không muốn dứt ... dĩ nhiên rất mất thì giờ, nhưng lắm khi người ta lại muốn mất thì giờ hơn là có thì giờ để ngồi ngắm cái bóng chiếc trong cái phòng không. Mai mốt còn đâu những trông những ngóng, những chờ những đợi một hồi âm ... Hổng nhớ sao, hồi đó ông Châu Kỳ ổng viết bài Sao không thấy hồi âm rồi cô Hoàng Oanh cổ hát nghe mà đứt ruột. Nhưng dẫu đứt ruột mà nghe ra đã làm sao. Hổng đã sao được. Có chỗ để mình trang trải tâm sự rồi nuôi nấng một đợi chờ. Hổng hơn cái lòng trống rổng, cái đầu trống trơn mà thời gian thì trống hoác sao ? Mai mốt còn gì để lại cho đời kiểu ông Lôi Tam những năm 60-70 “... nếu em trách tôi sao hờ hững, tôi chỉ mỉm cười mà chẳng dám thanh minh. Em đâu biết tôi đã thức suốt năm canh viết lên bóng tối muôn vạn bức thư tình chẳng bao giờ chấm dứt “

 

Muôn vạn bức thư tình chẳng bao giờ chấm dứt. Còn gì đẹp cho bằng những bức thư tình viết hoài viết hủy, viết như lên cơn đồng thiếp, mà mỗi lời mỗi chữ là mỗi khai phá những trầm tích của lòng, không đường nét không màu mè mà lại lồng lộng bóng sắc, như hương của hoa và tơ nhện của tình mà người ta đem tặng cho nhau để xoa dịu bớt những sắc mắc của đời vốn dĩ không lấy gì làm êm ả.

 

Từ những năm 50, nhạc sĩ Trịnh Văn Ngân đã viết một bài nhạc có tựa là Người đưa thư đã đi qua. Không biết ông ta có linh cảm điều gì không mà cho người đưa thư lẳng lặng đi qua, qua luôn không ghé lại. Vô tâm tiếng chân đều đều vang theo ai bước đi Xa xa cứ xa dần dần trong khi tim ta muốn lắng ... (*****)

 

Ờ đã tới thời những lá thư bị cắt cụt cánh.

 

Và người đưa thư, người bạn trung thành của không biết bao nhiêu tình nhớ tình mong tình chờ tình đợi ... đã đi qua, đi qua luôn. Và hổng chừng không còn quày trở lại nữa!

 

                                                                                     Cao vị khanh

 

(*) Tựa bài nhạc của Trịnh văn Ngân xuất bản năm 1953

(*)Lá thư - Đoàn Chuẩn Từ Linh

(**)Thư tình của lính – Trần Thiện Thanh

(****)Lettre d’amour de George Sand pour Alfred de Musset

En apparence il s'agit d'une simple lettre d’amour. Pourtant, si vous lisez seulement une ligne sur deux, vous découvrez un texte caché.

Lettre de George Sand à Alfred de Musset :

Je suis très émue de vous dire que j'ai

bien compris l'autre soir que vous aviez

toujours une envie folle de me faire

danser. Je garde le souvenir de votre

baiser et je voudrais bien que ce soit

là une preuve que je puisse être aimée

par vous. Je suis prête à vous montrer mon

affection toute désintéressée et sans cal-

... et si vous voulez me voir aussi

vous dévoiler sans artifice mon âme

toute nue, venez me faire une visite.

......................................................................

.........................................................

........................................

( tự ý đục bỏ )

La réponse d'Alfred de Musset :

(Lire le premier mot de chaque ligne)

Quand je mets à vos pieds un éternel hommage

Voulez-vous qu'un instant je change de visage ?

Vous avez capturé les sentiments d'un cour

Que pour vous adorer forma le Créateur.

Je vous chéris, amour, et ma plume en délire

Couche sur le papier ce que je n'ose dire.

Avec soin, de mes vers lisez les premiers mots

Vous saurez quel remède apporter à mes maux.

Et la réponse de George Sand :

(Lire le premier mot de chaque ligne)

Cette insigne faveur que votre cour réclame

Nuit à ma renommée et répugne mon âme.

(****) Il Postino

(*****)Người đưa thư đã đi qua – Trịnh Văn Ngân

_________________________________________________

Không biết tôi thích lục bát từ hồi nào ?

Có điều chắc là không phải đợi đến lúc mon men bước lên bậc trung học mới học lóm được mấy câu thiệu kiểu yêu-nhau-mới-tặng-ảnh-này xin-đừng-giận-lẫy-và-đừng-xé-đôi. Ờ... sao cái tuổi đó ngây ngô đến độ bạ đâu cũng tưởng là thơ ráo trọi. Mà rồi cũng không phải đợi đến khi gặp thơ thứ thiệt cỡ những câu lục bát tuyệt vời của Huy Cận nai-cao-gót-lẫn-trong-mù-xuống-rừng-nẻo-thuộc-nhìn-thu-mới-về rồi mới đem lòng mê thích. Mà không mê sao được. Ai biểu lục bát cũ rích đâu không biết. Chớ lục bát của ông họ Cù này làm đâu từ những năm 30 mà vài chục năm sau đọc lại còn như thấy mới nguyên.

Đọc thử một bài lục bát tuyệt vời khác của Cao Thị Vạn Giả những năm 60 coi. Tuyệt cú.

Tiễn anh ra tận phi trường.

Lỗi đi. Lỗi ở. Mười phương lỗi về.

Mù sương phi cảng não nề.

Thôi anh. Ở lại buồn về em mang...

 

(Chỗ này thì phải chấm phết xuống hàng cẩn thận mới thấy đuợc cái điên đảo của chữ nghĩa trong lục bát Cao thị...)

Rồi Cung Trầm Tưởng mình-tôi-với-phố-giăng-cao-với-cồn-tuyết-tịnh-buốt-vào-thịt-da

Rồi Viên Linh. Rồi Hoài Khanh. Rồi... Toàn là thi thánh với thơ thần...

 

Tôi mê lục bát lâu hơn vậy nữa, hình như ngay đâu từ lúc còn đèo bồng với má, và cũng từ má mà mê, bắt đầu bằng những câu sáu tám "nhà quê" lắm, cỡ như là ví-dầu-tình-bậu-muốn-thôi-bậu-gieo-tiếng-dữ-cho-rời-bậu-ra-bậu-ra-bậu-lấy-ông-câu-bậu-câu-cá-bóng-chặt-đầu-kho-tiêu-kho-tiêu-bỏ-ớt-bỏ- hành-bỏ-ba-lượng-thịt-để-dành (cho) em-ăn... ầu ơ... ớ... ơ... Ờ từ cái thuở còn lẩn quẩn bên chân má, nghe má nằm võng, hát (ngâm? hò ? ) đưa cháu ngoại ngủ khi chị tôi phải ra trường dạy học. Tôi thì bị cho ra rìa, nằm trên bộ ván gõ kê sát bên. Thử tưởng lại một buổi trưa nào đó, một buổi-trưa-nhè-nhẹ-như-ca-dao, ở một thành phố nhỏ nằm lấp lửng trên mấy giồng đất phù sa của miệt sông Tiền sông Hậu, nắng lấp lóe chập chờn trên đầu cây đứng gió, tiếng võng đưa kẽo kẹt đều đều, và tiếng ầu ơ buồn buồn đưa cái ngủ đậu vật vờ lên hai con mắt... ầu ơ ... ví-dầu-cầu-ván-đóng-đinh-cầu-tre- lắt-lẻo-gập-ghình-khó-đi-khó-đi-mượn-chén-ăn-cơm-mượn-ly-uống-rượu -mượn-đàn-kéo-chơi... ầu ơ... ví-dầu-cậu-giận-mợ-hờn-cháu-theo-cùng-cậu –kéo-đờn (cho) cậu-nghe ầu..ơ... ớ... Câu này nối theo câu nọ, lê thê... không dứt, mà câu sau thì không ăn nhằm gì với câu trước, cứ ầu ơ với lại ví dầu tràng giang đại hải, hết má-ơi-đừng-gả-con-xa nghe tới chảy nước mắt rồi nhảy qua cái chuyện đèn-Sài-gòn-ngọn-xanh-ngọn-đỏ với đèn Mỹ-Tho-ngọn-tỏ-ngọn-lu thiệt tình là chẳng ăn nhằm gì với nhau ráo trọi. Vậy mà đứa nhỏ cứ ngủ ngon lành, thằng bé nghe ké cũng ngủ lê mê... và đôi khi người ru cũng ngủ chập chờn theo luôn, ngủ mà miệng cứ ầu ơ và tay cứ nắm sợi giây kéo tới kéo lui cho võng đưa qua đưa lại... ầu ơ... một-mai- thiếp-có-xa-chàng-(chớ) đôi-bông-(thì)-thiếp-trả-(mà)-đôi-vàng-(thì)-thiếp xin... à...ơ... ớ... ví-dầu-ví-dẩu-ví-dâu... làm như người ru cũng chẳng cần để ý tới cái lô-gíc của mấy lời thốt ra nữa. Nói như cho có nói. Không đầu không đuôi. Bạ đâu nói đó. Mấy tiếng ầu ơ thì như thể đưa hơi bắt giọng mà cũng như còn để lấy trớn bắt quàng qua một chuyện khác. Mà điều sáu tám nối liền sáu tám liên tu bất tận không thua chút nào cái trò nhả ngọc phun châu của đám thần đồng thất-bộ-liên-hoa hồi xưa hồi xửa...

Vậy là tôi mê lục bát từ hồi đó lận. Và chính bằng những câu lục bát quê mùa đó mà tôi lọt vào mê hồn trận của lục bát lúc nào không hay. Mê tới nhập tâm... rồi lớn lên có lúc mượn đỡ xài luôn cũng tiện... Mà không mê sao được. Coi nè. Một cặp luc bát 14 chữ. Bằng bằng trắc trắc bằng bằng. Bằng bằng trắc trắc bằng bằng trắc bằng. Có vậy thôi, dễ ợt. Vậy mà thiên biến vạn hóa. Nói chuyện gì cũng được. Mà nói chuyện gì cũng hay. Không- tin-dở-nắp-ra-coi...

Khác với mọi loại thơ khác, mỗi loại chuyên trị một thứ, lục bát thì có thể trị bá chứng. Từ tỏ tình đến thất tình, từ chung thủy đến phụ bạc, từ vui đến buồn, từ giởn hớt chọc phá đến nghiêm trang răn dạy... cái gì lục bát cũng làm được hết. Mà làm tới nơi tới chốn, đâu ra đó mới là kỳ. Nghiệm lại thì hình như chính cái luật mà không lấy gì làm nghiêm nhặt của nó đã thả lỏng ý tưởng thành ngựa không cương. Chữ nghĩa và vần điệu cứ mặc tình dong ruổi nên ý tứ cứ mặt tình mà phô trương. Thử coi.

Cái hồi tóc còn mượt, chân cẳng còn dịu nhĩu và trái tim còn lăng xăng như con lật đật, cứ xách mấy "bài tủ" đó ra xài là dễ ăn khách lắm. Không biết cái anh con trai đi tát nước giả bộ bỏ-quên-cái-áo có kết quả gì không hay là mất tiêu luôn cái cớ-sứt-chỉ-đường-tà đó chớ còn tôi mỗi khi hát bài sáu tám anh-đi-lục-tỉnh-giáp-vòng-tới-đây-trời-khiến-xui-lòng-thương-em là mười tuồng đã ăn khách tới tám chín. Còn lời tỏ tình nào thiết thực, chắc mẽm như thể dang tay ra mà đo được lòng người bằng chính cái dặm đường lòng vòng sáu tỉnh đó nữa. Tơ tình nào mà không động đậy trước sự chân thành tới độ lấy thước mà đo được đó. Phải không?

Còn cái lúc bị tình phụ, cứ giở cái giọng âu sầu kiểu tai-nghe-bạn-cũ-có-đôi- trong-lòng-bối-rối-như-vôi-mới-hầm thì dẫu cho gan đồng dạ sắt đi nữa mà lỡ để lọt tai thì cũng chảy thành nước chớ đừng nói đến nhi nữ thường tình. Cái lòng bối rối của người bị tình phụ mà đem so sánh với vôi mới hầm thì còn gì tượng hình cho bằng. Nó âm âm i ỉ, reo réo eo xèo, nổi bọt li ti, sôi không ra sôi mà nguội cũng không ra nguội, giống hệt cái kiểu ngồi không được mà đứng cũng không yên, lăng xăng lích xích như đau không ra đau, bệnh không ra bệnh... Nó thật còn hơn cái có thật nữa. Tài hoa của người làm thơ cộng với tài hoa của lục bát làm thơ như trở thành đồ thiệt, có thể đem ra cân đo đong đếm được vậy.

Vã lại cái âm điệu của lục bát nghe hay lắm. Lúc thì lê thê như chèo chống mỏi mê. Lúc thì ào ào cứ như lên thác xuống ghềnh. Nó uyển chuyển thay đổi theo tâm theo ý theo chữ theo nghĩa mà lên bổng xuống trầm cùng với kiểu ngắt nhịp bất định làm lòng người vụt hăng lên hay trìu trĩu xuống. Làm trai cho đáng nên trai. Xuống đông, đông tỉnh, lên đoài đoài tan. Chừng mạnh thì cũng đủ sức hô hào. Mà nhẹ thì cứ như tiếng thở dài khuya khoắt. Anh buồn còn chốn thở than. Em buồn như ngọn nhang tàn thắp khuya... Trời ơi nghe mà như thấy cả đêm cô phụ bay lả lả theo sợi khói ủ ê... Ai mà làm thơ như chọc gan chọc ruột vậy...

 

Cũng tại vậy đó mà tôi mê lục bát...

Mê lắm...

 

Rồi đến một lúc, khoảng giữa những năm 60-70, ở miền Nam bỗng nổi lên những câu lục bát êm ru như tiếng dỗ em thuở nhỏ, mà ý tứ thì nồng nả nhưmấy điệu huê tình trai  gái dỗ nhau. Lẩm nhẩm vài ba câu bất chợt là đã thấy khoái cả ngày. Vai nghiêng nghiêng suối tơ huyền. Đôi gò đào nở trên miền tuyết thơm... (*)

Không đã sao được. Sư môn nói chuyện văn nghệ đã lạ. Mà nói ra hoa bướm lại càng lạ hơn. Lạ tới mê mẩn tâm thần. Lời đồn về một nhà sư làm thơ tình... Phạm Thiên Thư. Yêu nhau từ độ bao giờ. Gặp đây giả bộ hững hờ khói bay. Trời ơi cứ tưởng tới cái đám con trai con gái mới lớn, chập chửng đòi yêu mà đọc tới cái câu lửng-lơ-con-cá-vàng đó là sướng tới xanh dờn cả mặt. Ông ta giam mình trong cửa thiền thăm thẳm mà rành tâm-lý-ái-tình không kém gì bà Tùng Long như vậy thì không biết đường tu hành của ông tới đâu chớ còn đường tình thì phải tôn ông ta là sư phụ... Tại sao trong tự điển có đủ thứ sư mà không có chữ tình sư vậy hả ?

 

Thôi thì em chẳng yêu tôi. Leo lên cành bưởi nhớ người rưng rưng... (*)

 

Phải là người đi sớm về trưa mê mỏi với tình mới có thể nói lời đường mật tới vậy.

Đã tình như vậy thì kinh kệ có làm xa tục lụy không nhỉ ?

 

Cũng đã có nhiều lời bàn về thơ của ông sư họ Phạm. Rằng tình rằng em rằng hoa rằng bướm cũng chỉ là mấy ngón-tay-chỉ-trăng. Thấy trăng rồi thì quên tay đi chớ nấn níu làm chi mà mang tội...

Tôi thì tôi không tin vậy. Trong cái đầu rất hay mơ mộng của tôi thuở đó, nếu đã có một Tiêu Sơn tráng sĩ, đầu cạo trọc, tay bưng rượu tay múa kiếm mà tâm tưởng vẫn phiêu bồng ở cõi Quỳnh Như thì tại sao không thể có thiền sư tay gỏ mỏ tay làm thơ yêu em như cái Lão Ngoan Đồng tay vẻ vòng tròn tay vẻ ô vuông theo thế Song thủ hổ bác... Có cái gì là rặt trắng rặt đen đâu. Chỉ có trắng trắng đen đen thôi. Vả lại trắng ra trắng đen ra đen thì có cái gì mà đáng nói. Hễ yêu ra yêu ghét ra ghét thì cái cõi đời này làm gì còn mộng với mơ nữa. Và làm gì còn những động hoa vàng ở chỗ hang sâu rừng thẳm để chui vô mà nấn níu... nhớ nhau. Vào hang núi, nhập niết bàn. Tình anh nở đóa hoa vàng cửa khe...(*)

 

Lục bát làm tới vậy thì đến Nguyễn Du chắc cũng vừa ý. Vừa nhẹ nhàng mà thâm thúy. Vừa chắc mẽm mà hồ như. Vừa vần điệu mà bay bổng. Có điều dưa muối tương chao mà thơ thì mặn lắm. Sáu tám ỏm ờ cái điệu làm bộ làm tịch, chạy chối quanh co đổ thừa này nọ mà lòng thì vốn đã chẳng-nọ-thời-kia. Giọng thơ lơ lửng, lưng chừng theo kiểu tay nào nghiêng nón thơ che. Tay nào lần chuổi bồ đề xanh xao.(*)

Chữ nghĩa cũng hư hư thực thực, mơ mơ màng màng, hiểu sao cũng được... vuông cũng được mà tròn cũng được. Thơ ở đó mà tình cũng ở đó. Vạc rằng thưa bác Thiên Thư. Mặc chi cái áo thiền sư ỏm ờ.(*)

 

Ờ mặc chi cái áo thiền sư ỏm ờ . Mà hỏi làm chi. Áo nào mà chẳng ỏm ờ, chẳng qua chỉ để che đở mấy cái hình dong tạm bợ mà lại giống hệt như nhau. Không phải đã có ai nói thân xác chỉ là cái giá để móc quần áo đấy thôi. Giá áo thì có cái nào khác cái nào đâu. Cũng là tứ đại với ngũ uẩn. Cũng là lục dục thất tình. Diệt Tuyệt sư thái mà vẫn còn ham hố đánh đấm hàm hồ. Nói chi cái đám thế nhân lục lục thường thường lội qua suối rồi mà còn đèo bồng cái chuyện bên kia suối...

Ta về niệm Phật đại bi.

Phật xa xôi quá, em thì gần hơn

Ngày xưa dâng Phật nửa hồn

Chiều nay em tới... ta còn góc tư ! (**)

 

Tới đây thì phải nói tấm lòng sân si của tôi chỉ còn có góc tám trước cái ảo hóa của thi ca. Chuyện đời chuyện đạo mà miệng lưỡi trơn lu lại tròng tréo như cái hình âm dương lộn lạo thì quả là tài hoa hết mức. Lục bát nghe ra nặng trì như một tấm lòng hệ lụy mà lại nhẹ tênh như một cánh hạc bay qua. Đôi ba mươi năm sau ông sư ỏm ờ họ Phạm, lục bát có thêm ông sư lấp lửng Toại Khanh thì quả là trời xanh có mắt. Cái nòi tình chủng còn có cơ bám rễ lâu dài...

 

Cuối năm 2001, khi trở về từ một chuyến đi xa, tôi được người quen nhét vội vào xách tay, tập sách mỏng vừa "thỉnh" được ở đâu đó, để đọc đi đường. Lòng cuối năm chừng đâu cũng lạnh và cứ chông chênh như chuyến bay ngày trở gió. Tập thơ có tựa Nụ cười Tuyết Lãnh và tên người lạ hoắc Toại Khanh. Từ mấy dòng đầu tiên, tôi đã thấy mây ở đâu mà như ùa vào cửa kiếng và chuyến bay sau đó cứ lênh đênh như một cuộc vân du... Ba nghìn thế giới vo tròn. Nhỏ lên giọt mực chỉ còn trang thơ.(**) Ô hay thơ ở đâu mà bỗng về nhiều vô số kể. Mà bay bổng. Mà trầm uất. Mà tươi rói. Mà chín mùi. Mà xả láng. Mà đắn đo. Mà ngộ thiền. Mà lụy tục. Mà... ba mươi năm một nỗi buồn. Nghìn lo toan, một vô thường tro bay. Muốn về đánh giấc hiên mây. Chợt nghe bến tục tiếng ai gọi đò.(**)

Lục bát suông như tiếng cười ấm ran trong cổ họng, mà thắc thỏm như tiếng gọi đò ơi ới giữa đêm khuya. Lục bát êm ru như tiếng dỗ em mà dằn vặt như một nỗi nghi ngại.

 

Cỏ hoang ngỡ cọng cải trời. Hái bỏ vô nồi, ta khóc mình ngu. Mươi năm rồi, mặc áo tu. Đạo đi nhầm mãi...mịt mù bước đi...(**) Đọc mà thương hết sức. Cũng lại một giống tài-tình-thiên-cổ-lụy!

Thiền môn chắc cũng giống như quyền môn thăm thẳm giam khóa người tình của Trương Tịch vậy. Vào trong đó rồi cứ như cá mắc câu, lúng ta lúng túng, bỏ-thì-thương-mà-vương-thì-tội nên thơ nghe ra đau đến đoạn đành. Ta về biê ̉n chẳng thấy em. Bỏ về non lại một phen mất người. Về sông cánh nhạn lưng trời. Vào phòng đóng cửa thấy người trong tranh.(**)

 

Ông Toại Khanh ơi, nghe đâu ông lánh bụi trần đằng sau cánh cửa tùng dầy cộm mà thơ của ông thì cứ lấp ló mấy dấu chân quên lại ngoài cõi ta bà. Em viễn phố. Ta giang hà. Mình cùng lỗi hẹn. Thế là mất nhau. (**) Mà hổng chừng cũng tại cái tâm vô định mà lại cứ muốn định nên thơ đâm ra lửng tha lửng thửng. Chữ nghĩa cứ như có khói có sương vờn quanh, lênh đênh lãng đãng đến vô chừng. Em về trẩy lá nương dâu. Ta đi thương hải cơ cầu Vũ môn. Một đêm chân mõi gối chùn. Mới hay từ bấy mình chung nỗi khờ.(**) Nỗi khờ nào vậy. Hay chỉ là nỗi tiếc nuối vô vàn cho lần trễ hẹn với định mạng. Sẩy có một khúc quành mà trệt hẳn đi nhau, thành ra lạc mất nhau luôn như hai mảng tinh cầu vào trật một quỹ đạo... lạc mất nhau luôn trong khoảng tối tuyệt cùng...

 

Tự thân lục bát thiệt là giản dị, giản dị tới độ làm thơ quảng cáo thuốc sơn đông cũng được. Cứ bốn-câu-ba-vần là ra ngay. Nghĩ mà tội cho thể thơ đã phát sinh từ nết tài hoa của một dân tộc sính thơ. Được lắm kẻ ưa người thích thành ra nhiều lúc cũng lấm lem bụi đất. Bởi vậy mà lâu lâu đọc được mấy câu lục-bát-mai-cốt-cách-tuyết-tinh-thần lòng cứ ngơ ngơ ngẩn ngẩn phiêu diêu như chợt thấy bóng hạc về một buổi thu phân.

Tên ta là lãng

Em tên nguyệt

Cuộc đời tên giang

Cho trăng nước tương phùng

Ta làm thân sóng dặm trùng Em rơi trên đấy

Mình cùng trầm luân (**)

 

Trầm luân hay thăng hoa làm sao biện biệt. Đời là nước cuốn, ta là gió, em là trăng, thơ là mộng ảo cho gió trăng sông nước tụ họp một lần thì dẫu thiên thu cũng phải sựng lại làm chứng cho cuộc phối ngẫu tuyệt cùng. Một lần thôi đã đủ. Thì trầm luân hay thăng hoa có đáng kể gì đâu.

 

Làm thơ lục bát mà nghe như xua cho nước chảy, thổi cho mây bay, chữ nghĩa thong dong không rán không cố, không o không ép, không cưỡng không cầu, suông sẻ trơn lu mà tình thì đầy ứ như con nước rong lênh láng. Làm thơ như vậy, đạo thì không biết lúc nào mới "đắc" chớ tình thì hẵn là "đắc" phải biết. Lục bát như vậy làm sáng danh cửa thiền không kém gì kinh kệ. Mấy ông sư nhà Lý hành tàng như rồng thấy đầu mà không thấy đuôi. Còn mấy ông sư thời nay đầu đuôi gì cũng lấp ló. Thành ra đạo đời nhập cục gần ơi là gần. Lục bát là cánh tay chỉ trăng. Mà nếu là tay ngà thì sao chỉ thấy trăng mà không thấy tay. Uổng vậy.

Ông Toại Khanh ơi xin ông thứ lỗi. Ông đã cẩn thận dặn dò cả những tiếng Ta Em Thương Nhớ , rải rác đây kia cũng chẳng qua một chỗ neo thuyền bên bờ cỏ. Qua sông rồi thuyền còn bỏ lại, nói gì chỗ buộc dây.

Ờ thì chỗ buộc dây không nói tới. Nhưng còn những dấu hài ? Bây giờ hải giác thiên nhai. Lối mòn là một dấu hài cuối sông.(**) Người xưa kẻ đã ném nón qua sông, người đã cởi trâu xanh đi vào núi biếc thì nhắc làm chi những dấu hài để lại. Mà có sá chi một dấu hài. Dẫu hằng hà vô số dấu đi nữa thì cũng là không. Mười năm sau giữa tịch liêu. Vết người... là một mái lều vắng không.(**) Vậy chớ cuộc lữ này chẳng phải một chuyến đi không về sao? One-way ticket. Ta cầm chiếc vé one-way. Theo em mấy buổi lội về rả chân. Tình trôi về phố mù tăm. Trái tim lộng gió đêm nằm phát run. Làm thơ gởi cõi vô cùng. Em vô trụ xứ tình không chốn về.(**)

Vậy thì dặn dò làm chi nữa cho mắc công. Ta Em Thương Nhớ... Ông... Tôi... hay gì gì đi nữa... lục bát cũng chở hết... cũng đưa cho qua sông rồi đi biệt ... Cái còn lại là mấy dòng lục bát... còn lại là mấy dòng lục bát ngất ngưởng trên con sông đời bát ngát, vô thủy vô chung.

Thiện tai. Thiện tai.

 

Tản mạn như vậy chắc đã vừa đủ lan man. Nhưng sao còn thấy ấm ức. Dường như gần đây đâu phải lục bát chỉ rặt một điệu êm ru, ru đưa người ta vào cơn trường mộng. Không, lục bát còn có cái giọng sắc lẻm, lý lẻ bén ngót như lưu cầu, nhọn hoắc như mũi trủy thủ, cắt đâm tùng xẻo, lôi kéo xềnh xệch người ta về cõi thực. Thơ phóng ra như xô đẩy, vây đuổi, thanh âm dày xéo, cắn đắng, giằng co, trì kéo như cứa vào tâm não, rờn rợn như tiếng mã vĩ cọ vào giây đồng ... bắt người ta đối diện với mình, với quá khứ mình, với hiện tại và cả với tương lai là cái chưa từng có. Bắt người ta ngó trừng trừng vào thân phận, vào định mạng, vào hư vô, vào cái còn, vào cái mất, vào thế giới bên ngoài trống trơn, vào thế giới bên trong trống hoác... Lục bát không còn êm đềm, lục bát trở nên dằn vật, khắc khoải, rêm nhức như cái thời đại của nó.

 

Thời đại của chia lìa khốn đốn, của tan rã thất lạc, của mất tăm biệt tích, của ngộ nhận làm thinh, của đui mù câm điếc, của Tôn Tẩn giả điên, của Bàng Quyên hống hách... Lục bát của Hoàng Xuân Sơn.

Mỗi lần đi

một hỏi đường

tôi chậm lụt giữa nộ cuồng thế gian

giữa trăm khốc liệt giăng hàng

tìm đâu

tôi ?

ở ngổn ngang sự tình (***)

 

Thơ của ông họ Hoàng này dữ dội lắm. Lục bát không còn hiền khô ngún nguẩy làm bộ làm tịch ra cái-điều-em-chả nữa. Lục bát nói thẳng thừng huỵt toẹt ngay bon đúng phóc. Ai trúng tim đau ráng chịu. Lục bát của cái thời khói sương đã ô nhiễm, mùa màng đã điên đảo, trái đất đang hấp hối và nhân loại sắp điêu tàn. Lục bát của cái thời ngôn ngữ đã không còn là nhịp cầu thân ái mà đã trở thành bẫy sập, là lũ âm binh trong tay phù thủy đi gieo rắc tai ương. Lục bát cũng phải hoá thân để chui vào địa phủ.

Đêm =

tiếng thét hoảng kinh

ngày +

thêm nỗi dị hình cưu mang (***)

 

Lục bát không thèm lẫn tránh cái sự thật hiện tiền nữa, không chịu quanh co tránh né nữa. Nó làm cái công việc chứng nhân thiệt thà bằng cung cách rất chững chạc về cuộc trầm luân của thập loại chúng sinh. Chững chạc đến lạnh người.

Mặt đất quanh ta đã co lại. Trăng lầy dấu phàm phu. Hoa lấm lem tục tử. Suối róc rách chỉ còn lại trong nhạc Văn Cao. Và mơ và mộng sẩy non. Và tình yêu và nhân nghĩa chết yểu.

Buồn cho nên đã không còn buồn vơ buồn vẩn buồn thiu buồn thỉu. Buồn là buồn. Chấm hết. Không có buồn buồn. Chỉ có buồn bực. Âm trắc khô khốc như tiếng đóng cửa. Bít lối. Buồn là hết thuốc chửa. Buồn là buồn. Vậy đó. Ngoại cảnh không còn ăn nhằm gì với tâm cảnh. Không còn cái này nâng đỡ hoặc san sẻ cái kia cho nhẹ bớt. Không còn buồn-trông-cửa-bể-chiều-hôm-thuyền-ai-thấp-thoáng-cánh-bườm-xa-xa nữa. Không còn cái buồn-vọc-nước-giỡn-trăng-nước-xao-trăng-lặn-buồn-ơi-là-buồn nữa. Buồn vậy phong nhã lắm. Buồn vậy lãng mạn lắm. Bây giờ buồn là buồn. Vậy thôi. Cái buồn đặc cứng như một khối vật chất ù lì, độc lập, kiêu ngạo, xoi không thủng, xô không ngã, không sang không nhượng. Cái buồn tự thân đã là một lý do ắt-có-và-đủ.

Ngồi bên cửa

lọt ưu phiền

ldễ chừng năm tháng

đã quên lòng người

một vòng dang rộng xa khơi

một ôm hụt hẩng

phiên trời thâm căn

ngồi nghe thương thế lịm dần

với mốc meo nắng

với tần ngần

mưa (***)

 

Nghe chưa mày, tên đãng tử cùng đường. Trước mặt sau lưng bên phải bên trái đã là tuyệt lộ. Dĩ vãng là huyệt tối. Tương lai là kim tỉnh. Bó chân lại mà ngồi. Ngồi như đá thâm căn. Ngồi như rêu trầm tích. Ngồi thu lu như một khối buồn tự tại.

với mưa

                                                                                                      với mưa

                                                                                         với mưa

với môi bằn bặt âm thừa khổ sai (***)

 

Thấy những sợi mưa vô tình bay nghiêng nghiêng chưa? Bay như loạn đao. Bay như xạ tiển. Bay bất kể sống chết bởi có nghe gì đâu tiếng kêu thương trễ tràng đó. Còn lời nào nữa những âm đã thừa thải, người đã xa và ta và nỗi nhớ khổ sai. Bằn bặt, môi run mà không ra tiếng, ý tụ mà không thành lời, trời ơi ông làm thơ hay ông tạc tượng, mà chữ của ông cứ như mũi dao xoáy khoáy vào tim.

 

Hoàng phủ thiếu gia ơi, ông vốn người nho nhả, ăn nói nhỏ nhẹ mà sao thơ ông nghe ra tiếng-sắt-tiếng-vàng-chạm-nhau. Chữ nghĩa như dao kéo cắt khứa ruột rà người ta ra từng khúc cho đành. Chữ nghĩa của ông không còn là đồ chơi cho người ta ngắm nghía nữa. Hay là đã tới cái thời interactif nên chữ nghĩa cũng đổi đi. Nó không nằm ỳ đó chịu trận. Nó động đậy, lung lăng tới độ lôi kéo người ta tới cái chỗ mà nó muốn. Bắt người ta thấy tận mắt, nghe tận tai, đau tận tim cái thực tại chính thị. Không hiệu đính. Chẳng tu chỉnh. Viết cho người bạn tù cải tạo về, ông làm tôi "buồn " quá đỗi khi thấy lại cái trống không đến nhòe nhoẹt còn đó sau cuộc bể dâu 

ta về

như gợn gió âm

Ớ lâu vết buốt

ngực trầm tích kia

giọt mưa

giọt lệ đầm đìa

thất phu

nhòe buổi ta về

trống

không.(***)

 

Cái chữ nhòe của ông "tới"quá đỗi. Nước mắt nhòe hay chính cái lộn lạo của bức tranh vân cẩu nhòe nhoẹt vì dơ dáng dại hình. Thôi thì ai nghĩ sao thì nghĩ. Mà điều thơ của ông cũng độc tài lắm. Nó bắt người ta nghĩ thế này mà không thế nọ. Tại cái chữ của ông có gai có góc nghĩ ngợi lan man nó đâm nó chích cũng rướm máu như chơi. Đã trống lại không thì làm sao mà không nghĩ đến nhạt nhòe khi lòng đã lạnh. Nghĩ khác đi thì nghĩ làm sao?

 

Dường như có lúc ông làm lục bát nghe êm như tiếng Huế rù rì. Giọng có buồn thì cũng còn chốn thở than. Cái buồn như vốn bẩm sinh của Huế lắt lay dưới mấy tàn cây rong rêu lịch sử. Còn đàng này, lục bát của ông bây giờ nghe buồn đến nín thở. Buồn đặc. Buồn cứng. Buồn nặng. Buồn hết nói. Chắc tại miệng lưỡi nhà quan có gang có thép hay sao mà chữ nghĩa của ông càng lúc càng nặng trì.

Chẳng vậy ông còn chơi nghiệt. Ông cắt, ông ghép, ông uốn, ông ép cho lục bát đổi hình đổi dạng như người ta chơi kiểng. Ý thôi chưa đủ, còn phải có hình có dạng ông mới thỏa lòng. Làm như ông muốn đắp da đắp thịt cho một nhan-sắc-mộng-mị vậy. Chữ, câu là cái hữu hình, ý tứ là cái vô hình. Mượn cái có hình đưa tới cái vô hình không phải là một cách tiếp cận sát rạt đó sao ? Cách sắp xếp trình bày vì vậy chính là một phần của tổng thể. Hình thức bài thơ là họa đồ cho đường đi của tình ý. Hình thơ vặn vẹo đập vào mắt, ý thơ ngặt nghèo xoáy vào não. Ông mạnh tay lắm, bẻ gãy cái cấu trúc đã ngàn năm cái một. Bằng trắc thì vẫn là bằng trắc mà sáu tám thì không còn là sáu tám nữa. Đã tới lúc tìm một tên gọi mới chưa cho cái thể thơ mà ông rất sính và rất sành.

 

Có một điều tôi thích lắm là ông nghịch ngợm phá phách vậy mà vẫn giữ y nguyên cái điệu trầm thống của lục bát. Vần thì vẫn bằng trắc như thường mà câu cú thì ông để mặc theo sự tình đưa đẩy. Lúc thì lồng lên giựt ngược như ngựa sút cương, lúc thì nhịp nhàng như lỏng buông tay khấu. Mà cũng không phải vô ý vô tứ gì đâu. Ông ý tứ lắm.

 

Câu một chữ, hai chữ, ba chữ... bảy tám chữ đều có lý của nó. Lúc thì gọn như cắt ngọt xớt, lúc thì cù cưa như cứa, như nghiến cho đau thấu mây xanh. Ông làm thơ như vẻ tranh. Đọc thơ của ông sao cứ tưởng như ông đang oằn người trước khung vải trắng. Dao cọ vung ném tới tắp kéo gò vổ đắp bôi trét từng tảng màu nóng lạnh như từng mảng đời nóng lạnh.

ngàn năm

bản mặt dàu dàu

trái tim vô ý

qua cầu

gió

bay

ra đường thấy nắng hây hây

quay về ngộ gió

thổi đầy

phòng không.(***)

 

Có thấy không, cái tà áo dài bay lả lả như chọc ghẹo trai non...khi qua cầu gió thổi.

tôitôiemem mơ màng

tưởng dăm phút

sống

tào khang nghĩa tình

giậngì giậngì

làm thinh

nói đi. nói

chút rung rinh

miệng

lời (***)

 

Thấy không cặp môi mím chặt, lưỡi líu lại lắp ba lắp bắp, giận lắm đó, cơn khủng hoảng thường nhật của cái đời sống đã tẻ lạnh đến bất thường. Còn chỗ nào để chen vô nói một lời cảm khái.

Chữ, nghĩa, ý, hình, tiết tấu thay đổi dồn dập, dồn dập đẩy lục bát xưa lại gần nay, nhịp theo kịp cái nhịp hổn hển bứt hơi của đời thực. Thơ không nói về cuộc đời. Thơ chính là cuộc đời. Gẫy gập. Trặc trẹo. Tê buốt. Y như cái hình người ôm đàn tây ban cầm của Picasso, ngồi xếp chân, đầu nghẹo tới sát đất, tay khẳng khiu quơ quào như nhánh tre khô và cây đàn, cây đàn thì đâm thẳng lên như một tiếng kêu trời, đứt ruột.

 

Tôi phục ông sát đất ông Hoàng ơi. Ông làm mới một điều đã cũ. Ông kỳ khu gọt giủa mà có thấy công phu đâu. Vậy mới hay. Ông làm thơ bất cứ ở đâu. Trên hè phố. Bên giàn máy. Giữa đám cốt đột ông phải phục vụ hằng ngày. Vậy mà thơ của ông cứ lừng lững ngang nhiên ra vô cõi nhân sinh như vào chỗ không người. Khi bay bổng. Khi trầm trọng. Mà thăng hay giáng gì tôi thấy cũng phảng phất cái điệu con vua cháu chúa, kiêu hãnh ngay cả khi đã bụi lầm. Có vậy thì cô đơn cũng là điều không thể tránh.

 

Tôi phục ông như phục mấy ông "thầy" lúc nãy, như phục mấy ông dân giả lúc trước. Mỗi người một cách mà mười phân vẹn mười.

 

Thơ có điều muốn nói. Nói sao cũng được. Miễn là nói thơ.

 

Cao vị khanh

 

(*) Động hoa vàng của Phạm Thiên Thư

(**) Nụ cười Tuyết Lãnh của Toại Khanh

(***) thơ chưa in của Hoàng Xuân Sơn

Trích từ (Aug 7/2020): 

https://tranthinguyetmai.wordpress.com/2020/08/08/di-loanh-quanh-voi-tran-bang-thach/

 

cao vị khanh

đi loanh quanh…

với TRẦN BANG THẠCH

Bắt đầu bằng một chuyện-trên-trời, cái chuyện vấn-đáp giữa cậu bé Hạng Thác và ông vạn thế sư biểu họ Khổng. Cái thứ chuyện để dạy đời thì hổng là trên-trời thì là gì?

… Khi Hạng Thác hỏi vậy chớ lông mày có mấy sợi thì Khổng Tử bí. Dù đó là một câu hỏi lãng nhách về một thứ lãng òm và thiệt tình là lãng xẹt vì chẳng ăn nhằm gì tới đạo lớn là thứ chuyên trị của người đối diện. Lại là thứ hiển nhiên tới nỗi chẳng làm ai bận tâm dù là mọc ngay boong trên mặt người.

Ờ có những chuyện ngay trước mắt sát bên tai mà chừng hỏi lại thì ai cũng chưng hửng. Không nghe không thấy không hay không biết. Đúng ra là tại vô tình, tại hổng-để-ý, tại xem thường hay tại … hay tại … bị … bởi … vì … (ở đời có hàng triệu thứ tại-bởi-vì khi người ta … bí!)

Có hôm nào ngồi buồn kiểu vọc-nước-giỡn-trăng mà rảo mắt quanh mình, nhẩn nha ngó bộ bàn ăn với mấy cái ghế bọc da (mấy cái ghế?), cái bàn thờ vốn là cái tủ kiếng kiểu tây có chưng mấy chai rượu (mấy chai?), mấy bức tranh của Monet treo trên tường vẽ nội cái góc vườn ở Giverny nhìn dưới nhiều thời khắc khác nhau (mấy bức tranh?)… Nhìn ra xa một chút, mà nói đâu cho xa xôi, quanh đây thôi, ngay trong ngôi nhà mình đang sống sớm hôm, ra vô từng bữa… thử hỏi coi nhà mình có bao nhiêu cửa sổ, cửa cái trổ ra hướng nào, đông tây nam bắc? Còn cái cửa sổ phòng ngủ nữa quay về đâu mà con trăng sáng đầu hôm cứ xui ta thao thức, bâng khuâng nhớ lại một chốn nào… Giả sử vậy, câu hỏi về những đồ vật quen thuộc nhất, gần gũi nhất đó có phải đôi khi lại làm mình ngơ ngẩn. Ngơ ngẩn không phải vì xa lạ. Ngơ ngẩn vì quá gần gũi. Ngơ ngẩn vì quá quen thuộc. Quen vì thấy hoài thấy hủy. Thuộc vì vốn của mình chớ có phải của ai đâu!

Ờ, ở đời vậy đó. Có những cái vốn của mình như tứ đại ngũ uẩn – mà Phật đã lỡ một lần nêu lên nghi vấn về quyền sở hữu, còn nhiều cái khi không mình quơ quào nhận đại là của mình. Thí dụ như là cái nhà của tôi, chiếc xe của tôi, hàng xóm của tôi, thậm chí đến con vợ của tôi… mà lắm khi nghe hỏi tới mới giựt mình… coi lại! À xe mình mang bản số gì há? Nhớ không? … Con vợ tui cao mấy thước ? – ủa nói lộn nói lại vợ tui cao thước mấy? Biết không, dù vẫn nói là… đầu gối tay ấp? Còn mấy cái vòng số một số hai số ba nữa, sức mấy mà có người thứ hai biết được ngoại trừ ông Đông Hồ mua-áo-cho-người-yêu mà khỏi phải xách thước đo trước?) … Còn bà lão người Trung Hoa hay bắc ghế ngồi trước hàng ba, im ỉm và xa vắng như một cung nữ về chiều bị đày vào lãnh cung, sáng qua gật đầu chào, chiều về gật đầu chào, bà ta gục gặc chào lại khi mình qua sáng, gục gặc chào khi mình về chiều… Lâu ngày rồi thành một hình ảnh quen thuộc, quen thuộc đến độ mình quên bẵng có một người ngồi hôm sớm, buồn hiu ở một góc hiên nhà… Sau một mùa đông dài và khắc nghiệt, mùa xuân tới rồi mà chưa thấy lại cái ghế và người ngồi đó. Sáng đi qua, chiều về lại, có một cái gì thiêu thiếu, đâu đây… Rồi mùa xuân qua, mùa hè tới vẫn chưa thấy lại, hàng ba vẫn bỏ trống… Một hôm nghe trẻ nít hàng xóm dọa nhau về một bóng ma Tàu… Giựt mình hỏi lại. À thì ra, người đàn bà Tàu đã chết giữa mùa đông năm ngoái, ngay khi cơn bão tuyết thứ nhất vừa đổ xuống. À là như vậy, chỗ đó đã có một người đàn bà nhỏ thó hay ngồi lặng lẽ ngó trời ngó đất, lặng lẽ tới đỗi làm mình tưởng đến một thứ quý phi thất sủng ngồi nhớ tiếng vua đòi. Người đàn bà đó mấy tuổi, tên gì, con cháu ra sao? Suốt một đời (bao nhiêu năm?) theo cha mẹ bỏ Trùng Khánh? Hàng Châu?… gồng gánh nhau qua Việt Nam rồi năm 75 hay 76 hay 80… theo con cái cõng bồng nhau lội biển qua tuốt bên này. Cái cuộc đời nạn phụ dằng dặc đó lao khổ có thua gì cuộc vạn lý trường chinh của Mao-xếnh-xáng đâu mà không nghe ai nói tới… Không hay! Không biết! Vậy mà người đàn bà đó trong mấy năm nay đã là láng giềng trong cái khu phố không nhiều lắm cái màu da vàng sẫm này. Tại thói đời cứ hay nhìn lên, hay nhìn xa hơn cái tầm con mắt mình, ngóng cao hơn cái cần cổ mình!

Kể ra quanh quẩn đây còn có bao nhiêu thứ dẫu “nhìn” mà không “thấy”, có thấy cũng không thông. Mà có thông cũng không đủ lòng nghĩ đến.

Vậy mà rồi có người nhìn và thấy, thấy rồi lại mang lòng nghĩ đến, mà lại nghĩ miên man tới nơi tới chốn… về những cái vụn vặt, lẻ tẻ, không đâu ra đâu. Những cái thứ ở ngay sát bên mình, lẩn lút, loay hoay, lặng lẽ xoay trở quanh quanh, mờ mờ nhạt nhạt, tưởng như không mà có, có thật. Những mẩu chuyện đời không có quá một chi tiết ly kỳ đủ để khêu gợi sự tò mò của người bên cạnh. Thứ chuyện đời mà người nghe đã có sẵn câu phản ứng… ối-hơi-đâu-mà-nghe!

Mà thật ra nếu chịu lắng lòng mà nghe thì dường như có nhiều điều để nghe lắm. Niệm-thiên-địa-chi-du-du …

Ông Trần Bang Thạch là một trong những người hay lắng nghe những tiếng đời không lấy gì làm huyên náo đó. Làm như một kẻ rất nhàn du trong một cuộc đời rất là chộn rộn, ông ta đi tới đi lui, lẩn tha lẩn thẩn, đôi khi lúc tha lúc thúc một mình – chớ ai mà rảnh rỗi đi cùng! Ông ta qua lại nhẹ nhàng, nói năng chậm rãi, từ tốn như sợ làm kinh động cái nhịp sống vốn dĩ rất trầm kha… như một người khách bàng quang chẳng mắc mớ gì hết với cái dòng đời rộn rịp xuôi ngược quanh quanh. Mà thật ra cái vẻ nhàn lãm đó không giấu được chút nào cái nhìn rất tinh tế, cái soi mói rất mắc mỏ ngay tới những cái không ra gì – mà có cái gì ra cái gì chớ của cái cõi ba-vạn-sáu-ngàn-ngày-là-mấy này. Độc-thương-nhiên-nhi-lệ-hạ.

Nội cái chuyện mua nhà (căn nhà thì nhỏ như cái hộp quẹt mà cái chuyện mua nhà thì xưa chỉ ít hơn trái đất xưa có chút đỉnh thôi mà ông cũng thấy và nghe ra trong đó bao nhiêu là chuyện đáng nói làm người nghe theo cũng thấy bụng dạ dàu dàu). Căn nhà ở đường Bush. Mà đường Bush nào nhỉ? Phải đường Bush ở Houston? Mà sao nghe ra cũng hao hao cái chuyện mua nhà đâu đó ở New Jersey, ở Dallas, ở Toronto, ở Montréal… mà lại cũng y chang cái chuyện mua nhà ở bên tây bên Úc… trong những chương đầu của cuốn truyện dài ngàn chương tỵ nạn. Cũng là… nhà nhỏ, cũ, hai phòng ngủ… nhà thuộc loại frame house nên giá rẻ… Cái chuyện mua nhà của đám người bừng-con-mắt-dậy thấy mình thân sơ thất sở với mớ điều kiện ắt-có-mà-chưa-đủ: nhỏ, cũ, rẻ tiền. Thật ra có một điều kiện khác không có giá trị gì hết trên thị trường mà dường như ở đây lại là điều làm cho cái ắt-có thành đủ. Hai ông bà T gì đó (gọi là ông bà A, ông bà B, ông bà C hay ông bà Danh… cũng được vậy) đã quyết định chọn mua căn nhà trên đường Bush đó chỉ vì… hai hàng me keo. Hai hàng me keo! Đúng là lãng nhách. Cái loại cây mọc đầy đường đầy ngõ, hoang dại, thừa thãi trên đất cát miền Nam, chẳng ích lợi gì ngoài cái việc chụm củi, chỉ được mớ bóng lá giao đầu phả chút hơi mát dịu dàng xuống những buổi trưa miền Nam nóng hổi, cho đám con nít đánh trỏng, bắn cu-li, hay mấy chị vú em ẵm con chủ ra ngồi nói chuyện tào lao hoặc có giá hơn chút là trân mình chịu trận mấy cái màn tình tự trai gái thiếu chỗ tự tình… Vậy đó cái thứ me keo chẳng làm nên tích sự gì.

Nhưng bỗng dưng, khi đi xa rồi, thì mấy hàng me keo đó lại đâm ra đầy sự tích. Sự tích về một Châu Đốc, Rạch Giá, Cần Thơ, Vĩnh Long, Sa Đéc, Nha Trang, Phan Thiết… cả Sài Gòn hay cả miền-nam-miền trung-cao-nguyên-đồng-tháp … với những con đường lớn nhỏ dài ngắn, cong queo hay thẳng tắp rợp toàn một bóng me keo. Sự tích về những ngôi trường làng, trường tỉnh với vuông sân chơi mát rượi, những góc đường góc phố với hàng xe bán nước đá-bào-đậu-đỏ-bánh-lọt-em-tan-trường-về-anh-theo-Ngọ-về… đã hơn một lần đụt nắng che mưa dưới cái tàn lá lưa thưa xanh mướt. Sự tích về chính một quê hương lưu đày trong lòng người đi, thứ quê hương bỏ thì thương mà vương thì tội. Ờ hai hàng me keo nối liền bến đò chợ Cái Dầu với thị trấn Hòa Hảo đã là máu là thịt là xương là da của anh chị.

 Vậy đó hai hàng me keo ở đây (hay hàng còng ở đó, hay hàng bã đậu trong này, hay hai hàng sầu đâu ngoài nớ cũng vậy, mà hai hàng khuynh diệp góc phố, hai hàng sua đũa dưới quê, hay hai hàng phượng đỏ đã-nhỏ-xuống-lòng-tôi-những-giọt-châu…) cũng chỉ là những đắp đổi qua ngày đoạn tháng cho những mắc mớ trong lòng, giữa khi mình ngó đâu cũng thấy lạ hoắc lạ huơ. Nhớ lại mà bồi hồi, cái thời buổi gì kỳ cục. Thời đó, người ta cứ hay quơ quào chụp bắt bất cứ cái gì đang-có-trước-mắt mà lại mang mang hơi hướm cái-đã-khuất-mắt như để… thu ngắn lại mấy tấc lòng cố quận. Thời đó ai nấy cũng thấy như mình đang phụ rẫy một cái gì, một cái gì đang lầm than quá đỗi… Bởi vậy rồi cái hàng me keo đó, cái cọng rau húng lủi đó, giàn bầu giàn bí đó, cái cầu gỗ bắt xéo cong cong đó… trong những ngày lạc lõng bơ vơ đó, đã có giá trị như những chiếc phao thấp thoáng trên dòng đời lơ ngơ, người ta vói chụp níu nó lại với mình như cố níu lại chút xíu quê-nhà một sớm một chiều dưng không mà xa mù xa mịt. Nói cách khác, tìm cho mình một hình ảnh rồi vỗ về mình là quen thuộc chỉ cốt để trấn áp sức phản kháng vô thức của cái mầm chùm gởi trước khi đành chịu tháp mình vào một thân cây khác giống lạ nòi.

Chút xíu đó thôi, cái hàng me keo đó, bỗng làm người ta thấy gần lại, cái quê hương khốn khổ. Và… người ta yên chí làm lại… cuộc đời! Cái hàng me keo đó (hay cọng rau muống mắc dàng trời, hay đòn bánh tét gói bằng miếng plastic nhuộm xanh, hay nhánh forsythia nở hoa vàng giữa mùa tuyết trắng…) đã gỡ giùm nhiều người lắm, những sợi chỉ nhện mắc mớ, những ngày ai nấy mới bỏ quê… Cử đầu vọng minh nguyệt. Đê đầu tư cố hương.

Cái ông Trần Bang Thạch này, lẫm rẫm vậy mà thâm lắm. Lý do gì mua nhà thì không biết chứ tại cái hàng-me-keo mà mua nhà thì biết ý nhau quá mạng. Cái lý do không văn tự nào chứng giám (kể cả giấy tờ bằng khoán nhà đất) mà nó lại có giá trị của một sự thề nguyền rằng… dẫu có xa nhà mà không xa quê. Dĩ nhiên lời thề có sắt son hay không thì hồi sau phân giải. Nhưng mà hồi đó vậy đó. Ai cũng có một nỗi lòng!

Kể chuyện mua nhà thật ra là để kể chuyện đời-ta-ở-xứ-người. Mà đường vào đời ta ở xứ người thì cũng giống như đường-vào-tình-yêu của Trúc Phương vậy, chỉ có trăm-lần-vui mà có tới vạn-lần-buồn. Ông tẳn mẳn tỉ mỉ vòng vo từ hàng me keo quê người tới cái vườn nhỏ xíu trồng đủ thứ rau quê mình, chính là để nói tới cái giấc mộng thiệt lớn trong cái nhà thiệt nhỏ của một người Việt Nam ở xứ người mà cứ tưởng ở xứ mình. Ông bà T mua nhà vì muốn dựng nên một cảnh sống quê-nhà ở quê-người. Có điều, cây cỏ ép uổng còn tàm tạm chớ con người thì đã có cái khuôn phép của xã hội quanh nó. Người Việt ở nước ngoài là tháp cái đời mình vào đời người chớ làm sao mà ngược lại. Cho nên ông T mua nhà với bao nhiêu là mộng lớn với mộng con mà chừng con lớn rồi thì con cũng mông lung như mộng. Đó là một sự thật rất… thật. Ông T tính mở lớn nhà thêm khi con cái lớn lên, che thêm mái dựng thêm phòng khi có dâu có rể y chang cái tính toán của một người-việt-trăm-phần-cốt-y. Nhưng mà đâu có vuông tròn như vậy, đường vào đời ta! Cách nói loanh quanh của Trần Bang Thạch là dẫn mình đi qua những căn phòng bề bộn đồ đạc ăm ắp tiếng cười rồi dẫn mình quày trở lại cũng chính căn phòng đó khi đồ đạc đã dọn hết đi, mọi âm thanh đã tắt hết vì người ở đó chỉ là khách trọ, đến rồi đi, bỏ lại đó cái trống trơn làm bằng cho chứng phù du của sự thế. Ông ta đi loanh quanh mà rồi tới ngay boong cốt lõi. Làm gì thì làm, mua nhà mua block, mua đất cất nhà hay xây kim tĩnh hay mua gì gì đi nữa thì nhà đất hay gì gì đó cũng là của người chớ không phải của mình. Nhà với đất thì tiếng mình làm chủ mà mấy ông chủ ngân hàng thì cứ đứng xớ rớ kề bên. Con cái lớn lên ở xứ này thì theo điệu của xứ này mà bung ra tứ xứ. Chùm gởi có quấn cây trăm vòng thì cây cứ là cây và chùm gởi thì cứ lặc lìa lặc lọi mớ rễ lá lạc loài. Ông Trần Bang Thạch viết chuyện mua nhà mà như viết cả hành trình của một người Việt Nam ở xứ người, mà như viết cả hành trình của một CON NGƯỜI qua suốt một cuộc lữ. Đọc Căn nhà trên đường Bush là theo ông loanh quanh những nẻo đời bất tận, vòng tới vòng lui, xoay qua trở lại, giống như trò chơi rồng rắn, đi đâu rồi cũng trở lại chỗ bắt đầu, chỗ-khởi-đi cũng là chỗ-trở-về của một đời người đó thôi. Đã bắt đầu từ một số không, thì chấm hết bằng cái chấm than cũng là phải phải. Họa may như bà T, ngày tính sổ cuối đời chỉ còn một nhúm tro than của người ba sinh hương lửa để mang theo đã phải kể là vạn hạnh. Chấm than.

Vậy đó, ông Trần Bang Thạch có nói chuyện gì cao xa đâu, toàn là ba cái chuyện-đầu-trên-xóm-dưới, từ-thành-đến-tỉnh, đăng lên báo thì cũng chỉ ở trang ba trang tư. Chuyện của ông ta gần xịt, quanh quất đâu đây. Nhưng trong cái quanh quất chòm xóm có cái hun hút của thiên địa du du. Ông ta nói chuyện hàng ngày, nhãn tiền. Mà trong cái nhãn tiền đó có cái biến thiên của trời đất thường hằng. Chuyện của tôi, của anh, của chị, của người hàng xóm, của ông giáo già về hưu lỡ một kỳ hẹn chót với môn sinh, của anh tài xế xe hàng tan tành hạnh phúc từ sẩy tay của định mệnh, của chị lao công da đen hy sinh cho chồng con tới hết đời, của anh chàng A-Phú-Hãn (hay Việt hay Miên hay Lèo…?) lưu vong và buồn rầu cứ hay ra bờ sông ngó mấy ống khói tàu vật vờ mà thả hồn theo nước lớn nước ròng về cố xứ, của người đàn ông già hết thời đi lượm lon nhỏ làm việc lớn, của ông kép hát cả đời góp vui cho thiên hạ đến giờ chót có chút vui riêng mà cũng chẳng kịp vui… nghĩa là của những con người bình thường với mơ ước vui buồn hạnh phúc khổ đau cũng bình thường như chính cái cuộc sống rất đỗi bình thường không-có-gì-để-nói của họ. Cái để nói ở đây chính là tấm lòng mẫn cảm của ông đã nhìn ra, nghe được từ những sự việc rất bình thường đó cái lớn lao trong nhỏ nhoi, cái phổ quát từ những riêng tư, cái không thường giữa những việc quá thường. Nhân vật của ông – mà có gọi là nhân vật được không, những ông bà T, anh Benito Vasquez, chị Rosa, bà Carol… hay ai ai nữa… mà nếu không gọi là nhân vật thì gọi là gì trong cái vở tuồng ba hồi sáu cảnh mười tám cái linh đinh đó? Họ không sắm tuồng, múa may cười khóc theo một kịch bản nào hết, nếu không nói là chỉ theo có cái sắp xếp của ông đạo diễn ở tuốt trên… trời. Cái quay búng sẵn… Nhân vật của ông sống cái đời của họ, vậy thôi. Mà qua đó cũng không thông điệp chẳng tuyên ngôn gì ráo trọi. Họ chỉ làm cái chuyện như anh, như tôi, như chị  đã, đang và sẽ làm, chẳng anh hùng cũng không tiên tiến, không vĩ đại mà cũng không ti tiện, họ làm cái chuyện họ phải làm, không cao cả mà cũng không thấp hèn. Họ làm cái chuyện cần làm. Vậy thôi. Chấm và hết. Dẫu vậy, nói vậy mà rồi không phải vậy. Bởi vì, để làm một việc xem ra tầm thường, lắm khi không dễ chút nào… Đôi khi để làm một việc ngó bộ nhỏ nhoi lại phải cần một tấm lòng vô cùng quảng đại…

Cho nên đọc truyện của Trần Bang Thạch nghe kể toàn chuyện lụn vụn lặt vặt, thứ chuyện mới nghe qua thấy đơn giản làm sao. Vậy mà chừng nghĩ lại không đơn giản chút nào. Mà làm sao đơn giản cho được. Cuộc đời vốn trăm mặt. Mà ông Trần Bang Thạch này còn muốn lôi ra cái mặt thứ một trăm lẻ một nữa là khác.

 

Theo Trần Bang Thạch đi loanh quanh vào một thế giới rất thực là khép lại con mắt mộng mị để nhìn ngó cuộc đời như chính nó là nó. Thứ cuộc đời rất quen thuộc với tất cả những kỳ quặc đã quay ta mòng mòng. Thứ cuộc đời rất vô nghĩa với tất cả những nghĩa lý đã làm ta chóng mặt. Cũng như thứ cuộc đời với tất cả những nhỏ nhoi  rất phi thường của nó vậy. Ông ta phanh phui rất ân cần. Ông ta soi mói tới hết dạ. Ông ta lật tới lật lui những mảnh đời, ngắm nghía so đo cân nhắc để tìm cái chỗ-thương-cho-được (mà thật ra có cuộc đời nào mà không đáng thương giữa cái cõi đời rất đáng ghét này). Cho nên ông ta nghe thấy được những điều mà mọi người không nghe thấy. Cả đến một điều chưa kịp nói giữa hai cha con sau khi đã tử biệt. Cả đến nụ cười mãn nguyện của mẹ từ trên mây, nhiều năm sau, khi bầy con mồ côi vừa thành đạt. Ông cảm được hết, kể cả những hạnh phúc rất trái cựa, những đau khổ rất lặng lẽ, những oái oăm ẩn nấp đằng sau cái vẻ nhởn nhơ của những nếp đời rất mực phẳng phiu. Có điều khác với cái lối bi quan cố hữu của đa số, Trần Bang Thạch luôn tìm được từ trong nghịch cảnh một sự thỏa hiệp nào đó với bi kịch. Ông thấy ra trong sự nhẫn nại chịu đựng khó khăn là bài học rốt ráo của mọi sự lầm than, trong tận cùng của mọi oan khiên đều có những thăng hoa rất là luân-lý-giáo-khoa-thư. Ông luôn tìm cách nhìn đời qua hai mặt của một đồng tiền.

Đó có phải là một cái nhìn ngây thơ vô tội vạ. Một cái nhìn… rất ư là ba phải. Không, cái nhìn đó thật ra xuất phát từ một tâm địa rất lành. Lành như văn chương của ông vậy.

Lành như câu viết rất giản dị, gần gũi với văn nói, đặc biệt là lối nói miền Nam. Nhưng là một miền Nam kẻ-chợ. Lâu lâu lại chêm vào đôi ba chữ đặc sệt miệt-vườn làm điếng người như cái miệng cô ba cười nháng nháng cái răng “dàng”. Mạch văn suôn sẻ, lưu loát, chắc-tại-vì-bỏ-nước-đi-lâu-rồi, đọc lên nghe khoái tai, nghe như dễ-ợt-ai-viết-cũng-được mà thật ra cái kỳ khu thì đã nằm sẵn trong sự chọn lựa và sắp xếp chữ nghĩa theo một luật lệ âm thanh nào đó của riêng ông.

Văn của ông vì vậy nghe nhẹ hều, chữ nghĩa êm ru bà rù, lại lẩn tha lẩn thẩn giông giống điệu mấy ngón tay rờ rẫm đâu đâu… Vậy rồi giữa lúc đang u u mê mê, ông nhéo một cái, móng tay sắc lẻm, làm ai nấy nhói đau mà không kịp kêu “ái”… vì cái đau đã thấm sâu, sâu lắm, thấu tuột vào tới ruột gan… thức ăn dư thừa (của bà mẹ già nấu sẵn “dụ” mấy đứa con về ăn mà nó… không về) bà còn có thể đổ đi, còn nỗi buồn của người mẹ già nua… bà biết đổ đi đâu! Trời ơi nỗi buồn biết “đổ” đi đâu! Chữ “đổ” của ông quả là hết ý. Có thua gì chữ “đổ” trong múc-ánh-trăng-vàng-đổ-đi. Có điều múc buồn “đổ” đi còn có cái vẻ giận-lẫy-dễ-thương-hết-sức của mấy bà mẹ già móm xọm thương con đứt ruột, muốn đem đổ-hết-cho-rồi-mà-sợ-rủi-nó-về-nó-đói-bụng. Chữ hết nghĩa ông ơi. Còn nữa nè … sáng sáng vừa đi bách bộ vừa nghe chim hót trên ngọn me keo, vừa thấy lòng mình đang mọc cánh bay về một thỏi cù lao bên bờ sông Hậu. Sao tui khoái cái chữ “thỏi” của ông lắm vậy. Làm cho nỗi thiết tha với khoảng cù lao nhỏ xíu của ông bỗng lớn vọt lên, tỉ lệ nghịch với tầm vóc được thu nhỏ lại thành thỏi bỏ-lọt-túi-áo, kiểu như thỏi kẹo thỏi đường hay “thỏi” tình của mấy anh si hồi xưa thương-em-không-biết-để-đâu-để-trong-túi-áo-lâu-lâu-lại-dòm vậy đó. Lại nữa, có lần theo ông về thăm mẹ ở miệt lục tỉnh, đang mơ mơ màng màng trước cảnh cũ người xưa, bỗng ông giáng cho mấy chữ bên bờ kinh xáng thổi, tui muốn té ngửa ông ơi! Ờ mấy cái bờ kinh xáng thổi giữa một miền Nam sông nước ngổn ngang làm cho cái xa xôi nó bỗng xích lại gần tận mặt, gần tận mặt mà vẫn đoạn đành thiên lý nên giữa lòng ta bỗng quậy chút ba đào.

Cái lối viết theo kiểu người dưng nước lã, đứng nép bên đường, để mặc cho sự tình nối đuôi nhau liền lạc như tính liên tục của dòng đời, đôi khi chuyện tới sau làm phản đề cho chuyện tới trước khiến cho bố cục gây đột biến một cách tự nhiên làm người đọc bị lôi cuốn một cách dễ chịu, buồn vui rồi hờn giận theo lúc nào không biết mà buồn vui hờn giận gì cũng nhẹ nhàng thanh thản… đến nỗi có đôi khi lại thấy có chính mình ở trỏng… là một lối-viết-rất-trần-bang-thạch. Lối viết của một người tốt bụng.

Ông Trần Bang Thạch ơi, ông làm văn chương tuyệt cú lắm. Văn chương là loay hoay loanh quanh vậy đó ông. Đâu cần phải gồng mình thở phì phò như kéo cây kéo gỗ. Hay trân mình trân mẩy mà la lối ba cái chuyện triết lý bí hiểm siêu hình siêu việt trời ơi đất hỡi mới là văn chương. Làm văn chương thì thủng thẳng mà làm, thấy đâu nói đó, thấy gì nói nấy, thấy-sao-nói-vậy-người-ơi. Nội cái cõi trước mặt sau lưng mà nói, nói hoài cũng không hết. Khỏi làm bộ làm tịch, phồng mang trợn mắt làm chi cho thêm bí hiểm cái sự đời. Ai thấy chuyện ngàn sao thì bay bổng nói chuyện trên trời. Ai thấy chuyện xe cán chó hay chó đụng xe thì rà rà kể chuyện dưới đất. Còn ai nghe được tiếng đời rủ rỉ như ông thì cứ rù rì mà kể lể. Gió lớn có cái khoái-tai-phong-dã thì gió hiu hiu có cái êm ái thầm thì.

Thầm thì thì thấm.

Cao Vị Khanh

“ Người sống trong khu dưỡng lão đường 75 nhìn ông Hoà Thanh như một kẻ bệnh tật khó tính. Ông sống ở phòng 304, ít ai thăm hỏi, trừ người đàn bà Mễ trong chương trình workfare được sở xã hội cắt cử tuần đôi ba lần đến dọn dẹp vệ sinh giúp ông, nhưng hai người không trò chuyện vì ông không biết tiếng Tây Ban Nha còn bà ta thì không thạo tiếng Anh. Có ai tò mò nhìn qua cửa sổ chỉ thấy ông Hoà Thanh luôn ngồi lặng trên chiếc ghế bành cũ, trước mặt có chiếc TV đen trắng, gần cạnh có cái bàn sách báo xếp ngay ngắn, có chồng đĩa hát nhưng không thấy máy hát; ngoài ra, trong một góc phòng còn có chiếc giá gỗ đặt hai cây kèn, một cây clairon và cây kia clarinette. Cả hai đều mốc meo như không từng được chủ nhân rớ tới. ”*

 

Đó là đoạn mở đầu một truyện ngắn của Hà Thúc Sinh, có tựa là Người lính kèn và viên đại úy, trích trong tập “Tống Biệt Hai Mươi,” do nhà xuất bản Xuân Thu ấn hành năm 1999.

 

Và sau đây là câu kết :

“ Tôi có tìm hỏi một cụ Việt Nam ở đây, cụ bảo đồng bào cụ đều buồn và sợ tiếng kèn ấy; đó là tiếng tiễn đưa một chiến hữu đã chết dù trong trường hợp nào, và người ta gọi nó là khúc Chiêu Hồn Tử Sĩ.”*

 

Truyện viết đã lâu, gần hai mươi năm sau mới có dịp đọc. Vậy mà vẫn nguyên cái cảm giác của gần hai mươi năm trước, khi tình cờ tôi đọc được câu viết của ông trích ra từ đâu đó. Câu viết như sau : “chạng vạng của những niềm tin bao giờ cũng buồn ”. Rồi nhớ hoài. Câu viết như một vết cắt trên da, mà nhiều năm sau mãi không mờ vết sẹo. Còn đó như chứng tích của một thời kỳ xao động cùng cực giữa niềm tin và sự bội tín, của hy vọng và thất vọng và cuối cùng ... của tuyệt vọng !

 

Những năm 80 của thế kỷ trước, xứ lạ xa quê, dù xa không tính bằng thiên lý mà xa chính tự lòng người, sao lòng tôi vẫn cứ mãi không yên. Tôi sống chân thì chạy theo trối chết những thúc bách của cuộc đời mà hồn thì vật vờ như chiếc bóng. Xứ người rộn rịp, đường lộ phẳng phiu, xe cộ đuổi nhau như chơi cướp bắt. Phố xá dập dìu người qua lại, dáng thẳng, mặt ngẩng cao và những bước chân chắc nịch. Đặc biệt trên mặt ai cũng toát ra một vẻ tự tin, chực sẵn một nỗi vui hồn nhiên như chưa từng phiền muộn. Và tôi và những người đồng chủng đồng cảnh ngộ và ... những hoang mang !

Bất kể cái nghề lao động chân tay cả ngày cứ trì trì thân xác, đầu óc tôi cứ lơ mơ tận đâu đâu. Làm như sống tạm, sống hờ. Làm như chỉ chờ dịp là lộn về cố xứ. Cha mẹ tôi đã quá bảy mươi, còn ở đó bữa cháo bữa rau. Anh em tôi còn ở đó, người đày ngoài Bắc, người tù trong Nam. Mồ mã ông bà còn nằm chơ vơ bên bờ kinh Giáp Nước. Và xứ sở tôi, và bạn bè quyến thuộc tôi, kẻ thân người sơ, hàng xóm láng giềng, phố phường làng mạc, nếp sống thói quen, nề nếp văn hóa từ muôn đời tổ tiên tôi đã dày công vun bồi và truyền tụng ...Mọi người, mọi thứ ... đang giẫy giụa mà đã chừng tuyệt vọng như đàn cá bị mắc lưới. Tôi bỏ trốn mà lòng không yên. Ngay cả khi đã đặt chân lên được mảnh đất lành, mà lòng tôi vẫn cứ mãi băn khoăn. Tôi bỏ đi như một người trốn nợ, bỏ lại hết cho thân yêu mình gánh nợ cho mình. Vài ba năm sau, vẫn hiu hắt hoài trong tôi cặp mắt của ba tôi đêm từ biệt, cặp môi mím chặt mà đã nghe ra lời vĩnh quyết. Và sâu kín hơn nữa, mập mờ hình ảnh những nấm đất phủ cờ nằm chật kín trong một góc nghĩa trang thành phố ... Những người trẻ mà tuổi tác hẵn chừng cùng tôi trang lứa ... ! Một người nằm đó là bao nhiêu nỗi mất mát đếm lên theo cấp số nhân, mà trước khi bỏ đi tôi đã thấy người thân xúm lại bốc dở. Những khoảnh vô thừa nhận thì người ta san bằng.

Sao tôi cứ lẫn tha lẫn thẩn ... Tuy nhiên, tôi biết không phải mình tôi, trên khắp mặt đất này, chỗ năm ba ngàn, chỗ vài triệu hẵn cũng có những người như tôi. Họ vẫn hằng ngày cày cục để trám vừa đủ năm ba miệng ăn, vừa vẫn mong mỏi ... một ngày về. Những năm 80, lòng ai cũng âm ỉ một đóm lửa, dù lắm khi hắt hiu, vẫn là một đóm lửa. Có khi phừng lên, bắn tung ra như hoa đăng làm nóng hổi lòng người. Người quen, kẻ lạ tụm nhau năm ba, hợp nhau thành đoàn thành nhóm, bàn cải, tính toán, so đo, sắp xếp, tuyên cáo, tuyên ngôn ... Hẵn ai cũng sốt ruột, cũng thiệt lòng mong mỏi ... Kẻ ít người nhiều, người của cải, kẻ công sức ... Và hơn hết, chất keo sơn lý tưởng. Vâng, đã có một thời, thời hừng đông của những niềm tin. Tôi biết có những người công nhân gốc lính, ngày tám tiếng trong xưởng thợ mù bụi, cuối tuần “ đi cày ” thêm để lấy đồng lương tính một rưởi, cho được rộng rãi góp phần. Tôi biết người giáo già làm công cho một tiệm buôn, suốt ngày chui rúc dưới hầm để cân đo đong đếm ... mà hở ra là cầm biểu ngữ đi đầu những cuộc tuần hành biểu dương cho khát vọng giành lại quê hương. Tôi biết những người đàn bà, sớm chiều quần quật trong nhà, chợ búa giặt giụa cơm nước cho chồng con mà không sót một lần hội hợp. Mà làm sao kể hết. Nhiều lắm, nhiều lắm những tấm lòng ...

Có một lúc, ai nấy như trẻ lại, như sống lại từ những niềm tin ... Sẽ có một ngày Sẽ đến một ngày.

Những niềm tin ! Ôi những niềm tin ! Người ta chấp nhận hiện tại, thứ hiện tại trái cựa, lộn dòng lộn giống như một thứ bản lề. Người ta ẩn nhẩn sống, chấp nhận mọi bó buộc hiện tại như một cái giá phải trả cho cái lần sẩy đàn tan nghé. Hơn vậy nữa, cho cái lối sống thờ ơ, xao lãng trách nhiệm của một quá khứ chưa xa. Bây giờ, nếu được quày trở lại ... Dưng không, rồi ai nấy như muốn giữ lấy một lời nguyền ...

Đã có một thời như vậy. Một thời mà niềm tin sáng lán như ngọn đuốc trong đêm. Đêm thì mịt mù mà hề gì, đã có ngọn lửa dẫu âm ỉ vẫn là ngọn lửa, không sớm thì muộn, lửa sẽ bốc lên thành ngọn, màn đêm sẽ bị xé ra thành muôn mảnh, từng mảnh sẽ là từng ngõ đi lối về ... và quê hương đang quằn quại sẽ trổi dậy dang tay đón đàn con thất lạc.

Những niềm tin không khác gì những tia sáng lúc hừng đông, xóa tan bóng tối, đánh thức những cơn mê, gọi dậy những giấc ngủ. Và giục người ta lên đường. Lên đường. Ôi còn âm thanh nào háo hức hơn nữa. Lên đường. Sẽ có những tiếng chuông vô thanh rộn rã trong đầu. Sẽ có những tiếng trống bập bùng vỗ nhịp trong tim. Con đường sẽ nhiêu khê. Nhưng mặc. Đã có những tấm lòng với những niềm tin. Người ta sẽ tụ hết về một điểm hẹn với chuông reo và trống vỗ mở đầu cho bản trường ca quang phục. Người ta sẽ rủ nhau về như người Do Thái, dẫu lưu lạc đâu đâu cũng đã có hồi kéo nhau về Đất Hứa. Niềm tin. Niềm tin như vì sao Bắc Đẩu mà những người đi biển, giữa mênh mông cứ nhắm lấy mà dong thuyền. Niềm tin còn như cơn mưa đầu hạ, rưới cam lồ lên đầu ngọn cỏ dại làm trổi dậy sức sống giữa cơn nắng lửa. Và con người, con người lưu lạc giữa cơn thất quốc, đã bám lấy niềm tin như thần dược chửa thứ bệnh trầm cảm từ một buổi tha hương.

 

Vậy đó, nhưng rồi mọi chuyện không đâu vào đâu. Những hy vọng rộn ràng rồi vở tan như bóng nước. Chuyện mới trên dưới hai mươi năm, một phần tư đời người, vậy mà nhắc lại ai nấy nghe ra đã xa như là cổ tích.

 

Như vậy rồi khi không có hôm đọc lại truyện ngắn của Hà Thúc Sinh mà thấy ... ngậm ngùi. Truyện Người lính kèn và viên đại úy.

Không khí của truyện là thứ không khí của trời chiều vừa khi chạng vạng dù xảy ra bất cứ lúc nào trong ngày. Người văn chương gọi là hoàng hôn, tiếng bình dân kêu là chạng vạng. Chiều là khoảng thời gian giữa trưa và tối. Chạng vạng là lúc chiều đã gấp gáp mà đêm chưa vội. Nắng còn đó mà hoi hóp. Bóng tối muốn sụm xuống mà ngần ngừ. Không gian rỗng và thời gian sựng lại. Khí trời đùng đục. Năm ba giây. Vài mươi phút. Lâu bao lâu. Ai biết bao lâu vì như có như không. Mà lắm khi lại tính bằng độ nhạy của tâm hồn nên làm sao mà nói chắc. Lúc đó đó, người quê tôi hay nói là chạng vạng. Ông Hà Thúc Sinh cũng gọi là chạng vạng. Tôi nghe rồi ... ngẫm ra sao mà buồn quá đỗi.

Truyện xoay quanh những cuộc thăm viếng giữa hai người đàn ông, một già sụm vì bệnh tật và một mới quá trung niên. Và lẫn khuất đâu đó, một nhân vật thứ ba, khi có khi không. Dù vậy, dường như là mấu chốt của chuyện. Không gian, không rõ địa danh, tuy nhiên có thể xảy ra ở bất cứ nơi đâu, một phố lớn sầm uất hay một góc xóm vắng hoe, ở bất cứ nơi đâu trên mặt địa cầu, nơi có những người tị nạn VN, sau khi cuộc chiến tranh ở đó chấm dứt từ những bội phản. Những cuộc thăm viếng tuy không thường xuyên nhưng cũng không thưa thớt, những cuộc thăm viếng không nồng nã nhưng cũng không quá lợt lạt. Có một cái gì đó lẫn khuất ở đằng sau những cuộc trò chuyện lấp lửng, những đối đáp không đầu không đuôi với giọng điệu vừa lãnh đạm vừa nấn níu, giữa người chủ nhà kín miệng, và người khách cũng ít lời. Mối liên hệ mù mờ giữa hai người càng làm tình cảnh thêm lạ. Họ không phải cha con tuy sự cách biệt tuổi tác dễ làm người ta ngộ nhận. Bạn vong niên ? Cũng không. Cách xưng hô tỏ ra không có gì là thân thiết. Ông và tôi. Chuyện trò không tỏ ra gì là thân thiện. Họ nói với nhau bằng cái giọng xẳng lè, những câu cụt ngủn cụt ngẳn, chẳng đâu vào đâu, lắm khi còn nghe ra thoang thoáng những móc méo, xỏ xiên ... kể cả có khi lên giọng thách thức. Người chủ đón khách với thái độ dửng dưng mà lạ đời, người đọc có cảm tưởng nếu khách không đến hẵn là ông ta sẽ buồn tủi lắm. Còn khách thì đến như miễn cưỡng mà kỳ cục, người đọc lại nghĩ anh ta sẽ khổ tâm vô cùng nếu anh ta không thể ghé thăm. Tại vậy, mà không khí những lần gặp gỡ đó, chẳng những không rộn ràng mà ngược lại, dù sáng trưa chiều tối, cứ là cái không khí đùng đục của những cơn chạng vạng cuối ngày. Làm như giữa hai người có một nỗi uất ức gì mà không giải tỏa được. Cứ nhùng nhằng như sợi giây thừng căng thẳng giữa hai đầu, khi căng quá có cơ đứt nên lại được bên này lỏng tay, rồi lại căng thì bên kia lại dản tay ... Cứ vậy mà ngày này qua ngày khác, lần thăm viếng này qua lần thăm viếng khác giữa Hoàng Thiệp, người trẻ tuổi hơn, vốn là sĩ quan chỉ huy đơn vị của ông Hòa Thanh, người đàn ông lớn tuổi, đã có thời là lính kèn, người lính theo truyền thống chỉ có hai nhiệm vụ chính : một là thổi kèn thúc quân khi xung trận và hai là thổi một trích đoạn của bản El Silencio khi làm lễ hạ huyệt những người lính tử trận. ( À, điệu kèn truy hồn tử sĩ mà những người miền Nam trước năm 75 vẫn nghe đến nằm lòng trong những buổi lễ tưởng niệm ! ) À thì ra, tình huynh đệ chi binh ? “ Vì tình xưa nghĩa cũ? Vì đồng hội đồng thuyền? Vì hai người từng sát cánh trong những hoạt động đấu tranh tìm con đường về ngày ông Hoà Thanh chưa lâm trọng bệnh? ”*.

Nhưng dường như cũng không hẵn vậy.

“ Đôi ba dấu hiệu cho họ thấy hai người như hai kẻ đồng hành, bị hoàn cảnh bức bách chi đó, phải đi chung trên cây cầu dài, hẹp, chênh vênh, và còn đi lộn giày nhau nữa chưa chừng. Nhưng họ không thể đẩy nhau ra khỏi đời nhau. Họ phải chịu đựng nhau để sống còn. Mãi rồi họ biến thành cái bóng của nhau.Ông già bà cả nhìn trời tháng mười đoán được giờ giấc cơn tê thấp trở lại, hay trời tháng ba chứng nhảy mũi tái hồi, nhưng khó đoán cho chính xác mối liên hệ giữa ông Hoà Thanh và Hoàng Thiệp.

 

“ Thiệp đến, lặng lẽ mở cửa như biết chắc cửa không bao giờ khoá. Anh ta bước vào với cái hỉnh mũi khinh thị kín đáo, hờ hững một câu hỏi, “Anh khoẻ,” rồi đi thẳng vào bếp.

Ông Hoà Thanh cũng lặng lẽ không kém, khác nhau là thỉnh thoảng ông tằng hắng như cố nhận sâu một chút đàm trong cổ. .”*

Rõ ràng, người đàn ông đã quá tuổi 60, thân xác bệnh hoạn mà dường như tinh thần chưa bao giờ sa sút dẫu cũng đã lắm gian lao. Từ vị trí người lính kèn của đơn vị, ông đã sống trọn đời mình cho vinh nhục của kiếp lính. Và từ đó, ông hãnh diện với sự có mặt của mình trong suốt những dặm dài khói lửa.

“ Sự cất tiếng của ông chỉ có hai ý nghĩa: kẻ còn nghe sẽ là kẻ được truyền cho cái khí thế xung trận, ngược lại kẻ ấy cầm bằng đã nằm trong quan tài. ”*

 

Kiểu giao tình không lấy gì làm thuận thảo. Lạ vậy mà cứ ghé lại tìm nhau. Lạ như mọi thứ lạ lùng đã xảy ra từ cơn thất tán. Thử đọc tiếp một đoạn đối thoại giữa hai người.

 

“ Thiệp lại hỏi:

“Anh khoẻ?”

“Hỏi tôi khoẻ thì có khác gì hỏi ông có yếu không. Nhưng yên tâm. Tôi chưa mất tinh thần.”

Hai người lại yên lặng. Thiệp nhâm nhi hết lon bia, đứng lên ưỡn vai, giọng dửng dưng:

“Anh ăn gì chưa, chưa thì ăn đi nhá, tôi về đây.”

Ông Hoà Thanh ít khi đáp. Thiệp nhìn ông lần nữa như nhìn hai cây kèn câm quen thuộc, rồi anh lập lại, “Tôi về đây,” và lặng lẽ mở cửa, lặng lẽ đi ra. ”*

Cứ vậy đó mà lần này sang lần khác. Kể ra có gì vui đâu mà lặn lội thăm nhau. Vậy mà người đến thì cứ đến. Người chờ thì cứ chờ. Lần này sang lần khác. Và bên ngoài, dòng đời cứ tiếp tục theo cái lẽ phải có. Chẳng hạn, viên cựu đại úy, bỏ xứ chạ̣y qua xứ người, sau những bở ngở ban đầu rồi cũng xông xáo lao vào cuộc tranh sống mới. Và kể ra cũng thành công. Vậy mà có lần bạn bè em út giục cưới vợ lại cứ lần xần nấn ná. Đàn ông ai mà không thích đàn bà, nhất là sau khi đã trần thân trải qua bao nhiêu là khổ nạn gần như chết đi sống lại. À cái chuyện sống chết. Lứa tuổi của ông nếu là người Việt thì ai mà không từng trải qua thứ kinh nghiệm hỏa ngục đó. Vậy thì có gì mà đến nỗi phải ngại ngùng, một khi đã chạy chết rồi thành công được ở xứ người.

Nhưng không, đây mới là nỗi đoạn trường bậc nhất, đến nỗi đã trở thành một thứ bệnh tâm lý gần như bất trị của người cựu sĩ quan đã từng vào sinh ra tử. Từ lần bị vỡ trận cuối, ông đã trải qua một kinh nghiệm quá sức bi thương đến nỗi cứ bị ám ảnh không nguôi.

 

“ Thiệp bảo anh bị chứng ám ảnh, không luôn luôn, chỉ thỉnh thoảng, là khi vừa khỏa thân một người đàn bà anh sợ hãi đậy ngay mọi thứ lại. Anh thấy người đối diện không ai khác hơn là người yêu cũ. Cô ta ướt sũng, mặt nhợt nhạt, một bên mắt mở thao láo, một bên vú nát bấy,

máu nhuộm lên tới mặt và cổ, hình như gãy thêm mấy ngón tay. Đó là lúc anh đem đơn vị tháo chạy khỏi hậu cứ ở một tỉnh nào đó mãi miền Trung. Mặt đất nhầy nhụa tanh tưởi. Bầu trời đỏ ráng và khét. Tiếng thiết giáp hung hãn cày trên quốc lộ. Đạn pháo. Những tiếng hô xung phong. Những tràng súng liên thanh. Tiếng lựu đạn nổ. Tiếng kèn man rợ trộn với tiếng gào la đau đớn. Tất cả rối mù đến nỗi giàu kinh nghiệm chiến trường như anh cũng không phân biệt nổi đâu bạn đâu thù. Thế rồi Hoàng Thiệp hực lên với tiếng khóc trong cổ của người đàn ông. Anh bảo chính lúc ấy cô gái cứu mạng anh và nhiều đồng đội bằng một hành động liều lĩnh. Tới đó anh ngưng, không nói nữa. ”*

Thì ra vậy ! ( Người cựu chiến binh của cuộc chiến tự-vệ-và-bị-bán-đứng đó cũng như không ít những bạn đồng ngũ khác đã có cùng tình trạng chấn thương tâm lý, đã âm thầm mang thương tích hoặc trong các trại tù cải tạo rồi vùi nông thân xác đâu đó giữa rừng già, hoặc may mắn thoát thân sang bên nầy biển lớn, hoặc còn đang lê lết đâu đó trong sự bạc đãi của chính quê hương mình, những người cựu chiến binh đó, đã và đang âm thầm gánh chịu sự đục ruỗng âm ỉ mà dai dẳng của thứ kinh nghiệm máu xương. Thử nhớ lại chuyện những người lính Mỹ trở về sau cuộc chiến tranh Vùng Vịnh đã la hoáng lên về những vết thương tinh thần mà họ gánh chịu rồi nghĩ đến những người lính miền Nam đã chịu đựng trong sự quên lãng suốt cả phần đời còn lại ! )

 

Thì ra là vậy. Mà còn hơn vậy nữa “ cô gái cứu mạng anh và nhiều đồng đội bằng một hành động liều lĩnh ”* đó chính là con gái của người lính già, vốn đã nhiều phen thổi kèn truy điệu những đồng đội tử thương. Điệu kèn El Silencio với những nốt nhạc như từng giọt nước mắt khóc người, lặng lẽ.

Thì ra vậy mới có những cuộc viếng thăm gần như máy móc, thành ra mới có những lần trò chuyện dấm dẳn, lạt lẽo và lắm khi khích bác ... giữa hai người đàn ông sống sót sau cuộc tan vở kinh hoàng cuối tháng 4 năm đó. Nhưng rồi dẫu là vậy, nhưng chưa đủ. Còn nữa. Còn một điều bí ẩn mà dường như ngoài hai nhân vật chính, chắc chỉ có nhân vật thứ ba, cô gái, nếu còn có một cõi linh thiêng nào đó, mới biết. Điều bí ẩn được giấu kín vốn là cốt lõi của truyện, làm nên ý nghĩa của những dòng chữ bưng đầu viết ra, hàng hàng từ nét thứ nhất. Chuyện tới đó đã đủ là một bi kịch. Loại bi kịch xảy ra hằng hà sa số trong suốt cuộc chiến 20 năm vừa qua. Nếu muốn, người ta có thể viết thành trường thiên tiểu thuyết. Riêng phần mình, ông Hà Thúc Sinh còn thắt thêm một cái gút, chặt tới nỗi cũng khó mà gở ra. Sao tôi nghĩ, chắc ông cũng không muốn gở ra. Vì nếu gở ra chắc chính ông sẽ là người khổ tâm trước nhất. Tập sách Đại Học máu của ông đã nói trước điều đó.

Tuy nhiên, như mọi cốt truyện đều phải có thắt, mở rồi kết. Dù muốn hay không. Dù vui hay buồn.

Và rồi ... truyện kết thúc với sự xóa bỏ một lời thề. Lời thề ?

Vâng một lời thề. “ Phải như Trần Hưng Đạo đã chỉ xuống sông Hoá mà nói, ‘Trận này không phá được giặc thề không trở lại khúc sông này nữa? ”*

 

Không, không trang trọng và cũng không xa xưa như vậy. Gần đây thôi, đôi mươi năm trở lại đây thôi ... trên xà lan ấy có người sĩ quan nói rằng, “Đi rồi về, về chiến đấu không về đầu hàng! ”* sau khi sống sót trong lần tan hàng thảm hại ấy, nhờ vào sự hy sinh của cô gái con của người lính thuộc hạ.

Thử hồi tượng lại một chút. Đã có một mối tình chân thành đến đỗi sắp đi tới hôn nhân rồi xảy ra thảm cảnh. Cô dâu chưa kịp may áo cưới đã đổi mạng sống mình cho sự an toàn của người yêu và đồng đội. Trận chiến tàn. Đám người sống sót thoát chạy trên một chiếc xà lan. Và chính trong lần thoát hiểm đó, khi mặt mày còn nám khói đạn bom, người đàn ông, người tình, người sĩ quan thất trận đã nói rằng “ Đi rồi về, về chiến đấu không về đầu hàng! ”*

Câu nói giản dị mà nghe ra lời khẳng quyết. Nhất là người nghe là người lính thuộc quyền và là cha của người con gái vừa mới hy sinh. Cái gút là chỗ đó. Thảm trạng là chỗ đó. Giao tình là chỗ đó. Mà hận tình cũng là chỗ đó.

Có những chuyện khó nhớ. Và cũng có những chuyện người ta không thể quên. Nhất đó lại là người cha của người con gái bạc phận. Ông đã chứng kiến tận mắt sự hy sinh phi thường của con gái cho người chồng tương lai của mình. Phi thường tới nỗi, sau cơn hãi hùng, những người còn lành lặn đã xúc động tột cùng để khăng khăng một lời thề. “Đi rồi về, về chiến đấu không về đầu hàng! ”*

 

Có điều dù không phải người ta đã dễ dàng chối bỏ, viên đại úy và nhiều nhiều người khác nữa ... sau những chạy vạy, những toan tính, những hợp quần rồi tan rã ... đến một lúc, một lời thề hay vạn lời thề, rồi ra ... đến lúc ... cũng đành ..!

“ Thời thế đã thay đổi anh ạ. Với lại mình cũng cần sống.”*

 

Một câu giải thích hay biện hộ ngắn, gọn. Đúng ra, đó cũng chỉ là một nhận định công bằng và dễ chịu cho hết thảy ai ai. Thời thế đã thay đổi. Năm chữ thôi. Kể ra đã đủ. Nhưng làm sao đủ hết cho hằng hằng uẩn khúc còn trong lòng của bao nhiêu kẻ đã buông súng vì một lệnh đầu hàng tức tưởi, vì một tính toán sai lầm, vì một sự bội phản trắng trợn, vì đã hết dạ hy sinh ... Làm sao đủ hết cho mênh mông nước mắt, cho trùng trùng oan khuất mà triệu triệu người vô tội đã gánh chịu từ sau cơn đại nạn. Nhưng thôi. Đã bao nhiêu dâu bể được lấp đầy bằng hai chữ “ thời thế ”. Và lần này cũng vậy. Chỉ hai chữ đơn giản đủ để xóa đi những lời thề. Nhưng thật ra có xóa sạch được hết không, những tàn phá sau cơn địa chấn. Biết vậy, nhưng sự chịu đựng rồi cũng có lúc nặng quá sức người. Con đường trước mắt, có lúc bỗng dài tới ... vô tận. Mà lời thề rồi trở thành viên thuốc đắng khi đường xa mấp mé tới bên bờ ảo vọng. Người ta còn một phần đời phải sống ! Dù vinh hay nhục. Dù gian truân hay thanh thản. Số phận con người là phải đi cho hết con đường mà định mạng đã vạch ra.

..................

“ Thiệp lấy giọng bồi hồi:

“Mười chín năm nhưng Thoả - tên cô gái - vẫn bên tôi. Rõ như thảm kịch và lời thề. Tôi như kẻ bị đeo đuổi. Làm sao anh giúp gỡ hộ tôi lời thề.”*

......................

“ Hoàng Thiệp đành im. Anh ngồi nghe từng tiếng kim đồng hồ treo tường khá lâu thì giọng ông Hoà Thanh mới trở lại, y như mấy giọt nước đục:

“Thôi được…”

Ông ngập ngừng. Hoàng Thiệp nhìn ông chìm trong khoảng tối. Bất ngờ anh ta ngỡ ngàng. Ông Hoà Thanh chầm chậm giơ cao một bàn tay run rẩy chào anh theo quân cách, rồi nửa lạnh lùng, nửa thổn thức, ông lập lại, “Thôi được, từ hôm nay coi như sòng phẳng. Tôi liều gỡ lời thề cho đại úy vậy. Tôi hứa giùm con tôi coi như nó chưa từng thấy nơi bờ duyên hải ấy có một nấm mộ

vùi nhanh, chưa từng nghe trên xà lan ấy có người sĩ quan nói rằng, “Đi rồi về, về chiến đấu không về đầu hàng ! ”*

......................

 

Kết truyện buồn lắm. Buồn như hai câu đối đáp sau đây.

Một người nói :

“ Chạng vạng lúc nào cũng buồn.”*

Người kia dậm thêm :

“ Phải nói chạng vạng của một niềm tin lúc nào cũng buồn.”*

 

Câu viết, với tôi là một tuyệt xảo của chữ nghĩa. Chạng vạng của một niềm tin cũng là quảng cuối của một đời người. Vì thật ra, con người với niềm tin của họ chỉ là một. Sau lần chẳng đặng đừng giải oan cho lời thề cũ, người cha già bệnh hoạn, người lính kèn ngày xưa bỏ đi mất. Chỗ trống để lại như để thú nhận về sự thất bại của một niềm tin. Y như sau khi chạng vạng thì đêm tới mịt mù. Mọi hình thù đều lẫn mất vào bóng tối. Mọi chuyện được xóa sạch như chưa từng xảy ra. Y như chính ông đã có lần kiêu hảnh xác nhận giá trị tiếng kèn của mình trong đời sống quân ngũ. Người nghe hoặc sống để xung trận hoặc đã chết. Lý tưởng không thành thì mọi thứ đều là vô nghĩa :

 

“ Ít ngày sau các cụ già trong khu dưỡng lão đường 75 khám phá ra người đàn ông bị chứng Parkinson đã âm thầm dọn đi. Nhưng điều người ta bàn tán nhiều hơn cả, đặc biệt những cụ già bản xứ, là những bài kèn tuyệt vời lần đầu cũng là lần cuối họ được nghe vọng ra từ phòng 304 vào rất khuya đêm ấy .”*

Điệu kèn chót của người lính già dường như chỉ là tiếng vọng của từng nỗi oan khuất ông giữ lại cho riêng ông. Và lẫn lẫn trong những nốt âm thanh trầm bỗng, ngân dài hay hụt hẩng dường như chỉ là tiếng động của những giọt nước mắt ứa ra từ đôi mắt vốn đã khô ran. Lối xóm ai nấy đều ngẩn ngơ rồi ngớ ngẩn.

 

“ Tôi có tìm hỏi một cụ Việt Nam ở đây, cụ bảo đồng bào cụ đều buồn và sợ tiếng kèn ấy; đó là tiếng tiễn đưa một chiến hữu đã chết dù trong trường hợp nào, và người ta gọi nó là khúc Chiêu Hồn Tử Sĩ.”

Có phải không, tiếng kèn đêm đó của người lính già còn là để hạ huyệt một niềm tin đã lỗi, cùng lúc để truy điệu hồn chiến binh nơi ông, thêm một lần bỏ súng.

 

Truyện không biết viết từ lúc nào mà làm xúc động như mới hôm qua hôm kia. Và sẽ còn làm xúc động tới năm sau, năm sau, năm sau nữa ... tới khi nào còn những người Việt đã có lúc chiến đấu cô đơn cho sự sống còn của miền Nam, rồi phải bỏ nước ra đi, xứ lạ, rồi vẫn còn tiếp tục cuộc chiến đấu bị bỏ dở. Sự xúc động đó, sẽ còn đó, cho đến khi ... lớp người đó lần lượt ra đi, cho tới lượt sau cùng, người cuối. Những lời thề, rồi sẽ được tẩn liệm theo. Ngày, tháng, nắng, mưa, vòng quay vật vã của đời sống và sự quên lãng thường tình của lòng người sẽ làm phai mờ hết dấu vết. Thế giới còn lại sẽ phơi phới, hồn nhiên như chưa từng có gì đã xảy ra.

 

Truyện chấm hết mà hồn truyện cứ chờn vờn như muốn vượt ra ngoài giới hạn của chữ nghĩa ... Y như người lính kèn bỏ đi rồi mà vọng lại không thôi những hồi kèn ứ nghẹn uất hờn. Giọng văn thản nhiên, trung tính, chữ nghĩa khít khao, chắc nịch, không thừa không thiếu. Chuyện được kể lại như tự nó là vậy, như thị, làm như không có sự can thiệp của tác giả. Bi kịch ở đó và nghệ thuật cũng ở đó. Sự việc diển tiến theo một trật tự tự thân, lạnh lùng đến vô cảm. Từ đó làm người đọc mủi lòng. Nói vậy có nghịch lý không ? Không ! Chính vì cung cách rạch ròi, dứt khoát, vô tính của sự việc được “ liệt kê ” gần như dửng dưng càng làm người đọc cảm ra cái vô tình đến bất nhân của lịch sử ! Tác giả viết truyện bằng lối văn khô mà “sốc”, chữ thô nhám như đục đẻo từ đá núi, cứa đau tới tận những nỗi niềm. Chắc tại vậy, đọc xong rồi thấy sao ngồi bất động, đáy con mắt cay cay. Chợt nghĩ đến những người lính già, anh em tôi, bạn bè tôi, lứa tuổi đã sống chết trọn tình trọn nghĩa với cuộc chiến tranh ám muội mà hậu quả còn mãi đến bây giờ. Những người còn may mắn sống sót, giờ lay lắt cuối đời mình trong những góc phòng chung cư hẹp té, những nhà dưỡng lão om xòm tiếng nói lạ hoắc lạ huơ ... lơ ngơ trên một góc giường xô lệch, lọt thỏm trong chiếc ghế bành quá cỡ, loay hoay với những viên thuốc tim thuốc suyển ... ở đâu đó, trong góc đời lẻ loi, trên xứ người lạc lõng ... Đã có khi nào, một sớm mai nhợt nhạt, một chiều hôm lặng lẽ, một khuya im chập chờn ... quanh đi quẩn lại trống trơn ... bỗng nhớ, bỗng tiếc, bỗng hận ... bỗng buồn!

Ngày tháng tiêu hao ...

Họ đã sống quá đời họ, sống hơn những đòi hỏi của bổn phận và trách nhiệm thường tình, sống thay cho thế hệ mình để cố lội ngược dòng những cơn lũ. Tuổi trẻ họ dìm trong lửa đạn, chết chóc, tù đày ... Họ đã trần thân đi suốt con đường thập giá của chính mình và của quê hương. Để sau rốt, trong cơn hấp hối của niềm tin, còn cố vớt vát vá víu từng mảnh rời hy vọng cho dẫu nhỏ nhoi, dẫu mong manh hơn bọt bèo đi nữa.

 

Rồi đến lúc, niềm tin cũng chỉ còn là ảo ảnh của những thề nguyền.

 

Rồi đến lúc, ngay chính họ cũng chỉ còn là cái bóng của chính họ, xiêu vẹo nhạt nhòe khi trời chiều trở mặt sang đêm.

 

Đâu có gì buồn hơn khi ngày đến hồi ... chạng vạng.

 

 

Cao vị khanh

*Kính tặng những người anh ...

 

* trích từ truyện Người lính kèn và viên đại úy

Hà Thúc Sinh by Tạ Tỵ
Source: Internet
_____________________________________

chữ nghĩa giữa hồi “đại dịch”

- Đọc Nguyễn Viện, người viết văn ở xứ “ chxhcn Việt Nam ” -

 

 

Đã lâu lắm, lâu từ cái lúc ôm nỗi nhục bỏ nước trốn đi, tôi ít khi tìm nhớ lại khoảng thời gian tôi đã sống qua ở đó, sau tháng tư năm bảy mươi lăm. Trại tù. Học tập. Cải tạo. Chợ trời. Phường. Khóm. B2 B3. Biểu ngữ. Tuyên cáo. Nghị quyết. Những chiếc loa phóng thanh ra rả đêm ngày. Nón cối. Dép râu. Túi dết. Những cuốn sách trân quí như người tình đầu đời bị chất đống trên những chiếc xe ba gác truy-lùng-sách-vở-phản-động (sic). Và phừng phừng ngọn lửa phần thư nơi đầu đường xó chợ. V.v... và v.v...

Tôi cố quên những hình ảnh, những cảnh tình đã sống trong 5 năm trót được ... “giải phóng”.  Tôi cố quên như cố quên một mụt nhọt đến hồi làm độc, sưng tấy máu mủ đau nhức cùng cực rồi thời may lặn mất. Vậy rồi, riết thành quen, tôi quên luôn tôi đang có một nước Việt Nam không còn dính dáng gì đến tôi vì thứ chính trị cuồng tín dựa hoàn toàn trên sự ngụy trá, một nước Việt bị tàn phá còn điêu tàn hơn cái lúc bị dập vùi bằng súng đạn. Tôi sống lơ ngơ ở xứ người, may là lao động để kiếm ăn chớ không phải lao động để vinh quang như lời bác-và-đảng (?!) đã dạy nên dù cực thấy mồ mà vẫn thấy khỏe ru, lúc rảnh rổi lại cải lời « bác-và-đảng » (?!), vảnh tai nghe nhạc vàng đến nỗi đâm ra mê mẩn, rồi lại lục lọi tìm đọc cho được thơ văn của những tên tuổi cũ từ thuở Sài-gòn chưa đổi tên, đôi khi chen vào những cuốn phim tây, phim mỹ ... Tại ( nhờ !) vậy mà rồi quên bẳng cái thiên đàng xhcn mà « bác-và-đảng » (?!) đã dày công chụp giựt cho được, bất kể bê bết máu xương.

 

Thật ra không phải tôi muốn quên, chỉ là tôi không muốn nhớ.

 

Tôi không muốn nhớ lại vì chỉ vỏn vẹn trong 5 năm ở đó mà tôi thấy như mình vừa trợt chân tuột lại phía sau hằng hằng thế kỷ trên biểu đồ tiến hóa của nhân loại. Kiểu như đã có lần ông Nguyễn Chí Thiện bóng gió... Từ vượn lên người mất mấy triệu năm. Từ người xuống vượn mất bao năm ? Thật ra có cần gì đợi tới bao năm. Liền-tức-thì. Ai đã sống ở miền Nam sau ngày 30 tháng 4 năm 1975 hẵn là không cần gì phải đợi. Không phải đơn thuần là sự thiếu thốn vật chất. Mà chính là trên bình diện tinh thần, tôi không chấp nhận sự thay đổi đó. Những người mới cướp được chính quyền đã moi móc hết mọi thủ đoạn để chèn ép, xua đẩy người miền Nam xuống loại công-dân-hạng-nhì, với chủ trương kỳ thị hẹp hòi không ngoài mục đích trả thù nhỏ nhen của họ. Cuộc trả thù bất nhân, hậu quả của một cuộc chiến vô đạo !

Dĩ nhiên, sau một cuộc thay đổi chế độ, không ai đợi phải được ân cần đối đãi. Người miền Nam mà không bị lùa như từng bầy súc vật bị lùa vào lò sát sinh khi Khờ-me đỏ tiến vào Nam Vang đã là phước đức. Tuy nhiên nếu không bị xử tử bằng mủi súng lục kê vào màn tang mà bị ... cải tạo để xây-dựng-con-người-mới-xả-hội-chủ-nghĩa kiểu như ở miền Nam buổi đó thì nói thiệt có khác gì cái lối mấy ông vua tàu hồi xưa xử người ta theo lối lăng trì, xẻo từng miếng thịt cho chết dần chết mòn, vừa chết vừa đau nhức ... Chẳng vậy mà hồi đó, người ta hay nói cái cột đèn mà có chưn chắc cũng ... vượt biên. Biết bao nhiêu oan trái đã ứ đầy nước mắt. Nhưng thôi, chuyện qua rồi. Nhắc hoài người ta biểu mình thù dai. Nhưng mà ....

Chỉ có điều, ngoài cái chuyện tù tội, đói ăn ... Cái chuyện làm tôi ... “khủng” (!) nhất là thứ ngôn ngữ nói và viết của quí vị đi làm cách mạng từ rừng núi sình lầy của miền Nam hay từ bờ phía bắc của con sông Bến Hải trào qua !

Rõ ràng là sau khi xử tử nền dân chủ non yểu của miền Nam bằng đủ thứ súng đạn, dao găm, mìn bẩy, thừa-thắng-xông-lên, họ xài luôn thứ vũ khí tàn độc không kém gì mấy con vi-rút 19 bây giờ. Nó không nổ dòn như AK 47, không nổ tung như hỏa tiển 122 ly, mà nó nổ từ từ như thứ mìn nổ chậm. Đó là thứ chữ và nghĩa phát sinh từ những xưởng đúc người đồng bộ, những khuôn chế người đồng dạng, đóng khung suy nghĩ, triệt tiêu sáng tạo, che mắt bít tai bịt miệng hai mươi mốt năm miền Bắc ... nay được dịp phá rào cho đại dịch cộng sản lây tràn về Nam. Ngoài thứ chữ nghĩa với ẩn ý chính trị tráo trở nhằm để lừa gạt : xâm lược thì nói trớ lại là « giải phóng », bỏ tù thì lấp liếm là « cải tạo », tẩy nảo thì gạt gẫm là « học tập », giựt nhà giựt của thì dối trá là « quản lý », thưa gởi mà làm như quen rình mò nhau nên kêu là « báo cáo », cướp giựt tài sản thì mồm loa mép giải là « cải tạo công thương nghiệp » ... còn hằng hà sa số chữ nghĩa ngây ngô không kém gì bản mặt ngây ngô của mấy chú cán binh trước phố xá Sài-gòn bữa đại thắng-mùa-xuân !!! Kể ra sao cho hết, thứ chữ Việt mới và lạ. Mà quái lạ thiệt.  « Hải cảng » coi bộ chắc sợ bị Bắc-thuộc-lần-thứ-ba nên sửa là « cửa khẩu » bất kể từ « khẩu » – gốc Hán-Việt đã có nghĩa là cửa ! Sao không nói là cửa-cửa cho nó đúng điệu ... cà lăm luôn. Rồi còn cái « vụ » và cái « việc » nữa, coi bộ sợ chưa rõ nghĩa tới « đỉnh-điểm » nên lắp ba lắp bắp là « vụ việc » cho chắc ăn hơn ... Lắm khi lại còn lên mặt, cải lời ông bà xưa đã dạy ... dốt hổng chịu dựa cột mà nghe, lại cứ vênh váo nói chữ ... kiểu như phó-tiến-sĩ với lại tiến-sĩ cả nước. Ôi thôi kể ra sao cho hết ! « Ghi tên », làm như nghe ra giống ... ghi tên quá nên nâng cấp lên là « đăng ký ». Rồi « liên hệ », « giao lưu » « sự cố », « nhất trí »...  Rồi « học vị », rồi « xử lý » rồi « bồi dưỡng », « bảo quản », « tư duy », v.v... và v.v... Nghe mà tưởng chừng cả nước đều là « viện sĩ » của một viện Hàn Lâm ... « hoành tráng » !!! Nhất là cái lối xài chữ rổn rảng như phường tuồng, cứ làm nhớ đến truyện ngụ ngôn Con ếch muốn làm con bò của La Fontaine, “Đồng chí nhà bếp nấu cơm « khẩn trương » ( !?) lên nhé. « Tranh thủ » nhanh lên, đói lắm rồi đấy”. V.v... và v.v... Nghe mà rụng rời tưởng đâu là sơn hà tới hồi nguy biến ! Vậy mà đã hết đâu. Còn nữa, còn thứ chữ nửa nạc nửa mỡ, cái nhà căn nhà thành ra « căn hộ » (khi ghép chữ thì dùng cùng một loại chữ, nôm với nôm, hán việt với hán việt, không ai đem râu ông nọ cắm bên cằm bà kia), lính thủy quân lục chiến thì để cho đúng chủ trương trong-sáng-hóa-tiếng-Việt (?!) thì gọi là « lính thủy đánh bộ », phi công thì gọi là « chiến sĩ lái », « giặc lái », đàn bà con gái mà đi lính thì gọi là « chiến sĩ gái » khiến lắm khi vì ù ù cạc cạc tôi cứ tưởng là ... làm gái, trực thăng thì gọi là « máy bay lên thẳng », hai chữ kép « cương liệu » với « nhu liệu » trong ngành tin học nghe tư sản quá hay sao không biết mà đổi lại là « phần cứng-phần mềm », làm cứ tưởng là đang nói tới mấy cái phim sex ! Kể cả nhà bảo sanh cũng được gọi cực kỳ hiện-thực-xã-hội-chủ-nghĩa là « nhà đẻ » ! Hết ý !

 

Vốn dĩ là một thằng mê chữ -mê chớ không phải là giỏi- thiệt tình mà nói tôi buồn hết nói, kiểu như Thúy Kiều khi ngồi buồn trông ra cửa biển chiều hôm mà ngó bốn bên, bên nào như bên nấy cũng buồn hiu. Xui cái là nhằm ngay lúc ba-dòng-thác-cách-mạng đang nổ̉i lên ầm ỉ theo như tài liệu “đảng ta”  đã dạy, nên vểnh tai ra hướng nào cũng nghe ầm ỉ tiếng nhí nhố. Không lúc nào là không nghe, không khi nào là không dội vào tai những chữ những nghĩa cứ như đóng đinh vào tai. Số là sau khi coi như trả xong món-nợ-máu-với-nhân-dân vì cái tội ... đi dạy học trò học chuyện nghĩa nhân, được cách-mạng-khoan-hồng (?) thả ra, tôi tưởng mình đã hết bị tra tấn với thứ chữ nghĩa kêu như bò rống mà rỗng như cái thùng không do đám quản giáo với lại quản huấn thi nhau lải nhải khi còn trong tù. Ai dè, vừa thoát ra khỏi cuộc tra tấn thính giác này lại lọt vào trận tra tấn khác. Lần này cũng huyênh hoang không kém với mớ chữ nghĩa quái lạ, câu cú trục trặc, không biết được moi móc từ cái kho ngữ vựng văn phạm nào mà lại không kém phần ... vô nghĩa, vô lý và vô duyên quá mạng. Hẵn là sẵn đà ... « giải phóng dân tộc », bèn giải phóng luôn mớ chữ nghĩa vốn đã thành khuôn phép. Danh từ bị kéo xuống làm động từ, động từ bị đẩy lên làm chủ từ ... ngữ vựng ngữ pháp ... gì cũng bất kể. Mà kể chi cho mệt. Xài sao cũng được, trong triều ngoài nội gì cũng « tầm cỡ » như nhau !

            Mai Thảo                Nguyên Sa          Tô Thùy Yên           Đinh Hùng   

 

Ôi, chữ quốc ngữ của tôi ! Thứ chữ đã sinh ra từ ước vọng thăng hoa của một dân tộc vốn đã quá điêu linh qua nhiều ngàn năm dâu bể, dẫu vậy đã trưởng thành và hoàn hảo không kém bất cứ một thứ chữ nghĩa văn minh nào khác. Những bậc tổ tiên uyên bác của tôi, đã vắt đầu vắt óc, nắn nót, chắt lọc, sắp xếp từng thanh âm, từng dấu phẩy dấu chấm ... để tiếng nói câu chữ càng lúc càng uyển chuyển, càng súc tích, càng trầm bổng ... Những bậc tổ tiên tài hoa của tôi đã biến cái mớ chữ không lấy gì làm trơn tru cho lắm lúc khởi đầu trở nên trong sáng, thông suốt, lảng lướt không thua gì những con sông nước ngọt quê tôi chảy xuôi một dòng ra biển. Họ đã làm thơ, đã viết truyện, đã diễn thuyết, đã dạy dỗ ... Từ khi Phan Khôi kéo dài ra cho con-mắt-còn-có-đuôi cho đến năm 1975, ngoại trừ một lúc yên bình ngắn như một cái chớp mắt, thời gian còn lại toàn là chiến tranh. Giặc giã liên miên, từ rừng núi kéo về đồng bằng rồi lan vô thành phố. Vậy mà giữa khi bom đạn mù trời vẫn lượn lờ những câu văn câu thơ đẹp tuyệt vời. Thử đọc lại mấy câu thơ của Quang Dũng những năm  40

Khói thuốc xanh dòng khơi lối xưa

Đêm đêm sông Đáy lạnh đôi bờ

Thoáng hiện em về trong đáy cốc

Nói cười như chuyện một đêm mơ

Chữ nghĩa, thi ảnh, vần điệu ... mọi thứ đẹp lung linh như chuyện Trang Sinh nằm mộng.

Hay vài câu thơ của Nguyên Sa những năm 60

Người dáng dấp bơ vơ của bầu trời hải đảo

Tóc bồng bềnh trên nếp trán ưu tư

Những ngón tay dài ướm trọn mấy nghìn thu

Mà men sáng trong xanh mầu trăng vời vợi

Thơ là thành tựu tuyệt vời của những vận động liên tục nhằm thăng hoa một ngôn ngữ vốn đã lắm lần bị chèn ép.

Hay Tô Thùy Yên những năm  70

Những người thuở trước bây giờ lạc

Trong dã sử nào như bóng mây,

Trong trí nhớ nào như giọng hát

Hỡi ôi, trời đất lạnh tình thay !

Thơ biểu hiện cho sự trưởng thành của chữ nghĩa, phong phú và xảo diệu, vượt  bỏ ranh giới hạn hẹp, thô nhám của vật chất (cụ thể) để vươn tới cõi lung linh của khái niệm trừu tượng (tinh thần).

Hai mươi tám chữ thôi mà thơ xô người ta té ngửa vào cõi minh triết diệu kỳ của mông lung Lão Đam thiên-địa-bất-nhân-dĩ-vạn-vật-vi-sô-cẩu.

 

Cả một thế giới hoa lệ của chữ và nghĩa đã được dựng lên với tâm ý chân thành và tình yêu dân tộc của bao lớp người đi trước, dù có học tàu học tây vẫn một lòng chung thủy với nước non, để ra sức điển chế một ngôn ngữ nôm na mộc mạc thành một ngôn ngữ văn chương giàu có và tinh tế. Đọc thử một câu văn của bất kỳ một nhà văn nào ở miền nam nước Việt trước năm 75 coi, nếu không hoa mỹ thì cũng trong sáng, dù giản dị vẫn rõ nghĩa, cú pháp chững chạc rạch ròi. Chủ từ, động từ, tính từ, túc từ, trạng từ, giới từ ... đâu đó phân minh, rạch ròi, rõ ràng như đinh đóng cột, chưa kể những thủ pháp mỹ từ, chính xác mà lả lướt không khác gì người họa sĩ vẫy cọ lên tranh mà đường nét và màu sắc hè nhau thoát bay ra ngoài khung gỗ.

 

Thử đọc vài câu tùy bút của Đinh Hùng về một mùa thu dĩ vãng.

... Thu năm nay, tôi lại đi trên con đường vắng này, nghe từng chiếc lá rơi trên bờ cỏ. Nắng ở đây vẫn là nắng ấm ngày xưa và linh hồn tôi vẫn là linh hồn tôi năm trước ... Tôi đem lòng về để gặp mùa thu thương nhớ cũ và may cũng thấy thu về để nước hồ xanh...

Trời ! Văn chương gì mà chữ nghĩa lóng lánh như ngàn đốm sao đêm trên nền trời đen mượt.

 

Đọc thêm chút Mai Thảo trong Chuyến tàu trên sông Hồng :

... Hình dung thấy con tàu đó trên con sông đó. Con sông Hồng. Như dòng máu đỏ tươi chảy băng băng khắp vùng trí nhớ bâng khuâng. Con sông như một đời sống vĩ đại. Bên này bãi lở. Bên kia bãi bồi. Tiếng sóng giữa dòng trùng trùng ca hát. Tiếng sóng dập cái tiếng dập mênh mông đầu ghềnh nơi tả ngạn bị hút xoáy mải miết, nước xôn xao róc rách đẩy lùi mãi những bãi dâu và những nương khoai vào những chân tre cũ. Nơi tả ngạn, ngọn sóng hiền lành mùa lũ này qua mùa lũ khác. Đứa nhỏ trôi theo con tàu trên dòng trường giang hùng vĩ chợt nhớ tới những con sông làng thon mềm dải lụa có trâu đầm từng đàn dưới bóng đa nghiêng, có những chiếc cầu đá dẫn tới một phiên chợ sớm đầu đình, có những cầu gạch mở vào những cái ngõ lang thang mất hút, có cỏ gà trên gò đống, cỏ ống trên mồ mả, có những cầu tre tay vịn chòng chành, đêm đêm có ánh đom đóm lập lòe, có ánh trăng mướt chở tới những khoảng sân gạch Bát Tràng nồng ấm hương lúa đầu mùa. 

Hay Nguyễn Đình Toàn trong Đêm lãng quên :

… Tôi đã nghe thấy tất cả cái hắt hiu tàn lạnh của một đời người, của những đêm mải mê trong các cuộc truy hoan, đỏ đen tích lại trong máu huyết, bây giờ đang muốn tắt đi cái dư vị cuối cùng, tắt đi cái chút lửa còn sót mỗi khi cơn bệnh bớt hành hạ, cho cái cảm tưởng, ta vẫn còn chân tay vẫn còn đời sống… Những buổi xế chiều, những sớm âm u, những giờ phút đời sống đã tự giấu mặt, đã lẩn khuất, đã lẫn lộn, tuổi già như một cơn nước lụt đã dâng lên tới ngang ngực, hơi thở đã khó khăn, những thú vui đã bị dìm cả xuống vực thẳm phiền muộn, những nỗi phiền muộn không tên…

Mà thật ra, cũng không cần phải nhắc chi đến những nhà văn nhà thơ tên tuổi. Ngay  cả một người học trò cấp trung học ở miền Nam thời đó cũng thừa khả năng viết thành câu đúng chính tả, văn phạm. Và rõ nghĩa như một cộng một là hai.

Viết gì thì viết, tả cảnh tả tình, tả chân hay lãng mạn, viết đơn xin việc hay viết thư xin tiền kể cả khi rộn ràng cưới hỏi hay ngậm ngùi cáo phó, câu văn câu thơ ở miền Nam trước khi cháy rụi vì ngọn lửa phần thư láo lếu đã rất trong sáng, mạch lạc, cú pháp rõ ràng chặt chẽ. Chẳng bù từ đó đến nay ...

Từ đó đến nay, chẳng những mạng người bị cách cái mạng thôi mà chữ nghĩa cũng chạy không khỏi nạn bị tẩy nảo đến độ dở dở ương ương.

Kể cả khi đã chạy bán mạng qua tới xứ người, những năm 80, chưa kịp hú hồn hú vía, tôi lại tá hỏa khi bất chợt nghe dội lại từ bên kia biển lớn mấy cái tiếng Việt ... lạ hoắc, lạ tới nỗi hai lổ tai lại lùng bùng : ùn tắc, quá tải, cười té ghế, siêu sao, bức xúc, tiền bo, fan cuồng ... và ... và ... kể cả mớ chữ cũ nhưng đã được cải tạo rốt ráo để thích hợp với con-người-mới-xã-hội-chủ-nghĩa (!) : giải phóng mặt bằng, vùng sâu vùng xa ... Muốn đúng điệu, nói phải có chứng, lẽ ra tôi phải kê ra đây bảng liệt kê dầy mo đó. Nhưng khổ nổi, tôi vốn dị ứng với những gì trái tai gai mắt nên nghe thấy rồi là quên rồi, bây giờ mà cố nhớ lại chắc không khác gì ... tự tra tấn. Nên đành ... Dẫu vậy, cũng xin kê ra đây một mẫu tin ... bất ngờ rồi vô ý ... để lọt vô mắt và bảo đảm trăm phần là có thiệt chớ chẳng phải fake news thời thượng. Tin như vầy: 

             Chuyên gia dịch tễ nói gì về số ca mắc liên tục giảm?       

                  Báo Nhân dân điện tử ngày thứ hai, 06/04 /2020, 09 :46 :31

          Tin được in đậm theo mẫu chữ Helvetica cở 18. Bảo đảm không thêm không bớt nửa nét nửa chấm. Đó là bản tin của cơ quan ngôn luận chính thức của cái đảng đang cầm quyền tối thượng ở nơi quê hương khốn khổ của tôi.

Đọc rồi phát muốn bắt chước một cách nói liệu thường nghe trên miệng đời gần đây. Hiểu chết liền !!!

Sẵn trớn tới luôn cho đỡ phần ấm ức. Đã có lần nào đó, trên cái vùng đất đầy những cung-văn-hóa mà nhà nước đã hô hào xây cất, có một tấm bảng hiệu của nhà nước (lại nhà nước) được dựng lên bên đường để dạy dỗ dân. Như sau:

Nhà nước mà viết văn chấm câu xuống hàng kiểu này, lỡ đàn ông con trai trên trái đất đang lúc nhúc người này đổ xô về xin tị nạn rồi lấy đâu mà gả bán cho đủ sau khi đã gả bán qua Đài Loan, Đại Hàn ! Hết ý !

 

Đành rằng ai cũng biết, ngôn ngữ cũng có đời sống, có sinh có tử. Không ai cản được, theo dòng đời sẽ có những chữ biến mất, những chữ mới sinh ra để thay thế hay để đáp ứng với những nhu cầu mới. Tuy nhiên, y như trong một xã hội, đứa nhỏ được sinh ra trong một gia đình có học thức vẫn thừa hưởng được chút gì vốn liếng của cha mẹ nên ít nữa hàng xóm làng giềng cũng đỡ phần bị phiền phức. Đằng này ... !

Lại nữa, thói thường, người ta vẫn phân biệt hai loại ngôn ngữ : nói và viết. Khi nói thì ba hoa chích chòe sao cũng không đến nỗi, ba cái tiếng lóng, tiếng địa phương, tiếng lề đường xã hội đen xã hội đỏ ... gì cứ mặc tình. Vui thôi mà. Tuy nhiên, khi viết, mỗi loại ngôn ngữ, Tây Tàu Anh Mỹ và ... Việt Nam v.v... đều có khuôn phép riêng của nó gọi là văn phạm. Văn phạm chính là cái khung chung làm mẫu mực để già trẻ bé lớn đàn ông đàn bà, thuận thảo hay chống đối, bán-vé-số hay đại gia ... gì gì khi đọc đều hiểu rõ chung một ý. Mười người, hay mười vạn người đều thụ nhận như nhau ... nếu biết đọc biết viết.

Đằng này ... Lại đằng này ... !!!

 

Tại vậy đó, mà lâu rồi, lâu lắm rồi, tự trong tôi có một phản ứng vô thức xúi tôi thà làm người vô tri hơn là hữu tri mà tri toàn chuyện ... dị hợm. 

Nhưng mà ... nói thì nói vậy chớ lắm lúc nghĩ lại thấy buồn lắm !!!

 

Cái thứ ngôn ngữ này, nó vốn « lây lan »(?!) không thua gì mấy con vi-rút thời nay. Một người dùng, rồi hai ba, rồi năm bảy ... Có người nghe rồi muốn giễu cợt, nói theo cho vui, vui rồi quen miệng lúc nào không hay. Sẽ đến lúc, y  như mọi loài vi khuẩn độc hại, nó ẩn núp trong cõi vô thức. Rồi dù không chủ ý, chữ nghĩa biến dạng, phát ra ... Mười mươi người. Chục. Trăm. Ngàn ... Cả đến không ít người bỏ công bỏ của chạy bán mạng, qua rừng qua biển, núp bóng tá túc xứ người. Vậy mà khi tụm năm tụm ba, có dịp vui miệng giễu qua giởn lại, nói năng theo kiểu quê nhà ... riết rồi một lúc nào đó, vô tình phát ngôn không khác gì người đang hoạch họe ở đó. Kể cả một số quí vị đã tự nguyện mang trọng trách đối với mấy cái cộng đồng người Việt lưu vong, nhảy ra làm báo, cũng vô tình –hay hữu ý (!?)- không biết mà lắm khi bê nguyên văn một bản tin được viết bằng thứ chữ Việt không lấy gì làm đúng văn phạm cho lắm ở bên đó mà in lên giấy trắng mực đen ở bên này !!! Hay trên cái không gian ảo gọi là báo ... mạng !!! Sao không kiên nhẩn thêm một chút, bỏ ra thêm năm ba phút, sửa chữ chấm câu cho đúng lề luật, cho bỏ công đã ê a tập đánh vần từ năm lên ba lên bảy, đã gò gẫm tập chấm câu từ tuổi chín, mười... mà mấy ông thầy bà cô già đã còng lưng sửa nắn cho mình ! Hởi ôi ...

Rốt lại, cái chuyện vượt sông vượt biển ... !

 

Nhưng mà rồi, nói thì vậy, không có nghĩa là tôi dứt tình với quê hương. Tôi thương lắm chớ cái xứ sở khốn đốn còn đang giẫy giụa trong bàn tay thô bạo của đám cầm quyền ... chẳng những thiếu chữ mà còn thiếu nghĩa với dân tộc, chỉ có biết hết lòng đem bán nước đợ dân.

 

Tôi đã cố quên. Chẳng qua như một thứ... giận lẫy !

 

Chẳng qua, vì sau 40 năm gọi là hòa-bình-độc-lập-thống-nhất dưới sự cai trị của người cộng sản, tôi chỉ thấy hết điêu tàn này đến điêu tàn khác trong lòng người dân Việt còn kẹt ở đó. Ở đằng sau những dinh thự cung đình, những tòa cao ốc ngất ngưởng, những phi trường, xa lộ phẳng phiu ... lần lần được dựng lên, tôi lại thấy quá nhiều những nhiêu khê phiền muộn chìm nổi trong lòng của những kẻ có lòng còn sống lây lất đâu đó trong cái xứ đứng chông chênh trên đỉnh-cao-của-trí-tuệ-loài-người (sic).

Vâng, sau hết, vẫn còn những tấm lòng điêu tàn đang bị chôn vùi đâu đó dưới những lớp phù hoa giả tạo. Do một tình cờ đẩy đưa, tôi đã bắt gặp một cõi điêu linh ... dữ dội còn ở đó.

Lần gặp gỡ đầu tiên, trên web Tiền Vệ từ vài năm trước, vừa đọc xong câu kết một truyện ngắn,  tôi bỗng thấy chới với ! Truyện ngắn “Gió ở lưng ” !

 

Y như thứ cảm giác choáng váng ớn lạnh khi bất ngờ đối diện với khoảng trời rộng vô biên nhưng lần này thì lại như úp mặt vào một hố sâu vô tận. Hai tâm cảnh dường như giống nhau nhưng lại khác nhau như trắng với đen. Cái trước, choáng váng vì sự bao la, lớn lao, khoáng đạt ... gợi mở cho những viễn tượng. Cái sau choáng váng vì cảm giác bít bùng, nghẹn ứ ... làm tắt nghẽn hết mọi dự phóng. Như bỗng dưng rồi lọt vào tuyệt lộ.

Đọc một lần rồi đọc lại lần nữa. Vẫn nguyên cái cảm gíác như bước hụt một kè đá rồi lọt tỏm vào một hố sâu. Sâu không đáy. Chung quanh bít bùng tới ngộp thở. Mà cũng chẳng phải tác giả kể chuyện khoa học giả tưởng hay thần kỳ ma quái gì. Truyện chỉ là loại chuyện hằng ngày, xảy ra ở bất cứ đâu đó ở cái miền Nam VN, được viết 32 năm sau ngày hô hoán lên đã giành được độc-lập-tự-do-hạnh-phúc.

Truyện bắt đầu như vầy :

1.

Ông đi ngang quán cà phê lợp lá lụp xụp. Có hai ba cô gái ngồi phía trước. Một đôi mắt nhìn theo ông. Bà chủ quán quen bảo: “Ông cứ thấy quán nào có mấy cây dừa che phía trước, bên trong có mấy cái ghế bố, thế nào cũng có em út”.

 

Vậy đó, chuyện kể lẩn quẩn loanh quanh giữa một người đàn ông chưa già nhưng hẵn không còn trẻ, vợ chết, sẵn tiền bạc giữa khi có rất nhiều, rất nhiều người chung quanh ông ta đang phải chạy gạo từng bữa... và những cô gái, những người đàn bà cô thế, của cải chẳng có gì ngoài cái thân xác cha sanh mẹ đẻ nên đem ra làm vốn kiếm ăn. Chuyện về thứ nghề xưa nhất trái đất này chưa bao giờ thiếu, ở đâu và thời nào cũng có. Dù có đổi tên, sửa chữ thế nào thì vẫn là thứ chuyện muôn đời. Hồi xưa đã có. Bây giờ cũng có. Mai mốt chắc cũng vậy. Tây, Tàu, Ma-rốc, Mỹ Nga ... Tuy nhiên, chuyện xảy ra ở VN, dưới thời xhcn, lại với phong cách của ông Nguyễn Viện thì khác, khác trăm phần !

Chuyện chẳng có gì éo le mà lại toát ra vẻ bi-hài đến thê thảm khi mọi giá trị xã hội bị đảo lộn tùng phèo trong thời chó nhảy bàn độc. Những câu đối thoại cộc lốc, sống sượng  theo lối phang ngang bửa củi, biểu lộ tính chất đốp chát của một thời kỳ mà nền đạo đức lễ giáo ngàn đời đang bị cố tình đập phá để dựng lên một cái khung xã hội mới mà người ta gọi là đạo-đức-xã-hội-chủ-nghĩa.

Tác giả có một lối viết ngắn, gọn và sắc, sắc như lưỡi dao dùng để chém treo ngành. Câu văn, chữ dùng giản dị, rạch ròi, thực, thẳng mà ẩn tàng kim chích của bầy ong vò vẽ. Thứ văn chương khi người ta bị bịt miệng, che mắt và treo lủng lẳng trên đầu những lưỡi gươm Damoclès.

Trong truyện có kể những mối tình trai-gái, kể cả gái-gái– mà thực sự có thể gọi đó là tình yêu theo cái nghĩa chân phương nhất của chữ ? Những người đàn ông qua lại cốt để thỏa mãn nhu cầu tình dục, những cô gái giang hồ – mà thực sự có thể gọi đó là những cô gái giang hồ theo cái nghĩa đen của nó, nghĩa là có tính cách chủ động, chọn lựa. Hay là phải bán thân nuôi miệng, nuôi gia đình khi cảnh nhà dưng không rồi lâm vào tình trạng tuyệt vọng. Đã có một thời người ta xếp loại con người theo lý lịch ( ba đời ). Ông bà cha mẹ cao tằng cố tổ gì cũng được moi ra mà đánh giá, sàng lọc kiểu như sàng thóc rồi hoặc bị xô xuống làm hậu duệ ngụy-quân-ngụy-quyền để tịch biên gia sản hoặc được đẩy lên làm gia-đình-cách-mạng để chia chác của-cải-mới-được-giải-phóng. Đã có không biết bao nhiêu gia đình người miền Nam bỗng chốc bị thiếu cơm thiếu áo khi vừa dứt tiếng súng, cha, chồng, con trai hè nhau bị bắt nhốt vào các trại tù gọi là cải tạo, sau khi đã đuổi nhà giựt của ... Khổ nổi, đôi khi họ là nguồn sống duy nhất của người mẹ trẻ vừa sanh đứa con đầu lòng, của người vợ với bầy con sinh năm một, là chỗ nương tựa duy nhất của những cặp cha mẹ già mòn mỏi giữa bầy em ngơ ngác ...

Những cô gái trẻ măng, những người đàn bà quá lứa ... từng ngày tô son trét phấn len lách qua những túp lều, những quán lá chắp vá bên lề đường trong ngõ hẻm để gọi là ... cạo gió cho mấy ông khách ... trúng gió. Có thể đó là công việc chính thức để « đăng ký » với phường, khóm, công an ...? Nhưng gì thì gì, nội cái tựa của truyện đã là một cái nhếch mép cười ...như mếu. Gió ở lưng ! Hay là một tiếng rủa thầm vào cái bản mặt đạo đức giả của một chế độ chuyên trị ngoa ngôn xảo ngữ ? Ai biết !

 

1.

.........................

Người bạn giơ một ngón tay út. Cô gái cũng đưa ngón tay út cho anh ngóeo. Cánh tay của cô gái đầy lông bất chợt xỉa vào mắt và làm xốn dưới bụng ông. Cùng lúc, ông nhìn thấy về phía cánh tay cô một tấm bảng nhỏ treo trên vách: “Cạo gió-giác hơi-đấm bóp”. Ông hỏi ngay:

-Cạo gió giác hơi đấm bóp, ai làm vậy?

Cô gái trả lời:

-Trước kia má em làm. Bây giờ là em.

Ông cảm thấy mình có cơ hội cho một cuộc vui.

Vậy đó, chẳng có gì là lâm ly. Những người khách đến rồi đi, chụp giựt, bốc hốt. Đồng bạc ném ra, không mất. Vì đồng bạc ném ra là để thu về một món hàng không giá. Cuộc trao đổi sòng phẳng nhưng không thể không ngậm ngùi. Kẻ mua người bán thuận thảo, tiền trao cháo múc, không có người bóc lột và kẻ bị bóc lột để cần phải phát động cuộc đấu-tranh-giai-cấp như đảng-và-nhà nước vẫn rêu rao nên những cuộc mua bán sòng phẳng đó rất được chánh quyền mới ngó lơ. Chẳng qua như một cái súp-bắp an toàn để giảm bớt áp lực trong cái nồi súp-de miền Nam đang sôi sùng sục vì những đòn phép gọi là cải tạo hết mực vô lý và hết mức vô đạo.

 

..........................

Hai ngày sau, ông quay trở lại một mình. Cô gái hỏi:

-Anh lại bị gió à?

-Chắc thế.

-Anh vào trong đi.

Ông lại nắm bàn chân cô ở công đoạn sau cùng.

Những lời đối thoại ngắn, gọn, như những mũi tên được bắn ra, qua lại vùn vụt. Hỏi-đáp. Đáp-hỏi. Những câu hỏi đáp như tự phát, không qua trung gian những nghĩ suy, do dự, đắn đo ... đâu như đã có sẵn, như từ trực giác của mỗi nhân vật. Điều đó có đưa đến câu hỏi ... tại sao. Tại sao nói mà không cần suy nghĩ như thói quen của cái loài ... sậy biết suy nghĩ ( L’homme est un roseau pensant. Pascal) . Tại sao ? Có phải vì nếu suy nghĩ đã chậm mất một tích tắc. Trễ một tích tắc có phải đã hụt mất một cơ hội. Sấp-Ngửa. Trắng-Đen. Ăn-Thua. Thành-Bại. No-Đói. Thiệt-Giả. V.v... và V.v... Đã có một thời. Thời bao cấp. Thời của những mánh mun, lừa lọc, gạt gẫm, lươn lẹo, chụp giựt ... Đã có một thời người ta giành giựt nhau tới u đầu sứt trán nửa thước vải, một chai nước mắm ... Đã có một thời người ta chen lấn, kèn cựa, chửi rủa, xô đẩy, giẫm đạp lên nhau để có được ... một cuộn giấy vệ sinh, một lít gạo mốc, vài trăm gramme thịt cá ươn ... Vâng, đã có một thời như vậy, sau ngày những người cộng sản chiếm được miền Nam. Và quê tôi, con người bị xô đẩy thúc ép tụt xuống hàng bản năng sinh tồn của loài thú bị thương. Lâu ngày, như một thói quen, chuyện trò trở thành đốp chát, ngôn ngữ trở thành vũ khí, theo kiểu bắn-chậm-thì-chết trong phim cao bồi miền viễn tây. Lời lẽ biến thành móng vuốt vừa để trấn áp vừa để tự vệ . Không có cái kiểu dài dòng văn tự lễ nghĩa lôi thôi của bọn-phản-động. Y như chiến thuật du kích. Đánh nhanh rút nhanh.

3.

........................

Một em mạnh bạo nói:

-Xả láng ngày mai trời lại sáng.

-Giỏi. Chị Tư khen đàn em. Chúng mày có biết Thúy Kiều không?

-Cái con đón khách ở đầu cầu Thị Nghè phải không chị? Một cô hỏi.

-Ừ, thì cũng đại loại vậy. Tuy nhiên nó là một mẫu mực tầm cỡ quốc gia chúng mày cần phải học hỏi.

-Nó làm tình hay lắm à?

-Ừ. Làm tình thì đẳng cấp quốc tế. Ngoài nghệ thuật làm tình, chúng mày cũng phải theo gương nó báo hiếu cha mẹ cho phải đạo.

-Tháng nào em cũng gởi tiền về nhà. Nhiều khi phải vay tiền để gởi nữa đó.

-Nói chung, tao thích đứa nào biết có trước có sau. Nói xong, chị Tư bảo: Nâng ly.

-Vô...

Cả đám nốc cạn.

Đọc thử thêm một đoạn ngắn về chuyện mấy cô gái bán thân bàn với nhau cách thức làm ăn. Không thua gì mấy bản quyết nghị hạ-quyết-tâm của đảng-đoàn-chi bộ ... vẫn thường được phổ biến buổi đó.

5.

........................

-Sống, chiến đấu, lao động và học tập theo gương Thúy Kiều vĩ đại:

-Ôm chân đại gia ngay khi có cơ hội.

-Sẵn sàng làm vợ bé, vợ hai, gái bao khi được chung chi đủ.

-Chiều khách theo yêu cầu.

-Khách không yêu cầu cũng tận tình phục vụ để câu khách quay trở lại.

-Báo cho khách biết khi có kinh.

.........................

Truyện được viết với lối văn cộc lốc, không hoa hoè hoa sói, không tả tình tả cảnh, cũng chẳng lý luận lý giải gì ráo, kể cả lắm khi sống sượng. Tác giả không ngại ngần, cũng chẳng lựa lời lựa chữ như phong cách cổ điển khi viết văn. Có- sao-viết-vậy-người-ơi. Chuyện xảy ra ở một nơi chốn mà ngôn ngữ ước lệ ( thưa gởi hay vâng dạ ) thường không được ưa chuộng. Kiểu như đòi một ông cán bộ trung kiên ăn nói mạch lạc, có đầu có đuôi, có tình có nghĩa thì chẳng khác gì là đi ... “ khiếu kiện” đời nay vậy thôi. Những câu đối đáp qua lại ngắn ngủn, cục mịch ... y như lối nói bạt mạng của những người đã bán mạng mình cho qủy dữ, đời chẳng dám nghĩ đến ngày mai. Chữ nghĩa như thứ trái cây sống sít, đắng chát, không đầu không đuôi, ngang bứa ... kể cả tục tằn. Tác giả viết mà như dang tay bưng nguyên cái quán lá với đầy đủ bàn ghế ly tách, cái giường sắt nhốp nhúa, khách khứa gái ghiếc ... với nguyên vẹn những đẩy đưa ong bướm, nguyên vẹn không thêm không bớt một tiếng cười, một tiếng cải lẩy, một tiếng rủa xả hay một cái nguýt háy ghen ghét. Y chang thứ không khí đùng đục thường trụ những nơi đó. Thật như không thể thật hơn nữa. Bởi vậy mà đọc tới đâu sững sờ tới đó. Những chữ và nghĩa trần trụi như thứ truyện không có chuyện lại làm toát ra một văn phong chững chạc. Chững chạc tới độ lạnh ngắt. Lạnh ngắt mà nóng hổi thời sự. Thứ thời sự mặn chát nước mắt nuốt ngược vì uất ức bởi những oan khuất mà cả miền Nam đã gánh chịu ngay sau khi vừa biết mặt mũi của hai chữ hòa bình. Ngược đời là chính những người tự xưng đã mang lại hòa bình cho dân tộc đã làm bùng nổ ra một cuộc chiến tranh khác, không ì ầm tiếng bom đạn mà lại tàn phá hồn dân tộc không thua gì bom đạn. Chính sự nghịch lý đó đã làm nền cho bức tranh hiện thực mà tác giả đã vẽ ra theo lối ý-tại-ngôn-ngoại.

Cả một nền đạo đức lễ giáo vốn dĩ là nền tảng dựng nước và giữ nước từ ngàn năm, bỗng chốc bị thẳng tay phá hủy đưa đến tình trạng cả nước như một ngôi nhà không còn kèo cột, mọi giềng mối bị phá tung, giựt sập ... Người có quyền thì mặc tình thao túng, nếu không cướp giựt ̣được công khai thì lương lẹo để cướp giựt, không phải từng-cây-kim-sợi-chỉ mà từng căn nhà, khoảnh đất ... rồi nhà lầu rồi xưởng máy v.v... và v.v ... Người bị cướp thì lê lết ra lề đường xó chợ mà mắt thì ngó dáo dác tìm đường ra biển ... hể được dịp thì hè nhau bỏ xứ mà chạy bất kể công an biên phòng, sóng gió, hải tặc ... Người kẹt lại thì như con thú bị mắc bẫy, lúng ta lúng túng, vật vã xoay trở đủ cách để sống còn, kể cả bằng bản năng sinh tồn của con-vật-người mà người ta luôn tìm cách chế ngự.

Thêm 10 năm, 20 năm, 40 năm sau ..

Thử đọc lại đôi dòng trong một bài viết của ông Hà Sĩ Phu có tựa đề là “Tổ quốc trước cơn liệt-khùng nhân cách”, chắc đâu khoảng mươi năm trước :

“ Sự liệt thường được hiểu là dịu đi, xỉu đi… nhưng sự liệt này lại kèm theo một hội chứng hung hăng đầy rẫy bạo lực : chưa bao giờ người Việt lại xài vũ lực với nhau hăng như bây giờ. Hành hạ, tra tấn, chém giết nhau như cơm bữa. Những cuộc “đấu tranh không khoan nhượng, một mất một còn” này, những cuộc “phê bình bằng vũ khí” này lại không phải là đấu tranh giai cấp như  Mác-Lê mô tả, mà toàn là trận chiến trong gia đình, trong nhà mẫu giáo, giữa bạn bè, thầy trò, giữa công an với dân… trong hàng ngũ cách mạng với nhau cả. Cô giữ trẻ cấm trẻ khóc bằng cách bịt miệng cho đến… chết, công an bịt miệng bị cáo giữa tòa án nghiêm trang, trò nện thầy ngay trên bục giảng, cô giáo bắt học trò liếm ghế của mình, bà là mẹ liệt sĩ mà bị cháu đánh gãy xương nên  cũng thành “liệt”… sĩ luôn, nhà trường giao học sinh cho công an dùng vũ lực dạy giúp, công an tống súng lục vào miệng học sinh để hỏi cung, công an tạt tai khách qua đường hoặc đánh cho lên bờ xuống ruộng chỉ vì quên không đội mũ hoặc đi ngược chiều …”

Rồi đem so với thời buổi bây giờ, ngày này tháng này năm này, thử coi có khác đi chút nào. Hẵn là không. Không một chút thay đổi, ngoại trừ tên gọi của nạn nhân, chức tước hay quyền lực của kẻ cầm quyền.

Mới đây, ngày 16 tháng 6 năm 2020, trên báo Người Việt lại đăng tin chuyện một người đàn bà, vốn là cô giáo, cởi quần cởi áo, bỏ thân lỏa lồ, chạy phăng ngoài đường phố để kêu la cho một nỗi oan ức. Thử nghĩ coi, một người đàn bà ( cô giáo ) với tất cả sự e thẹn, kín đáo cố hữu của phụ nữ mà đến nỗi lấy chính tấm thân trần truồng của mình làm phương tiện kêu la. Nỗi uất hận đó hẵn là lớn hơn gấp bội lần phẩm giá của con người !!! Đây lại không phải là lần duy nhất. Cái chuyện gọi là dân-oan-khiếu-kiện, kể cả cởi truồng để « khiếu kiện » dường như đã xảy ra hà rầm, ở đó.

Đọc xong bản tin, tôi vuột miệng chửi thề mà không kịp bịt miệng. Ủa, mà tại sao lại bịt miệng ? Tán thán từ nào trong chữ nghĩa Việt Nam đủ nồng độ để diển tả sự phẩn uất và chán chường trong tôi ngoài cái tiếng chửi thề tục tằn mà ai nấy chắc sẽ ngại ngùng khi nghe tới hay khi lỡ miệng tuôn ra.

Ấy là chưa kể tới ba cái vụ « biển đảo » với lại « tàu lạ » của ... Tàu phù !

Trên cái phông một đất nước với tệ trạng chính trị và thảm trạng xã hội như vậy, thử coi còn có thể lựa lời nào hơn để biểu lộ nỗi buồn, niềm đau xót và tức nghẹn cho cả ngàn năm lịch sử của một dân tộc đã có thời tự hào là văn hiến ở một góc trời đông !

Tôi đọc Nguyễn Viện và tôi hiểu.

Văng tục và chửi thề !!!

Truyện Gió ở lưng là một truyện ngắn được phân chia thành nhiều tiểu đoạn, đánh số từ 1 tới  32, cốt chuyện dù được phân chia như vậy vẫn giữ được sự liền lạc từ đầu đến cuối. Thời gian, không gian và nhân vật cũng như tình tiết vẫn xuyên suốt theo chủ đích của tác giả. Quán do ba chị em ruột trông coi với vài ba cô làm công, mua bán nước uống là phụ mà mua bán thân xác là chính. Ông khách quen, lần lượt thân thiết với cô út, rồi ăn ở với cô ba rồi gần gũi với cô hai. Xảy ra vài ba chuyện lủng củng trong nội bộ, cũng có thể gọi là yêu đương, ghen tuông, gạt gẫm này nọ như trong bất cứ quan hệ trai gái nào khác, đặc biệt là trong cái thế giới không còn rào cản của vòng luân lý quen thuộc trước cái hồi bị cơn đại dịch giải phóng. Nếu không có nghệ thuật riêng của tác giả chắc cũng không lấy gì làm lạ.

Chỉ có điều là giữa các đoạn, thỉnh thoảng tác giả chen vào những đoạn mạch không ăn nhập gì với diễn tiến của cốt chuyện, giống như giữa những phân cảnh trong một vở kịch có những màn phụ diễn, ca hát hay làm hề, để lấp đầy khoảng trống cho đào kép có thì giờ thay đổi  xiêm y. Dẫu vậy nhưng lạ một điều, xuyên suốt từ đầu đến cuối người đọc lại không bị lạc lối mà vẫn noi theo cái hướng của tác giả đã vạch ra cho tới khi ... muốn bật ngửa khi vừa hết chuyện. Điều đó có nghĩa là dẫu như chơi mà rất thiệt, tưởng là lu bu mà hóa ra nhất quán. Lối viết như diễn ra hai hoạt cảnh song song cùng lúc, chuyện tưởng tượng xảy ra bên trong chiếc quán lá với những nhân vật cô hai, cô ba .. và  chuyện thật đã và đang xảy ra ở bên ngoài cửa quán, từ những khẩu hiệu giăng đầy đường tới những cung cách thô bạo của đám cầm quyền, cũng như những thảm trạng xã hội ... Tất cả diển tiến song song y như kỹ thuật làm phim mới mà không gian và thời gian trùng lấp lẫn nhau.

Thử đọc một đoạn đối thoại giữa hai cô gái, cuối đoạn 7 với đoạn 8 :

7.

............................

-Mày không thích dâm thì nhường cho tao.

-Bộ chỉ có mày biết kiếm tiền hả?

-Tao vừa thích tiền vừa thích dâm...

 8.

Quỉ vương dưới hoả ngục cười kha kha: Nước có thể cạn, đá có thể mòn, song ham muốn của con người không bao giờ thay đổi.

............................

Hay như :

25.

.............................

Ông xoa nhẹ trên cái bụng căng tròn của cô, hỏi:

-Nếu có xe rồi em còn đi làm nghề này không?

-Em cũng chưa biết nữa. Cô bảo.

-Em có định về nhà để đẻ không?

Cô cười:

-Mắc cở chết.

-Có chơi có chịu, sợ gì.

-Không dám đâu.

-Biết ai là bố đứa nhỏ không?                               

-Chỉ đoán chừng được trong vòng 3-4 thằng.

Tay ông vẫn xoa trên bụng cô. Cô hỏi:

-Anh có thích đàn bà có bầu không?

-Anh thích vuốt ve những cái bụng bầu. Mặc dù nó không phải là con anh.

-Đẻ xong, em bỏ con ở cửa nhà anh nhé.

-Cũng được. Mà biết nhà anh chưa?

-Cho địa chỉ đi.

-Ngã ba Nguyễn Bỉnh Khiêm – Lê Duẩn, quận 1.

-Chỗ đó là Sở Thú mà.

-Đúng rồi. Anh là một con khỉ sổng chuồng.

 26.

“Ở thành phố biển Nha Trang có một nghĩa trang do một nhóm người thiện nguyện lập ra để chôn cất các thai nhi xấu số bị tước quyền làm người. Các em phần lớn được nhặt ở các bệnh viện và phòng khám tư...” (Báo Tuổi Trẻ ngày 23.11.2007). Riêng con của cô gái ở quán cô Út sau này bị vứt dưới chân cầu vượt trên xa lộ vành đai. Khi người ta phát hiện ra đứa bé thì nó đã bị lũ kiến cắn chết.

 Thêm một vài đoạn

Đoạn 4 : Bọn cớm đút súng vào mồm thằng ma cà bông bảo: Cho mày biết thế nào là văn hiến.

Đoạn 12 : Bọn dân quân xúm lại đá dập dái thằng nhóc đang học lớp chín, nói: Cho mày tập làm đại bàng.

 Đoạn 19 : Bọn cớm cùm chân một công dân lương thiện, bảo: Cho mày biết thế nào là công lý.

 Đoạn 23 : Ông giáo sư nói với cô sinh viên đổi tình lấy điểm: Hai vú của em đáng được điểm 10.

Đoạn 29 : Cô giáo nhà trẻ quát: “Đứa nào khóc tao dán băng keo vào miệng”. Tuy thế vẫn có đứa khóc. Cô giáo lấy băng keo bịt miệng đứa bé cho đến khi nó vĩnh viễn không thể khóc được nữa.

Đoạn 30

Ở quán cô Út. Cô gái nói:

-Quán hôm nay vắng, từ sáng đến giờ em chưa ngồi bàn. Anh vào trong với em nghe?

Ông cười không nói gì. Một cô khác đến ngồi vào lòng ông:

-Chỉ có anh là dễ thương nhất.

Một cô đứng sau lưng bóp vai cho ông:

-Chút nữa cho em ít tiền nhé.

Ông hỏi:

-Hôm nay có mấy em?

-Dạ, năm.

-Tụi em muốn ngồi từng em hay tất cả cùng vào?

-Vô luôn. Các em đồng thanh nói.

-Đi. Ông nói rồi đứng dậy.

Các em dìu ông vào phòng trong. Ông nghĩ,  một ngày tàn.

Đoạn 31 : Bọn cớm bảo: Biểu tình tự phát chống Trung Quốc xâm lược Hoàng Sa – Trường Sa là bất hiếu, bất trung, bất nghĩa, bất hợp pháp. Nói chung là láo.

Đoạn 32 :

Người đàn ông cảm thấy thế giới chỉ còn l ... là đáng kể.

Hết chuyện.

( - xin cho tôi hết lời tạ lỗi cùng tác giả về cái tội lược bỏ một nguyên âm (ô) với một phụ âm (n) và một dấu giọng (dấu huyền) trong câu kết truyện mà riêng tôi, tôi thấy trầm thống không khác gì thủ pháp sư tử hống. Nó khép lại để mở ra cả một thế giới dù bị cố tình che đậy vẫn cứ hở ra toác hoác trước mắt người thiên hạ. Khổ nỗi, như bất cứ một kẻ hèn nào lúng ta lúng túng trong mấy tấm lưới phong tục tập quán xã hội đạo đức giăng quanh nên đành.. tự-ý-đục-bỏ !!! )

Cái đời đọc sách ngắn ngủi của tôi so với sức sống vạn niên của sách vở chẳng khác gì như đem chim sẻ mà so với hồng hộc. Tuy nhiên, được cái là do tánh ý thày lay, tôi có thói quen đọc bất kể, chính trị lịch sử văn học phê bình hồi ký, trinh thám võ hiệp tâm lý ái tình đường rừng xã hội ... ngay cả dâm thư. Tôi đọc tuốt luốt, chẳng phân biệt best-seller với lại sách-in-tặng-không-bán, và cũng chẵng phân biệt chủng tộc, vàng đen đỏ trắng ... Vậy mà cam đoan chưa bao giờ tôi sững sờ, sửng sốt, sựng ... lại nín thở mấy giây đồng hồ như khi đọc tới câu cuối của Gió ở lưng ! Vậy mà khi hoàn hồn lại cười khà, như vừa nín thở nốc xong một ngụm rượu mạnh, khà một tiếng cho hả hơi mà cũng cho thỏa lòng khoái trá. Rồi lại muốn được đối ẩm cùng tác giả mà cụng ly cho thỏa lòng ngưởng mộ.

Thật vậy, có mấy ai mà dám hổn hào khi đem tung hô bộ phận sinh dục của người đàn bà một cách công khai và quyết liệt như vậy để đối chứng với thực chất của một xã hội ... dù vốn dĩ  bại hoại tới hết thuốc chửa. Mà lại công khai xài luôn cái tiếng nôm na, trắng trợn mà cả và thiên hạ ai nấy đều tránh né ngoài mặt dù trong lòng ... ! Ẩn nghĩa của câu văn là một phản chứng hùng biện nhất cho những khẩu hiệu tuyên truyền treo đầy đầu trên xóm dưới mấy chục năm qua ở đó, là lời kết án hùng hồn nhất về những tội ác mà đám cầm quyền đã chủ trương hoặc dung túng làm tình làm tội cả mấy chục triệu dân Việt từ khi độc quyền làm chủ đất nước.

Đúng ra, danh xưng đó tự nó chỉ để gọi một bộ phận trong thân thể người ta, như cái đầu, cặp môi, vầng trán, lá phổi, trái tim ... v.v.... Nó có danh xưng khoa học, nó có tên gọi văn hoa hoặc nôm na như mọi thứ trên đời này. Nó cũng vô tội như cái răng cái tóc là gốc con người mà ông bà đã dạy. Nó được chúa dấu vua yêu. Nó được ông Nguyễn Khuyến, bà Hồ Xuân Hương làm thơ nhắc nhở ... Nhưng rồi theo thói đời vốn vẫn thường mâu thuẩn, càng được yêu chuộng bao nhiêu lại càng bị ganh tị bấy nhiêu, rồi đem gán ghép với những ý niệm xấu xa, chẳng ăn nhằm gì hết đến cái thiên chức mà tạo hóa đã giao phó, rồi đem bêu riếu bằng những giá trị đảo ngược cho hả lòng ghen tức. Đôi khi lại bị mấy bà Hoạn Thư đời nay xách mé nói này nói nọ làm như chỉ có một bên mà làm nên tội lỗi. Bởi vậy, từ cái chỗ kín đáo nhất và thường được yêu vì vậy mà có khi trong cơn nổi tam bành mà nhất là vì ghen tuông, người ta có thể lôi nó ra mà rủa xả nhau, ví như là cái gì xấu xa nhất, ghê gớm nhất ... mà thật ra có gì khác đâu khi được yêu dấu hay bị ghét bỏ. Vì vậy đó mà cứ phải lánh mặt cho yên. Hẵn ai nấy chưa quên bức tranh L’origine du monde của Gustave Courbet được vẽ từ năm 1866 mà cứ phải che che giấu giấu cho mãi đến hơn trăm năm sau mới được đem trưng bày công khai ra cho công chúng thưởng lãm. Hể là hồng nhan thì phải đa truân chăng ? Cho đến cả tên gọi nữa cũng chịu chung phần số. Nói gì thì nói, mà hể động tới là già trẻ lớn bé gì cũng ấp a ấp úng, như líu lưỡi tìm cách quanh co để khỏi nhắc tới. Mãi riết rồi, người ta làm như ... kính nhi viễn chi, lục tìm đủ thứ lý do kể cả thuần phong mỹ tục ... để mà tránh né ! Bởi vậy mà chẳng mấy lúc, đã chẳng biết mang ơn thì chớ lại từ một vị thế thân cận, thiết yếu bậc nhất cho dòng sinh mệnh của nhân loại bỗng dưng rồi bị xếp vào loại ... cấm kỵ cho đành. Đặc biệt là trong văn thơ.. Vậy mà, lần này lại được .. lên ngôi !

.....................

Các em dìu ông vào phòng trong. Ông nghĩ, một ngày tàn.

Đoạn 31 : Bọn cớm bảo: Biểu tình tự phát chống Trung Quốc xâm lược Hoàng Sa – Trường Sa là bất hiếu, bất trung, bất nghĩa, bất hợp pháp. Nói chung là láo.

Đoạn 32 :

Người đàn ông cảm thấy thế giới chỉ còn l ... là đáng kể.

Truyện được kết thúc với sự tôn vinh tuyệt đối cái hình tượng vừa quen thuộc vừa cấm kỵ, vừa là cửa ngỏ của đam mê vừa là đầu mối của tội lỗi. Đem đánh đổi hết mọi rắc rối của đời sống, mọi khắc khoải trước vận mệnh của đất nước vào cái chỗ vừa được yêu vì vừa bị oán ghét đó như một phản ứng triệt để nhất về những tệ trạng đã và đang diển ra ngay trước mắt. Sự đồng hóa bằng cách nói nghịch đảo nỗi tuyệt vọng về nạn nước với biểu tượng sex đàn bà ở đây gần như là cách văng tục, một tiếng chửi thề, khi ngôn ngữ bình thường tới hồi bất lực. Đó là biểu hiện tuyệt đối cho ý thức vừa phủ nhận vừa chống đối cái nguồn gốc -chính thể- đã tạo ra thảm trạng đó. Với một cung cách khinh miệt độc đáo.

Đôi khi, chửi thề là cách thế sống ở đời !

Và dường như tác giả còn lắm phen phải chửi thề như vậy.

Còn nhớ, người Nam ta, ngay từ lúc còn nhỏ như củ ấu, vẫn thường được cha mẹ dặn dò kiểu như Mười điều tâm niệm của Hoàng Đạo, không được văng tục hay chửi thề. Ý như cả hai có cùng hậu quả như nhau. Lớn lên, rồi xa cạ với đời chìm nổi, lắm khi giận tím mặt nhưng rồi phút chót, lại nhớ lời xưa, nên đành dằn xuống ... mà lầm thầm ... mình chửi mình nghe !

Vậy mà đọc Nguyễn Viện rồi, tôi lại muốn hợp âm với ông mà ... văng tục với lại chửi thề. Dù vốn chủ trương văn chương vẫn phải là đẹp là sáng như nguyên nghĩa của hai chữ văn chương. Văn chương là trau chuốt, là gọt dủa ... cho đẹp cho sáng từ nội dung đến hình thức. Có điều khi thực tế đã vượt quá mức chịu đựng của con người. Và ước vọng sửa đổi đã thành tuyệt vọng thì phản ứng dung tục có khi là sự cần thiết để dằn cơn phẩn nộ. Không phải một sớm một chiều đã khiến tác giả phải vung bút phá vở cái khung mỹ thuật cổ điển của văn chương. Hẵn cũng  đã lắm lần đắn đo ... Một khi thực tế, đối tượng của sáng tác đã vượt quá khả năng chịu đựng của con người thì văn chương có còn phải giữ theo mỹ cảm xưa. Hơn nữa, lương tâm của người cầm bút vốn là rào cản cho họ, nếu đã ngăn cản họ thỏa hiệp với cái xấu, cái ác ... thì mọi sáng tác cũng chỉ là phản ảnh trung thực của chính cái thực tại mà họ đã sống, đã hảnh diện hay đã hổ thẹn. Có điều, có lắm khi, lời lời thân ái không bằng một cái quàng vai, có khi hàng hàng chữ không bằng một cái nhún vai, và cũng có khi hàng hàng trang giấy không bằng một tiếng chửi thề ( văng tục !)

Ông Nguyễn Viện còn viết nhiều lắm. Truyện ngắn, truyện vừa ... và thơ. Trong nhiều truyện khác, chữ nghĩa của ông còn sắc sảo, mạnh bạo, quyết liệt và bén nhạy hơn nữa để phơi trần những sự thật bỉ ố̉i được che giấu đằng sau những hào nhoáng giả tạo, lố bịch đến độ trân tráo .... Đôi khi ông mượn luôn những nhân vật có sẵn trong truyện Đoạn Trường Tân Thanh của Nguyễn Du, từ Thúy Kiều, Đạm Tiên đến Sở Khanh, Mã Giám Sinh,Hồ Tôn Hiến ... giữ nguyên tên gọi với riêng từng cá tính đã thành danh của họ, mỗi tên gọi biểu hiệu cho một nhân vật đang cầm quyền, dựng lên một vở kịch đời nham nhở với đủ thứ bi hài để mô tả không run tay cái chính trường đang là hiện thực ở đó. Thích thú cho người đọc là nhờ chính tài năng và tính cương trực thêm một óc hài-hước-xám của một ngòi bút không để bị bẻ cong, ông đã khiến cho người biệt xứ dù xa xôi, vẫn gần như chứng kiến được tận mắt những trò ma mị bỉ ổi của hệ thống cầm quyền ở đó mà họ luôn tìm cách che giấu. Những trò đổi chác, mặc cả, lươn lẹo, lừa đảo, dối trá ... trên số phận của hàng chục triệu người dân vô tội qua miệng lưỡi của những tên Sở Khanh, Mã Giám Sinh ... thời đại khiến người đọc lắm lúc muốn mở miệng ... chửi thề !

Rồi buồn.

Ôi đất nước tôi xa ngàn dặm, có bao giờ tìm lại được niềm hảnh diện của quê xưa để đem khoe cùng thiên hạ !

Sau hết, xin đọc thêm một câu, chỉ một câu thôi, trong truyện ngắn có tựa là Đại gia của tác giả được viết năm 2008:

Quê hương, đồng nghĩa với những cô gái Việt mà Đại có thể dẩn vào khách sạn . – Đại là tên nhân vật chính trong truyện ngắn Đại gia.

Chấm hết. Thêm nữa một vài dấu chấm than !!!!!

                                                                                    Cao vị khanh

( *) Đọc thêm tác phẩm của Nguyễn Viện trên www.Tienve.org

Nhà văn Nguyễn Viện

________________________________

Ba và con 

 

Thời nhỏ dại ba chở con đi học

Xe đạp cao con tay vịn tay đeo

Đường thì xa cuối dốc nhỏ cheo leo

Nắng đổ lửa trên mình ba áo cộc

Con bé bỏng đòn dông đu lọc xọc

Ba nghiêng đầu bóng phủ suốt người con

Ba vươn mình bóng phủ suốt đời con

Bóng phủ dài như cả dãy Trường Sơn

Dang thân chống miền Trung cơn bão nổi

Những chiều lạnh ba co ro đứng đợi

Giấu con trong chiếc áo dạ sờn vai

Phố không đèn gió thổi lá me bay

Con thiu ngủ dựa lưng ba nóng hổi



Chúa nhựt nắng ba dắt con thăm nội

Đường quê nghèo đá sỏi trộn bùn non

Cầu tre cao vắt vẻo nhịp chân dòn

Cỏ dại lấp lối mòn qua xóm nhỏ

Quê nội đó giờ vườn hoang nhà bỏ

Bụi tre già cháy xám quắt queo cong

Qua đình xưa ba thắp nén nhang vòng

 Mắt xa vắng chừng có điều khó nói

Bóng tượng sáng theo từng tia nắng dọi

Dáng ba buồn con thấy cũng buồn theo

Nép mình bên khung cửa gỗ tiêu điều

Con  như thấy một trời ba sầu tủi

Ngày con lớn ba già thêm trăm tuổi

Chuyện học hành, thi cử, nợ nước non

Biết lo sao con sớm được vuông tròn

Ba thức trắng từng đêm theo con trẻ

Mùa thi đến tháng ngày qua thật lẹ

Con học khuya ba nằm đợi bên hiên

Gió đầu thu phe phẩy bụi kim tiền

Hương nguyệt quế thấm đầy trang sách học

Con thi đậu ba mừng như được ngọc

Sắp rượu mời cúng tạ đất trời cao

Con lớn thêm ba già tuổi trăng sao

Ngày tháng rụng trên đầu ba bạc trắng


 

Vận nước đổi thuyền đợi người bãi vắng

Bế bồng nhau chạy ra cõi muôn trùng

Con theo người tìm đất mới tạm dung

Ba ở lại chịu trăm điều cay đắng

Con nước lớn thuyền đi chiều tắt nắng

Lục bình xa từng cụm vật vờ trôi

Sóng thượng nguồn xô gió quợn chân trời

Ba đứng đó, tượng xa và bóng núi

Ba đứng đó như ngàn năm vẫn đợi

Lũ chim trời trốn lạnh trở về Nam

Chim cóng lạnh nhưng đường về nghẽn lối

Người chậm về Người hoá đá trăm năm



Mười lăm tuổi con theo ba chơi biển

Mũi Nai hiền bãi lặng sóng đùa êm

Ngoài khơi xa Hòn Phụ Tử lặng chìm

Trên bãi vắng ba dạy con xuất xử

Năm mươi tuổi con sống đời viễn xứ

Một mình con đối đãi chuyện cơ cầu

Mỗi lần hư ai nhắc chuyện bể dâu

Ai mở sách chỉ con trang Chiến Quốc!


 

Đời lạc hướng từ ngày ta mất nước

Mười lăm năm thương nhớ ngọn tử phần

Mười lăm năm đòi đoạn chốn dung thân

Giờ phút cuối con không nhìn được mặt

Con vẫn biết lẻ thường đời còn mất

Nhưng muôn trùng sao đứt ruột người ơi

Tim con đau như hụt mất nhịp đời

Mắt trống lạnh ngó trừng cơn đau dại

Con vẫn biết người đi là mãi mãi

Nhưng sao đi mà chẳng chịu chờ nhau

Không cho con quỳ lạy tạ ơn sâu

Chẳng chờ nghe con thưa lại lần đầu

“ Con đã sống như đời ba đã sống

Con sẽ sống như lời ba đã dạy

Không gian tham, khuất nhục, chẳng thay lòng

Giữ cho đầy chất ngọc của đời trong

Khinh phú quý đãi nghĩa nhân làm trọng ”

Con vẫn cố giữ mình trong tuyệt vọng

Hồn xuân thu đang phá vỡ miếu đền

Người kiêu sa vội tìm cớ lãng quên

Lòng khinh bạc học đòi câu thương nữ

 

Con bơ vơ lạc đường vào lịch sử !

 

cao vị khanh

NGHĨ TRONG THỜI CÔ-VÍT

Cà-phê, thuốc lá và Em

Văn chương chữ nghĩa gẫm thêm cũng thừa

Rượu chiều đỏ vệt môi ưa

Công danh sự nghiệp cạn vừa đáy ly

Yêu thương đã một diệu kỳ

Sá chi thương phế mà ghi não nùng

Ơn Trời, ơn Đất bao dung

Tang thương dẫu mấy cũng lòng cưu mang

Ơn Người, tình dẫu quan san

Dấu son nhân ái còn lan dặm trùng

Nghĩ cho cùng, giữa lao lung

Cái thân chùm gởi dợm chừng ... chiêm bao.

 

Cvk

Dăm ba phút ...

Dăm ba phút đủ ngậm ngùi

Dăm ba phút đủ dập vùi thế gian

Ôi sắc trắng, ôi mịn màng

Vàng nâu đen đỏ tội phần tổ tông

Dăm ba phút đủ chạnh lòng

Trăm năm sau trước một vòng nghiệt oan !

 

Cvk

Thời buổi cách ly

                                     Picasso         

 

Thời buổi cách ly

 

1.

 Xin chào nhau giữa con đường ́́́́ ́ *

Khẩu trang phía trước, cái giường phía sau

Giữa thời dịch tể lao xao

Biết ai đi trước về sau, một mình.

Một mình, rất đỗi một mình !

* Bùi Giáng

 

2.

Cách ly buồn hết nói

Vọc chữ như chọc đời

Chuyện xưa giờ sắp mốc

Nhắc lại buồn khơi khơi !

Khi không rồi thất sủng

Lãnh cung bít bịt bùng

Ngó ra không thấy nắng

Ngó vô thấy buồn hung

Chẳng lẻ thời mạt vận

Thiên hạ rụng như sung !!!

 

cvk

Thời “cấm phòng”, đọc lại khúc ngâm Cung Oán 

... của Nguyễn Gia Thiều

Đâu phải tới bây giờ mới có chuyện cấm cung, cấm phòng ... cấm cản người ta gặp nhau, gần gũi nhau, tay bắt mặt mừng, hay sít sao hơn tới nỗi quàng vai .. ôm eo ếch.

Lâu rồi, lâu lắm rồi, vẫn có cái kiểu sống lẻ loi, -hay bị sống lẻ loi một mình, rất một mình, dù người ta sanh ra là để sống với, sống cùng ... sống bầy đàn dù có lộn xộn như một bầy vịt hãn.

Tôi biết những người sống lẻ loi. Lệ là những viên đá xanh. Tim rũ rượi. Thanh Tâm Tuyền.

 

Hôm rồi, lẩn quẩn trong nhà riết cũng ngứa tay ngứa chân mà ngoài trời thì mùa đang nhấp nhỏm sang xuân, ngó thấy bụi phủ mờ trên mấy cái giá sách bị bỏ quên từ lúc “ chú gù "  lên ngôi bá chủ, tủi thân giùm cho mớ sách vở ố vàng, tôi đi tìm cây chổi lông gà ...

Rồi, quen thói dòm mấy cái gáy sách ... 

Rồi thấy lại tập sách cũ ...

Cung Oán Ngâm Khúc của Nguyễn Gia Thiều.

 

Ờ thì ra, lâu lắm rồi, lâu rồi, đã có người than oán cái chuyện cách ly, biệt lập, cô phòng ... dẫu chưa có cô-vít.

 

Trải vách quế, gió vàng hiu hắt

Mảnh vũ y lạnh ngắt như đồng CONK (câu 1-2)

Từ dòng đầu, hiện cảnh đã là một cái gì buồn hết nói. Vách phòng thì trét quế bôi tiêu bít bùng, mùa thì hẵn đã là thu với cái loại gió thổi không thổi mà lại cứ phều phào như có điều gì trăn trối, lá thì lính qua lính quýnh rụng như sợ bị bỏ lại không theo kịp bước mùa đi. Mặt trời coi bộ mệt đừ, chỉ he hé nổi chút ánh sáng như hà tiện từng sợi nắng. Đã vậy, sương, thứ sương mỏng dánh như vạt áo the trắng ai bỏ quên mà cứ lướt thướt trên mặt đất như ghẹo thêm sầu. Lại nữa, lâu lâu rồi thắt thẻo tiếng chim thiên di lạc bầy hớt hãi bay ngang, kêu như trách móc ... Vậy đó, rõ ràng mùa thu là cái mùa vốn dĩ trời cho buồn kiểu như em-là-con-gái-trời-bắt .... xấu. Buồn tới nỗi như đã nói, ngay cả gió cũng ... buồn. Phải chi thổi thì ra thổi, mà không thổi thì .. nín. Đằng này vừa thổi lại vừa nín, nên mùa thu là cái mùa lấp la lấp lửng, không động không tỉnh, không nóng không lạnh, không vui không buồn hay đúng ra cái-thứ-gì-không-ra-gì vẫn thường lại làm người ta ... buồn chết bỏ. Ôi mùa thu, em-nhớ-cho-mùa-thu-đã-chết-rồi kiểu như ông Appolinaire đã nói rồi ông Phạm Duy bồi theo. Khổ nổi, mùa thu không có chết – chết là hết chuyện rồi, còn cái gì mà nói nữa. Mùa thu không có chết. Mùa thu vẫn sống, sống lay lắt, sống lê mê, sống lặng lẽ, sống mà như chết hay chết mà như sống. Sống để làm buồn cho những người bị cướp mất lẻ sống.

 

Trải vách quế, gió vàng hiu hắt ...

Mà tại sao lại nói là gió ... vàng. Mặc kệ cái lối giải thích theo ngũ hành của mấy ông đồ xưa. Gió là do không khí quậy mà nên nỗi. Mà hể là không khí thì làm gì có màu sắc. Đã không màu thì làm gì có vàng hay đỏ. Thật ra, màu sắc ở đây, giữa cảnh thu, khi không gian bị niêm phong, thời gian bị trì kéo và thân xác bị tù túng, sắc màu không còn là độc quyền của thiên nhiên. Màu sắc đã trở thành màu sắc của tâm thức. Gió vàng là gió đang thổi qua những tấm lòng héo úa. 

 

Thử tưởng đến một bữa, lệnh từ trên chín bệ truyền xuống ...cho đày vào lãnh cung. 

Thử tưởng đến xuân thì đang độ, má còn hồng đào, tóc còn mun huyền, tay chân mình mẩy còn mọng nước như trái non đang độ ... mà nhận cái lệnh như trời giáng đó ... 

Thử tưởng đến, cả một sức sống đang hồi sung mãn, rồi bỗng chốc bị đày vào cái chỗ mà bốn vách tường trét quế kín mít, quanh đi quẩn lại chỉ còn vài ả thị tỳ, vài chú hoạn quan nói năng eo éo ! Ngày rồi qua ngày, tuổi tác theo mùa màng rụng xuống như cái đám lá vàng tất tả ngoài vườn thượng uyển. Hồi đó, vậy gọi là ... cấm cung.

Nhớ vậy rồi, thấy thương ơi là thương cho cái phần số hẩm hiu tù túng giữa bốn vách phòng, vách nhà, vách chung cư, vách cao ốc ... của những kẻ lỡ sống trong thời ... đại dịch !

Và càng thương hơn những người sống lẻ loi, dù trong bất cứ hoàn cảnh nào, khi người ta sanh ra là để sống cùng, sống với ... Tôi biết những người sống lẻ loi. Lệ là những viên đá xanh. Tim rũ rượi. Thanh Tâm Tuyền.

 

Trải vách quế, gió vàng hiu hắt ... 

Vâng, đã có lúc có những người con gái, có những người đàn bà, chẳng tội tình gì ngoài cái tội trời cho ... đẹp –đẹp đến nỗi mà bóng gương (chỉ mới) lấp ló trong mành mà cỏ cây (đã) cũng muốn nổi tình mây mưa ( CONK câu 15-16 ). Đọc lại tới đây thiệt tình mà nói là phải cúi đầu bái phục ông Nguyễn của tôi. Ngay lúc mà văn học chỉ được coi như một thứ phương tiện để truyền bá đạo lý- văn dĩ tải đạo- mà dám làm một câu thơ tình trắng trợn quá mạng như vậy thì phải nói là con cháu đời sau nếu không tung hô là sư phụ thì biết còn để vào đâu mà bái phục nữa. Khi mà dục tình còn bị coi là điều cấm kỵ, chỉ dám nhét giấu dưới mấy tầng ẩn ức mà ông nói huỵch tẹt ra ngon ơ. Mà còn lại nói thành thơ nữa chớ. Bóng gương lấp ló trong mành. Cỏ cây cũng muốn nổi tình mây mưa. Nhất ông, ông Nguyễn ơi ! Rồi sẵn đà ông phóng bút lả lướt như xiêm y sút xổ mà gợi ý gợi tình không thua gì rồng lộn thấy đầu không thấy đuôi. Nệm hồng thúy thơm tho mùi xạ. Bóng bội hoàn lấp ló trăng thanh. Mây mưa mấy giọt chung tình. Đình trầm hương khóa một cành mẫu đơn( CONK câu 145-148 ) Mấy giọt chung tình. Kể chuyện phòng the mà như tả cảnh trăng thanh gió mát thì thiệt là ... kim cổ kỳ quan ! Tôi biết nói vòng vo có thể làm lệch lạc bài vở mà không nói thì thấy ấm ức làm sao cho cái giống nòi tình thiên cổ lụy. Bởi vậy dù tác phẩm đã được nhắc tới nhắc lui, khen chê đủ điều từ hơn mấy trăm năm nay, sao còn muốn lôi ra đọc lại, đọc lại rồi lại muốn dông dài ...

 

Ờ thì nói trở lại về những đóa hồng nhan mệnh bạc đó, nàng đẹp tới vậy mà rồi khi không bị tống vào chỗ thâm cung tẻ lạnh để nghe hoài gió thổi ngọn vàng phai. Nhất là cái chuyện bị cách ly với hết mọi thứ bên ngoài thành vách của cấm cung, bỏ trời bỏ đất, bỏ lại hết cái nhịp sống miên man của dòng đời bất-xả-trú-dạ. 

Chuyện đầu đuôi thế này. 

 

Con gái nhà ai không biết, tuy nhiên như đã nói, nàng đẹp lắm. Đẹp tới nỗi 

Chìm đáy nước cá lừ đừ lặn

Lửng da trời nhạn ngẩn ngơ sa (câu CONK câu 17-18)

Dĩ nhiên đây chỉ là lối miêu tả có tính cách thậm xưng của người xưa, chớ chim với cá thì ăn nhằm gì với nhan với sắc. Còn tài năng thì thôi khỏi nói. Đàn ca múa hát thơ phú gì cũng trùm thiên hạ. Kể cả mấy chuyện nhậu nhẹt nàng cũng chẳng thua ai. Cờ tiên rượu thánh ai đương. Lưu Linh Đế Thích là làng tri âm (CONK câu 23-24) Chỗ này chắc phải dè dặt chút đỉnh, chớ đàn bà con gái mà rượu chè be bét thì coi sao đặng. Tuy nhiên, ông bà mình hồi xưa, theo cái học cỗ đầy điển tích của mấy ông-con-trời nên cũng thường hay quá tay chút chút ... Cũng hổng sao, trí tưởng tượng của con người không ai đánh thuế nên cứ việc thả dàn ..

Đẹp, thượng hạng ! Tài, ngoại hạng ! Bởi vậy cho nên nỗi. Dẫu vậy, thế nhân cũng chẳng nên thắc mắc làm gì. Cái lập thuyết tài-mệnh-tương-đố vốn dĩ là lối giải thích chắc ăn nhất cho những cuộc sống chung không lấy gì làm hòa bình giữa con người và cuộc đời của chính họ.  Một ông Nguyễn khác cũng đã có lần lên tiếng cảnh báo .. trời xanh quen thói má hồng đánh ghen. Bởi vậy đời nàng cũng giống như bao má hồng khác ... Đã má hồng thì có lúc sẽ lấm lem !

 

Tài sắc quá nên được (bị) tiến cung. Khổ nổi, con đường tiến cung là con đường độc đạo, có vô không có ra. Bởi vậy, cũng giống như bao nhiêu cung phi mỹ nữ khác, hàng trăm (?), hàng ngàn (?) sau khi được (bị) tiến cung rồi là coi như đổ lúc lắc xí-ngầu, được thua lắm lúc chỉ nhờ mấy cái lá dâu nhử mồi chú dê kéo xe vua (!). Rất có thể ... được vua yêu chúa vì, hạnh phúc cực điểm như ông Nguyễn đã cực tả bằng hai câu thơ phải coi là tả chân cực tuyệt mà lại bóng gió đến cực khéo. Cái đêm hôm ấy đêm gì . Bóng dương lồng bóng trà mi chập chùng (CONK câu 135-136)

Vậy mà rồi theo lệ, mọi thứ vở tan như bong bóng nước. Hạnh phúc cũng y như trúng số độc đắc. Có ai mà trúng độc đắc được hai lần !  Vậy rồi nàng bị bỏ quên, quên lửng đằng sau mấy cái vòm cửa thâm u của thâm cung thăm thẳm ...

Mặc dù vốn đã nghiệm ra lẻ vô thường của cuộc đời từ hồi còn con gái, hổng thua gì quí vị tu tiên tu phật

Mùi tục vị lưỡi tê tân khổ, 

Đường thế đồ gót rỗ khi khu, 

Sóng cồn cửa bể nhấp nhô, 

Chiếc thuyền bào ảnh lô xô gập ghềnh

Trẻ tạo hóa đành hanh quá ngán, 

Dắt díu người lên cạn mà chơi. 

Lò cừ nung nấu sự đời

Bức tranh vân cẩu vẽ người tang thương ̣ (CONK câu 69-76)

Nhưng rồi, y như thế nhân lục lục thường thường, hiểu thì hiểu vậy mà điều dễ gì bước trệch ra khỏi cái vòng tục lụy. Chính điều này đã làm cho người-nhân- vật trở thành người-đời-thực. Nàng hiểu thông mọi vẻ huyền vi nhưng nàng vẫn sống như mọi người trần mắt thịt với đầy đủ vui buồn ham muốn ... Hay chỗ đó mà khoái trá cũng chỗ đó. Khỏi có màn lên mặt dạy đời. Hãy nghe nàng kể lể ...

 

Từ lần được quân vương chiếu cố, tưởng như là cái thân Tây Tử lên chừng điện Tô, ai dè chẳng mấy lúc nàng bị thất sủng vì thói nghịch ngợm của trẻ-tạo-hóa, hay chỉ là vì cái thói trêu hoa giởn nguyệt của mấy ông vua già vua trẻ được cung phụng thừa mứa, để đến nỗi phải phó mặc long thể cho mấy con dê kéo long xa mỗi bận nhập cung cấm, xe dê ghé đâu vui đó, bất kể. 

Từ đó, nàng vò võ chờ đợi, ngày tháng qua, xuân thì theo bóng câu qua cửa sổ. Đời buồn như giọt nắng vàng. Từ đó, cấm phòng. Từ đó, cô đơn. 

Thử nghĩ coi, một người con gái-một người đàn bà-một người nào đó giữa lúc xuân tình còn nguyên nồng độ như rượu cồn 90 chữ, với đủ thứ hồn và xác, đủ cả lục dục thất tình, bỗng dưng một hôm nào tự dưng bị cắt đứt hết mọi giây mơ rễ má, cách lìa hết mọi thân sơ, kẻ thương người ghét, biệt lập với hết mọi chuyển động chung quanh ... Tự dưng rồi mình thấy mình trơ trọi như chưa từng có mặt. 

 

Trong cung quế âm thầm chiếc bóng

Đêm năm canh trông ngóng lần lần (CONK câu 209-210)

...................

Phòng tiêu lạnh ngắt như đồng

Gương loan bẻ nửa, dãi đồng xé đôi (CONK câu 215-216)

 

....................

Thâm khuê vắng ngắt như tờ 

Cửa châu gió lọt, thềm ngà sương reo (CONK câu 219-220)

Cung quế, phòng tiêu, thâm khuê ... toàn là những tên gọi mà từ âm vọng đến hình tượng đều mang vẽ quạnh quẽ tự thân. Đó là thứ không gian khép kín, biệt lập. Một thứ nhà giam được xây theo kiểu lầu vàng gác ngọc. Mà thật ra, mọi thứ nhà giam dẫu xây bằng đá tảng hay được lót với ngọc ngà cũng chỉ là vật chất, có đáng gì khi đem so với thứ xiềng xích trong tinh thần. Chính cái cảm giác bị bỏ rơi, bị xua đuổi, bị quên lãng, bị ruồng rẫy ... mới là hình phạt cấm cố ghê gớm nhất. 

Ngày sáu khắc tin mong nhạn lắng

Năm canh đêm lặng tiếng chuông rền.

Lạnh lùng thay giấc cô miên,

Mùi hương tịch mịch, bóng đèn thâm u. 

Tranh biếng ngắm trong đồ tố nữ,

Mặt buồn trông trong cửa nghiêm lâu. 

Một mình đứng tủi ngồi sầu, 

Đã than với nguyệt lại sầu với hoa. 

Buồn vì nỗi lòng đà khắc khoải, 

Ngán trăm chiều bước lại ngẩn ngơ. 

Hoa nầy bướm nỡ thờ ơ, 

Để gầy bông thắm để xơ nhụy vàng. 

Đêm năm canh lần nương vách quế, 

Cái buồn nầy ai dễ giết nhau

Giết nhau chẳng cái lưu cầu

Giết nhau bằng cái u sầu độc chưa ! (CONK câu 225-240)

 

Giết nhau bằng cái u sầu độc chưa ! 

8 chữ thôi đủ để giải thích cái cảm giác cô đơn, cô độc, cô lập, cô liêu, cô lẻ, cô tịch, cô quạnh ... cũng như cái hệ lụy lạc lõng, lạc loài ... lẻ loi, lẻ muộn ... của con người. Cái buồn không là sắt thép nến giết người không máu me. Cái buồn sát nhân rất lặng lẽ.

 

Thử coi, người đẹp làm gì khi từng ngày vò võ mình ên trong cõi cấm vắng hoe. Đêm thao thức. Ngày biếng nhác. Ra vô trông ngóng. Đi tới đi lui trong cái khoảng trống dù giới hạn giữa bốn vách phòng mà hổng chừng trống đến mênh mông. Nhất là kinh nghiệm của sự chung đụng giữa người và người đã hun đúc thành hiện sinh của nàng, đã và sẽ là một phản biện cùng cực cho cái hiện tại lẻ loi. Nàng đẹp vì có sự so sánh với người xấu. Tài vì có sự so bì với kẻ dở. Tự tin vì có người chìu chuộng v.v... và v.v... Rõ ràng nàng chỉ hiện hữu trong sự hiện hữu của người khác. Vậy rồi, đang tay cắt ngang sự liên lạc chằng chịt đó, hỏi làm sao không ngỡ ngàng. Ngỡ ngàng rồi ngẩn ngơ, ngẩn ngơ rồi ngờ nghệch ... rồi hốt hoảng, rồi bơ vơ, mất tự chủ. Phản ứng đầu tiên và cuối cùng là loay hoay tìm chỗ dựa. Hiện tại trống trơn thì quay lại quá khứ. Nhưng khổ thay, càng cố lấp đầy khoảng trống hiện tại bằng cách vói tìm lại hạnh phúc của quá khứ, cố gắng đó rốt ra chỉ làm tăng thêm, rõ thêm, nặng thêm độ nghịch đảo của nỗi vui và niềm buồn. Quá khứ, kỷ niệm rồi ra có phải chỉ là phát súng ân huệ cho người muốn quên.

Nào lúc tựa lầu Tần hôm nọ

Cành liễu mành bẻ thuở đương tơ. 

Khi trướng ngọc, lúc rèm ngà

Mảnh xuân y hãy sờ sờ dấu in (CONK câu 253-256)

 

Đọc thơ mà nghe chữ nghĩa cồn cào trong dạ !

Khi trận gió lung lay cành bích

Nghe rì rầm tiếng mách ngoài xa

Mơ hồ nghĩ tiếng xe ra

Đốt phong hương hả mà hơ áo tàn (CONK câu 269-2720)

Còn hình ảnh nào đẹp và buồn hơn. Một người chờ đợi một người mà biết rằng người được chờ trăm phần đã hết chín mươi chín phẩy chín mươi chín phần không đến. Vậy mà vẫn chờ vẫn đợi, rồi chỉ mới mơ hồ phong phanh bán tín bán nghi mà đã quơ quào sắp sửa để chờ. Mà sửa soạn cái chi ? - Đốt phong hương hả mà hơ áo tàn ! Có cần phải tán thán thêm không. Mà lời nào bình cho nổi. Thơ đẹp như ... thơ mà buồn như chính nỗi buồn tự tại ! 

Thử tưởng đến nỗi thất vọng khi ngả ngửa ra rằng mình đã tưởng lầm. Rồi bôi son khô phấn mốc. Rồi dẹp xiêm y đã tưa chỉ lợt màu ... Vâng thử tưởng thêm ... Tưởng thêm ...

Sự so sánh giữa cái đang mất và cái đã có thường là bước đầu cho một cuộc tuột dốc của lý trí. Sẽ đến một lúc, người ta buông xuôi ...

Như một hệ quả tất yếu, khi bị biệt lập người ta như con tàu bị mất phương hướng, mất điểm tựa thì lấy gì xác nhận điểm đứng của mình.  Người ta trở nên bơ vơ, lạc lõng ... lắm khi đến nỗi mất cả tự chủ ! Hậu quả lắm khi đưa đến chỗ tận cùng. Tự tử, như một thách thức với định mạng, từ chối sức ép của cô đơn. Sau khi đã quơ quào, bóc hốt bất kể, níu vói bất cứ giả định nào  ngay cả một niềm tin vớ vẩn nhất.

Phòng khi động đến cửu trùng

Giữ sao cho được má hồng như xưa (CONK câu 355-356)

Não nùng hông, thứ hy vọng tội nghiệp khi mọi lối thoát đã bị bít kín. Cùng đường, người ta có thể bấu víu vào bất kỳ một hy vọng nào, kể cả dù biết đó là ... ảo vọng !

 

Xét cho cùng, cảm giác cô đơn, cô độc vốn dĩ là bản chất của mọi sinh vật từ khi chui ra khỏi bụng mẹ. Nhưng rồi cái thế giới chung quanh với hết mọi phiền nhiểu của nó đến một lúc trở thành điều kiện cần thiết cho sự nẩy nở toàn vẹn của con người. Cần thiết ( với tất cả sự nghịch lý của sự cần thiết , trong ý nghĩa tha nhân chính là phản diện của chính mình ) đến độ đã có lần ông J.P Sartre phải la lên L’enfer, c’est les autres. Hay như Albert Camus cũng đã lắm phen thắc thẻo rằng ... thì ... là ... người ta chỉ là những người khách-lạ đến với đời giữa trùng trùng ngộ nhận. Khổ nổi, cho dù là địa ngục hay khách lạ, nhưng rồi trong sự chung đụng với ngoại thể riết rồi người ta tự thấy dính líu ( gắn liền ) với thế giới chung quanh lúc nào không hay. Dĩ nhiên không phải không có những trường hợp ngoại lệ. Đời không thiếu những kẻ không tìm ra được chỗ nương thân giữa đồng loại. Từ đó là một sự chống đối nhau thường trực giữa cá nhân và ý thức hợp quần. Nhưng thôi, chuyện đó để dành cho mấy ông triết gia mấy nhà xả hội học cải cọ. Ở đây chỉ nhắc chuyện ... thường thường. 

Sự liên hệ giữa người và người nghĩa là giữa người với đám đông có lúc khít khao tới nỗi con người rốt lại chỉ là phản ảnh của đám đông. Người ta sống, ăn nói, múa may ... theo cái khuôn mà đám đông đã vạch ra. Đám đông, tha nhân ... là ai vậy mà rốt lại là nguồn cơn của mọi hiện sinh, trở thành khuôn đúc cho mọi hình nhân có mặt trên đời. Người ta không còn là mình nữa. Người ta chỉ là biểu hiện của đám đông vây quanh. Mọi múa may, giận hờn yêu ghét là yêu ghét giận hờn múa may theo mẫu mực của số đông. Con người rồi ra chỉ là một con múa rối dưới mấy ngón tay điều khiển của một thứ quyền lực vô hình được tạo nên bởi đám đông vốn được gọi là xả hội. Cũng y như cái phán xét mà Nguyễn Gia Thiều đã ngậm ngùi chắc lưỡi cái quay bung sẵn trên trời ( CONK câu 92 ). Mọi sự đã được định sẵn hết kiểu như một vở tuồng mà tuồng tích và đào kép đều có vai trò nhất định, liên hệ chặt chẽ với nhau để đi tới một kết cuộc nhất định, không chút sai chạy. Bởi vậy, mà sống là sống với, sống cùng, sống bởi, sống vì ... Mức độ liên hệ thì tùy theo vai vế, nhưng gì thì gì vẫn là một sự liền lạc chặt chẽ như kiểu bứt mây thì động rừng vậy đó. Dính líu với nhau khít rim như vậy mà rồi bỗng dưng bị cắt đứt hết mọi liên hệ, biệt lập với hết mọi cái quen biết, ngay cả với cái biết mà không quen ...  sẽ làm người ta cảm thấy bất an. Cảm giác bất an như đã nói vốn là trạng thái hồn nhiên nhất của mọi loài sinh vật kể cả loài người. Chẳng vậy mà hài nhi mới vừa lọt lòng mẹ chỉ có khóc mà không cười. Hình ảnh mà ông Nguyễn đã vẽ vời từ cuối thế kỷ 18 làm thấy ra mà muốn rụng rời, gần 200 năm sau, bức tranh Le Cri của Edmund Munch có phải là biểu hiện tuyệt đối của cơn sợ hãi tiên thiên. 

Thảo nào khi mới chôn nhau

Đã mang tiếng khóc bưng đầu mà ra  (CONK câu 56-57 )

 

Bưng đầu. Tiếng khóc bưng đầu. Hình ảnh đập vào mắt. Âm thanh xoáy vào tai. Bưng đầu. Còn biểu tượng nào tuyệt vời hơn để biểu hiện cái cảm giác bất an vì trần truồng, trống trải, trơ trụi ... của đứa nhỏ vừa chui ra khỏi cái cửa ải hẹp dí đã nhào ngay vào một khoảng trống mênh mông và xa lạ ... mênh mông và xa lạ tới nỗi dẫu nhắm híp hai con mắt mà vẫn hãi hùng khi biết mình vừa lọt vào vòng trần thế, cõi lạ mà nó chưa bao gìờ biết đến. Có thể chuyện đó được hiểu như là hậu quả của sự thay đổi quá đột ngột cái môi trường sống từ lúc tựu hình. Thêm chút nữa, có phải vì nó chưa có chút kinh nghiệm nào hết, từ cảm giác đến ý thức về nơi chốn mới đến. Mọi thứ, cụ thể hay trừu tượng, hình thù màu sắc mùi vị ... chưa từng thấy qua, chưa từng nếm qua, chưa từng vui chưa từng buồn ...Vậy đó làm sao mà nó không sợ hãi, không hoảng hốt, không ... bưng đầu mà khóc ! Cái thế giới chung quanh đó, nhốn nháo những hình thù lạ lẫm, rổn rảng những âm thanh chói tai, lộn lạo màu sắc như bức tranh của một họa sĩ bất tài, lại hăng hắc mùi vị xào nấu của một đầu bếp vụng về ... làm sao nó không hoảng vía. 

Tiếng-khóc-chào-đời. Thói thường người ta hay nói vậy. Nhưng, tại sao nó không cười để người ta nói tiếng-cười-chào-đời nghe nó rôm rả hơn và hợp lý hợp tình hơn ? 

Mà thôi, chuyện vậy thì hay vậy. 

Đứa bé sơ sinh khóc từ khi có cái vụ gọi là sinh con đẻ cháu. Nó khóc từ đông sang tây, từ bắc xuống nam, sáng trưa chiều tối tới khuya lơ khuya lắc ... hể chui ra là khóc. Không khóc thì bà mụ vổ cho mấy phát mà khóc. Người ta biểu là khóc cho nở phổi. Nhưng mà há miệng cười rổn rảng phổi cũng phồng to ?

Vậy thì khóc chắc cũng có nguyên do. 

Mà không khóc sao được. Chỗ nó vừa nhào đầu vô y như là sân khấu cải lương, thay phông đổi cảnh liền liền, mới đó muôn hồng ngàn tía rồi bỗng không tàn rửa tiêu điều, dẫu có khi vui hết nói mà không thiếu lúc buồn chết bỏ ... 

Chưa biết, chưa quen, chưa có lần nào đụng chạm, rờ mó, sờ sọang ... hay cảm giác nóng lạnh hay cảm xúc buồn vui. Chung quanh, hoàn toàn là một thế giới lạ lùng, lạ lùng đến quái đản ... Đứa trẻ sơ sinh khóc, khóc vì cảm giác bất an, bất an vì không từng quen thuộc ...

Vậy rồi, mỗi lúc mỗi lớn lên, chung đụng cọ xát với những thực thể quanh quanh, hít thở ngửi nếm mùi vị trần gian kể cả thứ mùi tân toan,... nó sẽ quen dần, quen dần ... tới lúc trần gian trở thành trần trụi vì không còn gì bị che đậy sau cái quá trình thu nhận từng trải của nó. Nó sẽ nhận ra người quen kẻ lạ cho dù là lạ và không quen. Nó sẽ trở thành một phần tử của cái tổng thể loanh quanh nó, quen mắt quen tay, quen thuộc đến độ lắm khi trở thành một chỗ dựa tinh thần, hơn nữa như một thứ nón-bảo-hiểm hay dùng ở quê tôi, đội mà xe hàng tông thì cũng đi đoong nhưng dẫu vậy có cái gì xiềng quanh cái đầu thành quen, rồi tự nhiên cảm thấy an toàn-trên-xa-lộ ! Cái vốn liếng thu nhận bằng mắt thấy tai nghe mủi ngửi miệng nếm tay sờ, kể cả bằng những sợi giây thần kinh nhỏ xíu chạy lăng quăng trong cái đầu của nó ... Cái cảm giác bất an sẽ dần biến mất thay vào đó là sự yên tâm vô thức. Cả tới khi vào một lúc nào đó, nó bỏ nhà bỏ cửa bỏ quê bỏ cha bỏ mẹ mà đi xa, xa tới một cõi chưa từng, dẫu lúng túng, nó cũng đủ sức để đương đầu với những lạ lẫm. Hẵn vì nó đã được cọ xát với thế nhân tới độ dạn dầy, kiểu như thân xác đã được miễn nhiểm với mấy con vi-rút đã có lần bị nhiểm qua ... Tới một mức độ nào đó, nó được bảo vệ dù một cách vô thức bằng sự quen thuộc, quen mắt, quen tai, quen biết, hay ngay cả biết mà không quen ... ở giữa một thế giới người và người. Sự liên hệ đối đãi đó trở nên cần thiết như mọi nhu cầu sinh lý khác của con người để sinh tồn.

Nhưng rồi cũng chính từ đó, chính từ sự quen thuộc đối đãi đó, lỡ khi đời ngược ngạo, người ta lắm lúc không khác gì cô cung nữ của Nguyễn Gia Thiều, bị biệt lập chốn cấm cung, trơ trọi một mình, mất dần cảm thức an toàn, sẽ cảm thấy cần bầy bạn biết bao nhiêu, dẫu bầy bạn chỉ là người trần mắt thịt sau khi đã vói níu một cách vô vọng cõi tiên cõi phật ... mà rồi xa quá có dễ tìm ra đâu !

 

Nghĩ vậy rồi để cảm thương bà cung phi, nàng cung nữ ... hay bất cứ ai, có lần bị đày vào trong cái mê cung mênh mông kiểu như cung A Phòng của Tần Thủy Hoàng  mà Hạng Võ đốt ba tháng lửa cháy hoài không tắt ! ?

 

Xếp sách lại, lòng ràn rụa thâm ân mà người xưa đã để lại. Người thi sĩ, họa sĩ, nhạc sĩ ... kể cả có lần là tu sĩ, vốn con vua cháu chúa, ra vào chốn quyền môn như cơm bữa, ăn trên ngồi trước dù hẵn cũng đã lắm phen chìm nỗi chốn quan trường sao lại có tấm lòng mẩn cảm đến vậy. Ông viết Cung Oán vì hẵn do thân thế đã không ít lần được nhìn thấy chốn thâm cung, chỗ nhốt những nô-lệ-tình-dục ... nên đem lòng cảm thán. Nhưng từ chỗ xúc động mà đem viết thành thơ hẵn cũng đã trải qua một quá trình không kém phần lắt léo. Tìm sâu hiểu rộng hơn nữa hẵn phải nhờ ông Freud chăng ? 

Chỉ thấy là ông Nguyễn tài hoa lắm. Ông viết Cung Oán với giọng điệu ngậm ngùi và văn từ hoa lệ, phảng phất hồn thi ca trầm thống của Đường Thi Tống Từ. Dẫu vậy, đọc lên vẫn nghe ra hơi mát rượi của ngôn ngữ ảo diệu, pha trộn điển tích cao kỳ với lời ăn tiếng nói dân gian nên nghe ra vừa tinh lọc vừa gần gũi. Chữ nghĩa vừa trân trọng vừa thân mật như ngón tay đỡ đần người đọc đi vào cõi thơ riêng. Chẳng bỏ thứ ngôn-ngữ-đương-đại (?!) lục cục lòn hòn trúc tra trúc trắc đang hoành hành ở bên kia biển lớn Thái Bình mà sóng gió liên miên. Đề tài dẫu cũ kỹ, nhưng dưới nét bút lãng lướt phá chấp của một tay-chơi-điệu-đàng, ông phá vở cái biên giới cũ mèm của những cấm kỵ đạo đức, đưa người đọc bay cao, rắp ranh tới biên giới của lý tưởng tự do sáng tạo. Trong toàn ngâm khúc, đã nhiều hơn một lần nhắc tới chuyện rúc rích rục rịch của những ẩn ức dục tình bị đè nén. Hơn nữa, có khi còn phóng bút tới cấm địa chính trí của thời phong kiến. Dang tay muốn dứt tơ hồng, Bực mình muốn đạp tiêu phòng mà ra (CONK câu 243-244) Ý thức phản kháng dù chỉ manh nha trong đầu vẫn là một cấm kỵ tuyệt đối của ý thức hệ phong kiến. Có phải dù là sản phẩm của chế độ, ông thường rất băn khoăn ... ! Hay là với tâm thức đó,  tài hoa đó ... con người đó làm sao khép họ vào khuôn khổ ! Sách xưa chép lại ... ông rõ là một tay phong lưu rất mực- nói theo ngôn ngữ bây giờ thì cũng là tay ăn chơi có hạng. Đã vậy thì có gì là lạ khi thơ văn bay bổng khôn cùng. Vấn đề là dù thích dật lạc, sao khi tỉnh rượu lúc tàn canh lại có những ý nghĩ trần tục và cùng lúc siêu thoát đến vậy. Nhưng mà vậy mới hay, mới đẹp, mới thực, mới đúng điệu ... thi nhân. Sống thực, viết thực điều mình sống, đều mình nghĩ có phải cũng là một thứ tự-do-đầu-tiên-và-cuối-cùng của con người như Khrisnamurti đã nói. Hổng nghe Đổ Mục tự thú sao ... Thập niên nhất giác Dương Châu mộng. Doanh đắc thanh lâu bạc hãnh danh. Tiếng tăm chốn lầu xanh ? Sá gì ! Miễn đã sống thực, sống hết mình, viết thực, viết hết tình ... cũng đã đáng lưu danh thiên cổ. 

Mấy trăm năm qua rồi, người làm thơ như bóng hạc vụt ngang, một lần mà rây rớt lại đời bao nhiêu là tâm ý. Có mấy người được đời chìu đãi lại đem lòng nghĩ tới những phận người bị đời bạc đãi. Có mấy người chịu nghe ra tiếng khóc thầm sau tiếng cười vui. Và có ai, chịu phóng con mắt thấu thị qua tầng tầng ảo hóa để vẽ vời bức tranh vân cẩu, để nhắc nhở một điều rất đơn giản là ... sự đời coi vậy mà không phải vậy !!! Lại nữa còn phóng bút tài hoa để nhắc nhở thêm rằng ... người ta sống là sống với, sống cùng, sống cho, sống vì ... 

Bao giờ còn những cấm cung, cấm địa, cấm cửa, cấm cản ... ngày ấy lòng người còn xiêu lạc.

 

Mà nói đâu cho xa, có cần gì tới cung cấm trong cái thời xa lắc xa lơ đó, giữa đời thực này, giữa ngay cái thế giới người lúc nhúc người này, chẳng may có lần cô bạn của cô đơn là cô-vít lỡ chân ghé lại, không nhiều thì ít, bỗng nghe vang rân tiếng kêu rên vì bị cách ly, cách biệt, cách núi, cách sông, cách đường, cách ngõ ... 

 

Sợ, không sợ gì bằng sợ cô đơn khi bị cô ... lan với lại cô ... lây !

 

cao vị khanh

 

- Lại nữa, nhớ cái lúc hồi đó, sách vở giáo khoa hay trách cứ sao ông móm vào miệng cô cung nữ non xèo những lời quá tiên quá phật, quá cao siêu, nghe ra gượng gạo thế nào. Ờ, có cao siêu thiệt nhưng ai cấm ... tuổi trẻ tài cao. Hơn nữa, người làm thơ, người sáng tạo ... thơ thẩn vẽ vời đục đẽo, trước hết và sau cùng là cho chính họ, - ngoại trừ cái số viết mướn hồi ký cho mấy ông trọc phú hay vẽ biểu ngữ tuyên truyền cho mấy cái đảng ... mắc dịch ! - Ai biểu người ngoài thấy sang bắt quàng làm họ rồi trách móc, rồi than phiền ! Lãng nhách !!! 

                   DỊCH ĐƯỜNG THI

 Click -->:  https://photos.app.goo.gl/i7L9JvN6y7tHjmmx9

(Sau khi click link trên, tất cả 60 trang hiện lên. Click vào bài muốn đọc. Có thể zoom lớn, kéo lên/xuống cho dễ đọc. Cám ơn)

HƯỜNG NHAN

Má mang con trong bụng chạy giặc từ quận về làng khi tây trở lại, cuối năm 46. Xe cộ tàu bè gì cũng bị tịch thâu hết, cả đến mấy chiếc ghe xuồng ọp ẹp cũng bị xung công. Ba thì bị bắt cùng với bạn trang lứa đâu ngay từ tiếng súng hù dọa đầu tiên. Thân đã gầy như mai lại bụng mang dạ chửa, năm đứa con từ ba tới mười tuổi lúc thúc bên chân, đường dốc ngược mười lăm cây số hóa thành sạn đạo. Vâng bây giờ nghĩ lại, đường má đi suốt bảy mươi năm làm người đàn bà xứ Việt y thể như toàn sạn đạo. Con đường trúc trắc tai ương và lầy lội nước mắt, gần như đâu có quá một ngày vui. Mà có phải cùn mằn dốt nát gì cho cam. Từ thuở bé dù mồ côi cha sớm, vẫn được ngoại là phú hộ ở Chợ Thơm gởi cho đi học trường áo tím ở Sài-gòn ngay cái thời mà chữ nghĩa còn hiếm hoi như vàng. Hè về quê còn có tì tất líu ríu theo hầu. Ba đi học ở Nam Vang, vậy mà không biết mai mối ra sao, lại đem trầu cau theo nội chèo ghe từ cồn Bình Phụng ngược kinh Chợ Lách để cưới cho bằng được. Từ đó má theo chồng đi dạy học hết Tam Bình qua Vũng Liêm rồi về Chợ Lách. Thử nghĩ đến một thời mà giang sơn còn là mấy dãy sông nước mịt mùng, làng xóm hắt hiu thưa thớt, cô giáo trẻ ôm trắp bỏ quê lặn lội theo chồng giữa một vùng đất trời lạ lẫm. Má ơi đừng gả con xa. Chim kêu vượn hú biết nhà má đâu. Có đêm nào cô giáo lặng khóc thầm gọi má chăng?

Nhưng mà dù có thút thít gì đi nữa, phận dâu con đâu thể đèo bồng.17 tuổi, cái tuổi mà con gái thời nay còn được gọi là đám nhóc, chỉ biết ăn học rồi chơi nhỏng nhảnh, cô dâu trẻ thời đó đã phải lếch thếch đội ba cái chữ tòng và gồng gánh bốn cái chữ đức lớn quá khổ. Vậy mà má có sót chữ nào đâu. Phụng dưỡng cha mẹ, săn sóc chồng, đắp đổi em út, đút móm con cái rồi lại đèo thêm cái nghiệp dạy dỗ học trò trong những xó lớp nghèo nàn nóc lá vá đùm vá đụp. Cục phấn trắng mềm xèo, tấm ván sơn đen mốc thếch, cây roi mây dịu ngoặt má gỏ gỏ làm nhịp cho đám con nít tay chân bùn đất tèm lem tập đánh vần từng chữ cái. Nền đất thịt gặp mùa mưa ướt dột lổ chổ, má mang guốc dông mỏng dánh, lội lên lội xuống sửa miệng đứa này, nắn giọng đứa nọ. Hai gót chân đỏ hồng trầy trật giữa lớp sình dẻo quánh. Đám học trò đứa thì chiều qua lùa trâu về muộn bữa sau ngồi khật khà khật khưởng mắt nhướng không lên. Đứa đi cắm câu khuya khoắt mắt trỏm lơ miệng vừa ngáp vặt vừa ê a như mớ. Vậy mà học trò của má giỏi lắm. Chưa hết năm, cây điệp già ở góc trái mới vừa trổ nụ đã đọc vèo vèo mấy câu cách ngôn má dạy. Mỗi buổi tan trường học trò sắp hàng về lượn qua lượn lại như rồng rắn. Má đứng tựa cửa nhìn hút theo tới đứa cuối cùng khuất sau mấy bụi chuối lão rồi mới cặp sổ lửng thửng về nhà. Học trò má chưa về tới cửa đã quăng cặp quăng vở đi đặt trúm bắt lươn, tát ao mò ốc. Má mới về tới nhà đã xắn quần xách nước, vo áo xắt chuối cho heo ăn, rải thóc cho gà lượm. Bầy con năm đứa, đứa vòi vĩnh đòi bú đứa xum xoe bắt má chải tóc thắt bính cột nơ. Rồi bữa cơm riêng cho nội, cơm chung cho gia đình. Giàn bếp tối thui um um khói đục, má một mình quần quật nấu canh kho cá. Má ơi sao mà má giỏi quá vậy. Tiểu thơ như má lấy chồng nhà quê chẳng nệ mình liễu. Khuya tối má tần tảo gánh vác giang sơn nhà chồng. Vậy mà đã hết đâu. Con còn nghe kể có lắm khi mấy bà cô nổi hứng nặng nhẹ canh lạt cơm khô. Sao mà má chịu được. Cực khổ tay chân đã đành, ai bắt má ăn cơm mà pha nước mắt. Con như má chắc con đã bỏ đi mấy đời rồi. Có đâu cứ ở đó chịu trận. Hay là tại ngoại đã dạy má như vậy. Rồi dòm ra bạn bè má cũng chịu như vậy. Hay là tại má quá thương ba nên cũng giống như Tôn phu nhân đã gá thân về Thục, thì cứ phải đem má hồng ra mà trau tria cho trót. Nghĩ ra mà tội. Mấy ông đàn ông xưa khôn thấy mồ. Cứ dẻo nhẹo đem chuyện liệt nữ với lại tiết phụ ra mà dỗ ngọt cho nên má hồng mới đến nỗi lấm lem. Suốt mấy kỳ chạy giặc, ba còn tù tội trên tỉnh, nhà hết gạo, má phải chèo chống theo mấy con nước lớn nước ròng vô tuốt mấy ngọn kinh cùng, mấy vàm rạch cạn mua bán chút đỉnh hột vịt, dầu lửa đem về đổi gạo đắp đổi. Nắng sớm mưa chiều làm làn da mát rượi của má nứt nẻ như mặt ruộng khô nước. Mi mắt mệt nhừ xụ xuống như tấm rèm buông lửng chỉ còn ló có chút dạng mờ của hai hàng xuân sơn cũ. Cả cặp môi tươi rói của má cũng tái xám như cánh hoa úng nước. Tội nghiệp má, thân đàn bà mười hai bến đỗ, má ghé một lần mà đủ cả hai bến đục trong. Rồi tháng tháng, má ẳm con dắt theo chị kế, tay xách nách mang nửa đêm nửa hôm đốt đuốc ra sông chờ đò dọc. Đi tới trưa đến khám tỉnh thăm ba, cho ba nải chuối cục đường - duới quê ba bị nghi là việt-gian-phản-quốc, trên thành ba bị ngờ là việt-minh-nằm-vùng. Cứ như vậy mà ba đi tù tháng này qua tháng khác. Sáng sáng lính dẫn đoàn tù dài thậm thượt đi làm cỏ-vê mấy công thự. Má ngồi núp dưới bóng cây me cổ thụ, vạch vú eo sèo cho con bú trây, nói trỏng qua hàng rào kẻm gai hỏi thăm sức khỏe của ba. Có khi má vừa chậm nước mắt vừa giả lả kể chuyện nhà làm như mọi sự đều yên ổn. Rằng ông bà nội vẫn mạnh. Rằng anh chị con vẫn chơi. Rằng lẫm nhà vẫn đong đầy lúa thóc. Má ơi con biết gì đâu, con nằm trong lòng má mà như nằm trên đống gai chông đời má vậy. Má cực riết rồi thành quen. Gót chân bỏ guốc thả cho hà ăn chầy ngày rồi cũng chai cứng. Lâu lâu ngoại từ Cái mơn ngồi ghe sang thăm. Sông nước thăm thẳm, lòng ngoại chắc cũng bời bời. Ngoại bây giờ nghèo lắm. Nhà cửa ruộng vườn của ông cố để lại bị người ta nổi lên đốt rụi. Ngoại cũng làm cô giáo, đâu có gì ngoài tấm lòng chở theo con nước qua thăm. Ngoại vuốt tóc má rồi ngoại khóc. Con lẩm đẩm theo chân thấy má kéo vạt áo chấm lén nước mắt cho ngoại đừng thấy. Má ơi nước cứ chảy xuôi thì đâu má giấu ngoại được. Cũng như khi con xa má rồi thì con nhớ má có một mà má nhớ con gấp mười lần, vậy thôi.

Rồi thủng thẳng đâu đó cũng yên. Chòm xóm lục tục kéo về. Má lại đi dạy học, chờ ba. Học trò má chạy giặc tứ tán, chừng về lớn vọt lên như đám cải ngồng, mỗi sáng thay phiên ghé nhà cỏng con lội mương theo má ra lớp. Có khi con thơ thẩn ngoài sân lượm trái còng trái bả đậu tách làm râu giả mấy ông tây đi tàu sắt. Có khi bắt chước mấy anh lớn tập chơi đánh trỏng một mình chạy vòng vòng cái sân trường nhỏ xíu. Trưa trưa buồn tình con chui xuống gầm bàn nằm chèo queo nghe má giảng bài có người đi chơi xa cho đã rồi trở về làng mà nói tỉnh queo không đâu đẹp bằng quê hương. Tiếng má lanh lảnh mà ngọt ngào mở ra cho con cánh cửa đầu đời dẫn vào một cõi trời mới, sông núi sắt son. Rồi ba được thả ra. Mà phải ở lại thành. Vậy là một lần nữa má lại cụ bị tay xách nách mang bè chống bầy con lếch thếch bỏ quê lên tỉnh. Thành phố xa mã, lòng má tẻ quạnh. Cả nhà chui đục dưới chái nhà người bà con bên hông đình Ông, ba đi làm sớm về khuya cật lực, má quang gánh chắt chiu. Đám anh chị con được gởi tới trường. Mỗi đêm về chợ, má chong đèn vừa vá áo vừa khảo bài. Có khuya mưa nặng hột cả nhà nằm chùm nhum rút sát vào vách nhà người ta mà ngủ. Lần nào ba má cũng nằm tuốt bên ngoài dang lưng hứng bớt giọt trời nhọn hoắt như kim châm. Giông gió quậy trên mái tôn nghe tới rã trời rã đất. Lòng của ba má chắc cũng rã nát đến vậy thôi. Mưa tiếp nắng lần lữa qua được mấy mùa, còn ba má qua không biết bao nhiêu lận đận mà dựng căn nhà đầu tiên ở phố. Căn nhà sàn vách ván quét vôi trắng có chiếc lan can treo mấy chậu bông vạn thọ vàng rực như lòng má buổi đó. Cái tết đầu tiên sung túc, chồng con quây quần, má dọn mâm cơm cúng rước ông bà tươm tất. Con chắc lòng má vui hơn tết nữa. Má mặc áo dài, tóc chải sát bới cao sau ót, mặt nghiêm trang mà khoan hòa, đẹp không thua gì hình Cô Ba in trên mấy cục xà-bông thơm, đốt nhang lầm rầm khấn vái cảm tạ ông bà đất nước. Khói bay cao, thơm phức. Lòng má trải ra, rộng không chừng. Ôi những năm mười tuổi, con sung sướng như đồng tử đứng trên tòa sen năm cánh. Quần áo vải mới má cắt may mướt rượt, bánh trái hàng vặt liền miệng. Tết nhứt má gói bì gói nem cả xâu treo giàn bếp, dưa giá nhận cả khạp, thêm thịt ba rọi cắt vuông bằng nắm tay con nít kho tuyền với nước dừa tươi. Má còn xắc chuối khô thành sợi nhỏ, ngào với gừng và đậu phộng cả thố để dành cho ba ngọt miệng mỗi buổi trà. Má chu đáo không để ai thiếu món gì trong ba ngày tết. Sắp nhỏ thêm tiền đồng mừng tuổi. Đứa lớn thêm mấy lời vỗ về căn dặn. Ra giêng má lại đuợc nhận cho làm cô giáo trường tỉnh. Trường gần chợ, má áo hàng thanh đạm, dáng mảnh như cọng cỏ may lau lách giữa phố phường, bóp cặp nách, có đứa học trò nhỏ lẻo đẻo theo sau ôm sổ sách ngày bốn buổi đi về. Học trò của má giữa chợ đông biết bao nhiêu, đi đâu cũng gặp. Có chị lớn đại rồi, vậy mà gặp má giữa đường vẫn khép nép đứng lại khoanh tay thưa gởi. Có anh lớn tồng ngồng đang khòm lưng đạp xe, vậy mà gặp má là nhảy rột xuống lề, cúi đầu gần sát đất. Con đi bên má, cũng hả dạ lây. Đàn con má ngày một lớn khôn bắt đầu tập tành đỡ đần cho má một ít việc nhà. Chừng đó má mới rãnh rỗi đôi chút mà nghĩ tới phần mình. Mà cũng có phải tự má muốn đâu mặc dầu cái thú nghe hát cải lương vốn đã truyền đâu từ đời cố ngoại. Thuở mà nhà cửa còn như dinh thự, má đã được ông ngoại nuôi dạy như bậc nữ lưu, cho làm quen thói phong nhã trong những buổi tụ họp đờn ca tài tử tại nhà. Cô ba Trà vinh, cô năm Sa đéc đâu có lạ gì với má. Má rành ngũ cung với lại bài bản không thua ông soạn giả nào hết. Có khi còn lén viết chơi mấy khổ Trăng thu dạ khúc với lại Xuân tình nữa. Vậy mà chừng lấy chồng rồi là dẹp hết, quên luôn. Chỉ còn hát ầu ơ với lại ví dầu theo nhịp võng ru con kẽo kẹt. Tới chừng được thơ thới, ba mua cho má cái máy hát hiệu Radiola có hình con chó kê đầu bên cái loa thiệt bự. Chiều chiều cơm nước vừa xong, má nằm võng gọi con quây dây thiều hát dĩa cho má nghe. Riết rồi con cũng ghiền nghe Út Trà Ôn hát Sầu vương biên ải như má. Lâu lâu có gánh cải lương ghé ngang qua tỉnh, ba mua vé thượng hạng rồi giục ép má đi coi. Lần nào cũng vậy, hễ đi là má dắt con theo cho có bạn. Hai má con ngồi chen chúc một ghế. Con thì ráng hết mức mà mới nửa màn là đã gục lên gục xuống theo nhịp kèn tiếng trống. Tới màn đào kép xuống vọng cổ phựt đèn màu, giựt mình ngó lên là thấy má nhíu chéo khăn chậm mắt. Bộ lòng má có cả biển nước mắt hay sao. Vãn tuồng, má nắm tay dắt con về qua mấy hè phố vắng hoe. Con vừa ngủ vừa đi ngon ơ không cần nhắm hướng. Có má ở kề bên dễ gì má để con lạc đường hả má. Nghĩ lại mà tiếc má ơi, phải chi tuồng đời cũng có hậu như trên sân khấu thì má con mình đỡ biết mấy. Cứ dắt nhau đi xem đào kép khóc cười theo cảnh giả rồi về. Đằng này ngoài đời mấy vở trường hận ai viết đâu mà cứ diển đi diển lại hoài làm kẻ khóc người cười đến hết hơi mặc dầu chẳng ai thuộc bài bản gì ráo trọi. Má ơi con cũng biết trời hay làm dâu bể nhưng đâu tính được tang thương ra đến nỗi ấy. Má đi vấp một bước thanh xuân mà trần ai lai khổ. Mãi tới tuổi xế chiều rồi trời vẫn cứ đòi đoạn đánh ghen cho được mới thôi. Khoảng thời gian sung sướng tròm trèm đâu có mấy năm. Con mới vừa xong trung học là đời lại làm thêm dâu bể nữa. Giặc giã liên miên, nhà cửa cháy tan hoang, của cải má giành dụm bỗng chốc thành tro thành khói. Năm đó má vừa tới tuổi về hưu. Vốn liếng hơn bốn chục năm dạy học gom lại còn cái huy chương chánh phủ gởi tặng mà chưa kịp nhận. Vậy mà má còn một bầy con phải lo tới nơi tới chốn. Nhà ở tỉnh, má vẫn muốn gởi con đi đại học ở Sài-gòn. Má tính ở nhà tiện tặn mắm muối gì cũng xong, miễn làm sao hàng tháng đủ tiền sách vở cơm nước cho con cái trọ học. Con có quên được đâu má. Tết Mậu thân giặc đốt nhà, ba dựng tạm cái chòi trên nền đất cũ, cây mận lão trước sân cháy nám tới đọt dòm thấy ũ rũ chẳng kém gì người. Con tính bỏ học mà má khăng khăng không chịu. Tới ngày con đi không biết má chạy vạy ở đâu mà sắm sửa cho con đủ thứ. Quần áo mới, va-li mới... rồi cứ theo con mà dỗ dành. Má nói mà không dòm lại mình trên người chỉ còn cái áo túi và chiếc quần lãnh đen đã trổ màu. Tóc má rối trắng như trăm đường chỉ mảnh mà lòng sấp ngữa chắc cũng cỡ lòng con vạc bị xáo măng. Con đi học xa bốn năm năm, má ở nhà đạm bạc với mớ tiền hưu còm cõi. Thiếu đủ con làm sao biết được. Có một điều con biết chắc là má nhịn ăn nhịn mặc cho con ăn con mặc, cho con ra ngoài không mắc cỡ với người ta. Mỗi lần về má làm món ngon vật lạ cho con đỡ thèm lúc ở xa một mình. Sáng ra xe trở lại trường, chiều hôm trước má xách nón "đi xóm". Đi đâu mấy đổi, khi về móc túi lấy tiền cho con. Tiền má cầm cố, tiền má vay mượn, con có biết đâu. Chỉ biết nhà thì túng quẩn mà con thì không thiếu thứ gì. Chắc má sợ con lo rầu mà xao lãng việc học. Trời ơi con có học làm vua làm chúa gì đâu mà má giựt gấu vá vai chẳng sợ muối mặt. Ngày con thành đạt chắc má mừng lắm hả má. Mà con có thấy má vui rộn ràng gì đâu. Vẫn dáng ung dung. Vẫn tiếng cười lặng. Vẫn câu nói nhường. Xong đứa này rồi má lo đứa khác. Má lo hoài lo hũy. Mà ngược đời thì thôi. Con cái càng lớn thì má lo càng nhiều hơn nữa. Con vẫn chăm bẩm học xong sẽ về tiếp má. Vậy mà con có nuôi má được ngày nào đâu. Mình tính xuôi đời lại tính ngược. Nó lộn lên lộn xuống làm má con mình điêu đứng. Mười năm cuối má lo còn nhiều hơn mấy mươi năm đầu nữa. Đến lúc sức đã kiệt, da mỏng te thấp thỏm đau mấy đường chỉ máu mà má có lơi tay được đâu. Sau đại họa 75, người ta lấy nhà, đuổi má về vườn sau khi bỏ tù một lúc bốn thằng con trai của má. Má khóc khô chớ nước mắt đâu còn. Rồi dang lưng còng ra mà tiếp tục hứng đỡ. Nay lặn lội thăm nuôi đứa này, mai lê lết đút móm đứa khác. Hồi trước má nuôi con mà má hy vọng. Lần này má nuôi con mà má tuyệt vọng. Má sợ không nuôi con kịp cho đến khi con được thả ra. Ở bên kia hàng rào kẻm gai má chết đứng chết ngồi. Gói muối mè lạo xạo hột mặn hột bùi. Lòng má con biết nát nhừ còn hơn cháo lỏng nữa. Má nuôi con chắc mót từng tàu lá chuối rọc phơi đếm bó, từng bẹ dừa sợi tước xướt tay, từng nia cau chẻ phạm đêm tối lửa cái ngủ vật vờ. Vậy rồi ra tù con bỏ má con đi. Đi tới mất biệt hết năm này qua năm khác.

Má ơi hường nhan có một tấm lẻ mà phận mỏng cánh chuồng có tới cả đôi. Chiêu Quân biệt Hán sang Hồ  còn kẻ rước người đưa chớ còn má của con đẹp người đẹp nết mà sao đường truân chuyên thui thủi. Ngày má đau con không được lo thuốc thang. Ngày má mất con không lạy biệt. Mấn mủ con không đội, áo tang con xếp lại để qua bên, gậy tang con không về chống kịp để vừa đi thụt lùi vừa dang tay cản cho chậm lại phút giây má rời nhà lần chót. Nhưng mà thôi... dẫu níu chậm cách nào thì cũng không cầm lại được. Má đến với đời như một đóa phù dung mà mỗi cánh hoa chỉ là một hơi sương váng vất. Những hơi sương phả ra trên mặt đất buồn hiu này cho đau khổ có một chút long lanh, cho phiền muộn có một chút ngọt ngào và cho giọt lệ sau cùng... rồi ra cũng có chút niềm hạnh phúc.

 

Ôi một tấm hường nhan mấy thuở...

 

                                                                                   Cao vị khanh

Lệ Sử

 

Người thức từng đêm theo vận nước

Lệ sông Gianh thấm ướt ngàn sao

Tội những người đi xanh tóc mượt

Kéo về chết thảm trắng chân hào

 

Em có nghe rền theo thiên cổ

Lời nguyền rủa động suốt thiên thu

Em có nghe rì rào sóng vổ

Nợ tiền khiên kêu réo oán thù

 

Ôi có phải từ cơn mộng dữ

Mà người bày vẻ chuyện trăm năm

Đến lúc chia tay về viễn xứ

Hẵn người tiên nghiệm chuyện mất còn


Người vác nát tan lầm lũi bước

Chín tầng thảm họa bủa giăng giăng

Người chết hai lần không thấy được

Cõi dương gian sống giữa mộ phần

 

Tôi thức trắng đêm sầu trắng mất

Ngó dòng sông nhỏ hệt chỉ tay

Ai xắn lằn dao đau xé đất

Để rần rần máu chảy đêm ngày

 

Tôi đã khóc tin anh chết trẻ

Cánh dù xưa giởn gió chín tầng

Anh nổ súng, trăm năm bỗng nhẹ

Đất sững sờ, trời cũng bâng khuâng

 

Tôi đã khóc đêm anh trốn trại

Xác vắt hờ, rào kẻm gai cao

Tay bấu víu mộng đời bất toại

Mắt nhớ người ấp lạnh hôm nào

 

Tôi đã khóc tin em vượt biển

Xác bập bềnh vùi lấp bãi hoang

Em rồi tới cõi không hư huyễn

Tự do thường đòi giá trái ngang


Ôi đảo khổ, người hung, biển dữ

Mộng tan hoang hờn gió tha phương

Ai cắm vội hàng bia kẽ chữ

Sống lênh đênh, chết lỡ độ đường

 

Tôi đã khóc khi thuyền cặp bến

Hồn lao đao, rừng lảo đảo cao

Ngó trùng trùng người ngơ ngác đến

Ngó cờ vàng ba vết đỏ gào

 

Em có biết mùa đi rất lạ

Tháng trọng xuân, lòng thấy lạnh tanh

Tim thắc thỏm nỗi niềm khó tả

Dường trong ta, thương phế không lành

 

Ôi xứ sở muôn trùng, bỗng nhớ

Những oán hờn trầm tích chưa tan

Tôi đã sống tột cùng tan vỡ

Chờ tin vui nhúm lại tro tàn

 

Đau thắt dạ, những lòng tội nghiệp

Vì tin vui hiếm muộn như thơ

Ôi đất nước có còn vui kịp

Một đời tôi héo úa từng giờ

 

!!!

 

Cao vị khanh

Biệt xứ

 

 

Đường lên cực bắc, sa mạc trắng

Gió ngậm gươm đao xẻ thịt xương

Người qua đất trích tim khô cạn

Mắt trống khi lòng rất nhiễu nhương

 

Chiều lên Đông Bắc trời âm hiểm

Gió ngậm kim châm kẻ lỡ đường

Ta đi như xác đời đã lịm

Lòng chừng nguyên vẹn nỗi tang thương

 

Vách đá vây quanh rừng trắng bụi

Cầu treo trên vực đá chênh vênh

Quê hương đã mấy lần sông núi

Thì sá  chi thân chuyện thác ghềnh

 

Ta đi nhưng biết về đâu chứ

Đất nước còn chi những miếu đền !

 

 

Cao vị khanh

"sáu-câu"

Thương biết mấy!  Ôi giọng buồn cố thổ !

Nhớ làm sao điệu vọng cổ quê mùa

Cho tôi về làm đứa nhỏ quê xưa

Ngủ lòng mẹ, đêm cải lương, khuya khoắt

Thương biết mấy sáu giây đờn huyển hoặc

Cống, xang, xề, hò, xự, líu ...  ru mê

Lục huyền cầm nạo phím gọi buồn về

Tim run rẩy theo nhịp lòng áo nảo

Ôi chữ nghĩa như phượng hoàng tái tạo

Từ tro than ràn rụa lửa phần thư

Từ mẹ cha đút móm nghĩa nhân từ

Ý nhân hậu trải tấm lòng nam bộ

Chữ quằn quại trên quê hương thống khổ

Chuyển thành lời kể lể nỗi tang thương

-Những oan khiên, nghiệp chướng, chốn tình trường

Những khuất tất, những sinh ly tử biệt-

Năm cung oán réo điệu sầu bất tuyệt

Ngắt nhịp buồn đứt ruột, nỗi oan khiên

Làm sao nghe mà chẳng thấy muộn phiền

Nghe làm sao mà không nhớ quê hương

Dẫu sông núi đã dặm trường cách biệt

Ôi vọng cổ, tiếng mẹ ru bất diệt

Ướt lòng con, giọt nước mắt trăm năm

Thấm lòng con, ôi, từng giọt âm thầm

Như xát muối đời con, lòng biển mặn !

 

 

Ôi vọng cổ điệu buồn xưa cố thổ

Có ngậm hờn nuốt tủi giọng Hời oan ?

Sao kêu thương như tiếng vạc lạc đường

-khi quê nhà khuất dạng mấy tầng sương-

Lòng lưu lạc ngở chừng cơn trường hận !

***

Thương biết mấy, điệu buồn nay, vọng cổ !

cvk

CUỐI NĂM, THƠ

 đọc thơ Tô Thùy Yên

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

                                                                                       Edvard  Munch                                                                                                                                                                                

 

 

Tô Thùy Yên-Tôi giựt giành đổ máu với tôi

Từng chữ một.

 

Tôi đọc truyện ngắn của Tô Thùy Yên khi còn đâu ở trung học, những năm sáu mươi. Lớp mấy cũng chẳng nhớ. Truyện có tựa gì cũng đã quên luôn. Cái điều chưa quên là lúc đó, cuộc chiến tranh khốn nạn do những người cộng sản phát động chỉ mới vừa manh nha dù đã âm ỉ từ lâu ở Mạc Tư Khoa, Bắc Kinh ... Nay có tin một ông xả trưởng ở làng xa đêm qua vừa bị ám sát. Mai báo đăng quốc lộ số 4 bị đắp mô đâu ở khoảng Cai lậy, Cái bè. Mốt nghe tin một đồn dân vệ ven biên vừa bị mấy tên du kích vác oảnh-tầm-xào bắn phá lốc chốc mấy phát rồi bỏ chạy. Còn nhớ chắc thêm một điều, truyện được đăng trên tạp chí Hiện Đại của Nguyên Sa, vừa bỏ Paris với khói sóng sông Seine trở về Sài-gòn, đem hương thơ và hơi văn mới thổi phà vào sinh hoạt văn học của miền Nam thuở đó. Mười mấy tuổi chớ gì. Cái tuổi ăn chưa no lo chưa tới. Vậy mà ngay lúc đó, truyện đã nhéo vào cái bộ nảo non xèo của tôi một cái nhéo đau nhói. Rồi nhớ hoài.

Đâu như là ...

... trên một chuyến xe đò liên tỉnh miền đông chạy xuyên qua những cánh rừng lá im ỉm, hành khách bị nhốt kín trong lòng chiếc xe ọp ẹp hẵn không có chuyện gì làm ngoài chuyện ngủ gà ngủ gật vì tiếng máy chạy rì rì ( hoặc là vì chuyến xe đi quá sớm hay về quá trễ ? ), có thể cộng  thêm một nỗi lo lắng vu vơ nào đó ... thì bị một đám du kích nhào ra chặn lại xét hỏi để hoạch họe tuyên truyền. Hành khách nam nữ lão ấu gái trai già trẻ lớn bé gì cũng bị lôi tuốt xuống xe, sắp thành hàng lối, để cho quí-vị-núp-trong-quần-chúng ... ló mặt ra xăn quần, xắn áo, lận dao găm hay xách mã tấu hoặc dậm thêm vài khẩu súng xưa mốc thếch vốn đã được chôn giấu ngay từ khi có lệnh tập kết ... điểm mặt xem tên. Rồi, y như ba đời đã là cán-bộ-chính-trị-viên-có-ba-tăng dấm dẳn lên lớp để dọ dẫm dụ dỗ dày vò ... thả dàn cái đám con dân hiền lành ngu ngơ, gồng gánh đi buôn hàng bán lẻ kiếm ăn hay đi thăm bà con chòm xóm. Kiểm soát như vậy nghĩa là ai nấy phải xuất trình tấm thẻ căn cước. À, tấm thẻ căn cước ! Thuở đó, người ta từ mười tám tuổi trở lên, bất kể nam nữ, ai nấy đều lận trong người một tấm thẻ căn cước, ghi rõ tên tuổi, năm sanh tháng đẻ, số nhà, nghề nghiệp ... như một minh chứng cho sự có mặt hợp pháp của mình trong một đất nước mới được yên ổn mấy năm đang rục rịch ... trở lại bất ổn. Chính phủ hợp pháp đòi như vậy. Mà cái đám làm loạn với súng ống và dao găm lăm lăm trong tay cũng đòi hỏi như vậy. Dĩ nhiên với hai mục đích khác nhau. Nếu đối với phía thứ nhất, tấm căn cước là một bảo đảm cho sự lương thiện và tin cậy của người cầm thẻ, thì đối với phía đối nghịch, miếng giấy cứng có bọc nhựa đó có thể sẽ là bản cáo trạng hùng hồn để họ hùng hổ lôi đương sự vào rừng, vào bưng hoặc để giam giữ hoặc để đâm, chém, bắn giết hay bỏ vô bao bố thả trôi sông, tùy ý. Ờ thời buổi đó, tấm thẻ căn cước quan trọng sinh tử đến vậy.

Và cũng vì vậy, để bảo đảm an ninh cho những người làm việc dưới quyền mình, chính quyền thuở đó còn cấp thêm cho họ một loại thẻ căn cước thứ hai, thẻ căn cước dân sự. Nhất là đối với những người phục vụ đất nước trong những phạm vi liên quan đến hành chánh và quân sự. Tấm thẻ căn cước dân sự đó như một chiếc mộc che đỡ cho họ những nguy hiểm chực chờ như buổi sáng hôm đó hay buổi chiều hôm đó ...

Và như vậy, truyện kể ...

Đám hành khách khốn khổ đó bị lùa xuống xe, xếp hàng ... để chờ khám xét. Mọi người nhốn nháo. Lo lắng. Bồn chồn. Mỗi người một bộ mặt, một con tim, một bộ quần áo, một gia đình cha mẹ vợ con anh chị em, một người tình ... mỗi người một thân phận, một hoàn cảnh, một đắn đo  ... và ... một tấm thẻ căn cước. Nhưng chắc chắn chỉ có duy nhất một nỗi lo. Lọt vào tay cái đám sát nhân giả dạng người yêu nước.

Truyện kể tiếp ...

Vậy rồi từng người một bị xét hỏi, từng người một phải trình ra tấm thẻ căn cước, với hình ảnh, tên tuổi, ngày sinh, tháng đẻ, nghề nghiệp ... dưới những mũi súng hung hăng đang chỉa vào họ và chực chờ lảy cò. Người thứ nhất, người thứ hai, người thứ ba ... Mọi việc diễn ra suông sẻ. Không có ai là ngụy quân ngụy quyền, ác ôn ba đầu sáu tay, không có ai là tay-sai-mỹ-ngụy. Từ cụ ông đến người trai trẻ. Từ con gái đến đàn bà. Ai nấy đều không có tội-tổ-tông. Mẻ lưới tung ra như lọt vào chỗ không. Lúc đó, mặt trời đang mọc hay mặt trời đang lặn, thú thật, loay hoay qua cái chằng chịt của mớ trí nhớ rối mù, tôi không chắc, nhưng hề chi, mặt trời mọc hay mặt trời lặn, bởi vì rạng đông hay tà dương, thì những tia sáng chói lòa đó vẫn bung ra từ một cõi mênh mông, vượt khỏi cõi người trần thế.

Vâng, ngay lúc đó, khi những tia sáng đầu tiên - hay cuối cùng - của mặt trời vừa hắt lên thì bỗng một tiếng hét vuột ra khỏi cửa miệng của tên trưởng toán gian hiểm. Nghiêm. Một tiếng hô “nghiêm” bỗng dội ngược vào tai đám đông đang còn đứng lố nhố như một bầy tử tội khi không rồi được ân xá.  Ngay bon lúc đó, hay một tích tắc sau đó, có tiếng đôi giày da của ai đó chập vào nhau, sắc và gọn. Như tiếng giày saut chập vào nhau khi ... người lính nghe quân lệnh của thượng cấp. Cái thế đứng nghiêm, hai tay buông thỏng ép sát vào thân, hai chân chập lại, mặt ngẩng lên, cằm giương thẳng ... vừa như tuân thủ mà vừa như biểu lộ một sự tự chủ tuyệt đối. Cái thế “nghiêm” trong bài thao diễn cơ bản mà người lính đã học và tập bao nhiêu lần từ khi khoác vào đời trai bộ quân phục. “Nghĩ “. “Nghiêm“. Ôi cái huấn lệnh nghe đi nghe lại đến nhập tâm. Và trở thành cái phản xạ của bất cứ một người trai nào đã mang nghiệp lính vào thân.

Vâng, buổi sáng đó -hay buổi chiều đó -, bên bìa một khu rừng hiểm hóc, một người trai miền Nam, một người lính miền Nam, trên chuyến xe về phép, thăm cha thăm mẹ, hẹn hò người yêu ... , người lính trẻ mặc bộ đồ dân sự, cầm tấm thẻ căn cước dân sự ... đã đối mặt với định mạng, trực diện, rồi ngang nhiên chấp nhận cái số phận như một chọn lựa của ý thức, đánh đu tính mạng mình lên sợi giây sinh tử. Trong cái giây phút bất ngờ, bất chợt, bất định đó ... anh đã sống đúng phốc cái bản chất của người lính với tất cả vinh quang và tủi nhục của nó, với mọi bất trắc của một người con trai đi gánh vác chuyện nước non. Và ... chuyện phải đến đã đến. Toán du kích hí hửng như bắt được vàng, chỉa súng xúm lại ...

 

Mấy chục năm đã qua, làm sao tôi còn nhớ được lời văn, câu chữ ... Vậy mà tôi vẫn nhớ, cái tình huống mà tác giả đã dựng lên khi người con trai bị bắt trói bởi đám người cuồng tính. Lạnh như tiền. Vững như đồng. Khi đã biết chắc số phận mình, nhân vật chính, người con trai, người lính trẻ vẫn ngẩng cao mặt, thân thẳng, vai ngang, mắt quắc ... Ngay lúc đó, chính lúc đó, mặt trời, chính mặt trời với chùm sáng ngạo nghễ hắt lên mặt anh vừng hào quang lóng lánh nhất. Tôi nhớ, ngay lúc đó, tôi đã rùng mình. Ngay lúc đó hình ảnh con chó sói của Alfred de Vigny bỗng chồm lên trong trí. (*) Người thanh niên, dáng thẳng, mặt lạnh, lời câm. Cái hình ảnh mà tác giả dựng lên khốc liệt đến làm há hốc miệng mà không kêu ra lời.

 

Mãi nhiều năm sau, tôi mới tìm ra được chữ để gọi cái giây phút kết thúc đó. Bi tráng. Quả tình bi tráng. Bi đát một cách hùng tráng. Có mâu thuẩn không. Không. Đó là một bi kịch với một kết thúc táo bạo đến rùng mình. Và đẹp lẫm liệt như một thần thoại Hy Lạp.

 

Vậy rồi, đến chừng lên đại học, lại được đọc thêm thơ của ông. Những bài thơ tự do, thơ năm chữ, bảy chữ ... Chữ nghĩa vạm vỡ. Ẩn dụ minh mông. Hình tượng lẫm liệt. Đọc xong cứ như vừa chạy băng đồng. Thở dốc. Hụt hơi ... Mà rồi lại muốn bắt đầu một cuộc băng đồng mới. Đọc rồi như có điều gì muốn nói. Mà rồi lại ngậm câm. Chữ của ông như tẩm thuốc mê. Đọc xong rồi ú ớ. Có điều mãi mãi tôi vẫn muốn viết về thơ của ông. Thơ Tô Thùy Yên. Mà viết về cái gì. Chữ Nghĩa của ông ? Thứ chữ nghĩa tự nó đã biện minh cho sự hiện hữu phi thường của nó. Mỗi chữ đã là một giá trị tự thân. Tự nó. Chính nó. Nói gì thêm cũng chỉ là phù phiếm. Ý tưởng của ông ? Thứ ý tưởng lồng lộng như mây giông đầu hạ, giậm giựt bao nhiêu là sấm sét chỉ chờ dịp cựa mình. Như vậy thì viết làm sao cho ráo, bắt làm sao cho kịp những tia chớp, nháng lên từ những liên tưởng xảo diệu và ẩn mật đến sững sờ.  Vậy mà sao tôi lại dại dột loay hoay hoài với những bài thơ, những câu thơ, những vần những điệu, những chữ mà ý nghĩa của từng chữ từng câu cứ chực trào ra khỏi cái khuôn đang cầm giữ nó. Câu hỏi cứ lẩn quẩn trong cái đầu rối mịt của tôi. Đã lâu, lâu lắm ! Rồi bây giờ, mấy mươi năm sau. Sao vẫn cứ ý nguyên cái thắc thỏm như chính mình đã để lỡ một hẹn thề.

Từ những năm 60, 70, 80, 90 ... của thế kỷ trước, rồi vụt sang thế kỷ khác, những năm 2000, khi thân xác đã có chừng mệt mõi mà trí óc thì vẫn lùng bùng y nguyên thời còn trẻ, mỗi khi đọc lại thơ ông.

 

Thi sĩ Bắc Nam đều chết rạp

Ba trăm năm lịch sử làm thinh

 

Đủ chưa, hai câu thơ đó. Hai câu thơ đọc lúc trai trẻ đã muốn rùng mình. Bây giờ, vài mươi năm sau, đọc lại vẫn nguyên cái cảm giác choáng ngộp của Trần Tử Ngang khi leo lên chót đỉnh U Châu đài mà ngẫm nghĩ chuyện nhân sinh. Niệm thiên địa chi du du. Độc thương nhiên nhi lệ hạ. Thi sĩ có phải là bậc tiên tri thấu thị. Thơ làm từ năm 72. Vậy sao đọc lên lại thêm cái cảm giác hãi hùng khi nghĩ tới bước chân của lịch sữ đã và đang dẫm lên số phận của người Việt, nhất là từ khi người cộng sản dẫm đạp bằng những bước chân thô bạo lên cái dòng sinh mệnh của dân tộc. Hai câu thơ, 14 chữ, gọn bâng mà sao nghe rổn rảng tiếng trì chiết rủa xả, lời đay nghiến, giọng kêu thương của lớp lớp biển dâu, của trùng trùng oan khuất, của núi xương vô định, của mồ mã vô danh ... 

Làm thinh. Chữ nôm na mà nghĩa trầm thống. Chữ tĩnh mà nghĩa động thốn tâm. Thử đọc lên hai chữ làm thinh, làm thinh là làm thinh, là ngậm miệng, là nuốt tiếng ...  nhưng sao như nghe vọng lại từ đó bao nhiêu tiếng kêu gào rên siết, tắt nghẹn trong cổ họng ... của đám dân đen mỗi lần thay ngôi đổi chúa, của sông Gianh cắt lìa ruột thịt, của Bến Hải nước tẻ hai dòng, của đường 13 pháo chùm pháo chụp, của đường số 1 con bú xác mẹ, của đảo Ko Kra trinh tiết dập vùi, ... của từng đám tù nhân không-danh-số lê lết qua những trại giam ngụy trá. Lịch sử làm thinh hay chính lòng người ngoảnh mặt làm ngơ, bịt tai bịt mắt trước những lộng hành của cái ác. Từ khi nào thơ không còn là hoa trái của cuộc đời và người làm thơ bị coi là đồ thừa thải, bị giam cầm hay bắn giết, mặt đất này chỉ còn là sa mạc, thứ sa mạc làm khô khốc lòng người. Rồi ra, thơ chỉ còn là tiếng dội của vô vọng, là lời của vô ngôn, là mặt thật của vô cùng để lần cuối biểu dương cùng tận cái vinh dự lầm than của kiếp người ...

Vinh dự lầm than của kiếp người ?

Cái nghĩa nghịch lý của câu thơ đã đủ để biểu lộ cho con-mắt-trông-thấu-cả-sáu-cõi-tấm-lòng-nghĩ-suốt-cả-nghìn-đời (**) của bậc-vương-tôn miền-trí-tuệ chưa ! Lời thơ như sóng cuộn ì ầm mà dội lại tiếng vô thanh, vô thanh của vô cùng vô tận, như vẽ ra rồi lại xóa đi từng bức tranh vân cẩu, như mở ra rồi đóng lại cái vòng lẩn quẩn loay hoay của cuộc lữ miên trường. Mỗi câu thơ là một vấn nạn. Nhưng ... Thiên hà ngôn tai . Trời đất có nói gì đâu .

Và rồi tất cả sẽ nguôi ngoai  ?!

 

Rồi tất cả sẽ nguôi ngoai ...

Đã có lúc, làm thơ như dấn thân vào một cuộc đuổi bắt với vô vọng ... Mọi thắc mắc siêu hình vốn dĩ là cách thức ngạo mạn của kẻ chơi đùa với chữ nghĩa. Nhưng khác với lối đua đòi làm dáng, Tô Thùy Yên đã xua thơ mình chạy mút tới tận cùng để giáp mặt cái Cùng Tận đó, cái Vô Hạn đó, cái Hư Không ! Thơ sung mãn như cái hùng tâm truy lùng chân lý. Và vì vậy, ông đã gặp, tôi tin vậy. Bạn có nghe, này bạn có nghe. Vũ trụ miên man chuyển động đều. Chim đã bay quanh từ vạn cỗ. Gió thật xưa, mây thật già nua. Nên với một đời, bao biến đổi. Mà trong vô hạn có gì đâu. Bài thơ, những bài thơ làm trong giai đoạn này không ghi ngày tháng –mà thật sự có cần ghi ngày tháng không. Cái điều rõ ràng là người làm thơ chưa già mà thơ đã cỗi, cỗi như cả cái vũ trụ vô sở vô trú, cả cái dòng thời gian vô thủy vô chung, trùng trùng, điệp điệp ... Và tôi hiểu tại sao Trần Tử Ngang chảy nước mắt, tại sao Tô Thùy Yên sau khi đã mòn gót chân sương nắng tháng năm đã có lúc cũng phất phơ chéo áo đường thiên cổ, nước mắt hồng tuôn đến đá mòn.

Rồi sao nữa ? Rồi  là ... đáo bỉ ngạn !

Từ đó là thái độ tri kỷ tri bỉ, biết điều như mọi kẻ biết-điều nhất trần gian. Vạn vật giai bị ư ngã, phản thân nhi thành, lạc mạc đại yên.  Hề, ta trở lại gian nhà cỏ. ... Ở đây ta có dăm người bạn. Phúc tự tâm, không lý đến đời. Ở đây ta có dăm pho sách. Và một dòng sông, mấy cụm mây. Hạnh phúc ở đâu mà lặn lội dang thân. Hạnh phúc trần gian ở đâu hay ở chính lòng ta đó. Dòng sông u hiển trôi vô lượng. Dòng sông hiền triết chảy vô tâm. Mà ta ngưỡng vọng như sư phụ. Mà ta thân thiết tựa tri âm ... Quên quên, nhớ nhớ tiền sinh kiếp. Thiên cổ mang mang thế sự nhòa. Trận lốc cười tròn trên quá vãng. Ta làm lại cả tâm hồn ta ... Ờ vậy thì còn tiếc gì mà không về ...

Tưởng tượng ta về nơi bản trạch ! Còn gì vui bằng khi mọi điên đảo của thế sự quanh quanh không còn đảo điên giữa lòng ta. Đó có phải là quê-nhà 

của mọi gã đãng tử sau cuộc tuần du bất tận. Với khám phá diệu kỳ : rồi tất cả sẽ nguôi ngoai

Rồi tất cả sẽ nguôi ngoai !

Nhưng rồi có thật sự tất cả sẽ nguôi ngoai hay vẫn bất tận nỗi đời hung hãn đó như chính ông đã mường tượng, một ngày.

 

Những năm 70, chiến tranh bùng lên dữ dội. Súng đạn hung hăng, lòng người hung bạo. Qua sông. Đò nghẹn đoàn quân xa tiếp viện. Mưa lâu, trời mốc, buồn hôi xưa. Con đường đáo nhậm xa như nhớ

 

Xa như nhớ. Trời ơi làm sao đo được cái khoảng cách ở hai đầu một nỗi nhớ mơ hồ. Xa như nhớ. Hoán dụ đến nỗi không còn tính được bằng cây số bởi dặm trường có ở đâu xa. Dặm trường ở ngay chính lòng ta đó. Tuyệt. 

Bộ mặt chiến tranh được vẽ ra bằng đường nét tự tại. Không lớn lối cũng chẳng e dè. Không thêm không bớt. Mà nghe ra như đã sầu đâu từ thiên cổ hận... Nao nao mường tượng bóng mình. Mịt mùng cõi tới, u minh tiếng rền. Xuống đò, đời đã bỏ quên. Một sông nước lớn trào lên mắt ngời.

 

Dĩ nhiên giấy bút làm sao tả cho hết cái bi kịch mà mỗi vai trò chỉ thoáng hiện thoáng mất như những chiếc bóng vật vờ, nhân vật chỉ còn là cái cớ. Diễn trường chính yếu là cái khoảng không còn lại, cái khoảng trống không sau khi vai diễn đã biến mất, mọi tiếng động đã bặt im. Cái còn lại là cái không-còn-gì, không-có-gì. Cái còn lại sau những cuộc tranh giành, dù thắng dù thua, cái còn lại chính là cái im ỉm của thiên địa trơ trơ, của thánh thần lánh mặt, của mất còn còn mất chỉ là hai mặt sấp ngửa của đồng tiền quay tít rồi ... bật ngửa ra, bất kể. Em chạy tìm anh ngoài cõi gió. Lửa oan khốc giỡn cười ghê hồn. Tiếng kêu đá lở long thiên cổ. Cát loạn muôn trùng xóa dấu chôn

 

Trên bối cảnh của một cuộc vật lộn giữa tử sinh không hồi ngưng nghỉ, thơ như một cầu cơ giáng bút. Điều gì khiến ông làm Trường Sa Hành. Trường Sa hay Hoàng Sa ? Ai biết ! Đọc thử hết trọn một bài của Tô Thùy Yên để thấy cái điên đảo của chữ nghĩa, cái lồng lộng của ý tưởng ...

 

Trường Sa Hành

Toujours il y eut cette clameur,
                          Toujours il y eut cette fureur...
                          Saint-John Perse

Trường Sa ! Trường Sa ! Ðảo chuếnh choáng
Thăm thẳm sầu vây trắng bốn bề
Lính thú mươi người lạ sóng nước
Ðêm nằm còn tưởng đảo trôi đi

Mùa Ðông Bắc, gió miên man thổi
Khiến cả lòng ta cũng rách tưa
Ta hỏi han, hề, Hiu Quạnh Lớn
Mà Hiu Quạnh Lớn vẫn làm ngơ

Ðảo hoang, vắng cả hồn ma quỷ
Thảo mộc thời nguyên thủy lạ tên
Mỗi ngày mỗi đắp xanh rờn lạnh
Lên xác thân người mãi đứng yên

Bốn trăm hải lý nhớ không tới
Ta khóc cười như tự bạo hành

Dập giận, vác khòm lưng nhẫn nhục
Ðường thân thế lỡ, cố đi nhanh

 

Sóng thiên cổ khóc, biển tang chế
Hữu hạn nào không tủi nhỏ nhoi ?
Tiếc ta chẳng được bao nhiêu lệ
Nên tưởng trùng dương khóc trắng trời

Mùa gió xoay chiều, gió khốc liệt
Bãi Ðông lỡ mất, bãi Tây bồi
Ðám cây bật gốc chờ tan xác,
Có hối ra đời chẳng chọn nơi ?

Trong làn nước vịnh xanh lơ mộng
Những cụm rong óng ả bập bềnh
Như những tầng buồn lay động mãi
Dưới hồn ta tịch mịch long lanh

Mặt trời chiều rã rưng rưng biển
Vầng khói chim đen thảng thốt quần
Kinh động đất trời như cháy đảo
Ta nghe chừng phỏng khắp châu thân

Ta ngồi bên đống lửa man rợ
Hong tóc râu, chờ chín miếng mồi
Nghe cây dừa ngất gió trùng điệp
Suốt kiếp đau dài nỗi tả tơi

Chú em hãy hát, hát thật lớn
Những điệu vui, bất kể điệu nào
Cho ấm bữa cơm chiều viễn xứ
Cho mái đầu ta chớ cúi sâu.

Ai hét trong lòng ta mỗi lúc
Như người bị bức tử canh khuya
Xé toang từng mảng đời tê điếng
Mà gửi cùng mây, đỏ thảm thê.

Ta nói với từng tinh tú một
Hằng đêm tất cả chuyện trong lòng

Bãi lân tinh thức âm u sáng.
Ta thấy đầu ta cũng sáng trưng

 

Ðất liền, ta gọi, nghe ta không ?
Ðập hoảng vô biên, tín hiệu trùng
Mở, mở giùm ta khoảng cách đặc
Con chim động giấc gào cô đơn

 

Ngày. Ngày trắng chói chang như giũa
Ánh sáng vang lừng điệu múa điên
Mái tóc sầu nung từng sợi đỏ
Kêu dòn như tiếng nứt hoa niên

 

Ôi lũ cây gầy ven bãi sụp
Rễ bung còn gượng cuộc tồn sinh
Gắng tươi cho đến ngày trôi ngã
Hay đến ngày bờ tái tạo xanh

 

San hô mọc tủa thêm cành nhánh
Những nỗi niềm kia cũng mãn khai
Thời gian kết đá mốc u tịch
Ta lấy làm bia tưởng niệm Người

 

Đọc lên thành tiếng. Trường Sa ! Trường Sa ! Đảo chuếch choáng. Thăm thẳm sầu vây trắng bốn bề ... Mùa Đông Bắc, gió miên man thổi. Khiến cả lòng ta cũng rách tưa. Ta hỏi han, hề, Hiu Quạnh lớn. Mà Hiu Quạnh lớn vẫn làm ngơ ...

Tôi sẽ nói gì thêm. Đã hỏi rồi. Đã nói rồi. Hiu Quạnh Lớn có nói gì đâu. Thiên địa bất nhân dĩ vạn vật như sô cẩu. Trời đất bất nhân coi vạn vật như chó rơm. Đã vậy thì còn gì để nói thêm ?

Còn. Còn rất nhiều điều để kể.

Đầu tiên ta kể về im lặng

Mà ý chừng kể để Hư Không nghe

Hư không, hư không có nghe không ? Có nghe Mùa hạn rên siết. Ở đây địa ngục chín tầng sâu. Cả giống nòi câm lặng gục đầu. Cắn chết hàm răng, ứa máu mắt. Chung xiềng nhưng chẳng dám nhìn nhau. Không nhìn nhau nhưng không phải không có gì để nói với nhau. Hay lắm khi im lặng còn nói được triệu lần hơn điều được nói.

Thơ Tô Thùy Yên có triệu điều để nói. Tuy nhiên giọt nước mắt ứa ra ít mặn hơn giọt nước mắt nuốt ngược vào lòng.

Thơ Tô Thùy Yên đọc thầm hay đọc ra rả cho át tiếng sóng vỗ ngoài biển lớn đều như nhau. Cả hai cách đều dội ngược vào người đến nghe đau mềm phế phủ. 

 

Thơ của ông như vậy là như vậy. Y như Hiu Quạnh Lớn. Còn nói nỗi gì. Còn viết thêm chi. Có làm rộn tai. Có làm xốn mắt. Mà sao vẫn cứng đầu cứng cổ mà run tay muốn nhắc muốn nói muốn viết. Mà viết cái chi. Khi mọi sự đã an bày. Hiu Quạnh Lớn có nói gì đâu. Có gì để nói đâu. Hay tại lớn đến choáng ngộp nên làm miệng ú ớ, tay cứng, chữ cùn ... Hay nói đại, nói bất kể, thơ Tô Thùy Yên ... Nói về chuyến Tàu đêm chở tù chạy như một cơn giông lửa ròng rã từ Nam ra Bắc, qua trùng trùng oan khuất. Tàu đi như một cơn điên đảo. Sắt thép kinh hoàng va đập nhau. Ta tưởng chừng nghe thời đại động. Xô đi ầm ỉ một cơn đau ... Con tàu chạy ngược, suốt con đường sắt xuyên Việt như trở ngược giòng lịch sử, từ văn minh trở lại man rợ, từ yêu thương trở lại thù hằn, từ khoan dung trở lại hẹp hòi, từ chân thành trở lại gian trá.

Muốn nín nhưng đọc thơ lòng như lửa đốt. Có gì cháy âm ỉ giữa lòng ta. Có gì cháy hừng hực giữa đầu ta. Lửa bắt từ xác chữ dị thường, cháy lan theo đường gân sớ thịt, nung đốt ý tưởng rồi làm tro than mọi ý tưởng. Vậy mà vẫn níu chữ chạy theo trối chết, để được tới nơi, cùng lúc với ông. Bởi vậy vẫn viết cho cố xác mà rồi cũng chẳng biết sẽ tới đâu. Vẫn muốn viết về thơ ông như lúc còn tưởng tay vói tới trời. Đến lúc biết trời cao tay không vói tới mà cứ vẫn loay hoay điều bất khả. Viết thêm. Viết thêm nữa. Điều bất khả. Làm sao, làm sao nói hết được cái hạo khí hừng hực bốc lên từ chữ nghĩa ông.

Cho nên ...

  • Giảng ! Bình ! Phê ! Luận ! Tán !

  • Nhảm !!!!

Khổ nỗi ! Ý bốc lửa. Chữ cuống cuồng. Những trang giấy trắng. Trắng minh mông. Trắng lạnh ngắt mà lại kêu đòi. Viết về thơ Tô Thùy Yên có phải là vẽ cái vòng tròn mà điểm cuối không bao giờ nối lại được điểm khởi đầu. Viết về thơ Tô Thùy Yên có phải là tả cái minh mông không cột mốc, không điểm tới cũng chẳng có điểm đứng. Cái dập dềnh của sóng, của gió, của mây, của nước mà mọi hình thù bị phá vở từ mỗi sát sa. Có phải là tung tóe theo cơn nổ hồng hoang. Hay là ngộp chìm theo cơn hồng thủy. Cái chết tru rân giờ nguyệt tận. Máu bung từ mỗi lỗ chân lông... Như tên phù thủy già điên loạn.

Lịch sử lên cơn dữ bất thường. Viết về thơ Tô Thùy Yên có phải là vẽ rắn thêm chân khi rắn đâu có chân mà vẫn bò vun vút, là châm nước thêm vào lòng biển lớn, là vùi thêm củi vào miệng hỏa diệm sơn.  Người mẹ trẻ buồn đôi mắt trũng. Thân gầy nhom, tóc cháy, da cằn. Địu con, một dúm thịt nhăn nhúm. Ra ruộng khê tìm mót cái ăn. Còn nói được gì thêm về tội ác ngút trời của loại hà-chính-mãnh-ư-hổ đã và đang cắn xé  mảnh đất vốn đã gầy còm ở bên kia biển lớn. Thơ của ông dữ dội lắm. Thơ của ông là bản cáo trạng không lời buộc tội dù được viết bằng máu và nước mắt chảy ngược của chính bản thân, thay mặt cho cả một thành phần dân tộc bị án tử oan tình. Vì mỗi hình ảnh ông kê ra đã là một bản án tự thân cho đám sát nhân tội đồ của nhân loại. Thơ ông là một bản J’accuse của Émile Zola để đòi lại sự thật cho sự thật. Đọc thơ ông, sống lại ngày dài trong trại-lán-cải-tạo, trong hầm kiên giam, dưới chòi canh hầm hừ, giữa lon cơm mốc thếch, trên bàn tay trần bươi đất, hay quằn đôi vai kéo cày thay trâu, trong mảnh vải bố nát che thân khi rừng núi lập đông. Ta khóc lẻ loi, cười một mình. Thu hình ẩn náu dưới tâm linh. Mắt chong kinh hãi đêm hư sử. Thân lõa lồ đau cháy khổ hình. Nguyễn Du xưa viết Kiều khiến người đời cứ tưởng nhỏ máu ra năm đầu ngón tay mà viết. Nay đọc thơ Tô Thùy Yên cứ tưởng ông đã mài đá ra mà làm mực. Thứ mực không bao giờ phai vì đã và sẽ trầm tích trong nảo cân, trong huyết quản của người đọc, đời này và cả đời sau.

Mà còn tuyệt vời hơn nữa, điều đó còn để xác nhận thơ và người thơ đã không bao giờ và sẽ không bao giờ bị thắt cổ bởi lòi tói xiềng gông. Bởi vì, nghĩ cho cùng, cái được gọi là trại cải tạo trong dãy quần đảo ngục tù mênh mông ở Việt Nam sau năm 75 chỉ nhằm một mục đích duy nhất là triệt hạ nhân phẩm của người tù, triệt tiêu mọi ý thức phản kháng, biến họ thành súc vật. Trại tù nằm bên bờ sông Mã ở Thanh Hóa mà tù nhân không được đi thẳng người, phải bò như con thú bốn chân là một điển hình.

Nhưng dù vậy, ác tâm hèn hạ đó đã và sẽ không bao giờ thành tựu được. Chẳng những vậy, con người, sinh vật thượng đẳng vẫn mãi là con người dù có bị đòn tra ép uổng tới tận tầng cuối của địa ngục. Hơn vậy nữa, người làm thơ, kẻ chịu khổ nạn nhất trong kiếp đọa đày đó vẫn mãi mãi là sinh vật tối thượng vượt hẵn lên trên lũ cầm thú giả dạng làm người. Ta về. Ta về-một bóng trên đường lớn. Thơ chẳng ai đề vạt áo phai ... Ta về cúi mái đầu sương điểm. Nghe nặng từ tâm lượng đất trời. Cám ơn hoa đã vì ta nở. Thế giới vui vì mỗi lẻ loi ... Ta vể như lá rơi về cội. Bếp lửa nhân quần ấm tối nay. Chút rượu hồng đây, xin rưới xuống. Giải oan cho cuộc biển dâu nầy.

Ôi, tấm lòng thi sĩ, người run giùm thế nhân hơi thu run rẩy, ấm giùm thế nhân tia ấm cuối đông, người đau giùm thế nhân cơn bội bạc của thế sự mà cũng vui giùm thế nhân sự thuận thảo của đất trời. Trên dưới trong ngoài đông tây nam bắc, có chỗ nào kềm giữ được đôi cánh chim hồng hộc. Tấm lòng thi sĩ bay lượn vượt thoát khỏi trói buộc của nhân thế,  nhạy như tơ trời, nhịp cùng nhịp với nhịp mùa, đập cùng đập với nhịp tim của thiên hạ. Tấm lòng đó, bao dung đến vô lượng. Hãy nghe ông xẻ chia với người quen kẻ lạ nỗi-vui-nhục-nhằn khi trở lại từ địa ngục trần gian. Ta về như hạt sương trên cỏ. Kết tụ sầu nhân thế chuyển dời. Bé bỏng cũng thì sinh, dị, diệt. Tội tình chi lắm nữa người ơi ... Ta về như sợi tơ trời trắng. Chấp chới trôi buồn với nắng hanh. Ai gọi ai đi ngoài quãng vắng ? Phải, ôi vàng đá nhắn quan san ? Ta về như tứ thơ xiêu tán. Trong cõi hoang đường trắng lãng quên. Nhà cũ, mừng còn nguyên mái vách. Nhện giăng, khói ám, mối xông nền ... Ta về như tiếng kêu đồng vọng. Rau mác lên bờ đã trổ bông. Cho dẫu ngàn năm em vẫn đứng. Chờ anh như biển vẫn chờ sông... Ta về dẫu phải đi chân đất. Khắp thế gian này để gặp em. Đau khổ riêng gì nơi gió cát. Hè nhà, bụi chuối thức thâu đêm... Ta về như hạc vàng thương nhớ. Một thuở trần gian bay lướt qua. Ta tiếc đời ta sao hữu hạn. Đành không trải hết được lòng ta.

Ta về như tứ thơ xiêu tán. Trong cõi hoang đường trắng lãng quên. Tù về mà thơ phiêu hốt như hạc nội mây ngàn. Nghĩ ra làm sao không khoái trá.

Đành không trải hết được lòng ta ? Ờ, làm sao nói cạn được tấm lòng thi sĩ. Người đau cái đau của nạn nước, gấp bao lần cái đau của nhân gian, người buồn cái buồn của thời vận, gấp bao lần cái buồn của nhân gian. Vậy mà rồi, cuối cùng, vẫn phá chấp để tìm lại bộ mặt tích cực của đời sống, để mở lòng yêu đời yêu người dù đã quá độ đắng cay.

Mặc kệ trời bày cuộc bể dâu, nhấn chìm hết mọi ước mơ, tắt lịm hết mọi dự phóng, vẫn nguyên si tấc dạ của đứa con lưu lạc trở về nhà. Thương hờn oán giận rồi ra cũng chỉ là mấy nét nhăn nhúm của bộ mặt trần gian khó ưa. Mặc kệ, vẫn còn đó, nụ hoa nở trái mùa, trái chín muộn trên cây ... Cũng chẳng biết triết lý nào đạo nghĩa nào đã nuôi hồn thi sĩ. Mà cũng chẳng cần biết. Vậy chớ lẽ đời tính vậy chẳng là ... phải phải lắm sao ! Giáo điều chi cho mệt. Đọc xong tôi cũng hả dạ lây. Ôi tâm hồn thi sĩ ấy !

Bởi vậy mà đọc lại thơ ông khi lòng đã lạnh mọi hương nguyền, chuyện đời đã trơn tuột ngoài vòng tay mà sao vẫn thấy xao xuyến như có gì muốn cà kê, muốn lải nhải, muốn trần tình, muốn kể lể ... muốn ... muốn ... muốn ...

Vậy thì nhìn vào những khung giấy bỏ trống bên dưới, có thấy không, chữ nối chữ, lời tiếp lời, đầy ắp ... những điều không nói được, vừa thảng thốt mà lại vừa thống khoái trong lòng khi đọc thơ ông. Thơ Tô Thùy Yên không có tính từ để ép uổng. Nói này nói nọ thật ra chỉ là cưỡng cầu. Hãy đọc thôi. Đọc bằng tấm lòng xích tử, khi ngôn ngữ chưa thành lời ...

_______________________________

 

 

 

Ở một chỗ

rất

gần sao... 

 

 

 

Có lần người bạn thi sĩ ở bên này bờ Hudson, phía New Jersey hứa mời tôi đi uống cà-phê ở một nơi rất gần với mấy vì sao. Những vì sao xa tít vốn dĩ là quê hương rất đỗi ngây thơ của những "Ông Hoàng bé ". Thử cho anh coi lại điệu vũ của bầy sao đêm. Anh ta nói với tôi như vậy. Mấy lần điện thoại rủ rê, cứ hẹn lần hẹn lượt tôi vẫn chưa uống được tách cà-phê pha giữa trời sao đó lần nào.

Chỗ tôi đang ở cũng là một thành phố lớn, nằm chênh chếch về phía đông bắc lục địa. Những con đường ngang dọc từ trên cao nhìn xuống cũng y như mấy miệng vực hun hút giữa khu rừng cao ốc. Mỗi lần ra phố chỉ thấy từng hẻm mây buồn rầu. Thuở mới đến, có bận nhớ nhà, tôi hay len lỏi đi tìm ngó trăng sao. Và lần nào cũng buồn ngẩn buồn ngơ vì trăng sao cứ trốn đâu mất biệt. Thay vào đó là ngàn ngàn con mắt đèn như bầy đom đóm đeo dính mấy tấm vách thẳng băng ngước nhìn tới mỏi cổ. Hơn nữa chưa hết tầm nhìn đã chóa mắt giữa hằng hà sa số ngọn néon xanh xanh đỏ đỏ. Riết rồi thua buồn cũng quên lửng luôn những vì sao đã chắt chiu mang theo như để đánh dấu điểm đứng của quê hương. Vâng, có ngôi sao chỉ mọc ở phương nam. Chắc quê hương tôi ở hướng đó.

Thuở mười một mười hai tuổi, mỗi lần được cho về quê nội, cứ đợi chiều xuống là tôi trèo tuốt lên mấy đụn rơm cao ngất ngoài bìa ruộng, dang tay nằm ngữa đợi trời tối. Ngó lên là trời vòi vọi cao, không một bợn mây mà lại xanh mướt, xanh ngọt cả lòng. Thuở đó tôi đâu biết tả ra sao cái màu ngan ngát của buổi chiều đương chuyển sang đêm. Chỉ thấy nó lâng lâng đến nổi hồn nhỏ cũng muốn bay bổng. Rồi chiều lánh đi thư thả. Ðêm nhón chân tới, rất nhẹ. Rồi con sao thứ nhất bắt đầu ló ra. Cũng êm ru như đã ở đó tự bao giờ. Chớp lia chớp lịa như để nháy gọi nhau, một chút nhẻo thôi là không biết ở đâu mà sao đã rải ra đầy trời. Ðêm trước mắt bỗng lộng lẫy như tấm nhung đen đính hàng triệu kim cương hột mẳn đều như tấm, nhiều đến ngó không xuể. Có lần tính thử đếm chơi nhưng rồi cứ vuột khỏi mấy lần bàn tay nên chán bỏ. Nhưng mà lần nào cũng không quên ao ước hể thấy có một vệt sao băng. Mà rồi y như lần nào cũng trễ, thành ra không kịp có một lời nguyện nào cho tròn. Cho đến một lúc thằng bé chỉ chờ sao lên thôi cũng đủ. Mỗi vì sao như chiếc cầu vòng nhỏ xíu dắt nó vào một thế giới khác, thần tiên. Rồi càng lúc đêm sao lại càng nở ra, trùng trùng điệp điệp. Ðứa nhỏ, tấm lòng hả lớn đến hết cở như muốn hớp cả vào người cái cõi bao la và bí nhiệm đó. Nhưng mà lòng nó nhỏ quá, vũ trụ thì quả thật mênh mông. Có khi nó chảy nước mắt mà không biết vì sao.

Từ đó, bầy sao  cứ lấp lánh theo tôi như những cặp mắt dõi theo từ quê nội, nấn níu chờ tôi lớn lên ở thành phố, đợi có ngày yên ổn rủ tôi trở về làng. Nhưng rồi cái ngày đó không có nữa. Tôi bỏ quê đi thật xa, xa đến mất luôn một lúc cả trời sao trăng nước ở một xóm nhỏ bên bờ kinh Hòa Nghĩa.

Bởi vậy mà chừng nghe lời bạn rủ rê đi ngó sao ở một chỗ thật gần, tôi náo nức lắm. Vậy mà rồi không kịp. Cái chỗ rất gần sao đó không còn nữa. Buổi sáng ngày11 tháng 9 năm 2001, lòng căm thù của con người đã làm nó nổ tung. Hai tòa nhà cao cả trăm từng cùng với mấy ngàn sinh mạng nát ngứu ra thành bụi. Mấy triệu tấn sắt thép và thủy tinh cộng với tim óc của con người dựng đứng thẳng lên trời giữa lòng đảo Manhattan như một thách thức với thiên nhiên bỗng vỡ tan như cám vụn. Nó đã chống chọi với gió cuồng bão dữ không suy xuyển. Vậy mà lần này nó không chống nỗi với cơn bạo hành của ác tính. Phút chốc cả một khối sống hừng hực bỗng hư vô chẳng đáng một mảy may. Phút chốc lòng tin của tôi cũng thành ảo. Phút chốc cái có đó đã hóa không. Có. Không. Không. Có. Không tưởng tượng nỗi. Cái đầu vốn vẫn thường nghĩ xa tới ngàn ngày, nghĩ rộng tới ngàn dặm mà vẫn như không đủ tầm cỡ để chứa được cái chuyện vừa xảy ra. Làm như cái việc vừa xảy ra trước mắt là không thể có được. Tôi sững sờ đến bất động. Cả ngày tôi cứ ngồi dán mắt vào máy truyền hình, nhìn cảnh máy bay đâm thẳng vào cái khối sắt thép lừng lững đó, rồi lửa khói bùng lên và sau hết cái nấm bụi khổng lồ bùng ra như một cơn lốc dữ mà bàng hoàng đến ngớ ngẩn. Miệng tôi không nói ra được một lời. Không có một lời nào nói ra được sự kinh khiếp đó. Sự hung dữ đó. Sự mù quáng đó. Rồi cảnh người sống chạy chết. Cảnh gạch đá sắt thép văng bay tứ tung. Còi xe cứu thương kêu rú in ỏi. Khói bụi bốc trắng mù mịt. Tôi ngồi chết trân nhìn trực tiếp cảnh tàn phá điên dại từ bàn tay con người. Con người. Tuyệt phẩm của thượng đế. Con người. Tuyệt phẩm của ma vương. Con người. Quả tình tôi không hiểu nỗi. Tôi muốn tắt máy mà lại cứ để mở. Nhìn ngó đến hãi hùng. Ống kính truyền hình thu không sót một góc. Nhưng có một cảnh mà máy không thu được. Một cảnh thiếu mất thốt nhiên nghĩ tới làm tôi hốt hoảng, chết điếng. Cùng một lúc, chớp mắt, mấy ngàn người tiêu ra tro bụi. Cùng một lúc, mấy ngàn người mới đó bỗng hư không. Một người cha, một người mẹ, một người con, một người tình... mới sáng đó còn hăm hở thức dậy sửa soạn ra đường, lái xe, đi métro, xe bus tới sở làm. Một tiếng đồng hồ trước đó còn hăm hở bước vào thang máy, cười với người quen này, nói đùa với người quen nọ. Nửa tiếng đồng hồ trước đó còn hăm hở ngồi vào bàn giấy, vừa đưa tay mở máy com-pu-tơ vừa bấm điện thoại gọi đến tiệm hoa nhắn gởi mấy cánh hồng cho người bạn gái. Năm phút trước đó còn vừa mở xấp hồ sơ vừa nghĩ đến bữa cơm chiều với vợ và bầy con nhỏ. Một phút trước đó còn vừa lau sàn nhà vừa nghĩ đến số tiền sẽ gởi cho bà mẹ ở một xứ Á xa xôi... Vâng cái cảnh thiếu sót trong mấy bản tin quá đầy đủ đó nó chỉ có trong đầu tôi thôi liền khi tòa nhà thứ nhất sụp xuống. Rồi tòa nhà thứ hai sụp xuống. Bỗng chốc. Xương thịt. Tro than. Cái cảnh không ai thấy được mặc dù đã xảy ra sờ sờ, cùng lúc với khi mũi phi cơ tiếp giáp với khung sắt thép, cùng lúc với tiếng nổ của hàng trăm tấn dầu, cùng lúc với lòng thù hận biến con người thành thú dữ. Cái cảnh không có trong phim ảnh bởi vì không có máy nào chụp được nhưng nó thật sự có đó, có đó rõ ràng giữa hiện trường, càng lúc càng lớn ra, càng lúc càng lớn ra, lớn đến khủng khiếp. Cái chỗ trống hoang bỏ lại của mấy ngàn nhân mạng mất đi cùng một lúc. Cùng một lúc thất tung. Cùng một lúc biệt tích. Cùng một lúc tan tành. Thịt xương. Niềm tin. Hy vọng. Cái khoảng trống im ỉm của pháp trường sau khi bọn đao phủ đã bỏ đi. Cái khoảng trống điêu tàn của mặt đất không còn người ở. Cái trống hoác ghê rợn nổi lên ngay sau khi lớp tro than đã lắng xuống. Không còn gì nữa. Có còn lại chăng là cái Trống Không khủng khiếp.

Có còn lại chăng, những ngày sau, là cái không vô cùng vô tận trong lòng tôi, trong lòng mọi người.

Mấy ngày sau, tôi thấy lại cái khoảng trống đó trên đường phố của một Nữu Ước thất thần, lơ láo trên những nến, hoa và nước mắt. Và đặc biệt trong những tờ giấy viết tay nhắc một cái tên, những tấm hình nhắc một khuôn mặt, những tiếng kêu thất thanh toát ra từ cặp mắt lặng lẽ của một người vợ tìm chồng, trong tia nhìn lạc lõng của một đứa con tìm mẹ, trong hai bàn tay bưng đầu bất lực của người lính cứu hỏa ngồi bệt xuống bên đường mếu máo, trong tiếng kèn đồng sầu thảm của người da đen vừa thổi vừa khóc khi chiều xuống ở một góc công viên... Cái khoảng trống lớn ra hoài không chặn lại được. Và sẽ còn lớn ra nữa. Một tháng sau. Một năm sau. Nhiều năm sau nữa...

Bởi vì sau buổi sáng tàn khốc đó, tôi biết trong tôi sẽ chỉ còn lại niềm tuyệt vọng.

Tôi bỏ xứ ra đi hai mươi năm, sống lây lất ở xứ người như một thân chùm gởi. Tôi bỏ trời sao của tôi lại cho một lũ điên khùng chưa bao giờ biết trời sao là ân huệ của thượng đế. Tôi xa xứ mà lòng cưu mang từng chuyện thương tâm hai mươi mấy năm trước. Những chuyện thương tâm chưa bao giờ kể đủ về những đọa đày gây ra bởi sự cuồng bạo của mê muội. Tôi đi mà cầu trời khẩn phật cho có ngày đất nước tôi sáng lán, người ở quê tôi tìm lại được tình thương và niềm tin cậy giữa người và người. Tôi chờ mà cứ sợ không còn dịp.

Giao thừa năm trước, cả hoàn cầu mở hội hoa đăng đón kỷ nguyên mới. Người ta nắm tay nhảy múa ca hát, ôm nhau hôn mừng giữa trời đất mới nguyên. Dường như có một lúc tôi thấy mọi người đều hớn hở, tin cậy, nhiệt thành, lòng mở ra vượt quá biên cùng của lề thói hẹp hòi, của nhỏ nhoi và hèn mọn, của thù oán và ghét bỏ, của hiềm khích và đuổi xua, của phân chia và chấp nhất, của lừa đảo và phản trắc... Có lúc sao tôi thấy dường như ai nấy cũng thân ái, nồng nàn, độ lượng, khoan dung... Ai nấy cũng sẵn sàng chín-bỏ-làm-mười. Mọi tiếng nói đều cười tiếng cười giống nhau. Mọi màu da đều mừng nỗi mừng giống nhau. Và như vậy nghĩa là mọi tiếng khóc cũng giống nhau như hệt, mặc kệ đen vàng trắng đỏ, mặc kệ nam bắc đông tây, mặc kệ tư bản cộng sản, mặc kệ chúa, phật, hồi giáo, bà la môn giáo, ấn độ giáo ... gì gì nữa cũng chỉ là một. Chỉ có một tiếng khóc cho nên chỉ có một niềm vui. Cái này, cái kia, cái nọ chỉ có trong đầu óc giặc giã của ta. Kẻ này, kẻ kia, kẻ nọ chỉ có trong cặp mắt loạn lạc của ta. Chớ thật ra tất cả chỉ là MỘT. Cái một tròn trịa nguyên vẹn. Cái một hồng hào hạnh phúc. Cái một lấy CON NGƯOI làm đấng cứu thế. Lấy con người làm đối tượng cho cuộc cứu rỗi. Cho con người và vì con người. Không còn chủ nghĩa tôn giáo chỉ còn con người. Không còn biên giới chủng tộc chỉ còn con người. Sẽ không còn diệt chủng ở Rwanda. Sẽ không còn thảm sát ở Kosovo. Sẽ không còn chôn sống ở Huế... Pháo bông bắn lên cao vút, lời nguyền bay lên cao vút, vụt khỏi mấy tầng mây, sáng át cả mấy chòm sao sáng nhất. Tôi thấy tôi trẻ lại. Và hy vọng. Và hứng khởi. Và tin tưởng. Kỷ nguyên mới. Kỷ nguyên của văn minh, của tiến bộ, của nhân ái. Những vòng tay cứ mở ra, mở rộng ra đến vô chừng tưởng như ôm giáp cả vòng lưng của địa cầu, ôm hết cả vòng eo của nhân loại. Tôi mừng như gặp lại tấm lòng " con đỏ " mà Lão Ðam đã mơ ước một đời. Biết đâu đất nước tôi cũng có cơ theo giòng vận hội mới... Tôi hào hứng đến nỗi làm được cả thơ vui...Tim sẽ cùng tim nối nhịp liền. Mắt bồ câu thoáng hiện nhơn duyên. Em xiêm áo mới quàng vai chị. Ðón gió ngàn năm kỷ mới nguyên.

Nhưng rồi xiêm áo đó rách bươm buổi sáng tháng chín này. Cái vòng tay khít liền đó gãy vụn ra, tan nát. Người của thế kỷ hai mươi mốt giống y như người của thế kỷ hai mươi, giống y như người của thế kỷ thứ nhứt, thứ mười, thứ mười lăm, giống y như thời của pháp đình tôn giáo với giàn hỏa, giống y như thời "thánh chiến " đẩm đầy máu Jésus và Allah. Lịch sử chỉ quay vòng vòng như trò chơi rồng rắn. Và con người thì vẫn đắm chìm trong ngu tối, dốt nát và thù hận. Ðã từ bao lâu, con người thôi ăn lông ở lỗ nhưng đâu thôi suy nghĩ và hành động như cái thời còn ở trong hang động. Chúa, Phật, Allah chắc cũng chỉ biết ngậm ngùi.

Hành động sát nhân một cách tỉnh táo của cái đám gọi là " tử vì đạo " đó làm tôi bần thần dã dượi suốt mấy ngày. Ðúng ra ai cũng có quyền dành cho mình một cái chết để phục vụ cho lý tưởng đã chọn. Nhưng lý tưởng nào để biện hộ cho việc lạnh lùng kéo nhập cục cùng một lúc mấy trăm người đồng hành và ngàn ngàn người vô tội khác vào chỗ chết một cách thảm khốc như vậy. Nhân danh - lại nhân danh! - một chủ nghĩa một niềm tin của người này để cướp lấy quyền sống của người khác có phải là phương thế để xây dựng một thế giới hoà bình, công bằng và bền vững?  Có thượng đế nào chứng nhận được việc đó. Có cứu cánh nào biện minh được cho phương tiện cùng hung cực ác như vậy. Và nếu việc làm đó để nhằm vinh danh một phần nhân loại thì chắc cũng phải vì nhân loại mà phủ nhận sự vinh danh đó.

Nhiều ngàn năm rồi không đủ cải hóa con người. Thú tánh vẫn còn đó. Những thông điệp kêu gọi cảm thông, vị tha, hòa đồng cứ bay lượn đầy trời như những đàn bồ câu trắng. Và vẫn tiếp tục bay lượn hoài trong sự lãnh đạm trơ lì. Con đường đi xuống địa ngục gần nhất vẫn còn là con đuờng đi qua lòng người. Lời nguyện đêm giao thừa giữa hai thế kỷ có thay đổi được gì đâu. Con người vẫn là kẻ thù nguy hiểm nhất của chủng loại. Có dấu hiệu nào đâu để tôi còn mơ ước cho quê hương?

Những đêm như đêm nay, ở thành phố đó sao vẫn mọc đầy trời. Nhưng còn chỗ nào gần nhất để tôi leo lên vói bắt ước mơ tôi.

 Cao Vị Khanh

_____________________________________________________

Thơ văn

CAO VỊ KHANH

 

Montreal, Canada

CHS PTG-CGS Nguyễn Trung Trực, Rạch Giá

____________________________________________________

 

 

               đọc thơ Tô Thùy Yên

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

                                                                                                           Edvard  Munch                                                                                                                                                                                

 

 

Tô Thùy Yên-Tôi giựt giành đổ máu với tôi

Từng chữ một.

 

Tôi đọc truyện ngắn của Tô Thùy Yên khi còn đâu ở trung học, những năm sáu mươi. Lớp mấy cũng chẳng nhớ. Truyện có tựa gì cũng đã quên luôn. Cái điều chưa quên là lúc đó, cuộc chiến tranh khốn nạn do những người cộng sản phát động chỉ mới vừa manh nha dù đã âm ỉ từ lâu ở Mạc Tư Khoa, Bắc Kinh ... Nay có tin một ông xả trưởng ở làng xa đêm qua vừa bị ám sát. Mai báo đăng quốc lộ số 4 bị đắp mô đâu ở khoảng Cai lậy, Cái bè. Mốt nghe tin một đồn dân vệ ven biên vừa bị mấy tên du kích vác oảnh-tầm-xào bắn phá lốc chốc mấy phát rồi bỏ chạy. Còn nhớ chắc thêm một điều, truyện được đăng trên tạp chí Hiện Đại của Nguyên Sa, vừa bỏ Paris với khói sóng sông Seine trở về Sài-gòn, đem hương thơ và hơi văn mới thổi phà vào sinh hoạt văn học của miền Nam thuở đó. Mười mấy tuổi chớ gì. Cái tuổi ăn chưa no lo chưa tới. Vậy mà ngay lúc đó, truyện đã nhéo vào cái bộ nảo non xèo của tôi một cái nhéo đau nhói. Rồi nhớ hoài.

Đâu như là ...

... trên một chuyến xe đò liên tỉnh miền đông chạy xuyên qua những cánh rừng lá im ỉm, hành khách bị nhốt kín trong lòng chiếc xe ọp ẹp hẵn không có chuyện gì làm ngoài chuyện ngủ gà ngủ gật vì tiếng máy chạy rì rì ( hoặc là vì chuyến xe đi quá sớm hay về quá trễ ? ), có thể cộng  thêm một nỗi lo lắng vu vơ nào đó ... thì bị một đám du kích nhào ra chặn lại xét hỏi để hoạch họe tuyên truyền. Hành khách nam nữ lão ấu gái trai già trẻ lớn bé gì cũng bị lôi tuốt xuống xe, sắp thành hàng lối, để cho quí-vị-núp-trong-quần-chúng ... ló mặt ra xăn quần, xắn áo, lận dao găm hay xách mã tấu hoặc dậm thêm vài khẩu súng xưa mốc thếch vốn đã được chôn giấu ngay từ khi có lệnh tập kết ... điểm mặt xem tên. Rồi, y như ba đời đã là cán-bộ-chính-trị-viên-có-ba-tăng dấm dẳn lên lớp để dọ dẫm dụ dỗ dày vò ... thả dàn cái đám con dân hiền lành ngu ngơ, gồng gánh đi buôn hàng bán lẻ kiếm ăn hay đi thăm bà con chòm xóm. Kiểm soát như vậy nghĩa là ai nấy phải xuất trình tấm thẻ căn cước. À, tấm thẻ căn cước ! Thuở đó, người ta từ mười tám tuổi trở lên, bất kể nam nữ, ai nấy đều lận trong người một tấm thẻ căn cước, ghi rõ tên tuổi, năm sanh tháng đẻ, số nhà, nghề nghiệp ... như một minh chứng cho sự có mặt hợp pháp của mình trong một đất nước mới được yên ổn mấy năm đang rục rịch ... trở lại bất ổn. Chính phủ hợp pháp đòi như vậy. Mà cái đám làm loạn với súng ống và dao găm lăm lăm trong tay cũng đòi hỏi như vậy. Dĩ nhiên với hai mục đích khác nhau. Nếu đối với phía thứ nhất, tấm căn cước là một bảo đảm cho sự lương thiện và tin cậy của người cầm thẻ, thì đối với phía đối nghịch, miếng giấy cứng có bọc nhựa đó có thể sẽ là bản cáo trạng hùng hồn để họ hùng hổ lôi đương sự vào rừng, vào bưng hoặc để giam giữ hoặc để đâm, chém, bắn giết hay bỏ vô bao bố thả trôi sông, tùy ý. Ờ thời buổi đó, tấm thẻ căn cước quan trọng sinh tử đến vậy.

Và cũng vì vậy, để bảo đảm an ninh cho những người làm việc dưới quyền mình, chính quyền thuở đó còn cấp thêm cho họ một loại thẻ căn cước thứ hai, thẻ căn cước dân sự. Nhất là đối với những người phục vụ đất nước trong những phạm vi liên quan đến hành chánh và quân sự. Tấm thẻ căn cước dân sự đó như một chiếc mộc che đỡ cho họ những nguy hiểm chực chờ như buổi sáng hôm đó hay buổi chiều hôm đó ...

Và như vậy, truyện kể ...

Đám hành khách khốn khổ đó bị lùa xuống xe, xếp hàng ... để chờ khám xét. Mọi người nhốn nháo. Lo lắng. Bồn chồn. Mỗi người một bộ mặt, một con tim, một bộ quần áo, một gia đình cha mẹ vợ con anh chị em, một người tình ... mỗi người một thân phận, một hoàn cảnh, một đắn đo  ... và ... một tấm thẻ căn cước. Nhưng chắc chắn chỉ có duy nhất một nỗi lo. Lọt vào tay cái đám sát nhân giả dạng người yêu nước.

Truyện kể tiếp ...

Vậy rồi từng người một bị xét hỏi, từng người một phải trình ra tấm thẻ căn cước, với hình ảnh, tên tuổi, ngày sinh, tháng đẻ, nghề nghiệp ... dưới những mũi súng hung hăng đang chỉa vào họ và chực chờ lảy cò. Người thứ nhất, người thứ hai, người thứ ba ... Mọi việc diễn ra suông sẻ. Không có ai là ngụy quân ngụy quyền, ác ôn ba đầu sáu tay, không có ai là tay-sai-mỹ-ngụy. Từ cụ ông đến người trai trẻ. Từ con gái đến đàn bà. Ai nấy đều không có tội-tổ-tông. Mẻ lưới tung ra như lọt vào chỗ không. Lúc đó, mặt trời đang mọc hay mặt trời đang lặn, thú thật, loay hoay qua cái chằng chịt của mớ trí nhớ rối mù, tôi không chắc, nhưng hề chi, mặt trời mọc hay mặt trời lặn, bởi vì rạng đông hay tà dương, thì những tia sáng chói lòa đó vẫn bung ra từ một cõi mênh mông, vượt khỏi cõi người trần thế.

Vâng, ngay lúc đó, khi những tia sáng đầu tiên - hay cuối cùng - của mặt trời vừa hắt lên thì bỗng một tiếng hét vuột ra khỏi cửa miệng của tên trưởng toán gian hiểm. Nghiêm. Một tiếng hô “nghiêm” bỗng dội ngược vào tai đám đông đang còn đứng lố nhố như một bầy tử tội khi không rồi được ân xá.  Ngay bon lúc đó, hay một tích tắc sau đó, có tiếng đôi giày da của ai đó chập vào nhau, sắc và gọn. Như tiếng giày saut chập vào nhau khi ... người lính nghe quân lệnh của thượng cấp. Cái thế đứng nghiêm, hai tay buông thỏng ép sát vào thân, hai chân chập lại, mặt ngẩng lên, cằm giương thẳng ... vừa như tuân thủ mà vừa như biểu lộ một sự tự chủ tuyệt đối. Cái thế “nghiêm” trong bài thao diễn cơ bản mà người lính đã học và tập bao nhiêu lần từ khi khoác vào đời trai bộ quân phục. “Nghĩ “. “Nghiêm“. Ôi cái huấn lệnh nghe đi nghe lại đến nhập tâm. Và trở thành cái phản xạ của bất cứ một người trai nào đã mang nghiệp lính vào thân.

Vâng, buổi sáng đó -hay buổi chiều đó -, bên bìa một khu rừng hiểm hóc, một người trai miền Nam, một người lính miền Nam, trên chuyến xe về phép, thăm cha thăm mẹ, hẹn hò người yêu ... , người lính trẻ mặc bộ đồ dân sự, cầm tấm thẻ căn cước dân sự ... đã đối mặt với định mạng, trực diện, rồi ngang nhiên chấp nhận cái số phận như một chọn lựa của ý thức, đánh đu tính mạng mình lên sợi giây sinh tử. Trong cái giây phút bất ngờ, bất chợt, bất định đó ... anh đã sống đúng phốc cái bản chất của người lính với tất cả vinh quang và tủi nhục của nó, với mọi bất trắc của một người con trai đi gánh vác chuyện nước non. Và ... chuyện phải đến đã đến. Toán du kích hí hửng như bắt được vàng, chỉa súng xúm lại ...

 

Mấy chục năm đã qua, làm sao tôi còn nhớ được lời văn, câu chữ ... Vậy mà tôi vẫn nhớ, cái tình huống mà tác giả đã dựng lên khi người con trai bị bắt trói bởi đám người cuồng tính. Lạnh như tiền. Vững như đồng. Khi đã biết chắc số phận mình, nhân vật chính, người con trai, người lính trẻ vẫn ngẩng cao mặt, thân thẳng, vai ngang, mắt quắc ... Ngay lúc đó, chính lúc đó, mặt trời, chính mặt trời với chùm sáng ngạo nghễ hắt lên mặt anh vừng hào quang lóng lánh nhất. Tôi nhớ, ngay lúc đó, tôi đã rùng mình. Ngay lúc đó hình ảnh con chó sói của Alfred de Vigny bỗng chồm lên trong trí. (*) Người thanh niên, dáng thẳng, mặt lạnh, lời câm. Cái hình ảnh mà tác giả dựng lên khốc liệt đến làm há hốc miệng mà không kêu ra lời.

 

Mãi nhiều năm sau, tôi mới tìm ra được chữ để gọi cái giây phút kết thúc đó. Bi tráng. Quả tình bi tráng. Bi đát một cách hùng tráng. Có mâu thuẩn không. Không. Đó là một bi kịch với một kết thúc táo bạo đến rùng mình. Và đẹp lẫm liệt như một thần thoại Hy Lạp.

 

Vậy rồi, đến chừng lên đại học, lại được đọc thêm thơ của ông. Những bài thơ tự do, thơ năm chữ, bảy chữ ... Chữ nghĩa vạm vỡ. Ẩn dụ minh mông. Hình tượng lẫm liệt. Đọc xong cứ như vừa chạy băng đồng. Thở dốc. Hụt hơi ... Mà rồi lại muốn bắt đầu một cuộc băng đồng mới. Đọc rồi như có điều gì muốn nói. Mà rồi lại ngậm câm. Chữ của ông như tẩm thuốc mê. Đọc xong rồi ú ớ. Có điều mãi mãi tôi vẫn muốn viết về thơ của ông. Thơ Tô Thùy Yên. Mà viết về cái gì. Chữ Nghĩa của ông ? Thứ chữ nghĩa tự nó đã biện minh cho sự hiện hữu phi thường của nó. Mỗi chữ đã là một giá trị tự thân. Tự nó. Chính nó. Nói gì thêm cũng chỉ là phù phiếm. Ý tưởng của ông ? Thứ ý tưởng lồng lộng như mây giông đầu hạ, giậm giựt bao nhiêu là sấm sét chỉ chờ dịp cựa mình. Như vậy thì viết làm sao cho ráo, bắt làm sao cho kịp những tia chớp, nháng lên từ những liên tưởng xảo diệu và ẩn mật đến sững sờ.  Vậy mà sao tôi lại dại dột loay hoay hoài với những bài thơ, những câu thơ, những vần những điệu, những chữ mà ý nghĩa của từng chữ từng câu cứ chực trào ra khỏi cái khuôn đang cầm giữ nó. Câu hỏi cứ lẩn quẩn trong cái đầu rối mịt của tôi. Đã lâu, lâu lắm ! Rồi bây giờ, mấy mươi năm sau. Sao vẫn cứ ý nguyên cái thắc thỏm như chính mình đã để lỡ một hẹn thề.

Từ những năm 60, 70, 80, 90 ... của thế kỷ trước, rồi vụt sang thế kỷ khác, những năm 2000, khi thân xác đã có chừng mệt mõi mà trí óc thì vẫn lùng bùng y nguyên thời còn trẻ, mỗi khi đọc lại thơ ông.

 

Thi sĩ Bắc Nam đều chết rạp

Ba trăm năm lịch sử làm thinh

 

Đủ chưa, hai câu thơ đó. Hai câu thơ đọc lúc trai trẻ đã muốn rùng mình. Bây giờ, vài mươi năm sau, đọc lại vẫn nguyên cái cảm giác choáng ngộp của Trần Tử Ngang khi leo lên chót đỉnh U Châu đài mà ngẫm nghĩ chuyện nhân sinh. Niệm thiên địa chi du du. Độc thương nhiên nhi lệ hạ. Thi sĩ có phải là bậc tiên tri thấu thị. Thơ làm từ năm 72. Vậy sao đọc lên lại thêm cái cảm giác hãi hùng khi nghĩ tới bước chân của lịch sữ đã và đang dẫm lên số phận của người Việt, nhất là từ khi người cộng sản dẫm đạp bằng những bước chân thô bạo lên cái dòng sinh mệnh của dân tộc. Hai câu thơ, 14 chữ, gọn bâng mà sao nghe rổn rảng tiếng trì chiết rủa xả, lời đay nghiến, giọng kêu thương của lớp lớp biển dâu, của trùng trùng oan khuất, của núi xương vô định, của mồ mã vô danh ... 

Làm thinh. Chữ nôm na mà nghĩa trầm thống. Chữ tĩnh mà nghĩa động thốn tâm. Thử đọc lên hai chữ làm thinh, làm thinh là làm thinh, là ngậm miệng, là nuốt tiếng ...  nhưng sao như nghe vọng lại từ đó bao nhiêu tiếng kêu gào rên siết, tắt nghẹn trong cổ họng ... của đám dân đen mỗi lần thay ngôi đổi chúa, của sông Gianh cắt lìa ruột thịt, của Bến Hải nước tẻ hai dòng, của đường 13 pháo chùm pháo chụp, của đường số 1 con bú xác mẹ, của đảo Ko Kra trinh tiết dập vùi, ... của từng đám tù nhân không-danh-số lê lết qua những trại giam ngụy trá. Lịch sử làm thinh hay chính lòng người ngoảnh mặt làm ngơ, bịt tai bịt mắt trước những lộng hành của cái ác. Từ khi nào thơ không còn là hoa trái của cuộc đời và người làm thơ bị coi là đồ thừa thải, bị giam cầm hay bắn giết, mặt đất này chỉ còn là sa mạc, thứ sa mạc làm khô khốc lòng người. Rồi ra, thơ chỉ còn là tiếng dội của vô vọng, là lời của vô ngôn, là mặt thật của vô cùng để lần cuối biểu dương cùng tận cái vinh dự lầm than của kiếp người ...

Vinh dự lầm than của kiếp người ?

Cái nghĩa nghịch lý của câu thơ đã đủ để biểu lộ cho con-mắt-trông-thấu-cả-sáu-cõi-tấm-lòng-nghĩ-suốt-cả-nghìn-đời (**) của bậc-vương-tôn miền-trí-tuệ chưa ! Lời thơ như sóng cuộn ì ầm mà dội lại tiếng vô thanh, vô thanh của vô cùng vô tận, như vẽ ra rồi lại xóa đi từng bức tranh vân cẩu, như mở ra rồi đóng lại cái vòng lẩn quẩn loay hoay của cuộc lữ miên trường. Mỗi câu thơ là một vấn nạn. Nhưng ... Thiên hà ngôn tai . Trời đất có nói gì đâu .

Và rồi tất cả sẽ nguôi ngoai  ?!

 

Rồi tất cả sẽ nguôi ngoai ...

Đã có lúc, làm thơ như dấn thân vào một cuộc đuổi bắt với vô vọng ... Mọi thắc mắc siêu hình vốn dĩ là cách thức ngạo mạn của kẻ chơi đùa với chữ nghĩa. Nhưng khác với lối đua đòi làm dáng, Tô Thùy Yên đã xua thơ mình chạy mút tới tận cùng để giáp mặt cái Cùng Tận đó, cái Vô Hạn đó, cái Hư Không ! Thơ sung mãn như cái hùng tâm truy lùng chân lý. Và vì vậy, ông đã gặp, tôi tin vậy. Bạn có nghe, này bạn có nghe. Vũ trụ miên man chuyển động đều. Chim đã bay quanh từ vạn cỗ. Gió thật xưa, mây thật già nua. Nên với một đời, bao biến đổi. Mà trong vô hạn có gì đâu. Bài thơ, những bài thơ làm trong giai đoạn này không ghi ngày tháng –mà thật sự có cần ghi ngày tháng không. Cái điều rõ ràng là người làm thơ chưa già mà thơ đã cỗi, cỗi như cả cái vũ trụ vô sở vô trú, cả cái dòng thời gian vô thủy vô chung, trùng trùng, điệp điệp ... Và tôi hiểu tại sao Trần Tử Ngang chảy nước mắt, tại sao Tô Thùy Yên sau khi đã mòn gót chân sương nắng tháng năm đã có lúc cũng phất phơ chéo áo đường thiên cổ, nước mắt hồng tuôn đến đá mòn.

Rồi sao nữa ? Rồi  là ... đáo bỉ ngạn !

Từ đó là thái độ tri kỷ tri bỉ, biết điều như mọi kẻ biết-điều nhất trần gian. Vạn vật giai bị ư ngã, phản thân nhi thành, lạc mạc đại yên.  Hề, ta trở lại gian nhà cỏ. ... Ở đây ta có dăm người bạn. Phúc tự tâm, không lý đến đời. Ở đây ta có dăm pho sách. Và một dòng sông, mấy cụm mây. Hạnh phúc ở đâu mà lặn lội dang thân. Hạnh phúc trần gian ở đâu hay ở chính lòng ta đó. Dòng sông u hiển trôi vô lượng. Dòng sông hiền triết chảy vô tâm. Mà ta ngưỡng vọng như sư phụ. Mà ta thân thiết tựa tri âm ... Quên quên, nhớ nhớ tiền sinh kiếp. Thiên cổ mang mang thế sự nhòa. Trận lốc cười tròn trên quá vãng. Ta làm lại cả tâm hồn ta ... Ờ vậy thì còn tiếc gì mà không về ...

Tưởng tượng ta về nơi bản trạch ! Còn gì vui bằng khi mọi điên đảo của thế sự quanh quanh không còn đảo điên giữa lòng ta. Đó có phải là quê-nhà 

của mọi gã đãng tử sau cuộc tuần du bất tận. Với khám phá diệu kỳ : rồi tất cả sẽ nguôi ngoai

Rồi tất cả sẽ nguôi ngoai !

Nhưng rồi có thật sự tất cả sẽ nguôi ngoai hay vẫn bất tận nỗi đời hung hãn đó như chính ông đã mường tượng, một ngày.

 

Những năm 70, chiến tranh bùng lên dữ dội. Súng đạn hung hăng, lòng người hung bạo. Qua sông. Đò nghẹn đoàn quân xa tiếp viện. Mưa lâu, trời mốc, buồn hôi xưa. Con đường đáo nhậm xa như nhớ

 

Xa như nhớ. Trời ơi làm sao đo được cái khoảng cách ở hai đầu một nỗi nhớ mơ hồ. Xa như nhớ. Hoán dụ đến nỗi không còn tính được bằng cây số bởi dặm trường có ở đâu xa. Dặm trường ở ngay chính lòng ta đó. Tuyệt. 

Bộ mặt chiến tranh được vẽ ra bằng đường nét tự tại. Không lớn lối cũng chẳng e dè. Không thêm không bớt. Mà nghe ra như đã sầu đâu từ thiên cổ hận... Nao nao mường tượng bóng mình. Mịt mùng cõi tới, u minh tiếng rền. Xuống đò, đời đã bỏ quên. Một sông nước lớn trào lên mắt ngời.

 

Dĩ nhiên giấy bút làm sao tả cho hết cái bi kịch mà mỗi vai trò chỉ thoáng hiện thoáng mất như những chiếc bóng vật vờ, nhân vật chỉ còn là cái cớ. Diễn trường chính yếu là cái khoảng không còn lại, cái khoảng trống không sau khi vai diễn đã biến mất, mọi tiếng động đã bặt im. Cái còn lại là cái không-còn-gì, không-có-gì. Cái còn lại sau những cuộc tranh giành, dù thắng dù thua, cái còn lại chính là cái im ỉm của thiên địa trơ trơ, của thánh thần lánh mặt, của mất còn còn mất chỉ là hai mặt sấp ngửa của đồng tiền quay tít rồi ... bật ngửa ra, bất kể. Em chạy tìm anh ngoài cõi gió. Lửa oan khốc giỡn cười ghê hồn. Tiếng kêu đá lở long thiên cổ. Cát loạn muôn trùng xóa dấu chôn

 

Trên bối cảnh của một cuộc vật lộn giữa tử sinh không hồi ngưng nghỉ, thơ như một cầu cơ giáng bút. Điều gì khiến ông làm Trường Sa Hành. Trường Sa hay Hoàng Sa ? Ai biết ! Đọc thử hết trọn một bài của Tô Thùy Yên để thấy cái điên đảo của chữ nghĩa, cái lồng lộng của ý tưởng ...

 

Trường Sa Hành

Toujours il y eut cette clameur,
                          Toujours il y eut cette fureur...
                          Saint-John Perse

Trường Sa ! Trường Sa ! Ðảo chuếnh choáng
Thăm thẳm sầu vây trắng bốn bề
Lính thú mươi người lạ sóng nước
Ðêm nằm còn tưởng đảo trôi đi

Mùa Ðông Bắc, gió miên man thổi
Khiến cả lòng ta cũng rách tưa
Ta hỏi han, hề, Hiu Quạnh Lớn
Mà Hiu Quạnh Lớn vẫn làm ngơ

Ðảo hoang, vắng cả hồn ma quỷ
Thảo mộc thời nguyên thủy lạ tên
Mỗi ngày mỗi đắp xanh rờn lạnh
Lên xác thân người mãi đứng yên

Bốn trăm hải lý nhớ không tới
Ta khóc cười như tự bạo hành

Dập giận, vác khòm lưng nhẫn nhục
Ðường thân thế lỡ, cố đi nhanh

 

Sóng thiên cổ khóc, biển tang chế
Hữu hạn nào không tủi nhỏ nhoi ?
Tiếc ta chẳng được bao nhiêu lệ
Nên tưởng trùng dương khóc trắng trời

Mùa gió xoay chiều, gió khốc liệt
Bãi Ðông lỡ mất, bãi Tây bồi
Ðám cây bật gốc chờ tan xác,
Có hối ra đời chẳng chọn nơi ?

Trong làn nước vịnh xanh lơ mộng
Những cụm rong óng ả bập bềnh
Như những tầng buồn lay động mãi
Dưới hồn ta tịch mịch long lanh

Mặt trời chiều rã rưng rưng biển
Vầng khói chim đen thảng thốt quần
Kinh động đất trời như cháy đảo
Ta nghe chừng phỏng khắp châu thân

Ta ngồi bên đống lửa man rợ
Hong tóc râu, chờ chín miếng mồi
Nghe cây dừa ngất gió trùng điệp
Suốt kiếp đau dài nỗi tả tơi

Chú em hãy hát, hát thật lớn
Những điệu vui, bất kể điệu nào
Cho ấm bữa cơm chiều viễn xứ
Cho mái đầu ta chớ cúi sâu.

Ai hét trong lòng ta mỗi lúc
Như người bị bức tử canh khuya
Xé toang từng mảng đời tê điếng
Mà gửi cùng mây, đỏ thảm thê.

Ta nói với từng tinh tú một
Hằng đêm tất cả chuyện trong lòng

Bãi lân tinh thức âm u sáng.
Ta thấy đầu ta cũng sáng trưng

 

Ðất liền, ta gọi, nghe ta không ?
Ðập hoảng vô biên, tín hiệu trùng
Mở, mở giùm ta khoảng cách đặc
Con chim động giấc gào cô đơn

 

Ngày. Ngày trắng chói chang như giũa
Ánh sáng vang lừng điệu múa điên
Mái tóc sầu nung từng sợi đỏ
Kêu dòn như tiếng nứt hoa niên

 

Ôi lũ cây gầy ven bãi sụp
Rễ bung còn gượng cuộc tồn sinh
Gắng tươi cho đến ngày trôi ngã
Hay đến ngày bờ tái tạo xanh

 

San hô mọc tủa thêm cành nhánh
Những nỗi niềm kia cũng mãn khai
Thời gian kết đá mốc u tịch
Ta lấy làm bia tưởng niệm Người

 

Đọc lên thành tiếng. Trường Sa ! Trường Sa ! Đảo chuếch choáng. Thăm thẳm sầu vây trắng bốn bề ... Mùa Đông Bắc, gió miên man thổi. Khiến cả lòng ta cũng rách tưa. Ta hỏi han, hề, Hiu Quạnh lớn. Mà Hiu Quạnh lớn vẫn làm ngơ ...

Tôi sẽ nói gì thêm. Đã hỏi rồi. Đã nói rồi. Hiu Quạnh Lớn có nói gì đâu. Thiên địa bất nhân dĩ vạn vật như sô cẩu. Trời đất bất nhân coi vạn vật như chó rơm. Đã vậy thì còn gì để nói thêm ?

Còn. Còn rất nhiều điều để kể.

Đầu tiên ta kể về im lặng

Mà ý chừng kể để Hư Không nghe

Hư không, hư không có nghe không ? Có nghe Mùa hạn rên siết. Ở đây địa ngục chín tầng sâu. Cả giống nòi câm lặng gục đầu. Cắn chết hàm răng, ứa máu mắt. Chung xiềng nhưng chẳng dám nhìn nhau. Không nhìn nhau nhưng không phải không có gì để nói với nhau. Hay lắm khi im lặng còn nói được triệu lần hơn điều được nói.

Thơ Tô Thùy Yên có triệu điều để nói. Tuy nhiên giọt nước mắt ứa ra ít mặn hơn giọt nước mắt nuốt ngược vào lòng.

Thơ Tô Thùy Yên đọc thầm hay đọc ra rả cho át tiếng sóng vỗ ngoài biển lớn đều như nhau. Cả hai cách đều dội ngược vào người đến nghe đau mềm phế phủ. 

 

Thơ của ông như vậy là như vậy. Y như Hiu Quạnh Lớn. Còn nói nỗi gì. Còn viết thêm chi. Có làm rộn tai. Có làm xốn mắt. Mà sao vẫn cứng đầu cứng cổ mà run tay muốn nhắc muốn nói muốn viết. Mà viết cái chi. Khi mọi sự đã an bày. Hiu Quạnh Lớn có nói gì đâu. Có gì để nói đâu. Hay tại lớn đến choáng ngộp nên làm miệng ú ớ, tay cứng, chữ cùn ... Hay nói đại, nói bất kể, thơ Tô Thùy Yên ... Nói về chuyến Tàu đêm chở tù chạy như một cơn giông lửa ròng rã từ Nam ra Bắc, qua trùng trùng oan khuất. Tàu đi như một cơn điên đảo. Sắt thép kinh hoàng va đập nhau. Ta tưởng chừng nghe thời đại động. Xô đi ầm ỉ một cơn đau ... Con tàu chạy ngược, suốt con đường sắt xuyên Việt như trở ngược giòng lịch sử, từ văn minh trở lại man rợ, từ yêu thương trở lại thù hằn, từ khoan dung trở lại hẹp hòi, từ chân thành trở lại gian trá.

Muốn nín nhưng đọc thơ lòng như lửa đốt. Có gì cháy âm ỉ giữa lòng ta. Có gì cháy hừng hực giữa đầu ta. Lửa bắt từ xác chữ dị thường, cháy lan theo đường gân sớ thịt, nung đốt ý tưởng rồi làm tro than mọi ý tưởng. Vậy mà vẫn níu chữ chạy theo trối chết, để được tới nơi, cùng lúc với ông. Bởi vậy vẫn viết cho cố xác mà rồi cũng chẳng biết sẽ tới đâu. Vẫn muốn viết về thơ ông như lúc còn tưởng tay vói tới trời. Đến lúc biết trời cao tay không vói tới mà cứ vẫn loay hoay điều bất khả. Viết thêm. Viết thêm nữa. Điều bất khả. Làm sao, làm sao nói hết được cái hạo khí hừng hực bốc lên từ chữ nghĩa ông.

Cho nên ...

  • Giảng ! Bình ! Phê ! Luận ! Tán !

  • Nhảm !!!!

Khổ nỗi ! Ý bốc lửa. Chữ cuống cuồng. Những trang giấy trắng. Trắng minh mông. Trắng lạnh ngắt mà lại kêu đòi. Viết về thơ Tô Thùy Yên có phải là vẽ cái vòng tròn mà điểm cuối không bao giờ nối lại được điểm khởi đầu. Viết về thơ Tô Thùy Yên có phải là tả cái minh mông không cột mốc, không điểm tới cũng chẳng có điểm đứng. Cái dập dềnh của sóng, của gió, của mây, của nước mà mọi hình thù bị phá vở từ mỗi sát sa. Có phải là tung tóe theo cơn nổ hồng hoang. Hay là ngộp chìm theo cơn hồng thủy. Cái chết tru rân giờ nguyệt tận. Máu bung từ mỗi lỗ chân lông... Như tên phù thủy già điên loạn.

Lịch sử lên cơn dữ bất thường. Viết về thơ Tô Thùy Yên có phải là vẽ rắn thêm chân khi rắn đâu có chân mà vẫn bò vun vút, là châm nước thêm vào lòng biển lớn, là vùi thêm củi vào miệng hỏa diệm sơn.  Người mẹ trẻ buồn đôi mắt trũng. Thân gầy nhom, tóc cháy, da cằn. Địu con, một dúm thịt nhăn nhúm. Ra ruộng khê tìm mót cái ăn. Còn nói được gì thêm về tội ác ngút trời của loại hà-chính-mãnh-ư-hổ đã và đang cắn xé  mảnh đất vốn đã gầy còm ở bên kia biển lớn. Thơ của ông dữ dội lắm. Thơ của ông là bản cáo trạng không lời buộc tội dù được viết bằng máu và nước mắt chảy ngược của chính bản thân, thay mặt cho cả một thành phần dân tộc bị án tử oan tình. Vì mỗi hình ảnh ông kê ra đã là một bản án tự thân cho đám sát nhân tội đồ của nhân loại. Thơ ông là một bản J’accuse của Émile Zola để đòi lại sự thật cho sự thật. Đọc thơ ông, sống lại ngày dài trong trại-lán-cải-tạo, trong hầm kiên giam, dưới chòi canh hầm hừ, giữa lon cơm mốc thếch, trên bàn tay trần bươi đất, hay quằn đôi vai kéo cày thay trâu, trong mảnh vải bố nát che thân khi rừng núi lập đông. Ta khóc lẻ loi, cười một mình. Thu hình ẩn náu dưới tâm linh. Mắt chong kinh hãi đêm hư sử. Thân lõa lồ đau cháy khổ hình. Nguyễn Du xưa viết Kiều khiến người đời cứ tưởng nhỏ máu ra năm đầu ngón tay mà viết. Nay đọc thơ Tô Thùy Yên cứ tưởng ông đã mài đá ra mà làm mực. Thứ mực không bao giờ phai vì đã và sẽ trầm tích trong nảo cân, trong huyết quản của người đọc, đời này và cả đời sau.

Mà còn tuyệt vời hơn nữa, điều đó còn để xác nhận thơ và người thơ đã không bao giờ và sẽ không bao giờ bị thắt cổ bởi lòi tói xiềng gông. Bởi vì, nghĩ cho cùng, cái được gọi là trại cải tạo trong dãy quần đảo ngục tù mênh mông ở Việt Nam sau năm 75 chỉ nhằm một mục đích duy nhất là triệt hạ nhân phẩm của người tù, triệt tiêu mọi ý thức phản kháng, biến họ thành súc vật. Trại tù nằm bên bờ sông Mã ở Thanh Hóa mà tù nhân không được đi thẳng người, phải bò như con thú bốn chân là một điển hình.

Nhưng dù vậy, ác tâm hèn hạ đó đã và sẽ không bao giờ thành tựu được. Chẳng những vậy, con người, sinh vật thượng đẳng vẫn mãi là con người dù có bị đòn tra ép uổng tới tận tầng cuối của địa ngục. Hơn vậy nữa, người làm thơ, kẻ chịu khổ nạn nhất trong kiếp đọa đày đó vẫn mãi mãi là sinh vật tối thượng vượt hẵn lên trên lũ cầm thú giả dạng làm người. Ta về. Ta về-một bóng trên đường lớn. Thơ chẳng ai đề vạt áo phai ... Ta về cúi mái đầu sương điểm. Nghe nặng từ tâm lượng đất trời. Cám ơn hoa đã vì ta nở. Thế giới vui vì mỗi lẻ loi ... Ta vể như lá rơi về cội. Bếp lửa nhân quần ấm tối nay. Chút rượu hồng đây, xin rưới xuống. Giải oan cho cuộc biển dâu nầy.

Ôi, tấm lòng thi sĩ, người run giùm thế nhân hơi thu run rẩy, ấm giùm thế nhân tia ấm cuối đông, người đau giùm thế nhân cơn bội bạc của thế sự mà cũng vui giùm thế nhân sự thuận thảo của đất trời. Trên dưới trong ngoài đông tây nam bắc, có chỗ nào kềm giữ được đôi cánh chim hồng hộc. Tấm lòng thi sĩ bay lượn vượt thoát khỏi trói buộc của nhân thế,  nhạy như tơ trời, nhịp cùng nhịp với nhịp mùa, đập cùng đập với nhịp tim của thiên hạ. Tấm lòng đó, bao dung đến vô lượng. Hãy nghe ông xẻ chia với người quen kẻ lạ nỗi-vui-nhục-nhằn khi trở lại từ địa ngục trần gian. Ta về như hạt sương trên cỏ. Kết tụ sầu nhân thế chuyển dời. Bé bỏng cũng thì sinh, dị, diệt. Tội tình chi lắm nữa người ơi ... Ta về như sợi tơ trời trắng. Chấp chới trôi buồn với nắng hanh. Ai gọi ai đi ngoài quãng vắng ? Phải, ôi vàng đá nhắn quan san ? Ta về như tứ thơ xiêu tán. Trong cõi hoang đường trắng lãng quên. Nhà cũ, mừng còn nguyên mái vách. Nhện giăng, khói ám, mối xông nền ... Ta về như tiếng kêu đồng vọng. Rau mác lên bờ đã trổ bông. Cho dẫu ngàn năm em vẫn đứng. Chờ anh như biển vẫn chờ sông... Ta về dẫu phải đi chân đất. Khắp thế gian này để gặp em. Đau khổ riêng gì nơi gió cát. Hè nhà, bụi chuối thức thâu đêm... Ta về như hạc vàng thương nhớ. Một thuở trần gian bay lướt qua. Ta tiếc đời ta sao hữu hạn. Đành không trải hết được lòng ta.

Ta về như tứ thơ xiêu tán. Trong cõi hoang đường trắng lãng quên. Tù về mà thơ phiêu hốt như hạc nội mây ngàn. Nghĩ ra làm sao không khoái trá.

Đành không trải hết được lòng ta ? Ờ, làm sao nói cạn được tấm lòng thi sĩ. Người đau cái đau của nạn nước, gấp bao lần cái đau của nhân gian, người buồn cái buồn của thời vận, gấp bao lần cái buồn của nhân gian. Vậy mà rồi, cuối cùng, vẫn phá chấp để tìm lại bộ mặt tích cực của đời sống, để mở lòng yêu đời yêu người dù đã quá độ đắng cay.

Mặc kệ trời bày cuộc bể dâu, nhấn chìm hết mọi ước mơ, tắt lịm hết mọi dự phóng, vẫn nguyên si tấc dạ của đứa con lưu lạc trở về nhà. Thương hờn oán giận rồi ra cũng chỉ là mấy nét nhăn nhúm của bộ mặt trần gian khó ưa. Mặc kệ, vẫn còn đó, nụ hoa nở trái mùa, trái chín muộn trên cây ... Cũng chẳng biết triết lý nào đạo nghĩa nào đã nuôi hồn thi sĩ. Mà cũng chẳng cần biết. Vậy chớ lẽ đời tính vậy chẳng là ... phải phải lắm sao ! Giáo điều chi cho mệt. Đọc xong tôi cũng hả dạ lây. Ôi tâm hồn thi sĩ ấy !

Bởi vậy mà đọc lại thơ ông khi lòng đã lạnh mọi hương nguyền, chuyện đời đã trơn tuột ngoài vòng tay mà sao vẫn thấy xao xuyến như có gì muốn cà kê, muốn lải nhải, muốn trần tình, muốn kể lể ... muốn ... muốn ... muốn ...

Vậy thì nhìn vào những khung giấy bỏ trống bên dưới, có thấy không, chữ nối chữ, lời tiếp lời, đầy ắp ... những điều không nói được, vừa thảng thốt mà lại vừa thống khoái trong lòng khi đọc thơ ông. Thơ Tô Thùy Yên không có tính từ để ép uổng. Nói này nói nọ thật ra chỉ là cưỡng cầu. Hãy đọc thôi. Đọc bằng tấm lòng xích tử, khi ngôn ngữ chưa thành lời ...

_______________________________

 

 

 

Ở một chỗ

rất

gần sao... 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Có lần người bạn thi sĩ ở bên này bờ Hudson, phía New Jersey hứa mời tôi đi uống cà-phê ở một nơi rất gần với mấy vì sao. Những vì sao xa tít vốn dĩ là quê hương rất đỗi ngây thơ của những "Ông Hoàng bé ". Thử cho anh coi lại điệu vũ của bầy sao đêm. Anh ta nói với tôi như vậy. Mấy lần điện thoại rủ rê, cứ hẹn lần hẹn lượt tôi vẫn chưa uống được tách cà-phê pha giữa trời sao đó lần nào.

Chỗ tôi đang ở cũng là một thành phố lớn, nằm chênh chếch về phía đông bắc lục địa. Những con đường ngang dọc từ trên cao nhìn xuống cũng y như mấy miệng vực hun hút giữa khu rừng cao ốc. Mỗi lần ra phố chỉ thấy từng hẻm mây buồn rầu. Thuở mới đến, có bận nhớ nhà, tôi hay len lỏi đi tìm ngó trăng sao. Và lần nào cũng buồn ngẩn buồn ngơ vì trăng sao cứ trốn đâu mất biệt. Thay vào đó là ngàn ngàn con mắt đèn như bầy đom đóm đeo dính mấy tấm vách thẳng băng ngước nhìn tới mỏi cổ. Hơn nữa chưa hết tầm nhìn đã chóa mắt giữa hằng hà sa số ngọn néon xanh xanh đỏ đỏ. Riết rồi thua buồn cũng quên lửng luôn những vì sao đã chắt chiu mang theo như để đánh dấu điểm đứng của quê hương. Vâng, có ngôi sao chỉ mọc ở phương nam. Chắc quê hương tôi ở hướng đó.

Thuở mười một mười hai tuổi, mỗi lần được cho về quê nội, cứ đợi chiều xuống là tôi trèo tuốt lên mấy đụn rơm cao ngất ngoài bìa ruộng, dang tay nằm ngữa đợi trời tối. Ngó lên là trời vòi vọi cao, không một bợn mây mà lại xanh mướt, xanh ngọt cả lòng. Thuở đó tôi đâu biết tả ra sao cái màu ngan ngát của buổi chiều đương chuyển sang đêm. Chỉ thấy nó lâng lâng đến nổi hồn nhỏ cũng muốn bay bổng. Rồi chiều lánh đi thư thả. Ðêm nhón chân tới, rất nhẹ. Rồi con sao thứ nhất bắt đầu ló ra. Cũng êm ru như đã ở đó tự bao giờ. Chớp lia chớp lịa như để nháy gọi nhau, một chút nhẻo thôi là không biết ở đâu mà sao đã rải ra đầy trời. Ðêm trước mắt bỗng lộng lẫy như tấm nhung đen đính hàng triệu kim cương hột mẳn đều như tấm, nhiều đến ngó không xuể. Có lần tính thử đếm chơi nhưng rồi cứ vuột khỏi mấy lần bàn tay nên chán bỏ. Nhưng mà lần nào cũng không quên ao ước hể thấy có một vệt sao băng. Mà rồi y như lần nào cũng trễ, thành ra không kịp có một lời nguyện nào cho tròn. Cho đến một lúc thằng bé chỉ chờ sao lên thôi cũng đủ. Mỗi vì sao như chiếc cầu vòng nhỏ xíu dắt nó vào một thế giới khác, thần tiên. Rồi càng lúc đêm sao lại càng nở ra, trùng trùng điệp điệp. Ðứa nhỏ, tấm lòng hả lớn đến hết cở như muốn hớp cả vào người cái cõi bao la và bí nhiệm đó. Nhưng mà lòng nó nhỏ quá, vũ trụ thì quả thật mênh mông. Có khi nó chảy nước mắt mà không biết vì sao.

Từ đó, bầy sao  cứ lấp lánh theo tôi như những cặp mắt dõi theo từ quê nội, nấn níu chờ tôi lớn lên ở thành phố, đợi có ngày yên ổn rủ tôi trở về làng. Nhưng rồi cái ngày đó không có nữa. Tôi bỏ quê đi thật xa, xa đến mất luôn một lúc cả trời sao trăng nước ở một xóm nhỏ bên bờ kinh Hòa Nghĩa.

Bởi vậy mà chừng nghe lời bạn rủ rê đi ngó sao ở một chỗ thật gần, tôi náo nức lắm. Vậy mà rồi không kịp. Cái chỗ rất gần sao đó không còn nữa. Buổi sáng ngày11 tháng 9 năm 2001, lòng căm thù của con người đã làm nó nổ tung. Hai tòa nhà cao cả trăm từng cùng với mấy ngàn sinh mạng nát ngứu ra thành bụi. Mấy triệu tấn sắt thép và thủy tinh cộng với tim óc của con người dựng đứng thẳng lên trời giữa lòng đảo Manhattan như một thách thức với thiên nhiên bỗng vỡ tan như cám vụn. Nó đã chống chọi với gió cuồng bão dữ không suy xuyển. Vậy mà lần này nó không chống nỗi với cơn bạo hành của ác tính. Phút chốc cả một khối sống hừng hực bỗng hư vô chẳng đáng một mảy may. Phút chốc lòng tin của tôi cũng thành ảo. Phút chốc cái có đó đã hóa không. Có. Không. Không. Có. Không tưởng tượng nỗi. Cái đầu vốn vẫn thường nghĩ xa tới ngàn ngày, nghĩ rộng tới ngàn dặm mà vẫn như không đủ tầm cỡ để chứa được cái chuyện vừa xảy ra. Làm như cái việc vừa xảy ra trước mắt là không thể có được. Tôi sững sờ đến bất động. Cả ngày tôi cứ ngồi dán mắt vào máy truyền hình, nhìn cảnh máy bay đâm thẳng vào cái khối sắt thép lừng lững đó, rồi lửa khói bùng lên và sau hết cái nấm bụi khổng lồ bùng ra như một cơn lốc dữ mà bàng hoàng đến ngớ ngẩn. Miệng tôi không nói ra được một lời. Không có một lời nào nói ra được sự kinh khiếp đó. Sự hung dữ đó. Sự mù quáng đó. Rồi cảnh người sống chạy chết. Cảnh gạch đá sắt thép văng bay tứ tung. Còi xe cứu thương kêu rú in ỏi. Khói bụi bốc trắng mù mịt. Tôi ngồi chết trân nhìn trực tiếp cảnh tàn phá điên dại từ bàn tay con người. Con người. Tuyệt phẩm của thượng đế. Con người. Tuyệt phẩm của ma vương. Con người. Quả tình tôi không hiểu nỗi. Tôi muốn tắt máy mà lại cứ để mở. Nhìn ngó đến hãi hùng. Ống kính truyền hình thu không sót một góc. Nhưng có một cảnh mà máy không thu được. Một cảnh thiếu mất thốt nhiên nghĩ tới làm tôi hốt hoảng, chết điếng. Cùng một lúc, chớp mắt, mấy ngàn người tiêu ra tro bụi. Cùng một lúc, mấy ngàn người mới đó bỗng hư không. Một người cha, một người mẹ, một người con, một người tình... mới sáng đó còn hăm hở thức dậy sửa soạn ra đường, lái xe, đi métro, xe bus tới sở làm. Một tiếng đồng hồ trước đó còn hăm hở bước vào thang máy, cười với người quen này, nói đùa với người quen nọ. Nửa tiếng đồng hồ trước đó còn hăm hở ngồi vào bàn giấy, vừa đưa tay mở máy com-pu-tơ vừa bấm điện thoại gọi đến tiệm hoa nhắn gởi mấy cánh hồng cho người bạn gái. Năm phút trước đó còn vừa mở xấp hồ sơ vừa nghĩ đến bữa cơm chiều với vợ và bầy con nhỏ. Một phút trước đó còn vừa lau sàn nhà vừa nghĩ đến số tiền sẽ gởi cho bà mẹ ở một xứ Á xa xôi... Vâng cái cảnh thiếu sót trong mấy bản tin quá đầy đủ đó nó chỉ có trong đầu tôi thôi liền khi tòa nhà thứ nhất sụp xuống. Rồi tòa nhà thứ hai sụp xuống. Bỗng chốc. Xương thịt. Tro than. Cái cảnh không ai thấy được mặc dù đã xảy ra sờ sờ, cùng lúc với khi mũi phi cơ tiếp giáp với khung sắt thép, cùng lúc với tiếng nổ của hàng trăm tấn dầu, cùng lúc với lòng thù hận biến con người thành thú dữ. Cái cảnh không có trong phim ảnh bởi vì không có máy nào chụp được nhưng nó thật sự có đó, có đó rõ ràng giữa hiện trường, càng lúc càng lớn ra, càng lúc càng lớn ra, lớn đến khủng khiếp. Cái chỗ trống hoang bỏ lại của mấy ngàn nhân mạng mất đi cùng một lúc. Cùng một lúc thất tung. Cùng một lúc biệt tích. Cùng một lúc tan tành. Thịt xương. Niềm tin. Hy vọng. Cái khoảng trống im ỉm của pháp trường sau khi bọn đao phủ đã bỏ đi. Cái khoảng trống điêu tàn của mặt đất không còn người ở. Cái trống hoác ghê rợn nổi lên ngay sau khi lớp tro than đã lắng xuống. Không còn gì nữa. Có còn lại chăng là cái Trống Không khủng khiếp.

Có còn lại chăng, những ngày sau, là cái không vô cùng vô tận trong lòng tôi, trong lòng mọi người.

Mấy ngày sau, tôi thấy lại cái khoảng trống đó trên đường phố của một Nữu Ước thất thần, lơ láo trên những nến, hoa và nước mắt. Và đặc biệt trong những tờ giấy viết tay nhắc một cái tên, những tấm hình nhắc một khuôn mặt, những tiếng kêu thất thanh toát ra từ cặp mắt lặng lẽ của một người vợ tìm chồng, trong tia nhìn lạc lõng của một đứa con tìm mẹ, trong hai bàn tay bưng đầu bất lực của người lính cứu hỏa ngồi bệt xuống bên đường mếu máo, trong tiếng kèn đồng sầu thảm của người da đen vừa thổi vừa khóc khi chiều xuống ở một góc công viên... Cái khoảng trống lớn ra hoài không chặn lại được. Và sẽ còn lớn ra nữa. Một tháng sau. Một năm sau. Nhiều năm sau nữa...

Bởi vì sau buổi sáng tàn khốc đó, tôi biết trong tôi sẽ chỉ còn lại niềm tuyệt vọng.

Tôi bỏ xứ ra đi hai mươi năm, sống lây lất ở xứ người như một thân chùm gởi. Tôi bỏ trời sao của tôi lại cho một lũ điên khùng chưa bao giờ biết trời sao là ân huệ của thượng đế. Tôi xa xứ mà lòng cưu mang từng chuyện thương tâm hai mươi mấy năm trước. Những chuyện thương tâm chưa bao giờ kể đủ về những đọa đày gây ra bởi sự cuồng bạo của mê muội. Tôi đi mà cầu trời khẩn phật cho có ngày đất nước tôi sáng lán, người ở quê tôi tìm lại được tình thương và niềm tin cậy giữa người và người. Tôi chờ mà cứ sợ không còn dịp.

Giao thừa năm trước, cả hoàn cầu mở hội hoa đăng đón kỷ nguyên mới. Người ta nắm tay nhảy múa ca hát, ôm nhau hôn mừng giữa trời đất mới nguyên. Dường như có một lúc tôi thấy mọi người đều hớn hở, tin cậy, nhiệt thành, lòng mở ra vượt quá biên cùng của lề thói hẹp hòi, của nhỏ nhoi và hèn mọn, của thù oán và ghét bỏ, của hiềm khích và đuổi xua, của phân chia và chấp nhất, của lừa đảo và phản trắc... Có lúc sao tôi thấy dường như ai nấy cũng thân ái, nồng nàn, độ lượng, khoan dung... Ai nấy cũng sẵn sàng chín-bỏ-làm-mười. Mọi tiếng nói đều cười tiếng cười giống nhau. Mọi màu da đều mừng nỗi mừng giống nhau. Và như vậy nghĩa là mọi tiếng khóc cũng giống nhau như hệt, mặc kệ đen vàng trắng đỏ, mặc kệ nam bắc đông tây, mặc kệ tư bản cộng sản, mặc kệ chúa, phật, hồi giáo, bà la môn giáo, ấn độ giáo ... gì gì nữa cũng chỉ là một. Chỉ có một tiếng khóc cho nên chỉ có một niềm vui. Cái này, cái kia, cái nọ chỉ có trong đầu óc giặc giã của ta. Kẻ này, kẻ kia, kẻ nọ chỉ có trong cặp mắt loạn lạc của ta. Chớ thật ra tất cả chỉ là MỘT. Cái một tròn trịa nguyên vẹn. Cái một hồng hào hạnh phúc. Cái một lấy CON NGƯOI làm đấng cứu thế. Lấy con người làm đối tượng cho cuộc cứu rỗi. Cho con người và vì con người. Không còn chủ nghĩa tôn giáo chỉ còn con người. Không còn biên giới chủng tộc chỉ còn con người. Sẽ không còn diệt chủng ở Rwanda. Sẽ không còn thảm sát ở Kosovo. Sẽ không còn chôn sống ở Huế... Pháo bông bắn lên cao vút, lời nguyền bay lên cao vút, vụt khỏi mấy tầng mây, sáng át cả mấy chòm sao sáng nhất. Tôi thấy tôi trẻ lại. Và hy vọng. Và hứng khởi. Và tin tưởng. Kỷ nguyên mới. Kỷ nguyên của văn minh, của tiến bộ, của nhân ái. Những vòng tay cứ mở ra, mở rộng ra đến vô chừng tưởng như ôm giáp cả vòng lưng của địa cầu, ôm hết cả vòng eo của nhân loại. Tôi mừng như gặp lại tấm lòng " con đỏ " mà Lão Ðam đã mơ ước một đời. Biết đâu đất nước tôi cũng có cơ theo giòng vận hội mới... Tôi hào hứng đến nỗi làm được cả thơ vui...Tim sẽ cùng tim nối nhịp liền. Mắt bồ câu thoáng hiện nhơn duyên. Em xiêm áo mới quàng vai chị. Ðón gió ngàn năm kỷ mới nguyên.

Nhưng rồi xiêm áo đó rách bươm buổi sáng tháng chín này. Cái vòng tay khít liền đó gãy vụn ra, tan nát. Người của thế kỷ hai mươi mốt giống y như người của thế kỷ hai mươi, giống y như người của thế kỷ thứ nhứt, thứ mười, thứ mười lăm, giống y như thời của pháp đình tôn giáo với giàn hỏa, giống y như thời "thánh chiến " đẩm đầy máu Jésus và Allah. Lịch sử chỉ quay vòng vòng như trò chơi rồng rắn. Và con người thì vẫn đắm chìm trong ngu tối, dốt nát và thù hận. Ðã từ bao lâu, con người thôi ăn lông ở lỗ nhưng đâu thôi suy nghĩ và hành động như cái thời còn ở trong hang động. Chúa, Phật, Allah chắc cũng chỉ biết ngậm ngùi.

Hành động sát nhân một cách tỉnh táo của cái đám gọi là " tử vì đạo " đó làm tôi bần thần dã dượi suốt mấy ngày. Ðúng ra ai cũng có quyền dành cho mình một cái chết để phục vụ cho lý tưởng đã chọn. Nhưng lý tưởng nào để biện hộ cho việc lạnh lùng kéo nhập cục cùng một lúc mấy trăm người đồng hành và ngàn ngàn người vô tội khác vào chỗ chết một cách thảm khốc như vậy. Nhân danh - lại nhân danh! - một chủ nghĩa một niềm tin của người này để cướp lấy quyền sống của người khác có phải là phương thế để xây dựng một thế giới hoà bình, công bằng và bền vững?  Có thượng đế nào chứng nhận được việc đó. Có cứu cánh nào biện minh được cho phương tiện cùng hung cực ác như vậy. Và nếu việc làm đó để nhằm vinh danh một phần nhân loại thì chắc cũng phải vì nhân loại mà phủ nhận sự vinh danh đó.

Nhiều ngàn năm rồi không đủ cải hóa con người. Thú tánh vẫn còn đó. Những thông điệp kêu gọi cảm thông, vị tha, hòa đồng cứ bay lượn đầy trời như những đàn bồ câu trắng. Và vẫn tiếp tục bay lượn hoài trong sự lãnh đạm trơ lì. Con đường đi xuống địa ngục gần nhất vẫn còn là con đuờng đi qua lòng người. Lời nguyện đêm giao thừa giữa hai thế kỷ có thay đổi được gì đâu. Con người vẫn là kẻ thù nguy hiểm nhất của chủng loại. Có dấu hiệu nào đâu để tôi còn mơ ước cho quê hương?

Những đêm như đêm nay, ở thành phố đó sao vẫn mọc đầy trời. Nhưng còn chỗ nào gần nhất để tôi leo lên vói bắt ước mơ tôi.

 Cao Vị Khanh

_____________________________________________________