hmpg.jpg
TL_blinkingsquareblock.gif
Titlej (1).jpg

BIÊN KHẢO - THƠ - VĂN

Phan Thượng Hải

California_________________________

BBT: BS Phan Thượng Hải (CHS PTG 61-64) cùng với người em là LS Winston Phan Đào Nguyên là con của 1 công chức cao cấp của tòa án Cần Thơ, cũng là nhà thơ nổi tiếng của đất Cần Thơ thập niên 40, 50: Thi Sĩ LÃNG BA Phan Văn Bộ

_____________________________________________________________________________

BÀN VỀ THƠ MỚI

 

(Trích 2 Đoạn trong bài tựa đề "THƠ MỚI" mới đăng trong website phanthuonghai.com qua link: http://phanthuonghai.com/Documents/tho van/lam tho/tho moi.pdf)

(1) 

 

Danh từ "Thơ Mới" bắt đầu xuất hiện cùng lúc với phong trào "Thi Nhân Tiền Chiến". Vào đầu thập niên 1930s cho đến lúc bắt đằu cuộc chiến tranh 1945-1954 (thời kỳ Tiền Chiến), có xuất hiện nhiều thi nhân làm những Bài Thơ Mới và sáng tạo để áp dụng thêm những Thể Thơ Mới. Do đó đề tài Thơ Mới gồm có Bài Thơ Mới và Thể Thơ Mới.  Thơ Mới luôn dùng chữ Quốc ngữ. 

 

Một Bài Thơ trong lịch sử thi văn nước Việt có 3 loại:

            Bài Thơ Cổ Điển

            Bài Thơ Mới Có Vần

            Bài Thơ Mới Không Có Vần

 

* Bài Thơ Cổ Điển (Luôn Có Vần)

 

Thi nhân nước Việt sau khi dành độc lập nhất từ thời nhà Lý (thế kỷ thứ 10) đã có làm Thơ Cổ Điểnvới những Bài Thơ Cổ Điển dùng chữ Hán và chữ Nôm theo những Thể Thơ Cổ Điển.

            Đường Luật Bát Cú (Bát Cú = 8 câu)

            Đường Luật Tứ Tuyệt (Tứ Tuyệt = 4 câu)

            Cổ Phong Tràng Thiên

            Lục Bát Đoản Thiên hoặc Tràng Thiên

            Song Thất Lục Bát Đoản Thiên hoặc Tràng Thiên

(Bài Thơ Đoản Thiên có từ 8 câu trở xuống.  Bài Thơ Tràng Thiên có nhiều hơn 8 câu).

 

Một Bài Thơ Cổ Điển chỉ dùng một Thể Thơ Cổ Điển mà thôi.  Một Bài Thơ Cổ Điển Tràng Thiên thì luôn luôn liên tục.

Từ thế kỷ thứ 19, thi nhân của Thơ Cổ Điển dùng chữ Quốc ngữ.

 

* Bài Thơ Mới Có Vần

 

Thi nhân nước Việt dùng chữ Quốc ngữ (nhất là từ đầu thập niên 1930s) bắt đầu sáng tạo thêm những Thể Thơ Mới và làm những Bài Thơ Mới. 

 

Những Thể Thơ Mới được sắp loại tùy theo cách gieo Vần:

            Thể Thơ Mới Vần Liên Tiếp

            Thể Thơ Mới Vần Ôm

            Thể Thơ Mới Vần Gián Cách

            Thể Thơ Mới Vần Hỗn Tạp

Vần trong các Thể Thơ Mới có những đặc tính:

            Có nhiều Vần Trắc cũng như Vần Bằng

            Có nhiều Vần Lơi cũng như Vần Chánh  

            Có thể có Lạc Vận

 

Một Bài Thơ Mới Có Vần Tràng Thiên có thể:

            gồm những câu liên tục 

            gồm những đoạn tứ cú (4 câu)

 

Một Bài Thơ Mới Có Vần có thể:

            chỉ áp dụng một Thể Thơ Mới hay Thể Thơ Cổ Điển cho toàn bài thơ.

            áp dụng nhiều Thể Thơ Mới hoặc Thể Thơ Cổ Điển cho bài thơ (mỗi Đoạn của Bài Thơ có Thể Thơ khác nhau).

 

Câu thơ của Bài Thơ Mới Có Vần có theo Luật Bằng Trắc gọi là Luật Đổi Thanh.  Các thi sĩ giỏi của Thơ Mới đều dùng Luật Đổi Thanh mặc dù luật nầy không bắt buộc cho thi nhân phải dùng như luật Bằng Trắc của những Thể Thơ Cổ Điển và Bài Thơ Cổ Điển.

 

* Bài Thơ Mới Không Vần

 

Thi nhân nước Việt từ thời kháng Pháp (1945-1954) có làm những Bài Thơ Mới Không Vần và không theo một Thể Thơ nào hết và thường là Tràng Thiên liên tục.  Toàn bài thơ gồm những câu văn xuôi sắp thành hình thức xuống hàng như một bài thơ.  Thí dụ: bài thơ Lá Diêu Bông của Hoàng Cầm.  Trong những trường hợp ngoại lệ nầy thì Bài Thơ Không Vần không theo một luật lệ nào hết!

Theo Việt Nam Văn Học Sử Yếu của Dương Quảng Hàm, bài thơ phải có vần thì mới đúng nghĩa của nó. "Thơ là văn vần", nếu không có vần thì là văn xuôi.  Tuy nhiên ngày nay thi nhân vẫn làm Bài Thơ Không Vần, và dĩ nhiên không theo Luật Đổi Thanh.

 

(2)

 

Bài Thơ Mới dùng Thể Thơ Đường Luật

 

Nếu Bài Thơ Mới dùng chỉ dùng Thể Đường Luật Tứ Tuyệt (4 câu) hay Đường Luật Bát Cú (8 câu) thì Bài Thơ Mới sẽ có thêm nhiều Đoạn để có nhiều hơn 8 câu.

Vì âm thanh của Thể Thơ Đường Luật rất hay và muốn tránh Đối trong Đường Luật Bát Cú nên thi sĩ thường làm Bài Thơ Mới Tràng Thiên với nhiều Đoạn 4 câu theo Thể Đường Luật Tứ Tuyệt.

 

Đây là những bài thơ nổi tiếng gồm nhiều Đoạn theo Thể Đường Luật Thất Ngôn Tứ Tuyệt

 

TRÚT LINH HỒN

 

Máu đã khô rồi thơ cũng khô

Tình ta chết yểu tự bao giờ

Từ nay trong gió, trong mây gió

Lời thảm thương rền khắp nẻo mơ

 

Ta còn trìu mến biết bao người

Vẻ đẹp xa hoa của một trời

Đầy lệ đầy thương đầy tuyệt vọng

Ôi! Giờ hấp hối sắp chia phôi!

 

Ta trút linh hồn giữa lúc đây

Gió sầu vô hạn nuối trong cây

- Còn em sao chẳng hay gì cả?  

Xin để tang anh đến vạn ngày.

 

(Hàn Mặc Tử)

 

 

TRÀNG GIANG 

 

Gợn sóng tràng giang buồn điệp điệp

Con thuyền xuôi mái nước song song

Thuyền về nước lại sầu trăm ngả

Củi một cành khô lạc mấy giòng

 

Lơ thơ cồn cỏ gió đìu hiu

Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều

Nắng xuống trời lên sầu chót vót

Sông dài trời rộng bến cô liêu

 

Bèo dạt về đâu hàng nối hàng

Mênh mông không một chuyến đò ngang

Không cầu gợi chút niềm thân mật

Lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng

 

Lớp lớp mây cao đùn núi bạc

Chim nghiêng cánh nhỏ bóng chiều sa

Lòng quê rờn rợn vời con nước

Không khói hoàng hôn cũng nhớ  nhà.

 

(Huy Cận)

 

 

MỘT CHÚT TÌNH

 

Chửa biết tên nàng, biết tuổi nàng

Mà sầu trong dạ đã mang mang

Tình yêu như bóng trăng hiu quạnh

Lạnh lẽo đêm trường dãi gió sương

 

Ta chỉ xin em một chút tình

Cho lòng thắm lại với ngày xanh

Sao em quên cả khi chào đón

Tình ái chiều xuân đứng trước mành

 

Rộn rã cười vang một góc lầu

Ngây thơ em đã biết gì đâu !

Đêm khuya trăng đọng trong cây lá

Vò võ ta xe mấy đoạn sầu

 

Lác đác ngày xuân rụng trước thềm

Lạnh lùng ta dõi bước chân em

Âm thầm ấm mối xa xa vọng

Đường thế đâu tìm bóng áo xiêm

 

Đợi đến luân hồi sẽ gặp nhau

Cùng em nhắc lại chuyện xưa sau

Chờ anh dưới gốc sim già nhé !

Em hái đưa anh đóa mộng đầu.

 

(Lưu Trọng Lư)

 

 

TỰ TÌNH DƯỚI HOA

 

Chưa gặp em, tôi vẫn nghĩ rằng

Có nàng thiếu nữ đẹp như trăng

Mắt xanh là bóng dừa hoang dại

Thăm thẳm nhìn tôi, không nói năng

 

Bài thơ hạnh ngộ đã trao tay

Ôi mộng nào hơn giấc mộng này?

Mùi phấn em thơm mùi hạ cũ

Nửa như hoài vọng, nửa như say

 

Em đến như mây, chẳng đợi kỳ

Hương ngàn gió núi đọng hàng mi

Tâm tư khép mở đôi tà áo

Hò hẹn lâu rồi…Em nói đi

 

Em muốn đôi ta mộng chốn nào?

Ước nguyền đã có gác trăng sao

Truyện tâm tình: dưới hoa thiên lý

Còn lối bâng khuâng: ngõ trúc đào

 

Em chẳng tìm đâu có sẵn thơ

Nắng trong hoa, với gió bên hồ

Dành riêng em đấy. Khi tình tự

Ta sẽ đi về những cảnh xưa

 

Rồi buổi u sầu, em với tôi

Nhìn nhau cũng đủ lãng quên đời

Vai kề một mái thơ phong nguyệt

Hạnh phúc xa xa miệng mỉm cười.

 

(Đinh Hùng)

 

 

HAI SẮC HOA TI GÔN

 

Một mủa thu trước mỗi hoàng hôn

Nhặt cánh hoa rơi chẳng thấy buồn

Nhuộm ánh nắng tà qua mái tóc

Tôi chờ người đến với yêu đương

 

Người ấy thường hay vuốt tóc tôi

Thở dài trong lúc thấy tôi vui

Bảo rằng: “Hoa, dáng như tim vỡ,

Anh sợ tình ta cũng vỡ thôi!”

 

Thuở đó, nào tôi đã hiểu gì

Cành hoa tan tác của sinh ly

Cho nên cười đáp: “Màu hoa trắng,

Là chút lòng trong chẳng biến suy”

 

Đâu biết lần đi một lỡ làng

Dưới trần gian khổ chết yêu đương

Người xa xăm quá! Tôi buồn lắm

Trong một ngày vui pháo nhuộm đường…

 

Từ đấy thu rồi thu lại thu

Lòng tôi còn giá đến bao giờ?

Chồng tôi vẫn biết tôi thương nhớ…

Người ấy, cho nên vẫn hững hờ

 

Tôi vẫn đi bên cạnh cuộc đời

Ái ân lạt lẻo của chồng tôi

Mà từng thu chết, từng thu chết

Vẫn dấu trong tim một bóng người

 

Tôi nhớ lời người trước bảo tôi

Một mùa thu trước rất xa xôi

Đến nay tôi hiểu thì tôi đã

Làm lỡ tình duyên cũ mất rồi

 

Tôi sợ chiều thu phớt nắng mờ

Chiều thu hoa đỏ rụng. Chiều thu

Gió về lạnh lẽo chân mây vắng

Người ấy ngang sông đứng ngóng đò

 

Nếu biết rằng tôi đã lấy chồng

Trời ơi!  Người ấy có buồn không?

Có thầm nghĩ tới loài hoa…vỡ

Tựa trái tim phai, tựa má hồng?

 

(TTKH) 1945

 

 

KHUYÊN AI KÉN VỢ

 

Lấy vợ khuyên ai kén vợ hiền

Kén người đức hạnh, bậc chân chuyên

Tốt duyên gặp được người như nguyện

Giá nọ nhà vàng đúc cũng nên

 

Lấy vợ khuyên ai kén vợ xoàng

Cần chi giàu có với quan sang

Quí hồ nội trợ tề gia giỏi

Cái cảnh gia đình mới vẻ vang

 

Lấy vợ khuyên ai cốt chữ tình

Xin dừng vụ lợi với ham danh

Mấy người tiểu kỷ vì danh lợi

Khó trọn cùng nhau nghĩa tử sinh

 

Lấy vợ không nên kén vợ giàu

E rằng ỷ của lại khinh nhau

Hổ thay ! Cái tiếng nhờ lưng vợ !

Tiếng ấy anh hùng há chịu đâu !

 

Lấy vợ không nên lấy ả đầu

Hoa tàn, nhị rữa, tiết còn đâu

Chỉ quen nghề nghiệp nhà son phấn

Chẳng trách phương ngôn đã có câu (*)

 

Lấy vợ không nên lấy vợ nhiều

Một bà thôi cũng đủ thương yêu

Ai về nhắn nhủ phường tham thịt

Cả lẻ làm chi, tổ ỷ eo…!

 

(Tú Mỡ)

 

(*) Chú thích: Phương ngôn rằng: “Lấy quan, quan cách, lấy khách, khách về Tàu, lấy nhà giàu, nhà giàu hết của”.

 

CÒN GẶP NHAU

 

Còn gặp nhau thì hãy cứ vui

Chuyện đời như nước chảy hoa trôi

Lợi danh như bóng mây chìm nổi

Chỉ có tình thương để lại đời

 

Còn gặp nhau thì hãy cứ thương

Tình người muôn thuở vẫn còn vương

Chắt chiu một chút tình thương ấy

Gửi khắp muôn phương vạn nẻo đường

 

Còn gặp nhau thì hãy cứ chơi

Bao nhiêu thú vị ở trên đời

Vui chơi trong ý tình cao nhã

Cuộc sống càng thêm nét tuyệt vời

 

Còn gặp nhau thì hãy cứ cười

Cho tình thêm thắm ý thêm tươi

Cho hương thêm ngát đời thêm vị

Cho đẹp lòng tất (?) cả mọi người

 

Còn gặp nhau thì hãy cứ chào

Giữa miền đất rộng với trời cao

Vui câu nhân nghĩa tròn sau trước

Lấy chữ nhân tình gửi tặng nhau

 

Còn gặp nhau thì hãy cứ say

Say tình say nghĩa bấy lâu nay

Say thơ say nhạc say bè bạn

Quên cả không gian lẫn tháng ngày

 

Còn gặp nhau thỉ hãy cứ đi

Đi tìm chân lý lẽ huyền vi

An nhiên tự tại lòng thanh thản

Đời sống tâm linh thật diệu kí !

 

(Tôn Nử Hỷ Khương)

BS PHAN THƯỢNG HẢI biên soạn

GIÀ HAY QUÊN

Tuổi già bớt nhớ lại hay quên

Ráng nhớ điều hay, ráng bớt quên

Cổ tích cố nhân nhiều lúc nhớ

Kịp thời đúng chỗ lắm lần quên

Biết nên hỉ xả tâm hằng nhớ

Biết phải từ bi tánh khó quên

Nhớ chuyện tốt lành quên chuyện xấu

Đến khi hết nhớ, hết còn quên!

(Phan Thượng Hải)

9/13/20

Nhân có Buổi Hội Thảo và Triển Lãm về Phan Thanh Giản tại Houston ngày 15/8/2021, xin mời vào website phanthuonghai.com để đọc:

Giai đoạn lịch sử trong thời gian Pháp chiếm Nam Kỳ

và có liên quan tới ông Phan Thanh Giản: 

http://phanthuonghai.com/Documents/tho%20va%20su/8%20phap%20thuoc%20the%20ky%2019/phan%20thanh%20gian%20va%20nam%20ky%201859-1867.pdf

VỀ 2 ÔNG TRẦN HUY LIỆU và TRẦN VĂN GIÀU

Bài của Ls Phan Đào Nguyên minh bạch cho ông Phan Thanh Giản có liên quan chính tới sử gia Trần Huy Liệu.  Trần Huy Liệu và Trần Văn Giàu là số 1 và số 2.  Tui xin gởi vài đoạn đã viết về việc làm của 2 người trong lịch sử chính trị trước khi họ phải thành sử gia (trong những bài "Thơ và Việt Sử" đăng trong phanthuonghai.com).

Xin mời đọc chơi cho vui.

Thân mến

Hải

 

TRẦN HUY LIỆU VÀ TRẦN VĂN GIÀU

 

Trần Huy Liệu và Trần Văn Giàu là 2 sử gia cầm đầu ở Miền Bắc và sau nầy CHXHCNVN (sau 1975)..

Hai người đã hoạt động chính trị trước đó nhưng chuyển sang thành Sử Gia của chính phủ, cầm đầu Viện Sử Học của nhà nước cho đến khi qua đời.

Đây là sơ lược những hoạt động chính trị của 2 người trước khi thành sử gia lãnh đạo của nhà nước.

 

 

TRẦN HUY LIỆU

 

(Trích từ Bài: Thơ và Việt Sử - Thời kỳ Độc Lập.  Đoạn "Nguyễn Hải Thần và Hồ Chí Minh")

 

Dưới tên Hồ Chí Minh và Việt Minh, Hồ Chí Minh đã lập Chính phủ và Quân đội chuẩn bị vì Nhật sắp thua Đệ Nhị thế chiến.

Việt Nam Tuyên Truyền Giải Phóng Quân của Võ Nguyên Giáp (1944) hợp với Cứu Quốc Quân của Chu Văn Tấn (1940) thành Việt Nam Giải Phóng Quân (15-5-45) với 3 Chỉ huy là Võ Nguyên Giáp, Chu Văn Tấn và Trần Đăng Ninh.  

            Trần Đăng Ninh (1910-1955) làm Hậu Cần trong Kháng chiến. 

            Chu Văn Tấn (1909-1984) vào Đông Dương Cộng Sản Đảng (1935) hoạt động ở vùng Lạng Sơn với Hoàng Văn Thụ.  Lập Đội Du Kích Bắc Sơn rồi đổi thành Cứu Quốc Quân (1941), từng hộ vệ đại hội lập Việt Minh.  

Hội ở Tân Trào gồm Việt Minh / Đảng Cộng Sản Đông Dương (CS) và Đảng Dân Chủ (DC) lập Ủy Ban Dân Tộc Giải Phóng có 5 ủy viên thường trực: Hồ Chí Minh (CS), Trần Huy Liệu (CS), Nguyễn Lương Bằng (CS), Phạm Văn Đồng (CS) và Dương Đức Hiền (DC) với Hồ Chí Minh làm Chủ Tịch và Trần Huy Liệu làm Phó Chủ Tịch.

            Trần Huy Liệu (1901-1969) vào VN Quốc Dân Đảng (năm 1928) thì bị bắt tù Côn Đảo (1928-1935).  Khi thả về, Trần Huy Liệu gia nhập Đông Dương Cộng Sản Đảng vào năm 1936 rồi lại bị tù Sơn La (1939-1945).

            Nguyễn Lương Bằng (1904-1979) sang Tàu vào VN Thanh Niên Cách Mạng Đồng Chí Hội (1925) rồi CS Đảng (1930?).  Nguyễn Lương Bằng bị bắt ở Hương Cảng (1931), giải về VN. Sau đó: vượt ngục (1932), bị bắt tù ở Sơn La (1935) rồi vượt ngục (1943).

 

 

(Trích từ Bài: Thơ và Việt Sử: Thời Pháp Thuộc Thế kỷ 20.  Đoạn "Trần Trọng Kim")

 

Tháng 8-1945, ngay sau khi Nhật đầu hàng Đồng Minh, chính phủ Trần Trọng Kim từ chức.  Chính phủ Việt Minh của Hồ Chí Minh từ Hà Nội sai Trần Huy Liệu, Nguyễn Lương Bằng và Thi sĩ Cù Huy Cận vào Huế buộc vua Bảo Đại phải thoái vị.  Ngày 25-8-45, vua Bảo Đại ban chiếu thoái vị, chấm dứt thời đại quân chủ của nước Việt Nam bằng câu nói nổi danh: “Thà làm dân một nước độc lập hơn làm vua một nước nô lệ”.  Ngày 30-8-45, trên lầu Ngọ Môn trước mặt dân chúng, ông trao ấn kiếm cho Trần Huy Liệu, đại diện của chính phủ lâm thời Hồ Chí Minh và sau đó ông di hành ra Hà Nội (Thăng Long) nhận làm Cố Vấn cho Chính Phủ VNDCCH của Hồ Chí Minh với một câu nói khác: “Trong lúc dân chúng làm cách mạng mà mình bỏ (thì) tri ôốc dôộc lắm”. (xấu hổ lắm).  

 

 

TRẦN VĂN GIÀU

 

(Trích từ Bài: Thơ và Việt Sử - Thời Pháp Thuộc Thế kỷ 20.  Đoạn "Nguyễn An Ninh")

 

Các nhà cách mạng của người Việt bắt đầu ở Pháp từ thập niên 1910s-1920s với các ông Phan Châu Trinh, Phan Văn Trường và Nguyễn Thế Truyền rồi đến ông Nguyễn An Ninh và Nguyễn Tất Thành. 

            Năm 1923, Nguyễn Tất Thành sang học ở Liên Xô và sau đó sang Tàu với tên là Lý Thụy rồi Nguyễn Ái Quốc rồi cuối cùng về Việt Nam năm 1945 với tên Hồ Chí Minh.  

            Năm 1928, ông Nguyễn Thế Truyền (1889-1968) giao lại cho ông Tạ Thu Thâu rồi về nước sống với người vợ Pháp ở Nam Định.  Ông bị Pháp đày đi Madagascar (Mã Đảo) trong thời Đệ Nhị thế chiến (1940-1946) rồi được tha về và di cư vào Nam (1954).  Ông có ra tranh cử Phó Tổng Thống năm 1961 cùng liên danh với ông Hồ Nhật Tân.    

            Ông Tạ Thu Thâu (1906-1945) sang Pháp vào năm 1927 theo ông Nguyễn Thế Truyền và trở thành Cộng Sản Đệ Tứ Quốc Tế ở Pháp (1929) cùng với các ông Phan Văn Hùm (1902-1946), Huỳnh Văn Phương (?-1945), Trần Văn Thạch (1905-1945).  Lúc đó cũng có nhóm Đệ Tam Quốc Tế ở Pháp gồm có Nguyễn Văn Tạo (1908-1970) và Trần Văn Giàu (1911-2010).  Các ông đều chống chính phủ Pháp trong việc xử tử ông Nguyễn Thái Học và các đồng chí năm 1930 nên lần lượt bị trục xuất hay trốn về nước.

 

Sau khi về Sài Gòn, nhóm Đệ Tứ Quốc Tế (Tạ Thu Thâu, Phan Văn Hùm và Trần Văn Thạch) mở tuần báo Tranh Đấu (La Lutte) vào năm 1933 và Nguyễn Văn Tạo (Đệ Tam Quốc Tế) mở tờ báo Trung Lập. 

Có một người kháctrong báo Tranh Đấu lại thuộc Cộng Sàn Đệ Tam Quốc Tế là Dương Bạch Mai (1904-1964).  Dương Bạch Mai sang Pháp cuối thập niên 1920, được đi học tập ở Liên Xô (như Nguyễn Tất Thành) từ 1929 đến 1932 thì về nước. 

Riêng Trần Văn Giàu (Đệ Tam Quốc Tế) chỉ âm thầm dạy học sau khi về nước ở Sài Gòn rồi được bí mật đưa sang học ở Liên Xô (1931-1933).  Pháp biết được nên bỏ tù Trần Văn Giàu 2 lần từ năm 1935. Lần thứ nhì Trần Văn Giàu cùng với Tô Ký vượt ngục.  

Ông Huỳnh Văn Phương (Đệ Tứ Quốc Tế) về nước sống ở Bắc Kỳ, hoạt động cùng nhóm với Võ Nguyên Giáp và Trần Huy Liệu.  Năm 1945, ông bị Việt Minh thủ tiêu.

 

......................

Tới Đệ Nhị Thế Chiến (1939-1945), Pháp bắt giam hầu hết những người chống đối.  

            Ông Nguyễn An Ninh chết ở Côn Đảo năm 1943.  Ông Phan Văn Hùm đi tù Côn Đảo (1939-1942) rồi quản thúc ở Tân Uyên.  Ông Tạ Thu Thâu cũng bị tù ở Côn Đảo (1940-1944), khi được thả thì ra hoạt động ở Bắc Trung Kỳ.  

            Ông Nguyễn Văn Tạo và Dương Bạch Mai đi tù Côn Đảo (1939-1943) rồi về bị quản thúc ở Tân Uyên.  Trong khi đó Trần Văn Giàu bí mật tái lập Xứ Ủy Nam Kỳ của Đông Dương Cộng Sản Đảng vào năm 1943 (thay thế Võ Văn Tần và Phan Đăng Lưu).

            Ông Nguyễn Thế Truyền mặc dù sống như thường dân vẫn bị đày đi đảo Madagascar cũng như Đức Hộ Pháp Phạm Công Tắc của Đạo Cao Đài (1941-46).

 

......................

Sau khi Nhật đảo chánh Pháp (9-3-1945), Trần Văn Giàu được Nhật giao cho cầm đầu Mặt Trận Quốc Gia Thống Nhất ở Nam Kỳ với Dương Bạch Mai và Nguyễn Văn Tạo. Các ông Phan Văn Hùm và Trần Văn Thạch sau nầy cũng ở trong Mặt Trận.  

Ông Tạ Thu Thâu bị Việt Minh thủ tiêu ở Quảng Ngãi ngay sau khi Nhật cướp chánh quyền (9-3-45). 

 

 

(Trích từ Bài: Thơ và Việt Sử - Thời kỳ Độc Lập.  Đoạn "Lãng Ba Phan Văn Bộ")

 

.................

Tháng 3 năm 1945, sau khi đảo chánh Pháp, Nhật cho vua Bảo Đại lập chính phủ Trần Trọng Kim.  Trong Nam Kỳ, vua Bảo Đại được đặt một quan Khâm Sai, là ông Nguyễn Văn Sâm, cũng như Khâm Sai Phan Kế Toại ở Bắc Kỳ.  

Tuy nhiên thực quyền được Nhật giao cho Mặt Trận Quốc Gia Thống Nhất gồm tất cả các đảng phái và giáo phái ở Nam Kỳ, cai trị Sài Gòn và địa phương.  Ngày 23-3-45, Mặt Trận Quốc Gia Thống Nhất rút lui nhường quyền lãnh đạo cho Ủy Ban Hành Chánh Lâm Thời Nam Bộ của Việt Minh (Cộng Sản Đệ Tam Quốc Tế) với Trần Văn Giàu(thuộc CS Đệ Tam Quốc Tế) làm Chủ Tịch.  

 

Tháng 8 năm 1945, Nhật đầu hàng Đồng Minh, quân Anh vào giải giới quân Nhật phía Nam vỹ tuyến 16 (từ Tourane tức là Đà Nẵng tới mũi Cà Mau) gồm Nam Trung Kỳ và Nam Kỳ.  Quân Pháp theo chân quân Anh vào Sài Gòn.  

Trong khi đó Ủy Ban Hành Chánh Lâm Thời Nam Bộ đã bị chống đối của Cao Đài, Hòa Hảo và Đệ Tứ Quốc Tế (Trotskyist) nên phải nhượng bộ và cải tổ, Phạm Văn Bạch (cũng thuộc Đệ Tam Quốc Tế) thay Trần Văn Giàu làm Chủ Tịch.  Sài Gòn hoàn toàn rối loạn giữa người Pháp, người Việt và các đảng phái. 

 

Sau một thời gian thương thuyết, quân Pháp tấn công quân Việt Nam và chiếm Tòa Thị Chính Sài Gòn là trụ sở của Ủy Ban Hành Chánh Lâm Thời Nam Bộ ngày 23-9-45.  (Ngày 23-9 nầy sau nầy được gọi là ngày Nam Bộ Kháng Chiến).  Quân Việt Nam thua, phải rút ra ngoại ô và phong tỏa Sài Gòn. Ngày 3-10-45, tướng Leclerc đem 10.000 quân đổ bộ vào Sài Gòn.  Ngày 9-10, Anh và Pháp ký hiệp ước ở Luân Đôn xác định Anh hoàn toàn ủng hộ Pháp trong việc cai trị toàn Đông Dương dưới vỹ tuyến 16.  

 

...............

Ngày 16-10-45, quân Việt Minh rút về vùng kháng chiến.  Khi rút đi, Việt Minh giết 20 người nồng cốt của phe Đệ Tứ Quốc Tế (Trotskyist), trong đó có ông Phan Văn Hùm.  Quân đội của Cao Đài, của Hòa Hảo (gọi là Dân Xã) và của Bình Xuyên (của Tướng Bảy Viễn) không tham gia, chỉ rút về địa phận của mình.  

Trong Mặt trận Thống nhất Quốc gia Liên hiệp còn có Việt Nam Quốc Gia Độc Lập Đảng của các ông Nguyễn Văn Sâm (cựu Khâm sai), Phan Khắc Sửu, Trần Văn Ân và Hồ Văn Ngà.   Nó là hậu thân của Việt Nam Phục Quốc Đồng Minh Hội (của Kỳ Ngoại Hầu Cường Để) ở Nam Kỳ.  Năm 1946, ông Nguyễn Văn Sâm và Hồ Văn Ngà bị VM thủ tiêu.  

Trong khoảng 1945-1946, VM dưới quyền của Trần Văn Giàu và Dương Bạch Mai thủ tiêu khoảng 2.500 người đối lập (theo lời của Trần Văn Giàu về sau nầy), trong đó có ông Bùi Quang Chiêu (1872-1945) bị giết ngày 29-9-1945.  Hai người bạn của ông trong đảng Lập Hiến (1923-1937) là ông Nguyễn Phan Long (1889-1960) và ông Trương Văn Bền (1883-1956) sang Pháp năm 1948 may mắn sống sót.  Con gái của ông Bùi Quang Chiêu là bà Henriette Bùi Quang Chiêu đậu Bác sĩ Y Khoa ở Pháp vào năm 1929, là Bác sĩ Y Khoa đầu tiên của Việt Nam.  

Sau nầy, Đức Giáo Chủ Huỳnh Phú Sổ (1919-1947) của đạo Hòa Hảo cũng mất tích ngày 16-4-1947 trong chuyến đi hội với VM ở Tân Phú.     

 

Quân Pháp lần lượt chiếm lại lãnh thổ: phía Nam Sài Gòn chiếm đến mũi Cà Mau (25-10-45 tới 5-2-46) và phía Bắc Sài Gòn tới Kom Tum và Đà Nẵng (23-10-45 tới tháng 7-46).  Về chính trị, Pháp cho lập Nam Kỳ Quốc trong Liên Bang Đông Dương với chính phủ của Thủ Tướng Bs Nguyễn Văn Thinh ra mắt ngày 26-3-46, làm bù nhìn cho Pháp, cai trị dưới vỹ tuyến 16.

 

...............

Kháng chiến thuộc Việt Minh không được người trong Nam ủng hộ, mặc dù kháng chiến rất dữ dội ở miền Bắc.  Kháng chiến Việt Minh trong Nam (thường gọi là Nam Bộ) thật ra gồm Nam Trung Bộ, Tây Nguyên và Nam Bộ.  (Chữ Bộ được người kháng chiến dùng thế cho chữ Kỳ?).  

Các nhân vật của Nam Bộ Kháng Chiến lúc đầu từ Ủy Ban Hành Chánh Nam Bộ bị chuyển về Bắc như Trần Văn Giàu, Phạm Văn Bạch, Dương Bạch Mai, Bs Phạm Ngọc Thạch, Nguyễn Văn Tạo… (trừ Hà Huy Giáp).  Đổi lại chính phủ Hồ Chí Minh đưa vào Nam Tôn Đức Thắng (1946) rồi Lê Duẩn, Phạm Hùng, Lê Đức Thọ và các tướng Nguyễn Bình, Nguyễn Sơn... (Nguyễn Bình tử trận năm 1951 còn Nguyễn Sơn trở về với Trung Cộng năm 1950).  Khi tập kết năm 1954 thì có tên của các tướng Tô Ký, Đồng Văn Cống, Trần Văn Trà…. 

 

BS PHAN THƯỢNG HẢI 

_______________________________

LỜI THƠ NGUYỄN BỈNH KHIÊM

                                        (Bs Phan Thượng Hải)

                           

 Ông Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm đã có những lời nói và câu thơ làm nên và tiên đoán lịch sử.  Ngoài ra ông cũng là một thi sĩ tiền phong về thơ Hán Nôm với nhiều sáng tạo.


 

TIỂU SỬ

 

Ông Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491-1585) là người học rộng và giỏi tướng số.  Ông Nguyễn Bỉnh Khiêm nguyên tên là Nguyễn Văn Đạt người làng Trung Am huyện Vĩnh Lại trấn Hải Dương lúc bấy giờ (nay là xã Lý Học huyện Vĩnh Bảo, Hải Phòng).  Vào cuối nhà Hậu Lê, Mạc Đăng Dung chuyên quyền và cướp ngôi nhà Lê (1527); ông ở ẩn, không chịu đi thi làm quan. 

 

Về sau khi nước nhà tạm thời yên ổn dưới triều nhà Mạc; ông Nguyễn Bỉnh Khiêm, năm 43 tuổi, ra thi Hương đậu Giải Nguyên, thi Hội thì đậu Hội Nguyên rồi vào thi Đình đậu Trạng Nguyên (1534-1535).  Ông Ngưyễn Bỉnh Khiêm làm quan đến Lại Bộ Thị Lang và Đông Các Đại Học Sĩ thì từ quan năm 1542 (53 tuổi) và về trí sĩ tu hành ở Bạch Vân am nơi quê quán ở làng Trung Am.  

Các vua nhà Mạc vẫn có hỏi ý kiến ông và còn phong cho ông là Lại Bộ Thượng Thư Trình Tuyền Hầu rồi Thái Phó Trình Quốc Công nên tục gọi ông là Trạng Trình.  Ông Nguyễn Bỉnh Khiêm làm quan “tại gia” cho đến năm ông 73 tuổi mới hoàn toàn về hưu.

Ông Trạng Trình cũng cố vấn cho chúa Trịnh Kiểm và chúa Nguyển Hoàng chứ không là tôi thần của riêng triều đình nào hết.  Những lời cố vấn của ông Trạng Trình đều có hiệu quả tốt cho đất nước: Bắc Hà hòa bình và thịnh vượng dưới thời Vua Lê Chúa Trịnh (khoảng 250 năm); nhà Mạc tồn tại thêm 3 đời ở Cao Bằng sau khi mất Thăng Long và nhất là Chúa Nguyễn vào được Nam Hà và diệt Chiêm Thành và chiếm Thủy Chân Lạp, mở rộng lãnh thổ nước Việt ta thành gấp đôi.  

 

Ông Nguyễn Bỉnh Khiêm mất năm 94 tuổi, có 3 vợ và 12 con (7 trai và 5 gái).  Con trai đều đỗ đạt làm quan.  Học trò của ông là ông Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan và ông Lương Hữu Khánh (con của thầy ông là ông Lương Đắc Bằng) đều làm đến Thượng Thư trong triều đình Hậu Lê trung hưng.  Học trò tôn ông là Tuyết Giang phu tử.  Thế kỷ 20, Cao Đài Giáo ở Tây Ninh phong ông là Thanh Sơn Đạo Sĩ hay Thanh Sơn Chân Nhân.

 

Nho Giáo chỉ có về nhân sinh quan truyền sang Đại Việt với 2 nhà Nho tiêu biểu là ông Chu Văn An và ông Nguyễn Trãi.  Nhưng đến thời Tống Nho, anh em Trình Hạo và Trình Di và Chu Hi đưa ra học thuyết Lý Khí (gọi là Lý Học), Nho Giáo có thêm Hình Nhi Thượng và biến thành Tân Nho Giáo.  Ông Nguyễn Bỉnh Khiêm là nhà Nho nước ta tiêu biểu cho sự hiểu biết về Lý Học Tân Nho Giáo.  “An Nam lý học hữu Trình Tuyền” là câu người Tàu khen ông Nguyễn Bỉnh Khiêm tinh thông Lý Học.  Ông Nguyễn Bỉnh Khiêm có tước Trình Tuyền Hầu trước khi được nhà Mạc thăng lên là Trình Quốc Công. 



 

THƠ TIÊN ĐOÁN LỊCH SỬ

 

Ông Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491-1585) sống vào thế kỷ 16 với tên nước là Đại Việt.  Mãi đến năm 1802 (đầu thế kỷ 19), nước ta mới đổi tên là Việt Nam.  Tuy nhiên trong 2 bài thơ gửi cho 2 ông Trạng Nguyên khác, Trạng Nguyên Nguyễn Bỉnh Khiêm đã dùng chữ “Việt Nam” rồi: 

 

Thơ gửi Trạng Nguyên Nguyễn Thuyến

 

Trạng Nguyên Nguyễn Thuyến (1495-1557) hiệu là Cảo Xuyên người làng Canh Hoạch huyện Thanh Oai trấn Sơn Nam đỗ Trạng Nguyên năm 1532 (3 năm và 1 khóa trước ông Nguyễn Bỉnh Khiêm) làm quan đến Lại Bộ Thượng Thư tước Thê Quận Công.

 

TÂY HỘ KÝ THANH OAI TRẠNG NGUYÊN NGUYỄN CẢO XUYÊN (*)

Tạc dữ ngã tằng ấp tiếu đàm                       Bữa trước cùng ông mãi tiếu đàm

Bất tài tư xuyễn ngã ưng tàm                      Kém tài tự thẹn dám đâu ham

Khôi tam niên ngã quân đa hạnh                Trạng Nguyên trước tớ ông may nhỉ

Trù nhất thâu quân ngã vị cam                   Trù tính thua ông tớ chửa cam

Hồ học tích niên tằng cộng giảng               Biển học năm nao cùng giảng thuyết

Hán duy kim nhật hữu tường thanh            Việc quân ngày tới lại chung làm

Tiền trình viễn đại quân tu ký                     Đường xa lối rộng ông nên nhớ

Thùy thị thanh danh trọng Việt Nam.         Tiếng để sao cho đẹp Việt Nam.

(Nguyễn Bỉnh Khiêm)                                 (? Dịch)

 

(*) Hộ giá đến miền Tây gửi Thanh Oai Trạng Nguyên Nguyễn Cảo Xuyên.

 

Thơ gửi Trạng Nguyên Giáp Hải

 

Trạng Nguyên Giáp Hải (1504-1586) hiệu là Tiết Trai người làng Công Luận huyện Văn Giang (nay thuộc Hải Hưng) sau đến ở làng Dĩnh Kế huyện Thượng Nhân (nay thuộc Hà Bắc) thi đỗ Trạng Nguyên năm 1538 (3 năm và 1 khóa sau ông Nguyễn Bỉnh Khiêm) làm quan đến Lại Bộ Thượng Thư tước Sách Quận Công.

 

QUY LÃO KÝ LẠI BỘ THƯỢNG THƯ TÔ KHÊ BÁ (*)

Kiểm điểm hành niên thất thập tam           Tuổi đã bảy ba ở cõi phàm

Huyền xa sai vãn dã ưng tàm                     Từ quan muộn, mắc tiếng tham lam

Trì khu tự hứa ta vô lực                              Ruổi rong vẫn biết đà thua kém

Danh lợi hà cầu khởi thị tham?                  Danh lợi chăng cầu há bảo tham

Miễn lực vọng công phù đế thất                 Gắng sức ông chăm phò đế nghiệp

Thâu nhàn tiếu ngã lão Vân Am                Hưởng nhàn tớ ở mãi Vân Am

Thọ tinh cộng chiếu quang mang tại          Thọ tinh vằng vặc trên nền thẳm

Tiền hậu quang huy chiếu Việt Nam.         Sau trước rạng soi đất Việt Nam.

(Nguyễn Bỉnh Khiêm)                                (? Dịch)

 

(*) Về hưu gửi Lại Bộ Thượng Thư Tô Khê Bá (Trạng Nguyên Giáp Hải).


 

Theo ông Phan Kế Bính trong Nam Hải Dị Nhân truyện thì ông Nguyễn Bỉnh Khiêm có bài thơ Sấm như sau như là một “tiên tri” về “Lê Mạc phân tranh” 

 

LỜI SẤM

Non sông nào phải buổi bình thời

Thù đánh nhau chi khéo nực cười

Cá vực chim rừng ai khiến đuổi

Núi xương sông huyết thảm đầy vơi

Ngựa phi chắc có hồi quay cổ

Thú dữ nên phòng lúc cắn người

Ngán ngẫm việc đời chi nói nữa

Bên đầm say hát nhởn nhơ chơi.

(Phan Kế Bính phỏng dịch)

 

Câu “Ngựa phi chắc có hồi quay cổ” tiên đoán nhà Lê sẽ khôi phục được nước.  Câu “Thú dữ nên phòng lúc cắn người” tiên đoán gia đình Chúa Trịnh sẽ giữ quyền nhà Lê.  Những điều tiên đoán trong bài Sấm nầy đều đúng.  

Tuy nhiên nguyên văn của bài thơ nầy làm bằng chữ Hán tựa đề là Cảm Hứng trong Bạch Vân Am thi tập như sau (chứ không có trong Sấm Trạng):

 

CẢM HỨNG                                                      

Thái hòa vũ trụ bất Ngu Chu (*)                        

Hổ chiến giao tranh tiếu lưỡng thù               

Xuyên huyết sơn hài tùy xứ hữu                   

Uyên ngư tùng trước vị thùy ngu                  

Trùng hưng dĩ bốc độ giang mã                    

Hậu hoạn ưng phòng nhập thất khu              

Thế sự đáo đầu hưu thuyết trước                  

Túy ngâm trạch bạn nhậm nhàn du.              

(Nguyễn Bỉnh Khiêm)                                   

(*) Thời Ngu Thuấn và Chu Văn Vương là những thời thịnh trị theo Nho Gia.

 

Nguyên văn của 2 câu “Ngựa phi chắc có hồi quay cổ/Thú dữ nên phòng lúc cắn người” là “Trùng hưng dĩ bốc độ giang mã/Hậu hoạn ưng phòng nhập thất khu”.  

 

Ông Nguyễn Bỉnh Khiêm làm bài thơ nầy lúc ông đã từ quan tại triều đình nhà Mạc (sau 1542).  Nhà Lê Trung Hưng chiếm Thanh Hóa năm 1543 và chiến tranh Lê Mạc thật sự từ 1545 cho đến khi chấm dứt vào năm 1593 sau khi nhà Lê và chúa Trịnh Tùng chiếm Thăng Long và giết vua Mạc Mậu Hợp (1592) rồi giết Mạc Toàn (con Mạc Mậu Hợp) và Mạc Kính Chỉ (1593). 

 

Dưới đây là lịch sử "Lê Mạc phân tranh":

 

Ông Nguyễn Kim lập vua Lê Trang Tông ở Ai Lao năm 1533 chính thức sáng lập nhà Hậu Lê Trung Hưng.  Vua Lê Trang Tông là Hoàng tử Lê Duy Ninh con của Lê Chiêu Tông. 

Tục truyền rằng Vua Lê Trang Tông có biệt danh là Chúa Chổm vì lúc hàn vi ông rất nghèo nên thiếu nợ rất nhiều.  Khi ông làm vua, dân chúng kéo tới cung vua ở Thăng Long để đòi nợ.  Điều nầy chỉ là truyền thuyết và không đúng sự thật vì nhà Hậu Lê khôi phục Thăng Long sau khi vua Lê Trang Tông đã qua đời ở Thanh Hóa.  

Sau nầy sử gia cũng nghi ngờ là vua Lê Trang Tông không phải là con của vua Lê Chiêu Tông vì Trang Tông sinh năm 1514 và Chiêu Tông sinh năm 1506.  Nhà Mạc thì tố cáo là ông Nguyễn Kim lập con riêng của mình lên làm vua là Lê Trang Tông.

 

Năm 1543, Nguyễn Kim về chiếm Thanh Hóa (và Nghệ An).  Tướng nhà Mạc là Dương Chấp Nhất đầu hàng rồi 2 năm sau (1545) đầu độc chết ông Nguyễn Kim và trốn về với nhà Mạc.  Rể ông Nguyễn Kim là ông Trịnh Kiểm lên thay làm Thái Sư.

Năm 1546 Mạc Hiến Tông Phúc Hải chết, người con thế ngôi là Mạc Tuyên Tông Phúc Nguyên có chú là Tuyên Vương Mạc Kính Điển làm Phụ Chính.  Tướng Phạm Tử Nghi lập con Thái Tổ là Mạc Chính Trung và làm phản nhưng bị Mạc Kính Điển đánh dẹp và giết chết.

Từ 1545 tới 1580, nhà Mạc (dưới quyền Mạc Kính Điển) và nhà Lê (dưới quyền Trịnh Kiểm rồi Trịnh Tùng) giằng co không thắng bại.  Năm 1562, Mạc Tuyên Tông chết, con là Mạc Mậu Hợp mới 2 tuổi lên làm vua.  Năm 1570, Trịnh Cối thua người em khác mẹ là Trịnh Tùng (cháu ngoại ông Nguyễn Kim) chạy về hàng nhà Mạc.  

Năm 1580, Mạc Kính Điển chết (em là Mạc Đôn Nhượng thay), nhà Mạc suy yếu.  Năm 1591 Trịnh Tùng tiến sát Thăng Long bắt được Tướng Nguyễn Quyện của nhà Mạc nhưng rút quân.  Năm 1592, Trịnh Tùng chiếm Thăng Long.  Mạc Mậu Hợp thua ở Hải Dương bị bắt và bị giết.  Con Mạc Mậu Hợp là Mạc Toàn cũng bị bắt và bị giết (1593).

Mạc Kính Chỉ (con Mạc Kính Điển) tự lập làm vua (1593) nhưng 3 tháng sau bị thua 2 tướng Hoành Đình Ái và Nguyễn Hữu Liêu của Trịnh Tùng ở Hải Dương và bị giết.


 

LỜI NÓI LÀM NÊN LỊCH SỬ

 

Từ những câu thơ trong đời ông tiên đoán đúng lịch sử, ông Nguyễn Bỉnh Khiêm cũng có những câu nói bất hủ làm nên lịch sử:

 

(1)

"Cao Bằng tuy thiểu khả diên sổ thế"

 

Sau khi mất Thăng Long, theo lời khuyên trên đây của ông Nguyễn Bỉnh Khiêm, nhà Mạc rút về vùng Cao Bằng và tồn tại 85 năm sau (1593-1677) với 3 đời vua.  

Mạc Kính Cung (1593-1594): em Mạc Kính Chỉ, con thứ 7 của Mạc Kính Điển

Mạc Kính Khoan (1594-1628): cháu kêu Kính Cung bằng chú

Mạc Kính Vũ (1628-1677): con Kính Khoan.  Năm 1677, tướng Đinh Văn Tả của chúa Trịnh chiếm Cao Bằng.  Mạc Kính Vũ trốn sang Tàu.

Nhà Mạc tuy ở Cao Bằng được nhà Minh ở miền Nam ủng hộ nhưng không bao giờ mượn quân Tàu sang tiếp viện.

 

Nguyên văn của lời khuyên: “Cao Bằng tuy tiểu, khả diên sổ thế” (Cao Bằng tuy nhỏ nhưng có thể kéo dài nhiều thế hệ).

Câu nói nầy của ông Nguyễn Bỉnh Khiêm làm nên lịch sử.  


 

(2)

"Giữ Chùa thờ Phật thì được ăn oản"

 

Nhà Lê Trung Hưng bắt đầu khi ông Nguyễn Kim lập con của Lê Chiêu Tông là Lê Trang Tông (1533).  Vua Lê Trung Tông (con Trang Tông) chết (1556), không có con.  

Tục truyền rằng Thái Sư Trịnh Kiểm đã lưỡng lự muốn xưng làm Vua nhưng còn chưa dám định hẳn bề nào, các quan cũng không ai biết làm thế nào cho phải.  Sau Trịnh Kiểm cho người đi lẽn ra Hải Dương hỏi ông Nguyễn Bỉnh Khiêm tức là Trạng Trình xem nên làm thế nào.  Ông Nguyễn Bỉnh Khiêm không nói gì cả chỉ ngảnh lại bảo đầy tớ: “Năm nay mất mùa thóc giống không tốt, chúng mày nên tìm giống cũ mà gieo mạ”.  Nói rồi lại sai đầy tớ ra chùa bảo Tiểu quét dọn chùa và đốt hương để ông ra chơi chùa rồi bảo Tiểu rằng: “Giữ chùa thờ Phật thì (được) ăn oản”.  Sứ giả về kể chuyện lại cho Trịnh Kiểm nghe.  Trịnh Kiểm hiểu ý mới cho người đi tìm con cháu họ Lê.

(Trần Trọng Kim/VNSL).

 

Nhờ đó vua Lê và chúa Trịnh cùng cai trị Bắc Hà yên tịnh khoảng 250 năm.  

 

Trong lịch sử, Chúa Trịnh có giết 3 vua Lê (Anh Tông, Kính Tông và Phế Đế Duy Phường) và 1 Thái tử (của vua Hiển Tông) nhưng không bao giờ tiêu diệt nhà Lê.  

Nhà Lê Trung Hưng bắt đầu khi ông Nguyễn Kim lập con của Lê Chiêu Tông là Lê Trang Tông (1533).  Vua Lê Trung Tông (con Trang Tông) chết (1556), không có con.  Theo lời khuyên của Trạng Trình, Thái sư Trịnh Kiểm không tự lập làm vua mà lập ông Lê Duy Bang là cháu 5 đời của Lam Quốc Công Lê Trừ (anh thứ hai của Thái Tổ Lê Lợi) làm vua là vua Lê Anh Tông.  Theo gia phả, vua Lê Anh Tông là vai ông của vua Lê Trung Tông (ông lên làm vua thế cháu).

Năm 1573, Lê Anh Tông đã muốn tự lập khỏi Chúa Trịnh Tùng (con Trịnh Kiểm) khi ông nầy tranh quyền với anh là Trịnh Cối nhưng không xong nên cùng 4 người con lớn, chạy trốn vào Nghệ An.  Sau khi Trịnh Cối thua và hàng nhà Mạc thì vua Anh Tông bị bắt rồi bị Trịnh Tùng giết chết.  Con thứ năm của Anh Tông là Duy Đàm vì còn nhỏ tuổi (7 tuổi) không chạy theo vua cha được, ở lại kinh đô (Thanh Hóa) nên được Chúa Trịnh Tùng lập làm vua là Lê Thế Tông.  Trong thời vua Lê Thế Tông (vị vua thứ tư của nhà Lê Trung Hưng 1573-1599), nhà Lê và chúa Trịnh Tùng chiếm lại Thăng Long (1592).     

Vua Lê Kính Tông Duy Thái (con Thế Tông) mưu với Trịnh Xuân (con thứ của Trịnh Tùng) lật đỗ Chúa Trịnh Tùng nhưng việc không thành nên Trịnh Tùng buộc vua Lê Kính Tông phải thắt cổ chết và lập Thái tử Lê Duy Kỳ làm vua là Lê Thần Tông vào năm 1619 (lúc 13 tuổi).

 

Vua Lê Thần Tông (1607-1662) làm vua lần thứ nhứt (1619-1643) và lần thứ nhì (1649-1662).  Vua tên là Lê Duy Kỳ là con trưởng của vua Lê Kính Tông và Hoàng hậu Trịnh thị Ngọc Trinh (con gái của Chúa Trịnh Tùng).  Do đó vua Lê Thần Tông là cháu nội của Vua Lê Thế Tông và cháu ngoại của Chúa Trịnh Tùng.  

Năm 1630, Chúa Trịnh Tráng (con Trịnh Tùng) ép Lê Thần Tông (24 tuổi) phải lấy con gái mình là Trịnh thị Ngọc Trúc làm Hoàng hậu.  Lúc đó bà Trịnh thị Ngọc Trúc nầy (36 tuổi) đã có 4 con và chồng là Lê Trụ đang bị giam trong ngục.  Hoàng hậu Trịnh thị Ngọc Trúc không có sinh hoàng tử và sau đó đi tu ở chùa Bút Tháp (ở Bắc Ninh).  Năm 1643, Lê Thần Tông nhường ngôi cho con là Lê Duy Hựu (là vua Lê Chân Tông) lên làm Thái Thượng Hoàng.  Năm 1649, Lê Chân Tông (1630-1649) chết không có con nên Chúa Trịnh Tráng đưa Thái Thượng Hoàng Lê Thần Tông lên ngôi làm vua lần thứ nhì.  Năm 1662, vua Lê Thần Tông chết vì ung thư.

Vua Lê Thần Tông theo Chúa Trịnh đánh chúa Nguyễn tất cả 3 lần.

Vua Lê Thần Tông có những kỷ lục của một vị vua Việt Nam: làm vua 2 lần, có 4 người con làm vua (bằng với vua Trần Minh Tông) và là vua đầu tiên lấy vợ người Tây phương (người Hòa Lan, con gái của một thuyền trưởng). 

 

Bốn vị vua là con của Lê Thần Tông là:

Lê Chân Tông (1630-1649) lên ngôi năm 1643.

Lê Huyền Tông (1654-1671) lên ngôi năm 1662

Lê Gia Tông (1661-1675) lên ngôi năm 1671

Lê Hy Tông (1663-1716) lên ngôi năm 1676 rồi năm 1705 nhường ngôi cho con trưởng là Lê Dụ Tông và làm Thái Thượng Hoàng cho đến khi mất.  Vua Lê Hy Tông sanh ra 5 tháng sau khi cha mình là Lê Thần Tông qua đời.  Đời ông làm vua là thời thạnh trị của nhà Hậu Lê Trung Hưng vì Bắc Hà không còn chiến tranh.  Chiến tranh Trịnh Nguyễn (1627-1672) xảy ra trong thời Thần Tông, Chân Tông, Huyền Tông và Gia Tông (trong thời chúa Trịnh Tráng và Trịnh Tạc).  

 

Lê Dụ Tông (1679-1731) làm vua từ năm 1705.  Năm 1727, Chúa Trịnh Cương phế con trưởng của Lê Dụ Tông là Lê Duy Trường và lập con thứ là Duy Phường (mẹ là dòng họ Trịnh).  Biết là Lê Dụ Tông bất bình, Trịnh Cương ép vua nhường ngôi cho Duy Phường và lên làm Thái Thượng Hoàng (1729).  Dụ Tông mất năm 1731 thì đến năm sau (1732), Chúa Trịnh Giang phế Lê Đế Duy Phường thành Hôn Đức Công và lập Duy Trường làm vua là Lê Thuần Tông.  Năm 1735, Lê Thuần Tông qua đời, Chúa Trịnh Giang lập em là Duy Thận là vua Lê Ý Tông và 2 tháng sau thắt cổ Hôn Đức Công Duy Phường.  

Năm 1740, mẹ của Chúa Trịnh Giang truất phế Trịnh Giang (1711-1762), tôn là Thái Thượng Vương, giam lỏng trong cung (cho đến khi mất vào năm 1762) và lập em (Trịnh Giang) là Chúa Trịnh Doanh.  Chúa Trịnh Doanh liền bắt vua Lê Ý Tông làm Thái Thượng Hoàng (1740), nhường ngôi cho con trưởng Duy Diêu là Lê Hiển Tông (1717-1786).  

Vua Lê Hiển Tông giữ niên hiệu Cảnh Hưng trong 47 năm làm vua cho đến khi mất (1786).  Lê Duy Mật là con Lê Dụ Tông nổi lên chống lại Chúa Trịnh ở Thanh Hóa, phải 40 năm mới dẹp được (1740-1770).  Chúa Trịnh Sâm (con Trịnh Doanh) giết con trưởng của Hiển Tông là Duy Vỹ, giam con là Duy Khiêm với 2 người em của Duy Khiêm và lập Duy Cận (em Duy Vỹ) làm Thái Tử.  Năm 1783, Kiêu Binh truất phế Duy Cận thành Sùng Nhượng Công và lập Duy Khiêm làm Hoàng Thái Tôn.  Lê Duy Khiêm (sau đổi tên là Duy Kỳ) lên ngôi sau khi Lê Hiển Tông qua đời là vua Lê Chiêu Thống.  Vua Lê Thần Tông và vua Lê Chiêu Thống có trùng tên là Duy Kỳ.  

 

(3)

"Hoành Sơn nhất đái vạn đại dung thân"

 

Cuối đời nhà Mạc, ông Nguyễn Kim (1468-1545) phò vua Lê Trang Tông ở Thanh Hóa mong chiếm lại đất nước từ nhà Mạc.  Ông Nguyễn Kim bị hàng tướng nhà Mạc là Dương Chấp Nhất thuốc độc chết, binh quyền thuộc về rể là ông Trịnh Kiểm (1503-1570).  Thái Sư Trịnh Kiểm kiếm cớ định tội giết con của ông Nguyễn Kim là Lãng Quận Công Nguyễn Uông.  Đoan Quận Công Nguyễn Hoàng (em Nguyễn Uông) hỏi ý kiến ông Trạng Trình (phải làm sao?) thì câu trả lời bất hủ là:

 

“Hoành Sơn nhất đái, vạn đại dung thân” (Hoành Sơn một dãy, muôn đời dung thân).

 

Ông Nguyễn Hoàng liền nhờ chị là Ngọc Bảo xin với chồng là ông Trịnh Kiểm vào trấn thủ đất Thuận Hóa, nam của Hoành Sơn thì được chấp thuận.

Năm 1558, ông Nguyễn Hoàng (1525-1613) dẫn mấy ngàn dân quân vượt Đèo Ngang của Hoành Sơn vào Thuận Hóa (gồm tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị và Thừa Thiên bây giờ).  Năm 1569, ông kiêm nhiệm Trấn Thủ Quảng Nam (gồm tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi và Qui Nhơn) và sau đó năm 1611 vượt đèo Cù Mông (giữa Bình Định và Phú Yên) chiếm Phú Yên đến biên giới Tuy Hòa (Phú Yên) và Khánh Hòa (Nha Trang) bây giờ.  Đèo Cù Mông là đèo hiểm trở nhất nước Việt dài 7 km, cao 245 m và dốc 9%.  Nước Chiêm Thành chỉ còn Khánh Hòa (Nha Trang), Phan Rang và Phan Thiết.

Năm 1653, chúa Nguyễn Phúc Tần chiếm Nha Trang (Khánh Hòa)

Năm 1693, chúa Nguyễn Phúc Chu sai Chưởng Cơ Nguyễn Hữu Cảnh chiếm Phan Rang và Phan Rí (Phan Thiết).  Nước Chiêm Thành bị tiêu diệt.

 

Dưới thời chúa Nguyễn, nước Đại Việt chiếm trọn vùng Thủy Chân Lạp của nước Chân Lạp lập thành Nam Kỳ.  Việc thành hình của đất Nam Kỳ chính thức từ ông Nguyễn Hữu Cảnh lập Dinh Trấn Biên và Dinh Phiên Trấn năm 1698 cho đến năm 1759 dưới thời ông Nguyễn Cư Trinh hoàn tất và ổn định Dinh Long Hồ.

Nam Kỳ Lục Tỉnh hình thành năm 1759 với 3 Dinh: Trấn Biên (tỉnh Biên Hòa), Phiên Trấn (tỉnh Gia Định) và Long Hồ.  

Ông Nguyễn Cư Trinh (1716-1767) trấn Dinh Long Hồ đóng ở đất Tầm Phào (tỉnh lỵ Vĩnh Long bây giờ) từ năm 1753 đến năm 1765.  Dinh Long Hồ gồm 4 tỉnh Định Tường, Vĩnh Long, An Giang và Hà Tiên.  

 

Câu “Vạn đại dung thân” không phải chỉ ám chỉ con cháu của ông Nguyễn Hoàng mà thật sự là dùng cho con cháu của dân Việt.  Nhờ ông Nguyễn Hoàng vượt Hoành Sơn mà lãnh thổ nước Việt trải dài đến mũi Cà Mau với vùng đồng bằng trù phú ở Nam Kỳ đã giúp cho toàn dân được “vạn đại dung thân”?  

Ông Nguyễn Bỉnh Khiêm thật là một thiên tài, một câu nói làm nên lịch sử.

 

CHÚA NGUYỄN HOÀNG

Nghe lời quan Trạng quá Đèo Ngang

Mạo hiểm Tiên phong, Chúa Nguyễn Hoàng

Trọng dụng nhân tài an Thuận Quảng

Nương nhờ địa lợi thủ Linh Giang

Đàng Trong nước Việt dân hùng mạnh

Nghiệp cả trời Nam đất mở mang

Vạn đại thành công truyền hậu duệ

Dung thân khai quốc tự Hoành San.

(Phan Thượng Hải)

1/18/15


 

SẤM TRẠNG TIÊN ĐOÁN LỊCH SỬ

 

Sấm Trạng Trình hay Sấm Ký Nguyễn Bỉnh Khiêm là những lời được cho là có tính cách tiên tri về các sự kiện lịch sử của dân Việt trong khoảng 500 năm (1509-2019).

Bản chánh gọi là Sấm Ký bản A có 262 câu (thơ) gồm 14 câu “cảm đề” và 248 câu “sấm ký”.  Ngoài ra còn có 20 bản khác gồm 7 bản chữ Hán Nôm và 20 tựa sách chữ Quốc Ngữ về Sấm Trạng Trình từ năm 1948.

Trong Trang Thơ của Nguyễn Bỉnh Khiêm có những bản Sấm Trạng:

Bản Hán Nôm: Nguyễn Văn Bân, Nguyễn Văn Sâm

Bản Quốc Ngữ: Hoàng Xuân, Hương Sơn, Mai Lĩnh, Nguyễn Quân, Sở Cuồng.

 

Sấm Ký bản A có 8 câu dưới đây (câu 43-50) là tiên đoán đúng lịch sử của cuối thế kỷ 18 (của nhà Nguyễn Tây Sơn).

 

Chim bằng cất cánh về đâu

Chết tại trên đầu hai chữ quận công

Bao giờ trúc mọc qua sông

Mặt trời sẽ lại đỏ hồng non tây 

Đoài cung một sớm đổi thay

Chấn cung sao cũng sa ngay chẳng còn 

Đầu cha lộn xuống chân con

Mười bốn năm tròn hết số thì thôi. 


 

(1)

Chim bằng cất cánh về đâu

Chết tại trên đầu hai chữ quận công

 

Hai câu nầy nói về Bằng Quận Công Nguyễn Hữu Chỉnh vào thời Tây Sơn diệt chúa Nguyễn và chúa Trịnh.

 

Ông Nguyễn Hữu Chỉnh (? -1787) là danh sĩ Bắc Hà thời vua Lê Hiển Tông, văn võ song toàn (16 tuổi đậu Hương Cống và 18 tuổi đậu Võ Cử Nhân).  Tục thế gọi ông là Cống 

Chỉnh.  Ông bỏ vào Đàng Trong theo phò Tây Sơn (1782).  

 

Nhà Nguyễn Tây Sơn nổi lên ở ấp Tây Sơn (thuộc huyện Phù Ly, nay là làng An Khê, huyện Phù Cát, Qui Nhơn) vào năm 1771 với 3 anh em là Nguyễn Nhạc (?-1793), Nguyễn Huệ (1753-1792) và Nguyễn Lữ (1754-1787).  Ba anh em nầy là con của ông Hồ Phi Phúc, đổi thành họ Nguyễn để thu phục nhân tâm.  

Hai năm sau, ông Nguyễn Nhạc chiếm Qui Nhơn (1773).  Nhân cơ hội đó Chúa Trịnh Sâm sai Hoàng Ngũ Phúc chiếm kinh đô Phú Xuân của Chúa Nguyễn (1774).  

Chúa Nguyễn Định Vương Nguyễn Phúc Thuần chạy vào Gia Định (Nam Kỳ) rồi lập cháu mình (con cố Thái tử Nguyễn Phúc Hiệu) là ông Nguyễn Phúc Dương làm Đông Cung (người sẽ nối ngôi).

 

Chúa Nguyễn Định Vương Nguyễn Phúc Thuần nhờ quân Nguyễn ở Nam Kỳ dưới quyền của Trấn Thủ dinh Long Hồ Tống Phúc (Phước) Hiệp (?-1776) để chống lại Tây Sơn.  Ông Nguyễn Nhạc tự xưng là Tây Sơn Vương ở Qui Nhơn (1776), cầu hòa với Chúa Trịnh rồi sai 2 em là Nguyễn Huệ và Nguyễn Lữ vào Nam diệt chúa Nguyễn (1777).  Định Vương Nguyễn Phúc Thuần (gọi là Thái Thượng Vương), Đông Cung Tân Định Vương Nguyễn Phúc Dương (gọi là Tân Định Vương) và hoàng tộc của chúa Nguyễn đều bị ông Nguyễn Huệ giết hết.  Năm 1778, ông Nguyễn Nhạc không thần phục Chúa Trịnh, tự xưng là Thái Đức Đế.  

Con ông Nguyễn Phúc Luân là ông Nguyễn Phúc Ánh (cháu kêu Định Vương bằng chú) tự xưng Vương (1780), dùng những người thường dân là ông Đỗ Thành Nhơn (?-1781) rồi ông Châu Văn Tiếp (1738-1784) để khôi phục Nam Kỳ.  Ông Đỗ Thành Nhơn lộng quyền bị Nguyễn Vương giết (1781) còn ông Châu Văn Tiếp bị thương nặng trong trận đánh với Tây Sơn ở sông Măng Thít (nay thuộc Vĩnh Long) rồi qua đời (1784).  

Chiến tranh ở Nam Kỳ giữa Tây Sơn và Nguyễn Vương Phúc Ánh chấm dứt khi ông Nguyễn Huệ của Tây Sơn thắng trận Rạch Gằm Xoài Mút (nam Cái Bè, Mỹ Tho) vào năm 1784.  Quân Xiêm tiếp viện Nguyễn Vương Phúc Ánh từ Vĩnh Long theo sông Tiền Giang tiến về tấn công quân Tây Sơn Nguyễn Huệ đóng ở Mỹ Tho.  Ông Nguyễn Huệ phục binh ở 2 bên bờ và trong những cồn ở giữa sông Tiền Giang giữa 2 cửa sông phụ lưu Rạch Gằm và Xoài Mút, tiêu diệt 2 vạn quân Xiêm La.  Hai tướng Xiêm là Chiêu Tăng và Chiêu Sương (đều là cháu của vua Xiêm) cùng vài ngàn quân sống sót lội bộ theo đường Tây Ninh qua Chân Lạp để đi về xứ.  Nguyễn Vương từ Trấn Giang (Cần Thơ bây giờ) cùng Thái giám Lê Văn Duyệt và 10 người tùy tùng phải trốn qua Xiêm La (Thái Lan).  

 

Năm 1786, theo kế ly gián của ông Nguyễn Hữu Chỉnh, ông Nguyễn Huệ và ông Vũ Văn Nhậm chiếm Phú Xuân và sau đó chiếm đất Thuận Hóa.  Thế là Nam Hà (Đàng Trong) hoàn toàn thuộc nhà Tây Sơn.  

Năm 1786, ông Nguyễn Nhạc tự xưng là Trung Ương hoàng đế (vẫn niên hiệu Thái Đức) đóng đô ở Quy Nhơn phong cho ông Nguyễn Lữ là Đông Định Vương ở Nam Kỳ đóng ở Gia Định và ông Nguyễn Huệ là Bắc Bình Vương trấn từ đèo Hải Vân tới sông Gianh (đóng ở Phú Xuân).  Ông Nguyễn Huệ là một tướng giỏi vô địch trong Việt Sử “chiến thắng không hề chiến bại”, còn có tên là Nguyễn Văn Huệ hay Nguyễn Quang Bình. 

 

Sau đó ông Nguyễn Huệ sai ông Nguyễn Hữu Chỉnh đi trước theo đường biển vào cửa Đại An của sông Đáy theo sông Nam Định đến sông Hồng rồi chiếm kho lương ở Vị Hoàng (vùng đất có khúc sông nhỏ cùng tên chảy từ sông Hồng vào Nam Định).  Biết quân Trịnh chưa kịp phòng thủ, ông Nguyễn Huệ theo đường bộ qua Nghệ Tĩnh và Thanh Hóa đến hội ở Vị Hoàng.  Từ Vị Hoàng quân Tây Sơn đánh bại bộ binh của Bùi Thế Dận ở Đông An (gần Hưng Yên?) và đánh bại thủy quân của Đinh Tích Nhưỡng ở góc sông Luộc và sông Hồng.  Quân Tây Sơn lại thắng quân của chúa Trịnh Khải và Hoàng Phùng Cơ ở hồ Vạn Xuân (Thanh Trì, Hà Nội).  Chúa Trịnh Khải chạy về Sơn Tây nhưng bị tên Nguyễn Trang bắt giải về nộp cho Tây Sơn.  Chúa Trịnh Khải dùng gươm cắt cổ tự tận.  Bắc Bình Vương cho tống táng chúa Trịnh Khải và vào Thăng Long chầu vua Lê Hiển Tông. 

 

Sau khi cưới Ngọc Hân công chúa (con Lê Hiển Tôn) rồi Hiển Tôn mất và cháu nội là Duy Kỳ lên ngôi là Lê Chiêu Thống, ông Nguyễn Huệ và Vũ Văn Nhậm về Phú Xuân (Huế) và để Nguyễn Hữu Chỉnh giữ Nghệ An.  

 

Trịnh Bồng (con Chúa Trịnh Giang, anh chú bác với chúa Trịnh Sâm) tự lập làm Chúa.  Ông Nguyễn Hữu Chỉnh theo về phò Lê Chiêu Thống, đánh bại chúa Trịnh Bồng, được phong Đại Tư Đồ Bằng Quận Công và nắm quyền ở Bắc Hà chống lại Tây Sơn.  Chúa Trịnh Bồng bỏ đi tu rồi mất tích.  

 

Từ Bắc Hà ông Nguyễn Hữu Chỉnh có 2 câu gửi vào Đàng Trong:

 

Đường trời mở rộng thênh thang

Ta đây cũng một trào đàng kém ai

 

Từ Đàng Trong, Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ trả lời:

 

Ai ra Đông Hải nhắn lời cùng

Lông cánh bao nhiêu dám vẫy vùng

Hồng Lĩnh bên kia bể bên nọ

Bay thì mắc núi đậu thì cung.

 

Chỉ một thời gian ngắn ông Nguyễn Huệ sai ông Vũ Văn Nhậm cùng 2 tâm phúc của mình là ông Ngô Văn Sở và ông Phan Văn Lân ra Bắc Hà.  Tháng 11 năm Đinh Tỵ (1787), ông Vũ Văn Nhậm phá quân ông Nguyễn Hữu Chỉnh ở làng Thanh Quyết (nay thuộc Gia Viễn, Ninh Bình) rồi ở Châu Cầu (nay thuộc Kim Bảng, Hà Nam).  Vua Lê Chiêu Thống chạy ra Kinh Bắc (Bắc Ninh) cầu cứu nhà Thanh.  Ông Nguyễn Hữu Chỉnh chạy về Yên Thế đóng quân ở Mục Sơn (?) thì bị tướng Tây Sơn là Nguyễn Văn Hòa lên đánh và bắt sống.  Ông Nguyễn Hữu Chỉnh bị xé xác ở Thăng Long theo lệnh của ông Vũ Văn Nhậm và thịt để cho chó ăn.


 

(2)

Bao giờ trúc mọc qua sông

Mặt trời sẽ lại đỏ hồng non Tây

 

Hai câu nầy nói về chiến tranh giữa nhà Mãn Thanh Trung Quốc và vua Quang Trung của Tây Sơn.  Quân Thanh chiếm Thăng Long (có cất một cầu tre bắt qua sông Hồng Hà) và quân Tây Sơn chiến thắng huy hoàng như ánh mặt trời.

 

Cuối năm 1787, Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ rút quân về Phú Xuân để Đại Tư Mã Ngô Văn Sở, Nội Hầu Phan Văn Lân và ông Ngô Thì Nhậm trấn giữ Bắc Hà.  Vua Càn Long của nhà Thanh bên Tàu sai Tổng Đốc Lưỡng Quảng Tôn Sĩ Nghị làm chánh tướng cùng Hứa Thế Hanh, Sầm Nghi Đống và Trương Triều Long đem 20-29 vạn quân sang đánh nước Đại Việt.  Vua Lê Chiêu Thống cùng quân “Cần Vương” của mình ủng hộ quân Thanh.  Quân nhà Thanh chiếm đóng Thăng Long đặt những đồn lũy chung quanh. Quân Tây Sơn của ông Ngô Văn Sở và ông Phan Văn Lân rút về thủ ở đèo Tam Điệp (còn gọi là đèo Ba Dội) tại Thanh Hóa.  Tôn Sĩ Nghị cho cất một cầu tre bắt qua sông Hồng Hà (ứng với câu: bao giờ trúc mọc qua sông)  

 

Ông Nguyễn Huệ lên ngôi là vua Quang Trung Hoàng Đế (đầu năm 1788), Thái Đức Đế Nguyễn Nhạc đã gần mất Nam Kỳ về tay Nguyễn Vương Phúc Ánh, tự xuống làm Tây Sơn Vương ở Quy Nhơn, nhường đất Quảng Nam cho ông Nguyễn Huệ.  

Vua Quang Trung đem mấy vạn quân ra bắc hội với 6 vạn quân của 2 ông Ngô Văn Sở và Phan Văn Lân ở Tam Điệp (tổng cộng là 10 vạn quân).  Theo lời khuyên của một ẩn sĩ ở Nghệ An là La Sơn Phu Tử Nguyễn Thiếp, vua Quang Trung quyết định đánh nhanh (và đánh mạnh), liền chia ra 5 cánh quân tiến ra bắc.

 

Đêm 30 Tết Kỷ Dậu xuất phát từ núi Tam Điệp, vua Quang Trung cùng với ông Ngô Văn Sở và ông Phan Văn Lân dẫn cánh quân thứ nhứt (cánh quân chủ lực) tiến thẳng về hướng bắc theo đường Hà Nam chiếm 2 đồn của quân Cần Vương Lê Chiêu Thống: đồn Nguyệt Quyết (nay ở Thanh Liêm, Hà Nam) và đồn Nhật Tảo (nay ở Duy Tiên, Hà Nam).  Mùng 3 Tết vua Quang Trung vây đồn Hà Hồi, 20 km nam Thăng Long (nay ở Thường Tín, Hà Nội), quân Thanh không kịp phòng bị phải đầu hàng.  Mùng 4 Tết, quân của vua Quang Trung đến đóng trước đồn Ngọc Hồi, 15 km nam Thăng Long (nay ở Thanh Trì, Hà Nội) là nơi có lực lượng chính của quân Thanh do Đề Đốc Hứa Thế Hanh và Tổng Binh Trương Triều Long cầm đầu.  

 

Trong khi đó (mùng 4 Tết) Đô Đốc Long (còn gọi là Đô Đốc Mưu), tên là Nguyễn Tăng Long, dẫn một cánh quân Tây Sơn thứ nhì từ Tam Điệp bọc theo đường Hà Tây qua Chương Đức (nay là Chương Mỹ, Hà Tây), qua cầu Nhân Mục của sông Tô Lịch chiếm đồn Khương Thượng, Sầm Nghi Đống bị vây ở 1 gò đất không thoát được phải tự tử.  Đêm mùng 4 Tết, Đô Đốc Long chiếm đồn Nam Đồng. Tôn Sĩ Nghị ở cung Tây Long (đông Thăng Long) hoãng sợ bỏ chạy, vua Lê Chiêu Thống cũng chạy theo, quân Thanh dành nhau qua cầu sông Nhị Hà trốn về Tàu.  Đồn Khương Thượng (còn gọi là Đống Đa) và đồn Nam Đồng ở tây nam Thăng Long (nay thuộc Đống Đa, Hà Nội).  Sử cũ thường gọi những trận đánh nầy của Đô Đốc Nguyễn Tăng Long là trận Đống Đa.  (Vua Quang Trung không có đánh trận Đống Đa).    

 

Sáng mùng 5 Tết vua Quang Trung tấn công và chiếm đồn Ngọc Hồi, Hứa Thế Hanh tử trận.  Quân Thanh chạy về hướng Thăng Long thì bị cánh quân thứ ba là 1 cánh quân bên trái của cánh quân vua Quang Trung (cũng theo đường Hà Nam), do Đô Đốc Bảo (tên là Đặng Xuân Bảo) cầm đầu chận đánh ở Đầm Mực (tây bắc Ngọc Hồi), Trương Triều Long bị giết chết.  Vua Quang Trung vào Thăng Long ngày mùng 5 Tết (30-1-1788) được Đô Đốc Long đón tiếp.

 

Quân Tôn Sĩ Nghị trên đường chạy về Tàu bị Đô Đốc Tuyết (tên là Nguyễn Văn Tuyết) chận đánh ở Hải Dương phải chạy lên hướng bắc thì bị Đô Đốc Lộc (tên là Nguyễn Văn Lộc) phục kích một trận ở Lạng Giang. 

 

(3)

Đoài cung một sớm đổi thay

Chấn cung sau cũng sa ngay chẳng còn

Đầu cha lộn xuống chân con

Mười bốn năm tròn hết số (kiếp) thì thôi.

 

Hai câu trên nói về số phận của vua “em” Quang Trung Nguyễn Huệ (cung Đoài, làm em) sẽ chết trước vua “anh” Thái Đức Nguyễn Nhạc (cung Chấn, làm anh).  

Theo hai câu dưới, từ vua “cha” Quang Trung lên ngôi (1778) cho đến vua “con” Cảnh Thịnh mất ngôi và bị giết (1802) thì vừa đúng 14 năm.  Theo Hán tự, trong chữ Quang có chữ Tiểu ở trên đầu và trong chữ Cảnh có chữ Tiểu ở dưới chân.

 

Bốn năm sau khi thắng quân Thanh (1792) vua Quang Trung bành trướng quân đội (cứ 3 người đàn ông thì tuyển 1 người làm lính).  Chính sử cho rằng nhà vua muốn đánh nước Tàu (hay chiếm Lưỡng Quảng).  Vua Quang Trung chuẩn bị sai sứ giả là ông Vũ Văn Dũng sang Tàu cầu hôn và đòi đất Lưỡng Quảng (của Triệu Đà ngày xưa) để thử triều đình nhà Thanh.  Nhưng sứ thần là ông Vũ Văn Dũng chưa khởi hành thì chẳng may vua Quang Trung bất ngờ bị bệnh và qua đời.  Vua thọ 40 tuổi. 

 

Nguyễn Vương Phúc Ánh (1762-1820) là con của ông Nguyễn Phúc Luân, là cháu kêu chúa Định Vương bằng chú và là cháu nội của Chúa Võ Vương Nguyễn Phúc Khoát.  Ông là hoàng tộc của chúa Nguyễn độc nhất còn sống sót nhà Tây Sơn.  

Năm 1787, khi Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ bận rộn ở Bắc Hà, Nguyễn Vương Phúc Ánh trở lại chiếm toàn bộ Nam Kỳ (1789), Nguyễn Lữ thua chạy về Qui Nhơn, đi tu rồi mất một thời gian ngắn sau đó.  

Theo đường bộ, Nguyễn Vương chiếm đến Phú Yên.  Ông Nguyễn Huỳnh Đức thắng một trận lớn ở đèo Cù Mông. Đèo Cù Mông là đèo hiểm trở nhất nước Việt dài 7 km, cao 245 m và dốc 9%.  Nhờ đó đường bộ đuợc khai thông cho quân Nguyễn Vương tiến lên hướng bắc tấn công Qui Nhơn (kinh đô của Tây Sơn Vương Nguyễn Nhạc).  

Sau 3 lần tấn công, Nguyễn Vương chiếm được Qui Nhơn và đổi tên là Bình Định (1799).  Sau khi giải vây Qui Nhơn lần thứ nhất, quân Tây Sơn của vua Cảnh Thịnh từ Phú Xuân vào Quy Nhơn tịch thu tài sản và kho tàng của Hoàng Đế Nguyễn Nhạc nên ông tức giận thổ huyết mà chết.  Con là Nguyễn Bảo chỉ được ăn lộc 1 huyện, tước là Hiến Công (Sử gọi là Tiểu Triều).  Tiểu Triều Nguyễn Bảo muốn hàng Nguyễn Vương nhưng bị em chú bác là vua Cảnh Thịnh hay được, bắt dìm xuống sông cho chết (1798).  

 

Trong nội loạn ở Phú Xuân (1795), Tổng trấn Bắc Thành Ngô Văn Sở và cha con Thái sư Bùi Đắc Tuyên và Bùi Đắc Trụ bị Vũ Văn Dũng giết (bằng cách dìm dưới sông Hương).  Trần Quang Diệu và Vũ Văn Dũng cầm quyền, vào đánh Bình Định (Qui Nhơn).  Trần Quang Diệu vây thành Qui Nhơn còn thủy quân của Vũ Văn Dũng giữ cửa Thị Nại.  Theo kinh nghiệm của đèo Cù Mông, Nguyễn Vương tránh đường bộ và đèo Hải Vân nên dùng đường thủy và “thủy quân lục chiến”.

 

Nguyễn Vương cho rao truyền câu đồng dao ở các vùng của Tây Sơn:

 

“Lạy Trời cho chóng gió Nồm (*)

Cho thuyền Chúa Nguyễn giong buồm thẳng ra”

 

(*) Gió từ Nam thổi ra Bắc.

 

Năm 1801, theo đường biển, Nguyễn Vương đem các ông Lê Văn Duyệt và Võ Di Nguy đánh cửa Thị Nại.  Võ Di Nguy tử trận nhưng nhờ ông Lê Văn Duyệt tiếp tục tấn công, Nguyễn Vương chiếm được Thị Nại, Vũ Văn Dũng thua về với Trần Quang Diệu tiếp tục vây thành Quy Nhơn.  Ông Võ Tánh (và ông Ngô Tòng Châu) liều chết giữ thành Qui Nhơn cầm chưn quân chủ lực của Tây Sơn và gửi mật thư khuyên Nguyễn Vương Phúc Ánh đánh chiếm Phú Xuân.  Nguyễn Vương cho ông Nguyễn Văn Thành đóng ở Thị Nại chận đường thủy của quân Tây Sơn ở Qui Nhơn rồi Vương theo đường biển đi về phương bắc vào chiếm Quảng Nam (1801).  Ông để ông Nguyễn Huỳnh Đức đóng ở Quảng Nam chận đường bộ tiếp viện Phú Xuân của Trần Quang Diệu từ Qui Nhơn.  Trong khi Trần Quang Diệu và Vũ Văn Dũng hạ thành Qui Nhơn, Nguyễn Vương Phúc Ánh đem ông Nguyễn Văn Trương và Lê Văn Duyệt cũng theo đường biển vào cửa Thuận An theo sông Hương vào chiếm Phú Xuân (Huế), vua Cảnh Thịnh chạy ra Bắc Hà.  

Đầu năm 1802, Vua Cảnh Thịnh sai em là Nguyễn Quang Thùy và bà Bùi Thị Xuân (vợ ông Trần Quang Diệu) đánh lũy Trấn Ninh và cửa Nhật Lệ (thuộc Đồng Hới, Quảng Bình).  Nguyễn Vương Phúc Ánh cùng ông Đặng Trần Thường và Phạm Văn Nhân giữ lũy Trấn Ninh và cho ông Nguyễn Văn Trương đánh bại thủy quân Tây Sơn ở cửa Nhật Lệ.  Bộ binh Tây Sơn ở trước lũy Trấn Ninh bỏ chạy.  

Từ đó quân Tây Sơn tan vỡ, lục quân của ông Lê Văn Duyệt và ông Lê Chất cùng với thủy quân của ông Nguyễn Văn Trương tiến chiếm Bắc Hà dễ dàng, bắt toàn thể hoàng gia nhà Tây Sơn.  Ông Trần Quang Diệu và Vũ Văn Dũng đã phải từ Quy Nhơn theo đường Ai Lao rút về Bắc Hà nên cũng bị bắt.  Vua Cảnh Thịnh và tất cả hoàng gia và tướng của Tây Sơn đều bị vua Gia Long giết chết (1802).


 

THI PHẨM

 

Hậu thế luôn nhắc đến 1 bài thơ tiêu biểu của ông Nguyễn Bỉnh Khiêm về “triết lý Nhàn” của ông:

 

NHÂN TÌNH THẾ THÁI BÀI 38 (CẢNH NHÀN)

Một mai một cuốc một cần câu

Thơ thẩn dầu ai vui thế nào

Ta dại, ta tìm nơi vắng vẻ

Người khôn, người đến chốn lao xao

Thu ăn măng trúc, đông ăn giá

Xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao

Rượu đến gốc cây ta sẽ nhắp

Nhìn xem phú quí tựa chiêm bao.

(Nguyễn Bỉnh Khiêm)

 

Thật ra ông Nguyễn Bỉnh Khiêm có để lại 3 tác phẩm về Thơ:  

Quyển Bạch Vân Am Thi Tập gồm một số ít thơ Đường Luật cổ điển dùng chữ Hán.  

Quyển Bạch Vân Gia Huấn dùng chữ Hán Nôm theo thể Song Thất Lục Bát.  

Nhưng quan trọng nhất là quyển Bạch Vân Quốc Ngữ Thi Tập gồm những bài thơ Đường Luật TNBC cổ điển hoặc theo Hàn Luật dùng chữ Hán Nôm. 


 

THƠ HÀN LUẬT

 

Tục truyền rằng ông Hàn Thuyên (1229-?) có cải cách thơ Đường bằng những luật mới như dùng câu 6 chữ (1) hay ngắt nhịp 3,4 (thay vì 4,3) hoặc dùng thủ vỹ ngâm (2).  Thủ vỹ ngâm là câu đầu và câu cuối của bài thơ giống nhau.  

Hậu thế gọi là Hàn Luật.  Các ông Nguyễn Sĩ Cố, Chu Văn An và Lê Quý Ly có làm thơ Hán Nôm như ông Hàn Thuyên nhưng đều thất lạc vì Bắc thuộc thời nhà Minh.  Thơ Hán Nôm mới thấy lại vào đời nhà Hậu Lê bắt đầu từ ông Nguyễn Trãi.   

 

Đây là một những bài thơ Hán Nôm của ông Nguyễn Trãi dùng Hàn Luật (mà sau nầy cũng thấy trong thơ Hồng Đức và thơ của ông Nguyễn Bỉnh Khiêm).  

 

HOA SEN

Lầm nhơ chẳng bén, tốt hòa thanh

Quân tử không kham được thửa danh

Gió đưa hương, đêm nguyệt lạnh (1)

Riêng làm của, có ai tranh. (1)

(Nguyễn Trãi)

 

THỦ VỸ NGÂM

Góc thành Nam, lều một gian (1) (2)

No nước uống, thiếu cơm ăn (1)

Ao bởi hẹp hòi khôn thả cá

Nhà quen thú thứa ngại nuôi vằn (*)

Con đòi trốn dường ai quyến (1)

Bà ngựa gầy thiếu kẻ chăn (**) (1)

Chẳng phải triều quan chẳng phải ẩn

Góc thành Nam, lều một gian. (1) (2)

(Nguyễn Trãi)

 

(*) Thú thứa=xú xứa=xuề xòa=xuềnh xoàng.  Vằn=chó vằn, con chó

(**) Bà ngựa=con ngựa, như gọi là ông voi thay vì con voi.


 

Ông Nguyễn Bỉnh Khiêm cũng dùng thơ Đường Luật theo thể Hàn Luật dĩ nhiên dùng chữ Hán Nôm (mà lúc đó ông đã gọi là Quốc Ngữ): có câu 6 chữ (1) và Thủ Vỹ Ngâm (2) như những bài dưới đây.

 

NHÂN TÌNH THẾ THÁI BÀI 2 (AN PHẬN THÌ HƠN)

Giàu ba bữa khó hai niêu (1)

An phận thì hơn hết mọi điều

Khát uống trà mai hơi ngút ngút

Sốt kề hiên nguyệt gió hiu hiu

Giang sơn tám bức là tranh vẽ

Hoa cỏ tư mùa ấy gấm thêu

Thong thả đêm khuya nằm sớm thức

Muôn vàn đã đội đức trời Nghiêu.

(Nguyễn Bỉnh Khiêm)


 

VÔ ĐỀ

 

Rất nhân sinh bảy tám mươi (1) (2)

Làm chi lảo đảo nhọc lòng người

Bạch Vân am vắng chim kêu muộn

Kim Tuyết dòng thanh cá mát tươi

Ưu ái một niềm hằng nhớ chúa

Công danh hai chữ đã nhường người

Giàu lẫn khó yên đòi phận (1)

Rất nhân sinh bảy tám mươi (1) (2)

 

Thanh nhàn hưởng được tính từ nhiên

Non nước cùng ta đã có duyên

Dắng dỏi bên tai cầm suối (1)

Dập dìu trước mặt tán sen (1)

Xuân về, hoa nở mùi hương nức

Khách đến, chim mừng dáng mặt quen

Chốn ấy thanh nhàn được thú (1)

Lọ là Bồng Đảo mới tiên. (1)

 

(Nguyễn Bỉnh Khiêm) 


 

Tuy nhiên thơ Hàn Luật của ông Nguyễn Bỉnh Khiêm còn cải cách xa hơn nữa.  Như bài “Vô Đề” ở trên, ông dùng 2 bài thơ Bát Cú cho 1 đề tài.  Kế đến ông Nguyễn Bỉnh Khiêm còn có dùng câu 5 chữ (3) và còn làm 1 bài thơ Lục Cú tức là chỉ có 6 câu thay vì 8 hay 4 câu (4)

 

THÚ DƯỠNG THÂN

Phú quý bởi thời vần (3)

Tu luyện lâu bền thú dưỡng thân

Hứng ý miệng ngâm câu quốc ngữ

Giải phiền tay chuốc chén quỳnh xuân

Đường hoa chào khách mặt nhìn mặt (5)

Ngõ hạnh đưa người chân ngại chân (5)

Dẫu có ai than thì sẽ nhủ:

Thái bình thiên tử thái bình dân. (5)

(Nguyễn Bỉnh Khiêm)

 

THÚ TIÊU DAO (4)

Xóm tự nhiên lều một căn (1)

Quét không thây thẩy bụi hồng trần

Nhìn hàng cam quít con đòi cũ

Mấy gã ngư tiều lừa bạn thân

Thấy nguyệt tròn thì kể tháng (1)

Nhìn hoa nở mới hay xuân. (1)

(Nguyễn Bỉnh Khiêm)


 

THƠ ĐƯỜNG LUẬT

 

Trong bài thơ Đường Luật TNBC chính thống hay Hàn Luật, ông Nguyễn Bỉnh Khiêm cũng có những kỹ thuật tân tiến như dùng chữ lập lại trong câu 7 chữ (5):

 

THÚ DƯỠNG THÂN

Phú quý bởi thời vần 

Tu luyện lâu bền thú dưỡng thân

Hứng ý miệng ngâm câu quốc ngữ

Giải phiền tay chuốc chén quỳnh xuân

Đường hoa chào khách mặt nhìn mặt (5)

Ngõ hạnh đưa người chân ngại chân (5)

Dẫu có ai than thì sẽ nhủ:

Thái bình thiên tử thái bình dân. (5)

(Nguyễn Bỉnh Khiêm)

 

THÚ NHÀN

Lẩn thẩn ngày qua lại tháng qua

Một năm xuân tới một phen già

Ái ưu vằng vặc trăng in nước

Danh lợi lâng lâng gió thổi hoa

Án sách vẫn còn án sách cũ (5)

Nước non bạn với nước non nhà (5)

Cuộc cờ đua chí dù cao thấp

Ta muốn thanh nhàn thú vị ta.

(Nguyễn Bỉnh Khiêm)

 

NHÂN TÌNH THẾ THÁI BÀI 20 (THẾ GIAN BIẾN ĐỔI)

Thế gian biến đổi vũng nên đồi

Mặc lạt chua cay lẫn ngọt bùi

Còn bạc còn tiền còn đệ tử (5)

Hết cơm hết gạo hết ông tôi (5)

Xưa nay vẫn trọng người chân thực

Ai nấy nào ưa kẻ đãi bôi

Ở thế mới hay người thế bạc

Giàu thì tìm đến khó tìm lui.

(Nguyễn Bỉnh Khiêm)


 

Ông Nguyễn Bỉnh Khiêm còn dùng thể Độc Vận và Song Ngữ:

 

DẠI KHÔN

Làm người có dại mới nên khôn

Chớ dại ngây si chớ quá khôn

Khôn được ích mình đừng rẻ dại

Dại thì giữ phận chớ tranh khôn

Khôn mà hiểm độc là khôn dại

Dại vốn hiền lành ấy dại khôn

Chớ cậy rằng khôn khinh kẻ dại

Gặp thời, dại cũng hóa thành khôn.

(Nguyễn Bỉnh Khiêm)

 

Đời sau có thi sĩ “nối nghiệp”:

 

DẠI KHÔN (Họa)

Ong óng đua nhau nói dại khôn

Biết ai là dại biết ai khôn

Khôn mê tửu sắc là khôn dại

Dại chốn thiền môn ấy dại khôn

Khôn ấy không tiền, khôn ấy dại

Dại mà phiền nhiễu, dại mà khôn

Đố ai rõ đặng trong khôn dại

Mới gọi là người biết dại khôn.

(Cai Tổng Lê Quang Chiểu)

 

DẠI KHÔN (Họa)

Thiên hạ đua nhau nói dại khôn

Biết ai là dại biết ai khôn

Khôn nghề cờ bạc là khôn dại

Dại chốn văn chương ấy dại khôn

Mấy kẻ nên khôn đều có dại

Làm người có dại mới nên khôn

Chữ khôn ai cũng khôn là thế

Mới biết trần gian kẻ dại khôn.

(Tú Tài Trần Tế Xương)

 

DẠI KHÔN (Họa)

Vũ trụ càn khôn có dại khôn

Nhân sinh định kiến dại hay khôn

Lương tâm thiện tánh, tình không dại

Nhân nghĩa lợi danh, trí biết khôn

Lắm lúc tày khôn thành quá dại

Đôi khi giả dại thế mà khôn

Người khôn từng trải điều khôn dại

Kẻ dại luận bàn chuyện dại khôn.

(Phan Thượng Hải)

11/13/2019


 

KẾT LUẬN

 

Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm được biết như một nhà tiên tri nhưng ít người biết ông là một người đức độ khiêm nhường, một học giả thông thái, có tài làm thơ rất hay góp phần cho nền văn học nước ta và là một chính trị gia lỗi lạc: với những câu nói đơn giản ông đã làm nên lịch sử hòa bình lâu dài và mở rộng địa lý của nước Việt.  

 

Nho Giáo muốn bình trị Thiên Hạ nhưng trong lịch sử Nho Gia từ Khổng Tử cho đến Vương Dương Minh ở Trung Quốc cũng như các ông Chu Văn An, Nguyễn Trãi, Lê Quý Đôn, Nguyễn Công Trứ… ở Việt Nam không có một ai thành công làm an dân lợi nước rộng lớn và lâu dài trong sự khiêm nhường như ông Nguyễn Bỉnh Khiêm.

 

Sấm Trạng Trình của ông cũng tiên đoán đúng lịch sử của nhà Nguyễn Tây Sơn.  


 

TRẠNG TRÌNH NGUYỄN BỈNH KHIÊM

 

Công nghiệp Trạng Trình giúp quốc gia

An dân lợi nước bậc tài ba

Khéo khuyên cộng hưởng dòng Lê Trịnh

Hữu ích về cho xứ Bắc Hà

Họ Nguyễn tuân theo lời viễn thị

Phương Nam mở rộng đất bao la

Bỉnh Khiêm tri túc bình thiên hạ

Người Việt nhờ ơn được thái hòa.

 

Mai danh ẩn tích tánh khiêm hòa

Sấm ký tiên tri biết chuyện xa

Cửa Khổng nhân sinh đà hiểu thấu

Sân Trình vũ trụ đã thông qua

Thi từ cải cách nền văn học

Chính kiến thành công việc nước nhà

Thông thái minh tâm không vị lợi

Đức tài đệ nhất rạng Nho Gia.

 

(Phan Thượng Hải)

10/22/16


 

Bs PHAN THƯỢNG HẢI biên soạn

 

Bài nầy đăng lần đầu trong phanthuonghai.com phần Văn Thơ mục Đọc Thơ.

 

Tài Liệu Tham Khảo:

Phần "Thơ và Sử" trong phanthuonghai.com

Nguyễn Bỉnh Khiêm (Phan Thượng Hải)

Nguyễn Hoàng (Phan Thượng Hải)

Nguyễn Hữu Chỉnh (Phan Thượng Hải)

Quang Trung (Phan Thượng Hải)

Gia Long (Phan Thượng Hải)

Trang Thơ Nguyễn Bỉnh Khiên Thi Viện Net

  TỪ BÀI THƠ "CẢNH NHÀN" CỦA NGUYỄN BỈNH KHIÊM

 

                                        Bs Phan Thượng Hải biên soạn

 

 

Bài thơ "Cảnh Nhàn" là bài thơ vô đề thứ 78 trong Bạch Vân Am Quốc Ngữ Thi Tập của Nguyễn Bỉnh Khiêm. Tựa đề là do hậu thế đặt ra.

Hậu thế từ đầu thế kỷ rất ưa chuộng bài thơ nầy.  Nó rất phổ thông nên còn được người ngoại quốc để ý tới.  Khi nói tới thơ của Nguyễn Bỉnh Khiêm, độc giả hiện đại đều nói tới bài thơ nầy trước nhất.

 

CẢNH NHÀN 

Một mai, một cuốc, một cần câu
Thơ thẩn dầu ai vui thú nào
Ta dại, ta tìm nơi vắng vẻ
Người khôn, người đến chốn lao xao
Thu ăn măng trúc, đông ăn giá
Xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao
Rượu đến gốc cây ta hãy nhắp
Nhìn xem phú quý tựa chiêm bao.

(Nguyễn Bỉnh Khiêm)

 

(*) Chú thích: 

         2 câu cuối dẫn điển cố là chuyện Thuần Vu Phồn say rượu mà ngủ dưới gốc cây hoè, nằm mộng thấy đến nước Hoè An được công danh phú quý vinh hiển; nhưng khi tỉnh thức dậy thì biết chỉ là giấc mộng và nhìn lại dưới gốc cây hoè chỉ thấy có một tổ kiến mà thôi.

         Câu 7 có những bản viết là : "bóng" thay vì "gốc"; "sẽ" thay vì "hãy" và "uống" thay vì "nhắp"(= nhấp).

 

Hai câu cuối của bài thơ ngược lại với nội dung "cấm rượu" (giới tửu) của một bài thơ khác của Nguyễn Bỉnh Khiêm, cũng cùng trong Bạch Vân Am Quốc Ngữ Thi Tập.

 

GIỚI TỬU

Hễ thấy ma men lánh chớ chơi
Đừng theo thói tục vốn quen hơi
Hẳn hoi giữ được âu chăng một
Ăn nói hoăng ra ắt tỏ mười
Chẳng những đắng cay, mình cưỡng uống
Lại điều trẻ nít thế thêm cười
Tỉnh ra gẫm lại hay chi nữa
Xin bớt mà thôi, chẳng rũ rời.

(Nguyễn Bỉnh Khiêm)

 

Ông Nguyễn Bỉnh Khiêm viết về "Dại Khôn" trong 2 câu Thực của bài thơ "Cảnh Già" với tính cách châm biếm nhưng ngụ ý ngược lại (sarcastic):

 

Ta dại, ta tìm nơi vắng vẻ
Người khôn, người đến chốn lao xao

 

Vì đặc tính châm biếm, 2 câu nầy thường được hậu sinh nhắc tới nhiều nhất. Thật ra Nguyễn Bỉnh Khiêm rất chú ý một cách trịnh trọng và thận trọng về vấn đề "Dại Khôn" đến nỗi ông có làm bài thơ vô đề thứ 102 trong Bạch Vân Am Quốc Ngữ Thi Tập về đề tài "Dại Khôn" nầy và hậu thế đặt tựa đề cho bài thơ nầy là "Dại Khôn":

 

DẠI KHÔN (Nguyên bản)

Làm người có dại mới nên khôn

Chớ dại ngây si chớ quá khôn

Khôn được ích mình đừng rẻ dại

Dại thì giữ phận chớ tranh khôn

Khôn mà hiểm độc là khôn dại

Dại vốn hiền lành ấy dại khôn

Chớ cậy rằng khôn khinh kẻ dại

Gặp thời, dại cũng hóa thành khôn.

(Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm)

 

Đây là bài thơ được hậu sinh hiện đại đọc rất nhiều trong Trang Thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm, chỉ đứng sau bài thơ "Cảnh Nhàn" mà thôi.  Nó là bài thơ đầu tiên làm theo thể "song ngữ" (?): dùng 2 tiếng đi đôi với nhau (dại và khôn) với 1 tiếng làm độc vận của bài thơ (khôn).  Đó cũng là một trong những cải cách Thơ Đường Luật Quốc ngữ của Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm.  Sự việc nầy cho thấy Thơ Đường Luật Quốc ngữ của nước ta có nhiều canh tân làm cho hay hơn Thơ Đường Luật Hán ngữ hay của Trung Quốc. 

 

Đời sau có những bài họa bàn về chuyện "Dại Khôn", dĩ nhiên cũng áp dụng cải cách của Nguyễn Bỉnh Khiêm.

 

DẠI KHÔN (Họa)

Thiên hạ đua nhau nói dại khôn

Biết ai là dại biết ai khôn

Khôn nghề cờ bạc là khôn dại

Dại chốn văn chương ấy dại khôn

Mấy kẻ nên khôn đều có dại

Làm người có dại mới nên khôn

Chữ khôn ai cũng khôn là thế

Mới biết trần gian kẻ dại khôn.

(Tú tài Trần Tế Xương)

Đầu thế kỷ 20 ở Bắc Kỳ

 

DẠI KHÔN (Họa)

Ong óng đua nhau nói dại khôn

Biết ai là dại biết ai khôn

Khôn mê tửu sắc là khôn dại

Dại chốn thiền môn ấy dại khôn

Khôn ấy không tiền, khôn ấy dại

Dại mà phiền nhiễu, dại mà khôn

Đố ai rõ đặng trong khôn dại

Mới gọi là người biết dại khôn.

(Cai tổng Lê Quang Chiểu)

Đầu thế kỷ 20 ở Nam Kỳ

 

DẠI KHÔN (Họa)

Vũ trụ càn khôn có dại khôn

Nhân sinh định kiến dại hay khôn

Lương tâm thiện tánh, tình không dại

Nhân nghĩa lợi danh, trí biết khôn

Lắm lúc tày khôn thành quá dại

Đôi khi giả dại thế mà khôn

Người khôn từng trải điều khôn dại

Kẻ dại luận bàn chuyện dại khôn.

(Phan Thượng Hải) 

Đầu thế kỷ 21 

11/13/19

 

Quan điểm "Nhàn" của bài thơ là phản ảnh đúng với triết lý "truy cầu an lạc" của Tống Nho và Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm chính là Nho sĩ thuộc phái Tống Nho.  Ông không phải theo Đạo Gia như Lão tử hay Trang tử.  Dĩ nhiên ông không phải là 1 chơn nhơn (danh hiệu dùng cho Tiên của Đạo Giáo hay Lão Giáo).

Nho Gia được thành lập từ cuối thời Xuân Thu do Khổng tử và sau đó trở thành Nho Giáo.  Khi đến đời Bắc Tống, anh em Trình Hạo và Trình Di và Chu Hi dùng Kinh Dịch và các lý thuyết về vũ trụ của Âm Dương Gia làm căn bản mà lập ra Nho Giáo mới, thường gọi nôm na là Tân Nho Giáo (còn gọi là Đạo Học Gia).  Đó là ngành Lý Học vì dựa trên "Lý và Khí".  Nó phân biệt với ngành Tâm Học của Vương Dương Minh vào thời nhà Minh.

Nho Giáo truyền qua Đại Việt với các Nho sĩ tiêu biểu như Chu Văn An (nhà Trần) và Nguyễn Trãi (nhà Lê).  Lương Đắc Bằng và Nguyễn Bỉnh Khiêm (nhà Mạc) là những Nho sĩ Tống Nho đầu tiên.  Câu "An Nam Lý Học hữu Trình Tuyền" chứng minh điều nầy.  Nguyễn Bỉnh Khiêm được gọi là Trạng Trình vì ông đậu Trạng Nguyên và khi làm quan với nhà Mạc có tước hiệu là Trình Tuyền hầu rồi được thăng là Trình Quốc công.  

 

"Truy cầu an lạc" cũng là một mục đích được Trình Hạo của Tống Nho thừa nhận.  Thánh Nhân không những vui Đạo mà vui những gì vốn là của mình.  Tống Nho trích từ trong Luận Ngữ câu nói của Khổng Tử: "Ăn cơm thô, uống nước lã, co cánh tay mà gối (đầu), ở trong cảnh ấy ta cũng lấy làm vui.  Bất nghĩa mà giàu sang thì ta coi như mây nổi".

Trình Hạo cũng tóm tắt trong bài thơ về quan điểm "Nhàn" của mình và của Lý Học Tống Nho:

 

NGẪU THÀNH

Nhàn lai vô sự bất thung dung

Thụy giác đông song nhật dĩ hồng

Vạn vật tĩnh quan giai tự đắc

Tứ thời giai hứng dữ nhân đồng

Đạo thông thiên địa hữu hình ngoại

Tứ thập phong vân biến thái trung

Phú quí bất dâm bần tiện lạc

Nam nhi đáo thử thị hào hùng.

(Trình Hạo)

 

NGẪU NHIÊN THÀNH THƠ (Dịch)

Năm qua mọi việc thảy thong dong

Tỉnh giấc vừng ô mọc đã hồng

Muôn vật lặng xem đều tự đắc

Bốn mùa vui thú với nhân đồng

Ngoài hình vóc, đạo thông trời đất

Trong chuyển di, lòng thấu núi sông

Phú quý chẳng dâm, bần tiện sướng

Nam nhi dường ấy mới hào hùng.

(Nguyễn Văn Dương dịch)

 

Câu thơ "Phú quí bất dâm bần tiện lạc" (Phú quí chẳng dâm, bần tiện sướng) đã lưu truyền hậu thế cho đến hiện đại nhưng đại đa số những người "quote" nó không biết nguồn gốc của nó từ đâu ra!

 

Bài thơ "Cảnh Nhàn" của Nguyễn Bỉnh Khiêm chỉ áp dụng cho một người ở nông thôn vào thế kỷ thứ 16 ở nước Việt.  Một người già hiện đại trong thế kỷ 21 dù cho ở đâu cũng phải có "Cảnh Nhàn" được diễn tả khác hơn.  

 

CẢNH NHÀN (Nguyên bản)

Một mai, một cuốc, một cần câu
Thơ thẩn dầu ai vui thú nào
Ta dại, ta tìm nơi vắng vẻ
Người khôn, người đến chốn lao xao
Thu ăn măng trúc, đông ăn giá
Xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao
Rượu đến gốccây ta hãy nhắp
Nhìn xem phú quý tựa chiêm bao.

(Nguyễn Bỉnh Khiêm)

 

TRI NHÀN TRI TÚC (Họa)

Duyên may an lạc tả vài câu

Sống lúc cao niên phải thế nào

Giải trí văn hoa thêm khoái tỉ 

Dưỡng thân liệt lão hết xanh xao 

Tri nhàn, giản dị tình già dặn 

Tri túc, hòa đồng mộng ước ao 

Khôn dại sự đời không thắc mắc 

Tỉnh say vẫn để ý hầu bao.

(Phan Thượng Hải)

7/20/21

 

(*) Chú thích:

         Khoái tỉ = thích thú, lấy làm thỏa mãn

         Xanh xao = (Da) có màu xanh tái; nhợt nhạt; có vẻ ốm yếu.

         Già dặn = Phát triển đến mức đầy đủ - Quá mức qui định - Có trình độ cao nhờ từng trải trong công việc hoặc cuộc sống.

         Ước ao = ao ước = mong đạt được điều gì một cách thiết tha.

         Thắc mắc = còn chưa thông hiểu điều gì, cần được giải đáp.

         Ngắn ngủi = (Thời gian) quá ngắn hay quá ít, so với mong muốn yêu cầu.

         Hầu bao = Số tiền của một người hay một một tập thể - Túi vải đựng tiền của người thời trước, thường dùng đeo ở thắt lưng.

 

Bs PHAN THƯỢNG HẢI biên soạn 

 

Tài Liệu Tham Khảo:

         Lời Thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm (Phan Thượng Hải) - phanthuonghai.com

         Lịch Sử Tân Nho Giáo (Phan Thượng Hải) - phanthuonghai.com

         Trang Thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm - Google

         Đại Từ Điển Tiếng Việt (Nguyễn Như Ý chủ biên)

 

Bs PHAN THƯỢNG HẢI biên soạn và giữ bản quyền.

Bàn về Họa Vận

              Bs Phan Thượng Hải

 

(1)

 

Đây là nguyên văn trong quyển "Thi Pháp Thơ Đường" của Thi sĩ tiền chiến Quách Tấn, là 1 trong 2 quyển sách được nhiều Thi nhân làm Thơ Đường "cổ điển" tôn trọng.  Quyển thứ nhì là "Phép Làm Thơ" của Diên Hương.  Hai ông đều là Thi sĩ Thơ Đường (bằng chữ Quốc Ngữ) lỗi lạc của Nam Hà vào thời Pháp Thuộc và thời Đệ Nhất Cộng Hòa.

 

(Trang 354-355)

 

Họa vận phải theo 3 qui luật, ngoài những phép tắc đã nói trên, là:

1. Bài họa phải cùng một thể luật như bài xướng, nghĩa là hễ bài xướng thể thất ngôn luật bằng thì bài họa cũng vậy.

2. Những vần của bài họa phải cùng một nghĩa với những vần với bài xướng.  Ví dụ: 

            Vần bài xướng là đường là con đường thì bài họa cũng phải dùng vần đường với nghĩa con đường chớ không được dùng chữ đường là đường mía hay đường là nhà...  

            Vần bài xướng là vần châu là hạt châu thì không được dùng trong bài họa chữ châu là châu quận hay châu là thuyền...

3. Những chữ đứng trước vận ngữ bài họa, tức là chữ thứ 6 trong câu bỏ vần, đều không được trùng với chữ đứng trước vận ngữ, tức chữ thứ 6 trong câu bỏ vần, bài xướng.  (Như không được dùng "mến thương" để họa "mến thương" mà phải họa bằng "nhớ thương" hay "tiếc thương"...)

 

Ba qui luật nầy được triệt để tuân thủ trong thơ chữ Hán.  Nhưng trong thơ Quốc Âm (chữ Nôm hay chữ Quốc Ngữ), nhất là từ khi chữ Hán cáo chung, thì không còn được áp dụng một cách chặt chẽ nữa.  Qui luật thứ 3 còn được phần đông tuân theo.

......

Phạm luật mà hay còn hơn đúng luật mà dở (QT thường gọi là Phá Luật chớ không gọi là Thất Luật).  Nhưng vừa không phạm luật (mà) vừa hay thì mới thật là diệu thủ.

Thơ xướng họa là một lối thơ thù tạc, một lối thơ tiêu khiển.

 

(Quách Tấn)

 

Ông Quách Tấn viết quyển "Thi Pháp Thơ Đường" với ngụ ý khiêm nhường chỉ nói lên sự hiểu biết và ý kiến riêng của mình. Quyển sách nầy có 25 bài mà ông viết dưới hình thức một bức thư: bức thư thứ nhất, thứ nhì... tới bức thư thứ 25. Ngụ ý của ông là nó không phải là "Bible" hay ít nhất nó cũng không phải là "Text Book" mà chỉ là "Guide Lines" cho người làm thơ Đường Luật mà thôi. 

Tui nghĩ hậu thế (như Google) chỉ dựa vào 2 quyển sách nầy về cách làm Thơ Đường Luật mà thôi, nhất là quyển của Quách Tấn rất đầy đủ.

 

(2)

 

Như trên, ông Quách Tấn viết: "Qui luật thứ 3 còn được phần đông tuân theo".

Vâng, tui vẫn tuân theo qui luật nầy nhưng rất hiếm khi phải cố tình phá luật để nói ý mình muốn nói (trong Nội Dung).

Tui cũng có 2 nguyên tắc về Hình thức:

1. Tui nghĩ Luật của Thơ Đường Luật giúp cho có sự cân đối và khéo léo. 

2. Tui nghĩ Luật của Thơ Đường Luật là căn bản để cho Âm thanh của câu thơ và bài thơ khi đọc lên thì thấy hay, như một bản nhạc vậy. Nó khác với câu văn xuôi.  Đây chỉ là căn bản mà thôi vì Thi nhân phải dụng công sức riêng thêm nữa.

Nếu ta phá một vài luật thiển cận và không quan trọng mà không đi sai 2 nguyên tắc trên và đạt được nội dung ý nghĩa mình muốn thì không có gì đáng phàn nàn?  Có khi lại còn làm cân đối hơn?  Như trường hợp "tử vận" thì sao?

 

Hơn nữa nếu là tui Tự Họa chớ không Họa của một Thi sĩ khác thì không cần phải theo Luật của ông Quách Tấn, vì ông Quách Tấn chỉ viết cho xướng họa giữa 2 thi nhân.   

 

Thêm nữa, ông Quách Tấn như phần trên đã viết: "Ba qui luật nầy (1, 2 và 3) được triệt để tuân thủ trong thơ chữ Hán".  Tức là thơ họa dùng chữ Hán của tiền nhân ta không bao giờ phạm qui luật thứ 3.

Ông Quách Tấn đã không nhớ hay không biết bài thơ của ông Nguyễn Trãi họa bài thơ của Lê Thái Tông còn lưu giữ trong lịch sử thi ca (đều có đăng trong Thi Viện Net, Trang Thơ Nguyễn Trãi).

Xin trích đoạn nầy đã có trong 3 bài viết của tui đã đăng trong website của tui phanthuonghai.com: "Nguyễn Trãi", "Thơ Lịch Sử" và "Lịch Sử Họa Thơ".

 

Tháng 7 năm Nhâm Tuất (1442), vua Lê Thái Tông (được 20 tuổi) đi duyệt binh ở huyện Chí Linh (thuộc tỉnh Hải Dương bây giờ).  Bấy giờ ông Nguyễn Trãi đang về trí sĩ ở trại Côn Sơn gần đó.  Vua Lê Thái Tông ghé thăm ông Nguyễn Trãi và hai người có làm thơ xướng họa:

 

NGỰ CHẾ TAO NGỘ THI (Xướng) 

(Thơ tao ngộ của Vua)

Duyệt bãi lâu thuyền hải thượng hồi           Thuyền trận duyệt xong buổi thoái hồi

Côn trang đắc đắc lục phi lai                       Côn sơn xe ngựa ruổi qua chơi

Chỉ kim Lục Dã nhàn vân thự                     Thăm nền Lục Dã nhìn mây rỗi

Thượng ức Lam Sơn phụ phượng tài           Nhớ thuở Lam Sơn trổ phượng tài

Hồ lý hữu thiên vong giáp tý                       Trong động riêng trời, quên tuổi giáp

Sơn trung vô địa khởi lâu đài                      Bên non hiếm đất dựng lâu đài

Bằng thùy vĩ ngã đan thanh thủ                   Đan thanh nét vẽ nhờ ai đó

Họa xuất hồ sơn điểm liễu mai.                  Tô điểm núi hồ cảnh liễu mai.

(Lê Thái Tông)                                             (Vân Trình dịch)

 

NGỰ CHẾ TAO NGỘ THI PHỤNG HỌA (Họa)

(Vâng mệnh họa thơ tao ngộ của Vua)

Phảng phất quân thiên mộng kỷ hồi            Mộng tưởng ngôi cao biết mấy hồi

Sơn trung kinh hỷ thúy hoa lai                    Cả mừng xe ngọc kíp lên chơi

Di châm thân cảm tiên triều cựu                 Khắc lời thánh đế răn tôi cũ

Định sách đa tâm tá trị tài                           Góp sức triều cương thẹn bất tài

Tự hạnh nhàn thân khâu hác chí (*)           May được nhàn thân bên suối động

Cảm ngôn vô địa khởi lâu đài                    Dám đâu riêng đất dựng lâu đài (**)

Hồ sơn tao ngộ thần du lạc                         Nước non hội ngộ chào long giá

Vũ lộ xuân đầm nhuận liễu mai.                Mưa móc đầm đìa nhuận liễu mai. (**)

(Nguyễn Trãi)                                             (Vân Trình dịch)

(*) Khâu hác chí=cái chí để ở nơi gò hang.

(**) Ông Nguyễn Trãi cũng dùng 2 chữ “lâu đài” và “liễu mai” để họa.

 

Theo ông Trần Trọng Kim (Việt Nam Sử Lược) thì khi vua đi qua thăm, thấy nàng Nguyễn Thị Lộ (thì mê) bèn bắt theo hầu.  Bà Nguyễn Thị Lộ gặp ông Nguyễn Trãi lúc 16 tuổi (khoảng 1428-1429) thì đến năm 1442 cũng đã 32, 33 tuổi rồi còn vua Lê Thái Tông vừa 20 ! Đi đến huyện Gia Định (thuộc tỉnh Bắc Ninh bây giờ), 1-2 ngày sau đó thì đột nhiên vua Lê Thái Tông mất ở Lệ Chi Viên, chỉ có bà Nguyễn Thị Lộ bên cạnh.  Con thứ ba của Thái Tông là Thái tử Bang Cơ (1441-1459) nối ngôi là Lê Nhân Tông mới 2 tuổi nên bà mẹ ruột là Thái Hậu Nguyễn Thị Anh nhiếp chính (cho đến năm 1452).  Triều đình đổ tội cho bà Nguyễn Thị Lộ giết vua, bắt ông Nguyễn Trãi làm tội và tru di cả 3 họ (tam tộc).  Sử gọi là vụ án Lệ Chi Viên (Vườn Vải).

BS Phan Thượng Hải

______________________

 

Bàn về Thơ "thanh mà tục"

                                                        (Bs Phan Thượng Hải biên soạn)

 

*

Thơ Việt ngữ dùng chữ Hán Nôm để nói lẫn lộn "thanh và tục" có 2 kỹ thuật chính:

         Tả một sự vật "thanh" (hay "không tục") nhưng làm cho độc giả nghĩ tới hay thấy như một sự vật "tục" khác.  Thí dụ như tả Cái Quạt nhưng làm cho độc giả thấy cũng giống như Âm Hộ.  Thí dụ như tả Đá Gà nhưng làm cho độc giả nghĩ tới Giao Hợp (nam nữ).

         Dùng từ ngữ có thể nói lái được.  Thí dụ: "Hỏi thăm sư cụ đáo nơi neo?" (trong bài Chơi Chùa Quán Sứ).  Đáo nơi neo = đến nơi nào (có nghĩa không tục); nhưng "Đáo nơi neo" nói lái là "Đéo nơi nao" (có nghĩa tục).

 

*

Bài Cái Quạt của Hồ Xuân Hương trong văn bản chỉ có 4 câu (theo bản Quốc Văn tùng ký)

 

         Một lỗ xâu xâu mấy cũng vừa,
        Duyên này tác hợp tự ngàn xưa.
        Chành ra ba góc da còn thiếu,
        Khép lại đôi bên thịt vẫn thừa.

 

Các bản chữ quốc ngữ sau này có thêm 4 câu nữa:
 

         Mát mặt anh hùng khi tắt gió,
        Che đầu quân tử lúc sa mưa.
        Nâng niu ướm hỏi người trong trướng,
        Phì phạch trong lòng đã sướng chưa.

 

Đây là bài thơ dùng kỹ thuật 1: tả một sự vật "thanh" (Cái Quạt) nhưng làm cho độc giả nghĩ tới một sự vật "tục" khác (Âm hộ).

Tuy nhiên 2 câu Thực (câu 3 và 4) tả Cái quạt không đúng: Cái quạt làm gì có "da" và nhất là làm gì có "thịt".  Âm hộ thì có da và có thịt, như vậy bà Hồ Xuân Hương không có tả Cái Quạt mà tả Âm Hộ một cách rõ ràng.  Và như vậy không còn nghệ thuật "thanh mà tục" nữa!

Có thể 4 câu sau (bản chữ Quốc ngữ) là thơ của hậu thế thêm vô?

 

*

Hồ Xuân Hương làm thơ dùng chữ Hán Nôm thường chỉ có 2 kỹ thuật nầy nhưng không làm được kỹ thuật thứ ba.

Thơ Việt ngữ dùng chữ Quốc ngữ dùng được cả 3 kỹ thuật.

Kỹ thuật thứ ba là dùng 1 chữ Quốc ngữ có 2 nghĩa (vì chữ Quốc ngữ là tượng thanh).  Thí dụ: chữ "Cu" có 2 nghĩa.

Thi nhân thơ Quốc ngữ có dùng kỹ thuật mới nầy mà bà Hồ Xuân Hương không làm được vì thời của bà (cuối thế kỷ 18) chưa có chữ Quốc ngữ trong quần chúng.

 

Đây là những bài thơ "thanh và tục" theo kỹ thuật thứ ba.

Cu = thằng cu - con cu (penis)

 

CU CỤ  (Độc vận - Nguyên Bản)

Thế sự đảo huyền chuyện Cụ Cu

Lộn sòng “thằng Cụ” với “ông Cu”

Cu “Quân Tử Kiếm” là Cu Cụ (*)

Cụ “Lão Ngoan Đồng” ấy Cụ Cu (*)

Ra chốn đình trung ưng gọi Cụ

Giữa vòng hương phấn muốn là Cu

Giai nhân có hỏi Cu hay Cụ

“Lục thập niên tiền…” Cụ vốn Cu.

(Vô Danh Thị)

 

(*) Chú thích: 

         Quân Tử Kiếm Nhạc Bất Quần tự thiến để luyện võ công (Tiếu Ngạo Giang Hồ/Kim Dung).

         Lão Ngoan Đồng Châu Bá Thông lớn tuổi nhưng tánh vẫn như con nít (Anh Hùng Xạ Điêu/Kim Dung).

 

         CU CỤ (Độc vận - Họa)

         Tuy khác danh xưng: Cụ hoặc Cu

         Tính tình vui vẻ, Cụ như Cu

         Thà tiêu xí quách Cu theo Cụ

         Biết sướng cuộc đời Cụ chỉ Cu

         Cu tưởng lão làng lên giọng Cụ

         Cụ ham già dịch tại thằng Cu

         Cu không thế phát thành Sư Cụ

         Như Cụ hồn nhiên cứ “Cúc Cu”.(*)

         (Phan Thượng Hải)

         4/18/12

         (*) Chú thích: Cúc cu có 2 nghĩa: Nắm cu (cúc = nắm) và tiếng con chim kêu "cúc cu".

 

         CU CỤ (Độc vận - Họa)

         Bàn loạn cho vui chữ Cụ Cu

         Vợ thương vợ gọi: “bố anh Cu”

         Thằng Cu nặng lớn thành ra Cụ

         Ông Cụ nhẹ già chuyển hóa Cu

         Người Việt phân chia Cu với Cụ

         Dân Tây lẫn lộn Cụ và Cu

         Tơ vò rắc rối Cu hay Cụ

         Cu Cụ giống nhau chỗ có Cu.

         (Hp-Trương Ngọc Thạch)

         10/20/13

 

 

Bs PHAN THƯỢNG HẢI biên soạn và giữ bản quyền

 "TRUYỆN KIỀU CÒN, TIẾNG TA CÒN, TIẾNG TA CÒN, NƯỚC TA CÒN"

 

                                                      Bs Phan Thượng Hải biên soạn

 

(Bài nầy là 1 đoạn có để trong nhiều bài chính như bài "Nguyễn Du và Truyện Kiều trong lịch sử thi văn" hay bài "Thơ và Việt Sử - Nhà Nguyễn" (đều có trong phanthuonghai.com). 

Năm 1924, học giả Phạm Quỳnh đưa ra câu nổi danh "Truyện Kiều còn, tiếng ta còn, tiếng ta còn nước ta còn" nầy trong bài diễn thuyết của ông ở hội Khai Trí Tiến Đức (8-9-1924) nhân kỷ niệm ngày giỗ của Tiên Điền Nguyễn Du.

 

Đây là trích những đoạn chính trong bài nầy:

         ….

         Văn chương người ta thiên kinh vạn quyển, dầu có thiếu mất một quyển cũng chẳng hại gì. Văn chương mình chỉ có độc một quyển, vừa là kinh, vừa là truyện, vừa là Thánh Thư Phúc Âm của cả một dân tộc, ví lại khuyết nốt thì dân tộc ấy đến thế nào ?

         ….

         Mãi đến thế kỷ mới rồi mới có một đấng quốc sĩ vì nòi giống, vì đồng bào, vì tổ tiên, vì hậu thế, rỏ máu làm mực, “tá tả” một thiên văn khế tuyệt bút, khiến cho giống An Nam được công nhiên, nghiễm nhiên rõ ràng, đích đáng làm chủ nhân ông một cõi sơn hà gấm vóc.  Đấng quốc sĩ ấy là ai ? Là cụ Tiên Điền ta vậy.  Thiên văn khế ấy là gì ? Là quyển Truyện Kiều ta vậy.

         …..

         

         (Phần Kết luận)

         Áng tinh trung thấp thoáng dưới bóng đèn, chập chùng trên ngọn khói, xin chứng nhận cho lời thề của đồng nhân đây.  Thề rằng: “Truyện Kiều còn, tiếng ta còn, tiếng ta còn nước ta còn, nước ta còn, còn non còn nước còn dài, chúng tôi là kẻ hậu sinh xin rầu lòng giốc chí cố gia công trau chuốt lấy tiếng quốc âm nhà, cho quốc hoa ngày càng rực rỡ, quốc hồn ngày càng tinh tao, quốc bộ ngày một tấn tới, quốc vận ngày một vẻ vang, ngõ hầu khôi phục cái chí hoài bão của tiên sinh, ngậm cười chín suối càng thơm lây”.

 

Bài nầy được đăng lại trên Nam Phong tạp chí số 86 (1924).  

 

Thiển nghĩ tiếng Việt của ta đã tồn tại từ khi có người Lạc Việt cho tới khi có Truyện Kiều thì cũng khoảng 4000 năm.  Nhạc sĩ Phạm Duy có viết: "Tiếng nước tôi, 4000 năm ròng rã buồn trôi, khóc cười theo vận nước nổi trôi".  Như vậy có người nói "Truyện Kiều còn, tiếng ta còn, tiếng ta còn nước ta còn" thì có hơi quá đáng ? Hơn nữa còn so sánh Truyện Kiều như là Thánh thư Phúc âm của một dân tộc !

 

*

Ngay sau đó có nhiều học giả không đồng ý với câu trên và bài diễn thuyết của Phạm Quỳnh mà còn lên án Truyện Kiều.

         Một tháng sau đó, trên báo Hữu Thanh, ông Ngô Đức Kế có viết bài “Luận về chánh học và tà thuyết” chống lại chủ trương đề cao Truyện Kiều của ông Phạm Quỳnh, cho bài “diễn thuyết” ở hội Khai Trí Tiến Đức là “tà thuyết”.  Theo ông Ngô Đức Kế, Truyện Kiều đã làm cho các thanh niên VN “say đắm trong trời tình biển ái mà mềm nhũng cái lòng sắt đá, bỏ mất cái chí nguyện cao xa”.  Tuy nhiên ông Phạm Quỳnh không trả lời.  

         Sau khi ông Ngô Đức Kế qua đời 5 năm sau (1929), ông Phan Khôi mới viết ở báo Phụ Nữ Tân Văn đã kích ông Phạm Quỳnh là “học phiệt” đã không trả lời (ông Ngô Đức Kế).  Ông Phạm Quỳnh mới trả lời cho rằng sự chống đối của ông Ngô Đức Kế chỉ là vì lý do cá nhân và cạnh tranh trong báo giới.  Điều nầy làm ông Huỳnh Thúc Kháng viết trong báo Tiếng Dân chỉ trích ông Phạm Quỳnh và gọi Truyện Kiều là “dâm thư”!

Huỳnh Thúc Kháng còn làm bài thơ chỉ trích thêm là Nguyễn Du sùng bái Tàu, nhắc lại nguồn gốc Truyện Kiều và những bài thơ khác của Nguyễn Du bằng Hán ngữ ca tụng nhân vật bên Tàu như Mã Viện.

 

VỊNH KIỀU

 

Á cũ qua rồi mới chửa Âu

Học Kiều xúm xít bọn mày râu

Đã mang thân thế nương nhà thổ

Còn trách cha ông vụng kiếp tu !

Một khúc đoạn trường khêu lửa dục

Mấy dây bạc mạng chác hơi sầu

Biết chăng hỡi cụ Tiên Điền nhỉ

Muôn ác tà dâm ấy sự đầu !

 

Muôn ác tà dâm ấy sự đầu

Tình đâu đâu mà hiếu đâu đâu

Theo trai gác xó lời cha mẹ

Làm đĩ đành thân tiếng ngựa trâu

Nghiêng nước trận cười gương mấy kiếp

Đắm người bể sắc tội nghìn thu

Tiên Điền cụ nghĩ mua vui vậy

Biết nỗi người sau dại thế ru...

 

Biết nỗi người sau dại thế ru

Phong trần đưa giọng chuyện phong lưu

Vẩn vơ người ấy phường trăng gió

Đau đớn lòng ai cuộc bể dâu

Nòi giống khôn thiêng thân một nước

Anh hùng nhiều ít tiếng năm châu

Tiên Điền cụ có hay chưa nhì

Sách dạy ngày nay đĩ đứng đầu.

 

Sách dạy ngày nay đĩ đứng đầu

Xúm nhau sùng bái gái bên Tàu

Cột đồng Mã Viện xô chưa đổ

Sóng ác Kiều nương đắm lại sâu

Ố điểm ngàn năm ô lịch sử

Báo chương phân nửa chuyện thanh lâu

Ai ơi, gọi cụ Tiên Điền dậy

Đừng để non sông chịu tiếng vu.

 

Đừng để non sông chịu tiếng vu

Phật nhà không lạy, lạy người Tàu

Trưng Vương đền cũ mùi hương lạnh

Triệu Ẩu bia còn nét chữ lu

Thiện chẳng thấy bày, bày những ác

Ơn kia không biết, biết chi cừu

Tiên Điền cụ biết thời nay nhỉ

Á cũ qua rồi mới chửa Âu !

 

(Huỳnh Thúc Kháng)

 

 

Bs PHAN THƯỢNG HẢI biên soạn

 

_______________________

THƠ NGÀY FATHER'S DAY

 

 

 

 

CHA

Tiếng Nôm nước Việt gọi là Cha

Gọi Cậu, nghĩa đồng, viết khác xa (*)

Từ đám thằng cu lòng mến Bố

Từ đàn con trẻ dạ thương Ba

Là Thầy, me nó nên nhường tớ

Là Tía. má mầy phải nhịn ta

Hán tự chính danh là chữ Phụ

Không là linh mục, cũng là Cha!

(Phan Thượng Hải)

6/19/21

(*) Ba tôi và chú bác tôi là người Cao Lãnh, đều gọi ông nội bà nội của tui là Cậu Mợ.

 

Tìm lại trong quá khứ có những bài thơ cũ nhân ngày Father's Day (Ngày Từ Phụ) của anh Chánh Minh, đàn anh Trương Ngọc Thạch, thằng cháu con anh Hai của tui và tui.

 

CHA (Nguyên bản)

Nhớ mãi người cha mái tóc xanh

Có cha che chở sống an lành

Chơi đùa thân mật từ thơ ấu

Dạy dỗ nghiêm minh đến trưởng thành

Bỏ nước ra đi, lòng chẳng đặng

Lìa quê mất hết, dạ không đành

Trải qua năm tháng sầu xa xứ

Cha đã nằm yên dưới mộ xanh.

(Chánh Minh Nguyễn Văn Minh)

6/19/16

 

            CHA (Họa)

            Sớm phải lìa cha lúc tuổi xanh

            Nổi trôi cuộc sống khó yên lành

            Công cha dạy dỗ từ thơ dại

            Nghĩa mẹ chăm lo đến trưởng thành

            Bỏ xứ xa cha, tâm chẳng nỡ

            Rời quê cách mẹ, óc không đành

            Tự do tìm đến, ngày đêm gắng

            Gặp mẹ, mộ cha cỏ đã xanh.

            (Hp-Trương Ngọc Thạch)

            6/20/16

 

            

            CHA (Họa)

            Cha hiền mất sớm, lúc đầu xanh

            Hưởng phước nên Con được tốt lành

            Hiểu ý người xưa tu đức độ

            Thấy gương người trước gắng công thành

            Nhớ thương tự nhỏ tuy còn giữ

            Ly biệt từ lâu cũng phải đành

            Đoán biết giờ đây người quá cố

            Lãng ba thơ thẩn khắp trời xanh. (*)

            (Phan Thượng Hải)

            6/21/16

            (*) Chú thích: Bút hiệu của cha là Lãng Ba.  Lãng ba = sóng lãng mạn

 

NHỚ BA TÔI

Sống ở đời ai cũng có cha

Cha tôi số khổ, cứ bôn ba

Chiến tranh đời lính, nhiều thương tích

Cuộc sống lao tù, phải trải qua

Ngày cố đạp xe, vì lũ nhóc (*)

Đêm rèn ngoại ngữ, mộng cờ hoa (*)

Họa không tính trước, người không biết

Bọn trẻ còn mơ, bố vắng nhà. (*)

(Phan Kim Thành)

6/22/16

(*) Chú thích:

            Chạy xe đạp ôm, nuôi con

            Ban đêm ông ấy tự học tiếng Anh, và dạy con cái. Tính chuyện đi Mỹ đổi đời.

            Chưa bao giờ tôi nghĩ là ba tôi đã ra đi mãi mãi.

 

MỪNG NGÀY TỪ PHỤ (Nguyên bản)

Nhân ngày từ phụ đến hôm nay

Ước mọi người cha mấy chữ nầy:

Hạnh phúc tràn đầy không phải mộng

Sướng vui thỏa thích chẳng cần say

Các con quấn quýt mừng cha khoẻ

Bằng hữu xum vầy chúc bạn may

Trách nhiệm đôi vai xong một gánh

Mong cầu thọ lộc có từng giây.

(Hp-Trương Ngọc Thạch)

6/19/16

 

            NGÀY TỪ PHỤ (Họa)

            Gìn lòng từ phụ đến ngày nay

            Tự phụ làm cha chỉ thế nầy!

            Trọng nghĩa bao năm còn nghĩa nặng

            Thân tình lắm lúc có tình say

            Lễ nghi tô thắm câu thành bại

            Lễ giáo mệt nhoài kiếp rủi may

            Thêm đạo phu thê thêm chữ hiếu

            Nhân duyên chằng chịt quá nhiều giây?

            (Phan Thượng Hải)

            6/20/16 

TL_HaveANiceDay.gif
PTH_Que the.JPG

MÊ TÍN TRONG XÃ HỘI VIỆT NAM

 

Bs Phan Thượng Hải

Tín ngưỡng của người Việt trong Phật Giáo và Đạo Giáo (Lão Giáo) đã có từ hơn ngàn năm. Từ

Đạo Giáo, người Việt có mê tín dưới những hình thức như Ngồi Đồng, Gọi Hồn, Thanh Đồng,

Thầy Pháp (Phù Thủy) và Xin Thẻ (hay Xin Xăm).

Hồn của Người chết - Tiên

Một Người (đang sống) gồm có Hồn và Xác.

Hồn = yếu tố tinh thần vô hình được coi là đối lập với Xác (thì hữu hình).

Hồn là từ ngữ gọi chung của Hồn Phách hay Hồn Vía. Hồn hay Hồn Phách (Hồn Vía) là vô

hình.

Hồn Phách (= Hồn Vía) = 2 mặt âm dương không tách rời nhau của tinh thần con người ta nói

chung.

 Hồn tác động ở phương diện tâm thần, có tính động và thuộc Dương.

 Phách (= Vía) ở phương diện thể chất, có tính tĩnh và thuộc Âm.

Hồn thuộc cõi Âm nên còn gọi là Âm Hồn. Người thuộc cõi Dương, như Dương gian, Dương

trần...

Theo Lão Giáo, khi Người chết thì Hồn lìa khỏi Xác: Xác người chết sẽ hũy hoại còn Hồn người

chết có thể xuống Địa ngục hay còn trên cõi trần gian hoặc được Ngọc Hoàng Thượng Đế phong

làm Thần, còn gọi là Thần linh. Thần (hay Thần linh) có quyền lực siêu nhiên để giúp cho người

sống.

Thánh là Thần hay Thần linh có tiếng trong nhân gian được người sống thờ ở đền chùa. Thí dụ

như Thánh Trần (Trần Hưng Đạo).

Tiên là Người tu theo Đạo Lão (Lão Giáo) và thành đạo tức là thành Tiên. Tiên sống trường thọ

mãi mãi có Hồn và Xác vì không chết. Tiên có phép mầu nhiệm.

Sau khi người (đã) chết chỉ còn Hồn là vô hình. Tuy nhiên lại có Ma. Ma là gì? Theo định

nghĩa của Đại Từ điển Việt Nam, Ma là hiện hình của người chết. Như vậy Ma phải được thấy

từ người khác còn sống?

Thiển nghĩ sau khi Người chết thì Xác bị hũy diệt, Hồn có thể:

 thành Thần hay Thần Linh làm việc tốt cho nhân loại. Thánh là Thần được người sống

tôn thờ riêng biệt. Thần linh hay Thánh là Hồn của người tốt khi còn sống và khi chết tiếp tục

làm việc tốt. Thí dụ như Trần Hưng Đạo, Quan Công...

 thành Ma hay Tà Ma, phá hại nhân loại. Ma là Hồn của người xấu khi còn sống và khi

chết tiếp tục làm việc xấu. Thí dụ như Phạm Nhan.

 thành Hồn người chết thông thường, không tốt và không xấu.

Đồng và Bóng - Cô Hồn

Theo Đại Từ Điển Việt Nam:

 Đồng = Người được Thần linh hay Hồn người chết nhập vào (Xác) - và có khả năng nói

ra được những điều bí ẩn. Người nầy được gọi là Người ngồi Đồng hay Người lên Đồng.

 Bóng = Hồn người chết hiện về nhập vào (Xác) Người (nào đó). Người nầy được gọi là

Người ngồi hầu Bóng hay Bóng cô (hay Bà bóng).

 Đồng Bóng = Người được Thần linh hay Hồn người chết nhập vào trong lễ cầu xin.

 Đồng Cốt = Người làm Nghề Đồng Bóng = Cốt, Bà Cốt (vì Đồng Cốt thường là đàn bà).

Tuy nhiên, Đồng được Bóng nhập vào Xác thì lúc đó Xác có khi gọi là Cốt.

Theo Toan Ánh thì có sự phân biệt: Đồng có nhiều loại và có nhiều từ ngữ khác nhau:

 Người được Thánh (Thần linh) nhập vào gọi là Đồng Cốt (ông Đồng bà Bóng). Sự kiện

đó gọi là Ngồi Đồng hay Lên Đồng, hay đội Bóng Thánh. Đồng cốt thường là người có Căn Thờ

và Căn Đồng. Có khi Đồng Cốt còn được Tiên nhập vào và sự kiện nầy gọi là Phụ Tiên.

 Người được Hồn người chết nhập vào gọi là Cô Hồn (xác Cô hay xác Cậu). Sự kiện nầy

gọi là Gọi Hồn. Tùy theo người chết là đồng nam hay đồng nữ thì Cô Hồn được gọi phân biệt là

Xác cậu hay Xác cô. Có khi Cô Hồn được Hồn người sống khác nhập vào.

 Người được Tà Ma nhập vào gọi là Đồng. Sự kiện nầy còn gọi là ốp Đồng.

Cũng theo Toan Ánh,

 Bóng = Thần linh hay Thánh hoặc Tiên hoặc Tà Ma nhập vào Người trần (và người trần

gọi là Đồng).

Bài viết nầy căn cứ theo giải thích của Toan Ánh.

Căn Thờ và Căn Đồng

Người có Căn Đồng hoặc Căn Đồng = Người có căn cơ để dễ được Thần linh hay Hồn người

chết nhập vào (Xác).

Người có Căn Thờ là Người có số phải thờ 1 hay nhiều vị Thánh Thần của Đạo Lão thì mới được

bình yên và tránh khỏi tai họa được. Có những vị Thần được thờ nầy trước đây không phải là

của Đạo Giáo nhưng các lưu phái tại Việt Nam đã tôn thờ các vị nầy và coi các vị là Thần linh

của Đạo Giáo: Hưng Đạo vương, Tản Viên, Liễu Hạnh Công chúa...

Người có Căn Thờ chỉ phải thờ đức Hưng Đạo vương được gọi là Thanh Đồng.

Người có Căn Thờ dễ trở thành Người có Căn Đồng và được Thần Thánh mình thờ nhập vào.

Đồng được Thánh nhập thường bắt đầu là Người có Căn Thờ (thờ Thánh Thần) và có Căn Đồng.

Họ có Điện thờ Thánh Thần riêng mà mình có số phải thờ ở nhà, hoặc thờ theo Đồng Cốt khác

hoặc tại một cửa miếu thờ chư vị.

Tùy theo Thánh Thần mà Họ có tên:

 Đồng Đức Mẹ khi thờ các Công chúa như Liễu Hạnh Công chúa, Thượng Ngàn Công

chúa...

 Đồng Đức Ông khi thờ các Hoàng tử. Các Hoàng tử hoặc là con vua hay những vị linh

thiêng được tôn lên.

 Đồng Cậu khi thờ các cậu.

Đồng Cô khi thờ các cô. Các cậu các cô là những người chết trẻ gặp giờ linh được tôn
thờ.


Những Người có Căn Thờ (và Căn Đồng) mà không có Điện thờ riêng tại nhà được Toan Ánh tả
như sau:
Thường Đồng cốt phần lớn là đàn bà. Những bà những cô hay đau yếu hoặc đôi khi mặt
đỏ rần rần, nằm mơ thấy bay trên không, thấy lội dưới nước, đi xem bói, đi lễ bái được thầy bói
hoặc các ông đồng bà cốt bảo là số thờ, thánh bắt đồng.


Người có số thờ nầy đem vàng hương tới một cửa Điện xin làm con công đệ tử và phải
đội bát phù hương, nghĩa là những bình hương nhỏ để ở bàn thờ chư vị tại điện; những ngày tuần
tiết người có số thờ đến lễ rồi đội những bình hương đó lên đầu. Bình hương đặt trên một chiếc
mâm nhỏ có thắp hương. Có người phải đội một bát phù hương, có người căn đồng nặng phải
đội 2, 3 bát hoặc nhiều hơn.


Có người chỉ phải đội bát phù hương. Có người bị (chư Thánh Thần) bắt đồng thì phải
đội bóng Thánh (tức là phải làm). Nếu vì lý do còn trẻ tuổi có thể làm lễ xin khất đồng được.
Sau nầy có những người ở trong Miền Nam cũng hành đạo như người có Căn Thờ và Căn Đồng
nhưng thường được gọi là Mẫu.


Ngồi Đồng (= Lên Đồng)


Đồng còn được gọi là Đồng Cốt hay ông Đồng bà Bóng.
(Đồng - Đồng cốt)
Lễ Ngồi Đồng (hay Lên Đồng) thường xảy ra tại Điện của Thánh vào những ngày rằm, mùng
một, tuần tiết, hoặc khi có người nào đau yếu đến Điện kêu cứu. 
Người có Căn Đồng là chủ điện hay hoặc người có Căn Đồng khác vào ngồi đồng. Người ngồi
đồng hay lên đồng (= Đồng) đều có khăn trầu áo ngự, tức là loại khăn áo ngũ sắc dành riêng cho
ngồi đồng.
Tại điện có sẵn cung văn, tức là đàn ca hầu bóng từ những đàn bà (gọi là chầu văn). Người có
căn đồng vào ngồi đồng mặc áo xanh đỏ đội khăn các mùi múa may nhảy nhót ở trong điện. Lúc
đó là lúc Thánh nhập vào Đồng (còn gọi là Thánh ốp vào Đồng). Tức là Đồng hành động như
Thánh rồi.


Con công đệ tử chung quanh kêu xin để "Thánh" chữa bệnh cho người đau. "Thánh" bèn ban
truyền bằng giọng nũng nịu, ỏn ẻn, có khi giọng hờn dỗi để được nịnh bợ tâng bốc. "Thánh"
phán sao, gia chủ của người bệnh phải tuân theo. Có khi "Thánh" cho uống tàn hương nước thải;
có khi cho nước quết trầu để mang về xoa cho người bệnh; có khi cho bùa đeo.
"Thánh" cũng ban lộc cho bọn cung văn, những người hầu dâng tức là những người phụ tá để
đưa quần áo cho đồng hoặc những người đứng chung quanh lễ bái. Lộc có thể là tiền hoặc là
bánh kẹođã được mua trước cúng tại điện, có thể là trầu cau hay thuốc lá. Tiền thường dùng là
giấy bạc kết thành con bướm dùng để ban lộc.


Thi sĩ Trần Tế Xương có 2 bài thơ:
LÊN ĐỒNG
Khen ai khéo vẽ sự lên đồng
Một lúc lên ngay sáu bảy ông
Sát quỉ, ông dùng thanh kiếm gỗ
Ra oai, bà giắt cái khăn hồng
Cô giương tay ấn tan tành núi
Cậu chỉ ngọn cờ cạn rốc sông
Đồng giỏi sao Đồng không giúp nước?
Hay là Đồng sợ súng thần công?
(Tú Xương)


SƯ ÔNG VÀ MẤY Ả LÊN ĐỒNG
Chẳng khốn gì hơn cái nợ chồng
Thà rằng bạn quách với sư xong!
Một thằng trọc tuếch ngồi khua mõ
Hai ả tròn xoe đứng múa bông
Thấp thoáng bên đèn lên bóng cậu
Thướt tha dưới án nguýt sư ông
Chị em thủ thỉ đêm thanh vắng
Chẳng sướng gì hơn lúc thượng đồng!
(Tú Xương)


Tục ngữ có câu:
Miệng bà đồng, như lồng chim khứu.
(Đồng là đồng cốt. Chim khứu = Khứu = chim cỡ như chim sáo, lông đen đuôi dài, hay hót) 
Gọi Hồn (= Cầu Hồn)
Đồng ở đây không phải là người có Căn Thờ, chỉ là Người thường, gọi là Người trần.
Người trần nầy (thường là đàn bà) để cho Hồn (hay Âm hồn) của người chết nhập vào, được gọi
là Cô Hồn, thường không gọi là Đồng Cốt. Tùy theo Hồn của đồng nam hay đồng nữ chết mà
phân chia ra Xác cậu và Xác cô.
(Ngày nay, từ ngữ "Cô Hồn" được dùng cho một nghĩa khác. Theo Việt Nam Đại Từ Điển, Cô
Hồn là hồn người chết bơ vơ không được ai thờ cúng).
(Cô Hồn)


Theo Toan Ánh và Phan Kế Bính, Cô Hồn như là một nghề kiếm ăn. Những nhà có người chết,
thương xót nhớ tưởng muốn tìm cách gọi hồn (hay cầu hồn) người thân để hỏi han về cuộc sống
ở cõi âm hay để hỏi han những bí mật mà người chết biết khi còn sống, thì thường hay mời Cô
Hồn tới để gọi hồn về nhập. Muốn gọi hồn người chết về phải cần đặt quẻ, và quẻ phải do người
có vía lành đặt.
Như vậy Cô Hồn phải gọi Hồn người chết ở cõi âm về rồi mới nhập vô mình được; khác với
Đồng Cốt là Đồng Cốt có sẵn Thánh ở tại điện thờ.
Người lành vía được kén đặt quẻ, đưa một cơi trầu và mấy đồng tiên; xưa là 100 đồng tiền kẽm.
Món tiền này chính là món tiền thù lao cho Cô Hồn, ngày nay có thể là năm ba chục hay hơn nữa
tùy theo Cô hồn. Cô hồn thắp hương đặt lên cơi trầu đoạn bưng cơi trầu trong có đặt tiền quẻ,
nâng ngang trán khấn hứa ông Chiêu bà Dì để hai vị linh thần nầy xuống âm phủ tìm hồn người
đã chết về.
Một lát sau âm hồn người chết về nhập vô Cô Hồn kể lể khóc lóc nói lại lúc lâm chung, tả oán
cảnh tình ly biệt. Lúc đó cha mẹ vợ con anh em xúm vào hỏi han Hồn. Hồn người chết qua
miệng của Cô Hồn sẽ tùy theo những câu hỏi mà trả lời, và tùy người hỏi mà nhận đúng cha mẹ
vợ con anh em hay người khác trong gia đình. Âm hồn cũng lại nói đúng được nguyên do tại sao
chết, chết về bệnh gì, chết ngày tháng nào, lúc an táng người nhà đã chọn theo thi hài những gì. 
Âm hồn lại cho người nhà biết hiện ở âm phủ đang làm gì và tình trạng ra sao. Âm hồn muốn
xin gì, người nhà sẽ cúng cho.


Những câu Cô Hồn nói đúng đều được người nhà thưởng tiền và nếu có những câu sai thì Cô
Hồn, thay lời âm hồn, sẽ nói (vì) quá đau đớn thương xót người sống nên âm hồn đã nhầm lẫn.
Âm hồn nhập vào Cô Hồn một lát, sau khi được người nhà hỏi thăm đủ chuyện, thì thăng.


Toan Ánh viết:
Thật ra Cô Hồn là người sành tâm lý, khi nói một câu mà thấy người nhà tỏ vẻ không
đồng ý là Cô Hồn sửa chữa ngay.
Thí dụ khi được hỏi giờ chết của âm hồn, Cô Hồn nói:
Hồn rằng hồn chết ban ngày
Câu nói không được người nhà tán thưởng, Cô Hồn liền sửa:
Thương cha nhớ mẹ hồn rày thác đêm!
Các Cô Hồn có khi là người có mục tật (nhãn quan kém), không nhìn thấy gì nhưng rất
thính tai, và dường như có để lục giác quan để biết khi nói lầm.


Âm hồn có những điều kỵ:
Khi gọi hồn mà hiện diện của người có vía dữ thì âm hồn không nhập. Khi Hồn đang nói
chuyện với người mà có 1 người vía dữ bước vào thì lập tức Hồn thăng.
Hồn không lên nếu trong nhà có người lấy nồi đất úp vào đầu ông Táo hoặc có ai tinh
nghịch bỏ muối vào bếp. Tục cho rằng vì làm như vậy ông Chiêu bà Dì không hỏi han ông Táo
được để đi tìm âm hồn về, như vậy làm sao hồn nhập được.
(Hồn người sống nhập vào Cô Hồn)
Có nhiều người muốn thử thách Cô Hồn, thay vì gọi Hồn người chết, người ta gọi Hồn người
sống, những người vắng mặt và có khi cả những người có mặt. Ấy thế mà hồn vẫn cứ nhập và
vẫn cứ trả lời được những câu hỏi của mọi người, nhiều khi rất phù hợp với những việc đã xảy
ra, hoặc tình trạng trong nhà. Người ta bảo rằng đó là ông Chiêu bà Dì đã hỏi ông Táo nên biết
rõ mọi việc trong nhà.


Phụ Tiên


Phụ Tiên cũng giống như Gọi Hồn chỉ khác ở đây là mời Bóng một vị Tiên nhập vào cốt Người
trần, thay vì mời gọi Hồn người chết (âm hồn). Tiên không phán truyền như âm hồn mà chỉ thảo
thơ.
Muốn Phụ Tiên phải tìm những nơi chùa chiền thanh vắng. Người nào có việc cầu khẩn phải
tắm rửa sạch sẽ, ăn chay một ngày rồi mua vàng hương trầu rượu bày lên một hương án đốt đèn,
đốt hương lễ bái, khấn rồi mới Phụ Tiên.


Trước chỗ án thờ có một mâm gạo. Một người ngồi Đồng lấy khăn che kín mặt, tay cầm một cái
bút bằng cành đào. Người ta thường kén cành đào mọc về hướng Đông và bẻ cành đào vào buổi
sáng. Ngọn cành đào chấm xuống mâm gạo. Một người cầm hương thư vào mặt và hai tay
người ngồi Đồng. Vài ba người khác đọc những văn sai để cầu Tiên lên hoặc ngâm những cổ
thi. Khi người ngồi Đồng bắt đầu đảo là Tiên sắp lên. Lúc đó người ngồi Hầu đồng phải khấn 
khứa, tấu lạy, kêu van. Thế là một lát sau bóng Tiên nhập vào người ngồi Đồng, có nghĩa là
người ngồi Đồng có ngôn ngữ và hành động của Tiên.


Người ngồi Đồng, đã được Tiên nhập nên tạm gọi là "Tiên", liền gõ bút (tức là cành đào) vào
mâm gạo rồi bắt đầu viết trên mâm gạo. Người hầu bút phải trông theo những chữ viết trên mâm
gạo mà chép ra một tờ giấy. Thường thường khi "Tiên" viết xong một bài thơ lại truyền cho
những người hầu đồng ngâm lại cho "Tiên" nghe. "Tiên" chỉ truyền phán bằng thơ viết trên
mâm gạo, rồi người hầu đồng chép lại trên giấy.
Thơ "Tiên" làm rất nhanh, như kiểu ứng khẩu hay ứng bút, không nghĩ ngợi gì. Thường "Tiên"
làm thơ nhưng cũng có khi làm ca phú hay tứ khúc.
Lúc "Tiên" mới lên, bài thơ đầu tiên bao giờ cũng là bài thơ để tự xưng danh hiệu của mình như
Lê Sơn Thánh mẫu, Quỷ Cốc Tiên ông, Vương Ngao Lão tổ... Cũng có khi vị Tiên lên lại là Thi
bá của thời trước như Lý Bạch.


Sau khi xưng danh hiệu rồi, "Tiên" mới lần lượt làm tặng mỗi người Hầu đồng một bài thơ, trong
bài thơ ẩn rõ sự hay dở của đương sự mà chỉ đương sự biết nếu đương sự hiểu thấu bài thơ.
Có khi "Tiên" truyền lấy rượu uống. Người Hầu đồng phải rót hỏa thang. "Tiên" cầm bút chấm
vào rượu đã là "Tiên" uống rồi.
Có khi "Tiên" hứng đánh cờ truyền lấy bàn cờ; người Hầu đồng phải hầu cờ. Mỗi khi muốn đi
một nước cờ, "Tiên" chỉ cầm cành đào chỉ vào quân cờ và vạch nước đi. Một người Hầu đồng
khác phải nhắc quân cờ đi theo ý "Tiên".
Có khi "Tiên" đòi xướng họa thơ với người Hầu đồng.
Ai muốn xin điều gì, chữa bệnh cầu danh thì viết thơ phong kín mà kêu cầu, "Tiên" sẽ chỉ bảo.
Ngày xưa, mỗi khoa thi học trò thường rủ nhau 5, 7 người phụ Tiên lên để hỏi về khoa cử.
"Tiên" có khi lên rất lâu, nhưng có thăng sau khi chỉ giáng vài bài thơ.
Phụ Tiên cũng như Gọi Hồn và Ngồi Đồng; thực hư hư thực chỉ duy người trong cuộc mới hiểu
rõ.


Thanh Đồng


Thanh Đồng là người có căn số phải thờ Thánh Trần (Trần Hưng Đạo) rồi cũng có Căn Đồng tức
là được Thánh nhập vào
Ở đền thờ Thánh Trần, như đền Kiếp Bạc hay đền Bảo Lộc, trong dịp những ngày lễ hội; những
Thanh Đồng đến hoặc thay mặt Thánh Trần (1) hoặc được Thánh nhập vào (2) để trị bệnh nhân
bằng cách trừ tà ma nhập vào họ (làm họ bị bệnh).


(1)
Thanh Đồng đại diện Thánh Trần làm cho Người bệnh lên Đồng có tà ma (Phạm Nhan hay thủ
hạ của nó) nhập vào để Thanh đồng trừ tà mà trị bệnh:
Những người nầy trong những ngày lễ hội tại đền Kiếp Bạc hoặc đền Bảo Lộc đều tới lễ
và lên đồng bắt tà. Tà đây là chỉ Phạm Nhan và bộ hạ của hắn. Phạm Nhan nguyên là tướng của
Mông Cổ bị Hưng Đạo vương giết.
Đàn bà sinh sản đau yếu hữu sinh vô dưỡng cho là mình bị Phạm Nhan ám; hoặc chồng
trước hay vợ trước ghen tuông; hoặc bị tà ma trêu cợt, đem vàng bạc tới cửa điện lễ bái và kêu 
Thanh đồng khấn xin trừ tà. (Phạm Nhan và bộ hạ cũng là tà ma, nhưng chúng sợ Thánh Trần
Hưng Đạo và Thánh cũng có quyền lực trừ tất cả các tà ma khác).
Người có bệnh ngồi Đồng bịt khăn đỏ vào mặt. Thanh đồng cầm hương thư trên mặt và
tay người này, rồi niệm chú khấn nguyện. Trong lúc đó cung văn đánh trống gõ phách ca những
bài văn sai để ốp Đồng. Bị thôi miên, người ngồi Đồng (người bệnh) lảo đảo, đó là lúc (hồn) tà
ma nhập vào.
Thanh đồng liền ra oai quát hỏi người bệnh như tra tấn tù nhân. Người bệnh đã lên đồng
(có hồn tà ma nhập vào) liền cầm vồ đập vào đầu mình, hoặc cầm bàn vả vào mặt mình. Đó là tà
ma bị sự trừng phạt. Rồi tà ma cung chiêu nhận tội, làm tờ cam kết không quấy nhiễu người
bệnh nữa, trên tờ cam kết có in dấu tay của con tà. Người ta bảo dấu tay trên tờ cam kết tuy
người bệnh in vào, nhưng không phải là dấu của người bệnh, đó là dấu tay của con tà, so sánh
với tay người bệnh khi hết bệnh thì không giống nhau. Tờ cam kết có dấu ấn của Thanh đồng
được trao cho người bệnh mang về dán ở đầu giường. Nếu bị đau yếu trở lại thì lại mang vàng
hương tới điện (Đền Thánh Trần) kêu, Thánh sẽ lại trị tội con tà.
(Thanh Đồng)


(2)
Thanh Đồng được Thánh nhập vào để trấn Tà ma không cho hành người bệnh:
Cũng có khi bóng hay hồn tà ma không nhập (ốp) vào người bệnh, mà trái lại Thánh
(Thánh Trần) lại nhập vào Thanh Đồng để ra oai với con tà cho sợ mà không dám quấy phá
người bệnh. Thanh đồng tự thắt cổ bằng lụa, nung đỏ lưỡi cày rồi xỏ chân vào, nấu dầu sôi uống
rồi lại phun ra, nhai nắm hương đang cháy, lấy lình xiên mép, lấy dao rạch lưỡi... Lúc rạch lưỡi,
máu chảy được phun vào một tờ giấy để làm bùa gọi là dấu mặn. Bùa này người bệnh đốt uống
với tàn hương nước thải để trị tà, hoặc dùng để đeo, hay dán ở buồng ngủ để trấn áp tà ma.

Thầy Pháp (= Phù Thủy)


Theo Phan Kế Bính, Phù Thủy thường đêm khuya đến những nơi tha ma mộ địa đốt hương khấn
khứa luyện phù phép để làm cho các âm hồn phải theo hiệu lệnh của mình. 
Phù thủy có phép kỳ lạ sai khiến nỗi những âm hồn làm những việc của người trần nhưng phần
nhiều làm về đêm. Những âm hồn chịu sai khiến của Phù thủy gọi là âm binh.


Thí dụ:
Sai âm binh tát nước.
Sai âm binh ném đá gạch vào nhà người khác.
Những thầy phù thủy mỗi khi sai khiến âm binh xong phải có lễ khao binh, nếu không âm binh
sẽ làm phản lại đánh trả thầy; và mỗi lần sai âm binh thầy phù thủy cần phải canh chừng đừng để
trời sáng, phải thâu âm binh về trước khi mặt trời mọc. Bị lộ thiên nghĩa là bị người trần trông
thấy vào ban ngày, âm binh cũng đánh trả thầy.
Những nhà có người chết vào giờ xấu hay sợ có trùng, tức là có tà ma đến làm hại phải nhờ thầy
Phù thủy cho bùa dán trong quan tài hay yểm chung quanh huyệt cũng như ở trong nhà để trấn
áp tà ma.
Người đau ốm cho là tà ma làm, người nhà mời thầy Phù thủy đến để diệt ma. Để diệt ma, ngoài
việc dùng bùa, Phù thủy còn dùng Phụ trượng hay Phụ bạch xà.
Phụ trượng nghĩa là niệm chú yểm phép vào cây trượng, cho người cầm đi khua khắp nhà để
đuổi ma.


Phụ Thần bạch xà thì dùng một con rắn bằng rơm rồi phù phép vào con rắn để rắn bò quanh nhà
mà diệt tà ma. Con rắn thường bò được là nhờ trong ruột có bộ phận cử động bằng máy, nhưng
người quá tin cho là Phù thủy cao tay có phép lạ.
Thầy Phù thủy còn có khi Phụ đồng chổi, đọc thần chú để cây chổi tự cử động được nhưng sự
thật cây chổi cử động cũng chẳng khác chi con rắn bằng rơm bò quanh nhà. Cây chổi quét sạch
tà ma.


Phù thủy lại có phép làm bùa yêu hay bùa mê. Bùa yêu làm cho hai người ghét nhau phải
thương nhau. Bùa mê làm cho người tỉnh trở nên mê mẩn có khi hóa điên dại, phải có bùa giải
mới hết.


Những người có thân nhân quá vãng thương nhớ thường nhờ Phù thủy Phụ cành phan để mời
Gọi Hồn người chết về nói chuyện.
Phụ cành phan có nghĩa là có một Người trần còn sống cầm một cành tre, ngồi trước đàn, rồi
thầy Phù thủy niệm chú phụ động để Hồn người chết nhập vào người trần nầy và có thể nói
chuyện được với thân nhân và người khác. Trong khi Phụ cành phan, cảnh trống chiêng gõ vang
rền lẫn với tiếng đọc phép của thầy Phù thủy, thêm mùi hương ngạt ngào khiến người ngồi Đồng
(cầm cành tre) nầy bị thôi miên có thể mê mẩn đi được.


Có người cho rằng những thầy Phù thủy cao tay có thể bắt ấn phù phép niệm chú để cho Người
sống xuống được âm phủ tìm giáp mặt người thân đã chết để trò chuyện.


Tục ngữ có những câu về Thầy Pháp:
Ông thầy khoe ông thầy tốt, bà cốt cậy bà cốt hay.
Thầy đổ cho bóng, bóng đổ cho thầy. 
Cao tay ấn. mới nhấn được nó.
Giữ như ông thầy giữ ấn. (= Giữ như giữ mả tổ).


Thầy Pháp khác Thầy Cúng
Thầy Pháp = Phù Thủy = Người có phép thuật như kể trên.
Thầy Cúng = Người chuyên nghề cúng bái ma quỉ thần thánh.
Đây là câu tục ngữ về Thầy Cúng:
Trơ trơ, như thủ lợn nhìn thầy.
(Thủ lợn = đầu lợn, dùng làm đồ cúng lễ)


Xin Thẻ (Xin Xăm)
*
Tại các đền miếu (và cả tại các chùa!) nữa thường có một hay nhiều ống Thẻ để thờ. Mỗi ống có
nhiều, thường có khoảng trăm Thẻ.
Thẻ là mảnh tre mỏng, trên có mang một số, số này ăn với Quẻ Thẻ. Thẻ còn được gọi là Xăm
và Quẻ thẻ là Quẻ xăm.
*
Một Quẻ hay
Quẻ thẻ là một bài thơ giáng bút trong lúc phụ đồng vị Thần linh (hay Thánh) thờ
tại ngôi đền hoặc miếu có thẻ. Bài thơ giáng bút được ghi chép lại và ghi số, số của bài thơ nầy
được ghi vào Thẻ tre của ống thẻ.
Thơ giáng bút ở đây khác với thơ giáng bút trong lúc Phụ tiên ở chỗ nó được chép lại và dùng để
ứng vào những người xin thẻ về sau; còn bài thơ trong lúc Phụ tiên thì chỉ hợp với người hầu
đồng lúc đang lên.
Mỗi bài thơ giáng bút đều được khắc in với số đã ghi để phát cho người xin thẻ.
Trong Quẻ thẻ ngoài bài thơ còn có mấy chữ đề là
Triệu gì. Triệu tức là cái điềm ứng với Quẻ
thẻ.
Thí dụ: Triệu "Tướng quân đắc thắng", triệu "Vạn vật phùng xuân", hoặc triệu "Du thuyền ngộ
vũ".
Có triệu xấu, có triệu tốt. Triệu chỉ những nét đại cương về Quẻ thẻ.
Triệu "Tướng quân đắc thắng" là triệu tốt, và ứng vào người xin được thẻ nầy như một vị
tướng quân thắng trận.
Trái lại triệu "Du thuyền ngộ vũ", tức là đi chơi thuyền gặp mưa, là triệu xấu.
Mỗi quẻ có triệu riêng, không quẻ nào giống quẻ nào.
Thường thường trong ống Thẻ 100 Quẻ có độ:
10 triệu "thật tốt" mang hai chữ "đại cát" hoặc "thượng thượng".
20 triệu "tốt vừa" mang chữ "cát" hoặc chữ "thượng".
10 triệu thật xấu mang hai chữ "hạ hạ".
20 triệu "xấu vừa" mang chữ "hạ".
40 triệu mang chữ "trung bình", tức là triệu "không xấu không tốt". 
Như trên đã nói, mỗi Quẻ thẻ có một bài thơ. Bài thơ này tổng đoán việc cát hung, tùy theo
Triệu ghi ở đầu quẻ thẻ.
Dưới bài thơ lại phân ra từng
Mục với lời giải: bản mệnh, mưu vọng, cầu tài, hành nhân, thất vật,
lục giáp, quan trạng, bệnh tật...
Lời giải của mỗi Mục hoặc là văn xuôi, hoặc có khi lại là một bài thơ riêng.
Cuối cùng ở Quẻ thẻ là Lời chú giải chung theo ý nghĩa của bài thơ tổng đoán trên.
*
Muốn
xin Thẻ trước hết phải quì khấn trước bàn thờ, khấn rõ tên tuổi, sinh quán, trú quán, và
muốn xin quẻ Thẻ về việc gì. Khấn xong thì lễ "bốn rưỡi"; ngày nay người ta vái 5 vái dài, 3 vái
ngắn. Lễ hoặc vái xong, người xin thẻ xốc ống thẻ cho có 1 chiếc thẻ vọt ra thì thôi. Trong
trường hợp có nhiều chiếc thẻ cùng vọt ra một lúc, người xin thẻ phải khấn lễ lại và lại xốc ống
thẻ cho đến được 1 chiếc thẻ vọt ra ngoài ống thẻ.
(Thẻ) (Xin Thẻ = Xin Xâm)
Tại Miền Nam, sau khi được Quẻ thẻ rồi, người xin được thẻ còn xin thêm một
Đài Âm Dương
bằng hai đồng tiền hoặc bằng hai con keo hình mặt trăng lưỡi liềm. Hai con keo đều có 1 mặt
phẳng và 1 mặt vồng lên khum khum, coi như 1 một mặt sấp 1 mặt ngửa.
Nếu Đài Âm Dương ứng theo lời xin nhất âm nhất dương, tức là quẻ thẻ của đương sự đã được
Thần linh chiếu theo việc cát hung vận về đương sự mà ứng như vậy.
*
Khi có được một chiếc Thẻ "văng" ra ngoài, khỏi hộp thẻ và khi Đài Âm Dương đã ứng cho Quẻ
đó, người xin thẻ đọc số thứ tự ghi trên chiếc thẻ, rồi ra
xin một Quẻ thẻ từ người thủ từ hoặc
ban quản trị nơi thờ tự. Quẻ thẻ có in sẵn theo số đã đọc trên chiếc Thẻ. Có nơi người lấy thẻ
phải trả tiền giấy in, có nơi thẻ được phát không cho khách tới lễ bái xin thẻ.


Về đài âm dương, có người xin trước và khi có được nhất âm nhất dương mới xin quẻ sau.
Trong trường hợp keo âm dương đầu tiên không được, người ta thường khấn khứa xin lại, và như
thế cho tới lần thứ ba, nếu vẫn không được nhất âm nhất dương thì người ta sẽ thôi. Hôm đó
Thần linh không ứng cho đương sự.
Xin được Quẻ thẻ rồi, đương sự phải nhờ người đoán, vì nhiều khi bài thơ tổng đoán cũng như
các lời chú giải, nghĩa không được rõ ràng, chỉ những người đoán quẻ thẻ mới hiểu. Tại trước 
cửa các nơi thừa tự thường có những ông thầy ngồi xem số đoán thẻ. Mỗi Quẻ thẻ đoán xong,
khách đi lễ thường trả cho người đoán một món tiền thù lao nhỏ.
*
Theo lời các cụ thì trước đây, mỗi Quẻ thẻ bao giờ cũng là một bài thơ giáng bút Hán tự. Số
người đọc được
chữ Hán giờ đây không có nhiều nên tại các nơi thờ tự, ban quản trị hay những
người có trách nhiệm đã thuê người diễn nôm và diễn nghĩa những Quẻ thẻ, cho in sang chữ
quốc ngữ, và có khi còn kèm cả chữ Hán.
Tại những nơi thờ tự mới lập gần đây, người ta
không xin được Thần linh giáng bút thì người
ta thuê hoặc nhờ soạn sẵn một số Quẻ thẻ, có hay có dở, có trung bình với lời chú giải; rồi làm lễ
cầu Thần linh xin cho mỗi quẻ một số bằng cách rút thăm. Có bao nhiêu quẻ thì người ta viết
từng ấy số, mỗi số trên thanh tre hoặc một mảnh giấy, đoạn người ta khấn vái để rút ra một số
cho mỗi thẻ.

*
Đầu năm, các thiện nam tín nữ đi lễ thường xin quẻ thẻ để xem vận mệnh hay dở quanh năm của
mình. Các thí sinh đi thi, các người buôn bán làm ăn, các người có thân nhân đau ốm cũng
thường xin Thẻ để tìm hiểu kết quả trước.
Ngày nay ở Sài Gòn, về dịp đầu năm cũng như trong những ngày tuần tiết, người ta kéo nhau đi
lễ và xin thẻ rất đông tại các đền như tại lăng Tả quân Lê Văn Duyệt, đền Hưng Đạo Vương, đền
Sòng sơn thờ Liễu Hạnh Công chúa (ở đường Trương Minh Giảng), đền Hai Bà Trưng (ở Gia
Định).
*
Lăng Tả Quân Lê Văn Duyệt là nơi dân chúng hay đến xin Thẻ nhưng chính Tả Quân Lê Văn
Duyệt còn bị kết tội vì một Quẻ Thẻ.
Năm 1835, sau khi dẹp xong loạn Lê Văn Khôi (con nuôi của ông Lê Văn Duyệt), vua Minh
Mạng cho Nội Các định tội ông Lê Văn Duyệt (đã qua đời trước đó). Nội các đứng đầu là ông 
Hà Tôn Quyền và ông Nguyễn Tri Phương tìm thấy 9 tội phản nghịch của ông Lê Văn Duyệt,
trong đó có 2 tội như sau:
Một là: “Mộ” tiếm gọi là “Lăng” (điều nầy cũng đúng vì tới bây giờ chúng ta vẫn gọi là
Lăng Ông Bà Chiểu?). Lăng chỉ dùng để gọi cho mồ mã của Vua mà thôi!


Hai là: Lúc sinh tiền tự xưng là xin được quẻ thẻ có 4 câu thơ:
Tá Hán tranh tiên chư Hán tướng
Phù Chu ninh hậu thập Chu thần
Tha niên tái ngộ Trần Kiều sự (*)
Nhất đán hoàng bào bất thử thân

 (Trần Trọng Kim dịch)
Giúp Hán há thua cùng tướng Hán
Phò Chu nào kém bọn tôi Chu
Trần Kiều nếu gặp cơn binh biến
Mảnh áo hoàng bào dễ ép nhau?


(*) Chú thích:


Trần Kiều là nơi xảy ra cuộc binh biến. Sau khi vua nhà Hậu Chu là Sài Vinh chết, con
là Cung Đế lên ngôi còn nhỏ tuổi. Quân Khiết Đan của nước Liêu ở phương Bắc sắp tấn công.
Quân đội khoát áo hoàng bào vào người Tướng quân Triệu Khuông Dẫn và tôn ông nầy lên làm
vua, truất phế Chu Cung Đế, lập nên nhà Tống. Quẻ ám chỉ ông Lê Văn Duyệt là Triệu Khuông
Dẫn và vua Minh Mạng là vua Cung Đế của nhà Hậu Chu.


Bs PHAN THƯỢNG HẢI biên soạn


Bài nầy đăng lần đầu trong phanthuonghai.com phần Văn Hóa mục Giáo Lý


Tài liệu tham khảo:
1) Tín Ngưỡng Việt Nam (Toan Ánh)
2) Việt Nam Phong Tục (Phan Kế Bính)
3) Nghi Thức và Lễ Bái của Người Việt Nam (Sơn Nam)
4) Thơ và Việt Sử - Nhà Nguyễn (Bs Phan Thượng Hải) - phanthuonghai.com
5) Đại Từ Điển Tiếng Việt (Nguyễn Như Ý chủ biên)
Bs PHAN THƯỢNG HẢI biên soạn và giữ bản quyền 

 

 

 

PTH_Đá gà.JPG

                          ĐÁ GÀ TRONG THƠ CHỮ QUỐC NGỮ

 

                                                      Bs Phan Thượng Hải biên soạn

 

Phong trào Đá Gà ở Nam Kỳ rất được ưa chuộng và người "tạo" ra là Tổng trấn Gia Định Thành Tả Quân Lê Văn Duyệt.  Tương truyền là ngài Tả Quân rất mê đá gà cũng như mê hát bội!

Đá Gà trở thành một đặc điểm văn hóa Nam Kỳ từ đầu thế kỷ 19 cho đến thời Việt Nam Cộng Hòa ở Miền Nam.  Nhiều trường gà có ở khắp 6 tỉnh Nam Kỳ.

 

Triết lý của Đá Gà được thể hiện qua bài thơ của thi sĩ Dị Nhơn ở Nam Kỳ:

 

ĐÁ GÀ

Bấy lâu thóc nước chịu ơn nhà

Một trận đua gan biết sức gà

Trước cuộc chém đâm chi nháy mắt

Giữa đường sanh tử chẳng dung gia

Đương Dương nào kém người thao sáu (*)

Địch khái đâu nhường kẻ lược ba (*)

Tài đức quyết đem đền nợ chủ

Ngàn năm để rạng tiết danh ta.

(Dị Nhơn)

 

(*) Chú thích: Trận Đương Dương thời Tam Quốc.  Thao sáu lược ba = Lục thao Tam lược là sách binh thư của Khương Tử Nha (Thái công Vọng, Lã Vọng) có Lục thao (6 kế mưu) và Tam lược (3 kế hoạch) dùng cho quân sự.

 

 

 

Ông Đỗ Văn Y và ông Trương Duy Toản là 2 nhà cách mạng trong Nam theo Cường Để.  Bị bắt ở bên Pháp, ở tù trong ngục La Santé (như Phan Châu Trinh) rồi bị giải về an trí ở Nam Kỳ.  

Cũng như những nam nhi khác ở Nam Kỳ, ông Đỗ Văn Y làm bài thơ dùng con Gà trống "đá" để tỏ chí khí nam nhi của mình. 

 

GÀ TRỐNG

Đêm khuya thức giấc tối đen mò

Cất tiếng kêu người gáy ó o!

Rơi máu trường nhưng lòng chẳng gớm

Xàu mình chiến hậu tiếng không ô

Giống nòi quyết giữ thân tròn vẹn

Cựa sắc nào phai phận quả cô

Một độ ăn thua trời đất biết

Ân đền nghĩa trả cái công phu.

(Đỗ Văn Y)

 

Chú thích:

Trường: là trường gả (nơi tổ chức thi đá gà)

Xàu = héo úa; buồn rầu

 

Chi tiết về Đá Gà được thi sĩ tiền phong Lê Quang Chiểu của Nam Kỳ mô tả như sau:

 

ĐÁ GÀ

Cũng là đồng loại khéo kình gan

Đá chọi làm chi chẳng ngỡ ngàng

Ô cậy thế cao, đâm là vít

Tía toan lòn thấp chém như tan

Vỉa vai cũng nghĩ vài thao nước

Mé sỏ chẳng vì ít tấc nhang

Trong thép hãy còn khua lỗ miệng

Ngoài vòng bạc xỉa giữa bàng quan.

(Lê Quang Chiểu)

 

Chú thích:

Gà Ô = gà có lông đen.  Gà Tía = gà có lông màu đỏ sậm

Vỉa vai = cắn vào vai đối phương mà đá (1 thế đá của con gà)

Mé sỏ = cắn vào mép hay cắn vào mồng gà đối phương mà đá (1 thế đá khác của con gà)

Theo Hán ngữ: Bàng = bên cạnh.  Quan = (ông) quan

Theo tiếng Nôm: Bàng quan = làm ngơ, đứng ngoài cuộc.  

Hai câu cuối là tác giả chơi chữ từ câu: "Miệng nhà quan có gang có thép, đồ nhà khó vừa nhọ vừa thâm".

 

Ông Lê Quang Chiểu (1852-1925) sanh ở Cái Răng, Cần Thơ (nay là quận Châu Thành, Cần Thơ) là học trò của ông Phan Văn Trị.  Ông cũng sống ở Phong Điền như ông Phan Văn Trị và có một thời gian ngắn ông làm Cai Tổng Phong Điền nên còn được gọi là Cai Tổng Chiểu (hay Tổng Chiểu).  Ông thường bị lộn với ông Nguyễn Đình Chiểu.  

Là con nhà giàu ông không chịu làm quan lâu, chỉ ở nhà làm thơ.  Ông là người đầu tiên xuất bản tập thơ viết bằng chữ Quốc Ngữ ở Sài Gòn vào đầu thế kỷ 20.  Tập thơ “Quốc Âm thi hợp vịnh” nầy của ông Lê Quang Chiểu là tập thơ viết bằng chữ Quốc Ngữ đầu tiên của Việt Nam.  Tập thơ nầy tổng hợp thơ Đường Luật của các Thi sĩ Nam kỳ (Huỳnh Mẫn Đạt, Nguyễn Đình Chiểu, Phan Văn Trị, Tôn Thọ Tường, Thủ Khoa Nghĩa... luôn cả thơ của ông).  

Cháu của ông Lê Quang Chiểu là Bác sĩ nhãn khoa Lê Văn Hoạch ở Cần Thơ có 2 lần làm Thủ tướng chính phủ Nam Kỳ Quốc vào thập niên 1940s.

 

Trong các trường gà ở Nam Kỳ, gà Cao Lãnh nổi tiếng là đá hay nhất như 2 câu Ca dao thường được nhắc tới:

Gà nào hay bằng gà Cao Lãnh 

Gái nào bảnh bằng gái Nha Mân 

 

Còn có 4 câu Ca dao khác nói về gà Cao Lãnh:

Gà nào hay bằng gà Cao Lãnh

Gái nào bảnh bằng gái Cần Thơ

Làm chi nay đợi mai chờ

Linh đinh Phong Mỹ dật dờ Hòa An (*)

(*) Chú thích: Hai xã nầy ngày nay thuộc Tp Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp

 

Người ta nói gà Cao Lãnh là gà lai nên có 2 đặc tính: vừa mạnh và vừa dai! (cho nên đá hay?).  

 

 

 

Thi sĩ Lãng Ba Phan Văn Bộ (1908-1966) là người sinh trưởng ở Cao Lãnh, ông cũng có những bài thơ vảo thập niên 1940s và 1950s, thời thịnh hành của "Đá Gà".

Qua thơ của Lãng Ba, chúng ta có những cái nhìn khác về Đá Gà.

 

ĐÁ GÀ

Điều, ô, bông, chuối, xám, xanh, vàng

Hội lại quanh trường túc gáy vang

Cáp chạn, đắn đo xương, vảy, cựa

Cá tiền, liệu lượng bắt, quăng, dằn

Tới lui xạ đá, lông văng túa

Xoay trở cắn đâm, máy chảy tràn

Thắng bại, chẳng vong âu cũng phế

Tương tàn đồng loại, nghĩ nào đang?

(Lãng Ba Phan Văn Bộ) 

22-8-1948 

 

Chú thích:

Các màu lông của con gà:  Điều = màu đỏ.  Bông = lông có nhiều màu.  Chuối = màu như màu lá chuối (xanh lục).  Một con gà mà lông có nhiều màu gọi là gà bông.

Bắt, Quăng, Dằn: những cách thức đánh cá đá gà (ở trường gà)

Xạ = bắn, đá lẹ và thẳng như (súng) bắn.  Từ ngữ dùng để tả (gà) đá.

 

GÀ RÓT

Cũng điều cũng xám cũng ô nè

Quanh quẩn sau hè gáy lấy le

Lúa sẵn no nê mồng đỏ lói

Nghệ vô đầy đủ cẳng vàng khè

Nắng che mưa chở năng bồng bế

Gió giữ sương gìn mãi vuốt ve

Những tưởng ra trường đền nợ chủ

Mới vừa giao nạp chạy te te…

(Lãng Ba Phan Văn Bộ) 

30-1-1953 

 

GÀ MÁI ĐÁ GÀ TRỐNG

Á Ngộ! Mái tơ đá trống cồ

Nóng xem, ai chẳng lấn chen vô?

Xạ mau, nhảy lẹ, bao trò diễn

Đâm nặng, cắn đau, lắm điệu phô

Kẻ tưởng thua tài lo khuyến khích

Người tin lấn sức cứ trầm trồ

Té ra chỉ “cụi” trong giây lát

Túc gáy cùng nhau lại cặp bồ.

(Lãng Ba Phan Văn Bộ) 

16-10-1948

 

Năm 1972, tôi được anh Tư, con bác Sáu của tôi, dẫn đi coi Đá Gà ở 1 trường gà tại Châu Đốc.  Thật là một kỷ niệm khó quên, nó làm tôi hiểu và mến phục những Thi sĩ  (Lê Quang Chiểu và Lãng Ba) đã làm những bài thơ hay và đúng thực tế về Gà và Đá Gà.  Những ông nài gà thì giỏi lắm: cầm máu, may vá ... đều rất khéo léo như Giải Phẫu gia thứ thiệt.

 

Khi đọc lại lịch sử, Đá Gà đã có từ lâu ở Miền Bắc, ít nhất là từ đời nhà Trần.  Trong Hịch Tướng Sĩ (năm 1284), Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn có viết:

Nay các ngươi trông thấy chủ nhục mà không biết lo, trông thấy quốc sỉ mà không biết thẹn, thân làm tướng phải hầu giặc mà không biết tức, tai nghe nhạc để hiến ngụy sứ mà không biết căm; hoặc lấy việc chọi gà làm vui đùa, hoặc lấy việc đánh bạc làm tiêu khiển, hoặc vui thú về làm ruộng, hoặc quyến luyến về vợ con, hoặc nghĩ về lợi riêng mà quên việc nước, hoặc ham về săn bắn mà quên việc binh, hoặc thích rượu ngon, hoặc mê tiếng hát.

Nếu có giặc đến, thì cựa gà trống làm sao đâm thủng được áo giáp, mẹo cờ bạc làm sao dùng nỗi được quân mưu, dẫu rằng ruộng lắm vườn nhiều thân ấy nghìn vàng không chuộc; vả lại vợ bìu con díu...

 

Tại Miền Trung đã có một thi nhân ở Huế dùng chuyện Đá Gà để làm thơ như thơ của Hồ Xuân Hương:

 

ĐÁ GÀ

Vui xuân nhằm tiết mồng ba

Ông bà cao hứng bắt gà đá chơi

Gà ông ngỏng cổ gáy hơi

Gà bà thủ bộ đợi thời gà ông

Gà ông chém trúng cạnh mồng

Gà bà nổi giận gặm cần gà ông

Đá nhau một chặp ướt lông

Gà bà trúng cựa, gà ông gục cần!

(Vô Danh Thị)


 

Bs PHAN THƯỢNG HẢI biên soạn 


 

Bài nầy đăng lần đầu trong phanthuonghai.com mục Thơ Văn phần Đọc Thơ.

 

Tài liệu tham khảo:

1) Thơ Lãng Ba (Phan Thượng Hải) - phanthuonghai.com

2) Thơ và Việt Sử - Thời kỳ Pháp Thuộc (Bs Phan Thượng Hải) - phanthuonghai.com

3) Nam Kỳ Lục Tỉnh (Hứa Hoành)

4) Việt Nam Sử Lược (Trần Trọng Kim)

5) Tinh Thần Trào Phúng Trong Thi Ca Xứ Huế (Hoàng Trọng Thược)


 

Bs PHAN THƯỢNG HẢI biên soạn và giữ bản quyền

_________________________________________

    LỊCH SỬ VIỆT NAM - THỜI THƯỢNG CỔ 

                                            Bs Phan Thượng Hải biên soạn

 

Thời Thượng Cổ của lịch sử Việt Nam là thời gian từ khi bắt đầu có lịch sử cho tới khi bắt đầu của Bắc Thuộc Thời đại.  Nó có liên quan tới nguồn gốc và tổ tiên của người Việt Nam chúng ta trong thời Tiền Sử.   

Lịch sử trong thời Thượng Cổ nầy vẫn còn có nhiều nghi vấn và tranh cãi cho tới ngày nay.

Bài viết nầy chỉ trình bày tóm lược những điều đã đọc được từ các sử gia xưa và nay qua những nguồn sử liệu cũ và mới để cho người thông thường có một kiến thức tổng quát và thứ tự về lịch sử nước nhà trong thời Thượng Cổ. 

 

Theo nguồn sử liệu cũ, lịch sử cũ của thời Thượng Cổ bắt đầu với lịch sử của Hùng Vương và nước Văn Lang với nguồn gốc từ Kinh Dương Vương và nước Xích Quỷ.  Sau đó An Dương Vương Thục Phán chiếm nước Văn Lang và lập nước Âu Lạc.

Chọn lọc tài liệu từ Đại Việt Sử Ký Toàn Thư (có lẽ từ Lĩnh Nam Chích Quái) và một phần của Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục, Việt Nam Sử Lược tóm lược Lịch sử cũ của thời Thượng Cổ gồm:

Nước Xích Quỷ

Nước Văn Lang

Nước Âu Lạc 

Theo thời khoa học hiện đại, lịch sử cũ nầy gần như là thần thoại lại không hợp lý về thời gian và không gian nên đã không được hoàn toàn chấp nhận.

 

Lịch sử cũ chỉ chú trọng tới quốc gia.  Một quốc gia phải gồm có dân tộc, lãnh thổ và chính quyền.  Lịch sử với nguồn sử liệu mới chú trọng tới Dân tộc và Lãnh thổ vì có dân tộc sống trên lãnh thổ trong thời Thượng Cổ mà không cần có chính quyền: 

Nhóm người Bách Việt (thay vì là nước Xích Quỳ): sống ở vùng Đông Nam và Nam núi Ngũ Lĩnh (gọi chung là đất Lĩnh Nam).

Người Lạc Việt (thay vì là nước Văn Lang): sống ở miền Bắc Việt Nam ngày nay.

Nước Âu Lạc có dân tộc đa số là người Lạc Việt và thiểu số là người Âu Việt.

Lịch sử mới của thời Thượng Cổ nói tới về người Lạc Việt, nhóm người Bách Việt và nước Âu Lạc.  Từ đó cũng nói sơ lược về thời Tiền Sử của người Lạc Việt, tổ tiên của người Việt chúng ta hiện nay.

 

 

LỊCH SỬ CŨ 

 

Lịch sử cũ của thời Thượng Cổ được chọn lọc và trình bày tóm lược và khá đầy đủ từ Việt Nam Sử Lược của Trần Trọng Kim về nước Xích Quỷ, nước Văn Lang và nước Âu Lạc.

 

Nước Xích Quỷ

 

Cứ theo tục truyền rằng vua Đế Minh (cháu 3 đời vua Thần Nông) đi tuần thú phương nam đến núi Ngũ Lĩnh (nay thuộc Hồ Nam, Trung Quốc bây giờ) lấy một nàng Tiên đẻ ra con thứ là Lộc Tục.  Sau đó Đế Minh truyền ngôi cho con trưởng là Đế Nghi làm vua phương Bắc và phong cho Lộc Tục làm vua phương Nam.  

Lộc Tục xưng là Kinh Dương Vương và đặt tên nước của mình là Xích Quỷ.  Bờ cõi nước Xích Quỷ bấy giờ gồm có:

Phía Bắc giáp Động Đình Hồ (bắc Hồ Nam bây giờ), tức là nam của sông Trường Giang (sông Dương Tử).

Phía Nam giáp nước Hồ Tôn (nước Chiêm Thành sau này).

Phía Tây giáp Ba Thục (Tứ Xuyên bây giờ).

Phía Đông giáp bể Nam Hải. 

Kinh Dương Vương Lộc Tục làm vua nước Xích Quỷ vào khoảng năm Nhâm tuất (2879 tr CN).  Kinh Dương Vương lấy con gái Động Đình Quân là Long Nữ đẻ ra Sùng Lãm.  Sùng Lãm nối ngôi làm vua nước Xích Quỷ xưng là Lạc Long Quân. 


 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

(Nước Xích Quỷ)


 

Lạc Long Quân (Sùng Lãm) lấy con gái Đế Lai là Âu Cơ đẻ ra 100 con trai.  Có sách chép là Âu Cơ đẻ ra 100 trứng rồi nở ra 100 con trai.  

Lạc Long Quân nói với Âu Cơ rằng: 

“Ta là dòng dõi Long quân còn Nàng là dòng dõi Thần Tiên ăn ở với nhau lâu không được, nay có được 100 đứa con trai thì nhà ngươi đem 50 đứa lên núi còn ta đem 50 đứa xuống bể Nam Hải".   

Gốc tích nầy có lẽ là từ Lạc Long Quân về sau nước Xích Quỷ chia ra những đất nước gọi là Bách Việt.  Bởi vậy ngày nay đất Hồ Quảng (Hồ Nam, Quảng Đông và Quảng Tây) còn xưng là đất Bách Việt.  Đấy cũng là một điều nói phỏng chứ không có lấy gì làm đích xác được.


 

Nước Văn Lang

 

Lạc Long Quân phong cho người con trưởng làm vua nước Văn Lang xưng là Hùng Vương họ là Hồng Bàng (nhà Hồng Bàng).  Hùng Vương đóng đô ở Phong Châu (thuộc huyện Bạch Hạc, tỉnh Vĩnh Yên); đặt tướng văn gọi là Lạc Hầu, tướng võ gọi là Lạc Tướng, con trai vua gọi là Quan Lang, con gái vua gọi là Mỵ Nương, các quan nhỏ gọi là Bố Chính.  Quyền chính trị thì cứ cha truyền con nối gọi là Phụ đạo.  Lãnh thổ có 15 Bộ gồm Bắc Kỳ và bắc Trung Kỳ (Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình và Quảng Trị) ngày nay.  

 

15 Bộ gồm có:  

Văn Lang (h. Bạch Hạc, tỉnh Vĩnh Yên ngày nay)

Châu Diên và Phúc Lộc (vùng Sơn Tây ngày nay)

Tân Hưng (vùng Tuyên Quang và Hưng Hóa ngày nay)

Vũ Định (vùng Thái Nguyên và Cao Bằng ngày nay)

Vũ Ninh (vùng Bắc Ninh ngày nay)

Lục Hải (vùng Lạng Sơn ngày nay)

Ninh Hải (vùng Quảng Yên ngày nay)

Dương Tuyền (vùng Hải Dương ngày nay)

Giao Chỉ (vùng Hà Nội, Nam Định và Ninh Bình ngày nay)

Cửu Chân (vùng Thanh Hóa ngày nay)

Hoài Hoan (vùng Nghệ An ngày nay)

Cửu Đức (vùng Hà Tĩnh ngày nay)

Bình Văn (vùng Hà Tĩnh ngày nay?)

Việt Thường (vùng Quảng Bình và Quảng Trị ngày nay)


 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

(Nước Văn Lang = Miền Bắc Việt Nam ngày nay)


 

Sử Tàu có chép rằng năm Tân mão (1109 tr CN) đời vua Chu Thành Vương của nhà Tây Chu có nước Việt Thường ở phía Nam xứ Giao Chỉ sai sứ đem chim Bạch trĩ sang cống.  Nhà Chu phải tìm người thông ngôn mới hiểu được ngôn ngữ và ông Chu Công Đán (chú của Thành Vương) lại chế ra xe chỉ nam để dẫn đường cho sứ Việt Thường về nước.  Vậy đất Giao Chỉ và đất Việt Thường có phải là đất của Hùng Vương lúc bấy giờ không?

 

Họ Hồng Bàng làm vua được 18 đời, đến năm Quí mão (258 tr CN) thì bị nhà Thục lấy mất nước.  Xét từ đời Kinh Dương Vương (2879 tr CN) đến hết đời Hùng Vương thứ 18 (258 tr CN) có 20 đời vua trong vòng 2622 năm.  Cứ tính hơn bù kém mỗi ông vua trị vì được non 150 năm!  Dẫu là người Thượng cổ nữa, thì cũng khó lòng sống lâu được như vậy.  Xem thế thì đủ biết truyện đời Hồng Bàng không chắc là truyện xác thực.  

 

Ngày nay, sử gia theo Đại Việt Sử Ký Toàn Thư còn chép thêm rằng: 

Kinh Dương Vương sinh năm 2919 tr CN, chết năm 2792 tr CN và lên ngôi vào năm 2879 tr CN. 

Các vua Hùng Vương bắt đầu từ Kinh Dương Vương là Hùng Vương thứ nhất (từ năm 1879 tr CN) rồi đến Lạc Long Quân là Hùng Vương thứ nhì, có Miếu hiệu là Hùng Hiền Vương.

15 Hùng Vương tiếp theo (Hùng Vương thứ 3 tới Hùng Vương thứ 17) đều có Miếu hiệu nhưng không có niên biểu.  Từ Kinh Dương Vương (Hùng Vương thứ nhất) tới Hùng Duệ Vương (Hùng Vương thứ 18) có tất cả 18 đời vua Hùng Vương kéo dài trên 2622 năm.  Riêng Kinh Dương Vương thọ 127 tuổi.

Hùng Vương cuối cùng (thứ 18) từ chối không gả con gái cho Thục Vương.  Năm 258 tr CN, cháu của Thục Vương là Thục Phán nối ngôi, đem quân đánh Hùng Vương.  Hùng Vương chỉ uống rượu say sưa không phòng bị nên bị thua và nhảy xuống giếng tự tử.  An Dương Vương thôn tính nước Văn Lang và chính thức lập nước Âu Lạc (257 tr CN).


 

Nước Âu Lạc

 

Năm 258 tr CN, An Dương Vương Thục Phán của nước Thục đánh bại vua Hùng Vương thứ 18, rồi chính thức lập nước Âu Lạc (257 tr CN) đóng đô ở Phong Khê (nay thuộc tỉnh Phúc Yên).  Nhờ thần Kim Quy, vua xây thành Cổ Loa hình xoáy như trôn óc (gọi là Loa Thành).  Thần Kim Quy còn cho ông một móng chân làm thành một cái nỏ thần, bắn một phát giết hàng vạn người.  

 

Triệu Đà, quan Úy của quận Nam Hải (Quảng Đông bây giờ) muốn chiếm nước Âu Lạc nhưng vì có nỏ thần nên đánh không thắng nỗi.  Ông lập kế cho con là Trọng Thủy sang Âu Lạc lấy con của An Dương Vương là Mỵ Châu (và chịu ở rể).  Trọng Thủy hỏi dò vợ mình là Mỵ Châu tại sao không ai thắng nỗi nước Âu Lạc.  Vì tin chồng, Mỵ Châu kể chuyện cái nỏ thần và lén lấy cho chồng xem.  Trọng Thủy lén tráo đem cái nỏ giả thay vào.  Sau đó Trọng Thủy xin về nước thăm cha.  Khi sắp đi, Trọng Thủy hỏi Mỵ Châu rằng: “Tôi về, mà lỡ có giặc giã đánh thì làm sao tôi tìm được nàng”.  Mỵ Châu nói rằng: “Thiếp có cái áo lông ngỗng, hễ khi thiếp có chạy về đâu thì sẽ lấy lông ngỗng rắc dọc đường”.