hmpg.jpg
TL_blinkingsquareblock.gif
Titlej (1).jpg

BIÊN KHẢO - THƠ - VĂN

Phan Thượng Hải

California_________________________

BBT: BS Phan Thượng Hải (CHS PTG 61-64) cùng với người em là LS Winston Phan Đào Nguyên là con của 1 công chức cao cấp của tòa án Cần Thơ, cũng là nhà thơ nổi tiếng của đất Cần Thơ thập niên 40, 50: Thi Sĩ LÃNG BA Phan Văn Bộ

_____________________________________________________________________________

KHAI BÚT ĐẦU NĂM

Trương Ngọc Thạch, Phan Thượng Hải (2), Phan Kim Thành, Chánh Minh

______________________

 

KHAI BÚT ĐẦU NĂM 2022 (Nguyên bản)

Vừa đi hai đám cưới hôm nay

O-mí-cờ -roong mặc kệ mày.

Thánh lễ tiến hành theo hoạch định

Tiệc tùng hủy bỏ tránh lan lây.

Về nhà cởi áo thay đồ gấp 

Mở máy thả thơ gửi bạn ngay.

Năm Mới "22" mong tốt đẹp

Thân bằng, quyến thuộc dễ sum vầy.

(Trương Ngọc Thạch)

1/1/22

 

KHAI BÚT ĐẦU NĂM 2022 (Họa)

Đầu năm khai bút đoán năm nay

Nghĩ tới tương lai tái mặt mày

Tổng thống quốc gia càng lú lẫn

Tung hoành dịch bệnh vẫn hay lây

Putin tham vọng, người lo tránh

Trung Cộng tham tàn, chúng sợ ngay

Rối loạn thị trường và xã hội

Nhân tình chia rẽ khó vui vầy.

(Phan Thượng Hải)

1/2/22 

KHAI BÚT ĐẦU NĂM (Họa 2)

Đầu năm khai bút chúc năm nay

Chúc mọi người vui nở mặt mày

Chúc hết đau buồn, buồn sớm dứt

Chúc ngưng tật bệnh, bệnh thôi lây

Chúc tài lộc đủ lòng từ ái

Chúc phước đức lành dạ thẳng ngay

Chúc sống lâu dài ngoài tục lụy

Chúc cầu xin được đúng như vầy.

(Phan Thượng Hải)

1/3/22

 

Bài họa từ VIỆT NAM: 

 

KHAI BÚT (Họa)

Mỹ Trung thượng đỉnh mấy tuần nay

Dấu hiệu trên cơ rõ mặt mày

Ông Bảy khẽ cười đâu đã hết

Ông Bình ngầm bảo sẽ còn lây

Thế cờ vây hãm, nhìn ra vậy

Thương chiến gia tăng, thấy biết ngay 

Dự đoán ba năm gà vỡ trận 

Láng giềng khổ lụy, vẫn vui vầy.

(Phan Kim Thành)

1/3/21

  

ĐẦU NĂM KHAI BÚT (Họa)

 

Đầu năm khai bút viết đêm nay,

Dù có ai khen chẳng nở mày.

Đại dịch Cô Vi đang quậy phá,

Cờ-Rông biền thể đã tràn lây.

Trả lời thư điện* nên làm gấp,

Đọc được thơ hay bèn họa ngay.

Chúc bạn bè an vui, khỏe mạnh,

Gia đình sum họp thật vui vầy.

Chánh Minh

01/02/2022

PTH_NgAnNinh.JPG

NGUYỄN AN NINH

ĐỆ TỨ QUỐC TẾ 

pth_tathuthauPhanVhung.JPG

NGUYỄN AN NINH VÀ ĐỆ TỨ QUỐC TẾ 

                                         

                                      Bs Phan Thượng Hải biên soạn


 

Bắt đầu từ ông Nguyễn An Ninh, phong trào cách mạng ở Nam Kỳ có các ông Phan Văn Hùm và Tạ Thu Thâu đã dùng báo chí để chống lại Thực Dân Pháp.

 

Nguyễn An Ninh

 

*

Từ năm 1930, sau cuộc khởi nghĩa Yên Bái, Việt Nam Quốc Dân Đảng (theo ông Vũ Hồng Khanh) phải dời sang Tàu.  Trong nước chỉ còn 2 Đảng Lập Hiến và Thanh Niên (của Vương Quang Nhường) ở Nam Kỳ đều là thân Pháp.  Tuy nhiên bắt đầu từ hoạt động của ông Nguyễn An Ninh, Nam Kỳ đã có những người dùng sách báo và diễn thuyết chống Pháp công khai về chính trị (thay vì dùng quân sự).  

 

*

Ông Nguyễn An Ninh (1900-1943) là con của ông Nguyễn An Khương sanh ở Cần Giuộc, Long An.  Ông Nguyễn An Khương, một dịch giả truyện Tàu nổi danh, có lập khách sạn Chiêu Nam Lầu (1908) ở Chợ Cũ, Sài Gòn là nơi kinh tài và trú ngụ của những người thuộc phong trào Duy Tân chống Pháp của ông Phan Châu Trinh.  

 

Năm 1918, ông Nguyễn An Ninh sang Pháp, học Đại Học có 1 năm (thay vì 4 năm) là đậu Cử Nhân Luật (?).  Năm 1920, ông gia nhập nhóm các ông Phan Châu Trinh, Phan Văn Trường, Nguyễn Thế Truyền và Nguyễn Tất Thành hoạt động về báo chí chống chế độ thuộc địa đế quốc của Pháp.   

 

Ông Nguyễn An Ninh về nước năm 1922, diễn thuyết chống Pháp nhưng bị cấm nên trở lại Pháp vào năm 1923.  

Cùng năm đó (1923), ông trở về Sài Gòn nhờ tiền của ông Nguyễn An Khương mở tờ báo bằng tiếng Pháp tên là La cloche fêlée (Chuông Rè / The broken bell) để chống Pháp mà không bị kiểm duyệt (vì là báo bằng chữ Pháp) nhưng vẫn bị mật thám Pháp làm khó dễ và đe dọa nhân viên và độc giả nên năm sau (1924) tờ báo phải đóng cửa.  

Ông Nguyễn An Ninh lại sang Pháp dẫn ông Phan Châu Trinh về Sài Gòn (1925).  Ông nhờ ông Phan Văn Trường (đã về nước) làm chủ và mở lại tờ La cloche fêlée vì ông Phan Văn Trường (1876-1933) là công dân Pháp.  Tuy nhiên sau đó ông Nguyễn An Ninh vẫn bị bỏ tù 10 tháng (1926).  

Từ năm 1928 đến 1931, ông Nguyễn An Ninh có sang Pháp một lần rồi lại về nước, bị tù và được thả ra.  Trong thời gian nầy ông có một chí sĩ mới là ông Phan Văn Hùm.

 

Từ năm 1933, hoàn toàn ở lại Nam Kỳ, ông Nguyễn An Ninh cộng tác với báo La Lutte (Tranh Đấu) của nhóm Đệ Tứ Quốc Tế là các ông Tạ Thu Thâu, Phan Văn Hùm và Trần Văn Thạch cũng như với báo Trung Lập của ông Nguyễn Văn Tạo thuộc Đệ Tam Quốc Tế.  

Ông Nguyễn An Ninh là linh hồn đấu tranh chống Pháp bằng báo chí nên ông bị tù vài lần nữa từ năm 1936.  

 

Năm 1939 ông bị tù lần thứ năm ở Côn Đảo và rồi chết ở đây vì kiệt sức vào năm 1943.  Khi đem xác đi chôn người ta tìm thấy trong túi áo của ông một miếng giấy ghi 2 bài thơ dưới đây:

 

SỐNG

Sống mà vô dụng sống làm chi

Sống chẳng lương tâm sống ích gì?

Sống trái đạo người, người thêm tủi

Sống quên ơn nước, nước càng khi

Sống tai như điếc, lòng đâm thẹn

Sống mắt dường đui, dạ thấy kỳ

Sống sao nên phải, cho nên sống

Sống để muôn đời sử tạc ghi.

(Nguyễn An Ninh)

 

CHẾT

Chết sao danh tiếng vẫn còn hoài

Chết đáng là người đủ mắt tai

Chết được dựng hình, tên chẳng mục

Chết đưa vào sử, chữ không phai

Chết đó, rõ ràng danh sống mãi

Chết đây, chỉ chết cái hình hài

Chết vì Tổ Quốc người khen ngợi

Chết cho hậu thế đẹp tương lai.

(Nguyễn An Ninh)

 

Một nhà ái quốc chân chính coi cái “Sống” và cái “Chết” như nhau.  Ông Nguyễn An Ninh, sau ông Phan Châu Trinh, là những người vì dân vì nước cuối cùng đã thoát ra khỏi “Quân Chủ” (như ông Phan Bội Châu) chọn “Dân Chủ” nhưng chưa bị ảnh hưởng của một chủ thuyết nào (Quốc Dân của Tôn Dật Tiên, Đệ Tam hay Đệ Tứ Cộng Sản và sau nầy… Quốc Gia).

 

VỊNH NGUYỄN AN NINH

Chống Thực nung sôi giọt máu hồng (*)

Bốn mươi bốn tuổi trải gan trung

Nhân dân còn mắc vòng nô lệ

Khoa giáp màng chi miếng đỉnh chung (*)

Một thác Côn Sơn, bia vạn cổ

Bao lần "Chuông Bể", dội non sông (*)

Dân quyền đánh thức hồn dân tộc

Trước có Lư Thoa sau có ông. (*)

(Bút Trà)

 

(*) Chú thích:

Thực là Thực Dân Pháp.

Đỉnh=vạc, Chung=chuông.  Ở nhà giàu sang thì bày vạc và đánh chuông khi bữa ăn để mời khách.

Chuông Bể: tên tờ báo của Nguyễn An Ninh là La Cloche Fêlée

Lư Thoa = J. J. Rousseau, cha đẻ thuyết Dân quyền, viết quyển Contrat Social.

 

Phan Văn Hùm và Tạ Thu Thâu

 

*

Các nhà cách mạng của người Việt bắt đầu ở Pháp từ thập niên 1910s-1920s với các ông Phan Châu Trinh, Phan Văn Trường và Nguyễn Thế Truyền rồi đến ông Nguyễn An Ninh và Nguyễn Tất Thành.  

Năm 1923, Nguyễn Tất Thành sang học ở Liên Xô và sau đó sang Tàu với tên là Lý Thụy rồi Nguyễn Ái Quốc rồi cuối cùng về Việt Nam năm 1945 với tên Hồ Chí Minh.  

Năm 1928, ông Nguyễn Thế Truyền (1889-1968) giao lại cho ông Tạ Thu Thâu rồi về nước sống với người vợ Pháp ở Nam Định.  Ông bị Pháp đày đi Madagascar (Mã Đảo) trong thời Đệ Nhị thế chiến (1940-1946) rồi được tha về và di cư vào Nam (1954).  Ông có ra tranh cử Phó Tổng Thống năm 1961 cùng liên danh với ông Hồ Nhật Tân.    

Ông Tạ Thu Thâu (1906-1945) sang Pháp vào năm 1927 theo ông Nguyễn Thế Truyền và trở thành Cộng Sản Đệ Tứ Quốc Tế ở Pháp (1929) cùng với các ông Phan Văn Hùm (1902-1946), Huỳnh Văn Phương (?-1945), Trần Văn Thạch (1905-1945).  Lúc đó cũng có nhóm Đệ Tam Quốc Tế ở Pháp gồm có Nguyễn Văn Tạo (1908-1970) và Trần Văn Giàu (1911-2010).  Các ông đều chống chính phủ Pháp trong việc xử tử ông Nguyễn Thái Học và các đồng chí năm 1930 nên lần lượt bị trục xuất hay trốn về nước.

 

*

Sau khi về Sài Gòn, nhóm Đệ Tứ Quốc Tế (Tạ Thu Thâu, Phan Văn Hùm và Trần Văn Thạch) mở tuần báo Tranh Đấu (La Lutte) vào năm 1933 và Nguyễn Văn Tạo (Đệ Tam Quốc Tế) mở tờ báo Trung Lập.  

Có một người khác trong báo Tranh Đấu lại thuộc Cộng Sàn Đệ Tam Quốc Tế là Dương Bạch Mai (1904-1964).  Dương Bạch Mai sang Pháp cuối thập niên 1920, được đi học tập ở Liên Xô (như Nguyễn Tất Thành) từ 1929 đến 1932 thì về nước. 

Riêng Trần Văn Giàu (Đệ Tam Quốc Tế) chỉ âm thầm dạy học sau khi về nước ở Sài Gòn rồi được bí mật đưa sang học ở Liên Xô (1931-1933).  Pháp biết được nên bỏ tù Trần Văn Giàu 2 lần từ năm 1935.  Lần thứ nhì Trần Văn Giàu cùng với Tô Ký vượt ngục.  

Ông Huỳnh Văn Phương (Đệ Tứ Quốc Tế) về nước sống ở Bắc Kỳ, hoạt động cùng nhóm với Võ Nguyên Giáp và Trần Huy Liệu.  Năm 1945, ông bị Việt Minh thủ tiêu.

Năm 1936, các ông Tạ Thu Thâu, Phan Văn Hùm và Nguyễn Văn Tạo đắc cử vào Hội Đồng Thành Phố Sài Gòn.  

 

*

Tuy nhiên Pháp vẫn không để yên: các ông Tạ Thu Thâu và Phan Văn Hùm, cũng như ông Nguyễn An Ninh, bị tù nhiều lần.  Từ năm 1932 đến 1940 ông Tạ Thu Thâu bị kết án 6 lần và ở tù 5 lần tổng cộng 13 năm với 10 năm biệt xứ.

Ông Phan Văn Hùm cũng bị tù nhiều lần.  Khi ngồi tù Khám Lớn ông có xướng họa với một nhà nữ cách mạng cùng chí hướng tên là cô Nguyễn Trung Nguyệt:

 

(Xướng)

Trăng tròn đâu sợ đám mây mù

Một bức trinh thơ giả ý ngu

Chịu tiếng lẳng lơ nhiều khuất phục

Biết mình trong sạch chẳng tâm tu

Anh hùng há luận cơn thành bại

Chí sĩ đành cam kiếp tội tù

Chỉ tiếc anh thơ công lỡ dở

Thiếu người ra chấp búa Trình Chu. (*)

(Phan Văn Hùm)

 

(*) Chú thích: Trình Hạo và Chu Hi (2 nhà Tân Nho Giáo thời Bắc Tống).

 

(Họa)

Lao lung dài chật khói mây mù

Thất bại đành cam lựa trí ngu

Cơm lức sơ sài tâm ráng luyện

Áo xanh tơ tải chí công tu

Sông non ngót đã trăm năm tội

Nước lửa đành cam mấy kiếp tù

Ánh thái dương còn còn ước vọng

Tre tàn măng mọc dễ gì tru.

(Bảo Lương Nguyễn Trung Nguyệt)

 

Ông Phan Văn Hùm học ở đại học Sorbonne tốt nghiệp Cử Nhân và Cao Học về Triết Học, có viết quyển “Triết Lý Phật Giáo” và theo Cộng Sản Đệ Tứ Quốc Tế.  Bài thơ trên thấy ông cũng thiên về Nho Giáo.  Đúng là một nhà học giả trí thức.

 

*

Tới Đệ Nhị Thế Chiến (1939-1945), Pháp bắt giam hầu hết những người chống đối.  

Ông Nguyễn An Ninh chết ở Côn Đảo năm 1943.  Ông Phan Văn Hùm đi tù Côn Đảo (1939-1942) rồi quản thúc ở Tân Uyên.  Ông Tạ Thu Thâu cũng bị tù ở Côn Đảo (1940-1944), khi được thả thì ra hoạt động ở Bắc Trung Kỳ.  

Ông Nguyễn Văn Tạo và Dương Bạch Mai đi tù Côn Đảo (1939-1943) rồi về bị quản thúc ở Tân Uyên.  Trong khi đó Trần Văn Giàu bí mật tái lập Xứ Ủy Nam Kỳ của Đông Dương Cộng Sản Đảng vào năm 1943 (thay thế Võ Văn Tần và Phan Đăng Lưu).

Ông Nguyễn Thế Truyền mặc dù sống như thường dân vẫn bị đày đi đảo Madagascar cũng như Đức Hộ Pháp Phạm Công Tắc của Đạo Cao Đài (1941-46).

 

Sau khi Nhật đảo chánh Pháp (9-3-1945), Trần Văn Giàu được Nhật giao cho cầm đầu Mặt Trận Quốc Gia Thống Nhất ở Nam Kỳ với Dương Bạch Mai và Nguyễn Văn Tạo.  Các ông Phan Văn Hùm và Trần Văn Thạch sau nầy cũng ở trong Mặt Trận.  

Ông Tạ Thu Thâu bị Việt Minh thủ tiêu ở Quảng Ngãi ngay sau khi Nhật cướp chánh quyền (9-3-45). 

 

Sau khi Pháp trở lại Đông Dương, Nhóm Đệ Tam Quốc Tế công khai trở thành Việt Minh và Đông Dương Cộng Sản Đảng dùng lực lượng vũ trang thủ tiêu Nhóm Đệ Tứ Quốc Tế gồm có các ông Trần Văn Thạch, Phan Văn Hùm và hàng trăm người khác ở Nam Kỳ (1945-1946).

Phong trào chống Pháp chân chính ở Nam Kỳ từ ông Nguyễn An Ninh rồi ông Tạ Thu Thâu cho đến ông Trần Văn Thạch và ông Phan Văn Hùm chỉ để lại những tấm gương hy sinh vì nước đáng kính và đáng mến?

 

*

Theo dòng lịch sử có 4 Liên Minh Cộng Sản quốc tế.

Đệ Nhất Quốc Tế (IWA=International Workingmen’s Association) thành lập ở London (năm 1864) và giải tán ở Philadelphia (năm 1876) với mục đích đoàn kết các nhóm xã hội chủ nghĩa khuynh tả, cộng sản, vô chính phủ và tổ chức công đoàn (union) trên thế giới. 

Đệ Nhị Quốc Tế thành lập ở Paris (năm 1889) là Liên minh quốc tế kết hợp các đảng xã hội chủ nghĩa và một số tổ chức công đoàn trên thế giới.  Nó không hoạt động trong Đệ Nhất Thế Chiến và phục hưng 2 lần (1923 và 1951).

Đệ Tam Quốc Tế do Lenin thành lập ở Moskva (Mạc Tư Khoa) vào tháng 3 năm 1919 và giải tán vào năm 1943, rồi tái sinh năm 1947 (từ Stalin) và giải tán năm 1956 (sau khi Stalin chết).  Đệ Tam Quốc Tế còn gọi là Quốc Tế Cộng Sản (Comintern) là tổ chức của người Cộng Sản.  Cương lĩnh là Lật đỗ chế độ tư bản chủ nghĩa, Xây dựng chế độ xã hội chủ nghĩa và Thiết lập chuyên chính vô sản.  Từ năm 1919 đến 1943, nó họp 7 lần về những phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, phong trào giải phóng dân tộc và đấu tranh chống “phát xít”.

Đệ Tứ Quốc Tế còn gọi là Cộng Sản Đệ Tứ là liên minh của những người theo chủ nghĩa Trotsky chính thức thành lập vào năm 1938 tại Paris.  Đệ Tứ Quốc Tế theo khuynh hướng “cách mạng thường trực” do Trotsky khởi xướng sau khi Lenin chết vào năm 1924 để chống lại đường lối “cách mạng vô sản trong một quốc gia” của Stalin.  Do đó những người Trotkyist như các ông Tạ Thu Thâu, Phan Văn Hùm… đã có trước khi Đệ Tứ Quốc Tế chính thức thành hình (1938).

Đệ Tam và Đệ Tứ Quốc Tế thành hình từ 3 người Cộng Sản thành công trong cách mạng Nga: Lenin, Trotsky và Stalin.  Trong thời Lenin, Trotsky cũng thuộc Đệ Tam Quốc Tế.      


 

Bs PHAN THƯỢNG HẢI biên soạn và giữ bản quyền

 

Bài viết nầy là một đoạn trong bài "Thơ và Việt Sử - Thời Pháp Thuộc Thế kỷ 20" (Bs Phan Thượng Hải) đăng lần đầu tiên trong phanthuonghai.com trong mục "Thơ và Sử" phần Thời Pháp Thuộc Thế kỷ 20.

   NHỮNG BÀI THƠ "SỐNG CHẾT" TRONG LỊCH SỬ

                                         

                                     Bs Phan Thượng Hải biên soạn


 

Hậu thế thường truyền tụng một bài thơ ái quốc của ông Phan Bội Châu:

 

SỐNG

Sống tủi làm chi đứng chật trời

Sống nhìn thế giới hổ chăng ai

Sống làm nô lệ cho người khiến

Sống chịu ngu si để chúng cười

Sống tưởng công danh không tưởng nước

Sống lo phú quí chẳng lo đời

Sống mà như thế đừng nên sống

Sống tủi làm chi đứng chật trời.

(Phan Bội Châu)

 

Tuy nhiên Tiền nhân ái quốc thường phải "Sống và Chết" trong cuộc đời đấu tranh cho chính nghĩa độc lập và tự do như các ông Đặng Văn Bá, Mai Xuân Thưởng và Nguyễn An Ninh.


 

Đặng Văn Bá

 

Gần đây lại có xuất hiện 2 bài thơ Sống Chết của bạn của ông Phan Bội Châu là ông Đặng Văn Bá (còn gọi là Đặng Văn Bách).

Ông Đặng Văn Bá (1873-1931) đậu Cử Nhân năm 1900 (cùng khóa với ông Phan Bội Châu).  Ông gia nhập phong trào Duy Tân với Phan Bội Châu và Ngô Đức Kế (1905) rồi bị đày Côn Đảo (1908-1916 hay 1921).  Được thả về ông sống ở Sài Gòn rồi ở Huế với ông Phan Bội Châu và sau cùng về sống ở quê nhà (Hà Tĩnh) đến khi qua đời.

Năm 1926 cái chết của ông Phan Châu Trinh gợi cảm hứng cho ông làm 2 bài thơ Sống Chết:

 

CHẾT

Chết mà vì nước, chết vì dân

Chết ấy làm trai hết nợ nần

Chết bởi Đông Chu thời thất quốc

Chết vì Tây Hán lúc tam phân

Chết như Hưng Đạo hồn thành thánh

Chết tựa Trưng Vương phách hóa thần

Chết cụ Tây Hồ hồn chẳng chết

Chết mà vì nước, chết vì dân.

(Đặng Văn Bá)

 

SỐNG

Sống dại mà chi sống chật đời

Sống xem Âu Mỹ hổ chăng ai ?

Sống làm nô lệ cho người khiến

Sống chịu ngu si để bạn cười

Sống tưởng công danh không tưởng nước

Sống lo phú quí chẳng lo đời

Sống mà như thế đừng nên sống

Sống dại sinh chi đứng chật đời.

(Đặng Văn Bá)

 

Bài thơ “Sống” của ông Phan Bội Châu cũng hơi giống như bài thơ "Sống" của ông Đặng Văn Bá?

 

SỐNG                                                             SỐNG

Sống tủi làm chi đứng chật trời                      Sống dại mà chi sống chật đời

Sống nhìn thế giới hổ chăng ai                       Sống xem Âu Mỹ hổ chăng ai ?

Sống làm nô lệ cho người khiến                     Sống làm nô lệ cho người khiến

Sống chịu ngu si để chúng cười                      Sống chịu ngu si để bạn cười

Sống tưởng công danh không tưởng nước      Sống tưởng công danh không tưởng nước

Sống lo phú quí chẳng lo đời                          Sống lo phú quí chẳng lo đời

Sống mà như thế đừng nên sống                     Sống mà như thế đừng nên sống

Sống tủi làm chi đứng chật trời.                      Sống dại sinh chi đứng chật đời.

(Phan Bội Châu)                                              (Đặng Văn Bá)


 

Mai Xuân Thưởng

 

Hai bài thơ "Sống Chết" của Đặng Văn Bá có lẽ chịu ảnh hưởng từ ông Mai Xuân Thưởng của phong trào Cần Vương.

 

Ông Mai Xuân Thưởng đi thi Cử Nhân ở trường Bình Định thì kinh thành Huế thất thủ (1885).  Nhiều sĩ tử bỏ thi nhưng ông vẫn tiếp tục thi và cùng 5 người khác được chấm đậu Cử Nhân.  Quan Chủ Khảo (khuyết danh) làm bài thơ khuyên những người thi đậu:

 

VÔ ĐỀ

Sơn hà phong cảnh dị tiền niên               Non sông rày đã khác xưa

Hoành giám du khan thử địa huyền        Gương nêu tài tuấn còn nêu chốn nầy

Hận mãn xương môn trần ám ngoại       Hận tràn cung khuyết bụi bay

Lệ linh văn viện bút đình biên                Tay cam dừng bút lệ đầy viện văn

Lịch truyền giáo dục ân như hải             Bao triều tắm gội biển ân

Bát giải thinh danh thẩm thự tiên           Phẩm tiên tám giải thêm phần thanh cao

Nhất dự y quan nan tự ủy                       Cân đai trót đã dự vào

Cương thường khán tử cố anh hiền        Cương thường noi dấu anh hào soi chung.

(Chủ khảo)                                              (? Dịch)

 

Tương truyền rằng đêm trước đó quan Chủ Khảo nằm mộng thấy 1 bà lão cho 1 cành mai trắng trổ bông nhụy vàng (tượng trưng là một quý nhân).  Sáng hôm sau ông đọc lại những bài thi thì thấy bài của ông Mai Xuân Thưởng là có chí khí nhứt và tên (Mai Xuân Thưởng) cũng hợp nên nghĩ rằng giấc mộng đó nói về ông nầy.  Quan Chủ Khảo nói riêng cho ông Mai Xuân Thưởng biết (về giấc mộng) do đó ông quyết tâm chống Pháp cứu nước.

Ông theo Tổng đốc Bình Định là ông Đào Doãn Định khởi nghĩa Cần Vương ở Bình Định.  Sau khi TĐ Đào Doãn Định bị bệnh mất (1885), ông Mai Xuân Thưởng trở thành lãnh tụ của Cần Vương ở Bình Định.  

 

Ông có làm bài thơ dưới đây trong khi đánh nhau với Pháp:

 

CHẾT NÀO CÓ SỢ

Chết nào có sợ chết như chơi

Chết bởi vì dân chết bởi thời

Chết hiếu chi nài xương thịt nát

Chết trung bao quản cổ đầu rơi

Chết nhân tiếng để vang nghìn thủa

Chết nghĩa danh thơm vọng mấy đời

Thà chịu chết vinh hơn sống nhục

Chết nào có sợ chết như chơi.

(Mai Xuân Thưởng)

 

Và bài thơ dưới đây trước khi bị hành quyết cùng với ông Bùi Điền:

 

NỢ TRAI

Không tính làm chi chuyện mất còn

Nợ trai lo trả ấy là khôn

Gió đưa hồn nghĩa gươm ba thước

Đá tạc lòng trung quý mấy hòn

Tái ngắt mặt gian xương tợ giá

Đỏ loè bia sách máu là son

Rồi đây thoi ngọc đưa xuân tới

Một nhánh mai già nảy rậm non.

(Mai Xuân Thưởng)


 

Nguyễn An Ninh

 

Hai bài thơ "Sống Chết" của Đặng Văn Bá từ Phan Châu Trinh cũng ảnh hưởng tới hai bài thơ "Sống Chết" sau nầy của 1 người bạn đồng chí hướng với Phan Châu Trinh là Nguyễn An Ninh, làm ngay trước khi qua đời.

 

Ông Nguyễn An Ninh (1900-1943) là con của ông Nguyễn An Khương sanh ở Cần Giuộc, Long An.  Ông Nguyễn An Khương, một dịch giả truyện Tàu nổi danh, có lập khách sạn Chiêu Nam Lầu (1908) ở Chợ Cũ, Sài Gòn là nơi kinh tài và trú ngụ của những người thuộc phong trào Duy Tân chống Pháp của ông Phan Châu Trinh.  

Năm 1918 ông Nguyễn An Ninh sang Pháp, học Đại Học có 1 năm (thay vì 4 năm) là đậu Cử Nhân Luật.  Năm 1920, ông gia nhập nhóm các ông Phan Châu Trinh, Phan Văn Trường, Nguyễn Thế Truyền và Nguyễn Tất Thành hoạt động về báo chí chống chế độ thuộc địa đế quốc của Pháp.  

Ông Nguyễn An Ninh về nước năm 1922, diễn thuyết chống Pháp nhưng bị cấm nên trở lại Pháp năm 1923.  Cùng năm đó ông trở về Sài Gòn nhờ tiền của ông Nguyễn An Khương mở tờ báo bằng tiếng Pháp tên là La cloche fêlée (Chuông Rè/The broken bell) để chống Pháp mà không bị kiểm duyệt nhưng vẫn bị mật thám Pháp làm khó dễ và đe dọa nhân viên và độc giả nên năm sau (1924) tờ báo phải đóng cửa.  Ông Nguyễn An Ninh lại sang Pháp dẫn ông Phan Châu Trinh về Sài Gòn.  Ông nhờ ông Phan Văn Trường (đã về nước) làm chủ và mở lại tờ La cloche fêlée vì ông Phan Văn Trường (1876-1933) là công dân Pháp.  Tuy nhiên sau đó ông Nguyễn An Ninh vẫn bị bỏ tù 10 tháng.  Từ năm 1928 đến 1931, ông Nguyễn An Ninh có sang Pháp một lần rồi lại về nước, bị tù và được thả ra.  Trong thời gian nầy ông có một chí sĩ mới là ông Phan Văn Hùm.

 

Từ năm 1933, hoàn toàn ở lại Nam Kỳ, ông Nguyễn An Ninh cộng tác với báo La Lutte (Tranh Đấu) của nhóm Đệ Tứ Quốc Tế là các ông Tạ Thu Thâu, Phan Văn Hùm và Trần Văn Thạch cũng như với báo Trung Lập của ông Nguyễn Văn Tạo thuộc Đệ Tam Quốc Tế.  Ông Nguyễn An Ninh là linh hồn đấu tranh chống Pháp bằng báo chí nên ông bị tù vài lần nữa từ năm 1936.  Năm 1939 ông bị tù lần thứ năm ở Côn Đảo và rồi chết ở đây vì kiệt sức năm 1943.  Khi đem xác đi chôn người ta tìm thấy trong túi áo của ông một miếng giấy ghi 2 bài thơ dưới đây:

 

SỐNG

Sống mà vô dụng sống làm chi

Sống chẳng lương tâm sống ích gì?

Sống trái đạo người, người thêm tủi

Sống quên ơn nước, nước càng khi

Sống tai như điếc, lòng đâm thẹn

Sống mắt dường đui, dạ thấy kỳ

Sống sao nên phải, cho nên sống

Sống để muôn đời sử tạc ghi.

(Nguyễn An Ninh)

 

CHẾT

Chết sao danh tiếng vẫn còn hoài

Chết đáng là người đủ mắt tai

Chết được dựng hình, tên chẳng mục

Chết đưa vào sử, chữ không phai

Chết đó, rõ ràng danh sống mãi

Chết đây, chỉ chết cái hình hài

Chết vì Tổ Quốc người khen ngợi

Chết cho hậu thế đẹp tương lai.

(Nguyễn An Ninh)


 

Hậu thế ngày nay không cảm thông được Nghĩa Tử của người xưa nên thường chỉ biết bài thơ "Sống" của ông Phan Bội Châu.  Tiền nhân ngày xưa cũng có người chỉ có bài thơ "Chết" như của các ông Trần Cao Vân, Thủ Khoa Huân và Phan Thanh Giản.


 

Trần Cao Vân

 

Năm 1916, vua Duy Tân (1900-1945) mưu đảo chánh Pháp ở Huế và vùng phụ cận với hai ông Trần Cao Vân (1868-1916) và Thái Phiên (1882-1916) của Việt Nam Quang Phục Hội nhưng việc bị lộ và thất bại.  Ông Thái Phiên và Trần Cao Vân bị xử chém và Vua Duy Tân bị đày ra đảo Réunion với cha là vua Thành Thái.  Trước khi ra pháp trường, ông Trần Cao Vân có bài thơ:

 

CHẾT CHÉM

Đứa nào muốn chết chết như chơi

Chết vị non sông chết vị trời

Chết thảo bao nài xương thịt nát

Chết ngay há ngại cổ đầu rơi

Chết trung tiếng để ngoài muôn dặm

Chết nghĩa danh lưu đến vạn đời

Chết được như vầy là hả lắm

Ta không sợ chết hỡi ai ơi.

(Trần Cao Vân)


 

Thủ Khoa Huân

 

Ông Nguyễn Hữu Huân (1816-1875), người ở Chợ Gạo, Định Tường đi thi Cử Nhân đậu Thủ Khoa (còn gọi là Giải Nguyên) năm 1852.  Tuy là văn quan, ông đã khởi nghĩa Cần Vương chống Pháp ở Định Tường (1861-1875).  Dù bị bắt lưu đày rồi được tha nhiều lần cũng như được Tổng Đốc Đỗ Hữu Phương giúp đỡ và dụ hàng nhưng ông Thủ Khoa Huân không bao giờ đầu hàng.  

 

KHI BỊ LƯU ĐÀY

Muôn việc cho hay ở số trời

Cái thân chìm nổi biết là nơi

Mấy hồi tên đạn ra tay thử

Ngàn dặm non sông dạo bước chơi

Chén rượu Tân đình nào luận tiệc

Câu thơ Cố quốc chẳng ra lời

Cang thường bởi biết mang tên nặng

Hễ đứng làm trai chác nợ đời.

(Thủ Khoa Huân)

 

KHI ĐƯỢC THA VỀ

Tòng cúc tuy mừng hãy đặng còn

Râu mày thêm thẹn với sông non

Miếu đường cách trở bề tôi chúa

Gia thất riêng mang nỗi vợ con

Áo Hán nhiều phần thay vẻ lạ

Rượu Hồ một mặt đắm mùi ngon

Giang Đông mang tiếng đa tài tuấn (*)

Cuốn đất kìa ai dám hỏi đon.

(Thủ Khoa Huân)

 

(*) Chú thích: 

Hạng Võ khi thua Lưu Bang thì được người Đình trưởng khuyên qua sông Trường giang sang Giang Đông sẽ có nhiều người theo giúp để đánh lại.  

 

Lần cuối cùng (1875) sau khi bị bắt ngồi tù trước khi bị đem ra pháp trường hành quyết, ông Thủ Khoa Huân có làm bài thơ dưới đây:

 

MANG GÔNG

Hai bên thiên hạ thấy hay không

Một gánh cang thường há phải gông

Oằn oại đôi vai quân tử trúc (*)

Long lay một cổ trượng phu tòng (*)

Thác về đất Bắc danh còn rạng

Sống ở thành Nam tiếng bỏ không

Thắng bại dinh hư trời khiến chịu (*)

Phản thần, “đụ hỏa” đứa cười ông 

(Thủ Khoa Huân)

 

(*) Chú thích: 

Từ câu "Trúc xưng quân tử, Tòng hiệu trượng phu".  Dinh hư=đầy vơi.


 

Phan Thanh Giản

 

Tháng 6, 1867, Thiếu tướng De La Grandière hội 1000 quân Pháp ở Mỹ Tho định tấn công Vĩnh Long.  Ngày 20-6-1867, De La Grandière đánh Vĩnh Long.  Quân đội nhà Nguyễn dưới quyền của quan Kinh lược Phan Thanh Giản thua mua quân Pháp nên Pháp chiếm 3 tỉnh Tây Nam Kỳ trong 4 ngày (từ 20 tới 24-6-1867).  Từ đó đất Nam Kỳ Lục Tỉnh thành ra đất thuộc địa của Pháp; thuế má, luật lệ, điều gì cũng do soái phủ ở Sài Gòn quyết định cả. 

Ông Phan Thanh Giản gởi trả áo mão cho triều đình.  Sau nửa tháng không thấy triều đình trả lời, ông phiền muộn lo lắng, nhịn đói và uống thuốc phiện với giấm thanh hằng ngày để tự tử.  Cuối cùng ông chết ngày 4-8-1867, thọ 72 tuổi.  Trong thời gian gần nửa tháng nầy, ông Phan Thanh Giản có làm bài thơ:

 

TUYỆT CỐC (*)

Trời thời đất lợi lại người hòa

Há dễ ngồi coi phải nói ra

Lăm trả ơn vua đền nợ nước

Đành cam gánh nặng ruổi đường xa

Lên ghềnh xuống thác thương con trẻ

Vượt biển trèo non cám phận già

Những tưởng một lời an bốn cõi

Nào hay ba tỉnh lại chầu ba. (*)

(Phan Thanh Giản)

 

(*) Chú thích:

Tuyệt cốc = Nhịn (ăn) cơm

Đã không lấy lại được 3 tỉnh Biên Hòa, Gia Định và Định Tường mà còn mất thêm 3 tỉnh Vĩnh Long, An Giang và Hà Tiên.


 

Bs PHAN THƯỢNG HẢI biên soạn và giữ bản quyền

 

Bài nầy đăng lần đầu trong phanthuonghai.com phần "Thơ Văn - Đọc Thơ".

 

Tài Liệu Tham Khảo

1) Phan Bội Châu (Bs Phan Thượng Hải) - phanthuonghai.com

2) Phong Trào Cần Vương (Bs Phan Thượng Hải) - phanthuonghai.com

3) Nguyễn An Ninh (Bs Phan Thượng Hải) - phanthuonghai.com

4) Thành Thái và Duy Tân (Bs Phan Thượng Hải) - phanthuonghai.com

5) Trương Công Định và Thủ Khoa Huân (Bs Phan Thượng Hải) - phanthuonghai.com

6) Phan Thanh Giản và Nguyễn Tri Phương (Bs Phan Thượng Hải) - phanthuonghai.com


 

Bs PHAN THƯỢNG HẢI biên soạn và giữ bản quyền

TU TÂM VÀ Ở HIỀN THEO PHẬT GIÁO ĐẠI THỪA THIỀN TÔNG

 

                                             Bs Phan Thượng Hải biên soạn 

 

Sau khi biết "Không" (Sunya) là gì và biết "Bản Tâm" hay "Phật Tánh" (Buddha Nature) là gì, chúng ta có thể "tu tâm" và "ở hiền" theo giáo lý giác ngộ của Phật Giáo Đại Thừa Thiền Tông mà không phải dựa vào hình thức và nhiều văn tự như Tứ Diệu Đế, Nhân Duyên Nghiệp Quả, Thập Nhị Nhân Duyên, Bát Chánh Đạo, Lục Độ, Thập Độ, Trí Tuệ Bát Nhã... hay gần đây nhất như Tọa Thiền và Chánh Niệm (theo Thiền sư Nhất Hạnh). 

"Tu tâm và ở hiền" chỉ cần dựa trên Tam Pháp Ấn (Vô Thường, Vô Ngã và Khổ), căn bản của Phật Giáo và giáo lý hóa độ chính của Phật Thích Ca trong Diệt Đế là "đoạn diệt mê hoặc" (Đoạn Hoặc).  

  

1) Tâm thức giác ngộ (của Thiền tông)

 

Tâm thức giác ngộ an tịnh không phiền não là:

         (Theo Không Tông) Tâm thức không bám chặc và ràng buộc (vô sở đắc = non-attached = vô sở trụ) vào sự vật tức là tự do, không chướng ngại (vô ngại = non hindrance) vào sự vật.

         (Theo Tánh tông) Tâm thức đồng nhất hay tuân theo bản tâm vô sở đắc (vô sở trụ) và vô ngại (tự do và dung hòa từ bi) đối với sự vật, và bản tâm có sẵn từ bẩm sinh trong mọi người.  

 

Theo Tánh Tông (và Thiền Tông), Tâm (Mind) của mỗi người gồm có Tâm Thức (Conscious Mind) là hoạt động của Tâm đối với đối tượng là sự vật bên ngoài của Tâm, và Bản Tâm (Nature Mind).  Bản Tâm còn được gọi là Phật Tánh (theo thuật ngữ Phật Giáo).

 

Theo Thiền tông (tổng hợp và dung hòa Không tông và Tánh tông), tâm thức vô minh hay giác ngộ là tùy theo nó tương quan với sự vật hiện hữu bên ngoài (như theo Không tông) và tương quan với bản tâm (như theo Tánh tông).

Tâm thức giác ngộ an tịnh (tranquil) không phiền não là:

         Tâm thức không vô minh bằng cách không bám chặc và không ràng buộc (vô sở đắc = non-attached = vô sở trụ) vào sự vật tức là tự do, không chướng ngại (vô ngại = non hindrance) vào sự vật (theo Không tông).  

         Tâm thức đồng nhất hay tuân theo bản tâm đã và luôn giác ngộ vô sở đắc (vô sở trụ) và vô ngại của mình, có sẳn từ bẩm sinh trong mọi người (theo Tánh tông).  

         Tâm thức trước hết phải không bám chặc vào sự vật (tương đối và chỉ là hiện tượng) thì sau đó tâm thức mới đồng nhất với bản tâm (luôn giác ngộ từ bẩm sinh) và như thế tâm thức giác ngộ (theo Thiền tông, tổng hợp và dung hòa Không tông và Tánh tông). 

 

Yếu chỉ của Thiền tông được thiền sư Triệu Châu tóm tắt trong bài kệ 4 câu, 2 câu cuối chính là nội dung giáo lý giác ngộ của Thiền Tông:

         Giáo ngoại biệt truyền

         Bất luận văn tự

         Trực chỉ nhân tâm

         Kiến tánh thành Phật

 

Pháp Bảo Đàn kinh của Thiền tông viết về tâm thức giác ngộ của Lục tổ Huệ Năng:

         Một ngày kia, Ngũ tổ (Hoằng Nhẫn) triệu tập môn đồ bảo rằng: “Sinh tử là việc lớn, các ngươi suốt ngày chỉ cầu phước điền, chẳng cầu lìa khỏi biển khổ sinh tử, tự tánh nếu mê, phước làm sao có thể cứu được?  Các ngươi mỗi người hãy tự xem trí tuệ (huệ), dùng bản tâm Bát Nhã của tự tánh, mỗi người làm một bài Kệ trình cho ta xem, nếu ngộ được đại ý, thì ta sẽ truyền y bát cho làm Lục tổ (Tổ thứ sáu), hãy mau lên chẳng được chậm trễ, hễ lọt vào suy lường thì chẳng dùng được.  Người kiến tánh vừa nghe phải liền thấy, nếu được như vậy thì khi ra trận giữa đao kiếm cũng phải thấy được”.

........

         Huệ Năng là người làm, chuyên về giã gạo từ 8 tháng nay, xin người đọc cho mình bài Kệ (của Thần Tú) vì ông không biết đọc.  Sau đó ông đọc bài Kệ của mình và nhờ người viết kế bên (bài của Thần Tú). 

    

                  Bồ đề bản phi thụ                          (Bồ đề vốn không là cây)

                  Minh kính diệc phi đài                  (Gương sáng cũng không đài gương) 

                  Bản lai vô nhất vật                       (Xưa nay không một vật)

                  Hà xứ nhạ trần ai.                        (Làm sao nhuốm bụi trần).

                  (Huệ Năng)

 

         Hôm sau Ngũ tổ (đã đọc bài Kệ của Huệ Năng) đến chỗ giã gạo, thấy Huệ Năng lưng đeo đá giã gạo, nói rằng: “Người cầu đạo cần phải như thế” và hỏi: “Gạo trắng chưa?”.  Huệ Năng đáp: “Trắng đã lâu, còn thiếu sàng thôi”.  Tổ lấy gậy gõ trên cối 3 cái rồi bỏ đi.

         Huệ Năng hiểu ý nên canh ba vào thất (phòng của Tổ).  Ngũ tổ dùng cà sa che lại không cho người thấy, rồi thuyết kinh (Bát Nhã) Kim Cang.  Khi đến câu “Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm” thì Huệ Năng ngay đó đại ngộ (đốn ngộ), vạn pháp chẳng lìa tự tánh.  

Huệ Năng liền bạch: “Đâu ngờ tự tánh vốn tự thanh tịnh, vốn chẳng sanh diệt, vốn tự đầy đủ, vốn chẳng lay động và tự tánh hay sanh vạn pháp”.  Tổ biết Huệ Năng đã ngộ nên nói với Huệ Năng rằng: “Chẳng nhận được bản tâm (thì) học pháp vô ích, nếu nhận được bản tâm thấy được bản tánh tức gọi là Trượng Phu, là Thiên Nhơn Sư, là Phật”.  

         Tổ truyền pháp đốn giáo và y bát và nói rằng: “Ngươi là Lục tổ khéo tự hộ niệm, độ khắp hữu tình, phổ biến lưu truyền cho đời sau đừng để đoạn dứt”.  

 

"Ưng vô sở trụ nhi sinh kỳ tâm" có nghĩa là "Không nên bám chắc ở một chỗ mà sinh ra kỳ tâm".  Tự Tánh đồng nghĩa với Bản Tâm hay Phật Tánh.  

 

 

2) Đoạn hoặc và từ bi đối với sự vật (Thiền tông)

 

*

Tâm thức giác ngộ là tâm an tịnh (tranquil) không phiền não là nhờ:

         không tự ngã và không chấp ngã từ vô sở đắc (hay vô sở trụ) và vô ngại tự do 

         và không phân biệt giữa "ngã" và "không phải là ngã" từ vô ngại dung hòa. 

Điều nầy làm được vì tâm thức:

         không "trụ" (dính chặc ràng buộc) vào mọi sự vật bên ngoài tâm của mình, kể cả thân của mình 

         để rồi tuân theo và đồng nhất với bản tâm đã bẩm sinh giác ngộ của mình

 

Như thế, tâm thức giác ngộ (vô ngã) là:

         Tâm thức không tự ngã và không chấp ngã thì tâm thức đoạn diệt tình cảm: tham dục, sân và mạn.  Do đó tâm thức không tự ngã và không chấp ngã có thể gọi là tâm thức đoạn hoặc (đoạn diệt mê hoặc).

         Tâm thức dung hòa, không phân biệt giữa "ngã" và "không phải là ngã", chính là tâm thức có tình cảm từ bi.

         Khi tâm thức đoạn hoặc với sự vật, thì tâm thức từ bi theo bản tâm.

 

Như vậy, tâm thức giác ngộ để được an tịnh không phiền não là tâm thức đoạn hoặc và từ bi.

 

In Essentials of Buddhism, professor Kogen Mizuno writes:

         In the state of nonself, there can be no self-centered greed, unreasonable fear of others, hate, flattery, boasting, insult, anger, jealousy, or envy.  

         A person who has realized the nature of nonself can not bring harm to others, since actions are taken only after correctly considering both its immediate and its wider-ranging effects.  This is expressed as loving kindness and pity for all beings.  There is no conflict between self and others.  

         As the result, the state of nonself has been defined as the state of mind of an enlightened person.

 

(Dịch)

         Trong trạng thái vô ngã, không thể có tham lam ích kỷ, sợ hãi vô lý đối với người khác, thù ghét, nịnh bợ, khoe khoang tự phụ, lăng nhục, phẫn nộ giận dữ, ghen ghét hay ganh tỵ.

         Một con người thức ngộ tự tánh của vô ngã không thể làm hại những người khác, vì hành động chỉ được thực hiện sau khi nghĩ tới cả hai hậu quả tức thời và rộng rãi.  Đó được biểu lộ như lòng tử tế và thương xót cho tất cả chúng sanh.  Không có xung đột giữa mình và những người khác.

         Như vậy, trạng thái vô ngã được định nghĩa như là trạng thái của tâm giác ngộ.

 

*

Đoạn hoặc đối với tất cả mọi sự vật bên ngoài tâm của ta (all beings and all things) kể cả những sinh mạng hay sinh vật khác (all sentient beings), nhân mạng hay con người khác (human beings) và thân ta (trong sinh lão bệnh tử).

 

Đoạn Hoặc (Đoạn diệt mê Hoặc) là:

         Đoạn diệt Sân:

                  không phẫn nộ giận dữ (anger)

                  không thù ghét (hate)

                  không lăng nhục (insult) những người khác

                  không tổn hại (causing injury) những người khác

                  không độc ác (cruelty)

         Đoạn diệt Mạn:

                  không khoe khoang tự phụ (boasting)

                  không ghen ghét (jealousy) hay ganh tỵ (envy)

                  không nịnh bợ (flatterery) 

                  không sợ hãi vô lý (unreasonable fear) đối với những người khác 

         Đoạn diệt Tham Dục:

                  không tham lam ích kỷ (self-centered greed)

 

 

(Tham Dục)

Đoạn diệt Tham dục = không tham lamích kỷ (self-centered greed): 

         = không "tham dục" (tham muốn) riêng cho mình 

         = có "dục" (muốn hay ham muốn) nhưng không "tham" cái "dục" (muốn hay ham muốn) cho riêng mình

         = không "dục" (muốn hay ham muốn) cho riêng mình; một cách vô độ hay quá khao khát mãnh liệt không cưỡng lại được hay trói buộc ham muốn (= dục) lâu dài vào một đối tượng.

 

Tham dục = Tham muốn = Craving or Strong Desire = Tham Ái, Ái.

Tham, Tham lam = Greed

Tham dục = Tham, Tham lam

Dục = Muốn, Ham muốn = Desire

 

(Sân)

- Theo Phật Giáo từ Phật Giáo Nguyên thủy:

Sân hay Giận (Anger) theo nghĩa đen là không vừa lòng (displeasure) và ghét (revulsion) một đối tượng (mà mình) không thích (dislike).

Từ Sân (hay Giận) còn phải Đoạn diệt những điều nặng hơn:

         Phẫn hay Giận dữ (Wrath) , thường có võ lực (violence).  Phẫn gần đồng nghĩa với Tức giận (Indignation) hay Nổi giận (Temper).

         Hận tức là Oán giận, Căm hờn (Enmity), thường do thù nghịch.

         Hại (Causing injury) làm tổn hại (sinh vật khác).

         "Độc" (Cruelty) là độc ác, hung dữ, tàn bạo, dã man.

- Theo Thiền tông:

Đoạn diệt Sân =

         không phẫn nộ giận dữ (anger)

         không thù ghét (hate)

         không lăng nhục (insult)những người khác

         không tổn hại (causing injury) những người khác

         không độc ác (cruelty)

 

(Mạn)

- Theo Phật Giáo từ Phật Giáo Nguyên thủy:

Mạn = Kiêu ngạo (Pride = Màna)

Mạn khác với Kiêu (Arrogance = Mada).

         Mạn là tự kỷ coi mình hơn sanh mạng khác hay coi sanh mạng khác dưới hơn mình.  Mạn cần có sanh mạng khác để so sánh.  Mạn = Kiêu Ngạo (kiêu căng và ngạo mạn).

         Kiêu là tự kỷ coi mình là tối cao hơn hết (superior), không cần so sánh với chúng sanh.  Kiêu = Kiêu Hãnh.

Dĩ nhiên là nếu đoạn diệt Mạn thì cũng phải đoạn diệt Kiêu.

- Theo Thiền tông:

Đoạn diệt Mạn =

         không khoe khoang tự phụ (boasting)

         không ghen ghét (jealousy) hay ganh tỵ (envy)

         không nịnh bợ (flatterery) 

         không sợ hãi vô lý (unreasonable fear) đối với những người khác 

 

Thiền tông có đoạn hoặc (đoạn diệt tham dục, sân và mạn) giống như Phật Giáo Nguyên thủy nhưng dùng từ bi để thay thế trì giới của Phật Giáo Nguyên thủy.  

Đoạn diệt tham dục là điều rất tế nhị trong đoạn diệt mê hoặc nên cần có từ bi làm căn bản. 

 

*

Từ bi đối với sinh vật khác, người khác (và kể cả thân ta trong sinh lão bệnh tử).

Từ bi là:

         hiền lành (= Từ) với người và sinh vật khác, tức là nhẫn nhịn (forebearance) và không có xung đột (no conflict), do đó không làm hại người, sinh vật khác và thân mình.

         thương (= Bi) người khác và sinh vật khác, bằng thể hiện lòng tử tế (loving kindness) và lòng thương xót (pity), do đó giúp đỡ người, sinh vật khác và thân mình.

 

Người có tâm thức giác ngộ chính là Phật.  Phật thực hiện Đại từ bi, hóa độ con người cũng giác ngộ thành Phật như mình thì có danh hiệu là Bồ tát. Như vật ý nghĩa của "đại từ bi" (great compassion) của Bồ tát khác với ý nghĩa của "từ bi" (compassion) của tâm thức giác ngộ.  Đại từ bi của bậc Bồ tát là hóa độ chúng sanh cũng giác ngộ như mình.

 

Thiền tông nhấn mạnh từ bi là từ Phật tánh (bản tâm) chứ không chỉ thể hiện bằng công đức.

Công án đàm thoại giữa Tổ Bồ Đề Đạt Ma và Lương Vũ Đế viết về bản tâm từ bi và công đức của Phật tử (Thiền Luận quyển Hạ, trang 547):

 

         Lương Vũ Đế hỏi Đạt Ma (Tổ Bồ Đề Đạt Ma):

                  “Từ khi Trẫm lên ngôi đến nay, đã xây dựng biết bao nhiêu chùa chiền, sao chép biết bao kinh điển và độ vô số tăng ni. Ngài nghĩ công đức của Trẫm như thế nào?”.

         Đạt Ma đáp (cộc lốc):

                  “Tâu Bệ hạ, chẳng công đức gì hết”

         Vũ Đế ngạc nhiên hỏi: 

                  “Tại sao thế?”

         Đạt Ma mới nói như vầy:

                  “Đó chỉ là những việc làm hạ đẳng, chỉ khiến cho người ta thác sinh vào các cõi trời, rồi cũng sẽ trở lại trần gian nầy nữa. Chúng vẫn còn mang những dấu vết của thế tục, như bóng theo hình. Dù chúng có vẻ thực, thì cũng chỉ là những pháp phi hữu.  Đối với công đức chân thật (thì) đầy đủ trí tuệ thanh tịnh (= trong sạch), viên mãn vi diệu, và bản tính chân thật của nó vượt ngoài sở tri (= cái hiểu biết) của người.  Do vậy đừng tìm cầu nó trong các công trình thế gian”.

 

Tác giả cũng xin có bài thơ tóm tắt giáo lý giác ngộ của Thiền tông:

 

         BỤT NHÀ 

         Bụt nhà, ai dám bảo không thiêng?

         Giác ngộ nhân tâm mạc vấn Thiền

         Phật tánh bẩm sinh phô trí tuệ (*)

         Tư duy đoạn hoặc thoát nhân duyên

         Khi ngưng sân mạn thôi tham dục

         Thì có từ bi hết muộn phiền

         Hành kiến thành tâm noi chánh đạo

         Thích Ca hoan hỉ, Bụt nhà thiêng.

         (Phan Thượng Hải)

         8/29/21

 

(*) Chú thích: Trí tuệ = hoàn toàn sáng suốt.

 

 

Bs PHAN THƯỢNG HẢI biên soạn và giữ bản quyền

 

Bài nầy là một đoạn trong bài "Giáo Lý Giác Ngộ của Phật Giáo Đại Thừa Thiền Tông" (Bs Phan Thượng Hải) trong phanthuonghai.com mục Văn Hóa phần Giáo Lý.

MÙA ĐÔNG TRÊN ĐẤT MỸ

Sau lễ Tạ Ơn Thu đã qua 

Mùa Đông lại đến khắp gần xa

Đông tàn, nghệ sĩ vương sầu cảm

Đông dạ, tình nhân biết tuổi già

Đông tuyết sơn hà tô sắc cảnh

Đông hàn thời tiết đãi mai hoa

Giáng Sinh chào đón mừng Năm Mới 

Nguyên Đán hồi Xuân ý thái hòa.

(Phan Thượng Hải)

11/26/21

 

(*) Chú thích: Lễ Tạ Ơn = Thanksgiving.  Giáng Sinh = Christmas.  Năm Mới = New Year.

 CHUYỆN KHOA CỬ THỜI XƯA

 

                                       Bs Phan Thượng Hải

* Thi cử đời nhà Lý

 

Thời nhà Đinh và nhà Tiền Lê, triều đình và hoàng gia không có tổ chức thi cử.

 

Năm 1075, Lý Nhân Tông (1072-1128) cho mở khoa thi Nho học đầu tiên ở nước ta gọi là khoa Tam Trường.  Người đỗ đầu khoa thi nầy là ông Lê Văn Thịnh.

Sau đó triều đình còn cho mở 5 khoa thi nữa vào những năm 1086, 1152, 1165, 1185, 1195.  

Năm 1165 thì gọi là khoa thi Thái Học Sinh vào thời vua Lý Anh Tông (1138-1175).

Năm 1195 là khoa thi Tam Giáo để tuyển những người tinh thông Nho, Lão, Phật vào thời Lý Cao Tông (1176-1240).  Người đỗ gọi là Tam Giáo xuất thân. 

Thể lệ và đề tài thi cử không rõ ràng trong thời nhà Lý.

 

* Thi Cử đời nhà Trần

 

Đời vua Trần Thuận Tông đặc biệt bắt đầu có thêm thi Hương (1396) cùng với thi Hội và thi Đình.  

Việc thi cử của nước Đại Việt có từ thời vua Lý Nhân Tông nhưng rất đơn giản trong thời nhà Lý.  Đến đời nhà Trần thì phức tạp hơn.  

Từ năm 1232 (đời vua Trần Thái Tông) mới có thi Thái Học Sinh ở kinh đô.  Người đậu Thái Học Sinh theo thứ bậc có Tam Giáp gồm Đệ Nhất, Đệ Nhị và Đệ Tam Giáp.  

Từ năm 1237, chỉ lấy tối đa là 3 người đậu Đệ Nhất Giáp gọi là Tam Khôi: Trạng Nguyên (Trùm Đầu), Bảng Nhãn (Mắt Bảng) và Thám Hoa (Thăm Hoa).  

Từ năm 1246, định lệ cứ 7 năm thi Thái Học Sinh một lần.  

Từ năm 1304, người đậu đầu Đệ Nhị Giáp gọi là Hoàng Giáp.  

Từ năm 1374 (đời Trần Duệ Tông), người đậu Thái Học Sinh gọi là Tiến Sĩ rồi thêm một kỳ thi Đình (thi trong sân vua) để định thứ bậc Tam Khôi và Hoàng Giáp.  

Từ năm 1396, đời Trần Thuận Tông mới mở thi Hương ở các địa phương, ai đậu thì gọi là Cử Nhân và được vào kinh đô thi Thái Học Sinh (đổi là thi Hội) và (nếu) đậu thì là Tiến Sĩ và vào thi Đình để lấy Tam Khôi và Hoàng Giáp.  Cứ năm trước thi Hương rồi năm sau thi Hội và thi Đình, và cứ 7 năm một lần.  (Về sau vua Hồ Hán Thương đổi lại 3 năm một lần vào năm 1404 nhưng nước nhà bị Nhà Minh đô hộ năm 1407).  

 

* Trạng Nguyên Nguyễn Hiền

 

- Trong chuyện "Câu Đối Chí Khí" của mình, ông Petrus Trương Vĩnh Ký kể chuyện Trạng Nguyên Nguyễn Hiền mà ông không biết.

 

Đây là nguyên văn câu chuyện "Câu Đối Chí Khí" của ông Petrus Ký:

Ông huyện kia đi dọc đường, gặp một thằng con nít đi học về.  Thấy bộ mặt đứa sáng láng bảnh lảnh, mới kêu mà ra câu hỏi rằng:

Tự là chữ, cất dằn đầu, chữ tử là con, con nhà ai đó?

Đứa học trò chí khí đối lại liền:

Vu là chưng, cất ngang lưng, chữ đinh là đứa, đứa hỏi ta chi?

Ông huyện nghe biết đứa có chí lớn, bèn nói sau nó sẽ làm nên mà chớ.  Mà thiệt như làm vậy chẳng sai.

 

- Ngày nay chuyện hai câu đối trên có trong Lịch sử về Trạng Nguyên Nguyễn Hiền:

 

Năm Bính Ngọ (1246), Nguyễn Hiền đỗ đầu Thái Học Sinh, năm sau đỗ Trạng Nguyên lúc mới 13 tuổi.  Khi ra mắt nhà vua, vua thấy Nguyễn Hiền còn bé loắt choắt, ăn nói không đúng phép nên cho về nhà học lễ, ba năm sau sẽ bổ dụng.  Trạng Nguyên về được ít lâu thì có sứ nhà Nguyên sang đưa ra một bài thơ để thử nhân tài nước Đại Việt.  Cả triều đình đều chịu thua không ai hiểu ý của bài thơ.  Có quan tâu vua thử cho mời Trạng Hiền đến hỏi.  Vua đành sai sứ đến tận làng tìm Trạng Nguyên Nguyễn Hiền.  Tới làng thì sứ gặp một thằng bé đang đùa nghịch ở đầu làng liền hỏi thăm nhà Trạng Nguyên thì thằng bé cứ làm thinh.  Sứ thấy đứa bé ngộ nghĩnh nên đọc thử câu đối:

Tự (字) là chữ, cất giằng đầu, chữ tử (子) là con, con ai con ấy?

Đứa bé đối lại ngay:

Vu (于) là chưng, chặt ngang lưng, chữ đinh (丁) là đứa, đứa nào đứa này?

Đối xong đứa bé bỏ chạy.  Sứ biết là quan Trạng nên theo tới nhà thì thấy quan Trạng đứng trong bếp, sứ lại đọc một câu nữa để trêu chọc:

Ngô văn quân tử viễn bào trù, hà tu mị táo

(Ta nghe người quân tử thường lánh xa nơi bếp núc, sao lại đi nịnh ông Táo?)

Quan Trạng liền đối:

Ngã bản hữu quan cư đỉnh nại, khả tạm điều canh

(Ta vốn là chức quan vào hàng Tể tướng, nhưng hãy tạm nếm canh!)

(Điều canh: nếm canh, có nghĩa bóng là làm Tể tướng do câu của vua Cao Tông nhà Thương nói với Phó Duyệt lúc cử Phó Duyệt làm Tể tướng).

Sứ khâm phục mời quan Trạng về Kinh đô nhưng quan Trạng từ chối nói rằng:

Trước nhà vua bảo ta không biết lễ (phép), nay chính nhà vua cũng không biết lễ.

Sứ về tâu lại, nhà vua phải mang xe ngựa, nghi trướng đến đón long trọng thì quan Trạng mới chịu đi.

Đến Kinh đô, Trạng Nguyên Nguyễn Hiền giảng giải bài thơ của sứ nhà Nguyên rõ ràng.  Nguyễn Hiền làm quan đến Công Bộ Thượng thư nhưng ông chết sớm (thọ 21 tuổi). 

 

* Nguyễn Trãi và Bảng Nhãn Nguyễn Phi Khanh

 

Ông Nguyễn Trãi (1380-1442) là con của Bảng Nhãn Nguyễn Phi Khanh, cháu ngoại của Tư Đồ Trần Nguyên Đán (đời vua Trần Nghệ Tông).  Ông có đậu Thái Học Sinh (Tiến sĩ) thời nhà Hồ (1400).  Hai cha con ông Nguyễn Phi Khanh (trước tên là Nguyễn Ứng Long) và ông Nguyễn Trãi đều làm quan với nhà Hồ.  Khi quân Minh chiếm nước ta (1407), ông Nguyễn Phi Khanh bị bắt về Tàu, nhưng không ai biết số phận và cuộc đời của ông Nguyễn Trãi ra sao cho đến năm 1420 khi ông Nguyễn Trãi cùng người bà con cô cậu là ông Trần Nguyên Hãn (cháu nội của ông Trần Nguyên Đán, cháu 5 đời của ông Trần Quang Khải) bắt đầu theo phò ông Lê Lợi ở Lỗi Giang (thuộc Thanh Hóa).    

Việt Nam Sử Lược của ông Trần Trọng Kim chỉ viết rằng: 

Khi ông Nguyễn Phi Khanh bị quân Minh bắt giải về Kim Lăng (Nam Kinh), ông Nguyễn Trãi theo đưa cha đến ải Nam Quan.  Ông Nguyễn Phi Khanh bảo rằng: “Con phải trở về mà lo trả thù cho cha và rửa thẹn cho nước, chứ đi theo khóc lóc mà làm gì?”.  Từ đó ông Nguyễn Trãi trở về, ngày đêm lo việc phục thù cho đến năm 1420 thì gặp ông Lê Lợi.  

Thật ra không ai biết ông Nguyễn Trãi ở đâu, đi đâu và làm gì trong khoảng 1407-1420.  Đọc thơ của ông thì thấy ông Nguyễn Trãi đi khắp nơi kể cả bên Tàu.  Riêng ông Trần Nguyên Hãn thì không hề ra làm quan với nhà Trần hay nhà Hồ chỉ lang thang đi bán dầu.   

 

Lai lịch của ông Nguyễn Trãi cũng mơ hồ như câu chuyện có ghi trong Đại Việt Sử Ký Toàn Thư viết cho năm 1385: 

Thượng Hoàng Trần Nghệ Tông luôn trọng dụng Lê Quý Ly (sau nầy là vua Hồ Quý Ly).  Quan Tư Đồ Trần Nguyên Đán sợ hậu họa nên kết thông gia, cho con trai lấy con gái ghẻ của Lê Quý Ly.  Ông có 2 người con gái.  Người con gái lớn là Trần thị Thái được ông mướn một thư sinh là Nguyễn Ứng Long dạy học.  Ông Nguyễn Ứng Long làm thơ hay nên cô Thái thương và có thai.  Ông Nguyễn Ứng Long sợ quá bỏ trốn.  Sau khi cô Thái đẻ xong, ông Trần Nguyên Đán gọi Ứng Long đến và nhắc chuyện Tư Mã Tương Như lấy góa phụ là Trác Văn Quân, nhờ bên vợ (giàu có và có quyền lực) nên học hành thi đậu và làm quan.  Ông Trần Ứng Long được vợ, chăm chỉ học hành và đậu Bảng Nhãn (đời nhà Trần).  Thượng Hoàng Trần Nghệ Tông biết chuyện không cho làm quan.  

Sau nầy ông Nguyễn Ứng Long làm quan với vua Hồ Quý Ly và đổi tên là Nguyễn Phi Khanh.  Ông Nguyễn Trãi (sinh năm 1380) là con trưởng của ông Nguyễn Ứng Long như vậy có thể ông là đứa bé được sinh ra trong câu chuyện kể trên?

 

* Thi Cử đời nhà Hậu Lê

 

Nhà Hậu Lê trị vì lâu nhất và cũng sản xuất nhiều nhà khoa bảng nổi danh.

Năm 1434, vua Lê Thái Tông tái lập thi cử tuy cũng có ba kỳ thi giống như nhà Trần và nhà Hồ bắt đầu năm 1438 nhưng mãi đến 1442 mới có thi Hội và thi Đình.  

Năm 1448 đời Lê Nhân Tông bắt đầu có thay đổi cho thi Đình: Tiến Sĩ Đệ Nhất Giáp (Tam Khôi gồm có Trạng Nguyên, Bảng Nhãn và Thám Hoa) gọi là Cập Đệ, Đệ Nhị Giáp gọi là Chánh Bảng và Đệ Tam Giáp gọi là Phụ Bảng.  

Năm 1484 đời Lê Thánh Tông, Tiến Sĩ Chánh Bảng đổi là Tiến Sĩ và Tiến Sĩ Phụ Bảng đổi là Đồng Tiến Sĩ.  

Đến năm 1463 đời Lý Thánh Tông mới nhất định 3 năm có một kỳ thi (dĩ nhiên là năm trước thi Hương năm sau thi Hội và thi Đình).  

Năm 1463 người thi Hương đậu 4 trường gọi là Hương Cống (Cử Nhân khi trước) và đậu 3 trường gọi là Sinh Đồ.  Chỉ có đậu Hương Cống (Cử Nhân) mới được tiếp tục dự kỳ thi Hội.  

Sau nầy nhà Mạc vẫn tiếp tục như vậy còn nhà Lê Trung Hưng thì đến năm 1554 mới tổ chức thi cử (cũng giống nhà Lê Sơ).

 

* Trạng Nguyên Nguyễn Trực

 

Người đậu Trạng Nguyên đầu tiên của nhà Hậu Lê là ông Nguyễn Trực (1417-1474) vào năm 1442 trong kỳ thi có chủ khảo là ông Nguyễn Trãi (qua đời cùng năm 1442).  Ông Ngô Sĩ Liên, tác giả của Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, đậu Tiến Sĩ Phụ Bảng trong khóa nầy.  

Ông Nguyễn Trực, người làng Nghĩa Bang (nay thuộc Thanh Oai, Hà Nội), làm quan dưới 3 triều vua Thái Tông, Nhân Tông và Thánh Tông.  Theo ông Nguyễn Văn Tố trong báo Tri Tân số 28: Ông Nguyễn Trực, khi đi sứ bên Tàu, cũng dự thi và đậu Tiến Sĩ Cập Đệ nên đời bấy giờ gọi ông là “Lưỡng quốc Trạng Nguyên”.  

Khi ông qua đời, vua Lê Thánh Tông có bài thơ tả đặc tính của ông Nguyễn Trực nói riêng và hầu hết các Trạng Nguyên (và khoa bảng) nói chung:

 

ĐIẾU NGHĨA BANG TRẠNG NGUYÊN NGUYỄN TRỰC

Đời dõi Nho tông phát ấp Bang (*)

Trong đạo đức, có từ chương

Nối dòng thi lễ nhà truyền báu

Tranh giải khôi nguyên bảng chói vàng

Nam Bắc hai triều danh dậy

Phong lưu một cửa họ sang

Từ đường ở đấy niềm tây lạnh

Dấu cũ càng thơm dạ có hương.

(Vua Lê Thánh Tông)

 

Đây là bài thơ theo thể Hàn Luật.


 

* Trạng Nguyên Lương Thế Vinh

 

Hậu thế thích nhất là ông Trạng Lường Lương Thế Vinh, còn gọi là Trạng Bình Dân.  Ông và ông Quách Đình Bảo nổi tiếng là người học giỏi ở vùng Sơn Nam (Thái Bình và Nam Định bây giờ).  Ông Quách Đình Bảo là người rất gắng công và chăm chỉ học hành còn ông Lương Thế Vinh thì thông minh, không cố gắng học nhiều nhưng đi thi thì đậu đầu (Trạng Nguyên) còn ông Quách Đình Bảo lại đậu thứ ba (Thám Hoa).  Vua Lê Thánh Tông rất bằng lòng về khóa thi của hai ông (năm 1463):

 

Trạng Nguyên Lương Thế Vinh

Bảng Nhản Nguyễn Đức Trinh

Thám Hoa Quách Đình Bảo

Thiên hạ cộng tri danh.

(Lê Thánh Tông)

 

Tuy nhiên vua Lê Thánh Tông là người biết dụng nhân tài.  Vua là một nhà lãnh đạo rất giỏi tự quyết đoán và dùng quân sự để củng cố và thi hành đường lối chính trị của mình với ba ông tướng tài trung thành là các ông Nguyễn Xí, Đinh Liệt và Lê Niệm.  Ông Quách Đình Bảo làm quan cũng như ông chăm học nên đường hoạn lộ rất dài, làm đến chức Hình Bộ Thượng Thư.  Vua Lê Thánh Tôn chỉ dùng ông Lương Thế Vinh trông coi viện Hàn Lâm lo về văn hóa và giao thiệp ngoại giao mà thôi.  Ông Lương Thế Vinh là người phóng khoáng cáo quan về nghỉ sớm, vui sống bình dân ở quê quán là làng Cao Lương (còn gọi là Cao Hương, nay thuộc Vụ Bản, Nam Định).

 

Ngoài tài về văn chương ông Lương Thế Vinh còn giỏi về âm nhạc, Phật học và nhất là toán học với 2 quyển: Đại Thành toán pháp và Khải Minh toán học.

Hậu thế có truyền tụng câu chuyện dưới đây:

Sứ Tàu là Chu Hi đố ông Lương Thế Vinh làm sao biết cân nặng (trọng lượng) của một con voi vì không có cái cân nào đủ lớn để làm được việc đó.  Ông Lương Thế Vinh đưa voi lên một chiếc thuyền rồi đánh dấu mép nước bên mạn thuyền sau đó dắt voi lên bờ.  Tiếp theo ông bỏ đá cục vào thuyền cho đến lúc thuyền chìm xuống tới đúng dấu cũ.  Thế là ông cho cân các cục đá là ra kết quả cân nặng của con voi.  Khi Chu Hi khen ngợi sáng kiến của ông Lương Thế Vinh thì ông trả lời rằng tôi học cách trên từ một người Tàu tên là Tào Xung, con của Tào Tháo!

 

Câu chuyện trên cho thấy là ngoài Toán học ông Lương Thế Vinh còn giỏi về Vật Lý.  Tuy nhiên sứ Tàu nầy không phải là Chu Hi.  Chu Hi (1130-1200) làm quan nhà Tống, một nhà Tân Nho Học nổi danh cùng với anh em Trình Hạo và Trình Xuyên.  Sứ Tàu gặp ông Lương Thế Vinh (1441-1496) phải là từ nhà Minh!

 

Vua Lê Thánh Tông có thơ khen ông Lương Thế Vinh:

 

ĐIẾU CAO LƯƠNG LƯƠNG TRẠNG NGUYÊN 

Chiếu thơ Thượng Đế xuống xem (đêm) qua

Gióng khách (khánh) tiên đài kíp tới nhà

Cẩm tú mấy hàng về động ngọc

Thánh hiền ba chén thấp hồn hoa

Khí thiên đã lại thu sơn nhạc

Danh lạ còn truyền để quốc gia

Khuất ngón tay than tài cái thế

Lấy ai làm Trạng nước non ta!

(Vua Lê Thánh Tông)

 

* Thi Cử đời nhà Nguyễn

 

Thi cử đời nhà Nguyễn cũng giống như nhà Hậu Lê nhưng không có lấy Trạng Nguyên (đậu đầu kỳ thi Đình gọi là Đình Nguyên, Tiến Sĩ đậu đầu trường thi Hội gọi là Hội Nguyên và Cử Nhân đậu đầu trường thi Hương gọi là Giải Nguyên hay Thủ Khoa).  Thi Hương thời nhà Nguyễn bắt đầu đời Gia Long 1807.  Thi Hội và thi Đình bắt đầu năm 1822 đời vua Minh Mạng.  Lúc đầu cứ 6 năm thi một lần nhưng từ năm 1825 thì cứ 3 năm một lần.  

Năm 1828, triều đình đổi lại Hương Cống là Cử Nhân và Sinh Đồ là Tú Tài (cho kỳ thi Hương).  Năm 1829, ở kỳ thi Hội ngoài Tiến Sĩ và Đồng Tiến Sĩ triều đình còn lấy thêm một bậc thấp hơn gọi là Phó Bảng.  Có một ông Phó Bảng rất nổi danh là ông Phan Châu Trinh.  

 

* Tiến Sĩ Phan Thanh Giản

 

Thời nhà Nguyễn, kỳ thi Hội đầu tiên vào năm Minh Mạng thứ 3 (1822) không có người Nam Kỳ nào đậu Tiến sĩ.  

Sang kỳ thứ 2 vào năm 1826, trong hơn 200 thí sinh (đã đậu Cử nhân), 9 người đậu Tiến sĩ đều là người Bắc Hà.  Vua Minh Mạng khuyên ban giám khảo nên chấm đậu thêm 1, 2 người từ Thừa Thiên trở vào Nam (Nam Hà).  Kết quả là được thêm 1 người nữa: đó là thí sinh Phan Thanh Giản thuộc tỉnh Vĩnh Thanh lúc bấy giờ (sau nầy là 2 tỉnh Vĩnh Long và An Giang) thuộc Nam Kỳ.  Đỗ đầu kỳ thi Hội nầy là Hội Nguyên Đặng Văn Khải quê ở Bắc Ninh.  

Vào thi Đình (chính vua Minh Mạng làm Chủ khảo), hai người đậu Hoàng Giáp (Đệ Nhị Giáp Tiến Sĩ) là ông Hoàng Tế Mỹ và ông Nguyễn Huy Hựu.  Ông Hoàng Tế Mỹ đỗ đầu tức là Đình Nguyên Hoàng Giáp (trên ông Hoàng Giáp Nguyễn Huy Hựu).  Không ai đậu Bảng Nhãn hay Thám Hoa và dĩ nhiên nhà Nguyễn không lấy Trạng Nguyên.  Tám người còn lại đậu Đệ Tam Giáp Tiến Sĩ, ông Phan Thanh Giản lại đậu hạng nhất trong 8 người nầy và Hội Nguyên Đặng Văn Khải đứng hạng thứ 5. 


 

* Thời Pháp Thuộc

 

Vào đầu thế kỷ 20, chữ Hán, chữ Nôm, Nho học và thi cử của nhà Nguyễn trở thành lỗi thời.  Nạn nhân và chứng nhân là ông Tú Trần Tế Xương:

 

CHỮ NHO

Nào có nghĩa (ra) gì cái chữ Nho

Ông Nghè ông Cống cũng nằm co (*)

Chi bằng đi học làm thầy Phán

Tối rượu sâm banh sáng sữa bò.

(Trần Tế Xương)

 

(*) Chú thích: Ông Nghè là đậu Tiến Sĩ, ông Cống là đậu Cử Nhân còn ông Đồ hay ông Tú là đậu Sinh Đồ hay Tú Tài.  

 

THAN NHO HỌC

Cái học nhà Nho đã hỏng rồi

Mười người đi học chín người thôi

Cô hàng bán sách lim dim ngủ

Thầy khóa tư lương nhấp nhổm ngồi

Sĩ khí rụt rè gà phải cáo

Văn chương liều lĩnh đấm ăn xôi

Tôi đâu dám mỉa làng tôi nhỉ

Trình có quan (ông) tiên thứ chỉ tôi. (*)

(Trần Tế Xương)

 

(*) Chú thích: Tiên Chỉ và Thứ Chỉ = chức sắc của những khoa bảng ở địa phương.

 

ĐỔI THI

Nghe nói khoa nầy sắp đổi thi

Các thầy đồ cổ đỗ mau đi

Dẫu không bia đá còn bia miệng

Vứt bút lông đi, giắt bút chì.

(Trần Tế Xương)

 

Năm 1869, chính quyền thuộc địa Pháp chính thức dùng chữ Quốc Ngữ (thay thế chữ Nho) trong các công văn ở Nam Kỳ.  Năm 1879, chữ Quốc Ngữ là chữ độc nhất dùng trong tất cả văn kiện và trong chương trình giáo dục.  Dĩ nhiên từ khi thành thuộc địa của Pháp thì không còn thi Hương ở Nam Kỳ.  Chữ Quốc Ngữ dùng trong giáo dục ở Bắc Kỳ và Trung Kỳ (?) từ năm 1910.  

 

Năm 1915 có khoa thi Hương cuối cùng ở Bắc Kỳ.  Đến đời vua Khải Định (1916-1925), khóa thi Hương cuối cùng chỉ ở 2 chỗ (Nghệ An và Bình Định) vào năm 1918.  Khóa thi Hội cuối cùng vào năm 1919.  Ngày 21-12-1917, Nha Tổng Giám Đốc Học Chánh Đông Dương ban bố học quy mới gồm 3 bậc Tiểu Học, Trung Học và Đại Học áp dụng cho toàn cõi Đông Dương cho đến khi chánh phủ Trần Trọng Kim nắm chính quyền năm 1945. 

 

Giới sĩ phu hết còn ông Nghè, ông Cống và ông Đồ, nhưng cậu Ấm như ông Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu cũng là nạn nhân.

 

THƯ KHÓC TẾT CỦA HAI ÔNG ĐỒ

(Xướng)                                                      (Tự Họa)

Ngoảnh đi ngoảnh lại lại đến Tết               Giời ơi! Ới Tết ơi là Tết!

Ông đến độ nầy là hết chết                         Bác hãy còn hơn, tôi mới chết

Giời cao đất thấp vợ chưa về                     Gạo tẻ đong chịu nếp thời không

Tháng tận năm cùng gạo cũng hết             Áo vợ rách tan chồng cũng hết

Cỗ bàn duy có ba ông công                        Con theo tận nách mếu môi sò

Su kẽm cũng không một vảy hến               Nợ réo ầm tai câm miệng hến

Mà ra lúc quẫn văn càng hay                     Giời còn để sống đến trăm năm

Lại được một bài thơ khóc Tết.                  Lại mấy mươi bài thơ khóc Tết.

(Tản Đà)                                                      (Tản Đà)

 

* Trường Hậu Bổ

 

Bắt đầu thế kỷ 20, chính quyền thuộc địa Pháp cũng “duy tân” cho Bắc Trung Kỳ.  

Về chính trị, Pháp mở trường đào tạo người Việt làm việc cho Pháp trong những chức vụ cao cấp.  

Đầu tiên là Trường Thông Ngôn (mở năm 1862 ở Nam Kỳ) dùng ông Trương Vĩnh Ký làm Hiệu Trưởng.  Ở Nam Kỳ, Trường Tham Biện Hậu Bổ Sài Gòn (Collège Des Administrateurs Stagiaires) mở năm 1873 thay thế Trường Thông Ngôn và đóng cửa vào năm 1887.  Từ đó người Nam Kỳ phải sang Pháp học Trường Thuộc Địa ở Paris (École Coloniale à Paris).  Chỗ Trường Hậu Bổ Sài Gòn ngày nay là Trường Võ Trường Toản và Bộ Giáo Dục (thời VNCH).

Ở Bắc Kỳ thì có trường Hậu Bổ Hà Nội (École Des Aspirants mandarins) (1903-1912) rồi đổi thành Trường Sĩ Hoạn (École Des Mandarins) (1912-1917).  Ở Trung Kỳ có Trường Hậu Bổ Huế (École D’Administration) (1911-1917).  Sau đó chỉ còn Trường Pháp Chế Đông Dương (École de Droit et d’Administration) ở Hà Nội từ năm 1917 cho người Bắc và Trung Kỳ nhưng người dân chỉ quen gọi là “Trường Hậu Bổ”.

 

Khi không còn thi cử chữ Nho của triều đình nhà Nguyễn nữa, ông Tản Đà cũng thử thời vận với trường Hậu Bổ.  

 

HỎNG THI VÀO TRƯỜNG HẬU BỔ

Mỗi năm Hậu Bổ một lần thi

Năm ngoái năm xưa tớ cũng đi

Cử, Tú, Ấm sinh, vài chục kẻ

Tây, Ta, Quốc ngữ, bốn năm kỳ

Đĩa nghiên lọ mực bìa bao sách

Thước kẻ đanh ghim ngọn bút chì

Lại đến O-ran là bước khó (*)

Mình ơi, ta bảo “có thi thì…

(Tản Đà)

 

(*) Chú thích: O-ran (Oral) là thi vấn đáp. không phải thi viết.

 

Ông Ngô Đình Diệm xuất thân từ trường Hậu Bổ.


 

Bs PHAN THƯỢNG HẢI biên soạn

 

Tài liệu tham khảo từ phanthuonghai.com (cùng một tác giả):

1. Thơ và Việt Sử - Nhà Trần

2. Thơ và Việt Sử - Nhà Lê

3. Thơ và Việt Sử - Nhà Nguyễn

4. Thơ và Việt Sử - Thời Pháp Thuộc thế kỷ 19

5. Thơ và Việt Sử - Thời Pháp Thuộc thế kỷ 20

6. Truyện Cười Cổ Điển từ Petrus Ký.

 

Bs PHAN THƯỢNG HẢI biên soạn và giữ bản quyền

TỪ NGỮ "KHÔNG" CỦA PHẬT GIÁO ĐẠI THỪA

 

Bs Phan Thượng Hải biên soạn

 

*

Khi nói đến Phật Giáo, Phật tử có hiểu biết thường nói đến câu: "Sắc tức thị không, không tức thị sắc" với sự hiểu biết: từ ngữ "không" trong câu nầy có nghĩa thông thường là "hư không" (nothingness) hay "không có" (non - existence).  Đó là điều sai lầm từ căn bản.  

Câu nầy từ Bát Nhã Tâm Kinh mà bá tánh đọc trong lễ chùa Đại Thừa.  Từ ngữ "không" trong câu "sắc tức thị không, không tức thị sắc" có nghĩa khác theo Phật Pháp.  Nếu ta hiểu được từ ngữ "không" nầy thì sẽ hiểu được giáo lý giác ngộ của Không Tông, giáo lý giác ngộ căn bản sơ khởi của Đại Thừa. 

 

*

Thiền tông (tổng hợp và dung hòa Không Tông và Tánh Tông) áp dụng quan niệm về sự vật của Không tông trong Bát Nhã Tâm kinh.

Sự vật bên ngoài tâm của ta gồm luôn cả con người khác, sinh vật khác và thân của ta.

 

- Sự vật hiện hữu vì chúng tích tụ trong giác quan và tâm của ta. Đó là Ngũ uẩn (5 "cái" tích tụ = 5 aggregations).

            Tất cả mọi sự vật hữu thể (thế giới vật chất) gọi là Sắc, tích tụ trong giác quan của ta gọi là Sắc uẩn.

            Tất cả mọi sự vật tâm thần (thế giới vô thể) gọi là Danh, tích tụ trong tâm của ta gồm có Thọ uẩn, Tưởng uẩn, Hành uẩn và Thức uẩn.  Thọ, Tưởng, Hành, Thức chính là hoạt động của tâm ta.

            Thọ(Thụ) = cảm giác (sensation).

            Tưởng = tri giác (perception).

            Hành = tất cả những hoạt động khác của tâm ngoài Thọ, Tưởng và Thức (other mental constituents).

            Thức= nhận thức (cognition).

 

- Sự vật là hiện tượngvì chúng là 6 đối tượng của 6 giác quan của ta và tâm thức (có 6 phần) của ta.  Đó là 18 Giới (theo từ ngữ Phật Giáo).

 

Ngay từ Phật Thích Ca của Phật Giáo Nguyên Thủy cho đến Thiền tông, sự vật hiện hữu đồng nghĩa với hiện tượng.  Tất cả mọi sự vật hiện hữu hay hiện tượng được thể hiện bằng từ ngữ "Ngũ uẩn" hay "18 giới".  Sự vật, gọi tắt của sự vật hiện hữu, là hiện tượng của tâm ta bao gồm luôn thân ta trong sinh lão bệnh tử.

 

Sự vật = being and/or thing.  

Tất cả mọi sự vật = all beings and things.

Sự vật hiện hữu = element of existence.  

Tất cả mọi sự vật hiện hữu = all elements of existence = Vạn hữu.

Hiện tượng = phenomenon = dharma = Pháp.

Tất cả mọi hiện tượng = all phenomena = all dharmas = Vạn pháp.

(Như vậy, vạn pháp đồng nghĩa với vạn hữu, theo Phật Giáo.  "Pháp" ở đây không có nghĩa là "doctrine")

 

Phật Giáo từ Phật Giáo Nguyên Thủy có chia Vạn Pháp ra làm 2:

            Hữu Vi Pháp = mọi hiện tượng của sự vật tùy thuộc Nhân Duyên Nghiệp Quả.

            Vô Vi Pháp = hiện tượng của sự vật thoát khỏi Nhân Duyên Nghiệp Quả.

 

Hữu Vi Pháp = Conditioned Dharmas = Samskrta-dharma

Vô Vi Pháp = Unconditioned Dharmas = Asamskrta-dharma

 

Tất cả mọi sự vật hiện hữu (vạn hữu) hay tất cả mọi hiện tượng (vạn pháp) đều không có "ngã" (nature), đồng nghĩa với "vô ngã" của Phật Giáo bắt đầu từ Phật Giáo Nguyên Thủy. 

Không tông muốn cho rõ hơn nên gọi là "không có tự tánh" (without nature), đồng nghĩa với "tánh Không" (sùnyatà).  

Đó là lý thuyết Không (sùnya) của Không Tông.  Không (sùnya) của Không Tông chẳng có nghĩa là "hư không" (nothingness) hay "không có" (non-existence).

            

Without nature = vô ngã (của sự vật hay hiện tượng) = tánh Không = không có tự tánh

Nature = ngã = tự tánh 

 

Sự vật hiện hữu (sự vật) hay hiện tượng thì vô ngã (hay tánh Không) nên phải vô thường.  Như vậy mọi sự vật hay hiện tượng thì tương đối (relative), gồm vô ngã và vô thường:

            . vô ngã = không hoàn toàn, không thuần túy, không chuyên chế và không độc lập, và phải tương quan với những sự vật hiện hữu hay hiện tượng khác.

            . vô thường (impermanent) = không thường hằng (not permanent) = không tự sinh khởi; không cố định, phải thay đổi và biến hóa; không vĩnh cữu và phải hoại diệt. 

 

Bát Nhã Tâm kinh viết về lý thuyết Không như sau:  

            Khi Bồ tát Quán Tự Tại (Avalokitesvara) thực hành Bát Nhã Ba La Mật Đa sâu xa, soi thấy rằng có ngũ uẩn và thấy Ngũ uẩn không có Tự tánh (Sùnyatà) trong chúng.

            Này Xá Lợi Phất (Sariputra): sắc ở đây là Không, Không là sắc; sắc không khác Không, Không không khác sắc; sắc tức thị là Không, Không tức thị là sắc.  Thọ, tưởng, hành, thức (đều) cũng vậy.

            Này Xá Lợi Phất: Hết thảy các Pháp ở đây (= Vạn Pháp) được biểu thị là Không (Sùnya).  Chúng không sinh, không diệt, không cấu nhiễm, không không cấu nhiễm; không tăng, không giảm

            Vì vậy này Xá Lợi Phất; trong Không (Sùnya),

                        không có sắc, không có thọ, tưởng, hành, thức; không có mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý; không có sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp; 

                        không nhãn giới cho tới không có ý thức giới; 

                        cho tới không có tuổi già (= lão) và sự chết (= tử), không có sự tận diệt của tuổi già và sự chết;....

 

Chú thích:

            Ngũ uẩn = Sắc, Thọ, Tưởng, Hành, Thức.

            18 Giới = Sắc, Thanh, Hương, Vị, Xúc, Pháp tương đương với Mắt, Tai, Mũi, Lưỡi, Thân, Ý; từ Nhãn giới tới Ý thức giới.

 

Tóm lại, theo Không tông, mọi sự vật hiện hữu (kể cả thân ta trong sinh lão bệnh tử):

            đều là hiện tượng (= đối tượng của giác quan và tâm ta), 

            và tương đối (relative) vì chúng là vô ngã hay tánh không (without nature) và vô thường (impermanent).  

Giáo lý như trên của Không tông trong kinh Bát Nhã gọi là thuyết Không (Sùnya) và sau nầy Thiền tông trong kinh Lăng Già gọi là Pháp vô ngã.

 

Cứu cánh của Phật Giáo là hết khổ.  Cứu cánh của Phật Giáo Đại Thừa là tâm con người hết phiền não.

 

- Nguyên nhân của khổ (của phiền não) là tất cả mọi sự vật đều là hiện tượng đối với tâm ta và đều là tương đối (relative) vì chúng đều vô ngã hay không có tự tánh (without nature) và vô thường (impermanent).  Tâm của ta dính chặc và ràng buộc (sở đắc = attached) hay bám chặc (sở trụ) vào sự vật tức là bị chướng ngại (= hindrance) bởi sự vật tương đối (vô ngã và vô thường) và chỉ là hiện tượng; thì tâm ta sẽ phiền não (khổ).

Tất cả mọi sự vật hiện hữu là đối tượng của tâm ta bao gồm luôn cả mọi sinh vật khác, mọi người khác và kể cả thân ta. 

 

- Do đó tâm giác ngộ an định không phiền não là không bám chặc và ràng buộc (vô sở đắc = non-attached = vô sở trụ) vào sự vật tức là tự do, không chướng ngại (vô ngại = non hindrance) vào sự vật.  

(Không tông không có phân biệt tâm thành ra tâm thức và bản tâm và không biết đến bản tâm. "Tâm" của Không tông là đồng nghĩa với "tâm thức" của Tánh tông)

 

Bát Nhã Tâm kinh của Không tông viết về tâm giác ngộ (Bát Nhã Ba La Mật Đa) như sau:

            Trong Không (Sùnya), không có Trí, không có Đắc (= vô sở đắc) và không có Chứng bởi vì không có Đắc.  Trong Tâm của Bồ Tát an trụ trên Bát Nhã Ba La Mật Đa không có những Chướng ngại (= vô ngại); và bởi vì không có những Chướng ngại trong Tâm đó nên không có sợ hãi, và vượt ngoài những tà kiến điên đảo, đạt tới Niết bàn.

            Hết thảy chư Phật trong quá khứ, hiện tại và vị lai do y (dựa) trên Bát Nhã Ba La Mật Đa mà chứng đắc Giác ngộ viên mãn tối thượng.

 

Với vô sở đắc và vô sở ngại, Phật Giáo Đại thừa diệt được Khổ thuộc về Hành Khổ và Hoại Khổ.

 

Người có tâm giác ngộ chính là Phật.  Phật thực hiện Đại từ bi, hóa độ con người cũng giác ngộ thành Phật như mình thì có danh hiệu là Bồ tát (Bodhisattva).  Bồ tát hóa độ trong Bát Nhã Tâm kinh nầy là Bodhisattva Avalokitesvara, được dịch là Quan Tự Tại Bồ tát hay Quan Thế Âm Bồ tát.

 

*

Như vậy, thay vì cứ tự cho rằng mình biết "không" là "không có" (non-existence) hay "hư không" (nothingness); Phật tử cần hiểu "Không" (Sùnya) của Bát Nhã Tâm Kinh: mọi sự vật bên ngoài tâm của ta đều "không có tự tánh" (without nature).

 

 

Bs PHAN THƯỢNG HẢI biên soạn 

 

Bài viết nầy là 1 đoạn nhỏ trong bài "Giáo Lý Giác Ngộ của Phật Giáo Đại Thừa Thiền Tông" (Bs Phan Thượng Hải) trong phanthuonghai.com mục Văn Hóa phần Giáo Lý.

 

Bài tiếp theo sẽ nói về "Tu Tâm của Phật Giáo".  

_______________________________

PTH_4pers.jpg

3 đoạn trích trong bài "Công Giáo trong Việt Sử" (Bs Phan Thượng Hải) trong phanthuonghai.com

Đây là link của toàn bài, có nói về Paulus Của và nhất là Petrus Ký (2 tín đồ Công Giáo) có công trong việc phát huy chữ Quốc Ngữ.

 

http://phanthuonghai.com/Documents/tho va su/tong luan/cong giao trong tho va viet su.pdf

 

CÔNG GIÁO VÀ SỰ THÀNH HÌNH CỦA CHỮ QUỐC NGỮ

(Bs Phan Thượng Hải)

  

Đạo Thiên Chúa truyền vào Đại Việt

 

Công Giáo (thuộc Giáo hội Roma) du nhập vào Đại Việt bắt đầu từ năm 1533.  Lúc đầu thường được gọi là Đạo Thiên Chúa, Đạo Gia Tô hay Đạo Cơ Đốc.  Gia Tô là dịch âm từ Jesus và Cơ Đốc là dịch âm từ Christ.  Người sáng lập Đạo là Gia Tô Cơ Đốc (Jesus Christ).

 

Nguồn Gốc:

            Đạo Thiên Chúa (Công Giáo) bắt đầu truyền vào nước ta vào năm 1533. Theo Khâm Định Việt Sử: “Đạo Gia Tô, theo bút ký của tư nhân, tháng 3 năm Nguyên Hòa thứ nhất (1533) đời Lê Trang Tông có người Tây Dương tên "I Nê Khu"lén truyền đạo Gia Tô ở làng Ninh Cường và Quần Anh, huyện Nam Chân và ở làng Trà Lũ, huyện Giao Thủy”.  Ngày nay 3 làng nầy thuộc 3 huyện Trực Ninh, Hải Hậu và Xuân Trường của tỉnh Nam Định. Tên "I Nê Khu"có lẽ là âm từ tiếng Bồ Đào Nha Inacio hay từ tiếng Tây Ban Nha Ignacio do đó Giáo sĩ “I Nê Khu” nầy chỉ có thể là người Bồ Đào Nha hay Tây Ban Nha.  (Thực ra vào năm 1533, nước Đại Việt dưới quyền cai trị của nhà Mạc vào thời Thái tổ Mạc Đăng Dung và vua Lê Trang Tông còn ở Ai Lao). 

            Ở Đàng Trong, có 2 linh mục Luis de Fonseca (Bồ Đào Nha) và Grégoire de la Motte (Pháp) từ Malacca đến truyền giáo ở Quảng Nam dưới thời Chúa Nguyễn Hoàng trong 6 năm (1580-1586).

 

Diễn Tiến:

            Năm 1534, Giáo hoàng Phaolô III thiết lập giáo phận Goa từ mũi Hảo Vọng qua Ấn Độ Dương cho đến Nhật Bản.  Năm 1557, một phần của giáo phận Goa thành giáo phận Malacca gồm Indonésie, Mã Lai, Cam Bốt, Chàm, Xiêm, Đại Việt, Trung Hoa và Nhật Bản.  Năm 1576, một phần của giáo phận Malacca thành giáo phận Macao gồm Trung Hoa, Nhật Bản và Đại Việt.  Đa số các giáo sĩ là những Thừa Sai dòng Tên (Jésuites/Societa Iesu) và dòng Đa Minh (Dominico/Dòng Anh Em Thuyết Giáo).  

            Năm 1614, đạo Thiên Chúa bị cấm ở Nhật Bản, các Thừa Sai bị đuổi nên về Macau và bắt đầu chuyển sang Đại Việt.  Có 2 sự kiện lịch sửxảy ra: Cha Buzomi và Cha Carvalho đổ bộ vào cửa Hàn (ở Đà Nẵng) của Đàng Trong (1615) và Cha Alexandre de Rhodes đổ bộ lên cửa Bạng (ở Thanh Hóa, tên cũ là cửa Thần Phù) của Đàng Ngoài (1627).  Các tu sĩ sáng tạo ra chữ Quốc Ngữ dựa trên mẫu tự La Tinh để truyền giáo tuy nhiên cũng có người thông thạo chữ Hán Nôm.  

            Năm 1645, Cha Alexandre de Rhodes về Roma cổ động nên Hội Thánh ủy quyền cho Hội Thừa Sai Paris (Missions Étrangère de Paris) tổ chức truyền giáo ở Đại Việt.  Từ đó Truyền Giáo Thiên Chúa bước từ thời kỳ khai sinh (1533-1659) sang thời kỳ hưng thịnh (1659-1802).

            Năm 1659, 2 giáo phận được thành lập ở Đại Việt tách ra khỏi giáo phận Macao: Giáo phận Đàng Trong, Chiêm ThànhvàChân Lạp (Giám mục Pierre Lambert de la Motte làm Đại diện Tông Tòa) và Giáo phận Đàng Ngoài (Giám mục Francois Ballu làm Đại diện Tông Tòa) dưới quyền của Hội Thừa Sai Paris.  Giám mục de la Motte lập dòng nữ tu ở Đại Việt là Dòng Mến Thánh Giá (Amantes de la Croix/Congregation of the Holy Cross Lovers) vào năm 1669.

            Mặc dù có sự cấm đạo của Chúa Trịnh, Chúa Nguyễn và nhà Tây Sơn nhưng đạo Thiên Chúa phát triển mạnh và mở thêm giáo phận.  Đại Diện Tông Tòa Đàng Trong vào cuối thế kỷ 18 là Giám mục Pigneau de Béhaine (1771-1799) còn gọi là Bá Đa Lộc giúp Nguyễn Vương Phúc Ánh và rất thân với Hoàng tử Nguyễn Phúc Cảnh.  

            Sau khi Giám mục Bá Đa Lộc (và Hoàng Tử Cảnh) qua đời, đạo Thiên Chúa ở Việt Nam chuyển sang thời kỳ thử thách (1802-1883) với sự cấm đạo nghiêm khắc của các vua Minh Mạng, Thiệu Trị và Tự Đức của nhà Nguyễn.  Sau đó là thời kỳ phát triển cho đến 30-4-1975.

 

Thành hình của chữ Quốc Ngữ

 

Chữ Quốc Ngữ thành hình là nhờ các giáo sĩ ngoại quốc truyền đạo Gia Tô (đạo Thiên Chúa) ở Việt Nam từ thế kỷ 16.  

 

Theo ông Nguyễn Tường Bách, người bắt đầu sáng tạo chữ Quốc Ngữ là Giáo sĩ dòng Tên Francisco De Pina (1585-1625), người Bồ Đào Nha.  

            Giáo sĩ De Pina bắt đầu đến Macao truyền giáo (1613) rồi tới Đàng Trong (1617).  Thấy chữ Hán Nôm khó học nên khó dịch văn bản của Đạo Gia Tô (Kitô Giáo), Francisco De Pina dựa theo phát âm (của người Việt) mà dùng mẫu tự La tinh diễn tả thành chữ viết (như chữ Bồ Đào Nha của ông): chữ Quốc Ngữ của nước ta thành hình (từ năm 1622).  

            Giáo sĩ De Pina còn viết văn phạm thô sơ cho loại chữ viết mới nầy và từ năm 1624 dạy các giáo sĩ khác trong đó có Antonio De Fontes (1569-?) sinh tại Lisboa (Bồ Đào Nha) và Alexandre De Rhodes (1591-1660) sinh tại Avignon (Pháp).  

            Tháng 12, 1625,Giáo sĩ De Pina lên 1 chiếc tàu Bồ Đào Nha ở Đà Nẵng để mang hàng hóa vào bờ nhưng chẳng may tàu chìm, Francisco De Pina chết chìm (lúc 40 tuổi).  Hai Giáo sĩ tiếp tục công nghiệp của ông là Gaspar De Amaral (1549-1646) và Antonio Barbosa (1594-1647).

 

Sau đó có 3 người có công tạo ra chữ Quốc Ngữ được nhắc nhở đến nhiều nhứt: 

            1) Thừa Sai Cha Alexandre De Rhodes (1591-1660) là nhà truyền giáo (missionary) dòng Tên người Pháp.  Tên của ông âm ra Hánngữlà A Lịch Sơn Đắc Lộ.  Năm 1625, ông đến Hội An rồi năm 1627 ra Bắc Hà.  Ông truyền giáo trong 20 năm ở Đàng Trong và Đàng Ngoài và bị trục xuất tất cả 6 lần.  Ông bắt đầu học nói tiếng Việt từ một em bé 12 tuổi ở Hội An.  Chữ Quốc ngữ đã có được từ các giáo sĩ truyền đạo Thiên Chúa(Công Giáo), Cha Đắc Lộ gom lại và viết thành Từ Điển An Nam Bồ (Đào Nha) La Tinh (Dictionarium Anamiticum Lusitanum et Latinum) vào năm 1651.  Cha Alexandre De Rhodes(Đắc Lộ) chết tại Ispahan, Ba Tư (Iran).

            2) Thừa Sai Đức Cha Bá Đa Lộc, cũng là người Pháp, tên là Pierre Joseph Georges Pigneau De Béhaine (1741-1799).  Bá Đa Lộc là âm từ chữ Pierre.  Ông còn được gọi là Cha Cả (?) hay Giám Mục Adran (?) hay Bi Nhu quận công (từ chữ Pigneau).  Là Đại Diện Tông Tòa của Đàng Trong(Nam Hà), ông giúp Nguyễn Vương Phúc Ánh chống nhà Tây Sơn.  Giám Mục Bá Đa Lộc viết Từ Điển An Nam La Tinh (Dictionarium Anamitico Latinum) vào năm 1773 gồm 4 thứ chữ: La Tinh, Quốc Ngữ, Hán (Nho) và Nôm.

            3) Thừa Sai Cố Jean Louis Taberd (1744-1840) là người Pháp, thuộc dòng La Salle (La San) truyền giáo ở Nam Kỳ (1820-1830).  Tiếng Việt gọi Taberd là “Từ”.  Trường Lasan Taberd thành lập ở Sài Gòn (1873-1975) theo tên của ông.  Cố Taberd dựa vào Đắc Lộ và Bá Đa Lộc viết và xuất bản Nam Việt Dương Hiệp Tự Vị (chữ Quốc Ngữ và La Tinh) ở Calcutta vào năm 1838.  Ngoài ra ông cũng xuất bản Tự Điển của ông Bá Đa Lộc.  

 

Thừa Sai Cố Taberd có một người Việt giúp làm quyển Nam Việt Dương Hiệp Tự Vị là Thầy Philipphê Phan Văn Minh (1815-1853), người Cái Mơn (thuộc tỉnh Vĩnh Long).  Thầy Phan Văn Minh về sau về nước làm Linh Mục và tử đạo. Theo ông Dương Quảng Hàm, nhờ Cha Phan Văn Minh nầy giúp Cố Taberd nên chữ Quốc Ngữ viết giống như ngày hôm nay.

 

Cũng như vua Minh Mạng, vua Tự Đức cấm đạo Thiên Chúa (Gia Tô) rất nghiêm nhặt.  Một nạn nhân nổi danh hậu thế là Linh mục Philipphê Phan Văn Minh (1815-1853), sinh ở Cái Mơn, Vĩnh Long.  

Thầy Phan Văn Minh theo Cố Taberd qua chủng viện Pénang (Mã Lai) rồi có sang Calcutta giúp Cố Taberd viết cuốn Tự Điển Việt La Tinh. Theo ông Dương Quảng Hàm, nhờ Thầy Phan Văn Minh sửa đổi nên chữ Quốc Ngữ mới viết như chúng ta viết bây giờ.  

Năm 1840, Thầy Phan Văn Minh về nước truyền đạo ở Nam Kỳ và được thụ phong Linh Mục.  Năm 1848, sau khi lên ngôi vua Tự Đức bắt đầu cấm đạo Thiên Chúa (Công Giáo) gắt gao và từ năm 1851, có ra lệnh chém đầu thả trôi sông những “Tây Dương đạo trưởng”.  Cha Phan Văn Minh chịu chung số phận và tử đạo vào năm 1853.  

Ngày 19-6-1988, Cha Phan Văn Minh cùng với 116 người Việt Nam khác được Giáo Hoàng Gioan Phao Lồ đệ nhị phong Thánh.  Tất cả là 117 Thánh Tử Đạo của Việt Nam.  

Ngày nay có nhà thờ Công giáo của giáo dân người Mỹ gốc Việt mang tên Cha (Philip Phan Văn Minh) ở Orlando, Florida.

 

Cha Phan Văn Minh làm thơ bằng chữ Quốc Ngữ và có lẽ là những bài thơ đầu tiên (bằng chữ Quốc Ngữ).

 

NƯỚC TRỜI

Đời trước Thiên cơ bất khả lậu

Đời nay Con Chúa đã ra đời

Nho gia không còn chi ẩn dấu

Thiên cơ là chính thật nước Trời.

(Linh mục Phan Văn Minh)

 

Cha Phan Văn Minh sáng lập Hội Thơ E Vang (E Vang = Évangile = Phúc Âm = Tin Mừng)

 

KHAI HỘI THƠ VỊNH E VANG

Gia cang đất nước có thân danh

Tô điểm E Vang tận gốc nhành

Cơ cấu nhân sinh theo đạo thánh 

Đốc hành thế sự với tân thanh

Con đường bác ái khi chung sống

Đức độ công bằng lúc đấu tranh

Chúa đã hoằng khai nguồn cứu rỗi

Trời cao không bỏ kẻ ngay lành.

(Linh mục Phan Văn Minh)

 

Cha Phan Văn Minhcó bài thơ về “Gia Tô Cơ Đốc” (Gia Tô=Jesus.  Cơ Đốc=Christ=Ki Tô) được tất cả 48 bài họa riêng 3 bài cuối làm sau khi Cha qua đời.

 

GIA TÔ CƠ ĐỐC 

(Xướng)

Gia Tô Cơ Đốc đấng con Trời

Đặc cách lâm phàm cứu khắp nơi

Chẳng lấy lợi danh mà tạo nghiệp

Không dùng vương bá để xây đời

Vâng lời thiên mệnh đành thân diệt

Gánh tội nhân gian chịu máu rơi

Dĩ nhược thắng cường mệnh chứng tỏ

Kiếp sau hiện hữu sống muôn thời.

(Cha Phan Văn Minh)

 

Trong 48 bài họa có 2 bài họa của ông Đồ Ốc ở Giồng Giăng, Ba Tri với 2 bài tự họa trả lời của Cha Phan Văn Minh là rất đặc biệt và thú vị:

 

(Họa 1)                                                       (Tự họa 1)

Thế gian vạn sự nói do Trời                        Cai trị thế gian luật của Trời

Nhưng tại làm sao khổ khắp nơi                 Có yên có khổ cũng tùy nơi

Cứu khổ đã nêu bên đạo Chúa                   Tranh danh: oán hận do người thế

Giải nguy chưa thấy phía người đời            Giành lợi: chiến tranh tại thói đời

Triều đình Nam Quốc xô không ngã           Thuốc bổ vào người sinh thuận nghịch

Đạo trưởng Tây Phương bám chẳng rơi      Đạo nguy nhập thế có xuôi rơi

Đã đẩy giáo nhơn vào thế khổ                     Xưa nay đạo khổ do tham vọng

Vậy ai phải chịu bất tri thời.                        Lịch sử chứng minh kẻ thức thời.

(Đồ Ốc)                                                        (Cha Phan Văn Minh)

 

(Họa 2)                                                         (Tự Họa 2)

Đạo khổ xưa nay vốn tại Trời                      Sống ở thế gian chẳng khỏi Trời 

Thất mùa ôn dịch khắp nơi nơi                    Khác nào loài cá khắp nơi nơi

Thủy tai chôn lấp bao nhiêu mạng               Sông sâu khoẻ xác tha hồ lặn

Địa chấn nát tan mấy cuộc đời                     Sông cạn phơi thây há trách đời

Khổ đó con người làm chẳng được              Cá có oán sông lên hoặc xuống

Nạn nầy tạo hóa trút đầy rơi                         Mình không biết nước lớn hay rơi

Thiên tai đại nạn Trời làm cả                        Dĩ nhiên phải chịu vì không biết

Nhân loại chỉ gây giặc nhứt thời.                 Thượng bất oán Thiên lẽ thức thời.

(Đồ Ốc)                                                        (Cha Phan Văn Minh)

 

Hậu thế cũng có bài họa:

 

GIÊ SU KI TÔ(Họa)

Vinh danh đẹp ý Chúa trên trời

Đem đến Tin Mừng khắp mọi nơi

Nếu giữ thiện tâm gìn bác ái

Được đầy ơn phước sống yên đời

Niềm tin nhân loại luôn kỳ vọng

Cứu thế Giê Su chẳng bỏ rơi

Sẽ đến Thiên Đàng nơi vĩnh cửu

Hết còn đau khổ lúc sinh thời.

(Phan Thượng Hải)

4/22/16

 

Bs PHAN THƯỢNG HẢI biên soạn

_______________________________

CHUỐI & CA DAO

            = Banana 

               = Musa acuminata and Musa balbisiana

 

Các loại Chuối:

            Nhóm Chuối Già (Chuối Tiêu)

                        Chuối Già Hương

                        Chuối Già Lùn

                        Chuối Già Cúi

                        Chuối Tiêu Hồng

                        Chuối Lùn

                        Chuối Táo Quạ

                        Chuối La Ba (từ tiếng Pháp La Banane): đặc sản của Đà Lạt

                        Chuối Sáp: không ăn chín được

            Nhóm Chuối Sứ (Chuối Tây)

                        Chuối Cau, Chuối Cau Lửa

                        Chuối Ngự

                        Chuối Xiêm

            Nhóm các loại Chuối khác:

                        Chuối Hột hay Chuối Chát

                        Chuối Bom hay Chuối Bơm

 

 Ca dao:

            Bao giờ cho chuối có cành

            Cho sung có nụ cho hành có hoa

            Bao giờ trạch đẻ ngọn đa

            Sáo đẻ dưới nước thời ta lấy mình

            Bao giờ cây cải làm đình

            Gỗ lim làm gối thời mình lấy ta.

                        

                        Này em ơi, bánh nhiều lắm sao gọi là bánh ít

                        Chuối non èo sao gọi là chuối già

                        Đối như anh vậy chắc là xứng đôi.

            

            Đầu giồng có trồng cây chuối

            Cuối giồng có trồng cây da

            Ngã ba có cây đại hồng

            Gái chưa chồng trong lòng hớn hở.

                        

                        Đầu giồng có trồng cây chuối

                        Cuối giồng có trồng cây da

                        Ngã ba có cây đại hồng

                        Gái chưa chồng trong lòng hớn hở

                        Trai chưa vợ ruột tợ trái chanh

                        Ngó lên mây trắng trời xanh

                        Thương ai cũng vậy thương anh cho rồi.

            

            Đầu làng có bụi chuối khô

            Ngó về xóm cũi có hai cô chưa chồng

            Gió lay đập gẫy nhành vông

            Ai về đường ấy, nhắn đây là chồng hai cô!

                        

                        Gió đưa bụi chuối sau hè

                        Anh mê vợ bé bỏ bè con thơ.

            

            Gió đưa bụi chuối sau hè

            Anh mê vợ bé bỏ bè con thơ

            Con thơ tay ẵm tay bồng

            Tay dắt mẹ chồng đầu đội thúng bông.

                        

                        Gió đưa bụi chuối sau hè

                        Bụi môn trước cửa ai dè em hư.

            

            Gió đưa bụi chuối te tàu

            Chàng nam thiếp bắc làm giàu ai ăn.

                        

                        Ngó lên cây chuối trổ hoa

                        Nghỉ thương mẹ già vất vả quanh năm.

            

            Trách ai trồng chuối dưới bàu

            Trái ăn lá rọc cho tàu xác xơ.

                        

                       Trông ra bụi chuối ở cuối bụi tre

                        Bậu nghe lời ai dụ đánh anh què một chân.

            

            Sá gì một nải chuối xanh

            Năm bảy người dành cho mủ dính tay.

 

 

Câu đố:

            Cong cong như cái lưỡi cày

            Cả trăm con sáu đậu ngày đậu đêm.

                        

           Bằng trang cườm tay, để ngay bàn Phật

Phan Thượng Hải biên soạn

                           Bản Vọng Cổ

                                              (Bs Phan Thượng Hải biên soạn) 

 

Bản Vọng Cổ, trước hết có tên là Dạ Cổ, do ông Cao Văn Lầu tục gọi là Sáu Lầu ở Bạc Liêu sáng chế hồi năm 1920 lúc ông 30 tuổi (3 năm sau khi Cải Lương ra đời vào năm 1917).

 

 

 

 

 

 

 

Ông cưới vợ được 10 năm nhưng không có con nên cha mẹ ông buộc phải cưới vợ khác vì sợ tuyệt tự.  Ông buồn rầu quá không muốn làm ăn gì nữa.  Ban ngày ra ngoài đồng, ông nghiền ngẫm những lời vợ ông nói trước khi chia tay, ông vẫn biết đờn cổ nhạc nên trong tâm trạng người chồng đau khổ trước cảnh gia đình tan rã, ông cảm hứng tạo ra bản nhạc 20 câu gọi là “Dạ Cổ Hoài Lang” (Đêm khuya nghe tiếng trống nhớ chồng) có ý để kỷ niệm tâm tình của vợ ông đối với ông.  Về sau bản nhạc ấy đổi tên là “Vọng Cổ Hoài Lang” (= Trông mối tình xưa mà nhớ đến chồng) cho rộng nghĩa hơn.

Tuy nhiên, sau khi ông Sáu Lầu sáng tác bản Vọng Cổ đầu tiên nầy thì Vợ của Ông thụ thai và sau đó Ông Bà ăn ở với nhau có tất cả 6 người con (và hình như ông Sáu Lầu không có vợ nào khác).  

Đây là lời bản "Dạ Cổ Hoài Lang" nguyên thủy của ông Sáu Lầu sáng tác hồi năm 1920 (có 20 câu):

 

            DẠ CỔ HOÀI LANG (Nhịp Đôi)

 

            1. Từ là từ phu tướng

            2. Bửu kiếm sắc phong lên đàng

            3.Vào ra luống trông tin chàng,

            4. Đêm năm canh mơ màng,

            5. Em luống trông tin nhàn,

            6. Ôi, gan vàng quặn đau.

            7. Đường dầu xa ong bướm,

            8. Xin đó đừng phụ nghĩa tào khang.

            9. Còn đêm luống trông tin bạn,

            10. Ngày mỏi mòn như đá vọng phu,

            11. Vọng phu vọng, luống trông tin chàng,

            12. Lòng xin chớ phụ phàng.

            13. Chàng hỡi, chàng có hay,

            14. Đêm thiếp nằm luống những sầu tây.

            15. Biết bao thuở đó đây xum vầy,

            16. Duyên sắt cầm đừng lợt phai.

            17. Thiếp cũng nguyện cho chàng,

            18. Nguyện cho chàng hai chữ bình an.

            19. Mau trở lại gia đàng,

            20. Cho én nhạn hiệp đôi. 

 

Bản Vọng Cổ nguyên thủy nầy ca giọng Bắc (đã biến thể), nhịp đôi và có 20 câu (mỗi câu có khoảng 6,7 chữ) được thông dụng từ 1920 cho đến 1926.  

Sau đó bản Vọng Cổ tăng nhịp, xuống 12 câu rồi 6 câu và thêm chữ (cho mỗi câu) cho đến khoảng đầu thập niên 1950s thì đã thành bản Vọng Cổ hiện tại (rất được ưa chuộng) ca giọng Nam (có pha hơi Oán), nhịp 32 hay 64 và có 6 câu (mỗi câu có số chữ lên đến 60,70 chữ).

Năm 1920: ông Sáu Lầu sáng chế bản Vọng Cổ nhịp đôi 20 câu.

Năm 1927: soạn giả kiêm nghệ sĩ Năm Châu (Nguyễn Thành Châu) đổi thành nhịp tư 12 câu. 

Năm 1936: nghệ sĩ Năm Nghĩa (Lư Hòa Nghĩa) đổi thành nhịp tám 6 câu.  Câu có nhiều chữ hơn nên ca chậm và ngân nga nhiều ở mấy chữ cuối câu.

Năm 1946: nghệ sĩ Út Trà Ôn (Nguyễn Thành Út) đổi thành nhịp 16,6 câu với lối ca nhịp nhàng hơn.

Năm 1955: soạn giả Viễn Châu (tức nhạc sĩ Bảy Bá) đổi thành nhịp 32 6 câu với số chữ trong câu tăng nhiều hơn.

 

Ông Bảy Bá là một thi sĩ kiêm nhạc sĩ nên những bài ca của ông soạn rất dễ ca và ý tứ dồi dào câu văn điêu luyện gọn gàng hấp dẫn.  Bài ca của ông xuất bản rất nhiều và giới mộ điệu thường tặng cho ông danh hiệu “Vua soạn Vọng Cổ”.

Năm 1965: soạn giả Viễn Châu lại đổi thêm ra nhịp 64 6 câu bắt đầu áp dụng cho những bài Vọng Cổ hài hước của ông (thường do Hề Văn Hường ca).  Tuy ca sĩ ca nhịp 64 nhưng đờn nhịp 128 vì mấy cái láy của bài ca người đờn ni bằng chơn trái nên nhịp chẻ bằng hai số nhịp của bài ca. Còn nhịp chánh ni bằng chơn mặt. 

 

Ngoài việc đổi thành nhịp 16, nghệ sĩ Út Trà Ôn còn lồng vào câu Vọng Cổ những điệu Hò hay điệu nói thơ Vân Tiên…Do đó ông được tặng danh hiệu “Đệ nhứt danh ca miền Nam”.  Đến năm 1964, soạn giả Cổ Nhạc cho lồng vào câu Vọng Cổ những điệu Tân Nhạc.  Năm 1965 có những bản Vọng Cổ mới gọi là “Tân Cổ Giao Duyên”.

 

Thường trong tuồng Cải Lương, khi một người ca dứt 1 câu Vọng Cổ, nhằm nhịp Song Lang chót rồi thì đờn nhồi 12 nhịp hoặc 8 nhịp mới bắt qua câu kế.  Trong khoảng đờn nhồi nầy vai tuồng không ca.  Vậy để tránh cho khỏi “nguôi” tuồng, soạn giả thường cho vai đối thoại nói lối thêm 1 câu ngắn gọi là “Nói lối giặm” đặng trám vào khoảng trống nầy, rồi người ca mới bắt qua câu Vọng Cổ kế.

 

Để giúp nghệ sĩ “vô” Vọng Cổ (trước câu 1 hay câu 4 hoặc 5), soạn giả thường áp dụng nhiều phương pháp khác nhau để “gối đầu” bản Vọng Cổ:

Dùng những bản ngắn cổ điển: Sơn Đông Hướng Mã, Cao Phi, Giang Tô, Thủ Phong Nguyệt, Hướng Mã Hồi Thành, Lý Con sáo, Lưu Thủy Hành Vân…

Dùng câu lối văn xuôi.

Dùng câu lối văn vần (dùng đủ thể thơ mới hay cũ).

Dùng bản Tân nhạc mới chế có đệm nhạc hay ngâm Tao Đàn.

Dùng bản Tân Nhạc có sẵn (Tân Cổ Giao Duyên).  Phương pháp nầy chỉ có cho dĩa hát chớ không thể dùng trong tuồng Cải Lương.     

 

Nốt nhạc dùng trong câu vọng cổ khác nhau giữa giọng Kép và giọng Đào và cũng tương đương với nốt tân nhạc:

Giây Kép: Hò  Xự Xang  Xê  Cóng

                La   Si    Ré     Mi   Fa

Giây Đào: Hò  Xự  Xang  Xê  Cóng

                Mi   Fa   La      Si   Do

Khi còn 20 câu, mỗi câu phải chấm dứt với 1 nốt nhứt định nhưng khi thêm chữ và xuống số câu (bây giờ là 6 câu) thì hình như không bắt buộc nữa.

 

Bản Vọng Cổ bắt đầu là điệu tâm tình buồn nhưng nó còn dùng trong những trường hợp khác cho đến cả hài hước như “Vọng Cổ hài hước” của Hề Văn Hường.  Cách ca Vọng Cổ cũng cải tiến vào thời VNCH ngoài cách thông thường và theo kiểu Út Trà Ôn còn có theo kiểu Minh Cảnh (Minh Phụng và Minh Vương) hay kiểu Thanh Sang…

 

Bs PHAN THƯỢNG HẢI biên soạn

___________________________

ĐẠO GIA VÀ ĐẠO GIÁO

Vô Vi là trọng điểm của Triết học của Lão tử.  Xin trích một đoạn trong bài "Triết Lý của Lão tử và Trang tử" (Bs Phan Thượng Hải) trong phanthuonghai.com mục Văn Hóa phần Giáo Lý.  Cũng có thể đọc nguyên bài từ link dưới đây:

http://phanthuonghai.com/Documents/van hoa/2 giao ly/triet ly cua lao tu va trang tu.pdf

 

Lão tử và Trang tử là hai triết gia chánh của Đạo Gia Trung Quốc vào cuối thời Xuân Thu và thời Chiến Quốc. 

            Triết lý của Lão tử có ghi trong Đạo Đức kinh mà theo truyền thuyết là tác phẩm của ông.  Do đó Đạo Đức kinh còn được các học giả cũ gọi là sách Lão tử.  

            Triết lý của Trang tử có ghi trong Nam Hoa kinh. Tương truyền Trang tử là tác giả của Nam Hoa kinh nên nó còn có tên là sách Trang tử.

 

* Đạo Gia

 

Đạo Gia là một phái triết học có từ thời Xuân Thu (771 tr CN - 476 tr CN) và thời Chiến Quốc (tiếp theo thời Xuân Thu cho tới khi Tần Thủy Hoàng đế thống nhất Trung Quốc vào năm 221 tr CN) với 3 triết gia tiêu biểu là Dương Chu, Lão tử và Trang tử.

 

Lịch sử và danh hiệu của Đạo Gia được ghi lần đầu tiên trong bài văn "Luận Lục Gia Yếu Chỉ" của Tư Mã Đàm (cha của Tư Mã Thiên), đăng trong Sử Ký của Tư Mã Thiên.  Trong đó, Tư Mã Đàm xếp các triết gia của thời Xuân Thu và Chiến Quốc thành 6 học phái lớn, gọi là Lục Gia (Gia = Phái). Theo Tư Mã Đàm, 1 trong Lục Gia là Đạo Đức Gia gồm có những môn đồ của học phái nầy đặt vào trung tâm học thuyết siêu hình và xã hội của họ ý niệm hư vô tức là "Đạo" và sự ngưng kết của Đạo trong mỗi cá nhân được coi là "Đức tính" tự nhiên của con người.  Phần "Đức" nầy nên hiểu là năng lực liên quan tới mọi vật cá biệt.  Phái nầy được Tư Mã Đàm gọi là Đạo Đức Gia, về sau chỉ gọi là Đạo Gia.  

 

Đạo Gia và Nho Gia là 2 học phái lớn nhất trong Lục Gia vào thời Xuân Thu và Chiến Quốc ở Trung Quốc. 

            Những triết gia trong Nho Gia vốn do ở các học giả. Từ ngữ "Nho" có nghĩa là người học giả có đủ trí thức.

            Những triết gia trong Đạo Gia vốn do ở các ẩn sĩ lánh xã hội. 

 

 

* Lão tử và Trang tử

 

Hai triết gia chánh của Đạo Gia là Lão tử và Trang tử và hai triết gia chánh của Nho Gia là Khổng tử và Mạnh tử (Tử = thầy).  

Lão tử là triết gia đầu tiên đưa ra khái niệm Đạo và Đức của Đạo Gia (Đạo Đức Gia) trong Đạo Đức kinh. Do đó có thể nói Lão tử là người sáng lập Đạo Gia cũng như Khổng tử là người sáng lập Nho Gia.  

Nho Gia cũng có khái niệm "Đạo Đức" nhưng khái niệm triết học "Đạo Đức" của Nho Gia hoàn toàn khác hẳn khái niệm triết học "Đạo Đức" của Đạo Gia.

 

Lịch sử không biết rõ nhiều về Lão tử.  "Lão tử" có nghĩa là "ông Thầy già".  Đây là những dữ kiện được biết nhưng không chắc chắn về Lão tử: 

            Ông sinh vào năm 571 tr CN và qua đời năm 471 tr CN.

            Ông họ Lý và tên là Nhĩ, tên tự là Bá Dương.

            Ông có tên thụy là Đam (có nghĩa là "bí ẩn").  Do đó có giả thuyết cho rằng ông là một quan Thái sử của một nước chư hầu tên là Đam và hậu thế gọi ông là Lão Đam.

Theo truyền thuyết, vì chán nản chính sự lúc bấy giờ nên Lão tử cỡi một con trâu đi về hướng Tây của Trung Quốc và "biến mất vào sa mạc".  Khi đi ngang qua cửa ải Hàm Cốc, một người lính gác cửa thuyết phục ông viết để lại những hiểu biết của mình trước khi đi vào sa mạc.  Lão tử xiêu lòng nên mới viết để lại Đạo Đức kinh, lưu truyền tới ngày nay. 

 

Trang tử tên thật là Trang Chu (369 tr CN - 286 tr CN).  Theo Sử ký của Tư Mã Thiên, ông tên là Trang Chu, người đất Mông, làm quan Lại ở Tất Viên (?), sau đó sống ẩn dật cho đến cuối đời.  Đất Mông thuộc nước Tống, một nước chư hầu nhỏ trong thời Chiến Quốc. 

Hậu thế truyền tụng nhiều truyền thuyết thú vị về Trang tử (cũng như tác phẩm của ông là Nam Hoa kinh) như là:

            Trang Chu mộng hồ điệp.

            Trang tử cổ bồn ca.

 

..................................

 

* Đạo Gia và Đạo Giáo

 

Tần Thủy Hoàng đế thống nhất Trung Quốc, gồm thâu 6 nước (thế kỷ thứ 3 tr CN), thời Chiến Quốc chấm dứt (năm 221 tr CN).  Nhà Hán (206 tr CN - 220) tiếp theo nhà Tần trị vì Trung Quốc trong hơn 4 thế kỷ.  Đến thời nhà Hán có một tôn giáo xuất hiện là Đạo Giáo:

            Vì nó có liên quan tới Đạo Gia của thời Xuân Thu và thời Chiến Quốc nên được có tên là Đạo Giáo.  

            Vì nó có tôn thờ Lão tử nên còn có tên là Lão giáo.

 

Hai ngành của Đạo Giáo:

            Ngành đầu tiên thường được gọi là Tiên Đạo.  Những người đi tu theo Tiên Đạo là những Chơn nhơn ẩn tu trong thiên nhiên rừng núi luyện đơn (luyện thuốc) mà thành Tiên, sống trường sinh bất tử và có phép lạ.  Ngành nầy được nói đến trong lịch sử là câu chuyện về Trương Lương, trọng thần của Hán Cao tổ (vị vua sáng lập nhà Hán), đi tu theo ông tiên là Hoàng Thạch Công.  Ngành nầy thường được biết với truyền thuyết Bát Tiên, đứng đầu là Lý Thiết Quày và Hớn Chung Ly (Chung Ly Quyền) thời nhà Hán. Bát Tiên gồm có Lý Thiết Quày, Hớn Chung Ly, Lữ Đồng Tân, Trương Quả Lão, Lam Thể Hòa, Hà Tiên cô, Hàn Tương Tử và Tào Quốc cựu.  Đường lối sống ẩn tu theo thiên nhiên rất hợp với triết lý Đạo Gia và những triết gia của Đạo Gia như Lão tử hay Trang tử cũng là những ẩn sĩ.  Dĩ nhiên ngành Đạo Giáo nầy không phổ thông trong xã hội và dễ trở thành thần thoại.

            Ngành thứ nhì là những người đi tu gọi là Đạo sĩ, thờ Lão tử, một triết gia của Đạo Gia (tôn là Thái Thượng Lão Quân) dùng phương thuật, tế lễ, bùa chú, kinh kệ, thờ cúng, trị bệnh...  Ngành thứ nhì có lẽ đã thành hình từ lâu nhưng chính thức xuất hiện trong lịch sử từ Trương Đạo Lăng (cháu 8 đời của Trương Lương) vào cuối thời nhà Hán.  Giáo pháp của ngành nầy đi ngược với triết lý của Đạo Gia.  Ngành thứ nhì nầy của Đạo Giáo rất phổ biến trong xã hội nhân gian Trung Quốc và lưu truyền sang các nước láng giềng như Việt Nam.  Nó rất gần với và dễ trở thành mê tín.  Những Đạo sĩ có khi là những Phù thủy.

 

Như vậy Đạo Gia và Đạo Giáo khác nhau.  Đạo Giáo là một tôn giáo có từ thời nhà Hán còn Đạo Gia là một học phái triết học trong thời Xuân Thu và Chiến Quốc.

 

* (Lịch sử)

 

Đạo Gia và Nho Gia là 2 học phái triết lý lớn nhất trong Lục Gia vào thời Xuân Thu và Chiến Quốc ở Trung Quốc.  Từ thời Hán Vũ đế vào đầu nhà Hán (thế kỷ thứ 2 tr CN) cho tới nhà Thanh (đầu thế kỷ 20), triết lý của Nho Gia (Nho Học, Nho Đạo, Nho Giáo) chiếm địa vị độc tôn trong chính trị và văn hóa của xã hội Trung Quốc nên Đạo Gia suy tàn từ đó, chỉ còn Đạo Giáo tồn tại. 

 

* Triết lý Đạo Gia theo Trang tử từ Lão tử

 

Theo Lão tử, Đạo là cái bởi đó mọi vật sinh ra.  Khi sinh ra, riêng mỗi vật đều nhận từ cái phổ biến một phần từ Đạo gọi là Đức.  Đức có nghĩa là "tiềm thế" hay "đức tính".  Đức của mỗi vật là cái mà tự nhiên đã phó cho riêng mỗi vật. 

Tóm lại, Đạo là cái bởi đó mọi vật sinh ra và Đức là cái bởi đó mọi vật trở thành vật.

Đạo Đức kinh viết:

            Mọi vật đều tôn Đạo và quý Đức.

 

Trang tử cũng có những tư tưởng về Đạo và Đức giống như Lão tử.

Nam Hoa kinh viết:

            Thoạt đầu tiên thì có vô.  Vô có vô danh.  Một do đó mà sinh, có một mà chưa có hình.  Vật được đó mà sinh gọi là Đức.

Theo Trang tử, Đức là cái bản tính và khả năng của mỗi vật.

 

Lão tử áp dụng Đạo Thường và Đức vào đường lối xử thế (Vô Vi).  Trang tử áp dụng Đạo và Đức vào đường lối đạt hạnh phúc.

 

* Đường lối theo Đức đạt Hạnh phúc tương đối (Relative Happiness)

 

Đức là cái làm cho ta trở thành ta; là bản tính và khả năng của ta.   Sống sung sướng khi cái Đức ấy, khi những khả năng tự nhiên của ta được xử dụng trọn vẹn và tự do, nghĩa là khi bản tính ta được phát triển trọn vẹn và tự do.  Đó là đường lối để đạt hạnh phúc tương đối của Trang tử.

Liên quan tới ý tưởng phát triển tự do nầy, Trang tử đưa ra sự tương phản giữa tự nhiên và nhân vi.  Ông gọi tự nhiên là theo trời và nhân vi là theo người.  Theo trời là nguồn gốc mọi điều hạnh phúc và tốt lành; theo người là nguồn gốc mọi đau khổ và tai họa.  

 

Mọi vật đầu khác nhau về khả năng tự nhiên cũng như bản tính cũng không giống nhau.  Tuy nhiên điều giống nhau là mỗi vật đều được hạnh phúc ngang nhau khi khả năng được sử dụng hay bản tính được phát triển trọn vẹn và tự do.

Thiên Tiêu Dao Du của Nam Hoa kinh kể chuyện con chim đại bàng và con chim tu hú.  Khả năng của 2 con chim đều hoàn toàn khác nhau.  Con chim đại bàng thì có thể bay xa hàng vạn dặm còn con chim tu hú chỉ có thể bay từ cây nầy sang cây khác.  Cả hai đều sung sướng ngang nhau vì có thể làm những việc mỗi con có thể làm và mỗi con đều yêu thích.

Không có sự nhất trí tuyệt đối trong bản tính của mọi vật, mà cũng chẳng cần gì có sự nhất trí như vậy.

Nam Hoa kinh viết:

            Bởi thế chân vịt tuy ngắn nhưng nối thêm thì vịt lo.  Chân hạc tuy dài nhưng chặt đi thì hạc buồn.  Cho nên tính dài không phải để chặc đi, tính ngắn không phải để nối thêm.

 

Theo Trang tử, sống và hoạt động theo Đức tức là bản tính được phát triển tự do và trọn vẹn với những khả năng tự nhiên được sử dụng tự do và trọn vẹn.  Tuy nhiên như vậy chỉ ta chỉ đạt được Hạnh phúc có giới hạn tức là tương đối.  Sự giới hạn hay ngăn trở là do sự vật bên ngoài (ngoại vật) hay nói rõ hơn là do diễn tiến tự nhiên của những sự vật bên ngoài.  Do đó sự vật chính nó có thể làm ta đau khổ; hay tình cảm của ta đối với nó là nguyên nhân chính làm ta đau khổ thật sự và nhiều hơn.

 

* Đường lối theo Đạo đạt Hạnh phúc tuyệt đối (Absolute Happiness)

 

.............

 

Thánh nhân có quan điểm hiểu biết siêu việt sáng suốt và không có hoặc quên đi quan điểm hiểu biết thiển cận phân biệt.  Thánh nhân vượt qua sự phân biệt mà hợp nhất với vạn vật.  khi đó thánh nhân sống sung sướng trong vạn vật.

 

Nam Hoa kinh viết:

            Trời đất là vạn vật hợp nhất.  Đạt tới cái Nhất thì làm một với trời đất, tay chân ta không hơn gì bùn đất; sống chết, đầu cuối, không khác gì sự nối tiếp của ngày đêm, đều không thể làm bận lòng.  Như vậy, hẳn không bận tâm vì được thua, may rủi.

Đạo gia gọi "đạt tới cái Nhất" nghĩa là hợp nhất với vạn vật.

Ở đây Trang tử cũng đã đạt tới giải đáp cuối cùng của vấn đề bản lai của Đạo Gia nguyên thủy như thế nào.  Vấn đề ấy là giữ mạng sống và tránh đau khổ hiểm nguy.  Nhưng đối với Thánh nhân, chính nó không còn là vấn đề nữa vì thánh nhân không phân biệt nữa.  Thánh nhân không còn phân biệt, xem sống cũng như chết, thua cũng như được.

 

Nam Hoa kinh viết:

            Phải mà không phải, vậy mà không vậy.  Phải nếu quả thật là phải, thì phải khác với không phải, chẳng có chi là phải bàn.  Vậy nếu quả thật là vậy, thì vậy khác với không vậy, cũng chẳng có chi phải bàn. Hãy quên sự phân biệt phải trái. Hãy vui trong cõi vô cùng và dừng tại đấy.

Cõi vô cùng là cảnh giới của người đạt Đạo, kinh nghiệm đời sống trong cõi vô cùng.  Người nầy quên tất cả những phân biệt về mọi vật, ngay những kinh nghiệm trong chính đời sống của chính người ấy.

Như vậy, Thánh nhân vượt qua sự phân biệt mà hợp nhất với vạn vật thì thánh nhân sống sung sướng trong vạn vật, có Hạnh phúc tuyệt đối.

Nên Nam Hoa kinh đã có viết:

            Nếu dựa vào cái chính của trời đất, cỡi trên sự biến hóa của lục khí, để rong chơi trong cõi vô cùng. 

Người nầy hoàn toàn tự tại nên có Hạnh phúc tuyệt đối.

 

Thánh nhân làm một với Đại Nhất nghĩa là làm một với vạn vật. Bởi vì vạn vật luôn luôn tồn tại nên Thánh nhân cũng không ngừng tồn tại.

Nam Hoa kinh viết:

            Giấu thuyền dưới vũng, dấu lưới trong hồ, có thể gọi là chắc vậy.  Nhưng nửa đêm, một người sức lực đến mang đi, người mê muội sẽ không biết tới.  Giấu vật lớn nhỏ đều có chỗ thích nghi, vẫn còn có thể mất.  Nhưng nếu giấu thiên hạ trong thiên hạ thì không thể mất, đó là tình lớn của mọi vật. Cho nên Thánh nhân dạo chơi trong cõi vật thì không thể mất mà cùng còn.

Do đó Thánh nhân cũng không bao giờ ngừng tồn tại hay nói đúng hơn Hạnh phúc tuyệt đối của thánh nhân tồn tại chắc chắn.

 

Tóm tắt:

Từ sự hiểu biết bản chất tự nhiên của sự vật, tâm thức của thánh nhân không có quan điểm thiển cận mà có quan điểm siêu việt sáng suốt (vượt qua sự thiển cận).

            Quan điểm thiển cận là phân biệt mọi sự vật vì không nhìn thấy sự tương đối của sự vật.

            Quan điểm sáng suốt siêu việt là đứng ngoài sự phân biệt mọi sự vật, nhìn thấy sự tương đồng và tương ứng mặc dù tương phản của mọi sự vật và cuối cùng không phân biệt mình với mọi sự vật (ngã và vô ngã). Quan điểm siêu việt còn được Đạo Gia gọi là Quan điểm của Đạo.  Từ đó thánh nhân sống hợp Nhất với vạn vật và như thế sống sung sướng tồn tại trong mọi sự vật, đạt được Hạnh phúc tuyệt đối.

 

......................

 

* Triết lý của Đạo Gia theo Trang tử và Thiền Tông

 

Triết lý của Trang tử không khác với triết lý của Thiền Tông.

- Trang tử của Đạo Gia dạy:

            Đức là bản tánh bẩm sinh khác nhau của mỗi người. Sống theo Đức tức là phát triển khả năng bẩm sinh của mình một cách trọn vẹn và tự do thì ta đạt Hạnh phúc tương đối.

            Mọi sự vật đều tương đối, nếu tâm ta không phân biệt sự vật thì ta hợp nhất với mọi sự vật và sống sung sướng trong mọi sự vật.  Khi đó ta đạt Hạnh phúc tuyệt đối.

 

- Thiền Tôngcủa Phật Giáo Đại Thừa dạy:

            Phật Tánh (Bản tâm) từ bi là bản tánh bẩm sinh giống nhau của mỗi người

            Mọi sự vật đều tương đối (vì đều vô ngã), nếu tâm ta không dính chặc (trụ) vào sự vật thì Phật Tánh trong ta sẽ lộ ra Từ bi, sống dung hòa với mọi sự vật.  Khi đó tâm ta an tịnh và thoát khỏi Phiền não.  

 

 

Bs PHAN THƯỢNG HẢI biên soạn và giữ bản quyền

 

 

Tài liệu tham khảo:

            1) Đại Cương Triết Học Sử Trung Quốc (Phùng Hữu Lan - Nguyễn Văn Dương dịch)

            2) Giáo Lý Giác Ngộ của Phật Giáo Đại Thừa Thiền Tông (Bs Phan Thượng Hải) - phanthuonghai.com

TL_Cao Van Lau.jpg

Phan Thượng Hải: THƠ THU _______

 

THU HỨNG

Cảnh vật mùa thu mở lối đường

Khơi nguồn nghệ thuật thú văn chương

Lạnh lùng thời tiết qua mưa nắng

Ảm đạm thiên nhiên đổi sắc hương

Cảm động tâm tư, lòng tiếc nhớ

Cảm hòa tình tứ, dạ sầu thương

Thi nhân say tỉnh hồn thơ mộng

Thu hứng nên vần thỏa vấn vương.

(Phan Thượng Hải)

9/20/21

 

BÁNH TRUNG THU

Mời nhau thưởng thức bánh Trung Thu

Hình thể tròn vuông vẫn đặc thù (*)

Đối ẩm chuyện trò vui lão cụ

Được ăn ca hát sướng thằng cu

Ấm lòng vọng nguyệt, trăng ngời sáng

Vững dạ rước đèn, nến tỏ lu

Thú vị ngọt ngào trong dịp lễ

Ngàn năm truyền thống đẹp mùa thu.

(Phan Thượng Hải)

9/20/21

_______________________________

BÀN VỀ THƠ MỚI

 

(Trích 2 Đoạn trong bài tựa đề "THƠ MỚI" mới đăng trong website phanthuonghai.com qua link: http://phanthuonghai.com/Documents/tho van/lam tho/tho moi.pdf)

(1) 

 

Danh từ "Thơ Mới" bắt đầu xuất hiện cùng lúc với phong trào "Thi Nhân Tiền Chiến". Vào đầu thập niên 1930s cho đến lúc bắt đằu cuộc chiến tranh 1945-1954 (thời kỳ Tiền Chiến), có xuất hiện nhiều thi nhân làm những Bài Thơ Mới và sáng tạo để áp dụng thêm những Thể Thơ Mới. Do đó đề tài Thơ Mới gồm có Bài Thơ Mới và Thể Thơ Mới.  Thơ Mới luôn dùng chữ Quốc ngữ. 

 

Một Bài Thơ trong lịch sử thi văn nước Việt có 3 loại:

            Bài Thơ Cổ Điển

            Bài Thơ Mới Có Vần

            Bài Thơ Mới Không Có Vần

 

* Bài Thơ Cổ Điển (Luôn Có Vần)

 

Thi nhân nước Việt sau khi dành độc lập nhất từ thời nhà Lý (thế kỷ thứ 10) đã có làm Thơ Cổ Điểnvới những Bài Thơ Cổ Điển dùng chữ Hán và chữ Nôm theo những Thể Thơ Cổ Điển.

            Đường Luật Bát Cú (Bát Cú = 8 câu)

            Đường Luật Tứ Tuyệt (Tứ Tuyệt = 4 câu)

            Cổ Phong Tràng Thiên

            Lục Bát Đoản Thiên hoặc Tràng Thiên

            Song Thất Lục Bát Đoản Thiên hoặc Tràng Thiên

(Bài Thơ Đoản Thiên có từ 8 câu trở xuống.  Bài Thơ Tràng Thiên có nhiều hơn 8 câu).

 

Một Bài Thơ Cổ Điển chỉ dùng một Thể Thơ Cổ Điển mà thôi.  Một Bài Thơ Cổ Điển Tràng Thiên thì luôn luôn liên tục.

Từ thế kỷ thứ 19, thi nhân của Thơ Cổ Điển dùng chữ Quốc ngữ.

 

* Bài Thơ Mới Có Vần

 

Thi nhân nước Việt dùng chữ Quốc ngữ (nhất là từ đầu thập niên 1930s) bắt đầu sáng tạo thêm những Thể Thơ Mới và làm những Bài Thơ Mới. 

 

Những Thể Thơ Mới được sắp loại tùy theo cách gieo Vần:

            Thể Thơ Mới Vần Liên Tiếp

            Thể Thơ Mới Vần Ôm

            Thể Thơ Mới Vần Gián Cách

            Thể Thơ Mới Vần Hỗn Tạp

Vần trong các Thể Thơ Mới có những đặc tính:

            Có nhiều Vần Trắc cũng như Vần Bằng

            Có nhiều Vần Lơi cũng như Vần Chánh  

            Có thể có Lạc Vận

 

Một Bài Thơ Mới Có Vần Tràng Thiên có thể:

            gồm những câu liên tục 

            gồm những đoạn tứ cú (4 câu)

 

Một Bài Thơ Mới Có Vần có thể:

            chỉ áp dụng một Thể Thơ Mới hay Thể Thơ Cổ Điển cho toàn bài thơ.

            áp dụng nhiều Thể Thơ Mới hoặc Thể Thơ Cổ Điển cho bài thơ (mỗi Đoạn của Bài Thơ có Thể Thơ khác nhau).

 

Câu thơ của Bài Thơ Mới Có Vần có theo Luật Bằng Trắc gọi là Luật Đổi Thanh.  Các thi sĩ giỏi của Thơ Mới đều dùng Luật Đổi Thanh mặc dù luật nầy không bắt buộc cho thi nhân phải dùng như luật Bằng Trắc của những Thể Thơ Cổ Điển và Bài Thơ Cổ Điển.

 

* Bài Thơ Mới Không Vần

 

Thi nhân nước Việt từ thời kháng Pháp (1945-1954) có làm những Bài Thơ Mới Không Vần và không theo một Thể Thơ nào hết và thường là Tràng Thiên liên tục.  Toàn bài thơ gồm những câu văn xuôi sắp thành hình thức xuống hàng như một bài thơ.  Thí dụ: bài thơ Lá Diêu Bông của Hoàng Cầm.  Trong những trường hợp ngoại lệ nầy thì Bài Thơ Không Vần không theo một luật lệ nào hết!

Theo Việt Nam Văn Học Sử Yếu của Dương Quảng Hàm, bài thơ phải có vần thì mới đúng nghĩa của nó. "Thơ là văn vần", nếu không có vần thì là văn xuôi.  Tuy nhiên ngày nay thi nhân vẫn làm Bài Thơ Không Vần, và dĩ nhiên không theo Luật Đổi Thanh.

 

(2)

 

Bài Thơ Mới dùng Thể Thơ Đường Luật

 

Nếu Bài Thơ Mới dùng chỉ dùng Thể Đường Luật Tứ Tuyệt (4 câu) hay Đường Luật Bát Cú (8 câu) thì Bài Thơ Mới sẽ có thêm nhiều Đoạn để có nhiều hơn 8 câu.

Vì âm thanh của Thể Thơ Đường Luật rất hay và muốn tránh Đối trong Đường Luật Bát Cú nên thi sĩ thường làm Bài Thơ Mới Tràng Thiên với nhiều Đoạn 4 câu theo Thể Đường Luật Tứ Tuyệt.

 

Đây là những bài thơ nổi tiếng gồm nhiều Đoạn theo Thể Đường Luật Thất Ngôn Tứ Tuyệt

 

TRÚT LINH HỒN

 

Máu đã khô rồi thơ cũng khô

Tình ta chết yểu tự bao giờ

Từ nay trong gió, trong mây gió

Lời thảm thương rền khắp nẻo mơ

 

Ta còn trìu mến biết bao người

Vẻ đẹp xa hoa của một trời

Đầy lệ đầy thương đầy tuyệt vọng

Ôi! Giờ hấp hối sắp chia phôi!

 

Ta trút linh hồn giữa lúc đây

Gió sầu vô hạn nuối trong cây

- Còn em sao chẳng hay gì cả?  

Xin để tang anh đến vạn ngày.

 

(Hàn Mặc Tử)

 

 

TRÀNG GIANG 

 

Gợn sóng tràng giang buồn điệp điệp

Con thuyền xuôi mái nước song song

Thuyền về nước lại sầu trăm ngả

Củi một cành khô lạc mấy giòng

 

Lơ thơ cồn cỏ gió đìu hiu

Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều

Nắng xuống trời lên sầu chót vót

Sông dài trời rộng bến cô liêu

 

Bèo dạt về đâu hàng nối hàng

Mênh mông không một chuyến đò ngang

Không cầu gợi chút niềm thân mật

Lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng

 

Lớp lớp mây cao đùn núi bạc

Chim nghiêng cánh nhỏ bóng chiều sa

Lòng quê rờn rợn vời con nước

Không khói hoàng hôn cũng nhớ  nhà.

 

(Huy Cận)

 

 

MỘT CHÚT TÌNH

 

Chửa biết tên nàng, biết tuổi nàng

Mà sầu trong dạ đã mang mang

Tình yêu như bóng trăng hiu quạnh

Lạnh lẽo đêm trường dãi gió sương

 

Ta chỉ xin em một chút tình

Cho lòng thắm lại với ngày xanh

Sao em quên cả khi chào đón

Tình ái chiều xuân đứng trước mành

 

Rộn rã cười vang một góc lầu

Ngây thơ em đã biết gì đâu !

Đêm khuya trăng đọng trong cây lá

Vò võ ta xe mấy đoạn sầu

 

Lác đác ngày xuân rụng trước thềm

Lạnh lùng ta dõi bước chân em

Âm thầm ấm mối xa xa vọng

Đường thế đâu tìm bóng áo xiêm

 

Đợi đến luân hồi sẽ gặp nhau

Cùng em nhắc lại chuyện xưa sau

Chờ anh dưới gốc sim già nhé !

Em hái đưa anh đóa mộng đầu.

 

(Lưu Trọng Lư)

 

 

TỰ TÌNH DƯỚI HOA

 

Chưa gặp em, tôi vẫn nghĩ rằng

Có nàng thiếu nữ đẹp như trăng

Mắt xanh là bóng dừa hoang dại

Thăm thẳm nhìn tôi, không nói năng

 

Bài thơ hạnh ngộ đã trao tay

Ôi mộng nào hơn giấc mộng này?

Mùi phấn em thơm mùi hạ cũ

Nửa như hoài vọng, nửa như say

 

Em đến như mây, chẳng đợi kỳ

Hương ngàn gió núi đọng hàng mi

Tâm tư khép mở đôi tà áo

Hò hẹn lâu rồi…Em nói đi

 

Em muốn đôi ta mộng chốn nào?

Ước nguyền đã có gác trăng sao

Truyện tâm tình: dưới hoa thiên lý

Còn lối bâng khuâng: ngõ trúc đào

 

Em chẳng tìm đâu có sẵn thơ

Nắng trong hoa, với gió bên hồ

Dành riêng em đấy. Khi tình tự

Ta sẽ đi về những cảnh xưa

 

Rồi buổi u sầu, em với tôi

Nhìn nhau cũng đủ lãng quên đời

Vai kề một mái thơ phong nguyệt

Hạnh phúc xa xa miệng mỉm cười.

 

(Đinh Hùng)

 

 

HAI SẮC HOA TI GÔN

 

Một mủa thu trước mỗi hoàng hôn

Nhặt cánh hoa rơi chẳng thấy buồn

Nhuộm ánh nắng tà qua mái tóc

Tôi chờ người đến với yêu đương

 

Người ấy thường hay vuốt tóc tôi

Thở dài trong lúc thấy tôi vui

Bảo rằng: “Hoa, dáng như tim vỡ,

Anh sợ tình ta cũng vỡ thôi!”

 

Thuở đó, nào tôi đã hiểu gì

Cành hoa tan tác của sinh ly

Cho nên cười đáp: “Màu hoa trắng,

Là chút lòng trong chẳng biến suy”

 

Đâu biết lần đi một lỡ làng

Dưới trần gian khổ chết yêu đương

Người xa xăm quá! Tôi buồn lắm

Trong một ngày vui pháo nhuộm đường…

 

Từ đấy thu rồi thu lại thu

Lòng tôi còn giá đến bao giờ?

Chồng tôi vẫn biết tôi thương nhớ…

Người ấy, cho nên vẫn hững hờ

 

Tôi vẫn đi bên cạnh cuộc đời

Ái ân lạt lẻo của chồng tôi

Mà từng thu chết, từng thu chết

Vẫn dấu trong tim một bóng người

 

Tôi nhớ lời người trước bảo tôi

Một mùa thu trước rất xa xôi

Đến nay tôi hiểu thì tôi đã

Làm lỡ tình duyên cũ mất rồi

 

Tôi sợ chiều thu phớt nắng mờ

Chiều thu hoa đỏ rụng. Chiều thu

Gió về lạnh lẽo chân mây vắng

Người ấy ngang sông đứng ngóng đò

 

Nếu biết rằng tôi đã lấy chồng

Trời ơi!  Người ấy có buồn không?

Có thầm nghĩ tới loài hoa…vỡ

Tựa trái tim phai, tựa má hồng?

 

(TTKH) 1945

 

 

KHUYÊN AI KÉN VỢ

 

Lấy vợ khuyên ai kén vợ hiền

Kén người đức hạnh, bậc chân chuyên

Tốt duyên gặp được người như nguyện

Giá nọ nhà vàng đúc cũng nên

 

Lấy vợ khuyên ai kén vợ xoàng

Cần chi giàu có với quan sang

Quí hồ nội trợ tề gia giỏi

Cái cảnh gia đình mới vẻ vang

 

Lấy vợ khuyên ai cốt chữ tình

Xin dừng vụ lợi với ham danh

Mấy người tiểu kỷ vì danh lợi

Khó trọn cùng nhau nghĩa tử sinh

 

Lấy vợ không nên kén vợ giàu

E rằng ỷ của lại khinh nhau

Hổ thay ! Cái tiếng nhờ lưng vợ !

Tiếng ấy anh hùng há chịu đâu !

 

Lấy vợ không nên lấy ả đầu

Hoa tàn, nhị rữa, tiết còn đâu

Chỉ quen nghề nghiệp nhà son phấn

Chẳng trách phương ngôn đã có câu (*)

 

Lấy vợ không nên lấy vợ nhiều

Một bà thôi cũng đủ thương yêu

Ai về nhắn nhủ phường tham thịt

Cả lẻ làm chi, tổ ỷ eo…!

 

(Tú Mỡ)

 

(*) Chú thích: Phương ngôn rằng: “Lấy quan, quan cách, lấy khách, khách về Tàu, lấy nhà giàu, nhà giàu hết của”.

 

CÒN GẶP NHAU

 

Còn gặp nhau thì hãy cứ vui

Chuyện đời như nước chảy hoa trôi

Lợi danh như bóng mây chìm nổi

Chỉ có tình thương để lại đời

 

Còn gặp nhau thì hãy cứ thương

Tình người muôn thuở vẫn còn vương

Chắt chiu một chút tình thương ấy

Gửi khắp muôn phương vạn nẻo đường

 

Còn gặp nhau thì hãy cứ chơi

Bao nhiêu thú vị ở trên đời

Vui chơi trong ý tình cao nhã

Cuộc sống càng thêm nét tuyệt vời

 

Còn gặp nhau thì hãy cứ cười

Cho tình thêm thắm ý thêm tươi

Cho hương thêm ngát đời thêm vị

Cho đẹp lòng tất (?) cả mọi người

 

Còn gặp nhau thì hãy cứ chào

Giữa miền đất rộng với trời cao

Vui câu nhân nghĩa tròn sau trước

Lấy chữ nhân tình gửi tặng nhau

 

Còn gặp nhau thì hãy cứ say

Say tình say nghĩa bấy lâu nay

Say thơ say nhạc say bè bạn

Quên cả không gian lẫn tháng ngày

 

Còn gặp nhau thỉ hãy cứ đi

Đi tìm chân lý lẽ huyền vi

An nhiên tự tại lòng thanh thản

Đời sống tâm linh thật diệu kí !

 

(Tôn Nử Hỷ Khương)

BS PHAN THƯỢNG HẢI biên soạn

GIÀ HAY QUÊN

Tuổi già bớt nhớ lại hay quên

Ráng nhớ điều hay, ráng bớt quên

Cổ tích cố nhân nhiều lúc nhớ

Kịp thời đúng chỗ lắm lần quên

Biết nên hỉ xả tâm hằng nhớ

Biết phải từ bi tánh khó quên

Nhớ chuyện tốt lành quên chuyện xấu

Đến khi hết nhớ, hết còn quên!

(Phan Thượng Hải)

9/13/20

Nhân có Buổi Hội Thảo và Triển Lãm về Phan Thanh Giản tại Houston ngày 15/8/2021, xin mời vào website phanthuonghai.com để đọc:

Giai đoạn lịch sử trong thời gian Pháp chiếm Nam Kỳ

và có liên quan tới ông Phan Thanh Giản: 

http://phanthuonghai.com/Documents/tho%20va%20su/8%20phap%20thuoc%20the%20ky%2019/phan%20thanh%20gian%20va%20nam%20ky%201859-1867.pdf

VỀ 2 ÔNG TRẦN HUY LIỆU và TRẦN VĂN GIÀU

Bài của Ls Phan Đào Nguyên minh bạch cho ông Phan Thanh Giản có liên quan chính tới sử gia Trần Huy Liệu.  Trần Huy Liệu và Trần Văn Giàu là số 1 và số 2.  Tui xin gởi vài đoạn đã viết về việc làm của 2 người trong lịch sử chính trị trước khi họ phải thành sử gia (trong những bài "Thơ và Việt Sử" đăng trong phanthuonghai.com).

Xin mời đọc chơi cho vui.

Thân mến

Hải

 

TRẦN HUY LIỆU VÀ TRẦN VĂN GIÀU

 

Trần Huy Liệu và Trần Văn Giàu là 2 sử gia cầm đầu ở Miền Bắc và sau nầy CHXHCNVN (sau 1975)..

Hai người đã hoạt động chính trị trước đó nhưng chuyển sang thành Sử Gia của chính phủ, cầm đầu Viện Sử Học của nhà nước cho đến khi qua đời.

Đây là sơ lược những hoạt động chính trị của 2 người trước khi thành sử gia lãnh đạo của nhà nước.

 

 

TRẦN HUY LIỆU

 

(Trích từ Bài: Thơ và Việt Sử - Thời kỳ Độc Lập.  Đoạn "Nguyễn Hải Thần và Hồ Chí Minh")

 

Dưới tên Hồ Chí Minh và Việt Minh, Hồ Chí Minh đã lập Chính phủ và Quân đội chuẩn bị vì Nhật sắp thua Đệ Nhị thế chiến.

Việt Nam Tuyên Truyền Giải Phóng Quân của Võ Nguyên Giáp (1944) hợp với Cứu Quốc Quân của Chu Văn Tấn (1940) thành Việt Nam Giải Phóng Quân (15-5-45) với 3 Chỉ huy là Võ Nguyên Giáp, Chu Văn Tấn và Trần Đăng Ninh.  

            Trần Đăng Ninh (1910-1955) làm Hậu Cần trong Kháng chiến. 

            Chu Văn Tấn (1909-1984) vào Đông Dương Cộng Sản Đảng (1935) hoạt động ở vùng Lạng Sơn với Hoàng Văn Thụ.  Lập Đội Du Kích Bắc Sơn rồi đổi thành Cứu Quốc Quân (1941), từng hộ vệ đại hội lập Việt Minh.  

Hội ở Tân Trào gồm Việt Minh / Đảng Cộng Sản Đông Dương (CS) và Đảng Dân Chủ (DC) lập Ủy Ban Dân Tộc Giải Phóng có 5 ủy viên thường trực: Hồ Chí Minh (CS), Trần Huy Liệu (CS), Nguyễn Lương Bằng (CS), Phạm Văn Đồng (CS) và Dương Đức Hiền (DC) với Hồ Chí Minh làm Chủ Tịch và Trần Huy Liệu làm Phó Chủ Tịch.

            Trần Huy Liệu (1901-1969) vào VN Quốc Dân Đảng (năm 1928) thì bị bắt tù Côn Đảo (1928-1935).  Khi thả về, Trần Huy Liệu gia nhập Đông Dương Cộng Sản Đảng vào năm 1936 rồi lại bị tù Sơn La (1939-1945).

            Nguyễn Lư