hmpg.jpg
TL_blinkingsquareblock.gif
Titlej (1).jpg

BIÊN KHẢO - THƠ - VĂN

Phan Thượng Hải

California_________________________

BBT: BS Phan Thượng Hải (CHS PTG 61-64) cùng với người em là LS Winston Phan Đào Nguyên là con của 1 công chức cao cấp của tòa án Cần Thơ, cũng là nhà thơ nổi tiếng của đất Cần Thơ thập niên 40, 50: Thi Sĩ LÃNG BA Phan Văn Bộ

_____________________________________________________________________________

  PHẬT THÍCH CA ĐẢN SINH

 

                                             Bs Phan Thượng Hải biên soạn


 

* Tiểu sử Phật Thích Ca ở Lumbini

 

Thích Ca Mâu Ni Phật tên là Siddharta Gautama (Tất Đạt Ta Cồ Đàm) sinh ở Lumbibi (Lâm Tỳ Ni) của xứ Kapilavastu (Ca Tì La Vệ) của Ấn Độ, thuộc nước Nepal ngày nay khoảng hơn 2500 năm trước.    

Cha cùa ngài là Vua Suddhodana (Tịnh Phạm), làm đầu của dòng Sàkya (Thích Ca) và cai trị xứ Kapilavastu ở miền Đông Bắc Ấn Độ vào thời đó.  

Mẹ của ngài là Hoàng Hậu Maha Devi (Ma Da) chết 7 ngày sau khi sinh Siddharta.  Siddharta được em gái của Hoàng Hậu là bà Maha Prajpati (Ma ha ba xà ba đề) dưỡng nuôi.  

 

Lumbini là nơi Thái tử Siddharta sinh ra và sống trong hoàng cung cho tới khi xuất gia.  Người hành hương tới đây thường viếng chùa Maha Devi kỷ niệm nơi sinh của Phật Thích Ca.

 

Năm 16 tuổi, Thái Tử Siddharta kết hôn với Yasodhara (Da Du Đà La), một Công Chúa của dòng Koliya ở kế bên.  Hai người có một con trai là Rahula (La Hầu La).


 

* Chính Trị và Xã Hội trong Thời Phật Thích Ca

 

Phật Thích Ca sinh ở thủ đô Kapilavastu (Ca Tỳ La Vệ) trong lãnh thổ của thị tộc Sàkya (Thích Ca) thuộc đông bắc bán đảo Ấn Độ.  Vùng Đông Bắc bán đảo Ấn Độ nầy lúc bấy giờ gồm có 2 nước lớn và lãnh thổ của những Thị tộc, ở miền Nam và miền Bắc sông Gange (Hằng Hà).

 

- Ở miền Bắc sông Gange có nước Kosala (Kiêu Tất La) với thủ đô là Sràvasti (Xá Vệ).

Phía đông và đông nam của nước Kosala từ bắc xuống nam có lãnh thổ độc lập của 3 Thị tộc chính:

Thị tộc Sàkya (Thích Ca) có thủ đô là Kapilavasu (Ca Tỳ La Vệ)

Thị tộc Malla (Mạt La) có thủ đô là Kunisara

Thị tộc Liccavi (Ly Xa Tỳ) có thủ đô là Vesali (Phệ Xá)

Phía nam của nước Kosala có lãnh thổ độc lập của Thị tộc Kasi (Kathi) có thủ đô là Varanasi.  Varanasi và Vesali ở bờ bắc của sông Gange.

 

- Ở miền Nam sông Gange có nước Magadha (MaKiệt Đà) với thủ đô là Rajagrha (Vương Xá).  Rajagrha và Vesali đối diệnnhau ở 2 bên bờ nam và bắc của sông Gange.

Phía đông của nước Magadha có lãnh thổ độc lập của Thị tộc Anga (Ương Già) có thủ đô là Champa (Chiêm Ba).

Phía tây của nước Magadha có lãnh thổ độc lập của Thị tộc Vatsa (Bà Ta).  Lãnh thổ Vatsa và Kasi đối diện nhau ở 2 bên bờ nam và bắc của sông Gange.

Xa hơn nữa về phía Tây của Vatsa là nước Vamsa (ở miền Nam sông Gange) và ở phía Nam của nước Vamsa là nước Avanti (A Bàn Đề).

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 


Bốn Giai cấp xã hội của Ấn Độ lúc bấy giờ:

Giai cấp người Bà La Môn (Brahmans): Giai cấp Tu sĩ tu hành và giữ lễ nghi tôn giáo (Ấn Độ giáo).

Giai cấp người Sát Đế Lợi (Ksatriyas): Giai cấp Vua Quan nắm quyền cai trị

Giai cấp người Tỳ Xá (Vaisyas): Giai cấp bìng dân gồm Nông, Công, Thương.

Giai cấp người Thủ Đà La (Sudras): Giai cấp Tiện dân (người hạ tiện) đời đời làm nô lệ (không thể chuyển sang những giai cấp khác).

Một người từ Giai cấp Sát Đế Lợi hay Tỳ Xá có thể đi tu và thuộc Giai cấp Bà La Môn.  Phật Thích Ca sinh ra là Thái tử Siddharta nên ngài thuộc giai cấp Sát Đế Lợi.  Khi ngài đi tu thì thuộc giai cấp Bà La Môn.


 

* Năm sinh của Phật Thích Ca

 

Phật Thích Ca qua đời lúc ngài 83 tuổi nhưng năm sinh của ngài không nhất định.  Hiện nay trong Wikipedia có 2 giả thuyết về ngày sinh của Phật Thích Ca:

(1) sinh năm 563 tr CN (và qua đời năm 480 tr CN).

(2) sinh năm 483 tr CN (và qua đời năm 400 tr CN). 

 

Theo lịch sử kỷ niệm ngày Phật Đản của Việt Nam, năm sanh của Phật Thích Ca là năm 624 tr CN và dùng ngày của Phật Giáo Đại Thừa là mồng 8 tháng 4 âm lịch.  Phật Giáo Nguyên Thủy dùng ngày rằm (15) tháng 4, đúng với ngày đản sanh của Phật Thích Ca.  Như vậy năm 2022 là năm 2646 (624+2022) theo Phật Lịch.


 

* "Thiên thượng thiên hạ duy ngã độc tôn"


 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Theo Kinh Tạng (Sutrapikita) khi mang thai, Mẹ của Phật Thích Ca nằm mơ thấy có một vị Bồ tát với dạng con voi trắng chui vào bụng của mình.  Ngay sau khi sinh ra từ hông phải của Mẹ, Phật Thích Ca bước đi 7 bước, một tay chỉ lên trời và một tay chỉ xuống dưới đất mà nói rằng: "Thiên thượng thiên hạ, duy ngã độc tôn (Trên trời dưới trời, chỉ có mình ta)"; và dưới mỗi bước chân hiện ra một đóa hoa sen.  

Thật ra theo Trường Bộ kinh (Pìghanikàya) của Phật Giáo Nguyên Thủy, nguyên văn câu nói nầy của Phật Thích Ca (theo Hán ngữ) là: "Thiên thượng thiên hạ duy ngã độc tôn nhất thiết thế gian sinh lão bệnh tử".  (Trên trời dưới đất chỉ có mình ta là cần thiết cho thế gian sinh lão bệnh tử).

Riêng Thượng tọa Thích Thiện Hoa dịch thẳng từ Phạn ngữ là: "Trên trời dưới đất kiếp nầy là kiếp cuối cùng, Như Lai đoạn diệt gốc rễ sinh tử".  Đây là câu hợp lý nhất với cuộc đời và giáo lý của Phật Thích Ca? Phật Thích Ca sinh ra ở kiếp của Thái tử Tất Đạt Ta và xuất gia đi tu thành Phật.  Khi thành Phật thì không Khổ trong kiếp sinh lão bệnh tử và khi nhập diệt thì đạt Niết Bàn tức là không phải tái sinh theo luân hồi lục đạo nữa. 

 

*

Cứ mỗi năm, Phật tử kỷ niệm ngày Phật Đản vào ngày 18 tháng 4 âm lịch.

 

PHẬT ĐẢN SINH 

Nguyên thủy khởi từ Phật đản sinh (*)

Thích Ca thành đạo, tránh phồn vinh

Tăng già ẩn trú phùng an tịnh

Giáo pháp quy y đạt thái bình

Giới luật bảo trì, tâm chánh định

Si mê đoạn diệt, trí thông minh

Chúng sanh hành đạo, đời không khổ

Giải thoát luân hồi khỏi tái sinh.

(Phan Thượng Hải)

 

(*) Chú thích: Phật Thích Ca sáng lập Phật Giáo Nguyên Thủy (Tiểu Thừa).


 

Bs PHAN THƯỢNG HẢI biên soạn

 

Tài liệu tham khảo

1) Hành Hương và Huyền Thoại Phật Thích Ca (Bs Phan Thượng Hải) - phanthuonghai.com

2) Thơ Phan Thượng Hải - Tôn Giáo (Bs Phan Thượng Hải) - phanthuonghai.com

______________________________________

PTH_mapIndia.JPG
PTH_thienthuongthienha.JPG

THƠ THÁNG TƯ ĐEN                               

NGƯỜI DI TẢN 30-4  

Miền Nam đamất phải sinh ly 

Bỏ lại quê hương họa hiểm nguy 

Chiến hữu lao tù thân khốn khổ 

Đồng bào nô lệ dạ sầu bi 

Lương tâm nuôi dưỡng người di tản 

Chí hướng trường tồn lúc thịnh suy 

Trọn kiếp không quên thề chống Cộng 

Hằng năm tưởng niệm chuyến ra đi. 

(Phan Thượng Hải) 

4/23/17 

 

NGƯỜI Ở LẠI 30-4-75

Ngu dại một ngày để tiếp thu 

Dưới quyền nhà nước, giống nhà tù (*)

Hận đời cải tạo hành lao động 

Buồn cảnh ly tan mộng viễn du 

Lạc hậu tuyên truyền toàn lãnh thổ 

Nghèo hèn áp đặt tận biên khu 

Ta bà thế giới còn sinh sống 

Địa ngục đây rồi khỏi phải tu. 

         (Phan Thượng Hải) 

         4/25/14 

         

         (*) Chú thích: Chính quyền gọi là "Nhà nước" (sau 30-4-1975).

 

 

BỆNH VIỆN BÌNH DÂN 30-4-75 

 

Giặc đến, người đi, súng nổ vang 

Bình Dân nội trú lúc nguy nàn 

Cứu thương giải phẫu không ngừng nghỉ 

Thiển ý vô tư chẳng rộn ràng 

Giúp đỡ đồng bào khi biến loạn 

Quên tìm tỵ nạn được bình an 

Bùi ngùi nhớ lại ngày xưa ấy 

Thời thế trần ai khó luận bàn? (*) 

(Phan Thượng Hải) 

4/26/12 

 

(*) Chú thích:

         Ai Công Hầu, ai Khanh Tướng, trong trần ai ai dễ biết ai. (Đặng Trần Thường) 

         Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế thế thì vẫn thế. (Ngô Thì Nhậm) 

         Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế thế thì phải thế. (Phan Huy Ích) 

   Hoa Xuân: Đào, Anh Đào và Mai

 

                                     Bs Phan Thượng Hải biên soạn


 

Hoa Mai, Hoa Đào và Hoa Anh Đào

 

Hoa của mùa Xuân ở vùng ôn đới và hàn đới thường có 3 thứ hoa thường được nhắc đến: Hoa Mai, Hoa Đào và Hoa Anh Đào.

Cả ba loại Hoa Mai, Đào và Anh Đào thuộc ba họ là Rosales, Rosaceae và Prunus nhưng nhiều khi khó phân biệt.

 

 

 

 

 

 

 

Ý nghĩa của 3 loại hoa.

Hoa Đào tượng trưng cho sự trường thọ (longevity).  

Hoa Mai là hoa của sự tốt lành (auspice).  

Hoa Anh Đào là hoa của mùa Xuân với tất cả truyền thống tốt đẹp của mùa Xuân.

 

Đặc tính của 3 thứ hoa:

Hoa Mai (Plum Blossom) được chia ra theo 2 màu: trắng (white) và đỏ thắm (crimson).  Tuy nhiên hoa Mai có thể có những màu khác nhau giữa 2 màu nầy.  Thí dụ, có vài nụ nở thành hoa màu hường còn có nụ nở thành hoa màu trắng.  Có vài nụ có nhụy màu lạt và chỉ có cánh hoa màu đỏ.  Hoa Mai có mùi hương dịu dàng (sweet gentle) giống như mùi của bông lài (jasmine).

Hoa Đào (Peach Blossom) có thể là có màu trắng (white) gọi là Bạch Đào), màu hường (pink) gọi là Hồng Đào và màu đỏ (red) gọi là Bích Đào.  Hoa có nhiều màu khác nhau có thể mọc trên cùng một cây.  Mùi hương dịu nhẹ (sweet and mild), chúng ta có thể ngửi từ cả hoa và lá.

Hoa Anh Đào (Cherry Blossom) có thể có những màu trắng (white), hường nhạt (light pink) hoặc hường đậm (dark pink); tùy theo loại cây hay từ cây riêng biệt.  Hoa Anh Đào thường có mùi hương nhẹ (mild) tuy nhiên cũng có loại khó có mùi hay có mùi rất mạnh.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Sự khác biệt giữa hình thể của 3 loại hoa.

Cả 3 thứ hoa thường đều có ít nhất là 5 cánh hoa (petal).

Hoa Mai: Cánh hoa hình tròn.  Một chỗ trên cành chỉ có một hoa và gần như không có cuống (petiole).

Hoa Đào: Cánh hoa có mũi nhọn.  Một chỗ trên cành có 2 hoa và có cuống ngắn.

Hoa Anh Đào" Cánh hoa có một chỗ lõm ở đầu.  Một chỗ trên cành có nhiều hoa và có cuống dài.

 

Thời gian của hoa nở có khác nhau nhưng có thời gian trùng nhau (trong tháng 3 và tháng 4 dương lịch của mỗi năm):

Hoa Mai thường nở vào cuối tháng 1 cho đến đầu tháng 4.

Hoa Đào thường nở vào đầu tháng 3 đến cuối tháng 4.

Hoa Anh Đào thường nở từ giữa tháng 3 đến cuối tháng 4.

 

Trong các nước ở vùng ôn đới và hàn đới, mùa hoa Anh Đào của Nhật Bản rất nổi tiếng cho toàn thế giới.  Du khách thường đến Nhật Bản trong mùa hoa nầy.

Tác giả có bài thơ mô tả:

 

MÙA HOA ANH ĐÀO NHẬT BẢN

Xuân về nở rộ khắp gần xa

Nhật Bản đón mừng Sakura (*)

Rạng rỡ trên cành, mầm nghệ thuật

Xinh tươi theo gió, hứng thi ca

Điểm trang ngự uyển thiền sơn tự

Tô thắm phố phường bách tính gia

Thưởng ngoạn Anh Đào, cùng thú vị

Đẹp tình đẹp cảnh đẹp mùa hoa.

(Phan Thượng Hải)

9/13/13

 

(*) Chú thích: Sakura (tiếng Nhật Bản) = hoa Anh Đào.

 

 

Người Mỹ cũng thường thăm viếng thủ đô Washington DC để thưởng ngoạn hoa Anh Đào vào mùa Xuân trong thời kỳ của mùa hoa Anh Đào ở Nhật Bản.

 

Hoa Đào có chỗ có khi nở ngay trước mùa lễ Phục Sinh của Kitô Giáo (Christianity).

 

XUÂN ĐÀO PHỤC SINH

Đào thắm duyên xuân lễ Phục Sinh (*)

Tự nhiên thiên tạo ý hòa minh

Tin mừng cứu thế niềm hy vọng

Hoa nở giao mùa cảnh đẹp xinh

Thời tiết an lành tâm tỉnh thức

Nhân loài từ thiện tiếng cầu kinh

Xuân đào tái hiện phô thanh sắc

Cảm giác lòng người phước phục sinh.

(Phan Thượng Hải)

4/2/21

 

(*) Chú thích: Có loại hoa đào (như anh đào) nở vào đầu tháng tư ngay trước lễ Phục Sinh.


 

Hoa Đào ở Việt Nam

 

Hoa Đào (Peach Blossom; Beach Flower) có thể là có màu trắng (white), màu hường (pink), và màu đỏ (red).  Hoa có nhiều màu khác nhau có thể mọc trên cùng một cây.  Mùi hương dịu nhẹ (sweet and mild), chúng ta có thể ngửi từ cả hoa và lá.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Hoa Đào ở Việt Nam, thường ở Bắc Việt thuộc vùng ôn đới, cũng có 3 loại hoa chính tùy theo màu:

Có màu đỏ (red) hay đỏ lạt (light red) hoặc màu hường đậm (dark rose).  Tiếng Việt gọi là Bích Đào.

Có màu hường (pink) hay hường nhạt (light pink) gần như màu trắng.  Tiếng Việt gọi là Đào Phai.

Có màu hoàn toàn trắng (white).  Tiếng Việt gọi là Bạch Đào.

 


 

Ở Việt Nam còn có:

Loại Đào Thất Thốn còn được gọi là đào tiến Vua là loại đào có cây cao hơn mặt đất chỉ chừng khoảng hơn 1m, phải trồng đến năm thứ 3 mới đơm hoa. Cây ra hoa kép và mỗi tầng hoa đều có 7 cánh, mỗi bông to có đường kính lên tới 4 – 5 cm. Đặc biệt, những bông hoa kép có thể có tới 30 - 50 cánh/bông.

Loại Hoa Đào Rừng thì mọc ở rừng nhưng có màu hường nhạt (như Đào Phai) hoặc màu trắng (như Bạch Đào).

 

Tại sao gọi là "Bích Đào" cho hoa Đào có màu đỏ hoặc màu hường đậm vì "bích" có nghĩa là màu xanh lam (blue) pha với màu xanh lục (green)?

Bích = (Màu) biếc hay xanh biếc; Thứ đá có màu xanh biếc.

Bích Câu = Cái ngòi (có) nước màu xanh biếc.  

Bích Ngọc = Một thứ ngọc có màu xanh biếc (= Jade Vert, tiếng Pháp).

Biếc = Xanh Biếc = Có màu xanh lam hòa lẫn màu xanh lục - Xanh đậm nhưng tươi ánh lên.

Tuy nhiên "Bích Đào" dùng cho hoa Đào có nghĩa khác.

Bích = Hòn ngọc, có hình tròn và ở giữa có lỗ.

Bích Đào = (Hoa) Đào đẹp và quí như hòn ngọc.

 

Cũng có danh hiệu "Hồng Đào" cho hoa Đào.

Theo Từ điển Hán ngữ,

Hồng = (Màu) đỏ lợt (lạt).

Theo Từ điển Việt ngữ,

Hồng = (Màu) đỏ (Red).

                    = Hường = (Màu) hường hay đỏ lạt (Rosé).

 

Thường dùng Hồng Đào khác với Bích Đào (màu đỏ) với "Hồng" chỉ có nghĩa là "Hường", như vậy Hồng Đào đồng nghĩa với Đào Phai?


 

Văn Học Sử Việt thường nhắc tới bài thơ "Hoa Đào" của Thôi Hộ vào đời nhà Đường.

Theo Tình Sử và Lệ Tình Tập, Thôi Hộ là một người đẹp trai, tánh quả hợp, không hay chơi với ai.  Một ngày thanh minh đi chơi một mình đến phía nam kinh thành thấy một nhà có vườn đào nhiều hoa, mới gõ cửa xin nước uống.  Một người con gái rất đẹp và rất nghiêm trang ra hỏi tên họ rồi đem nước mời uống.  Đến tiết thanh minh năm sau, Thôi Hộ lại đến nhà ấy, thấy cửa đóng, đề bài thơ nầy ở cánh cửa bên tả.  Cách mấy hôm lại đến chợt nghe tiếng khóc và có ông lão ra hỏi: anh có phải là Thôi Hộ không?  Con gái tôi đọc bài thơ của anh rồi nhịn ăn mới chết.  Thôi Hộ vào khấn, thì người con gái ấy sống lại, bèn lấy làm vợ.  Sau Thôi Hộ đổ Tiến sĩ vào đời Trinh Nguyên nhà Đường, làm qua đến chức Lĩnh Nam Tiết Độ Sứ.

 

ĐỀ TÍCH SỞ KIẾN XỨ

Khứ niên kim nhật thử môn trung

Nhân diện đào hoa tương ánh hồng

Nhân diện bất tri hà xứ khứ

Đào hoa y cựu tiếu đông phong.

(Thôi Hộ)

 

ĐỀ CHỖ ĐÃ TRÔNG THẤY NĂM TRƯỚC

Hôm nay, năm ngoái, cửa cài

Hoa đào ánh với mặt người đỏ tươi

Mặt người chẳng biết đâu rồi

Hoa đào còn đó vẫn cười gió đông.

(Trần Trọng Kim dịch)

 

ĐỀ CHỖ ĐÃ TRÔNG THẤY NĂM TRƯỚC

Hôm nay năm ngoái cổng nầy

Hoa đào soi ánh đỏ hay mặt người

Mặt người nay ở đâu rồi

Hoa đào nay vẫn còn cười gió đông.

(Trần Trọng San dịch)


 

Bài thơ nổi tiếng nầy làm điển cố cho nhiều câu thơ:

 

Ức tích dữ quân tương biệt trung

Tuyết mai do vị thức đông phong

Vấn quân hà nhật qui

Quân chỉ đào hoa hồng

Đào hoa dĩ trục đông phong khứ

Lão mai giang thượng hựu phù dung.

(Chinh Phụ Ngâm Khúc / Đặng Trần Côn)

 

Thuở đăng đồ mai chưa dạn gió

Hỏi ngày về chỉ độ đào bông

Nay đào đã quyến gió đông

Phù dung lại đã bên sông bơ xờ

(Chinh Phụ Ngâm Khúc / Đoàn Thị Điểm)

 

 

Trước sau nào thấy bóng người

Hoa đào năm ngoái còn cười gió đông

(Đoạn Trường Tân Thanh)

 

Trên chín bệ cỏ hay chăng nhẻ

Khách quần thoa mà để lạnh lùng

Thù nhau chi hỡi đông phong

Góc vườn dãi nắng cầm bông hoa đào.

(Cung Oán Ngâm Khúc)

 

 

Xuân sang xuân đã già nào

Chờ sau mai nở thì đào chẳng lâu

(Bích Câu Kỳ Ngộ)

 

Hỏi cho giáp mặt hoa đào

Vườn xuân chẳng lẽ ngăn rào mãi ru.

(Bích Câu Kỳ Ngộ)

 

Còn trời còn nước còn non

Mây xanh nước biếc vẫn còn như xưa

Hoa đào còn đó trơ trơ

Mà người năm ngoái mà giờ là đâu?

Vù vù gió thổi rèm lau

Càng như chất mới tơ sầu vào thêm.

(Bích Câu Kỳ Ngộ)

 

Ngày nay, theo Trang Thơ Thi Viện Net, bài thơ nầy được đổi tựa là "Đề Đô Thành Nam Trang" và đổi lời: từ "đông phong" thành "xuân phong"với chú thích.

 

ĐỀ ĐÔ THÀNH NAM TRANG

Khứ niên kim nhật thử môn trung

Nhân diện đào hoa tương ánh hồng

Nhân diện bất tri hà xứ khứ

Đào hoa y cựu tiếu xuân phong. (*)

(Thôi Hộ)

 

(*) Chú thích : Có bản viết là "đông phong" cũng không sai vì ở Trung Quốc gió xuân (xuân phong) đến từ hướng đông!

 

Ý kiến về "Xuân phong" thay vì "Đông phong" cũng có lý, nhưng giải thích như của Trang Thơ Thi Viện Net thì hơi gượng ép, vì thật ra hoa Đào không có nở vào mùa Đông mà chỉ nở vào mùa Xuân ở Trung Quốc, một nước thuộc vùng ôn đới và hàn đới.  Do đó câu cuối của bài thơ phải viết cho đúng theo thời tiết thiên nhiên là:

 

Đào hoa y cựu tiếu xuân phong.

 

Như vậy các câu thơ trong Chinh Phụ Ngâm, Đoạn Trường Tân Thanh và Cung Oán Ngâm Khúc dùng "đông phong" với "hoa đào" làm điển tích đều sai hết; và chỉ có Bích Câu Kỳ Ngộ dùng "mùa xuân" với "hoa đào" là đúng mà thôi?

 

Văn học sử nước Việt cũng có chuyện ông Từ Thức gặp Tiên là Giáng Hương ở động Từ Thức, còn gọi là động Bích Đào vào đời nhà Trần niên hiệu Quang Thái (1388-1398).  Động này ở xả Trị Nội, huyện Nga Sơn (nay thuộc tỉnh Thanh Hóa); ở bên hữu núi Thần Phù.

Tương truyền Từ Thức có bài thơ tả cảnh chốn nầy như sau, có đề cập đến sự hiện diện của hoa Đào:

 

Thiên chương bích thụ quải triêu đôn

Hoa thảo nghinh nhàn nhập động môn

Bạng giản dĩ vô tăng thái dược

Lâm lưu thặng hữu khách tầm nguyên (ngôn)

Lữ du tư vị tam cầm lộng

Điếu đỉnh sinh nhai nhất tửu tôn

Nghĩ hướng Vũ Lăng ngư phủ vấn

Tiền lai viễn cận thực đào thôn.

 

(Nguyễn Tử Quang dịch thơ)

Đầu cành thấp thoáng bóng kim ô

Hoa động vui mừng đón khách vô

Cạnh suối nào là người hái thuốc

Quanh nguồn chỉ có gã bơi đò

Xênh xang ghế mát đàn ba khúc

Đủng đỉnh thuyền câu rượu một vò

Ước hỏi Vũ Lăng chàng đánh cá

Làng đào đâu có cách chừng mô.

 

Tương truyền Từ Thức kết duyên với Giáng Hương và sống được một năm ở cõi Tiên thì nhớ trần thế xin về.  Khi về chốn trần gian thì mới biết thời gian đã qua 60 năm.  Ông trở về chốn cũ nhưng không tìm được Tiên nữa nên vào ở ẩn ở núi Hoàng sơn thuộc huyện Nông Cống (cũng thuộc tỉnh Thanh Hóa ngày nay) và chết ở đây.

 

Lê Quý Đôn của nhà Hậu Lê có bài thơ vịnh sự tích nầy như sau, và có nhắc tên Bích Đào Động:

 

Hải thượng quần tiên sự diếu mang

Bích đào động khẩu thái hoang lương

Kiền khôn nhất cát cùng Từ Thức

Vân thủy song nga lão Giáng Hương

Thạch cổ hữu thanh xao hiểu nhật

Sa diêm vô vị niết thu xương

Thế nhân khổ tác Thiên thai mộng

Thùy thức Thiên thai diệc hí trường.

 

(Nguyễn Tử Quang dịch thơ)

Câu chuyện thần tiên rất khó lường

Bích Đào động nọ đã hoang lương

Áo bông gió bụi: thân Từ Thức

Mày liễu xuân tàn: sắc Giáng Hương

Trống đá ngày qua nghe tiếng động

Nhủ diêm sương nhuộm mất mùi thường

Thiên thai mộng tưởng cho thêm khổ

Ai biết thiên thai cũng hí trường.

 

Có những bài thơ hiện đại tả hoa Đào trong dịp Tết, đầu Xuân, cùng với hoa Mai vì hoa Anh Đào không có ở nước Việt.

 

ĐÀO THẮM (Nguyên bản)

Cây nhà vườn trước lá đang xanh

Đua nở bông tươi phủ khắp cành

Vài bướm nghe hương lơ lửng đến

Dăm ong thấy sắc dập dìu quanh

Người qua tấm tắc khen hoa đẹp

Kẻ lại trầm trồ nói dấu lành

Ngắt cánh xinh xinh trưng chậu Tết

Đón Xuân đào thắm cánh mong manh.

(Hp-Trương Ngọc Thạch) 

1/22/16

 

ĐÀO THẮM MAI XINH (Họa)

Xuân về hoa nở đẹp trời xanh

Đào thắm mai xinh giữa lá cành 

Thắng cảnh Bích Câu duyên gặp gỡ (*)

Trọn tình Thôi Hộ hết đi quanh (*)

Mai xinh thơ mộng đời may mắn

Đào thắm lòng vui sự tốt lành

Tươi trẻ hồn người tràn nhựa sống

Chứa chan kỳ vọng kiếp mong manh.  

(Phan Thượng Hải) 

1/23/16

 

(*) Chú thích: 

Từ câu thơ: "Đua chen thu cúc xuân đào. Lựu phun lửa hạ mai chào gió đông" (Bích Câu kỳ ngộ: Tú Uyên gặp Giáng Kiều).

Sự tích và bài thơ của Thôi Hộ.


 

Hoa Mai ở Việt Nam

 

Hoa Mai (Plum) ở miền ôn đới hay hàn đới kể trên được gọi là Mai Hằng (Mơ, Mơ Ta) ở Việt Nam (Japanese Plum, Chinese Plum, Apricot), thường chỉ thấy ở Bắc Việt.  Bắc Việt gần miền ôn đới nhưng Nam Việt thuộc miền nhiệt đới nên có hoa Mai Vàng (Yellow Mai).

 

Các Loại Mai ở Việt Nam:

1. Mai Vàng (Mai Vàng Việt Nam) = Ochna integerrima.  Mai Vàng VN là loại Mai Mỹ (Ochna) chỉ có ở Việt Nam, nhất là Miền Nam trong dịp Tết Nguyên Đán.

Mai Núi = 1 loại Mai Vàng mọc tự nhiên ở rừng núi = thuộc loại Ochna integerrima.  Nó khác với loại Mai Vàng VN trồng ở phố thị hay thôn quê.

2. Những Mai Mỹ khác = Ochna serrulata, Ochna atropurpurea...

Mai Tứ Quý = thuộc loại Ochna serrulata.

Nhị Độ Mai = 1 loại tiêu biểu của Mai Tứ Quý.

3. Mai Hằng = Mơ, Mơ Ta = Prunus mume

Nhất Chi Mai = thuộc loại Prunus mume.

 

Mai Vàng (Việt Nam), không phải là Mai Núi.

- Thường thấy ở Miền Nam trong dịp Tết Nguyên Đán.  Được trồng ở phố thị hay thôn quê.

Miền Nam

Miền Bắc: hiện đại trồng ở vùng Uông Bí - Đông Triều - Quảng Ninh.

Miền Trung: trồng ở Huế và Bình Định. 

- Hoa màu vàng và có 5 cánh hoa.

Mai Vàng = Hoàng Mai, Huỳnh Mai, Lão Mai. 

= Yellow Mai (Anh ngữ).

 

 

 

 

 

 

 

Mai Núi

Thường thấy mọc tự nhiên ở vùng rừng núi: từ Tây Nguyên, ở Quảng Bình và Quảng Trị, cho tới Biên Hòa và Tây Ninh.

Hoa màu vàng và có 5-9 cánh hoa, có khi tới 12-18 cánh.

Ngày nay Mai Núi cũng được trồng ở phố thị và thôn quê.

Mai Núi = Mountain Mai

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Những Mai Mỹ khác trên Thế giới.

Hoa màu vàng có đài màu đỏ.

Mai Mỹ = Smell-leaved Plane, Mickey Mouse Plane, Carnival Ochna, Bird's Eye Bush

 

Mai Tứ Quý và Nhị Độ Mai.

- Hoa có 5 cánh hoa.

- Nhị Độ Mai có nghĩa là Mai nở hai lần (trước vàng sau đỏ).

Mai Tứ Quý bắt đầu có hoa màu vàng 5 cánh.  Các cánh rơi rụng rồi 5 đài hoa đổi thành màu đỏ úp lại ôm lấy nhụy, trông giống như nụ hoa vừa nhú.  Nhụy bên trong kết hạt rồi hạt to dần đẩy 5 đài hoa (đỏ) bung ra trông giống như hoa mai đỏ vừa nở.  Hạt ở giữa các cánh hoa, có màu xanh khi còn non rồi đổi sang màu đen khi già.


 

Thường trồng ở Miền Bắc từ xưa đến giờ và có Trái (Quả).

Hoa nở vào cuối Đông và đầu Xuân (cuối tháng 1 và đầu tháng 2).

Hoa thường có màu trắng, hiếm khi thấy màu hồng nhạt hay đỏ thẩm.

Hoa có 5 cánh hoa (thường là màu trắng).  Nhụy chỉ có màu vàng.

 

Mai Hằng, Mơ, Mơ Ta (khác Mơ Tây = Apricot = Prunus armeniaca).

= Bạch Mai, Hàn Mai.

= Mai, Mai Tử (Hán ngữ của Trung Hoa).

= Chinese Plum, Japanese Plum, Japanese Apricot (Anh ngữ).

= Apricotier du Japon, Apricotier (Pháp ngữ).

 

Mai Hằng hay Mơ Ta (Abricottier) màu trắng hồng biểu hiện Tình yêu không được đáp lại.Tác giả là người sống viễn xứ, nhân khi ngắm Mai Vàng sau vườn cũng có bài thơ:

 

NGẮM MAI VÀNG (Nguyên bản)

Hậu viên thơ thẩn ngắm mai vàng

Kỳ vọng đồng tình xuân mới sang

Nhụy nở tự nhiên chào gió lạnh

Cánh chia xinh xắn đón trời quang

Huy hoàng sắc đẹp bên hoàng cúc

Thanh bạch duyên may cạnh bạch lan

Thoáng nhớ hương xưa nơi đất mẹ (*)

Hồn thơ lai láng tứ mênh mang...

(Phan Thượng Hải)

3/3/21

 

(*) Cổ thi thường mượn hoa Mai để nhớ quê nhà cho những người viễn xứ, như bài thơ dưới đây của Lê Cảnh Tuân đời nhà Trần:

 

NGUYÊN NHẬT (*)                            NGÀY ĐẦU NĂM 

Lữ quán khách nhưng tại                       Hỡi ơi xuân cũ lại về

Khứ niên xuân phục lai                          Còn ta đất khách lê thê năm dài

Quy kỳ hà nhật thị                                 Ngày về thăm thẳm hỏi ai?

Lão tận cố hương mai.                           E rằng đã cỗi cành mai quê nhà.

(Lê Cảnh Tuân)                                      (Nguyễn Tấn Hưng dịch)

 

(*) Chú thích: Nguyên nhật = ngày đầu năm

 

Bài thơ của tác giả được những người trong nước họa:

 

MAI XUÂN (Họa)

Bát ngát Nam Phương ngập ánh vàng

Trời vui lồng lộng nắng Xuân sang

Mai hương nhẹ thoảng thơm quê lạnh

Cúc sắc đậm màu tươi xứ quang

Mong khách năm châu vui Ngọc Điểm

Ước người tứ xứ thưởng Hoàng Lan 

Nguyện cầu thế giới thanh bình điệu

Nhơn loại nhẫn hòa nhẹ gánh mang.

(Võ Văn Thành)

03/04/2021

 

CÂY MAI NHÀ (Họa)

Trước nhà rực rỡ chậu mai vàng

Hớn hở đón mừng năm mới sang 

Cành, nhánh sum sê như biểu diễn

Nụ, hoa tươi thắm tựa đăng quang 

Nghiêng mình đáp lễ chào em cúc

Ngẩng mặt trao hương gửi chị lan 

Xuân đến rồi đi lòng bịn rịn

Ơn trời mọi thứ được cưu mang.

(Phan Kim Thành)

3/6/21  

 

Tình quê hương không những từ bông Mai Vàng mà từ bông Lúa Vàng: 

 

HOÀNG HOA

Tâm tư êm ái tự hoàng hoa

Dưỡng tánh an cư thú đậm đà

Nhớ đến cố hương màu lúa chín (*)

Thương về quá khứ sắc mai già (*)

Cổ thi rạng tứ hòa phong cảnh

Mỹ tửu si tình mến tố nga

Xuân ý dâng tràn niềm hạnh phúc

Tượng hình chia sẻ khắp gần xa.

(Phan Thượng Hải)

3/19/21

 

Bs PHAN THƯỢNG HẢI biên soạn và giữ bản quyền

 

Bài viết nầy đăng lần đầu trong phanthuonghai.com mục Văn Hóa phần Học Thuật.

Tài Liệu Tham Khảo:

- Cùng một tác giả Bs Phan Thượng Hải - Phan Thượng Hải - phanthuonghai.com

Các Loại Hoa Biểu Hiện Tình Yêu (Bs Phan Thượng Hải)

Điển Cố Từ Thơ (Phan Thượng Hải)

Thơ Phan Thượng Hải - Sinh Vật và Cảnh Vật (Bs Phan Thượng Hải)

- Khác tác giả

Điển Hay Tích Lạ (Nguyễn Tử Quang)

Related articles and pictures - Google Wikipedia

 

Bs PHAN THƯỢNG HẢI biên soạn và giữ bản quyền

PTH_hoadao_1.JPG
PTH_hoadao_2.JPG
PTH_PhuSi.JPG
PTH_hoadao_3.JPG
PTH_Hoadao_4.JPG
PTH_ Maivang.JPG
PTH_Mainui.JPG
PTH_Nhidomai.JPG
PTH_MaiHang.JPG
PTH_DalaiLatma.jpg

ĐẠT LAI LẠT MA THỨ 14

 

                                          Bs Phan Thượng Hải biên soạn 

 

Pháp danh của ngài là Tenzin Gyatso, rút ngắn từ "Jetsun Jamphel Ngawang Lobsang Yeshe Tenzin Gyatso". Tục danh của ngài là Lhamo Dondrub (hay Thondup).

Ngài sinh (năm 1935) trong 1 gia đình nông dân và chăn nuôi ngựa có 7 người con ở 1 làng nhỏ trước thuộc vùng Amdo của Tây Tạng nhưng lúc đó lại thuộc tỉnh Thanh Hải của Trung Hoa Dân Quốc.  Gia đình của ngài nói tiếng thổ ngữ Tây ninh Trung Hoa trước khi dời về Lhasa (năm 1939).  Người anh cả, Thupten Jigme Norbu, đã được nhận là tái sinh của Lạt Ma Taktser Rinpoche. 

 

Nhiếp Chánh Reting Rinpoche tìm ra Lhamo Thondup là tái sinh của Đạt Lai Lạt Ma thứ 13.  Cậu bé Lhamo Thondup nhận ra đúng hết từng di vật khác nhau của Đạt Lai Lạt Ma thứ 13 mà la lên rằng: "Cái đó của tôi! Cái đó của tôi!". Để Lhamo Thondup được rời nơi ở mà về Lhasa, Tây Tạng phải đút tiền cho Tướng quân ở Thanh Hải (Qing Hai) là Mã Bộ Phương (Ma Bu Fang).

Tenzin Gyatso được chánh thức thành Đạt Lai Lạt Ma thứ 14 trị vì Tây Tạng vào năm 1950 (khi 15 tuổi).  Năm 1959 (khi 23 tuổi) Đạt Lai Lạt Ma thứ 14 đậu Tiến sĩ của Phật Giáo Tây Tạng (Doctorate in Bhuddist Philosophy).  

 

Dưới thời Trung Hoa Dân Quốc của Tưởng Giới Thạch, Tướng quân Mã Bộ Phương (Ma Bu Fang) của Thanh Hải (theo đạo Hồi) thường phá phách Tây Tạng.

Khi Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc thành lập năm 1949, quân đội Trung Quốc chiếm Tây Tạng vào tháng 10, 1950 chỉ 1 tháng trước ngày tức vị của Đạt Lai Lạt Ma thứ 14 (tháng 11, 1950).  Năm 1954, Đạt Lai Lạt Ma thứ 14 và Ban Thiền Lạt Ma thứ 10 sang Bắc Kinh gặp Chủ tịch Mao Trạch Đông.  Đạt Lai Lạt Ma thứ 14 được phong làm Phó Chủ tịch Ủy ban thường vụ của Quốc Hội Nhân Dân.  

Năm 1956, Đạt Lai Lạt Ma thứ 14 sang gặp Thủ tướng Nehru của Ấn Độ và ngài ngỏ ý xin tỵ nạn nhưng bị từ chối.  Cùng năm đó có cuộc nổi dậy của người Tây Tạng ở vùng Kham chống lại chánh quyền Trung Quốc.

 

Với sự giúp đỡ của CIA, Đạt Lai Lạt Ma thứ 14 cùng tùy tùng trốn khỏi Tây Tạng, sang Ấn Độ vào ngày 30-3-1959 và tới Tezpur của vùng Assam vào ngày 18-4-1959.

Ngay sau đó, tại Dharamsala (của Ấn Độ), Đạt Lai Lạt Ma thứ 14 với 80,000 người Tây Tạng định cư ở đây lập Chánh phủ Tây Tạng Lưu Vong và duy trì nền tôn giáo, văn hóa và nghệ thuật Tây Tạng tại đây.

 

Về chính trị, trước tiên, Đạt Lai Lạt Ma vận động với Liên Hiệp Quốc đấu tranh cho Nhân quyền trên lãnh thổ Tây Tạng. 

Sau khi Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc được Nixon cho vào Hội đồng bảo an của Liên Hiệp Quốc, Đạt Lai Lạt Ma phải điều đình trực tiếp với Trung Quốc.  Qua nhiều lần điều đình ngoại giao với Trung Quốc về vấn đề Tây Tạng tự trị (liên hợp với Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc) và về vấn đề Đạt Lai Lạt Ma về lại Tây Tạng, Đạt Lai Lạt Ma thứ 14 cuối cùng phải chấm dứt (điều đình) vì ngài không còn "tin" chánh quyền Trung Quốc nữa.

 

Về tôn giáo, Đạt Lai Lạt Ma thứ 14 viết sách và đi thuyết giảng Phật Giáo và Phật Giáo Tây Tạng khắp toàn thế giới. Ngài cũng giao dịch với các nhà lãnh đạo tôn giáo khác trên thế giới.  Ngài cổ động cho tôn giáo dựa trên nền tảng khoa học chứ không dựa trên mê tín dị đoan.

Ngài luôn giữ liên hệ tốt đẹp với Ấn Độ. Ngài nói: "Tôi coi Ấn Độ là thầy và Tây Tạng là học trò vì những đại học giả như Long Thụ (Nagarjuna) từ Nalanda (của Ấn Độ) sang Tây Tạng giảng dạy Phật Giáo vào thế kỷ thứ 8".

Từ tôn giáo, Đạt Lai Lạt Ma thứ 14 thành nổi tiếng trên khắp thế giới.  Ngài được giải Nobel Hòa Bình (năm 1989).

 

 

Dưới đây là một số quan điểm về một số vấn đề đặc biệt của Đạt Lai Lạt Ma thứ 14:

 

- Về chủ nghĩa Cộng Sản của Karl Marx, Đạt Lai Lạt Ma thứ 14 viết:

         Trong tất cả những thuyết lý kinh tế hiện đại, hệ thống kinh tế của Marxism được xây dựng trên nguyên tắc đạo đức trong khi đó chủ nghĩa tư bản (capitalism) chỉ nghĩ tới thắng lợi và có lợi.  Marxism nghĩ tới sự phân chia tài sản trên căn bản bình đẳng và sự xử dụng công bình của phương tiện sản xuất.  Nó cũng nghĩ tới số mệnh của giai cấp công nhân - là đa số - cũng như số mệnh của những ai yếu thế và đang cần, và Marxism lo cho nạn nhân của sự lợi dụng trẻ em bị áp bức.  Do những lý do đó, hệ thống (Marxism) cảm động lòng tôi và nó có vẻ tốt và thuận tiện.

Ngài cho rằng khi ngài đến Bắc Kinh (1956), "đối với tôi, Marxism rất hấp dẫn, tôi còn tỏ ý muốn thành một đảng viên Cộng Sản", dẫn chứng từ ý niệm thích nhất của ngài là tự túc (self-sufficiency) và sự phân chia bình đẳng của tài sản.  

Tuy nhiên Đạt Lai Lạt Ma thứ 14 không tin là Trung Quốc áp dụng thật sự đúng đắn chính sách của K. Marx.  Nói về chủ nghĩa tư bản, ngài cho rằng "mực sống của hàng triệu dân tốt hơn" nhưng đó "chỉ là làm sao cho có lợi", trong khi đó Marxism có "luân lý đạo đức" (moral ethics). Nhìn lại lịch sử, Liên Xô "chỉ nghĩ tới lợi ích của quốc gia hơn là lợi ích của Công nhân Quốc tế (Workers' International).

 

- Về Tình dục

Ngài quan niệm rằng giao hợp bằng miệng, bằng tay hay bằng hậu môn (cho cả Đồng tính luyến ái hay Dị tính luyến ái) là không được chấp nhận cho Phật Tử hay đối với Phật Giáo.

Ngài nói:

         "Sự cấm đoán tình dục cho người Phật tử áp dụng cho hành vi Đồng tính luyến ái và sự giao hợp Dị tính ở những chỗ khác hơn là âm đạo (vagina), kể cả sự thủ dâm hay những hành vi giao hợp bằng tay...  Trên quan điểm của Phật giáo, sự giao hợp tình dục của lesbian và gay thông thường được coi như là tình dục không có hạnh kiểm (sexual misconduct)".

         "Nếu có người đến hỏi tôi rằng Đồng tính luyến ái là Okay hay không.  Tôi sẽ hỏi: Ý kiến của người bạn tình (companion) của bạn ra sao?  Nếu cả 2 người đều đồng ý thì tôi nghĩ rằng tôi sẽ nói: Nếu 2 người Nam hay 2 người Nữ tự mình đồng ý có sự thỏa mãn chung với nhau mà không có làm hại những người khác, thì đó là Okay".

         "Một cuộc giao hợp tình dục được xem là đúng đắn khi đôi (tình nhân) dùng những cơ quan dành riêng cho sự giao hợp và không dùng những gì khác...  Đồng tính luyến ái, cho dù giữa 2 người Nam hay giữa 2 người Nữ, tự nó là không đúng đắn, Cái không đúng đắn là việc xử dụng những cơ quan được định nghĩa là không chính đáng (inappropriate) cho sự giao hợp tình dục".

Đạt Lai Lạt Ma nhắc nhở rằng mọi tôn giáo đều có cùng ý kiến về sự gian dâm (adultery).

 

- Đạt Lai Lạt Ma thứ 14 biểu lộ sự lo lắng về vấn đề môi sinh (Environnement) và vận động cho việc bảo vệ các thú vật hoang dại.

 

- Về việc Osama Bin Laden bị giết chết, Đạt Lai Lạt Ma thứ 14 nói: 

         "Tha thứ không có nghĩa là quên những gì đã xảy ra...  Nếu chuyện gì quá hệ trọng (serious) và cần có sự phản công, bạn phải phản công lại"

 

- Đạt Lai Lạt Ma thứ 14 nhắc nhở rằng Phá Thai là một hành vi của sát sanh (thuộc giới cấm của Phật Giáo).  Nhưng ngài cũng đồng ý trong những trường hợp đặc biệt "nếu trẻ chưa sinh sẽ chậm lớn (retarded) hay sự sinh sản sẽ gây nên vấn đề hệ trọng cho cha mẹ", với ý của ngài là tùy theo từng trường hợp cá biệt.  Điều nầy có khác văn hóa của Tây Tạng: Phá Thai là tuyệt đối không được chấp nhận và phái nữ không có quyền quyết định.Ở Tây Tạng, thịt là thực phẩm chính, hầu hết tăng sĩ đều "ăn tất cả mọi thứ" (omnivorous) cả thực vật lẫn động vật, kể cả Đạt Lai Lạt Ma.  Trong quá khứ, Đạt Lai Lạt Ma thứ 14 có thử ăn chay nhưng ngài bị "vàng da" (jaundice).  Do đó bác sĩ khuyên ngài phải ngưng.  Khi ngài viếng thăm Tòa Bạch Ốc (White House) và được dọn món ăn chay thì ngài từ chối và trả lời rằng: "Tôi là một tăng sĩ  (monk) Tây Tạng chứ không phải là một người ăn chay (vegetarian)". 

 

Năm 2008, sau khi có nổi loạn của dân Tây Tạng ở trong nước chống lại chánh quyền Trung Cộng, Đạt Lai Lạt Ma thứ 14 muốn sửa đổi phương hướng tìm Đạt Lai Lạt Ma kế vị trong tương lai (như có thể tái sinh ngoài lãnh thổ Tây Tạng) vì ngài sợ có sự âm mưu nhúng tay vào của chính quyền Trung Quốc.

Ngày 24-3-2011, Đạt Lai Lạt Ma thứ 14 xin từ chức là Lãnh tụ chính trị của chính quyền Tây Tạng lưu vong và xin Quốc Hội lưu vong sửa hiến pháp: Đạt Lai Lạt Ma không còn là người lãnh đạo của quốc gia nữa mà được thay thế bằng một Lãnh tụ do dân bầu lên.

 

Đạt Lai Lạt Ma thứ 14 giới thiệu giáo lý giác ngộ của Thiền tông cho Phật tử còn vương vấn với cái Nghiệp của Phật Thích Ca và Phật Giáo Nguyên thủy:       

         Tất cả mọi Hiện tượng thanh tịnh hay ô nhiễm đều trình hiện bởi Tâm Thức như là biểu hiện bằng tính chất tự nhiên thanh tịnh (của Bản Tâm) vì Bản Tâm là thanh tịnh bản nhiên từ khởi thủy..

         Ngay cả khi vẫn là chúng sanh và dù đã tạo vô số ý Nghiệp tốt hoặc xấu như tham, sân, si; Bản Tâm chính nó vẫn siêu việt (= ở trên) mọi ô nhiễm từ các phiền não nầy.  Nước có thể rất bẩn nhưng thể tính của nó vẫn là trong sạch (= thanh tịnh) và bản tánh của nước không bị ô nhiễm bởi bùn dơ.

         Tương tự, bất luận Hiện tượng phát sinh như là trò thiên diễn (= biểu tượng) của Tâm nầy, và bất luận lực dụng của nó (= hiện tượng phát sinh) đến mức nào thì tự Bản Tâm (căn nguyên của mọi tướng trạng của các kỹ xảo như vậy) từ vô thủy vẫn không bị ảnh hưởng bởi ô nhiễm và vẫn không bị ảnh hưởng bởi cái thiện.

         Giác ngộ là khi ta "đồng nhất" được với Bản Tâm và nhận thức rõ ràng tất cả mọi Hiện tượng luân hồi sinh tử và Niết bàn (Vạn Pháp) đều lưu xuất từ Bản Tâm nầy.  Bản Tâm từ bi viên mãn và vi diệu vốn có sẵn (trong mỗi và mọi chúng sanh) nên Kinh có câu "Giác ngộ từ vô thủy". 

         Từ không bị ảnh hưởng bởi khái niệm quy ước, Tâm (Tâm Thức) đồng nhất với bản thể của mình (= Bản Tâm) và khẳng định chính xác rằng ý nghĩa của nó (= Bản Tâm) tương tục và thường hằng trong sự quân bình của Định Tuệ thì dù có sống trong thế tục chúng ta đã là Phật.

 

Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ 14 giúp chúng ta hiểu rõ giáo lý nhân sinh của Kim Cang Thừa, giống như Thiền Tông của Phật Giáo Đại Thừa: Sống từ bi theo Bản Tâm từ bi bẩm sinh của tâm ta thì ta vượt thoát ra khỏi Nghiệp (Karma) (căn bản của Nhân Quả Nghiệp Duyên) và tâm của ta không có Tham (greed), Sân (anger) và Mạn (pride).  Thiền Tông còn gọi Bản Tâm là Phật Tánh (hay nhiều từ ngữ khác như "Bản Lai Diện Mục").  Đó là cốt lõi của giáo lý Phật Giáo Đại Thừa và Kim Cang Thừa.  Mọi người đều có sẵn Bản Tâm (hay Phật Tánh) từ bẩm sinh nên đều có thể thành Phật trong kiếp sống này.  

Nếu ta giác ngộ được cái cốt lõi của giáo lý nầy thì ta có "trí tuệ bát nhã" tức là không còn Si hay Vô Minh (ignorance) và Nghi (doubt).

 

Bs PHAN THƯỢNG HẢI biên soạn

 

Tài liệu đọc thêm:

     1. Phật Giáo Tây Tạng Kim Cang Thừa (Bs Phan Thượng Hải) - phanthuonghai.com

     2. Giáo Lý Giác Ngộ của Phật Giáo Đại Thừa Thiền Tông (Bs Phan Thượng Hải) - phanthuonghai.com

     3. Giáo Lý Giải Thoát của Phật Giáo Nguyên Thủy (Bs Phan Thượng Hải) - phanthuonghai.com  

_____________________

 LỊCH SỬ CỦA ĐẠT LAI LẠT MA VÀ BAN THIỀN LẠT MA

 

                                                  Bs Phan Thượng Hải biên soạn

 

a) Đại Cương

 

*

Je Tsongkhaba (Tông Khách Ba) lập phái Gelug ở Tu viện Ganden (từ năm 1409).  

Trong 2 đệ tử của Je Tsongkhaba (1357-419) có 2 Lạt Ma là Khedrup Je và Gendrum Drup (Gendrum Drub). Cả 2 Lạt Ma nầy thuộc 2 dòng hóa thân Tulku (Chu cô) khác nhau.  

Sau khi Je Tsongkhaba qua đời, Lạt Ma Gendrum Drup thay Je Tsongkhaba làm Trụ trì Tu viện Ganden và trở thành vị Lạt Ma được kính trọng và nổi tiếng của Tây Tạng.  Ngài không có liên quan tới chính trị.  Sau đó ngài rời Tu viện Gandan về làm Trụ trì Tu viện Drepung và lập Tu viện Tashilhumpo ở Shigatse (năm 1447).  Lạt Ma Khedrup Je thay làm Trụ trì tu viện Ganden và dĩ nhiên trở thành Gaden Tripa (Giáo chủ) của phái Gelug.

 

*

Dòng Tulku (Chu cô) của Lạt Ma Gendrum Drup nối tiếp với những Lạt Ma: Gendun Gyatso Palzanpo và Sonam Gyatso.  

         Lạt Ma Gendun Gyatso Palzampo lãnh đạo cả 3 tu viện Drepung, Sera và Ganden.  Phái Gelug rất có uy tín Phật Giáo Tây Tạng lúc bấy giờ.  

         Lạt Ma Sonam Gyatso là Ganden Tripa (Giáo chủ) của phái Gelug và trong thời của ngài, phái Gelug thay thế phái Kagyu, trở thành lãnh đạo của giáo hội Phật Giáo Tây Tạng.

 

Sau khi gặp Khả Hãn Altan của Mông Cổ, Lạt Ma Sonam Gyatso có danh hiệu Đạt Lai Lạt Ma và từ đó danh hiệu nầy được dùng cho những Lạt Ma thuộc dòng Tulku nầy từ Lạt Ma Gendrum Drup.  Và từ đó dòng Tulku (Chu Cô) nầy được coi là hiện thân của Quan Tự Tại bồ tát (Avalokiteshvara).  Quan Tự Tại bồ tát là Quan Thế Âm bồ tát của Đại Thừa.  Sau khi có danh hiệu Đạt Lai Lạt Ma, (Lạt Ma) Sonam Gyatso tự xưng là Đạt Lai Lạt Ma thứ 3 và tấn phong ngược lại cho Lạt Ma Gendun Gyatso Palzamo là Đạt Lai Lạt Ma thứ 2 và Lạt Ma Gendrum Drup là Đạt Lai Lạt Ma thứ 1.  Từ Đạt Lai Lạt Ma thứ 5, Đạt Lai Lạt Ma là nhà lãnh đạo chính trị và tinh thần (tôn giáo) của toàn lãnh thổ Tây Tạng. 

 

*

Dòng Tulku (Chu cô) của Lạt Ma Khedrup Je nối tiếp với những Lạt Ma: Sonam Choklang, Ensapa Lobsang Dondrup và Lobsang Chokyi Gyaltsen.  

Tương truyền rằng trước khi chính thức thành Ban Thiền Lạt Ma, dòng Tulku nầy đầu tiên là Hiện thân của Văn Thù bồ tát (Manjusrì) bắt đầu từ Tu Bồ Đề (Subhuti), một trong 10 Đại đệ tử của Phật Thích Ca, truyền qua 4 tăng sĩ Ấn Độ và 3 tăng sĩ Tây Tạng trước khi tới Lạt Ma Khedrup Je.  Lạt Ma Ensapa Lobsang Dondrup bỏ ra 20 năm tu thiền định ở một hang đá ở núi Hy Mã Lạp Sơn. Ngài có trí nhớ tuyệt vời, thuộc lòng cả kinh Bát Nhã Bát Thiên tụng.

 

Lạt Ma Lobsang Chokyi Gyaltsen là thầy của Đạt Lai Lạt Ma thứ 4 và thứ 5.  Vì lý do đó, khi nắm quyền lãnh đạo Tây Tạng, Đạt Lai Lạt Ma thứ 5 phong cho Lạt Ma Lobsang Chokyi danh hiệu Ban Thiền Lạt Ma

Như thế Lạt Ma Lobsang Chokyi Gyaltsen trở thành Ban Thiền Lạt Ma thứ 4.  Dòng Tulku (Chu cô) của ngài từ đó được mang danh hiệu Ban Thiền Lạt Ma và ngược lại:

         Lạt Ma Ensapa Lobsang Dondrup là Ban Thiền Lạt Ma Lạt Ma thứ 3,  

         Lạt Ma Sonam Choklang là Ban Thiền Lạt Ma thứ 2, 

         và Lạt Ma Khedrup Je (Khedrup Gelek Pelzang) là Ban Thiền Lạt Ma thứ 1 

          

Tước hiệu Ban Thiền Lạt Ma trước đó có được ban cho những Lạt Ma tài giỏi vì "ban thiền" (panchen) theo tiếng Tây Tạng có nghĩa là "đại học giả" nhưng từ nay "Ban Thiền" chỉ dùng riêng cho những Lạt Ma thuộc dòng Tulku (Chu cô) nầy mà thôi.  

Ban Thiền Lạt Ma chính thức được công nhận là Hiện thân của A Di Đà Phật, giữ chức Trụ trì và đặt cơ sở ở Tu viện Tashilhumpo.  

Từ đó Đạt Lai Lạt Ma và Ban Thiền Lạt Ma có liên hệ mật thiết với nhau và Đạt Lai Lạt Ma giúp trong việc tìm hóa thân cho dòng Tulku (Chu cô) của Ban Thiền Lạt Ma cũng như Ban Thiền Lạt Ma cố vấn cho việc tu học của Đạt Lai Lạt Ma khi còn nhỏ trước khi tức vị.

 

*

Lịch sử tương quan giữa Ban Thiền và Đạt Lai Lạt Ma

 

Ban Thiền Lạt Ma thứ 1 (1385-1438)

                  Đạt Lai Lạt Ma thứ 1 (1391-1474)

Ban Thiền Lạt Ma thứ 2 (1438-1505)

                  Đạt Lai Lạt Ma thứ 2 (1475-1542)

Ban Thiền Lạt Ma thứ 3 (1505-1568)

                  Đạt Lai Lạt Ma thứ 3 (1543-1588)

Ban Thiền Lạt Ma thứ 4 (1570-1662)

                  Đạt Lai Lạt Ma thứ 4 (1589-1617)

                  Đạt Lai Lạt Ma thứ 5 (1617- 1682)

Ban Thiền Lạt Ma thứ 5 (1663-1737)

                  Đạt Lai Lạt Ma thứ 6 (1683-1706)

                  Đạt Lai Lạt Ma thứ 7 (1708-1757)

Ban Thiền Lạt Ma thứ 6 (1738-1780)

                  Đạt Lai Lạt Ma thứ 8 (1758-1804)

Ban Thiền Lạt Ma thứ 7 (1782-1853)

                  Đạt Lai Lạt Ma thứ 9 (1805-1815)

                  Đạt Lai Lạt Ma thứ 10 (1816-1837)

                  Đạt Lai Lạt Ma thứ 11 (1838-1856)

Ban Thiền Lạt Ma thứ 8 (1855-1882)

                  Đạt Lai Lạt Ma thứ 12 (1857-1875)

                  Đạt Lai Lạt Ma thứ 13 (1876-1933)

Ban Thiền Lạt Ma thứ 9 (1883-1937)

                  Đạt Lai Lạt Ma thứ 14 (sinh năm 1835)

Ban Thiền Lạt Ma thứ 10 (1938-1989)

 

 

b) Dòng Đạt Lai Lạt Ma (Dalai Lama)

 

(Giai Đoạn Độc Lập của Tây Tạng)

 

1. Đạt Lai Lạt Ma thứ 1 (1391-1474)

 

Tục danh của ngài là Pema Dorje có nghĩa là Liên Hoa Kim Cương (Vajra Lotus) nhưng pháp danh là Gendun Drub hay Kundun Drup.  Ngài là môn đệ của Je Tsongkhapa (Tông Khách Ba) và hình như Je Tsongkhapa là cậu của ngài.

Đạt Lai Lạt Ma (Dalai Lama) của Tây Tạng được tin là hiện thân của Quan Tự Tại Bồ Tát (Avalokiteshvara, tiếng Tây Tạng gọi là Chenresig).  Theo truyền thống, Palden Lhamo, Hộ thần (Dharmapala) của hồ thánh Lhamo La-tso tự nguyện là bà sẽ bảo hộ dòng hóa thân của Đạt Lai Lạt Ma.

Đạt Lai Lạt Ma thứ 1 chết trong khi tham Thiền vào năm 1474, thọ 84 tuổi.

 

 

2. Đạt Lai Lạt Ma thứ 2 (1475-1542)

 

Tục danh của ngài là Yonten Phuntsok và pháp danh là Gendun Gyatso Palzangpo hay Gendun Gyatso.  Huyền thoại nói rằng sau khi biết nói, ngài nói tên mình là Pema Dorje, tục danh của Đạt Lai Lạt Ma thứ 1 và tên của cha mình là Lobsang Drakpa, pháp danh của Je Tsongkhapa (Tông Khách Ba).

Khoảng 4 hay 7 tuổi, ngài được nhận là tái sinh của Gendrun Drup (Đạt Lai Lạt Ma thứ 1).

Ngài được quy y (received his novice vows) từ Lạt Ma Lungrig Gyatso vào năm 1486, lúc 10 tuổi.

Đạt Lai Lạt Ma thứ 2 chết trong khi tham Thiền vào năm 1542, thọ 67 tuổi.

 

 

3. Đạt Lai Lạt Ma thứ 3 (1543-1588)

 

Pháp danh của ngài là Sonam Gyatso. Ngài là vị Lạt Ma của Tây Tạng đầu tiên chính thức được có danh hiệu Đạt Lai lúc sinh thời.  Hai vị tiền thân của dòng Tulku (Chu Cô) của ngài được gọi là Đạt Lai Lạt Ma sau khi đã qua đời.

 

Năm 1571, Khả Hãn Altan (Altan Khan) của nước Mông Cổ sùng bái Phật Giáo Tây Tạng nên mời Lạt Ma danh tiếng nhất của Tây Tạng lúc bấy giờ là Lạt Ma Sonam Gyatso của phái Gelug sang viếng thăm Mông Cổ. 

Sau 1 lần từ chối, Lạt Ma Sonam Gyatso sang hội kiến với Khả Hãn Altan theo lời mời lần thứ nhì (vào năm 1578).  Khả Hãn Altan dùng danh từ Đạt Lai Lạt Ma để tôn danh ngài.  Sonam Gyatso chính thức mang danh hiệu Đạt Lai Lạt Ma và là vị thứ 3 còn 2 vị tiền thân Gendun Drup và Gendun Gyatso có danh hiệu Đạt Lai Lạt Ma thứ 1 và thứ 2. 

Sở dĩ có danh hiệu Đạt Lai vì sự lẫn lộn giữa tiếng Tây Tạng và tiếng Mông Cổ.  Tiếng Gyatso của Tây Tạng có nghĩa là "biển cả hay đại dương"; Khả Hãn Altan dịch ra tiếng Mông Cổ là Dalai và lầm tưởng "tên họ" Gyatso của Đại Lạt Ma đi chung với "chức" Lama nên gọi là Dalai Lama (Đạt Lai Lạt Ma).  

Khả Hãn Altan chết năm 1582, 4 năm sau khi gặp Đạt Lai Lạt Ma thứ 3.  Đạt Lai Lạt Ma sang Mông Cổ 2 lần nữa sau khi Khả Hãn Altan qua đời.  Lần cuối cùng trên đường trở về Tây Tạng ngài bệnh và chết ở trên đất Mông Cổ.  Cháu cố của Khả Hãn Altan, Yonten Gyatso, được chọn là hóa thân của ngài và thành Đạt Lai Lạt Ma thứ 4. 

 

 

4. Đạt Lai Lạt Ma thứ 4 (1589-1617)

 

Pháp danh của ngài là Yonten Gyatso. Ngài sinh ở Mông Cổ và Cha của ngài là Tù trưởng của bộ lạc Chokur, cháu nội của Khả Hãn Altan.

Các nhà tiên tri của Tây Tạng đều tiên đoán Đạt Lai Lạt Ma tương lai (sau Đạt Lai Lạt Ma thứ 3) sẽ là người Mông Cổ.  Sau khi được chọn, Yonten Gyatso rời Mông Cổ lúc ngài 10 tuổi (năm 1598) và phải tới 4 năm sau mới tới Tây Tạng vì trên đường đi ngài phải ghé qua nhiều tu viện.  Ngài là môn đệ của Ban Thiền Lạt Ma thứ 5.  Tới năm 1604, ngài mới chính thức là Tăng sĩ.

Quí tộc Tây Tạng không đồng ý nên muốn lật đổ Đạt Lai Lạt Ma thứ 4 với sự trợ giúp của phái Kagyu.  Năm 1605, một Vương tử Tây Tạng chiếm Lhasa và đuổi kỵ binh Mông Cổ.  Năm 1610, quân Tây Tạng tấn công Đạt Lai Lạt Ma ở tu viện Drepung, ngài phải di tản lánh nạn.

Đạt Lai Lạt Ma thứ 4 chết vào năm 1617 trong khi đang lánh nạn, thọ 28 tuổi.  Có người cho là ngài bị đầu độc. 

 

 

5. Đạt Lai Lạt Ma thứ 5 (1617-1682)

 

Pháp danh của ngài là Ngawang Lobsang Gyatso.  Ngài sinh trong dòng quí tộc Tây Tạng.  Cha của ngài là Dudul Rabten âm mưu chống lại vương tử của nhà Tsang trong khi ngài được bí mật công nhận là hóa thân của Đạt Lai Lạt Ma thứ 4 từ người hầu cận chánh (Nhiếp Chánh) của Đạt Lai Lạt Ma thứ 4 là Sonam Choephel.  Dudul Rabten bị bắt và chết trong khi bị giam giữ.  

 

Nhiếp Chánh Sonam Choepel (còn gọi là Sonam Rapten) cầu cứu với Khả Hãn Gushi của Mông Cổ.  Năm 1640, Khả Hãn Gushi chiếm đất Kham hàng phục phái Sakyas (có uy thế ở đây).  Năm 1642, Khả Hãn Gushi đánh bại Vương tử của nhà Tsang, thống nhất Tây Tạng và hàng phục phái Karmapas.  Đạt Lai Lạt Ma thứ 5 (của phái Gelug) được Khả Hãn Gushi ủng hộ thành Lãnh tụ của toàn lãnh thổ Tây Tạng.  Ngài hòa giải với tất cả giáo phái khác.  

Đạt Lai Lạt Ma thứ 5 lấy Lhasa là kinh đô, phong Nhiếp chánh (Regent) của mình là Sonam Rapten làm Tể tướng (gọi là Desi theo tiếng Tây Tạng) và phong chức cho chánh quyền địa phương.  Desi cai trị toàn Tây Tạng dưới quyền của Đạt Lai Lạt Ma nhưng quân đội trong tay Khả Hãn Gushi, xưng là vua của Tây Tạng.

 

Năm 1652, Đạt Lai Lạt Ma thứ 5 đi Trung Quốc theo lời mời của Hoàng đế Thuận Trị của nhà Thanh.  Ngài đến Trung Quốc vào năm 1653 và được tiếp đón trọng thể 2 lần trong vòng 2 tháng ở Bắc Kinh.  Đạt Lai Lạt Ma chính thức được phong Quốc sư của những hoàng đế Mãn Thanh bắt đầu từ đó. Tuy nhiên sau nầy Đạt Lai Lạt Ma thứ 5 lại ủng hộ loạn Tam Phiên (1673).

Khả Hãn Gushri chết vào năm 1655, các con tranh quyền đánh lẫn nhau.  Từ đó Đạt Lai Lạt Ma thứ 5 hoàn toàn nắm quyền ở Tây Tạng.

 

Lạt Ma Lobsang Chokyi Gyaltsen (1570-1662) là thầy và là đồng minh của Đạt Lai Lạt Ma thứ 5.  Tước hiệu Ban Thiền Lạt Ma trước đó thường được dùng cho những Lạt Ma tài giỏi nhưng Đạt Lai Lạt Ma thứ 5 chỉ dành riêng cho dòng Tulku (Chu cô) của Lạt Ma Lobsang Chokyi Gyaltsen và phong ngài là Ban Thiền Lạt Ma thứ 4. Ngược lại 3 vị Lạt Ma trước của dòng Tulku (Chu cô) của Ban Thiền Lạt Ma thứ 4 nầy được có danh hiệu Ban Thiền Lạt Ma 1, 2 và 3 mặc dù những vị nầy đã qua đời.  Đạt Lai Lạt Ma thứ 5 còn chính thức công bố dòng Tulku (Chu cô) của Ban Thiền Lạt Ma là hiện thân của Amitabha Buddha (A Di Đà Phật), tiếng Tây Tạng là "O-pa-me". 

Khi Ban Thiền Lạt Ma thứ 4 (Lobsang Chokyi Gyaltsen) nầy qua đời, Đạt Lai Lạt Ma thứ 5 liền đích thân tìm tái sinh cho dòng Ban Thiền Lạt Ma.

 

Đạt Lai Lạt Ma thứ 5 bắt đầu xây lâu đài Potala vào năm 1645 vì nó có vị trí tốt, nằm giữa 2 tu viện Drepung và Sera và thủ đô Lhasa.  Đạt Lai Lạt Ma thứ 5 vào ở Bạch lâu (Potrang carpo) của lâu đài Potala vào năm 1649. Công trình xây dựng hoàn thành vào năm 1694, 12 năm sau khi Đạt Lai Lạt Ma thứ 5 qua đời.  Hồng lâu (Potrang marpo) của lâu đài được thêm vào (1690-1694).

Đạt Lai Lạt Ma thứ 5 có thi hành nhiều cải tổ trong Phật Giáo Tây Tạng.  Ngài công nhận Bon (Bon Giáo) là giáo phái thứ 5.

 

Đạt Lai Lạt Ma thứ 5 qua đời năm 1682, thọ 65 tuổi.  Tuy nhiên cái chết của ngài bị giữ bí mật bởi Desi (Tể tướng) Sangye Gyatso cho đến năm 1696 (gần 15 năm sau).  Theo tin đồn từ đó tới ngày nay thì Sangye Gyatso nầy là con của Đạt Lai Lạt Ma thứ 5, được ngài phong làm Tể tướng (Desi) từ năm 1679.  Bí mật được giữ để cho sự ổn định của Tây Tạng và việc xây cất lâu đài Potala, trong khi có thừa kế.  Sangye Gyatso còn là Nhiếp chánh cho tới khi Đạt Lai Lạt Ma thứ 6 chính thức thay thế.

 

6. Đạt Lai Lạt Ma thứ 6 (1683-1706)

 

Pháp danh của ngài là Tsangyang Gyatso.  Ngài sinh ở Mon Tawang (ngày nay thuộc Ấn Độ) thuộc dòng dõi người Monpa (dân tộc thiểu số ở Tây Tạng).  Lúc 5 tuổi (năm 1688), ngài đã được tìm ra và nhận là tái sinh của Đạt Lai Lạt Ma thứ 5 nhưng Nhiếp chánh (Regent) và Tể tướng (Desi) Sangye Gyatso nuôi giữ bí mật cho đến năm 1697 thì Sangye Gyatso mới gởi sứ thần tới Trung Quốc công bố là Đạt Lai Lạt Ma thứ 5 đã qua đời và đã tìm được hóa thân.  Đạt Lai Lạt Ma thứ 6 tức vị vào năm 1697 (bởi Ban Thiền Lạt Ma thứ 6).

 

Đạt Lai Lạt Ma chọn lối sống như người thế tục: uống rượu, có bạn nam và phụ nữ kế bên mình và viết những tình ca (love songs).  Ngài còn đôi khi bỏ cung điện Potola ra sống như người thế tục trên đường phố, giao du với phụ nữ.  

 

Năm 1701, Khả Hãn Lhasang của Mông Cổ cho người giết Nhiếp chánh của Đạt Lai Lạt Ma là Tể tướng Sangye Gyatso.  Đạt Lai Lạt Ma thứ 6 bất bình, đến gặp Ban Thiền Lạt Ma thứ 6 và từ bỏ đời Tăng sĩ (hoàn tục).  Tuy nhiên ngài vẫn giữ chức phận Đạt Lai Lạt Ma.

Năm 1706, Khả Hãn Lhazang của Mông Cổ truất phế Đạt Lai Lạt Ma thứ 6 Tsangyang Gyatso và lập một Lạt Ma 25 tuổi tên là Ngawang Yeshey Gyatso (làm Đạt Lai Lạt Ma), cho rằng Ngawang Yeshey Gyatso nầy mới chính là tái sinh của Đạt Lai Lạt Ma thứ 5.

Khả Hãn Lhasang bắt giải Đạt Lai Lạt Ma thứ 6 về Trung Quốc.  Có thuyết cho rằng ngài bị giết trên đường bị bắt giải về Trung Quốc hay có thuyết cho rằng ngài trốn thoát rồi chết vì lý do bí mật.  Đạt Lai Lạt Ma thứ 6 qua đời ở gần hồ Kokonor vào năm 1706, thọ 24 tuổi. Không có lăng mộ của ngài ở lâu đài Potala như những Đạt Lai Lạt Ma chính thức khác.

 

 

(Giai Đoạn Đô Hộ của Nhà Thanh ở Tây Tạng)

 

7. Đạt Lai Lạt Ma thứ 7 (1708-1757)

 

Pháp danh của ngài là Kelzang Gyatso. Ngài sinh ở Lithang, ngày nay thuộc tỉnh Tứ Xuyên (Sichuan) của Trung Quốc.

Mặc dù Ngawang Yeshey Gyatso đang làm Đạt Lai Lạt Ma do Khả Hãn Lhazang lập lên, nhưng hàng giáo phẩm cao cấp của Tây Tạng vẫn tuân theo Nechung Oracle tìm ra Kelsang Gyatso là tái sinh của Đạt Lai Lạt Ma thứ 6 (Tsangyang Gyatso).  Ngài được bí mật đem về nuôi dạy ở tu viện ở Lithang và sau đó được Hoàng đế Khang Hi của Trung Quốc công nhận.

Từ trẻ tuổi, ngài là người đức độ và có tài làm thơ.

 

Người Dzungars (của Mông Cổ) theo yêu cầu của người Tây Tạng xâm chiếm Tây Tạng, giết Khả Hãn Lha-bzang và truất phế Đạt Lai Lạt Ma Ngawang Yeshey Gyatso.  Quân Mông Cổ cướp phá nước Tây Tạng và hành quyết nhiều giáo sĩ thuộc phái Nyingma và Bon.  Hoàng đế Khang Hi gởi quân tiếp viện thì bị The Dzungars đánh bại.

Năm 1720, Khang Hi gởi quân (cùng với quân địa phương Tây Tạng) đuổi quân Dzungars ra khỏi Tây Tạng.  Kelzang Gyatso chính thức là Đạt Lai Lạt Ma thứ 7. Tây Tạng từ đó thành đất đô hộ của nhà Thanh (của Trung Quốc)

 

Được Trung Quốc ủng hộ, Polhaney cai trị Tây Tạng và kềm chế Đạt Lai Lạt Ma thứ 6.  Sau khi Polhaney chết, con ông bị quân Ambans (của nhà Thanh) giết chết năm 1750. Quân Trung Quốc lại vào và ổn định nước Tây Tạng.

Hội Đồng Bộ Trưởng (Kashag) bắt đầu được lập ra, gồm 4 người, cai trị Tây Tạng và Đạt Lai Lạt Ma, trên danh hiệu, là chủ tịch của Hội Đồng Kashag.  Chức Desi (Tể tướng) cũng bị bãi bỏ.  Đạt Lai Lạt Ma từ đó lại là nhà lãnh đạo chính trị và tinh thần (tôn giáo) của Tây Tạng.

 

Đạt Lai Lạt Ma thứ 7 qua đời lúc ngài được 49 tuổi.

 

8. Đạt Lai Lạt Ma thứ 8 (1758-1804)

 

Pháp danh của ngài là Jamphel Gyatso. Từ Đạt Lai Lạt Ma thứ 8 nầy, Nhiếp Chánh (Regent) chính thức cầm quyền tôn giáo thay thế khi Đạt Lai Lạt Ma còn niên thiếu với danh hiệu là Demo Tulku.

Năm 1790-1791 có người Gurkhas từ Nepal quấy nhiễu miền nam Tây Tạng nhưng bị đẩy lui.  

Đạt Lai Lạt Ma thứ 8 xây cất Công viên Norbulingka và Cung Điện Mùa Hè ở ngoại ô Lhasa vào năm 1783. 

Ngài qua đời lúc 47 tuổi.

 

 

9. Đạt Lai Lạt Ma thứ 9 (1805-1815)

 

Pháp danh của ngài là Lungtok Gyatso. Ngài được tìm ra năm 1807 và qua đời năm 1815 (thọ 10 tuổi)

 

10. Đạt Lai Lạt Ma thứ 10 (1816-1837)

 

Pháp danh của ngài là Tsultrim Gyatso. Ngài luôn bệnh hoạn và qua đời năm 1837, thọ 22 tuổi.

 

11. Đạt Lai Lạt Ma thứ 11 (1838-1856)

 

Pháp danh của ngài là Khedrup Gyatso, sinh cùng làng với Đạt Lai Lạt Ma thứ 7.  Ngài nắm quyền trị nước theo yêu cầu của chính quyền Tây Tạng nhưng đột ngột qua đời 10 tháng sau, chỉ thọ 19 tuổi.

Trong khi Đạt Lai Lạt Ma thứ 11 còn sinh tiền, nhà Mãn Thanh suy yếu do chiến tranh Nha Phiến và loạn Thái Bình Thiên Quốc nên Tây Tạng càng bị cô lập trước ảnh hưởng của Tây Phương.

 

12. Đạt Lai Lạt Ma thứ 12 (1857-1875)

 

Pháp danh của ngài là Trinley Gyatso. Ngài tức vị năm 1873 nhưng cũng qua đời sớm 2 năm sau (1875) vì bệnh, thọ 18 tuổi.

Trong khi Đạt Lai Lạt Ma thứ 12 còn sống, Tây Tạng cấm người Âu Châu được vào nước Tây Tạng vì quân Anh đánh nhau với người Sikkim và Bhutan.  Hai nước láng giềng nầy chịu ảnh hưởng (tôn giáo) của Đạt Lai Lạt Ma của Tây Tạng.

 

(Giai Đoạn Lịch Sử Hiện Đại của Tây Tạng)

 

13. Đạt Lai Lạt Ma thứ 13 (1876-1933)

 

Pháp danh của ngài là Thubten Gyatso, đó là tên rút ngắn của "Ngawang Lobsang Thupten Gyatso Jigdral Chokley Namgyal", được Ban Thiền Lạt Ma lúc bấy giờ ban cho.

 

Năm 1895, Đạt Lai Lạt Ma thứ 13 bắt đầu nắm quyền lãnh đạo chính trị và tôn giáo Tây Tạng.

Năm 1904, quân đội viễn chinh Anh (dưới quyền của Sir Francis Younghusband) đánh Tây Tạng.  Đạt Lai Lạt Ma thứ 13 chạy trốn sang ở Urga (thuộc Mông Cổ), cách Lhasa 2400 km (1500 miles) về hướng Đông Bắc.  Triều đình Mãn Thanh liền lật đổ Đạt Lai Lạt Ma thứ 13, nắm chủ quyền toàn Tây Tạng (và Nepal và Bhutan).  Trung Quốc trả tiền và ký hiệp ước với người Anh để Anh không xâm chiếm và can thiệp vào quốc sự của Tây Tạng.

Đạt Lai Lạt Ma thứ 13 là một chính trị gia tài giỏi.  Từ Mông Cổ ngài sang ở Ngũ Đài Sơn của Trung Quốc và ngài bắt đầu tiếp xúc với các chính khách Âu Mỹ.  Năm 1908, Đạt Lai Lạt Ma gặp Hoàng đế Quang Tự và Thái hậu Từ Hi ở Bắc Kinh, nhưng không chịu nhượng bộ.

Tháng 12 năm 1908, Đạt Lai Lạt Ma thứ 13 từ Bắc Kinh tự động trở về Tây Tạng và cải tổ chính phủ.  Nhà Thanh lại đánh Tây Tạng, Đạt Lai Lạt Ma thứ 13 lại phải chạy sang Ấn Độ.

Tại Ấn Độ, Đạt Lai Lạt Ma thứ 13 tiếp tục vận động ngoại giao, gặp Phó vương Ấn Độ là Lord Minto.  

 

Sau cách mạng Tân Hợi (1911), nhà Mãn Thanh bị lật đổ và quân Thanh rút khỏi Tây Tạng (cuối năm 1912).  Đạt Lai Lạt Ma thứ 13 từ Darjeeling (Ấn Độ) trở về Lhasa, tự mình nắm quyền lãnh đạo Tây Tạng, trên cả Kashag.  Ngài cải tổ và canh tân nước Tây Tạng theo Tây Phương.

Năm 1928, Tưởng Giới Thạch thống nhất Trung Quốc, lập Trung Hoa Dân Quốc và đóng đô ở Nam Kinh. Tây Tạng tấn công toan chiếm đất của 2 tỉnh Thanh Hải và Tây Khương nhưng bị đánh bại và quân Trung Hoa tiến sang chiếm đất của Tây Tạng. Đạt Lai Lạt Ma thứ 13 phải cầu cứu người Anh.  Dưới áp lực của Anh, chính phủ Nam Kinh ra lệnh đình chiến vào năm 1933.

 

Tháng 12, 1933, Đạt Lai Lạt Ma thứ 13 qua đời.  Ngài tiên đoán tai họa sẽ đến cho đất nước và dân tộc Tây Tạng.

 

 

14. Đạt Lai Lạt Ma thứ 14 (sinh năm 1935)

 

Pháp danh của ngài là Tenzin Gyatso, rút ngắn từ "Jetsun Jamphel Ngawang Lobsang Yeshe Tenzin Gyatso". Tục danh của ngài là Lhamo Dondrub (hay Thondup).

Ngài sinh trong 1 gia đình nông dân và chăn nuôi ngựa có 7 người con ở 1 làng nhỏ trước thuộc vùng Amdo của Tây Tạng nhưng lúc đó lại thuộc tỉnh Thanh Hải của Trung Hoa Dân Quốc.  Gia đình của ngài nói tiếng thổ ngữ Tây ninh Trung Hoa trước khi dời về Lhasa (năm 1939).  Người anh cả, Thupten Jigme Norbu, đã được nhận là tái sinh của Lạt Ma Taktser Rinpoche. 

 

Nhiếp Chánh Reting Rinpoche tìm ra Lhamo Thondup là tái sinh của Đạt Lai Lạt Ma thứ 13.  Cậu bé Lhamo Thondup nhận ra đúng hết từng di vật khác nhau của Đạt Lai Lạt Ma thứ 13 mà la lên rằng: "Cái đó của tôi! Cái đó của tôi!". Để Lhamo Thondup được rời nơi ở mà về Lhasa, Tây Tạng phải đút tiền cho Tướng quân ở Thanh Hải (Qing Hai) là Mã Bộ Phương (Ma Bu Fang).

Tenzin Gyatso được chánh thức thành Đạt Lai Lạt Ma thứ 14 trị vì Tây Tạng vào năm 1950 (khi 15 tuổi).  Năm 1959 (khi 23 tuổi) Đạt Lai Lạt Ma thứ 14 đậu Tiến sĩ của Phật Giáo Tây Tạng (Doctorate in Bhuddist Philosophy).  

 

Dưới thời Trung Hoa Dân Quốc của Tưởng Giới Thạch, Tướng quân Mã Bộ Phương (Ma Bu Fang) của Thanh Hải (theo đạo Hồi) thường phá phách Tây Tạng.

Khi Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc thành lập năm 1949, quân đội Trung Quốc chiếm Tây Tạng vào tháng 10, 1950 chỉ 1 tháng trước ngày tức vị của Đạt Lai Lạt Ma thứ 14 (tháng 11, 1950).  Năm 1954, Đạt Lai Lạt Ma thứ 14 và Ban Thiền Lạt Ma thứ 10 sang Bắc Kinh gặp Chủ tịch Mao Trạch Đông.  Đạt Lai Lạt Ma thứ 14 được phong làm Phó Chủ tịch Ủy ban thường vụ của Quốc Hội Nhân Dân.  

Năm 1956, Đạt Lai Lạt Ma thứ 14 sang gặp Thủ tướng Nehru của Ấn Độ và ngài ngỏ ý xin tỵ nạn nhưng bị từ chối.  Cùng năm đó có cuộc nổi dậy của người Tây Tạng ở vùng Kham chống lại chánh quyền Trung Quốc.

 

Với sự giúp đỡ của CIA, Đạt Lai Lạt Ma thứ 14 cùng tùy tùng trốn khỏi Tây Tạng, sang Ấn Độ vào ngày 30-3-1959 và tới Tezpur của vùng Assam vào ngày 18-4-1959.

Ngay sau đó, tại Dharamsala (của Ấn Độ), Đạt Lai Lạt Ma thứ 14 với 80,000 người Tây Tạng định cư ở đây lập Chánh phủ Tây Tạng Lưu Vong và duy trì nền tôn giáo, văn hóa và nghệ thuật Tây Tạng tại đây.

 

Về chính trị, trước tiên, Đạt Lai Lạt Ma vận động với Liên Hiệp Quốc đấu tranh cho Nhân quyền trên lãnh thổ Tây Tạng. 

Sau khi Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc được Nixon cho vào Hội đồng bảo an của Liên Hiệp Quốc, Đạt Lai Lạt Ma phải điều đình trực tiếp với Trung Quốc.  Qua nhiều lần điều đình ngoại giao với Trung Quốc về vấn đề Tây Tạng tự trị (liên hợp với Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc) và về vấn đề Đạt Lai Lạt Ma về lại Tây Tạng, Đạt Lai Lạt Ma thứ 14 cuối cùng phải chấm dứt (điều đình) vì ngài không còn "tin" chánh quyền Trung Quốc nữa.

 

Về tôn giáo, Đạt Lai Lạt Ma thứ 14 viết sách và đi thuyết giảng Phật Giáo và Phật Giáo Tây Tạng khắp toàn thế giới. Ngài cũng giao dịch với các nhà lãnh đạo tôn giáo khác trên thế giới.  Ngài cổ động cho tôn giáo dựa trên nền tảng khoa học chứ không dựa trên mê tín dị đoan.

Ngài luôn giữ liên hệ tốt đẹp với Ấn Độ. Ngài nói: "Tôi coi Ấn Độ là thầy và Tây Tạng là học trò vì những đại học giả như Long Thụ (Nagarjuna) từ Nalanda (của Ấn Độ) sang Tây Tạng giảng dạy Phật Giáo vào thế kỷ thứ 8".

Từ tôn giáo, Đạt Lai Lạt Ma thứ 14 thành nổi tiếng trên khắp thế giới.  Ngài được giải Nobel Hòa Bình (năm 1989).

 

 

c) Dòng Ban Thiền Lạt Ma (Panchen Lama)

 

Ban Thiền Lạt Ma thứ 1, Khedrup Je hay Khedrup Gelek Pelzang (1385-1438)

Ban Thiền Lạt Ma thứ 2, Sonam Choklang (1438-1505)

Ban Thiền Lạt Ma thứ 3, Ensapa Lobsang Dondrup (1505-1568)

Ban Thiền Lạt Ma thứ 4, Lobsang Chokyi Gyatsen (1570-1662)

Ban Thiền Lạt Ma thứ 5, Lobsang Yeshe (1663-1737)

Ban Thiền Lạt Ma thứ 6, Lobsang Palden Yeshe (1738-1780)

Ban Thiền Lạt Ma thứ 7, Palden Tenpai Nyima (1782-1853)

Ban Thiền Lạt Ma thứ 8, Tenpai Wangchuk (1855-1882)

Ban Thiền Lạt Ma thứ 9, Thubten Choekyi Nyima (1883-1937)

 

*

 Ban Thiền Lạt Ma thứ 10 (1938-1989)

 

Pháp danh của ngài là Choekyi Gyatsen. Tục danh của ngài là Gonpo Tseten.

 

Sau khi Ban Thiền Lạt Ma thứ 9 qua đời (vào năm 1937), văn phòng của Ban Thiền Lạt Ma chọn Gonpo Tseten (Choekyi Gyatsen) nhưng chính phủ Lhasa (của Đạt Lai Lạt Ma thứ 13) lại chọn một người khác. Chính quyền Tưởng Giới Thạch của Trung Hoa Dân Quốc ủng hộ Choekyi Gyatsen và cho người sang Tây Tạng làm lễ tấn phong cho GonpoTseten chính thức thành Ban Thiền Lạt Ma thứ 10 Choekyi Gyatsen ở tu viện Kumbum (năm 1949).  

Chính phủ Lhasa của Đạt Lai Lạt Ma vẫn không công nhận Ban Thiền Lạt Ma thứ 10.   Ban Thiền Lạt Ma thứ 10 âm mưu viện quân của Tướng quân Mã Bộ Phương (Ma Bu Fang) của Thanh Hải (Trung Hoa Dân  Quốc) tấn công Tây Tạng và chính phủ của Đạt Lai Lạt Ma.  

Nhưng ngay sau đó Mao Trạch Đông chiếm Trung Quốc (cuối năm 1949), Ban Thiền Lạt Ma thứ 10 lại ủng hộ Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc của Mao Trạch Đông.  Ngài sang Bắc Kinh ký hiệp ước hòa bình với Trung Quốc và điện tín bắt Đạt Lai Lạt Ma thứ 14 công nhận.  Nhưng Trung Quốc chiếm Tây Tạng vào năm sau (1950).  

Năm 1952, Đạt Lai Lạt Ma thứ 14 chính thức công nhận Choekyi Gyatsen là Ban Thiền Lạt Ma thứ 10.  Tháng 9, 1956, Đạt Lai Lạt Ma thứ 14 và Ban Thiền Lạt Ma thứ 10 sang gặp Mao Trạch Đông ở Bắc Kinh và Ban Thiền Lạt Ma thứ 10 được bầu Uỷ viên thường trực của Quốc Hội Trung Quốc.

 

Năm 1959, Đạt Lai Lạt Ma thứ 14 trốn sang Ấn Độ, Ban Thiền Lạt Ma thứ 10 vẫn ở lại Tây Tạng.

Năm 1962, Ban Thiền Lạt Ma thứ 10 gởi thỉnh nguyện thư cho Trung Quốc chỉ trích tình trạng tệ hại ở Tây Tạng.  Năm 1964, Ban Thiền Lạt Ma thứ 10 bị bắt đem cầm tù ở Bắc Kinh chỉ được thả tự do vào năm 1977 (13 năm sau, sau thời kỳ Cách Mạng Vân Hóa), rồi được phong làm Phó Chủ tịch Quốc Hội Trung Quốc (1979).  

 

Từ năm 1979, Ban Thiền Lạt Ma thứ 10 hoàn tục, cưới vợ là người Hán Trung Hoa và có 1 con gái.  Đầu năm 1989, Ban Thiền Lạt Ma thứ 10 từ Bắc Kinh trở về Tây Tạng và chết ở Shigatse lúc 51 tuổi vào ngày 28-1-1989, chỉ 5 ngày sau khi ngài có tuyên bố: "Từ khi giải phóng, chắc chắn có mở mang nhưng cái giá phải trả cho sự mở mang nầy nặng hơn là sự thành đạt...".  

Sau nầy, vào năm 2011, theo tin từ 1 người chống lại chính phủ Trung Quốc (ông Yuan Hong Bin) thì đó là kế hoạch của Hu Jin Tao (Hồ Cẩm Đào) thủ tiêu Ban Thiền Lạt Ma thứ 10.  Hồ Cẩm Đào sau đó là Chủ tịch Nước của Trung Quốc.

 

*

Sau khi Ban Thiền Lạt Ma thứ 10 chết (tháng 1,1989), người đứng đầu ủy ban tìm kiếm Ban Thiền Lạt Ma mới là Lạt Ma Chadrel Rinpoche từ Tây Tạng liên lạc trực tiếp với Đạt Lai Lạt Ma thứ 14 ở Ấn Độ và tìm ra được Gelhun Choekyi Nyima (sinh ngày 25-4-1989 ở Lhari của Tây Tạng). Ngày 14-5-1995, Gelhum Choekyi Nyima được chính thức công nhận là Ban Thiền Lạt Ma thứ 11 bởi Đạt Lai Lạt Ma thứ 14. Ba ngày sau (17-5-1995), Gelhum Choekyi Nyima mất tích luôn cho tới bây giờ.  Sau nầy Công luận quốc tế luôn muốn tìm tung tích của Ban Thiền Lạt Ma Gelhum Choekyi Nyima nầy nhưng luôn thất bại.  Câu trả lời của chính quyền Trung Quốc là: "đang sống một cuộc đời bình thường ở Trung Quốc".

 

Chánh quyền Trung Quốc liền cầm tù Lạt Ma Chandrel Rinpoche vì tội phản quốc và rút thăm từ Kim Hủ (bình đựng tro bằng vàng = golden urn) ra được (tên) Gyaincain Norbu là Ban Thiền Lạt Ma thứ 11.  Chính quyền Trung Quốc cho rằng phương pháp bóc thăm từ Kim Hủ nầy theo đúng truyền thống từ vua Khang Hi (năm 1792) và đã dùng trong việc lựa chọn Đạt Lai Lạt Ma thứ 10, 11 và 12.  Tuy nhiên thật sự thì việc rút thăm nầy trong quá khứ chỉ là hình thức để công nhận một Đạt Lai Lạt Ma đã được giáo hội Phật Giáo Tây Tạng tìm ra và công nhận.  Đây là hình thức để chiều theo và làm vui lòng triều đình nhà Thanh vào lúc đó.

 

Gyaincain Norbu sinh ngày 13-2-1989 cũng ở Lhari, Tây Tạng.  Cha mẹ là đảng viên Cộng sản, Gyaincain Norbu sống thời niên thiếu ở Bắc Kinh như người Tàu. Sau khi được chọn là Ban Thiền Lạt Ma thứ 11 bởi chính quyền Trung Quốc, Gyaincain Norbu được đem về Tây Tạng và huấn luyện như một tăng sĩ Tây Tạng.  Gyaincain Norbu nói thạo tiếng Tàu và tiếng Tây Tạng và hoạt động trong vai trò Ban Thiền Lạt Ma cho tới bây giờ (dĩ nhiên đúng theo đường lối của chính quyền Trung Quốc).   Ông không được Đạt Lai Lạt Ma thứ 14, người Tây Tạng và quốc tế chấp nhận là Ban Thiền Lạt Ma thứ 11.

 

Bs PHAN THƯỢNG HẢI biên soạn

 HÓA THÂN TRONG PHẬT GIÁO TÂY TẠNG

 

                                             Bs Phan Thượng Hải

 

* Tulku (Chu Cô)

 

Trong Phật Giáo Tây Tạng, Tulku (Chu Cô) là một Lạt Ma cao cấp đặc biệt tự mình có thể chọn lựa phương cách tái sinh (rebirth) của mình.  Thêm nữa, trước khi chết, Tulku (Chu Cô) còn có thể cho (người khác) biết nơi mình tái sinh. 

Thông thường, một Lạt Ma có thể sẽ đầu thai (reincarnate) thành người cùng phái tính tuy nhiên Lạt Ma cũng như chúng sanh không có lựa chọn được phương cách tái sinh cho mình.

Đương thời có khoảng trên 2000 Tulkus (Chu Cô) được biết.  Tuy nhiên ở Tây Tạng có thể có vài ngàn Tulkus (Chu Cô) trước khi bị Trung Quốc xâm lấn.  Thông thường Tulku (Chu Cô) là đàn ông nhưng cũng có thiểu số là phụ nữ.

 

Tulku đồng nghĩa với từ ngữ Hóa Thân (Nirmanakaya) trong Tam Thân Phật (Trikaya = the 3 bodies of Buddha).  Theo thuyết nầy, Hóa Thân hay Ứng Thân là Phật trong "thân (và) tâm" (body mind) hay nói khác đi Phật có mang sắc thân như chúng sanh.  Cá nhân Phật Thích Ca là thí dụ của Hóa Thân Phật (Nirmanakaya).  

Trong phần định nghĩa của Phật Giáo Tây Tạng, Tulku (Chu Cô) được dùng để ám chỉ chung là sự hiện hữu hổn hợp của các vị Thầy (masters) Phật Giáo đã giác ngộ.

Gần đây, có từ ngữ Trung Hoa gọi Tulku (Chu cô) là Hoạt Phật hay Phật Sống (Huófó = living Buddha) và gọi đứa trẻ hóa thân của một Tulku là Linh Đồng (língtóng = soul boy).  Đạt Lai Lạt Ma thứ 14 cho rằng những từ ngữ nầy là "không có nghĩa lý gì hết" (non-sense). 

 

 

* Dòng Tulku (Dòng Chu Cô)

 

Mỗi Tulku có dòng tái sinh (rebirth) riêng của mình gọi là Dòng Tulku hay Dòng Chu Cô  (Tulku lineage).  

Thí dụ, Đạt Lai Lạt Ma thứ 14 được coi là một tái sinh của mỗi 13 Đạt Lai Lạt Ma trước đó và tất cả đều được coi là hiện thân hay hóa thân (emanation) của Bồ tát Avalokiteshvara (hay Chenrezig, tiếng Tây Tạng), vị "Bồ tát của từ bi", tay cầm bông sen trắng.  (Avalokiteshvara dịch nghĩa của Phật Giáo Ấn Độ và Tây Tạng là Quan Tự Tại thuộc nam giới và khi truyền sang Trung Quốc và các nước Đông Á thì thành ra Quan Thế Âm hay Quan Âm thuộc nữ giới). 

 

 (Hậu quả)

Truyền thống Tulku (Chu Cô), hóa thân của một Lama (Lạt Ma), phát triển trong những thế kỷ thứ 12, 13 và 14.  Những giáo phái của Phật Giáo Tây Tạng bắt đầu chấp nhận sự việc là những tượng hình kiểu mẫu (examplary figures) có thể còn mãi trong nhân thế như là vị Thầy của giáo hội (institutional teachers), hiện ra trong đời nầy qua đời sắp tới do lòng từ bi.  Ở điểm nầy ý niệm về Hóa Thân Phật thành ra liên kết với ý niệm của sự hiển hiện đều đặn (regular manifestation = yangsi) của Tu sĩ.

 

Tulku được thừa kế tài sản (estates) của người mà mình hóa thân.  Luật thừa kế nầy tạo ra và giữ sự  giàu có cho một số dòng hóa thân Tulkus.  Tulku (Chu Cô) có được giàu có đầu tiên nầy là của Karmapa, giáo chủ của chi phái Karma Kagyu.  Đó là Tulku thứ nhì của dòng Karmapa (là) Karma Paksi (1204-1183).  Dòng Karmapa ngày nay có hóa thân thứ 17.

 

Đại đa số những Tulkus (Chu Cô) là người Tây Tạng nhưng cũng có Tulkus là những người thuộc dân tộc có tiếp xúc với người Tây Tạng như người Mông Cổ.  Ngày nay văn hóa (diaspora) Tulkus được tìm thấy trên toàn cầu.  Có người Âu Mỹ là Tulku (Chu Cô) như Tenzin Osel (sinh năm 1985), cha mẹ là người Spain, được nhận là tái sinh của một Lạt Ma Tây Tạng rất có quyền lực tên là Thubten Yeshe.

 

Năm 1988, theo đề nghị của Đạt Lai Lạt Ma thứ 14, một hội nghị được triệu tập với khoảng 350 tulkus tham dự từ 5 giáo phái của Tây Tạng (Nyingma, Sakya, Kagyu, Gelug và Bon).  Nội qui được luận bàn về tương lai của truyền thống tinh thần nầy ở bán lục địa Ấn Độ, Tây Tạng và ngoại quốc cũng như sự liên quan với khoa học và các tôn giáo khác.

 

 

(Tìm người hóa thân nối Dòng)

 

Một Tulku trước khi chết có thể viết những ngụ ý hay đưa những dấu hiệu để giúp chỉ định người người nối dòng hay sự tái sinh trong dòng Tulku: về nơi chốn, về cha mẹ, về đặc điểm của nhà ở...  Nếu không có chi tiết (đủ) thì những tăng sĩ có nhiệm vụ tìm kiếm được hướng dẫn bởi một chiêm tinh gia chuyên về Lama và Tulku (gọi là Tsispa).  Những lời tiên tri cũ cũng được dùng.  Sự tìm kiếm được dùng những thử nghiệm như đứa bé có thể nhận được người quen hay sở hữu trong kiếp trước hoặc trả lời được những câu hỏi về đời sống kiếp trước (là của Tulku đã qua đời).

Mức độ quan trọng của sự tìm kiếm tùy theo danh vị của Tulku (Chu Cô): từ một Lạt Ma thường cho tới rất quan trọng như Đạt Lai Lạt Ma hay Ban Thiền Lạt Ma.

Thường người nối nghiệp Tulku là đàn ông. Tuy nhiên có thể là đàn bà từ một Tulku đàn ông, Đạt Lai Lạt Ma nói: "nếu một phụ nữ tự thể hiện hữu dụng hơn, Lạt Ma hay hơn hết là nên tái sinh trong hình thức đó".  Ngài cũng nói rằng ngài "có thể tái sinh như là một sâu bọ (insect) hay một thú vật (animal)".

 

 

(Những Dòng Tulku hiện nay)

 

Nhà chuyên gia về Tây Tạng Francois Pommaret ước lượng hiện nay có khoảng 500 dòng Tulku được tìm thấy khắp: Tây Tạng, Bhutan, Bắc Ấn Độ, Nepal, Mông Cổ, và những tỉnh ở tây nam Trung Quốc.  Đại đa số những Tulkus là đàn ông, nhưng cũng có thiểu số là đàn bà.  Dòng Tulku phụ nữ cao quí nhất là của Dorje Phagmo ở tu viện Samding.

Dĩ nhiên dòng Tulku (Chu cô) nổi tiếng và có quyền lực chính trị nhất là Đạt Lai Lạt Ma đã có tất cả 14 hóa thân bắt đầu từ Lạt Ma Genudun Drub (Đạt Lai Lạt Ma thứ 1).

 

Đạt Lai Lạt Ma nắm quyền chính trị và tôn giáo của Tây Tạng từ Đạt Lai Lạt Ma thứ 5.  Từ đó chính quyền ở thủ đô Lhasa dùng quyền lực trong việc tìm kiếm hay chấp nhận Tulku (Chu Cô) của một số dòng Tulku quan trọng và có khi cắt đứt một dòng Tulku nào đó.  Dòng Tulku Shamarpa của phái Karmapa bị chính quyền Tây Tạng cấm hóa thân dưới lệnh của Đạt Lai Lạt Ma thứ 8 vào năm 1792.  Lạt ma Shamarpa là thị giả của Lạt ma Karmapa (Giáo chủ phái Karmapa).  Sau khi Đạt Lai Lạt Ma mất quyền lực ở Tây Tạng (năm 1959) thì mới biết là phái Karmapa vẫn bí mật công nhận hóa thân của dòng Shamarpa và dòng nầy vẫn tiếp tục bí mật tìm và có hóa thân cho tới bây giờ (từ sau năm 1792). 

 

Những dòng Tulku cũng có liên hệ với nhau như Ban Thiền Lạt Ma công nhận Đạt Lai Lạt Ma mới hay ngược lại.  Nếu không có liên hệ với dòng Tulku khác, một Tulku hóa thân trong một dòng luôn được chấp nhận bởi một vị Lama Rinpoche.  Tulku Jetsunma Ahkon Lhamo, phụ nữ Âu đầu tiên được công nhận bởi Lạt ma Penor Rinpoche vào thập niên 1980s.

 

Những vị giáo chủ 4 giáo phái chính ngày nay đều là những Tulkus của dòng của mình

         Đạt Lai Lạt Ma thứ 14 Tenzin Gyatso (Đăng Châu Gia Mục Thố) của phái Gelug (Cách Lỗ).

         Lạt Ma Rigpe Dorje (Lăng Tuấn Lôi Tỉ Đa Kiệt) là giáo chủ phái Kagyu (Ca Nhĩ Cư).

         Lạt Ma Dujom (Đôn Châu) là giáo chủ phái Nyingma (Ninh Mã).

         Lạt Ma Sakyapa Sakya Trizin (Tát Ca Ba Tát Ca Xứ Châu) là giáo chủ phái Sakya (Tát Ca).

 

 

(Nghi vấn và Chỉ trích)

 

Theo sử gia Tây Tạng, Samten Gyatsen Karmay, Đạt Lai Lạt Ma thứ 5 (Lobsang Gyatso) viết trong tiểu sử (của mình):

         Quan Tsawa Kachu của Tu viện Ganden đưa ra hình tượng và tràng hạt (thuộc về Đạt Lai Lạt Ma thứ 4 và những vị Lạt Ma khác), nhưng tôi không thể phân biệt được chúng.  Khi ông rời căn phòng, tôi nghe ông nói với mọi người ở ngoài phòng là tôi đã qua được (đậu) cuộc thử nghiệm.  Về sau, ông thường khiển trách tôi và nói: "Ngươi phải cố gắng (tu học) thật nhiều vì ngươi không thể nhận ra được những vật đó". 

 

Trong phim tài liệu "Tulku", Lạt Ma Dzongsa Jamyang Khyentse Rinpoche, lý luận chống lại hệ thống Tulku của giáo hội Tây Tạng, đã tuyên bố:

         Và ngày hôm nay, bản thân tôi tin rằng giáo hội Tây Tạng đã quá bảo thủ văn hóa nầy.  Văn hóa nầy đang chết dần, nó sẽ không thi hành được nữa.  Nếu người Tây Tạng không cẩn thận, hệ thống Tulku sẽ tàn hại Phật Giáo. Cuối cùng thì Phật Giáo quan trọng hơn hệ thống Tulku, có ai thèm để ý tới những Tulku... và những gì xảy ra cho họ.

 

Tài tử Mỹ Steven Seagal, khi đã trưởng thành, được nhận là hóa thân của một Terton, Chungdrag Dorje, ở đông Tây Tạng vào thế kỷ thứ 17 bởi Lạt ma Penor Rinpoche (của phái Nyingma).  Steven Seagal vẫn chưa đi tu và chưa được tu luyện để thành Tulku.

 

Bs PHAN THƯỢNG HẢI biên soạn

________________________

NGÔN NGỮ VÀ VĂN TỰ CỦA NGƯỜI VIỆT

 

                                             Bs Phan Thượng Hải

 

a) Định Nghĩa Ngôn Ngữ và Văn Tự

 

Nói và Chữ (Tiếng Nôm) = Ngôn Ngữ và Văn Tự (Hán Ngữ).

Nói thành Tiếng = Ngữ Âm = Tiếng Nói. 

 

Nói = Lời Nói và Tiếng Nói = Ngôn Ngữ

         Ngôn = Lời nói. 

         Ngữ = Nói - Lời nói.

         Lời nói là Ngôn và cũng là Ngữ.  Tuy nhiên có dùng khác nhau: Tự mình nói gọi là Ngôn và đáp lại kẻ khác gọi là Ngữ.  Ngữ là "nói với người (khác)".

 

Nói thì có phát ra Tiếng (Tiếng Nói) và có ý nghĩa (Lời Nói).

Âm = Tiếng.  Ngữ Âm = Tiếng Nói.

 

Chữ = Văn Tự = Chữ Viết.

Chữ của người Trung Hoa nhất là chữ Hán (chữ Nho, Hán Tự) xuất phát từ hình vẽ, bất cứ chữ nào truy nguyên ra thì cũng đều gắn với một hay nhiều hình vẽ nhất định mặc dù nó đã thoát ly khỏi các hình dạng ban đầu khá xa.

Chữ Hán (Hán Tự) chia ra làm 2 loại chính theo cách viết:

         Văn: gồm những chữ đơn do các nét liên kết tạo thành không có cấu trúc nội bộ xuất xứ từ một hình vẽ xưa.

         Tự: gồm những chữ ghép do phối hợp nhiều bộ phận, mỗi bộ phận khi xưa là một hình vẽ, tức là loại chữ có cấu trúc nội bộ.  Thí dụ: chữ Thu gồm có chữ Hòa và chữ Hỏa.

Như vậy theo nghĩa đen:

         Văn = Chữ; và Tự = Chữ.  

         Văn Tự = Chữ, Chữ Viết.

 

Văn Chương = văn tự hay đẹp viết thành bài. Văn Chương gồm có 2 Thể: Văn xuôi và Văn vần (= Thơ)

Từ = Lời văn.  Ngôn Từ = Lời nói (dùng trong) văn chương = Từ Ngữ.

 

Có sự phân biệt: Nước thì là (nước) Trung Quốc và Người thì là Người Trung Hoa.  

Sách xưa dùng từ ngữ "Hoa Văn" đồng nghĩa với "Chữ viết của người Trung Hoa".  Nghĩa của "Hoa Văn" rộng hơn "Hán Tự", nhưng không được thông dụng.

 

 

b) Ngôn Ngữ và Văn Tự của người Trung Hoa (nước Trung Quốc) 

 

Ngôn Ngữ của người Trung Hoa có những Ngữ Âm khác nhau.  Nó thay đổi theo thời gian của lịch sử và có khác nhau theo không gian.

 

- Theo thời gian, Ngữ Âm (Tiếng Nói) chính thức của người Trung Hoa từ khi thống nhất:

         Vào đời nhà Hán có Hán Âm.

         Vào đời nhà Tùy, Đường và Tống có Đường Âm.

         Vào đời nhà Minh, nhà Thanh và hiện đại có Quan Thoại Âm (Tiếng Quan Thoại).  

Ngày nay, chúng ta biết Quan Thoại Âm ra sao nhưng không hề nghe và biết Hán Âm và Đường Âm ra sao vì đã không được dùng từ nhiều thế kỷ trước, và chúng ta không có máy thu thanh để ghi âm lại Đường Âm và Hán Âm!

 

- Theo không gian, ngoài Ngữ Âm chính thức của người Trung Hoa dùng phổ thông cho toàn quốc (như Tiếng Quan Thoại) còn có những Ngữ Âm địa phương dùng cho tới ngày nay (mặc dù không biết từ lúc nào) thí dụ như:

         Tiếng Quảng: ngữ âm của người Trung Hoa ở vùng Lưỡng Quảng

         Tiếng Tiều: ngữ âm của người Trung Hoa ở vùng Tiều Châu

         Tiếng Phước Kiến: ngữ âm của người Trung Hoa ở vùng tỉnh Phước Kiến...

 

- Thí dụ: 

         Khi Anh Ngữ (Tiếng Anh) ngày nay nói là "one, two, three" thì với cùng một nghĩa, Tiếng Quan Thoại nói là "í, ợ, xáng" còn Tiếng Quảng nói là "dách, dì, xám".  (Và Tiếng Nôm của Việt Nam nói là "một, hai, ba").

 

Văn Tự (Chữ, Chữ Viết) của người Trung Hoa được dùng từ đời nhà Hán cho tới hiện nay (qua những triều đại Hán, Đường, Tống, Minh, Thanh) nên thường gọi là Hán Tự (Hán Văn Tự).  Hán Tự thống nhất trong cả nước Trung Quốc.  

Hiện nay có thêm Giản Thể Tự (Chữ Giản Thể), một hình thức (viết) đơn giản của Hán Tự từ năm 1949 (sau khi đảng Cộng Sản Trung Quốc nắm chính quyền). Có sách xưa gọi Hán Tự là Hoa Văn, Chữ của người Trung Hoa.

 

 

c) Ngôn Ngữ và Văn Tự của người Việt

 

* Hán Ngữ và Hán Tự

 

Tổ tiên của người Việt chúng ta là người Lạc Việt ở Miền Bắc nước Việt ngày nay từ phía bắc của đèo Hải Vân .  Người Lạc Việt bắt đầu tiếp xúc với người Trung Hoavào đời nhà Hán khi bị đô hộ trong thời Bắc Thuộc.  Người Trung Hoa đem Ngôn Ngữ và Văn Tự của Trung Hoa sang nước ta từ đó (thế kỷ thứ 2 tr CN).  Người Việt dùng Ngôn Ngữ và Văn Tự của người Trung Hoa từ đó. 

         Ngôn Ngữ của người Trung Hoa được người Việt dùng là Ngôn Ngữ trong thời nhà Hán thường được gọi là Hán Ngữ, với Ngữ Âm là Hán Âm.  

         Văn Tự của người Trung Hoa được người Việt dùng (để viết Hán Ngữ) là Hán Tự (còn được người Việt gọi là Chữ Hán hay Chữ Nho). 

 

Trong hơn 1000 năm thuộc Trung Quốc (Bắc Thuộc Thời Đại), người Việt trải qua nhiều triều đại quân chủ của Trung Quốc lúc đầu từ nhà Hán (thế kỷ thứ 2 trước CN) cho đến khi dành độc lập (thế kỷ thứ 10) thì khi đó nhà Đường vừa chấm dứt và sắp đổi sang nhà Tống.  Ngữ Âm của Ngôn Ngữ của người Trung Hoa cũng thay đổi từ Hán Âm (trong thời nhà Hán) cho đến Đường Âm (trong thời nhà Đường và nhà Tống).  Do đó khi dành được độc lập vào năm 931, người Việt đang dùng Đường Âm.  Từ đó cho đến ngày nay Hán Ngữ vẫn được người Việt dùng nhưng với một Ngữ Âm là Đường Âm. Đó là giả thuyết từ các học giả Việt Nam hiện đại.  Trong khi đó từ thời nhà Minh cho đến ngày nay, người Trung Hoa ở Trung Quốc vẫn dùng Hán Ngữ nhưng đã đổi Ngữ Âm từ Đường Âm sang Quan Thoại Âm (Tiếng Quan Thoại). 

Như vậy tuy dùng cùng Ngôn Ngữ của Trung Hoa từ thời nhà Hán (Hán Ngữ) nhưng ngày nay (sau hơn 1000 năm độc lập) Ngữ Âm của người Trung Hoa và người Việt về Hán Ngữ thì khác nhau.  Ngôn Ngữ Trung Hoa nầy vẫn được người Việt chúng ta gọi là Hán Ngữ.

Tuy là giả thuyết như trên cho rằng Ngữ Âm của Hán Ngữ mà người Việt dùng chính là Đường Âm của Ngôn Ngữ Trung Hoa nhưng cũng có giả thuyết khác (tuy ít được chấp nhận) cho rằng Ngữ Âm của người Việt nầy chỉ là Tiếng địa phương như Tiếng Quảng, Tiếng Tiều...

Vì người Việt dùng Hán Ngữ như là Ngôn Ngữ của mình nên có học giả đặt tên là Hán Việt Ngữ.  Do đó có Hán Việt từ điển và Hán Việt tự điển.

 

Trong khi đó, dưới hơn 1000 năm thuộc Trung Quốc và gần 1000 năm độc lập sau đó, người Việt vẫn dùng Hán Tự để viết Hán Ngữ (với Ngữ Âm là Đường Âm). Đến hậu bán thế kỷ 19, người Việt mới bắt đầu thay thế Hán Tự (Chữ Hán, Chữ Nho) bằng Chữ Quốc Ngữ để viết Hán Ngữ. 

 

  

* Tiếng Nôm và Chữ Nôm

 

Ngôn Ngữ bắt đầu cùng với sự bắt đầu của một dân tộc.  Tổ tiên của người Việt chúng ta cũng cósáng tạo Ngôn Ngữ riêng của mình, ta có thể gọi là "Tiếng Nôm" hay Tiếng Nam hay "Tiếng Việt Ròng".  Theo các học giả, "Nôm" là đọc trại từ "Nam" vì nước Việt ở phương Nam. Thật ra Tiếng Nôm không thể là "Tiếng Việt Ròng" vì Tiếng Nôm tuy có khác nhưng cũng có những tiếng hơi giống Hán Ngữ.  Nhiều Tiếng Nôm từa tựa Hán Ngữ, có lẽ được tổ tiên ta sáng tạo từ Hán Ngữ (hay ngược lại?).

Thí dụ: Tiếng Nôm là "mạnh" cũng đồng nghĩa với Hán Ngữ là "mãnh", phát âm gần giống nhau.

Như vậy, Tiếng Nôm là Ngôn Ngữ, mà người Việt nói, không phải là Hán Ngữ.

 

Nếu Ngôn Ngữ của người Trung Hoa có nhiều Ngữ Âm theo thời gian và không gian, Tiếng Nôm của người Việt chỉ có một Ngữ Âm.  Mặc dù có giọng Bắc, Trung, Nam hơi khác nhau nhưng người Việt ở đâu cũng hiểu Ngữ Âm của đồng bào của mình.  Dĩ nhiên Ngôn Ngữ nào cũng có vài Phương Ngữ đặc biệt ở từng địa phương.   

 

Không biết từ lúc nào người Việt mới bắt đầu tạo ra Chữ (Văn Tự) để viết Tiếng Nôm của mình.  Loại Chữ viết nầy gọi là Chữ Nôm.  Các học giả cho rằng “Nôm” là trại từ “Nam”.

Phương cách viết tượng hình của Chữ Nôm thì cùng một nguyên tắc như Chữ Hán (Chữ Nho, Hán Tự).  

Theo học giả Nguyễn Văn Tố thì 2 chữ Bố Cái viết cho Bố Cái Đại Vương Phùng Hưng (chết năm 791) trong thời Bắc Thuộc là 2 chữ Nôm xưa nhứt được tìm thấy. Bố là Cha, Cái là Mẹ; nếu là Hán Ngữ và Hán Tự thì là “Phụ Mẫu”.  Theo các học giả hiện đại, Chữ Nôm bắt đầu thành hình từ thế kỷ thứ 8 hay thứ 9 trong thời Bắc Thuộc nhà Đường vì cơ sở kỹ thuật ghi âm tiếng Nôm của người Việt trong Chữ Nôm theo Đường Âm.

Chữ Nôm được triều đình nước ta công nhận từ đời nhà Trần (vua Trần Nhân Tông) với câu chuyện “Văn đuổi cá sấu” của ông Hàn Thuyên (Nguyễn Thuyên).  

 

 

* Việt Ngữ và Việt Tự 

 

Như vậy Ngôn Ngữ và Văn Tựcủa người Việt chúng ta phong phú hơn người Trung Hoa nhiều vì ngoài HánNgữ và Hán Tự (Tiếng Hán và Chữ Hán) như của họ, chúng ta còn có thêm Tiếng Nômvà Chữ Nôm.

Nếu ta gọi chung Ngôn Ngữ của người Việt chúng ta là Việt Ngữ và Văn Tự của người Việt là Việt Tự thì:

         Việt Ngữ (Tiếng Việt) gồm có Hán Ngữ (Tiếng Hán) và Tiếng Nôm.

         Việt Tự (Chữ Việt) gồm có Hán Tự (Chữ Hán hay Chữ Nho) và Chữ Nôm. 

 

Có học giả dùng từ ngữ "Chữ Nôm"cho Chữ Việt nói chung bao gồm Chữ Hán (Hán Tự, Chữ Nho) và Chữ Nôm. Điều nầy không đúng trên thực tế.

Từ thời vua Lê Thánh Tôn có dùng từ ngữ "Quốc Âm" đồng nghĩa với "Việt Ngữ".  Điều nầy cũng không sai nhưng không hoàn toàn đúng.

Do đó tác giả vẫn dùng Việt Ngữ và Việt Tự cho chính xác.

 

Từ ngữ "Nôm" có khi được dùng như đồng nghĩa với "Việt" (trong Việt Ngữ hay Việt Tự) thí dụ như "Thơ Nôm đời Hồng Đức" hay "Hồ Xuân Hương là bà Chúa thơ Nôm".  

 

 

* Quốc Ngữ và Chữ Quốc Ngữ

 

Từ thời Pháp Thuộc có dùng từ ngữ "Quốc Ngữ" (Tiếng của quốc gia) thay thế cho "Việt Ngữ" (Tiếng Việt) và có Chữ Quốc Ngữ được áp dụng thay thế cho Hán Tự và Chữ Nôm.

 

Đến thời Pháp Thuộc (vào cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20), nước Việt ta dần dần thay thế chữ Hán (Hán Tự) và chữ Nôm bằng Chữ Quốc Ngữ để viết Quốc Ngữ (Việt Ngữ).  Chữ Quốc Ngữ là tượng thanh, “Âm sao thì viết vậy”.  Chữ Quốc Ngữ dùng cách ghép 24 mẫu tự La Tinh và 5 dấu với nhau, đó là kỹ thuật Bính Âm (pin yin).  Vì là tượng thanh nên một chữ Quốc Ngữ có thể có nhiều nghĩavì âm giống nhau, tuy nhiên Chữ Quốc Ngữ đơn giản và dễ học hơn Chữ Nho (Hán Tự) và Chữ Nôm.  

 

Như vậy ngày nay Ngôn Ngữ và Văn Tự của người Việt chúng ta là:

         Tiếng Việt (Việt Ngữ hay Quốc Ngữ hay Quốc Âm) gồm có Hán Ngữ (Tiếng Hán) và Tiếng Nôm.  

         Chữ Việt (Việt Tự) là Chữ Quốc Ngữ.  Chữ Hán và chữ Nôm không còn dùng nữa nhưng vẫn còn trong sử sách cũ.

 

Bs PHAN THƯỢNG HẢI biên soạn

_______________________________________

NĂM DẦN ĐỌC CHUYỆN CỌP


Bs Phan Thượng Hải biên soạn

Năm Dần là năm của Con Cọp (Con Hổ). Con Cọp hiện diện trong thi văn lịch sử chính trị,thành ngữ điển tích và tục ngữ cũng như trong kinh sách tôn giáo. Ngày nay, Con Cọp là giốnsắp tuyệt chủng nhưng ít người để ý đến.


Dàn bài
Thơ và Việt Sử (trang 1)
Tôn Giáo (trang 5)
Thành Ngữ Điển Tích Trung Hoa (trang 9)
Tục Ngữ và Từ Ngữ Việt (trang 13)
Thi Văn (trang 16)
Khoa Học (trang 20)

 

THƠ VÀ VIỆT SỬ


* Phạm Ngũ Lão và Bài thơ Thuật Hoài


Theo Nam Hải Dị Nhân Truyện của ông Phan Kế Bính (trích từ Vũ Trung Tùy Bút của ônPhạm Đình Hổ), trong một chuyến du hành, Hưng Đạo Vương và quân tùy tùng gặp phải ông Phạm Ngũ Lão đang ngồi vệ đường vót tre đan sọt. Lính gọi mãi thấy ông không tránh đường  nên dùng ngọn giáo đâm vào đùi. Ông Phạm Ngũ Lão cứ ngồi không động tịnh. Hưng Đạo Vương cho người vời đến hỏi thì mới biết ông là một nhân tài nên trọng dụng, dùng làm môn khách và tiến cử đến triều đình.
Ông Phạm Ngũ Lão lúc thiếu thời có làm bài thơ để tỏ chí khí:
THUẬT HOÀI
Hoành sáo giang sơn cáp kỷ thu
Tam quân tỳ hổ khí thôn ngưu (*)
Nam nhi vị liễu công danh trái
Tu thính nhân gian thuyết Vũ hầu. (*)
(Phạm Ngũ Lão)
(*) Chú thích:
Tỳ=giúp. Khí=bỏ đi, dẹp đi. Thôn=nuốt. Ngưu=trâu. “Ba quân giúp hổ nuốt đi trâu”.
Tu=cần. Thính=nghe. Thuyết=thuyết=nói rõ ra. Vũ hầu là Vũ Khanh Hầu Gia (Chư)
Cát Lượng (Khổng Minh).
Có 3 bản dịch nhưng đều không thể diễn tả hoàn toàn như bản chánh:
THUẬT HOÀI
Ngọn giáo non sông trải mấy thâu
Ba quân hùng hổ khí thôn ngưu

Công danh nếu để còn vương nợ
Luống thẹn tai nghe truyện Vũ hầu.
(Phan Kế Bính dịch)
TỎ LÒNG
Múa giáo non sông trải mấy thu
Ba quân hùng khí át sao Ngưu
Công danh nam tử còn vương nợ
Luống thẹn tai nghe chuyện Vũ hầu.
(Bùi Văn Nguyên dịch / trong Wikipedia)
THUẬT HOÀI
Múa giáo non sông trải mấy thu
Ba quân như cọp nuốt “đi” trâu
Công danh trai tráng còn vương nợ
Nhân thế cần nghe thuyết Vũ hầu.
(Phan Thượng Hải dịch)
Quân nghiệp của ông Phạm Ngũ Lão kéo dài hơn 30 năm. Ông Phạm Ngũ Lão là cánh tay mặt của ông Trần Hưng Đạo, tham dự tất cả những trận đánh trong cuộc kháng Nguyên lần thứ 2 và thứ 3 (trừ trận Hàm Tử và trận Bạch Đằng Giang). Sau nầy ông còn 3 lần đánh Ai Lao (1294, 1297, 1301) và 2 lần đánh Chiêm Thành (1312, 1318).
Ông Phạm Ngũ Lão là bạn thân của Hưng Hiển Vương Trần Quốc Uất (con út của ông Trần Hưng Đạo).
Chính ông Phạm Ngũ Lão là vị tướng cuối cùng đuổi quân Nguyên về Tàu luôn không trở lại (trong lần Kháng Nguyên thứ 3).


Việt Nam Sử Lược viết:


Sau khi nghe tin bị thua ở trận Bạch Đằng, Thoát Hoan từ Vạn Kiếp theo đường bộ chạyvề ải Nội Bàng bị Phạm Ngũ Lão và phó tướng là Nguyễn Chế Nghĩa phục binh đổ ra đánh.
Phạm Ngũ Lão chém chết Trương Quân. Thoát Hoan chạy thoát ra khỏi cửa ải, quân chết hết 5, 6 phần. Quân nhà Trần đuổi theo từ ải Nữ Nhi tới núi Kỳ Cấp và phục binh bắn chết A Bát Xích và Trương Ngọc. Trìng Bằng Phi hết sức giữ gìn Thoát Hoan theo đường tắt chạy thoát được về châu Tư Minh (Quảng Tây).

* Thơ Xướng Họa của Tôn Thọ Tường, Phan Văn Trị và Bùi Hữu Nghĩa


Sau khi Pháp chiếm Nam Kỳ, ông Tôn Thọ Tường ra làm việc với Pháp. Các ông Phan Văn Trị và Bùi Hữu Nghĩa chống Pháp và chống lại ông Tôn Thọ Tường qua những bài xướng họa:


GIANG SƠN BA TỈNH (Xướng)
Giang nam ba tỉnh hãy còn đây
Trời đất xui chi đến nỗi này?
Chớp nhoáng thẳng bon dây thép kéo
Mây tuôn đẹn kịt khói tàu bay

Xăng văng thầm tính, thương đôi chỗ
Khấp khởi riêng lo, biết những ngày
Miệng cọp hàm rồng chưa dễ chọc
Khuyên đàn con trẻ chớ thày lay!
(Tôn Thọ Tường)


GIANG SƠN BA TỈNH (Họa)
Hơn thua chưa quyết đó cùng đây
Chẳng đã, nên ta phải thế này
Bến Nghé quản bao cơn lửa cháy
Cồn Rồng dầu mặc muội tro bay
Nuôi muông giết thỏ còn chờ thuở
Bủa lưới săn nai cũng có ngày
Đừng mượn hơi hùm rung nhát khỉ
Lòng ta sắt đá há lung lay!
(Phan Văn Trị)


THỜI CUỘC (Họa)
Anh hùng sáu tỉnh thiếu chi đây,
Đâu để giang sơn đến thế này.
Ngọn lửa Tam Tần phừng đất cháy,
Chòm mây Ngũ quý lấp trời bay.
Hùm nương non rậm toan chờ thuở,
Cáo loạn vườn hoang thác có ngày.
Một góc cảm thương dân nước lửa,
Đền Nam trụ cả dễ lung lay!
(Bùi Hữu Nghĩa)


(*) Chú thích: Thời Tam Tần và thời Ngũ Quý là những thời kỳ loạn lạc ở Trung Quốc. Thời Tam Tần: sau khi nhà Tần mất, lãnh thổ bị chia ra làm 3 nước gọi là Tam Tần.
Thời Ngũ Quý hay Ngũ Đại: sau khi nhà Đường mất cho đến khi nhà Tống thành lập, Trung Quốc trải qua 5 triều đại ở trung ương (Ngũ Đại) và ở địa phương có 16 nước (Thập lục quốc).
Từ những bài thơ họa của 2 ông Phan Văn Trị và Bùi Hữu Nghĩa, phong trào Cần Vương Kháng Pháp bắt đầu ở Nam Kỳ.
Ông Bùi Hữu Nghĩa còn làm bài thơ gửi bạn mình là ông Tôn Thọ Tường.


THÀ GẶP CỌP CÒN HƠN GẶP BẠN
Kết lũ năm ba bạn cặp kè
Duyên đâu giải cấu khéo thè be
Đã bưng bít mặt cùng trời đất
Sao hổ hang lòng với ngựa xe
Trẻ lẩn thẩn dạo qua dặm liễu
Già lơ thơ ở dưới cây hoè
Không chào cũng ngỡ, chào càng ngỡ

Hùm ở non cao há chẳng thè.
(Bùi Hữu Nghĩa)
(*) Chú thích: Giải cấu = gặp gỡ. Chẳng thè = e dè, chẳng nỡ làm thái quá.

* Hoàng Hoa Thám và thơ của Phan Bội Châu
Ông Hoàng Hoa Thám (1836-1913) nguyên tên là Trương Văn Thám còn gọi là Đề Thám. Ôngtheo Cai Kinh (Hoàng Đình Kinh) chống Pháp (1882-1888) từ trước phong trào Cần Vương. Kế đến ông theo Đề Nắm (Lương Văn Nắm) chống Pháp ở vùng Yên Thế. Khi Đề Nắm chết, ông Đề Thám trở thành lãnh tụ kháng chiến ở Yên Thế (1892-1913). Ông có hàng Pháp 2 lần rồi lại đánh Pháp. Cuối cùng ông thế cô phải trốn tránh trong rừng núi Yên Thế không theo lời dụ hàngcủa Lê Hoan (1909).
Cái chết của ông Đề Thám còn là một bí mật. Có thuyết cho rằng Pháp cho người trá hàng rồi ám sát ông.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

(Ông Hoàng Hoa Thám)

 

Ông Phan Bội Châu khi làm cách mạng bên Tàu có viết về cuộc đời của ông với tựa đề là Chân Tướng Quân. Hai ông nầy có gặp nhau ở Yên Thế trước khi ông Phan Bội Châu phát động phong trào Đông Du.
Đây là bài thơ của ông Phan Bội Châu khóc ông Hoàng Hoa Thám (Chân Tướng Quân):


KHỐC CHÂN TƯỚNG QUÂN                                KHÓC CHÂN TƯỚNG QUÂN
Dị chủng sài lang mãn địa tinh                           Sói lang giống khác tanh lợn đất
Độc thương chích thủ dữ cừu tranh                   Đấu với quân thù cánh tay đơn
Trấp niên thương kiếm sơn hà khí                     Gươm mấy chục năm hồn sông núi

Bách chiến phong vân phụ tử binh                     Gió bao trăm trận lính cha con
Quốc thế dĩ trần quân thượng phấn                   Nước dù chìm đắm lòng không nhụt
Tướng đầu vị đoạn giặc do kinh                         Đầu vẫn chưa rơi giặc hoảng hồn
Anh hùng bản sắc chung năng hiện                    Đến chết mới hay người tuấn kiệt
Vạn lý thời văn hổ khiếu thanh.                          Thẳm xa tiếng hổ vọng sông non.
(Phan Bội Châu)                                                (Kiều Văn dịch)


Từ bài thơ của ông Phan Bội Châu, ông Hoàng Hoa Thám có biệt danh là Hùm Thiêng YênThế.
Phong trào Cần Vương ở Bắc Trung Kỳ từ 1885 đến 1913 kéo dài 29 năm. Phong trào Kháng Pháp Cần Vương toàn quốc từ ông Trương Công Định (1859) cho đến ông Hoàng Hoa Thám (1913) kéo dài tất cả 55 năm.
Vì thương bạn là ông Phan Khôi trong vụ Nhân Văn Giai Phẩm ở ngoài Bắc, ông Vũ Hoàng Chương có làm bài thơ tặng dưới đây bằng tiếng Hán Việt rồi tự mình dịch ra tiếng Việt. Hai câu cuối cũng có âm hưởng như bài thơ của ông Phan Bội Châu.


LOẠN TRUNG HỮU BIỆT                                     TRONG THỜI LOẠN XA BẠN
Đối diện tằng xưng thiên cãi văn                        Từng khen tuyệt tác ấy văn trời
Kim chiêu biệt hỹ, bút ưng phần!                        Tạm biệt từ đây bẻ bút thôi
Đông tây mộng quải tam canh nguyệt                 Giấc mộng đông tây vầng nguyệt lửng
Nam bắc tình khiên vạn lý vân                           Tơ tình nam bắc đám mây trôi
Trọc tửu vô đăng sầu bất ngữ                            Tỉnh say một cuộc đành không bạn
Hoàng sam thanh nhãn ý hà vân?                       Hào hiệp ngàn xưa dễ mấy người
Thu phong sạ khởi tiêu hồn cực                         Chợt nổi gió thu lòng héo hắt
Hổ khiếu viên đề hoảng hốt văn.                        Đâu đây hổ thét vượn than dài.
(Vũ Hoàng Chương)                                          (Vũ Hoàng Chương tự dịch)

 

TÔN GIÁO
 

* Chuyện Hoàng tử Sattva trong Bản Sinh Kinh của Phật Giáo
Hoàng tử Sattva là một trong những hóa thân trong 1 trong những kiếp trước của Phật Thích Ca.
Con của vua Maharatha, hoàng tử Sattva thành một ẩn tu (ascetic) và có vài đệ tử. Một hôm đang đi trên sườn núi với những đệ tử, Sattva thấy ở dưới đáy thung lũng có một con cọp mẹ đói sắp muốn ăn thịt con mới sinh của mình. Sattva biểu các đệ tử đi tìm thức ăn cho con cọp. Khi các đệ tử đi xa rồi, Sattva gieo mình nhẩy xuống thung lũng cho chết. Con cọp liền ăn thịt xác của Sattva. Khi các đệ tử trở lại liền ca ngợi nghĩa cử rộng lượng (generosity), từ bỏ (renunciation), đạo đức (morality), quả cảm (resolution), và bình tỉnh (equanimity) của Sattva. Liền đó có mưa hoa sen từ trên trời rơi xuống và Hoàng tử Sattva sống lại.
Theo Sư Huyền Trang trong Đại Đường Tây Vực Ký, có 4 stupas ở miền bắc Ắn Độ dựng nênghi nhớ câu chuyện nầy.


* Chuyện Trang tử và câu Họa hổ họa bì nan họa cốt của Đạo Giáo

Trang Tử tên Chu tự Tử Hưu biệt hiệu là Tất Viên vì làm Thơ lại ở Tất Viên. Người Mông ấp thuộc nước Tống. Học trò của Lý Nhĩ tên tự là Bá Dương, bạc đầu từ lúc nhỏ nên được gọi là Lão Tử.
Trang Tử nằm mộng thấy mình hóa ra con bướm (hồ điệp). Lão Tử giải thích rằng: Thuở Trời Đất mới sinh có 1 con bướm trắng cánh lớn là vật đầu tiên được hưởng ánh sáng của mặt Trời và mặt Trăng và hương nhụy của hoa thơm, có thể được trường sinh bất tử. Một hôm bướm ấy bay lượn ở Dao Trì của Tây Vương Mẫu và hút hết nhụy hoa bàn đào của Tây Vương Mẫu nên bị phạt mà phải thác sinh. Bướm ấy là nguyên hình của nhà ngươi (Trang Tử) đó.
Trang Tử cùng người vợ thứ ba là Điền thị sống ở núi Nam Hoa.
Một hôm Trang Tử thấy 1 góa phụ quạt mồ cho khô vì người chồng trước khi chết cho phép bà được tái giá nếu mồ khô hẳn.
Trang Tử chán ngán và có làm bài thơ:
Bất thị oan gia bất tụ đầu
Oan gia tương tựu kỷ thời hưu
Tảo tri tử hậu vô tình nghĩa
Tựu bả sinh tiền ân ái câu
(Dịch)
Chẳng nợ nần nhau chẳng sánh đôi
Nợ nần dan díu biết bao thôi?
Ví hay mình thác người đem bạc
Lúc sống, tơ duyên đã rứt rồi.
Điền thị nghe Trang Tử kể chuyện thì giận người góa phụ (bạc nghĩa).
Trang Tử làm thêm:
Sinh tiền cá cá thuyết ân ái
Tử hậu nhân nhân dục phiến phần
Họa hổ họa bì nan họa cốt
Tri nhân tri diện bất tri tâm.
(Dịch)
Khi còn, những kể niềm yêu dấu
Lúc thác, thương chăm việc quạt mồ
Vẽ hổ vẽ da xương khó thấy
Biết người biết mặt dạ khôn dò.
Điền thị thề nguyền không tái giá sau khi chồng chết.
Vài tháng sau Trang Tử đau nặng và Điền thị thề nguyền ở vậy suốt đời.


Trang Tử chết thì Điền thị lại mê và tái giá với một chàng trẻ tuổi (tới xin theo học với Trang Tử). Chàng trẻ tuổi nầy đau nặng và theo lời khuyên thì bệnh chỉ chữa hết nếu có phương thuốclà óc của người sống hay chết không quá 50 ngày uống hòa với rượu. Điền thị liền dở hòm của Trang Tử để lấy óc. Khi đó Trang Tử sống lại và chàng trẻ tuổi biến mất vì (chàng) nầy chỉ là phép của Trang Tử để thử vợ mà thôi. Trang Tử làm bài thơ:
Tòng tiền liễu khước oan gia trái
Nhĩ ái chi thời ngã bất ái
Nhược kim dữ nhĩ tố phu thê
Phạ nhĩ phủ thế thiên linh cái.
(Dịch)
Giũ sạch từ nay duyên với nợ
Yêu ta, ta cũng không yêu nữa
Ví cùng sum họp lại như xưa
E nỗi đập săng lòng giáo giở?
Lại thêm:
Phu thê bách nhật hữu hà ân
Kiến liễu tân nhân vong cựu nhân
Phủ đắc cái quan tào phủ thế
Như tha đẳng đắc phiến can phần.
(Dịch)
Ái ân, thôi cũng chuyện trăm ngày
Có mới vội vàng nới cũ ngay
Vừa đậy quan tài đà bổ nắp
Bên mồ lọ phải quạt luôn tay.
Điền thị hổ thẹn mà thắt cổ chết. Trang Tử mai táng chu đáo. Rồi gõ chậu sành mà hát:
Thê tử ngã tất mai
Ngã tử thê tất giá
Điền thị tha nhân canh
Mã thị tha nhân khóa
Ngã nhược chân tử thì
Nhất trường đại tiếu thoại.
(Dịch)
Vợ chết mình phải chôn
Mình chết vợ cải giá
Ruộng mình người cày liền
Ngựa mình người chiếm cả
Mình ví thực chết rồi
Nực cười lắm truyện lạ.
Hát xong đập tan cái chậu sành rồi biệt tích. Người nói theo Lão Tử mà thành tiên. Đó là chuyện Trang tử gổ bồn ca.

Tục ngữ Việt cũng có câu: Họa hổ họa bì nan họa cốt.

* Sao Vĩ Hỏa Hổ trong Nhị Thập Bát Tú của Đạo Giáo
Theo Đạo Giáo có 24 vị sao chánh lấy tên theo con vật. Sao Vĩ Hỏa Hổ lấy tên theo con Cọp (Hổ). Thiên văn học Tây Phương cũng có tên của những hành tinh giống như vậy. Sao Vĩ Hỏa  Hổ là hành tinh Scorpius.
Giác Mộc Giao: sao Giác (Spica). Giao=Cá Sấu
Càng Kim Long: sao Càng (Virgo). Long=con Rồng
Đê Thổ Lạc: sao Đê (Libra). Lạc=con Lạc Đà
Phòng Nhật Thố: sao Phòng (Libra). Thố=con Thỏ
Tâm Nguyệt Hồ: sao Hồ (Antares). Hồ=con Chồn Cáo
Vĩ Hỏa Hổ: sao Vĩ (Scorpius). Hổ=con Cọp
Cơ Thủy Báo: sao Cơ (Sagittarius). Báo=con Beo
Đẩu Mộc Giải: sao Đẩu (Sagittarius). Giải=con Cua
Ngưu Kim Ngưu: sao Ngưu (Capricormus). Ngưu=con Trâu
Nữ Thổ Bức: sao Nữ (Aquarius). Bức=con Dơi
Hư Nhật Thử: sao Hư (Aquarius). Thử=con Chuột
Nguy Nguyệt Yến: sao Nguy (Aquarius/Pegasus). Yến=con Én (Nhạn)
Thất Hỏa Trư: sao Thất (Pegasus). Trư=con Heo
Bích Thủy Dư: sao Bích (Algenib). Dư=con Cừu (Trừu)
Khuê Mộc Lang: sao Khuê (Andromeda). Lang=con Chó Sói xám
Lâu Kim Cẩu: sao Lâu (Aries). Cẩu=con Chó
Vị Thổ Trĩ: sao Vị (Aries). Trĩ=con Chim Trĩ
Mão Nhật Kê: sao Mão (Pleiades). Kê=con Gà
Tất Nguyệt Ô: sao Tất (Taurus). Ô=con Quạ
Chủy Hỏa Hầu: sao Chủy (Orion). Hầu=con Khỉ
Sâm Thủy Viên: sao Sâm (Orion). Viên=con Vượn
Tỉnh Mộc Hãn (Ngạn): sao Tỉnh (Gemini). Hãn=con Bò
Quỷ Kim Dương: sao Quỷ (Cancer). Dương=con Dê
Liễu Thổ Chương: sao Liễu (Hydra). Chương=con Cheo (=Mouse-Deer)
Tinh Nhật Mã: sao Tinh (Alphard). Mã=con Ngựa
Trương Nguyệt Lộc: sao Trương (Crater). Lộc=con Hưu/Nai
Dực Hỏa Xà: sao Dực (Corvus). Xà=con Rắn
Chẩn Thủy Dẫn: sao Chẩn (Corvus). Dẫn=con Giun/Trùng

* Câu "Bạo Hổ Bằng Hà" trong Luận Ngữ của Nho Giáo
Luận Ngữ là 1 trong Tứ Thư của Nho Giáo. Đây là câu nói nổi tiếng của Khổng tử trong Luận Ngữ.
Luận Ngữ 7.10:

Tử vị Nhan Uyên viết: Dụng chi tắc hành, xả chi tắc tàng, duy ngã dữ hữu thị phù!
Tử Lộ viết: Tử hành tam quân, tắc thùy dư?
Tử viết: Bạo hổ bằng hà, tử nhi vô hối giả, ngô bất dữ dã. Tất dã lâm sự nhi cụ, hiếu mưu nhi thành giả dã.
(Dịch)
Khổng Tử nói với Nhan Uyên: Nếu có ai dùng mình thì mình đem đạo ra thi hành, bằng không dùng mình thì mình ở ẩn với đạo; chỉ có ta với anh là làm được như vậy thôi.
Tử Lộ hỏi: Nếu Thầy thống lĩnh ba quân, thì Thầy chọn ai giúp?
Khổng Tử đáp: "Bắt cọp mà dùng tay không, qua sông mà không dùng thuyền, chết mà không biết tiếc thân, ta không cho kẻ ấy theo giúp ta. Ta chọn kẻ nào vào việc mà biết lo sợ dè dặt, thích lập mưu tính kế để thành công.
Câu nói bạo hổ bằng hà ám chỉ người vũ dũng nhưng vô mưu. Tử Lộ sau nầy chết ở nước Vệ vì cái dũng khí của ông vì không theo lời khuyên của Khổng tử.

THÀNH NGỮ ĐIỂN TÍCH TRUNG HOA
* Tam nhân thành hổ = Ba người nói, thành có hổ thật.
Nguyên văn: Phù thị chi vô hổ minh hĩ, nhiên nhi tam nhân ngôn nhi thành hổ = Rõ ràng là ở chợ không có cọp, thế nhưng có 3 người quả quyết thì sẽ thành có cọp. Xuất xứ từ trong phần Ngụy Sách Nhị của Chiến Quốc Sách.
Điển tích:
Trong thời Chiến Quốc, vua nước Ngụy cho con trai của mình sang nước Triệu để làm con tin và cho một đại thần thân tín tên là Sủng Hốt theo phò con mình. Sủng Hốt lo sợ là khi ông và công tử con vua Ngụy sang nước Triệu thì tại nước Ngụy có người gièm pha nói xấu mình. Sủng Hốt mới nói với vua nước Ngụy rằng:
Tâu đại vương, nếu có người báo với đại vương rằng có con cọp đi vào chợ của Đại Lương (kinh đô của nước Ngụy) thì đại vương có tin không?
Vua nước Ngụy đáp ngay không cần suy nghĩ:
Ta không tin được, con cọp làm sao vào chợ ở Đại Lương được.
Sủng Hốt lại hỏi:
Nhưng có người thứ hai cũng bảo với đại vương như vậy, đại vương có tin không?
Vua nước Ngụy suy nghĩ một chút rồi đáp:
Hai người đều nói như nhau, ta có phần nửa tin nửa ngờ.
Sủng Hốt lại hỏi:
Ngay lúc ấy lại có người thứ ba đến nói với đại vương là có con cọp ở tại chợ Đại Lương, đại vương có tin chăng?
Vua nước Ngụy đáp ngay:
Ba người đều nói như thế, chắc ta phải tin thôi.
Sủng Hốt liền nói:

Rõ ràng là ở chợ không có cọp, thế nhưng có 3 người quả quyết như vậy với đại vương thì đại vương tin là có thật. Nay thần theo hầu công tử sang nước Triệu, cách xa nước Ngụy thì nhất định sẽ có nhiều hơn 3 người nói xấu sau lưng về thần và công tử; mong đại vương hãy xét kỹ.
Sau khi công tử của nước Ngụy và Sủng Hốt sang nước Triệu làm con tin thì có rất nhiều ngườinói xấu gièm pha về họ và vua nước Ngụy dần dần cũng tin theo. Khi hết thời hạn làm con tinvà trở về nước Ngụy, cả hai đều không được trọng dụng nữa.

* Hồ giả hổ uy = Cáo giả oai cọp
Xuất xứ từ Chiến Quốc Sách
Điển tích:
Sở Hoàn Vương ngạc nhiên khi thấy người phương Bắc (của Trung Quốc) đều sợ tướng Chiêu Hề Tuất. Một quan đại thần của Sở Hoàn Vương là Giang Ất kể chuyện: Tại một khu rừng kia có một con cọp bắt được con cáo. Con cáo tức thì làm bộ dọa con cọp rằng nó là sứ giả do Trờisai xuống để thống trị muôn loài thú, nếu cọp xâm phạm đến nó thì sẽ bị Trời trừng phạt; nếucọp không tin thì hãy đi theo nó để xem muôn loài thú sợ hãi nó thế nào. Con cọp bằng lòng đi theo con cáo. Quả nhiên suốt đường đi, muôn loài thú thấy bóng dáng con cáo thì sợ bỏ chạy hết. Con cọp đâu biết là con cáo mượn oai của cọp nên muôn loài thú mới sợ chứ đâu có sợ con cáo. Nay binh quyền của nhà vua trao cả cho Chiều Hề Tuất, người phương Bắc sợ hãi là sợ binh lực của nhà vua chứ đâu có sợ Chiêu Hề Tuất.
Người Việt thường có câu thành ngữ: Cáo mượn oai hùm.

* Bất nhập hổ huyệt, nan đắt hồ tử = Không vào hang cọp, không bắt được cọp con.
Xuất xứ trong Ban Siêu truyện của Hậu Hán Thư
Điển Tích:
Danh tướng Ban Siêu đã đi đánh người Hung Nô ở phương Bắc của Trung Quốc thời nhà Hán và đã chiến thắng trở về. Ban Siêu lại được sai đi sử các nước ở vùng Tây Vực (phương Tây của Trung Quốc). Khi đến nước Thiện Thiện ở đây, phái đoàn sứ giả gồm Ban Siêu (chánh sứ), Quách Tuấn (phó sứ) và 36 người tướng sĩ tùy tùng được vua nước Thiện Thiện tiếp đón niềm nỡ. Nhưng đột nhiên ngay sau đó sự đón tiếp thành ra lạnh nhạt. Ban Siêu cho người thám thính thì biết là nước Hung Nô cũng sai sứ giả sang nước Thiện Thiện và vua nước nầy bắt đầu muốn theo Hung Nô và lạnh nhạt với Trung Quốc (và có thể bắt đoàn sứ giả Trung Quốc giao cho Hung Nô). Ban Siêu họp 36 người tướng sĩ bàn định tấn công doanh trại của sứ đoàn Hung Nô
nhưng không cho Quách Tuấn biết (vì Quách Tuấn là văn quan có thể sợ sệt mà tiếc lộ cơ mưu).
Ban Siêu nói trong buổi hợp rằng:
Không vào hang cọp, không bắt được cọp con; không mạo hiểm không thế nào thành công. Kế hoạch trước mắt là tiêu diệt đoàn sứ giả Hung Nô như vậy cắt đứt ý định đầu hàng Hung Nô của vua Thiện Thiện và nhà vua sẽ thần phục nhà Hán của Trung Quốc. 
Tướng sĩ đồng ý với ông. Ngay đêm đó Ban Siêu và 36 tướng sĩ tấn công doanh trại Hung Nô và giết chết sứ đoàn Hung Nô. Nhờ đó sứ mạng của Ban Siêu thành công, vua nước Thiện Thiện xin thần phục Trung Quốc vànhà Hán.
Tục ngữ Việt có câu: Bất nhập hổ huyệt, yên đắc hổ tử.

* Họa hổ loại khuyển = Vẽ cọp giống chó.
Nguyên văn: Hiệu Quý Lương bất đắc, hãm vi thiên hạ khinh bạc tử, sở vị họa hổ bất thành phảnloại cẩu giả dã = Bắt chước Quý Lương không xong lại trở thành sự khinh bạc trong thiên hạ, đógọi là vẽ cọp không thành mà ngược lại chỉ giống chó vậy.
Xuất xứ trong Mã Viện truyện của Hậu Hán Thư.
Điển tích
Mã Viện thời Đông Hán ở Trung Quốc có 2 người cháu là Mã Nghiêm và Mã Đôn tánh hay giao thiệp. Mã Viện muốn 2 người cháu nên giao thiệp và học với Long Bá Cao vì ông nầy là ngườitốt, cẩn trọng và khiêm nhường. Ông không muốn Mã Nghiêm và Mã Đôn giao thiệp và học với Đỗ Quý Lương. Đỗ Quý Lương là người hào hiệp nghĩa khí nhưng nếu (2 người cháu) bắtchước không khéo thì dễ trở thành loại người ngông cuồng dại dột đễ bị thiên hạ khinh bạc. Mã Viện mới viết thơ cho 2 người cháu và trong bức thơ có câu nầy: "Bắt chước Quý Lương khôngxong lại trở thành sự khinh bạc trong thiên hạ, đó gọi là vẽ cọp không thành mà ngược lại chỉgiống chó vậy"
Từ điển tích nầy có câu: Họa hổ thành khuyển = Vẽ cọp thành ra chó.
Tục ngữ Việt cũng có câu: Vẽ hùm thêm cánh. hay Vẽ hùm thêm cánh, vẽ rắn thêm chân.
* Túng hổ quy sơn = Thả cọp về núi
Nguyên văn: (Trình Dục viết:) Tích Lưu Bị vi Dự Châu mục thời, mỗ đẳng thỉnh sát chi, Thừa tướng bất thính, kim nhật hựu dữ chi binh, thử phóng long nhập hải, túng hổ quy sơn dã = (Trình Dục nói:) Xưa khi Lưu Bị làm Dự Châu mục tôi đã xin giết (hắn) đi, Thừa tướng không chịu nghe, nay lại cấp binh mã cho (hắn), chẳng khác nào thả rồng vào biển thả hổ về núi đó vậy.
Xuất xứ từ Tam Quốc Chí truyện.
Điển tích:
Lưu Bị trấn ở Từ Châu bị thua Lữ Bố đành phải tạm thời theo Tào Tháo về ở kinh đô Hứa Xương (thuộc Dự Châu). Khi hay tin Viên Thuật sẽ hội binh với anh là Viên Thiệu thì Lưu Bị xin Tào Tháo đem binh ra chận đánh Viên Thuật. Tào Tháo nghe lời cho Lưu Bị đem 5000 quân cùng với 2 tướng thân tín của mình là Châu Linh và Lộ Chiêu đi đánh Viên Thuật. Quan Công và Trương Phi hỏi Lưu Bị: Lần nầy anh xuất chinh tại sao lại gấp như vậy. Lưu Bị trả lời: Tanhư chim trong lồng như cá trong chậu, lần đi nầy như cá được vào biển rộng như chim được baylên trời cao.

Lưu Bị rời Hứa Xương rồi, mưu sĩ của Tào Tháo là Trình Dục và Quách Gia mới trở về nghechuyện liền đến nói với Tào Tháo.
Trình Dục hỏi:
Sao Thừa tướng lại cho Lưu Bị có quân đội và đi ra khỏi Hứa Xương.
Tào Tháo đáp:
Để y đi đánh Viên Thuật.
Trình Dục nói:Xưa khi Lưu Bị làm Dự Châu mục tôi đã xin giết (hắn) đi, Thừa tướng không chịu nghe,nay lại cấp binh mã cho (hắn), chẳng khác nào thả rồng vào biển thả hổ về núi đó vậy. Sau nầy không thể khống chế y được nữa.
Quách Gia cũng đồng ý.
Từ chuyến đi nầy, Lưu Bị như chim bay lên trời như cá vào biển hoàn toàn độc lập và trở thành đối thủ của Tào Tháo.
Tục ngữ Việt cũng có câu: Thả hổ về rừng.

* Kỵ hổ nan hạ = Cỡi cọp khó xuống
Nguyên văn: Kim chi sự thế nghĩa vô toàn chủng, thí như kỵ hổ, an khả trung hạ tai = Tình thế sự việc hiện nay có nghĩa là không xoay chuyển, như cỡi lưng cọp, làm sao xuống giữa chừng được.
Xuất xứ trong phần "Tấn Võ Đế Hàm Hòa Tam Niên" của sách Tư Trị Thông Giám (Tư Mã Quang).
Điển tích
Đào Khản đem quân tiếp viện Du Lượng và Ôn Kiều phò vua Tấn Thành Đế của nhà Đông Tấn chống lại loạn quân của Tô Tuấn và Tổ Ước. Quân Tấn hết lương, Đào Khản muốn bỏ đi. Ôn Kiều mới can và nói với Đào Khản rằng:  Thiên tử bị vây khốn, quốc gia nguy cấp. Tình thế ngày nay có nghĩa là không xoay chuyển được, như cỡi lưng cọp, làm sao xuống giữa chừng đươc. Chúng ta cùng dấy binh cần vương mà ông đòi bỏ đi tất sẽ làm lay chuyển lòng quân và làm hỏng việc lớn cứu nước. Nay ta sẽ cho tất cả nghĩa quân dưới quyền chỉ huy của ông. Đào Khản nghe theo nên ở lại chỉ huy quân đội đánh bại loạn quân của Tô Tuấn và Tổ Ước và
khôi phục Tấn Thành Đế và nhà Tấn.
Tục ngữ Việt có câu: Cầm gươm đằng lưỡi, cưỡi hổ đằng đầu.

* Nhất cử tất hữu song hổ = Một lần đâm chắc chắn được 2 con cọp
(Chuyện Biện Trang đâm cọp)
Nguyên văn: Biện Trang tử dục thích hổ, quán kiên tử chỉ chi, viết: "Lưỡng hổ phương thả thực ngưu, thực cam tất tranh, tranh tắc tất đấu, đấu tất đại giả thương, tiểu giả tử; tòng thương nhi thích chi, nhất cử tất hữu song hổ chi danh" = Biện Trang tử muốn giết cọp, tên ở quán trọ can 
rằng: "Hai con cọp ấy đang tranh ăn thịt con trâu, ăn no rồi chúng sẽ tranh giành ắt sẽ đánh nhau,đánh nhau ắt con lớn thì bị thương, con nhỏ thì chết; lúc ấy ông sẽ đâm (chết) con bị thương chắc chắn sẽ nổi danh vì một lần giết cả 2 con cọp"
Xuất xứ từ trong phần Trương Nghi Liệt Truyện của sách Sử Ký (của Tư Mã Thiên).
Điển tích:
Trần Chẩn theo phò vua Tần (Tần Huệ Vương). Tần Huệ Vương đem việc 2 nước Hàn và Ngụy đánh nhau và hỏi Trần Chẩn phải làm thế nào.
Trần Chẩn kể chuyện Biện Trang đâm cọp để làm thí dụ cho mưu kế của mình:
Biện Trang tử nghỉ ở lữ điếm ở bìa rừng thấy 2 con cọp đang giằng xé ăn thịt một con trâu.
Biện Trang tử muốn giết cọp, tên ở quán trọ can rằng: "Hai con cọp ấy đang tranh ăn thịt con trâu, ăn no rồi chúng sẽ tranh giành ắt sẽ đánh nhau, đánh nhau ắt con lớn thì bị thương, con nhỏ thì chết; lúc ấy ông sẽ đâm (chết) con bị thương chắc chắn sẽ nổi danh vì một lần giết cả 2 con cọp".
Biện Trang tử nghe lời, tạm thời chờ đợi. Quả nhiên, hai con cọp sau khi ăn xong lại quay sang đánh nhau. Con nhỏ hơn bị cắn chết còn con lớn cũng bị thương nặng. Lúc ấy Biện Trang tử mới xông đến đâm chết con cọp bị thương nầy. Ông được nổi tiếng là một lần mà giết được 2 con cọp.
Sau khi kể câu chuyện Biện Trang đâm cọp nầy, Trần Chẩn mới nói với vua nước Tần:
Nay nước Hàn và Ngụy đang đánh nhau cũng như 2 con cọp kia vậy, sẽ có một chết một bị thương. Nếu đại vương đợi đến lúc đó thì sẽ diệt được cả hai nước.
Và quả nhiên chuyện có thực xảy ra cho nước Hàn và nước Ngụy và 2 nước bị nước Tần chiếm.
Từ điển tích nầy cũng có câu: Lưỡng bại câu thương = Cả hai thất bại đều bị tổn thương.

* Dưỡng hổ di họa = Nuôi cọp (là) để lại họa.
Nguyên văn: Dưỡng hổ tự di họa = Nuôi cọp (là) tự để lại họa cho mình.
Xuất xứ từ trong phần Hạng Võ bản kỷ của Sử Ký (của Tư Mã Thiên)
Điển tích
Lưu Bang và Hạng Võ nghị hòa lấy Hồng Câu làm ranh giới: Hạng Võ rút quân về phương đông và Lưu Bang rút quân về phương tây, không đánh nhau nữa.
Ngay sau đó Trương Lương và Trần Bình khuyên Lưu Bang nên tiếp tục đánh Hạng Võ, vì nếu nuôi cọp là tự để lại hậu họa về sau.
Lưu Bang nghe lời, lại đánh Hạng Võ. Hạng Võ thua chạy và tự tử ở bến Ô giang. Lưu Bang lập nên nhà Hán.
Người Việt có câu thành ngữ: Nuôi cọp trong nhà.

 

TỤC NGỮ và TỪ NGỮ VIỆT
* Tục Ngữ về Con Cọp
(Cọp = Hổ = Hùm = Kễnh = Khái = Ông Cả, Ông Ba mươi)
Con Cọp
*
Ăn như hùm đổ đó.
(Hùm là con hổ, con cọp; khi đói thường hay ra chỗ dòng nước chảy, đổ Đó trộm của người đơm Đó mà ăn một cách hấp tấp. Đó = đồ đan bằng tre nứa, dùng để bắt cá. Ý nói: ăn mau và ăn khoẻ)
Bắt cọp thời dễ, tha cọp thời khó.
Bất nhập hổ huyệt, yên đắc hổ tử.
(= Không vào hang cọp thì không yên được hổ con)
Cầm gươm đằng lưỡi, cưỡi hổ đằng đầu.
Cọp (Hổ) chết để da, người ta chết để tiếng. - Cọp (Hổ) chết vì da, người ta chết vì tiếng.
Hổ cậy rừng, rừng cậy hổ. - Cây đa cậy thần, thần cậy cây đa.
Đưa thịt vào miệng hùm. (= Đút chuối vào miệng voi)
Họa hổ họa bì, nan họa cốt.
(= Vẽ hổ, vẽ da, không thể vẽ được xương cọp. Từ câu Hán ngữ: Họa hổ họa bì nan họa cốt, tri nhân tri diện bất tri tâm)
Hổ phụ, sinh hổ tử.
Hùm dữ, chẳng nỡ ăn thịt con. - Hổ, chẳng ăn thịt con.
Hùm giết người hùm ngủ; người giết người thức đủ năm canh.
Hùm tha, ma bắt.
Miệng hùm, gan sứa.
(Gan sứa ám chỉ nhút nhát run sợ trong lòng)
Quân vô tướng, như hổ vô đầu.
Thả hổ, về rừng.

Tránh hùm, mắc hổ. - Tránh ông cả, ngã phải ông ba mươi.
(Ông Cả và ông Ba mươi được dùng để ám chỉ Cọp với sự kinh hãi)
Vuốt râu hùm, xỉa răng cọp.
*
Tuổi Dần, siêng mần không có ăn.

Con Cọp và những con Giáp khác
*
Hùm mất hưu, như mèo mất thịt.
Mèo tha miếng thịt xôn xao; kễnh tha con lợn thì nào thấy chi.
(Kễnh = hổ, cọp, theo cách gọi có tính cách kinh sợ)
Nam thực như hổ, nữ thực như miu.
(Miu = con mèo)
*
Hang hùm, miệng rắn. - Hang hùm, nọc rắn.
Miệng hùm, nọc rắn.
Vẽ hùm thêm cánh. - Vẽ hùm thêm cánh, vẽ rắn thêm chân.

Con Cọp và những con vật khác
Đuổi hùm cửa trước, rước voi cửa sau.
Cáo bầy, không bằng một cọp. - Quần hồ, bất như độc hổ. - Mảnh hổ, nan địch quần hồ.
Cú góp, cọp ăn. - Cú góp, cọp mừng.
(Ý nói: người yếu làm ra tích góp từng ly từng tí rồi bị người mạnh cướp bóc và hưởng lợi)

 

TỪ NGỮ VỀ CỌP


Hổ = Cọp
Hổ lửa = Rắn độc có khoang, màu đỏ như lửa.
Hổ mang = Rắn độc có đầu hình tam giác và hàm bạnh ra, và có tập tính đe dọa kẻ thùbằng cách ngẩng đầu lên.
Hổ chúa = Rắn hổ mang chúa.

Hổ trâu = Rắn hổ mang rất lớn và da đen trũi.
Hổ lang = những loải thú dữ nói chung
Hổ huyệt = Hang cọp
Hổ hang = Xấu hổ
Làm người sao chẳng hổ hang
Thua em kém chị xóm làng cười chê. (Ca dao)
Hổ lốn = Lẫn lộn, lộn xộn nhiều thứ với nhau.
(Không có trong từ điển)
Bắt Cọp.
Coi cọp, xem cọp
Cọp = Hổ = Hùm = Kễnh = Khái = Ông Cả, Ông Ba mươi.

THI VĂN
* Chuyện "Thần Phạm Nhĩ Hóa Ra Cọp" của Sơn Nam
Câu chuyện nầy được viết trong sách "Chuyện Xưa Tích Cũ" của Sơn Nam và Tô Nguyệt Đình có nguyên văn như sau:
Ngày xưa trên thiên cung có một vị thần tên Phạm Nhĩ. Theo chữ nho, "phạm nhĩ" có nghĩa là "lỗ tai rách".
Phạm Nhĩ toan soán ngôi của Ngọc Hoàng. Ông ta qui tụ binh mã, đánh đâu thắng đó, hễ bắt được địch thủ là ăn gan uống máu lập tức. Thấy Phạm Nhĩ đại náo thiên cung, Phật Bà Quan Âm bèn hạ lịnh cho ông Chuẩn Đề đem binh tới trừng trị. Nhưng ông Chuển Đề đại bại. Phật Di Đà bèn hóa phép thần thông đuổi được Phạm Nhĩ, bắt đày ông ta xuống trần gian, hóa kiếp ra con Cọp.
Để đề phòng ông Phạm Nhĩ trở lại thiên cung báo thù, Trời Phật cắt đôi cánh của ông không cho ông ta bay được.
Vì là thú vật, Phạm Nhĩ rất hung hăng. Nhưng nhờ cốt thần hồi kiếp trước nên trong giấc ngủ Phạm Nhĩ có thể nghe biết những ai nói xấu ông ta mặc dù cách xa ngàn dặm. E rằng Phạm Nhĩ thù vặt Phật Trời khiến Phạm Nhĩ gặt lỗ tai khi thức giấc, như vậy mà không nhớ gì cả.
Để an ủi Phạm Nhĩ, Phật Trời cho ông ta làm chúa Sơn Lâm.
Nhiều người nói rằng cọp không ăn thịt người nào họ Phạm (vì trùng một họ với cọp).
Ở nhiều làng mới khai phá, cọp thường được dân chúng phong chức Hương Cả. Hằng năm khi cử hương chức làng, cọp trở lại miễu để lãnh tờ cử mới.
Ở ngoài Bắc, (cọp) được gọi là Ông Ba Mươi. Sự tích là hễ ai săn được một con cọp thì làng xã thưởng cho ba mươi quan tiền. Đồng thời cũng đánh anh thợ săn nọ ba mươi hèo để vong hồn của cọp được thỏa mãn.
(Câu chuyện nầy chứng minh tên của con cọp còn là ông cả hay ông ba mươi và tại sao Cọp là Chúa tể sơn lâm).

* Chuyện "Con Cọp và Cậu Học Trò" của Sơn Nam.
Câu chuyện nầy được viết trong sách "Chuyện Xưa Tích Cũ" của Sơn Nam và Tô Nguyệt Đình với nguyên văn như sau:
Cậu học trò đi dạo chơi trên núi bỗng gặp một con cọp đang mắc bẫy. Cọp ta vùng vẫy la hét kêu cứu rằng:  'Tôi rủi lâm nạn, cậu làm ơn gỡ bẫy giùm. Tôi đền ơn xứng đáng, hằng ngày vác heo rừng, vác nai lại để câu làm tiệc. Trong rừng nầy có nhiều hột ngọc quí giá mà bấy lâu nay tôi chôn giấu dưới đất. Hễ được tự do thì tôi đào lên dâng cho cậu '.
Cậu học trò nọ vui mừng, phần thì muốn ra tay nghĩa hiệp phần thì muốn được của cảiquí báu nên tháo bẫy ra giùm.
Cọp được tự do, đi khoan thai trước mặt cậu trò rồi nghiêm nét mặt: Tao đói bụng quá,phải ăn thịt mầy mới được.
Cậu học trò cãi lại nhưng cọp không nghe. Xảy đâu một ông tiên hiện ra, tay cầm phấttrần chỉ ngay con cọp mà nói: Không được hổn láo, chuyện đâu còn có đó.
Biết đó là tiên giáng trần, cọp quì xuống mà nói: Thưa ngài, cậu học trò nầy phá tôi.
Ông tiên nói: Bây giờ cọp cứ yên lòng trở vào bẫy như cũ. Cậu học trò nầy phá bẫy nhưthế nào, để ta xét trị tội nó.
Dứt lời, cọp đi trở vào bẫy. Ông tiên gài bẫy lại rồi nói với cọp: Chuyện đâu còn có đóthì ta để đó. Mi ráng ở đây mà chịu chế
Rồi ông nói với cậu học trò:Cậu có lòng nhân đạo. Từ rày sắp tới phải cẩn thận. Cóòng nhân mà cũng phải có trí mới được, đừng nhẹ dạ nghe lời kẻ ác tâm.
(Câu chuyện nầy về sau được hậu thế sửa lại đôi chút để chứng tỏ trí khôn của con người)

 

* Bài thơ Nhớ Rừng của Thế Lữ
*
Bài thơ Nhớ Rừng được trích một đoạn đăng trong Quốc Văn lớp 3 thời VNCH cho bài học
thuộc lòng. Đoạn nầy ngày nay được nhiều người lớn tuổi còn nhớ:
NHỚ RỪNG
.......
Ta sống mãi trong tình thương nỗi nhớ
Thuở tung hoành hống hách những ngày xưa.
Nhớ cõi sơn lâm, bóng cả, cây già,
Tiếng gió gào ngàn, giọng nguồn hét núi,
Với khi thét khúc trường ca dữ dội,
Ta bước chân lên, dõng dạc, đường hoàng
Lượn tấm thân như sóng cuộn nhịp nhàng
Vờn bóng âm thầm, lá gai, cỏ sắc.
Trong hang tối, mắt thần khi đã quắc
Là khiến cho mọi vật đều im hơi,
Ta biết ta chúa tể của muôn loài,
Trong chốn thảo hoa, không tên, không tuổi.
........

*
Đây là nguyên văn toàn bài thơ:
NHỚ RỪNG
Gậm một khối căm hờn trong củi sắt
Ta nằm dài trông ngày tháng dần qua
Khinh lũ người kia ngạo mạn, ngẩn ngơ,
Giương mắt bé riễu oai linh rừng thẵm,
Nay sa cơ, bị nhọc nhằn tù hãm,
Để làm trò lạ mắt, thứ đồ chơi
Chịu ngang bầy cùng bọn gấu dở hơi,
Với cặp báo chuồng bên vô tư lự.
Ta sống mãi trong tình thương nỗi nhớ
Thuở tung hoành hống hách những ngày xưa.
Nhớ cõi sơn lâm, bóng cả, cây già,
Tiếng gió gào ngàn, giọng nguồn hét núi,
Với khi thét khúc trường ca dữ dội,
Ta bước chân lên, dõng dạc, đường hoàng
Lượn tấm thân như sóng cuộn nhịp nhàng
Vờn bóng âm thầm, lá gai, cỏ sắc.
Trong hang tối, mắt thần khi đã quắc
Là khiến cho mọi vật đều im hơi,
Ta biết ta chúa tể của muôn loài,
Trong chốn thảo hoa, không tên, không tuổi
Nào những đêm vàng bên bờ suối,
Ta say mồi đứng uống ánh trăng tan?
Đâu những ngày mưa chuyển bốn phương ngàn,
Ta lặn ngắm giang sơn ta đổi mới
Đâu những bình minh cây xanh nắng gội,
Tiếng chim ca giấc ngủ ta tưng bừng?
Đâu những chiều lênh láng máu sau rừng.
Ta đợi tắt mảnh mặt trời gay gắt,
Để chiếm lấy riêng ta vùng bí mật?
Than ôi! Thời oanh liệt nay còn đâu?
Nay ta ôm bầu uất hận ngàn thâu,
Ghét những cảnh không đời nào thay đổi,
Những cảnh sửa sang, tầm thường, giả dối.
Hoa chăm, cỏ xén, lối phẳng, cây trồng;
Giải nước đen giả suối, chẳng thông dòng
Len dưới nách những mô gò thấp kém;
Dăm vừng lá hiền lành, không bí hiểm,
Cũng học đòi bắt chước vẽ hoang vu
Của chốn ngàn năm cao cả, âm u.
Hỡi oai linh, cảnh nước non hùng vĩ!
Là nơi giống hùm thiêng ta ngự trị,

Nơi thênh thang ta vùng vẫy ngày xưa,
Nơi chẳng mong còn thấy lại bao giờ
Có biết chăng trong những ngày ngao ngán,
Ta đang theo giấc mộng ngàn to lớn
Để hồn ta phảng phất được gần ngươi,
- Hỡi cảnh rừng kiêu hãnh của ta ơi!
(Thế Lữ) 1907-89
*
Bài thơ Nhớ Rừng là tuyệt tác. Có thể nói là một trong mươi bài Thơ Mới hay nhất.
Cái hay là ở cả Hình Thức và Nội Dung.
Về Hình Thức:
Dùng từ ngữ Hán Nôm phong phú Dùng chữ với nghĩa chính xác Dùng đúng chữ cho âm thanh của câu thơ tuyệt vời: tác giả áp dụng triệt để Luật Đổi Thanh của Thơ Mới mà còn chọn lựa từng chữ để có âm thanh rất hay khi đọc lên từng câu thơ.
Bài thơ có dàn bài đàng hoàng
Về Nội Dung thì Tứ thơ quá hay, diễn tả rõ ràng, rộng rãi và sâu đậm Cảnh vật và Tình Ý.
*
Bài thơ chi ra 4 phần như sau về Nội Dung:
NHỚ RỪNG
- Phần 1: Tình cảm hiện tại
Gậm một khối căm hờn trong củi sắt
Ta nằm dài trông ngày tháng dần qua
Khinh lũ người kia ngạo mạn, ngẩn ngơ,
Giương mắt bé riễu oai linh rừng thẵm,
Nay sa cơ, bị nhọc nhằn tù hãm,
Để làm trò lạ mắt, thứ đồ chơi
Chịu ngang bầy cùng bọn gấu dở hơi,
Với cặp báo chuồng bên vô tư lự.
Tình cảm hiện tại: Ta (Hổ) giận hờn và khinh bỉ những thú loại chung quanh
- Phần 2: Cảnh vật quá khứ
Ta sống mãi trong tình thương nỗi nhớ
Thuở tung hoành hống hách những ngày xưa.
Nhớ cõi sơn lâm, bóng cả, cây già,
Tiếng gió gào ngàn, giọng nguồn hét núi,
Với khi thét khúc trường ca dữ dội,
Ta bước chân lên, dõng dạc, đường hoàng
Lượn tấm thân như sóng cuộn nhịp nhàng
Vờn bóng âm thầm, lá gai, cỏ sắc.

Trong hang tối, mắt thần khi đã quắc
Là khiến cho mọi vật đều im hơi,
Ta biết ta chúa tể của muôn loài,
Trong chốn thảo hoa, không tên, không tuổi
Nào những đêm vàng bên bờ suối,
Ta say mồi đứng uống ánh trăng tan?
Đâu những ngày mưa chuyển bốn phương ngàn,
Ta lặn ngắm giang sơn ta đổi mới
Đâu những bình minh cây xanh nắng gội,
Tiếng chim ca giấc ngủ ta tưng bừng?
Đâu những chiều lênh láng máu sau rừng.
Ta đợi tắt mảnh mặt trời gay gắt,
Để chiếm lấy riêng ta vùng bí mật?
Than ôi! Thời oanh liệt nay còn đâu?
Ý về Cảnh vật quá khứ: Thiên nhiên: thật, đẹp và dễ thương + Ta (Hổ) tự do và hùng mạnh.
- Phần 3: Cảnh vật hiện tại
Nay ta ôm bầu uất hận ngàn thâu,
Ghét những cảnh không đời nào thay đổi,
Những cảnh sửa sang, tầm thường, giả dối.
Hoa chăm, cỏ xén, lối phẳng, cây trồng;
Giải nước đen giả suối, chẳng thông dòng
Len dưới nách những mô gò thấp kém;
Dăm vừng lá hiền lành, không bí hiểm,
Cũng học đòi bắt chước vẻ hoang vu
Của chốn ngàn năm cao cả, âm u.
Ý về Cảnh vật hiện tại: Nhân tạo: giả, xấu và đáng ghét
- Phần 4: Tình cảm về quá khứ
Hỡi oai linh, cảnh nước non hùng vĩ!
Là nơi giống hùm thiêng ta ngự trị,
Nơi thênh thang ta vùng vẫy ngày xưa,
Nơi chẳng mong còn thấy lại bao giờ
Có biết chăng trong những ngày ngao ngán,
Ta đang theo giấc mộng ngàn to lớn
Để hồn ta phảng phất được gần ngươi,
- Hỡi cảnh rừng kiêu hãnh của ta ơi!
Tình cảm về quá khứ: Ta (Hổ) tuyệt vọng và mơ mộng
*
Thế Lữ làm bài thơ năm 1934 vào thời Pháp Thuộc, ví tình cảm và ý chí của mình như của con cọp sở thú về quá khứ và hiện tại.

Cảnh vật quá khứ (là Thiên nhiên) và hiện tại (là Nhân tạo) chính là đối tượng Tình Ý của Thế Lữ (=Ta). Trong thời gian bài thơ nầy ra đời, tôi nghĩ độc giả không thể nhận thức được Chính Trị đấu tranh trong bài thơ thí dụ như cảnh vật tự do hùng cường của nước VN trong quá khứ vì phần tả cảnh vật hiện tại không cho thấy rõ ràng cái "nô lệ và đàn áp". Hơn nữa đọc tới phần thứ tư thì chỉ là mơ mộng và tuyệt vọng về quá khứ. Người Pháp lúc đó cũng nghĩ như vậy nên không bỏ tù Thế Lữ.
Gần đây có tác giả ở ngoài nước mượn Con Cọp nầy để nói tới Tình Ý đấu tranh của riêng mình (chứ không phải của Thế Lữ) về Chính Trị hiện tại (thời VNCS) và quá khứ (thời VNCH). Điều nầy không hoàn toàn đúng nếu so sánh Hổ trong sở thú nhớ rừng và Người ở ngoài nước nhớ nước .


Đây là Thế Lữ dưới thời VNCS:
Ông Thế Lữ (1907-1989), sinh và chết ở Hà Nội, tên thật là Nguyễn Đình Lễ rồi đổi là Nguyễn Thứ Lễ. Còn có hiệu là Lê Ta tức là “Lê Ngã” (Ngã là tiếng Hán, Ta là tiếng Nôm) tứclà “lê” ngã “lễ”!
Sau khi tham gia và chỉ chuyên về kịch nghệ trong kháng chiến (1945-54), ông ở lại ngoài Bắc tiếp tục chuyên về Kịch Nghệ mà thôi chứ không làm một bài thơ nào nữa. Ông Thế Lữ lấy vợ lúc 17 tuổi. Người vợ đầu (lớn hơn ông 2 tuổi) dắt 3 đứa con nhỏ di cư vào Nam. Ông ở lại với đứa con cả và lấy vợ thứ nhì là một “Nghệ sĩ Nhân Dân”.

KHOA HỌC
Các loại Hổ chỉ có ở Á Châu. Hiện đại chỉ còn ước lượng 3890 con hổ và đa số qui tụ ở bán đảo Ấn Độ.
1. Hổ ở bán đảo Ấn Độ
Hổ Bengal (Panthera tigris tigris)
Ở Ấn Độ: 2,226 con
Ở Bangladesh: 106 con
Ở Nepal: 198 con
Ở Bhutan: 103 con

2. Hổ ở Trung Quốc
Hổ Siberia, hổ Amur, hổ Mãn Châu (Panthera tigris altaica): tuyệt chủng?
Hổ Hoa Nam (Panthera tigris amoyensia)
Ở Trung Quốc: >7 con

3. Hổ ở Đông Dương
Hổ Đông Dương, hổ Corbet (Panthera tigris corbetti)
Ở Campuchea: 0 con
Ở Lào: 2 con
Ở Việt Nam: <5 con

4. Hổ ở Đông Nam Á
Hổ Mã Lai (Panthera tigris jacksoni)
Ở Mã Lai: 250 con
Ở Thái Lan: 189 con
Ở Myanmar: ?

5. Hổ ở Indonesia
Hổ Bali (Panthera tigris balica): tuyệt chủng
Hổ Java (Panthera tigris sondaica): tuyệt chủng
Hổ Sumatra (Panthera tigris sumatrae)
Ở Indonesia: 371 con

6. Hổ ở Trung Đông
Hổ Ba Tư hay hổ Caspi (Panthera tigris virgata): tuyệt chủng?
Về màu da, hổ được chia ra làm 4 loại:
Bạch Hổ: da màu trắng
Hoàng Hổ: da màu vàng
Hắc Hổ: da màu đen
Thanh Hổ: da màu xám (Hùm xám)

Bs Phan Thượng Hải biên soạn và giữ bản quyền
Bài viết nầy đăng lần đầu trong phanthuonghai.com mục Văn Hóa phần Học Thuật.

Tài liệu tham khảo:
- Cùng một tác giả (Bs Phan Thượng Hải) trong phanthuonghai.com
1) Thơ và Việt Sử - Nhà Trần
2) Thơ và Việt Sử - Thời Pháp Thuộc (Thế kỷ 19)
3) Hành Hương và Huyền Thoại Phật Thích Ca
4) Luận Ngữ và Triết học của Khổng Tử
5) Tục Ngữ Sưu Tập và Lược Giải
6) Thơ và Việt Sử - Tự Lực Văn Đoàn
- Khác tác giả
7) Từ Điển Thành Ngữ Điển Tích Trung Quốc (Nguyễn Tôn Nhan)
8) Thông Dụng Thành Ngữ Cố Sự (Vương An)
9) Trang Thơ Thi Viện Net (Google)
10) Chuyện Xưa Tích Cũ (Sơn Nam và Tô Nguyệt Đình)

Bs Phan Thượng Hải biên soạn và giữ bản quyền

PTH_HoangHoaTham.JPG

KHAI BÚT ĐẦU NĂM

Trương Ngọc Thạch, Phan Thượng Hải (2), Phan Kim Thành, Chánh Minh

______________________

 

KHAI BÚT ĐẦU NĂM 2022 (Nguyên bản)

Vừa đi hai đám cưới hôm nay

O-mí-cờ -roong mặc kệ mày.

Thánh lễ tiến hành theo hoạch định

Tiệc tùng hủy bỏ tránh lan lây.

Về nhà cởi áo thay đồ gấp 

Mở máy thả thơ gửi bạn ngay.

Năm Mới "22" mong tốt đẹp

Thân bằng, quyến thuộc dễ sum vầy.

(Trương Ngọc Thạch)

1/1/22

 

KHAI BÚT ĐẦU NĂM 2022 (Họa)

Đầu năm khai bút đoán năm nay

Nghĩ tới tương lai tái mặt mày

Tổng thống quốc gia càng lú lẫn

Tung hoành dịch bệnh vẫn hay lây

Putin tham vọng, người lo tránh

Trung Cộng tham tàn, chúng sợ ngay

Rối loạn thị trường và xã hội

Nhân tình chia rẽ khó vui vầy.

(Phan Thượng Hải)

1/2/22 

KHAI BÚT ĐẦU NĂM (Họa 2)

Đầu năm khai bút chúc năm nay

Chúc mọi người vui nở mặt mày

Chúc hết đau buồn, buồn sớm dứt

Chúc ngưng tật bệnh, bệnh thôi lây

Chúc tài lộc đủ lòng từ ái

Chúc phước đức lành dạ thẳng ngay

Chúc sống lâu dài ngoài tục lụy

Chúc cầu xin được đúng như vầy.

(Phan Thượng Hải)

1/3/22

 

Bài họa từ VIỆT NAM: 

 

KHAI BÚT (Họa)

Mỹ Trung thượng đỉnh mấy tuần nay

Dấu hiệu trên cơ rõ mặt mày

Ông Bảy khẽ cười đâu đã hết

Ông Bình ngầm bảo sẽ còn lây

Thế cờ vây hãm, nhìn ra vậy

Thương chiến gia tăng, thấy biết ngay 

Dự đoán ba năm gà vỡ trận 

Láng giềng khổ lụy, vẫn vui vầy.

(Phan Kim Thành)

1/3/21

  

ĐẦU NĂM KHAI BÚT (Họa)

 

Đầu năm khai bút viết đêm nay,

Dù có ai khen chẳng nở mày.

Đại dịch Cô Vi đang quậy phá,

Cờ-Rông biền thể đã tràn lây.

Trả lời thư điện* nên làm gấp,

Đọc được thơ hay bèn họa ngay.

Chúc bạn bè an vui, khỏe mạnh,

Gia đình sum họp thật vui vầy.

Chánh Minh

01/02/2022

PTH_NgAnNinh.JPG

NGUYỄN AN NINH

ĐỆ TỨ QUỐC TẾ 

pth_tathuthauPhanVhung.JPG

NGUYỄN AN NINH VÀ ĐỆ TỨ QUỐC TẾ 

                                         

                                      Bs Phan Thượng Hải biên soạn


 

Bắt đầu từ ông Nguyễn An Ninh, phong trào cách mạng ở Nam Kỳ có các ông Phan Văn Hùm và Tạ Thu Thâu đã dùng báo chí để chống lại Thực Dân Pháp.

 

Nguyễn An Ninh

 

*

Từ năm 1930, sau cuộc khởi nghĩa Yên Bái, Việt Nam Quốc Dân Đảng (theo ông Vũ Hồng Khanh) phải dời sang Tàu.  Trong nước chỉ còn 2 Đảng Lập Hiến và Thanh Niên (của Vương Quang Nhường) ở Nam Kỳ đều là thân Pháp.  Tuy nhiên bắt đầu từ hoạt động của ông Nguyễn An Ninh, Nam Kỳ đã có những người dùng sách báo và diễn thuyết chống Pháp công khai về chính trị (thay vì dùng quân sự).  

 

*

Ông Nguyễn An Ninh (1900-1943) là con của ông Nguyễn An Khương sanh ở Cần Giuộc, Long An.  Ông Nguyễn An Khương, một dịch giả truyện Tàu nổi danh, có lập khách sạn Chiêu Nam Lầu (1908) ở Chợ Cũ, Sài Gòn là nơi kinh tài và trú ngụ của những người thuộc phong trào Duy Tân chống Pháp của ông Phan Châu Trinh.  

 

Năm 1918, ông Nguyễn An Ninh sang Pháp, học Đại Học có 1 năm (thay vì 4 năm) là đậu Cử Nhân Luật (?).  Năm 1920, ông gia nhập nhóm các ông Phan Châu Trinh, Phan Văn Trường, Nguyễn Thế Truyền và Nguyễn Tất Thành hoạt động về báo chí chống chế độ thuộc địa đế quốc của Pháp.   

 

Ông Nguyễn An Ninh về nước năm 1922, diễn thuyết chống Pháp nhưng bị cấm nên trở lại Pháp vào năm 1923.  

Cùng năm đó (1923), ông trở về Sài Gòn nhờ tiền của ông Nguyễn An Khương mở tờ báo bằng tiếng Pháp tên là La cloche fêlée (Chuông Rè / The broken bell) để chống Pháp mà không bị kiểm duyệt (vì là báo bằng chữ Pháp) nhưng vẫn bị mật thám Pháp làm khó dễ và đe dọa nhân viên và độc giả nên năm sau (1924) tờ báo phải đóng cửa.  

Ông Nguyễn An Ninh lại sang Pháp dẫn ông Phan Châu Trinh về Sài Gòn (1925).  Ông nhờ ông Phan Văn Trường (đã về nước) làm chủ và mở lại tờ La cloche fêlée vì ông Phan Văn Trường (1876-1933) là công dân Pháp.  Tuy nhiên sau đó ông Nguyễn An Ninh vẫn bị bỏ tù 10 tháng (1926).  

Từ năm 1928 đến 1931, ông Nguyễn An Ninh có sang Pháp một lần rồi lại về nước, bị tù và được thả ra.  Trong thời gian nầy ông có một chí sĩ mới là ông Phan Văn Hùm.

 

Từ năm 1933, hoàn toàn ở lại Nam Kỳ, ông Nguyễn An Ninh cộng tác với báo La Lutte (Tranh Đấu) của nhóm Đệ Tứ Quốc Tế là các ông Tạ Thu Thâu, Phan Văn Hùm và Trần Văn Thạch cũng như với báo Trung Lập của ông Nguyễn Văn Tạo thuộc Đệ Tam Quốc Tế.  

Ông Nguyễn An Ninh là linh hồn đấu tranh chống Pháp bằng báo chí nên ông bị tù vài lần nữa từ năm 1936.  

 

Năm 1939 ông bị tù lần thứ năm ở Côn Đảo và rồi chết ở đây vì kiệt sức vào năm 1943.  Khi đem xác đi chôn người ta tìm thấy trong túi áo của ông một miếng giấy ghi 2 bài thơ dưới đây:

 

SỐNG

Sống mà vô dụng sống làm chi

Sống chẳng lương tâm sống ích gì?

Sống trái đạo người, người thêm tủi

Sống quên ơn nước, nước càng khi

Sống tai như điếc, lòng đâm thẹn

Sống mắt dường đui, dạ thấy kỳ

Sống sao nên phải, cho nên sống

Sống để muôn đời sử tạc ghi.

(Nguyễn An Ninh)

 

CHẾT

Chết sao danh tiếng vẫn còn hoài

Chết đáng là người đủ mắt tai

Chết được dựng hình, tên chẳng mục

Chết đưa vào sử, chữ không phai

Chết đó, rõ ràng danh sống mãi

Chết đây, chỉ chết cái hình hài

Chết vì Tổ Quốc người khen ngợi

Chết cho hậu thế đẹp tương lai.

(Nguyễn An Ninh)

 

Một nhà ái quốc chân chính coi cái “Sống” và cái “Chết” như nhau.  Ông Nguyễn An Ninh, sau ông Phan Châu Trinh, là những người vì dân vì nước cuối cùng đã thoát ra khỏi “Quân Chủ” (như ông Phan Bội Châu) chọn “Dân Chủ” nhưng chưa bị ảnh hưởng của một chủ thuyết nào (Quốc Dân của Tôn Dật Tiên, Đệ Tam hay Đệ Tứ Cộng Sản và sau nầy… Quốc Gia).

 

VỊNH NGUYỄN AN NINH

Chống Thực nung sôi giọt máu hồng (*)

Bốn mươi bốn tuổi trải gan trung

Nhân dân còn mắc vòng nô lệ

Khoa giáp màng chi miếng đỉnh chung (*)

Một thác Côn Sơn, bia vạn cổ

Bao lần "Chuông Bể", dội non sông (*)

Dân quyền đánh thức hồn dân tộc

Trước có Lư Thoa sau có ông. (*)

(Bút Trà)

 

(*) Chú thích:

Thực là Thực Dân Pháp.

Đỉnh=vạc, Chung=chuông.  Ở nhà giàu sang thì bày vạc và đánh chuông khi bữa ăn để mời khách.

Chuông Bể: tên tờ báo của Nguyễn An Ninh là La Cloche Fêlée

Lư Thoa = J. J. Rousseau, cha đẻ thuyết Dân quyền, viết quyển Contrat Social.

 

Phan Văn Hùm và Tạ Thu Thâu

 

*

Các nhà cách mạng của người Việt bắt đầu ở Pháp từ thập niên 1910s-1920s với các ông Phan Châu Trinh, Phan Văn Trường và Nguyễn Thế Truyền rồi đến ông Nguyễn An Ninh và Nguyễn Tất Thành.  

Năm 1923, Nguyễn Tất Thành sang học ở Liên Xô và sau đó sang Tàu với tên là Lý Thụy rồi Nguyễn Ái Quốc rồi cuối cùng về Việt Nam năm 1945 với tên Hồ Chí Minh.  

Năm 1928, ông Nguyễn Thế Truyền (1889-1968) giao lại cho ông Tạ Thu Thâu rồi về nước sống với người vợ Pháp ở Nam Định.  Ông bị Pháp đày đi Madagascar (Mã Đảo) trong thời Đệ Nhị thế chiến (1940-1946) rồi được tha về và di cư vào Nam (1954).  Ông có ra tranh cử Phó Tổng Thống năm 1961 cùng liên danh với ông Hồ Nhật Tân.    

Ông Tạ Thu Thâu (1906-1945) sang Pháp vào năm 1927 theo ông Nguyễn Thế Truyền và trở thành Cộng Sản Đệ Tứ Quốc Tế ở Pháp (1929) cùng với các ông Phan Văn Hùm (1902-1946), Huỳnh Văn Phương (?-1945), Trần Văn Thạch (1905-1945).  Lúc đó cũng có nhóm Đệ Tam Quốc Tế ở Pháp gồm có Nguyễn Văn Tạo (1908-1970) và Trần Văn Giàu (1911-2010).  Các ông đều chống chính phủ Pháp trong việc xử tử ông Nguyễn Thái Học và các đồng chí năm 1930 nên lần lượt bị trục xuất hay trốn về nước.

 

*

Sau khi về Sài Gòn, nhóm Đệ Tứ Quốc Tế (Tạ Thu Thâu, Phan Văn Hùm và Trần Văn Thạch) mở tuần báo Tranh Đấu (La Lutte) vào năm 1933 và Nguyễn Văn Tạo (Đệ Tam Quốc Tế) mở tờ báo Trung Lập.  

Có một người khác trong báo Tranh Đấu lại thuộc Cộng Sàn Đệ Tam Quốc Tế là Dương Bạch Mai (1904-1964).  Dương Bạch Mai sang Pháp cuối thập niên 1920, được đi học tập ở Liên Xô (như Nguyễn Tất Thành) từ 1929 đến 1932 thì về nước. 

Riêng Trần Văn Giàu (Đệ Tam Quốc Tế) chỉ âm thầm dạy học sau khi về nước ở Sài Gòn rồi được bí mật đưa sang học ở Liên Xô (1931-1933).  Pháp biết được nên bỏ tù Trần Văn Giàu 2 lần từ năm 1935.  Lần thứ nhì Trần Văn Giàu cùng với Tô Ký vượt ngục.  

Ông Huỳnh Văn Phương (Đệ Tứ Quốc Tế) về nước sống ở Bắc Kỳ, hoạt động cùng nhóm với Võ Nguyên Giáp và Trần Huy Liệu.  Năm 1945, ông bị Việt Minh thủ tiêu.

Năm 1936, các ông Tạ Thu Thâu, Phan Văn Hùm và Nguyễn Văn Tạo đắc cử vào Hội Đồng Thành Phố Sài Gòn.  

 

*

Tuy nhiên Pháp vẫn không để yên: các ông Tạ Thu Thâu và Phan Văn Hùm, cũng như ông Nguyễn An Ninh, bị tù nhiều lần.  Từ năm 1932 đến 1940 ông Tạ Thu Thâu bị kết án 6 lần và ở tù 5 lần tổng cộng 13 năm với 10 năm biệt xứ.

Ông Phan Văn Hùm cũng bị tù nhiều lần.  Khi ngồi tù Khám Lớn ông có xướng họa với một nhà nữ cách mạng cùng chí hướng tên là cô Nguyễn Trung Nguyệt:

 

(Xướng)

Trăng tròn đâu sợ đám mây mù

Một bức trinh thơ giả ý ngu

Chịu tiếng lẳng lơ nhiều khuất phục

Biết mình trong sạch chẳng tâm tu

Anh hùng há luận cơn thành bại

Chí sĩ đành cam kiếp tội tù

Chỉ tiếc anh thơ công lỡ dở

Thiếu người ra chấp búa Trình Chu. (*)

(Phan Văn Hùm)

 

(*) Chú thích: Trình Hạo và Chu Hi (2 nhà Tân Nho Giáo thời Bắc Tống).

 

(Họa)

Lao lung dài chật khói mây mù

Thất bại đành cam lựa trí ngu

Cơm lức sơ sài tâm ráng luyện

Áo xanh tơ tải chí công tu

Sông non ngót đã trăm năm tội

Nước lửa đành cam mấy kiếp tù

Ánh thái dương còn còn ước vọng

Tre tàn măng mọc dễ gì tru.

(Bảo Lương Nguyễn Trung Nguyệt)

 

Ông Phan Văn Hùm học ở đại học Sorbonne tốt nghiệp Cử Nhân và Cao Học về Triết Học, có viết quyển “Triết Lý Phật Giáo” và theo Cộng Sản Đệ Tứ Quốc Tế.  Bài thơ trên thấy ông cũng thiên về Nho Giáo.  Đúng là một nhà học giả trí thức.

 

*

Tới Đệ Nhị Thế Chiến (1939-1945), Pháp bắt giam hầu hết những người chống đối.  

Ông Nguyễn An Ninh chết ở Côn Đảo năm 1943.  Ông Phan Văn Hùm đi tù Côn Đảo (1939-1942) rồi quản thúc ở Tân Uyên.  Ông Tạ Thu Thâu cũng bị tù ở Côn Đảo (1940-1944), khi được thả thì ra hoạt động ở Bắc Trung Kỳ.  

Ông Nguyễn Văn Tạo và Dương Bạch Mai đi tù Côn Đảo (1939-1943) rồi về bị quản thúc ở Tân Uyên.  Trong khi đó Trần Văn Giàu bí mật tái lập Xứ Ủy Nam Kỳ của Đông Dương Cộng Sản Đảng vào năm 1943 (thay thế Võ Văn Tần và Phan Đăng Lưu).

Ông Nguyễn Thế Truyền mặc dù sống như thường dân vẫn bị đày đi đảo Madagascar cũng như Đức Hộ Pháp Phạm Công Tắc của Đạo Cao Đài (1941-46).

 

Sau khi Nhật đảo chánh Pháp (9-3-1945), Trần Văn Giàu được Nhật giao cho cầm đầu Mặt Trận Quốc Gia Thống Nhất ở Nam Kỳ với Dương Bạch Mai và Nguyễn Văn Tạo.  Các ông Phan Văn Hùm và Trần Văn Thạch sau nầy cũng ở trong Mặt Trận.  

Ông Tạ Thu Thâu bị Việt Minh thủ tiêu ở Quảng Ngãi ngay sau khi Nhật cướp chánh quyền (9-3-45). 

 

Sau khi Pháp trở lại Đông Dương, Nhóm Đệ Tam Quốc Tế công khai trở thành Việt Minh và Đông Dương Cộng Sản Đảng dùng lực lượng vũ trang thủ tiêu Nhóm Đệ Tứ Quốc Tế gồm có các ông Trần Văn Thạch, Phan Văn Hùm và hàng trăm người khác ở Nam Kỳ (1945-1946).

Phong trào chống Pháp chân chính ở Nam Kỳ từ ông Nguyễn An Ninh rồi ông Tạ Thu Thâu cho đến ông Trần Văn Thạch và ông Phan Văn Hùm chỉ để lại những tấm gương hy sinh vì nước đáng kính và đáng mến?

 

*

Theo dòng lịch sử có 4 Liên Minh Cộng Sản quốc tế.

Đệ Nhất Quốc Tế (IWA=International Workingmen’s Association) thành lập ở London (năm 1864) và giải tán ở Philadelphia (năm 1876) với mục đích đoàn kết các nhóm xã hội chủ nghĩa khuynh tả, cộng sản, vô chính phủ và tổ chức công đoàn (union) trên thế giới. 

Đệ Nhị Quốc Tế thành lập ở Paris (năm 1889) là Liên minh quốc tế kết hợp các đảng xã hội chủ nghĩa và một số tổ chức công đoàn trên thế giới.  Nó không hoạt động trong Đệ Nhất Thế Chiến và phục hưng 2 lần (1923 và 1951).

Đệ Tam Quốc Tế do Lenin thành lập ở Moskva (Mạc Tư Khoa) vào tháng 3 năm 1919 và giải tán vào năm 1943, rồi tái sinh năm 1947 (từ Stalin) và giải tán năm 1956 (sau khi Stalin chết).  Đệ Tam Quốc Tế còn gọi là Quốc Tế Cộng Sản (Comintern) là tổ chức của người Cộng Sản.  Cương lĩnh là Lật đỗ chế độ tư bản chủ nghĩa, Xây dựng chế độ xã hội chủ nghĩa và Thiết lập chuyên chính vô sản.  Từ năm 1919 đến 1943, nó họp 7 lần về những phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, phong trào giải phóng dân tộc và đấu tranh chống “phát xít”.

Đệ Tứ Quốc Tế còn gọi là Cộng Sản Đệ Tứ là liên minh của những người theo chủ nghĩa Trotsky chính thức thành lập vào năm 1938 tại Paris.  Đệ Tứ Quốc Tế theo khuynh hướng “cách mạng thường trực” do Trotsky khởi xướng sau khi Lenin chết vào năm 1924 để chống lại đường lối “cách mạng vô sản trong một quốc gia” của Stalin.  Do đó những người Trotkyist như các ông Tạ Thu Thâu, Phan Văn Hùm… đã có trước khi Đệ Tứ Quốc Tế chính thức thành hình (1938).

Đệ Tam và Đệ Tứ Quốc Tế thành hình từ 3 người Cộng Sản thành công trong cách mạng Nga: Lenin, Trotsky và Stalin.  Trong thời Lenin, Trotsky cũng thuộc Đệ Tam Quốc Tế.      


 

Bs PHAN THƯỢNG HẢI biên soạn và giữ bản quyền

 

Bài viết nầy là một đoạn trong bài "Thơ và Việt Sử - Thời Pháp Thuộc Thế kỷ 20" (Bs Phan Thượng Hải) đăng lần đầu tiên trong phanthuonghai.com trong mục "Thơ và Sử" phần Thời Pháp Thuộc Thế kỷ 20.

   NHỮNG BÀI THƠ "SỐNG CHẾT" TRONG LỊCH SỬ

                                         

                                     Bs Phan Thượng Hải biên soạn


 

Hậu thế thường truyền tụng một bài thơ ái quốc của ông Phan Bội Châu:

 

SỐNG

Sống tủi làm chi đứng chật trời

Sống nhìn thế giới hổ chăng ai

Sống làm nô lệ cho người khiến

Sống chịu ngu si để chúng cười

Sống tưởng công danh không tưởng nước

Sống lo phú quí chẳng lo đời

Sống mà như thế đừng nên sống

Sống tủi làm chi đứng chật trời.

(Phan Bội Châu)

 

Tuy nhiên Tiền nhân ái quốc thường phải "Sống và Chết" trong cuộc đời đấu tranh cho chính nghĩa độc lập và tự do như các ông Đặng Văn Bá, Mai Xuân Thưởng và Nguyễn An Ninh.


 

Đặng Văn Bá

 

Gần đây lại có xuất hiện 2 bài thơ Sống Chết của bạn của ông Phan Bội Châu là ông Đặng Văn Bá (còn gọi là Đặng Văn Bách).

Ông Đặng Văn Bá (1873-1931) đậu Cử Nhân năm 1900 (cùng khóa với ông Phan Bội Châu).  Ông gia nhập phong trào Duy Tân với Phan Bội Châu và Ngô Đức Kế (1905) rồi bị đày Côn Đảo (1908-1916 hay 1921).  Được thả về ông sống ở Sài Gòn rồi ở Huế với ông Phan Bội Châu và sau cùng về sống ở quê nhà (Hà Tĩnh) đến khi qua đời.

Năm 1926 cái chết của ông Phan Châu Trinh gợi cảm hứng cho ông làm 2 bài thơ Sống Chết:

 

CHẾT

Chết mà vì nước, chết vì dân