hmpg.jpg
TL_blinkingsquareblock.gif
Titlej (1).jpg

BIÊN KHẢO - THƠ - VĂN

Phan Thượng Hải

California_________________________

BBT: BS Phan Thượng Hải (CHS PTG 61-64) cùng với người em là LS Winston Phan Đào Nguyên là con của 1 công chức cao cấp của tòa án Cần Thơ, cũng là nhà thơ nổi tiếng của đất Cần Thơ thập niên 40, 50: Thi Sĩ LÃNG BA Phan Văn Bộ

_____________________________________________________________________________

THƠ VÀ SỬ VIỆT - CHI LĂNG 

                   Bs Phan Thượng Hải biên soạn 


Người Việt ngày nay thường biết ải Chi Lăng nhờ trận Chi Lăng (năm 1427).  Thật ra Sử Việt và Thơ Văn cổ điển đã có viết rất nhiều chi tiết về ải Chi Lăng và trận Chi Lăng.

 

SỬ VIỆT

 

* Trận Chi Lăng (1427) 

 

Trận Chi Lăng là trận cuối cùng và quan trọng nhất đã giúp cho Bình Định Vương Lê Lợi hoàn toàn đánh đuổi được quân Trung Quốc của nhà Minh ra khỏi đất nước sau 10 năm chiến đấu.

Bình Định Vương Lê Lợi (1385-1433) khởi nghĩa tự làng Lam Sơn (thuộc huyện Thường Xuân, Thanh Hóa ngày nay), phải 10 năm mới đánh đuổi quân Minh thâu lại nền độc lập cho nước Đại Việt (1418-1427).  Ông Nguyễn Trãi có viết “Bình Ngô đại cáo” tả lại lịch sử của 10 năm nầy.

 

BÌNH NGÔ

Dành lại giang sơn Đại Việt ta

Với bao xương máu lắm tài ba

Lê Lai vị chúa tròn trung nghĩa

Lê Lợi thành công cứu nước nhà

Tụy Động thừa cơ khai chiến thắng

Chi Lăng tổng kích khải hoàn ca

Mười năm đại nghiệp đầy gian khổ

Trang sử Bình Ngô đã trải qua. (*)

(Phan Thượng Hải)

4/5/15

 

(*) Chú thích: "Ngô" là từ ngữ của người Việt gọi người Trung Hoa, có từ Bắc Hà.  Nguồn gốc của nó chưa được biết rõ ràng.


 

Trận Chi Lăng thật sự diễn ra từ Nam Quan cho đến Xương Giang (gần thành phố Bắc Giang ngày nay) và kéo dài trong gần một tháng.

 

Cuối năm 1427, Nhà Minh sai Liễu Thăng, Lương Minh, Lý Khánh, Thôi Tụ và Hoàng Phúc đem 10 vạn quân từ Quảng Tây và Mộc Thạnh đem 5 vạn quân từ Vân Nam sang cứu.  

 

Sau 3 tháng bao vây (tháng 6 đến tháng 9,1427), các ông Trần Nguyên Hãn, Lê Sát và Nguyễn Lý dùng kế đào đường hầm thông vào trong thành làm nội ứng nên chiếm được thành Xương Giang, một căn cứ quân sự quan trọng (và cuối cùng) của quân Minh giữa biên giới Lạng Sơn và Đông Quan (cách TP Bắc Giang ngày nay 2 km và cách bờ sông Thương 3 km).  

 

Mười ngày sau (8-10-1427), quân Liễu Thăng vượt biên giới.  Bình Định Vương Lê Lợi sai: 

Các ông Phạm Văn Xảo, Trịnh Khả và Nguyễn Chích chận quân Mộc Thạnh ở ải Lê Hoa (gần biên giới ở Cao Bằng)

Ông Trần Lựu giữ ải Khã Ly (Nam Quan)

Các ông Lê Sát, Lưu Nhân Chú, Lê Văn Linh, Đinh Liệt, Lê Thụ, Nguyễn Lổng, Phạm Văn Liêu và Trịnh Khắc Phục và 1 vạn quân, 100 con ngựa và 5 con voi giữ Chi Lăng

Các ông Nguyễn Lý và Lê Văn An và 3 vạn quân đóng ở Cần Trạm để tiếp viện 

Ông Trần Nguyên Hãn giữ thành thành Xương Giang.

pth_tranChiLang.JPG

Chiến trận "Chi Lăng" xảy ra trong gần 1 tháng trời:

Ông Trần Lựu giả thua dụ Liễu Thăng từ Khã Ly, qua Khâu Ôn (tỉnh lỵ Lạng Sơn ngày nay) và Ải Lưu cho đến Chi Lăng.  Ngày 10-10 (20-9 âm lịch), phục binh của bọn ông Lê Sát và Lưu Nhân Chú giết Liễu Thăng ở gò núi Mã Yên (cao 40 m) của thung lũng Chi Lăng và đánh bại quân Minh ở Chi Lăng giết 1 vạn quân Minh.  Quân Minh tiếp tục tiến về hướng nam.  

Ngày 15-10, quân Lam Sơn của bọn ông Lê Sát và Lưu Nhân Chú cùng với quân tiếp viện của các ông Nguyễn Lý và Lê Văn An phục binh ở Cần Trạm (nay là thị trấn Kép, Lạng Sơn) giết Lương Minh.  Quân Minh lại đi về phía nam.  

Quân Lam Sơn (của bọn ông Lê Sát và bọn ông Nguyễn Lý) lại phục binh ở Phố Cát (nay là Xương Lân, huyện Lạng Giang, Bắc Giang) giết thêm 1 vạn quân Minh, Lý Khánh tự tử.  Thôi Tụ dẫn quân Minh lại chạy về phía nam thì bị thành Xương Giang của ông Trần Nguyên Hãn chận đường nên phải đóng quân ở đồng trống cách đó 3 km (nay là xã Tân Dĩnh, h. Lạng Giang, Bắc Giang).  Chỗ nầy thì phía nam có thành Xương Giang, phía tây và tây nam có sông Thương, phía đông nam có sông Lục Nam và phía bắc có quân Lam Sơn ở Phố Cát (của bọn ông Lê Sát và bọn ông Nguyễn Lý).  Thôi Tụ muốn trá hàng để có thì giờ vượt qua bến Bình Than của sông Lục Nam để chạy qua Chí Linh (nay là Chí Linh, Hải Dương).  

Tuy nhiên Bình Định Vương Lê Lợi sai các ông Phạm Vấn, Lê Khôi, Nguyễn Xí, Trương Lôi và 3000 quân thiết đội (quân tinh nhuệ là cận vệ của ông Lê Lợi) với 4 con voi cùng quân Lam Sơn ở Phố Cát mở cuộc tấn công cuối cùng giết 3 vạn quân Minh, bắt sống Thôi Tụ và Hoàng Phúc (ngày 3-11). 

 

Mộc Thạnh ở ải Lê Hoa nghe tin thua trận của cánh quân Liễu Thăng hết hồn rút chạy.  Các ông Phạm Văn Xảo, Trịnh Khả và Nguyễn Chích rượt theo giết 1 vạn quân Minh. 

 

Thế là Vương Thông ở Đông Quan phải đầu hàng.  Sau “Hội thề ở Đông Quan”, ông Lê Lợi tha cho hàng tướng (như Vương Thông và Hoàng Phúc) và hàng quân về Tàu.  

 

Ông Lê Lợi bình định quân Minh thu về lãnh thổ Đại Việt.  Vua Trần Cao bỏ trốn thì bị bắt và có thể là tự tử bằng thuốc độc hay bị ông Lê Lợi giết chết (theo Khâm Định Việt Sử Cương Mục).   Bình Định Vương Lê Lợi lên ngôi là vua Lê Thái Tổ (1428).  


 

* Ải Chi Lăng và Trận Chi Lăng

 

Ải Chi Lăng (thuộc Ôn Châu, Lạng Sơn) và sông Bạch Đằng là 2 cửa ngỏ ra vào Đại Việt của quân Tàu xâm lược.  (Ải = chỗ hiểm trở).  Riêng ải Chi Lăng còn là nơi chiến thắng của vua Lê Đại Hành (Lê Hoàn) nhà Tiền Lê (981).  Sau trận Bạch Đằng nhà Trần cũng có chiến thắng ở vùng núi Kỳ Cấp gần Chi Lăng (1288) là chiến dịch cuối cùng trong lần kháng Nguyên thứ ba.  

 

Đại Việt Sử Ký Toàn Thư viết về chiến công của Lê Đại Hành:

Năm 981, quân nhà Tống chia làm 3 đạo vào Đại Cồ Việt: Hầu Nhân Bảo đến Lạng Sơn, Trần Khâm Tộ vào cửa sông Hồng rồi theo sông Hồng đến bến Tây Kết (nay thuộc Khoái Châu, Hưng Yên) và Lưu Trừng dùng cửa Nam Triệu vào sông Bạch Đằng.  

Vua Lê Đại Hành đóng cọc ngăn sông cầm chân quân Tống của Lưu Trừng ở sông Bạch Đằng.  Kế đó vua theo sông Thương đến Chi Lăng (nam Lạng Sơn) dùng kế trá hàng bắt được Hầu Nhân Bảo đem chém đầu.  Trần Khâm Tộ nghe tin sợ hãi rút quân, vua Lê Đại Hành đem toàn quân tiến đánh, quân Tống của Trần Khâm Tộ thua to chết quá phân nửa, thây chết đầy 

đồng.

pth_3daoquan.JPG

Ải Chi Lăng còn có biệt danh là Quỷ Môn.

 

ẢI CHI LĂNG

Địa đầu phương bắc, ải Chi Lăng

Lịch sử lừng danh sánh Bạch Đằng

Nổi tiếng Quỷ Môn đầy hiểm yếu

Đuổi quân Trung Quốc hết hung hăng

Lê Hoàn phá Tống trừ Nhân Bảo (*)

Lê Lợi bình Ngô sát Liễu Thăng

Chiến tích muôn đời lưu hậu thế

Anh hùng nước Việt chống xâm lăng.

(Phan Thượng Hải)

12/31/14

 

(*) Chú thích: Hầu Nhân Bảo.


 

THƠ VĂN CỔ ĐIỂN

 

* Ải Chi Lăng và Trận Chi Lăng 

 

Đây là những lời thơ tả ải Chi Lăng của ông Phạm Sư Mạnh thời nhà Trần và ông Nguyễn Du thời nhà Nguyễn. 

 

CHI LĂNG ĐỘNG                                     ĐỘNG CHI LĂNG

Thiên lý tuần biên ẩn cổ bề                         Nổi trống tuần biên bước dặm ngàn,

Phiên thành man trại nhất ê kê                    Xem tày trùng nhỏ khóm Phiên, Man.

Giản nan giản bắc hồng kỳ chuyển             Quạt cờ đồng đội che đầu núi,

Quân hậu quân tiền thanh hủy đề                Gầm thét ba quân kéo một đoàn.

Lâu Lại cốc thâm ư tỉnh để                          Lâu Lại hang sâu dò khó tới,

Chi Lăng quan hiểm dữ thiên tề                  Chi Lăng cửa hiểm vượt khôn toan.

Lâu phong bạt mã cao hồi thủ                     Ngựa dong trước gió nghiêng đầu ngắm,

Cấm khuyết thiều nghiêu vân khí tê.           Cung khuyết mây đài lúc rợp tan.

(Phạm Sư Mạnh)                                          (Đinh Văn Chấp dịch)

 

QUỶ MÔN ĐẠO TRUNG                       ĐƯỜNG QUA ẢI QUỶ MÔN

Quỷ Môn thạch kính xuất vân côn           Quỷ Môn đường đá tỏa mây tuôn

Chính khách nan quy dục đoạn hồn         Lữ khách về Nam sợ mất hồn

Thụ thụ đông phong xuy tống mã            Gió thổi cây cây chùn ngựa tiễn

Sơn sơn lạc nguyệt dạ đề viên                 Trăng tàn núi núi vượn kêu dồn

Trung tuần lão thái phùng nhân lãn         Trung niên già thói lười nghênh khách

Nhất lộ hàn uy trượng tửu ôn                   Thấm lạnh trên đường rượu uống luôn

Sơn ổ hà gia tham đại thụy                       Xóm núi nhà ai tham ngủ quá

Nhật cao do tự yểm sài môn                     Then cài cửa đóng nắng cao vương.

(Nguyễn Du)                                              (Nguyễn Thạch Giang dịch)

 

Ông Phạm Sư Mạnh không hề nhắc đến chiến thắng của Lê Đại Hành xảy ra trước và chiến thắng ở vùng núi Kỳ Cấp gần như cùng thời với ông.

Ông Nguyễn Du đã ra làm quan với nhà Nguyễn cũng không nhắc đến chiến thắng của Bình Định vương Lê Lợi!

 

Ngô Thì Nhậm của nhà Tây Sơn cũng có bài thơ tả ải Chi Lăng và nhắc đến lịch sử.  Lời thơ chỉ nhắc đến Liễu Thăng và Mã Viện của Trung Quốc!

 

LẠNG SƠN ĐẠO TRUNG                               DỌC ĐƯỜNG LẠNG SƠN

Nhị Lạng giang sơn cảnh giới liên (*)               Núi sông xứ Lạng kế liền nhau
Bàng thông Kinh Quảng tiếp Cao Tuyên (*)     Tiếp với Kinh Tuyên nối Quảng Cao
Khê lưu bôn sử tranh quy hải                             Suối nước băng băng dồn biển cả
Lĩnh đạo thùy thê trực thướng thiên                   Núi non sừng sững vút trời cao
Thần kiếm thượng lưu Minh tướng thạch (*)     Hòn đá tướng Minh còn vết chém
Quỷ môn không tỏa Hán từ yên (*)                    Khói đền tướng Hán khóa chặt vào
Tự tòng nam bắc thông quan hậu                        Sau khi Nam Bắc thông quan ải
Chỉ điểm tinh biền đáo tự Yên. (*)                      Sứ giả Yên Kinh đến đón chào.

(Ngô Thì Nhậm)                                                  (Lâm Giang dịch)

 

(*) Chú thích:

Nhị Lạng = Lạng Sơn và Lạng Giang (Bắc Giang)

Kinh Quảng = Kinh Châu (Hồ Bắc và Hồ Nam ngày nay) và Quảng Châu (Quảng Đông và Quảng Tây ngày nay).

Cao Tuyên = Cao Bằng và Tuyên Quang

Minh tướng thạch: Tại đèo Mã Yên nơi quân Minh bị phục binh và Liễu Thăng bị giết, tương truyền linh hồn Liễu Thăng thành 1 hòn đá hình người không đầu, trên mình có hằn những vết gươm.

Từ = miếu thờ.  Từ yên = khói của miếu thờ.  Hán từ: chỉ miếu thờ tướng Hán là Mã Viện.  Mã Viện có đi qua đây trong chiến dịch đánh Hai Bà Trưng. 

Quỷ môn: thuộc Chi Lăng, Lạng Sơn.

Chỉ điểm tinh biền đáo tự Yên = Có người đưa xe sứ thần từ Yên kinh tới (Yên kinh là kính đô của nhà Minh và nhà Thanh, ngày nay là Tp Bắc Kinh).  Đó là thông lệ tiếp sứ thần của Trung Quốc!

pth_Minhtuongthach.JPG

(Hòn đá không đầu của Liễu Thăng - Minh tướng thạch)


 

* Trận Chi Lăng (1427) 

 

Ông Nguyễn Trãi, người cùng thời, có tả lại chiến thắng Chi Lăng trong Bình Ngô Đại Cáo. 

Bình Ngô Đại Cáo viết (bản dịch ra Việt ngữ của Ngô Tất Tố):

 

Thằng nhãi con Tuyên Đức động binh không ngừng
Đồ nhút nhát Thạnh, Thăng đem dầu chữa cháy
Đinh mùi tháng chín, Liễu Thăng đem binh từ Khâu Ôn kéo lại
Năm ấy tháng mười, Mộc Thạnh chia đường từ Vân Nam tiến sang.
Ta trước đã điều binh thủ hiểm, chặt mũi tiên phong
Sau lại sai tướng chẹn đường, tuyệt nguồn lương thực
Ngày mười tháng tám, trận Chi Lăng, Liễu Thăng thất thế
Ngày hai mươi, trận Mã Yên, Liễu Thăng cụt đầu
Ngày hăm lăm, bá tước Lương Minh đại bại tử vong
Ngày hăm tám, thượng thư Lý Khánh cùng kế tự vẫn.
Thuận đà ta đưa lưỡi dao tung phá
Bí nước giặc quay mũi giáo đánh nhau
Lại thêm quân bốn mặt vây thành
Hẹn đến giữa tháng mười diệt giặc
Sĩ tốt kén người hùng hổ
Bề tôi chọn kẻ vuốt nanh
Gươm mài đá, đá núi cũng mòn
Voi uống nước, nước sông phải cạn.
Đánh một trận, sạch không kình ngạc
Đánh hai trận tan tác chim muông.
Cơn gió to trút sạch lá khô,
Tổ kiến hổng sụt toang đê vỡ.
Đô đốc Thôi Tụ lê gối dâng tờ tạ tội,
Thượng thư Hoàng Phúc trói tay để tự xin hàng.
Lạng Giang, Lạng Sơn, thây chất đầy đường
Xương Giang, Bình Than, máu trôi đỏ nước
Ghê gớm thay! Sắc phong vân phải đổi,
Thảm đạm thay! Ánh nhật nguyệt phải mờ
Bị ta chặn ở Lê Hoa, quân Vân Nam nghi ngờ khiếp vía mà vỡ mật!
Nghe Thăng thua ở Cần Trạm, quân Mộc Thạnh xéo lên nhau chạy để thoát thân.
Suối Lãnh Câu, máu chảy trôi chày, nước sông nghẹn ngào tiếng khóc
Thành Đan Xá, thây chất thành núi, cỏ nội đầm đìa máu đen.
Cứu binh hai đạo tan tành, quay gót chẳng kịp,
Quân giặc các thành khốn đốn, cởi giáp ra hàng
Tướng giặc bị cầm tù, như hổ đói vẫy đuôi xin cứu mạng
Thần vũ chẳng giết hại, thể lòng trời ta mở đường hiếu sinh
Mã Kỳ, Phương Chính, cấp cho năm trăm chiếc thuyền, ra đến biển mà vẫn hồn bay phách lạc,
Vương Thông, Mã Anh, phát cho vài nghìn cỗ ngựa, về đến nước mà vẫn tim đập chân run.
Họ đã tham sống sợ chết mà hoà hiếu thực lòng
Ta lấy toàn quân là hơn, để nhân dân nghỉ sức.
Chẳng những mưu kế kì diệu
Cũng là chưa thấy xưa nay
Xã tắc từ đây vững bền
Giang sơn từ đây đổi mới
Càn khôn bĩ rồi lại thái
Nhật nguyệt hối rồi lại minh
Ngàn năm vết nhục nhã sạch làu
Muôn thuở nền thái bình vững chắc
Âu cũng nhờ trời đất tổ tông linh thiêng đã lặng thầm phù trợ;


Thật ra lịch sử sau nầy mới biết được là Lê Thái Tổ và nhà Lê (cũng như nhà Mạc) phải triều cống cho nhà Minh và nhà Thanh của Trung Quốc mỗi 3 năm một lần.  Trong lễ triều cống luôn có 2 tượng người bằng vàng (đại thân kim nhân) để đền bù cho việc giết 2 tướng của nhà Minh là Liễu Thăng và Lương Minh trong trận Chi Lăng.

Bí mật nầy được biết nhân việc đi sứ Trung Quốc của 2 ông Ngô Văn Sở và Phan Huy Ích (1788) và qua bài thơ của vua Càn Long.

 

Đây là chi tiết của cuộc đi sứ nầy cùng với 2 bài thơ Xướng Họa của vua 2 nước:

Với quân nghiệp lẫy lừng, vua Quan Trung Nguyễn Huệ đánh đuổi Tôn Sĩ Nghị và quân Thanh xâm lược (đầu năm 1788).  Vua Càn Long nhà Thanh nghị hòa và mời vua Quang Trung thăm Yên Kinh (Bắc Kinh bây giờ).  Theo chính sử, vua Quang Trung chọn cháu kêu bằng cậu rất giống mình tên là Phạm Công Trị trá làm quốc vương rồi sai ông Ngô Văn Sở và ông Phan Huy Ích đưa sang Trung Quốc.  Trong lễ triều cống có đem theo 2 con voi đực (!?).  Tại hành cung ở Nhiệt Hà, vua Càn Long và vua Quang Trung (giả) làm lễ ôm gối như là tình cha con, hội với các thân vương và trao đổi 2 bài thơ Xướng Họa.  

 

(Xướng)

Doanh phiên nhập cận trị thời tuần                

Sơ kiến hồn như cựu thức thân                      

Y cổ vị văn y tượng quốc (1)                              

Thắng triều vãng sự bỉ kim nhân (2)                  

Cửu kinh nhu viễn chi trùng dịch                   

Gia hội ư kim miễn thế nhân                          

Vũ yểm văn tu thiên thuận đạo                      

Đại Thanh tộ vĩnh vạn thiên xuân.                  

(Vua Càn Long)                                                    


 

(*) Chú thích: Theo Việt Nam Sử Lược, những câu thơ này nhắc lại lịch sử:

(1) 

Triều đình nhà Tống sai Quách Quì và Triệu Tiết đem quân sang chiếm nước Đại Việt nhưng bị ông Lý Thường Kiệt chận ở sông Như Nguyệt.  Một thời gian sau hai bên giảng hòa.  Khi rút về đến gần biên giới, quân Tống chiếm giữ châu Quảng Nguyên (nay thuộc Cao Bằng) vì (người) nơi đây có nhiều vàng.  Vua Lý Nhân Tông đem voi sang triều cống để đòi lại (giống như vua Quang Trung?).  Cuối cùng nhà Tống phải trả lại châu Quảng Nguyên.  Người Tàu có 2 câu thơ chê nhà Tống:

“Nhân tham Giao Chỉ tượng (Vì tham voi Giao Chỉ)

Khước thất Quảng Nguyên kim” (Chạy và mất vàng Quảng Nguyên)

(2) 

Sau khi đuổi quân Minh, vua Lê Thái Tổ (Lê Lợi) xin cầu phong với nước Tàu.  Nhà Minh bắt ông phải lập một hậu duệ của nhà Trần là Trần Cao lên làm vua.  Lê Thái Tổ bèn ám sát Trần Cao và nói là nhà Trần không còn ai nữa nên nhà Minh mới thuận cho.  Nhưng từ thời vua Lê Thái Tổ, nước Đại Việt có lệ 3 năm phải triều cống nhà Minh 1 lần.  Lần nào cũng phải đúc 2 người bằng vàng gọi là “đại thân kim nhân” để thế cho 2 tướng nhà Minh là Liễu Thăng và Lương Minh bị giết trong trận Chi Lăng.  

 

(Họa)

Thượng tái cung chiêm ngọc lộ tuần              

Khuynh quỳ nhất niệm hiệu tôn thân             

Ba trừng quế hải tuân hầu độ                           

Nhật noãn minh giai kiến thánh nhân              

Vạn lý thê hành quy hữu cực (*)                          

Cửu trùng vũ lộ mộc đồng nhân                     

Căn hành cảnh ngưỡng vô cương thọ (*)            

Phổ suất tư đào Đế thế xuân.                            

(Vua Quang Trung)                                               

 

(*) Chú thích:

Cực = Ngôi vua

Căn hành = Gốc ngũ hành (Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ) là căn bản của trời đất.

 

Phỏng dịch:

 

(Xướng)                                                          (Xướng)

Doanh phiên nhập cận trị thời tuần                Sắp đi tuần thú, gặp phiên thần

Sơ kiến hồn như cựu thức thân                       Mới thấy, tưởng chừng đã rất thân

Y cổ vị văn y tượng quốc                               Chuyện cũ từng nghe nơi tượng quốc 

Thắng triều vãng sự bỉ kim nhân                    Triều xưa có ghét việc kim nhân 

Cửu kinh nhu viễn chi trùng dịch                   Tránh xa chiến dịch, theo kinh sách

Gia hội ư kim miễn thế nhân                          Nay hội hoàng gia, đỡ thế dân

Vũ yểm văn tu thiên thuận đạo                       Võ yểm, văn tu, trời dẫn đạo

Đại Thanh tộ vĩnh vạn thiên xuân.                 Đại Thanh phước lộc mãi muôn xuân. 

(Vua Càn Long)                                              (Phan Thượng Hải dịch)

 

(Họa)                                                               (Họa) 

Thượng tái cung chiêm ngọc lộ tuần              Đưa chúa tuần du tỏ ý thần

Khuynh quỳ nhất niệm hiệu tôn thân             Một lòng bội phục kính người thân

Ba trừng quế hải tuân hầu độ                          Sóng xô, tuân độ từ Nam Hải 

Nhật noãn minh giai kiến thánh nhân             Nắng rọi, dưới thềm đến thánh nhân 

Vạn lý thê hành quy hữu cực                          Muôn dặm chung quy về Bệ Hạ

Cửu trùng vũ lộ mộc đồng nhân                     Chín tầng mưa móc khắp toàn dân

Căn hành cảnh ngưỡng vô cương thọ             Ngưỡng trông sống mãi như trời đất

Phổ suất tư đào đế thế xuân.                           Hoàng đế trị vì thế giới xuân. 

(Vua Quang Trung)                                         (Phan Thượng Hải dịch)



 

Ải Chi Lăng ngày nay

pth_aiChiLangnow.JPG

Bs PHAN THƯỢNG HẢI biên soạn và giữ bản quyền

 

Tài liệu tham khảo:

1) Thơ và Sử Việt - Thời Lập Quốc (Bs Phan Thượng Hải) - phanthuonghai.com

2) Thơ và Sử Việt - Nhà Lê (Bs Phan Thượng Hải) - phanthuonghai.com

3) Thơ và Sử Việt - Nguyễn Trãi (Bs Phan Thượng Hải) - phanthuonghai.com

4) Thơ và Sử Việt - Nhà Nguyễn (Bs Phan Thượng Hải) - phanthuonghai.com

5) Hình ảnh từ Google.


Bs PHAN THƯỢNG HẢI biên soạn và giữ bản quyền

T

  THƠ VÀ SỬ VIỆT - HUYỀN TRÂN CÔNG CHÚA VÀ CHIÊM THÀNH 

 

                                       Bs Phan Thượng Hải biên soạn

 

Câu chuyện của Huyền Trân Công chúa và Trần Khắc Chung trong Thơ và Sử đã tạo nên sự chú ý của hậu thế về lịch sử giữa Đại Việt và Chiêm Thành.

 

HUYỀN TRÂN CÔNG CHÚA 

 

*

Đời Trần Thái Tông, Vua đánh Chiêm Thành (1252) bắt vương phi của vua Chiêm Thành (Jaya Paramesvaravarman II) là Bồ Gia La.  Sau đó 2 nước đều bị quân Mông Cổ tấn công nên không giao tiếp với nhau.

Năm 1306, theo lời hứa với vua Chiêm Thành trong khi du hành ở đây 5 năm trước, Thượng Hoàng Nhân Tông gả con gái là Huyền Trân công chúa (1287-1340) cho vua Chiêm Thành là Chế Mân (Jaya Sinvaharman III) để đổi lấy 2 châu Ô và Rý (còn đọc là Lý) của Chiêm Thành (nay là vùng nam Quảng Trị và Thừa Thiên).  Lúc đó vua Chế Mân đã có một bà Hoàng hậu chánh là người Java (Nam Dương). Quần thần đồng ý kể cả ông Trần Khắc Chung.  


 

* "Chiêu Quân Giá Hồ"

 

Một số ít văn thần trong triều mượn chuyện vua Hán đem Chiêu Quân (tên là Vương Tường) gả cho vua Hung Nô mà làm thơ quốc âm bằng chữ Hán Nôm để can gián việc nầy.  Toàn bộ có 48 bài thơ Đường Luật Thất Ngôn Bát Cú, tựa là “Chiêu Quân giá Hồ”, một số còn truyền tụng đến nay.  Đây là những bài thơ Hán Nôm thể Đường Luật Thất Ngôn Bát Cú xưa nhất của lịch sử thi văn Việt Nam còn tồn tại, nếu bài thơ “Bán Than” không phải là của ông Trần Khánh Dư.  Những văn thần nầy có thể là những ông Đoàn Nhữ Hài, Trương Hán Siêu, Trần Thì Kiến, Nguyễn Sĩ Cố… đều nổi danh trong văn học sử.

 

Bài 1 có thể là bài thơ Đường Luật Thất Ngôn Bát Cú đầu tiên bằng chữ Hán Nôm:

 

VUA HÁN NGUYÊN ĐẾ TỨC VỊ (Bài 1)

Viêm Lưu trời mở vận trùng quang

Ngôi báu xưa rày vỗ bốn phang (phương)

Rút vỏ gươm A thiêng thế nước (*)

Thêm chân non Thái vững âu vàng (*)

Trong triều giũ áo nền nhân thấm

Ngoài cõi nghiêng tai tiếng đức vàng

Hạng hải thê sơn đều ngóng phục

Lăng loàn hiềm một chút Hồ Khang (Khương). (*)

(Trần triều văn thần)

 

(*) Chú thích:

Gươm Thái A, một kiếm quý thời Xuân Thu

(Cái) âu (bằng) vàng (=Kim âu).  Nghĩa bóng là (Thiên hạ) vững như cái âu bằng vàng.

Hồ Khương: người Hồ và người Khương ở phương Bắc.  Chiêu Quân sẽ xuất giá về đó.

 

Bài 12 và bài 20 tỏ ý muốn can vua đừng gả Công chúa Huyền Trân cho vua Chiêm Thành:

 

CHÚA THUYỀN VU XIN HÒA THÂN (Bài 12)

Hán Hồ từ thuở định thông gia

Chỉ núi thề non nghĩa giảng hòa

Tần Tấn duyên xưa thu lại tốt (*)

Bắc Nam ước cũ xếp can qua

Họ Trần đặt rối mưu con trẻ (*)

Ả Lữ trao thơ chối tủi già (*)

Thiên Tử không nghe thông ước cũ (?)

Một trời âu hẵn một thu xa.

(Trần Triều văn thần)

 

(*) Chú thích:

Lại=quan (lại).  Tốt=(binh) lính.  Thời Xuân Thu nước Tần và nước Tấn kết thông gia (Tần Mục Công lấy Mục Cơ, con Tấn Hiến Công) mà lợi cho 2 nước.

Trần Bình đời Hán Cao Tổ mưu dối Ý Chi (vợ của Thuyền Vu là vua của nước Hồ).

Lữ Hậu, vợ Hán Cao Tổ, bị chúa Thuyền Vu đưa thơ làm nhục (bằng cách đòi lấy bà góa phụ nầy).

 

VUA MUỐN GIỮ VƯƠNG TƯỜNG (Bài 20)

Chi để hương trời lộn cỏ rêu

Vậy ban chiếu chỉ phán hòa triều

Thư Hồ giấy mỏng lời xuôi ngược

Trướng ngọc non dầy nghĩa dấu yêu

Vã trước Bạch Đăng thù chửa trả (*)

Mà nay hồng phấn của đâu liều

Chẳng bằng sắc nước làm yên nước

Kén tướng binh nhung mở cõi Nghiêu. (*)

(Trần triều văn thần)

   

(*) Chú thích: 

Hán Cao Tổ bị người Hung Nô (=rợ Hồ) vây ở Bạch Đăng.

Cõi Nghiêu: nước của vua Nghiêu, thời thạnh trị trong lịch sử Trung Quốc.

 

*

Huyền Trân công chúa sang Chiêm Thành là Hoàng Hậu Paramecvari, sinh một hoàng tử.  

11 tháng sau vua Chế Mân chết (1307).  Vua Trần Anh Tông sai Trần Khắc Chung rước Huyền Trân công chúa đi đường biển trở về.  Hai người đi gần 1 năm trời mới về tới Thăng Long.  Theo Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, Trần Khắc Chung tư thông với công chúa Huyền Trân trong cuộc hành trình nầy.  

Sau đó theo lệnh của Thượng Hoàng Nhân Tông, công chúa Huyền Trân đi tu ở chùa Trâu Sơn (Bắc Ninh) cho đến khi qua đời 23 năm sau (1340).  

 

Sử gia hậu thế cũng có lời bàn:

 

CÔNG CHÚA HUYỀN TRÂN (Nguyên bản) 

Đổi chác xưa nay khéo nực cười

Vốn đà chẳng mất lại thêm lời

Hai châu Ô Lý vuông nghìn dặm

Một gái thuyền quyên đáng mấy mươi

Lòng đỏ khen ai lo việc nước

Môi son phải giống mãi trên đời

Châu đi rồi lại châu về đó

Ngơ ngẫn nhìn nhau một lũ Hời!

(Hoàng Cao Khải)

 

CÔNG CHÚA HUYỀN TRÂN (Họa) 

Nhà Trần tôi chúa đáng chê cười

Lợi dụng Huyền Trân để có lời

Hôn ước vua Chiêm thêm một vợ

Tư thông gái góa mới hai mươi (*)

Hồng nhan mệnh bạc vì non nước

Hiếu nữ tình chung trọn nghiệp đời

Ô Lý đổi trao về Đại Việt

Thương nàng công chúa, tội dân Hời! (*)

(Phan Thượng Hải)

 

(*) Chú thích:

Lúc đó (năm 1307) Huyền Trân Công chúa được 20 tuổi.  Ông Trần Khắc Chung chắc chắn là hơn 40 tuổi và có vợ con rồi vì lúc năm 1285 ông có đi sứ đối khẩu với Ô Mã Nhi thì phải hơn 20 tuổi rồi.

Người dân Hời = người dân Chiêm Thành.  (Xưa gọi là người Chàm, bây giờ là người Chăm).


 

* Trần Khắc Chung

 

Ông Trần Khắc Chung (?-1330) tên thật là Đỗ Khắc Chung, nhờ có công đi sứ chống lại Tướng Ô Mã Nhi của giặc Nguyên nên được vua Trần cho đổi thành họ Trần.  Ông Trần Khắc Chung làm quan đầu trong triều đình đời vua Anh Tông và Minh Tông.  

 

Hoàng tộc nhà Trần biết chuyện (tư thông) giữa ông và công chúa Huyền Trân đều ghét ông Trần Khắc Chung.  Hưng Nhượng Vương (con Hưng Đạo Vương) có mắng ông Trần Khắc Chung tại triều đình.  

 

Sau đó có người vu cáo Huệ Vũ Vương Trần Quốc Chẩn (em vua Trần Anh Tông), Trần Khắc Chung xúi vua Trần Minh Tông bỏ đói ông nầy cho đến chết (mặc dù Trần Quốc Chẩn là chú của Minh Tông và là cha của Hoàng hậu) và còn để cho hàng trăm người nhà ông nầy chết oan theo.  Về sau việc vỡ lỡ nhưng ông Trần Khắc Chung không bị tội.  Khi ông Trần Khắc Chung chết, con của ông Trần Quốc Chẩn cho người đào xác lên mà “bằm nhỏ”. (Theo Đại Việt Sử Ký Toàn Thư).


 

ĐẠI VIỆT VÀ CHIÊM THÀNH

 

* Đại Việt và Chiêm Thành sau khi Huyền Trân Công Chúa về Đại Việt 

 

Năm 1311, vua Chiêm Thành là Chế Chí (Jaya Sinhavarman IV), con Chế Mân, muốn lấy lại 2 châu Ô Lý.  Vua Trần Anh Tông đem ông Phạm Ngũ Lão cùng Huệ Võ Vương Trần Quốc Chân (Chẩn) và Nhân Huệ Vương Trần Khánh Dư phân làm 3 đạo quân đánh Chiêm Thành (1312) bắt Chế Chí về Đại Việt và phong em là Chế Đà A Bà còn gọi là Chế Năng (1312-1318) làm vua Chiêm Thành.  Chế Chí chết ở Đại Việt.

Sau cuộc viễn chinh, vua Trần Anh Tông có làm bài thơ:

 

CHINH CHIÊM THÀNH HOÀN CHU BẠC PHÚC THÀNH CẢNG

(Đánh Chiêm Thành về đậu thuyền ở cửa biển Phúc Thành)

 

Cẩm lãm quy lai hệ lão dung                    Thuyền gấm đường về buộc gốc đa

Hiểu sương hoa trọng thấp vân bồng        Sương mai nặng hạt ướt mui là

Sơn gia vũ cước thanh tùng nguyệt           Đầu thông xóm núi trăng vừa ló

Ngư quốc triều đầu hồng liệu phong         Răm đỏ làng chài gió đã qua

Vạn đội tinh kỳ quang hải tạng                 Muôn đội cờ bay vùng biển rạng

Ngũ canh tiêu cổ lạc thiên cung                Năm canh kèn trống điện trời sa

Thuyền song nhất chẩm giang hồ noãn     Bên song chợt ấm lòng sông biển

Bất phục du chàng nhập mộng trung.       Màn trướng thôi vương giấc mộng hoa.

 

(Trần Anh Tông)                                       (Phạm Tú Châu dịch)


 

Vua Chế Năng cũng muốn chiếm lại Ô Lý nên Trần Minh Tông cùng Huệ Võ Vương Trần Quốc Chẩn và ông Phạm Ngũ Lão sang đánh (1318), Chế Năng thua trận chạy trốn sang Java (Nam Dương).  

Nhà Trần lập một người Chàm từng sống ở Đại Việt là Chế Ba A Niêm hay Chế Anan làm vua (1318-1342).  Nước Chiêm Thành trở thành một “chư hầu” (vassal) của Đại Việt.  Khi Chế Anan chết, người em rể là Trà Hoa Bồ Đề được người Chàm ủng hộ đuổi con của Chế Anan là Chế Mô về Đại Việt.  Nước Chiêm Thành lại độc lập khỏi Đại Việt.  Sau nầy (1353) vua Trần Dụ Tông cho quân đưa Chế Mô về nước Chiêm Thành (làm vua) nhưng bị vua Trà Hoa Bồ Đề (1342-1360) đánh bại.  

 

Vua Trà Hoa Bồ Đề chết, người em lên nối ngôi là vua Chế Bồng Nga (1360-1390). 

Vua Chế Bồng Nga (Po Binasuor) là vị vua thứ 39 của lịch sử Chiêm Thành và là vị vua hùng mạnh nhứt.  Chữ “Chế” không phải là “họ” (family name).  Nó là âm tiếng Hán từ chữ “Cei” của Chiêm Thành có nghĩa là “Uncle" thường dùng để gọi những vị Tướng Quân (Generals).


 

* Chế Bồng Nga

 

- Thời Trần Nghệ Tông

 

Vì mẹ của Dương Nhật Lễ sang cầu cứu Chiêm Thành, vua Chế Bồng Nga đem quân tấn công, theo cửa Đại An vào sông Đáy cướp phá Thăng Long làm vua Trần Nghệ Tông phải bỏ chạy khỏi kinh đô (1371).  

 

- Thời Trần Duệ Tông

 

Sau 2 năm làm vua, vua Trần Nghệ Tông (52 tuổi) giữ thông lệ cũ lên làm Thái Thượng Hoàng truyền ngôi cho em là Cung Tuyên Vương Kính tức là Trần Duệ Tông (năm 1373).  Tháng giêng năm 1377, vua Trần Duệ Tông (1337-1377) đi đánh Chiêm Thành để báo thù.  Vua bị Chế Bồng Nga phục binh bắn chết ngay trong thành Đồ Bàn.  Lê Quý Ly giữ hậu quân ở cửa Thị Nại bỏ chạy không tiếp viện.

 

- Thời Trần Phế Đế

 

Thượng Hoàng Nghệ Tông lập con thứ của Duệ Tông là Hoàng tử Trần Hiện (1361-1388), cháu kêu mình bằng bác, đang 16 tuổi, có mẹ là Gia Từ hoàng hậu (em của Lê Quý Ly).  Đó là vua Trần Phế Đế.  

Vua Chế Bồng Nga của Chiêm Thành lại tấn công và cướp phá Thăng Long vào tháng 11 năm 1377 (theo cửa Thần Phù vào sông Chính Đại ở Yên Mô, Ninh Bình) và vào năm 1378 (theo sông Đại Hoàng tức là sông Châu Giang ngày nay nên chắc phải vào cửa Đại An của sông Đáy rồi theo sông Châu Giang qua sông Hồng?).  

Lê Quý Ly và quân nhà Trần chận đứng được quân Chiêm vào năm 1380 (ở Thanh Hóa) và Nguyễn Đa Phương thắng quân Chiêm vào năm 1382 (ở cửa Thần Phù).  

Năm 1383, Chế Bồng Nga cùng tướng là La Khải, theo sơn lộ (? từ Thanh Hóa) đến Quốc Oai (nay là Quốc Oai, Hà Tây) vào cướp phá Thăng Long lần thứ 4, Nghệ Tông lại chạy qua bên kia sông Hồng lánh nạn.  

Quân Mông Cổ chỉ chiếm Thăng Long có 2 lần nhưng quân Chiêm Thành đánh hạ Thăng Long 4 lần (1371, 1377, 1378 và 1383), cướp phá và rút về.  

 

- Thời Trần Thuận Tông

 

Thượng Hoàng Nghệ Tông phế Trần Phế Đế và ép thắt cổ chết rồi lập con nhỏ của mình là Ngung (1377-1399) làm vua là Trần Thuận Tông (năm 1388).  

Đầu năm 1389, Chế Bồng Nga lại tấn công Đại Việt đánh bại Lê Quý Ly ở Thanh Hóa nhưng nhờ ông Nguyễn Đa Phương thủ bờ bắc sông Ngu Giang làm kế nghi binh cấm nhiều cờ xí ở dinh trại nên quân Chiêm không dám tấn công và rút về.  Lê Quý Ly ghen tị giết ông Nguyễn Đa Phương.  Ở địa phận Thanh Hóa có hạ lưu sông Mã.  Khi xưa khi sông Mã chảy gần tới biển là khúc sông Tào Xuyên (gọi là Ngu Giang) ra cửa Lạch Trường nhưng sông và cửa nầy bị hẹp thời nhà Nguyễn nên sông Mã mở rộng theo 1 nhánh nhỏ chảy ra cửa Lạch Hới gần núi Hàm Rồng ngày nay.  Do đó những lần vào Thanh Hóa chắc Chế Bồng Nga dùng cửa Lạch Trường của sông Mã.

Tháng 11 năm 1389, vua Chế Bồng Nga lại vào sông Hồng (cửa Ba Lạt?) đến Hoàng Giang (? khúc sông Hồng ở Nam Xương, Hà Nam), đóng quân và cướp phá ở vùng Thái Bình và Hưng Yên.  Lê Quý Ly cứ bị đánh thua nên Thượng Hoàng Nghệ Tông dùng ông Trần Khát Chân (dòng dõi ông Trần Bình Trọng) cầm quân chống giặc.  Đầu năm 1390, ông Trần Khát Chân đóng quân ở sông Hải Triều (khúc sông Luộc ở giữa Tiên Lữ, Hưng Yên và Hưng Nhân, Thái Bình).  Nhờ một hàng tướng Chiêm Thành (tên là Ba Lậu Kê) cho biết dấu hiệu riêng của thuyền Chế Bồng Nga (có sơn màu xanh), ông Trần Khát Chân nhân lúc Chế Bồng Nga đi thị sát mặt trận ở sông Hải Triều cho quân tập trung hỏa khí bắn vào chiếc thuyền nầy và may mắn giết chết Chế Bồng Nga.  Tướng La Khải và quân Chiêm phải rút về nước, con cháu Chế Bồng Nga đầu hàng và về ở Đại Việt.  Tướng La Khải lên làm vua và từ đó nước Chiêm Thành suy yếu không còn cạnh tranh nổi với Đại Việt.

 

Hậu thế có bài thơ:

 

CHẾ BỒNG NGA

Sơn hà nguy biến tự Chiêm Thành

Bởi Chế Bồng Nga khởi chiến tranh

Đại Việt ra vào không quản ngại

Thăng Long cướp phá mặc tung hoành

Vua Trần thất thế, điều nhân quả?

Sông Luộc đưa đường, chuyện tử sanh 

Hỏa khí Khát Chân tàn thảm họa

Nên khi nước loạn biết hùng anh.

(Phan Thượng Hải)

4/18/15

 

- Thời vua Hồ Quý Ly

 

Năm 1402, nhà Hồ sai tướng Đỗ Mãn sang đánh Chiêm Thành.  Vua Chiêm Thành là Ba Đích Lại sai cậu là Bồ Điền sang dâng đất Chiêm Động hay Ba Động (tỉnh Quảng Nam ngày nay) để xin bãi binh.  Vua Hồ Quý Ly bắt Chiêm Thành phải nhường thêm đất Cổ Lũy hay Cổ Lụy (tỉnh Quảng Ngãi ngày nay) mới chịu rút quân về.  Người Chiêm bỏ 2 vùng đất nầy di cư về Chiêm Thành.  Vua Hồ Quý Ly cho những người dân Đại Ngu có tiền của mà không có đất vào ở và bắt đầu sở hữa đất đai ở đây.


 

* Lịch sử Đại Việt chiếm Chiêm Thành

 

Chuyện công chúa Huyền Trân đổi lấy 2 châu của Chiêm Thành là một trong những quá trình nước Đại Việt chiếm nước Chiêm Thành (trong hơn 600 năm).

 

Đây là quá  trình lịch sử:

Lúc đầu Hoành Sơn (Đèo Ngang) là biên giới giữa nước Đại Cồ Việt (rồi Đại Việt) và nước Chiêm Thành.

Năm 1069, vua Lý Thánh Tông đánh Chiêm Thành bắt vua Chế Củ về Thăng Long.  Vua Chế Củ dâng 3 châu Địa Lý, Ma Linh và Bố Chính (gồm Quảng Bình và phần bắc Quảng Trị) để chuộc mình.

Năm 1306, Thượng hoàng Trần Nhân Tông gả công chúa Huyền Trân cho vua Chế Mân đổi lấy 2 châu Ô và Lý (phần nam Quảng Trị và Thừa Thiên).  Biên giới là đèo Cả (Hải Vân).

Năm 1402, Chiêm Thành cầu hòa, dâng cho vua Hồ Quý Ly đất Ba Động (Quảng Nam) và đất Cổ Lũy (Quảng Ngãi).

Năm 1470, vua Lê Thánh Tông chiếm kinh đô Đồ Bàn và vùng chung quanh (nay là Qui Nhơn).  Biên giới là đèo Cù Mông.

Năm 1611, chúa Nguyễn Hoàng chiếm Phú Yên (Tuy Hòa)

Năm 1653, chúa Nguyễn Phúc Tần chiếm Nha Trang (Khánh Hòa)

Năm 1693, chúa Nguyễn Phúc Chu sai Chưởng Cơ Nguyễn Hữu Cảnh chiếm Phan Rang và Phan Rí (Phan Thiết).  Nước Chiêm Thành bị tiêu diệt.

 

 


 















 

 

* Vùng Tây Nguyên

 

Năm 1470, vua Lê Thánh Tôn cùng các tướng Đinh Liệt, Lê Niệm (cháu nội Lê Lai) và 26 vạn quân Đại Việt hạ kinh đô Đồ Bàn của nước Chiêm Thành, “cắt 4 vạn thủ cấp”, bắt vua Bà La Trà Toàn, gọi tắt là Trà Toàn (1460-1471), và hơn 3 vạn (30,000) tù nhân.  Tướng Bồ Trì Trì rút về nam đèo Cù Mông (giữa Qui Nhơn và Phú Yên) và lên làm vua.  Nước Đại Việt thêm đất Qui Nhơn bành trướng tới đèo Cù Mông.

 

Vua Lê Thánh Tông chia nước Chiêm Thành còn lại ra làm 3 nước:  

Bồ Trì (hay Bồ Trì Trì) là vua nước Chiêm Thành gồm Nha Trang, Phan Rang và Phan Thiết.

Hoa Anh Vương cai trị nước Nam Hoa ở Phú Yên 

Nam Bàn Vương cai trị nước Nam Bàn gồm vùng đất phía tây núi Thạch Bì (núi Đại Lĩnh có đèo Hải Vân) tức là vùng Tây Nguyên (Cao Nguyên Trung Phần) ngày nay. 

 

Vùng Tây Nguyên nầy gồm vùng Pleiku, Komtum, Ban Mê Thuột và Lâm Đồng (Đà Lạt-Bảo Lộc).  

Vùng nầy chính thức nhập vô bản đồ nước ta vào thời vua Minh Mạng, chỉ có người Thượng sinh sống và hình như không có cơ quan hành chánh trong thời chúa Nguyễn (dù đã chiếm Phú Yên và Chiêm Thành), nhà Tây Sơn và nhà Nguyễn.  

Năm 1891, Bác sĩ Yersin thám hiểm công viên Lâm Đồng và báo cáo nên người Pháp mới để ý đến vùng nầy.  Từ năm 1896 đến 1899, chính phủ Pháp áp lực triều đình nhà Nguyễn để họ tự cai trị vùng Tây Nguyên (như thuộc địa) và cho người Pháp lên mở đồn điền.  Người Pháp lập tỉnh Komtum (1907), tỉnh Pleiku (1917), thị xã Đà Lạt là nơi nghĩ mát (1917), tỉnh Lâm Đồng (1920) và tỉnh Darlac ở Ban Mê Thuột (1923).

Năm 1946, sau khi trở lại Đông Dương, Cao ủy D’Argenlieu thành lập “Xứ Thượng Nam Đông Dương” (Pays montagnards du Sud Indochinois) do người Thượng tự trị (như Nam Kỳ Quốc).  

Năm 1950, Xứ Thượng Đông Dương sát nhập vào Quốc Gia Việt Nam của Quốc trưởng Bảo Đại (gọi là Hoàng Triều Cương Thổ) cho đến năm 1955 thì thuộc nước Việt Nam Cộng Hòa của chính phủ Ngô Đình Diệm. 


 

Bs PHAN THƯỢNG HẢI biên soạn và giữ bản quyền

 

Bài viết này đăng lần đầu trong phanthuonghai.com mục Thơ và Sử Việt phần Nhà Trần.

 

Tài liệu tham khảo

1) Thơ và Sử Việt - Nhà Trần (Bs Phan Thượng Hải) - phanthuonghai.com

2) Thơ và Sử Việt - Nhà Lê (Bs Phan Thượng Hải) - phanthuonghai.com  


 

Bs PHAN THƯỢNG HẢI biên soạn và giữ bản quyền

HƠ VÀ SỬ VIỆT - HUYỀN TRÂN CÔNG CHÚA VÀ CHIÊM THÀNH
Bs Phan Thượng Hải biên soạn

PTH_Tientrinhnamtien.JPG

 HOA NGHIÊM TÔNG

 

                                         Bs Phan Thượng Hải biên soạn


 

Hoa Nghiêm Tông chủ yếu dựa trên giáo lý của Hoa Nghiêm Kinh.  Sư Pháp Tạng (643-712) tổ chức hoàn thành giáo lý của Hoa Nghiêm Tông.


 

* Toàn Thể và Pháp Giới

 

Kinh Hoa Nghiêm (vào thế kỷ thứ 1 tr CN) mô tả Phật Quả của Toàn Thể (Universal Buddhahood) chứ không của Cá Thể (Individual Buddhahood) như những Tông Phái trước:

Tất cả chúng sanh đều bị thấm vào bởi trí tuệ của Phật (Buddhajnàna).  Đó như là bào thai (=Tạng) của Phật (=Như Lai Tạng).  Đó là sự kết hợp của (Phật) tuyệt đối và (Chúng Sanh) tương đối.

"Tất cả trong Một, Một trong Tất cả" (All in One, One in All).  Tất cả hòa tan vào trong một Toàn Thể (a single whole).  Không có sự phân chia trong Toàn Thể của Sự Thực.  Toàn thể vũ trụ (cosmos) như là Sự Thực toàn thể của Phật (universal reality of Buddha).  Sự kết hợp trong Toàn thể cho phép sự hiện hữu thực sự của mọi Cá thể của thế giới hiện tượng là duy nhứt không có bản tánh thừa hưởng và tùy thuộc vào cái gì hết .

 

Hoa Nghiêm Tông là Duy Thức Phái áp dụng cho Toàn Thể thay vì cho Cá Thể.

Giáo lý Duy Thức áp dụng cho Cá Thể với một Thực Thể tuyệt đối trong Tâm của Cá Thể là Chân Như với những đồng nghĩa là: Như Lai Tạng, Pháp Thân và Phật Tánh.  Vạn Pháp và Vạn Hữu (bên ngoài Cá Thể) sinh khởi và nhận thức từ Tâm Thức của Cá Thể.

Tuy nhiên Cá Thể là một trong Vạn Hữu và Vạn Pháp.  Vạn Hữu là Toàn thể tất cả Cá Thể.  Do đó Giáo lý Hoa Nghiêm Tông áp dụng cho Toàn Thể và dùng Pháp Thân (hay Như Lai Tạng) là một Thực Thể tuyệt đối chung khắp mọi Cá Thể trong Toàn Thể.  

Hoa Nghiêm dùng từ ngữ "Giới" cho "Toàn Thể":

Thế Giới là Toàn Thể Sanh mạng (= Chúng sanh), nhất là Nhân mạng, không kiến ngộ Pháp Thân.  Pháp Giới là Toàn Thể Sanh mạng (= Chúng sanh), nhất là Nhân mạng, kiến ngộ Pháp Thân (Chân Như): "Thế Giới Pháp Thân" nầy gọi tắt là Pháp Giới.

 

Theo Duy Thức Phái thì Bậc Giác Ngộ là Cá Thể kiến ngộ Chân Như hay Phật Tánh hay Pháp Thân hay Như Lai Tạng.  Như vậy Pháp Giới là Toàn Thể đều Giác Ngộ: Chúng Sanh trên Thế Giới nầy đều Giác Ngộ.  Pháp Giới là Thế Giới Giác Ngộ của Phật Giáo có Pháp Thân chung khắp, mỗi và mọi Sanh mạng giác ngộ của Thế giới.  

Hoa Nghiêm Tông cũng là "duy Thức" do đó Pháp Giới của Hoa Nghiêm là thế giới của Tâm Thức (Tinh thần) chứ không phải của "Thân Thể" (Vật chất).

Kinh Hoa Nghiêm ví Pháp Giới như là lâu đài của Đại Nhật Như Lai.  Đại Nhật Như Lai là Pháp 

Thân Phật.

 

 

 

 

 


 

 

 

 

 

Cá Thể = Individual, Individuality

Toàn Thể = Totality

Thế Giới = Realm, World, Universe

Pháp Giới = Realm of The Law = Dharma-dhàtu

Pháp Thân = The Law Body = Dharma-kàya


 

* Tứ Pháp Giới và Pháp Giới

 

Theo Hoa Nghiêm Tông, lịch sử Phật Giáo có 4 loại Pháp Giới (Fourfold Universe) của Vạn Hữu:

1. Sự Pháp Giới (The world of the Facts or Reality): Thế giới của mọi Hiện Tượng (Sự) thông thường. (Pháp Giới của Tiểu Thừa)

2. Lý Pháp Giới (The world of the Principle): Thế giới chung của một Nguyên Lý (Lý) là một Thực Thể hay Tự Tánh tuyệt đối. (Pháp Giới của Tam Luận Tông và Pháp Tướng Tông)

3. Lý Sự Vô Ngại Pháp Giới (The world of Principle and Facts or Reality united): Hiện Tượng và Thực Thể tương quan không chướng ngại.  (Pháp Giới của Thiên Thai Tông)

4. Sự Sự Vô Ngại Pháp Giới (The world of all realities or practical Facts interwoven or identified in perfect harmony): Mọi Hiện Tượng dung hòa đầy đủ (viên dung) không chướng ngại (= Viên dung Vô ngại).  "The fact and fact world perfectly harmonized". (Pháp Giới của Hoa Nghiêm Tông)

 

"Sự" đồng nghĩa với "Hiện Tượng"

Sự = Fact = Sự Vật thật sự (có) xảy ra

Hiện Tượng = Phenomenon = Sự Vật là đối tượng tri giác và cảm giác được.  

Hiện Tượng, Trình Hiện, Hiển Hiện = Manifestation = Sự Vật hiện ra, xảy ra

"Sự" dùng cho Toàn Thể (Hoa Nghiêm Tông) còn "Hiện Tượng" dùng cho Cá Thể (các Tông Phái khác của Đại Thừa). 

Lý (Principle) = Nguyên Lý = Chân Lý (Truth) căn bản hay đúng theo Lý thuyết (theory).  

Hoa Nghiêm Tông chú trọng tới Sự Vật và Nguyên Lý hay Chân lý (của Sự Vật).


 

Pháp Thân ở trong mỗi và mọi Cá thể Giác ngộ của Toàn thể (thế giới) Giác ngộ (= Pháp Giới)

Pháp Thân hay Chân Như (Suchness - Thusness) ở phương diện Tĩnh (static aspect) thì là Tánh Không (Void, Emptiness = Sunyảta), là Thực thể (Noumenon) và có Lý Pháp Giới (realm of Principle).

Pháp Thân hay Chân Như ở phương diện Động (dynamic aspect) thì chỉ là Trình hiện (Manifestation), là Hiện tượng (Phenomenon) và có Sự Pháp Giới (realm of Facts).

 

Sự Pháp Giới thì "Động", là Pháp Giới Duyên Khởi nhưng theo Thập Huyền Duyên Khởi.

Pháp Giới Duyên Khởi là Sự Sự Đồng duyên khởi (simultaneously arise)

Thập Huyền Duyên Khởi là Sự Sự Vô Ngại duyên khởi (arise in harmony).

Pháp Thân = Chân Như = Cá thể Giác ngộ; có Lục (6) Tướng (= Đặc tính = Characters or specific Natures)

 

Pháp Giới Duyên Khởi = Universal Causation of the Law

Thập Huyền Duyên Khởi = Causation by 10 profound Theories

Chân Như = Suchness, Thusness

 

* Thập Huyền Duyên Khởi

(The causation by ten profound theories)

 

Thập Huyền Duyên Khởi là 10 Lý thuyết diễn tả chi tiết Sự Sự Vô Ngại Pháp Giới (The fact and fact world perfectly harmonized).  "Sự Sự" là tương quan giữa mọi Sự Vật.  "Vô ngại" là dung hòa với nhau.

 

1. Đồng thời cụ túc tương ứng môn

= The theory of Co-relation (Tương Ứng)

(Môn=the Theory=Lý thuyết)

Mọi Sự Vật đồng hiện hữu và và đồng sinh khởi đồng thời (co-existence and simultaneous rise).  Vì đồng Hiện hữu nên mọi Sự Vật đều bình đẳng với nhau.  Đồng sinh khởi tức là đều sinh khởi như nhau không có cái nầy sinh ra cái kia, đó là "Trùng trùng vô tận Duyên Khởi" hay "Pháp Giới Duyên Khởi". Nó thay thế Nghiệp Cảm Duyên Khởi và Tạng Thức Duyên Khởi.

 

Pháp Giới Duyên Khởi = Trùng Trùng Vô Tận Duyên Khởi = Universal Causation of the Realm of the Law.

 

2. Chư pháp tương tức tự tại môn

= The theory of perfect freedom of mutual relationship (Tương Tức)

(Chư Pháp=Vạn Pháp)

Mọi Sự Vật tự do hoàn toàn tương tức hòa hợp lẫn nhau không chướng ngại.  Một tức là Hết thảy, Hết thảy tức là Một.  

 

3. Nhất đa tương dung bất đồng môn

= The theory of mutual penetration (Tương Dung) of dissimilar things.

Mọi Sự Vật, số nhiều (đa) hay số một (nhất), tương dung với nhau mặc dù không giống nhau (bất đồng).  (Nhất=một. Đa=nhiều).

 

4. Chư tàng thuần tạp cụ túc môn

= The theory of mutual identification (Tương Thức) of all distinct elements

Mọi Sự Vật dù khác nhau nhưng vì tương quan nên đều nhận biết được: một cũng như hết thảy.  (Thuần=một, Tạp=nhiều) 

 

Chư tàng=chư hành=all elements.

Chư Pháp=Vạn Pháp=all Dharmas=tất cả Hiện Tượng=all Phenomena

Chư Hành=Vạn Hữu=mọi Sự Vật=all Elements, all Elements of existence, all Existences

 

5. Bí mật ẩn hiển câu thành môn

= The theory of mutual complementary supply (Tương Trợ) to make a whole.

(Ẩn ở bề trong là bí mật, Hiển ra bề ngoài là hiển hiện).  

Mọi Sự Vật, ẩn hiện trong ngoài, đều tương trợ lẫn nhau để làm thành Toàn Thể.

 

6. Vi tế tương dung an lập môn

= The theory of construction by mutual penetration (Tương Dung) of minute and abstruse matters.

Mọi Sự Vật, nhỏ hay lớn, tương dung để kiến tạo.

 

7. Nhân Đà La vi tế cảnh giới môn

= The theory of mutual permeation (Tương Thông) and mutual reflection (Tương Phản) as in the region surrounded by the Indra net.

(Indra=Nhân Đà La=Đế Thích Thiên.  Indra là 1 vị "Thiên" hay Deva của Ấn Độ Giáo và Phật Giáo)

Mọi Sự Vật tương thông và tương phản (chiếu) như những bảo châu của Tấm màn của Đế Thích Thiên (Nhân Đà La).

(Trong cung điện của Đế Thích Thiên mắc tấm màn bằng bảo châu có nhiều mắt lưới.  Ánh sáng của những bảo châu soi rọi lẫn nhau, trùng trùng điệp cùng dung thông với nhau mà không chướng ngại nhau).

 

8. Duy tâm hồi chuyển thiện thành môn

= The theory of elucidating the truth by factual illustrations.

Thực Thể thể hiện rõ ràng thành hình ảnh của mọi Sự Vật (Vạn Hữu).  Thực Thể chính là duy Tâm (chỉ có từ Tâm), ý chỉ Pháp Thân hay Như Lai Tạng của Duy Thức.

 

9. Thập thế cách pháp dị thành môn

= The theory of "variously completing ten times periods creating one entity".  

Giải thích về Thập Thế (10 đời): Trong 3 đời quá khứ, hiện tại và vị lai, đều lại bao hàm có 3 đời nên thành 9 đời.  9 đời nầy lại cùng dung thông với nhau, tương tức và tương nhập lẫn nhau trở thành toàn thể của một đời.  Đó là "thập thế dung thông với nhau".

Tóm lại: Giải thích Vạn Pháp tương tức theo thời gian.

 

(Chư pháp tương tức tự tại môn (2): Giải thích Vạn Pháp tương tức trong không gian.  

Thập thế cách pháp dị thành môn (9): Giải thích Vạn Pháp tương tức theo thời gian)

 

10. Thác sự hiển pháp sinh giải môn

= The theory of elucidated principle (of "All-and-one" and "One-and-all") without needing the explanation.

Nguyên lý (Lý) nhất đa tương tức thì hoàn toàn hiển hiện rõ ràng ở nơi mọi Sự Vật (Sự), không cần phải nương vào thí dụ cũng liễu giải được. 

 

Tóm tắt:

"Sự Sự vô ngại Pháp Giới" là tất cả mọi Sự Vật (Vạn Hữu) tương tức không chướng ngại của Pháp Giới:

Mọi Sự Vật đồng hiện hữu và đồng sinh khởi (1)

Do đó mọi Sự Vật có Hiện Tượng hiện ra (=Sự) Tương Tức trong không gian (2) và Tương Tức theo thời gian (9): 

Tương Dung (3) (6) 

Tương Thức (4) 

Tương Trợ (5) 

Tương Thông (7) 

Tương Phản (7).

Như vậy mọi Sự Vật có một Nguyên lý (=Lý) là "Nhất Đa tương tức" (One-and-All and All-and-One) (10).

Bởi vì mọi Sự Vật có chung 1 Thực Thể tuyệt đối là Pháp Thân hay Như Lai Tạng (8) ở khắp trong từng và mọi Sự Vật.

"Sự Sự Vô Ngại" ví như 1 tràng hoa (=hoa nghiêm), là tên của kinh Hoa Nghiêm.

 

Lý=Principle.  Sự=Facts

Vô ngại=không có chướng ngại=in harmony, harmonized=Dung hòa, Viên dung

Tương Tức=mutual relation

Tương Dung=mutual penetration

Tương Thức=mutual identification

Tương Trợ=mutual complementary supply

Tương Thông=mutual permeation

Tương Phản=mutual refeflection

Mọi Sự Vật=Vạn Hữu=all things and all events=all beings=all elements of existence

Chúng Sanh=All sentient beings

Pháp Giới=Dharmadhàtu

Pháp Thân=Dharmakàya


 

* Lục Tướng 

 

Lục Tướng = Sixfold Specific Nature or Characters (of all Dharmas)

Tướng = Đặc tính = Specific Character

 

6 Đặc tính của mỗi Sự Vật (each or every Element) là 6 mối tương liên giữa cái: 

Toàn thể và Riêng biệt (Đơn lẽ); 

Giống nhau và Khác biệt; 

Hòa nhập và Riêng tư.

Có thể nói là những đặc tính (=tướng) của Cá Thể trong Toàn Thể.

 

1. Thể (Essence): tương quan giữa Tổng Tướng và Biệt Tướng (Toàn thể và Đơn lẽ)

Tổng Tướng (Universality): một Tướng Trạng: gồm có các Bộ Phận (organs). 

Biệt Tướng (Speciality as to character itself): các Bộ Phận của một Tướng Trạng: gồm lại thành một Tướng trạng.  

 

Tướng Trạng=Organism: ám chỉ một Cá thể

Bộ Phận=Organ

 

2. Tướng (Existence): tương liên giữa các Biệt Tướng trong Tổng Tướng theo không gian (Giống nhau và Khác nhau)

Đồng Tướng (Similarity): các Bộ Phận tương liên với nhau một cách hòa đồng với nhau trong một Tướng trạng

Dị Tướng (Diversity): các Bộ Phận tương liên với nhau một cách khác nhau trong một Tướng trạng 

 

3. Dụng (Usage): tương quan giữa các Biệt Tướng trong Tổng Tướng theo thời gian (Hòa nhập và Riêng tư)

Thành Tướng (Integration): qua tương liên trong một Tướng Trạng, có các Bộ Phận hòa nhập được nên hình thành

Hoại Tướng (Differentiation): trong tương liên trong một Tướng Trạng, có các Bộ Phận riêng tư (không hòa nhập) nên hủy hoại  

 

Hoa Nghiêm Tông cũng như Thiên Thai Tông hoàn toàn thuần túy của Trung Quốc (không xuất phát từ Ấn Độ).  Giáo lý diễn tả một Thế Giới Phật Giáo quá lý tưởng là Pháp Giới với mọi Chúng Sanh đều thành Phật Quả, động Pháp Thân với Tâm Thức Vô Ngại (dung hòa = in harmony).  

Vì quá lý tưởng nên khó thực hành được cho Hành giả cá thể (Individual Practicioner).


 

Bs PHAN THƯỢNG HẢI biên soạn và giữ bản quyền


Bài này là một Đoạn trích từ bài "Triết Lý Phật Giáo - Từ Phật Thích Ca đến Thiền Tông" đăng trong phanthuonghai.com

PTH_DaiNhatNhuLai.JPG

Sàriputta và Moggallàna (Xá Lợi Phất và Mục Kiền Liên)

 

                                   Bs Phan Thượng Hải biên soạn

 

Sự tích Vu Lan có nguồn gốc từ Moggallàna (Mục Kiền Liên).  Ngài và Sàriputta là 2 đệ tử đứng hàng đầu trong 10 đại đệ tử của Phật Thích Ca.  Tuy nhiên 2 ngài nhập diệt trước Phật Thích Ca.

 

* Sàriputta và Moggallàna 

 

Sàriputta dịch âm là Xá Lợi Phất Đa La và dịch nghĩa là Thu Lộ Tử.  

         Xá Lợi Phất Đa La gọi tắt là Xá Lợi Phất (hay Xá Lị Phất). 

         Sàri (hay Xá Lợi) là tên của người Mẹ; Putta có nghĩa là Tử.  Sàri còn dịch nghĩa là Thu Lộ (một loài chim).  Thu Lộ là "Chim trăm lưỡi" (Bách thiệt điểu) nên tên Sàriputta còn dịch nghĩa là Thu Lộ Tử hay Bách Thiệt Điểu Tử. 

Moggallàna dịch âm là Mục Kiền Liên hay Mục Kiện Liên.

 

Sàriputta sinh ở làng Nalaka cạnh bên làng Kolita là nơi sinh của Moggallàna.  Hai làng nầy ở gần Rajagaha, kinh đô của nước Magadha, và hai người là bạn thân từ thời niên thiếu.  Sàri putta và Moggallàna cùng đi tu làm đệ tử của Sanjaya, một tu sĩ theo chủ thuyết hoài nghi.  Sau khi gặp và đàm luận với 1 đệ tử của Phật Thích Ca là Assaji (A Thuyết Thị = A Xá Bà Kỳ = Mã Thắng), Sàriputta cùng Moggallàna dẫn 250 đệ tử của Sanjaya gia nhập Tăng Già của Phật Thích Ca ở Tịnh xá Veluvana (Trúc Lâm = Bamboo Grove) gần Rajagaha.  Lúc đó 2 ngài vào khoảng 27. 28 tuổi.  Đây là bài kệ giúp Sàriputta và Moggallàna tỉnh thức và đến xin làm đệ tử của Phật Thích Ca:

 

Nhất thiết chư pháp bản       (Sinh ra hết thảy mọi pháp nọ)

Nhân duyên sinh vô chủ       (Đều do nhân duyên không có chủ)

Nhược năng giải thử giả       (Hễ mà hiểu được nghĩa ấy)

Tắc đắc chân thực đạo          (Thì đạo chân thực mới hiểu rõ)

 

Sàriputta có "Trí Tuệ Đệ Nhất" và Moggallàna có "Thần Thông Đệ Nhất" trong các đệ tử. Hai Ngài là đệ tử chính của Phật Thích Ca giúp truyền bá thuyết Duyên Khởi, Tứ Diệu Đế và Bát Chánh Đạo.  Sàriputta giảng dạy rất hay giúp cho các Tỳ kheo hiểu được Phật Pháp còn Moggallàna giúp các Tỳ kheo tu hành đúng theo Phật Pháp và chống lại những tà thuyết.  Phật Thích Ca thường dùng 2 ngài làm gương cho các đệ tử khác trong Tăng Già.

 

* Nhập Diệt của Sàriputta và Moggallàna

 

Đạo của Phật Thích Ca được truyền bá rộng rãi nên sinh ra những người ganh tỵ chống đối. Moggallàna là đối tượng chánh nên ngài bị những người nầy giết chết khi đi khất thực.  Một thời gian ngắn sau đó, Sàriputta cũng nhập diệt.

Tương truyền rằng, vào một ngày kia, Phật Thích Ca (hơn 80 tuổi) nói với các đệ tử rằng chỉ 3 tháng nữa là Ngài nhập diệt.  Lúc đó Moggallàna vừa bị giết chết.  Sàriputta không muốn thấy cảnh Đức Phật qua đời nên xin để mình chết trước, thế là Sàriputta tự mình nhập diệt.

Hai ngài theo Phật Thích Ca trong khoảng 40 năm và nhập diệt trước Phật Thích Ca.

 

Sách "Tỉ Lại Gia Tạp Sự" viết:

Có người hỏi đức Thế tôn: 

         Một bậc thánh như Mục Kiền Liên (Moggallàna) mà bị bọn ngoại đạo đánh chết, thế là Nghiệp gì?  

Đức Thế tôn đáp: 

         Kiếp xưa Mục Kiều Liên là con một họ Bà La Môn vì quá yêu vợ mà bất hiếu với cha mẹ mình.  Người mẹ giận quá có rủa: "Sao những đứa hung ác không đánh chết mầy đi?". Nay tuy chứng cõi thánh là bậc thần thông đệ nhất mà vẫn phải chịu cái Nghiệp bị đánh chết.  

 

* Mục Kiền Liên (Moggallàna) và Lễ Vu Lan

 

- Kinh Vu Lan Bồn viết:

 

Một thời, Đức Phật trú tại khu vườn Kỳ Đà Cấp Cô Độc.  Trưởng giả Đại Mục Kiền Liên chứng đắc sáu thứ Thần thông dùng đạo nhãn quán sát khắp thế giới, thấy người mẹ đã qua đời của mình bị đọa trong loài Ngạ quỷ, không được ăn uống nên thân hình chỉ còn da bọc xương.  Tôn giả Mục Kiền Liên thấy vậy vô cùng xót thương buồn bã, liền lấy bát đựng đầy cơm và vận dụng thần thông đem hiến dâng cho mẹ.  Bà mẹ vừa nhận được bát cơm , liền dùng tay trái che đậy, tay phải bốc ăn, cơm chưa vào miệng đã hóa thành than hồng nên không thể ăn được. Tôn giả Mục Kiền Liên lớn tiếng than khóc trở về bạch với đức Phật, thuật lại đầy đủ mọi sự việc như vậy.

Đức Phật bảo:

         Thân mẫu của ông tội chướng sâu dày.  Tuy lòng hiếu thảo của ông vang động trời đất nhưng cũng không ai có thể làm gì được.  Nay ông phải nhờ oai lực của Tăng chúng ở mười phương thì mới có thể thoát được.

         Này Mục Kiền Liên!  Ngày rằm tháng bảy là ngày Tự tứ của mười phương Tăng chúng, nên vì cha mẹ 7 đời, cha mẹ hiện tại và những người đang ở trong vòng khổ nạn luân hồi mà sắm sửa đầy đủ cơm nước thức ăn và giường nằm đầy đủ để dâng chúng đại đức Tăng chúng khắp mười phương.  Vì giới pháp thanh tịnh đầy đủ nên đạo đức của Tăng chúng sâu rộng mênh mông.  Nếu có người dâng cúng Tăng chúng Tự tứ như vậy thì tất cả cha mẹ bà con quyến thuộc trong đời hiện tại đã quá vãng sẽ được siêu sinh trong 3 đường khổ liền được đầy đủ áo cơm.  Nếu cha mẹ lục thân quyến thuộc còn sống thì được hưởng phước lạc sống lâu trăm tuổi, còn cha mẹ già quá khứ 7 đời thì được sinh lên cõi Trời Tự Tại hóa sinh trong cõi Trời, hoa lệ chói sáng, hưởng vô lượng phước lạc.

Bấy giờ Đức Phật bảo Tăng chúng mười phương hoặc ở nơi Tăng chúng hoặc ở chùa tháp phải chú nguyện như vậy rồi sau mới thọ thực (ăn).

Khi ấy Tôn giả Mục Kiền Liên cùng với chư vị Đại sĩ Bồ tát đều rất hoan hỷ, tiếng than khóc bi thương của ngài Mục Kiền Liên cũng tan biến.  Thân mẫu của ngài cũng trong ngày ấy được thoát khổ trong loài Ngạ quỉ.

Khi ấy ngài Mục Kiền Liên lại bạch:

         Bạch Thế tôn!  Thân mẫu của con đã được siêu thoát, đó là nhờ năng lực công đức Tam Bảo, trong đó có uy lực của Tăng chúng.  Nếu đời vị lai, tất cả đệ tử của Đức Phật muốn hiếu thuận phụng dưỡng cha mẹ thì kinh Vu Lan Bồn nầy có thể cứu độ cha mẹ hiện tại cho đến cha mẹ 7 đời chăng?

Đức Phật nói:

         Nầy Mục Kiền Liên! Điều mà Như Lai muốn nói, Tôn giả đã hỏi.

         Nếu có Tỳ kheo, Tỳ kheo ni, quốc vương, vương tử, đại thần, tể tướng, tam công, bách quan cùng cả thảy dân chúng muốn thực hành đức từ hiếu, trước nên vì cha mẹ hiện tiền, kế đó cha mẹ 7 đời trong quá khứ là cứ đến Rằm tháng Bảy, ngày chư Phật hoan hỷ, ngày chư Tăng tự tứ, nên sắp đặt đủ các loại trái cây thức ăn nước uống vào bồn Vu Lan để dâng cúng chư Tăng ở mười phương.  Ngày chư Tăng Tự tứ câu nguyện cha mẹ hiện còn sống lâu trăm tuổi, không bệnh tật.  Cha mẹ trong 7 đời quá khứ thoát khỏi khổ đau trong loài Ngạ quỉ, được sinh trong cõi Trời, người phước lạc an vui.

         Thiện nam tín nữ là đệ tử của Đức Như Lai phải nên thực hành chữ hiếu, trong mỗi niệm thường thương tưởng đến cha mẹ hiện tại, cho đến cha mẹ 7 đời trong quá khứ.  Hằng năm đến ngày Rằm tháng Bảy, đem lòng từ hiếu thương tưởng song thân cha mẹ hiện tiền, cha mẹ 7 đời quá khứ, sắm sửa bồn Vu Lan, hiến cúng Phật đà, dâng cúng Tăng chúng để đền đáp công ơn sinh thành dưỡng dục của cha mẹ.  Nếu là đệ tử của Đức Phật thì phải tuân giữ điều ấy.

Lúc ấy, Tôn giả Mục Kiền Liên cùng với chúng đệ tử nghe Phật giảng dạy đều rất hoan hỷ tín thọ phụng hành.  

 

- Vu Lan Bồn Kinh (Ullambana sùtra) được Trúc Pháp Hộ dịch ra Hán ngữ và từ đó chuyển âm sang Việt ngữ. Vu Lan Bồn Kinh dịch đầy đủ ra Hán ngữ là "Phật Thuyết Vu Lan Bồn Kinh".

Trúc Pháp Hộ là tên Hán ngữ của nhà sư người Thiên Trúc (Ấn Độ) tên là Dharmaraksa (239-316).

"Vu Lan Bồn" là dịch âm từ Phạn ngữ "Ullambana".  Ullambana có nghĩa đen là "Cứu đảo huyền".  "Đảo huyền" là "treo ngược".  "Cứu đảo huyền" (Ullambana) có nghĩa là cứu những ai bị treo ngược (bị khốn khổ).  Trúc Pháp Hộ dùng nghĩa đen của "Vu Lan bồn" là "bồn Vu Lan" trong kinh là không đúng.   (Bồn = basin).

 

Kinh Vu Lan Bồn như trên đã kể lại câu chuyện Moggallàna (Mục Kiền Liên) cứu giúp Mẹ mình đang khốn Khổ trong cõi Ngạ quỉ nhờ lời dạy của Phật Thích Ca.  Tuy nhiên ý nghĩa của Kinh Vu Lan Bồn còn rộng hơn.

Theo kinh Vu Lan Bồn, dâng cúng ăn ở cho Tăng chúng trong ngày Tự tứ (ngày Rằm tháng 7, ngày 15 tháng 7) thì nhờ Đạo Đức (morality) "sâu rộng mênh mông" của Tăng chúng (monks and nuns) mà Cha Mẹ và thân quyến của mình được những phước:

         Cha mẹ và thân quyến đã chết bị siêu sinh trong 3 đường Khổ (3 Khổ đạo) liền được đầy đủ áo cơm.  (3 Khổ Đạo trong Lục Đạo Luân Hồi là: Địa ngục, Ngạ quỉ và Súc sinh).

         Cha mẹ và thân quyến đang sống sẽ được hưởng phước lạc mạnh khoẻ sống lâu trăm tuổi.

         Cha mẹ và thân quyến trong quá khứ 7 đời sẽ được tái sinh lên cõi Trời.

Tất cả cũng là thể hiện của lòng Hiếu của Phật tử. 

 

Nhưng tại sao lại dâng cúng vào ngày Tự tứ (ngày Rằm tháng 7, 15 tháng 7)?  Ngày Tự tứ là ngày gì?  Ngày Tự tứ là ngày cuối của 3 tháng Vũ Kỳ An Cư của Tăng Già.  Nó có lịch sử từ Luật Tạng của Phật Giáo Nguyên Thủy:

         Vũ Kỳ An Cư (Residence during the rainy season Retreat = Varsavasana): Vì mỗi năm cứ vào mùa mưa (Vũ Kỳ), nước lũ dâng lên tràn ngập cả đường lối làm sự đi lại giáo hóa, truyền đạo và khất thực không thuận tiện, hơn nữa lại là mùa côn trùng sinh ra đầy đường, đi lại sợ tổn hại tới sinh mạng các loài côn trùng nên Phật Thích Ca cùng các Đệ tử phải tụ họp tại một nơi nào thuận tiện để chuyên việc tu hành trong 3 tháng mưa nầy (từ ngày 16-4 cho tới 15-7)

         Lễ Tự Tứ (Pavàranà): Trong 3 tháng tu trì của Vũ Kỳ An Cư, nếu đại chúng có ai phạm vào tội lỗi mà đại chúng ngờ vực thì được tự do cử tội trong ngày lễ Tự Tứ (ngày 15-7, ngày cuối cùng của Vũ Kỳ An Cư).

 

- Nhân sự tích nầy nên có hội lễ Vu Lan trong nhân gian vào ngày Rằm (15) tháng 7 hằng năm.

Lễ Vu Lan bắt đầu ở Trung Quốc từ thời Lương Võ Đế (464-549), một vị vua rất sùng Phật Giáo.  Ngày Rằm (15) tháng Bảy gọi là ngày (Tết) Trung Nguyên có mở hội Vu Lan (Vu Lan Bồn) ở khắp chùa chiền tu viện và trong toàn dân chúng kỷ niệm sự tích Mục Kiền Liên cứu Mẹ nói riêng và thể hiện lòng hiếu thảo của Chúng sanh nói chung.  Dân chúng làm đúng như trong Kinh Vu Lan Bồn đã dạy: cúng dường thực phẩm cho Tăng chúng. Tuy nhiên còn có mở thêm hội Hoa đăng (cúng rước đèn hoa) và bá tánh còn cúng thêm (trên bàn thờ) cho "Cô Hồn" (tức là Quỉ đói = Ngạ quỉ).

Phong tục nầy được truyền sang các nước khác của Bắc Tông như Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, Việt Nam... 

 

Chuyện Mục Kiền Liên (Moggallàna) cứu mẹ được người Tàu viết thành nhiều tuồng hát và tiểu thuyết diễn tả Mục Kiền Liên xuống Địa ngục cứu mẹ, đơn giản tên Mục Kiền Liên thành Mục Liên và đặt tên cho mẹ của ngài là Thanh Đề.  Đó là những chuyện mang tựa đề: Mục Liên Cứu Mẫu Biến Văn, Mục Liên Cứu Mẫu Bản Quyển, Mục Liên Tam Thế Bản Quyển...  Theo truyện Tàu, tuy được cứu thoát nhưng bà Thanh Đề phải tái sinh làm một con chó đen ở thành Vương Xá (Rajagrha) và Mục Liên phải trổ thần thông một lần nữa cứu bà Thanh Đề tái sinh thành người.  Dĩ nhiên cõi Địa ngục trong những truyện nầy khác cõi Ngạ quỉ trong kinh Vu Lan Bồn. 

 

 

* Sàriputta trong Đại Thừa Trung Quán Tông

 

Tên Sàriputta (Xá Lợi Tử) được nói tới trong kinh Bát Nhã là kinh chánh của Trung Quán Tông của Phật Giáo Đại Thừa.

 

Bát Nhã Ba La Mật Đa Tâm Kinh:

         Quan Tự Tại Bồ Tát hành thâm Bát Nhã Ba La Mật Đa thời, chiếu kiến Ngũ Uẩn giai Không, độ nhất thiết khổ ách.  Xá Lợi Tử, Sắc bất dị Không, Không bất dị Sắc, Sắc tức thị Không, Không tức thị Sắc.  Thụ Tưởng Hành Thức diệc phục như thị.  (Cưu Ma La Thập / Bản Hán ngữ)

         Dịch: Quan Tự Tại Bồ Tát khi thi hành phép Bát Nhã Ba La Mật Đa (Trí Tuệ Độ) thấy rõ Ngũ Uẩn đều Không đem tế độ hết thảy những Khổ ách.  Hỡi Xá Lợi Tử, Sắc chẳng khác Không, Không chẳng khác Sắc, Sắc tức là Không, Không tức là Sắc.  Thụ Tưởng Hành Thức cũng thế cả.  (Trần Trọng Kim / Bản Việt ngữ)

 

(*) Quan Tự Tại Bồ Tát là Quan Thế Âm Bồ Tát.  Xá Lợi Tử là Xá Lợi Phất (Sàriputta).

     Ngũ Uẩn = Sắc, Thụ, Tưởng, Hành, Thức.

 

 

* Sàriputta trong Đại Thừa Tịnh Độ Tông

 

Tên của Sàriputta xuất hiện trong 1 trong 3 kinh chánh của Tịnh Độ Tông.

 

Phật Thuyết A Di Đà Kinh:

         Bấy giờ Phật bảo Trưởng lão Xá Lợi Phất (Sàriputta): Từ đây qua phương Tây cách mười vạn ức cõi Phật có một thế giới tên là Cực Lạc, nước ấy có Phật hiệu là A Di Đà hiện đang thuyết pháp ở đó.  Chúng sanh của nước ấy không có các Khổ não, chỉ hưởng những điều vui, cho nên gọi là Cực Lạc.

 

*

Sàriputta có 3 người em trai đều là đệ tử của Phật Thích Ca, theo thứ tự là: Cunda (Thuần Đà), Upasena (hay Vagantaputta) và Revata (Ly Bà Đa).

         Revata nổi tiếng "Thiền Định Đệ Nhất".

         Upasena nổi tiếng là "Hoan Hỉ Đệ Nhất", luôn vui vẻ.

         Cunda nầy còn gọi là CulaCunda (Tiểu Thuần Đà) để phân biệt với Cunda là 1 trong 4 Đại Thanh Văn.  Ngoài ra trong lịch sử Phật Giáo Nguyên Thủy cũng có 1 người khác tên là Cunda.  Đó là người Thợ sắt (thợ rèn) đã dâng cho Phật Thích Ca "mộc nhĩ" (tai nấm). Đức Phật bị bệnh và qua đời sau khi ăn món "mộc nhĩ" nầy.

 

 

Bs PHAN THƯỢNG HẢI biên soạn 

 

Bài này là một đoạn trích trong bài "Thập Đại Đệ Tử của Phật Thích Ca" đăng lần đầu trong website phanthuonghai.com

 

 

TỪ BÀI THƠ ĐIẾU PHAN THANH GIẢN CỦA NGUYỄN ĐÌNH CHIỂU

 

                                 Bs Phan Thượng Hải biên soạn


 

(1)

Ngay sau khi ông Phan Thanh Giản qua đời, ông Nguyễn Đình Chiểu có bài thơ điếu:

 

ĐIẾU PHAN THANH GIẢN (Nguyên bản)

Lịch sĩ tam triều độc khiết thân

Vi quân nan bảo nhất phương dân

Long Hồ ninh phụ thư sinh lão

Phụng các không quy học sĩ thần

Bỉnh tiết tằng lao sinh Phú Bật

Tận trung hà hận tử Trương Tuần

Hữu thiên Lục tỉnh tồn vong sự

An đắc thung dung tựu nghĩa thần.

(Nguyễn Đình Chiểu)

 

(*) Chú thích: Khiết = trong sạch. Quân = vua, chúa.  Ninh phụ = thà phụ?  (Từ câu: "Ninh thọ tử bất ninh thọ nhục"). Bỉnh = cầm.  Tiết = cờ Tiết của sứ thần hồi xưa. Tằng = từng trải qua. Hà hận = làm sao hận? 

 

Bài thơ Hán ngữ của ông Nguyễn Đình Chiểu có trùng vận (điệp vận) "Thần".  Thơ Hán ngữ viết bằng Hán tự thì không "thất luật" vì chữ "Thần" trong bài thơ tuy đồng âm nhưng có nghĩa khác và viết khác nhau (Hán tự).

Tự điển Trần Trọng San phân biệt 2 chữ Thần này:

Chữ "Thần" ở câu 4 có nghĩa là chủ tể của vạn vật; người có tài siêu việt.  Chữ "Thần" này viết theo bộ Kỳ.

Chữ "Thần" ở câu 8 có nghĩa là bề tôi (đối với vua chúa) như triều thần.  Chữ "Thần" này viết theo bộ Thần.

 

Làm thơ Hán ngữ viết bằng chữ Quốc ngữ thì "thất luật" trừ trường hợp điệp vận (trùng vận) của câu đầu và câu cuối.

Do đó xin làm bài thơ Hán ngữ viết bằng chữ Quốc ngữ "tiếp vận" chứ không "họa vận".

 

Thiển nghĩ trong Việt ngữ (Quốc ngữ hay Quốc âm) có Hán ngữ.  Nếu ta dùng Hán ngữ thông dụng trong Việt ngữ thì không cần phải dịch.

 

ĐIẾU PHAN THANH GIẢN (Tiếp vận)

Tam triều phụng sự tận trung thần

Xử sự Nam Kỳ tận ái dân

Pháp Quốc công lao như Phú Bật

Vĩnh Long thành bại dị Trương Tuần

Chính danh Nho sĩ chân tình nghĩa

Chính đạo Nho gia bản thiện nhân

Minh kính Lương Khê lưu hậu thế (*)

Lương dân Lục tỉnh cộng tri ân.

(Phan Thượng Hải)

7/30/22

 

(*) Chú thích: 

Lương Khê là tên hiệu của ông Phan Thanh Giản.  Lương Khê được ghi trên Minh tinh và Mộ của ông Phan Thanh Giản sau khi ông mất.

Minh tinh là mảnh lụa hay mảnh vải hay mảnh giấy đề danh hiệu và chức tước của người chết trong khi đám ma.  Minh tinh của đám ma ông Phan Thanh Giản đề chín chữ theo ý của ông là “Hải nhai thư sinh Phan Lương Khê chi cửu” (= Quan tài của học trò ở góc bể họ Phan hiệu Lương Khê).

Bia mộ của ông Phan Thanh Giản ghi: "Lương Khê Phan lão nông chi mộ".

Minh kính = gương sáng. 

 

(2)

Khi đọc 2 câu thơ của ông Nguyễn Đình Chiểu:

 

Bỉnh tiết tằng lao sinh Phú Bật

Tận trung hà hận tử Trương Tuần

 

Tác giả có điểm không đồng ý nên mới viết 2 câu dưới đây trong bài thơ của mình:

 

Pháp Quốc công lao như Phú Bật

Vĩnh Long thành bại dị Trương Tuần

 

Công lao đi sứ của ông Phan Thanh Giản (và ông Phạm Phú Thứ) sang Pháp Quốc thì cũng như Phú Bật.

Đây là lịch sử của Phú Bật đi sứ sang nước Liêu (theo Winston Phan Đào Nguyên):

Phú Bật là một văn thần dưới triều Tống Nhân Tông của Bắc Tống.  Theo sách sử "Tục Tư Trị Thông Giám", năm 1402, nước Liêu ở phương Bắc đem quân đe dọa nhà Tống và Trung Quốc ở biên cương để yêu sách đòi thêm số tiền lụa mà nhà Tống phải cống nạp hàng năm cho nước Liêu.  Triều đình nhà Tống mấy lần phải cử Phú Bật đi sang nước Liêu thương thuyết vì không ai khác dám đi.  Sau cùng nhà Tống giữ được đất nhưng phải tăng số tiền cống nạp hàng năm lên thành 20 vạn lạng bạc và 20 vạn tấm lụa.  Phú Bật không chịu gọi đó là "nạp" nhưng cuối cùng triều đình nhà Tống vẫn phải chấp nhận chữ nầy.  Do đó hòa nghị năm 1042 được gọi là Trọng Hi Tăng Tệ.  (Trọng Hi là niên hiệu của Tống Chân Tông.  Tăng tệ = tăng tiền).

 

Thành bại trong việc giữ thành Vĩnh Long của ông Phan Thanh Giản thì có khác Trương Tuần (dị = khác). 

- Đây là lịch sử thảm khốc của Trương Tuần về việc giữ thành Tuy Dương (theo Winston Phan Đào Nguyên):

Trương Tuần nguyên là một viên quan nhỏ đời nhà Đường của Trung Quốc.  Khi An Lộc Sơn nổi loạn, ông Trương Tuần mộ quân chống cự tại thành Ung Khâu.  Trương Tuần bị vây hãm ở thành Ung Khâu nên phải bỏ thành Ung Khâu và đến giữ thành Tuy Dương để tiếp tục chống giặc An Lộc Sơn.  Thành Tuy Dương cũng bị vây.  Khi trong thành này hết lương, Trương Tuần giết người thiếp để lấy thịt cho binh sĩ ăn, rồi sau đó cho binh sĩ giết mà ăn thịt cả người già và trẻ con trong thành.  Sau cùng khi thành Tuy Dương thua và bị chiếm, quân giặc (của An Lộc Sơn) trước khi giết ông đã dùng dao cạy miệng ông Trương Tuần ra để xem có phải ông chỉ còn mấy cái răng hay không, vì mỗi lần đánh trận ông giận dữ (hận) nghiến răng tới mức gãy cả răng.

- Đây là lịch sử nhân từ của ông Phan Thanh Giản về việc giữ thành Vĩnh Long:

Từ Mỹ Tho, tướng Pháp là De La Grandière muốn đánh chiếm nốt 3 tỉnh miền Tây Nam Kỳ.  Triều đình cử ông Phan Thanh Giản làm Kinh Lược để điều đình và chống giữ.  Tình hình của 3 tỉnh Miền Tây rất yếu và chắc chắn sẽ thua quân Pháp về quân sự.  Ông Phan Thanh Giản đã xin từ chức nhưng vua Tự Đức không cho.  Năm 1867, De La Grandière đem binh thuyền từ Mỹ Tho theo sông Tiền Giang tới đóng ở trước thành Vĩnh Long.  Trong 3 tỉnh Miền Tây Nam Kỳ thì tỉnh Vĩnh Long là tỉnh lớn nhất và tỉnh thành Vĩnh Long là nơi của quan Kinh Lược của tất cả 3 tỉnh miền Tây Nam Kỳ.  Ông Phan Thanh Giản chỉ tự mình cùng với quan Án Sát Vĩnh Long là Võ Doãn Thanh xuống soái hạm của De La Grandière để điều đình.  Ông không hề hứa miệng hay viết văn kiện giao thành cho Pháp nhưng chỉ trách De La Grandière là vi phạm hòa ước 1862.  Việc điều đình không thành, khi ông Phan Thanh Giản (cùng Võ Doãn Thanh) đi bộ về để vào thành thì quân Pháp theo vào thành.  Quan nhà Nguyễn trong thành (kể cả Tổng đốc và Lãnh binh) không biết làm sao thì quân Pháp đã vào thành và chiếm thành.  Sự kiện này đã được tất cả nhân chứng kể cả Án sát Võ Doãn Thanh khai với triều đình khi bị xử tội sau này (khi ông Phan Thanh Giản đã chết).  Không một viên quan nào khai là Phan Thanh Giản giao thành cho Pháp mặc dù nếu làm như vậy thì họ sẽ nhẹ tội hơn vì đỗ tất cả tội cho một người đã chết là ông Phan Thanh Giản.

 

Mặc dù cũng là trung thần nhưng ông Phan Thanh Giản không có xử sự đối với người dân Nam Kỳ như Trương Tuần!

 

Từ lịch sử mất thành Vĩnh Long, đây là lịch sử mất toàn bộ 3 tỉnh Miền Tây Nam Kỳ:

Sau khi lấy Vĩnh Long, quân Pháp đem thuyền ngược Tiền Giang đến trước tỉnh thành của tỉnh An Giang.  Họ bắt buộc Tuần vũ An Giang phải xuống gặp quan Pháp để nhận thơ "đầu hàng" của Kinh Lược Phan Thanh Giản.  Khi quan Tuần vũ xuống nhận thơ thì bị bắt làm con tin và quân Pháp dùng con tin mà vào thành Châu Đốc.  Thế là tỉnh An Giang mất.

Trước đó trên đường đi Châu Đốc, quân Pháp bắt được Tuần vũ tỉnh Hà Tiên đang dùng thuyền đi kinh lý trên sông Tiền Giang.  Ông này lại trở thành con tin.  Sau khi chiếm thành Châu Đốc (của tỉnh An Giang), quân Pháp dùng thuyền theo kinh Vĩnh Tế đến thành Hà Tiên (của tỉnh Hà Tiên) và dùng con tin là Tuần Vũ Hà Tiên để vào chiếm thành.  Tỉnh Hà Tiên cũng mất không một tiếng súng nổ!

 

Sau khi chiếm 3 tỉnh Tây Nam Kỳ (Vĩnh Long, An Giang và Hà Tiên), De La Grandière khôn khéo tuyên truyền qua công văn và sách vở là ông Phan Thanh Giản đã đầu hàng và dâng thành cho Pháp.  Bức thư gửi cho các quan "ra lệnh đầu hàng" của Phan Thanh Giản chỉ được dùng để bắt quan Tuần vũ An Giang mà chiếm thành Châu Đốc và không hề được dùng để chiếm thành Hà Tiên.  Bức thơ này chỉ là một trong những ngụy tạo của người Pháp mà thôi.  Bức thơ này không được nói đến trong phiên tòa của triều đình Huế xử các quan Nam Kỳ sau khi ông Phan Thanh Giản qua đời. Không một viên quan nào khai là Phan Thanh Giản giao thành cho Pháp mặc dù nếu làm như vậy thì họ sẽ nhẹ tội hơn vì đỗ tất cả tội cho một người đã chết là ông Phan Thanh Giản.

 

Sau đó các sử gia người Việt (như Trần Trọng Kim, Linh mục Nguyễn Phương...) dựa trên tài liệu của người Pháp nên đều viết là Phan Thanh Giản đầu hàng và dâng thành cho Pháp trong Việt Sử.  De La Grandière rất khôn khéo, chiếm 3 tỉnh Miền Tây Nam Kỳ mà không tổn thất quân lực của người Pháp và sau đó tuyên truyền để người dân Nam Kỳ không chống lại họ.

 

Người dân Nam Kỳ Lục Tỉnh dù tưởng là ông Phan Thanh Giản đầu hàng Pháp như tuyên truyền của người Pháp nhưng họ vẫn cám ơn ông Phan Thanh Giản.  Nhờ ông không hiếu chiến mà người dân Nam Kỳ được an bình không phải tử thương và mất mát của cải vì chiến tranh, một cuộc chiến không thể nào thắng được trong lúc đó và chỉ được tiếng là "bảo vệ đất nước của nhà vua"!  Thực sự sống với chế độ của người Pháp hay dưới chế độ của vua nhà Nguyễn thì cũng không khác gì lắm đối với "nông, công, thương".  Còn đối với thiểu số quần chúng là những "nho sĩ" thiển cận thì chỉ "trung quân" hơn là "ái quốc"?  

Chúng ta nên nhớ là lòng người dân Nam Kỳ không còn "trung" với nhà Nguyễn nữa khi vua nhà Nguyễn là Minh Mạng đã "phản bội" công lao giúp Gia Long thống nhất đất nước của người Nam Kỳ bằng cách kết tội ông Lê Văn Duyệt và đàn áp người dân Nam Kỳ trong "loạn Lê Văn Khôi" chỉ vài chục năm trước khi thực dân Pháp đến Nam Kỳ.

 

Năm 1967, nhân dịp kỷ niệm 100 năm, Linh mục Trương Bá Cần của Việt Nam Cộng Hòa đã viết bài minh oan cho ông Phan Thanh Giản: ông Phan Thanh Giản không có dâng thành và đầu hàng Pháp.  Nội dung của bài viết của Linh mục Trương Bá Cần được phản ảnh trong bài:

 

"Phan Thanh Giản không có đầu hàng Pháp" (Bs Phan Thượng Hải) trong phanthuonghai.com 


 

Bs PHAN THƯỢNG HẢI biên soạn

  PHẬT THÍCH CA ĐẢN SINH

 

                                             Bs Phan Thượng Hải biên soạn


 

* Tiểu sử Phật Thích Ca ở Lumbini

 

Thích Ca Mâu Ni Phật tên là Siddharta Gautama (Tất Đạt Ta Cồ Đàm) sinh ở Lumbibi (Lâm Tỳ Ni) của xứ Kapilavastu (Ca Tì La Vệ) của Ấn Độ, thuộc nước Nepal ngày nay khoảng hơn 2500 năm trước.    

Cha cùa ngài là Vua Suddhodana (Tịnh Phạm), làm đầu của dòng Sàkya (Thích Ca) và cai trị xứ Kapilavastu ở miền Đông Bắc Ấn Độ vào thời đó.  

Mẹ của ngài là Hoàng Hậu Maha Devi (Ma Da) chết 7 ngày sau khi sinh Siddharta.  Siddharta được em gái của Hoàng Hậu là bà Maha Prajpati (Ma ha ba xà ba đề) dưỡng nuôi.  

 

Lumbini là nơi Thái tử Siddharta sinh ra và sống trong hoàng cung cho tới khi xuất gia.  Người hành hương tới đây thường viếng chùa Maha Devi kỷ niệm nơi sinh của Phật Thích Ca.

 

Năm 16 tuổi, Thái Tử Siddharta kết hôn với Yasodhara (Da Du Đà La), một Công Chúa của dòng Koliya ở kế bên.  Hai người có một con trai là Rahula (La Hầu La).


 

* Chính Trị và Xã Hội trong Thời Phật Thích Ca

 

Phật Thích Ca sinh ở thủ đô Kapilavastu (Ca Tỳ La Vệ) trong lãnh thổ của thị tộc Sàkya (Thích Ca) thuộc đông bắc bán đảo Ấn Độ.  Vùng Đông Bắc bán đảo Ấn Độ nầy lúc bấy giờ gồm có 2 nước lớn và lãnh thổ của những Thị tộc, ở miền Nam và miền Bắc sông Gange (Hằng Hà).

 

- Ở miền Bắc sông Gange có nước Kosala (Kiêu Tất La) với thủ đô là Sràvasti (Xá Vệ).

Phía đông và đông nam của nước Kosala từ bắc xuống nam có lãnh thổ độc lập của 3 Thị tộc chính:

Thị tộc Sàkya (Thích Ca) có thủ đô là Kapilavasu (Ca Tỳ La Vệ)

Thị tộc Malla (Mạt La) có thủ đô là Kunisara

Thị tộc Liccavi (Ly Xa Tỳ) có thủ đô là Vesali (Phệ Xá)

Phía nam của nước Kosala có lãnh thổ độc lập của Thị tộc Kasi (Kathi) có thủ đô là Varanasi.  Varanasi và Vesali ở bờ bắc của sông Gange.

 

- Ở miền Nam sông Gange có nước Magadha (MaKiệt Đà) với thủ đô là Rajagrha (Vương Xá).  Rajagrha và Vesali đối diệnnhau ở 2 bên bờ nam và bắc của sông Gange.

Phía đông của nước Magadha có lãnh thổ độc lập của Thị tộc Anga (Ương Già) có thủ đô là Champa (Chiêm Ba).

Phía tây của nước Magadha có lãnh thổ độc lập của Thị tộc Vatsa (Bà Ta).  Lãnh thổ Vatsa và Kasi đối diện nhau ở 2 bên bờ nam và bắc của sông Gange.

Xa hơn nữa về phía Tây của Vatsa là nước Vamsa (ở miền Nam sông Gange) và ở phía Nam của nước Vamsa là nước Avanti (A Bàn Đề).

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 


Bốn Giai cấp xã hội của Ấn Độ lúc bấy giờ:

Giai cấp người Bà La Môn (Brahmans): Giai cấp Tu sĩ tu hành và giữ lễ nghi tôn giáo (Ấn Độ giáo).

Giai cấp người Sát Đế Lợi (Ksatriyas): Giai cấp Vua Quan nắm quyền cai trị

Giai cấp người Tỳ Xá (Vaisyas): Giai cấp bìng dân gồm Nông, Công, Thương.

Giai cấp người Thủ Đà La (Sudras): Giai cấp Tiện dân (người hạ tiện) đời đời làm nô lệ (không thể chuyển sang những giai cấp khác).

Một người từ Giai cấp Sát Đế Lợi hay Tỳ Xá có thể đi tu và thuộc Giai cấp Bà La Môn.  Phật Thích Ca sinh ra là Thái tử Siddharta nên ngài thuộc giai cấp Sát Đế Lợi.  Khi ngài đi tu thì thuộc giai cấp Bà La Môn.


 

* Năm sinh của Phật Thích Ca

 

Phật Thích Ca qua đời lúc ngài 83 tuổi nhưng năm sinh của ngài không nhất định.  Hiện nay trong Wikipedia có 2 giả thuyết về ngày sinh của Phật Thích Ca:

(1) sinh năm 563 tr CN (và qua đời năm 480 tr CN).

(2) sinh năm 483 tr CN (và qua đời năm 400 tr CN). 

 

Theo lịch sử kỷ niệm ngày Phật Đản của Việt Nam, năm sanh của Phật Thích Ca là năm 624 tr CN và dùng ngày của Phật Giáo Đại Thừa là mồng 8 tháng 4 âm lịch.  Phật Giáo Nguyên Thủy dùng ngày rằm (15) tháng 4, đúng với ngày đản sanh của Phật Thích Ca.  Như vậy năm 2022 là năm 2646 (624+2022) theo Phật Lịch.


 

* "Thiên thượng thiên hạ duy ngã độc tôn"


 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Theo Kinh Tạng (Sutrapikita) khi mang thai, Mẹ của Phật Thích Ca nằm mơ thấy có một vị Bồ tát với dạng con voi trắng chui vào bụng của mình.  Ngay sau khi sinh ra từ hông phải của Mẹ, Phật Thích Ca bước đi 7 bước, một tay chỉ lên trời và một tay chỉ xuống dưới đất mà nói rằng: "Thiên thượng thiên hạ, duy ngã độc tôn (Trên trời dưới trời, chỉ có mình ta)"; và dưới mỗi bước chân hiện ra một đóa hoa sen.  

Thật ra theo Trường Bộ kinh (Pìghanikàya) của Phật Giáo Nguyên Thủy, nguyên văn câu nói nầy của Phật Thích Ca (theo Hán ngữ) là: "Thiên thượng thiên hạ duy ngã độc tôn nhất thiết thế gian sinh lão bệnh tử".  (Trên trời dưới đất chỉ có mình ta là cần thiết cho thế gian sinh lão bệnh tử).

Riêng Thượng tọa Thích Thiện Hoa dịch thẳng từ Phạn ngữ là: "Trên trời dưới đất kiếp nầy là kiếp cuối cùng, Như Lai đoạn diệt gốc rễ sinh tử".  Đây là câu hợp lý nhất với cuộc đời và giáo lý của Phật Thích Ca? Phật Thích Ca sinh ra ở kiếp của Thái tử Tất Đạt Ta và xuất gia đi tu thành Phật.  Khi thành Phật thì không Khổ trong kiếp sinh lão bệnh tử và khi nhập diệt thì đạt Niết Bàn tức là không phải tái sinh theo luân hồi lục đạo nữa. 

 

*

Cứ mỗi năm, Phật tử kỷ niệm ngày Phật Đản vào ngày 18 tháng 4 âm lịch.

 

PHẬT ĐẢN SINH 

Nguyên thủy khởi từ Phật đản sinh (*)

Thích Ca thành đạo, tránh phồn vinh

Tăng già ẩn trú phùng an tịnh

Giáo pháp quy y đạt thái bình

Giới luật bảo trì, tâm chánh định

Si mê đoạn diệt, trí thông minh

Chúng sanh hành đạo, đời không khổ

Giải thoát luân hồi khỏi tái sinh.

(Phan Thượng Hải)

 

(*) Chú thích: Phật Thích Ca sáng lập Phật Giáo Nguyên Thủy (Tiểu Thừa).


 

Bs PHAN THƯỢNG HẢI biên soạn

 

Tài liệu tham khảo

1) Hành Hương và Huyền Thoại Phật Thích Ca (Bs Phan Thượng Hải) - phanthuonghai.com

2) Thơ Phan Thượng Hải - Tôn Giáo (Bs Phan Thượng Hải) - phanthuonghai.com

______________________________________

PTH_mapIndia.JPG
PTH_thienthuongthienha.JPG

THƠ THÁNG TƯ ĐEN                               

NGƯỜI DI TẢN 30-4  

Miền Nam đamất phải sinh ly 

Bỏ lại quê hương họa hiểm nguy 

Chiến hữu lao tù thân khốn khổ 

Đồng bào nô lệ dạ sầu bi 

Lương tâm nuôi dưỡng người di tản 

Chí hướng trường tồn lúc thịnh suy 

Trọn kiếp không quên thề chống Cộng 

Hằng năm tưởng niệm chuyến ra đi. 

(Phan Thượng Hải) 

4/23/17 

 

NGƯỜI Ở LẠI 30-4-75

Ngu dại một ngày để tiếp thu 

Dưới quyền nhà nước, giống nhà tù (*)

Hận đời cải tạo hành lao động 

Buồn cảnh ly tan mộng viễn du 

Lạc hậu tuyên truyền toàn lãnh thổ 

Nghèo hèn áp đặt tận biên khu 

Ta bà thế giới còn sinh sống 

Địa ngục đây rồi khỏi phải tu. 

         (Phan Thượng Hải) 

         4/25/14 

         

         (*) Chú thích: Chính quyền gọi là "Nhà nước" (sau 30-4-1975).

 

 

BỆNH VIỆN BÌNH DÂN 30-4-75 

 

Giặc đến, người đi, súng nổ vang 

Bình Dân nội trú lúc nguy nàn 

Cứu thương giải phẫu không ngừng nghỉ 

Thiển ý vô tư chẳng rộn ràng 

Giúp đỡ đồng bào khi biến loạn 

Quên tìm tỵ nạn được bình an 

Bùi ngùi nhớ lại ngày xưa ấy 

Thời thế trần ai khó luận bàn? (*) 

(Phan Thượng Hải) 

4/26/12 

 

(*) Chú thích:

         Ai Công Hầu, ai Khanh Tướng, trong trần ai ai dễ biết ai. (Đặng Trần Thường) 

         Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế thế thì vẫn thế. (Ngô Thì Nhậm) 

         Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế thế thì phải thế. (Phan Huy Ích) 

   Hoa Xuân: Đào, Anh Đào và Mai

 

                                     Bs Phan Thượng Hải biên soạn


 

Hoa Mai, Hoa Đào và Hoa Anh Đào

 

Hoa của mùa Xuân ở vùng ôn đới và hàn đới thường có 3 thứ hoa thường được nhắc đến: Hoa Mai, Hoa Đào và Hoa Anh Đào.

Cả ba loại Hoa Mai, Đào và Anh Đào thuộc ba họ là Rosales, Rosaceae và Prunus nhưng nhiều khi khó phân biệt.

 

 

 

 

 

 

 

Ý nghĩa của 3 loại hoa.

Hoa Đào tượng trưng cho sự trường thọ (longevity).  

Hoa Mai là hoa của sự tốt lành (auspice).  

Hoa Anh Đào là hoa của mùa Xuân với tất cả truyền thống tốt đẹp của mùa Xuân.

 

Đặc tính của 3 thứ hoa:

Hoa Mai (Plum Blossom) được chia ra theo 2 màu: trắng (white) và đỏ thắm (crimson).  Tuy nhiên hoa Mai có thể có những màu khác nhau giữa 2 màu nầy.  Thí dụ, có vài nụ nở thành hoa màu hường còn có nụ nở thành hoa màu trắng.  Có vài nụ có nhụy màu lạt và chỉ có cánh hoa màu đỏ.  Hoa Mai có mùi hương dịu dàng (sweet gentle) giống như mùi của bông lài (jasmine).

Hoa Đào (Peach Blossom) có thể là có màu trắng (white) gọi là Bạch Đào), màu hường (pink) gọi là Hồng Đào và màu đỏ (red) gọi là Bích Đào.  Hoa có nhiều màu khác nhau có thể mọc trên cùng một cây.  Mùi hương dịu nhẹ (sweet and mild), chúng ta có thể ngửi từ cả hoa và lá.

Hoa Anh Đào (Cherry Blossom) có thể có những màu trắng (white), hường nhạt (light pink) hoặc hường đậm (dark pink); tùy theo loại cây hay từ cây riêng biệt.  Hoa Anh Đào thường có mùi hương nhẹ (mild) tuy nhiên cũng có loại khó có mùi hay có mùi rất mạnh.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Sự khác biệt giữa hình thể của 3 loại hoa.

Cả 3 thứ hoa thường đều có ít nhất là 5 cánh hoa (petal).

Hoa Mai: Cánh hoa hình tròn.  Một chỗ trên cành chỉ có một hoa và gần như không có cuống (petiole).

Hoa Đào: Cánh hoa có mũi nhọn.  Một chỗ trên cành có 2 hoa và có cuống ngắn.

Hoa Anh Đào" Cánh hoa có một chỗ lõm ở đầu.  Một chỗ trên cành có nhiều hoa và có cuống dài.

 

Thời gian của hoa nở có khác nhau nhưng có thời gian trùng nhau (trong tháng 3 và tháng 4 dương lịch của mỗi năm):

Hoa Mai thường nở vào cuối tháng 1 cho đến đầu tháng 4.

Hoa Đào thường nở vào đầu tháng 3 đến cuối tháng 4.

Hoa Anh Đào thường nở từ giữa tháng 3 đến cuối tháng 4.

 

Trong các nước ở vùng ôn đới và hàn đới, mùa hoa Anh Đào của Nhật Bản rất nổi tiếng cho toàn thế giới.  Du khách thường đến Nhật Bản trong mùa hoa nầy.

Tác giả có bài thơ mô tả:

 

MÙA HOA ANH ĐÀO NHẬT BẢN

Xuân về nở rộ khắp gần xa

Nhật Bản đón mừng Sakura (*)

Rạng rỡ trên cành, mầm nghệ thuật

Xinh tươi theo gió, hứng thi ca

Điểm trang ngự uyển thiền sơn tự

Tô thắm phố phường bách tính gia

Thưởng ngoạn Anh Đào, cùng thú vị

Đẹp tình đẹp cảnh đẹp mùa hoa.

(Phan Thượng Hải)

9/13/13

 

(*) Chú thích: Sakura (tiếng Nhật Bản) = hoa Anh Đào.

 

 

Người Mỹ cũng thường thăm viếng thủ đô Washington DC để thưởng ngoạn hoa Anh Đào vào mùa Xuân trong thời kỳ của mùa hoa Anh Đào ở Nhật Bản.

 

Hoa Đào có chỗ có khi nở ngay trước mùa lễ Phục Sinh của Kitô Giáo (Christianity).

 

XUÂN ĐÀO PHỤC SINH

Đào thắm duyên xuân lễ Phục Sinh (*)

Tự nhiên thiên tạo ý hòa minh

Tin mừng cứu thế niềm hy vọng

Hoa nở giao mùa cảnh đẹp xinh

Thời tiết an lành tâm tỉnh thức

Nhân loài từ thiện tiếng cầu kinh

Xuân đào tái hiện phô thanh sắc

Cảm giác lòng người phước phục sinh.

(Phan Thượng Hải)

4/2/21

 

(*) Chú thích: Có loại hoa đào (như anh đào) nở vào đầu tháng tư ngay trước lễ Phục Sinh.


 

Hoa Đào ở Việt Nam

 

Hoa Đào (Peach Blossom; Beach Flower) có thể là có màu trắng (white), màu hường (pink), và màu đỏ (red).  Hoa có nhiều màu khác nhau có thể mọc trên cùng một cây.  Mùi hương dịu nhẹ (sweet and mild), chúng ta có thể ngửi từ cả hoa và lá.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Hoa Đào ở Việt Nam, thường ở Bắc Việt thuộc vùng ôn đới, cũng có 3 loại hoa chính tùy theo màu:

Có màu đỏ (red) hay đỏ lạt (light red) hoặc màu hường đậm (dark rose).  Tiếng Việt gọi là Bích Đào.

Có màu hường (pink) hay hường nhạt (light pink) gần như màu trắng.  Tiếng Việt gọi là Đào Phai.

Có màu hoàn toàn trắng (white).  Tiếng Việt gọi là Bạch Đào.

 


 

Ở Việt Nam còn có:

Loại Đào Thất Thốn còn được gọi là đào tiến Vua là loại đào có cây cao hơn mặt đất chỉ chừng khoảng hơn 1m, phải trồng đến năm thứ 3 mới đơm hoa. Cây ra hoa kép và mỗi tầng hoa đều có 7 cánh, mỗi bông to có đường kính lên tới 4 – 5 cm. Đặc biệt, những bông hoa kép có thể có tới 30 - 50 cánh/bông.

Loại Hoa Đào Rừng thì mọc ở rừng nhưng có màu hường nhạt (như Đào Phai) hoặc màu trắng (như Bạch Đào).

 

Tại sao gọi là "Bích Đào" cho hoa Đào có màu đỏ hoặc màu hường đậm vì "bích" có nghĩa là màu xanh lam (blue) pha với màu xanh lục (green)?

Bích = (Màu) biếc hay xanh biếc; Thứ đá có màu xanh biếc.

Bích Câu = Cái ngòi (có) nước màu xanh biếc.  

Bích Ngọc = Một thứ ngọc có màu xanh biếc (= Jade Vert, tiếng Pháp).

Biếc = Xanh Biếc = Có màu xanh lam hòa lẫn màu xanh lục - Xanh đậm nhưng tươi ánh lên.

Tuy nhiên "Bích Đào" dùng cho hoa Đào có nghĩa khác.

Bích = Hòn ngọc, có hình tròn và ở giữa có lỗ.

Bích Đào = (Hoa) Đào đẹp và quí như hòn ngọc.

 

Cũng có danh hiệu "Hồng Đào" cho hoa Đào.

Theo Từ điển Hán ngữ,

Hồng = (Màu) đỏ lợt (lạt).

Theo Từ điển Việt ngữ,

Hồng = (Màu) đỏ (Red).

                    = Hường = (Màu) hường hay đỏ lạt (Rosé).

 

Thường dùng Hồng Đào khác với Bích Đào (màu đỏ) với "Hồng" chỉ có nghĩa là "Hường", như vậy Hồng Đào đồng nghĩa với Đào Phai?


 

Văn Học Sử Việt thường nhắc tới bài thơ "Hoa Đào" của Thôi Hộ vào đời nhà Đường.

Theo Tình Sử và Lệ Tình Tập, Thôi Hộ là một người đẹp trai, tánh quả hợp, không hay chơi với ai.  Một ngày thanh minh đi chơi một mình đến phía nam kinh thành thấy một nhà có vườn đào nhiều hoa, mới gõ cửa xin nước uống.  Một người con gái rất đẹp và rất nghiêm trang ra hỏi tên họ rồi đem nước mời uống.  Đến tiết thanh minh năm sau, Thôi Hộ lại đến nhà ấy, thấy cửa đóng, đề bài thơ nầy ở cánh cửa bên tả.  Cách mấy hôm lại đến chợt nghe tiếng khóc và có ông lão ra hỏi: anh có phải là Thôi Hộ không?  Con gái tôi đọc bài thơ của anh rồi nhịn ăn mới chết.  Thôi Hộ vào khấn, thì người con gái ấy sống lại, bèn lấy làm vợ.  Sau Thôi Hộ đổ Tiến sĩ vào đời Trinh Nguyên nhà Đường, làm qua đến chức Lĩnh Nam Tiết Độ Sứ.

 

ĐỀ TÍCH SỞ KIẾN XỨ

Khứ niên kim nhật thử môn trung

Nhân diện đào hoa tương ánh hồng

Nhân diện bất tri hà xứ khứ

Đào hoa y cựu tiếu đông phong.

(Thôi Hộ)

 

ĐỀ CHỖ ĐÃ TRÔNG THẤY NĂM TRƯỚC

Hôm nay, năm ngoái, cửa cài

Hoa đào ánh với mặt người đỏ tươi

Mặt người chẳng biết đâu rồi

Hoa đào còn đó vẫn cười gió đông.

(Trần Trọng Kim dịch)

 

ĐỀ CHỖ ĐÃ TRÔNG THẤY NĂM TRƯỚC

Hôm nay năm ngoái cổng nầy

Hoa đào soi ánh đỏ hay mặt người

Mặt người nay ở đâu rồi

Hoa đào nay vẫn còn cười gió đông.

(Trần Trọng San dịch)


 

Bài thơ nổi tiếng nầy làm điển cố cho nhiều câu thơ:

 

Ức tích dữ quân tương biệt trung

Tuyết mai do vị thức đông phong

Vấn quân hà nhật qui

Quân chỉ đào hoa hồng

Đào hoa dĩ trục đông phong khứ

Lão mai giang thượng hựu phù dung.

(Chinh Phụ Ngâm Khúc / Đặng Trần Côn)

 

Thuở đăng đồ mai chưa dạn gió

Hỏi ngày về chỉ độ đào bông

Nay đào đã quyến gió đông

Phù dung lại đã bên sông bơ xờ

(Chinh Phụ Ngâm Khúc / Đoàn Thị Điểm)

 

 

Trước sau nào thấy bóng người

Hoa đào năm ngoái còn cười gió đông

(Đoạn Trường Tân Thanh)

 

Trên chín bệ cỏ hay chăng nhẻ

Khách quần thoa mà để lạnh lùng

Thù nhau chi hỡi đông phong

Góc vườn dãi nắng cầm bông hoa đào.

(Cung Oán Ngâm Khúc)

 

 

Xuân sang xuân đã già nào

Chờ sau mai nở thì đào chẳng lâu

(Bích Câu Kỳ Ngộ)

 

Hỏi cho giáp mặt hoa đào

Vườn xuân chẳng lẽ ngăn rào mãi ru.

(Bích Câu Kỳ Ngộ)

 

Còn trời còn nước còn non

Mây xanh nước biếc vẫn còn như xưa

Hoa đào còn đó trơ trơ

Mà người năm ngoái mà giờ là đâu?

Vù vù gió thổi rèm lau

Càng như chất mới tơ sầu vào thêm.

(Bích Câu Kỳ Ngộ)

 

Ngày nay, theo Trang Thơ Thi Viện Net, bài thơ nầy được đổi tựa là "Đề Đô Thành Nam Trang" và đổi lời: từ "đông phong" thành "xuân phong"với chú thích.

 

ĐỀ ĐÔ THÀNH NAM TRANG

Khứ niên kim nhật thử môn trung

Nhân diện đào hoa tương ánh hồng

Nhân diện bất tri hà xứ khứ

Đào hoa y cựu tiếu xuân phong. (*)

(Thôi Hộ)

 

(*) Chú thích : Có bản viết là "đông phong" cũng không sai vì ở Trung Quốc gió xuân (xuân phong) đến từ hướng đông!

 

Ý kiến về "Xuân phong" thay vì "Đông phong" cũng có lý, nhưng giải thích như của Trang Thơ Thi Viện Net thì hơi gượng ép, vì thật ra hoa Đào không có nở vào mùa Đông mà chỉ nở vào mùa Xuân ở Trung Quốc, một nước thuộc vùng ôn đới và hàn đới.  Do đó câu cuối của bài thơ phải viết cho đúng theo thời tiết thiên nhiên là:

 

Đào hoa y cựu tiếu xuân phong.

 

Như vậy các câu thơ trong Chinh Phụ Ngâm, Đoạn Trường Tân Thanh và Cung Oán Ngâm Khúc dùng "đông phong" với "hoa đào" làm điển tích đều sai hết; và chỉ có Bích Câu Kỳ Ngộ dùng "mùa xuân" với "hoa đào" là đúng mà thôi?

 

Văn học sử nước Việt cũng có chuyện ông Từ Thức gặp Tiên là Giáng Hương ở động Từ Thức, còn gọi là động Bích Đào vào đời nhà Trần niên hiệu Quang Thái (1388-1398).  Động này ở xả Trị Nội, huyện Nga Sơn (nay thuộc tỉnh Thanh Hóa); ở bên hữu núi Thần Phù.

Tương truyền Từ Thức có bài thơ tả cảnh chốn nầy như sau, có đề cập đến sự hiện diện của hoa Đào:

 

Thiên chương bích thụ quải triêu đôn

Hoa thảo nghinh nhàn nhập động môn

Bạng giản dĩ vô tăng thái dược

Lâm lưu thặng hữu khách tầm nguyên (ngôn)

Lữ du tư vị tam cầm lộng

Điếu đỉnh sinh nhai nhất tửu tôn

Nghĩ hướng Vũ Lăng ngư phủ vấn

Tiền lai viễn cận thực đào thôn.

 

(Nguyễn Tử Quang dịch thơ)

Đầu cành thấp thoáng bóng kim ô

Hoa động vui mừng đón khách vô

Cạnh suối nào là người hái thuốc

Quanh nguồn chỉ có gã bơi đò

Xênh xang ghế mát đàn ba khúc

Đủng đỉnh thuyền câu rượu một vò

Ước hỏi Vũ Lăng chàng đánh cá

Làng đào đâu có cách chừng mô.

 

Tương truyền Từ Thức kết duyên với Giáng Hương và sống được một năm ở cõi Tiên thì nhớ trần thế xin về.  Khi về chốn trần gian thì mới biết thời gian đã qua 60 năm.  Ông trở về chốn cũ nhưng không tìm được Tiên nữa nên vào ở ẩn ở núi Hoàng sơn thuộc huyện Nông Cống (cũng thuộc tỉnh Thanh Hóa ngày nay) và chết ở đây.

 

Lê Quý Đôn của nhà Hậu Lê có bài thơ vịnh sự tích nầy như sau, và có nhắc tên Bích Đào Động:

 

Hải thượng quần tiên sự diếu mang

Bích đào động khẩu thái hoang lương

Kiền khôn nhất cát cùng Từ Thức

Vân thủy song nga lão Giáng Hương

Thạch cổ hữu thanh xao hiểu nhật

Sa diêm vô vị niết thu xương

Thế nhân khổ tác Thiên thai mộng

Thùy thức Thiên thai diệc hí trường.

 

(Nguyễn Tử Quang dịch thơ)

Câu chuyện thần tiên rất khó lường

Bích Đào động nọ đã hoang lương

Áo bông gió bụi: thân Từ Thức

Mày liễu xuân tàn: sắc Giáng Hương

Trống đá ngày qua nghe tiếng động

Nhủ diêm sương nhuộm mất mùi thường

Thiên thai mộng tưởng cho thêm khổ

Ai biết thiên thai cũng hí trường.

 

Có những bài thơ hiện đại tả hoa Đào trong dịp Tết, đầu Xuân, cùng với hoa Mai vì hoa Anh Đào không có ở nước Việt.

 

ĐÀO THẮM (Nguyên bản)

Cây nhà vườn trước lá đang xanh

Đua nở bông tươi phủ khắp cành

Vài bướm nghe hương lơ lửng đến

Dăm ong thấy sắc dập dìu quanh

Người qua tấm tắc khen hoa đẹp

Kẻ lại trầm trồ nói dấu lành

Ngắt cánh xinh xinh trưng chậu Tết

Đón Xuân đào thắm cánh mong manh.

(Hp-Trương Ngọc Thạch) 

1/22/16

 

ĐÀO THẮM MAI XINH (Họa)

Xuân về hoa nở đẹp trời xanh

Đào thắm mai xinh giữa lá cành 

Thắng cảnh Bích Câu duyên gặp gỡ (*)

Trọn tình Thôi Hộ hết đi quanh (*)

Mai xinh thơ mộng đời may mắn

Đào thắm lòng vui sự tốt lành

Tươi trẻ hồn người tràn nhựa sống

Chứa chan kỳ vọng kiếp mong manh.  

(Phan Thượng Hải) 

1/23/16

 

(*) Chú thích: 

Từ câu thơ: "Đua chen thu cúc xuân đào. Lựu phun lửa hạ mai chào gió đông" (Bích Câu kỳ ngộ: Tú Uyên gặp Giáng Kiều).

Sự tích và bài thơ của Thôi Hộ.


 

Hoa Mai ở Việt Nam

 

Hoa Mai (Plum) ở miền ôn đới hay hàn đới kể trên được gọi là Mai Hằng (Mơ, Mơ Ta) ở Việt Nam (Japanese Plum, Chinese Plum, Apricot), thường chỉ thấy ở Bắc Việt.  Bắc Việt gần miền ôn đới nhưng Nam Việt thuộc miền nhiệt đới nên có hoa Mai Vàng (Yellow Mai).

 

Các Loại Mai ở Việt Nam:

1. Mai Vàng (Mai Vàng Việt Nam) = Ochna integerrima.  Mai Vàng VN là loại Mai Mỹ (Ochna) chỉ có ở Việt Nam, nhất là Miền Nam trong dịp Tết Nguyên Đán.

Mai Núi = 1 loại Mai Vàng mọc tự nhiên ở rừng núi = thuộc loại Ochna integerrima.  Nó khác với loại Mai Vàng VN trồng ở phố thị hay thôn quê.

2. Những Mai Mỹ khác = Ochna serrulata, Ochna atropurpurea...

Mai Tứ Quý = thuộc loại Ochna serrulata.

Nhị Độ Mai = 1 loại tiêu biểu của Mai Tứ Quý.

3. Mai Hằng = Mơ, Mơ Ta = Prunus mume

Nhất Chi Mai = thuộc loại Prunus mume.

 

Mai Vàng (Việt Nam), không phải là Mai Núi.

- Thường thấy ở Miền Nam trong dịp Tết Nguyên Đán.  Được trồng ở phố thị hay thôn quê.

Miền Nam

Miền Bắc: hiện đại trồng ở vùng Uông Bí - Đông Triều - Quảng Ninh.

Miền Trung: trồng ở Huế và Bình Định. 

- Hoa màu vàng và có 5 cánh hoa.

Mai Vàng = Hoàng Mai, Huỳnh Mai, Lão Mai. 

= Yellow Mai (Anh ngữ).

 

 

 

 

 

 

 

Mai Núi

Thường thấy mọc tự nhiên ở vùng rừng núi: từ Tây Nguyên, ở Quảng Bình và Quảng Trị, cho tới Biên Hòa và Tây Ninh.

Hoa màu vàng và có 5-9 cánh hoa, có khi tới 12-18 cánh.

Ngày nay Mai Núi cũng được trồng ở phố thị và thôn quê.

Mai Núi = Mountain Mai

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Những Mai Mỹ khác trên Thế giới.

Hoa màu vàng có đài màu đỏ.

Mai Mỹ = Smell-leaved Plane, Mickey Mouse Plane, Carnival Ochna, Bird's Eye Bush

 

Mai Tứ Quý và Nhị Độ Mai.

- Hoa có 5 cánh hoa.

- Nhị Độ Mai có nghĩa là Mai nở hai lần (trước vàng sau đỏ).

Mai Tứ Quý bắt đầu có hoa màu vàng 5 cánh.  Các cánh rơi rụng rồi 5 đài hoa đổi thành màu đỏ úp lại ôm lấy nhụy, trông giống như nụ hoa vừa nhú.  Nhụy bên trong kết hạt rồi hạt to dần đẩy 5 đài hoa (đỏ) bung ra trông giống như hoa mai đỏ vừa nở.  Hạt ở giữa các cánh hoa, có màu xanh khi còn non rồi đổi sang màu đen khi già.


 

Thường trồng ở Miền Bắc từ xưa đến giờ và có Trái (Quả).

Hoa nở vào cuối Đông và đầu Xuân (cuối tháng 1 và đầu tháng 2).

Hoa thường có màu trắng, hiếm khi thấy màu hồng nhạt hay đỏ thẩm.

Hoa có 5 cánh hoa (thường là màu trắng).  Nhụy chỉ có màu vàng.

 

Mai Hằng, Mơ, Mơ Ta (khác Mơ Tây = Apricot = Prunus armeniaca).

= Bạch Mai, Hàn Mai.

= Mai, Mai Tử (Hán ngữ của Trung Hoa).

= Chinese Plum, Japanese Plum, Japanese Apricot (Anh ngữ).

= Apricotier du Japon, Apricotier (Pháp ngữ).

 

Mai Hằng hay Mơ Ta (Abricottier) màu trắng hồng biểu hiện Tình yêu không được đáp lại.Tác giả là người sống viễn xứ, nhân khi ngắm Mai Vàng sau vườn cũng có bài thơ:

 

NGẮM MAI VÀNG (Nguyên bản)

Hậu viên thơ thẩn ngắm mai vàng

Kỳ vọng đồng tình xuân mới sang

Nhụy nở tự nhiên chào gió lạnh

Cánh chia xinh xắn đón trời quang

Huy hoàng sắc đẹp bên hoàng cúc

Thanh bạch duyên may cạnh bạch lan

Thoáng nhớ hương xưa nơi đất mẹ (*)

Hồn thơ lai láng tứ mênh mang...

(Phan Thượng Hải)

3/3/21

 

(*) Cổ thi thường mượn hoa Mai để nhớ quê nhà cho những người viễn xứ, như bài thơ dưới đây của Lê Cảnh Tuân đời nhà Trần:

 

NGUYÊN NHẬT (*)                            NGÀY ĐẦU NĂM 

Lữ quán khách nhưng tại                       Hỡi ơi xuân cũ lại về

Khứ niên xuân phục lai                          Còn ta đất khách lê thê năm dài

Quy kỳ hà nhật thị                                 Ngày về thăm thẳm hỏi ai?

Lão tận cố hương mai.                           E rằng đã cỗi cành mai quê nhà.

(Lê Cảnh Tuân)                                      (Nguyễn Tấn Hưng dịch)

 

(*) Chú thích: Nguyên nhật = ngày đầu năm

 

Bài thơ của tác giả được những người trong nước họa:

 

MAI XUÂN (Họa)

Bát ngát Nam Phương ngập ánh vàng

Trời vui lồng lộng nắng Xuân sang

Mai hương nhẹ thoảng thơm quê lạnh

Cúc sắc đậm màu tươi xứ quang

Mong khách năm châu vui Ngọc Điểm

Ước người tứ xứ thưởng Hoàng Lan 

Nguyện cầu thế giới thanh bình điệu

Nhơn loại nhẫn hòa nhẹ gánh mang.

(Võ Văn Thành)

03/04/2021

 

CÂY MAI NHÀ (Họa)

Trước nhà rực rỡ chậu mai vàng

Hớn hở đón mừng năm mới sang 

Cành, nhánh sum sê như biểu diễn

Nụ, hoa tươi thắm tựa đăng quang 

Nghiêng mình đáp lễ chào em cúc

Ngẩng mặt trao hương gửi chị lan 

Xuân đến rồi đi lòng bịn rịn

Ơn trời mọi thứ được cưu mang.

(Phan Kim Thành)

3/6/21  

 

Tình quê hương không những từ bông Mai Vàng mà từ bông Lúa Vàng: 

 

HOÀNG HOA

Tâm tư êm ái tự hoàng hoa

Dưỡng tánh an cư thú đậm đà

Nhớ đến cố hương màu lúa chín (*)

Thương về quá khứ sắc mai già (*)

Cổ thi rạng tứ hòa phong cảnh

Mỹ tửu si tình mến tố nga

Xuân ý dâng tràn niềm hạnh phúc

Tượng hình chia sẻ khắp gần xa.

(Phan Thượng Hải)

3/19/21

 

Bs PHAN THƯỢNG HẢI biên soạn và giữ bản quyền

 

Bài viết nầy đăng lần đầu trong phanthuonghai.com mục Văn Hóa phần Học Thuật.

Tài Liệu Tham Khảo:

- Cùng một tác giả Bs Phan Thượng Hải - Phan Thượng Hải - phanthuonghai.com

Các Loại Hoa Biểu Hiện Tình Yêu (Bs Phan Thượng Hải)

Điển Cố Từ Thơ (Phan Thượng Hải)

Thơ Phan Thượng Hải - Sinh Vật và Cảnh Vật (Bs Phan Thượng Hải)

- Khác tác giả

Điển Hay Tích Lạ (Nguyễn Tử Quang)

Related articles and pictures - Google Wikipedia

 

Bs PHAN THƯỢNG HẢI biên soạn và giữ bản quyền

PTH_hoadao_1.JPG
PTH_hoadao_2.JPG
PTH_PhuSi.JPG
PTH_hoadao_3.JPG
PTH_Hoadao_4.JPG
PTH_ Maivang.JPG
PTH_Mainui.JPG
PTH_Nhidomai.JPG
PTH_MaiHang.JPG
PTH_DalaiLatma.jpg

ĐẠT LAI LẠT MA THỨ 14

 

                                          Bs Phan Thượng Hải biên soạn 

 

Pháp danh của ngài là Tenzin Gyatso, rút ngắn từ "Jetsun Jamphel Ngawang Lobsang Yeshe Tenzin Gyatso". Tục danh của ngài là Lhamo Dondrub (hay Thondup).

Ngài sinh (năm 1935) trong 1 gia đình nông dân và chăn nuôi ngựa có 7 người con ở 1 làng nhỏ trước thuộc vùng Amdo của Tây Tạng nhưng lúc đó lại thuộc tỉnh Thanh Hải của Trung Hoa Dân Quốc.  Gia đình của ngài nói tiếng thổ ngữ Tây ninh Trung Hoa trước khi dời về Lhasa (năm 1939).  Người anh cả, Thupten Jigme Norbu, đã được nhận là tái sinh của Lạt Ma Taktser Rinpoche. 

 

Nhiếp Chánh Reting Rinpoche tìm ra Lhamo Thondup là tái sinh của Đạt Lai Lạt Ma thứ 13.  Cậu bé Lhamo Thondup nhận ra đúng hết từng di vật khác nhau của Đạt Lai Lạt Ma thứ 13 mà la lên rằng: "Cái đó của tôi! Cái đó của tôi!". Để Lhamo Thondup được rời nơi ở mà về Lhasa, Tây Tạng phải đút tiền cho Tướng quân ở Thanh Hải (Qing Hai) là Mã Bộ Phương (Ma Bu Fang).

Tenzin Gyatso được chánh thức thành Đạt Lai Lạt Ma thứ 14 trị vì Tây Tạng vào năm 1950 (khi 15 tuổi).  Năm 1959 (khi 23 tuổi) Đạt Lai Lạt Ma thứ 14 đậu Tiến sĩ của Phật Giáo Tây Tạng (Doctorate in Bhuddist Philosophy).  

 

Dưới thời Trung Hoa Dân Quốc của Tưởng Giới Thạch, Tướng quân Mã Bộ Phương (Ma Bu Fang) của Thanh Hải (theo đạo Hồi) thường phá phách Tây Tạng.

Khi Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc thành lập năm 1949, quân đội Trung Quốc chiếm Tây Tạng vào tháng 10, 1950 chỉ 1 tháng trước ngày tức vị của Đạt Lai Lạt Ma thứ 14 (tháng 11, 1950).  Năm 1954, Đạt Lai Lạt Ma thứ 14 và Ban Thiền Lạt Ma thứ 10 sang Bắc Kinh gặp Chủ tịch Mao Trạch Đông.  Đạt Lai Lạt Ma thứ 14 được phong làm Phó Chủ tịch Ủy ban thường vụ của Quốc Hội Nhân Dân.  

Năm 1956, Đạt Lai Lạt Ma thứ 14 sang gặp Thủ tướng Nehru của Ấn Độ và ngài ngỏ ý xin tỵ nạn nhưng bị từ chối.  Cùng năm đó có cuộc nổi dậy của người Tây Tạng ở vùng Kham chống lại chánh quyền Trung Quốc.

 

Với sự giúp đỡ của CIA, Đạt Lai Lạt Ma thứ 14 cùng tùy tùng trốn khỏi Tây Tạng, sang Ấn Độ vào ngày 30-3-1959 và tới Tezpur của vùng Assam vào ngày 18-4-1959.

Ngay sau đó, tại Dharamsala (của Ấn Độ), Đạt Lai Lạt Ma thứ 14 với 80,000 người Tây Tạng định cư ở đây lập Chánh phủ Tây Tạng Lưu Vong và duy trì nền tôn giáo, văn hóa và nghệ thuật Tây Tạng tại đây.

 

Về chính trị, trước tiên, Đạt Lai Lạt Ma vận động với Liên Hiệp Quốc đấu tranh cho Nhân quyền trên lãnh thổ Tây Tạng. 

Sau khi Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc được Nixon cho vào Hội đồng bảo an của Liên Hiệp Quốc, Đạt Lai Lạt Ma phải điều đình trực tiếp với Trung Quốc.  Qua nhiều lần điều đình ngoại giao với Trung Quốc về vấn đề Tây Tạng tự trị (liên hợp với Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc) và về vấn đề Đạt Lai Lạt Ma về lại Tây Tạng, Đạt Lai Lạt Ma thứ 14 cuối cùng phải chấm dứt (điều đình) vì ngài không còn "tin" chánh quyền Trung Quốc nữa.

 

Về tôn giáo, Đạt Lai Lạt Ma thứ 14 viết sách và đi thuyết giảng Phật Giáo và Phật Giáo Tây Tạng khắp toàn thế giới. Ngài cũng giao dịch với các nhà lãnh đạo tôn giáo khác trên thế giới.  Ngài cổ động cho tôn giáo dựa trên nền tảng khoa học chứ không dựa trên mê tín dị đoan.

Ngài luôn giữ liên hệ tốt đẹp với Ấn Độ. Ngài nói: "Tôi coi Ấn Độ là thầy và Tây Tạng là học trò vì những đại học giả như Long Thụ (Nagarjuna) từ Nalanda (của Ấn Độ) sang Tây Tạng giảng dạy Phật Giáo vào thế kỷ thứ 8".

Từ tôn giáo, Đạt Lai Lạt Ma thứ 14 thành nổi tiếng trên khắp thế giới.  Ngài được giải Nobel Hòa Bình (năm 1989).

 

 

Dưới đây là một số quan điểm về một số vấn đề đặc biệt của Đạt Lai Lạt Ma thứ 14:

 

- Về chủ nghĩa Cộng Sản của Karl Marx, Đạt Lai Lạt Ma thứ 14 viết:

         Trong tất cả những thuyết lý kinh tế hiện đại, hệ thống kinh tế của Marxism được xây dựng trên nguyên tắc đạo đức trong khi đó chủ nghĩa tư bản (capitalism) chỉ nghĩ tới thắng lợi và có lợi.  Marxism nghĩ tới sự phân chia tài sản trên căn bản bình đẳng và sự xử dụng công bình của phương tiện sản xuất.  Nó cũng nghĩ tới số mệnh của giai cấp công nhân - là đa số - cũng như số mệnh của những ai yếu thế và đang cần, và Marxism lo cho nạn nhân của sự lợi dụng trẻ em bị áp bức.  Do những lý do đó, hệ thống (Marxism) cảm động lòng tôi và nó có vẻ tốt và thuận tiện.

Ngài cho rằng khi ngài đến Bắc Kinh (1956), "đối với tôi, Marxism rất hấp dẫn, tôi còn tỏ ý muốn thành một đảng viên Cộng Sản", dẫn chứng từ ý niệm thích nhất của ngài là tự túc (self-sufficiency) và sự phân chia bình đẳng của tài sản.  

Tuy nhiên Đạt Lai Lạt Ma thứ 14 không tin là Trung Quốc áp dụng thật sự đúng đắn chính sách của K. Marx.  Nói về chủ nghĩa tư bản, ngài cho rằng "mực sống của hàng triệu dân tốt hơn" nhưng đó "chỉ là làm sao cho có lợi", trong khi đó Marxism có "luân lý đạo đức" (moral ethics). Nhìn lại lịch sử, Liên Xô "chỉ nghĩ tới lợi ích của quốc gia hơn là lợi ích của Công nhân Quốc tế (Workers' International).

 

- Về Tình dục

Ngài quan niệm rằng giao hợp bằng miệng, bằng tay hay bằng hậu môn (cho cả Đồng tính luyến ái hay Dị tính luyến ái) là không được chấp nhận cho Phật Tử hay đối với Phật Giáo.

Ngài nói:

         "Sự cấm đoán tình dục cho người Phật tử áp dụng cho hành vi Đồng tính luyến ái và sự giao hợp Dị tính ở những chỗ khác hơn là âm đạo (vagina), kể cả sự thủ dâm hay những hành vi giao hợp bằng tay...  Trên quan điểm của Phật giáo, sự giao hợp tình dục của lesbian và gay thông thường được coi như là tình dục không có hạnh kiểm (sexual misconduct)".

         "Nếu có người đến hỏi tôi rằng Đồng tính luyến ái là Okay hay không.  Tôi sẽ hỏi: Ý kiến của người bạn tình (companion) của bạn ra sao?  Nếu cả 2 người đều đồng ý thì tôi nghĩ rằng tôi sẽ nói: Nếu 2 người Nam hay 2 người Nữ tự mình đồng ý có sự thỏa mãn chung với nhau mà không có làm hại những người khác, thì đó là Okay".

         "Một cuộc giao hợp tình dục được xem là đúng đắn khi đôi (tình nhân) dùng những cơ quan dành riêng cho sự giao hợp và không dùng những gì khác...  Đồng tính luyến ái, cho dù giữa 2 người Nam hay giữa 2 người Nữ, tự nó là không đúng đắn, Cái không đúng đắn là việc xử dụng những cơ quan được định nghĩa là không chính đáng (inappropriate) cho sự giao hợp tình dục".

Đạt Lai Lạt Ma nhắc nhở rằng mọi tôn giáo đều có cùng ý kiến về sự gian dâm (adultery).

 

- Đạt Lai Lạt Ma thứ 14 biểu lộ sự lo lắng về vấn đề môi sinh (Environnement) và vận động cho việc bảo vệ các thú vật hoang dại.

 

- Về việc Osama Bin Laden bị giết chết, Đạt Lai Lạt Ma thứ 14 nói: 

         "Tha thứ không có nghĩa là quên những gì đã xảy ra...  Nếu chuyện gì quá hệ trọng (serious) và cần có sự phản công, bạn phải phản công lại"

 

- Đạt Lai Lạt Ma thứ 14 nhắc nhở rằng Phá Thai là một hành vi của sát sanh (thuộc giới cấm của Phật Giáo).  Nhưng ngài cũng đồng ý trong những trường hợp đặc biệt "nếu trẻ chưa sinh sẽ chậm lớn (retarded) hay sự sinh sản sẽ gây nên vấn đề hệ trọng cho cha mẹ", với ý của ngài là tùy theo từng trường hợp cá biệt.  Điều nầy có khác văn hóa của Tây Tạng: Phá Thai là tuyệt đối không được chấp nhận và phái nữ không có quyền quyết định.Ở Tây Tạng, thịt là thực phẩm chính, hầu hết tăng sĩ đều "ăn tất cả mọi thứ" (omnivorous) cả thực vật lẫn động vật, kể cả Đạt Lai Lạt Ma.  Trong quá khứ, Đạt Lai Lạt Ma thứ 14 có thử ăn chay nhưng ngài bị "vàng da" (jaundice).  Do đó bác sĩ khuyên ngài phải ngưng.  Khi ngài viếng thăm Tòa Bạch Ốc (White House) và được dọn món ăn chay thì ngài từ chối và trả lời rằng: "Tôi là một tăng sĩ  (monk) Tây Tạng chứ không phải là một người ăn chay (vegetarian)". 

 

Năm 2008, sau khi có nổi loạn của dân Tây Tạng ở trong nước chống lại chánh quyền Trung Cộng, Đạt Lai Lạt Ma thứ 14 muốn sửa đổi phương hướng tìm Đạt Lai Lạt Ma kế vị trong tương lai (như có thể tái sinh ngoài lãnh thổ Tây Tạng) vì ngài sợ có sự âm mưu nhúng tay vào của chính quyền Trung Quốc.

Ngày 24-3-2011, Đạt Lai Lạt Ma thứ 14 xin từ chức là Lãnh tụ chính trị của chính quyền Tây Tạng lưu vong và xin Quốc Hội lưu vong sửa hiến pháp: Đạt Lai Lạt Ma không còn là người lãnh đạo của quốc gia nữa mà được thay thế bằng một Lãnh tụ do dân bầu lên.

 

Đạt Lai Lạt Ma thứ 14 giới thiệu giáo lý giác ngộ của Thiền tông cho Phật tử còn vương vấn với cái Nghiệp của Phật Thích Ca và Phật Giáo Nguyên thủy:       

         Tất cả mọi Hiện tượng thanh tịnh hay ô nhiễm đều trình hiện bởi Tâm Thức như là biểu hiện bằng tính chất tự nhiên thanh tịnh (của Bản Tâm) vì Bản Tâm là thanh tịnh bản nhiên từ khởi thủy..

         Ngay cả khi vẫn là chúng sanh và dù đã tạo vô số ý Nghiệp tốt hoặc xấu như tham, sân, si; Bản Tâm chính nó vẫn siêu việt (= ở trên) mọi ô nhiễm từ các phiền não nầy.  Nước có thể rất bẩn nhưng thể tính của nó vẫn là trong sạch (= thanh tịnh) và bản tánh của nước không bị ô nhiễm bởi bùn dơ.

         Tương tự, bất luận Hiện tượng phát sinh như là trò thiên diễn (= biểu tượng) của Tâm nầy, và bất luận lực dụng của nó (= hiện tượng phát sinh) đến mức nào thì tự Bản Tâm (căn nguyên của mọi tướng trạng của các kỹ xảo như vậy) từ vô thủy vẫn không bị ảnh hưởng bởi ô nhiễm và vẫn không bị ảnh hưởng bởi cái thiện.

         Giác ngộ là khi ta "đồng nhất" được với Bản Tâm và nhận thức rõ ràng tất cả mọi Hiện tượng luân hồi sinh tử và Niết bàn (Vạn Pháp) đều lưu xuất từ Bản Tâm nầy.  Bản Tâm từ bi viên mãn và vi diệu vốn có sẵn (trong mỗi và mọi chúng sanh) nên Kinh có câu "Giác ngộ từ vô thủy". 

         Từ không bị ảnh hưởng bởi khái niệm quy ước, Tâm (Tâm Thức) đồng nhất với bản thể của mình (= Bản Tâm) và khẳng định chính xác rằng ý nghĩa của nó (= Bản Tâm) tương tục và thường hằng trong sự quân bình của Định Tuệ thì dù có sống trong thế tục chúng ta đã là Phật.

 

Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ 14 giúp chúng ta hiểu rõ giáo lý nhân sinh của Kim Cang Thừa, giống như Thiền Tông của Phật Giáo Đại Thừa: Sống từ bi theo Bản Tâm từ bi bẩm sinh của tâm ta thì ta vượt thoát ra khỏi Nghiệp (Karma) (căn bản của Nhân Quả Nghiệp Duyên) và tâm của ta không có Tham (greed), Sân (anger) và Mạn (pride).  Thiền Tông còn gọi Bản Tâm là Phật Tánh (hay nhiều từ ngữ khác như "Bản Lai Diện Mục").  Đó là cốt lõi của giáo lý Phật Giáo Đại Thừa và Kim Cang Thừa.  Mọi người đều có sẵn Bản Tâm (hay Phật Tánh) từ bẩm sinh nên đều có thể thành Phật trong kiếp sống này.  

Nếu ta giác ngộ được cái cốt lõi của giáo lý nầy thì ta có "trí tuệ bát nhã" tức là không còn Si hay Vô Minh (ignorance) và Nghi (doubt).

 

Bs PHAN THƯỢNG HẢI biên soạn

 

Tài liệu đọc thêm:

     1. Phật Giáo Tây Tạng Kim Cang Thừa (Bs Phan Thượng Hải) - phanthuonghai.com

     2. Giáo Lý Giác Ngộ của Phật Giáo Đại Thừa Thiền Tông (Bs Phan Thượng Hải) - phanthuonghai.com

     3. Giáo Lý Giải Thoát của Phật Giáo Nguyên Thủy (Bs Phan Thượng Hải) - phanthuonghai.com  

_____________________

 LỊCH SỬ CỦA ĐẠT LAI LẠT MA VÀ BAN THIỀN LẠT MA

 

                                                  Bs Phan Thượng Hải biên soạn

 

a) Đại Cương

 

*

Je Tsongkhaba (Tông Khách Ba) lập phái Gelug ở Tu viện Ganden (từ năm 1409).  

Trong 2 đệ tử của Je Tsongkhaba (1357-419) có 2 Lạt Ma là Khedrup Je và Gendrum Drup (Gendrum Drub). Cả 2 Lạt Ma nầy thuộc 2 dòng hóa thân Tulku (Chu cô) khác nhau.  

Sau khi Je Tsongkhaba qua đời, Lạt Ma Gendrum Drup thay Je Tsongkhaba làm Trụ trì Tu viện Ganden và trở thành vị Lạt Ma được kính trọng và nổi tiếng của Tây Tạng.  Ngài không có liên quan tới chính trị.  Sau đó ngài rời Tu viện Gandan về làm Trụ trì Tu viện Drepung và lập Tu viện Tashilhumpo ở Shigatse (năm 1447).  Lạt Ma Khedrup Je thay làm Trụ trì tu viện Ganden và dĩ nhiên trở thành Gaden Tripa (Giáo chủ) của phái Gelug.

 

*

Dòng Tulku (Chu cô) của Lạt Ma Gendrum Drup nối tiếp với những Lạt Ma: Gendun Gyatso Palzanpo và Sonam Gyatso.  

         Lạt Ma Gendun Gyatso Palzampo lãnh đạo cả 3 tu viện Drepung, Sera và Ganden.  Phái Gelug rất có uy tín Phật Giáo Tây Tạng lúc bấy giờ.  

         Lạt Ma Sonam Gyatso là Ganden Tripa (Giáo chủ) của phái Gelug và trong thời của ngài, phái Gelug thay thế phái Kagyu, trở thành lãnh đạo của giáo hội Phật Giáo Tây Tạng.

 

Sau khi gặp Khả Hãn Altan của Mông Cổ, Lạt Ma Sonam Gyatso có danh hiệu Đạt Lai Lạt Ma và từ đó danh hiệu nầy được dùng cho những Lạt Ma thuộc dòng Tulku nầy từ Lạt Ma Gendrum Drup.  Và từ đó dòng Tulku (Chu Cô) nầy được coi là hiện thân của Quan Tự Tại bồ tát (Avalokiteshvara).  Quan Tự Tại bồ tát là Quan Thế Âm bồ tát của Đại Thừa.  Sau khi có danh hiệu Đạt Lai Lạt Ma, (Lạt Ma) Sonam Gyatso tự xưng là Đạt Lai Lạt Ma thứ 3 và tấn phong ngược lại cho Lạt Ma Gendun Gyatso Palzamo là Đạt Lai Lạt Ma thứ 2 và Lạt Ma Gendrum Drup là Đạt Lai Lạt Ma thứ 1.  Từ Đạt Lai Lạt Ma thứ 5, Đạt Lai Lạt Ma là nhà lãnh đạo chính trị và tinh thần (tôn giáo) của toàn lãnh thổ Tây Tạng. 

 

*

Dòng Tulku (Chu cô) của Lạt Ma Khedrup Je nối tiếp với những Lạt Ma: Sonam Choklang, Ensapa Lobsang Dondrup và Lobsang Chokyi Gyaltsen.  

Tương truyền rằng trước khi chính thức thành Ban Thiền Lạt Ma, dòng Tulku nầy đầu tiên là Hiện thân của Văn Thù bồ tát (Manjusrì) bắt đầu từ Tu Bồ Đề (Subhuti), một trong 10 Đại đệ tử của Phật Thích Ca, truyền qua 4 tăng sĩ Ấn Độ và 3 tăng sĩ Tây Tạng trước khi tới Lạt Ma Khedrup Je.  Lạt Ma Ensapa Lobsang Dondrup bỏ ra 20 năm tu thiền định ở một hang đá ở núi Hy Mã Lạp Sơn. Ngài có trí nhớ tuyệt vời, thuộc lòng cả kinh Bát Nhã Bát Thiên tụng.

 

Lạt Ma Lobsang Chokyi Gyaltsen là thầy của Đạt Lai Lạt Ma thứ 4 và thứ 5.  Vì lý do đó, khi nắm quyền lãnh đạo Tây Tạng, Đạt Lai Lạt Ma thứ 5 phong cho Lạt Ma Lobsang Chokyi danh hiệu Ban Thiền Lạt Ma

Như thế Lạt Ma Lobsang Chokyi Gyaltsen trở thành Ban Thiền Lạt Ma thứ 4.  Dòng Tulku (Chu cô) của ngài từ đó được mang danh hiệu Ban Thiền Lạt Ma và ngược lại:

         Lạt Ma Ensapa Lobsang Dondrup là Ban Thiền Lạt Ma Lạt Ma thứ 3,  

         Lạt Ma Sonam Choklang là Ban Thiền Lạt Ma thứ 2, 

         và Lạt Ma Khedrup Je (Khedrup Gelek Pelzang) là Ban Thiền Lạt Ma thứ 1 

          

Tước hiệu Ban Thiền Lạt Ma trước đó có được ban cho những Lạt Ma tài giỏi vì "ban thiền" (panchen) theo tiếng Tây Tạng có nghĩa là "đại học giả" nhưng từ nay "Ban Thiền" chỉ dùng riêng cho những Lạt Ma thuộc dòng Tulku (Chu cô) nầy mà thôi.  

Ban Thiền Lạt Ma chính thức được công nhận là Hiện thân của A Di Đà Phật, giữ chức Trụ trì và đặt cơ sở ở Tu viện Tashilhumpo.  

Từ đó Đạt Lai Lạt Ma và Ban Thiền Lạt Ma có liên hệ mật thiết với nhau và Đạt Lai Lạt Ma giúp trong việc tìm hóa thân cho dòng Tulku (Chu cô) của Ban Thiền Lạt Ma cũng như Ban Thiền Lạt Ma cố vấn cho việc tu học của Đạt Lai Lạt Ma khi còn nhỏ trước khi tức vị.

 

*

Lịch sử tương quan giữa Ban Thiền và Đạt Lai Lạt Ma

 

Ban Thiền Lạt Ma thứ 1 (1385-1438)

                  Đạt Lai Lạt Ma thứ 1 (1391-1474)

Ban Thiền Lạt Ma thứ 2 (1438-1505)

                  Đạt Lai Lạt Ma thứ 2 (1475-1542)

Ban Thiền Lạt Ma thứ 3 (1505-1568)

                  Đạt Lai Lạt Ma thứ 3 (1543-1588)

Ban Thiền Lạt Ma thứ 4 (1570-1662)

                  Đạt Lai Lạt Ma thứ 4 (1589-1617)

                  Đạt Lai Lạt Ma thứ 5 (1617- 1682)

Ban Thiền Lạt Ma thứ 5 (1663-1737)

                  Đạt Lai Lạt Ma thứ 6 (1683-1706)

                  Đạt Lai Lạt Ma thứ 7 (1708-1757)

Ban Thiền Lạt Ma thứ 6 (1738-1780)

                  Đạt Lai Lạt Ma thứ 8 (1758-1804)

Ban Thiền Lạt Ma thứ 7 (1782-1853)

                  Đạt Lai Lạt Ma thứ 9 (1805-1815)

                  Đạt Lai Lạt Ma thứ 10 (1816-1837)

                  Đạt Lai Lạt Ma thứ 11 (1838-1856)

Ban Thiền Lạt Ma thứ 8 (1855-1882)

                  Đạt Lai Lạt Ma thứ 12 (1857-1875)

                  Đạt Lai Lạt Ma thứ 13 (1876-1933)

Ban Thiền Lạt Ma thứ 9 (1883-1937)

                  Đạt Lai Lạt Ma thứ 14 (sinh năm 1835)

Ban Thiền Lạt Ma thứ 10 (1938-1989)

 

 

b) Dòng Đạt Lai Lạt Ma (Dalai Lama)

 

(Giai Đoạn Độc Lập của Tây Tạng)

 

1. Đạt Lai Lạt Ma thứ 1 (1391-1474)

 

Tục danh của ngài là Pema Dorje có nghĩa là Liên Hoa Kim Cương (Vajra Lotus) nhưng pháp danh là Gendun Drub hay Kundun Drup.  Ngài là môn đệ của Je Tsongkhapa (Tông Khách Ba) và hình như Je Tsongkhapa là cậu của ngài.

Đạt Lai Lạt Ma (Dalai Lama) của Tây Tạng được tin là hiện thân của Quan Tự Tại Bồ Tát (Avalokiteshvara, tiếng Tây Tạng gọi là Chenresig).  Theo truyền thống, Palden Lhamo, Hộ thần (Dharmapala) của hồ thánh Lhamo La-tso tự nguyện là bà sẽ bảo hộ dòng hóa thân của Đạt Lai Lạt Ma.

Đạt Lai Lạt Ma thứ 1 chết trong khi tham Thiền vào năm 1474, thọ 84 tuổi.

 

 

2. Đạt Lai Lạt Ma thứ 2 (1475-1542)

 

Tục danh của ngài là Yonten Phuntsok và pháp danh là Gendun Gyatso Palzangpo hay Gendun Gyatso.  Huyền thoại nói rằng sau khi biết nói, ngài nói tên mình là Pema Dorje, tục danh của Đạt Lai Lạt Ma thứ 1 và tên của cha mình là Lobsang Drakpa, pháp danh của Je Tsongkhapa (Tông Khách Ba).

Khoảng 4 hay 7 tuổi, ngài được nhận là tái sinh của Gendrun Drup (Đạt Lai Lạt Ma thứ 1).

Ngài được quy y (received his novice vows) từ Lạt Ma Lungrig Gyatso vào năm 1486, lúc 10 tuổi.

Đạt Lai Lạt Ma thứ 2 chết trong khi tham Thiền vào năm 1542, thọ 67 tuổi.

 

 

3. Đạt Lai Lạt Ma thứ 3 (1543-1588)

 

Pháp danh của ngài là Sonam Gyatso. Ngài là vị Lạt Ma của Tây Tạng đầu tiên chính thức được có danh hiệu Đạt Lai lúc sinh thời.  Hai vị tiền thân của dòng Tulku (Chu Cô) của ngài được gọi là Đạt Lai Lạt Ma sau khi đã qua đời.

 

Năm 1571, Khả Hãn Altan (Altan Khan) của nước Mông Cổ sùng bái Phật Giáo Tây Tạng nên mời Lạt Ma danh tiếng nhất của Tây Tạng lúc bấy giờ là Lạt Ma Sonam Gyatso của phái Gelug sang viếng thăm Mông Cổ. 

Sau 1 lần từ chối, Lạt Ma Sonam Gyatso sang hội kiến với Khả Hãn Altan theo lời mời lần thứ nhì (vào năm 1578).  Khả Hãn Altan dùng danh từ Đạt Lai Lạt Ma để tôn danh ngài.  Sonam Gyatso chính thức mang danh hiệu Đạt Lai Lạt Ma và là vị thứ 3 còn 2 vị tiền thân Gendun Drup và Gendun Gyatso có danh hiệu Đạt Lai Lạt Ma thứ 1 và thứ 2. 

Sở dĩ có danh hiệu Đạt Lai vì sự lẫn lộn giữa tiếng Tây Tạng và tiếng Mông Cổ.  Tiếng Gyatso của Tây Tạng có nghĩa là "biển cả hay đại dương"; Khả Hãn Altan dịch ra tiếng Mông Cổ là Dalai và lầm tưởng "tên họ" Gyatso của Đại Lạt Ma đi chung với "chức" Lama nên gọi là Dalai Lama (Đạt Lai Lạt Ma).  

Khả Hãn Altan chết năm 1582, 4 năm sau khi gặp Đạt Lai Lạt Ma thứ 3.  Đạt Lai Lạt Ma sang Mông Cổ 2 lần nữa sau khi Khả Hãn Altan qua đời.  Lần cuối cùng trên đường trở về Tây Tạng ngài bệnh và chết ở trên đất Mông Cổ.  Cháu cố của Khả Hãn Altan, Yonten Gyatso, được chọn là hóa thân của ngài và thành Đạt Lai Lạt Ma thứ 4. 

 

 

4. Đạt Lai Lạt Ma thứ 4 (1589-1617)

 

Pháp danh của ngài là Yonten Gyatso. Ngài sinh ở Mông Cổ và Cha của ngài là Tù trưởng của bộ lạc Chokur, cháu nội của Khả Hãn Altan.

Các nhà tiên tri của Tây Tạng đều tiên đoán Đạt Lai Lạt Ma tương lai (sau Đạt Lai Lạt Ma thứ 3) sẽ là người Mông Cổ.  Sau khi được chọn, Yonten Gyatso rời Mông Cổ lúc ngài 10 tuổi (năm 1598) và phải tới 4 năm sau mới tới Tây Tạng vì trên đường đi ngài phải ghé qua nhiều tu viện.  Ngài là môn đệ của Ban Thiền Lạt Ma thứ 5.  Tới năm 1604, ngài mới chính thức là Tăng sĩ.

Quí tộc Tây Tạng không đồng ý nên muốn lật đổ Đạt Lai Lạt Ma thứ 4 với sự trợ giúp của phái Kagyu.  Năm 1605, một Vương tử Tây Tạng chiếm Lhasa và đuổi kỵ binh Mông Cổ.  Năm 1610, quân Tây Tạng tấn công Đạt Lai Lạt Ma ở tu viện Drepung, ngài phải di tản lánh nạn.

Đạt Lai Lạt Ma thứ 4 chết vào năm 1617 trong khi đang lánh nạn, thọ 28 tuổi.  Có người cho là ngài bị đầu độc. 

 

 

5. Đạt Lai Lạt Ma thứ 5 (1617-1682)

 

Pháp danh của ngài là Ngawang Lobsang Gyatso.  Ngài sinh trong dòng quí tộc Tây Tạng.  Cha của ngài là Dudul Rabten âm mưu chống lại vương tử của nhà Tsang trong khi ngài được bí mật công nhận là hóa thân của Đạt Lai Lạt Ma thứ 4 từ người hầu cận chánh (Nhiếp Chánh) của Đạt Lai Lạt Ma thứ 4 là Sonam Choephel.  Dudul Rabten bị bắt và chết trong khi bị giam giữ.  

 

Nhiếp Chánh Sonam Choepel (còn gọi là Sonam Rapten) cầu cứu với Khả Hãn Gushi của Mông Cổ.  Năm 1640, Khả Hãn Gushi chiếm đất Kham hàng phục phái Sakyas (có uy thế ở đây).  Năm 1642, Khả Hãn Gushi đánh bại Vương tử của nhà Tsang, thống nhất Tây Tạng và hàng phục phái Karmapas.  Đạt Lai Lạt Ma thứ 5 (của phái Gelug) được Khả Hãn Gushi ủng hộ thành Lãnh tụ của toàn lãnh thổ Tây Tạng.  Ngài hòa giải với tất cả giáo phái khác.  

Đạt Lai Lạt Ma thứ 5 lấy Lhasa là kinh đô, phong Nhiếp chánh (Regent) của mình là Sonam Rapten làm Tể tướng (gọi là Desi theo tiếng Tây Tạng) và phong chức cho chánh quyền địa phương.  Desi cai trị toàn Tây Tạng dưới quyền của Đạt Lai Lạt Ma nhưng quân đội trong tay Khả Hãn Gushi, xưng là vua của Tây Tạng.

 

Năm 1652, Đạt Lai Lạt Ma thứ 5 đi Trung Quốc theo lời mời của Hoàng đế Thuận Trị của nhà Thanh.  Ngài đến Trung Quốc vào năm 1653 và được tiếp đón trọng thể 2 lần trong vòng 2 tháng ở Bắc Kinh.  Đạt Lai Lạt Ma chính thức được phong Quốc sư của những hoàng đế Mãn Thanh bắt đầu từ đó. Tuy nhiên sau nầy Đạt Lai Lạt Ma thứ 5 lại ủng hộ loạn Tam Phiên (1673).

Khả Hãn Gushri chết vào năm 1655, các con tranh quyền đánh lẫn nhau.  Từ đó Đạt Lai Lạt Ma thứ 5 hoàn toàn nắm quyền ở Tây Tạng.

 

Lạt Ma Lobsang Chokyi Gyaltsen (1570-1662) là thầy và là đồng minh của Đạt Lai Lạt Ma thứ 5.  Tước hiệu Ban Thiền Lạt Ma trước đó thường được dùng cho những Lạt Ma tài giỏi nhưng Đạt Lai Lạt Ma thứ 5 chỉ dành riêng cho dòng Tulku (Chu cô) của Lạt Ma Lobsang Chokyi Gyaltsen và phong ngài là Ban Thiền Lạt Ma thứ 4. Ngược lại 3 vị Lạt Ma trước của dòng Tulku (Chu cô) của Ban Thiền Lạt Ma thứ 4 nầy được có danh hiệu Ban Thiền Lạt Ma 1, 2 và 3 mặc dù những vị nầy đã qua đời.  Đạt Lai Lạt Ma thứ 5 còn chính thức công bố dòng Tulku (Chu cô) của Ban Thiền Lạt Ma là hiện thân của Amitabha Buddha (A Di Đà Phật), tiếng Tây Tạng là "O-pa-me". 

Khi Ban Thiền Lạt Ma thứ 4 (Lobsang Chokyi Gyaltsen) nầy qua đời, Đạt Lai Lạt Ma thứ 5 liền đích thân tìm tái sinh cho dòng Ban Thiền Lạt Ma.

 

Đạt Lai Lạt Ma thứ 5 bắt đầu xây lâu đài Potala vào năm 1645 vì nó có vị trí tốt, nằm giữa 2 tu viện Drepung và Sera và thủ đô Lhasa.  Đạt Lai Lạt Ma thứ 5 vào ở Bạch lâu (Potrang carpo) của lâu đài Potala vào năm 1649. Công trình xây dựng hoàn thành vào năm 1694, 12 năm sau khi Đạt Lai Lạt Ma thứ 5 qua đời.  Hồng lâu (Potrang marpo) của lâu đài được thêm vào (1690-1694).

Đạt Lai Lạt Ma thứ 5 có thi hành nhiều cải tổ trong Phật Giáo Tây Tạng.  Ngài công nhận Bon (Bon Giáo) là giáo phái thứ 5.

 

Đạt Lai Lạt Ma thứ 5 qua đời năm 1682, thọ 65 tuổi.  Tuy nhiên cái chết của ngài bị giữ bí mật bởi Desi (Tể tướng) Sangye Gyatso cho đến năm 1696 (gần 15 năm sau).  Theo tin đồn từ đó tới ngày nay thì Sangye Gyatso nầy là con của Đạt Lai Lạt Ma thứ 5, được ngài phong làm Tể tướng (Desi) từ năm 1679.  Bí mật được giữ để cho sự ổn định của Tây Tạng và việc xây cất lâu đài Potala, trong khi có thừa kế.  Sangye Gyatso còn là Nhiếp chánh cho tới khi Đạt Lai Lạt Ma thứ 6 chính thức thay thế.

 

6. Đạt Lai Lạt Ma thứ 6 (1683-1706)

 

Pháp danh của ngài là Tsangyang Gyatso.  Ngài sinh ở Mon Tawang (ngày nay thuộc Ấn Độ) thuộc dòng dõi người Monpa (dân tộc thiểu số ở Tây Tạng).  Lúc 5 tuổi (năm 1688), ngài đã được tìm ra và nhận là tái sinh của Đạt Lai Lạt Ma thứ 5 nhưng Nhiếp chánh (Regent) và Tể tướng (Desi) Sangye Gyatso nuôi giữ bí mật cho đến năm 1697 thì Sangye Gyatso mới gởi sứ thần tới Trung Quốc công bố là Đạt Lai Lạt Ma thứ 5 đã qua đời và đã tìm được hóa thân.  Đạt Lai Lạt Ma thứ 6 tức vị vào năm 1697 (bởi Ban Thiền Lạt Ma thứ 6).

 

Đạt Lai Lạt Ma chọn lối sống như người thế tục: uống rượu, có bạn nam và phụ nữ kế bên mình và viết những tình ca (love songs).  Ngài còn đôi khi bỏ cung điện Potola ra sống như người thế tục trên đường phố, giao du với phụ nữ.  

 

Năm 1701, Khả Hãn Lhasang của Mông Cổ cho người giết Nhiếp chánh của Đạt Lai Lạt Ma là Tể tướng Sangye Gyatso.  Đạt Lai Lạt Ma thứ 6 bất bình, đến gặp Ban Thiền Lạt Ma thứ 6 và từ bỏ đời Tăng sĩ (hoàn tục).  Tuy nhiên ngài vẫn giữ chức phận Đạt Lai Lạt Ma.

Năm 1706, Khả Hãn Lhazang của Mông Cổ truất phế Đạt Lai Lạt Ma thứ 6 Tsangyang Gyatso và lập một Lạt Ma 25 tuổi tên là Ngawang Yeshey Gyatso (làm Đạt Lai Lạt Ma), cho rằng Ngawang Yeshey Gyatso nầy mới chính là tái sinh của Đạt Lai Lạt Ma thứ 5.

Khả Hãn Lhasang bắt giải Đạt Lai Lạt Ma thứ 6 về Trung Quốc.  Có thuyết cho rằng ngài bị giết trên đường bị bắt giải về Trung Quốc hay có thuyết cho rằng ngài trốn thoát rồi chết vì lý do bí mật.  Đạt Lai Lạt Ma thứ 6 qua đời ở gần hồ Kokonor vào năm 1706, thọ 24 tuổi. Không có lăng mộ của ngài ở lâu đài Potala như những Đạt Lai Lạt Ma chính thức khác.

 

 

(Giai Đoạn Đô Hộ của Nhà Thanh ở Tây Tạng)

 

7. Đạt Lai Lạt Ma thứ 7 (1708-1757)

 

Pháp danh của ngài là Kelzang Gyatso. Ngài sinh ở Lithang, ngày nay thuộc tỉnh Tứ Xuyên (Sichuan) của Trung Quốc.

Mặc dù Ngawang Yeshey Gyatso đang làm Đạt Lai Lạt Ma do Khả Hãn Lhazang lập lên, nhưng hàng giáo phẩm cao cấp của Tây Tạng vẫn tuân theo Nechung Oracle tìm ra Kelsang Gyatso là tái sinh của Đạt Lai Lạt Ma thứ 6 (Tsangyang Gyatso).  Ngài được bí mật đem về nuôi dạy ở tu viện ở Lithang và sau đó được Hoàng đế Khang Hi của Trung Quốc công nhận.

Từ trẻ tuổi, ngài là người đức độ và có tài làm thơ.

 

Người Dzungars (của Mông Cổ) theo yêu cầu của người Tây Tạng xâm chiếm Tây Tạng, giết Khả Hãn Lha-bzang và truất phế Đạt Lai Lạt Ma Ngawang Yeshey Gyatso.  Quân Mông Cổ cướp phá nước Tây Tạng và hành quyết nhiều giáo sĩ thuộc phái Nyingma và Bon.  Ho&