hmpg.jpg
Titlej (1).jpg

Thơ văn

CAO VỊ KHANH

 

Montreal, Canada

CHS PTG-CGS Nguyễn Trung Trực, Rạch Giá

____________________________

CAO VỊ KHANH: Như khói như sương

http://www.caovikhanh.com/pdf/nhu-khoi-nhu-suong-cvk.pdf

nhu-khoi-nhu-suong-cvk.pdf | Cao Vị Khanh (caovikhanh.com)

CVK_nhukhoinhusuong.JPG

CAO Vị KHANH: Làm thơ thời chiến

 

http://www.caovikhanh.com/pdf/lam-tho-thoi-chien.pdf

CVK_Lamthothoichien.JPG

Năm 72, giặc đánh lớn, lệnh đôn quân. Học trò giữa năm đệ nhị đệ nhứt quá tuổi ấn định được gọi trình diện Trại nhập ngủ số 4.
Mấy đứa con trai mặt mũi non choẹt, thằng dửng dưng, đứa mếu máo cùng ông thầy trẻ chênh lệch nhau chừng vài tuổi kéo nhau ra quán bày tiệc bồ đào. Rượu vào lời ra. Và thơ ra luôn. Ngày mai em xa trường. Chiều nay uống rượu suông. Em mời tôi quán nhỏ. “ Dô”, thầy. “ Dô”, lệ tuôn. 

Không khí bữa đó đã chờn vờn đâu sẵn mớ dấu hiệu phong ba. Mấy trận đánh lớn ở Quảng Trị, cao nguyên và Vùng ba từ vài tháng trước như còn thổi tạt mùi khói súng khét lẹt xuống tận mấy cái khu phố đồng bằng vốn yên tỉnh như mặt nước biển của một vùng vịnh kín ... Chiều gần tắt mà nắng còn lướt thướt rướm vàng trên mấy đọt sao thưa. Quán là một căn nhà vách ván lợp tôn được ngăn ra làm hai. Một nửa trước được chủ nhân kê mấy bộ bàn ghế cũ, ọp ẹp làm nơi tiếp khách. Và nửa sau độ chục thước vuông làm nơi ăn ở cho gia đình với hai đứa con nhỏ. Người chồng là thương phế binh, giải ngủ với cánh tay cụt. Người vợ, khuôn mặt lúc nào cũng đỏ hồng vì lửa củi, đôi khi vừa nấu nướng vừa chăn giữ hai đứa nhỏ. Quán còn một cô gái nửa tỉnh nửa quê làm chiêu đãi, đi ra đi vô bưng dọn, thỉnh thoảng nháy nháy con mắt hiền khô liếc tình mấy chàng chuẩn-chiến-binh mặt mày còn búng ra sửa. Hẵn cô đâu biết chiều nay cái quán nhỏ xập xệ của cô bỗng trở thành một quán biên đình, chỗ chia tay “ hảo hớn” !
Sau mấy tuần rượu nếp than đỏ quạch, bữa nhậu chỉ còn là một cái cớ. Học trò có đứa mới uống rượu lần đầu bắt đầu rươm rướm nước mắt, có đứa lì lợm hơn không khóc mà con mắt bỗng dưng hiền khô như mắt nai. Từ quầy thu tiền, cái ra-dô-ấp-chiến-lược vừa phát ra bản tin chiến sự trong ngày. Lại ... quân ta vô sự, địch bỏ lại mươi ... con.

Ông thầy có một lúc cũng không nhớ mình làm thầy, gật gù cụng ly rồi lẩm nhẩm mấy câu thơ tàu cho học trò mình nghe ... khuyến quân cánh tận nhất bôi tửu ... tây xuất Dương Quan vô cố nhân ... Học trò nửa hiểu nửa mù mờ cũng gật gù làm ra vẻ thấm thía lắm, ngửa cổ nốc ực cái ly cối bự tổ chảng ... làm trai thời chiến ... anh đi quân dịch là̉ thương nòi giống ... 

                                                                                                                     Ngày mai em xa trường
                                                                                                                 Chiều nay uố́ng rượu suông

                                                                                                                            Em mời ta quán nhỏ
                                                                                                                          Dô, thầy. Dô, lệ tuôn !

Vậy đó, có một thời người ta sống giữa cái chết. Và người ta làm thơ. Mà thơ tận tình. Móc ruột moi tim ra mà làm. Từ đó thơ bay phơi phới giữa khói súng và lằn đạn. Từ đó thơ bay thênh thang trên hoang tàn của sông nước và thương phế của lòng người. Thơ lênh láng như vết thương hở miệng nhưng thơ không nhuốm máu căm thù. Thơ chỉ biểu lộ lòng nhân hậu ngay cả khi hồn thơ còn bị dùi vập trong sắt thép đạn mìn, hầm chông và sự cuồng tín ngu muội. 

Đọc lại trong một số báo cũ, bài thơ của Nguyễn Bắc Sơn về cái chuyện người lính sáng sớm đi kích đêm về, ghé quán vệ đường khi áo trận còn nhuốm lạnh mùi sương, ngồi ghếch chân lên bàn, vừa nhấm nháp cái vị đăng đắng của cốc xây-chừng nóng hổi vừa hít hít cái mùi khen khét của khói thuốc Ruby-quân-tiếp-vụ ... mà biết mình còn sống ... (và hẵn rằng lẫn trong đó, mơ hồ một niềm vui mỏng manh khi thấy cuộc sống chung quanh vẫn còn tiếp diễn bình thường sau một đêm căng cứng trên đầu súng mình canh giữ )

                                                                                Người lính đêm qua đi kích về ghếch chân lên ghế
                                                                                              Chiếc xe chở những ổ mì vàng nóng hổi
                                                                                                        Cười nụ cười đầu tiên trong ngày
                                                                                                                  Và bật que diêm hút thuốc

 

Sao tôi yêu cái hình ảnh đó quá. Ghếch-chân-lên-ghế. Nó kiêu kỳ một cách lặng lẽ. Nó du côn một cách thi vị. Và nó lãng-mạn-tiểu-tư-sản một cách hồn nhiên. Và que diêm. Và khói thuốc. Và mặt trời sẽ mọc. Và một ngày sẽ đến. ... Nghĩa là tôi chưa chết. Nghĩa là cuộc sống vẫn còn đó với đủ thứ mật ngọt và trái đắng, còn đó với đầy đủ môi hôn - môi hôn lần tới sẽ khít khao hơn và tay nắm - tay nắm lần tới sẽ ghịt riết hơn, còn đó với đầy đủ chuyện như ý và bất như ý, chuyện trong sạch và chuyện tham nhủng, chuyện anh hùng và chuyện cà-chớn nghĩa là còn đủ thứ hầm-bà-lằn-xắn-cấu chuyện đáng nói và không đáng nói ... mà còn chuyện gì nữa ở đằng sau những thi ảnh quen thuộc đến tầm thường mà lại chân thật hơn bất kỳ thứ lý tưởng nào được kê trong những tuyên ngôn lằng nhằng như toa thuốc bắc – tiền đồn chống cộng, chiến sĩ tự do ... kể cả độc lập, tự do, hạnh phúc dù có được viết hoa thiệt bự. Đổi cái huy chương anh dũng bội tinh với cái bữa điểm tâm sơ sài đó, chắc có người không đổi ! Tôi biết đối với một người thường - chữ thường được hiểu như là ... thường, thì cái chuyện uống ly cà-phê buổi sáng cũng sẽ đăng đắng mà trưa trưa chiều chiều thì ly cà-phê cũng đắng đắng y chang. Còn lại cái loài thi sĩ thì là cái giống khác. Một người làm thơ gốc lính khác, Trần Hoài Thư, dù trong cái buổi sáng sớm y như trăm ngàn buổi sáng khác, vẫn tìm ra trong đó một ... vị thơ.

                                                                                                                   Gọi cốc cà-phê un khói gió
                                                                                                      Mấy thằng râu tóc chụm thanh xuân
                                                                                                          Vách trống, sát vào nhau đỡ lạnh
                                                                                                    Trời ngoài kia sương phủ mênh mông

 

Cà-phê ở đâu, thời nào cũng là cà-phê. Mà sao cà-phê trong thời loạn lạc đó nghe ra nó phê mút chỉ. Thì cũng là loại cà-phê bít-tất trong một góc quán vệ đường, thứ quán xá mở cửa thật sớm cho những người mất ngủ – dân lao động, gái giang hồ, lính tráng ... trở về sau những cuộc mần ăn đêm. Chỉ khác cái chỗ cà-phê ở đây không ướp va-ni, không trộn xác cau khô hay pha chút sái nhựa, cà-phê này lại đi un khói-gió - thứ gió Lào khô khốc, thứ gió chướng thổi bung tóc mai dựng đứng tóc gáy, thứ gió bấc cứa xương đục đẽo lên mặt người nỗi đau của đá ... cho nên cà-phê, chất cà-phê thi vị đó trở thành chất xúc tác huyền nhiệm làm bật dậy cuộc sống, như để dằn xuống một đêm ( tai ương ) vừa qua và chào đón một ngày ( hy vọng ) sắp đến. Chất cà-phê pha loảng mà đặc quánh hơi thở nhịp tim của những người trở về từ một cõi chết. 


Thôi, chắc lại sắp vẽ rắn thêm chân ... 

Có điều trong suốt cuộc-chiến-gọi-là-ý-thức-hệ đó ( tính luôn cả hai bên nam bắc với lại mớ đồng-minh-da-trắng-đồng-chí-da-vàng đó ) có mấy ai làm thơ ngông nghênh mà hiền như cục đất vầy chưa 

                                                                                                             Nếu mai đụng trận ta còn sống
                                                                                                           Về ghé Sông Mao phá phách chơi
                                                                                                            Chia sớt nỗi buồn cùng gái điếm
                                                                                                               Đốt tiền mua vội một ngày vui
                                                                                                                                                  NBS

Nghe mà thương ơi là thương cái đám lính tráng thời loạn đó. Đi trận mà, rừng bịt mắt, bùn níu chân, cực khổ cầm chắc, chết chóc không chừng, lần này về, lần tới biết có về không ... thì thôi về được thì ghé xóm thăm-dân-cho-biết-sự-tình một phát cho chắc ăn, rồi sao nữa tính sau. Cái nhân sinh quan đó, nếu gọi được là nhân sinh quan, nghe nó vừa chịu chơi vừa bi quan quá thể. Tại vậy thơ đọc thì tai nghe vui mà lòng thì ngẫm ra mấy nỗi ngậm ngùi. Có phải chính sự bức bách của tình thế, sự mập mờ của ý thức, sự lẫn lộn của màu da ... đã làm thơ ra nỗi ấy. Tuy nhiên cái điều kỳ diệu là dù có bi quan cách mấy thì vẫn còn đó cái tính nhân bản cố hữu và tuyệt vời đã làm thơ nhìn thấy những điều khó thấy trong cuộc chiến-tranh-mà-mắt vừa qua 

                                                                                                                  Cô hàng ơi cho một ly không
                                                                                                              Tôi rót mời một người lính Bắc
                                                                                                     Hắn nằm banh thây dưới hầm bí mật
                                                                                                          Trên người vẫn còn sót lại bài thơ
                                                                                                                                                    THT

Bài thơ trên xác kẻ địch ! Thi ảnh đẹp đến rợn người. Thử tưởng đến cảnh đạn xẹt tứ tung, khói súng khét lẹt, máu me tùm lum, thịt thà nát bấy ... mà đâu đó lấp ló tỉnh bơ một trang thơ mới làm ( thơ = trời xanh mây trắng, thơ = nhớ cha nhớ mẹ, thơ = hoa bướm rủ ren, thơ = nhớ bồ nhớ bịch ... ) Vấn đề là làm sao cho con mắt thấy ( đã lắm khi con mắt nhìn trao tráo mà chẳng thấy gì ráo ! ) Và làm thơ cũng từ cái thấy của con mắt nhân ái đó, phải không ?


Hỏi khắp cả bộ-đội-xẻ-dọc-Trường-sơn-đi-cứu-nước ( kể cả anh nuôi chị nuôi tập kết nằm vùng ... ) có ai trong suốt cuộc-chiến-giải-phóng-thần-thánh vừa qua đã lần nào nhìn thấy trên khuôn mặt xác chết lính miền Nam một nét gì thân thiện, đồng chủng, anh em, ruột rà ... , đã có lần nào “ bức xúc ” dù chỉ một thoáng, dù chỉ một chớp mắt băn khoăn ... ? Hay chỉ thấy toàn ác-ôn-mỹ-ngụy-mặt-xanh-nanh-vàng ... dù người chết đã ... chết ! Hay đã có mà không dám lộ ra ! Hay chỉ mới chợt thoáng nghĩ là đã hốt hoảng lảng qua chuyện khác vì sợ kiểm thảo, sợ phê bình, sợ mất lập trường, sợ xuống cấp, sợ mất chế độ, sợ học tập, sợ cải tạo, trăm thứ sợ làm tê liệt thần kinh như con chuột xuội lơ trước cặp mắt hớp hồn của loài rắn độc. 

Nhớ cái thời sau 75, ở miền Nam nghe loáng thoáng người ta nhắc hai câu thơ của ai đó – ai mà biết ai, mà có lỡ ai biết thì có đường tác giả đi cải tạo mút mùa – mà hổng chừng cũng đã biệt tăm mất dạng hồi nào trong cái mê cung tẩy nảo chỉ có đường vô không có đường ra. Thơ, thơ lắm chớ. Mà không ai nhận –ai mà dám nhận – đành bỏ làm thơ hoang !  Đôi dép râu buộc chặt đời trai trẻ. Nón tai bèo che kín cả tương lai.
À thì ra vậy. 


Có lúc cái đám bộ-đội-tình-nguyện-xung-phong đi B hay cái đám du-kích- khăn-rằn cũng hơi hơi hay xém xém lao chao chút đỉnh. Nhưng rồi đường lối chỉ đạo vừa sâu vừa sát vừa át vừa ép nên cả đạo quân viễn chinh vẫn tỏ lộ trên dưới một lòng, cả ngày cả đêm khăng khăng nói quyết tới cái chuyện ôm-bom-ba-càng hay lấp-lổ-châu-mai ... bất kể cha già mẹ yếu vợ dại con thơ, phó mặc nhân tình nhân ngải cho Bác lo, bỏ xó nhà cửa ruộng vườn cho Đảng ôm trọn... miễn sao chiếm cho được cái vựa lúa miền Nam để có ngày dưng cho quan thầy phương Bắc, thành ra rốt lại cả mấy chục năm ròng rã đóng chốt trên chiến trường miền Nam không nghe ra được nửa tiếng thơ nhân ái ...

Tại vậy làm sao không vẽ rắn thêm chân cho đành, những  bài thơ được làm ở miền Nam trong một thời chiến trận mịt mù mà hồn thơ không vướng víu chút mảy may thù hận.
Hãy thử đọc lại coi. 

Có phải câu hỏi của Tô Thùy Yên trong bài Chiều trên phá Tam Giang vẫn mãi là ngón tay tra vấn gỏ hoài lên tấm cửa định mệnh cứ đóng bít bùng

 

                                                                                                                Nghĩ cho cùng, nghĩ cho cùng
                                                                                                Ví dầu các việc ngươi làm, các việc ta làm
                                                                                                                             Có cùng gom góp lại
                                                                                                     Mặt đất này đổi khác được bao nhiêu
 

 

Câu hỏi đẩy sự bất lực của bậc vương-tôn-miền-trí-tuệ đến chỗ cực cùng trước nỗi hung hãn bất kể của thiên-địa-bất-nhân. Hay chính là lời tán thán ai oán của kẻ sĩ  trước thứ bạo lực mù quáng của Ác tính đội lốt con người. 

Đọc lại nữa coi, Nguyễn Bắc Sơn, kẻ-sĩ-xuân-thu đầu thai nhầm lúc nên đi đánh giặc mà như đi rong thuyết khách, giận-đời-ghê-những-bàn-tay-bẩn-đưa-đẩy-ngươi-trong-cát-bụi-mù. Làm sao, làm sao giữa thời buổi bom đạn hỗn mang và lòng người nhiễm độc đó mà thơ thoát ra, lau lách như khói hương và hiền lành như tâm Phật

 

                                                                                                        Một ngày chúa nhật phơi giày trận
                                                                                                             Ta bỗng tìm ra một vết thương
                                                                                                           Vết thương bàng bạc như là khói
                                                                                                           Ngưng đọng nhà ai ở cuối đường
                                                                                                                                                    NBS

 

Vết-thương-như-là-khói.  Ẩn dụ bao nhiêu, bao dung bấy nhiêu. Vết thương không còn là dấu tích của thù hận. Vết thương thành khói bay đi phải chăng chính là niềm ao ước xóa bỏ hận thù ngay từ lúc hận thù còn được tận dụng như  vũ khí của chiến tranh. Ước vọng đó có thật trong lòng người miền Nam ngay trước khi bại trận. Phải chi lịch sử đổi ngược lại chắc khỏi phải kêu rêu ra rả tới bây giờ. 

Kêu ra rả tới bây giờ như tiếng quạ gọi âm hồn dội động u u giữa vòm đêm lịch sử mà vẫn không xóa được nỗi oan khiên của một dân tộc bị lường gạt.

                                                                                                                        Lũ quạ trốn đi từ dạo ấy
                                                                                                            Để giờ đây kêu động rừng phong
                                                                                                          Quạ gọi bầy tháng năm tháng bảy
                                                                                                          Sao ta gọi bầy thăm thẳm mù tăm
                                                                                                                                                     THT

 

Làm thơ là đem tấm lòng thiên cổ đọ với nhân gian. Thì sá chi chuyện chim sẻ mà làm bợn lòng hồng hộc.

 

Chiến tranh dẫu ba mươi, năm mươi năm vẫn là giai đoạn. Đánh giặc là chuyện đoản kỳ. Làm thơ mới là chuyện mai hậu. Sống trong thời buổi chiến tranh, làm thơ hẵn không tránh khỏi lòng thòng phe kia phái nọ. 
Mà điều để cho thơ mang tiếng bất nhân âu cũng là điều bất nhân lắm vậy. 

Cũng may, ngay trong thời súng đạn, còn có những bài thơ làm với mấy tấm lòng đã sống vượt qua cái thời giặc giã. 

 

 Cao vị khanh

* Thơ văn chỉ là phù hoa. Chớ cái biển oan khiên của người bại trận có tát đến ... khuya cũng không cạn được giọt nào! 

 

____________________________
 

 

 

 

 

 

 

lục bát cao vi khanh__________________

VÌ EM, LỤC BÁT SỤT SÙI

VÌ EM, LỤC BÁT DẬP VÙI BIỀN DÂU

 

ĐẠO NGỘ GIỮA ĐƯỜNG

Chào em conm ắt người dưng

Con tim ngoan cố rưng rưng ngươi tình

Con đường trở chứng điêu linh

Tình in như có mà hình như không.

 

CÕI TRONG

Ơi nhân gian, cõi vô cùng

Trống trơn cõi có, bít bùng cõi không

Trong ta cõi đặc chập chùng

Trong em, khe hở, cõi chung, não nùng.

 

VỊ TÌNH

Giùm anh nếm chút miếng ngon

So đôi đủa lẻ môi còn rượng môi

Miếng buồn trộn với miếng vui

Chấm thêm miếng nhớ nuốt trôi vị tình

 

YÊU CHẾT

Mốt mai mắt lệ có đầ y

Con tim xây xát có trầy trật yêu

Ruột đau c ó đứt chín chiề u

Người ơi nối sợi tơ điều, buộc thêm

 

THƯ GIẢN

Ví dầu thư giản, thảng dư

Gặp nhau trong cõi cộng trừ tử sinh

Thì xin chia cái thình lình

Để trăm năm khỏi giựt mình, tủi thân.

 

TÌNH HỜ

Xa nhau chăn chiếu lạnh giường

Tay trơn lạnh nhớ, mình suông lạnh thèm

Đau tình, trăng bệnh, buồn thêm

Thơ đau kêu tiếng, thịt mềm đau im

Lập lờ ngọn sáp đau chìm

Phần em, em giữ. Tôi ghìm phận tôi.

Tình hờ, đau nỗi chẻ đôi! *

 

Lục bát để lại cho em

L à thơ? Hay chỉ ... từng đêm ngậm ngùi!

C A O V Ị K H A N H

 

VÍ DẦU, LỤC BÁT ..

CÂU SẦU

Nửa trăng, gối chiếc gợi hình

Nghiêng vai gợi nhớ, trở mình gợi nhau

Tóc mai gợi mấy câu sầu

ăn-cơm-chẳng-đặng-ăn -trầu-giải-khuây *

 

TÓC MAI

Vẻ duyên thì cũng một thời

Chính chuyên thì cũng một đời, chiêm bao

Câu vui ai đổi câu sầu

Áo xưa còn nhớ qua - cầu -gió -bay

Ví dầu em chốn trang đài

Cũng xin mấy sợi tóc-mai-vắn-dài

Lỡ sau trínhớ tàn phai

Cũng còn biết chỗ thương -hoài-ngàn -năm *

 

* ca dao

 

ƠN EM

Ơn em ngọt suối ngọt đồi

Ngọt sông, ngọt nước, ngọt trời biển tôi

Ngọt ngày tháng đã mù khơi

Ngọt sầu hận cũ, ngọt lời oán than

Ngọt niềm lo, nỗi hoang mang

Ngọt chia cách, ngọt tình lang mỏi m òn

Ơn em, ngọt xớt môi son .

 

RU EM

Trong ta, em ngủ giấc nồng

Trong ta, bờ bến không cùng đâu em

Trong ta cỏ mịn nhung mềm

Trong ta rả thịt lót êm chỗ nằm

Trong ta còn giọt lệ câm

Từ thiên cổ lụy lâm râm mưa về

Này em, tim dựa gần kề

Ngủ ngoan đi nhé, ta lê cuộc đời .

 

KIM CHỈ

Tay em xe sợi chỉ điều

Sợi phăng mối cũ, sợi lần gút xa

Sợi cào thịt, sợi xước da

Sợi đau rối chỉ, sợi tà mũi kim

Sợi nào xỏ cũng luồn tim .

 

KÝ THÁC

Ví dầu lục b át lao xao

Gởi cho em, giữ bể dâu chuyện mình

Rủi mai, lỡ có làm thinh

Xa nhau còn biết chỗ mình … chiêm bao!

 C A O V Ị K H A N H

 

CHỖ TRĂM NĂM ĐỌNG NỬA TA ... NỬA MÌNH

RỦ

Mời anh sông núi suối nguồn

Rong chơi cuối bải đầu cồn thiết tha

Đi về những chỗ lá hoa

Chỗ trăm năm đọng, nửa ta nửa mình.

 

DỤ

Như trời dụ đất ra cây

Như trăng dụ gió, như mây dụ mùa

Như sương dụ nắng về mưa

Như anh dụ bướm về đùa quanh em .

 

YÊU CHẾT

Cho nhau tới cái tận cùng

Cho nhau quá cái não nùng thịt da

Cho nhau từ cái xuýt xoa

C ái rên rỉ, cái h ít hà bậm môi

Cho nhau từ giọt mồ hôi

C ái xuôi thuận thảo, cái trồ̀̀̀i ngược ngang

Cái cong nhánh liễu sẽ sàng

Cái sâu thấu tận, cái ràn rụa đau

Cái vật vã của tình sầ̀̀̀ u

Nửa trong -nước - mắt, nửa ngầu - đục -mê .

 

TAN CHẢY

 Đã trong nhau, đến sát cùng

Đã tận tuyệt đến vở bùng trăng sao

Đã siết chặt đến nghẹn ngà o

Đã tan thành nước chảy vào thiên thu.

 

SỢ

Rờ tay em cái sợ mòn

Ướm môi em cái sợ son phai hường

Yêu em sợ nát chiếu giường

Không yêu bỏ cái vô thường, tội ghê!

 

CÕI TÌNH

Trăm năm trong cõi lộn vòng

Kẻ xuôi người ngược phập phồng xôn xao

Trăm năm trăm cách lộn vèo

Cách nào cũng chỉ nôn nao một gò!

C A O V Ị K H A N H

____________________________

CÓ MỘT THỜI THỦ ĐỨC

        Thơ Trần Bang Thạch & Cao Vị Khanh                                     

cvk_giaysaut.JPG

trần bang thạch

VIẾT TỪ KBC 4100

THƯ CHO HỌC TRÒ Ở CHÂU ĐỐC

Thanh gươm cật ngựa lên đồi

Từ đây thầy đã thành người đao cung

Những đêm ứng chiến mịt mùng

Mưa Tăng Nhơn, nhớ nước nguồn Thất Sơn

 

THƯ CHO VỢ CON Ở CẦN THƠ

Một mai trả súng lại đời

Ta về ngủ thiếp bên người tình chung

Bên ta con ngủ an lành

Bên ta vợ bỗng trở mình, gọi : Anh

 

THƯ CHO SƠN Ở HỘI AN

Mầy còn ở đó không Sơn

Mả mồ mày chắc cỏ non úa vàng?

Tao ngồi đây giữa chiều tàn

Nhìn quanh quanh thấy hàng hàng mộ bia!

 

THƯ CHO NGƯỜI TÌNH PHỤ Ở ĐẠI HỌC XÁ TRẦN QUÍ CÁP

Con đường còn xanh lá me

Em còn kẹp tóc còn che dù điều

Trời còn làm gió hắt hiu

Ta còn ngồi nhớ thật nhiều dáng em

 

T R Ầ N B A N G T H Ạ C H

cvk_ThuDuc.JPG

cao vị khanh

CHÀO THỦ ĐỨC

 

Theo mưa Thủ Đức ta về

Chào Tăng Nhơn Phú chào bè bạn xưa

Chào hàng bã đậu, lá thưa

Chào nắng ngày lửa, chào mưa đêm mù

Chào ba-lẻ-một, cơm tù

Theo em nhảy phố đền bù trúc mai

Ngôn-ngữ-tình, dấu-đôi-tay (*)

Lời yêu chưa kịp đã ngầy ngật xa

Chào ly rượu nếp bê tha

Bốn giờ sáng đứng la đà điểm danh

Chào Phú Nhuận chào Hàng Xanh

Chào chị-em-mới chào anh-dẫn-đường

Chào tuổi trẻ, đường chiến binh

Chào mày-đã-chết-mà-tình-còn-đây

 .............................

Chào Thủ Đức, cuối chân mây

Chào nhau con mắt ... đã lầy vết thương

Chào sỏi đá vũ đình trường

Chào hồn sông núi còn vương ... nỗi niềm

 

C A O V Ị K H A N H

(*) Chữ Trúc Phương

_________________________-

CVK_RachGia.JPG
NguyetMai_Tavenhinlai.JPG

Thơ Cao Vị Khanh - Trần Thị Nguyệt Mai              

 

RẠCH GIÁ

 

Nếu có lần người về qua Rạch Gíá

Ghé giùm tôi dãy phố cũ sậm màu

Bước giùm tôi hè đá lở thấp cao

Dẫm lại nhịp bước xuân thời phiêu lãng?

 

Có một thuở trời miền Nam rực nắng

Áo dài bay thổi gió suốt lòng trai

Tuổi đương thì hừng hực tưởng chừng say

Áo phanh ngực hứng đầy hương gió bạn

 

Nếu có lần người về qua Bến Cảng

Tìm giùm tôi chiếc cầu đá vẹo xiêu

Ngồi giùm tôi góc quán nhỏ vắng thiu

Còn vết khắc tên người xưa bạc phận?

 

Nếu có dịp người về qua một bận

Ghé giùm tôi ngôi trường cũ xanh rêu

Nhìn giùm tôi hàng khuynh diệp liêu xiêu

Có sót dấu chim bầy xưa, tứ tán?

 

Thương quá đỗi bóng mùa đi lãng đãng

Chút nắng vàng, chút khói nhẹ, chút sương bay

Chút gì say hong má đỏ hây hây

Nghe trong gió có chút gì lãng vãng

 

Ôi thương nhớ lúc năm cùng tháng tận

Lạnh xóm nghèo ngõ hẹp tối buồn hiu

Ngọn đèn treo không đủ ấm cơm chiều

Nghe áo mỏng nhắc chừng cơn bấc hẹn

 

Người có về xin cho tôi được nhắn

Cho gởi lời thương nhớ dẫu xa xôi

Góc đường quen phố thuộc, nửa môi cười

Và chút gió gợn tóc ai nhuộm nắng

 

Nếu người về lỡ ai tìm hỏi bạn

Cho gởi lời tạ lỗi dẫu muộn màng

Chén trà khuya, hơi thuốc đẫm thâm ân

Và tay chuốc rượu nồng đâu đã cạn

 

Người có nhắn, chắc chỉ toàn u ẩn!

Bao nhiêu sông, ngàn con nước chìm sâu.

Có ai còn ngồi khóc dưới chân cầu

Đời đã muộn cho những lòng lận đận!

 

C A O V Ị K H A N H

________________________

TA VỀ NHÌN LẠI

Kính tặng anh Trần Bang Thạch

 

Ta về nhìn lại muôn nơi

chẳng còn đâu nữa bóng người ngày xưa

khuất xa mấy nẻo đò đưa

sông buồn bến lặng nắng mưa vỗ về...

 

T R Ầ N T H Ị N G U Y Ệ T M A I

______________________

CVK_TuyButThangTu.JPG

Giả sử bắt chước Thanh Tịnh ...

... Hằng năm cứ vào cuối thu, khi lá ngoài đường rụng nhiều và trên không có những đám mây bàng bạc, lòng tôi lại nao nức những kỷ niệm hoang mang của  buổi tựu trường ...

mà viết lại ...

... Hằng năm cứ vào đầu xuân khi lá ngoài đường trổ xanh và trên không bỗng bay về những bầy chim trốn tuyết, lòng tôi lại xốn xang những kỷ niệm bàng hoàng của buổi tan trường ... năm đó.

 

Nghĩ ra mà thấy ông Thanh Tịnh may mắn hơn chúng ta. Ông giữ lại mãi trong trí nhớ ông hình ảnh một kỷ niệm ôi-thương-làm-sao của buổi tựu trường đầu tiên trong đời. Đứa bé lên năm lên bảy, tóc tai chẻ thẳng đường ngôi, quần áo tươm tất hơn mọi khi, vai đeo cặp hay tay cầm sách vở, tay nắm tay mẹ hay cha, đi những bước chân nhún nhảy như chim sẻ, buổi sáng đầu tiên đi học. Có thể nó sẽ học đến nơi đến chốn. Có thể không, lở dở nửa chừng. Nhưng hề gì, điều quan trọng là nó đã được sống thứ giờ khắc hiếm hoi mà người ta chỉ bắt gặp một lần trong một đời. Y như Thanh Tịnh đã viết thêm. Con đường này tôi đã đi lại lắm lần nhưng lần này tôi thấy lạ. Và ông khẳng định ngon ơ. Thấy lạ vì ... Tôi đi học. 

 

Ờ có những chuyện người ta hay quên. Cũng như có những chuyện người ta cứ nhớ ... Nhớ, quên là những thuộc tính tiên thiên của con người. Có điều người ta có thể chọn lựa giữa nhớ hay quên hay cũng chỉ là những ngẫu nhiên như những tình cờ ngẫu nhỉ, nói theo điệu ông Bùi Giáng. 

 

Vậy đó, có những chuyện muốn nhớ lại cứ quên. Ngược lại, nhiều chuyện đáng quên lại cứ nhớ.

... Hằng năm cứ vào đầu xuân khi lá ngoài đường trổ xanh và trên không bỗng bay về những bầy chim trốn tuyết, lòng tôi lại xốn xang những kỷ niệm bàng hoàng của một ngày tháng tư ... năm đó.

Dĩ nhiên, chuyện đáng quên mà cứ nhớ của tôi hay của hằng triệu người miền Nam Việt Nam vốn dĩ là những kỷ niệm nhuộm đầy máu và nước mắt và uất hận. Máu thì đóng vảy rồi tróc mất. Nước mắt khóc cho cùng rồi cũng cạn khô. Sao lòng ta vẫn cứ tức tưởi như u ẩn hoài một oan ức không thôi. Chuyện xảy ra, đã 46 năm, thêm ba bốn năm nữa là đã trọn một nửa vòng thế kỷ. Nếu được đúc khuôn thành tượng đồng kỷ niệm, hẵn đã đóng mờ không biết bao nhiêu là lớp bụi thời gian. Khổ nổi, muốn gói lại, giấu kín, chôn sâu mà sao lại cứ y như Tú Xương khi con sông Nam Định ở quê ông bị lấp kín, cứ đêm nghe hoài ... tiếng ếch bên tai, giật mình lại tưởng tiếng ai gọi đò. 

Chuyện con sông với cái bến đò nào đó, một khi bị dẹp bỏ, đâu phải chỉ có riêng ông là chịu thiệt thòi. Hẵn, bao nhiêu người qua lại mỗi ngày, ai chắc cũng có đôi điều tưởng tiếc. Nhưng đôi ba ngày, đôi ba tháng ... rồi thôi. Sao riêng ông, ông cứ thấy ngậm ngùi !

Tại người hay tại mình cứ chuốc lấy cho mình mọi điều phiền não. Chuyện đất nước, tai họa là tai họa chung. Ai nấy đều có phần. Hẵn nhiên chia đều cũng là điều không tưởng. Tuy nhiên, sao lại giành chịu cái phận hẩm hiu. 

 

Những năm 80, khi mới bỏ xứ trôi dạt tới xứ người, tình cờ đọc được đâu đó mấy câu thơ của Thanh Nam, người văn thi sĩ vốn là tay phong lưu tài tử một thời, cũng đã bỏ Sài-gòn và đang lưu lạc đâu đó trên dãy lục địa mênh mông ...

 

Biền biệt thời gian mòn mõi đợi

Rối bời tâm sự tuyết đan tơ

Một năm người có mười hai tháng 

Ta chỉ năm dài một tháng tư (*)

 

Đọc thơ người mà lấy làm cảm thán phận mình. Nhưng rồi lại nghĩ đó là ... thơ. Mà thơ thì đôi khi hay bốc lên như khi diều gặp gió. Người làm thơ lắm khi vì vần điệu, đôi khi chữ nghĩa lại ra tuồng ẩn dụ ... nhiều khi ý tại ngôn ngoại ... v.v... và v.v... Nghĩ vậy rồi thôi. Rồi chúi đầu vọc tay vào ba cái chuyện kiếm miếng ăn mà ... tìm quên. Nhưng không. Không !

Không phải vậy. Ông Thanh Nam làm thơ mà nói thiệt. Ta-chỉ-năm-dài-một-tháng-tư.

 

Một năm qua. Hai năm qua. Ba ... Bốn ...

Mỗi cái tết tha hương đến, lòng lại nhớ cha, nhớ mẹ, nhớ anh em ruột thịt, nhớ lan đến cả bè bạn thân sơ. Nhớ mùi hương khói đêm ba mươi trừ tịch, cả nhà quây quần cúng rước ông bà. Mà riết rồi cũng chẳng phải đợi đến tết nhứt. Bữa nào cũng nhớ. Đi chợ tây lại nhớ phố xá thứ bảy chiều Lê Lợ̣i. Húp miếng súp đậu lợn cợn thịt thà lại nhớ phở Pasteur. Gặm miếng pizza mà nhớ khúc bánh mì thịt nguội Dakao thay bữa cơm cuối tháng. Táo tây, nho Mỹ, cam Maroc, khóm Mễ Tây Cơ ... gì cũng mặc. Cắn miếng nào nhớ miếng nấy. Từ miếng khóm ngọt lịm khi xe qua cầu Bến Lức tới giỏ mận hồng đào khi đợi phà Mỹ Thuận qua sông. Nhớ hơi nồng ly rượu đế Đường Xuồng đưa cay bằng hớp canh chua cá bông lau Rạch Giá ... Nhớ thê nhớ thiết nhớ riết rồi quanh đi quẩn lại nhớ thơ Thanh Nam. Ơi hởi quê hương bè bạn cũ. Những ai còn ai mất giữa sa mù. Mất nhau từ buổi tàn xuân đó. Không một tin nhà một cánh thư (*). Rồi chém chết cũng lại Một năm người có mười hai tháng. Ta chỉ năm dài một tháng tư (*) !!!

 

Mỗi tháng qua, cộng trừ nhơn chia, chuyện vui, chuyện buồn, chuyện xăng nhớt thịt cá, cà-phê thuốc lá, văn thơ phim ảnh, thuế má v.v... và v.v ... , tính tới tính lui, cái còn lại, cái còn lại là một khoảng trống không bờ không bến, rộng đến bơ vơ, cái còn lại là một sự hụt hẩng triền miên năm này qua năm khác. Là ...công cha nghĩa mẹ ơn thầy, phố đêm Lê Lợi đường ngày Tự Do, là bến nước cầu ao, là bụi tre khẳng khiu gốc chuối xơ xác, là lộ đá khấp khểnh cầu khỉ lêu khêu ...  là ... là ... Y như người thi sĩ dày dạn phong trần đã nói ... Ta chỉ năm dài một tháng tư !!! Y chang. Đúng phóc. 

Xa quê rồi là thiếu mọi thứ mọi điều. Mà nguyên nhân rốt lại cũng chỉ từ một tháng tư. Tháng tư, năm đó !

Tháng tư vì vậy trong câu thơ không còn để gọi ngày kêu tháng, tháng tư ở đây là biểu hiện của một sự mất mát thường xuyên, một sự thất thoát miên trường. Hóa ra câu thơ là một lời tiên tri thấu thị. Ta chỉ năm dài một tháng tư. Hóa ra tháng tư là biểu hiện của một thứ hố-đen thăm thẳm, đã hút mất dìm sâu trong đó tất cả Sài-gòn, Huế, Nha Trang, Quảng Nam, Quảng Ngải, Phan Thiết, Phan Rang, Mỹ Tho, Vĩnh Long, Cần Thơ, Sa Đéc, Rạch Giá, Cà Mau ... đã lấp kín vùi sâu trong đó hết mọi nơi chốn ta đã sanh ra, đã lớn lên trong tay cha mẹ bế bồng, đã trưởng thành với ruộng lúa trổ đòng đòng, với tép tôm thịt cá ê hề, với gói xôi lá cẩm, viên chè xôi nước, ơ cá kho khô, dĩa tép rang muối ... với lễ phép dạ-thưa, kính trên nhường dưới, với lời căn dặn lá-lành-đùm-lá-rách, với câu ca dao ngọt xớt, bài vọng cỗ mùi rệu, điệu hát huê tình mộc mạc mà lẳng lơ hết mức lẫn trong tiếng ầu ơ êm ái như tiếng lá tre xao xác ngoài hiên ... Còn nữa, còn cả một nền giáo dục nhân bản và khai phóng, dù chưa hẵn là hoàn mỹ, vẫn đủ chắp cánh cho tuổi trẻ miền Nam bay suốt những vùng trời kỳ ảo mà nhân loại đã nối tay khai mở, chẳng bù với lớp tuổi đồng lứa ở phía Bắc, bị bịt tai che mắt suốt hơn hai mươi mấy năm trời ... Còn nụ hôn đầu vụng về lén lút, núp sau gốc me già ... Còn nữa ... Còn mớ sách vở từ ông bà rồi cha mẹ để lại mà trên từng trang giấy in đầy chữ nghĩa như thêu hoa kết bướm, chắt lọc từ bao nhiêu tinh hoa của dân tộc, sau bao nhiêu thăng trầm của lịch sử... Mà làm sao kể hết, làm sao tính hết những của cải vật chất và tinh thần bị cướp giựt ngay từ khi giặc mới tràn về. Rồi làm sao nhớ hết những bỏ quên, những mất mát, những rơi rớt dọc theo bao dặm đường lưu lạc ... kể từ sau cái tháng tư quái ác như trận nổ hồng hoang, xóa sạch hết mọi truyền thống nghĩa nhân từ thuở 18 đời vua Hùng lập quốc ... 

 

Và cứ như vậy, năm này qua năm khác. Năm khác nữa ...

 

Tháng tư như một vết sẹo gần

Tưởng quên rồi lại bồi hồi nhớ

Khi máu trong tim vụt trở trăn ...

 

Không phải không muốn quên mà sao cứ nhớ. Nhớ đêm thứ ba 29 tháng 4 còn ngủ vật vờ trong góc lớp trường xưa. Sáng thứ tư, ngày 30 bật dậy đời đã quay ngược, lộn đầu lộn đuôi, tốt hóa xấu, đúng thành sai, phải thành trái ... Mọi chuyện y như một vở bi hài kịch mà tên đạo diển bất tài, bất lực bỏ mặc cho đào kép sắm tuồng tùy tiện.

Không phải không muốn quên mà sao cứ nhớ. Nhớ phố xá bỗng đỏ lờm cờ máu, loa phóng thanh eo éo, kêu réo ỏm tỏi như quảng cáo cao đơn hoàn tán của mấy gánh sơn đông mãi võ, súng dài súng ngắn, nghễnh ngãng đầu đường xó chợ rồi chui tuốt vô nhà dân bất kể giàu nghèo sang hèn, thầy chú hay khố rách áo ôm ...

Không phải không muốn quên mà sao cứ nhớ. Trọn bộ một nền văn hóa gia-tài-của-mẹ bị tom góp, hốt chụp tống lên xe cây đem chụm cho lửa-cách-mạng cháy phừng phừng. Hay để xứng đáng là đỉnh-cao-trí-tuệ bèn hè nhau chia chác cân ký bán ra chợ đời gói cá gói thịt ...

Không phải không muốn quên mà sao cứ nhớ. Nhớ những trại tù mọc lên như nấm dại. Nhớ bàn tay trần rướm máu cào đất xẻ kinh. Nhớ đôi vai trần thay trâu thay bò kéo cày kéo trục. Nhớ những cơn bệnh ngặt nghèo không một viên thuốc đỡ đần. Nhớ những rào kẻm gai vắt vẻo xác người tù trẻ ...

Không phải không muốn quên mà sao cứ nhớ. Nhớ sự nhỏ nhen hèn mạt của lũ người cùng máu đỏ da vàng, nuôi căm thù lẫn với ganh tị đem trút lên đồng chủng đã buông súng vì một lời hứa hẹn ... hòa bình. 

Nhớ bao nhiêu nữa cho vừa, những thứ chẳng có gì đáng nhớ.

.........

.........

Ờ mà cái bộ nhớ kỳ cục, toàn làm chuyện trái cựa. Chuyện ép nhớ thì không. Chuyện không nên thì nhớ. Y như lúc trong trại tù cải tạo. Người ta lặn lội từ Bắc vô Nam, dạy dỗ o ép đủ kiểu đủ cách, lắm khi hăm he hù dọa trói-tay-còng-chân-nhốt-conex đủ trò, cốt để biểu quên cho được cái đạo-làm-người, nhớ cho kỹ mấy lời bác-hồ-dạy ... mà cái đầu cứ trơ trơ ra như gỗ đá. Quản giáo ngồi chồm hổm trên ghế đẩu, gân cổ như con két ba điều bốn chuyện về ba-giòng-thác-cách-mạng đang làm nổ tung quả địa cầu mà cái đầu mình thì cứ hết so đo với Đem Tâm Tình Viết Lịch Sử của Nguyễn Mạnh Côn, rồi lại quay qua lơ mơ với Mười Đêm Ngà Ngọc của Mai Thảo. Kỳ thiệt há. 

Chắc tại vậy mà bốn mươi sáu năm rồi, chuyện cũ cứ y nguyên không chịu mờ đi một nét, dù thiệt tình có muốn nhớ làm chi.  Cứ y nguyên nỗi phẫn hận vì sự bội phản của đồng minh. Cứ y nguyên nỗi ê chề của thân phận nhược tiểu. Cứ y nguyên niềm uất ức vì sự nhẹ dạ của hai mươi mấy triệu người cùng một lúc đút đầu vào thòng lọng. Cứ y nguyên sự hổ thẹn của một kẻ thất phu suốt mấy năm trời gần như đứng bên lề cuộc chiến, cứ an nhiên trèo lên bục giảng để ê a mấy cái chuyện trên trời dưới đất trong khi súng đạn, mã tấu, dao găm, mìn bẫy tù ngục ... đang kề sát tận cổ. Cứ y nguyên hình ảnh thịt xương máu me be bét của bầy em nhỏ trường tiểu học Cai Lậy, sáng sớm đến trường lảnh nguyên mấy trái đạn súng cối của đám du kích bắn xong rồi bỏ chạy. Cứ y nguyên con đường quốc lộ số 1 -đại lộ kinh hoàng- từng đám dân miền Trung khốn khổ, dắt díu nhau tay ẳm tay bồng, chạy trối chết xuôi Nam trong khi pháo chùm pháo chụp của những người lính Bắc Việt nả trên đầu họ từng tràng đạn bất kể. Cứ y nguyên hình ảnh người mẹ chạy giặc, cứ mãi miết đút vú cho con bú móm khi đứa con xác đã lạnh từ hồi nào. Cứ y nguyên ... Cứ y nguyên ... Y nguyên ...

 

Thiên hạ đã bỏ công đếm tới đếm lui số người chết vì bom đạn trong suốt cuộc chiến bắt đầu ngay khi chữ ký hòa bình chưa khô mực ở Genève năm 1954. Người ta cũng bỏ lòng tính số người chết mất xác trên biển từ năm 1975 sau khi chữ ký hòa bình còn mới nguyên ở Paris năm 1973. Cộng trừ nhơn chia san qua sớt lại đã có đáng đủ chưa để dựng lên một đất nước kỳ quái như hôm nay mà nhân phẩm của con người bị coi như đồ xa xỉ, mà quyền sống của con người như món hàng mặc cả theo lợi lộc riêng tư của đám quyền thế, mà nhà cửa ruộng vườn của con dân bị cướp giựt bất kể tiếng kêu gào khóc lóc như mưa, mà sông hồ ao biển của tổ tiên dày công gầy dựng bằng mấy ngàn năm xương máu bị ngoại bang lấn chiếm mà chẳng dám một tiếng kêu ca ... Mà ... Mà ... !!!!!!

 

Vậy đó biểu làm sao quên, biểu làm sao không nhớ ngày đó tháng đó, làm sao không nguyền rủa cái chuyện bày trò xương máu, giành giựt cho được mảnh đất quê mẹ vốn đã rách bươm để rồi thẳng tay cấu xé, chia chác, thẳng chân chà đạp, dày xéo cho tới nỗi mang danh là một quốc gia độc lập mà thiệt tình nếu gọi là độc ... địa chắc chẳng sai chút nào. Nhất là cái điều mà không có một thống kê nào kiểm chứng được, đó là cái hồn tính dân tộc thể hiện trong từng tiếng dạ- thưa nề nếp, từng nếp văn hóa cổ truyền của một dân tộc đã chọn nhân nghĩa làm đầu, từng dấu phẩy dấu chấm trong câu văn câu nói đã thành tựu sau bao nhiêu vật vã thăng trầm, đến lối sống giản dị, chân thành, nặng tính cưu mang của xóm giềng lan rộng ra khuôn phép đạo đức ngoài xả hội ... thử xét lại có còn phải là khuôn mẫu Việt Nam !

 

Cỡ này, lắm khi do vô tình hay sẩy tay bấm nút, thấy trên màn hình những tòa nhà cao ngất ngưởng, những đường xá người qua kẻ lại chen lấn với xe cộ dập dìu, những quần áo lụa là kiểu cách tới độ hổng chừng đào kép ci-nê bên Tây bên Mỹ cũng nghệch mặt chào thua ... xen lẫn với cách nói năng dẫu bằng chính thứ tiếng mẹ đẻ mà nghe ra lại ngờ ngợ như lỡ trệch đường vào một xứ nào lạ hoắc ! 

 

Sự giàu có của một quốc gia có chỉ tính trên nhà lầu chục từng, đường lộ chi chít, tượng đài ngàn tỷ, những con số thống kê ngụy tạo, những kế hoạch, báo cáo, chỉ tiêu đọc lên nghe dòn tan như bắp rang ... hay là chính trên niềm tin và hy vọng vào tương lai của từng người dân và sự phân bổ đồng đều khả năng thực hiện hy vọng và niềm tin đó của từng cá nhân ? (**) .Hỏi, nhưng câu trả lời hẵn đã nằm sẵn trong mỗi tình cảnh hẩm hiu của đám dân đen bị dồn ra bên lề của con đường tiến lên thứ chủ nghĩa xả hội quái đản mà đám cầm quyền và bè đảng vẫn ra rả rêu rao.

 

Bởi vậy, 46 năm rồi, sao không quên đi cho thư thả. Lịch sử nhân loại cũng đã thay trang không biết bao nhiêu lần. Hiền nhân cứ hay khuyên bảo phải biết chấp nhận. Nhất là để cho yên ổn chính lòng mình. Được không ? Bỗng nhiên mang máng nhớ câu nói của một ông tây nào đó. Đại khái người ta có thể xóa dấu một tội ác, nhưng không bao giờ xóa sạch được vết tích tội ác đó trong trí nhớ của con người.(***)

 

Phải vậy không ? 

Sẽ đến một ngày, mọi lấp liếm rồi sẽ bị phơi trần dưới ánh sáng của công tâm. Như mặt trời làm tan hết mọi lớp băng, khi mùa xuân trở lại.

 

Ôi, tháng tư ...

 

Cao vị khanh

 

(*) Thơ xuân đất khách- Thanh Nam 

(**) Kinh tế gia người Ấn đoạt giải Nobel năm 1998 là Amartya Sen. Một cách tổng quát, Sen chủ trương đời sống của người dân không đo lường bằng tài sản mà bằng bất bình đẳng (inégalité) và khả năng hành động (capabilité). Một quốc gia, dù cho giàu có, phong phú tài nguyên mà người dân vẫn cảm nhận nghèo khổ, thiếu thốn, nếu sống trong một môi trường bất bình đẳng, bất an. Trái lại người dân một quốc gia kém tài nguyên mà vẫn có thể hưởng được một cuộc sống khả quan nếu chính phủ biết sử dụng khéo léo tài nguyên và nhân lực.

(***) -JF Sliwinski "Pardonner c'est pouvoir cicatriser une plaie mais la cicatrice ne s' oublie jamais car on la voit chaque jour sur son âme"  Tạm dịch : Tha thứ, là làm lành một vết thương nhưng vết sẹo còn đó mãi mãi vì người ta thấy nó hằng ngày trong lòng mình.

___________________________________________

CVK_Nguoibanvongnien_PHV.JPG

Tháng 6 năm 1970 khi tôi xếp bút nghiên để sửa soạn cầm thước gỏ thì anh đã gỏ-đầu-trẻ đâu đó lâu lắm rồi. Nếu xếp về thứ bậc và tuổi tác, hổng chừng tôi phải gọi anh là thầy nữa là khác. Anh ra trường dạy dỗ đã lâu, có lúc nghe nói đã từng leo lên leo xuống mấy con dốc mà có lần nhà thơ Vũ Hữu Định đã kể lể ... phố núi cao phố núi đầy sương, anh khách lạ đi lên đi xuống .... Học trò cũ của anh có người tròm trèm tuổi tôi. Vậy mà hổng biết sao, ngay khi vừa gặp nhau, ngay giữa chỗ mà người ta thường nghiêm mặt lên giọng gọi là cửa Khổng sân Trình, giữa anh và tôi đã như quen biết lâu rồi ... Ngộ lắm.  Cái gì đó ... cũng chẳng rõ là cái gì. Chỉ biết làm như có chỗ rất tương đồng. Ngặt cái, dù kể ra là đồng nghiệp mà cái chỗ tương đồng thì chẳng ăn nhằm gì hết với cái nghiệp mà đời đã đưa đẩy chúng tôi đến gặp nhau. Dù xuất thân từ chung một lò, được dạy dỗ uốn nắn mấy năm trường gần như cùng chung một sách, vậy mà khi gặp nhau, chúng tôi lại thấy giống nhau ở cái chỗ không ... có sách nào dạy. Thời đó, từ nhà trường đến xả hội, hai cái chữ dù không được sơn son thếp vàng đóng khung treo trong đình trong miểu nhưng vẫn coi như treo lủng lẳng một cách vô hình trên đầu quí vị làm nghề ... dạy học. Từ dạy con nít mới bập bẹ i tờ tới con trẻ đã đọc ro ro chữ quốc ngữ. Dạy gì không biết, chỉ biết mỗi ngày đóng bộ vận vô ra trường lớp là phải ... mô phạm. Y như quí vị sư sải ni cô là lúc nào cũng phải chắp tay ... mô ... phật vậy đó. 

Vậy mà, vừa khi gặp nhau, chúng tôi đã nhận ra nhau ở cái chỗ hao hao đó. Kiểu như hồi xưa người ta nói ... đồng thanh tương ứng. Giống nhau ở cái chỗ không giống ai giữa cái chỗ ai cũng giống nhau. Mô ... phạm. 

 

Tôi thì mới hai mươi ba, ngựa non háu đá. Anh thì đã dầy công hãn mã, trường ốc cũng đã mấy phen chìm nổi. Tôi, dân nam-kỳ-lục tỉnh. Anh, gốc Bắc 54, nghe đâu chung khóa với ông thứ trưởng giáo dục thời đó. – người ta ở thủ đô thăng quan tiến chức nghe mà ham, còn anh thì cứ tà tà hết cao nguyên sỏi đá tới đồng bằng mé mé rừng tràm, vô ra trường giảng Kiều với lại oán khúc cung phi cho em út. Tôi gọi anh là ... anh. Anh gọi lại tôi là ... ông. “Ông” không phải tại chức cao quyền trọng, không phải tại lớn tuổi ... Gọi là “ông” vì không biết gọi là gì cho xứng hợp. Phải chi tôi quê miền Bắc thì chắc anh gọi tôi là anh như cung cách xưng hô phải đạo của người ngoài ấy. Anh Chị dù đáng tuổi em út. Đằng này, tôi người Nam, sanh đẻ chưa tới tận cùng Cà Mau nhưng cũng đã xém xém miệt dưới. Dĩ nhiên, tiếng  “ông” anh gọi tôi không kiểu cách, cũng chẳng ra điều trịnh trọng. Anh gọi tôi là  “ông”, mà lại nghe gần gũi, chiều chuộng, nam-kỳ-quốc như là gọi ... chú em vậy đó.

Ờ, thân mật lắm. Giữa anh và tôi. 

5 năm, cùng dưới một mái trường trung học, anh và tôi như hai người đồng nghiệp chí thân. Nữa ! Lại đồng nghiệp ! Không, không phải đồng nghiệp. Đồng nghiệp nghe ra ... mô phạm lắm. Nếu cần, thêm vào một chữ nữa thì không chừng ... vẹn vẽ hơn. Đồng nghiệp ... chướng ! Kiểu như Bạch Cư Dị khi bị đày xuống Giang Nam rồi tình cờ gặp nàng ca kỷ trên bến Tầm Dương mà phán rằng cùng-một-lứa-bên-trời-lận-đận-gặp-gỡ-nhau-chẳng-lọ-quen-nhau vậy đó. Chúng tôi thân nhau không phải vì cùng nghề cùng nghiệp. Chúng tôi thân nhau vì cả hai đều lăm le muốn ... phá cái rào của nghề nghiệp. Thứ rào cản người ta đặt ra cho chúng tôi như cái khuôn bánh bông lan. Bột đổ vô rồi khuôn nào ra bánh nấy. Dĩ nhiên không đến nỗi ngây ngô như cái lối bảy-bước-lên-lớp từ ngày bác-hồ vô Nam cách cái mạng dân miền Nam. Nhưng mà cũng ba điều bốn chuyện lắm. Rằng thì là làm-thầy thì phải làm gương cho học trò. Học trò thì đồng phục áo trắng quần xanh, đầu tóc phải gọn gàng, hổng hớt cua thì cũng phải bảy ba cho vén khéo. Học trò đã vậy thì thầy cũng không được để tóc ... thề phủ ót. Học trò áo sơ-mi trắng ngắn tay, thầy áo sơ-mi tay khỏi ngắn mà điều khuy nút phải cài. Dài ra dài, không có cái lối tay dài mà xăn lên cho ngắn. Đi đứng phải chửng chạc, không có cái lối ngả ngả nghiêng nghiêng. Nói năng chi phải chừng mực, đâu ra đó. Nhất là quan hệ thầy trò thì dẫu đã hạ bệ rồi cái khung quân-sư-phụ nhưng trong nhà ngoài ngõ vẫn trao tráo những cặp mắt dõi soi. Còn bài vở thì khỏi nói, chương trình biểu sao nghe vậy. Sách giáo khoa in sẵn, cứ y theo đó mà ... trả bài ! Quí vị đồng nghiệp cao niên của tôi như những tấm gương sáng bóng, cứ soi bóng mình trong gương sáng đó mà hành đạo. 

Chẳng vậy, mà mới gặp nhau, tôi với anh như hai kẻ lạc dòng, bỗng nhiên tìm ra cái bóng của chính mình, đang cùng lội lạc cái dòng mà mọi người chung quanh đang lội ... vòng vòng. Nghe đâu, những bài giảng của anh lắm khi cũng hay bốc tới cõi ... trời-trăng-mây-nước. Y như tôi, dạy Chinh Phụ Ngâm của bà Đoàn thị Điểm mà cứ lạc vô lục bát của Lê Thị Ý ngày-mai-đi-nhận-xác-chồng. Chẳng vậy mà chuyện phải đến đã đến. Chúng tôi như tìm được nhau ở cái chỗ không ai tìm đến. Bên ngoài trường lớp, những ly xây-chừng đen ngòm ở mấy cái tiệm nước của chú ba, pha đậm thêm bằng vài câu Đường Thi xa tít mù xa, vài hơi thuốc Capstan lơ lửng chút khói sương ở cái xứ mằn mặn mùi muối biển, trộn lộn với hơi giọng khàn khàn khi Lệ-Thu ngậm ngùi nắng-chia-nửa-bãi. Có khi ngồi lặng nhìn nhau nghe tin dữ từ một trận đánh đâu ở gần Miệt Thứ, những chuyển động chính trị phe nhóm ở Sài-gòn, những cò kè trả giá bốn bên hai phía ở Paris ... Rồi những chuyến rong chơi cuối tuần qua mấy khu vườn dừa, rẩy khóm ... Lắm khi xúi bẩy nhau bỏ lớp, có giang ghe xịp ghe cào tắp vô mấy hòn đảo hoang ngoài khơi ... đêm nằm trần trên những bãi cát vắng chân người, lắng nghe sóng vổ miên man vào lòng thiên cổ. Và vổ ngay vào chốn thăm thẳm của lòng mình. Rồi cùng cảm thán cái mênh mông vũ trụ, cái dằng dặc thời gian và cái vô nghĩa phận người ... từ đó, cùng tìm ra cái thân thiết vô ngôn dù tuổi tác chênh lệch. Anh thì đã vợ con đề huề, tôi thì vẫn còn ... sầu-lẻ-bóng. Mỗi lần ghé nhà, nhìn anh giữa một bầy con tíu tít, tôi cứ băn khoăn làm sao anh có thể hòa đồng được cái đầu thường vẫn lơ lửng giữa trăng sao với cái bổn phận làm chồng làm cha. Khó dữ đa. Vậy mà ngày tháng qua, anh vẫn đi lại giữa đời một cách an nhiên tự tại. Người ta có thể sống hai đời trong một kiếp ? Cạnh đó, cái khung mô phạm dựng sừng sững trước mặt, anh vẫn thản nhiên tới lui, thản nhiên không một chút e dè, nhẹ nhàng, lãng lướt không thua gì bộ pháp Lăng Ba Vi Bộ của Đoàn Dự trong Lục Mạch Thần Kiếm.

Dẫu vậy, giữa cuộc phong trần, cũng không làm sao mà không trầy trụa. Đã có lúc, với tất cả mọi bẩn chật của một xả hội đang giãy giụa giữa hai lằn đạn của một cuộc chiến tranh ý thức hệ, anh cũng không thoát khỏi những va chạm, lắm lúc dù không đổ máu, cũng không thể còn lành lặn. Tôi biết, đã có lúc anh cũng phân vân chao đảo như không ít người trí thức thời đó. Bom đạn, chết chóc trên những bản tin chiến sự hằng ngày, cùng với những tệ nạn xả hội như hậu quả tất nhiên của một thời loạn lạc ... hẵn đã có lúc cũng làm anh băn khoăn về cái vị trí của mình giữa sự dằn co của hai chủ thuyết ... Cùng lúc với những va chạm vụn vặt hằng ngày giữa một bên là kẻ nắm chức vụ có bổn phận duy trì những giáo điều của trường lớp với một bên là người cứ chực chờ phá vở cái khung hẹp đó, dẫu không cố ý. Đã nhiều lần, giữa hai giờ lên lớp, lúc nghỉ xả hơi, trong cái phòng giáo sư hẹp té, anh ném ly tách vở tung lên bốn phía tường vách. Ai hiểu được gì những dày vò trong cái đầu vốn dĩ hay lẩn quẩn giữa cõi trăng sao mà cứ bị giữ rịt lại giữa nhỏ nhoi trần thế !

Một buổi chiều thứ năm, giữa mùa học năm nào, không biết có ai còn nhớ? Anh đăng đàn, thuyết giảng thơ Phạm Thiên Thư. Cả hội trường vài trăm người gồm bạn đồng nghiệp và học trò gần như có lúc cũng mê hoảng theo cơn mê hoảng của anh, không còn là một người làm thơ nói về một người làm thơ khác, không còn là một giáo sư văn chương nói về một dòng thơ lục bát, không còn là một Phạm Huy Viên nói về Phạm Thiên Thư. Mọi thứ, có lúc như ảo hóa, buổi chiều không còn là lúc ngày sắp tắt, hội trường không còn là chỗ hợp mặt thầy trò, thơ không còn là mớ chữ sáu tám nối kết nhau theo bằng trắc ... Tất cả đã hóa thân, đã hòa nhập, đã trộn lộn ... đến độ không còn biết đâu là thật đâu là giả, đâu là thực đâu là mộng, đâu là Phạm Thiên Thư đâu là Phạm Huy Viên ... Không. Không còn cõi đời cõi mộng. Trước mặt mọi người, trong lòng trong đầu mọi người lúc đó chỉ còn một ... gã-từ-quan-lên-non-tìm-động-hoa-vàng-ngủ-say ! (*)

 

Các bạn mến ! Các em mến ! Hôm nay, một ngày đẹp trời của Rạch giá.Tôi lạnh lùng nói tới Phạm Thiên Thư. Tôi say sưa trôi về thơ Phạm Thiên Thư với ngàn con sông, ngàn ngọn suối hoa vàng bập bùng trôi trong vô thức khi thế gian còn sáng chói tình yêu. Khi thế gian toàn là mai mơ với đỉnh núi trăng vần, với vực sâu trăng té, tà áo em trăng thõng thượt và mái tóc em trăng ngủ vùi. Từ chim thuở núi xa xưa, về đây rớt lại hạt mơ cuối rừng, từ em khép nép hài xanh, về qua giục nở hồn anh đoá sầu. Ừ ! Thì mình ngại mưa mau, cũng đưa anh đến bên cầu nước xuôi, sông này chảy một giòng thôi, mây đầu sông thẫm tóc người cuối sông. ! (**)

 

Những năm 70 đó, thơ Phạm Thiên Thư đang là cái mode. Ai nấy, không nhiều thì ít, trên môi cũng lẩm nhẩm được vài ba câu lục bát Động Hoa Vàng. Buổi chiều đó, anh đã đem thơ xuống đời. Và nâng đời lên cõi thơ tuyệt đỉnh. Anh đã rao giảng thứ tình yêu Hoa Không có có không không cũng như không không mà có có. Tuyệt lắm. 

Người quen, kẻ lạ, sau buổi chiều đó  ... có ai nhìn ra được một Phạm Huy Viên, kẻ lãng tử sinh không nhằm lúc nhằm nơi !!!

Ít lâu sau, vì một lý do không ai rõ nhưng ai cũng biết, anh bị đổi đi một trường khác, ở đâu miệt Phụng Hiệp, Cần Thơ. Liên lạc trở thành thưa thớt. Cho đến đâu khoảng một tuần trước ngày 30 tháng 4 năm 75, anh bỏ nhiệm sở quay về Rạch Giá, ghé tìm tôi một đêm. Vài câu thăm hỏi thông lệ. Và một kết luận. Mọi chuyện đã an bày. 

Những ngày đầu tháng 5 bi phẫn đó, người ta thấy anh lăng xăng theo những đoàn học sinh đi ... tiếp quản những cơ quan chính quyền cũ. Có người xì xào. Nhưng tôi, tôi biết, vốn dĩ anh là một người lý tưởng. Thứ lý tưởng trong sáng đến độ gần như ... ngây thơ, tin rằng ở bên kia tấm vách núi sừng sững có đầy hoa thơm cỏ lạ. Y như không ít những người trí thức miền Nam thuở đó. 

Còn tôi, thì vốn dĩ biết rõ gốc gác mình, tôi chờ lệnh ... tập-trung-học-tập-cải-tạo.

Tháng 7, bừng-con-mắt-dậy thấy mình đứng giữa Khám Lớn Rạch Giá cùng với vài chục đồng nghiệp và đồng loại, chờ được xếp hạng phân hệ ... đưa đi học đào mương, gánh đất, gở rào, dọn đường ... hầu trở thành con-người-mới-xhcn. Năm ba bữa qua, chưa thấy nhúc nhích lệnh lạc, một buổi sáng giữa nhà giam, bỗng thấy công an gác tù đưa anh vào nhập bọn. Cả đám xôn xao. Hóa ra anh vừa trải qua một hoàn cảnh dở khóc dở cười trong chính sách bắt lầm hơn thả lầm của cộng sản. Do một ngộ nhận, đám công an đòi bắt giam chị khi chị đang bụng mang dạ chữa. Chẳng đặng đừng, anh đứng ra nhận thay cho chị. Vì vậy, khi không, anh lại vô tù nhập bọn cùng tôi. Dù cả hai, xét về lý lịch chẳng có chút nào tương đồng. Từ đó, chúng tôi lại có dịp sống gần nhau, dĩ nhiên trong một hoàn cảnh không lấy gì làm dễ chịu. Tuy vậy, giống như mọi thứ nhà tù trên mặt đất này, người ta có thể giam giữ thể xác tù nhân nhưng không kềm hãm được tinh thần của họ. Mặc cho mọi hò hét, hù dọa rồi dụ dỗ, đâu vẫn hoàn đó, cái đám tù cải tạo. Và riêng tôi, tôi thêm dịp sống gần anh, thêm lắm điều đồng điệu.

Hơn năm trời trôi qua, trong nhà giam được mỹ hóa là trại cải tạo, rõ ràng anh là hiện thân của nhân vật Moritz  trong tiểu thuyết Giờ thứ 25 của Virgil Gheorghiu. Người ta đi tù vì hoặc là sĩ quan hoặc chức tước của chế độ cũ. Anh không là sĩ quan. Anh cũng không chức tước ngoài cái danh xưng giáo sư trung học đệ nhị cấp có tiếng mà không có miếng. Anh chỉ là người đi dạy học. Dạy học thì khỏi đi tù. Mà anh thì đi tù cho được. Vậy nên khi vào tù, anh không thuộc loại nào hết sau khi người ta đã phân chia đủ thứ loại hạng. Bởi vậy, anh sống tấp vô đám tụi tôi với danh nghĩa là sĩ quan biệt phái mà gốc gác thì chẳng có một ngày thâm niên quân vụ. Vậy mà vẫn an nhiên ... ở tù chung với cái đám-tù-không-bản-án, và không-biết-ngày-ra. Chẳng vậy, mà qua đó, tôi được anh chỉ dẩn cho lắm điều mà không có trường lớp nào giảng dạy. Ngay trong góc tối mù của lòng thù hận, anh vẫn tìm ra niềm tin để giữ mình thong dong chịu đựng giữa vòng dây kềm kẹp. Biết bao nhiêu chuyện có thể kể ra những ngày tù tội dưới mấy cặp mắt cú vọ của cái đám gọi là quản huấn với lại quản giáo từ ngoài Bắc viện trợ vô. Mà thôi, ông Hà Thúc Sinh đã kể ra gần đủ trong bộ sách Đại Học Máu của ông rồi. 

Chỉ biết là trong hơn năm trời, ngủ chung trên những tấm thiếc lợp nhà được gở ra từ những trại gia binh cho đến ăn chung trong những lon sửa guigoz được chế biến thành chén dĩa cũng như bếp lò nồi niêu xoang chảo, anh lại còn tỏ lộ ra vẻ trải đời và đa tài rất mực. Vẫn với một thái độ ung dung của thi nhân-triết gia, anh nhận chịu mọi đày đọa bằng một thái độ ung dung tự tại. Chẳng vậy, ngay đến những chuyện chế-biến-nấu-nướng-đàn-bà anh cũng thông thạo một cách huê dạng. Bữa đó, gạo tù chắc được tịch thu trong các vựa lẫm của quí vị xì-thẩu, cá mắm thì là loại cá liệt, bị loại  bỏ từ các ghe cào ghe xịp cặp bến mỗi chiều. Cứ như vậy ngày này qua tháng khác. Anh đâu chịu vậy. Mỗi bữa cơm, sau một ngày lao-động-vinh-quang, bằng mấy cái lon sửa guigoz đã được cắt gọt uốn ép thành bếp núc với lại nồi chảo, anh chế biến món này món nọ một cách tài tình. Anh chỉ dạy tôi cách cắt gọt rau cải, lượm lặt được ngoài ruộng rẫy bỏ hoang, đun nước nấu canh, chế biến thêm thắt cho bữa ăn có thêm chút mặn mà. Anh làm một cách nhẩn nha, từ tốn như đang sửa soạn cao lương mỹ vị. Tôi học được ở anh một bài học vô giá, sự thích ứng với hoàn cảnh !

Vậy rồi tới lúc, thả tù. Dĩ nhiên, nhốt thì dễ mà thả thì khó. Lùa vô tù thì dễ như lùa vịt vô chuồng. Nhưng khi thả tù thì kỹ lưỡng rất mực. Họ lọc lựa, xét nét, từng loại, từng đợt mà họ gọi là hệ. Tới phiên cái đám gọi là hệ biệt phái như tôi được thả ra thì anh lại lọt sổ. Mà tới khi cái đám gọi là nợ-máu-với-nhân-dân, kẻ bị đày vô U Minh người bị đưa ra tận ngoài Bắc, cũng không có tên anh. Vậy là anh ở lại tiếp tục ... làm người tù không danh số. 

... Nhưng mà nhốt hoài chắc cũng thấy ... vô duyên, đến một lúc anh lại được thả ra cũng không có lý do như khi bị bắt vô –hoặc có lý do mà chắc chỉ có mấy cái túi vàng của đám cán bộ thời đó mới biết rõ. 

Ra khỏi cái rọ nhỏ của trại giam, nhập vào cái rọ lớn của đời sống bên ngoài đang tới hồi bon chen manh mún kịch liệt để kiếm miếng ăn, anh vẫn an nhiên tự tại như cái ngày đứng trên bục giảng mà kể lể chuyện kiều nhi thanh lâu hai lượt thanh y hai lần. 

Tù về, phủi tay cái một, anh vác cuốc đi làm rẫy. Mà làm cũng thong dong, điệu nghệ không kém gì làm lãng tử. Khoanh đất nhỏ nằm cạnh bờ vịnh, có nắng lửa nhưng cũng có gió mát, có mồ hôi nhưng cũng có những mầm xanh, anh chăm sóc mấy bụi chuối lão, mấy luống rau thơm, mấy con gà con vịt ... không thua gì lúc chăm chút mấy cái vần bằng vần trắc. 

Có lúc hết việc, tạt qua thăm, anh đãi tôi ly trà nóng, vấn điếu thuốc rê phì phà hơi khét lẹt, kể tôi nghe chuyện thời Chiến quốc rồi cười khinh khỉnh chuyện thay chúa đổi ngôi. 

Có hôm tình cờ gặp người học trò cũ bứng cho bụi bông súng, tôi than với anh không biết lội nên không dám lặn xuống ao nhà để cắm rễ xuống đáy. Tốt bụng như tự bao giờ, anh đạp xe tới nơi xắn quần nhảy ùm xuống nước, lặn sâu hai ba thước trồng cho được bụi bông súng quê mùa.

......................

Ngày tháng qua đi, ục ịch hay thoăn thoắt, đánh-tư-sản-mại-bản hay đốt sách văn-hóa-đồi-trụy, kinh-tế-mới hay cải-tạo-công-thương-nghiệp, dẹp khờ-me-đỏ hay chống bọn-bành-trướng-phương-Bắc, anh và tôi vẫn có dịp qua lại gặp nhau, năm ba bữa nửa tháng. Có khi anh đạp xe lọc cọc tìm tôi, có khi tôi lếch thếch lội bộ tìm anh, gặp nhau vẫn thân thiết như bao giờ dù thời buổi đó ai nấy cũng hay giữ lòng giữ kẽ. Khoảng thời gian đó, hẵn cũng như nhiều người nội trợ khác, trước mức sống bị tụt xuống đến mức thảm hại, chị đã dấn thân ra .. chợ trời. Chắc nhờ vậy, anh lại vung tay hào sảng như hồi cách-mạng chưa thành công. Đầu ngõ vào nhà, có một tiệm nước. Chị mở cho anh một trương mục ở đó. Nói là trương mục cho có vẻ hiện đại. Chớ hồi đó, gọi là ghi sổ. Ăn uống gì xong, thì búng tay gọi chủ. Chủ tiệm cứ mở sổ ra ghi, cuối tháng chị tạt ngang, sẽ thanh toán một lần. 

Năm lần bảy lượt, anh hay rủ rôi ghé tiệm, gọi hai cái xây-chừng, vài ba điếu thuốc lá lẻ, rồi hai anh em phì phà tâm sự, chuyện đầu trên xóm dưới, chuyện cá chậu chim lồng ... Thuở đó tôi nghèo sát ván. Đi tù về, tay chân vác mướn cơm cháo còn chưa đủ nuôi thân nói gì cà phê cà pháo. Nhờ có anh mà tôi có lại chút hơi hướm ngày xưa ... Tính ra ân tình lấy gì đong cho hết !

Vậy đó, rồi mấy năm sau, nhờ may mắn được người quen cho có giang vượt biển. Tôi bỏ đi, cũng y như hàng triệu người miền Nam bỏ nước ra đi không kịp một lời từ giả.

Ở xa, dặm trường đã xa mà cảnh tình càng xa lăm lắm. Bạn bè sống hai đời đối nghịch nhau. Bên nây ngày thì bên kia đêm. Chính trị thì như đêm với ngày. Vã lại, tôi còn nợ một lời nguyền với chính tôi. Tại vậy, mà xa rồi là xa luôn. Không còn dịp gặp lại. Anh sống đời anh. Tôi đời tôi. Nắng mưa, đói no, bệnh hoạn mạnh ai nấy chịu. Lòng băn khoăn mà cứ chừng như thời gian vẫn đợi ...

Hai mươi, rồi ba mươi, rồi bốn mươi năm. Chớp mắt.

 

Thứ sáu rồi, 26-3-2021, hồi 8 giờ 8 phút sáng, ngụm cà-phê đầu ngày còn nửa chừng trong miệng, điện thư của người quen báo tin anh mất, quê nhà. Một chút sững sờ. Một tiếng chắc lưỡi. Rồi thôi. Tôi làm gì đây khi dòng đời thì chảy xuôi ... Và chúng ta cũng trôi xuôi theo cái dòng chảy không ngừng nghĩ đó. Thệ giả như tư phù bất xả trú dạ.

Thêm một chút ngậm ngùi cho cái số nghiệt ngã của phận mình, phận anh phận tôi, chung cùng trong một phận nước.

Dẫu không liên lạc, nhiều năm nay, đôi khi tôi mơ hồ biết chút tin anh. Đôi khi một bài thơ, đôi khi một bài nghiên cứu về lịch sử, địa dư, một giai thoại văn chương ... với một bút hiệu lạ nhưng cũng là anh, nửa ẩn nửa hiện. 

Bốn mươi năm. Nhắm mắt tôi còn hình dung ra anh, cao, gầy, giọng Bắc đã pha ít nhiều phù sa sông Cữu, ăn nói từ tốn nhưng không kém phần uyên bác. 

Bốn mươi năm. Đủ để xóa nhòa hết mọi di tích một thể chế. Nhưng trong tôi, anh vẫn nguyên vẹn tiếng nói-giọng cười-dáng đi và nhất là mớ kỷ niệm chung của một thời có hoa có bướm, lẫn lẫn đâu sau mấy vạt áo tơ dài, thõng thượt(**) như câu thơ nửa chừng ... bỏ lửng.

 

... Rồi người cũng bỏ đi xa

Bỏ trăng gió úa, bỏ hoa mộng tàn

Câu thơ bỏ lỡ, ngỡ ngàng !

Về tìm lại Động Hoa Vàng ngủ say

Nối thêm cho đủ mộng dài ...

 

Yên nghĩ anh há !

 

C A O V Ị K H A N H

 

(*) thơ Phạm Thiên Thư (**) trích bài nói chuyện về thơ Phạm Thiên Thư của Phạm Huy Viên  (***) chữ của PHV

THƠ HỌC TRÒ

Trần Bang Thạch, Hoàng Xuân Sơn, Cao Vị Khanh 

Nguồn: Blog: caovikhanh.com

CVK_tho hoc tro.jpg
CVK_Saucau.jpg
cvk_onceuponatime.JPG

                                                                            sao câu vọng cổ buồn đứt ruột 

                                                                            phải oán tiền khiên xúi đoạn trường 

Đã có lần, đâu đó nơi một thành phố cực bắc còn lạ hoắc lạ huơ, trời cuối năm  co quắp dưới chục lần độ đông, tê cứng. Phòng ấp xóm nghèo cửa nẻo đóng  chặt vẫn để lọt tiếng rít rợn người của âm phong trắng. Quanh tấm vải trải càng  giữa phòng khách, chai lọ ngổn ngang, bảy tám tên đàn ông mới xa quê nằm  ngồi ngất ngưởng. Giữa mâm, rượu thịt đã nguội tanh và trong lòng người, đã có niềm hiu quạnh. Bữa tiệc kéo dài đã quá lâu. Hai ba người khật khưởng bỏ ra về

... Bỗng dưng ... bỗng dưng từ một góc khuất có tiếng ai hát lầm thầm, lúc đầu  có vẻ rụt rè rồi càng lúc càng tỏ bộ quyết chắc khi thấy cả đám đông đang ồn ào  bỗng nhiên im phắc ... đâu như cái bài hát mà ông Út Trà Ôn đã làm người ta  chảy nước mắt những năm sáu mươi bảy mươi ở Sài gòn và lòng vòng mấy  miệt lục tỉnh, nghe sao là lạ quen quen ... Giọng khàn pha trong hơi rượu ẩm làm  bài ca như tươm ra cái nỗi buồn ướp sẵn ... nhứt là mỗi lần tôi thấ́́́y bông ô môi mới  điể̉̉̉m hồng trong gió chướng. Mỗi lần nghe tiếng quết bánh phồng rộn rã đón xuân sang.  Mỗi lần có dịp về Vĩnh Long đi ngang Tân Ngải thấy nhà chợ Trường An là mỗi lần tôi nhớ mùa xuân của đầu năm binh lửa. Nhớ tới dáng người vợ nhỏ chèo xuồng qua sông Mỹ 

Thuận để đưa tôi rời (ời) ... tỉnh (inh ...ỉnh) ... Long ... (ong ... ong .... ong) ... Hồ ... (ồ ... ồ ...  ồ)  

 

Tôi về̀̀̀ Mỹ Tho để lo đùm bọc cho mẹ con bà ... 

Nay đã ngót hai mươi năm dâu bể tôi không hề được tin tức của người xưa, mẹ con của nó còn hay đã chế́́́t, bởi vậy đêm đêm tôi nằm trằn trọc một mình đối diện với  lương tâm, phải đâu khi xuồng vừa tách bến sông là tôi ... đã chấm dứt tì̀̀̀nh thâm phụ (ư ...  ư) tử (ư ... ư ... ) (*) 

Tên bạn trẻ dứt câu một ngon ơ, lại còn ráng bắt chước đúng điệu ông cò-quận-chín nói lối rành mạch từng tiếng một, thiếu điều muốn đánh vần từng  chữ cái như để lột trần cái vỏ chữ sù sì ra cho người nghe, nghe và hiểu và cảm  đúng y bon cái ý cái tình của người trong cuộc. Tới chừng vô-sáu-câu đến chữ “rời” (vần bằng trầm bình thanh) làn hơi chợt đùn xuống y thể như lực sĩ nhảy  cao rùng mình lấy trớn phóng vọt lên chụp lấy chữ “tỉnh” (vần trắc) lắt léo ở trên cao. Chừng chụp được rồi lại ngậm hơi đong đưa ở đó như kẻ treo mình trên  miệng vực để chồm qua níu cho bằng được cái chữ “long” (vần bằng phù bình  thanh) treo lúc lắc ở bên kia bờ chênh vênh ... làm cho ai nấy cũng phải trân  mình nín thở đu theo cho đến khi hắn xuống hò ngon ơ cái chữ “hồ” , mọi người  như thở phào ra ... nhẹ nhỏm. Không ai đưa tay kịp phựt một ánh đèn màu (? )  mà rồi chỉ có những ngón tay đưa lên len lén quẹt nước mắt ... giấu lại. ( Bề gì cũng ̣đàn ông ai mà yếu xìu “dậy” cha nội, tụi nó cười chết. Nhất là ... chỉ tại cái  câu vọng cổ ... quê mùa ! ) 

 

Ở Bi-đông cuối những năm 70, cái hòn đảo nhỏ xíu không ai biết tới bỗng dưng  trở thành cái bến đỗ của hàng triệu người chạy chết. Ở đó, giữa những đêm  rừng mù mịt, khi những vết cắt đoạn lìa còn nguyên si máu mủ, khuất lấp dưới  những chòi trại che dựng sơ sài đã có hơn một người mủi lòng ôm mặt khóc  ngang xương khi ai đó vô tình rỉ rả mấy câu vọng cổ của Nguyệt Ánh. Ai ra đi mà 

không nhớ về người nơi chốn cũ, ai đã ra đi mà không ngậm ngùi đau xót khi con tàu đêm  rời bỏ quê ... nhà. 

 

Ai đã ra đi một chuyế́́́n không về. 

Có nhớ gì chăng những con đường mòn vắng, nhớ tiếng chuông chùa rộn rã lúc  hoàng hôn, nhớ bóng ai quảy gánh đầ̀̀̀u làng, nhớ tiếng ai rao hàng giữa chợ hay nhớ vườn cau xanh ngắt một màu, nhớ miếng trầ̀̀̀u cay hay nhớ màu vôi thắm.  

... Bạn trăm năm vẫn đêm ngày trông ngóng, mơ bóng người đi biền biệt phương  trời. Đâu biết một lần đi là ngàn năm chia cách nhau rồi. Thôi cũng đành muôn đời vĩnh  biệt, chỉ̉̉̉ xin người đừng quên vội quê hương. Đám em khờ còn mỏi mắt chờ mong, cha  già yếu mẹ mù lòa tàn tật. Em lớn khôn bị lưu đày phương bắc, chắc xanh rồ̀̀̀i mồ không  khói không nhang ... (**)

Cũng y cái tiếng ̣đàn vừa bấm nốt vừa nhấn nhấn trên những phím đã được móc  sâu cho âm thanh rung rung như tiếng khóc rưng rưng ... 

Cũng y cái lối hát phanh phui chữ nghĩa như móc ruột ra mà giải bày ... (còn nhớ không em, những tiếng khóc thút thít trong đêm, những con mắt ráo hoảnh ngó trao tráo vào cõi lòng trống hoác như mới vừa thấy lại được tận mắt cái chỗ trống trơn bỏ lại ở một xó quê nhà, như sờ được tận tay cái tan hoang của một  

cơn thất tán) 

 

Dẫu không có ý so sánh về giá trị của từng loại âm nhạc, chắc cũng khó có một  bài tân nhạc nào - dù không phải không hay – đã làm chảy được nước mắt  người nghe nhiều đến như mấy điệu vọng cổ trong cuộc tang thương đó. Dường  như chính cái lối ngân nga luyến láy qua nhiều âm vực khác nhau của cùng một  cung bậc làm độ rung của tiếng đàn thêm áo não, làm âm sắc của lời ca thêm nỉ 

non. Cái khéo của vọng cổ là đã chọn khoảng thang âm đúng phóc ngay cái mức  độ xúc cảm của con người. Không cao quá không thấp quá mà ngang tầm với  cái độ rung của tơ lòng. Thành ra y như cái kiểu đồng thanh tương ứng vậy.  Chổ xuống-hò mà người ta hay gọi là xuống-vọng-cổ là một tính toán tuyệt diệu  của sự phối âm. Thử tưởng như lòng người là một mặt nước phẳng lờ, âm thanh  là những viên đá cuội, xuống-vọng-cổ là ném đá phá sự yên tĩnh đó. Cao quá,  độ rớt quá mạnh, đá rơi tỏm và chìm lĩm. Thấp quá, độ rớt quá nhẹ, nước chỉ vừa cau mặt, không đủ lao xao. Xuống-hò là thả cho tiếng hát vút lên tới một độ cao vừa đúng mức thì buông mình hạ xuống như một cánh én liệng vòng. Âm  thanh rớt xuống như viên sỏi ném lên mặt hồ đúng độ làm dư ba càng lúc càng  sâu lắng, sâu lắng tới tận đáy những cõi lòng. Người nghe, nghe thấy buồn là sức dội ngược của âm thanh miết sâu vào tâm não-thứ tâm não vốn đầy ắp  những kỷ niệm. Đến chỗ thắt ngặt quá thì vỡ ra thành ... nước mắt.  

 

Người hát vọng cổ hát rõ từng lời một, không nuốt chữ, giọng “nam kỳ” mới đúng  điệu. Cái điệu hát không ra hát, nói không ra nói, mà là vừa hát vừa nói hay hát  bằng cách nói theo đúng âm sắc của từng chữ. Chữ lắm khi có sáo nhưng  không rỗng, vẫn là thứ chữ nằm trên đầu môi hằng ngày nhưng đặt vào đúng nơi  đúng lúc của nó, chữ bỗng có da có thịt, có máu huyết ruột rà, có ý sáng trưng  và có tình nồng nã ... nghĩa là có đầy đủ sức thuyết phục để người ta chấp nhận  và truyền cảm để người ta ... khóc ròng. Cảm tính của chữ ở chỗ nghĩa vừa sâu  vừa sát, vừa gần gũi vừa quen thuộc, vừa nôm na vừa bóng bẩy, làm cái đầu và con tim người nghe hiểu và cảm ngay cùng một lúc như tia chớp của trực giác,  không phải qua một trung gian nghĩ ngợi lôi thôi, vừa chậm trễ vừa so le. Cái độ sát phạt của âm thanh và chữ nghĩa vì vậy trở nên mạnh như một cú đấm direct  vào ngay bụng dạ con người làm rụng rún như chơi.  

 

Như vậy đã có lúc không có gì làm vừa ý vừa lòng vừa thân vừa phận nhất  (hổng vậy sao chảy nước mắt) bằng chính mấy câu vọng cổ 32 nhịp đó. Mà sao phải đợi đến cái lúc bỏ nhà bỏ xứ bỏ cha bỏ mẹ đi biệt rồi mới thấy thấm qua da  thịt tới xương tủy cái âm điệu ngai ngái mùi sình lầy úng thủy miệt sông Tiền  sông Hậu pha lẫn cái hơi oán của giọng Hời đau cố thổ. Bộ vọng cổ chỉ hát và nghe được những lúc đời tuyệt tận thôi sao. Mà điều không chừng cũng phải  vậy. Vọng cổ chỉ nên hát điệu tình buồn tình sầu tình đau tình lỡ tình trách tình  hờn. Vọng cổ là để kể lể, để than thở, để trách móc, để ủ ê, để tê tái và cùng lắm  là để bi phẩn. Tự bản chất đã nỉ non ai oán thì nài hoa ép liễu làm chi mà bắt  phải cười cợt khôi hài. Ép như vậy chẳng khác nào bắt Bao Tự bỏ cái mặt sầu bi  nên mười phần đã hư hết chín rưởi. Từ khi người ta bày đặt ra cái gọi là vọng cổ-hài-hước, ai vui đâu không biết chớ còn vọng cổ chắc chỉ thấy buồn thôi ! Lại thêm cái trò tân cổ giao duyên hai cái duyên vốn không nợ nần gì nhau thành  ra nghe cứ như ép duyên ép nợ. Cho nên chỉ thấy hục hặc giống như cái cảnh  đồng sàng mà dị mộng.  

 

Thật ra không phải đợi đến chừng đó, sáu câu vọng cổ mới đục phá ruột gan  người ta dữ vậy. Nó mùi rệu đâu từ hồi xưa hồi xửa, từ cái thời ông Sáu Lầu  buồn chuyện vợ chồng xách đờn ra che trại ngoài đồng trống, rồi dùng ngũ âm  của cổ nhạc để viết nên điệu Dạ cổ hoài lang. Từ mộ̣t bài nhạc hát riêng một nỗi  buồn riêng chẳng mấy chốc trở thành cái điệu buồn chung của cả một phần đất  phía nam. Người ta thi nhau thêm thắt sửa chửa đặt lời ca mới ... Những cô Tư  Sạng, cô ba Trà Vinh, ông Tư Chơi, ông Tám Thưa ... đã ngân nga cái điệu buồn  lê thê hò-xự-xang-xê-cống vào lòng người miền nam vốn dĩ là dân tứ xứ. Hồn  lưu lạc đó, chắc là tìm được trong cái âm giai buồn bã đó, từng nỗi niềm chung  chạ. Cho nên chính vọng cổ chớ không là gì khác đã trở thành một thuộc tính  của người miền nam như miếng mắm lóc, con khô cá sặt ... hay tô cháo lòng  hoặc nồi thịt kho dưa giá ... Và cũng chính điệu vọng cổ chớ không là gì khác đã thể hiện đúng nhất cho tinh thần khai phá của đám người đi mở xứ. Người ta  đàn hát như đùa giỡn với nhịp điệu và chữ nghĩa. Dù vẫn phải giữ cho đúng nhịp  ở cuối câu, người đàn và hát vẫn có thể mặc tình rong chơi ngón đàn hay bay  bướm lời ca ở giữa lưng chừng hai nhịp. Đâu có cái lối đờn-ca-xướng-hát nào  mà để cho người nghệ sĩ tự do đến vậy. Điều đó hẵn nhiên đã không ít thì nhiều  giúp cho người trình diễn có cơ hội bộc lộ thả dàn mọi xúc cảm mà không cần  phải gò ép sít sao như trong âm nhạc cải cách mà mỗi nốt nhạc là chỉ để diễn tả cho một từ (lời). Cộng thêm đó là cái nết tài hoa địa phương tự do đóng góp  thêm nét độc sáng của mỗi miền làm giàu có thêm điệu nhạc vốn dĩ cũng đơn  giản buổi đầu. Mỗi người một cách mỗi nơi một điệu. Đến nỗi chỉ nội cái giây tơ  mà ôi thôi cũng đủ loại. Nào là giây tứ nguyệt, giây ngân giang, giây Rạch giá,  giây lai giây hò ... rồi nhịp thì 16 rồi 64 rồi 32 … Cái lối chơi nhạc Flamenco có điểm gì tương đồng không vậy ? 

Lần lữa, những Phùng Há, Năm Phỉ, Bảy Nhiêu, Năm Châu, Năm Nghĩa, Bảy  Cao ... Rồi Út Trà Ôn, Hữu Phước, Thành Được, Thanh Nga, Út Bạch Lan,  Phượng Liên, Thanh Sang, Thanh Hải, Ngọc Giàu, Bạch Tuyết ... ôi thôi kể ra không xiết những giọng kim giọng thổ, giọng nam giọng bắc, thứ ngọt lịm như  mía lùi, thứ bùi bùi như khoai lang vùi lửa than chín tới ... với Chín Trích đờn  tranh, Sáu Tửng đờn kìm, Văn Giỏi đờn sách, Bảy Bá đờn cò và đặc biệt Văn Vĩ với cây độc huyền huyển hoặc. Những soạn giả như Trần Huyền Trang, Viễn  Châu, Thu An, Quy Sắc, Hà Triều Hoa Phượng, Hoàng Khâm, Loan Thảo ... và biết bao nhiêu soạn giả ẩn danh hay vô danh khác đã không ngừng đặt lời cho  điệu nhạc duy nhất đó mà mỗi người một ý, mỗi người một cách thức sáng tạo  đã đưa vọng cổ đi suốt con đường trầm luân của nó.  

 

Thử tính coi trên đời này có một điệu nhạc nào, độc nhất có một điệu, mà lại có không biết cơ man nào mà kể những đoạn lời. Đề tài nào ráp vô cũng được,  cũng mùi mẩn. Cũng bấy nhiêu âm khúc đó mà tình nào lời nấy, không ngượng  ngập hay khiên cưỡng. Cũng bấy nhiêu cung bậc đó mà người nghe nghe tới  nghe lui hết lời này đến lời khác mà có kêu rêu than phiền gì đâu. Kể ra cũng  ngộ. Ông bà cha mẹ đã nghe. Chú bác cô dì đã nghe. Rồi con cháu cũng nghe.  Hồi đó nghe bây giờ nghe mà hổng chừng mai sau rồi cũng nghe y vậy. Nghe  vọng cổ mà như nghe thiên cổ ! 

Đã có thời trên những cánh đồng trầm thủy buồn đến mênh mông, điệu vọng cổ đã là cái nguồn giải sầu (?) vô tận. Chẳng vậy mà luồn theo nhịp sóng thương  hồ, giữa hai hồi mỏi mê chèo chống, còn gì bằng tụm năm tụm bảy, làm bậy vài  xị đế với miếng khô cá sặt đưa cay, vửa khi sông nước tươm khói rưng rưng, nổi  hứng hò chơi vài điệu huê tình rồi bắt trớn làm một hơi sáu câu Sầu vương biên  ải ... Có cây lục huyền cầm tích tịch tình tang cũng tốt, mà không thì đôi đủa tre  hay cái muổng thiếc gỉả nhịp song lang lắc cắc cũng đủ thấy đời ... vui dù hát  vọng cổ mười lần thì đã hết chín lần thấy hiu hiu buồn lại. Người miền nam già 

trẻ lớn bé người nào mà không thuộc lỏm bỏm một vài câu ... Hát đúng nhịp  cũng tốt mà sai cũng không sao. Ai hơi đâu mà bắt bẻ cơn hứng tình bất tử.  “Dui” thôi mà. Tôi với em là gió là mây là hoa là bướm. Ôi gió thoảng mây bay hoa tàn  bướm lượn, mới yêu nhau mà đã gọi cố nhân ... rồi. (***) 

Dĩ nhiên không phải cổ nhạc miền nam chỉ rặt có một điệu vọng cổ thôi đâu. Còn  nhiều bài bản lắm. Những là ba nam sáu bắc, xàng xê, kim tiền, lý con sáo, sơn  đông hướng mã, thủ phong nguyệt, rồi khốc hoàng thiên, tây thi ... rồi còn đảo  ngũ cung, tứ đại oán ... gì gì nữa ... mà điều có phải đào kép gì đâu mà phải  rành-sáu-câu dữ vậy... chỉ cần sáu-câu-vọng-cổ là đã đủ đi ăn giỗ dài dài rồi.  Phải không ? 

 

Nghe hung tín nhị ca đà thọ khốn 

Hồng Đào Sơn em phi ngựa trở về đây 

Giữa pháp trường đá chạy cát bay 

Quân đao phủ sắp ra tay hành quyết 

Bớ La Thành ... vậy chớ Đơn nhị ca tội gì mà mày giế́́́t ... Đơn nhị ca ơi, tiền đồng  tịch kim bằng cộng lạc, hậu lâm nguy bất kiế́́́n đệ huynh khiế́́́n cho Tần Quỳnh đây ruột  thắt gan ... bào . (****) 

 

Hổng biết hồi xưa ông Đơn Hùng Tín mặt xanh oan ức ra sao chớ bây giờ quanh  mâm giỗ, cái câu hát nửa chữ nửa nôm đó âm vang rổn rảng như một cáo bạch  bi tráng về hai chữ thủy chung, nghe mà khoái đến vểnh râu dựng tóc ! Sẵn vậy  ngửa cổ nốc ực một hơi cái ly đế còn ngần ngại, há không sướng lắm ru ! 

Vậy mà sao có thời vọng cổ bị xếp hạng với nhà quê, như một thứ nghệ thuật  hạng nhì, theo kiểu cải lương hát rạp bình dân. Có phải sự gán ghép, đồng hóa  vọng cổ với cải lương là cái số đoạn trường của nó dù thật ra vọng cổ cũng chỉ là một bài bản trong nhiều bài bản mà người ta đã dùng để dựng tuồng. Hiểu  theo nghĩa những tuồng tích lai căng, dễ dãi, tạp nhạp, từ cách dựng chuyện đến  lối phân cảnh, diễn xuất, ca hát hết sức cường điệu chìu theo thị hiếu của khán  giả khi trình độ thưởng thức còn ở mức phôi thai. Dĩ nhiên ở đây phải hết sức  thận trọng để phân biệt với những công trình làm mới của ông Năm Châu từ vở 

 

Sân khấu về khuya và sau đó với nhóm Hà Triều Hoa Phượng hay Hoàng Khâm  hay ... Nhưng mà dẫu mới dẫu cũ, cải cách hay canh tân, gì thì gì, tuồng tích dù hấp dẩn hay lảng nhách, xả hội hay hương xa, đánh kiếm hay bắn súng, đào kép  điệu nghệ hay dở òm, bao giờ cũng vậy, vọng cổ luôn là cái bài bản đã được  dành sẵn cho những lúc gay cấn nhất, những hồi lâm ly nhất, những khi trầm  trọng nhất, những cảnh “ăn khách” nhất của một vở tuồng. Ngay đúng lúc đó, vô  sáu câu, (phựt đèn màu !) ... là bảo đảm ăn chắc, trăm lần như một, không có cái  vụ trả giấy đòi tiền lại bao giờ.  

 

Nghĩ thêm chút nữa, rồi có phải vọng cổ cũng chỉ là nạn nhân của sự phổ thông  quá mức của chính mình. Tại người ta yêu thích quá nên người ta gán ghép cho  nó những vai trò mà lắm khi nên tránh bớt. Nhưng biết nói sao bây giờ khi số phận của vọng cổ là số phận của những “siêu-sao” ! 

Vậy sao không trả lại cho vọng cổ cái vòng hoa nguyệt quế của nó. 

Và sao không thử hát lên để nghe lại một lần ... một lần nào đó, bỗng thấy mình  lang thang dọc một bờ sông rất lạ mà lại nhắc đến một bờ nước rất quen, hát lên  đi để nghe thử cái âm vang buồn kỳ cục dội lao xao như sóng vổ vào một bờ bến đã mù ... 

 

... tôi đứng đây mà tưởng chừng đứng trên bờ sông Mỹ Thuận, khi mình quay  xuồng tách bến để trở lại với hai con. 

Bờ cây xa mờ nhuộm khói hoàng hôn. Con nước lớn lục bình trôi rời rạc. Chiề̀̀̀u đã xuô ́́ng mặt trường giang bát ngát mà bóng người thương lẫ̃̃̃n khuất giữa  sông ... đầy. 

Tôi liên tưởng đế́́́n ngày sau mình cũng lận đận trên dòng đời ... (*****)

 

Nghe lại chưa, cái tiếng đoạn trường đó ... 

 

Cao vị khanh 

(*) (*****) Tuyệt tình ca-Hoa Phượng Ngọc Điệp 

(**) Nguyệt Ánh 

(***) (****) Không rõ tác giả 

. tranh Picasso 

-Tuyệt tình ca 

https://www.youtube.com/watch?v=Cri88N0X57M 

-Tần Quỳnh khóc bạn 

https://www.youtube.com/watch?v=_ABBLSsAgfc

cvk_camta.jpg
cvk_Moinamhoadaono.JPG

                                                      Mỗi năm hoa đào nở...

 

... câu thơ gỏ từng chữ vào lòng như ngón tay gỏ vào từng phím nhớ của một bản hoài cảm đã được dạo đi dạo lại nhiều lần, hằng năm một, và sẽ còn được dạo lại thêm những lần nào nữa? Câu thơ như nhản hiệu một sản phẩm đãđược-cầu-chứng-tại-tòa, không thể đánh tráo, không thể lầm lẫn, không thể gian lận vào đâu được.

 

Mỗi năm hoa đào nở...

 

...ờ ở đâu mà bỗng bay về những tấm giấy hồng điều lấp láy lớp kim nhủ mới tinh trên sợi giây giăng ngang hai đầu một tường vôi lở ... ờ có cơn gió sớm làm gây gây lạnh trên chút da để hở thổi lại từ hướng nào ... dường như từ hướng bờ sông cái theo con đường lớn có hai hàng me già mới thay lá non xèo ... ờ chiếc áo dài đen cũ rích tới sờn bâu có in hình mấy chữ thọ, chiếc khăn đóng chít hình chữ nhân ngay giữa trán, mấy ngón tay thuông xương xẩu, chòm râu bạc lốm đốm và đôi mắt, đôi mắt đục lờ có một vẻ gì vừa kiêu hảnh vừa nhẩn nhịn ... Ngoài trời mưa bụi bay ...

 

Vậy đó. Hễ cứ mỗi năm hoa đào nở là ... là lại thấy ông đồ già ... là ... là cứ y như ... tết đến.

 

Hiển nhiên như một phản ứng hóa học, không sai chạy một ly tử, và gọn gàng như một cái búng tay, câu thơ gọi về những hồn xưa đã tản lạc, dựng dậy những cảnh cũ còn trầm tích dưới mấy lớp nhớ hư hao, làm nở lại một bông hoa vàng đã héo, lay dậy một hơi gió đã mỏi, dựng dậy một góc phố một lề đường một ngã tư một hẻm chợ ... rồi là những mặt người những dáng dấp ... rồi tiếng nói tiếng cười tiếng kêu tiếng la tiếng o bế tiếng cự nự tiếng gà vịt đập cánh phành phạch tiếng heo con ăng ẳng tiếng heo nái ủng ỉnh tiếng chuông xe đạp leng keng tiếng bố thắng xích-lô ken két tiếng quần lãnh sột soạt tiếng trẻ nít rượt đuổi tiếng con trai chọc gái tiếng cô hai cô ba xì xò nguýt háy tiếng cô tư cô năm đỏng đảnh làm duyên tiếng chệt-hàng-xén ngọng nghệu tiếng chú-bảy-chà-và lơ lớ tiếng trả giá cò kè tiếng nài nỉ thêm bớt ... rồi là cái mùi hăng hắt của rau cải úng nước, mốc meo của vải vóc ủ kho, tanh tanh của thịt cá ế thiu, nồng nặc của cống rảnh ứ đọng, của mồ hôi đúng ngọ, của bả trầu xế trưa, của dầu thơm rẻ tiền, của bi-giăng-tin bóng lưởn, của ... của một-ngàn-lẻ-một thứ vật thực trần gian đã ứ đọng ở đó từ bao nhiêu đời, cộng thêm một-ngàn-lẻ-một thứ vật thực y như vậy nhưng còn mới nguyên, cộng thêm cái mùi thơm phức ngọt bùi béo ngậy của mứt dừa-mứt bí-thèo lèo-cứt chuột-nội địa của chà là-hồng khô-nhập cảng một-năm-mới-có-một-lần họp lại thành một thứ mùi ... rất-chợ-tết. Cái hoạt cảnh cứ diển ra hàng năm mà mỗi năm cứ mỗi mới mỗi vui ... người qua lại vội vã mua sắm, những sạp hàng bày vội chen lấn ra mặt đường đã cấm xe từ sau ngày đưa ông táo, chưng dọn mớ trái cây bánh mứt, rượu tây, trà tàu... như cả năm chưa bao giờ được chưng dọn như vậy... những hình ảnh vụn vặt những âm thanh tứ tán đó bỗng chấp chới tụ về, chắp chắp nối nối... để ráp lại nguyên hình một mùa xuân trong quá khứ, một cái tết nhất định ở một nơi nhất định - một cái tết sẽ không đầy đủ nếu đâu đó trên cái bối cảnh hỗn tạp đó không có chấm phá mấy nét thiệt tiêu sơ ...

 

... ở một góc rất khuất, khiêm nhường như chính cái mặt hàng được móc treo trên mấy sợi giây nhỏ xíu, những nét chấm phá ngang dọc dù có bay lượn rồng rắn cũng không làm vui hơn cái dáng điệu buồn rầu của ông hàng chữ cuối mùa ... Người thuê viết nay đâu. Giấy đỏ buồn không thắm. Mực đọng trong nghiên sầu. Mãi về sau nữa, lâu lắm, dù đã ở một nơi rất trái mùa. Mỗi năm hoa đào nở. Sắt son như một lời hẹn. Câu thơ làm con én đưa tin. Người ta thấy lại bằng con mắt tâm linh ông đồ già bày mực tàu giấy đỏ ... Người ta ngửi lại mùi xuân bằng cái mũi hồi ức ... Và rồi người ta đón tết, vơi vơi kỷ niệm...

 

Ở một tỉnh nhỏ nằm chen giữa hai nhánh sông lớn của miền Nam, trời mưa nắng hai mùa, mỗi năm không có hoa đào nở mà chỉ có hoa mận, hoa bưởi, hoa cam ... chỉ có hoa mai mà lại còn phải lặt lá từ rằm tháng chạp... Trời đất đâu có gởi tới một dấu hiệu riêng nào ngoài một chút gió bấc làm lạnh se da những buổi sáng thức sớm theo cha ra tỉa kiểng. Thành ra lớn lên đi học rồi cứ theo ông đồ của Vũ Ðình Liên mà đón tết. Bài học đâu từ cái thời tiểu học vậy mà làm nhớ dai nhớ dẳng. Lớn lên rồi trèo lên trung học đại học vẫn còn nhớ hoài nhớ hũy cái hình ảnh gợi tết rất ngậm ngùi đó. Mỗi năm, dù đang ở đâu, cứ vừa nghe trời đất rậm rật trở mình là câu thơ bật nhớ... mặc kệ những tất tả của tháng cuối năm. Mỗi năm hoa đào nở. Cứ vậy đó, mỗi năm, hằng năm, năm này sang năm khác ... theo cái nhịp quay rất đều tay của thời gian lại thấy ông đồ già bày mực tàu giấy đỏ trên phố đông người qua ... để cho tết đến. Rồi năm nào như năm nấy cũng thấy lại ... y nguyên cái dãy phố tàu chưng dọn se sua một cách lộn xộn như... phố tàu, nhà lồng chợ cũ kỷ được che thêm trại dựng thêm rạp làm đã vốn luộm thuộm càng thêm lộn xộn, bạn hàng đi đi lại lại chộn rộn ra vẻ còn chộn rộn hơn trong năm, cái bến nước nằm kề khu chợ cá bỗng dưng tấp nập ghe xuồng, chúc mũi đổ lên bờ những người khách xa đâu từ những thôn ấp hẻo lánh rủ nhau đi chợ tết. Chợ tưng bừng sinh khí mới. Và vẫn vậy...

 

... vẫn vậy... ở một góc phố khiêm nhường nhất, cũng lại cái hình ảnh lặng lẽ nhất mà lại mang lòng nguyên đán nhất lại nhẫn nại xuất hiện, chậm rãi trải chiếu trải khăn, khoan thai mài mực tàu trịnh trọng phơi giấy đỏ ... rồi vén áo gò lưng ngạo nghễ phóng tay phác những nét phượng múa rồng bay mặc kệ cái dửng dưng vô tình nhất của người thiên hạ... Ngoài trời mưa bụi bay.

 

Rồi là những chữ thảo, chữ triện, chữ chân phương ... thi nhau xổ móc tung hoành, những lời chúc, lời cầu, lời xin thi nhau bay lượn. Ba cái chữ phước- lộcthọ thì tròn trịa như chính sự sung mãn, những câu thơ chữ Hán quen thuộc năm-nào-như-năm-nấy-từ-đã-mấy-ngàn-năm. Thiên tăng tuế nguyệt, nhân tăng thọ. Xuân mãn càn khôn, phúc mãn gia ... đọc lên nghe rổn rảng cứ y như là phường tuồng. Vậy mà vui lắm. Mà chí tình lắm. Ðủ để người ta nghe hớn hở, nghe náo nức, nghe rộn ràng, nghe hy vọng dù có đang chạy chết để lo ba bữa tế t... Vậy chớ mùa xuân không phải là mùa hy vọng sao, tết không phải là hy vọng sao. Cho nên bỏ ra vài đồng bạc để mua về tấm giấy đỏ treo nhà cũng được, mà không mua cũng không sao, lời chúc lành đã bay đầy trời đó .... Ai cũng được hưởng phước lây...

 

Rõ ràng là ăn-tết ăn gì cũng được, nem, bì, bánh tét, bánh ít, thịt kho dưa giá xàbần, bánh phồng tôm, bánh phồng-mì-va-ni-nước-cốt-dừa-đường-cát-trắng... gì gì cũng được. Nhưng cái không thiếu được là mấy tấm giấy đỏ chữ đen mang một lời chúc lành không biết có ứng kịp hay không trong năm. Mà điều ứng hay không lại là chuyện khác. Chuyện ở đây là cái vẻ tết mà ông đồ và mớ giấy đỏ của ông đã tạo nên trong sinh hoạt dân gian. Làm như cả hai, ông đồ và ngày tết, đã được gắn liền vào nhau bất khả phân ly. Nói như vậy không có nghĩa là phụ bạc cái công đóng góp rất khoái khẩu của dưa hấu, của hột dưa -ôi cái miệng cắn hột dưa kêu lách tách còn trây trét lại trên môi dấu đỏ xinh xắn như một vết răng cắn phạm !-, của hột sen, của chuối ngào gừng, của bánh mứt, của la de tôm khô củ kiệu ... Nói như vậy chẳng qua là ngầm hảnh diện cái tánh trọng văn của người Việt. Bởi vì làm như ba cái thứ đồ ăn thức uống đó mới chỉ là da là thịt của tết. Còn chính mấy tấm liễn đỏ của ông đồ già mới là cái phần hồn làm nên phong vị. Dĩ nhiên cái nào có phần nấy, không có kỳ thị gì hết. Tuy nhiên mấy chục năm rồi, ở đâu đó trên mặt đất này, ngoại trừ cái chỗ chúng ta đã sinh ra và “ăn tết” trước khi bỏ trốn, những cái tết qua đi nếu không lãng nhách thì cũng lãng òm mặc dầu thì cũng thịt kho dưa giá, khổ qua dồn thịt, rượu tây rượu tàu ... chính là vì có còn cái phong vị đó đâu. Chẳng phải chỉ riêng cái đó làm nên tết đâu, mà là một tổng thể còn nhiều thứ khác nữa, nhưng thiếu gì thì thiếu mà thiếu cái hình ảnh lãng đãng đó nên mọi cái khác có đó mà như mất hồn ...

 

Người ở xa, xa tăm tắp quê hương, không những chỉ quan san ngoài sông núi, mà quan san ngay chính giữa lòng mình. Biển xanh thì cứ y nguyên dặm trường mà lòng người thì tang thương đã quá độ. Trí nhớ thì cứ như một người tình khó tánh, nay vầy mai khác, cái muốn nhớ thì quên, cái muốn quên thì lại nhớ. Ai đời đã xa ơi là xa trời đất đó, khí hậu đã lộn lạo, mùa màng đã sang đàng mà mỗi năm cứ gở tới tờ lịch Tam tông miếu cuối (ấn bản hải ngoại) là lòng cứ thấy băn khoăn rồi năm nay sẽ ăn tết ra sao. Hỏi thì cứ hỏi chớ câu trả lời thì đã sẵn đâu từ hồi mới bỏ xứ mà đi. Ở đây có tết đâu mà ăn. Mà có ăn thì cũng trệu trạo ba cái món cam-giang-nam-đem-trồng qua-giang-bắc cũng chỉ thấy nhạt phèo. Chỉa đủa gắp miếng thịt đọng mở đục ngầu là cái bụng lại ớn ngược nhớ miếng thịt phay trụng nước sôi trong vắt. Nhai miếng dưa-cải-bọc-ny-lon-made-in-Thailand là cái răng tê tái nhớ miếng dưa-cải-má-muối-trong-khạp-đậy-bằng-lá-chuối-sauvườn ... Còn ba cái hội xuân chợ tết cũng phải kéo nhau vào trốn lạnh trong những hội trường cửa nẻo kín bưng tới nỗi áo dài người xưa tha thướt đến vậy mà bây giờ hai vạt cũng đành buông thỏng ngây đơ đến tội tình. Ôi ! Áo màu không gió cũng thôi vàng. Trong ta còn lại đìu hiu vắng ...

 

Nói vậy rồi ngẫm nghĩ lại mà thấy băn khoăn. Hóa ra cái ăn cái mặc của người ta coi vậy mà quan trọng hết sức. Người lưu vong ở xứ người ăn uống đủ thứ thập vật. Nhất là ở những xứ gọi là họp chủng đa văn hóa này, thực phẩm là cái món được chủ trương cho sống chung hòa bình nhất. Từ cái món cầm tay " to go " đơn giản nhất tới cái món nấu nướng cầu kỳ nhất, từ cái kiểu ngồi bệt ăn bốc ăn hốt đến cái kiểu ngồi thẳng lưng ăn ly tách dao nỉa lỉnh kỉnh nhất ... phải nói là không thiếu cái chi. Thử, nếm, chấm, mút ... ôi thôi tha hồ. Thiếu điều riết rồi có khi phải tự đặt cho mình những kỷ luật kiêng cữ còn nghiêm nhặt hơn kỷ luật nhà binh nữa. Vậy mà xét ra chưa đủ. Bởi vì như đã nói ăn gì thì ăn lang bang được mà ăn tết lạ chỗ thì không được. Ăn tết ở xứ người trăm phần không thấy ngon. Muốn ngon miệng phải về ăn tết tận quê tận nơi tận chỗ. Phải ăn tết với tất cả cái phụ tùng cần thiết của nó. Một nhánh mai, một cành đào, một chậu thủy tiên, một đòn bánh tét nấu đêm giao thừa bằng nồi đất chụm lửa củi, một miếng bánh phồng nướng lửa than ... một bao thơ đỏ, một tấm liễn hồng điều ... và nếu được đôi ba chùm pháo chuột lại càng vui như ... tết.

 

Chẳng vậy mà mới nghe phong phanh tết đến đã không ít người vội vã chầu chực, chạy chọt, xin xỏ cho được cái visa (dù mình về quê mình) để ... ăn tết. Tin trong một tờ báo ở đây năm nay có đâu khoảng 300.000 việt kiều hồi hương ăn tết. Nghe mà thương nhưng buồn. Hóa ra hằng năm dù ở đậu nhưng cũng ăn nhờ không biết bao nhiêu lễ lạc lớn nhỏ của người ta, từ tạ ơn đến giáng sinh, từ halloween đến tết tây... vẫn là chưa đủ. Lòng việt kiều vẫn muốn khều cành nam. Ðồng đô la xanh vẫn mạnh hơn đồng đô la vàng. Và nhờ đó, tết nhứt lại có chiều nhứt dạ đế vương (không giương cũng uổng !!! )

 

Trách ai bây giờ. Người ta về quê ăn tết cũng là hợp với cái luận lý nước chảy về nguồn, dù cái nguồn đó có đôi khi làm người ta tá hỏa tam tinh như Từ Thức về trần. Thì thôi ăn tết ở đâu cũng vậy, ăn tết ở quê nhà ... nhà nước cám ơn.

 

Chỉ đáng đời cho cái đám thân đã quy Tào mà hồn còn Từ Thứ, bắt chước Bá Di với lại Thúc Tề, cứ ráng gồng mình chịu rét làm cái thân thông suông đuột đứng giữa trời mà kêu réo, đến ngày tư ngày tết trùm khăn trùm áo, mang ủng lội tuyết đi đón xuân ở một nơi chưa tới kỳ xuân, làm bộ ăn tết ở một chỗ không có gì là tết. Chừng không thấy tết ở đâu thì buồn mà khi có người dổ ngọt về quê thì dẩy nẩy như đạp phải đinh chong tẩm độc...

 

Mà điều nói thì nói vậy, chớ ngó trước ngó sau rồi càng lúc càng thưa thớt những tấm lòng lạc điệu đó. Mỗi một năm một vắng... chẳng khác gì cái ông đồ già trong thơ Vũ Ðình Liên ... Nhưng mỗi năm mỗi vắng ...

 

Ông đồ vẫn ngồi đây

Qua đường không ai hay

 

Qua đường không ai hay !!!

 

Caovị khanh

 

* tựa và chữ in đậm, trích thơ của Vũ Ðình Liên

____________________________________________

CVK_cuoinamdocNB.JPG

Nguyễn Bính đã có lần từ Bắc vào Nam. Con đường xe lửa xuyên Việt thời đó kể đã là thiên lý. Bỏ xứ đi xa đằng đẳng như vậy thì làm hành là phải lắm. Hành Phương Nam.

 

Đôi ta lưu lạc phương nam này.

Trải mấy mùa qua én nhạn bay

Xuân đến...(*)

 

Tâm cảnh đã không yên thì xuân đến hay xuân đi cũng chỉ là cái cớ. Lòng đã ở ngoài đó thì trời nước trong này chỉ là một dãy bơ vơ. Đầu năm hay cuối năm có khác gì nhau khi thời gian chỉ là thứ dấu mốc cắm chia những đoạn đời hồi ức.

Ta đã làm gì đời ta. Ý nối ý quấn quít, chữ níu chữ không rời làm thơ tuôn ra như bầy ngựa sút cương, xổ bờm mà chạy. Hành. Đọc lên thấy bồi hồi xốn dạ...

Xuân đến khắp trời hoa rượu nở.

Riêng ta với ngươi buồn vậy thay

Lòng đắng sá gì muôn hớp rượu

Mà không uống cạn mà không say (*)

 

Say. Uống cạn. Mà chắc gì uống cạn rồi say. Khi ruột đã đau-chín-chiều thì uống bao nhiêu cho cạn nhớ. Túy đảo túy điên sầu tự sầu.

Cuối năm. Đất khách. Thơ ai không nhớ lại nhớ thơ ông. Lại nhớ đúng cái bài hành ông đã làm khi lưu lạc trong nam, lúc năm cùng tháng tận.

Hành.

Những bài thơ dài như không muốn hết. Những ý tình lơ lửng như không biết bám vào đâu. Những câu thơ bảy chữ âm vận mang mang như nỗi lòng sấp ngửa.

Hành. Trăm mối ngổn ngang. Chữ nghĩa ba đào dậy từ lòng lữ thứ.

Đôi ta lưu lạc phương nam này

Trải mấy mùa qua én nhạn bay(*)

 

Phương Nam. Trời Nam ngàn dặm thẳm, mây nước một màu sương. Nguyễn Bá Trác.

Đọc hành rồi biết ông ở nam mà nhớ bắc nên lòng tôi lại cứ chực chờ đổ ngược mà xuôi nam.

Miền nam. Quê tôi đó. Miền nam, Sài-gòn, lục tỉnh. Miền nam, Vĩnh long, Rạch giá... Miền nam, cái miền đất mưa nắng hai mùa chán phèo, không gợn chút heo may để làm nhớ, không thấm chút mưa phùn để vướng lạnh vai ai. Vậy mà tôi cũng nhớ lắm như ông nhớ quê ông vậy. Xuân đến khắp trời hoa rượu nở. Riêng ta với ngươi buồn vậy thay.

Ông bỏ đất bắc vào nam có non ngàn cây số đã coi là lưu lạc. Tôi ở đất trích mịt mù san dã chắc phải nói là lưu lạc tới chục lần. Ông xa quê vì lý do nào không rõ nhưng dù cay đắng cách mấy ông vẫn còn có chỗ để quay về. Chớ còn tôi bỏ quê vì một lý do rất rõ nên không còn nơi để trở lại. Ông làm thơ giọng điệu cao kỳ ngất ngưởng mà nghe ra sao cứ thấy ngậm ngùi... Ngươi sang bên ấy sao mà lạnh. Nhịp trúc ta về lạnh mấy mươi. Tôi đọc thơ ông rồi cũng ngậm ngùi theo. Lúc năm cùng tháng tận, tôi thương ông rồi lại thương tôi...

Xuân đến khắp trời hoa rượu nở (*)

Hoa rượu ?

Mà nào tôi có thấy hoa rượu ra sao. Sao không đọc thử lên như giữa lòng tôi, đã thấy.

Xuân đến khắp trời “hoa mận” nở

Xuân đến khắp trời “hoa mận” nở

Hoa mận. Thứ hoa nở thành chùm trắng muốt cứ rung rinh mớ nhụy vàng như để dỗ ong bướm về chơi. Hồi đó hơi sức đâu mà để ý tới cái thứ bông hoa quêmùa kiểu lòng mương ý rạch. Vậy mà bây giờ sao lại nhớ ơi là nhớ. Nhớ con đường số 4 chạy miệt mài qua những vườn mận Trung lương Bến Lức. Nhớ lớp đất đen vét mương vun gốc bốc dậy mùi sình non sỗ sàng. Nhớ giỏ mận hồng  đào mịn mướt như má con gái dậy thì chất đống hai bên bờ bắc Mỹ thuận. Nhớ cây mận lão đầu nhà cháy nám đạn bom vẫn thủy chung ngọt lịm. Nhớ bầy kiến vàng kiên nhẫn bò ra bò vô nếm mút tranh kình với đàn ong đám bướm. Hồi đó. Cả một giồng đất phù sa từ miệt Cái bè Cai lậy đổ dài tới Sa đéc Vĩnh long bỗng trở mình thơm ngát khi gió cuối năm chớm lạnh làm nở bừng từng chùm hoa mận trắng tươi. Tinh sương, hương đã dậy đồng, bay qua vườn qua rẩy, len qua mấy cánh cửa lá sách, chui vô mấy cánh mũi phập phồng như để chọc ghẹo cái khứu giác còn ngái ngủ. Xuân đến khắp trời hoa mận nở. Một trời bông mận nở.

Quê tôi bừng dậy náo nức theo nhịp mùa sang. Năm sắp hết. Lúa mới phơi giữa sân. Sau nhà đã nghe tiếng chày quết bánh phồng inh ỏi... Rồi Tết đến, rồi...

Chút vậy thôi “hoa rượu” của ông đã làm dậy cả trong tôi mùa màng thời tiết cây trái của một vùng đất thân quen đã bắt đầu lạ lẫm. Chút vậy thôi “hoa mận” của tôi bỗng làm nhớ đến cả những con người ở đó, đã có lúc keo sơn gắn bó giờ thì xa đến ngăn ngắt một biển dâu. Người còn sống, thắc thỏm. Người đã chết, uất hận. Và sự sai chạy của một hẹn thề.

Lời thề buổi ấy cầu Tư Mã

Mà áo khinh cừu chưa ai may

Ngươi giam chí lớn vòng cơm áo

Ta trói thân vào lụy nước mây

 

Ai biết thương nhau từ buổi trước

Bây giờ gặp nhau trong phút giây

Nợ thế trả chưa tròn một món

Sòng đời thua trắng đến hai tay(*)

 

Ta có làm gì đời ta. Hay ta chỉ bội phản đời ta. Đã có lần nào ngồi lại, ngó ngược ngó xuôi, tính lui tính tới để thấy ta đã làm gì đời ta. Bỏ nước ra đi đâu phải để cầu tư mã. Vậy mà đôi năm đã nhụt chí sờn tâm. Vậy mà mươi năm chuyện nước non đã trơn trớt ngoài đầu môi chót lưỡi. Quanh đi quẩn lại phường tuồng vẫn còn đó, chỉ có cái chữ sắt son là thua thiệt.

Tâm giao mấy kẻ thì phương bắc

Ly tán vì cơn gió bụi này

Người ơi, buồn lắm mà không khóc

Mà vẫn cười qua chén rượu đầy(*)

 

Ngày Kinh Kha ngược sóng sang Tần, mấy ngàn con dân nước Yên đầu chit khăn trắng vòng tay tiễn ra tận bờ sông Dịch. Việc không thành nhưng ít nữa cũng không phụ lòng Phàn Ô Kỳ tặng đầu và mỹ nữ đã hiến tay-chuốc-chén.

Hỡi ơi Nhiếp Chính mà băm mặt

Giữa chợ ai người khóc nhận thây

Kinh Kha quán lạnh sầu nghiêng chén

Ai kẻ dâng vàng kẻ biếu tay(*)

 

Ông Nguyễn Bính ơi, ông nói chuyện ông mà lồng chuyện đời chiến quốc, cái thuở có những hào sĩ mài dao trủy thủ, ngậm than, rạch mặt, nằm giường gai, nếm mật đắng ... để giữ một lời thề...

Lời thề. Lời nguyền. Rồi ra chỉ là cố sự.

Cuối năm, đọc tới đọc lui mới thấy thơ ông làm mấy chục năm trước mà vẫn còn mới nguyên tới bây giờ. Đời nào con mắt thế nhân cũng trắng dã. Tâm của ông là tâm kẻ thất chí mà thơ của ông là thơ kẻ ngang tàng. Giọng tha thiết kêu rêu mà vang âm lạnh lẽo có khác gì tiếng cười gằn, khinh bạc. Cái kiểu nói cười sang sảng mà bụng dạ rầu rĩ đã quắt queo. Sao không một lần vung tay cho huê dạng.

Vẫn dám tiêu hoang cho đến hết.

Ngày mai ra sao rồi hãy hay(*)

 

Ném tới đồng bạc chót vào cuộc chơi. Hay xả thân tới cùng cho một lý tưởng.

Nhìn từ một góc độ nào đó, cả hai có khác gì nhau. Dẫu sao cũng còn tiếng taychơi-thứ-thiệt. Chẳng hơn cái đám mày râu nhẳn nhụi, sĩ-khí-rụt-rè-gà-phải-cáo, hai con mắt láo liên chỉ chực chờ đón hướng gió mà náu thân. Hai chữ hão hớn, rồi ra, chỉ còn để gọi cho đám yên hùng ngoài bến nước.

Ông có điều khó nói mượn chuyện xưa mà cay đắng chuyện nay. Tôi đọc ông mà thấy nguyên hình kẻ thất thế, bó tay đành đoạn. Giày cỏ, gươm cùn, ta đi đây. Đi đâu? Chẳng qua cũng chỉ để dối lòng. Còn chỗ nào để tới khi cái chỗ phải về đã bít lối, chỉ còn qượn từng đám mây trắng tha hồ, khi ngoảnh lại.

Mây trắng. Vân hoành Tần lĩnh gia hà tại.

Ở đây không có núi nên không có mây vắt ngang đầu núi. Tôi lại đâu có được cái nghênh ngang như ông tướng tàu nào đó mà chỉ tay cảm thán. Vậy mà đọc thơ ông vẫn thấy mây bay cuồn cuộn về nam. Về Nam.

... trời Nam mù mịt. Hồ trường. Sao lại nhớ Nguyễn Bá Trác. Trai trẻ bao lâu mà đầu bạc, trăm năm thân thế bóng tà dương. (**)

Ta đã làm chi đời ta !

Người ơi buồn lắm mà không khóc !

 

Cao vị khanh

(*) thơ Nguyễn Bính (**) thơ Nguyễn Bá Trác

________________________________

CVK_Su thi.JPG

SỬ THI

 

HUYỀN TRÂN

em ngồi con-mắt-huyền-trân

tôi qua cửa lớp không dưng ... buồn buồn!

em buồn điệu quá ải quan

tôi buồn cái điệu tướng Trần, ngậm cay.

 

NGUYỆT NGA

em ngồi con-mắt-nguyệt-nga

cái môi cắn chỉ như "tha" bả trầu

nhỏ ơi thương nhỏ mà rầu

lỡ làm quân tử hảo cầu sao đang.

 

MỊ NƯƠNG

em ngồi con-mắt-mị-nương

tay che nửa mặt điệu buồn cổ thi

từ em, tiếng ấy thầm thì

tim tôi chén ngọc Trương Chi…vỡ òa.

 

GIÁNG KIỀU

em ngồi con-mắt-giáng-kiều

tôi rao Kỳ ngộ thiếu điều ruột đau

làm sao về lại Bích Câu

khi em áo lỡ qua-cầu-gió-bay.

cao vị khanh

_____________

CVK_và rồi những cuộc chia tay.JPG

Có lần tin đến muộn, rất muộn, nhưng dẫu sớm hơn cũng chẳng níu giữ được ai, họa sĩ Chóe tức Nguyễn Hải Chí vừa từ giã cõi đời. Những nét minh họa bén như dao khắc trên tuần báo Khởi Hành những năm 60-70 đã từng làm sửng sốt hơn một người xem.

 

Trước đó tin ca sĩ Duy Khánh qua đời. Tiếng hát trúc trắc của miền Trung trục trặc dẫu thích hay không vẫn rất thân quen trong cái sinh hoạt văn nghệ rất mực trăm-hoa-đua-nở của miền Nam ngay từ lúc bom đạn còn đương mù mịt. Chừng đâu tháng trước nữa, ở Úc, điêu khắc gia Lê Bá Ðảng cũng bỏ đồng bỏ đá bỏ dao cọ mà đi...

 

Dẫu trước hay sau rồi cũng lần lượt bỏ đi, nhà văn Mai Thảo, nhà thơ Nguyễn Tất Nhiên ... lâu hơn nữa những Việt Hùng kép đẹp của Ðầu xanh vương khổ hận, Hùng Cường kép mùi của Tướng cướp Bạch Hải Ðường, nhà văn kịch tác gia Vũ Khắc Khoan của Thần tháp rùa, nhạc sĩ Phạm Ðình Chương của Mộng dưới hoa, nhạc sĩ Trúc Phương mà ai đã có lần qua cổng một trung tâm nhập ngũ nào đó lại không nhớ thứ ngôn ngữ tình đặc biệt làm bằng dấu đôi tay, nhạc sĩ Trầm Tử Thiêng với cái phát giác rụng rời ta nghiêng vai nghe lại cuộc đời thì hãi hùng hoàng hôn trờ tới, rồi Nguyên Sa của nắng Sài gòn anh đi mà chợt mát, rồi còn Lê Uyên Phương và Vũng lầy của chúng ta, rồi ở tận bên nhà Út Trà Ôn ôngcòquận-chín, lâu lâu hơn nữa nhà thơ nhà báo Thanh Nam của Bài hành bốn mươi... Bao nhiêu tên tuổi của một thời đã lần lượt bỏ cuộc chơi mà đi mất... Và còn ai nữa... còn ai nữa...

Tích nhân dĩ thừa hoàng hạc khứ

Thử địa không dư hoàng hạc lâu

 

Cái mặt đất này rồi đến lúc trơ trụi như cái lầu hoàng hạc và ánh chiều tà của một ngày xa xứ sẽ đìu hiu biết bao nhiêu...

 

Có những tên tuổi rất quen và còn bao nhiêu tên tuổi không quen biết, đã đến rồi đi, giữa cơn trường hận này...

 

Hơn ba mươi mấy năm trước, giựt mình bỏ chạy, có mấy người liệu được ngày gởi thây đất khách. Vậy mà ngày về rồi xa lắc xa lơ... Rồi tuổi tác, rồi bệnh hoạn, rồi gói mộng mà đi...

 

Cái chuyện người nhắm mắt xuôi tay cũng thường như cái chuyện người mở mắt chào đời, hằng hà sa số, ai hơi đâu mà kể lể. Có họa chăng mấy kẻ thân thích hoặc khóc hoặc cười... Mà điều, trong cái hoàn cảnh dở khóc dở cười của tôi, của anh của chị, của những người nửa đời nửa đoạn sao nghe ra cứ thấy ... ngậm ngùi. Có một cái gì đó đã qua đi, đang qua đi và sẽ qua đi mất... Cái gì đó là cái thời của chúng ta liền với một khoảnh đất, dù vinh quang hay tủi nhục, vẫn là suốt một thời chúng ta đã góp mặt, cùng khóc cười theo vận nước nổi trôi.

Tùng cúc lưỡng khai tha nhật lệ

Cô chu nhất hệ cố viên tâm.

Giọt nước mắt ngày nào. Tấm lòng vườn cũ. Chữ của Đỗ-Phủ-lưu-lạc đôi khi mới thoáng nhớ đã nghe như nước mắt chực chờ ! Tội tình chi đeo đẳng khi đã cuối một đoạn trường ...

 

Xứ người gần bốn mươi năm vẫn thấy lạ trời lạ đất. Làm sao không lạ lẫm những tấm lòng. Còn lại chút quen-hơi-bén-tiếng dẫu không thân thích vẫn nghe ra rất ruột rà. Chút tơ-lòng-đã-cũ cứ làm nhớ triệu điều tha thiết cũ. Ở đây đôi khi nghe lại một tiếng hát một đoạn nhạc đã nghe từ khi còn ở quê lòng bỗng bồi hồi như thấy lại mình một ngày nào ở đó, đọc một câu thơ một bài văn của một người mình đã mến mộ từ khi chưa đi xa lòng bỗng thấy như thâu ngắn lại được chút nào cái khoảng cách trời cách biển. Làm như có một cái gì đó lẫn lộn giữa quê hương và người nghệ sĩ, kẻ thừa tự đầu tiên và cuối cùng mọi ân phước cũng như oan khiên của đất nước. Trong một liên hệ nhân quả nào đó, có phải nghệ sĩ là kẻ đã thừa hưởng cái tài hoa của dân tộc, ân huệ của đất đai thổ trạch, của sông ngòi kinh rạch, của mùa màng thời tiết nơi họ đã được sanh ra, lớn lên và un đúc nên vóc nên tài. Có phải chỉ chút gió lạnh đổi chiều đã làm lòng họ sang thu. Có phải hoa mới ngập ngừng đơm nụ mà hồn họ đã vô vàn cánh bướm. Họ hưởng trước ai hết và trả sau ai hết cả vốn lẫn lời từ hạnh phúc đến khổ đau của một dân tộc. Họ đã và đang làm cái kiếp con tằm cố trả hết nợ cho dâu. Có phải trọn hết cái hồn hậu của phù sa mấy miệt lục tỉnh đã trộn lộn lại cho mình ên ông Út ở Trà Ôn cái hơi vọng cỗ nghe mùi đến tận mạng. Có phải thi sĩ là kẻ đã thở cùng hơi với hương đồng cỏ nội hai bên bờ Cữu Long bát ngát, đã nhịp cùng mạch với nhấp nhô núi cả đèo cao suốt dọc dãi Trường Sơn ... Từ đó, tiếng họ ru hời có lẫn tiếng à ơi của mẹ già bỏ lại. Tiếng họ thở than có tiếng rên siết của quê hương tù đày, nghe họ hát hò, viết văn làm thơ, vẽ khắc ... làm sao không thấy lại cả một trời quê hương được dựng lại. Dẫu có mông lung.

Ờ, họ dính liền với quê hương như một. Nghe họ là nghe quê hương lên tiếng. Ðọc họ như thấy chính quê hương tâm sự. Trong một lúc. Vào một thời. Có ta ở đó. Mấy chục năm nay cứ bám víu vào họ mà sống, mà buồn vui... mà tự nhủ còn đó, còn đó... cái thời của chúng ta.

 

Có nhớ không chính những nét vẽ của Chóe đã làm nôn nao người thầy trẻ mỗi tuần chờ báo Khởi Hành trong một tiệm sách nhỏ dưới gốc cây me già ở một tỉnh miền tây. Những năm 70. Không khí tỉnh lẻ. Cái gì cũng chừng chừng phải phải. Ông thầy trẻ hai mươi mấy tuổi lại cứ thích để tóc dài, quần jean bạc thếch áo phạch banh nút ngực... thả lang ngoài phố như một tên du đảng.. Ờ nét vẻ của Choé ngang tàng trái cựa y hệt như một tuổi thanh niên cứ muốn thách đố với đời.

 

Vài năm trước nữa, những ngày thứ bảy lượn dài trên hè phố Lê Lợi, đợi nắng xuống chiều lên khi mấy cây me già vừa thả lá, kéo nhau vào quán Cái Chùa, gọi tách cà phê hay cốc rượu ngọt, đốt điếu Gitane thả khói loanh quanh rồi nghe Joe Marcel hát Phạm Ðình Chương bằng cái giọng rất lừng khừng chưa gặp em tôi đã biết rằng có người thiếu nữ đẹp như trăng... ... Ờ sao mà quên được, quên làm sao được, Sài gòn thuở đó thở nồng hơi nhiệt đới, má ửng hồng mà chẳng chút phấn son, tóc mai quến mấy giọt mồ hôi thoang thoáng, lưng áo vải tetoron vô ý mà hữu tình, ai mà không thích Lê Uyên Phương, khi có lần từ một căn gác trọ bước theo em xuống phố trưa nay mà đang còn nhức mỏi đôi vai...

 

Vâng những người nghệ sĩ đó họ đã nói giùm ta điều ta nghĩ -mà nói rất điệu, vào một lúc nào đó, ở một chỗ nào đó... Và như vậy, họ chính là ta vào lúc ấy, ở chỗ ấy... Cái lúc cái chỗ ở riết thành quen mà xa rồi là nhớ ơi là nhớ. Cái chỗ người ta nói tiếng Việt Nam, hát tiếng Việt Nam, làm thơ viết văn bằng tiếng Việt Nam, yêu nhau bằng tiếng Việt Nam và gây gổ chửi rủa bằng tiếng Việt Nam ... Họ là tiếng nói của một thời, là nhân dáng của một thuở. Nghe họ thấy họ làm như còn thấy lại một mảnh giang sơn đã rách bươm, từ lúc bỏ đi ... Ðọc họ nhìn họ như còn thấy lại cái góc vườn-cũ, của lần gặp đầu, của buổi chia tay, đường quen phố thuộc, chòm xóm thân quen, những giòng sông hẹn, những bến đò đưa... Những ca nhạc sĩ của một thời, những văn thi sĩ, những họa sĩ đã rung lòng theo nhịp rung của thời đại, những năm giặc giã, những năm chia lìa, bây giờ đang lần lượt ra đi, mang theo với họ sợi dây chằng giữ con thuyền lưu lạc với cái bến cũ đìu hiu.

 

Họ bỏ đi, chúng ta mất thêm lần nữa, quê hương.

 

Và nhất là nhìn từ một góc nào đó, họ còn là hình ảnh của sự tái tạo từ tro than, của sự phục sinh từ cơn bức tử. Hay nói cách khác, của một giấc mơ vĩnh cữu về một cảnh đời tạm bợ.

 

Họ đi rồi, bỏ lại dở dang ta, những hồi mơ xuân hiếm muộn.

 

Jorge Luis Borges. Tâm hồn thi sĩ có bao giờ thôi ước hẹn với thanh xuân.

 

Khi những ngôi sao bắt đầu tắt lửa, vòm trời giống y như một cõi lòng trống trơn.

 

Cao vị khanh

 

* Hơn 10 năm trước, viết với đề tựa Bắt đầu ... Mười mấy năm sau, dẫu không muốn rồi cũng phải sửa lại ... Và rồi ... và rồi những cuộc chia tay vĩnh viễn!

 

viết thêm

 

* Nguyễn Tất Nhiên “ Ngày 3 tháng 8 năm 1992, người ta thấy anh nằm chết trong một xe hơi cũ, đậu dưới bóng cây trong sân chùa tại California ” - Wikipédia. 

Thi sĩ Gởi theo NTN , người thi sĩ bạc mệnh

 

Tôi chắc người buồn từ một thuở

Đất trời còn dậy dáng hoang sơ

Cõi trong chưa tỏ niềm trăn trở

Người hãy còn chơi một cõi mơ

 

Tôi biết người vui chỉ phút giây

Đáy ly rượu cặn chát men say

Những hình hư ảo xoay cuồng vội

Tắt lịm khi trời trắng bóng mây

 

Tôi biết những người khóc lẻ loi *

Lệ nghẽn đường tim chẹn khóe môi

Gởi trả nợ tầm vay lỡ kiếp

Gối vòng nguyệt quế ngủ quên đời *

 

Thanh Tâm Tuyền

* Mai Thảo mất ngày 10 tháng 1 năm 1998 tại Santa Anna, Ca

Rượu khôn cầm

gởi theo Mai Thảo

 

Ta vẫn ngồi yên, đối bóng im

Người đi, chân nhủn có ai kềm

Chén rượu trần gian chừng đã cạn Chần chờ chi nữa, có gì thêm?

Người đi bất chợt thế mà hay

Rượu đã khôn cầm, cứ uống say

Rồi mai đập chén vào hư ảo

Rượu của trần gian trả lại mây

Rượu đỏ như lòng thuở mới yêu

Rót tràn theo mấy bóng đời xiêu Ngoài kia phố thị chiều thay áo

Quán nhỏ người xanh mắt tịch liêu

 

Ta với người chung một tuổi sầu

Dẫu đời kiêu hãnh giấu niềm đau

Đêm say bốc rượu cay tròng mắt Lòng vẫn ngùi thương chuyện bể dâu

 

Hãy giả vờ vui đêm trắng đêm

Tay xuôi oằn mỏi thiếu vai mềm Người đi ngoài cõi mù sương trắng Bãi trống loang dài một vết chim ...

(cuối tháng giêng chín-tám)

- Gởi thêm

Rồi miếu đền xưa cũng vắng tanh

Thơ bay cứ vướng một điệu hành

Hàng hàng xác chữ nằm thoi thóp

Đợi lửa phần thư cháy đoạn đành.

(tháng mười một chín-tám)

-Nhắn người đi ...

Nhắn Mai Thảo viên đạn đồng chữ nổi

Vẫn còn ghim trên chót đỉnh ngọn trời

Bãi cỏ non theo từng tháng giêng tươi

  Hình vẫn sáng giữa miếu đền trung thực

(chữ nổi – trích tựa vài tác phẩm của Mai Thảo)

***

... từ bài viết tới nay, đã thêm bao nhiêu cuộc chia tay, ồn ào hay thầm lặng, thì cũng là những cuộc chia tay ... vĩnh viễn!

Ờ, vĩnh viễn ... vì có bao giờ còn thấy nữa những trang chữ nghĩa tinh tế kiểu chẻ-sợi-tóclàmtư của Võ Phiến, những thao thức cội nguồn của Bình Nguyên Lộc, những hào hoa phóng lãng của Nguyễn Xuân Hoàng, những điên đảo phiêu bồng của Bùi Giáng, những nghênh ngang ngất ngưởng của Phạm Công Thiện, những và những

... Ờ, vĩnh viễn .... vì bên giáo-đường đã im bóng Quỳnh Giao, vì Hà Thanh đã thôi lướt thướt qua những-chiều-mưa-biên-giới, vì “ sầu nữ ” Út Bạch Lan đã tắt nhịp não nùng, vì Đinh Cường đã bỏ màu buông cọ, vì nhạc sĩ Thanh Bình đã bỏ-ta-trong-mưa-bay thì làm sao còn thấy lại được những mùa-thu-vàng-sau-lưng-ta nữa

... Rồi Phạm Ngọc Lư với Biên Cương Hành cũng vừa vượt cương tỏa bỏ tới vô biên...

Rồi ....

     Rồi ...

          Rồi ...

Thì thôi. Đã có đến thì sẽ có đi. Ai đó đã nói cuộc đời như quán trọ và ai nấy cũng chỉ là những người khách qua đường.

Nhưng làm sao quên được! Những vang bóng của một thời!

Cõi người có bao nhiêu

Mà tình sầu vô lượng

Còn chi trong giã tưởng

Hay một vết chim bay

 

* Một vết chim bay?

Hay một câu thơ? Một nét chữ? Một tiếng hát? ... đã làm ai đó vui tai vui mắt vui lòng một giây một phút một giờ một thoáng trong cõi sầu vô lượng này. Xin cám ơn. Và xin an nghĩ.

Còn lại đây ... vẫn đăm đăm cái khoảng trống vô chừng!!!!!!

 

Cao vi ̣khanh

 

(*) Phạm Thiên Thư

 

Tái bút

17- 6 – 2017 Phạm Ngọc Lư

Phạm Ngọc Lư

Chợt tin ... người đã ... thiên thu

Dưng không trời bỗng sa mù quanh tôi

Mươi năm chuốt chữ trau lời

Đan Tâm(*) một tấm gởi đời lệ riêng

Này vui, này muộn, này phiền

Đếm đi đếm lại còn nguyên nỗi mình

Thôi, anh đi! Một chút tình

Vẫn tôi góc biển, khóc mình, lệ chung!

                                 (*) tập thơ của Phạm Ngọc Lư-2004

Tái ... tái bút ...

21-5-2019 Tô Thùy Yên

Từ. Tạ. Tô Thùy Yên

Chợt tin người đã thiên thu

Dưng không trời bỗng sa mù trong tôi

Ôi Trời! Ôi Đất! Ơi

Người! Sao đi để chữ mồ côi, từ rày!

Lại ... tái ... tái bút ....

14-9-2020 Nhật Tiến

 

Giữa khuya đêm qua lại hay tin, Nhật Tiến của Chim hót trong lồng, của Thềm hoang ... đã lại bỏ đi. Tác giả đã góp phần không nhỏ cho sự nghiệp văn học miền Nam trước năm 75 và ngay sau này, khi đã bỏ nước ra đi. Xin gởi theo một nén tâm hương!

 

Lại ... lại tái ... tái ... tái bút ...

 

Lại hay tin, lúc 6:07 tối ngày 22 tháng 12, 2020 tại thành phố Fountain Valley, California, nhạc sĩ Lam Phương, người của Tình anh lính chiến, của Duyên kiếp, của ... của ... của rất nhiều nhạc phẩm được ưa chuộng từ hai ba thế hệ người Việt miền Nam trước năm bảy mươi lăm, và sau này ... khi đã bôn-ba-xứ-người- hay còn kẹt lại trong nước. Ngay từ những nhạc phẩm đầu tay, Tình anh lính chiến, Chuyến đò vĩ tuyến ... cho đến những năm 60-70, với những âm khúc ngọt ngào theo những thể điệu phổ thông và những chữ lời bình dị, hiền lành và ngọt ngào như sông nước miền Nam, nên gần gũi hết sức với tâm tình của người nghe, bất kể giới tính, dạy học, mua bán, lính tráng hay còn tuổi học trò ... Nếu coi chuyện thiên hạ sửa đổi lời ca để diểu cợt lẫn nhau là đáng trách thì cũng phải công nhận qua đó là bằng chứng về sự phổ biến rộng rãi của tác phẩm nghệ thuật ngay trong đời sống hằng ngày. Những người Việt, dù ở bên này hay bên kia biển Thái bình, tuổi tác trên dưới 60, hẵn ai cũng chưa quên những bản nhạc của ông, phổ biến đến nỗi bị-được sửa lời để người ta nghêu ngao một cách vô tội vạ.

Từ “đường về đêm nay vắng tanh, rạt rào hạt mưa rớt nhanh, lạnh lùng mưa xuyên áo tơi, mưa chẳng yêu kiếp sống mong manh ...” của bản Kiếp Nghèo, người ta lại cứ nghêu ngao “đường về đêm nay tối thui, ngập ngừng cô không thấy tui, cô đụng tui cô nói tui đui .... ” Hay là từ “ em ơi nếu mộng không thành thì sao ” của Duyên kiếp mà hổng chừng đây là bài nhạc ăn khách nhất của Lam Phương, thuở đó, ở đâu, đi đâu cũng nghe văng vẳng cái âm điệu nghe đi nghe lại rất êm tai, đến nỗi người ta cứ hát hò thành “em ơi nếu mộng không thành thì sao, mua chai thuốc chuộc uống vô rồi đời ...”

Từ một thanh niên sanh đẻ ở một tỉnh nhỏ rồi bỏ xứ lên Sài-gòn lập nghiệp, mươi năm sau đã là một tên tuổi lẫy lừng trong sinh hoạt ca nhạc rất nhộn nhịp của miền Nam thuở đó, hẵn tài năng ông phải là một loại vàng ròng. Cho đến khi nước mất, người ta bỏ chạy tứ tung, vừa lo kiếm miếng ăn vừa lo nhớ nhà nhớ xứ. Chắc hẵn ai cũng còn nhớ, có một lúc nào đó, khi sầu lữ thứ chưa nguôi trong lòng người Việt bỏ xứ ra đi, những nhạc phẩm mới của ông đã làm không ít người thổn thức những khuya hôm ... chợt nhớ nhà. “ Chiều Tây đô ” với ước mơ thôi mà âm vang đã như một xác quyết. “ Tàu đưa ta đi tàu sẽ đón ta về ... ”. Ông viết như vốn sẵn là một niềm tin bất biến. Ôi tâm hồn nghệ sĩ ai nói chỉ biết đùa hoa giởn nguyệt. Có phải ông đã sống với và trong tận cùng những góc kín nhất của hằng triệu tấm lòng người đồng cảnh để mơ giùm nhau một ngày về. Kể cả cái ý thức vượt thoát khỏi những ràng buộc của tài năng. Có một lúc nào đó, ông viết “ Cho em quên tuổi ngọc ”. Bản nhạc còn được dịch ra lời Pháp đã làm sửng sốt hơn một người nghe từ nhạc đến lời khi nhận ra tài năng đa diện, vượt hẵn lên cái thường hằng của ông. Hẵn cũng có người chắc lưỡi rằng thì là nhạc của Lam Phương nghe ra dễ dãi quá ! Dĩ nhiên có những loại nhạc dành riêng cho quí vị mặc áo đuôi tôm, cổ cồn cao chót vót với cả vài chục thứ nhạc khí hòa-âm-phối-khí rung rinh cả nóc hí trường. Tuy nhiên, thử nghĩ coi, có một trưa hè êm ả nào đó, ở một góc nhỏ quê hương đã xa, một anh con trai mới lớn, xách cây ghi-ta ra ngồi ngoài hàng ba nhà mình ngó qua nhà-người-ta cách cái hàng rào dâm bụt, năm ngón tay bấm nốt, năm ngón tay kia búng khảy sáu sợi dây đồng, và miệng thì lẩm bẩm vu vơ “...Càng nhìn em yêu em hơn và yêu em mãi. Dù phút êm đềm xa xưa nay đã đi vào quên lãng. Trời vào thu Việt Nam buồn lắm em ơi. Mây tím đang dâng cao vời ... ” mà ai đó hoặc nguýt háy hoặc bỗng dưng có ba mươi giây ngơ ngẩn, há đã chẳng là âm nhạc đó sao ! Mấy năm gần đây, thiên hạ bỗng nổi cơn ... đua đòi trí thức bèn đem phân loại âm nhạc thành nhiều hạng mục mà dưới tận cùng chắc là loại âm nhạc được gọi là ... nhạc sến. Dường như ý để chỉ những nhạc phẩm mà nhạc và lời ... bình dị... một cách thái quá. – Mà nếu không bình dị, thử hỏi có mấy người miệng tấm tắc khen ngợi tranh lập thể mà hỏi ngược lại hay ho chỗ nào thì hổng chừng ... ú ớ. Đã có không ít những lời lẽ trong những bản nhạc rất mực thịnh hành thời đó, nghe thì khoái tai không thua gì một lời rao giảng triết học, lắm khi còn vói tới cõi siêu hình, ngân nga luôn miệng mà chừng nghĩ cho ra lẻ đôi khi chẳng thấy nghĩa lý ở đâu. Trong cái bảng-phong-thần-nhạc-sến đó, dù không được biểu hiện một cách rõ rệt, những bản nhạc soạn theo thể điệu boléro, rumba ... kể lể về mấy cái chuyện tình lỡ tình lạc tình lộn tình lầm cũng như chuyện lính tráng, chuyện giặc giã ... trước năm 75 hẵn đã được dọn cho một chỗ ngồi rất rộng rãi, sát dưới đáy của bảng xếp hạng. Tuy nhiên, nghĩ lại coi, chắc là ai đó cũng khó mà phủ nhận được ảnh hưởng của loại nhạc mà người ta gọi là nhạc vàng đối với đại đa số người miền Nam thuở đó. Kể cả ngay sau khi mấy người viết nhạc, sau cơn thất tán, kẻ tù đày, người bỏ trốn đi mất biệt ... trong khi cái đám gọi là bên-chiến-thắng nhào vô rồi quơ quào nghe tới nghe lui mà mê mẩn. Điều đó phải được hiểu như thế nào ngoài cái chuyện chắc phải nhìn nhận rằng, dù sao đi nữa, trái tim thực của con người cứ mềm xèo như bún cho dù có bị nhuộm hồng nhuộm đỏ tới đâu đi nữa. Cho nên khi cấm cản thì người ta nghe lén lút. Mà hể mở cửa ngục thì người ta nghe thả dàn. Hổng tin, gần bốn mươi năm sau, hôm nào thử mở ba cái youtube ra mà coi sinh hoạt ca nhạc thời thượng ở cái xứ vốn đã lấy chuyện bài trừ văn-nghệphản-động với lại đồi-trụy ra mà hô hào xây dựng con-người-mới-xả-hội-chủ-nghĩa. Hổng Anh Bằng thì Lê Minh Bằng, hổng Trúc Phương thì lại Lam Phương. Hay ngược lại. v.v... và v.v.. Nói mà ngậm ngùi. Đó có phải là biểu hiện cho huyền thoại con phượng hoàng tái sinh sau cơn hỏa táng!

 

Trở lại với cái chuyện nhạc cấp cao hay nhạc cấp thấp. Sự phân loại đó có nghe ra khắc khe và trịch thượng quá hay không khi nghệ thuật vốn là để phục vụ nhân sinh. Mà nhân sinh là ai. Nếu không là anh là chị là tôi. Là ông thương gia mà cũng là người thư ký quèn, là ông giáo sư đại học mà cũng là những cô giáo trường làng, những người lính đóng đồn xa chỉ có 24 giờ phép, là anh sinh viên cậu học trò cô nữ sinh trung học con tim mới biết run lẩy bẩy lần đầu, là chị ở mướn đêm đêm xách đòn gánh ra ngồi chầu chực ngoài phông-tên nước, là anh nhân công xưởng máy ... Là những người đã nghe ầu-ơ-ví-dầu từ lúc nằm nôi, ̣đã ê a đánh vần xuôi ngược khi mới chập chửng đến trường rồi yêu-tiếng-nước-tôi từ đó. Và còn yêu mãi tới bây giờ, cho dù ... Là những người ăn ngủ hít thở y như nhau dù có ba chữ i-tờ hay có bằng tiến sĩ cao vòi vọi. Vậy thì âm nhạc đó là nghệ thuật, phải không?

 

Ngày Lam Phương mất đi, ông đã để lại một sự nghiệp âm nhạc đồ sộ -170 tác phẩm kể từ giữa những năm 50, chưa kể đến những nhạc khúc không lời soạn làm nền cho những vở kịch. Dù mặn mòi hay lợt lạt với nhạc Lam Phương, chúng ta cũng có thể đoan chắc rằng chính âm nhạc của ông đã là chìa khóa mở cánh cửa danh vọng cho không ít người làm nghề ca hát. Dĩ nhiên nếu không có những giọng ca thiên phú đã chắp cánh cho âm nhạc bay xa và bay sâu đến tận góc kín nhất của lòng người thưởng ngoạn thì cũng không chắc gì người nghệ sĩ sáng tác được đời mến mộ tới độ ấy. Thật vậy, cả hai vốn dĩ là hai mặt của một niềm đam mê nhất quán. Tuy vậy, vẫn phải thấy rằng, người hát, hát giữa phấn son lộng lẫy, giữa xập xình kèn trống, giữa hằng trăm ánh đèn màu ... lấp lánh như hằng triệu vì sao đêm nhấp nháy. Còn người viết nhạc, có mấy khi viết nhạc với ai khác ngoài cái bóng mình xiêu vẹo một mình mình!

 

Bỗng dưng nhớ mài mại một truyện ngắn, dường như của O.Henry mà người ta đã dịch là Chiếc lá cuối cùng.

Chuyện kể một ông họa sĩ già hình như cũng đang ở vào quãng cuối của đời mình, nhất là vẫn hoài thắc thỏm về chuyện chưa bao giờ vẽ được một tuyệt phẩm như hằng ao ước- hẵn là không gì buồn hơn ! Ông ta chung cùng cư xá với một cô gái mang bệnh phổi đang lúc trở nặng. Trời mùa thu, cô gái đơn chiếc giam mình trong căn phòng hẹp té, ho hen, mệt mỏi, chán chường. Căn bệnh quái ác làm suy sụp tinh thần, sống mà như đếm từng ngày trong khi ngày tháng ngoài trời thì như đang hối hả bỏ đi cho tàn vội hết một năm. Gió cứ thi nhau rứt từng chiếc lá héo vàng trên nhánh dây leo bên ngoài khung cửa sổ. Cô gái xanh mướt, buồn bã, héo hon và tuyệt vọng trở thành hoang tưởng vì căn bệnh trầm kha, cứ đếm theo từng chiếc lá rụng để tính sổ đời mình. Một chiếc lá rụng, cô trừ đi một ngày trong sổ đời còn lại. Cứ như vậy mà ngày này qua ngày khác, lá cứ rụng và cô cứ tiếp tục làm bài toán trừ, mỗi lượt gió lướt thướt bay qua mang đi mất thêm một chiếc lá như rút ngắn thêm một ngày của đời cô còn lại. Cho tới lúc, trên cành chỉ còn sót lại ... chiếc lá cuối cùng. Chiếc lá vụt vặt theo từng hơi gió qượn qua qượn lại. Cô gái lặng nhìn, thấp thỏm chờ đợi ... chờ đợi lá rụng mang theo hồn cô đi mất. Cô chờ ... rồi cô thiêm thiếp ngủ quên.

Biết được bài toán trừ oái ăm đó, người họa sĩ già, thức canh đúng lúc, bắt thang mang sơn cọ trèo lên bức tường đối diện, phóng tay vẽ một chiếc lá vàng. Nét vẽ truyền thần tới độ làm như không phải ông đang vẽ, mà chính là ông đang sống. Từng vết chấm, nét phẩy, bệt màu đã không còn là vết chấm, nét phẩy, bệt màu. Bức tranh không còn là một tĩnh vật, chuyện ông đang làm không còn là hội họa ... mà chính là ông đang sống cái đời sống đang hừng hực vây quanh hay đang lặng lờ rút đi như con nước ròng bỏ sông ra biển. Ông vẽ chiếc lá, chăm chút từng đường gân, sống lá, không, không phải, ông sống cái kiếp sống của từng đường gân, sống lá, ông pha trộn cho ra cái màu vàng, thứ màu vàng trộn lẫn trong đó sự gặm nhắm của thời gian, sự ép uồng của mùa màng, thứ màu vàng đang úa, đang phai, đang run rẩy trước sự phũ phàng của cuộc biến thiên ... Ông vẽ, ông mãi miết vẽ, không, ông sống, sống tận cùng cái thiên chức nghệ sĩ của ông mà quên bẵng mùa thu đã hết, mùa đông đã tới với những cơn gió lạnh đang bào gọt rúc rỉa da thịt ông. Ông quên hết. Ông chỉ sống cái cảm hứng sáng tạo tuyệt vời và hiếm hoi, lần đầu của suốt một đời hiến dâng cho nghệ thuật. Đến nỗi, khi ngưng tay, hình vẽ còn thực hơn cả chiếc lá cuối cùng vừa rứt mình ra khỏi nhánh, bay đi.

Trời hửng sáng, chiếc lá vàng hực trên bức tường xám xịt.

Cô gái chợt dậy, nhìn qua cửa sổ, ủa chiếc lá còn kia ... Cô còn đây. Nghĩa là cô còn sống.

Niềm tin vụt trở lại như hơi lửa ấm thắp sáng lên đêm tối mà cô đã sống mịt mùng.

 

Và người họa sĩ già, người họa sĩ già thì chết cóng. Nhưng cái chết đó có phải là cái sống một lần cho một đời khi ông đã dồn hết sức tàn của mình vào từng nét chấm phá, để kéo ngược lại cái đời sống đang thấp thỏm hơi tàn, mấp mé ở bên nây lằn ranh sinh tử.

 

Câu chuyện đó, có thay được lời đưa tiễn người nhạc sĩ đã hiến cho đời những âm điệu, dù buồn hay vui, bao giờ cũng ngọt ngào, chơn chất, hồn hậu và thân mật như tiếng nói của quê mẹ trước khi bị lem luốt vì mấy lượt phong ba.

 

cvk

 

Bấm vào links để nghe lại ... dư âm

Hà Thanh https://youtu.be/ghv1Dxtte2E

Út Bạch Lan https://youtu.be/EwSIpG_Z6Xk

El Silencio https://youtu.be/LBtIFIIQg-8

Cho em quên tuổi ngọc – C’est Toi - Lam Phương - YouTube

CVK_amphongtrang.JPG

Âm phong trắng

 

Gió. Gió ...

Gió ...

Rồi có lúc gió như một người đàn bà ghen tuông, nổi tam bành thổi tốc váy cô nhân tình trẻ đẹp đang quấn quýt đi bên cạnh chồng mình. Bà phùng mang trợn mắt, chu mỏ thổi liên tu bất tận. Chẳng vậy, như để cho đã nư, bà quay mặt qua bốn phương tám hướng, làm như giận lây cả mấy người khách vô tình đi lẩn quẩn loanh quanh. Thôi thì nào nón nào khăn cứ mặc tình sút sổ, kể cả mấy cái bàn tay đang níu chặt nhau cũng lính quýnh buông nhau ra để kéo sát hai vạt áo khoác ghịt chặt vào mình. Chưa kể đến những hàng cây hai bên đường, thôi thì vật vã đến nỗi như van nài, hết quặt sang đông lại quẹo sang tây, mấy cái nhánh cây gầy như lóng xương khô, vặn vẹo kêu rêu liền miệng. Còn lá khô thì khỏi nói, đám trên hè phố thì bốc lên lao chao như bầy bướm động ổ, cái còn dính trên cành thì run lẫy bẫy, lặt lìa lặt lọi rồi vụt ... buông mình. Cả một góc phố đang lao xao cười nói, một giây, một thoáng bỗng như sựng lại ... ồ, gió mùa tây-bắc ! Cùng lúc, hơi rét liếc qua mặt mủi tay chân bỏ trống, như một lưỡi dao mỏng dánh mà sắc lẻm. Vết cắt không rỉ máu mà lạnh buốt. Người ta rùng mình. Rồi ghịt siết thêm chéo khăn quàng cổ. Rồi chụp sâu thêm chiếc mũ đội đầu. Rồi tình nhân siết chặt thêm vòng tay đã chật. Rồi người bộ hành đơn lẻ, vội cắm đầu rảo bước nhanh thêm ...

 

Mới mấy bữa trước, trời thu đang hồi lộng lẫy, dưng không rồi có gì như sựng lại. Có chút gì đó hao hớt trên cái biển màu mới đây còn lung linh như gấm thêu hoa. Không gian váng vất gì đó mà như có như không. Hỏi người chắc chẳng ai biết. Mà nói không chắc chẳng ai chịu. Trời còn xanh, nắng vẫn vàng hoe. Và trên những bãi trống thành phố, người ta còn tụ năm tụ bảy, chùm nhum từng nhóm nói cười hay lang thang một mình, thơ thẩn. Dẫu vậy, đâu đây, khuất sau những lối vắng, từng nhúm cỏ ... đã vàng lườm như hối hả. Chùm lá đỏ đã hằn sâu mấy vết bầm. Khóm lá vàng đã lấm tấm mấy chấm nâu nâu. Và trên vai những pho tượng trắng thường vẫn nô đùa những cặp chân chim nhỏ xíu, bây giờ chợt hớt hải một tiếng kêu lạc bầy ... Thêm vài hôm nữa, người ta chợt nhận ra ngày như teo tóp lại và đêm, đêm như loảng ra, mỗi lúc một nhoè nhoẹt thêm đến nỗi mới xế trưa, trên mặt người đã mờ mờ nhân ảnh. Mặt trời thì trở mặt như một lão già khó tánh và lười biếng, thập thò thì thụt, uể oải tới lui chẳng sốt sắng chút nào. Mới ló ra đã vội lánh mặt, keo kiệt từng sợi nắng. Cùng lúc, cặp kè với những luồng gió miên man thổi về từ mạn bắc, những cụm mây xám xịt, lắm khi đen đúa, nhăn nhúm như mấy cái bản mặt cau có, lại rủ nhau kéo về nườm nượp.

 

Vậy đó, mùa đông đang lần dò tới. Làm như sợ lỗi hẹn. Mà thật ra, có ai đợi đâu, mùa đông !

 

Vậy mà ... rồi tới lúc mùa thu bỏ đi thiệt sau khi đã lo dọn sạch tới chiếc lá cuối cùng. Gió được gởi tới, từ bốn phương thổi dạt ra tám hướng, xô, đẩy, bứt, giựt tung những chòm lá, những lùm cây, đùn đẩy những tàng cổ thụ, ghịt chằng những dây leo quấn quýt, nói gì tới những chiếc nhánh đen đủi, khẳng khiu, mọi thứ cứ thi nhau mà run rẩy, rơi rụng liên hồi ... Lá vàng lá đỏ bay tứ tung, có chiếc chần chừ như không đành, có chiếc buông xuôi như phó mặc ... Rồi là khắp nơi, mọi đường ngang ngỏ dọc được trải đầy những thảm lá đủ màu khiến mỗi bước chân dẫu có độc hành cũng nghe ra bớt khô khan ... Mùa thu bỏ đi để lại trần gian như một cõi lòng trống trải. Trời càng thấp xuống, đất như càng dãn ra. Phố xá không còn những bóng mát che thân, phơi trần những mái nhà ám bụi, những về tường nứt nẻ, những cửa sổ đóng kín. Ngoài xa, những cánh rừng trở nên trần trụi. Sông suối đầy những xác lá vật vờ. Mọi thứ đều như tìm cách lánh mặt. Kể cả những bầy chim thiên di hợp đoàn như cánh cung, thay nhau ghé lại từng bầy trên những bãi cỏ hoang ... rúc rỉa tìm mồi rồi cũng hè nhau thoắt đi mất dạng ... Có cái gì nằng nặng một niềm nghi ngại ... như chờ chực đâu đây ! Cuối góc vườn nhà, đã có nhiều hơn một người vội vã thu xếp, dọn dẹp những khóm hoa, luống cải ... Cắt bỏ những cụm hoa héo, vun gốc, che chắn những bụi kiểng dị ứng với thời tiết sắp đổi mùa. Và cái chuyện thường hằng như đã là tiền định, quơ, quét, hốt, gom ... từng bựng lá vàng, càng lúc càng rơi ... rơi hoài rơi hủy cho tới khi cành nhánh trơ thân như những cánh tay gầy khô, vói lên xơ xác như một tiếng kêu trời. Dẫu vậy, gió từ cực bắc vẫn thổi về miên man, miên man ... Quả đất quay theo chiều nghiêng của trục, núi rừng ao hồ đồng cỏ phố phường càng lúc càng huốt xa mặt trời. Ngày co rúm lại, đêm quá bước thênh thang. Có hôm, những buổi chiều trốn mất, bỏ mặc cho bóng tối và gió, gió tẩm hơi lạnh buốt xương càng lúc càng suồng sã. Trong nhà, không hẹn mà ai nấy lặng lẽ xếp cất dưới đáy tủ những chiếc áo mỏng tanh, những chiếc quần ngắn củn cởn, những đôi giày gót cao bóng lưởng ... Người ta lôi ra, phủi bụi từng chiếc áo len, áo khoác độn lông chim lông vịt dầy cộm, những chiếc khăn quàng đủ màu sắc, những chiếc mũ nồi, những đôi ủng da cao cổ, những bộ găng tay thô kệch, kể cả những áo lót quần lót ngộ nghĩnh ... đang nằm im trong góc tối dưới hầm nhà hay một ngăn tủ bị bỏ quên ... từ độ xuân rồi. Người ta làm không vội vã cũng chẳng chần chờ. Người ta làm như ... một chuyện phải làm. Năm này qua năm khác. Mỗi năm, khi mùa đông đang lật bật trở lại.

 

Vậy rồi giữa lúc còn đương lơ ngơ với hơi hướm sang mùa ... giựt mình coi lịch ... đã cuối tháng mười. Gió đã thôi bầu bạn. Gió bây giờ làm mặt lạ, cuộn trong

mình thứ khí lạnh đã ủ kín từ ngàn triệu năm cực bắc rồi thổi phà về nam làm cả một dòng sinh hoạt đang hồi nhộn nhịp bỗng chừng như muốn khựng lại ... Mới xế trưa đường phố đã hối hả lên đèn. Từng chùm ánh sáng nhợt nhạt không xuyên nổi thứ hơi lạnh đặc quánh như sương mù. Không đèn thì mờ mịt mà đèn bật lên lại lộ ra cái vẻ hắt hiu. Phố chưa chiều mà như ngái ngủ. Quán xá lộ thiên thì đã xếp cất hết bàn ghế kê nhờ lên lề đường mùa hè năm đó, đôi chỗ còn nấn níu thêm mấy ngày cuối thu ngắn ngủi. Rồi cũng phải dẹp bỏ. Đã thôi những chai bia ướp lạnh ngất ngưởng giữa những bước chân hè rộn rã. Đã hết những tách cà-phê bốc khói xuýt xoa theo mấy lớp lá thu bay. Công viên vắng hoe. Mấy chiếc xích đu thiếu tiếng cười trẻ nhỏ đứng trơ mớ sắt thép vô hồn, buồn như mấy món đồ chơi bỏ quên trong góc khuất. Những lối đi thiếu chân người nằm chết lặng dưới mấy lớp lá khô. Người ta kéo nhau lánh vào những không gian kín, bỏ mặc trời với đất quạnh hiu. Cả đến những cặp tình nhân đã có lúc ríu rít như chim sẻ rồi cũng mất biệt. Lề đường, hè phố chỉ còn những dáng người ... lầm lũi, lùng xùng trong những bộ quần áo chống lạnh, mắt thôi liếc ngang liếc dọc, chân đi như chạy mà rốt lại chỉ để rượt đuổi chính mình. Nhưng rồi mùa màng còn vội vã hơn nữa ... Hơi thu còn chưa tan hẳn trong những mối cảm hoài thì ... mùa đông ụp tới. Có khi sớm vài hôm, có khi trễ vài bữa. Nhưng sớm hay trễ, mùa đông cũng tới. Khi thì dè dặt lắc rắc như một cái khều vai nhắc nhở. Có khi sỗ sàng chẳng chút ngại ngần, mùa đông thổi tới tấp những luồng âm phong trắng và lạnh rát như dao cứa từng sớ thịt.

 

Bữa đó, sáng sớm, giữa trưa, hay chiều tối, vào một lúc nào đó, mùa đông dậm dựt theo mấy đám mây dầy cộm chứa đầy hơi nước trên một độ cao đủ lạnh để kết thành những tinh thể trắng muốt rồi đổ bừa xuống. Líu ríu như muối biển mịn bâng, hay rào rào như từng bụm đường cát trắng ném tới tắp vào mặt người lỡ đường chẳng khác nào những cái tát tay rát buốt đến phũ phàng ... Cách nào thì mùa đông cũng đã tới !

 

Vậy đó rồi từ đèo cao tới lũng thấp, xuyên qua những xóm thôn heo hút hay phố thị sầm uất, những thảo nguyên bạt ngàn, những bãi bờ cô quạnh, không sót một hóc hẻm, chẳng lọt một góc kẹt nào hết ... đâu đâu cũng nhận được những kiểu chào hỏi vồn vã tới ... điếng người đó. Chưa kể đến trên đỉnh cao chót vót của những ngọn núi trẻ vốn đã bạc đầu từ mấy kiếp. Những cơn lốc xoáy từ miền địa cực, vừa quay cuồng vừa thổi dạt xuống phía nam cái hơi lạnh dưới nhiều lần độ âm làm mọi thứ tê cứng lại như để dọn chỗ cho những hột tuyết đầu mùa còn đôi chút rụt rè. Rồi trời đủ lạnh, rồi tuyết rơi mặc tình bám chặt lấy cái chỗ đã dành được, nhấn chìm hết mọi sắc màu dị biệt để còn lại chỉ một màu trắng nguyên sơ. Cây cối trụi lá trơ cành như từng nhúm xương khô mốc thếch. Sông suối ao hồ co rúm lại, trơ trơ dưới mặt nước đóng băng. Mọi bờ bãi, rào chắn ... dần dần bị xóa dấu, tất cả chìm dần vào một cơn đồng thiếp mới. Tất cả rồi còn lại là một sa mạc trắng, lạnh lẽo và lặng lẽ đến mênh mông. Ngó quanh, cảnh vật coi bộ chịu đựng cũng tới lúc buông xuôi, mọi thứ nằm im, bất động dưới mấy tầng tuyết ù lì. Chim chóc trốn đâu mất biệt chẳng rớt lại một tiếng kêu. Lâu lắm, mới thấy một chú thỏ con trắng muốt, nhúc nhích trong một hóc tuyết trắng nhờ nhờ... hẵn là nhắm hướng tìm mồi ... mồi ở đâu giữa một cõi trời đất trắng xóa như nhau !

 

Rồi cuối năm ... Chẳng bao lâu, cả xứ y như một bức tranh sơn dầu với hầu hết là những bệt màu trắng, chỗ dầy chỗ mỏng, có khi trắng tinh, có khi nhem nhúa, sơn phết bất kể, lớp sau nằm đè lên lớp trước của người thợ vẽ vụng tay. Rừng cây, lối mòn, nhà cửa, đường phố, cầu cống ... chỗ nào cũng bê bết những vết cọ trắng, trắng nhách, trắng tươi, trắng phau, trắng ngần, trắng ngà, trắng bệch, trắng nhờ nhờ ... Trắng lênh láng tới độ mới nhìn thôi đã ... lạnh. Thứ lạnh mà từ thế kỷ mười sáu mười bảy, khi những người Âu châu đầu tiên đặt chân xuống vùng đất này đã viết trong nhật ký như sau ... le froid « ne peut être compris que par ceux qui le souffrent ». Dịch tạm : Cái lạnh mà chỉ có những người đã chịu lạnh ở đây mới hiểu thấu được đau khổ thế nào. Cái lạnh đã làm chết cóng 25 thủy thủ trong số 110 người theo Jacques Cartier vượt đại dương tới đây tìm đất mới. Cái lạnh mà năm 1721, một linh mục đã ghi lại « ainsi n'ais-je jamais passé d'hiver dans ce pays, que je n'aie vu apporter à l'hôpital quelqu'un, à qui il fallait couper des bras et des jambes gelés ». Cái lạnh có thể làm cháy da cháy thịt đến nỗi phải cưa bỏ tay chân. Cái lạnh đã khiến người ta xài chữ ngược đời. Phỏng ... lạnh ! Ờ, lạnh lắm ! Lạnh đến nỗi đàn bà con gái xứ này lắm khi không cần son phấn mà gò má vẫn đỏ au. Thêm nữa, mở miệng nói chuyện là y như phà khói thuốc lá, dẫu là người kỵ thuốc tới ghét bỏ kẻ lỡ vàng tay. Vậy đó, cái mùa đông kỳ cục !

Vừa mới qua giêng đã tới độ đông già, hàn thử biểu tụt xuống hoài như xe đổ dốc không phanh. Thử tưởng lắm khi dưới cả chục lần độ đông của nước. Những khi đó thèm nhớ làm sao cái góc nhỏ đã bỏ lại ở bên kia biển lớn với một phần đời nhiệt đới. Nằm cheo leo trên vĩ tuyến 45 độ bắc, thành phố nơi tôi ở sống trọn một mùa đông đúng nghĩa của khí hậu lục địa với độ ẩm cao, bốn mùa rõ rệt. Đã hớn hở khi đón xuân, đã rộn ràng lúc vui hè, đã lơ mơ lãng mạn buổi thu sang thì có rầu rĩ khi mùa đông rúc rỉa thịt xương thì cũng là chuyện chẳng đặng đừng. Chỉ có điều nói thì nói vậy, chớ mùa đông ... Ôi mùa đông ... Những mùa đông dài bất tận. Những mùa đông lạnh trắng đến bạc lòng. Em có thấy gió đồng hoang nổi giận. Thổi muôn trùng xoáy buốt tận tim không!

 

Đúng y như người hai ba trăm năm trước đã nói. Cái lạnh ở đây hẵn chỉ có người đã sống lạnh ở đây mới biết ... lạnh ra sao. Nhất là những khi tuyết góp

gió làm bão. Những cơn lốc xoáy tròn cuốn, quậy rồi thổi những hột tuyết bay cuống cuồng như sợ trễ hẹn với mùa. Tuyết rơi ... Gió vừa hú vừa bắn những hột tuyết trắng tinh chứa trong nó chút bụi li ti bay khắp cùng trời đất. Khi dầy khi mỏng, tấm màn tuyết phủ chụp lên mọi thứ mọi nơi. Tuyết bay thành luồng thổi quét rào rào lên mặt đường trống. Tuyết quay vù vù như bông vụ vổ bên trái dập bên phải, bất kể. Khách đi đường, đầu cúi gập mà mắt có mở to, cố ngó quanh cũng chỉ thấy mịt mù, không phân biệt được đâu là mình đâu là người dù chỉ cách nhau vài thước, chân thấp chân cao lò dò lội từng bước tìm lối đi đã bị xóa dấu. Xe cộ nhem nhuốc như lọ lem, mở đèn giữa ban ngày ban mặt, chạy, lách, tránh ... trợt, có khi nhích từng chút một như đi đưa đám. Tuyết trắng, đèn vàng, đèn đỏ trộn lộn trong gió làm hoạt cảnh cứ lung linh tưởng như ảnh ảo. Gặp mùa lễ cuối năm, tuyết bay qua những dãy đèn xanh đỏ nhấp nha nhấp nháy làm tuyết lấp la lấp lánh như mấy hột kim tuyến rắc đầy trên những tấm thiệp giáng sinh thuở nhỏ. Ờ những tấm thiệp giáng sinh thuở nhỏ ! Những tấm thiệp như một huyền nhiệm rắc tuyết vô đầu đứa nhỏ sinh ra ở mấp mé bên lề xích đạo. Từ một hai tháng trước, những tiệm sách, những quán bán báo đã treo đầy những tấm thiệp Nô-en, cở bằng bàn tay người lớn, rìa cắt rô-đê, tô vẽ những hình ảnh chưa từng có ở đó. Những cây thông xanh mướt, hình dáng như kim tự tháp, chỉa vút ngọn lên trời. Những ngôi nhà mái đỏ phủ tuyết trắng với ống khói lò sưởi loáng thoáng mấy sợi khói xám xanh. Những lối đi ngoằn ngoèo không một vết chân người trên những bình nguyên trắng lạ lẫm. Và đặc biệt là những hột kim tuyến rắc đầy trên hình vẽ đẩy cho cái trí tưởng thấp chủm của đứa trẻ phóng vút tới tận một cõi thần tiên được kể đầy trong các trang truyện cỗ tích phương tây. Cho tới lúc những đêm giáng sinh thuở mới chập chững nhìn theo những chiếc áo dài giấu gió trong hai tà lất phất. Nhà thờ ở cạnh một bờ sông lớn. Đèn ngôi sao treo suốt từ nền đá tới đỉnh tháp chuông, giăng dài theo những lối đi, lấp lánh trong những ánh mắt có đuôi như níu gọi. Máng cỏ có đứa bé sơ sinh trong hang đá. Và nhạc thánh đeo theo những lượn gió đêm lướt thướt, bay dặt dìu như những đôi cánh thiên thần đáp nhẹ lên vành tai người ngoại đạo. Rồi lễ nửa đêm. Chuông hồi rộn rã. Xứ sở không có tuyết, người ta bày đặt ra tuyết, rải bông gòn trắng lên những lối đi, lên mấy nhánh cây còn đầy lá làm hồn trẻ cứ mơ mộng. Gặp đêm gió lớn, lắm khi bông gòn sút sổ thoắt bay lắt rắt cứ tưởng đâu tuyết trắng hiện nguyên hình. Ờ tuyết trắng, tuyết của một cõi viễn mơ, vậy đó mà nhuộm trắng một linh hồn không biên giới ... Vậy rồi cho tới lúc dang mặt hứng những giọt tuyết cùng với thứ gió địa cực mùa đông đầu tiên trên xứ người ! Vậy rồi tới lúc quần áo giày vớ hai ba lớp dang tay xúc từng bựng tuyết lấp đầy lối đi, xúc bựng này tuyết lấp thêm bựng khác ! Vậy rồi tới lúc tuyết đồng nghĩa với mùa đông, những hạt tuyết nhẹ hửng trong mơ bỗng trở thành nặng ì trên tay ! Và rồi những mơ mộng theo những bước chân Sài-gòn lang thang trên hè phố hai mùa mưa nắng, áo chùng đen phủ dài tới chân, cổ áo kéo cao phủ tới ót, khăn quàng cổ đỏ, nón feutre nghiêng vành, miệng ngậm trệch điếu thuốc lá cháy dở, khi Modigliani đi lang thang qua đường phố Montmartre phất phơ bông tuyết mịn bâng bỗng chốc tan nhanh hơn hột tuyết đọng cuối mùa !

 

... Cho tới một lúc tuyết khắn khít với mùa đông còn hơn một người tình kim chỉ, những trận tuyết cứ giành nhau đến rồi đi ... rồi lại đến. Khi lơ thơ. Khi lồng lộn. Khi mịn như một chấm kim thêu. Khi to như từng nhúm bông gòn. Mọi thứ rồi mập mờ nhòa nhoẹt như hình nhân từ cõi âm lộn về, điêu đứng giữa những vòng quay cuống quýt của những cơn lốc tuyết xoáy tròn. Người và cảnh ai lo thân nấy, dập vùi trong cơn thịnh nộ của thiên nhiên. Những cơn bão tuyết mùa đông dữ dằn đến nỗi có lúc tưởng đâu giáng xuống từ một lời sấm rủa. Bao nhiêu giận dữ dồn nén tự lúc nào rồi hè nhau đổ trút xuống. Gió rít như tiếng kêu của trăm ngàn cây mã vĩ cọ lên giây đàn cùng lúc. Tuyết rơi không phương hướng, hột to hột nhỏ bay loạn xạ, bạ đâu tắp đó, bất kể. Còn khí lạnh thì như những mũi kim châm nhọn hoắc, luồn lỏi qua mọi ngỏ ngách, từ những khoảng trống bỏ hoang trên hè phố, từ những nứt nẻ của gạch ngói, những kẻ hở li ti của sớ vải .... để châm chích đục khoét thịt da người buốt thấu tới xương. Mọi thứ trộn lộn nhau như một thứ ẩn ức lâu ngày đến lúc nổ tung ra cho hả cơn kềm chế. Như để trừng phạt cái cõi nhân sinh hẵn đã đầy tội lỗi. Nếu không, cũng là dịp để cho con người đã có lần kêu lên thượng đế đã chết, con người đã lắm lần thách thức với thiên nhiên, nhận ra cái căn phần bọt bèo của mình khi thiên nhiên nổi giận. Ít ra cũng để thấy sự nhỏ nhoi đến tội nghiệp của loài người giữa cái bí hiểm đến khôn lường của vũ trụ !

 

Ngày rồi theo tháng lần lượt qua đi. Tuyết ở lại. Những lớp tuyết lớp sau chồng lên lớp trước. Mỗi lúc một dầy hơn, đầy hơn, cùng khắp hơn, mịt mùng hơn đến nỗi lắm khi tự hỏi mùa đông đang trắng hay chính cõi đời tang trắng ! Lòng không vui cảnh không vui, người ta sống chực hờ với căn bệnh trầm cảm như con gấu vật vờ giữa giấc đông miên. Như chỉ để chờ một ngày ...

Dẫu vậy, rồi cũng có bữa tốt trời, dù hiếm hoi, cũng có khi mùa đông làm bộ vỗ về nhá cho vài tia nắng ban mai, phản chiếu lại mặt tuyết trắng ngần như ngàn triệu sợi thủy tinh lóng lánh. Lòng ủ ê bỗng như có chiều hưng phấn. Nhưng rồi lắm khi mùa màng lại nghịch ngợm như con nít. Người chưa kịp ấm lòng thì trời nhả cho chút mưa ... tuyết. Gặp đúng lúc, tuyết không rơi thành tuyết mà thành ... băng. Chút hơi nước được hơ ấm rơi xuống lắc rắc như mưa, chạm mặt tuyết lạnh ngắt đông lại thành băng. Mái nhà, hàng ba, cột đèn, bảng hiệu ... tới những khóm cây cành nhánh đen đủi bám dầy từng lớp băng trong vắt nhìn xa tựa như cảnh tượng được tạc hình trên từng khối pha lê. Gặp mấy sợi nắng vắt ngang, lộng lẫy như cảnh chuyện thần tiên mà vui chân qua đó thì có té ngửa cũng là chuyện thường tình. Mặt đường dẫu đã dọn sạch tuyết mà đóng băng cũng trở nên trong suốt, láng lẩy và trơn lùi như mặt gương soi. Xe cộ qua lại lắm lúc như không uống rượu mà say. Tay lái bỗng nhẹ hửng. Xe dành quyền đòi làm chủ. Sơ sẩy là kể như chung phận Kiều nhi lúc bán mình cho Mã Giám Sinh, chớp mắt cái là ... một xe trong cõi hồng trần như bay !

 

Kể lể vậy nhưng họa hoằn rồi mùa đông cũng có khi để lại chút ít thi vị cho đời. Giữa khi trời và đất lạnh căm căm, trắng ngần và trong vắt, có những đêm rằm êm ả, con trăng tròn vành vạnh trở màu trăng biêng biếc, rải xuống đời thứ ánh

xanh thăm thẳm mang trong nó những trăn trở của đêm Tây Bá Lợi Á, khi Zhivago trở lại nhà xưa làm thơ nhớ Lara, sau khi đã dập vùi trăm nỗi vì những đọa đày của cuộc cách mạng vô sản ... Màu trăng lạ lắm. Đẹp lặng lẽ đến ... hoang mang ! Ngay lúc ấy, nếu đâu đó bất ngờ vẳng lên mấy nốt nhạc dạo đầu của khúc giao hưởng Chanson de Lara do Maurice Jarre biên soạn, hẵn là cái khắc nghiệt của mùa đông cũng sẽ vơi đi mấy độ ... để cho những niềm hy vọng đâm chồi ... mùa xuân rồi sẽ trở lại.

Mùa đông. Ôi mùa đông của những ngọn âm phong trắng dã và nhọn lểu. Của những hàng cây cụt đầu đứng co ro, những ngõ tắt mất dấu, những giao tình ghẻ lạnh, những chim chóc bặt tăm, những cánh đồng lì mặt, trắng đến mỏi mắt. Của những đêm tĩnh mịch, trắng đến liệm hồn người vào cõi tịnh tâm.

Mùa đông. Mùa của năm cùng tháng tận. Mùa của thiên địa mịt mùng. Của sự nhỏ nhoi của con người trước cơn bạo hành của trời đất. Của sự chống chỏi tồn sinh của loài sâu kiến trước những biến thiên bất-khả-tư-nghị của vũ trụ.

Mùa đông của Jack London viết Le silence blanc với người và vật như bị nuốt chửng trong sự im ỉm huyển hoặc của ngút ngàn tuyết trắng và rối nùi mê cung của lòng người.

 

Mùa đông. Mùa của ngọn lửa cháy bập bùng trong lò sưởi giữa nhà. Mặt người xoay quanh tranh tối tranh sáng để lắm khi lẫn lộn với nhân ảnh của một quá khứ đã mù. Ngoài cửa, đêm trắng tuyết. Khuất trong, hơi ấm vỗ về. Khăn cổ áo len, cốc rượu mạnh sóng sánh màu hổ phách, sau một ngày lặn lội tê cóng mình mẫy, hạnh phúc nhỏ nhoi vậy đó chăng ?

 

Mùa đông. Có phải là dịp để ẩn cư, bó thân nhìn lại mình giữa khi đất trời chao đảo, để ngó lui và định vị lại đời ...

 

Mùa đông. Ôi mùa đông xứ người ! Em có sống lưu vong đầu địa cực. Rượu quan san lạnh nứt đáy hồ trường. Ta mù tối như loài dơi đại vực. Ngủ vùi quên cơn bức tử quê hương!

Caovị khanh

____________________________

CVK_thotinhNTN.JPG

                                  mấy mươi năm sau,

                               đọc lại thơ tình Nguyễn Tất Nhiên!

 

Năm 1992, khi còn đang ra sức ... làm mướn để kiếm ăn, nghe tin Nguyễn Tất Nhiên vừa tự ý thoát đi mà bỏ lại thân xác mình trong một chiếc xe đậu càng đâu đó ở Cali, tôi nhớ dường như có một chút gì động đậy trong tôi, y như vừa hụt một bước chân. Và một thoáng nghĩ ... chắc phải vậy ! Đêm về có làm một bài thơ tựa là Thi sĩ trong tập note rồi bỏ vào tủ khóa kín lại. Thơ chắc chẳng có gì hay lắm nên kết bài tôi có chôm mấy câu thơ của Thanh Tâm Tuyền gọi là dựa hơi ... dĩ nhiên là có ghi chú xuất xứ rõ ràng.

Tôi biết những người khóc lẻ loi

Lệ là những viên đá xanh

Tim rũ rượi.

 

- Tôi không quen biết Nguyễn Tất Nhiên. Nhưng tôi biết có-những-người-khóc-lẻ-loi nên tôi kết bài thơ của tôi như vậy.

Vậy rồi thôi, người đi đã đi khuất, tôi đi làm mướn tiếp tục.

 

Dĩ nhiên, như nhiều người khác đồng lứa, tôi đọc thơ Nguyễn Tất Nhiên đã từ lâu lắm, từ khi còn tuổi hai mươi. Mãi cho đến khi giả làm người lớn đi dạy học, dẫu trái tim trẻ không còn xốc nổi nhưng vẫn chưa tới đỗi lặng lờ. Lắm khi vẫn còn rung động vì một câu thơ hay bất chợt của ai đó. Kể cả những câu thơ tình rất học trò của Nguyễn Tất Nhiên. Với những ẩn dụ rất mới, rất khéo, rất bạo, lắm lúc như muốn lung lay cái khung cũ kỷ đã rêu phong của thi ca truyền thống. Nhưng rồi thôi. Có điều tôi biết chắc học trò của tôi, trên dưới 16, 17 tuổi đôi khi 18 ... nhất là mấy cô áo dài trắng tóc thề đến lê thê, nếu khảo bài hỏi thơ Cao Bá Quát với lại Nguyễn Du thì nhiều phần là ấp úng mà hỏi thơ Nguyễn Tất Nhiên thì hổng chừng là thuộc làu làu. Nói vậy không có nghĩa là khắc khe với học trò cũ. Nói vậy để thấy rằng thơ Nguyễn Tất Nhiên hồi đó rất được ưa chuộng trong giới trẻ, nhất là giới-trẻ-học-trò. Điều đó không có gì khó hiểu. Thơ tình kiểu này thì chỉ có dạ sắt mới ngoảnh mặt làm ngơ đối với mấy cô nàng tâm hồn còn lơ mơ như nắng sớm. Nắng bờ sông như màu trang vở cũ, thuở học trò em làm khổ ai chưa. Hay em hãy đứng trước gương làm dáng, tự khen mình đẹp quá đi em. Rồi anh muốn khóc trong buổi đầu niên học, bởi yêu em nên sầu khổ dịu dàng. Hoặc hai năm tình lận đận, hai đứa cùng xanh xao, em không còn thắt bím, nuôi dưởng thời ngây thơ, anh không còn lính quýnh, giữa sân trường trao thơ. Nhất là những lời thơ dễ thương đó được phổ nhạc rồi tỉ tê trên đài phát thanh hay các tiệm kem hay các quán cà-phê-văn-nghệ nhan nhản ở các tỉnh thành miền Nam thuở đó. Thơ đó, nhạc đó được yêu chuộng song song dù nghịch đảo với nhạc Trịnh Công Sơn. Kể ra, đúng là một thời trăm hoa đua nở dù nở trong khói đạn mịt mù. Vậy mà không biết tại sao hồi đó, thích thì thích nhưng rồi vì nhiều lý do nào đó mà ít khi nhắc đến. Tại quá lứa ? Hăm ba hăm bốn thì đã tới đâu mà tự thấy đã cỗi. Tại nghề nghiệp ? Có thể. Nhưng đâu ai cấm. Miễn đừng đem vô lớp mà rao giảng. Nghĩ tới nghĩ lui lại nhớ lời má la hồi nhỏ cái thằng gì như con lật đật nghĩa là không có chút nào kiên nhẩn, muốn gì là muốn lấy được. Chắc tại vậy mà lớn lên trộng trộng chút rồi là chuyện gì cũng húc dầu thẳng vô, được ăn cả ngã về không, hổng có thích cái chuyện ... chạy vòng vòng. Thấy êm chèo mát mái thì cặp bến mà hổng được thì rẽ xuồng sang bãi khác. Chắc tại vậy, mà mỗi lượt nghe chuyện ta chạy vòng vòng ta chạy mòn chân .... tôi thấy làm như hơi ... oải chân. Cái tánh bê tha đó lớn lên cũng không bỏ. Hồi nhỏ mê hai câu thơ của Đinh Hùng. Làm học trò không sách vở cầm tay. Có tâm sự đem nói cùng cây cỏ. Cho đến khi đời đun đẩy cho đi làm thầy cũng hổng chịu chừa. Lại còn sửa trại ra mà nghêu ngao với bạn bè. Làm thầy giáo không sách vở cầm tay. Có tâm sự đem kể cùng bia lạnh. Cái lối sống như vậy cũng vận tới chuyện văn chương của mình. Thơ tình Nguyễn Tất Nhiên đôi khi nghe hiền quá kể cả khi giận lẫy dù có khi đem cả chúa cả dì tu ra mà kêu ca. So ra thấy như mình đã quá lứa lỡ thời. Lại nữa, đầu những năm 70, cuộc chiến ở đó đã lan vào tới thành phố. Những chuyện làm bận tâm là cái kề bên, cái trước mắt. Là đường liên tỉnh bị đắp mô, cầu cống bị giựt sập. Là tiếng xe cứu thương chiều chiều xả cờ hú còi như la hoảng. Là tiếng đại bác dội vào đêm giới nghiêm như cú đấm cách không vào tim nảo. Là lệnh tổng động viên. Là đứa học trò trai quá tuổi từ giã đi trình diện Trung Tâm Nhập Ngủ số 4... Là ly rượu nếp than ực-cạn-một-hơi đêm tái ngộ bạn bè trở về nguyên vẹn sau cuộc hành quân tuốt dưới miệt U minh lúc nhúc đĩa vắt với hầm chông và B40 và AK 47... Vậy đó, làm sao nói hết cái tâm trạng phức tạp của một người cùng lứa tuổi với bạn bầy lại được ưu đãi cho đứng né bên lề, khi cuộc chiến tới hồi khốc liệt nhất. Và bom đạn thì vô tình. Và sống chết thì bất công hết chỗ nói.

Chắc tại vậy mà thơ Nguyễn Tất Nhiên có làm tôi nghĩ ngợi. Nhưng không đeo đẳng cùng tôi.

Chắc tại vậy, mà bây giờ, mấy chục năm sau, lúc năm sắp cùng tháng đã tận tới chục lần, nhiều khi rổi rảnh, nghĩ nhớ lung tung lại thấy mình đã lơ là quá với một tài thơ không-giống-ai mà cũng không ai giống vậy.

 

Thử trở lại cái thời người thi sĩ ấy chưa kịp tuổi đôi mươi mà thơ thẩn đã chạy vòng vòng trong trái tim của không biết bao nhiêu là người hâm mộ. 14 tuổi làm thơ. 16 tuổi in thơ. Anh hoa phát tiết ra ngoài ...

Có dịp ra vô trường lớp lúc đó, ở bậc trung học, chuyện làm thơ in thơ và nổi tiếng của Nguyễn Tất Nhiên với tôi phải kể là hi hữu. Bên kia bờ bắc sông Bến Hải thì bít bùng, dòm đỏ con mắt cũng chỉ thấy ... mịt mùng. Còn khắp nơi ở miền Nam Việt Nam, từ những năm 60, từ quận lên tỉnh, nơi nào có trường trung học là gần như nơi đó có những ... thi văn đoàn do những người học trò khoác áo văn nghệ lập ra. Những người học trò trung học đó, dĩ nhiên vốn là máu mủ ruột rà của một dân tộc rất sính thơ nên hồn thơ ... phát triển rất sớm. Hay dở chưa kể, mà hay hay dở cũng là một khái niệm rất tương đối, nội cái việc làm thơ mà không giấu diếm, mà kết bạn, mà tô vẻ lên mấy tờ bích báo dán đầy tường, hoặc cặm cuội quay ronéo rồi đem biếu không, phổ biến dù có giới hạn đã là một chuyện hết sức ... không thường. Hơn nữa, thơ vượt ra ngoài giới hạn của nhóm, của địa phương để lan tỏa ra khắp mọi miền đất nước càng là một

chuyện phi thường hơn nữa. Nguyễn Tất Nhiên khi còn rất trẻ, là một người làm thơ trong số người làm thơ phi thường đó.

 

Dĩ nhiên để cho công bằng, hẵn phải nói rõ hơn chút xíu. Thơ Nguyễn Tất Nhiên, dù hẵn là đã hay như ... thơ nhưng để cho được phổ biến rộng rãi đến vậy, một phần cũng là nhờ công phổ nhạc của Nguyễn Đức Quang ngay từ bài đầu tiên Vì tôi là linh mục rồi đến Phạm Duy, Anh Bằng và vài nhạc sĩ khác. Nói vậy không có chút nghĩa gì là hạ giá thơ Nguyễn Tất Nhiên xuống thứ bậc nào hết. Nói vậy để hiểu rõ hơn tình cảnh của người làm thơ trong thời buổi loạn ly. Dĩ nhiên thơ phổ nhạc mà hay thì điều kiện tiên quyết là thơ ... phải hay. Tiếng đàn Bá Nha hẵn là phải đạt đến cung bậc thưởng ngoạn của Tử Kỳ mới thành ra tri âm tri kỷ. Nhưng chuyện phổ biến lại là một chuyện khác. Thử nghĩ coi, trong một xả hội đương hồi giặc giã, cái chuyện ngồi nhẩn nha mở sách ra đọc, lật từng trang giấy in mà săm soi chữ nghĩa lắm khi lại là một chuyện không dễ làm. Ngoài bưng biền thì đạn nổ triền miên, người chết không kịp trăn trối. Trong phố xá thì biểu ngữ, lựu đạn cay mờ mắt, người sống càng lúc càng lao đao. Chợ búa thì giá cả leo thang bất kể làm mâm cơm càng lúc càng teo tóp ... Người có ngồi yên thì lòng cũng chẳng yên mà thơ với thẩn. Sách báo dẫu đầy tràn mà thời gian để nhẩn nha thưởng thức dường như cũng hạn chế. Học trò ở quê lắm khi vừa học đêm vừa canh chừng nhào xuống hầm trốn đạn pháo kích. Lính tráng ngoài mặt trận có khi phải che đèn dưới phòng tuyến mà coi, chữ còn chữ mất. Thành ra, thơ văn dẫu hay cách mấy cũng khó mà tìm người san sẻ. Tại vậy, mà phương tiện truyền thông rộng rãi nhất là mấy cái ra-dô ra rả ngày đêm. Mà ra-dô thì ít khi đọc thơ. Ra-dô thì phát nhạc nghe mệt nghĩ. Ấy là chưa nói đến băng cát-sết bán đầy ngoài chợ trời mà người ta thâu, sang nhạc “ vô tư” bất kể đến bản quyền tác giả. Từ đó, người ta nghe nhạc bất cứ lúc nào và ở đâu. Học hành, tình tự, làm việc, mua bán, hành quân, uống cà phê, nhậu nhẹt ... gì cũng có thể có “phụ diễn tân nhạc” miễn phí.

Tại vậy mà nói nhạc đã góp phần đem thơ Nguyễn Tất Nhiên đến với mọi người rộng rãi hơn. Tại vậy mà gần như ai nấy cũng có lần biết qua cô ... em-hiền-như-ma-soeur hay ông linh mục không-mặc-chiếc-áo-dòng. Kể ra thơ với nhạc đã duyên nợ nhau từ tiền kiếp !

 

Từ những bài thơ đầu tiên sau đó được in lại trong tập Thiên tai, hẵn là ai cũng phải nhận rằng thơ có gì lạ lắm. Không lạ vì cái loại đề tài chuyên khoa thất tình. Mà lạ vì những câu thơ giản dị, chữ nghĩa nhẹ nhàng trơn tru gần như thoát ra tự nhiên ngoài cửa miệng. Không có kiểu cách làm dáng, đua đòi. Vậy mà thấm lòng người còn hơn khăn tay thấm nước mắt.

Thử đọc lại đôi câu, hẵn là một trong những bài tình thứ nhất

Đôi mắt tròn, đen, như búp bê

Cô đã nhìn anh rất... Bắc Kỳ

Anh vái trời cho cô dễ dạy

Để anh đừng uổng mớ tình si 

Hay

Anh vái trời cho cô dửng dưng

Coi như Hà Nội - xứ hoang đường

Để anh còn dắt cô đi dạo

Còn rủ cô vào rạp cải lương

Thơ 7 chữ vốn trịnh trọng mà tỏ tình nghe nhẹ hửng như nói chơi, nói chơi mà ăn thiệt. Thi ảnh chẳng cần vay mượn đâu cho xa. Thi ảnh là cái trước mắt, gần bên, nhan nhản ... Cái đáng nói là làm sao biến cho được những thực thể loanh quanh, lắm khi gần như vô vị thành cái thi vị. Còn rủ cô vào rạp cải lương. Những năm 60, 70 ở miền Nam khi mà người ta còn đang dậm dựt với These boots are made for working với tiếng hát của Nancy Sinatra hoặc nhún nhảy với Poupée de cire, poupée de son qua cái giọng nhí nhảnh của cô nàng France Gall ... chưa kề đến nhạc rumba boléro Việt Nam ê a không biết mệt từ đầu trên xuống tới xóm dưới ... mà dám rủ rê người ta đi coi cải lương thì quả là bạo còn hơn bỏ vô khu ... làm cách mạng. Có thể cũng do cái tánh ngang ngạnh ngược đời. Hoặc một chút nghịch-ngợm-trửng-giỡn-con-nít. Đã gọi người ta là cô em Bắc kỳ nho nhỏ, tóc “demi-garçon” mà rủ đi coi cải lương thì cũng giống như kêu con gái lục tỉnh đi xem chèo cổ. Rủ rê mà làm như chọc ghẹo xỏ xiêng không bằng. Ai mà hổng giận. Nhưng điều đó có nói lên được gì không bản chất của cái loài gọi là ... thi sĩ. Muốn là làm, bất kể. Và lắm khi, ngược đời.

Bài thơ làm cho gái Bắc lại rặt cái giọng Nam kỳ. Trực tiếp, ngay bon chẳng thèm vòng vo chi cho mệt. Mà dễ thương hết mức. Nếu được cho khen một tiếng theo lối nói của mấy ông chuyên làm mai mối hồi xưa là ... không có môi miếng. Ờ, nói thẳng, nói ngay, nói huỵch tẹt .. mà điều bộ dễ lắm sao cái lối nói ... không rào trước đón sau. Chẳng biết, hồi đó, bài thơ có làm xiêu lòng ai không chớ bây giờ đọc lại thấy mấy câu tán tỉnh đó mới duyên dáng làm sao. Chữ nghĩa tuôn ra đâu như có sẵn, chẳng cần phải moi óc nặn tim làm chi cho mệt. Người có thấy ra sự chân thành trong chữ nghĩa đó chăng. Lời lẽ chân thành mà gây ra xúc cảm đến vậy, há chẳng phải là thơ thì là gì ! Thơ làm cho người đọc, nhất là cùng lứa tuổi học trò như thi sĩ, xúc cảm và yêu thích vô cùng. Nhưng xui rủi ( hay may mắn ! ) là dường như người trong cuộc chẳng mảy may xúc động. Có phải chính vì sự từ chối của ai đó nên đời thấm thía thêm được hai năm tình lận đận, mới có màng ta chạy vòng vòng quỳ té dưới chân người, đời mới hoảng vía biết thêm có ông linh mục không mặc áo nhà dòng, mà chỉ biết giảng lời tình nhân gian. Hổng phải sao . HL Mencken có lần đã nói hôn nhân là một cuốn tiểu thuyết mà nhân vật chính đã chết ngay từ chương đầu ! Nếu tình mà nồng thì làm gì đời có những câu thơ tình lạnh ngắt như giọt mưa vở trên tượng đá. Uổng lắm thay !

 

Có một bài thơ làm đâu cũng khoảng đó, lúc vừa 19 tuổi, rồi được phổ nhạc làm người ta mê mãi với âm khúc nhẹ nhàng, những nốt nhạc lên xuống trầm bổng mà âm vực không quá cách biệt làm nghe ra như tiếng thì thầm của những giọt mưa rớt trên tóc, trên vai, trên vạt áo dài ai đó ... Bài hát Em hiền như ma soeur soạn từ bài thơ 5 chữ với cái tựa cụt ngủn Ma soeur. Dì phước, bà phước hay chơi tiếng tây thẳng thừng ... ma soeur. Những danh xưng nghe rất quen tai mà gần gũi thì chừng như không. Nhất là đối với đám con nít mới nứt mắt đã được gởi vào nội trú trong các couvent hay khi phải vô nhà thương ... thí. Là lạ ở bộ áo choàng phùng phình lớp trong lớp ngoài, lắm khi thêm cái mũ trùm đầu với đôi cánh như sắp sửa bay lên trời ... Họ giấu mình trong những nhà tu kín hay xốc vác việc đời trong những bệnh viện, những viện mồ côi, những nhà dưởng lão ... Họ sống trong một thế giới riêng, tách biệt khỏi những xáo động của cái đám đông lố nhố người phàm mắt thịt. Và ít hay nhiều, tự dưng trong xả hội nẩy sinh ra một khoảng cách. Cái khoảng cách giữa tội lỗi và thánh thiện, giữa địa ngục và thiên đàng. Tự dưng rồi như có một cái gì làm e dè khi phải xáp lại gần cái cõi người lẻ ra là thân thiện lắm. Vậy đó, tự nhiên rồi cái thế giới đó trở thành gần như cấm kỵ, đứng xa mà nhìn chớ có trà trộn mà ... vô đạo. Tín đồ, hay ngay cả người lương, hẵn ai cũng có niềm tin như vậy.

Vậy mà, có lúc có chuyện lạ xảy ra ... Người ta chắc có người rủa thầm, có người cười khà. Nhưng thích hay không thích, hẵn đều không khỏi ngạc nhiên khi có kẻ gọi người mình yêu là ... ma soeur ngon ơ, cái danh xưng vốn dĩ mang tính cách tôn nghiêm. Trong chỗ riêng tư thì không nói gì. Đằng này, giữa chỗ đông người ... Cái chuyện đem tình riêng xáp lại gần chùa chiền hay nhà thờ không phải là hiếm. Khi Điệp tìm tới Lan ( **) thì ni cô cắt đứt giây chuông. Khi hoa trắng thôi cài trên áo tím thì anh làm chiến sĩ giữ quê hương ... giữ cả lầu chuông nóc giáo đường ( ***). Vậy thôi, người ta đứng né né bên hông nhà thờ hay ngoài cổng chùa. Chưa có ai xắn xả nhào vô tới trong cấm địa. Vậy mà, bỗng dưng có người gọi đích danh người mình yêu, người mình si là ma-xơ. Gọi mà không sợ phạm thánh. Quả là yêu thương hết dạ. Tuy nhiên gọi được vậy rõ ràng là từ chí tình tới chí lý ! Đinh Hùng có lần cũng tung hô quá mạng. Ta đặt em lên ngai thờ nữ sắc. Trong âm thầm chiêm ngưỡng một làn da. Mà điều Kỳ nữ của Đinh Hùng nghe ra xa xôi quá. Xa như cái thế giới mộng mị mộng hoài rồi cũng chỉ thấy chiêm bao. Đằng này ma-xơ của Nguyễn Tất Nhiên gần gũi hơn nhiều, áo chùng trắng hay xám, thánh giá đeo cổ ... là những hình tượng rất quen thuộc. Chỉ có điều, dù có đó mà khoảng cách đạo đời đã bày ra đó. Vậy mà Nguyễn Tất Nhiên dang tay ra cái một, bất kể luật đời luật đạo. Yêu là vậy phải không ? Phá đổ hết mọi rào cản. Làm cho cái mộng của thi sĩ gần xịt. Gần như trong một vói tay. Và thiệt. Thiệt như ... thơ. Nói theo ngôn ngữ thời thượng, đó là một bước đột phá phải kể là huê dạng.

Ðưa em về dưới mưa

Nói năng chi cũng thừa

Phất phơ đời sương gió

Hồn mình gần nhau chưa?

..........................

Hỡi em cười vô tội

Ðeo thánh giá huy hoàng

Hỡi ta nhiều sám hối

Tính nết vẫn hoang đàng!

...........................

Em hiền như ma soeur

Vết thương ta bốn mùa

Trái tim ta làm mủ

Ma soeur này ma soeur

 

Thơ làm như vậy hỏi những người mười bảy mười tám tuổi kể cả vừa đôi mươi những năm 70 làm sao không thích. Thơ mềm như từng ngón tay vuốt lưng em tóc dài ... Nghe ngọt xớt như nước-đá-chanh-đường và êm như tiếng ai rúc rích sau lưng. Bởi vậy chắc cũng có hơn một người khó chịu nhưng rồi chắc ai cũng nhoẻn miệng cười xòa. Thơ ... “ mi-nhon ” quá mà. Phải không ?

 

Chính những bài thơ tình đầu đó lúc mới 16 ? 17 ? Hay 18 tuổi ?, cái tuổi người ta hay nói ăn-chưa-no-co-chưa-ấm mà lời lời đã như dao nhọn xoáy khoáy vào mắt vào tai vào tim người đọc thơ. Dở lại hết mọi trang tình sử từ xưa thiệt xưa đến nay thiệt nay, từ mấy ông Tàu tới mấy ông Tây xuyên qua mấy ông Việt ta, có ai đã cả gan gọi người trong mộng - dù là mộng vở- là ác quỷ, tay thủ dao găm ... Thất tình, người ta làm thơ nỉ non, trách móc ... là chuyện dĩ nhiên. Và thường thì rất nương tay với ... “ thủ phạm ”, thường giữ giọng tủi hờn biết thân biết phận kể cả khi oán trách. Đằng này ... Nhưng xài tới những ẩn dụ vừa cực kỳ mới mẻ, táo bạo đến độc đáo ... là chuyện không thường. Người từ trăm năm. Về như dao nhọn. Ngọt ngào vết đâm. Ta chết âm thầm. Gác qua bên cái chuyện tình cảm lằng nhằng, nói về thơ chính thị, hẵn phải công nhận rằng người con trai mới lớn, tuổi còn trung học mà thơ sáng tạo như chưa từng. Tính cách mâu thuẩn, nghịch đảo trong ẩn dụ là thi pháp mới lạ gây ấn tượng sâu lắng đến tận niềm riêng của người đọc. Nhất là người đọc còn non xèo như lá cỏ. Người làm thơ thì tuổi đời còn quá trẻ mà tuổi thơ văn đã già gấp mấy tuổi đời.

 

Thêm nữa, một bài thơ khác mà hẵn lúc đó đã gây ít nhiều phiền phức. Và chắc cũng đã làm cho hơn một người buồn lòng. Nhưng khoan ... Đọc lại trọn bài thơ, nếu đoạn đầu có những câu có thể kết tội thì đoạn sau có những câu đủ cho người xá tội. Thơ lắm. Thơ kể cả khi nhắc lại mấy cái chuyện tầm xàm mà miệng đời hay rêu rao. Và thơ hơn nữa khi tụng ca mối tình đã thất thoát của chính mình.

ta sẽ về thương lại nhánh sông xưa

thương lại bóng hình người năm năm trước...

em nhớ giữ tính tình con gái Bắc

nhớ điêu ngoa nhưng giả bộ ngoan hiền

nhớ dịu dàng nhưng thâm ý khoe khoang

nhớ duyên dáng, ngây thơ... mà xảo quyệt!

…………………..

nghe nói em vừa thi rớt Luật

môi trâm anh tàn héo nụ-xa-vời

mắt công nương thầm khép mộng chân trời

xin tội nghiệp lần đầu em thất vọng!

ta - thằng ôm hận tú tài đôi

không biết tìm ai mà kể lể

chim lớn thôi đành cam rớt lệ

ngày ta buồn thần thánh cũng thôi linh!

.....................

em chẳng bao giờ rung động cũ

ta năm năm nghiệt ngã với tình đầu

nên trở về như một con sâu

lê chân mỏng qua những tàn cây rậm

nuôi hy vọng sau ngàn mưa nắng lậm

lá-xanh-em chưa dấu lở loang nào

để ta còn thi sĩ nhất loài sâu

nhìn lá nõn, tiếc, thèm... đâu dám cắn!

nếu vì em mà thiên tài chán sống

thì cũng vì em ta ngại bước xa đời !

Bài thơ với phong cách rất là chững chạc, chữ nghĩa trân trọng và thi ảnh hoa lệ là một lời thú tội chân thành. Chân thành còn hơn Nguyễn Bính tại vì yêu quá đấy mà thôi sau khi đã lên tiếng cấm đoán tình nhân đủ thứ còn hơn cái đám độc tài đảng trị thời nay cấm dân ! Nghĩ đến số tuổi lúc sáng tác mà giựt mình. Người như vậy, tánh tình như vậy, vốn mơ mộng, phóng túng đến ngông nghênh mà xuống nước thủ thỉ những lời tạ tình rất mực như vậy hỏi ai mà không vuốt giận cho đành !!! Còn lời thú nhận nào dễ thương hơn nữa :

nếu vì em mà thiên tài chán sống

thì cũng vì em ta ngại bước xa đời !

 

Thì cũng vì em ta ngại bước xa đời . Nghe ra như cả một bản tuyên ngôn để vinh danh tình yêu vĩnh cữu dù đã bị tình vật đến xất bất xang bang hẵn là còn nhiều lần hơn hai năm lận đận với tình yêu.

Đã hết đâu, cõi thơ của Nguyễn Tất Nhiên mênh mông lắm. Đã đành, lúc đó còn bận bịu với mấy cô yêu nữ tóc dài tóc ngắn, nhưng cái đầu vốn dĩ không có biên giới thì thơ có biên giới nào đâu. Ngay cái lúc tuổi yêu đương đang sung mãn, người thi sĩ ấy đã có những sắc mắc cao vời vợi và sâu thăm thẳm về cái cõi người với thân phận làm dân nhược tiểu. Thử đọc lại một bài thơ làm đâu vào khoảng 1971, năm 19 tuổi. Chiều mệnh danh tổ quốc. Mặc dầu lo yêu đó, lo thất tình đó, lo đủ trăm ngàn thứ lặt vặt của một người còn trong tuổi học trò, cái đầu hẵn sống cõi trăng sao nhiều hơn cõi trần thế, vậy mà cái đầu đó nghĩ ra tựa một bài thơ làm giựt mình. Chiều mệnh danh tổ quốc. Lối dùng chữ đặt câu quả ư là sắc mắc. Thay vì “nhân danh” như thói thường. Không ! “ Mệnh danh ” mới đúng độ. “ Mệnh danh”, dấu nặng âm trắc trục trặc nghe ra như có gì ép uổng, lộ ra sự tiếm danh ( mạo danh) của cái-gọi-là-lý-tưởng, làm liên tưởng đến một sự lạm dụng chữ nghĩa. Từ đó, thơ như một nụ cười nhếch mép, mỉa mai cái sự-thật-phi-lý vẫn được rêu rao dù thơ không kết tội. Thơ chỉ phô bày một sự thật hiển nhiên. Ở phía nào, thì nhân danh một lý tưởng, nhân danh một chủ nghĩa để đòi hỏi một sự hy sinh đánh đổi bằng cái chết cũng đều là vô lý. Bài thơ không cường điệu bằng những danh từ rổn rảng. Hay thảm thiết. Bài thơ kể lể bằng một giọng điệu tự nhiên như vô cảm. Vậy mà âm hưởng làm tiếc thương người trong cuộc, thương lây sang cho cả một lứa trẻ bị bầm dập vì sự xúi biểu của quyền lực ngoại bang và tham vọng mù tối của đám người cuồng tín. Ai biểu thi sĩ nghĩa là ru với gió ! Không, người thi sĩ ấy.

Người yêu tôi khóc ngất

Chiều quân đội nghĩa trang

Rạt rào hơi gió nóng

Cho đau tà áo tang

...........................

Người yêu tôi khóc ngất

Trước quan tài sĩ quan

Trước hai chàng lính đứng

Thao diễn nghỉ lạnh lùng

.........................

 

Đọc tiếp để thấy cái tinh tế của một kiểu đầu óc thường bị rêu rao là cứ lơ mơ nơi những phương trời viễn mộng ...

Người yêu tôi khóc ngất

Trung úy thản nhiên cười

Lồng trong khung ảnh đẹp

Dựng sau bình bông tươi

 

Dự đám tang một người lính tử trận, người thi sĩ chưa tới tuổi hai mươi nghe thấy gì ngoài những hình ảnh quen thuộc trong bất cứ một đám tang lính nào đã xảy ra trong suốt 7000 ngày đêm trên cái xứ sở khốn nạn của chúng ta. Quan tài, vòng hoa, nhang khói, những vành khăn trắng, tiếng khóc, tiếng kèn đồng ai oán v. v... Mọi thứ mà ai cũng thấy. Ở đây lại có một thi ảnh độc đáo mà đã mấy ai nhận ra.

Người yêu tôi khóc ngất.

Trung úy thản nhiên cười.

Người yêu tôi khóc ngất. Trung úy thản nhiên cười. Có thấy ra được sự tương phản độc ác của một hoạt cảnh quen mắt đến gần như không còn làm ai thấy lạ. Thân nhân của người chết khóc ngất. Nhưng trên di ảnh đặt trước đầu quan tài thì hình người cười tươi. Đâu có ai chụp hình người chết bao giờ. Cho nên khi đột ngột mất đi, người ta chỉ còn cách lục tìm những tấm hình cũ, khi còn sống. Khổ nỗi, hình những người chết trẻ được chụp lúc còn sống hẵn cũng trẻ trung làm gì thiếu những nụ cươi đầy sức sống. Cho đến khi, chuyện xảy ra, giữa khi cha mẹ em út bạn bè và góa phụ hay tình nhân khóc lóc thê thiết thì người chết ... cười ! Nụ cười tương phản với tiếng khóc. Sao cả hai xảy ra trước cùng một thảm cảnh. Sự mâu thuẩn làm ra cái bi đát đến tột cùng, được thi hóa một cách thản nhiên như một ngọn gió thoảng nhẹ qua vai mà ai dè thấm lạnh. Chính sự mẩn cảm tuyệt vời của người làm thơ đã phát hiện ra cái nghiệt oan tưởng chừng vô nghĩa đó.

..........................

Sự vinh thăng bất ngờ

Là đem theo nước mắt

Là danh dự xót xa

Là một lần đắp mặt

Một lá cờ quốc gia

.............................

Chiều quân đội nghĩa trang

Chiều mệnh danh tổ quốc

Có muôn ngàn câu kinh 

Có muôn ngàn tiếng khóc

Có chuyến xe nhà binh

Đưa "Thiên Thần" xuống đất

Còn ai, còn ai chăng?

Mua cờ bằng tính mệnh

Cho tôi đừng biết tên

Cho tôi đừng nhận diện

Cho tôi đừng chứng kiến

Xác "thiên thần" rã manh

Người yêu tôi khóc ngất

Chiều quân đội nghĩa trang

Vài dặm bụi lang thang...

 

Cho tôi đừng biết tên. Cho tôi đừng nhận diện. Cho tôi đừng chứng kiến ... là một tiếng kêu thương bi phẩn, biểu lộ một thái độ nhân bản tuyệt vời. Không muốn nhìn, không muốn thấy những tang thương. Mà có được đâu. Tiếng kêu xin trong vô vọng. Cuộc chiến tranh đó là một tai họa mà mọi người đều có phần. Vì vậy, tiếng kêu như một phản kháng bất lực, nghe tội nghiệp làm sao, tâm hồn mềm như lá cỏ của những người mang mệnh thương vay ! Nhưng có phải vậy thôi đâu, người làm thơ còn đẩy tới chập choạng hư vô, những cảm nghĩ sâu từ vô thức ...

Kể chuyện đám tang, rạch ròi như một đoạn phim chiếu lại, với những suy nghĩ cặn cùng để rồi kết luận ngon ơ với hình ảnh chẳng ăn nhằm gì hết với dàn bài đã sẵn. Bài thơ dứt với câu áp chót coi như đã đủ ý. Nhưng không. Còn thêm Vài dặm bụi lang thang. Như nói bâng quơ vậy. Mà điều cạn tình cạn lý. Huyệt mộ lấp kín rồi. Nước mắt lau khô. Nỗi buồn cất lại. Mọi người ra về. Cái còn lại ? Cái còn lại là ... những hạt bụi lang thang bay dài theo chiều tối. Hạt bụi nhẹ lắm, mờ lắm như có như không. Có phải đó là hình ảnh đích thực của mọi thứ giá trị mà cuộc đời này đặt để cho con người. Từ gặp gỡ đến chia ly, từ tiếng cười đến tiếng khóc, từ có đến không, rồi ra ... rốt lại còn có gì đâu ngoài những nhúm bụi vật vờ. Triết gia !

 

Đọc thơ Nguyễn Tất Nhiên, nhất là những bài thơ năm chữ, lắm khi tưởng như không phải là thơ mà chính là ... thơ ... thứ thiệt. Bởi vì thơ là luật là lệ, là câu cú vần điệu. Mà muốn có luật lệ thì phải suy nghĩ, phải cắn bút, đôi khi phải vò đầu, phải ... phải ... Vũ Hoàng Chương có lần than rằng phút-linh-cầu-mãi-không-về, bâng-khuâng-giấy-trắng-chưa-hề-mực-đen. Dẫu chỉ là một cách nói, nhưng ít hay nhiều cũng chứa nhiều phần trăm sự thật. Đằng này, đọc thơ Nguyễn Tất Nhiên có cảm tưởng như thơ phát ra liền tù tì khi người thơ làm thơ. Kiểu như mây thì bay, nước thì chảy, và Nguyễn Tất Nhiên thì ... thơ. Vui cũng thơ mà buồn cũng thơ. Chẳng cần vò đầu nặn óc, chẳng phải o ép vặn vẹo chữ nghĩa. Si tình cũng thơ mà thất tình càng thơ. Đọc lên tưởng là dễ dàng lắm mà thơ không dễ dãi chút nào. Không có chữ nghĩa bóng bẩy, càng không làm bộ làm tịch ra vẻ bí hiểm triết lý cao siêu. Có điều cái bất thường đã ẩn tàng trong cái rất mực bình thường. Hổng chừng nếu lấy biệt hiệu là Hồn Nhiên cũng không có gì là sai chạy !!!

Hai năm tình lận đận 

Hai đứa cùng xanh xao

Mùa đông, hai đứa lạnh

Cùng thở dài như nhau

 

Chuyện lở dở không làm ai vui. Nhất là kiểu người-đó-ta-đây càng như chọc gheọ thêm nỗi buồn.

Hai năm tình lận đận

Hai đứa đành xa nhau

Em vẫn còn mắt liếc

Anh vẫn còn nôn nao

 

Lời thơ đi một mạch êm ru như một tiếng thở dài. Tưởng tình qua như một cơn gió thoảng. Không. Người con trai ở đây nặng lòng hơn nhiều lắm. Bắt quàng chuyện mình qua hình ảnh cây thánh giá trên nóc chuông nhà thờ là một thú nhận tuyệt vời. Có phải muốn xác nhận tình yêu đã đóng đinh mình lên thập giá, như Chúa bị đóng đinh trên đinh đồi Golgotha mặc tình cho thiên hạ ném đá dập vùi. Dẫu vậy Chúa có than phiền gì đâu. Chúa xuống trần là để cứu rỗi nhân gian. Như người tình chịu thua nhưng vẫn sung sướng vì đã có lần tìm được tình yêu.

Anh bây giờ có lẽ

Xin làm người tình thua

Chuông nhà thờ đổ mệt

Tượng Chúa gầy hơn xưa

Chúa bây giờ có lẽ

Rơi xuống trần gian mưa

..........................

Anh bây giờ có lẻ

Thiết tha hơn tín đồ

Nguyện làm cây thánh giá

Trên chót đỉnh nhà thờ

Cô đơn nhìn bụi bậm

Làm phân bón rêu xanh

 

Làm phân bón rêu xanh. Chỉ xin làm phân bón cho rong rêu là thứ loài hạng bét. Ai nói sao không biết. Chớ còn lời nguyện ở đây thì quả là thượng hạng. Làm sao không thương cho đành !

 

Thơ đi sát với cuộc đời nên đi thẳng vào lòng người ngon ơ. Thơ làm như ở với người thơ đâu sẵn, như hơi thở, như nhịp tim, buồn vui giận hờn gì cũng ra thơ ngay trong khoảnh khắc. Vì vậy mà lời thơ trong sáng, nhịp thơ suông sẻ, tiếng thơ nhẹ nhàng, thanh thoát như tiếng nước suối róc rách một buổi đầu xuân khi tuyết đang tan mà ngược lại nghĩa và ý thì nặng trĩu như trời còn đông dưới mấy tầng tuyết phủ. Thơ ở đó mà tình thơ cũng ở đó. Làm thơ như chơi nên người đọc cảm thấy ... chơi vơi.

 

Lần theo những bước đời rất mực chênh vênh của tuổi trẻ đa đoan. Đọc thêm đôi dòng lục bát của Nguyễn Tất Nhiên, thể thơ làm thì dễ ợt mà hay thì khó dàn trời. Đọc thêm để thấy cái tài hoa của người thơ mà tuổi đời vừa chớm hai mươi. Bài Chuyến đò Cữu Long.

Đò qua sông, chuyến đầu ngày

Người qua sông, mặc áo dài suông eo

Sông hiền sóng lạ lùng reo

Trời bao la cũng nhìn theo... ái tình

Người qua sông, qua một mình

Nắng trên sông, nắng vàng hanh mái đầu

Xin em vài sợi tóc nhầu

Trói thân ta với nghìn sầu chung nơi

Mong em gìn lấy ơn trời

Thấy quanh năm, thấy ta đời tai ương!

Người qua sông, mặc áo hường

Nắng dương gian, nắng buồn hơn trước nhiều

 

Lục bát không thèm theo nhịp chẳn như thói thường. Lục bát phóng túng, phá cách như cái tuổi trẻ phá rào. Cấu trúc thơ lắt léo mà thơ nghe ra suông sẻ, êm đềm. Hơi thơ lúc ngắt quảng, lúc xuôi liền một mạch kéo theo mớ hình ảnh buổi sớm mai lóng lánh thứ nắng sớm mịn bâng trên vạt áo hường nhan. Đò ngang qua sông có tượng trưng gì cho một sự ngăn cách. Xử dụng điệp tự (để nhấn mạnh) mà âm vọng lại nhẹ hều. Người qua sông, qua một mình. Nắng trên sông, nắng vàng hanh mái đầu. Cách ngắt câu chẳn lẻ bất thường làm bài thơ trở nên sinh động, phá vở cái cấu trúc quen mắt của lục bát, làm thay đổi hẵn tiết tấu quen tai. Thay vì hoặc hai hoặc bốn, người làm thơ trẻ không ngần ngại cắt nhịp ba-ba hay ba-năm. Nhịp lẻ gợi ra cái trắc trở của cuộc tình. Người qua sông, mặc áo hường. Ngắt câu ba-ba tỏ vẻ dứt khoát, chấp nhận chuyện lẻ đôi. Người qua sông, người đứng lại bên bờ. Đến câu tám, ngắt câu ba-năm, làm thay đổi hẵn âm hưởng của thơ. Đang dứt khoát bỗng nhùn nhằng. Dù chấp nhận nhưng làm sao không buồn. Nỗi buồn sẽ kéo dài cho đến bao giờ ai biết. Nắng dương gian, nắng buồn hơn trước nhiều. Thử đọc lên thành tiếng, tự nhiên chữ “ buồn” -trầm bình thanh- phải hạ giọng xuống, thanh âm như lắng lại rồi ngân dài ra, rồi cao giọng lên với chữ “ hơn ” -phù bình thanh- hiển hiện cái lắt léo của tình cảm. Như xác nhận sẽ còn buồn lâu, buồn sâu, buồn hoài, buồn dài dài ... Thơ điệu vầy ai vui cho nỗi. Có phải trong cái buồn, thơ đã có cái đẹp tự thân.

Rồi lại thêm cái áo dài suông eo. Trời, chữ nghĩa mới điệu làm sao ! Cái kiểu áo dài trắng của nữ sinh những năm 70, hai tà lất phất mà eo thì thả lỏng, không chít cũng không thắt cho dáng đi ra vẻ thõng thượt lụa mềm. Chữ “suông eo” quả là đắc địa. Suông eo vì eo áo đã buông ra, mà buông ra là thả mặc tình cho gió thong thả lắt lay càng ra chiều ẻo lả . Vậy mà sao hồi đó không ai nghĩ ra để cho người con trai mới hai mươi tuổi đầu đã thành nhà ngữ học !

 

Kể ra cũng đã đáng được ngả nón chào thua trong cái chợ thơ rất ư là bát nháo. Tính ngưng rồi bỗng dưng lại nhớ quàng thêm một bài thơ tình khác. Nhưng lần này là loại tình nước tình nhà nên chắc không làm ai giẫy nẩy. Một bài thơ 7 chữ khi đã xa quê. Tình thơ hồn hậu như hàng cau quê cũ, êm đềm như nước đọng dưới cầu ao, xa quê rồi còn vọng mãi theo lòng. Nhớ nội.

Mưa nắng hai mùa trên xứ nội

Vun trồng từng luống mạ vồng khoai 

Mấy dây trầu "lẹt" tươi màu lá

Ôm ấp hàng cau với tháng ngày

.................................

Từ lúc giặc về, con biệt xứ

Nát lòng chim quốc nhớ quê hương

Mấy thu vàng úa đời xa cội

Chẳng biết mộ phần nội có yên?

 

Mấy thu vàng úa đời xa cội. Chẳng biết mộ phần nội có yên ? Trời ơi, ai cảm sao không biết chớ bây giờ đọc lại mà muốn chảy nước mắt. Thơ về quê cũ nghe sao mà êm dịu như muốn vuốt ve cái quê cũ đã bỏ đi. Hỏi mà chắc cũng biết lòng người tàn tệ, sau cuộc tương tàn, cả những núm đất cũng không yên thân. Ai nói thi sĩ chỉ lo chuyện trên trời. Chuyện dưới đất, đã nói thay giùm cho bao nhiêu người hằng đau nỗi đau xa cha xa mẹ, bỏ nước bỏ quê. Mà nói giùm bằng một giọng điệu hiền lành, âu yếm như tiếng thủ thỉ giữa bà cháu, những ngày còn chung ấm lạnh.

 

Thơ còn nhiều lắm. Có khi còn viết cả nhạc. Nhất là cả một dòng thơ sau năm 75, những năm còn kẹt lại ở đó và sau khi đã vượt thoát qua xứ người, với những cảm hứng mới khi con tim đã thôi xốc nổi. Rất nhiều những bài thơ có tựa cùng bắt đầu bằng chữ “ Tâm ... ”, làm như đang dọn đường cho một hướng đi tĩnh lặng, tìm tới một cõi ít tị hiềm hơn cái cõi nhân gian. Nhưng khổ nỗi, mấy khi kẻ tài hoa mà chịu hứa tới bạc đầu !!! Cũng đành !

Mà thôi, nói hoài cũng không hết chuyện. Đã hứa chỉ nhắc lại thơ tình ! Điều cốt yếu là thơ tự lúc đầu đã hiển hiện rốt ráo tài hoa của một thi nhân, thi nhân thứ thiệt không cần nhản hiệu.

 

“ Truyền thuyết ” kể rằng : thi sĩ có yêu một người con gái- bạn đồng trường, mà tình vô vọng nên tình hiển lộng thành thơ. Cái chuyện đó phải kể là một chuyện rất thường-tình-ở-huyện. Trai gái mới lớn phải lòng người khác phái rồi đem kể lể bằng văn xuôi hay văn vần thời nào cũng có. Có người, vốn tánh e dè thì chép tay vô nhật ký rồi giấu kín. Có kẻ gan dạ hơn thì nắn nót rồi gởi cho mấy tờ nhật trình với một bút hiệu kêu như gió thoảng mây bay. Lắm khi được đăng trong mục văn nghệ mầm non hay hoa thơm cỏ lạ gì đó, với hàng chữ nhắn nhủ bài-lai- cảo-xin-đừng-gởi-cho-báo-khác. Có khi, thơ gởi đi rồi đi luôn chẳng thấy hồi âm. Nhưng có sao, miễn là có dịp được trang trải nỗi lòng ra giấy trắng mực đen sau khi đã không dám mở miệng nhắn nhe gì hết với người trong cuộc. Cuộc tình chưa bồi đã lở coi như cũng có phần nào giải tỏa. Vậy rồi thôi. Có khi thôi một cách ngang xương. Cái mộng làm văn thi sĩ rồi cũng ngưng ngang. Trường hợp Nguyễn Tất Nhiên thì lại khác. Người ta nói người thi sĩ ấy vì thất tình mà làm thơ. Dường như không hẵn là vậy. Thất tình chỉ là cái cớ. Nguyễn Tất Nhiên làm thơ ... thất tình vì Nguyễn Tất Nhiên là thi sĩ. Thi sĩ. Tôi chắc người buồn từ một thuở. Đất trời còn dậy dáng hoang sơ. Cõi trong chưa tỏ niềm trăn trở. Người đã buồn vui một cõi mơ. Tôi biết người buồn tự bấy giờ. Mẹ cha vừa kịp nối duyên tơ. Những tinh thể trắng còn dong ruổi. Người đã vùi thân một cõi thơ...

.............................

 

Có người kể có khi trời trưa nắng chang chang mặc cái manteau mua ở khu Dân sinh, mồ hôi nhễ nhại đạp xe chạy vòng vòng ... hay ra đứng sửng giữa ngả tư đường, ngó trời ... (*)

Người ta còn kể, lâu lắm rồi, Rimbaud làm thơ từ năm 15 tuổi, thơ như một thứ tiên tri thấu thị và đời sống như một con tàu say. Le bateau ivre...

Người ta còn kể tiếp, Van Gogh mà mỗi nét vẻ như một vết đau quằn quại ...

Người ta còn nhắc đến Bùi Giáng còn-hai-con-mắt-nhớ-người-một-con ...

v. v ... và v. v...

Nhưng có cần không. Mỗi thi nhân là một thế giới riêng. Riêng với cái nghĩa cực cùng của nó.

 

Từ bài thơ Tình tuyệt vọng Sonnet d’ Arvers mà Khái Hưng dịch ra lục bát Tình tuyệt vọng, nỗi thảm sầu. Mà người gieo thảm như hầu không hay cũng đã có không biết bao nhiêu thơ tình lỡ, tình trễ, tình buồn, tình hận ... nhưng phải nói dường như không có thơ tình lụy nào dễ thương, dễ mến, dễ yêu, dễ nhớ, dễ chịu ... và dễ dàng cho bằng thơ tình của Nguyễn Tất Nhiên. Những câu thơ tình để tán tỉnh hay thở than nghe ra đều hồn nhiên, nhẹ nhỏm như lời thủ thỉ của gió mát với trăng thanh, của hoa xuân với ong bướm, của những cặp tình nhân kiểu Paul et Virginie. Platino amor.

 

Những năm cuối cùng sống ở Cali, xứ Mỹ, nơi có rất nhiều người Việt sống, hẵn là không thiếu người mến mộ cũng như ghét bỏ. Hẵn dường như đã có một chọn lựa. Minh khúc 2. Khi mà, dòng đã xa sông, thì trăng vẫn chiếu buồn trong tháng ngày. Khi mà chim đã xa bay, thì cây vẫn trái tình hoài trông mong. Khi mà mồ cỏ thu đông, thì xuân xanh vẫn phượng hồng hè xưa. Để sau cùng, chọn cái chết tự ý, có phải là lời đáp trả sòng phẳng cho mọi tiếng đời dị nghị. Là cách hoàn trả cả vốn lẫn lời cho thứ ân phước độc dược mà mạng số đã dành riêng. Tài thơ đó, loài thi sĩ đó ngay cả giữa vinh quang, muôn đời rồi vẫn cô đơn, lầm lũi đi giữa thế gian. Ai hiểu, ai san sẻ hạnh phúc, ai sớt bớt tai ương. Hay chỉ toàn ngộ nhận. Những ngộ nhận vốn dĩ là bản chất của cuộc đời. Cười khóc với thế nhân nhưng rồi giữa trùng trùng nhân thế ai là kẻ san sẻ cho hết được những khúc nhôi trong cùng tận của lòng riêng. Người đã đẩy hồn thơ tới tận cùng biên giới của mộng và thực, của thiên đường và địa ng̣ục, của yêu thương và ghét bỏ, của thiên tài và điên loạn.

Phần số của thi sĩ có phải đã từ tiền định. Sẵn rồi. Sẵn đâu từ khi mới phôi thai. Sẵn đâu từ khi người dân thành Athène tuyên bản án chung thẩm cho loài thi sĩ : Hãy đội cho họ vòng nguyệt quế rồi đuổi họ ra khỏi thành phố.

Còn lời kết án nào hùng biện hơn nữa cho cái loài thi sĩ, những người được sinh ra để làm đẹp cho đời. Và làm khổ cho chính mình. Như có lần, chính người thi sĩ ấy đã nói :

Ta phải khổ cho đời ta chết trẻ

Phải ê chề cho tóc bạc với thời gian

Còn lời tự thú nào khinh bạc hơn nữa, người thi sĩ ấy ...

 

                                                                                      Cao vị khanh

 

 

 

 

(*) Thái Thụy Vi ?

(**) Truyện Tắt lửa lòng của Nguyễn Công Hoan.

Lan và Điệp, tuồng cải lương của Trần Hữu Trang

Chuyện tình Lan và Điếp, nhạc của Lê Dinh, Minh Kỳ, Anh Bằng ...

(***) Hoa trắng thôi cài trên áo tim, thơ củ a Kiên Giang

______________________

                  thu, vàng mấy đỗi ...

 

Tự dưng …

... tự dưng rồi trời đổ sương đầy những sớm mai. Sương như hơi thở nấn níu của đêm sắp bỏ đi. Đồi núi, phố xá, cỏ cây lẫn lẫn trong hơi sớm mù mù. Sương bay là là, sương rơi lả lả. Sương từ vạt núi tuôn xuống. Sương từ mặt sông bốc lên. Sương váng vất ngoài đầu ngõ. Sương len lách vào hẻm phố. Sương tràn ngoài xa lộ. Sương thổi từng giòng khói trắng bay lan man vào từng lối tắt đường quanh, vắt lên cái nóc tháp chuông nhà thờ dát bạc, luồn vào khung cửa sổ khép hờ làm ai đó vội kéo góc chăn lên phủ kín bờ vai bỏ hở. Sương lấp lửng trườn lên hàng ghế đá công viên, rồi lặng lờ sà xuống tưới đẩm những luống cỏ rướm vàng. Sương tự trời cao nghiêng xuống hay sương từ đất thấp vói lên mà sương thấm vào vai người bộ hành dậy sớm làm ai đó rùng mình rồi chợt ... một thoáng nghĩ … ờ … vậy mà đã thu rồi!

CVK_lathu.JPG

Hôm kia, mà cũng đâu chắc hôm nào, từ những góc phố khuất, từng bầy chim rủ nhau tụ về vần vũ, bay liệng như thoi đưa, miệng kêu hớt hải vừa như thúc giục vừa như chần chừ trước một chuyến đi xa, xa lắm. Người qua đường bước chân bỗng có hồi như khựng lại, rồi… rảo bước nhanh hơn. Đường phố chợt có khi như ngừng đọng, rồi…vội vã bắt lại cái nhịp vừa để lỡ. Lòng người có một thoáng như ráo hoảnh… Có một cái gì bảng lảng đâu đây. Có một cái gì chực hờ muốn nói ... mà môi không hở được ra lời.

 

Mùa thu trở về, lạ lẫm như mọi khi.

 

Ngày hôm trước nữa, trên bãi đất trống phía tây thành phố, gánh xiệc dạo đã lo cuốn lều hạ rạp, cái vòng quay khổng lồ treo đèn kết tuội đã quay suốt một mùa hè giờ được tháo ra, chất chồng như một đống phế liệu. Mấy cái loa phóng thanh phát rân những bài nhạc vui nhộn cũng đã được gở ra khỏi mấy cọc sắt, vất bừa bãi xộc xệch như những cái miệng mếu máo. Bên những chiếc xe van biến chế làm nơi ăn ngủ, những nghệ nhân hết việc đang vội vã thu xếp đồ nghề vào mấy chiếc rương cũ kỷ. Khuất sau tấm bảng quảng cáo sơn phai nhoè nhoẹt, chú hề quen thuộc, không còn cái áo rằn ri và cái quần thùng đóng bộ, bôi mất lớp phấn son ngây ngô, ngồi một mình, cô đơn và lạt lẽo như một pho tượng cũ bỏ quên.

 

Mùa thu dợm đến, có một lúc mọi sự tưởng chừng như ngừng lại. Một khoảnh khắc nào đó. Một khoảng trống nào đó hay chính là một khắc khoải nào đó. Biết đâu.

Mà có thực. Trời đất cỏ cây và lòng người. Tự dưng rồi thấy một chút bâng khuâng. Một cái gì đó xao xác. Một thứ gì đó không yên. Tự dưng rồi thấy nao nao. Thấy là lạ dù vẫn đất trời đó, sông nước đó, gió mây đó, cỏ cây hoa lá đó. Có điều trời đất đó dưng không ra chiều lãng đãng. Gió mây đó bỗng nằng nặng nỗi niềm. Cũng là cơn gió quen nhưng trưa nay sao thấy hiu hiu. Vẫn là vạt mây đó sao hoàng hôn này lại ngan ngát. Có cái gì đó đang trở dậy, cựa mình, dù đã thúc thủ nằm yên từ lâu lắm trong cái góc khuất nhất của lòng ta.

 

Cái gì đó ? Ai mà biết được. Nhưng rõ ràng nó đang cọ quậy, đang vùng vẩy cho rớt lớp phấn bụi thời gian. Một ấm ức chưa được giải thông ? Một chuyện đôi co chưa ngã ngũ ? Một niềm vui chưa từng ? Một nỗi buồn chưa tỏ ? Hay một dáng người ? Có đôi khi chỉ một tiếng cười ? Rất có thể chỉ một tiếng khóc ? Ngọn đuốc cháy lập loè trên khuôn mặt sinh ly. Giọt nước mắt tử biệt khóc ngoài ngàn dặm. Ánh trăng xanh mướt một đêm mười bảy. Ngón tay ngoéo hờ giữa góc phố trăm năm. Tưởng đã khuất lấp. Tưởng đã chôn vùi dưới tầng tầng tất bật của từng ngày qua, từng đêm tới, tuần tuần, tháng tháng, năm năm…. Vậy mà không. Rõ ràng là không. Nó đang trổi dậy kìa, trong cái cạn sớt và thăm thẳm của lòng ta. Nó theo cái quạnh quẽ của hơi thu mà máy động. Rồi thì là một hoạt cảnh. Hoặc chỉ là một ấn tượng. Có khi chỉ là một cái ngoái nhìn hồi nào mà làm xốn xang lại cả dạ. Có khi chỉ là một trách móc không đâu lại làm trìu trĩu đến bây giờ. Hay khi không rồi một bước chân nhún nhảy của ai đâu một lần nào đó, bỗng làm rộn rã lại đến tội nghiệp con tim đã quá chừng mệt mỏi. Một chút xíu thôi, chút thôi. Nhưng mà quả tình có đó, còn đó.

Lòng ta đã vậy. Trời đất lại mang mang…

Trời đất quả thật là mang mang…

Nắng không ra nắng. Mưa chẳng ra mưa. Không gian cứ ui ui, thời tiết ấm ấm lạnh lạnh. Trời đất như có gì băn khoăn lắm, như cứ ray rứt gì đâu, như muốn bỏ một cái gì mà không nở, muốn giữ một cái gì mà chưa định. Ngày vẫn lên mà chừng như uể oải. Đêm mỏi mòn mỗi lúc một lê thê hơn. Giữa trời và đất như có gì lung linh nối lại, giữa ngày và đêm nấn níu những giờ khắc loảng. Cứ như vậy, giữa những đối cực bỗng nhùn nhằng cái khoảng trống không tên, cái gì không biết là cái gì, mà như sương, như khói, như hiu hắt, như tiêu sơ… Như có đó mà không có đó. Như không có đó mà không là không có đó. Không gian như có dây tơ. Bước đi sẽ đứt động hờ sẽ tiêu… (*)

Vậy đó… vậy đó ...

 

... Rồi một buổi sáng, choàng mắt dậy, có cái gì lốm đốm ngoài vườn, trên hàng phố, xa một chút trong công viên, xa hơn nữa trên sườn núi… một đốm vàng…Ờ, một đốm vàng giữa chòm lá hôm qua còn xanh mướt, một dãy đỏ trên rừng cây hôm kia còn xanh rì. Thu tới thật rồi, tới hồi khuya khi núi còn trầm mặc, sông đương lững lờ, phố xá im ỉm và người, người còn đang chìm nổi giữa chiêm bao. Thu tới như một bất ngờ dù đã từng phen dọ dẩm. Thu tới, e dè một chiếc lá...

… Rồi hai chiếc lá trở màu, rồi ngàn chiếc lá, rồi trăm ngàn, rồi triệu triệu chiếc lá trở màu cùng một lượt. Cái biển lá xanh ngát hôm qua hôm kia còn làm gợi lên sự yên bình rất đỗi, bỗng đâu chen chúc từng vệt màu nóng hổi, đủ hơ ấm cả một tấm lòng đang lạnh. Vàng, vàng vàng, đỏ, đo đỏ, tím, tim tím, nâu, nâu nâu… Xanh chen vàng, chen đỏ, chen tím, chen nâu. Rồi vàng đỏ tím nâu chen xanh. Rồi tới lúc đỏ con mắt mới thấy được một đốm xanh, lẻ mọn.

Chẳng mấy lúc, thu đúng mùa chín rộ, nở bừng ra lộng lẫy. Lộng lẫy tới độ làm lòng người cũng vui lây. Ngó lên núi, cả một núi gấm hoa. Nhìn ra xa, gần, trước, sau, phải, trái, chỗ nào cũng sắc với màu, cũng phấn son của trời đất. Lang thang vào rừng phong một ngày nắng tốt như len lách giữa trùng trùng trái tim còn rất trẻ. Hồng hào. Tươi rói. Mỗi bận gió thổi qua, cả một rừng tim đỏ cùng réo lên cái nhịp thanh xuân.. Vói tay ngắt chiếc lá, cọ nhẹ vào môi nghe mềm mại, mặt lá ửng hồng túa ra li ti những đường gân nhỏ như ngàn mạch máu vân vi trên má ai ngày xưa, nhan sắc.

 

Những ngày nắng, thứ nắng trong vắt và hiền hòa của mùa thu, biển lá còn được dát lên ngân nhủ, nhìn xa như một bức gấm thêu hoa mà bàn tay ngọc ngà đã điểm xuyết thêm đây đó những sợi tơ kim tuyến. Mùa thu đã thay lá thành hoa. Cả một vùng núi non, rừng rậm, ao hồ… biến thành một vườn hoa không rào chắn, thứ hoa không có ong bướm cợt đùa mà chỉ có toàn gió lượn. Có lạc vào rừng thu một ngày trở gió, thấy gió bốc lên cả một khối màu sắc lung linh lung linh mới thấy cái thâm ân của trời đất. Thiên địa đâu có bất nhân. Mặt đất này toàn là thực phẩm trần gian, no được hay không chính là do lòng ta đó.

Rồi lắm khi những cơn mưa bất chợt, mưa bay nghiêng làm như nước cũng đổi màu. Mưa thu không nặng hột, chứa trong cái túi long lanh của nó những đốm xanh đỏ tím vàng, cuốn theo gió thổi, rải tung màu sắc ra trời như bông giấy rải trong mùa lễ hội. Dứt mưa, nước thấm vào thân cây đen sẩm, tàng lá đã đỏ, ửng đỏ thêm, chòm lá đã vàng, hực vàng thêm, tuyệt tác.

Những buổi chiều không mây, mặt trời mùa thu rất nguội, rải đều hết thứ nắng ấm, vàng và trong như hổ phách, mọi thứ, mọi vật kể cả cái biển lá đủ màu rồi cũng nhòa tan vào cái màu vàng lồng lộng đó. Trên những con đường qua lại, những chòm cây chụm đầu thường đồng lõa cho người ta núp bóng tình tự, bỗng chốc hực hỡ, sáng trưng vì những chiếc lá vàng ăn nắng làm cả phố lá vàng thêm. Những tình nhân e thẹn được dịp cũng muốn tung hê ra cho hết, một lần. Khu phố xưa không chừng cũng bớt đi cái vẻ cau có ủ ê của tháng năm cằn cỗi khi ngọn nắng vàng thu len vào tới những hóc hẻm bỏ quên, làm tươi lại cả những vì tường bệ cửa đã rong rêu. Đến đá xanh chừng như cũng muốn ửng vàng như lá…

Chỉ có điều, chỉ có điều, trên những hàng dây điện càng lúc càng thấy vắng bặt dấu chim… những bầy chim dần dần đã bỏ đi hết. Ngày đã thấm lạnh. Gió đã đổi chiều, từ mạn bắc thổi xuống… miên man, miên man.

 

Cái lộng lẫy rồi có phải, chẳng qua … cũng chỉ là tín hiệu của một sự tàn phai, sẽ đến.

 

Thử tưởng đến cái màu vàng trong những bức tranh của Van Gogh, thứ màu vàng nóng sốt, chói chang đến quay cuồng trong cặp mắt buồn bã của người họa sĩ mang tâm bệnh. Màu vàng của thứ nắng quái chiều hôm, rồi ra, chỉ là dấu hiệu của một ngày sắp tắt.

Mùa thu cũng vậy. Thu vàng lịm, thu tím thẩm, thu đỏ quạch… vẻ rực rỡ đó của mùa thu dường như cũng chính là cái hơi thở hắt của đất trời trước khi tịch diệt, là lần gượng dậy cuối cùng của một năm đã tới hồi mệt mỏi.

Gió trở chiều. Mưa nắng, nắng mưa mấy đổi, từng ngày ngày một lạnh thêm…

Mùa thu đã đến bằng những bước chân thật từ tốn thì khi bỏ đi, những bước chân thu lại rất vội vàng. Một sớm, một chiều…Từng chiếc lá rứt khỏi cành, vèo bay, tấp vào một vạt cỏ úa hay mắc lại trên khung cửa nhà ai đó. Lá rơi trên vai pho tượng trắng, trên ghế đá, trên bờ thạch ngoài bến nước. Lá rơi trên vai người đi bộ rảo bước, trên tóc rối người chờ người trong góc khuất công viên. Lá rơi theo mưa, thầm thì theo mưa. Lá rơi theo gió, run rẩy theo gió. Rồi khi không gió cũng chẳng mưa mà lá vẫn rơi rơi. Lá rơi, rơi hoài rơi hũy… rơi cho đến lúc chỗ nào cũng đầy xác thu vàng. Hàng ba, hè phố, mái hiên, những lối tắt, những đường ngang. Lá rụng từng chiếc một, rồi lá rụng từng chùm, từng bựng… lá rụng tất tả, rụng ngược xuôi, rụng bời bời, rụng không kịp nghỉ… Lá rụng như cả một trời thu rụng. Xanh vàng tím đỏ tung hê, tan tác. Ngày vội vã lắm rồi. Chiều tới sớm. Đêm nơm nớp đâu đây.

Dưới gốc cây phong, lá khô nằm sắp lớp. Lá thu năm nay nằm đè lên lá những mùa thu trước. Lớp đã khô dòn. Lớp còn âm ẩm. Dẫm từng bước nhẹ, có nghe không, tiếng thu kêu xào xạc. Trên những bãi lá thành phố, không có con nai vàng nào ngơ ngác, nhưng chắc sẽ có hơn một người bỗng thấy mình ngớ ngẩn khi thấy sự đổi thay quá đột ngột của đất trời. Mới đó ! Đã quạnh hiu ! Cây lá trống không. Đất trời trống không.

Ai đó đã qua đây, rồi có để lại gì không, kể cả một dấu chân đã dẫm lên mấy lần lá úa. Lá sẽ rơi lấp lên tất cả, con đường, bãi cỏ, ngõ phố, công viên, tiếng cười lanh lảnh một mùa hè, giọt nước mắt lẫn vào giọt mưa bất chợt, ngón tay cong như một lời hẹn vu vơ… Ai đó đã kể chuyện một con sên đi chôn một chiếc lá vàng, có cần không, khi mỗi bận thu qua, mọi thứ rồi chỉ còn là một phần mộ lớn. Mỗi chiếc lá là một kỷ niệm. Mỗi chiếc lá sẽ rả đi, theo hạn kỳ của nó. Mọi kỷ niệm sẽ lịm dần trong huyệt sâu của tưởng nhớ, chỉ không biết khi nào.

Vàng thu chỉ là ảo ảnh. Và tình thu chỉ là một thứ đoạn trường.

 

Mùa thu đi rồi, đi rất vội. Mùa thu đi mang theo hết với nó những niềm vui chung, chỉ còn lại những tấc lòng riêng. Những tấc lòng quạnh quẽ một mình.

Mang theo hết đi, mang theo hết đi, mùa thu.

Để lại chăng, đôi khi chỉ là một chiếc lá vàng mà ai đó ép khô giữa hai trang sách cũ, rồi bỏ quên giữa mối mục thời gian…

Làm chi mấy lớp sương thu, để hai con mắt tôi mù hướng em. Tìm đâu thấy, dấu đã chìm ?

có chăng trong xác lá lìm lịm khô….

CVK_thang9muathu.JPG

(*) Xuân Diệu

__________________

CVK_Les feuilles.JPG

                                                                              Ảnh trên: Thủ bút của Jacques Prévert

 

Bấm link để nghe nhạc: YVES MONTAND - Les Feuilles Mortes

 

 

Trong suốt cuộc yêu thương mà chừng như bội bạc, đã có lần nào tôi kể em nghe về một bài hát cũ mà người ta đã hát thay cho một tiếng thở dài.

 

Ờ như một tiếng thở dài vậy em.

 

Bài hát là một tình khúc nổi tiếng từ những năm 40, 50 của thế kỷ trước mà cho đến nay, hơn bảy mươi năm rồi... vẫn chưa thôi gây xốn xang trong lòng người, mỗi bận tình cờ nghe lại ...Thơ của Jacques Prévert, người thi sĩ thích đùa giỡn với chữ nghĩa như đã bung thùa tuổi trẻ mình trên đường phố Paris. Bài thơ đó, Les feuilles mortes, được viết dựa theo một điệu nhạc soạn cho vũ khúc ballet bởi Joseph Kosma rồi được dùng làm nhạc đề cho một cuốn phim của Marcel Carné. Công trình họp soạn là một cách thức phá thể, như ý muốn vượt thoát cái hiện thế điêu tàn và trì trệ của một thời vừa im tiếng súng. Ra đời trong sự thờ ơ của người đương thời nhưng rồi chẳng mấy chốc trở thành bài ca ưa chuộng của hàng triệu người khắp nơi trên thế giới.

 

Trong số đó, hẵn không ít kẻ đã nghe ra như một niệm khúc cho riêng mình. Bài hát được trình bày theo thể điệu Jazz, nhịp bốn-bốn mở đầu với cung trưởng và kết thúc bằng cung thứ, với những chuyển cung vừa lả lướt vừa điệu nghệ, những âm giai thay đổi lên xuống bất chợt, có khi đẩy nốt nhạc lên tới quảng 5 quảng 8 làm như mỗi nốt nhạc là một chiếc lá lìa cành, bay chập choạng rồi để mặc gió cuốn đi vất vưởng ... vất vưởng như những tình nhân trong cuộc xô đẩy phũ phàng của định mệnh.

 

Nếu có dịp may một lần nào nữa, tôi sẽ lục tìm để cùng em nghe lại, Yves Montand... Giọng nam, khàn đục như quến khói, trầm uất như thoát ra từ một cõi đời đã lạnh. Bài hát mở đầu không bằng tiếng ca mà bằng mấy câu thơ được đọc lên như chỉ để nói thầm, như chỉ nói cho mình mình nghe. Dù ngay câu nói đầu tiên đã bật ra một tiếng gọi. Đại danh từ ngôi thứ hai. Tu. Em. Có điều tiếng gọi chìm lấp trong âm sắc u ẩn của giọng kèn saxo, làm người nghe có cảm gíác dường như người được gọi đã lánh mặt vào một cõi đời nào khác. Oh, je voudrais tant que tu te souviennes. Des jours heureux quand nous étions amis. Bởi vậy rốt lại chỉ còn là một lời độc thoại mà sao nghe ra thủ thỉ như o ấp từng chữ một, làm như người kia đâu đó ... vẫn kề bên. Tôi mong ước làm sao cho em còn nhớ lại. Những ngày hạnh phúc khi chúng ta sống bên nhau. Những ngày tháng đó, đời đẹp biết bao nhiêu. Và mặt trời ấm áp hơn bây giờ rất nhiều

 

Oh, je voudrais tant que tu te souviennes,

Des jours heureux quand nous étions amis,

Dans ce temps-là, la vie était plus belle,

Et le soleil plus brûlant qu'aujourd'hui.

Les feuilles mortes se ramassent à la pelle,

Tu vois, je n'ai pas oublié...

Les feuilles mortes se ramassent à la pelle,

Les souvenirs et les regrets aussi

Et le vent du nord les emporte

Dans la nuit froide de l'oubli.

Tu vois, je n'ai pas oublié

La chanson que tu me chantais.

 

Rồi cả dàn nhạc trổi lên quấn quýt theo tiếng kèn đồng não nuột đưa đẩy cho tiếng hát vuột ra, bộc bạch từng nỗi xót xa

 

... C'est une chanson qui nous ressemble

Toi, tu m'aimais et je t'aimais

 

Tiếng hát so đo từng lời, kể lể từng chữ như muốn phanh phui từng nghĩa, mơn trớn như hơi thở nồng nàn mà âm vọng lại nằng nặng như bàn tay gầy, thô, ve vuốt lên miệng một vết thương chưa lành, ve vuốt mà làm đau râm ran theo từng ngón vỗ về. Tiếng hát lặng lờ bay đi, tiếng buồn dội lại đè nặng lên lồng ngực, ray rứt như tiếng nứt rạn của mặt băng dưới sức ép của thời tiết đổi mùa. Nhịp slow chậm, trì trì như ngày tháng mỏi mòn dẫm đau lên những đợi chờ đã vô vọng

... Mais la vie sépare ceux qui s'aiment

Nhưng rồi cuộc đời chia cách những người yêu nhau

Tout doucement, sans faire de bruit

Lặng lẽ chẳng để lại một tiếng vang

 

Nghe như một tiếng thở dài hơn là một điều than oán. Chỉ là một tiếng thở dài. Rất lặng lẽ. Không một trách móc. Không một oán hờn.

Et la mer efface sur le sable

Les pas des amants désunis.

 

Và rồi biển cả xóa dần những dấu chân trên cát của những cặp tình nhân bị chia lìa.

 

Có phải đã xa rồi, xa lắm rồi, ngày tháng đó, mùa hè ấm, góc phố xưa, đêm lễ hội gần tàn, ly rượu cuối ngày ngoài hiên một quán thưa khách, nghiêng đầu bụm tay che gió thắp thêm điếu thuốc, vừa khi ngẩng lên, bất chợt, một thoáng hiện... Ai kìa. Bỗng dưng trăm dấu nhớ. Tim hụt nhịp. Dáng nữ kiêu sa. Mái tóc rối gió vẫn nguyên đường ngôi chẻ lệch. Tia nhìn lặng mà lao xao réo gọi. Ờ hai con mắt vốn đã xốn xang, bây giờ se thắt thêm mấy dấu chân chim đã mỏi. Ơ .. ơ ... có phải là ... ? Ồ ! Em ! Rồi vòng tay siết vội. Phút chốc, hương mùa yêu cũ. Tiếng cười nhẹ trên đôi môi đã thiếu phụ. Khóe mắt rươm rướm hồ như đọng một thoáng sương đêm. Rồi bỗng nhiên hiện tại nhòa đi. Rồi cả một quá khứ bỗng ùa về... Mấy chục năm trời biệt dạng. Một tích tắc, nguyên vẹn như thuở... ngày xưa.

 

Như vậy đó chúng ta gặp lại. Bất ngờ như mọi thứ tình cờ. Đêm còn lại toàn dấu tích.

 

Hai mươi lăm năm bỗng như chớp mắt. Tình yêu trở ngược mạnh như cơn gió dữ, thổi tan hết mọi ngại ngần.

Và rồi... nụ hôn không kềm giữ dưới chân bức tường đá, cũ từ đã trăm năm. Quá khứ trùng vây. Tương lai bất định. Mặc kệ. Ôi nụ hôn mang đôi cánh thiên thần đưa người ta vượt cõi trần gian tù ngục. Phút chốc mà thiên thu. Phút chốc thành định mệnh.

 

Ờ, tôi nghĩ em còn nhớ. Dù bây giờ chúng ta đã xa nhau như hai tinh cầu thất lạc. Xa đến nỗi khoảng cách không tính được bằng lời. Dù vậy làm sao mà quên được hả em. Những giây phút mà người ta chỉ sống một lần, trong một đời. Làm sao quên được em, dù trí nhớ là thói quen bạc bẽo nhất của con người. Năm ba năm, mười mươi năm, rồi bây giờ, những ngày tháng cuối, tôi vẫn còn nhớ. Dù như những chiếc lá khô rụng lả tả đã được xúc đi từng bựng. Kể cả những kỷ niệm và ngay cả những hối tíếc đã bị thời gian cuốn đi rồi lấp kín trong bóng tối thăm thẳm của lãng quên. Tôi nghĩ em vẫn còn nhớ. Cũng như tôi.

 

Mùa hè năm đó. Oh, je voudrais tant que tu te souviennes. Cả một thế giới mênh mông bỗng thu nhỏ lại. Giờ giấc nhập nhằng không còn định được bằng dấu mốc của thời gian. Mặt trời mặt trăng sông nước núi non góc đường nẻo phố, mọi thứ trở nên thừa thải. Chúng ta có cần đến đâu. Hoa lá cỏ cây dù đương lúc mãn khai cũng không còn sức quyến dụ. Mùa hè năm đó. Khi chúng ta có nhau. Khi chúng ta bên nhau. Sau hai mươi lăm năm bặt tung tăm tích. Mùa hè đó. Thời tiết mùa màng đã vì chúng ta mà rạng rỡ. Những lọn nắng vàng cứ tha thiết vờn lên mái tóc em ngoan. Những ngọn gió ấm từ phía nam thổi tới ve vuốt hoài hai bờ vai bỏ hở. Trong tay tôi, em phó mặc mọi điều. Trong nhau, chúng ta quên hết mọi thứ. Chiến tranh. Nghề nghiệp. Bổn phận. Trách nhiệm. Giáo điều. Hết thảy mọi thứ đã kéo dạt chúng ta ra hai phía suốt hai mươi lăm năm đằng đẳng. Chỉ còn tôi. Chỉ còn em. Chỉ còn chúng ta. Ôi mùa hè năm ấy.

Des jours heureux quand nous étions amis,

Dans ce temps là, la vie était plus belle,

.......................

Nous vivions, tous les deux ensemble,

Toi qui m'aimais, moi qui t'aimais.

 

Với nhau mọi thứ đều trở nên tuyệt vời. Em nhớ không. Có phải khi hạnh phúc người ta trở nên dễ tánh. Có nhau, người ta có cần gì hơn nữa đâu. Ngay cả miếng bánh chiên ăn vội bên lề đường. Ngay cả ngụm cà phê bán trong ly giấy, tay cầm, tay quàng lưng nhau vừa đi vừa uống, len lách qua đám đông mỗi bận xuống phố. Ngay cả căn phòng khách sạn nhỏ xíu như cái tổ chim tìm mướn vội vàng, khi trời hửng sáng bữa gặp lại, sau gần một đêm thức trắng đưa nhau lội lang thang qua những đường phố vắng tanh. Kể lể. Phân trần. Nhưng có cần đâu. Trong tận cùng cái góc kín nhất của lòng nhau, đã có bao giờ chúng ta mất nhau. Suốt đoạn trường đó. Bởi vậy khi gặp lại, hạnh phúc như chút bọt bèo vớt vát được sau cơn hồng thủy thành ra giản dị biết bao nhiêu. Giản dị đến độ nhỏ nhoi, đến gần như vô nghĩa. Chỉ cần sự có mặt của nhau đã là nguồn cơn hạnh phúc. Mùa hè đó, mọi thứ trở nên hoàn hảo. Ngay cả mặt trời dường như ấm hơn mọi khi. Làm sao không ấm hơn khi tình yêu luôn là ngọn lửa hừng hực, đốt cháy da thịt người trong suốt cuộc yêu đương.

Et le soleil plus brûlant qu'aujourd'hui

Em nghĩ coi. Có phải những câu hát đã nói giùm ta như vậy.

 

Làm sao quên hả em. Người đã yêu tôi thầm kín thời con gái, từ hai mươi lăm năm trước.

Làm sao biết được, thoáng yêu rồi... rồi mất biệt nhau luôn.

Dòng đời trôi xa. Em lưu lạc đâu đâu. Tôi xô dạt phương nào. Ai biết được. Vậy rồi, dưng không, chúng ta gặp lại nhau.

 

Thử hỏi, trong suốt khoảng thời gian thăm thẳm đó, có lần nào nghe ngóng được chút tăm hơi. Vậy mà gặp lại rồi, y như mới hôm qua hôm kia. Y như 4 giờ sáng bữa mới vào xuân, chuyến xe liên tỉnh, đèn ngoại ô vàng không giấu được nét hốt hoảng trong mắt nhìn bỗng dưng thất lạc, bàn tay níu không muốn rời như dự cảm một hiểm họa chực chờ, buổi sáng em đưa tôi về quê. Rồi tai ương ụp xuống. Rồi quốc lộ bị cắt đứt. Rồi tù tội. Rồi biển xa. Rồi thôi. Rồi thôi. Dẫu vậy làm sao người ta cắt đứt được một thứ không thể cắt đứt. Sau hai mươi lăm năm. Mọi thứ vụt nối lại như chưa từng bị bứt rời.

 

Dù hai mươi lăm năm có ngắn đâu em. Hai mươi lăm năm dài lắm, dài đằng đẳng. Dài đến nỗi em đã là thiếu phụ. Nghĩ cho cùng hai chữ thiếu phụ buồn lắm em. Tôi có muốn nghĩ tới đâu mà rồi cứ phải đắn đo, mỗi lượt gặp nhau.

 

Trong tình yêu, có chi mà trách cứ. Người ta tìm đến nhau, đâu có ai mời gọi ai, đâu có ai kéo níu ai. Trong tình yêu, người ta tìm đến nhau rất tình cờ. Tình cờ như hằng hà sa số lần gặp gỡ trong cõi đời nghìn muôn vạn nẻo này. Rồi người ta xa nhau. Cũng tình cờ như hằng hà sa số chuyện đổ vở kể từ khi người ta biết yêu nhau.

Làm sao người ta dự đoán được sẽ gặp nhau, rồi yêu nhau, rồi xa nhau... buổi sáng mai, lúc chiều xuống, giữa khuya hôm... đầu mùa xuân, bữa cuối thu hay ngay giữa ngày đông mà ai cũng cần một vòng tay ấm...

Tất cả rồi chỉ là trò chơi của định mệnh. Và con người, con người rồi ra chỉ là những chiếc lá rơi trong vòng xoáy của cơn gió vô tình...

 

Mặc kệ những hẹn thề hay bội ước, bất kể sắt son hay ruồng rẫy, cho dù thắm thiết hay lạt lẽo, rồi hạnh phúc hay khổ đau, tất cả, tất cả cũng chỉ là hai mặt của một đồng tiền đang quay tròn, quay tròn hết sức mình. Sấp. Ngửa. Sẽ đến lúc, một lúc nào đó, vòng quay phải ngừng lại. Và tất cả, những người yêu nhau, và tôi và em, ai có phần nấy ...

 

Dẫu vậy, em thấy đó, làm sao tôi có thể quên...

Tu vois je n'ai pas oublié.

( dù như ) vô số những chiếc lá chết được xúc đổ đi,

Les feuilles mortes se ramassent à la pelle,

những kỷ niệm yêu dấu của chúng ta, ngay cho dù là những tiếc nuối

Les souvenirs et les regrets aussi,

cũng sẽ bị gió từ phương bắc thổi về cuốn đi

Et le vent du nord les emporte,

chôn kín hết vào bóng tối lạnh lùng của quên lãng

Dans la nuit froide de l'oubli.

Vâng, tôi có quên đâu. Nhưng dẫu vậy, tôi có giữ lại được gì khi đời sống như biển lạ. Và những tình cờ như những con sóng vô tình cứ vổ vật vờ lên bờ bãi đời ta. Mọi thứ rồi chỉ là bọt bèo trôi tắp theo đẩy đưa bất định của dòng đời miên viễn... không khởi đầu cũng chẳng chung cuộc. Ai nói được sẽ ra sao... ngày sau ! Bởi vậy oán trách gì nhau khi hạnh phúc đã chứa sẵn mầm thiên tai. Trong tái ngộ đã hiển hiện lần ly biệt. Đã có lần Nguyễn Đình Toàn và Vũ Thành An nhắc nhở... ngày thần tiên em bước lên ngôi, đã nghe son vàng tả tơi...Tại chúng ta quàng vai đun đẩy nhau vào khu vườn cấm ... Ôi những cánh dơi mù lòa ... đáng thương. Và đáng trách ? Không, tại sao ... Tại sao oán trách khi yêu đương đã là viên đá mà lời sấm rủa đã bắt Sisyphe phải lăn lên tới chót đỉnh trong khi cái chỗ của nó là ở dưới chân núi. Bởi vậy khổ dịch của Sisyphe có phải là số phận của những tình nhân yêu thương nhau trong tuyệt vọng. Như... tôi và em. Không gặp. Đời có gì vui. Gặp. Đời như nhắp chút rượu thơm rồi dư vị đắng chát cặn lại không thôi. Nhịp đời nặng thê thiết như một điếu khúc được phát ra từ một đĩa hát cũ được quay đi quay lại. Đã dặn em đừng chờ đừng đợi. Nhưng sao vẫn cứ chờ cứ đợi. Đã nhắc tôi đừng đợi. Nhưng sao vẫn cứ đợi cứ chờ. Ôi những cánh dơi mù lòa ... Bởi vậy, gặp lại rồi, rồi lại phải xa nhau. Xa nhau mãi. Mãi mãi.

Tu vois, je n'ai pas oublié,

Em thấy đó, tôi đâu có quên

La chanson que tu me chantais...

Bài ca em đã hát cho tôi nghe

C'est une chanson, qui nous ressemble,

Khúc hát giống hệt như chúng ta

Toi qui m'aimais, moi qui t'aimais.

Em, người đã yêu tôi, và tôi, đã yêu em

Nous vivions, tous les deux ensemble,

Chúng ta, cả hai chỉ là một.

 

Dẫu vậy em thấy đó, tôi có quên đâu. Những gặp gỡ len lách. Những hẹn hò tránh né. Những kỷ niệm. Bài hát lần nào em đã ru tôi giữa gối chăn xô lệch. Thần tiên gảy cánh đêm xuân. Bước lạc sa xuống trần. Thành tình nhân đứng giữa trời không. Khóc mộng thiên đường. Câu thơ nào tôi đã viết lên bóng tối từng trang thương nhớ sau những ngụm rượu đắng từng đêm. Ta sẽ chờ nhau giữa mịt mùng. Khi ngày mất tích đêm thất tung. Khi năm khánh kiệt đời tuyệt tận. Em bồ tát khóc lệ bao dung. Và còn bao nhiêu trang chữ chưa bao giờ viết ra. Mà làm sao viết ra cho hết, nỗi lòng tôi, tâm sự em. Tình yêu trễ muộn của chúng ta. Dù ngay từ lần đầu tiên gặp lại, làm sao chúng ta không biết, con đường chúng ta đi sẽ là con đường khổ nạn. Và em, em sẽ là người mang đội vòng gai. Con đường em đi sỏi đá, đồi Golgotha dốc ngược, chân trần, em dang thân gánh tội để đền tôi. Làm sao đây em, làm sao nói được hết, uẩn khúc em, oan nghiệt tôi. Đời bủa vây giữa trùng trùng oan trái. Và chúng ta, ôi những cánh dơi mù, bay chập choạng giữa mịt mùng cạm bẫy. Hạnh phúc giương tay đón gọi rồi xô giạt người tới phũ phàng. Hạnh phúc rót mời từng ly rượu ngọt pha dậm cường toan. Rượu càng nhắp càng say, độc dược càng ngấm. Từng ngày qua, từng đêm tới. Mỗi một ngụm tình là một tự hủy. Càng lúc chúng ta càng hốt hoảng khi tình yêu và cuộc đời như hai mặt của một lời chúc dữ. Người ta chỉ được chọn lựa một trong hai. Không bao giờ được cả đôi. Đó có phải là thân phận bất toàn của chúng ta, con vật người trần trụi và hèn mọn trước quyền lực của siêu nhiên... Em thấy đó. Tình yêu của chúng ta, thứ của cải vô giá của chúng ta, có đáng gì đâu so với sức tàn phá mãnh liệt của thời gian, ép uổng của định mệnh, xô đẩy bất chấp bởi những tình cờ chẳng ai ngờ được. Chúng ta sống chết, thù hận hay yêu đương, hạnh phúc hay đau khổ cho đến gặp gỡ hay biệt ly... cũng chỉ là cười khóc múa may như những hình nhân vô tích sự. Mình có quyết định được gì cho số phận của mình đâu. Tôi. Em. Đã có ai chờ đợi ai như chúng ta đã chờ đợi nhau. Đã có ai tặng cho nhau nỗi đắm say, niềm quyến luyến... và nhất là tiếng cười lanh lảnh của tuổi trẻ tìm lại được từ sau những mất mát vì thời cuộc như chúng ta đã tặng cho nhau. Vậy mà, em ơi, rồi cũng có mấy ai được may mắn như gã Thôi Giao trong tích xưa. Hầu môn nhất nhập thâm như hải. Tòng thử Tiêu Lang thị lộ nhân. Có phải đã một lần bước chệch khỏi đời nhau là mãi mãi như hai tinh cầu đã bay lệch vào hai hướng khác nhau. Chuyện sum hợp chẳng qua chỉ là một thứ huyền thoại để tự vỗ về của những tâm hồn đã hơn một lần tuyệt vọng. Mùa hè năm đó qua đi, dòng đời quay trở lại cái vòng quay bất tuyệt của nó. Và chúng ta, chúng ta như hai viên sỏi bọt bèo bị bắn văng ra hai hướng bởi cái sức ly tâm tàn nhẫn của đời sống với mọi thứ định chế từ đã ngàn đời. Tội nghiệp em. Tội nghiệp tôi. Chúng ta yêu quý nhau biết bao nhiêu. Chúng ta mê đắm nhau biết bao nhiêu. Vậy mà ...

Toi qui m'aimais, moi qui t'aimais.

Cuộc đời cắt chúng ta ra làm hai mảnh, ném đi hai ngã không chút nương tay. Cuộc đời xô chúng ta ra hai hướng chẳng thèm chút ngó ngàng. Chia đôi một cặp tình nhân đắm đuối như phủi một hạt bụi váng vất chẳng làm cau một nét mày.

Et la vie sépare ceux qui s'aiment,

Tout doucement, sans faire de bruit.

Đành đoạn.

 

Nghe lại đi em, một lần nữa, đoạn cuối của bài nhạc, tiếng kèn đồng vút lên rồi chùi xuống thê thiết, như muốn dìm sâu hết mọi dấu tích tình nhân vào mớ dư âm đang dần dần lịm tắt. Mọi dấu vết, kể cả những kỷ niệm cho dù nhạt nhẽo nhất vẫn không thoát khỏi những lượn sóng thời gian xô dạt vào quên lãng... Như sóng biển cứ xóa hoài những vết chân trên cát, những dấu chân sóng đôi đã dìu nhau qua đó, một lần nào ...

Et la mer efface sur le sable,

Les pas des amants désunis.

Rồi còn lại gì, còn lại gì đâu, những mắt rủ môi mời, những ngọt lời đẹp ý, những nhắc nhở nôn nao, những đổi trao tha thiết, những đắp đổi đền bù, và ... và những tay quíu chân kềm khi đêm mê đắm vở òa hạnh phúc ... Còn gì đâu ... có còn lại gì đâu ...

 

Dẫu vậy, như đã tự hứa với chính mình, tôi sẽ giữ mãi trong tôi, dù chỉ là những hình ảnh, dù chỉ là những vang bóng của mùa hè năm ấy, khi tay trong tay, chúng ta đi những bước thênh thang ngay trên con đường thập giá, giữa những nguyền rủa của số mệnh và bây giờ giữa những tang thương sót lại sau những mất mát không thế nào, không có gì, bù đắp lại được. Nhen em, lời tôi kể lể nghe ra như một tiếng thở dài hơn là một điều than oán. Như chính bài hát cũ. Chỉ là một tiếng thở dài. Rất lặng lẽ. Không một trách móc. Chẳng một oán hờn.

 

...............................

 

Em biết không, câu kết của bài thơ, dù không được nhắc đến trong bài hát, vẫn là một lời hứa, dù chỉ là ... hứa với chính mình

Et la chanson que tu chantais

Toujours, toujours je l'entendrai!

Và bài ca em đã hát cho tôi nghe lần nào, tôi còn nhớ...

... hoài hoài!

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

* từ đó đến nay, bài hát đã được trình diễn hơn 600 cách thức khác nhau. Bài nhắc ở đây là phiên khúc do Yves Montands hát từ những năm 50

____________________

CaoViKhanh_name.JPG
CVK_thangchinmuathu.JPG

                                Tháng chín, mùa thu...

                                         ... Ở hai đầu nỗi nhớ!

 

 

 

Tháng chín. Tháng của rỉ rả mưa đêm, của lả chả cánh phượng và hiu hiu mùa chuyển.

Tháng chín. Tháng của líu ríu chim sẻ rủ nhau bỏ đi và xôn xao học trò xôn xao rủ rê trở lại.

Tháng chín ... khi lá ngoài đường rụng nhiều và trên không có những đám mây bàng bạc...

Tháng chín bây giờ, xứ lạ đã thành quen và tháng chín hồi đó, rất quen mà như chừng đã lạ.

Tháng chín ở một thành phố nhỏ, giữa miền Nam nắng cháy mưa lầy, nơi tôi đã sống lụy như tình nhân và tấm tức bỏ đi như người bị ruồng rẫy.

Tháng chín ở đó với không biết bao nhiêu là kỷ niệm của những mùa thu giả tưởng. Lá thư tình ngây ngô viết vội cuối tháng sáu khi trường học sắp đóng cửa và cô bạn mắt-nai-tóc-thề sắp sửa hành lý về quê. Trời nắng rực sửa soạn vào hè mà quýnh quáng quơ vội quơ vàng phong vị mùa thu vào trang giấy học trò để tả tình tả oán về nỗi nhớ-thương-học-lóm của chim xa-bầy-thương-cây-nhớ-cội. Cũng chẳng nhớ rồi lá thơ nhét trong tập sách cho mượn có nhận được hồi âm ? Mà điều có cần đâu. Cái thuở bạ đâu thích đó, có biết vân mồng gì đâu cái-gọi-là-tình-yêu.

Ôi những mùa-thu-giả-bộ ở cái tỉnh nhỏ êm đềm, sớm chiều như ngái ngủ. Thời tiết chuyển mùa mơ hồ như có như không. Nắng rồi mưa, mưa rồi nắng. Vậy mà lòng con trai mới lớn cứ phiêu bồng như lãng tử chạy đuổi theo mùa màng cho được. Thật ra có gì khác lạ đâu ở bên ngoài lòng người. Nhiều lắm là chút khang khác giữa cái nóng hừng hực và cái nóng hâm hấp, màu xanh rì của tàng lá xum xuê và màu xanh thoang thoáng của chùm lá non mới trổ. Vậy mà mỗi lượt nghe ai đó cất giọng rầu rĩ thu-đi-cho-lá-vàng rơi ... là bụng dạ lại cứ nao nao ... làm như nghe được cả tiếng chân thu đang chuyển dịch sẽ sàng. Chỉ tại cái lòng quá mơ mộng. Hay tại vì nhịp mùa có chuyển cũng chuyển từ trong tâm tưởng. Trời đất thay đổi rất vô tình. Tại mình tiếp tay với trời đất cho nên mùa màng mới có chuyện. Xứ sở đâu có bốn mùa vẫn cứ cố bày ra cho được. Trời miền Nam quanh năm suốt tháng nắng nướng dòn da mà cái đầu thì cứ mê muội bày đặt đủ thứ tứ thời tám tiết. Hết xuân hồng ta muốn cắn vào ngươi đến anh vẫn thấy em ngồi đây tóc ngắn mà mùa thu dài lắm ở chung quanh ... Mình lợi dụng trời đất vào tình riêng riết rồi lậm lúc nào không hay. Đến nỗi hể nghe xuân tới là cứ rậm rật hy vọng mà nghe tin thu về thì lại đâm ra buồn ngẩn buồn ngơ, buồn tới lơ ngơ cả ngày.

Truy cho ra nguyên ủy, chắc cũng đã xa lăm lắm, đâu từ đời Đường đời Tống bên Tàu, có thể gần hơn một chút thì Lamartine với Chateaubriand bên Tây. Gần hơn chút nữa thì cũng cỡ những năm 20 khi bà Tương Phố viết Giọt lệ thu buồn đến ngất ngư làm cái đám sanh sau đẻ muộn lỡ học phải rồi cũng đâm ra sầu thu đến chảy nước mắt, từ đó. Ai biểu.

 

Vài chục năm sau, ở một thành phố nằm trên vĩ độ 45 bắc, đột nhiên giữa một buổi chiều cuối tháng chín, tôi thấy mùa thu thật sự trở lại. Đúng ra chắc cũng đã rục rịch từ nhiều ngày trước mà không ai hay, từ bên kia dãy núi chắn ngang phía bắc thành phố. Ở đó rừng núi mênh mông, cây lá mênh mông, mặc tình cho trời đất xun xoe làm dáng. Ở đó, trên những chỏm núi ngất ngưởng cao đã thấy quầng thâm những ngụm mây xám. Và ở đó, chắc cây lá cũng đã len lén đổi màu từ khi mặt trời cứ bỏ đi ngủ sớm. Ở dưới này, giữa lòng phố, ngày đã ngắn lại đâu từ giữa tháng, mỗi ngày một chút. Và gió cũng đã đổi hướng, mỗi lúc một lạnh. Lòng người ta bén nhạy còn hơn đài khí tượng, đánh hơi mùa từ khi máy móc chưa kịp tính toán xong.

Vậy đó, một buổi chiều cuối tháng chín, tôi bỗng thấy mùa thu trở lại. Mặc dù mùa hè còn nấn níu chưa chịu bỏ đi.

 

Bắt đầu là một cơn gió lạ. Cũng không biết từ đâu thổi tới. Chỉ biết khi tôi thấy thì nó đã ra tới giữa lòng đường. Lúc đó đâu khoảng giờ cơm chiều nên lòng đường trống trơn, duổi dài như một cánh tay buông xuôi sau khi đã vật vã mệt nhoài với mớ xe cộ hối hả qua lại lúc nãy, khi tan sở. Mặt đường xám ngắt, lì lì giữa hai hàng cây im sững. Cơn gió lách tới bất ngờ, qượn qua qượn lại một chút rồi bốc thẳng lên, mang theo nhúm bụi mờ và một chiếc lá vàng nằm sẵn đó tự hồi nào, thổi ngược vào lề thả lá bay vất vưởng một đổi rồi bỏ mặc chiếc lá khô nằm chết bên cạnh về tư