hmpg.jpg
TL_blinkingsquareblock.gif
Titlej (1).jpg

BIÊN KHẢO - THƠ - VĂN

Phan Thượng Hải

California_________________________

BBT: BS Phan Thượng Hải (CHS PTG 61-64) cùng với người em là LS Winston Phan Đào Nguyên là con của 1 công chức cao cấp của tòa án Cần Thơ, cũng là nhà thơ nổi tiếng của đất Cần Thơ thập niên 40, 50: Thi Sĩ LÃNG BA Phan Văn Bộ

_____________________________________________________________________________

PTH_Que the.JPG

MÊ TÍN TRONG XÃ HỘI VIỆT NAM

 

Bs Phan Thượng Hải

Tín ngưỡng của người Việt trong Phật Giáo và Đạo Giáo (Lão Giáo) đã có từ hơn ngàn năm. Từ

Đạo Giáo, người Việt có mê tín dưới những hình thức như Ngồi Đồng, Gọi Hồn, Thanh Đồng,

Thầy Pháp (Phù Thủy) và Xin Thẻ (hay Xin Xăm).

Hồn của Người chết - Tiên

Một Người (đang sống) gồm có Hồn và Xác.

Hồn = yếu tố tinh thần vô hình được coi là đối lập với Xác (thì hữu hình).

Hồn là từ ngữ gọi chung của Hồn Phách hay Hồn Vía. Hồn hay Hồn Phách (Hồn Vía) là vô

hình.

Hồn Phách (= Hồn Vía) = 2 mặt âm dương không tách rời nhau của tinh thần con người ta nói

chung.

 Hồn tác động ở phương diện tâm thần, có tính động và thuộc Dương.

 Phách (= Vía) ở phương diện thể chất, có tính tĩnh và thuộc Âm.

Hồn thuộc cõi Âm nên còn gọi là Âm Hồn. Người thuộc cõi Dương, như Dương gian, Dương

trần...

Theo Lão Giáo, khi Người chết thì Hồn lìa khỏi Xác: Xác người chết sẽ hũy hoại còn Hồn người

chết có thể xuống Địa ngục hay còn trên cõi trần gian hoặc được Ngọc Hoàng Thượng Đế phong

làm Thần, còn gọi là Thần linh. Thần (hay Thần linh) có quyền lực siêu nhiên để giúp cho người

sống.

Thánh là Thần hay Thần linh có tiếng trong nhân gian được người sống thờ ở đền chùa. Thí dụ

như Thánh Trần (Trần Hưng Đạo).

Tiên là Người tu theo Đạo Lão (Lão Giáo) và thành đạo tức là thành Tiên. Tiên sống trường thọ

mãi mãi có Hồn và Xác vì không chết. Tiên có phép mầu nhiệm.

Sau khi người (đã) chết chỉ còn Hồn là vô hình. Tuy nhiên lại có Ma. Ma là gì? Theo định

nghĩa của Đại Từ điển Việt Nam, Ma là hiện hình của người chết. Như vậy Ma phải được thấy

từ người khác còn sống?

Thiển nghĩ sau khi Người chết thì Xác bị hũy diệt, Hồn có thể:

 thành Thần hay Thần Linh làm việc tốt cho nhân loại. Thánh là Thần được người sống

tôn thờ riêng biệt. Thần linh hay Thánh là Hồn của người tốt khi còn sống và khi chết tiếp tục

làm việc tốt. Thí dụ như Trần Hưng Đạo, Quan Công...

 thành Ma hay Tà Ma, phá hại nhân loại. Ma là Hồn của người xấu khi còn sống và khi

chết tiếp tục làm việc xấu. Thí dụ như Phạm Nhan.

 thành Hồn người chết thông thường, không tốt và không xấu.

Đồng và Bóng - Cô Hồn

Theo Đại Từ Điển Việt Nam:

 Đồng = Người được Thần linh hay Hồn người chết nhập vào (Xác) - và có khả năng nói

ra được những điều bí ẩn. Người nầy được gọi là Người ngồi Đồng hay Người lên Đồng.

 Bóng = Hồn người chết hiện về nhập vào (Xác) Người (nào đó). Người nầy được gọi là

Người ngồi hầu Bóng hay Bóng cô (hay Bà bóng).

 Đồng Bóng = Người được Thần linh hay Hồn người chết nhập vào trong lễ cầu xin.

 Đồng Cốt = Người làm Nghề Đồng Bóng = Cốt, Bà Cốt (vì Đồng Cốt thường là đàn bà).

Tuy nhiên, Đồng được Bóng nhập vào Xác thì lúc đó Xác có khi gọi là Cốt.

Theo Toan Ánh thì có sự phân biệt: Đồng có nhiều loại và có nhiều từ ngữ khác nhau:

 Người được Thánh (Thần linh) nhập vào gọi là Đồng Cốt (ông Đồng bà Bóng). Sự kiện

đó gọi là Ngồi Đồng hay Lên Đồng, hay đội Bóng Thánh. Đồng cốt thường là người có Căn Thờ

và Căn Đồng. Có khi Đồng Cốt còn được Tiên nhập vào và sự kiện nầy gọi là Phụ Tiên.

 Người được Hồn người chết nhập vào gọi là Cô Hồn (xác Cô hay xác Cậu). Sự kiện nầy

gọi là Gọi Hồn. Tùy theo người chết là đồng nam hay đồng nữ thì Cô Hồn được gọi phân biệt là

Xác cậu hay Xác cô. Có khi Cô Hồn được Hồn người sống khác nhập vào.

 Người được Tà Ma nhập vào gọi là Đồng. Sự kiện nầy còn gọi là ốp Đồng.

Cũng theo Toan Ánh,

 Bóng = Thần linh hay Thánh hoặc Tiên hoặc Tà Ma nhập vào Người trần (và người trần

gọi là Đồng).

Bài viết nầy căn cứ theo giải thích của Toan Ánh.

Căn Thờ và Căn Đồng

Người có Căn Đồng hoặc Căn Đồng = Người có căn cơ để dễ được Thần linh hay Hồn người

chết nhập vào (Xác).

Người có Căn Thờ là Người có số phải thờ 1 hay nhiều vị Thánh Thần của Đạo Lão thì mới được

bình yên và tránh khỏi tai họa được. Có những vị Thần được thờ nầy trước đây không phải là

của Đạo Giáo nhưng các lưu phái tại Việt Nam đã tôn thờ các vị nầy và coi các vị là Thần linh

của Đạo Giáo: Hưng Đạo vương, Tản Viên, Liễu Hạnh Công chúa...

Người có Căn Thờ chỉ phải thờ đức Hưng Đạo vương được gọi là Thanh Đồng.

Người có Căn Thờ dễ trở thành Người có Căn Đồng và được Thần Thánh mình thờ nhập vào.

Đồng được Thánh nhập thường bắt đầu là Người có Căn Thờ (thờ Thánh Thần) và có Căn Đồng.

Họ có Điện thờ Thánh Thần riêng mà mình có số phải thờ ở nhà, hoặc thờ theo Đồng Cốt khác

hoặc tại một cửa miếu thờ chư vị.

Tùy theo Thánh Thần mà Họ có tên:

 Đồng Đức Mẹ khi thờ các Công chúa như Liễu Hạnh Công chúa, Thượng Ngàn Công

chúa...

 Đồng Đức Ông khi thờ các Hoàng tử. Các Hoàng tử hoặc là con vua hay những vị linh

thiêng được tôn lên.

 Đồng Cậu khi thờ các cậu.

Đồng Cô khi thờ các cô. Các cậu các cô là những người chết trẻ gặp giờ linh được tôn
thờ.


Những Người có Căn Thờ (và Căn Đồng) mà không có Điện thờ riêng tại nhà được Toan Ánh tả
như sau:
Thường Đồng cốt phần lớn là đàn bà. Những bà những cô hay đau yếu hoặc đôi khi mặt
đỏ rần rần, nằm mơ thấy bay trên không, thấy lội dưới nước, đi xem bói, đi lễ bái được thầy bói
hoặc các ông đồng bà cốt bảo là số thờ, thánh bắt đồng.


Người có số thờ nầy đem vàng hương tới một cửa Điện xin làm con công đệ tử và phải
đội bát phù hương, nghĩa là những bình hương nhỏ để ở bàn thờ chư vị tại điện; những ngày tuần
tiết người có số thờ đến lễ rồi đội những bình hương đó lên đầu. Bình hương đặt trên một chiếc
mâm nhỏ có thắp hương. Có người phải đội một bát phù hương, có người căn đồng nặng phải
đội 2, 3 bát hoặc nhiều hơn.


Có người chỉ phải đội bát phù hương. Có người bị (chư Thánh Thần) bắt đồng thì phải
đội bóng Thánh (tức là phải làm). Nếu vì lý do còn trẻ tuổi có thể làm lễ xin khất đồng được.
Sau nầy có những người ở trong Miền Nam cũng hành đạo như người có Căn Thờ và Căn Đồng
nhưng thường được gọi là Mẫu.


Ngồi Đồng (= Lên Đồng)


Đồng còn được gọi là Đồng Cốt hay ông Đồng bà Bóng.
(Đồng - Đồng cốt)
Lễ Ngồi Đồng (hay Lên Đồng) thường xảy ra tại Điện của Thánh vào những ngày rằm, mùng
một, tuần tiết, hoặc khi có người nào đau yếu đến Điện kêu cứu. 
Người có Căn Đồng là chủ điện hay hoặc người có Căn Đồng khác vào ngồi đồng. Người ngồi
đồng hay lên đồng (= Đồng) đều có khăn trầu áo ngự, tức là loại khăn áo ngũ sắc dành riêng cho
ngồi đồng.
Tại điện có sẵn cung văn, tức là đàn ca hầu bóng từ những đàn bà (gọi là chầu văn). Người có
căn đồng vào ngồi đồng mặc áo xanh đỏ đội khăn các mùi múa may nhảy nhót ở trong điện. Lúc
đó là lúc Thánh nhập vào Đồng (còn gọi là Thánh ốp vào Đồng). Tức là Đồng hành động như
Thánh rồi.


Con công đệ tử chung quanh kêu xin để "Thánh" chữa bệnh cho người đau. "Thánh" bèn ban
truyền bằng giọng nũng nịu, ỏn ẻn, có khi giọng hờn dỗi để được nịnh bợ tâng bốc. "Thánh"
phán sao, gia chủ của người bệnh phải tuân theo. Có khi "Thánh" cho uống tàn hương nước thải;
có khi cho nước quết trầu để mang về xoa cho người bệnh; có khi cho bùa đeo.
"Thánh" cũng ban lộc cho bọn cung văn, những người hầu dâng tức là những người phụ tá để
đưa quần áo cho đồng hoặc những người đứng chung quanh lễ bái. Lộc có thể là tiền hoặc là
bánh kẹođã được mua trước cúng tại điện, có thể là trầu cau hay thuốc lá. Tiền thường dùng là
giấy bạc kết thành con bướm dùng để ban lộc.


Thi sĩ Trần Tế Xương có 2 bài thơ:
LÊN ĐỒNG
Khen ai khéo vẽ sự lên đồng
Một lúc lên ngay sáu bảy ông
Sát quỉ, ông dùng thanh kiếm gỗ
Ra oai, bà giắt cái khăn hồng
Cô giương tay ấn tan tành núi
Cậu chỉ ngọn cờ cạn rốc sông
Đồng giỏi sao Đồng không giúp nước?
Hay là Đồng sợ súng thần công?
(Tú Xương)


SƯ ÔNG VÀ MẤY Ả LÊN ĐỒNG
Chẳng khốn gì hơn cái nợ chồng
Thà rằng bạn quách với sư xong!
Một thằng trọc tuếch ngồi khua mõ
Hai ả tròn xoe đứng múa bông
Thấp thoáng bên đèn lên bóng cậu
Thướt tha dưới án nguýt sư ông
Chị em thủ thỉ đêm thanh vắng
Chẳng sướng gì hơn lúc thượng đồng!
(Tú Xương)


Tục ngữ có câu:
Miệng bà đồng, như lồng chim khứu.
(Đồng là đồng cốt. Chim khứu = Khứu = chim cỡ như chim sáo, lông đen đuôi dài, hay hót) 
Gọi Hồn (= Cầu Hồn)
Đồng ở đây không phải là người có Căn Thờ, chỉ là Người thường, gọi là Người trần.
Người trần nầy (thường là đàn bà) để cho Hồn (hay Âm hồn) của người chết nhập vào, được gọi
là Cô Hồn, thường không gọi là Đồng Cốt. Tùy theo Hồn của đồng nam hay đồng nữ chết mà
phân chia ra Xác cậu và Xác cô.
(Ngày nay, từ ngữ "Cô Hồn" được dùng cho một nghĩa khác. Theo Việt Nam Đại Từ Điển, Cô
Hồn là hồn người chết bơ vơ không được ai thờ cúng).
(Cô Hồn)


Theo Toan Ánh và Phan Kế Bính, Cô Hồn như là một nghề kiếm ăn. Những nhà có người chết,
thương xót nhớ tưởng muốn tìm cách gọi hồn (hay cầu hồn) người thân để hỏi han về cuộc sống
ở cõi âm hay để hỏi han những bí mật mà người chết biết khi còn sống, thì thường hay mời Cô
Hồn tới để gọi hồn về nhập. Muốn gọi hồn người chết về phải cần đặt quẻ, và quẻ phải do người
có vía lành đặt.
Như vậy Cô Hồn phải gọi Hồn người chết ở cõi âm về rồi mới nhập vô mình được; khác với
Đồng Cốt là Đồng Cốt có sẵn Thánh ở tại điện thờ.
Người lành vía được kén đặt quẻ, đưa một cơi trầu và mấy đồng tiên; xưa là 100 đồng tiền kẽm.
Món tiền này chính là món tiền thù lao cho Cô Hồn, ngày nay có thể là năm ba chục hay hơn nữa
tùy theo Cô hồn. Cô hồn thắp hương đặt lên cơi trầu đoạn bưng cơi trầu trong có đặt tiền quẻ,
nâng ngang trán khấn hứa ông Chiêu bà Dì để hai vị linh thần nầy xuống âm phủ tìm hồn người
đã chết về.
Một lát sau âm hồn người chết về nhập vô Cô Hồn kể lể khóc lóc nói lại lúc lâm chung, tả oán
cảnh tình ly biệt. Lúc đó cha mẹ vợ con anh em xúm vào hỏi han Hồn. Hồn người chết qua
miệng của Cô Hồn sẽ tùy theo những câu hỏi mà trả lời, và tùy người hỏi mà nhận đúng cha mẹ
vợ con anh em hay người khác trong gia đình. Âm hồn cũng lại nói đúng được nguyên do tại sao
chết, chết về bệnh gì, chết ngày tháng nào, lúc an táng người nhà đã chọn theo thi hài những gì. 
Âm hồn lại cho người nhà biết hiện ở âm phủ đang làm gì và tình trạng ra sao. Âm hồn muốn
xin gì, người nhà sẽ cúng cho.


Những câu Cô Hồn nói đúng đều được người nhà thưởng tiền và nếu có những câu sai thì Cô
Hồn, thay lời âm hồn, sẽ nói (vì) quá đau đớn thương xót người sống nên âm hồn đã nhầm lẫn.
Âm hồn nhập vào Cô Hồn một lát, sau khi được người nhà hỏi thăm đủ chuyện, thì thăng.


Toan Ánh viết:
Thật ra Cô Hồn là người sành tâm lý, khi nói một câu mà thấy người nhà tỏ vẻ không
đồng ý là Cô Hồn sửa chữa ngay.
Thí dụ khi được hỏi giờ chết của âm hồn, Cô Hồn nói:
Hồn rằng hồn chết ban ngày
Câu nói không được người nhà tán thưởng, Cô Hồn liền sửa:
Thương cha nhớ mẹ hồn rày thác đêm!
Các Cô Hồn có khi là người có mục tật (nhãn quan kém), không nhìn thấy gì nhưng rất
thính tai, và dường như có để lục giác quan để biết khi nói lầm.


Âm hồn có những điều kỵ:
Khi gọi hồn mà hiện diện của người có vía dữ thì âm hồn không nhập. Khi Hồn đang nói
chuyện với người mà có 1 người vía dữ bước vào thì lập tức Hồn thăng.
Hồn không lên nếu trong nhà có người lấy nồi đất úp vào đầu ông Táo hoặc có ai tinh
nghịch bỏ muối vào bếp. Tục cho rằng vì làm như vậy ông Chiêu bà Dì không hỏi han ông Táo
được để đi tìm âm hồn về, như vậy làm sao hồn nhập được.
(Hồn người sống nhập vào Cô Hồn)
Có nhiều người muốn thử thách Cô Hồn, thay vì gọi Hồn người chết, người ta gọi Hồn người
sống, những người vắng mặt và có khi cả những người có mặt. Ấy thế mà hồn vẫn cứ nhập và
vẫn cứ trả lời được những câu hỏi của mọi người, nhiều khi rất phù hợp với những việc đã xảy
ra, hoặc tình trạng trong nhà. Người ta bảo rằng đó là ông Chiêu bà Dì đã hỏi ông Táo nên biết
rõ mọi việc trong nhà.


Phụ Tiên


Phụ Tiên cũng giống như Gọi Hồn chỉ khác ở đây là mời Bóng một vị Tiên nhập vào cốt Người
trần, thay vì mời gọi Hồn người chết (âm hồn). Tiên không phán truyền như âm hồn mà chỉ thảo
thơ.
Muốn Phụ Tiên phải tìm những nơi chùa chiền thanh vắng. Người nào có việc cầu khẩn phải
tắm rửa sạch sẽ, ăn chay một ngày rồi mua vàng hương trầu rượu bày lên một hương án đốt đèn,
đốt hương lễ bái, khấn rồi mới Phụ Tiên.


Trước chỗ án thờ có một mâm gạo. Một người ngồi Đồng lấy khăn che kín mặt, tay cầm một cái
bút bằng cành đào. Người ta thường kén cành đào mọc về hướng Đông và bẻ cành đào vào buổi
sáng. Ngọn cành đào chấm xuống mâm gạo. Một người cầm hương thư vào mặt và hai tay
người ngồi Đồng. Vài ba người khác đọc những văn sai để cầu Tiên lên hoặc ngâm những cổ
thi. Khi người ngồi Đồng bắt đầu đảo là Tiên sắp lên. Lúc đó người ngồi Hầu đồng phải khấn 
khứa, tấu lạy, kêu van. Thế là một lát sau bóng Tiên nhập vào người ngồi Đồng, có nghĩa là
người ngồi Đồng có ngôn ngữ và hành động của Tiên.


Người ngồi Đồng, đã được Tiên nhập nên tạm gọi là "Tiên", liền gõ bút (tức là cành đào) vào
mâm gạo rồi bắt đầu viết trên mâm gạo. Người hầu bút phải trông theo những chữ viết trên mâm
gạo mà chép ra một tờ giấy. Thường thường khi "Tiên" viết xong một bài thơ lại truyền cho
những người hầu đồng ngâm lại cho "Tiên" nghe. "Tiên" chỉ truyền phán bằng thơ viết trên
mâm gạo, rồi người hầu đồng chép lại trên giấy.
Thơ "Tiên" làm rất nhanh, như kiểu ứng khẩu hay ứng bút, không nghĩ ngợi gì. Thường "Tiên"
làm thơ nhưng cũng có khi làm ca phú hay tứ khúc.
Lúc "Tiên" mới lên, bài thơ đầu tiên bao giờ cũng là bài thơ để tự xưng danh hiệu của mình như
Lê Sơn Thánh mẫu, Quỷ Cốc Tiên ông, Vương Ngao Lão tổ... Cũng có khi vị Tiên lên lại là Thi
bá của thời trước như Lý Bạch.


Sau khi xưng danh hiệu rồi, "Tiên" mới lần lượt làm tặng mỗi người Hầu đồng một bài thơ, trong
bài thơ ẩn rõ sự hay dở của đương sự mà chỉ đương sự biết nếu đương sự hiểu thấu bài thơ.
Có khi "Tiên" truyền lấy rượu uống. Người Hầu đồng phải rót hỏa thang. "Tiên" cầm bút chấm
vào rượu đã là "Tiên" uống rồi.
Có khi "Tiên" hứng đánh cờ truyền lấy bàn cờ; người Hầu đồng phải hầu cờ. Mỗi khi muốn đi
một nước cờ, "Tiên" chỉ cầm cành đào chỉ vào quân cờ và vạch nước đi. Một người Hầu đồng
khác phải nhắc quân cờ đi theo ý "Tiên".
Có khi "Tiên" đòi xướng họa thơ với người Hầu đồng.
Ai muốn xin điều gì, chữa bệnh cầu danh thì viết thơ phong kín mà kêu cầu, "Tiên" sẽ chỉ bảo.
Ngày xưa, mỗi khoa thi học trò thường rủ nhau 5, 7 người phụ Tiên lên để hỏi về khoa cử.
"Tiên" có khi lên rất lâu, nhưng có thăng sau khi chỉ giáng vài bài thơ.
Phụ Tiên cũng như Gọi Hồn và Ngồi Đồng; thực hư hư thực chỉ duy người trong cuộc mới hiểu
rõ.


Thanh Đồng


Thanh Đồng là người có căn số phải thờ Thánh Trần (Trần Hưng Đạo) rồi cũng có Căn Đồng tức
là được Thánh nhập vào
Ở đền thờ Thánh Trần, như đền Kiếp Bạc hay đền Bảo Lộc, trong dịp những ngày lễ hội; những
Thanh Đồng đến hoặc thay mặt Thánh Trần (1) hoặc được Thánh nhập vào (2) để trị bệnh nhân
bằng cách trừ tà ma nhập vào họ (làm họ bị bệnh).


(1)
Thanh Đồng đại diện Thánh Trần làm cho Người bệnh lên Đồng có tà ma (Phạm Nhan hay thủ
hạ của nó) nhập vào để Thanh đồng trừ tà mà trị bệnh:
Những người nầy trong những ngày lễ hội tại đền Kiếp Bạc hoặc đền Bảo Lộc đều tới lễ
và lên đồng bắt tà. Tà đây là chỉ Phạm Nhan và bộ hạ của hắn. Phạm Nhan nguyên là tướng của
Mông Cổ bị Hưng Đạo vương giết.
Đàn bà sinh sản đau yếu hữu sinh vô dưỡng cho là mình bị Phạm Nhan ám; hoặc chồng
trước hay vợ trước ghen tuông; hoặc bị tà ma trêu cợt, đem vàng bạc tới cửa điện lễ bái và kêu 
Thanh đồng khấn xin trừ tà. (Phạm Nhan và bộ hạ cũng là tà ma, nhưng chúng sợ Thánh Trần
Hưng Đạo và Thánh cũng có quyền lực trừ tất cả các tà ma khác).
Người có bệnh ngồi Đồng bịt khăn đỏ vào mặt. Thanh đồng cầm hương thư trên mặt và
tay người này, rồi niệm chú khấn nguyện. Trong lúc đó cung văn đánh trống gõ phách ca những
bài văn sai để ốp Đồng. Bị thôi miên, người ngồi Đồng (người bệnh) lảo đảo, đó là lúc (hồn) tà
ma nhập vào.
Thanh đồng liền ra oai quát hỏi người bệnh như tra tấn tù nhân. Người bệnh đã lên đồng
(có hồn tà ma nhập vào) liền cầm vồ đập vào đầu mình, hoặc cầm bàn vả vào mặt mình. Đó là tà
ma bị sự trừng phạt. Rồi tà ma cung chiêu nhận tội, làm tờ cam kết không quấy nhiễu người
bệnh nữa, trên tờ cam kết có in dấu tay của con tà. Người ta bảo dấu tay trên tờ cam kết tuy
người bệnh in vào, nhưng không phải là dấu của người bệnh, đó là dấu tay của con tà, so sánh
với tay người bệnh khi hết bệnh thì không giống nhau. Tờ cam kết có dấu ấn của Thanh đồng
được trao cho người bệnh mang về dán ở đầu giường. Nếu bị đau yếu trở lại thì lại mang vàng
hương tới điện (Đền Thánh Trần) kêu, Thánh sẽ lại trị tội con tà.
(Thanh Đồng)


(2)
Thanh Đồng được Thánh nhập vào để trấn Tà ma không cho hành người bệnh:
Cũng có khi bóng hay hồn tà ma không nhập (ốp) vào người bệnh, mà trái lại Thánh
(Thánh Trần) lại nhập vào Thanh Đồng để ra oai với con tà cho sợ mà không dám quấy phá
người bệnh. Thanh đồng tự thắt cổ bằng lụa, nung đỏ lưỡi cày rồi xỏ chân vào, nấu dầu sôi uống
rồi lại phun ra, nhai nắm hương đang cháy, lấy lình xiên mép, lấy dao rạch lưỡi... Lúc rạch lưỡi,
máu chảy được phun vào một tờ giấy để làm bùa gọi là dấu mặn. Bùa này người bệnh đốt uống
với tàn hương nước thải để trị tà, hoặc dùng để đeo, hay dán ở buồng ngủ để trấn áp tà ma.

Thầy Pháp (= Phù Thủy)


Theo Phan Kế Bính, Phù Thủy thường đêm khuya đến những nơi tha ma mộ địa đốt hương khấn
khứa luyện phù phép để làm cho các âm hồn phải theo hiệu lệnh của mình. 
Phù thủy có phép kỳ lạ sai khiến nỗi những âm hồn làm những việc của người trần nhưng phần
nhiều làm về đêm. Những âm hồn chịu sai khiến của Phù thủy gọi là âm binh.


Thí dụ:
Sai âm binh tát nước.
Sai âm binh ném đá gạch vào nhà người khác.
Những thầy phù thủy mỗi khi sai khiến âm binh xong phải có lễ khao binh, nếu không âm binh
sẽ làm phản lại đánh trả thầy; và mỗi lần sai âm binh thầy phù thủy cần phải canh chừng đừng để
trời sáng, phải thâu âm binh về trước khi mặt trời mọc. Bị lộ thiên nghĩa là bị người trần trông
thấy vào ban ngày, âm binh cũng đánh trả thầy.
Những nhà có người chết vào giờ xấu hay sợ có trùng, tức là có tà ma đến làm hại phải nhờ thầy
Phù thủy cho bùa dán trong quan tài hay yểm chung quanh huyệt cũng như ở trong nhà để trấn
áp tà ma.
Người đau ốm cho là tà ma làm, người nhà mời thầy Phù thủy đến để diệt ma. Để diệt ma, ngoài
việc dùng bùa, Phù thủy còn dùng Phụ trượng hay Phụ bạch xà.
Phụ trượng nghĩa là niệm chú yểm phép vào cây trượng, cho người cầm đi khua khắp nhà để
đuổi ma.


Phụ Thần bạch xà thì dùng một con rắn bằng rơm rồi phù phép vào con rắn để rắn bò quanh nhà
mà diệt tà ma. Con rắn thường bò được là nhờ trong ruột có bộ phận cử động bằng máy, nhưng
người quá tin cho là Phù thủy cao tay có phép lạ.
Thầy Phù thủy còn có khi Phụ đồng chổi, đọc thần chú để cây chổi tự cử động được nhưng sự
thật cây chổi cử động cũng chẳng khác chi con rắn bằng rơm bò quanh nhà. Cây chổi quét sạch
tà ma.


Phù thủy lại có phép làm bùa yêu hay bùa mê. Bùa yêu làm cho hai người ghét nhau phải
thương nhau. Bùa mê làm cho người tỉnh trở nên mê mẩn có khi hóa điên dại, phải có bùa giải
mới hết.


Những người có thân nhân quá vãng thương nhớ thường nhờ Phù thủy Phụ cành phan để mời
Gọi Hồn người chết về nói chuyện.
Phụ cành phan có nghĩa là có một Người trần còn sống cầm một cành tre, ngồi trước đàn, rồi
thầy Phù thủy niệm chú phụ động để Hồn người chết nhập vào người trần nầy và có thể nói
chuyện được với thân nhân và người khác. Trong khi Phụ cành phan, cảnh trống chiêng gõ vang
rền lẫn với tiếng đọc phép của thầy Phù thủy, thêm mùi hương ngạt ngào khiến người ngồi Đồng
(cầm cành tre) nầy bị thôi miên có thể mê mẩn đi được.


Có người cho rằng những thầy Phù thủy cao tay có thể bắt ấn phù phép niệm chú để cho Người
sống xuống được âm phủ tìm giáp mặt người thân đã chết để trò chuyện.


Tục ngữ có những câu về Thầy Pháp:
Ông thầy khoe ông thầy tốt, bà cốt cậy bà cốt hay.
Thầy đổ cho bóng, bóng đổ cho thầy. 
Cao tay ấn. mới nhấn được nó.
Giữ như ông thầy giữ ấn. (= Giữ như giữ mả tổ).


Thầy Pháp khác Thầy Cúng
Thầy Pháp = Phù Thủy = Người có phép thuật như kể trên.
Thầy Cúng = Người chuyên nghề cúng bái ma quỉ thần thánh.
Đây là câu tục ngữ về Thầy Cúng:
Trơ trơ, như thủ lợn nhìn thầy.
(Thủ lợn = đầu lợn, dùng làm đồ cúng lễ)


Xin Thẻ (Xin Xăm)
*
Tại các đền miếu (và cả tại các chùa!) nữa thường có một hay nhiều ống Thẻ để thờ. Mỗi ống có
nhiều, thường có khoảng trăm Thẻ.
Thẻ là mảnh tre mỏng, trên có mang một số, số này ăn với Quẻ Thẻ. Thẻ còn được gọi là Xăm
và Quẻ thẻ là Quẻ xăm.
*
Một Quẻ hay
Quẻ thẻ là một bài thơ giáng bút trong lúc phụ đồng vị Thần linh (hay Thánh) thờ
tại ngôi đền hoặc miếu có thẻ. Bài thơ giáng bút được ghi chép lại và ghi số, số của bài thơ nầy
được ghi vào Thẻ tre của ống thẻ.
Thơ giáng bút ở đây khác với thơ giáng bút trong lúc Phụ tiên ở chỗ nó được chép lại và dùng để
ứng vào những người xin thẻ về sau; còn bài thơ trong lúc Phụ tiên thì chỉ hợp với người hầu
đồng lúc đang lên.
Mỗi bài thơ giáng bút đều được khắc in với số đã ghi để phát cho người xin thẻ.
Trong Quẻ thẻ ngoài bài thơ còn có mấy chữ đề là
Triệu gì. Triệu tức là cái điềm ứng với Quẻ
thẻ.
Thí dụ: Triệu "Tướng quân đắc thắng", triệu "Vạn vật phùng xuân", hoặc triệu "Du thuyền ngộ
vũ".
Có triệu xấu, có triệu tốt. Triệu chỉ những nét đại cương về Quẻ thẻ.
Triệu "Tướng quân đắc thắng" là triệu tốt, và ứng vào người xin được thẻ nầy như một vị
tướng quân thắng trận.
Trái lại triệu "Du thuyền ngộ vũ", tức là đi chơi thuyền gặp mưa, là triệu xấu.
Mỗi quẻ có triệu riêng, không quẻ nào giống quẻ nào.
Thường thường trong ống Thẻ 100 Quẻ có độ:
10 triệu "thật tốt" mang hai chữ "đại cát" hoặc "thượng thượng".
20 triệu "tốt vừa" mang chữ "cát" hoặc chữ "thượng".
10 triệu thật xấu mang hai chữ "hạ hạ".
20 triệu "xấu vừa" mang chữ "hạ".
40 triệu mang chữ "trung bình", tức là triệu "không xấu không tốt". 
Như trên đã nói, mỗi Quẻ thẻ có một bài thơ. Bài thơ này tổng đoán việc cát hung, tùy theo
Triệu ghi ở đầu quẻ thẻ.
Dưới bài thơ lại phân ra từng
Mục với lời giải: bản mệnh, mưu vọng, cầu tài, hành nhân, thất vật,
lục giáp, quan trạng, bệnh tật...
Lời giải của mỗi Mục hoặc là văn xuôi, hoặc có khi lại là một bài thơ riêng.
Cuối cùng ở Quẻ thẻ là Lời chú giải chung theo ý nghĩa của bài thơ tổng đoán trên.
*
Muốn
xin Thẻ trước hết phải quì khấn trước bàn thờ, khấn rõ tên tuổi, sinh quán, trú quán, và
muốn xin quẻ Thẻ về việc gì. Khấn xong thì lễ "bốn rưỡi"; ngày nay người ta vái 5 vái dài, 3 vái
ngắn. Lễ hoặc vái xong, người xin thẻ xốc ống thẻ cho có 1 chiếc thẻ vọt ra thì thôi. Trong
trường hợp có nhiều chiếc thẻ cùng vọt ra một lúc, người xin thẻ phải khấn lễ lại và lại xốc ống
thẻ cho đến được 1 chiếc thẻ vọt ra ngoài ống thẻ.
(Thẻ) (Xin Thẻ = Xin Xâm)
Tại Miền Nam, sau khi được Quẻ thẻ rồi, người xin được thẻ còn xin thêm một
Đài Âm Dương
bằng hai đồng tiền hoặc bằng hai con keo hình mặt trăng lưỡi liềm. Hai con keo đều có 1 mặt
phẳng và 1 mặt vồng lên khum khum, coi như 1 một mặt sấp 1 mặt ngửa.
Nếu Đài Âm Dương ứng theo lời xin nhất âm nhất dương, tức là quẻ thẻ của đương sự đã được
Thần linh chiếu theo việc cát hung vận về đương sự mà ứng như vậy.
*
Khi có được một chiếc Thẻ "văng" ra ngoài, khỏi hộp thẻ và khi Đài Âm Dương đã ứng cho Quẻ
đó, người xin thẻ đọc số thứ tự ghi trên chiếc thẻ, rồi ra
xin một Quẻ thẻ từ người thủ từ hoặc
ban quản trị nơi thờ tự. Quẻ thẻ có in sẵn theo số đã đọc trên chiếc Thẻ. Có nơi người lấy thẻ
phải trả tiền giấy in, có nơi thẻ được phát không cho khách tới lễ bái xin thẻ.


Về đài âm dương, có người xin trước và khi có được nhất âm nhất dương mới xin quẻ sau.
Trong trường hợp keo âm dương đầu tiên không được, người ta thường khấn khứa xin lại, và như
thế cho tới lần thứ ba, nếu vẫn không được nhất âm nhất dương thì người ta sẽ thôi. Hôm đó
Thần linh không ứng cho đương sự.
Xin được Quẻ thẻ rồi, đương sự phải nhờ người đoán, vì nhiều khi bài thơ tổng đoán cũng như
các lời chú giải, nghĩa không được rõ ràng, chỉ những người đoán quẻ thẻ mới hiểu. Tại trước 
cửa các nơi thừa tự thường có những ông thầy ngồi xem số đoán thẻ. Mỗi Quẻ thẻ đoán xong,
khách đi lễ thường trả cho người đoán một món tiền thù lao nhỏ.
*
Theo lời các cụ thì trước đây, mỗi Quẻ thẻ bao giờ cũng là một bài thơ giáng bút Hán tự. Số
người đọc được
chữ Hán giờ đây không có nhiều nên tại các nơi thờ tự, ban quản trị hay những
người có trách nhiệm đã thuê người diễn nôm và diễn nghĩa những Quẻ thẻ, cho in sang chữ
quốc ngữ, và có khi còn kèm cả chữ Hán.
Tại những nơi thờ tự mới lập gần đây, người ta
không xin được Thần linh giáng bút thì người
ta thuê hoặc nhờ soạn sẵn một số Quẻ thẻ, có hay có dở, có trung bình với lời chú giải; rồi làm lễ
cầu Thần linh xin cho mỗi quẻ một số bằng cách rút thăm. Có bao nhiêu quẻ thì người ta viết
từng ấy số, mỗi số trên thanh tre hoặc một mảnh giấy, đoạn người ta khấn vái để rút ra một số
cho mỗi thẻ.

*
Đầu năm, các thiện nam tín nữ đi lễ thường xin quẻ thẻ để xem vận mệnh hay dở quanh năm của
mình. Các thí sinh đi thi, các người buôn bán làm ăn, các người có thân nhân đau ốm cũng
thường xin Thẻ để tìm hiểu kết quả trước.
Ngày nay ở Sài Gòn, về dịp đầu năm cũng như trong những ngày tuần tiết, người ta kéo nhau đi
lễ và xin thẻ rất đông tại các đền như tại lăng Tả quân Lê Văn Duyệt, đền Hưng Đạo Vương, đền
Sòng sơn thờ Liễu Hạnh Công chúa (ở đường Trương Minh Giảng), đền Hai Bà Trưng (ở Gia
Định).
*
Lăng Tả Quân Lê Văn Duyệt là nơi dân chúng hay đến xin Thẻ nhưng chính Tả Quân Lê Văn
Duyệt còn bị kết tội vì một Quẻ Thẻ.
Năm 1835, sau khi dẹp xong loạn Lê Văn Khôi (con nuôi của ông Lê Văn Duyệt), vua Minh
Mạng cho Nội Các định tội ông Lê Văn Duyệt (đã qua đời trước đó). Nội các đứng đầu là ông 
Hà Tôn Quyền và ông Nguyễn Tri Phương tìm thấy 9 tội phản nghịch của ông Lê Văn Duyệt,
trong đó có 2 tội như sau:
Một là: “Mộ” tiếm gọi là “Lăng” (điều nầy cũng đúng vì tới bây giờ chúng ta vẫn gọi là
Lăng Ông Bà Chiểu?). Lăng chỉ dùng để gọi cho mồ mã của Vua mà thôi!


Hai là: Lúc sinh tiền tự xưng là xin được quẻ thẻ có 4 câu thơ:
Tá Hán tranh tiên chư Hán tướng
Phù Chu ninh hậu thập Chu thần
Tha niên tái ngộ Trần Kiều sự (*)
Nhất đán hoàng bào bất thử thân

 (Trần Trọng Kim dịch)
Giúp Hán há thua cùng tướng Hán
Phò Chu nào kém bọn tôi Chu
Trần Kiều nếu gặp cơn binh biến
Mảnh áo hoàng bào dễ ép nhau?


(*) Chú thích:


Trần Kiều là nơi xảy ra cuộc binh biến. Sau khi vua nhà Hậu Chu là Sài Vinh chết, con
là Cung Đế lên ngôi còn nhỏ tuổi. Quân Khiết Đan của nước Liêu ở phương Bắc sắp tấn công.
Quân đội khoát áo hoàng bào vào người Tướng quân Triệu Khuông Dẫn và tôn ông nầy lên làm
vua, truất phế Chu Cung Đế, lập nên nhà Tống. Quẻ ám chỉ ông Lê Văn Duyệt là Triệu Khuông
Dẫn và vua Minh Mạng là vua Cung Đế của nhà Hậu Chu.


Bs PHAN THƯỢNG HẢI biên soạn


Bài nầy đăng lần đầu trong phanthuonghai.com phần Văn Hóa mục Giáo Lý


Tài liệu tham khảo:
1) Tín Ngưỡng Việt Nam (Toan Ánh)
2) Việt Nam Phong Tục (Phan Kế Bính)
3) Nghi Thức và Lễ Bái của Người Việt Nam (Sơn Nam)
4) Thơ và Việt Sử - Nhà Nguyễn (Bs Phan Thượng Hải) - phanthuonghai.com
5) Đại Từ Điển Tiếng Việt (Nguyễn Như Ý chủ biên)
Bs PHAN THƯỢNG HẢI biên soạn và giữ bản quyền 

 

 

 

PTH_Đá gà.JPG

                          ĐÁ GÀ TRONG THƠ CHỮ QUỐC NGỮ

 

                                                      Bs Phan Thượng Hải biên soạn

 

Phong trào Đá Gà ở Nam Kỳ rất được ưa chuộng và người "tạo" ra là Tổng trấn Gia Định Thành Tả Quân Lê Văn Duyệt.  Tương truyền là ngài Tả Quân rất mê đá gà cũng như mê hát bội!

Đá Gà trở thành một đặc điểm văn hóa Nam Kỳ từ đầu thế kỷ 19 cho đến thời Việt Nam Cộng Hòa ở Miền Nam.  Nhiều trường gà có ở khắp 6 tỉnh Nam Kỳ.

 

Triết lý của Đá Gà được thể hiện qua bài thơ của thi sĩ Dị Nhơn ở Nam Kỳ:

 

ĐÁ GÀ

Bấy lâu thóc nước chịu ơn nhà

Một trận đua gan biết sức gà

Trước cuộc chém đâm chi nháy mắt

Giữa đường sanh tử chẳng dung gia

Đương Dương nào kém người thao sáu (*)

Địch khái đâu nhường kẻ lược ba (*)

Tài đức quyết đem đền nợ chủ

Ngàn năm để rạng tiết danh ta.

(Dị Nhơn)

 

(*) Chú thích: Trận Đương Dương thời Tam Quốc.  Thao sáu lược ba = Lục thao Tam lược là sách binh thư của Khương Tử Nha (Thái công Vọng, Lã Vọng) có Lục thao (6 kế mưu) và Tam lược (3 kế hoạch) dùng cho quân sự.

 

 

 

Ông Đỗ Văn Y và ông Trương Duy Toản là 2 nhà cách mạng trong Nam theo Cường Để.  Bị bắt ở bên Pháp, ở tù trong ngục La Santé (như Phan Châu Trinh) rồi bị giải về an trí ở Nam Kỳ.  

Cũng như những nam nhi khác ở Nam Kỳ, ông Đỗ Văn Y làm bài thơ dùng con Gà trống "đá" để tỏ chí khí nam nhi của mình. 

 

GÀ TRỐNG

Đêm khuya thức giấc tối đen mò

Cất tiếng kêu người gáy ó o!

Rơi máu trường nhưng lòng chẳng gớm

Xàu mình chiến hậu tiếng không ô

Giống nòi quyết giữ thân tròn vẹn

Cựa sắc nào phai phận quả cô

Một độ ăn thua trời đất biết

Ân đền nghĩa trả cái công phu.

(Đỗ Văn Y)

 

Chú thích:

Trường: là trường gả (nơi tổ chức thi đá gà)

Xàu = héo úa; buồn rầu

 

Chi tiết về Đá Gà được thi sĩ tiền phong Lê Quang Chiểu của Nam Kỳ mô tả như sau:

 

ĐÁ GÀ

Cũng là đồng loại khéo kình gan

Đá chọi làm chi chẳng ngỡ ngàng

Ô cậy thế cao, đâm là vít

Tía toan lòn thấp chém như tan

Vỉa vai cũng nghĩ vài thao nước

Mé sỏ chẳng vì ít tấc nhang

Trong thép hãy còn khua lỗ miệng

Ngoài vòng bạc xỉa giữa bàng quan.

(Lê Quang Chiểu)

 

Chú thích:

Gà Ô = gà có lông đen.  Gà Tía = gà có lông màu đỏ sậm

Vỉa vai = cắn vào vai đối phương mà đá (1 thế đá của con gà)

Mé sỏ = cắn vào mép hay cắn vào mồng gà đối phương mà đá (1 thế đá khác của con gà)

Theo Hán ngữ: Bàng = bên cạnh.  Quan = (ông) quan

Theo tiếng Nôm: Bàng quan = làm ngơ, đứng ngoài cuộc.  

Hai câu cuối là tác giả chơi chữ từ câu: "Miệng nhà quan có gang có thép, đồ nhà khó vừa nhọ vừa thâm".

 

Ông Lê Quang Chiểu (1852-1925) sanh ở Cái Răng, Cần Thơ (nay là quận Châu Thành, Cần Thơ) là học trò của ông Phan Văn Trị.  Ông cũng sống ở Phong Điền như ông Phan Văn Trị và có một thời gian ngắn ông làm Cai Tổng Phong Điền nên còn được gọi là Cai Tổng Chiểu (hay Tổng Chiểu).  Ông thường bị lộn với ông Nguyễn Đình Chiểu.  

Là con nhà giàu ông không chịu làm quan lâu, chỉ ở nhà làm thơ.  Ông là người đầu tiên xuất bản tập thơ viết bằng chữ Quốc Ngữ ở Sài Gòn vào đầu thế kỷ 20.  Tập thơ “Quốc Âm thi hợp vịnh” nầy của ông Lê Quang Chiểu là tập thơ viết bằng chữ Quốc Ngữ đầu tiên của Việt Nam.  Tập thơ nầy tổng hợp thơ Đường Luật của các Thi sĩ Nam kỳ (Huỳnh Mẫn Đạt, Nguyễn Đình Chiểu, Phan Văn Trị, Tôn Thọ Tường, Thủ Khoa Nghĩa... luôn cả thơ của ông).  

Cháu của ông Lê Quang Chiểu là Bác sĩ nhãn khoa Lê Văn Hoạch ở Cần Thơ có 2 lần làm Thủ tướng chính phủ Nam Kỳ Quốc vào thập niên 1940s.

 

Trong các trường gà ở Nam Kỳ, gà Cao Lãnh nổi tiếng là đá hay nhất như 2 câu Ca dao thường được nhắc tới:

Gà nào hay bằng gà Cao Lãnh 

Gái nào bảnh bằng gái Nha Mân 

 

Còn có 4 câu Ca dao khác nói về gà Cao Lãnh:

Gà nào hay bằng gà Cao Lãnh

Gái nào bảnh bằng gái Cần Thơ

Làm chi nay đợi mai chờ

Linh đinh Phong Mỹ dật dờ Hòa An (*)

(*) Chú thích: Hai xã nầy ngày nay thuộc Tp Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp

 

Người ta nói gà Cao Lãnh là gà lai nên có 2 đặc tính: vừa mạnh và vừa dai! (cho nên đá hay?).  

 

 

 

Thi sĩ Lãng Ba Phan Văn Bộ (1908-1966) là người sinh trưởng ở Cao Lãnh, ông cũng có những bài thơ vảo thập niên 1940s và 1950s, thời thịnh hành của "Đá Gà".

Qua thơ của Lãng Ba, chúng ta có những cái nhìn khác về Đá Gà.

 

ĐÁ GÀ

Điều, ô, bông, chuối, xám, xanh, vàng

Hội lại quanh trường túc gáy vang

Cáp chạn, đắn đo xương, vảy, cựa

Cá tiền, liệu lượng bắt, quăng, dằn

Tới lui xạ đá, lông văng túa

Xoay trở cắn đâm, máy chảy tràn

Thắng bại, chẳng vong âu cũng phế

Tương tàn đồng loại, nghĩ nào đang?

(Lãng Ba Phan Văn Bộ) 

22-8-1948 

 

Chú thích:

Các màu lông của con gà:  Điều = màu đỏ.  Bông = lông có nhiều màu.  Chuối = màu như màu lá chuối (xanh lục).  Một con gà mà lông có nhiều màu gọi là gà bông.

Bắt, Quăng, Dằn: những cách thức đánh cá đá gà (ở trường gà)

Xạ = bắn, đá lẹ và thẳng như (súng) bắn.  Từ ngữ dùng để tả (gà) đá.

 

GÀ RÓT

Cũng điều cũng xám cũng ô nè

Quanh quẩn sau hè gáy lấy le

Lúa sẵn no nê mồng đỏ lói

Nghệ vô đầy đủ cẳng vàng khè

Nắng che mưa chở năng bồng bế

Gió giữ sương gìn mãi vuốt ve

Những tưởng ra trường đền nợ chủ

Mới vừa giao nạp chạy te te…

(Lãng Ba Phan Văn Bộ) 

30-1-1953 

 

GÀ MÁI ĐÁ GÀ TRỐNG

Á Ngộ! Mái tơ đá trống cồ

Nóng xem, ai chẳng lấn chen vô?

Xạ mau, nhảy lẹ, bao trò diễn

Đâm nặng, cắn đau, lắm điệu phô

Kẻ tưởng thua tài lo khuyến khích

Người tin lấn sức cứ trầm trồ

Té ra chỉ “cụi” trong giây lát

Túc gáy cùng nhau lại cặp bồ.

(Lãng Ba Phan Văn Bộ) 

16-10-1948

 

Năm 1972, tôi được anh Tư, con bác Sáu của tôi, dẫn đi coi Đá Gà ở 1 trường gà tại Châu Đốc.  Thật là một kỷ niệm khó quên, nó làm tôi hiểu và mến phục những Thi sĩ  (Lê Quang Chiểu và Lãng Ba) đã làm những bài thơ hay và đúng thực tế về Gà và Đá Gà.  Những ông nài gà thì giỏi lắm: cầm máu, may vá ... đều rất khéo léo như Giải Phẫu gia thứ thiệt.

 

Khi đọc lại lịch sử, Đá Gà đã có từ lâu ở Miền Bắc, ít nhất là từ đời nhà Trần.  Trong Hịch Tướng Sĩ (năm 1284), Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn có viết:

Nay các ngươi trông thấy chủ nhục mà không biết lo, trông thấy quốc sỉ mà không biết thẹn, thân làm tướng phải hầu giặc mà không biết tức, tai nghe nhạc để hiến ngụy sứ mà không biết căm; hoặc lấy việc chọi gà làm vui đùa, hoặc lấy việc đánh bạc làm tiêu khiển, hoặc vui thú về làm ruộng, hoặc quyến luyến về vợ con, hoặc nghĩ về lợi riêng mà quên việc nước, hoặc ham về săn bắn mà quên việc binh, hoặc thích rượu ngon, hoặc mê tiếng hát.

Nếu có giặc đến, thì cựa gà trống làm sao đâm thủng được áo giáp, mẹo cờ bạc làm sao dùng nỗi được quân mưu, dẫu rằng ruộng lắm vườn nhiều thân ấy nghìn vàng không chuộc; vả lại vợ bìu con díu...

 

Tại Miền Trung đã có một thi nhân ở Huế dùng chuyện Đá Gà để làm thơ như thơ của Hồ Xuân Hương:

 

ĐÁ GÀ

Vui xuân nhằm tiết mồng ba

Ông bà cao hứng bắt gà đá chơi

Gà ông ngỏng cổ gáy hơi

Gà bà thủ bộ đợi thời gà ông

Gà ông chém trúng cạnh mồng

Gà bà nổi giận gặm cần gà ông

Đá nhau một chặp ướt lông

Gà bà trúng cựa, gà ông gục cần!

(Vô Danh Thị)


 

Bs PHAN THƯỢNG HẢI biên soạn 


 

Bài nầy đăng lần đầu trong phanthuonghai.com mục Thơ Văn phần Đọc Thơ.

 

Tài liệu tham khảo:

1) Thơ Lãng Ba (Phan Thượng Hải) - phanthuonghai.com

2) Thơ và Việt Sử - Thời kỳ Pháp Thuộc (Bs Phan Thượng Hải) - phanthuonghai.com

3) Nam Kỳ Lục Tỉnh (Hứa Hoành)

4) Việt Nam Sử Lược (Trần Trọng Kim)

5) Tinh Thần Trào Phúng Trong Thi Ca Xứ Huế (Hoàng Trọng Thược)


 

Bs PHAN THƯỢNG HẢI biên soạn và giữ bản quyền

_________________________________________

    LỊCH SỬ VIỆT NAM - THỜI THƯỢNG CỔ 

                                            Bs Phan Thượng Hải biên soạn

 

Thời Thượng Cổ của lịch sử Việt Nam là thời gian từ khi bắt đầu có lịch sử cho tới khi bắt đầu của Bắc Thuộc Thời đại.  Nó có liên quan tới nguồn gốc và tổ tiên của người Việt Nam chúng ta trong thời Tiền Sử.   

Lịch sử trong thời Thượng Cổ nầy vẫn còn có nhiều nghi vấn và tranh cãi cho tới ngày nay.

Bài viết nầy chỉ trình bày tóm lược những điều đã đọc được từ các sử gia xưa và nay qua những nguồn sử liệu cũ và mới để cho người thông thường có một kiến thức tổng quát và thứ tự về lịch sử nước nhà trong thời Thượng Cổ. 

 

Theo nguồn sử liệu cũ, lịch sử cũ của thời Thượng Cổ bắt đầu với lịch sử của Hùng Vương và nước Văn Lang với nguồn gốc từ Kinh Dương Vương và nước Xích Quỷ.  Sau đó An Dương Vương Thục Phán chiếm nước Văn Lang và lập nước Âu Lạc.

Chọn lọc tài liệu từ Đại Việt Sử Ký Toàn Thư (có lẽ từ Lĩnh Nam Chích Quái) và một phần của Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục, Việt Nam Sử Lược tóm lược Lịch sử cũ của thời Thượng Cổ gồm:

Nước Xích Quỷ

Nước Văn Lang

Nước Âu Lạc 

Theo thời khoa học hiện đại, lịch sử cũ nầy gần như là thần thoại lại không hợp lý về thời gian và không gian nên đã không được hoàn toàn chấp nhận.

 

Lịch sử cũ chỉ chú trọng tới quốc gia.  Một quốc gia phải gồm có dân tộc, lãnh thổ và chính quyền.  Lịch sử với nguồn sử liệu mới chú trọng tới Dân tộc và Lãnh thổ vì có dân tộc sống trên lãnh thổ trong thời Thượng Cổ mà không cần có chính quyền: 

Nhóm người Bách Việt (thay vì là nước Xích Quỳ): sống ở vùng Đông Nam và Nam núi Ngũ Lĩnh (gọi chung là đất Lĩnh Nam).

Người Lạc Việt (thay vì là nước Văn Lang): sống ở miền Bắc Việt Nam ngày nay.

Nước Âu Lạc có dân tộc đa số là người Lạc Việt và thiểu số là người Âu Việt.

Lịch sử mới của thời Thượng Cổ nói tới về người Lạc Việt, nhóm người Bách Việt và nước Âu Lạc.  Từ đó cũng nói sơ lược về thời Tiền Sử của người Lạc Việt, tổ tiên của người Việt chúng ta hiện nay.

 

 

LỊCH SỬ CŨ 

 

Lịch sử cũ của thời Thượng Cổ được chọn lọc và trình bày tóm lược và khá đầy đủ từ Việt Nam Sử Lược của Trần Trọng Kim về nước Xích Quỷ, nước Văn Lang và nước Âu Lạc.

 

Nước Xích Quỷ

 

Cứ theo tục truyền rằng vua Đế Minh (cháu 3 đời vua Thần Nông) đi tuần thú phương nam đến núi Ngũ Lĩnh (nay thuộc Hồ Nam, Trung Quốc bây giờ) lấy một nàng Tiên đẻ ra con thứ là Lộc Tục.  Sau đó Đế Minh truyền ngôi cho con trưởng là Đế Nghi làm vua phương Bắc và phong cho Lộc Tục làm vua phương Nam.  

Lộc Tục xưng là Kinh Dương Vương và đặt tên nước của mình là Xích Quỷ.  Bờ cõi nước Xích Quỷ bấy giờ gồm có:

Phía Bắc giáp Động Đình Hồ (bắc Hồ Nam bây giờ), tức là nam của sông Trường Giang (sông Dương Tử).

Phía Nam giáp nước Hồ Tôn (nước Chiêm Thành sau này).

Phía Tây giáp Ba Thục (Tứ Xuyên bây giờ).

Phía Đông giáp bể Nam Hải. 

Kinh Dương Vương Lộc Tục làm vua nước Xích Quỷ vào khoảng năm Nhâm tuất (2879 tr CN).  Kinh Dương Vương lấy con gái Động Đình Quân là Long Nữ đẻ ra Sùng Lãm.  Sùng Lãm nối ngôi làm vua nước Xích Quỷ xưng là Lạc Long Quân. 


 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

(Nước Xích Quỷ)


 

Lạc Long Quân (Sùng Lãm) lấy con gái Đế Lai là Âu Cơ đẻ ra 100 con trai.  Có sách chép là Âu Cơ đẻ ra 100 trứng rồi nở ra 100 con trai.  

Lạc Long Quân nói với Âu Cơ rằng: 

“Ta là dòng dõi Long quân còn Nàng là dòng dõi Thần Tiên ăn ở với nhau lâu không được, nay có được 100 đứa con trai thì nhà ngươi đem 50 đứa lên núi còn ta đem 50 đứa xuống bể Nam Hải".   

Gốc tích nầy có lẽ là từ Lạc Long Quân về sau nước Xích Quỷ chia ra những đất nước gọi là Bách Việt.  Bởi vậy ngày nay đất Hồ Quảng (Hồ Nam, Quảng Đông và Quảng Tây) còn xưng là đất Bách Việt.  Đấy cũng là một điều nói phỏng chứ không có lấy gì làm đích xác được.


 

Nước Văn Lang

 

Lạc Long Quân phong cho người con trưởng làm vua nước Văn Lang xưng là Hùng Vương họ là Hồng Bàng (nhà Hồng Bàng).  Hùng Vương đóng đô ở Phong Châu (thuộc huyện Bạch Hạc, tỉnh Vĩnh Yên); đặt tướng văn gọi là Lạc Hầu, tướng võ gọi là Lạc Tướng, con trai vua gọi là Quan Lang, con gái vua gọi là Mỵ Nương, các quan nhỏ gọi là Bố Chính.  Quyền chính trị thì cứ cha truyền con nối gọi là Phụ đạo.  Lãnh thổ có 15 Bộ gồm Bắc Kỳ và bắc Trung Kỳ (Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình và Quảng Trị) ngày nay.  

 

15 Bộ gồm có:  

Văn Lang (h. Bạch Hạc, tỉnh Vĩnh Yên ngày nay)

Châu Diên và Phúc Lộc (vùng Sơn Tây ngày nay)

Tân Hưng (vùng Tuyên Quang và Hưng Hóa ngày nay)

Vũ Định (vùng Thái Nguyên và Cao Bằng ngày nay)

Vũ Ninh (vùng Bắc Ninh ngày nay)

Lục Hải (vùng Lạng Sơn ngày nay)

Ninh Hải (vùng Quảng Yên ngày nay)

Dương Tuyền (vùng Hải Dương ngày nay)

Giao Chỉ (vùng Hà Nội, Nam Định và Ninh Bình ngày nay)

Cửu Chân (vùng Thanh Hóa ngày nay)

Hoài Hoan (vùng Nghệ An ngày nay)

Cửu Đức (vùng Hà Tĩnh ngày nay)

Bình Văn (vùng Hà Tĩnh ngày nay?)

Việt Thường (vùng Quảng Bình và Quảng Trị ngày nay)


 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

(Nước Văn Lang = Miền Bắc Việt Nam ngày nay)


 

Sử Tàu có chép rằng năm Tân mão (1109 tr CN) đời vua Chu Thành Vương của nhà Tây Chu có nước Việt Thường ở phía Nam xứ Giao Chỉ sai sứ đem chim Bạch trĩ sang cống.  Nhà Chu phải tìm người thông ngôn mới hiểu được ngôn ngữ và ông Chu Công Đán (chú của Thành Vương) lại chế ra xe chỉ nam để dẫn đường cho sứ Việt Thường về nước.  Vậy đất Giao Chỉ và đất Việt Thường có phải là đất của Hùng Vương lúc bấy giờ không?

 

Họ Hồng Bàng làm vua được 18 đời, đến năm Quí mão (258 tr CN) thì bị nhà Thục lấy mất nước.  Xét từ đời Kinh Dương Vương (2879 tr CN) đến hết đời Hùng Vương thứ 18 (258 tr CN) có 20 đời vua trong vòng 2622 năm.  Cứ tính hơn bù kém mỗi ông vua trị vì được non 150 năm!  Dẫu là người Thượng cổ nữa, thì cũng khó lòng sống lâu được như vậy.  Xem thế thì đủ biết truyện đời Hồng Bàng không chắc là truyện xác thực.  

 

Ngày nay, sử gia theo Đại Việt Sử Ký Toàn Thư còn chép thêm rằng: 

Kinh Dương Vương sinh năm 2919 tr CN, chết năm 2792 tr CN và lên ngôi vào năm 2879 tr CN. 

Các vua Hùng Vương bắt đầu từ Kinh Dương Vương là Hùng Vương thứ nhất (từ năm 1879 tr CN) rồi đến Lạc Long Quân là Hùng Vương thứ nhì, có Miếu hiệu là Hùng Hiền Vương.

15 Hùng Vương tiếp theo (Hùng Vương thứ 3 tới Hùng Vương thứ 17) đều có Miếu hiệu nhưng không có niên biểu.  Từ Kinh Dương Vương (Hùng Vương thứ nhất) tới Hùng Duệ Vương (Hùng Vương thứ 18) có tất cả 18 đời vua Hùng Vương kéo dài trên 2622 năm.  Riêng Kinh Dương Vương thọ 127 tuổi.

Hùng Vương cuối cùng (thứ 18) từ chối không gả con gái cho Thục Vương.  Năm 258 tr CN, cháu của Thục Vương là Thục Phán nối ngôi, đem quân đánh Hùng Vương.  Hùng Vương chỉ uống rượu say sưa không phòng bị nên bị thua và nhảy xuống giếng tự tử.  An Dương Vương thôn tính nước Văn Lang và chính thức lập nước Âu Lạc (257 tr CN).


 

Nước Âu Lạc

 

Năm 258 tr CN, An Dương Vương Thục Phán của nước Thục đánh bại vua Hùng Vương thứ 18, rồi chính thức lập nước Âu Lạc (257 tr CN) đóng đô ở Phong Khê (nay thuộc tỉnh Phúc Yên).  Nhờ thần Kim Quy, vua xây thành Cổ Loa hình xoáy như trôn óc (gọi là Loa Thành).  Thần Kim Quy còn cho ông một móng chân làm thành một cái nỏ thần, bắn một phát giết hàng vạn người.  

 

Triệu Đà, quan Úy của quận Nam Hải (Quảng Đông bây giờ) muốn chiếm nước Âu Lạc nhưng vì có nỏ thần nên đánh không thắng nỗi.  Ông lập kế cho con là Trọng Thủy sang Âu Lạc lấy con của An Dương Vương là Mỵ Châu (và chịu ở rể).  Trọng Thủy hỏi dò vợ mình là Mỵ Châu tại sao không ai thắng nỗi nước Âu Lạc.  Vì tin chồng, Mỵ Châu kể chuyện cái nỏ thần và lén lấy cho chồng xem.  Trọng Thủy lén tráo đem cái nỏ giả thay vào.  Sau đó Trọng Thủy xin về nước thăm cha.  Khi sắp đi, Trọng Thủy hỏi Mỵ Châu rằng: “Tôi về, mà lỡ có giặc giã đánh thì làm sao tôi tìm được nàng”.  Mỵ Châu nói rằng: “Thiếp có cái áo lông ngỗng, hễ khi thiếp có chạy về đâu thì sẽ lấy lông ngỗng rắc dọc đường”.  

 

Trọng Thủy đem nỏ thần về và kể sự thật cho cha là Triệu Đà, ông nầy liền đánh Âu Lạc (năm 208 tr CN).  Vì nỏ thần giả nên không hiệu nghiệm nữa, do đó vua An Dương Vương thua trận phải đem Mỵ Châu lên ngựa mà chạy đến núi Mộ Dạ (nay là huyện Đông Thành, Nghệ An).  Vua khấn thần Kim Quy thì thần hiện lên và bảo rằng: “Giặc ở sau lưng nhà vua đấy”.  An Dương Vương tức giận mới chém chết Mỵ Châu rồi nhảy xuống giếng tự tử.  Trọng Thủy theo dấu lông ngỗng của vợ rắc đuổi đến núi Mộ Dạ.  Thấy xác vợ, Trọng Thủy thương xót đem xác Mỵ Châu về chôn ở thành Cổ Loa rồi nhảy xuống giếng tự tử.

Nay ở làng Cổ Loa trước đền thờ An Dương Vương có cái giếng tục truyền rằng Trọng Thủy chết ở giếng ấy.  Tục cũng truyền rằng máu của Mỵ Châu chảy xuống bể, những con trai ăn phải hóa ra ngọc trân châu.  Hễ ai lấy được ngọc ấy đem về rửa ở giếng Trọng Thủy ở đền Cổ Loa thì ngọc ấy trong và đẹp ra.


 

LỊCH SỬ MỚI VỀ NGƯỜI LẠC VIỆT 

 

Nguồn Sử Liệu

 

Lịch sử của người Việt và nước Việt chúng ta bắt đầu bằng lịch sử của những người sống ở Miền Bắc Việt Nam ngày nay.  Đó là tổ tiên của chúng ta.

 

Thời Thượng Cổ của lịch sử Việt Nam là thời kỳ bắt đầu khi có Lịch sử cho tới  khi bắt đầu Thời Bắc Thuộc (năm 208 tr CN).  Trước đó là Thời Tiền Sử.

Sau năm 214 tr CN, người Tàu chiếm đất của những người Bách Việt ở Lĩnh Nam thì mới tiếp xúc với nước Âu Lạc.  Từ đó sử gia Tàu mới biết có nước Văn Lang, một nước có lãnh thổ là Miền Bắc Việt Nam ngày nay, đã có trước đó từ nhiều thế kỷ trước và chỉ mới đổi thành nước Âu Lạc từ năm 257 tr CN.    

Năm 208 tr CN, nước Âu Lạc bị Triệu Đà (một quan Úy của nhà Tần và nhà Hán) thôn tính và lập nước Nam Việt với lãnh thổ có thêm Lưỡng Quảng ngày nay (Quảng Đông và Quảng Tây) đóng đô ở Phiên Ngu hay Phiên Ngung (thuộc Tp Quảng Châu ngày nay).  

Năm 111 tr CN, nhà Hán của Trung Quốc thôn tính nước Nam Việt.  

Miền Bắc Việt Nam ngày nay thuộc Tàu từ năm 208 tr CN cho tới khi ông Ngô Quyền dành độc lập vào năm 938 (gọi là Bắc Thuộc Thời đại).  Nước ta thuộc Tàu tất cả hơn 1100 năm và sau đó độc lập gần 1100 năm cho tới ngày nay (năm 2019).

 

Nguồn Sử Liệu của Thời Thượng Cổ.

Sau năm 214 tr CN (Thế kỷ thứ 3 tr CN), Sử gia Trung Quốc từ thời Bắc Thuộc bắt đầu viết Sử về Miền Bắc Việt Nam ngày nay trong thời Thượng Cổ dùng Hán tự (từ Hán ngữ).  Do đó tất cả nhân danh (tên người) và địa danh có trong Sử liệu đầu tiên đều có nguồn gốc từ Sử gia Trung Quốc nên đều bằng Hán ngữ.  Những nhân danh hay địa danh có trước thời Bắc Thuộc có lẽ được sử gia Tàu dịch âm từ ngôn ngữ địa phương của người bản xứ (Tiếng Việt Cổ) hay tự đặt ra. 

Từ năm 938 (Thế kỷ thứ 10), Dân tộc bản xứ ở  Miền Bắc Việt Nam ngày nay dành độc lập và lập thành quốc gia, đó là nước Việt của chúng ta cho tới ngày nay.  Sử gia nước Việt mới bắt đầu viết lịch sử của nước Việt từ thế kỷ thứ 14 nhưng Chính sử chỉ còn tồn tại từ thế kỷ thứ 15 (đó là Đại Việt Sử Ký Toàn Thư của Ngô Sĩ Liên).  Chính sử viết vào thế kỷ thứ 14 đã bị mất (đó là Đại Việt Sử Ký của Lê Văn Hưu), chỉ còn lại Ngoại sử mang tính chất thần thoại là sách Lĩnh Nam Chích Quái của Trần Thế Pháp.  Những sử gia Việt nầy cũng dùng Hán tự và Hán ngữ.  Một số nhân danh và địa danh có thể khác hay được thêm trong Lĩnh Nam Chích Quái và Đại Việt Sử Ký Toàn Thư.  Tuy đã bị thất lạc nhưng Đại Việt Sử Ký của Lê Văn Hưu không có viết về thời Thượng Cổ mà chỉ bắt đầu từ Triệu Vũ Vương (Triệu Đà), thời điểm bắt đầu của Bắc Thuộc Thời đại.

Gần đây, có một quyển chính sử của sử gia người Việt viết vào thế kỷ thứ 14 thất lạc bên Tàu vừa tìm ra được.  Đó là Đại Việt Sử Lược (Việt Sử Lược), viết bằng Hán tự.

Từ thế kỷ thứ 20, các nhà Khảo cổ bắt đầu khai quật những vùng văn hóa ở Miền Bắc Việt Nam ngày nay như Văn hóa Đông Sơn.  Từ đó có thêm những nguồn sử liệu mới ngoài sách vở.

Sử liệu ngày nay được phổ thông nhờ những công trình dịch thuật toàn bộ những sử liệu Hán và Hán Nôm như Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục cũng như sự quảng bá trên Internet.

 

Như vậy lịch sử thời Thượng Cổ của người Việt và nước Việt chúng ta đã được dựa trên 2 nguồn sử liệu về thời Thượng Cổ:

Nguồn Sử Liệu cũ (tới cuối thế kỷ 20) thường dùng Việt Nam Sử Lược của Trần Trọng Kim.  Nó lấy nguồn từ Đại Việt Sử Ký Toàn Thư và một phần của Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục.  Đại Việt Sử Ký Toàn Thư có lẽ dựa trên Lĩnh Nam Chích Quái.  Nguồn sử liệu cũ có tính chất thần thoại và không hợp lý.

Nguồn Sử Liệu mới (từ cuối thế kỷ 20) dùng sử liệu của Tàu (viết trong thời Bắc Thuộc) đa số tìm được trong Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục mới được dịch ra toàn phần và phổ biến, của Đại Việt Sử Lược mới được tìm ra, của các học giả trong Wikipedia và từ công trình khai quật của các nhà Khảo cổ từ thế kỷ 20.  Nguồn sử liệu mới hợp lý nên có giá trị.


 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

(Miền Bắc Việt Nam ngày nay)


 

Chi tiết lịch sử từ Nguồn sử liệu mới

 

Việt Sử Lược (đời nhà Trần, thế kỷ thứ 13) viết:

Đến đời Trang Vương nhà Chu (696-682 tr CN), ở bộ Gia Ninh có người lạ dùng ảo thuật thu phục được các bộ lạc, tự xưng là Hùng Vương, đóng đô ở Văn Lang, hiệu là nước Văn Lang, phong tục thuần hậu chất phác, chính sự dùng lối "kết nút".  Nước Văn Lang gồm 15 bộ lạc.

 

Trích từ Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục

An Nam Chí Nguyên của Cao Hùng Trưng chép: Giao Chỉ khi chưa đặt quận huyện, bấy giờ có ruộng Lạc (Lạc điền), theo nước triều lên xuống mà làm ruộng; khai khẩn ruộng ấy là Lạc dân, thống trị dân ấy là Lạc Vương, người giúp việc là Lạc Tướng; đều dùng ấn đồng thao xanh.  Nước gọi là Văn Lang.  Phong tục thuần hậu mộc mạc, chưa có chữ nghĩa, còn dùng lối thắt nút dây làm dấu ghi nhớ, truyền được 18 đời.

Theo Dư Địa Chí của Cổ Hi Phùng, Giao Chỉ về đời Chu gọi là Lạc Việt, về đời Tần gọi là Tây Âu, thế thì đất Âu Lạc lại ở về phía tây Phiên Ngu (kinh đô của nước Nam Việt của Triệu Đà).  Theo Giao Quảng Ký của Hoàng Sâm, Giao Chỉ có ruộng Lạc Điền, khai khẩn theo nước triều lên xuống.  Người "ăn" hoa lợi ruộng ấy là Lạc Hầu.  Các huyện (khu vực địa phương) tự gọi là Lạc Tướng.  Sau nầy con Thục Vương đem quân đánh Lạc Hầu, tự xưng là An Dương Vương, đóng đô ở Phong Khê.  

 

Trích từ Wikipedia

Giao Châu Ngoại Vực Ký (thế kỷ thứ 4) và Thủy Kinh Chú (thế kỷ thứ 6) chép:  Thời xưa khi Giao Chỉ chưa có quận huyện, thì đất đai có Lạc điền, ruộng (cày cấy) theo con nước thủy triều.  Dân khai khẩn ruộng ấy mà ăn nên gọi là Lạc dân.  Có Lạc Vương, Lạc Hầu làm chủ các quận huyện.  Ở huyện phần đông có Lạc Tướng.  Lạc Tướng có ấn bằng đồng (đeo) giải (vải màu) xanh.  Về sau con vua Thục đem 3 vạn lính đánh Lạc Vương Lạc Hầu, thu phục các Lạc Tướng.  Con vua Thục nhân đó xưng là An Dương Vương.

Sử Ký Tư Mã Thiên, chương Nam Việt Úy Đà liệt truyện, có nói chuyện Triệu Đà thôn tính vùng đất phía Nam trong đó có nước Âu Lạc, quốc gia do An Dương Vương thống nhất và được cho là sự hợp nhất của 2 nhóm Lạc Việt và Âu Việt.

 

Sử gia ngày nay đã đồng ý (Wikipedia):

Lạc Việt là tên gọi của một trong các dân tộc Việt trong nhóm Bách Việt.  Người Lạc Việt có lẽ bắt nguồn từ vùng Động Đình Hồ (nay thuộc tỉnh Hồ Nam), đã từng sinh sống ở vùng đất mà nay là Tây Nam Quảng Đông, Đông Nam Quảng Tây và Miền Bắc Việt Nam ngày nay.  Miền Bắc Việt Nam ngày nay nơi người Lạc Việt sinh sống gồm có Bắc Kỳ và bắc Trung Kỳ (Thanh Hóa, Nghệ An và Hà Tĩnh) với biên giới phía nam là Hoành Sơn và Đèo Ngang.  Lãnh thổ có thể có thêm Quảng Bình và Quảng Trị (cho đến Thừa Thiên) nhưng không có gì chắc chắn. 

Âu Việt hay Tây Âu là 1 tập hợp các bộ lạc miền núi sinh sống tại khu vực mà ngày nay gồm có Đông Bắc Việt Nam, Tây Quảng Đông và Nam Quảng Tây.  Theo truyền thuyết là nước Nam Cương ở tỉnh Cao Bằng.  Âu Việt hay Tây Âu cũng là tên gọi của một trong các dân tộc Việt trong nhóm Bách Việt.

Đến đời Hùng Vương thứ 18, Thục Phán ở phía Đông Bắc của nước Văn Lang hợp nhất nước Văn Lang của người Lạc Việt với vùng đất của người Âu Việt  hay Tây Âu (Đông Nam tỉnh Quảng Tây ngày nay) vào năm 258 tr CN và lập nước Âu Lạc.

 

Theo "Dong Sơn Culture - Wikipedia", người Lạc Việt của nước Văn Lang (và nước Âu Lạc) có một nền văn hóa đặc biệt.  Đó là Văn hóa Đông Sơn, tìm được đầu tiên từ khai quật ở làng Đông Sơn (thuộc Tp Thanh Hóa ngày nay). 

Thời gian của Văn hóa Đông Sơn là từ khoảng năm 1000 tr CN cho tới khoảng năm 1 tr CN. 

Địa điểm của Văn hóa Đông Sơn là miền Bắc Việt Nam ngày nay trọng tâm ở lưu vực sông Hồng Hà gồm các tỉnh Phú Thọ, Yên Bái, Hòa Bình, Hà Nội, Hà Nam, Ninh Bình, Thanh Hóa, Nghệ An và Hà Tĩnh.  


 

Lịch sử Thời Thượng Cổ từ Nguồn sử liệu mới

 

Quốc gia gồm có Lãnh thổ (Territory), Dân tộc (People) và Chính quyền (Government).  

Muốn tìm nguồn gốc lịch sử người Việt và nước Việt của chúng ta thì phải bắt đầu bằng Lãnh thổ.  Miền Bắc Việt Nam ngày nay là lãnh thổ đầu tiên.  Các Sử gia ngày nay đều đồng ý nó gồm có Bắc Kỳ và bắc Trung Kỳ (Thanh Hóa, Nghệ An và Hà Tĩnh) với biên giới phía nam là Hoành Sơn và Đèo Ngang.  Lãnh thổ có thể có thêm Quảng Bình và Quảng Trị (cho đến Thừa Thiên) nhưng không có gì chắc chắn. 

 

Theo Văn Hóa Đông Sơn, từ khoảng 1000 năm tr CN (thế kỷ thứ 11 tr CN) đã có người sinh sống trước đó và gây dựng một nền văn hóa ở đây.  Đó là dân tộc Lạc Việt, đã được sử gia hiện đại công nhận là một trong các dân tộc Việt trong nhóm Bách Việt.  Dần dần người dân Lạc Việt có nhiều bộ tộc hay bộ lạc.  Người Lạc Việt cũng được biết có sinh sống ở những vùng thuộc Tây Nam Quảng Đông và Đông Nam Quảng Tây của Trung Quốc ngày nay.

 

Theo Đại Việt Sử Lược, cùng thời với vua Chu Trang Vương trong thời Xuân Thu bên Tàu vào thế kỷ thứ 7 tr CN, bắt đầu có chính quyền quân chủ của người Lạc Việt dưới sự lãnh đạo của vua Hùng Vương đóng đô ở Phong Châu (thuộc huyện Bạch Hạc, tỉnh Phú Thọ ngày nay).  Đó là nơi có Đền Hùng Vương.  Có tất cả 18 đời Hùng Vương từ khoảng 696-682 tr CN. (đời Chu Trang Vương) cho tới 258 tr CN (trong hơn 400 năm).  Sử Tàu gọi Hùng Vương là Lạc Vương và danh hiệu Hùng Vương là từ sử liệu của người Việt (từ Việt Sử Lược vào thế kỷ 14).  

Hùng Vương có quan lại phụ tá ở trung ương là những (quan) Lạc Hầu.  Địa phương có những Bộ cai quản bởi quan Lạc Tướng.  Dưới Lạc Tướng là các quan Bố Chính cai quản từng khu vực nhỏ (làng xã). 

 

Nước có tên là Văn Lang và chia ra 15 Bộ.  Nước Văn Lang là Miền Bắc Việt Nam ngày nay.  

Địa điểm và tên của 15 Bộ được sử gia ngày nay ấn định: 

Văn Lang: kinh đô Phong Châu (h. Bạch Hạc, tỉnh Phú Thọ ngày nay)

Châu Diên (vùng Sơn Tây ngày nay)

Phúc Lộc (vùng Sơn Tây ngày nay)

Tân Hưng (vùng Tuyên Quang và Hưng Hóa ngày nay)

Vũ Định (vùng Thái Nguyên và Cao Bằng ngày nay)

Vũ Ninh (vùng Bắc Ninh ngày nay)

Lục Hải (vùng Lạng Sơn ngày nay)

Ninh Hải (vùng Quảng Yên ngày nay)

Dương Tuyền (vùng Hải Dương ngày nay)

Giao Chỉ (vùng Hà Nội, Nam Định và Ninh Bình ngày nay)

Cửu Chân (vùng Thanh Hóa ngày nay)

Hoài Hoan (vùng Nghệ An ngày nay)

Cửu Đức, Bình Văn và Việt Thường (vùng Hà Tĩnh, và bắc Hoành Sơn ngày nay)

 

Dân Lạc Việt sống bằng nông nghiệp với những ruộng lúa cạnh sông, cày cấy theo thủy triều lên xuống.  Phong tục thuần hậu nhưng không có Chữ viết.  Ngôn ngữ của dân Lạc Việt trước thời Bắc Thuộc chưa được hiểu biết tường tận.  Sử gia thường gọi là "Tiếng Việt cổ".


 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

(Nước Văn Lang thành lập từ thế kỷ thứ 7 vào thời Xuân Thu và nhà Đông Chu ở Trung Quốc)


 

Nguồn sử liệu mới: 

Không có nói tới nguồn gốc Hồng Bàng thị (của Hùng Vương) từ Kinh Dương Vương, nước Xích Quỷ, Lạc Long Quân và Âu Cơ.

Có nói khác với nguồn sử liệu cũ về cơ cấu chính quyền và lãnh thổ của nước Văn Lang.

Có nói tới tên Lạc hay Lạc Việt của dân tộc nước Văn Lang.  Chi tiết nầy không có nói tới trong nguồn sử liệu cũ.

Có nói tới danh hiệu Hùng Vương và Văn Lang như nguồn sử liệu cũ.

 

Năm 258 tr CN, Thục Phán nối nghiệp làm vua, thủ lãnh của các bộ tộc người Âu Việt hay Tây Âu ở Đông Nam Quảng Tây ngày nay, rồi đánh bại Hùng Vương thứ 18 và chiếm chính quyền trung ương của nước Văn Lang.  Thục Phán xưng là An Dương Vương và đổi tên nước là Âu Lạc (257 tr CN).  Nước Âu Lạc gồm có lãnh thổ nước Văn Lang cũ và thêm phần đất của người Âu Việt (Đông Nam Quảng Tây ngày nay).

 

Năm 208 tr CN, quan Úy quận Nam Hải của nhà Tần là Triệu Đà đánh bại An Dương Vương Thục Phán và thôn tính nước Âu Lạc.  Triệu Đà xưng là Triệu Vũ Vương và lập nước Nam Việt.  Nước Nam Việt gồm có 2 tỉnh Quảng Đông và Quảng Tây và Miền Bắc Việt Nam ngày nay.  Triệu Đà chia nước Văn Lang cũ (Miền Bắc Việt Nam ngày nay) thành 2 quận Giao Chỉ và Cửu Chân.  Quận Giao Chỉ là Bắc Kỳ ngày nay và quận Cửu Chân là bắc Trung Kỳ ngày nay (Thanh Hóa, Nghệ An và Hà Tĩnh).  Về sau (trong thời nhà Triệu) một phần đất phía nam của quận Cửu Chân tách ra thành quận Nhật Nam.

Năm 111 tr CN, nhà Hán của Trung Quốc chiếm và tiêu diệt nước Nam Việt.  Miền Bắc Việt Nam ngày nay là 3 quận Giao Chỉ, Cửu Chân và Nhật Nam trở thành quận của Trung Quốc.  


 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

(Nước Văn Lang và đất Âu Việt)


 

Địa danh và Nhân danh 

 

Những Sử liệu đầu tiên về người Lạc Việt và nước Văn Lang viết bởi sử gia Trung Quốc từ thời nhà Hán nên bằng Hán tự.  Người Lạc Việt và nước Văn Lang không có Chữ viết (văn tự) mặc dù có ngôn ngữ mà các sử gia ngày nay gọi là Tiếng Việt Cổ.  Hiện nay đã có những khám phá ra Chữ Việt Cổ (trong thời Thượng Cổ) nhưng còn quá hạn chế và chưa chính thức được hoàn toàn hiểu biết và công nhận. 

Như vậy tất cả nhân danh (tên người) và địa danh có trong Sử liệu đầu tiên đều có nguồn gốc từ Sử gia Trung Quốc nên đều bằng Hán ngữ.  Những nhân danh hay địa danh có trước thời Bắc Thuộc có lẽ được sử gia Tàu dịch âm từ ngôn ngữ địa phương (Tiếng Việt Cổ?) hay tự đặt ra.

 

Dưới đây là giả thuyết về một số danh hiệu bằng Hán tự và Hán ngữ:

 

Văn Lang 文 郎

"Văn Lang" dịch âm ra Hán ngữ từ tiếng Việt Cổ "Blang" hay "Klang" mà nhiều dân tộc ở miền núi Trung Kỳ ngày nay còn dùng cho tên của 1 loại Chim họ tôn kính như vật tổ.  Một loại Chim có thể là "Tổ Vật" của người Lạc Việt nên dùng để đặt cho tên quốc gia?  (Chữ Văn Lang 文 郎 viết theo Hán tự dịch nghĩa Hán ngữ là chàng trai văn vẻ và có học thức).

 

Lạc Việt 雒 越

"Lạc" dịch âm ra Hán ngữ từ tiếng Việt Cổ "Lak" hay "Nak" có nghĩa là "Nước" (Water).  Quốc gia Văn Lang có nhiều "Ruộng nước".  Theo Hán ngữ "Ruộng" là "Điền".  Do đó người Tàu tạo ra Hán ngữ "Lạc điền" cho "Ruộng nước" ở đây.  Từ đó người Tàu gọi người dân ở đây là "người Lạc" (Lạc nhân), từ Lạc điền.  (Chữ Lạc 雒 viết theo Hán tự dịch nghĩa Hán ngữ là con ngực da trắng có lông gáy màu đen).  

Người Tàu gọi tổng quát những dân tộc ở phía Nam và Đông Nam dãy núi Ngũ Lĩnh là người Việt 越, có lẽ lấy từ tên của nước Việt vào thời Xuân Thu hay sự tích có người Việt Thường đến gặp vua Thành Vương của nhà Tây Chu vào năm 1109 tr CN.  (Sau đó vì có nhiều giống người Việt khác nhau nên gọi tổng hợp là Bách Việt).  Do đó người Tàu gọi thêm người Lạc là người Lạc Việt 雒 越.  

 

Hùng Vương 雄 王

Chữ Lạc 雒 và chữ Hùng 雄 viết theo Hán tự gần giống nhau nên Sử gia người Việt sau nầy đổi chữ "Lạc Vương" (vua của người Lạc Việt) của Sử gia Trung Quốc thành chữ "Hùng Vương" cho có ý nghĩa "mạnh" hơn hay viết lộn?  (Chữ Hùng 雄 dịch nghĩa theo Hán ngữ là "mạnh / strong").


 

Tiền Sử của người Lạc Việt

 

Trước Thời Cổ Đại hay Thượng Cổ của Lịch sử là thời Tiền Sử (thời trước khi có lịch sử).  

Thời Tiền Sử có 3 Thời đại nối tiếp nhau: Đồ Đá (Stone Age), Đồ Đồng (Bronze Age) và Đồ Sắt (Iron Age).  Tùy theo từng nơi khác nhau trên Địa cầu, Lịch sử bắt đầu ở Thời đại khác nhau tùy thuộc vào sự thành lập hay du nhập của Chữ viết ở từng địa phương (thường là vào Thời Đồ Đồng).

Trong Thời đại Đồ Đồng (Bronze Age) vào khoảng trước 5.000 năm tr CN có các giống người Tiền sử ở Đông và Đông Nam Á Châu và Úc Châu ngày nay:

Australoids

Neolithic Austroasiatic

Austronesian

Kra-Dai

Hmong Mien 

 

Theo các sử gia hiện đại (Wikipedia):

Người "Bản xứ" ở Miền Bắc Việt Nam ngày nay (trung tâm là đồng bằng sông Hồng và sông Mã) là hậu duệ của người Hmong-Mien (Miêu-Dao) ở những cộng đồng nông nghiệp thuộc lưu vực sông Trường Giang (s. Dương Tử).   Họ di cư đến đây vào khoảng 2000 năm tr CN và có di tích là Văn hóa Phùng Nguyên.  Văn hóa Phùng Nguyên (khoảng 1500-2000 năm tr CN) tìm được từ khai quật đầu tiên ở làng Phùng Nguyên (18 km đông Thành phố Việt Trì) vào năm 1958.  

Vào khoảng 1000-1200 tr CN thì bắt đầu có Văn hóa Đông Sơn của người "Bản xứ" ở đây với loại Trống Đồng đặc biệt.  

Từ thế kỷ thứ 7 tr CN, người "Bản xứ" lập thành quốc gia với chính quyền quân chủ ở Miền Bắc Việt Nam ngày nay.  

Từ thế kỷ thứ 3 tr CN, người Tàu đến Miền Bắc Việt Nam ngày nay đem Chữ Hán (Hán tự) và dùng Hán ngữ viết Lịch sử của người "Bản xứ", gọi tên quốc gia là nước Văn Lang, người dân là người Lạc Việt và vua là Lạc Vương.  Theo người Tàu thì khi đó người "Bản xứ" chưa có Chữ viết, nhưng có 1 số sử gia ngày nay không đồng ý.  Tuy nhiên Ngôn ngữ và Chữ viết của người "Bản xứ" gọi là "Tiếng Việt Cổ" và "Chữ Việt Cổ" thì chưa được sử gia hiện đại khám phá đầy đủ, hiểu biết rõ ràng và phổ biến minh bạch.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

(Những người Tiền Sử ở Đông Nam Á Châu và Úc Châu)

 

Như vậy Tổ tiên của người Lạc Việt từ người Hmong-Mien (Miêu Dao) ở lưu vực sông Trường Giang di cư tới Miền Bắc Việt Nam ngày nay trong thời Tiền Sử.

Tổ tiên của người Tàu (Hoa Hạ) là những người sống ở lưu vực sông Hoàng Hà trong thời Tiền Sử:

Tam Hoàng 

Ngũ Đế

Nhà Hạ (khoảng 2070 tr CN - 1600 tr CN)

Lịch sử Trung Quốc chỉ chính thức bắt đầu với nhà Thương (từ 1600 tr CN) dựa trên Giáp Cốt Văn tự trên các mu rùa.  Giáp Cốt văn tự là chữ viết đầu tiên của Trung Quốc.  Khi có Chữ viết tự tạo hay du nhập từ nơi khác thì một địa phương bắt đầu có lịch sử (của nó): chữ viết ghi lại lịch sử.  Nhà Thương theo thời gian là nối tiếp của nhà Hạ với cùng một lãnh thổ nhưng điều lạ là Giáp Cốt Văn của nhà Thương không có viết gì về thời Tam Hoàng, Ngũ Đế và nhà Hạ.  Thời Tiền Sử nầy chỉ được viết từ những thời đại khác hàng mấy ngàn năm sau đó nên không thể có thật mà chỉ là hoang đường tưởng tượng?

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

(Lãnh thổ của nhà Hạ, và lúc bắt đầu của nhà Thương vào năm 1600 tr CN)

 

Tam Hoàng là 3 vị "bán thần" giúp người dân sinh sống; gồm có Phục Hy, Toại Nhân (hay Nữ Oa) và Thần Nông.  Tương truyền gọi là Thần Nông vì là vị Thần sáng tạo ra nghề nông và biết dùng cây cỏ để chữa bệnh.

Ngũ Đế là 5 vị quân chủ (monarch) không cùng huyết thống truyền ngôi cho nhau theo thứ tự là: Hoàng Đế, Chuyên Húc, Đế Cốc, Đế Nghiêu và Đế Thuấn.

Đế Thuấn truyền ngôi cho Hạ Vũ.  Hạ Vũ truyền ngôi cho con cháu cùng huyết thống lập ra nhà Hạ.

Thời Tiền Sử của Trung Quốc chấm dứt vào năm 1600 tr CN (bắt đầu thế kỷ thứ 16) với bắt đầu của nhà Thương.  Gọi là Thời Tiền Sử vì không có Chữ viết.  Trong thời Tiền Sử nầy người Tàu biết dùng lửa, cất nhà, trồng ngũ cốc, làm quần áo, chài lưới, có lễ nghi...

 

Do đó vào thời điểm khoảng 5.000 tr CN, tổ tiên của người Tàu và của người Việt đã sống ở 2 nơi khác nhau.

Tổ tiên của người Tàu sống và định cư ở lưu vực sông Hoàng Hà.

Tổ tiên của người Việt sống ở lưu vực sông Trường Giang (s. Dương Tử) rồi một nhóm di cư đến định cư ở lưu vực sông Hồng và sông Mã (Miền Bắc Việt Nam ngày nay) vào khoảng năm 2000 tr CN.


 

LỊCH SỬ MỚI VỀ NHÓM NGƯỜI BÁCH VIỆT

 

Lịch sử nước Âu Lạc (và nước Văn Lang) của người Lạc Việt và Âu Việt cũng nằm trong lịch sử Trung Quốc và Bách Việt ở Lĩnh Nam.  Huyền sử nước Xích Quỷ của người Việt tuy làm cho hậu sinh liên kết nó với nguồn gốc của nhóm người Bách Việt nhưng chính nó chỉ là hoang đường và không có thật mặc dù có sự tương tự giữa lãnh thổ của nước Xích Quỷ và của nhóm người Bách Việt.


 

Trung Quốc và Bách Việt

 

Người Tàu từ đời nhà Hạ (2070-1600 tr CN) cho tới thời Chiến Quốc (473-221 tr CN) gọi mình là người Hoa Hạ để phân biệt với nhiều giống người thiểu số khác (mà người Hoa Hạ gọi là Rợ / Barbarians) sống trong cùng một lãnh thổ.  

Theo thuyết Thiên Mệnh của nhà Tây Chu (từ 2 người con của Chu Văn Vương là Chu Công Đán và Thiệu Công Thích), lãnh thổ Trung Quốc lúc đó gọi là Thiên Hạ (Dưới Trời) có một lãnh tụ tối cao và độc nhất là Thiên Tử (Con Trời), có Thiên Mệnh (Mệnh Trời) cai trị tất cả mọi người.  Thiên tử lần lượt là vua nhà Hạ, nhả Thương và nhà Chu (Tây Chu rồi Đông Chu trong thời Xuân Thu và Chiến Quốc).  Lúc đầu từ thời nhà Tây Chu, Thiên Hạ gồm có Trung Quốc là nước của Thiên tử Nhà Chu, các Phương quốc là các nước của các Chư Hầu và đất nước của những người Thiểu số (gọi là Rợ).  

Khi nhà Tần thống nhất Thiên hạ (221 tr CN), chấm dứt thời Chiến Quốc, và Tần Thủy Hoàng Đế làm Thiên tử xưng là Hoàng đế thì Thiên Hạ là Trung Quốc vì không còn Chư hầu và Phương Quốc nữa.  Lúc đó người Hoa Hạ cũng gần như đồng hóa những người Thiểu số (như những người Địch, Nhung, Di, Man, Ba, Thục...) và đã thôn tính đất nước của họ.  Sau đó Nhà Hán thay thế nhà Tần.  Từ đó người Hoa Hạ là người Hán (Hán nhân, Hán tộc).  Danh từ Trung Quốc và Hán tộc tồn tại cho tới ngày nay. 

Lãnh thổ Trung Quốc trong thời gian bắt đầu của nhà Tần ở lưu vực sông Vị, sông Phần Thủy, sông Hoàng Hà và sông Trường Giang (s. Dương Tử); thuộc phía Bắc và Tây Bắc dãy núi Ngũ Lĩnh.  

 

Từ thế kỷ thứ 9 tr CN vào thời Xuân Thu, người Hoa Hạ đã biết có 2 bộ lạc của người Việt lập thành 2 nước chư hầu Ngô và Việt, được ghi trong chính sử của người Hoa Hạ là Tả Truyện và kinh Xuân Thu.

Nước Ngô của người Câu Ngô (ở miền Nam tỉnh Giang Tô ngày nay). 

Nước Việt 越 của người Ư Việt (ở miền Bắc tỉnh Triết Giang ngày nay).  

Tương truyền họ có văn hóa gần như người Hoa Hạ nhờ Thái Bá (con của Chu Văn Vương của nhà Tây Chu) tự lưu đày ở đây.  Người Câu Ngô và Ư Việt thường được gọi chung là người Đông Âu Việt hay Đông Âu. 

Năm 473 tr CN, Việt Vương Câu Tiễn thôn tính nước Ngô, đây là năm đánh dấu chấm dứt thời Xuân Thu và bắt đầu thời Chiến Quốc.  Năm 333 tr CN, nước Việt bị nước Sở (của người Hoa Hạ và dân tộc thiểu số khác) thôn tính.  Hoàng tộc dời về vùng đất của tỉnh Phước Kiến ngày nay lập nước Mân Việt và cai trị người bản xứ.  Người bản xứ là người Mân Việt.

 

Đến thời Chiến Quốc, người Hoa Hạ mới chú ý đến những giống người ở Nam và Đông Nam của dãy núi Ngũ Lĩnh.  Họ gọi tổng quát là Người Việt 越 (Việt Nhân), có lẽ lấy từ tên nước Việt của thời Xuân Thu ở Đông Nam dãy núi Ngũ Lĩnh hay từ người Việt Thường 越 裳 ở phương Nam đã đến gặp vua Chu Thành Vương (1109 tr CN). 

Sách Lã Thị Xuân Thu của nước Tần vào cuối thời Chiến Quốc, viết xong vào năm 239 tr CN, nói tới "Bách Việt" 百 越.

Theo Sử Ký của Tư Mã Thiên của thời Tây Hán, trong phần "Ngô Khởi truyện", Bách Việt là từ ngữ dùng chung cho nhiều giống người không phải là người Hoa Hạ, sống ở miền Nam và Đông Nam của Trung Quốc.  Vì là nhiều giống người Việt nên gọi tổng hợp là Bách Việt (bách = 100), nhưng không có nghĩa là phải đúng 100 giống người Việt, có thể là 5, 10 hay 20 hoặc không biết hết.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

(Dãy núi Ngũ Lĩnh gồm có: Đại Dũ, Thủy An, Lâm Hạ, Quế Dương, Yết Dương)


 

Sau cuộc viễn chinh "Bách Việt" trong đời Tần Thủy Hoàng, người Hán biết rõ hơn về người Bách Việt.

Theo Hán Thư của Ban Cố và em gái là Ban Cơ (viết xong vào năm 111): “Trong vòng 7, 8 ngàn dặm giữa Giao Chỉ và Cối Kê ở đâu cũng có Bách Việt, mỗi nhóm có các thị tộc của mình”.  Giao Chỉ là miền Bắc Việt Nam bây giờ và Cối Kê ở bắc tỉnh Chiết (Triết) Giang của Trung Quốc bây giờ.  Do đó đất nước của những giống người Bách Việt có thể là ở miền Nam và Đông Nam của dãy núi Ngũ Lĩnh, bắt đầu có tên là Lĩnh Nam trong thời nhà Tần. 

 

Nếu so sánh với địa lý ngày nay, 

Vùng đất của người Hoa Hạ và người Hán là các tỉnh Hà Bắc, Hà Nam, Sơn Đông; Sơn Tây, Thiểm Tây, Cam Túc, Tứ Xuyên; Giang Tô, An Huy và Hồ Bắc.

Vùng đất của người Việt hay Bách Việt là các tỉnh Hồ Nam, Triết Giang (Chiết Giang), Giang Tây; Quí Châu, Vân Nam; Phúc Kiến, Quảng Đông và Quảng Tây và Miền Bắc Việt Nam ngày nay (gồm có Bắc Kỳ và bắc Trung Kỳ). 


 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 


 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Sau khi gồm thâu các nước của thời Chiến Quốc và thống nhất Trung Quốc (vùng đất của người Hoa Hạ và của người Hán sau nầy), Tần Thủy Hoàng chinh phạt (những) người Bách Việt.  Theo sách Hoài Nam Tử, vào năm 214 tr CN, Tần Thủy Hoàng sai Đồ Thư đem khoảng nửa triệu quân theo dòng sông Tương xuống phương Nam và phải đánh 2 lần mới thắng được những người Bách Việt ở Hồ Nam, Giang Tây, Quảng Đông và Quảng Tây ngày nay và lập thành 3 Quận thuộc nước Tần (Nam Hải, Quế Lâm và Tượng Quận).  Tần Thủy Hoàng di dân Trung Quốc về đây dùng chương trình đồng hóa người Việt bản xứ.  Những người Bách Việt sống ở đây là thuộc giống người Hồ Việt, Đông Việt, Dương Việt, Nam Việt và Tây Âu Việt.

 

Năm 208 tr CN, Quan Úy của quận Nam Hải (của nhà Tần) là Triệu Đà đánh bại và thôn tính vương quốc Âu Lạc (của người Tây Âu Việt và Lạc Việt).  Triệu Đà đóng đô ở Phiên Ngung hay Phiên Ngô (thuộc Tp Quảng Châu ngày nay) và lập nên nước Nam Việt, độc lập với chính quyền Trung Quốc (nhà Tần và nhà Hán).  Triệu Đà để người Bách Việt được sống chung với người di cư từ Trung Quốc, không kỳ thị và đồng hóa.  Nước Nam Việt của nhà Triệu gồm Quảng Đông, Quảng Tây và Miền Bắc Việt Nam ngày nay.  Nước Âu Lạc gồm một phần phía nam của tỉnh Quảng Tây và Miền Bắc Việt Nam ngày nay.

 

Sau nhà Tần, nhà Hán chiếm hoàn toàn những Đất Nước của những người Bách Việt:

chiếm nước Nam Việt của Triệu Đà gồm Quảng Đông, Quảng Tây và Miền Bắc Việt Nam ngày nay. 

chiếm nước Dạ Lang của người Việt là Quý Châu ngày nay. 

chiếm đất của người Điền Việt là Vân Nam ngày nay. 

chiếm nước Mân Việt của người Mân Việt và Ư Việt là Phước Kiến và nam Triết Giang ngày nay

PTH_xichquy.JPG
PTH_nuocVanLang.JPG
PTH_mienBacVN.JPG
PTH_vanLangtky7.JPG
PTH_NuocVanLangvadatAuLac.JPG
PTH_nguoitiensu.JPG
PTH_lanhthoNhaHa.JPG
PTH_daynuiNguLinh.JPG
PTH_cactinhTrungQuoc.JPG

(Các tỉnh Trung Quốc ngày nay)

PTH_NhahanchinhphatLinhNam.JPG

(Nhà Hán chinh phạt Lĩnh Nam)

 

Bách Việt và Lĩnh Nam

 

Sự hiện hữu của nhóm những người Bách Việt  ở Nam và Đông Nam của dãy núi Ngũ Lĩnh (Lĩnh Nam) đã có từ nhiều thế kỷ trước CN tuy nhiên bắt đầu từ thời điểm nào thì không ai biết.  Từ thời Xuân Thu của nhà Đông Chu sự hiện hữu mới có trong lịch sử Trung Quốc (sách Tả Truyện và kinh Xuân Thu).

 

Nhóm Bách Việt ở phương Bắc:

Người Câu Ngô sống ở nam tỉnh Giang Tô ngày nay lập nên nước Ngô vào thời Xuân Thu.  Nước Ngô bị nước Việt thôn tính năm 473 tr CN.  Người Câu Ngô có văn hóa Hoa Hạ nhờ theo truyền thuyết Thái Bá con của Chu Văn Vương của nước Tây Chu tự lưu đày ở đây và giáo hóa người Câu Ngô.

Người Ư Việt sống ở tỉnh Triết Giang ngày nay lập nước Việt vào thời Xuân Thu và thôn tính nước Ngô của người Câu Ngô.  Sau đó nước Việt bị nước Sở thôn tính vào thời Chiến Quốc.  Người Câu Ngô và Ư Việt thường được gọi chung là Ngô Việt.  

Người Mân Việt sống ở tỉnh Phước Kiến.  Hoàng gia nước Việt sau khi mất nước chạy về đây cùng người Mân Việt lập nước Mân Việt (334-110 tr CN) cho đến khi bị nhà Hán thôn tính.

Người Hồ Việt sống ở tỉnh Hồ Nam ngày nay.  Đất bị Tần Thủy Hoàng chiếm (214 tr CN).

Người Đông Việt (và Dương Việt) sống ở tỉnh Giang Tây ngày nay.  Đất bị Tần Thủy Hoàng chiếm (214 tr CN).

Người Dạ Lang thuộc Bách Việt sống ở tỉnh Quý Châu và lập nước Dạ Lang từ thế kỷ thứ 3 tr CN và bị nhà Hán thôn tính vào năm 27 tr CN.

Người Điền Việt sống ở tỉnh Vân Nam và lập Điền Quốc, rồi cũng bị nhà Hán thôn tính.

 

Nhóm Bách Việt ở phương Nam:

Người Nam Việt sống ở Quảng Đông và Quảng Tây ngày nay.  Đất bị Tần Thủy Hoàng chiếm (214 tr CN).

Người Tây Âu Việt (hay Tây Âu hay Âu Việt) sống ở tây nam Quảng Tây ngày nay theo lưu vực sông Tây Giang và Quế giang.  Một phần đất bị Tần Thủy Hoàng chiếm cùng lúc với người Hồ Việt, Đông Việt và Nam Việt (214 tr CN).  Phần đất kia trước đó đã theo thủ lãnh là Thục Phán sát nhập vào nước Văn Lang của người Lạc Việt khi Thục Phán chiếm nước Văn Lang (257 tr CN) thành ra nước Âu Lạc.

Người Lạc Việt 雒 越 đại đa số sống ở Miền Bắc Việt Nam ngày nay và hình như thiểu số sống ở nam Quảng Đông và Quảng Tây. "Lạc" theo Hán ngữ có nghĩa là "con ngựa da trắng với lông bờm màu đen".  Người Lạc Việt ở miền Bắc Việt Nam ngày nay có nước Văn Lang ở đây thành lập từ thế kỷ thứ 7 tr CN và có 18 đời vua là Hùng Vương.  (Theo truyền thuyết, Hùng Vương là dòng dõi từ Kinh Dương Vương là người lập ra nước Xích Quỷ.  Cũng theo truyền thuyết nước Xích Quỷ là quốc gia của toàn thể người Bách Việt từ lúc đầu).

PTH_vitrivungBachViet.JPG

(Người Bách Việt ở Lĩnh Nam) 


 

Nước Văn Lang bị Thục Phán, một thủ lãnh của người Tây Âu Việt chiếm và lập thành nước Âu Lạc (257 tr CN).  Dưới quyền cai trị của An Dương Vương Thục Phán, lãnh thổ nước Âu Lạc là lãnh thổ của nước Văn Lang cũ nhưng có thể có thêm một phần của nam tỉnh Quảng Tây (phần đất người Âu Việt dưới quyền của Thục Phán cư ngụ).  An Dương Vương xây Loa Thành ở kinh đô Cổ Loa vẫn còn di tích tới nay ở xã Cổ Loa, Hà Nội.  Như vậy dân của nước Âu Lạc đại đa số là người Lạc Việt, thiểu số là người Âu Việt.  Nước Âu Lạc tồn tại 50 năm (từ 257 tr CN) với 1 đời vua là An Dương Vương Thục Phán. 

Triệu Đà, quan Úy quận Nam Hải của nhà Tần, đánh bại An Dương Vương, thôn tính nước Âu Lạc, lập thành nước Nam Việt (208 tr CN).  Lãnh thổ gồm Quảng Đông, Quảng Tây và Miền Bắc Việt Nam ngày nay.  Dân tộc của nước Nam Việt của Triệu Đà gồm người Hoa Hạ (người Hán) đã di cư vào Quảng Đông và Quảng Tây trong thời Tần Thủy Hoàng đế; người Nam Việt và người Tây Âu Việt bản xứ ở Quảng Đông và Quảng Tây; người Tây Âu Việt và người Lạc Việt bản xứ của nước Âu Lạc. 

Năm 111 tr CN, Nhà Hán thôn tính nước Nam Việt của nhà Triệu, nhập lãnh thổ vào Trung Quốc và lập thành Giao Chỉ bộ gồm 9 quận, đặt quan Thái thú và Thứ sử cai trị.

 

Như vậy nước Âu Lạc của người Lạc Việt và người Tây Âu Việt thành thuộc địa của Trung Quốc cho tới thế kỷ thứ 10 khi ông Ngô Quyền dành độc lập và đóng đô ở Cổ Loa, kinh đô cũ của nước Âu Lạc.  Sau đó ông Đinh Bộ Lĩnh lập nước Đại Cồ Việt với lãnh thổ là miền Bắc Việt Nam ngày nay.  Sau nầy nước Đại Cồ Việt đổi tên thành Đại Việt và bành trướng thành nước Việt Nam ngày nay gồm thêm Miền Nam Việt Nam.

 

Miền Bắc Việt Nam ngày nay gồm có Bắc Kỳ và các tỉnh ở bắc Trung Kỳ (tới Hoành Sơn và Đèo Ngang).  Nó là 3 quận Giao Chỉ, Cửu Chân và Nhật Nam trong thời Bắc Thuộc nước Tàu (quận Giao Chỉ là Bắc Kỳ).


 

LỊCH SỬ MỚI VỀ NƯỚC ÂU LẠC

 

Câu chuyện Mỵ Châu Trọng Thủy cũng như Thần Kim Quy chỉ là chuyện thần thoại khó có thể có thật.

 

Ngày nay lịch sử nước Âu Lạc được tóm tắt như sau:

Năm 258 tr CN, Thục Phán, 1 thủ lãnh của người Âu Việt (hay Tây Âu) đánh bại Hùng Vương của nước Văn Lang, nắm chính quyền trung ương và đóng đô ở Phong Khê (nay ở xã Cổ Loa, huyện Đông Anh, tỉnh Hà Nội).  Lãnh thổ có thêm phần đất của Thục Phán và người Âu Việt dưới quyền (nay ở đông nam tỉnh Quảng Tây).  Năm 257 tr CN, Thục Phán xưng là An Dương Vương và xây Loa Thành (thành Cổ Loa).  Nước đổi tên là Âu Lạc.  Chính quyền địa phương của những Lạc Tướng cai trị 15 Bộ ở địa phương vẫn không thay đổi (cho tới cả trong thời Bắc Thuộc).  Dân tộc gồm người Lạc Việt của nước Văn Lang cũ (Miền Bắc Việt Nam ngày nay) và người Âu Lạc dưới quyền cai trị của Thục Phán (ở đông nam Quảng Tây ngày nay).   

 

Năm 208 tr CN, Triệu Đà, quan Úy quận Nam Hải của nhà Tần và nhà Hán, đánh bại Thục An Dương Vương và thôn tính nước Âu Lạc.  Triệu Đà lập nước Nam Việt độc lập với nhà Hán xưng là Nam Việt Vũ Vương.  Lãnh thổ của nước Nam Việt gồm có 2 tỉnh Quảng Đông và Quảng Tây ngày nay và Miền Bắc Việt Nam ngày nay (nước Văn Lang cũ).  Miền Bắc Việt Nam ngày nay gồm Bắc Kỳ và bắc Trung Kỳ (Thanh Hóa, Nghệ An và Hà Tĩnh cho tới Hoành Sơn và Đèo Ngang).

 

Ngày nay có giả thuyết là Triệu Đà chiếm nước Âu Lạc vào năm 179 tr CN chứ không phải vào năm 208 tr CN.  Thời điểm nầy rất quan trọng vì nó là thời điểm bắt đầu Thời Bắc Thuộc (chấm dứt khi Ngô Quyền dành độc lập vào năm 938).

Theo Đại Việt Sử Ký Toàn Thư (thế kỷ 15) và Đại Việt Sử Lược (thế kỷ 14), nước Âu Lạc kết thúc vào năm 208 tr CN sau khi An Dương Vương bị Triệu Đà đánh bại và sát nhập thành nước Nam Việt.

Theo Sử Ký của Tư Mã Thiên (thế kỷ 1 tr CN) viết rằng Tây Âu Lạc (tức là nước Âu Lạc ở phía Tây) bị Triệu Đà đánh bại ngay sau khi Thái hậu nhà Hán là Lữ Hậu chết vào năm 180 tr CN, vì thế một số sách ngày nay viết là nước Âu Lạc sụp đổ vào năm 179 tr CN.

Điều nầy chưa chắc Sử Ký (là) hoàn toàn đúng vì nước Âu Lạc chỉ có 1 vua là Thục An Dương Vương.  Từ năm 257 tr CN (khi nước Âu Lạc thành lập) cho tới năm 179 tr CN là 79 năm!  Thời gian từ năm 257 tr CN tới năm 208 tr CN là 50 năm thì có lý hơn vì Thục An Dương Vương khó có thể làm vua đến hơn 79 năm (và sống đến khoảng 100 tuổi hay hơn nữa).

PTH_NuocAuLac.JPG

(Nước Âu Lạc)

 

Năm 214 tr CN, người Tàu chiếm đất tới Lưỡng Quảng ngày nay thì tiếp xúc nước Âu Lạc và sau đó thôn tính nước nầy.  Danh hiệu Âu Lạc cũng từ Hán ngữ và Hán tự của người Tàu cũng như danh hiệu của những người trong nhóm Bách Việt (như Lạc Việt, Âu Việt, Nam Việt...).   Rất tiếc chúng ta không biết được danh hiệu của nước Âu Lạc cũng như địa danh và nhân danh của nước nầy bằng ngôn ngữ bản xứ.  Tuy nhiên sử gia vẫn tin là có nước Âu Lạc trong thời điểm và địa điểm nầy và đó là điều hợp lý.  Người Tàu (Hán) đã dùng danh hiệu Lạc Việt và Âu Việt cho người dân thì tên nước là Âu Lạc là điều dĩ nhiên?

 

KẾT LUẬN

 

Nguồn sử liệu mới đã góp phần viết lại lịch sử thời Thượng Cổ của người Việt chúng ta.  Tuy nhiên những chuyện thần thoại viết trong Lĩnh Nam Chích Quái vẫn còn được người Việt chúng ta tôn trọng và truyền tụng.  Đó là những chuyện được kể đi kể lại nhiều lần đôi khi không còn giống với nguyên văn trong Lĩnh Nam Chích Quái và được Thi nhân dùng làm đề tài sáng tác cho tới ngày hôm nay.

 

Đây là những chuyện chánh trong thời Thượng Cổ: 

Truyện Hồng Bàng (Kinh Dương Vương, Lạc Long Quân và Âu Cơ)

Truyện Trầu Cau

Truyện Đầm Nhất Dạ (Chử Đồng Tử và Tiên Dong)

Truyện Phù Đổng Thiên Vương

Truyện Bánh Dày Bánh Chưng

Truyện Dưa Hấu

Truyện Lý Ông Trọng

Truyện Kim Quy (và Mỵ Châu Trọng Thủy)

Truyện Núi Tản Viên (Sơn Tinh Thủy Tinh)

Những chuyện nầy là căn bản của nguồn sử liệu cũ cho thời Thượng Cổ nhưng cho tới cuối thế kỷ thứ 20 thì một số đã mất dần giá trị khoa học lịch sử.  

 

Truyện "Hồng Bàng", chính thức có trong chính sử là Đại Việt Sử Ký Toàn Thư của Ngô Sĩ Liên, đã được dùng như là nguồn gốc của người Việt chúng ta.  

Có Sử gia ngày nay (như Liam Kelly) nghĩ rằng nó chỉ là sự tưởng tượng thêm của Ngô Sĩ Liên lấy nguồn gốc từ "Lưu Nghị truyện" viết vào thời nhà Tống ở bên Tàu (960-1279).  Truyện nầy kể lại thư sinh Lưu Nghị vào đời Đường Cao Tông (649-683) trên đường tới huyện Kinh Dương thì gặp một thiếu phụ con gái của Long quân của Động Đình hồ.  Thiếu phụ nầy có chồng trước là Long vương của sông Kinh đã ngược đãi bà.   Kết cuộc là Lưu Nghị kết duyên với thiếu phụ nầy.  Câu chuyện nầy giống câu chuyện của Kinh Dương Vương kết duyên với con gái của Động Đình quân trong Hồng Bàng kỷ của Đại Việt Sử Ký Toàn Thư. 

 

Tuy nhiên người Việt ngày nay kể cả tác giả bài viết nầy vẫn tự hãnh diện và tự hào là "giòng giống Lạc Hồng" và "con cháu Hùng Vương" từ truyện "Hồng Bàng".  

 

CON CHÁU HÙNG VƯƠNG

Cội nguồn người Việt tự tiên long

Con cháu Hùng Vương mạnh tựa rồng

Miền Bắc thành công gìn tổ quốc

Phương Nam tiến bộ mở non sông

Tâm tư hậu duệ nên bền chí

Gương sáng tiền nhân giúp vững lòng

Lịch sử hùng anh tồn tại mãi

Vinh danh nước Việt rạng trời Đông.

(Phan Thượng Hải)

4/19/21

 

Nhưng truyện nầy lại gián tiếp ám chỉ rằng người Việt chúng ta và người Tàu (người Hán) có cùng 1 nguồn gốc vào khoảng năm 3000 tr CN.  

Theo những sử gia hiện đại, người Việt chúng ta và người Tàu (người Hán) có thể đã có nguồn gốc khác nhau từ khoảng năm 5000 tr CN trong thời Tiền Sử.  Ước mong trong tương lai có sử gia hay nhà nhân chủng học tài ba làm sáng tỏ vấn đề nầy.


 

Bs PHAN THƯỢNG HẢI biên soạn

 

Bài viết nầy đăng lần đầu tiên trong phanthuonghai.com trong mục Văn Hóa phần Học Thuật.

 

Tài Liệu Tham Khảo:

1) Thơ và Việt Sử - Thời Thượng Cổ (Bs Phan Thượng Hải) - phanthuonghai.com

2) Việt Nam Sử Lược (Trần Trọng Kim)

3) Đại Việt Sử Ký Toàn Thư (Ngô Sĩ Liên)

4) Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục (Quốc Sử Quán Triều Nguyễn)

5) Lĩnh Nam Chích Quái (Trần Thế Pháp)

6) Kinh Dương Vương as a medieval invented tradition - leminhkhai's seasian blog

7) Những Đề tài liên quan trong Wikipedia  

 

Bs PHAN THƯỢNG HẢI biên soạn và giữ bản quyền

________________________

   TRƯƠNG VĨNH KÝ VÀ TRƯƠNG MINH KÝ

                                                                                   

                                             Bs Phan Thượng Hải biên soạn                                                                                        

 

Ba ông Petrus Trương Vĩnh Ký, Trương Minh Ký và Paulus Huỳnh Tịnh Của đã có công dùng chữ Quốc Ngữ để truyền bá và phát huy văn hóa Đông Tây cho người Việt bắt đầu từ Nam Kỳ trong thời Pháp thuộc vào hậu bán thế kỷ thứ 19.  

 

Thành hình của Chữ Quốc ngữ

 

*

Sau khi chiếm toàn bộ Nam Kỳ (1867), Pháp muốn thay đổi văn hóa nước Việt Nam, tách ra khỏi Trung Hoa và gần gũi với Âu Tây hơn do đó chữ Quốc Ngữ được dùng thay thế chữ Hán và chữ Nôm.  Ông Petrus Trương Vĩnh Ký là người khởi công làm việc nầy.  Nhờ công lớn của ông Petrus Trương Vĩnh Ký, ông Paulus Huỳnh Tịnh Của và ông Trương Minh Ký mà người Việt chúng ta mới có chữ Quốc Ngữ ngày hôm nay; dễ dàng, phong phú, hữu dụng, hợp thời và tách ra được chữ Hán và chữ Nôm phức tạp và khó khăn.

 

*

Chữ Quốc Ngữ thành hình là nhờ các giáo sĩ ngoại quốc truyền đạo Gia Tô (đạo Thiên Chúa) ở Việt Nam từ thế kỷ 16.  

 

Theo ông Nguyễn Tường Bách, người bắt đầu sáng tạo chữ Quốc Ngữ là Giáo sĩ dòng Tên Francisco De Pina (1585-1625), người Bồ Đào Nha.  

Giáo sĩ De Pina bắt đầu đến Macao truyền giáo (1613) rồi tới Đàng Trong (1617).   Thấy chữ Hán Nôm khó học nên khó dịch văn bản của Đạo Gia Tô (Ki Tô Giáo), Francisco De Pina dựa theo phát âm (của người Việt) mà dùng mẫu tự La tinh diễn tả thành chữ viết (như chữ Bồ Đào Nha của ông): chữ Quốc Ngữ của nước ta thành hình (từ năm 1622).  

Giáo sĩ De Pina còn viết văn phạm thô sơ cho loại chữ viết mới nầy và từ năm 1624 dạy các giáo sĩ khác trong đó có Antonio De Fontes (1569-?) sinh tại Lisboa (Bồ Đào Nha) và Alexandre De Rhodes (1591-1660) sinh tại Avignon (Pháp).  

Tháng 12, 1625, Giáo sĩ De Pina lên 1 chiếc tàu Bồ Đào Nha ở Đà Nẳng để mang hàng hóa vào bờ nhưng chẳng may tàu chìm, Francisco De Pina chết chìm (lúc 40 tuổi).  Hai Giáo sĩ tiếp tục công nghiệp của ông là Gaspar De Amaral (1549-1646) và Antonio Barbosa (1594-1647).

 

Sau đó có 3 người có công tạo ra chữ Quốc Ngữ được nhắc nhở đến nhiều nhứt: 

1) Thừa Sai Cha Alexandre De Rhodes (1591-1660) là nhà truyền giáo (missionary) dòng Tên người Pháp.  Tên của ông âm ra Hán ngữ là A Lịch Sơn Đắc Lộ.  Năm 1625, ông đến Hội An rồi năm 1627 ra Bắc Hà.  Ông truyền giáo trong 20 năm ở Đàng Trong và Đàng Ngoài và bị trục xuất tất cả 6 lần.  Ông bắt đầu học nói tiếng Việt từ một em bé 12 tuổi ở Hội An.  Chữ Quốc ngữ đã có được từ các giáo sĩ truyền đạo Thiên Chúa (Công Giáo), Cha Đắc Lộ gom lại và viết thành Từ Điển An Nam Bồ (Đào Nha) La Tinh (Dictionarium Anamiticum Lusitanum et Latinum) vào năm 1651.  Cha Alexandre De Rhodes (Đắc Lộ) chết tại Ispahan, Ba Tư (Iran).

2) Thừa Sai Đức Cha Bá Đa Lộc, cũng là người Pháp, tên là Pierre Joseph Georges Pigneau De Béhaine (1741-1799).  Bá Đa Lộc là âm từ chữ Pierre.  Ông còn được gọi là Cha Cả (?) hay Giám Mục Adran (?) hay Bi Nhu quận công (từ chữ Pigneau).  Là Đại Diện Tông Tòa của Đàng Trong (Nam Hà), ông giúp Nguyễn Vương Phúc Ánh chống nhà Tây Sơn.  Giám Mục Bá Đa Lộc viết Từ Điển An Nam La Tinh (Dictionarium Anamitico Latinum) vào năm 1773 gồm 4 thứ chữ: La Tinh, Quốc Ngữ, Hán (Nho) và Nôm.

3) Thừa Sai Cố Jean Louis Taberd (1744-1840) là người Pháp, thuộc dòng La Salle (La San) truyền giáo ở Nam Kỳ (1820-1830).  Tiếng Việt gọi Taberd là “Từ”.  Trường Lasan Taberd thành lập ở Sài Gòn (1873-1975) theo tên của ông.  Cố Taberd dựa vào Đắc Lộ và Bá Đa Lộc viết và xuất bản Nam Việt Dương Hiệp Tự Vị (chữ Quốc Ngữ và La Tinh) ở Calcutta vào năm 1838.  Ngoài ra ông cũng xuất bản Tự Điển của ông Bá Đa Lộc.  

 

Thừa Sai Cố Taberd có một người Việt giúp làm quyển Nam Việt Dương Hiệp Tự Vị là Thầy Philipphê Phan Văn Minh (1815-1853), người Cái Mơn (thuộc tỉnh Vĩnh Long).  Thầy Phan Văn Minh về sau về nước làm Linh Mục và tử đạo.  Theo ông Dương Quảng Hàm, nhờ Cha Phan Văn Minh nầy giúp Cố Taberd nên chữ Quốc Ngữ viết giống như ngày hôm nay. 

PTH_badaloc.JPG

Truyền bá và Phát huy chữ Quốc ngữ

 

*

Ông Petrus Trương Vĩnh Ký (1837-1898), cũng người Cái Mơn như Cha Phan Văn Minh.  Ông mở tờ báo đầu tiên của nước ta là Gia Định Báo từ năm 1865 và in sách để truyền bá văn hóa Đông Tây dùng chữ Quốc Ngữ trong sáng tác và dịch thuật từ chữ Pháp cũng như phiên âm từ chữ Hán Nôm ra chữ Quốc Ngữ.  Gia Định Báo không những là tờ báo đầu tiên mà còn là tờ báo đầu tiên bằng chữ Quốc Ngữ.  Hai phụ tá của ông Trương Vĩnh Ký là ông Paulus Huỳnh Tịnh Của (Chủ bút của Gia Định Báo) và ông Trương Minh Ký (không có liên hệ huyết thống với ông Trương Vĩnh Ký).  

Ông Trương Vĩnh Ký và ông Trương Minh Ký (người Gò Vấp, Gia Định) xuất thân dạy học ở Trường Thông Ngôn (Collège des Interprètes) do người Pháp thành lập từ năm 1862.  Ông Huỳnh Tịnh Của (người Bà Rịa) xuất thân là Thông dịch viên ở Soái Phủ Sài Gòn.   

 

Hai ông Petrus Ký và Paulus Của là người theo đạo Công Giáo (Petrus và Paulus là tên thánh: Phêrô và Phaolồ), cùng xuất thân từ trường đạo ở đảo Penang (nay thuộc Mã Lai) tuy nhiên riêng ông Trương Minh Ký lại theo Nho Giáo.  Ông Trương Minh Ký nguyên tên là Trương Minh Ngôn, nhưng vì kính mến thầy của mình là ông Trương Vĩnh Ký nên ông đổi tên mình bằng cách thêm chữ Kỷ (己) vào sau chữ Ngôn (言) thành chữ Ký (記).  Riêng ông Trương Vĩnh Ký có tên lúc mới sinh là Trương Chánh Ký, từ thời Pháp thuộc ông thường được gọi là Pétrus Ký.

 

*

Năm 1869, chính quyền thuộc địa Pháp chính thức dùng chữ Quốc Ngữ (thay thế chữ Nho) trong các công văn ở Nam Kỳ.  Năm 1879, chữ Quốc Ngữ là chữ độc nhất dùng trong tất cả văn kiện và trong chương trình giáo dục.  Dĩ nhiên từ khi thành thuộc địa của Pháp thì không còn thi Hương ở Nam Kỳ.  Chữ Quốc Ngữ dùng trong giáo dục ở Bắc Kỳ và Trung Kỳ (?) từ năm 1910.  Năm 1915 có khoa thi Hương cuối cùng ở Bắc Kỳ và năm 1919 có khoa thi Hội cuối cùng ở Huế.  

PTH_dsainamquocamtuvi_GiaDinhBao.JPG

*

Tự Vị

 

Ông Paulus Huỳnh Tịnh Của (1834-1907) là người viết “Đại Nam Quấc Âm Tự Vị”, quyển “tự điển” (Dictionary) đầu tiên của Việt Nam xuất bản lần đầu tiên ở Sài Gòn (năm 1895).

Đây là những dẫn giải về cuốn sách nầy của tác giả (ông Paulus Huỳnh Tịnh Của): 

Tự Điển, Tự Vị khác nhau có một sự rộng hẹp.  Tự Điển phải có chú giải; mỗi chữ, mỗi tiếng đều phải dẫn điển dẫn tích, nguyên là chữ sách nào, lời ai nói, cả thảy đều phải có kinh truyện làm thầy.  Chỉ như Tự Vị cũng là sách hội biên các thứ chữ cùng các tiếng nói, song trong ấy thích chữ một, mà không cần dẫn điển tích gì.

Đại Nam Quốc Âm Tự Vị tham dụng chữ Nho (Hán) có giải nghĩa có dẫn chứng, mượn 24 chữ cái phương Tây làm chữ bộ. 

 

Ông Paulus Của còn dịch “Phép Toán” (Arithmétique) và “Phép Đo” (Géométrie) từ sách Pháp vào năm 1867.

 

*

Sáng tác và Dịch thuật bằng chữ Quốc ngữ 

 

Ông Petrus Trương Vĩnh Ký (1837-1898) là người đầu tiên:

Có tác phẩm Văn xuôi bằng chữ Quốc Ngữ: “Chuyện đời xưa lựa nhón lấy những chuyện hay và có ích”. (1866).  Sau nầy rút ngắn lại là “Chuyện đời xưa”.

Có tác phẩm chữ Hán Nôm chuyển thành chữ Quốc Ngữ: “Kim Vân Kiều truyện” (1875) và “Đại Nam quốc sử diễn ca” (1875).

Có tác phẩm (văn xuôi) chữ Hán viết ra chữ Quốc Ngữ: “Tứ Thư” (1889), “Minh Tâm Bửu Giám” (1891-93) ...

Có từ điển Pháp Việt / Petit dictionnaire francais-anamite (1867).

 

Ông Trương Minh Ký (1855-1900) là người đầu tiên:

Có tác phẩm văn xuôi chữ Pháp dịch ra chữ Quốc Ngữ: Les Aventures de Télémaque của Fenelon (1887), được dịch ra thơ.

Có tác phẩm văn vần chữ Pháp dịch ra chữ Quốc ngữ: Les Fables de Lafontaine (1884), được dịch ra thơ.

Có tác phẩm Thơ sáng tác hay dịch thuật đầu tiên bằng chữ Quốc Ngữ

 

Có thể nói ông Petrus Trương Vĩnh Ký là Văn sĩ chữ Quốc Ngữ đầu tiên và đầu tiên về Truyện vui.  Câu văn của ông thể hiện trung thực ngôn ngữ bình dân của một người Nam Kỳ vào thuở đó.

Chuyện khôi hài của ông Petrus Ký rất sâu rộng: 

Thường là câu chuyện làm độc giả cười đối tượng trong chuyện nhưng ông còn cho thấy các đối tượng trong chuyện cười lẫn nhau.  

Cười không những là vui mà cười, nhưng còn cười vì những tình cảm khác.  

Đề tài gồm cả quốc gia (dân tộc, lãnh thổ và chánh quyền) và xã hội (kinh tế, tôn giáo, văn hóa, khoa học...).  

Trong câu chuyện, ngoài văn xuôi, ông còn dùng thơ và câu đối.  

Ông Petrus Ký còn tạo ra hay đưa ra những nhân vật như Cống Quỳnh, Tú Suất...

Những tác giả về chuyện khôi hài (hay tiếu lâm) sau nầy đều không có được cái tài sâu rộng như ông Petrus Ký.

 

*

Thơ chữ Quốc ngữ

 

Có thể nói là ông Trương Minh Ký là Thi sĩ đầu tiên làm thơ bằng chữ Quốc Ngữ. 

Điều đặc biệt của ông Trương Minh Ký là dù nguyên bản là văn xuôi, ông cũng thích dịch ra văn vần dùng thể thơ Lục Bát hay Song Thất Lục Bát.

 

Bản dịch “Những viễn du của Télémaque” từ văn xuôi chữ Pháp ra văn vần chữ Quốc Ngữ:

 

Từ khi Ulysse đi rồi

Nàng tiên Calypso nguôi đặng nào

…….

Minerve giả dạng dấu tên

Làm như tuồng mặt ông hiền Mentor

Theo Télémaque giúp phò


 

Bản dịch “Chuyện Phansa diễn ra Quốc Ngữ”:

 

LA CIGALE ET LA FOURMI         CON VE VÀ CON KIẾN

 

La cigale ayant chanté                       Con ve mùa hạ ngân nga

Tout l’été                                           Sang đông không có đồ mà dưỡng thân

Se trouva fort dépourvue

Quand la bise fut venue

Pas un seul petit morceau

De mousse ou de vermisseau 

 

Elle alla crier famine                         Than van với kiến ở gần

Chez la fourmi sa voisine                  “Xin giùm ít hột đỡ thân cơ hàn

La priant de lui prêter                        Đến mùa bổn lợi lại hoàn

Quelque grain pour subsister             Lòng đâu có dám tính đàng sai ngoa”

Jusqu’à la saison nouvelle

Je vous paiera, lui dit-elle 

Avant l’aout, foi d’animal

Intérét et principal 

 

La fourmi n’est pas préteuse             Cho vay đặt nợ gần xa

C’est là son moindre défaut              Kiến không nghề đấy hỏi ra tức thì

Que faisez-vous au temps chaud?    “Mùa khô khi ấy làm gì

Dit-elle à cette emprunteuse             Ve rằng: “Ca xướng luôn khi đêm ngày”

Nuit et jour à tout venant                  Kiến rằng: “Nghề hát vui thay!

Je chantais, ne vous déplaise             Nào ra múa thử tài hay bây giờ!”

Vous chantiez? j’en suis fort aise

Eh bien dansez maintenant.

 

                                                          Đây khuyên tích cốc phòng cơ

                                                          Ở đời liệu trước chớ chờ ăn năn

                                                          Người giàu có kẻ khó khăn

                                                          Lấy dư cho thiếu lòng hằng nghĩa nhơn

                                                          Mang ơn thì phải biết ơn

                                                          Làm ơn ai đợi đền ơn bao giờ.

 

(Lafontaine)                                      (Trương Minh Ký) 1884

Fables de Lafontaine                        Truyện ngụ ngôn Phansa

 

Ông Trương Minh Ký ngoài dịch thuật từ nguyên bản còn hay đưa hay thêm ý kiến của mình như bài thơ trên đây.  Chúng ta có thể so sánh với lối dịch sát nghĩa của ông Nguyễn Văn Vĩnh 34 năm sau:

 

LA CIGALE ET LA FOURMI                    CON VE VÀ CON KIẾN

La cigale ayant chanté                                  Ve sầu kêu ve ve

Tout l’été                                                      Suốt mùa hè

Se trouva fort dépourvue                              Đến kỳ gió bấc thổi

Quand la bise fut venue                                Nguồn cơn thật bối rối

Pas un seul petit morceau                             Một miếng cũng chẳng còn

De mousse ou de vermisseau                        Ruồi bọ không một con

Elle alla crier famine                                    Vác miệng chịu khúm núm

Chez la fourmi sa voisine                             Sang chị kiến hàng xóm

La priant de lui prêter                                   Xin cùng chị cho vay

Quelque grain pour subsister                        Dăm ba hạt qua ngày

Jusqu’à la saison nouvelle                            -Từ nay sang tháng hạ

Je vous paiera, lui dit-elle                             Em lại xin đem trả

Avant l’aout, foi d’animal                            Trước thu thề Đất Trời

Intérét et principal                                        Xin đủ cả vốn lời

La fourmi n’est pas préteuse                        Tính kiến ghét vay cậy

C’est là son moindre défaut                         Thôi ấy chẳng hề chi

Que faisez-vous au temps chaud?               -Nắng ráo chú làm gì?

Dit-elle à cette emprunteuse                        Kiến hỏi ve như vậy

Nuit et jour à tout venant                             Ve rằng: -Luôn đêm ngày

Je chantais, ne vous déplaise                       Tôi hát thiệt gì bác

Vous chantiez? j’en suis fort aise                Kiến rằng: -Xưa chú hát

Eh bien dansez maintenant.                         Nay múa thử coi đây.

(Lafontaine)                                                 (Nguyễn Văn Vĩnh dịch) 1928


 

Là một nhà thơ tài ba, Ông Trương Minh Ký viết “Như Tây nhựt trình”, một thiên du ký sự từ Sài Gòn đi Paris qua Bắc Phi và Âu Châu, bằng thể thơ Song Thất Lục Bát tất cả 2000 câu (dài gần bằng truyện thơ Lục Vân Tiên) được khởi đăng trên Gia Định Báo từ 10-4-1888 trong hơn một năm mới dứt:

 

(Câu 1-8) 

Từ Gia Định xuống tàu Tarn ấy

Tới Alger nên thấy thành ni

Rồi qua cho đến Paris

Thấy sao kể vậy từ đi mới về

Tiếng quê kệch dầu chê cũng chịu

Lời thật thà miễn hiểu thời thôi

Trải xem những chuyện qua rồi

Thì hay họa phúc do nơi lòng người.

 

(Câu 775-778)

Các cha linh mục bên Tây

Cạo râu sạch bách như thầy chùa ta

Tại Alger các cha già trẻ

Đều để râu như thể bên ta.


 

Ông Trương Minh Ký cũng sáng tác riêng mình thơ Đường Luật bằng chữ Quốc Ngữ và đăng thơ hay họa thơ Quốc Ngữ của nhiều thi sĩ Nam Kỳ lúc bấy giờ.  

 

CON TÂY (*)

Dữ tợn loài tây thú bốn chưn

Da như giáp sắt mũi như sừng

Ăn gai uống đục không ưa bóng

Ỷ mạnh lung lăng cứ miệt rừng.

(Trương Minh Ký)

 

(*) Chú thích: Con Tây = Con Tê Giác

 

CON DÊ

Phận hèn chui nhủi tháng ngày qua

Vắn vỏi đêm hôm tiếng thiết tha

Bay nhảy với đời coi thử sức

Vui chơi cũng biết đá như gà.

(Trương Minh Ký)


 

Từ đó thơ chữ Quốc Ngữ bắt đầu ở Nam Kỳ với nội dung chuộng Nho Giáo nhưng lại có thêm tình cảm lãng mạn.

 

CUỘC ĐỜI (Xướng)                                  

Quyền vương bá, tước công hầu                 

Cậy tiếng trao lời dắt đến đâu                    

Ngôn ngữ so kề đời Khổng Mạnh              

Trí mưu ví kịp thuở Đường Châu              

Phải thời trận vó đưa nên lẹ                     

Gặp vận cơ trời hóa rất mau                       

Nam Bắc Đông Tây người trải cuộc          

Mở lòng rộng rãi thả cho sau.                    

(Đỗ Đăng Vị)                                            

 

CUỘC ĐỜI (Họa)

Phải hồi gặp lúc có quân hầu

Trời muốn thì nên chẳng khó đâu

Trung hiếu rạch ròi ra cửa Khổng

Nghĩa nhơn ao ước dõi nhà Châu

Rừng nho xông lướt sao cho kịp

Biển thánh vẫy vùng mới được mau

Số trẻ phận già trời đã định

So gương lớp trước rõ đời sau.

(Thế Tải Trương Minh Ký)

 

NGŨ CANH VÃN

Chạnh lòng khoăn khoái tưởng lo xa

Mới đó sao canh đã đến ba

Sương bủa hòa trời sao rải rác

Tuyết giăng khắp núi nguyệt dần dà

Bâng khuâng sầu thúc không cầm lụy

Thổn thức buồn tuôn biếng nói ra

Những mảng so đo tìm lẽ hỏi

Hỏi ai hơn hỏi tấm lòng ta.

(Vô Danh thị) 

Đăng trong tờ báo “Thông Loại Khóa Trình” vào năm 1889.


 

Công nghiệp

 

*

Ngay từ đầu ông Petrus Ký đã từ chối không chịu trở thành công dân Pháp theo lời mời của chính quyền Pháp.  Năm 1886, được Khâm sứ Paul Bert trọng dụng, ông giữ vai trò trọng yếu ở triều đình Huế của vua Đồng Khánh.  Nhưng không được 1 năm, sau khi Paul Bert đột ngột qua đời (tháng 11 năm 1886), ông Trương Vĩnh Ký từ quan trở về Sài Gòn.  Trong khoảng hơn 10 năm cuối của cuộc đời (1887-1889), ông Trương Vĩnh Ký về sống cuộc đời của một thường dân không dư dả ở Chợ Quán, Sài Gòn.  Sau khi chết, thọ 62 tuổi, mộ của ông ở gần nhà thờ Chợ Quán, góc đường Trần Hưng Đạo và Trần Bình Trọng. 

 

Ông Trương Vĩnh Ký qua đời năm 1898 và ông Trương Minh Ký 2 năm sau đó (1900) lúc 45 tuổi.  Ông Huỳnh Tịnh Của mất vào năm 1908.

Dưới đây là những lời thơ đương thời chủ quan và khách quan về ông Trương Vĩnh Ký và ông Trương Minh Ký:

 

TUYỆT BÚT LÚC LÂM CHUNG

Quanh quanh quẩn quẩn lối đường quai

Xô đẩy người vô giữa cõi đời

Học thức gởi tên con sách nát

Công danh rút cục cái quan tài

Dạo hòn lũ kiến men chân bước

Bò xối con sùng chắt lưỡi hoài

Cuốn sổ bình sinh công với tội

Tìm nơi thẩm phán để thưa khai.

(Sĩ Tải Trương Vĩnh Ký) 1898 

 

ĐIẾU TRƯƠNG VĨNH KÝ

Lánh tục ngài đà trở gót tiên

Ôi thôi thương tiếc bấy ông hiền

Cõi trần tuy cách danh còn tạc

Chốn thọ dầu lui tiếng để truyền

Trước bước đâu còn người dạy bảo

Đường đi nào thấy kẻ răn khuyên

Biển dâu trách nỗi ai gây cuộc

Lánh tục ngài đà trở gót tiên.

(Lê Uyên Sanh)


 

ĐIẾU TRƯƠNG MINH KÝ

 

Cởi hạc đi đâu hỡi bớ Thầy

Nỡ lìa môn đệ ở đời đây

Non sông ngọc nát lòng hằng nhớ

Sông lệ vàng rơi dạ chẳng khuây

Huê liễu hạt về sương cánh gió

Đảnh hồ rồng vượt mấy từng mây

Vật còn để dấu trong trời đất

Người trí dầu xa tiếng chẳng bay.

 

Nguồn đào lạc nẻo đến đâu đây

Cửa Khổng sao không nể phép nầy

Thước ngọc rắp trong da trắng tuyết

Nhà vàng còn ngại tóc xanh mây

Ngỡ là thuyền bá không nơi đỗ

Mới đến trường trung kiếm bạn vầy

Thanh khí đây đà trang phải mặt

Phải chăng xin lựa lấy đôi thầy.

 

(Lê Uyên Sanh)

 

Thi sĩ Lê Uyên Sanh, tên thật là Lê Văn Châu, là một trong những thi sĩ chữ Quốc Ngữ hàng đầu của Nam Kỳ vào cuối thế kỷ thứ 19.

 

*

Tiếp nhận ảnh hưởng của văn hóa Tây Phương, ba ông Petrus Trương Vĩnh Ký, Paulus Huỳnh Tịnh Của và Trương Minh Ký có cùng một quan niệm là xã hội Việt Nam có khả năng và cần vận dụng các kiến thức khoa học và kinh nghiệm của học thuật Tây Phương về các vấn đề khoa học, kỹ nghệ, kinh tế và chính trị nhưng vẫn giữ gìn, đào sâu và phát triển văn hóa Đông Phương cổ truyền để duy trì bản chất và bảo tồn độc lập.  Nhờ chữ Quốc Ngữ, quan niệm nầy được ba ông thực hiện ở Nam Kỳ. 

Người Pháp chỉ muốn dùng chữ Quốc Ngữ như là một chuyển tiếp để áp đặt chữ Pháp trên dân thuộc địa, nhưng nhờ những vị tiền phong nầy chữ Quốc Ngữ tồn tại cho đến khi dân Việt Nam dành độc lập.  Hai ông Trương Vĩnh Ký và Trương Minh Ký (cùng với ông Huỳnh Tịnh Của) đã để lại một xã hội “Nam Kỳ Lục Tỉnh” tự mình sống độc lập, an bình và cải tiến từ đầu thế kỷ 20 dựa trên Nho Giáo và chữ Quốc Ngữ mặc dù là thuộc địa của Pháp

PTH_PetrusKy.JPG

Tình ý và chí hướng làm lợi ích cho dân Việt của ông Petrus Trương Vĩnh Ký được thể hiện qua Câu của ông viết trong bức thơ bằng chữ La Tinh gởi cho bạn mình, Bác sĩ Alexis Chavanne (vào tháng 10 năm 1887), được ông Winston Phan Đào Nguyên dịch ra: 

"Điều duy nhứt mà tôi theo đuổi là làm sao thành có ích, tuy phải nói thêm rằng: (ích lợi đó) không phải cho tôi.  Đó là số phận và niềm an ủi của tôi" 

(Unum et unicum quaero, esse sulicet posse utilem, quamvis dicendum sit: Sic vos non vobis.  Haec est mea sors et consolatio).  

 

Trước đó, Hậu thế đã hiểu lầm ông qua Đoạn dịch sai lầm "Ở với họ mà không theo họ" hay "Theo họ mà không lệ thuộc họ", dịch từ Đoạn "Sic vos non vobis" trích từ Câu trên.  "Họ" lại được dẫn giải là "Thực Dân Pháp"! 

Bản dịch đúng của ông Winston Phan Đào Nguyên về Đoạn "Sic vos non vobis" theo ý nghĩa trong nguyên Câu là: "(ích lợi đó) không phải cho tôi".  Nếu chúng ta đọc kỹ toàn bộ Câu trên qua lời dịch trung thực và đúng đắn của ông Winston Phan Đào Nguyên, chúng ta sẽ hiểu rõ tình ý và chí hướng không vì tư lợi riêng mình của ông Petrus Trương Vĩnh Ký, nhất là tư lợi chính trị. 

 

Ông Petrus Trương Vĩnh Ký không tự mình mà còn biết dùng 2 người đồng sự cùng tình ý và chí hướng là ông Paulus Huỳnh Tịnh Của và ông Trương Minh Ký.  Riêng ông Trương Minh Ký là một người hoàn toàn theo Nho giáo.  Cái công nghiệp ích lợi cho dân cho nước của 3 ông khởi đầu từ bậc Thầy là ông Petrus Trương Vĩnh Ký.

Hậu thế có bài thơ:

 

VỊNH PETRUS TRƯƠNG VĨNH KÝ

Ích quốc lợi dân biết thích nghi

Danh nhân tài đức tự Nam Kỳ

Cái hay văn tự đem truyền bá

Cái đẹp văn chương biết phát huy

Hiền thục dân tình qua biến loạn

Nâng cao dân trí thoát gian nguy

Thức thời sáng suốt, công to lớn

Hậu thế ghi ơn tận nghĩ suy.

(Phan Thượng Hải)

9/3/19

 

VỊNH TRƯƠNG MINH KÝ

Khiêm nhường tận tụy với non sông

Hậu thế ít người biết đến ông

Truyền bá văn minh, tâm sáng suốt

Triển khai văn hóa, bậc tiền phong

Nhân tài quốc ngữ tăng dân trí

Thi tứ quốc âm tỏ nỗi lòng

Giúp ích Nam Kỳ khi quốc nạn

Ngoài vòng danh nghĩa, nghĩa thành công.

(Phan Thượng Hải)

3/20/21


 

Bs PHAN THƯỢNG HẢI biên soạn

 

Bài viết nầy đăng lần đầu tiên trong phanthuonghai.com (trong mục "Thơ và Sử" phần "Thời Pháp Thuộc, thế kỷ 19). 


 

Tài Liệu Tham Khảo:

1) Thơ và Việt Sử - Thời Pháp Thuộc, thế kỷ 19 (Bs Phan Thượng Hải) - phanthuonghai.com

2) Minh Oan Cho Petrus Trương Vĩnh Ký (Winston Phan Đào Nguyên) - phanthuonghai.com

3) Petrus Trương Vĩnh Ký dưới cái nhìn của một người gốc Miền Nam vào năm 2019 (Bs Phan Thượng Hải) - phanthuonghai.com

4) Văn Uyển (Lãng Ba Phan Văn Bộ)

5) Văn Học Quốc Ngữ Ở Nam Kỳ 1865-1930 (Bằng Giang)

6) Trang Thơ Thi Viện Net

7) Google Wikipedia

8) Chuyện Cười Cổ Điển từ Petrus Ký (Phan Thượng Hải) - phanthuonghai.com


 

Bs PHAN THƯỢNG HẢI biên soạn và giữ bản quyền

PTH_hoaDao.jpg

“ Tháng Giêng cho anh một nụ hoa đào ...” (thơ Nguyên Sa)

                                             THƠ HOA ĐÀO

                                                  Phan Thượng Hải

 

(1)

Những năm trước, anh TNT có làm bài thơ tả hoa Đào trong nhà và tui có họa lại (kèm thêm hoa Mai) trong dịp đầu Xuân.

 

ĐÀO THẮM (Nguyên bản)

Cây nhà vườn trước lá đang xanh

Đua nở bông tươi phủ khắp cành

Vài bướm nghe hương lơ lửng đến

Dăm ong thấy sắc dập dìu quanh

Người qua tấm tắc khen hoa đẹp

Kẻ lại trầm trồ nói dấu lành

Ngắt cánh xinh xinh trưng chậu Tết

Đón Xuân đào thắm cánh mong manh.

(Hp-Trương Ngọc Thạch)

 

ĐÀO THẮM MAI XINH (Họa)

Xuân về hoa nở đẹp trời xanh

Đào thắm mai xinh giữa lá cành (*)

Thắng cảnh Bích Câu duyên gặp gỡ (*)

Trọn tình Thôi Hộ hết đi quanh

Mai xinh thơ mộng đời may mắn

Đào thắm lòng vui sự tốt lành

Tươi trẻ hồn người tràn nhựa sống

Chứa chan kỳ vọng kiếp mong manh.  

(Phan Thượng Hải)

 

(*) Đua chen thu cúc xuân đào

     Lựu phun lửa hạ mai chào gió đông 

     (Bích Câu kỳ ngộ: Tú Uyên gặp Giáng Kiều)

 

(2)

Khi nói đến hoa Đào thì các học giả đều nhắc đến bài thơ của thi sĩ Thôi Hộ đời nhà Đường.  Bài thơ nầy và bài "Hoàng Hạc Lâu" là 2 bài thơ được biết đến nhiều nhất của Đường thi trong văn học nước Việt.

 

(Trích một đoạn từ bài "Điển Cố Từ Thơ" của tui)

 

Theo Tình Sử và Lệ Tình Tập, Thôi Hộ là một người đẹp trai, tánh quả hợp, không hay chơi với ai.  Một ngày thanh minh đi chơi một mình đến phía nam kinh thành thấy một nhà có vườn đào nhiều hoa, mới gõ cửa xin nước uống.  Một người con gái rất đẹp và rất nghiêm trang ra hỏi tên họ rồi đem nước mời uống.  Đến tiết thanh minh năm sau, Thôi Hộ lại đến nhà ấy, thấy cửa đóng, đề bài thơ nầy ở cánh cửa bên tả.  Cách mấy hôm lại đến chợt nghe tiếng khóc và có ông lão ra hỏi: anh có phải là Thôi Hộ không?  Con gái tôi đọc bài thơ của anh rồi nhịn ăn mới chết.  Thôi Hộ vào khấn, thì người con gái ấy sống lại, bèn lấy làm vợ.  Sau Thôi Hộ đỗ Tiến sĩ vào đời Trinh Nguyên (nhà Đường) làm quan đến chức Lĩnh Nam Tiết Độ Sứ.

 

ĐỀ TÍCH SỞ KIẾN XỨ

Khứ niên kim nhật thử môn trung

Nhân diện đào hoa tương ánh hồng

Nhân diện bất tri hà xứ khứ

Đào hoa y cựu tiếu đông phong.

(Thôi Hộ)

 

            ĐỀ CHỖ ĐÃ TRÔNG THẤY NĂM TRƯỚC

            Hôm nay, năm ngoái, cửa cài

            Hoa đào ánh với mặt người đỏ tươi

            Mặt người chẳng biết đâu rồi

            Hoa đào còn đó vẫn cười gió đông.

            (Trần Trọng Kim dịch)

 

            ĐỀ CHỖ ĐÃ TRÔNG THẤY NĂM TRƯỚC

            Hôm nay năm ngoái cổng nầy

            Hoa đào soi ánh đỏ hay mặt người

            Mặt người nay ở đâu rồi

            Hoa đào nay vẫn còn cười gió đông.

            (Trần Trọng San dịch)

 

Ngày nay, bài thơ nầy được đổi tựa là "Đề Đô Thành Nam Trang" và đổi lời: từ "đông phong" thành "xuân phong" với tự chú thích!

 

ĐỀ ĐÔ THÀNH NAM TRANG

Khứ niên kim nhật thử môn trung

Nhân diện đào hoa tương ánh hồng

Nhân diện bất tri hà xứ khứ

Đào hoa y cựu tiếu xuân phong. (*)

(Thôi Hộ)

(*) Chú thích : Có bản viết là "đông phong" cũng không sai vì ở Trung Quốc, gió xuân (xuân phong) đến từ hướng đông!

 

Bài thơ nổi tiếng nầy làm điển cố cho nhiều câu thơ cổ điển (và đều chỉ nhắc đến "đông phong" mà thôi):

 

Ức tích dữ quân tương biệt trung

Tuyết mai do vị thức đông phong

Vấn quân hà nhật qui

Quân chỉ đào hoa hồng

Đào hoa dĩ trục đông phong khứ

Lão mai giang thượng hựu phù dung.

(Chinh Phụ Ngâm Khúc / Đặng Trần Côn)

 

            Thuở đăng đồ mai chưa dạn gió

            Hỏi ngày về chỉ độ đào bông

            Nay đào đã quyến gió đông

            Phù dung lại đã bên sông bơ xờ

            (Chinh Phụ Ngâm Khúc / Đoàn Thị Điểm)

 

            Trước sau nào thấy bóng người

            Hoa đào năm ngoái còn cười gió đông

            (Đoạn Trường Tân Thanh)

 

            Trên chín bệ cỏ hay chăng nhẻ

            Khách quần thoa mà để lạnh lùng

            Thù nhau chi hỡi đông phong

            Góc vườn dãi nắng cầm bông hoa đào.

            (Cung Oán Ngâm Khúc)

 

            Xuân sang xuân đã già nào

            Chờ sau mai nở thì đào chẳng lâu

            (Bích Câu Kỳ Ngộ)

 

            Còn trời còn nước còn non

            Mây xanh nước biếc vẫn còn như xưa

            Hoa đào còn đó trơ trơ

            Mà người năm ngoái mà giờ là đâu?

            Vù vù gió thổi rèm lau

            Càng như chất mới tơ sầu vào thêm.

            (Bích Câu Kỳ Ngộ)

 

            Hỏi cho giáp mặt hoa đào

            Vườn xuân chẳng lẽ ngăn rào mãi ru.

            (Bích Câu Kỳ Ngộ)

 

(3)

Riêng tui nghĩ chúng ta đã đến tuổi "liệt lão" rồi, đa số còn vợ còn chồng thì cái tình nghĩa sau nhiều năm còn đậm đà hơn là bài thơ tình của Thôi Hộ, chỉ thể hiện phần đầu của tình yêu thôi?

Do đó năm trước tui có làm bài thơ tặng anh chị M. và cũng nghĩ đến mình.

Xin gởi tặng những ai cùng cảnh ngộ.

 

VỢ CHỒNG GIÀ

Đến lúc tuổi già tựa tiết Đông

Cùng nhau sưởi ấm thắm tình nồng

Ít còn vướng bận đời con cháu

Chỉ có tự do chuyện vợ chồng

Người nói người im đều toại ý

Tiếng cười tiếng dạ thảy vui lòng

Uyên ương liền cánh nơi gia nội

Say ngắm hoa đào cợt gió Đông.

(Phan Thượng Hải)

3/12/20 

 

PHAN THƯỢNG HẢI

   TƯƠNG TƯ TRONG THƠ VÀ ĐIỂN CỐ

 

                                                 Bs Phan Thượng Hải biên soạn


 

Tương Tư  (相  思) có nghĩa là "nhớ nhau".  Trường Tương Tư là "nhớ nhau hoài".

Thơ cổ điển và hiện đại của nước Việt có dùng điển cố từ những bài thơ của Trung Quốc khi mô tả sự tương tư của tình nhân.


 

TƯƠNG TƯ và TƯƠNG GIANG (SÔNG TƯƠNG)

 

*

Lương Ý Nương sống vào thời Hậu Chu (951-959) của Ngũ Đại Tàn Đường.  Lương Ý Nương thương nhớ người tình là chàng Lý Sinh nên làm bài thơ "Trường Tương Tư".  Nữ sĩ làm bài thơ nầy để bày tỏ tâm tình khi gia đình không cho phép lấy chàng Lý Sinh.  Bài thơ nầy có 1 đoạn rất nổi tiếng, mọi người đều biết từ Trần Trọng Kim và Bùi Kỷ:

 

TRƯỜNG TƯƠNG TƯ

Quân tại Tương giang đầu

Thiếp tại Tương giang vỹ

Tương tư bất tương kiến

Đồng ẩm Tương giang thủy.

(Lương Ý Nương)

 

TRƯỜNG TƯƠNG TƯ

Chàng ở đầu sông Tương

Thiếp ở cuối sông Tương

Nhớ nhau không thấy mặt

Cùng uống nước sông Tương.

(Trần Trọng Kim và Bùi Kỷ dịch)

 

Sông Tương (Tương giang) xuất phát từ rặng núi Duyên Hải ở tỉnh Quảng Tây chảy qua Hồ Nam đến Động Đình Hồ.

 

Thật ra nguyên văn từ Trần Trọng Kim và Bùi Kỷ có chỗ sai lầm vì tác giả bài thơ là một người đàn bà chứ không phải là đàn ông!  Do đó nguyên văn như sau:

 

TRƯỜNG TƯƠNG TƯ

我  在  湘  江  頭,
Ngã tại Tương giang đầu
君  在  湘  江  尾。
Quân tại Tương giang vỹ
相  思  不  相  見,
Tương tư bất tương kiến 
同  飲  湘  江  水。 
Đồng ẩm Tương giang thủy

(Lương Ý Nương)

 

TRƯỜNG TƯƠNG TƯ

Ta ở đầu sông Tương

Chàng ở cuối sông Tương

Nhớ nhau không thấy mặt

Cùng uống nước sông Tương.

(Phan Thượng Hải dịch)


 

Đây là toàn bài thơ Trường Tương Tư của Lương Ý Nương:

 

TRƯỜNG TƯƠNG TƯ 

 

Lạc hoa lạc diệp lạc phân phân                Hoa hoa lá lá rụng tơi bời

Tận nhật tư quân kiến bất quân                Lòng nhớ người sao chẳng thấy người

Trường dục đoạn hề trường dục đoạn      Ruột muốn đứt thêm thêm đứt ruột

Lệ châu ngân thượng cánh thiên ngân     Châu rơi thành ngấn lại châu rơi

 

Ngã hữu nhất thốn tâm                             Ta có một tấc lòng

Vô nhân cộng ngã thuyết                          Không có ai mà hỏi

Nguyện phong xuy tán vân                       Muốn nhờ gió đuổi mây

Tố nữ thiên biên nguyệt                            Để được cùng trăng nói

 

Huề cầm thượng cao lâu                           Ôm đàn lên lầu cao

Lâu cao nguyệt hoa mãn                           Lầu cao trăng giải khắp

Tương tư vị tất chung                               Tương tư khúc chẳng thành

Lệ trích cầm huyền đoạn                          Lệ nhỏ dây đàn đứt

 

Nhân đạo tương giang thâm                     Người bảo sông Tương sâu

Vị để tương tư bạn                                    Tương tư sâu gấp bội

Giang thâm chung hữu để                         Sông sâu còn có đáy

Tương tư vô biên ngạn                             Tương tư chẳng bến bờ

 

Ngã tại Tương Giang đầu                       Ta ở đầu sông Tương

Quân tại Tương Giang vỹ                       Chàng ở cuối sông Tương

Tương tư bất tương kiến                         Tương tư không gặp mặt

Đồng ẩm Tương Giang thủy                   Cùng uống nước sông Tương

 

Mộng hồn phi bất đáo                               Hồn mộng bay không đến

Sở khiếm duy nhất tử                                Còn một chết mà thôi

Nhập ngã tương tư môn                            Bước vào cửa tương tư

Tri ngã tương tư khổ                                 Mới (Mình) biết tương tư khổ

 

Trường tương tư hề trường tương tư        Tương tư hoài dài tương tư

Trường tương tư hề vô tận cực                Tương tư dài dài không xiết

Tảo tri như thử quải nhân tâm                  Sớm biết nỗi đau lòng

Hồi bất đương sơ mạc tương thức.           Xưa đừng cùng quen biết

 

(Lương Ý Nương)                                     (Vũ Ngọc Khánh dịch)

 

*

Trước Lương Ý Nương, các thi sĩ đời Đường đã dùng sông Tương để tả sự thương nhớ của Nga Hoàng và Nữ Anh đối với chồng mình là vua Thuấn tại đây.  Tình cảm nhớ thương còn gồm nhiều điển cố khác như bài thơ của Lý Thương Ẩn (813-858) vào đời nhà Đường:

 

LỆ

Vĩnh Hạng trường niên oán ỷ la (*)

Ly tình chung nhật tứ phong ba

Tương giang trúc thượng hân vô hạn (*)

Hiện thủ bi tiền sái kỷ đa (*)

Nhân khứ Tử Đài thu nhập tái (*)

Binh tàn Sở trướng dạ văn ca (*)

Triêu lai Bá thủy kiều biên liễu (*)

Vị để thanh bào tống ngọc kha. (*)

(Lý Thương Ẩn)

 

LỆ (NƯỚC MẮT)

Vĩnh Hạng lâu năm oán lượt là

Ly tình suốt buổi nhớ phong ba

Sông Tương trúc ngấn dòng thương cảm

Núi Hiện bia đầy hạt xót xa

Người bỏ cung vua, thu vượt ải

Quân tàn trướng Sở, tối nghe ca

Sớm kia cành liễu bên cầu Bá

Đưa tiễn sao bằng được ngọc kha.

(Trần Trọng San dịch)

 

(*) Chú thích:

Vĩnh Hạng: một khu trong cung cấm tại Trường An

Tương Giang: tên sông ở tỉnh Hồ Nam.  Tương truyền đây là nơi 2 bà Nga Hoàng và Nữ Anh tự trầm sau khi nghe chồng là vua Thuấn chết tại Thương Ngô.  Miền nầy có loại tre có vệt giống như ngấn nước mắt, gọi là Tương phi trúc (tre của các bà Phi sông Tương).

Hiện: tên núi ở huyện Tương Dương, tỉnh Hồ Bắc.  Trên núi nầy có tấm bia kỷ niệm Dương Hộ đời Tấn, gọi là Truy lệ bi (Bia rơi lệ).

Tử Đài: tên cung đời Hán.  Đời Hán, Vương Chiêu Quân phải rời cung nầy sang đất Hồ kết duyên với Thuyền Vu (vua của rợ Hồ, vua Hung Nô).

Sở trướng: quân Sở bị vây tại Cai Hạ, ban đêm nghe tiếng sáo của Trương Lương, chạnh lòng nhớ nhà, bỏ trại trốn đi.  Trong trướng.Hạng Võ cùng Ngu Cơ làm bài ca than thân thế trong trướng.  Trướng là cái màn, chỉ chỗ ngủ của Tướng quân trong trại lính.

Bá Thủy: tên sông chảy qua Trường An vào sông Vị.  Người đời Đường thường bẻ cành liễu bên cầu nầy để tặng người đi xa.

Ngọc kha: viên đá trắng gắn ở dây buộc đầu ngựa.

 

*

Bài thơ nổi tiếng của Lương Ý Nương và Lý Thương Ẩn là điển cố của những câu thơ cổ điển:

 

Tầm quân hề Dương Đài lộ

Hội quân hề Tương Giang tân

(Chinh Phụ Ngâm Khúc / Đặng Trần Côn)

 

Tìm chàng thuở Dương Đài lối cũ

Gặp chàng nơi Tương Phố bến xưa

(Chinh Phụ Ngâm Khúc / Đoàn Thị Điểm)

 

Ỏi tai những tiếng đoạn trường

Lửa tình dễ nguội sóng Tương khôn hàn.

(Bích Câu Kỳ Ngộ)

 

Rành rành xuyến ngọc thoa vàng

Quần Nghê tha thướt sóng Tương rượm rà

(Bích Câu Kỳ Ngộ)

 

Chiều thu như gợi tấm thương

Lòng người trông xuống sông Tương mơ tình

(Bích Câu Kỳ Ngộ)

 

Sông Tương một giải nông sờ

Bên trông đầu nọ bên chờ cuối kia

(Đoạn Trường Tân Thanh)

 

Nhạc sĩ Thông Đạt cũng có bài thơ và phổ tân nhạc với tựa đề "Ai về sông Tương".

 

AI VỀ SÔNG TƯƠNG

 

Ai có về bên bến sông Tương

Nhắn người duyên dáng tôi thương

Bao ngày ôm mối tơ vương

Tháng với ngày mơ nhuốm đau thương

Tâm hồn mơ bóng em luôn

Mong vài lời em ngập hương.

 

Thu nay về vương áng thê lương

Vắng người duyên dáng tôi thương

Mối tình tôi vẫn cô đơn

Xa muôn trùng lưu luyến nhớ em

Mơ hoài hình bóng không quên

Hương tình mộng say dịu êm

 

Bao ngày qua, thu lại về mang sầu tới

Nàng xây tình mới, hồn tôi tơi bời

Nhìn hoa cười đón mừng vui duyên nàng

Tình thơ ngây từ đây nát tan.

 

Hoa ơi, thôi ngưng cười đùa lả lơi

Cùng tôi buồn đắm đừng vui chi tình

Đầy bao ngày thắm dày xéo tâm hồn

Nầy lệ sầu hoen ý thu.

 

Ai có về bên bến sông Tương

Nhắn người duyên dáng tôi thương

Sao đành lỡ đứt tơ vương

Ôi duyên hờ từ nay bơ vơ

Dây tình tôi nắn cung tơ

Rút lòng sầu trách người mơ.

 

(Thông Đạt)

 

*

Nguyễn Du (1766-1820) trong Đoạn Trường Tân Thanh (Truyện Kiều) đã dùng sông Tương để tả sự tương tư của tình nhân.

 

Sông Tương một giải nông sờ

Bên trông đầu nọ bên chờ cuối kia

 

Tuy nhiên sau nầy Nguyễn Du đi sứ sang Trung Quốc có ghé Tương Giang (Sông Tương) và có làm bài thơ vịnh.  Bài thơ nầy không có nói đến "tương tư của tình nhân"!

 

TƯƠNG GIANG DẠ BẠC

Nhất khứ lục thập lý

Du du giang thủy trường

Phù vân liên Ngũ Lĩnh (*)

Minh nghuyệt hội Tam Tương (*)

Biệt phố phân tân sắc

Dao không thất cố hương

Hạc lai nhân bất kiến (*)

Vãn thụ nhất thương thương. (*)

(Nguyễn Du)

 

ĐÊM ĐẬU THUYỀN TRÊN SÔNG TƯƠNG

Một đi sáu mươi dặm

Dòng cuộn nước mênh mang

Mây giăng liền Ngũ Lãnh

Trăng ngập tràn Tam Tương

Bến tiễn chia xuân sắc

Trời xa lấp cố hương

Hạc về người chẳng thấy

Cây biếc lạnh ngàn sương.

(Quách Tấn dịch)

 

(*) Chú thích:

Ngũ Lĩnh = 5 dãy núi cao ở tỉnh Hồ Nam và Quảng Tây.

Tam Tương: Tương Giang phát nguyên từ tỉnh Quảng Tây chảy theo hướng đông bắc vào tỉnh Hồ Nam.  Hợp với Ly Thủy thành s. Ly Tương.  Kế đến hợp với Tiêu Thủy thành s. Tiêu Tương.  Rồi chảy lên phía Bắc ở huyện Hành Dương hợp với Chương Thủy thành s. Chương Tương.  (Do đó gọi là Tam Tương).  Sau cùng chảy đến tỉnh Trường Sa vào Động Đình hồ.

Hạc lai: nhắc sự tích Phí Văn Huy cỡi hạc vàng lên tiên giới tự lầu Hoàng Hạc ở Vũ Xương thuộc tỉnh Hồ Bắc, gần vùng Tương Giang.

Thương thương = lạnh lẽo.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

TƯƠNG TƯ

 

*

"Trường tương tư" không phải chỉ dựa vào sông Tương Giang.  Nó chỉ cần nghĩa đen là "Nhớ nhau hoài" như bài thơ Trường Tương Tư của Lý Bạch (701-762).

 

TRƯỜNG TƯƠNG TƯ

Nhật sắc dục tận hoa hàm yên

Nguyệt minh như tố sầu bất miên

Triệu sắt sơ đình phụng hoàng trụ (*)

Thục cầm dục tấu uyên ương huyền (*)

Thử khúc hữu ý vô nhân truyền

Nguyện tùy xuân phong kỷ Yên Nhiên (*)

Ức quân điều điều cách thanh thiên

Tích thời hoành hoa mục

Kim tác lưu lệ tuyền

Bất tín thiếp trường đoạn

Quy lai khán thủ minh kính tiền.

(Lý Bạch)

 

NHỚ NHAU HOÀI

Hoa lồng khói biếc lặn tà dương

Trăng trong như lụa lòng buồn thương

Đàn Triệu vừa ngơi trụ Phượng hoàng

Đàn Thục toan gẩy dây uyên ương

Khúc nầy có ý không ai truyền

Mong gởi gió xuân đến Yên Nhiên

Xa cách trời xanh, nhớ khó quên

Ngày xưa mắt gợn sóng

Nay thành suối lệ phiền

Đoạn trường ai chẳng tin lòng thiếp

Hãy về mà ngắm bóng gương in.

(Trần Trọng San dịch)

 

NHỚ NHAU HOÀI

Bóng tà dương hoa lồng khói biếc

Trăng như tơ sầu giấc không yên

Đàn Triệu vừa dứt tiếng huyền

Thục cầm lại gởi khúc uyên ương liền

Ý nhạc hay, thất truyền xin gởi

Nhờ gió xuân đưa tới Yên Nhiên

Cao xanh ngăn cách khó quên

Làm em càng nhớ chàng nơi phương trời

Mắt ngày xưa lả lơi gợn sóng

Nay suối tuôn lệ nóng nhớ chàng

Vì ai đòi đoạn tâm can

Về đây đối bóng xin chàng hãy tin.

(Cao Nguyên dịch)

 

(*) Chú thích:

Triệu sắt: vì người nước Triệu giỏi đàn sắt nên thường gọi đàn nầy là "Triệu sắt".  Sắt là loại đàn có 25 dây.

Thục cầm: Tư Mã Tương Như người nước Thục giỏi gẩy đàn cầm, nên đàn nầy thường được gọi là Thục cầm.  Cầm là loại đàn có 7 dây.

Yên Nhiên: tên núi ở Mông Cổ ngày nay.  Đời Đông Hán, Tướng Đậu Hiến đánh thắng Thiền Vu (vua Hung Nô), lên núi nầy khắc chữ trên đá ghi chiến công của mình.

 

*

Từ tình tứ bài thơ nầy, văn học Việt Nam có những câu thơ về "tương tư": có đàn có nước mắt và có núi Yên Nhiên xa xôi.

 

Cưỡng viện cầm, chỉ hạ kinh đình loan phượng trụ

Cưỡng cổ sắt, khúc trung sầu yết uyên ương huyền

Thử ý xuân phong nhược khẳng truyền

Thiên kim tá lực ký Yên Nhiên

Yên Nhiên vị dị truyền

Ức quân thiều thiều hề lộ như thiên.

(Chinh Phụ Ngâm Khúc / Đặng Trần Côn)

 

Sắt cầm gượng gẩy ngón đàn

Dây uyên kinh đứt phím loan ngại chùng (trùng)

Lòng này gửi gió Đông có tiện

Nghìn vàng xin gửi đến non Yên

Non Yên đâu chẳng tới miền

Nhớ chàng thăm thẳm đường lên bằng trời.

(Chinh Phụ Ngâm Khúc / Đoàn Thị Điểm)

 

Tiệp sắc tinh kỳ từ tái nguyệt

Khải ca tướng sĩ bối biên phong

Lặc công hề Yên Nhiên thạch

(Chinh Phụ Ngâm Khúc / Đặng Trần Côn)

 

Bóng cờ xí giã ngoài quan ải

Tiếng khải ca trở lại thần kinh

Non Yên tạc đá đề danh

Triều thiên vào trước cung đình dâng công

(Chinh Phụ Ngâm Khúc / Đoàn Thị Điểm)

 

Song mà tình chẳng riêng ai

Bệnh tương tư có trải mùi mới hay

(Bích Câu Kỳ Ngộ)

 

(TƯƠNG TƯ)

Bướm kia vương lấy sầu hoa

Đoạn tương tư ấy nghĩ mà buồn tênh

Có khi gảy khúc đàn tranh

Nước non ngao ngán ra tình hoài nhân

Cầu Hoàng tay lựa nên vần

Tương Như lòng ấy Văn Quân lòng nào

Có khi mượn chén rượu đào

Tiệc mồi chưa cạn ngọc dao đã đầy

Hơi men chưa nhấp đã say

Như xông mùi nhớ như gây giọng tình

Có khi ngồi suốt năm canh

Mõ quyên điểm nguyệt chuông kềnh nện sương

Ỏi tai những tiếng đoạn trường

Lửa tình dễ nguội sóng Tương khôn hàn

Có đêm ngắm bóng trăng tàn

Tiếng quyên hót sớm trận nhàn bay khuya

Ngổn ngang cảnh nọ tình kia

Nỗi riêng riêng biết dãi dề với ai

Vui xuân chung cả một trời

Sầu xuân riêng nặng một người tương tư

Lòng yêu tay tả nên thơ

Mảnh tình phong với mảnh tờ đưa theo

Ả Hằng ví nặng lòng yêu

Rẽ mây mở lối tinh thiều cho nao

Hỏi cho giáp mặt hoa đào

Vườn xuân chẳng lẽ ngăn rào mãi ru.

(Bích Câu Kỳ Ngộ)

 

Thơ chữ Quốc ngữ cũng có bài thơ của Nguyễn Bính:

 

TƯƠNG TƯ 

Thôn Đoài ngồi nhớ thôn Đông

Một người chín nhớ mười mong một người

Gió mưa là bệnh của Trời

Tương tư là bệnh của tôi yêu nàng

Hai thôn chung lại một làng

Cớ sao bên ấy chẳng sang bên nầy?

Ngày qua ngày lại qua ngày

Lá xanh nhuộm đã thành cây lá vàng

Bảo rằng cách trở đò giang

Không sang là chẳng đường sang đã đành

Nhưng đây cách một đầu đình

Có xa xôi mấy mà tình xa xôi…

Tương tư thức mấy đêm rồi

Biết cho ai, hỏi ai người biết cho!

Bao giờ bến mới gặp đò?

Hoa khuê các, bướm giang hồ gặp nhau?

Nhà em có một giàn trầu

Nhà anh có một hàng cau liên phòng

Thôn Đoài thì nhớ thôn Đông

Cau thôn Đoài nhớ trầu không thôn nào?

(Nguyễn Bính)


 

Kết Luận

 

Thi sĩ Lãng Ba Phan Văn Bộ đã đi sâu rộng vào đề tài Tương Tư qua những bài thơ.

 

THẤT TÌNH KHÚC

Quanh quẩn Tương Giang hát lẫn đờn

Ví không thệ ước gẫm còn hơn

Nhớ nhung sớm tối sầu riêng chịu

Mơ mộng ngày đêm khổ dễ sờn

Đô hội phồn hoa hằng rảo mắt

Sơn cùng thủy tận cũng lê chơn

Hoa râm mái tóc tìm chưa gặp

Chẳng trách vô duyên chỉ ngậm hờn.

(Lãng Ba) 

 

TƯƠNG TƯ

Đau khổ vì ai, ai có dè?

Nhạc lòng bưng bít dễ ai nghe

Đêm mơ tưởng sắc thường mê mộng

Ngày ước giao duyên những rụt rè

Mong đợi, nhạn hồng không nhắn nhủ

Nhớ thương, bình tước khó lăm le

Khối tình ấp ủ càng thêm nặng

Khao khát mưa Ngâu, mãi nắng hè.

(Lãng Ba) 

 

ĐỢI CHỜ 

Vắng bóng thân yêu mấy độ rày

Ra vào khoắc khoải, ngóng tin ai

Nhớ thương, thương nhớ, tơ sầu dệt

Mơ tưởng, tưởng mơ, tóc biếng cài

Nỗi nọ..., lo lường qua tháng trọn

Niềm kia..., thổn thức suốt canh dài

Sự lòng gửi đến nhờ cô nhạn

Có thấu cho chăng mối cảm hoài?

(Lãng Ba) 

 

ẢO ẢNH

Trăng sáng, hoa xinh, rảo bóng hồng

Sen vàng lẻo đẻo ngẩn ngơ trông

Tóc mây, da tuyết, xem hoa mắt

Vóc liễu, xương mai, thấy đẹp lòng

Trách bấy hương trời giam cổng kín

Thương thay sắc nước chịu phòng không

Tiên nga ai đấy, ai xin nhắn

Chớ để người trần mãi nhớ mong...

(Lãng Ba) 

 

MỘNG TƯỞNG 

Thắt thẻo ngày đêm nhớ bạn lòng

Thả hồn về gặp giữa chiều đông

Thoạt chào, thoạt nói, môi tươi thắm

Vừa thẹn, vừa vui, má ửng hồng

Cùng vạch lúa vàng qua thửa ruộng

Rồi nương sóng bạc thả dòng sông

Phật đài đến viếng song song lạy

Khấn vái cho nên cặp vợ chồng.

(Lãng Ba) 


 

Bs PHAN THƯỢNG HẢI biên soạn

 

Bài nầy đăng lần đầu trong phanthuonghai.com trong mục Thơ Văn phần Đọc Thơ.


 

Tài liệu tham khảo:

1) Điển Cố Từ Thơ (Phan Thượng Hải) - phanthuonghai.com

2) Những bài thơ tình của Thi sĩ Lãng Ba (Bs Phan Thượng Hải) - phanthuonghai.com

3) Thơ Lục Bát (Phan Thượng Hải) - phanthuonghai.com


 

Bs PHAN THƯỢNG HẢI biên soạn và giữ bản quyền

_________________________________

PTH_5duongranh.JPG

                   THƠ VÀ VIỆT SỬ - TRẦN VĂN HƯƠNG

 

                                           Bs Phan Thượng Hải biên soạn


 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

   

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Đi tắm trần truồng mổng thiếu khăn (*)     

Ăn, Ngủ, Ỉa xong; đầy đủ cả                       

Muốn chi chi nữa biết mần răng!               

(Trần Văn Hương) 17-11-60                                                     

 

(*) Chú thích: 

Ngồi rù = Ngồi co ro ủ rũ như gà bị bệnh (dịch).  Mổng = Mổng đít.

 

Ra lịnh đòi ra chịu chụp hình

Đua nhau sắm sửa được làm xinh

Anh xoa mái tóc cho ra dáng

Cụ vuốt chòm râu để gợi tình

Sờ trán chùi da da mốc thếch

Đưa tay giũ áo áo hôi rình

Ví dầu ảnh ấy, ngày sau thấy

Chúng bảo nhau rằng “cái lũ ranh”.

(Trần Văn Hương) 22-11-60

 

DỊ TƯỚNG BẤT TÀI

Cũng dự phong lưu lúc ở ngoài

Vào đây, nhìn mãi chẳng ra ai

Mặt mày ủ rũ râu dòm miệng

Đầu cổ chôm bôm tóc liếm tay

Răng cỏ vắng chùi (chà) hôi thủm thủm

Áo quần không giặt ngửi khai khai

Chưa bao lâu, đã thay hình dạng

Dị tướng than ôi lại bất tài

(Trần Văn Hương) 1-12-60

 

- Từ Thể xác ảnh hưởng đến Tinh thần sau một thời gian ở tù:

 

Phong độ nhà lao có dễ đâu

Tập thành nề nếp lắm công phu

Nằm cao ngủ kỹ sao rằng phạm

Ở bẩn ăn dơ mới gọi tù

Nghiêng ngửa nằm khềnh xem đáng mặt…

Trần truồng đứng tắm để trơ …khu

Nhắn ai muốn học vào đây học

Phong độ nhà lao có dễ đâu.

(Trần Văn Hương) 11-12-60

 

Vì chưng bẻm mép mới vào đây

Câm họng đâu ra đến nỗi nầy

Dân chúng sướng; đồ: dân chúng khổ!

Nước nhà nên; bảo: nước nhà nguy!

Dở hay mặc kệ thằng cha nó!

Còn mất can chi lão nội mầy?

Nếm thử mùi tù cho đáng kiếp

Từ rày chừa bỏ tật thày lay.

(Trần Văn Hương) 21-11-60

 

Sự thế man man tỉnh chửa rồi

Vào đây thoát đã đủ trăng thôi

Cảnh nầy tuy đẹp bề ăn ở

Nỗi ấy không khuây lúc đứng ngồi

Vận nước những lo dâu biển đổi

Tức mình luống thẹn tháng ngày trôi

Nhắn ai ngoài ấy ta xin hỏi

Triều đã lui chưa, cát đã bồi?

(Trần Văn Hương) 12-12-60

 

*

Bài thơ "Nỗi Lòng"

 

Cuối năm 1961, khi được người bạn là Long Giang Đỗ Phong Thuần cho đọc 1 bài thơ (tựa là Nỗi Lòng), bảo là của Chí sĩ Ngô Đình Diệm làm khi bôn ba làm cách mạng ở hải ngoại, ông Trần Văn Hương có làm 2 bài họa:

 

NỖI LÒNG (Nguyên bản)  

Gươm đàn nửa gánh quẩy sang sông
Hỏi bến: thuyền không, lái cũng không!
Xe muối nặng nề thân vó Ký (*)
Đường mây rộng rãi tiếc chim Hồng (*) 
Vá trời lấp biển người đâu tá? 
Bán lợi mua danh chợ vẫn đông!
Lần lữa nắng mưa theo cuộc thế 
Cắm sào đợi khách, thuở nào trong? 

(Chí sĩ Ngô Đình Diệm) 1953 

 

(*) Chú thích: Ngựa Ký là ngựa giỏi, chạy xa.  Chim Hồng Hộc là chim bay cao.
 

(Họa 1)                                                        

Hèn vụng toan khai núi lấp sông!              

Chiêm bao sự nghiệp: có rồi không!          

Tan tành lưới gió hoài tơ nhện                    

Diệu vợi đường mây rã cánh hồng               

Mùi thế ngọt ngon ai đã chán?                   

Chợ đời giành giựt khách còn đông            

Nhắn lời xin hỏi người cao kiến                

Nào thuở Hoàng Hà thấy nước trong?       

(Trần Văn Hương) 26-12-61                                                     

 

(Họa 2)

Tủi nhục như vầy rửa nước sông?

Cơ đồ gây dựng phút thành không!

Lòng nầy hổ gởi vầng trăng bạc

Danh ấy đành buông ngọn lửa hồng 

Chí sĩ cam thân vùi tuyết Bắc (*)

Anh hùng thẹn mặt ngó người Đông (*)

Xét mình chẳng tiện theo gương trước

Sống đục còn hơn chịu thác trong!

(Trần Văn hương) 26-12-61

 

(*) Chú thích:

Nhắc chuyện Tô Vũ cam chịu ở vùng “tuyết phương Bắc” và Hạng Vũ thẹn không muốn qua sông gặp lại “người Giang Đông” (mặc dù ông Đình Trưởng có cấm sào đợi).


 

Ông Long Giang Đỗ Phong Thuần cũng có 1 bài thơ để nói ý kiến chống đối của mình (với ông Ngô Đình Diệm) thì ông Trần Văn Hương cũng phụ họa 1 bài nữa:

 

PHÚNG THẾ (Xướng)                                                    

Đường đời chen lấn chợ trời đông              

Chác lợi mua danh mới phập phòng           

Tránh kẻ ham giàu bôi sử sách                    

Phụ người công khó giúp non sông            

Con buôn gặp mối đeo như đỉa                   

Thằng mổng no cơm hót tựa nhồng             

Ái quốc ưu dân là quảng cáo                      

Ngân hàng ngoại quốc dẫy đầy công.         

(Long Giang Đỗ Phong Thuần)                  

 

CHUYỆN TRỚ TRÊU (Họa)

Trớ trêu mật ít lại ruồi đông

Thầm nghĩ cười ai mũi sớm phồng

Môi mỏng khoe lo dân với nước

Mặt dầy quên thẹn với non sông

Thấy lâu xốn mắt, lòng lang sói

Nghe lắm rườm tai, giọng cưởng nhồng 

Tấp tểnh đua đòi trang “chí sĩ”

Muôn đời để mãi tiếng thằng “công” (*)

(Trần Văn Hương)

 

(*) Chú thích: 

“Công”: từ tiếng Pháp là “Un Con” để nói người ngu dốt vô liêm sĩ. (Ông Trần Văn Hương tự chú thích).

 

Sau đó dù biết là bài thơ không phải của Chí sĩ Ngô Đình Diệm (mà là của ông Nghè Nguyễn Sỹ Giác), nhưng ông Trần Văn Hương không đổi ý (chống đối).  Đến năm 1964, nhìn lại cuộc đảo chánh 1-11-63, ông thú thật là ông giựt mình vì những câu thơ “khẩu chiếm” (khẩu khí) của mình về vận mệnh của ông Ngô Đình Diệm.

 

*

Thời Đệ Nhất Cộng Hòa, thi văn của giới trí thức VN hòa hợp Bắc Nam và Đông Tây lên cao đến tuyệt đỉnh.  Người di cư miền Bắc cũng hòa hợp với người trong Nam như 2 bài thơ của ông Nguyễn Vỹ và ông Trần Văn Hương vịnh Mùa Thu:

 

Thu ơi, ai nhuộm lá thu vàng

Lá ngập tơi bời đến ải quan

Cây cỏ ngậm ngùi sầu thế hệ

Nước non vương vấn hận thời gian

Vườn thơ vắng bướm hương tàn tạ

Cánh nhạn tung mây gió phũ phàng

Ôi mảnh hồn trăng từ vạn kỷ

Gieo chi đất bụi một màu tang.

(Nguyễn Vỹ)

 

Tàn lục lưa thưa điểm lá vàng

Heo mây heo hắt giục thu sang

Sương lồng trướng khói: mờ gương thỏ

Gió vén rèm mây: chẳng bóng nhàn

Khí mát xông thềm, hơi dế lạnh

Mưa dầm trĩu nhánh, giọng thiền khan

Bắc Nam kinh vỹ trời tuy khác

Thu đến sầu thu cũng ngập tràn.

(Trần Văn Hương)