BIÊN KHẢO - THƠ - VĂN

Phan Thượng Hải

California_________________________

BBT: Qua GS Nguyễn Trung Quân, tác giả Phan Thượng Hải lần đầu tiên đến với Trang Nhà bằng bài biên khảo rất giá trị, nhằm gởi đến đọc giả đại chúng với cái nhìn tổng lượt của một người trẻ về 1 nhân vật văn hóa vĩ đại của nước nhà.

BS Phan Thượng Hải (CHS PTG 61-64) cùng với người em là LS Winston Phan Đào Nguyên là con của 1 công chức cao cấp của tòa án Cần Thơ, cũng là nhà thơ nổi tiếng của đất Cần Thơ thập niên 40, 50: Thi Sĩ LÃNG BA

Chúng tôi cám ơn tác giả và trân trọng giới thiệu cùng đọc giả Trang Nhà.

TBT _____________________________________________________________________________

ĐI THĂM MT RUSHMORE (*)

 

(Nguyên bản)

Bốn vị anh hùng giúp quốc gia

Biểu dương lịch sử nước non nhà

Washington mở đường dân chủ

Jefferson khai lối cộng hòa

Từ A. Lincoln thành hiệp chủng 

Đến Roosevelt đạt vinh hoa

Rushmore tạc tượng truyền nhân thế

Kỷ niệm thành hình nước Mỹ ta.

 

(Tự họa)

Qua tám tiểu bang của quốc gia (*)

Tốt thay địa lý đất quê nhà

Thiên nhiên rộng lớn miền wild west

Nhân tạo tiện nghi nước thái hòa

Xót dạ nghĩ về nguồn gốc Việt

Túc tâm thích ở xứ cờ hoa

Tương lai ngắn ngủi còn may mắn?

Mỹ quốc nương mình thỏa chí ta.

(Phan Thượng Hải)

7/4/16

 

(*) Chú thích: Từ California qua 8 tiểu bang: California, 4 Corners States (Arizona, New Mexico, Colorado and Utah), Nevada, Wyoming and S. Dakota. 

CANADA ĐẤT LẠNH TÌNH NỒNG

 

CANADA

Đất lạnh tình nồng Canada

Cảm thông du khách đến từ xa

Đông Tây lãnh thổ cao dài rộng

Anh Pháp văn minh kết thái hòa

Lễ phép giữ lòng người tốt đẹp

Tự do thêm lối sống hào hoa

Riêng mình độc lập như tòng bách

Bình tỉnh trong lành một quốc gia.

(Phan Thượng Hải)

1/21/17

CANADA ROCKY MOUNTAIN

Phong cảnh kết thành vạn bức tranh

Trời cao đất rộng khí trong lành

Núi non trùng điệp mây lơ lửng

Thung lũng chìm sâu nước uốn quanh

Sơn đỉnh phủ che đầy tuyết trắng

Lâm viên san sát trải cây xanh

Suối tuôn hùng vỹ hồ yên tịnh

Ngoạn mục khai quan thú lữ hành.

(Phan Thượng Hải)

6/12/16

 

MÙA THU CANADA

Lá thu đổi sắc tựa đời ta

Khi hết màu xanh biết tuổi già

Lá đỏ hướng dương thời rạng rỡ

Lá vàng bay bướm thuở hào hoa

Thiên nhiên biến hóa nguồn thi vị

Nhân tạo u buồn tiếng hát ca

Đợi đến lá rơi trong giá lạnh

Bình tâm tận hưởng thú khang hòa.

(Phan Thượng Hải)

10/8/16

 Mùa Xuân JAPAN

MÙA HOA ANH ĐÀO NHẬT BẢN

Xuân về nở rộ khắp gần xa

Nhật Bản đón mừng Sakura (*)

Rạng rỡ trên cành, mầm nghệ thuật

Xinh tươi theo gió, hứng thi ca

Điểm trang ngự uyển thiền sơn tự

Tô thắm phố phường bách tính gia

Thưởng ngoạn Anh Đào, cùng thú vị

Đẹp tình đẹp cảnh đẹp mùa hoa.

(Phan Thượng Hải)

 

(*) Sakura (tiếng Nhật Bản) = hoa Anh Đào.

 

THĂM XỨ PHÙ TANG (Nguyên bản)

Non cao Phú Sĩ chọc trời mây

Cảnh đẹp Phù Tang hiển hiện bày

Tuyết trắng phô màu che đỉnh thượng

Đào hồng khoe sắc đắm hồn say

Phu Thê đôi thạch tình son sắt

Kim Các ba tầng chùa đẹp thay

Ngắm cảnh văn minh người Nhật Bản

Càng thương dân Việt vẫn thơ ngây.

(Chánh Minh Nguyễn Văn Minh)

Kyoto 4/5/09

 

THĂM NÚI PHÚ SĨ (Họa)

Sừng sững một mình giữa nước mây

Thần sơn Phú Sĩ cảnh phơi bày

Đứng nhìn hồ núi hồn mê mẩn

Dạo ngắm kiểng hoa dạ đắm say 

Tuyết đỉnh chọc trời trang trọng nhỉ

Anh đào theo gió đẹp xinh thay

Khách du khoái lạc vào tiên giới

Xao xuyến lòng người mãi ngất ngây.

(Phan Thượng Hải)

Kyoto 4/10/09

__________________________

  CHUYỆN CƯỜI CỔ ĐIỂN TỪ PETRUS KÝ

                                                                                       (Phan Thượng Hải)

 

Chuyện khôi hài của nước Việt Nam ta xuất hiện và được truyền bá là nhờ chữ Quốc Ngữ.  Dĩ nhiên nó bắt đầu từ ông Petrus Trương Vĩnh Ký.

 

(1)

 

Ở Nam Kỳ, ông Petrus Trương Vĩnh Ký xuất bản "Chuyện Khôi Hài" vào năm 1882.  Chuyện khôi hài là chuyện có tác dụng gây cười, có thể trong dân gian hoặc trong lịch sử chính trị hay văn học.  Trước đó trong "Truyện Đời Xưa", xuất bản lần thứ nhất vào năm 1866, ông Petrus Ký cũng có một số chuyện khôi hài như chuyện "Bốn anh học trò đặt thơ trong chùa" và chuyện "Ba anh dốt làm thơ". 

Đây là vài câu chuyện tiêu biểu trong "Chuyện Khôi Hài" của ông Petrus Ký:

 

KHẲNG KHÁI

(Petrus Ký)

 

Ông quan lão kia, người khẳng khái, ăn ngay ở thật lắm, oai cũng chả sợ mà dữ cũng chả lo, cứ ngay thẳng mà làm hơn.  Ổng thấy ông vua hay tây tà mới chuộng cũ vong, thì ổng tâu rằng: "Bệ hạ làm như người chất củi; cây nào sau thì để lên trên, cây nào trước thì cứ để nằm dưới chịu ẹp đó hoài, không cất đầu lên được".


 

ĐỐI THẦN LẦN VỚI KHÍ GIÓ

(Petrus Ký)

 

Từ nước Nam giao hòa và lần sau đây với nước Phú lảng sa, các anh văn thân ngạnh với vua, ghét đình thần, sao có hòa với Tây.

Ông Ngụy Khắc Đản làm bồi sứ đi Tây về, ra ngồi bố chánh (*) tỉnh Nghệ An, văn thân cắc cớ làm câu đối dán vách thành chơi rằng:

Bố đại thần, con đại thần! đại thần gì?  Thần lần. (**)

Quân thấy lột đem vô, ông bố mới viết một câu mà đối lại như vầy:

Nay sĩ khí, mai sĩ khí! sĩ khí gì?  Khí gió. (**)

 

(*) Bố Chánh= tương đương với Tỉnh trưởng

(**) Thần lần=lần thần=có dáng vẻ đờ đẫn chậm chạp.  Giọng người Trung âm giống như Thằn lằn.

(**) Khí gió=khỉ gió=con cu ly; từ ngữ dùng để rủa một cách thân mật khi bực bội.


 

ÔNG HUYỆN VỚI ÔNG ĐỒ

(Petrus Ký)

 

Có anh học trò thi đậu ông đồ ở đâu tới xứ chỗ ông huyện nhậm, ở dạy học, mà hay làm cách thể ông đồ lắm, đờn địch chơi bời phong lưu, ông huyện không ưa mới làm một bài thơ biếm chơi rằng:

Tú tài thi đỗ những khoa mô?

Làm tích trong nhà mặt tỉnh khô

Con trẻ ngất ngơ kêu cậu cống

Mụ già nhóc nhách gọi cha đồ

Ngày dài đờn phím nghe inh ỏi

Buổi vắng thơ ngâm tiếng ầm ồ

Ai khiến tới đây làm bậy bạ?

Khen cho phổi lớn quá hơn bồ.

 

Ông đồ nghe được thì bộ (họa) như vầy:

Biển rộng minh mông dễ cạn mô?

Đố bay một gáo múc cho khô

Tuy chửa vẻ vang quyền cậu cống

Song đà tỏ rõ mặt ông đồ

Nhờ chút ơn Nghiêu nhuần phới phới (*)

Sá chi muông Chích sủa ồ ồ (*)

Căm loài thạc thử lòng tham chạ (**)

Đố khoét cho tao lúa hết bồ.

 

(*) Chó của đạo Chích sủa vua Nghiêu (vua thánh của Nho gia)

(**) Thạc thử=chuột lớn 


 

CON HỌC TRÒ CỨU THẦY SÁU

(Petrus Ký)

 

Buổi kia ngoài Bắc, có Thầy già Sáu (*) kia bị kẻ ngoại bắt ngang trước cửa nhà có đạo.  Chúng nó thộp ngực thầy ấy đang xắm rắm lo trói.  Con có đạo ở trong nhà, đâu cũng mười bảy mười tám tuổi, thấy vậy nóng ruột tính mưu cứu.  Vụt đâm đầu chạy đại ra, bớp thầy ấy cho một bạt tai. "Tôi đà có biểu ấy cứ ở nhà ru con thì xong, ai bảo đi đâu mà lờ khờ thế?".  Nắm tay kéo lôi đi mất.  Rồi ra nói: "Các cậu khéo nhè đứa dại đứa khùng mà bắt làm chi?  Nó là chồng tôi, mà nó khờ dại quá".  Chúng ngờ là thật, rã ra cả, rút nhau về.

 

(*) Tu đạo Thiên Chúa bắt đầu từ Thầy Một cho tới Thầy Sáu rồi làm Cha (Linh Mục).  Thầy Sáu không được có vợ.

 

ANH KÌ CÀO

(Petrus Ký)

Lần kia Thầy Tư (đạo Thiên Chúa) về thăm nhà.  Đâu lại gặp chị nằm bếp, mà yếu, ít sữa, lại không được sỏi cho mấy.  Anh rể mới cậy" "Cậu chịu khó đi mướn giùm cho một vú".  Ừ, biểu trẻ đưa quan tiền cột lưng.  

Ra đi tối ngày, ăn hết tiền, lơn tơn về.  Anh rể mừng chạy ra hỏi: "Sao, mướn được vú hay không?".  "Ối thôi! đi khắp cả cùng làng cùng xứ mà coi, mà coi thì người nào người nấy đều có hai vú cả, không ai một vú mà hòng mướn".

 

CÁ RÔ CÂY

(Petrus Ký)

Nghệ an là tỉnh rộng lớn đàng đất, lại đông dân sự hơn các tỉnh cả và nước An nam.  Người xứ ấy hay co ro cỏm rỏm cần kiệm quá.  

Người ta thường hay nói người Nghệ an đi ra Bắc hay giắt lưng một con cá rô bằng cây khéo lắm.  Hễ tới quán thì chỉ xin mua ít trự cơm mà thôi.  Quán hỏi có mua đồ ăn, thịt đông, chả giò, nước mắm chi không? thì nói không, xin một chút xỉu nước mắm dầm cá mà thôi.  Bỏ cá cây vô dĩa lật qua lật lại, húp cho mặn miệng mà trơu cơm ba miếng.  Làm lận như vậy cho khỏi tốn tiền đồ ăn.  Ăn rồi giắt cá vào lưng phủi đít ra đi.

 

NỬA TRỰ CƠM NỬA TRỰ CANH

(Petrus Ký)

 

Người kia ở trong nầy (*) ra Hà Nội, tới quán trong lưng rờ đà ráo túi may còn lại một đồng tiền bể hai.  Anh ta làm điếm với bà mụ quán:

"mụ bạn cho tôi nựa trự cơm với nựa trự canh".

Mụ quán xúc cho.  Anh ta đổ canh vô hết, và mà ăn, nhăn mặt lại:

"cha chà! mặn quạ, mụ làm phược cho thêm một tị cơm."

Trộn rồi ăn cũng chắt lưỡi:

"chừ lại lạt quạ, ăn chạ vô mô, mụ làm phược cho thêm chụt canh."

Ăn lua ba miếng chắc bụng, vạch hầu bao lấy hai miếng tiền sứt, đưa ra: Tịnh cho phân biệt nọ: đây nầy là nựa trự cơm, còn đây là nựa trự canh".  Rồi bỏ đi liền.

 

(*) Đó là người Nghệ an; chuyện nầy tiếp theo chuyện "Cá rô cây".  

Từ chuyện nầy, ta thấy hậu sinh nghĩ sai về người Bắc kỳ?


 

TÚ SUẤT LẬT VÁY BÀ QUAN

(Petrus Ký)

Tú Suất là tay kì cào hay chơi lắt lở.  Bữa kia, bà tổng đốc đi ngang qua trước phố; trời thì mưa lâm râm.  Chúng bạn cắc cớ đố nhau, ai dám làm thế nào mà lật váy bà quan lớn chơi.

Anh ta chịu phóc lấy, lăng căng trong phố bước ra, lanh chanh trật chơn, bùn văng lên váy bà ấy.  Lật đật chạy lại, miệng nói: "trăm lạy bà, con xin lỗi, tay cầm khăn xách quách cái váy lên làm bộ chùi lia, ban đầu còn thấp thấp, sau càng dở lên cao.  Bà quan mắc cỡ lấy tay đùa xuống, nói rằng: Chả hề chi.

 

ÔNG CỐNG QUÌNH (*)

(Petrus Ký)

.........

Tàu sai sứ đem một cây gòn đẽo bào bằng gốc bằng ngọn, lại kéo sơn đôi ba nước, mất da mất thịt cây đi hết, ở giữa có đề hai chữ: Túc Tử.  Đem qua đố An nam biết là tên cây gì, lấy chữ đó mà bàn cho ra tên.  Lại đố biết đầu nào gốc đầu nào ngọn.

Các quan hiệp nghị, mời Cống Quình tới hỏi: "Sao, ông tính nói cái ấy đặng hay là không?"

Cống Quình chịu, lãnh về nhà tính.  Sáng ngày ra, vua ngự, lập ban cho sứ vào chầu, Cống Quình quì xuống tâu: "Chữ Túc là lúa, chữ Tử là con.  Hễ là: còn lúa con ăn con no con mập, hết lúa con mòn con gầy: thì là cây gòn.  Còn viết nói đầu nào gốc đầu nào ngọn, thì xin xuống mé sông tôi sẽ coi".

Vua quan cùng các sứ thảy đều xuống theo mà nghe nói.  Dạy khiêng cây xuống.  Ông Quình mới thả day ngang qua sông, thì nó phải day trôi theo giọt nước; đầu nào day trước ấy là đầu gốc.

.........

(*) Chữ "Quình" viết như vậy trong sách của ông Vương Hồng Sển thay vì là "Quỳnh".


 

Chuyện khôi hài của ông Petrus Ký rất sâu rộng.  Thường là câu chuyện làm độc giả cười đối tượng trong chuyện nhưng ông còn cho thấy các đối tượng trong chuyện cười lẫn nhau.  Cười không những là vui mà cười, nhưng còn cười vì những tình cảm khác.  Đề tài gồm cả quốc gia (dân tộc, lãnh thổ và chánh quyền) và xã hội (kinh tế, tôn giáo, văn hóa, khoa học...).  Trong câu chuyện, ngoài văn xuôi, ông còn dùng thơ và câu đối.  Ông Petrus Ký còn tạo ra những nhân vật như Cống Quỳnh, Tú Suất...

Những tác giả về chuyện khôi hài (hay tiếu lâm) sau nầy đều không có được cái tài sâu rộng như ông Petrus Ký.


 

(2)

 

Từ ông Petrus Ký, ở Nam Kỳ có ông Phụng Hoàng San xuất bản "Chuyện Tiếu Lâm" (1912) và ông lại cùng ông Dương Diếp, cũng ở Mõ Cày, xuất bản "Truyện Tiếu Đàm" (1914).  Chuyện tiếu lâm là chuyện cười trong dân gian.

Đây là 4 câu chuyện tiêu biểu của Phụng Hoàng San và Dương Diếp:

 

LÒ MÒ

(Phụng Hoàng San)

Có người kia vợ nằm bếp mà không có tiền mướn người nuôi, con em vợ mới qua nhà chị mà nuôi giùm.  

Ở trong nhà thì chật để được 2 cái chõng mà thôi.  Anh ta có ý muốn em vợ, mới lần mò bò vô, rồi nghĩ biết mình làm chuyện quấy, thụt trở ra, bò tới, bò lui đôi ba bận.  Con em vợ nó thấy mà không nói.  

Con vợ ngó thấy, ngắt thằng nhỏ khóc lên, rồi ru như vầy: 

“Ội ội! con ôi nín bú cho no; hỡi người quân tử, chớ bò đi đâu?”

Con em vô thấy chị mình ru như vậy, lại biểu chị mình đưa cháu cho tôi ru cho, rồi ru như vầy:

“Cháu ôi! hãy ngủ cho ngon; của dì dì giữ, ai bò mặc ai!”

Anh ta ở ngoài nghe, nột ý ứng tiếng lên, hát khan như vầy: 

“Đêm khuya gà gáy ó o, tao ngủ không đặng, tao bò tao chơi !!!”.


 

MỚI DỰNG KỆ

(Phụng Hoàng San và Dương Diếp)

 

Vua Diêm Vương đau.  Sai quỉ sứ lên rước thầy thuốc, dặn quỉ rằng: "Nhà thầy nào trước cửa không có ma là thầy hay".

Quỉ sứ lên đi từ sớm mai đến trưa, coi nhà thầy thuốc nào cũng nhiều ma.  Thấy nhà thầy kia có một con ma mà thôi.  Quỉ mừng vào hỏi thầy làm thuốc được bao lâu.  Thầy rằng: "Tôi mới dựng kệ hôm qua!"

Ý là mới dựng kệ (*) hôm qua mà đà giết một mạng, phải vài ba năm, biết là bao nhiêu?

 

(*) Dựng kệ: ý nói mở phòng mạch (business)


 

THẦY THUỐC HAY

(Phụng Hoàng San và Dương Diếp)

Một người kia vào tiệm thuốc, mua thuốc hưng dương.  Uống rồi về nửa đường, thuốc mạnh nó cứng liền.  Anh ta và cầm và nhảy lên nhảy xuống mà rằng: "Thiệt thầy thuốc hay!  Thầy thuốc hay thiệt!!"


 

CŨNG CHẾT

(Phụng Hoàng San và Dương Diếp)

 

Hai đứa dắt nhau ra bờ tre, trai gái với nhau.

Con gái hỏi thằng trai rằng: "Sao, anh thương tôi không?"

Trai rằng: "Tao thương mầy lắm chớ, như tao mà có bỏ mầy, cho tao chết đi!"

Trai hỏi lại: "Còn mầy có thương tao không?"

Cỏn rằng: "Tôi mới thương anh lắm chớ, như tôi mà có bỏ anh, thì cho tôi chết".

Có ông già ngồi sông (*) bên kia đường, nghe liền nói rằng: "Còn tao mà sông không đặng, tao cũng chết!!"

 

(*) Sông=ỉa


 

(3)

 

Cuối thập niên 1910s, ở Bắc Trung Kỳ có 3 Tập "Tiếu Lâm An Nam" của tác giả là Thọ An.  Thọ An chính là Học giả Phạm Duy Tốn (thân phụ của Nhạc sĩ Phạm Duy).  Ông Phạm Duy Tốn thuộc Đông Dương tạp chí và Nam Phong tạp chí.

Tiếu Lâm An Nam của Thọ An Phạm Duy Tốn có những chuyện mang nội dung giống với chuyện của Petrus Ký và của Phụng Hoàng San và Dương Diếp ở Nam Kỳ.

Câu chuyện về bài thơ Con Cóc nổi danh được đăng trong sách của Petrus Ký và của Thọ An Phạm Duy Tốn:


 

BA ANH DỐT LÀM THƠ (*)

(Petrus Ký)

 

Có ba anh học trò dốt ngồi nói chuyện với nhau.  Mới nói: Mình tiếng con nhà học trò mà không có làm thơ làm phú với người ta thì té ra mình dở lắm.  Mấy người kia mới nói phải.  Hè nhau làm ít câu chơi.

Anh thứ nhất thấy con cóc ở trong hang nhảy ra, mới làm câu mở như vầy: Con cóc trong hang con cóc nhảy ra.  

Người thứ hai tiếp lấy: Con cóc nhảy ra con cóc ngồi đó.

Người thứ ba: Con cóc ngồi đó con cóc nhảy đi

Lấy làm hay lắm.  Rồi nghĩ lại giựt mình, vì trong sách nói: Hễ học hành giỏi thì sau cũng phải chết.  Cho nên tin như vậy mới biểu thằng tiểu đồng ra đi mua ba cái hàng đất để dành cho sẵn đó.

Tiểu đồng lăng căng đi mua, ghé ra quán uống nước ngồi xớ rớ đó.  Có anh kia hỏi nó đi đâu? Mua giống gì? Thì nó nói: Ba thầy tôi thông minh trí huệ, làm thơ hay lắm, sợ lời sách quở, có khi không sống, nên sai tôi đi mua ba cái hòm.

- Mầy có nghe họ đọc thơ ấy không?

- Có

- Mà có nhớ nói lại nghe chơi, coi thử sức nó hay làm sao ?

Thằng tiểu đồng mới nói: Tôi nghe đọc một người một câu như vầy:

Con cóc trong hang con cóc nhảy ra

Con cóc nhảy ra con cóc ngồi đó

Con cóc ngồi đó con cóc nhảy đi

Anh kia nghe tức cười nôn ruột, mới nói với tiểu đồng:

- Mầy chịu khó mua giùm cho tao một cái hòm cho luôn trót thể

Tiểu đồng hỏi: Mua làm chi?

Lão nọ mới nói: Tao mua hờ để đó, vì tao sợ tao cười lắm, có khi cũng chết theo ba thầy làm thơ đó nữa.

 

(*) Chuyện nầy được viết lại đúng nguyên văn trong quyển "Chuyện Xưa Tích Cũ" của Sơn Nam. 


 

THƠ CÓC

(Thọ An Phạm Duy Tốn)

Có ba ông vẫn tự đắc là mình hay thơ nôm.  Một hôm, rủ nhau đi chơi chùa, để cùng họa thơ tức cảnh.  Nhưng mà đến chùa, không biết làm thơ gì; mới bảo nhau hãy đưa tiền cho ông tự đi mua rượu và đồ nhắm về đánh chén đã: - Hễ rượu vào thì tự khắc thơ ra tuồn tuột!  Mua về, ba ông ngồi bắt chân chữ ngũ, gật gù uống rượu, rung đùi nghĩ thơ.  Chợt thấy con cóc ở trong xó, nhảy ra.  Một ông mới ngâm rằng:

Con cóc trong hang,

Con cóc nhảy ra.

Ông thứ hai họa theo rằng:

Con cóc nhảy ra,

Con cóc ngồi đấy.

Ông thứ ba:

Con cóc ngồi đấy,

Con cóc nhảy đi.

Ba ông cùng vỗ đùi, cười ồ cả lên khen rằng: - Hay! hay! hay thật?

Cười chán rồi, một ông bảo rằng: - Thơ ta tuyệt cú! mà ta xuất khẩu thành chương như thế thì tôi e lắm, hai tiên sinh ạ.  E rằng Thánh nhân người đã dạy: Ai mà linh khẩu lắm thì kẻo chết non.  Vậy ta phải nên liệu trước.

Hai ông kia lấy làm phải lắm, bèn mời ông tự ra, nói hết đầu đuôi; rồi đưa tiền nhờ mua hộ ngay cho ba cổ ván.

Ông tự cầm tiền đi mua.  Một chốc đem về bốn cái áo quan.

Ba ông hay thơ mới hỏi: - Sao mua những bốn cái thế? - Thưa các ngài, tôi mua thêm một cái để cho tôi, bởi vì tôi buồn cười quá, cũng đến chết mất.


 

Chuyện của Thọ An nói về ba người đi chùa làm thơ như trên cũng giống ý một chuyện về làm thơ khác của ông Petrus Ký:

 

BỐN ANH HỌC TRÒ ĐẶT THƠ TRONG CHÙA

(Petrus Ký)

 

Bốn anh học trò đi đường, ghé qua chùa chơi.  Ngồi coi bạ bàn thấy tượng đồ treo thờ đó, mới rủ nhau làm ít câu thơ chơi.

Anh thứ nhứt, thấy tượng Quan Đế, thì mở rằng:

Hớn vương ăn ớt mặt đỏ gay

Anh thứ hai thấy tượng Quan Bình, thì đặt:

Bên kia Thái tử đứng khoanh tay

Người thứ ba ngó quanh quất, thấy tượng Châu Thương thì đặt:

Thằng mọi râu rìa cầm cái mác

Còn anh thứ bốn ngó ra, thấy con hạc đạp lưng qui, thì thêm:

Ngoài nầy cò quắm đạp cầy thay. (*)

 

(*) Cò quắm=cò có mỏ dài.  Cầy thay=cần thay: đều là tiếng Miên nói trại, chỉ loại rùa lớn con.


 

(4)

 

Chuyện Tiếu Lâm của Thọ An Phạm Duy Tốn và của Phụng Hoàng San (và Dương Diếp) có những đề tài với nội dung giống nhau (nhưng hình thức khác nhau).

Đây là 3 đề tài tiêu biểu:


 

* (Đề Tài 1)

 

GIẤU CÀY

(Phụng Hoàng San)

Một lão cày ruộng kia, tới buổi, vợ kêu về ăn cơm, lão nói lớn lên rằng: - Khoan đã! Để tao dấu cái cày đi đã rồi sẽ về.  Vợ dặn: Giấu cày thì phải làm thinh, chớ ông la lớn chúng nghe nó ăn cắp đi còn gì?  Từ rày sắp lên đừng có nói lớn như vậy nữa.

Về ăn rồi trở ra thì quả thật chúng đã lấy mất cái cày.  Lão lật đật chạy về giõ miệng vào lỗ tai vợ mà nói nhỏ rằng: - Họ ăn cắp cái cày rồi mụ ạ!


 

ÔNG GIÀ THẬT THÀ

(Thọ An Phạm Duy Tốn)

Có một lão già thật thà quá.  Một hôm cày ruộng ở ngoài đồng.  Đến bữa cơm, bà vợ ra cổng đứng gọi to rằng:

- Ông ơi, cơm chín rồi, đi về mà ăn.

Ông lão cũng nói to rằng:

- Ừ, để tôi giấu cái cày vào trong bụi tre đã, rồi tôi về.

Đến khi về, vợ bảo chồng:

- Giấu cày thì cứ im mà giấu; sao ông lại kêu rống lên thế, người ta biết, người ta có lấy mất không?  Từ rày giở đi, ông đừng có nói to thế nữa nhé!

Ông lão gật đầu:

- Ừ, từ rày tôi không nói to nữa.

Ăn cơm xong, ông lão giở ra đồng, vào bụi tre tìm cày thì không thấy cày đâu nữa, người ta ăn cắp mất rồi.

Vội vàng chạy về, ghé mồm vào tai vợ mà nói rằng:

- Người ta ăn cắp mất cái cày rồi, bà mày ạ!


 

* (Đề Tài 2)


 

LẤY THUỐC MỌC RÂU

(Thọ An Phạm Duy Tốn)

 

Có một anh không có râu, bị vợ diếc móc khổ quá, phải đi lấy thuốc mọc râu.

Một hôm, mang tiền đến nhà ông lang.  Chẳng may ông lang đi vắng, chỉ có bà lang ở nhà mà thôi.  Bà lang thấy anh ta đến, mới hỏi rằng:

- Bác hỏi gì?

- Thưa bà, tôi đến xin thuốc.

- Ông lang tôi đi vắng, bác lấy thuốc gì?

- Thưa, tôi xin thuốc mọc râu.

Bà lang ngồi nghĩ một chốc, rồi nói rằng:

- Tưởng lấy thuốc gì thì tôi không dám hạ thủ, chứ thuốc nầy tôi đã kinh trị.  Để tôi giùm cho!

Rồi lấy một ít liên tu, gói vào giấy, đưa cho anh kia mà nói rằng:

- Phương thuốc nầy thì phải nội ẩm, ngoại đồ (*) mới được.  Đây tôi bôi thuốc uống; còn thuốc đồ, bác phải kiếm lấy.

Anh kia cầm lấy thang thuốc hỏi rằng:

- Thưa bà, thuốc đồ thế nào, xin bà bảo cho.

- Bác kiếm lấy hai hòn đá cuội, lấy da bong bóng lợn bọc lại.  Khi uống thuốc rồi, thì lên giường nằm ngửa, lấy túm đá cuội ấy mà giay trên môi một lúc, rồi lấy ít dầu vừng đổ qua, thì mọc được râu.

Anh ta mừng quá, giả tiền thang thuốc, rồi chạy về nhà.

Một chốc, ông lang về, hỏi bà lang rằng:

- Tôi đi vắng, ở nhà có ai đến lấy thuốc không?

Bà nói: - Có, có người đến xin thuốc.  Ông đi vắng, nếu không có tôi ở nhà khai phương cho người ta, thì người ta đi lấy chỗ khác.

Ông lang ngạc nhiên hỏi:

- Ai lấy thuốc gì mà bà dám bốc?

Bà lang mới kể tình đầu lại cho chồng nghe.

Ông lang ngẩn ra, hỏi rằng:

- Chứ bà theo sách nào mà bốc cho người ta như thế?

Bà quắc mắt, cãi rằng:

- Chẳng phải theo sách nào cả!  Khi tôi mới lấy ông thì tôi có tí...nào đâu?  Sao ông chỉ đồ cho tôi một ít lâu, mà sao bây giờ mọc rậm thế??

 

(*) Nội ẩm ngoại đồ=trong uống ngoài thoa.


 

THUỐC TRỒNG RÂU

(Phụng Hoàng San và Dương Diếp)

Người kia không râu, giận mình không phải đứng trượng phu, mới đi tới thầy mua thuốc trồng râu, thầy đi khỏi.  Người vợ bày một phương rằng: "Có gì khó, về lấy trứng dái gà mỗi bữa chà chà hai bên mép, thủng thẳng rồi nó ra".  Người ấy về làm y như vậy, ít lâu sau quả có râu ra.

Người ấy mừng đem đồ tới đền ơn.  Thầy mới hỏi vợ phương thuốc đó ở đâu mầy thấy?  Vợ rằng: "Y là ý vậy" (nghĩa là thuốc tại có ý), thiếp ngày mới gả cho phu quân, một sợi lông cũng không, vì bị hai hòn ngoại thận của phu quân chà hoài, chẳng bao lâu bây giờ cho đến đỗi xồm xàm ra thế nầy...


 

* (Đề Tài 3)

 

ÔNG RÂU RẬM

(Thọ An Phạm Duy Tốn)

Có một ông râu rậm che kín cả miệng.  Một hôm, đương đi ở ngoài đường, chợt có đứa bé trông thấy, nó mới gọi mẹ nó mà bảo rằng:

- Mẹ ơi! ra mau mà xem người không có mồm!

Rồi nó cứ vỗ tay, chạy theo mà reo lên rằng: A! a! a! ông nầy không có mồm

Ông râu rậm tức quá, quay mặt lại, vạch râu chửi nó rằng:

- Chẳng mồm là l... mẹ mầy đây à!

 

ÔNG GIÀ KHÔNG CÓ MIỆNG

(Phụng Hoàng San và Dương Diếp) 

Chú kia râu ria um sùm không thấy miệng mồm đâu hết.  Đi đường gặp thằng con nít nói chơi rằng: "Hồ tử nghinh phong tẩu, chỉ kiến hồ tử bất kiến khẩu" (Râu ria đi ngoài gió, chỉnh thấy râu ria miệng đâu có).

Người râu giận quá, tay nắm râu dở lên bày miệng ra, chỉ miệng mà mắng rằng: "Giống gì đây không phải miệng, vậy chớ húm mẹ mầy đây sao?"

Thằng nhỏ bị mắng khóc chạy về mét với mẹ nó.  Mẹ nó dỗ nó rằng: "Không phải đâu con.  Chú nó mắng người khác đa!  Thôi, con chạy theo mắng chú lại, nói mẹ có mà ít kìa, le the năm mười sợi he, chớ không phải xồm xàm như chú vậy đâu!"

 

GIỐNG ÔNG BỘ RÂU

(Vương Hồng Sển, do một người bạn Bắc thuật lại)

Có một ông huyện đi làm quan ở xa, vợ ở nhà gần ngày sanh.  Ông nóng biết tin nên sai thằng trung tín về xem bà đã ở cữ rồi chưa.  Vốn thằng nhỏ có tánh ngây ngô, sợ việc đàn bà đẻ, nó không dám vào, đứng ngoài hàng rào xớ rớ để nghe ngóng.  Bất ngờ bà ra vườn, vén váy đi tiểu.  Thằng kia trông thấy, vội vàng chạy về bẩm với ông: - Bẩm ông, bà đã ở cữ rồi.

Quan nghe mừng lật đật hỏi: - Chớ bà mầy đẻ con giai hay con gái?

- Bẩm, con không tường cô hay cậu, nhưng con nhìn thấy giống ông lắm.

- Mày trông giống tao cái gì?

- Bẩm, giống ông ở bộ râu! 



 

(5)

 

Cùng những Đề tài nổi tiếng từ Chuyện Tiếu Lâm của Phụng Hoàng San hoặc từ Chuyện Khôi Hài (trong Dân Gian) của Petrus Ký, ngày nay có những câu chuyện tiếu lâm hơi khác.

Có 2 Đề tài:

 

* (Đề Tài 1)

 

THƠ NGỰA HAY

(Phụng Hoàng San) 

Hai vợ chồng ông kia, nhà giàu có, sanh đặng ba đứa con gái dung nhan đẹp đẽ.  Hai đứa lớn gả cho hai người văn chương, còn con gái út, có nhiều nơi coi mà nó không khứng.

Khi ấy có một tên kia nhà phú hậu, lại thêm lịch sự trai đến cầu hôn.  Ông chê nó ít học, không chịu gả, còn cỏn thì đành.  Bả thương con út, có ý chiều lòng con, mới khuyên ổng rằng: "Hễ học thì phải hay, chớ cái lịch sự khó kiếm lắm.  Nó tuy ít học, về mình dạy thêm nó phải trở nên một đứng văn chương."

Ổng nói: "Nó tuy lịch sự trai, song nó bất học, nên ăn nói không thanh nhã, mụ nói lắm tôi cũng nghe theo."

Gả cưới xong rồi, ổng mới mua đặng một con ngựa hay lắm, trong lúc ăn tiệc, ổng biểu ba người rể làm thơ khen con ngựa hay.

Người rể lớn làm như vầy:

"Mặt nước thả cây kim; cha tôi cỡi ngựa chạy như chim; chạy đi chạy lại, cây kim chưa chìm."

Người rể giữa đặt rằng:

"Than lửa để cái lông; cha tôi cỡi ngựa chạy như dông; chạy đi chạy lại, cái lông chưa hồng."

Ông hỏi thằng nhỏ sao không làm.

Nó thưa: "Hai ảnh làm, choán hết ý hết vận, nên tôi họa chưa được, để thủng thẳng tôi nghĩ."

Bả liền nói đỡ cho nó rằng: - Nó đã nhỏ, ông lại hối lắm, nó rối trí làm sao cho được!

Bả lật đật và bước và nói, rủi lỡ trôn.

Thẳng nghe liền mừng mà nói rằng: "Thưa mẹ, tôi nghĩ đặng bài thơ rồi."

Bả biểu: - Thì con viết ra, rồi đọc nghe thử.

Anh ta viết rồi đọc rằng:

"Mẹ tôi xán cái địt; cha tôi cỡi ngựa chạy như hít; chạy đi chạy lại, đít mẹ chưa khít."

Bả nghe nói nửa bài, bỏ đi xuống nhà dưới một nước.  

 

BỐN CHÀNG ĐI HỎI VỢ

(Chuyện tiếu lâm thời nay)

Một ông phú hộ có một cô con gái độc nhứt.  Có 4 chàng tới xin cầu hôn.  Nhân vì ông có một con ngựa chạy hay, ông mới ra đề biểu 4 chàng tả cái tài chạy mau của con ngựa nầy.  Ai làm thơ hay nhứt thì ông gả con gái cho.

Chàng thứ nhứt văn chương giỏi liền ứng khẩu đọc:

Lưng trời chiếc lá rơi

Ngựa Ông phi một hơi

Phi đi rồi phi lại

Chiếc lá vẫn lưng trời

Nhân thấy cô gái bưng nước ra mời khách, chàng thứ nhì liền nghĩ ra bài thơ hay hơn và đọc liền:

Ly nước để cây kim

Ngựa Ông phi như chim

Phi đi rồi phi lại

Cây kim vẫn chửa chìm

Chàng thứ ba đang ngẫm nghĩ chưa ra.  Ông phú hộ thì thích chàng nầy nên lấy làm lo bèn đốt thuốc hút.  Nhìn thấy ông đốt thuốc, chàng thứ ba làm được bài thơ hay hơn nữa:

Đốt thuốc để cháy lông

Ngựa Ông phi lông bông

Phi đi rồi phi lại

Cái lông vẫn chửa hồng

Bà phú hộ thích và nóng ruột cho chàng thứ tư, lính quýnh như gà mắc đẻ ở phòng trong nên Bà phát "địt".  Chàng nầy nghe được mừng quá làm ra bài thơ: 

Từ Bà nghe tiếng địt

Ngựa Ông phi mù tít

Phi đi rồi phi lại

Lỗ đít vẫn chưa khít.

Bài nầy hay nhứt nên chàng thứ tư được vợ.


 

* (Đề Tài 2)

 

ĐỐI ĐƯỢC VỢ

(Petrus Ký)

Anh học trò khó lịch sự bảnh bao người, đi khuyên giáo, tới nhằm cái nhà kia giàu có.  Trong nhà thợ đang còn làm ầm ầm ạc ạc, cũng có thầy lang (thầy thuốc) với thầy pháp tới đó nữa.

Con gái nhà ấy đã đúng tuổi, chưa có chồng, thấy vậy thì thương, ra nói rằng: "Thôi, đừng có đi khuyên giáo làm chi mà xấu hổ đạo học trò, để tôi ra cho một câu đối, ai đối được trúng ý tôi thì tôi sẽ lấy người ấy làm chồng.

Ai nấy nghe ham chợp rợp.  Xin cô ra đối đi.  Cô ấy ra rằng:

"Đế Nghiêu, đế Thuấn, đế Võ; Võ, Nghiêu, Thuấn, tam đế truyền hiền"

Chú thợ mộc hớp tớp đối lại rằng:

"Bào rà, bào tách, bào xoi; xoi, rà, tách, ba bào phạt mộc"

Thầy pháp cũng nóng đối rằng:

"Lôi thiên, lôi tướng, lôi bồng; bồng, thiên, tướng, tam thiềng trừ quỉ"

Thầy chùa xen vào đối rằng:

"Bồ đề, bồ tát, bồ lương; lương, Đề, Tát, tam Bồ cứu khổ"

Thầy lang lại đối rằng:

"Huỳnh cầm, huỳnh bá, huỳnh liên; liên, cầm, bá, tam huỳnh giải nhiệt"

Anh học trò lịch ịch ở sau, đối rằng:

"Vương Văn, vương Khải, vương Thang; Thang, Văn, Khải, tam vương kế Thánh"

Đối trúng ý, trúng đề, cô ấy chấm được.

May cha chả là may; sẵn nhà, sẵn cửa, sẵn cơm. sẵn gạo; nhảy phóc vô đó một cái, sướng đã nên sướng!

 

ĐỐI ĐƯỢC VỢ 

(Chuyện tiếu lâm thời nay)

Một nhà giàu có cô con gái đẹp, tuổi vừa đôi tám.  Ông bố chỉ kén rể hay chữ.  Ông ra một vế đối, bảo ai đối được, ông gả con gái cho.

"Đế Nghiêu, đế Thuấn, đế Vũ; Vũ, Nghiêu, Thuấn, tam đế truyền hiền"

(Vua Nghiêu, vua Thuấn, vua Vũ; ba vua Vũ Nghiêu Thuấn truyền ngôi cho người hiền)

Câu đối ra, hôm đầu có một bác thợ mộc đến xin đối:

"Bào ra, bào tách, bào xoi; xoi, ra, tách, ba bào phạt mộc"

Ông nhà giàu cho là không được.  Câu nầy cứ kể có ba tiếng bào, ba tiếng xoi, tách, ra nghe được.  Nhưng vì chữ Nôm đối với chữ Hán có thể cho là không hay.  Trong câu chỉ có hai chữ "phạt mộc" là chữ Hán nhưng "phạt mộc" (cắt cây) lại không ai dùng bào bao giờ.

Hôm sau có thầy phù thủy xin đối:

"Lôi Thiên, lôi Tướng, lôi Bồng; Bồng, Thiên, Tướng, tam lôi trừ quỷ"

Ông nhà giàu cũng cho là không được.  Có lẽ ổng nghĩ rằng có ba vị lôi Thiên, lôi Tướng, lôi Bồng thật hay không và ba vị nầy có trừ quỷ thật không?

Hôm sau nữa có ông thầy thuốc đến xin đối:

"Hoàng cầm, hoàng bá, hoàng liên; liên, cầm, bá, tam hoàng giải nhiệt"

Ông nhà giàu vẫn cho là không được.  Có lẽ ổng không tin là ba vị thuốc hoàng cầm, hoàng bá và hoàng liên đều giải nhiệt được.

Mãi một hôm có một người học trò đánh liều đến xin đối:

"Vương Văn, vương Khải, vương Thang; Thang, Văn, Khải, tam vương kế thánh"

Ông nhà giàu cho là được và bằng lòng gả con gái cho người học trò.  Vua (tên) Khải là vua đầu nhà Hạ, vua (Thành) Thang là vua đầu nhà Thương (Thang) và vua Văn là vua đầu nhà Chu đểu là Thánh Vương. 


 

(6)

 

Trong Chuyện Khôi Hài của Petrus Ký còn có những chuyện khôi hài trong văn học hay chính trị.  Chúng còn tạo ra những "nụ cười" không vui.

Tuy nhiên có những câu chuyện dưới đây khác với Sử sách hiện đại:


 

* (Câu chuyện 1)

 

CÂU ĐỐI CÓ CHÍ KHÍ

(Petrus Ký)

Ông huyện kia đi dọc đường, gặp một thằng con nít đi học về.  Thấy bộ mặt đứa sáng láng bảnh lảnh, mới kêu mà ra câu hỏi rằng:

Tự là chữ, cất dằn đầu, chữ tử là con, con nhà ai đó?

Đứa học trò chí khí đối lại liền:

Vu là chưng, cất ngang lưng, chữ đinh là đứa, đứa hỏi ta chi?

Ông huyện nghe biết đứa có chí lớn, bèn nói sau nó sẽ làm nên mà chớ.  Mà thiệt như làm vậy chẳng sai.

 

(Sử sách hiện đại)

Hai câu đối trên có trong Lịch sử về Trạng Nguyên Nguyễn Hiền:

Năm Bính Ngọ (1246), Nguyễn Hiền đỗ đầu Thái Học Sinh, năm sau đỗ Trạng Nguyên lúc mới 13 tuổi.  Khi ra mắt nhà vua, vua thấy Nguyễn Hiền còn bé loắt choắt, ăn nói không đúng phép nên cho về nhà học lễ, ba năm sau sẽ bổ dụng.  Trạng Nguyên về được ít lâu thì có sứ nhà Nguyên sang đưa ra một bài thơ để thử nhân tài nước Đại Việt.  Cả triều đình đều chịu thua không ai hiểu ý của bài thơ.  Có quan tâu vua thử cho mời Trạng Hiền đến hỏi.  Vua đành sai sứ đến tận làng tìm Trạng Nguyên Nguyễn Hiền.  Tới làng thì sứ gặp một thằng bé đang đùa nghịch ở đầu làng liền hỏi thăm nhà Trạng Nguyên thì thằng bé cứ làm thinh.  Sứ thấy đứa bé ngộ nghĩnh nên đọc thử câu đối:

Tự (字) là chữ, cất giằng đầu, chữ tử (子) là con, con ai con ấy?

Đứa bé đối lại ngay:

Vu (于) là chưng, chặt ngang lưng, chữ đinh (丁) là đứa, đứa nào đứa này?

Đối xong đứa bé bỏ chạy.  Sứ biết là quan Trạng nên theo tới nhà thì thấy quan Trạng đứng trong bếp, sứ lại đọc một câu nữa để trêu chọc:

Ngô văn quân tử viễn bào trù, hà tu mị táo

(Ta nghe người quân tử thường lánh xa nơi bếp núc, sao lại đi nịnh ông Táo?)

Quan Trạng liền đối:

Ngã bản hữu quan cư đỉnh nại, khả tạm điều canh

(Ta vốn là chức quan vào hàng Tể tướng, nhưng hãy tạm nếm canh!)

(Điều canh: nếm canh, có nghĩa bóng là làm Tể tướng do câu của vua Cao Tông nhà Thương nói với Phó Duyệt lúc cử Phó Duyệt làm Tể tướng).

Sứ khâm phục mời quan Trạng về Kinh đô nhưng quan Trạng từ chối nói rằng:

- Trước nhà vua bảo ta không biết lễ (phép), nay chính nhà vua cũng không biết lễ.

Sứ về tâu lại, nhà vua phải mang xe ngựa, nghi trướng đến đón long trọng thì quan Trạng mới chịu đi.

Đến Kinh đô, Trạng Nguyên Nguyễn Hiền giảng giải bài thơ của sứ nhà Nguyên rõ ràng.  Nguyễn Hiền làm quan đến Công Bộ Thượng thư nhưng ông chết sớm (thọ 21 tuổi). 

  

 

* (Câu chuyện 2)

 

NGÔ THÌ SỸ VỚI TÁN LÝ THƯỜNG

 

(Petrus Ký)

Ông Thường (tán lý Thường), đời loạn Tây sơn ra lấy Bắc, con nhà học trò giỏi văn chương chữ nghĩa, cũng là bạn học với ông Ngô Thì Sỹ; giận ý kẻ nịnh lại hổ vì bị nhục mà vào Gia Định ở, đầu thầm với vua Gia long.  Vô một năm rồi ra ngoài Bắc, giả chết, biểu vợ con giả đò chôn cất để tang để chế cho, rồi mới vào lại làm tôi vua Gia Long.  Khi trước ở ngoài ấy còn hàn vi đi đường gặp ông Ngô Thì Sỹ là bạn học, mà khi ấy làm quan lớn, đi võng điều lọng lợp binh gia rần rộ (làm quan cho vua Quang trung là Nguyễn Văn Huệ, nhà Tây sơn).  Mặc áo rộng, đội nón tu lờ điệu học trò; đi né tránh bên đường, lính nó nói sao có vô phép, nó bắt nó vật xuống đánh cho vài chục.  Quan lớn mới hỏi là ai, thì bẩm rằng mình là học trò; thì Ngô Thì Sỹ mới rằng: "Có phải là học trò thì ra câu đối cho mà đối".  Ra rằng:

Ai công hầu? Ai khanh tướng?

lúc trần ai, ai dễ biết ai?

Ông Thường đối lại rằng:

Thế chiến cuốc, thế xuân thu,

gặp thì thế, thế nào thì thế.

 

(Sử sách hiện đại)

Câu chuyện về Tán Lý Đặng Trần Thường trên đây khác với chuyện của ông trong Lịch sử:

 

Trong các đại công thần của vua Gia Long có một người Bắc Hà là ông Đặng Trần Thường.  Sau khi thống nhất đất nước, vua Gia Long phong ông Đặng Trần Thường làm Tán Lý Bắc Hà (1803).  Ông Đặng Trần Thường bắt các cựu thần nhà Tây Sơn ở đây phải ra trình diện trong đó có ông Ngô Thì Nhậm (con ông Ngô Thì Sỹ) và ông Phan Huy Ích (rể ông Ngô Thì Sỹ).  

Ông Đặng Trần Thường cũng từng là danh sĩ Bắc Hà, đậu Sinh Đồ của nhà Hậu Lê.  

Vì khi xưa có hiềm khích với ông Ngô Thì Nhậm nên ông ra câu đối cho ông Ngô Thì Nhậm:

 

“Ai công hầu, ai khanh tướng, trong trần ai ai dễ biết ai” (Đặng Trần Thường)

 

Ông Ngô Thì Nhậm định đối như sau:

 

“Thế chiến quốc thế xuân thu, gặp thời thế thế thì vẫn thế” (Ngô Thì Nhậm)

 

Em rể của ông là ông Phan Huy Ích khuyên ông sửa lại:

 

“Thế chiến quốc thế xuân thu, gặp thời thế thế thì phải thế” (Phan Huy Ích)

 

Nhưng ông Ngô Thì Nhậm vẫn cứng đầu giữ câu đối của mình:

 

“Thế chiến quốc thế xuân thu gặp thời thế thế thì vẫn thế” (Ngô Thì Nhậm) 

 

Các cựu thần nhà Tây Sơn đều bị đánh đòn nhưng vì ông Đặng Trần Thường ghét câu đối của ông Ngô Thì Nhậm nên bí mật cho đánh ông Ngô Thì Nhậm bằng gậy tẩm thuốc độc do đó ông Ngô Thì Nhậm khi về nhà thì bệnh mà qua đời.

Trước khi mất ông Ngô Thì Nhậm có làm riêng bài thơ gửi cho ông Đặng Trần Thường nhắc lại chuyện của Hàn Tín sau khi công thành thì bị Hán Cao Tổ Lưu Bang khiến vợ là Lã Hậu giết ở cung Vị Ương:

 

Ai tai Đặng Trần Thường                Thương thay Đặng Trần Thường

Chân như yến xử đường                  Tổ yến nhà xử đường 

Vị Ương cung cố sự                        Vị Ương cung chuyện cũ

Diệc thị như thu trường.                  Khó tránh kiếp tai ương. 

(Ngô Thì Nhậm)                              (Phan Thượng Hải dịch)

 

Ông Đặng Trần Thường (1759-1813) làm đến Binh Bộ Thượng Thư rồi về sau bị vua Gia Long giết (1813) đúng như bài thơ tiên đoán của ông Ngô Thì Nhậm (1746-1803) mười năm về trước.  Trước khi chết, ông có làm “Hàn Vương Tôn Phú” tự ví mình với Hàn Tín, có lẽ ông nhớ lại bài thơ khuyên của ông Ngô Thì Nhậm.  

Còn ông Phan Huy Ích (1751-1822) sống đến gần 20 năm sau !  

 

* (Câu chuyện 3)

 

NGƯỜI CAN ĐẢM

 

(Petrus Ký) 

Ông tiền quân Trắm (tổng Trắm), nguyên là người ngoài Bắc, bị đày vô Nam với ông Khôi.  Sau giặc Khôi nổi mà bị binh trào hạ thành được, bắt đóng gông bỏ vô cũi điệu về kinh.

Người ta thấy bị mang gông, người ta xúm lại, người ta coi, thì tổng Trắm bèn làm một bài thơ như vầy:

 

Thiên hạ ai ai có thấy không?

Cang thường một gánh, chả phải gông!

Oằn oại hai vai quân tử trước,

Nghinh ngang một cổ trượng phu tòng;

Sống về đất Bắc danh thơm ngợi,

Thác ở trời Nam tiếng hãy không?

Nên hư cũng bởi trời mà chớ,

Há dễ là ai hại đặng ông?

 

Sau ngồi cũi điệu về Huế, ra tới Bình Thuận, ông ấy cắn lưỡi mà chết đi.


 

(Sử sách hiện đại)

Câu chuyện của ông Nguyễn Văn Trắm có viết trong Lịch sử với chi tiết như sau:

 

Khi vua Gia Long qua đời, Vua phó thác con là vua Minh Mạng cho ông Lê Văn Duyệt và ông Phạm Đăng Hưng.  Khi ông Lê Văn Duyệt qua đời ở Gia Định thành (1832) thì xảy ra loạn của Lê Văn Khôi (con nuôi của ông Lê Văn Duyệt) vào năm 1833.  

Lê Văn Khôi tên là Nguyễn Hữu Khôi vì bị quan nhà Nguyễn áp bức nên làm phản chiếm thành Phiên An (tại Sài Gòn bây giờ) được toàn thể Nam Kỳ hưởng ứng (tháng 7-1833) và cầu Xiêm La sang tiếp viện.  Người anh vợ là Nông Văn Vân, làm Tri châu Bảo Lạc (tỉnh Tuyên Quang), cũng nổi loạn ở thượng du Bắc Kỳ.  

Ông Trương Minh Giảng đánh bại quân Xiêm rồi với ông Tống Phúc Lương và ông Nguyễn Xuân cùng quan địa phương chiếm lại Nam Kỳ và vây quân của Lê Văn Khôi trong thành Phiên An (1834-1835).  Lê Văn Khôi bị bệnh chết nhưng thủ hạ tôn con là Lê Văn Cừ (7 tuổi) làm thủ lãnh tiếp tục chống giữ 2 năm.  Sau cùng trong thành bị dịch tã và hết lương thực và đạn dược nên thất thủ.  Những trọng tội là Lê Văn Cừ, 4 thủ hạ (là Nguyễn Văn Trắm, Nguyễn Văn Hoành...) và 1 giáo sĩ Công Giáo bị đóng cũi giải về Huế rồi đều bị xử lăng trì.  1831 quân phản loạn còn lại bị giết ngay tại thành Phiên An và chôn chung 1 chỗ gọi là Mả Ngụy (nay ở Quận 3, Sài Gòn).  Vua Minh Mạng cho phá thành Phiên An (còn gọi là thành Bát Giác hay thành Qui).

 

Cũng theo Lịch sử, ông Thủ Khoa Huân cũng có bài thơ gần giống như vậy:

Ông Nguyễn Hữu Huân (1816-1875), người ở Chợ Gạo, Định Tường đi thi Cử Nhân đậu Thủ Khoa (còn gọi là Giải Nguyên) vào năm 1852.  Tuy là văn quan, ông đã khởi nghĩa Cần Vương chống Pháp ở Định Tường (1861-1875).  Dù bị bắt nhiều lần và được Tổng Đốc Đỗ Hữu Phương giúp đỡ và dụ hàng nhưng ông không đầu hàng.  Lần cuối cùng (1875) sau khi bị bắt ngồi tù trước khi bị đem ra pháp trường hành quyết, ông Thủ Khoa Huân có làm bài thơ dưới đây:

 

MANG GÔNG

Hai bên thiên hạ thấy hay không

Một gánh cang thường há phải gông

Oằn oại đôi vai quân tử trúc (*)

Long lay một cổ trượng phu tòng (*)

Thác về đất Bắc danh còn rạng

Sống ở thành Nam tiếng bỏ không

Thắng bại dinh hư trời khiến chịu (**)

Phản thần, “đụ hỏa” đứa cười ông 

(Thủ Khoa Huân)

 

(*) Trúc xưng quân tử, Tòng hiệu trượng phu

(**) Dinh hư=đầy vơi


 

PHAN THƯỢNG HẢI biên soạn

 

Tài Liệu tham khảo:

Chuyện Cười Cổ Nhân (Vương Hồng Sển) 

Kể Chuyện Câu Đối Việt Nam (Vũ Xuân Đào)

Thơ và Sử (phanthuonghai.com)

_______________________________

  THI SĨ HỒ BIỂU CHÁNH 

                                        Bs Phan Thượng Hải

Ông Hồ Văn Trung (1884-1958) tự là Biểu Chánh (thường được biết dưới tên Hồ Biểu Chánh) sinh ở Gò Công, học trường trung học Mỹ Tho, đậu Thành Chung (1905), làm việc với Pháp đến chức Chủ Quận và hàm Đốc Phủ Sứ nhưng ông là một vị quan thanh liêm.  

Từ đầu thập niên 1920 cho đến 1945 ông có viết trên 40 tiểu thuyết về xã hội Nho Giáo Nam Kỳ trong sự du nhập của Âu Tây (trước cả Tự Lực Văn Đoàn).  

Ông còn phỏng theo những tiểu thuyết Âu Tây trứ danh để viết thành tiểu thuyết:

Cay Đắng Mùi Đời (1923) phỏng theo Sans Famille (Không Gia Đình) của Hector Mailot (Pháp).

Chúa Tàu Kim Quy (1923) phỏng theo Le Comte de Monte Cristo (Bá tước Monte Cristo=Kích Tôm Sơn) của Alexandre Dumas (Pháp).

Ngọn Cỏ Gió Đùa (1926) phỏng theo Les Miserables (Những Người Khốn Nạn) của Victor Hugo (Pháp).

Chút Phận Lênh Đênh (1928) phỏng theo Dans Famille (Trong Gia Đình) của Hector Mailot (Pháp).

Người Thất Chí (1938) phỏng theo Crime et Châtiment (Tội Ác Và Hình Phạt) của M. Dostoevsky (Nga). 

Ông Hồ Biểu Chánh nổi danh là văn sĩ của Nam Kỳ Lục Tỉnh nhưng ít ai biết ông cũng là một thi sĩ có tài.

Những bài thơ còn lưu lại được làm trước và sau khoảng thời gian ông viết văn (1920-1945).

 

Ngày 9-3-1945, quân đội Nhật Bản lật đỗ Thực Dân Pháp ở Đông Dương.  Ông Hồ Biểu Chánh đến tế mộ ông Trương Công Định, người khởi nghĩa chống Pháp đầu tiên (1858-1865) khi Thực Dân mới chiếm Nam Kỳ.

 

TẾ MỘ TRƯƠNG CÔNG ĐỊNH

Việt Nam độc lập ó vang rân

Kéo đến tế mồ Trương tướng quân

Lừng lẫy đằng đằng hương chánh khí

Sụt sùi điểm điểm lụy đồng nhân

Trước sau tá quốc đều mong mỏi

Sống thác bình Tây cũng nợ nần

Ăn trái nhớ người gieo hột quý

Soi gương dĩ vãng đúc tinh thần.

(Hổ Biểu Chánh)


 

Sau khi Nhật Bản thua Đệ nhị Thế chiến, Pháp trở lại Đông Dương.  Nam Kỳ có một chính quyền tự trị gọi là Nam Kỳ Tự Trị với chính phủ của Bác sĩ Nguyễn Văn Thinh (1888-1946) ra mắt ngày 2-6-1946.  Ông Hồ Biểu Chánh làm Cố Vấn (đặc biệt) trong chính phủ nầy.  Một thời gian ngắn sau Thủ tướng Nguyễn Văn Thinh thắt cổ tự tử (ngày 10-11-1946) và ông Hồ Biểu Chánh rút lui khỏi chính trường.  

Một người bạn cùng học với ông Nguyễn Văn Thinh và ông Hồ Biểu Chánh (ở trung học Mỹ Tho) là thi sĩ kỳ cựu của Nam Kỳ lúc bấy giờ (là) ông Thường Tiên Lê Quang Nhơn có làm bài thơ khóc ông Nguyễn Văn Thinh và trách ông Hồ Biểu Chánh:

 

KHÓC T. T. NGUYỄN VĂN THINH

Nghe tin dường sấm nổ vang trời

Chia rẽ ai bày thuyết máu rơi

Khóc bạn cố tri trong nghịch cảnh

Trách người biểu chánh chẳng thông thời

Vườn xưa thống nhất gương rành rạnh

Đại Việt phân ly khéo đổi dời

Thăm thẳm đêm đông buồn gạt lệ

Việc nhà việc nước thấy vơi vơi.

(Thường Tiên Lê Quang Nhơn)

 

Thi sĩ Thường Tiên Lê Quang Nhơn là con của Cai tổng Lê Quang Chiểu.

 

Sở dĩ có người Nam Kỳ lúc bấy giờ không thích ông Hồ Biểu Chánh vì ông rất thân Pháp (và muốn làm như ông Phạm Quỳnh?).  Tương truyền rằng ông Cố Vấn Hồ Biểu Chánh là bạn với Cao ủy Nam Kỳ D’Argenlieu từng lên chiến hạm của vị Hải quân Đô đốc nầy cùng đi chơi và có làm bài thơ: 

 

(Nguyên bản)

Chiến thuyền vượt biển gió hiu hiu

Cùng bạn hoang mang luận đủ điều

Trước mặt nước xanh phơi chí cả

Quanh mình sóng bạc giỡn trời chiều

Thị phi cười trẻ giành khôn dại

Nhân nghĩa riêng ta gởi ít nhiều

Quê cũ trong vời còn lý thú

Tấm lòng thơ thái trí tiêu diêu.

(Hồ Biểu Chánh)


 

Hai người cùng quê Gò Công với ông Hồ Biểu Chánh (Lương Tri và V. T.) và ông Thường Tiên có 3 bài họa:

 

(Họa) 

Nhà quê tình cảnh luống buồn hiu

Ngồi nghĩ vu vơ nghĩ lắm điều

Đồng cháy đã kinh cơn nắng sớm

Cây khô khôn đợi đám mây chiều

Ấm no vui vẻ điềm còn ít

Rách rưới lầm than thấy đã nhiều

Cùng sống chung nhau trong xứ sở

Riêng mình không nỡ tự tiêu diêu.

(Lương Tri)

 

(Họa)

Sẵn đã quen mùi cảnh quạnh hiu

Biết chi sự thế khó trăm điều

Đọc thơ giải trí vui trà sớm

Cày ruộng an nhàn thưởng rượu chiều

Vụng dại thị phi mai mỉa ít

Khéo khôn ân oán tiếng tăm nhiều

Xét mình đức kém thêm tài mọn

Nào dám mong gì chuyện viển diêu.

(V.T.)

 

(Họa)

Đọc bài vượt biển dạ buồn hiu

Trong lúc giang sơn rối lắm điều

Vui vẻ một mình xem cảnh lịch

Thở than muôn trẻ giẫm mưa chiều

Dại khôn ai dám khoe rằng trọn

Nhân nghĩa suy ra thấy có nhiều

Đất cũ quê xưa trời ấm ủ

Lòng nào thơ thái trí tiêu diêu.

(Thường Tiên)


 

Ông Thường Tiên còn làm thêm một bài thơ gởi cho ông Hồ Biểu Chánh.

 

Nghe vẳng ai kia vượt chiến thuyền

Vầy đoàn tận hưởng cảnh thần tiên

Mảng gần cửa tượng thân vinh hiển

Quên phứt nhà mình vách ngửa nghiêng

Đã vậy còn khoe người đạo nghĩa

Lại còn châm biếm kẻ khùng điên

Uổng đời đã trọn danh liêm sĩ  

Sao nỡ buông câu bãi thấp hèn?

(Thường Tiên)

 

Sau đó chiến tranh kháng Pháp xảy ra (1946-1954), dân chúng tản cư để tránh bom đạn hoặc để theo hay để tránh “Kháng Chiến”.  Ông Hồ Biểu Chánh tản cư về Gò Công và có làm bài thơ: 

 

TỰ THÁN

Tản cư lưu lạc mấy trăng rồi

Đất khách nhà người sót phận tôi

Mở miệng nhác ngâm câu thạnh trị

Phủi tay thêm giảng thuyết luân hồi

Thanh Tuyền mong hưởng nguồn an ủi (*)

Khổng Tước riêng buồn bước nổi trôi (*)

Non nước xa trông mây ảm đạm

Lỡ cười lỡ khóc ruột gan sôi.

(Hồ Biểu Chánh)

 

(*) Chú thích: 

Xã Thanh Tuyền = xã Bến Súc (ở Gò Công).  Khổng Tước = con Công, ám chỉ Gò Công


 

Theo Văn học sử, ông Hồ Biểu Chánh viết văn khoảng 1920-1945.  Nhưng trước đó, ông có bài thơ Vô Đề theo thể Cửu Liên Hườn (1912). 

 

"CỬU LIÊN HƯỜN"

 

Cà Mau dung bước đã ba trăng

Phong cảnh trong ra ít chỗ bằng

Thong thả mục đồng coi lảnh lót

Linh đinh ngư phủ lưới bao giăng

Tiều vui dơ búa nơi lâm tẩu (1)

Canh một phơi chui chốn nội sanh

Thằng chệt chen vai người bổn thổ (2)

Coi quyền dành giựt chạy lăng xăng.

 

Lăng xăng coi thử số làm sao

Đoái lại vườn xuân rất ngạt ngào

Ngàn đặm trông vơi trồng chẳng ráo

Năm canh thổn thức ruột như bào

Nặng quằn chưa trả ơn người trước

Xo xắn khó tròn đạo kẻ sau

Nam tử lỡ mang lời với thế

Công danh nhiều ít phải xôn xao.

 

Xôn xao rồi nghĩ lại buồn thêm

Một gốc trời Nam chín khúc mềm

Em dại ham chơi lo nỗi trẻ

Con thơ thất dưỡng tủi thay niềm

Lẻ bầy tìm tỏi xăng văng vượn

Xa ổ kêu sầu bát ngát chim

Nhắm mắt đưa chơn coi máy tạo

Bao chừ mai trước đứng chung thềm.

 

Chung thềm khi ấy mới vui cho

Nhớ bạn tri âm tiếng hẹn hò

Khoẳng khoát vườn đào cây rải rác (3)

Biệt mù dặm liễu khúc quanh co

Ngoài tường thoảng thoảng nhành hoa động

Đầu chái lui thui bóng nguyệt lò

Dám trách cao xanh gây nỗi thảm

Để người trông đợi kẻ buồn xo.

 

Buồn xo nông nỗi tại vì ai

Đeo đuổi lòng danh bước lạc loài

Hạc nội thảnh thơi ganh chí trẻ

Gà  lồng túng tính tủi phần trai

Mối sầu lần gỡ ngày thêm lụn

Tơ nhợ còn vương giấc khó dài

Gặp cuộc phải xây theo với cuộc

Tứ dân nào phải kế sanh nhai.

 

Sanh nhai chi thiếu kế trên đời

Nông cổ coi bề rất thảnh thơi

Làm chủ muốn ngơi ngơi tỉnh tỉnh

Khỏi tôi buồn nhận nhận chơi chơi

Côn kình biển cạn khôn khoe sức

Kỳ ký đường co khó trổ tài

Danh lợi bôn chôn thôi trối kẻ

Phân tai ta giữ buổi hôm mai.

 

Hôm mai ngồi nghĩ đến nhân tình

Ít dữ trên đời rõ nhục vinh

Đường thẳng chưa ai thêm thử bước

Việc hư hiếm kẻ áp chen dành

Ruồi bu đuôi ngựa rồi nghinh mặt

Cáo đội lớp hùm cũng thiếu nanh

Ba vạn sáu ngàn ngày có mấy

Làm chi cực trí lại nhơ danh.

 

Nhơ danh mặc kẻ giữ lòng ta

Quan sự rảnh rồi thích thú nhà

Buổi tối thi ngâm câu Đỗ Lý

Vui trưa kìm khải khúc Kỳ Nha

Thà cam người trí lều (liều) xiêu xó (4)

Dễ chịu thằng ngu dạn nhổn nha

Dẫu tiếng ngựa trâu chi cũng chịu

Giữa trần ai dễ biết ai mà.

 

Biết ai mà tỏ chút tình riêng

Bóng thỏ canh chầy dọi trước hiên

Danh lợi mắt lơ trông một cặp

Non sông gánh nặng đạo ba giềng

Nghiêng tai chi sá lời phi thị

Lần bước noi theo dấu thánh hiền

Cái chí tang bồng đâu cũng vậy

Hễ là vô sự ấy là tiên.

 

(Hồ Văn Trung tự Biểu Chánh) Avril 1912

 

Chú thích:

(1) Lâm = rừng.  Tẩu = động. 

(2) Bổn (tiếng Nam Kỳ)= bản

(3) Khoẳng (tiếng Nam Kỳ) = khoảng

(4) Lều (tiếng Nam Kỳ) = liều


 

Bs PHAN THƯỢNG HẢI biên soạn

 

Tài Liệu Tham Khảo:

1) Thơ Quốc Ngữ Nam Kỳ (Phan Thượng Hải) - phanthuonghai.com

2) Thơ và Việt Sử - Thời kỳ Độc Lập (Bs Phan Thượng Hải) - phanthuonghai.com

3) Thơ và Việt Sử - Thời Pháp Thuộc Tk 20 (Bs Phan Thượng Hải) - phanthuonghai.com

NGUỒN GỐC SÀI GÒN CHỢ LỚN

                                                   Bs Phan Thượng Hải

 

Nguồn gốc Sài Gòn và Chợ Lớn bắt đầu từ năm 1632.  Từ đó có những địa danh Sài Gòn, Sài Côn, Bến Nghé, Ngưu Chử, Đề Ngạn, Chợ Lớn và Tây Cống cho đến khi Thực Dân Pháp chính thức lập ra Thành phố Sài Gòn và Thành phố Chợ Lớn (Ville de Saigon et Ville de Cholon) vào năm 1865.  Đây là những diễn tiến thành hình Sài Gòn và Chợ Lớn từ năm 1632 cho tới năm 1865.

 

SÀI GÒN VÀ BẾN NGHÉ 

 

Năm 1632, Chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên (con của Chúa Nguyễn Hoàng) cử sứ thần sang gặp vua Chân Lạp xin đặt 2 trạm thu thuế ở Prei Nokor và Kras Krabei.  Prei Nokor và Kras Krabei là địa danh tiếng Miên (Chân Lạp).  Từ đó có người Việt vào sinh sống ở 2 nơi nầy.  Từ 2 địa danh tiếng Miên nầy có 2 địa danh tiếng Việt là Sài Gòn và Bến Nghé.

 

Prei Nokor (mượn từ tiếng Phạn là Brai Nagara) có nghĩa là "Thị trấn trong Rừng".  

Prei = Brai = Rừng và Nokor = Nagara= Thị trấn, thành phố.  

Lần lần Prei Nokor đọc trại thành tiếng Việt (tiếng Nôm) là Sài Gòn.  

Trước khi có chữ Quốc Ngữ, vì không có chữ Nôm viết cho tiếng Nôm "Gòn" nên văn kiện nước Việt lúc bấy giờ viết thế bằng chữ Hán là "Côn".  Do đó Sài Gòn viết là Sài Côn nhưng địa danh Sài Gòn được người Việt đến định cư dùng trong tiếng Việt (tiếng Nôm hay tiếng Nam).  Phủ Biên Tạp Lục của Lê Quý Đôn viết: "Năm 1674, Thống suất Nguyễn Dương Lâm đánh Cao Miên phá lũy Sài Côn".  Chữ "Sài Côn" xuất hiện vào năm 1674, tiếng "Sài Gòn" có lẽ có trước đó.  Các giáo sĩ Tây Phương đã viết (theo mẫu tự La Tinh) chữ "Saigon" từ thế kỷ 18. 

 

Có giả thuyết khác cho rằng địa danh Sài Gòn không phải là dịch âm từ tiếng Miên "Prei Nokor" mà do người Việt đặt cho theo đúng địa lý của nơi nầy là có nhiều cây (bông) gòn.  Sài=củi và Gòn=cây bông gòn (Hán ngữ là Côn).  Thuyết nầy không có lý lắm vì 150 năm về trước, Petrus Ký cũng không thấy di tích của cây gòn ở vùng nầy.

Có giả thuyết của Thái Văn Kiểm thì vùng nầy có 2 tên Cao Miên: Prei Nokor (có nghĩa là Rừng của Vua) hoặc Prei Kor (có nghĩa là Rừng cây Gòn).  Tên Sài Gòn (có nghĩa là Củi Gòn) là dịch nghĩa một cách nôm na của Prei Kor.  Tuy nhiên tên "Prei Kor" chỉ có từ Thái Văn Kiểm và vùng nầy không để lại di tích cây gòn.   

 

Sài Gòn (Prei Nokor) ở Quận 5 bây giờ.

 

Kras Krabei có nghĩa là "Bến có con trâu".  Do đó nó được dịch nghĩa ra là Bến Nghé (Nghé=Trâu, trâu con).  Có sách còn viết là Kompong Krabey hay Kâmpóng Krâbei với cùng một nghĩa.  Theo Hán ngữ thì Bến Nghé (tiếng Nôm) là Ngưu Chử.

Bến Nghé theo Trịnh Hoài Đức là bến uống nước của trâu con.  Nhưng theo Đại Nam Nhất Thống Chí thì nơi nầy có nhiều cá sấu (tiếng Miên gọi là Krapoe), chúng thường kêu "nghé" nên gọi là Bến Nghé.  Trịnh Hoài Đức dịch Bến Nghé là Ngưu Tân.

 

Bến Nghé (Kras Krabei) ở Quận 1 bây giờ, phần giáp với rạch Bến Nghé (ở phía Nam).  

 

Địa danh Bến Nghé có cùng thời với địa danh Sài Gòn khi có người Việt tới định cư ở 2 nơi nầy vào thế kỷ 17.  Dĩ nhiên Bến Nghé là tiếng Nôm nên văn kiện viết thành chữ Hán là Ngưu Chử hay Ngưu Tân.

 

Năm 1698, Lễ Thành Hầu Nguyễn Hữu Cảnh đến Cù lao Phố lập Dinh Trấn Biên (sau nầy là tỉnh Biên Hòa) và Dinh Phiên Trấn (sau nầy là tỉnh Gia Định) thì Bến Nghé là thủ phủ của Dinh Phiên Trấn.  Năm 1790, Nguyễn Vương Phúc Ánh xây thành Gia Định ở Bắc Bến Nghé gọi là Thành Qui.  Sau loạn Lê Văn Khôi (1832), vua Minh Mạng san bằng Thành Qui và xây Thành Phụng nhỏ hơn cũng ở đây.  Sau khi Pháp chiếm Nam Kỳ thì phá Thành Phụng chỉ còn 1 cái đồn nhỏ là chỗ Nhà thương Đồn Đất (của Pháp) sau nầy.


 

ĐỀ NGẠN, CHỢ LỚN VÀ TÂY CỐNG 

 

Năm 1778, người Hoa từ Biên Hòa (Trấn Biên) tránh quân Tây Sơn di cư về Sài Gòn (Prei Nokor).  Nơi đây trước đó đã có làng Minh Hương của người Hoa.  Người Tiều (Triều Châu) âm tiếng "Sài Gòn" theo tiếng Tiều thành "Tai Ngon hay Tin Gan", còn người Quảng lại âm theo tiếng Quảng là "Thầy Ngồn hay Thì Ngòn" và viết chữ Hán đọc thành Hán ngữ là "Đề Ngạn".  Đề Ngạn có nghĩa theo tiếng Việt là Bờ Đê.  Người Hoa không có đắp đê nào ở đây!  

Do đó địa danh tiếng Việt "Sài Gòn" là từ tiếng Miên còn những tiếng Tàu kể trên có sau tiếng Việt "Sài Gòn".  Từ ngữ "Đề Ngạn" có sau từ ngữ "Sài Gòn" do đó không phải là nguồn gốc của địa danh Sài Gòn.

 

Người Hoa xây chợ ở Sài Gòn (Prei Nokor) thành 2 Chợ.  Để phân biệt nên có tên Chợ Lớn (hơn) và Chợ Nhỏ (hơn).  

Chợ Lớn nầy bây giờ ở khu vực Bưu điện Chợ Lớn kéo dài tới Đại Thế Giới.  Theo Thái Văn Kiểm, Chợ Lớn nầy lập song song với Chợ Nhỏ, còn tồn tại tới thời VNCH với tên là Chợ Thiếc ở phía trường đua Phú Thọ.  

Về sau Chợ Lớn (Cũ) nầy được dời tới Chợ Lớn Mới gọi là Chợ Bình Tây do nhà đại phú Quách Đàm xây tặng.  Tượng họ Quách còn ở giữa đình chợ Bình Tây.  Do đó về sau có phân biệt Chợ Lớn Cũ (ở Quận 5) và Chợ Lớn Mới (ở Quận 6).

Có người không đồng ý với Thái Văn Kiểm, cho rằng Chợ Nhỏ không phải là Chợ Thiếc mà là Chợ Tân Kiểng (lập năm 1748) vì ở làng Tân Kiểng.  Sau đó làng Tân Kiểng hợp với 2 làng Nhơn Ngãi và Bình Yên thành khu vực Chợ Quán thì chợ nầy chính là Chợ Quán (nay là ở phường 22, Quận 5). 

 

Người Hoa ở Chợ Lớn hay dùng tiếng Tàu là "Xây Coón hay Xi Coón" để gọi người Việt ở Chợ Bến Thành (thuộc Bến Nghé) mà Hán ngữ là Tây Cống.  Tây Cống không là nguồn gốc của địa danh Sài Gòn.  Có giả thuyết hơi mơ hồ cho rằng Tây Cống nghĩa là nơi mà người Chân Lạp miền Tây đem phẩm vật cống hiến cho chính phủ ta.


 

THÀNH PHỐ SÀI GÒN VÀ THÀNH PHỐ CHỢ LỚN

 

Năm 1861, sau khi chiếm Nam Kỳ, Phó Đô Đốc Charner thành lập và định giới Ville De Saigon gồm cả 2 khu Sài Gòn (Prei Nokor) và Bến Nghé (Kras Krabei).  Năm 1865, Quyền Thống Đốc Nam Kỳ là Đô Đốc Pierre Rose qui định Ville De Saigon là khu Bến Nghé (Kras Krabei) và chính thức lập Ville De Cholon là khu Sài Gòn (Prei Nokor).  Người Việt bắt đầu có chữ Quốc Ngữ nên viết đúng tiếng Việt của Saigon là Sài Gòn và của Cholon là Chợ Lớn.  Như vậy từ đó tới ngày nay địa danh Sài Gòn dùng cho khu Bến Nghé cũ (Kras Krabei) và địa danh Chợ Lớn dùng cho khu Sài Gòn cũ (Prei Nokor) tại vì lỗi lầm của Thực Dân Pháp!

 

Khi chánh thức được thành lập (1865):

Thành phố Chợ Lớn (Ville de Cholon) ở giữa: đ. Hồng Bàng, đ. Tổng Đốc Phương, phía dưới đ. Đồng Khánh, đ. Nguyễn Tri Phương và phía trên bến Hàm Tử.  Nó là từ khu Sài Gòn cũ (Prei Nokor).

Thành phố Sài Gòn (Ville de Saigon) ở giữa: đ. Hồng Thập Tự, đ. Nguyễn Thái Học, rạch Bến Nghé (bến Chương Dương), sông Sài Gòn (bến Bạch Đằng) và rạch Thị Nghè.  Nó là từ khu Bến Nghé cũ (Kras Krabei).

Lần lần 2 thành phố dính liền nhau và lan rộng thành ra Sài Gòn ngày nay.

                             Thành phố Sài Gòn và Chợ Lớn lúc ban đầu, năm 1865


 

ĐI CHƠI SÀI GÒN

Lên chơi Bến Nghé bấy nhiêu ngày

Xe ngựa chen đời, bụi cát bay

Phong cảnh đã dời thành quách cũ

Lâu đài lại đổi sắc trang rày

Sớm vô Chợ Lớn dầu thong thả

Chiều lại nhà hàng mặc tỉnh say

Mới biết Nam Kỳ là chỗ hội

Quan quân rậm rựt tối như ngày.

(Lê Quang Chiểu)

Cuối Thế kỷ 19

 

SÀI GÒN HOÀI CẢM (*)

Địa danh sống mãi ở tình trường

Bốn chục năm qua trải gió sương

Đã hết êm đềm thời lộng nguyệt

Lại thêm hỗn độn dưới tà dương

Sài Gòn hoa lệ tràn nhung nhớ

Hòn Ngọc Viễn Đông vợi tiếc thương

Cách mặt đau lòng không đổi dạ

Hương xưa hoài cảm tự can trường.

(Phan Thượng Hải) 

Năm 2015

(*) Họa bài Thăng Long Hoài Cổ của Bà Huyện Thanh Quan.


 

Bs PHAN THƯỢNG HẢI biên soạn

 

Bài viết nầy đăng lần đầu tiên trong phanthuonghai.com

 

Tài liệu tham khảo:

Địa Danh Sài Gòn Gia Định (Phan Thượng Hải) - phanthuonghai.com

Đất Việt Trời Nam (Thái Văn Kiểm)

CHUYỆN THƠ VỀ "THẤT THẬP" 

                                                                       (Bs Phan Thượng Hải)

 

Khi đến 70 tuổi, người đời thường nghĩ tới hay nói tới câu "Thất Thập Cổ Lai Hy" (Bảy mươi từ xưa đến nay rất hiếm).

Câu "Thất Thập Cổ Lai Hy" nguyên gốc từ câu thơ "Nhân sinh thất thập cổ lai hy" của thi hào Đỗ Phủ (712-770) trong bài thơ thứ nhì của 2 bài thơ Khúc Giang.

 

KHÚC GIANG (*)

Triều hồi nhật nhật điển xuân y

Mỗi nhật giang đầu tận túy quy

Tửu trái tầm thường hành xứ hữu

Nhân sinh thất thập cổ lai hy

Xuyên hoa giáp điệp thâm thâm kiến

Điểm thủy tinh đình khoản khoản phi

Truyền ngữ phong quang lưu cộng chuyển

Tạm thời tương thưởng mạc tương vi.

(Đỗ Phủ)

 

(*) Chú thích:

            Khúc Giang là Khúc Giang trì, một thắng cảnh ở Đông Nam Trường An lúc bấy giờ. 

            Trì = (cái) ao, hồ.

 

KHÚC GIANG

Áo chầu mỗi buổi đều đem cố (*)

Về đến đầu sông nghiêng ngả say

Nợ rượu khắp nơi thường có cả

Đời người bảy chục hiếm hoi thay

Len hoa, bươm bướm mờ mờ hiện

Chấm nước, chuồn chuồn chậm chậm bay

Cùng bảo phong quang đều chuyển động

Tạm thời hãy hưởng phút giây nay.

(Trần Trọng Sang dịch)

 

(*) Cố = thuê, mướn.

 

Năm 757, tháng 9, quân đội của Quách Tử Nghi chiếm lại được kinh đô Trường An,  Đường Túc Tông và Thượng Hoàng (Đường Minh Hoàng / Đường Huyền Tông) trở về kinh đô. Đỗ Phủ cũng theo trở về và vẫn làm một chức quan nhỏ trong triều đình.  Hai bài thơ "Khúc Giang" nầy được Đỗ Phủ làm vào tháng 5, năm 758. Lúc đó Đỗ Phủ được khoảng 45-46 tuổi.

 

Đọc câu 5, 6 và 7 thì biết là Đỗ Phủ đang say thiệt sự khi làm bài thơ nầy.  Như vậy ý tứ "Thất thập cổ lai hy" phát xuất từ Rượu?  Thi hào Đỗ Phủ (712-770) qua đời vì bệnh lúc 58, 59 tuổi, không tới được "thất thập".

 

 

Hai thi hào Việt Nam cũng có 2 bài thơ Xướng Họa về "Thất Thập".  Khi Nguyễn Công Trứ (tự là Uy Viễn) làm bài thơ tự thọ được 70 tuổi thì ông được Cao Bá Quát họa lại:

 

THẤT THẬP TỰ THỌ                                 BẢY MƯƠI TUỔI TỰ CHÚC THỌ                                                                   

(Xướng - Hán ngữ)

Nhật đối nhi tào tự giải di                          Ngày cùng lũ trẻ cợt đùa chơi

Kim ngô bất tự cố ngô thì                          Quả thực ta nay khác trước rồi

Tùy cơ khối lỗi cung nhân tiếu                  Múa rối mấy hồi rằng giúp nước

Trực ký niên hoa giới cổ hy                       Sống lâu bảy chục cũng ơn trời

Lão thực bất kham trang diện mục            Thật thà bao quản khoe mình đẹp

Anh hoa an dụng nhiễm tu tỳ (*)               Tóc bạc xin đành kém vẻ tươi

Tự tàm tiên liệt hào vô trạng                      Những thẹn bất tài không bác bổ

Quái sát Hồng sơn hữu thị phi. (*)             Non Hồng thôi mặc tiếng trên đời.

(Nguyễn Công Trứ)                                    (Lê Thước dịch)

 

(*) Chú thích:

            Tỳ = dính liền nhau. Tu = tóc, râu.

            Hồng sơn là núi Hồng Lĩnh, quê hương của Nguyễn Du và Nguyễn Công Trứ.

 

HỌA UY VIỄN THẤT THẬP TỰ THỌ

(Họa - Hán ngữ)

Quần sơn nam vọng độc chi di                   Non Nam nhìn tới mỉm đôi môi

Dao tưởng tiên sinh vị lão thì                     Tưởng nhớ tiên sinh lúc thiếu thời

Tự cổ anh hùng vô đại dị                            Những kẻ anh hùng riêng mỗi cảnh

Như kim xỉ đức kiến ưng hy                       Mấy ai xỉ đức được như người

Thường gia thế vị chung tu tửu                   Rượu nhờ tẩy sạch bao mùi tục

Cấm đoạn sương hoa bất thượng tỳ (*)      Râu cằm không màng những phấn bôi

Văn đạo Hồng phong dục hồi thủ (*)         Nghe nói Hồng phong nay trở gót

Khởi ưng lục thập cửu niên phi.                  Lẽ nào sáu chục chín năm sai.

(Cao Bá Quát)                                              (Vô Danh thị dịch)

 

(*) Chú thích:

            Thượng tỳ = râu, râu mép.

            Hồng phong là gió núi Hồng Lĩnh.

 

Tiến sĩ Nguyễn Quý Tân (Nghè Tân) cũng có bài họa bằng Việt Ngữ:

 

THẤT THẬP TỰ THỌ

(Họa - Việt Ngữ)

Bảy mươi tuổi tác vẫn nhường di (ri)

Mới biết xưa kia buổi thiếu thì

Rượu tỉnh thơ say hồn Lý Bạch

Trúc cười hoa cợt thú Vương Hy

Giang sơn nắm lại đôi tay khấu

Văn võ buông ra một ngón tỳ (*) 

Cùng kiếp phù sinh nay dở sạch

Dẫu ai tiếng thị với lời phi.

(Nguyễn Quý Tân)

 

(*) Chú thích:

            Tỳ = liền nhau - giúp đỡ.

 

Tác giả cũng tới "thất thập" nên xin kính họa.

 

THẤT THẬP CẢM KHÁI

(Họa - Việt ngữ)

Bình tâm chánh định chẳng hề di

Liệt lão hồi hưu đã hết thì

Nhân thọ thất tuần tân tiến túc

Nhân sinh thất thập cổ lai hy

Mừng còn nội trợ vui bè bạn

May vẫn toàn thân chửa có tỳ (*)

Gia thất an nhàn thi tống tửu

Thành tâm dưỡng tánh bất vi phi. (*)

(Phan Thượng Hải)

5/17/20

 

(*) Chú thích:

            Tỳ = bệnh, vết xấu, chỗ sai lầm.

            Vi phi = làn điều lầm lỗi.

 

Bs PHAN THƯỢNG HẢI biên soạn

 MỘT TRẬN DỊCH 200 NĂM TRƯỚC 

                                                                          Phan Thượng Hải

 

Năm 2020, toàn thế giới mắc phải bệnh Dịch Covid-19.  200 năm trước vào năm 1820, nước Việt Nam cũng có một trận Dịch lớn.

Đại Nam Thực Lục viết:

            "Năm nay (1820) bệnh dịch phát từ mùa thu sang mùa đông, bắt đầu từ Hà Tiên sau rốt đến Bắc Thành (Hà Nội). Số hộ khẩu chết tất cả là 206.835 người, không kể số nam phụ lão ấu ở ngoài hộ tịch. Trước sau chẩn cấp hơn 73 vạn quan tiền.

            Vua (Minh Mạng) lấy bạch đậu khấu trong kho và phương thuốc chữa dịch sai người ban cấp. Sắc cho các địa phương mỗi nơi đặt một đàn tế lễ. Người ốm thì cấp thuốc, người chết thì cấp tiền (và) vải".

Ông Phạm Đăng Hưng, cha của bà Từ Dũ, là Phó Tổng tài của Quốc Sử quán, tâu rằng: "Gặp tai vạ biết lo sợ, vốn là thịnh đức của đấng nhân quân.  Nhưng thần nghe bệnh Dịch từ Tây dương sang, bệ hạ hà tất lấy làm tội của mình".

Sử gia sau nầy cho là bệnh Dịch tả căn cứ trên thuốc trị bằng "bạch đậu khấu" và trận dịch nầy từ Xiêm La sang Chân Lạp rồi cuối cùng tràn qua Việt Nam.

 

Từ đó có câu chuyện của thành phố Cao Lãnh ngày nay.

Trận dịch năm 1820 nầy tràn lan tới vùng đất của làng Mỹ Trà mà sau nầy là thành phố Cao Lãnh.  Tại đây ngày nào cũng có 5, 7 người chết.  

Lúc đó có vợ chồng ông bà Đỗ Công Tường là chủ chợ ở đây.  Ông có tục danh là Lãnh được cử giữ chức Câu Đương là chức chuyên lo phân xử những tranh chấp trong làng nên ông được dân làng gọi tên là Câu Lãnh.  Ông Bà từ miền Trung vào sinh sống ở làng Mỹ Trà khai hoang mở đất trồng trọt (trồng quít) nên gia đình khá giả. Ông Bà cất quán ở vườn quít của mình, lần hồi thu hút bà con ở làng tới buôn bán làm thành chợ.

Trước trận Dịch nầy, Ông Bà lập bàn hương án trước chợ rồi nhất tâm khấn nguyện cầu xin dịch bệnh mau qua đi, Ông Bà nguyện thế tử cho cho tất cả dân làng.  Bà bị bệnh chết ngày mùng 9 tháng 6 âm lịch và ông cũng chết vì bệnh ngày hôm sau.  Lạ kỳ là sau khi Ông Bà qua đời, dịch bệnh cũng chấm dứt ở đây.  Dân làng ở làng Mỹ Trà tin rằng gương hy sinh của Ông Bà đã cảm động lòng Trời nên khiến cho dứt bệnh dịch trong làng.  Dân làng lấy tên Câu Lãnh của Ông đặt tên cho Chợ ở đây.  Câu Lãnh lần lần đọc trại là Cao Lãnh. Sau đó vùng đất mở rộng với cùng một tên thành ra tỉnh lỵ rồi thành phố Cao Lãnh ngày hôm nay.  Dân làng có lập miếu thờ Ông Bà. Miếu được trùng tu và mở rộng cho đến ngày nay.

 

 

 

 

Thi sĩ Lãng Ba Phan Văn Bộ là người sinh trưởng ở làng Mỹ Trà, Cao Lãnh có làm bài thơ nhắc lại công đức của Ông Bà và gốc tích của địa danh Cao Lãnh.  Bài thơ nầy làm vào thời Đệ nhất Cộng hòa khi thi sĩ viếng miễu nầy.

 

ÔNG CHỦ CHỢ CAO LÃNH

Muôn miệng như nhau đã nói rành

Câu Đương là chức, Lãnh là danh

Lập làng khó nhọc, công vừa dứt

Cất chợ chăm nom, việc mới thành

Dân đụng giặc trời, cam thọ tử

Ông đền nợ nước, quyết hy sanh

Thoát nàn, bá tánh lo thờ phượng

Miễu đó, ngàn thu rạng tiết lành.

(Lãng Ba) 

25-9-1957 

 

PHAN THƯỢNG HẢI biên soạn

                       Nguồn Gốc Từ ngữ Trung Quốc và Trung Hoa

                                                                              (Phan Thượng Hải)

 

(1)

中國(中国)= Trung Quốc (Zhòng guó) = Middle Kingdom/Country

 

Người Tàu từ đời nhà Hạ (2070-1600 tr CN) cho tới thời Chiến Quốc (473-221 tr CN) gọi mình là người Hoa Hạ để phân biệt với nhiều giống người thiểu số khác (mà người Hoa Hạ gọi là Rợ / Barbarians) sống trong cùng một lãnh thổ.  

Theo thuyết Thiên Mệnh của nhà Tây Chu (từ 2 người con của Chu Văn Vương là Chu Công Đán và Thiệu Công Thích), lãnh thổ Trung Quốc lúc đó gọi là Thiên Hạ (Dưới Trời) có một lãnh tụ tối cao và độc nhất là Thiên Tử (Con Trời), có Thiên Mệnh (Mệnh Trời) cai trị tất cả mọi người.  Thiên tử là vua nhà Chu xưng là Vương (Tây Chu rồi Đông Chu trong thời Xuân Thu và Chiến Quốc).  Lúc đầu từ thời nhà Tây Chu, Thiên Hạ gồm có Trung Quốc là nước của Thiên tử Nhà Chu, các Phương quốc là các nước của các Chư Hầu và đất nước của những người Thiểu số (gọi là Rợ).  

Khi nhà Tần thống nhất Thiên hạ (221 tr CN), chấm dứt thời Chiến Quốc, và Tần Thủy Hoàng Đế làm Thiên tử xưng là Hoàng đế thì Thiên Hạ là Trung Quốc vì không còn Chư hầu và Phương Quốc nữa.  Lúc đó người Hoa Hạ cũng gần như đồng hóa những người Thiểu số (như những người Địch, Nhung, Di, Man, Ba, Thục...) và đã thôn tính đất nước của họ.  Sau đó Nhà Hán thay thế nhà Tần.  Từ đó người Hoa Hạ là người Hán (Hán nhân, Hán tộc).  Danh từ Trung Quốc và Hán tộc tồn tại cho tới ngày nay. 

Lãnh thổ Trung Quốc trong thời gian bắt đầu của nhà Tần ở lưu vực sông Vị, sông Phần Thủy, sông Hoàng Hà và sông Trường Giang (s. Dương Tử); thuộc phía Bắc và Tây Bắc dãy núi Ngũ Lĩnh.  

 

中國(中国)

            = Trung Quốc - Zhòng Guó.  Trung nghĩa là ở chính giữa.  Quốc nghĩa là Nước.  Trung Quốc nghĩa là "Nước ở Chính giữa".

            = Middle Kingdom/Country

 

Nước Tàu tự xưng tên mình là "Trung Quốc" trong suốt thời đại Quân chủ cho tới năm 1911. 

            中國(中国)

            Trung Quốc - Zhòng Guó

            Middle Kingdom

 

(2)

China = Trung Quốc = Middle Kingdom/Country

 

Nước Tàu được người Âu Châu (rồi toàn Thế giới) gọi là China từ thế kỷ thứ 16.

 

- The origin of the word "China" explained by the the European and American:

 

            The word "China" is derived from Cin (چین), a Persian name for China popularized in Europe by Marco Polo. The first recorded use in English dates from 1555. In early usage, "china" as a term for porcelain was spelled differently from the name of the country, the two words being derived from separate Persian words. Both these words are derived from the Sanskrit word Cīna (चीन), used as a name for China as early as AD 150.

            There are various scholarly theories regarding the origin of this word. The traditional theory, proposed in the 17th century by Martino Martini, is that "China" is derived from "Qin"*  (秦, pronounced chin), the westernmost of the Chinese kingdoms during the Zhou Dynasty, or from the succeeding Qin Dynasty (221 – 206 BC). In the Hindu scriptures Mahābhārata (5th century BC) and Manusmṛti (Laws of Manu) (2nd century BC), the Sanskrit word Cīna (चीन) is used to refer to a country located in the Tibeto-Burman borderlands east of India. 

            Another theory is that this word is derived from Yelang, an ancient kingdom in what is now Guizhou whose inhabitants referred to themselves as 'Zina'.

 

* Qin = (nước) Tần

 

Conclusion:

            The name 'China' comes from the Sanskrit Cina (derived from the name of the Chinese Qin Dynasty, pronounced 'Chin') which was translated as 'Cin' by the Persians and seems to have become popularized through trade along the Silk Road from Chinato the rest of the world.

            The name 'China' was popularized in Europe by Marco Polo.

 

- Từ Marco Polo (thế kỷ 16), người Âu Mỹ gọi Nước Tàu là China.  Rồi từ thế kỷ thứ 18, người Âu Mỹ bắt đầu đến và chiếm đất của Nước Tàu.

 

- Người Âu Mỹ dịch 'China' ra tiếng Tàu là 'Zhong Guó', tên đã được dùng cho nước Tàu từ thời nhà Tây Chu:

            In the West, China is of course called China, but in its own language it's known as 'Zhongguó', translating roughly to 'Middle Kingdom. ' Here's everything you need to know. The first known recording of the term 'Zhongguó' comes from a ritual vessel dating around 1000 B.C. called the He Zun

 

- Và giải thích: China = Zhòng Guó = Middle Kingdom/Country = 中國(中国)

            China in mandarin Chinese is called "Zhòng-guó", meaning literally Middle Kingdom/Country. ... But the TODAY the greks don't call their country Hellas, they call it Ellada, and Ellada derives from Hellas.

 

'Zhòng Guó' của Tiếng Tàu đồng nghĩa với 'Middle Kingdom/Country'.  Hán Việt ngữ có âm tương đương và đồng nghĩa là 'Trung Quốc'.

 

中國(中国)

            = (dịch nghĩa là) Middle Kingdom/Country

            = (đọc theo tiếng Tàu là) Zhòng Guó

            = (đọc theo tiếng Hán Việt là) Trung Quốc. 

 

(3)

中華= Trung Hoa (Zhòng huá) = Middle Kingdom/Country = Trung Quốc

 

Sau Cách mạng Tân Hợi (1911), nước Tàu theo chính thể Cộng Hòa. Nước Tàu lần lượt có 2 tên:

            Trung Hoa Dân Quốc (1912-1949)

            Trung Hoa Nhân Dân Cộng Hòa Quốc (1949-now)

 

中華民國

Trung Hoa Dân Quốc - Zhòng Huá Mín Guó

Republic of China = Cộng Hòa Trung Hoa (dịch từ tiếng Anh).

 

中華人民共和國

Trung Hoa Nhân Dân Cộng Hòa Quốc - Zhòng Huá Rén Mín Gòng Hé Guó

People Republic of China = Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa (dịch từ tiếng Anh).

 

Nước Tàu có một tên khác là Trung Hoa.

      中華

            Trung Hoa - Zhòng Huá

 

中華

            = (đọc theo tiếng Tàu là) Zhòng huá

            = (đọc theo tiếng Hán Việt là) Trung Hoa

Tự điển tiếng Tàu và tiếng Hán Việt đều đồng ý:

            Trung Hoa (danh từ riêng) đồng nghĩa với Trung Quốc (danh từ riêng)

            Zhòng huá đồng nghĩa với Zhòng guo

 

中華= (dịch nghĩa là) Middle Kingdom/Country (proper noun).

 

Khi giải thích từ ngữ "Trung Hoa Dân Quốc", Wikipedia dịch ra là "Republic of China" rồi giải thích "China"đồng nghĩa với "Trung Quốc" (Zhòng Guó):

            The official name of the state on the mainland was the "Republic of China*", but it has been known under various names throughout its existence. Shortly after the ROC's establishment in 1912, the government used the short form "China" (Zhōngguó (中國)) to refer to itself, "China" being derived from zhōng ("central" or "middle") and guó ("state, nation-state"),[g] a term that developed under the  Zhou dynasty in reference to its royal demesne, and the name was then applied to the area around Luoyi (present-day Luoyang) during the Eastern Zhou and then to China's Central Plain* before being used as an occasional synonym for the state during the Qing* era. 

 

Republic of China = Trung Hoa Dân Quốc

Central Plain = Trung Nguyên

Qing = (nhà) Thanh 

 

Như vậy, từ ngữ Trung Hoa dùng để chỉ Nước Tàu có nguồn gốc từ đâu?

Chúng ta đã biết nguồn gốc các từ ngữ dùng để chỉ Nước Tàu: Trung Quốc và China.

Chỉ có một giả thuyết mà các sử gia Âu Mỹ không nghĩ ra:

            China = (dịch âm là) Zhòng huá hay Trung Hoa.

Trung Hoa là dịch âm của China, tiếng mà người Âu Mỹ dùng để gọi Nước Tàu.

 

Các dịch giả đã dịch thẳng "Trung Hoa" từ "China":

            Republic of China = Cộng Hòa Trung Hoa (dịch từ tiếng Anh).

            People Republic of China = Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa (dịch từ tiếng Anh).

 

(4)

Tóm lại, trong thời đại ngày nay dùng chữ Quốc Ngữ, "Trung Hoa" và "Trung Quốc" đều có thể dùng đồng nghĩa với Nước Tàu, một nước lớn ở miền bắc nước Việt Nam của chúng ta đã từng có lịch sử liên quan từ vài ngàn năm cho tới bây giờ.  Và Anh ngữ tiếp tục dùng từ ngữ "China" với cùng một nghĩa.

 

 

PHAN THƯỢNG HẢI biên soạn

                                            LỜI THƠ NGUYỄN BỈNH KHIÊM

                                                                            (Bs Phan Thượng Hải)

 

 

Ông Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm đã có những lời nói và câu thơ làm nên và tiên đoán lịch sử.  Ngoài ra ông cũng là một thi sĩ tiền phong về thơ Hán Nôm với nhiều sáng tạo.

 

 

TIỂU SỬ

 

Ông Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491-1585) là người học rộng và giỏi tướng số.  Ông Nguyễn Bỉnh Khiêm nguyên tên là Nguyễn Văn Đạt người làng Trung Am huyện Vĩnh Lại trấn Hải Dương lúc bấy giờ (nay là xã Lý Học huyện Vĩnh Bảo, Hải Phòng).  Vào cuối nhà Hậu Lê, Mạc Đăng Dung chuyên quyền và cướp ngôi nhà Lê (1527); ông ở ẩn, không chịu đi thi làm quan.

 

Về sau khi nước nhà tạm thời yên ổn dưới triều nhà Mạc; ông Nguyễn Bỉnh Khiêm, năm 43 tuổi, ra thi Hương đậu Giải Nguyên, thi Hội thì đậu Hội Nguyên rồi vào thi Đình đậu Trạng Nguyên (1534-1535).  Ông Ngưyễn Bỉnh Khiêm làm quan đến Lại Bộ Thị Lang và Đông Các Đại Học Sĩ thì từ quan năm 1542 (53 tuổi) và về trí sĩ tu hành ở Bạch Vân am nơi quê quán ở làng Trung Am. 

Các vua nhà Mạc vẫn có hỏi ý kiến ông và còn phong cho ông là Lại Bộ Thượng Thư Trình Tuyền Hầu rồi Thái Phó Trình Quốc Công nên tục gọi ông là Trạng Trình.  Ông Nguyễn Bỉnh Khiêm làm quan “tại gia” cho đến năm ông 73 tuổi mới hoàn toàn về hưu.

Ông Trạng Trình cũng cố vấn cho chúa Trịnh Kiểm và chúa Nguyển Hoàng chứ không là tôi thần của riêng triều đình nào hết.  Những lời cố vấn của ông Trạng Trình đều có hiệu quả tốt cho đất nước: Bắc Hà hòa bình và thịnh vượng dưới thời Vua Lê Chúa Trịnh (khoảng 250 năm); nhà Mạc tồn tại thêm 3 đời ở Cao Bằng sau khi mất Thăng Long và nhất là Chúa Nguyễn vào được Nam Hà và diệt Chiêm Thành và chiếm Thủy Chân Lạp, mở rộng lãnh thổ nước Việt ta thành gấp đôi. 

 

Ông Nguyễn Bỉnh Khiêm mất năm 94 tuổi, có 3 vợ và 12 con (7 trai và 5 gái).  Con trai đều đỗ đạt làm quan.  Học trò của ông là ông Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan và ông Lương Hữu Khánh (con của thầy ông là ông Lương Đắc Bằng) đều làm đến Thượng Thư trong triều đình Hậu Lê trung hưng.  Học trò tôn ông là Tuyết Giang phu tử.  Thế kỷ 20, Cao Đài Giáo ở Tây Ninh phong ông là Thanh Sơn Đạo Sĩ hay Thanh Sơn Chân Nhân.

 

Nho Giáo chỉ có về nhân sinh quan truyền sang Đại Việt với 2 nhà Nho tiêu biểu là ông Chu Văn An và ông Nguyễn Trãi.  Nhưng đến thời Tống Nho, anh em Trình Hạo và Trình Di và Chu Hi đưa ra học thuyết Lý Khí (gọi là Lý Học), Nho Giáo có thêm Hình Nhi Thượng và biến thành Tân Nho Giáo.  Ông Nguyễn Bỉnh Khiêm là nhà Nho nước ta tiêu biểu cho sự hiểu biết về Lý Học Tân Nho Giáo.  “An Nam lý học hữu Trình Tuyền” là câu người Tàu khen ông Nguyễn Bỉnh Khiêm tinh thông Lý Học.  Ông Nguyễn Bỉnh Khiêm có tước Trình Tuyền Hầu trước khi được nhà Mạc thăng lên là Trình Quốc Công.

 

 

 

THƠ TIÊN ĐOÁN LỊCH SỬ

 

Ông Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491-1585) sống vào thế kỷ 16 với tên nước là Đại Việt.  Mãi đến năm 1802 (đầu thế kỷ 19), nước ta mới đổi tên là Việt Nam.  Tuy nhiên trong 2 bài thơ gửi cho 2 ông Trạng Nguyên khác, Trạng Nguyên Nguyễn Bỉnh Khiêm đã dùng chữ “Việt Nam” rồi:

 

Thơ gửi Trạng Nguyên Nguyễn Thuyến

 

Trạng Nguyên Nguyễn Thuyến (1495-1557) hiệu là Cảo Xuyên người làng Canh Hoạch huyện Thanh Oai trấn Sơn Nam đỗ Trạng Nguyên năm 1532 (3 năm và 1 khóa trước ông Nguyễn Bỉnh Khiêm) làm quan đến Lại Bộ Thượng Thư tước Thê Quận Công.

 

TÂY HỘ KÝ THANH OAI TRẠNG NGUYÊN NGUYỄN CẢO XUYÊN (*)

Tạc dữ ngã tằng ấp tiếu đàm                       Bữa trước cùng ông mãi tiếu đàm

Bất tài tư xuyễn ngã ưng tàm                      Kém tài tự thẹn dám đâu ham

Khôi tam niên ngã quân đa hạnh                Trạng Nguyên trước tớ ông may nhỉ

Trù nhất thâu quân ngã vị cam                   Trù tính thua ông tớ chửa cam

Hồ học tích niên tằng cộng giảng               Biển học năm nao cùng giảng thuyết

Hán duy kim nhật hữu tường thanh            Việc quân ngày tới lại chung làm

Tiền trình viễn đại quân tu ký                     Đường xa lối rộng ông nên nhớ

Thùy thị thanh danh trọng Việt Nam.         Tiếng để sao cho đẹp Việt Nam.

(Nguyễn Bỉnh Khiêm)                                 (? Dịch)

 

(*) Hộ giá đến miền Tây gửi Thanh Oai Trạng Nguyên Nguyễn Cảo Xuyên.

 

Thơ gửi Trạng Nguyên Giáp Hải

 

Trạng Nguyên Giáp Hải (1504-1586) hiệu là Tiết Trai người làng Công Luận huyện Văn Giang (nay thuộc Hải Hưng) sau đến ở làng Dĩnh Kế huyện Thượng Nhân (nay thuộc Hà Bắc) thi đỗ Trạng Nguyên năm 1538 (3 năm và 1 khóa sau ông Nguyễn Bỉnh Khiêm) làm quan đến Lại Bộ Thượng Thư tước Sách Quận Công.

 

QUY LÃO KÝ LẠI BỘ THƯỢNG THƯ TÔ KHÊ BÁ (*)

Kiểm điểm hành niên thất thập tam           Tuổi đã bảy ba ở cõi phàm

Huyền xa sai vãn dã ưng tàm                     Từ quan muộn, mắc tiếng tham lam

Trì khu tự hứa ta vô lực                              Ruổi rong vẫn biết đà thua kém

Danh lợi hà cầu khởi thị tham?                  Danh lợi chăng cầu há bảo tham

Miễn lực vọng công phù đế thất                 Gắng sức ông chăm phò đế nghiệp

Thâu nhàn tiếu ngã lão Vân Am                Hưởng nhàn tớ ở mãi Vân Am

Thọ tinh cộng chiếu quang mang tại          Thọ tinh vằng vặc trên nền thẳm

Tiền hậu quang huy chiếu Việt Nam.         Sau trước rạng soi đất Việt Nam.

(Nguyễn Bỉnh Khiêm)                                (? Dịch)

 

(*) Về hưu gửi Lại Bộ Thượng Thư Tô Khê Bá (Trạng Nguyên Giáp Hải).

 

 

Theo ông Phan Kế Bính trong Nam Hải Dị Nhân truyện thì ông Nguyễn Bỉnh Khiêm có bài thơ Sấm như sau như là một “tiên tri” về “Lê Mạc phân tranh”

 

LỜI SẤM

Non sông nào phải buổi bình thời

Thù đánh nhau chi khéo nực cười

Cá vực chim rừng ai khiến đuổi

Núi xương sông huyết thảm đầy vơi

Ngựa phi chắc có hồi quay cổ

Thú dữ nên phòng lúc cắn người

Ngán ngẫm việc đời chi nói nữa

Bên đầm say hát nhởn nhơ chơi.

(Phan Kế Bính phỏng dịch)

 

Câu “Ngựa phi chắc có hồi quay cổ” tiên đoán nhà Lê sẽ khôi phục được nước.  Câu “Thú dữ nên phòng lúc cắn người” tiên đoán gia đình Chúa Trịnh sẽ giữ quyền nhà Lê.  Những điều tiên đoán trong bài Sấm nầy đều đúng. 

Tuy nhiên nguyên văn của bài thơ nầy làm bằng chữ Hán tựa đề là Cảm Hứng trong Bạch Vân Am thi tập như sau (chứ không có trong Sấm Trạng):

 

CẢM HỨNG                                                     

Thái hòa vũ trụ bất Ngu Chu (*)                       

Hổ chiến giao tranh tiếu lưỡng thù              

Xuyên huyết sơn hài tùy xứ hữu                  

Uyên ngư tùng trước vị thùy ngu                 

Trùng hưng dĩ bốc độ giang mã                   

Hậu hoạn ưng phòng nhập thất khu             

Thế sự đáo đầu hưu thuyết trước                 

Túy ngâm trạch bạn nhậm nhàn du.             

(Nguyễn Bỉnh Khiêm)                                   

(*) Thời Ngu Thuấn và Chu Văn Vương là những thời thịnh trị theo Nho Gia.

 

Nguyên văn của 2 câu “Ngựa phi chắc có hồi quay cổ/Thú dữ nên phòng lúc cắn người” là “Trùng hưng dĩ bốc độ giang mã/Hậu hoạn ưng phòng nhập thất khu”. 

 

Ông Nguyễn Bỉnh Khiêm làm bài thơ nầy lúc ông đã từ quan tại triều đình nhà Mạc (sau 1542).  Nhà Lê Trung Hưng chiếm Thanh Hóa năm 1543 và chiến tranh Lê Mạc thật sự từ 1545 cho đến khi chấm dứt vào năm 1593 sau khi nhà Lê và chúa Trịnh Tùng chiếm Thăng Long và giết vua Mạc Mậu Hợp (1592) rồi giết Mạc Toàn (con Mạc Mậu Hợp) và Mạc Kính Chỉ (1593).

 

Dưới đây là lịch sử "Lê Mạc phân tranh":

 

Ông Nguyễn Kim lập vua Lê Trang Tông ở Ai Lao năm 1533 chính thức sáng lập nhà Hậu Lê Trung Hưng.  Vua Lê Trang Tông là Hoàng tử Lê Duy Ninh con của Lê Chiêu Tông.

Tục truyền rằng Vua Lê Trang Tông có biệt danh là Chúa Chổm vì lúc hàn vi ông rất nghèo nên thiếu nợ rất nhiều.  Khi ông làm vua, dân chúng kéo tới cung vua ở Thăng Long để đòi nợ.  Điều nầy chỉ là truyền thuyết và không đúng sự thật vì nhà Hậu Lê khôi phục Thăng Long sau khi vua Lê Trang Tông đã qua đời ở Thanh Hóa. 

Sau nầy sử gia cũng nghi ngờ là vua Lê Trang Tông không phải là con của vua Lê Chiêu Tông vì Trang Tông sinh năm 1514 và Chiêu Tông sinh năm 1506.  Nhà Mạc thì tố cáo là ông Nguyễn Kim lập con riêng của mình lên làm vua là Lê Trang Tông.

 

Năm 1543, Nguyễn Kim về chiếm Thanh Hóa (và Nghệ An).  Tướng nhà Mạc là Dương Chấp Nhất đầu hàng rồi 2 năm sau (1545) đầu độc chết ông Nguyễn Kim và trốn về với nhà Mạc.  Rể ông Nguyễn Kim là ông Trịnh Kiểm lên thay làm Thái Sư.

Năm 1546 Mạc Hiến Tông Phúc Hải chết, người con thế ngôi là Mạc Tuyên Tông Phúc Nguyên có chú là Tuyên Vương Mạc Kính Điển làm Phụ Chính.  Tướng Phạm Tử Nghi lập con Thái Tổ là Mạc Chính Trung và làm phản nhưng bị Mạc Kính Điển đánh dẹp và giết chết.

Từ 1545 tới 1580, nhà Mạc (dưới quyền Mạc Kính Điển) và nhà Lê (dưới quyền Trịnh Kiểm rồi Trịnh Tùng) giằng co không thắng bại.  Năm 1562, Mạc Tuyên Tông chết, con là Mạc Mậu Hợp mới 2 tuổi lên làm vua.  Năm 1570, Trịnh Cối thua người em khác mẹ là Trịnh Tùng (cháu ngoại ông Nguyễn Kim) chạy về hàng nhà Mạc. 

Năm 1580, Mạc Kính Điển chết (em là Mạc Đôn Nhượng thay), nhà Mạc suy yếu.  Năm 1591 Trịnh Tùng tiến sát Thăng Long bắt được Tướng Nguyễn Quyện của nhà Mạc nhưng rút quân.  Năm 1592, Trịnh Tùng chiếm Thăng Long.  Mạc Mậu Hợp thua ở Hải Dương bị bắt và bị giết.  Con Mạc Mậu Hợp là Mạc Toàn cũng bị bắt và bị giết (1593).

Mạc Kính Chỉ (con Mạc Kính Điển) tự lập làm vua (1593) nhưng 3 tháng sau bị thua 2 tướng Hoành Đình Ái và Nguyễn Hữu Liêu của Trịnh Tùng ở Hải Dương và bị giết.

 

 

LỜI NÓI LÀM NÊN LỊCH SỬ

 

Từ những câu thơ trong đời ông tiên đoán đúng lịch sử, ông Nguyễn Bỉnh Khiêm cũng có những câu nói bất hủ làm nên lịch sử:

 

(1)

"Cao Bằng tuy thiểu khả diên sổ thế"

 

Sau khi mất Thăng Long, theo lời khuyên trên đây của ông Nguyễn Bỉnh Khiêm, nhà Mạc rút về vùng Cao Bằng và tồn tại 85 năm sau (1593-1677) với 3 đời vua. 

Mạc Kính Cung (1593-1594): em Mạc Kính Chỉ, con thứ 7 của Mạc Kính Điển

Mạc Kính Khoan (1594-1628): cháu kêu Kính Cung bằng chú

Mạc Kính Vũ (1628-1677): con Kính Khoan.  Năm 1677, tướng Đinh Văn Tả của chúa Trịnh chiếm Cao Bằng.  Mạc Kính Vũ trốn sang Tàu.

Nhà Mạc tuy ở Cao Bằng được nhà Minh ở miền Nam ủng hộ nhưng không bao giờ mượn quân Tàu sang tiếp viện.

 

Nguyên văn của lời khuyên: “Cao Bằng tuy tiểu, khả diên sổ thế” (Cao Bằng tuy nhỏ nhưng có thể kéo dài nhiều thế hệ).

Câu nói nầy của ông Nguyễn Bỉnh Khiêm làm nên lịch sử. 

 

 

(2)

"Giữ Chùa thờ Phật thì được ăn oản"

 

Nhà Lê Trung Hưng bắt đầu khi ông Nguyễn Kim lập con của Lê Chiêu Tông là Lê Trang Tông (1533).  Vua Lê Trung Tông (con Trang Tông) chết (1556), không có con. 

Tục truyền rằng Thái Sư Trịnh Kiểm đã lưỡng lự muốn xưng làm Vua nhưng còn chưa dám định hẳn bề nào, các quan cũng không ai biết làm thế nào cho phải.  Sau Trịnh Kiểm cho người đi lẽn ra Hải Dương hỏi ông Nguyễn Bỉnh Khiêm tức là Trạng Trình xem nên làm thế nào.  Ông Nguyễn Bỉnh Khiêm không nói gì cả chỉ ngảnh lại bảo đầy tớ: “Năm nay mất mùa thóc giống không tốt, chúng mày nên tìm giống cũ mà gieo mạ”.  Nói rồi lại sai đầy tớ ra chùa bảo Tiểu quét dọn chùa và đốt hương để ông ra chơi chùa rồi bảo Tiểu rằng: “Giữ chùa thờ Phật thì (được) ăn oản”.  Sứ giả về kể chuyện lại cho Trịnh Kiểm nghe.  Trịnh Kiểm hiểu ý mới cho người đi tìm con cháu họ Lê.

(Trần Trọng Kim/VNSL).

 

Nhờ đó vua Lê và chúa Trịnh cùng cai trị Bắc Hà yên tịnh khoảng 250 năm. 

 

Trong lịch sử, Chúa Trịnh có giết 3 vua Lê (Anh Tông, Kính Tông và Phế Đế Duy Phường) và 1 Thái tử (của vua Hiển Tông) nhưng không bao giờ tiêu diệt nhà Lê. 

Nhà Lê Trung Hưng bắt đầu khi ông Nguyễn Kim lập con của Lê Chiêu Tông là Lê Trang Tông (1533).  Vua Lê Trung Tông (con Trang Tông) chết (1556), không có con.  Theo lời khuyên của Trạng Trình, Thái sư Trịnh Kiểm không tự lập làm vua mà lập ông Lê Duy Bang là cháu 5 đời của Lam Quốc Công Lê Trừ (anh thứ hai của Thái Tổ Lê Lợi) làm vua là vua Lê Anh Tông.  Theo gia phả, vua Lê Anh Tông là vai ông của vua Lê Trung Tông (ông lên làm vua thế cháu).

Năm 1573, Lê Anh Tông đã muốn tự lập khỏi Chúa Trịnh Tùng (con Trịnh Kiểm) khi ông nầy tranh quyền với anh là Trịnh Cối nhưng không xong nên cùng 4 người con lớn, chạy trốn vào Nghệ An.  Sau khi Trịnh Cối thua và hàng nhà Mạc thì vua Anh Tông bị bắt rồi bị Trịnh Tùng giết chết.  Con thứ năm của Anh Tông là Duy Đàm vì còn nhỏ tuổi (7 tuổi) không chạy theo vua cha được, ở lại kinh đô (Thanh Hóa) nên được Chúa Trịnh Tùng lập làm vua là Lê Thế Tông.  Trong thời vua Lê Thế Tông (vị vua thứ tư của nhà Lê Trung Hưng 1573-1599), nhà Lê và chúa Trịnh Tùng chiếm lại Thăng Long (1592).    

Vua Lê Kính Tông Duy Thái (con Thế Tông) mưu với Trịnh Xuân (con thứ của Trịnh Tùng) lật đỗ Chúa Trịnh Tùng nhưng việc không thành nên Trịnh Tùng buộc vua Lê Kính Tông phải thắt cổ chết và lập Thái tử Lê Duy Kỳ làm vua là Lê Thần Tông vào năm 1619 (lúc 13 tuổi).

 

Vua Lê Thần Tông (1607-1662) làm vua lần thứ nhứt (1619-1643) và lần thứ nhì (1649-1662).  Vua tên là Lê Duy Kỳ là con trưởng của vua Lê Kính Tông và Hoàng hậu Trịnh thị Ngọc Trinh (con gái của Chúa Trịnh Tùng).  Do đó vua Lê Thần Tông là cháu nội của Vua Lê Thế Tông và cháu ngoại của Chúa Trịnh Tùng. 

Năm 1630, Chúa Trịnh Tráng (con Trịnh Tùng) ép Lê Thần Tông (24 tuổi) phải lấy con gái mình là Trịnh thị Ngọc Trúc làm Hoàng hậu.  Lúc đó bà Trịnh thị Ngọc Trúc nầy (36 tuổi) đã có 4 con và chồng là Lê Trụ đang bị giam trong ngục.  Hoàng hậu Trịnh thị Ngọc Trúc không có sinh hoàng tử và sau đó đi tu ở chùa Bút Tháp (ở Bắc Ninh).  Năm 1643, Lê Thần Tông nhường ngôi cho con là Lê Duy Hựu (là vua Lê Chân Tông) lên làm Thái Thượng Hoàng.  Năm 1649, Lê Chân Tông (1630-1649) chết không có con nên Chúa Trịnh Tráng đưa Thái Thượng Hoàng Lê Thần Tông lên ngôi làm vua lần thứ nhì.  Năm 1662, vua Lê Thần Tông chết vì ung thư.

Vua Lê Thần Tông theo Chúa Trịnh đánh chúa Nguyễn tất cả 3 lần.

Vua Lê Thần Tông có những kỷ lục của một vị vua Việt Nam: làm vua 2 lần, có 4 người con làm vua (bằng với vua Trần Minh Tông) và là vua đầu tiên lấy vợ người Tây phương (người Hòa Lan, con gái của một thuyền trưởng).

 

Bốn vị vua là con của Lê Thần Tông là:

Lê Chân Tông (1630-1649) lên ngôi năm 1643.

Lê Huyền Tông (1654-1671) lên ngôi năm 1662

Lê Gia Tông (1661-1675) lên ngôi năm 1671

Lê Hy Tông (1663-1716) lên ngôi năm 1676 rồi năm 1705 nhường ngôi cho con trưởng là Lê Dụ Tông và làm Thái Thượng Hoàng cho đến khi mất.  Vua Lê Hy Tông sanh ra 5 tháng sau khi cha mình là Lê Thần Tông qua đời.  Đời ông làm vua là thời thạnh trị của nhà Hậu Lê Trung Hưng vì Bắc Hà không còn chiến tranh.  Chiến tranh Trịnh Nguyễn (1627-1672) xảy ra trong thời Thần Tông, Chân Tông, Huyền Tông và Gia Tông (trong thời chúa Trịnh Tráng và Trịnh Tạc). 

 

Lê Dụ Tông (1679-1731) làm vua từ năm 1705.  Năm 1727, Chúa Trịnh Cương phế con trưởng của Lê Dụ Tông là Lê Duy Trường và lập con thứ là Duy Phường (mẹ là dòng họ Trịnh).  Biết là Lê Dụ Tông bất bình, Trịnh Cương ép vua nhường ngôi cho Duy Phường và lên làm Thái Thượng Hoàng (1729).  Dụ Tông mất năm 1731 thì đến năm sau (1732), Chúa Trịnh Giang phế Lê Đế Duy Phường thành Hôn Đức Công và lập Duy Trường làm vua là Lê Thuần Tông.  Năm 1735, Lê Thuần Tông qua đời, Chúa Trịnh Giang lập em là Duy Thận là vua Lê Ý Tông và 2 tháng sau thắt cổ Hôn Đức Công Duy Phường. 

Năm 1740, mẹ của Chúa Trịnh Giang truất phế Trịnh Giang (1711-1762), tôn là Thái Thượng Vương, giam lỏng trong cung (cho đến khi mất vào năm 1762) và lập em (Trịnh Giang) là Chúa Trịnh Doanh.  Chúa Trịnh Doanh liền bắt vua Lê Ý Tông làm Thái Thượng Hoàng (1740), nhường ngôi cho con trưởng Duy Diêu là Lê Hiển Tông (1717-1786). 

Vua Lê Hiển Tông giữ niên hiệu Cảnh Hưng trong 47 năm làm vua cho đến khi mất (1786).  Lê Duy Mật là con Lê Dụ Tông nổi lên chống lại Chúa Trịnh ở Thanh Hóa, phải 40 năm mới dẹp được (1740-1770).  Chúa Trịnh Sâm (con Trịnh Doanh) giết con trưởng của Hiển Tông là Duy Vỹ, giam con là Duy Khiêm với 2 người em của Duy Khiêm và lập Duy Cận (em Duy Vỹ) làm Thái Tử.  Năm 1783, Kiêu Binh truất phế Duy Cận thành Sùng Nhượng Công và lập Duy Khiêm làm Hoàng Thái Tôn.  Lê Duy Khiêm (sau đổi tên là Duy Kỳ) lên ngôi sau khi Lê Hiển Tông qua đời là vua Lê Chiêu Thống.  Vua Lê Thần Tông và vua Lê Chiêu Thống có trùng tên là Duy Kỳ. 

 

(3)

"Hoành Sơn nhất đái vạn đại dung thân"

 

Cuối đời nhà Mạc, ông Nguyễn Kim (1468-1545) phò vua Lê Trang Tông ở Thanh Hóa mong chiếm lại đất nước từ nhà Mạc.  Ông Nguyễn Kim bị hàng tướng nhà Mạc là Dương Chấp Nhất thuốc độc chết, binh quyền thuộc về rể là ông Trịnh Kiểm (1503-1570).  Thái Sư Trịnh Kiểm kiếm cớ định tội giết con của ông Nguyễn Kim là Lãng Quận Công Nguyễn Uông.  Đoan Quận Công Nguyễn Hoàng (em Nguyễn Uông) hỏi ý kiến ông Trạng Trình (phải làm sao?) thì câu trả lời bất hủ là:

 

“Hoành Sơn nhất đái, vạn đại dung thân” (Hoành Sơn một dãy, muôn đời dung thân).

 

Ông Nguyễn Hoàng liền nhờ chị là Ngọc Bảo xin với chồng là ông Trịnh Kiểm vào trấn thủ đất Thuận Hóa, nam của Hoành Sơn thì được chấp thuận.

Năm 1558, ông Nguyễn Hoàng (1525-1613) dẫn mấy ngàn dân quân vượt Đèo Ngang của Hoành Sơn vào Thuận Hóa (gồm tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị và Thừa Thiên bây giờ).  Năm 1569, ông kiêm nhiệm Trấn Thủ Quảng Nam (gồm tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi và Qui Nhơn) và sau đó năm 1611 vượt đèo Cù Mông (giữa Bình Định và Phú Yên) chiếm Phú Yên đến biên giới Tuy Hòa (Phú Yên) và Khánh Hòa (Nha Trang) bây giờ.  Đèo Cù Mông là đèo hiểm trở nhất nước Việt dài 7 km, cao 245 m và dốc 9%.  Nước Chiêm Thành chỉ còn Khánh Hòa (Nha Trang), Phan Rang và Phan Thiết.

Năm 1653, chúa Nguyễn Phúc Tần chiếm Nha Trang (Khánh Hòa)

Năm 1693, chúa Nguyễn Phúc Chu sai Chưởng Cơ Nguyễn Hữu Cảnh chiếm Phan Rang và Phan Rí (Phan Thiết).  Nước Chiêm Thành bị tiêu diệt.

 

Dưới thời chúa Nguyễn, nước Đại Việt chiếm trọn vùng Thủy Chân Lạp của nước Chân Lạp lập thành Nam Kỳ.  Việc thành hình của đất Nam Kỳ chính thức từ ông Nguyễn Hữu Cảnh lập Dinh Trấn Biên và Dinh Phiên Trấn năm 1698 cho đến năm 1759 dưới thời ông Nguyễn Cư Trinh hoàn tất và ổn định Dinh Long Hồ.

Nam Kỳ Lục Tỉnh hình thành năm 1759 với 3 Dinh: Trấn Biên (tỉnh Biên Hòa), Phiên Trấn (tỉnh Gia Định) và Long Hồ. 

Ông Nguyễn Cư Trinh (1716-1767) trấn Dinh Long Hồ đóng ở đất Tầm Phào (tỉnh lỵ Vĩnh Long bây giờ) từ năm 1753 đến năm 1765.  Dinh Long Hồ gồm 4 tỉnh Định Tường, Vĩnh Long, An Giang và Hà Tiên. 

 

Câu “Vạn đại dung thân” không phải chỉ ám chỉ con cháu của ông Nguyễn Hoàng mà thật sự là dùng cho con cháu của dân Việt.  Nhờ ông Nguyễn Hoàng vượt Hoành Sơn mà lãnh thổ nước Việt trải dài đến mũi Cà Mau với vùng đồng bằng trù phú ở Nam Kỳ đã giúp cho toàn dân được “vạn đại dung thân”? 

Ông Nguyễn Bỉnh Khiêm thật là một thiên tài, một câu nói làm nên lịch sử.

 

CHÚA NGUYỄN HOÀNG

Nghe lời quan Trạng quá Đèo Ngang

Mạo hiểm Tiên phong, Chúa Nguyễn Hoàng

Trọng dụng nhân tài an Thuận Quảng

Nương nhờ địa lợi thủ Linh Giang

Đàng Trong nước Việt dân hùng mạnh

Nghiệp cả trời Nam đất mở mang

Vạn đại thành công truyền hậu duệ

Dung thân khai quốc tự Hoành San.

(Phan Thượng Hải)

1/18/15

 

 

SẤM TRẠNG TIÊN ĐOÁN LỊCH SỬ

 

Sấm Trạng Trình hay Sấm Ký Nguyễn Bỉnh Khiêm là những lời được cho là có tính cách tiên tri về các sự kiện lịch sử của dân Việt trong khoảng 500 năm (1509-2019).

Bản chánh gọi là Sấm Ký bản A có 262 câu (thơ) gồm 14 câu “cảm đề” và 248 câu “sấm ký”.  Ngoài ra còn có 20 bản khác gồm 7 bản chữ Hán Nôm và 20 tựa sách chữ Quốc Ngữ về Sấm Trạng Trình từ năm 1948.

Trong Trang Thơ của Nguyễn Bỉnh Khiêm có những bản Sấm Trạng:

Bản Hán Nôm: Nguyễn Văn Bân, Nguyễn Văn Sâm

Bản Quốc Ngữ: Hoàng Xuân, Hương Sơn, Mai Lĩnh, Nguyễn Quân, Sở Cuồng.

 

Sấm Ký bản A có 8 câu dưới đây (câu 43-50) là tiên đoán đúng lịch sử của cuối thế kỷ 18 (của nhà Nguyễn Tây Sơn).

 

Chim bằng cất cánh về đâu

Chết tại trên đầu hai chữ quận công

Bao giờ trúc mọc qua sông

Mặt trời sẽ lại đỏ hồng non tây

Đoài cung một sớm đổi thay

Chấn cung sao cũng sa ngay chẳng còn

Đầu cha lộn xuống chân con

Mười bốn năm tròn hết số thì thôi.

 

 

(1)

Chim bằng cất cánh về đâu

Chết tại trên đầu hai chữ quận công

 

Hai câu nầy nói về Bằng Quận Công Nguyễn Hữu Chỉnh vào thời Tây Sơn diệt chúa Nguyễn và chúa Trịnh.

 

Ông Nguyễn Hữu Chỉnh (? -1787) là danh sĩ Bắc Hà thời vua Lê Hiển Tông, văn võ song toàn (16 tuổi đậu Hương Cống và 18 tuổi đậu Võ Cử Nhân).  Tục thế gọi ông là Cống

Chỉnh.  Ông bỏ vào Đàng Trong theo phò Tây Sơn (1782). 

 

Nhà Nguyễn Tây Sơn nổi lên ở ấp Tây Sơn (thuộc huyện Phù Ly, nay là làng An Khê, huyện Phù Cát, Qui Nhơn) vào năm 1771 với 3 anh em là Nguyễn Nhạc (?-1793), Nguyễn Huệ (1753-1792) và Nguyễn Lữ (1754-1787).  Ba anh em nầy là con của ông Hồ Phi Phúc, đổi thành họ Nguyễn để thu phục nhân tâm. 

Hai năm sau, ông Nguyễn Nhạc chiếm Qui Nhơn (1773).  Nhân cơ hội đó Chúa Trịnh Sâm sai Hoàng Ngũ Phúc chiếm kinh đô Phú Xuân của Chúa Nguyễn (1774). 

Chúa Nguyễn Định Vương Nguyễn Phúc Thuần chạy vào Gia Định (Nam Kỳ) rồi lập cháu mình (con cố Thái tử Nguyễn Phúc Hiệu) là ông Nguyễn Phúc Dương làm Đông Cung (người sẽ nối ngôi).

 

Chúa Nguyễn Định Vương Nguyễn Phúc Thuần nhờ quân Nguyễn ở Nam Kỳ dưới quyền của Trấn Thủ dinh Long Hồ Tống Phúc (Phước) Hiệp (?-1776) để chống lại Tây Sơn.  Ông Nguyễn Nhạc tự xưng là Tây Sơn Vương ở Qui Nhơn (1776), cầu hòa với Chúa Trịnh rồi sai 2 em là Nguyễn Huệ và Nguyễn Lữ vào Nam diệt chúa Nguyễn (1777).  Định Vương Nguyễn Phúc Thuần (gọi là Thái Thượng Vương), Đông Cung Tân Định Vương Nguyễn Phúc Dương (gọi là Tân Định Vương) và hoàng tộc của chúa Nguyễn đều bị ông Nguyễn Huệ giết hết.  Năm 1778, ông Nguyễn Nhạc không thần phục Chúa Trịnh, tự xưng là Thái Đức Đế. 

Con ông Nguyễn Phúc Luân là ông Nguyễn Phúc Ánh (cháu kêu Định Vương bằng chú) tự xưng Vương (1780), dùng những người thường dân là ông Đỗ Thành Nhơn (?-1781) rồi ông Châu Văn Tiếp (1738-1784) để khôi phục Nam Kỳ.  Ông Đỗ Thành Nhơn lộng quyền bị Nguyễn Vương giết (1781) còn ông Châu Văn Tiếp bị thương nặng trong trận đánh với Tây Sơn ở sông Măng Thít (nay thuộc Vĩnh Long) rồi qua đời (1784). 

Chiến tranh ở Nam Kỳ giữa Tây Sơn và Nguyễn Vương Phúc Ánh chấm dứt khi ông Nguyễn Huệ của Tây Sơn thắng trận Rạch Gằm Xoài Mút (nam Cái Bè, Mỹ Tho) vào năm 1784.  Quân Xiêm tiếp viện Nguyễn Vương Phúc Ánh từ Vĩnh Long theo sông Tiền Giang tiến về tấn công quân Tây Sơn Nguyễn Huệ đóng ở Mỹ Tho.  Ông Nguyễn Huệ phục binh ở 2 bên bờ và trong những cồn ở giữa sông Tiền Giang giữa 2 cửa sông phụ lưu Rạch Gằm và Xoài Mút, tiêu diệt 2 vạn quân Xiêm La.  Hai tướng Xiêm là Chiêu Tăng và Chiêu Sương (đều là cháu của vua Xiêm) cùng vài ngàn quân sống sót lội bộ theo đường Tây Ninh qua Chân Lạp để đi về xứ.  Nguyễn Vương từ Trấn Giang (Cần Thơ bây giờ) cùng Thái giám Lê Văn Duyệt và 10 người tùy tùng phải trốn qua Xiêm La (Thái Lan). 

 

Năm 1786, theo kế ly gián của ông Nguyễn Hữu Chỉnh, ông Nguyễn Huệ và ông Vũ Văn Nhậm chiếm Phú Xuân và sau đó chiếm đất Thuận Hóa.  Thế là Nam Hà (Đàng Trong) hoàn toàn thuộc nhà Tây Sơn. 

Năm 1786, ông Nguyễn Nhạc tự xưng là Trung Ương hoàng đế (vẫn niên hiệu Thái Đức) đóng đô ở Quy Nhơn phong cho ông Nguyễn Lữ là Đông Định Vương ở Nam Kỳ đóng ở Gia Định và ông Nguyễn Huệ là Bắc Bình Vương trấn từ đèo Hải Vân tới sông Gianh (đóng ở Phú Xuân).  Ông Nguyễn Huệ là một tướng giỏi vô địch trong Việt Sử “chiến thắng không hề chiến bại”, còn có tên là Nguyễn Văn Huệ hay Nguyễn Quang Bình.

 

Sau đó ông Nguyễn Huệ sai ông Nguyễn Hữu Chỉnh đi trước theo đường biển vào cửa Đại An của sông Đáy theo sông Nam Định đến sông Hồng rồi chiếm kho lương ở Vị Hoàng (vùng đất có khúc sông nhỏ cùng tên chảy từ sông Hồng vào Nam Định).  Biết quân Trịnh chưa kịp phòng thủ, ông Nguyễn Huệ theo đường bộ qua Nghệ Tĩnh và Thanh Hóa đến hội ở Vị Hoàng.  Từ Vị Hoàng quân Tây Sơn đánh bại bộ binh của Bùi Thế Dận ở Đông An (gần Hưng Yên?) và đánh bại thủy quân của Đinh Tích Nhưỡng ở góc sông Luộc và sông Hồng.  Quân Tây Sơn lại thắng quân của chúa Trịnh Khải và Hoàng Phùng Cơ ở hồ Vạn Xuân (Thanh Trì, Hà Nội).  Chúa Trịnh Khải chạy về Sơn Tây nhưng bị tên Nguyễn Trang bắt giải về nộp cho Tây Sơn.  Chúa Trịnh Khải dùng gươm cắt cổ tự tận.  Bắc Bình Vương cho tống táng chúa Trịnh Khải và vào Thăng Long chầu vua Lê Hiển Tông.

 

Sau khi cưới Ngọc Hân công chúa (con Lê Hiển Tôn) rồi Hiển Tôn mất và cháu nội là Duy Kỳ lên ngôi là Lê Chiêu Thống, ông Nguyễn Huệ và Vũ Văn Nhậm về Phú Xuân (Huế) và để Nguyễn Hữu Chỉnh giữ Nghệ An. 

 

Trịnh Bồng (con Chúa Trịnh Giang, anh chú bác với chúa Trịnh Sâm) tự lập làm Chúa.  Ông Nguyễn Hữu Chỉnh theo về phò Lê Chiêu Thống, đánh bại chúa Trịnh Bồng, được phong Đại Tư Đồ Bằng Quận Công và nắm quyền ở Bắc Hà chống lại Tây Sơn.  Chúa Trịnh Bồng bỏ đi tu rồi mất tích. 

 

Từ Bắc Hà ông Nguyễn Hữu Chỉnh có 2 câu gửi vào Đàng Trong:

 

Đường trời mở rộng thênh thang

Ta đây cũng một trào đàng kém ai

 

Từ Đàng Trong, Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ trả lời:

 

Ai ra Đông Hải nhắn lời cùng

Lông cánh bao nhiêu dám vẫy vùng

Hồng Lĩnh bên kia bể bên nọ

Bay thì mắc núi đậu thì cung.

 

Chỉ một thời gian ngắn ông Nguyễn Huệ sai ông Vũ Văn Nhậm cùng 2 tâm phúc của mình là ông Ngô Văn Sở và ông Phan Văn Lân ra Bắc Hà.  Tháng 11 năm Đinh Tỵ (1787), ông Vũ Văn Nhậm phá quân ông Nguyễn Hữu Chỉnh ở làng Thanh Quyết (nay thuộc Gia Viễn, Ninh Bình) rồi ở Châu Cầu (nay thuộc Kim Bảng, Hà Nam).  Vua Lê Chiêu Thống chạy ra Kinh Bắc (Bắc Ninh) cầu cứu nhà Thanh.  Ông Nguyễn Hữu Chỉnh chạy về Yên Thế đóng quân ở Mục Sơn (?) thì bị tướng Tây Sơn là Nguyễn Văn Hòa lên đánh và bắt sống.  Ông Nguyễn Hữu Chỉnh bị xé xác ở Thăng Long theo lệnh của ông Vũ Văn Nhậm và thịt để cho chó ăn.

 

 

(2)

Bao giờ trúc mọc qua sông

Mặt trời sẽ lại đỏ hồng non Tây

 

Hai câu nầy nói về chiến tranh giữa nhà Mãn Thanh Trung Quốc và vua Quang Trung của Tây Sơn.  Quân Thanh chiếm Thăng Long (có cất một cầu tre bắt qua sông Hồng Hà) và quân Tây Sơn chiến thắng huy hoàng như ánh mặt trời.

 

Cuối năm 1787, Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ rút quân về Phú Xuân để Đại Tư Mã Ngô Văn Sở, Nội Hầu Phan Văn Lân và ông Ngô Thì Nhậm trấn giữ Bắc Hà.  Vua Càn Long của nhà Thanh bên Tàu sai Tổng Đốc Lưỡng Quảng Tôn Sĩ Nghị làm chánh tướng cùng Hứa Thế Hanh, Sầm Nghi Đống và Trương Triều Long đem 20-29 vạn quân sang đánh nước Đại Việt.  Vua Lê Chiêu Thống cùng quân “Cần Vương” của mình ủng hộ quân Thanh.  Quân nhà Thanh chiếm đóng Thăng Long đặt những đồn lũy chung quanh. Quân Tây Sơn của ông Ngô Văn Sở và ông Phan Văn Lân rút về thủ ở đèo Tam Điệp (còn gọi là đèo Ba Dội) tại Thanh Hóa.  Tôn Sĩ Nghị cho cất một cầu tre bắt qua sông Hồng Hà (ứng với câu: bao giờ trúc mọc qua sông) 

 

Ông Nguyễn Huệ lên ngôi là vua Quang Trung Hoàng Đế (đầu năm 1788), Thái Đức Đế Nguyễn Nhạc đã gần mất Nam Kỳ về tay Nguyễn Vương Phúc Ánh, tự xuống làm Tây Sơn Vương ở Quy Nhơn, nhường đất Quảng Nam cho ông Nguyễn Huệ. 

Vua Quang Trung đem mấy vạn quân ra bắc hội với 6 vạn quân của 2 ông Ngô Văn Sở và Phan Văn Lân ở Tam Điệp (tổng cộng là 10 vạn quân).  Theo lời khuyên của một ẩn sĩ ở Nghệ An là La Sơn Phu Tử Nguyễn Thiếp, vua Quang Trung quyết định đánh nhanh (và đánh mạnh), liền chia ra 5 cánh quân tiến ra bắc.

 

Đêm 30 Tết Kỷ Dậu xuất phát từ núi Tam Điệp, vua Quang Trung cùng với ông Ngô Văn Sở và ông Phan Văn Lân dẫn cánh quân thứ nhứt (cánh quân chủ lực) tiến thẳng về hướng bắc theo đường Hà Nam chiếm 2 đồn của quân Cần Vương Lê Chiêu Thống: đồn Nguyệt Quyết (nay ở Thanh Liêm, Hà Nam) và đồn Nhật Tảo (nay ở Duy Tiên, Hà Nam).  Mùng 3 Tết vua Quang Trung vây đồn Hà Hồi, 20 km nam Thăng Long (nay ở Thường Tín, Hà Nội), quân Thanh không kịp phòng bị phải đầu hàng.  Mùng 4 Tết, quân của vua Quang Trung đến đóng trước đồn Ngọc Hồi, 15 km nam Thăng Long (nay ở Thanh Trì, Hà Nội) là nơi có lực lượng chính của quân Thanh do Đề Đốc Hứa Thế Hanh và Tổng Binh Trương Triều Long cầm đầu. 

 

Trong khi đó (mùng 4 Tết) Đô Đốc Long (còn gọi là Đô Đốc Mưu), tên là Nguyễn Tăng Long, dẫn một cánh quân Tây Sơn thứ nhì từ Tam Điệp bọc theo đường Hà Tây qua Chương Đức (nay là Chương Mỹ, Hà Tây), qua cầu Nhân Mục của sông Tô Lịch chiếm đồn Khương Thượng, Sầm Nghi Đống bị vây ở 1 gò đất không thoát được phải tự tử.  Đêm mùng 4 Tết, Đô Đốc Long chiếm đồn Nam Đồng. Tôn Sĩ Nghị ở cung Tây Long (đông Thăng Long) hoãng sợ bỏ chạy, vua Lê Chiêu Thống cũng chạy theo, quân Thanh dành nhau qua cầu sông Nhị Hà trốn về Tàu.  Đồn Khương Thượng (còn gọi là Đống Đa) và đồn Nam Đồng ở tây nam Thăng Long (nay thuộc Đống Đa, Hà Nội).  Sử cũ thường gọi những trận đánh nầy của Đô Đốc Nguyễn Tăng Long là trận Đống Đa.  (Vua Quang Trung không có đánh trận Đống Đa).   

 

Sáng mùng 5 Tết vua Quang Trung tấn công và chiếm đồn Ngọc Hồi, Hứa Thế Hanh tử trận.  Quân Thanh chạy về hướng Thăng Long thì bị cánh quân thứ ba là 1 cánh quân bên trái của cánh quân vua Quang Trung (cũng theo đường Hà Nam), do Đô Đốc Bảo (tên là Đặng Xuân Bảo) cầm đầu chận đánh ở Đầm Mực (tây bắc Ngọc Hồi), Trương Triều Long bị giết chết.  Vua Quang Trung vào Thăng Long ngày mùng 5 Tết (30-1-1788) được Đô Đốc Long đón tiếp.

 

Quân Tôn Sĩ Nghị trên đường chạy về Tàu bị Đô Đốc Tuyết (tên là Nguyễn Văn Tuyết) chận đánh ở Hải Dương phải chạy lên hướng bắc thì bị Đô Đốc Lộc (tên là Nguyễn Văn Lộc) phục kích một trận ở Lạng Giang.

 

(3)

Đoài cung một sớm đổi thay

Chấn cung sau cũng sa ngay chẳng còn

Đầu cha lộn xuống chân con

Mười bốn năm tròn hết số (kiếp) thì thôi.

 

Hai câu trên nói về số phận của vua “em” Quang Trung Nguyễn Huệ (cung Đoài, làm em) sẽ chết trước vua “anh” Thái Đức Nguyễn Nhạc (cung Chấn, làm anh). 

Theo hai câu dưới, từ vua “cha” Quang Trung lên ngôi (1778) cho đến vua “con” Cảnh Thịnh mất ngôi và bị giết (1802) thì vừa đúng 14 năm.  Theo Hán tự, trong chữ Quang có chữ Tiểu ở trên đầu và trong chữ Cảnh có chữ Tiểu ở dưới chân.

 

Bốn năm sau khi thắng quân Thanh (1792) vua Quang Trung bành trướng quân đội (cứ 3 người đàn ông thì tuyển 1 người làm lính).  Chính sử cho rằng nhà vua muốn đánh nước Tàu (hay chiếm Lưỡng Quảng).  Vua Quang Trung chuẩn bị sai sứ giả là ông Vũ Văn Dũng sang Tàu cầu hôn và đòi đất Lưỡng Quảng (của Triệu Đà ngày xưa) để thử triều đình nhà Thanh.  Nhưng sứ thần là ông Vũ Văn Dũng chưa khởi hành thì chẳng may vua Quang Trung bất ngờ bị bệnh và qua đời.  Vua thọ 40 tuổi.

 

Nguyễn Vương Phúc Ánh (1762-1820) là con của ông Nguyễn Phúc Luân, là cháu kêu chúa Định Vương bằng chú và là cháu nội của Chúa Võ Vương Nguyễn Phúc Khoát.  Ông là hoàng tộc của chúa Nguyễn độc nhất còn sống sót nhà Tây Sơn. 

Năm 1787, khi Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ bận rộn ở Bắc Hà, Nguyễn Vương Phúc Ánh trở lại chiếm toàn bộ Nam Kỳ (1789), Nguyễn Lữ thua chạy về Qui Nhơn, đi tu rồi mất một thời gian ngắn sau đó. 

Theo đường bộ, Nguyễn Vương chiếm đến Phú Yên.  Ông Nguyễn Huỳnh Đức thắng một trận lớn ở đèo Cù Mông. Đèo Cù Mông là đèo hiểm trở nhất nước Việt dài 7 km, cao 245 m và dốc 9%.  Nhờ đó đường bộ đuợc khai thông cho quân Nguyễn Vương tiến lên hướng bắc tấn công Qui Nhơn (kinh đô của Tây Sơn Vương Nguyễn Nhạc). 

Sau 3 lần tấn công, Nguyễn Vương chiếm được Qui Nhơn và đổi tên là Bình Định (1799).  Sau khi giải vây Qui Nhơn lần thứ nhất, quân Tây Sơn của vua Cảnh Thịnh từ Phú Xuân vào Quy Nhơn tịch thu tài sản và kho tàng của Hoàng Đế Nguyễn Nhạc nên ông tức giận thổ huyết mà chết.  Con là Nguyễn Bảo chỉ được ăn lộc 1 huyện, tước là Hiến Công (Sử gọi là Tiểu Triều).  Tiểu Triều Nguyễn Bảo muốn hàng Nguyễn Vương nhưng bị em chú bác là vua Cảnh Thịnh hay được, bắt dìm xuống sông cho chết (1798). 

 

Trong nội loạn ở Phú Xuân (1795), Tổng trấn Bắc Thành Ngô Văn Sở và cha con Thái sư Bùi Đắc Tuyên và Bùi Đắc Trụ bị Vũ Văn Dũng giết (bằng cách dìm dưới sông Hương).  Trần Quang Diệu và Vũ Văn Dũng cầm quyền, vào đánh Bình Định (Qui Nhơn).  Trần Quang Diệu vây thành Qui Nhơn còn thủy quân của Vũ Văn Dũng giữ cửa Thị Nại.  Theo kinh nghiệm của đèo Cù Mông, Nguyễn Vương tránh đường bộ và đèo Hải Vân nên dùng đường thủy và “thủy quân lục chiến”.

 

Nguyễn Vương cho rao truyền câu đồng dao ở các vùng của Tây Sơn:

 

“Lạy Trời cho chóng gió Nồm (*)

Cho thuyền Chúa Nguyễn giong buồm thẳng ra”

 

(*) Gió từ Nam thổi ra Bắc.

 

Năm 1801, theo đường biển, Nguyễn Vương đem các ông Lê Văn Duyệt và Võ Di Nguy đánh cửa Thị Nại.  Võ Di Nguy tử trận nhưng nhờ ông Lê Văn Duyệt tiếp tục tấn công, Nguyễn Vương chiếm được Thị Nại, Vũ Văn Dũng thua về với Trần Quang Diệu tiếp tục vây thành Quy Nhơn.  Ông Võ Tánh (và ông Ngô Tòng Châu) liều chết giữ thành Qui Nhơn cầm chưn quân chủ lực của Tây Sơn và gửi mật thư khuyên Nguyễn Vương Phúc Ánh đánh chiếm Phú Xuân.  Nguyễn Vương cho ông Nguyễn Văn Thành đóng ở Thị Nại chận đường thủy của quân Tây Sơn ở Qui Nhơn rồi Vương theo đường biển đi về phương bắc vào chiếm Quảng Nam (1801).  Ông để ông Nguyễn Huỳnh Đức đóng ở Quảng Nam chận đường bộ tiếp viện Phú Xuân của Trần Quang Diệu từ Qui Nhơn.  Trong khi Trần Quang Diệu và Vũ Văn Dũng hạ thành Qui Nhơn, Nguyễn Vương Phúc Ánh đem ông Nguyễn Văn Trương và Lê Văn Duyệt cũng theo đường biển vào cửa Thuận An theo sông Hương vào chiếm Phú Xuân (Huế), vua Cảnh Thịnh chạy ra Bắc Hà. 

Đầu năm 1802, Vua Cảnh Thịnh sai em là Nguyễn Quang Thùy và bà Bùi Thị Xuân (vợ ông Trần Quang Diệu) đánh lũy Trấn Ninh và cửa Nhật Lệ (thuộc Đồng Hới, Quảng Bình).  Nguyễn Vương Phúc Ánh cùng ông Đặng Trần Thường và Phạm Văn Nhân giữ lũy Trấn Ninh và cho ông Nguyễn Văn Trương đánh bại thủy quân Tây Sơn ở cửa Nhật Lệ.  Bộ binh Tây Sơn ở trước lũy Trấn Ninh bỏ chạy. 

Từ đó quân Tây Sơn tan vỡ, lục quân của ông Lê Văn Duyệt và ông Lê Chất cùng với thủy quân của ông Nguyễn Văn Trương tiến chiếm Bắc Hà dễ dàng, bắt toàn thể hoàng gia nhà Tây Sơn.  Ông Trần Quang Diệu và Vũ Văn Dũng đã phải từ Quy Nhơn theo đường Ai Lao rút về Bắc Hà nên cũng bị bắt.  Vua Cảnh Thịnh và tất cả hoàng gia và tướng của Tây Sơn đều bị vua Gia Long giết chết (1802).

 

 

THI PHẨM

 

Hậu thế luôn nhắc đến 1 bài thơ tiêu biểu của ông Nguyễn Bỉnh Khiêm về “triết lý Nhàn” của ông:

 

NHÂN TÌNH THẾ THÁI BÀI 38 (CẢNH NHÀN)

Một mai một cuốc một cần câu

Thơ thẩn dầu ai vui thế nào

Ta dại, ta tìm nơi vắng vẻ

Người khôn, người đến chốn lao xao

Thu ăn măng trúc, đông ăn giá

Xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao

Rượu đến gốc cây ta sẽ nhắp

Nhìn xem phú quí tựa chiêm bao.

(Nguyễn Bỉnh Khiêm)

 

Thật ra ông Nguyễn Bỉnh Khiêm có để lại 3 tác phẩm về Thơ: 

Quyển Bạch Vân Am Thi Tập gồm một số ít thơ Đường Luật cổ điển dùng chữ Hán. 

Quyển Bạch Vân Gia Huấn dùng chữ Hán Nôm theo thể Song Thất Lục Bát. 

Nhưng quan trọng nhất là quyển Bạch Vân Quốc Ngữ Thi Tập gồm những bài thơ Đường Luật TNBC cổ điển hoặc theo Hàn Luật dùng chữ Hán Nôm.

 

 

THƠ HÀN LUẬT

 

Tục truyền rằng ông Hàn Thuyên (1229-?) có cải cách thơ Đường bằng những luật mới như dùng câu 6 chữ (1) hay ngắt nhịp 3,4 (thay vì 4,3) hoặc dùng thủ vỹ ngâm (2).  Thủ vỹ ngâm là câu đầu và câu cuối của bài thơ giống nhau. 

Hậu thế gọi là Hàn Luật.  Các ông Nguyễn Sĩ Cố, Chu Văn An và Lê Quý Ly có làm thơ Hán Nôm như ông Hàn Thuyên nhưng đều thất lạc vì Bắc thuộc thời nhà Minh.  Thơ Hán Nôm mới thấy lại vào đời nhà Hậu Lê bắt đầu từ ông Nguyễn Trãi.  

 

Đây là một những bài thơ Hán Nôm của ông Nguyễn Trãi dùng Hàn Luật (mà sau nầy cũng thấy trong thơ Hồng Đức và thơ của ông Nguyễn Bỉnh Khiêm). 

 

HOA SEN

Lầm nhơ chẳng bén, tốt hòa thanh

Quân tử không kham được thửa danh

Gió đưa hương, đêm nguyệt lạnh (1)

Riêng làm của, có ai tranh. (1)

(Nguyễn Trãi)

 

THỦ VỸ NGÂM

Góc thành Nam, lều một gian (1) (2)

No nước uống, thiếu cơm ăn (1)

Ao bởi hẹp hòi khôn thả cá

Nhà quen thú thứa ngại nuôi vằn (*)

Con đòi trốn dường ai quyến (1)

Bà ngựa gầy thiếu kẻ chăn (**) (1)

Chẳng phải triều quan chẳng phải ẩn

Góc thành Nam, lều một gian. (1) (2)

(Nguyễn Trãi)

 

(*) Thú thứa=xú xứa=xuề xòa=xuềnh xoàng.  Vằn=chó vằn, con chó

(**) Bà ngựa=con ngựa, như gọi là ông voi thay vì con voi.

 

 

Ông Nguyễn Bỉnh Khiêm cũng dùng thơ Đường Luật theo thể Hàn Luật dĩ nhiên dùng chữ Hán Nôm (mà lúc đó ông đã gọi là Quốc Ngữ): có câu 6 chữ (1) và Thủ Vỹ Ngâm (2) như những bài dưới đây.

 

NHÂN TÌNH THẾ THÁI BÀI 2 (AN PHẬN THÌ HƠN)

Giàu ba bữa khó hai niêu (1)

An phận thì hơn hết mọi điều

Khát uống trà mai hơi ngút ngút

Sốt kề hiên nguyệt gió hiu hiu

Giang sơn tám bức là tranh vẽ

Hoa cỏ tư mùa ấy gấm thêu

Thong thả đêm khuya nằm sớm thức

Muôn vàn đã đội đức trời Nghiêu.

(Nguyễn Bỉnh Khiêm)

 

 

VÔ ĐỀ

 

Rất nhân sinh bảy tám mươi (1) (2)

Làm chi lảo đảo nhọc lòng người

Bạch Vân am vắng chim kêu muộn

Kim Tuyết dòng thanh cá mát tươi

Ưu ái một niềm hằng nhớ chúa

Công danh hai chữ đã nhường người

Giàu lẫn khó yên đòi phận (1)

Rất nhân sinh bảy tám mươi (1) (2)

 

Thanh nhàn hưởng được tính từ nhiên

Non nước cùng ta đã có duyên

Dắng dỏi bên tai cầm suối (1)

Dập dìu trước mặt tán sen (1)

Xuân về, hoa nở mùi hương nức

Khách đến, chim mừng dáng mặt quen

Chốn ấy thanh nhàn được thú (1)

Lọ là Bồng Đảo mới tiên. (1)

 

(Nguyễn Bỉnh Khiêm)

 

 

Tuy nhiên thơ Hàn Luật của ông Nguyễn Bỉnh Khiêm còn cải cách xa hơn nữa.  Như bài “Vô Đề” ở trên, ông dùng 2 bài thơ Bát Cú cho 1 đề tài.  Kế đến ông Nguyễn Bỉnh Khiêm còn có dùng câu 5 chữ (3) và còn làm 1 bài thơ Lục Cú tức là chỉ có 6 câu thay vì 8 hay 4 câu (4)

 

THÚ DƯỠNG THÂN

Phú quý bởi thời vần (3)

Tu luyện lâu bền thú dưỡng thân

Hứng ý miệng ngâm câu quốc ngữ

Giải phiền tay chuốc chén quỳnh xuân

Đường hoa chào khách mặt nhìn mặt (5)

Ngõ hạnh đưa người chân ngại chân (5)

Dẫu có ai than thì sẽ nhủ:

Thái bình thiên tử thái bình dân. (5)

(Nguyễn Bỉnh Khiêm)

 

THÚ TIÊU DAO (4)

Xóm tự nhiên lều một căn (1)

Quét không thây thẩy bụi hồng trần

Nhìn hàng cam quít con đòi cũ

Mấy gã ngư tiều lừa bạn thân

Thấy nguyệt tròn thì kể tháng (1)

Nhìn hoa nở mới hay xuân. (1)

(Nguyễn Bỉnh Khiêm)

 

 

THƠ ĐƯỜNG LUẬT

 

Trong bài thơ Đường Luật TNBC chính thống hay Hàn Luật, ông Nguyễn Bỉnh Khiêm cũng có những kỹ thuật tân tiến như dùng chữ lập lại trong câu 7 chữ (5):

 

THÚ DƯỠNG THÂN

Phú quý bởi thời vần

Tu luyện lâu bền thú dưỡng thân

Hứng ý miệng ngâm câu quốc ngữ

Giải phiền tay chuốc chén quỳnh xuân

Đường hoa chào khách mặt nhìn mặt (5)

Ngõ hạnh đưa người chân ngại chân (5)

Dẫu có ai than thì sẽ nhủ:

Thái bình thiên tử thái bình dân. (5)

(Nguyễn Bỉnh Khiêm)

 

THÚ NHÀN

Lẩn thẩn ngày qua lại tháng qua

Một năm xuân tới một phen già

Ái ưu vằng vặc trăng in nước

Danh lợi lâng lâng gió thổi hoa

Án sách vẫn còn án sách cũ (5)

Nước non bạn với nước non nhà (5)

Cuộc cờ đua chí dù cao thấp

Ta muốn thanh nhàn thú vị ta.

(Nguyễn Bỉnh Khiêm)

 

NHÂN TÌNH THẾ THÁI BÀI 20 (THẾ GIAN BIẾN ĐỔI)

Thế gian biến đổi vũng nên đồi

Mặc lạt chua cay lẫn ngọt bùi

Còn bạc còn tiền còn đệ tử (5)

Hết cơm hết gạo hết ông tôi (5)

Xưa nay vẫn trọng người chân thực

Ai nấy nào ưa kẻ đãi bôi

Ở thế mới hay người thế bạc

Giàu thì tìm đến khó tìm lui.

(Nguyễn Bỉnh Khiêm)

 

 

Ông Nguyễn Bỉnh Khiêm còn dùng thể Độc Vận và Song Ngữ:

 

DẠI KHÔN

Làm người có dại mới nên khôn

Chớ dại ngây si chớ quá khôn

Khôn được ích mình đừng rẻ dại

Dại thì giữ phận chớ tranh khôn

Khôn mà hiểm độc là khôn dại

Dại vốn hiền lành ấy dại khôn

Chớ cậy rằng khôn khinh kẻ dại

Gặp thời, dại cũng hóa thành khôn.

(Nguyễn Bỉnh Khiêm)

 

Đời sau có thi sĩ “nối nghiệp”:

 

DẠI KHÔN (Họa)

Ong óng đua nhau nói dại khôn

Biết ai là dại biết ai khôn

Khôn mê tửu sắc là khôn dại

Dại chốn thiền môn ấy dại khôn

Khôn ấy không tiền, khôn ấy dại

Dại mà phiền nhiễu, dại mà khôn

Đố ai rõ đặng trong khôn dại

Mới gọi là người biết dại khôn.

(Cai Tổng Lê Quang Chiểu)

 

DẠI KHÔN (Họa)

Thiên hạ đua nhau nói dại khôn

Biết ai là dại biết ai khôn

Khôn nghề cờ bạc là khôn dại

Dại chốn văn chương ấy dại khôn

Mấy kẻ nên khôn đều có dại

Làm người có dại mới nên khôn

Chữ khôn ai cũng khôn là thế

Mới biết trần gian kẻ dại khôn.

(Tú Tài Trần Tế Xương)

 

DẠI KHÔN (Họa)

Vũ trụ càn khôn có dại khôn

Nhân sinh định kiến dại hay khôn

Lương tâm thiện tánh, tình không dại

Nhân nghĩa lợi danh, trí biết khôn

Lắm lúc tày khôn thành quá dại

Đôi khi giả dại thế mà khôn

Người khôn từng trải điều khôn dại

Kẻ dại luận bàn chuyện dại khôn.

(Phan Thượng Hải)

11/13/2019

 

 

KẾT LUẬN

 

Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm được biết như một nhà tiên tri nhưng ít người biết ông là một người đức độ khiêm nhường, một học giả thông thái, có tài làm thơ rất hay góp phần cho nền văn học nước ta và là một chính trị gia lỗi lạc: với những câu nói đơn giản ông đã làm nên lịch sử hòa bình lâu dài và mở rộng địa lý của nước Việt. 

 

Nho Giáo muốn bình trị Thiên Hạ nhưng trong lịch sử Nho Gia từ Khổng Tử cho đến Vương Dương Minh ở Trung Quốc cũng như các ông Chu Văn An, Nguyễn Trãi, Lê Quý Đôn, Nguyễn Công Trứ… ở Việt Nam không có một ai thành công làm an dân lợi nước rộng lớn và lâu dài trong sự khiêm nhường như ông Nguyễn Bỉnh Khiêm.

 

Sấm Trạng Trình của ông cũng tiên đoán đúng lịch sử của nhà Nguyễn Tây Sơn. 

 

 

TRẠNG TRÌNH NGUYỄN BỈNH KHIÊM

 

Công nghiệp Trạng Trình giúp quốc gia

An dân lợi nước bậc tài ba

Khéo khuyên cộng hưởng dòng Lê Trịnh

Hữu ích về cho xứ Bắc Hà

Họ Nguyễn tuân theo lời viễn thị

Phương Nam mở rộng đất bao la

Bỉnh Khiêm tri túc bình thiên hạ

Người Việt nhờ ơn được thái hòa.

 

Mai danh ẩn tích tánh khiêm hòa

Sấm ký tiên tri biết chuyện xa

Cửa Khổng nhân sinh đà hiểu thấu

Sân Trình vũ trụ đã thông qua

Thi từ cải cách nền văn học

Chính kiến thành công việc nước nhà

Thông thái minh tâm không vị lợi

Đức tài đệ nhất rạng Nho Gia.

 

(Phan Thượng Hải)

10/22/16

 

 

Bs PHAN THƯỢNG HẢI biên soạn

 

Bài nầy đăng lần đầu trong phanthuonghai.com phần Văn Thơ mục Đọc Thơ.

 

Tài Liệu Tham Khảo:

            Phần "Thơ và Sử" trong phanthuonghai.com

                        Nguyễn Bỉnh Khiêm (Phan Thượng Hải)

                        Nguyễn Hoàng (Phan Thượng Hải)

                        Nguyễn Hữu Chỉnh (Phan Thượng Hải)

                        Quang Trung (Phan Thượng Hải)

                        Gia Long (Phan Thượng Hải)

            Trang Thơ Nguyễn Bỉnh Khiên Thi Viện Net

MỪNG LỄ PHỤC SINH

Thế giới đón mừng lễ Phục Sinh

Làm Người từng trải nghĩa hy sinh

Thiện tâm đưa lối về thiên quốc (*)

Khiêm ái dẫn đường hướng tái sinh

Cầu nguyện chân thành qua khốn khổ

Đức tin bền vững giúp tồn sinh

Giê-su tín ngưỡng truyền hy vọng

Ơn phước nhân loài có phục sinh.

Phan Thượng Hải

4/10/20 

Good Friday 2020

(*) Thiên quốc = Nước trời = Kingdom of heaven.

              THƠ ĐƯỜNG LUẬT THẤT NGÔN BÁT CÚ

                                                                                (Bs Phan Thượng Hải)

 

THỂ THƠ ĐƯỜNG LUẬT THẤT NGÔN BÁT CÚ

 

Thể thơ áp dụng cho một bài hay đoạn thơ 8 câu và 7 chữ (Thất Ngôn Bát Cú).

 

Đường Luật Thất Ngôn Bát Cú là căn bản của thơ Đường Luật.  Từ đó có thể suy ra cách làm những thơ Đường Luật khác như ĐL Ngũ Ngôn Bát Cú, ĐL Thất Ngôn Tứ Tuyệt và ĐL Ngũ Ngôn Tứ Tuyệt.

 

1) Số Câu và Số Chữ trong mỗi Câu

 

Bài thơ ĐLTNBC phải gồm có 8 câu (bát cú) và số chữ trong mỗi câu nhất định là 7 (thất ngôn).

 

2) Cách Gieo Vần

 

Vần là những tiếng thanh âm hòa hiệp đặt vào hai hoặc nhiều câu văn để hưởng ứng nhau.  (Chữ Hán là Vận).

Suốt bài thơ chỉ hiệp theo một vần (tức là theo lối Độc Vận).

Trong một bài Bát Cú có 5 vần gieo ở cuối câu đầu (câu 1) và cuối các câu chẵn (câu 2,4,6 và 8).  Vì Vần ở cuối câu nên chỉ có Cước Vận.  Thường dùng vần Bằng, rất hiếm khi dùng vần Trắc. 

Ngược lại chữ cuối của những câu lẻ còn lại (câu 3,5 và 7) phải Đối Thanh với những Vần.  Nếu dùng Vần Bằng thì những chữ cuối câu 3,5 và 7 phải là Trắc.

 

Thí Dụ 1=Vần Bằng/Bằng Trắc của chữ cuối câu

 

Ao thu lạnh lẻo nước trong veo (VB)

Một chiếc thuyền con bé tẻo teo (VB)

Sóng nước theo làn hơn gợn tí (T)

Lá vàng trước gió sẻ đưa vèo (VB)

Tầng mây lơ lửng trời xanh ngắt (T)

Ngỏ trúc quanh co khách vắng teo (VB)

Tựa gối ôm cần lâu chẳng đặng (T)

Cá đâu đớp đọng dưới chân bèo (VB)

 

Thí Dụ 2=Vần Bằng/Bằng Trắc của chữ cuối câu

 

Bước đến đèo Ngang bóng (t) xế tà (VB)

Cỏ cây chen đá lá chen hoa (VB)

Lom khom dưới núi tiều vài chú (T)

Lác đác bên sông rợ mấy nhà (VB)

Nhớ nước đau lòng con quốc quốc (T)

Thương nhà mỏi miệng cái gia gia (VB)

Dừng chân ngoảnh lại trời non nước (T)

Một mảnh tình riêng ta với ta (VB)

 

3) Âm thanh = Luật Bằng Trắc trong mỗi Câu

 

* Khởi Luật Bằng và hay Khởi luật Trắc

 

Khởi Luật Bằng là luật thơ bắt đầu bằng tiếng Bằng ở chữ thứ 2 của câu đầu.  Khởi Luật Trắc là luật thơ bắt đầu bằng tiếng Trắc ở chữ thứ 2 của câu đầu.

 

Thí Dụ 1=Khởi Luật Bằng

 

Ao thu (B) lạnh lẻo nước trong veo (VB)

Một chiếc thuyền con bé tẻo teo (VB)

Sóng nước theo làn hơn gợn tí (T)

Lá vàng trước gió sẻ đưa vèo (VB)

Tầng mây lơ lửng trời xanh ngắt (T)

Ngỏ trúc quanh co khách vắng teo (VB)

Tựa gối ôm cần lâu chẳng đặng (T)

Cá đâu đớp đọng dưới chân bèo (VB)

 

Thí Dụ 2=Khởi Luật Trắc

 

Bước đến (T) đèo Ngang bóng xế tà (VB)

Cỏ cây chen đá lá chen hoa (VB)

Lom khom dưới núi tiều vài chú (T)

Lác đác bên sông rợ mấy nhà (VB)

Nhớ nước đau lòng con quốc quốc (T)

Thương nhà mỏi miệng cái gia gia (VB)

Dừng chân ngoảnh lại trời non nước (T)

Một mảnh tình riêng ta với ta (VB)

 

* Niêm

 

Hai câu thơ Niêm với nhau khi nào chữ thứ 2 của hai câu cùng theo một luật (hoặc cùng là bằng hoặc cùng là trắc, thì thành ra bằng niêm với bằng trắc niêm với trắc).  Trong bài ĐLTNBC: câu 1 Niêm với câu8, câu 2 với câu 3, câu 4 với câu 5, câu 6 với câu 7.

 

Thí Dụ 1=Khởi Luật Bằng/Niêm (Bằng Trắc của chữ thứ 2)

 

Ao thu (B) lạnh lẻo nước trong veo (VB)

Một chiếc (T) thuyền con bé tẻo teo (VB)

Sóng nước (T) theo làn hơn gợn tí (T)

vàng (B) trước gió sẻ đưa vèo (VB)

Tầng mây (B) lơ lửng trời xanh ngắt (T)

Ngỏ trúc (T) quanh co khách vắng teo (VB)

Tựa gối (T) ôm cần lâu chẳng đặng (T)

đâu (B) đớp đọng dưới chân bèo (VB)

 

Thí Dụ 2=Khởi Luật Trắc/Niêm (Bằng Trắc của chữ thứ 2)

 

Bước đến (T) đèo Ngang bóng xế tà (VB)

Cỏ cây (B) chen đá lá chen hoa (VB)

Lom khom (B) dưới núi tiều vài chú (T)

Lác đác (T) bên sông rợ mấy nhà (VB)

Nhớ nước (T) đau lòng con quốc quốc (T)

Thương nhà (B) mỏi miệng cái gia gia (VB)

Dừng chân (B) ngoảnh lại trời non nước (T)

Một mảnh (T) tình riêng ta với ta (VB)

 

 

* Bằng Trắc trong mỗi Câu và Lệ Bất Luận

 

Trong bài thơ Thất Ngôn thì chữ thứ 1, 3 và 5 trong mỗi câu không cần đúng luật (Nhất, Tam, Ngũ bất luận).  Tuy nhiên nếu chữ thứ 5 giữ đúng luật thì âm của bài thơ hay hơn rất nhiều.

Thực tế trong một câu Thất Ngôn, nếu chữ thứ 2 là Trắc thì chữ thứ 4 là Bằng và chữ thứ 6 là Trắc.  Ngược lại nếu chữ thứ 2 là Bằng thì chữ thứ 4 là Trắc và chữ thứ 6 là Bằng.  (Nhị, Tứ, Lục phân minh).

 

Thí Dụ 1=

Khởi Luật Bằng/Niêm (Bằng Trắc của chữ thứ 2)/Bằng Trắc của chữ thứ 4, 6

 

Ao thu (B) lạnh lẻo (T) nước trong (B) veo (VB)

Một chiếc (T) thuyền con (B) bé tẻo (T) teo (VB)

Sóng nước (T) theo làn (B) hơn gợn (T) tí (T)

vàng (B) trước gió (T) sẻ đưa (B) vèo (VB)

Tầng mây (B) lửng (T) trời xanh (B) ngắt (T)

Ngỏ trúc (T) quanh co (B) khách vắng (B) teo (VB)

Tựa gối (T) ôm cần (B) lâu chẳng (T) đặng (T)

đâu (B) đớp đọng (T) dưới chân (B) bèo (VB)

 

Thí Dụ 2=

Khởi Luật Trắc/Niêm (Bằng Trắc của chữ thứ 2)/Bằng Trắc của chữ thứ 4, 6

 

Bước đến (T) đèo Ngang (B) bóng xế (T) tà (VB)

Cỏ cây (B) chen đá (T) lá chen (B) hoa (VB)

Lom khom (B) dưới núi (T) tiều vài (B) chú (T)

Lác đác (T) bên sông (B) rợ mấy (T) nhà (VB)

Nhớ nước (T) đau lòng (B) con quốc (T) quốc (T)

Thương nhà (B) mỏi miệng (T) cái gia (B) gia (VB)

Dừng chân (B) ngoảnh lại (T) trời non (B) nước (T)

Một mảnh (T) tình riêng (B) ta với (T) ta (VB)

 

* Luật Bằng Trắc của chữ thứ 5 của mỗi câu thì theo Luật: theo thứ tự từ câu 1 đến câu 8 là T, T, B, T, B, T, B, T.

 

Thí Dụ 1=Bằng Trắc của chữ thứ 5

 

Ao thu (B) lạnh lẻo (T) nước (t) trong (B) veo (VB)

Một chiếc (T) thuyền con (B) bé (t) tẻo (T) teo (VB)

Sóng nước (T) theo làn (B) hơn (b) gợn (T) tí (T)

Lá vàng (B) trước gió (T) sẻ (t) đưa (B) vèo (VB)

Tầng mây (B) lơ lửng (T) trời (b) xanh (B) ngắt (T)

Ngỏ trúc (T) quanh co (B) khách (t) vắng (B) teo (VB)

Tựa gối (T) ôm cần (B) lâu (b) chẳng (T) đặng (T)

Cá đâu (B) đớp đọng (T) dưới (t) chân (B) bèo (VB)

 

Thí Dụ 2=Bằng Trắc của chữ thứ 5

 

Bước đến (T) đèo Ngang (B) bóng (t) xế (T) tà (VB)

Cỏ cây (B) chen đá (T) lá (t) chen (B) hoa (VB)

Lom khom (B) dưới núi (T) tiều (b) vài (B) chú (T)

Lác đác (T) bên sông (B) rợ (t) mấy (T) nhà (VB)

Nhớ nước (T) đau lòng (B) con (b) quốc (T) quốc (T)

Thương nhà (B) mỏi miệng (T) cái (t) gia (B) gia (VB)

Dừng chân (B) ngoảnh lại (T) trời (b) non (B) nước (T)

Một mảnh (T) tình riêng (B) ta (b) với (T) ta (VB)

 

4) Tiết Tấu

 

Tiết tấu nghĩa đen là nhịp nhàng.  Tiết tấu là do cách ngắt một câu thơ thành từng đoạn dài ngắn khác nhau.

Có 3 cách ngắt: (1) 4 chữ rồi 3 chữ (2) 2 chữ rồi 5 chữ (3) 2 chữ rồi 2 chữ rồi 3 chữ

 

Thí Dụ (1): /Bước đến đèo Ngang/ bóng xế tà/

Thí Dụ (2): /Nhớ nước/ đau lòng con quốc quốc/

                   / Thương nhà/ mỏi miệng cái gia gia/

Thí Dụ (3): /Tựa gối/ ôm cần/ lâu chẳng đặng/

 

5) Phép Đối

 

Đối là đặt hai câu đi sóng đôi cho Ý và Chữ trong hai câu ấy cân xứng với nhau.

Đối Ý là tìm hai ý tưởng cân nhau mà đặt thành hai câu sóng nhau.

Đối Chữ thì vừa phải Đối Thanh vừa phải Đối Loại.

Đối Thanh tức là Bằng đối với Trắc và Trắc đối với Bằng.

Đối Loại là phải đặt một hay hai chữ cùng tự loại để đối nhau (như cùng Danh từ, Động từ, Tỉnh từ, Giới từ…).

Trong bài Bát Cú: Câu 3 đối với câu 4, Câu 5 đối với câu 6.

Thực tế chỉ cần Đối Chữ là bắt buộc.  Vì luật bất luận nên chữ thứ 1 và 3 của hai câu không bắt buộc Đối Thanh với nhau (Đối không chỉnh nhưng được chấp nhận/Thí Dù 2)

 

Thí Dụ 1=Đối Chỉnh

 

Bước đến (T) đèo Ngang (B) bóng (t) xế (T) tà (VB)

Cỏ cây (B) chen đá (T) lá (t) chen (B) hoa (VB)

 

Lom khom (B) dưới núi (T) tiều (b) vài (B) chú

Lác đác (T) bên sông (B) rợ (t) mấy (T) nhà (VB)

Nhớ nước (T) đau lòng (B) con (b) quốc (T) quốc

Thương nhà (B) mỏi miệng (T) cái (t) gia (B) gia (VB)

 

Dừng chân (B) ngoảnh lại (T) trời (b) non (B) nước

Một mảnh (T) tình riêng (B) ta (b) với (T) ta (VB)

 

Thí Dụ 2=Đối không cần chỉnh vì Luật Bất Luận

 

Ao thu (B) lạnh lẻo (T) nước (t) trong (B) veo (VB)

Một chiếc (T) thuyền con (B) bé (t) tẻo (T) teo (VB)

 

Sóng(*) nước (T) theo làn (B) hơn (b) gợn (T) tí

Lá(*) vàng (B) trước gió (T) sẻ (t) đưa (B) vèo (VB)

Tầng  mây (B) lơ(*) lửng (T) trời (b) xanh (B) ngắt

Ngỏ trúc (T) quanh(*) co (B) khách (t) vắng (B) teo (VB)

 

Tựa gối (T) ôm cần (B) lâu (b) chẳng (T) đặng

Cá đâu (B) đớp đọng (T) dưới (t) chân (B) bèo (VB)

 

(*): Đối Thanh không chỉnh.

 

6) Bố Cục

 

Bài thơ Bát Cú có 4 phần: Đề, Thực, Luận, Kết

Đề: gồm có Phá Đề (câu 1) là mở bài và Thừa Đề (câu 2) là nối câu Phá mà vào bài.

Thực hay Trạng (câu 3 và 4): là giải thích đầu bài cho rõ ràng.

Luận (câu 5 và 6): là bàn bạc cho rộng nghĩa đầu bài.

Kết (câu 7 và 8): là tóm ý nghĩa cả bài mà thắt lại.

 

Tuy nhiên trên thực tế Bố Cục cũng giống như một bài văn gồm có: Nhập Đề (Đề), Thân Bài (Thực hay Luận hay Thực và Luận) và Kết Luận (Kết). 

 

Thí Dụ 1=Đề, Thực, Luận, Kết

 

(Phá Đề)

Bước đến đèo Ngang bóng xế tà

(Thừa Đề)

Cỏ cây chen đá lá chen hoa

(Thực/Trạng)

Lom khom dưới núi tiều vài chú

Lác đác bên sông rợ mấy nhà

(Luận)

Nhớ nước đau lòng con quốc quốc

Thương nhà mỏi miệng cái gia gia

(Kết)

Dừng chân ngoảnh lại trời non nước

Một mảnh tình riêng ta với ta

 

Thí Dụ 2=Nhập Đề, Thân Bài, Kết Luận

 

(Nhập Đề = Đề )

Ao thu lạnh lẻo nước trong veo

Một chiếc thuyền con bé tẻo teo

(Thân Bài = Thực)

Sóng nước theo làn hơn gợn tí

Lá vàng trước gió sẻ đưa vèo

Tầng mây lơ lửng trời xanh ngắt

Ngỏ trúc quanh co khách vắng teo

(Kết Luận = Kết)

Tựa gối ôm cần lâu chẳng đặng

Cá đâu đớp đọng dưới chân bèo.

 

 

7) Vần Trắc

 

Bài ĐL Thất Ngôn Bát Cú Vần Trắc cũng giống như Vần Bằng chỉ khác là Câu 1, 2, 4, 6 và 8 là Vần Trắc và chữ cuối câu 3, 5 và 7 là Bằng.  Muốn cho âm hay hơn, chữ thứ 5 phải theo thứ tự: B, B, T, B, T, B, T, B.

 

Thí Dụ:

 

Nhậu sớm nhậu trưa chiều (b) cũng nhậu (VT)

Đường đời phó mặc ai (b) tranh đấu (VT)

Bạc nhiều: cỏ nhác chế (t) đa (B)

Tiền ít: la ve hòa (b) dược chẩu (VT)

Xiêu tới ngã lui thấy (t) muốn rầu (B)

Mửa rồi uống nữa cho (b) thêm xấu (VT)

Đánh con chửi vợ mắng (t) chòm giềng (B)

Mang tiếng mang nghèo mang (b) bịnh hậu. (VT)

 

 

 

CÁCH LÀM MỘT BÀI THƠ THEO THỂ ĐL THẤT NGÔN BÁT CÚ

 

Áp dụng thể Đường Luật Thất Ngôn Bát Cú, một bài thơ có thể là:

            Đoản Thiên: Bát Cú (Chánh Thể hay Biến Thể).

Tràng Thiên gồm nhiều Đoạn Bát Cú (có thể  hay không cần nối nhau bằng Thể Liên Hoàn hay Liên Hoàn Biến Thể).

Họa Vận là cái thú đặc sắc của ĐL.  Có khi 2 bài thơ cho cùng một Đề Tài.

 

 

1) Đoản Thiên Bát Cú/Chính Thể

 

Thí Dụ 1 = BẢO ĐẠI THOÁI VỊ

 

Nỏ tiếc không thương cái bệ rồng

Ngựa xe cờ đỏ đến Thăng Long

Trải qua non nước nhìn quanh rạng

Ngảnh lại lâu đài bỏ trống không

Gió tạc cành thu chim ngái tổ

Trăng soi cửa cấm nhện giăng mùng

Có ai vô Nội cho mình hỏi

Thần tử còn lưa lại mấy ông.

 

(Ưng Bình Thúc Giạ Thị)

 

 

Thí Dụ 2 = KHÓC LINH PHƯỢNG

 

Chăn gối cùng nhau những ấm êm

Bỗng làm ngọc nát, bỗng châu chìm

Đầm đìa giọt thảm khăn hồng thấm

Lạnh lẽo đêm xuân giấc mộng tìm

Hình dáng mơ màng khi thức ngủ

Tiếng hơi quanh quẩn nếp y xiêm

Bảy năm vui khổ, nghìn năm biệt

Sớm gió chiều mưa lắm nỗi niềm !

 

(Đông Hồ)

 

 

Thí Dụ 3 = THƠ THÁCH HỌA CÁC CỤ ĐỒ

 

Đôi lời nhắn nhủ bạn làng Nho

Thơ thẩn thẩn thơ khéo thẫn thờ

Con cóc Nghè Huỳnh đuôi cọc lóc

Nàng thơ Ấm Hiếu mũi thò lò

Chai to chai nhỏ con cầy béo

Câu thánh câu thần đĩa mực khô

Nắn nót miễn sao nên bốn vế

Chẳng thơ thì cũng cóc cần thơ.

 

(Lưu Trọng Lư)

 

Thí Dụ 4 = PHỔ THÔNG MƯỜI NĂM CẢM NGHĨ

 

Mười năm chỉ một bước đầu thôi

Nghiệp chướng đành mang hết nợ đời

Buồn chán nhân tâm toan bỏ mặc

Ngậm ngùi bút hận khó buông trôi

Trời già muốn giởn, ừ cho giởn

Sức trẻ còn bơi, vẫn cứ bơi

Lánh bọn văn nô, phường xảo trá

Gắng thành nhiệm vụ chín mười mươi.

 

(Nguyễn Vỹ)

 

2) Đoản Thiên Bát Cú/Biến Thể

 

Thí Dụ 1 = CƯ SĨ CHÂN TU - Đồng Vận

 

Cư Sĩ một lòng cố gắng tu

Sớm mong giác ngộ được chân tu

Tông Thừa nghiên cứu siêng tầm đạo

Công Án luận bàn thích học tu

Nghĩ lại chúng sanh đều Phật Tánh

Cần chi thành đạo với căn tu

Thiền Môn yên tịnh tìm nương tựa

Niệm Phật từ tâm trọn kiếp tu.

 

(Phan Thượng Hải)

 

Thí Dụ 2 = EM Ở ĐÂU ? - Thủ Vỹ Ngâm

 

Thương nhớ em hoài, em ở đâu ?

Vắng em, đời nặng trĩu u sầu

Khi còn gần gũi sao hờ hững ?

Chừ đã xa vời một khổ đau !

Chẳng khác đất khô mong đợi nước

Mà hơn tằm đói, đợi cho dâu

Mang mang trường hận hai hàng lệ

Thương nhớ em hoài, em ở đâu ?

 

(Bàng Bá Lân)

 

 

Thí Dụ 3 = MỘNG THẤY HÀN MẶC TỬ - Câu đầu 6 chữ

 

Ơi Lệ Thanh! Ơi lệ thanh!

Một giấc trưa nay lại gặp mình

Nhan sắc châu pha màu phú quí

Tài hoa bút trổ nét tinh anh

Rượu tràn thú cũ say sưa chuyện

Hương tạ trời cao bát ngát tình

Tôi khóc tôi cười vang cả mộng

Nhớ thương đưa lạc gió qua mành.

 

(Quách Tấn)

 

 

Thí Dụ 4 = QUAN VÂN TRƯỜNG – 2 câu đầu 6 và 8 chữ

 

Sinh vi tướng, tử vi thần

Hớn Thọ Đình Hầu, Quan Thánh Đế Quân

Nét mặt hồng hào, tài dũng cảm

Chòm râu đậm đuột, đức khoan nhân

Quá quan, Bắc Ngụy kiên danh thủ

Phó hội, Đông Ngô nể thượng tân

Không nỡ giết Tào, cam thọ tội:

Trung, cang, nghĩa, khí, được lòng dân.

 

(Lãng Ba)

 

 

Thí Dụ 5 = ĐÊM TÌNH – câu đầu không vần và Vần  bắt đầu với câu 2 (giống như bài Hoàng Hạc Lâu)

 

Giấc thắm tình duyên non gối nước

Màn sương để lọt ánh sao băng

Hồn hoa chợp mộng thơm hồn gió

Tóc liễu dùng thơ đón tóc trăng

Muôn điệu tơ lòng run sẽ sẽ

Nửa vời sóng nhạc nhẹ lâng lâng

Phòng hương thương kẻ ngồi nương triệu

Tình gởi mây xa lệ ngập ngừng.

 

(Quách Tấn)

 

 

 

3) Tràng Thiên gồm nhiều Đoạn Bát Cú

 

Thí Dụ 1 = KHÓC VỆ LAN – Liên Hoàn

 

Yêu nhau năm tháng cách xa nhau

Ngấn lệ chưa khô đã bạc đầu

Một sớm em đi, tình lỡ dở

Trọn đời anh chịu kiếp thương đau

Nắng mưa đất khách hoa tàn tạ

Mưa gió mồ em cỏ dãi dầu

Ngọc nát vàng phai đau đớn nhẽ

Tìm em còn có thấy em đâu!

 

Tìm em còn có thấy em đâu

Biết nói cùng ai chuyện bể dâu

Mở đọc thư xưa, thư ố lệ

Giở xem ảnh cũ, ảnh phai mầu

Gương còn luyến bóng, người đâu mất

Đêm đã tàn canh, mộng cũng sầu

Lấy bút đề thơ, thơ ngấn lệ

Hàng thơ hoen ố mấy hàng châu.

 

(Tam Lang)

 

 

Thí Dụ 2 = KHUÊ PHỤ THÁN – Liên Hoàn Biến Thể

Dùng Liên Hoàn Biến Thể để Hoán Vận.

 

Chồng hỡi chồng ! con hỡi con !                   

Cùng nhau chia cách mấy thu tròn                 

Ven trời góc bể buồn chim cá

Dạn gió dày sương tủi nước non

Mộng điệp khéo vì ai lẽo đẽo

Hồn quyên luống để thiếp thon von

Ngày qua tháng lại trông đăm đẳm

Muôn vạn xa xuôi mắt đã mòn

 

Đã mòn con mắt ở Phi Châu

Có thấy chồng đâu con ở đâu

Dẫu đặng non xinh cùng bể tốt

Khó khăn gió thảm với mưa sầu

Trách ai dắt nẻo khôn lừa lọc

Khiến thiếp ra thân chịu dãi dầu

Bớ bớ xanh kia sao chẳng đoái

Xui lòng oằn oại trót canh thâu.

 

Canh thâu chưa nghỉ hãy còn ngồi

Gan ruột như dầu sục sục sôi

Nghĩa gá ấp yêu đành lỡ dở

Công cho bú mớm chắc thôi rồi

Quyết gìn giữ dạ tròn sau trước

Biết cậy nhờ ai tỏ khúc nôi !

Dâu bể xanh xanh trời một góc

Hỡi chồng ơi ! với hỡi con ơi !

 

Con ôi ! ruột mẹ ngướu như tương

Bảy nổi ba chìm xiết thảm thương

Khô héo lá gan cây đỉnh Ngự

Đầy vơi giọt lệ nước sông Hương

Quê người đành gửi thân trăm tuổi

Đất tổ mong vì nợ bốn phương

Mẹ cũng trông mau rồi một kiếp

Để cho vẹn vẽ mối can thường.

 

Cang thường gánh nặng cả hai vai

Biết cậy cùng ai, tỏ với ai

Để bụng chỉn e tầm đứt ruột

Hở môi thì sợ vách nghiêng tai

Trăng khuya nương bóng chinh chinh một

Kiếng bể soi hình tẻ tẻ hai

Nhắm thử từ đây qua đến đó

Đường đi non nước độ bao dài ?

 

Bao dài non nước chẳng hay cùng

Xin gởi hồn ta đến ở chung

Sống thác miễn cho tròn một tiết

Trước sau khỏi thẹn với ba tùng

Quê nhà đã có người săn sóc

Đất khách nương nhau khỏi lạ lùng

Mảng tính chưa xong vừa chợp mắt

Trống lầu đâu đã đổ lung tung.

 

Đã đổ lung tung tiếng trống thành

Giựt mình tỉnh dậy mới tàn canh

Sương sa lác đác dằn tàu lá

Gió thổi lai rai lạc bức mành

Cảnh ấy tình nầy thôi hết muốn

Trời kia đấy nọ nỡ bao đành

Thương nhau chẳng đặng cùng nhau trọn

Xin hẹn chung cùng kiếp tái sanh.

 

 

Kiếp tái sanh may có gặp không

Kiếp nầy đành thẹn với non sông

Chiêm bao lẩn thẩn theo chân bướm

Tin tức bơ vơ lạc cánh hồng

Tính tới tính lui thân cá chậu

Lo quanh lo quẩn phận chim lồng

Đã không chung hưởng thôi thì chớ

Sao nỡ xa nhau chồng hỡi chồng !

 

Hỡi chồng ! có thấu nỗi nầy chăng ?

Sóng gió khi không dậy bất bằng

Non nước chia hai trời lộng lộng

Cha con riêng một biển giăng giăng

Mối sầu kia gỡ khoanh chưa hết

Giọt thảm nầy tuôn bửng khó ngăn

Ngán bấy cuộc đời khôn gượng gạo

Canh chầy còn ở dưới cung trăng.

 

Ở dưới cung trăng luống nỉ non

Đắng cay như ngậm trái bồ hòn

Khói mây giọng quốc nghe hơi mỏn

Sương tuyết mình ve nhắm đã mòn

Lằn mõ làn xa canh lốc cốc

Tiếng chuông chùa cũ dộng bon bon

Nỗi riêng ai biết ta thương nhớ

Chồng hỡi chồng ! con hỡi con !

 

(Thượng Tân Thị) 3/1919

 

 

Thí Dụ 3 = XUÂN MONG ĐỢI - không cần Liên Hoàn.

 

Cỏ biếc xanh rời liễu bóng tơ

Lối mòn rải rác cánh hoa mơ

Cung đàn thôn vắng say trăng nước

Tiếng địch sông khuya nhớ bến bờ

Sương lạnh lùng rơi hồn lạc lõng

Gió hiu hắt thổi mộng bơ vơ

Người đi cát bụi ngoài muôn dặm

Mây núi, hương từng, mộng ý thơ.

 

Thơ nhạc kinh thành gởi bốn phương

Lá rơi để ngập lối Chiêu Dương

Năm về gió dục bao nhiêu hướng

Chiều xế trăng buông mấy ngã đường

Những rắp bể trời xây sự nghiệp

Đâu ngờ thân thế lụy văn chương

Ngồi đây dong nến chờ mai sớm

Ngựa hí, hoa mừng, gót nắng sương.

 

Sương rơi rơi, lệ cũng rơi rơi

Bến cũ đò ngang vắng bóng người

Đất lạnh, xóm nghèo, hoa chậm nở

Lều tan, sông quạnh, nước buồn trôi

Ai về có ngắm cầu chênh nhịp

Ta đến xa trông sóng nửa vời

Ngơ ngác xiêm y, năm đã muộn

Cành đào thấp thoáng rụng nơi nơi.

 

Nơi nao chắc hẳn khác nơi này

Men rượu sông hồ ngát ý say

Chợ sớm ân cần khi hợp mặt

Quán chiều căn dặn lúc chia tay

Trăng sơn cước mượt hơn màu lụa

Sương ải quan mờ án bóng mây

Suối nước, rừng hoa, ôi diễm ảnh

Ta xuôi Kinh bắc chốc bao ngày.

 

Ngày muộn hương gây cúc nở vàng

Hiên nào nắng chếc gởi buồn sang

Tơ chùng cửa khuyết sao ai oán

Gót lạnh kinh thành đến dở dang

Mây bốn phương bay, sầu mấy hướng

Gió năm canh thổi, lệ đôi hàng

Thu qua, đông hết, ôi tâm sự

Lá rụng âm thầm bóng liễu trang.

 

Trang lại từng trang giở trước đèn

Ngàn xưa kẻ sĩ há cầu yên

Thành Mê nếu mãi vui tơ tóc

Sử Việt đâu còn đẹp bút nghiên

Sóng nước Châu giang hồn tuấn kiệt

Mây trời Yên Thế bóng thuyền quyên

Ngâm câu kim cổ xây tin tưởng

Phố giữa mưa bây tiếng lục huyền.

 

Huyền cầm tay gảy để ai nghe

Trong lúc tàn đông nắng mới về

Ánh cỏ xanh rờn mây bát ngát

Mặt hồn trong vắt liễu lê thê

Ngựa xe, tơ lụa, bay trăm lốt

Hài hán, vàng son, ngợp bốn bề

Đây chốn hoàng thành hoa chớm nở

Còn ai nghe đến cảnh đồng quê.

 

Quê tôi khóm cúc vẫn lên hoa

Cảnh có như người nhớ chốn xa ?

Ngõ trước vườn sau đành trống trải

Nhà xưa miếu cũ hẳn phôi pha

Sương dồn đổi tiết đôi màu lá

Gió dục sang canh mấy tiếng gà

Óc cháy, hồn tan, thân với thế

Những gì để lại một năm qua ?

 

Qua rồi mộng đẹp của ngày xanh

Tỉnh giấc, trà suông, liễu rũ mành

Còn một cây đàn trên vách cỏ

Có dăm pho sách dưới lều tranh

Vườn hoang bướm trắng bay thơ thẩn

Ngõ vắng hoa đào rụng mỏng manh

Xa lắng đầu thôn chờ nhạc ngựa

Chuông rền tịch mịch nẻo am thanh.

 

Thanh sơn, thanh thủy vẫn chờ người

Đã mấy mùa hoa vẻ kém tươi

Đất tỏa nguồn hương, thơ rộn rã

Nước lồng gió nhạc, gió chơi vơi

Nhắm lỳ bôi tửu, đau cung kiếm

Đập bản đồ thơ, giận bể trời

…………………………….

- Hãy rắc thêm trầm cho khói lộng

Để Tình Ý gởi chốn xa xôi.

 

(Ngân Giang Nữ Sĩ)

 

 

4) Xướng Họa: Đoản Thiên Bát Cú hay Tràng Thiên gồm nhiều Đoạn Bát Cú.

 

Bài Xướng và Họa không bắt buộc cùng một đề tài và cũng có thể Tự họa.

 

Thí Dụ 1 = Xướng Họa/Chính Thể

 

(Xướng)

Mây trắng lang thang mãi cuối trời

Gió chiều heo hút khắp nơi nơi

Cung đàn đã mấy dây chùng hẳn

Mái tóc bao nhiêu sợi lạnh rồi

Chốn ấy tờ hoa đành lẻ ý

Mùa nầy chim nhạn có chung đôi

Thương thay trên quãng đường chia ngã

Thì ngã nào không có lá rơi?

 

(Ngân Giang nữ sĩ)

 

(Họa)

Lửa khóa mây then bốn vách trời

Về đâu mộng cũng chẳng đành nơi

Vẫn chưa ý gởi vào thơ được

Mà đã dâu toan hóa biển rồi

Ngọn gió nghe chừng xoay mãi hướng

Vầng trăng ai nỡ xé làm đôi

Tin xuân lạnh lắm rồng ao cạn

Há chỉ phòng thu lệ nến rơi.

 

(Vũ Hoàng Chương)

 

Thí Dụ 2 = Xướng Họa và Tự Họa / Chính thể

 

(Xướng)

CỰC TẢ

 

Cửa đóng màn che đã mấy thu

Đời tàn ngõ hẹp sống như tù

Quẩn quanh họp lại thiền Đông Độ

Vào ra luyện mãi phép Tây Du

Rầu rĩ Giáng Tiên ngồi gãi háng

Nẫu nà Từ Thức đứng xoa khu

Ăn chỉ tương cà, chê thịt cá

Sống chẳng tu hành cũng quá tu.

 

(Lão Húc Dương Hùng Cường)

 

(Tự Họa)

QUÂN TÁN

 

Quân tán còn chi xuất với thu

Thong dong thì cũng xác thân tù

Hữu tật cam đành câu bất dụng

Vô tài nên chịu tiếng nan du

Những tưởng khoan hồng anh hạ bộ

Nào ngờ mắc bẫy chú Xuân Khu

Chung cuộc vài năm cầm cán cuốc

Tu đọi, tu huyền ấy cũng tu.

 

(Lão Húc Dương Hùng Cường)

 

(Họa)

NGÀY 30-4-75

 

Ngu dại một ngày để tiếp thu

Dưới quyền nhà nước, giống nhà tù

Hận đời cải tạo đi lao động

Buồn cảnh ly tan mộng viễn du

Lạc hậu tuyên truyền toàn lãnh thổ

Nghèo nàn áp đặt tận biên khu

Ta bà thế giới còn sinh sống

Địa ngục đây rồi khỏi phải tu.

 

(Phan Thượng Hải)

 

 

Thí Dụ 2 = CU  CỤ - Xướng Họa/Biến Thể Đồng Vận

 

(Xướng)

CU CỤ

 

Thế sự đảo huyền chuyện Cụ Cu

Lộn sòng “Thằng Cụ” với “Ông Cu”

Cu “Quân Tử Kiếm” là Cu Cụ

Cụ “Lão Ngoan Đồng” ấy Cụ Cu

Ra chốn đình trung ưng gọi Cụ

Giữa vòng hương phấn muốn là Cu

Giai nhân có hỏi Cu hay Cụ

“Lục thập niên tiền…” Cụ vốn Cu.

 

(Vô Danh Thị)

 

(Họa)

CU CỤ

 

Tuy khác danh xưng: Cụ hoặc Cu

Tính tình vui vẻ, Cụ như Cu

Thà tiêu xí quách Cu theo Cụ

Biết sướng cuộc đời Cụ chỉ Cu

Nổi tiếng lão làng lên giọng Cụ

Mang danh già dịch tại thằng Cu

Không buồn thế phát làm Sư Cụ

Cu Cụ hồn nhiên cứ “cúc cu”.

 

(Phan Thượng Hải)

 

 

Thí Dụ 3 = LÀM THƠ CON CÓC – Liên Hoàn

 

(Xướng)

LÀM THƠ CON CÓC

 

Độc giả nhiều người khó tánh ghê!

Đến thơ Con Cóc cũng còn chê:

Thơ đâu dở ẹt, “mail” mời đọc!

Thơ chả hay gì, bảo phải mê!

Chẳng có hồn thơ, đòi viết lách!

Chỉ tùy thi hứng, ngỡ nhà nghề!

- Làm thơ không dễ, bàn thì dễ

Thi sĩ làm thinh, đỡ mọi bề?

 

Thi sĩ làm thinh, sướng mọi bề?

Ta thơ Con Cóc mặc khen chê

Khen hay? Càng khoái, hơn mong muốn

Chê dỡ? Hơi buồn, chả thấy quê

Thi hứng đổi trao, cùng xướng họa

Hồn thơ xuất nhập, vẫn đam

Cáp mô hàm dưỡng đầy công lực

Tĩnh tọa đề thi tỏ thiện nghề.

 

(Phan Thượng Hải)

 

 

(Họa)

LÀM THƠ CON CÓC

 

Tánh người suy gẩm, gẩm mà ghê

Cao, thấp, ốm, ù, thảy thảy chê

Thơ dỡ, thơ hay nào muốn đọc

Yếm đào, yếm lụa lại say

Người đời, vẫn biết là như thế

Bút nghiệp, mình đây chẳng phải nghề

Thư thả thong dong ta cứ viết

Viết rồi mình đọc sướng trăm bề.

 

Viết cho bạn đọc thú trăm bề  

Ai mắng, ai rầy, ai có chê

Ta sướng, ta vui, lòng thoải mái

Người cười, người nhạo, có gì quê

Vui thơ, vui ý, vui tình bạn

Thoát tục, thoát tình, thoát bến

Đời dẫu trôi qua như giấc mộng

Đề thơ thanh thản tựa như nghề.

 

(Bùi Đắc Hùm)

 

 

Thí Dụ 4 = KHUÊ PHỤ THÁN - Liên Hoàn biến thể

 

(Xướng)                                                           (Họa)

 

Chồng hỡi chồng ! con hỡi con !                    Vợ hỡi vợ ! con hỡi con !

Cùng nhau chia cách mấy thu tròn                 Cách nhau trăng khuyết lại trăng tròn

Ven trời góc bể buồn chim cá                         Ruột tằm đòi đoạn như tơ bủa

Dạn gió dày sương tủi nước non                     Nước mắt từng phen luống nỉ non

Mộng điệp khéo vì ai lẽo đẽo                          Xót nỗi tha hương trời thăm thẳm

Hồn quyên luống để thiếp thon von                Chạnh niềm cố quốc nước thon von

Ngày qua tháng lại trông đăm đẳm                Trách ai chích mát lòng chim cá

Muôn vạn xa xuôi mắt đã mòn                   Vàng đá xuôi nên phải mỏi mòn

 

Đã mòn con mắt ở Phi Châu                        Mỏi mòn con mắt góc trời Âu

Có thấy chồng đâu con ở đâu                          Lủi thủi quê người trôi nổi đâu

Dẫu đặng non xinh cùng bể tốt                       Góc bể mai chiều cam dạ giận

Khó khăn gió thảm với mưa sầu                     Chân trời khuya sớm héo gan sầu

Trách ai dắt nẻo khôn lừa lọc                          Ba sinh lở dở đường duyên nợ

Khiến thiếp ra thân chịu dãi dầu                     Muôn dặm phôi pha đám lửa dầu

Bớ bớ xanh kia sao chẳng đoái                        Ngắm lại cuộc đời thêm chán ngán

Xui lòng oằn oại trót canh thâu.                  Một mình trằn trọc suốt canh thâu.

 

Canh thâu chưa nghỉ hãy còn ngồi              Canh thâu trằn trọc đứng lại ngồi

Gan ruột như dầu sục sục sôi                          Đáo để nhân tình huyết phải sôi

Nghĩa gá ấp yêu đành lỡ dở                            Chí cả còn chưa xong chuyện ấy

Công cho bú mớm chắc thôi rồi                      Bợm già đâu đã mắc tay rồi…

Quyết gìn giữ dạ tròn sau trước                       Má hồng luống để ai cam phận

Biết cậy nhờ ai tỏ khúc nôi !                            Con trẻ đành lìa nỡ khúc nôi 

Dâu bể xanh xanh trời một góc                       Trẻ tạo cột người ghê gớm thiệt

Hỡi chồng ơi ! với hỡi con ơi !                      Hỡi vợ ơi ! với hỡi con ơi !

 

Con ôi ! ruột mẹ ngướu như tương              Con ôi ! không lấy nổi dòng Tương

Bảy nổi ba chìm xiết thảm thương                   Nghĩ đến con mà thiết thảm thương

Khô héo lá gan cây đỉnh Ngự                           Bởi chút xót xa tình cốt nhục

Đầy vơi giọt lệ nước sông Hương                    Mà ra đau đớn cảnh tha hương 

Quê người đành gửi thân trăm tuổi                  Tuôn lòng cha đã đành không nẻo

Đất tổ mong vì nợ bốn phương                        Tháo củi con rày cũng hết phương

Mẹ cũng trông mau rồi một kiếp                     Thôi thế thì thôi đành mặc thế

Để cho vẹn vẽ mối can thường.                     Sao cho khỏi lỗi đạo cang thường.

 

Cang thường gánh nặng cả hai vai               Cang thường ai kẻ nặng hai vai

Biết cậy cùng ai, tỏ với ai                                 Quanh quất bây giờ biết hỏi ai ?

Để bụng chỉn e tầm đứt ruột                             Cảnh ấy tình nầy thêm xót dạ

Hở môi thì sợ vách nghiêng tai                        Trời kia đất nọ nỡ bưng tai

Trăng khuya nương bóng chinh chinh một      Đã không non nước gom về một

Kiếng bể soi hình tẻ tẻ hai                                Lại khiến gương đồng phải bể hai

Nhắm thử từ đây qua đến đó                            Dâu bể đa đoan thôi hết nói

Đường đi non nước độ bao dài ?                   Ôm lòng thương xót thở than dài

 

Bao dài non nước chẳng hay cùng                Thở dài than vắng biết ai cùng ?

Xin gởi hồn ta đến ở chung                              Rượu giải sầu nay cạn mấy chung

Sống thác miễn cho tròn một tiết                     Cám cảnh thê nhi trời chiếc bách

Trước sau khỏi thẹn với ba tùng                      Biết ai vây cánh giũ mây tùng ?

Quê nhà đã có người săn sóc                           Yêu tình mỏi mắt trông thăm thẳm

Đất khách nương nhau khỏi lạ lùng                 Cảnh vật cùng ta ngó lạnh lùng

Mảng tính chưa xong vừa chợp mắt                Non nước chia hai đau đớn nhỉ !

Trống lầu đâu đã đổ lung tung.                   Thành sầu khôn nỗi mở cho tung.

 

Đã đổ lung tung tiếng trống thành              Ai mở cho tung mấy cửa thành

Giựt mình tỉnh dậy mới tàn canh                    Tư bề lạ mắt lính ai canh ?

Sương sa lác đác dằn tàu lá                             Ngùi trông bể Á tàu phun khói

Gió thổi lai rai lạc bức mành                           Chạnh nhớ trời Phi liễu rũ mành  

Cảnh ấy tình nầy thôi hết muốn                      Trách bớ cao xanh sao chẳng đoái

Trời kia đấy nọ nỡ bao đành                           Lạc loài đen bạc nỡ cho đành

Thương nhau chẳng đặng cùng nhau trọn       Sống thừa thôi có mong gì nữa

Xin hẹn chung cùng kiếp tái sanh.               Đành để quê người gửi tử sanh.

 

Kiếp tái sanh may có gặp không                  Gửi tử sanh nầy có tủi không ?

Kiếp nầy đành thẹn với non sông                    Nghĩ ra thêm thẹn với non sông

Chiêm bao lẩn thẩn theo chân bướm               Bốn bề chỉ thấy người đen trắng

Tin tức bơ vơ lạc cánh hồng                            Tấc dạ không khuây giống Lạc Hồng

Tính tới tính lui thân cá chậu                           Ngày gửi buồn theo hơi gió lọt

Lo quanh lo quẩn phận chim lồng                   Đêm khuya thẹn với bóng trăng lồng

Đã không chung hưởng thôi thì chớ                Nỗi niềm biết mấy ai bày tỏ

Sao nỡ xa nhau chồng hỡi chồng !               Trời rộng mênh mông núi chập chồng.

 

Hỡi chồng ! có thấu nỗi nầy chăng ?           Chập chồng biết có nẻo nào chăng

Sóng gió khi không dậy bất bằng                   Nhắn nhủ cùng ai kẻ bạn bằng 

Non nước chia hai trời lộng lộng                    Tơ tóc kiếp nầy đành ngắn ngủi

Cha con riêng một biển giăng giăng               Bèo mây nỗi ấy nói dài giăng

Mối sầu kia gỡ khoanh chưa hết                     Chiêm bao họa có đôi khi gặp

Giọt thảm nầy tuôn bửng khó ngăn                Tin tức bây giờ lắm nỗi ngăn

Ngán bấy cuộc đời khôn gượng gạo               Căn dặn đôi lời ghi để dạ

Canh chầy còn ở dưới cung trăng.              Thương thay chênh chếch nửa vầng trăng

 

 

Ở dưới cung trăng luống nỉ non                  Chếch nửa vầng trăng một nước non

Đắng cay như ngậm trái bồ hòn                      Một cây thôi đã khó nên hòn

Khói mây giọng quốc nghe hơi mỏn               Kêu sương tiếng nhạn hơi ròng rã

Sương tuyết mình ve nhắm đã mòn                 Nhớ nước chim quyên gáy héo mòn

Lằn mõ làn xa canh lốc cốc                             Lạch tống quanh nhà xô cuộn

Tiếng chuông chùa cũ dộng bon bon               Đồng hồ trên vách đánh boong boong

Nỗi riêng ai biết ta thương nhớ                        Mực mài nước mắt tình không cạn

Chồng hỡi chồng ! con hỡi con !                     Vợ hỡi vợ ! con hỡi con !

 

(Thượng Tân Thị)                                            (Vua Thành Thái)

 

 

5) Cùng một Đề Thi

 

Thí Dụ = ĐÊM KHÔNG NGỦ

(Bài 1)

 

Đêm khuya vương vấn mối sầu quanh

Thỉnh thoảng ngoài hiên gió thổi mành

Giọng dế nỉ non cùng bốn vách

Giọt mưa rỉ rả suốt năm canh

Nằm không yên giấc nên trằn trọc

Ngồi chỉ lo đời muốn rắp ranh

Khêu ngọn đèn lên nhìn lấy bóng

Thở than mình chịu kiếp hư danh

 

(Thượng Tân Thị)

 

(Bài 2)

 

Non sông bốn mặt ngủ mơ màng

Thức tỉnh mìng ta dạ chẳng an

Bóng nguyệt leo song sờ sẫm gối

Gió thu lọt cửa cọ mài chăn

Khóc giùm thân thế hoa rơi lệ

Buồn giúp công danh dế dạo đàn

Trỗi dậy nôm na vài điệu cũ

Năm canh tâm sự vẫn chưa tàn.

 

(Hàn Mặc Tử)

 

Chú thích:

            Đoản thiên = bài thơ có 8 câu hay ít hơn.  Tràng thiên = bài thơ trên 8 câu.

 

 

Bs PHAN THƯỢNG HẢI biên soạn

 

Bài viết nầy đăng lần đầu trong phanthuonghai.com mục "Thơ Văn - Làm Thơ"

 

Tài Liệu Tham Khảo

            1) Việt Nam Văn Học Sử Yếu (Dương Quảng Hàm)

            2) Thi Pháp Thơ Đường (Quách Tấn)

            3) Google Wikipedia

 BỆNH COVID-19

                                     (Bs Phan Thượng Hải)

Bệnh Covid-19 bắt đầu từ 3-4 tháng nay từ thành phố Vũ Hán của Trung Quốc và lan truyền khắp địa cầu.  Tuy có nhiều điều chưa biết nhưng mong rằng bài viết nầy làm căn bản cho sự hiểu biết của quần chúng thông thường đặc biệt là người Mỹ gốc Việt (Vietnamese American).

 

Căn Bệnh 

 

Bệnh Covid-19 là bệnh nhiễm trùng từ 1 loại Virus sinh ra bệnh Viêm đường Hô hấp cho tới cuối đường Hô hấp là 2 lá Phổi.

Bệnh nhiễm trùng = Infectious Disease

Viêm đường Hô hấp = Inflammation of the Respiratory tract 

Viêm Phổi = Pneumonia

 

Nhiễm trùng Virus vì bị Lây từ người đã bị bệnh.

Triệu chứng (Symptoms) liên quan với thể Bệnh:

Nhiễm trùng ----> Nóng sốt (Fever)

Viêm đường Hô hấp, kể cả viêm Phổi ------> Ho (Cough), có Đờm hay không có Đờm (Sputum).

Viêm Phổi ------> Khó Thở (Dyspnea, Shortness of Breath)

Ngoài Nóng Sốt, cũng có những triệu chứng khác giống bệnh Flu (do "Flu" viruses): 

Mệt mõi (Fatigue) 

Nhức mình (Myalgia).

 

Viêm Phổi có thể xuất hiện ngay từ lúc đầu cho tới 6-7 ngày sau đó.  Triệu chứng chính của Viêm Phổi là Khó thở.

Viêm Phổi của Covid-19 thường là tổn thương (lesions) rải rác trong 2 lá Phổi (BronchoPneumonia) chứ không tụ ở vài chỗ (Lobar Pneumonia).  Định bệnh Viêm Phổi căn cứ trên Hình quang tuyến của Phổi (Chest X Ray = CxR) hay CT Scan.

                                 (Chest X Ray của 1 bệnh nhân từ nhẹ tới nặng) 

 

Người thường Dễ bị Lây trong 1 của 3 trường hợp:

Đã có tiếp xúc cá nhân với người có Bệnh hay người bị nghi là có Bệnh.

Đã ở những vùng hay quốc gia bị Dịch Bệnh.

Đã có ở những Events được biết có người đã bị Bệnh như concert, ball game... (Tiếp xúc trong Tập thể).

 

Định bệnh bằng Thử nghiệm chứng nhận có Virus trong đường Hô hấp ---> lấy Mẫu thử nghiệm (specimen) từ lỗ Mũi.

Test thuộc loại RT-PCR (Reverse Transcription - Polymerase Chain Reaction): nhận (identify) sự hiện hữu của Virus (không phải Test cho Antibody của Virus).

Tên của Virus gây bệnh Covid-19 là SAR-Cov-2.

 

Một lần Test PCR "dương tính" (positive) là đủ Định (Diagnosis) là người được thử có nhiễm Virus.

Phải 2 lần Test PCR "âm tính" (negative), trong khoảng cách 24 giờ hay hơn nữa, mới đủ chứng minh người bệnh (đã bị nhiễm Virus) hết còn nhiễm Virus trong thân mình nữa.


 

Trị Bệnh và Phòng Bệnh

 

Test Định Bệnh xảy ra ở Clinic hay chỗ Định bệnh, hay ER và Urgent care (hoặc trong Bệnh viện hay Nursing Home cho bệnh nhân đang nằm).  Test phải có Lệnh (order) của Bác sĩ.

 

Người nghi là bị Bệnh cần nên Test định Bệnh:

Có 1 trong 3 triệu chứng chính: Nóng Sốt, Ho và Khó thở

(+) Có 1 trong 3 trường hợp dễ bị Lây như kể trên.

 

Người nên gặp Bác sĩ ngay tức khắc (vì cần cả 2: định Bệnh và chữa), ở ER hay Urgent care hay ít nhất ở Clinic:

Có Khó thở (*).

 

Người Bệnh chỉ cần ở Nhà và Cách ly (Isolation - Quarantine) với những điều kiện (conditions):

Chỉ có Nóng sốt hay Ho hoặc cả 2. 

Có thể bị thêm Khó thở nhẹ nhưng phải tùy theo quyết định của Bác sĩ đã khám, tùy nặng nhẹ hay có Viêm Phổi hay không; và tùy nặng nhẹ của Khó thở. (*)

Thí dụ 1 bệnh nhân VIP ở Nhà là Thủ tướng Johnson của nước Anh.

Đây là lời mô tả của Ông:

"I do not feel well, have (high) Temperature and (a) consistent Cough.  So I got tested and (have) Positive. Now, I stay (at) Home."

 

Cách ly chấm dứt (thường từ hơn 1 tới 3 tuần) khi:

Hết Nóng sốt (không do Thuốc giảm Sốt) và hết Ho trong 72 giờ và đã bệnh hơn 7 ngày kể từ lúc bắt đầu có triệu chứng.  Có thể kể như là hết Bệnh, theo lâm sàng (clinically).

Có khi lúc đó cần phải có 2 Tests PCR "âm tính" (negative) trong khoảng cách hơn 24 giờ nhưng khó áp dụng trong thực tế cho bệnh nhân ở Nhà.  (Áp dụng cho bệnh nhân trong Bệnh viện thì không khó).


 

(*)

Khó thở (Shortness of Breath - Dyspnea):

là triệu chứng cần phải định bệnh nếu bệnh nhân có Viêm Phổi hay không bằng cách Chụp hình Phổi (CxR) hay dùng CT Scan và thường là sau đó phải nhập bệnh viện (hospitalization) nếu có Viêm Phổi (Pneumonia).

Như đã nói, Khó thở và Viêm Phổi có thể xuất hiện bất cứ lúc nào từ ngày đầu tới 1 tuần sau.  Do đó nếu trong khi Cách ly, người bệnh tự nhiên bắt đầu Khó thở hay Khó thở nặng hơn thì phải gặp Bác sĩ ngay (thường là tới Bệnh viện).

 

Bệnh nhân Khó thở, dù đã hay chưa định bệnh là Covid - 19, luôn cần được coi ở urgent care hay ER hay ít nhất là ở Clinic:

cần định sự hiện hữu (existence) cũng như định sự nặng nhẹ (severity) của Viêm Phổi bằng quang tuyến (CxR hay CT Scan)

cần coi Hypoxemia hay không bằng cách đo O2 Sat hay có khi ABG để đo sự nặng nhẹ (severity) của Khó thở.

Viêm Phổi và Khó thở (Shortness of Breath) là 2 yếu tố quyết định nhập viện.

 

Người mạnh khoẻ muốn tránh Lây bệnh phải biết Virus lây làm sao rồi áp dụng phương cách tránh Lây bệnh (Transmission).

 

Bệnh lây bằng truyền Respiratory Drooplets (giọt nước hay dịch của đường Hô hấp) từ đường Hô hấp của người Bệnh sang đường Hô hấp của người không bệnh.

- Truyền trực tiếp qua không gian: người bệnh thở ra hay ho ra Respiratory Dropplets rồi người không bệnh hít vào 

-----> phương cách tránh lây bệnh: Social distancing (cách 2 M hay 6 feet) và mang Mask.

- Truyền gián tiếp -----> phương cách tránh lây bệnh: Rửa tay cẩn thận sau khi nghi là có tiếp xúc hay rửa nhiều lần

Truyền gián tiếp: Respiratory Dropplets của người bệnh dính vào đồ vật rồi tay của người không bệnh chạm vào đồ vật nầy rồi tay rờ vào mũi, môi miệng hay mặt của mình rồi hít vào đường Hô hấp (của người không bệnh).  

Virus sống ngoài đường Hô hấp, trên đồ vật, khoảng 3 giờ nhưng hiện nay nghĩ là lâu hơn (tới 17 ngày như trên tàu cruise?).

 

Thời gian Ủ bệnh (Incubation period) = 2-14 ngày (trung bình = 4, 5 ngày).

 

Bệnh Covid-19 chưa có thuốc chữa chính thức.

Các thuốc đã thử (có khi dùng chung 2 thứ):

Chloroquine đã dùng trị Malaria (Sốt Rét)

HydroxyChloroquine (Plaquenil) đã thường dùng để trị những bệnh Viêm Khớp kinh niên (chronic Arthritis) như của Lupus, của Psoriasis hay Rhematoid Arthritis

Erythromycin và Zithromax đã thường được dùng chữa Viêm Đường Hô hấp cấp tính (acute) do Vi trùng (Bacteria).

Các thuốc đã thử nầy hình như chỉ có PO (uống) chớ không có Injection (chích).

FDA đã công nhận IV Plasma chứa Antibody: đúng với lý thuyết nhưng phải đợi kết quả của thực hành.

 

Vaccin cần phải thử trong khoảng trung bình 18 tháng trước khi dùng được.


 

Hiểu Biết Bệnh

 

Diễn tiến của Bệnh (Evolution)

Bệnh nhẹ ở Nhà: không có Viêm Phổi và không (thêm) Khó thở, chỉ có Nóng sốt và Ho ----> lành bệnh trong khoảng trên 2-3 tuần.

Bệnh nặng: Viêm Phổi trong bệnh viện và không thành critical (hình như lành bệnh trong 3-6 tuần).

Bệnh rất nặng (critical): cần Máy thở (Ventilator) và ICU

Nguyên nhân có thể là ARDS (Acute Respiratory Distress Syndrome).  

Ở trên ventilator càng lâu prognosis càng xấu.  Cho dù trên Ventilator vẫn chết vì Hypoxemia từ Respiratory failure.  

Có khi sinh ra thêm Shock hay MOF (Multi-Organ Failure).

 

Bệnh nhân High Risk (dễ bị bệnh, bệnh nặng hay critical): là bệnh nhân đã có mang những bệnh Kinh niên, kể cả những bệnh kinh niên thông thường như DM và HTN.

Đa số:

Bệnh Tim Mạch

Diabetes (Đái Đường)

Bệnh đường Hô hấp (kể cả Phổi)

Hypertension (HTN)

Khác: Bệnh nhân bị Ung thư đang chữa trị - Bệnh nhân yếu Miễn nhiễm (Immunocompromised).

Dĩ nhiên cũng High Risk cho Người Già và bệnh nhân ở Nursing Home.
 

Ở nước Mỹ,

- Không có Test người không có Triệu chứng (Asymptomatic person): có thể có người bị bệnh nhưng không biết hay không cần biết? (Not testing everybody is the US policy now).

- Trong số những Người có Triệu chứng (thường là giống như Flu hay Common Cold) và bị nghi ngờ (1 trong 3 trường hợp dễ bị lây) được Test:

10-15% có bệnh Covid-19 (test positive)

   Trong số những Người có bệnh (test positive):

10-20% nhập bệnh viện (hospitalization)

   Trong số những Bệnh nhân Covid-19 trong Bệnh viện:

1/4 - 1/3 trong ICU (mostly on Ventilator)

Tử vong của Covid-19 (Mortality) = 1.5% của tổng số người bệnh Covid-19.  Như vậy gần 1/3 bệnh nhân cần ICU (hay Máy thở = Ventilator) sẽ Chết?

 

Sự nguy hiểm của Virus bệnh Covid-19 (khác Flu):

1) Sức lây lan quá mạnh (strong Contagion - strong Contagiousness) ---> Sự lan truyền (transmission) quá rộng và quá nhanh trên toàn Thế giới.  Chỗ hẹp mà đông người dễ bị lây lan nhất (như New York, urban area).

2) Dễ gây Bệnh nặng và rất nặng cho những người có High Risk cũng như người Già.  Những người bị bệnh kinh niên thông thường cũng trong High Risk như Diabetes hay Hypertensin là điều đáng lo ngại.  

 

Bệnh Covid-19 hiện đang gây Hậu quả tai hại cho Sinh mạng, Kinh tế và Chính trị của toàn Thế giới.  

 

Bs PHAN THƯỢNG HẢI biên soạn

(3/27/2020)

  NHỮNG BÀI THƠ "SỐNG CHẾT" TRONG LỊCH SỬ

                                                                                   (Bs Phan Thượng Hải)

 

Hậu thế thường truyền tụng một bài thơ ái quốc của ông Phan Bội Châu:

 

SỐNG

Sống tủi làm chi đứng chật trời

Sống nhìn thế giới hổ chăng ai

Sống làm nô lệ cho người khiến

Sống chịu ngu si để chúng cười

Sống tưởng công danh không tưởng nước

Sống lo phú quí chẳng lo đời

Sống mà như thế đừng nên sống

Sống tủi làm chi đứng chật trời.

(Phan Bội Châu)

 

Tuy nhiên Tiền nhân ái quốc thường phải "Sống và Chết" trong cuộc đời đấu tranh cho chính nghĩa độc lập và tự do như các ông Đặng Văn Bá, Mai Xuân Thưởng và Nguyễn An Ninh.

 

 

Đặng Văn Bá

 

Gần đây có xuất hiện 2 bài thơ Sống Chết của bạn của ông Phan Bội Châu là ông Đặng Văn Bá (còn gọi là Đặng Văn Bách).

Ông Đặng Văn Bá (1873-1931) đậu Cử Nhân năm 1900 (cùng khóa với ông Phan Bội Châu).  Ông gia nhập phong trào Duy Tân với Phan Bội Châu và Ngô Đức Kế (1905) rồi bị đày Côn Đảo (1908-1916 hay 1921).  Được thả về ông sống ở Sài Gòn rồi ở Huế với ông Phan Bội Châu và sau cùng về sống ở quê nhà (Hà Tĩnh) đến khi qua đời.

Năm 1926 cái chết của ông Phan Châu Trinh gợi cảm hứng cho ông làm 2 bài thơ Sống Chết:

 

CHẾT

Chết mà vì nước, chết vì dân

Chết ấy làm trai hết nợ nần

Chết bởi Đông Chu thời thất quốc

Chết vì Tây Hán lúc tam phân

Chết như Hưng Đạo hồn thành thánh

Chết tựa Trưng Vương phách hóa thần

Chết cụ Tây Hồ hồn chẳng chết

Chết mà vì nước, chết vì dân.

(Đặng Văn Bá)

 

SỐNG

Sống dại mà chi sống chật đời

Sống xem Âu Mỹ hổ chăng ai ?

Sống làm nô lệ cho người khiến

Sống chịu ngu si để bạn cười

Sống tưởng công danh không tưởng nước

Sống lo phú quí chẳng lo đời

Sống mà như thế đừng nên sống

Sống dại sinh chi đứng chật đời.

(Đặng Văn Bá)

 

Bài thơ “Sống” của ông Phan Bội Châu cũng hơi giống như bài thơ "Sống"của ông Đặng Văn Bá?

 

SỐNG                                                            SỐNG

Sống tủi làm chi đứng chật trời                      Sống dại mà chi sống chật đời

Sống nhìn thế giới hổ chăng ai                       Sống xem Âu Mỹ hổ chăng ai ?

Sống làm nô lệ cho người khiến                     Sống làm nô lệ cho người khiến

Sống chịu ngu si để chúng cười                      Sống chịu ngu si để bạn cười

Sống tưởng công danh không tưởng nước      Sống tưởng công danh không tưởng nước

Sống lo phú quí chẳng lo đời                          Sống lo phú quí chẳng lo đời

Sống mà như thế đừng nên sống                     Sống mà như thế đừng nên sống

Sống tủi làm chi đứng chật trời.                      Sống dại sinh chi đứng chật đời.

(Phan Bội Châu)                                              (Đặng Văn Bá)

 

 

Mai Xuân Thưởng

 

Hai bài thơ "Sống Chết" của Đặng Văn Bá có lẽ chịu ảnh hưởng từ ông Mai Xuân Thưởng của phong trào Cần Vương.

 

Ông Mai Xuân Thưởng đi thi Cử Nhân ở trường Bình Định thì kinh thành Huế thất thủ (1885).  Nhiều sĩ tử bỏ thi nhưng ông vẫn tiếp tục thi và cùng 5 người khác được chấm đậu Cử Nhân.  Quan Chủ Khảo (khuyết danh) làm bài thơ khuyên những người thi đậu:

 

VÔ ĐỀ

Sơn hà phong cảnh dị tiền niên               Non sông rày đã khác xưa

Hoành giám du khan thử địa huyền        Gương nêu tài tuấn còn nêu chốn nầy

Hận mãn xương môn trần ám ngoại       Hận tràn cung khuyết bụi bay

Lệ linh văn viện bút đình biên                Tay cam dừng bút lệ đầy viện văn

Lịch truyền giáo dục ân như hải             Bao triều tắm gội biển ân

Bát giải thinh danh thẩm thự tiên           Phẩm tiên tám giải thêm phần thanh cao

Nhất dự y quan nan tự ủy                       Cân đai trót đã dự vào

Cương thường khán tử cố anh hiền        Cương thường noi dấu anh hào soi chung.

(Chủ khảo)                                              (? Dịch)

 

Tương truyền rằng đêm trước đó quan Chủ Khảo nằm mộng thấy 1 bà lão cho 1 cành mai trắng trổ bông nhụy vàng (tượng trưng là một quý nhân).  Sáng hôm sau ông đọc lại những bài thi thì thấy bài của ông Mai Xuân Thưởng là có chí khí nhứt và tên (Mai Xuân Thưởng) cũng hợp nên nghĩ rằng giấc mộng đó nói về ông nầy. Quan Chủ Khảo nói riêng cho ông Mai Xuân Thưởng biết (về giấc mộng) do đó ông quyết tâm chống Pháp cứu nước.

Ông theo Tổng đốc Bình Định là ông Đào Doãn Định khởi nghĩa Cần Vương ở Bình Định.  Sau khi TĐ Đào Doãn Định bị bệnh mất (1885), ông Mai Xuân Thưởng trở thành lãnh tụ của Cần Vương ở Bình Định.  

 

Ông có làm bài thơ dưới đây trong khi đánh nhau với Pháp:

 

CHẾT NÀO CÓ SỢ

Chết nào có sợ chết như chơi

Chết bởi vì dân chết bởi thời

Chết hiếu chi nài xương thịt nát

Chết trung bao quản cổ đầu rơi

Chết nhân tiếng để vang nghìn thủa

Chết nghĩa danh thơm vọng mấy đời

Thà chịu chết vinh hơn sống nhục

Chết nào có sợ chết như chơi.

(Mai Xuân Thưởng)

 

Và bài thơ dưới đây trước khi bị hành quyết cùng với ông Bùi Điền:

 

NỢ TRAI

Không tính làm chi chuyện mất còn

Nợ trai lo trả ấy là khôn

Gió đưa hồn nghĩa gươm ba thước

Đá tạc lòng trung quý mấy hòn

Tái ngắt mặt gian xương tợ giá

Đỏ loè bia sách máu là son

Rồi đây thoi ngọc đưa xuân tới

Một nhánh mai già nảy rậm non.

(Mai Xuân Thưởng)

 

 

Nguyễn An Ninh

 

Hai bài thơ "Sống Chết" của Đặng Văn Bá từ Phan Châu Trinh cũng ảnh hưởng tới hai bài thơ "Sống Chết" sau nầy của 1 người bạn đồng chí hướng với Phan Châu Trinh là Nguyễn An Ninh, làm ngay trước khi qua đời.

 

Ông Nguyễn An Ninh (1900-1943) là con của ông Nguyễn An Khương sanh ở Cần Giuộc, Long An.  Ông Nguyễn An Khương, một dịch giả truyện Tàu nổi danh, có lập khách sạn Chiêu Nam Lầu (1908) ở Chợ Cũ, Sài Gòn là nơi kinh tài và trú ngụ của những người thuộc phong trào Duy Tân chống Pháp của ông Phan Châu Trinh.  

Năm 1918 ông Nguyễn An Ninh sang Pháp, học Đại Học có 1 năm (thay vì 4 năm) là đậu Cử Nhân Luật.  Năm 1920, ông gia nhập nhóm các ông Phan Châu Trinh, Phan Văn Trường, Nguyễn Thế Truyền và Nguyễn Tất Thành hoạt động về báo chí chống chế độ thuộc địa đế quốc của Pháp.  

Ông Nguyễn An Ninh về nước năm 1922, diễn thuyết chống Pháp nhưng bị cấm nên trở lại Pháp năm 1923. Cùng năm đó ông trở về Sài Gòn nhờ tiền của ông Nguyễn An Khương mở tờ báo bằng tiếng Pháp tên là La cloche fêlée (Chuông Rè/The broken bell) để chống Pháp mà không bị kiểm duyệt nhưng vẫn bị mật thám Pháp làm khó dễ và đe dọa nhân viên và độc giả nên năm sau (1924) tờ báo phải đóng cửa.  Ông Nguyễn An Ninh lại sang Pháp dẫn ông Phan Châu Trinh về Sài Gòn.  Ông nhờ ông Phan Văn Trường (đã về nước) làm chủ và mở lại tờ La cloche fêlée vì ông Phan Văn Trường (1876-1933) là công dân Pháp.  Tuy nhiên sau đó ông Nguyễn An Ninh vẫn bị bỏ tù 10 tháng.  Từ năm 1928 đến 1931, ông Nguyễn An Ninh có sang Pháp một lần rồi lại về nước, bị tù và được thả ra.  Trong thời gian nầy ông có một chí sĩ mới là ông Phan Văn Hùm.

 

Từ năm 1933, hoàn toàn ở lại Nam Kỳ, ông Nguyễn An Ninh cộng tác với báo La Lutte (Tranh Đấu) của nhóm Đệ Tứ Quốc Tế là các ông Tạ Thu Thâu, Phan Văn Hùm và Trần Văn Thạch cũng như với báo Trung Lập của ông Nguyễn Văn Tạo thuộc Đệ Tam Quốc Tế.  Ông Nguyễn An Ninh là linh hồn đấu tranh chống Pháp bằng báo chí nên ông bị tù vài lần nữa từ năm 1936.  Năm 1939 ông bị tù lần thứ năm ở Côn Đảo và rồi chết ở đây vì kiệt sức năm 1943.  Khi đem xác đi chôn người ta tìm thấy trong túi áo của ông một miếng giấy ghi 2 bài thơ dưới đây:

 

SỐNG

Sống mà vô dụng sống làm chi

Sống chẳng lương tâm sống ích gì?

Sống trái đạo người, người thêm tủi

Sống quên ơn nước, nước càng khi

Sống tai như điếc, lòng đâm thẹn

Sống mắt dường đui, dạ thấy kỳ

Sống sao nên phải, cho nên sống

Sống để muôn đời sử tạc ghi.

(Nguyễn An Ninh)

 

CHẾT

Chết sao danh tiếng vẫn còn hoài

Chết đáng là người đủ mắt tai

Chết được dựng hình, tên chẳng mục

Chết đưa vào sử, chữ không phai

Chết đó, rõ ràng danh sống mãi

Chết đây, chỉ chết cái hình hài

Chết vì Tổ Quốc người khen ngợi

Chết cho hậu thế đẹp tương lai.

(Nguyễn An Ninh)

 

 

Hậu thế ngày nay không cảm thông được Nghĩa Tử của người xưa nên thường chỉ biết bài thơ "Sống" của ông Phan Bội Châu.  Tiền nhân ngày xưa cũng có người chỉ có bài thơ "Chết" như của các ông Trần Cao Vân, Thủ Khoa Huân và Phan Thanh Giản.

 

 

Trần Cao Vân

 

Năm 1916, vua Duy Tân (1900-1945) mưu đảo chánh Pháp ở Huế và vùng phụ cận với hai ông Trần Cao Vân (1868-1916) và Thái Phiên (1882-1916) của Việt Nam Quang Phục Hội nhưng việc bị lộ và thất bại.  Ông Thái Phiên và Trần Cao Vân bị xử chém và Vua Duy Tân bị đày ra đảo Réunion với cha là vua Thành Thái.  Trước khi ra pháp trường, ông Trần Cao Vân có bài thơ:

 

CHẾT CHÉM

Đứa nào muốn chết chết như chơi

Chết vị non sông chết vị trời

Chết thảo bao nài xương thịt nát

Chết ngay há ngại cổ đầu rơi

Chết trung tiếng để ngoài muôn dặm

Chết nghĩa danh lưu đến vạn đời

Chết được như vầy là hả lắm

Ta không sợ chết hỡi ai ơi.

(Trần Cao Vân)

 

 

Thủ Khoa Huân

 

Ông Nguyễn Hữu Huân (1816-1875), người ở Chợ Gạo, Định Tường đi thi Cử Nhân đậu Thủ Khoa (còn gọi là Giải Nguyên) năm 1852.  Tuy là văn quan, ông đã khởi nghĩa Cần Vương chống Pháp ở Định Tường (1861-1875).  Dù bị bắt lưu đày rồi được tha nhiều lần cũng nhưđược Tổng Đốc Đỗ Hữu Phương giúp đỡ và dụ hàng nhưng ông Thủ Khoa Huân không bao giờ đầu hàng.  

 

KHI BỊ LƯU ĐÀY

Muôn việc cho hay ở số trời

Cái thân chìm nổi biết là nơi

Mấy hồi tên đạn ra tay thử

Ngàn dặm non sông dạo bước chơi

Chén rượu Tân đình nào luận tiệc

Câu thơ Cố quốc chẳng ra lời

Cang thường bởi biết mang tên nặng

Hễ đứng làm trai chác nợ đời.

(Thủ Khoa Huân)

 

KHI ĐƯỢC THA VỀ

Tòng cúc tuy mừng hãy đặng còn

Râu mày thêm thẹn với sông non

Miếu đường cách trở bề tôi chúa

Gia thất riêng mang nỗi vợ con

Áo Hán nhiều phần thay vẻ lạ

Rượu Hồ một mặt đắm mùi ngon

Giang Đông mang tiếng đa tài tuấn (*)

Cuốn đất kìa ai dám hỏi đon.

(Thủ Khoa Huân)

 

(*) Chú thích: 

            Hạng Võ khi thua Lưu Bang thì được người Đình trưởng khuyên qua sông Trường giang sang Giang Đông sẽ có nhiều người theo giúp để đánh lại.  

 

Lần cuối cùng (1875) sau khi bị bắt ngồi tù trước khi bị đem ra pháp trường hành quyết, ông Thủ Khoa Huân có làm bài thơ dưới đây:

 

MANG GÔNG

Hai bên thiên hạ thấy hay không

Một gánh cang thường há phải gông

Oằn oại đôi vai quân tử trúc (*)

Long lay một cổ trượng phu tòng (*)

Thác về đất Bắc danh còn rạng

Sống ở thành Nam tiếng bỏ không

Thắng bại dinh hư trời khiến chịu (*)

Phản thần, “đụ hỏa” đứa cười ông 

(Thủ Khoa Huân)

 

(*) Chú thích: 

            Từ câu "Trúc xưng quân tử, Tòng hiệu trượng phu".  Dinh hư=đầy vơi.

 

 

Phan Thanh Giản

 

Tháng 6, 1867, Thiếu tướng De La Grandière hội 1000 quân Pháp ở Mỹ Tho định tấn công Vĩnh Long.  Ngày 20-6-1867, De La Grandière đánh Vĩnh Long.  Biết thế chống không nỗi và để cứu sinh linh, ông Phan Thanh Giản đầu hàng ở Vĩnh Long và ra lệnh cho Tuần phủ Hà Tiên và An Giang đầu hàng. Pháp chiếm 3 tỉnh Tây Nam Kỳ trong 4 ngày (từ 20 tới 24-6-1867).  Từ đó đất Nam Kỳ Lục Tỉnh thành ra đất thuộc địa của Pháp; thuế má, luật lệ, điều gì cũng do soái phủ ở Sài Gòn quyết định cả. 

Ông Phan Thanh Giản gởi trả áo mão cho triều đình.  Sau nửa tháng không thấy triều đình trả lời, ông phiền muộn lo lắng, nhịn đói và uống thuốc phiện với giấm thanh hằng ngày để tự tử.  Cuối cùng ông chết ngày 4-8-1867, thọ 72 tuổi.  Trong thời gian gần nửa tháng nầy, ông Phan Thanh Giản có làm bài thơ:

 

TUYỆT CỐC (*)

Trời thời đất lợi lại người hòa

Há dễ ngồi coi phải nói ra

Lăm trả ơn vua đền nợ nước

Đành cam gánh nặng ruổi đường xa

Lên ghềnh xuống thác thương con trẻ

Vượt biển trèo non cám phận già

Những tưởng một lời an bốn cõi

Nào hay ba tỉnh lại chầu ba. (*)

(Phan Thanh Giản)

 

(*) Chú thích:

            Tuyệt cốc = Nhịn (ăn)cơm

            Đã không lấy lại được 3 tỉnh Biên Hòa, Gia Định và Định Tường mà còn mất thêm 3 tỉnh Vĩnh Long, An Giang và Hà Tiên.

 

 

Bs PHAN THƯỢNG HẢI biên soạn

                                                    PHAN BỘI CHÂU

                                                                    Bs Phan Thượng Hải

 

Thơ và Sử đã mô tả cuộc đời của ông Phan Bội Châu từ khi sáng lập phong trào Đông Du ở Nhật Bản, hoạt động cách mạng ở bên Tàu cho đến khi bị bắt giải về Việt Nam và bị quản thúc ở Huế.  Cách mạng bên Tàu cũng có người Nam Kỳ hưởng ứng như các ông Nguyễn Quang Diêu và Nguyễn Thần Hiến.


 

Phong Trào Đông Du 

 

*

Đông Du ở Nhật Bản

 

Năm 1905, ông Phan Bội Châu và ông Đặng Tử Kính sang Nhật nhờ giúp đỡ và lập phong trào Đông Du.  Nhờ ông Tăng Bạt Hổ, hai ông lén đem Kỳ Ngoại Hầu Cường Để và thanh niên sang Nhật học quân sự và khoa học.

 

Ông Tăng Bạt Hổ (1858-1906) khi 14 tuổi theo Lưu Vĩnh Phúc đánh Pháp ở Bắc Kỳ.  Sau đó ông theo ông Mai Xuân Thưởng hưởng ứng hịch Cần Vương của vua Hàm Nghi, khởi nghĩa ở Bình Định.  Sau khi cuộc khởi nghĩa thất bại, ông Tăng Bạt Hổ trốn sang Lào, Xiêm, Trung Hoa rồi cuối cùng ở Nhật Bản.  Ông phục vụ trong quân đội Nhật thắng quân Nga ở Lữ Thuận và Đại Liên. Nhờ có công, được Minh Trị Thiên Hoàng biết đến, nên ông liên lạc và xin với các chính khách Nhật như Khuyển Dưỡng Nghị (?) và Đại Ôi Trọng Tín (Shigenobu) chấp nhận du học sinh Việt Nam.  Trong một chuyến đưa rước các học sinh ông mất trên 1 chiếc thuyền ở sông Hương (1906). Năm 1956, ông được cải táng cạnh mộ ông Phan Bội Châu ở Huế.                

 

Ông Tú Xương có bài thơ tả đúng như dự định của ông Phan Bội Châu:

 

GỬI ÔNG PHAN THỦ KHOA

Mấy năm vượt bể lại trèo non

Em hỏi thăm qua bác hãy còn

Mái tóc Giáp Thìn đà nhuộm tuyết (*)

Điểm đầu Canh Tý chửa phai son (*)

Vá trời gặp hội, mây năm vẻ (*)

Lấp bể ra công, đất một hòn

Có phải như ai mà chẳng chết?

Giương tay chống vững cột càn khôn.

(Tú Tài Trần Tế Xương)

 

(*) Chú thích:

Năm Giáp Thìn (1905), ông Phan Bội Châu xuất dương

Năm Canh Tý (1900), ông Phan Bội Châu đậu Thủ Khoa ở kỳ thi Hương Nghệ An.

Ý muốn lập ông Cường Để làm vua.


 

Đây là chí khí của ông Phan Bội Châu khi rời cảng Hải Phòng đi Nhật:

 

XUẤT DƯƠNG LƯU BIỆT 1905

Sinh vi nam tử yếu vi kỳ                           Làm trai phải lạ ở trên đời

Khẳng hứa càn khôn tự chuyển di            Há để càn khôn tự chuyển dời

Ư bách niên trung tu hữu ngã                   Trong khoảng trăm năm cần có tớ

Khởi thiên tải hậu cánh vô thùy                Sau này muôn thuở há không ai?

Giang sơn tử hĩ sinh đồ nhuế                    Non sông đã mất, sống thêm nhục

Hiền thánh liêu nhiên tụng diệc si            Hiền thánh còn đâu, học cũng hoài

Nguyện trục triền phong Đông Hải khứ   Muốn vượt bể Đông theo cánh gió

Thiên trùng bạch lãng nhất tề phi.            Muôn trùng sóng bạc tiễn ra khơi.

(Phan Bội Châu)                                       (Tô Quang Phiệt dịch)

                                          (Kỳ Ngoại Hầu Cường Để)

 

Tháng 9 năm 1908, Pháp ký hiệp ước với Nhật.  Thế là tất cả nhà cách mạng và học sinh Việt Nam đều bị Nhật trục xuất: hoặc về nước hoặc trốn sang Tàu.  Ông Phan Bội Châu, ông Đặng Tử Kính và Kỳ Ngoại Hầu lưu lạc tận Xiêm La (Thái Lan bây giờ).  

 

*

Việt Nam Quang Phục Hội

 

Năm 1912, sau cách mạng Tân Hợi, các ông về lại Tàu, cùng với ông Nguyễn Thượng Hiền (rể ông Tôn Thất Thuyết) lập Việt Nam Quang Phục Hội và Quang Phục Quân với những hoạt động như quấy nhiễu biên giới (tấn công đồn Tà Lùng) và sai người về nước ám sát những quan Việt Nam theo Pháp.  

 

Năm 1914, Tàu hết ủng hộ, ông Phan Bội Châu vô tù ra khám.  Năm 1915, ông Kỳ Ngoại Hầu Cường Để (1882-1951) sang sống bên Nhật, lấy vợ Nhật (là con gái nuôi của Thiên Hoàng) nhưng vẫn hoạt động cách mạng ở Tàu.


 

Đây là 2 bài thơ tù của 2 ông Phan Bội Châu và Phan Châu Trinh cùng bị giam trong Đệ Nhất Thế Chiến: 

 

CẢM TÁC VÀO NHÀ NGỤC                    TRONG NGỤC QUỐC SỰ PHẠM 

QUẢNG ĐÔNG                                           LA SANTÉ

Vẫn là hào kiệt vẫn phong lưu                     Từ ấy giam luôn mấy tháng tròn

Chạy mỏi chân thì hẵng vào tù                     Nhờ trời ngủ kỹ lại ăn ngon

Đã khách không nhà trong bốn bể                Ngày ba lần xực coi còn đói

Lại người có tội giữa năm châu                    Đến chín giờ chơi ngáy vẫn giòn

Dang tay ôm chặt bồ kinh tế                         Mỗi bữa nửa giờ ra hóng mát

Mở miệng cười tan cuộc oán thù                  Mỗi tuần hai bận xuống thăm con

Thân ấy hãy còn còn sự nghiệp                    Vui buồn mình biết lòng mình vậy

Bao nhiêu nguy hiểm sợ gì đâu.                   Miễn trả cho rồi nợ nước non.

(Phan Bội Châu)                                           (Phan Châu Trinh)

 

*

Cách Mạng ở Việt Nam

 

Tiếng tăm của Việt Nam Quang Phục Hội được biết trong nước qua cuộc chính biến của vua Duy Tân và khởi nghĩa Thái Nguyên.

Các ông Thái Phiên và Trần Cao Vân sau khi đi tù Côn Đảo với ông Phan Châu Trinh (1908-1911) về, có mưu với vua Duy Tân đảo chánh Pháp (1916) dưới danh nghĩa của Việt Nam Quang Phục Hội nhưng thất bại. 

Khởi nghĩa Thái Nguyên do Đội Cấn (Trịnh Văn Cấn) cùng 175 lính khố xanh giải thoát ông Lương Ngọc Quyến của Việt Nam Quang Phục Hội và 203 tù nhân chiếm Thái Nguyên xưng là Đại Hùng Đế Quốc ngày 30-8-1917.  Năm ngày sau (5-9-1917), Pháp chiếm lại Thái Nguyên. Ông Lương Ngọc Quyến tử thương. Ông Trịnh Văn Cấn (1881-1917) rút về Tam Đảo rồi Vĩnh Yên và cuối cùng tự tử bằng súng ngày 11-1-1918.  

 

Ông Lương Ngọc Quyến (1885-1917) là con thứ của ông Lương Văn Can (Hiệu trưởng trường Đông Kinh Nghĩa Thục).  Ông vượt biển theo chương trình Đông Du của ông Phan Bội Châu, học và tốt nghiệp trường võ bị Chấn Vũ của Nhật (1905-1908).  Sau khi bị Nhật trục xuất ông sang Trung Hoa làm sĩ quan trong quân đội Trung Hoa Dân Quốc (chức Thiếu tá?). Năm 1912 ông Lương Ngọc Quyến gia nhập Việt Nam Quang Phục Hội và về nước hoạt động ở Nam Kỳ.  Ông bị Pháp bắt và giam ở Hà Nội rồi Thái Nguyên. Tại ngục Thái Nguyên theo lời chiêu dụ của ông nên ông Trịnh Văn Cấn mới khởi nghĩa chống Pháp.

Người bạn từng sống với ông ở Nam Kỳ là ông Dương Bá Trạc có bài thơ thương tiếc:

 

LƯƠNG NGỌC QUYẾN

Đoạn tuyệt gia đình với núi sông

Phất cờ Đông học trẩy tiên phong

Lục quân Nhật Bản tinh thao luyện

Chiến địa Trung Hoa thỏa vẫy vùng

Bắc Hải vẫn ghi lời thoại biệt

Long Xuyên bao xiết chuyến trùng phùng

Thái Nguyên độc lập năm ngày trọn

Cho biết tay đây cọp sổ lồng.

(Dương Bá Trạc)

 

*

Cách Mạng ở bên Tàu

 

Cách mạng ở bên Tàu thầm lặng cho đến năm 1924 mới nổi trở lại nhờ “Tiếng bom sa điện” của liệt sĩ Phạm Hồng Thái của Tâm Tâm Xã.  Ngày 21-6-1924, ông Phạm Hồng Thái ném bom để ám sát Toàn Quyền Đông Dương là Merlin ở tô giới Sa Diện (Samien, có khi viết sai là Sa Điện) của Pháp ở Quảng Châu nhưng việc không thành.  Ông nhảy xuống sông Tây Giang (Châu Giang) tự tử. Nhà cầm quyền Trung Hoa đem xác chôn ở Hoàng Hoa Cương.  

Về sau có hậu sinh tới viếng mộ và làm thơ:

 

VIẾNG MỘ LIỆT SĨ PHẠM HỒNG THÁI (Nguyên Bản)

Một tiếng bom tung tiếng dậy hùng

Vì nòi giống Việt diệt thù chung

Thực Dân vạn kiếp kinh hồn vía

Hào Khí Trường Tồn với núi sông (*)

Liệt sĩ treo cao gương ái quốc

Hậu sinh quyết nối gót cha ông

Khấu đầu trước mộ thành tâm khấn

“Xin Phạm tiền nhân chứng giám lòng”.

(Nguyễn Đạt Tôn) 

6/2/99

 

(*) Chú thích: Trước cổng Hoàng Hoa Cương có đề 4 chữ: “Hào Khí Trường Tồn”.

 

VIẾNG MỘ LIỆT SĨ PHẠM HỒNG THÁI (Họa)

Việt Nam Hồng Thái đấng anh hùng

Vì nước hy sinh rửa hận chung

Mưu giết Thực Dân liều tính mạng

Chôn vùi Hào Khí mượn giòng sông 

Dư âm Lưỡng Quảng bom “sa điện”

Thăm viếng Hoàng Hoa lễ mộ ông

Nghĩa cả nêu cao nơi đất khách

Ngàn sau ghi nhớ khắp muôn lòng.

(Phan Thượng Hải)

6/2/99

 

Tâm Tâm Xã thành lập năm 1923 từ những người trẻ trong Việt Nam Quang Phục Hội như Lê Hồng Phong, Phạm Hồng Thái, Lê Hồng Sơn, Hồ Tùng Mậu…

Năm 1925, Nguyễn Ái Quốc (lúc đó còn có tên là Lý Thụy, vừa từ Liên Xô sang) lập Việt Nam Thanh Niên Cách Mạng Đồng Chí Hội ở Quảng Châu từ Tâm Tâm Xã.  

Cùng năm đó (1925), ông Phan Bội Châu bị Pháp bắt cóc ở Thượng Hải và giải về Việt Nam.  Ông Đặng Tử Kính (1875-1928) sang sống ở Xiêm và mất ở đây. Ông Nguyễn Thượng Hiền đi tu, Việt Nam Quang Phục Hội gần như ngưng hoạt động.  Nguyễn Ái Quốc giữ Việt Nam Thanh Niên Cách Mạng Đồng Chí Hội sau nầy thành Đông Dương Cộng Sản Đảng (1930). 

Sự kiện ông Phan Bội Châu bị Pháp bắt vẫn còn là một nghi vấn trong lịch sử. 


 

Phan Bội Châu tại Huế

 

*

Thực Dân Pháp bí mật giải ông Phan Bội Châu bằng tàu về nước.  Trên tàu, ông làm bài “Tuyệt Mệnh Thi” bỏ vào 1 cái chai liệng xuống biển.  Người đánh cá lượm được nên toàn quốc mới biết tin và biểu tình phản đối.  

 

TUYỆT MỆNH THI

 

Nhất lạc nhân hoàn lục thập niên                Sáu chục năm nay ở cõi đời

Hảo phùng kim nhật liễu trần duyên           Trần duyên giờ hẳn rũ xong rồi

Bình sinh kỳ khí vi hà tử                             Bình sinh chí lớn là đâu tá

Nguyệt tại ba tâm vân tự thiên                    Trăng rọi lòng sông mây ngất trời

 

Sinh bất năng trừ thiên hạ loạn                   Sống đã kông xong trừ giặc nước

Na kham tử lụy hậu lai nhân                       Chết đi há lụy đến người sau

Hảo tòng hổ khẩu hoàn dư nguyện             Phen nầy miệng cọp âu đành dạ

Khẳng nhượng Di Tề nhất cá nhân             So với Di Tề có kém đâu.

 

Thống khốc gian san dữ quốc dân              Thương khóc non sông với quốc dân

Ngu trung vô kế cực trầm luân                   Tài hèn không vớt được trầm luân

Thử tâm vị liễu thân tiên liễu                      Lòng nầy chưa hả thân đà chết

Tu hướng tuyền đài diện cố nhân.              Chín suối thẹn thùng gặp cố nhân.

 

(Phan Bội Châu)                                         (Vô Danh dịch)

 

*

Vì toàn dân trong nước biểu tình phản đối nên Pháp không dám kết án ông.  Ông Phan Bội Châu bị quản thúc (tại gia) ở Huế từ năm 1925 cho đến khi qua đời năm 1940 trong thầm lặng.  Ông sống lẽ loi một mình kể cả vợ con cũng không được thăm hỏi. Thỉnh thoảng ông làm thơ đăng lén trên báo Tiếng Dân ở Huế của ông Huỳnh Thúc Kháng.

 

Đây là một bài thơ tiêu biểu:

 

THƠ TẶNG CÔ GÁNH NƯỚC

Vì nỗi thương người phải nhục mình

Hai vai một gánh nặng đôi bình

Sóng vơi giếng cạn lòng đầy mãi

Nắng dãi mưa dầm gót chạy lanh

Rưới cỏ thêm màu cho đất trắng

Làm mưa chia sức với trời xanh

Nhà nhà có nước là vui vẻ

Chẳng quản công trình, chẳng kể danh.

(Phan Bội Châu) 1929

 

Thật ra sau đó ông Phan Bội Châu có làm 2 bài thơ “Con Gánh Nước”. 

 

THAN VỚI CON GÁNH NƯỚC              CON GÁNH NƯỚC TRẢ LỜI

Đầu mun mặt trú có ra gì?                         Tớ thấy ông than tớ nực cười

Mà gánh đòi vai trót tháng ngày                Trao cho riêng nặng ấy là ai

Khổ nỗi chết mầy thời chết nước               Khô khan chúng cũng khô khan cả

Nặng lòng thương nước phải thương mầy Gánh vác mình sao gánh vác hoài?

Nếu không ai khát đành ngồi nể                Thăm hết mấy sông cùng mấy giếng

Vì có người trông phải dậy đi                    May còn hai cẳng với hai vai

Trách lão Trời già sao lắm việc                 Nếu ông lòng có thương tôi thật

Sinh người sinh nước ấy mà chi.               Chắc đã mây mưa rày hoặc mai?

(Phan Bội Châu)                                        (Phan Bội Châu)

 

Ông Phan Bội Châu và ông Phan Châu Trinh là 2 nhà cách mạng chân chính chỉ vì dân vì nước, không theo những chủ nghĩa được dùng sau nầy: Quốc Dân, Cộng Sản, Xã Hội, Đế Quốc, Quốc Gia…

                                    Phan Bội Châu

*

Hậu thế thường truyền tụng một bài thơ ái quốc của ông Phan Bội Châu:

 

SỐNG

Sống tủi làm chi đứng chật trời

Sống nhìn thế giới hổ chăng ai

Sống làm nô lệ cho người khiến

Sống chịu ngu si để chúng cười

Sống tưởng công danh không tưởng nước

Sống lo phú quí chẳng lo đời

Sống mà như thế đừng nên sống

Sống tủi làm chi đứng chật trời.

(Phan Bội Châu)

 

Gần đây lại có xuất hiện 2 bài thơ của bạn của ông Phan Bội Châu là ông Đặng Văn Bá (còn gọi là Đặng Văn Bách).

Ông Đặng Văn Bá (1873-1931) đậu Cử Nhân năm 1900 (cùng khóa với ông Phan Bội Châu).  Ông gia nhập phong trào Duy Tân (1905) rồi bị đày Côn Đảo (1908-1916 hay 1921). Được thả về ông sống ở Sài Gòn rồi ở Huế với ông Phan Bội Châu và sau cùng về sống ở quê nhà (Hà Tĩnh) đến khi qua đời.

 

Năm 1926 cái chết của ông Phan Châu Trinh (Tây Hồ) gợi cảm hứng cho ông Đặng Văn Bá làm 2 bài thơ dưới đây:

 

CHẾT

Chết mà vì nước, chết vì dân

Chết ấy làm trai hết nợ nần

Chết bởi Đông Chu thời thất quốc

Chết vì Tây Hán lúc tam phân

Chết như Hưng Đạo hồn thành thánh

Chết tựa Trưng Vương phách hóa thần

Chết cụ Tây Hồ hồn chẳng chết

Chết mà vì nước, chết vì dân.

(Đặng Văn Bá)

 

SỐNG

Sống dại mà chi sống chật đời

Sống xem Âu Mỹ hổ chăng ai?

Sống làm nô lệ cho người khiến

Sống chịu ngu si để bạn cười

Sống tưởng công danh không tưởng nước

Sống lo phú quí chẳng lo đời

Sống mà như thế đừng nên sống

Sống dại sinh chi đứng chật đời.

(Đặng Văn Bá)

 

Bài thơ “Sống” cũng hơi giống như của ông Phan Bội Châu?

 

SỐNG                                                             SỐNG

Sống tủi làm chi đứng chật trời                      Sống dại mà chi sống chật đời

Sống nhìn thế giới hổ chăng ai                       Sống xem Âu Mỹ hổ chăng ai?

Sống làm nô lệ cho người khiến                     Sống làm nô lệ cho người khiến

Sống chịu ngu si để chúng cười                      Sống chịu ngu si để bạn cười

Sống tưởng công danh không tưởng nước      Sống tưởng công danh không tưởng nước

Sống lo phú quí chẳng lo đời                          Sống lo phú quí chẳng lo đời

Sống mà như thế đừng nên sống                     Sống mà như thế đừng nên sống

Sống tủi làm chi đứng chật trời.                      Sống dại sinh chi đứng chật đời.

(Phan Bội Châu)                                              (Đặng Văn Bá)


 

Nguyễn Quang Diêu

 

*

Phong trào Đông Du của ông Phan Bội Châu rất được người Nam Kỳ hưởng ứng vì năm 1904, ông Phan Bội Châu có đến Nam Kỳ vận động trước khi xuất dương sang Nhật.  

 

Ông Nguyễn Thần Hiến (1857-1914) là người Hà Tiên nhưng sống ở Cần Thơ.  Ông đem hết tài sản trong nhà ra ủng hộ (20,000 đồng lúc đó vào khoảng mất trăm cây vàng bây giờ) lập “Quỹ Khuyến Du Học Hội".  Bị Pháp tìm bắt, ông phải trốn sang Xiêm (1908) rồi đến năm 1910 sang Tàu gia nhập VN Quang Phục Hội làm Trưởng Chi bộ Nam Kỳ. Ông Nguyễn Thần Hiến bị bắt ở Hương Cảng (1913) giải về Hà Nội (1914) sắp phải đày đi French Guiana (Nam Mỹ) nhưng ông tuyệt thực và chết trong tù Hỏa Lò ở Hà Nội (1914).  

Bạn tù là ông Nguyễn Quang Diêu có bài thơ tiếc:

 

NGUYỄN THẦN HIẾN

Bấy lâu bay bổng cánh chim hồng

Lạc lối giờ ra phải máy cung

Chín suối có thiêng hồn tổ quốc

Trăm năm còn tạc gánh tang bồng

Đổi dời nghĩ gớm câu dâu bể

Thổ lộ cùng ai chuyện núi sông

Thôi để làm gương cho sắp bé

Ngàn năm trong nước dấu anh hùng.

(Nguyễn Quang Diêu)

 

*

Ông Nguyễn Quang Diêu (1880-1936) là người Cao Lãnh.  Năm 1913, ông cùng một số người Nam Kỳ sang Hương Cảng để gia nhập cách mạng theo ông Phan Bội Châu và ông Nguyễn Thần Hiến nhưng chẳng may bị Pháp bắt cùng lúc với ông Nguyễn Thần Hiến ở Hương Cảng và giải về Hà Nội.  

 

Sau đó ông Nguyễn Quang Diêu bị đày đi French Guiana (1914).  Bị giải lên tàu ở Hà Nội, ông và các bạn tù Việt Nam qua Ấn Độ Dương, kênh Suez và Địa Trung Hải tới Marseille.  Sau 1 thời gian ngắn bị tạm giam ở Marseille, ông Nguyễn Quang Diêu và các bạn lại bị giải lên tàu xuyên qua Đại Tây Dương tới French Guiana (1914). 

Năm 1917, ông Nguyễn Quang Diêu cùng 2 bạn là ông Đinh Hữu Thuật và ông Lý Liễu vượt ngục trốn sang Trinidad (Trung Mỹ).  Papillon Henri Charrière phải mất 11 năm mới trốn khỏi French Guiana (1941) trong khi đó ông Nguyễn Quang Diêu chỉ cần 3 năm.

Sau 3 năm sống ở Trinidad, vào năm 1920, ông Nguyễn Quang Diêu lên Washington DC đi tàu của lái buôn Trung Quốc vượt biển tới Hương Cảng (Hongkong).  Chuyến đi nầy qua kênh đào Panama và Thái Bình Dương.  

Từ khi bị bắt ở Hương Cảng (1913) cho tới khi trở lại Hương Cảng (1920) ông Nguyễn Quang Diêu đã đi vòng quanh thế giới, và chắc chắn là người Việt đầu tiên hoàn thành công trình nầy.  Jules Verne tả chuyện đi vòng quanh thế giới trong 80 ngày nhưng ông Nguyễn Quang Diêu đi mất 8 năm và đi ngược đường với câu chuyện của Jules Verne. 

 

Từ Hương Cảng (1920), ông Nguyễn Quang Diêu tới Quảng Châu tìm ông Phan Bội Châu và Kỳ Ngoại hầu Cường Để nhưng chỉ gặp được ông Nguyễn Hải Thần.  Do đó, ông tới sống ở Tứ Xuyên. Năm 1926, ông Nguyễn Quang Diêu trốn về Nam Kỳ, đổi tên là Trần Văn Vẹn, tiếp tục đi khắp nơi bí mật hoạt động chống Pháp cho đến khi mất vì bệnh ở Tân An (1936).  

                                      Nguyễn Quang Diêu

*

Cuộc đời hy sinh vì cách mạng của ông Nguyễn Quang Diêu là một thiên hùng ca.  Ông lại là một thi sĩ đại tài đã để lại những bài thơ tuyệt tác.

 

Tinh thần ái quốc trước khi sang Trung Quốc:

 

TỰ THUẬT

Nghĩ mình mang lấy tiếng nam nhi

Cái nợ cung dâu gánh nặng trì

Tuổi tác đã vừa ba chục chẵn

Công danh chưa có ít nhiều chi!

Rừng cao yến đổ yên nhờ chỗ

Gió thuận hồng mong gặp gỡ khi

Xem khắp thế tình rồi nghĩ nghị

Muốn noi Thánh trước cỡi bè đi. (*)

(Nguyễn Quang Diêu) 1910

 

(*) Chú thích: 

Tương truyền Tổ Thiền Tông là Bồ Đề Đạt Ma cỡi bè đi đường biển từ Ấn Độ tới Trung Quốc.  (Chuyện nầy được truyền bá ở Nam Kỳ trong thời Pháp Thuộc).

 

Khi xuất dương đi Trung Quốc theo cách mạng không kịp giã từ vợ, ông viết bài thơ nhờ bạn chuyển cho vợ:

 

GIÃ VỢ ĐI LÀM CÁCH MẠNG

Sông cũng khi khô, đá cũng mòn

Cùng ai tạc một tấm lòng son

Trăm năm ngồi đứng trong trời đất

Một kiếp thề ghi với nước non

Hương hỏa trước mong duyên mãi mãi (*)

Tang bồng nay há nợ con con (*)

Ai ơi ! hãy nếm mùi ly biệt

Có nếm rồi ra mới biết ngon!

(Nguyễn Quang Diêu) 1913

 

(*) Chú thích

Hương hỏa: do câu "Tam sinh hương hỏa", dùng để chỉ việc nhơn duyên có con cháu nối dõi.  Sách Quỳnh Ngọc Chú chép: có người con trai tên là Tỉnh Lang chiêm bao thấy đi chơi non Bồng, gặp một nhà sư tụng niệm, trước mặt có hương thắp khói bay (Hương hỏa) nên hỏi; nhà sư trả lời "khi cắm hương khấn nguyện, hương còn cháy mà đã sinh ra 3 kiếp người rồi (Tam sinh).

Tang bồng: (Cái cung bằng) cây dâu, (cái tên bằng) cỏ bồng.  Nói đủ câu là "Tang bồng hồ thỉ". Tục lệ người Tàu xưa khi sanh con trai thì dùng cung bằng cây dâu và tên bằng cỏ bồng mà bắn ra 4 phương và trên trời dưới đất để cầu cho đứa bé lớn lên được thỏa chí khí dọc ngang khắp sông hồ.   


 

Những bài thơ lúc bị tù đày:

 

TẾT TÂY TRONG ĐỀ LAO

Vừa khỏi Du dê đến Tết Tây (*)

Gớm ghê máy tạo lẹ làng xây

Nom ra thành phố cây cờ phất

Ngảnh lại non sông nước mắt đầy

Vui sướng thiếu gì ai nấy đó

Đắng cay chỉ có lũ mình đây!

Rau xanh vài dĩa cơm vài bát

Cũng gọi là vui cái tiệc nầy.

(Nguyễn Quang Diêu) 1914

 

(*) Chú thích:

Tết Tây đầu năm 1914 ở nhà ngục Hỏa lò, Hà Nội.  Du dê = (tháng) Juillet, ý nói ngày lễ Độc lập của Pháp (14 Juillet)


 

BỊ GIAM Ở MARSEILLE CẢM TÁC

Chẳng biết rằng mình có tội chi

Tội chi nào có, có nao gì!

Phép thần công lý đành không hiệu

Luật nước văn minh gẫm cũng kỳ

Nếm mật nằm gai đành tạm lúc

Sổ lồng tháo cũi hẳn chờ khi

Làm sao cũng chẳng làm sao vậy

Thương nước gan ông nó đã lỳ.

(Nguyễn Quang Diêu) 1914

 

CẢM TÁC KHI ĐI ĐÀY ĐẾN CAI DANH (*)

Bấy chầy mong mỏi xứ Cai Danh

Phong cảnh xem qua bắt động tình

Bể rộng mênh mông dòng nước biếc

Nội bằng mờ mịt mạn rừng xanh

Dã man thảm hại cho người đó

Tân khổ nài bao cái lũ mình!

Tuyệt chủng rõ ràng gương dưới mắt

Trông người, ta lại ngẫm mà kinh.

(Nguyễn Quang Diêu) 1914

 

(*) Chú thích: 

Guiana có 3 phần: thuộc Pháp, Anh và Hà Lan.  Ông Nguyễn Quang Diêu bị đày ở Guiana thuộc Pháp.  Thị trấn của Guyenne (French Guiana) là Cayenne, đọc âm tiếng Việt thành ra Cai Danh.

 

Tương truyền bài dưới đây làm ở Quảng Châu sau khi từ Guiana trở về (1920) và ông Nguyễn Hải Thần có họa lại nhưng bài họa bị thất lạc không tìm được.

 

SẦU NON NƯỚC

 

Hỏi tôi buồn những sự gì đây

Mượn rượu làm khuây cũng chẳng khuây?

Mắt mãi chứa chan cơ hội trước

Lòng hằng chua xót nước non nầy

Hồn khôn vấn vít thân còn dở

Phách dại mơ màng kiếp sống say (1)

Bĩ thái then trời đâu dễ chắc (2)

Lẽ nào có rủi lại không may.

 

Không may sá quản chút thân này

Thượng Đế ngồi cao lẽ cũng hay!

Đường lắm chông gai chơn ngại bước

Trời chưa mưa gió cánh không bay

Tấm lòng hồ thỉ còn mong mãi (3)

Món nợ san hà muốn trả ngay

Vẫn tính vẫy vùng cho phỉ chí

Ngặt vì còn thiếu cả chân tay.

 

Chân tay thiếu cả liệu sao mà

Biết ngỏ cùng ai tâm sự ta?

Tủi phận vẩn vơ hùm lạc núi

Xót thân dật bạ chó không nhà (4)

Bệnh nghèo vắng thấy tay trừ quỉ

Cơn ngặt ầm nghe tiếng nhát ma!

Mùi có nếm rồi, rồi mới biết

Càng cay đắng lắm chí càng già.

 

Chí càng già dặn lúc truân chuyên

Có đẩy xô gì chẳng đổ nghiêng

Dầu tớ chạy nam dầu chạy bắc

Mặc ai rằng nghịch mặc rằng điên!

Rừng nhiều beo hạm tay không súng

Đường lắm tàu xe túi chẳng tiền

Mưa nắng chi chi đâu dám nại

Ấy là trách nhiệm giống Rồng Tiên.

 

Giống Rồng Tiên trước kém gì ai

Mày mặt giờ ra thẹn với đời

Toan cắp Thái Sơn sang bể cả 

Rắp đem tinh vệ lấp miền khơi (5)

Vai hằng gánh nặng thù non nước

Lòng mãi vương mang nghĩa đất trời

Thành bại lẽ thường đâu sá quản

Gọi là trả chút nợ làm trai.

 

Làm trai nay gặp hội tân trào

Ngồi đấy khoanh tay nỡ bụng nào!

Ách thảm nặng quằn vai nghĩa liệt

Lửa thù đốt cháy ruột anh hào

Trông về non nước lòng thêm bận

Đoái lại mày râu tuổi đã cao

Thời đại thế mà dân tộc thế

Không cùng khóc ngất lại cười nhào. (6)

 

Cười nhào những đứa giả văn minh

Mượn lối thương dân tính lợi mình

Gạt chúng khua rầm mồm nhiệt huyết

Dối đời lơ láo mắt vô tình

Bộ tuồng công đức trông ra dáng

Cái lốt nô nhan lộ cả hình (7)

Huyết tánh con người ai lại chẳng

Dại gì không tưởng đến sanh linh.

 

Sanh linh rủi gặp lúc phong trần (8)

Nước chẳng ra gì lựa đến thân!

Ngoài cuộc điên ba trông vắng bặt (9)

Trong vòng nô lệ đứng chần ngần

Sóng tràn chán mắt làng phi cựu (10)

Sấm nổ ầm tai tiếng cách tân (11)

Ai cũng anh em Hồng Lạc cả

Ai ơi phải biết phận làm dân!

 

Phận làm dân tộc nước Nam ta

Hơn bốn nghìn năm nối nghiệp nhà

Mở rộng gian san cho cháu chắt

Hao bao huyết hãn của ông bà (12)

Máu thù nô lệ sôi lòng trẻ

Cuộc biến tang thương chán mắt già (13)

Tình cảnh thế nầy không thể chịu

Bút linh đành mượn đánh đàn ma.

 

Đàn ma hút cả máu dân gầy

Bảy tám mươi năm trải đến rày

Mưa gió Mỹ Âu mòi đã trổ

Anh em Hồng Lạc giấc còn say!

Biển trần chưa định thân chìm nổi (14)

Cuộc biến còn nhiều lúc rủi may

Nỗi nước nỗi nhà còn lắm nỗi

Hỏi tôi buồn những sự gì đây?

 

(Nguyễn Quang Diêu) 1920

 

Chú thích:

(1) Sống say: do câu "Túy sinh mộng tử" (Sống giữa cơn say, chết trong chiêm bao, trong mộng mị)

(2) Bĩ thái = suy và thịnh.  Then trời: ý nói "cơ trời", có khi "máy trời"

(3) Hồ thỉ: từ câu "Tang bồng hồ thỉ", sự tích như "Tang bồng".

(4) Dật bạ = trôi nổi lông bông tạm bợ không chắc vào đâu.  Tiếng thông dụng ở Nam kỳ vào thời đó. Đó là chữ đôi: Dật = thất lạc; Bạ đi đôi với Dật, không có nghĩa gì hết.

(5) Tân trào = Trào lưu mới

(5) Tinh vệ: tên một loại chim nhỏ ở ngoài biển.  Tục truyền con gái vua Viêm Đế vì chết chìm nên căm tức hóa thành chim ngậm đá để lấp biển.  Nghĩa bóng: người có một mối thù thâm sâu, quyết trả cho được.

(6) Cười nhào = cười dữ lắm đến lộn nhào người ra

(7) Nô nhan = mặt (người) đày tớ.  Do câu "Nô nhan tỳ tất" (Mặt đày tớ, gối con hầu).  Ngụ ý khinh khi.

(8) Sanh linh = con người

(9) Điên ba = sóng dữ.  Có bản chép "phong ba" (sóng gió)

(10) Cách  cựu = trái với "cựu"; không thủ cựu (=không giữ cái cũ)

(11) Cách tân = làm ra cho mới

(12) Huyết hãn = máu và mồ hôi

(13) Tang thương: do câu "Thương hải biến vi tang điền" (Bể xanh hóa thành ruộng dâu); ý nói cuộc thay đổi lớn.  Từ ngữ "Bể dâu" cũng cùng một nghĩa.

(14) Biển trần = cõi trần thế rộng như biển cả

 

Năm 1926, ông Nguyễn Quang Diêu đến viếng mộ của ông Phạm Hồng Thái ở Hoàng Hoa Cương và có làm nhiều bài thơ, nay chí còn truyền lại 1 bài:

 

HOÀNG HOA CƯƠNG (*)

Mồ bảy mươi hai liệt sĩ đây

Hoàng Hoa Cương hẹn đã bao ngày

Liễn nêu dũng cảm đời roi dấu

Bia tạc anh hùng địch khiếp oai

Ngắm cảnh riêng mừng non nước đấy

Trông gương như đốt ruột gan nầy

Kèn khi khởi nghĩa dường nghe giục

Gánh nợ quê hương nặng lại đầy

(Nguyễn Quang Diêu) 1926

 

(*) Chú thích:

Hoàng Hoa Cương (ngọn đồi Hoàng Hoa) là nơi dành chôn 72 liệt sĩ Quốc Dân đảng Trung Hoa tử trận trong cuộc khởi nghĩa ở Quảng Châu ngày 29-3-1911 (trước cách mạng Tân Hợi tháng 10, 1911).  Sau khi Liệt sĩ Phạm Hồng Thái chết ở sông Tây giang, Quảng Châu; Tổng đốc Hồ Hán Dân cho cải táng từ chân đồi Bạch Vân về Hoàng Hoa Cương (tháng 3, 1925).

 

Những bài thơ sau khi về nước cho đến khi qua đời (1926-1936).  Ông Nguyễn Quang Diêu phải hoạt động bí mật, trốn tránh chính quyền thuộc địa:

 

KHÔNG NHÀ KHÔNG NƯỚC

Chẳng phải tiên cũng chẳng phải thần

Không nhà  không nước khổng ra thân

Trời cao lồng lộng ê da óc

Đất rộng mênh mông sợ sẩy chân

Tím ruột bầm gan nhìn võ trụ

Châu mày sốt mắt ngó đay cân

Thôi liều nhắm mắt đưa chơn vậy

Một kiếp phù sinh dễ mấy lần.

(Nguyễn Quang Diêu)

 

THƯƠNG ... TRÁCH

Thương ai ai nỡ chẳng thương mình

Tưởng lúc gian truân chán thế tình

Nhớ đến thề lòng non với nước

Trông sao bền dạ sắt cùng đinh

Đợi cơn mây kịt trời dông dữ

Chờ hội trời nghiêng đất hết chinh

Than phận thuyền con mà bể cả

Trách vì chưa phỉ chí bình sinh.

(Nguyễn Quang Diêu)

 

KHÔNG NHÀ

Thiên hạ bao nhiêu bợm chẳng nhà

Hỏi coi ai có cảnh như ta ?

Phôi pha tình tứ thơ và rượu

Chầu chực hôm mai chó với gà

Thấy khách toan mời e khách lạ

Trông trời muốn hỏi ngại trời xa

Thôi ôm cầm đợi tri âm đã

Sẽ ngỏ cùng nhau chuyện ruột rà.

(Nguyễn Quang Diêu)

 

NƯƠNG MÌNH CỬA PHẬT

Trải nếm mùi trần chán đắng chua

Tương rau đạm bạc bữa cơm chùa

Răng lòng cửa Phật cơn sa sút

Nóng ruột đường đời nỗi được thua

Tủi kiếp trầm luân làn sóng dập

Tỉnh hồn đọa lạc tiếng chuông khua !

Co tay tính lại mười năm lẻ

Trải lắm mùi trần chán đắng chua ?

(Nguyễn Quang Diêu)

 

PHẬN BÈO

Liều lĩnh gì hơn cái phận bèo

Mặc dầu sóng gió nổi phêu phêu

Ngảnh tai phiêu bạc chầm theo nước

Gởi dấu đông tây cứ chực dèo (*)

Tầm khách tha hương đoàn tụ mãi

Báo phương ngư phủ thảm sầu đeo

Trông vời bể cả bườn men tớt

Liều lĩnh gì hơn cái phận bèo !

(Nguyễn Quang Diêu)

 

(*) Chú thích: Chực dèo = chờ mòi = chờ đợi và coi mòi.  Từ ngữ miền Nam lúc bấy giờ.

 

Chí khí của ông Nguyễn Quang Diêu không thay đổi:

 

NGÀY TẾT THẤY CỜ CẢM TÁC

Dọc ngang cờ Pháp với cờ Tàu

Ủa lá cờ ta hẳn ở đâu?

Trông thế lực người sôi máu sắt

Nghĩ danh giá nước thẹn mày râu

Non sông vì nợ xưng Hồng Lạc

Mặt mũi nào còn ngó Mỹ Âu

Vinh nhục chung nhau ai cũng thế

Thương nhau ta phải liệu sao nhau?

(Nguyễn Quang Diêu)

 

So với ông Phan Bội Châu cũng vào lúc cuối đời:

 

CÂY CỜ

Ai ơi xin thử ngó cây cờ

Một lá kia kìa dáng phất phơ

Cao thấp quyền về tay kẻ múa

Trắng vàng màu lựa mặt người ưa

Trên cao mấy cửa chiêu bài hão

Xoay đủ tứ bề ngọn gió đưa

Rồi cũng về tay ai nấy phất

Xôn xao dưới bóng bọn vây hùa.

(Phan Bội Châu)


 

Bs PHAN THƯỢNG HẢI biên soạn

 

Bài viết nầy đăng lần đầu tiên trong phanthuonghai.com (trong mục "Thơ và Sử": viết sau bài "Phan Châu Trinh" và trước bài "Phạm Quỳnh và Nguyễn Văn Vĩnh").

 

Tài Liệu Tham Khảo:

Việt Sử Tân Biên (Phạm Văn Sơn)

Chí Sĩ Nguyễn Quang Diêu (Nguyễn Văn Hầu)

Văn Uyển (Lãng Ba Phan Văn Bộ)

Trang Thơ Thi Viện Net

Wikipedia

   THƠ KHI VỀ THĂM VIỆT NAM 2020

                                                               (Bs Phan Thượng Hải)


 

Đi Du Lịch từ Bắc vô Nam

 

*

Bắc Kỳ: Hà Nội, Ninh Bình và Hoa Lư và vịnh Hạ Long

 

THĂM HÀ NỘI

Thủ đô Hà Nội cạnh sông Hồng

Du khách dừng chân một cuối Đông

Lẩn quẩn Ba Đình quanh Phố cổ

Lang thang Hoàn Kiếm gặp hàng rong

Viếng vài hồ đẹp đà ưng ý

Thăm những chùa xưa được thỏa lòng

Viễn thị Long Biên, cầu lịch sử

Tìm xem Văn miếu nhớ Thăng Long.

(Phan Thượng Hải)

1/8/20

 

CHÙA TRẤN QUỐC

Trang nghiêm xinh xắn cạnh Tây Hồ

Cổ tự lâu đời trấn quốc đô

Mái thấp, chùa sau bên đại thụ

Tầng cao, tháp trước giữa phù đồ

Tượng thờ chánh điện trầm hương tỏa

Hoa đẹp tổ đình phướn điểm tô

Vãng cảnh Thiền môn quì lạy Phật

Tai nghe văng vẳng tụng nam mô.

(Phan Thượng Hải)

1/12/20

 

CHÙA MỘT CỘT

Từ thời nhà Lý tự hoàng gia

Chùa nhỏ và xưa nhất nước nhà?

Một cột chống lên, xây chánh điện

Một hồ ở dưới, nổi liên hoa

Thiên thu biểu thị nguồn tôn giáo

Thiên thủ Quan Âm tượng Phật Bà

Kiến trúc dị thường và đặc biệt

Đến xem thấy rõ toại lòng ta.

(Phan Thượng Hải)

2/6/20


CHÙA BÁI ĐÍNH MỚI

Tân lập, tự hào của quốc gia

Ngôi chùa quá rộng giữa Ta Bà

Tượng nhiều, La Hán bên Bồ Tát

Tượng lớn, Quan Âm với Thích Ca

Ngắm nghía điện thờ trông tráng lệ

Ngắm nhìn tầng tháp thấy nguy nga

Làm nơi du lịch dùng tôn giáo

Mê hoặc nhân dân dụng Phật Đà.

(2/4/20) 

 

ANH HÙNG HOA LƯ (*)

Viết sử Hoa Lư, chọn chữ trung

Sử gia chối bỏ một anh hùng

Đinh Tiên Hoàng tựa cành lau động

Lê Đại Hành như cánh hộc tung

Phá Tống liệt oanh tròn nghĩa cả

Bình Chiêm dũng cảm trả thù chung

Công lao hậu thế nên ghi nhớ

Bảo quốc an dân chúng phục tùng.

(Phan Thượng Hải)

2/7/20

(*) Chú thích: 

Sử gia hiện đại viết về Hoa Lư chỉ vinh danh Đinh Tiên Hoàng mà thôi và lên án Lê Đại Hành, cho rằng đã âm mưu với Thái hậu Dương Vân Nga soán ngôi (Đinh Tiên Hoàng).

 

DU NGOẠN VỊNH HẠ LONG

Một phen du ngoạn đã hằng mong

Thế giới kỳ quan, vịnh Hạ Long

Sóng nước êm đềm trên biển rộng

Làn mây lơ lửng giữa trời trong

Ngắm ngàn hòn đảo gồm thiên hạ

Đi một khách thuyền lướt gió đông

Nhàn nhã thân tâm hòa cảnh lịch

Lâng lâng cảm giác nhẹ mênh mông.

(Phan Thượng Hải)

2/5/20


 

*

Trung Kỳ: Hội An, Đà Nẵng, Huế, Quảng Trị và Quảng Bình (Phong Nha).

 

ĐÈO HẢI VÂN

Trên biển dưới mây gọi Hải Vân

Chính là Đèo Cả của Trung phần

Biển xanh nước biếc khơi trùng sóng

Mây trắng trời trong thoát lụy trần

Không chống xâm lăng gìn đất nước

Ít làm hứng khởi giúp thi nhân

Đường hầm hiện đại đi bên dưới

Đèo Cả xuyên qua thiếu hải vân.

(Phan Thượng Hải)

1/17/20

 

VIẾNG HUẾ

Ghé thăm viếng Huế, đất Thần Kinh

Thú vị đôi ngày chốn địa linh

Hiểu biết hoàng triều từ Đại nội

Làm quen ẩm thực tự cung đình

Hương giang lướt nhẹ qua Long Thọ

Thiên Mụ nhìn xa thấy Ngự Bình

Thán phục công trình lăng Khải Định

Cố tìm nhân kiệt, gặp O xinh.

(Phan Thượng Hải)

1/18/20

 

THÁNH ĐỊA LA VANG HIỆN ĐẠI

Chiều Đông vắng lặng ghé La Vang

Phong cảnh dạo xem thấy ngỡ ngàng

Phế tích thánh đường còn hiện hữu (1)

Tượng hình Đức Mẹ đã tân trang (2)

Cội nguồn danh tánh đà thay đổi (3)

Địa điểm hành hương quá mở mang

Cảm thấy mất đi truyền thống cũ (4)

Tâm tư thắc mắc dạ bàng hoàng.

(Phan Thượng Hải)

2/3/20 

 

Chú thích:

(1) Thánh đường La Vang đã bị phá hủy trong chiến tranh vào năm 1972 chỉ còn lại phế tích là cái lầu chuông mà thôi.

(2) Tượng Đức Mẹ mới trang phục như một phụ nữ Việt Nam thuở xưa.

(3) Chỗ nầy khi Đức Mẹ hiện ra vào năm 1798 có nhiều cây Lá Vằng.  Khi người Pháp đến, viết bằng chữ Pháp không bỏ dấu nên thành ra La Vang và thành tên của nơi nầy.  Cây Lá Vằng là loại cây có hạt đen ăn được và làm vị thuốc được. Hiện có 1 khu vườn nhỏ trồng cây Lá Vằng ở đây để làm chứng. 

(4) Tương truyền vào thời cấm đạo của vua Cảnh Thịnh, giáo dân phải trốn vào một vùng hẻo lánh (ngày nay thuộc huyện Hải Lăng, Quảng Trị) thì có Đức Mẹ Maria hiện ra giúp đỡ như là một phép lạ (1798).  Đó là câu chuyện phép lạ của “Đức Mẹ La Vang”. Một giả thuyết về cái tên “La Vang” là vì ở một nơi hẻo lánh nên để liên lạc với nhau thì phải “la” lớn, mà “la” lớn thì phải “vang”. Thánh địa La Vang trở thành Vương Cung Thánh Đường (Basilica) đầu tiên của nước Việt Nam (1961), một năm trước Nhà Thờ Đức Bà Sài Gòn.

(Phế tích Thánh đường cũ)                     (Hình tượng Đức Mẹ mới)


CẦU HIỀN LƯƠNG

Đi ra Bến Hải, ghé Hiền Lương

Kinh nghiệm ngang qua những chiến trường

Quảng Trị, Đông Hà; bao thảm khốc

Gio Linh, Cam Lộ; lắm tang thương

Miền Nam, Miền Bắc; hờn phân quốc

Cộng Sản, Cộng Hòa; hận đối phương

Lặng ngắm cầu xưa ôn dĩ vãng

Đau buồn uất ức kẻ ly hương.

(Phan Thượng Hải)

1/18/20

(Cầu Hiền Lương xưa ở bên phải; cầu hiện đại ở bên trái)

 

*

Nam Kỳ: Cần Thơ, Châu Đốc, Mỹ Tho và Sài Gòn

 

CẦN THƠ KỶ NIỆM

Cái gì kỷ niệm xứ Cần Thơ?

Cái bến Ninh Kiều đẹp mộng mơ

Cái Tắc xe đi đường tẽ lối

Cái Răng ghe nhóm chợ gần bờ

Cái Vồn qua bắc, tàu xuôi ngược

Cái Khế ngang sông, nước lặng lờ

Cái Sắn theo kinh, người giữ đạo

Cái tình luyến nhớ thuở còn thơ.

(Phan Thượng Hải)

1/21/19

 

MIẾU BÀ CHÚA XỨ

Linh thiêng tồn tại với thời gian

Nổi tiếng miếu Bà khắp Hậu Giang

Từ đỉnh núi Sam hình xuất hiện

Ngự nơi Châu Đốc tượng huy hoàng

Tôn thờ, dân chúng về cầu nguyện

Tín ngưỡng, dân tình thắm điểm trang

Ngày vía tháng tư, người tụ họp

Tắm Bà Chúa Xứ hiển vinh quang.

(Phan Thượng Hải)

1/21/20

(Bắc và Bến bắc Cần Thơ thuở xưa)


 

BẮC MIỀN TÂY

Nay còn đâu những Bắc Miền Tây

Để lại tình xưa những nhớ đầy

Mỹ Thuận rộn ràng thời trẻ dại

Cần Thơ êm ái tuổi thơ ngây

Thay nhiều bến cũ đà hoang phế

Với lắm cầu treo mới dựng xây

Vàm Cống băng qua, nhìn Rạch Miễu

Thương về quá khứ chạnh niềm tây.

(Phan Thượng Hải)

1/24/20

 

*

Kết Luận

 

VIẾNG QUÊ HƯƠNG

Tết nầy du lịch viếng quê hương

Quá bộ nhiều nơi lắm nẻo đường

Từ Bắc hiếu kỳ tìm cảnh đẹp

Vô Nam ký ức rộn lòng thương

Tri tân cảm cựu dù minh mẩn

Cỡi ngựa xem hoa khó tận tường

Bốn chục năm qua vui viễn xứ

Kiếp tằm buông thả cứ tơ vương?

(Phan Thượng Hải)

1/24/20



 

Ở Sải Gòn thăm Gia đình và Bạn bè

 

*

SÀI GÒN HOÀI CẢM (*)

Địa danh sống mãi ở tình trường

Bốn chục năm qua trải gió sương

Đã hết êm đềm thời lộng nguyệt

Lại thêm hỗn độn dưới tà dương

Sài Gòn hoa lệ tràn nhung nhớ

Hòn Ngọc Viễn Đông vợi tiếc thương

Cách mặt đau lòng không đổi dạ

Hương xưa hoài cảm tự can trường.

(Phan Thượng Hải) 

Năm 2015

(*) Họa bài Thăng Long Hoài Cổ của Bà Huyện Thanh Quan.

 

*

CHỊU TRẬN (*)

Bốn chục năm nay hết chiến chinh

Thương ai ở lại mộng an bình

Sống đời chật vật qua "hồ hởi"  

Gần kẻ ngu đần biết chí minh

Xâm lược ngoại bang gieo thảm họa

Độc tài nội trị hại sanh linh

Thắng thua chiến cuộc ngưng hồi ký (*)

Chịu trận lâu nay đủ thất tình?

(Phan Thượng Hải)

6/28/18

 

(*) Chú thích:

Người ở lại Miền Nam sau 75 tự gọi mình là "Người Chịu Trận", gọi người từ Miền Bắc vào là "Người Thắng Trận" và gọi người lánh ra ngoại quốc là "Người Thua Trận".

Hồi ký = ghi nhớ lại 


 

NGƯỜI BẮC NGƯỜI NAM

Hơn thua khác biệt tự hai miền

Người Bắc luôn giành đứng trước tiên

Xã hội xã giao cao tước lộc

Kinh doanh kinh tế lắm đồng tiền

Đỉnh cao trí tuệ làm văn hóa

Sức mạnh tham ô nắm chánh quyền

Trong cảnh thanh bình đà tiến bộ

Người Nam vẫn sống vẫn người hiền.

(Phan Thượng Hải)

1/26/20

 

*

Kết Luận

 

VIẾNG QUÊ NHÀ DỊP TẾT

Nhân khi dịp Tết viếng quê nhà

Nguồn cội tìm về tổ quốc ta

Quyến thuộc kiếm thăm, lòng xúc động

Thân bằng gặp lại, dạ hài hòa

Đồng bào vô niệm đang vui vẻ

Cảnh vật vô thường đã nở hoa

Thời thế cảm thông tình viễn xứ

Lương tâm an ủi trở về nhà.

(Phan Thượng Hải)

1/30/20


 

So sánh với những bài thơ cũ

 

*

CHÙA TRẤN QUỐC

Trang nghiêm xinh xắn cạnh Tây Hồ

Cổ tự lâu đời trấn quốc đô

Mái thấp, chùa sau bên đại thụ

Tầng cao, tháp trước giữa phù đồ

Tượng thờ chánh điện trầm hương tỏa

Hoa đẹp tổ đình phướn điểm tô

Vãng cảnh Thiền môn quì lạy Phật

Tai nghe văng vẳng tụng nam mô.

(Phan Thượng Hải)

1/12/20

 

CHÙA TRẤN QUỐC

Trung lập càn khôn vững đế đô

Mảnh danh trấn quốc ở Tây Hồ

Xuân thu thêm có mười phần lạ

Hoa cỏ đành hay một thức phô

Hây hẩy hương trời thơm nữa xạ

Làu làu đèn bụt rạng như tô

Kìa ai đủng đỉnh làm chi đấy

Một tiếng kinh khua một chữ mô.

(Lê Thánh Tông)

 

CHƠI CHÙA TRẤN QUỐC

Trấn Bắc hành cung cỏ dãi dầu

Khách đi qua đó chạnh niềm đau

Mấy tòa sen rót mùi hương ngự

Năm thức mây phong nếp áo chầu

Sóng lớp phế hưng coi đã rộn

Chuông hồi kim cổ lắng càng mau

Người xưa cảnh cũ nào đâu tá?

Khéo ngẩn ngơ thay lũ trọc đầu.

(Bà Huyện Thanh Quan)

 

*

ĐÈO HẢI VÂN

Trên biển dưới mây gọi Hải Vân

Chính là Đèo Cả của Trung phần

Biển xanh nước biếc khơi trùng sóng

Mây trắng trời trong thoát lụy trần

Không chống xâm lăng gìn đất nước

Ít làm hứng khởi giúp thi nhân

Đường hầm hiện đại đi bên dưới

Đèo Cả xuyên qua thiếu hải vân.

(Phan Thượng Hải)

1/17/20

 

VỊNH ĐÈO CẢ (HẢI VÂN)

Dặm liễu nghìn mai cảnh quạnh hiu

Chia đôi Thuận Quảng một hòn đèo 

Lá dòm mặt nước cây mong lội

Biển bọc chân non sóng muốn trèo

Trái đất nằm ngang đường ngốc ngách