BIÊN KHẢO - THƠ - VĂN

Phan Thượng Hải

California_________________________

BBT: BS Phan Thượng Hải (CHS PTG 61-64) cùng với người em là LS Winston Phan Đào Nguyên là con của 1 công chức cao cấp của tòa án Cần Thơ, cũng là nhà thơ nổi tiếng của đất Cần Thơ thập niên 40, 50: Thi Sĩ LÃNG BA Phan Văn Bộ

_____________________________________________________________________________

   TRƯƠNG VĨNH KÝ VÀ TRƯƠNG MINH KÝ

                                                                                   

                                             Bs Phan Thượng Hải biên soạn                                                                                        

 

Ba ông Petrus Trương Vĩnh Ký, Trương Minh Ký và Paulus Huỳnh Tịnh Của đã có công dùng chữ Quốc Ngữ để truyền bá và phát huy văn hóa Đông Tây cho người Việt bắt đầu từ Nam Kỳ trong thời Pháp thuộc vào hậu bán thế kỷ thứ 19.  

 

Thành hình của Chữ Quốc ngữ

 

*

Sau khi chiếm toàn bộ Nam Kỳ (1867), Pháp muốn thay đổi văn hóa nước Việt Nam, tách ra khỏi Trung Hoa và gần gũi với Âu Tây hơn do đó chữ Quốc Ngữ được dùng thay thế chữ Hán và chữ Nôm.  Ông Petrus Trương Vĩnh Ký là người khởi công làm việc nầy.  Nhờ công lớn của ông Petrus Trương Vĩnh Ký, ông Paulus Huỳnh Tịnh Của và ông Trương Minh Ký mà người Việt chúng ta mới có chữ Quốc Ngữ ngày hôm nay; dễ dàng, phong phú, hữu dụng, hợp thời và tách ra được chữ Hán và chữ Nôm phức tạp và khó khăn.

 

*

Chữ Quốc Ngữ thành hình là nhờ các giáo sĩ ngoại quốc truyền đạo Gia Tô (đạo Thiên Chúa) ở Việt Nam từ thế kỷ 16.  

 

Theo ông Nguyễn Tường Bách, người bắt đầu sáng tạo chữ Quốc Ngữ là Giáo sĩ dòng Tên Francisco De Pina (1585-1625), người Bồ Đào Nha.  

Giáo sĩ De Pina bắt đầu đến Macao truyền giáo (1613) rồi tới Đàng Trong (1617).   Thấy chữ Hán Nôm khó học nên khó dịch văn bản của Đạo Gia Tô (Ki Tô Giáo), Francisco De Pina dựa theo phát âm (của người Việt) mà dùng mẫu tự La tinh diễn tả thành chữ viết (như chữ Bồ Đào Nha của ông): chữ Quốc Ngữ của nước ta thành hình (từ năm 1622).  

Giáo sĩ De Pina còn viết văn phạm thô sơ cho loại chữ viết mới nầy và từ năm 1624 dạy các giáo sĩ khác trong đó có Antonio De Fontes (1569-?) sinh tại Lisboa (Bồ Đào Nha) và Alexandre De Rhodes (1591-1660) sinh tại Avignon (Pháp).  

Tháng 12, 1625, Giáo sĩ De Pina lên 1 chiếc tàu Bồ Đào Nha ở Đà Nẳng để mang hàng hóa vào bờ nhưng chẳng may tàu chìm, Francisco De Pina chết chìm (lúc 40 tuổi).  Hai Giáo sĩ tiếp tục công nghiệp của ông là Gaspar De Amaral (1549-1646) và Antonio Barbosa (1594-1647).

 

Sau đó có 3 người có công tạo ra chữ Quốc Ngữ được nhắc nhở đến nhiều nhứt: 

1) Thừa Sai Cha Alexandre De Rhodes (1591-1660) là nhà truyền giáo (missionary) dòng Tên người Pháp.  Tên của ông âm ra Hán ngữ là A Lịch Sơn Đắc Lộ.  Năm 1625, ông đến Hội An rồi năm 1627 ra Bắc Hà.  Ông truyền giáo trong 20 năm ở Đàng Trong và Đàng Ngoài và bị trục xuất tất cả 6 lần.  Ông bắt đầu học nói tiếng Việt từ một em bé 12 tuổi ở Hội An.  Chữ Quốc ngữ đã có được từ các giáo sĩ truyền đạo Thiên Chúa (Công Giáo), Cha Đắc Lộ gom lại và viết thành Từ Điển An Nam Bồ (Đào Nha) La Tinh (Dictionarium Anamiticum Lusitanum et Latinum) vào năm 1651.  Cha Alexandre De Rhodes (Đắc Lộ) chết tại Ispahan, Ba Tư (Iran).

2) Thừa Sai Đức Cha Bá Đa Lộc, cũng là người Pháp, tên là Pierre Joseph Georges Pigneau De Béhaine (1741-1799).  Bá Đa Lộc là âm từ chữ Pierre.  Ông còn được gọi là Cha Cả (?) hay Giám Mục Adran (?) hay Bi Nhu quận công (từ chữ Pigneau).  Là Đại Diện Tông Tòa của Đàng Trong (Nam Hà), ông giúp Nguyễn Vương Phúc Ánh chống nhà Tây Sơn.  Giám Mục Bá Đa Lộc viết Từ Điển An Nam La Tinh (Dictionarium Anamitico Latinum) vào năm 1773 gồm 4 thứ chữ: La Tinh, Quốc Ngữ, Hán (Nho) và Nôm.

3) Thừa Sai Cố Jean Louis Taberd (1744-1840) là người Pháp, thuộc dòng La Salle (La San) truyền giáo ở Nam Kỳ (1820-1830).  Tiếng Việt gọi Taberd là “Từ”.  Trường Lasan Taberd thành lập ở Sài Gòn (1873-1975) theo tên của ông.  Cố Taberd dựa vào Đắc Lộ và Bá Đa Lộc viết và xuất bản Nam Việt Dương Hiệp Tự Vị (chữ Quốc Ngữ và La Tinh) ở Calcutta vào năm 1838.  Ngoài ra ông cũng xuất bản Tự Điển của ông Bá Đa Lộc.  

 

Thừa Sai Cố Taberd có một người Việt giúp làm quyển Nam Việt Dương Hiệp Tự Vị là Thầy Philipphê Phan Văn Minh (1815-1853), người Cái Mơn (thuộc tỉnh Vĩnh Long).  Thầy Phan Văn Minh về sau về nước làm Linh Mục và tử đạo.  Theo ông Dương Quảng Hàm, nhờ Cha Phan Văn Minh nầy giúp Cố Taberd nên chữ Quốc Ngữ viết giống như ngày hôm nay. 

Truyền bá và Phát huy chữ Quốc ngữ

 

*

Ông Petrus Trương Vĩnh Ký (1837-1898), cũng người Cái Mơn như Cha Phan Văn Minh.  Ông mở tờ báo đầu tiên của nước ta là Gia Định Báo từ năm 1865 và in sách để truyền bá văn hóa Đông Tây dùng chữ Quốc Ngữ trong sáng tác và dịch thuật từ chữ Pháp cũng như phiên âm từ chữ Hán Nôm ra chữ Quốc Ngữ.  Gia Định Báo không những là tờ báo đầu tiên mà còn là tờ báo đầu tiên bằng chữ Quốc Ngữ.  Hai phụ tá của ông Trương Vĩnh Ký là ông Paulus Huỳnh Tịnh Của (Chủ bút của Gia Định Báo) và ông Trương Minh Ký (không có liên hệ huyết thống với ông Trương Vĩnh Ký).  

Ông Trương Vĩnh Ký và ông Trương Minh Ký (người Gò Vấp, Gia Định) xuất thân dạy học ở Trường Thông Ngôn (Collège des Interprètes) do người Pháp thành lập từ năm 1862.  Ông Huỳnh Tịnh Của (người Bà Rịa) xuất thân là Thông dịch viên ở Soái Phủ Sài Gòn.   

 

Hai ông Petrus Ký và Paulus Của là người theo đạo Công Giáo (Petrus và Paulus là tên thánh: Phêrô và Phaolồ), cùng xuất thân từ trường đạo ở đảo Penang (nay thuộc Mã Lai) tuy nhiên riêng ông Trương Minh Ký lại theo Nho Giáo.  Ông Trương Minh Ký nguyên tên là Trương Minh Ngôn, nhưng vì kính mến thầy của mình là ông Trương Vĩnh Ký nên ông đổi tên mình bằng cách thêm chữ Kỷ (己) vào sau chữ Ngôn (言) thành chữ Ký (記).  Riêng ông Trương Vĩnh Ký có tên lúc mới sinh là Trương Chánh Ký, từ thời Pháp thuộc ông thường được gọi là Pétrus Ký.

 

*

Năm 1869, chính quyền thuộc địa Pháp chính thức dùng chữ Quốc Ngữ (thay thế chữ Nho) trong các công văn ở Nam Kỳ.  Năm 1879, chữ Quốc Ngữ là chữ độc nhất dùng trong tất cả văn kiện và trong chương trình giáo dục.  Dĩ nhiên từ khi thành thuộc địa của Pháp thì không còn thi Hương ở Nam Kỳ.  Chữ Quốc Ngữ dùng trong giáo dục ở Bắc Kỳ và Trung Kỳ (?) từ năm 1910.  Năm 1915 có khoa thi Hương cuối cùng ở Bắc Kỳ và năm 1919 có khoa thi Hội cuối cùng ở Huế.  

*

Tự Vị

 

Ông Paulus Huỳnh Tịnh Của (1834-1907) là người viết “Đại Nam Quấc Âm Tự Vị”, quyển “tự điển” (Dictionary) đầu tiên của Việt Nam xuất bản lần đầu tiên ở Sài Gòn (năm 1895).

Đây là những dẫn giải về cuốn sách nầy của tác giả (ông Paulus Huỳnh Tịnh Của): 

Tự Điển, Tự Vị khác nhau có một sự rộng hẹp.  Tự Điển phải có chú giải; mỗi chữ, mỗi tiếng đều phải dẫn điển dẫn tích, nguyên là chữ sách nào, lời ai nói, cả thảy đều phải có kinh truyện làm thầy.  Chỉ như Tự Vị cũng là sách hội biên các thứ chữ cùng các tiếng nói, song trong ấy thích chữ một, mà không cần dẫn điển tích gì.

Đại Nam Quốc Âm Tự Vị tham dụng chữ Nho (Hán) có giải nghĩa có dẫn chứng, mượn 24 chữ cái phương Tây làm chữ bộ. 

 

Ông Paulus Của còn dịch “Phép Toán” (Arithmétique) và “Phép Đo” (Géométrie) từ sách Pháp vào năm 1867.

 

*

Sáng tác và Dịch thuật bằng chữ Quốc ngữ 

 

Ông Petrus Trương Vĩnh Ký (1837-1898) là người đầu tiên:

Có tác phẩm Văn xuôi bằng chữ Quốc Ngữ: “Chuyện đời xưa lựa nhón lấy những chuyện hay và có ích”. (1866).  Sau nầy rút ngắn lại là “Chuyện đời xưa”.

Có tác phẩm chữ Hán Nôm chuyển thành chữ Quốc Ngữ: “Kim Vân Kiều truyện” (1875) và “Đại Nam quốc sử diễn ca” (1875).

Có tác phẩm (văn xuôi) chữ Hán viết ra chữ Quốc Ngữ: “Tứ Thư” (1889), “Minh Tâm Bửu Giám” (1891-93) ...

Có từ điển Pháp Việt / Petit dictionnaire francais-anamite (1867).

 

Ông Trương Minh Ký (1855-1900) là người đầu tiên:

Có tác phẩm văn xuôi chữ Pháp dịch ra chữ Quốc Ngữ: Les Aventures de Télémaque của Fenelon (1887), được dịch ra thơ.

Có tác phẩm văn vần chữ Pháp dịch ra chữ Quốc ngữ: Les Fables de Lafontaine (1884), được dịch ra thơ.

Có tác phẩm Thơ sáng tác hay dịch thuật đầu tiên bằng chữ Quốc Ngữ

 

Có thể nói ông Petrus Trương Vĩnh Ký là Văn sĩ chữ Quốc Ngữ đầu tiên và đầu tiên về Truyện vui.  Câu văn của ông thể hiện trung thực ngôn ngữ bình dân của một người Nam Kỳ vào thuở đó.

Chuyện khôi hài của ông Petrus Ký rất sâu rộng: 

Thường là câu chuyện làm độc giả cười đối tượng trong chuyện nhưng ông còn cho thấy các đối tượng trong chuyện cười lẫn nhau.  

Cười không những là vui mà cười, nhưng còn cười vì những tình cảm khác.  

Đề tài gồm cả quốc gia (dân tộc, lãnh thổ và chánh quyền) và xã hội (kinh tế, tôn giáo, văn hóa, khoa học...).  

Trong câu chuyện, ngoài văn xuôi, ông còn dùng thơ và câu đối.  

Ông Petrus Ký còn tạo ra hay đưa ra những nhân vật như Cống Quỳnh, Tú Suất...

Những tác giả về chuyện khôi hài (hay tiếu lâm) sau nầy đều không có được cái tài sâu rộng như ông Petrus Ký.

 

*

Thơ chữ Quốc ngữ

 

Có thể nói là ông Trương Minh Ký là Thi sĩ đầu tiên làm thơ bằng chữ Quốc Ngữ. 

Điều đặc biệt của ông Trương Minh Ký là dù nguyên bản là văn xuôi, ông cũng thích dịch ra văn vần dùng thể thơ Lục Bát hay Song Thất Lục Bát.

 

Bản dịch “Những viễn du của Télémaque” từ văn xuôi chữ Pháp ra văn vần chữ Quốc Ngữ:

 

Từ khi Ulysse đi rồi

Nàng tiên Calypso nguôi đặng nào

…….

Minerve giả dạng dấu tên

Làm như tuồng mặt ông hiền Mentor

Theo Télémaque giúp phò


 

Bản dịch “Chuyện Phansa diễn ra Quốc Ngữ”:

 

LA CIGALE ET LA FOURMI         CON VE VÀ CON KIẾN

 

La cigale ayant chanté                       Con ve mùa hạ ngân nga

Tout l’été                                           Sang đông không có đồ mà dưỡng thân

Se trouva fort dépourvue

Quand la bise fut venue

Pas un seul petit morceau

De mousse ou de vermisseau 

 

Elle alla crier famine                         Than van với kiến ở gần

Chez la fourmi sa voisine                  “Xin giùm ít hột đỡ thân cơ hàn

La priant de lui prêter                        Đến mùa bổn lợi lại hoàn

Quelque grain pour subsister             Lòng đâu có dám tính đàng sai ngoa”

Jusqu’à la saison nouvelle

Je vous paiera, lui dit-elle 

Avant l’aout, foi d’animal

Intérét et principal 

 

La fourmi n’est pas préteuse             Cho vay đặt nợ gần xa

C’est là son moindre défaut              Kiến không nghề đấy hỏi ra tức thì

Que faisez-vous au temps chaud?    “Mùa khô khi ấy làm gì

Dit-elle à cette emprunteuse             Ve rằng: “Ca xướng luôn khi đêm ngày”

Nuit et jour à tout venant                  Kiến rằng: “Nghề hát vui thay!

Je chantais, ne vous déplaise             Nào ra múa thử tài hay bây giờ!”

Vous chantiez? j’en suis fort aise

Eh bien dansez maintenant.

 

                                                          Đây khuyên tích cốc phòng cơ

                                                          Ở đời liệu trước chớ chờ ăn năn

                                                          Người giàu có kẻ khó khăn

                                                          Lấy dư cho thiếu lòng hằng nghĩa nhơn

                                                          Mang ơn thì phải biết ơn

                                                          Làm ơn ai đợi đền ơn bao giờ.

 

(Lafontaine)                                      (Trương Minh Ký) 1884

Fables de Lafontaine                        Truyện ngụ ngôn Phansa

 

Ông Trương Minh Ký ngoài dịch thuật từ nguyên bản còn hay đưa hay thêm ý kiến của mình như bài thơ trên đây.  Chúng ta có thể so sánh với lối dịch sát nghĩa của ông Nguyễn Văn Vĩnh 34 năm sau:

 

LA CIGALE ET LA FOURMI                    CON VE VÀ CON KIẾN

La cigale ayant chanté                                  Ve sầu kêu ve ve

Tout l’été                                                      Suốt mùa hè

Se trouva fort dépourvue                              Đến kỳ gió bấc thổi

Quand la bise fut venue                                Nguồn cơn thật bối rối

Pas un seul petit morceau                             Một miếng cũng chẳng còn

De mousse ou de vermisseau                        Ruồi bọ không một con

Elle alla crier famine                                    Vác miệng chịu khúm núm

Chez la fourmi sa voisine                             Sang chị kiến hàng xóm

La priant de lui prêter                                   Xin cùng chị cho vay

Quelque grain pour subsister                        Dăm ba hạt qua ngày

Jusqu’à la saison nouvelle                            -Từ nay sang tháng hạ

Je vous paiera, lui dit-elle                             Em lại xin đem trả

Avant l’aout, foi d’animal                            Trước thu thề Đất Trời

Intérét et principal                                        Xin đủ cả vốn lời

La fourmi n’est pas préteuse                        Tính kiến ghét vay cậy

C’est là son moindre défaut                         Thôi ấy chẳng hề chi

Que faisez-vous au temps chaud?               -Nắng ráo chú làm gì?

Dit-elle à cette emprunteuse                        Kiến hỏi ve như vậy

Nuit et jour à tout venant                             Ve rằng: -Luôn đêm ngày

Je chantais, ne vous déplaise                       Tôi hát thiệt gì bác

Vous chantiez? j’en suis fort aise                Kiến rằng: -Xưa chú hát

Eh bien dansez maintenant.                         Nay múa thử coi đây.

(Lafontaine)                                                 (Nguyễn Văn Vĩnh dịch) 1928


 

Là một nhà thơ tài ba, Ông Trương Minh Ký viết “Như Tây nhựt trình”, một thiên du ký sự từ Sài Gòn đi Paris qua Bắc Phi và Âu Châu, bằng thể thơ Song Thất Lục Bát tất cả 2000 câu (dài gần bằng truyện thơ Lục Vân Tiên) được khởi đăng trên Gia Định Báo từ 10-4-1888 trong hơn một năm mới dứt:

 

(Câu 1-8) 

Từ Gia Định xuống tàu Tarn ấy

Tới Alger nên thấy thành ni

Rồi qua cho đến Paris

Thấy sao kể vậy từ đi mới về

Tiếng quê kệch dầu chê cũng chịu

Lời thật thà miễn hiểu thời thôi

Trải xem những chuyện qua rồi

Thì hay họa phúc do nơi lòng người.

 

(Câu 775-778)

Các cha linh mục bên Tây

Cạo râu sạch bách như thầy chùa ta

Tại Alger các cha già trẻ

Đều để râu như thể bên ta.


 

Ông Trương Minh Ký cũng sáng tác riêng mình thơ Đường Luật bằng chữ Quốc Ngữ và đăng thơ hay họa thơ Quốc Ngữ của nhiều thi sĩ Nam Kỳ lúc bấy giờ.  

 

CON TÂY (*)

Dữ tợn loài tây thú bốn chưn

Da như giáp sắt mũi như sừng

Ăn gai uống đục không ưa bóng

Ỷ mạnh lung lăng cứ miệt rừng.

(Trương Minh Ký)

 

(*) Chú thích: Con Tây = Con Tê Giác

 

CON DÊ

Phận hèn chui nhủi tháng ngày qua

Vắn vỏi đêm hôm tiếng thiết tha

Bay nhảy với đời coi thử sức

Vui chơi cũng biết đá như gà.

(Trương Minh Ký)


 

Từ đó thơ chữ Quốc Ngữ bắt đầu ở Nam Kỳ với nội dung chuộng Nho Giáo nhưng lại có thêm tình cảm lãng mạn.

 

CUỘC ĐỜI (Xướng)                                  

Quyền vương bá, tước công hầu                 

Cậy tiếng trao lời dắt đến đâu                    

Ngôn ngữ so kề đời Khổng Mạnh              

Trí mưu ví kịp thuở Đường Châu              

Phải thời trận vó đưa nên lẹ                     

Gặp vận cơ trời hóa rất mau                       

Nam Bắc Đông Tây người trải cuộc          

Mở lòng rộng rãi thả cho sau.                    

(Đỗ Đăng Vị)                                            

 

CUỘC ĐỜI (Họa)

Phải hồi gặp lúc có quân hầu

Trời muốn thì nên chẳng khó đâu

Trung hiếu rạch ròi ra cửa Khổng

Nghĩa nhơn ao ước dõi nhà Châu

Rừng nho xông lướt sao cho kịp

Biển thánh vẫy vùng mới được mau

Số trẻ phận già trời đã định

So gương lớp trước rõ đời sau.

(Thế Tải Trương Minh Ký)

 

NGŨ CANH VÃN

Chạnh lòng khoăn khoái tưởng lo xa

Mới đó sao canh đã đến ba

Sương bủa hòa trời sao rải rác

Tuyết giăng khắp núi nguyệt dần dà

Bâng khuâng sầu thúc không cầm lụy

Thổn thức buồn tuôn biếng nói ra

Những mảng so đo tìm lẽ hỏi

Hỏi ai hơn hỏi tấm lòng ta.

(Vô Danh thị) 

Đăng trong tờ báo “Thông Loại Khóa Trình” vào năm 1889.


 

Công nghiệp

 

*

Ngay từ đầu ông Petrus Ký đã từ chối không chịu trở thành công dân Pháp theo lời mời của chính quyền Pháp.  Năm 1886, được Khâm sứ Paul Bert trọng dụng, ông giữ vai trò trọng yếu ở triều đình Huế của vua Đồng Khánh.  Nhưng không được 1 năm, sau khi Paul Bert đột ngột qua đời (tháng 11 năm 1886), ông Trương Vĩnh Ký từ quan trở về Sài Gòn.  Trong khoảng hơn 10 năm cuối của cuộc đời (1887-1889), ông Trương Vĩnh Ký về sống cuộc đời của một thường dân không dư dả ở Chợ Quán, Sài Gòn.  Sau khi chết, thọ 62 tuổi, mộ của ông ở gần nhà thờ Chợ Quán, góc đường Trần Hưng Đạo và Trần Bình Trọng. 

 

Ông Trương Vĩnh Ký qua đời năm 1898 và ông Trương Minh Ký 2 năm sau đó (1900) lúc 45 tuổi.  Ông Huỳnh Tịnh Của mất vào năm 1908.

Dưới đây là những lời thơ đương thời chủ quan và khách quan về ông Trương Vĩnh Ký và ông Trương Minh Ký:

 

TUYỆT BÚT LÚC LÂM CHUNG

Quanh quanh quẩn quẩn lối đường quai

Xô đẩy người vô giữa cõi đời

Học thức gởi tên con sách nát

Công danh rút cục cái quan tài

Dạo hòn lũ kiến men chân bước

Bò xối con sùng chắt lưỡi hoài

Cuốn sổ bình sinh công với tội

Tìm nơi thẩm phán để thưa khai.

(Sĩ Tải Trương Vĩnh Ký) 1898 

 

ĐIẾU TRƯƠNG VĨNH KÝ

Lánh tục ngài đà trở gót tiên

Ôi thôi thương tiếc bấy ông hiền

Cõi trần tuy cách danh còn tạc

Chốn thọ dầu lui tiếng để truyền

Trước bước đâu còn người dạy bảo

Đường đi nào thấy kẻ răn khuyên

Biển dâu trách nỗi ai gây cuộc

Lánh tục ngài đà trở gót tiên.

(Lê Uyên Sanh)


 

ĐIẾU TRƯƠNG MINH KÝ

 

Cởi hạc đi đâu hỡi bớ Thầy

Nỡ lìa môn đệ ở đời đây

Non sông ngọc nát lòng hằng nhớ

Sông lệ vàng rơi dạ chẳng khuây

Huê liễu hạt về sương cánh gió

Đảnh hồ rồng vượt mấy từng mây

Vật còn để dấu trong trời đất

Người trí dầu xa tiếng chẳng bay.

 

Nguồn đào lạc nẻo đến đâu đây

Cửa Khổng sao không nể phép nầy

Thước ngọc rắp trong da trắng tuyết

Nhà vàng còn ngại tóc xanh mây

Ngỡ là thuyền bá không nơi đỗ

Mới đến trường trung kiếm bạn vầy

Thanh khí đây đà trang phải mặt

Phải chăng xin lựa lấy đôi thầy.

 

(Lê Uyên Sanh)

 

Thi sĩ Lê Uyên Sanh, tên thật là Lê Văn Châu, là một trong những thi sĩ chữ Quốc Ngữ hàng đầu của Nam Kỳ vào cuối thế kỷ thứ 19.

 

*

Tiếp nhận ảnh hưởng của văn hóa Tây Phương, ba ông Petrus Trương Vĩnh Ký, Paulus Huỳnh Tịnh Của và Trương Minh Ký có cùng một quan niệm là xã hội Việt Nam có khả năng và cần vận dụng các kiến thức khoa học và kinh nghiệm của học thuật Tây Phương về các vấn đề khoa học, kỹ nghệ, kinh tế và chính trị nhưng vẫn giữ gìn, đào sâu và phát triển văn hóa Đông Phương cổ truyền để duy trì bản chất và bảo tồn độc lập.  Nhờ chữ Quốc Ngữ, quan niệm nầy được ba ông thực hiện ở Nam Kỳ. 

Người Pháp chỉ muốn dùng chữ Quốc Ngữ như là một chuyển tiếp để áp đặt chữ Pháp trên dân thuộc địa, nhưng nhờ những vị tiền phong nầy chữ Quốc Ngữ tồn tại cho đến khi dân Việt Nam dành độc lập.  Hai ông Trương Vĩnh Ký và Trương Minh Ký (cùng với ông Huỳnh Tịnh Của) đã để lại một xã hội “Nam Kỳ Lục Tỉnh” tự mình sống độc lập, an bình và cải tiến từ đầu thế kỷ 20 dựa trên Nho Giáo và chữ Quốc Ngữ mặc dù là thuộc địa của Pháp

Tình ý và chí hướng làm lợi ích cho dân Việt của ông Petrus Trương Vĩnh Ký được thể hiện qua Câu của ông viết trong bức thơ bằng chữ La Tinh gởi cho bạn mình, Bác sĩ Alexis Chavanne (vào tháng 10 năm 1887), được ông Winston Phan Đào Nguyên dịch ra: 

"Điều duy nhứt mà tôi theo đuổi là làm sao thành có ích, tuy phải nói thêm rằng: (ích lợi đó) không phải cho tôi.  Đó là số phận và niềm an ủi của tôi" 

(Unum et unicum quaero, esse sulicet posse utilem, quamvis dicendum sit: Sic vos non vobis.  Haec est mea sors et consolatio).  

 

Trước đó, Hậu thế đã hiểu lầm ông qua Đoạn dịch sai lầm "Ở với họ mà không theo họ" hay "Theo họ mà không lệ thuộc họ", dịch từ Đoạn "Sic vos non vobis" trích từ Câu trên.  "Họ" lại được dẫn giải là "Thực Dân Pháp"! 

Bản dịch đúng của ông Winston Phan Đào Nguyên về Đoạn "Sic vos non vobis" theo ý nghĩa trong nguyên Câu là: "(ích lợi đó) không phải cho tôi".  Nếu chúng ta đọc kỹ toàn bộ Câu trên qua lời dịch trung thực và đúng đắn của ông Winston Phan Đào Nguyên, chúng ta sẽ hiểu rõ tình ý và chí hướng không vì tư lợi riêng mình của ông Petrus Trương Vĩnh Ký, nhất là tư lợi chính trị. 

 

Ông Petrus Trương Vĩnh Ký không tự mình mà còn biết dùng 2 người đồng sự cùng tình ý và chí hướng là ông Paulus Huỳnh Tịnh Của và ông Trương Minh Ký.  Riêng ông Trương Minh Ký là một người hoàn toàn theo Nho giáo.  Cái công nghiệp ích lợi cho dân cho nước của 3 ông khởi đầu từ bậc Thầy là ông Petrus Trương Vĩnh Ký.

Hậu thế có bài thơ:

 

VỊNH PETRUS TRƯƠNG VĨNH KÝ

Ích quốc lợi dân biết thích nghi

Danh nhân tài đức tự Nam Kỳ

Cái hay văn tự đem truyền bá

Cái đẹp văn chương biết phát huy

Hiền thục dân tình qua biến loạn

Nâng cao dân trí thoát gian nguy

Thức thời sáng suốt, công to lớn

Hậu thế ghi ơn tận nghĩ suy.

(Phan Thượng Hải)

9/3/19

 

VỊNH TRƯƠNG MINH KÝ

Khiêm nhường tận tụy với non sông

Hậu thế ít người biết đến ông

Truyền bá văn minh, tâm sáng suốt

Triển khai văn hóa, bậc tiền phong

Nhân tài quốc ngữ tăng dân trí

Thi tứ quốc âm tỏ nỗi lòng

Giúp ích Nam Kỳ khi quốc nạn

Ngoài vòng danh nghĩa, nghĩa thành công.

(Phan Thượng Hải)

3/20/21


 

Bs PHAN THƯỢNG HẢI biên soạn

 

Bài viết nầy đăng lần đầu tiên trong phanthuonghai.com (trong mục "Thơ và Sử" phần "Thời Pháp Thuộc, thế kỷ 19). 


 

Tài Liệu Tham Khảo:

1) Thơ và Việt Sử - Thời Pháp Thuộc, thế kỷ 19 (Bs Phan Thượng Hải) - phanthuonghai.com

2) Minh Oan Cho Petrus Trương Vĩnh Ký (Winston Phan Đào Nguyên) - phanthuonghai.com

3) Petrus Trương Vĩnh Ký dưới cái nhìn của một người gốc Miền Nam vào năm 2019 (Bs Phan Thượng Hải) - phanthuonghai.com

4) Văn Uyển (Lãng Ba Phan Văn Bộ)

5) Văn Học Quốc Ngữ Ở Nam Kỳ 1865-1930 (Bằng Giang)

6) Trang Thơ Thi Viện Net

7) Google Wikipedia

8) Chuyện Cười Cổ Điển từ Petrus Ký (Phan Thượng Hải) - phanthuonghai.com


 

Bs PHAN THƯỢNG HẢI biên soạn và giữ bản quyền

“ Tháng Giêng cho anh một nụ hoa đào ...” (thơ Nguyên Sa)

                                             THƠ HOA ĐÀO

                                                  Phan Thượng Hải

 

(1)

Những năm trước, anh TNT có làm bài thơ tả hoa Đào trong nhà và tui có họa lại (kèm thêm hoa Mai) trong dịp đầu Xuân.

 

ĐÀO THẮM (Nguyên bản)

Cây nhà vườn trước lá đang xanh

Đua nở bông tươi phủ khắp cành

Vài bướm nghe hương lơ lửng đến

Dăm ong thấy sắc dập dìu quanh

Người qua tấm tắc khen hoa đẹp

Kẻ lại trầm trồ nói dấu lành

Ngắt cánh xinh xinh trưng chậu Tết

Đón Xuân đào thắm cánh mong manh.

(Hp-Trương Ngọc Thạch)

 

ĐÀO THẮM MAI XINH (Họa)

Xuân về hoa nở đẹp trời xanh

Đào thắm mai xinh giữa lá cành (*)

Thắng cảnh Bích Câu duyên gặp gỡ (*)

Trọn tình Thôi Hộ hết đi quanh

Mai xinh thơ mộng đời may mắn

Đào thắm lòng vui sự tốt lành

Tươi trẻ hồn người tràn nhựa sống

Chứa chan kỳ vọng kiếp mong manh.  

(Phan Thượng Hải)

 

(*) Đua chen thu cúc xuân đào

     Lựu phun lửa hạ mai chào gió đông 

     (Bích Câu kỳ ngộ: Tú Uyên gặp Giáng Kiều)

 

(2)

Khi nói đến hoa Đào thì các học giả đều nhắc đến bài thơ của thi sĩ Thôi Hộ đời nhà Đường.  Bài thơ nầy và bài "Hoàng Hạc Lâu" là 2 bài thơ được biết đến nhiều nhất của Đường thi trong văn học nước Việt.

 

(Trích một đoạn từ bài "Điển Cố Từ Thơ" của tui)

 

Theo Tình Sử và Lệ Tình Tập, Thôi Hộ là một người đẹp trai, tánh quả hợp, không hay chơi với ai.  Một ngày thanh minh đi chơi một mình đến phía nam kinh thành thấy một nhà có vườn đào nhiều hoa, mới gõ cửa xin nước uống.  Một người con gái rất đẹp và rất nghiêm trang ra hỏi tên họ rồi đem nước mời uống.  Đến tiết thanh minh năm sau, Thôi Hộ lại đến nhà ấy, thấy cửa đóng, đề bài thơ nầy ở cánh cửa bên tả.  Cách mấy hôm lại đến chợt nghe tiếng khóc và có ông lão ra hỏi: anh có phải là Thôi Hộ không?  Con gái tôi đọc bài thơ của anh rồi nhịn ăn mới chết.  Thôi Hộ vào khấn, thì người con gái ấy sống lại, bèn lấy làm vợ.  Sau Thôi Hộ đỗ Tiến sĩ vào đời Trinh Nguyên (nhà Đường) làm quan đến chức Lĩnh Nam Tiết Độ Sứ.

 

ĐỀ TÍCH SỞ KIẾN XỨ

Khứ niên kim nhật thử môn trung

Nhân diện đào hoa tương ánh hồng

Nhân diện bất tri hà xứ khứ

Đào hoa y cựu tiếu đông phong.

(Thôi Hộ)

 

            ĐỀ CHỖ ĐÃ TRÔNG THẤY NĂM TRƯỚC

            Hôm nay, năm ngoái, cửa cài

            Hoa đào ánh với mặt người đỏ tươi

            Mặt người chẳng biết đâu rồi

            Hoa đào còn đó vẫn cười gió đông.

            (Trần Trọng Kim dịch)

 

            ĐỀ CHỖ ĐÃ TRÔNG THẤY NĂM TRƯỚC

            Hôm nay năm ngoái cổng nầy

            Hoa đào soi ánh đỏ hay mặt người

            Mặt người nay ở đâu rồi

            Hoa đào nay vẫn còn cười gió đông.

            (Trần Trọng San dịch)

 

Ngày nay, bài thơ nầy được đổi tựa là "Đề Đô Thành Nam Trang" và đổi lời: từ "đông phong" thành "xuân phong" với tự chú thích!

 

ĐỀ ĐÔ THÀNH NAM TRANG

Khứ niên kim nhật thử môn trung

Nhân diện đào hoa tương ánh hồng

Nhân diện bất tri hà xứ khứ

Đào hoa y cựu tiếu xuân phong. (*)

(Thôi Hộ)

(*) Chú thích : Có bản viết là "đông phong" cũng không sai vì ở Trung Quốc, gió xuân (xuân phong) đến từ hướng đông!

 

Bài thơ nổi tiếng nầy làm điển cố cho nhiều câu thơ cổ điển (và đều chỉ nhắc đến "đông phong" mà thôi):

 

Ức tích dữ quân tương biệt trung

Tuyết mai do vị thức đông phong

Vấn quân hà nhật qui

Quân chỉ đào hoa hồng

Đào hoa dĩ trục đông phong khứ

Lão mai giang thượng hựu phù dung.

(Chinh Phụ Ngâm Khúc / Đặng Trần Côn)

 

            Thuở đăng đồ mai chưa dạn gió

            Hỏi ngày về chỉ độ đào bông

            Nay đào đã quyến gió đông

            Phù dung lại đã bên sông bơ xờ

            (Chinh Phụ Ngâm Khúc / Đoàn Thị Điểm)

 

            Trước sau nào thấy bóng người

            Hoa đào năm ngoái còn cười gió đông

            (Đoạn Trường Tân Thanh)

 

            Trên chín bệ cỏ hay chăng nhẻ

            Khách quần thoa mà để lạnh lùng

            Thù nhau chi hỡi đông phong

            Góc vườn dãi nắng cầm bông hoa đào.

            (Cung Oán Ngâm Khúc)

 

            Xuân sang xuân đã già nào

            Chờ sau mai nở thì đào chẳng lâu

            (Bích Câu Kỳ Ngộ)

 

            Còn trời còn nước còn non

            Mây xanh nước biếc vẫn còn như xưa

            Hoa đào còn đó trơ trơ

            Mà người năm ngoái mà giờ là đâu?

            Vù vù gió thổi rèm lau

            Càng như chất mới tơ sầu vào thêm.

            (Bích Câu Kỳ Ngộ)

 

            Hỏi cho giáp mặt hoa đào

            Vườn xuân chẳng lẽ ngăn rào mãi ru.

            (Bích Câu Kỳ Ngộ)

 

(3)

Riêng tui nghĩ chúng ta đã đến tuổi "liệt lão" rồi, đa số còn vợ còn chồng thì cái tình nghĩa sau nhiều năm còn đậm đà hơn là bài thơ tình của Thôi Hộ, chỉ thể hiện phần đầu của tình yêu thôi?

Do đó năm trước tui có làm bài thơ tặng anh chị M. và cũng nghĩ đến mình.

Xin gởi tặng những ai cùng cảnh ngộ.

 

VỢ CHỒNG GIÀ

Đến lúc tuổi già tựa tiết Đông

Cùng nhau sưởi ấm thắm tình nồng

Ít còn vướng bận đời con cháu

Chỉ có tự do chuyện vợ chồng

Người nói người im đều toại ý

Tiếng cười tiếng dạ thảy vui lòng

Uyên ương liền cánh nơi gia nội

Say ngắm hoa đào cợt gió Đông.

(Phan Thượng Hải)

3/12/20 

 

PHAN THƯỢNG HẢI

   TƯƠNG TƯ TRONG THƠ VÀ ĐIỂN CỐ

 

                                                 Bs Phan Thượng Hải biên soạn


 

Tương Tư  (相  思) có nghĩa là "nhớ nhau".  Trường Tương Tư là "nhớ nhau hoài".

Thơ cổ điển và hiện đại của nước Việt có dùng điển cố từ những bài thơ của Trung Quốc khi mô tả sự tương tư của tình nhân.


 

TƯƠNG TƯ và TƯƠNG GIANG (SÔNG TƯƠNG)

 

*

Lương Ý Nương sống vào thời Hậu Chu (951-959) của Ngũ Đại Tàn Đường.  Lương Ý Nương thương nhớ người tình là chàng Lý Sinh nên làm bài thơ "Trường Tương Tư".  Nữ sĩ làm bài thơ nầy để bày tỏ tâm tình khi gia đình không cho phép lấy chàng Lý Sinh.  Bài thơ nầy có 1 đoạn rất nổi tiếng, mọi người đều biết từ Trần Trọng Kim và Bùi Kỷ:

 

TRƯỜNG TƯƠNG TƯ

Quân tại Tương giang đầu

Thiếp tại Tương giang vỹ

Tương tư bất tương kiến

Đồng ẩm Tương giang thủy.

(Lương Ý Nương)

 

TRƯỜNG TƯƠNG TƯ

Chàng ở đầu sông Tương

Thiếp ở cuối sông Tương

Nhớ nhau không thấy mặt

Cùng uống nước sông Tương.

(Trần Trọng Kim và Bùi Kỷ dịch)

 

Sông Tương (Tương giang) xuất phát từ rặng núi Duyên Hải ở tỉnh Quảng Tây chảy qua Hồ Nam đến Động Đình Hồ.

 

Thật ra nguyên văn từ Trần Trọng Kim và Bùi Kỷ có chỗ sai lầm vì tác giả bài thơ là một người đàn bà chứ không phải là đàn ông!  Do đó nguyên văn như sau:

 

TRƯỜNG TƯƠNG TƯ

我  在  湘  江  頭,
Ngã tại Tương giang đầu
君  在  湘  江  尾。
Quân tại Tương giang vỹ
相  思  不  相  見,
Tương tư bất tương kiến 
同  飲  湘  江  水。 
Đồng ẩm Tương giang thủy

(Lương Ý Nương)

 

TRƯỜNG TƯƠNG TƯ

Ta ở đầu sông Tương

Chàng ở cuối sông Tương

Nhớ nhau không thấy mặt

Cùng uống nước sông Tương.

(Phan Thượng Hải dịch)


 

Đây là toàn bài thơ Trường Tương Tư của Lương Ý Nương:

 

TRƯỜNG TƯƠNG TƯ 

 

Lạc hoa lạc diệp lạc phân phân                Hoa hoa lá lá rụng tơi bời

Tận nhật tư quân kiến bất quân                Lòng nhớ người sao chẳng thấy người

Trường dục đoạn hề trường dục đoạn      Ruột muốn đứt thêm thêm đứt ruột

Lệ châu ngân thượng cánh thiên ngân     Châu rơi thành ngấn lại châu rơi

 

Ngã hữu nhất thốn tâm                             Ta có một tấc lòng

Vô nhân cộng ngã thuyết                          Không có ai mà hỏi

Nguyện phong xuy tán vân                       Muốn nhờ gió đuổi mây

Tố nữ thiên biên nguyệt                            Để được cùng trăng nói

 

Huề cầm thượng cao lâu                           Ôm đàn lên lầu cao

Lâu cao nguyệt hoa mãn                           Lầu cao trăng giải khắp

Tương tư vị tất chung                               Tương tư khúc chẳng thành

Lệ trích cầm huyền đoạn                          Lệ nhỏ dây đàn đứt

 

Nhân đạo tương giang thâm                     Người bảo sông Tương sâu

Vị để tương tư bạn                                    Tương tư sâu gấp bội

Giang thâm chung hữu để                         Sông sâu còn có đáy

Tương tư vô biên ngạn                             Tương tư chẳng bến bờ

 

Ngã tại Tương Giang đầu                       Ta ở đầu sông Tương

Quân tại Tương Giang vỹ                       Chàng ở cuối sông Tương

Tương tư bất tương kiến                         Tương tư không gặp mặt

Đồng ẩm Tương Giang thủy                   Cùng uống nước sông Tương

 

Mộng hồn phi bất đáo                               Hồn mộng bay không đến

Sở khiếm duy nhất tử                                Còn một chết mà thôi

Nhập ngã tương tư môn                            Bước vào cửa tương tư

Tri ngã tương tư khổ                                 Mới (Mình) biết tương tư khổ

 

Trường tương tư hề trường tương tư        Tương tư hoài dài tương tư

Trường tương tư hề vô tận cực                Tương tư dài dài không xiết

Tảo tri như thử quải nhân tâm                  Sớm biết nỗi đau lòng

Hồi bất đương sơ mạc tương thức.           Xưa đừng cùng quen biết

 

(Lương Ý Nương)                                     (Vũ Ngọc Khánh dịch)

 

*

Trước Lương Ý Nương, các thi sĩ đời Đường đã dùng sông Tương để tả sự thương nhớ của Nga Hoàng và Nữ Anh đối với chồng mình là vua Thuấn tại đây.  Tình cảm nhớ thương còn gồm nhiều điển cố khác như bài thơ của Lý Thương Ẩn (813-858) vào đời nhà Đường:

 

LỆ

Vĩnh Hạng trường niên oán ỷ la (*)

Ly tình chung nhật tứ phong ba

Tương giang trúc thượng hân vô hạn (*)

Hiện thủ bi tiền sái kỷ đa (*)

Nhân khứ Tử Đài thu nhập tái (*)

Binh tàn Sở trướng dạ văn ca (*)

Triêu lai Bá thủy kiều biên liễu (*)

Vị để thanh bào tống ngọc kha. (*)

(Lý Thương Ẩn)

 

LỆ (NƯỚC MẮT)

Vĩnh Hạng lâu năm oán lượt là

Ly tình suốt buổi nhớ phong ba

Sông Tương trúc ngấn dòng thương cảm

Núi Hiện bia đầy hạt xót xa

Người bỏ cung vua, thu vượt ải

Quân tàn trướng Sở, tối nghe ca

Sớm kia cành liễu bên cầu Bá

Đưa tiễn sao bằng được ngọc kha.

(Trần Trọng San dịch)

 

(*) Chú thích:

Vĩnh Hạng: một khu trong cung cấm tại Trường An

Tương Giang: tên sông ở tỉnh Hồ Nam.  Tương truyền đây là nơi 2 bà Nga Hoàng và Nữ Anh tự trầm sau khi nghe chồng là vua Thuấn chết tại Thương Ngô.  Miền nầy có loại tre có vệt giống như ngấn nước mắt, gọi là Tương phi trúc (tre của các bà Phi sông Tương).

Hiện: tên núi ở huyện Tương Dương, tỉnh Hồ Bắc.  Trên núi nầy có tấm bia kỷ niệm Dương Hộ đời Tấn, gọi là Truy lệ bi (Bia rơi lệ).

Tử Đài: tên cung đời Hán.  Đời Hán, Vương Chiêu Quân phải rời cung nầy sang đất Hồ kết duyên với Thuyền Vu (vua của rợ Hồ, vua Hung Nô).

Sở trướng: quân Sở bị vây tại Cai Hạ, ban đêm nghe tiếng sáo của Trương Lương, chạnh lòng nhớ nhà, bỏ trại trốn đi.  Trong trướng.Hạng Võ cùng Ngu Cơ làm bài ca than thân thế trong trướng.  Trướng là cái màn, chỉ chỗ ngủ của Tướng quân trong trại lính.

Bá Thủy: tên sông chảy qua Trường An vào sông Vị.  Người đời Đường thường bẻ cành liễu bên cầu nầy để tặng người đi xa.

Ngọc kha: viên đá trắng gắn ở dây buộc đầu ngựa.

 

*

Bài thơ nổi tiếng của Lương Ý Nương và Lý Thương Ẩn là điển cố của những câu thơ cổ điển:

 

Tầm quân hề Dương Đài lộ

Hội quân hề Tương Giang tân

(Chinh Phụ Ngâm Khúc / Đặng Trần Côn)

 

Tìm chàng thuở Dương Đài lối cũ

Gặp chàng nơi Tương Phố bến xưa

(Chinh Phụ Ngâm Khúc / Đoàn Thị Điểm)

 

Ỏi tai những tiếng đoạn trường

Lửa tình dễ nguội sóng Tương khôn hàn.

(Bích Câu Kỳ Ngộ)

 

Rành rành xuyến ngọc thoa vàng

Quần Nghê tha thướt sóng Tương rượm rà

(Bích Câu Kỳ Ngộ)

 

Chiều thu như gợi tấm thương

Lòng người trông xuống sông Tương mơ tình

(Bích Câu Kỳ Ngộ)

 

Sông Tương một giải nông sờ

Bên trông đầu nọ bên chờ cuối kia

(Đoạn Trường Tân Thanh)

 

Nhạc sĩ Thông Đạt cũng có bài thơ và phổ tân nhạc với tựa đề "Ai về sông Tương".

 

AI VỀ SÔNG TƯƠNG

 

Ai có về bên bến sông Tương

Nhắn người duyên dáng tôi thương

Bao ngày ôm mối tơ vương

Tháng với ngày mơ nhuốm đau thương

Tâm hồn mơ bóng em luôn

Mong vài lời em ngập hương.

 

Thu nay về vương áng thê lương

Vắng người duyên dáng tôi thương

Mối tình tôi vẫn cô đơn

Xa muôn trùng lưu luyến nhớ em

Mơ hoài hình bóng không quên

Hương tình mộng say dịu êm

 

Bao ngày qua, thu lại về mang sầu tới

Nàng xây tình mới, hồn tôi tơi bời

Nhìn hoa cười đón mừng vui duyên nàng

Tình thơ ngây từ đây nát tan.

 

Hoa ơi, thôi ngưng cười đùa lả lơi

Cùng tôi buồn đắm đừng vui chi tình

Đầy bao ngày thắm dày xéo tâm hồn

Nầy lệ sầu hoen ý thu.

 

Ai có về bên bến sông Tương

Nhắn người duyên dáng tôi thương

Sao đành lỡ đứt tơ vương

Ôi duyên hờ từ nay bơ vơ

Dây tình tôi nắn cung tơ

Rút lòng sầu trách người mơ.

 

(Thông Đạt)

 

*

Nguyễn Du (1766-1820) trong Đoạn Trường Tân Thanh (Truyện Kiều) đã dùng sông Tương để tả sự tương tư của tình nhân.

 

Sông Tương một giải nông sờ

Bên trông đầu nọ bên chờ cuối kia

 

Tuy nhiên sau nầy Nguyễn Du đi sứ sang Trung Quốc có ghé Tương Giang (Sông Tương) và có làm bài thơ vịnh.  Bài thơ nầy không có nói đến "tương tư của tình nhân"!

 

TƯƠNG GIANG DẠ BẠC

Nhất khứ lục thập lý

Du du giang thủy trường

Phù vân liên Ngũ Lĩnh (*)

Minh nghuyệt hội Tam Tương (*)

Biệt phố phân tân sắc

Dao không thất cố hương

Hạc lai nhân bất kiến (*)

Vãn thụ nhất thương thương. (*)

(Nguyễn Du)

 

ĐÊM ĐẬU THUYỀN TRÊN SÔNG TƯƠNG

Một đi sáu mươi dặm

Dòng cuộn nước mênh mang

Mây giăng liền Ngũ Lãnh

Trăng ngập tràn Tam Tương

Bến tiễn chia xuân sắc

Trời xa lấp cố hương

Hạc về người chẳng thấy

Cây biếc lạnh ngàn sương.

(Quách Tấn dịch)

 

(*) Chú thích:

Ngũ Lĩnh = 5 dãy núi cao ở tỉnh Hồ Nam và Quảng Tây.

Tam Tương: Tương Giang phát nguyên từ tỉnh Quảng Tây chảy theo hướng đông bắc vào tỉnh Hồ Nam.  Hợp với Ly Thủy thành s. Ly Tương.  Kế đến hợp với Tiêu Thủy thành s. Tiêu Tương.  Rồi chảy lên phía Bắc ở huyện Hành Dương hợp với Chương Thủy thành s. Chương Tương.  (Do đó gọi là Tam Tương).  Sau cùng chảy đến tỉnh Trường Sa vào Động Đình hồ.

Hạc lai: nhắc sự tích Phí Văn Huy cỡi hạc vàng lên tiên giới tự lầu Hoàng Hạc ở Vũ Xương thuộc tỉnh Hồ Bắc, gần vùng Tương Giang.

Thương thương = lạnh lẽo.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

TƯƠNG TƯ

 

*

"Trường tương tư" không phải chỉ dựa vào sông Tương Giang.  Nó chỉ cần nghĩa đen là "Nhớ nhau hoài" như bài thơ Trường Tương Tư của Lý Bạch (701-762).

 

TRƯỜNG TƯƠNG TƯ

Nhật sắc dục tận hoa hàm yên

Nguyệt minh như tố sầu bất miên

Triệu sắt sơ đình phụng hoàng trụ (*)

Thục cầm dục tấu uyên ương huyền (*)

Thử khúc hữu ý vô nhân truyền

Nguyện tùy xuân phong kỷ Yên Nhiên (*)

Ức quân điều điều cách thanh thiên

Tích thời hoành hoa mục

Kim tác lưu lệ tuyền

Bất tín thiếp trường đoạn

Quy lai khán thủ minh kính tiền.

(Lý Bạch)

 

NHỚ NHAU HOÀI

Hoa lồng khói biếc lặn tà dương

Trăng trong như lụa lòng buồn thương

Đàn Triệu vừa ngơi trụ Phượng hoàng

Đàn Thục toan gẩy dây uyên ương

Khúc nầy có ý không ai truyền

Mong gởi gió xuân đến Yên Nhiên

Xa cách trời xanh, nhớ khó quên

Ngày xưa mắt gợn sóng

Nay thành suối lệ phiền

Đoạn trường ai chẳng tin lòng thiếp

Hãy về mà ngắm bóng gương in.

(Trần Trọng San dịch)

 

NHỚ NHAU HOÀI

Bóng tà dương hoa lồng khói biếc

Trăng như tơ sầu giấc không yên

Đàn Triệu vừa dứt tiếng huyền

Thục cầm lại gởi khúc uyên ương liền

Ý nhạc hay, thất truyền xin gởi

Nhờ gió xuân đưa tới Yên Nhiên

Cao xanh ngăn cách khó quên

Làm em càng nhớ chàng nơi phương trời

Mắt ngày xưa lả lơi gợn sóng

Nay suối tuôn lệ nóng nhớ chàng

Vì ai đòi đoạn tâm can

Về đây đối bóng xin chàng hãy tin.

(Cao Nguyên dịch)

 

(*) Chú thích:

Triệu sắt: vì người nước Triệu giỏi đàn sắt nên thường gọi đàn nầy là "Triệu sắt".  Sắt là loại đàn có 25 dây.

Thục cầm: Tư Mã Tương Như người nước Thục giỏi gẩy đàn cầm, nên đàn nầy thường được gọi là Thục cầm.  Cầm là loại đàn có 7 dây.

Yên Nhiên: tên núi ở Mông Cổ ngày nay.  Đời Đông Hán, Tướng Đậu Hiến đánh thắng Thiền Vu (vua Hung Nô), lên núi nầy khắc chữ trên đá ghi chiến công của mình.

 

*

Từ tình tứ bài thơ nầy, văn học Việt Nam có những câu thơ về "tương tư": có đàn có nước mắt và có núi Yên Nhiên xa xôi.

 

Cưỡng viện cầm, chỉ hạ kinh đình loan phượng trụ

Cưỡng cổ sắt, khúc trung sầu yết uyên ương huyền

Thử ý xuân phong nhược khẳng truyền

Thiên kim tá lực ký Yên Nhiên

Yên Nhiên vị dị truyền

Ức quân thiều thiều hề lộ như thiên.

(Chinh Phụ Ngâm Khúc / Đặng Trần Côn)

 

Sắt cầm gượng gẩy ngón đàn

Dây uyên kinh đứt phím loan ngại chùng (trùng)

Lòng này gửi gió Đông có tiện

Nghìn vàng xin gửi đến non Yên

Non Yên đâu chẳng tới miền

Nhớ chàng thăm thẳm đường lên bằng trời.

(Chinh Phụ Ngâm Khúc / Đoàn Thị Điểm)

 

Tiệp sắc tinh kỳ từ tái nguyệt

Khải ca tướng sĩ bối biên phong

Lặc công hề Yên Nhiên thạch

(Chinh Phụ Ngâm Khúc / Đặng Trần Côn)

 

Bóng cờ xí giã ngoài quan ải

Tiếng khải ca trở lại thần kinh

Non Yên tạc đá đề danh

Triều thiên vào trước cung đình dâng công

(Chinh Phụ Ngâm Khúc / Đoàn Thị Điểm)

 

Song mà tình chẳng riêng ai

Bệnh tương tư có trải mùi mới hay

(Bích Câu Kỳ Ngộ)

 

(TƯƠNG TƯ)

Bướm kia vương lấy sầu hoa

Đoạn tương tư ấy nghĩ mà buồn tênh

Có khi gảy khúc đàn tranh

Nước non ngao ngán ra tình hoài nhân

Cầu Hoàng tay lựa nên vần

Tương Như lòng ấy Văn Quân lòng nào

Có khi mượn chén rượu đào

Tiệc mồi chưa cạn ngọc dao đã đầy

Hơi men chưa nhấp đã say

Như xông mùi nhớ như gây giọng tình

Có khi ngồi suốt năm canh

Mõ quyên điểm nguyệt chuông kềnh nện sương

Ỏi tai những tiếng đoạn trường

Lửa tình dễ nguội sóng Tương khôn hàn

Có đêm ngắm bóng trăng tàn

Tiếng quyên hót sớm trận nhàn bay khuya

Ngổn ngang cảnh nọ tình kia

Nỗi riêng riêng biết dãi dề với ai

Vui xuân chung cả một trời

Sầu xuân riêng nặng một người tương tư

Lòng yêu tay tả nên thơ

Mảnh tình phong với mảnh tờ đưa theo

Ả Hằng ví nặng lòng yêu

Rẽ mây mở lối tinh thiều cho nao

Hỏi cho giáp mặt hoa đào

Vườn xuân chẳng lẽ ngăn rào mãi ru.

(Bích Câu Kỳ Ngộ)

 

Thơ chữ Quốc ngữ cũng có bài thơ của Nguyễn Bính:

 

TƯƠNG TƯ 

Thôn Đoài ngồi nhớ thôn Đông

Một người chín nhớ mười mong một người

Gió mưa là bệnh của Trời

Tương tư là bệnh của tôi yêu nàng

Hai thôn chung lại một làng

Cớ sao bên ấy chẳng sang bên nầy?

Ngày qua ngày lại qua ngày

Lá xanh nhuộm đã thành cây lá vàng

Bảo rằng cách trở đò giang

Không sang là chẳng đường sang đã đành

Nhưng đây cách một đầu đình

Có xa xôi mấy mà tình xa xôi…

Tương tư thức mấy đêm rồi

Biết cho ai, hỏi ai người biết cho!

Bao giờ bến mới gặp đò?

Hoa khuê các, bướm giang hồ gặp nhau?

Nhà em có một giàn trầu

Nhà anh có một hàng cau liên phòng

Thôn Đoài thì nhớ thôn Đông

Cau thôn Đoài nhớ trầu không thôn nào?

(Nguyễn Bính)


 

Kết Luận

 

Thi sĩ Lãng Ba Phan Văn Bộ đã đi sâu rộng vào đề tài Tương Tư qua những bài thơ.

 

THẤT TÌNH KHÚC

Quanh quẩn Tương Giang hát lẫn đờn

Ví không thệ ước gẫm còn hơn

Nhớ nhung sớm tối sầu riêng chịu

Mơ mộng ngày đêm khổ dễ sờn

Đô hội phồn hoa hằng rảo mắt

Sơn cùng thủy tận cũng lê chơn

Hoa râm mái tóc tìm chưa gặp

Chẳng trách vô duyên chỉ ngậm hờn.

(Lãng Ba) 

 

TƯƠNG TƯ

Đau khổ vì ai, ai có dè?

Nhạc lòng bưng bít dễ ai nghe

Đêm mơ tưởng sắc thường mê mộng

Ngày ước giao duyên những rụt rè

Mong đợi, nhạn hồng không nhắn nhủ

Nhớ thương, bình tước khó lăm le

Khối tình ấp ủ càng thêm nặng

Khao khát mưa Ngâu, mãi nắng hè.

(Lãng Ba) 

 

ĐỢI CHỜ 

Vắng bóng thân yêu mấy độ rày

Ra vào khoắc khoải, ngóng tin ai

Nhớ thương, thương nhớ, tơ sầu dệt

Mơ tưởng, tưởng mơ, tóc biếng cài

Nỗi nọ..., lo lường qua tháng trọn

Niềm kia..., thổn thức suốt canh dài

Sự lòng gửi đến nhờ cô nhạn

Có thấu cho chăng mối cảm hoài?

(Lãng Ba) 

 

ẢO ẢNH

Trăng sáng, hoa xinh, rảo bóng hồng

Sen vàng lẻo đẻo ngẩn ngơ trông

Tóc mây, da tuyết, xem hoa mắt

Vóc liễu, xương mai, thấy đẹp lòng

Trách bấy hương trời giam cổng kín

Thương thay sắc nước chịu phòng không

Tiên nga ai đấy, ai xin nhắn

Chớ để người trần mãi nhớ mong...

(Lãng Ba) 

 

MỘNG TƯỞNG 

Thắt thẻo ngày đêm nhớ bạn lòng

Thả hồn về gặp giữa chiều đông

Thoạt chào, thoạt nói, môi tươi thắm

Vừa thẹn, vừa vui, má ửng hồng

Cùng vạch lúa vàng qua thửa ruộng

Rồi nương sóng bạc thả dòng sông

Phật đài đến viếng song song lạy

Khấn vái cho nên cặp vợ chồng.

(Lãng Ba) 


 

Bs PHAN THƯỢNG HẢI biên soạn

 

Bài nầy đăng lần đầu trong phanthuonghai.com trong mục Thơ Văn phần Đọc Thơ.


 

Tài liệu tham khảo:

1) Điển Cố Từ Thơ (Phan Thượng Hải) - phanthuonghai.com

2) Những bài thơ tình của Thi sĩ Lãng Ba (Bs Phan Thượng Hải) - phanthuonghai.com

3) Thơ Lục Bát (Phan Thượng Hải) - phanthuonghai.com


 

Bs PHAN THƯỢNG HẢI biên soạn và giữ bản quyền

_________________________________

                   THƠ VÀ VIỆT SỬ - TRẦN VĂN HƯƠNG

 

                                           Bs Phan Thượng Hải biên soạn


 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

   

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Đi tắm trần truồng mổng thiếu khăn (*)     

Ăn, Ngủ, Ỉa xong; đầy đủ cả                       

Muốn chi chi nữa biết mần răng!               

(Trần Văn Hương) 17-11-60                                                     

 

(*) Chú thích: 

Ngồi rù = Ngồi co ro ủ rũ như gà bị bệnh (dịch).  Mổng = Mổng đít.

 

Ra lịnh đòi ra chịu chụp hình

Đua nhau sắm sửa được làm xinh

Anh xoa mái tóc cho ra dáng

Cụ vuốt chòm râu để gợi tình

Sờ trán chùi da da mốc thếch

Đưa tay giũ áo áo hôi rình

Ví dầu ảnh ấy, ngày sau thấy

Chúng bảo nhau rằng “cái lũ ranh”.

(Trần Văn Hương) 22-11-60

 

DỊ TƯỚNG BẤT TÀI

Cũng dự phong lưu lúc ở ngoài

Vào đây, nhìn mãi chẳng ra ai

Mặt mày ủ rũ râu dòm miệng

Đầu cổ chôm bôm tóc liếm tay

Răng cỏ vắng chùi (chà) hôi thủm thủm

Áo quần không giặt ngửi khai khai

Chưa bao lâu, đã thay hình dạng

Dị tướng than ôi lại bất tài

(Trần Văn Hương) 1-12-60

 

- Từ Thể xác ảnh hưởng đến Tinh thần sau một thời gian ở tù:

 

Phong độ nhà lao có dễ đâu

Tập thành nề nếp lắm công phu

Nằm cao ngủ kỹ sao rằng phạm

Ở bẩn ăn dơ mới gọi tù

Nghiêng ngửa nằm khềnh xem đáng mặt…

Trần truồng đứng tắm để trơ …khu

Nhắn ai muốn học vào đây học

Phong độ nhà lao có dễ đâu.

(Trần Văn Hương) 11-12-60

 

Vì chưng bẻm mép mới vào đây

Câm họng đâu ra đến nỗi nầy

Dân chúng sướng; đồ: dân chúng khổ!

Nước nhà nên; bảo: nước nhà nguy!

Dở hay mặc kệ thằng cha nó!

Còn mất can chi lão nội mầy?

Nếm thử mùi tù cho đáng kiếp

Từ rày chừa bỏ tật thày lay.

(Trần Văn Hương) 21-11-60

 

Sự thế man man tỉnh chửa rồi

Vào đây thoát đã đủ trăng thôi

Cảnh nầy tuy đẹp bề ăn ở

Nỗi ấy không khuây lúc đứng ngồi

Vận nước những lo dâu biển đổi

Tức mình luống thẹn tháng ngày trôi

Nhắn ai ngoài ấy ta xin hỏi

Triều đã lui chưa, cát đã bồi?

(Trần Văn Hương) 12-12-60

 

*

Bài thơ "Nỗi Lòng"

 

Cuối năm 1961, khi được người bạn là Long Giang Đỗ Phong Thuần cho đọc 1 bài thơ (tựa là Nỗi Lòng), bảo là của Chí sĩ Ngô Đình Diệm làm khi bôn ba làm cách mạng ở hải ngoại, ông Trần Văn Hương có làm 2 bài họa:

 

NỖI LÒNG (Nguyên bản)  

Gươm đàn nửa gánh quẩy sang sông
Hỏi bến: thuyền không, lái cũng không!
Xe muối nặng nề thân vó Ký (*)
Đường mây rộng rãi tiếc chim Hồng (*) 
Vá trời lấp biển người đâu tá? 
Bán lợi mua danh chợ vẫn đông!
Lần lữa nắng mưa theo cuộc thế 
Cắm sào đợi khách, thuở nào trong? 

(Chí sĩ Ngô Đình Diệm) 1953 

 

(*) Chú thích: Ngựa Ký là ngựa giỏi, chạy xa.  Chim Hồng Hộc là chim bay cao.
 

(Họa 1)                                                        

Hèn vụng toan khai núi lấp sông!              

Chiêm bao sự nghiệp: có rồi không!          

Tan tành lưới gió hoài tơ nhện                    

Diệu vợi đường mây rã cánh hồng               

Mùi thế ngọt ngon ai đã chán?                   

Chợ đời giành giựt khách còn đông            

Nhắn lời xin hỏi người cao kiến                

Nào thuở Hoàng Hà thấy nước trong?       

(Trần Văn Hương) 26-12-61                                                     

 

(Họa 2)

Tủi nhục như vầy rửa nước sông?

Cơ đồ gây dựng phút thành không!

Lòng nầy hổ gởi vầng trăng bạc

Danh ấy đành buông ngọn lửa hồng 

Chí sĩ cam thân vùi tuyết Bắc (*)

Anh hùng thẹn mặt ngó người Đông (*)

Xét mình chẳng tiện theo gương trước

Sống đục còn hơn chịu thác trong!

(Trần Văn hương) 26-12-61

 

(*) Chú thích:

Nhắc chuyện Tô Vũ cam chịu ở vùng “tuyết phương Bắc” và Hạng Vũ thẹn không muốn qua sông gặp lại “người Giang Đông” (mặc dù ông Đình Trưởng có cấm sào đợi).


 

Ông Long Giang Đỗ Phong Thuần cũng có 1 bài thơ để nói ý kiến chống đối của mình (với ông Ngô Đình Diệm) thì ông Trần Văn Hương cũng phụ họa 1 bài nữa:

 

PHÚNG THẾ (Xướng)                                                    

Đường đời chen lấn chợ trời đông              

Chác lợi mua danh mới phập phòng           

Tránh kẻ ham giàu bôi sử sách                    

Phụ người công khó giúp non sông            

Con buôn gặp mối đeo như đỉa                   

Thằng mổng no cơm hót tựa nhồng             

Ái quốc ưu dân là quảng cáo                      

Ngân hàng ngoại quốc dẫy đầy công.         

(Long Giang Đỗ Phong Thuần)                  

 

CHUYỆN TRỚ TRÊU (Họa)

Trớ trêu mật ít lại ruồi đông

Thầm nghĩ cười ai mũi sớm phồng

Môi mỏng khoe lo dân với nước

Mặt dầy quên thẹn với non sông

Thấy lâu xốn mắt, lòng lang sói

Nghe lắm rườm tai, giọng cưởng nhồng 

Tấp tểnh đua đòi trang “chí sĩ”

Muôn đời để mãi tiếng thằng “công” (*)

(Trần Văn Hương)

 

(*) Chú thích: 

“Công”: từ tiếng Pháp là “Un Con” để nói người ngu dốt vô liêm sĩ. (Ông Trần Văn Hương tự chú thích).

 

Sau đó dù biết là bài thơ không phải của Chí sĩ Ngô Đình Diệm (mà là của ông Nghè Nguyễn Sỹ Giác), nhưng ông Trần Văn Hương không đổi ý (chống đối).  Đến năm 1964, nhìn lại cuộc đảo chánh 1-11-63, ông thú thật là ông giựt mình vì những câu thơ “khẩu chiếm” (khẩu khí) của mình về vận mệnh của ông Ngô Đình Diệm.

 

*

Thời Đệ Nhất Cộng Hòa, thi văn của giới trí thức VN hòa hợp Bắc Nam và Đông Tây lên cao đến tuyệt đỉnh.  Người di cư miền Bắc cũng hòa hợp với người trong Nam như 2 bài thơ của ông Nguyễn Vỹ và ông Trần Văn Hương vịnh Mùa Thu:

 

Thu ơi, ai nhuộm lá thu vàng

Lá ngập tơi bời đến ải quan

Cây cỏ ngậm ngùi sầu thế hệ

Nước non vương vấn hận thời gian

Vườn thơ vắng bướm hương tàn tạ

Cánh nhạn tung mây gió phũ phàng

Ôi mảnh hồn trăng từ vạn kỷ

Gieo chi đất bụi một màu tang.

(Nguyễn Vỹ)

 

Tàn lục lưa thưa điểm lá vàng

Heo mây heo hắt giục thu sang

Sương lồng trướng khói: mờ gương thỏ

Gió vén rèm mây: chẳng bóng nhàn

Khí mát xông thềm, hơi dế lạnh

Mưa dầm trĩu nhánh, giọng thiền khan

Bắc Nam kinh vỹ trời tuy khác

Thu đến sầu thu cũng ngập tràn.

(Trần Văn Hương) 


 

Ông Nguyễn Vỹ là một thi nhân tiền chiến ở miền Bắc nổi danh với Thơ Mới.  Sau hiệp định Genève, ông làm báo ở Miền Nam nổi danh với Bán Nguyệt San Phổ Thông.  Ông thường hay Xướng thơ Đường Luật trong những dịp đặc biệt và mời mọi người trong nước (VNCH) họa lại, chỉ cần trùng vần của câu đầu mà thôi.  

Bài thơ trên của ông Nguyễn Vỹ là 1 bài thơ Xướng về mùa Thu (1961?) và có 113 bài họa được ông chọn đăng trong tập thơ bán kèm theo Phổ Thông tựa đề là “Nam thu hòa khúc”.  Ông Trần Văn Hương ban đầu không có họa nhưng khi thấy có nhiều người hưởng ứng nên mới làm bài họa trên nhấn mạnh đến thời tiết Miền Nam trong mùa thu.

 

*

Điều lạ là vấn đề “Ý Thức Hệ” giữa Tư Bản (Miền Nam VNCH) và Cộng Sản (Miền Bắc VNDCCH) không ảnh hưởng đến ông Trần Văn Hương như đa số chính trị gia trong thời kỳ nầy:

 

ĂN CƠM RỒI NÓI CHƯỚNG

Cơm rồi nói chướng chọc ai chơi

Có giận thì cam chớ nặng lời

Thịt béo cá ngon ăn phát ách

Trà thơm bánh ngọt nít mê tơi

Sướng thân quên kẻ quen đau khổ

No bụng xem đời rất sáng tươi

“Duy Vật? Duy Tâm?”- sai bét hết!

“Duy Bao Tử” mới đáng mười mươi.

(Trần Văn Hương)


 

Nguồn gốc từ miền Bắc, Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam thành lập với Võ Chí Công, Huỳnh Tấn Phát và Phùng Văn Cung ngày 20-12-60 ở xã Tân Lập, huyện Châu Thành (nay là Tân Biên), Tây Ninh ở vùng gần biên giới Việt Miên.  Quân Đội Giải Phóng Miền Nam lập ngày 15-2-61 và bắt đầu có chiến tranh ở Miền Nam.

 

NHÌN XUÂN NHÂM DẦN SANG CẢM TÁC

Trâu đi danh dữ hãy còn bêu

Cọp bước chân sang cũng lắm đều (điều)

Tiếng súng “tảo thanh” thay tiếng pháo (*)

Cây cờ “giải phóng” thế cây nêu (*)

Con đường thân ái đang tay lắp

Ngòi lửa oan cừu ráng sức khêu

Vói hỏi Ông Xanh thông cảm chẳng?

Thằng dân vắn cổ biết sao kêu.

(Trần Văn Hương) 

5-2-62

 

(*) Chú thích:

Tết năm Nhâm Dần (1962), Quân đội GPMN ra lệnh cho các vùng quê không ăn Tết còn chính phủ VNCH thì ra lệnh cấm đốt pháo.

 

Ngày 16-2-62, đại hội lần thứ nhứt của Mặt Trận GPMN bầu Ls Nguyễn Hữu Thọ làm Chủ Tịch với 3 người cũ làm Phó Chủ Tịch là Bs Phùng Văn Cung, Ks Huỳnh Tấn Phát và Võ Chí Công.


 

Thời kỳ Quân Quản (1963-67)

 

Ngày 1-11-63: Đảo chánh các Tướng Tá trong quân đội do Trung tướng Dương Văn Minh, Trung tướng Trần Văn Đôn, Thiếu tướng Trần Thiện Khiêm (Tham mưu trưởng Liên quân) và Thiếu tướng Tôn Thất Đính (Tư lệnh Quân đoàn 3) cầm đầu.  Quân chủ lực là của Sư đoàn 5 của Đại tá Nguyễn Văn Thiệu (ở Biên Hòa) và Sư đoàn 7 của Đại tá Nguyễn Hữu Có (ở Mỹ Tho).

 

Ngày 2-11-63: Tổng thống Ngô Đình Diệm và Cố vấn Ngô Đình Nhu bị giết.

 

Ngày 3-11-63: Hội Đồng Quân Nhân Cách Mạng thành lập để tạm thời lãnh đạo quốc gia.  Đệ Nhất Cộng Hòa chấm dứt và Thời kỳ Quân Quản bắt đầu.

Hội Đồng Quân Nhân Cách Mạng:

Chủ tịch: Trung tướng Dương Văn Minh

Đệ nhất Phó Chủ tịch: Trung tướng Trần Văn Đôn

Đệ nhị Phó Chủ tịch: Trung tướng Tôn Thất Đính

Ủy viên Ngoại Giao kiêm Tổng Thư ký: Trung tướng Lê Văn Kim

Ủy viên Kinh Tế: Trung tướng Trần Văn Minh

Ủy viên An Ninh: Trung tướng Phạm Xuân Chiểu

Ủy viên Quân Vụ: Trung tướng Trần Thiện Khiêm

Ủy viên Chính Trị: Thiếu tướng Đỗ Mậu

Ủy viên: Trung tướng Mai Hữu Xuân

              Trung tướng Lê Văn Nghiêm

                           Thiếu tướng Nguyễn Văn Thiệu

                           Thiếu Tướng Nguyễn Hữu Có

Hội Đồng Quân Nhân Cách Mạng chỉ định Cựu Phó Tổng thống Nguyễn Ngọc Thơ lập Chính phủ.

 

Ngày 4-11-63: Chính phủ Lâm thời Nguyễn Ngọc Thơ thành lập.

Chính phủ Nguyễn Ngọc Thơ:

Thủ tướng kiêm Tổng trưởng Kinh Tế: Nguyễn Ngọc Thơ

Tổng trưởng Quốc Phòng: Trung tướng Trần Văn Đôn

Tổng trưởng An Ninh: Trung tướng Tôn Thất Đính

Tổng trưởng Ngoại Giao: Phạm Đăng Lâm

Tổng tưởng Tư Pháp: Nguyễn Văn Mầu

Tổng trưởng Giáo Dục: Giáo sư Phạm Hoàng Hộ

Tổng trưởng Cải Tiến Nông Thôn: Trần Lê Quang

Tổng trưởng Thông Tin: Thiếu tướng Trần Tử Oai

Tổng trưởng Công Chánh: Trần Ngọc Oánh

Tổng trưởng Y Tế: Vương Quang Trường

Tổng trưởng Lao Động: Nguyễn Lê Giang

Tổng trưởng Thanh Niên: Nguyễn Hữu Phi

Tổng trưởng Tài Chánh: Lưu Văn Tính

Tổng trưởng Kinh Tế: Âu Trường Thanh

Bộ trưởng tại Phủ Thủ tướng: Nguyễn Thành Cung


 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

(Thủ tướng Nguyễn Ngọc Thơ và các Tướng tá)

(1) Nguyễn Ngọc Lễ (2) Trần Thiện Khiêm (3) Dương Văn Minh (4) Thủ tướng Nguyễn Ngọc Thơ (5) Trần Văn Đôn (6) Tôn Thất Đính 

(7) Nguyễn Văn Thiện (8) Nguyễn Văn Vỹ (9) Nguyễn Cao Kỳ (10) Trần Ngọc Huyến (11) Nguyễn Hữu Có (12) Nguyễn Văn Thiệu (13) ? (14) Lê Nguyên Khang (15) Nguyễn Giác Ngộ (16) Dương Hiếu Nghĩa (17) Huỳnh Văn Cao. 


 

Ngày 30-1-64: Trung tướng Nguyễn Khánh làm cuộc "Chỉnh lý", bắt và quản thúc 4 Tướng Trần Văn Đôn, Tôn Thất Đính, Mai Hữu Xuân và Lê Văn Kim ở Đà Lạt.  Các Tướng Trần Thiện Khiêm, Nguyễn Văn Thiệu và Đỗ Mậu theo cùng phe với Tướng Nguyễn Khánh.  

Ngày 31-1-64: Trung tướng Nguyễn Khánh làm Chủ tịch Hội Đồng Quân Nhân Cách Mạng. kiêm Tổng Tư lệnh Quân Đội.

Ngày 1-2-64: Chính phủ Nguyễn Ngọc Thơ từ chức và được Trung tướng Nguyễn Khánh chấp nhận (3-2-64)

Ngày 7-2-64: Hiến ước lâm thời số 2 giao quyền hành Quốc trưởng cho Hội Đồng Quân Nhân Cách Mạng chỉ định.  Hội Đồng Quân Nhân Cách Mạng cử Tướng Dương Văn Minh làm Quốc trưởng và Tướng Nguyễn Khánh lập chính phủ.

Ngày 8-2-64: Chính phủ Nguyễn Khánh thành lập.

Chính phủ Nguyễn Khánh:

Thủ tướng: Trung tướng Nguyễn Khánh

Phó Thủ tướng đặc trách Bình định: Nguyễn Tôn Hoàn

Phó Thủ tướng đặc trách Kinh Tế Tài Chánh: Nguyễn Xuân Oánh

Phó Thủ tướng đặc trách Văn Hóa Xã Hội: Thiếu tướng Đỗ Mậu

Quốc Vụ Khanh: Bác sĩ Lê Văn Hoạch

Tổng trưởng Ngoại Giao: Bác sĩ Phan Huy Quát

Tổng trưởng Nội Vụ: Hà Thúc Ký

Tổng trưởng Công Chánh: Trần Ngọc Oánh

Tổng trưởng Quốc Gia Giáo Dục: Bùi Tường Huân

Tổng trưởng Quốc Phòng: Trung tướng Trần Thiện Khiêm

Tổng trưởng Cải Tiến Nông Thôn: Nguyễn Công Hầu

Tổng trưởng Y Tế: Vương Quang Trường

Tổng trưởng Lao Động: Đàm Sỹ Hiến

Tổng trưởng Thông Tin: Phạm Thái

Tổng trưởng Tài Chánh: Nguyễn Xuân Oánh

Tổng trưởng Kinh Tế: Âu Trường Thanh

Tổng trưởng Tư Pháp: Nguyễn Văn Mầu

Tổng trưởng Xã Hội: Trần Quang Thuận

Bộ trưởng tại Phủ Thủ Tướng: Nghiêm Xuân Hồng 

 

Ngày 21-3-64: Hội Đồng Quân Nhân Cách Mạng biểu quyết tự giải tán, nhường chỗ cho Ủy Ban Lãnh Đạo Lâm Thời của Hội Đồng Quân Đội Cách Mạng (thay thế Hội Đồng Quân Nhân Cách Mạng):

Chủ tịch: Trung tướng Nguyễn Khánh

Đệ nhất Phó Chủ tịch: Trung tướng Trần Thiện Khiêm

Đệ nhị Phó Chủ tịch: Thiếu tướng Đỗ Mậu

Đệ tam Phó Chủ tịch: Trung tướng Phạm Xuân Chiểu

Cố vấn Tối cao: Trung tướng Dương Văn Minh 

 

Từ đầu tháng 8-64, bắt đầu có chống đối của Báo chí, Sinh viên, Phật Giáo (do Thượng tọa Thích Tâm Châu cầm đầu) và Công Giáo (do Linh Mục Hoàng Quỳnh cầm đầu).  Rối loạn trong Chính phủ Nguyễn Khánh và Hội Đồng Quân Đội.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

(Các Tướng Trần Thiện Khiêm, Dương Văn Minh và Nguyễn Khánh)

 

Ngày 8-9-64: Thượng Hội Đồng Quốc Gia thành lập theo Hiến chương Vũng Tàu, để chuyển dần sang Chính phủ dân sự. 

Thượng Hội Đồng Quốc Gia gồm có 16 thành viên.  Ông Phan Khắc Sửu làm Chủ tịch.  Phó Chủ tịch là Nguyễn Xuân Chữ và Tổng Thư ký là Trần Văn Văn.  Bác sĩ Hồ Văn Nhựt được cử lập chính phủ nhưng không làm được nên xin rút lui.  Đô trưởng Sài Gòn là ông Trần Văn Hương được bổ nhiệm làm Thủ tướng và lập chính phủ.

 

Ngày 13-9-64: Trung tướng Dương Văn Đức và Thiếu tướng Lâm Văn Phát đem quân về đóng ở Sài Gòn Gia Định nhưng không được toàn thể quân đội (dưới quyền của Đại tướng Trần Thiện Khiêm) ủng hộ nên phải rút quân về.  Sau đó Trung tướng Dương Văn Đức, Thiếu tướng Lâm Văn Phát và nhiều sĩ quan cùng phe bị cách chức.

Ngày 27-9-64: Ông Phan Khắc Sửu làm Quốc trưởng và Bác sĩ Nguyễn Xuân Chữ thay thế làm Quyền Chủ tịch Thượng Hội Đồng Quốc Gia.

Ngày 24-10-64: Đại tướng Trần Thiện Khiêm làm Đại sứ tại Hoa Kỳ.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

(Quốc trưởng Phan Khắc Sửu và chính phủ Trần Văn Hương)


Ngày 4-11-64: Chính phủ Trần Văn Hương thành lập.

Chính phủ Trần Văn Hương:

Thủ tướng kiêm Tổng trưởng Quân Lực: Trần Văn Hương

Đệ nhất Phó Thủ tướng kiêm Tổng trưởng Nội Vụ: Bác sĩ Nguyễn Lưu Viên

Đệ nhị Phó Thủ tướng kiêm Thống đốc Ngân Hàng Quốc Gia: Nguyễn Xuân Oánh

Tổng trưởng Ngoại Giao: Phạm Đăng Lâm

Tổng trưởng Tư Pháp: Lữ Văn Vi

Tổng trưởng Thông Tin: Lê Văn Tuấn

Tổng trưởng Kinh Tế: Nguyễn Duy Xuân

Tổng trưởng Tài Chính: Lưu Văn Tính

Tổng trưởng Cải Tiến Nông Thôn: Ngô Ngọc Đối

Tổng trưởng Công Chánh: Lê Sĩ Ngạc

Tổng trưởng Văn Hóa Giáo Dục: Phan Tấn Chức

Tổng trưởng Y Tế: Trần Quang Diệu

Tổng trưởng Xã Hội: Đàm Sĩ Hiến

Tổng trưởng Lao Động: Nguyễn Hữu Hùng

Tổng trưởng Phủ Thủ Tướng: Phạm Văn Toàn

 

Chính phủ Trần Văn Hương bị Phật giáo và Sinh viên chống đối kịch liệt.  Ngoài ra còn có xung đột giữa Phật Giáo và Công Giáo.

Ngày 18-12-64, Tổng Tư lệnh Quân Đội là Đại tướng Nguyễn Khánh lập một Hội Đồng Quân Lực để giúp đỡ Tổng Tư lệnh.

 

Ngày 20-12- 64: Nhân danh Hội Đồng Quân Lực, Tướng Nguyễn Khánh giải tán Thượng Hội Đồng Quốc Gia.

Thủ tướng Trần Văn Hương phải thu nạp thêm các Tướng lãnh vào chính phủ:

Đệ nhị Phó Thủ tướng: Trung tướng Nguyễn Văn Thiệu

Tổng trưởng Quân Lực: Trung tướng Trần Văn Minh

Tổng trưởng Tâm Lý Chiến: Trung tướng Linh Quang Viên

Tổng trưởng Thanh Niên Thể Thao: Thiếu tướng Nguyễn Cao Kỳ.

Ông Nguyễn Xuân Oánh xuống thành Đệ tam Phó Thủ tướng.

 

Phật Giáo vẫn chống đối biểu tình tuyệt thực: Cầm đầu là các Thượng tọa Thích Tâm Châu, Thích Trí Quang, Thích Hộ Giác và Thích Thiện Minh.

Ngày 24-1-65: Hội Đồng Quân Lực bãi nhiệm Thủ tướng Trần Văn Hương và đem giam ông ở Vũng Tàu.  Ông Nguyễn Xuân Oánh ủy nhiệm lập chính phủ mới nhưng không thành.

Ngày 27-1-65: Đại tướng Nguyễn Khánh làm cuộc chỉnh lý lật đổ chính quyền dân sự và truất phế Quốc trưởng Phan Khắc Sửu.   

 

Ngày 20-2-65: Đảo chánh thất bại của Tướng Lâm Văn Phát và Đại tá Phạm Ngọc Thảo.  

Phe các Tướng trong nội bộ của Hội Đồng Quân Lực dàn xếp ép Tướng Nguyễn Khánh phải lưu vong và ủy quyền cho Bác sĩ Phan Huy Quát lập chính phủ dân sự.  Quyền hành của 2 Tướng Nguyễn Khánh và Trần Thiện Khiêm hoàn toàn chấm dứt.  Hai Tướng bắt đầu lãnh đạo Hội Đồng Quân Lực là Trung tướng Nguyễn Văn Thiệu và Thiếu tướng Nguyễn Cao Kỳ.

 

Cuối tháng 2-65: Chính phủ Phan Huy Quát thành lập: 

Thủ tướng: Bác sĩ Phan Huy Quát

Phó Thủ tướng kiêm Tổng trưởng Quốc Phòng: Trung tướng Nguyễn Văn Thiệu

Phó Thủ tướng kiêm Tổng trưởng Ngoại Giao: Bác sĩ Trần Văn Đỗ

Phó Thủ tướng phụ trách Kế hoạch: Luật sư Trần Văn Tuyên

Bộ trưởng Thông Tin: Trung tướng Linh Quang Viên

Bộ trưởng Giáo Dục: Nguyễn Tiến Hỷ

Bộ trưởng tại Phủ Thủ tướng: Bùi Diếm

 

Chính phủ Phan Huy Quát lại bị Công Giáo chống đối.  Sự bất đồng chánh kiến giữa Quốc trưởng Phan Khắc Sửu và Thủ tướng Phan Huy Quát đưa đến sự kiện cuối cùng là Chính phủ dân sự bị "quân đội" giải tán (kể cả chức vụ Quốc trưởng) vào ngày 11-6-65.


 

Ngày 12-6-65: Hội Đồng Quân Lực lập ra Ủy Ban Lãnh Đạo Quốc Gia, tổ chức sau cùng của Thời kỳ Quân Quản:

Ủy Ban Lãnh Đạo Quốc Gia có trọng trách chỉ huy Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa chính thức từ ngày 19-6-65 là ngày Ủy Ban trình diện quốc dân nên gọi ngày đó là ngày Quân Lực.  Ngày Quốc Khánh vẫn là ngày 1-11.

Ủy Ban lập ra Ủy Ban Hành Pháp Trung Ương tức là Nội các Chính phủ

Hội Đồng Quân Lực tự giải tán (14-6-65)

 

Ủy Ban Lãnh Đạo Quốc Gia có 11 chức vụ (và 9 Thành viên):

Chủ tịch, tương đương với Quốc trưởng: Trung tướng Nguyễn Văn Thiệu

Tổng Thư ký: Trung tướng Phạm Xuân Chiểu

Ủy viên phụ trách điều khiển Hành pháp (Chủ tịch Ủy Ban Hành Pháp Trung Ương), tương đương với Thủ tướng: Thiếu tướng Nguyễn Cao Kỳ

Tổng trưởng Quốc Phòng: Trung tướng Nguyễn Hữu Có

Tổng Tham Mưu Trưởng quân đội: Trung tướng Nguyễn Hữu Có

Tư lệnh Quân đoàn I: Thiếu tướng Nguyễn Chánh Thi

Tư lệnh Quân đoàn II: Thiếu tướng Nguyễn Văn Mạnh

Tư lệnh Quân đoàn III: Thiếu tướng Cao Văn Viên

Tư lệnh Quân đoàn IV: Thiếu tướng Đặng Văn Quang

Tư lệnh Hải Quân: Đề đốc Trần Văn Chơn

Tư lệnh Không Quân: Thiếu tướng Nguyễn Cao Kỳ

 

Ủy Ban Hành Pháp Trung Ương (từ tháng 6-65 đến tháng 11-67) thay thế Chánh phủ Phan Huy Quát và  sẽ nhường lại cho chính phủ dân sự của nền Đệ nhị Cộng Hòa

Chủ tịch Ủy Ban Hành Pháp Trung Ương là Thiếu tướng Nguyễn Cao Kỳ, ở cương vị Thủ tướng.

Các thành viên trong Ủy Ban:

1. Bác sĩ Nguyễn Lưu Viên: Phó Chủ tịch Ủy Ban Hành Pháp Trung Ương

2. Bác sĩ Trần Văn Đỗ: Tổng Ủy viên Ngoại Giao

3. Thẩm phán Trần Minh Tiết: Tổng Ủy viên Tư Pháp

4. Luật sư Nguyễn Hữu Thống

5. Dược sĩ La Thành Nghệ

6. Giáo sư Trần Văn Kiện

7. Bác sĩ Trần Lữ Y

8. Nguyễn Xuân Phong: Ủy viên Lao Động

9. Bùi Diễm: Ủy viên Ngoại Giao

10. Âu Trường Thanh: Tổng Ủy viên Kinh Tế Tài Chánh

11. Trương Văn Thuấn: Tổng Ủy viên Giao Thông

12. Nguyễn Văn Trường: Tổng Ủy viên Giáo Dục

13. Bác sĩ Trần Ngọc Ninh: Tổng Ủy viên Văn Hóa Xã Hội kiêm Ủy viên Giáo Dục

14, Trung tướng Đặng Văn Quang: Tổng Ủy viên Kế Hoạch

15. Thiếu tướng Nguyễn Bảo Trị: Tổng Ủy viên Thông Tin Chiêu Hồi kiêm Tổng Cục trưởng Chiến tranh Chính trị

16. Thiếu tướng Nguyễn Đức Thắng: Tổng Ủy viên Xây Dựng

17. Võ Long Triều: Tổng Ủy viên Thanh Niên Thể Thao.


 

Thời Đệ Nhị Cộng Hòa (1967-75)

 

Liên danh Nguyễn Văn Thiệu và Nguyễn Cao Kỳ thắng cử trong cuộc đầu phiếu năm 1967, chính thức thành lập Đệ Nhị Cộng Hòa với Trung tướng Nguyễn Văn Thiệu làm Tổng Thống và Thiếu tướng Nguyễn Cao Kỳ làm Phó Tổng thống.  Tổng thống chỉ định Thủ tướng và Thủ tướmg thành lập Chính phủ (Nội các).  Được chỉ định, Luật sư Nguyễn Văn Lộc làm Thủ tướng và lập Nội các (9-11-67).  Liên danh Trần Văn Hương và Mai Thọ Truyền đứng hạng nhì trong cuộc tuyển cử.

Ủy Ban Lãnh Đạo Quốc Gia và Ủy Ban Hành Pháp Trung Ương giải tán tháng 11-67.

Chính phủ Nguyễn Văn Lộc (1967-1968)

Thủ tướng: Luật sư Nguyễn Văn Lộc 

Tổng trưởng Ngoại Giao: Bác sĩ Trần Văn Đỗ

Tổng trưởng Nội Vụ: Trung tướng Linh Quang Viên

Tổng trưởng Xây Dựng Nông Thôn: Trung tướng Nguyễn Đức Thắng

Tổng trưởng Tài Chánh: Lưu Văn Tính

Tổng trưởng Kinh Tế: Trương Thái Tôn

Tổng trưởng Văn Hóa Giáo Dục: Giáo sư Tăng Kim Đông

Tổng trưởng Canh Nông và Điền Địa: Tôn Thất Trình

Tổng trưởng Chiêu Hồi: Nguyễn Xuân Phong

Tổng trưởng Giao Thông và Vận Tải: Lương Thế Siêu

Tổng trưởng Công Chánh: Bửu Đôn

Tổng trưởng Y Tế: Bác sĩ Trần Lữ Y

Tổng trưởng Xã Hội và Tỵ Nạn: Bác sĩ Nguyễn Phúc Quế

Tổng trưởng Cựu Chiến Binh: Bác sĩ Nguyễn Tấn Hồng

Tổng trưởng Lao Động: Giáo sư Phó Bá Long

Tổng trưởng Phát Triển Sắc Tộc: Paul Nur

Tổng trưởng Tư Pháp: Huỳnh Đức Bửu

 

Sau sự kiện Tết Mậu Thân, Thủ tướng Nguyễn Văn Lộc bị chỉ trích và ép từ chức.  Ông Trần Văn Hương thay thế làm Thủ tướng với Nội các mới (28-5-68) cho đến ngày 1-9-69 thì có Nội các mới của Thủ tướng Trần Thiện Khiêm.

Ông Nguyễn Văn Lộc (1922-1992) sinh ở quận Châu Thành, Vĩnh Long.  Ông đậu Cử nhân Luật tại đại học Montpellier (1954) và tốt nghiệp Cao học Hình Luật tại đại học Paris (1964).  Ông là Luật sư Tòa Thượng thẩm Sài Gòn từ năm 1955.  Tháng 11-67, ông Nguyễn Văn Lộc được Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu chỉ định làm Thủ tướng lập nội các chính phủ đầu tiên của nền Đệ nhị Cộng Hòa.  Sau vụ binh biến Mậu Thân, ông bị ép từ chức.  Sau đó ông không làm chính trị mà chỉ dạy học.  Năm 1969-70, ông là giáo sư ở đại học Hòa Hảo (An Giang).  Năm 1971-72, ông làm Viện trưởng viện đại học Cao Đài Tây Ninh.

 

Chính phủ Trần Thiện Khiêm (1969-1975)

Thủ tướng kiêm Tổng trưởng Nội Vụ: Đại tướng Trần Thiện Khiêm

Phó Thủ tướng kiêm Tổng trưởng Giáo Dục: Bác sĩ Nguyễn Lưu Viên

Tổng trưởng Ngoại Giao: Dược sĩ Trần Văn Lắm

Tổng trưởng Quốc Phòng: Trung tướng Nguyễn Văn Vỹ

Tổng trưởng Thông Tin: Luật sư Ngô Khắc Tỉnh

Tổng trưởng Xây Dựng Nông Thôn: Thiếu tướng Trần Thanh Phong

Tổng trưởng Tài Chánh: Nguyễn Bích Huệ

Tổng trưởng Kinh Tế: Phạm Kim Ngọc (69-71) và Nguyễn Đức Cường (71-75)

Tổng trưởng Văn Hóa Giáo Dục: Giáo sư Tăng Kim Đông

Tổng trưởng Cải Cách Canh Nông và Ngư Nghiệp: Cao Văn Thân

Tổng trưởng Chiêu Hồi: Bác sĩ Hồ Văn Châm

Tổng trưởng Giao Thông: Trần Văn Viễn

Tổng trưởng Công Chánh: Dương Kích Nhưỡng

Tổng trưởng Y Tế: Bác sĩ Trần Minh Tùng

Tổng trưởng Xã Hội: Bác sĩ Trần Ngươn Phiêu

Tổng trưởng Lao Động: Đàm Sĩ Hiến

Tổng trưởng Phát Triển Sắc Tộc: Paul Nur

Tổng trưởng Tư Pháp: Luật sư Lê Văn Thu

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

(Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu, Phó Tổng thống Nguyễn Cao Kỳ và chính phủ Trần Thiện Khiêm)


Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu tái đắc cử trong cuộc bầu cử ngày 3-10-1971 trong liên danh với ông Trần Văn Hương.  Từ đó ông Trần Văn Hương là Phó Tổng Thống thay thế Thiếu tướng Nguyễn Cao Kỳ.

 

Đệ Nhị Cộng Hòa (1967-1975) có những sự kiện lịch sử quan trọng:

Hiến pháp và Tuyển cử (1967)

Chiến tranh Cục bộ (1967-68)

Chiến tranh Mậu Thân (1968)

Việt Nam hóa chiến tranh (1968-73)

Cải Cách Điền Địa lần thứ 2 (1969-73)

Tuyển cử (1971)

Hiệp định Paris (1972-1974)

Chiến tranh mùa Xuân (1974-75)

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

(Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu và Phó Tổng thống Trần Văn Hương)


 

Người Lãnh Đạo Quốc Gia

 

*

Sau khi chính phủ Ngô Đình Diệm bị lật đổ trong cuộc đảo chánh 1-11-63, ông Trần Văn Hương làm Đô Trưởng Sài Gòn lần thứ hai (1964), nổi danh với “đi làm bằng xe đạp”.  Sau đó ông tham gia chính quyền của Đệ Nhị Cộng Hòa giữ chức Thủ Tướng lần thứ nhứt (1964-1965) của Quốc Trưởng Phan Khắc Sửu và Thủ Tướng lần thứ nhì (1968-1969) của Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu và Phó Tổng Thống Nguyễn Cao Kỳ.  Ông đắc cử và làm Phó Tổng Thống với Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu (1971-1975).  Ngày 21-4-75, ông trở thành Tổng Thống khi ông Nguyễn Văn Thiệu rời Việt Nam và ngày 28-4-75, ông Trần Văn Hương nhường chức Tổng Thống cho học trò cũ của mình là Cựu Đại Tướng Dương Văn Minh.  Miền Nam mất ngày 30-4-75.

 

*

Ông Trần Văn Hương sống ở Sài Gòn cho đến khi qua đời (1982) với em gái, em rể và người con lớn là Trần Văn Dõi.  Con thứ của ông Trần Văn Hương là ông Trần Văn Đính (thường là Phụ Tá cho ông) di tản năm 1975 và định cư ở California.  Trần Văn Dõi, lấy họ mẹ với tên mới là Lưu Vĩnh Châu, là 1 cán bộ thường, trước theo kháng chiến Việt Minh ở ngoài Bắc có đánh trận Điện Biên Phủ, cấp bực Đại Úy trong quân đội (Miền Bắc).  Ông Trần Văn Hương cũng có người em là ông Lâm Văn Giỏi là một Giáo sư của trường Trung học Phan Thanh Giản (ở Cần Thơ).


 

Thi sĩ Trần Văn Hương

 

Vốn là giáo sư việt văn, ông Trần Văn Hương là một thi sĩ kỳ tài.  Ngoài đề tài lịch sử chính trị, ông còn làm thơ về những vấn đề văn hóa.

 

Đây là đề tài tôn giáo trong thơ Trần Văn Hương.

 

VÔ ĐỀ

Ta thấy người tu ta cũng tu

Cũng chuông cũng mõ cũng công phu

Tháng ngày rau thịt, chay hòa mặn

Hôm sớm kinh văn, sáng lẫn mù

Chưa hẳn nhà thuyền (thiền) hơn khách tục

Chớ khoe mình trí để người ngu

Vả tu đâu phải chuyên hành xác

Di Lạc ngồi kia vẫn mập ù?

(Trần Văn Hương)

 

(Câu Đối)

Đạo cứ hỏi nơi Tâm, đừng trai giới kệ kinh làm rộn Phật.

Phúc lựa cầu với Phật, hãy khiêm từ nhiêu nhẫn để nên Tâm.

(Trần Văn Hương)


 

Đặc biệt là ông Trần Văn Hương rất thích họa thơ.  Ông thường tìm họa những bài thơ khó.

 

- Họa thơ Phan Khôi:

 

VIẾNG MỘ ÔNG LÊ CHẤT (Nguyên bản)

Bình Tây Trấn Bắc sử nghìn thu 

Ấy cỏ mờ rêu đất một u

Ấy dũng ấy trung là thế thế!

Mà ân mà nghĩa ở mô mô?

Chim gào hờn xót xuân ầm ỹ

Hùm thét oai lưa gió vụt vù

Cái chuyện anh hùng ai nhắc nữa

Hồ Tây văng vẳng tiếng chuông bu!

(Phan Khôi) 1921

 

Dù là một bài thơ “tử vận” nhưng có người người họa được:

 

ĐIẾU ÔNG LÊ CHẤT (Họa)

Thân danh bách chiến được bao thu

Vùi nắm xương tàn chốn tịch u

Đất Bắc vỗ dân công nhớ đó

Non Tây phá giặc sử ghi mô? (*)

Tấm gương trung liệt gương bôi lợt

Ngọc đuốc ân oai gió thổi vù

Làm vật hy sinh phơi mặt tợ

Để cho ruồi kiến mặc tình bu.

(Trần Văn Hương) 1962

 

(*) Chú thích: Non Tây = Tây Sơn

 

Ông Lê Chất (1769-1826) nguyên là tướng của nhà Tây Sơn.  Khi vua Cảnh Thịnh giết hại công thần kể cả nhạc phụ của ông là Lê Trung, ông Lê Chất bỏ theo ông Võ Tánh ở Bình Định, về với Nguyễn Vương Phúc Ánh (1799).  Ông là phó tướng của ông Lê Văn Duyệt đem lục quân chiếm Bắc Hà và sau nầy làm đến Tổng Trấn Bắc Thành.  Khi chết, ông có mộ chôn ở Hà Nội.

 

- Họa thơ vua Thành Thái

 

Hơn 30 năm bị lưu đày, khi trở về qua Cap St Jacques, Cựu hoàng Thành Thái cũng có làm bài thơ theo thể liên hoàn và được ông Trần Văn Hương họa lại.

 

TỰ THÁN (Nguyên bản)                                                                        

                                              

Sống thừa nào biết có hôm nay                

Nhìn thấy non sông đất nước nầy!            

Sừng ngựa chưa quên câu chuyện cũ       

Ruột tằm đoài đoạn mối sầu tây               

Thành Xuân nghìn dặm mây mù mịt (*)   

Bể Cấp bốn bề sóng bổ vây                       

Tiếng súng đêm trường nghe nhặt khúc    

Dầu cho sắt đá cũng châu mày.                

 

Châu mày lụy ứa suốt canh thâu               

Đất tổ hồn thiêng đâu ở đâu?                    

Dưới một bầu trời chung Bách Việt         

Trên hai cõi đất vạch Hồng Câu (*)         

Giá than trách kẻ lòng đen bạc                  

Trùn dế thương ai kiếp dãi dầu                 

Mãi đứng núi nầy trông núi nọ                 

Hỏi bao giờ bể hóa thành dâu? (*)                 

 

(Thành Thái)                                      

 

(*) Chú thích:

Thành Xuân = Phú Xuân (Huế) kinh đô của nhà Nguyễn.  

Hồng Câu là nơi Lưu Bang và Hạng Vũ họp để chia mỗi người ½ nước Tàu; chứng tỏ bài thơ nầy làm sau 1947 khi nước ta có 2 nước VNDCCH trên vỹ tuyến 16 của VM và Quốc Gia VN dưới vỹ tuyến 16 của Bảo Đại.

Từ câu "Thương hải biến vi tang điền" (Biển hóa thành ruộng dâu).


 

TỰ THÁN (Họa)                                                

                                              

Ba chục năm chờ mới có nay

Cái mừng nào đổi cái mừng này

Tinh long chực thuở về đài bắc

Hồ mã quên ngày hí gió tây (*)

Nên để con côi hùm sắp cật?

Hay mong biển rộng ngạc giương vây?

Phải chăng vận nước nhờ tay cũ

Mà giống dân ta nở mặt mày

 

Mày mặt nào cam chịu phục thâu

Tình nhà nỗi nước trọng khinh đâu?

Ấp gò may được trời gieo vận

Đỡ vạc mong chờ khách thả câu

Xót kẻ phơi sương cùng nát thịt

Thương dân cạn mỡ với khô dầu

Xem bầu nhiệt huyết còn chưa nguội

Biển thẳm còn ngày hóa ruộng dâu. (*)

 

(Trần Văn Hương)

 

Chú thích: 

Từ câu "Hồ mã tê Bắc phong, Việt điểu sào Nam chi" (Ngựa Hồ hí gió Bắc.  Chim Việt đậu cành Nam).  Ám chỉ nhớ quê nhà.

Từ câu "Thương hải biến vi tang điền" (Biển hóa thành ruộng dâu).

 

Tiếc thay ông Trần Văn Hương không có thì giờ làm thơ sau năm 1963 vì bận rộn ở chính trường.  Hậu thế có những bài thơ tưởng nhớ ông.  

 

VỊNH TRẦN VĂN HƯƠNG (Nguyên bản)

Trần thế lâu nay vắng bóng Ông

Một lòng tận tụy với non sông

Không xu thời cuộc không màng lợi

Chẳng cậy quyền hành chẳng hám công

Quốc vận long đong nào đổi dạ

Tâm can ngay thẳng khó thay lòng

Đồng cam hoạn nạn cùng dân chúng

Hậu bối muôn đời mãi nhớ Ông.

(Hồ Mỹ Đức)

1/28/17 

 

VỊNH TRẦN VĂN HƯƠNG (Họa)

Sống tròn đạo đức trọn đời Ông

Cam chịu số phần với núi sông

Vị nghĩa chí tình không vị lợi

Thành nhân chi mỹ chẳng thành công

Vận suy, chính trực đầy thi hứng

Nước mất, tận trung trải tấm lòng

Gương sáng ngàn năm lưu hậu thế

Bi hùng lịch sử một đời Ông.

(Phan Thượng Hải)

1/29/17


 

Bs PHAN THƯỢNG HẢI biên soạn

 

Bài viết nầy đăng lần đầu tiên trong phanthuonghai.com (trong mục "Thơ và Sử" phần "Thời Độc Lập").

 

Tài liệu tham khảo:

1) Thơ và Việt Sử - Thời kỳ Độc Lập (Bs Phan Thượng Hải) - phanthuonghai.com

2) Lao Trung Lãnh Vận (Trần Văn Hương)

3) Hai Mươi Năm Qua: 1945-1964 Việc Từng Ngày (Đoàn Thêm)

4) Google Wikipedia


 

Bs PHAN THƯỢNG HẢI biên soạn và giữ bản quyền

Ông Trần Văn Hương (1902-1982), sinh ở Vĩnh Long, học trường Collège Mỹ Tho, đậu Thành Chung (Diplôme) rồi tốt nghiệp Cao Đẳng Sư Phạm Hà Nội, về làm Giáo sư Việt Văn của trường Collège Mỹ Tho (Nguyễn Đình Chiểu).  

Cuộc đời và thơ của ông Trần Văn Hương trải qua lịch sử chính trị trong Thời kỳ Kháng chiến chống Pháp, Đệ Nhất Cộng Hòa, Thời kỳ Quân Quản và Đệ Nhị Cộng Hòa.


 

Nam Kỳ Khởi Nghĩa và Tự Trị

 

Tháng 3 năm 1945, sau khi đảo chánh Pháp, Nhật cho vua Bảo Đại lập chính phủ Trần Trọng Kim.  Trong Nam Kỳ, vua Bảo Đại được đặt một quan Khâm Sai, là ông Nguyễn Văn Sâm, cũng như Khâm Sai Phan Kế Toại ở Bắc Kỳ.  

Tuy nhiên thực quyền được Nhật giao cho Mặt Trận Quốc Gia Thống Nhất gồm tất cả các đảng phái và giáo phái ở Nam Kỳ, cai trị Sài Gòn và địa phương.  Ngày 23-3-45, Mặt Trận Quốc Gia Thống Nhất rút lui nhường quyền lãnh đạo cho Ủy Ban Hành Chánh Lâm Thời Nam Bộ của Việt Minh (Cộng Sản Đệ Tam Quốc Tế) với Trần Văn Giàu (thuộc CS Đệ Tam Quốc Tế) làm Chủ Tịch.  

 

Tháng 8 năm 1945, Nhật đầu hàng Đồng Minh, quân Anh vào giải giới quân Nhật phía Nam vỹ tuyến 16 (từ Tourane tức là Đà Nẳng tới mũi Cà Mau) gồm Nam Trung Kỳ và Nam Kỳ.  Quân Pháp theo chân quân Anh vào Sài Gòn.  

Trong khi đó Ủy Ban Hành Chánh Lâm Thời Nam Bộ đã bị chống đối của Cao Đài, Hòa Hảo và Đệ Tứ Quốc Tế (Trotskyist) nên phải nhượng bộ và cải tổ, Phạm Văn Bạch (cũng thuộc Đệ Tam Quốc Tế) thay Trần Văn Giàu làm Chủ Tịch.  Sài Gòn hoàn toàn rối loạn giữa người Pháp, người Việt và các đảng phái.  

 

Sau một thời gian thương thuyết, quân Pháp tấn công quân Việt Nam và chiếm Tòa Thị Chính Sài Gòn là trụ sở của Ủy Ban Hành Chánh Lâm Thời Nam Bộ ngày 23-9-45.  (Ngày 23-9 nầy sau nấy được gọi là ngày Nam Bộ Kháng Chiến).  Quân Việt Nam thua, phải rút ra ngoại ô và phong tỏa Sài Gòn.  Ngày 3-10-45, tướng Leclerc đem 10.000 quân đổ bộ vào Sài Gòn.  Ngày 9-10, Anh và Pháp ký hiệp ước ở Luân Đôn xác định Anh hoàn toàn ủng hộ Pháp trong việc cai trị toàn Đông Dương dưới vỹ tuyến 16.  

 

Ngày 16-10-45, quân Việt Minh rút về vùng kháng chiến.  

Sau khi rút đi, Việt Minh giết 20 người nồng cốt của phe Đệ Tứ Quốc Tế (Trotskist), trong đó có ông Phan Văn Hùm.  Quân đội của Cao Đài, của Hòa Hảo (gọi là Dân Xã) và của Bình Xuyên (của Tướng Bảy Viễn) không tham gia, chỉ rút về địa phận của mình.  

Trong Mặt trận Thống nhất Quốc gia Liên hiệp còn có Việt Nam Quốc Gia Độc Lập Đảng của các ông Nguyễn Văn Sâm (cựu Khâm sai), Phan Khắc Sửu, Trần Văn Ân và Hồ Văn Ngà.   Nó là hậu thân của Việt Nam Phục Quốc Đồng Minh Hội (của Kỳ Ngoại Hầu Cường Để) ở Nam Kỳ.   

Trong khoảng 1945-1947, VM dưới quyền của Trần Văn Giàu và Dương Bạch Mai thủ tiêu khoảng 2.500 người đối lập (theo lời của Trần Văn Giàu về sau nầy), trong đó có ông Bùi Quang Chiêu (1872-1945) bị giết ngày 29-9-1945, ông Hồ Văn Ngà và ông Nguyễn Văn Sâm. 

Đức Giáo Chủ Huỳnh Phú Sổ (1919-1947) của đạo Hòa Hảo cũng mất tích ngày 16-4-1947 trong chuyến đi hội với VM ở Tân Phú.      

 

Ông Trần Văn Hương đi theo kháng chiến Nam Bộ ở Tây Ninh chưa được 1 năm thì bỏ về thành (1946) và mở tiệm thuốc.  Ông có làm bài thơ tưởng niệm ông Nguyễn Văn Sâm.

 

NGUYỄN VĂN SÂM 

 

Chống Thực Dân, chống độc tài!

Một thề đã quyết dám đơn sai

Khen chê trôi kệ rằng hay dở

Phải quấy cần chi luận vắn dài

Đau đớn thương dân đang vận tối

Vẻ vang mong nước có ngày mai

Ví dầu muốn biết công hay tội

Đọc sử sau nầy lựa hỏi ai?

 

Ấy mới gan, ấy mới tài!

Con đường định vạch mặc chông gai

Thân nầy đành đã không trăm tuổi

Hội ấy thôi thì đóng một vai

Vui với giàu sang vui cũng thẹn

Thác vì nòi giống thác bao nài

Nghìn sau sử sách ghi câu chuyện

Công của ai? mà tội của ai?

 

(Trần Văn Hương)

 

Quân Pháp lần lượt chiếm lại lãnh thổ: phía Nam Sài Gòn chiếm đến mũi Cà Mau (25-10-45 tới 5-2-46) và phía Bắc Sài Gòn tới Kom Tum và Đà Nẳng (23-10-45 tới tháng 7-46).  

Về chính trị, Pháp cho lập Nam Kỳ Quốc trong Liên Bang Đông Dương với chính phủ của Thủ Tướng Bs Nguyễn Văn Thinh ra mắt ngày 26-3-46, làm bù nhìn cho Pháp, cai trị dưới vỹ tuyến 16.


 

Thời Đệ Nhất Cộng Hòa

 

*

Lao Trung Lãnh Vận

 

Năm 1955, ông Trần Văn Hương ra làm Đô Trưởng Sài Gòn của chính phủ Ngô Đình Diệm cũng chưa được 1 năm thì từ chức.  Ông cùng với 17 người khác trong nhóm xưng là Tự Do Cấp Tiến bị Tổng Thống Ngô Đình Diệm bỏ tù sau vụ đảo chánh 11-11-60.  Nhóm nầy từng họp ở khách sạn Caravelle tuyên bố đối lập với chính phủ Ngô Đình Diệm (1960) rồi ủng hộ (?) cuộc đảo chánh 11-11-60 (nên còn có tên là nhóm Caravelle). 

 

Trong tù từ ngày 12-11-60 cho đến ngày 7-4-61 thì được thả, ông Trần Văn Hương có để lại những bài thơ trong tác phẩm “Lao Trung Lãnh Vận”:


 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

(Ông Trần Văn Hương và tác phẩm Lao Trung Lãnh Vận)


 

- Tinh thần khi mới vào tù:

 

Ai bảo trong lao khổ

Trong lao sướng thấy mồ!

Bên nầy thì cụ Tổng

Phía nớ lại quan Đô

Đòi vợ, ngầy: ông Cử

Làm thơ, giễu: bác Đồ

Các anh còn ở ngoải

Đợi quái gì chưa vô?

(Trần Văn Hương) 17-11-60

 

Chú thích:

Theo ý của bài thơ, nhóm Caravelle (18 nguời) của ông Trần Văn Hương có đủ các ông cựu Tổng trưởng, cựu Đô trưởng, Cử nhân và Tú tài (Đồ).

Thực ra bài thơ chỉ đúng phân nửa:

Cựu Tổng trưởng: Bs Nguyễn Tăng Nguyên, Ls Lê Ngọc Chấn

Cựu Đô trưởng: ô. Trần Văn Hương

Không có ông Cử hay ông Đồ nào hết chỉ có Tiến sĩ Hán học là ông Trần Lê Chất.

Trong nhóm 18 người có 2 kỹ sư (Phan Khắc Sửu và Lương Trọng Tường). 6 bác sĩ (Nguyễn Lưu Viên, Trần Văn Đỗ, Nguyễn Tăng Nguyên...), 3 luật sư (Trần Văn Tuyên, Lê Ngọc Chấn, Lê Quang Luật) và 1 linh mục (Hồ Văn Vui).

 

- Thể xác trong tù:

 

Suốt ngày ăn ngủ, ngủ rồi ăn                      

Chưa thấy chuyện gì chuyện khó khăn       

Nằm khểnh sờ môi: râu tủa tủa                   

Ngồi rù gãi háng: dái tăn tăn (*)                      

Làm sang phe phẩy tay còn quạt            

  CON TRÂU TRONG THI VĂN VÀ LỊCH SỬ NƯỚC VIỆT

                                                    

                                               Bs Phan Thượng Hải biên soạn

 

Năm Sửu là năm con Trâu.  Con Trâu đã có trong thi văn và lịch sử nước Việt: tục ngữ, thi phẩm Hán Nôm "Lục Súc Tranh Công", thi văn Quốc ngữ Nam kỳ như "Chuyện Giải Buồn" và "Lục Vân Tiên", và trong lịch sử nguồn gốc Bến Nghé của thành phố Sài Gòn.

 

Trên thế giới có 2 nhóm Trâu: Trâu Phi Châu (Cape buffalo hay Trâu "rừng") và Trâu Châu Á, (Water buffalo = Trâu "nước"). 

 

 

(Trâu Phi châu, hình ở trên và Trâu Á châu, hình ở dưới)

 

 

 

 

 

Tùy theo hình thể, có nhiều từ ngữ về con Trâu:

Trâu cổ = Trâu mộng.  Trâu mộng là trâu to béo, thường là đã bị thiến.  Ngoài ra cũng có "Bò mộng" cũng giống vậy. 

Trâu ngố là giống trâu lớn con.

Trâu gié là giống Trâu nhỏ con.

Trâu chảng là Trâu có sừng cong dài và rộng, thường là loài trâu dữ.

Trâu cui là Trâu có sừng ngắn và lớn, rất khoẻ mạnh.

Trâu cò là Trâu có lông màu trắng.

Tuy nhiên con Trâu nước hay Trâu chẹt thì không phải là con Trâu:

Trâu Nước = Hà mã (Hippocampus)

Trâu Chẹt = Chim bói cá.

Con Trâu con thường được gọi là con Nghé.  

 

Người dân Việt từ nhiều thế kỷ đã sống bằng nông nghiệp.  Con Trâu giữ vai trò chính yếu trong việc cày cấy lúa cho tới cuối thế kỷ thứ 20 nên rất gần gũi với người dân nhất là ở nông thôn.  

 

TỤC NGỮ

 

1) Từ người chủ của con Trâu có những câu Tục ngữ mang nhiều ý nghĩa.

 

Ăn thuốc bán trâu, ăn trầu bán ruộng. - Nhịn thuốc mua trâu, nhịn trầu mua ruộng.

(Ý nói: tai hại của nghiện thuốc và nghiện rượu) 

 

Con trâu, là đầu cơ nghiệp.

(Ý nói về làm nghề nông)

 

Chín đụn, mười chu.

(Đụn = đụn thóc. Chu = trâu, theo tiếng Thanh Ngệ)

 

Đi buôn không tiền, canh điền không trâu.

 

Cứt đái đổ mãi chuồng trâu; của cải vào mãi nhà giàu. (= Nước chảy chỗ trũng).

 

Lắm rận thì giầu, lắm trâu thì nghèo.

(Ý nói: người nghèo, có lắm rận, lại giàu lòng thương và tử tế; người giàu, có lắm trâu, lại nghèo lòng thương và tử tế)

 

Mua trâu, bán chả.

(Ý nói: buôn bán làm ăn tính toán sai, nên thua lỗ)

 

Trâu trao chạc, bạc trao tay. (= Tiền trao, cháo múc).

(Chạc = dây, lạt)

 

Nhiều vốn nhiều lãi, nhiều nái nhiều đẻ.

(Nái = súc vật cái, nuôi để cho đẻ như heo nái, trâu nái...)

 

Trâu đẻ tháng sáu, vợ đẻ tháng mười. - Trâu đẻ tháng năm, vợ đẻ tháng sáu.

(Ý nói: rất bận rộn)

 

Ruộng sâu trâu nái; không bằng con gái đầu lòng.

(Ruộng sâu trâu nái là cảnh giàu có sung túc ở nông thôn.  Con gái đầu lòng thường đảm đang gánh đỡ công việc giúp cha mẹ)

 

Lộn con toán, bán con trâu. - Nhầm con toán, bán con trâu. - Trật một con toán, bán một con trâu.

 

Trúng sòng đầu, bán trâu mà chịu.

(Sòng là sòng bạc. Theo kinh nghiệm đánh bạc: trúng sòng đầu thường bị thua về sau)

 

Làm trai lấy vợ bé, nhà giàu tậu nghé hoa.

(Nghé = trâu con, Nghé hoa là nghé đẹp.  Ý nói về những quan niệm ngày xưa, nhưng cũng có ý so sánh)

 

2) Từ người nông dân làm ruộng và mục đồng chăn trâu lại có những câu Tục ngữ khác:

 

Làm ruộng có trâu, làm dâu có chồng.

 

Làm ruộng không trâu, làm giầu không vợ.

 

Làm ruộng không trâu, nhà giầu không thóc.

 

Trâu hay, chẳng nại cày bừa.

 

Chín gang trâu cười, mười gang trâu khóc.

(Khoảng cách thích hợp từ ách cày, ngang vai con trâu hay con bò, cho đến cái cày để cho dễ kéo là 9 gang tay; nếu hơn nữa, như 10 gang, thì trâu bò kéo nặng hơn)

 

Trâu vỡ tai, cày gẫy mũi.

(Ý nói: đất khô cứng, rất khó cày; hay là chuyện quá khó và vất vả)

 

Trâu ra, mạ vào.

(Mạ = cây lúa non trước khi cấy. Ý nói: vừa cày xong là cấy ngay)

 

Được bạn bỏ bè; được con trâu chậm chê me không cày.

(Me ở đây là con bò con theo tiếng miền Trung; như con bê theo tiếng miền Bắc)

 

Một con tằm cũng phải hái dâu; một con trâu cũng phải đứng đồng.

 

Đưa trâu, qua rào.

(Ý nói: thực hiện chuyện khó khăn, như trâu quá nặng khó qua rào được)

 

Thà giữ trâu đực, còn hơn ngồi chực bữa cơm. (= Người đi không bực, bằng người ngồi chực bữa cơm).

 

Chăn trâu không mõ khó tìm; nuôi con không địu khó cõng.

(Địu = đồ dùng bằng vải có dây đeo, để mang trẻ sau lưng)

 

Thứ nhất vợ dại trong nhà, thứ nhì trâu chậm thứ ba rựa cùn.

(Ý nói về 3 thứ làm bực mình khó chịu)

 

3) Cuộc sống tự nhiên của con Trâu cũng là đề tài sâu sắc tạo ra nhiều câu Tục ngữ:

 

Trâu đồng nào, ăn cỏ đồng ấy. - Trâu ta, ăn cỏ đồng ta. (= Ta về ta tắm ao ta, dù trong dù địc ao nhà vẫn hơn).

 

Trâu mạnh trâu được, cỏ mạnh cỏ được.

(Ý nói: trong cuộc cạnh tranh sinh tồn, kẻ nào mạnh kẻ ấy thắng)

 

Trâu béo, kéo trâu gầy.

 

Trâu kén cỏ trâu gầy; trò kén thầy trò dốt.

 

Trâu chậm uống nước dơ, trâu ngơ ăn cỏ héo. - Trâu chậm, uống nước đục.

 

Trâu lấm, vẩy càn.

(Ý nói: người có khuyết điểm, có tội lỗi đỗ vấy cho người khác)

 

Trâu buộc, ghét trâu ăn.

(Ý nói: sự ganh tị kèn cựa)

 

Trâu chẳng tìm cọc, cọc lại tìm trâu. - Cọc đi tìm trâu.

(Ý nói: làm việc ngược đời, trái với lẽ thường tình)

 

Có ăn có chọi, mới gọi là trâu.

 

Hùng hục, như trâu húc mả.

 

Sẩy đàn, tan nghé. - Sẻ đàn, tan nghé. - Sểnh đàn, tan nghé.

(Sẻ = chia bớt san ra một phần, như san sẻ)

 

4) Nhiều câu Tục ngữ dùng để mô tả hình thể con Trâu với nhiều ngụ ý:

 

Trâu ác, thì vạc sừng. (= Ác giả, ác báo).

 

Gái mười bảy, bẻ gãy sừng trâu. - Mười bảy, bẻ gãy sừng trâu.

 

Chị em dâu, nấu đầu trâu thủng nồi.

 

Đàn gảy, tai trâu.

(Trong Lục Vân Tiên có câu thơ: Uổng thay đàn gảy tai trâu, Nước xao đầu vịt nghĩ lâu nực cười)

 

Đánh rắm, đổ cho trâu. (!)

 

Cứt trâu, để lâu hóa bùn. - Để lâu, cứt trâu hóa bùn. - Lâu, cứt trâu hóa bùn. 


 

5) Cái chết của con Trâu cũng là đề tài cho nhiều câu Tục ngữ:

 

Trâu chết để da, người ta chết để tiếng. (= Cọp chết để da, người ta chết để tiếng).

 

Chết trâu, lại thêm mẻ rìu.

(Rìu để chặt trâu chết mà làm thịt, lại bị mẻ!  Ý nói: hết chuyện xui nầy đến chuyện xui khác)

 

Trâu lành không ai mặc cả; trâu ngã lắm kẻ cầm dao. - Trâu lành không ai mừng cả, trâu ngã lắm kẻ cầm dao.

(Cầm dao để làm thịt con trâu)

 

Đi đến đâu, chết trâu đến đấy.

(Ý nói: người dở, đi tới đâu là hỏng việc tới đó hoặc gây ồn ào huyên náo ở đó)

 

Thui trâu nửa mùa, hết rơm. (- Thui chó nửa mùa, hết rơm).

(Ý nói: làm chuyện nửa chừng)

 

Trâu chết, chả khỏi rơm.  

(Chả = chẳng.  Trâu sống ăn rơm, chết thì bị thui bằng rơm)

 

Trâu già, chẳng nại dao phay.

 

Thịt trâu không tỏi, ăn gỏi không rau mơ. - Ăn thịt trâu không tỏi, ăn gỏi không lá mơ.

(Thịt trâu phải nấu với tỏi mới ngon, theo kinh nghiệm nấu nướng)

 

Trâu thịt thì gầy, trâu cày thì béo.

 

6) Ngoài con Trâu, con Bò có khi được dùng trong công việc đồng án.  Có nhiều câu Tục ngữ đề cập tới cả 2 con Trâu và Bò:

 

Trâu ăn lúa, bò ăn mạ.

(Mạ = cây lúa non trước khi cấy.  Ý nói: hai bên đều ghê gớm, chẳng bên nào vừa)

 

Trâu bò được ngày phá đỗ, con cháu được ngày giỗ ông.

(Ý nói: những cơ hội được tha hồ ăn uống)

 

Không có trâu, bắt bò đi đầm.

 

Trâu rét gió, bò rét mưa.

(Tả đặc tính của Trâu Bò: Trâu có thể dầm dưới nước nhưng chuồng phải kín gió; Bò thì không quen chịu nước nên phải tránh mưa ướt)

 

Trâu có đàn, bò có lũ.

 

Trâu bò húc nhau, ruồi muỗi chết.

 

Bụng trâu làm sao, bụng bò làm vậy.

 

Máu trâu, cũng như máu bò.

 

Thân trâu trâu lo, thân bò bò giữ. - Việc trâu trâu lo, việc bò bò liệu.

 

Trâu gầy, cũng tày bò khoẻ. - Yếu trâu, hơn khoẻ bò.

 

Trâu ho, bằng bò rống.

 

Trâu mõm đen, bò lưỡi trắng. - Trâu nghiên hàm, bò bạch thiệt.

(Ý tả những loại trâu bò dở, không ra gì)


 

Trâu chết, bò cũng lột da. - Trâu chết, bò cũng bị lột da.

 

Trâu chết mặc trâu, bò chết mặc bò, củ tỏi giắt lưng. (= Sống chết mặc bay, tiền thầy bỏ túi)

(Ý nói: thái độ ích kỷ thờ ơ vô trách nhiệm không nghĩ tới ai khác)

 

Khấn trâu, trả lễ bò.

 

Trâu dắt ra, bò dắt vào.

(Ý nói: sự giàu có, sẵn trâu bò)

 

Trâu toi, bò ngã.

(Toi = chết, gia súc chết vì bệnh dịch.  Ý nói: kẻ nầy nguy thì kẻ kia cũng khốn đốn.  Nhưng cũng có Ý mô tả những thứ kém phẩm chất không có giá trị)

 

Trâu tỏi, bò gừng.

(Ý nói: thịt trâu và bò nấu khác nhau)

 

7) Những câu Tục ngữ nói về con Trâu và những con Giáp khác (và con Voi):

 

Ngưu tầm ngưu, mã tầm mã. - Chu tầm chu, mã tầm mã.

(Chu là trâu, tiếng Thanh Hóa nói trại ra)

 

Hỏi trâu, biết ngựa.


 

Bé ăn trộm gà, cả ăn trộm trâu, lâu lâu làm giặc.

 

Cắt cổ gà, không cần dao mổ trâu. (= Cắt cổ gà, không cần dao phay)

 

Đuôi trâu, không bằng đầu gà. - Đầu gà. còn hơn đuôi trâu.

(Ý nói: tuy ở chức vị thấp, nơi không được danh giá nhưng được tự do có quyền tự quyết vẫn hơn chức vụ cao, nơi làm có danh tiếng nhưng ít bổng lộc mà lại phụ thuộc vào nhiều người khác)

 

Lạc đường nắm đuôi chó, lạc ngõ nắm đuôi trâu.

 

Trâu làm bạn với trâu, chó làm bạn với chó.

 

Trâu teo, heo nở.

(Ý nói: thịt trâu và thịt heo khác nhau khi nấu, thịt trâu nấu thì ngót đi, thịt heo nấu dôi vì nở và không bị ngót nước)

 

Bắt nái lành, đánh nái to.

(Nái = súc vật cái, nuôi để cho đẻ; như lợn nái hay trâu nái)

 

Nhiều vốn nhiều lãi, nhiều nái nhiều đẻ.

 

Trâu đạp cũng chết, voi đạp cũng chết.


 

THI PHẨM LỤC SÚC TRANH CÔNG

 

1) Nội Dung

 

Thi phẩm Lục Súc Tranh Công được viết bằng tác giả vô danh có lẽ vào cuối thời nhà Hậu Lê hay đầu thời nhà Nguyễn (cùng thời với Truyện Kiều).  Tác giả dùng văn tự Hán Nôm và từ ngữ Miền Trung.

Thi phẩm Lục Súc Tranh Công là một cách mạng văn học, khác với tất cả các bài thơ và tập thơ khác về nội dung trong văn học sử.  Tác giả tả công nghiệp cực khổ của lục súc (trâu, chó, ngựa, gà, dê và heo) gíúp cho con người và bị con người ngược đãi ngay cả đến khi chết.  Ý tứ còn dồi dào hơn những thơ ngụ ngôn của La Fontaine.

Đây là những đoạn tả riêng về con Trâu.

 

a) Công cày ruộng hằng ngày của con Trâu

 

Trâu mỏi nhọc, trâu liền năn-nỉ:
"Một mình trâu ghe nỗi gian-nan,
Lóng canh gà vừa mới gáy tan, (*)
Chủ đã gọi thằng chăn vội vã.
Dạy rằng: đuổi trâu ra thảo dã, (*) 
Cho nó ăn ba miếng đỡ lòng.
Chưa bao lâu thoắt đã rạng-đông;
Vừa đến buổi cày-bừa bua việc. (*)
Trước cổ đã mang hai cái niệt (*)
Sau đuôi thêm kéo một cái cày;
Miệng đã dàm, mũi lại dòng dây,
Trên lưng ruồi bâu, dưới chân đỉa cắn.
Trâu mệt đà thở dài, thở vắn,
Người còn hầm hét, mắng ngược mắng xuôi.
Liệu vừa đứng bóng mới thôi,
Đói hòa mệt, bước khôn dời bước. (*)
Ai thong-thả, trâu nào ben đặng? (*)

 

(*) Chú thích:

Lóng = nghe; Thảo-dã = cánh đồng cỏ; Bua việc = công việc; Niệt = cái dây; Hòa = và;

Ben = bì, ví.


 

b) Công nghiệp của con Trâu trong nông vụ

 

Trâu nhọc-nhằn, ai dễ thế cho? (*)
Cày ruộng sâu, ruộng cạn cho no, (*)
Lại vườn đậu, vườn mè khiến chở

Làm không kịp thở,
Ăn không kịp nhai.
Tắm mưa, trải gió chi nài !
Đạp tuyết, giày sương bao sá !

Có trâu, sẵn tằm-tơ, lúa-má,
Không trâu, không hoa-quả, đậu mè, (*)
Lúa gặt cất lên đà có trâu xe,
Lúa chất trữ, lại để dành trâu đạp.
Từ tháng giêng cho đến tháng chạp,
Kể xuân, hè, nhẫn đến thu, đông,

 

(*) Chú thích:

Thế = thay, làm hộ; No = đủ; Mè = vừng.


 

c) Công nghiệp khác của Trâu

 

Việc cày-bừa, nông-vụ vừa xong,
Lại xe gỗ, dầm công liên khói, (*)
Bất luận xe rào, xe củi.
Nhẫn đến loài phân bổi, tranh che (*)
Hễ bao nhiêu nhất-thiết của chi,
Thì đã phú mặc trâu chuyên-chở. (*)

Bao quản núi non hiểm-trở?
Chi nài khe suối dầm-dề?

 

(*) Chú thích:

Dầm công = làm việc không nghỉ; Liên khói = luôn luôn; Nhẫn đến = cho đến, đến cả.

Bổi = cỏ rác; 

Phú = phó.

 

d) Con Trâu bị ngược đãi khi còn sống

 

Cong lưng chịu việc nặng-nề,
Cay-đắng những lời dức-lác !

Ăn thì những rơm khô, cỏ rác,
Ở quản chi ràn lấm, tráp nè. (*)
Trâu dựng nên nông nọ, nỗi kia;
Trâu làm đặng căn trên, bồ dưới.
Nghĩ-suy lại công trâu cho phải,
Lẽ cho trâu thao lụa mặc dày. (*)
Không chi thì quần vải, dải gai,
Không chi thì khố lưỡi cày cũng khá (*)
Ăn cho phải những cơm với cá,
Không nữa thì rau cháo cũng nên

 

(*) Chú thích:

Ràn lấm = chuồng bẩn lấm; 

Tráp = tàu bỏ rơm cho trâu bò ăn; Nè = cỏ rác vụn.

Căn = chỗ ngăn ra để chứa thóc lúa; Thao-lụa = tơ lụa.

Khố lưỡi-cày = thứ khố vải, một đầu vuông, một đầu chéo.


 

e) Con Trâu bị ngược đãi khi chết

 

Đến mai sau già-cả sức hèn,
Cũng bảo dưỡng bổ công lao lý. (*)
Khi mạng một chẳng đơm, chẳng tế; (*)
Lẽ "sinh cử, tử táng", mới ưng. (*)
Thủa sống đà không dạ yêu-đương,
Khi thác lại đoạn tình siêu độ. (*)
Bảo nhau sắm con dao, cái rổ,
Khiến nhau vơ mớ củi, nắm nè.
Rằng : Trâu này cốt Phật xưa kia, (*)
Phát đình liệu cho hồn thăng thiên-giái. (*)
Còn hình-tích giống chi để lại,
Người người đều bàn-bạc với nhau:
Kẻ thì rằng : Tôi lãnh cái đầu,
Người lại nói : Phần tôi cái nọng.
Kẻ giành lòng bóng ép gối mà kê, (*)
Còn sừng đem về ép thoi làm lược.
Kẻ thì chuốc hoa tai, làm bầu liều. (*) 
Làm tù-và mà thổi cũng kêu,
Tiện con cờ mà đánh cũng tốt.
Kẻ thì làm cái mõ, cáo hộp,
Người lại tỉa cán quạt, cán dao.

Còn giò chia nhau,
Làm nham, làm thấu. (*) 

Trâu gẫm lại là loài cầm-thú,
Phận sau chịu vậy, dám nài !

 

(*) Chú thích:

Bảo-dưỡng = nuôi nấng; Lao-lý = khó nhọc; 

Đơm = cúng.

Sinh cử, tử táng = sống cho ở, chết đem chôn; Mới ưng = mới phải đạo.

Siêu-độ = độ cho kiếp sau được sung-sướng hơn,

Cốt Phật xưa kia = nước Thiên-trúc có loài trâu sừng nhỏ, sắc đen, mình rất cao, thịt cắt rồi lại mọc, ai uống máu nó thì sống lâu, người ta gọi là phật-ngưu. (Đường Thư).

Đình-liệu = cây đuốc to.

Lòng bóng ép gối mà kê = lấy lòng và bong bóng trâu phơi khô ép làm gối.

Bầu liều = cái bầu dùng để ao, đong.

Làm nham, làm thấu: nham, thấu = hai món đồ ăn.


 

f) Con Trâu kêu nài

 

Trâu thác đã công-nghiệp phủi rồi, (*)
Trâu sống lại kiện nài với chủ:
Không nhớ thủa bôi chuông đường hạ (*)

Ơn Tề vương vô tội kiến tha (*)
Tưởng chưng khi sức mọn tuổi già,
Cám Điền tử dạy con chớ bán. (*)

Lời cổ nhân còn dặn,

Sao ông chủ vội quên? 

Chẳng nhớ câu: "Dĩ đức hành nhân". (*)
Lại lấy chữ "Báo ân dĩ oán!" (*)
Nói chi nữa cho dài chuyện-vãn ?

 

(*) Chú thích:

Phủi = phẩy đi, xóa đi.

Bôi chuông = theo lễ cổ, khi nào đúc xong một quả chuông thì giết trâu, lấy máu bôi vào chuông, lễ này gọi là Hấn-chung (bôi chuông).

Đường hạ = dưới thềm, dưới nhà.

Ơn Tề-vương vô tội kiến tha = Tề Tuyên-vương trông thấy người ta dắt trâu đi làm thịt để lấy máu bôi chuông, thương trâu vô tội, bèn truyền lệnh tha cho (Mạnh-tử).

Điền-tử = Điền tử Phương người đời Chiến-quốc, rất thương những trâu ngựa già,

dạy con chớ bán: Điền tử Phương thường dặn con cháu và người nhà đừng đem bán trâu và ngựa già.

Dĩ đức hành nhân = lấy điều phúc-đức để thi-hành lòng nhân.

Báo ân dĩ oán = lấy sự oán báo lại cái ân.


 

2) Hình Thức

 

a) Thơ Cổ Phong và thơ Luật

 

Thi phẩm Lục Súc Tranh Công làm theo thể thơ Cổ Phong.

 

Thi phẩm thường là tràng thiên (trên 8-12 câu) vì nó gồm có hàng trăm hay hàng ngàn câu thơ.

Từ thời nhà Hán, bắt đầu có thơ Cổ Phong bằng Hán ngữ.  Bài thơ theo thể thơ Cổ Phong (của Trung Quốc):

Không có hạn định số câu và số chữ (trong một câu).

Không có luật bằng trắc, thi nhân viết làm sao mà có âm tiết đọc lên nghe hay là được.

Có vần ở cuối câu nhưng không bó buộc theo một vận và không bó buộc theo thứ tự: có thể vần theo 2 câu liên tiếp hoặc vần cách câu hoặc hỗn tạp không cần theo thứ tự.

Chúng ta thấy một số thơ của Tào Thực (nhà Hán) và Lý Bạch (nhà Đường) làm theo thể Cổ Phong.

 

Khi đến đời Đường Trung Tông mới có thể thơ Luật với bài thơ ngắn gồm 4 hay 8 câu, theo niêm luật bằng trắc và luật đối.  Vì phát sinh từ thời nhà Đường nên thường được gọi là thể thơ Đường Luật.  

Thơ Đường Luật du nhập vào nước Việt sau khi dành độc lập từ Trung Quốc và rất phổ thông từ thời nhà Lý.

Cũng từ thời nhà Lý, nước Việt có thể thơ Lục Bát và Song Thất Lục Bát làm được bài thơ tràng thiên nên được dùng trong những thi phẩm gồm có hàng trăm câu hay hàng ngàn câu.  Thể thơ Hát Nói của nước Việt cũng dùng cho bài thơ tràng thiên nhưng không tiện dùng cho thi phẩm.

Những thi phẩm dùng tiếng Hán Nôm của nước Việt thường dùng thể thơ Lục Bát (như Truyện Kiều) và thể thơ Song Thất Lục Bát (như Chinh Phụ Ngâm).  

 

Thi phẩm Lục Súc Tranh Công dùng tiếng Hán Nôm làm theo thể thơ Cổ Phong là một trường hợp hiếm.

 

b) Thơ Mới và thơ Cổ Phong - Luật Đổi Thanh

 

Vào thập niên 1930s, phong trào Thơ Mới phát sinh ở Việt Nam trong thời Pháp Thuộc chịu ảnh hưởng của thơ Âu Mỹ.  Thơ Mới cũng giống như thơ Cổ Phong về hình thức.

Thơ Mới không có bắt buộc Luật Bằng Trắc nhưng các thi sĩ tài danh đều bí mật áp dụng một luật bằng trắc gọi là Luật Đổi Thanh.  

 

Luật Đổi Thanh: 

Hễ một câu thơ chia làm 2, 3 hay 4 đoạn thì những chữ cuối của mỗi đoạn phải lần lượt Bằng rồi Trắc (hay ít nhứt là Bằng ngắn) hay ngược lại.

 

Thí Dụ:

.....B/....T/....B/....T/

.....T/.....B/....T/....B/  

(Có thể thay thế T bằng B ngắn mà thôi)

 

Bằng (B) là không dấu hay có dấu huyền: Bằng ngắn (B ngắn) là không dấu (Phù Bình Thanh), còn Bằng dài (B dài) là có dấu huyền (Trầm Bình Thanh).

Trắc (T) là có 1 trong những dấu sau đây: sắc, hỏi, ngã và nặng 

 

Luật Đổi Thanh nầy được nói đến trong quyển "Thi Nhân Việt Nam" của Hoài Thanh và Hoài Chân (trang 53).  

Do đó Luật Đổi Thanh là Luật Bằng Trắc theo Tiết Tấu của mỗi câu thơ.  

Tiết tấu nghĩa đen là nhịp nhàng.  Tiết tấu là do cách ngắt một câu thơ thành từng đoạn dài ngắn khác nhau.

Trong thơ mới, tiết tấu của mỗi câu rất tự do không bó buộc như thơ cũ (Lục Bát, ST Lục Bát, Đường Luật hay Cổ Phong).

 

Thí dụ (bài thơ Hổ Nhớ Rừng của Thế Lữ):

Ta sống mãi (T) / trong tình thương (B) / nỗi nhớ (T) /

Thuở tung hoành (B) / hống hách  (T)/ những ngày xưa. (B) /

Nhớ cõi sơn lâm, (B) / bóng cả, (T) / cây già, (B) /

Tiếng gió gào ngàn, (B) / giọng nguồn hét núi, (T) /

Với khi thét khúc (T) / trường ca (B) / dữ dội, (T) /

Ta bước chân lên, (B) / dõng dạc, (T) / đường hoàng (B) /

 

Thi phẩm (Tập thơ) Lục Súc Tranh Công theo thể thơ Cổ Phong nhưng cũng áp dụng Luật Đổi Thanh do đó âm tiết rất hay:

 

Trâu mỏi nhọc (T) / trâu liền (B) / năn-nỉ (T) /
"Một mình trâu (B) / ghe nỗi (T) / gian-nan (B) /
Lóng canh gà (B) / vừa mới (T) / gáy tan (B) /
Chủ đã gọi (T) / thằng chăn (B) / vội vã (T) /
Dạy rằng (B dài) / đuổi trâu (B ngắn) /  ra thảo dã (T) /
Cho nó ăn (B) / ba miếng (T) / đỡ lòng (B) /
Chưa bao lâu (B) /  thoắt đã (T) / rạng-đông (B) /

 

Thi phẩm Lục Súc Tranh Công dùng vần liên tiếp như bà Hổ Nhớ Rừng.  

Bài Hổ Nhớ Rừng chỉ có mấy chục câu còn tập thơ Lục Súc Tranh Công có hàng trăm câu.


 

THI VĂN QUỐC NGỮ

 

1) Chuyện Giải Buồn

 

Tác phẩm Chuyện Giải Buồn của Paulus Huỳnh Tịnh Của có nói tới con Trâu trong câu chuyện về Hứa Do và Sào Phủ.

Chuyện Giải Buồn viết:

Hứa Do được tiếng là người hiền, vua Nghiêu vời vào để truyền ngôi.

Hứa Do từ chối, cười mà về rồi ra suối rửa tai.

Khi đó, Sào Phủ mới dắt trâu tới suối uống nước, thấy Hứa Do rửa tai, bèn hỏi tại sao.

Hứa Do trả lời: 

"Ông Nghiêu đòi tôi, biểu tôi thì làm vua."

Sào Phủ bèn dắt trâu bỏ lên trên dòng nước cho uống.

Hứa Do hỏi tại sao, Sào Phủ đáp: 

"Anh rửa tai anh xuống đó tôi sợ trâu tôi uống nhằm."

Sào Phủ lại nói:

"Anh đi đâu cho người ta biết vua mà muốn nhường ngôi vua cho anh, ấy là tại bụng anh vẫn còn danh lợi."

 

Thời Xuân Thu có 2 học phái triết học chính là Nho Gia (của Khổng tử và Mạnh tử) và Đạo Gia (của Lão tử và Trang tử).

Nho Gia chủ trương không vì danh lợi mà vì danh nghĩa để sống trong xã hội.  Đạo Gia chủ trương không vì danh lợi và danh nghĩa và muốn sống ngoài xã hội.

Con Trâu được dính liền với triết học không bị dụ dỗ vì danh (danh lợi và danh nghĩa) của Đạo Gia.  Do đó mới có câu chuyện như trên.

Theo truyền thuyết, vì chán nản chính sự lúc bấy giờ nên Lão tử cỡi một con trâu đi về hướng Tây của Trung Quốc và "biến mất vào sa mạc".  Khi đi ngang qua cửa ải Hàm Cốc, một người lính gác cửa thuyết phục ông viết để lại những hiểu biết của mình trước khi đi vào sa mạc.  Lão tử xiêu lòng nên mới viết để lại Đạo Đức kinh (sách Lão tử), lưu truyền tới ngày nay. 


 

2) Truyện Lục Vân Tiên

 

Truyện Lục Vân Tiên của Đồ Chiểu có câu thơ về Hứa Do và Sào Phủ:

Quán rằng Nghiêu Thuấn thuở xưa

Khó ngăn Sào Phủ, khôn ngừa Hứa Do.

 

Truyện Lục Vân Tiên cũng có câu thơ:

Uổng thay đàn gảy tai trâu, 

Nước xao đầu vịt nghĩ lâu nực cười.

 

Câu thơ từ câu tục ngữ của nước Việt: "Đàn gảy tai trâu".

Thật ra nguồn gốc từ thành ngữ của Trung Quốc: "Đối ngưu đàn cầm".  Nó lấy từ câu chuyện về Công Dương Minh trong sách Lý Hoặc Luận của Mâu Dung:

Công Minh Nghi vi ngưu đàn Thanh Giác chi tháo, phục thực như cố.  Phi ngưu bất văn bất hợp kỳ nhĩ hĩ.

Dịch: 

Công Minh Nghi đàn khúc Thanh Giác cho trâu nghe, trâu vẫn chăm chú ăn cỏ như cũ.  Đó không phải vì trâu không nghe biết, mà vì (khúc nhạc) không thích hợp với tai trâu mà thôi.

 

Cuối đời Đông Hán có một học giả tên là Mâu Dung nghiên cứu Phật học nhưng mỗi khi giải thích giáo lý triết học của Phật Giáo cho các học giả Nho Gia thì ông không dùng kinh luận của Phật mà dùng kinh thư của Nho Gia để chứng minh triết học Phật Giáo.  Có người hỏi tại sao thì ông đưa ra câu chuyện "Đối ngưu đàn cầm" để cắt nghĩa:

Ngày xưa có một nhạc sĩ tài danh tên là Công Minh Nghi.  Một hôm ông ngồi trước một con trâu mà dạo đàn với một khúc nhạc tuyệt tác do ông soạn ra.  Con Trâu chẳng thèm nhìn ông mà cứ cắm đầu ăn cỏ.  Công Minh Nghi quan sát kỹ con Trâu thì ra không phải con Trâu không nghe biết tiếng đàn mà vì trâu không thích hợp với khúc nhạc dùng cho con người nên giống như nó không nghe biết.  Ông hiểu rõ nguyên nhân bèn đổi khúc nhạc khác giống như tiếng ruồi muỗi vo ve.  Con Trâu lập tức ngưng ăn cỏ, hai tai dựng đứng như lắng nghe và đuôi nó vẫy lên.  Các học giả mới hiểu ngụ ý của Công Dương Minh.

 

Thành ngữ được dùng để chê người nói mà không chịu nhận xét đối tượng đang nghe mình.

Thành ngữ cũng được cắt nghĩa sâu xa: Giảng giải đạo lý cho người ngu dốt chỉ uổng phí mà thôi

 

ĐÀN GẢY TAI TRÂU

Nực cười đàn cứ gảy tai trâu

Mong được tiếng khen chả thấy đâu

Đàn ráng chơi hoài càng lạc nhịp

Trâu lành nghe riết hết phờ râu

Dẫu cho nghịch nhĩ quen phồng mũi (*)

Thêm có danh ngôn chỉ lắc đầu

Dòng dõi lão ngưu theo Lão Tử (*)

Vô vi Đạo Đức ngộ từ lâu.

(Phan Thượng Hải)

9/12/16

 

(*) Chú thích:

Nở mũi bự như lỗ mũi Trâu.

Lão Tử cỡi Trâu viết Đạo Đức Kinh chủ thuyết Vô Vi sáng lập Lão Giáo (tu tiên). 

NGUỒN GỐC SÀI GÒN CHỢ LỚN

 

Nguồn gốc Sài Gòn và Chợ Lớn bắt đầu từ năm 1632.  Từ đó có những địa danh Sài Gòn, Sài Côn, Bến Nghé, Ngưu Chử, Đề Ngạn, Chợ Lớn và Tây Cống cho đến khi Thực Dân Pháp chính thức lập ra Thành phố Sài Gòn và Thành phố Chợ Lớn (Ville de Saigon et Ville de Cholon) vào năm 1865.  Đây là những diễn tiến thành hình Sài Gòn và Chợ Lớn từ năm 1632 cho tới năm 1865.

 

1) Sài Gòn và Bến Nghé

 

Năm 1632, Chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên (con của Chúa Nguyễn Hoàng) cử sứ thần sang gặp vua Chân Lạp xin đặt 2 trạm thu thuế ở Prei Nokor và Kras Krabei.  Prei Nokor và Kras Krabei là địa danh tiếng Miên (Chân Lạp).  Từ đó có người Việt vào sinh sống ở 2 nơi nầy.  Từ 2 địa danh tiếng Miên nầy có 2 địa danh tiếng Việt là Sài Gòn và Bến Nghé.

 

Prei Nokor (mượn từ tiếng Phạn là Brai Nagara) có nghĩa là "Thị trấn trong Rừng".  

Prei = Brai = Rừng và Nokor = Nagara= Thị trấn, thành phố.  

Lần lần Prei Nokor đọc trại thành tiếng Việt (tiếng Nôm) là Sài Gòn.  

Trước khi có chữ Quốc Ngữ, vì không có chữ Nôm viết cho tiếng Nôm "Gòn" nên văn kiện nước Việt lúc bấy giờ viết thế bằng chữ Hán là "Côn".  Do đó Sài Gòn viết là Sài Côn nhưng địa danh Sài Gòn được người Việt đến định cư dùng trong tiếng Việt (tiếng Nôm hay tiếng Nam).  Phủ Biên Tạp Lục của Lê Quý Đôn viết: "Năm 1674, Thống suất Nguyễn Dương Lâm đánh Cao Miên phá lũy Sài Côn".  Chữ "Sài Côn" xuất hiện vào năm 1674, tiếng "Sài Gòn" có lẽ có trước đó.  Các giáo sĩ Tây Phương đã viết (theo mẫu tự La Tinh) chữ "Saigon" từ thế kỷ 18. 

 

Có giả thuyết khác cho rằng địa danh Sài Gòn không phải là dịch âm từ tiếng Miên "Prei Nokor" mà do người Việt đặt cho theo đúng địa lý của nơi nầy là có nhiều cây (bông) gòn.  Sài=củi và Gòn=cây bông gòn (Hán ngữ là Côn).  Thuyết nầy không có lý lắm vì 150 năm về trước, Petrus Ký cũng không thấy di tích của cây gòn ở vùng nầy.

Có giả thuyết của Thái Văn Kiểm thì vùng nầy có 2 tên Cao Miên: Prei Nokor (có nghĩa là Rừng của Vua) hoặc Prei Kor (có nghĩa là Rừng cây Gòn).  Tên Sài Gòn (có nghĩa là Củi Gòn) là dịch nghĩa một cách nôm na của Prei Kor.  Tuy nhiên tên "Prei Kor" chỉ có từ Thái Văn Kiểm và vùng nầy không để lại di tích cây gòn.   

 

Sài Gòn (Prei Nokor) ở Quận 5 bây giờ.

 

Kras Krabei có nghĩa là "Bến có con trâu".  Do đó nó được dịch nghĩa ra là Bến Nghé (Nghé=Trâu, trâu con).  Có sách còn viết là Kompong Krabey hay Kâmpóng Krâbei với cùng một nghĩa.  Theo Hán ngữ thì Bến Nghé (tiếng Nôm) là Ngưu Chử.

Bến Nghé theo Trịnh Hoài Đức là bến uống nước của trâu con.  Nhưng theo Đại Nam Nhất Thống Chí thì nơi nầy có nhiều cá sấu (tiếng Miên gọi là Krapoe), chúng thường kêu "nghé" nên gọi là Bến Nghé.  Trịnh Hoài Đức dịch Bến Nghé là Ngưu Tân.

 

Bến Nghé (Kras Krabei) ở Quận 1 bây giờ, phần giáp với rạch Bến Nghé (ở phía Nam).  

 

Địa danh Bến Nghé có cùng thời với địa danh Sài Gòn khi có người Việt tới định cư ở 2 nơi nầy vào thế kỷ 17.  Dĩ nhiên Bến Nghé là tiếng Nôm nên văn kiện viết thành chữ Hán là Ngưu Chử hay Ngưu Tân.

Trịnh Hoài Đức có làm bài thơ "Ngưu Tân Ngư Địch" trong 30 chục bài tả "Gia Định Tam Thập Cảnh".

 

NGƯU TÂN NGƯ ĐỊCH                               TIẾNG SÁO CHÀI Ở BẾN NGHÉ

Lậu trích tiền lâu ngọc lộ đoàn                        Giọt ngọc đồng hồ rỏ trước lầu
Du dương ngư địch nhiễu vân đoan                 Sáo chài dìu dặt luyến mây cao
Phong xuy dương liễu Tam Giang tĩnh (*)      Gió đùa dương liễu, sông êm lặng
Nguyệt bính mai hoa ngũ dạ hàn                     Trăng chiếu hoa mai, đêm lạnh sao
Điệu cấp hoạn tình tăng khảng khái                 Điệu gấp tình ta thêm khảng khái
Thanh thê lữ mộng kỷ bàn hoàn                      Tiếng buồn mộng khách khiến nao nao
Tên ba đam đãng long ngâm yết                      Nhạt màu khói sóng, rồng ngâm dứt
Trường chiếm thu tiêu hạ điếu can.                  Chiếm cả đêm thu, cần thả câu.

(Trịnh Hoài Đức)                                              (Hoài Anh dịch)

 

(*) Chú thích: Tam giang = chỗ ngã Ba sông ở Nhà Bè.  Sông Phước Long (Đồng Nai) từ Bắc chảy xuống.  Sông Tân Bình (Bến Nghé) từ Nam chảy ra.  Hai sông hợp lại thành sông Phước Bình chảy ra cửa Cần Giờ.

 

Năm 1698, Lễ Thành Hầu Nguyễn Hữu Cảnh đến Cù lao Phố lập Dinh Trấn Biên (sau nầy là tỉnh Biên Hòa) và Dinh Phiên Trấn (sau nầy là tỉnh Gia Định) thì Bến Nghé là thủ phủ của Dinh Phiên Trấn.  Năm 1790, Nguyễn Vương Phúc Ánh xây thành Gia Định ở Bắc Bến Nghé gọi là Thành Qui.  Sau loạn Lê Văn Khôi (1832), vua Minh Mạng san bằng Thành Qui và xây Thành Phụng nhỏ hơn cũng ở đây.  Sau khi Pháp chiếm Nam Kỳ thì phá Thành Phụng chỉ còn 1 cái đồn nhỏ là chỗ Nhà thương Đồn Đất (của Pháp) sau nầy.

 

 

(Sài Gòn và Bến Nghé, có thành Qui - Bản đồ của Trần Văn Học vào năm 1815)


 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

2) Đề Ngạn, Chợ Lớn và Tây Cống

 

Năm 1778, người Hoa từ Biên Hòa (Trấn Biên) tránh quân Tây Sơn di cư về Sài Gòn (Prei Nokor).  Nơi đây trước đó đã có làng Minh Hương của người Hoa.  Người Tiều (Triều Châu) âm tiếng "Sài Gòn" theo tiếng Tiều thành "Tai Ngon hay Tin Gan", còn người Quảng lại âm theo tiếng Quảng là "Thầy Ngồn hay Thì Ngòn" và viết chữ Hán đọc thành Hán ngữ là "Đề Ngạn".  Đề Ngạn có nghĩa theo tiếng Việt là Bờ Đê.  Người Hoa không có đắp đê nào ở đây!  

Do đó địa danh tiếng Việt "Sài Gòn" là từ tiếng Miên còn những tiếng Tàu kể trên có sau tiếng Việt "Sài Gòn".  Từ ngữ "Đề Ngạn" có sau từ ngữ "Sài Gòn" do đó không phải là nguồn gốc của địa danh Sài Gòn.

 

Người Hoa xây chợ ở Sài Gòn (Prei Nokor) thành 2 Chợ.  Để phân biệt nên có tên Chợ Lớn (hơn) và Chợ Nhỏ (hơn).  

Chợ Lớn nầy bây giờ ở khu vực Bưu điện Chợ Lớn kéo dài tới Đại Thế Giới.  Theo Thái Văn Kiểm, Chợ Lớn nầy lập song song với Chợ Nhỏ, còn tồn tại tới thời VNCH với tên là Chợ Thiếc ở phía trường đua Phú Thọ.  

Về sau Chợ Lớn (Cũ) nầy được dời tới Chợ Lớn Mới gọi là Chợ Bình Tây do nhà đại phú Quách Đàm xây tặng.  Tượng họ Quách còn ở giữa đình chợ Bình Tây.  Do đó về sau có phân biệt Chợ Lớn Cũ (ở Quận 5) và Chợ Lớn Mới (ở Quận 6).

Có người không đồng ý với Thái Văn Kiểm, cho rằng Chợ Nhỏ không phải là Chợ Thiếc mà là Chợ Tân Kiểng (lập năm 1748) vì ở làng Tân Kiểng.  Sau đó làng Tân Kiểng hợp với 2 làng Nhơn Ngãi và Bình Yên thành khu vực Chợ Quán thì chợ nầy chính là Chợ Quán (nay là ở phường 22, Quận 5). 

 

Người Hoa ở Chợ Lớn hay dùng tiếng Tàu là "Xây Coón hay Xi Coón" để gọi người Việt ở Chợ Bến Thành (thuộc Bến Nghé) mà Hán ngữ là Tây Cống.  Tây Cống không là nguồn gốc của địa danh Sài Gòn.  Có giả thuyết hơi mơ hồ cho rằng Tây Cống nghĩa là nơi mà người Chân Lạp miền Tây đem phẩm vật cống hiến cho chính phủ ta.


 

3) Thành phố Sài Gòn và Thành phố Chợ Lớn

 

Năm 1861, sau khi chiếm Nam Kỳ, Phó Đô Đốc Charner thành lập và định giới Ville De Saigon gồm cả 2 khu Sài Gòn (Prei Nokor) và Bến Nghé (Kras Krabei).  

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

(Thành phố Sài Gòn và thành phố Chợ Lớn lúc ban đầu, năm 1865)


 

Năm 1865, Quyền Thống Đốc Nam Kỳ là Đô Đốc Pierre Rose qui định Ville De Saigon là khu Bến Nghé (Kras Krabei) và chính thức lập Ville De Cholon là khu Sài Gòn (Prei Nokor).  Người Việt bắt đầu có chữ Quốc Ngữ nên viết đúng tiếng Việt của Saigon là Sài Gòn và của Cholon là Chợ Lớn.  

Như vậy từ đó tới ngày nay địa danh Sài Gòn dùng cho khu Bến Nghé cũ (Kras Krabei) và địa danh Chợ Lớn dùng cho khu Sài Gòn cũ (Prei Nokor) tại vì lỗi lầm của Thực Dân Pháp!

 

Khi chánh thức được thành lập (1865):

Thành phố Chợ Lớn (Ville de Cholon) ở giữa: đ. Hồng Bàng, đ. Tổng Đốc Phương, phía dưới đ. Đồng Khánh, đ. Nguyễn Tri Phương và phía trên bến Hàm Tử.  Nó là từ khu Sài Gòn cũ (Prei Nokor).

Thành phố Sài Gòn (Ville de Saigon) ở giữa: đ. Hồng Thập Tự, đ. Nguyễn Thái Học, rạch Bến Nghé (bến Chương Dương), sông Sài Gòn (bến Bạch Đằng) và rạch Thị Nghè.  Nó là từ khu Bến Nghé cũ (Kras Krabei).

Lần lần 2 thành phố dính liền nhau và lan rộng thành ra Sài Gòn ngày nay.

 

Thi sĩ Lê Quang Chiểu tả Sài Gòn vào đầu thế kỷ 20.

 

ĐI CHƠI SÀI GÒN

Lên chơi Bến Nghé bấy nhiêu ngày

Xe ngựa chen đời, bụi cát bay

Phong cảnh đã dời thành quách cũ

Lâu đài lại đổi sắc trang rày

Sớm vô Chợ Lớn dầu thong thả

Chiều lại nhà hàng mặc tỉnh say

Mới biết Nam Kỳ là chỗ hội

Quan quân rậm rựt tối như ngày.

(Lê Quang Chiểu) 

 

Ngày nay tác giả họa bài Thăng Long Hoài Cổ của Bà Huyện Thanh Quan để hoài cảm Sài Gòn vào đầu thế kỷ 21.

 

SÀI GÒN HOÀI CẢM 

Địa danh sống mãi ở tình trường

Bốn chục năm qua trải gió sương

Đã hết êm đềm thời lộng nguyệt

Lại thêm hỗn độn dưới tà dương

Sài Gòn hoa lệ tràn nhung nhớ

Hòn Ngọc Viễn Đông vợi tiếc thương

Cách mặt đau lòng không đổi dạ

Hương xưa hoài cảm tự can trường.

(Phan Thượng Hải) 

Năm 2015


 

Bs PHAN THƯỢNG HẢI biên soạn

 

Bài viết nầy đăng lần đầu tiên trong phanthuonghai.com mục Văn Hóa phần Học Thuật.

 

Tài liệu tham khảo:

 

- Tục Ngữ

1) Tục Ngữ Sưu Tập và Lược Giải (Bs Phan Thượng Hải) - phanthuonghai.com

2) Đại Từ Điển Tiếng Việt (Nguyễn Như Ý chủ biên).

3) Tục Ngữ Lược Giải quyển I, II, và III (Lê Văn Hoè).

4) Việt Nam Ca Dao Tục Ngữ Góp Nhặt tập I và II (Phan Thị Túy Sen và Nguyễn Thị Ngọc Liên).

5) Tục Ngữ Ca Dao Việt Nam (Mã Giang Lân).

6) Tây Hồ và Santé Thi Tập (Tây Hồ Phan Châu Trinh)

7) Trâu (Google Wikipedia)

- Lục Súc Tranh Công

8) Lục Súc Tranh Công (Trần Trọng Kim và Bùi Kỷ)

9) Luật Đổi Thanh Trong Thơ Mới (Phan Thượng Hải) - phanthuonghai.com

- Thi Văn Quốc Ngữ

10) Từ Điển Thành Ngữ Trung Quốc (Nguyễn Tôn Nhan)

11) Lục Vân Tiên (Nguyễn Đình Chiểu)

12) Chuyện Giải Buồn (Paulus Huỳnh Tịnh Của)

13) Triết Lý Lão Tử Và Trang Tử (Bs Phan Thượng Hải) - phanthuonghai.com

- Nguồn Gốc Sài Gòn Chợ Lớn

14) Nguồn Gốc Sài Gòn Chợ Lớn (Bs Phan Thượng Hải) - phanthuonghai.com

15) Địa Danh Sài Gòn Gia Định (Phan Thượng Hải) - phanthuonghai.com

16) Đất Việt Trời Nam (Thái Văn Kiểm)


 

Bs PHAN THƯỢNG HẢI biên soạn và giữ bản quyền

 

BĂNG TUYẾT Ở TEXAS

Trời bày băng tuyết giá trần ai

Thương bạn đầu năm phải họa tai

Tuyết tạo cơ hàn bao thống khổ

Băng hư sự sản lắm hao tài

Người nơi Texas lâm nguy khốn

Kẻ ở Cali động cảm hoài

Khuyên bạn giờ đây nên bảo trọng

Tương lai gầy dựng chớ bi ai.

(Phan Thượng Hải)

2/19/21

 CHUYỆN ÔNG TÁO TRONG THI VĂN VIỆT NAM

 

                                             (Bs Phan Thượng Hải biên soạn)

ÔNG TÁO CŨ

Lúc mới ai ai cũng kiến dè

Cũ rồi lại bỏ góc gò tre

Giơ lưng nắng nứt bày da trấu

Nhóc mỏ mưa chan rã xíu bè

Lớn nhỏ ngửa nghiêng heo ủi vũng

Vụn vằn lục cục chuột đào khe

Tánh linh hư hát còn roi dấu

Trẻ đái không kiêng quở kiếm chè.

(Vô Danh Thị)

 

*

Trong thời Pháp Thuộc, ông Phan Văn Trị đã dùng Ông Táo (= Hỏa lò) để ám chỉ người ra làm quan với Thực dân Pháp (như là những người bợ đít chão nồi).

 

ÔNG TÁO

Vốn là cục đất phải là chi

Ông Táo danh xưng tự thuở ni

Lỏng khỏng cõng nồi da mốc thích

Lum khum đội chảo mặt đen sì

Cháy da với chủ đà ghe thuở

Phỏng trán cùng dân đã mấy khi

Sau trước họ hàng chưa rõ đặng

Ba đầu chụm lại giống đi gì?

(Phan Văn Trị)

 

Để tả đường hoạn lộ của ông Phạm Quỳnh, ông chủ báo Tiếng Dân ở Huế là Huỳnh Thúc Khág có bài thơ với cùng ngụ ý như ông Phan Văn Trị:

 

ÔNG TÁO

Cục đất ngày xưa có thế nào

Ngày nay ông Táo chức quyền cao

Khéo mang mặt lọ vênh vang thế

Chẳng hổ lưng còng khúm núm sao

Ba bữa giữ ngày cho địa chủ

Quanh năm kiếm chuyện mách thiên tào

Một mai đất lại hoàn ra đất

Cái đẫy xôi chè đáng giá bao.

(Huỳnh Thúc Kháng)


 

Ảnh hưởng của Trung Quốc

 

* Táo Quân (Táo Vương)

 

Đạo Giáo xuất hiện ở Trung Quốc vào thời nhà Hán chắc chắn là vào thời Đông Hán (bắt đầu từ thế kỷ thứ 1 sau CN).  Theo Đạo Giáo, con người chết có thể thành Thần (do Ngọc Hoàng Thượng Đế phong cho).  Câu chuyện của Ông Táo (hay Táo Quân) hoàn toàn từ Đạo Giáo.

Tại Trung Quốc cũng có 3 câu chuyện truyền khẩu về sự tích của Ông Táo gần giống như câu chuyện của Toan Ánh (và thường dùng từ ngữ "Táo Vương" cho Táo Quân với cùng một nghĩa là Vua Bếp):

Từ Sơn Đông: chuyện của 2 vợ chồng Trương Lang và Quách Đình Hương.

Từ Phước Kiến: chuyện của Trương Định Phúc và vợ.

Từ lưu vực sông Trường Giang: chuyện 2 vợ chồng Lý Hồi Tâm và Vương Huệ Mẫn.

Học giả Trịnh Huyền vào thời Đông Hán viết rằng Táo Quân là từ Tô Cát Lợi và vợ là Vương Bác Giáp.

Tuy nhiên trong tất cả những câu chuyện về Táo Quân của Trung Quốc chỉ nói tới 2 nhân vật (2 vợ chồng ngay từ lúc đầu) nhưng không có 3 nhân vật như chuyện của nước Việt.

 

Từ Trịnh Huyền, chúng ta biết được rằng chuyện về sự tích Táo Quân của Trung Quốc có thể bắt đầu từ nhà Đông Hán (bắt đầu từ thế kỷ thứ 1).  Truyền thống Táo Quân có thể truyền sang nước ta trong thời Bắc Thuộc (thế kỷ thứ 2 tr CN cho tới thế kỷ thứ 10)  

 

* Táo Thần

 

Trước Táo Quân đã có Táo Thần là Thần Bếp được con người tôn thờ từ thời nhà Chu (thế kỷ thứ 11 tr CN đến thế kỷ thứ 3 tr CN).  Tuy nhiên trong thời "Bách gia chư tử" nầy chỉ có thờ cúng thần linh nhưng không có quan niệm siêu hình phức tạp như tôn giáo (Đạo Giáo hay Phật Giáo) với sự liên hệ giữa con người và thần linh.

Theo nghi thức của triều đình nhà Chu, lễ cúng Lạp tế vào cuối năm là phải cúng Tiên tổ Ngũ tự mà Táo Thần là 1 trong Ngũ tự.  Ngũ tự là cúng tế 5 vị Thần là: Môn (cổng, cửa), Hộ (cửa 1 cánh), Trung lựu (phòng giữa), Táo (bếp) và Hành (đường đi).  Lễ cúng 5 vị Thần chỉ dành riêng cho triều đình chứ không được có trong dân gian.

 

Từ Hậu Hán Thư (viết về đời nhà Tây Hán, bắt đầu vào thế kỷ thứ 3 tr CN), Táo Thần được thờ trong nhân gian trong câu chuyện về Âm Tử Phương.  

Hậu Hán Thư viết:

Ban đầu, họ Âm truyền từ nhiều đời tế tự Quản Trọng (người của thời nhà Đông Chu), gọi là Tướng quân.  Đến thời Hán Tuyên Đế, Âm Tử Phương của họ Âm là người nhân từ.  Vào ngày Lạp (mồng 8 tháng Chạp) đang khi nấu bếp lúc sáng sớm thì Táo Thần hiện hình ra.  Âm Tử Phương tế tự bằng thịt dê vàng.  Từ đó ông trở nên giàu có thành đại phú gia, ruộng có hơn 700 mẫu, có nhiều xe ngựa và nô bộc.  Đến 3 đời sau vẫn còn thịnh vượng do đó đều cúng tế Táo Thần vào ngày Lạp, dùng dê vàng.

 

Từ Đạo Giáo vào đời nhà Đông Hán (bắt đầu từ thế kỷ thứ 1), Táo Thần thành Táo Quân (Táo Vương) với những sự tích Táo Quân từ con người.

 

* Táo Quân về chầu Trời

 

Các sách Phong thổ chí ghi chép phong tục thờ cúng Táo Quân vào đời Đường và Tống gần giống ngày nay.

Vào đời nhà Đường, có lễ cúng đưa tiễn Táo Quân về chầu Trời vào đêm cuối năm.  Có cúng "Táo mã" để Táo quân cưỡi về Trời.

Đến đời nhà Tống, ngày cúng tiễn Táo Quân về chầu Trời là ngày 24 tháng Chạp.  Đó là ngày giao niên giữa năm mới và năm cũ.

Từ nhà Đường và nhà Tống, qua nhà Minh, nhà Thanh và thời Dân Quốc cho tới ngày nay, Trung Quốc cũng có thờ Táo Quân (Táo Vương) và cũng có về Trời vào lúc cuối năm.

 

Tuy nhiên, người Tàu không dùng từ ngữ Táo Quân (hay Táo Vương) đồng nghĩa với Hỏa lò như người Việt.

 

* Tống Táo thi

 

Học giả Đỗ Chiêu Đức có tìm và dịch những bài thơ Hán ngữ tiễn Ông Táo về Trời, với 2 bài là chắc chắn của người Trung Quốc (La Ẩn và Lã Mông Chính).

 

TỐNG TÁO THI                                       THƠ TIỄN ÔNG TÁO

Bạch nha đường bỉnh tiễn hành tung         Mạch nha kẹo bánh tiễn chân ông

Bái chúc dương si thả tác lung                   Lên đó giả ngây giả điếc giùm

Chỉ hữu nhất ban ưng khai khẩu                Chỉ có một điều nên mở miệng

Phiền quân báo ngã nhất niên cùng.           Rằng ta nghèo suốt một năm ròng!

(Vô Danh thị)                                              (Đỗ Chiêu Đức dịch)

 

TỐNG TÁO THI                                       THƠ TIỄN ÔNG TÁO

Nhất trản thanh trà nhất lũ yên                  Một chén trà thơm làn khói nhẹ

Táo quân hoàng đế thượng tranh thiên.     Chầu Trời Vua Bếp đến cửa thiên

Ngọc Hoàng nhược vấn nhân gian sự.       Ngọc Hoàng nếu hỏi nhơn gian sự

Vị đạo văn chương bất trị tiền.                  Hãy đáp văn chương chẳng đáng tiền.

(La Ẩn)                                                       (Đỗ Chiêu Đức dịch)

833-909

 

Bài thơ của La Ẩn đời Đường được Lã Mông Chính đời Tống mượn 2 câu cuối:

 

TỐNG TÁO THI                                       THƠ TIỄN ÔNG TÁO

Nhất trụ thanh hương nhất lũ yên              Một nén nhang thanh làn khói nhẹ

Táo quân kim nhật thướng triều thiên       Chầu Trời tiễn Táo đến cửa thiên

Ngọc Hoàng nhược vấn nhân gian sự.       Ngọc Hoàng nếu hỏi nhơn gian sự

Vị đạo văn chương bất trị tiền.                  Hãy đáp văn chương chẳng đáng tiền.

(Lữ Mông Chính)                                       (Đỗ Chiêu Đức dịch)

946-1011


 

Bs PHAN THƯỢNG HẢI biên soạn 

 

Bài viết nầy đăng lần đầu trong phanthuonghai.com mục Văn Hóa phần Học Thuật.

 

Tài Liệu Tham Khảo:

1) Thơ Quốc Ngữ Nam Kỳ Lục Tỉnh (Phan Thượng Hải) - phanthuonghai.com

2) Tục Ngữ Sưu Tầm và Lược Giải (Bs Phan Thượng Hải) - phanthuonghai.com

3) Tín Ngưỡng Việt Nam (Toan Ánh)

4) Nghi Thức và Lễ Bái của Việt Nam (Sơn Nam)

5) Tống Táo Thi (Đỗ Chiêu Đức)

6) Ông Táo (Wikipedia)


 

Bs PHAN THƯỢNG HẢI biên soạn và giữ bản quyền

_______________________

 MÓN ĂN NGÀY TẾT

                                               (Bs Phan Thượng Hải)

         Bánh tét                        Thịt kho trứng                    Tôm khô củ kiệu                Canh khổ qua

       Canh măng                 Mứt dừa                      Chả giò                        Gỏi gà xé phay

Ảnh từ internet

Trong ba ngày Tết, mọi người đều "Ăn Tết" với nhiều món ăn tiêu biểu và đặc biệt cho ngày Tết.  Những món ăn ngày Tết cũng là những đề tài văn thơ và câu đối trong văn học Việt Nam.

 

Bốn nghìn lần: Xuân Hạ Thu Đông, vạn vật lanh quanh vòng lẩn quần

Ba ngày Tết: xôi chè rượu thịt, tứ dân hì hục chén no nê

 

ĂN TẾT

Hoa quả giò nem với bánh chưng

Bàn thờ chật nứt tổ tiên mừng

Khói hương nghi ngút người đương lễ

Mâm cổ linh đình chủ đã bưng

Chỉ cuộc rượu chè mà bộn rộn

Riêng lời chúc tụng chỉ tưng bừng

Vui chơi cho bỏ khi nào nhỉ?

Chạy vạy đã còng cả sống lưng. (*)

(Vân Hạc Lê Văn Hoè)

(*) Chạy vạy=Xoay xở nhiều cách, vất vả để lo liệu (việc gì).

 

ĐẠI CƯƠNG

 

Món ăn ngày Tết có khác nhau tùy theo địa phương.

Món ăn tiêu biểu ở miền Bắc là Bánh Chưng, Thịt (Mỡ) Đông, Dưa Hành và Giò Lụa.  Ngoài ra cũng có những món đặc biệt như: Giò Thủ, Gà luộc, Canh Măng, Bóng Bì, Chân Giò nấu nấm hương, Miến Lòng Gà, Nộm và Xôi gấc.

Món ăn tiêu biểu ở miền Nam là Bánh Tét, Thịt kho Nước Dừa, Dưa Giá, Củ Kiệu và Tôm khô.  Ngoài ra cũng có những món khác, thông thường, nhưng cũng được thết đãi trong ngày Tết như Chả Giò, Gỏi cuốn, Nem (Nem chua), Lạp Xưởng và Bì.

Món ăn đặc biệt riêng cho người miền Trung là Canh Khổ Qua và Tré.  Ngoài ra cũng có những món khác như Thịt Heo quay, Cá Rô chiên và Xôi.

 

Dưa Hấu là món trái cây tiêu biểu trong ngày Tết của miền Nam.  Từ Dưa Hấu sinh ra món Hạt Dưa cũng phổ thông trong 3 ngày Tết.

Bánh Chưng (từ người Bắc) và Bánh Tét (từ người Nam) là 2 loại Bánh tiêu biểu của những ngày Tết.

Những loại Mứt thông thường trong ngày Tết là Mứt Hạt Sen, Mứt Bí, Mứt Dừa và Mứt Gừng.

 

Báo Văn Hóa Ngày Nay của Văn sĩ Nhất Linh thời Đệ Nhất Cộng Hòa có những câu đối về món ăn ngày Tết thay đổi từ Bắc vô Nam.

Câu đối của người Bắc:

Nêu cao pháo nổ bánh chưng xanh

Thịt mỡ dưa hành câu đối đỏ

Câu đối của người Bắc sau khi di cư vào Nam năm 1954:

Cột (đèn) cao xe nổ tiêu tiền xanh

Củ kiệu tôm khô dưa hấu đỏ

 

TẾT ĐẾN

Anh em đừng nghĩ Tết tôi nghèo

Tiền bạc trong kho chửa lỉnh tiêu

Rượu cúc nhắn đem, hàng biếng quẩy

Trà sen mượn hỏi, giá còn kiêu

Bánh chưng sắp gói, e nồm chảy

Giò lụa toan làm, sợ nắng thiu

Thôi thế thì thôi dành Tết khác

Anh em đừng nghĩ Tết tôi nghèo.

(Trần Tế Xương)

GIÒ LỤA
Giò Lụa (tiếng Bắc) và Chả Lụa (tiếng Nam): món ăn làm bằng thịt heo, gói lá chuối.
Giò Lụa là món ăn đặc biệt riêng của người Việt. Nguyễn Tuân trong "Tùy Bút" có viết:
Hình như Giò Lụa là một tiết mục độc đáo chỉ ta mới có, chỉ người Việt Nam ta mới nghĩ
ra và làm ra mà thôi (tôi thành thật rất mong một bạn bác học nào dẫn chứng và chỉ cho tôi thấy
thêm là ngoài cõi Việt Nam, Giò còn thấy ở vùng nào xứ nào nữa kia). Tại sao lại có cái anh
Việt Nam nghĩ ra món Giò.
Giò Lụa thường ăn chung với: Bánh giầy, Bánh cuốn, Bánh Giò, Xôi hay Cơm...
Từ Giò Lụa hay Chả Lụa có những món ăn khác:
(chưng hấp): Chả Bì (Tré), Chả Bò (làm bằng thịt bò), Chả Huế (có tiêu hột)
(chiên): Chả Chiên, Chả Quế (có thêm quế=cinamon)
Giò Thủ, khác Giò Lụa, lấy từ thịt nấu đông của phần đầu của con lợn. Có từ nhiều quốc gia,
Giò Thủ theo tiếng Anh là Head Cheese hay Brawn.

 

BÁNH CHƯNG
Nguồn gốc của Bánh Chưng được ghi trong Lĩnh Nam Chích Quái của Trần Thế Phát viết vào
thời nhà Trần, được Vũ Quỳnh hiệu đính vào thời nhà Hậu Lê và Lê Hữu Mục dịch ra chữ Quốc
ngữ.
Dưới đây là nguyên văn trích trong Lĩnh Nam Chích Quái:
TRUYỆN BÁNH CHƯNG
Sau khi Hùng Vương đã phá giặc Ân rồi, trong nước thái bình mới lo việc truyền ngôi cho con,
hội 22 vị Công tử lại mà bảo rằng:
Ta muốn truyền ngôi cho đứa nào làm vừa lòng ta là đến kỳ cuối năm biết đem trân am
mỹ vị đến dâng cúng Tiên vương để tròn đạo hiếu thì ta sẽ truyền ngôi cho.
Các công tử lo đi tìm các trân kỳ, hoặc săn bắn, hoặc chài lưới, hoặc mua ở chợ, vụ được nhiều
của ngon vật lạ không biết bao nhiêu mà kể. Duy có Công tử thứ chín tên là Lang Liệu, bà mẹ

hàn vi đã lâm bệnh mà quá cố, tả hữu lại ít người nên khó bề toan tính, ngày đêm thao thức ăn
ngủ không yên.
Hốt nhiên mộng thấy thần nhân bảo rằng:
Trong trời đất không có gì quí bằng gạo, vì gạo là của để nuôi dân, người ta ăn mãi
không chán, không có vật gì đứng trước được; nếu lấy gạo nếp, hoặc gói làm hình tròn để tượng
trời, hoặc gói làm hình vuông để tượng đất, ở trong làm nhân cho thật ngon, bắt chước hình
trạng trời đất bao hàm vạn vật, ngụ ý cái ơn trời đất phát dục vạn vật, như thế thì lòng cha sẽ
vui, tôn vị chắc được.
Lang Liệu mới lựa hột nếp nào trắng tinh, hoàn toàn không sức mẻ thì đem vút đi, để cho ráo rồi
lấy lá chuối gói thành hình vuông, bỏ nhân ngon vào giữa, đem nấu đi cho chín, gọi là bánh
chưng. Lại lấy nếp nấu xôi đem quết cho thực nhuyễn, nắn làm hình tròn để tượng hình trời, gọi
là bánh dày.
Đúng kỳ Vương hội các con lại trưng bày phẩm vật; các con đem dâng không thiếu thứ gì, duy
chỉ có Lang Liệu đem bánh tròn, bánh vuông đến dâng. Hùng Vương lấy làm lạ hỏi Lang Liệu.
Lang Liệu trình bày như lời thần nhân đã bảo. Vương thân hành nếm thử thì thấy vị ngon vừa
miệng ăn không chán, phẩm vật của các công tử khác không sao hơn được. Vương khen ngợi
giây lát, rồi cho Lang Liệu được giải nhất.
Năm hết, Vương dùng bánh ấy dâng tiên miếu và cung phụng cha mẹ, thiên hạ bắt chước truyền
đến bây giờ, lấy tên của Lang Liệu để gọi là Tiết Liệu.
Hùng Vương truyền ngôi cho Lang Liệu; 21 anh em đều giữ các phiên trấn, lập thành bộ đảng,
cứ thủ núi sông để làm hiểm cố.
Về sau họ hằng tranh nhau làm trưởng, mỗi người dựng mộc sách để che kín bởi vậy gọi là sách,
là trại, là trang, là phường khởi thủy từ đấy.
CẢNH TẾT
Ai dám chê ta Tết nhất nghèo
Nghèo mà lịch sự đố ai theo
Bánh chưng chất chặt chừng ba chiếc
Rượu thuốc ngâm đầy độ nửa siêu
Trừ tịch kêu vang ba tiếng pháo
Nguyên tiêu cao ngất một gang nêu
Ai xuân ta cũng chơi xuân với
Chung đỉnh ơn vua ngày tháng nhiều.
(Nguyễn Công Trứ)
Từ Bánh Chưng có những câu đố trong dân gian:
Nhà xanh lại đánh đổ xanh
Giữa đỗ giồng hành, thả lợn vào trong
Cây xanh mà giồng đỗ xanh
Giồng đậu giồng hành lại thả lợn vô
Một thửa đất vuông bốn phía xây thành
Xung quanh giồng chuối, giữa tỉa đậu trồng hành
Ngoài thành trồng giang

 

BÁNH TÉT
Hình như Bánh Tét ra đời ở Nam Hà là chịu ảnh hưởng của người Chiêm Thành, hình tượng hóa
Linga của người Chàm.
Tương truyền vào Tết năm Kỷ Dậu 1789, trước khi tấn công quân xâm lược Tàu, vua Quang
Trung cho quân sĩ ăn Tết trước. Có 1 người lính được vợ gởi cho 1 món bánh làm từ gạo nếp
với nhân đậu xanh, giống như bánh tét ngày nay. Anh lính nầy đem bánh mời vua Quang Trung.
Vua ăn thấy ngon và được biết từ vợ của anh đã thường gởi cho trong khi trong quân đội. Vua
cảm động từ đó ra lệnh cho dân chúng gói loại bánh nầy để ăn trong dịp Tết và đặt tên là Bánh
Tết. Lâu ngày tên bánh thành Bánh Tét.
Theo ông Lê Tân trong bài "Bánh Tét Trà Vinh" thì bánh tét tuy được làm và ăn quanh năm
nhưng thường nhất trong dịp những lễ hội, đặc biệt là ngày Tết. Do đó bánh được gọi là Bánh
Tết và dần dần đọc trại là Bánh Tét. Tên "tét" xuất xứ từ cách cắt bánh nầy gọi là "tét": tay phải
cầm đầu dây khoanh tròn đòn bánh đã lột vỏ, "tét" từng khoanh một đơm lên dĩa.
Bánh Tét ở miền Nam và miền Trung giống Bánh Chưng ở miền Bắc về nguyên liệu và cách nấu
chỉ khác về hình dạng và dùng lá chuối để gói bánh thay vì lá dong (như Bánh Chưng). Bánh
Tét cũng được dùng để ăn Tết như bánh chưng tuy nó được làm và bán quanh năm.
Từ Bánh tét có câu đố:
Vườn xanh lại đóng khố xanh
Xung quanh trồng hành giữa thả lợn vô

 

THỊT KHO NƯỚC DỪA
Thịt kho đặc biệt có trứng và nước dừa. Có tên là Thịt Kho Tàu nhưng không thấy trong món ăn
của người Tàu. Khi bàn về các địa danh Nam Kỳ có từ ngữ "tàu" như Cái Tàu Thượng hay Cái
Tàu Hạ, thì ông Bình Nguyên Lộc mới cắt nghĩa là từ ngữ "tàu" ở đây có nghĩa là "lạt" (không
"mặn") chứ không có nghĩa là "chiếc tàu" hay "người Tàu". Thịt kho nước dừa nầy thì không
mặn như những thịt kho thường ăn hàng ngày.
THỊT KHO NGÀY TẾT
Nước mắm nước dừa nấu thịt kho
Trong ba ngày Tết chẳng hề lo
Trứng gà hấp dẫn, màu hơi đậm
Nạc mỡ ngon lành, miếng khá to
Ăn với dưa chua càng thấy thích
Và thêm cơm trắng thế là no
Vui chơi thong thả quanh thành phố
Tối đến về nhà có thịt kho.
(Phan Thượng Hải)

 

DƯA HẤU
Cũng như Bánh Chưng, nguồn gốc của Dưa Hấu được ghi trong Lĩnh Nam Chích Quái của Trần
Thế Phát viết vào thời nhà Trần, được Vũ Quỳnh hiệu đính vào thời nhà Hậu Lê và Lê Hữu Mục
dịch ra chữ Quốc ngữ.
Dưới đây là nguyên văn trích trong Lĩnh Nam Chích Quái:
TRUYỆN DƯA HẤU
Ngày xưa, đời Hùng Vương có một người tên là Mai An Tiêm, người ngoại quốc, mới được 7
tuổi, do thuyền buôn chở đến. Vương mua về làm đầy tớ, kịp lúc lớn lên thì diện mạo đoan
chính, nhớ biết nhiều việc.
Vương đặt tên là Yển, tên chữ An Tiêm và cho một người thiếp. sinh được một trai. Vương yêu
dùng để sai bảo, dần dần Yển thành phú quí, ai cũng úy phục, và chen nhau đến dâng lễ vật
không thức gì là không có; Yển sinh ra kiêu mạn, thường tự bảo rằng:
Của cải nầy là vật của tiền nhân ta, ta không từng trông nhờ vào ơn chúa.
Hùng Vương nghe được, cả giận nói rằng:
Làm thần tử mà nó không biết ơn chúa, sinh ra kiêu mạn, nói rằng của cải đều là vật tiền
thân của nó. Bây giờ ta đem bỏ nó ra ngoài biển, ra cái chỗ không người ấy coi thử nó có còn
cái vật tiền thân của nó nữa hay không?
Bèn đày Mai Yển ra ngoài bãi cát cửa biển Nga Sơn, tứ phía không có chân người đi đến, chỉ để
cho lương thực đủ dùng trong bốn năm tháng mà thôi, ăn hết là chết đói. Chị vợ khóc ầm lên,
bảo rằng ta chắc chết ở đây không lý gì sống được.
Tiêm nói:
Trời đã sinh thì trời phải dưỡng, có lo gì?
Ở chưa bao lâu, đương lúc tháng tư, bỗng thấy một con bạch hạc từ phương tây bay lại, đậu lên
một mỏm núi cao, kêu lên ba bốn tiếng thì sáu bảy hạt dưa rơi trên mặt cát, đâm chồi nẩy lộc, lan
trên cát, xanh tốt rườm rà, rồi kết thành trái dưa, nhiều không kể xiết.
An Tiêm mừng rỡ nói:
Đây đâu phải là quái vật, đó là trời cho để nuôi ta đó.
Bổ dưa ra ăn thì mùi vị thơm ngon ngọt ngào, ăn vào thì tinh thần khỏe khoắn; rồi cứ mỗi năm
trỉa thêm, ăn không hết thì đem đổi lấy lúa gạo nuôi vợ con. Nhưng không biết dưa ấy tên là gì,
mới nhân chim tha từ phương tây đến nên đặt tên là Tây Qua.
Những khách chài lưới, buôn bán, ưa mùi vị của nó đều đem phẩm vật của mình để đổi lấy dưa.
Nhân dân xa gần, trên rừng dưới bến tranh nhau mua hạt bắt chước trồng tỉa khắp bốn phương;
dân gian suy tôn An Tiêm làm "Tây qua phụ mẫu".
Lâu ngày, Vương nhớ đến An Tiêm, sai người đến chỗ An Tiêm ở hỏi thăm có còn sống hay
không.
Người ấy về tâu lại với Vương. Vương than thở hồi lâu mới nói rằng:
Nó bảo là vật tiền thân của nó, thực là không nói dối vậy.
Vương bèn triệu An Tiêm về, trả quan chức lại và cho tỳ thiếp, đặt tên chỗ An Tiêm ở là "An
Tiêm Sa Châu"; thôn ấy gọi là Mai An, đến nay còn lấy tây qua tôn phụng tổ khảo mà tế tự, là
khởi đầu từ An Tiêm vậy.
Ông Nguyễn Trọng Thuật (1883-1940) dựa vào chuyện nầy viết thành tiểu thuyết "Quả Dưa Đỏ"
xuất bản tại Hà Nội năm 1925. Được giải thưởng văn chương của hội Khai Trí Tiến Đức (năm
1925).

Trong lịch sử, Mai An Tiêm là con nuôi của vua Hùng Vương thứ 17. Ông bị vua đày ra một
đảo hoang vu nay là vùng của huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa. Tại đây, Mai An Tiêm gây được
giống Dưa Hấu và sau nầy được tôn là ông tổ nghề trồng Dưa Hấu. Ngày nay ở tại xã Nga Phú,
huyện Nga Sơn có dãy núi mang tên Mai An Tiêm. Dưới chân núi có đền thờ Mai An Tiêm.
Hàng năm có lễ hội 12-15 tháng Ba.
TRÁI DƯA HẤU
Khởi đầu sự tích thuở Hùng Vương
Với chuyện An Tiêm khá dị thường
Hạt giống từ chim, nhờ mệnh tốt
Cây hoa kết quả, được Trời thương
Vỏ xanh biểu tượng niềm hy vọng
Ruột đỏ bao hàm nghĩa thiện lương
Tiêu chuẩn món ăn khi Tết đến
Mang theo phước lộc thọ an khương.
(Phan Thượng Hải)

Từ quả Dưa Hấu có những câu đố trong dân gian:
Ngoài xanh trong đỏ hồng hồng
Quan vua cũng chuộng mẹ chồng cũng yêu
Mùa hè lắm kẻ nâng niu
Mùa đông lắm kẻ dập dìu duyên ta
Ngoài xanh trong đỏ như vang
Khen ai khéo đặt cho nàng tên đôi
Dưa Hấu có tên khoa học là Citrullus lanatus là một loài thực vật trong họ bầu bí (Citrullus). Nó
có nguồn gốc từ miền Nam của Phi Châu.
Trái Dưa Hấu có vỏ cứng, thường màu xanh lục và trong ruột có màu đỏ thường chứa nhiều
nước (Watermelon in English).
Từ ngữ "Hấu" trong "Dưa Hấu" không có nghĩa gì hết. Trong các loại hoa, quả, chim. thú... thì
có những từ ngữ dùng để gọi nó chỉ để dành riêng cho nó, có thể có nghĩa hoặc không có nghĩa.
"Hấu" được dành riêng cho "Dưa Hấu" tuy riêng nó không có nghĩa gì hết.
Đứng riêng một mình, từ ngữ "Hấu" không có trong từ điển Tiếng Nôm. "Hấu" trong từ điển
Hán Ngữ đồng nghĩa với "Hậu" (có nghĩa là: sau đó, kế đó).
Cách lựa Dưa Hấu ngon:
1. Có 2 loại: Dưa Hấu đực và Dưa Hấu cái
Dưa Hấu đực: thon và cao hơn; vòng tròn dưới đáy rất nhỏ (như hình 1 đồng xu nhỏ). Nó
có nhiều nước hơn.
Dưa Hấu cái: tròn và lùn hơn; vòng tròn dưới đáy to hơn. Nó ngọt hơn.
2. Lựa cỡ trung bình đồng cỡ với đám Dưa, không nhỏ hay lớn hơn quá mức
Nếu nặng hơn (và hơi nhỏ) thì là Dưa già, ngon và nhiều nước
Nếu nhẹ (và to) thì có thể Dưa bị xốp.

3. Vỏ Dưa
Nhìn vỏ dưa: nếu vỏ càng nhẳn thì Dưa càng chín. Nếu có "vân" thì "vân" phải rõ ràng.
Ấn vào vỏ dưa: nếu cứng thì tốt; nếu mềm thì không nên mua.
Vỗ vào quả Dưa: nếu phát ra tiếng kêu đanh thì là Dưa già và chín; nếu phát ra tiếng nhẹ,
"lộp bộp", thì là Dưa non hay bị chín nẫu bên trong.
4. Vỏ Dưa có vết Ong châm cho thấy Ong đã tiếp xúc với bộ phận thu phấn của hoa (trước khi
thành quả) rất nhiều. Sự thụ phấn càng nhiều thì Dưa càng ngọt.
5. Cuống Dưa
nếu màu xanh: là Dưa chưa chín, hái quá sớm
nếu héo: là Dưa đã chín rồi.
5. Tìm vết rám ở phần đáy của trái Dưa (phần đối diện với Cuống dưa): Dưa ngon nếu có vết
rám màu vàng (ngon) và màu vàng cam (rất ngon)

 

CANH KHỔ QUA
Canh Khổ Qua là món ăn truyền thống ngày Tết của người miền Trung. Theo Hán ngữ là Khổ
Qua còn tiếng Nôm là Mướp Đắng. Trái Khổ Qua là thuộc loại Bầu Bí với tên khoa học là
Momordica charantia.
Ca dao về Khổ Qua rất nhiều:
Khổ qua xanh, khổ qua trắng
Khổ qua mắc nắng khổ qua đèo
Anh có thương em thì mần giấy giao kèo
Dù sanh dù tử dù nghèo em cũng theo
Khổ qua xanh, khổ qua trắng
Khổ qua mắc nắng khổ qua đèo
Anh có thương em thì mần giấy giao kèo
Thò tay điểm chỉ "con mèo" của anh
Đói lòng ăn trái khổ qua
Nuốt vô sợ đắng nhả ra bạn cười
Dê xồm ăn lá khổ qua
Ăn nhầm lá đậu chết cha dê xồm
Chừng nào cây kia không lá
Chừng nào cá nọ có xương
Chừng nào ớt ngọt như đường
Khổ qua kia hết đắng, đạo cang thường mới hết thương
Khổ qua mắc nắng khổ qua đèo
Cái mặt như chim mèo hò hát với ai

Đắng khổ qua, chua là chanh giấy
Dầu ngọt cho mấy cũng tiếng cam sành
Giặc Lang Sa đánh tới châu thành
Dù ai ngăn qua đón lại, dạ cũng không đành bỏ em

 

TRÉ
Theo truyền thuyết thì lúc đầu Tré là món ăn đặc sản ở Qui Nhơn, xuất hiện vào thời khởi nghĩa
của nhà Tây Sơn. Lúc đó, nguyên liệu dùng làm món ăn nầy được người địa phương nhồi vào
một cái "ché" bằng đồ gốm rồi chôn dưới đất để lên men, dùng ăn trong dịp Tết. Có lẽ do đó tên
gọi của món ăn nầy được đọc trại từ "ché" thành "tré". Lúc vua Quang Trung lên ngôi, đóng đô
ở Phú Xuân (Huế), quan lại Tây Sơn đem món ăn dân dã nầy về kinh đô. Từ đó món Tré trở
thành món ăn cung đình quí phái và cách thức chế biến cầu kỳ tinh tế hơn trong hương vị và hình
thức không còn trong ché mà thay bằng từng lọn nhỏ gói bằng lá như ngày nay. Từ đó Tré thành
món ăn của miền Trung. Ngày nay, Tré dùng thịt heo, riềng, tỏi, nước mắm và các loại gia vị
gói vào lá ổi bao bọc bởi lá chuối bên ngoài.
Tré còn gọi là Nem Bì.

 

MỨT TRONG NGÀY TẾT
Tất cả 42 loại Mứt từ thực vật.
Tiêu biểu: Hạt Sen, Dừa, Bí, Gừng. Có 7 loại mứt Dừa khác nhau.
Thông thường: Chùm Ruột, Tắc, Củ Sen
Hiếm: Thơm, Kiwi, Cà Rốt, Chanh, Vỏ Chanh, Rau Câu, Khế, Xoài, Củ Cải trắng, Khoai
Lang, Khoai Tây, Khoai Môn, Táo Xanh, Chuối Xanh, Dâu Tằm, Cóc, Mứt thập cẩm

 

BÁNH TRONG NGÀY TẾT
Tiêu biểu: Bánh Chưng và Bánh Tét
Thông thường:
Bánh In: Đặc sản từ Huế. Bánh dâng cho Vua ăn với uống trà trong dịp Tết, với ý nghĩa
chúc vua được trường thọ.
Bánh Đậu Xanh: Đặc sản từ Hải Dương. Bánh dùng đãi khách hay như quà biếu trong
dịp Tết.
Bánh Phu Thê là đặc sản của Huế: Phu là chồng, Thê là vợ; bánh tượng trưng cho hình
ảnh vợ chồng. Bánh dùng trong dịp cưới hỏi hay ngày Tết. Cũng có bánh Su Sê hay Xu Xê là
đặc sản của Bắc Ninh (?) có cùng một ý nghĩa và công dụng. Su Sê chắc là tiếng đọc trại của
Phu Thê?
Bánh Ít Lá Gai: Đặc sản của Qui Nhơn, hình như cái tháp Chàm Tương truyền từ con gái
út của Hùng Vương (dựa theo ý nghĩa của Bánh Chưng và Bánh Dày).
Hiếm:
Bánh Đúc: làm bằng bột gạo (Bắc và Trung) và làm bằng bột năng (Nam)

Bánh Tổ: Đặc sản ở Hội An, người Tàu đem vào (thế kỷ 16-17)
Bánh Tai Heo
Bánh Bột Lọc: từ miền Trung
Bánh Tẻ: làm bằng bột gạo tẻ; còn gọi là Bánh Lá.
Bánh Gio (chấm mật): còn có tên là Bánh Tro, Bánh Ú Tro hay Bánh Nắng
Bánh Bò
Bánh Gai: Đặc sản của Làng Mía, nay là xã Thọ Diên, huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa.
Bánh Biscuit (Bánh Quy Bơ)
Bánh Lăn: ở miền Trung
Bánh Nổ: đặc sản từ Quảng Ngãi
Bánh Thuẫn
Bánh Măng: ở Huế

 

(Kết Luận)
Trong hơn 40 năm xa xứ, năm nào 2 vợ chồng chúng tôi cũng cúng ông bà chiều 29 hay 30 (Tết)
và cúng chè lúc Giao Thừa. Món ăn chính luôn là món Thịt Kho Nước Dừa do vợ tôi nấu.
Đây là bài thơ tôi làm sau khi cúng 30 Tết năm rồi (Mậu Tuất):

 

CHIỀU BA MƯƠI TẾT
Chiều ba mươi Tết cúng ông bà
Lặng lẽ ngôi nhà quạnh quẽ xa
Dưa giá thịt kho và bánh mứt
Nhang đèn bức ảnh với bình hoa
Tha hương xa vắng nhiều phong tục
Viễn xứ xa vời một quốc gia
Ngày Tết năm xưa bao kỷ niệm
Tân xuân cảm cựu tuổi thêm già.
(Phan Thượng Hải)

Bs PHAN THƯỢNG HẢI biên soạn và giữ bản quyền


Bài viết nầy đăng trong phanthuonghai.com mục Văn Hóa phần Học Thuật.

GIÁO LÝ GIÁC NGỘ CỦA ĐẠI THỪA THIỀN TÔNG

 

                                                     Bs Phan Thượng Hải

 

Phật Giáo dùng giáo lý triết học và tín ngưỡng tôn thờ để đạt được cứu cánh là thoát khổ hay thực tế hơn là thoát khỏi phiền não.  

Tôn thờ tín ngưỡng giúp Phật tử thoát khổ nhờ sự cứu độ của chư Phật và Bồ tát.  

Giáo lý triết học dạy cho Phật tử tự giác ngộ và khi giác ngộ là thoát khổ.

Phật Giáo có 2 giáo lý giác ngộ: 1 của Phật Giáo Nguyên thủy và 1 của Phật Giáo Đại thừa.  Giáo lý Phật Giáo Đại thừa hiện đại là của Thiền tông (dung hòa và tổng hợp Không tông và Tánh tông).

Bài viết nầy trình bày tóm tắt rõ ràng một cách khoa học giáo lý giác ngộ của Đại thừa Thiền tông để giúp cho Phật tử tự tu học mà tự giác ngộ.  Phật tử không phải khổ nhọc trong Tăng già hay tu Thiền cũng như không phải tìm tòi học hỏi khó khăn từ quá nhiều kinh, luận và công án (mới hoặc cũ) hay theo thụ giáo từ các bậc cao tăng, thiền sư và lạt ma để rồi cuối cùng vẫn "cưỡi lừa tìm lừa" và tiếp tục trầm trồ ngưỡng mộ những bậc thành đạo nổi danh trong quá khứ và hiện đại.

Tục ngữ nước Việt ta có câu than rằng:

Bụt nhà không thiêng, cầu Thích Ca ngoài đường.

Bụt nhà chính là Phật tánh có sẵn trong mỗi người, giúp mỗi người có thể thành Phật.

 

I. ĐẠI CƯƠNG

 

1) Lịch sử của Phật Giáo

 

Lịch sử Phật Giáo bắt đầu ở Ấn Độ từ Phật Thích Ca, người sáng lập ra Phật Giáo Nguyên thủy với nhiều kinh và luận trong Tam tạng (Kinh tạng, Luật tạng và Luận tạng) vào thế kỷ thứ 5 tr CN.  

Đến thế kỷ thứ nhất tr CN, Phật Giáo Đại thừa thành lập ở Ấn Độ với giáo lý khác dựa trên nhiều kinh và luận mới từ các tu sĩ Đại thừa, bắt đầu với kinh Pháp Hoa, kinh Hoa Nghiêm và kinh Bát Nhã.  Phật Giáo Đại thừa đặt tên cho Phật Giáo Nguyên thủy là Phật Giáo Tiểu thừa để phân biệt.  Từ 1950s, cộng đồng Phật Giáo thế giới cấm dùng danh hiệu "Tiểu thừa".

Phật Giáo Đại thừa Ấn Độ có 2 phái là Trung Quán và Duy Thức (còn gọi là Du Già).  

 

Phật Giáo Đại thừa Trung Quốc được truyền sang từ Ấn Độ vào thế kỷ thứ nhất (sau CN).  Theo giáo lý triết học, Đại thừa Trung Quốc được chia ra làm 2 nhóm giáo tông chánh:

Không tông từ Trung Quán phái.

Tánh tông từ Duy Thức Du Già phái.

Dung hòa và tổng hợp Không tông và Tánh tông, giáo lý triết học của Thiền tông tồn tại và đại diện cho Đại thừa cho đến ngày hay. 

Thiền tông bắt đầu ở Trung Quốc từ Nhất tổ Bồ Đề Đạt Ma và có những vị thầy quan trọng là Lục tổ Huệ Năng và thiền sư Triệu Châu Tòng Thẩm.  Giáo lý giác ngộ có trong Pháp Bảo Đàn kinh (của Huệ Năng) và các công án.

 

Phật Giáo Tây Tạng Kim Cang thừa, một thừa thứ ba của Phật Giáo, có giáo lý triết học không khác Thiền tông.

 

2) Vũ trụ quan của Phật Giáo từ Phật Giáo Nguyên thủy

 

Phật Giáo có vũ trụ quan riêng của nó, có lẽ từ Ấn Độ Giáo và khác với các giáo khác (như Nho Giáo) hay tôn giáo khác (như Kitô Giáo).

 

Theo Phật Giáo Nguyên thủy,vũ trụ chúng ta đang sống gồm có tất cả mọi sự vật (all beings and all things).  Phật Giáo gọi là "sự vật hiện hữu" (all existences).

Trong những sự vật hiện hữu của vũ trụ chúng ta đang sống có những sinh mạng (sentient beings) có kiếp sống gồm sinh, lão, bệnh, tử và tái sinh trong những kiếp khác tiếp theo lục đạo mà luân hồi mãi mãi.

Sinh mạng = Sentient being

Chúng sinh (Chúng sanh) = Tất cả mọi sinh mạng = All sentient beings

Có loại 6 loại sinh mạng: 

Con người hay Nhân mạng (Human being)

Súc sinh = Thú vật = Động vật (Animal)

Chúng sinh ở Địa ngục có thể gọi là Quỉ ở Địa ngục (Địa ngục = Hell; Quỉ = Ghost)

Ngạ quỉ (Hungry ghost)

A tu la (dịch âm từ tiếng Phạn là Atula) 

Thiên (dịch từ tiếng Phạn là Deva, Gods theo Anh ngữ)

 

Mỗi sinh mạng thuộc 1 loại trong kiếp A thì khi chết (= tử) sẽ tái sinh vào một kiếp B tiếp theo và thành 1 trong 6 loại (sinh mạng) trong kiếp B tiếp theo nầy tùy theo Nghiệp của mình trong kiếp sống A.  Thuật ngữ Phật Giáo gọi là tái sinh trong lục đạo (6 con đường) và sự lập lại liên tiếp từ kiếp nầy qua kiếp khác gọi là luân hồi.

Thí dụ: Con người có thể tái sinh thành con người, hay thú vật, hay ngạ quỉ...

 

Giáo lý của Phật Giáo Nguyên thủy dựa căn bản trên "nhân duyên nghiệp quả" áp dụng cho 6 loại sinh mạng trong mọi kiếp trong luân hồi.

Giáo lý của Phật Giáo Đại thừa Thiền tông không dựa căn bản trên "nhân duyên nghiệp quả" và chỉ áp dụng cho 1 loại sinh mạng là con người (nhân mạng) trong kiếp đang sống mà thôi. 

 

3) Giáo lý Phật Giáo

 

a) Phật Giáo Nguyên thủy

 

* (Nội dung triết học và tôn giáo)

Cứu cánh của Phật Thích Ca và Phật Giáo Nguyên thủy là giác ngộ, diệt hết khổ (phiền não) cho sinh mạng (a sentient being) trong kiếp sống nầy mà sinh mạng đạt niết bàn và do đạt niết bàn nên thoát khỏi phải khổ vì không phải tiếp tục tái sinh nhiều kiếp khác mãi mãi trong lục đạo luân hồi.  

Giáo lý giác ngộ của Phật Giáo Nguyên thủy căn cứ trên "nhân duyên nghiệp quả" của một sinh mạng đối với sự vật và sinh mạng khác trong nhiều kiếp luân hồi mà đưa ra đoạn hoặc (đoạn diệt mê hoặc) đối với tất cả mọi sự vật hiện hữu (hiện tượng) và trì giới đối với mọi người khác và sinh mạng khác.  Thực tế của giáo lý là đoạn hoặc và trì giới.

Giáo lý của Phật Thích Ca gồm triết học và tôn giáo (vì có thêm giới luật, áp dụng cho mọi sinh mạng và liên quan tới nhiều kiếp trong tái sinh luân hồi).

 

* (Hình thức tôn giáo)

Giác ngộ của Phật Giáo Nguyên Thủy là Bát Chánh đạo, là (đạt) Niết bàn.

Danh hiệu của người giác ngộ đạt niết bàn là La hán.  Danh hiệu Phật chỉ dùng giới hạn cho Phật Thích Ca, vị Phật có thật trong lịch sử và vài chục vị Phật theo truyền thuyết.  Phật là bậc giác ngộ và đã truyền giáo hóa độ chúng sanh được giác ngộ thành La hán qua nhiều kiếp trước.  Theo Bản sinh kinh của Phật Giáo Nguyên thủy, Phật Thích Ca đã là bậc Bồ tát hóa độ chúng sinh trong nhiều kiếp trước cho đến kiếp cuối cùng nầy là thành Phật Thích Ca.

 

b) Phật Giáo Đại thừa Thiền tông

 

* (Nội dung triết học)

Cứu cánh của Thiền tông (đại diện cho Phật Giáo Đại Thừa) là con người (a human being) được có tâm giác ngộ an tịnh (tranquil) mà không phiền não trong kiếp sống nầy mà thôi, đó là niết bàn diệu tâm.  

Giáo lý giác ngộ của Thiền tông (dung hòa và tổng hợp Không tông và Tánh tông của Phật Giáo Đại thừa) căn cứ trên hiện tượng và sự tương đối của sự vật và bản tâm của tâm con người mà đưa ra tâm thức đoạn hoặc đối với tất cả mọi sự vật (kể cả sinh mạng và thân mình) và tâm thức từ bi đối với mọi sinh mạng khác (kể cả người khác và thân mình).  

Thiền tông không phủ nhận nhưng không thừa nhận giá trị tuyệt đối của "nhân duyên nghiệp quả" và lục đạo luân hồi cũng như không áp dụng chúng vào giáo lý của mình.  Giáo lý của Thiền Tông chỉ áp dụng cho con người (nhân mạng) và không có tham vọng áp dụng cho tất cả 5 loại sinh mạng khác (nhất là thú vật).

Giáo lý Thiền tông là triết học cho con người trong kiếp sống nầy.  Triết học gồm có nhân sinh quan dựa trên vũ trụ luận về sự vật và nhân bản luận về bản tâm (hay Phật tánh).  

 

* (Hình thức tôn giáo)

Giác ngộ của Phật Giáo Đại Thừa là Lục độ là tâm Niết bàn nhưng được Thiền tông đơn giản là Hành Kiến.

Danh hiệu của người giác ngộ là Phật.  Nếu Phật ra công hóa độ những người khác cũng giác ngộ như mình thì gọi là Bồ tát.  Mọi người đều có căn cơ để thành Phật.

Trong Kinh Pháp Hoa (viết vào khoảng năm 100-200 tr CN):

(Phẩm 10): Mọi người có thể được giải thoát.  Tất cả chúng sanh có thể thành Phật, không những tăng ni mà còn cả cư sĩ (lay people), thanh văn, Bồ tát và sinh vật không phải là người (non human creature).


 

II. NỘI DUNG CỦA GIÁC NGỘ

 

1) Phật Giáo Đại Thừa Thiền Tông

 

a) Sự vật (của Không tông)

 

Thiền tông áp dụng quan niệm về sự vật của Không tông trong Bát Nhã Tâm kinh.

 

*

Sự vật bên ngoài Tâm của ta gồm cả luôn người khác, sinh vật khác và Thân của ta.

- Sự vật hiện hữu vì chúng tích tụ trong giác quan và tâm của ta.  Đó là Ngũ uẩn (5 cái tích tụ = 5 aggregations).

Tất cả mọi sự vật hữu thể (thế giới vật chất) gọi là Sắc, tích tụ trong giác quan của ta gọi là Sắc uẩn.

Tất cả mọi sự vật tâm thần (thế giới vô thể) gọi là Danh, tích tụ trong tâm của ta gồm có Thọ uẩn, Tưởng uẩn, Hành uẩn và Thức uẩn.  Thọ, Tưởng, Hành, Thức chính là hoạt động của tâm ta.

Thọ = cảm giác (sensation).

Tưởng = tri giác (percepttion).

Hành = tất cả những hoạt động khác của tâm ngoài Thọ, Tưởng và Thức (other mental constituents)

Thức = nhận thức (cognition)

- Sự vật là hiện tượng vì chúng là 6 đối tượng của 6 giác quan của ta và 6 tâm thức của ta.  Đó là 18 Giới (theo từ ngữ Phật Giáo)

 

Ngay từ Phật Thích Ca của Phật Giáo Nguyên Thủy, sự vật hiện hữu đồng nghĩa với hiện tượng.  Tất cả mọi sự vật hiện hữu hay hiện tượng được thể hiện bằng từ ngữ "ngũ uẩn" hay "18 giới".

Sự vật là hiện tượng của tâm ta bao gồm luôn thân ta trong sinh lão bệnh tử.

 

Sự vật = being and/or thing.  

Tất cả mọi sự vật = all beings and things.

Sự vật hiện hữu = element of existence.  

Tất cả mọi sự vật hiện hữu = all elements of existence = Vạn hữu.

Hiện tượng = phenomenon = dharma = Pháp.

Tất cả mọi hiện tượng = all phenomena = all dharmas = Vạn pháp.

 

*

Tất cả mọi sự vật hiện hữu hay tất cả mọi hiện tượng đều không có "ngã" (nature), đồng nghĩa với "vô ngã" của Phật Giáo bắt đầu từ Phật Giáo Nguyên Thủy.  

Không tông muốn cho rõ hơn nên gọi là "không có tự tánh" (without nature), đồng nghĩa với "tánh không" (sùnyatà).  Đó là lý thuyết Không (sùnya) của Không Tông. 

 

Vô ngã (của sự vật hay hiện tượng) = tánh không = không có tự tánh = without nature

Ngã = tự tánh = nature.

 

Sự vật hiện hữu hay hiện tượng thì vô ngã (hay tánh không) nên phải vô thường.  Như vậy sự vật hay hiện tượng tương đối (relative), gồm vô ngã và vô thường:

. vô ngã = không hoàn toàn, không thuần túy, không chuyên chế và không độc lập, và phải tương quan với những sự vật hiện hữu hay hiện tượng khác.

. vô thường (impermanant) = không thường hằng (not permanant) =

không tự sinh khởi

không cố định, phải thay đổi và biến hóa

không vĩnh cữu và phải hoại diệt 

 

Bát Nhã Tâm kinh viết:  

Khi Bồ tát Quán Tự Tại (Avalokitesvara) thực hành Bát Nhã Ba La Mật Đa sâu xa, soi thấy rằng có ngũ uẩn và thấy Ngũ uẩn không có Tự tánh (Sùnyatà) trong chúng.

Này Xá Lợi Phất (Sariputra): sắc ở đây là Không, Không là sắc; sắc không khác Không, Không không khác sắc; sắc tức thị là Không, Không tức thị là sắc.  Thọ, tưởng, hành, thức (đều) cũng vậy.

Này Xá Lợi Phất: Hết thảy các Pháp ở đây (= Vạn Pháp) được biểu thị là Không (Sùnya).  Chúng không sinh, không diệt, không cấu nhiễm, không không cấu nhiễm; không tăng, không giảm

Vì vậy này Xá Lợi Phất; trong Không (Sùnya),

không có sắc, không có thọ, tưởng, hành, thức; không có mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý; không có sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp; 

không nhãn giới cho tới không có ý thức giới; 

cho tới không có tuổi già (= lão) và sự chết (= tử), không có sự tận diệt của tuổi già và sự chết;

 

Chú thích:

Ngũ uẩn = Sắc, Thọ, Tưởng, Hành, Thức.

18 Giới = Sắc, Thanh, Hương, Vị, Xúc, Pháp tương đương với Mắt, Tai, Mũi, Lưỡi, Thân, Ý; từ Nhãn giới tới Ý thức giới.

 

Tóm lại, theo Không tông, mọi sự vật hiện hữu (kể cả thân ta trong sinh lão bệnh tử và luân hồi)

đều là hiện tượng (= đối tượng của giác quan và tâm ta), 

và tương đối (relative) vì chúng là vô ngã hay tánh không (without nature) và vô thường (impermanant).  

Giáo lý như trên của Không tông trong kinh Bát Nhã gọi là thuyết Không (Sùnya) và sau nầy Thiền tông trong kinh Lăng Già gọi là Pháp vô ngã.

 

*

Cứu cánh của Phật Giáo là hết khổ, hết phiền não.

 

- Nguyên nhân của khổ (của phiền não) là tất cả mọi sự vật đều là hiện tượng đối với tâm ta và đều là tương đối (relative) vì chúng đều vô ngã hay không có tự tánh (without nature) và vô thường (impermanant).  Tâm của ta dính chặc và ràng buộc (sở đắc = attached) hay bám chặc (sở trụ) vào sự vật tức là bị chướng ngại (= hindrance) bởi sự vật tương đối và chỉ là hiện tượng thì tâm ta sẽ phiền não (khổ). 

Tất cả mọi sự vật hiện hữu là đối tượng của tâm ta bao gồm luôn cả mọi sinh vật khác, mọi người khác và kể cả thân ta. 

 

- Tâm giác ngộ an định không phiền não là không bám chặc và ràng buộc (vô sở đắc = non-attached = vô sở trụ) vào sự vật tức là tự do, không chướng ngại (vô ngại = non hindrance) vào sự vật.  

(Không tông không có phân biệt tâm thành ra tâm thức và bản tâm và không biết đến bản tâm.  "Tâm" của Không tông là đồng nghĩa với "tâm thức" của Tánh tông)

 

Kinh Bát Nhã của Không tông viết:

Trong Không (Sùnya), không có Trí, không có Đắc và không có Chứng bởi vì không có Đắc.  Trong Tâm của Bồ Tát an trụ trên Bát Nhã Ba La Mật Đa không có những Chướng ngại; và bởi vì không có những Chướng ngại trong Tâm đó nên không có sợ hãi, và vượt ngoài những tà kiến điên đảo, đạt tới Niết bàn.

Hết thảy chư Phật trong quá khứ, hiện tại và vị lai do y (dựa) trên Bát Nhã Ba La Mật Đa mà chứng đắc Giác ngộ viên mãn tối thượng.

 

Người có tâm giác ngộ chính là Phật.  Phật thực hiện Đại từ bi, hóa độ con người cũng giác ngộ thành Phật như mình thì có danh hiệu là Bồ tát (Bodhisattva).  Bồ tát hóa độ trong Bát Nhã Tâm kinh nầy là Bodhisattva Avalokiteshvara, được dịch là Quan Tự Tại Bồ tát hay Quan Thế Âm Bồ tát.

 

b) Từ sự vật đến bản tâm

 

Thật ra tâm (hay tâm thức) vô minh hay giác ngộ là không những tùy theo nó tương quan với sự vật hiện hữu bên ngoài và mà còn tùy theo nó tương quan với bản tâm.

Tâm thức giác ngộ an định không phiền não là:

Tâm thức không bám chặc và ràng buộc (vô sở đắc = non-attached = vô sở trụ) vào sự vật tức là tự do, không chướng ngại (vô ngại = non hindrance) vào sự vật (theo Không tông).  

Tâm thức đồng thời cũng đồng nhất hay tuân theo bản tâm vô sở đắc (vô sở trụ) và vô ngại (tự do và dung hòa từ bi) của mình, có sẵn từ bẩm sinh trong mọi người (theo Tánh tông).  

 

Vô = không.

Vô sở đắc = không bám chặc và ràng buộc  vào sự vật = vô sở trụ = non-attached.

Vô ngại có 2 nghĩa

= không chướng ngại; tự do = non hindrance.

= dung hòa = in harmony.

Từ bi = compassion.

 

c) Bản tâm (của Tánh tông)

 

Theo Tánh tông, Thiền tông cho rằng tâm của ta gồm có tâm thức và bản tâm; và tâm thức giác ngộ là tâm thức tuân theo hay đồng nhất với bản tâm (hay Phật tánh), bản tâm đã và luôn giác ngộ tự bẩm sinh. 

 

*

Tâm thức là hoạt động của tâm đối với hiện tượng của sự vật bên ngoài. 

Theo Tánh tông, mọi sự vật bên ngoài tâm của ta chỉ là hiện tượng trình diễn (trình hiện và thiên diễn) trước tâm của ta qua giác quan mà thôi.

Pháp Bảo Đàn Kinh:  

Một ngày kia (Lục tổ Huệ Năng) ra chùa Pháp Tánh (ở Quảng Châu) gặp Pháp sư Ấn Tông.  Có hai vị tăng tranh luận về nghĩa “gió và phướn (một loại cờ)”; kẻ nói gió động người nói phướn động, tranh cãi không ngừng.  Huệ Năng chen vào nói: “Chẳng phải gió động, chẳng phải phướn động, mà Tâm các ông động”.  Cả chúng (mọi người) đều ngạc nhiên.

 

*

Bản tâm của ta cũng như của mọi người thì vô ngã có nghĩa lả:

không chấp ngã và không tự ngã tức là vô sở đắc

không phân biệt giữa "ngã" và "không phải là ngã" tức là vô ngại. 

vô ngại là tự do hay không chướng ngại đối với sự vật, nhất là chấp ngã và tự ngã.

vô ngại là dung hòa do đó từ bi đối với người khác, sinh vật khác kể cả thân ta.

Đó là bản tâm của ta, giác ngộ và bẩm sinh có sẵn trong ta.  Theo Đại Thừa, mỗi người đều có sẵn bản tâm giác ngộ từ bẩm sinh nên đều có thể thành Phật do đó bản tâm thường được gọi là Phật tánh và mỗi người đều có căn cơ thành Phật.

 

Ngã = ta, "cái ta" = self, ego.  Vô ngã = nonself = phi ngã = no ego or without ego.

Chấp ngã = cầm giữ hay bắt lấy cho mình = attachment to self.  Người chấp ngã là muốn sở hữu sự vật là của mình.

Tự ngã = từ mình hay bởi vì mình mà ra = idea of self.  Người tự ngã là muốn làm chủ, muốn điều khiển mọi sự vật theo tình ý của mình.

Ý thức "Nhị nguyên" (Duality) là phân biệt giữa "ngã" và "không phải là ngã" (theo thuật ngữ phát xuất từ Duy thức và được Tánh tông áp dụng).

 

Tâm thức giác ngộ an tịnh không phiền não là nó đồng nhất với hay tuân theo bản tâm vô sở đắc (hay vô sở trụ) và vô ngại (tự do và dung hòa từ bi) của mình, có sẵn từ bẩm sinh trong mọi người.  

Người có tâm thức giác ngộ chính là Phật.  Phật thực hiện Đại từ bi, hóa độ con người cũng giác ngộ thành Phật như mình thì có danh hiệu là Bồ tát.

 

Đạt Lai Lạt Ma thứ 14 viết trong giáo lý Đại Cứu Cánh (và Bản Thể Đại Thủ Ấn):

1.

Tất cả mọi Hiện tượng thanh tịnh hay ô nhiễm đều trình hiện bởi Tâm thức như là biểu hiện bằng tính chất tự nhiên thanh tịnh (của Bản Tâm) vì Bản Tâm là thanh tịnh bản nhiên từ khởi thủy..

Ngay cả khi vẫn là chúng sanh và dù đã tạo vô số ý Nghiệp tốt hoặc xấu như tham, sân , si; Bản Tâm chính nó vẫn siêu việt (= ở trên) mọi ô nhiễm từ các phiền não nầy.  Nước có thể rất bẩn nhưng thể tính của nó vẫn là trong sạch (= thanh tịnh) và bản tánh của nước không bị ô nhiễm bởi bùn dơ.

Tương tự, bất luận hiện tượng phát sinh như là trò thiên diễn (= biểu tượng) của Tâm nầy, và bất luận lực dụng của nó (= hiện tượng phát sinh) đến mức nào thì tự Bản Tâm (căn nguyên của mọi tướng trạng của các kỹ xảo như vậy) từ vô thủy vẫn không bị ảnh hưởng bởi ô nhiễm và vẫn không bị ảnh hưởng bởi cái thiện.

2.

Giác ngộ là khi ta "đồng nhất" được với Bản Tâm và nhận thức rõ ràng tất cả mọi Hiện tượng luân hồi sinh tử và Niết bàn (Vạn Pháp) đều lưu xuất từ Bản Tâm nầy.  Bản Tâm từ bi viên mãn và vi diệu vốn có sẵn (trong mỗi và mọi chúng sanh) nên Kinh có câu "Giác ngộ từ vô thủy".  

Từ không bị ảnh hưởng bởi Khái niệm quy ước, Tâm (Tâm Thức) đồng nhất với bản thể của mình (Bản Tâm) và khẳng định chính xác rằng ý nghĩa của nó (Bản Tâm) tương tục và thường hằng trong sự quân bình của Định Tuệ thì dù có sống trong thế tục chúng ta đã là Phật. 

 

Tâm thức phiền não không an tịnh vì vô minh (= không giác ngộ) là quên bản tâm của mình (bẩm sinh và giác ngộ) mà bám chặc (sở trụ hay sở đắc) vào sự vật bên ngoài vì chúng chỉ là trình diễn trước tâm thức của ta mà thôi. 

 

Đại Niết Bàn kinh của Đại Thừa viết về Phật tánh và bản tâm:

Phật Tánh luôn hiện diện trong mọi thời gian và trong tất cả chúng sanh.  Có nghĩa là chúng sanh không có phẩm tánh của Phật trong hiện tại nhưng sẽ có trong tương lai.

Như Lai Tạng không gì khác hơn là Chân Như hay Phật Tánh và là cái bản Tâm trong sạch và vô lậu (originally untainted pure Mind) nằm ở dưới và có ở trong cái Tâm tham ái và giận dữ (Mind of greed and anger) của chúng sanh.  Đó biểu thị (bespeaks) một Phật Thân (Buddha body) đang có trong trạng thái bị ràng buộc (bondage). 

 

Bản tâm và Phật tánh còn có nhiều danh hiệu khác: Chân như, Như Lai tạng, Phật thân, Pháp thân, Thực tánh...  (Như lai = Phật).

 

d) Vô ngã - Phật tánh

 

* (Vô Ngã)

 

Vô ngã của sự vật và vô ngã của bản tâm có 2 nghĩa khác nhau.

"Ngã" của sự vật có nghĩa là tự tánh (nature).  Vô ngã = without nature.  Không tông gọi là tánh không (sùnyatà) trong giáo lý Không (sùnya).

"Ngã" của bản tâm có nghĩa là ta, cái ta (self, ego).  Vô ngã = nonself, no ego.

 

Thiền tông theo kinh Lăng Già có phân biệt:

Pháp vô ngã là vô ngã (without nature) của sự vật.

Nhân vô ngã là vô ngã (nonself) của bản tân hay Phật tánh trong tâm của con người (nhân tâm).

 

Pháp (= Dharma) trong Phật Giáo cũng có 2 nghĩa:

= hiện tượng (phenomenon) thường hay dùng trong từ ngữ Vạn Pháp (= all phenomena).

= giáo lý (doctrine) thường hay dùng trong những từ ngữ "Phật, Pháp, Tăng" (tam bảo) hay Phật Pháp (Buddhist doctrine).

 

* (Phật tánh)

 

Phật tánh (= bản tâm) không phải là tánh không của sự vật và chỉ có ở con người mà thôi.

Đây là câu trả lời của Thiền sư Triệu Châu trong Triệu Châu công án:

Một vị Tăng hỏi Thiền sư Triệu Châu Tòng Thẩm (778-897): 

“Con chó có Phật Tánh không?”

Trả lời: “Không” (nguyên văn tiếng Hán là: Vô 無)

 

Từ ngữ "Vô" 無  theo Hán tự hay Hoa văn có 2 nghĩa:

Theo thuật ngữ Phật Giáo thì được các học giả cắt nghĩa "vô" là "không có tự tánh" (= tánh không) như giáo lý của Không Tông.  Tuy nhiên "tánh không" (sùnyatà) chỉ áp dụng cho sự vật chứ không thể áp dụng cho tâm của con chó.

Theo nghĩa đen, "vô" có nghĩa là "không có"; ta có thể hiểu rằng Triệu Châu trả lời thẳng là "con chó không có Phật tánh".

Thực tế, Thiền sư chỉ biết con người chớ làm sao biết con thú vật như con chó (một loại sinh mạng khác).  Con người có Phật tánh bẩm sinh tiềm tàng nên có căn cơ thành Phật chứ chưa thấy con chó hay con thú vật thành Phật, dù cũng là sanh mạng.  Do đó Triệu Châu trả lời theo nghĩa đen rằng theo kinh nghiệm con chó "không có Phật tánh".

 

e) Tâm thức giác ngộ (của Thiền tông)

 

Tóm lại, tâm thức vô minh hay giác ngộ là tùy theo nó tương quan với sự vật hiện hữu bên ngoài và tương quan với bản tâm (theo Thiền tông).

Tâm thức giác ngộ an tịnh (tranquil) không phiền não là:

Tâm thức không vô minh bằng cách không bám chặc và không ràng buộc (vô sở đắc = non-attached = vô sở trụ) vào sự vật tức là tự do, không chướng ngại (vô ngại = non hindrance) vào sự vật (theo Không tông).  

Tâm thức đồng thời cũng đồng nhất hay tuân theo bản tâm đã và luôn giác ngộ vô sở đắc (vô sở trụ) và vô ngại của mình, có sẳn từ bẩm sinh trong mọi người (theo Tánh tông).  

 

Yếu chỉ của Thiền Tông được thiền sư Triệu Châu tóm tắt trong bài kệ 4 câu, 2 câu cuối chính là nội dung giáo lý giác ngộ của Thiền Tông:

Giáo ngoại biệt truyền

Bất luận văn tự

Trực chỉ nhân tâm

Kiến tánh thành Phật

 

Pháp Bảo Đàn kinh của Thiền Tông viết:

Một ngày kia, Ngũ tổ (Hoằng Nhẫn) triệu tập môn đồ bảo rằng: “Sinh tử là việc lớn, các ngươi suốt ngày chỉ cầu phước điền, chẳng cầu lìa khỏi biển khổ sinh tử, tự tánh nếu mê, phước làm sao có thể cứu được?  Các ngươi mỗi người hãy tự xem trí tuệ (huệ), dùng bản tâm Bát Nhã của tự tánh, mỗi người làm một bài Kệ trình cho ta xem, nếu ngộ được đại ý, thì ta sẽ truyền y bát cho làm Lục tổ (Tổ thứ sáu), hãy mau lên chẳng được chậm trễ, hễ lọt vào suy lường thì chẳng dùng được.  Người kiến tánh vừa nghe phải liền thấy, nếu được như vậy thì khi ra trận giữa đao kiếm cũng phải thấy được”.

........

Huệ Năng là người làm, chuyên về giã gạo từ 8 tháng nay, xin người đọc cho mình bài Kệ (của Thần Tú) vì ông không biết đọc.  Sau đó ông đọc bài Kệ của mình và nhờ người viết kế bên (bài của Thần Tú). 

    

Bồ đề bản phi thụ                          (Bồ đề vốn không là cây)

Minh kính diệc phi đài                  (Gương sáng cũng không đài gương) 

Bản lai vô nhất vật                        (Xưa nay không một vật)

Hà xứ nhạ trần ai.                         (Làm sao nhuốm bụi trần).

(Huệ Năng)

 

Hôm sau Ngũ tổ (đã đọc bài Kệ của Huệ Năng) đến chỗ giã gạo, thấy Huệ Năng lưng đeo đá giã gạo, nói rằng: “Người cầu đạo cần phải như thế” và hỏi: “Gạo trắng chưa?”.  Huệ Năng đáp: “Trắng đã lâu, còn thiếu sàng thôi”.  Tổ lấy gậy gõ trên cối 3 cái rồi bỏ đi.

Huệ Năng hiểu ý nên canh ba vào thất (phòng của Tổ).  Ngũ tổ dùng cà sa che lại không cho người thấy, rồi thuyết kinh (Bát Nhã) Kim Cang.  Khi đến câu “Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm” thì Huệ Năng ngay đó đại ngộ (đốn ngộ), vạn pháp chẳng lìa tự tánh.  

Huệ Năng liền bạch: “Đâu ngờ tự tánh vốn tự thanh tịnh, vốn chẳng sanh diệt, vốn tự đầy đủ, vốn chẳng lay động và tự tánh hay sanh vạn pháp”.  Tổ biết Huệ Năng đã ngộ nên nói với Huệ Năng rằng: “Chẳng nhận được bản tâm (thì) học pháp vô ích, nếu nhận được bản tâm thấy được bản tánh tức gọi là Trượng Phu, là Thiên Nhơn Sư, là Phật”.  

Tổ truyền pháp đốn giáo và y bát và nói rằng: “Ngươi là Lục tổ khéo tự hộ niệm, độ khắp hữu tình, phổ biến lưu truyền cho đời sau đừng để đoạn dứt”.  

 

"Ưng vô sở trụ nhi sinh kỳ tâm" có nghĩa là "Nên không bám chắc ở một chỗ mà sinh ra kỳ tâm".  

 

f) Đoạn hoặc và từ bi

 

Tâm thức giác ngộ là tâm an tịnh (tranquil) không phiền não là nhờ:

không tự ngã và không chấp ngã từ vô sở đắc (hay vô sở trụ) và vô ngại tự do 

và không phân biệt giữa "ngã" và "không phải là ngã" từ vô ngại dung hòa. 

Điều nầy làm được vì tâm thức:

theo và đồng nhất với bản tâm đã giác ngộ của mình

và không "trụ" (dính chặc ràng buộc) vào mọi sự vật bên ngoài tâm của mình, kể cả thân của mình 

 

Như thế, tâm thức giác ngộ là:

Tâm thức không tự ngã và không chấp ngã cũng giống như tâm đoạn diệt mê hoặc (đoạn hoặc) của Phật Giáo Nguyên thủy gồm có đoạn diệt tình cảm: tham dục, sân và mạn.  Do đó tâm thức không tự ngã và không chấp ngã có thể gọi là tâm thức đoạn hoặc.

Tâm thức dung hòa, không phân biệt giữa "ngã" và "không phải là ngã", chính là tâm thức từ bi.

 

Như vậy, tâm thức giác ngộ để được an tịnh không phiền não là tâm thức đoạn hoặc và từ bi.

 

- Đoạn hoặc đối với tất cả mọi sự vật bên ngoài tâm của ta (all beings and all things) kể cả những sinh mạng hay sinh vật khác (all sentient beings), nhân mạng hay con người khác (human beings) và thân ta.

Đoạn hoặc là:

Đoạn diệt Tham Dục:

không có ích kỷ tham lam (self-centered greed) 

Đoạn diệt Sân:

không phẫn nộ giận dữ (anger) 

không thù ghét (hate)

không lăng nhục (insult) những người khác

Đoạn diệt Mạn: 

không khoe khoang tự phụ (boasting) 

không ghen ghét (jealousy) hay ganh tỵ (envy)

không nịnh bợ (flatterery) 

không sợ hãi vô lý (unreasonable fear) đối với những người khác 

 

- Từ bi đối với sinh vật khác, người khác (và kể cả thân ta).

Từ bi là:

không hại người và sinh vật khác (= Từ), tức là nhẫn nhịn (forebearance) và không có xung đột (no conflict). 

thương người khác và sinh vật khác (= Bi) bằng thể hiện lòng tử tế (loving kindness) và lòng thương xót (pity).

 

In Essentials of Buddhism, professor Kogen Mizuno writes:

In the state of nonself, there can be no self-centered greed, unreasonable fear of others, hate, flattery, boasting, insult, anger, jealousy, or envy.  A person who has realized the nature of nonself can not bring harm to others, since actions is taken only after correctly considering both its immediate and its wider-ranging effects.  This is expressed as loving kindness and pity for all beings.  There is no conflict between self and others.  As the result, the state of nonself as been defined as the state of mind of an enlightened person.

 

Người có tâm thức giác ngộ chính là Phật.  Phật thực hiện Đại từ bi, hóa độ con người cũng giác ngộ thành Phật như mình thì có danh hiệu là Bồ tát.  Như vật ý nghĩa của "đại từ bi" (great compassion) của Bồ tát khác với ý nghĩa của "từ bi" (compassion) của tâm thức giác ngộ.

 

Thiền tông có đoạn hoặc (tham dục, sân, mạn) giống như Phật Giáo Nguyên thủy nhưng dùng từ bi để thay thế trì giới của Phật Giáo Nguyên thủy.  

 

g) Tình cảm và lý trí

 

*

Tâm thức gồm có lý trí và tình cảm.  Tâm thức giác ngộ chỉ giới hạn trong một số tình cảm (đoạn hoặc: tham dục, sân, mạn) nhưng không có nghĩa là hoàn toàn vô tình hay diệt tất cả tình cảm.

Một Công Án trong Thiền Luận (quyển Trung, trang 118) viết:

Một giảng sư kinh Hoa Nghiêm đến tìm Huệ Hải và hỏi: “Bẩm, Thầy tin rằng hết thảy các loài Vô Tình đều là Phật?”

Đáp: “Không, tôi không tin vậy.  Nếu các loài vô tình đều là Phật, các loài đang sống khác nào đã chết.  Khỉ chết, chó chết còn hơn loài người đang sống.  Chúng ta đọc Kinh thấy nói Phật thân không khác Pháp thân (Dharmakàya) vốn do Giới (Sila), Định (Dhyàna) và Tuệ (Prajna) mà sinh; do các phước đức mà sinh.  Nếu các loài vô tình đều là Phật, thưa Đại Đức, ngay lúc nầy tốt hơn hãy chết đi mà thành Phật”.

 

*

Tâm thức là hoạt động của tâm (tâm thức)

từ hiện tượng của sự vật gồm có cảm giác, tri giác và nhận thức;

và về hiện tượng của sự vật là tư tưởng (thought) gồm có lý trí và tình cảm.  

Tâm thức giác ngộ luôn hoạt động.  Tâm "tịnh" (pure) là trong sạch, không vướng mê hoặc vào sự vật không có nghĩa là "tịnh" (not moving) là không hoạt động.

Pháp Bảo Đàn kinh viết (trang 88-89):

 

Có vị Tăng đem bài Kệ của Ngọa Luân Thiền sư lập lại với Sư (Huệ Năng):

Ngọa Luân hữu kỹ lưỡng             Ngọa Luân có kỹ lưỡng

Năng đoạn bá tư tưởng                Dứt được trăm tư tưởng

Đối cảnh Tâm bất khởi                Đối cảnh Tâm chẳng khởi

Bồ Đề nhựt nhựt trưởng              Bồ Đề ngày ngày (tăng) trưởng (*)

(Ngọa Luân)                                 (Dịch)

(*) Bồ Đề=giác ngộ

 

Sư (Huệ Năng) nghe xong nói: “Bài Kệ nầy chưa rõ Tâm địa, nếu theo đó mà tu hành thì lại thêm trói buộc”.  Do đó Sư khai thị một bài Kệ:

Huệ Năng một kỹ lưỡng                 Huệ Năng không kỹ lưỡng

Bất đoạn bá tư tưởng                     Chẳng dứt trăm tư tưởng

Đối cảnh Tâm sổ khởi                    Đối cảnh Tâm cứ khởi

Bồ Đề tác ma trưởng.                     Bồ Đề làm sao (tăng) trưởng.

(Huệ Năng)                                     (Dịch)

* Tâm thức an tịnh và đời sống

 

Cứu cánh của Thiền tông là tâm thức an tịnh (tranquil), không phiền não (= tình cảm không buồn khổ).  Nó là kết quả của tâm thức giác ngộ tuân theo hay đồng nhất với bản tâm (hay Phật tánh) giác ngộ và không vô minh mà sở trụ (attached) vào sự vật bên ngoài.

Thiền Luận của Suzuki viết:

Khi Nhị tổ Huệ Khả đến tìm học với Nhất tổ Bồ Đề Đạt Ma. 

Huệ Khả nói: "Tâm của tôi chưa được an".

Bồ Đề Đạt Ma nói: "Đem Tâm ra đây ta an cho".

Sau một lúc lưỡng lự, cuối cùng Huệ Khả thú nhận: "Tôi đã tìm nó trong nhiều năm rồi mà chưa bắt được nó (mịch tâm liễu bất khả đắc)".

Bồ Đề Đạt Ma xác nhận: "Này, Tâm của ngươi đã được an rồi đó".

 

Muốn được tình cảm không buồn khổ thì lý trí của ta phải sáng suốt đến giác ngộ mà đoạn diệt một số tình cảm (tham dục, sân, mạn) đối với sự vật và sinh vật (kể cả thân mình), cũng như thực hành tình cảm từ bi đối với sinh vật (kể cả thân mình) trong lý trí; và từ đó tâm thức (lý trí và tình cảm) hướng dẫn sinh hoạt hằng ngày của mình gồm cả hành động và ngôn ngữ.  

Tâm thức ta gồm có lý trí và tình cảm luôn hoạt động liên quan tới sự vật và sinh vật (kể cả thân mình) nhưng hoạt động trong sự sáng suốt hoàn hảo của lý trí giác ngộ (theo giáo lý Phật Giáo).  Lý trí và tình cảm khác của ta tự do hoạt động trong những phạm vi và phương diện khác ngoài giáo lý Phật Giáo.

Thiền sư Yến Khê Quảng Văn (1189-1263):

Đảm tử toàn kiên hà phụ         

Mục tiền qui lộ vô sa                      

Tâm tri ưng vô sở trụ                           

Tri sài lạc tại thùy gia                      

(Dịch)

Đôi vai chất đầy gánh nặng

Đường về trước mắt không hay

Dù biết “ưng vô sở trụ”

Biết rằng củi bán nhà ai

 

2) Thiền Tông và Kim Cang Thừa

 

Nội dung giáo lý giác ngộ của Phật Giáo Tây Tạng Kim Cang Thừa trong giáo lý Đại Cứu cánh không khác nội dung giáo lý giác ngộ của Thiền tông

Đây là lời giảng của Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ 14 về giáo lý Đại Cứu cánh:

 

- Đạt Lai Lạt Ma thứ 14 tóm tắt giáo pháp Đại Cứu cánh (và Bản Thể Đại Thủ Ấn):

nhìn (= Kiến) các hiện tượng sinh tử luân hồi và niết bàn như trò thiên diễn và tự phóng chiếu của Tâm (Tâm Thức)

và nhìn trong sự duy trì tỉnh giác của Bản Thể Tâm (Bản Tâm).

 

- Đạt Lai Lạt Ma thứ 14 viết chi tiết thực tế về Đại Cứu Cánh (và Bản Thể Đại Thủ Ấn):

1.

Tất cả mọi Hiện tượng thanh tịnh hay ô nhiễm đều trình hiện bởi Tâm Thức như là biểu hiện bằng tính chất tự nhiên thanh tịnh (của Bản Tâm) vì Bản Tâm là thanh tịnh bản nhiên từ khởi thủy..

Ngay cả khi vẫn là chúng sanh và dù đã tạo vô số ý nghiệp tốt hoặc xấu như tham, sân , si; Bản Tâm chính nó vẫn siêu việt (= ở trên) mọi ô nhiễm từ các phiền não nầy.  Nước có thể rất bẩn nhưng thể tính của nó vẫn là trong sạch (= thanh tịnh) và bản tánh của nước không bị ô nhiễm bởi bùn dơ.

Tương tự, bất luận hiện tượng phát sinh như là trò thiên diễn (= biểu tượng) của Tâm nầy, và bất luận lực dụng của nó (= hiện tượng phát sinh) đến mức nào thì tự Bản Tâm (căn nguyên của mọi tướng trạng của các kỹ xảo như vậy) từ vô thủy vẫn không bị ảnh hưởng bởi ô nhiễm và vẫn không bị ảnh hưởng bởi cái thiện.

2.

Giác ngộ là khi ta "đồng nhất" được với Bản Tâm và nhận thức rõ ràng tất cả mọi Hiện tượng luân hồi sinh tử và Niết bàn (Vạn Pháp) đều lưu xuất từ Bản Tâm nầy.  Bản Tâm từ bi viên mãn và vi diệu vốn có sẵn (trong mỗi và mọi chúng sanh) nên Kinh có câu "Giác ngộ từ vô thủy".  

Từ không bị ảnh hưởng bởi khái niệm quy ước, Tâm (Tâm Thức) đồng nhất với bản thể của mình (= Bản Tâm) và khẳng định chính xác rằng ý nghĩa của nó (= Bản Tâm) tương tục và thường hằng trong sự quân bình của Định Tuệ thì dù có sống trong thế tục chúng ta đã là Phật. 

 

3) Thiền Tông và Phật Giáo Nguyên Thủy

 

a) Tứ Diệu Đế

 

* (Từ Khổ đế đến Đạo đế)

 

- Cứu cánh của Phật Thích Ca và Phật Giáo Nguyên thủy là giác ngộ, diệt hết khổ cho sinh mạng, trong kiếp sống nầy mà sinh mạng đạt niết bàn và thoát khỏi phải khổ thêm nữa vì không phải tiếp tục tái sinh nhiều kiếp khác mãi mãi trong luân hồi.  

Giác ngộ của Phật Giáo Nguyên Thủy là Bát Chánh đạo, là (đạt) Niết bàn.

Danh hiệu của bậc giác ngộ đạt niết bàn là La hán.  Danh hiệu Phật chỉ dùng giới hạn cho Phật Thích Ca, vị Phật có thật trong lịch sử và vài chục vị Phật theo truyền thuyết.

 

- Cứu cánh của Thiền tông (đại diện cho Phật Giáo Đại Thừa) là con người (a human being) được có tâm giác ngộ an tịnh (tranquil) mà không phiền não trong kiếp sống nầy mà thôi, đó là niết bàn diệu tâm. 

Giáo lý của Thiền Tông chỉ áp dụng cho con người (nhân mạng) trong kiếp sống nầy và không có tham vọng áp dụng cho tất cả 5 loại sinh mạng khác (nhất là thú vật) trong nhiều kiếp của lục đạo luân hồi.

Giác ngộ của Phật Giáo Đại Thừa là Lục độ là diệu tâm Niết bàn nhưng được Thiền tông đơn giản là Hành Kiến.

Danh hiệu của người giác ngộ là Phật.  Nếu Phật ra công hóa độ những người khác cũng giác ngộ như mình thì gọi là Bồ tát.

 

*

Phái đầu tiên của Đại Thừa là Trung Quán phái (Không tông của Trung Quốc), theo Bát Nhã Tâm kinh, đã phủ nhận giá trị tuyệt đối của Tứ Diệu Đế của Phật Giáo Nguyên Thủy, xem Tứ Diệu Đế (Khổ, Tập, Diệt, Đạo) như là sự vật không có tự tánh và tương đối.

Bát Nhã Tâm kinh viết:

Trong Không (Sùnya),

không có Minh, không có Vô Minh; không có Minh diệt, không có Vô Minh diệt; 

cho tới không có Tuổi Già (Lão) và Sự Chết (Tử), không có sự tận diệt của Tuổi Già và Sự Chết;

không có Khổ, Tập, Diệt, Đạo;

 

Thiền sư theo kinh Bát Nhã coi thân mình trong "sinh lão bệnh tử" của một kiếp như là sự tương đối và tâm thức của mình không dính chặc ràng buộc vào chúng (không tham sống và không sợ chết như trong đoạn hoặc).  Do đó thiền sư cũng không nhìn xa vào tái sinh trong luân hồi lục đạo.  

Thái độ của thiền sư Trúc Lâm đại sĩ (Trần Nhân tông) được viết trong Đại Việt Sử ký toàn thư cho thấy điều nầy:

Năm 1308, chị của Thượng Hoàng Nhân Tông (1258-1308) là công chúa Thiên Thụy (dâu của Hưng Đạo Vương) ốm nặng, Thượng Hoàng xuống núi Yên Tử tới thăm và bảo: “Nếu chị đã đến ngày đến giờ thì cứ đi, thấy âm phủ có hỏi thì trả lời rằng: Xin đợi một chút, em tôi là Trúc Lâm đại sĩ sẽ tới ngay”.  Nói xong Thượng Hoàng Nhân Tông trở về núi, dặn dò người hầu là Pháp Loa các việc về sau, rồi bỗng nhiên ngồi mà hóa (thọ 51 tuổi).  Thiên Thụy cũng mất cùng hôm đó.  

 

b) Bản Tâm - Nhân Duyên Nghiệp Quả

 

* (Tập đế và Diệt đế)

 

- Giáo lý giác ngộ của Phật Giáo Nguyên thủy căn cứ trên "nhân duyên nghiệp quả" của một sinh mạng đối với sự vật và sinh mạng khác trong nhiều kiếp luân hồi mà đưa ra đoạn hoặc (đoạn diệt mê hoặc) đối với tất cả mọi sự vật hiện hữu (hiện tượng) và trì giới đối với mọi người khác và sinh mạng khác.  Thực tế của giáo lý là đoạn hoặc và trì giới.

- Giáo lý giác ngộ của Thiền tông (dung hòa và tổng hợp Không tông và Tánh tông của Phật Giáo Đại thừa) căn cứ trên hiện tượng và sự tương đối của sự vật và bản tâm giác ngộ của tâm con người mà đưa ra tâm thức đoạn hoặc đối với tất cả mọi sự vật (kể cả sinh mạng và thân mình) và tâm từ bi đối với mọi sinh mạng khác (kề cả người khác và thân mình).  Thực tế của giáo lý là đoạn hoặc và từ bi. 

 

*

Từ "nhân duyên nghiệp quả" giữa các sự vật cũng như giữa các sinh mạng, 

Phật Thích Ca của Phật Giáo Nguyên thủy đưa ra lý thuyết Thập nhị (12) nhân duyên và nhấn mạnh tới nghiệp của con người hay sinh mạng.  Chính nghiệp làm cho con người hay sinh mạng phải khổ và phải tái sinh, và do đó vướng vào luân hồi để phải chịu khổ trong những kiếp trong luân hồi.   Muốn diệt nghiệp trong 12 nhân duyên, ta phải đoạn hoặc. 

Phật Thích Ca theo truyền thống cũ cho rằng ác nghiệp của một sinh mạng quyết định cho sinh mạng đó phải tái sinh theo những đạo xấu trong lục đạo như thành thú vật hay quỉ thay vì thành người hay thiên (deva).  Để tránh 10 ác nghiệp, ta phải giữ 10 giới. 

Đối với sự vật,

Phật Giáo Nguyên thủy dính chặc vào sự vật bằng "nhân duyên nghiệp quả" và không biết tới bản tâm giác ngộ có sẵn trong con người.

Thiền tông không dính chặc vào sự vật tương đối và đồng nhất với bản tâm (hay Phật tánh) giác ngộ có sẵn trong con người.

Thiền tông dựa trên bản tâm (hay Phật tánh)

để phủ nhận "nhân duyên nghiệp quả",

đưa ra từ bi (từ bản tâm) để thay thế trì giới (từ nghiệp). 

 

Phái thứ nhì của Đại thừa Ấn Độ là Duy Thức đã coi "nhân duyên nghiệp quả" chỉ là hiện tượng từ tâm thức của ta và Tánh tông còn cho rằng bản tâm (hay Phật tánh) luôn trong sạch không vướng vào hiện tượng bên ngoài tức là không vướng vào "nhân duyên nghiệp quả".

Đạt Lai Lạt Ma thứ 14 viết:

Tất cả mọi Hiện tượng thanh tịnh hay ô nhiễm đều trình hiện bởi Tâm Thức như là biểu hiện bằng tính chất tự nhiên thanh tịnh (của Bản Tâm) vì Bản Tâm là thanh tịnh bản nhiên từ khởi thủy..

Ngay cả khi vẫn là chúng sanh và dù đã tạo vô số ý nghiệp tốt hoặc xấu như tham, sân , si; Bản Tâm chính nó vẫn siêu việt (= ở trên) mọi ô nhiễm từ các phiền não nầy.  Nước có thể rất bẩn nhưng thể tính của nó vẫn là trong sạch (= thanh tịnh) và bản tánh của nước không bị ô nhiễm bởi bùn dơ.

Tương tự, bất luận hiện tượng phát sinh như là trò thiên diễn (= biểu tượng) của Tâm nầy, và bất luận lực dụng của nó (= hiện tượng phát sinh) đến mức nào thì tự Bản Tâm (căn nguyên của mọi tướng trạng của các kỹ xảo như vậy) từ vô thủy vẫn không bị ảnh hưởng bởi ô nhiễm và vẫn không bị ảnh hưởng bởi cái thiện.

 

*

Nội dung của đoạn hoặc về tình cảm của Phật Giáo Nguyên thủy và Đại thừa giống nhau (gồm có tham dục, sân, mạn) nhưng Đại thừa không hề đặt căn bản giáo lý đoạn hoặc của mình trên "nhân duyên nghiệp quả" như Phật Giáo Nguyên thủy.

 

c) Từ bi - Trì giớ

 

* (Trì giới của Phật Giáo Nguyên Thủy)

 

Theo Phật Giáo Nguyên Thủy, trì giới là giữ những luật lệ không phạm khi đối xử với người khác và sinh vật khác.  Nếu phạm giới thì là tạo ra ác nghiệp (có 10 giới chánh tương quan với 10 ác nghiệp).  Nếu phạm 1 trong 10 ác nghiệp thì sẽ bị tái sinh thành những loại sinh mạng như thú vật, quỉ địa ngục và quỉ đói (ngạ quỉ) và không tái sinh thành người hay thiên (deva).  Chỉ có con người hay thiên (deva) mới có thể giác ngộ mà thoát khổ được.

 

10 giới cấm để không tạo 10 ác nghiệp:

1. Không nói dối (Not to lie)

2. Không dùng vọng ngữ tức là ngôn ngữ xấu (Not to use bad language): không nói với lưỡi 2 chiều.

3. Không nói xấu người khác (Not to slander others): không ác khẩu.

4. Không nói thêu dệt một cách phóng dật (Not to speak frivolously)

5. Không sát sinh (Not to kill)

6. Không trộm cướp (Not to steal)

7. Không tà dâm (Not to commit adultery)

8. Không tham muốn (Not to covet)

9. Không giận dữ (Not to give way to anger)

10. Không giữ tà ý (Not to hold false volition).  Tà Ý là ý định vi phạm ngũ (5) trọng giới (giới 1-5)..

 

Giáo lý của Thiền tông không có trì giới nhất là cho các cư sĩ tại gia.

Thiền tông có đưa ra giải pháp dễ dàng là sám hối để cho những ai còn vương vấn với ác nghiệp.

Pháp Bảo Đàn Kinh viết: 

Tổ Huệ Năng nói: "Thế nào là Sám? Thế nào là Hối?  Sám là sám trừ tội trước, từ trước tất cả các tội Ác nghiệp ngu mê, kiêu căng, dối trá, ganh tỵ thảy đều sám hết, chẳng bao giờ khởi nữa gọi là Sám.  Hối là hối cải lỗi sau, tất cả Ác nghiệp ngu mê, kiêu căng, dối trá, ganh tỵ ... nay đã Giác ngộ đều cho đoạn dứt, chẳng bao giờ tạo nữa gọi là Hối".

 

* (Từ bi của Thiền tông)

 

Cũng thể hiện bằng Chánh ngữ, Chánh nghiệp và Chánh mệnh, từ bi của Đại thừa Thiền tông thay thế trì giới của Phật Giáo Nguyên thủy nhưng còn có thêm Nhẫn ba la mật đa và Bố thí ba la mật đa trong đời sống đối với người và sinh vật khác.  

 

Tâm từ bi của Đại Thừa Thiền tông:

không hại người và vật khác (= Từ), tức là nhẫn nhịn (forebearance) và không xung đột (no conflict), 

thương người và vật khác (= Bi) bằng thể hiện lòng tử tế (loving kindness) và lòng thương xót (pity).

 

Công án đàm thoại giữa Tổ Bồ Đề Đạt Ma và Lương Vũ Đế viết về bản tâm từ bi và công đức của Phật tử (Thiền Luận quyển Hạ, trang 547):

 

Lương Vũ Đế hỏi Đạt Ma (Tổ Bồ Đề Đạt Ma):

“Từ khi Trẫm lên ngôi đến nay, đã xây dựng biết bao nhiêu chùa chiền, sao chép biết bao kinh điển và độ vô số tăng ni.  Ngài nghĩ công đức của Trẫm như thế nào?”.

Đạt Ma đáp (cộc lốc):

“Tâu Bệ hạ, chẳng công đức gì hết”

Vũ Đế ngạc nhiên hỏi: 

“Tại sao thế?”

Đạt Ma mới nói như vầy:

“Đó chỉ là những việc làm hạ đẳng, chỉ khiến cho người ta thác sinh vào các cõi trời, rồi cũng sẽ trở lại trần gian nầy nữa.  Chúng vẫn còn mang những dấu vết của thế tục, như bóng theo hình.  Dù chúng có vẻ thực, thì cũng chỉ là những pháp phi hữu.  Đối với công đức chân thật (thì) đầy đủ trí tuệ thanh tịnh (= trong sạch), viên mãn vi diệu, và bản tính chân thật của nó vượt ngoài sở tri (= cái hiểu biết) của người.  Do vậy đừng tìm cầu nó trong các công trình thế gian”.

 

Trì giới của Phật Giáo Nguyên Thủy gồm Giới Ba La Mật Đa

Từ bi của Phật Giáo Đại Thừa gồm Nhẫn Ba La Mật Đa, Bố thí Ba La Mật Đa và Giới Ba La Mật Đa.

 

4) Thiền tông từ Phật Giáo Nguyên thủy

 

Phật Giáo Nguyên thủy từ Phật Thích Ca đã có Tứ Pháp ấn (4 seals of the law).

Kinh A Hàm (phẩm 18 của Tăng Nhất A Hàm) của Phật Giáo Nguyên thủy đã viết về Tứ Pháp ấn:

Cái gì là hiện Tượng là vô thường

Cái gì là hiện tượng là Khổ

Cái gì là hiện tượng là vô ngã

Niết bàn là an tịnh vĩnh cửu.

 

Lợi dụng trực tiếp từ bài kệ của Phật Giáo Nguyên thủy bắt đầu từ vô ngã, Phật Giáo Đại thừa từ Không tông qua Tánh tông cho đến Thiền tông đã xây dựng nội dung giáo lý của mình trên đó: Vì sự vật (là hiện tượng) vô thường nên phải khổ, do đó nếu ta cứ căn cứ trên sự vật vô ngã (without nature) thì ta sẽ được niết bàn an tịnh trong tâm của ta.  

Phật Giáo Đại thừa Không tông suy từ sự vật là hiện tượng và vì nó vô ngã (cho nên vô thường) nên là tương đối và cứu cánh niết bàn chỉ là tâm an tịnh (tranquil) mà thôi.

Hơn nữa, Đại thừa Tánh tông còn nghiên cứu Tâm của con người và tìm ra bản tâm, hay Phật tánh, vô ngã (nonself) có sẵn từ bẩm sinh giúp con người thành Phật

 

Phật Thích Ca chỉ bắt đầu từ vô thường (impermanant) của hiện tượng sự vật mà suy ra "nhân duyên nghiệp quả" rồi chú trọng tới nghiệp trong luân hồi lục đạo mà đặt ra giáo lý đạt niết bàn của mình.  Theo thiển ý, giáo lý nầy phức tạp và khó áp dụng trong thực tế.  Nếu không có thượng đế thì ai quyết định cái nghiệp của chúng sinh?

 

Phật Thích Ca cũng cho rằng sự vật là hiện tượng nhưng từ chối không bàn đến cái "ngã" (nature) của sự vật. 

Trong thời của Phật Thích Ca, các trường phái triết học khác ở Ấn Độ chấp nhận một hình thức có thể chất không thay đổi gọi là "Àtman" (nature, self = ngã) còn được gọi theo từ ngữ của vũ trụ và tôn giáo là "Brahman".  Phật Thích Ca cũng như Phật Giáo Nguyên Thủy không để ý tới Àtman hay Brahman vì chúng không có liên quan tới thế giới hiện tượng do đó không giúp cho việc tu hành để thoát khỏi Khổ và luân hồi sinh tử.  

Theo tiểu tụng về Màlunkyaputta (Lesser course to Màlunkyaputta = Cùla-Màlunkya sutta) trong Trung Bộ (Majjhima-nikàya) của Kinh Tạng:

Màlunkyaputta, một triết gia trẻ tuổi, đã thông thạo giáo lý Bà La Môn (Brahmanic doctrine) trước khi thành đệ tử của Phật Thích Ca.  Ông bị ám ảnh bởi vấn đề về Bản thể học nên Ông xin Phật Thích Ca trả lời 4 câu hỏi của ông một cách thỏa đáng trước khi ông theo con đường tu hành của Phật Giáo.  Bốn câu hỏi là: Thế giới (nầy) là vĩnh cửu hay không?  Thế giới là có giới hạn hay không?  Thể xác và Tâm thần là một hay khác biệt? Như Lai, bậc vượt trên khỏi sinh tử, còn hiện hữu sau khi chết hay không?

Phật Thích Ca dùng câu chuyện của mũi tên có tẩm thuốc độc để trả lời: Nếu một người bị trúng tên có tẩm thuốc độc, người đó có đòi hỏi được biết tên của người cung thủ, thuộc giai cấp hay dòng họ nào, cung và tên thuộc loại nào trước khi chấp nhận và đồng ý được chữa vết thương của mình?  Người đó sẽ chết trước khi mũi tên được rút ra và thuốc độc được diệt trừ.  Cũng giống như thế cho trường hợp của một người từ chối tu hành thoát khỏi phiền não (defilements) và đạt giải thoát trước khi những câu hỏi về bản thể học nầy (ontological questions) được trả lời minh bạch sẽ chết, và người đó sẽ lại tiếp tục khổ trong luân hồi, bởi vì những câu hỏi như vậy tiếp tục không được trả lời.   

Màlunkyaputta nhận thức sự sai lầm của mình và bắt đầu tu hành theo Phật Thích Ca.

 

Hơn nữa thuyết 12 nhân duyên của Phật Thích Ca về "nhân duyên nghiệp quả" cho rằng con người hay sinh mạng sinh ra đã là vô minh, không biết đến bản tâm giác ngộ (như Đại thừa Tánh tông và Thiền tông)

 

b) Bản tâm từ bi

 

Kinh tạng của Phật Giáo Nguyên thủy thật ra có vô tình nói tới bản tâm và từ bi nhưng Phật Giáo Nguyên thủy đã không đem vào giáo lý trong tập đế và diệt đế.

 

* (Bản tâm)

 

Phật Giáo Nguyên thủy đã nói tới bản tâm trong Kinh Tạng và gọi nó là minh tâm hay Phật tánh.

 

- Tăng Nhất Bộ Kinh (Anguttara Nikaya) của Kinh Tạng viết: 

Minh tâm bẩm sinh (innately luminous mind=prabhasvara citta) bị che dấu bởi phiền não mê hoặc (defilements = agantukaklesa).  

 

Đại Chúng bộ (Mahasàngika) gọi là tâm thức bản thể (substratum consciousness = Mulavijana) là căn bản của tâm thức (nature of consciousness).

 

- Niết Bàn Kinh (Nirvana Sutra) của Kinh Tạng viết: 

Chúng sanh có sở hữu một bản tánh thánh thiện (sacred nature) làm căn bản để chúng sanh thành Phật.  Đó là Phật tánh, thực tánh (true nature) phổ quát (universal) và ô uế (sullied) bởi trạng thái tâm lý hay nghiệp mà cá thể có thể vướng vào.

 

* (Từ bi)

 

Đoạn diệt 3 tư hoặc thuộc về tình cảm là tham dục, sân và mạn giúp cho tu sĩ phát hiện ra tâm từ bi.  Kinh Tạng của Phật Giáo Nguyên thủy có nói đến điều đó qua lời của tôn giả Xá Lợi Phất (Sàriputta), một trong 10 đại đệ tử của Phật Thích Ca:

Một hôm sa di Ràhula đi khất thực với tôn giả Sàriputta ở Rajagaha (Vương Xá).  Một tên côn đồ (hooligan) liệng cát vào bình bát của Sàriputta và đánh đập Ràhula.  Sàriputta bảo Ràhula rằng: "Dù gặp bất cứ cách đối xử nào, chúng ta là tỳ kheo đừng bao giở giận (sân), phải có lòng từ bi đối với chúng sanh.  Người tu hành tìm giác ngộ không tự kiêu, không tham dục và phải có sức mạnh chống lại cái tâm nóng giận (sân)".  Ràhula vâng lời, chỉ cười rồi bỏ đi cùng với Sàriputta.

 

Tuy nhiên, Phật Giáo Nguyên thủy đã không đem bản tâm (hay Phật tánh từ bi vào giáo lý trong tập đế và diệt đế.

III. HÌNH THỨC CỦA GIÁC NGỘ
a) Lục Độ và Bát Chánh Đạo
*
Trên hình thức, giác ngộ của Phật Giáo Đại thừa là Lục độ (6 Ba La Mật Đa) và giác ngộ của
Phật Giáo Nguyên Thủy là Bát Chánh đạo.
Bát Chánh đạo là 8 con đường đi đúng, đúng theo giáo lý của Phật Giáo.
Lục độ là 6 sự toàn hảo, toàn hảo giáo lý của Phật Giáo = 6 pàramità (6 Ba La Mật Đa).
So sánh Lục độ (PG Đại Thừa) và Bát Chánh đạo (PG Nguyên Thủy) của bậc giác ngộ:
(Lục Độ) (Bát Chánh Đạo)
- Kiến =
Tuệ Ba La Mật Đa ................. Chánh Kiến, Chánh Niệm, Chánh Tư Duy
Định Ba La Mật Đa ................ Chánh Định
Tinh Tiến Ba La Mật Đa ........ Chánh Tinh Tiến
- Hành =
Nhẫn Ba La Mật Đa
Bố Thí Ba La Mật Đa
Giới Ba La Mật Đa .................. Chánh Ngữ, Chánh Nghiệp, Chánh Mệnh

*
Chú thích về Ba La Mật Đa và Bát Nhã Ba La Mật Đa (= Tuệ Ba La Mật Đa)
- Pàramità:
(dịch âm) = Ba La Mật Đa
(dịch nghĩa) = Perfection = sự toàn hảo = Độ (như Lục Độ)
(dịch nghĩa đen) = Đáo Bỉ Ngạn (quan bờ bên kia) = Độ Vô Cực (?)

= (Sự Cứu Cánh)

- Prajnà:
(dịch âm) = Bát Nhã
(dịch nghĩa) = Tuệ (Huệ) hay Trí Tuệ (Wisdom).
Sư Huyền Trang dịch Prajnà là Tuệ hay Huệ (=Wisdom), phân biệt với Jnàna là Trí
(=Knowledge) vì có Tuệ Ba La Mật Đa và Trí Ba La Mật Đa trong Thập Độ của kinh Hoa
Nghiêm. Tác giả bài viết nầy giữ theo đúng với dịch nghĩa "Tuệ" của Sư Huyền Trang.
Các sách hiện đại nhất là trong nước bắt đầu dùng "Huệ" thay thế cho "Tuệ" để dịch Phạn ngữ
"Prajnà" hay Anh ngữ "Wisdom". Tác giả bài viết nầy vẫn dùng từ ngữ "Tuệ".
- Prajnàpàramità:
(dịch âm) = Bát Nhã Ba La Mật Đa.
(dịch nghĩa) = Perfection of Wisdom or Transcendental Wisdom = Trí tuệ toàn hảo hay
siêu việt = Trí Tuệ Độ (theo Trần Trọng Kim)
(thông dụng, thường dịch là) = Tuệ Ba La Mật Đa = Bát Nhã Ba La Mật Đa = Tuệ toàn
hảo
(thường dịch không đúng là) = Trí Tuệ Bát Nhã = Trí Huệ Bát Nhã = Bát Nhã.
(dịch dễ hiểu nhất là) = Tâm sáng suốt toàn hảo hay thực tế hơn là toàn hảo trong sự nhìn
thấy hiểu biết rõ, đức tin và tư tưởng theo giáo lý Phật Giáo (= Chánh Kiến, Chánh Niệm và
Chánh Tư Duy của PG Nguyên thủy).
Tuệ Ba La Mật Đa (Bát Nhã Ba La Mật Đa) là căn bản và chủ yếu của cả Lục Độ (6 Ba La Mật
Đa). Bậc giác ngộ của Đại Thừa còn gọi là bậc Đại Tuệ (Great Wisdom).
b) Hành Kiến
Thiền tông đơn giản Lục độ và Bát Chánh đạo thành ra Hành Kiến. Hành Kiến là 2 cột trụ
(pillars) của Thiền Tông.
Tâm thức giác ngộ gồm có giải ngộ và chứng ngộ. Từ chưa giác ngộ (vô minh) vừa đạt tới giác
ngộ thì gọi là giải ngộ. Sau đó giữ giải ngộ gọi là chứng ngộ. Khi sáng suốt đạt tới giải ngộ thì
như một ánh sáng đột nhiên xuất hiện nên Thiền tông thường gọi là đốn ngộ. Chứng ngộ thì phải
giữ suốt đời mình nên thường được gọi là tiệm tu.
Giải ngộ gồm có Hành và Kiến.
- Kiến là:
hoàn toàn nhìn thấy rõ tức là hiểu biết rõ giáo lý (= Chánh Kiến hay Tuệ Ba La Mật Đa)
hoàn toàn chỉ tin vào sự hiểu biết rõ của mình (= Chánh Niệm hay Tuệ Ba La Mật Đa)

hoàn toàn có tư tưởng giống như sự hiểu biết rõ của mình (= Chánh Tư Duy hay Tuệ Ba
La Mật Đa)
hoàn toàn giữ cố định sự hiểu biết rõ và tư tưởng của mình (= Chánh Định hay Định Ba
La Mật Đa)
hoàn toàn không giao động hay từ bỏ sự hiểu biết rõ và tư tưởng của mình (= Chánh Tinh
Tiến hay Tinh Tiến Ba La Mật Đa)
- Hành là:
hoàn toàn sống theo sự hiểu biết và tư tưởng của mình trong đời sống gồm có:
ngôn ngữ (= Chánh Ngữ hay Giới Ba La Mật Đa)
hành vi (= Chánh Nghiệp hay Giới Ba La Mật Đa)
sinh hoạt (= Chánh Mệnh hay Giới Ba La Mật Đa; Nhẫn Ba La Mật Đa và Bố thí

Ba La Mật Đa)
Thiền Tông cho rằng Kiến là chủ yếu và quan trọng hơn là Hành. Phần quan trọng nhất của Kiến
là Tuệ Ba La Mật Đa (Bát Nhã Ba La Mật Đa) của Lục độ.
Chánh Tinh Tiến (= Tinh Tiến Ba La Mật Đa) giữ cho tâm thức giác ngộ không giao động hay từ
bỏ Hành Kiến của mình bằng nguyên tắc Tứ Chính Cần.
Tứ Chính Cần là:
Điều Ác đã sinh cần phải siêng năng đoạn diệt
Điều Ác chưa sinh cần phải siêng năng đừng cho sinh ra
Điều Thiện đã làm cần phải siêng năng làm thêm
Điều Thiện chưa có cần phải siêng năng tạo ra
Điều Thiện (good) là theo Hành Kiến của Thiền Tông , điều Ác (evil) là không theo Hành Kiến
của Thiền Tông.
c) Niết Bàn (Nirvana)
Cứu cánh của Phật Thích Ca và Phật Giáo Nguyên thủy là giác ngộ, diệt hết khổ cho sinh mạng
(a sentient being), trong kiếp sống nầy mà sinh mạng đạt niết bàn và thoát khỏi phải khổ vì
không phải tiếp tục tái sinh nhiều kiếp khác mãi mãi trong luân hồi.
Phật Giáo Nguyên thủy không định nghĩa được rõ ràng, ta chỉ hiểu Niết bàn đồng nghĩa với trạng
thái (state) giác ngộ không khổ và khi đạt niết bàn thì sau khi chết con người không phải bị tái
sinh luân hồi.
Cứu cánh của Thiền tông (đại diện cho Phật Giáo Đại Thừa) là con người (a human being) được
có tâm giác ngộ an tịnh (tranquil) mà không phiền não trong kiếp sống nầy mà thôi, đó là niết
bàn diệu tâm. Niết bàn chỉ là tâm giác ngộ an tịnh trong kiếp sống nầy của mỗi con người.
Phật Lục của Trần Trọng Kim viết:
Trong một pháp hội trên núi Linh Thứu (Grdhrakùta), Đức Phật Thích Ca thăng tòa im
lặng giơ cành hoa Kim Đàn Mộc (do Đại Phạm thiên dâng lên) thị chúng (= nhìn mọi người).
Lúc ấy nhân thiên đại chúng dưới tòa chẳng ai hiểu duy có ngài Maha Ca Diếp (Mahàkàsyapa)
động nét mặt mỉm cười. Lúc ấy Đức Thế Tôn (= Phật Thích Ca) nói: “Ta có chính pháp nhãn
tạng, Niết bàn diệu tâm, thực tướng vô tướng, nay trao truyền cho ông”. (Ngô hữu chính pháp
nhãn tạng niết bàn diệu tâm thực tướng vô tướng phó chúc ư nhữ).

d) Phật và Bồ tát - La Hán
*
Giác ngộ của Phật Giáo Nguyên Thủy là Bát Chánh đạo, là (đạt) Niết bàn.
Danh hiệu của người giác ngộ đạt niết bàn là La hán. Danh hiệu Phật chỉ dùng giới hạn cho Phật
Thích Ca, vị Phật có thật trong lịch sử và những vị Phật theo truyền thuyết. Phật Giáo Nguyên
thủy có Bản Sinh kinh thuật lại những kiếp trước của Phật Thích Ca và coi những kiếp nầy là
kiếp Bồ tát trước khi thành Phật của Phật Thích Ca.
Giác ngộ của Phật Giáo Đại Thừa là Lục độ là tâm Niết bàn nhưng được Thiền tông đơn giản là
Hành Kiến.
Danh hiệu của người giác ngộ là Phật (Buddha). Nếu Phật ra công hóa độ những người khác
cũng giác ngộ như mình thì gọi là Bồ tát (Bodhisattva).
Pháp Bảo Đàn kinh viết:
Tổ biết Huệ Năng đã ngộ nên nói với Huệ Năng rằng: “Chẳng nhận được bản tâm (thì)
học pháp vô ích, nếu nhận được bản tâm thấy được bản tánh tức gọi là Trượng Phu, là Thiên
Nhơn Sư, là Phật”.
Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ 14 viết:
Từ không bị ảnh hưởng bởi khái niệm quy ước, Tâm (Tâm Thức) đồng nhất với bản thể
của mình (Bản Tâm) và khẳng định chính xác rằng ý nghĩa của nó (Bản Tâm) tương tục và
thường hằng trong sự quân bình của Định Tuệ thì dù có sống trong thế tục chúng ta đã là Phật.
*
Bồ tát là những bậc Đại Tuệ giác ngộ có Bồ đề tâm mà thi hành Đại Từ bi dùng phương tiện
thiện xảo (upaya = skillful means) để hóa độ chúng sinh trong cõi ta bà đạt giác ngộ như mình.
Theo kinh Hoa Nghiêm của Đại thừa lúc sơ khởi, bậc Đại Tuệ giác ngộ phải là Bồ tát hoàn hảo
hóa độ rồi mới thành Phật tuy nhiên ngay sau đó từ kinh Bát Nhã trở đi thì đơn giản hơn: bậc
giác ngộ là Phật và nếu Phật hóa độ con người khác giác ngộ thành Phật như mình thì gọi là Bồ
tát. Đại thừa và Kim Cang thừa đều đồng ý với kinh Bát Nhã.
*
Phật Giáo Đại thừa cho rằng chúng sanh, nhất là mỗi con người, đều có thể thành Phật vì có sẵn
Phật tánh (bản tâm) từ bẩm sinh.
Pháp Hoa kinh viết:
(Phẩm 10): Mọi người có thể được giải thoát. Tất cả chúng sanh có thể thành Phật,
không những tăng ni mà còn cả cư sĩ (Lay people), thanh văn, Bồ tát và sinh vật không phải là
người (non human creature).
(Phẩm 12): Phật tánh thì phổ quát trong tất cả mọi người kể cả Devadatta cũng có căn
cơ (potential) thành Phật. Devadatta là người âm mưu ám sát Phật Thích Ca.
Tuy nhiên Thiền tông coi thường danh hiệu Phật, cho nó chỉ là một sự vật. Theo Thiền tông, tự
mình biết mình giác ngộ là đủ, cần gì phải có danh hiệu. Điều nầy cũng được áp dụng cho toàn
thể Tam bảo (Phật, Pháp, Tăng) của Phật Giáo.

Thiền Luận (quyển Hạ, trang 148 và 77) viết:
Hỏi: “Phật là ai?”
Đáp (của các thiền sư):
(của Động Sơn Thủ Sơ): “Ba cân gai”
(của Vân Môn Văn Yển): ‘Que cứt khô” (Càn thỉ quyết)
(của Phần Châu Vô Nghiệp): “Đừng nghĩ bậy”
(của Thủ Sơn Tĩnh Niệm): “Con dâu cưỡi lừa, bà nhạc dắt”
(của Bạch Triệu Nghĩa): "Non xanh nước biếc”
(của Quy Tôn Đạo Thuyên): “Tuyết tan xuân tự nhiên đến”
(của Bảo Phúc Thù): “Khó vẽ lắm”
(của Đạo Ngô Năng): “Chửi cũng không giận”
(của Ngũ Tổ sơn Pháp Diễn): “Một người ngực trần chân không”
(của Trí Môn Quang Tộ): “Sau khi cởi giày ra, ông ấy chạy chân không”.
(của La Hán Tuyên Pháp): “Ông là một nhà lang thang.

Thiền Luận (quyển Hạ, trang 606) viết:
Hỏi: “Gia phong của hòa thượng ra sao?” (Nghĩa là những nét đặc sắc trong tông môn
và giáo pháp của Sư là gì?)
Đáp: “Một cái bàn, một cái ghế, một bếp lửa và những cánh cửa sổ”
Hỏi: “Bổn phận người xuất gia là gì?”
Đáp: “Buổi sáng nói lời chào mừng, buổi tối nói lời trân trọng”
Hỏi: “Đại ý Phật pháp là gì?”
Đáp: “Thích Ca là ngưu đầu ngục tốt, Tổ sư là mã diện a tỳ"
Thiền Luận (quyển Hạ, trang 605) viết:
Nghiêm Dương tôn giả ở Tân Hưng, có thầy Tăng hỏi: “Phật là gì?”
Trả lời: “Cục đất”
Hỏi: “Pháp là gì?”
Trả lời: “Đất lăn”
Hỏi: “Tăng là gì?”
Trả lời: “Ăn cháo ăn cơm”

IV. TU THIỀN VÀ GIÁC NGỘ
1) Cứu cánh và Tu Thiền
a) Nội dung của tu Thiền
* (Thiền định và Thiền quán)
Cứu cánh của Phật Giáo Đại thừa nói chung và Thiền tông nói riêng là tâm an tịnh mà không
phiền não bởi vì tâm sáng suốt giáo lý mà đạt tới giác ngộ.

Theo truyền thống, Phật Giáo có phương cách tu để đạt được cứu cánh là tu Thiền (hay tham
Thiền). Tu Thiền phải thực hiện trong không gian yên lặng theo một tư thế đặc biệt của thân
mình (thường là tọa thiền).
Tu Thiền quán (Insight meditation) để tâm sáng suốt giáo lý mà đạt được giác ngộ, khi
đó tâm sẽ an tịnh mà không phiền não. Tu Thiền quán là phương cách tập trung và suy nghĩ về
giáo lý đạt giác ngộ ghi trong kinh luận của Phật Giáo, thường là những trợ đạo phẩm của Phật
Giáo Nguyên thủy hay công án của Thiền tông.
Tu Thiền định (Meditation for concentration) để đạt được tâm an tịnh. Tu Thiền định
thường là phương cách tập trung vào hơi thở. Tu Thiền định không có liên quan tới giáo lý đạt
giác ngộ và dĩ nhiên không cần đạt giác ngộ nhưng tâm cũng sẽ được an tịnh.
Tóm lại tu Thiền quán để tâm giác ngộ giáo lý mà an tịnh (tranquil) không phiền não còn tu
Thiền định để tâm trực tiếp được an tịnh (tranquil) không phiền não mà không cần phải giác ngộ
giáo lý.
* (Thiền Mặc chiếu)
Ngoài tu Thiền định và tu Thiền quán như kể trên, Thiền tông (phái Tào Động) có tu tọa Thiền
Mặc chiếu để đoạn diệt tư tưởng của hành giả (= người tu hành) vì cho rằng chấp ngã và tự ngã
của con người là do tư tưởng (thought). Hành giả vẫn còn tri giác và nhận thức.
Thật ra đó là tu Thiền định đạt tới 4 bậc cao hơn 4 bậc Tứ Thiền (của tu Thiền định) với bậc thứ
tám cuối cùng (= bát định) là đoạn diệt tư tưởng. Theo Niết Bàn kinh của Phật Giáo Nguyên
Thủy, Phật Thích Ca đã áp dụng và đạt tới bậc nầy ngay trước khi ngài nhập diệt. Kỹ thuật tu
Thiền Mặc chiếu được các Thiền sư của phái Tào Động giữ bí mật nên ít người biết.
b) Hình thức của tu Thiền
* (Thiền quán)
Quán = sáng suốt, trong cái nhìn (= kiến = view) = Insight.
Quán gần như đồng nghĩa với Tuệ (Huệ).
Tuệ = sáng suốt, trong cái nhìn (= kiến), nhờ kinh nghiệm hiểu biết (= knowledge) = Wisdom.
Sự toàn hảo của tuệ = perfection of wisdom = Tuệ Ba La Mật Đa = Bát Nhã Ba La Mật Đa.
Thiền quán giúp cho đạt tới Bát Nhã Ba La Mật Đa (Tuệ Ba La Mật Đa) của Phật Giáo Đại thừa,
gồm có Chánh Kiến, Chánh Niệm và Chánh Tư duy của Phật Giáo Nguyên thủy.
* (Thiền định)
Từ Phật Giáo Nguyên thủy cho tới Thiền tông, với phương pháp tu Thiền định, Tâm lần lượt
vượt qua 4 trạng thái gọi là Tứ Thiền hay Tứ Thiền Na.
Tứ Thiền = Tứ Thiền Na (4 Dhyàna):
1. Định Sơ Thiền (1st Jhàna): sung sướng (lạc = pleasure) và vui mừng (hỉ = delight), tâm
thoát khỏi nhục dục (sensuous desire) và ác độc (evil).
2. Định Nhị Thiền (2nd Jhàna): vẫn vui mừng và sung sướng, thoát khỏi suy luận
(discursion) và tìm hiểu (investigation).

3. Định Tam Thiền (3rd Jhàna): sung sướng nhưng bình tỉnh (equanimity), lìa khỏi vui
mừng và than thở
4. Định Tứ Thiền (4th Jhàna): an tịnh (tranquil), lìa khỏi sung sướng và đau khổ
Tứ Thiền còn gọi là Tứ Định của Sắc Giới. Sau khi trải qua Tứ Thiền, Tâm đạt tới an tịnh
(tranquil, calm = samatha).
Tâm đạt tới an tịnh = Chánh Định (của PG Nguyên thủy) = Định Ba La Mật Đa hay Thiền Định
Ba La Mật Đa (của PG Đại thừa).

2) Thiền tông và tu Thiền

 

a) Phương pháp tu của Thiền tông

 

Các thiền sư đã thấy sự bất lợi của kinh luận.

Một công án trong Thiền Luận q. hạ (trang 82) viết:

Tăng hỏi: “Tại sao sư không chịu cho đọc kinh, coi như là những lời phụ thuộc?”

Sư Huệ Hải đáp: “Như con vẹt học tiếng người mà lại không hiểu ý nghĩa.  Kinh truyền ý Phật, nếu không lãnh hội ý Phật thì việc tụng đọc chỉ là học nói, do đó (ta) không chịu cho đọc kinh”

Hỏi: “Ngoài ngôn ngữ văn tự còn phương tiện nào để diễn ý nữa chăng ?”

Đáp: “Những lời ông vừa nói lại cũng là học nói mà thôi”

Hỏi: “Cũng là như nhau sao Sư lại thiên lệch chống đối?”

Đáp: “Trong Kinh có nói rõ rằng: Những gì ta nói đều là nghĩa chứ không phải chỉ có văn; còn những gì mà chúng sinh nói chỉ là văn chứ không có nghĩa.  Ai hỏi ý sẽ vượt lên những văn tự hời hợt, ai ngộ Lý sẽ vượt qua những văn tự.  Giáo pháp siêu việt (trên) ngôn ngữ văn tự, tại sao lại tìm tòi trong những số câu?  Bởi vậy kẻ phát Bồ Đề thì được ý mà quên lời, ngộ Lý mà ảo giáo, như người được cá thì quên nơm”. 

 

Do đó phương pháp tu hành của Thiền tông gồm có: biệt truyền trực tiếp, tu Thiền quán và tu Thiền định 

Từ sơ khởi, Thiền tông bắt đầu với biệt truyền trực tiếp và dĩ nhiên với tu Thiền định (truyền thống của Phật Giáo từ Phật Thích Ca).  Dần dần khi có nhiều môn đồ, thiền sư dùng tu Thiền quán để thoại đầu công án , thay thế một phần cho phương pháp biệt truyền trực tiếp. 

 

* (Biệt truyền trực tiếp và Công án)

 

Biệt truyền trực tiếp theo đúng như 2 câu đầu trong bài kệ của Thiền sư Triệu Châu:

 

Giáo ngoại biệt truyền

Bất lập văn tự

Trực chỉ nhân tâm

Kiến Tánh thành Phật

 

Theo truyền thống lúc đầu của Thiền tông, biệt truyền trực tiếp là thiền sư truyền đạo cho đệ tử riêng biệt và không bằng văn tự như dùng kinh luận.  Qua đàm thoại (có khi dùng lời thơ) và hành động thường là ngắn ngủi trực tiếp giữa thầy (thiền sư) và đệ tử, có khi với những trả lời hay thái độ kỳ dị, đệ tử được dạy dỗ để sáng suốt mà giác ngộ.  Đó là truyền Tâm ấn: tâm truyền tâm giữa thầy và đệ tử.  

Thiền Luận quyển Hạ (trang 502) tả một trường hợp "biệt truyền trực tiếp":

Triệu Châu, trên bước đường hành cước, tham kiến Đại Từ Hoàn Trung, hỏi: 

“Thể của Bát Nhã là gì?”

Đại Từ đáp: 

“Thể của Bát Nhã là gì?”

Tức thì Triệu Châu cười lớn và bỏ đi.

Một thời gian sau, Đại Từ thấy Triệu Châu đang quét sân.  Đại Từ hỏi: 

“Thể của Bát Nhã là gì?”

Triệu Châu liệng cây chổi, cười lớn và bỏ đi.  Đại Từ liền trở về phương trượng. 

 

Những câu chuyện ích lợi cho sự giác ngộ từ những trường hợp đàm thoại và hành động nầy của biệt truyền trực tiếp nếu được lưu truyền và lưu giữ về sau bằng truyền khẩu hay văn tự thì gọi là những Công án (Koàn).  Công Án còn là những đoạn kinh ngắn về đàm thoại hay hành động giữa Phật và đệ tử hoặc những giảng dạy ngắn của những thiền sư trong quá khứ được ghi và truyền lại như Thập Ngưu đồ.  Công án thường cho thấy kết cuộc bằng sự đốn ngộ của đệ tử!  Về sau, đàm thoại trực tiếp về Công án với thầy cũng giúp đệ tử giác ngộ.

 

* (Tu Thiền quán - Thoại đầu Công án)

 

Dần dần khi có nhiều môn đồ, thiền sư mới dùng thêm tu Thiền Quán giống như truyền thống Phật giáo từ Phật Giáo Nguyên thủy với chủ đề thường là Công án để tập trung suy nghĩ.

Thiền sinh tập trung suy nghĩ tìm ra thoại đầu của Công án.  Thoại đầu là chổ trọng yếu hay tâm điểm trong nội dung của Công án có khi chỉ là 1 chữ hay 1 câu.  Nghĩa đen của Thoại đầu là "chữ đầu" (word head) hay "đầu của bài nói chuyện" (head of speech).  Từ tìm ra thoại đầu, đệ tử có thể sáng suốt mà giác ngộ.


 

b) Tu Thiền và Thiền tông

 

*

Thiền tông dùng tu Thiền nhưng không dựa hoàn toàn vào tu Thiền.

 

Công Án trích từ Đại Cương Triết Học Sử Trung Quốc viết: 

Mã Tổ sống trong am vắng ở Hành sơn (tỉnh Hồ Nam), tọa thiền một mình.  Ngày kia Thiền sư Hoài Nhượng đem gạch ra mài trước am của Mã Tổ.  Mã Tổ thấy vậy, hỏi mài làm gì.  Hoài Nhượng đáp rằng mài làm kính.  Mã Tổ nói: "Mài gạch làm sao thành kính được?".  Hoài Nhượng nói: "Mài gạch đã không thành kính, tọa thiền há thành Phật được chăng?".  Do lời đó, Mã Tổ đắc ngộ.

 

*

Thiền tông nhấn mạnh tới tu để đạt giác ngộ trong sinh hoạt của đời sống hằng ngày chứ không phải chỉ tọa thiền.  

 

Thiền Tông Công Án viết:

Tổ sư Lặc Đàm Hoài Trừng hỏi sư Linh Thao hiểu sao về (Tổ) Đạt Ma (từ) Tây lại, chỉ thẳng tâm người, thấy tánh thành Phật.  Linh Thao bày tỏ rằng không hiểu.

Lặc Đàm nói: “Trước khi xuất gia ông làm gì?”

Đáp: “Chăn trâu”

Lặc Đàm lại nói: “Chăn như thế nào?”

Đáp: “Sáng sớm cưỡi đi, chiều tối cưỡi về”

Lặc Đàm nói: “Ông thiệt ngu si quá đổi”

Sư Linh Thao đại ngộ và đọc bài Kệ:

Phóng khước ngưu tằng tiện xuất gia      Vứt bỏ giây chăn rồi xuất gia

Thế trừ tu phát trước cà sa                       Cạo râu cạo tóc khoác cà sa

Hữu nhân vấn ngã Tây lai ý                     Có ai hỏi ý từ Tây đến

Tru trượng hoành khiêu la lí la                Vác gậy quơ ngang la lí la

(Sư Linh Thao)                                         (Tuệ Sỹ dịch)

3) Quan điểm về tu Thiền

 

a) Tu Thiền định

 

Thiền định giúp tâm an tịnh không cần giác ngộ giáo lý thì cũng như chữa bệnh mà chỉ chữa triệu chứng chứ không chữa căn bệnh.  Tuy nhiên theo thiển ý, Thiền định cũng giúp cho chứng ngộ giữ tâm an tịnh khi ta đã giải ngộ?  

Thiền định cũng tùy thuộc vào tánh tình (personality) của từng người.  Nhiều người quá nhạy cảm thì rất khó khăn đạt tới Định Tứ Thiền.  Có nhiều người rất bằng lòng dừng lại ở những bậc dưới của Tứ Thiền vì đã sung sướng và vui mừng rồi!

Kỹ thuật tu Thiền định lại tùy theo người dạy giỏi hay dở và thường là truyền khẩu.

Do đó người tu Thiền định thì nhiều nhưng đạt được cứu cánh là tâm an tịnh (tranquil) thì không được bao nhiêu và phải tọa thiền hằng ngày không thể xao lãng được.

 

b) Tu Thiền quán

 

Thiền quán giúp cho tâm sáng suốt giáo lý để đạt giác ngộ nhưng không có gì chắc chắn vì nó chỉ là tự học dựa trên những tài liệu như trợ đạo phẩm (của Phật Giáo Nguyên thủy) và công án hay bài kệ (của Thiền tông).  Những tài liệu nầy dạy bằng gợi ý chứ không có giải thích rõ ràng.  Tu theo Thiền quán là một công trình khó khăn và lâu dài mới đạt được giải ngộ và chỉ có những người thông minh mới sáng suốt đến giác ngộ.

 

Có những thiền sư tự mình cho là đã giác ngộ nhưng không có một bằng chứng gì là họ giác ngộ.  Những bài kệ của họ để lại thì quá vắn tắt và mơ hồ nên gần như vô nghĩa và vô dụng.  

Đây là một bằng chứng trích nguyên văn từ Pháp Bảo Đàn kinh:

Một ngày kia, Ngũ tổ (Hoằng Nhẫn) triệu tập môn đồ bảo rằng: “Sinh Tử là việc lớn, các ngươi suốt ngày chỉ cầu phước điền, chẳng cầu lìa khỏi biển khổ sinh tử, tự tánh nếu mê, phước làm sao có thể cứu được?  Các ngươi mỗi người hãy tự xem trí tuệ (huệ), dùng bản tâm Bát Nhã của tự tánh, mỗi người làm một bài Kệ trình cho ta xem, nếu ngộ được đại ý, thì ta sẽ truyền y bát cho làm Lục Tổ (Tổ thứ sáu), hãy mau lên chẳng được chậm trễ, hễ lọt vào suy lường thì chẳng dùng được.  Người kiến tánh vừa nghe phải liền thấy, nếu được như vậy thì khi ra trận giữa đao kiếm cũng phải thấy được”.

(Đệ tử giỏi nhứt là) Thần Tú làm (bài) Kệ xong, trải qua 4 ngày, 13 lần muốn vào trình mà vẫn chưa dám (vào trình).  Thế rồi đợi đến nửa đêm lúc mọi người ngủ thì cầm đèn viết lên vách hành lang phía Nam bài Kệ của mình:

 

Thân thị bồ đề thụ                             (Thân như cây bồ đề)

Tâm như minh kính đài                     (Tâm như đài gương sáng)

Thời thời cần phất thức                     (Luôn luôn cần lau phủi)

Mạc (Vật) sử (xử) nhạ trần ai.           (Đừng để nhuốm bụi trần)  

(Thần Tú)

 

Đêm sau, Ngũ tổ (đã đọc bài Kệ của Thần Tú) kêu Thần Tú vào phòng mà nói: “Ông làm bài Kệ nầy chưa thấy Thực Tánh, chỉ đến ngoài cửa, chưa vào trong, kiến giải như thế (thì) tìm Vô Thượng Bồ Đề chẳng thể được.  Vô Thượng Bồ Đề phải khi vừa nói liền nhận tự bản tâm, thấy tự bản tánh, chẳng sanh chẳng diệt, với bất cứ giờ nào, niệm niệm tự thấy, chẳng kẹt vào vạn pháp, nhứt chơn nhứt thiết chơn, vạn cảnh tự như như, cái tâm như như tức là chơn thật.  Nếu thấy như thế tức Vô Thượng Bồ Đề của tự tánh”.  

 

c) Tu Thiền

 

Ngày nay nếu giáo lý giác ngộ được các bậc sư hiểu rõ và giảng dạy đàng hoàng theo đúng phương pháp và tài liệu khoa học thì chúng ta cần gì phải tu Thiền, một phương pháp tự học quá lỗi thời.  Rất tiếc ngày nay chúng ta chỉ thấy những bậc đại sư dạy đời hơn là dạy đạo hoặc dạy theo những mẫu chuyện như là công án để gợi những ý nghĩa nhỏ mà thôi, như dạy anh mù rờ voi.  


 

V. KẾT LUẬN

1) Giáo lý giác Ngộ của Thiền tông

 

*

Muốn được tình cảm an tịnh không buồn khổ thì lý trí của ta phải sáng suốt đến giác ngộ là đoạn diệt một số tình cảm tự ngã và chấp ngã (tham dục, sân, mạn) đối với sự vật và sinh vật (kể cả thân mình); cũng như thực hành tình cảm từ bi đối với sinh vật (kể cả thân mình) trong lý trí và từ đó dùng lý trí và tình cảm trong sinh hoạt hằng ngày của mình.  

Tâm thức ta gồm có lý trí và tình cảm luôn hoạt động liên quan tới sự vật và sinh vật (kể cả thân mình) nhưng hoạt động trong sự sáng suốt hoàn hảo của lý trí giác ngộ theo nhân sinh quan kể trên.  Sự sáng suốt giác ngộ về hiện tượng và sự tương đối của sự vật từ vũ trụ luận cũng như về Phật tánh (hay bản tâm) của ta từ nhân bản luận giúp cho sự sáng suốt giác ngộ của nhân sinh quan.

Lý trí và tình cảm khác của ta tự do hoạt động trong những phạm vi và phương diện khác ngoài giáo lý Phật Giáo.

 

Đoạn diệt những tình cảm chấp ngã và tự ngã đối với thân mình (trong sinh lão bệnh tử), người và sinh vật khác, và tất cả mọi sự vật hiện hữu gọi là Đoạn hoặc (đoạn diệt mê hoặc).

Đoạn hoặc gồm có:

            Đoạn diệt Tham Dục:

                        không có ích kỷ tham lam (self-centered greed)

            Đoạn diệt Sân:

                        khôngphẫn nộ giận dữ (anger)

                        khôngthù ghét (hate)

                        khônglăng nhục (insult)những người khác

            Đoạn diệt Mạn:

                        khôngkhoe khoang tự phụ (boasting)

                        khôngghen ghét (jealousy) hay ganh tỵ (envy)

                        khôngnịnh bợ (flatterery) 

                        khôngsợ hãi vô lý (unreasonable fear) đối với những người khác 

 

Thực hiện tình cảm từ bi đối với sinh vật khác, người khác (và kể cả thân ta).

Từ bi là:

            không hại người và sinh vật khác (= Từ), tức là nhẫn nhịn (forebearance) và không có xung đột (conflict). 

            thương người khác và sinh vật khác (= Bi) bằng thể hiện lòng tử tế (loving kindness) và lòng thương xót (pity).

 

Tâm thức sáng suốt của con người thì dễ đoạn hoặc và từ bi vì luôn có bản tâm của nó đã như vậy. Điều nầy chỉ có thể đúng với con người nhưng không chắc chắn đúng với những sinh mạng khác như thú vật.

 

Cứu cánh của Thiền tông là tâm an tịnh, không phiền não nhờ sự giác ngộ không có nghĩa là tâm hạnh phúc với sung sướng và vui vẻ.  Tuy nhiên có người thấy tâm an tịnh không buồn khổ là đủ hạnh phúc rồi thì cũng không thiệt thòi gì? 

Hơn nữa nếu một người thấy tự mình đã có tâm thức an tịnh (tranquil) theo một phương pháp hay triết lý khác thì không cần phải biết và giác ngộ giáo lý Thiền tông làm gì. "Đã không thấy khổ không phiền não thì cần gì phải tu?".

 

Những hình thức tôn giáo của Phật Giáo về giác ngộ như Bát Chánh Đạo, Lục Đạo, Hành Kiến, Phật và Bồ tát không còn là quan trọng đối với một người đã giác ngộ giáo lý Thiền tông.

 

*

Nho Giáo có tánh bản thiện (của Mạnh tử) và Tân Nho Giáo có tâm lương tri hay lương tâm (của Vương Dương Minh) cũng giống như bản tâm (hay Phật tánh) của Thiền tông và Kim Cang thừa.

 

Triết lý của Trang tử của Đạo Gia không khác với giáo lý triết học của Thiền Tông.

- Trang tử của Đạo Gia dạy:

            Đức là bản tánh bẩm sinh khác nhau của mỗi người.  Sống theo Đức tức là phát triển khả năng bẩm sinh của mình một cách trọn vẹn và tự do thì ta đạt Hạnh phúc tương đối.

            Mọi sự vật đều tương đối, nếu tâm ta không phân biệt sự vật thì ta hợp nhất với mọi sự vật và sống sung sướng trong mọi sự vật.  Khi đó ta đạt Hạnh phúc tuyệt đối.

- Thiền Tông của Phật Giáo Đại Thừa dạy:

            Phật Tánh từ bi là bản tánh bẩm sinh giống nhau của mỗi người

            Mọi sự vật đều tương đối (vì đều vô ngã), nếu tâm ta không dính chặc (trụ) vào sự vật thì Phật Tánh trong ta sẽ lộ ra Từ bi, sống dung hòa với mọi sự vật.  Khi đó tâm ta an tịnh và thoát khỏi Phiền não.  

 

 

2) Giáo lý giác ngộ và Tín ngưỡng cứu độ

 

*

Giáo lý giác ngộ của Phật Giáo Nguyên thủy từ Phật Thích Ca: 

            dựa trên lý thuyết "nhân duyên nghiệp quả" của sự vật và sinh mạng mà đưa ra đoạn nghiệp (gồm có đoạn hoặc và trì giới),

            hóa độ 6 loại sinh mạng thành bậc La hán "nhập Niết bàn", thoát khổ (không phiền não) trong kiếp nầy và thoát khỏi tái sinh trong luân hồi lục đạo.

Phật Giáo Đại thừa không đồng ý với giáo lý của Phật Giáo Nguyên thủy nên khởi xướng giáo lý mới của mình từ Không tông, đến Tánh tông và cuối cùng tới Thiền tông.

Giáo lý giác ngộ của Phật Giáo Đại thừa Thiền tông (tổng hợp Không tông và Tánh tông):

            dựa trên lý thuyết sự vật tương đối và chỉ là hiện tượng, và bản tâm giác ngộ của con người mà đưa ra đoạn hoặc và từ bi,

            hóa độ 1 loại sinh mạng là con người thành Phật có Niết bàn diệu tâm, tức là tâm an tịnh không phiền não (thoát khổ) trong kiếp sống nầy (tức là không nhìn xa đến kiếp sau trong luân hồi lục đạo).

 

*

Có thiền sư rất tin tưởng vào giáo lý giác ngộ của mình, chối bỏ tín ngưỡng tôn thờ của Phật Giáo.

Thiền Luận quyển Trung, trang 80, viết:

            Kim Sơn Đạt Quán hỏi: “Thầy có niệm Phật không?”

            Trả lời: “Không hề”

            Hỏi: “Tại sao không?”

            Trả lời: “Vì e dơ miệng mình” 

 

Giáo lý giác ngộ của Đại thừa Thiền tông có thể giúp ích cho tâm con người không khổ trong kiếp sống nầy nhưng không hoàn toàn và hơn nữa khi con người nghĩ tới những gì xảy ra cho mình sau khi chết thì cứu độ từ tín ngưỡng tôn thờ rất cần thiết.  Nó đem lại hy vọng trong đức tin và tình thương.

Phật Giáo là một tôn giáo gồm có tín ngưỡng tôn thờ để được cứu độ và giáo lý triết học để tự giác ngộ. Nếu nói đến tôn thờ, ta phải nói đến Tín ngưỡng Đại thừa và Tịnh Độ tông.

Bs PHAN THƯỢNG HẢI biên soạn

 

Bài viết nầy đăng lần đầu tiên trong phanthuonghai.com mục Văn Hóa phần Giáo Lý.


 

Tài liệu tham khảo

1) Triết lý Phật Giáo: từ Phật Thích Ca đến Thiền Tông (Bs Phan Thượng Hải) - phanthuonghai.com

2) Phật Giáo Nguyên Thủy - Tam Bảo (Phan Thượng Hải) - phanthuonghai.com

3) Essentials of Buddhism (Kogen Mizuno)

4) Thiền Luận quyển trung và quyển hạ (Suzuki - Tuệ Sỹ dịch)

5) Thiền Đạo Tu Tập (Trương Trừng Cơ)

6) Những bài giảng của Đạt Lai Lạt Ma cho các đại học ở Mỹ (Thư viện Hoa Sen)

7) Lịch sử kinh điển Phật Giáo (Bs Phan Thượng Hải) - phanthuonghai.com

8) Tục Ngữ Lược Giải (Lê Văn Hoè)


 

Bs PHAN THƯỢNG HẢI biên soạn và giữ bản quyền

                                                          Bài 3

 

LỊCH SỬ CÔNG GIÁO THỜI CẬN ĐẠI

 

                                                                  Bs Phan Thượng Hải

 

Từ Jesus (Giê-su / Gia tô) có một tôn giáo là Christianity.  

Là người Do Thái, Jesus được các Tông đồ, cũng là người Do Thái, gọi là "Đấng cứu thế" (savior) mà tiếng Do thái là Messiah.  Messiah dịch ra tiếng Hy Lạp là Christo và tiếng La Tinh là Christus, chuyển thành tiếng Anh là Christ.  

Christianity là từ Christ (Christo và Christus), có nghĩa là: Tôn giáo của Christ, Đấng cứu rỗi thế gian. Dịch âm thành tiếng Việt của Christo là Kitô và của Christus là Cơ Đốc.  

Do đó Christianity được dịch ra tiếng Việt là Kitô giáo hay Cơ Đốc giáo.  Theo hiện đại, tác giả dùng từ ngữ "Kitô giáo".

 

Đến năm 1054, khi Kitô giáo chia ra 2 Giáo hội (Churches) thì 2 Giáo hội chọn 2 tên khác nhau:

Công giáo (Catholicism) và Giáo hội Công giáo (Catholic Church) 

Chính Thống giáo (Orthodoxy) và Giáo hội Chính Thống giáo (Orthodox Church).

Lịch sử Công giáo (Catholicism) bắt đầu khi nó còn là Kitô giáo (chung với Chính Thống giáo).

Từ ngữ Đạo Thiên Chúa có được dùng để dịch ra từ Catholicism hay Christianity nhưng đều không chính xác.  

 

Vào thế kỷ thứ 16, sau phong trào Cải Cách (Reformation), có những Giáo phái Kháng Cách (Protestant) tách ra từ Giáo hội Công giáo.  Những giáo phái Kháng Cách nầy đã được gọi chung là Đạo Tin Lành vì các giáo phái nầy căn cứ chính trên Phúc Âm (Gospels), dịch Nôm là "Tin Lành" (Good News).  Theo hiện đại, tác giả dùng từ ngữ "Kháng Cách".

 

Thời Cận Đại (Modern Time) bắt đầu từ thời Phục Hưng (Renaissance) và Khám Phá (Ages of Discovery) vào khoảng gần cuối thế kỷ thứ 15 cho tới trước Đệ nhất Thế chiến (1914).

 

Bố cục:

Giáo hoàng và Tòa thánh trong thời Phục Hưng (trang 1)

Phong trào Cải Cách và Chống Cải Cách (trang 4)

Truyền Giáo trong thời Cận Đại (trang 22)

Giáo Hội Trước Thời Kỳ Cách Mạng Âu Châu (trang 23)

Giáo Hội Trong Thời Kỳ Cách Mạng Âu Châu (trang 26)

Giáo Hội Sau Thời Kỳ Cách Mạng Âu Châu (trang 28)


 

GIÁO HOÀNG VÀ TÒA THÁNH TRONG THỜI PHỤC HƯNG 

 

*

Thời kỳ Đại Ly Giáo của Công giáo vào cuối thời Trung Cổ chấm dứt với Giáo hoàng Martin V.  Sau khi được bầu, Giáo hoàng Martin V phải mất 3 năm mới về tới Rome (1420).  Từ đó Tòa thánh ở Rome cho tới thế kỷ 20.  Mật nghị Giáo hoàng (Papal conclave) lại chính thức được áp dụng để bầu Giáo hoàng.  Giáo hoàng và Tòa Thánh ở Rome độc lập với tất cả những Quân chủ thế tục. 

 

Trong thời Phục Hưng, Rome ở trong bán đảo Ý, nơi mà con người vô liêm sĩ bắt đầu lập những triều đình trong sự hào nhoáng huy hoàng.  Những thập niên sau, Tòa Thánh sửa đổi theo đúng thực tế của thời Phục Hưng.  Bắt đầu thế kỷ 15, những Giáo hoàng vô liêm sĩ làm Rome trở thành triều đình huy hoàng nhất.  Nhiều cháu trai (nephews) của các Giáo hoàng được phong làm Hồng y, thường là thuộc gia đình quân chủ theo Công giáo hay gia đình giàu mạnh ở Ý.  Từ chế độ nầy có danh từ "Gia đình trị" (Nepotism) trong Anh ngữ từ năm 1669.  

Các Giáo hoàng và Hồng y giàu có bảo trợ nhiều công trình nghệ thuật và kiến trúc thời Phục Hưng.  Họ làm giàu bằng chiếm đất, kinh tài và bán đặc quyền (sale of indulgence).

Thời Phục Hưng đánh dấu những công trình nghệ thuật và kiến trúc ở Rome, ở trụ sở của Giáo hoàng (Tòa Thánh La Mã) vả trong Lãnh địa của Giáo hoàng (Papal States).

 

Giáo hoàng còn là lãnh tụ thế tục (secular ruler) như Giáo hoàng Julius II thường có những chiến dịch quân sự giữ gìn và bành trướng lãnh địa thế tục (temporal domain).  Giáo hoàng cũng cạnh tranh với các lãnh chúa Ý (Italian lords) ăn xài xa hoa trong những xa xỉ cá nhân cũng như những công trình công cộng như sửa sang và xây nhà thờ, cầu và hệ thống thủy lộ (aqueduct) còn được xử dụng cho tới ngày nay.

*

Những Giáo hoàng nổi tiếng trong thời Phục Hưng

 

Giáo hoàng đầu tiên sửa đổi theo thời Phục Hưng là Nicholas V, một Giáo hoàng có học thức lập Thư viện Vatican, xử dụng hàng trăm học giả và người biên lại (copyist) làm nên tổng hợp to lớn với nhiều tác phẩm và văn kiện (manuscripts).

Tiếp xúc với văn hóa Hy lạp mở đường cho nhiều con đường học hỏi nhất là về triết lý, thi văn, cổ điển, biện luận (rhetoric) và khoa học chính trị tạo nên tinh thần nhân bản (humanism), tất cả của thời Phục Hưng nầy đều ảnh hưởng lớn tới Giáo hoàng và Tòa thánh cũng như Giáo hội. 

 

Khuôn mặt của Giáo hoàng đúng với thời Phục Hưng thật sự bắt đầu với Giáo hoàng Sixtus IV (đăng quang năm 1471).  Giáo hoàng bảo hộ nghệ thuật thể hiện qua nhà nguyện và chỗ hát kinh (choir) Sistine, cả 2 mang tên ông.  Nhưng nó đi đôi với hạnh kiểm trong sự vụ (affairs) của Vatican.

Giáo hoàng Sixtus IV, một Thầy dòng Franciscan từ một gia đình nghèo ở Genoa, đem "Gia đình trị" (nepotism) trong hành vi của Giáo hoàng tới tuyệt đỉnh.  Trong khi làm giàu cho các cháu trai (nephews), trong số đó có 7 người làm Hồng y, Giáo hoàng còn dùng họ như là người của mình trong quyền lực chính trị của các tiểu quốc đối đầu ở Ý.  Một người cháu còn lập mưu giết được một người trong dòng họ Medici ngay trong thánh lễ ở Florence.  Một người cháu khác là học trò của Giáo hoàng Sixtus IV nhưng còn giỏi hơn ông về chính trị và bảo hộ nghệ thuật khi cũng được bầu là Giáo hoàng (Giáo hoàng Julius II).  

 

Giữa 2 Giáo hoàng Sixtus và Julius là một Giáo hoàng có tiếng xấu nhất của thời Phục Hưng, Giáo hoàng Alexander VI.  Ông thao túng chính trị ở Ý không phải nhờ các cháu mà qua con của mình, Cesare Borgia.

 

Giáo hoàng Julius II tự mình ra trận khi đánh giặc nhưng bảo trợ (commissioned) công việc của Michelangelo và Raphael.  Những bức bích họa (frescoes) của điện Vatican và nhà nguyện Sistine được tạo ra trong những lạm dụng, gây nên phong trào Cải Cách sau nầy.

Năm đầu (1503) khi làm Giáo hoàng, Giáo hoàng Julius II bắt đầu chương trình xây lại Thánhn đường St Peter.  Năm 1509, Giáo hoàng mời Michelangelo vẽ trần của nhà nguyện Sistine và thuyết phục Raphael trang trí 3 phòng trong điện Vatican.  Sự huy hoàng lộng lẫy của Công Giáo La Mã xây dựng trong khoảng thời gian 6 năm.  

Giáo hoàng Julius phục hồi Lãnh địa Giáo hoàng (Papal states) mà ngay trước đó bị suy giảm bởi hành động của Cesare Borgia và sự xâm lấn từ Venice.  Để thỏa mãn tham vọng của mình, Giáo hoàng Julius II mang giáp xung trận trước quân đội (của Giáo hoàng).

Những chương trình thế tục của Giáo hoàng Julius II được vẽ ra cho lợi ích của Rome trong tình trạng rối loạn ở Ý.  Khi Giáo hoàng Julius II chết (1513), chương trình đạt được mục tiêu, Lãnh địa Giáo hoàng chiếm lại đất đã mất từ Venice cũng như người Pháp bị đánh đuổi ra khỏi bắc Ý.  Nhưng việc Giáo hoàng Julius xây St Peter Thánh đường đưa đến phong trào Cải Cách ở Đức từ Luther.

 

Danh sách các Giáo hoàng trong Thời Phục Hưng

Nicholas V (1447-1455)

Callixtus II (1455-1458)

Pius II (1458-1464)

Paul II (1464-1471)

Sixtus IV (1471-1484)

Innocent VIII (1484-1492)

Alexander VI (1492-1503)

Pius III (1503)

Julius II (1503-1515)

Leo X (1515-1521)     

 

*

Thánh đường St Peter (1506-1590)

 

Thánh đường St Peter được xây trên chỗ của Thánh đường Constantine cũ.

Lễ "đặt viên đá đầu tiên" của Thánh đường St Petrer được bắt đầu từ Giáo hoàng Julius II và kiến trúc sư Bramante (tháng 4, 1506).  Đại Giáo đường được hoàn thành vào năm 1590 theo đúng đồ án của 2 người.  Nhiều kiến trúc sư khác như Raphael và Michelangelo đã tiếp nối theo Bramante.  

Trong khi đó nguồn tài chánh cho công trình to lớn nầy có được bằng những phương cách "không được liêm sĩ" (unscrupulous) mà các Giáo hoàng của thời Phục Hưng sẵn lòng áp dụng.  Sự việc nầy đưa đến phong trào Cải Cách (Reformation) trong thế kỷ thứ 16, xảy ra ngay từ Đế quốc Đức (Đế quốc Thánh La Mã).


 

PHONG TRÀO CẢI CÁCH VÀ CHỐNG CẢI CÁCH

 

Phong Trào Cải Cách (Reformation)

 

Phong trào Cải cách (Reformation) bắt đầu chỉ là toan tính cải cách trong Giáo hội Công Giáo (Catholic Church) nhưng thúc đầy một sự nổi loạn tôn giáo và chánh trị dẫn tới thành lập những Giáo hội Kháng cách (Protestant Churches) và sự chia rẽ vĩnh viễn của Thế giới Kitô giáo (Christendom) ở Tây Âu.  Nó cũng bắt đầu liên quan tới những kháng cách (protest) về xã hội và chính trị tạo ra những bạo động và chiến tranh tàn khốc.

 

*

Bối Cảnh (Background)

 

Phần cuối của thời Trung Cổ đã có nhiều chống đối Giáo hội vì nhiều lý do: Những chống chọi quyền lực trong hàng giáo phẩm, sự giàu sang lộ liễu của giáo hội và đôi khi lối sống đồi trụy thối nát của những giáo sĩ trong hàng giáo phẩm cao cấp làm hư hoại niềm tin của công chúng (public confidence).

Những điều kiện văn hóa, chính trị và kinh tế trong thời Phục Hưng (Renaissance) làm cho khí chất (mood) không bằng lòng thêm căng thẳng.  

 

Tinh thần nghiên cứu tìm tòi từ Phục Hưng dẫn tới nhiều nghi vấn về những người cầm quyền của Giáo hội.  Thêm nữa, lý tưởng của chủ nghĩa cá nhân (ideals of individualism) đối chọi với vai trò cố định của Giảo hội trong sự cứu rỗi nhân loại.  Quần chúng càng biết đọc và có máy in cho báo chí giúp cho việc làm của những nhà nhân quyền Công Giáo, những tư tưởng mới và cấp tiến (radical) được truyền bá khắp nơi.

 

Về chính trị, xung đột giữa các quốc vương Âu châu và Tòa Thánh càng căng thẳng khi các quốc vương càng lấy thêm quyền lực.  Thêm nhiều người dân vào sống ở thành thị, bỏ những vùng phong kiến ở miền quê và có cùng quan tâm (interests) như các vua hay nữ hoàng.  Không những chỉ các quốc vương mà đa số giới trung lưu (middle class) bắt đầu coi Giáo hoàng như là một người lạ, không có quyền ảnh hưởng tới công việc của quốc gia.

Về kinh tế, sự bất bình của công chúng càng tăng thêm vì thuế má nặng nề áp đặt từ Giáo hội.  

 

Từ đó thêm vào quan niệm là cuộc sống của Giáo hội bị theo đuổi sự tham lam (greed) và lạm dụng (abuses).  

Giáo hội bị chỉ trích là bán chức vụ tôn giáo (Simony).  

Tai tiếng càng xấu hơn vì việc bán đặc quyền (Selling indulgences), tha tội cho người tội phạm sẽ phải chịu trừng phạt sau khi chết.

Tình trạng khiếm diện của giáo sĩ trong giáo khu (parish) của mình (Absenteeism).

Tập quán (practice) cho giáo sĩ quyền lợi hay địa vị vì có liên hệ như trong quyến thuộc (Nepotism).

Tăng lữ và hàng giáo phẩm cũng bị chỉ trích vì đã làm ngơ trước những lạm dụng nầy, sống sang trọng và làm chính trị.

 

Sự quá độ của Giáo hội thế tục thời Phục Hưng trích yếu từ thời của Giáo hoàng Alexander VI (1492-1503), bùng phát phong trào Cải Cách dưới thời Giáo hoàng Leo X (1513-1521), người đã vận động gây quỹ trong những tiểu quốc của Đế quốc Đức để xây lại Đại Thánh đường St Peter bằng cách ủng hộ việc bán đặc quyền là sự kích thích chính (impetus) của 95 Đề nghị của Luther.  Sau khi một tu sĩ (monk) tên là Martin Luther chỉ trích công việc "bán đặc quyền" nầy (sale of indulgence), một cuộc cách mạng theo thời liền được khởi động.

 

*

Phong trào Cải Cách đã có những tiền phong trong những thế kỷ trước như Wycliffe và Jan Hus.

 

John Wycliffe or Wyclif (1330-1384) là một học giả "tà giáo" người Anh được biết là đã tố cáo Giáo hội và bảo trợ cho dịch Thánh kinh từ La Tinh sang Anh ngữ.  Ông là tiền phong (precursor) của Cải cách Kháng cách (Protestant Reformation) sau nầy.  Ông nhấn mạnh tới sự tối cao (supremacy) của Thánh Kinh và kêu gọi sự liên quan trực tiếp giữa con người và Thiên Chúa, không có sự xen vô của linh mục hay giám mục.  

Những người theo ông gọi là người Lollards bị Giáo hội Công giáo Anh ngược đãi, họ phải tiếp tục hoạt động bí mật (went underground) trong 2 thế kỷ và đóng một vai trò đáng kể trong phong trào Cải cách ở Anh.

 

Jan Hus or Huss (1369?-1415) là nhà Thần học người Tiệp (Czech) ở Prague.  Chịu ảnh hưởng của J Wycliffe, ông nói lên sự đồi trụy của Giáo hội.  Sự thách đố ngoan cố (defiance) của ông khiến ông bị trục xuất và kết tội bởi Hội nghị Constance (Council of Constance), cũng kết tội Wycliffe.  Từ quyết định của hội nghị nầy, Hus bị tử hình như người Tà giáo vào năm 1415.  

Những người theo ông tổ chức thành "Cuộc chiến của nông dân" (peasant's war) trong nhiều năm (1419-1436) và bị Đế quốc Đức dẹp tan tàn nhẫn.  Hus cũng là tiên phong (forerunner) của Kháng cách Cải cách (Protestant reformation) và kỷ niệm về ông là biểu tượng cho văn hóa Tiệp ở Bohemia.

 

Albert of Mainz 

 

Đế quốc Đức (Đế quốc Thánh La Mã) là nơi thể hiện hoàn toàn chủ nghĩa vật chất trong Giáo hội Công giáo La Mã.  Một số tiểu quốc (states) trong Đế quốc Thánh La Mã nầy có những Giám mục (prelates) cũng sống (một cách vô liêm sĩ) như các vương tử của thời Phục Hưng.  Trong đó nổi bật nhất là Tổng Giám mục của Mainz, Albert, một trong 7 người có quyền bầu Hoàng đế (imperial electors) của Đế quốc Đức (Thánh La Mã).

Khi 24 tuổi, Albert đã làm 2 chức: Tổng Giám mục của Mainz và Giám mục ở một chỗ khác.  Điều nầy sai luật của Giáo hội nhưng Giáo hoàng Leo X (một trong những Giáo hoàng thuộc dòng họ Medici) lờ đi và nhượng bộ vì cần Tổng Giám mục Albert gây quỹ cho việc xây dựng Thánh đường St Peter.

Tổng Giám mục Albert áp dụng triệt để và rộng rãi việc "Bán đặc quyền" (sale of indulgence), một phương cách gây quỹ hữu hiệu trong Giáo hội cho từ Giáo hoàng đến các Giám mục.  Phân nửa tiền kiếm được của Tổng Giám mục Albert dùng cho Albert trả nợ của mình và phân nửa kia thuộc về Tòa Thánh ở Rome.

 

Một trong những nhân viên của Albert là Thầy dòng Tetzel dùng nhiều phương cách vô liêm sĩ một cách lộ liễu để "bán đặc quyền" vượt hơn cả giáo lý chính thức của đặc quyền.  Ông hứa ngay sau khi mua, người mình thương (the loved ones) sẽ được xả tức khắc sự đau khổ của sự luyện tội nơi địa ngục (Purgatory).  Ông thường rêu rao: "As soon as the coin in the coffer rings, The soul from Purgatory springs".   Người ta càng tin tưởng vào sức mạnh của đặc quyền có thể tha thứ mọi tội lỗi dù nặng tới cỡ nào.

 

Martin Luther 

 

Martin Luther (1483-1546) là một tu sĩ dòng Augustinians dạy Thần Học ở Đại học Wittenberg mới được thành lập bởi Frederick the Wise, một Lãnh chúa của Saxony có quyền bầu Hoàng đế Đức (the elector of Saxony).  

Triết lý Thần học của Luther đưa đến kết kuận rằng số lượng (amount) của đạo đức (virtue) hay làm việc thiện (good behavior) dù có lớn bao nhiêu cũng không làm căn bản được cho sự cứu rỗi (salvation), như đã đưa ra trong giáo lý là "sự hiển thánh" (biện minh bằng việc làm = justification by work).  

Theo Luther, để cho đời sống của một người Kitô giáo không mất ý nghĩa, đức tin của một kẻ có tội (a sinner's faith) phải là công trạng duy nhất để có được ơn sủng của Thiên Chúa (God's grace). 

Luther trở thành một người tin mạnh mẽ (passionate believer) vào sự "biện minh bằng đức tin" (justification by faith) và chứng minh là Thánh Paul đã viết như vậy trong Thánh Kinh.

Do đó dĩ nhiên Luther chống lại việc Thầy dòng Tetzel buôn bán ơn sủng của Thiên Chúa.  Ông tranh luận chống lại việc bán đặc quyền (the sale of indulgence) trong những bài thuyết giáo của mình.

 

Cuối cùng ông đem ra trước công chúng.  Luther viết và đóng một bảng gồm 95 đề nghị (theses=propositions) ngay cửa của nhà thờ Chư Thánh (All Saints) ở Wittenberg (ngày 31-10-1517).  Nội dung của đề tài là căn bản của Đức tin và (chống lại) những việc làm đương thời của Giáo hội, nhất là sự việc Bán đặc quyền (sale of indulgence) cho Sự Tha tội (pardon of sin).  

Những "đề nghị" nầy chỉ là phát biểu từ lý luận (academic statement), những đề tài đưa ra với mục đích cho bàn cãi và bào chữa.  Nhưng trọng điểm căn bản của 95 đề nghị là chân lý cần phải tìm từ Thánh kinh chứ không phải từ sự giảng dạy của Giáo hội. 

 

Thay vì tạo ra sự tranh luận (debate) như tác giả mong muốn, 95 Đề nghị phát khởi chiến tranh binh lửa dữ dội chưa từng thấy khắp Âu châu.  Phong trào Cải Cách tàn phá thế giới Kitô giáo trong hơn 100 năm với những cố chấp dữ dội và thù ghét kéo dài trong một vài cộng đồng Kitô giáo cho tới ngày hôm nay.  Hình như không có chiến tranh tôn giáo nào tàn hại như vậy, khởi từ Wittenberg vào năm 1517.  Luther cũng không dè có hậu quả trầm trọng như vậy (với nhiều yếu tố) và cũng gây tai hại cho ông.

 

Tòa Thánh quyết định đàn áp việc xấc xược vô lễ nầy.  Bản viết của Luther bị đốt ở Rome, (1520), theo đó ông bị trục xuất (1520 hay 1521).  Đây là những điều tiên đoán được.  

Nhưng điều không dự đoán là sự ủng hộ ở Đức (Đế quốc Thánh La Mã) từ nhiều người đã bất bình sự can thiệp của Giáo hoàng và kết quả của "máy in", mới sáng chế bởi Gutenberg.  Bản in của 95 đề nghị của Luther tràn ngập khắp Âu châu trong vòng vài tuần lễ.  Báo chí truyền bá những tranh luận cải cách, đa số từ Luther.  Trong vòng 6 năm, có 1300 ấn bản của Luther.

 

Từ năm 1517, Luther được Frederick the Wise bảo vệ, không giao cho Rome và cho ẩn trú trong lâu đài của mình.  Luther còn được các hiệp sĩ Đức ủng hộ lôi cuốn luôn Hoàng đế trẻ tuổi của Đế quốc Đức, Charles V (Hoàng đế Thánh La Mã).  

Luther dịch Tân Ước ra tiếng Đức và bắt đầu rao giảng theo triết lý Thần học của mình.  

Theo ông, mỗi cá nhân đều có thể tự mình tìm ra ý nghĩa từ Kinh Thánh và không cần sự trợ giúp của Tăng lữ (clergy).  Và trung tâm điểm của giáo huấn của Luther là ý niệm cho rằng sự cứu rỗi của con người chỉ tùy thuộc vào đức tin (faith) mà thôi.  

Ý kiến nầy thách đố lại giáo lý của Giáo hội là sự cứu rổi không phải chỉ dựa trên đức tin mà cũng trên "làm việc thiện" (good works), đôi khi được diễn giải như là đem tiền dâng cúng cho Giáo hội.  

Tại đây ông bắt đầu mở ra ý kiến tổ chức Giáo phái Lutheran.  Ý kiến của Luther được lan truyền như ngọn lửa cháy nhờ một phần vào kỹ thuật in mới.

 

Hội đồng Hoàng gia ở Worm (Diet of Worms)

Luther được hoàng gia bảo đảm sự an toàn trên đường đi tới và về từ Hội đồng Hoàng gia (Diet) tổ chức ở Worms (1521).  Luther đến Worms với sự hộ tống của các hiệp sĩ Đức.  Trong diễn văn dài, Luther giải thích là ông sẽ chối bỏ bất cứ ý kiến nào của ông nếu nó là sai, căn cứ từ kinh thánh hay lý lẽ (reason).  Nếu không thì ông vẫn thật tình với ý thức của mình và với sự hiểu biết của mình về Thiên Chúa.  Báo chí kết luận bằng câu nói nổi danh của Luther: "Here I stand, I can not do otherwise".

(Diet = Imperial Assembly = Hội đồng Hoàng gia)

 

Từ lòng cương quyết của Luther, tôn giáo Luther (Lutherism) trở thành tôn giáo chính thức của vùng Saxony (thuộc Đức).  Nó nhanh chóng lan tràn tới những tiểu quốc (states) khác trong Đế quốc Đức (Đế quốc Thánh La Mã, theo tên gọi từ Giáo hội Công giáo ở Rome), thúc đẩy cãi lộn và tranh chiến với Hoàng đế.  

Tại Hòa ước Augsburg (Peace of Augsburg), Hoàng đế Đức Charles V (Hoàng đế Thánh La Mã) nhượng bộ, cho quyền các nhà lãnh đạo của các tiểu quốc (trong Đế quốc) được tự quyền chọn tôn giáo cho tiểu quốc (state) của mình.  

Giáo phái Lutheran được thành lập ở Đức và bán đảo Scandinavia dựa căn bản trên những triết lý Thần học của Luther (Tôn giáo Luther = Lutherism).

 

Năm 1525, Luther lấy vợ và sau đó có người 6 con.  Vợ của ông tên là Katharina von Bora trước là 1 nữ tu (nun) nhờ ông giúp cùng với 11 nữ tu khác trốn ra khỏi một Nữ Tu viện (Convent) ở Đức vào năm 1523.

 

*

Huldrych Zwingli 

 

Năm 1523, Huldrych Zwingli (1484-1531) , một Linh mục ở giáo đường Zurich, được cảm hứng từ Luther, viết 67 Đề nghị đưa ra nhiều đổi mới lớn hơn về đức tin, việc làm (services) và tổ chức của Giáo hội Công giáo.  Những Đề nghị nầy được Hội đồng thành phố Zurich chấp nhận và ảnh hưởng của Zwingli lan rộng khắp Switzerland và Nam Đức.

 

Nội chiến Tôn giáo ở Thụy Sĩ.

Từ Zurich, 5 quận (canton) trong 13 quận của Liên bang Thụy Sĩ (Swiss cofederation) lập ra Liên minh Kháng Cách gọi là Liên Minh của 5 quận (League of 5 cantons) vào năm 1524.  Các quận còn lại theo Công giáo chống lại.

Những Biến cố tiếp theo:

Năm 1529, một Mục sư Kháng Cách bị hỏa thiêu.  Chiến tranh vừa bùng nổ thì có hòa ước giữa 2 bên.  Phe Công giáo nhượng bộ bằng cách cắt liên minh với triều đại Công giáo Hasburg (của Áo).  Đó là Chiến tranh Kappel lần thứ nhất (1st Kappel war).

Năm 1531, chiến tranh lại bùng nổ.  Phe Công giáo thắng Liên minh Kháng Cách ở trận Kappel am Ablis.  Zwingli tử trận trong trận nầy.  Phe Kháng Cách phải ký hòa ước và giải tán Liên minh của mình.  Tuy nhiên Kháng Cách được tự do tôn giáo trong 5 quận của mình.  Đó là Chiến tranh Kappel lần thứ nhì (2nd Kappel war).

 

*

John Calvin

 

John Calvin (1509-1564) là người Pháp ở Geneva (Thụy Sĩ).  Năm 1536, ông xuất bản "Institutes" viết ý kiến của ông về Cải cách.  Calvin thì nghiêm nhặc và nặng nề hơn Luther nhưng có tổ chức hơn và nhanh chóng được nhiều người theo. 

Năm 1541, Calvin bắt đầu tổ chức Giáo hội Geneva ở Thụy Sĩ.  Giáo hội theo chế độ tự trị và bầu cử: 

Mục sư = pastors (để giảng dạy)

Tiến sĩ = doctors (để quyết định về giáo lý)

Thầy Tư tế = elders (để duy trì kỹ luật) 

Thầy Trợ tế = deacons (để chăm nom người nghèo 

với một Hội nghị =synod or committee (để tổ chức bầu cử).  


 

Theo ý kiến của Calvin, nhiều cộng đồng tôn giáo Calvinist được thành lập ở Hung, Đức, Hà Lan và Pháp.  Tín đồ theo tôn giáo Calvin (Calvinism) ở Pháp có tên là người Huguenots.  Giáo phái theo tôn giáo Calvin được thành lập ở Scotland và mang tên là Giáo phái Presbyterian của Scotland.   Sở dĩ có dang hiệu "Presbyterian" như vậy là vì Giáo phái xây dựng chung quanh một hội đồng gồm những Thầy Tư tế (elder) dịch từ danh hiệu cũ của Kitô giáo "presbyters".  

 

Từ phong trào Cải Cách, có 4 truyền thống Kháng Cách (Protestant tradition): Lutheran, Anabaptist, Anglican và Reformed/Calvinist/Presbyterian.


 

*

Đế Quốc Thánh La Mã trong Phong trào Cải Cách

 

Phong trào Cải Cách trùng hợp với biến đổi sử địa của Đế Quốc Thánh La Mã dưới thời Hoàng đế Charles V (1500-1558).

Trong phân nửa đầu của thế kỷ thứ 16, Hoàng đế Thánh La Mã Charles V của Đế quốc Đức bành trướng Đế quốc đa số nhờ quyền thừa kế (inheritance).  Charles V thắng đối thủ độc nhất của mình ở Tây Âu là vua Pháp thuộc triều đại Valois ở Ý và ngăn chận được sự xâm lấn của người Turks của Đế quốc Ottoman từ Đông Âu.

 

Những biến cố lịch sử bành trướng Đế quốc Đức sau khi Charles V được bầu làm Hoàng đế của Đế quốc Đức:

Năm 1506, Charles V thừa kế vùng Burgundy (Franche-Conté, Luxembourg và Netherlands) từ cha của mình là Philip of Burgundy.

Năm 1516, khi ông ngoại là Ferdinand of Spain qua đời, Charles V trở thành Vua của Aragon, Sicily và Naples.  Charles V cũng trở thành Nhiếp Chánh (regent) của Castile đại diện cho Mẹ là Joan, thành người điên.

Năm 1519, khi ông nội là Hoàng đế Maximilian qua đời, Charles V thừa kế Austria (Áo), Tyrol, Styria, Carinthia, Carniola và lãnh địa của dòng họ Habsburg ở vùng sông Rhine, cùng với làm Hoàng đế Đế quốc Áo.

Charles V cũng lấy được những vùng đất trong Netherlands như Tournai (1521), Friesland (1523), Overrijssel và Utrecht (1528), Gronigen (1536) và Guelders (1543).

 

Năm 1521, Charles V giao Austria cho em là Ferdinand.  Năm 1526, Ferdinand được Bohemia và Hungary qua vợ của mình là Anne, sau khi anh của bà là vua Lewis của Hungary qua đời. 

 

Năm 1556, Charles V thoái vị, nhường cho Ferdinand làm Hoàng đế Áo Hung và con là vua Philip II sở hữu Spain và Nam Ý.  Những tiểu quốc ở Đức còn lại tùy thuộc vào triều đại Habsburg (của Hoàng đế Ferdinand) trị vì ở Đế quốc Áo Hung.