BIÊN KHẢO - THƠ - VĂN

Phan Thượng Hải

California_________________________

BBT: Qua GS Nguyễn Trung Quân, tác giả Phan Thượng Hải lần đầu tiên đến với Trang Nhà bằng bài biên khảo rất giá trị, nhằm gởi đến đọc giả đại chúng với cái nhìn tổng lượt của một người trẻ về 1 nhân vật văn hóa vĩ đại của nước nhà: Petrus Trương Vĩnh Ký

BS Phan Thượng Hải (CHS PTG 61-64) cùng với người em là LS Winston Phan Đào Nguyên là con của 1 công chức cao cấp của tòa án Cần Thơ, cũng là nhà thơ nổi tiếng của đất Cần Thơ thập niên 40, 50: Thi Sĩ LÃNG BA Phan Văn Bộ

Chúng tôi cám ơn tác giả và trân trọng giới thiệu cùng đọc giả Trang Nhà.

TBT _____________________________________________________________________________

LÁ THƯ PHẬT GIÁO (tiếp theo)

 

                                     NHÂN, DUYÊN, NGHIỆP, QUẢ

                                             (Bs Phan Thượng Hải)

 

Tập Đế của Phật Thích Ca dùng để giải thích tại sao phải Đoạn Hoặc của Diệt Đế, nhất là Tư Hoặc.  Nó gồm có theo thứ tự:

            Nhân Duyên và Duyên khởi.

            Nhân Quả gồm Nhân, Duyên, Nghiệp, Quả

            Thập nhị (12) Nhân Duyên

            Nghiệp cảm Duyên khởi 

            Tư Hoặc 

 

Thuyết Nhân Duyên và Duyên khởi

 

Vì Vô Thường và Vô Ngã nên mọi Sự vật (All beings and all things) phải tương quan với nhau để biến hóa gọi là Nhân Duyên và để sinh khởi gọi là Duyên Khởi.  Chúng sanh (All beings) cũng là những Sự vật nên cũng tùy thuộc vào Nhân Duyên và Duyên Khởi.

Thể thức căn bản và tổng quát của Nhân Duyên và Duyên Khởi là:

            "Khi cái nầy có, cái kia có; với sự sinh ra của cái nầy, cái kia sinh ra"

            "Khi cái nầy không có, cái kia không có; với sự chấm dứt (ngưng) của cái nầy, cái kia chấm dứt (ngưng)"

 

Thuyết Nhân Quả - Nhân, Duyên, Nghiệp, Quả 

 

Có thể nói Nhân Duyên và Duyên Khởi là thuyết Nhân Quả:

            "Mỗi Sự vật là Nhân của cái khác và là Quả của cái khác nữa"

            "Có Nhân thì có Quả, không có Nhân thì không có Quả"

 

Nhân Quả gồm có 4 phần: Nhân, Quả, Duyên, Nghiệp.  

            Nhân là nguyên nhân sinh ra Quả, là kết quả hay hậu quả.  

            Duyên là dây nối liền Nhân Quả còn Nghiệp là lực từ Nhân thành Quả.  Nghiệp thường là hiển hiện ra Lời nói, Hành vi hay Ý định.  Nhưng nếu (năng lực của nó) tiềm tàng (nonmanifest) thì gọi là Nghiệp Cảm.

 

Trong từ ngữ Phật Giáo có khi gọi: Duyên là Thứ Nhân và Nghiệp là Cận Nhân và Nhân là Viễn Nhân (vì Nhân chỉ là góp phần cho Nghiệp để sinh ra Quả).  

Có Lục Nhân, Ngũ Quả và Tứ Duyên nhưng Phật Giáo chú trọng nhiều nhất đến Nghiệp (Karma).

Nghiệp là hành vi hay hành động có năng lực (energy) tạo ra Quả (Nghiệp Quả)

            Hành vi từ Thân gọi là Thân Nghiệp

            Hành vi từ Miệng (= lời nói) gọi là Khẩu Nghiệp

            Hành vi từ Tâm Ý gọi là Ý Nghiệp

Có nguyên Nhân (Nhân) thì có kết Quả (Quả).  Duyên và Nghiệp cũng là Nhân.  Duyên là Nhân liên kết với Quả (Nhân Duyên).  Nghiệp là Nhân có năng lực tạo thành Quả (Nghiệp Nhân). Năng lực của Nghiệp gọi là Nghiệp (Action), Năng lực tiềm tàng gọi là Nghiệp Cảm (Action-influence).

 

            Nhân Duyên (Causation, Causality = Hetu-pratyaya)

            Duyên Khởi (Dependent Origination = Pratitya-samutpàda)

            Nhân = Nguyên nhân (Cause, Chief Cause = Hetu)

            Quả = Hậu quả, Kết quả (Effect, Retribution, Condition = Vipàka)

            Duyên (Sub-cause = Pratyaya)

            Nghiệp (Effect-causing Action, Action = Karma)

            Nghiệp lực hiển hiện (Action-manifest = Vijnapti-Karma)

            Nghiệp lực tiềm tàng (Action-nonmanifest = Avijnapti-Karma)

                        = Nghiệp Cảm (Action-influenced)

 

Từ Nhân, Duyên, Nghiệp, Quả; Phật Thích Ca đưa ra giáo pháp Thập Nhị (12) Nhân Duyên để làm căn bản cho Đoạn Hoặc. Tuy nhiên các Bộ phái Tiểu Thừa sau khi Phật Thích Ca qua đời đã dùng Luận Tạng để viết thêm chi tiết chia ra Lục Nhân, Ngũ Quả và Tứ Duyên.  Thật sự sự phân chia nầy không giúp nhiều cho người tu học Phật Pháp nhưng cũng viết ra để làm tài liệu.

 

Lục Nhân

 

1. Năng Tác Nhân (The Active Cause = Karana-hetu)

            Nguyên nhân sinh ra kết quả thì phải có sức Năng tác (Efficiency).  Năng tác là cái sức lực làm được cho Nhân sinh ra kết Quả.  Năng Tác Nhân là Nhân có sức mạnh sinh ra Quả.  Năng Tác Nhân có phạm vi rất rộng, là tổng hợp của 5 loại Nhân kia.  Hơn nữa, phàm cái chi không thuộc vào 5 loại Nhân kia thì cũng thuộc vào Năng Tác Nhân.

 

2. Đồng Loại Nhân (The Similar-species Cause = Sabhàga-hetu)

            Đồng một Sự vật mà mới cũ thay đổi, sống chết giao thể; mà cái trước làm Nhân cho cái sau.

 

3. Biến Hành Nhân (The Universal Prevalent Cause = Sarvatraga-hetu)

            Giống như Đồng Loại Nhân nhưng Đồng Loại Nhân phổ biến trong mọi Sự Vật (Vạn Hữu) còn Biến Hành Nhân chỉ ở Tâm Sở (hoạt động Tâm lý) mà sinh ra Phiền Não.

 

4. Câu Hữu Nhân (The Co-existent Cause = Sahabhùtu-hetu)

            Sự vật thường chung nhau và nương tựa nhau.  Nhân Quả xảy ra theo liên tiếp thời gian hay trong cùng không gian. Những cái Nhân nầy gọi là Câu Hữu Nhân.

                        Câu Hữu Nhân có Hộ Vi Quả: có 2 Sự vật trở lên, làm Nhân và Quả với nhau.

                        Câu Hữu Nhân có Đồng Nhất Quả: có 2 Sự vật trở lên, cùng hiệp sức nhau làm thành 1 Quả chung.

 

5. Tương Ứng Nhân (The Concomittant Cause = Samprayukta-hetu)

            Tâm Vương (= Tâm) tạo tác ra Quả thì có Tâm Sở (= Tâm lý) đồng ứng để giúp nó. Do đó gọi là Tương Ứng Nhân. Thường xảy ra từ bất cứ thời gian, nhân dịp hay môi trường nào.

 

6. Dị Thục Nhân (Vipàka-hetu)

            Là nguyên nhân làm con người phải chịu kết Quả lành (hoặc) dữ.  Nhân có thể hoặc là Thiện hoặc là Ác mà kết Quả không biết được.  Nhân nầy có sinh Quả ở Kiếp sau (sau khi chết và tái sinh).  Nhân nầy quyết định Lục Đạo của Tái sinh.

 

Ngũ Quả 

 

1. Tăng Thượng Quả 

            Là cái kết quả từ Năng Tác Nhân và Tăng Thượng Duyên.

 

2. Đẳng Lưu Quả

            Là Quả do Đồng Loại Nhân hay Biến Hành Nhân mà có.  Ấy là kết quả về Hiện tượng nào đồng đẳng, đồng lưu, đồng loại với nguyên nhân ở trước nó. 

 

3. Sĩ Dụng Quả

            Là cái kết Quả do 2 cái Câu Hữu Nhân và Tương Ứng Nhân nương nhau mà thành, cũng như các thứ sự nghiệp dựa vào tác dụng của Sĩ phu mà có.  (Sĩ là từ Sĩ phu; Dụng là tác dụng).

 

4. Dị Thục Quả

            Là do Dị Thục Nhân.  Do cái Nghiệp lực quá khứ hoặc Thiện hoặc Ác mà làm ra, mà ta không nhận thấy được Quả thể (nên gọi là Dị Thục Quả).

 

5. Ly Hệ Quả

            Không do Lục Nhân hay Tứ Duyên.  Là kết Quả của Vô Lậu Trí Tuệ, thoát ly khỏi Phiền Não và Vô Minh mà chứng được Niết Bàn. (Ly là ra khỏi; Hệ là trói buộc).

 

(Nhân)                                                                 (Quả)

Năng Tác Nhân và Tăng Thượng Duyên .......... Tăng Thượng Quả

Đồng Loại Nhân và Biến Hành Nhân ................ Đẳng Lưu Quả

Câu Hữu Nhân và Tương Ứng Nhân ................. Sĩ Dụng Quả

Dị Thục Nhân ..................................................... Dị Thục Quả

(Ly Hệ Quả không thuộc Lục Nhân và Tứ Duyên) 

  

Tứ Duyên 

 

Duyên là "thứ nhân" tức là cái Nhân giúp cho "nguyên nhân" (Nhân=Cause) để cho thành ra kết quả (Quả=Effect).  Nhưng cũng có cái Nhân và cái Duyên không phân biệt nhau được (Nhân tức là Duyên, Duyên tức là Nhân).  Từ Nhân và Duyên có nghĩa rộng là Nhân Duyên như 12 Nhân Duyên.

 

1. Nhân Duyên (The Cause-Subcause = Hetu-pratyaya)

            Chỉ cái nguyên nhân thân mật sinh ra mọi vật (Vạn Hữu).  Trừ Năng Tác Nhân, các (5) loại Nhân kia đều là thuộc loại Nhân Duyên nầy cả: ở đây Nhân tức là Duyên, không phân biệt được.  Thí dụ như Nước và Gió sinh ra Sóng.

 

2. Tăng Thượng Duyên (The Upheaving Subcause = Adhipati-pratyaya)

            Cũng là từ Năng Tác Nhân, còn gọi là Công Duyên.  Nó rất mạnh, đem tất cả nguyên nhân chung nhau thành kết quả (cuối cùng).  Thí dụ như làn Sóng cuối cùng làm lật chiếc tàu trong cơn bão.

 

3. Đẳng Vô Gián Duyên (The Immediate Subcause = Samanantara-pratyaya)

            Là riêng nói về sự phát động của Tâm: Tâm trước Tâm sau cả 2 có cái thể đồng đẳng nhau.  Tâm trước diệt, làm cái Duyên phát động Tâm (của) Hiện tượng sau ngay tức khắc (không có gián cách ở khoảng nào).  Thí dụ như Sóng nầy tiếp theo Sóng khác.

 

4. Sở Duyên Duyên (The Objective Subcause = Àlambana-pratyaya)

            Là nói về Tâm Pháp.  Phàm khi Tâm khởi lên là nó dựa vào cảnh khách quan bên ngoài (mà khởi lên).  Cho nên cảnh khách quan đó gọi là Sở Duyên, nghĩa là cái bởi đó mà sinh ra Duyên.  Thí dụ như Sóng trong Hồ, trong Sông hay trong Biển.

 

 

Bs PHAN THƯỢNG HẢI biên soạn 

 

Tài liệu tham khảo:

            1) Essential Buddhism (Kogen Mizuno)

            2) The Essentials of Buddhist Philosophy (Jujìro Takakasu)

            3) Phật Giáo Triết Học (Phan Văn Hùm)

            4) Phật Giáo Nguyên Thủy: Phật Pháp (Phan Thượng Hải) - phanthuonghai.com

            5) Triết Lý Phật Giáo: Từ Phật Thích Ca đến Thiền Tông (Phan Thượng Hải) - phanthuonghai.com

_____________________________

LÁ THƯ PHẬT GIÁO (tiếp theo)

                                           KIẾN HOẶC và TƯ HOẶC

                                                              (Bs Phan Thượng Hải)

 

Đây là triết lý của Phật Giáo Nguyên Thủy, trực tiếp từ Phật Thich Ca, vị Phật độc nhất có thật trong lịch sử nhân loại.

 

*

Hoặc hay Mê Hoặc (Defilements, Delusions) là Nhân là mầm sinh ra Nghiệp mà từ đó sinh ra Quả là Khổ, là Phiền não (Suffering).  Do đó muốn Diệt Khổ là Đoạn diệt mê Hoặc, thường được gọi tắt là Đoạn Hoặc.

Có 5 Hoặc chính, gọi là Tư Hoặc, cần phải Đoạn diệt: Tham Dục - Sân - Si - Mạn - Nghi.  Có 5 Hoặc phụ, gọi là Kiến Hoặc, cũng cần phải Đoạn diệt.

 

            Tư Hoặc = Mê Sự Hoặc = Tình Hoặc (Defilements of Practices)

            Kiến Hoặc = Mê Lý Hoặc = Trí Hoặc (Defilements of View)

 

*

Kiến Hoặc gồm những Ảo Giác trong lý thuyết (Theorical, Intellectual Delusions), có 5 loại gọi là Ngũ Lợi Sử (5 Sharp Defilements = Panca-tiksna-dùla):

            1. Thân Kiến (False View about Self = Satkàya-ditthi): chấp trược Ngũ uẩn là Tự Ngã (là Ta và sở hữu của Ta), chấp trược thân thể là thực hữu thường trụ. "Có cái Ta mãi mãi".

            2. Biên Kiến (Extreme View = Antagràba-drsti): chấp trược vảo một bên, hoặc đoạn diệt hay thường trụ, không ngay chính giữa.  Thí dụ như có những chấp trược khác nhau:

                        Thể xác (body) và tâm hồn (spirit) là vĩnh cửu hoặc Chết là hết.

                        Vạn Hữu (mọi sự vật) là vĩnh cửu hoặc ngược lại là Không có Hiện hữu.

                        Thể xác và tâm thần giống nhau hoặc Thể xác và tâm thần hoàn toàn khác biệt.

                        Như Lai vẫn tồn tại sau khi chết hoặc Như Lai không tồn tại sau khi chết.

            3. Tà Kiến (Doubt = Vicikicchà or Perverse View = Micchà-ditthi): không tin Nhân Quả, không tin Nghiệp, không tin Tam Bảo (Phật, Phật Pháp và Tăng Già), không tin có Giác ngộ từ tu hành.

            4. Kiến Thủ (Stubborn or Perverted View = Drsti-paràmarsa): cố chấp vào ngộ kiến của mình cho là đúng.  "Chỉ có Ta là đúng".

            5. Giới Cấm Thủ (Attachment for Heretical Practices = Silavrata-paràmarsa): dính chặc vào tu khổ hạnh (ascetic practice), cho rằng nó sẽ giải thoát tái sinh lên trời

 

Tóm lại Kiến Hoặc là những Lý thuyết ngoài Phật Pháp của Phật Thích Ca trong thời gian của Phật Giáo Nguyên Thủy ở Ấn Độ.

Đoạn diệt Kiến Hoặc thường là dễ dàng ngay tức khắc qua sự trí thức hiểu biết về Lý thuyết nên gọi là Lợi Sử (Sharp Defilements).

 

Đoạn diệt Kiến Hoặc thuộc về Chánh Kiến của Bát Chánh Đạo.

 

*

Tư Hoặc gồm những Hành vi sai lầm trực tiếp (Delusions of Volition = Habitual, Emotional Delusions), có 5 loại gọi là Ngũ Độn Sử (5 Dull Defilements = Panca-klesa-dùla):

            1. Sân (Anger = Vyàpàda)

            2. Tham Dục hay Tham Ái (Desire = Craving/Severe Desire = Tsrnà).

            3. Nghi (Doubt or Perplexity = Vicikitsà)

            4. Mạn (Pride = Màna)

            5. Si / Vô minh (Ignorance = Avidyà / Avijjà)

Tham dục, Sân và Si thì phổ thông nhất, thường được gọi là Tam Độc (3 poisons).

 

Không thể Đoạn diệt Tư Hoặc ngay tức khắc bằng trí thức hiểu biết mà phải cần mất nhiều thời gian cố gắng khó nhọc mới từ từ đoạn diệt được nên gọi là Độn Sử (Dull Defilements).  (Độn = dull)

 

Đoạn diệt Tư Hoặc thuộc về Chánh Tư Duy (Tham dục, Sân và Mạn), Chánh Kiến (Si) và Chánh Niệm (Nghi) của Bát Chánh Đạo.

Có sách thay thế Nghi bằng Phóng Dật (Frivolity = Auddhatya), tuy nhiên sự áp dụng cho Chánh Niệm (Right Mindfulness)  thì không khác nhau.

 

 

Bs PHAN THƯỢNG HẢI biên soạn 

 

Tài liệu tham khảo:

            1) Phật Giáo Nguyên Thủy: Phật Pháp (Phan Thượng Hải) - phanthuonghai.com

            2) Lược sử Phật Giáo Ấn Độ (Thượng tọa Thích Thanh Kiểm)

______________________

 

 

LÁ THƯ PHẬT GIÁO

  

                       TƯ HOẶC = THAM - SÂN - SI- MẠN - NGHI

                                            (Bs Phan Thượng Hải)

 

Đây là triết lý của Phật Giáo Nguyên Thủy (Tiểu Thừa), trực tiếp từ Phật Thích Ca.

 

Hoặc hay Mê Hoặc (Defilements) là Nhân là mầm sinh ra Nghiệp mà từ đó sinh ra Quả là Khổ, là Phiền não.  Do đó muốn Diệt Khổ là Đoạn diệt mê Hoặc, thường được gọi tắt là Đoạn Hoặc.

Có 5 Hoặc chính, gọi là Tư Hoặc, cần phải đoạn diệt: Tham Dục - Sân - Si - Mạn - Nghi.

 

1. Si (Ignorance) là "ngu dốt", trong Phật Giáo, là không hiểu biết minh bạch và tường tận Phật Pháp.  Si có khi đồng nghĩa với Vô Minh.  Si ở đây không có nghĩa là yêu say đắm đến mức mê mẩn ngây dại! 

2. Nghi (Doubt or Perplexity), trong Phật Giáo, là nghi ngờ, không hoàn toàn tin tưởng vào Phật Pháp. 

Phật Pháp là Tam Pháp Ấn và Tứ Diệu Đế của Phật Thích Ca (Phật Giáo Nguyên Thủy hay Tiểu Thừa). 

 

3. Sân hay Giận (Anger) theo nghĩa đen là không vừa lòng (displeasure) và ghét (revulsion) một đối tượng (mà mình) không thích (dislike).

Từ Sân (hay Giận) còn phải Đoạn diệt những điều nặng hơn:

            Phẫn hay Giận dữ (Wrath) , thường có võ lực (violence).  Phẫn gần đồng nghĩa với Tức giận (Indignation) hay Nỗi giận (Temper).

            Hận tức là Oán giận, Căm hờn (Enmity), thường do thù nghịch.

            Hại (Causing injury) làm tổn hại (sinh vật nhác).

            "Độc" (Cruelty) là độc ác, hung dữ, tàm bạo, dã man.

 

4. Mạn hay Kiêu ngạo (Pride), kiêu căng và ngạo mạn.

"Mạn" gần giống "Kiêu" hay Kiêu hãnh (Arrogance), nhưng có sự khác biệt:

            Mạn là tự kỷ coi mình hơn người khác; hoặc coi người khác dưới hơn mình. Mạn cần có người (hay sinh vật) khác để so sánh.

            Kiêu là tự kỷ coi mình là tối cao hơn hết (superior), không cần so sánh với ai hết.

Dĩ nhiên Đoạn diệt Mạn thì cũng phải Đoạn diệt Kiêu.

 

5. Tham Dục = Tham Muốn = Tham Ái = Ái (Craving or Strong Desire).

            Tham Dục là lòng ham muốn khao khát mãnh liệt không cưỡng lại được; lòng dục vọng vô độ.

            Tham Dục là lòng ham muốn trói buộc lâu dài vào một đối tượng (object).

(Phật Giáo Nguyên Thủy trong 12 Nhân Duyên thường viết là "Ái" với cùng một nghĩa).

Theo nghĩa đen Tham Dục (Craving, Strong Desire) đồng nghĩa với Tham (Greed), cùng một nghĩa là ham muốn quá đáng.

 

Người Đoạn diệt "Tham Dục, Sân và Mạn" là có phần chính của Chánh Tư Duy (Right Thoughts) trong Bát Chánh Đạo.

Người Đoạn diệt "Nghi" tức là có Chánh Niệm (Right Mindfulness) trong Bát Chánh Đạo.

Người Đoạn diệt "Si" tức là có Chánh Kiến (Right View) trong Bát Chánh Đạo.

Chánh Kiến và Chánh Niệm còn được gọi chung là Chánh Tuệ (Right Wisdom), thường được gọi nôm na là "Trí tuệ Bát Nhã".  

Bát Chánh Đạo chính là Niết Bàn.

 

 

Bs PHAN THƯỢNG HẢI biên soạn

 

Tài liệu tham khảo:

            Phật Giáo Nguyên Thủy: Tam Bảo (Phan Thượng Hải) phanthuonghai.com

____________________

                                   THƠ VÀ VIỆT SỬ - NHÂN VĂN GIAI PHẨM

                                                   Bs Phan Thượng Hải

 

Ngày nay, Phong trào Nhân Văn Giai Phẩm ở Miền Bắc Việt Nam vào năm 1956 còn có nhiều nhân vật chính khác được biết đến ngoài Phan Khôi và Trần Dần. 

 

Nhân Văn Giai Phẩm

 

*

Nhân Văn Giai Phẩm là tên một Phong trào của một nhóm văn nghệ sĩ chống lại Chủ nghĩa Cộng sản ở Miền Bắc ngay sau Hiệp định Genève.  Nhóm văn nghệ sĩ nầy dùng tòa sạn báo Bán nguyệt san Nhân Văn do ông Phan Khôi làm chủ nhiệm và Họa sĩ Trần Duy làm thư ký tòa soạn.  Nhóm nầy lôi kéo một số Học giả (chính trị) và được nhiều văn nghệ sĩ khác tham gia.  Từ tháng 2-56 đến tháng 12-56, ngoài 5 số Bán nguyệt san Nhân Văn, tòa soạn chính có thêm 4 số Giai phẩm.  Do đó có tên là Phong trào Nhân Văn Giai Phẩm.

Những người chánh có tên xuất hiện trên bìa báo (ngoài Phan Khôi và Trần Duy):

            Văn Thi sĩ: Hoàng Cầm, Lê Đạt, Trần Dần và Phùng Quán

            Nhạc sĩ: Văn Cao, Tử Phác và Tô Vũ

            Họa sĩ: Sỹ Ngọc và Nguyễn Sáng

Hầu hết đều là những người tham gia kháng chiến (46-54); đảng viên, cựu đảng viên hay không phải là đảng viên.

*

Quá Trình

 

Tháng 3-55, trong Quân đội có phong trào tranh đấu chủ trương bởi Trần Dần và Tử Phác cùng một số văn nghệ sĩ (trong đó có Lê Đạt và Hoàng Cầm) chủ yếu đòi trả quyền lãnh đạo văn nghệ về tay văn nghệ sĩ.  Trần Dần bị giam trong trại lính (13-6 đến 14-9-55) để kiểm thảo.  Trong thời gian nầy, Trần Dần viết bài thơ "Nhất Định Thắng" mà Hoàng Cầm và Lê Đạt có bản thảo.

 

Tháng 2-56, Giai Phẩm Mùa Xuân do Hoàng Cầm và Lê Đạt chủ trương:

            Bài thơ "Nhất Định Thắng" của Trần Dần

            Bài thơ "Ông Bình Vôi" của Lê Đạt

            Bài thơ "Cái Chổi quét rác rưởi" của Phùng Quán

            Bài viết của Văn Cao, Sĩ Ngọc, Tử Phác...

            Hình vẽ của Nguyễn Sáng.

Giai Phẩm Mùa Xuân bị tịch thu.  Lê Đạt bị kiểm thảo.  Trần Dần và Tử Phác bị bắt giam.  Trần Dần cứa cổ tính tự tử nhưng không chết và sau đó được thả ra.

 

Tháng 8-56, trong buổi học tập văn nghệ sĩ, Nguyễn Hữu Đang chỉ trích đường lối văn nghệ của Đảng.

 

Ngày 29-8-56, Giai Phẩm mùa Thu (tập 1):

            Bài "Phê bình lãnh đạo văn nghệ" của Phan Khôi

            Bài "Bệnh sùng bái cá nhân trong lãnh đạo văn nghệ" của Trương Tửu

Ngày 15-9-56, Bán nguyệt san Nhân Văn số 1 do Hoàng Cầm, Lê Đạt và Nguyễn Hữu Đang chủ trương, Phan Khôi chủ nhiệm và Trần Duy thư ký tòa soạn:

            Bài phỏng vấn Ls Nguyễn Mạnh Tường về vấn đề: "Mở rộng tự do dân chủ"

            Bài "Con người của Trần Dần" của Hoàng Cầm

            Bài "Nhân câu chuyện mấy người tự tử" của Lê Đạt

            Bức tranh vẽ Trần Dần với vết sẹo trên cổ của Nguyễn Sáng.

 

Ngày 30-9-56, Nhân Văn số 2

Ngày 8-10-56, Giai Phẩm mùa Xuân, tái bản

 

Ngày 15-10-56, Nhân Văn số 3:

            Bài "Nổ lực phát triển dân chủ" của Trần Đức Thảo

Cuối tháng 10-56, Giai Phẩm mùa Thu (tập 2):

            Bài "Những người khổng lồ" của Trần Duy

            Bài thơ "Chống tham ô lãng phí" của Phùng Quán

            Bài "Cũng những thằng nịnh hót" của Hữu Loan

Ngày 5-11-56, Nhân Văn số 4:

            Bài "Thành thật đấu tranh cho tự do dân chủ" của Trần Duy

            Bài "Con ngựa già của Chúa Trịnh" của Phùng Cung

 

Ngày 10-11-56, Hung Gia Lợi nổi loạn

Ngày 20-11-56, Nhân Văn số 5:

            Bài "Bài học về Ba Lan và Hung ga ri" của Lê Đạt, ký tên "Người Quan Sát"

            Bài xã luận "Hiến pháp Việt Nam năm 1946 và Hiến pháp Trung Hoa" của Nguyễn Hữu Đang.

 

Tháng 12-56, Giai Phẩm mùa Đông:

            Bài "Nội dung xã hội và hình thức tự do" của Trần Đức Thảo

            Bài "Văn nghệ và chính trị" của Trương Tửu

            Bài "Muốn phát triển học thuật" của Đào Duy Anh

 

Ngày 9-12-56, Hồ Chí Minh ký sắc lệnh bãi bỏ quyền Tự Do báo chí.

Ngày 15-12-56, Chính phủ ra lệnh đóng cửa tòa báo Nhân Văn.

 

*

Hành động phản kháng của Chánh phủ Cộng Sản

 

Hai hội nghị trong tháng 2 và tháng 3 năm 1957 của "anh chị em công tác văn nghệ" nghiên cứu nghị quyết của Bộ Chính trị Trung ương Đảng vạch trần và kết án các nhân vật "bỉ ổi của cái ổ chuột" Nhân Văn Giai Phẩm gồm có:

            Thụy An, Nguyễn Hữu Đang, Trần Thiếu Bảo, Trương Tửu, Trần Đức Thảo, Phan Khôi, Trần Duy,

            Trần Dần, Lê Đạt, Tử Phác, Đặng Đình Hưng, Hoàng Cầm, Sĩ Ngọc, Chu Ngọc, Phùng Quán, Hoàng Tích Linh, Yến Lan,

            Văn Cao, Nguyễn Văn Tý, Hoàng Tích Linh... và nhiều người khác.

 

Tố Hữu tố cáo các Thành viên chính của Phong trào Nhân Văn Giai Phẩm:

            Phan Khôi, Trương Tửu, Trần Đức Thảo là những "nhà tư tưởng" của phong trào Nhân Văn Giai Phẩm.

            Thụy An và Nguyễn Hữu Đang liên lạc, huy động và khuyến khích các thành viên trong phong trào. 

            Trần Thiếu Bảo, chủ nhà in Minh Đức, in các Giai phẩm và bán Nguyệt san Nhân Văn, giúp đỡ tiền bạc và phương tiện để phát hành báo.

            Trần Dần, Lê Đạt và Hoàng Cầm hoạt động ở Hội Nhà Văn

            Tử Phác, Văn Cao, Nguyễn Văn Tý, Đặng Đình Hưng hoạt động ở Hội Âm Nhạc

            Trần Duy, Sỹ Ngọc, Nguyễn Sáng ở Hội Mỹ Thuật

            Chu Ngọc, Hoàng Tích Linh ở Hội Nghệ sĩ Sân khấu

 

Nguyễn Đình Thi, Tổng thơ ký Hội Nhà Văn, tố cáo những tội của Nhân Văn Giai Phẩm:

            1. Cho Chủ nghĩa Cộng Sản là không nhân văn, là chà đạp con người.  Coi những người Cộng Sản là chà đạp con người, là những người khổng lồ không tim (như Trần Duy đã viết).  Đòi quyền tự do cá nhân, tự do sống đời sống tình cảm riêng tư của mỗi con người: "Đem bục Công an máy móc đặt giữa tim người.  Bắt tình cảm ngược xuôi theo luật đi đường Nhà nước" (Lê Đạt)

            2. Phản đối chuyên chính, đòi Dân chủ tự do trên mọi mặt chính trị, kinh tế, văn hóa.  Đả kích mậu dịch, quản lý hộ khẩu, các bộ máy Nhà nước.  Đòi tự do đối lập.

            3. Chống lại sùng bái cá nhân.  Cho sự lãnh đạo của Đảng là Đảng trị, là độc đoán, mâu thuẩn với quyền lợi căn bản của con người.  Bài thơ "Ông Bình Vôi" của Lê Đạt có những câu:

                        Những kiếp người sống lâu trăm tuổi

                        Y như một cái bình vôi

                        Càng sống càng tồi

                        Càng sống càng bé lại

            4. Đề cao Chủ nghĩa Quốc gia Tư sản.  Đả kích Liên Xô, cho sự giáo dục con người ở Liên Xô là rập khuôn; văn học nghệ thuật của Liên Xô là công thức.

            5. Chống Chính sách cải cách ruộng đất

            6. Về Văn nghệ, chủ trương phát triển "Trăm hoa đua nở trăm nhà đua tiếng".  Chối bỏ sự lãnh đạo của Đảng, nêu cao khẩu hiệu "Trả lại văn nghệ cho văn nghệ sĩ".

 

*

Hình Phạt từ chính phủ Cộng Sản

 

- Hội Nhà Văn

            khai trừ các Văn sĩ: Phan Khôi, Trương Tửu, Thụy An

            khai trừ các Thi sĩ: Trần Dần, Lê Đạt,  Hoàng Cầm, Phùng Quán

- Hội Nhạc sĩ

            khai trừ các Nhạc sĩ: Tử Phác, Đặng Đình Hưng. 

            chấp nhận cho Văn Cao, Nguyễn Văn Tý rút khỏi ban Chấp hành.

- Hội Mỹ thuật

            khai trừ Trần Duy. 

            cảnh cáo và chấp nhận rút khỏi ban Chấp hành các Họa sĩ Sĩ Ngọc, Nguyễn Sáng.

- Hội Nghệ sĩ Sân khấu

            khai trừ Chu Ngọc và Hoàng Tích Linh

- Chính quyền

            bắt giữ Thụy An, Nguyễn Hữu Đang, Phùng Cung, Trần Duy, Trần Thiếu Bảo

            cách chức và quản thúc các Giáo sư Đại học: Trương Tửu, Trần Đức Thảo, Nguyễn Mạnh Tường, Đào Duy Anh

 

Các người có liên quan tới Nhân Văn Giai Phẩm có những hậu quả nặng nhẹ khác nhau.  Tựu trung nếu không bị tù tội hay lao động cải tạo thì bị kiểm thảo, thất nghiệp, bị khai trừ không còn hoạt động trong lãnh vực văn hóa của mình nữa và bị quản thúc trong một thời gian.  Tất cả đều có tương lai đi vào ngõ cụt, không sáng tác công khai được nữa.

 

Bị Tù tội:

            Phiên tòa xử ngày 19-1-60: các bị can là Nguyễn Hữu Đang, Thụy Khuê, Trần Thiếu Bảo, Phan Tại và Lê Nguyên Chí.  Nguyễn Hữu Đang và Thụy An bị án tù 15 năm. 

            Phùng Cung (1928-1997) kết án và bị giam 12 năm trong các nhà tù Hỏa Lò, Bất Bát, Yên Bái, Phong Quang.  Ông là anh kết nghĩa với Phùng Quán.

 

Bị Lao động cải tạo:

            Lê Đạt Hoàng Công Đạt (1929-2008) bị khai trừ khỏi Đảng.  Cũng như Trần Dần và Tử Phác, ông phải đi lao động cải tạo.  Ông phải đi Chí Linh nhiều lần lao động cải tạo trong tất cả 10 năm.

            Tử Phác đi lao động cải tạo ở Hòa Bình (1959-60).

            Trần Dần Trần Văn Dần (1926-1997) đi lao động cải tạo ở Chí Linh trong 3 năm (1959-1961) rồi về sống ở Hà Nội.

            Phùng Quán (1932-1995) cũng bị lao động cải tạo trong nhiều năm mặc dù ông là cháu của Tố Hữu.  Mẹ của Phùng Quán là em gái của Tố Hữu.

 

Hoàng Cầm Bùi Tằng Việt (1922-2010) không bị tù cũng như không bị lao động cải tạo mà chỉ bị khai trừ ra khỏi Hội Nhà Văn.

Năm 2007, Lê Đạt, Trần Dần, Phùng Quán và Hoàng Cầm được Giải thưởng Nhà nước về Văn học Nghệ thuật.

 

Các Học giả Trương Tửu, Trần Đức Thảo, Nguyễn Mạnh Tường và Đào Duy Anh bị cách chức Giáo sư Đại học.

            Ông Trương Tửu (1913-1999) chuyển sang nghề Đông Y.

            Ông Trần Đức Thảo (1917-1993) mất chức Phó Giám đốc Đại học Sư phạm Hà Nội, bị cấm dạy học chỉ còn dịch thuật lặt vặt kiếm sống.  Năm 1991, ông được sang Pháp chữa bệnh và mất ở Paris năm sau đó (1992).

            Luật sư Nguyễn Mạnh Tường (1909-1997) chuyển sang làm việc cho Bộ Giáo dục.  Năm 1986, ông được sang Pháp ở 4 tháng.  Trong thời gian nầy, ông Nguyễn Mạnh Tường viết hồi ký cuộc đời của ông sau 1945 tựa đề là "Un Excomunié" (Một người mất phép Thông công).

            Ông Đào Duy Anh (1904-1988) chuyển sang làm việc cho Hội Sử Học từ năm 1960.

 

Có một số văn nghệ sĩ không được nói tới nhưng hoàn toàn không còn hoạt động văn nghệ vì có dính líu tới Nhân Văn Giai Phẩm như là Thi sĩ Hữu Loan và Họa sĩ Bùi Xuân Phái.

Nguyễn Hữu Đang và Thụy An

 

Theo Tố Hữu; Thụy An, Nguyễn Hữu Đang và Trần Thiếu Bảo là có tội năng nhất trên phương diện chính trị.  Thụy An và Nguyễn Hữu Đang liên lạc, huy động và khuyến khích các thành viên trong phong trào Nhân Văn Giai Phẩm.  Trần Thiếu Bảo, chủ nhà in Minh Đức, in các Giai phẩm và bán Nguyệt san, giúp đỡ tiền bạc và phương tiện để phát hành báo.

Phiên tòa xử ngày 19-1-60: các bị can là Nguyễn Hữu Đang, Thụy Khuê, Trần Thiếu Bảo, Phan Tại và Lê Nguyên Chí.  Nguyễn Hữu Đang và Thụy An bị án tù 15 năm.

 

Ông Nguyễn Hữu Đang (1913-2007) tốt nghiệp Cao Đẳng Sư Phạm Hà Nội.  Là 1 trong 15 Ủy viên trong Ủy Ban Dân Tộc Giải Phóng thành lập ở Tân Trào năm 1945, ông là người được Hồ Chí Minh phó thác và chỉ huy dựng buổi lễ ngày 2-9-45 ở quảng trường Ba Đình.  Sau đó ông giữ chức Thứ trưởng Thanh Niên trong Chính phủ Hổ Chí Minh (1945).  Vào Đảng năm 1947, ông Nguyễn Hữu Đang là đảng viên Đảng Cộng sản "cao cấp" rất thân thiết với Trường Chinh, Võ Nguyên Giáp, Phạm Văn Đồng và Trần Huy Liệu.  Tuy nhiên ông ly khai Đảng vào năm 1951.

Bị kết án 15 năm tù, sau khi ở tù ra vào năm 1973, ông Nguyễn Hữu Đang bị quản thúc ở Thái Bình gần 20 năm.

Bà Thụy An Lưu Thị Yến (1916-1989) bị kết án 15 năm tù về tội gián điệp và phản động.  Bà, cũng như ông Nguyễn Hữu Đang, được thả vào năm 1973 theo diện "Đại xá chánh trị phạm trong HĐ Paris".  Năm 1987 bà vào sống ở Sài Gòn cho đến khi qua đời.  Bà Thụy An là Văn Thi sĩ nhưng không có viết bài nào trong Nhân Văn Giai Phẩm. 

Bà Thụy An là em dâu của ông Bùi Kỷ và bà Trần Trọng Kim.  Bà lúc đầu là 1 nhà thơ.  Năm 1929, cô gái Lưu Thị Yến 13 tuổi đã có thơ đăng trong Nam Phong tạp chí và năm 16 tuổi được giải thưởng văn chương của triều đình Huế.  Tương truyền lúc trẻ (khoảng 1930-32), bà có một ông thầy kèm dạy tại nhà là Võ Nguyên Giáp.  Sau đó bà Thụy An là người tiền phong viết văn, xuất bản cuốn tiểu thuyết "Một Linh Hồn" (1943).  Bà từng làm chủ nhiệm những tờ báo Đàn Bà Mới (Sài Gòn), Phụ Nữ Tân Văn (Sài Gòn) và Đàn Bà (Hà Nội).  Là phóng viên chiến tranh, bà còn từng giữ chức giám đốc Việt Tấn Xã.  Chồng bà (ly thân năm 1949) là ông Bùi Nhung từng là giám đốc đài phát thanh Hà Nội (48-49 và 51-52) và Hải Phòng (54).  Trong thời gian Nhân Văn Giai Phẩm hoạt động, bà được biết là con nuôi của ông Phan Khôi. 

Ngày nay nhiều chi tiết về bà Thụy An được biết qua ngưởi con trai thứ nhì là ông Bùi Thụy Băng, chủ nhiệm kiêm chủ bút Atlanta Việt Báo.  Hình như bà tự đâm mù một mắt khi bị bắt giam ở Hỏa Lò trong vụ Nhân Văn Giai Phẩm.

 

 

Phan Khôi và Trần Dần

 

*

Các người trong phong trào Nhân Văn Giai Phẩm còn tiếp tục bị các đồng nghiệp chửi bới hay chỉ trích bằng thơ nhứt là ông Chủ Nhiệm tờ báo Nhân Văn là Phan Khôi (1887-1959), cháu ngoại của Tổng Đốc Hoàng Diệu.

Khi ông Phan Khôi làm bài thơ tự chúc “thất thập” của mình (1956) với 2 câu đầu:

 

Lên bảy mươi rồi mẹ nó ơi

Thọ ta ta chúc nọ phiền ai

 

Ông liền được văn sĩ Nguyễn Công Hoan, hứng lên thành thi sĩ, làm thơ họa lại như sau:

 

Nhắn bảo Phan Khôi khốn kiếp ơi

Thọ mi mi chúc chớ phiền ai

Văn chương đù mẹ thằng cha bạc

Tiết tháo! Tiên sư cái mẽ ngoài

Lô dích (logique), trước cam làm kiếp chó (*)

Nhân Văn nay lại hít gì voi

Sống dai thêm tủi cho thêm nhục

Thêm nhục cơm trời chẳng thấy gai?

(Nguyễn Công Hoan)

 

(*) Chú thích: Nguyễn Công Hoan muốn nhắc lại cái cách “cãi lý” (lô dích) nổi danh của ông Phan Khôi trong quá khứ mà mọi người đều biết.

 

(CÃI LÝ CỦA PHAN KHÔI)

Làm sao cũng chẳng làm sao

Dẫu có thế nào cũng chẳng làm chi

Làm chi cũng chẳng làm chi

Dẫu có làm gì cũng chẳng làm sao.

(Phan Khôi)

 

Thậm chí Thi sĩ Tế Hanh còn đem ra bài thơ “Tư Trào” của ông Phan Khôi dưới đây viết năm 1949 và làm bài thơ “Con Rùa Đá” để chửi lại.

 

TƯ TRÀO

Hai nhà cọng lại có mười con

Năm gái, năm trai nhắm cũng giòn

Gả cưới tạm yên nguyền một nửa

Sữa măng riêng mủi máu ba hòn

Tư trào thôi hẳn đành chia rẽ

Nhân cách còn mong được vẹn tròn

Bé nhất Lang-Sa mới ba tuổi

Tên mầy ghi cái nhục non sông.

 

(*) Chú thích: Con út của ông tên là Lang Sa (theo "Pháp Lang Sa", dịch nguyên âm từ France).

 

CON RÙA ĐÁ

Chống Pháp lại đi ôm đít Pháp

Chửi vua rốt cuộc liếm giày vua

Há mồm lại nói nền dân chủ

Đạo đức ba que quả trái mùa.

(Tế Hanh)

 

Người ta cũng biết là "ông già" Phan Khôi không thích “Kháng Chiến” lắm.  Trong thời chiến tranh Việt Pháp (1946-54), ông phải theo kháng chiến ở Việt Bắc và có làm những bài thơ:

 

HỚT TÓC

Tuổi già thêm bệnh hoạn

Kháng chiến chẳng thừa ta

Mối sầu như tóc bạc

Cứ cắt lại dài ra.

(Phan Khôi)

 

(THƠ PHAN KHÔI)

Ngừng tim bặt óc lặng dòng tình

Tai mắt như không phải của mình

Thấy dưới ánh trăng muôn khúc nhạc

Nghe trong tiếng ếch một màu xanh

Suối tiên mát mẻ bao cho chán

Giấc mộng vờn mơn vẫn chẳng thành

Cái thú vui xưa nào thấy nữa

Ngủ say thức tỉnh dậy buồn tênh.

(Phan Khôi)

 

Và đây là 2 bài thơ từ con gái của ông Phan Khôi là Phan Thị Mỹ Khanh đăng trong Phổ Thông tạp chí số 31.  Theo cô Khanh, cùng bài thơ "Tư Trào", 2 bài thơ dưới đây được ông làm trong thời gian trong kháng chiến và gởi cho mẹ của cô Khanh lúc đó đang tản cư ở Tam Kỳ (1950).

 

(NHẮN VỢ NHÀ)

Vì có trông người nhớ đến ta

Nhà hai, nhà cả, cả hai nhà

Tài không tháo vát nhưng cần kiệm

Họa có ghen tuông vẫn thuận hòa

Tình nặng nhớ nhung thơ vụng tả

Biệt lâu khao khát tuổi quên già

Loạn ly sống chết còn chưa biết

Đã một, hai rồi có lẽ ba?

(Phan Khôi)

 

 

NGÀY XUÂN CHÚC ANH VỆ QUỐC QUÂN

 

Lội suối trèo non tôi đến đây

Gặp anh về nghỉ dưới chân mây

Chúc anh mạnh khoẻ rồi ra trận

Thêm sức càng hăng để đánh Tây.

 

Đánh đến bao giờ độc lập thành

Tôi dù già rụi ở quê anh

Cũng nguyền nhắm mắt không ân hận

Nằm dưới mồ nghe khúc Thái bình.

 

(Phan Khôi)

 

 

*

Ông Trần Dần (1926-1997), tên thật là Trần Văn Dần, cùng với ông Phan Khôi được nhắc đến nhiều nhất trong phong trào Nhân Văn Giai Phẩm.  Nhất là những câu thơ trong bài thơ “Nhất định thắng” của ông:

 

"Tôi bước đi

            không thấy phố không thấy nhà

chỉ thấy mưa sa

            trên màu cờ đỏ”

 

 

Ông Trần Dần học giỏi, đậu Thành Chung rồi đậu Tú Tài.  Năm 1946, ông bắt đầu làm thơ, lập nhóm thơ Dạ Đài với Vũ Hoàng Chương, Đinh Hùng…  Tham gia kháng chiến, ông Trần Dần là đảng viên CS từ năm 1949 và có mặt ở trận Điện Biên phủ.  Năm 1955, ông xin giải ngũ, ra khỏi Đảng và kết hôn với người yêu là bà Bùi thị Ngọc Khuê (gia đình bà Khuê có người di cư vào Nam nên Đảng không cho phép đảng viên kết hôn vì lý do lý lịch).

Sau vụ Nhân Văn Giai Phẩm, ông Trần Dần bị bắt giam rồi đi lao động cài tạo.  Từ năm 1961, ông được thả, về sống thầm lặng ở Hà Nội kiếm sống bằng nghề vẽ và dịch sách cho đến khi qua đời 36 năm sau. 

 

Đoạn đầu của bài thơ “Về nẻo Thanh Tuyền” tỏ tâm sự của ông Trần Dần:

 

VỀ NẺO THANH TUYỀN 

Đời bỏ ta nằm dưới thủy cung

Mờ đi! ơi ánh nguyệt vô cùng

Hồn ta qua xứ ma làm loạn

Nên thác trong đường trận hỏa công

Trải mấy thu dài trên Tử trấn

Ta về nghe thế sự tàn vong

Ngoài ta ai đón trăng huyền lặn

Mà dẫn đi qua khỏi Cửu trùng?

(Trần Dần)

 

Đây là toàn bộ bài thơ "Nhất Định Thắng" đăng trong Giai Phẩm Mùa Thu:

 

NHẤT ĐỊNH THẮNG

(1)

Tôi ở phố Sinh Từ
Hai người
Một gian nhà chật,
Rất yêu nhau sao cuộc sống không vui?
Tổ quốc hôm nay
                         tuy gọi sống hoà bình
Nhưng mới chỉ là trang thứ nhất
Chúng ta còn muôn việc rối tinh...
Chúng ta
Ngày làm việc, đêm thì lo đẫy giấc
Vợ con đau thì rối ruột thuốc men
Khi mảng vui - khi chợt nhớ chợt quên
Trăm cái bận hàng ngày nhay nhắt.
Chúng ta vẫn làm ăn chiu chắt.
Ta biết đâu bên Mỹ miếc tít mù
Chúng còn đương bày kế hại đời ta?
Tôi đi giữa trời mưa đất Bắc
Đất hôm nay tầm tã mưa phùn
Bỗng nhói ngang lưng
                              máu rỏ xuống bùn
Lưng tôi có tên nào chém trộm?
A! Cái lưỡi dao cùn!
Không đứt được mà đau!
Chúng định chém tôi làm hai mảnh
Ôi cả nước! Nếu mà lưng tê lạnh
Hãy nhìn xem: có phi vết dao?
Không đứt được mà đau!
Lưng Tổ Quốc hôm nay rớm máu
Tôi đã sống rã rời cân não
Quãng thời gian nhưng nhức chuyện đi Nam
Những cơn mưa rơi mãi tối xầm
Họ lếch thếch ôm nhau đi từng mảng
Tôi đã trở nên người ôm giận
Tôi đem thân làm ụ cản đường đi
- Dừng lại!
               Đi đâu?
                          Làm gì?
Họ kêu những thiếu tiền, thiếu gạo
Thiếu cha, thiếu Chúa, thiếu vân vân
Có cả anh nam chị nữ kêu buồn
- Ở đây
         Khát gió, thèm mây...
                                        Ô hay!
Trời của chúng ta gặp ngày mây rủ?
Nhưng trời ta sao bỏ nó mà đi?
Sau đám mây kia
                         Là cả miền Nam
Sao nỡ tưởng non bồng của Mỹ!
Tôi muốn khóc giữ từng em bé
- Bỏ tôi ư? - Từng vạt áo - gót chân
Tôi muốn kêu lên - những tiếng cộc cằn...
- Không! Hãy ở lại!
Mảnh đất ta hôm nay dù tối
Cũng còn hơn
                   Non bồng Mỹ
                                     Triệu lần...
Mảnh đất dễ mà quên?
                         Hỡi bạn đi Nam
Thiếu gì ư sao chẳng nói thật thà?
Chỉ là:
          - Thiếu quả tim bộ óc!
Những lời nói sắp thành nói cục
Nhưng bỗng dưng tôi chỉ khóc mà thôi
Tôi nức nở giữa trời mưa bão.
Họ vẫn ra đi.
               - Nhưng sao bước rã rời?
Sao họ khóc?
               Họ có gì thất vọng?
Đất níu chân đi,
                    Gió cản áo quay về
Xa đất Bắc tưởng như rời cõi sống.
Tưởng như đây là phút cuối cùng
Trăng trối lại: - Mỗi lùm cây - Hốc đá
          - Mỗi căn vườn - gốc vả - cây sung
Không nói được, chỉ còn nức nở
Trắng con ngươi nhìn lại đất trời
Nhìn cơn nắng lụi, nhìn hạt mưa sa
Nhìn con đường cũ, nhìn ngôi sao mờ
Ôi đất ấy - quên làm sao được?
Quên sao nơi ấm lạnh ngọt bùi
Hôm nay đây mưa gió dập vùi
- Mưa đổ mãi lên người xa đất Bắc...
Ai dẫn họ đi?
               Ai?
                    Dẫn đi đâu? - Mà họ khóc mãi thôi
Trời vẫn quật muôn vàn tảng gió
Bắc Nam ơi, đứt ruột chia đôi
Tôi cúi xuống - Quỳ xin mưa bão
Chớ đổ thêm lên đầu họ
                                   - Khổ nhiều rồi!
Họ xấu số - chớ hành thêm họ nữa
Vườn tược hoang sơ - cửa nhà vắng chủ
Miền Nam muôn dặm, non nước buồn thương
Họ đã đi nhưng trút lại tâm hồn
Ơi đất Bắc! Hãy giữ gìn cho họ!


(2)

Tôi ở phố Sinh Từ
Những ngày ấy bao nhiêu thương xót
Tôi bước đi
               không thấy phố
                              không thấy nhà
Chỉ thấy mưa sa
                    trên màu cờ đỏ
Gặp em trong mưa
Em đi tìm việc
Mỗi ngày đi lại cúi đầu về
- Anh ạ!
          Họ vẫn bảo chờ...
Tôi không gặng hỏi, nói gì ư?
Trời mưa, trời mưa
Ba tháng rồi
Em đợi
Sống bằng tương lai
Ngày và đêm như lũ trẻ mồ côi
Lũ lượt dắt nhau đi buồn bã
Em đi
          trong mưa
                         cúi đầu
                                nghiêng vai
Người con gái mới mười chín tuổi
Khổ thân em mưa nắng đi về lủi thủi
Bóng chúng
               đè lên
                    số phận
                            từng người

Em cúi đầu đi mưa rơi
Những ngày ấy bao nhiêu thương xót
Tôi bước đi
              không thấy phố
                         không thấy nhà
Chỉ thấy mưa sa
                 trên màu cờ đỏ.
Đất nước khó khăn này
                         sao không thấm được vào thơ?
Những tủ kính tôi dừng chân dán mũi
Các thứ hàng ế ẩm đợi người mua
Nhưng mà sách - hình như khá chạy
À quyển kia của bạn này - bạn ấy
Quyển của tôi tư lự nét đăm đăm
Nó đang mơ: - Nếu thêm cả miền Nam
Số độc giả sẽ tăng dăm bảy triệu
Tôi đã biến thành người định kiến
Tôi ước ao tất cả mọi người ta
Đòi thống nhất phải đòi từ việc nhỏ
- Từ cái ăn
               cái ngủ
                       chuyện riêng tư
- Từ suy nghĩ
                  nựng con
                             và tán vợ.
Trời mưa mãi lây rây đường phố
Về Bắc Nam tôi chưa viết chút nào
Tôi vẫn quyết Thơ phải khua bão gió
Nhưng hôm nay
                    tôi bỗng cúi đầu
Thơ nó đi đâu?
                    Sao những vần thơ
Chúng không chuyển, không xoay trời đất?
Sao chúng không chắp được cõi bờ?
Non nước sụt sùi mưa
Tôi muốn bỏ thơ
                    làm việc khác

Nhưng hôm nay tôi mê mải giữa trời mưa
Chút tài mọn
               tôi làm thơ chính trị.
Tôi bước đi
             không thấy phố
                         không thấy nhà
Chỉ thấy mưa sa
                    trên màu cờ đỏ.
Em ơi! - Ta ở phố Sinh Từ
Em đương có chuyện gì vui hử?
À cái tin trên báo - ừ em ạ
Chúng đang phải dậm chân đấm ngực!
Vượt qua đầu chúng nó,
                              mọi thứ hàng
Những tấn gạo vẫn vượt đi
Những tấn thư, tài liệu
Vẫn xéo qua đầu chúng, giới danh gì?
Ý muốn dân ta
                    là lực sĩ khổng lồ
Đè cổ chúng mà xoá nhoà giới tuyến
Dân ta muốn trời kia cũng chuyển
Nhưng
Trời mưa to lụt cả gian nhà:
Em tất tả che mưa cản gió
Con chó mực nghe mưa là rú
Tiếng nó lâu nay như khản em à
Thương nó nhỉ - Nó gầy - Lông xấu quá
Nó thiếu ăn - Hay là giết đi ư?
Nó đỡ khổ - Cả em đỡ khổ.
Em thương nó - Ừ thôi chuyện đó

Nhưng hôm nay em mới nghĩ ra
Anh đã biến thành người định kiến
Những ngày ấy bao nhiêu thương xót
Tôi bước đi
             không thấy phố
                         không thấy nhà
Chỉ thấy mưa sa
               trên màu cờ đỏ.

 

(3)

Tôi đi giữa trời mưa đất Bắc
Tai bỗng nghe những tiếng thì thầm
Tiếng người nói xen tiếng đời ầm ã
- Chúng phá hiệp thương
- Liệu có hiệp thương
- Liệu có tuyển cử
- Liệu tổng hay chẳng tổng?
- Liệu đúng kì hay chậm vài năm?
Những câu hỏi đi giữa đời lỏng chỏng.
Ôi xưa nay Người vẫn thiếu tin Người
Người vẫn thường kinh hoảng trước Tương lai
Người quên mất Mỹ là sư tử giấy.
Người vẫn vội - Người chưa kiên nhẫn mấy
Gan người ta chưa phải đúng công nông
Người chửa có dạ lim trí sắt
Người mở to đôi mắt mà trông!
A tiếng kèn vang
               quân đội anh hùng
Biển súng
          rừng lê
                  bạt ngàn con mắt
Quân ta đi tập trận về qua
Bóng cờ bay đỏ phố đỏ nhà...
Lá cờ ấy lá cờ bách thắng
Đoàn quân kia muôn trận chẳng sờn gan
Bao tháng năm đói rét nhọc nhằn
Từ đất dấy lên
               là quân vô sản
Mỗi bước đi lại một bước trưởng thành
Thắng được chiến tranh
                    giữ được hoà bình
Giặc cũ chết - Lại lo giặc mới
Đoàn quân ấy kẻ thù sợ hãi
Chưa bao giờ làm mất bụng dân yêu
Dân ta ơi! chiêm nghiệm đã nhiều
Ai có Lý? Và ai có Lực?
Tôi biết rõ đoàn quân sung sức ấy
Biết nhân dân
             Biết Tổ Quốc Việt Nam này
Những con người từ ức triệu năm nay
             Không biết nhục
             Không biết thua
             Không biết sợ!
Hôm nay
Cả nước chỉ có một lời hô
                           THỐNG NHẤT
Chúng ta tin khẩu hiệu ta đòi
- Giả miền Nam!
             Tôi ngửa mặt lên trời
Kêu một tiếng - Bỗng máu trời rơi xuống
Vài ba tia máu đỏ rớt vào tôi
Dân ta ơi!
Những tiếng ta hô
Có sức đâm trời chảy máu.
Không địch nào cưỡng nổi ý ta
Chúng ta đi - Như quả đất khổng lồ
Hiền hậu lắm - Nhưng mà đi quả quyết...
Hôm nay
Những vần thơ tôi viết
Đã giống lưỡi lê: Đâm
                 Giống viên đạn: Xé
                 Giống bão mưa: Gào
                 Giống tình yêu: Thắm
Tôi thường tin ở cuộc đấu tranh đây
Cả nước đã bầu tôi toàn phiếu
Tôi là người vô địch của lòng tin
Sao bỗng hôm nay,
                 tôi cúi mặt trước đèn?
Gian nhà vắng chuột đêm nó rúc.
Biết bao nhiêu lo lắng hiện hình ra.
Hừ! Chúng đã biến thành tảng đá
                                         chặn đường ta!
Em ơi thế ra
Người tin tưởng nhất như anh
                             vẫn có phút giây ngờ vực
Ai có lý? Và ai có lực?
Ai người tin? Ai kẻ ngã lòng tin?
Em ơi
Cuộc đấu tranh đây
                       Cả nước
                             Cả hoàn cầu
Cả mỗi người đêm ngủ vẫn lo âu
Có lẫn máu, có xót thương lao lực
Anh gạch xoá trang thơ hằn nét mực
Bỗng mặt anh nhìn thấy! lạ lùng thay!
Tảng đá chặn đường này!
Muôn triệu con người
                       Muôn triệu bàn tay
Bật cả máu ẩy đá lăn xuống vực!
Anh đã nghĩ: Không có đường nào khác
Đem ngã lòng ra
                  Mà thống nhất Bắc Nam ư?
Không không!
Đem sức gân ra!
Em ơi em!
Cái này đỏ lắm, gọi là TIM
Anh dành cho cuộc đấu tranh giành Thống Nhất.

 

(Trần Dần)

 

 

Bs PHAN THƯỢNG HẢI biên soạn

 

Bài viết nầy đăng lần đầu tiên trong phanthuonghai.com (trong mục "Thơ và Sử" phần "Thời Độc Lập".

 

Bài viết nầy là một Đoạn ở trong bài "Thơ và Sử - Thời Độc Lập" đăng lần đầu trong phanthuonghai.com (trong mục "Thơ và Sử" phần "Thời Độc Lập").

 

Tài liệu tham khảo:

            Phong trào Nhân Văn Giai Phẩm (Thụy Khuê)

            Phổ Thông Tạp chí số 31

            Trang Thơ Thi Viện Net

            Wikipedia

 

Bs PHAN THƯỢNG HẢI biên soạn và giữ bản quyền

Nhớ Huế.

 

VIẾNG HUẾ

Ghé thăm viếng Huế, đất Thần Kinh

Thú vị đôi ngày chốn địa linh

Hiểu biết hoàng triều từ Đại nội

Làm quen ẩm thực tự cung đình

Hương giang lướt nhẹ qua Long Thọ

Thiên Mụ nhìn xa thấy Ngự Bình

Thán phục công trình lăng Khải Định

Cố tìm nhân kiệt, gặp O xinh.

(Phan Thượng Hải)

1/18/20

 

O

O xinh O đẹp muốn theo o 

Ca tụng Thần Kinh, dạm ý O 

Thiên Mụ êm đềm nghe lốc cốc

Thọ Xương thanh vắng vẳng ò o

Mơ về núi Ngự buồn thiu thỉu

Mộng đến sông Hương ngáy ó o

“Ni nớ, răng chừ, mô rứa hĩ”

Học xong rành mạch thế là o.

(Phan Thượng Hải)

3/6/15

 

Khi đọc bài nầy, Thi sĩ Chánh Minh là học sinh Quốc Học Huế có làm bài thơ và tui cũng họa lại bày tỏ "sắc đẹp theo thời gian".  

 

O (Nguyên bản)

Đi mô mà vội rứa tề, O? 

Xin hãy dừng chân, noái nhỏ to. 

Chắc nhớ lời ba, nên hoảng sợ, 

Sẽ xin phép mạ, ấy đừng lo.

Không làm chuyện nớ, sao hồi hộp? 

Còn ngại điều ni, mãi đắn đo? 

Chưa noái mội lời, O đỏ mặt,

Hay là dị quá… nói vòng vo? 

(Chánh Minh Nguyễn Văn Minh)

4/15/2015

 

O (Họa)

Khi O nhỏ tuổi đã thương O

Xinh xắn tóc dài, ốm chửa to

Khác bạn Quảng Đà hay cãi cọ

Là trai Bến Nghé chẳng âu lo

Lỡ thương, nhất tiếu làm nghiêng ngửa

Thấy đẹp, ba vòng khỏi phải đo

Bốn chục năm qua Trời giúp đỡ

Được tròn ước nguyện được tròn vo!

(Phan Thượng Hải)

4/17/15

_______________________________

         Chiến Dịch "Bài Phong" của Thủ tướng Ngô Đình Diệm

 

                                                   Bs Phan Thượng Hải

 

Dưới áp lực của Mỹ và đức Hồng Y Spellman, Cựu Hoàng Bảo Đại nhận ông Ngô Đình Diệm từ NewYork về nước làm Thủ Tướng thay thế ông Nguyễn Phúc Bửu Lộc (16-6-54).  Ông Ngô Đình Diệm lập chính phủ mới ngày Song Thất (7-7-54), 2 tuần lễ trước ngày ký Hiệp định Genève. Ông đuổi Thiếu Tướng Nguyễn Văn Hinh (em của cựu Thủ Tướng Nguyễn Văn Tâm, tư lệnh quân đội của Quốc Gia Việt Nam từ 1953) là người thân Pháp và thân Bảo Đại, dùng Thiếu Tướng Lê Văn Tỵ để nắm lại quân đội. 

(Ô. Nguyễn Văn Xuân, Tướng Nguyễn Văn Hinh, Ô. Ngô Đình Diệm và Tướng Lê Văn Viễn)

 

 

Quân đội hay Lực Lượng Vũ Trang đóng vai trò quan trọng nhứt trong chính trường ở Nam Kỳ.

            Đệ Tam Quốc Tế Cộng Sản Việt Minh lợi dụng danh nghĩa Ủy Ban Hành Chánh Nam Bộ rồi Kháng Pháp để mộ quân.  Thanh Niên Tiền Phong (1945-46) dưới sự lãnh đạo của Bác sĩ Phạm Ngọc Thạch (một đảng viên CS) gia nhập và trở thành lực lượng của Việt Minh.  Khi tập kết (1954), VM của Nam Kỳ có 2 sư đoàn của Thiếu tướng Tô Ký và Thiếu tướng Đồng Văn Cống.

            Thủ tướng Trần Văn Hữu của Quốc Gia Việt Nam chính thức lập Vệ Binh Quốc Gia Việt Nam (11-1950) rồi nó thành Quân Đội của Quốc Gia Việt Nam (8-12-50) với Tổng chỉ huy là Quốc Trưởng Bảo Đại.  Theo lệnh “động viên” của Thủ tướng Trần Văn Hữu quân số từ 40.000 người (5-1951) lên tới 158.000 (12-1951).  Đại tá Nguyễn Văn Hinh, Chánh Võ phòng của QT Bảo Đại được thăng thành Thiếu tướng và giữ chức Tổng Tham mưu trưởng Quân Đội (12-4-52).  Đến năm 1953, Quân Đội Quốc Gia Việt Nam có 230.000 người (165.000 chính quy và 65.000 địa phương).

 

Đức Giáo Chủ Huỳnh Phú Sổ của Đạo Hòa Hảo, cùng với ông Trần Văn Ân, lập Dân Xã Đảng (21-9-46) có lực lượng vũ trang.  Sau khi Giáo Chủ bị mất tích vào ngày 16-4-47, Hòa Hảo chia ra 4 nhóm.

(Các Tướng Nguyễn Giác Ngộ, Lê Quang Vinh, Trần Văn Soái và Trình Minh Thế)

 

Bốn nhóm của Lực lượng Hòa Hảo:

            Trần Văn Soái tự là Năm Lửa, thủ lãnh “Quân Đội Hòa Hảo”, hoạt động ở Cần Thơ và Vĩnh Long đóng ở Cái Vồn, Cần Thơ.

Lâm Thành Nguyên tự là Hai Ngoán hoạt động ở Châu Đốc và Long Xuyên đóng ở Cái Dầu (Châu Phú), Châu Đốc

Lê Quang Vinh tự là Ba Cụt, thủ lãnh “Nghĩa Quân Cách Mạng”, hoạt động ở Rạch Giá và Long Xuyên đóng ở Thốt Nốt, Long Xuyên.

Nguyễn Giác Ngộ tự là Ba Gà Mổ, thủ lãnh “Nghĩa Quân Nguyễn Trung Trực”, hoạt động ở Long Xuyên đóng ở Chợ Mới, Long Xuyên.

Trần Văn Soái, Lâm Thành Nguyên và Lê Quang Vinh đều liên minh với Pháp chống Việt Minh.  Riêng ông Nguyễn Giác Ngộ thì về hợp tác với chính phủ Quốc Gia Việt Nam thành 1 trung đoàn của Quân Đội Quốc Gia Việt Nam (1950).

       (Hộ pháp Phạm Công Tắc và Tướng Navarre).     (Tướng Nguyễn Thành Phương)

 

 

Sau khi được thả về với điều kiện phải liên minh với Pháp chống VM, Đức Hộ Pháp Phạm Công Tắc của Đạo Cao Đài lập lực lượng vũ trang Cao Đài (năm 1946), phong cho một chức sắc là Giáo sư Thượng Vinh Thanh Trần Quang Vinh làm Trung tướng và chỉ huy lực lượng.  Chức chỉ huy đổi qua Thiếu tướng Nguyễn Văn Thành (1951) nhưng ông nầy rất hà khắc nên trở lại với Trung tướng Trần Quang Vinh (1953).  Mấy tháng sau, Thiếu tướng Nguyễn Thành Phương (và Thiếu tướng Trình Minh Thế) bắt cóc Trung tướng Trần Quang Vinh buộc Đức Hộ Pháp phải giao quyền chỉ huy cho TT Nguyễn Thành Phương và phong cho TT Trình Minh Thế làm Tham mưu trưởng.  Tuy nhiên TT Trình Minh Thế cũng có lúc lập chiến khu riêng của mình vừa chống Pháp vừa chống VM.  Ông Trần Quang Vinh (1897-1975) từ đó chỉ lo về Đạo (và bị mất tích sau 30-4-75).

 

Bình Xuyên ở làng Chánh Hưng, quận Nhà Bè, Sài Gòn là tên (? sào huyệt) của nhóm du đãng giang hồ ven Sài Gòn thành lập vào năm 1945 bởi Dương Văn Dương (Ba Dương).  Bình Xuyên của Ba Dương chống Pháp khi Pháp trở lại Đông Dương (1945-46) ở vùng Tân Thuận, Tân Qui, Nhà Bè và Thủ Thiêm cho đến khi Ba Dương tử trận (1946).  Em là Dương Văn Hà theo VM (?).  Nhưng phần lớn thành phần của Bình Xuyên theo Lê Văn Viễn (Bảy Viễn) về gia nhập Quân Đội Quốc Gia Việt Nam.  Bảy Viễn được phong Đại tá rồi lên Thiếu tướng (1952) được Pháp cho kiểm soát các sòng bài và nhà thổ ở Sài Gòn Chợ Lớn.

 

Vào thời đầu VNCH, tất cả Lực lượng vũ trang của Cao Đài, Hòa Hảo và Bình Xuyên được gọi là “Phong” (Phong Kiến) cũng như quân Pháp gọi là “Thực” (Thực Dân).  Ngày 4-3-1955, “Lực Lượng Phong” chính thức lập Mặt Trận Thống Nhứt Toàn Lực Quốc Gia dưới sự lãnh đạo của Đức Hộ Pháp Phạm Công Tắc và 6 võ tướng là:

            Trung tướng Năm Lửa Trần Văn Soái (Hòa Hảo)

            Thiếu tướng Lâm Thành Nguyên (Hòa Hảo)

            Thiếu tướng Ba Cụt Lê Quang Vinh (Hòa Hảo)

            Trung tướng Nguyễn Thành Phương (Cao Đài)

            Thiếu tướng Trình Minh Thế (Cao Đài)

            Thiếu tướng Bảy Viễn Lê Văn Viễn (Bình Xuyên)

Mặt Trận cũng có các ông Trần Văn Ân, ông Hồ Hữu Tường…  Mặt Trận chính thức chống lại Thủ tướng Ngô Đình Diệm.  Bình Xuyên ở Sài Gòn sẵn sàng tấn công Dinh Độc Lập. 

Tuy nhiên ngay sau đó các Tướng Lâm Thành Nguyên, Nguyễn Thành Phương và Trình Minh Thế lại theo về với Thủ tướng Ngô Đình Diệm.  Bình Xuyên bị Quân Đội Quốc Gia đánh bại (4-1955) phải chạy về Rừng Sác (thuộc Cần Giờ, Sài Gòn).  Tướng Trình Minh Thế tử trận ở cầu Chữ Y khi đánh nhau với Bình Xuyên. 

 

Sau chiến dịch Hoàng Diệu (9-1955) của Đại tá Dương Văn Minh và Đại tá Đỗ Cao Trí, Bình Xuyên bị tiêu diệt, Bảy Viễn trốn qua Cao Miên rồi sang Pháp cho đến khi chết năm 1971. 

Ngày 5-10-55, Tướng Nguyễn Thành Phương đem quân của mình về vây Toà thánh Tây Ninh thanh trừng những ai chống đối Thủ tướng Ngô Đình Diệm.  Đức Hộ Pháp Phạm Công Tắc (1890-1959) phải lén trốn sang Cao Miên (3 giờ sáng ngày 6-2-56) rồi qua đời ở Nam Vang vì bệnh (17-5-59). 

 

Sau chiến dịch Nguyễn Huệ (1-1950), Tướng Năm Lửa Trần Văn Soái (1889-1961) bị thua và đầu hàng vào ngày 8-3-56 cùng với 1056 sĩ quan và 4600 quân rồi chết ở Sài Gòn (1961).  Tướng Ba Cụt Lê Quang Vinh (1923-1956) sống sót chiến dịch Nguyễn Huệ nhưng sau đó ông bị dụ hàng rồi bị bắt, bị xử tử bằng máy chém (đầu) ở Cần Thơ (13-7-56).

                   (Ông Ba Cụt Lê Quang Vinh tại Tòa án Cần Thơ)

 

 

Bs PHAN THƯỢNG HẢI biên soạn

 

Tài Liệu Tham Khảo

            Thơ và Việt Sử - Thời Độc Lập (Bs Phan Thượng Hải) - phanthuonghai.com

 

THƠ PHAN THƯỢNG HẢI:

 

GIÀ HAY QUÊN

Tuổi già bớt nhớ lại hay quên

Ráng nhớ điều hay, ráng bớt quên

Cổ tích cố nhân nhiều lúc nhớ

Kịp thời đúng chỗ lắm khi quên

Biết nên hỉ xả tâm hằng nhớ

Biết phải từ bi dạ khó quên

Nhớ chuyện tốt lành quên chuyện xấu

Đến khi hết nhớ, hết còn quên!

(Phan Thượng Hải)

9/13/20

TÓM LƯỢC TRIẾT LÝ THIỀN TÔNG TỪ PHÁP BẢO ĐÀN KINH

                                                                          (Bs Phan Thượng Hải)

 

PHÁP BẢO ĐÀN KINH

 

Pháp Bảo Đàn kinh (trang 9-13) viết:

Một ngày kia, Ngũ tổ (Hoằng Nhẫn) triệu tập môn đồ bảo rằng: “Sinh Tử là việc lớn, các ngươi suốt ngày chỉ cầu phước điền, chẳng cầu lìa khỏi biển khổ sinh tử, tự tánh nếu mê, phước làm sao có thể cứu được?  Các ngươi mỗi người hãy tự xem trí tuệ (huệ), dùng bản tâm Bát Nhã của tự tánh, mỗi người làm một bài Kệ trình cho ta xem, nếu ngộ được đại ý, thì ta sẽ truyền y bát cho làm Lục Tổ (Tổ thứ sáu), hãy mau lên chẳng được chậm trễ, hễ lọt vào suy lường thì chẳng dùng được.  Người kiến tánh vừa nghe phải liền thấy, nếu được như vậy thì khi ra trận giữa đao kiếm cũng phải thấy được”.

(Đệ tử giỏi nhứt là) Thần Tú làm (bài) Kệ xong, trải qua 4 ngày, 13 lần muốn vào trình mà vẫn chưa dám (vào trình).  Thế rồi đợi đến nửa đêm lúc mọi người ngủ thì cầm đèn viết lên vách hành lang phía Nam bài Kệ của mình:

 

Thân thị bồ đề thụ                             (Thân như cây bồ đề)

Tâm như minh kính đài                     (Tâm như đài gương sáng)

Thời thời cần phất thức                     (Luôn luôn cần lau phủi)

Mạc (Vật) sử (xử) nhạ trần ai.           (Đừng để nhuốm bụi trần)  

(Thần Tú)

 

Đêm sau, Ngũ tổ (đã đọc bài Kệ của Thần Tú) kêu Thần Tú vào phòng mà nói: “Ông làm bài Kệ nầy chưa thấy Thực Tánh, chỉ đến ngoài cửa, chưa vào trong, kiến giải như thế (thì) tìm Vô Thượng Bồ Đề chẳng thể được.  Vô Thượng Bồ Đề phải khi vừa nói liền nhận tự bản tâm, thấy tự bản tánh, chẳng sanh chẳng diệt, với bất cứ giờ nào, niệm niệm tự thấy, chẳng kẹt vào vạn pháp, nhứt chơn nhứt thiết chơn, vạn cảnh tự như như, cái tâm như như tức là chơn thật.  Nếu thấy như thế tức Vô Thượng Bồ Đề của tự tánh”.  

Huệ Năng là người làm, chuyên về giã gạo từ 8 tháng nay, xin người đọc cho mình bài Kệ (của Thần Tú) vì ông không biết đọc.  Sau đó ông đọc bài Kệ của mình và nhờ người viết kế bên (bài của Thần Tú). 

    

Bồ đề bản phi thụ                                (Bồ đề vốn không là cây)

Minh kính diệc phi đài                        (Gương sáng cũng không đài gương) 

Bản lai vô nhất vật                              (Xưa nay không một vật)

Hà xứ nhạ trần ai.                                (Làm sao nhuốm bụi trần).

(Huệ Năng)

 

Hôm sau Ngũ tổ (đã đọc bài Kệ của Huệ Năng) đến chỗ giã gạo, thấy Huệ Năng lưng đeo đá giã gạo, nói rằng: “Người cầu đạo cần phải như thế” và hỏi: “Gạo trắng chưa?”.  Huệ Năng đáp: “Trắng đã lâu, còn thiếu sàng thôi”.  Tổ lấy gậy gõ trên cối 3 cái rồi bỏ đi.

Huệ Năng hiểu ý nên canh ba vào thất (phòng của Tổ).  Ngũ tổ dùng cà sa che lại không cho người thấy, rồi thuyết kinh (Bát Nhã) Kim Cang.  Khi đến câu “Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm” thì Huệ Năng ngay đó đại ngộ (Đốn Ngộ), vạn pháp chẳng lìa tự tánh.  

(Ưng vô sở trụ nhi sinh kỳ tâm = Không nên để cái Tâm bám chặc vào sự vật mà sinh ra cái Tâm kỳ diệu)). 

Huệ Năng liền bạch: “Đâu ngờ tự tánh vốn tự thanh tịnh, vốn chẳng sanh diệt, vốn tự đầy đủ, vốn chẳng lay động và tự tánh hay sanh vạn pháp”.  Tổ biết Huệ Năng đã ngộ nên nói với Huệ Năng rằng: “Chẳng nhận được bản tâm (thì) học pháp vô ích, nếu nhận được bản tâm thấy được bản tánh tức gọi là Trượng Phu, là Thiên Nhơn Sư, là Phật”.  

Tổ truyền pháp đốn giáo và y bát và nói rằng: “Ngươi là Lục tổ khéo tự hộ niệm, độ khắp hữu tình, phổ biến lưu truyền cho đời sau đừng để đoạn dứt”.  

 

TRIẾT LÝ THIỀN TÔNG (phần Kết Luận)

 

Từ bài viết nầy trích yếu ra Giáo lý thực hành của Thiền Tông có thể giúp cho một Cư sĩ theo Hành Kiến của Thiền Tông mà không phải cố gắng nhọc nhằn tu học theo những bậc Thiền sư, theo Công Án và theo Tọa Thiền:

1. Biết rằng mọi Sự vật kể cả Thân của mình là vô ngã (không tự lập và độc lập trong "sinh trụ hoại diệt") và vô thường (không cố định và không vĩnh cửu).

2. Sống (hành vi và ngôn ngữ) theo Tâm Thức của mình (= Tu Tâm).

3. Tâm Thức không bám víu và ràng buộc (= không trụ) vào Sự vật chung quanh mình và vào Thân mình (nhất là không Chấp Ngã và không ích kỷ) bằng cách:

Đoạn diệt Tham Dục:

không có ích kỷ tham lam (self-centered greed) 

Đoạn diệt Sân:

không phẫn nộ giận dữ (anger) 

không thù ghét (hate)

không lăng nhục (insult) những người khác

Đoạn diệt Mạn: 

không khoe khoang tự phụ (boasting) 

không ghen ghét (jealousy) hay ganh tỵ (envy)

không nịnh bợ (flatterery) 

không sợ hãi vô lý (unreasonable fear) đối với những người khác 

4. Tâm Thức (biết mình là Vô Ngã) theo bản tự tánh bẩm sinh và thánh thiện (đối với người và vật khác) của mình là Phật Tánh mà thi hành Từ Bi (Compassion) bằng cách:

không hại người và vật khác (= Từ), tức là nhẫn nhịn và không xung đột cũng như không sát sinh, không trộm cướp và không tà dâm 

thương người và vật khác (= Bi) bằng thể hiện lòng tử tế (loving kindness) và lòng thương xót (pity).

5. Tứ Chính Cần trong Tâm Thức đối với điều Thiện và điều Ác.  Tâm Thức thực hiện những việc kể trên là làm điều Thiện (good) và ngược lại là làm điều Ác (evil).

Tứ Chính Cần là:

Điều Ác đã sinh cần phải siêng năng đoạn diệt

Điều Ác chưa sinh cần phải siêng năng đừng cho sinh ra

Điều Thiện đã làm cần phải siêng năng làm thêm

Điều Thiện chưa có cần phải siêng năng tạo ra

 

Bên cạnh Thiền Tông, mặc dù không được Thiền Tông chấp nhận nhưng Tịnh Độ Tông đem lại đức tin hy vọng được cứu giúp những loại Khổ khác trong Kiếp sống hiện tại và đức tin hy vọng được về Tịnh độ trong tương lai sau khi qua đời.  Do đó, hai Tông nầy tồn tại với thời gian trong khi những Tông Phái khác của Phật Giáo Đại Thừa đã mai một từ lâu.  

 

PHÁP BẢO ĐÀN KINH VÀ TRIẾT LÝ THIỀN TÔNG

 

(1)

Đây là sai lầm chung của Hành giả Đại Thừa Thiền Tông, như Thần Tú, vì nói là tu hành mà không có Chánh Kiến để biết đúng đắn mình Hành cái gì.

 

Pháp Bảo Đàn kinh viết:

Một ngày kia, Ngũ tổ (Hoằng Nhẫn) triệu tập môn đồ bảo rằng: “Sinh Tử là việc lớn, các ngươi suốt ngày chỉ cầu phước điền, chẳng cầu lìa khỏi biển khổ sinh tử, tự tánh nếu mê, phước làm sao có thể cứu được?  Các ngươi mỗi người hãy tự xem trí tuệ (huệ), dùng bản tâm Bát Nhã của tự tánh, mỗi người làm một bài Kệ trình cho ta xem, nếu ngộ được đại ý, thì ta sẽ truyền y bát cho làm Lục Tổ (Tổ thứ sáu), hãy mau lên chẳng được chậm trễ, hễ lọt vào suy lường thì chẳng dùng được.  Người kiến tánh vừa nghe phải liền thấy, nếu được như vậy thì khi ra trận giữa đao kiếm cũng phải thấy được”.

(Đệ tử giỏi nhứt là) Thần Tú làm (bài) Kệ xong, trải qua 4 ngày, 13 lần muốn vào trình mà vẫn chưa dám (vào trình).  Thế rồi đợi đến nửa đêm lúc mọi người ngủ thì cầm đèn viết lên vách hành lang phía Nam bài Kệ của mình:

 

Thân thị bồ đề thụ                             (Thân như cây bồ đề)

Tâm như minh kính đài                     (Tâm như đài gương sáng)

Thời thời cần phất thức                     (Luôn luôn cần lau phủi)

Mạc (Vật) sử (xử) nhạ trần ai.           (Đừng để nhuốm bụi trần)  

(Thần Tú)

 

Đêm sau, Ngũ tổ (đã đọc bài Kệ của Thần Tú) kêu Thần Tú vào phòng mà nói: “Ông làm bài Kệ nầy chưa thấy Thực Tánh, chỉ đến ngoài cửa, chưa vào trong, kiến giải như thế (thì) tìm Vô Thượng Bồ Đề chẳng thể được.  Vô Thượng Bồ Đề phải khi vừa nói liền nhận tự bản tâm, thấy tự bản tánh, chẳng sanh chẳng diệt, với bất cứ giờ nào, niệm niệm tự thấy, chẳng kẹt vào vạn pháp, nhứt chơn nhứt thiết chơn, vạn cảnh tự như như, cái tâm như như tức là chơn thật.  Nếu thấy như thế tức Vô Thượng Bồ Đề của tự tánh”.  

 

(2)

Đây là Giáo lý thực hành của Thiền Tông có thể giúp cho một Cư sĩ theo Hành Kiến của Thiền Tông mà không phải cố gắng nhọc nhằn tu học theo những bậc Thiền sư, theo Công Án và theo Tọa Thiền:

1. Biết rằng mọi Sự vật kể cả Thân của mình là vô ngã (không tự lập và độc lập trong "sinh trụ hoại diệt") và vô thường (không cố định và không vĩnh cửu).

 

Pháp Bảo Đàn kinh viết:

Huệ Năng là người làm, chuyên về giã gạo từ 8 tháng nay, xin người đọc cho mình bài Kệ (của Thần Tú) vì ông không biết đọc.  Sau đó ông đọc bài Kệ của mình và nhờ người viết kế bên (bài của Thần Tú). 

    

Bồ đề bản phi thụ                                (Bồ đề vốn không là cây)

Minh kính diệc phi đài                        (Gương sáng cũng không đài gương) 

Bản lai vô nhất vật                              (Xưa nay không một vật)

Hà xứ nhạ trần ai.                                (Làm sao nhuốm bụi trần).

(Huệ Năng)

 

(3)

2. Sống (hành vi và ngôn ngữ) theo Tâm Thức của mình (= Tu Tâm).

3. Tâm Thức không bám víu và ràng buộc (= không trụ) vào Sự vật chung quanh mình và vào Thân mình (nhất là không Chấp Ngã và không ích kỷ) bằng cách:

Đoạn diệt Tham Dục:

không có ích kỷ tham lam (self-centered greed) 

Đoạn diệt Sân:

không phẫn nộ giận dữ (anger) 

không thù ghét (hate)

không lăng nhục (insult) những người khác

Đoạn diệt Mạn: 

không khoe khoang tự phụ (boasting) 

không ghen ghét (jealousy) hay ganh tỵ (envy)

không nịnh bợ (flatterery) 

không sợ hãi vô lý (unreasonable fear) đối với những người khác 

4. Tâm Thức (biết mình là Vô Ngã) theo bản tự tánh bẩm sinh và thánh thiện (đối với người và vật khác) của mình là Phật Tánh mà thi hành Từ Bi (Compassion) bằng cách:

không hại người và vật khác (= Từ), tức là nhẫn nhịn và không xung đột cũng như không sát sinh, không trộm cướp và không tà dâm 

thương người và vật khác (= Bi) bằng thể hiện lòng tử tế (loving kindness) và lòng thương xót (pity).

 

Pháp Bảo Đàn kinh viết:

Hôm sau Ngũ tổ (đã đọc bài Kệ của Huệ Năng) đến chỗ giã gạo, thấy Huệ Năng lưng đeo đá giã gạo, nói rằng: “Người cầu đạo cần phải như thế” và hỏi: “Gạo trắng chưa?”.  Huệ Năng đáp: “Trắng đã lâu, còn thiếu sàng thôi”.  Tổ lấy gậy gõ trên cối 3 cái rồi bỏ đi.

Huệ Năng hiểu ý nên canh ba vào thất (phòng của Tổ).  Ngũ tổ dùng cà sa che lại không cho người thấy, rồi thuyết kinh (Bát Nhã) Kim Cang.  Khi đến câu “Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm” thì Huệ Năng ngay đó đại ngộ (Đốn Ngộ), vạn pháp chẳng lìa tự tánh.  

(Ưng vô sở trụ nhi sinh kỳ tâm = Không nên để cái Tâm bám chặc vào sự vật mà có sinh ra cái Tâm kỳ diệu)). 

Huệ Năng liền bạch: “Đâu ngờ tự tánh vốn tự thanh tịnh, vốn chẳng sanh diệt, vốn tự đầy đủ, vốn chẳng lay động và tự tánh hay sanh vạn pháp”.  Tổ biết Huệ Năng đã ngộ nên nói với Huệ Năng rằng: “Chẳng nhận được bản tâm (thì) học pháp vô ích, nếu nhận được bản tâm thấy được bản tánh tức gọi là Trượng Phu, là Thiên Nhơn Sư, là Phật”.  

Tổ truyền pháp đốn giáo và y bát và nói rằng: “Ngươi là Lục tổ khéo tự hộ niệm, độ khắp hữu tình, phổ biến lưu truyền cho đời sau đừng để đoạn dứt”.  

 

Như vậy tức là nếu Hành giả không "trụ" cái Tâm Thức của mình vào sự vật chung quanh thì Tự Tánh từ bi của mình sẽ không bị che lấp và hiện ra mà hướng dẫn Tâm Thức.  

Tâm gồm có Tâm Thức là hoạt động của Tâm và Tự Tánh là cái căn bản của Tâm, điều khiển Tâm Thức.  Trong Ngũ uẩn, "Thụ Tưởng Hành Thức" chính là Tâm Thức.  

Đại Thừa thường dùng "Vạn Pháp" đồng nghĩa hiện tượng của mọi sự vật.  Tự Tánh có nhiều đồng nghĩa như Thực Tánh, Phật Tánh, Bản Tâm.

 

Hai câu cuối của yếu chỉ Thiền Tông của Thiền sư Triệu Châu diễn tả 1 cách khác:

Trực chỉ nhân Tâm

Kiến Tánh thành Phật.

 

(4)

Đại Thừa Thiền Tông đã cố tình không nói tới Nhân Duyên Nghiệp Quả vì Hành giả chỉ nhìn về quá khứ mà áy náy.  Chính Phật Thích Ca cũng dạy không nhìn lại quá khứ khi tu hành khi đưa ra Tứ Chính Cần trong Chánh Tinh Tiến (của Bát Chánh Đạo).  Hành giả chỉ Hành trong hiện tại và cho tương lai.

 

5. Tứ Chính Cần trong Tâm Thức đối với điều Thiện và điều Ác.  Tâm Thức thực hiện những việc kể trên là làm điều Thiện (good) và ngược lại là làm điều Ác (evil).

Tứ Chính Cần là:

Điều Ác đã sinh cần phải siêng năng đoạn diệt

Điều Ác chưa sinh cần phải siêng năng đừng cho sinh ra

Điều Thiện đã làm cần phải siêng năng làm thêm

Điều Thiện chưa có cần phải siêng năng tạo ra

 

Pháp Bảo Đàn Kinh viết: 

Tổ Huệ Năng nói: "Thế nào là Sám? Thế nào là Hối?  Sám là sám trừ tội trước, từ trước tất cả các tội Ác nghiệp ngu mê, kiêu căng, dối trá, ganh tỵ thảy đều sám hết, chẳng bao giờ khởi nữa gọi là Sám.  Hối là hối cải lỗi sau, tất cả Ác nghiệp ngu mê, kiêu căng, dối trá, ganh tỵ ... nay đã Giác ngộ đều cho đoạn dứt, chẳng bao giờ tạo nữa gọi là Hối".

 

(5)

Bên cạnh Thiền Tông, mặc dù không được Thiền Tông chấp nhận nhưng Tịnh Độ Tông đem lại đức tin hy vọng được cứu giúp những loại Khổ khác trong Kiếp sống hiện tại và đức tin hy vọng được về Tịnh độ trong tương lai sau khi qua đời.  Do đó, hai Tông nầy tồn tại với thời gian trong khi những Tông Phái khác của Phật Giáo Đại Thừa đã mai một từ lâu.  


 

Bs PHAN THƯỢNG HẢI biên soạn

 

Tài liệu tham khảo

1) Triết Lý Phật Giáo từ Phật Thích Ca tới Thiền Tông (Bs Phan Thượng Hải) - phanthuonghai.com

2) Triết Lý Thiền Tông (Bs Phan Thượng Hải) - phanthuonghai.com

 

Bs PHAN THƯỢNG HẢI biên soạn 

______________________

                                       ĂN CHAY TRONG PHẬT GIÁO

                                                                  (Bs Phan Thượng Hải)

 

Trong ba ngành của Phật Giáo chỉ có Phật Giáo Đại Thừa bắt buộc Tăng Ni phải ăn chay.  Tăng Ni của Phật Giáo Nguyên Thủy (Tiểu Thừa) và Phật Giáo Tây Tạng Kim Cang Thừa không phải là những người ăn chay (vegetarians) và được tự do ăn thịt (meat-eating).

 

 

Phật Giáo Nguyên Thủy

 

Phật Giáo có từ Phật Thích Ca ở Ấn Độ.  Ngài lập Tăng Già và truyền Phật Pháp, đó là Phật Giáo Nguyên Thủy (Primordial Buddhism).  Phật Thích Ca, còn gọi là Phật Cồ Đàm, sống đến 83 tuổi.  Có 2 giả thuyết về năm sinh của Ngài:

            Sinh năm 563 tr CN và nhập diệt năm 480 tr CN

            Sinh năm 483 tr CN và nhập diệt năm 400 tr CN.

Sau khi Phật Thích Ca nhập diệt, các đệ tử của ngài tổ chức kỳ Kiết tập truyền lại kinh điển gồm có Kinh Tạng (giáo pháp của Phật Thích Ca) và Luật Tạng (luật lệ cho Tăng Già).  Tăng Già (Sangha) là Cộng đồng của Tăng Ni, những người xuất gia đi tu.

Tăng Ni của Phật Giáo Nguyên Thủy ăn thịt như người thường chớ không bắt buộc phải ăn chay.  Không có bắt buộc phải ăn chay trong Kinh Tạng và Luật Tạng.

 

Câu chuyện trong Kinh Tạng về Devadatta (Đề Bà Đạt Đa), một Đệ tử chống lại Đức Phật, cho thấy là Đức Phật Thích Ca và Tăng Ni của Phật Giáo Nguyên Thủy ngay từ đầu không bắt buộc phải Ăn Chay.

            Sau 3 lần thất bại không giết được Phật Thích Ca, Devadatta âm mưu chia rẽ và nổi loạn trong Tăng Già.  Devadatta kết một phe nhóm nhỏ gồm những Tỳ kheo thân cận và đòi hỏi Phật Thích Ca phải chấp nhận một số luật mới cho Tăng Già:

                        (1) phải sống suốt đời trong rừng

                        (2) phải sống hoàn toàn từ khất thực (không được chấp nhận những bữa ăn được mời ở nhà của người cúng dường)

                        (3) phải chỉ bận quần áo làm bằng giẻ cũ (discarded rags) và không nhận quần áo cho từ tục nhân

                        (4) phải chỉ trú ngụ dưới chân cây và không được dưới mái nhà

                        (5) phải tuyệt đối tránh không ăn thịt cá. 

            Phật Thích Ca từ chối và không bắt buộc Tỳ kheo phải thi hành những điều nầy.  Devadatta bèn đem 500 Tỳ kheo theo những điều luật trên tách ra khỏi Tăng Già của Phật Thích Ca.  Phật Thích Ca cho 2 đệ tử trưởng tràng của mình là Sàriputta (Xá Lợi Phất) và Moggallàna (Mục Kiền Liên) tới thuyết phục được 500 Tỳ kheo nầy trở lại Tăng Già.

            Mặc dù Devadatta đã làm những việc trên, Phật Thích Ca vẫn không ghét mà còn luôn sẳn sàng thu nhận Devadatta.  Sau đó Devadatta bị bệnh.  Trên đường đi tới gặp Phật Thích Ca để xin lỗi, Devadatta bị hút xuống Địa ngục Niraya vì những việc làm của mình. 

 

Theo Phật Giáo Nguyên Thủy, Devadatta đại biểu cho loại người "Xiển đề" tức là không bao giờ tu thành đạo, một "evildoer" (kẻ chỉ làm việc ác).  Tuy nhiên trong phẩm thứ 12 (chapter 12) của Pháp Hoa Kinh của Phật Giáo Đại Thừa, Phật dạy rằng trong kiếp trước của Ngài, Devadatta là vị Thầy dạy Ngài theo đúng đạo và bảo rằng ngay cả con người như Devadatta cũng có thể thành Phật.

Phật Thích Ca từ chối, không bắt buộc Tỳ kheo (Sa môn) tuyệt đối tránh không ăn thịt cá theo đề nghị của Devadatta.  Như vậy, Tăng Già của Phật Giáo Nguyên Thủy không bắt buộc Tỳ kheo (và Tỳ kheo Ni) phải ăn chay.  Và như vậy, Phật Thích Ca cũng có ăn thịt cá.

 

Vào thế kỷ thứ 3 tr CN, Vua Ashoka (trị vì: 268-232 tr CN) bành trướng Phật Giáo khắp Ấn Độ.

Bắt đầu theo gương ăn chay của vua Ashoka, có nhiều Tăng Ni cảm thấy rằng ăn thịt, bất cứ theo cách thức nào, là không thích hợp với tinh thần Phật giáo và đã tự ý là những người ăn chay (vegetarians).

 

Con của vua Ashoka đem Phật Giáo Nguyên Thủy của bộ phái Theravada truyền sang Tích Lan (Ceylon) rồi từ đó truyền sang Myanmar (Miến Điện), Thái Lan, Lào, Cao Miên (Kampuchia) và Nam phần Việt Nam.  Ngày nay Phật Giáo Nguyên Thủy chỉ thịnh hành ở các quốc gia nầy.  Do đó nó được gọi là Theravada Buddhism.  Tăng Ni vẫn ăn thịt cá, cung cấp từ những người không tôn giáo hay theo Hồi Giáo hoặc Ki Tô Giáo. 

Tại Ấn Độ, Phật Giáo Nguyên Thủy bị cạnh tranh và suy tàn từ Phật Giáo Đại Thừa (từ thế kỷ thứ 1 Tr CN) rồi từ Mật Giáo (từ thế kỷ thứ 8) nên suy yếu và cùng bị tiêu diệt (ở Ấn Độ) bởi người Hồi Giáo vào thế kỷ thứ 13.

 

 

Phật Giáo Đại Thừa

 

Từ thế kỷ thứ 1 tr CN, Phật Giáo Đại Thừa (Mahàyàna Buddhism) xuất hiện ở Ấn Độ cạnh tranh với Phật Giáo Nguyên Thủy và dần dần chiếm đa số ở Ấn Độ.  Phật Giáo Đại Thừa với nhiều Kinh mới đưa ra giáo lý Bồ Tát Từ Bi nên còn gọi là Bồ Tát Thừa.  Phật Giáo Đại Thừa gọi Phật Giáo Nguyên Thủy là Tiểu Thừa.  Danh từ "Tiểu Thừa" nầy tồn tại cho tới thập niên 1950s thì Cộng đồng Phật Giáo Thế Giới cấm không cho dùng nữa.  Mật Giáo xuất hiện và cạnh tranh với Phật Giáo Đại Thừa từ thế kỷ thứ 8.  Phật Giáo Ấn Độ hoàn toàn bị người Hồi Giáo tiêu diệt vào thế kỷ thứ 13.  Trước đó Phật Giáo Đại Thừa đã được truyền sang Trung Quốc (vào thế kỷ thứ 1) rồi từ đó truyền sang Nhật Bản, Hàn Quốc và Việt Nam và thịnh hành ở các quốc gia nầy cho tới ngày nay.

 

Phật Giáo Đại Thừa ngay từ đầu cho tới ngày nay bắt buộc Tăng Ni phải ăn chay. 

Đây là trích nguyên văn từ kinh Lăng Già của Phật Giáo Đại Thừa chỉ trích Phật Giáo Nguyên Thủy về ăn thịt và bắt buộc (Tăng Ni) phải ăn chay.  Lời trong Kinh là từ Đức Phật.

            Trong luân hồi sinh tử, một sinh vật có thể trong một thời gian nào đó là cha mẹ anh em hay con cháu của mình.  Như thế tại sao bậc Bồ tát đã nguyện coi chúng sanh như chính mình lại có thể ăn thịt của sanh vật.  Như vậy, con người dù ở nơi đâu phải cảm nhận chúng sanh quanh mình như bà con thân thuộc và coi mọi chúng sanh như con cháu của mình, phải tự chế không ăn thịt.

            Bậc Bồ tát phát nguyện từ bi phải không ăn thịt, sợ rằng sẽ làm kinh khủng chúng sanh.  Những con chó khi nhìn thấy những kẻ vô loại thích ăn thịt dù từ xa cũng bị kinh hoàng sợ hãi và nghĩ "chúng là tử thần, chúng sẽ sát hại chúng ta".  Ngay cả những vi sinh vật trong thủy hỏa và không khí cũng có khứu giác nhạy cảm sẽ khám phá từ xa cái mùi ma quỉ của những kẻ ăn thịt, và sẽ chạy trốn nhanh chóng từ cái chết đe dọa chúng. 

            Hơn nữa một tên ăn thịt (a meat-eater) ngủ trong buồn bã và thức trong buồn bã.  Tất cả những giấc mộng của nó đều là những ác mộng, và làm cho nó rợn tóc gáy.  Thường thì nó bị khủng hoảng trong sự sợ hãi và run sợ không có lý do.  Nó không lường được sự ẩm thực, và không có mùi vị, tiêu hóa hay dinh dưỡng trong thực phẩm của nó.  Ruột của nó chứa đầy những ký sinh trùng và các giống vật khác, chúng gây ra bệnh cùi hũi (leprosy); và nó không còn đối kháng được với bệnh tật.

            Sự thật không chấp nhận rằng thịt là đúng đắn và thích hợp cho một đệ tử của Phật khi động vật không bị giết chết bởi chính đệ tử hay bởi mệnh lệnh của đệ tử đó, và khi động vật không bị giết chết để đặc biệt dành riêng cho chính đệ tử đó.  Từ áp lực của lòng tham muốn cái thú vị của thịt, con người có thể cùng nhau ngụy biện để bào chữa cho việc ăn thịt và tuyên bố rằng Đức Thế Tôn (Đức Phật) cho phép thịt là thực phẩm chánh đáng hợp pháp, và được ghi trong danh sách thực phẩm được cho phép, và chính Đức Thế Tôn cũng ăn.  Nhưng trong Kinh không có chỗ nào cho phép là thực phẩm chánh đáng hợp pháp (legitimate).  Ăn thịt trong bất cứ hình thức hay phương cách nào và trong bất cứ trường hợp nào đều bị cấm, vô điều kiện và dứt khoát. 

 

 

Phật Giáo Tây Tạng Kim Cang Thừa

 

Mật Giáo (Tantric Buddhism / Esoteric Buddhism) xuất hiện ở Ấn Độ từ thế kỷ thứ 8 và dần dần chiếm đa số ở Ấn Độ.  Nhưng Mật Giáo cũng như Đại Thừa và Tiểu Thừa bị người Hồi Giáo tiêu diệt ở Ấn Độ vào thế kỷ 13.  Các sư Mật Giáo lánh sang Tây Tạng và lập Phật Giáo Tây Tạng.  Phật Giáo Tây Tạng truyền sang Mông Cổ và Tân Cương và tự xưng là Kim Cang Thừa.

Ngày nay Phật Giáo Tây Tạng Kim Cang Thừa tồn tại ở những nơi nầy.  Giáo chủ của Phật Giáo Tây Tạng là Đạt Lai Lạt Ma.

 

Ở Tây Tạng, thịt là thực phẩm chính; hầu hết Tăng sĩ đều "ăn tất cả mọi thứ" (omnivorous) cả thực vật lẫn động vật, kể cả Đạt Lai Lạt Ma.  Trong quá khứ, Đạt Lai Lạt Ma thứ 14 có thử ăn chay nhưng ngài bị "vàng da" (jaundice).  Do đó bác sĩ khuyên ngài phải ngưng.  Khi ngài viếng thăm Tòa Bạch Ốc (White House) và được dọn món ăn chay thì ngài từ chối và trả lời rằng: "Tôi là một tăng sĩ Tây Tạng (Buddhist monk) chứ không phải là một người ăn chay (vegetarian)".

 

 

Bs PHAN THƯỢNG HẢI biên soạn

 

Tài liệu tham khảo:

            Buddhist Tradition - The Harvard University Press

            Phật Giáo Tây Tạng Kim Cang Thừa (Phan Thượng Hải) - phanthuonghai.com

            Hành Hương và Huyền Thoại Phật Thích Ca (Phan Thượng Hải) - phanthuonghai.com

Lễ Vu Lan

                                                                   BS Phan Thượng Hải

 

Mục Kiền Liên (Moggallàna) và Lễ Vu Lan

 

(1) 

Kinh Vu Lan Bồn viết:

Một thời, Đức Phật trú tại khu vườn Kỳ Đà Cấp Cô Độc.  Trưởng giả Đại Mục Kiền Liên chứng đắc sáu thứ Thần thông dùng đạo nhãn quán sát khắp thế giới, thấy người mẹ đã qua đời của mình bị đọa trong loài Ngạ quỷ, không được ăn uống nên thân hình chỉ còn da bọc xương.  Tôn giả Mục Kiền Liên thấy vậy vô cùng xót thương buồn bã, liền lấy bát đựng đầy cơm và vận dụng thần thông đem hiến dâng cho mẹ.  Bà mẹ vừa nhận được bát cơm , liền dùng tay trái che đậy, tay phải bốc ăn, cơm chưa vào miệng đã hóa thành than hồng nên không thể ăn được. Tôn giả Mục Kiền Liên lớn tiếng than khóc trở về bạch với đức Phật, thuật lại đầy đủ mọi sự việc như vậy.

Đức Phật bảo:

            Thân mẫu của ông tội chướng sâu dày.  Tuy lòng hiếu thảo của ông vang động trời đất nhưng cũng không ai có thể làm gì được.  Nay ông phải nhờ oai lực của Tăng chúng ở mười phương thì mới có thể thoát được.

            Này Mục Kiền Liên!  Ngày rằm tháng bảy là ngày Tự tứ của mười phương Tăng chúng, nên vì cha mẹ 7 đời, cha mẹ hiện tại và những người đang ở trong vòng khổ nạn luân hồi mà sắm sửa đầy đủ cơm nước thức ăn và giường nằm đầy đủ để dâng chúng đại đức Tăng chúng khắp mười phương.  Vì giới pháp thanh tịnh đầy đủ nên đạo đức của Tăng chúng sâu rộng mênh mông.  Nếu có người dâng cúng Tăng chúng Tự tứ như vậy thì tất cả cha mẹ bà con quyến thuộc trong đời hiện tại đã quá vãng sẽ được siêu sinh trong 3 đường khổ liền được đầy đủ áo cơm.  Nếu cha mẹ lục thân quyến thuộc còn sống thì được hưởng phước lạc sống lâu trăm tuổi, còn cha mẹ già quá khứ 7 đời thì được sinh lên cõi Trời Tự Tại hóa sinh trong cõi Trời, hoa lệ chói sáng, hưởng vô lượng phước lạc.

Bấy giờ Đức Phật bảo Tăng chúng mười phương hoặc ở nơi Tăng chúng hoặc ở chùa tháp phải chú nguyện như vậy rồi sau mới thọ thực (ăn).

Khi ấy Tôn giả Mục Kiền Liên cùng với chư vị Đại sĩ Bồ tát đều rất hoan hỷ, tiếng than khóc bi thương của ngài Mục Kiền Liên cũng tan biến.  Thân mẫu của ngài cũng trong ngày ấy được thoát khổ trong loài Ngạ quỉ.

Khi ấy ngài Mục Kiền Liên lại bạch:

            Bạch Thế tôn!  Thân mẫu của con đã được siêu thoát, đó là nhờ năng lực công đức Tam Bảo, trong đó có uy lực của Tăng chúng.  Nếu đời vị lai, tất cả đệ tử của Đức Phật muốn hiếu thuận phụng dưỡng cha mẹ thì kinh Vu Lan Bồn nầy có thể cứu độ cha mẹ hiện tại cho đến cha mẹ 7 đời chăng?

Đức Phật nói:

            Nầy Mục Kiền Liên! Điều mà Như Lai muốn nói, Tôn giả đã hỏi.

            Nếu có Tỳ kheo, Tỳ kheo ni, quốc vương, vương tử, đại thần, tể tướng, tam công, bách quan cùng cả thảy dân chúng muốn thực hành đức từ hiếu, trước nên vì cha mẹ hiện tiền, kế đó cha mẹ 7 đời trong quá khứ là cứ đến Rằm tháng Bảy, ngày chư Phật hoan hỷ, ngày chư Tăng tự tứ, nên sắp đặt đủ các loại trái cây thức ăn nước uống vào bồn Vu Lan để dâng cúng chư Tăng ở mười phương. Ngày chư Tăng Tự tứ câu nguyện cha mẹ hiện còn sống lâu trăm tuổi, không bệnh tật.  Cha mẹ trong 7 đời quá khứ thoát khỏi khổ đau trong loài Ngạ quỉ, được sinh trong cõi Trời, người phước lạc an vui.

            Thiện nam tín nữ là đệ tử của Đức Như Lai phải nên thực hành chữ hiếu, trong mỗi niệm thường thương tưởng đến cha mẹ hiện tại, cho đến cha mẹ 7 đời trong quá khứ.  Hằng năm đến ngày Rằm tháng Bảy, đem lòng từ hiếu thương tưởng song thân cha mẹ hiện tiền, cha mẹ 7 đời quá khứ, sắm sửa bồn Vu Lan, hiến cúng Phật đà, dâng cúng Tăng chúng để đền đáp công ơn sinh thành dưỡng dục của cha mẹ.  Nếu là đệ tử của Đức Phật thì phải tuân giữ điều ấy.

Lúc ấy, Tôn giả Mục Kiền Liên cùng với chúng đệ tử nghe Phật giảng dạy đều rất hoan hỷ tín thọ phụng hành.  

 

(2) 

Vu Lan Bồn Kinh (Ullambana sùtra) được Trúc Pháp Hộ dịch ra Hán ngữ và từ đó chuyển âm sang Việt ngữ. Vu Lan Bồn Kinh dịch đầy đủ ra Hán ngữ là "Phật Thuyết Vu Lan Bồn Kinh".

Trúc Pháp Hộ là tên Hán ngữ của nhà sư người Thiên Trúc (Ấn Độ) tên là Dharmaraksa (239-316).

"Vu Lan Bồn" là dịch âm từ Phạn ngữ "Ullambana".  Ullambana có nghĩa đen là "Cứu đảo huyền". "Đảo huyền" là "treo ngược".  "Cứu đảo huyền" (Ullambana) có nghĩa là cứu những ai bị treo ngược (bị khốn khổ).  Trúc Pháp Hộ dùng nghĩa đen của "Vu Lan bồn" là "bồn Vu Lan" trong kinh là không đúng.   (Bồn = basin).

 

(3) 

Kinh Vu Lan Bồn như trên đã kể lại câu chuyện Moggallàna (Mục Kiền Liên) cứu giúp Mẹ mình đang khốn Khổ trong cõi Ngạ quỉ nhờ lời dạy của Phật Thích Ca.  Tuy nhiên ý nghĩa của Kinh Vu Lan Bồn còn rộng hơn.

Theo kinh Vu Lan Bồn, dâng cúng ăn ở cho Tăng chúng trong ngày Tự tứ (ngày Rằm tháng 7, ngày 15 tháng 7) thì nhờ Đạo Đức (morality) "sâu rộng mênh mông" của Tăng chúng (monks and nuns) mà Cha Mẹ và thân quyến của mình được những phước:

            Cha mẹ và thân quyến đã chết bị siêu sinh trong 3 đường Khổ (3 Khổ đạo) liền được đầy đủ áo cơm.  (3 Khổ Đạo trong Lục Đạo Luân Hồi là: Địa ngục, Ngạ quỉ và Súc sinh).

            Cha mẹ và thân quyến đang sống sẽ được hưởng phước lạc mạnh khoẻ sống lâu trăm tuổi.

            Cha mẹ và thân quyến trong quá khứ 7 đời sẽ được tái sinh lên cõi Trời.

Tất cả cũng là thể hiện của lòng Hiếu của Phật tử. 

 

Nhưng tại sao lại dâng cúng vào ngày Tự tứ (ngày Rằm tháng 7, 15 tháng 7)?  Ngày Tự tứ là ngày gì?  Ngày Tự tứ là ngày cuối của 3 tháng Vũ Kỳ An Cư của Tăng Già.  Nó có lịch sử từ Luật Tạng của Phật Giáo Nguyên Thủy:

            Vũ Kỳ An Cư (Residence during the rainy season Reyreat = Varsavasana): Vì mỗi năm cứ vào mùa mưa (Vũ Kỳ), nước lũ dâng lên tràn ngập cả đường lối làm sự đi lại giáo hóa, truyền đạo và khất thực không thuận tiện, hơn nữa lại là mùa côn trùng sinh ra đầy đường, đi lại sợ tổn hại tới sinh mạng các loài côn trùng nên Phật Thích Ca cùng các Đệ tử phải tụ họp tại một nơi nào thuận tiện để chuyên việc tu hành trong 3 tháng mưa nầy (từ ngày 16-4 cho tới 15-7)

            Lễ Tự Tứ (Pavàranà): Trong 3 tháng tu trì của Vũ Kỳ An Cư, nếu đại chúng có ai phạm vào tội lỗi mà đại chúng ngờ vực thì được tự do cử tội trong ngày lễ Tự Tứ (ngày 15-7, ngày cuối cùng của Vũ Kỳ An Cư).

 

Nhân sự tích nầy nên có hội lễ Vu Lan trong nhân gian vào ngày Rằm (15) tháng 7 hằng năm.

Lễ Vu Lan bắt đầu ở Trung Quốc từ thời Lương Võ Đế (464-549), một vị vua rất sùng Phật Giáo. Ngày Rằm (15) tháng Bảy gọi là ngày (Tết) Trung Nguyên có mở hội Vu Lan (Vu Lan Bồn) ở khắp chùa chiền tu viện và trong toàn dân chúng kỷ niệm sự tích Mục Kiền Liên cứu Mẹ nói riêng và thể hiện lòng hiếu thảo của Chúng sanh nói chung.  Dân chúng làm đúng như trong Kinh Vu Lan Bồn đã dạy: cúng dường thực phẩm cho Tăng chúng.  Tuy nhiên còn có mở thêm hội Hoa đăng (cúng rước đèn hoa) và bá tánh còn cúng thêm (trên bàn thờ) cho "Cô Hồn" (tức là Quỉ đói = Ngạ quỉ).

Phong tục nầy được truyền sang các nước khác của Bắc Tông như Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, Việt Nam... 

 

(4) 

Chuyện Mục Kiền Liên (Moggallàna) cứu mẹ được người Tàu viết thành nhiều tuồng hát và tiểu thuyết diễn tả Mục Kiền Liên xuống Địa ngục cứu mẹ, đơn giản tên Mục Kiền Liên thành Mục Liên và đặt tên cho mẹ của ngài là Thanh Đề.  Đó là những chuyện mang tựa đề: Mục Liên Cứu Mẫu Biến Văn, Mục Liên Cứu Mẫu Bản Quyển, Mục Liên Tam Thế Bản Quyển...  Theo truyện Tàu, tuy được cứu thoát nhưng bà Thanh Đề phải tái sinh làm một con chó đen ở thành Vương Xá (Rajagrha) và Mục Liên phải trổ thần thông một lần nữa cứu bà Thanh Đề tái sinh thành người.  Dĩ nhiên cõi Địa ngục trong những truyện nầy khác cõi Ngạ quỉ trong kinh Vu Lan Bồn. 

BS PHAN THƯỢNG HẢI

Biên soạn

ĐOÀN THỊ ĐIỂM VÀ CHINH PHỤ NGÂM

                                                    Bs Phan Thượng Hải

 

Bà Đoàn Thị Điểm là nữ thi sĩ nổi tiếng hàng đầu trong lịch sử văn học nước Việt.  Danh tiếng của Bà dính liền với thi phẩm Chinh Phụ Ngâm.

 

Đoàn Thị Điểm

 

Bà Đoàn Thị Điểm hiệu là Hồng Hà nữ sĩ, sinh vào đầu thế kỷ thứ 18 đời nhà Hậu Lê.

 

Trong phần đầu của quyển Chinh Phụ Ngâm Khúc, Giáo sư Nguyễn Huy viết về tiểu sử của bà.

Bà Đoàn thị Điểm là người làng Hiếu Phạm huyện Văn Giang tỉnh Bắc Ninh, em gái ông Tiến sĩ Đoàn Luân.  Kén chồng mãi tới năm 30 tuổi, bà mới lấy lẻ ông Tiến sĩ Hạo Nhiên Nguyễn Kiều đương tại chức Thượng thư.  Ông là người huyện Từ Liêm, nay là phủ Hoài Đức, Hà Đông.  Họ ông là Nguyễn nên có sách chép là Nguyễn Thị Điểm và nhầm Bà là em gái ông Nguyễn Trác Luân, người ở Đường Hào, Hải Dương (Mỹ Hào, Hưng Yên bây giờ).

 

Tư chất rất thông minh, ngay mới 6, 7 tuổi bà đã làu thông kinh sử.  Đến năm 15 tuổi, tiếng tăm bà bắt đầu lừng lẫy trên văn đàn nước nhà.

 

Khi mới 6, 7 tuổi, ông Đoàn Luân lấy chữ ở Sử ký ra câu đối:

            Bạch xà đương đạo, Quí bạt kiếm nhi trảm chi. (Con rắn trắng đón đường, Quí rút gươm mà chém đấy).  Quí là Lưu Quí, tên tục của Hán Cao Tổ Lưu Bang.

Bà đối ngay:

            Hoàng long phụ châu, Vũ ngưỡng thiên nhi thán viết. (Con rồng vàng đội thuyền, Vũ trông trời mà than rằng).  Vũ là vua Vũ (Hạ Vũ).

Hai câu đều lấy nguyên văn trong Sử ký (của Tư Mã Thiên).

 

Lại một hôm, ông Đoàn Luân xuống ao rửa chân thấy em mình đang đứng soi gương bèn đọc:

            Đối kính họa mi, nhất điểm phiên thành lưỡng điểm.  (Soi gương vẽ mày, một chấm hóa thành hai chấm).  Điểm có nghĩa là chấm.  Điểm ở đây là danh từ chung mà còn là danh từ riêng, tên Điểm của bà.

Bà đối ngược lại:

            Lâm trì ngoạn nguyệt, chích luân chuyển tác song luân.  (Đến ao xem trăng, một vành hiện ra hai vành).  Luân có nghĩa là vành.  Luân ở đây là danh từ chung mà còn là danh từ riêng, tên Luân của ông.

 

Tương truyền đến đời vua Lê Thuần Tông, sứ Trung Hoa sang nước ta.  Bà Đoàn Thị Điểm bèn dựng quán bán rượu bên đường.  Ở các cột quán dán chi chít câu đối, trong quán bày la liệt sách vở.  Sứ giả vào quán thấy lạ, có ý trêu cô bán hàng bèn đọc câu:

            An Nam nhất thốn thổ, bất tri kỷ nhân canh.  (An Nam một tấc đất, chẳng biết có mấy người cày).

Bà đối liền:

            Bắc quốc chư đại phu, giai do thử đồ xuất.  (Bắc quốc các đại phu, đều do đấy mà ra cả)

 

Bà mất năm 1746 tại Nghệ An trên đường theo chồng đi nhậm chức, hưởng thọ 45 tuổi.

Cuộc đời dù ngắn ngủi bà cũng để lại những thi phẩm được truyền tụng: Chinh Phụ Ngâm Khúc Diễn Nôm, Tục Truyền Kỳ...

Ngày nay, Wikipedia còn tìm được những tác phẩm khác của bà Đoàn Thị Điểm:

            Nữ Trung Tùy Phận (1401 câu thơ)

            Bộ bộ thiềm - Thu từ (Bộ bộ thiềm - Bài hát mùa thu)

            Hồng Hà phu nhân di văn được chồng bà là ông Nguyễn Kiều chép lại.

 

 

Chinh Phụ Ngâm

 

Chinh Phụ Ngâm Khúc là một thi phẩm Hán ngữ do tác giả là ông Đặng Trần Côn.  Thi phẩm được viết bằng Hán tự (chữ Hán, chữ Nho) theo thể thơ Trường Đoản Cú, nhiều câu dài tới 11 chữ và cũng có những câu ngắn có 3 chữ.  Bài thơ được bà Đoàn Thị Điểm dịch ra Việt ngữ, viết bằng chữ Hán và chữ Nôm; và theo thể thơ Song Thất Lục Bát (tất cả 412 câu thơ).

 

Ông Đặng Trần Côn đậu Cử nhân, bổ làm quan Huấn đạo.  Đến năm 1740, đời Lê Hiển Tông, ông được thăng làm Tri huyện Thanh Oai (Hà Đông), và sau làm đến chức Ngự Sử đài.  Ông có để lại nhiều tác phẩm như:

            Chinh Phụ Ngâm

            Tiêu Tương bát cảnh

            Trương Hàn tư thuần lư

            Trương Lương bố y

            Khấu môn thanh

            Tiểu thuyết Bích Câu kỳ ngộ.

 

Chinh Phụ Ngâm Khúc bản chữ Quốc ngữ với chú thích vào thời Việt Nam Cộng Hòa từ Giáo sư Nguyễn Huy.

Bản dịch của bà Đoàn Thị Điểm được lưu truyền như là bản dịch chính thức của Chinh Phụ Ngâm, mặc dù thi phẩm cũng có được ông Phan Huy Ích dịch nôm vào cuối thế kỷ 18.

 

Bản dịch của bà Đoàn Thị Điểm là một tuyệt tác của thơ Hán Nôm.  Tuy nhiên bản Hán ngữ của ông Đặng Trần Côn mượn nhiều từ thi hào Lý Bạch.

Đây là những đoạn thơ mượn từ Lý Bạch.

 

(1)

Bản dịch ra Việt ngữ của Đoàn Thị Điểm:

 

            Trống Tràng Thành lung lay bóng nguyệt

            Khói Cam Tuyền mờ mịt thức mây

            Chín tầng gươm báu trao tay

            Nửa đêm truyền hịch định ngày xuất chinh.

            Nước thanh bình ba trăm năm cũ

            Áo nhung trao quan vũ từ đây

            Sứ trời sớm giục đường mây

            Phép công là trọng niềm tây sá nào.

 

Nguyên bản Hán ngữ của Đặng Trần Côn:

 

            Cổ bề thanh động Trường Thành nguyệt

            Phong hỏa ảnh chiếu Cam Tuyền vân

            Cửu trùng án kiếm khởi đương tịch

            Bán dạ phi hịch truyền tướng quân

            Thanh bình tam bách niên thiên hạ

            Tòng thử nhung y thuộc vũ thần

            Sứ tinh thiên môn thôi hiểu phát

            Hành nhân trọng pháp khinh ly biệt

 

Ảnh hưởng từ bài thơ "Tái Hạ Khúc 6" của Lý Bạch:

 

            TÁI HẠ KHÚC 6

            Phong hỏa động sa mạc

            Liên chiếu Cam Tuyền vân (*)

            Hán hoàng án kiếm khởi

            Hoàn triệu Lý Tướng quân (*)

            Binh khí thiên thượng hợp

            Cổ thanh lũng để văn

            Hoành hành phụ dũng khí

            Nhất chiến tĩnh yêu phân.

            (Lý Bạch)

 

                        KHÚC HÁT DƯỚI ẢI 6

                        Lửa báo nguy động rung sa mạc

                        Núi Cam Tuyền sáng át cả mây

                        Hán hoàng chống kiếm nơi tay

                        Truyền vời tướng Lý địng ngày xuất chinh

                        Khí thế quân trào dâng cao ngất

                        Trống khua vang tới khắp lũng ngoài

                        Xông pha ngang dọc hùng oai

                        Chỉ trong một trận hết loài quái yêu.

                        (Nguyên Minh dịch)

 

(*) Chú thích:

            Cam Tuyền: núi có cung vua, thường đốt lửa để báo giặc tới.

            Lý tướng quân: là Lý Quảng, một đại tướng của nhà Hán.

 

(2)

Bản dịch ra Việt ngữ của Đoàn Thị Điểm:

 

            Chàng tuổi trẻ vốn dòng hào kiệt

            Xếp bút nghiêng theo việc đao cung

            Thành liền mong tiến bệ rồng

            Thước gươm đã quyết chẳng dung giặc trời

            Chí làm trai dặm nghìn da ngựa

            Gieo Thái Sơn nhẹ tựa hồng mao

            Giã nhà đeo bức chiến bào

            Thét roi cầu Vị ào ào gió thu.

 

Nguyên bản Hán ngữ của Đặng Trần Côn:

 

            Lương nhân nhị thập Ngô Môn hào

            Đầu bút nghiên hề sự cung đao

            Dục bả liên thành hiến minh thánh

            Nguyện tương xích kiếm trảm thiên kiêu

            Trượng phu thiên lý chí mã cách

            Thái sơn nhất trích khinh hồng mao.

            Tiện từ khuê khổn tòng chinh chiến

            Thu phong minh tiên xuất Vị kiều.

 

Ảnh hưởng từ 2 bài thơ của Lý Bạch là "Kết Miệt Tử" và "Tái Hạ Khúc 3":

 

            KẾT MIỆT TỬ (*)

            Yên nam tráng sĩ Ngô Môn hào (*)

            Trung trúc trí duyên ngư ẩn đao (*)

            Cảm quân ân trọng hứa quân mệnh

            Thái sơn nhất trịch khinh hồng mao.

            (Lý Bạch)

 

                        GẢ ĐAN BÍ TẤT

                        Ngô Môn có bậc anh hào

                        Lòng đàn bụng cá dấu dao tung hoành

                        Đền ơn vua, quyết dâng mình

                        Một gieo núi Thái, nhẹ tênh lông hồng.

                        (Trần Trọng San dịch)

 

(*) Chú thích:

            Yên Nam tráng sĩ: là Cao Tiệm Ly, người ở miền nam nước Yên

            Ngô Môn hào kiệt: là Chuyên Chư, người nước Ngô

            Kết miệt tử: gả đan bí tất (vớ), chỉ người quyết báo ơn.  Do câu trong sách Hán thư: "Vương sinh sai Trương Thích Chi đan bí tất rồi tha cho đi".

            Trúc: tên một loại nhạc khí ngày xưa.  Cao Tiệm Ly dấu dao trong đàn trúc để ám sát Tần Thủy Hoàng.

            Duyên đao: dao không sắc bén

            Ngư ẩn đao: Chuyên Chư dấu dao trong bụng cá để hành thích Vương Liêu của nước Ngô.

 

            TÁI HẠ KHÚC 3

            Tuấn mã như phong kiều

            Minh tiên xuất Vị kiều (*)

            Loan cung từ Hán nguyệt

            Sáp vũ phá thiên kiêu

            Trận giải tinh mang tận

            Doanh không hải vụ tiêu

            Công thành họa Lân các (*)

            Độc hữu Hoắc Phiêu Diêu. (*)

            (Lý Bạch)

 

                        KHÚC HÁT DƯỚI ẢI 3

                        Ngựa hay như gió phi nhanh

                        Roi kêu cầu Vị từ thành phóng ra

                        Giương cung, trăng Hán lìa xa

                        Lắp tên, phá nát chẳng tha giặc trời

                        Trận tan, tắt hết sao rồi

                        Trại không, mù biển đã trôi đi dần

                        Công thành, hình vẽ gác Lân

                        Hoắc Phiêu Diêu, chỉ ghi phần tướng quân.

                        (Anh Nguyên dịch)

 

(*) Chú thích:

            Vị kiều: tên cái cầu, nơi nhà Đường chống giữ rợ Đột Khuyết.

            Hoắc Phiêu Diêu: tên tướng nhà Hán lập nhiều chiến công được tạc tượng ghi công ở Kỳ Lân các.

            Lân các: là Kỳ Lân Các.

 

 

(3)

Bản dịch ra Việt ngữ của Đoàn Thị Điểm:

 

            Lòng thiếp tợ bóng trăng theo dõi

            Dạ chàng xa ngoài cõi Thiên san

            Múa gươm rượu tiễn chưa tàn

            Chỉ ngang ngọn giáo vào ngàn hang beo

            Săn Lâu Lan rằng theo Giới Tử

            Tới Man Khê bàn sự Phục Ba

            Áo chàng đỏ tựa ráng pha

            Ngựa chàng sắc trắng như là tuyết in.

 

Nguyên bản Hán ngữ của Đặng Trần Côn:

 

            Thiếp tâm tùy quân tự minh nguyệt

            Quân tâm vạn lý Thiên sơn tiền

            Trịch ly bôi hề vũ Long tuyền

            Hoàn chinh sáo hề chỉ hổ huyệt

            Vân tùng Giới Tử liệp Lâu Lan

            Tiểu hướng Man Khê đàm Mã Viện

            Quân phi trang phục hồng như hà

            Quân kỵ kiêu mã bạch như tuyết.

 

Ảnh hưởng từ bài thơ Hán ngữ "Tái Hạ Khúc 1" của Lý Bạch.

 

            TÁI HẠ KHÚC 1

            Ngũ nguyệt Thiên sơn tuyết (*)

            Vô hoa chỉ hữu hàn

            Địch trung văn "chiết liễu"

            Xuân sắc vị tằng khan

            Hiểu chiến tùy kim cổ

            Tiêu miên bão ngọc an

            Nguyện tương yêu hạ kiếm

            Trực vị trảm Lâu Lan. (*)

            (Lý Bạch)

 

 

                        KHÚC HÁT DƯỚI ẢI 1

                        Tháng năm tuyết Thiên san

                        Không hoa, chỉ lạnh tràn

                        Nghe sáo vang "chiết liễu"

                        Chưa từng ngắm xuân sang

                        Sáng đi theo trống trận

                        Đêm gối yên sa tràng

                        Nguyện đem kiếm bên lưng

                        Chém ngay chúa Lâu Lan.

                        (Trần Trọng San dịch)

 

                        KHÚC HÁT DƯỚI ẢI 1

                        Tháng năm núi Thiên san còn tuyết

                        Không thấy hoa, chỉ tuyệt lạnh lùng

                        Sáo đưa "chiết liễu" mông lung

                        Nét xuân muôn thuở chẳng từng qua đây

                        Sáng giao chiến động mây chiêng trống

                        Tối gối đầu yên ngọc ngủ an

                        Nguyện dùng bảo kiếm lưng ngang

                        Chém ngay đầu giặc Lâu Lan rửa hờn.

                        (Nguyễn Phước Hậu dịch)

 

(*) Chú thích:

            Thiên Sơn: tên núi ở Tân Cương

            Chiết liễu: tên khúc nhạc biệt ly; Chiết liễu=bẻ cành liểu.

            Lâu Lan:đời Hán Chiêu Đế, Tướng Phó Giới Tử chém vua nước Lâu Lan.  Nước Lâu Lan ở Tây Vực (Tân Cương bây giờ).

 

 

(4)

Bản dịch ra Việt ngữ của Đoàn Thị Điểm:

 

            Lòng thiếp tợ bóng trăng theo dõi

            Dạ chàng xa ngoài cõi Thiên san

            .........

            Nay Hán xuống Bạch thành đóng lại

            Mai Hồ về Thanh Hải dòm qua

            Hình khe thế núi gần xa

            Đứt thôi lại nối, thấp đà lại cao

 

Nguyên bản Hán ngữ của Đặng Trần Côn:

 

            Thiếp tâm tùy quân tự minh nguyệt

            Quân tâm vạn lý Thiên sơn tiền

            ...........

            Kim trêu Hán hạ Bạch Đăng thành

            Minh nhật Hồ khuy Thanh Hải khúc

            Thanh Hải khúc, thanh sơn cao phục đê

            Thanh sơn tiền thanh khê đoạn phục tục

 

Ảnh hưởng từ bài thơ Hán ngữ "Quan San Nguyệt" của Lý Bạch.

 

QUAN SAN NGUYỆT

            Minh nguyệt xuất Thiên san (*)

            Thương mang vân hải gian

            Trường phong kỷ vạn lý

            Xuy độ Ngọc Môn quan

            Hán hạ Bạch Đăng đạo (*)

            Hồ khuy Thanh Hải loan (*)

            Do lai chinh chiến địa

            Kỷ kiến hữu nhân hoàn

            Thú khách vọng biên sắc

            Tư quy đa khổ nhan

            Cao lâu đang thử dạ

            Thán tức vị ưng nhàn.

            (Lý Bạch)

 

                        TRĂNG NƠI QUAN ẢI, NÚI NON

                        Trăng sáng ló Thiên san

                        Giữa biển mây mênh mang

                        Gió lan xa vạn dặm

                        Thổi đến Ngọc Môn quan

                        Bạch Đăng quân Hán xuống

                        Thanh Hải giặc Hồ tràn

                        Xưa nay nơi chiến địa

                        Không thấy ai về làng

                        Lính thú trêng biên sắc

                        Nhớ quê khổ muôn vàn

                        Trên lầu cao đêm tối

                        Chắc không ngơi thở than.

                        (Trần Trọng San dịch)

 

(*) Chú thích:

            Thiên Sơn: tên núi ở Tân Cương

            Bạch Đăng: tên thành nơi Hán Cao Tổ bị rợ Hung Nô bao vây

            Thanh Hải: tên đất ở phía Tây tỉnh Cam Túc.

 

(5)

Bản dịch ra Việt ngữ của Đoàn Thị Điểm:

 

            Tin thường lại người không thấy lại

            Hoa dương tàn đã trải rêu xanh

            Rêu xanh mấy lớp chung quanh

            Dạo sân một bước trăm tình ngẩn ngơ

            Thư thường tới người chưa thấy tới

            Bức rèm thưa lần dãi bóng dương

            Bóng dương mấy buổi xuyên ngang

            Lời sao mười hẹn chín thường đơn sai.

 

Nguyên bản Hán ngữ của Đặng Trần Côn:

 

            Tích niên ký tín khuyển quân hồi

            Kim niên ký tín khuyển quân lai

            Tín lai nhân vị lai

            Dương hoa linh lạc ửy thương đài

            Thương đài thương đài hựu thương đài

            Nhất bộ nhàn đình bách cảm thôi

            Tích niên ký thư đính thiếp kỳ

            Kim niên hồi thư đính thiếp qui

            Sa song tịch mịch chuyển tà huy

            Tà huy tà huy hựu tà huy

            Thập ước giai kỳ cửu độ vi.

 

Ảnh hưởng từ bài thơ Hán ngữ "Cửu Biệt Ly" của Lý Bạch:

 

            CỬU BIỆT LY

            Biệt lai kỷ xuân vị hoàn gia

            Ngọc song ngũ kiến anh đào hoa

            Hướng hữu cẩm tự thư (*)

            Khai cam sử nhân ta

            Thử trường đoạn, bỉ tâm tuyệt

            Vân hoàn lục mấn bãi sơ kết

            Sầu như hồi phiêu loạn bạch tuyết

            Khứ niên ký thư báo Dương Đài (*)

            Kim niên ký thư trùng tương thôi

            Đông phong hề Đông phong

            Vị ngã xuy hành vân sứ tây lai

            Đãi lai cảnh bất lai

            Lạc hoa tịch tịch ủy thanh đài.

            (Lý Bạch)

 

                        LÂU NGÀY XA CÁCH

                        Chàng đi mấy xuân chưa về nhà

                        Cửa ngọc năm lần đào nở hoa

                        Huống còn tờ thư gấm

                        Mở phong mà xót xa

                        Đến nỗi lòng nầy đau tựa cắt

                        Tóc xanh biếng chải làn mây thắt

                        Buồn như gió lộng tóc tơi bời

                        Năm ngoái gửi thư đến Dương Đài

                        Năm nay gửi thư lại giục ai

                        Gió Đông hề! gió Đông

                        Vì ta thổi mây tới miền Tây

                        Chờ đợi mãi sao mà chẳng tới?

                        Hoa rơi lặng lẽ lớp rêu đầy.

                        (Trần Trọng San dịch)

 

(*) Chú thích:

            Cẩm tự: đời Tần, Đậu Thao đi trấn thủ Tương Dương, đem theo người thiếp yêu.  Vợ là Tô thị làm hơn 200 bài thơ dệt lên bức gấm gửi cho chồng.  Đậu Thao xem chữ gấm (cẩm tự), cảm động liền cho xe đón về Tương Dương.  "Đề chữ gấm phong thôi lại mở" (Chinh Phụ Ngâm).

            Dương Đài: tên núi ở huyện Vu Sơn, tỉnh Tứ Xuyên.  "Tìm chàng thủa Dương Đài chốn cũ" (Chinh Phụ Ngâm).

 

 

Bài thơ "Cửu Biệt Ly" của Lý Bạch còn ảnh hưởng tới Đặng Trần Côn trong những câu thơ khác:

 

            Cẩm tự đề thi phong cánh triển

            Kim tiền vấn bốc tín hoàn nghi

            (Chinh Phụ Ngâm Khúc / Đặng Trần Côn)

 

                        Đề chữ gấm phong thôi lại mở

                        Gieo bói tiền tin dở còn ngờ

                        (Chinh Phụ Ngâm Khúc / Đoàn Thị Điểm)

 

            Tầm quân hề Dương Đài lộ

            Hội quân hề Tương Giang tân

            (Chinh Phụ Ngâm Khúc / Đặng Trần Côn)

 

                        Tìm chàng thuở Dương Đài lối cũ

                        Gặp chàng nơi Tương Phố bến xưa

                        (Chinh Phụ ngâm khúc / Đoàn Thị Điểm)

 

 

Đoàn Thị Điểm và Cống Quỳnh

 

Năm 1930, ông Trúc Khê xuất bản ở Hà Nội quyển "Sự Tích Ông Trạng Quỳnh", trong đó có những giai thoại văn chương lý thú giữa bà Đoàn Thị Điểm và ông Cống Quỳnh.

Theo ông Trúc Khê, có ông Nguyễn Quỳnh đậu Cử nhân (Hương cống) khoa Cảnh Hưng, đời vua Lê Hiển Tông.  Vì ông có văn chương hay và nhất là giỏi về khẩu tài nên người ta còn gọi ông là Trạng Quỳnh, thay vì là Cống Quỳnh (cho người đổ Hương Cống).

 

Đây là những giai thoại giữa bả Đoàn Thị Điểm và ông Cống Quỳnh.

 

Một buổi tối, Thị Điểm rũ màn trải chiếu sắp đi ngủ, Quỳnh liền trước vào nằm giương cột buồm lên.  Thị Điểm lên giường vô tình sờ phải, giật mình ngỡ rắn, sau mới biết là Quỳnh, bèn đọc ngay một câu đối để chữa thẹn:

            Trướng nội vô phong phàm tự lập.  (nghĩa là: Trong trướng không có gió mà buồm dựng)

Quỳnh liền đối ngay rằng:

            Hung trung bất vũ thủy trường lưu.  (nghĩa là: Trong bụng không mưa mà nước chảy xiết)

Điểm lại đọc câu nữa:

            Cây xương giồng (rồng), giồng đất rắn, long vẫn hoàn long.  (Long là rồng).

Quỳnh lại đối ngay:

            Quả dưa chuột, chuột thẳng gang, thử chơi thì thử.  (Thử là chuột).

Sau đó Quỳnh bỏ đi.

 

Hôm sau Thị Điểm tắm, Quỳng gõ cửa đòi vào xem, Điểm dẫy nẫy không cho vào, Quỳnh cứ đứng kè nhè mãi.  Điểm tức mình mới đọc một câu bảo hễ đối được thì mở cửa cho vào xem:

            Da trắng vỗ bì bạch

            (Bì bạch là da trắng)

Quỳnh nghĩ mãi không sao đối được.

 

Thời VNCH vào cuối thập niên 1950s, có người đối:

            Vợ buồn than thê thảm

            (Thê thảm là vợ buồn)

 

 

Bs PHAN THƯỢNG HẢI biên soạn

 

Bài viết nầy đăng lần đầu tiên trong phanthuonghai.com mục Thơ Văn phần Đọc Thơ.

 

Tài liệu tham khảo:

            1) Điển Cố Từ Thơ (Phan Thượng Hải) - phanthuonghai.com

            2) Chinh Phụ Ngâm Khúc (Nguyễn Huy chú giải)

            3) Sự Tích Ông Trạng Quỳnh (Trúc Khê)

            4) Đoàn Thị Điểm (Wikipedia)

 

 

Bs PHAN THƯỢNG HẢI biên soạn và giữ bản quyền

______________________________

THƠ XUÂN

TRONG CỔ THI TRUNG QUỐC

VÀ CỦA THIỀN SƯ NƯỚC VIỆT

                                                                                     Bs Phan Thượng Hải 

 

Đường Thi và Tống Thi đã có những bài Thơ Xuân bất hủ lưu truyền tới ngày nay.  Các thi hào như Lý Bạch, Đỗ Phủ, Tô Đông Pha... đã có nhiều bài thơ tuyệt tác với nhiều bản dịch.  Các Thiền sư nước Việt cũng trước tác những bài Thơ Xuân tương đương về hình thức và nội dung.  Thiền đạo của những bài thơ nầy mang thêm đặc tính sâu sắc hơn.

 

Yếu Chỉ Thiền Tông:

Giáo ngoại biệt truyền

Bất lập văn tự 

Trực chỉ nhân tâm

Kiến tánh thành Phật.

(Thiền sư Triệu Châu Tòng Thẩm)

 

Vì "bất lập văn tự" nên thường là những bài thơ của Thiền sư thường là đoản thiên từ 4 đến 8 câu.  Hình thức nầy không khác Đường thi và Tống thi.

Thơ Thiền Xuân của nước Việt cũng có cùng đề tài về Xuân Cảnh, Xuân Tình, Xuân Sinh và Xuân Thì như những bài Thơ Xuân của các Thi hào trong thế tục thời Tống Đường.  Tuy nhiên Thiền sư Việt Nam biết "trực chỉ nhân tâm" và "kiến Phật tánh" để giải đáp vấn đề.   Các vị đã theo đúng câu "Ưng vô sở trụ nhi sinh kỳ tâm", như Bát Nhã Kim Cương kinh đã dạy.

 

Xuân Cảnh

 

*

Cảnh vật thiên nhiên của mùa Xuân là nguồn thi hứng của nhiều thi sĩ.  Dù nó thường là tốt đẹp và ít khi xấu, ngòi bút của thi sĩ đều tả lại một cách trung thực.  

 

XUÂN HÀN

Nhị nguyệt Ba Lăng nhật nhật phong         Ngày tối Ba lăng gió lạnh lùng

Xuân hàn vị liễu khiếp Viên Công             Tiết xuân chưa hết nhát Viên Công

Hải đường bất tích yên chi sắc                   Hải đường chẳng tiếc màu son phấn

Độc lập mông mông tế vũ trung.                Đứng giữa mưa thưa tỏa mịt mùng.

(Trần Dữ Nghĩa)                                         (Trần Trọng San dịch)

 

XUÂN DẠ HỈ VŨ 

(Mưa lành đêm xuân)

Hảo vũ tri thì tiết                               Mưa lành biết thời tiết                             

Đương xuân mãi phát sinh                Xuân sang mới nảy sinh               

Tùy phong tiềm dạ nhập                   Vào đêm, ngầm lẫn gió

Nhuận vật tế vô thanh                       Thấm vật, nhẹ vô thanh

Dã kính vân câu hắc                          Đường ruộng, mây đen tối

Giang thuyền hỏa độc minh              Lửa thuyền, sáng một mình

Hiểu khan hồng thấp xứ                    Sớm xem miền ướt đỏ

Hoa trọng Cẩm Quan thành.             Hoa chĩu Cẩm Quan thành

(Đỗ Phủ)                                           (Trần Trọng San dịch)

 

XUÂN HIỂU

Xuân miên bất giác hiểu                Xuân còn say ngủ mơ màng

Xử xử văn đề điểu                         Tiếng chim buổi sáng rộn ràng khắp nơi

Dạ lai phong vũ thanh                   Đêm qua gió tạt mưa rơi

Hoa lạc tri đa thiểu.                       Trong vườn hoa rụng nào hay ít nhiều.

(Mạnh Hạo Nhiên)                         (Trần Trọng San dịch)

 

XUÂN NHẬT

Nhất tịch khinh lôi lạc vạn ty          Một chiều tơ rủ, sấm rung

Tế quang phù ngõa bích sâm si       Ngói xanh cao thấp nắng bừng long lanh

Hữu tình thược dược hàm xuân lệ   Lệ xuân thược dược rưng tình

Vô lực tường vi ngọa hiểu chi.        Tường vi ẻo lả trên cành sớm nai.

(Tần Quan)                                       (Trần Trọng San dịch)

 

TUYỆT CÚ

Trì nhật giang san lệ                         Xuân về non nước đẹp tươi

Xuân phong hoa thảo hương            Gió đưa hương ngát muôi loài cỏ hoa

Nê dung phi yến tử                           Đất mềm én lượn gần xa

Sa noãn thụy uyên ương.                  Uyên ương cát ấm trên bờ ngủ say.

(Đỗ Phủ)                                           (Trần Trọng San dịch)


 

*

Đúng theo tông chỉ của Thiền, thơ của Thiền Sư Việt Nam càng nhìn thẳng vào cảnh xuân tự nhiên hơn các thi sĩ của thế tục.

 

XUÂN HIỂU

Thủy khởi khải song phi                    Ngủ dậy mở cửa sổ

Bất tri xuân dĩ quy                             Ngờ đâu xuân đã về

Nhất song bạch hồ điệp                      Một đôi bươm bướm trắng

Phách phách sấn hoa phi.                   Nhịp cánh nhắm hoa bay.

(Trần Nhân Tông)                              (Dịch)

 

ĐĂNG BẢO ĐÀI SƠN 

(Lên Bảo Đài Sơn)

Địa tịch đài du cổ                            Đất vắng đài thêm cổ

Thời lai xuân vị thâm                      Ngày qua, xuân chửa nồng

Vân sơn tương viễn cận                  Gần xa mây núi ngất

Hoa kính bán tình âm                      Nắng rợp, ngõ hoa lồng

Vạn sự thủy lưu thủy                       Muôn việc nước trôi nước

Bách niên tâm dữ tâm                     Trăm năm lòng nhủ lòng

Ỷ lan hoành ngọc địch                    Tựa hiên nâng sáo ngọc

Minh nguyệt mãn hung khâm.         Đầy ngực ánh trăng trong.

(Trần Nhân Tông)                            (Ngô Tất Tố dịch)

 

VÔ ĐỀ

Đông phong tân lãng mãn giang tần      Sóng rởn hoa tần phất gió đông

Tưởng kiến hồ sơn vũ lộ tân                  Đỉnh hồ tưởng thấy hạt mưa nhuần

Tự thị dương hòa quy thảo mộc            Cỏ cây vui dưới trời êm dịu

Thái bình nhân túy hải thiên xuân.        Người ngắm thăng bình tắm bể xuân.

(Thạch Liêm Thiền sư)                          (HT Thích Mật Thể dịch)

 

THỨ BẢO KHÁNH TỰ BÍCH GIAN ĐỀ

(Ghé chùa Bảo Khánh)

Hoang thảo tàn yên dã tứ đa                       Tình quê man mác mầu sương cỏ

Nam lâu Bắc quán tịch dương tà                 Quán Bắc lầu Nam nhuộm nắng tà

Xuân vô chủ tích thi vô liệu                        Thơ không tài liệu xuân không chủ

Sầu tuyệt Đông phong kỷ thụ hoa.              Buồn nhớ Đông phong lủ cỏ hoa

(Huyền Quang)                                            (Dịch)

 

Tuy nhiên tâm của Thiền Sư không vướng bận vào Cảnh Xuân:

 

ĐIỆP HOA

(Hoa bướm)

Xuân lai hoa điệp thiện tri thì          Xuân sang hoa bướm khéo quen thì

Hoa điệp ưng tu cộng ứng kỳ          Bướm liệng hoa cười vẫn đúng kỳ

Hoa điệp bản lai giai thị huyễn        Nên biết bướm hoa đều huyễn ảo

Mạc tu hoa điệp hướng tâm trì.       Thây hoa mặc bướm để lòng chi.

(Giác Hải) Tk11-12                         (Dịch)

 

Xuân Tình

 

*

Mùa Xuân cũng là động lực duyên khởi tình cảm của thi nhân mà đối tượng là quê hương, tình nhân, quý hữu…

 

XUÂN DẠ LẠC THÀNH VĂN ĐỊCH

(Đêm xuân nghe tiếng địch ở Lạc Thành) 

Thùy gia ngọc địch ám phi thanh           Vẳng nghe tiếng sáo bổng trầm

Tán nhập xuân phong mãn Lạc Thành   Lẫn trong tiếng gió đêm xuân vọng về

Thử dạ khúc trung văn chiết liễu            Khúc đâu viễn xứ biệt ly

Hà nhân bất khởi cố viên tình.                Chạnh lòng ai chẳng nhớ quê bồi hồi.

(Lý Bạch)                                                (Trần Trọng San dịch)

 

GIANG MAI

(Mai bên sông)

Mai nhụy lạp tiền phá                             Tháng chạp mai hé nụ

Mai hoa niên hậu đa                                Sang năm mai đầy cành

Tuyệt tri xuân ý hảo                                Vẫn biết ý xuân đẹp

Tối nại khách sầu hà                               Sao lòng khách buồn tênh

Tuyết thụ nguyên đồng sắc                     Cây, tuyết nguyên một sắc

Giang phong diệc tự ba                           Gió thổi gợn sóng lên

Cố viên bất khả kiến                               Vườn cũ nhìn đâu thấy

Vu tụ uất tha nga.                                    Chỉ thấy đỉnh Vu xanh.

(Đỗ Phủ)                                                  (Dịch)

 

XUÂN TỨ

Yên thảo như bích ty                     Cỏ Yên biếc tựa tơ xanh

Tần tang đê lục chi                        Dâu Tần tươi thắm rủ cành lê thê

Đương quân hoài quy nhật            Ngày chàng tưởng nghĩ trở về

Thị thiếp đoạn trường thì              Là khi lòng thiếp ê chề quặn đau

Xuân phong bất tương thức          Gió xuân quen biết chi nhau

Hà sự nhập lai vi ?                        Cớ sao lại đến thổi vào màn the ?

(Lý Bạch)                                      (Trần Trọng San dịch)

 

KHUÊ OÁN

(Nỗi oán trong phòng khuê)

Khuê trung thiếu phụ bất tri sầu                  Phòng khuê nàng chửa biết buồn

Xuân nhật ngưng trang thướng thúy lâu     Ngày xuân điểm phấn tô son lên lầu

Hốt kiến mạch đầu dương liễu sắc              Chợt trông dương liễu xanh mầu

Hối giao phu tế mịch phong hầu.                Xui ai (chồng) tìm cái phong hầu mà chi.

(Vương Xương Linh)                                  (Trần Trọng San dịch)

 

SƠN PHÒNG XUÂN SỰ

(Chuyện xuân tại nơi đọc sách)

Lương viên nhật mộ loạn phi nha          Vườn chiều bầy họa bay xao xác

Cực mục tiêu điều tam lưỡng gia           Trước mắt lơ thơ mấy túp nhà

Đình thụ bất tri nhân khứ tận                 Cây cỏ biết đâu người đã vắng

Xuân lai hoàn phát cựu thời hoa.           Xuân về vẫn nở bấy nhiêu hoa.

(Sầm Tham)                                           (Trần Trọng San dịch)

 

Đôi khi tình cảm mùa xuân nầy cũng không cần có đối tượng mà chỉ “nhu nhu, bất đoạn” hay “trầm trầm” mà thôi.

 

GIANG NAM XUÂN

Yểu yểu yên ba cách thiên lý                 Khói sóng xa vời muôn dặm ngăn

Bạch tần hương tán đông phong khởi    Gió đông man mác trắng hương tần

Nhật lạc thinh châu nhất vọng thì          Khi trông bờ biếc tà dương lặn

Nhu tình bất đoạn như xuân thủy.          Không dứt, tình mềm như (giống) nước xuân.

(Khấu Chuẩn)                                         (Trần Trọng San dịch)

 

XUÂN TIÊU                                             ĐÊM XUÂN

Xuân tiêu nhất khắc tự thiên câm (kim)   Đêm xuân một khắc ngàn vàng

Hoa hữu thanh hương nguyệt hữu âm      Trăng luôn in bóng hoa thường ngát hương

Ca quản lâu đài thanh tế tế                       Sáo lần đàn gác du dương

Thu thiên việc lạc dạ trầm trầm.              Tiếng đu trong viện đêm trường nhẹ rơi..

(Tô Đông Pha)                                          (Trần Trọng San dịch)


 

*

Dĩ nhiên là những tình cảm nầy là “chấp ngã” và “vọng niệm” nên không thấy trong thơ Thiền.

 

XUÂN VÃN

Niên thiếu hà tằng liễu sắc không                 Thủa trẻ nào hay lẽ sắc không         

Nhật xuân tâm sự bách hoa trung                  Mỗi xuân tâm rộn vạn hoa lòng          

Như kim khám phá Đông Hoàng diện           Đông Hoàng bản mặt nay đà ngộ     

Thiền bản bồ đoàn khán thụy hồng.              Chiếu cọ thiền xem rụng đóa hồng.      

(Trần Nhân Tông)                                          (Dịch)


 

Xuân Sinh

 

*

Kiếp nhân sinh là “bể khổ”, thi sĩ vẫn thấy nó trong mùa xuân nhưng không có giải đáp.  Nếu có thì chỉ là than khóc, say sưa hay lẫn tránh. 

 

XUÂN VỌNG

(Ngắm cảnh xuân)

Quốc phá sơn hà tại                               Nước vỡ, còn trơ sông núi đây

Thành xuân thảo mộc thâm                   Thành xuân, cây cỏ mọc um đầy

Cảm thời hoa tiện lệ                              Thương thời, hoa cũng tuôn rơi lệ

Hận biệt điểu kinh tâm                          Hận biệt, chim kia sợ hãi hoài

Phong hỏa liên tam nguyệt                    Ba tháng lửa phong liên tiếp khói

Gia thư để vạn câm (kim)                     Ngàn vàng thư đến chắt chiu tay

Bạch đầu tao cánh đoản                        Xoa đầu, tóc bạc càng thêm ngắn

Hồn dục bất thăng trâm.                        Đến độ trâm xưa chẳng thể cài.

(Đỗ Phủ)                                                (Trần Trọng San dịch)

 

XUÂN NHẬT TÚY KHỞI NGÔN CHÍ

(Ngày xuân tỉnh rượu, nói ý mình)

Xử thế nhược đại mộng                        Đời là một giấc mơ thôi

Hồi lao vi kỳ sinh                                 Làm cho nhọc cuộc sống nầy mà chi

Sở dĩ chung nhật túy                             Cho nên say khước li bì

Đồi nhiên ngọa tiền doanh                    Suốt ngày uể oải nằm lì trước hiên

Giác lai miện đình tiền                         Tỉnh rồi sân trước trông nhìn

Nhất điểu hoa gian minh                      Trong hoa thấy một con chim thì thào

Tá vấn thử hà nhật                                Hôm nay là cái hôm nào ?

Xuân phong ngữ lưu oanh                    Tiếng oanh trò chuyện lào xào gió xuân

Cảm chỉ dục thán tức                            Cảnh nầy khiến muốn thở than

Đối chi hoàn tự khuynh                        Ngậm ngùi lại cứ rót tràn triền miên

Hạo ca đãi minh nguyệt                        Hát vang chờ đợi trăng lên

Khúc tận dĩ vong tình.                          Khi vừa hết khúc đã quên tình rồi.

(Lý Bạch)                                             (Trần Trọng San dịch)

 

QUY ẨN

Thập niên tung tích tẩu hồng trần            Mười năm bụi đỏ vết phiêu lưu

Hồi thủ thanh sơn nhập mộng tần           Trông lại non xanh mộng đã nhiều

Tử thụ túng vinh tranh cập thị                 Giải tía tuy vinh, còn kém ngủ

Chu môn tuy phú bất như bần                 Cửa son dù có, chẳng bằng nghèo

Sầu văn kiếm kích phù nguy chủ            Buồn nghe gươm giáo phò vua khốn

Muộn thính sinh ca quát túy nhân           Tai rộn đàn ca não khách nhiều

Huề thủ cựu thư quy cựu ẩn                    Đem sách xưa về nơi ẩn cũ

Dã hoa đề điểu nhất ban xuân.                Xuân đầy hoa nở với chim kêu.

(Trần Đoàn)                                             (Trần Trọng San dịch)

 

Tương truyền Trần Đoàn là một ông Tiên, ngủ trong núi suốt thời Ngũ Đại chiến tranh loạn lạc.  Sau khi nhà Tống an bình đất nước, ông thức dậy và đến thăm vua Tống Thái Tổ.

 

*

Tâm của Thiền sư không "trụ" vào hiện tượng vô thường nầy.

 

XUÂN CẢNH

Dương liễu hoa xuân điểu ngữ trì        Khoan nhặt chim kêu hoa liễu dầy

Họa đường thiềm ảnh mộ vân phi       Họa đường thềm dãi bóng mây bay

Khách lai bất vấn nhân gian sự           Chuyện đời khách đến không hề hỏi

Cộng ỷ lan can khán thúy vi.               Cùng tựa lan can ngắm cảnh ngoài.

(Trần Nhân Tông)                                (Dịch)

 

THỊ ĐỆ TỬ 

Thân như điện ảnh hữu hoàn vô         Thân như ánh chớp có, không

Vạn mộc xuân vinh thu hựu khô         Xuân tươi cây cỏ thu qua rụng rời

Nhậm vận thịnh suy vô bố úy             Sá chi suy thạnh việc đời

Thịnh suy như lộ thảo đầu phô.          Thạnh suy như giọt sương phơi thảo đầu.

(Vạn Hạnh) ?-1018                              (HT Thích Mật Thể dịch)


 

Xuân Thì

 

Từ xuân cảnh, xuân tình, xuân sinh thì phải đến xuân thì.  Thời gian sẽ trôi qua, từ “sinh” thì đến “lão, bệnh” và “tử”.  Thi nhân nói về sự thật không lối thoát nầy qua nhiều bài thơ xuân nổi danh.

 

VÃN XUÂN                                                XUÂN MUỘN

Thảo mộc tri xuân bất cửu quy                    Cây cỏ hay xuân chẳng ở lâu

Bách ban hồng tử đấu phương phi              Trăm hương hồng tím ngát đua nhau

Dương hoa du giáp vô tài tứ                        Trái du, hoa liễu không tài trí

Duy giải mạn thiên tác tuyết phi.                 Chỉ biết tung trời tuyết trắng phau.

(Hàn Dũ)                                                      (Trần Trọng San dịch)

 

THƯƠNG XUÂN KHÚC 

(Bài hát thương tiếc xuân)

Thâm thiển diêm hoa thiên vạn chi        Đậm nhạt hoa thềm muôn nhánh nở

Bích sa song ngoại chuyển hoàng ly      Ngoài song the biếc hót hoàng ly

Tàn trang hòa lệ há liêm tọa                   Dưới rèm, son nhạt pha cùng lệ

Tận nhật thương xuân xuân bất tri.        Thương mãi xuân mà xuân biết chi

(Bạch Cư Dị)                                          (Trần Trọng San dịch)

 

PHONG LẠC ĐÌNH DU XUÂN

Hồng thụ thanh sơn nhật dục tà             Núi xanh cây đỏ nắng toan tà

Trường giao thảo sắc lục vô nha           Cỏ biếc phơi đồng bát ngát xa

Du nhân bất quản xuân tương lão          Du khách xá gì xuân sắp cỗi

Lai vãng đình tiền đạp lạc hoa.             Trước đình qua lại giẫm lên hoa.

(Âu Dương Tu)                                      (Trần Trọng San dịch)

 

TỐNG XUÂN TỪ

(Lời tiễn xuân)

Nhật nhật nhân không lão                     Ngày ngày người cứ già

Niên niên xuân cánh quy                      Năm năm xuân lại qua

Tương hoan hữu tôn tửu                       Vui có được chén rượu

Bất dụng tích hoa phi.                          Chẳng cần tiếc bay hoa.

(Vương Duy)                                        (Trần Trọng San dịch) 

 

*

Thiền Sư Huyền Quang cũng cùng một ý như những thi sĩ thế tục nhưng tâm vẫn an tịnh.

 

MAI HOA

Dục hướng thương thương vấn sở tòng     Ngửa mặt trời xanh hỏi lý do

Lẫm nhiên cô trĩ tuyết sơn trung               Hiên ngang trong núi mọc mình hoa

Chiết lai bất vị già thanh nhãn                  Bẻ về, không để chưn vui mắt

Nguyện tá xuân tư ủy bệnh ông.               Chỉ mượn xuân tư đỡ bệnh già.

(Huyền Quang)                                          (Dịch)

 

Kiến Tánh

 

Duy chỉ có bài thơ dưới đây mới cho thấy “kiến tánh” giác ngộ của một vị Thiền Sư như là một chân lý.  Phật Tánh nầy luôn có trong Tâm thức.

 

CÁO TẬT THỊ CHÚNG

Xuân khứ bách hoa lạc                    Xuân đi trăm hoa rụng

Xuân đáo bách hoa khai                  Xuân đến trăm hoa nở

Sự trục nhãn tiền quá                      Trước mắt việc đi mãi

Lão tòng đầu thượng lai                  Trên đầu, già đến rồi

Mạc vị xuân tàn hoa lạc tận             Chớ bảo xuân tàn hoa rụng hết

Đình tiền tạc dạ nhất chi mai.          Đêm qua sân trước một cành mai

(Mãn Giác) 1052-1096                    (HT Thích Thanh Từ dịch)


 

Kết Luận

 

Thơ Xuân của chư vị Thiền Sư đã nói đủ hết bốn đề tài như trên nhưng kỹ thuật đề thi cũng không thua những thi hào trứ danh khi ta so sánh 2 bài thơ dưới đây:

 

CÁO TẬT THỊ CHÚNG                GIANG MAI

Xuân khứ bách hoa lạc                   Mai nhụy lạp tiền phá 

Xuân đáo bách hoa khai                 Mai hoa niên hậu đa 

Sự trục nhãn tiền quá                      Tuyệt tri xuân ý hảo

Lão tòng đầu thượng lai                 Tối nại khách sầu hà

Mạc vị xuân tàn hoa lạc tận            Tuyết thụ nguyên đồng sắc

Đình tiền tạc dạ nhất chi mai.         Giang phong diệc tự ba

(Mãn Giác) 1052-1096                   Cố viên bất khả kiến

                                                        Vu tụ uất tha nga.

                                                        (Đỗ Phủ)


 

Bs PHAN THƯỢNG HẢI biên soạn

 

Bài nầy đăng lần đầu trong phanthuonghai.com phần "Thơ Văn - Đọc Thơ"

 

Tài liệu tham khảo

1) Thơ Đường (Trần Trọng San)

2) Lý Bạch, Đỗ Phủ, Bạch Cư Dị (Trần Trọng San)

3) Google Wikipedia

_____________________________________________

ĐI THĂM MT RUSHMORE (*)

 

(Nguyên bản)

Bốn vị anh hùng giúp quốc gia

Biểu dương lịch sử nước non nhà

Washington mở đường dân chủ

Jefferson khai lối cộng hòa

Từ A. Lincoln thành hiệp chủng 

Đến Roosevelt đạt vinh hoa

Rushmore tạc tượng truyền nhân thế

Kỷ niệm thành hình nước Mỹ ta.

 

(Tự họa)

Qua tám tiểu bang của quốc gia (*)

Tốt thay địa lý đất quê nhà

Thiên nhiên rộng lớn miền wild west

Nhân tạo tiện nghi nước thái hòa

Xót dạ nghĩ về nguồn gốc Việt

Túc tâm thích ở xứ cờ hoa

Tương lai ngắn ngủi còn may mắn?

Mỹ quốc nương mình thỏa chí ta.

(Phan Thượng Hải)

7/4/16

 

(*) Chú thích: Từ California qua 8 tiểu bang: California, 4 Corners States (Arizona, New Mexico, Colorado and Utah), Nevada, Wyoming and S. Dakota. 

CANADA ĐẤT LẠNH TÌNH NỒNG

 

CANADA

Đất lạnh tình nồng Canada

Cảm thông du khách đến từ xa

Đông Tây lãnh thổ cao dài rộng

Anh Pháp văn minh kết thái hòa

Lễ phép giữ lòng người tốt đẹp

Tự do thêm lối sống hào hoa

Riêng mình độc lập như tòng bách

Bình tỉnh trong lành một quốc gia.

(Phan Thượng Hải)

1/21/17

CANADA ROCKY MOUNTAIN

Phong cảnh kết thành vạn bức tranh

Trời cao đất rộng khí trong lành

Núi non trùng điệp mây lơ lửng

Thung lũng chìm sâu nước uốn quanh

Sơn đỉnh phủ che đầy tuyết trắng

Lâm viên san sát trải cây xanh

Suối tuôn hùng vỹ hồ yên tịnh

Ngoạn mục khai quan thú lữ hành.

(Phan Thượng Hải)

6/12/16

 

MÙA THU CANADA

Lá thu đổi sắc tựa đời ta

Khi hết màu xanh biết tuổi già

Lá đỏ hướng dương thời rạng rỡ

Lá vàng bay bướm thuở hào hoa

Thiên nhiên biến hóa nguồn thi vị

Nhân tạo u buồn tiếng hát ca

Đợi đến lá rơi trong giá lạnh

Bình tâm tận hưởng thú khang hòa.

(Phan Thượng Hải)

10/8/16

 Mùa Xuân JAPAN

MÙA HOA ANH ĐÀO NHẬT BẢN

Xuân về nở rộ khắp gần xa

Nhật Bản đón mừng Sakura (*)

Rạng rỡ trên cành, mầm nghệ thuật

Xinh tươi theo gió, hứng thi ca

Điểm trang ngự uyển thiền sơn tự

Tô thắm phố phường bách tính gia

Thưởng ngoạn Anh Đào, cùng thú vị

Đẹp tình đẹp cảnh đẹp mùa hoa.

(Phan Thượng Hải)

 

(*) Sakura (tiếng Nhật Bản) = hoa Anh Đào.

 

THĂM XỨ PHÙ TANG (Nguyên bản)

Non cao Phú Sĩ chọc trời mây

Cảnh đẹp Phù Tang hiển hiện bày

Tuyết trắng phô màu che đỉnh thượng

Đào hồng khoe sắc đắm hồn say

Phu Thê đôi thạch tình son sắt

Kim Các ba tầng chùa đẹp thay

Ngắm cảnh văn minh người Nhật Bản

Càng thương dân Việt vẫn thơ ngây.

(Chánh Minh Nguyễn Văn Minh)

Kyoto 4/5/09

 

THĂM NÚI PHÚ SĨ (Họa)

Sừng sững một mình giữa nước mây

Thần sơn Phú Sĩ cảnh phơi bày

Đứng nhìn hồ núi hồn mê mẩn

Dạo ngắm kiểng hoa dạ đắm say 

Tuyết đỉnh chọc trời trang trọng nhỉ

Anh đào theo gió đẹp xinh thay

Khách du khoái lạc vào tiên giới

Xao xuyến lòng người mãi ngất ngây.

(Phan Thượng Hải)

Kyoto 4/10/09

__________________________

  CHUYỆN CƯỜI CỔ ĐIỂN TỪ PETRUS KÝ

                                                                                       (Phan Thượng Hải)

 

Chuyện khôi hài của nước Việt Nam ta xuất hiện và được truyền bá là nhờ chữ Quốc Ngữ.  Dĩ nhiên nó bắt đầu từ ông Petrus Trương Vĩnh Ký.

 

(1)

 

Ở Nam Kỳ, ông Petrus Trương Vĩnh Ký xuất bản "Chuyện Khôi Hài" vào năm 1882.  Chuyện khôi hài là chuyện có tác dụng gây cười, có thể trong dân gian hoặc trong lịch sử chính trị hay văn học.  Trước đó trong "Truyện Đời Xưa", xuất bản lần thứ nhất vào năm 1866, ông Petrus Ký cũng có một số chuyện khôi hài như chuyện "Bốn anh học trò đặt thơ trong chùa" và chuyện "Ba anh dốt làm thơ". 

Đây là vài câu chuyện tiêu biểu trong "Chuyện Khôi Hài" của ông Petrus Ký:

 

KHẲNG KHÁI

(Petrus Ký)

 

Ông quan lão kia, người khẳng khái, ăn ngay ở thật lắm, oai cũng chả sợ mà dữ cũng chả lo, cứ ngay thẳng mà làm hơn.  Ổng thấy ông vua hay tây tà mới chuộng cũ vong, thì ổng tâu rằng: "Bệ hạ làm như người chất củi; cây nào sau thì để lên trên, cây nào trước thì cứ để nằm dưới chịu ẹp đó hoài, không cất đầu lên được".


 

ĐỐI THẦN LẦN VỚI KHÍ GIÓ

(Petrus Ký)

 

Từ nước Nam giao hòa và lần sau đây với nước Phú lảng sa, các anh văn thân ngạnh với vua, ghét đình thần, sao có hòa với Tây.

Ông Ngụy Khắc Đản làm bồi sứ đi Tây về, ra ngồi bố chánh (*) tỉnh Nghệ An, văn thân cắc cớ làm câu đối dán vách thành chơi rằng:

Bố đại thần, con đại thần! đại thần gì?  Thần lần. (**)

Quân thấy lột đem vô, ông bố mới viết một câu mà đối lại như vầy:

Nay sĩ khí, mai sĩ khí! sĩ khí gì?  Khí gió. (**)

 

(*) Bố Chánh= tương đương với Tỉnh trưởng

(**) Thần lần=lần thần=có dáng vẻ đờ đẫn chậm chạp.  Giọng người Trung âm giống như Thằn lằn.

(**) Khí gió=khỉ gió=con cu ly; từ ngữ dùng để rủa một cách thân mật khi bực bội.


 

ÔNG HUYỆN VỚI ÔNG ĐỒ

(Petrus Ký)

 

Có anh học trò thi đậu ông đồ ở đâu tới xứ chỗ ông huyện nhậm, ở dạy học, mà hay làm cách thể ông đồ lắm, đờn địch chơi bời phong lưu, ông huyện không ưa mới làm một bài thơ biếm chơi rằng:

Tú tài thi đỗ những khoa mô?

Làm tích trong nhà mặt tỉnh khô

Con trẻ ngất ngơ kêu cậu cống

Mụ già nhóc nhách gọi cha đồ

Ngày dài đờn phím nghe inh ỏi

Buổi vắng thơ ngâm tiếng ầm ồ

Ai khiến tới đây làm bậy bạ?

Khen cho phổi lớn quá hơn bồ.

 

Ông đồ nghe được thì bộ (họa) như vầy:

Biển rộng minh mông dễ cạn mô?

Đố bay một gáo múc cho khô

Tuy chửa vẻ vang quyền cậu cống

Song đà tỏ rõ mặt ông đồ

Nhờ chút ơn Nghiêu nhuần phới phới (*)

Sá chi muông Chích sủa ồ ồ (*)

Căm loài thạc thử lòng tham chạ (**)

Đố khoét cho tao lúa hết bồ.

 

(*) Chó của đạo Chích sủa vua Nghiêu (vua thánh của Nho gia)

(**) Thạc thử=chuột lớn 


 

CON HỌC TRÒ CỨU THẦY SÁU

(Petrus Ký)

 

Buổi kia ngoài Bắc, có Thầy già Sáu (*) kia bị kẻ ngoại bắt ngang trước cửa nhà có đạo.  Chúng nó thộp ngực thầy ấy đang xắm rắm lo trói.  Con có đạo ở trong nhà, đâu cũng mười bảy mười tám tuổi, thấy vậy nóng ruột tính mưu cứu.  Vụt đâm đầu chạy đại ra, bớp thầy ấy cho một bạt tai. "Tôi đà có biểu ấy cứ ở nhà ru con thì xong, ai bảo đi đâu mà lờ khờ thế?".  Nắm tay kéo lôi đi mất.  Rồi ra nói: "Các cậu khéo nhè đứa dại đứa khùng mà bắt làm chi?  Nó là chồng tôi, mà nó khờ dại quá".  Chúng ngờ là thật, rã ra cả, rút nhau về.

 

(*) Tu đạo Thiên Chúa bắt đầu từ Thầy Một cho tới Thầy Sáu rồi làm Cha (Linh Mục).  Thầy Sáu không được có vợ.

 

ANH KÌ CÀO

(Petrus Ký)

Lần kia Thầy Tư (đạo Thiên Chúa) về thăm nhà.  Đâu lại gặp chị nằm bếp, mà yếu, ít sữa, lại không được sỏi cho mấy.  Anh rể mới cậy" "Cậu chịu khó đi mướn giùm cho một vú".  Ừ, biểu trẻ đưa quan tiền cột lưng.  

Ra đi tối ngày, ăn hết tiền, lơn tơn về.  Anh rể mừng chạy ra hỏi: "Sao, mướn được vú hay không?".  "Ối thôi! đi khắp cả cùng làng cùng xứ mà coi, mà coi thì người nào người nấy đều có hai vú cả, không ai một vú mà hòng mướn".

 

CÁ RÔ CÂY

(Petrus Ký)

Nghệ an là tỉnh rộng lớn đàng đất, lại đông dân sự hơn các tỉnh cả và nước An nam.  Người xứ ấy hay co ro cỏm rỏm cần kiệm quá.  

Người ta thường hay nói người Nghệ an đi ra Bắc hay giắt lưng một con cá rô bằng cây khéo lắm.  Hễ tới quán thì chỉ xin mua ít trự cơm mà thôi.  Quán hỏi có mua đồ ăn, thịt đông, chả giò, nước mắm chi không? thì nói không, xin một chút xỉu nước mắm dầm cá mà thôi.  Bỏ cá cây vô dĩa lật qua lật lại, húp cho mặn miệng mà trơu cơm ba miếng.  Làm lận như vậy cho khỏi tốn tiền đồ ăn.  Ăn rồi giắt cá vào lưng phủi đít ra đi.

 

NỬA TRỰ CƠM NỬA TRỰ CANH

(Petrus Ký)

 

Người kia ở trong nầy (*) ra Hà Nội, tới quán trong lưng rờ đà ráo túi may còn lại một đồng tiền bể hai.  Anh ta làm điếm với bà mụ quán:

"mụ bạn cho tôi nựa trự cơm với nựa trự canh".

Mụ quán xúc cho.  Anh ta đổ canh vô hết, và mà ăn, nhăn mặt lại:

"cha chà! mặn quạ, mụ làm phược cho thêm một tị cơm."

Trộn rồi ăn cũng chắt lưỡi:

"chừ lại lạt quạ, ăn chạ vô mô, mụ làm phược cho thêm chụt canh."

Ăn lua ba miếng chắc bụng, vạch hầu bao lấy hai miếng tiền sứt, đưa ra: Tịnh cho phân biệt nọ: đây nầy là nựa trự cơm, còn đây là nựa trự canh".  Rồi bỏ đi liền.

 

(*) Đó là người Nghệ an; chuyện nầy tiếp theo chuyện "Cá rô cây".  

Từ chuyện nầy, ta thấy hậu sinh nghĩ sai về người Bắc kỳ?


 

TÚ SUẤT LẬT VÁY BÀ QUAN

(Petrus Ký)

Tú Suất là tay kì cào hay chơi lắt lở.  Bữa kia, bà tổng đốc đi ngang qua trước phố; trời thì mưa lâm râm.  Chúng bạn cắc cớ đố nhau, ai dám làm thế nào mà lật váy bà quan lớn chơi.

Anh ta chịu phóc lấy, lăng căng trong phố bước ra, lanh chanh trật chơn, bùn văng lên váy bà ấy.  Lật đật chạy lại, miệng nói: "trăm lạy bà, con xin lỗi, tay cầm khăn xách quách cái váy lên làm bộ chùi lia, ban đầu còn thấp thấp, sau càng dở lên cao.  Bà quan mắc cỡ lấy tay đùa xuống, nói rằng: Chả hề chi.

 

ÔNG CỐNG QUÌNH (*)

(Petrus Ký)

.........

Tàu sai sứ đem một cây gòn đẽo bào bằng gốc bằng ngọn, lại kéo sơn đôi ba nước, mất da mất thịt cây đi hết, ở giữa có đề hai chữ: Túc Tử.  Đem qua đố An nam biết là tên cây gì, lấy chữ đó mà bàn cho ra tên.  Lại đố biết đầu nào gốc đầu nào ngọn.

Các quan hiệp nghị, mời Cống Quình tới hỏi: "Sao, ông tính nói cái ấy đặng hay là không?"

Cống Quình chịu, lãnh về nhà tính.  Sáng ngày ra, vua ngự, lập ban cho sứ vào chầu, Cống Quình quì xuống tâu: "Chữ Túc là lúa, chữ Tử là con.  Hễ là: còn lúa con ăn con no con mập, hết lúa con mòn con gầy: thì là cây gòn.  Còn viết nói đầu nào gốc đầu nào ngọn, thì xin xuống mé sông tôi sẽ coi".

Vua quan cùng các sứ thảy đều xuống theo mà nghe nói.  Dạy khiêng cây xuống.  Ông Quình mới thả day ngang qua sông, thì nó phải day trôi theo giọt nước; đầu nào day trước ấy là đầu gốc.

.........

(*) Chữ "Quình" viết như vậy trong sách của ông Vương Hồng Sển thay vì là "Quỳnh".


 

Chuyện khôi hài của ông Petrus Ký rất sâu rộng.  Thường là câu chuyện làm độc giả cười đối tượng trong chuyện nhưng ông còn cho thấy các đối tượng trong chuyện cười lẫn nhau.  Cười không những là vui mà cười, nhưng còn cười vì những tình cảm khác.  Đề tài gồm cả quốc gia (dân tộc, lãnh thổ và chánh quyền) và xã hội (kinh tế, tôn giáo, văn hóa, khoa học...).  Trong câu chuyện, ngoài văn xuôi, ông còn dùng thơ và câu đối.  Ông Petrus Ký còn tạo ra những nhân vật như Cống Quỳnh, Tú Suất...

Những tác giả về chuyện khôi hài (hay tiếu lâm) sau nầy đều không có được cái tài sâu rộng như ông Petrus Ký.


 

(2)

 

Từ ông Petrus Ký, ở Nam Kỳ có ông Phụng Hoàng San xuất bản "Chuyện Tiếu Lâm" (1912) và ông lại cùng ông Dương Diếp, cũng ở Mõ Cày, xuất bản "Truyện Tiếu Đàm" (1914).  Chuyện tiếu lâm là chuyện cười trong dân gian.

Đây là 4 câu chuyện tiêu biểu của Phụng Hoàng San và Dương Diếp:

 

LÒ MÒ

(Phụng Hoàng San)

Có người kia vợ nằm bếp mà không có tiền mướn người nuôi, con em vợ mới qua nhà chị mà nuôi giùm.  

Ở trong nhà thì chật để được 2 cái chõng mà thôi.  Anh ta có ý muốn em vợ, mới lần mò bò vô, rồi nghĩ biết mình làm chuyện quấy, thụt trở ra, bò tới, bò lui đôi ba bận.  Con em vợ nó thấy mà không nói.  

Con vợ ngó thấy, ngắt thằng nhỏ khóc lên, rồi ru như vầy: 

“Ội ội! con ôi nín bú cho no; hỡi người quân tử, chớ bò đi đâu?”

Con em vô thấy chị mình ru như vậy, lại biểu chị mình đưa cháu cho tôi ru cho, rồi ru như vầy:

“Cháu ôi! hãy ngủ cho ngon; của dì dì giữ, ai bò mặc ai!”

Anh ta ở ngoài nghe, nột ý ứng tiếng lên, hát khan như vầy: 

“Đêm khuya gà gáy ó o, tao ngủ không đặng, tao bò tao chơi !!!”.


 

MỚI DỰNG KỆ

(Phụng Hoàng San và Dương Diếp)

 

Vua Diêm Vương đau.  Sai quỉ sứ lên rước thầy thuốc, dặn quỉ rằng: "Nhà thầy nào trước cửa không có ma là thầy hay".

Quỉ sứ lên đi từ sớm mai đến trưa, coi nhà thầy thuốc nào cũng nhiều ma.  Thấy nhà thầy kia có một con ma mà thôi.  Quỉ mừng vào hỏi thầy làm thuốc được bao lâu.  Thầy rằng: "Tôi mới dựng kệ hôm qua!"

Ý là mới dựng kệ (*) hôm qua mà đà giết một mạng, phải vài ba năm, biết là bao nhiêu?

 

(*) Dựng kệ: ý nói mở phòng mạch (business)


 

THẦY THUỐC HAY

(Phụng Hoàng San và Dương Diếp)

Một người kia vào tiệm thuốc, mua thuốc hưng dương.  Uống rồi về nửa đường, thuốc mạnh nó cứng liền.  Anh ta và cầm và nhảy lên nhảy xuống mà rằng: "Thiệt thầy thuốc hay!  Thầy thuốc hay thiệt!!"


 

CŨNG CHẾT

(Phụng Hoàng San và Dương Diếp)

 

Hai đứa dắt nhau ra bờ tre, trai gái với nhau.

Con gái hỏi thằng trai rằng: "Sao, anh thương tôi không?"

Trai rằng: "Tao thương mầy lắm chớ, như tao mà có bỏ mầy, cho tao chết đi!"

Trai hỏi lại: "Còn mầy có thương tao không?"

Cỏn rằng: "Tôi mới thương anh lắm chớ, như tôi mà có bỏ anh, thì cho tôi chết".

Có ông già ngồi sông (*) bên kia đường, nghe liền nói rằng: "Còn tao mà sông không đặng, tao cũng chết!!"

 

(*) Sông=ỉa


 

(3)

 

Cuối thập niên 1910s, ở Bắc Trung Kỳ có 3 Tập "Tiếu Lâm An Nam" của tác giả là Thọ An.  Thọ An chính là Học giả Phạm Duy Tốn (thân phụ của Nhạc sĩ Phạm Duy).  Ông Phạm Duy Tốn thuộc Đông Dương tạp chí và Nam Phong tạp chí.

Tiếu Lâm An Nam của Thọ An Phạm Duy Tốn có những chuyện mang nội dung giống với chuyện của Petrus Ký và của Phụng Hoàng San và Dương Diếp ở Nam Kỳ.

Câu chuyện về bài thơ Con Cóc nổi danh được đăng trong sách của Petrus Ký và của Thọ An Phạm Duy Tốn:


 

BA ANH DỐT LÀM THƠ (*)

(Petrus Ký)

 

Có ba anh học trò dốt ngồi nói chuyện với nhau.  Mới nói: Mình tiếng con nhà học trò mà không có làm thơ làm phú với người ta thì té ra mình dở lắm.  Mấy người kia mới nói phải.  Hè nhau làm ít câu chơi.

Anh thứ nhất thấy con cóc ở trong hang nhảy ra, mới làm câu mở như vầy: Con cóc trong hang con cóc nhảy ra.  

Người thứ hai tiếp lấy: Con cóc nhảy ra con cóc ngồi đó.

Người thứ ba: Con cóc ngồi đó con cóc nhảy đi

Lấy làm hay lắm.  Rồi nghĩ lại giựt mình, vì trong sách nói: Hễ học hành giỏi thì sau cũng phải chết.  Cho nên tin như vậy mới biểu thằng tiểu đồng ra đi mua ba cái hàng đất để dành cho sẵn đó.

Tiểu đồng lăng căng đi mua, ghé ra quán uống nước ngồi xớ rớ đó.  Có anh kia hỏi nó đi đâu? Mua giống gì? Thì nó nói: Ba thầy tôi thông minh trí huệ, làm thơ hay lắm, sợ lời sách quở, có khi không sống, nên sai tôi đi mua ba cái hòm.

- Mầy có nghe họ đọc thơ ấy không?

- Có

- Mà có nhớ nói lại nghe chơi, coi thử sức nó hay làm sao ?

Thằng tiểu đồng mới nói: Tôi nghe đọc một người một câu như vầy:

Con cóc trong hang con cóc nhảy ra

Con cóc nhảy ra con cóc ngồi đó

Con cóc ngồi đó con cóc nhảy đi

Anh kia nghe tức cười nôn ruột, mới nói với tiểu đồng:

- Mầy chịu khó mua giùm cho tao một cái hòm cho luôn trót thể

Tiểu đồng hỏi: Mua làm chi?

Lão nọ mới nói: Tao mua hờ để đó, vì tao sợ tao cười lắm, có khi cũng chết theo ba thầy làm thơ đó nữa.

 

(*) Chuyện nầy được viết lại đúng nguyên văn trong quyển "Chuyện Xưa Tích Cũ" của Sơn Nam. 


 

THƠ CÓC

(Thọ An Phạm Duy Tốn)

Có ba ông vẫn tự đắc là mình hay thơ nôm.  Một hôm, rủ nhau đi chơi chùa, để cùng họa thơ tức cảnh.  Nhưng mà đến chùa, không biết làm thơ gì; mới bảo nhau hãy đưa tiền cho ông tự đi mua rượu và đồ nhắm về đánh chén đã: - Hễ rượu vào thì tự khắc thơ ra tuồn tuột!  Mua về, ba ông ngồi bắt chân chữ ngũ, gật gù uống rượu, rung đùi nghĩ thơ.  Chợt thấy con cóc ở trong xó, nhảy ra.  Một ông mới ngâm rằng:

Con cóc trong hang,

Con cóc nhảy ra.

Ông thứ hai họa theo rằng:

Con cóc nhảy ra,

Con cóc ngồi đấy.

Ông thứ ba:

Con cóc ngồi đấy,

Con cóc nhảy đi.

Ba ông cùng vỗ đùi, cười ồ cả lên khen rằng: - Hay! hay! hay thật?

Cười chán rồi, một ông bảo rằng: - Thơ ta tuyệt cú! mà ta xuất khẩu thành chương như thế thì tôi e lắm, hai tiên sinh ạ.  E rằng Thánh nhân người đã dạy: Ai mà linh khẩu lắm thì kẻo chết non.  Vậy ta phải nên liệu trước.

Hai ông kia lấy làm phải lắm, bèn mời ông tự ra, nói hết đầu đuôi; rồi đưa tiền nhờ mua hộ ngay cho ba cổ ván.

Ông tự cầm tiền đi mua.  Một chốc đem về bốn cái áo quan.

Ba ông hay thơ mới hỏi: - Sao mua những bốn cái thế? - Thưa các ngài, tôi mua thêm một cái để cho tôi, bởi vì tôi buồn cười quá, cũng đến chết mất.


 

Chuyện của Thọ An nói về ba người đi chùa làm thơ như trên cũng giống ý một chuyện về làm thơ khác của ông Petrus Ký:

 

BỐN ANH HỌC TRÒ ĐẶT THƠ TRONG CHÙA

(Petrus Ký)

 

Bốn anh học trò đi đường, ghé qua chùa chơi.  Ngồi coi bạ bàn thấy tượng đồ treo thờ đó, mới rủ nhau làm ít câu thơ chơi.

Anh thứ nhứt, thấy tượng Quan Đế, thì mở rằng:

Hớn vương ăn ớt mặt đỏ gay

Anh thứ hai thấy tượng Quan Bình, thì đặt:

Bên kia Thái tử đứng khoanh tay

Người thứ ba ngó quanh quất, thấy tượng Châu Thương thì đặt:

Thằng mọi râu rìa cầm cái mác

Còn anh thứ bốn ngó ra, thấy con hạc đạp lưng qui, thì thêm:

Ngoài nầy cò quắm đạp cầy thay. (*)

 

(*) Cò quắm=cò có mỏ dài.  Cầy thay=cần thay: đều là tiếng Miên nói trại, chỉ loại rùa lớn con.


 

(4)

 

Chuyện Tiếu Lâm của Thọ An Phạm Duy Tốn và của Phụng Hoàng San (và Dương Diếp) có những đề tài với nội dung giống nhau (nhưng hình thức khác nhau).

Đây là 3 đề tài tiêu biểu:


 

* (Đề Tài 1)

 

GIẤU CÀY

(Phụng Hoàng San)

Một lão cày ruộng kia, tới buổi, vợ kêu về ăn cơm, lão nói lớn lên rằng: - Khoan đã! Để tao dấu cái cày đi đã rồi sẽ về.  Vợ dặn: Giấu cày thì phải làm thinh, chớ ông la lớn chúng nghe nó ăn cắp đi còn gì?  Từ rày sắp lên đừng có nói lớn như vậy nữa.

Về ăn rồi trở ra thì quả thật chúng đã lấy mất cái cày.  Lão lật đật chạy về giõ miệng vào lỗ tai vợ mà nói nhỏ rằng: - Họ ăn cắp cái cày rồi mụ ạ!


 

ÔNG GIÀ THẬT THÀ

(Thọ An Phạm Duy Tốn)

Có một lão già thật thà quá.  Một hôm cày ruộng ở ngoài đồng.  Đến bữa cơm, bà vợ ra cổng đứng gọi to rằng:

- Ông ơi, cơm chín rồi, đi về mà ăn.

Ông lão cũng nói to rằng:

- Ừ, để tôi giấu cái cày vào trong bụi tre đã, rồi tôi về.

Đến khi về, vợ bảo chồng:

- Giấu cày thì cứ im mà giấu; sao ông lại kêu rống lên thế, người ta biết, người ta có lấy mất không?  Từ rày giở đi, ông đừng có nói to thế nữa nhé!

Ông lão gật đầu:

- Ừ, từ rày tôi không nói to nữa.

Ăn cơm xong, ông lão giở ra đồng, vào bụi tre tìm cày thì không thấy cày đâu nữa, người ta ăn cắp mất rồi.

Vội vàng chạy về, ghé mồm vào tai vợ mà nói rằng:

- Người ta ăn cắp mất cái cày rồi, bà mày ạ!


 

* (Đề Tài 2)


 

LẤY THUỐC MỌC RÂU

(Thọ An Phạm Duy Tốn)

 

Có một anh không có râu, bị vợ diếc móc khổ quá, phải đi lấy thuốc mọc râu.

Một hôm, mang tiền đến nhà ông lang.  Chẳng may ông lang đi vắng, chỉ có bà lang ở nhà mà thôi.  Bà lang thấy anh ta đến, mới hỏi rằng:

- Bác hỏi gì?

- Thưa bà, tôi đến xin thuốc.

- Ông lang tôi đi vắng, bác lấy thuốc gì?

- Thưa, tôi xin thuốc mọc râu.

Bà lang ngồi nghĩ một chốc, rồi nói rằng:

- Tưởng lấy thuốc gì thì tôi không dám hạ thủ, chứ thuốc nầy tôi đã kinh trị.  Để tôi giùm cho!

Rồi lấy một ít liên tu, gói vào giấy, đưa cho anh kia mà nói rằng:

- Phương thuốc nầy thì phải nội ẩm, ngoại đồ (*) mới được.  Đây tôi bôi thuốc uống; còn thuốc đồ, bác phải kiếm lấy.

Anh kia cầm lấy thang thuốc hỏi rằng:

- Thưa bà, thuốc đồ thế nào, xin bà bảo cho.

- Bác kiếm lấy hai hòn đá cuội, lấy da bong bóng lợn bọc lại.  Khi uống thuốc rồi, thì lên giường nằm ngửa, lấy túm đá cuội ấy mà giay trên môi một lúc, rồi lấy ít dầu vừng đổ qua, thì mọc được râu.

Anh ta mừng quá, giả tiền thang thuốc, rồi chạy về nhà.

Một chốc, ông lang về, hỏi bà lang rằng:

- Tôi đi vắng, ở nhà có ai đến lấy thuốc không?

Bà nói: - Có, có người đến xin thuốc.  Ông đi vắng, nếu không có tôi ở nhà khai phương cho người ta, thì người ta đi lấy chỗ khác.

Ông lang ngạc nhiên hỏi:

- Ai lấy thuốc gì mà bà dám bốc?

Bà lang mới kể tình đầu lại cho chồng nghe.

Ông lang ngẩn ra, hỏi rằng:

- Chứ bà theo sách nào mà bốc cho người ta như thế?

Bà quắc mắt, cãi rằng:

- Chẳng phải theo sách nào cả!  Khi tôi mới lấy ông thì tôi có tí...nào đâu?  Sao ông chỉ đồ cho tôi một ít lâu, mà sao bây giờ mọc rậm thế??

 

(*) Nội ẩm ngoại đồ=trong uống ngoài thoa.


 

THUỐC TRỒNG RÂU

(Phụng Hoàng San và Dương Diếp)

Người kia không râu, giận mình không phải đứng trượng phu, mới đi tới thầy mua thuốc trồng râu, thầy đi khỏi.  Người vợ bày một phương rằng: "Có gì khó, về lấy trứng dái gà mỗi bữa chà chà hai bên mép, thủng thẳng rồi nó ra".  Người ấy về làm y như vậy, ít lâu sau quả có râu ra.

Người ấy mừng đem đồ tới đền ơn.  Thầy mới hỏi vợ phương thuốc đó ở đâu mầy thấy?  Vợ rằng: "Y là ý vậy" (nghĩa là thuốc tại có ý), thiếp ngày mới gả cho phu quân, một sợi lông cũng không, vì bị hai hòn ngoại thận của phu quân chà hoài, chẳng bao lâu bây giờ cho đến đỗi xồm xàm ra thế nầy...


 

* (Đề Tài 3)

 

ÔNG RÂU RẬM

(Thọ An Phạm Duy Tốn)

Có một ông râu rậm che kín cả miệng.  Một hôm, đương đi ở ngoài đường, chợt có đứa bé trông thấy, nó mới gọi mẹ nó mà bảo rằng:

- Mẹ ơi! ra mau mà xem người không có mồm!

Rồi nó cứ vỗ tay, chạy theo mà reo lên rằng: A! a! a! ông nầy không có mồm

Ông râu rậm tức quá, quay mặt lại, vạch râu chửi nó rằng:

- Chẳng mồm là l... mẹ mầy đây à!

 

ÔNG GIÀ KHÔNG CÓ MIỆNG

(Phụng Hoàng San và Dương Diếp) 

Chú kia râu ria um sùm không thấy miệng mồm đâu hết.  Đi đường gặp thằng con nít nói chơi rằng: "Hồ tử nghinh phong tẩu, chỉ kiến hồ tử bất kiến khẩu" (Râu ria đi ngoài gió, chỉnh thấy râu ria miệng đâu có).

Người râu giận quá, tay nắm râu dở lên bày miệng ra, chỉ miệng mà mắng rằng: "Giống gì đây không phải miệng, vậy chớ húm mẹ mầy đây sao?"

Thằng nhỏ bị mắng khóc chạy về mét với mẹ nó.  Mẹ nó dỗ nó rằng: "Không phải đâu con.  Chú nó mắng người khác đa!  Thôi, con chạy theo mắng chú lại, nói mẹ có mà ít kìa, le the năm mười sợi he, chớ không phải xồm xàm như chú vậy đâu!"

 

GIỐNG ÔNG BỘ RÂU

(Vương Hồng Sển, do một người bạn Bắc thuật lại)

Có một ông huyện đi làm quan ở xa, vợ ở nhà gần ngày sanh.  Ông nóng biết tin nên sai thằng trung tín về xem bà đã ở cữ rồi chưa.  Vốn thằng nhỏ có tánh ngây ngô, sợ việc đàn bà đẻ, nó không dám vào, đứng ngoài hàng rào xớ rớ để nghe ngóng.  Bất ngờ bà ra vườn, vén váy đi tiểu.  Thằng kia trông thấy, vội vàng chạy về bẩm với ông: - Bẩm ông, bà đã ở cữ rồi.

Quan nghe mừng lật đật hỏi: - Chớ bà mầy đẻ con giai hay con gái?

- Bẩm, con không tường cô hay cậu, nhưng con nhìn thấy giống ông lắm.

- Mày trông giống tao cái gì?

- Bẩm, giống ông ở bộ râu! 



 

(5)

 

Cùng những Đề tài nổi tiếng từ Chuyện Tiếu Lâm của Phụng Hoàng San hoặc từ Chuyện Khôi Hài (trong Dân Gian) của Petrus Ký, ngày nay có những câu chuyện tiếu lâm hơi khác.

Có 2 Đề tài:

 

* (Đề Tài 1)

 

THƠ NGỰA HAY

(Phụng Hoàng San) 

Hai vợ chồng ông kia, nhà giàu có, sanh đặng ba đứa con gái dung nhan đẹp đẽ.  Hai đứa lớn gả cho hai người văn chương, còn con gái út, có nhiều nơi coi mà nó không khứng.

Khi ấy có một tên kia nhà phú hậu, lại thêm lịch sự trai đến cầu hôn.  Ông chê nó ít học, không chịu gả, còn cỏn thì đành.  Bả thương con út, có ý chiều lòng con, mới khuyên ổng rằng: "Hễ học thì phải hay, chớ cái lịch sự khó kiếm lắm.  Nó tuy ít học, về mình dạy thêm nó phải trở nên một đứng văn chương."

Ổng nói: "Nó tuy lịch sự trai, song nó bất học, nên ăn nói không thanh nhã, mụ nói lắm tôi cũng nghe theo."

Gả cưới xong rồi, ổng mới mua đặng một con ngựa hay lắm, trong lúc ăn tiệc, ổng biểu ba người rể làm thơ khen con ngựa hay.

Người rể lớn làm như vầy:

"Mặt nước thả cây kim; cha tôi cỡi ngựa chạy như chim; chạy đi chạy lại, cây kim chưa chìm."

Người rể giữa đặt rằng:

"Than lửa để cái lông; cha tôi cỡi ngựa chạy như dông; chạy đi chạy lại, cái lông chưa hồng."

Ông hỏi thằng nhỏ sao không làm.

Nó thưa: "Hai ảnh làm, choán hết ý hết vận, nên tôi họa chưa được, để thủng thẳng tôi nghĩ."

Bả liền nói đỡ cho nó rằng: - Nó đã nhỏ, ông lại hối lắm, nó rối trí làm sao cho được!

Bả lật đật và bước và nói, rủi lỡ trôn.

Thẳng nghe liền mừng mà nói rằng: "Thưa mẹ, tôi nghĩ đặng bài thơ rồi."

Bả biểu: - Thì con viết ra, rồi đọc nghe thử.

Anh ta viết rồi đọc rằng:

"Mẹ tôi xán cái địt; cha tôi cỡi ngựa chạy như hít; chạy đi chạy lại, đít mẹ chưa khít."

Bả nghe nói nửa bài, bỏ đi xuống nhà dưới một nước.  

 

BỐN CHÀNG ĐI HỎI VỢ

(Chuyện tiếu lâm thời nay)

Một ông phú hộ có một cô con gái độc nhứt.  Có 4 chàng tới xin cầu hôn.  Nhân vì ông có một con ngựa chạy hay, ông mới ra đề biểu 4 chàng tả cái tài chạy mau của con ngựa nầy.  Ai làm thơ hay nhứt thì ông gả con gái cho.

Chàng thứ nhứt văn chương giỏi liền ứng khẩu đọc:

Lưng trời chiếc lá rơi

Ngựa Ông phi một hơi

Phi đi rồi phi lại

Chiếc lá vẫn lưng trời

Nhân thấy cô gái bưng nước ra mời khách, chàng thứ nhì liền nghĩ ra bài thơ hay hơn và đọc liền:

Ly nước để cây kim

Ngựa Ông phi như chim

Phi đi rồi phi lại

Cây kim vẫn chửa chìm

Chàng thứ ba đang ngẫm nghĩ chưa ra.  Ông phú hộ thì thích chàng nầy nên lấy làm lo bèn đốt thuốc hút.  Nhìn thấy ông đốt thuốc, chàng thứ ba làm được bài thơ hay hơn nữa:

Đốt thuốc để cháy lông

Ngựa Ông phi lông bông

Phi đi rồi phi lại

Cái lông vẫn chửa hồng

Bà phú hộ thích và nóng ruột cho chàng thứ tư, lính quýnh như gà mắc đẻ ở phòng trong nên Bà phát "địt".  Chàng nầy nghe được mừng quá làm ra bài thơ: 

Từ Bà nghe tiếng địt

Ngựa Ông phi mù tít

Phi đi rồi phi lại

Lỗ đít vẫn chưa khít.

Bài nầy hay nhứt nên chàng thứ tư được vợ.


 

* (Đề Tài 2)

 

ĐỐI ĐƯỢC VỢ

(Petrus Ký)

Anh học trò khó lịch sự bảnh bao người, đi khuyên giáo, tới nhằm cái nhà kia giàu có.  Trong nhà thợ đang còn làm ầm ầm ạc ạc, cũng có thầy lang (thầy thuốc) với thầy pháp tới đó nữa.

Con gái nhà ấy đã đúng tuổi, chưa có chồng, thấy vậy thì thương, ra nói rằng: "Thôi, đừng có đi khuyên giáo làm chi mà xấu hổ đạo học trò, để tôi ra cho một câu đối, ai đối được trúng ý tôi thì tôi sẽ lấy người ấy làm chồng.

Ai nấy nghe ham chợp rợp.  Xin cô ra đối đi.  Cô ấy ra rằng:

"Đế Nghiêu, đế Thuấn, đế Võ; Võ, Nghiêu, Thuấn, tam đế truyền hiền"

Chú thợ mộc hớp tớp đối lại rằng:

"Bào rà, bào tách, bào xoi; xoi, rà, tách, ba bào phạt mộc"

Thầy pháp cũng nóng đối rằng:

"Lôi thiên, lôi tướng, lôi bồng; bồng, thiên, tướng, tam thiềng trừ quỉ"

Thầy chùa xen vào đối rằng:

"Bồ đề, bồ tát, bồ lương; lương, Đề, Tát, tam Bồ cứu khổ"

Thầy lang lại đối rằng:

"Huỳnh cầm, huỳnh bá, huỳnh liên; liên, cầm, bá, tam huỳnh giải nhiệt"

Anh học trò lịch ịch ở sau, đối rằng:

"Vương Văn, vương Khải, vương Thang; Thang, Văn, Khải, tam vương kế Thánh"

Đối trúng ý, trúng đề, cô ấy chấm được.

May cha chả là may; sẵn nhà, sẵn cửa, sẵn cơm. sẵn gạo; nhảy phóc vô đó một cái, sướng đã nên sướng!

 

ĐỐI ĐƯỢC VỢ 

(Chuyện tiếu lâm thời nay)

Một nhà giàu có cô con gái đẹp, tuổi vừa đôi tám.  Ông bố chỉ kén rể hay chữ.  Ông ra một vế đối, bảo ai đối được, ông gả con gái cho.

"Đế Nghiêu, đế Thuấn, đế Vũ; Vũ, Nghiêu, Thuấn, tam đế truyền hiền"

(Vua Nghiêu, vua Thuấn, vua Vũ; ba vua Vũ Nghiêu Thuấn truyền ngôi cho người hiền)

Câu đối ra, hôm đầu có một bác thợ mộc đến xin đối:

"Bào ra, bào tách, bào xoi; xoi, ra, tách, ba bào phạt mộc"

Ông nhà giàu cho là không được.  Câu nầy cứ kể có ba tiếng bào, ba tiếng xoi, tách, ra nghe được.  Nhưng vì chữ Nôm đối với chữ Hán có thể cho là không hay.  Trong câu chỉ có hai chữ "phạt mộc" là chữ Hán nhưng "phạt mộc" (cắt cây) lại không ai dùng bào bao giờ.

Hôm sau có thầy phù thủy xin đối:

"Lôi Thiên, lôi Tướng, lôi Bồng; Bồng, Thiên, Tướng, tam lôi trừ quỷ"

Ông nhà giàu cũng cho là không được.  Có lẽ ổng nghĩ rằng có ba vị lôi Thiên, lôi Tướng, lôi Bồng thật hay không và ba vị nầy có trừ quỷ thật không?

Hôm sau nữa có ông thầy thuốc đến xin đối:

"Hoàng cầm, hoàng bá, hoàng liên; liên, cầm, bá, tam hoàng giải nhiệt"

Ông nhà giàu vẫn cho là không được.  Có lẽ ổng không tin là ba vị thuốc hoàng cầm, hoàng bá và hoàng liên đều giải nhiệt được.

Mãi một hôm có một người học trò đánh liều đến xin đối:

"Vương Văn, vương Khải, vương Thang; Thang, Văn, Khải, tam vương kế thánh"

Ông nhà giàu cho là được và bằng lòng gả con gái cho người học trò.  Vua (tên) Khải là vua đầu nhà Hạ, vua (Thành) Thang là vua đầu nhà Thương (Thang) và vua Văn là vua đầu nhà Chu đểu là Thánh Vương. 


 

(6)

 

Trong Chuyện Khôi Hài của Petrus Ký còn có những chuyện khôi hài trong văn học hay chính trị.  Chúng còn tạo ra những "nụ cười" không vui.

Tuy nhiên có những câu chuyện dưới đây khác với Sử sách hiện đại:


 

* (Câu chuyện 1)

 

CÂU ĐỐI CÓ CHÍ KHÍ

(Petrus Ký)

Ông huyện kia đi dọc đường, gặp một thằng con nít đi học về.  Thấy bộ mặt đứa sáng láng bảnh lảnh, mới kêu mà ra câu hỏi rằng:

Tự là chữ, cất dằn đầu, chữ tử là con, con nhà ai đó?

Đứa học trò chí khí đối lại liền:

Vu là chưng, cất ngang lưng, chữ đinh là đứa, đứa hỏi ta chi?

Ông huyện nghe biết đứa có chí lớn, bèn nói sau nó sẽ làm nên mà chớ.  Mà thiệt như làm vậy chẳng sai.

 

(Sử sách hiện đại)

Hai câu đối trên có trong Lịch sử về Trạng Nguyên Nguyễn Hiền:

Năm Bính Ngọ (1246), Nguyễn Hiền đỗ đầu Thái Học Sinh, năm sau đỗ Trạng Nguyên lúc mới 13 tuổi.  Khi ra mắt nhà vua, vua thấy Nguyễn Hiền còn bé loắt choắt, ăn nói không đúng phép nên cho về nhà học lễ, ba năm sau sẽ bổ dụng.  Trạng Nguyên về được ít lâu thì có sứ nhà Nguyên sang đưa ra một bài thơ để thử nhân tài nước Đại Việt.  Cả triều đình đều chịu thua không ai hiểu ý của bài thơ.  Có quan tâu vua thử cho mời Trạng Hiền đến hỏi.  Vua đành sai sứ đến tận làng tìm Trạng Nguyên Nguyễn Hiền.  Tới làng thì sứ gặp một thằng bé đang đùa nghịch ở đầu làng liền hỏi thăm nhà Trạng Nguyên thì thằng bé cứ làm thinh.  Sứ thấy đứa bé ngộ nghĩnh nên đọc thử câu đối:

Tự (字) là chữ, cất giằng đầu, chữ tử (子) là con, con ai con ấy?

Đứa bé đối lại ngay:

Vu (于) là chưng, chặt ngang lưng, chữ đinh (丁) là đứa, đứa nào đứa này?

Đối xong đứa bé bỏ chạy.  Sứ biết là quan Trạng nên theo tới nhà thì thấy quan Trạng đứng trong bếp, sứ lại đọc một câu nữa để trêu chọc:

Ngô văn quân tử viễn bào trù, hà tu mị táo

(Ta nghe người quân tử thường lánh xa nơi bếp núc, sao lại đi nịnh ông Táo?)

Quan Trạng liền đối:

Ngã bản hữu quan cư đỉnh nại, khả tạm điều canh

(Ta vốn là chức quan vào hàng Tể tướng, nhưng hãy tạm nếm canh!)

(Điều canh: nếm canh, có nghĩa bóng là làm Tể tướng do câu của vua Cao Tông nhà Thương nói với Phó Duyệt lúc cử Phó Duyệt làm Tể tướng).

Sứ khâm phục mời quan Trạng về Kinh đô nhưng quan Trạng từ chối nói rằng:

- Trước nhà vua bảo ta không biết lễ (phép), nay chính nhà vua cũng không biết lễ.

Sứ về tâu lại, nhà vua phải mang xe ngựa, nghi trướng đến đón long trọng thì quan Trạng mới chịu đi.

Đến Kinh đô, Trạng Nguyên Nguyễn Hiền giảng giải bài thơ của sứ nhà Nguyên rõ ràng.  Nguyễn Hiền làm quan đến Công Bộ Thượng thư nhưng ông chết sớm (thọ 21 tuổi). 

  

 

* (Câu chuyện 2)

 

NGÔ THÌ SỸ VỚI TÁN LÝ THƯỜNG

 

(Petrus Ký)

Ông Thường (tán lý Thường), đời loạn Tây sơn ra lấy Bắc, con nhà học trò giỏi văn chương chữ nghĩa, cũng là bạn học với ông Ngô Thì Sỹ; giận ý kẻ nịnh lại hổ vì bị nhục mà vào Gia Định ở, đầu thầm với vua Gia long.  Vô một năm rồi ra ngoài Bắc, giả chết, biểu vợ con giả đò chôn cất để tang để chế cho, rồi mới vào lại làm tôi vua Gia Long.  Khi trước ở ngoài ấy còn hàn vi đi đường gặp ông Ngô Thì Sỹ là bạn học, mà khi ấy làm quan lớn, đi võng điều lọng lợp binh gia rần rộ (làm quan cho vua Quang trung là Nguyễn Văn Huệ, nhà Tây sơn).  Mặc áo rộng, đội nón tu lờ điệu học trò; đi né tránh bên đường, lính nó nói sao có vô phép, nó bắt nó vật xuống đánh cho vài chục.  Quan lớn mới hỏi là ai, thì bẩm rằng mình là học trò; thì Ngô Thì Sỹ mới rằng: "Có phải là học trò thì ra câu đối cho mà đối".  Ra rằng:

Ai công hầu? Ai khanh tướng?

lúc trần ai, ai dễ biết ai?

Ông Thường đối lại rằng:

Thế chiến cuốc, thế xuân thu,

gặp thì thế, thế nào thì thế.

 

(Sử sách hiện đại)

Câu chuyện về Tán Lý Đặng Trần Thường trên đây khác với chuyện của ông trong Lịch sử:

 

Trong các đại công thần của vua Gia Long có một người Bắc Hà là ông Đặng Trần Thường.  Sau khi thống nhất đất nước, vua Gia Long phong ông Đặng Trần Thường làm Tán Lý Bắc Hà (1803).  Ông Đặng Trần Thường bắt các cựu thần nhà Tây Sơn ở đây phải ra trình diện trong đó có ông Ngô Thì Nhậm (con ông Ngô Thì Sỹ) và ông Phan Huy Ích (rể ông Ngô Thì Sỹ).  

Ông Đặng Trần Thường cũng từng là danh sĩ Bắc Hà, đậu Sinh Đồ của nhà Hậu Lê.  

Vì khi xưa có hiềm khích với ông Ngô Thì Nhậm nên ông ra câu đối cho ông Ngô Thì Nhậm:

 

“Ai công hầu, ai khanh tướng, trong trần ai ai dễ biết ai” (Đặng Trần Thường)

 

Ông Ngô Thì Nhậm định đối như sau:

 

“Thế chiến quốc thế xuân thu, gặp thời thế thế thì vẫn thế” (Ngô Thì Nhậm)

 

Em rể của ông là ông Phan Huy Ích khuyên ông sửa lại:

 

“Thế chiến quốc thế xuân thu, gặp thời thế thế thì phải thế” (Phan Huy Ích)

 

Nhưng ông Ngô Thì Nhậm vẫn cứng đầu giữ câu đối của mình:

 

“Thế chiến quốc thế xuân thu gặp thời thế thế thì vẫn thế” (Ngô Thì Nhậm) 

 

Các cựu thần nhà Tây Sơn đều bị đánh đòn nhưng vì ông Đặng Trần Thường ghét câu đối của ông Ngô Thì Nhậm nên bí mật cho đánh ông Ngô Thì Nhậm bằng gậy tẩm thuốc độc do đó ông Ngô Thì Nhậm khi về nhà thì bệnh mà qua đời.

Trước khi mất ông Ngô Thì Nhậm có làm riêng bài thơ gửi cho ông Đặng Trần Thường nhắc lại chuyện của Hàn Tín sau khi công thành thì bị Hán Cao Tổ Lưu Bang khiến vợ là Lã Hậu giết ở cung Vị Ương:

 

Ai tai Đặng Trần Thường                Thương thay Đặng Trần Thường

Chân như yến xử đường                  Tổ yến nhà xử đường 

Vị Ương cung cố sự                        Vị Ương cung chuyện cũ

Diệc thị như thu trường.                  Khó tránh kiếp tai ương. 

(Ngô Thì Nhậm)                              (Phan Thượng Hải dịch)

 

Ông Đặng Trần Thường (1759-1813) làm đến Binh Bộ Thượng Thư rồi về sau bị vua Gia Long giết (1813) đúng như bài thơ tiên đoán của ông Ngô Thì Nhậm (1746-1803) mười năm về trước.  Trước khi chết, ông có làm “Hàn Vương Tôn Phú” tự ví mình với Hàn Tín, có lẽ ông nhớ lại bài thơ khuyên của ông Ngô Thì Nhậm.  

Còn ông Phan Huy Ích (1751-1822) sống đến gần 20 năm sau !  

 

* (Câu chuyện 3)

 

NGƯỜI CAN ĐẢM

 

(Petrus Ký) 

Ông tiền quân Trắm (tổng Trắm), nguyên là người ngoài Bắc, bị đày vô Nam với ông Khôi.  Sau giặc Khôi nổi mà bị binh trào hạ thành được, bắt đóng gông bỏ vô cũi điệu về kinh.

Người ta thấy bị mang gông, người ta xúm lại, người ta coi, thì tổng Trắm bèn làm một bài thơ như vầy:

 

Thiên hạ ai ai có thấy không?

Cang thường một gánh, chả phải gông!

Oằn oại hai vai quân tử trước,

Nghinh ngang một cổ trượng phu tòng;

Sống về đất Bắc danh thơm ngợi,

Thác ở trời Nam tiếng hãy không?

Nên hư cũng bởi trời mà chớ,

Há dễ là ai hại đặng ông?

 

Sau ngồi cũi điệu về Huế, ra tới Bình Thuận, ông ấy cắn lưỡi mà chết đi.


 

(Sử sách hiện đại)

Câu chuyện của ông Nguyễn Văn Trắm có viết trong Lịch sử với chi tiết như sau:

 

Khi vua Gia Long qua đời, Vua phó thác con là vua Minh Mạng cho ông Lê Văn Duyệt và ông Phạm Đăng Hưng.  Khi ông Lê Văn Duyệt qua đời ở Gia Định thành (1832) thì xảy ra loạn của Lê Văn Khôi (con nuôi của ông Lê Văn Duyệt) vào năm 1833.  

Lê Văn Khôi tên là Nguyễn Hữu Khôi vì bị quan nhà Nguyễn áp bức nên làm phản chiếm thành Phiên An (tại Sài Gòn bây giờ) được toàn thể Nam Kỳ hưởng ứng (tháng 7-1833) và cầu Xiêm La sang tiếp viện.  Người anh vợ là Nông Văn Vân, làm Tri châu Bảo Lạc (tỉnh Tuyên Quang), cũng nổi loạn ở thượng du Bắc Kỳ.  

Ông Trương Minh Giảng đánh bại quân Xiêm rồi với ông Tống Phúc Lương và ông Nguyễn Xuân cùng quan địa phương chiếm lại Nam Kỳ và vây quân của Lê Văn Khôi trong thành Phiên An (1834-1835).  Lê Văn Khôi bị bệnh chết nhưng thủ hạ tôn con là Lê Văn Cừ (7 tuổi) làm thủ lãnh tiếp tục chống giữ 2 năm.  Sau cùng trong thành bị dịch tã và hết lương thực và đạn dược nên thất thủ.  Những trọng tội là Lê Văn Cừ, 4 thủ hạ (là Nguyễn Văn Trắm, Nguyễn Văn Hoành...) và 1 giáo sĩ Công Giáo bị đóng cũi giải về Huế rồi đều bị xử lăng trì.  1831 quân phản loạn còn lại bị giết ngay tại thành Phiên An và chôn chung 1 chỗ gọi là Mả Ngụy (nay ở Quận 3, Sài Gòn).  Vua Minh Mạng cho phá thành Phiên An (còn gọi là thành Bát Giác hay thành Qui).

 

Cũng theo Lịch sử, ông Thủ Khoa Huân cũng có bài thơ gần giống như vậy:

Ông Nguyễn Hữu Huân (1816-1875), người ở Chợ Gạo, Định Tường đi thi Cử Nhân đậu Thủ Khoa (còn gọi là Giải Nguyên) vào năm 1852.  Tuy là văn quan, ông đã khởi nghĩa Cần Vương chống Pháp ở Định Tường (1861-1875).  Dù bị bắt nhiều lần và được Tổng Đốc Đỗ Hữu Phương giúp đỡ và dụ hàng nhưng ông không đầu hàng.  Lần cuối cùng (1875) sau khi bị bắt ngồi tù trước khi bị đem ra pháp trường hành quyết, ông Thủ Khoa Huân có làm bài thơ dưới đây:

 

MANG GÔNG

Hai bên thiên hạ thấy hay không

Một gánh cang thường há phải gông

Oằn oại đôi vai quân tử trúc (*)

Long lay một cổ trượng phu tòng (*)

Thác về đất Bắc danh còn rạng

Sống ở thành Nam tiếng bỏ không

Thắng bại dinh hư trời khiến chịu (**)

Phản thần, “đụ hỏa” đứa cười ông 

(Thủ Khoa Huân)

 

(*) Trúc xưng quân tử, Tòng hiệu trượng phu

(**) Dinh hư=đầy vơi


 

PHAN THƯỢNG HẢI biên soạn

 

Tài Liệu tham khảo:

Chuyện Cười Cổ Nhân (Vương Hồng Sển) 

Kể Chuyện Câu Đối Việt Nam (Vũ Xuân Đào)

Thơ và Sử (phanthuonghai.com)

_______________________________

  THI SĨ HỒ BIỂU CHÁNH 

                                        Bs Phan Thượng Hải

Ông Hồ Văn Trung (1884-1958) tự là Biểu Chánh (thường được biết dưới tên Hồ Biểu Chánh) sinh ở Gò Công, học trường trung học Mỹ Tho, đậu Thành Chung (1905), làm việc với Pháp đến chức Chủ Quận và hàm Đốc Phủ Sứ nhưng ông là một vị quan thanh liêm.  

Từ đầu thập niên 1920 cho đến 1945 ông có viết trên 40 tiểu thuyết về xã hội Nho Giáo Nam Kỳ trong sự du nhập của Âu Tây (trước cả Tự Lực Văn Đoàn).  

Ông còn phỏng theo những tiểu thuyết Âu Tây trứ danh để viết thành tiểu thuyết:

Cay Đắng Mùi Đời (1923) phỏng theo Sans Famille (Không Gia Đình) của Hector Mailot (Pháp).

Chúa Tàu Kim Quy (1923) phỏng theo Le Comte de Monte Cristo (Bá tước Monte Cristo=Kích Tôm Sơn) của Alexandre Dumas (Pháp).

Ngọn Cỏ Gió Đùa (1926) phỏng theo Les Miserables (Những Người Khốn Nạn) của Victor Hugo (Pháp).

Chút Phận Lênh Đênh (1928) phỏng theo Dans Famille (Trong Gia Đình) của Hector Mailot (Pháp).

Người Thất Chí (1938) phỏng theo Crime et Châtiment (Tội Ác Và Hình Phạt) của M. Dostoevsky (Nga). 

Ông Hồ Biểu Chánh nổi danh là văn sĩ của Nam Kỳ Lục Tỉnh nhưng ít ai biết ông cũng là một thi sĩ có tài.

Những bài thơ còn lưu lại được làm trước và sau khoảng thời gian ông viết văn (1920-1945).

 

Ngày 9-3-1945, quân đội Nhật Bản lật đỗ Thực Dân Pháp ở Đông Dương.  Ông Hồ Biểu Chánh đến tế mộ ông Trương Công Định, người khởi nghĩa chống Pháp đầu tiên (1858-1865) khi Thực Dân mới chiếm Nam Kỳ.

 

TẾ MỘ TRƯƠNG CÔNG ĐỊNH

Việt Nam độc lập ó vang rân

Kéo đến tế mồ Trương tướng quân

Lừng lẫy đằng đằng hương chánh khí

Sụt sùi điểm điểm lụy đồng nhân

Trước sau tá quốc đều mong mỏi

Sống thác bình Tây cũng nợ nần

Ăn trái nhớ người gieo hột quý

Soi gương dĩ vãng đúc tinh thần.

(Hổ Biểu Chánh)


 

Sau khi Nhật Bản thua Đệ nhị Thế chiến, Pháp trở lại Đông Dương.  Nam Kỳ có một chính quyền tự trị gọi là Nam Kỳ Tự Trị với chính phủ của Bác sĩ Nguyễn Văn Thinh (1888-1946) ra mắt ngày 2-6-1946.  Ông Hồ Biểu Chánh làm Cố Vấn (đặc biệt) trong chính phủ nầy.  Một thời gian ngắn sau Thủ tướng Nguyễn Văn Thinh thắt cổ tự tử (ngày 10-11-1946) và ông Hồ Biểu Chánh rút lui khỏi chính trường.  

Một người bạn cùng học với ông Nguyễn Văn Thinh và ông Hồ Biểu Chánh (ở trung học Mỹ Tho) là thi sĩ kỳ cựu của Nam Kỳ lúc bấy giờ (là) ông Thường Tiên Lê Quang Nhơn có làm bài thơ khóc ông Nguyễn Văn Thinh và trách ông Hồ Biểu Chánh:

 

KHÓC T. T. NGUYỄN VĂN THINH

Nghe tin dường sấm nổ vang trời

Chia rẽ ai bày thuyết máu rơi

Khóc bạn cố tri trong nghịch cảnh

Trách người biểu chánh chẳng thông thời

Vườn xưa thống nhất gương rành rạnh

Đại Việt phân ly khéo đổi dời

Thăm thẳm đêm đông buồn gạt lệ

Việc nhà việc nước thấy vơi vơi.

(Thường Tiên Lê Quang Nhơn)

 

Thi sĩ Thường Tiên Lê Quang Nhơn là con của Cai tổng Lê Quang Chiểu.

 

Sở dĩ có người Nam Kỳ lúc bấy giờ không thích ông Hồ Biểu Chánh vì ông rất thân Pháp (và muốn làm như ông Phạm Quỳnh?).  Tương truyền rằng ông Cố Vấn Hồ Biểu Chánh là bạn với Cao ủy Nam Kỳ D’Argenlieu từng lên chiến hạm của vị Hải quân Đô đốc nầy cùng đi chơi và có làm bài thơ: 

 

(Nguyên bản)

Chiến thuyền vượt biển gió hiu hiu

Cùng bạn hoang mang luận đủ điều

Trước mặt nước xanh phơi chí cả

Quanh mình sóng bạc giỡn trời chiều

Thị phi cười trẻ giành khôn dại

Nhân nghĩa riêng ta gởi ít nhiều

Quê cũ trong vời còn lý thú

Tấm lòng thơ thái trí tiêu diêu.

(Hồ Biểu Chánh)


 

Hai người cùng quê Gò Công với ông Hồ Biểu Chánh (Lương Tri và V. T.) và ông Thường Tiên có 3 bài họa:

 

(Họa) 

Nhà quê tình cảnh luống buồn hiu

Ngồi nghĩ vu vơ nghĩ lắm điều

Đồng cháy đã kinh cơn nắng sớm

Cây khô khôn đợi đám mây chiều

Ấm no vui vẻ điềm còn ít

Rách rưới lầm than thấy đã nhiều

Cùng sống chung nhau trong xứ sở

Riêng mình không nỡ tự tiêu diêu.

(Lương Tri)

 

(Họa)

Sẵn đã quen mùi cảnh quạnh hiu

Biết chi sự thế khó trăm điều

Đọc thơ giải trí vui trà sớm

Cày ruộng an nhàn thưởng rượu chiều

Vụng dại thị phi mai mỉa ít

Khéo khôn ân oán tiếng tăm nhiều

Xét mình đức kém thêm tài mọn

Nào dám mong gì chuyện viển diêu.

(V.T.)

 

(Họa)

Đọc bài vượt biển dạ buồn hiu

Trong lúc giang sơn rối lắm điều

Vui vẻ một mình xem cảnh lịch

Thở than muôn trẻ giẫm mưa chiều

Dại khôn ai dám khoe rằng trọn

Nhân nghĩa suy ra thấy có nhiều

Đất cũ quê xưa trời ấm ủ

Lòng nào thơ thái trí tiêu diêu.

(Thường Tiên)


 

Ông Thường Tiên còn làm thêm một bài thơ gởi cho ông Hồ Biểu Chánh.

 

Nghe vẳng ai kia vượt chiến thuyền

Vầy đoàn tận hưởng cảnh thần tiên

Mảng gần cửa tượng thân vinh hiển

Quên phứt nhà mình vách ngửa nghiêng

Đã vậy còn khoe người đạo nghĩa

Lại còn châm biếm kẻ khùng điên

Uổng đời đã trọn danh liêm sĩ  

Sao nỡ buông câu bãi thấp hèn?

(Thường Tiên)

 

Sau đó chiến tranh kháng Pháp xảy ra (1946-1954), dân chúng tản cư để tránh bom đạn hoặc để theo hay để tránh “Kháng Chiến”.  Ông Hồ Biểu Chánh tản cư về Gò Công và có làm bài thơ: 

 

TỰ THÁN

Tản cư lưu lạc mấy trăng rồi

Đất khách nhà người sót phận tôi

Mở miệng nhác ngâm câu thạnh trị

Phủi tay thêm giảng thuyết luân hồi

Thanh Tuyền mong hưởng nguồn an ủi (*)

Khổng Tước riêng buồn bước nổi trôi (*)

Non nước xa trông mây ảm đạm

Lỡ cười lỡ khóc ruột gan sôi.

(Hồ Biểu Chánh)

 

(*) Chú thích: 

Xã Thanh Tuyền = xã Bến Súc (ở Gò Công).  Khổng Tước = con Công, ám chỉ Gò Công


 

Theo Văn học sử, ông Hồ Biểu Chánh viết văn khoảng 1920-1945.  Nhưng trước đó, ông có bài thơ Vô Đề theo thể Cửu Liên Hườn (1912). 

 

"CỬU LIÊN HƯỜN"

 

Cà Mau dung bước đã ba trăng

Phong cảnh trong ra ít chỗ bằng

Thong thả mục đồng coi lảnh lót

Linh đinh ngư phủ lưới bao giăng

Tiều vui dơ búa nơi lâm tẩu (1)

Canh một phơi chui chốn nội sanh

Thằng chệt chen vai người bổn thổ (2)

Coi quyền dành giựt chạy lăng xăng.

 

Lăng xăng coi thử số làm sao

Đoái lại vườn xuân rất ngạt ngào

Ngàn đặm trông vơi trồng chẳng ráo

Năm canh thổn thức ruột như bào

Nặng quằn chưa trả ơn người trước

Xo xắn khó tròn đạo kẻ sau

Nam tử lỡ mang lời với thế

Công danh nhiều ít phải xôn xao.

 

Xôn xao rồi nghĩ lại buồn thêm

Một gốc trời Nam chín khúc mềm

Em dại ham chơi lo nỗi trẻ

Con thơ thất dưỡng tủi thay niềm

Lẻ bầy tìm tỏi xăng văng vượn

Xa ổ kêu sầu bát ngát chim

Nhắm mắt đưa chơn coi máy tạo

Bao chừ mai trước đứng chung thềm.

 

Chung thềm khi ấy mới vui cho

Nhớ bạn tri âm tiếng hẹn hò

Khoẳng khoát vườn đào cây rải rác (3)

Biệt mù dặm liễu khúc quanh co

Ngoài tường thoảng thoảng nhành hoa động

Đầu chái lui thui bóng nguyệt lò

Dám trách cao xanh gây nỗi thảm

Để người trông đợi kẻ buồn xo.

 

Buồn xo nông nỗi tại vì ai

Đeo đuổi lòng danh bước lạc loài

Hạc nội thảnh thơi ganh chí trẻ

Gà  lồng túng tính tủi phần trai

Mối sầu lần gỡ ngày thêm lụn

Tơ nhợ còn vương giấc khó dài

Gặp cuộc phải xây theo với cuộc

Tứ dân nào phải kế sanh nhai.

 

Sanh nhai chi thiếu kế trên đời

Nông cổ coi bề rất thảnh thơi

Làm chủ muốn ngơi ngơi tỉnh tỉnh

Khỏi tôi buồn nhận nhận chơi chơi

Côn kình biển cạn khôn khoe sức

Kỳ ký đường co khó trổ tài

Danh lợi bôn chôn thôi trối kẻ

Phân tai ta giữ buổi hôm mai.

 

Hôm mai ngồi nghĩ đến nhân tình

Ít dữ trên đời rõ nhục vinh

Đường thẳng chưa ai thêm thử bước

Việc hư hiếm kẻ áp chen dành

Ruồi bu đuôi ngựa rồi nghinh mặt

Cáo đội lớp hùm cũng thiếu nanh

Ba vạn sáu ngàn ngày có mấy

Làm chi cực trí lại nhơ danh.

 

Nhơ danh mặc kẻ giữ lòng ta

Quan sự rảnh rồi thích thú nhà

Buổi tối thi ngâm câu Đỗ Lý

Vui trưa kìm khải khúc Kỳ Nha

Thà cam người trí lều (liều) xiêu xó (4)

Dễ chịu thằng ngu dạn nhổn nha

Dẫu tiếng ngựa trâu chi cũng chịu

Giữa trần ai dễ biết ai mà.

 

Biết ai mà tỏ chút tình riêng

Bóng thỏ canh chầy dọi trước hiên

Danh lợi mắt lơ trông một cặp

Non sông gánh nặng đạo ba giềng

Nghiêng tai chi sá lời phi thị

Lần bước noi theo dấu thánh hiền

Cái chí tang bồng đâu cũng vậy

Hễ là vô sự ấy là tiên.

 

(Hồ Văn Trung tự Biểu Chánh) Avril 1912

 

Chú thích:

(1) Lâm = rừng.  Tẩu = động. 

(2) Bổn (tiếng Nam Kỳ)= bản

(3) Khoẳng (tiếng Nam Kỳ) = khoảng

(4) Lều (tiếng Nam Kỳ) = liều


 

Bs PHAN THƯỢNG HẢI biên soạn

 

Tài Liệu Tham Khảo:

1) Thơ Quốc Ngữ Nam Kỳ (Phan Thượng Hải) - phanthuonghai.com

2) Thơ và Việt Sử - Thời kỳ Độc Lập (Bs Phan Thượng Hải) - phanthuonghai.com

3) Thơ và Việt Sử - Thời Pháp Thuộc Tk 20 (Bs Phan Thượng Hải) - phanthuonghai.com

NGUỒN GỐC SÀI GÒN CHỢ LỚN

                                                   Bs Phan Thượng Hải

 

Nguồn gốc Sài Gòn và Chợ Lớn bắt đầu từ năm 1632.  Từ đó có những địa danh Sài Gòn, Sài Côn, Bến Nghé, Ngưu Chử, Đề Ngạn, Chợ Lớn và Tây Cống cho đến khi Thực Dân Pháp chính thức lập ra Thành phố Sài Gòn và Thành phố Chợ Lớn (Ville de Saigon et Ville de Cholon) vào năm 1865.  Đây là những diễn tiến thành hình Sài Gòn và Chợ Lớn từ năm 1632 cho tới năm 1865.

 

SÀI GÒN VÀ BẾN NGHÉ 

 

Năm 1632, Chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên (con của Chúa Nguyễn Hoàng) cử sứ thần sang gặp vua Chân Lạp xin đặt 2 trạm thu thuế ở Prei Nokor và Kras Krabei.  Prei Nokor và Kras Krabei là địa danh tiếng Miên (Chân Lạp).  Từ đó có người Việt vào sinh sống ở 2 nơi nầy.  Từ 2 địa danh tiếng Miên nầy có 2 địa danh tiếng Việt là Sài Gòn và Bến Nghé.

 

Prei Nokor (mượn từ tiếng Phạn là Brai Nagara) có nghĩa là "Thị trấn trong Rừng".  

Prei = Brai = Rừng và Nokor = Nagara= Thị trấn, thành phố.  

Lần lần Prei Nokor đọc trại thành tiếng Việt (tiếng Nôm) là Sài Gòn.  

Trước khi có chữ Quốc Ngữ, vì không có chữ Nôm viết cho tiếng Nôm "Gòn" nên văn kiện nước Việt lúc bấy giờ viết thế bằng chữ Hán là "Côn".  Do đó Sài Gòn viết là Sài Côn nhưng địa danh Sài Gòn được người Việt đến định cư dùng trong tiếng Việt (tiếng Nôm hay tiếng Nam).  Phủ Biên Tạp Lục của Lê Quý Đôn viết: "Năm 1674, Thống suất Nguyễn Dương Lâm đánh Cao Miên phá lũy Sài Côn".  Chữ "Sài Côn" xuất hiện vào năm 1674, tiếng "Sài Gòn" có lẽ có trước đó.  Các giáo sĩ Tây Phương đã viết (theo mẫu tự La Tinh) chữ "Saigon" từ thế kỷ 18. 

 

Có giả thuyết khác cho rằng địa danh Sài Gòn không phải là dịch âm từ tiếng Miên "Prei Nokor" mà do người Việt đặt cho theo đúng địa lý của nơi nầy là có nhiều cây (bông) gòn.  Sài=củi và Gòn=cây bông gòn (Hán ngữ là Côn).  Thuyết nầy không có lý lắm vì 150 năm về trước, Petrus Ký cũng không thấy di tích của cây gòn ở vùng nầy.

Có giả thuyết của Thái Văn Kiểm thì vùng nầy có 2 tên Cao Miên: Prei Nokor (có nghĩa là Rừng của Vua) hoặc Prei Kor (có nghĩa là Rừng cây Gòn).  Tên Sài Gòn (có nghĩa là Củi Gòn) là dịch nghĩa một cách nôm na của Prei Kor.  Tuy nhiên tên "Prei Kor" chỉ có từ Thái Văn Kiểm và vùng nầy không để lại di tích cây gòn.   

 

Sài Gòn (Prei Nokor) ở Quận 5 bây giờ.

 

Kras Krabei có nghĩa là "Bến có con trâu".  Do đó nó được dịch nghĩa ra là Bến Nghé (Nghé=Trâu, trâu con).  Có sách còn viết là Kompong Krabey hay Kâmpóng Krâbei với cùng một nghĩa.  Theo Hán ngữ thì Bến Nghé (tiếng Nôm) là Ngưu Chử.

Bến Nghé theo Trịnh Hoài Đức là bến uống nước của trâu con.  Nhưng theo Đại Nam Nhất Thống Chí thì nơi nầy có nhiều cá sấu (tiếng Miên gọi là Krapoe), chúng thường kêu "nghé" nên gọi là Bến Nghé.  Trịnh Hoài Đức dịch Bến Nghé là Ngưu Tân.

 

Bến Nghé (Kras Krabei) ở Quận 1 bây giờ, phần giáp với rạch Bến Nghé (ở phía Nam).  

 

Địa danh Bến Nghé có cùng thời với địa danh Sài Gòn khi có người Việt tới định cư ở 2 nơi nầy vào thế kỷ 17.  Dĩ nhiên Bến Nghé là tiếng Nôm nên văn kiện viết thành chữ Hán là Ngưu Chử hay Ngưu Tân.

 

Năm 1698, Lễ Thành Hầu Nguyễn Hữu Cảnh đến Cù lao Phố lập Dinh Trấn Biên (sau nầy là tỉnh Biên Hòa) và Dinh Phiên Trấn (sau nầy là tỉnh Gia Định) thì Bến Nghé là thủ phủ của Dinh Phiên Trấn.  Năm 1790, Nguyễn Vương Phúc Ánh xây thành Gia Định ở Bắc Bến Nghé gọi là Thành Qui.  Sau loạn Lê Văn Khôi (1832), vua Minh Mạng san bằng Thành Qui và xây Thành Phụng nhỏ hơn cũng ở đây.  Sau khi Pháp chiếm Nam Kỳ thì phá Thành Phụng chỉ còn 1 cái đồn nhỏ là chỗ Nhà thương Đồn Đất (của Pháp) sau nầy.


 

ĐỀ NGẠN, CHỢ LỚN VÀ TÂY CỐNG 

 

Năm 1778, người Hoa từ Biên Hòa (Trấn Biên) tránh quân Tây Sơn di cư về Sài Gòn (Prei Nokor).  Nơi đây trước đó đã có làng Minh Hương của người Hoa.  Người Tiều (Triều Châu) âm tiếng "Sài Gòn" theo tiếng Tiều thành "Tai Ngon hay Tin Gan", còn người Quảng lại âm theo tiếng Quảng là "Thầy Ngồn hay Thì Ngòn" và viết chữ Hán đọc thành Hán ngữ là "Đề Ngạn".  Đề Ngạn có nghĩa theo tiếng Việt là Bờ Đê.  Người Hoa không có đắp đê nào ở đây!  

Do đó địa danh tiếng Việt "Sài Gòn" là từ tiếng Miên còn những tiếng Tàu kể trên có sau tiếng Việt "Sài Gòn".  Từ ngữ "Đề Ngạn" có sau từ ngữ "Sài Gòn" do đó không phải là nguồn gốc của địa danh Sài Gòn.

 

Người Hoa xây chợ ở Sài Gòn (Prei Nokor) thành 2 Chợ.  Để phân biệt nên có tên Chợ Lớn (hơn) và Chợ Nhỏ (hơn).  

Chợ Lớn nầy bây giờ ở khu vực Bưu điện Chợ Lớn kéo dài tới Đại Thế Giới.  Theo Thái Văn Kiểm, Chợ Lớn nầy lập song song với Chợ Nhỏ, còn tồn tại tới thời VNCH với tên là Chợ Thiếc ở phía trường đua Phú Thọ.  

Về sau Chợ Lớn (Cũ) nầy được dời tới Chợ Lớn Mới gọi là Chợ Bình Tây do nhà đại phú Quách Đàm xây tặng.  Tượng họ Quách còn ở giữa đình chợ Bình Tây.  Do đó về sau có phân biệt Chợ Lớn Cũ (ở Quận 5) và Chợ Lớn Mới (ở Quận 6).

Có người không đồng ý với Thái Văn Kiểm, cho rằng Chợ Nhỏ không phải là Chợ Thiếc mà là Chợ Tân Kiểng (lập năm 1748) vì ở làng Tân Kiểng.  Sau đó làng Tân Kiểng hợp với 2 làng Nhơn Ngãi và Bình Yên thành khu vực Chợ Quán thì chợ nầy chính là Chợ Quán (nay là ở phường 22, Quận 5). 

 

Người Hoa ở Chợ Lớn hay dùng tiếng Tàu là "Xây Coón hay Xi Coón" để gọi người Việt ở Chợ Bến Thành (thuộc Bến Nghé) mà Hán ngữ là Tây Cống.  Tây Cống không là nguồn gốc của địa danh Sài Gòn.  Có giả thuyết hơi mơ hồ cho rằng Tây Cống nghĩa là nơi mà người Chân Lạp miền Tây đem phẩm vật cống hiến cho chính phủ ta.


 

THÀNH PHỐ SÀI GÒN VÀ THÀNH PHỐ CHỢ LỚN

 

Năm 1861, sau khi chiếm Nam Kỳ, Phó Đô Đốc Charner thành lập và định giới Ville De Saigon gồm cả 2 khu Sài Gòn (Prei Nokor) và Bến Nghé (Kras Krabei).  Năm 1865, Quyền Thống Đốc Nam Kỳ là Đô Đốc Pierre Rose qui định Ville De Saigon là khu Bến Nghé (Kras Krabei) và chính thức lập Ville De Cholon là khu Sài Gòn (Prei Nokor).  Người Việt bắt đầu có chữ Quốc Ngữ nên viết đúng tiếng Việt của Saigon là Sài Gòn và của Cholon là Chợ Lớn.  Như vậy từ đó tới ngày nay địa danh Sài Gòn dùng cho khu Bến Nghé cũ (Kras Krabei) và địa danh Chợ Lớn dùng cho khu Sài Gòn cũ (Prei Nokor) tại vì lỗi lầm của Thực Dân Pháp!

 

Khi chánh thức được thành lập (1865):

Thành phố Chợ Lớn (Ville de Cholon) ở giữa: đ. Hồng Bàng, đ. Tổng Đốc Phương, phía dưới đ. Đồng Khánh, đ. Nguyễn Tri Phương và phía trên bến Hàm Tử.  Nó là từ khu Sài Gòn cũ (Prei Nokor).

Thành phố Sài Gòn (Ville de Saigon) ở giữa: đ. Hồng Thập Tự, đ. Nguyễn Thái Học, rạch Bến Nghé (bến Chương Dương), sông Sài Gòn (bến Bạch Đằng) và rạch Thị Nghè.  Nó là từ khu Bến Nghé cũ (Kras Krabei).

Lần lần 2 thành phố dính liền nhau và lan rộng thành ra Sài Gòn ngày nay.

                             Thành phố Sài Gòn và Chợ Lớn lúc ban đầu, năm 1865


 

ĐI CHƠI SÀI GÒN

Lên chơi Bến Nghé bấy nhiêu ngày

Xe ngựa chen đời, bụi cát bay

Phong cảnh đã dời thành quách cũ

Lâu đài lại đổi sắc trang rày

Sớm vô Chợ Lớn dầu thong thả

Chiều lại nhà hàng mặc tỉnh say

Mới biết Nam Kỳ là chỗ hội

Quan quân rậm rựt tối như ngày.

(Lê Quang Chiểu)

Cuối Thế kỷ 19

 

SÀI GÒN HOÀI CẢM (*)

Địa danh sống mãi ở tình trường

Bốn chục năm qua trải gió sương

Đã hết êm đềm thời lộng nguyệt

Lại thêm hỗn độn dưới tà dương

Sài Gòn hoa lệ tràn nhung nhớ

Hòn Ngọc Viễn Đông vợi tiếc thương

Cách mặt đau lòng không đổi dạ

Hương xưa hoài cảm tự can trường.

(Phan Thượng Hải) 

Năm 2015

(*) Họa bài Thăng Long Hoài Cổ của Bà Huyện Thanh Quan.


 

Bs PHAN THƯỢNG HẢI biên soạn

 

Bài viết nầy đăng lần đầu tiên trong phanthuonghai.com

 

Tài liệu tham khảo:

Địa Danh Sài Gòn Gia Định (Phan Thượng Hải) - phanthuonghai.com

Đất Việt Trời Nam (Thái Văn Kiểm)

CHUYỆN THƠ VỀ "THẤT THẬP" 

                                                                       (Bs Phan Thượng Hải)

 

Khi đến 70 tuổi, người đời thường nghĩ tới hay nói tới câu "Thất Thập Cổ Lai Hy" (Bảy mươi từ xưa đến nay rất hiếm).

Câu "Thất Thập Cổ Lai Hy" nguyên gốc từ câu thơ "Nhân sinh thất thập cổ lai hy" của thi hào Đỗ Phủ (712-770) trong bài thơ thứ nhì của 2 bài thơ Khúc Giang.

 

KHÚC GIANG (*)

Triều hồi nhật nhật điển xuân y

Mỗi nhật giang đầu tận túy quy

Tửu trái tầm thường hành xứ hữu

Nhân sinh thất thập cổ lai hy

Xuyên hoa giáp điệp thâm thâm kiến

Điểm thủy tinh đình khoản khoản phi

Truyền ngữ phong quang lưu cộng chuyển

Tạm thời tương thưởng mạc tương vi.

(Đỗ Phủ)

 

(*) Chú thích:

            Khúc Giang là Khúc Giang trì, một thắng cảnh ở Đông Nam Trường An lúc bấy giờ. 

            Trì = (cái) ao, hồ.

 

KHÚC GIANG

Áo chầu mỗi buổi đều đem cố (*)

Về đến đầu sông nghiêng ngả say

Nợ rượu khắp nơi thường có cả

Đời người bảy chục hiếm hoi thay

Len hoa, bươm bướm mờ mờ hiện

Chấm nước, chuồn chuồn chậm chậm bay

Cùng bảo phong quang đều chuyển động

Tạm thời hãy hưởng phút giây nay.

(Trần Trọng Sang dịch)

 

(*) Cố = thuê, mướn.

 

Năm 757, tháng 9, quân đội của Quách Tử Nghi chiếm lại được kinh đô Trường An,  Đường Túc Tông và Thượng Hoàng (Đường Minh Hoàng / Đường Huyền Tông) trở về kinh đô. Đỗ Phủ cũng theo trở về và vẫn làm một chức quan nhỏ trong triều đình.  Hai bài thơ "Khúc Giang" nầy được Đỗ Phủ làm vào tháng 5, năm 758. Lúc đó Đỗ Phủ được khoảng 45-46 tuổi.

 

Đọc câu 5, 6 và 7 thì biết là Đỗ Phủ đang say thiệt sự khi làm bài thơ nầy.  Như vậy ý tứ "Thất thập cổ lai hy" phát xuất từ Rượu?  Thi hào Đỗ Phủ (712-770) qua đời vì bệnh lúc 58, 59 tuổi, không tới được "thất thập".

 

 

Hai thi hào Việt Nam cũng có 2 bài thơ Xướng Họa về "Thất Thập".  Khi Nguyễn Công Trứ (tự là Uy Viễn) làm bài thơ tự thọ được 70 tuổi thì ông được Cao Bá Quát họa lại:

 

THẤT THẬP TỰ THỌ                                 BẢY MƯƠI TUỔI TỰ CHÚC THỌ                                                                   

(Xướng - Hán ngữ)

Nhật đối nhi tào tự giải di                          Ngày cùng lũ trẻ cợt đùa chơi

Kim ngô bất tự cố ngô thì                          Quả thực ta nay khác trước rồi

Tùy cơ khối lỗi cung nhân tiếu                  Múa rối mấy hồi rằng giúp nước

Trực ký niên hoa giới cổ hy                       Sống lâu bảy chục cũng ơn trời

Lão thực bất kham trang diện mục            Thật thà bao quản khoe mình đẹp

Anh hoa an dụng nhiễm tu tỳ (*)               Tóc bạc xin đành kém vẻ tươi

Tự tàm tiên liệt hào vô trạng                      Những thẹn bất tài không bác bổ

Quái sát Hồng sơn hữu thị phi. (*)             Non Hồng thôi mặc tiếng trên đời.

(Nguyễn Công Trứ)                                    (Lê Thước dịch)

 

(*) Chú thích:

            Tỳ = dính liền nhau. Tu = tóc, râu.

            Hồng sơn là núi Hồng Lĩnh, quê hương của Nguyễn Du và Nguyễn Công Trứ.

 

HỌA UY VIỄN THẤT THẬP TỰ THỌ

(Họa - Hán ngữ)

Quần sơn nam vọng độc chi di                   Non Nam nhìn tới mỉm đôi môi

Dao tưởng tiên sinh vị lão thì                     Tưởng nhớ tiên sinh lúc thiếu thời

Tự cổ anh hùng vô đại dị                            Những kẻ anh hùng riêng mỗi cảnh

Như kim xỉ đức kiến ưng hy                       Mấy ai xỉ đức được như người

Thường gia thế vị chung tu tửu                   Rượu nhờ tẩy sạch bao mùi tục

Cấm đoạn sương hoa bất thượng tỳ (*)      Râu cằm không màng những phấn bôi

Văn đạo Hồng phong dục hồi thủ (*)         Nghe nói Hồng phong nay trở gót

Khởi ưng lục thập cửu niên phi.                  Lẽ nào sáu chục chín năm sai.

(Cao Bá Quát)                                              (Vô Danh thị dịch)

 

(*) Chú thích:

            Thượng tỳ = râu, râu mép.

            Hồng phong là gió núi Hồng Lĩnh.

 

Tiến sĩ Nguyễn Quý Tân (Nghè Tân) cũng có bài họa bằng Việt Ngữ:

 

THẤT THẬP TỰ THỌ

(Họa - Việt Ngữ)

Bảy mươi tuổi tác vẫn nhường di (ri)

Mới biết xưa kia buổi thiếu thì

Rượu tỉnh thơ say hồn Lý Bạch

Trúc cười hoa cợt thú Vương Hy

Giang sơn nắm lại đôi tay khấu

Văn võ buông ra một ngón tỳ (*) 

Cùng kiếp phù sinh nay dở sạch

Dẫu ai tiếng thị với lời phi.

(Nguyễn Quý Tân)

 

(*) Chú thích:

            Tỳ = liền nhau - giúp đỡ.

 

Tác giả cũng tới "thất thập" nên xin kính họa.

 

THẤT THẬP CẢM KHÁI

(Họa - Việt ngữ)

Bình tâm chánh định chẳng hề di

Liệt lão hồi hưu đã hết thì

Nhân thọ thất tuần tân tiến túc

Nhân sinh thất thập cổ lai hy

Mừng còn nội trợ vui bè bạn

May vẫn toàn thân chửa có tỳ (*)

Gia thất an nhàn thi tống tửu

Thành tâm dưỡng tánh bất vi phi. (*)

(Phan Thượng Hải)

5/17/20

 

(*) Chú thích:

            Tỳ = bệnh, vết xấu, chỗ sai lầm.

            Vi phi = làn điều lầm lỗi.

 

Bs PHAN THƯỢNG HẢI biên soạn

 MỘT TRẬN DỊCH 200 NĂM TRƯỚC 

                                                                          Phan Thượng Hải

 

Năm 2020, toàn thế giới mắc phải bệnh Dịch Covid-19.  200 năm trước vào năm 1820, nước Việt Nam cũng có một trận Dịch lớn.

Đại Nam Thực Lục viết:

            "Năm nay (1820) bệnh dịch phát từ mùa thu sang mùa đông, bắt đầu từ Hà Tiên sau rốt đến Bắc Thành (Hà Nội). Số hộ khẩu chết tất cả là 206.835 người, không kể số nam phụ lão ấu ở ngoài hộ tịch. Trước sau chẩn cấp hơn 73 vạn quan tiền.

            Vua (Minh Mạng) lấy bạch đậu khấu trong kho và phương thuốc chữa dịch sai người ban cấp. Sắc cho các địa phương mỗi nơi đặt một đàn tế lễ. Người ốm thì cấp thuốc, người chết thì cấp tiền (và) vải".

Ông Phạm Đăng Hưng, cha của bà Từ Dũ, là Phó Tổng tài của Quốc Sử quán, tâu rằng: "Gặp tai vạ biết lo sợ, vốn là thịnh đức của đấng nhân quân.  Nhưng thần nghe bệnh Dịch từ Tây dương sang, bệ hạ hà tất lấy làm tội của mình".

Sử gia sau nầy cho là bệnh Dịch tả căn cứ trên thuốc trị bằng "bạch đậu khấu" và trận dịch nầy từ Xiêm La sang Chân Lạp rồi cuối cùng tràn qua Việt Nam.

 

Từ đó có câu chuyện của thành phố Cao Lãnh ngày nay.

Trận dịch năm 1820 nầy tràn lan tới vùng đất của làng Mỹ Trà mà sau nầy là thành phố Cao Lãnh.  Tại đây ngày nào cũng có 5, 7 người chết.  

Lúc đó có vợ chồng ông bà Đỗ Công Tường là chủ chợ ở đây.  Ông có tục danh là Lãnh được cử giữ chức Câu Đương là chức chuyên lo phân xử những tranh chấp trong làng nên ông được dân làng gọi tên là Câu Lãnh.  Ông Bà từ miền Trung vào sinh sống ở làng Mỹ Trà khai hoang mở đất trồng trọt (trồng quít) nên gia đình khá giả. Ông Bà cất quán ở vườn quít của mình, lần hồi thu hút bà con ở làng tới buôn bán làm thành chợ.

Trước trận Dịch nầy, Ông Bà lập bàn hương án trước chợ rồi nhất tâm khấn nguyện cầu xin dịch bệnh mau qua đi, Ông Bà nguyện thế tử cho cho tất cả dân làng.  Bà bị bệnh chết ngày mùng 9 tháng 6 âm lịch và ông cũng chết vì bệnh ngày hôm sau.  Lạ kỳ là sau khi Ông Bà qua đời, dịch bệnh cũng chấm dứt ở đây.  Dân làng ở làng Mỹ Trà tin rằng gương hy sinh của Ông Bà đã cảm động lòng Trời nên khiến cho dứt bệnh dịch trong làng.  Dân làng lấy tên Câu Lãnh của Ông đặt tên cho Chợ ở đây.  Câu Lãnh lần lần đọc trại là Cao Lãnh. Sau đó vùng đất mở rộng với cùng một tên thành ra tỉnh lỵ rồi thành phố Cao Lãnh ngày hôm nay.  Dân làng có lập miếu thờ Ông Bà. Miếu được trùng tu và mở rộng cho đến ngày nay.

 

 

 

 

Thi sĩ Lãng Ba Phan Văn Bộ là người sinh trưởng ở làng Mỹ Trà, Cao Lãnh có làm bài thơ nhắc lại công đức của Ông Bà và gốc tích của địa danh Cao Lãnh.  Bài thơ nầy làm vào thời Đệ nhất Cộng hòa khi thi sĩ viếng miễu nầy.

 

ÔNG CHỦ CHỢ CAO LÃNH

Muôn miệng như nhau đã nói rành

Câu Đương là chức, Lãnh là danh

Lập làng khó nhọc, công vừa dứt

Cất chợ chăm nom, việc mới thành

Dân đụng giặc trời, cam thọ tử

Ông đền nợ nước, quyết hy sanh

Thoát nàn, bá tánh lo thờ phượng

Miễu đó, ngàn thu rạng tiết lành.

(Lãng Ba) 

25-9-1957 

 

PHAN THƯỢNG HẢI biên soạn

                       Nguồn Gốc Từ ngữ Trung Quốc và Trung Hoa

                                                                              (Phan Thượng Hải)

 

(1)

中國(中国)= Trung Quốc (Zhòng guó) = Middle Kingdom/Country

 

Người Tàu từ đời nhà Hạ (2070-1600 tr CN) cho tới thời Chiến Quốc (473-221 tr CN) gọi mình là người Hoa Hạ để phân biệt với nhiều giống người thiểu số khác (mà người Hoa Hạ gọi là Rợ / Barbarians) sống trong cùng một lãnh thổ.  

Theo thuyết Thiên Mệnh của nhà Tây Chu (từ 2 người con của Chu Văn Vương là Chu Công Đán và Thiệu Công Thích), lãnh thổ Trung Quốc lúc đó gọi là Thiên Hạ (Dưới Trời) có một lãnh tụ tối cao và độc nhất là Thiên Tử (Con Trời), có Thiên Mệnh (Mệnh Trời) cai trị tất cả mọi người.  Thiên tử là vua nhà Chu xưng là Vương (Tây Chu rồi Đông Chu trong thời Xuân Thu và Chiến Quốc).  Lúc đầu từ thời nhà Tây Chu, Thiên Hạ gồm có Trung Quốc là nước của Thiên tử Nhà Chu, các Phương quốc là các nước của các Chư Hầu và đất nước của những người Thiểu số (gọi là Rợ).  

Khi nhà Tần thống nhất Thiên hạ (221 tr CN), chấm dứt thời Chiến Quốc, và Tần Thủy Hoàng Đế làm Thiên tử xưng là Hoàng đế thì Thiên Hạ là Trung Quốc vì không còn Chư hầu và Phương Quốc nữa.  Lúc đó người Hoa Hạ cũng gần như đồng hóa những người Thiểu số (như những người Địch, Nhung, Di, Man, Ba, Thục...) và đã thôn tính đất nước của họ.  Sau đó Nhà Hán thay thế nhà Tần.  Từ đó người Hoa Hạ là người Hán (Hán nhân, Hán tộc).  Danh từ Trung Quốc và Hán tộc tồn tại cho tới ngày nay. 

Lãnh thổ Trung Quốc trong thời gian bắt đầu của nhà Tần ở lưu vực sông Vị, sông Phần Thủy, sông Hoàng Hà và sông Trường Giang (s. Dương Tử); thuộc phía Bắc và Tây Bắc dãy núi Ngũ Lĩnh.  

 

中國(中国)

            = Trung Quốc - Zhòng Guó.  Trung nghĩa là ở chính giữa.  Quốc nghĩa là Nước.  Trung Quốc nghĩa là "Nước ở Chính giữa".

            = Middle Kingdom/Country

 

Nước Tàu tự xưng tên mình là "Trung Quốc" trong suốt thời đại Quân chủ cho tới năm 1911. 

            中國(中国)

            Trung Quốc - Zhòng Guó

            Middle Kingdom

 

(2)

China = Trung Quốc = Middle Kingdom/Country

 

Nước Tàu được người Âu Châu (rồi toàn Thế giới) gọi là China từ thế kỷ thứ 16.

 

- The origin of the word "China" explained by the the European and American:

 

            The word "China" is derived from Cin (چین), a Persian name for China popularized in Europe by Marco Polo. The first recorded use in English dates from 1555. In early usage, "china" as a term for porcelain was spelled differently from the name of the country, the two words being derived from separate Persian words. Both these words are derived from the Sanskrit word Cīna (चीन), used as a name for China as early as AD 150.

            There are various scholarly theories regarding the origin of this word. The traditional theory, proposed in the 17th century by Martino Martini, is that "China" is derived from "Qin"*  (秦, pronounced chin), the westernmost of the Chinese kingdoms during the Zhou Dynasty, or from the succeeding Qin Dynasty (221 – 206 BC). In the Hindu scriptures Mahābhārata (5th century BC) and Manusmṛti (Laws of Manu) (2nd century BC), the Sanskrit word Cīna (चीन) is used to refer to a country located in the Tibeto-Burman borderlands east of India. 

            Another theory is that this word is derived from Yelang, an ancient kingdom in what is now Guizhou whose inhabitants referred to themselves as 'Zina'.

 

* Qin = (nước) Tần

 

Conclusion:

            The name 'China' comes from the Sanskrit Cina (derived from the name of the Chinese Qin Dynasty, pronounced 'Chin') which was translated as 'Cin' by the Persians and seems to have become popularized through trade along the Silk Road from Chinato the rest of the world.

            The name 'China' was popularized in Europe by Marco Polo.

 

- Từ Marco Polo (thế kỷ 16), người Âu Mỹ gọi Nước Tàu là China.  Rồi từ thế kỷ thứ 18, người Âu Mỹ bắt đầu đến và chiếm đất của Nước Tàu.

 

- Người Âu Mỹ dịch 'China' ra tiếng Tàu là 'Zhong Guó', tên đã được dùng cho nước Tàu từ thời nhà Tây Chu:

            In the West, China is of course called China, but in its own language it's known as 'Zhongguó', translating roughly to 'Middle Kingdom. ' Here's everything you need to know. The first known recording of the term 'Zhongguó' comes from a ritual vessel dating around 1000 B.C. called the He Zun

 

- Và giải thích: China = Zhòng Guó = Middle Kingdom/Country = 中國(中国)

            China in mandarin Chinese is called "Zhòng-guó", meaning literally Middle Kingdom/Country. ... But the TODAY the greks don't call their country Hellas, they call it Ellada, and Ellada derives from Hellas.

 

'Zhòng Guó' của Tiếng Tàu đồng nghĩa với 'Middle Kingdom/Country'.  Hán Việt ngữ có âm tương đương và đồng nghĩa là 'Trung Quốc'.

 

中國(中国)

            = (dịch nghĩa là) Middle Kingdom/Country

            = (đọc theo tiếng Tàu là) Zhòng Guó

            = (đọc theo tiếng Hán Việt là) Trung Quốc. 

 

(3)

中華= Trung Hoa (Zhòng huá) = Middle Kingdom/Country = Trung Quốc

 

Sau Cách mạng Tân Hợi (1911), nước Tàu theo chính thể Cộng Hòa. Nước Tàu lần lượt có 2 tên:

            Trung Hoa Dân Quốc (1912-1949)

            Trung Hoa Nhân Dân Cộng Hòa Quốc (1949-now)

 

中華民國

Trung Hoa Dân Quốc - Zhòng Huá Mín Guó

Republic of China = Cộng Hòa Trung Hoa (dịch từ tiếng Anh).

 

中華人民共和國

Trung Hoa Nhân Dân Cộng Hòa Quốc - Zhòng Huá Rén Mín Gòng Hé Guó

People Republic of China = Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa (dịch từ tiếng Anh).

 

Nước Tàu có một tên khác là Trung Hoa.

      中華

            Trung Hoa - Zhòng Huá

 

中華

            = (đọc theo tiếng Tàu là) Zhòng huá

            = (đọc theo tiếng Hán Việt là) Trung Hoa

Tự điển tiếng Tàu và tiếng Hán Việt đều đồng ý:

            Trung Hoa (danh từ riêng) đồng nghĩa với Trung Quốc (danh từ riêng)

            Zhòng huá đồng nghĩa với Zhòng guo

 

中華= (dịch nghĩa là) Middle Kingdom/Country (proper noun).

 

Khi giải thích từ ngữ "Trung Hoa Dân Quốc", Wikipedia dịch ra là "Republic of China" rồi giải thích "China"đồng nghĩa với "Trung Quốc" (Zhòng Guó):

            The official name of the state on the mainland was the "Republic of China*", but it has been known under various names throughout its existence. Shortly after the ROC's establishment in 1912, the government used the short form "China" (Zhōngguó (中國)) to refer to itself, "China" being derived from zhōng ("central" or "middle") and guó ("state, nation-state"),[g] a term that developed under the  Zhou dynasty in reference to its royal demesne, and the name was then applied to the area around Luoyi (present-day Luoyang) during the Eastern Zhou and then to China's Central Plain* before being used as an occasional synonym for the state during the Qing* era. 

 

Republic of China = Trung Hoa Dân Quốc

Central Plain = Trung Nguyên

Qing = (nhà) Thanh 

 

Như vậy, từ ngữ Trung Hoa dùng để chỉ Nước Tàu có nguồn gốc từ đâu?

Chúng ta đã biết nguồn gốc các từ ngữ dùng để chỉ Nước Tàu: Trung Quốc và China.

Chỉ có một giả thuyết mà các sử gia Âu Mỹ không nghĩ ra:

            China = (dịch âm là) Zhòng huá hay Trung Hoa.

Trung Hoa là dịch âm của China, tiếng mà người Âu Mỹ dùng để gọi Nước Tàu.

 

Các dịch giả đã dịch thẳng "Trung Hoa" từ "China":

            Republic of China = Cộng Hòa Trung Hoa (dịch từ tiếng Anh).

            People Republic of China = Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa (dịch từ tiếng Anh).

 

(4)

Tóm lại, trong thời đại ngày nay dùng chữ Quốc Ngữ, "Trung Hoa" và "Trung Quốc" đều có thể dùng đồng nghĩa với Nước Tàu, một nước lớn ở miền bắc nước Việt Nam của chúng ta đã từng có lịch sử liên quan từ vài ngàn năm cho tới bây giờ.  Và Anh ngữ tiếp tục dùng từ ngữ "China" với cùng một nghĩa.

 

 

PHAN THƯỢNG HẢI biên soạn

                                            LỜI THƠ NGUYỄN BỈNH KHIÊM

                                                                            (Bs Phan Thượng Hải)

 

 

Ông Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm đã có những lời nói và câu thơ làm nên và tiên đoán lịch sử.  Ngoài ra ông cũng là một thi sĩ tiền phong về thơ Hán Nôm với nhiều sáng tạo.

 

 

TIỂU SỬ

 

Ông Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491-1585) là người học rộng và giỏi tướng số.  Ông Nguyễn Bỉnh Khiêm nguyên tên là Nguyễn Văn Đạt người làng Trung Am huyện Vĩnh Lại trấn Hải Dương lúc bấy giờ (nay là xã Lý Học huyện Vĩnh Bảo, Hải Phòng).  Vào cuối nhà Hậu Lê, Mạc Đăng Dung chuyên quyền và cướp ngôi nhà Lê (1527); ông ở ẩn, không chịu đi thi làm quan.

 

Về sau khi nước nhà tạm thời yên ổn dưới triều nhà Mạc; ông Nguyễn Bỉnh Khiêm, năm 43 tuổi, ra thi Hương đậu Giải Nguyên, thi Hội thì đậu Hội Nguyên rồi vào thi Đình đậu Trạng Nguyên (1534-1535).  Ông Ngưyễn Bỉnh Khiêm làm quan đến Lại Bộ Thị Lang và Đông Các Đại Học Sĩ thì từ quan năm 1542 (53 tuổi) và về trí sĩ tu hành ở Bạch Vân am nơi quê quán ở làng Trung Am. 

Các vua nhà Mạc vẫn có hỏi ý kiến ông và còn phong cho ông là Lại Bộ Thượng Thư Trình Tuyền Hầu rồi Thái Phó Trình Quốc Công nên tục gọi ông là Trạng Trình.  Ông Nguyễn Bỉnh Khiêm làm quan “tại gia” cho đến năm ông 73 tuổi mới hoàn toàn về hưu.

Ông Trạng Trình cũng cố vấn cho chúa Trịnh Kiểm và chúa Nguyển Hoàng chứ không là tôi thần của riêng triều đình nào hết.  Những lời cố vấn của ông Trạng Trình đều có hiệu quả tốt cho đất nước: Bắc Hà hòa bình và thịnh vượng dưới thời Vua Lê Chúa Trịnh (khoảng 250 năm); nhà Mạc tồn tại thêm 3 đời ở Cao Bằng sau khi mất Thăng Long và nhất là Chúa Nguyễn vào được Nam Hà và diệt Chiêm Thành và chiếm Thủy Chân Lạp, mở rộng lãnh thổ nước Việt ta thành gấp đôi. 

 

Ông Nguyễn Bỉnh Khiêm mất năm 94 tuổi, có 3 vợ và 12 con (7 trai và 5 gái).  Con trai đều đỗ đạt làm quan.  Học trò của ông là ông Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan và ông Lương Hữu Khánh (con của thầy ông là ông Lương Đắc Bằng) đều làm đến Thượng Thư trong triều đình Hậu Lê trung hưng.  Học trò tôn ông là Tuyết Giang phu tử.  Thế kỷ 20, Cao Đài Giáo ở Tây Ninh phong ông là Thanh Sơn Đạo Sĩ hay Thanh Sơn Chân Nhân.

 

Nho Giáo chỉ có về nhân sinh quan truyền sang Đại Việt với 2 nhà Nho tiêu biểu là ông Chu Văn An và ông Nguyễn Trãi.  Nhưng đến thời Tống Nho, anh em Trình Hạo và Trình Di và Chu Hi đưa ra học thuyết Lý Khí (gọi là Lý Học), Nho Giáo có thêm Hình Nhi Thượng và biến thành Tân Nho Giáo.  Ông Nguyễn Bỉnh Khiêm là nhà Nho nước ta tiêu biểu cho sự hiểu biết về Lý Học Tân Nho Giáo.  “An Nam lý học hữu Trình Tuyền” là câu người Tàu khen ông Nguyễn Bỉnh Khiêm tinh thông Lý Học.  Ông Nguyễn Bỉnh Khiêm có tước Trình Tuyền Hầu trước khi được nhà Mạc thăng lên là Trình Quốc Công.

 

 

 

THƠ TIÊN ĐOÁN LỊCH SỬ

 

Ông Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491-1585) sống vào thế kỷ 16 với tên nước là Đại Việt.  Mãi đến năm 1802 (đầu thế kỷ 19), nước ta mới đổi tên là Việt Nam.  Tuy nhiên trong 2 bài thơ gửi cho 2 ông Trạng Nguyên khác, Trạng Nguyên Nguyễn Bỉnh Khiêm đã dùng chữ “Việt Nam” rồi:

 

Thơ gửi Trạng Nguyên Nguyễn Thuyến

 

Trạng Nguyên Nguyễn Thuyến (1495-1557) hiệu là Cảo Xuyên người làng Canh Hoạch huyện Thanh Oai trấn Sơn Nam đỗ Trạng Nguyên năm 1532 (3 năm và 1 khóa trước ông Nguyễn Bỉnh Khiêm) làm quan đến Lại Bộ Thượng Thư tước Thê Quận Công.

 

TÂY HỘ KÝ THANH OAI TRẠNG NGUYÊN NGUYỄN CẢO XUYÊN (*)

Tạc dữ ngã tằng ấp tiếu đàm                       Bữa trước cùng ông mãi tiếu đàm

Bất tài tư xuyễn ngã ưng tàm                      Kém tài tự thẹn dám đâu ham

Khôi tam niên ngã quân đa hạnh                Trạng Nguyên trước tớ ông may nhỉ

Trù nhất thâu quân ngã vị cam                   Trù tính thua ông tớ chửa cam

Hồ học tích niên tằng cộng giảng               Biển học năm nao cùng giảng thuyết

Hán duy kim nhật hữu tường thanh            Việc quân ngày tới lại chung làm

Tiền trình viễn đại quân tu ký                     Đường xa lối rộng ông nên nhớ

Thùy thị thanh danh trọng Việt Nam.         Tiếng để sao cho đẹp Việt Nam.

(Nguyễn Bỉnh Khiêm)                                 (? Dịch)

 

(*) Hộ giá đến miền Tây gửi Thanh Oai Trạng Nguyên Nguyễn Cảo Xuyên.

 

Thơ gửi Trạng Nguyên Giáp Hải

 

Trạng Nguyên Giáp Hải (1504-1586) hiệu là Tiết Trai người làng Công Luận huyện Văn Giang (nay thuộc Hải Hưng) sau đến ở làng Dĩnh Kế huyện Thượng Nhân (nay thuộc Hà Bắc) thi đỗ Trạng Nguyên năm 1538 (3 năm và 1 khóa sau ông Nguyễn Bỉnh Khiêm) làm quan đến Lại Bộ Thượng Thư tước Sách Quận Công.

 

QUY LÃO KÝ LẠI BỘ THƯỢNG THƯ TÔ KHÊ BÁ (*)

Kiểm điểm hành niên thất thập tam           Tuổi đã bảy ba ở cõi phàm

Huyền xa sai vãn dã ưng tàm                     Từ quan muộn, mắc tiếng tham lam

Trì khu tự hứa ta vô lực                              Ruổi rong vẫn biết đà thua kém

Danh lợi hà cầu khởi thị tham?                  Danh lợi chăng cầu há bảo tham

Miễn lực vọng công phù đế thất                 Gắng sức ông chăm phò đế nghiệp

Thâu nhàn tiếu ngã lão Vân Am                Hưởng nhàn tớ ở mãi Vân Am

Thọ tinh cộng chiếu quang mang tại          Thọ tinh vằng vặc trên nền thẳm

Tiền hậu quang huy chiếu Việt Nam.         Sau trước rạng soi đất Việt Nam.

(Nguyễn Bỉnh Khiêm)                                (? Dịch)

 

(*) Về hưu gửi Lại Bộ Thượng Thư Tô Khê Bá (Trạng Nguyên Giáp Hải).

 

 

Theo ông Phan Kế Bính trong Nam Hải Dị Nhân truyện thì ông Nguyễn Bỉnh Khiêm có bài thơ Sấm như sau như là một “tiên tri” về “Lê Mạc phân tranh”

 

LỜI SẤM

Non sông nào phải buổi bình thời

Thù đánh nhau chi khéo nực cười

Cá vực chim rừng ai khiến đuổi

Núi xương sông huyết thảm đầy vơi

Ngựa phi chắc có hồi quay cổ

Thú dữ nên phòng lúc cắn người

Ngán ngẫm việc đời chi nói nữa

Bên đầm say hát nhởn nhơ chơi.

(Phan Kế Bính phỏng dịch)

 

Câu “Ngựa phi chắc có hồi quay cổ” tiên đoán nhà Lê sẽ khôi phục được nước.  Câu “Thú dữ nên phòng lúc cắn người” tiên đoán gia đình Chúa Trịnh sẽ giữ quyền nhà Lê.  Những điều tiên đoán trong bài Sấm nầy đều đúng. 

Tuy nhiên nguyên văn của bài thơ nầy làm bằng chữ Hán tựa đề là Cảm Hứng trong Bạch Vân Am thi tập như sau (chứ không có trong Sấm Trạng):

 

CẢM HỨNG                                                     

Thái hòa vũ trụ bất Ngu Chu (*)                       

Hổ chiến giao tranh tiếu lưỡng thù              

Xuyên huyết sơn hài tùy xứ hữu                  

Uyên ngư tùng trước vị thùy ngu                 

Trùng hưng dĩ bốc độ giang mã                   

Hậu hoạn ưng phòng nhập thất khu             

Thế sự đáo đầu hưu thuyết trước                 

Túy ngâm trạch bạn nhậm nhàn du.             

(Nguyễn Bỉnh Khiêm)                                   

(*) Thời Ngu Thuấn và Chu Văn Vương là những thời thịnh trị theo Nho Gia.

 

Nguyên văn của 2 câu “Ngựa phi chắc có hồi quay cổ/Thú dữ nên phòng lúc cắn người” là “Trùng hưng dĩ bốc độ giang mã/Hậu hoạn ưng phòng nhập thất khu”. 

 

Ông Nguyễn Bỉnh Khiêm làm bài thơ nầy lúc ông đã từ quan tại triều đình nhà Mạc (sau 1542).  Nhà Lê Trung Hưng chiếm Thanh Hóa năm 1543 và chiến tranh Lê Mạc thật sự từ 1545 cho đến khi chấm dứt vào năm 1593 sau khi nhà Lê và chúa Trịnh Tùng chiếm Thăng Long và giết vua Mạc Mậu Hợp (1592) rồi giết Mạc Toàn (con Mạc Mậu Hợp) và Mạc Kính Chỉ (1593).

 

Dưới đây là lịch sử "Lê Mạc phân tranh":

 

Ông Nguyễn Kim lập vua Lê Trang Tông ở Ai Lao năm 1533 chính thức sáng lập nhà Hậu Lê Trung Hưng.  Vua Lê Trang Tông là Hoàng tử Lê Duy Ninh con của Lê Chiêu Tông.

Tục truyền rằng Vua Lê Trang Tông có biệt danh là Chúa Chổm vì lúc hàn vi ông rất nghèo nên thiếu nợ rất nhiều.  Khi ông làm vua, dân chúng kéo tới cung vua ở Thăng Long để đòi nợ.  Điều nầy chỉ là truyền thuyết và không đúng sự thật vì nhà Hậu Lê khôi phục Thăng Long sau khi vua Lê Trang Tông đã qua đời ở Thanh Hóa. 

Sau nầy sử gia cũng nghi ngờ là vua Lê Trang Tông không phải là con của vua Lê Chiêu Tông vì Trang Tông sinh năm 1514 và Chiêu Tông sinh năm 1506.  Nhà Mạc thì tố cáo là ông Nguyễn Kim lập con riêng của mình lên làm vua là Lê Trang Tông.

 

Năm 1543, Nguyễn Kim về chiếm Thanh Hóa (và Nghệ An).  Tướng nhà Mạc là Dương Chấp Nhất đầu hàng rồi 2 năm sau (1545) đầu độc chết ông Nguyễn Kim và trốn về với nhà Mạc.  Rể ông Nguyễn Kim là ông Trịnh Kiểm lên thay làm Thái Sư.

Năm 1546 Mạc Hiến Tông Phúc Hải chết, người con thế ngôi là Mạc Tuyên Tông Phúc Nguyên có chú là Tuyên Vương Mạc Kính Điển làm Phụ Chính.  Tướng Phạm Tử Nghi lập con Thái Tổ là Mạc Chính Trung và làm phản nhưng bị Mạc Kính Điển đánh dẹp và giết chết.

Từ 1545 tới 1580, nhà Mạc (dưới quyền Mạc Kính Điển) và nhà Lê (dưới quyền Trịnh Kiểm rồi Trịnh Tùng) giằng co không thắng bại.  Năm 1562, Mạc Tuyên Tông chết, con là Mạc Mậu Hợp mới 2 tuổi lên làm vua.  Năm 1570, Trịnh Cối thua người em khác mẹ là Trịnh Tùng (cháu ngoại ông Nguyễn Kim) chạy về hàng nhà Mạc. 

Năm 1580, Mạc Kính Điển chết (em là Mạc Đôn Nhượng thay), nhà Mạc suy yếu.  Năm 1591 Trịnh Tùng tiến sát Thăng Long bắt được Tướng Nguyễn Quyện của nhà Mạc nhưng rút quân.  Năm 1592, Trịnh Tùng chiếm Thăng Long.  Mạc Mậu Hợp thua ở Hải Dương bị bắt và bị giết.  Con Mạc Mậu Hợp là Mạc Toàn cũng bị bắt và bị giết (1593).

Mạc Kính Chỉ (con Mạc Kính Điển) tự lập làm vua (1593) nhưng 3 tháng sau bị thua 2 tướng Hoành Đình Ái và Nguyễn Hữu Liêu của Trịnh Tùng ở Hải Dương và bị giết.

 

 

LỜI NÓI LÀM NÊN LỊCH SỬ

 

Từ những câu thơ trong đời ông tiên đoán đúng lịch sử, ông Nguyễn Bỉnh Khiêm cũng có những câu nói bất hủ làm nên lịch sử:

 

(1)

"Cao Bằng tuy thiểu khả diên sổ thế"

 

Sau khi mất Thăng Long, theo lời khuyên trên đây của ông Nguyễn Bỉnh Khiêm, nhà Mạc rút về vùng Cao Bằng và tồn tại 85 năm sau (1593-1677) với 3 đời vua. 

Mạc Kính Cung (1593-1594): em Mạc Kính Chỉ, con thứ 7 của Mạc Kính Điển

Mạc Kính Khoan (1594-1628): cháu kêu Kính Cung bằng chú

Mạc Kính Vũ (1628-1677): con Kính Khoan.  Năm 1677, tướng Đinh Văn Tả của chúa Trịnh chiếm Cao Bằng.  Mạc Kính Vũ trốn sang Tàu.

Nhà Mạc tuy ở Cao Bằng được nhà Minh ở miền Nam ủng hộ nhưng không bao giờ mượn quân Tàu sang tiếp viện.

 

Nguyên văn của lời khuyên: “Cao Bằng tuy tiểu, khả diên sổ thế” (Cao Bằng tuy nhỏ nhưng có thể kéo dài nhiều thế hệ).

Câu nói nầy của ông Nguyễn Bỉnh Khiêm làm nên lịch sử. 

 

 

(2)

"Giữ Chùa thờ Phật thì được ăn oản"

 

Nhà Lê Trung Hưng bắt đầu khi ông Nguyễn Kim lập con của Lê Chiêu Tông là Lê Trang Tông (1533).  Vua Lê Trung Tông (con Trang Tông) chết (1556), không có con. 

Tục truyền rằng Thái Sư Trịnh Kiểm đã lưỡng lự muốn xưng làm Vua nhưng còn chưa dám định hẳn bề nào, các quan cũng không ai biết làm thế nào cho phải.  Sau Trịnh Kiểm cho người đi lẽn ra Hải Dương hỏi ông Nguyễn Bỉnh Khiêm tức là Trạng Trình xem nên làm thế nào.  Ông Nguyễn Bỉnh Khiêm không nói gì cả chỉ ngảnh lại bảo đầy tớ: “Năm nay mất mùa thóc giống không tốt, chúng mày nên tìm giống cũ mà gieo mạ”.  Nói rồi lại sai đầy tớ ra chùa bảo Tiểu quét dọn chùa và đốt hương để ông ra chơi chùa rồi bảo Tiểu rằng: “Giữ chùa thờ Phật thì (được) ăn oản”.  Sứ giả về kể chuyện lại cho Trịnh Kiểm nghe.  Trịnh Kiểm hiểu ý mới cho người đi tìm con cháu họ Lê.

(Trần Trọng Kim/VNSL).

 

Nhờ đó vua Lê và chúa Trịnh cùng cai trị Bắc Hà yên tịnh khoảng 250 năm. 

 

Trong lịch sử, Chúa Trịnh có giết 3 vua Lê (Anh Tông, Kính Tông và Phế Đế Duy Phường) và 1 Thái tử (của vua Hiển Tông) nhưng không bao giờ tiêu diệt nhà Lê. 

Nhà Lê Trung Hưng bắt đầu khi ông Nguyễn Kim lập con của Lê Chiêu Tông là Lê Trang Tông (1533).  Vua Lê Trung Tông (con Trang Tông) chết (1556), không có con.  Theo lời khuyên của Trạng Trình, Thái sư Trịnh Kiểm không tự lập làm vua mà lập ông Lê Duy Bang là cháu 5 đời của Lam Quốc Công Lê Trừ (anh thứ hai của Thái Tổ Lê Lợi) làm vua là vua Lê Anh Tông.  Theo gia phả, vua Lê Anh Tông là vai ông của vua Lê Trung Tông (ông lên làm vua thế cháu).

Năm 1573, Lê Anh Tông đã muốn tự lập khỏi Chúa Trịnh Tùng (con Trịnh Kiểm) khi ông nầy tranh quyền với anh là Trịnh Cối nhưng không xong nên cùng 4 người con lớn, chạy trốn vào Nghệ An.  Sau khi Trịnh Cối thua và hàng nhà Mạc thì vua Anh Tông bị bắt rồi bị Trịnh Tùng giết chết.  Con thứ năm của Anh Tông là Duy Đàm vì còn nhỏ tuổi (7 tuổi) không chạy theo vua cha được, ở lại kinh đô (Thanh Hóa) nên được Chúa Trịnh Tùng lập làm vua là Lê Thế Tông.  Trong thời vua Lê Thế Tông (vị vua thứ tư của nhà Lê Trung Hưng 1573-1599), nhà Lê và chúa Trịnh Tùng chiếm lại Thăng Long (1592).    

Vua Lê Kính Tông Duy Thái (con Thế Tông) mưu với Trịnh Xuân (con thứ của Trịnh Tùng) lật đỗ Chúa Trịnh Tùng nhưng việc không thành nên Trịnh Tùng buộc vua Lê Kính Tông phải thắt cổ chết và lập Thái tử Lê Duy Kỳ làm vua là Lê Thần Tông vào năm 1619 (lúc 13 tuổi).

 

Vua Lê Thần Tông (1607-1662) làm vua lần thứ nhứt (1619-1643) và lần thứ nhì (1649-1662).  Vua tên là Lê Duy Kỳ là con trưởng của vua Lê Kính Tông và Hoàng hậu Trịnh thị Ngọc Trinh (con gái của Chúa Trịnh Tùng).  Do đó vua Lê Thần Tông là cháu nội của Vua Lê Thế Tông và cháu ngoại của Chúa Trịnh Tùng. 

Năm 1630, Chúa Trịnh Tráng (con Trịnh Tùng) ép Lê Thần Tông (24 tuổi) phải lấy con gái mình là Trịnh thị Ngọc Trúc làm Hoàng hậu.  Lúc đó bà Trịnh thị Ngọc Trúc nầy (36 tuổi) đã có 4 con và chồng là Lê Trụ đang bị giam trong ngục.  Hoàng hậu Trịnh thị Ngọc Trúc không có sinh hoàng tử và sau đó đi tu ở chùa Bút Tháp (ở Bắc Ninh).  Năm 1643, Lê Thần Tông nhường ngôi cho con là Lê Duy Hựu (là vua Lê Chân Tông) lên làm Thái Thượng Hoàng.  Năm 1649, Lê Chân Tông (1630-1649) chết không có con nên Chúa Trịnh Tráng đưa Thái Thượng Hoàng Lê Thần Tông lên ngôi làm vua lần thứ nhì.  Năm 1662, vua Lê Thần Tông chết vì ung thư.

Vua Lê Thần Tông theo Chúa Trịnh đánh chúa Nguyễn tất cả 3 lần.

Vua Lê Thần Tông có những kỷ lục của một vị vua Việt Nam: làm vua 2 lần, có 4 người con làm vua (bằng với vua Trần Minh Tông) và là vua đầu tiên lấy vợ người Tây phương (người Hòa Lan, con gái của một thuyền trưởng).

 

Bốn vị vua là con của Lê Thần Tông là:

Lê Chân Tông (1630-1649) lên ngôi năm 1643.

Lê Huyền Tông (1654-1671) lên ngôi năm 1662

Lê Gia Tông (1661-1675) lên ngôi năm 1671

Lê Hy Tông (1663-1716) lên ngôi năm 1676 rồi năm 1705 nhường ngôi cho con trưởng là Lê Dụ Tông và làm Thái Thượng Hoàng cho đến khi mất.  Vua Lê Hy Tông sanh ra 5 tháng sau khi cha mình là Lê Thần Tông qua đời.  Đời ông làm vua là thời thạnh trị của nhà Hậu Lê Trung Hưng vì Bắc Hà không còn chiến tranh.  Chiến tranh Trịnh Nguyễn (1627-1672) xảy ra trong thời Thần Tông, Chân Tông, Huyền Tông và Gia Tông (trong thời chúa Trịnh Tráng và Trịnh Tạc). 

 

Lê Dụ Tông (1679-1731) làm vua từ năm 1705.  Năm 1727, Chúa Trịnh Cương phế con trưởng của Lê Dụ Tông là Lê Duy Trường và lập con thứ là Duy Phường (mẹ là dòng họ Trịnh).  Biết là Lê Dụ Tông bất bình, Trịnh Cương ép vua nhường ngôi cho Duy Phường và lên làm Thái Thượng Hoàng (1729).  Dụ Tông mất năm 1731 thì đến năm sau (1732), Chúa Trịnh Giang phế Lê Đế Duy Phường thành Hôn Đức Công và lập Duy Trường làm vua là Lê Thuần Tông.  Năm 1735, Lê Thuần Tông qua đời, Chúa Trịnh Giang lập em là Duy Thận là vua Lê Ý Tông và 2 tháng sau thắt cổ Hôn Đức Công Duy Phường. 

Năm 1740, mẹ của Chúa Trịnh Giang truất phế Trịnh Giang (1711-1762), tôn là Thái Thượng Vương, giam lỏng trong cung (cho đến khi mất vào năm 1762) và lập em (Trịnh Giang) là Chúa Trịnh Doanh.  Chúa Trịnh Doanh liền bắt vua Lê Ý Tông làm Thái Thượng Hoàng (1740), nhường ngôi cho con trưởng Duy Diêu là Lê Hiển Tông (1717-1786). 

Vua Lê Hiển Tông giữ niên hiệu Cảnh Hưng trong 47 năm làm vua cho đến khi mất (1786).  Lê Duy Mật là con Lê Dụ Tông nổi lên chống lại Chúa Trịnh ở Thanh Hóa, phải 40 năm mới dẹp được (1740-1770).  Chúa Trịnh Sâm (con Trịnh Doanh) giết con trưởng của Hiển Tông là Duy Vỹ, giam con là Duy Khiêm với 2 người em của Duy Khiêm và lập Duy Cận (em Duy Vỹ) làm Thái Tử.  Năm 1783, Kiêu Binh truất phế Duy Cận thành Sùng Nhượng Công và lập Duy Khiêm làm Hoàng Thái Tôn.  Lê Duy Khiêm (sau đổi tên là Duy Kỳ) lên ngôi sau khi Lê Hiển Tông qua đời là vua Lê Chiêu Thống.  Vua Lê Thần Tông và vua Lê Chiêu Thống có trùng tên là Duy Kỳ. 

 

(3)

"Hoành Sơn nhất đái vạn đại dung thân"

 

Cuối đời nhà Mạc, ông Nguyễn Kim (1468-1545) phò vua Lê Trang Tông ở Thanh Hóa mong chiếm lại đất nước từ nhà Mạc.  Ông Nguyễn Kim bị hàng tướng nhà Mạc là Dương Chấp Nhất thuốc độc chết, binh quyền thuộc về rể là ông Trịnh Kiểm (1503-1570).  Thái Sư Trịnh Kiểm kiếm cớ định tội giết con của ông Nguyễn Kim là Lãng Quận Công Nguyễn Uông.  Đoan Quận Công Nguyễn Hoàng (em Nguyễn Uông) hỏi ý kiến ông Trạng Trình (phải làm sao?) thì câu trả lời bất hủ là:

 

“Hoành Sơn nhất đái, vạn đại dung thân” (Hoành Sơn một dãy, muôn đời dung thân).

 

Ông Nguyễn Hoàng liền nhờ chị là Ngọc Bảo xin với chồng là ông Trịnh Kiểm vào trấn thủ đất Thuận Hóa, nam của Hoành Sơn thì được chấp thuận.

Năm 1558, ông Nguyễn Hoàng (1525-1613) dẫn mấy ngàn dân quân vượt Đèo Ngang của Hoành Sơn vào Thuận Hóa (gồm tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị và Thừa Thiên bây giờ).  Năm 1569, ông kiêm nhiệm Trấn Thủ Quảng Nam (gồm tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi và Qui Nhơn) và sau đó năm 1611 vượt đèo Cù Mông (giữa Bình Định và Phú Yên) chiếm Phú Yên đến biên giới Tuy Hòa (Phú Yên) và Khánh Hòa (Nha Trang) bây giờ.  Đèo Cù Mông là đèo hiểm trở nhất nước Việt dài 7 km, cao 245 m và dốc 9%.  Nước Chiêm Thành chỉ còn Khánh Hòa (Nha Trang), Phan Rang và Phan Thiết.

Năm 1653, chúa Nguyễn Phúc Tần chiếm Nha Trang (Khánh Hòa)

Năm 1693, chúa Nguyễn Phúc Chu sai Chưởng Cơ Nguyễn Hữu Cảnh chiếm Phan Rang và Phan Rí (Phan Thiết).  Nước Chiêm Thành bị tiêu diệt.

 

Dưới thời chúa Nguyễn, nước Đại Việt chiếm trọn vùng Thủy Chân Lạp của nước Chân Lạp lập thành Nam Kỳ.  Việc thành hình của đất Nam Kỳ chính thức từ ông Nguyễn Hữu Cảnh lập Dinh Trấn Biên và Dinh Phiên Trấn năm 1698 cho đến năm 1759 dưới thời ông Nguyễn Cư Trinh hoàn tất và ổn định Dinh Long Hồ.

Nam Kỳ Lục Tỉnh hình thành năm 1759 với 3 Dinh: Trấn Biên (tỉnh Biên Hòa), Phiên Trấn (tỉnh Gia Định) và Long Hồ. 

Ông Nguyễn Cư Trinh (1716-1767) trấn Dinh Long Hồ đóng ở đất Tầm Phào (tỉnh lỵ Vĩnh Long bây giờ) từ năm 1753 đến năm 1765.  Dinh Long Hồ gồm 4 tỉnh Định Tường, Vĩnh Long, An Giang và Hà Tiên. 

 

Câu “Vạn đại dung thân” không phải chỉ ám chỉ con cháu của ông Nguyễn Hoàng mà thật sự là dùng cho con cháu của dân Việt.  Nhờ ông Nguyễn Hoàng vượt Hoành Sơn mà lãnh thổ nước Việt trải dài đến mũi Cà Mau với vùng đồng bằng trù phú ở Nam Kỳ đã giúp cho toàn dân được “vạn đại dung thân”? 

Ông Nguyễn Bỉnh Khiêm thật là một thiên tài, một câu nói làm nên lịch sử.

 

CHÚA NGUYỄN HOÀNG

Nghe lời quan Trạng quá Đèo Ngang

Mạo hiểm Tiên phong, Chúa Nguyễn Hoàng

Trọng dụng nhân tài an Thuận Quảng

Nương nhờ địa lợi thủ Linh Giang

Đàng Trong nước Việt dân hùng mạnh

Nghiệp cả trời Nam đất mở mang

Vạn đại thành công truyền hậu duệ

Dung thân khai quốc tự Hoành San.

(Phan Thượng Hải)

1/18/15

 

 

SẤM TRẠNG TIÊN ĐOÁN LỊCH SỬ

 

Sấm Trạng Trình hay Sấm Ký Nguyễn Bỉnh Khiêm là những lời được cho là có tính cách tiên tri về các sự kiện lịch sử của dân Việt trong khoảng 500 năm (1509-2019).

Bản chánh gọi là Sấm Ký bản A có 262 câu (thơ) gồm 14 câu “cảm đề” và 248 câu “sấm ký”.  Ngoài ra còn có 20 bản khác gồm 7 bản chữ Hán Nôm và 20 tựa sách chữ Quốc Ngữ về Sấm Trạng Trình từ năm 1948.

Trong Trang Thơ của Nguyễn Bỉnh Khiêm có những bản Sấm Trạng:

Bản Hán Nôm: Nguyễn Văn Bân, Nguyễn Văn Sâm

Bản Quốc Ngữ: Hoàng Xuân, Hương Sơn, Mai Lĩnh, Nguyễn Quân, Sở Cuồng.

 

Sấm Ký bản A có 8 câu dưới đây (câu 43-50) là tiên đoán đúng lịch sử của cuối thế kỷ 18 (của nhà Nguyễn Tây Sơn).

 

Chim bằng cất cánh về đâu

Chết tại trên đầu hai chữ quận công

Bao giờ trúc mọc qua sông

Mặt trời sẽ lại đỏ hồng non tây

Đoài cung một sớm đổi thay

Chấn cung sao cũng sa ngay chẳng còn

Đầu cha lộn xuống chân con

Mười bốn năm tròn hết số thì thôi.

 

 

(1)

Chim bằng cất cánh về đâu

Chết tại trên đầu hai chữ quận công

 

Hai câu nầy nói về Bằng Quận Công Nguyễn Hữu Chỉnh vào thời Tây Sơn diệt chúa Nguyễn và chúa Trịnh.

 

Ông Nguyễn Hữu Chỉnh (? -1787) là danh sĩ Bắc Hà thời vua Lê Hiển Tông, văn võ song toàn (16 tuổi đậu Hương Cống và 18 tuổi đậu Võ Cử Nhân).  Tục thế gọi ông là Cống

Chỉnh.  Ông bỏ vào Đàng Trong theo phò Tây Sơn (1782). 

 

Nhà Nguyễn Tây Sơn nổi lên ở ấp Tây Sơn (thuộc huyện Phù Ly, nay là làng An Khê, huyện Phù Cát, Qui Nhơn) vào năm 1771 với 3 anh em là Nguyễn Nhạc (?-1793), Nguyễn Huệ (1753-1792) và Nguyễn Lữ (1754-1787).  Ba anh em nầy là con của ông Hồ Phi Phúc, đổi thành họ Nguyễn để thu phục nhân tâm. 

Hai năm sau, ông Nguyễn Nhạc chiếm Qui Nhơn (1773).  Nhân cơ hội đó Chúa Trịnh Sâm sai Hoàng Ngũ Phúc chiếm kinh đô Phú Xuân của Chúa Nguyễn (1774). 

Chúa Nguyễn Định Vương Nguyễn Phúc Thuần chạy vào Gia Định (Nam Kỳ) rồi lập cháu mình (con cố Thái tử Nguyễn Phúc Hiệu) là ông Nguyễn Phúc Dương làm Đông Cung (người sẽ nối ngôi).

 

Chúa Nguyễn Định Vương Nguyễn Phúc Thuần nhờ quân Nguyễn ở Nam Kỳ dưới quyền của Trấn Thủ dinh Long Hồ Tống Phúc (Phước) Hiệp (?-1776) để chống lại Tây Sơn.  Ông Nguyễn Nhạc tự xưng là Tây Sơn Vương ở Qui Nhơn (1776), cầu hòa với Chúa Trịnh rồi sai 2 em là Nguyễn Huệ và Nguyễn Lữ vào Nam diệt chúa Nguyễn (1777).  Định Vương Nguyễn Phúc Thuần (gọi là Thái Thượng Vương), Đông Cung Tân Định Vương Nguyễn Phúc Dương (gọi là Tân Định Vương) và hoàng tộc của chúa Nguyễn đều bị ông Nguyễn Huệ giết hết.  Năm 1778, ông Nguyễn Nhạc không thần phục Chúa Trịnh, tự xưng là Thái Đức Đế. 

Con ông Nguyễn Phúc Luân là ông Nguyễn Phúc Ánh (cháu kêu Định Vương bằng chú) tự xưng Vương (1780), dùng những người thường dân là ông Đỗ Thành Nhơn (?-1781) rồi ông Châu Văn Tiếp (1738-1784) để khôi phục Nam Kỳ.  Ông Đỗ Thành Nhơn lộng quyền bị Nguyễn Vương giết (1781) còn ông Châu Văn Tiếp bị thương nặng trong trận đánh với Tây Sơn ở sông Măng Thít (nay thuộc Vĩnh Long) rồi qua đời (1784). 

Chiến tranh ở Nam Kỳ giữa Tây Sơn và Nguyễn Vương Phúc Ánh chấm dứt khi ông Nguyễn Huệ của Tây Sơn thắng trận Rạch Gằm Xoài Mút (nam Cái Bè, Mỹ Tho) vào năm 1784.  Quân Xiêm tiếp viện Nguyễn Vương Phúc Ánh từ Vĩnh Long theo sông Tiền Giang tiến về tấn công quân Tây Sơn Nguyễn Huệ đóng ở Mỹ Tho.  Ông Nguyễn Huệ phục binh ở 2 bên bờ và trong những cồn ở giữa sông Tiền Giang giữa 2 cửa sông phụ lưu Rạch Gằm và Xoài Mút, tiêu diệt 2 vạn quân Xiêm La.  Hai tướng Xiêm là Chiêu Tăng và Chiêu Sương (đều là cháu của vua Xiêm) cùng vài ngàn quân sống sót lội bộ theo đường Tây Ninh qua Chân Lạp để đi về xứ.  Nguyễn Vương từ Trấn Giang (Cần Thơ bây giờ) cùng Thái giám Lê Văn Duyệt và 10 người tùy tùng phải trốn qua Xiêm La (Thái Lan). 

 

Năm 1786, theo kế ly gián của ông Nguyễn Hữu Chỉnh, ông Nguyễn Huệ và ông Vũ Văn Nhậm chiếm Phú Xuân và sau đó chiếm đất Thuận Hóa.  Thế là Nam Hà (Đàng Trong) hoàn toàn thuộc nhà Tây Sơn. 

Năm 1786, ông Nguyễn Nhạc tự xưng là Trung Ương hoàng đế (vẫn niên hiệu Thái Đức) đóng đô ở Quy Nhơn phong cho ông Nguyễn Lữ là Đông Định Vương ở Nam Kỳ đóng ở Gia Định và ông Nguyễn Huệ là Bắc Bình Vương trấn từ đèo Hải Vân tới sông Gianh (đóng ở Phú Xuân).  Ông Nguyễn Huệ là một tướng giỏi vô địch trong Việt Sử “chiến thắng không hề chiến bại”, còn có tên là Nguyễn Văn Huệ hay Nguyễn Quang Bình.

 

Sau đó ông Nguyễn Huệ sai ông Nguyễn Hữu Chỉnh đi trước theo đường biển vào cửa Đại An của sông Đáy theo sông Nam Định đến sông Hồng rồi chiếm kho lương ở Vị Hoàng (vùng đất có khúc sông nhỏ cùng tên chảy từ sông Hồng vào Nam Định).  Biết quân Trịnh chưa kịp phòng thủ, ông Nguyễn Huệ theo đường bộ qua Nghệ Tĩnh và Thanh Hóa đến hội ở Vị Hoàng.  Từ Vị Hoàng quân Tây Sơn đánh bại bộ binh của Bùi Thế Dận ở Đông An (gần Hưng Yên?) và đánh bại thủy quân của Đinh Tích Nhưỡng ở góc sông Luộc và sông Hồng.  Quân Tây Sơn lại thắng quân của chúa Trịnh Khải và Hoàng Phùng Cơ ở hồ Vạn Xuân (Thanh Trì, Hà Nội).  Chúa Trịnh Khải chạy về Sơn Tây nhưng bị tên Nguyễn Trang bắt giải về nộp cho Tây Sơn.  Chúa Trịnh Khải dùng gươm cắt cổ tự tận.  Bắc Bình Vương cho tống táng chúa Trịnh Khải và vào Thăng Long chầu vua Lê Hiển Tông.

 

Sau khi cưới Ngọc Hân công chúa (con Lê Hiển Tôn) rồi Hiển Tôn mất và cháu nội là Duy Kỳ lên ngôi là Lê Chiêu Thống, ông Nguyễn Huệ và Vũ Văn Nhậm về Phú Xuân (Huế) và để Nguyễn Hữu Chỉnh giữ Nghệ An. 

 

Trịnh Bồng (con Chúa Trịnh Giang, anh chú bác với chúa Trịnh Sâm) tự lập làm Chúa.  Ông Nguyễn Hữu Chỉnh theo về phò Lê Chiêu Thống, đánh bại chúa Trịnh Bồng, được phong Đại Tư Đồ Bằng Quận Công và nắm quyền ở Bắc Hà chống lại Tây Sơn.  Chúa Trịnh Bồng bỏ đi tu rồi mất tích. 

 

Từ Bắc Hà ông Nguyễn Hữu Chỉnh có 2 câu gửi vào Đàng Trong:

 

Đường trời mở rộng thênh thang

Ta đây cũng một trào đàng kém ai

 

Từ Đàng Trong, Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ trả lời:

 

Ai ra Đông Hải nhắn lời cùng

Lông cánh bao nhiêu dám vẫy vùng

Hồng Lĩnh bên kia bể bên nọ

Bay thì mắc núi đậu thì cung.

 

Chỉ một thời gian ngắn ông Nguyễn Huệ sai ông Vũ Văn Nhậm cùng 2 tâm phúc của mình là ông Ngô Văn Sở và ông Phan Văn Lân ra Bắc Hà.  Tháng 11 năm Đinh Tỵ (1787), ông Vũ Văn Nhậm phá quân ông Nguyễn Hữu Chỉnh ở làng Thanh Quyết (nay thuộc Gia Viễn, Ninh Bình) rồi ở Châu Cầu (nay thuộc Kim Bảng, Hà Nam).  Vua Lê Chiêu Thống chạy ra Kinh Bắc (Bắc Ninh) cầu cứu nhà Thanh.  Ông Nguyễn Hữu Chỉnh chạy về Yên Thế đóng quân ở Mục Sơn (?) thì bị tướng Tây Sơn là Nguyễn Văn Hòa lên đánh và bắt sống.  Ông Nguyễn Hữu Chỉnh bị xé xác ở Thăng Long theo lệnh của ông Vũ Văn Nhậm và thịt để cho chó ăn.

 

 

(2)

Bao giờ trúc mọc qua sông

Mặt trời sẽ lại đỏ hồng non Tây

 

Hai câu nầy nói về chiến tranh giữa nhà Mãn Thanh Trung Quốc và vua Quang Trung của Tây Sơn.  Quân Thanh chiếm Thăng Long (có cất một cầu tre bắt qua sông Hồng Hà) và quân Tây Sơn chiến thắng huy hoàng như ánh mặt trời.

 

Cuối năm 1787, Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ rút quân về Phú Xuân để Đại Tư Mã Ngô Văn Sở, Nội Hầu Phan Văn Lân và ông Ngô Thì Nhậm trấn giữ Bắc Hà.  Vua Càn Long của nhà Thanh bên Tàu sai Tổng Đốc Lưỡng Quảng Tôn Sĩ Nghị làm chánh tướng cùng Hứa Thế Hanh, Sầm Nghi Đống và Trương Triều Long đem 20-29 vạn quân sang đánh nước Đại Việt.  Vua Lê Chiêu Thống cùng quân “Cần Vương” của mình ủng hộ quân Thanh.  Quân nhà Thanh chiếm đóng Thăng Long đặt những đồn lũy chung quanh. Quân Tây Sơn của ông Ngô Văn Sở và ông Phan Văn Lân rút về thủ ở đèo Tam Điệp (còn gọi là đèo Ba Dội) tại Thanh Hóa.  Tôn Sĩ Nghị cho cất một cầu tre bắt qua sông Hồng Hà (ứng với câu: bao giờ trúc mọc qua sông) 

 

Ông Nguyễn Huệ lên ngôi là vua Quang Trung Hoàng Đế (đầu năm 1788), Thái Đức Đế Nguyễn Nhạc đã gần mất Nam Kỳ về tay Nguyễn Vương Phúc Ánh, tự xuống làm Tây Sơn Vương ở Quy Nhơn, nhường đất Quảng Nam cho ông Nguyễn Huệ. 

Vua Quang Trung đem mấy vạn quân ra bắc hội với 6 vạn quân của 2 ông Ngô Văn Sở và Phan Văn Lân ở Tam Điệp (tổng cộng là 10 vạn quân).  Theo lời khuyên của một ẩn sĩ ở Nghệ An là La Sơn Phu Tử Nguyễn Thiếp, vua Quang Trung quyết định đánh nhanh (và đánh mạnh), liền chia ra 5 cánh quân tiến ra bắc.

 

Đêm 30 Tết Kỷ Dậu xuất phát từ núi Tam Điệp, vua Quang Trung cùng với ông Ngô Văn Sở và ông Phan Văn Lân dẫn cánh quân thứ nhứt (cánh quân chủ lực) tiến thẳng về hướng bắc theo đường Hà Nam chiếm 2 đồn của quân Cần Vương Lê Chiêu Thống: đồn Nguyệt Quyết (nay ở Thanh Liêm, Hà Nam) và đồn Nhật Tảo (nay ở Duy Tiên, Hà Nam).  Mùng 3 Tết vua Quang Trung vây đồn Hà Hồi, 20 km nam Thăng Long (nay ở Thường Tín, Hà Nội), quân Thanh không kịp phòng bị phải đầu hàng.  Mùng 4 Tết, quân của vua Quang Trung đến đóng trước đồn Ngọc Hồi, 15 km nam Thăng Long (nay ở Thanh Trì, Hà Nội) là nơi có lực lượng chính của quân Thanh do Đề Đốc Hứa Thế Hanh và Tổng Binh Trương Triều Long cầm đầu. 

 

Trong khi đó (mùng 4 Tết) Đô Đốc Long (còn gọi là Đô Đốc Mưu), tên là Nguyễn Tăng Long, dẫn một cánh quân Tây Sơn thứ nhì từ Tam Điệp bọc theo đường Hà Tây qua Chương Đức (nay là Chương Mỹ, Hà Tây), qua cầu Nhân Mục của sông Tô Lịch chiếm đồn Khương Thượng, Sầm Nghi Đống bị vây ở 1 gò đất không thoát được phải tự tử.  Đêm mùng 4 Tết, Đô Đốc Long chiếm đồn Nam Đồng. Tôn Sĩ Nghị ở cung Tây Long (đông Thăng Long) hoãng sợ bỏ chạy, vua Lê Chiêu Thống cũng chạy theo, quân Thanh dành nhau qua cầu sông Nhị Hà trốn về Tàu.  Đồn Khương Thượng (còn gọi là Đống Đa) và đồn Nam Đồng ở tây nam Thăng Long (nay thuộc Đống Đa, Hà Nội).  Sử cũ thường gọi những trận đánh nầy của Đô Đốc Nguyễn Tăng Long là trận Đống Đa.  (Vua Quang Trung không có đánh trận Đống Đa).   

 

Sáng mùng 5 Tết vua Quang Trung tấn công và chiếm đồn Ngọc Hồi, Hứa Thế Hanh tử trận.  Quân Thanh chạy về hướng Thăng Long thì bị cánh quân thứ ba là 1 cánh quân bên trái của cánh quân vua Quang Trung (cũng theo đường Hà Nam), do Đô Đốc Bảo (tên là Đặng Xuân Bảo) cầm đầu chận đánh ở Đầm Mực (tây bắc Ngọc Hồi), Trương Triều Long bị giết chết.  Vua Quang Trung vào Thăng Long ngày mùng 5 Tết (30-1-1788) được Đô Đốc Long đón tiếp.

 

Quân Tôn Sĩ Nghị trên đường chạy về Tàu bị Đô Đốc Tuyết (tên là Nguyễn Văn Tuyết) chận đánh ở Hải Dương phải chạy lên hướng bắc thì bị Đô Đốc Lộc (tên là Nguyễn Văn Lộc) phục kích một trận ở Lạng Giang.

 

(3)

Đoài cung một sớm đổi thay

Chấn cung sau cũng sa ngay chẳng còn

Đầu cha lộn xuống chân con

Mười bốn năm tròn hết số (kiếp) thì thôi.

 

Hai câu trên nói về số phận của vua “em” Quang Trung Nguyễn Huệ (cung Đoài, làm em) sẽ chết trước vua “anh” Thái Đức Nguyễn Nhạc (cung Chấn, làm anh). 

Theo hai câu dưới, từ vua “cha” Quang Trung lên ngôi (1778) cho đến vua “con” Cảnh Thịnh mất ngôi và bị giết (1802) thì vừa đúng 14 năm.  Theo Hán tự, trong chữ Quang có chữ Tiểu ở trên đầu và trong chữ Cảnh có chữ Tiểu ở dưới chân.

 

Bốn năm sau khi thắng quân Thanh (1792) vua Quang Trung bành trướng quân đội (cứ 3 người đàn ông thì tuyển 1 người làm lính).  Chính sử cho rằng nhà vua muốn đánh nước Tàu (hay chiếm Lưỡng Quảng).  Vua Quang Trung chuẩn bị sai sứ giả là ông Vũ Văn Dũng sang Tàu cầu hôn và đòi đất Lưỡng Quảng (của Triệu Đà ngày xưa) để thử triều đình nhà Thanh.  Nhưng sứ thần là ông Vũ Văn Dũng chưa khởi hành thì chẳng may vua Quang Trung bất ngờ bị bệnh và qua đời.  Vua thọ 40 tuổi.

 

Nguyễn Vương Phúc Ánh (1762-1820) là con của ông Nguyễn Phúc Luân, là cháu kêu chúa Định Vương bằng chú và là cháu nội của Chúa Võ Vương Nguyễn Phúc Khoát.  Ông là hoàng tộc của chúa Nguyễn độc nhất còn sống sót nhà Tây Sơn. 

Năm 1787, khi Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ bận rộn ở Bắc Hà, Nguyễn Vương Phúc Ánh trở lại chiếm toàn bộ Nam Kỳ (1789), Nguyễn Lữ thua chạy về Qui Nhơn, đi tu rồi mất một thời gian ngắn sau đó. 

Theo đường bộ, Nguyễn Vương chiếm đến Phú Yên.  Ông Nguyễn Huỳnh Đức thắng một trận lớn ở đèo Cù Mông. Đèo Cù Mông là đèo hiểm trở nhất nước Việt dài 7 km, cao 245 m và dốc 9%.  Nhờ đó đường bộ đuợc khai thông cho quân Nguyễn Vương tiến lên hướng bắc tấn công Qui Nhơn (kinh đô của Tây Sơn Vương Nguyễn Nhạc). 

Sau 3 lần tấn công, Nguyễn Vương chiếm được Qui Nhơn và đổi tên là Bình Định (1799).  Sau khi giải vây Qui Nhơn lần thứ nhất, quân Tây Sơn của vua Cảnh Thịnh từ Phú Xuân vào Quy Nhơn tịch thu tài sản và kho tàng của Hoàng Đế Nguyễn Nhạc nên ông tức giận thổ huyết mà chết.  Con là Nguyễn Bảo chỉ được ăn lộc 1 huyện, tước là Hiến Công (Sử gọi là Tiểu Triều).  Tiểu Triều Nguyễn Bảo muốn hàng Nguyễn Vương nhưng bị em chú bác là vua Cảnh Thịnh hay được, bắt dìm xuống sông cho chết (1798). 

 

Trong nội loạn ở Phú Xuân (1795), Tổng trấn Bắc Thành Ngô Văn Sở và cha con Thái sư Bùi Đắc Tuyên và Bùi Đắc Trụ bị Vũ Văn Dũng giết (bằng cách dìm dưới sông Hương).  Trần Quang Diệu và Vũ Văn Dũng cầm quyền, vào đánh Bình Định (Qui Nhơn).  Trần Quang Diệu vây thành Qui Nhơn còn thủy quân của Vũ Văn Dũng giữ cửa Thị Nại.  Theo kinh nghiệm của đèo Cù Mông, Nguyễn Vương tránh đường bộ và đèo Hải Vân nên dùng đường thủy và “thủy quân lục chiến”.

 

Nguyễn Vương cho rao truyền câu đồng dao ở các vùng của Tây Sơn:

 

“Lạy Trời cho chóng gió Nồm (*)

Cho thuyền Chúa Nguyễn giong buồm thẳng ra”

 

(*) Gió từ Nam thổi ra Bắc.

 

Năm 1801, theo đường biển, Nguyễn Vương đem các ông Lê Văn Duyệt và Võ Di Nguy đánh cửa Thị Nại.  Võ Di Nguy tử trận nhưng nhờ ông Lê Văn Duyệt tiếp tục tấn công, Nguyễn Vương chiếm được Thị Nại, Vũ Văn Dũng thua về với Trần Quang Diệu tiếp tục vây thành Quy Nhơn.  Ông Võ Tánh (và ông Ngô Tòng Châu) liều chết giữ thành Qui Nhơn cầm chưn quân chủ lực của Tây Sơn và gửi mật thư khuyên Nguyễn Vương Phúc Ánh đánh chiếm Phú Xuân.  Nguyễn Vương cho ông Nguyễn Văn Thành đóng ở Thị Nại chận đường thủy của quân Tây Sơn ở Qui Nhơn rồi Vương theo đường biển đi về phương bắc vào chiếm Quảng Nam (1801).  Ông để ông Nguyễn Huỳnh Đức đóng ở Quảng Nam chận đường bộ tiếp viện Phú Xuân của Trần Quang Diệu từ Qui Nhơn.  Trong khi Trần Quang Diệu và Vũ Văn Dũng hạ thành Qui Nhơn, Nguyễn Vương Phúc Ánh đem ông Nguyễn Văn Trương và Lê Văn Duyệt cũng theo đường biển vào cửa Thuận An theo sông Hương vào chiếm Phú Xuân (Huế), vua Cảnh Thịnh chạy ra Bắc Hà. 

Đầu năm 1802, Vua Cảnh Thịnh sai em là Nguyễn Quang Thùy và bà Bùi Thị Xuân (vợ ông Trần Quang Diệu) đánh lũy Trấn Ninh và cửa Nhật Lệ (thuộc Đồng Hới, Quảng Bình).  Nguyễn Vương Phúc Ánh cùng ông Đặng Trần Thường và Phạm Văn Nhân giữ lũy Trấn Ninh và cho ông Nguyễn Văn Trương đánh bại thủy quân Tây Sơn ở cửa Nhật Lệ.  Bộ binh Tây Sơn ở trước lũy Trấn Ninh bỏ chạy. 

Từ đó quân Tây Sơn tan vỡ, lục quân của ông Lê Văn Duyệt và ông Lê Chất cùng với thủy quân của ông Nguyễn Văn Trương tiến chiếm Bắc Hà dễ dàng, bắt toàn thể hoàng gia nhà Tây Sơn.  Ông Trần Quang Diệu và Vũ Văn Dũng đã phải từ Quy Nhơn theo đường Ai Lao rút về Bắc Hà nên cũng bị bắt.  Vua Cảnh Thịnh và tất cả hoàng gia và tướng của Tây Sơn đều bị vua Gia Long giết chết (1802).

 

 

THI PHẨM

 

Hậu thế luôn nhắc đến 1 bài thơ tiêu biểu của ông Nguyễn Bỉnh Khiêm về “triết lý Nhàn” của ông:

 

NHÂN TÌNH THẾ THÁI BÀI 38 (CẢNH NHÀN)

Một mai một cuốc một cần câu

Thơ thẩn dầu ai vui thế nào

Ta dại, ta tìm nơi vắng vẻ

Người khôn, người đến chốn lao xao

Thu ăn măng trúc, đông ăn giá

Xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao

Rượu đến gốc cây ta sẽ nhắp

Nhìn xem phú quí tựa chiêm bao.

(Nguyễn Bỉnh Khiêm)

 

Thật ra ông Nguyễn Bỉnh Khiêm có để lại 3 tác phẩm về Thơ: 

Quyển Bạch Vân Am Thi Tập gồm một số ít thơ Đường Luật cổ điển dùng chữ Hán. 

Quyển Bạch Vân Gia Huấn dùng chữ Hán Nôm theo thể Song Thất Lục Bát. 

Nhưng quan trọng nhất là quyển Bạch Vân Quốc Ngữ Thi Tập gồm những bài thơ Đường Luật TNBC cổ điển hoặc theo Hàn Luật dùng chữ Hán Nôm.

 

 

THƠ HÀN LUẬT

 

Tục truyền rằng ông Hàn Thuyên (1229-?) có cải cách thơ Đường bằng những luật mới như dùng câu 6 chữ (1) hay ngắt nhịp 3,4 (thay vì 4,3) hoặc dùng thủ vỹ ngâm (2).  Thủ vỹ ngâm là câu đầu và câu cuối của bài thơ giống nhau. 

Hậu thế gọi là Hàn Luật.  Các ông Nguyễn Sĩ Cố, Chu Văn An và Lê Quý Ly có làm thơ Hán Nôm như ông Hàn Thuyên nhưng đều thất lạc vì Bắc thuộc thời nhà Minh.  Thơ Hán Nôm mới thấy lại vào đời nhà Hậu Lê bắt đầu từ ông Nguyễn Trãi.  

 

Đây là một những bài thơ Hán Nôm của ông Nguyễn Trãi dùng Hàn Luật (mà sau nầy cũng thấy trong thơ Hồng Đức và thơ của ông Nguyễn Bỉnh Khiêm). 

 

HOA SEN

Lầm nhơ chẳng bén, tốt hòa thanh

Quân tử không kham được thửa danh

Gió đưa hương, đêm nguyệt lạnh (1)

Riêng làm của, có ai tranh. (1)

(Nguyễn Trãi)

 

THỦ VỸ NGÂM

Góc thành Nam, lều một gian (1) (2)

No nước uống, thiếu cơm ăn (1)

Ao bởi hẹp hòi khôn thả cá

Nhà quen thú thứa ngại nuôi vằn (*)

Con đòi trốn dường ai quyến (1)

Bà ngựa gầy thiếu kẻ chăn (**) (1)

Chẳng phải triều quan chẳng phải ẩn

Góc thành Nam, lều một gian. (1) (2)

(Nguyễn Trãi)

 

(*) Thú thứa=xú xứa=xuề xòa=xuềnh xoàng.  Vằn=chó vằn, con chó

(**) Bà ngựa=con ngựa, như gọi là ông voi thay vì con voi.

 

 

Ông Nguyễn Bỉnh Khiêm cũng dùng thơ Đường Luật theo thể Hàn Luật dĩ nhiên dùng chữ Hán Nôm (mà lúc đó ông đã gọi là Quốc Ngữ): có câu 6 chữ (1) và Thủ Vỹ Ngâm (2) như những bài dưới đây.

 

NHÂN TÌNH THẾ THÁI BÀI 2 (AN PHẬN THÌ HƠN)

Giàu ba bữa khó hai niêu (1)

An phận thì hơn hết mọi điều

Khát uống trà mai hơi ngút ngút

Sốt kề hiên nguyệt gió hiu hiu

Giang sơn tám bức là tranh vẽ

Hoa cỏ tư mùa ấy gấm thêu

Thong thả đêm khuya nằm sớm thức

Muôn vàn đã đội đức trời Nghiêu.

(Nguyễn Bỉnh Khiêm)

 

 

VÔ ĐỀ

 

Rất nhân sinh bảy tám mươi (1) (2)

Làm chi lảo đảo nhọc lòng người

Bạch Vân am vắng chim kêu muộn

Kim Tuyết dòng thanh cá mát tươi

Ưu ái một niềm hằng nhớ chúa

Công danh hai chữ đã nhường người

Giàu lẫn khó yên đòi phận (1)

Rất nhân sinh bảy tám mươi (1) (2)

 

Thanh nhàn hưởng được tính từ nhiên

Non nước cùng ta đã có duyên

Dắng dỏi bên tai cầm suối (1)

Dập dìu trước mặt tán sen (1)

Xuân về, hoa nở mùi hương nức

Khách đến, chim mừng dáng mặt quen

Chốn ấy thanh nhàn được thú (1)

Lọ là Bồng Đảo mới tiên. (1)

 

(Nguyễn Bỉnh Khiêm)

 

 

Tuy nhiên thơ Hàn Luật của ông Nguyễn Bỉnh Khiêm còn cải cách xa hơn nữa.  Như bài “Vô Đề” ở trên, ông dùng 2 bài thơ Bát Cú cho 1 đề tài.  Kế đến ông Nguyễn Bỉnh Khiêm còn có dùng câu 5 chữ (3) và còn làm 1 bài thơ Lục Cú tức là chỉ có 6 câu thay vì 8 hay 4 câu (4)

 

THÚ DƯỠNG THÂN

Phú quý bởi thời vần (3)

Tu luyện lâu bền thú dưỡng thân

Hứng ý miệng ngâm câu quốc ngữ

Giải phiền tay chuốc chén quỳnh xuân

Đường hoa chào khách mặt nhìn mặt (5)

Ngõ hạnh đưa người chân ngại chân (5)

Dẫu có ai than thì sẽ nhủ:

Thái bình thiên tử thái bình dân. (5)

(Nguyễn Bỉnh Khiêm)

 

THÚ TIÊU DAO (4)

Xóm tự nhiên lều một căn (1)

Quét không thây thẩy bụi hồng trần

Nhìn hàng cam quít con đòi cũ

Mấy gã ngư tiều lừa bạn thân

Thấy nguyệt tròn thì kể tháng (1)

Nhìn hoa nở mới hay xuân. (1)

(Nguyễn Bỉnh Khiêm)

 

 

THƠ ĐƯỜNG LUẬT

 

Trong bài thơ Đường Luật TNBC chính thống hay Hàn Luật, ông Nguyễn Bỉnh Khiêm cũng có những kỹ thuật tân tiến như dùng chữ lập lại trong câu 7 chữ (5):

 

THÚ DƯỠNG THÂN

Phú quý bởi thời vần

Tu luyện lâu bền thú dưỡng thân

Hứng ý miệng ngâm câu quốc ngữ

Giải phiền tay chuốc chén quỳnh xuân

Đường hoa chào khách mặt nhìn mặt (5)

Ngõ hạnh đưa người chân ngại chân (5)

Dẫu có ai than thì sẽ nhủ:

Thái bình thiên tử thái bình dân. (5)

(Nguyễn Bỉnh Khiêm)

 

THÚ NHÀN

Lẩn thẩn ngày qua lại tháng qua

Một năm xuân tới một phen già

Ái ưu vằng vặc trăng in nước

Danh lợi lâng lâng gió thổi hoa

Án sách vẫn còn án sách cũ (5)

Nước non bạn với nước non nhà (5)

Cuộc cờ đua chí dù cao thấp

Ta muốn thanh nhàn thú vị ta.

(Nguyễn Bỉnh Khiêm)

 

NHÂN TÌNH THẾ THÁI BÀI 20 (THẾ GIAN BIẾN ĐỔI)

Thế gian biến đổi vũng nên đồi

Mặc lạt chua cay lẫn ngọt bùi

Còn bạc còn tiền còn đệ tử (5)

Hết cơm hết gạo hết ông tôi (5)

Xưa nay vẫn trọng người chân thực

Ai nấy nào ưa kẻ đãi bôi

Ở thế mới hay người thế bạc

Giàu thì tìm đến khó tìm lui.

(Nguyễn Bỉnh Khiêm)

 

 

Ông Nguyễn Bỉnh Khiêm còn dùng thể Độc Vận và Song Ngữ:

 

DẠI KHÔN

Làm người có dại mới nên khôn

Chớ dại ngây si chớ quá khôn

Khôn được ích mình đừng rẻ dại

Dại thì giữ phận chớ tranh khôn

Khôn mà hiểm độc là khôn dại

Dại vốn hiền lành ấy dại khôn

Chớ cậy rằng khôn khinh kẻ dại

Gặp thời, dại cũng hóa thành khôn.

(Nguyễn Bỉnh Khiêm)

 

Đời sau có thi sĩ “nối nghiệp”:

 

DẠI KHÔN (Họa)

Ong óng đua nhau nói dại khôn

Biết ai là dại biết ai khôn

Khôn mê tửu sắc là khôn dại

Dại chốn thiền môn ấy dại khôn

Khôn ấy không tiền, khôn ấy dại

Dại mà phiền nhiễu, dại mà khôn

Đố ai rõ đặng trong khôn dại

Mới gọi là người biết dại khôn.

(Cai Tổng Lê Quang Chiểu)

 

DẠI KHÔN (Họa)

Thiên hạ đua nhau nói dại khôn

Biết ai là dại biết ai khôn

Khôn nghề cờ bạc là khôn dại

Dại chốn văn chương ấy dại khôn

Mấy kẻ nên khôn đều có dại

Làm người có dại mới nên khôn

Chữ khôn ai cũng khôn là thế

Mới biết trần gian kẻ dại khôn.

(Tú Tài Trần Tế Xương)

 

DẠI KHÔN (Họa)

Vũ trụ càn khôn có dại khôn

Nhân sinh định kiến dại hay khôn

Lương tâm thiện tánh, tình không dại

Nhân nghĩa lợi danh, trí biết khôn

Lắm lúc tày khôn thành quá dại

Đôi khi giả dại thế mà khôn

Người khôn từng trải điều khôn dại

Kẻ dại luận bàn chuyện dại khôn.

(Phan Thượng Hải)

11/13/2019

 

 

KẾT LUẬN

 

Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm được biết như một nhà tiên tri nhưng ít người biết ông là một người đức độ khiêm nhường, một học giả thông thái, có tài làm thơ rất hay góp phần cho nền văn học nước ta và là một chính trị gia lỗi lạc: với những câu nói đơn giản ông đã làm nên lịch sử hòa bình lâu dài và mở rộng địa lý của nước Việt. 

 

Nho Giáo muốn bình trị Thiên Hạ nhưng trong lịch sử Nho Gia từ Khổng Tử cho đến Vương Dương Minh ở Trung Quốc cũng như các ông Chu Văn An, Nguyễn Trãi, Lê Quý Đôn, Nguyễn Công Trứ… ở Việt Nam không có một ai thành công làm an dân lợi nước rộng lớn và lâu dài trong sự khiêm nhường như ông Nguyễn Bỉnh Khiêm.

 

Sấm Trạng Trình của ông cũng tiên đoán đúng lịch sử của nhà Nguyễn Tây Sơn. 

 

 

TRẠNG TRÌNH NGUYỄN BỈNH KHIÊM

 

Công nghiệp Trạng Trình giúp quốc gia

An dân lợi nước bậc tài ba

Khéo khuyên cộng hưởng dòng Lê Trịnh

Hữu ích về cho xứ Bắc Hà

Họ Nguyễn tuân theo lời viễn thị

Phương Nam mở rộng đất bao la

Bỉnh Khiêm tri túc bình thiên hạ

Người Việt nhờ ơn được thái hòa.

 

Mai danh ẩn tích tánh khiêm hòa

Sấm ký tiên tri biết chuyện xa

Cửa Khổng nhân sinh đà hiểu thấu

Sân Trình vũ trụ đã thông qua

Thi từ cải cách nền văn học

Chính kiến thành công việc nước nhà

Thông thái minh tâm không vị lợi

Đức tài đệ nhất rạng Nho Gia.

 

(Phan Thượng Hải)

10/22/16

 

 

Bs PHAN THƯỢNG HẢI biên soạn

 

Bài nầy đăng lần đầu trong phanthuonghai.com phần Văn Thơ mục Đọc Thơ.

 

Tài Liệu Tham Khảo:

            Phần "Thơ và Sử" trong phanthuonghai.com

                        Nguyễn Bỉnh Khiêm (Phan Thượng Hải)

                        Nguyễn Hoàng (Phan Thượng Hải)

                        Nguyễn Hữu Chỉnh (Phan Thượng Hải)

                        Quang Trung (Phan Thượng Hải)

                        Gia Long (Phan Thượng Hải)

            Trang Thơ Nguyễn Bỉnh Khiên Thi Viện Net

MỪNG LỄ PHỤC SINH

Thế giới đón mừng lễ Phục Sinh

Làm Người từng trải nghĩa hy sinh

Thiện tâm đưa lối về thiên quốc (*)

Khiêm ái dẫn đường hướng tái sinh

Cầu nguyện chân thành qua khốn khổ

Đức tin bền vững giúp tồn sinh

Giê-su tín ngưỡng truyền hy vọng

Ơn phước nhân loài có phục sinh.

Phan Thượng Hải

4/10/20 

Good Friday 2020

(*) Thiên quốc = Nước trời = Kingdom of heaven.

              THƠ ĐƯỜNG LUẬT THẤT NGÔN BÁT CÚ

                                                                                (Bs Phan Thượng Hải)

 

THỂ THƠ ĐƯỜNG LUẬT THẤT NGÔN BÁT CÚ

 

Thể thơ áp dụng cho một bài hay đoạn thơ 8 câu và 7 chữ (Thất Ngôn Bát Cú).

 

Đường Luật Thất Ngôn Bát Cú là căn bản của thơ Đường Luật.  Từ đó có thể suy ra cách làm những thơ Đường Luật khác như ĐL Ngũ Ngôn Bát Cú, ĐL Thất Ngôn Tứ Tuyệt và ĐL Ngũ Ngôn Tứ Tuyệt.

 

1) Số Câu và Số Chữ trong mỗi Câu

 

Bài thơ ĐLTNBC phải gồm có 8 câu (bát cú) và số chữ trong mỗi câu nhất định là 7 (thất ngôn).

 

2) Cách Gieo Vần

 

Vần là những tiếng thanh âm hòa hiệp đặt vào hai hoặc nhiều câu văn để hưởng ứng nhau.  (Chữ Hán là Vận).

Suốt bài thơ chỉ hiệp theo một vần (tức là theo lối Độc Vận).

Trong một bài Bát Cú có 5 vần gieo ở cuối câu đầu (câu 1) và cuối các câu chẵn (câu 2,4,6 và 8).  Vì Vần ở cuối câu nên chỉ có Cước Vận.  Thường dùng vần Bằng, rất hiếm khi dùng vần Trắc. 

Ngược lại chữ cuối của những câu lẻ còn lại (câu 3,5 và 7) phải Đối Thanh với những Vần.  Nếu dùng Vần Bằng thì những chữ cuối câu 3,5 và 7 phải là Trắc.

 

Thí Dụ 1=Vần Bằng/Bằng Trắc của chữ cuối câu

 

Ao thu lạnh lẻo nước trong veo (VB)

Một chiếc thuyền con bé tẻo teo (VB)

Sóng nước theo làn hơn gợn tí (T)

Lá vàng trước gió sẻ đưa vèo (VB)

Tầng mây lơ lửng trời xanh ngắt (T)

Ngỏ trúc quanh co khách vắng teo (VB)

Tựa gối ôm cần lâu chẳng đặng (T)

Cá đâu đớp đọng dưới chân bèo (VB)

 

Thí Dụ 2=Vần Bằng/Bằng Trắc của chữ cuối câu

 

Bước đến đèo Ngang bóng (t) xế tà (VB)

Cỏ cây chen đá lá chen hoa (VB)

Lom khom dưới núi tiều vài chú (T)

Lác đác bên sông rợ mấy nhà (VB)

Nhớ nước đau lòng con quốc quốc (T)

Thương nhà mỏi miệng cái gia gia (VB)

Dừng chân ngoảnh lại trời non nước (T)

Một mảnh tình riêng ta với ta (VB)

 

3) Âm thanh = Luật Bằng Trắc trong mỗi Câu

 

* Khởi Luật Bằng và hay Khởi luật Trắc

 

Khởi Luật Bằng là luật thơ bắt đầu bằng tiếng Bằng ở chữ thứ 2 của câu đầu.  Khởi Luật Trắc là luật thơ bắt đầu bằng tiếng Trắc ở chữ thứ 2 của câu đầu.

 

Thí Dụ 1=Khởi Luật Bằng

 

Ao thu (B) lạnh lẻo nước trong veo (VB)

Một chiếc thuyền con bé tẻo teo (VB)

Sóng nước theo làn hơn gợn tí (T)

Lá vàng trước gió sẻ đưa vèo (VB)

Tầng mây lơ lửng trời xanh ngắt (T)

Ngỏ trúc quanh co khách vắng teo (VB)

Tựa gối ôm cần lâu chẳng đặng (T)

Cá đâu đớp đọng dưới chân bèo (VB)

 

Thí Dụ 2=Khởi Luật Trắc

 

Bước đến (T) đèo Ngang bóng xế tà (VB)

Cỏ cây chen đá lá chen hoa (VB)

Lom khom dưới núi tiều vài chú (T)

Lác đác bên sông rợ mấy nhà (VB)

Nhớ nước đau lòng con quốc quốc (T)

Thương nhà mỏi miệng cái gia gia (VB)

Dừng chân ngoảnh lại trời non nước (T)

Một mảnh tình riêng ta với ta (VB)

 

* Niêm

 

Hai câu thơ Niêm với nhau khi nào chữ thứ 2 của hai câu cùng theo một luật (hoặc cùng là bằng hoặc cùng là trắc, thì thành ra bằng niêm với bằng trắc niêm với trắc).  Trong bài ĐLTNBC: câu 1 Niêm với câu8, câu 2 với câu 3, câu 4 với câu 5, câu 6 với câu 7.

 

Thí Dụ 1=Khởi Luật Bằng/Niêm (Bằng Trắc của chữ thứ 2)

 

Ao thu (B) lạnh lẻo nước trong veo (VB)

Một chiếc (T) thuyền con bé tẻo teo (VB)

Sóng nước (T) theo làn hơn gợn tí (T)

vàng (B) trước gió sẻ đưa vèo (VB)

Tầng mây (B) lơ lửng trời xanh ngắt (T)

Ngỏ trúc (T) quanh co khách vắng teo (VB)

Tựa gối (T) ôm cần lâu chẳng đặng (T)

đâu (B) đớp đọng dưới chân bèo (VB)

 

Thí Dụ 2=Khởi Luật Trắc/Niêm (Bằng Trắc của chữ thứ 2)

 

Bước đến (T) đèo Ngang bóng xế tà (VB)

Cỏ cây (B) chen đá lá chen hoa (VB)

Lom khom (B) dưới núi tiều vài chú (T)

Lác đác (T) bên sông rợ mấy nhà (VB)

Nhớ nước (T) đau lòng con quốc quốc (T)

Thương nhà (B) mỏi miệng cái gia gia (VB)

Dừng chân (B) ngoảnh lại trời non nước (T)

Một mảnh (T) tình riêng ta với ta (VB)

 

 

* Bằng Trắc trong mỗi Câu và Lệ Bất Luận

 

Trong bài thơ Thất Ngôn thì chữ thứ 1, 3 và 5 trong mỗi câu không cần đúng luật (Nhất, Tam, Ngũ bất luận).  Tuy nhiên nếu chữ thứ 5 giữ đúng luật thì âm của bài thơ hay hơn rất nhiều.

Thực tế trong một câu Thất Ngôn, nếu chữ thứ 2 là Trắc thì chữ thứ 4 là Bằng và chữ thứ 6 là Trắc.  Ngược lại nếu chữ thứ 2 là Bằng thì chữ thứ 4 là Trắc và chữ thứ 6 là Bằng.  (Nhị, Tứ, Lục phân minh).

 

Thí Dụ 1=

Khởi Luật Bằng/Niêm (Bằng Trắc của chữ thứ 2)/Bằng Trắc của chữ thứ 4, 6

 

Ao thu (B) lạnh lẻo (T) nước trong (B) veo (VB)

Một chiếc (T) thuyền con (B) bé tẻo (T) teo (VB)

Sóng nước (T) theo làn (B) hơn gợn (T) tí (T)

vàng (B) trước gió (T) sẻ đưa (B) vèo (VB)

Tầng mây (B) lửng (T) trời xanh (B) ngắt (T)

Ngỏ trúc (T) quanh co (B) khách vắng (B) teo (VB)

Tựa gối (T) ôm cần (B) lâu chẳng (T) đặng (T)

đâu (B) đớp đọng (T) dưới chân (B) bèo (VB)

 

Thí Dụ 2=

Khởi Luật Trắc/Niêm (Bằng Trắc của chữ thứ 2)/Bằng Trắc của chữ thứ 4, 6

 

Bước đến (T) đèo Ngang (B) bóng xế (T) tà (VB)

Cỏ cây (B) chen đá (T) lá chen (B) hoa (VB)

Lom khom (B) dưới núi (T) tiều vài (B) chú (T)

Lác đác (T) bên sông (B) rợ mấy (T) nhà (VB)

Nhớ nước (T) đau lòng (B) con quốc (T) quốc (T)

Thương nhà (B) mỏi miệng (T) cái gia (B) gia (VB)

Dừng chân (B) ngoảnh lại (T) trời non (B) nước (T)

Một mảnh (T) tình riêng (B) ta với (T) ta (VB)

 

* Luật Bằng Trắc của chữ thứ 5 của mỗi câu thì theo Luật: theo thứ tự từ câu 1 đến câu 8 là T, T, B, T, B, T, B, T.

 

Thí Dụ 1=Bằng Trắc của chữ thứ 5

 

Ao thu (B) lạnh lẻo (T) nước (t) trong (B) veo (VB)

Một chiếc (T) thuyền con (B) bé (t) tẻo (T) teo (VB)

Sóng nước (T) theo làn (B) hơn (b) gợn (T) tí (T)

Lá vàng (B) trước gió (T) sẻ (t) đưa (B) vèo (VB)

Tầng mây (B) lơ lửng (T) trời (b) xanh (B) ngắt (T)

Ngỏ trúc (T) quanh co (B) khách (t) vắng (B) teo (VB)

Tựa gối (T) ôm cần (B) lâu (b) chẳng (T) đặng (T)

Cá đâu (B) đớp đọng (T) dưới (t) chân (B) bèo (VB)

 

Thí Dụ 2=Bằng Trắc của chữ thứ 5

 

Bước đến (T) đèo Ngang (B) bóng (t) xế (T) tà (VB)

Cỏ cây (B) chen đá (T) lá (t) chen (B) hoa (VB)

Lom khom (B) dưới núi (T) tiều (b) vài (B) chú (T)

Lác đác (T) bên sông (B) rợ (t) mấy (T) nhà (VB)

Nhớ nước (T) đau lòng (B) con (b) quốc (T) quốc (T)

Thương nhà (B) mỏi miệng (T) cái (t) gia (B) gia (VB)

Dừng chân (B) ngoảnh lại (T) trời (b) non (B) nước (T)

Một mảnh (T) tình riêng (B) ta (b) với (T) ta (VB)

 

4) Tiết Tấu

 

Tiết tấu nghĩa đen là nhịp nhàng.  Tiết tấu là do cách ngắt một câu thơ thành từng đoạn dài ngắn khác nhau.

Có 3 cách ngắt: (1) 4 chữ rồi 3 chữ (2) 2 chữ rồi 5 chữ (3) 2 chữ rồi 2 chữ rồi 3 chữ

 

Thí Dụ (1): /Bước đến đèo Ngang/ bóng xế tà/

Thí Dụ (2): /Nhớ nước/ đau lòng con quốc quốc/

                   / Thương nhà/ mỏi miệng cái gia gia/

Thí Dụ (3): /Tựa gối/ ôm cần/ lâu chẳng đặng/

 

5) Phép Đối

 

Đối là đặt hai câu đi sóng đôi cho Ý và Chữ trong hai câu ấy cân xứng với nhau.

Đối Ý là tìm hai ý tưởng cân nhau mà đặt thành hai câu sóng nhau.

Đối Chữ thì vừa phải Đối Thanh vừa phải Đối Loại.

Đối Thanh tức là Bằng đối với Trắc và Trắc đối với Bằng.

Đối Loại là phải đặt một hay hai chữ cùng tự loại để đối nhau (như cùng Danh từ, Động từ, Tỉnh từ, Giới từ…).

Trong bài Bát Cú: Câu 3 đối với câu 4, Câu 5 đối với câu 6.

Thực tế chỉ cần Đối Chữ là bắt buộc.  Vì luật bất luận nên chữ thứ 1 và 3 của hai câu không bắt buộc Đối Thanh với nhau (Đối không chỉnh nhưng được chấp nhận/Thí Dù 2)

 

Thí Dụ 1=Đối Chỉnh

 

Bước đến (T) đèo Ngang (B) bóng (t) xế (T) tà (VB)

Cỏ cây (B) chen đá (T) lá (t) chen (B) hoa (VB)

 

Lom khom (B) dưới núi (T) tiều (b) vài (B) chú

Lác đác (T) bên sông (B) rợ (t) mấy (T) nhà (VB)

Nhớ nước (T) đau lòng (B) con (b) quốc (T) quốc

Thương nhà (B) mỏi miệng (T) cái (t) gia (B) gia (VB)

 

Dừng chân (B) ngoảnh lại (T) trời (b) non (B) nước

Một mảnh (T) tình riêng (B) ta (b) với (T) ta (VB)

 

Thí Dụ 2=Đối không cần chỉnh vì Luật Bất Luận

 

Ao thu (B) lạnh lẻo (T) nước (t) trong (B) veo (VB)

Một chiếc (T) thuyền con (B) bé (t) tẻo (T) teo (VB)

 

Sóng(*) nước (T) theo làn (B) hơn (b) gợn (T) tí

Lá(*) vàng (B) trước gió (T) sẻ (t) đưa (B) vèo (VB)

Tầng  mây (B) lơ(*) lửng (T) trời (b) xanh (B) ngắt

Ngỏ trúc (T) quanh(*) co (B) khách (t) vắng (B) teo (VB)

 

Tựa gối (T) ôm cần (B) lâu (b) chẳng (T) đặng

Cá đâu (B) đớp đọng (T) dưới (t) chân (B) bèo (VB)

 

(*): Đối Thanh không chỉnh.

 

6) Bố Cục

 

Bài thơ Bát Cú có 4 phần: Đề, Thực, Luận, Kết

Đề: gồm có Phá Đề (câu 1) là mở bài và Thừa Đề (câu 2) là nối câu Phá mà vào bài.

Thực hay Trạng (câu 3 và 4): là giải thích đầu bài cho rõ ràng.

Luận (câu 5 và 6): là bàn bạc cho rộng nghĩa đầu bài.

Kết (câu 7 và 8): là tóm ý nghĩa cả bài mà thắt lại.

 

Tuy nhiên trên thực tế Bố Cục cũng giống như một bài văn gồm có: Nhập Đề (Đề), Thân Bài (Thực hay Luận hay Thực và Luận) và Kết Luận (Kết). 

 

Thí Dụ 1=Đề, Thực, Luận, Kết

 

(Phá Đề)

Bước đến đèo Ngang bóng xế tà

(Thừa Đề)

Cỏ cây chen đá lá chen hoa

(Thực/Trạng)

Lom khom dưới núi tiều vài chú

Lác đác bên sông rợ mấy nhà

(Luận)

Nhớ nước đau lòng con quốc quốc

Thương nhà mỏi miệng cái gia gia

(Kết)

Dừng chân ngoảnh lại trời non nước

Một mảnh tình riêng ta với ta

 

Thí Dụ 2=Nhập Đề, Thân Bài, Kết Luận

 

(Nhập Đề = Đề )

Ao thu lạnh lẻo nước trong veo

Một chiếc thuyền con bé tẻo teo

(Thân Bài = Thực)

Sóng nước theo làn hơn gợn tí

Lá vàng trước gió sẻ đưa vèo

Tầng mây lơ lửng trời xanh ngắt

Ngỏ trúc quanh co khách vắng teo

(Kết Luận = Kết)

Tựa gối ôm cần lâu chẳng đặng

Cá đâu đớp đọng dưới chân bèo.

 

 

7) Vần Trắc

 

Bài ĐL Thất Ngôn Bát Cú Vần Trắc cũng giống như Vần Bằng chỉ khác là Câu 1, 2, 4, 6 và 8 là Vần Trắc và chữ cuối câu 3, 5 và 7 là Bằng.  Muốn cho âm hay hơn, chữ thứ 5 phải theo thứ tự: B, B, T, B, T, B, T, B.

 

Thí Dụ:

 

Nhậu sớm nhậu trưa chiều (b) cũng nhậu (VT)

Đường đời phó mặc ai (b) tranh đấu (VT)

Bạc nhiều: cỏ nhác chế (t) đa (B)

Tiền ít: la ve hòa (b) dược chẩu (VT)

Xiêu tới ngã lui thấy (t) muốn rầu (B)

Mửa rồi uống nữa cho (b) thêm xấu (VT)

Đánh con chửi vợ mắng (t) chòm giềng (B)

Mang tiếng mang nghèo mang (b) bịnh hậu. (VT)

 

 

 

CÁCH LÀM MỘT BÀI THƠ THEO THỂ ĐL THẤT NGÔN BÁT CÚ

 

Áp dụng thể Đường Luật Thất Ngôn Bát Cú, một bài thơ có thể là:

            Đoản Thiên: Bát Cú (Chánh Thể hay Biến Thể).

Tràng Thiên gồm nhiều Đoạn Bát Cú (có thể  hay không cần nối nhau bằng Thể Liên Hoàn hay Liên Hoàn Biến Thể).

Họa Vận là cái thú đặc sắc của ĐL.  Có khi 2 bài thơ cho cùng một Đề Tài.

 

 

1) Đoản Thiên Bát Cú/Chính Thể

 

Thí Dụ 1 = BẢO ĐẠI THOÁI VỊ

 

Nỏ tiếc không thương cái bệ rồng

Ngựa xe cờ đỏ đến Thăng Long

Trải qua non nước nhìn quanh rạng

Ngảnh lại lâu đài bỏ trống không

Gió tạc cành thu chim ngái tổ

Trăng soi cửa cấm nhện giăng mùng

Có ai vô Nội cho mình hỏi

Thần tử còn lưa lại mấy ông.

 

(Ưng Bình Thúc Giạ Thị)

 

 

Thí Dụ 2 = KHÓC LINH PHƯỢNG

 

Chăn gối cùng nhau những ấm êm

Bỗng làm ngọc nát, bỗng châu chìm

Đầm đìa giọt thảm khăn hồng thấm

Lạnh lẽo đêm xuân giấc mộng tìm

Hình dáng mơ màng khi thức ngủ

Tiếng hơi quanh quẩn nếp y xiêm

Bảy năm vui khổ, nghìn năm biệt

Sớm gió chiều mưa lắm nỗi niềm !

 

(Đông Hồ)

 

 

Thí Dụ 3 = THƠ THÁCH HỌA CÁC CỤ ĐỒ

 

Đôi lời nhắn nhủ bạn làng Nho

Thơ thẩn thẩn thơ khéo thẫn thờ

Con cóc Nghè Huỳnh đuôi cọc lóc

Nàng thơ Ấm Hiếu mũi thò lò

Chai to chai nhỏ con cầy béo

Câu thánh câu thần đĩa mực khô

Nắn nót miễn sao nên bốn vế

Chẳng thơ thì cũng cóc cần thơ.

 

(Lưu Trọng Lư)

 

Thí Dụ 4 = PHỔ THÔNG MƯỜI NĂM CẢM NGHĨ

 

Mười năm chỉ một bước đầu thôi

Nghiệp chướng đành mang hết nợ đời

Buồn chán nhân tâm toan bỏ mặc

Ngậm ngùi bút hận khó buông trôi

Trời già muốn giởn, ừ cho giởn

Sức trẻ còn bơi, vẫn cứ bơi

Lánh bọn văn nô, phường xảo trá

Gắng thành nhiệm vụ chín mười mươi.

 

(Nguyễn Vỹ)

 

2) Đoản Thiên Bát Cú/Biến Thể

 

Thí Dụ 1 = CƯ SĨ CHÂN TU - Đồng Vận

 

Cư Sĩ một lòng cố gắng tu

Sớm mong giác ngộ được chân tu

Tông Thừa nghiên cứu siêng tầm đạo

Công Án luận bàn thích học tu

Nghĩ lại chúng sanh đều Phật Tánh

Cần chi thành đạo với căn tu

Thiền Môn yên tịnh tìm nương tựa

Niệm Phật từ tâm trọn kiếp tu.

 

(Phan Thượng Hải)

 

Thí Dụ 2 = EM Ở ĐÂU ? - Thủ Vỹ Ngâm

 

Thương nhớ em hoài, em ở đâu ?

Vắng em, đời nặng trĩu u sầu

Khi còn gần gũi sao hờ hững ?

Chừ đã xa vời một khổ đau !

Chẳng khác đất khô mong đợi nước

Mà hơn tằm đói, đợi cho dâu

Mang mang trường hận hai hàng lệ

Thương nhớ em hoài, em ở đâu ?

 

(Bàng Bá Lân)

 

 

Thí Dụ 3 = MỘNG THẤY HÀN MẶC TỬ - Câu đầu 6 chữ

 

Ơi Lệ Thanh! Ơi lệ thanh!

Một giấc trưa nay lại gặp mình

Nhan sắc châu pha màu phú quí

Tài hoa bút trổ nét tinh anh

Rượu tràn thú cũ say sưa chuyện

Hương tạ trời cao bát ngát tình

Tôi khóc tôi cười vang cả mộng

Nhớ thương đưa lạc gió qua mành.

 

(Quách Tấn)

 

 

Thí Dụ 4 = QUAN VÂN TRƯỜNG – 2 câu đầu 6 và 8 chữ

 

Sinh vi tướng, tử vi thần

Hớn Thọ Đình Hầu, Quan Thánh Đế Quân

Nét mặt hồng hào, tài dũng cảm

Chòm râu đậm đuột, đức khoan nhân

Quá quan, Bắc Ngụy kiên danh thủ

Phó hội, Đông Ngô nể thượng tân

Không nỡ giết Tào, cam thọ tội:

Trung, cang, nghĩa, khí, được lòng dân.

 

(Lãng Ba)

 

 

Thí Dụ 5 = ĐÊM TÌNH – câu đầu không vần và Vần  bắt đầu với câu 2 (giống như bài Hoàng Hạc Lâu)

 

Giấc thắm tình duyên non gối nước

Màn sương để lọt ánh sao băng

Hồn hoa chợp mộng thơm hồn gió

Tóc liễu dùng thơ đón tóc trăng

Muôn điệu tơ lòng run sẽ sẽ

Nửa vời sóng nhạc nhẹ lâng lâng

Phòng hương thương kẻ ngồi nương triệu

Tình gởi mây xa lệ ngập ngừng.

 

(Quách Tấn)

 

 

 

3) Tràng Thiên gồm nhiều Đoạn Bát Cú

 

Thí Dụ 1 = KHÓC VỆ LAN – Liên Hoàn

 

Yêu nhau năm tháng cách xa nhau

Ngấn lệ chưa khô đã bạc đầu

Một sớm em đi, tình lỡ dở

Trọn đời anh chịu kiếp thương đau

Nắng mưa đất khách hoa tàn tạ

Mưa gió mồ em cỏ dãi dầu

Ngọc nát vàng phai đau đớn nhẽ

Tìm em còn có thấy em đâu!

 

Tìm em còn có thấy em đâu

Biết nói cùng ai chuyện bể dâu

Mở đọc thư xưa, thư ố lệ

Giở xem ảnh cũ, ảnh phai mầu

Gương còn luyến bóng, người đâu mất

Đêm đã tàn canh, mộng cũng sầu

Lấy bút đề thơ, thơ ngấn lệ

Hàng thơ hoen ố mấy hàng châu.

 

(Tam Lang)

 

 

Thí Dụ 2 = KHUÊ PHỤ THÁN – Liên Hoàn Biến Thể

Dùng Liên Hoàn Biến Thể để Hoán Vận.

 

Chồng hỡi chồng ! con hỡi con !                   

Cùng nhau chia cách mấy thu tròn                 

Ven trời góc bể buồn chim cá

Dạn gió dày sương tủi nước non

Mộng điệp khéo vì ai lẽo đẽo

Hồn quyên luống để thiếp thon von

Ngày qua tháng lại trông đăm đẳm

Muôn vạn xa xuôi mắt đã mòn

 

Đã mòn con mắt ở Phi Châu

Có thấy chồng đâu con ở đâu

Dẫu đặng non xinh cùng bể tốt

Khó khăn gió thảm với mưa sầu

Trách ai dắt nẻo khôn lừa lọc

Khiến thiếp ra thân chịu dãi dầu

Bớ bớ xanh kia sao chẳng đoái

Xui lòng oằn oại trót canh thâu.

 

Canh thâu chưa nghỉ hãy còn ngồi

Gan ruột như dầu sục sục sôi

Nghĩa gá ấp yêu đành lỡ dở

Công cho bú mớm chắc thôi rồi

Quyết gìn giữ dạ tròn sau trước

Biết cậy nhờ ai tỏ khúc nôi !

Dâu bể xanh xanh trời một góc

Hỡi chồng ơi ! với hỡi con ơi !

 

Con ôi ! ruột mẹ ngướu như tương

Bảy nổi ba chìm xiết thảm thương

Khô héo lá gan cây đỉnh Ngự

Đầy vơi giọt lệ nước sông Hương

Quê người đành gửi thân trăm tuổi

Đất tổ mong vì nợ bốn phương

Mẹ cũng trông mau rồi một kiếp

Để cho vẹn vẽ mối can thường.

 

Cang thường gánh nặng cả hai vai

Biết cậy cùng ai, tỏ với ai

Để bụng chỉn e tầm đứt ruột

Hở môi thì sợ vách nghiêng tai

Trăng khuya nương bóng chinh chinh một

Kiếng bể soi hình tẻ tẻ hai

Nhắm thử từ đây qua đến đó

Đường đi non nước độ bao dài ?

 

Bao dài non nước chẳng hay cùng

Xin gởi hồn ta đến ở chung

Sống thác miễn cho tròn một tiết

Trước sau khỏi thẹn với ba tùng

Quê nhà đã có người săn sóc

Đất khách nương nhau khỏi lạ lùng

Mảng tính chưa xong vừa chợp mắt

Trống lầu đâu đã đổ lung tung.

 

Đã đổ lung tung tiếng trống thành

Giựt mình tỉnh dậy mới tàn canh

Sương sa lác đác dằn tàu lá

Gió thổi lai rai lạc bức mành

Cảnh ấy tình nầy thôi hết muốn

Trời kia đấy nọ nỡ bao đành

Thương nhau chẳng đặng cùng nhau trọn

Xin hẹn chung cùng kiếp tái sanh.

 

 

Kiếp tái sanh may có gặp không

Kiếp nầy đành thẹn với non sông

Chiêm bao lẩn thẩn theo chân bướm

Tin tức bơ vơ lạc cánh hồng

Tính tới tính lui thân cá chậu

Lo quanh lo quẩn phận chim lồng

Đã không chung hưởng thôi thì chớ

Sao nỡ xa nhau chồng hỡi chồng !

 

Hỡi chồng ! có thấu nỗi nầy chăng ?

Sóng gió khi không dậy bất bằng

Non nước chia hai trời lộng lộng

Cha con riêng một biển giăng giăng

Mối sầu kia gỡ khoanh chưa hết

Giọt thảm nầy tuôn bửng khó ngăn

Ngán bấy cuộc đời khôn gượng gạo

Canh chầy còn ở dưới cung trăng.

 

Ở dưới cung trăng luống nỉ non

Đắng cay như ngậm trái bồ hòn

Khói mây giọng quốc nghe hơi mỏn

Sương tuyết mình ve nhắm đã mòn

Lằn mõ làn xa canh lốc cốc

Tiếng chuông chùa cũ dộng bon bon

Nỗi riêng ai biết ta thương nhớ

Chồng hỡi chồng ! con hỡi con !

 

(Thượng Tân Thị) 3/1919

 

 

Thí Dụ 3 = XUÂN MONG ĐỢI - không cần Liên Hoàn.

 

Cỏ biếc xanh rời liễu bóng tơ

Lối mòn rải rác cánh hoa mơ

Cung đàn thôn vắng say trăng nước

Tiếng địch sông khuya nhớ bến bờ

Sương lạnh lùng rơi hồn lạc lõng

Gió hiu hắt thổi mộng bơ vơ

Người đi cát bụi ngoài muôn dặm

Mây núi, hương từng, mộng ý thơ.

 

Thơ nhạc kinh thành gởi bốn phương

Lá rơi để ngập lối Chiêu Dương

Năm về gió dục bao nhiêu hướng

Chiều xế trăng buông mấy ngã đường

Những rắp bể trời xây sự nghiệp

Đâu ngờ thân thế lụy văn chương

Ngồi đây dong nến chờ mai sớm

Ngựa hí, hoa mừng, gót nắng sương.

 

Sương rơi rơi, lệ cũng rơi rơi

Bến cũ đò ngang vắng bóng người

Đất lạnh, xóm nghèo, hoa chậm nở

Lều tan, sông quạnh, nước buồn trôi

Ai về có ngắm cầu chênh nhịp

Ta đến xa trông sóng nửa vời

Ngơ ngác xiêm y, năm đã muộn

Cành đào thấp thoáng rụng nơi nơi.

 

Nơi nao chắc hẳn khác nơi này

Men rượu sông hồ ngát ý say

Chợ sớm ân cần khi hợp mặt

Quán chiều căn dặn lúc chia tay

Trăng sơn cước mượt hơn màu lụa

Sương ải quan mờ án bóng mây

Suối nước, rừng hoa, ôi diễm ảnh

Ta xuôi Kinh bắc chốc bao ngày.

 

Ngày muộn hương gây cúc nở vàng

Hiên nào nắng chếc gởi buồn sang

Tơ chùng cửa khuyết sao ai oán

Gót lạnh kinh thành đến dở dang

Mây bốn phương bay, sầu mấy hướng

Gió năm canh thổi, lệ đôi hàng

Thu qua, đông hết, ôi tâm sự

Lá rụng âm thầm bóng liễu trang.

 

Trang lại từng trang giở trước đèn

Ngàn xưa kẻ sĩ há cầu yên

Thành Mê nếu mãi vui tơ tóc

Sử Việt đâu còn đẹp bút nghiên

Sóng nước Châu giang hồn tuấn kiệt

Mây trời Yên Thế bóng thuyền quyên

Ngâm câu kim cổ xây tin tưởng

Phố giữa mưa bây tiếng lục huyền.

 

Huyền cầm tay gảy để ai nghe

Trong lúc tàn đông nắng mới về

Ánh cỏ xanh rờn mây bát ngát

Mặt hồn trong vắt liễu lê thê

Ngựa xe, tơ lụa, bay trăm lốt

Hài hán, vàng son, ngợp bốn bề

Đây chốn hoàng thành hoa chớm nở

Còn ai nghe đến cảnh đồng quê.

 

Quê tôi khóm cúc vẫn lên hoa

Cảnh có như người nhớ chốn xa ?

Ngõ trước vườn sau đành trống trải

Nhà xưa miếu cũ hẳn phôi pha

Sương dồn đổi tiết đôi màu lá

Gió dục sang canh mấy tiếng gà

Óc cháy, hồn tan, thân với thế

Những gì để lại một năm qua ?

 

Qua rồi mộng đẹp của ngày xanh

Tỉnh giấc, trà suông, liễu rũ mành

Còn một cây đàn trên vách cỏ

Có dăm pho sách dưới lều tranh

Vườn hoang bướm trắng bay thơ thẩn

Ngõ vắng hoa đào rụng mỏng manh

Xa lắng đầu thôn chờ nhạc ngựa

Chuông rền tịch mịch nẻo am thanh.

 

Thanh sơn, thanh thủy vẫn chờ người

Đã mấy mùa hoa vẻ kém tươi

Đất tỏa nguồn hương, thơ rộn rã

Nước lồng gió nhạc, gió chơi vơi

Nhắm lỳ bôi tửu, đau cung kiếm

Đập bản đồ thơ, giận bể trời

…………………………….

- Hãy rắc thêm trầm cho khói lộng

Để Tình Ý gởi chốn xa xôi.

 

(Ngân Giang Nữ Sĩ)

 

 

4) Xướng Họa: Đoản Thiên Bát Cú hay Tràng Thiên gồm nhiều Đoạn Bát Cú.

 

Bài Xướng và Họa không bắt buộc cùng một đề tài và cũng có thể Tự họa.

 

Thí Dụ 1 = Xướng Họa/Chính Thể

 

(Xướng)

Mây trắng lang thang mãi cuối trời

Gió chiều heo hút khắp nơi nơi

Cung đàn đã mấy dây chùng hẳn

Mái tóc bao nhiêu sợi lạnh rồi

Chốn ấy tờ hoa đành lẻ ý

Mùa nầy chim nhạn có chung đôi

Thương thay trên quãng đường chia ngã

Thì ngã nào không có lá rơi?

 

(Ngân Giang nữ sĩ)

 

(Họa)

Lửa khóa mây then bốn vách trời

Về đâu mộng cũng chẳng đành nơi

Vẫn chưa ý gởi vào thơ được

Mà đã dâu toan hóa biển rồi

Ngọn gió nghe chừng xoay mãi hướng

Vầng trăng ai nỡ xé làm đôi

Tin xuân lạnh lắm rồng ao cạn

Há chỉ phòng thu lệ nến rơi.

 

(Vũ Hoàng Chương)

 

Thí Dụ 2 = Xướng Họa và Tự Họa / Chính thể

 

(Xướng)

CỰC TẢ

 

Cửa đóng màn che đã mấy thu

Đời tàn ngõ hẹp sống như tù

Quẩn quanh họp lại thiền Đông Độ

Vào ra luyện mãi phép Tây Du

Rầu rĩ Giáng Tiên ngồi gãi háng

Nẫu nà Từ Thức đứng xoa khu

Ăn chỉ tương cà, chê thịt cá

Sống chẳng tu hành cũng quá tu.

 

(Lão Húc Dương Hùng Cường)

 

(Tự Họa)

QUÂN TÁN

 

Quân tán còn chi xuất với thu

Thong dong thì cũng xác thân tù

Hữu tật cam đành câu bất dụng

Vô tài nên chịu tiếng nan du

Những tưởng khoan hồng anh hạ bộ

Nào ngờ mắc bẫy chú Xuân Khu

Chung cuộc vài năm cầm cán cuốc

Tu đọi, tu huyền ấy cũng tu.

 

(Lão Húc Dương Hùng Cường)

 

(Họa)

NGÀY 30-4-75

 

Ngu dại một ngày để tiếp thu

Dưới quyền nhà nước, giống nhà tù

Hận đời cải tạo đi lao động

Buồn cảnh ly tan mộng viễn du

Lạc hậu tuyên truyền toàn lãnh thổ

Nghèo nàn áp đặt tận biên khu

Ta bà thế giới còn sinh sống

Địa ngục đây rồi khỏi phải tu.

 

(Phan Thượng Hải)

 

 

Thí Dụ 2 = CU  CỤ - Xướng Họa/Biến Thể Đồng Vận

 

(Xướng)

CU CỤ

 

Thế sự đảo huyền chuyện Cụ Cu

Lộn sòng “Thằng Cụ” với “Ông Cu”

Cu “Quân Tử Kiếm” là Cu Cụ

Cụ “Lão Ngoan Đồng” ấy Cụ Cu

Ra chốn đình trung ưng gọi Cụ

Giữa vòng hương phấn muốn là Cu

Giai nhân có hỏi Cu hay Cụ

“Lục thập niên tiền…” Cụ vốn Cu.

 

(Vô Danh Thị)

 

(Họa)

CU CỤ

 

Tuy khác danh xưng: Cụ hoặc Cu

Tính tình vui vẻ, Cụ như Cu

Thà tiêu xí quách Cu theo Cụ

Biết sướng cuộc đời Cụ chỉ Cu

Nổi tiếng lão làng lên giọng Cụ

Mang danh già dịch tại thằng Cu

Không buồn thế phát làm Sư Cụ

Cu Cụ hồn nhiên cứ “cúc cu”.

 

(Phan Thượng Hải)

 

 

Thí Dụ 3 = LÀM THƠ CON CÓC – Liên Hoàn

 

(Xướng)

LÀM THƠ CON CÓC

 

Độc giả nhiều người khó tánh ghê!

Đến thơ Con Cóc cũng còn chê:

Thơ đâu dở ẹt, “mail” mời đọc!

Thơ chả hay gì, bảo phải mê!

Chẳng có hồn thơ, đòi viết lách!

Chỉ tùy thi hứng, ngỡ nhà nghề!

- Làm thơ không dễ, bàn thì dễ

Thi sĩ làm thinh, đỡ mọi bề?

 

Thi sĩ làm thinh, sướng mọi bề?

Ta thơ Con Cóc mặc khen chê

Khen hay? Càng khoái, hơn mong muốn

Chê dỡ? Hơi buồn, chả thấy quê

Thi hứng đổi trao, cùng xướng họa

Hồn thơ xuất nhập, vẫn đam

Cáp mô hàm dưỡng đầy công lực

Tĩnh tọa đề thi tỏ thiện nghề.

 

(Phan Thượng Hải)

 

 

(Họa)

LÀM THƠ CON CÓC

 

Tánh người suy gẩm, gẩm mà ghê

Cao, thấp, ốm, ù, thảy thảy chê

Thơ dỡ, thơ hay nào muốn đọc

Yếm đào, yếm lụa lại say

Người đời, vẫn biết là như thế

Bút nghiệp, mình đây chẳng phải nghề

Thư thả thong dong ta cứ viết

Viết rồi mình đọc sướng trăm bề.

 

Viết cho bạn đọc thú trăm bề  

Ai mắng, ai rầy, ai có chê

Ta sướng, ta vui, lòng thoải mái

Người cười, người nhạo, có gì quê

Vui thơ, vui ý, vui tình bạn

Thoát tục, thoát tình, thoát bến

Đời dẫu trôi qua như giấc mộng

Đề thơ thanh thản tựa như nghề.

 

(Bùi Đắc Hùm)

 

 

Thí Dụ 4 = KHUÊ PHỤ THÁN - Liên Hoàn biến thể

 

(Xướng)                                                           (Họa)

 

Chồng hỡi chồng ! con hỡi con !                    Vợ hỡi vợ ! con hỡi con !

Cùng nhau chia cách mấy thu tròn                 Cách nhau trăng khuyết lại trăng tròn

Ven trời góc bể buồn chim cá                         Ruột tằm đòi đoạn như tơ bủa

Dạn gió dày sương tủi nước non                     Nước mắt từng phen luống nỉ non

Mộng điệp khéo vì ai lẽo đẽo                          Xót nỗi tha hương trời thăm thẳm

Hồn quyên luống để thiếp thon von                Chạnh niềm cố quốc nước thon von

Ngày qua tháng lại trông đăm đẳm                Trách ai chích mát lòng chim cá

Muôn vạn xa xuôi mắt đã mòn                   Vàng đá xuôi nên phải mỏi mòn

 

Đã mòn con mắt ở Phi Châu                        Mỏi mòn con mắt góc trời Âu

Có thấy chồng đâu con ở đâu                          Lủi thủi quê người trôi nổi đâu

Dẫu đặng non xinh cùng bể tốt                       Góc bể mai chiều cam dạ giận

Khó khăn gió thảm với mưa sầu                     Chân trời khuya sớm héo gan sầu

Trách ai dắt nẻo khôn lừa lọc                          Ba sinh lở dở đường duyên nợ

Khiến thiếp ra thân chịu dãi dầu                     Muôn dặm phôi pha đám lửa dầu

Bớ bớ xanh kia sao chẳng đoái                        Ngắm lại cuộc đời thêm chán ngán

Xui lòng oằn oại trót canh thâu.                  Một mình trằn trọc suốt canh thâu.

 

Canh thâu chưa nghỉ hãy còn ngồi              Canh thâu trằn trọc đứng lại ngồi

Gan ruột như dầu sục sục sôi                          Đáo để nhân tình huyết phải sôi

Nghĩa gá ấp yêu đành lỡ dở                            Chí cả còn chưa xong chuyện ấy

Công cho bú mớm chắc thôi rồi                      Bợm già đâu đã mắc tay rồi…

Quyết gìn giữ dạ tròn sau trước                       Má hồng luống để ai cam phận

Biết cậy nhờ ai tỏ khúc nôi !                            Con trẻ đành lìa nỡ khúc nôi 

Dâu bể xanh xanh trời một góc                       Trẻ tạo cột người ghê gớm thiệt

Hỡi chồng ơi ! với hỡi con ơi !                      Hỡi vợ ơi ! với hỡi con ơi !

 

Con ôi ! ruột mẹ ngướu như tương              Con ôi ! không lấy nổi dòng Tương

Bảy nổi ba chìm xiết thảm thương                   Nghĩ đến con mà thiết thảm thương

Khô héo lá gan cây đỉnh Ngự                           Bởi chút xót xa tình cốt nhục

Đầy vơi giọt lệ nước sông Hương                    Mà ra đau đớn cảnh tha hương 

Quê người đành gửi thân trăm tuổi                  Tuôn lòng cha đã đành không nẻo

Đất tổ mong vì nợ bốn phương                        Tháo củi con rày cũng hết phương

Mẹ cũng trông mau rồi một kiếp                     Thôi thế thì thôi đành mặc thế

Để cho vẹn vẽ mối can thường.                     Sao cho khỏi lỗi đạo cang thường.

 

Cang thường gánh nặng cả hai vai               Cang thường ai kẻ nặng hai vai

Biết cậy cùng ai, tỏ với ai                                 Quanh quất bây giờ biết hỏi ai ?

Để bụng chỉn e tầm đứt ruột                             Cảnh ấy tình nầy thêm xót dạ

Hở môi thì sợ vách nghiêng tai                        Trời kia đất nọ nỡ bưng tai

Trăng khuya nương bóng chinh chinh một      Đã không non nước gom về một

Kiếng bể soi hình tẻ tẻ hai                                Lại khiến gương đồng phải bể hai

Nhắm thử từ đây qua đến đó                            Dâu bể đa đoan thôi hết nói

Đường đi non nước độ bao dài ?                   Ôm lòng thương xót thở than dài

 

Bao dài non nước chẳng hay cùng                Thở dài than vắng biết ai cùng ?

Xin gởi hồn ta đến ở chung                              Rượu giải sầu nay cạn mấy chung

Sống thác miễn cho tròn một tiết                     Cám cảnh thê nhi trời chiếc bách

Trước sau khỏi thẹn với ba tùng                      Biết ai vây cánh giũ mây tùng ?

Quê nhà đã có người săn sóc                           Yêu tình mỏi mắt trông thăm thẳm

Đất khách nương nhau khỏi lạ lùng                 Cảnh vật cùng ta ngó lạnh lùng

Mảng tính chưa xong vừa chợp mắt                Non nước chia hai đau đớn nhỉ !

Trống lầu đâu đã đổ lung tung.                   Thành sầu khôn nỗi mở cho tung.

 

Đã đổ lung tung tiếng trống thành              Ai mở cho tung mấy cửa thành

Giựt mình tỉnh dậy mới tàn canh                    Tư bề lạ mắt lính ai canh ?

Sương sa lác đác dằn tàu lá                             Ngùi trông bể Á tàu phun khói

Gió thổi lai rai lạc bức mành                           Chạnh nhớ trời Phi liễu rũ mành  

Cảnh ấy tình nầy thôi hết muốn                      Trách bớ cao xanh sao chẳng đoái

Trời kia đấy nọ nỡ bao đành                           Lạc loài đen bạc nỡ cho đành

Thương nhau chẳng đặng cùng nhau trọn       Sống thừa thôi có mong gì nữa

Xin hẹn chung cùng kiếp tái sanh.               Đành để quê người gửi tử sanh.

 

Kiếp tái sanh may có gặp không                  Gửi tử sanh nầy có tủi không ?

Kiếp nầy đành thẹn với non sông                    Nghĩ ra thêm thẹn với non sông

Chiêm bao lẩn thẩn theo chân bướm               Bốn bề chỉ thấy người đen trắng

Tin tức bơ vơ lạc cánh hồng                            Tấc dạ không khuây giống Lạc Hồng

Tính tới tính lui thân cá chậu                           Ngày gửi buồn theo hơi gió lọt

Lo quanh lo quẩn phận chim lồng                   Đêm khuya thẹn với bóng trăng lồng

Đã không chung hưởng thôi thì chớ                Nỗi niềm biết mấy ai bày tỏ

Sao nỡ xa nhau chồng hỡi chồng !               Trời rộng mênh mông núi chập chồng.

 

Hỡi chồng ! có thấu nỗi nầy chăng ?           Chập chồng biết có nẻo nào chăng

Sóng gió khi không dậy bất bằng                   Nhắn nhủ cùng ai kẻ bạn bằng 

Non nước chia hai trời lộng lộng                    Tơ tóc kiếp nầy đành ngắn ngủi

Cha con riêng một biển giăng giăng               Bèo mây nỗi ấy nói dài giăng

Mối sầu kia gỡ khoanh chưa hết                     Chiêm bao họa có đôi khi gặp

Giọt thảm nầy tuôn bửng khó ngăn                Tin tức bây giờ lắm nỗi ngăn

Ngán bấy cuộc đời khôn gượng gạo               Căn dặn đôi lời ghi để dạ

Canh chầy còn ở dưới cung trăng.              Thương thay chênh chếch nửa vầng trăng

 

 

Ở dưới cung trăng luống nỉ non                  Chếch nửa vầng trăng một nước non

Đắng cay như ngậm trái bồ hòn                      Một cây thôi đã khó nên hòn

Khói mây giọng quốc nghe hơi mỏn               Kêu sương tiếng nhạn hơi ròng rã

Sương tuyết mình ve nhắm đã mòn                 Nhớ nước chim quyên gáy héo mòn

Lằn mõ làn xa canh lốc cốc                             Lạch tống quanh nhà xô cuộn

Tiếng chuông chùa cũ dộng bon bon               Đồng hồ trên vách đánh boong boong

Nỗi riêng ai biết ta thương nhớ                        Mực mài nước mắt tình không cạn

Chồng hỡi chồng ! con hỡi con !                     Vợ hỡi vợ ! con hỡi con !

 

(Thượng Tân Thị)                                            (Vua Thành Thái)

 

 

5) Cùng một Đề Thi

 

Thí Dụ = ĐÊM KHÔNG NGỦ

(Bài 1)

 

Đêm khuya vương vấn mối sầu quanh

Thỉnh thoảng ngoài hiên gió thổi mành

Giọng dế nỉ non cùng bốn vách

Giọt mưa rỉ rả suốt năm canh

Nằm không yên giấc nên trằn trọc

Ngồi chỉ lo đời muốn rắp ranh

Khêu ngọn đèn lên nhìn lấy bóng

Thở than mình chịu kiếp hư danh

 

(Thượng Tân Thị)

 

(Bài 2)

 

Non sông bốn mặt ngủ mơ màng

Thức tỉnh mìng ta dạ chẳng an

Bóng nguyệt leo song sờ sẫm gối

Gió thu lọt cửa cọ mài chăn

Khóc giùm thân thế hoa rơi lệ

Buồn giúp công danh dế dạo đàn

Trỗi dậy nôm na vài điệu cũ

Năm canh tâm sự vẫn chưa tàn.

 

(Hàn Mặc Tử)

 

Chú thích:

            Đoản thiên = bài thơ có 8 câu hay ít hơn.  Tràng thiên = bài thơ trên 8 câu.

 

 

Bs PHAN THƯỢNG HẢI biên soạn

 

Bài viết nầy đăng lần đầu trong phanthuonghai.com mục "Thơ Văn - Làm Thơ"

 

Tài Liệu Tham Khảo

            1) Việt Nam Văn Học Sử Yếu (Dương Quảng Hàm)

            2) Thi Pháp Thơ Đường (Quách Tấn)

            3) Google Wikipedia

 BỆNH COVID-19

                                     (Bs Phan Thượng Hải)

Bệnh Covid-19 bắt đầu từ 3-4 tháng nay từ thành phố Vũ Hán của Trung Quốc và lan truyền khắp địa cầu.  Tuy có nhiều điều chưa biết nhưng mong rằng bài viết nầy làm căn bản cho sự hiểu biết của quần chúng thông thường đặc biệt là người Mỹ gốc Việt (Vietnamese American).

 

Căn Bệnh 

 

Bệnh Covid-19 là bệnh nhiễm trùng từ 1 loại Virus sinh ra bệnh Viêm đường Hô hấp cho tới cuối đường Hô hấp là 2 lá Phổi.

Bệnh nhiễm trùng = Infectious Disease

Viêm đường Hô hấp = Inflammation of the Respiratory tract 

Viêm Phổi = Pneumonia

 

Nhiễm trùng Virus vì bị Lây từ người đã bị bệnh.

Triệu chứng (Symptoms) liên quan với thể Bệnh:

Nhiễm trùng ----> Nóng sốt (Fever)

Viêm đường Hô hấp, kể cả viêm Phổi ------> Ho (Cough), có Đờm hay không có Đờm (Sputum).

Viêm Phổi ------> Khó Thở (Dyspnea, Shortness of Breath)

Ngoài Nóng Sốt, cũng có những triệu chứng khác giống bệnh Flu (do "Flu" viruses): 

Mệt mõi (Fatigue) 

Nhức mình (Myalgia).

 

Viêm Phổi có thể xuất hiện ngay từ lúc đầu cho tới 6-7 ngày sau đó.  Triệu chứng chính của Viêm Phổi là Khó thở.

Viêm Phổi của Covid-19 thường là tổn thương (lesions) rải rác trong 2 lá Phổi (BronchoPneumonia) chứ không tụ ở vài chỗ (Lobar Pneumonia).  Định bệnh Viêm Phổi căn cứ trên Hình quang tuyến của Phổi (Chest X Ray = CxR) hay CT Scan.

                                 (Chest X Ray của 1 bệnh nhân từ nhẹ tới nặng) 

 

Người thường Dễ bị Lây trong 1 của 3 trường hợp:

Đã có tiếp xúc cá nhân với người có Bệnh hay người bị nghi là có Bệnh.

Đã ở những vùng hay quốc gia bị Dịch Bệnh.

Đã có ở những Events được biết có người đã bị Bệnh như concert, ball game... (Tiếp xúc trong Tập thể).

 

Định bệnh bằng Thử nghiệm chứng nhận có Virus trong đường Hô hấp ---> lấy Mẫu thử nghiệm (specimen) từ lỗ Mũi.

Test thuộc loại RT-PCR (Reverse Transcription - Polymerase Chain Reaction): nhận (identify) sự hiện hữu của Virus (không phải Test cho Antibody của Virus).

Tên của Virus gây bệnh Covid-19 là SAR-Cov-2.

 

Một lần Test PCR "dương tính" (positive) là đủ Định (Diagnosis) là người được thử có nhiễm Virus.

Phải 2 lần Test PCR "âm tính" (negative), trong khoảng cách 24 giờ hay hơn nữa, mới đủ chứng minh người bệnh (đã bị nhiễm Virus) hết còn nhiễm Virus trong thân mình nữa.


 

Trị Bệnh và Phòng Bệnh

 

Test Định Bệnh xảy ra ở Clinic hay chỗ Định bệnh, hay ER và Urgent care (hoặc trong Bệnh viện hay Nursing Home cho bệnh nhân đang nằm).  Test phải có Lệnh (order) của Bác sĩ.

 

Người nghi là bị Bệnh cần nên Test định Bệnh:

Có 1 trong 3 triệu chứng chính: Nóng Sốt, Ho và Khó thở

(+) Có 1 trong 3 trường hợp dễ bị Lây như kể trên.

 

Người nên gặp Bác sĩ ngay tức khắc (vì cần cả 2: định Bệnh và chữa), ở ER hay Urgent care hay ít nhất ở Clinic:

Có Khó thở (*).

 

Người Bệnh chỉ cần ở Nhà và Cách ly (Isolation - Quarantine) với những điều kiện (conditions):

Chỉ có Nóng sốt hay Ho hoặc cả 2. 

Có thể bị thêm Khó thở nhẹ nhưng phải tùy theo quyết định của Bác sĩ đã khám, tùy nặng nhẹ hay có Viêm Phổi hay không; và tùy nặng nhẹ của Khó thở. (*)

Thí dụ 1 bệnh nhân VIP ở Nhà là Thủ tướng Johnson của nước Anh.

Đây là lời mô tả của Ông:

"I do not feel well, have (high) Temperature and (a) consistent Cough.  So I got tested and (have) Positive. Now, I stay (at) Home."

 

Cách ly chấm dứt (thường từ hơn 1 tới 3 tuần) khi:

Hết Nóng sốt (không do Thuốc giảm Sốt) và hết Ho trong 72 giờ và đã bệnh hơn 7 ngày kể từ lúc bắt đầu có triệu chứng.  Có thể kể như là hết Bệnh, theo lâm sàng (clinically).

Có khi lúc đó cần phải có 2 Tests PCR "âm tính" (negative) trong khoảng cách hơn 24 giờ nhưng khó áp dụng trong thực tế cho bệnh nhân ở Nhà.  (Áp dụng cho bệnh nhân trong Bệnh viện thì không khó).


 

(*)

Khó thở (Shortness of Breath - Dyspnea):

là triệu chứng cần phải định bệnh nếu bệnh nhân có Viêm Phổi hay không bằng cách Chụp hình Phổi (CxR) hay dùng CT Scan và thường là sau đó phải nhập bệnh viện (hospitalization) nếu có Viêm Phổi (Pneumonia).

Như đã nói, Khó thở và Viêm Phổi có thể xuất hiện bất cứ lúc nào từ ngày đầu tới 1 tuần sau.  Do đó nếu trong khi Cách ly, người bệnh tự nhiên bắt đầu Khó thở hay Khó thở nặng hơn thì phải gặp Bác sĩ ngay (thường là tới Bệnh viện).

 

Bệnh nhân Khó thở, dù đã hay chưa định bệnh là Covid - 19, luôn cần được coi ở urgent care hay ER hay ít nhất là ở Clinic:

cần định sự hiện hữu (existence) cũng như định sự nặng nhẹ (severity) của Viêm Phổi bằng quang tuyến (CxR hay CT Scan)

cần coi Hypoxemia hay không bằng cách đo O2 Sat hay có khi ABG để đo sự nặng nhẹ (severity) của Khó thở.

Viêm Phổi và Khó thở (Shortness of Breath) là 2 yếu tố quyết định nhập viện.

 

Người mạnh khoẻ muốn tránh Lây bệnh phải biết Virus lây làm sao rồi áp dụng phương cách tránh Lây bệnh (Transmission).

 

Bệnh lây bằng truyền Respiratory Drooplets (giọt nước hay dịch của đường Hô hấp) từ đường Hô hấp của người Bệnh sang đường Hô hấp của người không bệnh.

- Truyền trực tiếp qua không gian: người bệnh thở ra hay ho ra Respiratory Dropplets rồi người không bệnh hít vào 

-----> phương cách tránh lây bệnh: Social distancing (cách 2 M hay 6 feet) và mang Mask.

- Truyền gián tiếp -----> phương cách tránh lây bệnh: Rửa tay cẩn thận sau khi nghi là có tiếp xúc hay rửa nhiều lần

Truyền gián tiếp: Respiratory Dropplets của người bệnh dính vào đồ vật rồi tay của người không bệnh chạm vào đồ vật nầy rồi tay rờ vào mũi, môi miệng hay mặt của mình rồi hít vào đường Hô hấp (của người không bệnh).  

Virus sống ngoài đường Hô hấp, trên đồ vật, khoảng 3 giờ nhưng hiện nay nghĩ là lâu hơn (tới 17 ngày như trên tàu cruise?).

 

Thời gian Ủ bệnh (Incubation period) = 2-14 ngày (trung bình = 4, 5 ngày).

 

Bệnh Covid-19 chưa có thuốc chữa chính thức.

Các thuốc đã thử (có khi dùng chung 2 thứ):

Chloroquine đã dùng trị Malaria (Sốt Rét)

HydroxyChloroquine (Plaquenil) đã thường dùng để trị những bệnh Viêm Khớp kinh niên (chronic Arthritis) như của Lupus, của Psoriasis hay Rhematoid Arthritis

Erythromycin và Zithromax đã thường được dùng chữa Viêm Đường Hô hấp cấp tính (acute) do Vi trùng (Bacteria).

Các thuốc đã thử nầy hình như chỉ có PO (uống) chớ không có Injection (chích).

FDA đã công nhận IV Plasma chứa Antibody: đúng với lý thuyết nhưng phải đợi kết quả của thực hành.

 

Vaccin cần phải thử trong khoảng trung bình 18 tháng trước khi dùng được.


 

Hiểu Biết Bệnh

 

Diễn tiến của Bệnh (Evolution)

Bệnh nhẹ ở Nhà: không có Viêm Phổi và không (thêm) Khó thở, chỉ có Nóng sốt và Ho ----> lành bệnh trong khoảng trên 2-3 tuần.

Bệnh nặng: Viêm Phổi trong bệnh viện và không thành critical (hình như lành bệnh trong 3-6 tuần).

Bệnh rất nặng (critical): cần Máy thở (Ventilator) và ICU

Nguyên nhân có thể là ARDS (Acute Respiratory Distress Syndrome).  

Ở trên ventilator càng lâu prognosis càng xấu.  Cho dù trên Ventilator vẫn chết vì Hypoxemia từ Respiratory failure.  

Có khi sinh ra thêm Shock hay MOF (Multi-Organ Failure).

 

Bệnh nhân High Risk (dễ bị bệnh, bệnh nặng hay critical): là bệnh nhân đã có mang những bệnh Kinh niên, kể cả những bệnh kinh niên thông thường như DM và HTN.

Đa số:

Bệnh Tim Mạch

Diabetes (Đái Đường)

Bệnh đường Hô hấp (kể cả Phổi)

Hypertension (HTN)

Khác: Bệnh nhân bị Ung thư đang chữa trị - Bệnh nhân yếu Miễn nhiễm (Immunocompromised).

Dĩ nhiên cũng High Risk cho Người Già và bệnh nhân ở Nursing Home.
 

Ở nước Mỹ,

- Không có Test người không có Triệu chứng (Asymptomatic person): có thể có người bị bệnh nhưng không biết hay không cần biết? (Not testing everybody is the US policy now).

- Trong số những Người có Triệu chứng (thường là giống như Flu hay Common Cold) và bị nghi ngờ (1 trong 3 trường hợp dễ bị lây) được Test:

10-15% có bệnh Covid-19 (test positive)

   Trong số những Người có bệnh (test positive):

10-20% nhập bệnh viện (hospitalization)

   Trong số những Bệnh nhân Covid-19 trong Bệnh viện:

1/4 - 1/3 trong ICU (mostly on Ventilator)

Tử vong của Covid-19 (Mortality) = 1.5% của tổng số người bệnh Covid-19.  Như vậy gần 1/3 bệnh nhân cần ICU (hay Máy thở = Ventilator) sẽ Chết?

 

Sự nguy hiểm của Virus bệnh Covid-19 (khác Flu):

1) Sức lây lan quá mạnh (strong Contagion - strong Contagiousness) ---> Sự lan truyền (transmission) quá rộng và quá nhanh trên toàn Thế giới.  Chỗ hẹp mà đông người dễ bị lây lan nhất (như New York, urban area).

2) Dễ gây Bệnh nặng và rất nặng cho những người có High Risk cũng như người Già.  Những người bị bệnh kinh niên thông thường cũng trong High Risk như Diabetes hay Hypertensin là điều đáng lo ngại.  

 

Bệnh Covid-19 hiện đang gây Hậu quả tai hại cho Sinh mạng, Kinh tế và Chính trị của toàn Thế giới.  

 

Bs PHAN THƯỢNG HẢI biên soạn

(3/27/2020)

  NHỮNG BÀI THƠ "SỐNG CHẾT" TRONG LỊCH SỬ

                                                                                   (Bs Phan Thượng Hải)

 

Hậu thế thường truyền tụng một bài thơ ái quốc của ông Phan Bội Châu:

 

SỐNG

Sống tủi làm chi đứng chật trời

Sống nhìn thế giới hổ chăng ai

Sống làm nô lệ cho người khiến

Sống chịu ngu si để chúng cười

Sống tưởng công danh không tưởng nước

Sống lo phú quí chẳng lo đời

Sống mà như thế đừng nên sống

Sống tủi làm chi đứng chật trời.

(Phan Bội Châu)

 

Tuy nhiên Tiền nhân ái quốc thường phải "Sống và Chết" trong cuộc đời đấu tranh cho chính nghĩa độc lập và tự do như các ông Đặng Văn Bá, Mai Xuân Thưởng và Nguyễn An Ninh.

 

 

Đặng Văn Bá

 

Gần đây có xuất hiện 2 bài thơ Sống Chết của bạn của ông Phan Bội Châu là ông Đặng Văn Bá (còn gọi là Đặng Văn Bách).

Ông Đặng Văn Bá (1873-1931) đậu Cử Nhân năm 1900 (cùng khóa với ông Phan Bội Châu).  Ông gia nhập phong trào Duy Tân với Phan Bội Châu và Ngô Đức Kế (1905) rồi bị đày Côn Đảo (1908-1916 hay 1921).  Được thả về ông sống ở Sài Gòn rồi ở Huế với ông Phan Bội Châu và sau cùng về sống ở quê nhà (Hà Tĩnh) đến khi qua đời.

Năm 1926 cái chết của ông Phan Châu Trinh gợi cảm hứng cho ông làm 2 bài thơ Sống Chết:

 

CHẾT

Chết mà vì nước, chết vì dân

Chết ấy làm trai hết nợ nần

Chết bởi Đông Chu thời thất quốc

Chết vì Tây Hán lúc tam phân

Chết như Hưng Đạo hồn thành thánh

Chết tựa Trưng Vương phách hóa thần

Chết cụ Tây Hồ hồn chẳng chết

Chết mà vì nước, chết vì dân.

(Đặng Văn Bá)

 

SỐNG

Sống dại mà chi sống chật đời

Sống xem Âu Mỹ hổ chăng ai ?

Sống làm nô lệ cho người khiến

Sống chịu ngu si để bạn cười

Sống tưởng công danh không tưởng nước

Sống lo phú quí chẳng lo đời

Sống mà như thế đừng nên sống

Sống dại sinh chi đứng chật đời.

(Đặng Văn Bá)

 

Bài thơ “Sống” của ông Phan Bội Châu cũng hơi giống như bài thơ "Sống"của ông Đặng Văn Bá?

 

SỐNG                                                            SỐNG

Sống tủi làm chi đứng chật trời                      Sống dại mà chi sống chật đời

Sống nhìn thế giới hổ chăng ai                       Sống xem Âu Mỹ hổ chăng ai ?

Sống làm nô lệ cho người khiến                     Sống làm nô lệ cho người khiến

Sống chịu ngu si để chúng cười                      Sống chịu ngu si để bạn cười

Sống tưởng công danh không tưởng nước      Sống tưởng công danh không tưởng nước

Sống lo phú quí chẳng lo đời                          Sống lo phú quí chẳng lo đời

Sống mà như thế đừng nên sống                     Sống mà như thế đừng nên sống

Sống tủi làm chi đứng chật trời.                      Sống dại sinh chi đứng chật đời.

(Phan Bội Châu)                                              (Đặng Văn Bá)

 

 

Mai Xuân Thưởng

 

Hai bài thơ "Sống Chết" của Đặng Văn Bá có lẽ chịu ảnh hưởng từ ông Mai Xuân Thưởng của phong trào Cần Vương.

 

Ông Mai Xuân Thưởng đi thi Cử Nhân ở trường Bình Định thì kinh thành Huế thất thủ (1885).  Nhiều sĩ tử bỏ thi nhưng ông vẫn tiếp tục thi và cùng 5 người khác được chấm đậu Cử Nhân.  Quan Chủ Khảo (khuyết danh) làm bài thơ khuyên những người thi đậu:

 

VÔ ĐỀ

Sơn hà phong cảnh dị tiền niên               Non sông rày đã khác xưa

Hoành giám du khan thử địa huyền        Gương nêu tài tuấn còn nêu chốn nầy

Hận mãn xương môn trần ám ngoại       Hận tràn cung khuyết bụi bay

Lệ linh văn viện bút đình biên                Tay cam dừng bút lệ đầy viện văn

Lịch truyền giáo dục ân như hải             Bao triều tắm gội biển ân

Bát giải thinh danh thẩm thự tiên           Phẩm tiên tám giải thêm phần thanh cao

Nhất dự y quan nan tự ủy                       Cân đai trót đã dự vào

Cương thường khán tử cố anh hiền        Cương thường noi dấu anh hào soi chung.

(Chủ khảo)                                              (? Dịch)

 

Tương truyền rằng đêm trước đó quan Chủ Khảo nằm mộng thấy 1 bà lão cho 1 cành mai trắng trổ bông nhụy vàng (tượng trưng là một quý nhân).  Sáng hôm sau ông đọc lại những bài thi thì thấy bài của ông Mai Xuân Thưởng là có chí khí nhứt và tên (Mai Xuân Thưởng) cũng hợp nên nghĩ rằng giấc mộng đó nói về ông nầy. Quan Chủ Khảo nói riêng cho ông Mai Xuân Thưởng biết (về giấc mộng) do đó ông quyết tâm chống Pháp cứu nước.

Ông theo Tổng đốc Bình Định là ông Đào Doãn Định khởi nghĩa Cần Vương ở Bình Định.  Sau khi TĐ Đào Doãn Định bị bệnh mất (1885), ông Mai Xuân Thưởng trở thành lãnh tụ của Cần Vương ở Bình Định.  

 

Ông có làm bài thơ dưới đây trong khi đánh nhau với Pháp:

 

CHẾT NÀO CÓ SỢ

Chết nào có sợ chết như chơi

Chết bởi vì dân chết bởi thời

Chết hiếu chi nài xương thịt nát

Chết trung bao quản cổ đầu rơi

Chết nhân tiếng để vang nghìn thủa

Chết nghĩa danh thơm vọng mấy đời

Thà chịu chết vinh hơn sống nhục

Chết nào có sợ chết như chơi.

(Mai Xuân Thưởng)

 

Và bài thơ dưới đây trước khi bị hành quyết cùng với ông Bùi Điền:

 

NỢ TRAI

Không tính làm chi chuyện mất còn

Nợ trai lo trả ấy là khôn

Gió đưa hồn nghĩa gươm ba thước

Đá tạc lòng trung quý mấy hòn

Tái ngắt mặt gian xương tợ giá

Đỏ loè bia sách máu là son

Rồi đây thoi ngọc đưa xuân tới

Một nhánh mai già nảy rậm non.

(Mai Xuân Thưởng)

 

 

Nguyễn An Ninh

 

Hai bài thơ "Sống Chết" của Đặng Văn Bá từ Phan Châu Trinh cũng ảnh hưởng tới hai bài thơ "Sống Chết" sau nầy của 1 người bạn đồng chí hướng với Phan Châu Trinh là Nguyễn An Ninh, làm ngay trước khi qua đời.

 

Ông Nguyễn An Ninh (1900-1943) là con của ông Nguyễn An Khương sanh ở Cần Giuộc, Long An.  Ông Nguyễn An Khương, một dịch giả truyện Tàu nổi danh, có lập khách sạn Chiêu Nam Lầu (1908) ở Chợ Cũ, Sài Gòn là nơi kinh tài và trú ngụ của những người thuộc phong trào Duy Tân chống Pháp của ông Phan Châu Trinh.  

Năm 1918 ông Nguyễn An Ninh sang Pháp, học Đại Học có 1 năm (thay vì 4 năm) là đậu Cử Nhân Luật.  Năm 1920, ông gia nhập nhóm các ông Phan Châu Trinh, Phan Văn Trường, Nguyễn Thế Truyền và Nguyễn Tất Thành hoạt động về báo chí chống chế độ thuộc địa đế quốc của Pháp.  

Ông Nguyễn An Ninh về nước năm 1922, diễn thuyết chống Pháp nhưng bị cấm nên trở lại Pháp năm 1923. Cùng năm đó ông trở về Sài Gòn nhờ tiền của ông Nguyễn An Khương mở tờ báo bằng tiếng Pháp tên là La cloche fêlée (Chuông Rè/The broken bell) để chống Pháp mà không bị kiểm duyệt nhưng vẫn bị mật thám Pháp làm khó dễ và đe dọa nhân viên và độc giả nên năm sau (1924) tờ báo phải đóng cửa.  Ông Nguyễn An Ninh lại sang Pháp dẫn ông Phan Châu Trinh về Sài Gòn.  Ông nhờ ông Phan Văn Trường (đã về nước) làm chủ và mở lại tờ La cloche fêlée vì ông Phan Văn Trường (1876-1933) là công dân Pháp.  Tuy nhiên sau đó ông Nguyễn An Ninh vẫn bị bỏ tù 10 tháng.  Từ năm 1928 đến 1931, ông Nguyễn An Ninh có sang Pháp một lần rồi lại về nước, bị tù và được thả ra.  Trong thời gian nầy ông có một chí sĩ mới là ông Phan Văn Hùm.

 

Từ năm 1933, hoàn toàn ở lại Nam Kỳ, ông Nguyễn An Ninh cộng tác với báo La Lutte (Tranh Đấu) của nhóm Đệ Tứ Quốc Tế là các ông Tạ Thu Thâu, Phan Văn Hùm và Trần Văn Thạch cũng như với báo Trung Lập của ông Nguyễn Văn Tạo thuộc Đệ Tam Quốc Tế.  Ông Nguyễn An Ninh là linh hồn đấu tranh chống Pháp bằng báo chí nên ông bị tù vài lần nữa từ năm 1936.  Năm 1939 ông bị tù lần thứ năm ở Côn Đảo và rồi chết ở đây vì kiệt sức năm 1943.  Khi đem xác đi chôn người ta tìm thấy trong túi áo của ông một miếng giấy ghi 2 bài thơ dưới đây:

 

SỐNG

Sống mà vô dụng sống làm chi

Sống chẳng lương tâm sống ích gì?

Sống trái đạo người, người thêm tủi

Sống quên ơn nước, nước càng khi

Sống tai như điếc, lòng đâm thẹn

Sống mắt dường đui, dạ thấy kỳ

Sống sao nên phải, cho nên sống

Sống để muôn đời sử tạc ghi.

(Nguyễn An Ninh)

 

CHẾT

Chết sao danh tiếng vẫn còn hoài

Chết đáng là người đủ mắt tai

Chết được dựng hình, tên chẳng mục

Chết đưa vào sử, chữ không phai

Chết đó, rõ ràng danh sống mãi

Chết đây, chỉ chết cái hình hài

Chết vì Tổ Quốc người khen ngợi

Chết cho hậu thế đẹp tương lai.

(Nguyễn An Ninh)

 

 

Hậu thế ngày nay không cảm thông được Nghĩa Tử của người xưa nên thường chỉ biết bài thơ "Sống" của ông Phan Bội Châu.  Tiền nhân ngày xưa cũng có người chỉ có bài thơ "Chết" như của các ông Trần Cao Vân, Thủ Khoa Huân và Phan Thanh Giản.

 

 

Trần Cao Vân

 

Năm 1916, vua Duy Tân (1900-1945) mưu đảo chánh Pháp ở Huế và vùng phụ cận với hai ông Trần Cao Vân (1868-1916) và Thái Phiên (1882-1916) của Việt Nam Quang Phục Hội nhưng việc bị lộ và thất bại.  Ông Thái Phiên và Trần Cao Vân bị xử chém và Vua Duy Tân bị đày ra đảo Réunion với cha là vua Thành Thái.  Trước khi ra pháp trường, ông Trần Cao Vân có bài thơ:

 

CHẾT CHÉM

Đứa nào muốn chết chết như chơi

Chết vị non sông chết vị trời

Chết thảo bao nài xương thịt nát

Chết ngay há ngại cổ đầu rơi

Chết trung tiếng để ngoài muôn dặm

Chết nghĩa danh lưu đến vạn đời

Chết được như vầy là hả lắm

Ta không sợ chết hỡi ai ơi.

(Trần Cao Vân)

 

 

Thủ Khoa Huân

 

Ông Nguyễn Hữu Huân (1816-1875), người ở Chợ Gạo, Định Tường đi thi Cử Nhân đậu Thủ Khoa (còn gọi là Giải Nguyên) năm 1852.  Tuy là văn quan, ông đã khởi nghĩa Cần Vương chống Pháp ở Định Tường (1861-1875).  Dù bị bắt lưu đày rồi được tha nhiều lần cũng nhưđược Tổng Đốc Đỗ Hữu Phương giúp đỡ và dụ hàng nhưng ông Thủ Khoa Huân không bao giờ đầu hàng.  

 

KHI BỊ LƯU ĐÀY

Muôn việc cho hay ở số trời

Cái thân chìm nổi biết là nơi

Mấy hồi tên đạn ra tay thử

Ngàn dặm non sông dạo bước chơi

Chén rượu Tân đình nào luận tiệc

Câu thơ Cố quốc chẳng ra lời

Cang thường bởi biết mang tên nặng

Hễ đứng làm trai chác nợ đời.

(Thủ Khoa Huân)

 

KHI ĐƯỢC THA VỀ

Tòng cúc tuy mừng hãy đặng còn

Râu mày thêm thẹn với sông non

Miếu đường cách trở bề tôi chúa

Gia thất riêng mang nỗi vợ con

Áo Hán nhiều phần thay vẻ lạ

Rượu Hồ một mặt đắm mùi ngon

Giang Đông mang tiếng đa tài tuấn (*)

Cuốn đất kìa ai dám hỏi đon.

(Thủ Khoa Huân)

 

(*) Chú thích: 

            Hạng Võ khi thua Lưu Bang thì được người Đình trưởng khuyên qua sông Trường giang sang Giang Đông sẽ có nhiều người theo giúp để đánh lại.  

 

Lần cuối cùng (1875) sau khi bị bắt ngồi tù trước khi bị đem ra pháp trường hành quyết, ông Thủ Khoa Huân có làm bài thơ dưới đây:

 

MANG GÔNG

Hai bên thiên hạ thấy hay không

Một gánh cang thường há phải gông

Oằn oại đôi vai quân tử trúc (*)

Long lay một cổ trượng phu tòng (*)

Thác về đất Bắc danh còn rạng

Sống ở thành Nam tiếng bỏ không

Thắng bại dinh hư trời khiến chịu (*)

Phản thần, “đụ hỏa” đứa cười ông 

(Thủ Khoa Huân)

 

(*) Chú thích: 

            Từ câu "Trúc xưng quân tử, Tòng hiệu trượng phu".  Dinh hư=đầy vơi.

 

 

Phan Thanh Giản

 

Tháng 6, 1867, Thiếu tướng De La Grandière hội 1000 quân Pháp ở Mỹ Tho định tấn công Vĩnh Long.  Ngày 20-6-1867, De La Grandière đánh Vĩnh Long.  Biết thế chống không nỗi và để cứu sinh linh, ông Phan Thanh Giản đầu hàng ở Vĩnh Long và ra lệnh cho Tuần phủ Hà Tiên và An Giang đầu hàng. Pháp chiếm 3 tỉnh Tây Nam Kỳ trong 4 ngày (từ 20 tới 24-6-1867).  Từ đó đất Nam Kỳ Lục Tỉnh thành ra đất thuộc địa của Pháp; thuế má, luật lệ, điều gì cũng do soái phủ ở Sài Gòn quyết định cả. 

Ông Phan Thanh Giản gởi trả áo mão cho triều đình.  Sau nửa tháng không thấy triều đình trả lời, ông phiền muộn lo lắng, nhịn đói và uống thuốc phiện với giấm thanh hằng ngày để tự tử.  Cuối cùng ông chết ngày 4-8-1867, thọ 72 tuổi.  Trong thời gian gần nửa tháng nầy, ông Phan Thanh Giản có làm bài thơ:

 

TUYỆT CỐC (*)

Trời thời đất lợi lại người hòa

Há dễ ngồi coi phải nói ra

Lăm trả ơn vua đền nợ nước

Đành cam gánh nặng ruổi đường xa

Lên ghềnh xuống thác thương con trẻ

Vượt biển trèo non cám phận già

Những tưởng một lời an bốn cõi

Nào hay ba tỉnh lại chầu ba. (*)

(Phan Thanh Giản)

 

(*) Chú thích:

            Tuyệt cốc = Nhịn (ăn)cơm

            Đã không lấy lại được 3 tỉnh Biên Hòa, Gia Định và Định Tường mà còn mất thêm 3 tỉnh Vĩnh Long, An Giang và Hà Tiên.

 

 

Bs PHAN THƯỢNG HẢI biên soạn

                                                    PHAN BỘI CHÂU

                                                                    Bs Phan Thượng Hải

 

Thơ và Sử đã mô tả cuộc đời của ông Phan Bội Châu từ khi sáng lập phong trào Đông Du ở Nhật Bản, hoạt động cách mạng ở bên Tàu cho đến khi bị bắt giải về Việt Nam và bị quản thúc ở Huế.  Cách mạng bên Tàu cũng có người Nam Kỳ hưởng ứng như các ông Nguyễn Quang Diêu và Nguyễn Thần Hiến.


 

Phong Trào Đông Du 

 

*

Đông Du ở Nhật Bản

 

Năm 1905, ông Phan Bội Châu và ông Đặng Tử Kính sang Nhật nhờ giúp đỡ và lập phong trào Đông Du.  Nhờ ông Tăng Bạt Hổ, hai ông lén đem Kỳ Ngoại Hầu Cường Để và thanh niên sang Nhật học quân sự và khoa học.

 

Ông Tăng Bạt Hổ (1858-1906) khi 14 tuổi theo Lưu Vĩnh Phúc đánh Pháp ở Bắc Kỳ.  Sau đó ông theo ông Mai Xuân Thưởng hưởng ứng hịch Cần Vương của vua Hàm Nghi, khởi nghĩa ở Bình Định.  Sau khi cuộc khởi nghĩa thất bại, ông Tăng Bạt Hổ trốn sang Lào, Xiêm, Trung Hoa rồi cuối cùng ở Nhật Bản.  Ông phục vụ trong quân đội Nhật thắng quân Nga ở Lữ Thuận và Đại Liên. Nhờ có công, được Minh Trị Thiên Hoàng biết đến, nên ông liên lạc và xin với các chính khách Nhật như Khuyển Dưỡng Nghị (?) và Đại Ôi Trọng Tín (Shigenobu) chấp nhận du học sinh Việt Nam.  Trong một chuyến đưa rước các học sinh ông mất trên 1 chiếc thuyền ở sông Hương (1906). Năm 1956, ông được cải táng cạnh mộ ông Phan Bội Châu ở Huế.                

 

Ông Tú Xương có bài thơ tả đúng như dự định của ông Phan Bội Châu:

 

GỬI ÔNG PHAN THỦ KHOA

Mấy năm vượt bể lại trèo non

Em hỏi thăm qua bác hãy còn

Mái tóc Giáp Thìn đà nhuộm tuyết (*)

Điểm đầu Canh Tý chửa phai son (*)

Vá trời gặp hội, mây năm vẻ (*)

Lấp bể ra công, đất một hòn

Có phải như ai mà chẳng chết?

Giương tay chống vững cột càn khôn.

(Tú Tài Trần Tế Xương)

 

(*) Chú thích:

Năm Giáp Thìn (1905), ông Phan Bội Châu xuất dương

Năm Canh Tý (1900), ông Phan Bội Châu đậu Thủ Khoa ở kỳ thi Hương Nghệ An.

Ý muốn lập ông Cường Để làm vua.


 

Đây là chí khí của ông Phan Bội Châu khi rời cảng Hải Phòng đi Nhật:

 

XUẤT DƯƠNG LƯU BIỆT 1905

Sinh vi nam tử yếu vi kỳ                           Làm trai phải lạ ở trên đời

Khẳng hứa càn khôn tự chuyển di            Há để càn khôn tự chuyển dời

Ư bách niên trung tu hữu ngã                   Trong khoảng trăm năm cần có tớ

Khởi thiên tải hậu cánh vô thùy                Sau này muôn thuở há không ai?

Giang sơn tử hĩ sinh đồ nhuế                    Non sông đã mất, sống thêm nhục

Hiền thánh liêu nhiên tụng diệc si            Hiền thánh còn đâu, học cũng hoài

Nguyện trục triền phong Đông Hải khứ   Muốn vượt bể Đông theo cánh gió

Thiên trùng bạch lãng nhất tề phi.            Muôn trùng sóng bạc tiễn ra khơi.

(Phan Bội Châu)                                       (Tô Quang Phiệt dịch)

                                          (Kỳ Ngoại Hầu Cường Để)

 

Tháng 9 năm 1908, Pháp ký hiệp ước với Nhật.  Thế là tất cả nhà cách mạng và học sinh Việt Nam đều bị Nhật trục xuất: hoặc về nước hoặc trốn sang Tàu.  Ông Phan Bội Châu, ông Đặng Tử Kính và Kỳ Ngoại Hầu lưu lạc tận Xiêm La (Thái Lan bây giờ).  

 

*

Việt Nam Quang Phục Hội

 

Năm 1912, sau cách mạng Tân Hợi, các ông về lại Tàu, cùng với ông Nguyễn Thượng Hiền (rể ông Tôn Thất Thuyết) lập Việt Nam Quang Phục Hội và Quang Phục Quân với những hoạt động như quấy nhiễu biên giới (tấn công đồn Tà Lùng) và sai người về nước ám sát những quan Việt Nam theo Pháp.  

 

Năm 1914, Tàu hết ủng hộ, ông Phan Bội Châu vô tù ra khám.  Năm 1915, ông Kỳ Ngoại Hầu Cường Để (1882-1951) sang sống bên Nhật, lấy vợ Nhật (là con gái nuôi của Thiên Hoàng) nhưng vẫn hoạt động cách mạng ở Tàu.


 

Đây là 2 bài thơ tù của 2 ông Phan Bội Châu và Phan Châu Trinh cùng bị giam trong Đệ Nhất Thế Chiến: 

 

CẢM TÁC VÀO NHÀ NGỤC                    TRONG NGỤC QUỐC SỰ PHẠM 

QUẢNG ĐÔNG                                           LA SANTÉ

Vẫn là hào kiệt vẫn phong lưu                     Từ ấy giam luôn mấy tháng tròn

Chạy mỏi chân thì hẵng vào tù                     Nhờ trời ngủ kỹ lại ăn ngon

Đã khách không nhà trong bốn bể                Ngày ba lần xực coi còn đói

Lại người có tội giữa năm châu                    Đến chín giờ chơi ngáy vẫn giòn

Dang tay ôm chặt bồ kinh tế                         Mỗi bữa nửa giờ ra hóng mát

Mở miệng cười tan cuộc oán thù                  Mỗi tuần hai bận xuống thăm con

Thân ấy hãy còn còn sự nghiệp                    Vui buồn mình biết lòng mình vậy

Bao nhiêu nguy hiểm sợ gì đâu.                   Miễn trả cho rồi nợ nước non.

(Phan Bội Châu)                                           (Phan Châu Trinh)

 

*

Cách Mạng ở Việt Nam

 

Tiếng tăm của Việt Nam Quang Phục Hội được biết trong nước qua cuộc chính biến của vua Duy Tân và khởi nghĩa Thái Nguyên.

Các ông Thái Phiên và Trần Cao Vân sau khi đi tù Côn Đảo với ông Phan Châu Trinh (1908-1911) về, có mưu với vua Duy Tân đảo chánh Pháp (1916) dưới danh nghĩa của Việt Nam Quang Phục Hội nhưng thất bại. 

Khởi nghĩa Thái Nguyên do Đội Cấn (Trịnh Văn Cấn) cùng 175 lính khố xanh giải thoát ông Lương Ngọc Quyến của Việt Nam Quang Phục Hội và 203 tù nhân chiếm Thái Nguyên xưng là Đại Hùng Đế Quốc ngày 30-8-1917.  Năm ngày sau (5-9-1917), Pháp chiếm lại Thái Nguyên. Ông Lương Ngọc Quyến tử thương. Ông Trịnh Văn Cấn (1881-1917) rút về Tam Đảo rồi Vĩnh Yên và cuối cùng tự tử bằng súng ngày 11-1-1918.  

 

Ông Lương Ngọc Quyến (1885-1917) là con thứ của ông Lương Văn Can (Hiệu trưởng trường Đông Kinh Nghĩa Thục).  Ông vượt biển theo chương trình Đông Du của ông Phan Bội Châu, học và tốt nghiệp trường võ bị Chấn Vũ của Nhật (1905-1908).  Sau khi bị Nhật trục xuất ông sang Trung Hoa làm sĩ quan trong quân đội Trung Hoa Dân Quốc (chức Thiếu tá?). Năm 1912 ông Lương Ngọc Quyến gia nhập Việt Nam Quang Phục Hội và về nước hoạt động ở Nam Kỳ.  Ông bị Pháp bắt và giam ở Hà Nội rồi Thái Nguyên. Tại ngục Thái Nguyên theo lời chiêu dụ của ông nên ông Trịnh Văn Cấn mới khởi nghĩa chống Pháp.

Người bạn từng sống với ông ở Nam Kỳ là ông Dương Bá Trạc có bài thơ thương tiếc:

 

LƯƠNG NGỌC QUYẾN

Đoạn tuyệt gia đình với núi sông

Phất cờ Đông học trẩy tiên phong

Lục quân Nhật Bản tinh thao luyện

Chiến địa Trung Hoa thỏa vẫy vùng

Bắc Hải vẫn ghi lời thoại biệt

Long Xuyên bao xiết chuyến trùng phùng

Thái Nguyên độc lập năm ngày trọn

Cho biết tay đây cọp sổ lồng.

(Dương Bá Trạc)

 

*

Cách Mạng ở bên Tàu

 

Cách mạng ở bên Tàu thầm lặng cho đến năm 1924 mới nổi trở lại nhờ “Tiếng bom sa điện” của liệt sĩ Phạm Hồng Thái của Tâm Tâm Xã.  Ngày 21-6-1924, ông Phạm Hồng Thái ném bom để ám sát Toàn Quyền Đông Dương là Merlin ở tô giới Sa Diện (Samien, có khi viết sai là Sa Điện) của Pháp ở Quảng Châu nhưng việc không thành.  Ông nhảy xuống sông Tây Giang (Châu Giang) tự tử. Nhà cầm quyền Trung Hoa đem xác chôn ở Hoàng Hoa Cương.  

Về sau có hậu sinh tới viếng mộ và làm thơ:

 

VIẾNG MỘ LIỆT SĨ PHẠM HỒNG THÁI (Nguyên Bản)

Một tiếng bom tung tiếng dậy hùng

Vì nòi giống Việt diệt thù chung

Thực Dân vạn kiếp kinh hồn vía

Hào Khí Trường Tồn với núi sông (*)

Liệt sĩ treo cao gương ái quốc

Hậu sinh quyết nối gót cha ông

Khấu đầu trước mộ thành tâm khấn

“Xin Phạm tiền nhân chứng giám lòng”.

(Nguyễn Đạt Tôn) 

6/2/99

 

(*) Chú thích: Trước cổng Hoàng Hoa Cương có đề 4 chữ: “Hào Khí Trường Tồn”.

 

VIẾNG MỘ LIỆT SĨ PHẠM HỒNG THÁI (Họa)

Việt Nam Hồng Thái đấng anh hùng

Vì nước hy sinh rửa hận chung

Mưu giết Thực Dân liều tính mạng

Chôn vùi Hào Khí mượn giòng sông 

Dư âm Lưỡng Quảng bom “sa điện”

Thăm viếng Hoàng Hoa lễ mộ ông

Nghĩa cả nêu cao nơi đất khách

Ngàn sau ghi nhớ khắp muôn lòng.

(Phan Thượng Hải)

6/2/99

 

Tâm Tâm Xã thành lập năm 1923 từ những người trẻ trong Việt Nam Quang Phục Hội như Lê Hồng Phong, Phạm Hồng Thái, Lê Hồng Sơn, Hồ Tùng Mậu…

Năm 1925, Nguyễn Ái Quốc (lúc đó còn có tên là Lý Thụy, vừa từ Liên Xô sang) lập Việt Nam Thanh Niên Cách Mạng Đồng Chí Hội ở Quảng Châu từ Tâm Tâm Xã.  

Cùng năm đó (1925), ông Phan Bội Châu bị Pháp bắt cóc ở Thượng Hải và giải về Việt Nam.  Ông Đặng Tử Kính (1875-1928) sang sống ở Xiêm và mất ở đây. Ông Nguyễn Thượng Hiền đi tu, Việt Nam Quang Phục Hội gần như ngưng hoạt động.  Nguyễn Ái Quốc giữ Việt Nam Thanh Niên Cách Mạng Đồng Chí Hội sau nầy thành Đông Dương Cộng Sản Đảng (1930). 

Sự kiện ông Phan Bội Châu bị Pháp bắt vẫn còn là một nghi vấn trong lịch sử. 


 

Phan Bội Châu tại Huế

 

*

Thực Dân Pháp bí mật giải ông Phan Bội Châu bằng tàu về nước.  Trên tàu, ông làm bài “Tuyệt Mệnh Thi” bỏ vào 1 cái chai liệng xuống biển.  Người đánh cá lượm được nên toàn quốc mới biết tin và biểu tình phản đối.  

 

TUYỆT MỆNH THI

 

Nhất lạc nhân hoàn lục thập niên                Sáu chục năm nay ở cõi đời

Hảo phùng kim nhật liễu trần duyên           Trần duyên giờ hẳn rũ xong rồi

Bình sinh kỳ khí vi hà tử                             Bình sinh chí lớn là đâu tá

Nguyệt tại ba tâm vân tự thiên                    Trăng rọi lòng sông mây ngất trời

 

Sinh bất năng trừ thiên hạ loạn                   Sống đã kông xong trừ giặc nước

Na kham tử lụy hậu lai nhân                       Chết đi há lụy đến người sau

Hảo tòng hổ khẩu hoàn dư nguyện             Phen nầy miệng cọp âu đành dạ

Khẳng nhượng Di Tề nhất cá nhân             So với Di Tề có kém đâu.

 

Thống khốc gian san dữ quốc dân              Thương khóc non sông với quốc dân

Ngu trung vô kế cực trầm luân                   Tài hèn không vớt được trầm luân

Thử tâm vị liễu thân tiên liễu                      Lòng nầy chưa hả thân đà chết

Tu hướng tuyền đài diện cố nhân.              Chín suối thẹn thùng gặp cố nhân.

 

(Phan Bội Châu)                                         (Vô Danh dịch)

 

*

Vì toàn dân trong nước biểu tình phản đối nên Pháp không dám kết án ông.  Ông Phan Bội Châu bị quản thúc (tại gia) ở Huế từ năm 1925 cho đến khi qua đời năm 1940 trong thầm lặng.  Ông sống lẽ loi một mình kể cả vợ con cũng không được thăm hỏi. Thỉnh thoảng ông làm thơ đăng lén trên báo Tiếng Dân ở Huế của ông Huỳnh Thúc Kháng.

 

Đây là một bài thơ tiêu biểu:

 

THƠ TẶNG CÔ GÁNH NƯỚC

Vì nỗi thương người phải nhục mình

Hai vai một gánh nặng đôi bình

Sóng vơi giếng cạn lòng đầy mãi

Nắng dãi mưa dầm gót chạy lanh

Rưới cỏ thêm màu cho đất trắng

Làm mưa chia sức với trời xanh

Nhà nhà có nước là vui vẻ

Chẳng quản công trình, chẳng kể danh.

(Phan Bội Châu) 1929

 

Thật ra sau đó ông Phan Bội Châu có làm 2 bài thơ “Con Gánh Nước”. 

 

THAN VỚI CON GÁNH NƯỚC              CON GÁNH NƯỚC TRẢ LỜI

Đầu mun mặt trú có ra gì?                         Tớ thấy ông than tớ nực cười

Mà gánh đòi vai trót tháng ngày                Trao cho riêng nặng ấy là ai

Khổ nỗi chết mầy thời chết nước               Khô khan chúng cũng khô khan cả

Nặng lòng thương nước phải thương mầy Gánh vác mình sao gánh vác hoài?

Nếu không ai khát đành ngồi nể                Thăm hết mấy sông cùng mấy giếng

Vì có người trông phải dậy đi                    May còn hai cẳng với hai vai

Trách lão Trời già sao lắm việc                 Nếu ông lòng có thương tôi thật

Sinh người sinh nước ấy mà chi.               Chắc đã mây mưa rày hoặc mai?

(Phan Bội Châu)                                        (Phan Bội Châu)

 

Ông Phan Bội Châu và ông Phan Châu Trinh là 2 nhà cách mạng chân chính chỉ vì dân vì nước, không theo những chủ nghĩa được dùng sau nầy: Quốc Dân, Cộng Sản, Xã Hội, Đế Quốc, Quốc Gia…