BIÊN KHẢO - THƠ - VĂN

Phan Thượng Hải

California_________________________

BBT: Qua GS Nguyễn Trung Quân, tác giả Phan Thượng Hải lần đầu tiên đến với Trang Nhà bằng bài biên khảo rất giá trị, nhằm gởi đến đọc giả đại chúng với cái nhìn tổng lượt của một người trẻ về 1 nhân vật văn hóa vĩ đại của nước nhà: Petrus Trương Vĩnh Ký

BS Phan Thượng Hải (CHS PTG 61-64) cùng với người em là LS Winston Phan Đào Nguyên là con của 1 công chức cao cấp của tòa án Cần Thơ, cũng là nhà thơ nổi tiếng của đất Cần Thơ thập niên 40, 50: Thi Sĩ LÃNG BA Phan Văn Bộ

Chúng tôi cám ơn tác giả và trân trọng giới thiệu cùng đọc giả Trang Nhà.

TBT _____________________________________________________________________________

         Bánh tét                        Thịt kho trứng                    Tôm khô củ kiệu                Canh khổ qua

       Canh măng                 Mứt dừa                      Chả giò                        Gỏi gà xé phay

Ảnh từ internet

 MÓN ĂN NGÀY TẾT

                                               (Bs Phan Thượng Hải)

 

Trong ba ngày Tết, mọi người đều "Ăn Tết" với nhiều món ăn tiêu biểu và đặc biệt cho ngày Tết.  Những món ăn ngày Tết cũng là những đề tài văn thơ và câu đối trong văn học Việt Nam.

 

Bốn nghìn lần: Xuân Hạ Thu Đông, vạn vật lanh quanh vòng lẩn quần

Ba ngày Tết: xôi chè rượu thịt, tứ dân hì hục chén no nê

 

ĂN TẾT

Hoa quả giò nem với bánh chưng

Bàn thờ chật nứt tổ tiên mừng

Khói hương nghi ngút người đương lễ

Mâm cổ linh đình chủ đã bưng

Chỉ cuộc rượu chè mà bộn rộn

Riêng lời chúc tụng chỉ tưng bừng

Vui chơi cho bỏ khi nào nhỉ?

Chạy vạy đã còng cả sống lưng. (*)

(Vân Hạc Lê Văn Hoè)

(*) Chạy vạy=Xoay xở nhiều cách, vất vả để lo liệu (việc gì).

 

ĐẠI CƯƠNG

 

Món ăn ngày Tết có khác nhau tùy theo địa phương.

Món ăn tiêu biểu ở miền Bắc là Bánh Chưng, Thịt (Mỡ) Đông, Dưa Hành và Giò Lụa.  Ngoài ra cũng có những món đặc biệt như: Giò Thủ, Gà luộc, Canh Măng, Bóng Bì, Chân Giò nấu nấm hương, Miến Lòng Gà, Nộm và Xôi gấc.

Món ăn tiêu biểu ở miền Nam là Bánh Tét, Thịt kho Nước Dừa, Dưa Giá, Củ Kiệu và Tôm khô.  Ngoài ra cũng có những món khác, thông thường, nhưng cũng được thết đãi trong ngày Tết như Chả Giò, Gỏi cuốn, Nem (Nem chua), Lạp Xưởng và Bì.

Món ăn đặc biệt riêng cho người miền Trung là Canh Khổ Qua và Tré.  Ngoài ra cũng có những món khác như Thịt Heo quay, Cá Rô chiên và Xôi.

 

Dưa Hấu là món trái cây tiêu biểu trong ngày Tết của miền Nam.  Từ Dưa Hấu sinh ra món Hạt Dưa cũng phổ thông trong 3 ngày Tết.

Bánh Chưng (từ người Bắc) và Bánh Tét (từ người Nam) là 2 loại Bánh tiêu biểu của những ngày Tết.

Những loại Mứt thông thường trong ngày Tết là Mứt Hạt Sen, Mứt Bí, Mứt Dừa và Mứt Gừng.

 

Báo Văn Hóa Ngày Nay của Văn sĩ Nhất Linh thời Đệ Nhất Cộng Hòa có những câu đối về món ăn ngày Tết thay đổi từ Bắc vô Nam.

Câu đối của người Bắc:

Nêu cao pháo nổ bánh chưng xanh

Thịt mỡ dưa hành câu đối đỏ

Câu đối của người Bắc sau khi di cư vào Nam năm 1954:

Cột (đèn) cao xe nổ tiêu tiền xanh

Củ kiệu tôm khô dưa hấu đỏ

 

TẾT ĐẾN

Anh em đừng nghĩ Tết tôi nghèo

Tiền bạc trong kho chửa lỉnh tiêu

Rượu cúc nhắn đem, hàng biếng quẩy

Trà sen mượn hỏi, giá còn kiêu

Bánh chưng sắp gói, e nồm chảy

Giò lụa toan làm, sợ nắng thiu

Thôi thế thì thôi dành Tết khác

Anh em đừng nghĩ Tết tôi nghèo.

(Trần Tế Xương)

GIÒ LỤA
Giò Lụa (tiếng Bắc) và Chả Lụa (tiếng Nam): món ăn làm bằng thịt heo, gói lá chuối.
Giò Lụa là món ăn đặc biệt riêng của người Việt. Nguyễn Tuân trong "Tùy Bút" có viết:
Hình như Giò Lụa là một tiết mục độc đáo chỉ ta mới có, chỉ người Việt Nam ta mới nghĩ
ra và làm ra mà thôi (tôi thành thật rất mong một bạn bác học nào dẫn chứng và chỉ cho tôi thấy
thêm là ngoài cõi Việt Nam, Giò còn thấy ở vùng nào xứ nào nữa kia). Tại sao lại có cái anh
Việt Nam nghĩ ra món Giò.
Giò Lụa thường ăn chung với: Bánh giầy, Bánh cuốn, Bánh Giò, Xôi hay Cơm...
Từ Giò Lụa hay Chả Lụa có những món ăn khác:
(chưng hấp): Chả Bì (Tré), Chả Bò (làm bằng thịt bò), Chả Huế (có tiêu hột)
(chiên): Chả Chiên, Chả Quế (có thêm quế=cinamon)
Giò Thủ, khác Giò Lụa, lấy từ thịt nấu đông của phần đầu của con lợn. Có từ nhiều quốc gia,
Giò Thủ theo tiếng Anh là Head Cheese hay Brawn.

 

BÁNH CHƯNG
Nguồn gốc của Bánh Chưng được ghi trong Lĩnh Nam Chích Quái của Trần Thế Phát viết vào
thời nhà Trần, được Vũ Quỳnh hiệu đính vào thời nhà Hậu Lê và Lê Hữu Mục dịch ra chữ Quốc
ngữ.
Dưới đây là nguyên văn trích trong Lĩnh Nam Chích Quái:
TRUYỆN BÁNH CHƯNG
Sau khi Hùng Vương đã phá giặc Ân rồi, trong nước thái bình mới lo việc truyền ngôi cho con,
hội 22 vị Công tử lại mà bảo rằng:
Ta muốn truyền ngôi cho đứa nào làm vừa lòng ta là đến kỳ cuối năm biết đem trân am
mỹ vị đến dâng cúng Tiên vương để tròn đạo hiếu thì ta sẽ truyền ngôi cho.
Các công tử lo đi tìm các trân kỳ, hoặc săn bắn, hoặc chài lưới, hoặc mua ở chợ, vụ được nhiều
của ngon vật lạ không biết bao nhiêu mà kể. Duy có Công tử thứ chín tên là Lang Liệu, bà mẹ

hàn vi đã lâm bệnh mà quá cố, tả hữu lại ít người nên khó bề toan tính, ngày đêm thao thức ăn
ngủ không yên.
Hốt nhiên mộng thấy thần nhân bảo rằng:
Trong trời đất không có gì quí bằng gạo, vì gạo là của để nuôi dân, người ta ăn mãi
không chán, không có vật gì đứng trước được; nếu lấy gạo nếp, hoặc gói làm hình tròn để tượng
trời, hoặc gói làm hình vuông để tượng đất, ở trong làm nhân cho thật ngon, bắt chước hình
trạng trời đất bao hàm vạn vật, ngụ ý cái ơn trời đất phát dục vạn vật, như thế thì lòng cha sẽ
vui, tôn vị chắc được.
Lang Liệu mới lựa hột nếp nào trắng tinh, hoàn toàn không sức mẻ thì đem vút đi, để cho ráo rồi
lấy lá chuối gói thành hình vuông, bỏ nhân ngon vào giữa, đem nấu đi cho chín, gọi là bánh
chưng. Lại lấy nếp nấu xôi đem quết cho thực nhuyễn, nắn làm hình tròn để tượng hình trời, gọi
là bánh dày.
Đúng kỳ Vương hội các con lại trưng bày phẩm vật; các con đem dâng không thiếu thứ gì, duy
chỉ có Lang Liệu đem bánh tròn, bánh vuông đến dâng. Hùng Vương lấy làm lạ hỏi Lang Liệu.
Lang Liệu trình bày như lời thần nhân đã bảo. Vương thân hành nếm thử thì thấy vị ngon vừa
miệng ăn không chán, phẩm vật của các công tử khác không sao hơn được. Vương khen ngợi
giây lát, rồi cho Lang Liệu được giải nhất.
Năm hết, Vương dùng bánh ấy dâng tiên miếu và cung phụng cha mẹ, thiên hạ bắt chước truyền
đến bây giờ, lấy tên của Lang Liệu để gọi là Tiết Liệu.
Hùng Vương truyền ngôi cho Lang Liệu; 21 anh em đều giữ các phiên trấn, lập thành bộ đảng,
cứ thủ núi sông để làm hiểm cố.
Về sau họ hằng tranh nhau làm trưởng, mỗi người dựng mộc sách để che kín bởi vậy gọi là sách,
là trại, là trang, là phường khởi thủy từ đấy.
CẢNH TẾT
Ai dám chê ta Tết nhất nghèo
Nghèo mà lịch sự đố ai theo
Bánh chưng chất chặt chừng ba chiếc
Rượu thuốc ngâm đầy độ nửa siêu
Trừ tịch kêu vang ba tiếng pháo
Nguyên tiêu cao ngất một gang nêu
Ai xuân ta cũng chơi xuân với
Chung đỉnh ơn vua ngày tháng nhiều.
(Nguyễn Công Trứ)
Từ Bánh Chưng có những câu đố trong dân gian:
Nhà xanh lại đánh đổ xanh
Giữa đỗ giồng hành, thả lợn vào trong
Cây xanh mà giồng đỗ xanh
Giồng đậu giồng hành lại thả lợn vô
Một thửa đất vuông bốn phía xây thành
Xung quanh giồng chuối, giữa tỉa đậu trồng hành
Ngoài thành trồng giang

 

BÁNH TÉT
Hình như Bánh Tét ra đời ở Nam Hà là chịu ảnh hưởng của người Chiêm Thành, hình tượng hóa
Linga của người Chàm.
Tương truyền vào Tết năm Kỷ Dậu 1789, trước khi tấn công quân xâm lược Tàu, vua Quang
Trung cho quân sĩ ăn Tết trước. Có 1 người lính được vợ gởi cho 1 món bánh làm từ gạo nếp
với nhân đậu xanh, giống như bánh tét ngày nay. Anh lính nầy đem bánh mời vua Quang Trung.
Vua ăn thấy ngon và được biết từ vợ của anh đã thường gởi cho trong khi trong quân đội. Vua
cảm động từ đó ra lệnh cho dân chúng gói loại bánh nầy để ăn trong dịp Tết và đặt tên là Bánh
Tết. Lâu ngày tên bánh thành Bánh Tét.
Theo ông Lê Tân trong bài "Bánh Tét Trà Vinh" thì bánh tét tuy được làm và ăn quanh năm
nhưng thường nhất trong dịp những lễ hội, đặc biệt là ngày Tết. Do đó bánh được gọi là Bánh
Tết và dần dần đọc trại là Bánh Tét. Tên "tét" xuất xứ từ cách cắt bánh nầy gọi là "tét": tay phải
cầm đầu dây khoanh tròn đòn bánh đã lột vỏ, "tét" từng khoanh một đơm lên dĩa.
Bánh Tét ở miền Nam và miền Trung giống Bánh Chưng ở miền Bắc về nguyên liệu và cách nấu
chỉ khác về hình dạng và dùng lá chuối để gói bánh thay vì lá dong (như Bánh Chưng). Bánh
Tét cũng được dùng để ăn Tết như bánh chưng tuy nó được làm và bán quanh năm.
Từ Bánh tét có câu đố:
Vườn xanh lại đóng khố xanh
Xung quanh trồng hành giữa thả lợn vô

 

THỊT KHO NƯỚC DỪA
Thịt kho đặc biệt có trứng và nước dừa. Có tên là Thịt Kho Tàu nhưng không thấy trong món ăn
của người Tàu. Khi bàn về các địa danh Nam Kỳ có từ ngữ "tàu" như Cái Tàu Thượng hay Cái
Tàu Hạ, thì ông Bình Nguyên Lộc mới cắt nghĩa là từ ngữ "tàu" ở đây có nghĩa là "lạt" (không
"mặn") chứ không có nghĩa là "chiếc tàu" hay "người Tàu". Thịt kho nước dừa nầy thì không
mặn như những thịt kho thường ăn hàng ngày.
THỊT KHO NGÀY TẾT
Nước mắm nước dừa nấu thịt kho
Trong ba ngày Tết chẳng hề lo
Trứng gà hấp dẫn, màu hơi đậm
Nạc mỡ ngon lành, miếng khá to
Ăn với dưa chua càng thấy thích
Và thêm cơm trắng thế là no
Vui chơi thong thả quanh thành phố
Tối đến về nhà có thịt kho.
(Phan Thượng Hải)

 

DƯA HẤU
Cũng như Bánh Chưng, nguồn gốc của Dưa Hấu được ghi trong Lĩnh Nam Chích Quái của Trần
Thế Phát viết vào thời nhà Trần, được Vũ Quỳnh hiệu đính vào thời nhà Hậu Lê và Lê Hữu Mục
dịch ra chữ Quốc ngữ.
Dưới đây là nguyên văn trích trong Lĩnh Nam Chích Quái:
TRUYỆN DƯA HẤU
Ngày xưa, đời Hùng Vương có một người tên là Mai An Tiêm, người ngoại quốc, mới được 7
tuổi, do thuyền buôn chở đến. Vương mua về làm đầy tớ, kịp lúc lớn lên thì diện mạo đoan
chính, nhớ biết nhiều việc.
Vương đặt tên là Yển, tên chữ An Tiêm và cho một người thiếp. sinh được một trai. Vương yêu
dùng để sai bảo, dần dần Yển thành phú quí, ai cũng úy phục, và chen nhau đến dâng lễ vật
không thức gì là không có; Yển sinh ra kiêu mạn, thường tự bảo rằng:
Của cải nầy là vật của tiền nhân ta, ta không từng trông nhờ vào ơn chúa.
Hùng Vương nghe được, cả giận nói rằng:
Làm thần tử mà nó không biết ơn chúa, sinh ra kiêu mạn, nói rằng của cải đều là vật tiền
thân của nó. Bây giờ ta đem bỏ nó ra ngoài biển, ra cái chỗ không người ấy coi thử nó có còn
cái vật tiền thân của nó nữa hay không?
Bèn đày Mai Yển ra ngoài bãi cát cửa biển Nga Sơn, tứ phía không có chân người đi đến, chỉ để
cho lương thực đủ dùng trong bốn năm tháng mà thôi, ăn hết là chết đói. Chị vợ khóc ầm lên,
bảo rằng ta chắc chết ở đây không lý gì sống được.
Tiêm nói:
Trời đã sinh thì trời phải dưỡng, có lo gì?
Ở chưa bao lâu, đương lúc tháng tư, bỗng thấy một con bạch hạc từ phương tây bay lại, đậu lên
một mỏm núi cao, kêu lên ba bốn tiếng thì sáu bảy hạt dưa rơi trên mặt cát, đâm chồi nẩy lộc, lan
trên cát, xanh tốt rườm rà, rồi kết thành trái dưa, nhiều không kể xiết.
An Tiêm mừng rỡ nói:
Đây đâu phải là quái vật, đó là trời cho để nuôi ta đó.
Bổ dưa ra ăn thì mùi vị thơm ngon ngọt ngào, ăn vào thì tinh thần khỏe khoắn; rồi cứ mỗi năm
trỉa thêm, ăn không hết thì đem đổi lấy lúa gạo nuôi vợ con. Nhưng không biết dưa ấy tên là gì,
mới nhân chim tha từ phương tây đến nên đặt tên là Tây Qua.
Những khách chài lưới, buôn bán, ưa mùi vị của nó đều đem phẩm vật của mình để đổi lấy dưa.
Nhân dân xa gần, trên rừng dưới bến tranh nhau mua hạt bắt chước trồng tỉa khắp bốn phương;
dân gian suy tôn An Tiêm làm "Tây qua phụ mẫu".
Lâu ngày, Vương nhớ đến An Tiêm, sai người đến chỗ An Tiêm ở hỏi thăm có còn sống hay
không.
Người ấy về tâu lại với Vương. Vương than thở hồi lâu mới nói rằng:
Nó bảo là vật tiền thân của nó, thực là không nói dối vậy.
Vương bèn triệu An Tiêm về, trả quan chức lại và cho tỳ thiếp, đặt tên chỗ An Tiêm ở là "An
Tiêm Sa Châu"; thôn ấy gọi là Mai An, đến nay còn lấy tây qua tôn phụng tổ khảo mà tế tự, là
khởi đầu từ An Tiêm vậy.
Ông Nguyễn Trọng Thuật (1883-1940) dựa vào chuyện nầy viết thành tiểu thuyết "Quả Dưa Đỏ"
xuất bản tại Hà Nội năm 1925. Được giải thưởng văn chương của hội Khai Trí Tiến Đức (năm
1925).

Trong lịch sử, Mai An Tiêm là con nuôi của vua Hùng Vương thứ 17. Ông bị vua đày ra một
đảo hoang vu nay là vùng của huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa. Tại đây, Mai An Tiêm gây được
giống Dưa Hấu và sau nầy được tôn là ông tổ nghề trồng Dưa Hấu. Ngày nay ở tại xã Nga Phú,
huyện Nga Sơn có dãy núi mang tên Mai An Tiêm. Dưới chân núi có đền thờ Mai An Tiêm.
Hàng năm có lễ hội 12-15 tháng Ba.
TRÁI DƯA HẤU
Khởi đầu sự tích thuở Hùng Vương
Với chuyện An Tiêm khá dị thường
Hạt giống từ chim, nhờ mệnh tốt
Cây hoa kết quả, được Trời thương
Vỏ xanh biểu tượng niềm hy vọng
Ruột đỏ bao hàm nghĩa thiện lương
Tiêu chuẩn món ăn khi Tết đến
Mang theo phước lộc thọ an khương.
(Phan Thượng Hải)

Từ quả Dưa Hấu có những câu đố trong dân gian:
Ngoài xanh trong đỏ hồng hồng
Quan vua cũng chuộng mẹ chồng cũng yêu
Mùa hè lắm kẻ nâng niu
Mùa đông lắm kẻ dập dìu duyên ta
Ngoài xanh trong đỏ như vang
Khen ai khéo đặt cho nàng tên đôi
Dưa Hấu có tên khoa học là Citrullus lanatus là một loài thực vật trong họ bầu bí (Citrullus). Nó
có nguồn gốc từ miền Nam của Phi Châu.
Trái Dưa Hấu có vỏ cứng, thường màu xanh lục và trong ruột có màu đỏ thường chứa nhiều
nước (Watermelon in English).
Từ ngữ "Hấu" trong "Dưa Hấu" không có nghĩa gì hết. Trong các loại hoa, quả, chim. thú... thì
có những từ ngữ dùng để gọi nó chỉ để dành riêng cho nó, có thể có nghĩa hoặc không có nghĩa.
"Hấu" được dành riêng cho "Dưa Hấu" tuy riêng nó không có nghĩa gì hết.
Đứng riêng một mình, từ ngữ "Hấu" không có trong từ điển Tiếng Nôm. "Hấu" trong từ điển
Hán Ngữ đồng nghĩa với "Hậu" (có nghĩa là: sau đó, kế đó).
Cách lựa Dưa Hấu ngon:
1. Có 2 loại: Dưa Hấu đực và Dưa Hấu cái
Dưa Hấu đực: thon và cao hơn; vòng tròn dưới đáy rất nhỏ (như hình 1 đồng xu nhỏ). Nó
có nhiều nước hơn.
Dưa Hấu cái: tròn và lùn hơn; vòng tròn dưới đáy to hơn. Nó ngọt hơn.
2. Lựa cỡ trung bình đồng cỡ với đám Dưa, không nhỏ hay lớn hơn quá mức
Nếu nặng hơn (và hơi nhỏ) thì là Dưa già, ngon và nhiều nước
Nếu nhẹ (và to) thì có thể Dưa bị xốp.

3. Vỏ Dưa
Nhìn vỏ dưa: nếu vỏ càng nhẳn thì Dưa càng chín. Nếu có "vân" thì "vân" phải rõ ràng.
Ấn vào vỏ dưa: nếu cứng thì tốt; nếu mềm thì không nên mua.
Vỗ vào quả Dưa: nếu phát ra tiếng kêu đanh thì là Dưa già và chín; nếu phát ra tiếng nhẹ,
"lộp bộp", thì là Dưa non hay bị chín nẫu bên trong.
4. Vỏ Dưa có vết Ong châm cho thấy Ong đã tiếp xúc với bộ phận thu phấn của hoa (trước khi
thành quả) rất nhiều. Sự thụ phấn càng nhiều thì Dưa càng ngọt.
5. Cuống Dưa
nếu màu xanh: là Dưa chưa chín, hái quá sớm
nếu héo: là Dưa đã chín rồi.
5. Tìm vết rám ở phần đáy của trái Dưa (phần đối diện với Cuống dưa): Dưa ngon nếu có vết
rám màu vàng (ngon) và màu vàng cam (rất ngon)

 

CANH KHỔ QUA
Canh Khổ Qua là món ăn truyền thống ngày Tết của người miền Trung. Theo Hán ngữ là Khổ
Qua còn tiếng Nôm là Mướp Đắng. Trái Khổ Qua là thuộc loại Bầu Bí với tên khoa học là
Momordica charantia.
Ca dao về Khổ Qua rất nhiều:
Khổ qua xanh, khổ qua trắng
Khổ qua mắc nắng khổ qua đèo
Anh có thương em thì mần giấy giao kèo
Dù sanh dù tử dù nghèo em cũng theo
Khổ qua xanh, khổ qua trắng
Khổ qua mắc nắng khổ qua đèo
Anh có thương em thì mần giấy giao kèo
Thò tay điểm chỉ "con mèo" của anh
Đói lòng ăn trái khổ qua
Nuốt vô sợ đắng nhả ra bạn cười
Dê xồm ăn lá khổ qua
Ăn nhầm lá đậu chết cha dê xồm
Chừng nào cây kia không lá
Chừng nào cá nọ có xương
Chừng nào ớt ngọt như đường
Khổ qua kia hết đắng, đạo cang thường mới hết thương
Khổ qua mắc nắng khổ qua đèo
Cái mặt như chim mèo hò hát với ai

Đắng khổ qua, chua là chanh giấy
Dầu ngọt cho mấy cũng tiếng cam sành
Giặc Lang Sa đánh tới châu thành
Dù ai ngăn qua đón lại, dạ cũng không đành bỏ em

 

TRÉ
Theo truyền thuyết thì lúc đầu Tré là món ăn đặc sản ở Qui Nhơn, xuất hiện vào thời khởi nghĩa
của nhà Tây Sơn. Lúc đó, nguyên liệu dùng làm món ăn nầy được người địa phương nhồi vào
một cái "ché" bằng đồ gốm rồi chôn dưới đất để lên men, dùng ăn trong dịp Tết. Có lẽ do đó tên
gọi của món ăn nầy được đọc trại từ "ché" thành "tré". Lúc vua Quang Trung lên ngôi, đóng đô
ở Phú Xuân (Huế), quan lại Tây Sơn đem món ăn dân dã nầy về kinh đô. Từ đó món Tré trở
thành món ăn cung đình quí phái và cách thức chế biến cầu kỳ tinh tế hơn trong hương vị và hình
thức không còn trong ché mà thay bằng từng lọn nhỏ gói bằng lá như ngày nay. Từ đó Tré thành
món ăn của miền Trung. Ngày nay, Tré dùng thịt heo, riềng, tỏi, nước mắm và các loại gia vị
gói vào lá ổi bao bọc bởi lá chuối bên ngoài.
Tré còn gọi là Nem Bì.

 

MỨT TRONG NGÀY TẾT
Tất cả 42 loại Mứt từ thực vật.
Tiêu biểu: Hạt Sen, Dừa, Bí, Gừng. Có 7 loại mứt Dừa khác nhau.
Thông thường: Chùm Ruột, Tắc, Củ Sen
Hiếm: Thơm, Kiwi, Cà Rốt, Chanh, Vỏ Chanh, Rau Câu, Khế, Xoài, Củ Cải trắng, Khoai
Lang, Khoai Tây, Khoai Môn, Táo Xanh, Chuối Xanh, Dâu Tằm, Cóc, Mứt thập cẩm

 

BÁNH TRONG NGÀY TẾT
Tiêu biểu: Bánh Chưng và Bánh Tét
Thông thường:
Bánh In: Đặc sản từ Huế. Bánh dâng cho Vua ăn với uống trà trong dịp Tết, với ý nghĩa
chúc vua được trường thọ.
Bánh Đậu Xanh: Đặc sản từ Hải Dương. Bánh dùng đãi khách hay như quà biếu trong
dịp Tết.
Bánh Phu Thê là đặc sản của Huế: Phu là chồng, Thê là vợ; bánh tượng trưng cho hình
ảnh vợ chồng. Bánh dùng trong dịp cưới hỏi hay ngày Tết. Cũng có bánh Su Sê hay Xu Xê là
đặc sản của Bắc Ninh (?) có cùng một ý nghĩa và công dụng. Su Sê chắc là tiếng đọc trại của
Phu Thê?
Bánh Ít Lá Gai: Đặc sản của Qui Nhơn, hình như cái tháp Chàm Tương truyền từ con gái
út của Hùng Vương (dựa theo ý nghĩa của Bánh Chưng và Bánh Dày).
Hiếm:
Bánh Đúc: làm bằng bột gạo (Bắc và Trung) và làm bằng bột năng (Nam)

Bánh Tổ: Đặc sản ở Hội An, người Tàu đem vào (thế kỷ 16-17)
Bánh Tai Heo
Bánh Bột Lọc: từ miền Trung
Bánh Tẻ: làm bằng bột gạo tẻ; còn gọi là Bánh Lá.
Bánh Gio (chấm mật): còn có tên là Bánh Tro, Bánh Ú Tro hay Bánh Nắng
Bánh Bò
Bánh Gai: Đặc sản của Làng Mía, nay là xã Thọ Diên, huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa.
Bánh Biscuit (Bánh Quy Bơ)
Bánh Lăn: ở miền Trung
Bánh Nổ: đặc sản từ Quảng Ngãi
Bánh Thuẫn
Bánh Măng: ở Huế

 

(Kết Luận)
Trong hơn 40 năm xa xứ, năm nào 2 vợ chồng chúng tôi cũng cúng ông bà chiều 29 hay 30 (Tết)
và cúng chè lúc Giao Thừa. Món ăn chính luôn là món Thịt Kho Nước Dừa do vợ tôi nấu.
Đây là bài thơ tôi làm sau khi cúng 30 Tết năm rồi (Mậu Tuất):

 

CHIỀU BA MƯƠI TẾT
Chiều ba mươi Tết cúng ông bà
Lặng lẽ ngôi nhà quạnh quẽ xa
Dưa giá thịt kho và bánh mứt
Nhang đèn bức ảnh với bình hoa
Tha hương xa vắng nhiều phong tục
Viễn xứ xa vời một quốc gia
Ngày Tết năm xưa bao kỷ niệm
Tân xuân cảm cựu tuổi thêm già.
(Phan Thượng Hải)

Bs PHAN THƯỢNG HẢI biên soạn và giữ bản quyền


Bài viết nầy đăng trong phanthuonghai.com mục Văn Hóa phần Học Thuật.

GIÁO LÝ GIÁC NGỘ CỦA ĐẠI THỪA THIỀN TÔNG

 

                                                     Bs Phan Thượng Hải

 

Phật Giáo dùng giáo lý triết học và tín ngưỡng tôn thờ để đạt được cứu cánh là thoát khổ hay thực tế hơn là thoát khỏi phiền não.  

Tôn thờ tín ngưỡng giúp Phật tử thoát khổ nhờ sự cứu độ của chư Phật và Bồ tát.  

Giáo lý triết học dạy cho Phật tử tự giác ngộ và khi giác ngộ là thoát khổ.

Phật Giáo có 2 giáo lý giác ngộ: 1 của Phật Giáo Nguyên thủy và 1 của Phật Giáo Đại thừa.  Giáo lý Phật Giáo Đại thừa hiện đại là của Thiền tông (dung hòa và tổng hợp Không tông và Tánh tông).

Bài viết nầy trình bày tóm tắt rõ ràng một cách khoa học giáo lý giác ngộ của Đại thừa Thiền tông để giúp cho Phật tử tự tu học mà tự giác ngộ.  Phật tử không phải khổ nhọc trong Tăng già hay tu Thiền cũng như không phải tìm tòi học hỏi khó khăn từ quá nhiều kinh, luận và công án (mới hoặc cũ) hay theo thụ giáo từ các bậc cao tăng, thiền sư và lạt ma để rồi cuối cùng vẫn "cưỡi lừa tìm lừa" và tiếp tục trầm trồ ngưỡng mộ những bậc thành đạo nổi danh trong quá khứ và hiện đại.

Tục ngữ nước Việt ta có câu than rằng:

Bụt nhà không thiêng, cầu Thích Ca ngoài đường.

Bụt nhà chính là Phật tánh có sẵn trong mỗi người, giúp mỗi người có thể thành Phật.

 

I. ĐẠI CƯƠNG

 

1) Lịch sử của Phật Giáo

 

Lịch sử Phật Giáo bắt đầu ở Ấn Độ từ Phật Thích Ca, người sáng lập ra Phật Giáo Nguyên thủy với nhiều kinh và luận trong Tam tạng (Kinh tạng, Luật tạng và Luận tạng) vào thế kỷ thứ 5 tr CN.  

Đến thế kỷ thứ nhất tr CN, Phật Giáo Đại thừa thành lập ở Ấn Độ với giáo lý khác dựa trên nhiều kinh và luận mới từ các tu sĩ Đại thừa, bắt đầu với kinh Pháp Hoa, kinh Hoa Nghiêm và kinh Bát Nhã.  Phật Giáo Đại thừa đặt tên cho Phật Giáo Nguyên thủy là Phật Giáo Tiểu thừa để phân biệt.  Từ 1950s, cộng đồng Phật Giáo thế giới cấm dùng danh hiệu "Tiểu thừa".

Phật Giáo Đại thừa Ấn Độ có 2 phái là Trung Quán và Duy Thức (còn gọi là Du Già).  

 

Phật Giáo Đại thừa Trung Quốc được truyền sang từ Ấn Độ vào thế kỷ thứ nhất (sau CN).  Theo giáo lý triết học, Đại thừa Trung Quốc được chia ra làm 2 nhóm giáo tông chánh:

Không tông từ Trung Quán phái.

Tánh tông từ Duy Thức Du Già phái.

Dung hòa và tổng hợp Không tông và Tánh tông, giáo lý triết học của Thiền tông tồn tại và đại diện cho Đại thừa cho đến ngày hay. 

Thiền tông bắt đầu ở Trung Quốc từ Nhất tổ Bồ Đề Đạt Ma và có những vị thầy quan trọng là Lục tổ Huệ Năng và thiền sư Triệu Châu Tòng Thẩm.  Giáo lý giác ngộ có trong Pháp Bảo Đàn kinh (của Huệ Năng) và các công án.

 

Phật Giáo Tây Tạng Kim Cang thừa, một thừa thứ ba của Phật Giáo, có giáo lý triết học không khác Thiền tông.

 

2) Vũ trụ quan của Phật Giáo từ Phật Giáo Nguyên thủy

 

Phật Giáo có vũ trụ quan riêng của nó, có lẽ từ Ấn Độ Giáo và khác với các giáo khác (như Nho Giáo) hay tôn giáo khác (như Kitô Giáo).

 

Theo Phật Giáo Nguyên thủy,vũ trụ chúng ta đang sống gồm có tất cả mọi sự vật (all beings and all things).  Phật Giáo gọi là "sự vật hiện hữu" (all existences).

Trong những sự vật hiện hữu của vũ trụ chúng ta đang sống có những sinh mạng (sentient beings) có kiếp sống gồm sinh, lão, bệnh, tử và tái sinh trong những kiếp khác tiếp theo lục đạo mà luân hồi mãi mãi.

Sinh mạng = Sentient being

Chúng sinh (Chúng sanh) = Tất cả mọi sinh mạng = All sentient beings

Có loại 6 loại sinh mạng: 

Con người hay Nhân mạng (Human being)

Súc sinh = Thú vật = Động vật (Animal)

Chúng sinh ở Địa ngục có thể gọi là Quỉ ở Địa ngục (Địa ngục = Hell; Quỉ = Ghost)

Ngạ quỉ (Hungry ghost)

A tu la (dịch âm từ tiếng Phạn là Atula) 

Thiên (dịch từ tiếng Phạn là Deva, Gods theo Anh ngữ)

 

Mỗi sinh mạng thuộc 1 loại trong kiếp A thì khi chết (= tử) sẽ tái sinh vào một kiếp B tiếp theo và thành 1 trong 6 loại (sinh mạng) trong kiếp B tiếp theo nầy tùy theo Nghiệp của mình trong kiếp sống A.  Thuật ngữ Phật Giáo gọi là tái sinh trong lục đạo (6 con đường) và sự lập lại liên tiếp từ kiếp nầy qua kiếp khác gọi là luân hồi.

Thí dụ: Con người có thể tái sinh thành con người, hay thú vật, hay ngạ quỉ...

 

Giáo lý của Phật Giáo Nguyên thủy dựa căn bản trên "nhân duyên nghiệp quả" áp dụng cho 6 loại sinh mạng trong mọi kiếp trong luân hồi.

Giáo lý của Phật Giáo Đại thừa Thiền tông không dựa căn bản trên "nhân duyên nghiệp quả" và chỉ áp dụng cho 1 loại sinh mạng là con người (nhân mạng) trong kiếp đang sống mà thôi. 

 

3) Giáo lý Phật Giáo

 

a) Phật Giáo Nguyên thủy

 

* (Nội dung triết học và tôn giáo)

Cứu cánh của Phật Thích Ca và Phật Giáo Nguyên thủy là giác ngộ, diệt hết khổ (phiền não) cho sinh mạng (a sentient being) trong kiếp sống nầy mà sinh mạng đạt niết bàn và do đạt niết bàn nên thoát khỏi phải khổ vì không phải tiếp tục tái sinh nhiều kiếp khác mãi mãi trong lục đạo luân hồi.  

Giáo lý giác ngộ của Phật Giáo Nguyên thủy căn cứ trên "nhân duyên nghiệp quả" của một sinh mạng đối với sự vật và sinh mạng khác trong nhiều kiếp luân hồi mà đưa ra đoạn hoặc (đoạn diệt mê hoặc) đối với tất cả mọi sự vật hiện hữu (hiện tượng) và trì giới đối với mọi người khác và sinh mạng khác.  Thực tế của giáo lý là đoạn hoặc và trì giới.

Giáo lý của Phật Thích Ca gồm triết học và tôn giáo (vì có thêm giới luật, áp dụng cho mọi sinh mạng và liên quan tới nhiều kiếp trong tái sinh luân hồi).

 

* (Hình thức tôn giáo)

Giác ngộ của Phật Giáo Nguyên Thủy là Bát Chánh đạo, là (đạt) Niết bàn.

Danh hiệu của người giác ngộ đạt niết bàn là La hán.  Danh hiệu Phật chỉ dùng giới hạn cho Phật Thích Ca, vị Phật có thật trong lịch sử và vài chục vị Phật theo truyền thuyết.  Phật là bậc giác ngộ và đã truyền giáo hóa độ chúng sanh được giác ngộ thành La hán qua nhiều kiếp trước.  Theo Bản sinh kinh của Phật Giáo Nguyên thủy, Phật Thích Ca đã là bậc Bồ tát hóa độ chúng sinh trong nhiều kiếp trước cho đến kiếp cuối cùng nầy là thành Phật Thích Ca.

 

b) Phật Giáo Đại thừa Thiền tông

 

* (Nội dung triết học)

Cứu cánh của Thiền tông (đại diện cho Phật Giáo Đại Thừa) là con người (a human being) được có tâm giác ngộ an tịnh (tranquil) mà không phiền não trong kiếp sống nầy mà thôi, đó là niết bàn diệu tâm.  

Giáo lý giác ngộ của Thiền tông (dung hòa và tổng hợp Không tông và Tánh tông của Phật Giáo Đại thừa) căn cứ trên hiện tượng và sự tương đối của sự vật và bản tâm của tâm con người mà đưa ra tâm thức đoạn hoặc đối với tất cả mọi sự vật (kể cả sinh mạng và thân mình) và tâm thức từ bi đối với mọi sinh mạng khác (kể cả người khác và thân mình).  

Thiền tông không phủ nhận nhưng không thừa nhận giá trị tuyệt đối của "nhân duyên nghiệp quả" và lục đạo luân hồi cũng như không áp dụng chúng vào giáo lý của mình.  Giáo lý của Thiền Tông chỉ áp dụng cho con người (nhân mạng) và không có tham vọng áp dụng cho tất cả 5 loại sinh mạng khác (nhất là thú vật).

Giáo lý Thiền tông là triết học cho con người trong kiếp sống nầy.  Triết học gồm có nhân sinh quan dựa trên vũ trụ luận về sự vật và nhân bản luận về bản tâm (hay Phật tánh).  

 

* (Hình thức tôn giáo)

Giác ngộ của Phật Giáo Đại Thừa là Lục độ là tâm Niết bàn nhưng được Thiền tông đơn giản là Hành Kiến.

Danh hiệu của người giác ngộ là Phật.  Nếu Phật ra công hóa độ những người khác cũng giác ngộ như mình thì gọi là Bồ tát.  Mọi người đều có căn cơ để thành Phật.

Trong Kinh Pháp Hoa (viết vào khoảng năm 100-200 tr CN):

(Phẩm 10): Mọi người có thể được giải thoát.  Tất cả chúng sanh có thể thành Phật, không những tăng ni mà còn cả cư sĩ (lay people), thanh văn, Bồ tát và sinh vật không phải là người (non human creature).


 

II. NỘI DUNG CỦA GIÁC NGỘ

 

1) Phật Giáo Đại Thừa Thiền Tông

 

a) Sự vật (của Không tông)

 

Thiền tông áp dụng quan niệm về sự vật của Không tông trong Bát Nhã Tâm kinh.

 

*

Sự vật bên ngoài Tâm của ta gồm cả luôn người khác, sinh vật khác và Thân của ta.

- Sự vật hiện hữu vì chúng tích tụ trong giác quan và tâm của ta.  Đó là Ngũ uẩn (5 cái tích tụ = 5 aggregations).

Tất cả mọi sự vật hữu thể (thế giới vật chất) gọi là Sắc, tích tụ trong giác quan của ta gọi là Sắc uẩn.

Tất cả mọi sự vật tâm thần (thế giới vô thể) gọi là Danh, tích tụ trong tâm của ta gồm có Thọ uẩn, Tưởng uẩn, Hành uẩn và Thức uẩn.  Thọ, Tưởng, Hành, Thức chính là hoạt động của tâm ta.

Thọ = cảm giác (sensation).

Tưởng = tri giác (percepttion).

Hành = tất cả những hoạt động khác của tâm ngoài Thọ, Tưởng và Thức (other mental constituents)

Thức = nhận thức (cognition)

- Sự vật là hiện tượng vì chúng là 6 đối tượng của 6 giác quan của ta và 6 tâm thức của ta.  Đó là 18 Giới (theo từ ngữ Phật Giáo)

 

Ngay từ Phật Thích Ca của Phật Giáo Nguyên Thủy, sự vật hiện hữu đồng nghĩa với hiện tượng.  Tất cả mọi sự vật hiện hữu hay hiện tượng được thể hiện bằng từ ngữ "ngũ uẩn" hay "18 giới".

Sự vật là hiện tượng của tâm ta bao gồm luôn thân ta trong sinh lão bệnh tử.

 

Sự vật = being and/or thing.  

Tất cả mọi sự vật = all beings and things.

Sự vật hiện hữu = element of existence.  

Tất cả mọi sự vật hiện hữu = all elements of existence = Vạn hữu.

Hiện tượng = phenomenon = dharma = Pháp.

Tất cả mọi hiện tượng = all phenomena = all dharmas = Vạn pháp.

 

*

Tất cả mọi sự vật hiện hữu hay tất cả mọi hiện tượng đều không có "ngã" (nature), đồng nghĩa với "vô ngã" của Phật Giáo bắt đầu từ Phật Giáo Nguyên Thủy.  

Không tông muốn cho rõ hơn nên gọi là "không có tự tánh" (without nature), đồng nghĩa với "tánh không" (sùnyatà).  Đó là lý thuyết Không (sùnya) của Không Tông. 

 

Vô ngã (của sự vật hay hiện tượng) = tánh không = không có tự tánh = without nature

Ngã = tự tánh = nature.

 

Sự vật hiện hữu hay hiện tượng thì vô ngã (hay tánh không) nên phải vô thường.  Như vậy sự vật hay hiện tượng tương đối (relative), gồm vô ngã và vô thường:

. vô ngã = không hoàn toàn, không thuần túy, không chuyên chế và không độc lập, và phải tương quan với những sự vật hiện hữu hay hiện tượng khác.

. vô thường (impermanant) = không thường hằng (not permanant) =

không tự sinh khởi

không cố định, phải thay đổi và biến hóa

không vĩnh cữu và phải hoại diệt 

 

Bát Nhã Tâm kinh viết:  

Khi Bồ tát Quán Tự Tại (Avalokitesvara) thực hành Bát Nhã Ba La Mật Đa sâu xa, soi thấy rằng có ngũ uẩn và thấy Ngũ uẩn không có Tự tánh (Sùnyatà) trong chúng.

Này Xá Lợi Phất (Sariputra): sắc ở đây là Không, Không là sắc; sắc không khác Không, Không không khác sắc; sắc tức thị là Không, Không tức thị là sắc.  Thọ, tưởng, hành, thức (đều) cũng vậy.

Này Xá Lợi Phất: Hết thảy các Pháp ở đây (= Vạn Pháp) được biểu thị là Không (Sùnya).  Chúng không sinh, không diệt, không cấu nhiễm, không không cấu nhiễm; không tăng, không giảm

Vì vậy này Xá Lợi Phất; trong Không (Sùnya),

không có sắc, không có thọ, tưởng, hành, thức; không có mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý; không có sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp; 

không nhãn giới cho tới không có ý thức giới; 

cho tới không có tuổi già (= lão) và sự chết (= tử), không có sự tận diệt của tuổi già và sự chết;

 

Chú thích:

Ngũ uẩn = Sắc, Thọ, Tưởng, Hành, Thức.

18 Giới = Sắc, Thanh, Hương, Vị, Xúc, Pháp tương đương với Mắt, Tai, Mũi, Lưỡi, Thân, Ý; từ Nhãn giới tới Ý thức giới.

 

Tóm lại, theo Không tông, mọi sự vật hiện hữu (kể cả thân ta trong sinh lão bệnh tử và luân hồi)

đều là hiện tượng (= đối tượng của giác quan và tâm ta), 

và tương đối (relative) vì chúng là vô ngã hay tánh không (without nature) và vô thường (impermanant).  

Giáo lý như trên của Không tông trong kinh Bát Nhã gọi là thuyết Không (Sùnya) và sau nầy Thiền tông trong kinh Lăng Già gọi là Pháp vô ngã.

 

*

Cứu cánh của Phật Giáo là hết khổ, hết phiền não.

 

- Nguyên nhân của khổ (của phiền não) là tất cả mọi sự vật đều là hiện tượng đối với tâm ta và đều là tương đối (relative) vì chúng đều vô ngã hay không có tự tánh (without nature) và vô thường (impermanant).  Tâm của ta dính chặc và ràng buộc (sở đắc = attached) hay bám chặc (sở trụ) vào sự vật tức là bị chướng ngại (= hindrance) bởi sự vật tương đối và chỉ là hiện tượng thì tâm ta sẽ phiền não (khổ). 

Tất cả mọi sự vật hiện hữu là đối tượng của tâm ta bao gồm luôn cả mọi sinh vật khác, mọi người khác và kể cả thân ta. 

 

- Tâm giác ngộ an định không phiền não là không bám chặc và ràng buộc (vô sở đắc = non-attached = vô sở trụ) vào sự vật tức là tự do, không chướng ngại (vô ngại = non hindrance) vào sự vật.  

(Không tông không có phân biệt tâm thành ra tâm thức và bản tâm và không biết đến bản tâm.  "Tâm" của Không tông là đồng nghĩa với "tâm thức" của Tánh tông)

 

Kinh Bát Nhã của Không tông viết:

Trong Không (Sùnya), không có Trí, không có Đắc và không có Chứng bởi vì không có Đắc.  Trong Tâm của Bồ Tát an trụ trên Bát Nhã Ba La Mật Đa không có những Chướng ngại; và bởi vì không có những Chướng ngại trong Tâm đó nên không có sợ hãi, và vượt ngoài những tà kiến điên đảo, đạt tới Niết bàn.

Hết thảy chư Phật trong quá khứ, hiện tại và vị lai do y (dựa) trên Bát Nhã Ba La Mật Đa mà chứng đắc Giác ngộ viên mãn tối thượng.

 

Người có tâm giác ngộ chính là Phật.  Phật thực hiện Đại từ bi, hóa độ con người cũng giác ngộ thành Phật như mình thì có danh hiệu là Bồ tát (Bodhisattva).  Bồ tát hóa độ trong Bát Nhã Tâm kinh nầy là Bodhisattva Avalokiteshvara, được dịch là Quan Tự Tại Bồ tát hay Quan Thế Âm Bồ tát.

 

b) Từ sự vật đến bản tâm

 

Thật ra tâm (hay tâm thức) vô minh hay giác ngộ là không những tùy theo nó tương quan với sự vật hiện hữu bên ngoài và mà còn tùy theo nó tương quan với bản tâm.

Tâm thức giác ngộ an định không phiền não là:

Tâm thức không bám chặc và ràng buộc (vô sở đắc = non-attached = vô sở trụ) vào sự vật tức là tự do, không chướng ngại (vô ngại = non hindrance) vào sự vật (theo Không tông).  

Tâm thức đồng thời cũng đồng nhất hay tuân theo bản tâm vô sở đắc (vô sở trụ) và vô ngại (tự do và dung hòa từ bi) của mình, có sẵn từ bẩm sinh trong mọi người (theo Tánh tông).  

 

Vô = không.

Vô sở đắc = không bám chặc và ràng buộc  vào sự vật = vô sở trụ = non-attached.

Vô ngại có 2 nghĩa

= không chướng ngại; tự do = non hindrance.

= dung hòa = in harmony.

Từ bi = compassion.

 

c) Bản tâm (của Tánh tông)

 

Theo Tánh tông, Thiền tông cho rằng tâm của ta gồm có tâm thức và bản tâm; và tâm thức giác ngộ là tâm thức tuân theo hay đồng nhất với bản tâm (hay Phật tánh), bản tâm đã và luôn giác ngộ tự bẩm sinh. 

 

*

Tâm thức là hoạt động của tâm đối với hiện tượng của sự vật bên ngoài. 

Theo Tánh tông, mọi sự vật bên ngoài tâm của ta chỉ là hiện tượng trình diễn (trình hiện và thiên diễn) trước tâm của ta qua giác quan mà thôi.

Pháp Bảo Đàn Kinh:  

Một ngày kia (Lục tổ Huệ Năng) ra chùa Pháp Tánh (ở Quảng Châu) gặp Pháp sư Ấn Tông.  Có hai vị tăng tranh luận về nghĩa “gió và phướn (một loại cờ)”; kẻ nói gió động người nói phướn động, tranh cãi không ngừng.  Huệ Năng chen vào nói: “Chẳng phải gió động, chẳng phải phướn động, mà Tâm các ông động”.  Cả chúng (mọi người) đều ngạc nhiên.

 

*

Bản tâm của ta cũng như của mọi người thì vô ngã có nghĩa lả:

không chấp ngã và không tự ngã tức là vô sở đắc

không phân biệt giữa "ngã" và "không phải là ngã" tức là vô ngại. 

vô ngại là tự do hay không chướng ngại đối với sự vật, nhất là chấp ngã và tự ngã.

vô ngại là dung hòa do đó từ bi đối với người khác, sinh vật khác kể cả thân ta.

Đó là bản tâm của ta, giác ngộ và bẩm sinh có sẵn trong ta.  Theo Đại Thừa, mỗi người đều có sẵn bản tâm giác ngộ từ bẩm sinh nên đều có thể thành Phật do đó bản tâm thường được gọi là Phật tánh và mỗi người đều có căn cơ thành Phật.

 

Ngã = ta, "cái ta" = self, ego.  Vô ngã = nonself = phi ngã = no ego or without ego.

Chấp ngã = cầm giữ hay bắt lấy cho mình = attachment to self.  Người chấp ngã là muốn sở hữu sự vật là của mình.

Tự ngã = từ mình hay bởi vì mình mà ra = idea of self.  Người tự ngã là muốn làm chủ, muốn điều khiển mọi sự vật theo tình ý của mình.

Ý thức "Nhị nguyên" (Duality) là phân biệt giữa "ngã" và "không phải là ngã" (theo thuật ngữ phát xuất từ Duy thức và được Tánh tông áp dụng).

 

Tâm thức giác ngộ an tịnh không phiền não là nó đồng nhất với hay tuân theo bản tâm vô sở đắc (hay vô sở trụ) và vô ngại (tự do và dung hòa từ bi) của mình, có sẵn từ bẩm sinh trong mọi người.  

Người có tâm thức giác ngộ chính là Phật.  Phật thực hiện Đại từ bi, hóa độ con người cũng giác ngộ thành Phật như mình thì có danh hiệu là Bồ tát.

 

Đạt Lai Lạt Ma thứ 14 viết trong giáo lý Đại Cứu Cánh (và Bản Thể Đại Thủ Ấn):

1.

Tất cả mọi Hiện tượng thanh tịnh hay ô nhiễm đều trình hiện bởi Tâm thức như là biểu hiện bằng tính chất tự nhiên thanh tịnh (của Bản Tâm) vì Bản Tâm là thanh tịnh bản nhiên từ khởi thủy..

Ngay cả khi vẫn là chúng sanh và dù đã tạo vô số ý Nghiệp tốt hoặc xấu như tham, sân , si; Bản Tâm chính nó vẫn siêu việt (= ở trên) mọi ô nhiễm từ các phiền não nầy.  Nước có thể rất bẩn nhưng thể tính của nó vẫn là trong sạch (= thanh tịnh) và bản tánh của nước không bị ô nhiễm bởi bùn dơ.

Tương tự, bất luận hiện tượng phát sinh như là trò thiên diễn (= biểu tượng) của Tâm nầy, và bất luận lực dụng của nó (= hiện tượng phát sinh) đến mức nào thì tự Bản Tâm (căn nguyên của mọi tướng trạng của các kỹ xảo như vậy) từ vô thủy vẫn không bị ảnh hưởng bởi ô nhiễm và vẫn không bị ảnh hưởng bởi cái thiện.

2.

Giác ngộ là khi ta "đồng nhất" được với Bản Tâm và nhận thức rõ ràng tất cả mọi Hiện tượng luân hồi sinh tử và Niết bàn (Vạn Pháp) đều lưu xuất từ Bản Tâm nầy.  Bản Tâm từ bi viên mãn và vi diệu vốn có sẵn (trong mỗi và mọi chúng sanh) nên Kinh có câu "Giác ngộ từ vô thủy".  

Từ không bị ảnh hưởng bởi Khái niệm quy ước, Tâm (Tâm Thức) đồng nhất với bản thể của mình (Bản Tâm) và khẳng định chính xác rằng ý nghĩa của nó (Bản Tâm) tương tục và thường hằng trong sự quân bình của Định Tuệ thì dù có sống trong thế tục chúng ta đã là Phật. 

 

Tâm thức phiền não không an tịnh vì vô minh (= không giác ngộ) là quên bản tâm của mình (bẩm sinh và giác ngộ) mà bám chặc (sở trụ hay sở đắc) vào sự vật bên ngoài vì chúng chỉ là trình diễn trước tâm thức của ta mà thôi. 

 

Đại Niết Bàn kinh của Đại Thừa viết về Phật tánh và bản tâm:

Phật Tánh luôn hiện diện trong mọi thời gian và trong tất cả chúng sanh.  Có nghĩa là chúng sanh không có phẩm tánh của Phật trong hiện tại nhưng sẽ có trong tương lai.

Như Lai Tạng không gì khác hơn là Chân Như hay Phật Tánh và là cái bản Tâm trong sạch và vô lậu (originally untainted pure Mind) nằm ở dưới và có ở trong cái Tâm tham ái và giận dữ (Mind of greed and anger) của chúng sanh.  Đó biểu thị (bespeaks) một Phật Thân (Buddha body) đang có trong trạng thái bị ràng buộc (bondage). 

 

Bản tâm và Phật tánh còn có nhiều danh hiệu khác: Chân như, Như Lai tạng, Phật thân, Pháp thân, Thực tánh...  (Như lai = Phật).

 

d) Vô ngã - Phật tánh

 

* (Vô Ngã)

 

Vô ngã của sự vật và vô ngã của bản tâm có 2 nghĩa khác nhau.

"Ngã" của sự vật có nghĩa là tự tánh (nature).  Vô ngã = without nature.  Không tông gọi là tánh không (sùnyatà) trong giáo lý Không (sùnya).

"Ngã" của bản tâm có nghĩa là ta, cái ta (self, ego).  Vô ngã = nonself, no ego.

 

Thiền tông theo kinh Lăng Già có phân biệt:

Pháp vô ngã là vô ngã (without nature) của sự vật.

Nhân vô ngã là vô ngã (nonself) của bản tân hay Phật tánh trong tâm của con người (nhân tâm).

 

Pháp (= Dharma) trong Phật Giáo cũng có 2 nghĩa:

= hiện tượng (phenomenon) thường hay dùng trong từ ngữ Vạn Pháp (= all phenomena).

= giáo lý (doctrine) thường hay dùng trong những từ ngữ "Phật, Pháp, Tăng" (tam bảo) hay Phật Pháp (Buddhist doctrine).

 

* (Phật tánh)

 

Phật tánh (= bản tâm) không phải là tánh không của sự vật và chỉ có ở con người mà thôi.

Đây là câu trả lời của Thiền sư Triệu Châu trong Triệu Châu công án:

Một vị Tăng hỏi Thiền sư Triệu Châu Tòng Thẩm (778-897): 

“Con chó có Phật Tánh không?”

Trả lời: “Không” (nguyên văn tiếng Hán là: Vô 無)

 

Từ ngữ "Vô" 無  theo Hán tự hay Hoa văn có 2 nghĩa:

Theo thuật ngữ Phật Giáo thì được các học giả cắt nghĩa "vô" là "không có tự tánh" (= tánh không) như giáo lý của Không Tông.  Tuy nhiên "tánh không" (sùnyatà) chỉ áp dụng cho sự vật chứ không thể áp dụng cho tâm của con chó.

Theo nghĩa đen, "vô" có nghĩa là "không có"; ta có thể hiểu rằng Triệu Châu trả lời thẳng là "con chó không có Phật tánh".

Thực tế, Thiền sư chỉ biết con người chớ làm sao biết con thú vật như con chó (một loại sinh mạng khác).  Con người có Phật tánh bẩm sinh tiềm tàng nên có căn cơ thành Phật chứ chưa thấy con chó hay con thú vật thành Phật, dù cũng là sanh mạng.  Do đó Triệu Châu trả lời theo nghĩa đen rằng theo kinh nghiệm con chó "không có Phật tánh".

 

e) Tâm thức giác ngộ (của Thiền tông)

 

Tóm lại, tâm thức vô minh hay giác ngộ là tùy theo nó tương quan với sự vật hiện hữu bên ngoài và tương quan với bản tâm (theo Thiền tông).

Tâm thức giác ngộ an tịnh (tranquil) không phiền não là:

Tâm thức không vô minh bằng cách không bám chặc và không ràng buộc (vô sở đắc = non-attached = vô sở trụ) vào sự vật tức là tự do, không chướng ngại (vô ngại = non hindrance) vào sự vật (theo Không tông).  

Tâm thức đồng thời cũng đồng nhất hay tuân theo bản tâm đã và luôn giác ngộ vô sở đắc (vô sở trụ) và vô ngại của mình, có sẳn từ bẩm sinh trong mọi người (theo Tánh tông).  

 

Yếu chỉ của Thiền Tông được thiền sư Triệu Châu tóm tắt trong bài kệ 4 câu, 2 câu cuối chính là nội dung giáo lý giác ngộ của Thiền Tông:

Giáo ngoại biệt truyền

Bất luận văn tự

Trực chỉ nhân tâm

Kiến tánh thành Phật

 

Pháp Bảo Đàn kinh của Thiền Tông viết:

Một ngày kia, Ngũ tổ (Hoằng Nhẫn) triệu tập môn đồ bảo rằng: “Sinh tử là việc lớn, các ngươi suốt ngày chỉ cầu phước điền, chẳng cầu lìa khỏi biển khổ sinh tử, tự tánh nếu mê, phước làm sao có thể cứu được?  Các ngươi mỗi người hãy tự xem trí tuệ (huệ), dùng bản tâm Bát Nhã của tự tánh, mỗi người làm một bài Kệ trình cho ta xem, nếu ngộ được đại ý, thì ta sẽ truyền y bát cho làm Lục tổ (Tổ thứ sáu), hãy mau lên chẳng được chậm trễ, hễ lọt vào suy lường thì chẳng dùng được.  Người kiến tánh vừa nghe phải liền thấy, nếu được như vậy thì khi ra trận giữa đao kiếm cũng phải thấy được”.

........

Huệ Năng là người làm, chuyên về giã gạo từ 8 tháng nay, xin người đọc cho mình bài Kệ (của Thần Tú) vì ông không biết đọc.  Sau đó ông đọc bài Kệ của mình và nhờ người viết kế bên (bài của Thần Tú). 

    

Bồ đề bản phi thụ                          (Bồ đề vốn không là cây)

Minh kính diệc phi đài                  (Gương sáng cũng không đài gương) 

Bản lai vô nhất vật                        (Xưa nay không một vật)

Hà xứ nhạ trần ai.                         (Làm sao nhuốm bụi trần).

(Huệ Năng)

 

Hôm sau Ngũ tổ (đã đọc bài Kệ của Huệ Năng) đến chỗ giã gạo, thấy Huệ Năng lưng đeo đá giã gạo, nói rằng: “Người cầu đạo cần phải như thế” và hỏi: “Gạo trắng chưa?”.  Huệ Năng đáp: “Trắng đã lâu, còn thiếu sàng thôi”.  Tổ lấy gậy gõ trên cối 3 cái rồi bỏ đi.

Huệ Năng hiểu ý nên canh ba vào thất (phòng của Tổ).  Ngũ tổ dùng cà sa che lại không cho người thấy, rồi thuyết kinh (Bát Nhã) Kim Cang.  Khi đến câu “Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm” thì Huệ Năng ngay đó đại ngộ (đốn ngộ), vạn pháp chẳng lìa tự tánh.  

Huệ Năng liền bạch: “Đâu ngờ tự tánh vốn tự thanh tịnh, vốn chẳng sanh diệt, vốn tự đầy đủ, vốn chẳng lay động và tự tánh hay sanh vạn pháp”.  Tổ biết Huệ Năng đã ngộ nên nói với Huệ Năng rằng: “Chẳng nhận được bản tâm (thì) học pháp vô ích, nếu nhận được bản tâm thấy được bản tánh tức gọi là Trượng Phu, là Thiên Nhơn Sư, là Phật”.  

Tổ truyền pháp đốn giáo và y bát và nói rằng: “Ngươi là Lục tổ khéo tự hộ niệm, độ khắp hữu tình, phổ biến lưu truyền cho đời sau đừng để đoạn dứt”.  

 

"Ưng vô sở trụ nhi sinh kỳ tâm" có nghĩa là "Nên không bám chắc ở một chỗ mà sinh ra kỳ tâm".  

 

f) Đoạn hoặc và từ bi

 

Tâm thức giác ngộ là tâm an tịnh (tranquil) không phiền não là nhờ:

không tự ngã và không chấp ngã từ vô sở đắc (hay vô sở trụ) và vô ngại tự do 

và không phân biệt giữa "ngã" và "không phải là ngã" từ vô ngại dung hòa. 

Điều nầy làm được vì tâm thức:

theo và đồng nhất với bản tâm đã giác ngộ của mình

và không "trụ" (dính chặc ràng buộc) vào mọi sự vật bên ngoài tâm của mình, kể cả thân của mình 

 

Như thế, tâm thức giác ngộ là:

Tâm thức không tự ngã và không chấp ngã cũng giống như tâm đoạn diệt mê hoặc (đoạn hoặc) của Phật Giáo Nguyên thủy gồm có đoạn diệt tình cảm: tham dục, sân và mạn.  Do đó tâm thức không tự ngã và không chấp ngã có thể gọi là tâm thức đoạn hoặc.

Tâm thức dung hòa, không phân biệt giữa "ngã" và "không phải là ngã", chính là tâm thức từ bi.

 

Như vậy, tâm thức giác ngộ để được an tịnh không phiền não là tâm thức đoạn hoặc và từ bi.

 

- Đoạn hoặc đối với tất cả mọi sự vật bên ngoài tâm của ta (all beings and all things) kể cả những sinh mạng hay sinh vật khác (all sentient beings), nhân mạng hay con người khác (human beings) và thân ta.

Đoạn hoặc là:

Đoạn diệt Tham Dục:

không có ích kỷ tham lam (self-centered greed) 

Đoạn diệt Sân:

không phẫn nộ giận dữ (anger) 

không thù ghét (hate)

không lăng nhục (insult) những người khác

Đoạn diệt Mạn: 

không khoe khoang tự phụ (boasting) 

không ghen ghét (jealousy) hay ganh tỵ (envy)

không nịnh bợ (flatterery) 

không sợ hãi vô lý (unreasonable fear) đối với những người khác 

 

- Từ bi đối với sinh vật khác, người khác (và kể cả thân ta).

Từ bi là:

không hại người và sinh vật khác (= Từ), tức là nhẫn nhịn (forebearance) và không có xung đột (no conflict). 

thương người khác và sinh vật khác (= Bi) bằng thể hiện lòng tử tế (loving kindness) và lòng thương xót (pity).

 

In Essentials of Buddhism, professor Kogen Mizuno writes:

In the state of nonself, there can be no self-centered greed, unreasonable fear of others, hate, flattery, boasting, insult, anger, jealousy, or envy.  A person who has realized the nature of nonself can not bring harm to others, since actions is taken only after correctly considering both its immediate and its wider-ranging effects.  This is expressed as loving kindness and pity for all beings.  There is no conflict between self and others.  As the result, the state of nonself as been defined as the state of mind of an enlightened person.

 

Người có tâm thức giác ngộ chính là Phật.  Phật thực hiện Đại từ bi, hóa độ con người cũng giác ngộ thành Phật như mình thì có danh hiệu là Bồ tát.  Như vật ý nghĩa của "đại từ bi" (great compassion) của Bồ tát khác với ý nghĩa của "từ bi" (compassion) của tâm thức giác ngộ.

 

Thiền tông có đoạn hoặc (tham dục, sân, mạn) giống như Phật Giáo Nguyên thủy nhưng dùng từ bi để thay thế trì giới của Phật Giáo Nguyên thủy.  

 

g) Tình cảm và lý trí

 

*

Tâm thức gồm có lý trí và tình cảm.  Tâm thức giác ngộ chỉ giới hạn trong một số tình cảm (đoạn hoặc: tham dục, sân, mạn) nhưng không có nghĩa là hoàn toàn vô tình hay diệt tất cả tình cảm.

Một Công Án trong Thiền Luận (quyển Trung, trang 118) viết:

Một giảng sư kinh Hoa Nghiêm đến tìm Huệ Hải và hỏi: “Bẩm, Thầy tin rằng hết thảy các loài Vô Tình đều là Phật?”

Đáp: “Không, tôi không tin vậy.  Nếu các loài vô tình đều là Phật, các loài đang sống khác nào đã chết.  Khỉ chết, chó chết còn hơn loài người đang sống.  Chúng ta đọc Kinh thấy nói Phật thân không khác Pháp thân (Dharmakàya) vốn do Giới (Sila), Định (Dhyàna) và Tuệ (Prajna) mà sinh; do các phước đức mà sinh.  Nếu các loài vô tình đều là Phật, thưa Đại Đức, ngay lúc nầy tốt hơn hãy chết đi mà thành Phật”.

 

*

Tâm thức là hoạt động của tâm (tâm thức)

từ hiện tượng của sự vật gồm có cảm giác, tri giác và nhận thức;

và về hiện tượng của sự vật là tư tưởng (thought) gồm có lý trí và tình cảm.  

Tâm thức giác ngộ luôn hoạt động.  Tâm "tịnh" (pure) là trong sạch, không vướng mê hoặc vào sự vật không có nghĩa là "tịnh" (not moving) là không hoạt động.

Pháp Bảo Đàn kinh viết (trang 88-89):

 

Có vị Tăng đem bài Kệ của Ngọa Luân Thiền sư lập lại với Sư (Huệ Năng):

Ngọa Luân hữu kỹ lưỡng             Ngọa Luân có kỹ lưỡng

Năng đoạn bá tư tưởng                Dứt được trăm tư tưởng

Đối cảnh Tâm bất khởi                Đối cảnh Tâm chẳng khởi

Bồ Đề nhựt nhựt trưởng              Bồ Đề ngày ngày (tăng) trưởng (*)

(Ngọa Luân)                                 (Dịch)

(*) Bồ Đề=giác ngộ

 

Sư (Huệ Năng) nghe xong nói: “Bài Kệ nầy chưa rõ Tâm địa, nếu theo đó mà tu hành thì lại thêm trói buộc”.  Do đó Sư khai thị một bài Kệ:

Huệ Năng một kỹ lưỡng                 Huệ Năng không kỹ lưỡng

Bất đoạn bá tư tưởng                     Chẳng dứt trăm tư tưởng

Đối cảnh Tâm sổ khởi                    Đối cảnh Tâm cứ khởi

Bồ Đề tác ma trưởng.                     Bồ Đề làm sao (tăng) trưởng.

(Huệ Năng)                                     (Dịch)

* Tâm thức an tịnh và đời sống

 

Cứu cánh của Thiền tông là tâm thức an tịnh (tranquil), không phiền não (= tình cảm không buồn khổ).  Nó là kết quả của tâm thức giác ngộ tuân theo hay đồng nhất với bản tâm (hay Phật tánh) giác ngộ và không vô minh mà sở trụ (attached) vào sự vật bên ngoài.

Thiền Luận của Suzuki viết:

Khi Nhị tổ Huệ Khả đến tìm học với Nhất tổ Bồ Đề Đạt Ma. 

Huệ Khả nói: "Tâm của tôi chưa được an".

Bồ Đề Đạt Ma nói: "Đem Tâm ra đây ta an cho".

Sau một lúc lưỡng lự, cuối cùng Huệ Khả thú nhận: "Tôi đã tìm nó trong nhiều năm rồi mà chưa bắt được nó (mịch tâm liễu bất khả đắc)".

Bồ Đề Đạt Ma xác nhận: "Này, Tâm của ngươi đã được an rồi đó".

 

Muốn được tình cảm không buồn khổ thì lý trí của ta phải sáng suốt đến giác ngộ mà đoạn diệt một số tình cảm (tham dục, sân, mạn) đối với sự vật và sinh vật (kể cả thân mình), cũng như thực hành tình cảm từ bi đối với sinh vật (kể cả thân mình) trong lý trí; và từ đó tâm thức (lý trí và tình cảm) hướng dẫn sinh hoạt hằng ngày của mình gồm cả hành động và ngôn ngữ.  

Tâm thức ta gồm có lý trí và tình cảm luôn hoạt động liên quan tới sự vật và sinh vật (kể cả thân mình) nhưng hoạt động trong sự sáng suốt hoàn hảo của lý trí giác ngộ (theo giáo lý Phật Giáo).  Lý trí và tình cảm khác của ta tự do hoạt động trong những phạm vi và phương diện khác ngoài giáo lý Phật Giáo.

Thiền sư Yến Khê Quảng Văn (1189-1263):

Đảm tử toàn kiên hà phụ         

Mục tiền qui lộ vô sa                      

Tâm tri ưng vô sở trụ                           

Tri sài lạc tại thùy gia                      

(Dịch)

Đôi vai chất đầy gánh nặng

Đường về trước mắt không hay

Dù biết “ưng vô sở trụ”

Biết rằng củi bán nhà ai

 

2) Thiền Tông và Kim Cang Thừa

 

Nội dung giáo lý giác ngộ của Phật Giáo Tây Tạng Kim Cang Thừa trong giáo lý Đại Cứu cánh không khác nội dung giáo lý giác ngộ của Thiền tông

Đây là lời giảng của Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ 14 về giáo lý Đại Cứu cánh:

 

- Đạt Lai Lạt Ma thứ 14 tóm tắt giáo pháp Đại Cứu cánh (và Bản Thể Đại Thủ Ấn):

nhìn (= Kiến) các hiện tượng sinh tử luân hồi và niết bàn như trò thiên diễn và tự phóng chiếu của Tâm (Tâm Thức)

và nhìn trong sự duy trì tỉnh giác của Bản Thể Tâm (Bản Tâm).

 

- Đạt Lai Lạt Ma thứ 14 viết chi tiết thực tế về Đại Cứu Cánh (và Bản Thể Đại Thủ Ấn):

1.

Tất cả mọi Hiện tượng thanh tịnh hay ô nhiễm đều trình hiện bởi Tâm Thức như là biểu hiện bằng tính chất tự nhiên thanh tịnh (của Bản Tâm) vì Bản Tâm là thanh tịnh bản nhiên từ khởi thủy..

Ngay cả khi vẫn là chúng sanh và dù đã tạo vô số ý nghiệp tốt hoặc xấu như tham, sân , si; Bản Tâm chính nó vẫn siêu việt (= ở trên) mọi ô nhiễm từ các phiền não nầy.  Nước có thể rất bẩn nhưng thể tính của nó vẫn là trong sạch (= thanh tịnh) và bản tánh của nước không bị ô nhiễm bởi bùn dơ.

Tương tự, bất luận hiện tượng phát sinh như là trò thiên diễn (= biểu tượng) của Tâm nầy, và bất luận lực dụng của nó (= hiện tượng phát sinh) đến mức nào thì tự Bản Tâm (căn nguyên của mọi tướng trạng của các kỹ xảo như vậy) từ vô thủy vẫn không bị ảnh hưởng bởi ô nhiễm và vẫn không bị ảnh hưởng bởi cái thiện.

2.

Giác ngộ là khi ta "đồng nhất" được với Bản Tâm và nhận thức rõ ràng tất cả mọi Hiện tượng luân hồi sinh tử và Niết bàn (Vạn Pháp) đều lưu xuất từ Bản Tâm nầy.  Bản Tâm từ bi viên mãn và vi diệu vốn có sẵn (trong mỗi và mọi chúng sanh) nên Kinh có câu "Giác ngộ từ vô thủy".  

Từ không bị ảnh hưởng bởi khái niệm quy ước, Tâm (Tâm Thức) đồng nhất với bản thể của mình (= Bản Tâm) và khẳng định chính xác rằng ý nghĩa của nó (= Bản Tâm) tương tục và thường hằng trong sự quân bình của Định Tuệ thì dù có sống trong thế tục chúng ta đã là Phật. 

 

3) Thiền Tông và Phật Giáo Nguyên Thủy

 

a) Tứ Diệu Đế

 

* (Từ Khổ đế đến Đạo đế)

 

- Cứu cánh của Phật Thích Ca và Phật Giáo Nguyên thủy là giác ngộ, diệt hết khổ cho sinh mạng, trong kiếp sống nầy mà sinh mạng đạt niết bàn và thoát khỏi phải khổ thêm nữa vì không phải tiếp tục tái sinh nhiều kiếp khác mãi mãi trong luân hồi.  

Giác ngộ của Phật Giáo Nguyên Thủy là Bát Chánh đạo, là (đạt) Niết bàn.

Danh hiệu của bậc giác ngộ đạt niết bàn là La hán.  Danh hiệu Phật chỉ dùng giới hạn cho Phật Thích Ca, vị Phật có thật trong lịch sử và vài chục vị Phật theo truyền thuyết.

 

- Cứu cánh của Thiền tông (đại diện cho Phật Giáo Đại Thừa) là con người (a human being) được có tâm giác ngộ an tịnh (tranquil) mà không phiền não trong kiếp sống nầy mà thôi, đó là niết bàn diệu tâm. 

Giáo lý của Thiền Tông chỉ áp dụng cho con người (nhân mạng) trong kiếp sống nầy và không có tham vọng áp dụng cho tất cả 5 loại sinh mạng khác (nhất là thú vật) trong nhiều kiếp của lục đạo luân hồi.

Giác ngộ của Phật Giáo Đại Thừa là Lục độ là diệu tâm Niết bàn nhưng được Thiền tông đơn giản là Hành Kiến.

Danh hiệu của người giác ngộ là Phật.  Nếu Phật ra công hóa độ những người khác cũng giác ngộ như mình thì gọi là Bồ tát.

 

*

Phái đầu tiên của Đại Thừa là Trung Quán phái (Không tông của Trung Quốc), theo Bát Nhã Tâm kinh, đã phủ nhận giá trị tuyệt đối của Tứ Diệu Đế của Phật Giáo Nguyên Thủy, xem Tứ Diệu Đế (Khổ, Tập, Diệt, Đạo) như là sự vật không có tự tánh và tương đối.

Bát Nhã Tâm kinh viết:

Trong Không (Sùnya),

không có Minh, không có Vô Minh; không có Minh diệt, không có Vô Minh diệt; 

cho tới không có Tuổi Già (Lão) và Sự Chết (Tử), không có sự tận diệt của Tuổi Già và Sự Chết;

không có Khổ, Tập, Diệt, Đạo;

 

Thiền sư theo kinh Bát Nhã coi thân mình trong "sinh lão bệnh tử" của một kiếp như là sự tương đối và tâm thức của mình không dính chặc ràng buộc vào chúng (không tham sống và không sợ chết như trong đoạn hoặc).  Do đó thiền sư cũng không nhìn xa vào tái sinh trong luân hồi lục đạo.  

Thái độ của thiền sư Trúc Lâm đại sĩ (Trần Nhân tông) được viết trong Đại Việt Sử ký toàn thư cho thấy điều nầy:

Năm 1308, chị của Thượng Hoàng Nhân Tông (1258-1308) là công chúa Thiên Thụy (dâu của Hưng Đạo Vương) ốm nặng, Thượng Hoàng xuống núi Yên Tử tới thăm và bảo: “Nếu chị đã đến ngày đến giờ thì cứ đi, thấy âm phủ có hỏi thì trả lời rằng: Xin đợi một chút, em tôi là Trúc Lâm đại sĩ sẽ tới ngay”.  Nói xong Thượng Hoàng Nhân Tông trở về núi, dặn dò người hầu là Pháp Loa các việc về sau, rồi bỗng nhiên ngồi mà hóa (thọ 51 tuổi).  Thiên Thụy cũng mất cùng hôm đó.  

 

b) Bản Tâm - Nhân Duyên Nghiệp Quả

 

* (Tập đế và Diệt đế)

 

- Giáo lý giác ngộ của Phật Giáo Nguyên thủy căn cứ trên "nhân duyên nghiệp quả" của một sinh mạng đối với sự vật và sinh mạng khác trong nhiều kiếp luân hồi mà đưa ra đoạn hoặc (đoạn diệt mê hoặc) đối với tất cả mọi sự vật hiện hữu (hiện tượng) và trì giới đối với mọi người khác và sinh mạng khác.  Thực tế của giáo lý là đoạn hoặc và trì giới.

- Giáo lý giác ngộ của Thiền tông (dung hòa và tổng hợp Không tông và Tánh tông của Phật Giáo Đại thừa) căn cứ trên hiện tượng và sự tương đối của sự vật và bản tâm giác ngộ của tâm con người mà đưa ra tâm thức đoạn hoặc đối với tất cả mọi sự vật (kể cả sinh mạng và thân mình) và tâm từ bi đối với mọi sinh mạng khác (kề cả người khác và thân mình).  Thực tế của giáo lý là đoạn hoặc và từ bi. 

 

*

Từ "nhân duyên nghiệp quả" giữa các sự vật cũng như giữa các sinh mạng, 

Phật Thích Ca của Phật Giáo Nguyên thủy đưa ra lý thuyết Thập nhị (12) nhân duyên và nhấn mạnh tới nghiệp của con người hay sinh mạng.  Chính nghiệp làm cho con người hay sinh mạng phải khổ và phải tái sinh, và do đó vướng vào luân hồi để phải chịu khổ trong những kiếp trong luân hồi.   Muốn diệt nghiệp trong 12 nhân duyên, ta phải đoạn hoặc. 

Phật Thích Ca theo truyền thống cũ cho rằng ác nghiệp của một sinh mạng quyết định cho sinh mạng đó phải tái sinh theo những đạo xấu trong lục đạo như thành thú vật hay quỉ thay vì thành người hay thiên (deva).  Để tránh 10 ác nghiệp, ta phải giữ 10 giới. 

Đối với sự vật,

Phật Giáo Nguyên thủy dính chặc vào sự vật bằng "nhân duyên nghiệp quả" và không biết tới bản tâm giác ngộ có sẵn trong con người.

Thiền tông không dính chặc vào sự vật tương đối và đồng nhất với bản tâm (hay Phật tánh) giác ngộ có sẵn trong con người.

Thiền tông dựa trên bản tâm (hay Phật tánh)

để phủ nhận "nhân duyên nghiệp quả",

đưa ra từ bi (từ bản tâm) để thay thế trì giới (từ nghiệp). 

 

Phái thứ nhì của Đại thừa Ấn Độ là Duy Thức đã coi "nhân duyên nghiệp quả" chỉ là hiện tượng từ tâm thức của ta và Tánh tông còn cho rằng bản tâm (hay Phật tánh) luôn trong sạch không vướng vào hiện tượng bên ngoài tức là không vướng vào "nhân duyên nghiệp quả".

Đạt Lai Lạt Ma thứ 14 viết:

Tất cả mọi Hiện tượng thanh tịnh hay ô nhiễm đều trình hiện bởi Tâm Thức như là biểu hiện bằng tính chất tự nhiên thanh tịnh (của Bản Tâm) vì Bản Tâm là thanh tịnh bản nhiên từ khởi thủy..

Ngay cả khi vẫn là chúng sanh và dù đã tạo vô số ý nghiệp tốt hoặc xấu như tham, sân , si; Bản Tâm chính nó vẫn siêu việt (= ở trên) mọi ô nhiễm từ các phiền não nầy.  Nước có thể rất bẩn nhưng thể tính của nó vẫn là trong sạch (= thanh tịnh) và bản tánh của nước không bị ô nhiễm bởi bùn dơ.

Tương tự, bất luận hiện tượng phát sinh như là trò thiên diễn (= biểu tượng) của Tâm nầy, và bất luận lực dụng của nó (= hiện tượng phát sinh) đến mức nào thì tự Bản Tâm (căn nguyên của mọi tướng trạng của các kỹ xảo như vậy) từ vô thủy vẫn không bị ảnh hưởng bởi ô nhiễm và vẫn không bị ảnh hưởng bởi cái thiện.

 

*

Nội dung của đoạn hoặc về tình cảm của Phật Giáo Nguyên thủy và Đại thừa giống nhau (gồm có tham dục, sân, mạn) nhưng Đại thừa không hề đặt căn bản giáo lý đoạn hoặc của mình trên "nhân duyên nghiệp quả" như Phật Giáo Nguyên thủy.

 

c) Từ bi - Trì giớ

 

* (Trì giới của Phật Giáo Nguyên Thủy)

 

Theo Phật Giáo Nguyên Thủy, trì giới là giữ những luật lệ không phạm khi đối xử với người khác và sinh vật khác.  Nếu phạm giới thì là tạo ra ác nghiệp (có 10 giới chánh tương quan với 10 ác nghiệp).  Nếu phạm 1 trong 10 ác nghiệp thì sẽ bị tái sinh thành những loại sinh mạng như thú vật, quỉ địa ngục và quỉ đói (ngạ quỉ) và không tái sinh thành người hay thiên (deva).  Chỉ có con người hay thiên (deva) mới có thể giác ngộ mà thoát khổ được.

 

10 giới cấm để không tạo 10 ác nghiệp:

1. Không nói dối (Not to lie)

2. Không dùng vọng ngữ tức là ngôn ngữ xấu (Not to use bad language): không nói với lưỡi 2 chiều.

3. Không nói xấu người khác (Not to slander others): không ác khẩu.

4. Không nói thêu dệt một cách phóng dật (Not to speak frivolously)

5. Không sát sinh (Not to kill)

6. Không trộm cướp (Not to steal)

7. Không tà dâm (Not to commit adultery)

8. Không tham muốn (Not to covet)

9. Không giận dữ (Not to give way to anger)

10. Không giữ tà ý (Not to hold false volition).  Tà Ý là ý định vi phạm ngũ (5) trọng giới (giới 1-5)..

 

Giáo lý của Thiền tông không có trì giới nhất là cho các cư sĩ tại gia.

Thiền tông có đưa ra giải pháp dễ dàng là sám hối để cho những ai còn vương vấn với ác nghiệp.

Pháp Bảo Đàn Kinh viết: 

Tổ Huệ Năng nói: "Thế nào là Sám? Thế nào là Hối?  Sám là sám trừ tội trước, từ trước tất cả các tội Ác nghiệp ngu mê, kiêu căng, dối trá, ganh tỵ thảy đều sám hết, chẳng bao giờ khởi nữa gọi là Sám.  Hối là hối cải lỗi sau, tất cả Ác nghiệp ngu mê, kiêu căng, dối trá, ganh tỵ ... nay đã Giác ngộ đều cho đoạn dứt, chẳng bao giờ tạo nữa gọi là Hối".

 

* (Từ bi của Thiền tông)

 

Cũng thể hiện bằng Chánh ngữ, Chánh nghiệp và Chánh mệnh, từ bi của Đại thừa Thiền tông thay thế trì giới của Phật Giáo Nguyên thủy nhưng còn có thêm Nhẫn ba la mật đa và Bố thí ba la mật đa trong đời sống đối với người và sinh vật khác.  

 

Tâm từ bi của Đại Thừa Thiền tông:

không hại người và vật khác (= Từ), tức là nhẫn nhịn (forebearance) và không xung đột (no conflict), 

thương người và vật khác (= Bi) bằng thể hiện lòng tử tế (loving kindness) và lòng thương xót (pity).

 

Công án đàm thoại giữa Tổ Bồ Đề Đạt Ma và Lương Vũ Đế viết về bản tâm từ bi và công đức của Phật tử (Thiền Luận quyển Hạ, trang 547):

 

Lương Vũ Đế hỏi Đạt Ma (Tổ Bồ Đề Đạt Ma):

“Từ khi Trẫm lên ngôi đến nay, đã xây dựng biết bao nhiêu chùa chiền, sao chép biết bao kinh điển và độ vô số tăng ni.  Ngài nghĩ công đức của Trẫm như thế nào?”.

Đạt Ma đáp (cộc lốc):

“Tâu Bệ hạ, chẳng công đức gì hết”

Vũ Đế ngạc nhiên hỏi: 

“Tại sao thế?”

Đạt Ma mới nói như vầy:

“Đó chỉ là những việc làm hạ đẳng, chỉ khiến cho người ta thác sinh vào các cõi trời, rồi cũng sẽ trở lại trần gian nầy nữa.  Chúng vẫn còn mang những dấu vết của thế tục, như bóng theo hình.  Dù chúng có vẻ thực, thì cũng chỉ là những pháp phi hữu.  Đối với công đức chân thật (thì) đầy đủ trí tuệ thanh tịnh (= trong sạch), viên mãn vi diệu, và bản tính chân thật của nó vượt ngoài sở tri (= cái hiểu biết) của người.  Do vậy đừng tìm cầu nó trong các công trình thế gian”.

 

Trì giới của Phật Giáo Nguyên Thủy gồm Giới Ba La Mật Đa

Từ bi của Phật Giáo Đại Thừa gồm Nhẫn Ba La Mật Đa, Bố thí Ba La Mật Đa và Giới Ba La Mật Đa.

 

4) Thiền tông từ Phật Giáo Nguyên thủy

 

Phật Giáo Nguyên thủy từ Phật Thích Ca đã có Tứ Pháp ấn (4 seals of the law).

Kinh A Hàm (phẩm 18 của Tăng Nhất A Hàm) của Phật Giáo Nguyên thủy đã viết về Tứ Pháp ấn:

Cái gì là hiện Tượng là vô thường

Cái gì là hiện tượng là Khổ

Cái gì là hiện tượng là vô ngã

Niết bàn là an tịnh vĩnh cửu.

 

Lợi dụng trực tiếp từ bài kệ của Phật Giáo Nguyên thủy bắt đầu từ vô ngã, Phật Giáo Đại thừa từ Không tông qua Tánh tông cho đến Thiền tông đã xây dựng nội dung giáo lý của mình trên đó: Vì sự vật (là hiện tượng) vô thường nên phải khổ, do đó nếu ta cứ căn cứ trên sự vật vô ngã (without nature) thì ta sẽ được niết bàn an tịnh trong tâm của ta.  

Phật Giáo Đại thừa Không tông suy từ sự vật là hiện tượng và vì nó vô ngã (cho nên vô thường) nên là tương đối và cứu cánh niết bàn chỉ là tâm an tịnh (tranquil) mà thôi.

Hơn nữa, Đại thừa Tánh tông còn nghiên cứu Tâm của con người và tìm ra bản tâm, hay Phật tánh, vô ngã (nonself) có sẵn từ bẩm sinh giúp con người thành Phật

 

Phật Thích Ca chỉ bắt đầu từ vô thường (impermanant) của hiện tượng sự vật mà suy ra "nhân duyên nghiệp quả" rồi chú trọng tới nghiệp trong luân hồi lục đạo mà đặt ra giáo lý đạt niết bàn của mình.  Theo thiển ý, giáo lý nầy phức tạp và khó áp dụng trong thực tế.  Nếu không có thượng đế thì ai quyết định cái nghiệp của chúng sinh?

 

Phật Thích Ca cũng cho rằng sự vật là hiện tượng nhưng từ chối không bàn đến cái "ngã" (nature) của sự vật. 

Trong thời của Phật Thích Ca, các trường phái triết học khác ở Ấn Độ chấp nhận một hình thức có thể chất không thay đổi gọi là "Àtman" (nature, self = ngã) còn được gọi theo từ ngữ của vũ trụ và tôn giáo là "Brahman".  Phật Thích Ca cũng như Phật Giáo Nguyên Thủy không để ý tới Àtman hay Brahman vì chúng không có liên quan tới thế giới hiện tượng do đó không giúp cho việc tu hành để thoát khỏi Khổ và luân hồi sinh tử.  

Theo tiểu tụng về Màlunkyaputta (Lesser course to Màlunkyaputta = Cùla-Màlunkya sutta) trong Trung Bộ (Majjhima-nikàya) của Kinh Tạng:

Màlunkyaputta, một triết gia trẻ tuổi, đã thông thạo giáo lý Bà La Môn (Brahmanic doctrine) trước khi thành đệ tử của Phật Thích Ca.  Ông bị ám ảnh bởi vấn đề về Bản thể học nên Ông xin Phật Thích Ca trả lời 4 câu hỏi của ông một cách thỏa đáng trước khi ông theo con đường tu hành của Phật Giáo.  Bốn câu hỏi là: Thế giới (nầy) là vĩnh cửu hay không?  Thế giới là có giới hạn hay không?  Thể xác và Tâm thần là một hay khác biệt? Như Lai, bậc vượt trên khỏi sinh tử, còn hiện hữu sau khi chết hay không?

Phật Thích Ca dùng câu chuyện của mũi tên có tẩm thuốc độc để trả lời: Nếu một người bị trúng tên có tẩm thuốc độc, người đó có đòi hỏi được biết tên của người cung thủ, thuộc giai cấp hay dòng họ nào, cung và tên thuộc loại nào trước khi chấp nhận và đồng ý được chữa vết thương của mình?  Người đó sẽ chết trước khi mũi tên được rút ra và thuốc độc được diệt trừ.  Cũng giống như thế cho trường hợp của một người từ chối tu hành thoát khỏi phiền não (defilements) và đạt giải thoát trước khi những câu hỏi về bản thể học nầy (ontological questions) được trả lời minh bạch sẽ chết, và người đó sẽ lại tiếp tục khổ trong luân hồi, bởi vì những câu hỏi như vậy tiếp tục không được trả lời.   

Màlunkyaputta nhận thức sự sai lầm của mình và bắt đầu tu hành theo Phật Thích Ca.

 

Hơn nữa thuyết 12 nhân duyên của Phật Thích Ca về "nhân duyên nghiệp quả" cho rằng con người hay sinh mạng sinh ra đã là vô minh, không biết đến bản tâm giác ngộ (như Đại thừa Tánh tông và Thiền tông)

 

b) Bản tâm từ bi

 

Kinh tạng của Phật Giáo Nguyên thủy thật ra có vô tình nói tới bản tâm và từ bi nhưng Phật Giáo Nguyên thủy đã không đem vào giáo lý trong tập đế và diệt đế.

 

* (Bản tâm)

 

Phật Giáo Nguyên thủy đã nói tới bản tâm trong Kinh Tạng và gọi nó là minh tâm hay Phật tánh.

 

- Tăng Nhất Bộ Kinh (Anguttara Nikaya) của Kinh Tạng viết: 

Minh tâm bẩm sinh (innately luminous mind=prabhasvara citta) bị che dấu bởi phiền não mê hoặc (defilements = agantukaklesa).  

 

Đại Chúng bộ (Mahasàngika) gọi là tâm thức bản thể (substratum consciousness = Mulavijana) là căn bản của tâm thức (nature of consciousness).

 

- Niết Bàn Kinh (Nirvana Sutra) của Kinh Tạng viết: 

Chúng sanh có sở hữu một bản tánh thánh thiện (sacred nature) làm căn bản để chúng sanh thành Phật.  Đó là Phật tánh, thực tánh (true nature) phổ quát (universal) và ô uế (sullied) bởi trạng thái tâm lý hay nghiệp mà cá thể có thể vướng vào.

 

* (Từ bi)

 

Đoạn diệt 3 tư hoặc thuộc về tình cảm là tham dục, sân và mạn giúp cho tu sĩ phát hiện ra tâm từ bi.  Kinh Tạng của Phật Giáo Nguyên thủy có nói đến điều đó qua lời của tôn giả Xá Lợi Phất (Sàriputta), một trong 10 đại đệ tử của Phật Thích Ca:

Một hôm sa di Ràhula đi khất thực với tôn giả Sàriputta ở Rajagaha (Vương Xá).  Một tên côn đồ (hooligan) liệng cát vào bình bát của Sàriputta và đánh đập Ràhula.  Sàriputta bảo Ràhula rằng: "Dù gặp bất cứ cách đối xử nào, chúng ta là tỳ kheo đừng bao giở giận (sân), phải có lòng từ bi đối với chúng sanh.  Người tu hành tìm giác ngộ không tự kiêu, không tham dục và phải có sức mạnh chống lại cái tâm nóng giận (sân)".  Ràhula vâng lời, chỉ cười rồi bỏ đi cùng với Sàriputta.

 

Tuy nhiên, Phật Giáo Nguyên thủy đã không đem bản tâm (hay Phật tánh từ bi vào giáo lý trong tập đế và diệt đế.

III. HÌNH THỨC CỦA GIÁC NGỘ
a) Lục Độ và Bát Chánh Đạo
*
Trên hình thức, giác ngộ của Phật Giáo Đại thừa là Lục độ (6 Ba La Mật Đa) và giác ngộ của
Phật Giáo Nguyên Thủy là Bát Chánh đạo.
Bát Chánh đạo là 8 con đường đi đúng, đúng theo giáo lý của Phật Giáo.
Lục độ là 6 sự toàn hảo, toàn hảo giáo lý của Phật Giáo = 6 pàramità (6 Ba La Mật Đa).
So sánh Lục độ (PG Đại Thừa) và Bát Chánh đạo (PG Nguyên Thủy) của bậc giác ngộ:
(Lục Độ) (Bát Chánh Đạo)
- Kiến =
Tuệ Ba La Mật Đa ................. Chánh Kiến, Chánh Niệm, Chánh Tư Duy
Định Ba La Mật Đa ................ Chánh Định
Tinh Tiến Ba La Mật Đa ........ Chánh Tinh Tiến
- Hành =
Nhẫn Ba La Mật Đa
Bố Thí Ba La Mật Đa
Giới Ba La Mật Đa .................. Chánh Ngữ, Chánh Nghiệp, Chánh Mệnh

*
Chú thích về Ba La Mật Đa và Bát Nhã Ba La Mật Đa (= Tuệ Ba La Mật Đa)
- Pàramità:
(dịch âm) = Ba La Mật Đa
(dịch nghĩa) = Perfection = sự toàn hảo = Độ (như Lục Độ)
(dịch nghĩa đen) = Đáo Bỉ Ngạn (quan bờ bên kia) = Độ Vô Cực (?)

= (Sự Cứu Cánh)

- Prajnà:
(dịch âm) = Bát Nhã
(dịch nghĩa) = Tuệ (Huệ) hay Trí Tuệ (Wisdom).
Sư Huyền Trang dịch Prajnà là Tuệ hay Huệ (=Wisdom), phân biệt với Jnàna là Trí
(=Knowledge) vì có Tuệ Ba La Mật Đa và Trí Ba La Mật Đa trong Thập Độ của kinh Hoa
Nghiêm. Tác giả bài viết nầy giữ theo đúng với dịch nghĩa "Tuệ" của Sư Huyền Trang.
Các sách hiện đại nhất là trong nước bắt đầu dùng "Huệ" thay thế cho "Tuệ" để dịch Phạn ngữ
"Prajnà" hay Anh ngữ "Wisdom". Tác giả bài viết nầy vẫn dùng từ ngữ "Tuệ".
- Prajnàpàramità:
(dịch âm) = Bát Nhã Ba La Mật Đa.
(dịch nghĩa) = Perfection of Wisdom or Transcendental Wisdom = Trí tuệ toàn hảo hay
siêu việt = Trí Tuệ Độ (theo Trần Trọng Kim)
(thông dụng, thường dịch là) = Tuệ Ba La Mật Đa = Bát Nhã Ba La Mật Đa = Tuệ toàn
hảo
(thường dịch không đúng là) = Trí Tuệ Bát Nhã = Trí Huệ Bát Nhã = Bát Nhã.
(dịch dễ hiểu nhất là) = Tâm sáng suốt toàn hảo hay thực tế hơn là toàn hảo trong sự nhìn
thấy hiểu biết rõ, đức tin và tư tưởng theo giáo lý Phật Giáo (= Chánh Kiến, Chánh Niệm và
Chánh Tư Duy của PG Nguyên thủy).
Tuệ Ba La Mật Đa (Bát Nhã Ba La Mật Đa) là căn bản và chủ yếu của cả Lục Độ (6 Ba La Mật
Đa). Bậc giác ngộ của Đại Thừa còn gọi là bậc Đại Tuệ (Great Wisdom).
b) Hành Kiến
Thiền tông đơn giản Lục độ và Bát Chánh đạo thành ra Hành Kiến. Hành Kiến là 2 cột trụ
(pillars) của Thiền Tông.
Tâm thức giác ngộ gồm có giải ngộ và chứng ngộ. Từ chưa giác ngộ (vô minh) vừa đạt tới giác
ngộ thì gọi là giải ngộ. Sau đó giữ giải ngộ gọi là chứng ngộ. Khi sáng suốt đạt tới giải ngộ thì
như một ánh sáng đột nhiên xuất hiện nên Thiền tông thường gọi là đốn ngộ. Chứng ngộ thì phải
giữ suốt đời mình nên thường được gọi là tiệm tu.
Giải ngộ gồm có Hành và Kiến.
- Kiến là:
hoàn toàn nhìn thấy rõ tức là hiểu biết rõ giáo lý (= Chánh Kiến hay Tuệ Ba La Mật Đa)
hoàn toàn chỉ tin vào sự hiểu biết rõ của mình (= Chánh Niệm hay Tuệ Ba La Mật Đa)

hoàn toàn có tư tưởng giống như sự hiểu biết rõ của mình (= Chánh Tư Duy hay Tuệ Ba
La Mật Đa)
hoàn toàn giữ cố định sự hiểu biết rõ và tư tưởng của mình (= Chánh Định hay Định Ba
La Mật Đa)
hoàn toàn không giao động hay từ bỏ sự hiểu biết rõ và tư tưởng của mình (= Chánh Tinh
Tiến hay Tinh Tiến Ba La Mật Đa)
- Hành là:
hoàn toàn sống theo sự hiểu biết và tư tưởng của mình trong đời sống gồm có:
ngôn ngữ (= Chánh Ngữ hay Giới Ba La Mật Đa)
hành vi (= Chánh Nghiệp hay Giới Ba La Mật Đa)
sinh hoạt (= Chánh Mệnh hay Giới Ba La Mật Đa; Nhẫn Ba La Mật Đa và Bố thí

Ba La Mật Đa)
Thiền Tông cho rằng Kiến là chủ yếu và quan trọng hơn là Hành. Phần quan trọng nhất của Kiến
là Tuệ Ba La Mật Đa (Bát Nhã Ba La Mật Đa) của Lục độ.
Chánh Tinh Tiến (= Tinh Tiến Ba La Mật Đa) giữ cho tâm thức giác ngộ không giao động hay từ
bỏ Hành Kiến của mình bằng nguyên tắc Tứ Chính Cần.
Tứ Chính Cần là:
Điều Ác đã sinh cần phải siêng năng đoạn diệt
Điều Ác chưa sinh cần phải siêng năng đừng cho sinh ra
Điều Thiện đã làm cần phải siêng năng làm thêm
Điều Thiện chưa có cần phải siêng năng tạo ra
Điều Thiện (good) là theo Hành Kiến của Thiền Tông , điều Ác (evil) là không theo Hành Kiến
của Thiền Tông.
c) Niết Bàn (Nirvana)
Cứu cánh của Phật Thích Ca và Phật Giáo Nguyên thủy là giác ngộ, diệt hết khổ cho sinh mạng
(a sentient being), trong kiếp sống nầy mà sinh mạng đạt niết bàn và thoát khỏi phải khổ vì
không phải tiếp tục tái sinh nhiều kiếp khác mãi mãi trong luân hồi.
Phật Giáo Nguyên thủy không định nghĩa được rõ ràng, ta chỉ hiểu Niết bàn đồng nghĩa với trạng
thái (state) giác ngộ không khổ và khi đạt niết bàn thì sau khi chết con người không phải bị tái
sinh luân hồi.
Cứu cánh của Thiền tông (đại diện cho Phật Giáo Đại Thừa) là con người (a human being) được
có tâm giác ngộ an tịnh (tranquil) mà không phiền não trong kiếp sống nầy mà thôi, đó là niết
bàn diệu tâm. Niết bàn chỉ là tâm giác ngộ an tịnh trong kiếp sống nầy của mỗi con người.
Phật Lục của Trần Trọng Kim viết:
Trong một pháp hội trên núi Linh Thứu (Grdhrakùta), Đức Phật Thích Ca thăng tòa im
lặng giơ cành hoa Kim Đàn Mộc (do Đại Phạm thiên dâng lên) thị chúng (= nhìn mọi người).
Lúc ấy nhân thiên đại chúng dưới tòa chẳng ai hiểu duy có ngài Maha Ca Diếp (Mahàkàsyapa)
động nét mặt mỉm cười. Lúc ấy Đức Thế Tôn (= Phật Thích Ca) nói: “Ta có chính pháp nhãn
tạng, Niết bàn diệu tâm, thực tướng vô tướng, nay trao truyền cho ông”. (Ngô hữu chính pháp
nhãn tạng niết bàn diệu tâm thực tướng vô tướng phó chúc ư nhữ).

d) Phật và Bồ tát - La Hán
*
Giác ngộ của Phật Giáo Nguyên Thủy là Bát Chánh đạo, là (đạt) Niết bàn.
Danh hiệu của người giác ngộ đạt niết bàn là La hán. Danh hiệu Phật chỉ dùng giới hạn cho Phật
Thích Ca, vị Phật có thật trong lịch sử và những vị Phật theo truyền thuyết. Phật Giáo Nguyên
thủy có Bản Sinh kinh thuật lại những kiếp trước của Phật Thích Ca và coi những kiếp nầy là
kiếp Bồ tát trước khi thành Phật của Phật Thích Ca.
Giác ngộ của Phật Giáo Đại Thừa là Lục độ là tâm Niết bàn nhưng được Thiền tông đơn giản là
Hành Kiến.
Danh hiệu của người giác ngộ là Phật (Buddha). Nếu Phật ra công hóa độ những người khác
cũng giác ngộ như mình thì gọi là Bồ tát (Bodhisattva).
Pháp Bảo Đàn kinh viết:
Tổ biết Huệ Năng đã ngộ nên nói với Huệ Năng rằng: “Chẳng nhận được bản tâm (thì)
học pháp vô ích, nếu nhận được bản tâm thấy được bản tánh tức gọi là Trượng Phu, là Thiên
Nhơn Sư, là Phật”.
Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ 14 viết:
Từ không bị ảnh hưởng bởi khái niệm quy ước, Tâm (Tâm Thức) đồng nhất với bản thể
của mình (Bản Tâm) và khẳng định chính xác rằng ý nghĩa của nó (Bản Tâm) tương tục và
thường hằng trong sự quân bình của Định Tuệ thì dù có sống trong thế tục chúng ta đã là Phật.
*
Bồ tát là những bậc Đại Tuệ giác ngộ có Bồ đề tâm mà thi hành Đại Từ bi dùng phương tiện
thiện xảo (upaya = skillful means) để hóa độ chúng sinh trong cõi ta bà đạt giác ngộ như mình.
Theo kinh Hoa Nghiêm của Đại thừa lúc sơ khởi, bậc Đại Tuệ giác ngộ phải là Bồ tát hoàn hảo
hóa độ rồi mới thành Phật tuy nhiên ngay sau đó từ kinh Bát Nhã trở đi thì đơn giản hơn: bậc
giác ngộ là Phật và nếu Phật hóa độ con người khác giác ngộ thành Phật như mình thì gọi là Bồ
tát. Đại thừa và Kim Cang thừa đều đồng ý với kinh Bát Nhã.
*
Phật Giáo Đại thừa cho rằng chúng sanh, nhất là mỗi con người, đều có thể thành Phật vì có sẵn
Phật tánh (bản tâm) từ bẩm sinh.
Pháp Hoa kinh viết:
(Phẩm 10): Mọi người có thể được giải thoát. Tất cả chúng sanh có thể thành Phật,
không những tăng ni mà còn cả cư sĩ (Lay people), thanh văn, Bồ tát và sinh vật không phải là
người (non human creature).
(Phẩm 12): Phật tánh thì phổ quát trong tất cả mọi người kể cả Devadatta cũng có căn
cơ (potential) thành Phật. Devadatta là người âm mưu ám sát Phật Thích Ca.
Tuy nhiên Thiền tông coi thường danh hiệu Phật, cho nó chỉ là một sự vật. Theo Thiền tông, tự
mình biết mình giác ngộ là đủ, cần gì phải có danh hiệu. Điều nầy cũng được áp dụng cho toàn
thể Tam bảo (Phật, Pháp, Tăng) của Phật Giáo.

Thiền Luận (quyển Hạ, trang 148 và 77) viết:
Hỏi: “Phật là ai?”
Đáp (của các thiền sư):
(của Động Sơn Thủ Sơ): “Ba cân gai”
(của Vân Môn Văn Yển): ‘Que cứt khô” (Càn thỉ quyết)
(của Phần Châu Vô Nghiệp): “Đừng nghĩ bậy”
(của Thủ Sơn Tĩnh Niệm): “Con dâu cưỡi lừa, bà nhạc dắt”
(của Bạch Triệu Nghĩa): "Non xanh nước biếc”
(của Quy Tôn Đạo Thuyên): “Tuyết tan xuân tự nhiên đến”
(của Bảo Phúc Thù): “Khó vẽ lắm”
(của Đạo Ngô Năng): “Chửi cũng không giận”
(của Ngũ Tổ sơn Pháp Diễn): “Một người ngực trần chân không”
(của Trí Môn Quang Tộ): “Sau khi cởi giày ra, ông ấy chạy chân không”.
(của La Hán Tuyên Pháp): “Ông là một nhà lang thang.

Thiền Luận (quyển Hạ, trang 606) viết:
Hỏi: “Gia phong của hòa thượng ra sao?” (Nghĩa là những nét đặc sắc trong tông môn
và giáo pháp của Sư là gì?)
Đáp: “Một cái bàn, một cái ghế, một bếp lửa và những cánh cửa sổ”
Hỏi: “Bổn phận người xuất gia là gì?”
Đáp: “Buổi sáng nói lời chào mừng, buổi tối nói lời trân trọng”
Hỏi: “Đại ý Phật pháp là gì?”
Đáp: “Thích Ca là ngưu đầu ngục tốt, Tổ sư là mã diện a tỳ"
Thiền Luận (quyển Hạ, trang 605) viết:
Nghiêm Dương tôn giả ở Tân Hưng, có thầy Tăng hỏi: “Phật là gì?”
Trả lời: “Cục đất”
Hỏi: “Pháp là gì?”
Trả lời: “Đất lăn”
Hỏi: “Tăng là gì?”
Trả lời: “Ăn cháo ăn cơm”

IV. TU THIỀN VÀ GIÁC NGỘ
1) Cứu cánh và Tu Thiền
a) Nội dung của tu Thiền
* (Thiền định và Thiền quán)
Cứu cánh của Phật Giáo Đại thừa nói chung và Thiền tông nói riêng là tâm an tịnh mà không
phiền não bởi vì tâm sáng suốt giáo lý mà đạt tới giác ngộ.

Theo truyền thống, Phật Giáo có phương cách tu để đạt được cứu cánh là tu Thiền (hay tham
Thiền). Tu Thiền phải thực hiện trong không gian yên lặng theo một tư thế đặc biệt của thân
mình (thường là tọa thiền).
Tu Thiền quán (Insight meditation) để tâm sáng suốt giáo lý mà đạt được giác ngộ, khi
đó tâm sẽ an tịnh mà không phiền não. Tu Thiền quán là phương cách tập trung và suy nghĩ về
giáo lý đạt giác ngộ ghi trong kinh luận của Phật Giáo, thường là những trợ đạo phẩm của Phật
Giáo Nguyên thủy hay công án của Thiền tông.
Tu Thiền định (Meditation for concentration) để đạt được tâm an tịnh. Tu Thiền định
thường là phương cách tập trung vào hơi thở. Tu Thiền định không có liên quan tới giáo lý đạt
giác ngộ và dĩ nhiên không cần đạt giác ngộ nhưng tâm cũng sẽ được an tịnh.
Tóm lại tu Thiền quán để tâm giác ngộ giáo lý mà an tịnh (tranquil) không phiền não còn tu
Thiền định để tâm trực tiếp được an tịnh (tranquil) không phiền não mà không cần phải giác ngộ
giáo lý.
* (Thiền Mặc chiếu)
Ngoài tu Thiền định và tu Thiền quán như kể trên, Thiền tông (phái Tào Động) có tu tọa Thiền
Mặc chiếu để đoạn diệt tư tưởng của hành giả (= người tu hành) vì cho rằng chấp ngã và tự ngã
của con người là do tư tưởng (thought). Hành giả vẫn còn tri giác và nhận thức.
Thật ra đó là tu Thiền định đạt tới 4 bậc cao hơn 4 bậc Tứ Thiền (của tu Thiền định) với bậc thứ
tám cuối cùng (= bát định) là đoạn diệt tư tưởng. Theo Niết Bàn kinh của Phật Giáo Nguyên
Thủy, Phật Thích Ca đã áp dụng và đạt tới bậc nầy ngay trước khi ngài nhập diệt. Kỹ thuật tu
Thiền Mặc chiếu được các Thiền sư của phái Tào Động giữ bí mật nên ít người biết.
b) Hình thức của tu Thiền
* (Thiền quán)
Quán = sáng suốt, trong cái nhìn (= kiến = view) = Insight.
Quán gần như đồng nghĩa với Tuệ (Huệ).
Tuệ = sáng suốt, trong cái nhìn (= kiến), nhờ kinh nghiệm hiểu biết (= knowledge) = Wisdom.
Sự toàn hảo của tuệ = perfection of wisdom = Tuệ Ba La Mật Đa = Bát Nhã Ba La Mật Đa.
Thiền quán giúp cho đạt tới Bát Nhã Ba La Mật Đa (Tuệ Ba La Mật Đa) của Phật Giáo Đại thừa,
gồm có Chánh Kiến, Chánh Niệm và Chánh Tư duy của Phật Giáo Nguyên thủy.
* (Thiền định)
Từ Phật Giáo Nguyên thủy cho tới Thiền tông, với phương pháp tu Thiền định, Tâm lần lượt
vượt qua 4 trạng thái gọi là Tứ Thiền hay Tứ Thiền Na.
Tứ Thiền = Tứ Thiền Na (4 Dhyàna):
1. Định Sơ Thiền (1st Jhàna): sung sướng (lạc = pleasure) và vui mừng (hỉ = delight), tâm
thoát khỏi nhục dục (sensuous desire) và ác độc (evil).
2. Định Nhị Thiền (2nd Jhàna): vẫn vui mừng và sung sướng, thoát khỏi suy luận
(discursion) và tìm hiểu (investigation).

3. Định Tam Thiền (3rd Jhàna): sung sướng nhưng bình tỉnh (equanimity), lìa khỏi vui
mừng và than thở
4. Định Tứ Thiền (4th Jhàna): an tịnh (tranquil), lìa khỏi sung sướng và đau khổ
Tứ Thiền còn gọi là Tứ Định của Sắc Giới. Sau khi trải qua Tứ Thiền, Tâm đạt tới an tịnh
(tranquil, calm = samatha).
Tâm đạt tới an tịnh = Chánh Định (của PG Nguyên thủy) = Định Ba La Mật Đa hay Thiền Định
Ba La Mật Đa (của PG Đại thừa).

2) Thiền tông và tu Thiền

 

a) Phương pháp tu của Thiền tông

 

Các thiền sư đã thấy sự bất lợi của kinh luận.

Một công án trong Thiền Luận q. hạ (trang 82) viết:

Tăng hỏi: “Tại sao sư không chịu cho đọc kinh, coi như là những lời phụ thuộc?”

Sư Huệ Hải đáp: “Như con vẹt học tiếng người mà lại không hiểu ý nghĩa.  Kinh truyền ý Phật, nếu không lãnh hội ý Phật thì việc tụng đọc chỉ là học nói, do đó (ta) không chịu cho đọc kinh”

Hỏi: “Ngoài ngôn ngữ văn tự còn phương tiện nào để diễn ý nữa chăng ?”

Đáp: “Những lời ông vừa nói lại cũng là học nói mà thôi”

Hỏi: “Cũng là như nhau sao Sư lại thiên lệch chống đối?”

Đáp: “Trong Kinh có nói rõ rằng: Những gì ta nói đều là nghĩa chứ không phải chỉ có văn; còn những gì mà chúng sinh nói chỉ là văn chứ không có nghĩa.  Ai hỏi ý sẽ vượt lên những văn tự hời hợt, ai ngộ Lý sẽ vượt qua những văn tự.  Giáo pháp siêu việt (trên) ngôn ngữ văn tự, tại sao lại tìm tòi trong những số câu?  Bởi vậy kẻ phát Bồ Đề thì được ý mà quên lời, ngộ Lý mà ảo giáo, như người được cá thì quên nơm”. 

 

Do đó phương pháp tu hành của Thiền tông gồm có: biệt truyền trực tiếp, tu Thiền quán và tu Thiền định 

Từ sơ khởi, Thiền tông bắt đầu với biệt truyền trực tiếp và dĩ nhiên với tu Thiền định (truyền thống của Phật Giáo từ Phật Thích Ca).  Dần dần khi có nhiều môn đồ, thiền sư dùng tu Thiền quán để thoại đầu công án , thay thế một phần cho phương pháp biệt truyền trực tiếp. 

 

* (Biệt truyền trực tiếp và Công án)

 

Biệt truyền trực tiếp theo đúng như 2 câu đầu trong bài kệ của Thiền sư Triệu Châu:

 

Giáo ngoại biệt truyền

Bất lập văn tự

Trực chỉ nhân tâm

Kiến Tánh thành Phật

 

Theo truyền thống lúc đầu của Thiền tông, biệt truyền trực tiếp là thiền sư truyền đạo cho đệ tử riêng biệt và không bằng văn tự như dùng kinh luận.  Qua đàm thoại (có khi dùng lời thơ) và hành động thường là ngắn ngủi trực tiếp giữa thầy (thiền sư) và đệ tử, có khi với những trả lời hay thái độ kỳ dị, đệ tử được dạy dỗ để sáng suốt mà giác ngộ.  Đó là truyền Tâm ấn: tâm truyền tâm giữa thầy và đệ tử.  

Thiền Luận quyển Hạ (trang 502) tả một trường hợp "biệt truyền trực tiếp":

Triệu Châu, trên bước đường hành cước, tham kiến Đại Từ Hoàn Trung, hỏi: 

“Thể của Bát Nhã là gì?”

Đại Từ đáp: 

“Thể của Bát Nhã là gì?”

Tức thì Triệu Châu cười lớn và bỏ đi.

Một thời gian sau, Đại Từ thấy Triệu Châu đang quét sân.  Đại Từ hỏi: 

“Thể của Bát Nhã là gì?”

Triệu Châu liệng cây chổi, cười lớn và bỏ đi.  Đại Từ liền trở về phương trượng. 

 

Những câu chuyện ích lợi cho sự giác ngộ từ những trường hợp đàm thoại và hành động nầy của biệt truyền trực tiếp nếu được lưu truyền và lưu giữ về sau bằng truyền khẩu hay văn tự thì gọi là những Công án (Koàn).  Công Án còn là những đoạn kinh ngắn về đàm thoại hay hành động giữa Phật và đệ tử hoặc những giảng dạy ngắn của những thiền sư trong quá khứ được ghi và truyền lại như Thập Ngưu đồ.  Công án thường cho thấy kết cuộc bằng sự đốn ngộ của đệ tử!  Về sau, đàm thoại trực tiếp về Công án với thầy cũng giúp đệ tử giác ngộ.

 

* (Tu Thiền quán - Thoại đầu Công án)

 

Dần dần khi có nhiều môn đồ, thiền sư mới dùng thêm tu Thiền Quán giống như truyền thống Phật giáo từ Phật Giáo Nguyên thủy với chủ đề thường là Công án để tập trung suy nghĩ.

Thiền sinh tập trung suy nghĩ tìm ra thoại đầu của Công án.  Thoại đầu là chổ trọng yếu hay tâm điểm trong nội dung của Công án có khi chỉ là 1 chữ hay 1 câu.  Nghĩa đen của Thoại đầu là "chữ đầu" (word head) hay "đầu của bài nói chuyện" (head of speech).  Từ tìm ra thoại đầu, đệ tử có thể sáng suốt mà giác ngộ.


 

b) Tu Thiền và Thiền tông

 

*

Thiền tông dùng tu Thiền nhưng không dựa hoàn toàn vào tu Thiền.

 

Công Án trích từ Đại Cương Triết Học Sử Trung Quốc viết: 

Mã Tổ sống trong am vắng ở Hành sơn (tỉnh Hồ Nam), tọa thiền một mình.  Ngày kia Thiền sư Hoài Nhượng đem gạch ra mài trước am của Mã Tổ.  Mã Tổ thấy vậy, hỏi mài làm gì.  Hoài Nhượng đáp rằng mài làm kính.  Mã Tổ nói: "Mài gạch làm sao thành kính được?".  Hoài Nhượng nói: "Mài gạch đã không thành kính, tọa thiền há thành Phật được chăng?".  Do lời đó, Mã Tổ đắc ngộ.

 

*

Thiền tông nhấn mạnh tới tu để đạt giác ngộ trong sinh hoạt của đời sống hằng ngày chứ không phải chỉ tọa thiền.  

 

Thiền Tông Công Án viết:

Tổ sư Lặc Đàm Hoài Trừng hỏi sư Linh Thao hiểu sao về (Tổ) Đạt Ma (từ) Tây lại, chỉ thẳng tâm người, thấy tánh thành Phật.  Linh Thao bày tỏ rằng không hiểu.

Lặc Đàm nói: “Trước khi xuất gia ông làm gì?”

Đáp: “Chăn trâu”

Lặc Đàm lại nói: “Chăn như thế nào?”

Đáp: “Sáng sớm cưỡi đi, chiều tối cưỡi về”

Lặc Đàm nói: “Ông thiệt ngu si quá đổi”

Sư Linh Thao đại ngộ và đọc bài Kệ:

Phóng khước ngưu tằng tiện xuất gia      Vứt bỏ giây chăn rồi xuất gia

Thế trừ tu phát trước cà sa                       Cạo râu cạo tóc khoác cà sa

Hữu nhân vấn ngã Tây lai ý                     Có ai hỏi ý từ Tây đến

Tru trượng hoành khiêu la lí la                Vác gậy quơ ngang la lí la

(Sư Linh Thao)                                         (Tuệ Sỹ dịch)

3) Quan điểm về tu Thiền

 

a) Tu Thiền định

 

Thiền định giúp tâm an tịnh không cần giác ngộ giáo lý thì cũng như chữa bệnh mà chỉ chữa triệu chứng chứ không chữa căn bệnh.  Tuy nhiên theo thiển ý, Thiền định cũng giúp cho chứng ngộ giữ tâm an tịnh khi ta đã giải ngộ?  

Thiền định cũng tùy thuộc vào tánh tình (personality) của từng người.  Nhiều người quá nhạy cảm thì rất khó khăn đạt tới Định Tứ Thiền.  Có nhiều người rất bằng lòng dừng lại ở những bậc dưới của Tứ Thiền vì đã sung sướng và vui mừng rồi!

Kỹ thuật tu Thiền định lại tùy theo người dạy giỏi hay dở và thường là truyền khẩu.

Do đó người tu Thiền định thì nhiều nhưng đạt được cứu cánh là tâm an tịnh (tranquil) thì không được bao nhiêu và phải tọa thiền hằng ngày không thể xao lãng được.

 

b) Tu Thiền quán

 

Thiền quán giúp cho tâm sáng suốt giáo lý để đạt giác ngộ nhưng không có gì chắc chắn vì nó chỉ là tự học dựa trên những tài liệu như trợ đạo phẩm (của Phật Giáo Nguyên thủy) và công án hay bài kệ (của Thiền tông).  Những tài liệu nầy dạy bằng gợi ý chứ không có giải thích rõ ràng.  Tu theo Thiền quán là một công trình khó khăn và lâu dài mới đạt được giải ngộ và chỉ có những người thông minh mới sáng suốt đến giác ngộ.

 

Có những thiền sư tự mình cho là đã giác ngộ nhưng không có một bằng chứng gì là họ giác ngộ.  Những bài kệ của họ để lại thì quá vắn tắt và mơ hồ nên gần như vô nghĩa và vô dụng.  

Đây là một bằng chứng trích nguyên văn từ Pháp Bảo Đàn kinh:

Một ngày kia, Ngũ tổ (Hoằng Nhẫn) triệu tập môn đồ bảo rằng: “Sinh Tử là việc lớn, các ngươi suốt ngày chỉ cầu phước điền, chẳng cầu lìa khỏi biển khổ sinh tử, tự tánh nếu mê, phước làm sao có thể cứu được?  Các ngươi mỗi người hãy tự xem trí tuệ (huệ), dùng bản tâm Bát Nhã của tự tánh, mỗi người làm một bài Kệ trình cho ta xem, nếu ngộ được đại ý, thì ta sẽ truyền y bát cho làm Lục Tổ (Tổ thứ sáu), hãy mau lên chẳng được chậm trễ, hễ lọt vào suy lường thì chẳng dùng được.  Người kiến tánh vừa nghe phải liền thấy, nếu được như vậy thì khi ra trận giữa đao kiếm cũng phải thấy được”.

(Đệ tử giỏi nhứt là) Thần Tú làm (bài) Kệ xong, trải qua 4 ngày, 13 lần muốn vào trình mà vẫn chưa dám (vào trình).  Thế rồi đợi đến nửa đêm lúc mọi người ngủ thì cầm đèn viết lên vách hành lang phía Nam bài Kệ của mình:

 

Thân thị bồ đề thụ                             (Thân như cây bồ đề)

Tâm như minh kính đài                     (Tâm như đài gương sáng)

Thời thời cần phất thức                     (Luôn luôn cần lau phủi)

Mạc (Vật) sử (xử) nhạ trần ai.           (Đừng để nhuốm bụi trần)  

(Thần Tú)

 

Đêm sau, Ngũ tổ (đã đọc bài Kệ của Thần Tú) kêu Thần Tú vào phòng mà nói: “Ông làm bài Kệ nầy chưa thấy Thực Tánh, chỉ đến ngoài cửa, chưa vào trong, kiến giải như thế (thì) tìm Vô Thượng Bồ Đề chẳng thể được.  Vô Thượng Bồ Đề phải khi vừa nói liền nhận tự bản tâm, thấy tự bản tánh, chẳng sanh chẳng diệt, với bất cứ giờ nào, niệm niệm tự thấy, chẳng kẹt vào vạn pháp, nhứt chơn nhứt thiết chơn, vạn cảnh tự như như, cái tâm như như tức là chơn thật.  Nếu thấy như thế tức Vô Thượng Bồ Đề của tự tánh”.  

 

c) Tu Thiền

 

Ngày nay nếu giáo lý giác ngộ được các bậc sư hiểu rõ và giảng dạy đàng hoàng theo đúng phương pháp và tài liệu khoa học thì chúng ta cần gì phải tu Thiền, một phương pháp tự học quá lỗi thời.  Rất tiếc ngày nay chúng ta chỉ thấy những bậc đại sư dạy đời hơn là dạy đạo hoặc dạy theo những mẫu chuyện như là công án để gợi những ý nghĩa nhỏ mà thôi, như dạy anh mù rờ voi.  


 

V. KẾT LUẬN

1) Giáo lý giác Ngộ của Thiền tông

 

*

Muốn được tình cảm an tịnh không buồn khổ thì lý trí của ta phải sáng suốt đến giác ngộ là đoạn diệt một số tình cảm tự ngã và chấp ngã (tham dục, sân, mạn) đối với sự vật và sinh vật (kể cả thân mình); cũng như thực hành tình cảm từ bi đối với sinh vật (kể cả thân mình) trong lý trí và từ đó dùng lý trí và tình cảm trong sinh hoạt hằng ngày của mình.  

Tâm thức ta gồm có lý trí và tình cảm luôn hoạt động liên quan tới sự vật và sinh vật (kể cả thân mình) nhưng hoạt động trong sự sáng suốt hoàn hảo của lý trí giác ngộ theo nhân sinh quan kể trên.  Sự sáng suốt giác ngộ về hiện tượng và sự tương đối của sự vật từ vũ trụ luận cũng như về Phật tánh (hay bản tâm) của ta từ nhân bản luận giúp cho sự sáng suốt giác ngộ của nhân sinh quan.

Lý trí và tình cảm khác của ta tự do hoạt động trong những phạm vi và phương diện khác ngoài giáo lý Phật Giáo.

 

Đoạn diệt những tình cảm chấp ngã và tự ngã đối với thân mình (trong sinh lão bệnh tử), người và sinh vật khác, và tất cả mọi sự vật hiện hữu gọi là Đoạn hoặc (đoạn diệt mê hoặc).

Đoạn hoặc gồm có:

            Đoạn diệt Tham Dục:

                        không có ích kỷ tham lam (self-centered greed)

            Đoạn diệt Sân:

                        khôngphẫn nộ giận dữ (anger)

                        khôngthù ghét (hate)

                        khônglăng nhục (insult)những người khác

            Đoạn diệt Mạn:

                        khôngkhoe khoang tự phụ (boasting)

                        khôngghen ghét (jealousy) hay ganh tỵ (envy)

                        khôngnịnh bợ (flatterery) 

                        khôngsợ hãi vô lý (unreasonable fear) đối với những người khác 

 

Thực hiện tình cảm từ bi đối với sinh vật khác, người khác (và kể cả thân ta).

Từ bi là:

            không hại người và sinh vật khác (= Từ), tức là nhẫn nhịn (forebearance) và không có xung đột (conflict). 

            thương người khác và sinh vật khác (= Bi) bằng thể hiện lòng tử tế (loving kindness) và lòng thương xót (pity).

 

Tâm thức sáng suốt của con người thì dễ đoạn hoặc và từ bi vì luôn có bản tâm của nó đã như vậy. Điều nầy chỉ có thể đúng với con người nhưng không chắc chắn đúng với những sinh mạng khác như thú vật.

 

Cứu cánh của Thiền tông là tâm an tịnh, không phiền não nhờ sự giác ngộ không có nghĩa là tâm hạnh phúc với sung sướng và vui vẻ.  Tuy nhiên có người thấy tâm an tịnh không buồn khổ là đủ hạnh phúc rồi thì cũng không thiệt thòi gì? 

Hơn nữa nếu một người thấy tự mình đã có tâm thức an tịnh (tranquil) theo một phương pháp hay triết lý khác thì không cần phải biết và giác ngộ giáo lý Thiền tông làm gì. "Đã không thấy khổ không phiền não thì cần gì phải tu?".

 

Những hình thức tôn giáo của Phật Giáo về giác ngộ như Bát Chánh Đạo, Lục Đạo, Hành Kiến, Phật và Bồ tát không còn là quan trọng đối với một người đã giác ngộ giáo lý Thiền tông.

 

*

Nho Giáo có tánh bản thiện (của Mạnh tử) và Tân Nho Giáo có tâm lương tri hay lương tâm (của Vương Dương Minh) cũng giống như bản tâm (hay Phật tánh) của Thiền tông và Kim Cang thừa.

 

Triết lý của Trang tử của Đạo Gia không khác với giáo lý triết học của Thiền Tông.

- Trang tử của Đạo Gia dạy:

            Đức là bản tánh bẩm sinh khác nhau của mỗi người.  Sống theo Đức tức là phát triển khả năng bẩm sinh của mình một cách trọn vẹn và tự do thì ta đạt Hạnh phúc tương đối.

            Mọi sự vật đều tương đối, nếu tâm ta không phân biệt sự vật thì ta hợp nhất với mọi sự vật và sống sung sướng trong mọi sự vật.  Khi đó ta đạt Hạnh phúc tuyệt đối.

- Thiền Tông của Phật Giáo Đại Thừa dạy:

            Phật Tánh từ bi là bản tánh bẩm sinh giống nhau của mỗi người

            Mọi sự vật đều tương đối (vì đều vô ngã), nếu tâm ta không dính chặc (trụ) vào sự vật thì Phật Tánh trong ta sẽ lộ ra Từ bi, sống dung hòa với mọi sự vật.  Khi đó tâm ta an tịnh và thoát khỏi Phiền não.  

 

 

2) Giáo lý giác ngộ và Tín ngưỡng cứu độ

 

*

Giáo lý giác ngộ của Phật Giáo Nguyên thủy từ Phật Thích Ca: 

            dựa trên lý thuyết "nhân duyên nghiệp quả" của sự vật và sinh mạng mà đưa ra đoạn nghiệp (gồm có đoạn hoặc và trì giới),

            hóa độ 6 loại sinh mạng thành bậc La hán "nhập Niết bàn", thoát khổ (không phiền não) trong kiếp nầy và thoát khỏi tái sinh trong luân hồi lục đạo.

Phật Giáo Đại thừa không đồng ý với giáo lý của Phật Giáo Nguyên thủy nên khởi xướng giáo lý mới của mình từ Không tông, đến Tánh tông và cuối cùng tới Thiền tông.

Giáo lý giác ngộ của Phật Giáo Đại thừa Thiền tông (tổng hợp Không tông và Tánh tông):

            dựa trên lý thuyết sự vật tương đối và chỉ là hiện tượng, và bản tâm giác ngộ của con người mà đưa ra đoạn hoặc và từ bi,

            hóa độ 1 loại sinh mạng là con người thành Phật có Niết bàn diệu tâm, tức là tâm an tịnh không phiền não (thoát khổ) trong kiếp sống nầy (tức là không nhìn xa đến kiếp sau trong luân hồi lục đạo).

 

*

Có thiền sư rất tin tưởng vào giáo lý giác ngộ của mình, chối bỏ tín ngưỡng tôn thờ của Phật Giáo.

Thiền Luận quyển Trung, trang 80, viết:

            Kim Sơn Đạt Quán hỏi: “Thầy có niệm Phật không?”

            Trả lời: “Không hề”

            Hỏi: “Tại sao không?”

            Trả lời: “Vì e dơ miệng mình” 

 

Giáo lý giác ngộ của Đại thừa Thiền tông có thể giúp ích cho tâm con người không khổ trong kiếp sống nầy nhưng không hoàn toàn và hơn nữa khi con người nghĩ tới những gì xảy ra cho mình sau khi chết thì cứu độ từ tín ngưỡng tôn thờ rất cần thiết.  Nó đem lại hy vọng trong đức tin và tình thương.

Phật Giáo là một tôn giáo gồm có tín ngưỡng tôn thờ để được cứu độ và giáo lý triết học để tự giác ngộ. Nếu nói đến tôn thờ, ta phải nói đến Tín ngưỡng Đại thừa và Tịnh Độ tông.

Bs PHAN THƯỢNG HẢI biên soạn

 

Bài viết nầy đăng lần đầu tiên trong phanthuonghai.com mục Văn Hóa phần Giáo Lý.


 

Tài liệu tham khảo

1) Triết lý Phật Giáo: từ Phật Thích Ca đến Thiền Tông (Bs Phan Thượng Hải) - phanthuonghai.com

2) Phật Giáo Nguyên Thủy - Tam Bảo (Phan Thượng Hải) - phanthuonghai.com

3) Essentials of Buddhism (Kogen Mizuno)

4) Thiền Luận quyển trung và quyển hạ (Suzuki - Tuệ Sỹ dịch)

5) Thiền Đạo Tu Tập (Trương Trừng Cơ)

6) Những bài giảng của Đạt Lai Lạt Ma cho các đại học ở Mỹ (Thư viện Hoa Sen)

7) Lịch sử kinh điển Phật Giáo (Bs Phan Thượng Hải) - phanthuonghai.com

8) Tục Ngữ Lược Giải (Lê Văn Hoè)


 

Bs PHAN THƯỢNG HẢI biên soạn và giữ bản quyền

                                                          Bài 3

 

LỊCH SỬ CÔNG GIÁO THỜI CẬN ĐẠI

 

                                                                  Bs Phan Thượng Hải

 

Từ Jesus (Giê-su / Gia tô) có một tôn giáo là Christianity.  

Là người Do Thái, Jesus được các Tông đồ, cũng là người Do Thái, gọi là "Đấng cứu thế" (savior) mà tiếng Do thái là Messiah.  Messiah dịch ra tiếng Hy Lạp là Christo và tiếng La Tinh là Christus, chuyển thành tiếng Anh là Christ.  

Christianity là từ Christ (Christo và Christus), có nghĩa là: Tôn giáo của Christ, Đấng cứu rỗi thế gian. Dịch âm thành tiếng Việt của Christo là Kitô và của Christus là Cơ Đốc.  

Do đó Christianity được dịch ra tiếng Việt là Kitô giáo hay Cơ Đốc giáo.  Theo hiện đại, tác giả dùng từ ngữ "Kitô giáo".

 

Đến năm 1054, khi Kitô giáo chia ra 2 Giáo hội (Churches) thì 2 Giáo hội chọn 2 tên khác nhau:

Công giáo (Catholicism) và Giáo hội Công giáo (Catholic Church) 

Chính Thống giáo (Orthodoxy) và Giáo hội Chính Thống giáo (Orthodox Church).

Lịch sử Công giáo (Catholicism) bắt đầu khi nó còn là Kitô giáo (chung với Chính Thống giáo).

Từ ngữ Đạo Thiên Chúa có được dùng để dịch ra từ Catholicism hay Christianity nhưng đều không chính xác.  

 

Vào thế kỷ thứ 16, sau phong trào Cải Cách (Reformation), có những Giáo phái Kháng Cách (Protestant) tách ra từ Giáo hội Công giáo.  Những giáo phái Kháng Cách nầy đã được gọi chung là Đạo Tin Lành vì các giáo phái nầy căn cứ chính trên Phúc Âm (Gospels), dịch Nôm là "Tin Lành" (Good News).  Theo hiện đại, tác giả dùng từ ngữ "Kháng Cách".

 

Thời Cận Đại (Modern Time) bắt đầu từ thời Phục Hưng (Renaissance) và Khám Phá (Ages of Discovery) vào khoảng gần cuối thế kỷ thứ 15 cho tới trước Đệ nhất Thế chiến (1914).

 

Bố cục:

Giáo hoàng và Tòa thánh trong thời Phục Hưng (trang 1)

Phong trào Cải Cách và Chống Cải Cách (trang 4)

Truyền Giáo trong thời Cận Đại (trang 22)

Giáo Hội Trước Thời Kỳ Cách Mạng Âu Châu (trang 23)

Giáo Hội Trong Thời Kỳ Cách Mạng Âu Châu (trang 26)

Giáo Hội Sau Thời Kỳ Cách Mạng Âu Châu (trang 28)


 

GIÁO HOÀNG VÀ TÒA THÁNH TRONG THỜI PHỤC HƯNG 

 

*

Thời kỳ Đại Ly Giáo của Công giáo vào cuối thời Trung Cổ chấm dứt với Giáo hoàng Martin V.  Sau khi được bầu, Giáo hoàng Martin V phải mất 3 năm mới về tới Rome (1420).  Từ đó Tòa thánh ở Rome cho tới thế kỷ 20.  Mật nghị Giáo hoàng (Papal conclave) lại chính thức được áp dụng để bầu Giáo hoàng.  Giáo hoàng và Tòa Thánh ở Rome độc lập với tất cả những Quân chủ thế tục. 

 

Trong thời Phục Hưng, Rome ở trong bán đảo Ý, nơi mà con người vô liêm sĩ bắt đầu lập những triều đình trong sự hào nhoáng huy hoàng.  Những thập niên sau, Tòa Thánh sửa đổi theo đúng thực tế của thời Phục Hưng.  Bắt đầu thế kỷ 15, những Giáo hoàng vô liêm sĩ làm Rome trở thành triều đình huy hoàng nhất.  Nhiều cháu trai (nephews) của các Giáo hoàng được phong làm Hồng y, thường là thuộc gia đình quân chủ theo Công giáo hay gia đình giàu mạnh ở Ý.  Từ chế độ nầy có danh từ "Gia đình trị" (Nepotism) trong Anh ngữ từ năm 1669.  

Các Giáo hoàng và Hồng y giàu có bảo trợ nhiều công trình nghệ thuật và kiến trúc thời Phục Hưng.  Họ làm giàu bằng chiếm đất, kinh tài và bán đặc quyền (sale of indulgence).

Thời Phục Hưng đánh dấu những công trình nghệ thuật và kiến trúc ở Rome, ở trụ sở của Giáo hoàng (Tòa Thánh La Mã) vả trong Lãnh địa của Giáo hoàng (Papal States).

 

Giáo hoàng còn là lãnh tụ thế tục (secular ruler) như Giáo hoàng Julius II thường có những chiến dịch quân sự giữ gìn và bành trướng lãnh địa thế tục (temporal domain).  Giáo hoàng cũng cạnh tranh với các lãnh chúa Ý (Italian lords) ăn xài xa hoa trong những xa xỉ cá nhân cũng như những công trình công cộng như sửa sang và xây nhà thờ, cầu và hệ thống thủy lộ (aqueduct) còn được xử dụng cho tới ngày nay.

*

Những Giáo hoàng nổi tiếng trong thời Phục Hưng

 

Giáo hoàng đầu tiên sửa đổi theo thời Phục Hưng là Nicholas V, một Giáo hoàng có học thức lập Thư viện Vatican, xử dụng hàng trăm học giả và người biên lại (copyist) làm nên tổng hợp to lớn với nhiều tác phẩm và văn kiện (manuscripts).

Tiếp xúc với văn hóa Hy lạp mở đường cho nhiều con đường học hỏi nhất là về triết lý, thi văn, cổ điển, biện luận (rhetoric) và khoa học chính trị tạo nên tinh thần nhân bản (humanism), tất cả của thời Phục Hưng nầy đều ảnh hưởng lớn tới Giáo hoàng và Tòa thánh cũng như Giáo hội. 

 

Khuôn mặt của Giáo hoàng đúng với thời Phục Hưng thật sự bắt đầu với Giáo hoàng Sixtus IV (đăng quang năm 1471).  Giáo hoàng bảo hộ nghệ thuật thể hiện qua nhà nguyện và chỗ hát kinh (choir) Sistine, cả 2 mang tên ông.  Nhưng nó đi đôi với hạnh kiểm trong sự vụ (affairs) của Vatican.

Giáo hoàng Sixtus IV, một Thầy dòng Franciscan từ một gia đình nghèo ở Genoa, đem "Gia đình trị" (nepotism) trong hành vi của Giáo hoàng tới tuyệt đỉnh.  Trong khi làm giàu cho các cháu trai (nephews), trong số đó có 7 người làm Hồng y, Giáo hoàng còn dùng họ như là người của mình trong quyền lực chính trị của các tiểu quốc đối đầu ở Ý.  Một người cháu còn lập mưu giết được một người trong dòng họ Medici ngay trong thánh lễ ở Florence.  Một người cháu khác là học trò của Giáo hoàng Sixtus IV nhưng còn giỏi hơn ông về chính trị và bảo hộ nghệ thuật khi cũng được bầu là Giáo hoàng (Giáo hoàng Julius II).  

 

Giữa 2 Giáo hoàng Sixtus và Julius là một Giáo hoàng có tiếng xấu nhất của thời Phục Hưng, Giáo hoàng Alexander VI.  Ông thao túng chính trị ở Ý không phải nhờ các cháu mà qua con của mình, Cesare Borgia.

 

Giáo hoàng Julius II tự mình ra trận khi đánh giặc nhưng bảo trợ (commissioned) công việc của Michelangelo và Raphael.  Những bức bích họa (frescoes) của điện Vatican và nhà nguyện Sistine được tạo ra trong những lạm dụng, gây nên phong trào Cải Cách sau nầy.

Năm đầu (1503) khi làm Giáo hoàng, Giáo hoàng Julius II bắt đầu chương trình xây lại Thánhn đường St Peter.  Năm 1509, Giáo hoàng mời Michelangelo vẽ trần của nhà nguyện Sistine và thuyết phục Raphael trang trí 3 phòng trong điện Vatican.  Sự huy hoàng lộng lẫy của Công Giáo La Mã xây dựng trong khoảng thời gian 6 năm.  

Giáo hoàng Julius phục hồi Lãnh địa Giáo hoàng (Papal states) mà ngay trước đó bị suy giảm bởi hành động của Cesare Borgia và sự xâm lấn từ Venice.  Để thỏa mãn tham vọng của mình, Giáo hoàng Julius II mang giáp xung trận trước quân đội (của Giáo hoàng).

Những chương trình thế tục của Giáo hoàng Julius II được vẽ ra cho lợi ích của Rome trong tình trạng rối loạn ở Ý.  Khi Giáo hoàng Julius II chết (1513), chương trình đạt được mục tiêu, Lãnh địa Giáo hoàng chiếm lại đất đã mất từ Venice cũng như người Pháp bị đánh đuổi ra khỏi bắc Ý.  Nhưng việc Giáo hoàng Julius xây St Peter Thánh đường đưa đến phong trào Cải Cách ở Đức từ Luther.

 

Danh sách các Giáo hoàng trong Thời Phục Hưng

Nicholas V (1447-1455)

Callixtus II (1455-1458)

Pius II (1458-1464)

Paul II (1464-1471)

Sixtus IV (1471-1484)

Innocent VIII (1484-1492)

Alexander VI (1492-1503)

Pius III (1503)

Julius II (1503-1515)

Leo X (1515-1521)     

 

*

Thánh đường St Peter (1506-1590)

 

Thánh đường St Peter được xây trên chỗ của Thánh đường Constantine cũ.

Lễ "đặt viên đá đầu tiên" của Thánh đường St Petrer được bắt đầu từ Giáo hoàng Julius II và kiến trúc sư Bramante (tháng 4, 1506).  Đại Giáo đường được hoàn thành vào năm 1590 theo đúng đồ án của 2 người.  Nhiều kiến trúc sư khác như Raphael và Michelangelo đã tiếp nối theo Bramante.  

Trong khi đó nguồn tài chánh cho công trình to lớn nầy có được bằng những phương cách "không được liêm sĩ" (unscrupulous) mà các Giáo hoàng của thời Phục Hưng sẵn lòng áp dụng.  Sự việc nầy đưa đến phong trào Cải Cách (Reformation) trong thế kỷ thứ 16, xảy ra ngay từ Đế quốc Đức (Đế quốc Thánh La Mã).


 

PHONG TRÀO CẢI CÁCH VÀ CHỐNG CẢI CÁCH

 

Phong Trào Cải Cách (Reformation)

 

Phong trào Cải cách (Reformation) bắt đầu chỉ là toan tính cải cách trong Giáo hội Công Giáo (Catholic Church) nhưng thúc đầy một sự nổi loạn tôn giáo và chánh trị dẫn tới thành lập những Giáo hội Kháng cách (Protestant Churches) và sự chia rẽ vĩnh viễn của Thế giới Kitô giáo (Christendom) ở Tây Âu.  Nó cũng bắt đầu liên quan tới những kháng cách (protest) về xã hội và chính trị tạo ra những bạo động và chiến tranh tàn khốc.

 

*

Bối Cảnh (Background)

 

Phần cuối của thời Trung Cổ đã có nhiều chống đối Giáo hội vì nhiều lý do: Những chống chọi quyền lực trong hàng giáo phẩm, sự giàu sang lộ liễu của giáo hội và đôi khi lối sống đồi trụy thối nát của những giáo sĩ trong hàng giáo phẩm cao cấp làm hư hoại niềm tin của công chúng (public confidence).

Những điều kiện văn hóa, chính trị và kinh tế trong thời Phục Hưng (Renaissance) làm cho khí chất (mood) không bằng lòng thêm căng thẳng.  

 

Tinh thần nghiên cứu tìm tòi từ Phục Hưng dẫn tới nhiều nghi vấn về những người cầm quyền của Giáo hội.  Thêm nữa, lý tưởng của chủ nghĩa cá nhân (ideals of individualism) đối chọi với vai trò cố định của Giảo hội trong sự cứu rỗi nhân loại.  Quần chúng càng biết đọc và có máy in cho báo chí giúp cho việc làm của những nhà nhân quyền Công Giáo, những tư tưởng mới và cấp tiến (radical) được truyền bá khắp nơi.

 

Về chính trị, xung đột giữa các quốc vương Âu châu và Tòa Thánh càng căng thẳng khi các quốc vương càng lấy thêm quyền lực.  Thêm nhiều người dân vào sống ở thành thị, bỏ những vùng phong kiến ở miền quê và có cùng quan tâm (interests) như các vua hay nữ hoàng.  Không những chỉ các quốc vương mà đa số giới trung lưu (middle class) bắt đầu coi Giáo hoàng như là một người lạ, không có quyền ảnh hưởng tới công việc của quốc gia.

Về kinh tế, sự bất bình của công chúng càng tăng thêm vì thuế má nặng nề áp đặt từ Giáo hội.  

 

Từ đó thêm vào quan niệm là cuộc sống của Giáo hội bị theo đuổi sự tham lam (greed) và lạm dụng (abuses).  

Giáo hội bị chỉ trích là bán chức vụ tôn giáo (Simony).  

Tai tiếng càng xấu hơn vì việc bán đặc quyền (Selling indulgences), tha tội cho người tội phạm sẽ phải chịu trừng phạt sau khi chết.

Tình trạng khiếm diện của giáo sĩ trong giáo khu (parish) của mình (Absenteeism).

Tập quán (practice) cho giáo sĩ quyền lợi hay địa vị vì có liên hệ như trong quyến thuộc (Nepotism).

Tăng lữ và hàng giáo phẩm cũng bị chỉ trích vì đã làm ngơ trước những lạm dụng nầy, sống sang trọng và làm chính trị.

 

Sự quá độ của Giáo hội thế tục thời Phục Hưng trích yếu từ thời của Giáo hoàng Alexander VI (1492-1503), bùng phát phong trào Cải Cách dưới thời Giáo hoàng Leo X (1513-1521), người đã vận động gây quỹ trong những tiểu quốc của Đế quốc Đức để xây lại Đại Thánh đường St Peter bằng cách ủng hộ việc bán đặc quyền là sự kích thích chính (impetus) của 95 Đề nghị của Luther.  Sau khi một tu sĩ (monk) tên là Martin Luther chỉ trích công việc "bán đặc quyền" nầy (sale of indulgence), một cuộc cách mạng theo thời liền được khởi động.

 

*

Phong trào Cải Cách đã có những tiền phong trong những thế kỷ trước như Wycliffe và Jan Hus.

 

John Wycliffe or Wyclif (1330-1384) là một học giả "tà giáo" người Anh được biết là đã tố cáo Giáo hội và bảo trợ cho dịch Thánh kinh từ La Tinh sang Anh ngữ.  Ông là tiền phong (precursor) của Cải cách Kháng cách (Protestant Reformation) sau nầy.  Ông nhấn mạnh tới sự tối cao (supremacy) của Thánh Kinh và kêu gọi sự liên quan trực tiếp giữa con người và Thiên Chúa, không có sự xen vô của linh mục hay giám mục.  

Những người theo ông gọi là người Lollards bị Giáo hội Công giáo Anh ngược đãi, họ phải tiếp tục hoạt động bí mật (went underground) trong 2 thế kỷ và đóng một vai trò đáng kể trong phong trào Cải cách ở Anh.

 

Jan Hus or Huss (1369?-1415) là nhà Thần học người Tiệp (Czech) ở Prague.  Chịu ảnh hưởng của J Wycliffe, ông nói lên sự đồi trụy của Giáo hội.  Sự thách đố ngoan cố (defiance) của ông khiến ông bị trục xuất và kết tội bởi Hội nghị Constance (Council of Constance), cũng kết tội Wycliffe.  Từ quyết định của hội nghị nầy, Hus bị tử hình như người Tà giáo vào năm 1415.  

Những người theo ông tổ chức thành "Cuộc chiến của nông dân" (peasant's war) trong nhiều năm (1419-1436) và bị Đế quốc Đức dẹp tan tàn nhẫn.  Hus cũng là tiên phong (forerunner) của Kháng cách Cải cách (Protestant reformation) và kỷ niệm về ông là biểu tượng cho văn hóa Tiệp ở Bohemia.

 

Albert of Mainz 

 

Đế quốc Đức (Đế quốc Thánh La Mã) là nơi thể hiện hoàn toàn chủ nghĩa vật chất trong Giáo hội Công giáo La Mã.  Một số tiểu quốc (states) trong Đế quốc Thánh La Mã nầy có những Giám mục (prelates) cũng sống (một cách vô liêm sĩ) như các vương tử của thời Phục Hưng.  Trong đó nổi bật nhất là Tổng Giám mục của Mainz, Albert, một trong 7 người có quyền bầu Hoàng đế (imperial electors) của Đế quốc Đức (Thánh La Mã).

Khi 24 tuổi, Albert đã làm 2 chức: Tổng Giám mục của Mainz và Giám mục ở một chỗ khác.  Điều nầy sai luật của Giáo hội nhưng Giáo hoàng Leo X (một trong những Giáo hoàng thuộc dòng họ Medici) lờ đi và nhượng bộ vì cần Tổng Giám mục Albert gây quỹ cho việc xây dựng Thánh đường St Peter.

Tổng Giám mục Albert áp dụng triệt để và rộng rãi việc "Bán đặc quyền" (sale of indulgence), một phương cách gây quỹ hữu hiệu trong Giáo hội cho từ Giáo hoàng đến các Giám mục.  Phân nửa tiền kiếm được của Tổng Giám mục Albert dùng cho Albert trả nợ của mình và phân nửa kia thuộc về Tòa Thánh ở Rome.

 

Một trong những nhân viên của Albert là Thầy dòng Tetzel dùng nhiều phương cách vô liêm sĩ một cách lộ liễu để "bán đặc quyền" vượt hơn cả giáo lý chính thức của đặc quyền.  Ông hứa ngay sau khi mua, người mình thương (the loved ones) sẽ được xả tức khắc sự đau khổ của sự luyện tội nơi địa ngục (Purgatory).  Ông thường rêu rao: "As soon as the coin in the coffer rings, The soul from Purgatory springs".   Người ta càng tin tưởng vào sức mạnh của đặc quyền có thể tha thứ mọi tội lỗi dù nặng tới cỡ nào.

 

Martin Luther 

 

Martin Luther (1483-1546) là một tu sĩ dòng Augustinians dạy Thần Học ở Đại học Wittenberg mới được thành lập bởi Frederick the Wise, một Lãnh chúa của Saxony có quyền bầu Hoàng đế Đức (the elector of Saxony).  

Triết lý Thần học của Luther đưa đến kết kuận rằng số lượng (amount) của đạo đức (virtue) hay làm việc thiện (good behavior) dù có lớn bao nhiêu cũng không làm căn bản được cho sự cứu rỗi (salvation), như đã đưa ra trong giáo lý là "sự hiển thánh" (biện minh bằng việc làm = justification by work).  

Theo Luther, để cho đời sống của một người Kitô giáo không mất ý nghĩa, đức tin của một kẻ có tội (a sinner's faith) phải là công trạng duy nhất để có được ơn sủng của Thiên Chúa (God's grace). 

Luther trở thành một người tin mạnh mẽ (passionate believer) vào sự "biện minh bằng đức tin" (justification by faith) và chứng minh là Thánh Paul đã viết như vậy trong Thánh Kinh.

Do đó dĩ nhiên Luther chống lại việc Thầy dòng Tetzel buôn bán ơn sủng của Thiên Chúa.  Ông tranh luận chống lại việc bán đặc quyền (the sale of indulgence) trong những bài thuyết giáo của mình.

 

Cuối cùng ông đem ra trước công chúng.  Luther viết và đóng một bảng gồm 95 đề nghị (theses=propositions) ngay cửa của nhà thờ Chư Thánh (All Saints) ở Wittenberg (ngày 31-10-1517).  Nội dung của đề tài là căn bản của Đức tin và (chống lại) những việc làm đương thời của Giáo hội, nhất là sự việc Bán đặc quyền (sale of indulgence) cho Sự Tha tội (pardon of sin).  

Những "đề nghị" nầy chỉ là phát biểu từ lý luận (academic statement), những đề tài đưa ra với mục đích cho bàn cãi và bào chữa.  Nhưng trọng điểm căn bản của 95 đề nghị là chân lý cần phải tìm từ Thánh kinh chứ không phải từ sự giảng dạy của Giáo hội. 

 

Thay vì tạo ra sự tranh luận (debate) như tác giả mong muốn, 95 Đề nghị phát khởi chiến tranh binh lửa dữ dội chưa từng thấy khắp Âu châu.  Phong trào Cải Cách tàn phá thế giới Kitô giáo trong hơn 100 năm với những cố chấp dữ dội và thù ghét kéo dài trong một vài cộng đồng Kitô giáo cho tới ngày hôm nay.  Hình như không có chiến tranh tôn giáo nào tàn hại như vậy, khởi từ Wittenberg vào năm 1517.  Luther cũng không dè có hậu quả trầm trọng như vậy (với nhiều yếu tố) và cũng gây tai hại cho ông.

 

Tòa Thánh quyết định đàn áp việc xấc xược vô lễ nầy.  Bản viết của Luther bị đốt ở Rome, (1520), theo đó ông bị trục xuất (1520 hay 1521).  Đây là những điều tiên đoán được.  

Nhưng điều không dự đoán là sự ủng hộ ở Đức (Đế quốc Thánh La Mã) từ nhiều người đã bất bình sự can thiệp của Giáo hoàng và kết quả của "máy in", mới sáng chế bởi Gutenberg.  Bản in của 95 đề nghị của Luther tràn ngập khắp Âu châu trong vòng vài tuần lễ.  Báo chí truyền bá những tranh luận cải cách, đa số từ Luther.  Trong vòng 6 năm, có 1300 ấn bản của Luther.

 

Từ năm 1517, Luther được Frederick the Wise bảo vệ, không giao cho Rome và cho ẩn trú trong lâu đài của mình.  Luther còn được các hiệp sĩ Đức ủng hộ lôi cuốn luôn Hoàng đế trẻ tuổi của Đế quốc Đức, Charles V (Hoàng đế Thánh La Mã).  

Luther dịch Tân Ước ra tiếng Đức và bắt đầu rao giảng theo triết lý Thần học của mình.  

Theo ông, mỗi cá nhân đều có thể tự mình tìm ra ý nghĩa từ Kinh Thánh và không cần sự trợ giúp của Tăng lữ (clergy).  Và trung tâm điểm của giáo huấn của Luther là ý niệm cho rằng sự cứu rỗi của con người chỉ tùy thuộc vào đức tin (faith) mà thôi.  

Ý kiến nầy thách đố lại giáo lý của Giáo hội là sự cứu rổi không phải chỉ dựa trên đức tin mà cũng trên "làm việc thiện" (good works), đôi khi được diễn giải như là đem tiền dâng cúng cho Giáo hội.  

Tại đây ông bắt đầu mở ra ý kiến tổ chức Giáo phái Lutheran.  Ý kiến của Luther được lan truyền như ngọn lửa cháy nhờ một phần vào kỹ thuật in mới.

 

Hội đồng Hoàng gia ở Worm (Diet of Worms)

Luther được hoàng gia bảo đảm sự an toàn trên đường đi tới và về từ Hội đồng Hoàng gia (Diet) tổ chức ở Worms (1521).  Luther đến Worms với sự hộ tống của các hiệp sĩ Đức.  Trong diễn văn dài, Luther giải thích là ông sẽ chối bỏ bất cứ ý kiến nào của ông nếu nó là sai, căn cứ từ kinh thánh hay lý lẽ (reason).  Nếu không thì ông vẫn thật tình với ý thức của mình và với sự hiểu biết của mình về Thiên Chúa.  Báo chí kết luận bằng câu nói nổi danh của Luther: "Here I stand, I can not do otherwise".

(Diet = Imperial Assembly = Hội đồng Hoàng gia)

 

Từ lòng cương quyết của Luther, tôn giáo Luther (Lutherism) trở thành tôn giáo chính thức của vùng Saxony (thuộc Đức).  Nó nhanh chóng lan tràn tới những tiểu quốc (states) khác trong Đế quốc Đức (Đế quốc Thánh La Mã, theo tên gọi từ Giáo hội Công giáo ở Rome), thúc đẩy cãi lộn và tranh chiến với Hoàng đế.  

Tại Hòa ước Augsburg (Peace of Augsburg), Hoàng đế Đức Charles V (Hoàng đế Thánh La Mã) nhượng bộ, cho quyền các nhà lãnh đạo của các tiểu quốc (trong Đế quốc) được tự quyền chọn tôn giáo cho tiểu quốc (state) của mình.  

Giáo phái Lutheran được thành lập ở Đức và bán đảo Scandinavia dựa căn bản trên những triết lý Thần học của Luther (Tôn giáo Luther = Lutherism).

 

Năm 1525, Luther lấy vợ và sau đó có người 6 con.  Vợ của ông tên là Katharina von Bora trước là 1 nữ tu (nun) nhờ ông giúp cùng với 11 nữ tu khác trốn ra khỏi một Nữ Tu viện (Convent) ở Đức vào năm 1523.

 

*

Huldrych Zwingli 

 

Năm 1523, Huldrych Zwingli (1484-1531) , một Linh mục ở giáo đường Zurich, được cảm hứng từ Luther, viết 67 Đề nghị đưa ra nhiều đổi mới lớn hơn về đức tin, việc làm (services) và tổ chức của Giáo hội Công giáo.  Những Đề nghị nầy được Hội đồng thành phố Zurich chấp nhận và ảnh hưởng của Zwingli lan rộng khắp Switzerland và Nam Đức.

 

Nội chiến Tôn giáo ở Thụy Sĩ.

Từ Zurich, 5 quận (canton) trong 13 quận của Liên bang Thụy Sĩ (Swiss cofederation) lập ra Liên minh Kháng Cách gọi là Liên Minh của 5 quận (League of 5 cantons) vào năm 1524.  Các quận còn lại theo Công giáo chống lại.

Những Biến cố tiếp theo:

Năm 1529, một Mục sư Kháng Cách bị hỏa thiêu.  Chiến tranh vừa bùng nổ thì có hòa ước giữa 2 bên.  Phe Công giáo nhượng bộ bằng cách cắt liên minh với triều đại Công giáo Hasburg (của Áo).  Đó là Chiến tranh Kappel lần thứ nhất (1st Kappel war).

Năm 1531, chiến tranh lại bùng nổ.  Phe Công giáo thắng Liên minh Kháng Cách ở trận Kappel am Ablis.  Zwingli tử trận trong trận nầy.  Phe Kháng Cách phải ký hòa ước và giải tán Liên minh của mình.  Tuy nhiên Kháng Cách được tự do tôn giáo trong 5 quận của mình.  Đó là Chiến tranh Kappel lần thứ nhì (2nd Kappel war).

 

*

John Calvin

 

John Calvin (1509-1564) là người Pháp ở Geneva (Thụy Sĩ).  Năm 1536, ông xuất bản "Institutes" viết ý kiến của ông về Cải cách.  Calvin thì nghiêm nhặc và nặng nề hơn Luther nhưng có tổ chức hơn và nhanh chóng được nhiều người theo. 

Năm 1541, Calvin bắt đầu tổ chức Giáo hội Geneva ở Thụy Sĩ.  Giáo hội theo chế độ tự trị và bầu cử: 

Mục sư = pastors (để giảng dạy)

Tiến sĩ = doctors (để quyết định về giáo lý)

Thầy Tư tế = elders (để duy trì kỹ luật) 

Thầy Trợ tế = deacons (để chăm nom người nghèo 

với một Hội nghị =synod or committee (để tổ chức bầu cử).  


 

Theo ý kiến của Calvin, nhiều cộng đồng tôn giáo Calvinist được thành lập ở Hung, Đức, Hà Lan và Pháp.  Tín đồ theo tôn giáo Calvin (Calvinism) ở Pháp có tên là người Huguenots.  Giáo phái theo tôn giáo Calvin được thành lập ở Scotland và mang tên là Giáo phái Presbyterian của Scotland.   Sở dĩ có dang hiệu "Presbyterian" như vậy là vì Giáo phái xây dựng chung quanh một hội đồng gồm những Thầy Tư tế (elder) dịch từ danh hiệu cũ của Kitô giáo "presbyters".  

 

Từ phong trào Cải Cách, có 4 truyền thống Kháng Cách (Protestant tradition): Lutheran, Anabaptist, Anglican và Reformed/Calvinist/Presbyterian.


 

*

Đế Quốc Thánh La Mã trong Phong trào Cải Cách

 

Phong trào Cải Cách trùng hợp với biến đổi sử địa của Đế Quốc Thánh La Mã dưới thời Hoàng đế Charles V (1500-1558).

Trong phân nửa đầu của thế kỷ thứ 16, Hoàng đế Thánh La Mã Charles V của Đế quốc Đức bành trướng Đế quốc đa số nhờ quyền thừa kế (inheritance).  Charles V thắng đối thủ độc nhất của mình ở Tây Âu là vua Pháp thuộc triều đại Valois ở Ý và ngăn chận được sự xâm lấn của người Turks của Đế quốc Ottoman từ Đông Âu.

 

Những biến cố lịch sử bành trướng Đế quốc Đức sau khi Charles V được bầu làm Hoàng đế của Đế quốc Đức:

Năm 1506, Charles V thừa kế vùng Burgundy (Franche-Conté, Luxembourg và Netherlands) từ cha của mình là Philip of Burgundy.

Năm 1516, khi ông ngoại là Ferdinand of Spain qua đời, Charles V trở thành Vua của Aragon, Sicily và Naples.  Charles V cũng trở thành Nhiếp Chánh (regent) của Castile đại diện cho Mẹ là Joan, thành người điên.

Năm 1519, khi ông nội là Hoàng đế Maximilian qua đời, Charles V thừa kế Austria (Áo), Tyrol, Styria, Carinthia, Carniola và lãnh địa của dòng họ Habsburg ở vùng sông Rhine, cùng với làm Hoàng đế Đế quốc Áo.

Charles V cũng lấy được những vùng đất trong Netherlands như Tournai (1521), Friesland (1523), Overrijssel và Utrecht (1528), Gronigen (1536) và Guelders (1543).

 

Năm 1521, Charles V giao Austria cho em là Ferdinand.  Năm 1526, Ferdinand được Bohemia và Hungary qua vợ của mình là Anne, sau khi anh của bà là vua Lewis của Hungary qua đời. 

 

Năm 1556, Charles V thoái vị, nhường cho Ferdinand làm Hoàng đế Áo Hung và con là vua Philip II sở hữu Spain và Nam Ý.  Những tiểu quốc ở Đức còn lại tùy thuộc vào triều đại Habsburg (của Hoàng đế Ferdinand) trị vì ở Đế quốc Áo Hung.

Giáo hoàng và Tòa thánh trong Thời Cải Cách và Chống Cải Cách

 

*

Vào đầu thế kỷ thứ 16, Tòa Thánh thay đổi và cắt đứt liên minh đưa tới những trận chiến không có thắng bại, vẽ lại bản đồ miền Bắc và miền Trung của bán đảo Ý (1508-1540), lúc đó muốn độc lập khỏi ảnh hưởng của Đế quốc Thánh La Mã và vương quốc Pháp.

Thời gian giữa Liên Minh Cambrai (League of Cambrai) vào năm 1508 và Hiệp ước Cambrai (Treaty of Cambrai) vào năm 1529, lãnh thổ của Milan, Venice, Lãnh địa Giáo hoàng (papal states) và Naples tăng lên hay giảm xuống hoặc đột ngột bị thay đổi đồng minh, tùy theo hậu quả của những trận chiến như Agnadello (1509), Marignano (1515), Pavia (1525) và sự cướp phá của Rome bởi quân của Đế quốc Đức (1527).  Trong những tay chơi (người Ý) của những ván cờ nầy là gia đình Medici, trong số những người thắng lợi.  Họ được lấy lại quyền lãnh đạo ở Florence với sự ủng hộ của người Spain (Tây Ban Nha).  Venice, thua lúc đầu khi một mình chống lại những nước khác (1508), lấy lại được hầu hết lãnh thổ và giữ được nền độc lập.

 

Tòa Thánh tạo ra chiến tranh nhưng không được gì sau khi bị cướp phá ở Rome (1527).  

Tuy nhiên 20, 30 năm sau; khi có phong trào Cải Cách, Rome và Tây Ban Nha (Spain) thành đồng minh kiểm soát chắc chẽ toàn bán đảo Ý trừ Cộng Hòa Venice.

 

*

Giáo hoàng và Tòa Thánh bị nhiều người Cải cách Kháng cách (Protestant reformers) tấn công kể cả Luther.  

Luther đã có đến thăm Rome.  Ông cho là Giáo hoàng Leo đã sai lầm khi bác bỏ nghị định phải giới hạn số thiếu niên (boys) mà các Hồng y giữ cho khoái lạc của mình.  Ông nhận định rằng "nếu khác như vậy thì sẽ lan rộng toàn cầu sự không biết hổ thẹn của Giáo hoàng và Hồng y ở Rome trong thói quen (practice) làm kê gian (sodomy) của họ".  

 

Cũng như Luther; John Calvin, Thomas Crammer và John Knox nhìn Tòa Thánh như là "phản lại Đấng Kitô" (Antichrist).  Cho đến ngày nay, những Giáo pái Lutherans, Reformed, Anabaptists và Methodists đều có nói Tòa Thánh là "phản lại Đấng Kitô" (Antichrist) trong Kinh Tin Kính (Confession of Faith) của họ. 

 

Giáo hoàng Paul III (1534-1549)

 

Alessandro Farnese được bầu làm Giáo hoàng Paul III vào năm 1534, kéo dài phương diện xấu nhất của Tòa Thánh trong thời kỳ Phục Hưng.  

Ông được bổ nhiệm Hồng y lúc 25 tuổi vì chị của ông có ngoại tình với Giáo hoàng thuộc gia đình Birghese, Alexander VI.  Khi là Hồng y, ông có người tình (mistress) ở Rome và có với bà nầy 4 người con.  Khi là Giáo hoàng ông làm ơn huệ (favors) cho gia đình mình hơn tất cả những Giáo hoàng trước ông.  Ông tách Parma và Piacenza khỏi Lãnh địa Giáo hoàng và phong cho người con trưởng làm Lãnh chúa với quyền được thừa kế cho con cháu.  Hai người cháu nội khi còn tuổi thiếu niên đã được phong làm Hồng y.  

 

Vậy mà chính Giáo hoàng Paul III là người bắt đầu phong trào Chống Cải Cách của Công Giáo.  Giáo hoàng Paul III triệu tập Công đồng Trent (Council of Trent) vào năm 1545 sau nhiều lần dự định và nhiều lần chống lại những người phản đối.  Ông tiếp kiến và đồng ý cho một nhóm sinh viên của đại học Paris do Ignatius of Loyola cầm đầu lập ra Dòng Jesuites (1537). 

 

*

Danh sách các Giáo hoàng trong thời Cải Cách và Chống Cải Cách

 

Leo X (1513-1521)

Adrian VI (1522-1523)

Clement VII (1523-1534)

Paul III (1534-1549)

Julius III (1550-1555)

Marcellus II (1555)

Paul IV (1555-1559)

Pius IV (1559-1565)    




 

Phong Trào Chống Cải Cách (Counter-Reformation)

 

Thành công và thắng lợi của phong trào Cải Cách (Reformation) bắt buộc Giáo hội Công Giáo phải vội vã cải cách và phản công để phục sinh quyền lãnh đạo tâm linh của Giáo hội Công Giáo.  Cuộc vận động (movement) nầy gọi là Phong trào Chống Cải Cách (Counter-Reformation).  

Đến đầu thế kỷ thứ 17, những người Kháng Cách (Protestants) trước đã thành công ở Poland, France, Bavaria, Austria và nam Netherlands thì nay bị đổi ngược lại và những vùng Kháng Cách ở Âu Châu bị giảm xuống đáng kể.

 

Phong trào Chống Cải cách gồm có:  

Đại học được lập ra để giáo dục Tăng lữ của những nước có người theo Kháng Cách (Protestant).  

Dòng tu (Religious orders) mới được lập ra: Capuchins (1525), Paulines (1530), Jesuits (1534) và Ursulines (1535).  Quan trọng nhất là Dòng Jesuits, họ làm việc như là thầy giáo và như là nhà truyền giáo (missionaries) ở ngoại quốc.  Năm 1534, Ignatius Loyola lập ra Xã hội của Giê-su (Society of Jesus), thường được biết dưới tên Dòng Jesuits.  Dòng tu nầy tự hiến thân cho giáo dục (teaching) và truyền đạo Công Giáo đã được cải cách khắp toàn thế giới.  Từ thế kỷ 17, Dòng Jesuits là những vị thầy tôn giáo lớn ở Âu châu và giúp nhiều người theo Công Giáo.

Dưới sự lãnh đạo của Giáo hoàng Paul III từ 1534 tới 1549 nhiều học giả và nhà cải cách tài giỏi được bổ nhiệm chức vụ cao trong Giáo hội.

Công đồng Trent (Council of Trent) của Giáo hội họp trong những khoảng thời gian 1545-1547, 1551-1552 và 1562-1563 và ban ra một cuộc vận động để chuyển đạo trở lại Công giáo những người Kháng Cách giáo (Protestants).  Nhiều cách hành đạo xấu kể cả Bán đặc quyền (selling of indulgences) bị bãi bỏ.  Các lãnh tụ (theo Công Giáo) của các nước Ý, Đức, Tây Ban Nha và Pháp hết lòng ủng hộ.   

Tòa án Dị giáo được lập lại và người theo Kháng Cách giáo (Protestants) bị kết tội là Tà giáo (Heresy) và bị hỏa thiêu.  

Cuộc vận động Baroque với hội họa về tôn giáo, kiến trúc trau chuốt kỹ lưỡng (elaborate) và âm nhạc thánh đường để giúp thành công trong việc lôi cuốn quần chúng theo đạo Công Giáo. 

 

Dòng Jesuits = Xã Hội của Jesus (Society of Jesus)

 

Theo gương của thánh Francis và thánh Dominic, với nhiệm vụ truyền đạo, sống và thuyết giáo trong những người nghèo ở những nơi xa, trong thời kỳ viễn du và thám hiểm khắp đại dương toàn cầu.  Với những thử thách, tu sĩ Ignatius of Loyola đem lại năng lực và tài nghệ tổ chức cho những người lính được huấn luyện.  Thỉnh cầu được sức mạnh của những chiến sĩ tâm linh nầy, chỉ chịu dưới quyền trực tiếp của mình trong khi chiến đấu cho Tòa thánh ở Rome, Giáo hoàng Paul III chụp lấy cơ hội.  Tháng 9, 1540 Giáo hoàng Paul III cho phép một Dòng tu mới (new order), được biết dưới tên là Xã Hội của Jesus (the Society of Jesus).  Tháng 4, 1541 Ignatius được bầu là "Tướng lãnh thứ nhất" (the 1st general); danh hiệu được dùng cho tới ngày phản ánh căn bản của cuộc chiến chinh (của Dòng).

 

Ignatius viết những luật đơn giản cho Dòng tu: không có y phục riêng biệt và không có phải theo đều đặn những công việc đặc biệt nào.  Dòng Jesuites, thường được gọi như vậy cho "Xã hội của Jesus", tự do vận chuyển nhanh chóng ở nơi nào cần thiết.  Vâng lệnh của Giáo hoàng là trọng điểm của Dòng Jesuits.  Những nhà Thần học Jesuites đã ở cùng phe với Giáo hoàng trong Công đồng Trent (Council of Trent).  Ở Việt Nam, Dòng Jesuits thường được biết với tên là "Dòng Tên".

 

*

Công Đồng Trent (1545-1563)

 

Giáo hoàng Paul III (đăng quang năm 1534) đã đề cử (vào năm 1536) một hội đồng cứu xét những vấn đề nêu lên bởi những nhà Cải cách Kháng cách (Protestant Reform).  Giáo hoàng cũng lập ra một ủy ban gồm các Hồng y để báo cáo những lạm dụng bên trong Giáo hội.  Các Hồng y tìm ra chứng cớ những lầm lỗi do Luther điềm chỉ, gồm có: huấn luyện giáo sĩ không đầy đủ, nhiều Giám mục không đủ tài đức, sự dễ dãi trong các tu viện và các dòng khất sĩ (mendicant orders) và tai tiếng của Giám mục giữ nhiều chức vụ.

 

Cuối cùng tới 9 năm sau Giáo hoàng Paul III tụ họp Công đồng của Giáo hội Công giáo ở Trent (1545).  Sở dĩ có sự chậm trễ nầy là vì một phần Hoàng đế Charles V của Đức muốn tổ chức trên lãnh thổ của mình và vua Francis I của Pháp thì không muốn Charles có ơn huệ đó.

Từ lúc đầu không tốt (chỉ có 3 sứ thần của Giáo hoàng và 31 Giám mục trong buổi họp đầu tiên), Hội đồng tăng trưởng dần trong vòng 18 năm.  Có những khoảng thời gian hội đồng không được triệu tập.  Hội đồng họp trong những năm 1545-47 dưới thời Giáo hoàng Paul III; 1551-52 dưởi thời Giáo hoàng Julius III và 1562-63 dưới thời Giáo hoàng Pius IX.

 

Nghị quyết của Giáo hội Công giáo ở Công đồng Trent.

Về vấn đề những lạm dụng bên trong Giáo hội, Công đồng công nhận giá trị của những chỉ trích (như Giám mục và linh mục thối nát, bán đặc quyền và những lạm dụng khác về tài chánh) và đặt ra những phương cách sửa đổi: 

những Chủng viện (seminars) để giáo dục giáo sĩ tốt hơn, 

luật chặc chẽ cho giám mục ở giáo khu của mình, 

cải cách trong những dòng tu viện.

Với những bước thực hành trên được áp dụng, Hội nghị từ chối không nhượng bộ trong những vấn đề về giáo lý (doctrine), về Dòng tu và về phép Bí tích:  

vẫn giữ 7 phép Bí Tích (Sacraments) và vẫn giữ "Hóa thể" (Transubtantiation): bánh và rượu thánh là thân thể và máu của Đấng Kitô (Christ).

chối bỏ  (reject) sự kết hôn của linh mục 

chấp nhận (endorse) cả 2 biện minh bằng việc làm và đức tin (justification by works or faith).  Tín điều Cứu rổi (dogma of salvation) thích đáng từ Đấng Kitô (Christ) bằng cách sống theo đức tin và việc làm (works) 

tái xác định sự hiệu nghiệm (efficacy) của đồ nhà thờ (relics) và đặc quyền (indulgences) có nghĩa là không bãi bỏ việc bán đặc quyền bằng đồ nhà thờ của Giáo hội. 

tái xác địng sự sùng bái thờ phượng (cult) trinh nữ Mary và chư thánh, và hành hương.

Hội nghị cũng cải thiện (improve) kỹ luật và quản trị của Giáo hội trong giáo khu và tu viện.

Không khoan dung việc bổ nhiệm Giám mục vì lý do chính trị.  

Bãi bỏ sự khiếm diện của Giám mục trong giáo phận (diocese) của mình (Absenteeism).  (Lúc trước, có Giám mục thường ở Rome hay ở bất động sản riêng).  

Giám mục có quyền lực nhiều hơn giám sát tất cả mọi phương diện thuộc về tôn giáo.  Có Giám mục đi tới các giáo khu (parish) xa xôi để nâng cao tiêu chuẩn.  

Trong Giáo khu, tăng lữ trong suốt thế kỷ thứ 17 đều hoàn toàn tuân giữ luật độc thân của Giáo hội.  

 

Tuy Công đồng Trent không chính thức bãi bỏ việc "Bán đặc quyền" nhưng sau đó vào năm 1567, Giáo hoàng Clement VIII bãi bỏ tất cả những Trợ cấp (grant) từ đặc quyền gồm tất cả lệ phí và những khoảng tiền chuyển giao bằng những cách khác.  

 

*

Số lượng và bản thể của pháp lễ Bí Tích (Sacraments) của Kitô giáo là 1 trong những vấn đề tranh cãi trong phong trào Cải cách.  

Trong 1000 năm đầu của Kitô giáo Bí Tích dần dần được chấp nhận trong cả 2: Chính Thống giáo Hy Lạp (Greek Orthodoxy) và Công giáo La Mã (Roman Catholicism) là có 7 phép Bí Tích (có nghĩa là những Lễ trong đó có hiện diện của sự tha thứ của Thiên Chúa).

7 phép Bí Tích (Sacraments): 

Lễ Rửa Tội (Baptism), 

Lễ làm Phép Thêm Sức (Confirmation), 

Lễ nhận Thánh thể (the Eucharist), 

Lễ Giải Tội (Penance), 

Lễ xức dầu thánh cho người sắp chết (Extreme Unction of the dying), 

Lễ phong Chức Linh mục (Ordination of Priests), 

Lễ Hôn phối (Matrimony)

 

Trong phong trào Cải Cách (Reformation), với các nhà Kháng Cách tự giới hạn chân lý chỉ được tìm thấy trong Kinh Thánh, thì rõ ràng chỉ có 2 trong 7 phép Bí Tích được Jesus nhận là pháp Lễ (rituals):

Lễ Rửa Tội (baptism): Jesus nhận từ John the Baptist, và 

Lễ nhận Thánh thể (the Eucharist): Jesus ra lệnh (enjoin) trên các môn đồ trong Bữa tiệc cuối cùng (the Last Supper).

Các Giáo hội Protestant giảm Bí Tích còn 2 lễ nầy mà thôi, rồi không đồng ý về căn bản (nature) của chúng.  Trong những năm đầu, Zwingli gây chiến với các người Cấp Tiến ở Zurich về Lễ Rửa Tội cho trẻ con và người lớn và không đồng ý với Luther, ở Marburg, về Lễ nhận Thánh thể (the Eucharist) có phải là ẩn dụ hay thể hiện bề ngoài thân thể và máu của Đấng Kitô (Christ). 

 

*

Tà giáo và Tòa án Dị giáo

 

Thời gian trị vì của Giáo hoàng Paul IV (1555-1559) cứng rắn trong việc chống lại Tà giáo.  Hai chiến lược chính là: Tòa án Dị giáo và kiểm duyệt những sách bị cấm.  

 

Tòa án Dị giáo (Inquisition) của Giáo hoàng được tái lập bắt đầu từ Giáo hoàng Paul III, phát triển dưới thời Giáo hoàng Paul IV thành một khí cụ ghê gớm, kể cả tố cáo các Hồng y như Jacopo Saleto, Reginald Pole và Giovani Morone, bị ở tù vài năm trong tù của Tòa án Dị giáo.  Ở Rome, Ignatius of Loyola cũng sợ Giáo hoàng Paul IV.  

Tòa án Dị giáo nặng nề nhất ở Tây Ban Nha và thuộc địa (của Tây Ban Nha).  Tòa án Dị giáo của Giáo hoàng ở nơi khác thì cố tình làm nhẹ hơn ở Tây Ban Nha.  Nó phản ảnh bước tiến nhanh về Chính thể Chuyên chế (Absolutism), đặc tính của thế kỷ thứ 16.

 

*

Sự Sùng bái (Devotion)

 

Tuy nhiên mặt khác có sự phát triển của Sự Sùng bái (Devotion).  Thí dụ điển hình là "Đọc kinh và lần Tràng hạt"  (the reciting of the Rosary).  

Sự sùng bái của phong trào Chống Cải cách tổng hợp 2 chiến lược canh tân của Giáo hội Công giáo.  

Một là sự nhấn mạnh Thiên Chúa là một lãnh tụ tuyệt đối không thể hiểu biết được (knowable), một Thiên Chúa phải sợ, trùng hợp với thuyết tuyệt đối quá khích của Giáo hoàng Paul IV.  

Nhưng nó cũng mở đường dẫn tới sự thành kính bình dân (popular piety) và kinh nghiệm tôn giáo cá thể.

 

*

Giáo hoàng St Pius IV

 

Tòa Thánh của Giáo hoàng St Pius (1566-1572) đại diện cho sự cố gắng đập tan Tà giáo và sự lạm dụng toàn cầu bên trong Giáo hội, nhưng cũng cải thiện tốt hơn sự thành kính trong dân gian trong nổ lực nhất định bứng tận rễ sự thu hút của Kháng Cách giáo (Protestanism).  

 

Giáo hoàng St Pius đã được huấn luyện trong sự thành kính vững mạnh từ khó khăn của Dòng Dominicans.  Điều đó không ngạc nhiên vừa làm Giáo hoàng, St Pius đã bố thí rộng lớn cho người nghèo, cơ quan bác ái và nhà thương thay vì dùng tiền để bảo trợ các công trình kiến trúc hay văn hóa.  

Ngài thi hành đức độ của một tu sĩ khi làm Giáo hoàng.  Được biết là người đem an ủi cho người nghèo và người đau yếu, Giáo hoàng St Pius tìm cách cải thiện đạo đức (morality) trước công chúng của Giáo hội, nâng đỡ the Dòng Jesuits và ủng hộ Tòa án Dị giáo.  Ông tăng cường sự chú trọng về kỹ luật của Hội nghị Trent và ủng hộ Truyền giáo của Tân Thế giới (New World).  

 

Tòa án Dị giáo Tây Ban Nha dưới sự chỉ đạo của các nhà quân chủ chuyên chế Tây Ban Nha từ Ferdinand và Isabella, diệt tận gốc Kháng Cách giáo (Protestanism) ở Tây Ban Nha trước khi nó có thể bành trướng.    

 

*

Sau Công Đồng Trent, Giáo hội Công Giáo có vị thế tốt đối đầu sự thách thức (challenge) của những người theo Kháng Cách giáo (Protestants).

Năm 1562, Teresa of Avila (spanish) có phong trào cải cách Carmelite, lập Nữ tu viện (convent) đầu tiên của nhiều Nữ tu viện tiếp theo.  Nhiệt huyết cải cách giống vậy áp dụng cho nhiều tu viện bởi St John of the Cross.

Với kiểu kiến trúc mới, Baroque, Tòa thánh ở Rome có lý tưởng trung bình trong đó ngụ ý ở sự xuất thần của tôn giáo.

 

Cải cách của Giáo hội Công giáo La Mã có thể gọi là Chống Cải cách chống lại cải cách ở miền Bắc (Đức, Sacandinavia, Hà lan...); nhưng là Cải cách ở miền Nam (Ý, Tây Ban nha...). 

Công Đồng Trent định sắc thái của Công giáo La Mã cho tới giữa thế kỷ 20.


 

Cải Cách ở nước Anh (Reformation in England)

 

Song song với phong trào Cải Cách ở nội địa Âu châu, có Cải cách ở nước Anh từ lý do (motive) chính trị hơn là tôn giáo.

 

Vua Henry VIII (1509-1547) muốn có con trai để củng cố triều đại của mình nhưng tất cả những con trai sinh ra từ vợ của vua, Catherine of Aragon, đều đã qua đời, chỉ còn lại một con gái là Mary.  Giáo hoàng không muốn cho phép vua ly dị vì đang dưới quyền lực của cháu của Catherine là Hoàng đế Thánh La Mã Charles V.  Như vậy Henry VIII phải cắt đứt liên hệ với Giáo hội Công Giáo ở Rome.  Việc nầy đưa đến sự thành lập Giáo hội Anh (Aglican Church) hay Giáo hội Kháng Cách Anh (English Protestant Church).

 

Những Biến cố tiếp theo:

Năm 1531 Tăng lữ (clergy) của Anh chính thức chấp nhận vua Henry VIII là Lãnh Tụ tối cao của Giáo hội Anh

Năm 1533, hôn phối (marriage) của Henry và Catherine được công bố là không giá trị (void).  Vua Henry VIII thành hôn với Anne Boley.  Vua nhận trục xuất (excommunication) của Giáo hội Công giáo ở Rome.

Năm 1534, Luật về quyền Tối cao (Act of Supremacy) thông qua ở Quốc Hội Anh (Parliament), cắt đứt tất cả liên hệ với Rome.

Năm 1534-1539, Giải tán tất cả tu viện Công giáo: tu viện đóng cửa và bị bán (phát mãi) lấy cớ là khám phá ra gian lận (fraud), không đạo đức (immorality) và những lạm dụng khác.

Năm 1536-1537, cuộc khởi nghĩa (uprising) của người Công Giáo chống lạ Cải Cách (Reformation) ở miền Bắc nước Anh. (Pilgrimmage of Grace)

Năm 1539, Sáu Điều luật (Six Articles) được xuất bản chỉ định những điều trong giáo lý Công Giáo vẫn phải tuân theo.

Năm 1547-1553: thời gian trị vì của vua Edward VI.

Năm 1549, Công Luật (The Act of Uniformity) và một sách Cầu nguyện mới (Prayer Book) được xuất bản thành lập Đức Tin mới (new Faith).

Năm 1552, Công Luật thứ nhì (the 2nd Act of Uniformity) và sách Cầu nguyện (Prayer Book) đem Giáo hội Anh gần với Kháng cách ở Thụy sĩ (Swiss Protestent), giống tôn giáo của Calvin. 

Năm 1553-1558, thời gian trị vì của con gái của Henry VIII, Nữ hoàng Mary of Tudor.  Giáo hội Công Giáo được phục hồi.

Năm 1558-1603, thời gian trị vì của con gái của Henry VIII, Nữ hoàng Elizabeth I.  Elizabeth phục hồi Giáo hội Anh (Aglican Church).

Năm 1559, Luật mới về quyền Tối cao (New Act of Supremacy) và sách Cầu nguyện (Prayer Book) trở lại ôn hòa hơn (moderate) giống như ấn bản của năm 1549.  Các nhà Kháng Cách cấp tiến (Radical Protestant) muốn giống như tôn giáo Calvin (Calvinism) thì không còn được chấp nhận.

Năm 1563, 39 Điều luật (Articles) nêu ra những Đức tin của Giáo hội Anh (Aglican Church).

Năm 1570, Nữ hoàng Elizabeth I bị Giáo hội Công giáo La Mã trục xuất (excommunicated).  Người Công Giáo ở Anh bị nghi ngờ là phản bội (traitors).

Năm 1593, Luật chống các Giáo phái (Acts against Sectaries).  Lý do là thành viên của những Giáo phái Kháng cách (Protestant Sects) cho rằng Giáo hội Anh (Aglican Church) quá ôn hòa.  Họ còn được gọi là những người "không" Công giáo" hay Thanh giáo (Non-Conformist hay Puritans).

Hậu Quả Chính trị của Phong trào Cải Cách

 

*

Hậu quả của Cải Cách (Effects of Reformation)

 

Mặc cho sự cố gắng của phong trào Chống Cải Cách của Giáo hội Công giáo (Counter-Reformation), sự thống nhất (unity) của Giáo hội Công Giáo đã bị đổ bể vĩnh viễn.  Cho tới ngày nay, Âu châu như là một bàn cờ của những vùng Kháng Cách giáo (Protestant) và Công Giáo.  Phần phía Bắc của Âu châu thì chánh là Kháng Cách giáo (Protestant), còn phần phía Nam thì chánh là Công Giáo.  Theo thời gian, tinh thần khoan dung đã quen lệ nhưng còn những vùng rất nhỏ còn chống đối dữ dội giữa hai bên nhưng Bắc Ái Nhĩ Lan (North Ireland).

 

Phong trào Cải Cách (Reformation) có những hậu quả khác quan trọng.  

Về chánh trị, nó đánh dấu sự tăng trưởng chuyển giao quyền lực từ Giáo hội sang những quốc gia.  Thêm nữa, nó nhấn mạnh tới cá nhân chủ nghĩa (individualism), mở đường cho những tư tưởng như tự do chính trị.  

Về kinh tế, nhiều Giáo phái Kháng Cách giáo (Protestants), nhất là Calvinist, chú trọng đến tiết kiệm và gắng sức làm việc trong đời sống hằng ngày.  Thái độ nầy, gọi là Đạo đức Kháng cách (Protestant Ethic), được coi như là một sức đẩy to lớn cho sự phát triển của kỹ nghệ và tinh thần tư bản. 

 

Lịch sử Âu châu xảy ra nhiều cuộc Chiến tranh tàn khốc (vừa từ Chính trị vừa từ Tôn giáo) kéo dài cả 100 năm do phong trào Cải Cách chia rẽ dân tộc, lãnh thổ và chính quyền ở Âu châu. 

 

*

Cuộc Nổi Loạn của Hà Lan (The Dutch Revolt)

 

Đầu thế kỷ 16, Giáo phái Calvin (Calvinism) có nhiều người theo ở các Tỉnh (provinces) của Hà Lan (Netherlands).  Vào năm 1555, vua Philip II of Spain thừa kế Hà Lan (Netherlands), cai trị qua những Thống đốc (governors) dưới quyền vua Philip II (không được dân chúng ưa chuộng).  Khi vua Philip II cố áp đặt Công Giáo (Catholicism=religious uniformity), nhiều người chống lại như các nhà quí tộc Egmont, Hoorne và William of Orange (1533-1584).  Năm 1566, người Kháng cách (Protestants) bắt đầu sùng đạo công khai và tấn công những nhà thờ Công Giáo.  Quan Thống đốc, the Duke of Alva, bắt đầu áp dụng chế độ ngược đãi (persecution).  Egmont và Hoorne bị xử tử (1568).  Những người Kháng cách (Protestants) chống đối trở thành "Sea Beggars", dùng tàu chạy ra biển và bắt đầu tấn công tàu của Tây Ban Nha (Spain).  Thế là bắt đầu của cuộc Nổi Loạn của Hà Lan (1568-1648).

 

Những Biến cố tiếp theo:

Năm 1576, Sự Cuồng nộ của Tây Ban Nha (The Spanish Fury): quân lính Tây Ban Nha (Spain) cướp phá Antwerp.  Từ đó có Nền Hòa bình của Ghent (Pacification of Ghent): tất cả 17 tỉnh liên hiệp chống lại Tây Ban Nha (Spain).

Năm 1578, Hòa ước Arras (Peace of Arras): 10 tỉnh phía Nam liên hiệp với Tây Ban Nha.

Năm 1579, Liên hiệp Utrect (Union of Utrecht): 7 tỉnh phía Bắc (theo giáo phái Calvin) liên hiệp chống lại Tây Ban Nha.

Năm 1581, 7 tỉnh miền Bắc tuyên bố độc lập thành ra United Provinces và William of Orange được bầu là Stadholder (governor=Thống đốc).

Năm 1648, Hòa ước Hague (Peace of the Hague): Tây Ban Nha (Spain) nhìn nhận United Provinces (sau nầy là nước Hà Lan=Netherlands).  Các tỉnh phía Nam vẫn dưới quyền cai trị của Tây Ban Nha (Spain) gọi là Spanish Netherlands (sau nầy là nước Bỉ=Belgium).

 

*

Chiến Tranh Tôn Giáo ở Pháp (1562-1598)

 

Hai phe Công giáo (Catholic) và Kháng Cách (Protestant) trở thành đối thủ ở triều đình nước Pháp khi một số nhà quí tộc theo Giáo phái Calvin (Calvinism).

Năm 1560, Charles IX là một trẻ con, làm vua nước Pháp với mẹ là Catherine de Medici làm Nhiếp Chánh (regent).  Sự chống chọi giữa 2 phe dẫn tới nội chiến, Chiến tranh tôn giáo ở Pháp (the French Wars of Religion) từ 1562 cho tới 1598.

Phe Công Giáo được lãnh đạo bởi gia tộc Guise, được Catherine de Medici ủng hộ.  

Phe Kháng Cách (gọi là người Huguenots) được lãnh đạo bởi anh em Colgny, the Bourbon Prince of Conde và King of Navarre.  Những người theo tôn giáo Calvin (Calvinism) ở Pháp gọi là Huguenots.

 

Những Biến cố tiếp theo:

Năm 1562, Cuộc Thảm sát những người Huguenots (Massacre of Huguenots) ở Vassy bởi Duke of Guise và tùy tùng (retainers) dẫn tới Nội chiến lần thứ nhất.

Năm 1563, Duke de Guise bị giết.

Năm 1567-1570, Nội chiến lần thứ nhì và chấm dứt với Tổng Ân xá (general amnesty) tại Hòa ước St Germain (the Peace of St Germain).

Năm 1572, Thảm sát những người Huguenots ở Paris trong ngày Thánh Bartholomew (the St Bartholomew's Day Massacre) dẫn tới Nội chiến thứ ba.

Năm 1584, gia tộc Guise và vua Philip II of Spain lập thành the Liên Minh Joinville (League of Joinville) chống lại người Huguenots.

Năm 1586, chiến tranh của 3 Henries: Henry III of France, Henry de Navarre và Henry de Guise.

Năm 1589, Henry III bị giết và Henry de Navarre lên làm vua, là Henry IV, vua đầu tiên của triều đại Bourbon (thay thế triều đại Valois).

Năm 1590, Henry IV đánh bại người Công giáo (Catholics) ở Ivry

Năm 1593, Henry IV trở thành người Công giáo (Catholic)

Năm 1594, Henry IV vào Paris và bắt đầu chính thức cai trị nước Pháp.

Năm 1598, Sắc lệnh Nantes (Edict of Nantes) của vua Henry IV cho phép khoan dung (tolerance) người Huguenots.

 

*

Chiến Tranh 30 Năm (1618-1648)

 

Người Kháng Cách (Protestant) ở những tỉnh (provinces) ở vùng Bohemia của Đế quốc Thánh La Mã (Đế quốc Đức) nổi loạn.  Bohemia là nướcTiệp bây giờ.  Sự xung đột (conflict) lan rộng ra những quyền lực khác của các nước ở Âu Châu.  Chiến tranh lại chỉ xảy ra ở lãnh thổ các tiểu quốc ở Đức và Bohemia của Đế quốc Thánh La Mã.

 

Ban đầu chỉ là chiến tranh vì tôn giáo với người Kháng Cách ở miền Bắc Đức và người Kháng Cách Đan Mạch liên minh chống lại quân của hoàng gia Hasburg (Công Giáo), người vùng Bavaria (tây nam của Đức) và các tiểu quốc khác ở Đức (German states).  Quân Công Giáo dưới quyền của Tướng Wallenstein (1583-1634) thắng vài trận lớn nhưng không chiến thắng hoàn toàn.  Năm 1629, có ngưng chiến với Hòa ước Lubeck (Peace of Lubeck).

 

Năm 1630, vua Thụy Điển là Gustavus Adolphus (1594-1632) tham chiến tiếp phe người Kháng Cách nhưng cũng có thâm ý bành trướng lãnh thổ của Thụy Điển.  Năm 1631, ở trận Breitenfeld, quân Kháng Cách (lực lượng chánh là quân Thụy Điển) thắng quân Công Giáo (lực lượng chánh là quân của Đế quốc Thánh La Mã thuộc triều đại Hasburg).  Năm 1631, quân Thụy Điển thắng trận Lutzen nhưng vua Gustavus Adolphus tử trận.

Năm 1634, quân Thụy Điển thua trận Nordlingen và phải rút ra khỏi Nam Đức.  Năm 1635, nước Pháp (dù đa số người dân theo Công giáo) tham chiến giúp Thụy Điển.

 

Hòa bình với Hiệp ước Wesphalia (Treaty of Wesphalia vào năm 1648.  Các tiểu quốc theo Kháng Cách của Đức (Protestant German states) sống sót, không bị tiêu diệt.  Thống trị của Hoàng đế Thánh La Mã (Holy Roman Emperor) thuộc triều đại Hasburg suy yếu.  Thế lực của Pháp tăng lên, Thụy Điển hùng mạnh ớ Bắc Âu còn Tây Ban Nha suy yếu.  Vùng Brandenburg-Prussia của Bắc Đức hùng mạnh.  Những vùng Kháng Cách (Protestant) như Hà Lan (Dutch) và Thụy Sĩ (Swiss) được độc lập.  Đế quốc Áo (Austrian Empire) sẽ thay thế Đế quốc Thánh La Mã (Holy Roman Empire) dẫn đầu quyền lực của Công Giáo.

 

*

Nội Chiến ở Anh (1642-1660)

 

Đường nứt giữa Quốc hội (Parliament) và các vua đầu tiên của triều đại Stuart tạo ra Nội chiến ở Anh vào năm 1642.  Một trong những nguyên nhân là lý do tôn giáo.  Nhiều thành viên của Quốc hội theo Thanh giáo (Puritans), trong khi đó tình nghi người trong dòng họ Stuart có cảm tình với Công giáo.  Vua James I và Charles I càng có khuynh hướng cai trị không qua Quốc hội.  Thời gian nầy gọi là 11 Năm Chuyên Chế (11 years Tyrany).  

 

Đến năm 1645, Quốc hội thắng Nội chiến nhờ quân đội kiểu mới của Oliver Cromwell.

Những biến cố của Nội chiến:

Năm 1640, vua Charles I bắt buộc triệu tập Quốc hội để gây quỹ để dẹp loạn của những người Covenanters.  Covenanters là những người Scotland nổi loạn theo Thanh giáo (Scottish Puritans = Presbyterians).  Quốc hội không đồng ý.

Năm 1641, người Công giáo của Ireland lại nổi loạn.  Vua Charles I và Quốc hội đều mộ quân riêng cho mình.

Năm 1642, trận chiến đầu tiên giữa Charles I và Quốc hội ở Edgehill.

Năm 1643, Liên minh của Quốc hội và người Covenanters chống lại vua Charles I.

Năm 1644, Trận Marston Moor: Quốc hội thắng Charles I và chiếm miền Bắc nước Anh.

Năm 1644, Trận Lostwithiel: Quốc hội mất quyền kiểm soát miền tây nam nước Anh về tay vua Charles I.

Năm 1644, quân hoàng gia Scotland thắng người Covenanters.

Năm 1645, Trận Naseby: Quốc hội thắng vua Charles I và kiểm soát toàn nước Anh. 

 

Chiến tranh tái phát trong khoảng 1648-1649, chấm dứt với chiến bại của vua Charles I và vua bị xử tử.  Từ đó trong 4 năm (1649-1653) Anh quốc dưới quyền cai trị của Quốc hội Dân biểu (House of Commons) trong chính thể Liên Hiệp Anh (Commonwealth).  Trong giai đoạn nầy càng có thêm nhiều chi phái tôn giáo (sects) và nhiều nhóm chính trị cấp tiến (radical), như là những người Levellers.

Năm 1653, Cromwell nắm quyền như là Lord Protector (Lãnh chúa Bảo hộ).  Cái chết của ông (1658) để một khoảng trống chính trị.  Năm 1660, triều đại Stuart phục hồi dưới quyền của vua Charles II (con của Charles I).

*

Tòa thánh với kiểu Baroque (1585-1689)

 

Giáo hoàng Sixtus V mở đầu giai đoạn cuối cùng của Cải Cách Công giáo, đặc biệt với thời đại Baroque của đầu thế kỷ thứ 17, chuyển từ thúc đẩy sang thu hút.  Thời gian trị vì của Giáo hoàng chú trọng tới xây dựng lại Rome như là thủ đô của Âu châu và thành phố theo kiểu Baroque, một biểu tượng ngoạn mục của Giáo hội Công giáo.


 

TRUYỀN GIÁO TRONG THỜI CẬN ĐẠI

 

Lan tràn của Công giáo

 

Nhờ Thời đại Khám phá (Age of Discovery) rồi từ thế kỷ thứ 17, các Đế quốc Công Giáo như Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha mở rộng thuộc địa, Giáo hội Công giáo lập những phái đoàn truyền giáo (missions) đi khắp nơi trên thế giới: Bắc và Nam Mỹ châu; Á châu kể cả vùng Viễn Đông; và Phi châu.  Các đoàn truyền giáo thuộc những dòng Jesuits, Franciscans (có Francisco Xavier), Dominicans và Augustinians.  Họ thu phục được nhiều người bản xứ theo đạo: người Aztecs (Bắc Mỹ), người Incas (Nam Mỹ), người Phi Luật Tân (Á châu)...

Phong trào truyền giáo của Giáo hội Công giáo La Mã tiếp tục cho tới đầu thế kỷ 20. 

 

*

Truyền giáo ở Phi châu

 

Vì truyền giáo Công giáo nên Ethiopia ở Phi châu có nội chiến.  Năm 1622, vua Susenyos theo đạo.  Nội chiến bùng nổ năm 1626, vua phải thoái vị.  Người con và kế nghiệp là Facilides đuổi Tổng Giám mục Afonso Mendes và dòng Jesuits ra khỏi nước (năm 1633).  Năm 1665, chính quyền Ethiopia đốt tất cả kinh sách Công giáo trong nước.

Cho đến cuối thế kỷ 19, nhờ kỹ thuật và vũ khí tân thời, quyền lực của Âu châu mới kiểm soát được nội địa Phi châu.  Các nhà lãnh đạo mới giới thiệu nền kinh tế dủng tiền mặt nên cần người Phi châu phải biết đọc và biết viết, như vậy cần có trường học.  Chuyện đó chỉ có thể thực hiện nhờ các nhà truyền giáo của Công giáo.  Các nhà truyền giáo theo chánh quyền thuộc địa vào Phi châu và xây trường học, tu viện và nhà thờ.

 

*

Truyền giáo ở Trung Quốc

 

Truyền giáo ở Trung Quốc không có trở ngại ngay từ đầu.  Nhà thờ Công giáo đầu tiên lập ở Bắc Kinh (1650).  Hoàng đế và triều đình Trung Quốc không hề cấm đạo.  Lãnh tụ truyền giáo ở Trung Quốc là Matteo Ricci cho phép người Công giáo Trung Quốc được thờ người chết như theo truyền thống (veneration of the dead).  

 

Giáo hội La Mã không đồng ý việc làm thích nghi nầy và ra lệnh cấm 2 lần (1692 và 1742).  Đó là "Sự bàn cãi về lễ nghi" (Rites controversy).

Ở Trung Quốc, Giáo hoàng Benedict XIV ra sắc lệnh "Ex Quo Singulari" (1742) lập lại ngôn từ của sắc lệnh cũ của Giáo hoàng Clement XI (1692) và nhấn mạnh sự trong sạch trong giáo điều và truyền thống Kitô giáo, phải được tuân giữ chống lại Tà giáo.  Nhà truyền giáo bị cấm không được tham gia vào thờ kính tổ tiên, vào Nho giáo và Hoàng đế Trung Quốc.  Sắc lệnh (Bull) nầy tiêu diệt mục tiêu truyền giáo của dòng Jesuits vào tầng lớp thượng lưu ở Trung Quốc.  Chính sách của Tòa Thánh là bản tử hình của việc truyền giáo ở Trung Quốc.  

Sau đó việc "Sự bàn cãi về Lễ nghi" (Rite Controversy) đưa tới Hoàng đế Khang Hi nên Hoàng đế ra lệnh việc truyền giáo là phạm luật.  Hoàng đế cảm thấy bị lừa (duped) và từ chối cho phép những thay đổi trong việc thực hành Kitô giáo vào lúc đó.

Vấn đề nầy kéo dài hàng trăm năm cho mãi tới năm 1939, Giáo hoàng Pius XII ra sắc lệnh cho phép người Công giáo được thờ cúng và sùng bái người chết (như tổ tiên của mình). 

 

*

Truyền giáo ở Mỹ châu

 

Vào thế kỷ 18, Dòng Jesuits ủng hộ người bản xứ ở Nam Mỹ chống lại quyền lực thuộc địa của Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha.  Tuy nhiên Giáo hoàng Clement XIII vẫn cố duy trì dòng Jesuits mặc cho áp lực chính trị ở Âu châu.  Năm 1713, các nhà lãnh đạo ở Âu châu hợp lại và chính thức bắt buộc Giáo hoàng đóng Dòng Jesuits.  Từ đó Dòng phần lớn ngưng hoạt động ở Âu châu.  

Năm 1814, Giáo hoàng Pius VII ra sắc lệnh Sollicituddo Omnium Ecclesiamrum phục hồi dòng Jesuits. 

 

Ở Nam Mỹ và Mexico, các nhà truyền đạo tiếp tục dưới quyền của chính phủ thuộc địa (Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha) cho tới thế kỷ thứ 19.  Junipero Serra (1713-1784), giáo sĩ dòng Franciscans người Tây Ban Nha lập ra hàng loạt những hội truyền giáo mà sau nầy trở thành những cơ quan quan trọng về kinh tế, chính trị và tôn giáo.  Đó là những hội truyền giáo ở Baja California và Alta California (ngày nay từ San Diego tới San Francisco).

 

Trong thế kỷ 19, ở các thuộc địa của mình ở Mỹ châu, chính quyền của 2 nước Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha lạm dụng quyền lực của mình không những đối với dân bản xứ mà còn đối với các hội truyền giáo (thường đứng cùng phe với người bản xứ).  

Ở Nam Mỹ, Dòng Jesuits bảo vệ dân bản xứ không bị buôn bán như nô lệ bằng cách lập ra những chỗ định cư bán độc lập gọi là "Reductions".  Giáo hoàng Gregory XVI tranh đấu với quyền lãnh đạo của Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha bằng cách bổ nhiệm Giám mục của mình, kết tội chế độ nô lệ và buôn bán nô lệ trong năm 1839 (papal bull In supremo apostalatus), và chấp nhận thụ phong người bản xứ vào Tăng lữ mặc cho sự kỳ thị của chính quyền thuộc địa.  

Chỉ có sau khi chế độ thuộc địa của Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha bị đổ bể (vào giữa thế kỷ 19), Giáo hội Công giáo LaMã mới lãnh đạo hoàn toàn hoạt động truyền giáo qua tổ chức truyền giáo "Propaganda Fide" của Giáo hội.


 

GIÁO HỘI TRƯỚC THỜI KỲ CÁCH MẠNG ÂU CHÂU

 

Quyền Lực Tâm Linh

 

*

Ảnh Hưởng của Thời kỳ Khai Sáng (Age of Enlightenment)

 

Sau hòa ước Wesphalia (1648), Âu châu bắt đầu bước sang Thời kỳ Khai sáng (khoảng 1650-1750) kéo dài cho tới thời kỳ Kỹ Nghệ hóa (khoảng 1750-1850) với Cách Mạng Âu châu (1789-1849).

 

Hiện tượng Jansenism 

Hiện tượng bắt đầu từ quyển sách "Những Lá Thư Tỉnh" (Lettres Provinciales) của Blaise Pascal chống lại giáo lý Thần Học Đạo Đức của dòng Jesuites và Đại học Sorbonne.  Trong quyển sách, Pascal tranh cãi những vấn đề khó giải thích về Lương tâm, nhất là có liên hệ tới Cái Nhiên Thuyết (Probabilism).  Pascal là một Luận lý gia của Thời kỳ Khai Sáng (Age of Enlightenment) hay Thời đại Lý tính (Age of Reason).

Giáo hoàng Innocent X ra sắc lệnh lên án 5 giáo lý của Jansenism là Tà giáo.

 

Lá Thư Cộng Hòa (Republic of Letters = Republica Literaria)

Có Cộng đồng viễn liên trí thức vào cuối thế kỷ 17 và thế kỷ thứ 18.  Đó là Cộng đồng của những học giả quốc tế về ngôn ngữ và văn hóa khác nhau dùng những "lá thơ Cộng hòa" để liên lạc với nhau.  Đây sự liên lạc của những nhà trí thức của thời kỳ Khai Sáng nầy (Age of Enlightenment) ở Âu châu.  Họ thường được gọi chung là "Triết gia" (Philosophe) ở Pháp.

Những Lá Thơ Cộng Hòa nầy viết lên sự đổi mới trên nhiều lãnh vực: Giáo lệnh sai trái (false Decretals) của Giáo hoàng, Huyền thoại của Nữ Giáo hoàng (Giáo hoàng Joan), Pháp thuật và Ma thuật (Phù thủy); Millennialism (khoảng thời gian 1000 năm Chúa Cứu Thế sẽ xuống thống trị trần gian), Cực đoan của Tuyên truyền (từ) Công giáo và Khoan dung cho xã hội người Do Thái.

 

Chống Tà giáo

 

Người cuối cùng bị hỏa thiêu trên giàn hỏa vì là người Tà giáo là Edward Wightman ở Anh (1612).  Từ năm 1677, người Tà giáo (Heretic) chỉ bị trục xuất khỏi Giáo hội mà thôi.

 

Phiên Tòa xử Galileo Gallilei 

Galileo Gallilei (1564-1642) là một nhà Thiên văn học người Ý.

Năm 1610, Galileo viết Siderens Nuncius dựa trên những gì ông thấy từ Viễn Vọng kính của mình (Telescope), ủng hộ lý thuyết của Copernicus.  Đó là lý thuyết cho là Trái đất chuyển động quanh Mặt trời bất động.

Học giả Cosimo Boscaglio cho là lý thuyết Tà giáo.  Tòa án Dị giáo (Inquisition) của Tòa thánh điều tra (1615).  Cuối cùng Galileo phải ra Tòa án Dị giáo (1633).  Đây là phiên tòa bắt đầu sự liên hệ giữa Giáo hội và Khoa học, nó liên quan tới Thần học, Thiên Văn học và Triết học.  Galileo bị kết tội là "tình nghi mãnh liệt là Tà giáo".  Ông bị quản thúc tại gia cho đến khi ông qua đời.

 

*

Chánh giáo

 

Sùng bái Mary (Devotion to Mary)

Giáo hoàng Paul V (năm 1617) và Giáo hoàng Gregory XV (năm 1622) công bố: Tình trạng " Mary đã thụ thai không tinh khiết (non-immaculate)" là vô giá trị (invalid).  Có nghĩa là Sự thụ thai của Mary (sinh ra Jesus) là tinh khiết (Immaculate Conception).

Giáo hoàng Alexander VII tuyên bố (năm 1661) là Linh hồn của Mary không phạm tội từ nguyên thủy (free of original sin). 

Lòng thành kính Mary trong dân chúng tăng lên qua hành hương, sùng bái, kịch nghệ, thánh ca (hym), đám rước (procession) và giáo đoàn (fraternity).

 

Giáo hoàng Innocent XII (1691-1700)

Được học giả gọi là Thánh Giáo hoàng (St Pope) vì có những cải cách trong Giáo hội về những lạm dụng như mua bán chức vụ (simony), gia đình trị (nepotism) và tiêu xài phung phí của Giáo hoàng.  Bằng cách loại trừ những chức vụ "danh dự" và có chính sách mới về ngân sách, Giáo hoàng Innocent XII lấy lại việc kiểm soát tài chánh của Giáo hội.


 

Quyền Lực Thế Tục

 

Đế quốc Áo

 

Đế quốc Ottoman của người Turks đánh tới Vienne (1683).  Năm 1684, Giáo hoàng Innocent XI với sự giúp đỡ của Thầy dòng Marco D'Aviano kêu gọi và lập ra Liên Minh Thần Thánh (Holy League) để chống lại và giải thoát mối đe dọa cho Thế giới Kitô giáo (Christendom).

Liên Minh gồm có:

Lãnh địa Giáo hoàng

Đế quốc Thánh La Mã dưới quyền của Hoàng đế Áo Leopold I của triều đại Habsburg.

Liên Hiệp Poland-Lithuania (Polish-Lithuanian Commonwealth) dưới quyền lãnh đạo của John III Sobieski

Cộng hòa Venice (Venetian Republic)

Nga hoàng của nước Nga: gia nhập sau, vào năm 1686.

Liên Minh Thần Thánh cuối cùng chiến thắng và đẩy lui quân Turks của Đế quốc Ottoman với Hiệp ước Karlowitz (1699).

 

Trong thế kỷ thứ 18, chính quyền quân chủ của các quốc gia hùng mạnh.  Giáo hội yếu thế.  Giới trí thức tấn công và ngạo Giáo hội, giới quí tộc ít người ủng hộ.

Tại Đế quốc Áo mặc dù đa số người dân theo Công giáo, chánh quyền chiếm quyền kiểm soát tất cả đất đai của Giáo hội.  Nông dân sùng đạo nhưng không có tiếng nói.

 

*

Nước Pháp

 

Vua Louis XIV (1643-1715) của Pháp hủy bỏ Sắc lệnh Nantes (Edict of Nantes), chấm dứt sự khoan dung tôn giáo hàng mấy thế kỷ.   

Từ đó Vua Louis XIV: 

ép các nhà Thần học Công giáo ủng hộ Hội nghị Tôn giáo (Conciliarism) và chối bỏ "Tánh không lầm lỗi" của Giáo hoàng (Infaibility).  

đe dọa Giáo hoàng Innocent là sẽ tự mình tổ chức lấy Hội nghị Công giáo toàn cầu và dùng quân sự chiếm Lãnh địa Giáo hoàng (Papal States). 

lấy lại quyền bổ nhiệm những chức vụ quan trọng trong Giáo hội và cũng lấy bất động sản của Giáo hội (properties).


 

GIÁO HỘI TRONG THỜI KỲ CÁCH MẠNG ÂU CHÂU

(1789-1849)

 

Cách mạng ở Pháp (1789)

 

Hậu quả nặng nề cho Giáo hội Công giáo Pháp từ Cách mạng Pháp: đóng cửa Giáo hội Pháp, tịch thu và đem bán sĩ tài sản thuộc Giáo hội trên toàn quốc, đóng cửa Tu viện và trường học Công giáo và đày các giáo sĩ cầm đầu.  Tất cả tu viện bị phá hủy.  30000 giáo sĩ bị đuổi, hàng trăm bị giết chết.

Chính quyền cố gắng lập Giáo hội do quốc gia điều khiển (State-run Church).  Đa số linh mục từ chối không thề trung thành với Hội đồng quốc gia (National Assembly).  Giáo hội Công giáo thành ra ngoài vòng pháp luật (outlawed) kể cả có Lịch Cộng Hòa Pháp mới.

 

*

Napoleon Bonaparte

 

Giáo hoàng Pius VI theo phía cách mạng Pháp.  Năm 1796, quân đội của Cộng Hòa Pháp xâm lăng nước Ý, dưới sự lãnh đạo của Napoleon Bonaparte, đánh bại quân đội của Giáo hoàng và chiếm Acona và Lorato.  Giáo hoàng Pius VI thỉnh cầu hòa bình.  Quân đội Pháp quay về hướng bắc nhưng đổi lại Tòa Thánh phải chuyển giao cho Pháp nhiều sưu tầm nghệ thuật của Vatican cũng như nhường cho Pháp Bologna, Ferrara và Romagna.  

Nhưng vào ngày 28-12-1796, một tướng lãnh Pháp bị giết trong một cuộc náo loạn (riot) trước Tòa Đại sứ Pháp ở Rome.  Quân đội Pháp vảo chiếm Rome không bị kháng cự và tuyên bố thành lập Cộng Hòa Ý và đòi Giáo hoàng từ bỏ quyền hành thế tục.  Khi Giáo hoàng Pius VI từ chối thì ông bị bắt về cầm tù ở thành Valence của Pháp (tháng 2, 1799) và ông chết ở đó (27-8-1800).

 

Giáo hoàng mới là Pius VII trước hết là cầu hòa với Napoleon.  Ông điều đình Chánh giáo Điều ước năm 1801 (Concordat of 1801) với Pháp, trong đó khẳng định lại Giáo hội Công giáo La Mã là tôn giáo chính của nước Pháp.  Tuy nhiên Chánh giáo Điều ước năm 1801 đem lại nhiều lợi ích cho quốc gia Pháp hơn là cho Giáo hội.

Năm 1804, Giáo hoàng Pius VII sang Pháp để chính thức chủ tọa và làm lễ đăng quang cho Napoleon (làm Hoàng đế).  Ngày 2-12-1804, Napoleon tự đội vương miện cho chímh mình thành Hoàng đế của Pháp ở Giáo đường Notre Dame tại Paris.  Napoleon cho rằng ông giựt vương miện từ Giáo hoàng trong buổi lễ vì sợ sẽ thành bầy tôi của Giáo hoàng.  Việc nầy là ngoài chương trình đã dự định trước.

Tuy nhiên mối liên hệ thối bộ.  Giáo hoàng làm Hoàng đế Napoleon khó chịu khi ngài từ chội không công nhận sự bãi bỏ hôn phối của Jerome, em của Hoàng đế và không cho những hải cảng của Lãnh địa Giáo hoàng (Papal States) thuộc trong Hệ thống Lục địa (continental system).

 

Năm 1808, quân đội Pháp chiếm vùng Marches của Lãnh địa Giáo hoàng (Papal states), sát nhập vào vương quốc Napoleon.  Năm 1809, Napoleon xâm chiếm phần còn lại của Lãnh địa Giáo hoàng kể cả Rome, và tuyên bố là Giáo hoàng không còn quyền hành thế tục nào hết.  Giáo hoàng Pius VII thi hành quyền hành tâm linh của mình, trục xuất Napoleon và tùy tùng.  Giáo hoàng Pius VII liền bị bắt và giam cầm ở Pháp.

 

Những biến cố nầy đem toàn thể bán đảo Ý dưới quyền kiểm soát của Pháp (năm 1809).  Tình thế không thay đổi cho đến khi Napoleon thua trận ở Leipzig (1813).  Nước Áo lấy lại gần hết bán đảo Ý.  Giáo hoàng Pius VII được thả về Rome.

 

*

Giáo hoàng Pius IX

 

Trong thời kỳ của Giáo hoàng Leo XII (1823-1829) và Gregory XVI (1831-1846), Rome được nhìn nhận với cảm tình chống cấp tiến của hầu hết các triều đại ở Âu châu.  Việc lựa chọn Giáo hoàng Pius IX (1846) hứa hẹn là Tòa Thánh sẽ không phản ứng.

Tuy nhiên, năm 1848, cách mạng quốc gia và cấp tiến bùng nổ khắp Âu châu.  Năm 1849, Cộng hòa La Mã được công bố và Giáo hoàng Pius IX chạy ra khỏi thành phố.  

Ngay trước đó, Louis Napoleon được bầu làm Tổng thống và tuyên bố thành lập Đệ Nhị Cộng Hòa Pháp.  Muốn xoa dịu ý kiến Công giáo bảo thủ ở Pháp, ông liên hiệp với Áo đưa quân vào phục hồi quyền lãnh đạo của Giáo hoàng ở Rome.  Sau nhiều trận chiến, Giáo hoàng Pius IX theo quân chiến thắng Pháp trở về Rome và thay đổi bằng cách theo đuổi chính sách bảo thủ đè ép hơn cả các Giáo hoàng trước.

 

Ngay cả trước chiến tranh Pháp-Phổ, Giáo hoàng Pius IX biết rằng quyền lực thế tục sẽ dần dần mất đi và bắt đầu định lại Giáo hội Công giáo như là một quyền lực tâm linh sẽ phục vụ như là thành lũy (bulwark) chắc chắn chống lại xu hướng cấp tiến trong giai đoạn (sắp tới).

Giáo hoàng triệu tập Cộng đồng Vatican thứ nhất (1862).

Công giáo phục sinh ở Âu châu , giáo dân phấn khởi và kính trọng Tòa Thánh.



 

GIÁO HỘI SAU THỜI KỲ CÁCH MẠNG ÂU CHÂU

(1850-1914)

 

Quyền Lực Tâm Linh

 

Công  Đồng Vatican thứ nhất (1st Vatican Council)

 

Ngày 7-2-1862, Giáo hoàng Pius IX ra Hiến pháp của Giáo hoàng (Papal Constitution = Ad Universalis Ecclesiae) liên quan tới điều kiện gia nhập những Dòng Công giáo của giáo dân trong đó có viết ra nghi thức "Khấn Hứa Trang Nghiêm" (Solemn Vows).

 

Giáo lý về quyền Giáo trưởng của Giáo hoàng (papal primacy) mở mang thêm vào năm 1870 trong Hội Đồng Vatican, tuyên bố rằng "Trong sự xếp đặt của Thiên Chúa, Tòa Thánh La Mã giữ sự hoàn toàn siêu việt (preeminence) của quyền lực thông thường trên tất cả những Giáo hội khác".

Cộng đồng cũng xác nhận giáo lý tín điều (dogma) 

của Đặc quyền tối cao của Giáo hoàng (papal infaibility).  Tuyên bố rằng Đặc quyền tối cao của cộng đồng Kitô giáo trải rộng tới chính Giáo hoàng, khi Giáo hoàng diễn nghĩa giáo lý về Đức tin hay Đạo đức (faith or Morals) cần phải tuân giữ trong toàn Giáo hội).

của Quyền lực tối cao của Giáo hoàng).  Thẩm quyền (jurisdiction) tối cao (supreme), đầy đủ (full), ngay tức khắc (immediate) và phổ thông toàn thế giới (universal) của Giáo hoàng.

 

Hội Đồng định nghĩa "lưỡng quyền" giáo trưởng của Giáo hoàng: một là đặc quyền tối cao trong giảng dạy về đức tin và đạo đức và hai là thẩm quyền giáo trưởng liên quan tới chính quyền và kỹ luật của Giáo hội.  Sự phục tùng (submission) cho cả "lưỡng quyền" là cần thiết cho đức tin và sự cứu rỗi của Công giáo. (faith and salvation).  Nó chối bỏ ý tưởng là lệnh của Giáo hoàng không có "giá trị sức mạnh trừ khi được xác nhận bởi lệnh của một quyền lực thế tục" và ý tưởng là quyết định của Giáo hoàng có thể được kháng cáo (appealed) lên một hội đồng toàn tthế giới (ecumenical) "như là quyền cao hơn Giáo hoàng ở La Mã (Roman pnotiff)".

 

Trước Hội đồng Vatican nầy, Giáo hoàng Pius IX được đại đa số các Giám mục ủng hộ, công bố tín điều của sự Thụ thai Tinh khiết (Immaculate Conception).

 

Tôn sùng Mary (Veneration of Mary)

 

Các Giáo hoàng từ xưa luôn muốn làm sáng tỏ sợi dây nối liền bên trong giữa Trinh nử Mary như là Mẹ của Thiên Chúa (Mother of God) và sự chấp nhận hoàn toàn của Giê-su Kitô (Jesus Christ) như là Con của Thiên Chúa (Son of God).  

Từ thế kỷ thứ 19, có môn học về Maria (Mariology) mở mang ra để giải thích sự tôn sùng Mary không những trong lãnh vực Đức tin vào Mary mà còn việc tôn thờ và sùng bái.  Giáo hoàng bắt đầu dùng sắc lệnh của mình (encyclicals) thường hơn.

Giáo hoàng Leo XIII (the Rosary Pope), ra tất cả 11 sắc lệnh về Mary.

Sùng bái "Đức Mẹ đồng trinh đầy ơn phước" (Blessed Virgin Mary) với 2 tín điều: Pius IX với Sự Thụ thai tinh khiết (Immaculate Conception) (1854) và Pius XII với Lễ Thăng thiên của Thánh mẫu đồng trinh Mary (Assumption of Mary).

Các Giáo hoàng Pius IX, Pius XI và Pius XII chấp thuận sự sùng bái Mary hiện ra ở trần gian như ở Lourdes và Fatima.

Hội đồng Vatican lần thứ nhì làm sáng tỏ sự quan trọng của sùng bái Mary trong sắc lệnh Lumen gentium.  Trong khi Hội đồng nhóm họp, Giáo hoàng Paul VI công bố Mary là Mẹ của Giáo hội (Mother of the Church).

 

Giáo dục về Xã hội (Social Teachings)

 

Cách Mạng Kỹ Nghệ (Industrial Revolution) đem lại nhiều lo lắng về giảm điều kiện làm việc và sinh sống của những công nhân ở thành thị.  Ảnh hưởng từ Giám mục người Đức, Wilhelm Emmanuel Freiherr von Ketteler, vào năm 1891, Giáo hoàng Leo XIII in sắc lệnh Rerum Novarum lập ra nội dung Giảng dạy về xã hội của Công giáo, chối bỏ chủ nghĩa xã hội (socialism) và binh vực (advocate) việc qui định điều kiện lao động.  Nó tranh cãi để có tiền công đủ sống (cho công nhân) và quyền của công nhân được lập Nghiệp đoàn giao dịch (trade union).

 

Trong thế kỷ 19 có những khuynh hướng chống lại tinh thần của Giáo hội:

Chống Tăng lữ (Anti-clericalism): Sau Cách Mạng Pháp và cách mạng Mễ Tây Cơ, có giọng điệu chống tăng lữ (anti-clerical) trong những nước nầy cho tới bây giờ.

Chủ nghĩa Duy vật (Secularism ) và chủ nghĩa Xã hội (Socialism): Cả hai chủ nghĩa (Socialism) trong nhiều trường hợp công khai hiếu chiến đối với tôn giáo.  Karl Marx kết tội tất cả mọi tôn giáo như là "thuốc phiện của con người",  Ông coi tôn giáo như là một cảm giác hy vọng giả tạo trong đời sau (afterlife) giữ không cho con người đối diện với tình trạng thể giới (đương thời).

Những người "Tiến Bộ' (Liberals) nhắm Giáo hội Công giáo như là kẻ thù to lớn của mình.

Trong nhiều vận động cách mạng của mình, Giáo hội Công giáo tố cáo những khuynh hướng nầy.


 

Quyền Lực Thế Tục

 

Vào thế kỷ thứ 19, có 3 vương quốc thành lập: Hy Lạp (1827), Ý (1870) và Đức (1871).

 

Nước Pháp

 

Giáo hội Công giáo mất hết đất đai và địa ốc trong thời kỳ Cách mạng Pháp, tất cả đều bị bán hết hay dưới quản trị của chính quyền địa phương.  

Thành phần cấp tiến của Cách Mạng muốn muốn dẹp luôn Giáo hội nhưng Napoleon hòa giải với Giáo hoàng thông qua Chánh giáo Điều ước năm 1801 (Concordat of 1801) duy trì một phần của Giáo hội.  

Các Giám mục vẫn lãnh đạo Giáo phận (theo cách chia biên giới khác) nhưng chỉ có thể liên lạc với Giáo hoàng qua chính phủ trung ương ở Paris.  Giám mục, Linh mục, Nữ tu và các hàng giáo phẩm khác được trả tiền lương bởi quốc gia.  

Tất cả những kỳ lễ và lễ nghi tôn giáo vẫn giữ và chính quyền giữ các địa ốc tôn giáo.  Giáo hội được cho phép hoạt động trong Seminars của mình hay rộng hơn chút nữa những trường học địa phương, mặc dù sẽ trở thành những vấn đề cho tới thế kỷ 20.  

Giám mục không có quyền lực như trước và không có tiếng nói về chịnh trị.  Tuy nhiên Giáo hội Công giáo tự phát minh và nhấn mạnh trên tín ngưỡng cá nhân trong tâm lý của đức tin.

 

Nước Pháp căn bản vẫn là một quốc gia theo Công giáo.  Năm 1782, thống kê dân số là 36 triệu người trong đó có 35.4 triệu người Công giáo, 600000 người Kháng Cách (Protestants); 50000 người Do thái và 80000 người không tôn giáo (freethinkers).

Cách Mạng không tiêu diệt được Công giáo và Chánh giáo Điều ước năm 1801 (Concordat of 1801) của Napoleon phục hồi Công giáo.  Triều đại Bourbon trở lại (1814) mang theo lại nhiều nhà quí tộc và địa chủ giàu có ủng hộ Giáo hội, coi nó như là tường thành cho chế độ bảo thủ và quân chủ.  Tuy nhiên Tu viện với nhiều đất đai và quyền lực chính trị thì không còn nữa; đa số đất đai đã bán cho chủ mới là người thành thị, không có kinh nghiệm liên lạc với đất đai và nông dân.

Ít người chịu học làm Linh mục và có Linh mục bỏ Giáo hội (1790-1814).  Tăng lữ từ 60000 người (1790) chỉ còn 25000 người (1815), nhiều người đã già.  Giáo dân thiếu giáo sĩ nhưng giới quí tộc giúp làm tăng cao Đức tin.

 

Sự hồi phục rất chậm, nhứt là ở thành phố và vùng kỹ nghệ.  Với công sức của các nhà truyền giáo và chú trọng tới tế lễ (liturgy) và sùng bái the Virgin Mary, cộng thêm sự ủng hộ của Napoleon III, có sự hồi phục trở lại.  Trong năm 1870, có 56500 linh mục đại diện cho sức mạnh trẻ và hoạt động hơn trong các làng xã và thành thị, với mạng lưới dầy đặc những trường học, hội bác ái và tổ chức tục nhân.  Người Công Giáo Bảo Thủ giữ quyền kiểm soát chính quyền quốc gia (1820-1830) nhưng thường hơn là giữ vai trò thứ yếu chính trị hay phải tranh đấu chống lại những tấn công của những người Cộng hòa, tiến bộ (liberals), theo Xã hội chủ nghĩa và người thế tục.

 

Trong suốt thời kỳ của Đệ Tam Cộng Hòa (3rd Republic) (1870-1940), có nhiều trận chiến về tình trạng của Giáo hội Công giáo.  

Tăng lữ và các Giám mục Pháp liên hệ mật thiết với giới hoàng gia quân chủ (Monarchists) và nhiều hàng giáo phẩm từ những gia đình quí tộc.  Người Cộng Hòa căn bản từ giới trung lưu chống lại Tăng lữ.  Họ coi sự liên hệ quân chủ của Tăng lữ là đe dọa cho chính thể Cộng hòa và tinh thần tiến triển tân thời.  Nhửng người Cộng hòa thù ghét Giáo hội vì sự kết thân (affiliation) chính trị với giai cấp quí tộc, và coi Giáo hội như là đại diện cho truyền thống lỗi thời, mê tín và theo chủ nghĩa quân chủ.

Người Cộng hòa được mạnh thêm nhờ người Kháng Cách (Protestants) và người Do thái ủng hộ.  Nhiều đạo luật được thông qua để làm suy yếu Giáo hội.  Năm 1879, linh mục không được có trong ủy ban quản trị của bệnh viện hay hội từ thiện bác ái.  Từ 1880 tới 1890, người thường phái nữ thay thế các nữ tu làm viậc trong nhiều bệnh viện.  Chánh giáo Điều ước năm 1801 (Concordat of 1801) của Napoleon Bonaparte còn được tôn trọng nhưng chính quyền cắt bớt lương của bất cứ linh mục nào mà chính quyền không thích.

 

Năm 1882, người Cộng hòa Jules Ferry tạo dựng một hệ thống giáo dục công cộng chỉ dạy đạo đức "không công giáo" (puritanical) nhưng không dạy Công giáo.  Trong một thời gian, các trường tư Công giáo được khoan hồng.  Lễ hôn phối dân sự bị bắt buộc, Ly dị được giới thiệu và chức Tuyên úy Công giáo (chaplains) không còn có trong Lục Quân.  

 

Khi Leo XIII thành Giáo hoàng (1878), ông cố gắng êm dịu liên hệ Giáo hội - Quốc gia.  Năm 1884, ông khuyên các Giám mục không nên hiếu chiến chống Quốc Gia.  Năm 1892 ông ra sắc lịnh của Giáo hoàng (encyclical) cố vấn người Công giáo Pháp họp lại ủng hộ nền Cộng Hòa và bảo vệ Giáo hội bằng cách theo đường lối chính trị Cộng hòa.  Cố gắng nầy thất bại.

Sự nghi ngờ trong gốc rễ giữa hai bên bùng cháy khi có vụ án Dreyfus.  Những người Công giáo đa phần chống lại Dreyfus.  Báo chí của 2 bên chống lại lẫn nhau.  

 

Chính phủ Waldeck-Rousseau (1899-1902) và chính phủ Combes (1902-1905) tranh chiến với Tòa Thánh trong việc bổ nhiệm các Giám mục.  Chức Tuyên Úy bị bãi bỏ trong Hải Quân và Quân Y viện (1903-1904), và quân lính bị ra lệnh không nên tới các Câu lạc bộ Công giáo (1904).  

Combes khi lên làm Thủ tướng (1904) nhất định đánh bại người Công giáo.  Ông đóng cửa tất cả trường đạo của giáo phận (parochial schools).  Rồi quốc hội của ông bỏ thẩm quyền của tất cả Dòng Công giáo. Có nghĩa là tất cả 54 Dòng bị giải tán và khoảng 20000 thành viên ngay tức khắc phải rời Pháp, nhiều người sang Tây Ban Nha.

 

Năm 1905, Chánh giáo Điều ước năm 1801 (Concordat of 1801) bị phế bỏ; tách rời Quốc gia và Giáo hội.  Tất cả tài sản của Giáo hội bị tịch thu.  Chỗ Tín ngưỡng công cộng bị giao vào tay Hội của những người Tục nhân Công giáo (Catholic Laymen), họ kiểm soát phương tiện giao dịch trong nhà thờ.  Trên thực tế, Thánh lễ và các lễ nghi khác vẫn tiếp tục.  Giáo hội bị tổn thương nặng và mất đi phân nửa số Linh mục.  

Về lâu về dài, tuy nhiên, Giáo hội được tự lập (autonomy) vì Quốc Gia không còn có tiếng nói trong việc lựa chọn Giảm mục.

 

Nước Đức

 

Có tăng lượng hành hương của giáo dân Công giáo trong thế kỷ 19.  Chỉ riêng năm 1844, đã có nửa triệu người tới thành phế Trier để chứng kiến Áo choàng không có đường may (seamless) của Jesus, được tương truyền là Jesus mặc khi trên đường đi tới nơi bị đóng đinh trên cây thập tự.

 

Các Giám mục Đức trong lịch sử thường độc lập với Tòa Thánh ở Rome nhưng từ đây Rome thi hành việc kiểm soát tăng lên.  Có chủ thuyết "Giáo hoàng toàn quyền" (Ultramontanism), một định kiến chính trị của Tăng lữ bên trong Giáo hội Công giáo chấp nhận và nhấn mạnh đến quyền lực và đặc quyền ưu thế (prerogatives) của Giáo hoàng.  Với chủ thuyết nầy, có nhiều người theo thành ra họ rất trung thành với Tòa Thánh ở Rome.

Năm 1837-38, ở vùng Rhineland đa số là Công giáo nhưng có nhiều trẻ con sinh trong gia đình có cha mẹ 1 theo Công giáo và 1 theo Kháng Cách (Protestant).  Chính quyền thông qua luật bắt buộc những trẻ con trong những gia đình "hổn hợp" như vậy thì trẻ con phải được nuôi theo Kháng Cách (Protestant).  Trước sự phản đối của Giáo hội Công giáo, chính quyền quản thúc tại gia Tổng Giám mục Công giáo.  Năm 1840, vua mới là Frederick William IV tìm cách hòa giải và chấp dứt sự tranh cãi bằng cách đồng ý với những đòi hỏi của Công giáo.  Tuy nhiên vì qua nhiều ký ức nên giáo dân luôn đoàn kết trước một chính quyền không được tín nhiệm.


 

Sau năm 1870, Chancellor Otto von Bismarck không thể chịu nỗi những căn cứ quyền lực ngoài nước Đức can thiệp vào sự vụ (affairs) của nước Đức, nhất là Tòa Thánh ở Rome.  Ông phát khởi Kulturkamp (Culture War = Chiến tranh Văn hóa) chống lại quyền lực của Giáo hoàng và Giáo hội Công giáo vào năm 1873, nhưng chỉ ở vùng Prussia.  

Chuyện nầy làm Bismarck được ủng hộ của những ngưởi Đức thuộc phái Tiến bộ (German Liberals), họ coi Giáo hội Công giáo như là tường thành chống lại họ và là kẻ thù lớn nhất của họ.  Thành phần Công giáo ngược lại cũng coi những người nầy, thuộc đảng Quốc Gia Cấp Tiến (National-Liberals), là kẻ thù xấu nhất và lập ra đảng Trung Ương (Center Party).

 

Số người Công giáo chiếm gần 1/3 của dân số nước Đức nhưng người Công giáo hiếm khi được cho phép giữ những chức vụ cao trọng trong chính phủ hoàng gia hay chính phủ Prussia.  Hầu hết Chiến Tranh Văn Hóa (Kulturkamp) xảy ra ở Prussia nhưng Hoàng gia Đức thông qua Luật Giảng đàn (Pulpit Law), kết tội theo luật pháp những giáo sĩ nào dám (lên giảng đàn) luận bàn trước công chúng những chính sách theo đường hướng làm mất lòng chính phủ.  Gần như tất cả Giám mục, giáo sĩ và tín đồ dân sự của Công giáo chối bỏ tính cách hợp pháp của đạo luật nầy, và cứng đầu đối diện chống lại với nhiều hình phạt nặng nề và tù tội áp đặt từ chính phủ của Bismarck.  Sử gia Anthony Steinhoff tường thuật những thiệt hại:

Như trong năm 1878, chỉ còn có 3 trong 8 giáo phận ở Prussia là có Giám mục; khoảng 1125 của 4600 giáo khu (parishes) bị bỏ trống, và gần 1800 linh mục cuối cùng vô tù hay bị đi đày...  Cuối cùng, giữa 1872-1878, rất nhiều tờ báo Công giáo bị tịch thu, hiệp hội và hội đoàn Công giáo bị giải tán, và những nhân viên chỉ vì có cảm tình với người theo Chủ thuyết Giáo hoàng toàn quyền (Ultramontane) bị thải hồi.

 

Bismarck đánh giá thấp sự giải tán Giáo hội Công giáo và không thấy trước những cực đoan là kết quả từ xung đột nầy.  Giáo hội Công giáo tố cáo những luật mới nầy là chống Công giáo và cử người ra ứng cử và vận động cử tri đi bầu trong toàn quốc.  Trong kỳ bầu cử tiếp theo, Đảng Trung Ương (Center Party) chiếm 1/3 số ghế trong Hội đồng Hoàng gia (Imperial Diet).  

Sự xung đột chấm dứt sau năm 1879 bởi vì Giáo hoàng Pius IX chết (1978) và Bismarck đổ bể với Đảng Tiến Bộ (Liberals) khi ông chú trọng tới thuế tariffs, ngoại giao và tấn công những người theo chủ nghĩa Xã hội (socialists).  Bismarck điều đình với Giáo hoàng "dễ nhượng bộ" Leo XIII.  Hòa bình phục hồi, các Giám mục trở về nhiệm sở và giáo sĩ phóng thích khỏi tù.  Một số Luật được xé bỏ hay lấy lại nhưng những luật lệ chính như Luật Giảng đàn (Pulpit Law) hay luật về giáo dục, luật về dân sự như luật kết hôn, hay Luật giải tán những hiệp hội tôn giáo vẫn còn tại chỗ.  Đáng Trung Ương của người Công giáo mạnh thêm và trở thành đồng minh với Bismarck, đặc biệt là khi ông tấn công những người theo chủ nghĩa xã hội.

*

Nước Ý

 

Vấn Đề của Rome (1870-1929)

Năm 1870, một vương quốc mới được thành lập ở toàn bán đảo Ý và đóng đô ở Rome, đó là vương quốc Ý (kingdom of Italy).  Giáo hoàng Pius IX từ chối không tùy thuộc dưới quyền của chính phủ quân chủ và ở Vatican City (trong thành phố Rome) như một tù nhân.  Người Công giáo bị kỳ thị ở Ý như không được đi bầu chính quyền quốc gia (chỉ được bầu chính quyền địa phương)...

Tiếp theo, Giáo hoàng Leo XIII phải bảo vệ tự do tín ngưỡng của Giáo hội Công giáo chống lại sự ngược đãi và tấn công trong lãnh vực giáo dục, trưng dụng và sung công (expropriation) và xâm phạm những  nhà thờ Công giáo, những âm mưu luật pháp chống lại Giáo hội và những tấn công dã man cuối cùng dẫn đến những nhóm chống lại giáo sĩ toan tính liệng thi thể của Giáo hoàng Pius IX xuống sông Tiber (7/13/1881).

Giáo hoàng Leo XIII tính dời Tòa Thánh từ Rome về Trieste hay Salzburg nhưng bị Hoàng đế Áo-Hung từ chối khéo léo.

Sự mất quyền thế tục của Giáo hoàng đem trở lại uy tín (prestige) cho Giáo hoàng.  Các nhà quân chủ của các nước Công giáo ở Âu châu phục hồi vào thế kỷ thử 19 xem Giáo hoàng như đồng minh hơn là đối đầu về quản trị.  Sau đó nhưng chính phủ lập hiến không có ràng buộc giáo sĩ vào chính sách của hoàng gia, người Công giáo được tự do theo quyền lãnh đạo tâm linh của Giáo hoàng.  Giáo hoàng của thế kỷ 19 và 20 xử dụng quyền tâm linh với lòng sốt sắng và trong mọi phương diện của đời sống tôn giáo.  Thí dụ như từ thời Giáo hoàng Pius IX (1846-1878) Tòa Thánh lần đầu tiên trong lịch sử kiểm soát hoạt động truyền giáo khắp toàn thế giới.

 

Thành hình của Vatican (1929)

Điều đình về "Vấn đề Rome" bắt đầu từ 1926.  Năm 1929, 3 Hiệp ước Lanteran (Lanteran pacts) ký giữa Thủ tướng Benito Mussolini đại diện cho vua Victor Emanuel III và Hồng y Bộ trưởng Nội vụ Pietro Gaspani đại diện cho Giáo hoàng tại lâu đài Lanteran.

Tạo ra Vatican City là một quốc gia được bảo đảm hoàn toàn quyền độc lập với quyền tối cao của Tòa Thánh.

Công Giáo (Catholicism) là tôn giáo của nước Ý

Giáo hoàng được yêu cầu giữ trung lập trong các liên hệ quốc tế (neutrality in international relations).

Hiệp ước (agreement) về tài chánh được chấp nhận như là giải pháp cho yêu cầu của Tòa Thánh đối với nước Ý khởi từ việc mất quyền thế tục vào năm 1870.

 

Đệ Nhị thế chiến (1939-1945)

Vatican giữ trung lập trong suốt Đệ nhị Thế chiến.  Năm 1944, Hitler đem quân Đức chiếm nước Ý và Rome nhưng chừa Vatican.  Vì Tòa Thánh bí mật cứu giúp quân nhày dù Đồng Minh bị bắn rơi nên Hitler gần muốn đánh Vatican.  May mắn là Rome được chiếm lại trước khi sự kiện nầy xảy ra.

Giáo hoàng Pius XII giúp 15 triệu người bị mất chỗ ở và tỵ nạn, mở rộng Hội đồng Hồng y (College of Cardinal), không còn đa số là người Ý nữa.

 

Sau 1945, người Công Giáo bị ngược đãi ở Liên Xô và các nước Cộng sản: 60 triệu người Công giáo ở Liên Xô với 10 ngàn giáo sĩ và tín đồ bị giết, và hàng triệu bị tù đày vào trong những Gulags ở Liên Xô (và Trung Cộng).  Chế độ Cộng sản ở Albania, Bulgaria, Romania và Trung Quốc thực hành tiêu diệt Giáo hội Công giáo trong nước.    


 

Bs PHAN THƯỢNG HẢI biên soạn

 

Tài Liệu Tham Khảo:

    Lịch Sử Kitô Giáo Thời Cổ Đại - phanthuonghai.com (Phan Thượng Hải)

Lịch Sử Công Giáo Thời Trung Cổ - phanthuonghai.com (Phan Thượng Hải)

World History Dates (Jane Chisholm)

Europe (Michael Kort)

The Middle East And North Africa (Reeva Simon)

History of The World (Plantagenet Somerset Fry)

Atlas of European History (Times Book)

  

Bs PHAN THƯỢNG HẢI biên soạn và giữ bản quyền   

BÀI 2: 

LỊCH SỬ CÔNG GIÁO THỜI TRUNG CỔ

                                              Bs Phan Thượng Hải


 

Từ Jesus (Giê-su / Gia tô) có một tôn giáo là Christianity (tiếng Anh).  

Là người Do Thái, Jesus được các Tông đồ, cũng là người Do Thái, gọi là "Đấng cứu thế" (savior) mà tiếng Do thái là Messiah.  Messiah dịch ra tiếng Hy Lạp là Christo và tiếng La Tinh là Christus, chuyển thành tiếng Anh là Christ.  

Christianity là từ Christ (Christo và Christus), có nghĩa là: Tôn giáo của Christ, Đấng cứu rỗi thế gian. Dịch âm thành tiếng Việt của Christo là Kitô và của Christus là Cơ Đốc.  

Do đó Christianity được dịch ra tiếng Việt là Kitô giáo hay Cơ Đốc giáo.  Theo hiện đại, tác giả dùng từ ngữ "Kitô giáo".

 

Đến năm 1054, khi Kitô giáo chia ra 2 Giáo hội (Churches) thì 2 Giáo hội chọn 2 tên khác nhau: Công giáo (Catholicism)  và Giáo hội Công giáo (Catholic Church) 

Chính Thống giáo (Orthodoxy) và Giáo hội Chính Thống giáo (Orthodox Church).

Lịch sử Công giáo (Catholicism) bắt đầu khi nó còn là Kitô giáo (chung với Chính Thống giáo).

Từ ngữ Đạo Thiên Chúa có được dùng để dịch ra từ Catholicism hay Christianity nhưng đều không chính xác.  

 

Thời Trung Cổ (Middle Ages) bắt đầu từ năm 476 cho tới năm 1453.  Trước đó là thời Cổ Đại (Antiquity).

Năm 476, Odoacer lật đổ Hoàng đế Romulus Augustulus của Đế quốc Tây La Mã ở Rome, trở thành vua của Ý (King of Italy) và Đế quốc Tây La Mã chấm dứt.

Năm 1453, Constantinople rơi vào tay của Đế quốc Ottoman và Đế quốc Byzantine chấm dứt.  

 

Thời Trung Cổ có thể chia ra: 

Trung Cổ (Middle Ages): từ năm 476 cho tới cuối thế kỷ thứ 13, gồm có Tiền Trung Cổ (Early Middle Ages) cho tới năm 800 khi Charlemagne thành Hoàng đế Thánh La Mã (Holy Roman emperor) và Trung Cổ (High Middle Ages).

Hậu Trung Cổ (Late Middle Ages): từ cuối thế kỷ thứ 13 cho tới cuối thế kỷ thứ 15 với khởi đầu của thời Phục Hưng (Renaissance) và thời kỳ Khám phá (Ages of Discovery).  
 

Bố cục:

Giáo hoàng và Tòa thánh trong thời Trung Cổ (trang 2)

Giáo hội Công giáo trong thời Trung Cổ (trang 12)

Truyền giáo trong thời Trung Cổ (trang18)

Ly Giáo Đông Tây (trang 21)

Viễn chinh Thập tự quân (trang 26)

Tà giáo và Tòa án Dị giáo (trang 33)

Giáo hoàng và Tòa thánh trong thời Hậu Trung Cổ (trang 35)


 

GIÁO HOÀNG VÀ TÒA THÁNH TRONG THỜI TRUNG CỔ

 

Tổng Giám mục và Tòa Giám mục ở Rome đã tự xưng là Giáo hoàng (Pope) và Tòa thánh (Holy See/Papacy) từ thế kỷ trước.  Bắt đầu thời Trung Cổ, Giáo hoàng và Tòa Thánh ở Rome vẫn lãnh đạo của Giáo hội và Thế giới Kitô giáo ở lãnh thổ của Đế quốc Tây La Mã cũ.  Đế quốc Đông La Mã cũ trở thành Đế quốc Byzantine có Tòa Tổng Giám mục và Giáo chủ ở Constantinople lãnh đạo Kitô giáo của Byzantine.  Tòa Thánh ở Rome luôn tự cho và giữ quyền giáo trưởng (primacy) của toàn thể Thế giới Kitô giáo cho đến khi có Ly giáo Đông-Tây chính thức xảy ra vào năm 1054.

Giáo hoàng và Tòa thánh Rome luôn có liên quan và ảnh hưởng chính trị với các Quân chủ Âu châu trong suốt thời Trung Cổ.

 

Rome = La Mã

Đấng Kitô = Cơ Đốc = Christ

Kitô giáo = Cơ Đốc giáo = Christianity

Thế giới Kitô giáo = Thế giới Cơ Đốc giáo = Christendom

Giáo hoàng = Pope

Tòa thánh = Holy See = Papacy

Giáo chủ = Patriarch

Ảnh hưởng của các vua người Ostrogothic (493-537)

 

Đế quốc Tây La Mã suy yếu và sụp đổ vì các người Rợ (barbarians)  từ miền Bắc của sông Danube chiếm Tây và Nam Âu.

Năm 493, người rợ Ostrogothic chiếm Rome.  Giáo hoàng đương nhiệm Gelasius I (492-496) là Giáo hoàng đầu tiên dưới quyền các vua người Ostrogothic nhưng cũng là Giáo hoàng đầu tiên xưng danh hiệu "vicar of Christ".  Vicar là cha sở, giáo chức đại diện ; "Vicar of Christ" là "Giáo chức đại diện của Đấng Kitô"  

Giáo hoàng Gelasius I cho rằng Giáo hoàng có quyền hành tối cao về tâm linh (spiritual authority) song song với Hoàng đế (của Đông La Mã / Byzantine) có quyền hành tối cao trong thế tục (temporal authority). 

 

Thực tế thì sau đó việc chọn Giáo hoàng tùy thuộc các vua người Ostrogothic.  Ngày 11-22-498 có 2 người được bầu làm Giáo hoàng.  Symmachus đút tiền cho vua Ostrogothic nên được (vua) chọn làm Giáo hoàng và Laurentius không được.  Giáo hoàng Symmachus là Giáo hoàng đầu tiên cho phép các Giáo hoàng về sau được dùng lại danh hiệu của Giáo hoàng trong quá khứ.  Giáo hoàng chọn trùng danh hiệu đầu tiên là Giáo hoàng John II (năm 530).


Ảnh hưởng của các Hoàng đế Byzantine (537-752) 

 

*

Năm 537, sau khi thắng chiến tranh Gothic và chiếm lại Rome, Hoàng đế Justinian I của Đế quốc Byzantine truất phế Giáo hoàng đương nhiệm Silverius (536-537) của người Ostrogothic và tự mình chọn Giáo hoàng mới là Vigilius (537-555).  Sau đó Hoàng đế Byzantine còn ra thêm những điều luật:

Lễ đăng quang của Giáo hoàng (episcopal consecration) phải được Hoàng đế  Byzantine chấp nhận.  

Giáo hoàng phải có liên hệ với Hoàng đế (Apo crisi arii) và phải là người cư ngụ ở Byzantine, Syria hay Sicily thay vì thuộc dòng quí tộc ở Rome.

Hoàng đế Justinian I sau đó chinh phục toàn bán đảo Ý và chỉ định 3 Giáo hoàng tiếp theo đó.  

 

Nhưng sau đó Giáo hoàng được chọn trực tiếp bởi Lãnh tụ của tỉnh Ravena (Exarchate of Ravena).  Rome thuộc tỉnh Ravena.  Lúc đó Ravena bao gồm cả bán đảo Ý.  Các Hoàng đế Byzantine dần dần không kiểm soát Giáo hoàng và Tòa thánh ở Rome bắt đầu trên thực tế độc lập và tự chủ từ thời Giáo hoàng Gregory the Great.

 

*

Giáo hoàng Gregory the Great (590-604)

 

Giáo hoàng Gregory the Great là 1 tu sĩ (monk) của tu viện St Andrew.  Được bầu làm Giáo hoàng nhưng ngài viết thơ gởi Hoàng đế Byzantine xin từ chối.  Vì lý do nào đó lá thư bị bí mật chặn lại không tới tay của Hoàng đế.  Sáu tháng sau, Hoàng đế Byzantine chính thức chấp nhận ngài làm Giáo hoàng.  Giáo hoàng Gregory the Great làm lễ đăng quang độc lập ở Đại giáo đường St Peter vào tháng 9 năm 590.

 

Đây là Giáo hoàng thứ nhì được có danh hiệu "the Great" sau Giáo hoàng Leo the Great, Gregory the Great tiếp nối đường hướng tương lai tốt đẹp như của Giáo hoàng Leo the Great.  Ngài chịu ảnh hưởng của thánh Augustine.  Giáo hoàng khẳng định quyền Giáo trưởng Giáo hội Kitô giáo của Tòa Thánh (Papal Primacy).

 

Công nghiệp của Giáo hoàng Gregory the Great gồm có:

Bố thí thực phẩm cho người cần và trông coi việc lập thủy lộ (aqueducts)

Điều đình hòa bình với người Lombards ở Bắc và Trung Ý.  Khi quân của người Lombards tới Rome, Giáo hoàng điều đình để họ rút lui (với điều kiện cống phẩm vật hàng năm).

Gởi cảc tu sĩ (monks) cũng như mình đi truyền giáo ở Bắc Âu và Bắc nước Anh.  

Giáo hoàng như một nhà cai trị thế tục dùng sự thành lập của tu viện để lan truyền quyền tâm linh khắp Âu châu.  Đó là kiểu mẫu của Tòa Thánh trong thời Trung Cổ.

 

Trong thế kỷ thứ 8 có tài liệu được công bố là Hoàng đế Constantine I của Đế quốc La Mã (vào thế kỷ thứ 4) trước khi chết có tuyên bố: "Ta cho đất và quyền hành cho Giám mục của Rome".  Chuyện "Quà tặng của Constantine" (Donation of Constantine) nầy là từ Giáo hoàng Gregory nhưng chuyện nầy không có thật.

 

*

Chiến tranh về Hình tượng thánh (Iconoclasm)

 

Từ thế kỷ thứ 8, Giáo hoàng ở Rome còn thực hành quyền tâm linh của mình trên cả Hoàng đế Byzantine.  Điển hình là Sự bài trừ và phá hủy Hình tượng thánh trong Đế quốc Byzantine hay còn gọi là Chiến tranh về Hình tượng thánh (Iconoclasm).  Có tất cả 2 lần: lần thứ nhất (726-787) và lần thứ nhì (814-842) với rất nhiều Hình tượng thánh bị phá hủy.

 

Hình tượng thánh (Icon) là công trình nghệ thuật thường là hội họa về chủ đề là Đấng Kitô (Christ), thánh Mary, các Thánh hay Thiên thần (angel) hay cảnh vật trong Thánh kinh.  Trên thực tế, Hình tượng thánh là hình ảnh về tôn giáo nên còn gọi là Hình thánh (holy portrait)

 

Hoàng gia của Đế quốc Byzantine nhất là Hoàng đế Leo còn cấm sản xuất những Hình tượng thánh, cho là (hành vi của) Tà giáo và được Hội nghị Toàn cầu lần thứ 7 (7th ecumenical council) công nhận vào năm 787.


 

Ảnh hưởng của vương quốc Frank (756-857)

 

*

Lãnh địa Giáo hoàng (Papal States)

 

Năm 751, vua Aistulf của vương quốc Lombards lấy Ravena và đe dọa Rome.  Giáo hoàng Stephens sang Paris cầu cứu với vua Pepin III của vương quốc Frank.  Vua Pepin III chiếm vùng đất Bắc Trung Ý của người Lombards gồm có Rome (754-756), và cho Giáo hoàng vùng đất nầy chứ không trả về cho Hoàng đế của Byzantine.  Đó là "Quà tặng của Pepin" (Donation of Pepin) vào năm 756.  Vùng đất nầy trở thành Lãnh địa Giáo hoàng (Papal States) và Giáo hoàng có thêm quyền lực thế tục, cai trị cho tới khi Lãnh địa Giáo hoàng nhập vào vương quốc Ý mới vào năm 1870 (tất cả 11 thế kỷ).  

 

Vương quốc Lombards theo Pagan (Đa thần giáo) và Arianism nhưng từ từ người dân chuyển theo Kitô Giáo.  Sau khi vua Aistulf chết, người Lombards lại tấn công Lãnh địa Giáo hoàng (Papal States).  Giáo hoàng Adrian cầu cứu vua Charlemagne của vương quốc Frank.  Vua Charlemagne chiếm hoàn toàn vương quốc Lombards nhập vào vương quốc Frank của mình (năm 776).

 

*

Hoàng đế Thánh La Mã (Holy Roman Emperor)

 

Năm 799, Giáo hoàng Leo III bị kẻ thù tấn công ở đường phố của Rome.  Họ muốn đâm mù mắt và cắt lưỡi Giáo hoàng thành người tật nguyền.  Ngài sợ quá, vượt núi Alpes sang cầu cứu sự hổ trợ của vua Charlemagne của vương quốc Frank.

Năm 800, Charlemagne sang Rome để tỏ tình ủng hộ Giáo hoàng.  Trong ngày lễ Giáng sinh năm 800, thay vì đội vương miện cho con của Charlemagne thành người thừa kế (theo như chương trình dự định), Giáo hoàng Leo III lại đội vương miện cho vua Charlemagne.  Do đó lịch sử viết là Charlemagne đăng quang từ Giáo hoàng và là Hoàng đế Thánh La Mã (đầu tiên) mặc dù Đế quốc Thánh La Mã chính thức thành danh từ vương quốc Đức sau đó hơn trăm năm. 

Hoàng đế Thánh La Mã = Holy Roman Emperor

Đế quốc Thánh La Mã = Holy Roman Empire 

 

Vua Charlemagne và con là vua Louis the Pious của vương quốc Frank phục hồi trí thức và văn hóa về văn học, nghệ thuật và điêu khắc.  Đó là thời kỳ Phục Hưng của triều đại Carolingian.  Nhờ đó, vấn đề mù chữ (illiteracy) của giáo sĩ được điều chỉnh.

 

Vua Louis the Pious xen vào việc bầu Giáo hoàng, ủng hộ bầu lên Giáo hoàng Eugene II.  Từ đó có lệ là Giáo hoàng đăng quang với sự hiện diện của vua của vương quốc Frank (Frankish kingdom). 


 

Ảnh hưởng của gia đình quí tộc ở Rome và Ý (858-955)

 

*

Trong khoảng 100 năm, gồm hậu bán thế kỷ thứ 9 và tiền bán thế kỷ thứ 10, Giáo hoàng và Tòa thánh không còn bị ảnh hưởng chặc chẽ từ các vua của vương quốc Frank.  Thường các Giáo hoàng được bầu lên từ những gia đình quí tộc hùng mạnh của Rome (và bán đảo Ý).  

Tòa thánh trong thời gian nầy có nhiều tai tiếng:

Thời gian trị vì của Giáo hoàng Nicholas (858-867) gọi là "Pornarchy".  

Thời gian trị vì rất ngắn: từ 897-955 (58 năm) có tới 17 Giáo hoàng

Sự kiện đàn ông mua chức vị trong giáo hội bằng cách mua đồ của nhà thờ (relic) và đổi lại được giáo hội cho chức vị thay vì lấy tiền, nhưng thường là không xứng với chức vị (Simony).

Sự kiện vi phạm tình trạng độc thân của giáo sĩ.  Vài giáo sĩ cưới vợ nhưng thường là có vợ bé (Nicolaitanism).

 

*

Thời kỳ Tăm Tối (904-964)

 

Giai đoạn từ bắt đầu thời Giáo hoàng Sergius III (năm 904) cho tới hết thời Giáo hoàng John XII (năm 964) gọi là Thời kỳ Tăm Tối (Saeculum Obscurum = The Dark Ages) của lịch sử Công giáo.  Tòa thánh bị ảnh hưởng của một gia đình quí tộc rất thối nát nhưng hùng mạnh.  Đó là gia đình Theophylacti của Theophylact I, Công tước của Tusculum (Count of Tusculum) và bà con của ông.  Vợ của Theophylact, Theodora, và con gái là Marozia ảnh hưởng trên việc lựa chọn Giáo hoàng và những sự vụ tôn giáo (religious affairs) khác ở Rome qua tình sự (love affair), hôn nhân và âm mưu (conspiracies).

Marozia thành vợ bé (concubine) của Giáo hoàng Sergius III lúc 15 tuổi, và sau đó lấy nhiều chồng và có nhiều người bạn tình.  Bà có nhiều con, trong đó có con với Giáo hoàng Sergius III.

Marozia sắp đặt việc sát hại người tình của Theodora là Giáo hoàng John X (vốn được má của bà là Theodora cử lên làm Giáo hoàng) qua chồng của Bà trong lúc đó là Guy of Tuscany, có thể là để nâng người Bà thích lên làm Giáo hoàng, đó là Giáo hoàng Leo VI.  Không có hồ sơ nào bảo đảm là Giáo hoàng John X thật sự qua đời trước khi Leo VI được chọn làm Giáo hoàng vì John X đã bị Marozia cầm tù và không ai được thấy mặt ngài trong khi đó.  Giáo hoàng John X chắc chắn là người tình (lover) của Theodora, mẹ của Marozia.

Marozia dự định chắc chắn là con của Bà (và Giáo hoàng Sergius III), John, sẽ thành Giáo hoàng.  Đó là Giáo hoàng John XI.  

Có 12 Giáo hoàng trong thời kỳ Tăm tối nầy (904-964).  Giáo hoàng cuối cùng là John XII là cháu nội của Marozia, con của Công tước Alberic II (of Spoleto).  Công tước Alberic II nầy là con của Marozia và Công tước Alberic I (of Tusculum).

Những việc làm lung lạc của Theodora và Marozia thành công vì những nhà lãnh đạo chính trị ở Rome kiểm soát hữu hiệu việc bầu Giáo hoàng.  Kẻ thù của những nhà quí tộc lãnh đạo nầy là Liutprand, Giám mục của Cremona, đã tiết lộ những hành vi của Marozia và Theodora trong thời Tăm tối nầy (Saeculum obscurum).

 

Giáo hoàng cuối cùng của thời Tăm tối là John XII (955-964).  Năm 962, Giáo hoàng John XII làm lễ đăng quang cho Hoàng đế Đức Otto I thành Hoàng đế Thánh La Mã và Đế quốc Đức thành ra Đế quốc Thánh La Mã.  Từ đó Giáo hoàng và Tòa thánh có liên hệ gián tiếp hay trực tiếp với Hoàng đế Thánh La Mã.


 

Ảnh hưởng của Đế quốc Thánh La Mã (962-1250)

 

*

Hoàng đế Thánh La Mã và Đế quốc Thánh La Mã

 

Năm 843, sau khi vua Louis the Pious qua đời, vương quốc Frank (Frankish kingdom) chia ra làm 3 vương quốc (Miền Đông, Miền Tây và Miền Trung).  Năm 870, vương quốc Miền Trung chia làm hai và sát nhập vào vương quốc Miền Đông và Miền Tây.  Vương quốc Miền Đông thành ra vương quốc Đức (kingdom of Germany) và vương quốc Miền Tây thành ra vương quốc Pháp (kingdom of France). 

Otto I thành Hoàng đế của vương quốc Đức (kingdom of Germany) vào năm 936.

Năm 955, vua Otto I đoàn kết các bộ lạc Đức và đánh bại người Hung xâm lăng ở trận Lechfeld.

Vua chinh phục vương quốc Ý gồm Bắc và Trung Ý ngày nay (trừ nước Cộng Hòa Venice và Lãnh địa Giáo hoàng) vào năm 961 và chính thức lập nên Đế quốc Đức gồm có: vương quốc Đức (Germanic kingdom), vương quốc Bohemia, vương quốc Burgundy và vương quốc Ý.

 

Năm 962, vua Otto I được Giáo hoàng John XII phong là Hoàng đế Thánh La Mã (Holy Roman emperor).  Từ đó Đế quốc Đức được lịch sử gọi là Đế quốc Thánh La Mã (Holy Roman empire).

Đăng quang của Otto I thành Hoàng đế Thánh La Mã làm sống lại ý niệm có một Hoàng đế của Thế giới Kitô giáo (Christendom) ở miền Tây (theo truyền thống của Đế quốc Tây La Mã).  Nó bắt đầu một chuổi liên tục của Hoàng đế Thánh La Mã kéo dài 8 thế kỷ.  Otto I thật ra không tự xưng mình là Hoàng đế Thánh La Mã nhưng con là Otto II bắt đầu dùng danh hiệu nầy.  Đó là tình trạng rõ ràng miền Tây và Giáo hoàng độc lập với một Hoàng đế của Thế giới Kitô giáo khác ở Constantinople của Đế quốc Byzantine.

 

Otto I và con (Otto II) rồi cháu (Otto III) tự coi Hoàng đế là người bảo hộ và kiểm soát Tòa Thánh.  Họ bỏ hay lập Giáo hoàng tùy theo ý mình, có khi còn đổi ý giữa chừng.  Quyền lực nầy và lãnh thổ của họ chiếm gần hết vùng Trung Âu làm cho đế quốc Đức nầy và Hoàng đế Thánh La Mã có uy tín nhất trong thế kỷ thứ 10.

 

*

Các Giáo hoàng thuộc Dòng họ Theophylacti

 

Sau vài Giáo hoàng thuộc dòng họ Crescentii cho tới năm 1012, Dòng họ Theophylacti sau đó vẫn được chọn làm Giáo hoàng: 

Giáo hoàng Benedict VIII (1012-1024): con của Công tước Gregory I (of Tusculum).  Gregory I là con của Alberic II của Spoleto và là anh của Giáo hoàng John XII.  Marozia lấy Công tước Alberic I (of Spoleto) và sinh ra Công tước Alberic II (of Spoleto). 

Giáo hoàng John IX (1024-1032): em út của Giáo hoàng Benedict VIII và Công tước Alberic III (of Tusculum).  Cả 3 người là con của Công tước Gregory I (of Tusculum).

Giáo hoàng Benedict IX (1032-1044; 1045; 1047-1048): con của Công tước Alberic III (of Tusculum).

Antipope Benedict X (1058-1059): con của Công tước Alberic III (of Tusculum).

 

Giáo hoàng Benedict IX là cháu (nephew) của Giáo hoàng tiền nhiệm John IX.  Tháng 10, 1032; cha của ngài dùng hối lộ cho ngài được chọn làm Giáo hoàng.  Một số người dân ở Rome không đồng ý, đuổi Giáo hoàng Benedict IX ra khỏi Rome và Giáo hoàng Sylvester III được bầu lên kế nghiệp.  Vài tháng sau Benedict IX có người ủng hộ đuổi Sylvester III và về Rome làm Giáo hoàng.  Giáo hoàng Benedict liền thoái vị, nhường cho Cha đỡ đầu (Godfather) của mình làm Giáo hoàng sau khi được ông nầy trả tiền.  Đó là Giáo hoàng Gregory VI.  Sau đó, Benedict IX suy nghĩ lại nên trở về Rome và toan tính lật đổ Gregory VI.  

Hàng giáo phẩm cao cấp kêu nài với Hoàng đế Henry III của Đế quốc Đức (Đế quốc Thánh La Mã).  Hoàng đế Henry đem quân Đức qua ải Brenner vào Ý và triệu tập Hội nghị Sutri.  Theo Hội nghị Sutri, cả 3 Giáo hoàng Benedict IX, Syvester III và Gregory VI đều bị lật đổ.  Hoàng đế Henry chọn Giám mục của Bamberg, Suidger von Morsleben, làm Giáo hoàng.  Đó là Giáo hoàng Clement II vào tháng 12 năm 1046.  Ngay sau đó, Hoàng đế dùng Giáo hoàng Clement II làm lễ đăng quang cho mình thành Hoàng đế Thánh La Mã. 

*

Sau hơn 10 năm kế tiếp Hoàng đế Henry III tự mình chọn 4 trong số 5 Giáo hoàng.  Năm 1054, dưới thời Giáo hoàng Leo IX, người được Hoàng đế Henry III chọn làm Giáo hoàng, có xảy ra Ly Giáo Đông Tây (East-West Schism).

 

Tuy nhiên khi tạo ra Hoàng đế Thánh La Mã và Đế quốc Thánh La Mã, các Giáo hoàng không dự định là phải chịu khúm núm trước các Hoàng đế Thánh La Mã.  Sự xung đột giữa 2 quyền lực không tránh khỏi.  

 

*

Giáo hoàng Nicholas II

 

Sau khi Henry III chết, Giáo hoàng Nicholas II (bầu lên năm 1058) bắt đầu chương trình cải cách tạo ra sự căng thẳng giữa Đế quốc và Tòa Thánh.

 

Năm 1059, tại Hội nghị tôn giáo (synod) ở Rome, Giáo hoàng Nicholas II kết tội những lạm dụng đã có trong Giáo hội, gồm có: Mua bán chức vụ Giáo sĩ (Simony = the selling of clerical posts), Giáo sĩ kết hôn (Nicolaitanism) và vấn đề bàn cãi nhiều nhất là sự đồi bại trong việc bầu Giáo hoàng.

Giáo hoàng Nicholas II ra sắc lệnh In NomineDomini (1059): giao quyền đầu phiếu bầu Giáo hoàng cho Hội đồng Hồng y (College of Cardinals), làm căn bản cho công việc bầu Giáo hoàng của Mật nghị Hồng y (Papal Conclave).  Đó là do đề nghị của Hồng y Hildebrand, sau nầy là Giáo hoàng Gregory VII.  Giáo hoàng Nicholas II giới hạn việc lựa chọn Giáo hoàng cho Mật nghị Hồng y và loại trừ những ảnh hưởng của tục nhân (lay).

 

Năm 1061, hội đồng Giám Mục của nước Đức, phe của Hoàng đế bác bỏ những lệnh trên của Giáo hoàng.  Nhưng trong khi đó, Giáo hoàng có đồng minh mới.  Giáo hoàng phong đất cho người Normans ở Nam Ý và Sicily để thành chư hầu (vassal) của Giáo hoàng ở Rome với mục đích có sự ủng hộ của một quyền lực thế tục khác.

 

*

Giáo hoàng Gregory VII và Tranh cãi về Quyền phong chức (Investiture Controversy)

 

Tòa thánh tiếp tục cải thiện khi Hồng y Hildebrand được bầu làm Giáo hoàng Gregory VII (1073-1085).  Ngài có nhiều quyết định không ai chống lại nỗi:

Đòi hỏi tất cả giáo sĩ (priest) phải độc thân.

Đối chọi về quyền bổ nhiệm Giám mục và giáo sĩ (Investiture) với Hoàng đế Henry IV của Đế quốc Thánh La Mã (1075).  Từ đó cuối cùng dẫn tới Concordat of Worm (1122) với thấng lợi hoàn toàn của Tòa thánh.

 

Tranh cãi về quyền bổ nhiệm Giám mục và giáo sĩ giữa Giáo hoàng Gregory VII và Hoàng đế Thánh La Mã Henry IV là xung đột đáng kể nhất giữa quyền lực thế tục và tôn giáo trong thời Trung Cổ.

Lúc đầu trong thời Trung Cổ đó là quyền của những quốc vương.  Nhiệm kỳ của một Giám mục là suốt đời.  Với quyền bổ nhiệm nầy, các quốc vương kiểm soát quyền lực và tài chánh trong Giáo phận tức là một vùng trong vương quốc.  Có khi họ bổ nhiệm cho một vị quí tộc thân tín của mình làm Giám mục.  Giáo hội muốn cải cách giáo khu và giáo phận (Episcopate) và cải thiện việc hành đạo của giáo sĩ.  

Do đó vào năm 1075, Giáo hoàng Gregory VII ra sắc lệnh Dictatus Papae: không lãnh tụ thế tục nào được bổ nhiệm người trong Giáo hội và chỉ có Giáo hoàng có quyền bổ nhiệm (appoint) Giám mục.  Giám mục và Tu Viện trưởng (Abbot) là người của Giáo hoàng chứ không phải của Hoàng đế.  Vấn đề được gọi là Sự tranh cãi về lễ phong chức (Investiture controversy).  

Các lãnh đạo thế tục không thể mất được quyền lực nầy vì quyền lực và sự giàu có phong kiến dính liền với những chức vụ nầy.  Và giáo sĩ cao cấp thường là có học thức là những thành viên quan trọng của chính quyền thế tục.

 

Sự tranh cãi nầy (1075) dẫn đến sự tranh đấu quyền lực trong hàng chục năm (1076-1138).

Hoàng đế Henry IV gởi thơ cảnh cáo Giáo hoàng Gregory VII vào năm 1076.  Giáo hoàng trả lời bằng cách trục xuất Hoàng đế khỏi Giáo hội.  Henry IV phải đi bộ từ Đức sang Ý tới Canossa, đứng chờ ngoài tuyết 3 ngày trước chỗ ở của Giáo hoàng mới được Giáo hoàng tiếp kiến và tha tội.  Nhờ lễ giải tội (penance) ở Canossa nầy, sự trục xuất của Hoàng đế Henry IV được dẹp bỏ.  

(Trục xuất = Excommunication = Trục xuất khỏi Giáo hội hay khỏi Kitô giáo). 

 

Nhưng cuộc đình chiến nầy ngắn ngủi, những kẻ thù của Hoàng đế Henry IV bắt đầu ra tay sau hành động của Giáo hoàng.  

Theo luật, Đế quốc Đức (Đế quốc Thánh La Mã) gồm nhiều tiểu quốc và vương tử của những tiểu quốc và giới quí tộc bầu Hoàng đế.   Các vương tử Đức chống lại Henry IV và bầu Rudolf , công tước của Swabia, làm Hoàng đế (vào năm 1077).  Rudolf và Henry khởi nội chiến, và Henry thắng vào năm 1080.  Khi đó Giáo hoàng công nhận Rudolf là Hoàng đế của nước Đức và lại trục xuất Henry IV.

Henry IV triệu tập hội nghị truất phế Giáo hoàng Gregory VII và bầu Tổng Giám mục của Ravena làm Giáo hoàng (là Giáo hoàng Clement III).  Henry IV đem quân sang Ý, vào Rome và làm lễ đăng quang, được Giáo hoàng mới Clement đội vương miện.  Trong khi đó Giáo hoàng Gregory VII bị quân Đức vây ở trong tòa thành (fortress) Castel Sant' Angelo.

Giáo hoàng Gregory VII viện quân chư hầu là người Normans ở Nam Ý và Sicily (gần đây họ đã chinh phục vùng nầy và được Giáo hoàng phong cho vùng đất nầy).  Quân Normans chiếm Rome (1084) đuổi quân Đức về xứ và giải thoát Giáo hoàng Gregory VII.  Nhưng quân Normans cướp phá Rome dữ dội, gây hổn loạn tại đây.  Giáo hoàng phải chạy về miền nam và chết ở Sicily vào năm 1085.

Giáo hoàng Clement III trở lại và trị vì ở Rome trong 10 năm kế tiếp với sự ủng hộ của Đế quốc Đức (Thánh La Mã).  Giáo hội bầu Giáo hoàng mới là Urban II và vài năm sau Giáo hoàng Urban II mới trở lại Rome.  

Giáo hoàng Urban II là Giáo hoàng kêu gọi cuộc Viễn chinh Thập tự quân (Crusade) lần thứ nhất (năm 1095). 

 

*

Chánh giáo Điều ước (Concordat)

 

Trong khi đó lại có xung đột giữa vua Henry I của Anh và St Ansel (Tổng Giám mục của Canterbury) cũng về vấn đề bổ nhiệm Giám mục ở nước Anh và vua được thu lợi tức của Giáo phận nào mà không có hay chưa có Giám mục.  Cuối cùng 2 bên đồng ý với Chánh giáo Điều ước ở London, theo đó vua từ bỏ việc đầu tư từ Giám mục nhưng Giám mục được chọn phải thề trung thành với nhà vua.  

Chánh giáo Điểu ước ở London dẫn tới Chánh giáo Điều ước ở Worm là hiệp ước giữa Giáo hoàng Callixtus II và Hoàng đế Henry V của Đế quốc Thánh La Mã (năm 1122) ở thành phố Worm: sự chọn lựa Giám mục tùy thuộc nghị định từ Giáo hội.  Giáo hoàng và Giáo hội thành công, dành được quyền bổ nhiệm Giám mục và giáo sĩ.

Chánh giáo Điều ước ở Worm chấm dứt xung đột quyền lực giữa Giáo hoàng và Hoàng đế Thánh La Mã.    

(Concordat = Chánh giáo Điều ước = hòa ước giữa một chính phủ và một Giáo hoàng).

 

*

Hoàng đế Henry V (1106-1125) là hoàng đế cuối cùng của triều đại Salian.  Đế quốc Đức chuyển qua dưới triều đại Hohenstaufen.  Từ đó Lãnh địa Giáo hoàng (ở Trung Ý) được yên ổn giữa Đế quốc Thánh La Mã (Đức) ở phía Bắc (gồm Bắc Ý) và vương quốc Sicily (gồm Nam Ý và đảo Sicily).  Giáo hoàng và Tòa thánh ngoài quyền lực tâm linh còn có quyền tối cao trên các nhà Quân chủ Âu châu, kể cả Hoàng đế Thánh La Mã.

 

Những Giáo hoàng có quyền lực nhất trong thời kỳ nầy là:

Giáo hoàng Alexander III (1159-1181)

Giáo hoàng Innocent III (1198-1216)

Giáo hoàng Gregory IX (1227-1241)

Giáo hoàng Innocent IV (1243-1254)

 

*

Giáo hoàng Innocent III

 

Quyền lực của Giáo hoàng và Tòa thánh đạt tới tuyệt đỉnh (zenith) vào thời Giáo hoàng Innocent III (1198-1216).  Những đặc điểm của Giáo hoàng Innocent III:

Tuyên bố khi đăng quang: "Tòa Thánh, ngày hôm nay Ta bổ nhiệm ngươi trên các quốc gia".

Dạy rằng: Giáo hoàng đứng giữa Thiên Chúa và Người, như là người trung gian và Cha Sở của Christ (Vicar of Christ).  Với danh hiệu nầy, Giáo hoàng có quyền tối cao trên cả các nhà Quân chủ thế tục.

Mở ra Transubstatiation (sự biến chuyển) ở Hội nghị Lateran lần thứ 4 (4th Lateran council).

 

Có thêm quyền lực chính trị thế tục rất mạnh, Giáo hoàng Innocent III bắt buộc vua Philip II lấy lại vợ của mình vì lý do để ly dị không đúng; bắt buộc một vua khác ly dị vợ vì vợ là bà con gần; và bắt buộc vua Peter of Aragon nhận vương quốc như là 1 đất phong cho của Giáo hoàng.

 

*

Hoàng đế Frederick II

 

Năm 1220, Hoàng đế Frederick II of Hohenstaufen (1194-1250), Hoàng đế của Đức và vua của vương quốc Sicily, được phong làm Hoàng đế Thánh La Mã.  Hoàng đế thừa hưởng được Đức và Sicily vì mẹ là Hoàng hậu Constance của vương quốc Sicily và cha là Hoàng đế Henry VI của Đế quốc Đức (Đế quốc Thánh La Mã).  Frederick II sống xa hoa ở Sicily, lại là người học giỏi được mệnh danh là "Kỳ quan của Hoàn cầu" (Wonder of the World).  Hoàng đế Frederick II còn tổ chức Viễn chinh Thánh địa thứ 6 (1228-1229). 

 

Tham vọng của Hoàng đế  ở Ý làm Hoàng đế Frederick II có va chạm với Giáo hoàng và bị trục xuất chính thức 4 lần (1227-1239) và bị truất phế (1245).  Có 2 đảng ở bắc Ý: the Ghibellines (ủng hộ Frederick II) và the Guelphs (đồng minh với Giáo hoàng).  Hai đảng kình chống nhau cho đến khi Hoàng đế Frederick II qua đời (1250) và triều đại Hohenstaufen chấm dứt.  

 

Rối loạn ở khắp Đức và Ý tạo ra những Thành phố-Quốc gia (City-States) và sau đó Tòa thánh và Giáo hoàng phải dời về ở Avignon (Pháp) vào thời Hậu Trung Cổ (Late Middle Age).



 

GIÁO HỘI CÔNG GIÁO TRONG THỜI TRUNG CỔ

 

*

Chế độ Phong Kiến (Feudalism)

 

Sự tan vỡ của Đế quốc La Mã rồi đến những cuộc tấn công của người Hồi giáo và người Vikings tạo nên sự phân tán của Tây Âu (gồm miền Tây Nam, miền Tây và miềnTrung của Âu châu).  Dân chúng tìm những lãnh tụ hùng mạnh để giúp bảo vệ mình.  Từ thế kỷ thứ 8, một hệ thống quyền lợi và bổn phận phát triển giữa những Lãnh chúa (Lord) và những Chư hầu hay Bồi thần (Vassals) của mình,  những người mà Lãnh chúa phải bảo vệ.  Đó gọi là chế độ Phong Kiến.  Đổi lại cho sự bảo vệ, và thường cấp cho một Thái ấp (Fief), hay vùng đất (land), Chư hầu hay Bồi thần phải phục vụ trung thành với Lãnh chúa của mình, làm bổn phận quân sự và trả những nợ khác (như thuế má).  Lãnh chúa là vua hay hoàng đế (quân chủ = monarch) hay nhà quí tộc.

 

Hệ thống từ trên xuống dưới là: 

Vua (King) hay Hoàng đế (emperor)

Nhà quí tộc (Nobles): những địa chủ lớn

Nhà quí tộc nhỏ hơn (Lesser Nobilities): những địa chủ nhỏ và yếu thế hơn.

Hiệp sĩ (Knights): những kỵ sĩ được ban cho Thái ấp để cho mình và cho người chung quanh sinh sống (quyến thuộc, bạn bè...)

Người Tự do (Free Men) hay Nông dân tự do (Free Peasant): sống trong những Thái ấp, trả cho Lãnh chúa tiền mướn hay những nợ khác.

Người nô lệ hay Nông nô (Villein and Serf): chịu đầu hàng sự tự do của mình và phải bị ràng buộc trong Thái ấp.  Họ phải làm việc cho Lãnh chúa rất nhiều ngày trong năm và cũng phải trả tiền mướn cũng như những nợ khác.

Kinh tế chính của thời Trung Cổ là nông nghiệp. 

 

*

Cấu trúc của Giáo hội Kitô giáo

 

Giáo hội Công giáo lúc đầu là Giáo hội ở Miền Tây của Kitô giáo, phân biệt với Giáo hội Miền Đông của Kitô giáo, Giáo hội Chính Thống giáo.  Giáo hội Kitô giáo trong thời Trung Cổ trên thực tế vì nhiều sự khác biệt nên đã chia ra (mặc dù chưa chính thức) làm 2: Giáo hội miền Tây và Giáo hội Miền Đông khi Đế quốc La Mã chia ra làm 2: Đế quốc Đông La Mã và Đế quốc Tây La Mã bởi Hoàng đế Diocletian.  Sau năm 476, Đế quốc Tây La Mã sụp đổ, thì Đế quốc Đông La Mã đổi tên thành Đế quốc Byzantine.  

Vào thời Trung Cổ, Âu châu từ có một quốc gia là Đế quốc La Mã thành ra có nhiều quốc gia (vương quốc hay đế quốc).  Giáo hội Miền Tây truyền giáo và hành giáo khắp Tây Âu còn Giáo hội miền Đông truyền giáo và hành giáo khắp Đông Âu và Đế quốc Byzantine.  Tây Âu (gồm miền Tây Nam, miền Tây và miền Trung của Âu châu).  

 

Ly Giáo Đông Tây chính thức xảy ra vào năm 1054.  

Giáo hội Kitô giáo miền Đông có danh hiệu là Giáo hội Chính Thổng giáo ở Miền Đông (Eastern Orthodox Church) lãnh đạo bởi Giáo chủ ở Constantinople, trông coi giáo dân ở Đông Âu (Eastern Europe) và Byzantine.  Giáo hội Chính Thống giáo dùng tiếng Hy Lạp.

Giáo hội Kitô giáo Miền Tây có danh hiệu là Giáo hội Công giáo La Mã (Roman Catholic Church) lãnh đạo bởi Giáo hoàng ở Rome, trong coi giáo dân ở Tây Âu (Western Europe) và nước Hung của Đông Âu.  Giáo hội Công giáo dùng tiếng La Tinh nên Thế giới Công giáo còn gọi là Thế giới Kitô giáo La Tinh (Latin Christendom). 

 

Giáo hội là Cộng đồng toàn thể.  

Giáo hội có nhiều Giáo khu (Parish) với những Nhà thờ (church) trông coi và lãnh đạo bởi những Linh mục (Priest) và Thầy Trợ tế (Deacon).  

Nhiều Giáo khu hợp lại thành Giáo phận (Diocese) trông coi và lãnh đạo bới một Giám mục.  Giám mục làm việc với trụ sở gọi là Tòa Giám mục có những Linh mục và Thầy Trợ tế phụ tá cho Giám mục.  Tòa Giám mục thường ở thành phố lớn với nhà thờ của Giám mục gọi là Giáo đường (cathedral).  

Những Giáo phận và Giám mục dưới quyền một Tổng Giáo mục trông coi tất cả.  Những Giáo phận nầy hợp lại gọi là Tổng Giáo phận (Archdiocese).  Tổng Giám mục cũng có Tòa Tổng Giám mục với những Linh mục và Thầy Trợ tế phụ tá, thường ở kinh đô hay đô thị rất lớn và làm lễ ở nhà thờ riêng cho Tổng Giám mục, cũng goị là Giáo đường (Cathedral).  Đại Giáo đường hay Thánh đường (Basilica) là nhà thờ được riêng Giáo hoàng đặt tên cho do tầm quan trọng của nó về một phương diện nào đó.

Một Giáo hoàng (Pope) ở Rome có quyền lãnh đạo tối cao toàn Giáo hội, trông coi các Tổng Giám mục.  Trụ sở và quyền hành của Giáo hoàng là Tòa thánh (Papacy = Holy See), cũng ở Rome.  Giáo hoàng có một triều đình ở Rome, cai trị toàn Thế giới Thiên Chúa Giáo gốc La Tinh (Latin Christendom).

 

Ngoài những giáo sĩ sống trong Giáo khu, còn có thành viên của những Dòng tu (religious orders): Tu sĩ (monk), Nữ tu (nun), Thầy dòng (canons and friar).  Phần nhiều họ sống trong những Tu viện (monasteries) với những thành viên khác trong Dòng tu (của họ).  Tu viện (monastery) là nơi cư ngụ của những người đã xuất thế tục vì lý do tôn giáo.

 

*

Quyền lực Tâm linh

 

Giáo Hội đem ý nghĩa, mục đích và luật lệ cho đời sống của người dân trong thời Trung Cổ (medieval people).  Giáo Hội là một quyền lực tâm linh cho xã hội thời Trung Cổ.

 

Đại đa số người dân tin là hạnh phúc chỉ có trên Thiên đàng, tuy nhiên không có gì chắc chắn là được lên thiên đàng (heaven).  Cũng có thể là khổ kiếp (damnation) trong địa ngục (hell), thể hiện qua hình ảnh với những chi tiết linh động ở mọi công trình nghệ thuật của thời đại (Trung Cổ).

Như vậy thì con đường giải thoát ở thiên đàng là như thế nào?  Đó là hiểu biết và theo ý Chúa (God's will) như là được nói rõ trong giáo lý của Giáo hội (church doctrine).  Ý Chúa chỉ học được từ giảng dạy của Tăng lữ (clergy), những giáo sĩ thọ giới (ordained priest) của Giáo hội.  Đó là bổn phận tâm linh chính của Giáo hội làm trung gian giữa cá nhân và Thiên Chúa (God) và từ bổn phận nầy là căn bản của tất cả những bổn phận khác của Giáo hội.

Nếu sư hứa hẹn giải thoát là to lớn, đe dọa của khổ kiếp trong địa ngục còn lớn hơn nữa.  Khổ kiếp nầy là điều chắc chắn cho những ai bị Giáo hội trục xuất (excommunicated) khỏi Giáo hội.  Một người đã bị trục xuất bị cấm không được vào nhà thờ và tham gia phép Bí Tích (sacrament), một lễ cần thiết để bảo đảm được giải thoát.  Giáo hội dùng vũ khí rất mạnh nầy đối ngược lại những ai dám thách đố quyền lực của Giáo hội và chối bỏ đức tin của Giáo hội.

 

Với những lý do trên, Giáo hội dưới sự lãnh đạo của Giáo hoàng, Tòa thánh và Tăng lữ có quyền lực rất lớn đối với con người trong mọi tầng lớp của xã hội Phong kiến thời Trung Cổ.

 

*

Bổn Phận chính trị (Political Function)

 

Giáo hội đòi quyền lực không những chỉ trong tổ chức của mình mà còn cả các chính phủ thế tục (secular governments), tức là chính phủ của các vị vua (kings) hay lãnh chúa (lords).  Khi các vị vua ở Âu châu bắt đầu có sức mạnh, Giáo hội cố gắng giữ quyền lực tối cao bên trên các vị vua.  Điều nầy có thể làm được bằng cách Giáo hội hổ trợ các bồi thần phong kiến (feudal vassals) trong việc tranh cãi (của họ), giải phóng bồi thần khỏi lời thề trung thành (oaths of fealty) với nhà vua hay lãnh chúa.  Một vũ khí khác là Giáo hoàng đôi khi đe dọa trục xuất nhà vua hay lãnh chúa khỏi Giáo hội (excommunication). 

 

Bắt đầu thế kỷ thứ 13, Giáo hoàng bắt đầu tự nhận mình là tối cao, trên tất cả những lãnh tụ thế tục (temporal rulers).  Điều nầy gây ra sự tranh dành (clash) với những Quân chủ (Monarchs) của Âu Châu nhất là Hoàng đế Thánh La Mã (Holy Roman Emperors).  Giáo hoàng Innocent III (1198-1216) công bố rằng Tòa thánh là tối cao, trên Hoàng đế Thánh La Mã (Holy Roman Emperor).  

Tranh dành thường là về những vấn đề như đánh thuế (taxation), sự lựa chọn trong hoàng gia và quí tộc (imperial election) và sự bổ nhiệm trong giáo hội (church appointments).

 

*

Hàng ngũ Hiệp sĩ (Knighthood)

 

Giới quí tộc của thời Trung Cổ là một giai cấp quân sự.  Lúc khởi đầu của thời Trung Cổ (early Middle Age), 1 ông vua (rex) thu hút một băng gồm những chiến sĩ trung thành (comes), trả tiền để cho đi chinh phục.  Sau đó theo tiến triển của thời Trung Cổ, hệ thống nầy mở mang thành tập đoàn phức tạp của những liên hệ và bắt buộc trong chế độ phong kiến.  Rồi thế giới Kitô giáo được giới quí tộc của những người man rợ (barbarians) chấp nhận, Giáo hội tìm cách ngăn ngừa đất đai và tăng lữ của Giáo hội (cả hai đều từ giới quí tộc) bị rối loạn trong vũ lực của những sự đấu tranh.  Từ thế kỷ 11, tăng lữ và nông dân được miễn nhiễm khỏi sự hung tàn (violence) theo "Pax dei" (peace of God).  Kế đó những chiến sĩ tinh nhuệ (warrior elite) trở thành "thánh" (sanctified), thí dụ như đánh nhau trong ngày lễ thì bị cấm, theo "Truega dei" (truce of God).  

 

Ý niệm Hiệp sĩ đạo được tạo ra nhấn mạnh tới danh dự (honor) và trung thành trong vòng các Hiệp sĩ.  Với sự giáng sinh của cuộc viễn chinh của Thập Tự quân (Crusade), những Dòng Thánh của Hiệp sĩ được thành lập, tự coi là được kêu gọi bởi Thiên Chúa để bảo vệ thế giới Kitô giáo chống lại người Hồi giáo (muslim) ở Tây Ban Nha, Ý và Thánh địa (Holy land); và người theo Đa Thần giáo (pagan) ở Đông Âu.  Hoạt động nầy đem lại giàu sang và quyền lực.  

 

*

Quyền Lực Kinh Tế (economic power)

 

Ngoài sức mạnh chính trị, Giáo hội thời Trung Cổ còn giữ quyền lực đáng sợ về kinh tế.  Giáo hội là địa chủ giữ nhiều đất nhất ở Âu châu, với Tòa thánh quản trị rộng lớn những địa ốc (real estates), rừng gỗ (timberlands) và hầm mỏ (mines).  Thêm nữa, Giáo hội thu thập số lượng tiền rất lớn nên trở thành cơ quan tài chánh lãnh đạo ở Âu châu.  

Giáo hội nhận lợi tức đều đặn (regular revenue) từ "Thuế Thập Phân" (a Tithe) của người dân (1/10 của lợi tức của một người).  Thường là thuế nầy từ (Giáo hội) bán "việc bổ nhiệm" một chức vị trong hàng giáo phẩm (hierachy) hay từ (Giáo hội) chính thức tha tội (pardons for sins).  Trong khi đó cũng có những nhả cải cách trong và ngoài Giáo hội cố sửa đổi những điều quá đáng nầy.

 

Những lãnh chúa (lords) và nhà quí tộc giàu có sẽ cho tu viện và giáo phận địa ốc để đổi lại những thánh lễ cầu hồn cho những người thân yêu của họ.  Dù cho đó không phải là dự định nguyên thủy của Benedict nhưng những luật tu viện của ông làm tu viện thêm vững chắc vì làm những bất động sản nầy (từ giới quí tộc) gia tăng sản xuất.  Một tu sĩ thường được nâng lên ngang hàng với quí tộc vì là Nông nô (serf) của địa ốc coi chừng lao động trong khi những tu sĩ khác tự do học hỏi.  Tu viện do đó thu hút được nhiều nhân tài trong xã hội, và trong thời gian nầy là trung tâm tàng trữ và sản xuất trí thức (knowledge). 

 

*

Bổn Phận xã hội và văn hóa (Social and Cultural Functions)

 

Mặc dù Giáo hội bị tố cáo là tham lam nhưng ta phải nhớ là Giáo hội Trung Cổ cần những nguồn lợi lớn (resources).  Trong thời Trung Cổ, Giáo hội làm những bổn phận mà trong thế giới hiện đại chúng ta phải nhờ những tổ chức khác.

 

Những Tu viện mở mang truyền thống về học hỏi và giảng dạy.  Các Tu sĩ chép lại bằng tay những công trình của những tác giả cổ điển và những văn thi sĩ Công Giáo lúc sơ khai.  Trường học ở Tu viện dạy đọc và viết cho trẻ con muốn thành tu sĩ (monks).  Trường học của giáo đường (cathedral) hay giáo khu (parish) giáo dục trẻ con dự định thành giáo sĩ trong giáo khu.

 

Giáo hội đem thẩm mỹ (beauty) và giá trị (dignity) vào đời sống cho những ai không có.  Những giáo đường Gothic được dựng lên cho giáo dân thuộc mọi giới đến thờ phượng như Notre Dame ở Paris. 

 

*

Vấn đề Kỳ thị người Do thái (Anti-Semitism)

 

Kỳ thị người Do Thái là rất thông thường một phần là vì người Do Thái từ chối theoKitô Giáo và là những người làm nghề cho vay tiền (money lenders), đó là việc cấm cho những người Kitô giáo.  Trong suốt và ngay cả sau thời Trung Cổ, người Do Thái ở Âu châu bị cô lập trong những ghettos, bị áp lực phải từ bỏ đạo của mình, bị đày ra khỏi đất mẹ và bị tàn sát.  

Mặc dù bị ngược đãi như vậy, hầu hết người Do Thái vẫn giữ đức tin của mình.  Họ có những học giả (scholars) dịch Thánh Kinh cũ và phát triển một nền văn học và triết lý của Do Thái truyền thống trong thời Trung Cổ.

 

*

Chế độ Tu viện (Monasticism)

 

Chế độ Tu viện bắt đầu ở Ai Cập vào thế kỷ thứ 3 khi người Kitô giáo (Christians) bắt đầu ẩn lánh vào sa mạc để sống như là người Ẩn tu khổ hạnh (Hermits).  Đầu tiên là Anthony the Great.  Pachomius (318) cũng ở Ai Cập bắt đầu tổ chức cho sống chung với nhau.

Dưới sự cầm đầu của Basil de Caesarea (330-379), người Kitô giáo ẩn tu hợp lại thành những cộng đồng sống chung có tổ chức (organized communities), đó là những Tu viện đầu tiên.

Như vậy ngoài các Giáo sĩ sống trong những Giáo khu (Parish): Giám mục (Bishop), Linh mục (Priest) và Trợ tế (Deacons) với những Nhà thờ và Giáo đường phụng sự giáo dân trong thế tục còn có các Tu sĩ (monks) sống trong các Tu viện và theo các Dòng tu (với luật lệ khác biệt).

 

Chế độ Tu viện ở miền Tây bắt đầu bởi Benedict of Nursia (480-547).  Ông lập một Tu viện (monastery) ở Monte Cassino (khoảng năm 529) và Dòng Tu Benedict (order of Benedict) cho các tu sĩ (monks).  Họ sống, làm việc và cầu nguyện chung với nhau theo luật lệ của ông đặt ra (a set of regulations).

Eremetic Monk=Hermit: Tu sĩ sống riêng một mình.  Như John the Baptist trong Phúc Âm.

Cenobitic Monks: Tu sĩ sống trong cộng đồng có tổ chức (organized community) tức có theo Dòng tu (order).

 

Từ thế kỷ thứ 8, Tu viện được thành lập khắp Thế giới Kitô giáo (Christendom).  Cho đến khi có Đại học (universities) vào thế kỷ thứ 13, các Tu viện là những trung tâm quan trọng của văn hóa và học thuật.  Chúng còn cung cấp nơi săn sóc cho người nghèo và đón mời chỗ tạm trú (hospitality) cho người lữ hành (travelers).

Các Tu viện được các nhà bảo trợ mướn (commissioned) để làm những công trình về điêu khắc và nhất là kiến trúc.  Kiểu kiến trúc Romanesque của thời Trung Cổ xuất phát từ các Tu viện.

Lần lần cácTu viện trở thành địa chủ lớn, nhưng khi giàu nhiều thì kỹ luật thành ra lỏng lẻo.  Do đó có những cải cách và nhiều Dòng tu mới (new orders) được lập ra ngoài Dòng Benedict.

 

*

Cải Cách Chế độ Tu viện (Monastic Reforms)

 

Đầu tiên là the Dòng Cluniacs, được lập ra ở Cluny (Pháp) vảo năm 910 và lan rộng nhanh chóng (950-1100).  Vẫn theo luật (rule) của Benedictine nhưng mở rộng hơn, có những ngôi nhà phụ (subsidiary houses) làm phụ tá cho ngôi nhà chánh của Tu viện (Abbey) và Tu Viện trưởng (Abbott). 

Dòng Cistercians, được lập ra ở Citeaux (1098), nhắm vào lối sống đơn giản và nghiêm nhặt hơn và gieo ảnh hưởng mạnh mẽ vào thế kỷ thứ 12 dưới sự lãnh đạo của St Bernard of Clairvaux (chết vào năm 1153).  Trên căn bản thì Dòng trở lại luật Benedictine cũ nhưng có thêm cải cách là khuyến khích các tu sĩ phải làm thủ công nghệ và làm ruộng, tạo ra kỹ thuật cho thời Trung Cổ.  Tới thế kỷ 12 có khoảng 500 Tu viện Cistercacian và có 750 vào thế kỷ 15.  Đa số những tu viện nầy lập ở nơi xa xôi hẻo lánh của Âu châu giúp cho nông nghiệp bành trướng ở những vùng nầy.

Thế kỷ thứ 12 là thời thịnh nhất của các Tu viện cổ điển nhưng tổng số đi xuống từ cuối thế kỷ nầy vì có những Dòng tu mới.

 

*

Dòng tu Franciscans và Dominicans

 

Những Dòng tu mới là những Dòng tu "Ăn Mày" (Medicant Orders) được lập ra như Dòng Franciscans (năm 1210) và và Dòng Dominicans (năm 1215) đều đặt căn cứ ở thành thị.  Họ được gọi là Thầy dòng Ăn mày (mendicant friars) hay đơn giản là Thầy dòng (Friar).  Những Thầy dòng nầy sống nhờ bố thí (alms=donation) và đi giảng đạo.  Họ sống theo luật của tu viện (monastic rule) với khấn nguyện truyền thống là nghèo khó (poverty), giản dị trong sạch (chastity), và vâng lời (obedience) nhưng chú trọng về giảng dạy (teaching) và hoạt động truyền đạo, giáo dục (education), và sống trong một tu viện nhỏ, đơn sơ, vắng vẻ và hiu quạnh.

 

Dòng Franciscans lập ra từ Thánh Francis of Assisi.  Dòng Dominicans lập ra từ thánh Dominic.  Hai Dòng tu nầy thành lập và hoạt động trực tiếp với Giáo hoàng và Tòa thánh, bắt đầu từ Giáo hoàng Innocent III.  Thành quả cuối cùng đạt được của Giáo hoàng Innocent III là chấp nhận một vận động mới (new movement) của Giáo hội Công giáo.  Tu viện đã cho thấy khuynh hướng không sửa đổi được là tích trử giàu có.  

Trong năm 1210 và năm 1215, Giáo hoàng tiếp tại Rome 2 người có tầm mắt với ý niệm mới về cách thức theo gương của Đấng Kitô (Christ).

Người đầu tiên là Francis of Assisi với 11 người theo ông.  Họ là những tục nhân đã từ bỏ những sở hữu của mình.  Họ muốn sống trong những người nghèo khổ trong thành thị, giảng dạy và làm nhân chứng cho một đời sống Kitô giáo.

Người thứ hai là Dominic de Guzman, có nhiều kinh nghiệm giảng dạy (cho người Cathars) và có ý thích đặc biệt về sửa những điều sai lầm trong giáo lý.  Giống như Francis, Dominic và các bạn chịu nhận sự nghèo khó.  Họ làm việc ở giữa những náo nhiệt và cãi cọ trong thành thị.

Từ 2 người nầy sinh ra 2 Dòng lớn (great Orders) của các "Thầy Dòng ăn mày"  (Mendicant or Begging Friars), Dòng Franciscans và Dòng Dominicans.  Họ giống như những Tu sĩ khất thực của Ấn Độ giáo (Hinduism) và Phật Giáo (Buddhism).  Nhưng không Dòng "ăn mày" (mendicant) nào dễ dàng tìm thấy lý tưởng của sự nghèo khó khi quyền lực tăng cao.

Tuy Francis và Dominic được sự chấp thuận của Giáo hoàng Innocent III nhưng 2 dòng nầy được chính thức thành lập từ người kế vị là Giáo hoàng Honorius III.  Giáo hoàng thành lập dòng Dominicans năm 1216 và dòng Franciscans năm 1223.

 

Hai dòng nầy dưới quyền trực tiếp và là công cụ của Giáo hoàng và Tòa thánh.  Khác với những dòng tu viện khác (lập trong những thế kỷ trước) thường là độc lập hơn và Giáo hoàng không kiểm soát chặc chẽ được.  Sau phong trào Cải tổ (Reformation), hai Dòng thuyết pháp nầy được có 1 Dòng tu giống vậy nhưng còn mạnh hơn. Đó là dòng The Jesuites hay Dòng Tên, khác hơn Franciscans và Dominicans là không có lý tưởng dâng hiến nghèo khó.   

 

Sự phát khởi của những Đại học (Universities)

 

Đầu tiên là có những trường học của giáo đường (cathedral) và tất cả học sinh coi như là tăng lữ (clerics).  Việc nầy có lợi vì học sinh được đặt dưới thẩm quyền của tòa giám mục và như vậy nhờ thiên vị nên được bảo vệ và miễn nhiễm khỏi luật pháp.  Lần lần những trường học nầy tách ra từ giáo đường và thành học viện riêng biệt.  Đó là những Đại học đầu tiên như Đại học Paris (khoảng 1150), Đại học Bologna (1088) và Đại học Oxford (1096).  

Thật ra các Madrasahs Hồi giáo đã lập Đại học với bằng cấp hàng lâm (academic degree) từ thế kỷ thứ 9.  Đại học Al Karaouine ở Fez, Morocco là đại học đầu tiên lập năm 859 bởi Công chúa Fatima-al-Fihri.  

TRUYỀN GIÁO TRONG THỜI TRUNG CỔ

Khi thời Trung Cổ bắt đầu, Kitô giáo là tôn giáo chính và truyền bá khắp Đế quốc La Mã (Đông và Tây).  Có thể nói Thế giới Kitô giáo (Christendom) là Đế quốc La Mã nhưng cũng truyền xa hơn sang Á châu và nam Ai Cập.  Ở lục địa Âu châu, Đế quốc La Mã ở miền Nam của sông Danube.  

Trong thời Trung Cổ ở Âu châu, Kitô giáo bắt đầu truyền bá sang lãnh thổ của người "man rợ" ngoài Đế quốc La Mã dần dần lan khắp Âu châu. Những người Goths (thuộc chủng loại Đức) sau khi tràn vào Đế quốc Tây La Mã lập thành những vương quốc trong thời gian ngắn cũng dần dần chuyển theo Kitô giáo.   


 

Truyền giáo từ Tòa thánh ở Rome

 

Truyền giáo ở Anh

 

Vùng Nam Anh (southern Britain) đã là một tỉnh của Đế quốc La Mã với người ở đây theo Kitô giáo, gọi là người British.  Từ năm 407, lính lê dương của đế quốc La Mã rời đảo nầy.  Nhiều bộ lạc người rợ từ nội địa Âu châu tới cướp phá rồi định cư ở đây.  Họ là người Anglo-Saxons, sau nầy là người Anh (English).  Người Anglo-Saxons là người theo Đa Thần giáo (Pagan).  Giáo hoàng Gregory the Great gởi Thánh Augustine of Canterbury tới truyền giáo cho những người Anglo-Saxons nầy.  Có người British ở đây lại theo Đa Thần giáo.  Phải mất một thế kỷ mới làm cho người quí tộc Anglo-Saxons theo Kitô giáo.  Từ những người quí tộc nầy, toàn thể người Anglo-Saxons theo Kitô giáo trong vài thế kỷ sau, cũng như người British (là thiểu số của dân số).  

 

Dưới thời Tổng Giám mục Theodore, người Anglo-Saxons có một nền văn hóa vàng son.  Những nhà truyền giáo Anh (English) như Wilfrid, Wilibrord, Lullus và Boniface sang truyền đạo cho những người Saxons còn sống trong nội địa Âu châu ở Đức.

Toàn thể đảo Anh công nhận quyền tối cao của Giáo hoàng tại hội nghị Whitby (664).

 

Kitô giáo được truyền từ vùng đất Nam Anh thuộc Đế quốc La Mã (Roman Britain) sang những miền của người Celtics (Celtic areas) gồm có Wales, Scotland và Ireland.  Nhà truyền giáo nổi danh là Thánh Patrick.  Thánh Patrick trước đó đã bị bắt làm nô lệ ở Ireland nhưng sau đó ông trốn thoát được.  Sau khi được phong Giám mục, ông trở lại Ireland truyền đạo, rao giảng Phúc Âm.  Ông lập ra Dòng tu ở đây và phong linh mục cho những người Ireland (Irish) cũng như người Anh.  Sau đó những nhà truyền giáo như Columba và Columbanus với đặc tính Irish dễ dàng, truyền đạo tới Scotland và khắp toàn lục địa Anh.  Một đặc tính Irish là hệ thống sám hối bí mật riêng từng cá nhân (private penitence) thay thế lễ giải tội công cộng (penance).  

 

*

Truyền giáo ở Pháp

 

Vùng đất Gaul (và người Gaulois) của Đế quốc La Mã bị người Frank thuộc chủng tộc Đức (germanic) chiếm vào đầu thế kỷ 5.  Người Franks ngược đãi cư dân Kitô giáo ở đây cho đến khi vua Clovis I của người Frank chuyển từ Đa Thần giáo theo Kitô giáo thì toàn thể vương quốc Frank theo Kitô Giáo (năm 496).

 

Truyền Giáo ở Frisia và Đức 

 

Sau khi có vương quốc Frank (Frankish kingdom), truyền giáo được triều đại Merovigian của vương quốc ủng hộ để làm yên dân ở vùng láng giềng bên cạnh.  Liên minh tiếp tục giữa Tòa thánh ở Rome và các vua của triều đại Carolingian của nước Frank. 

 

Năm 678, tu sĩ Willibrord, 20 tuổi, rời tu viện Yorkshire sang Ireland.  Sau khi vua Pepin của vương quốc Frank mới chiếm được Frisia, Willibrord tới truyền đạo ở Frisia (or Friesland) vào năm 690.  Vùng Frisia ngày nay là Hà Lan, Bỉ và vùng tây bắc của nước Đức.  Được vua Pepin và Giáo hoàng giúp đỡ, Willibrord thành công và được phong là Tổng Giám mục của Tòa Giám mục ở Utrecht năm 695.  Willibrord lập tu viện ở Echternact, sống ở đây và chết năm 739.

 

Boniface cũng từ 1 tu viện Anglo-Saxon như Willibrord, được Giáo hoàng ủy nhiệm truyền đạo vào những nơi không theo đạo ở Đức (Germany).  Boniface theo Willibrord ở Frisia (719-722) ổn định được Frisia.  Sau đó ông đến Bavaria lập tu viện với nam nữ giáo sĩ tới từ Anh, Boniface tiến triển nhanh chóng với sự ủng hộ của vua Charles Martel (con của Pepin).  Từ năm 754, Boniface đã lập được 8 tòa Giám mục (bishoprics) ở Đức.  Năm 746, Boniface đặt bản doanh ở Mainz, củng cố thành phố nổi tiếng nầy của Giáo hội.

Năm 754, khi hơn 80 tuổi Boniface từ chức Tổng Giám mục và trở về thành giáo sĩ truyền đạo thường ở Frisia.  Ngay sau đó Boniface bị người không theo đạo (heathen) giết chết gần Dokkum.

 

Truyền giáo ở Scandinavia

 

Năm 820, người Đan Mạch bắt đầu chuyển theo Kitô giáo do công của Ansgar, Tổng giám mục của Bremen, biệt danh là Tông đồ của miền Bắc (Apostle of the North).  Ansgar với nhóm tu sĩ tới Jutland, Đan Mạch vào năm 820 và được vua Harald Klak (theo Kitô giáo) của người ở đây ủng hộ.  Cuộc truyền giáo khá thành công nhưng Ansgar phải trở về Đức 2 năm sau, khi vua Harald bị đuổi ra khỏi vương quốc.

Năm 829, Ansgar tới Birka ở hồ Malaren (ở Thụy Điển) với phụ tá là Thầy dòng Witmar, và một hội đạo (congregation) được lập ra ở đây vào năm 831 trong đó có người quản gia (stewart) của vua Thụy Điển tên là Hengeir. 

 

Cho tới năm 1000 thì mới Giáo hội mới tiến triển chuyển giáo theo Kitô giáo ở Scandinavia khi các vua St Canute IV của Đan Mạch và Olaf I của Na Uy theo đạo.

 

Truyền giáo trong thế kỷ 11

 

Ở Ba Lan (Poland), việc truyền giáo vẫn gặp khó khăn vì người theo Đa thần giáo phản ứng bằng cách đốt nhà thờ và tu viện, và giết giáo sĩ.

Scandinavia là phần cuối cùng của người Đức ở Âu châu (Germanic Europe) theo đạo và kháng cự nhiều nhất.  Khoảng 1000-1250, những vùng đất ở Bắc Âu dần dần theo Cơ Đốc giáo dưới sự lãnh đạo của người Đức và lập thành những quốc gia dưới sự hướng dẫn của Giáo hội, chấm dứt vào thời Thập Tự chinh ở Bắc Âu (Northern Crusade).

 

Sau đó, người quí tộc Đức và Scandinavian lan rộng quyền lực tới những vùng Finic, Samic, Baltic và của người Slavs.  Sự di cư tiếp tục sau năm 1000, đánh dấu bằng sự xâm lăng của người Vikings, Magyras, Turkics và Mongols cũng có hậu quả đáng kể đặc biệt ở Đông Âu.


 

Truyền giáo từ Tòa Tổng Giám mục ở Constantinople

 

Truyền giáo trong vùng của người Slavs 

 

Tới năm 800 thì Tây Âu và vương quốc Đức (của Trung Âu) theo Kitô giáo giáo chỉ còn Đông Âu và phần còn lại của Trung Âu là nơi những người Slavs còn sinh sống.

Vào thế kỷ thứ 9 có 2 anh em thánh Cyril và thánh Methodins thành công trong việc truyền đạo cho những người Slavs thừa lệnh của Giáo hội Byzantine.  Hai người dịch Thánh kinh và lễ chế (liturgy) ra tiếng và chữ Slavic.  Hai người giúp người Serbs và Bulgarians theo đạo Cơ Đốc.

Năm 988, vua Vladimir the Great được rửa tội (baptized) ở Chersonesus gọi là "Lễ Rửa Tội của Kiev" (Baptism of Kiev) vì từ đó người Kievan Rus theo Kitô giáo (gồm có vùng Ukraine, Belarus và Russia).

 

Truyền giáo ở Hung

 

Người Hung (từ nguồn gốc là người Magyrar) chuyển theo Kitô giáo vào thế kỷ thứ 11. 


 

LY GIÁO ĐÔNG-TÂY (East-West Schism)

 

*

Sự Phân Chia Địa Lý Chính Trị

 

Hoàng đế Diocletian (thời gian trị vì: 284-305) tập trung quyền hành của chánh thể quân chủ (monarchy) vào một Lãnh Tụ gọi là Trung ương tập quyền (Centralization).  Như vậy để dễ dàng kiểm soát một đế quốc rộng lớn và bảo vệ việc nổi loạn quân sự (military mutiny), Diocletian chia Đế quốc La Mã thành 2 phần: Miền Đông và Miền Tây, gọi là Đế quốc Đông La Mã (Eastern Roman empire) và Đế quốc Tây La Mã (Western Roman empire).  Một Hoàng đế cai trị một Miền.  Hoàng đế Constantine I (thời gian trị vì: 306-337) tiếp tục chánh sách phân chia nầy và công nhận Licinius I làm Hoàng đế cai trị Đông Đế quốc.  

Năm 324, Hoàng đế Constantine I đánh bại Hoàng đế Licinius I (trị vì: 308-324) và làm Hoàng đế cả Đông và Tây Đế quốc La Mã

 

Năm 330, Hoàng đế Constantine I dời kinh đô từ Rome ở phần Tây La Mã về phần Đông La Mã, còn gọi là Byzantium.  Kinh đô mới ở Bosporus, nơi Âu châu và Á châu giáp nhau.  Hoàng đế Constantine xây kiến trúc mới ở kinh đô nầy theo kiểu Kitô giáo (Christianity) và đặt tên theo tên của mình là Constantinople.  Ngày nay là thành phố Istanbul của nước Thổ Nhĩ Kỳ (Turkey).   

Thế giới Kitô giáo (Christendom) cũng dĩ nhiên bị phân chia theo lãnh thổ chính trị: chi nhánh ở miền Đông của Giáo hội hay Giáo hội Miền Đông (Eastern Church) và chi nhánh ở miền Tây của Giáo hội hay Giáo hội Miền Tây (Western Church).  

*

Quyền Tối Cao và Giáo Trưởng của Giáo Hội Kitô Giáo

 

Giáo hội Miền Đông có 4 Tổng Giám mục của 4 Tòa Tổng Giám mục ở Constantinople, Antioch, Alexandria và Jerusalem.  Giáo hội Miền Tây dưới quyền lãnh đạo duy nhất của Tổng Giám mục và Tòa Tổng Giám mục ở Rome. 

 

Sau khi Rome bị người Visigoths chiếm và tàn phá thì Đế quốc Tây La Mã sụp đổ và không còn nữa.  Đế quốc Đông La Mã có tên là Đế quốc Byzantine với kinh đô là Constantinople.

Tòa Tổng Giám mục và nhất là Tổng Giám mục của Rome luôn vận động cho mình là có quyền Giáo trưởng (primacy) và quyền tối cao (supremacy) cai trị toàn Giáo hội Kitô giáo trên 4 Tổng Giám mục kia nhất là Tổng Giám mục của Constantinople ở ngay kinh đô. 

 

Sau khi người Hồi giáo chiếm Trung Đông và Bắc Phi (vào thế kỷ thứ 7) thì Giáo hội mất 3 Tòa Tổng Giám Mục ở Jerusalem, Antioch và Alexandria chỉ còn lại 2 Tòa Giám mục chánh ở Rome và Constantinople.  Hai chi nhánh Đông và Tây của Giáo hội Kitô giáo chỉ còn 2 Tòa Tổng Giám mục và có 2 lãnh tụ chính thức là 2 Tổng Giám mục của Rome (của Miền Tây) và của Constantinople (của Miền Đông).  

 

Từ thế kỷ thứ 4, Tổng Giám mục của Rome đã xưng là Giáo hoàng (Pope) và Tòa Tổng Giám mục của Rome là Tòa Thánh (Holy See).  Dĩ nhiên Tổng Giám mục của Constantinople sau khi 3 Tòa Giám mục Alexandria, Antioch và Jerusalem mất về tay người Hồi giáo (thế kỷ thứ 8) thì tự xưng là Giáo chủ (Patriarch) nhưng trên thực tế vẫn coi mình là đứng thứ nhì sau Rome.

Từ lúc đầu, Thần học về Kitô giáo (ecclesiology) của giáo hội Miền Tây (Rome) thì phổ thông (universal) trên căn bản, với ý kiến là một toàn thể toàn cầu với một trung tâm được chỉ định là thánh thiện (divinely appointed), không là bổn phận thông thường: Tòa Giám mục và Giám mục của Rome.  Có lẽ đây là nguồn gốc danh hiệu Công giáo của Giáo hội Miền Tây.

Rome cho là từ thánh Peter là đầu của các Tông đồn và Constantinople là từ thánh Andrew, chỉ là 1 trong 12 Tông đồ của Jesus.

Giáo hội Miền Đông (Constantinople) vẫn giữ ý kiến là mỗi nhà thờ và giáo khu địa phương với giám mục, linh mục (priest) hay thầy tư tế (presbyter), thầy trợ tế (deacon) và giáo dân đón mừng the Thánh thể (Eucharist) bao gồm toàn thể Giáo hội.  Ý kiến nầy gọi là Thần học Kitô giáo về Thánh thể (Eucharistic ecclesiology), mỗi giám mục đều là kế nghiệp của Thánh Peter trong nhà thờ của mình và những nhà thờ cấu tạo thành cái mà Eusebius gọi là liên hiệp chung của những nhà thờ.  Đó có ngụ ý là tất cả những giám mục đều bình đẳng trên danh nghĩa; mặc dù theo phận sự những giám mục đặc biệt được cho đặc quyền (special privileges) bởi sự đồng ý của những giám mục khác và phục vụ như là Giám mục của đô thị (metropolitan bishop) hay Tổng Giám mục (archbishop).  

Trong ý kiến của Giám mục của Constantinople, Giám mục của Rome (là Giáo hoàng) có thể có quyền giáo trưởng (primacy) trong thế giới Kitô giáo đoàn kết (as primus inter pare), nhưng không có quyền lực về thẩm quyền (power of jurisdiction), tức là không có quyền tối cao (supremacy) trên các Giám mục khác.

 

*

Sự Khác Biệt

 

Từ lâu trước khi có sự lấn quyền của Rome, đã có sự khác biệt của 2 chi nhánh Đông và Tây của Giáo hội Kitô giáo về: nghi lễ (ceremonies), ngày của thánh lễ (date of the holidays), hành vi của tu sĩ (activities of priests) và quyền lực của Hoàng đế.  Vài lễ cúng của miền Tây mà miền Đông tin là đại diện cho canh tân bất hợp pháp: thí dụ như việc dùng bánh mì không có bỏ men (unleavened bread) cho the Thánh thể (Eucharist).  Lệ sống Độc thân của những linh mục ở miền Tây (tu viện hay giáo phận=parish) bị những môn đồ ở miền Đông chống đối vì những linh mục ở miền Đông có thể là người đàn ông có kết hôn.

Sự liên lạc giữa 2 miền Đông và Tây càng khó khăn vì giao thông cách trở.  Miền Tây dùng tiếng và chữ La Tinh và miền Đông dùng tiếng và chữ Hy Lạp.  

 

" Filioque Clause"

Sự khác biệt quan trọng chia rẽ 2 chi nhánh Rome (ở miền Tây) và Constantinople (ở miền Đông) của Giáo hội là câu (clause) "và bởi Con" (filioque) trong Kinh Tin Kính từ Cộng đồng Nicea (Nicene Creed).  Kinh Tin Kính (creed) được Giáo hội Miền Tây (Rome) thêm "và Con" (and the Son} trong câu ngắn "và bởi con" (filioque clause) mà theo luật là không được thêm vô.

Theo Tòa Giám mục của Constantinople: "Chúa Thánh Thần, Chúa ban cho sự sống, Người bởi Đức Chúa Cha mà ra" (The Holy Spirit, the Lord and Giver of Life, who proceeds from the Father).

Theo Tòa Giám mục của Rome: "Chúa Thánh Thần, Chúa ban cho sự sống, Người bởi Đức Chúa Cha và Đức Chúa Con mà ra" (The Holy Spirit, the Lord and Giver of Life, who proceeds from the Father and the Son).

Tòa Tổng Giám mục Constantinople ở miền Đông cho rằng đổi từ "Người bởi Đức Chúa Cha mà ra" (who proceeds from the Father) thành "Người bởi Đức Chúa Cha và Đức Chúa Con mà ra" (who proceeds from the Father and the Son) là trái phép (illicit) và không đúng theo giáo lý.

Sự khác biệt của Câu ngắn "và bởi Con" trong Kinh Tin Kính (Filioque clause) là lý do được 2 Giáo hội Đông Tây công khai áp dụng để chính thức Ly Giáo.

Filioque (tiếng La tinh) = "và bởi Con"

Clause = câu ngắn

 

*

Những biến cố lịch sử dẫn tới Ly Giáo

 

- Hội nghị Chalcedon 

Chia rẽ bắt đầu từ Giáo hội Miền Đông chối bỏ những phán quyết (decrees) của Hội nghị toàn cầu lần thứ 4 ở Chalcedon (Council of Chalcedon 4th ecunemical council) vào năm 451.  Theo hội nghị thì Giáo hội của Rome có được địa vị giáo chủ đặc biệt trong tất cả những giáo hội khác. Giáo hội Miền Đông cỏn cho rằng : Giáo điều (canon) thứ 28 của hội nghị Chalcedon công bố rõ ràng sự bình đẳng của Giám mục của Rome và Giám mục của Constantinople.  Và tuyên bố Giáo hội Miền Đông đã có kháng cáo.

 

- Ly Giáo của Photius I (Photian Schism)

Thế kỷ thứ 9, trong thời Hoàng đế Michael III của Đế quốc Byzantine, có nhiều tranh cãi với Giáo hoàng John XII của Tòa Tổng Giám mục ở Rome.

Hai Tòa Tổng Giám mục tranh chấp làm chủ giáo hội của nước Bulgaria.  Constantinople nhượng bộ nhưng giáo hội Bulgaria tuyên bố tự chủ (autocephalous) với sự đồng ý của vua Bulgaria là Boris I.  

Hai Tòa Tổng Giám mục cũng tranh chấp về câu ngắn (clause) "và bởi Con" (Filioque) được Rome thêm vô trong Kinh Tin Kính từ Công đồng Niceae (Nicene Creed) nhưng bị Constantinople phản đối

Giáo hoàng John VII chống lại việc Hoàng đế Byzantine Michael III bổ nhiệm Photius I làm Giáo chủ Constantinople.  Photius I đã công khai không chấp nhận quyền tối cao của Giáo hoàng trong những vấn đề của miền Đông cũng như không chấp nhận câu "và bởi Con" (của Giáo hoàng ở Rome).  Phái đoàn La Tinh tại hội lễ đăng quang áp lực Photius I phải nhận "Filioque  clause" mới bảo đảm sự ủng hộ. 


 

- Trục xuất lẫn nhau của năm 1054

Biến cố nầy diễn ra ở Constantinople trong năm 1054, tức khắc và chính thức dẫn tới Ly Giáo Đông Tây.  Nó liên quan tới 4 nhân vật chính:

Giáo hoàng là Leo IX

Sứ thần của Giáo hoàng tới Constantinople là Hồng y Humbert

Giáo chủ của Constantinople là Michael I Cerularius.

Hoàng đế Byzantine là Constantine IX

Đầu tiên Giáo chủ Cerularius ra một lá thơ bằng tiếng Hy Lạp viết cho Giám mục của Trani (ở Ý) tấn công việc Tây Giáo hội theo Do thái vì dùng bánh lễ không men.  Giám mục của Trani chuyển lá thơ cho tất cả Giám mục của Tây Giáo hội và Tòa Thánh ở Rome.  Hồng y Humbert dịch lá thơ ra tiếng La Tinh và trình lên Giáo hoàng Leo IX.  Giáo hoàng ra lệnh viết một lá thơ trả lời và bênh vực quyền tối cao của Giáo hoàng.  Giáo chủ Ceralius không trả lời và không tranh luận để tránh sự đổ bể.  

Tuy nhiên Giáo hoàng và Hồng y Humbert không nhượng bộ và Humbert được cử là Sứ thần sang Constantinople để đàm phán.  Sứ đoàn gồm có Hồng y Humbert, Hồng y Frederick of Lorraine (sau nầy là Giáo hoàng Stephens IX) và Giám mục của Amalfi là Peter.  Đến Constantinople vào tháng 4, Sứ đoàn được đón tiếp với thái độ hiếu chiến nên bỏ phòng họp để lại lá thơ trả lời của Giáo hoàng Leo IX.  Giáo chủ Cerularius nổi giận, từ chối không chấp nhận quyền của Sứ thần.  Điều đó cũng không sai vì cùng lúc đó Giáo hoàng Leo (người cử Sứ thần) qua đời (19-4-1054) nên Sứ thần theo đúng luật không còn quyền hành nữa.  

Tuy nhiên Sứ đoàn lại làm dữ, đến Đại Giáo đường chính của Đông Giáo hội là Hagia Sophia trong khi đang hành lễ và để trên bàn thờ ở đây Sắc lệnh của Giáo hoàng (bull) trục xuất Giáo chủ Michael I Cerularius khỏi Giáo hội.  Trong sắc lệnh trục xuất Giáo chủ Đông Giáo hội, Giáo hoàng nêu lý do là Đông Giáo hội bôi bỏ câu "và bởi Con" (filioque clause) từ nguyên bản của kinh tin kính của Công đồng Nicea (Nicene Creed).  Thật ra là ngược lại, Đông Giáo hội không bôi bỏ gì cả; chính Tây Giáo hội thêm câu đó vào nguyên bản lập nên ở Constantinople.  

Sứ đoàn của Rome trở về Rome 2 ngày sau đó để lại thành phố Constantinople trong rối loạn.  Hoàng đế Constantine IX thì theo phe sứ đoàn của Rome (vì tư lợi) còn Giáo chủ thì được dân chúng ủng hộ.  Để làm dịu quần chúng, sắc lệnh trục xuất của Giáo hoàng bị đem đốt và sứ thần chính thức bị Giáo chủ Cerularius trục xuất (ra khỏi Giáo hội).  

Ly Giáo giữa Đông Tây chính thức bắt đầu vào năm 1054 sau biến cố nầy.


 

*

Sự chia rẽ tối hậu là việc Thập Tự chinh lần thứ 4 (4th Crusader) cướp phá Constantinople vào năm 1204.  (Năm 2004, Giáo hoàng John Paul II chính thức xin lỗi về việc cướp phá Constantinople nầy (1204) và được Giáo chủ Bartholomew of Constantinople chính thức chấp nhận). 

Những cố gắng hòa giải từ Hội nghị Lyon lần thứ 2 (2nd Council of Lyon) vào năm 1274 và Hội nghị Basel (năm 1439) đều thất bại.  (Năm 1965, Giáo hoàng của Rome và Giáo chủ của  Constatinople lấy lại những "trục xuất" năm 1054).

 

Từ năm 1054, 2 phần của Giáo hội Kitô giáo tách rời nhau vĩnh viễn.  

Chi nhánh Giáo hội ở miền Tây (western branch) với Giáo hoàng như là lãnh đạo tinh thần, trở thành Giáo hội Công Giáo La Mã (Roman Catholic Church).  

Chi nhánh Giáo hội ở miền Đông (eastern branch) trở thảnh Giáo Hội Chính Thống Giáo ở miền Đông (Eastern Orthodox Church) hay Giáo Hội Chính Thống Hy Lạp (Greek Orthodox Church). 

Kitô giáo (Christianity) chia làm 2: Công giáo ở miền Tây (Western Catholicism) và Chính Thống giáo ở miền Đông (Eatern Orthodoxy).  

 

Hai Giáo hội thừa nhận lẫn nhau sự kế nghiệp của thánh Tông đồ (Apostolic succession).  Giáo hoàng của Giáo hội Công giáo là từ Thánh Peter và Giáo chủ của Giáo hội Chính Thống giáo là từ thánh Andrew. Cả 2 Giáo hội cũng thừa nhận lẫn nhau những Phép Bí Tích.  

  


 

NHỮNG VIỄN CHINH THẬP TỰ QUÂN

 

*

Trong thế kỷ thứ 7, tín đồ Hồi giáo (Muslim) theo nhà Tiên tri Muhammad của Hồi giáo (Islam) lập nên một Đế quốc trải dài vùng Trung Đông (Middle East) và Bắc Phi (North Africa), dọc theo Địa Trung Hải và cuối cùng chiếm Tây Ban Nha (Spain).  Đế quốc bao gồm vùng Palestine, nơi Jesus sống và rao giảng và thành phố Jerusalem, chỗ Jesus bị đóng đinh trên cây Thập tự.

 

Qua nhiều thế kỷ, người Hồi giáo đã cho phép người Âu châu viếng thăm những chỗ thánh tích của Thiên Chúa Giáo tại Jerusalem.  

Năm 1071, người Seljuk Turks thắng Đế quốc Byzantines ở trận Manzikert sau khi chiếm Jerusalem.  Dân quân Hồi giáo người Turks (Thổ Nhĩ Kỳ) nầy cũng không dễ dãi như người Fatamids trước họ, khó khăn hơn, không cho người hành hương đến Thánh địa Jerusalem và ngược đãi người Kitô giáo.  Hoàng đế của Byzantine cũng sợ hiểm họa cho Đế quốc nên cầu cứu với thế giới Kitô giáo La Tinh (Latin Christendom).

 

Năm 1095, Hoàng đế Byzantine là Alexius Comnenus chính thức gởi sứ thần cầu cứu sự giúp đỡ với Giáo hoàng Urban II để chống lại người Turks.  Giáo hoàng thuyết giảng và kêu gọi Thánh chiến (Holy War) từ những người tình nguyện, trước là giúp Đế quốc Byzantine sau là giải phóng Jerusalem khỏi tay người Turks.  Ý kiến được khêu gợi nhiều người ở Âu châu vì nó hổn hợp nhiệt tình tôn giáo và cơ hội chiếm được tiền tài và đất đai.

Từ đó tạo nên những cuộc Viễn chinh Thánh địa của Thập Tự quân (Crusades), nối tiếp liên tục những viễn chinh quân sự chiến đấu để dành lại Thánh Địa (the Holy Land) là Jerusalem bởi người Công Giáo Âu Châu.  

 

Nguyên nhân của những cuộc Viễn chinh Thánh địa:

Về chính trị, thế giới Thiên Chúa Giáo La Tinh chiếm lại đất đai mất về tay người Hồi giáo.  Giáo hội Công Giáo La Mã giữ thế thống trị Giáo hội Chính Thống Giáo ở Đế quốc Byzantine.

Về kinh tế, dân Âu châu đã tăng số lượng nên muốn có thêm nhiều đất đai.  Các hiệp sĩ thập tự quân (crusading knights) là những nhà tiền phong giang rộng ra để định cư ở những đất nước mới.  Cho những người không tìm được đất đai thì "giải phóng" sự giàu có của những kẻ thù bị chiến bại.  Những thương gia hàng hải của những thành phố như Venice và Genoa, the cuộc Viễn chinh Thánh địa nầy mở cửa cho những con đường thương mại đến Á châu.

Về tâm linh, những Thập tự quân nghe theo lời kêu gọi của Giáo hoàng, tự cho mình là những người hành hương tham dự vào một thánh chiến.  Đó cũng là một con đường để được tha tội.  Nó tổng hợp cuộc viễn chinh để đời với sức quyến rủ của đất đai và cướp bóc, cơ hội của vinh quang, và tối hậu là sự hứa hẹn sẽ được cứu rỗi (salvation).


 

Cuộc viễn chinh Thánh địa lần thứ nhất (1096-1099)

 

Tháng 3, 1095 tại Council of Piaceza của Công giáo, sứ giả của Hoàng đế Byzantine Alexius I yêu cầu giúp đỡ chống lại người Seljuk Turks.  Sau đó trong cùng năm 1095, Giáo hoàng Urban II kêu gọi toàn giáo dân Kitô giáo cùng gây chiến chống lại người Turks, hứa hẹn rằng ai chết trong cố gắng thử thách nầy (endeavor) sẽ được giải mọi tội lỗi ngay tức khắc.

 

Trước cuộc viễn chinh lần thứ nhất, có những nhóm của những người hành hương với vũ khí thô sơ theo lời kêu gọi trực tiếp của 2 Diễn giả Phúc Âm (evangelical orators) là Peter the Hermit và Walter the Penniless.  Đa số những người nầy trên đường đi về phương Đông đã bị người Magyars (của nước Hung) ở Đông Âu giết chết.  Những người còn lại bị người Hồi giáo tàn sát ở Asia Minor (nay thuộc Turkey).  Họ chưa tới được Thánh địa như mong muốn.  

 

Cuộc viễn chinh Thánh địa lần thứ nhất  gồm có những đạo quân khác nhau của các Hiệp sĩ: người Frankish, người Flemish và người Normans ở vương quốc Frank từ Âu châu tụ họp ở Asia Minor.  

Các Hiệp sĩ và người tham dự viễn chinh đều có hình cây Thập Tự trên áo "tunic" của mình nên gọi là Thập Tự quân (Crusaders).  Hoàng đế Thánh La Mã Henry IV và vua Philip I của nước Pháp từ chối không lãnh đạo và tham gia là vì có hiềm khích với Giáo hoàng Urban II. 

Từ danh từ "Crusader" nầy, dịch là Thập Tự quân, có danh từ "Crusade" dùng cho "cuộc Viễn chinh quân sự đến Thánh địa".  Với ý nghĩa nầy, "Crusade" hiện nay được dịch theo nghĩa đen là Thập Tự chinh.  Có sử gia dùng danh từ "Holy War" (Thánh chiến) như đồng nghĩa với "Crusade".  Từ nguồn gốc nầy, các chiến dịch quân sự (military campaign) chống Tà giáo sau đó ở Âu châu cũng được Giáo hội Công giáo đặt tên là "Crusade" như chiến dịch quân sự đánh người Cathars ở miền Nam nước Pháp.

 

Đầu tiên Thập Tự Quân chiếm Nicaea (1097) rồi tiến tới Thánh địa (Holy land) gồm có Jerusalem và Antioch.

Thập Tự quân vây Antioch một thời gian lâu và vào được trong thành (tháng 5, 1098).  Người lãnh đạo dân quân Hồi giáo ở Antioch đã bắt buộc những người Kitô giáo ở đây dời ra sống ngoài thành Antioch trước khi bị bao vây và không hại gia đình của họ, chỉ còn người Hồi giáo và Do thái thủ thành.  Thập Tự quân (đại đa số là người Franks) chỉ vào được thành khi có người làm phản mở cửa thành và người lãnh đạo chạy thoát được.  Khi đã vào thành, theo tiêu chuẩn hành quân, người Franks giết hết dân sự trong thành và tàn phá thành phố.  

Thập Tự quân cuối cùng tiến tới thành Jerusalem với số quân còn lại.  Người Hồi giáo và Do thái cùng giữ thành Jerusalem chống lại người Franks.  Thành thất thủ ngày 15-7-1099.  Thập Tự quân lại giết hết những thường dân Hồi giáo và Do thái còn sống sót và tàn phá thành phố và những đền thờ Hồi giáo (mosque).  

 

Sử gia cho rằng "cô lập, xa lạ và sợ hãi" giải thích sự tàn bạo của Thập Tự quân, thậm chí còn ăn thịt người (canibalism) sau trận bao vây Maarat (1098).  (Sau khi chiếm Antioch và trước khi đánh Jerusalem, Thập Tự quân tản mát cướp phá những vùng lân cận như Maarat).

Sau đó Thập Tự quân tính chiếm Tyre.  Người dân ở đây cầu cứu Zahir-al-Din-Atabek, lãnh tụ của Damascus, hứa rằng cả thành phố sẽ đầu hàng theo ông.  Sau khi Zahir-al-Din đánh đuổi được người Frank, người Tyre không giữ lời hứa nhưng Zahir-al-Din chỉ đơn giản trả lời: "Ta chỉ làm cho Allah và người Hồi giáo, không phải vì lòng tham muốn của cải và vương quốc".

 

Sau khi chiếm Jerusalem, Thập Tự quân lập 4 quốc gia: vương quốc (kingdom) Jerusalem, quận hạt (county) Edessa, tiểu quốc (principality) Antioch và quận hạt Tripoli.  Bốn nước được biết với tên chung là Outremer ở dọc theo bờ biển Địa Trung Hải ở Syria và Palestine.

Lãnh tụ của 4 quốc gia nầy là 5 nhà quí tộc lãnh đạo Thập tự chinh lần thứ nhất:

Godfrey of Bouillon, một Hiệp sĩ người Frank, cai trị vương quốc Jerusalem.  Ông từ chối làm vua của Jerusalem vì cho rằng chỉ có một người xứng đáng là Vua của Jerusalem chính là Jesus Christ.  

Baldwin, một Hiệp sĩ (và là em của Godfrey of Bouillon) cai trị quận hạt Edessa với tước là Count of Baldwin I.  Khi Godfrey of Bouillon qua đời vào năm 1110, Baldwin I thay thế, làm vua đầu tiên của vương quốc Jerusalem.

Raymond IV, count of Toulouse, cai trị quận hạt Tripoli

Bohemond I, prince (vương tử) của Taranto, cai trị tiểu quốc Antioch.  Người em là Tancred làm Nhiếp chánh (regent).

Lúc đầu trong vương quốc Jerusalem có 120,000 người Franks (là người Công giáo, nói tiếng Pháp) cai trị 350,000 người Hồi giáo, người Do thái và người bản xứ theo Chính Thống giáo.  Người Frank là chủng tộc chính của người dân của vương quốc Pháp (kingdom of France) lúc bấy giờ.  Sau nầy người Do thái thường được tăng lữ Công giáo che chỡ trong nhà thờ và địa ốc Công giáo.   

Có những Thập Tự Quân ở lại để bảo vệ những đất mới của họ trong khi đó có những Thập Tự Quân khác trở về Âu châu mang theo những thứ xa xỉ (luxuries) như tơ lụa và hương liệu (spices) và những ý tưởng mới từ văn hóa Hồi giáo.  Thương mại mở mang giữa người Hồi giáo và vài thành phố ở bắc Ý.  Trong khi đó người Hồi giáo dần dần hùng mạnh.

 

Ngay sau cuộc Viễn chinh Thánh địa lần thứ nhất nầy có cuộc Viễn chinh Bắc Âu của người Na Uy (Norwegian Crusade) từ năm 1107 tới năm 1110.

Vua Sigurd I của Na Uy là vua đầu tiên của Âu châu tham gia Viễn chinh Thập Tự quân và quân Thập Tự của vua đến và đánh bại người Hồi giáo ở Tây Ban Nha (Spain), người Baleares.  Rồi sau đó vua Sigurd I đem 60 chiếc thuyền vượt biển Địa Trung hải tới Palestine cùng với vua Thập Tự quân Baldwin I của Jerusalem bao vây và chiếm hải cảng Sidon của người Hồi giáo Fatimids.

 

Cuộc viễn chinh Thánh địa lần thứ nhì (1147-1149)

 

Sau một thời gian dài người Kitô giáo và người Hồi giáo cùng sống hòa bình ở Thánh Địa, người Hồi giáo chiếm Edessa, 1 trong 4 tiểu quốc của Thập Tự quân thành lập sau Cuộc viễn chinh lần thứ nhất.  Cuộc Viễn chinh thứ nhì liền được nhiều người ở Âu châu kêu gọi, mạnh nhất là thánh Bernard de Clairvaux.

Quân đội Pháp (dưới quyền của vua Louis VII) và quân đội Đức (dưới quyền của Hoàng đế Conrad III) đi theo đường bộ đến Jerusalem (1147) nhưng không thắng một trận chiến lớn nào hết kể cả bao vây Damascus (1 thành phố độc lập) nhưng cũng không chiếm được rồi thành phố nầy mất vào của 1 lãnh tụ Hồi giáo là Nur-ad-Din-Zangi, kẻ thù chính của Thập Tự quân.

Vua Louis VII của Pháp và Hoàng đế Conrad III của Đức (Đế quốc Thánh La Mã) trở về nước không mang theo chiến thắng. 

 

Trong khi đó Thập Tự quân từ Bắc Âu tới Bồ Đào Nha liên minh với vua Afonso I của Bồ Đào Nha và cùng nhau lấy lại Lisbon từ người Hồi giáo (1147).

 

Năm 1147, người Bắc Đức (Saxons) và Đan Mạch tấn công người Wends trong cuộc viễn chinh Thập Tự quân đánh người Wends nhưng cũng không thắng lợi.  Người Wends gọi là người Tây Slavs hay Slovenes sống ở nước Đức (còn theo Đa Thần giáo trong thời Trung Cổ).  Wends còn gọi là Polabian Slavs.

 

Cuộc viễn chinh Thánh địa lần thứ ba (1189-1192)

 

Năm 1187, Saladin, Sultan của Ai Cập, lấy lại Jerusalem sau Trận Hattin.  Trận Hattin diễn ra vào ngày 4-7-1187, quân Hồi giáo dưới quyền của Saladin (Ayyubid sultan Salah-ad-Din) đánh bại Thập Tự quân của nước Thập Tự quân Levant.  Đa số Thập Tự quân ở Thánh địa bị bắt hay bị giết.  Quân đội Saladin chiếm lại Jerusalem và hầu hết các thành phố thuộc Thập Tự quân.  Saladin nổi tiếng ở Âu châu và trong vùng đất Hồi giáo "là người luôn giữ lời hứa và trung tín".  Sau khi chiếm Jerusalem, Saladin chừa tất cả dân chúng và không đụng tới nhà thờ hay đền thờ, để có thể lấy tiền chuộc từ người Franks ở đây.

 

Cả Âu châu chấn động sau chiến thắng của Saladin chiếm được Jerusalem.  Giáo hoàng Gregory VIII kêu gọi cuộc Viễn chinh Thập Tự quân lần thứ ba được quân chủ Âu châu hưởng ứng: vua Philip II của Pháp, vua Richard I (Richard the Lion Heart) của Anh và Hoàng đế Frederick I của Đế quốc Thánh La Mã (Đức).

Trên đường viễn chinh, Hoàng đế Frederick chết chìm ở Cilicia (vùng duyên hải phía nam của Asia Minor, ngày nay thuộc Turkey) vào năm 1190 để lại một liên minh Anh-Pháp không vững chắc.  Trước khi tới Thánh địa, vua Richard I chiếm đảo Cyprus của Byzantine (1191).  Từ đó Cyprus là căn cứ của Thập Tự quân trong nhiều thế kỷ và thuộc về Tây Âu cho đến khi Đế quốc Ottoman chinh phục đảo nầy từ Venice (1571).

Vua Richard I và vua Philip I đến Thánh địa, chiếm Acre (1191) rồi vua Philip I trở về Âu châu.  

 

Thập Tự quân còn lại theo vua Richard I đi về hướng nam dọc theo bờ biển Địa Trung Hải.  Họ thắng người Hồi giáo ở gần Arsuf và chiếm lại hải cảng Jaffa.  Jerusalem ngay trước mắt nhưng Richard nghĩ rằng dù có chiếm lại được từ Saladin thì một số Thập Tự quân sẽ trở về Âu châu nên ông không thể nào giữ được (Jerusalem).    

Cuộc viễn chinh cuối cùng không chiếm được Jerusalem.  Vua Richard I rời Thánh địa vào năm sau (1192) sau khi ký hiệp ước với Saladin.  Hiệp ước nầy cho phép người hành hương Kitô giáo không mang vũ khí được hành hương ở Thánh địa (Jerusalem).  Jerusalem vẫn thuộc người Hồi giáo nhưng vương quốc Thập Tự quân mới ở chung quanh Acre và các hải cảng được tồn tại (gọi chung là Levant).

 

Trên đường về Anh, tàu của vua Richard I bị bể, vua đi tới Áo thì bị kẻ thù cũ là Bá tước Leopold bắt được, giải tới Hoàng đế Henry VI của Đức.  Vua Richard I bị giữ cho đến khi được chuộc tiền ra.  Năm 1197, Hoàng đế Henry VI muốn làm cuộc viễn chinh Thập Tự quân kế tiếp nhưng bị chết cùng năm vì sốt rét.  Vua Richard I cuối cùng chết khi đánh trận ở Âu châu và không bao giờ trở lại Thánh địa.

 

Trong thế kỷ 13, Thập Tự quân của các hiệp sĩ Dòng Teutonic (Teutonic Knights) dẫn đầu người Ba Lan, Đức và Pomeranians đối đầu với cư dân Đa Thần giáo ở vùng Prussian (Phổ) trong thời kỳ Viễn chinh ở Prussia.

 

Cuộc viễn chinh Thánh địa lần thứ tư (1202-1204)

 

Phát động từ Giáo hoàng Innocent III với dự định xâm lăng Thánh địa từ Ai Cập.  Vì Thập Tự quân thiếu tiền trả cho chiến hạm chuyên chở và lương thực đã lấy từ những người dân Venice, các người cầm đầu quyết định tới Constantinople.  Ở đây họ toan tính đem một người Byzantine lưu vong lên làm Hoàng đế.  Sau hàng loạt những hiểu lầm và bạo lực, Thập Tự quân cướp phá Constantinople (năm 1204) và lập nên Đế quốc La Tinh (Latin Empire) và lập liên tiếp sau đó những tiểu quốc Thập Tự quân khác khắp toàn lãnh thổ của Đế quốc Byzantine.  Đó được coi là điểm tan vỡ cuối cùng của the Đại Ly Giáo (Great Schism) giữa Giáo hội Chính Thống giáo (Eastrn Orthodox Church) và Giáo hội Công Giáo La (Westetn Roman Catholic Church).

 

Sau đó hầu hết Asia Minor dưới quyền kiểm soát của giới lãnh đạo Công giáo La Mã, và Đế quốc La Tinh ở miền Đông (Latin Empire of the East) được thành lập.  Sau khi Constantinople bị rơi vào Đế quốc La Thinh ở miền Tây (Latin West), Đế quốc Nicaea (Empire of Nicaea) được thành lập, nó là nguồn gốc sau nầy của lực lượng quân chủ Hy Lạp đánh bại lực lượng La Tinh của Âu châu và lập lại nước quân chủ Chính Thống giáo (Orthodoxy monarchy) ở Constantinople và Asia Minor.

*

Từ cuộc Viễn chinh lần thứ nhất, có những Dòng Hiệp sĩ (Chivalric orders) được thành lập để bảo vệ Thánh địa và những người hành hương.  Đa số các Hiệp sĩ là người của thế tục nhưng có liên lạc chặc chẽ với giới Tăng lữ.  Lần lần các Hiệp sĩ tham gia những viễn chinh khác vì lý do tôn giáo.

Có 3 Dòng nổi tiếng nhất:

Knights of Hospitaller = Hiệp sĩ Cứu tế

Knights Templar = Hiệp sĩ Đền thánh

Teutonic Knights = "Hiệp sĩ Huynh đệ nhân danh Thánh mẫu".

 

Sau 4 cuộc Viễn chinh Thánh địa nầy, có 5 cuộc Viễn chinh Thánh địa tiếp theo trong thế kỷ thứ 13 nhưng không có qui mô, không gây tiếng vang rộng lớn và không có hậu quả mới.

 

Cuộc viễn chinh Thánh địa lần thứ năm (1217-1221)

 

Hội nghị Lateran lần thứ 4 (4th Council of Lateran) vào năm 1215 lập ra thể thức để lấy lại Thánh địa.  

Trong giai đoạn đầu của cuộc Viễn chinh, lực lượng Thập Tự quân từ Áo và Hung cùng với lực lượng của vua của Jerusalem và hoàng tử của Antioch lấy lại Jerusalem.  Trong giai đoạn thứ nhì lực lượng Thập Tự quân chiếm được Damietta ở Ai Cập (1219) nhưng theo quyết định của Sứ thần của Giáo hoàng, Pelagius, họ lại sai lầm tấn công Cairo (tháng7, 1221).  Họ bị đẩy lui và phải rút lui vì thiếu lương thực.  Sultan Al-Kamil tấn công ban đêm, đánh bại Thập Tự quân và bắt buộc họ phải đầu hàng.  Sau đó Al-Kamil ký hiệp ước hòa bình với Âu châu trong 8 năm.

 

Cuộc viễn chinh Thánh địa lần thứ sáu (1228-1229)

 

Hoàng đế Frederick II của Đức thề sẽ thực hiện viễn chinh nhưng không giữ lời nên bị Giáo hoàng Gregory IX trục xuất (excommunicate) vào năm 1228.  Hoàng đế đi thuyền từ Brindisi tới Palestine, và qua tài ngoại giao, Hoàng đế đạt được thắng lợi không ngờ: Jerusalem, Nazareth và Bethlehem được đưa cho Thập Tự quân trong thời gian 10 năm.

Năm 1229, sau khi không chinh phục được Ai Cập, Hoàng đế Frederick II ký hòa ước với Sultan Al-Kamil.  Hòa ước nầy cho phép người Kitô giáo cai trị hầu hết Jerusalem trong khi người Hồi giáo được cho quyền kiểm soát the Dome of the Rock và Al-Aksa mosque.  Nhiều người Hồi giáo không bằng lòng với Al-Kamil đã nhượng quyền kiểm soát Jerusalem, và vào năm 1244, sau một thời gian bao vây, người Hồi giáo kiểm soát lại Jerusalem.

 

Cuộc viễn chinh Thánh địa lần thứ bảy (1248-1254)

 

Năm 1243 có trận La Forbie giữa Thập Tự quân còn lại ở Thánh địa liên minh với quân Hồi giáo địa phương thua quân Ai cập của sultan Salih Ayyub (và quân của bộ lạc người Khwarezmian).  Trận thua nầy đánh dấu những ngày tàn của vương quốc Outremer.

Vua Louis IX của Pháp tổ chức viễn chinh đánh Ai Cập (1248-1254) sau trận La Forbie ở Gaza (1243).  Xuất phát từ hải cảng mới lập Algues-Mortes ở Nam Pháp, cuộc viễn chinh nầy hoàn toàn thất bại.  Vua đa số sống ở Acre trong vương quốc của Thập Tự quân.

 

Cuộc viễn chinh Thánh địa lần thứ tám (1270)

 

Vua Louis IX của Pháp tổ chức, đi từ Algues-Mortes để đến tiếp viện phần còn lại của vương quốc Thập Tự quân ở Syria.  Nhưng cuộc viễn chinh lại đổi hướng tới Tunis, tại đây vua ở 2 tháng trước khi chết.  Với nổ lực nầy, vua được phong thánh.

 

Cuộc viễn chinh Thánh địa lần thứ chín (1271-1272)

 

Vua tương lai Edward I của Anh làm một cuộc viễn chinh chống lại Baibars năm 1271, sau khi có theo vua Louis trong cuộc viễn chinh lần thứ tám.  Baibars là Sultan thứ tư của triều đại Mamluk Bahri ở Ai Cập.  Cuộc viễn chinh nầy thất bại hoàn toàn và là cuộc viễn chinh cuối cùng.

 

*

Triều đại Mamluk của Ai Cập là đe dọa cho vương quốc của Thập Tự quân còn lại ở Thánh địa.  Thập Tự quân muốn liên minh với người Mông Cổ khi có cuộc viễn chinh Mông Cổ ngang Trung Đông như không trên đường đi của quân Mông Cổ (chỉ có qua Damascus chứ không xa hơn nữa về phương tây).  Trong trận Ain Jalut (1260), Baibars đánh bại quân Mông Cổ làm tan hy vọng của Thập Tự quân.  

Sau đó Triều đại Mamluk lần lần chiếm Antioch (1268), Tripoli (1289) và Acre (1291).  Những người Kitô giáo không kịp trốn thoát đều bị giết hay bán làm nô lệ và dấu vết cuối cùng của cai trị của người Kitô ở nước Levant biến mất. 

 

*

Hậu quả của những cuộc Thập Tự chinh:

Về mặt tinh thần, Giáo hội mất tín nhiệm toàn cầu.

Về chính trị, nó giúp làm suy yếu chế độ phong kiến vì nhiều nhà quí tộc bị giết chết trong chiến dịch.

Về kinh tế, chiến dịch viễn chinh Thập Tự quân có thắng và có thua.  Giáo hội và giới quí tộc mất mát về tài chánh vì phải trợ giúp những cuộc viễn chinh.  Mặt khác Thập Tự quân mang về Âu châu nhiều sản phẩm được quần chúng ưa thích.  Nhờ đó Thương gia, ngân hàng và các chủ thuyền có cơ hội trở nên giàu có trong thương mại.  Họ làm kinh tế phát triển mạnh dựa trên tiền tệ chứ không nhờ trên đất đai.  Được hưởng lợi ngay tức thì là các "thành phố-quốc gia" (city-state) như Venice, Florence và Genoa.  Các thành phố ở Ý nầy lại đóng vai trò như ngân hàng cho các quốc vương Âu châu, cho họ mượn tiền thực hiện những chương trình to lớn.

Hậu quả văn hóa của Thập Tự chinh thì là nghi vấn.  Những tiếp xúc của Âu châu với khoa học, triết lý, và y học đã xảy ra hàng thế kỷ trước ở Spain, chứ không ở Asia Minor hay Thánh địa.  Tuy nhiên kinh nghiệm viễn du và sống ở những xứ lạ tạo ra tánh hiếu kỳ và mở mang của người Âu châu, như vậy họ chuẩn bị cho giác ngộ văn hóa bắt đầu vào thế kỷ 12 và 13. 


 

TÀ GIÁO VÀ TÒA ÁN DỊ GIÁO

 

*

Tòa án Dị giáo trong Giáo phận

 

Những chỉ trích về sự thối nát và giàu sang của Giáo hội trong thời Trung Cổ tạo ra một số vận động cải cách.  Than phiền về những lạm dụng đôi khi sinh ra tấn công giáo sĩ.  Theo Giáo hội thì một ý kiến hay niềm tin phản lại giáo điều của Giáo hội là Tà giáo (Heresy).  Người Tà giáo (Heretics) được coi là hiểm họa cho Giáo hội Công giáo Trung Cổ.

 

Từ năm 1184, Tòa Thánh lập ra Tòa án Dị giáo (Inquisition) để truy tầm và đàn áp Tà giáo.  Một loạt nhiều Tòa án Dị giáo được Giáo hội Công giáo lập ra để kết tội và với mục đích diệt Tà giáo (Heresy).  Đó là Tòa án Dị giáo từ Giám mục trong Giáo phận (1184-1230). 

Sau đó trong lịch sử tiếp tục có Tòa án Dị giáo của Giáo hoàng rồi Tòa án Dị giáo của Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha.

Tòa án Dị giáo trong Giáo phận = Episcopal Inquisiton

Tòa án Dị giáo của Giáo hoàng = Papal Inquisition

Tòa án Dị giáo của Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha = Inquisition of Spain and Portugal

 

*

Tòa án Dị giáo của Giáo hoàng

 

Tòa án Dị giáo của Giáo hoàng trong toàn thế giới Công giáo từ năm 1221 và kéo dài khoảng 1 thế kỷ.  Nó phát động từ Giáo hoàng để đáp lại những vận động Tà giáo của những người bỏ đạo (apostate) chống lại Công giáo nhất là người Cathars ở nam Pháp và bắc Ý.  Trước đó Giáo hoàng Inocent III đã tổ chức cuộc Viễn chinh Albigensian (Albigensian Crusade) để dẹp những người Cathars nầy ở Languedoc.  

 

Trước hết có những Quan tòa của Tòa án Dị giáo (Inquisitors) do Giáo hội cử đi hoạt động để tìm ra và trừng phạt những người Tà giáo (Heretic).  

Một Quan tòa tới một chỗ nghi ngờ có hiện diện của Tà giáo, ra lệnh cho người cư dân tiết lộ những gì biết về láng giềng của mình.  Tên của nhân chứng được giữ kín, nên có sự cám dỗ mạnh mẽ để lấy điểm.  Từ năm 1252, theo một sắc lệnh (bull) của Giáo hoàng Innocent IV thì người bị tình nghi Tà giáo có thể bị tra tấn để lấy lời thú tội.

Quan tòa tuyên bố hình phạt ở chỗ họp công cộng với người bị kết tội dẫn đến đó để nghe số phận của mình.  Những hình phạt (penalties) là nhịn đói, hành hương, mang cây thập tự màu vàng, tịch thu tài sản, đánh bằng roi (flogging), hay bị tù trong một thời gian hay suốt đời.  Nhưng hình phạt không thể có đổ máu nên không bản án tử hình.  Như vậy những người bị kết tội phải chết bị chuyển sang cho người có quyền thế tục, họ biết bổn phận Kitô giáo của mình và sẵn sàng đáp ứng.  Chết bởi hỏa thiêu tại hiện trường được thực hiện theo hình phạt truyền thống cho người Tà giáo giúp cho đúng ý nghĩa "không đổ máu".

 

Tòa án Dị giáo của Giáo hoàng kéo dài trong 2 thế kỷ cho tới hỏa thiêu của John Huss và Joan of Arc vào thế kỷ thứ 15, chính thức chấm dứt trong năm 1478.  Nó chính thức bắt đầu trong năm 1221 nhằm tiêu diệt người Tà giáo Albigensians (người Cathars theo Thanh giáo)

 

Cuộc viễn chinh Albigensian và Tòa án Dị giáo dẹp người Cathars

 

Người Tà giáo ở Nam nước Pháp, người Cathar theo giáo phái Thanh giáo (puritanical sect), còn gọi là người Albigensians.  

Đầu thế kỷ thứ 13, Tòa thánh sai nhiều Giám mục tới Toulouse giảng đạo chống Tà giáo Cathar nhưng thất bại.  Năm 1206, Dominic de Guzman theo 1 giám mục Tây Ban Nha tới Toulouse.  Ông cho rằng người giảng đạo Kitô giáo (christian preachers) phải học từ người Cathars.  Họ phải sống đơn giản thì người dân mới nghe theo lời dạy của mình.  Đây là bắt đầu hệ thống Dominican về cách giảng dạy Phúc Âm (evangelical preaching) sau nầy vì Dominic là người trong tương lai sẽ lập ra Dòng tu Dominicans.  Phương cách của Dominc đạt được thành công lúc đầu.  Năm 1207, ông thiết lập một Nữ tu viện (convent) ở Prouille, trong đỏ các nữ tu chuyển đạo từ Tà giáo Cathar.  Nữ tu viện nầy thành trung tâm truyền giáo của ông.  

 

Tuy nhiên vào tháng 1, 1208, sứ thần của Giáo hoàng đến Toulouse bị ám sát.  Năm 1209, Giáo hoàng Innocent III kêu gọi các lãnh chúa phong kiến (feudal lords) của Công giáo Âu Châu tiêu diệt những người Tà giáo, phát ra sự tàn bạo của cuộc viễn chinh Albigensian (Albigensian crusade).  

Simon de Monfort và quân Pháp vây và chiếm thành Carcassonne của người Cathars ở Nam Pháp (năm 1209).  Vua Peter II của Aragon (Spain), một người theo Chính Thống giáo, liên minh với thủ lãnh Albigiensian là Công tước Raymond VI of Toulouse.  Quân Pháp của Monfort đánh bại liên quân nầy ở trận Muret và giết vua Peter II rồi tiến chiếm Toulouse (1213).  Raymond chiếm lại Toulouse và chỉ còn thủ trong thành Toulouse (1217).  

Năm 1226, Monfort thành vua Louis VIII của Pháp lại đánh Toulouse và con của Raymond xin hòa (1229). 

 

Vì người Cathars vẫn sống sót sau cuộc viễn chinh Albigensian thứ nhất của quân Pháp.  Từ đó Giáo hoàng bắt đầu chương trình Tòa án Dị giáo (1221).

Tòa án Dị giáo (Inquisition) dẹp người Cathars nầy có những chi tiết lạ.  Giáo hoàng gởi vài Thầy Dòng Dominican tới Toulouse để diệt tận gốc người Tà giáo (1233).  Vài Quan tòa từ "săn bắn bất hợp pháp" (poacher) thành người "bảo trì" (gamekeeper).  Robert le Bougre lại theo Thanh giáo của người Cathar vì là một chàng trai trẻ, ông lại yêu một cô gái Cathar.  St Peter Martyr sinh từ một gia đình người Cathar.

Tuy nhiên người Albigensians bị hoàn toàn tiêu diệt sau khi thành trì chống giữ kiên cố của họ bị sụp đổ ở Montsegur (1244).

 

*

Tòa án Dị giáo của Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha

 

Giáo hoàng Sixtus IV vào năm 1478 cho phép Ferdinand và Isabelle chỉ định Quan tòa để làm chắc chắn là người Do Thái Tây Ban Nha (Spanish Jews) thật sự chuyển theo Kitô giáo chứ không giả vờ.  Sau người Do Thái, mục tiêu của Tòa án Dị giáo là những người Hồi giáo (Muslims) và những loại người Á châu hay Mỹ châu khác nhau.  Theo truyền thống thì tu sĩ Dominicans, trong đó có Torquemada, làm công việc nầy.  Tòa án Dị giáo của Tây Ban Nha là sự kéo dài của những gì đã làm của Tòa án Dị giáo của Giáo hoàng.  

Cũng có chương trình Pháp Đình ở Bồ Đào Nha nhưng nhẹ hơn ở Tây Ban Nha.


 

GIÁO HOÀNG VÀ TÒA THÁNH TRONG THỜI HẬU TRUNG CỔ 

 

Giáo Hoàng và vương quốc Sicily (1254-1282)

 

Năm 1254, vua Sicily là Conrad IV chết (con của Hoàng đế Frederick II của triều đại Hohenstaufen).  Con không chính thức của Conrad IV là Manfred và con chính thức nối ngôi là Conradin (chỉ mới 2 tuổi).  Vương quốc Sicily (gồm Sicily và Nam Ý) là chư hầu của Giáo hoàng nên cần có nhà lãnh đạo theo Tòa Thánh.  

Đầu tiên Tòa thánh muốn dâng ngai vàng cho con của Henry III, vua của Anh, nhưng người Anh không chú ý tới.  Năm 1258, Manfred sắp đặt lễ đăng quang của mình.  Chuyện nầy đem đến thương nghị với Tòa thánh ở Rome nhưng cuối cùng đổ bể (1263).  Giáo hoàng Urban IV muốn cho Charles of Anjou, em của Louis IX, vua của Pháp làm vua của vương quốc Sicily (và Naples) gồm Sicily và Nam Ý.  Charles of Anjou đem quân Pháp đến Ý, và giết Manfred trong trận Benevento năm 1266.  Hai năm sau đó Conradin (16 tuổi) bị bắt và giao cho Charles of Anjou.  Charles of Anjou đem Conradin xử tử trong một buổi lễ trước công chúng ở Naples.  Triều đại Angevin từ Charles of Anjou bắt đầu ở Sicily và Nam Ý.

 

Sicily và Nam Ý thành ra trong tay của người Pháp với sự vừa ý của Tòa thánh ở Rome và đổi tên là vương quốc Naples.  Người Pháp và Tòa Thánh có cùng lòng hiếu chiến đối với Đế quốc Đức (Đế quốc Thánh La Mã).  Ở Ý có đảng Guelphs của Giáo hoàng và đảng Ghibellines ủng hộ Đế quốc Đức.  Giáo hoàng rất mừng có người Pháp, kẻ thù của người Đức là láng giềng phía nam của mình.

Người bản xứ Sicilians không chịu người Pháp tới vì đất bị thuộc về quí tộc phong kiến và đóng thuế nặng để trả tiền quân phí cho Charles of Anjou.  Sự bất bình chính quyền của triều đại Angevin nầy bùng nổ trong vương quốc Naples với những người nổi loạn gọi là Sicilian Vespers (năm 1282).  Nam Ý và đảo Sicily lâm vào tình trạng hổn loạn trong 2 thế kỷ.  Hai địch thủ: một bên là người Pháp Angevin và Tòa thánh và một bên là người Tây Ban Nha Aragonese thường được Đế quốc Đức ủng hộ.

 

Những Giáo Hoàng lang thang (1257-1309)

 

Rome trở thành bất ổn vì có 2 phe: theo Tòa thánh (được người Pháp ủng hộ) và theo Đế quốc Thánh La Mã (Đức).  Rồi sau đó có rối loạn ở Sicily trong vương quốc Naples ở phía Nam.  Giáo hoàng và triều đình riêng của mình (Roman Curia) phải di chuyển tới ở nhiều chỗ: Viterbo, Orvieto, Perugia...

Khi một Giáo hoàng chết, Hội đồng Hồng y (College of Cardinals) gặp ở chỗ Giáo hoảng chết để bầu Giáo hoàng mới.


 

Giáo hoàng Boniface VIII và vua Philip IV của Pháp

 

Sau vua Louis IX (trong chiến dịch viễn chinh dẹp người Cathars) và Charles of Anjou, em của Lois IX, (trong chiến dịch ở Sicily và Naples); liên quan giữa Tòa Thánh và Pháp vẫn còn nhưng không thuận lợi cho Tòa thánh vào cuối thế kỷ 13.  Từ đó Giáo hoàng và Tòa thánh bị lệ thuộc vào quân chủ và quí tộc người Pháp

 

Thời gian trị vì của Giáo hoàng Boniface VIII (1294-1303) đánh dấu khởi điểm xuống dốc của quyền lực và vinh quang của Giáo hoàng trong thời Trung Cổ.

Giáo hoàng Boniface có nhiều đặc điểm.  Sử gia có tả ngài: "hành động rọn rén như con chó sói (fox), trị vì như con sư tử và chết như con chó".  Giáo hoàng thường mặc áo vua, đội vương miện có nhiều nữ trang và hay than rằng: "ta là Caesar, ta là Hoàng đế".  Và Giáo hoàng hay dạy rằng: Giáo hoàng có cả hai cây kiếm, thế tục và tâm linh.

 

Giáo hoàng Boniface VIII:

ra công sửa nhà thờ, phục hồi thư viện Vatican và thích nghệ thuật.

đặt ra "Năm Thánh" đầu tiên (1st Holy Year with The Jubilee) vào năm 1300: (Giáo hoàng) tha hoàn toàn tất cả tội lỗi cho những ai thăm Thánh đường St Peter vào năm đó.  Do đó Tòa thánh làm tiền nhiều từ người hành hương thăm viếng Rome.

Trong thế giới chính trị, Giáo hoàng không hòa giải được xung đột giữa Naples (Nam Ý), Venice và Genoa.

 

Từ năm 1296, Giáo hoàng Boniface VIII chống chọi với vua Philip IV của Pháp về vấn đề nhà vua có quyền đánh thuế và kỷ luật giáo sĩ trong lãnh thổ của mình không cần Giáo hoàng cho phép.  

Từ đó lại kéo đến tranh đấu về việc phong chức Giám mục (Investiture controversy). 

Năm 1296, Papa bull Clericis Laicos đe dọa trục xuất khỏi Giáo hội những ai dám đánh thuế giáo sĩ.  

Thật ra vua Philip IV cùa Pháp (và vua Edward I của Anh) chỉ muốn đánh thuế giáo sĩ để làm tiền cho chiến dịch quân sự.  Năm 1302, vua Philip IV cấm (embargo) sản xuất nữ trang từ lãnh địa của mình làm giảm lợi tức của Giáo hoàng.  

Giáo hoàng Boniface VIII nhượng bộ cho rằng có thể đánh thuế cho sự cần thiết quốc phòng.

Năm 1301, một bộ trưởng của Philip IV cho rằng gươm của Philip làm bằng thép còn Giáo hoàng chỉ làm ra bằng lời nói (word).  Vài tháng sau Giáo hoàng Boniface ra sắc lệnh Unam Sanctam (1302) tuyên bố quyền tối cao (sovereignity) của Giáo hội, tất cả con người (human beings) là thần dân (subject) của Giáo hoàng ở Rome.

 

Từ năm 1297, vua Philip IV sửa soạn lật đổ Giáo hoàng Boniface VIII căn cứ trên bầu cử bất hợp pháp, Tà giáo, Mua bán chức (Simony) và không đạo đức (immorality).  Có một số nhà thờ cũng kêu gọi như vậy.

Năm 1303, cho rằng có sự bất thường trong việc bầu Boniface VIII làm Giáo hoàng nên vua Philip IV sai sứ giả sang Rome điều tra nhưng với mục đích khơi lên sự nổi loạn chống lại Giáo hoàng.  Giáo hoàng Boniface gần ra sắc lệnh trục xuất vua Philip thì sứ giả của vua Philip là Guillaume de Nogaret lập ra một toán quân và tấn công bất thình lình Giáo hoàng Boniface (86 tuổi) lúc đang nghỉ hè ở 1 ngọn đồi của núi Apennine nơi sinh quán (của Giáo hoàng) là Anagni.  Họ xông vào phòng ngủ, bắt giữ và cầm tù Giáo hoàng trong vài ngày.  Được người dân Anagni giải cứu và đem về Rome, Giáo hoàng Boniface VIII chết 4 tuần sau đó.  

 

Uy tín của Giáo hoàng bị suy giảm đáng kể còn quyền lực của vua Philip IV của Pháp tăng lên trong thời kỳ nầy.  Từ đó các quân chủ của các quốc gia nổi lên chối bỏ quyền hành trong lãnh vực tâm linh của Giáo hoàng.

 

Giáo hoàng và Tòa thánh ở Avignon (1309-1377)

 

Trong suốt thế kỷ 14, quân chủ Pháp rõ ràng có các Giáo hoàng trong "túi" của mình.  Vua Philip IV chọn một Giáo hoàng người Pháp, Clement V (1305-1316) kế vị Giáo hoàng Boniface.

Năm 1309, Giáo hoàng Clement V chuyển tổng hành dinh của mình sang Avignon (ở đông nam nước Pháp) chuẩn bị hội nghị ở Trung Pháp theo tố cáo của vua Philip IV về Dòng Hiệp sĩ Templars.  Cuối cùng dòng nầy bị Giáo hoàng dẹp bỏ theo ý của vua nước Pháp.  

Tuy nhiên thật ra Avignon thuộc protégé của Giáo hoàng là triểu đại Angevin ở vương quốc Naples (Nam Ý và Sicily).  Sau đó các Giáo hoàng bắt đầu ở luôn ở Avignon từ 1309 cho tới 1378, có tất cả một loạt 7 Giáo hoàng ở tại Avignon thay vì ở Rome.  Giai đoạn nầy được lịch sử gọi là Sự Giam cầm Babylon ( Babylonian captivity) vì Giáo hoàng và Tòa thánh dưới ảnh hưởng của vua nước Pháp. 

 

Avignon có địa thế ở trung tâm: đường từ Anh sang Ý và từ Đức sang Spain.  Avignon yên ổn hơn Rome, lúc đó trong tình trạng hỗn loạn vô chính phủ (anarchy) khống chế bởi những gia đình quí tộc hiếu chiến và những băng đảng của "condotierri".  Giáo hoàng dễ làm việc hơn ở Avignon và một lâu đài được cất ử đây cho xứng đáng với Giáo hoàng từ năm 1334.  

Tuy nhiên uy tín của Giáo hoàng bị mất từ Rome, tòa giám mục của Thánh Peter.  Và lãnh thổ, Lãnh địa Giáo hoàng, là thuộc Ý.  Về sử địa, Rome tốt hơn Avignon cho sự phát triển của Tòa Thánh.

 

*

Đại Ly Giáo = Ly Giáo Của Giáo Hoàng (1378-1417) 

 

Đại Ly Giáo (Great Schism) còn gọi là Ly Giáo ở Miền Tây (Western Schism) hay Ly Giáo của Giáo hoàng (Papal Schism).

                             (Ảnh hưởng của Đại Ly Giáo, thế kỷ thứ 15)


 

Sau khi về Rome ngắn hạn trong 3 năm (từ 1367), Giáo hoàng Gregory IX cuối cùng từ giả Avignon về ở luôn ở Rome (1377).

Nhưng sau khi dời về Rome được 1 năm thì Giáo hoàng Gregory IX chết.  Người dân ở Rome cảm thấy bị đe dọa, đòi phải có một Giáo hoàng mới là người cư dân của Rome hay ít nhất là người Ý.  Năm 1378, Mật nghị Hồng y bầu Giáo hoàng Urban VI là người Ý ở Naples (Nam Ý).  Việc nầy trái ý các Hồng y người Pháp.  Các Hồng y người Pháp rút ra khỏi Mật nghị (conclave) và bầu một người Pháp, Robert de Geneva làm Giáo hoàng khác.  Đó là Giáo hoàng Clement VII.  Từ 1379, Giáo hoàng Clement VII trở về ở Avignon trong khi Giáo hoàng Urban VI ở Rome.

Thế là thời kỳ Đại Ly Giáo (great schism) bắt đầu.  Từ đó trong gần 40 năm cùng một lúc có 2 Giáo hoàng với 2 triều đình (curias) và 2 Hội đồng Hồng y, mỗi Hội đồng tự bầu Giáo hoàng mới cho Rome hoặc Avignon khi Giáo hoàng cũ qua đời.  Mỗi Giáo hoàng vận động khắp Âu châu cho sự ủng hộ.  Các quốc vương (và Hoàng đế Thánh La Mã) và vương tử không thật tình với Giáo hoàng nào hết, đổi sự trung thành khi được có lợi ích dâng ra từ Giáo hoàng.

 

Năm 1409, một hội nghị được triệu tập ở Pisa để giải quyết vấn đề.  Hội nghị công bố 2 Giáo hoàng đương nhiệm là chia rẽ (schismatic): Gregory XII ớ Rome và Benedict XIII ở Avignon, và bầu 1 Giáo hoàng thứ 3 (người ở Pisa), Alexander V.  Nhưng không ai thuyết phục 2 Giáo hoàng đương nhiệm từ chức.  Như vậy Giáo hội có 3 Giáo hoàng cùng một lúc.  

 

Một hội nghí khác được triệu tập ở Constance (1414) để giải quyết vấn đề 3 Giáo hoàng và cứu xét tư tưởng cấp tiến của John Wycliffe và John Huss.  Đó là Hội nghị Constance (1414-1417).  Tháng 3, 1415, Giáo hoàng đương nhiệm của nhóm Pisa (John XIII) giả dạng trốn khỏi Constance, sau khi đến dự hội nghị.  Giáo hoàng John XIII bị bắt lại, cầm tù và truất phế vào tháng 5, 1414.  

Giáo hoàng Gregory XII của Rome từ chức vào tháng 7, 1414.  

Giáo hoàng Benedict XIII của Avignon từ chối không tới Constance và được Hoàng đế Đức là Sigismund ủng hộ nên không từ chức.  Hội nghị cuối cùng truất phế Giáo hoàng Benedict (tháng 7, 1414).  Từ chối không chịu bỏ chức và về ở một lâu đài kiên cố ở bờ biển Tây Ban Nha, Giáo hoàng Benedict  XIII vẫn làm nhiệm vụ như Giáo hoàng, phong Hồng y và ra sắc lệnh cho tới khi chết vào năm 1423.

Hội nghị Constance cuối cùng dẹp được 3 Giáo hoàng cũ (tháng 7, 1414) và toàn thể bầu một Hồng y làm Giáo hoàng mới (tháng 11, 1417).  Vị Hồng y nầy lại là chưa hề thụ phong giáo sĩ (ordained).  Do đó trong những ngảy liên tiếp, ông được nhanh chóng qua tất cả các giai đoạn thụ phong của hàng giáo phẩm: thụ phong là Thầy Trợ tế (deacon) rồi Linh mục (priest), được phong chức Giám mục và lên ngôi thành Giáo hoàng.  Đó là Giáo hoàng Martin V. 

 

Thời kỳ Ly giáo của Giáo hoàng chấm dứt.  Tiếp theo là thời đại Phục Hưng huy hoàng của các Giáo hoàng và Tòa thánh của Rome.  Lịch sử Công giáo bước vào thời Cận Đại.


 

Bs PHAN THƯỢNG HẢI biên soạn

 

Tài Liệu Tham Khảo

Lịch Sử Kitô Giáo Thời Cổ Đại - phanthuonghai.com (Phan Thượng Hải)

Lịch Sử Công Giáo Thời Cận Đại - phanthuonghai.com (Phan Thượng Hải)

World History Dates (Jane Chisholm)

Europe (Michael Kort)

The Middle East And North Africa (Reeva Simon)

History of The World (Plantagenet Somerset Fry)

Atlas of European History (Times Book)

 

Bs PHAN THƯỢNG HẢI biên soạn và giữ bản quyền

_____________________________________

    BÀI 1:

  LỊCH SỬ KITÔ GIÁO THỜI CỔ ĐẠI

                                                                               (Phan Thượng Hải)


 

Từ Jesus (Giê-su / Gia tô) có một tôn giáo là Christianity (tiếng Anh).  

Là người Do Thái, Jesus được các Tông đồ, cũng là người Do Thái, gọi là "Đấng cứu thế" (savior) mà tiếng Do thái là Messiah.  Messiah dịch ra tiếng Hy Lạp là Christo và tiếng La Tinh là Christus, chuyển thành tiếng Anh là Christ.  

Christianity là từ Christ (Christo và Christus), có nghĩa là: Tôn giáo của Christ, Đấng cứu rỗi thế gian. Dịch âm thành tiếng Việt của Christo là Kitô và của Christus là Cơ Đốc.  

Do đó Christianity được dịch ra tiếng Việt là Kitô giáo hay Cơ Đốc giáo.  Theo hiện đại, tác giả dùng từ ngữ "Kitô giáo".

 

Thời Cổ Đại (Antiquity) chấm dứt vào năm 476 khi Odoacer lật đổ Hoàng đế Romulus Augustulus của Đế quốc Tây La Mã ở Rome, trở thành vua của Ý (King of Italy) và Đế quốc Tây La Mã chấm dứt.  Thời kỳ sau năm 313 thường gọi là Hậu Cổ Đại (Late Antiquity).  


 

TRONG THỜI KỲ CỔ ĐẠI (ANTIQUITY)

(1-312)

 

*

Jesus Christ

 

Kitô giáo bắt đầu bởi Jesus trong thời gian Hòa Bình La Mã (Pax Romana) từ Hoàng đế Augustus.

Jesus sinh ra trong một gia đình người Do Thái ở Nazareth, một làng nhỏ thuộc tỉnh Galilee của Đế quốc La Mã (Roman Empire).  Khi vào khoảng 30 tuổi, ngài bắt đầu rao giảng cho mọi người là Nước Trời (Kingdom of God) gần xuất hiện trên Địa cầu.  Muốn được cứu rổi (saved), ngài nói, con người cần có thay đổi về đạo đức (moral transformation), về ăn năn (repentance), sống cho phải đạo (right living) và có lòng thương người (loving heart).  Ngài rao giảng Đức tin (faith), Hy vọng (hope) và Tình thương (love).

Mặc dù Jesus là người Do Thái truyền thống (Hebrew), có người Do Thái đương thời không bằng lòng vì cho rằng Jesus không nhìn nhận luật Do Thái truyền thống (Hebrew law).  Nhà cầm quyền của Đế quốc La Mã coi Jesus là một đe dọa (threat), có thể nghi ngài là một "Người cuồng tín" (Zealot), một trong tông phái của Do Thái giáo thúc đẩy dân chúng dùng vũ khí nổi loạn chống Hoàng đế và Đế quốc.  Một tông phái (sect) là một nhóm hay tổ chức bên trong một tôn giáo.  Jesus bị bắt xử tại tòa án của Đế quốc La Mã ở Jerusalem và xử tử bằng đóng đinh trên cây Thập tự (Crucifixion), một phương tiện tàn bạo để xử tử thường dùng bởi người La Mã.

 

Những đệ tử (disciples or followers) của Jesus tin rằng vào ngày thứ ba sau khi chết và để trong mộ đá, Jesus sống lên từ cái chết.  Họ giải nghĩa biến cố nầy như là chứng cớ là Jesus là Con của Thiên Chúa (Son of God), người đã xuống Địa cầu để cứu tất cả nhân loại.  Họ tin rằng Jesus là Messiah (tiếng Do Thái), hay theo tiếng Hy Lạp là Christos và dịch ra tiếng Anh là Christ.  Messiah dịch nghĩa là "Đấng cứu thế" (the Savior) đã được hứa hẹn theo các nhà Tiên tri (prophets) trong kinh thánh của Do Thái giáo (Judaism).  Những đệ tử của Jesus cho rằng họ phải có bổn phận là rao giảng khắp nơi Tin Lành (good news), hay là Phúc Âm (Gospel) nầy cho những người khác ở khắp nơi.  

 

*

12 Thánh Tông đồ

 

Jesus cỏ 12 đệ tử thân cận nhất trước khi ngài chịu nạn gọi là Tông đồ.  Tông đồ cuối cùng qua đời là John, hay John the Apostle, ở Anatolia (vào năm 100).

Do đó giai đoạn đầu của Kitô giáo từ 1-100 gọi là Giai đoạn Tông đồ (Apostolic period).

 

12 Tông đồ gồm có:

 

1. Simon hay Simon Peter.  Thường được biết là Peter, thánh Peter; theo lịch sử là Giáo hoàng đầu tiên.

2. Andrew: em của Simon Peter.  Trước là môn đồ của John the Baptist.  Tông đồ trước tiên của Jesus.

3. James: anh của John, con của Zebedee.

4. John: em của James, con của Zebedee.  Người viết Phúc Âm.

5. Philip

6. Thaddeus: em của Simon

7. Bartholomew

8. Thomas

9. James: thường gọi là James the Less, anh của Matthew

10. Matthew: người Thu thuế; em của James the Less.  Người viết Phúc Âm.

11. Simon the Zealot or Simon the Canaanites

12. Judas Iscariot: người bán Jesus.  Được thay thế bởi Matthias.

Judas Iscariot sau khi bán Jesus thì hối hận nên tự tử trước khi Jesus sống lại (trong ngày thứ ba).

 

Tương truyền tất cả 12 Tông đồ đều tuẫn đạo trừ John, chết già vào năm 100 ở Anatolia.  Chỉ có sự tuẫn đạo của James of Zebedee được ghi trong Tân Ước.  Ngoài ra chỉ có ghi nhận trong lịch sử sự tuẫn đạo của Peter (cùng với Paul) ở Rome dưới thời Hoàng đế Nero (năm 64).  Do đó sử gia cận đại nghi ngờ sự tuẫn đạo của các Tông đồ khác là có thiệt.

Có 2 Tông đồ viết Phúc Âm: Matthew và John.

 

*

Thánh Paul

 

Đáng kể nhất trong những nhà truyền giáo lúc đầu là Paul, người khác những Tông đồ, là biến Kitô giáo (Christianity) từ một tông phái của Do Thái Giáo (Jewish sect) thành ra một tôn giáo độc lập của toàn thế giới.  

Là một người Do Thái nói được tiếng Hy Lạp từ Tarsus của Asia Minor, Paul tin rằng tất cả mọi người (là người Do Thái hay không phải là người là Do Thái) đều có thể có đời sống vĩnh cửu (eternal life) trong Nước Trời (kingdom of God).  Người không phải là người Do Thái (Non-Jews) được gọi là Gentile, dịch là người "ngoại đạo".  Nước Trời là chữ dịch lúc đầu của "Kingdom of God" nhưng sau nầy có thể dịch là "Thiên Đàng" (Heaven).  

Cho những "Người ngoại đạo" (Gentiles) nào chấp nhận khái niệm của người Do Thái về Một Thiên Chúa (single God) nhưng ngại về vài luật lệ của Do Thái về cách cư xử (rules of behavior), Paul tuyên bố rằng Luật Do Thái đã được thay thế bằng Giáo điều của Jesus (Teachings of Jesus).  

 

Paul trước là người ngược đãi người Kitô giáo.  Theo Tân Ước, ngài trên đường đi tới Damascus thì gặp Jesus hiện lên nên chuyển theo Kitô giáo.  

Trong thời gian truyền đạo  của Paul (34-64), Kitô Giáo (Christianity) thu được nhiều tín đồ Hy Lạp và La Mã trong Đế quốc La Mã.

*

Cơ cấu của sự cai quản nhà thờ và tòa Giám mục (Structure of Episcopacy) và Hàng giáo phẩm (Hierachy of clergy) còn sơ lược trong thời Cổ Đại.

 

Cộng đồng (community) của những tín đồ Kitô giáo tập hợp thành hội đoàn (congregation) ở từng địa phương để hội họp tham dự lễ và nghe giảng dạy đạo.  Người hành lễ, giảng dạy giáo lý và truyền đạo là Linh mục (priest) thường được gọi vào thời kỳ nầy là Thầy Tư tế (presbyter) hay Đàn anh (Elder).  Có Thầy Trợ tế phụ tá cho Linh mục (= Thầy Tư tế).  Chỉ có Linh mục được thi hành những phép Bí Tích trong khi hành lễ. 

5 Cộng đồng Kitô giáo lớn (ở những thành phố lớn lúc bấy giờ) thì được quản trị bởi Tòa Giám mục (See) có Giám mục (Bishop) cầm đầu.  Giám mục có nhiều giáo sĩ (Linh mục và Thầy Trợ tế) phụ giúp và còn quản trị những cộng đồng địa phương chung quanh do Linh mục trông coi. Giám mục trong thời kỳ nầy gọi là "Giám thị Tòa Giám mục" (Overseer) hay theo tiếng Hy Lạp là Episkopos.  Những Tòa Giám mục thành hình trong thời kỳ nầy là: Rome, Antioch, Alexandria và Jerusalem.  Về sau Constantinople mới tách ra khỏi Antioch mà thành Tòa Giám mục thứ 5.

 

Tín ngưỡng (worship) chỉ diễn ra trong những căn nhà của tín đồ được chỉ định, có khi trong vòng bí mật (khi Kitô giáo bị chính quyền của Đế quốc La Mã ngược đãi).  Lúc đầu những nơi hội họp tín ngưỡng nầy gọi là Nhà Thờ (church).  Đó là nguồn gốc của từ ngữ "Nhà thờ". 

 

*

Thánh Kinh (Bible = Biblical Canon)

 

Giáo lý của Kitô giáo nằm trong Thánh Kinh.  Thánh kinh của Kitô giáo gồm có Cựu Ước (Old Testament) và Tân Ước (New Testament).  Tân Ước thêm vào theo thời gian, viết về các Tông đồ trong Cộng đồng sớm nhất của Kitô giáo.  

Cựu Ước đã có sẵn, là thánh kinh (scripture) của người Do Thái và Do Thái giáo.

 

Tân ước gồm có Sách Phúc Âm và những Lá thư, đa số là của Paul (tới hết thế kỷ thứ 1) 

Sách Phúc Âm (Gospels) là  những Truyền ký (memoirs) của Tông đồ (Matthew, Luke, Mark và John). Sách Phúc Âm có 4 thánh thư (canons) gọi là Tetramorph, thành hình hoàn toàn vào thời của Irenaeus (khoảng 160).  

Đến đầu thế kỷ thứ 3, Origen of Alexandria dùng 27 quyển (books) giống như là Tân Ước bây giờ.  27 quyển nầy cũng được ghi trong Lá thư Phục sinh (Easter letter) của Atthanasius vào năm 367.  Tân Ước thánh thư được công nhận hoàn toàn bởi St Augustine trong Hội nghị Phi châu (African Synod) vào năm 393 và trong Hội nghị Carthage (Council of Carthage) vào năm 419.

Tân Ước được chính thức công nhận ở Đế quốc Tây La Mã vào thế kỷ thứ 4 và ở Đế quốc Đông La Mã vào thế kỷ thứ 5.

Sau nầy Công đồng Trent (1546) của phong trào Chống Cải Cách lập lại sự công nhận Tân Ước là thánh thư.

 

*

Ngược Đãi Kitô giáo 

 

Lúc ban đầu nhà cầm quyền La Mã chỉ coi Kitô giáo là một nhức nhối nhỏ và không can thiệp.  Nhưng khi số tín đồ Kitô giáo tăng lên, chính quyền bắt đầu coi họ như là những người "làm phản" và từ thái độ khoan dung (tolerance) biến thành ngược đãi (persecution).

Trong Tân Ước có những vị thánh tử đạo (St Stepnen và St James, con của Zebede).

 

Sự kiện giết hại người theo Kitô giáo rộng lớn đầu tiên được Hoàng đế Nero ra lệnh vào năm 64: tất cả người Thiên Chúa Giáo, già trẻ nam nữ bị bỏ vào Đấu trường (arena) để cho thú dữ ăn thịt.  Thánh Peter và Paul tử đạo (martyr). ở Rome trong năm nầy.  

Sau đó Hoàng đế của Đế quốc La Mã dùng người Kitô Giáo như là "scapegoat" cho nhiều vấn đề xã hội và kinh tế trong Đế quốc La Mã.  "Scapegoat" là một người hay nhóm người bị đổ thừa cho những điều làm từ những người.  

 

Những người tuẫn đạo (martyrs) bị tù đày, đánh đập, bỏ đói, thiêu sống và đóng đinh trên cây thập tự (crucified).  Người theo Đa Thần giáo địa phương (local pagan) cũng áp lực chính quyền địa phương ngược đãi người Kitô giáo.

Cuối cùng và nặng nhất là thời kỳ ngược đãi của Hoàng đế Diocletian (303-311).

THỜI KỲ HẬU TRUNG CỔ (LATE ANTIQUITY) 

(313-476)

 

Thành lập Chính Thống giáo La Mã (Roman Orthodoxy)

 

*

Hoàng đế Constantine I và Sắc lệnh Milan

 

Trong 300 năm đầu của Kitô Giáo, tín đồ (followers) phải chịu đựng những ngược đãi khủng khiếp.  Đa số người Kitô Giáo (Christian) vẫn vững lòng nên thu hút nhiều tín hữu mới theo Đức tin Kitô Giáo.

Khi số tín đồ tăng nhiều, nhà cầm quyền sau đó cố gắng lấy sự ủng hộ của họ.  Sắc lệnh khoan dung ở Serdica (Edict of Tolerance in Serdica) vào năm 311 của Hoàng đế Galerius (trị vì: 305-311) chấm dứt lệnh ngược đãi của Hoàng đế Diocletian.

 

Tiếp theo Galerius, Hoàng đế Constantine I có mẹ, Helena, là người Kitô Giáo.  Trong trận chiến Milvian Bridge (312), ông ra lệnh cho quân sĩ dùng khiên (shields) có biểu tượng Kitô Giáo giống như ông nằm chiêm bao trong đêm trước.  Sau khi thắng trận, Hoàng đế Constantine I (Hoàng đế của Tây Đế quốc) cùng với Hoàng đế Licinius I (của Đông Đế quốc) ra Sắc lệnh Milan (Edict of Milan) vào năm 313, bảo đảm sự khoan dung cho những người Kitô Giáo.  Sự ngược đãi người Kitô Giáo hoàn toàn chấm dứt và theo Kitô Giáo là hợp pháp.  

Hoàng đế Constantine I giúp Kitô Giáo: xây nhà thờ, đặc cách (priviledge) cho tu sĩ và hàng giáo phẩm, dùng những người Kitô Giáo trong chính quyền, trả lại tài sản trước đã bị sung công...

Năm 324, Hoàng đế Constantine I đánh bại Hoàng đế Licinius I (trị vì: 308-324) và làm Hoàng đế cả Đông và Tây Đế quốc La Mã.

 

Mặc dù giúp đỡ Kitô giáo, Hoàng đế Constantine I chỉ chịu lễ Rửa tội (baptized) ngay trước khi qua đời vào năm 337.

 

*

Công Đồng Nicaea và Arianism 

 

Năm 325 Constantine I triệu tập Công đồng Nicaea (Council of Nicacea), Công đồng Kitô giáo toàn cầu lần thứ nhất (1st ecumenial council): tôn trọng giáo lý, diệt tà giáo (heresy) và duy trì thống nhất thành một Giáo hội (ecclesiastical unity).

 

Công đồng Nicaea tạo ra Kinh Tin Kính Nicene (Nicene Creed) bắt đầu bằng câu "Tôi tin kính" (I believe) thay vì "Chúng tôi tin kính" (We believe) đã dùng từ trước.  Về sau Giáo hội Anh (Aglican Church) và đa số các Giáo phái Kháng Cách (Protestant) cũng bất đầu như vậy.

 

Công đồng Nicaea chấp nhận Trinitarianism và kết án Arianism là Tà giáo (Heresy).

Có 2 giáo thuyết trong Thần học về Đấng Kitô (Christology) lúc bấy giờ cũng đề cập tới trong Công đồng Nicaea: Trinitarianism (Homoousanism) và Arianism

Christology: lý thuyết về Bản thể của "Godhead" của Kitô Giáo, đó là bản thể của sự liên quan giữa Thiên Chúa (God) và Jesus.

Triniterianism từ Giám mục Athanasius của Alexandria (Ai Cập) cho rằng: 

Thiên Chúa, Đức Chúa Cha và Đấng Giê-su Kitô, Đức Chúa Con là một bản thể và cùng hằng sống vĩnh viễn (God, the Father and Jesus Christ, the Son as one of essence or co-substantial and co-eternal).  Có nghĩa là Thiên Chúa (Đức Chúa Cha) và Đấng Giê-su Kitô (Đức Chúa Con) có cùng một Thần tính (Divinity).

Arianism từ Arius, một giáo sĩ ở Alexandria (Ai Cập)

từ chối Thần tính của Đấng Giê-su Kitô (Divinity of Jesus Christ).  Thần tính của Đức Chúa Cha ngự trên Đức Chúa Con (The Father's divinity over the Son).

 

Công đồng Nicacea (325) và sau nầy Công đồng Constantinople (381) kết tội Arianism là Tà giáo (heresy) nhưng vẫn có giáo sĩ và tín đồ Kitô Giáo theo Arianism cho đến thế kỷ thứ 5 và thứ 6.  Ulfilas, giám mục đầu tiên của người Goths theo Arianism.  Hoàng đế Constantine I được rửa tội (baptised) trước khi chết bởi một giám mục theo Arianism.

 

*

Hoàng đế Theodosius I

 

Năm 380, Sắc lệnh Thessalonica (Edict of Thessalonica) từ Hoàng đế Theodosius I chính thức dùng Kitô Giáo (Christianity) với giáo lý Trinitarianism là tôn giáo của Đế quốc La Mã.  Không tin theo Trinity là Tà giáo (Heresy).

Năm 392, Hoàng đế Theodosius I chấp nhận Kitô Giáo là quốc giáo của Đế quốc La Mã và sự thờ phượng những vị thần Hy Lạp La Mã là bất hợp pháp.

 

*

Nestorianism

 

Từ Trường phái Edessa: Hai bản thể (nature) của Christ, thần tính và nhân tính (divine and human), là 2 cá nhân khác nhau (distinct person).  Hậu quả là Mary không thể được gọi là Mẹ Thiên Chúa (Mother of God) mà chỉ được gọi là Mẹ của Đấng Kitô (Mother of Christ).  

Người ủng hộ giáo thuyết nầy là Nestorius, Giám mục của Constantinople do đó giáo thuyết có tên là Nestorianism.  Hoàng đế Theodosius II triệu tập Hội nghị Ephesus (Council of Ephesus) vào năm 431 bác bỏ Nestorianism và ngược đãi (persecuted) những người Kitô Giáo theo Nestorianism.  

Họ trốn sang Đế quốc Sasanium (Persia).  Lúc đó tôn giáo chánh của Persia là Hỏa giáo (Zoroastrianism) nhưng họ vẫn tồn tại tới ngày nay dưới Giáo hội của họ ở đây là Đông Giáo hội (Church of the East).

 

*

Miaphysitism

 

Năm 451, Công đồng Chalcedon kết luận: Hai bản thể của Christ, thần tính và nhân tính (divine and human), chia ra hai phần của một thực thể (were separated both part of a single entity).

Những người Kitô Giáo bác bỏ giáo lý nầy tự gọi là những người Miaphysites.  Ly Giáo (Schism) từ những người nầy tạo ra Giáo hội Cộng đồng (Communion of Church) gồm có Armenia, Syria và Ai Cập gọi chung là Chính Thống giáo Miền Đông (Oriental Orthodoxy).


 

Giáo Hội Kitô giáo

 

*

Cơ cấu Giáo Hội 

 

Sau Công đồng Nicaea, Giáo hội Kitô giáo chính thức thành lập.  Giáo hội gồm có những Giáo phận (Diocese) chia theo hệ thống hành chánh của Đế quốc La Mã (Roman empire).  Một Tỉnh  (Province) có một Giáo phận quản trị bởi một Tòa Giám mục (Bishoporic/See) của một Giám mục (Bishop).  Như vậy một Giám mục có cơ quan quản trị của mình là Tòa Giám mục, trông coi toàn giáo phận.  Trong một Giáo phận có những Giáo khu (parish) có Linh mục (Priest) trông coi.

Có 5 Tòa Giám mục tối cao gọi là Tòa Giám mục của Thủ phủ (Metropolis) hay Tổng Giám mục là: Rome, Constantinople, Jerusalem, Antioch và Alexandria.  Chỉ có Tòa Giám mục ở Rome là thuộc Đế quốc Tây La Mã.  Các Giám mục ở 5 Giáo phận nầy gọi là Giám mục của Thủ phủ (Metropolitan Bishop) hay Tổng Giám mục (Archbishop) có quyền hạn cao hơn những Giám mục khác, thường ở thành thị, gọi là Giám mục Thành thị (Urban Bishop).  Ở thôn quê (rural) thì chỉ có Giáo khu và Linh mục.

 

*

Nhà Thờ (church)

 

Tình trạng mới của Kitô giáo được hiện thực khi bắt đầu có ngôi nhà công cộng đầu tiên cho Nhà Thờ (1st church building).  Sự thay đổi nầy thấy rõ ràng ở Rome, cộng đồng Kitô giáo mạnh nhất.  Cho tới lúc đó, mặc dù kích thước to lớn của hội (congregation) người Kitô giáo ở Rome, tín ngưỡng (worship) chỉ được diễn ra bí mật trong những căn nhà tư nhân.  Đột nhiên "nhà thờ" trở thành ngôi nhà công cộng (public building) ngay cả là trọng điểm (landmark) của thành phố, cũng nổi bật như những đền thờ của Đa Thần giáo (pagan cult).

Riêng Hoàng đế Constantine tạo nên 3 nhà thờ quan trọng ở Rome.  

Một, dự định là nhà thờ chánh hay Giáo đường (cathedral) của thành phố Rome, ở chỗ cạnh bên lâu đài riêng Lateran của Constantine, đã trình diện cho người Kitô giáo như là chỗ của Giáo hoàng.  Đó là nhà thờ St John Lateran.  

Hai nhà thờ khác từ Hoàng đế Constantine được xây để danh dự 2 thánh tuẫn đạo là Peter và Paul, trên chỗ theo giả thuyết là nơi mộ của 2 ông.  Một ở ngoài thành phố cũ gọi là S. Paolo fuori le Mura (St Paul ngoài những bức tường).  Cái kia, ở Vatican, là nhà thờ St Peter.  Cả hai sau nầy được xây lại. 

 

Trong Anh ngữ thường dễ lẫn lộn:

Church (viết chữ hoa) = Giáo hội

church (viết chữ thường) = Nhà thờ


 

Giáo Hoàng và Tòa Thánh ở Rome

 

Từ năm 312, Giám mục (và Tòa Giám mục) của Rome lần lần trở thành Giáo hoàng (và Tòa Thánh), nắm quyền tối cao của Giáo hội Kitô giáo và quyền tâm linh đối với toàn thể giáo dân.

 

*

Trong 5 Giám mục của Thủ phủ (metropolitan bishops) của 5 Tòa Giám mục (Rome, Constantinople, Antioch, Alexandria và Jerusalem); Tổng Giám mục của Rome (kinh đô cổ truyền của Đế quốc La Mã) luôn rất tận tâm và nhiệt thành mộ đạo và không ngần ngại yêu cầu quyền tối cao (supremacy) trên toàn Giáo hội, trên cả 4 Giám mục kia nhất là Constantinople.

 

Ngoài Rome, 4 thủ phủ kia có lý do cạnh tranh với Rome về quyền tối cao:

Jerusalem là nơi Jesus chết và sống lại

Antioch là nơi người theo đạo (follower) đầu tiên được gọi là Người Kitô giáo (Christian).

Alexandria là trung tâm tư tưởng của Kitô giáo.

Constantinople là kinh đô mới khi Hoàng đế Constantine dời đô từ Rome về đây.

 

Hành động của Hoàng đế Constantine I vô tình hay cố ý nâng cao uy tín của Constantinople.

Năm 325, Constantine triệu tập và chủ tịch Council of Nicaea (hội nghị thứ nhất trong 7 hội nghị toàn thế giới, ecunemical).  Giám mục của Rome không có dự.

Năm 324-330, sau khi đánh bại Hoàng đế Licinius của Đông La Mã, Hoàng đế Constantine thống nhất Đế quốc La Mã và dời đô về Byzantium ở Bophorus, một thành phố trước thuộc Hy Lạp.  Byzantium đổi tên là Constantinople theo tên của Constantine.

Vào thế kỷ thứ 8, có chuyện "Tặng vật của Constantine" (Donation of Constantine) cho rằng Constantine đã muốn nhường ngôi cho Giám mục của Rome là Syvester I (314-335).  Nhưng sự thật là ngay trước khi chết, Constantine được rửa tội bởi một Giám mục theo Arianism tên là Eusebius of Nicomedia.

 

Trong 3 thế kỷ đầu, Giám mục của Rome là những nhân vật trong bóng tối (obscured).  Có vài người tuẫn đạo, có vài người còn tranh luận về Thần học với các Giám mục khác.  Tuy nhiên chỉ có Rome (khác với các Tòa Giám mục khác) là có danh sách tuần tự của các Giám mục từ thánh Peter.

Từ thế kỷ thứ 4, Giám mục của Rome bắt đầu tự nhận mình tối cao hơn các Giám mục, kể cả 4 Giám mục kia.  Có những "Cha của Giáo hội" (Church Father) yêu cầu như vậy.

Theo lý do Thần học (theological), Rome có liên hệ với Thánh Peter, người cầm đầu 12 Tông đồ của Jesus.  Truyền thống cho rằng Thánh Peter (và thánh Paul) tuẫn đạo ở Rome.  

Theo lý do chính trị, Rome là kinh đô chính trị quan trọng theo lịch sử của Đế quốc La Mã và sau khi kinh đô dời về Constantinople, Giám mục ở Rome là khuôn mặt chính trị quan trọng nhất còn lại ở Rome.  

Năm 453, Giám mục Leo I gặp Attila the Hun và thuyết phục Attila không tấn công Rome.

Năm 455, Rome bị chiếm.  Leo I thuyết phục người Vandals không đốt phá Rome.

Tòa Giám mục ở Rome thành nơi bảo vệ Công lý cho người dân ở Rome.

Hoàng đế ở Constantinople nên Giám mục ở đây không có vai trò chính trị quan trọng.  

Các Giám mục của Rome lại rất tận tâm và nhiệt thành mộ đạo và không ngần ngại thỉnh cầu quyền tối cao (supremacy).

 

Giáo hoàng Damasus (366-384)

 

Giáo hoàng là người Spain, được bầu Giáo hoàng vào năm 366.  Nhóm Arianism tôn Ursinus làm Giáo hoàng.  Hoàng đế Valentinian nhận Damascus và đày Ursinus ra khỏi Rome.

 

Giáo hoàng Damasus chủ tịch 2 Hội nghị tôn giáo (synod) ở Rome (368 và 369) tranh đấu chống lại Tà giáo là Arianism và Apollinarism và gởi sứ thần của Giáo hoàng (legate) tới dự Công đồng Constantinople (381) kết tội Arianism và Apollinarism là Tà giáo.  

Khi Công đồng Constantinople thừa nhận Giám mục của Constantinople danh dự Giáo trưởng (primacy of honor) chỉ kế sau Giám mục của Rome, Giáo hoàng Damasus cực lực phản đối.

Giáo hoàng Damasus còn ủy nhiệm Latin Vulgaty dịch Thánh kinh, đây là bản dịch tiêu chuẩn trong suốt thời Trung Cổ và ngài cho xây tượng của Thánh Peter và thánh Paul bằng cẩm thạch (marble).

 

Lịch sử cho rằng Giám mục của Rome đầu tiên tự xưng là Giáo hoàng chính là Damasus.

 

Giáo hoàng Siricius (384-399)

 

Kế vị Giáo hoàng Damasus, Giáo hoàng Siricius là:

Người đầu tiên dùng danh hiệu Giáo hoàng trên văn kiện.

Người đầu tiên ra sắc lệnh chính thức (formal decree): lệnh của Giáo hoàng là thẩm quyền tối cao của giáo sĩ và là thánh thư bảo vệ trên tất cả Giáo hội.

 

Giáo hoàng Innocent I (402-416)

 

Khi Hoàng đế Honorius dời đô về Ravena (Bắc Ý) trong thời của Giáo hoàng Innocent I thì phải tới khi có Lãnh địa Giáo hoàng (Papal States) vào thế kỷ thứ 8 Rome mới trở lại là trung tâm chính trị.

Năm 410, Vua Alaric của người Visigoths cướp phá Rome trong 3 ngày nhưng không làm hư hại Rome nhiều.  Trong khi đó Hoàng đế Honorius và Giáo hoàng Innocent I tránh ra ở bờ biển thuộc Ravena.  Hai người trở về sau khi người Visigoths rút đi.

Về tôn giáo, Tòa thánh Rome của Giáo hoàng Innocent I tiến tới ý niệm "Quyền tối cao của Giáo hoàng" (Supremacy of Pope) bằng cách giới thiệu ý niệm "Thẩm quyền của Giáo trưởng" (Primacy of Jurisdiction).  

 

Giáo hoàng Leo I the Great (440-461)

 

Giáo hoàng đầu tiên có danh hiệu "the great" tức là Đại Giáo hoàng.  Giáo hoàng Leo the Great chính thức thực hành Thẩm quyền tối cao (supremacy of jurisdiction) và dùng danh hiệu Pontifex maximus, có nghĩa là Giáo chủ (Chief Priest).

Giáo hoàng Leo I biện minh quyền của Giáo hoàng trên tất cả Giáo hội bằng cách công bố chuyện "Chìa khóa của thánh Peter" 

 

"Chìa khóa của Thánh Peter"

Giám mục của Rome lả Giáo hoàng và Tòa Giám mục của Rome là Tòa Thánh (Holy See) vì 2 sự kiện.  Đó là câu hỏi "Tại sao là Rome?" (Why Rome).

1. Giám mục của Rome là người nối nghiệp (successor) của Thánh Peter.

2. Jesus ban cho Thánh Peter quyền hành (authority) trên toàn Giáo hội.

Phúc âm của Matthew đoạn 16 viết:

Jesus hỏi các môn đồ nghĩ ngài là ai.  Peter trả lời:  "Ngài là Đấng Kitô (the Christ), con của Thiên Chúa hằng sống (Son of the Living God)".

Jesus nói: "Phước cho ngươi, Simon con của Jonah, vì sự việc nầy không khải thị (phát lộ=reveal) từ ngươi nhưng từ Cha của ta ở trên Trời (heaven).  Và ta nói cho ngươi biết rằng ngươi là Đá (peter) và trên Đá nầy (this rock) ta sẽ xây Giáo hội, và cánh cổng của Hades (the gate of Hades) sẽ không hơn được nó.  Ta sẽ ban cho ngươi những chìa khóa của Nước Trời (the kinhdom of heaven), cái gì ngươi buộc (bind) hay cấm (forbid) trên trái đất sẽ được buộc trên Trời và những gì ngươi mở ra hay cho phép (allow) trên trái đất (earth) sẽ được mở trên Trời".

Peter là tên của Thánh Peter (cũng có tên là Simon) nhưng nếu là danh từ chung thì có nghĩa là Đá (stone).  Do đó Giáo hội Công Giáo giải thích Jesus đã dạy rằng Peter là cơ sở (foundation) và Peter có quyền hành tinh thần (spiritual authority).

Phúc Âm của John viết: 

Sau khi sống lại (resurrect), Jesus ra lệnh cho Peter rằng: "nuôi con chiên của ta" (feed my sheep).

 

Những biến cố trong thời Giáo hoàng Leo the Great:

Năm 445 Hoàng đế Valentinian tuyên bố Giám mục của Rome là Luật của tất cả (Law of all).

Năm 451, Giáo hoàng triệu tập (convene) Công đồng Chalcedon, thường là từ Hoàng đế.

Năm 452, Attila the Hun của người Huns định tấn công Rome.  Giáo hoàng Leo I tới gặp Attila.  Không ai biết chi tiết về cuộc gặp gỡ nầy nhưng sau đó Attila không đánh Rome mà đi về hướng Bắc và tử trận một thời gian ngắn sau đó.

Năm 455, Gaiseric of Vandals dẫn người Vandals chiếm Rome.  Nhờ Giáo hoàng Leo điều đình nên Rome không bị đốt phá.

Những hành động nầy tiên đoán vai trò rộng hơn của Giáo hoàng, liên quan tới quyền hành thế tục (bên cạnh quyền tâm linh).

 

Để chế ngự Tà giáo, Giáo hoàng Leo I định nghĩa Chính thống của Công giáo (Catholic Orthodoxy) trong những lá thơ gọi là Tome.  Có lẽ đây là nguồn gốc của ý niệm "Công", chung cho mọi người, bên cạnh ý niệm "Chính thống", không Tà giáo, của Kitô giáo.  Ý niệm "Chính thống" có từ Hoàng đế Constantine và có lẽ theo Hoàng đế sang Constantinople và Giáo hoàng Leo I the Great của Rome tạo thêm ý niệm "Công" làm riêng biệt cho Rome.

Có thể nói Kitô giáo là "Công và Chính thống" nên khi có Ly Giáo giữa Rome và Constantinople thì tạo ra Công giáo và Chính thống giáo từ Kitô giáo vậy.

 

Năm 476 (15 năm sau khi Giáo hoàng Leo the Great qua đời), Đế quốc Tây La Mã sụp đổ và lịch sử nhân loại chuyển từ thời Cổ Đại sang thời Trung Cổ. 


 

PHAN THƯỢNG HẢI biên soạn

 

Tài Liệu Tham Khảo

 

Lịch Sử Công Giáo Thời Trung Cổ - phanthuonghai.com (Phan Thượng Hải)

Lịch Sử Công Giáo Thời Cặn Đại - phanthuonghai.com (Phan Thượng Hải)

World History Dates (Jane Chisholm)

Europe (Michael Kort)

The Middle East And North Africa (Reeva Simon)

History of The World (Plantagenet Somerset Fry)

Atlas of European History (Times Book)

(Còn tiếp Bài 2 & 3)

 MIẾU BÀ CHÚA XỨ NÚI SAM CHÂU ĐỐC

                                           (Bs Phan Thượng Hải)

 

Miếu Bà Chúa Xứ núi Sam là danh lam và thắng cảnh hàng đầu ở Miền Tây của Nam kỳ từ thời nhà Nguyễn.

Từ nhỏ đã nghe danh tiếng nhưng tôi chưa có dịp thăm viếng. Gần đây, trước khi thăm viếng thì có nghiên cứu lịch sử và thi văn.

 

Lịch sử

 

Miếu (miễu) Bà Chúa Xứ Núi Sam tọa lạc nơi chân núi Sam (thuộc Tp Châu Đốc). Cách đây khoảng trên 200 năm, tượng Bà (sau được gọi là Bà Chúa Xứ) được phát hiện và khiêng xuống từ đỉnh núi Sam bằng 9 (hay 12) cô gái đồng trinh theo lời dạy của Bà qua miệng “cô đồng” rồi dân chúng lập miếu thờ. Miếu được vợ chồng ông Thoại Ngọc Hầu xây cất (hay trùng tu?).  

Theo ông Sơn Nam thì tượng của Bà là một pho tượng Phật đàn ông của người Khmer (Miên=Cambodian) bị bỏ quên lâu đời ở đỉnh núi Sam được người Việt ta đem về tô điểm với nước sơn trở thành đàn bà mặc áo lụa đeo dây chuyền và gọi là Bà Chúa Xứ Núi Sam và Bà rất linh thiêng.  Theo các nhà khảo cổ Pháp thì tượng giống tượng nam thần Vishnu của Ấn Độ Giáo.

 

Thi văn

 

THƯỞNG BẠCH MAI TẠI ĐIỆN BÀ (Nguyên bản) 

Non linh đất phước trổ hoa thần

Riêng chiếm vườn hồng một cảnh xuân

Tiết bủa nhành tiên nồng sắc trắng

Sương in thức nguyệt ánh màu ngân (*)

Mây lành gió tịnh nương hơi chánh

Vóc ngọc lòng băng bặc khói trần

Sắc nước hương trời nên cám mến

Non linh đất phước trổ hoa thần.

(Nữ sĩ Sương Nguyệt Anh)

 

BẠCH MAI TẠI ĐIỆN BÀ (Họa)

Đem mình mai một chốn non thần

Cái vóc hoa lành cám bấy xuân

Cội ấm bóng yên lòa nét bạc (*)

Ngành sương lá tuyết ánh màu ngân

Gương thơm đẹp ý người du cảnh

Ngọc sạch vui chơi khách lạc trần

Nỡ chẳng vẽ hình nơi cửa sấm

Đem mình mai một chốn non thần.

(Võ Sâm)

(*) Màu ngân=màu sáng như bạc. Yên = khói 

 

Nữ sĩ Sương Nguyệt Anh (1864-1921) là con gái của ông Nguyễn Đình Chiểu.

 

ĐIỆN BÀ CẢM TÁC

Cảnh tịnh non linh ngất mấy tầng

Đường lên một bước một chồn chân

Cheo leo gộp đá xây thần động

Chớn chở tàn cây xũ phất trần

Mát mặt khách du làn gió thoảng

Giục lòng người đạo tiếng chuông ngân

Lên cao mới rõ cao là thế

Ngảnh lại bình nguyên cát bụi vần.

(Thuần Đức)

 

Thi sĩ Thuần Đức là một chức sắc của đạo Cao Đài.  Bài thơ nầy làm trong thời Pháp thuộc và trước năm 1945.

 

Sau khi viếng Miếu Bà thì tôi thấy hình tượng của Bà không giống tượng Phật nam và nhất là không thấy giống thần Vishnu của Ấn Độ.

Do đó tôi có làm bài thơ tôn vinh Bà:

 

MIẾU BÀ CHÚA XỨ

Linh thiêng tồn tại với thời gian

Nổi tiếng miếu Bà khắp Hậu Giang

Từ đỉnh núi Sam hình xuất hiện

Ngự nơi Châu Đốc tượng huy hoàng

Dân tình tín ngưỡng về cầu nguyện

Dân chúng tôn thờ thắm điểm trang

Ngày vía tháng tư, người tụ họp

Tắm Bà Chúa Xứ hiển vinh quang.

(Phan Thượng Hải) 

1/21/20


 

Bs PHAN THƯỢNG HẢI biên soạn

_______________________________

  THƠ XƯỚNG HỌA - NGUYỄN DU VÀ NGÔ NHÂN TỊNH

                                                 (Bs Phan Thượng Hải)

 

Trong Văn Học sử có 2 bài thơ xướng họa giữa Nguyễn Du và Ngô Nhân Tịnh là tuyệt tác.

Nhân dịp Hộ bộ Tham tri Ngô Nhân Tịnh được bổ làm Hiệp trấn Nghệ An, ông Nguyễn Du (đang làm Cai bạ ở Quảng Bình) có làm bài thơ tiễn:

 

TỐNG NGÔ NHỮ SƠN CÔNG XUẤT NGHỆ AN

Cẩm La giang thượng khấu chinh an             Cẩm La dừng lại vó chinh an
Bát hội phi nan tích biệt nan                        Gặp dễ, xa nhau chẳng dễ dàng

Bát đại kỳ văn hoa lưỡng quốc                     Hai nước danh thơm tài ngọc chuốt

Nhất xa cao vũ nhận toàn Hoan                    Đầy xe mưa thấm dặm châu Hoan
Nhân tòng đạm bạc tư vi chính                      Việc theo tánh đạm mong thường rảnh
Thiên vị kiềm lê bất phóng nhàn                   Trời vị dân đen khiến chửa nhàn
Bắc vọng Hồng sơn khai đức diệu                   Ngắm vọi Hồng sơ cao đức mọc
Thiên nhai cử tửu khách hương quan.            Rượu xa mừng rót chén hương quan.

(Nguyễn Du) 1811                                            (Quách Tấn dịch)

 

Chú thích:

            Ngô Nhữ Sơn là Ngô Nhân Tịnh.

            Cẩm La: có lẽ ờ Quảng Bình, nơi ông Nguyễn Du gặp và tống tiễn ông Ngô Nhân Tịnh trên đường ra trấn nhậm Nghệ An (bắc của Quảng Bình).

            Câu 3 có nghĩa là: Văn chương của tám bậc đại gia Đường Tống làm đẹp 2 nước.  Bát đại gia gồm có Hàn Dũ và Liễu Tông Nguyên của nhà Đường và Âu Dương Tu, Tô Tuân (cha Tô Đông Pha), Tô Thức (Tô Đông Pha), Tô Triệt (em Tô Đông Pha), Tăng Củng và Vương An Thạch của nhà Tống.            

            Hoan là Hoan châu, tên cũ của Nghệ An từ thời Bắc Thuộc.  Ý câu nầy nói: ông thi hành chính sách tốt, nhân dân Nghệ An được nhờ như cây cối gặp mưa. Năm ấy dân Nghệ An đói kém nên thuế tô thuế điền thiếu triều đình rất nhiều.  Khi Nhân Tịnh đến nơi thì ông tâu về triều đình Huế xin miễn thuế cho dân, giống như chuyện Phùng Hoan (xem câu 4 của bài họa).

            Hồng sơn là núi Hồng Lĩnh, quê hương của Nguyễn Du, thuộc tỉnh Hà Tĩnh.  Từ Quảng Bình đi lân hướng bắc qua Đèo Ngang của Hoành Sơn tới Hà Tĩnh rồi tới Nghệ An.

 

Ông Ngô Nhân Tịnh có bài thơ họa, trả lời rất hay và chính xác.  Đúng là một bài họa tiêu biểu.  

 

ĐÁP CHƯ HỮU TẶNG BIỆT NGUYÊN VẬN

Mãn thành xuân sắc tống chinh an.        (Đầy thành xuân sắc tiễn chinh an)
Bán cú tâm đầu dục thoại nan              (Nửa câu tâm tình muốn nói nhưng khó nói)
Vị tín lâm dân sư Tử Sản                       (Chưa tin mình làm an dân được như Tử Sản)
Cảm tương thị nghĩa hiệu Phùng Hoan   (Có thể làm điều nghĩa như Phùng Hoan)
Giang sơn hữu ý vân tương tịnh     (Giang sơn hữu ý, mây cùng trong sạch và yên tịnh)
Thiên địa vô tâm vật tự nhàn                 (Thiên địa vô tâm, sự vật tự nhàn)
Thử khứ dĩ kỳ mai nguyệt hội      (Lần đi nầy xin hẹn sẽ hội gặp nhau thời kỳ mai nở) 
Hưu tương bôi tửu xướng Dương Quan.  (Thôi khỏi nâng chén rượu hát khúc ở Dương Quan)

(Ngô Nhân Tịnh) 1811

 

Chú thích:

            Tử Sản là tên tự của Công tôn Kiều, một nhà trị nước an dân đại tài của nước Trịnh thời Xuân Thu

            Phùng Hoan: môn khách của Mạnh Thường Quân.  Mạnh Thường Quân sai ông ra trấn ấp Tiết của mình, Phùng Hoan tha nợ cho dân nên dân mến đức.  Mạnh Thường Quân khiển trách thì Phùng Hoan nói rằng: tôi làm việc nghĩa lâu dài cho ngài chứ không làm lợi trước mắt.  Sau nầy khi Mạnh Thường Quân gặp nạn ở triều đình theo Phùng Hoan trốn về ấp Tiết thì được dân tiếp đón và che chỡ.  Năm ấy dân Nghệ An đói kém nên thuế tô thuế điền thiếu triều đình rất nhiều.  Khi Nhân Tịnh đến nơi thì ông tâu về triều đình Huế xin miễn thuế cho dân, giống như chuyện Phùng Hoan.

            Chữ tịnh của cuối câu 5 được tác giả dùng có 2 nghĩa: từ chung là trong sạch và yên tĩnh và từ riêng là tên của mình (Ngô Nhân Tịnh)

            Bài Vị Thành khúc của Vương Duy làm để tiễn bạn đi xa có câu:

                        Khuyến quân cánh tận nhất bôi tửu

                        Tây xuất Dương quan vô cố nhân.

 

Ngô Nhân Tịnh cùng với Lê Quang Định và Trịnh Hoài Đức là Gia Định tam gia.  Ba ông và Ngô Tùng Châu là học trò giỏi của Võ Trường Toản theo phò Nguyễn Phúc Ánh và sau nầy đều làm đến Thượng thơ trong triều đình của vua Gia Long (Nguyễn Phúc Ánh).

Xin nói thêm vài điều:

Ngô Nhân Tịnh là người Nam kỳ.  Lúc bắt đầu, chúa Nguyễn cho người Tàu lánh nhà Thanh xuống ở đất Nam kỳ ở Biên Hòa và Mỹ Tho. Sau đó Mạc Cửu mở đất Hà Tiên do đó nhiều người Nam kỳ lúc đầu là gốc người Tàu. Phan Thanh Giản, người Nam kỳ đầu tiên đậu Tiến sĩ thời Minh Mạng cũng có tổ tiên là người Tàu. Nguyễn Du biết vậy nên đã khen tài làm thơ của Ngô Nhân Tịnh sánh ông với Bát Đại Gia của Tàu và Việt (lưỡng quốc). Trong bát đại gia có cả số 1 của Tàu đời Tống là Tô Đông Pha, kể cả Âu Dương Tu và Vương An Thạch. Như vậy thơ Hán ngữ của nước ta đâu thua gì Tàu?  

Có bạn trả lời tui là bài thơ của Ngô Nhân Tịnh hay hơn bài thơ của Nguyễn Du. Cũng nên nhớ là làm bài họa khó hơn làm bài xướng (nếu không lấy ý giống hệt bài xướng).  

Ngô Nhân Tịnh là người Nam kỳ. Người Nam kỳ thường dùng ngữ âm "Tịnh" cho "Tĩnh" do đó phải viết tên đúng là Tịnh.  Cũng như phải viết là Phan Châu Trinh (người Quảng Nam, Nam Hà) chứ không phải là Phan Chu Trinh.

Nguyễn Du lúc đó đang làm Cai Bạ ở Quảng Bình. Chức Cai Bạ sang đời Minh Mạng trở đi là Bố Chánh.

Bs PHAN THƯỢNG HẢI biên soạn

 

Tài liệu tham khảo

            Trang thơ Thi viện net.

    THƠ VÀ NƯỚC VIỆT - ĐỊA DANH MIỀN HẬU GIANG

                                                                   

                                                                                  Bs Phan Thượng Hải

 

Miền Hậu Giang có 3 tỉnh An Giang, Hậu Giang và Sóc Trăng và Thành phố Cần Thơ ở hữu ngạn của sông Hậu Giang cùng với 3 tỉnh ở phía Nam giáp với biển Đông (Kiên Giang, Bạc Liêu và Cà Mau).

 

Bố cục:

Thành phố Cần Thơ và Tỉnh Hậu Giang (trang 1)

Tỉnh An Giang (trang 10)

Tỉnh Kiên Giang (trang 19)

Tỉnh Cà Mau (trang 27)

Tỉnh Bạc Liêu (trang 30)

Tỉnh Sóc Trăng (trang 33)


 

CẦN THƠ - HẬU GIANG

 

Thành phố Cần Thơ:

   Quận Bình Thủy, Quận Cái Răng, Quận Ninh Kiều, Quận Ô Môn và Quận Thốt Nốt.

   Huyện Cờ Đỏ: Thị trấn Cờ Đỏ

   Huyện Thới Lai: Thị trấn Thới Lai.  (Lúc trước là phần đất của huyện Cờ Đỏ)   

   Huyện Phong Điền: Thị trấn Phong Điền

   Huyện Vĩnh Thạnh:  Thị trấn Vĩnh Thạnh và Thị trấn Thạnh An

 

Tỉnh Hậu Giang:

   Thành phố Vị Thanh 

   Huyện Châu Thành: Thị trấn Ngã Sáu và Thị trấn Mái Dầm

   Huyện Châu Thành A: Thị trấn Một Ngàn

   Huyện Long Mỹ: Thị xã Long Mỹ và Thị trấn Trà Lồng

   Huyện Phụng Hiệp: Thị xã Ngã Bảy

   Huyện Vị Thủy: lúc trước là phần đất của Huyện Long Mỹ.  Thị trấn Nàng Mau. 

Thành phố Cần Thơ và tỉnh Hậu Giang là địa phận của tỉnh Phong Dinh và tỉnh Chương Thiện thời VNCH.

 

Ca Dao:

 

Xoài nào ngon bằng xoài Cao Lãnh

Vú sữa nào ngọt bằng vú sữa Cần Thơ

 

Xứ Cần Thơ nam thanh nữ tú

Xứ Rạch Giá vượn hú chim kêu

 

Xứ Thủ Đức năm canh thức đủ

Kẻ cơ thần trở lại Cần Thơ

(*) Thủ Đức nói lái là thức đủ.  Cơ thần nói lái là Cần Thơ.

 

Đất Cần Thơ nam thanh nữ tú

Đất Rạch Giá vượn hú chim kêu

Quản chi nắng sớm mưa chiều

Lên doi xuống vịnh cũng chèo theo em

 

Đất Châu Thành anh ở (*)

Xứ Cần Thơ anh trở lộn về

Bấy lâu sông cạn biển kề

Phân chia mai trúc dầm dề giọt châu

(*) Ý nói ở Sài Gòn

 

Đèn nào cao bằng đèn chợ Mỹ

Lộ nào kỹ bằng lộ Cần Thơ

Em thương anh lững thững lờ thờ

Giả như Tôn Các ngồi chờ Bạch Viên

 

Tàu số một chạy lên Vàm Tấn (*)

Tàu số hai chạy xuống Cần Thơ

Tuổi ba mươi em cũng ở vậy mà chờ

Lỡ duyên chịu lỡ cũng chờ được anh.

(*) Vàm Tấn là vàm Đại Ngãi thuộc Sóc Trăng.

 

Cần Thơ: 

là vùng đất Chân Lạp khi xưa có tên là Prek Rusey nghĩa là Sông Tre.  Prek=sông, rạch và Rusey=cây tre.  Tên nầy không có liên quan gì với tên Cần Thơ.

là dịch âm từ tên tiếng Miên là Srôk Kìn Tho có nghĩa là Xứ Cá Sặc Rằn.  Cá nầy lúc trước có nhiều ở vùng nầy.  Cần Thơ là đọc trại từ Kìn Tho.  

Có thuyết cho rằng có tên Cần Thơ là vì ngày xưa ở đây có trồng và bán nhiều "rau cần và rau thơm" nên có người "lẩn thẩn" gọi là "xứ Cần Thơ".

 

Cần Thơ có tên cũ là Phong Dinh vào thời VNCH (tỉnh Phong Dinh).  

Cần Thơ cũng được gọi là Tây Đô.  Từ ngữ Tây Đô có được là từ Học giả Phạm Quỳnh.  Trong ký sự "Một Tháng Nam Kỳ" viết trên Nam Phong tạp chí năm 1919, ông Phạm Quỳnh khen tặng Cần Thơ là "Thủ đô miền Tây".

 

Quận Ninh Kiều là trung tâm của Thành phố Cần Thơ có Bến Ninh Kiều.  Tên Ninh Kiều đầu tiên đặt cho bến Ninh Kiều rồi từ đó mới đặt tên cho Quận Ninh Kiều.

Dự án thành lập Bến nầy được Tỉnh trưởng lúc bấy giờ thời VNCH là ông Đỗ Văn Chước đệ trình lên chính quyền Ngô Đình Diệm và xin đặt tên là Ninh Kiều để kỷ niệm trận đánh chiến thắng quân Minh của Lê Lợi ngày 13-9-1426 tại Ninh Kiều.  Bến Ninh Kiều được Bộ trưởng Nội Vụ đương thời là Lâm Lễ Trinh cắt băng khánh thành ngày 4-8-1958.  Ông Lâm Lễ Trinh là người Cái Răng, Cần Thơ.  Lúc đó con đường dọc theo sông Cần Thơ mang tên là (đường) Lê Lợi.  Do đó cái tên của bến phải có liên quan tới Lê Lợi.  Tên Ninh Kiều vừa hợp với lịch sử của Lê Lợi vừa hợp cho bến sông (bến của sông Cần Thơ).

Quận Ninh Kiều còn có cầu Tham Tướng lấy theo tên của quan Tham Tướng của Nguyễn Vương Phúc Ánh là Mạc Tử Sanh, con trai của quan Trấn Thủ Hà Tiên là Mạc Thiên Tứ.  Mạc Vĩnh Sanh tử trận tại đây trong chiến tranh với Tây Sơn.  Quận Ninh Kiều cũng có rạch, cầu và chợ Cái Khế.  Từ bến bắc Cần Thơ qua cầu Vị Thanh rồi cầu Cái Khế là vào trung tâm Thành phố Cần Thơ.

Bắc (Phà) Cần Thơ: bờ bên tỉnh Vĩnh Long thuộc Thị trấn Cái Vồn (huyện Bình Minh) và bờ bên Tp Cần Thơ thuộc phường Cái Khế, quận Ninh Kiều.  Khoảng cách giữa 2 bến tàu là 1840m.  Bắc được thay thế bằng cầu Cần Thơ, khánh thành ngày 4/4/2004.

Thơ:

 

TÂY ĐÔ (*)

Noi theo hoạn lộ, ngẫu nhiên vào

Vào cảnh Phong Dinh, thích biết bao! (*)

Bến Bắc trang hoàng nhiều thục nữ

Thành Tây lịch sự lắm thân hào

Mặt tiền vui vẻ đoàn xe chạy

Sông Hậu mênh mang lượng sóng xao

Tao ngộ rừng hàn, quen mặc khách

Rượu bầu thơ túi mặc tiêu dao.

(Lãng Ba Phan Văn Bộ) 

(*) Tây Đô và tỉnh Phong Dinh là tên gọi của Cần Thơ vào thời VNCH.

 

BẾN NINH KIỀU 

Chước hay sáng lập bến Ninh Kiều (*)

Kiều diễm bao nhiêu thú bấy nhiêu

Lộ rộng lầu cao xe ngựa lắm

Sông xinh bờ đẹp cỏ hoa nhiều

Du dương nhạc cổ, người thêm thích

Rực rỡ đèn màu, cảnh dễ yêu

Man mác nước trôi, thuyền đủng đỉnh

Trăng chờ gió đón mặc tiêu diêu.

(Lãng Ba Phan Văn Bộ) 

(*) Bến Ninh Kiều ở Cần Thơ lúc mới thành lập dưới thời ô. Tỉnh trưởng tên là Chước.  Chữ Chước ở đây có 2 nghĩa (danh từ riêng và danh từ chung).

Bài thơ nầy đọc trong tiệc khánh thành bến Ninh Kiều ở dinh Tỉnh trưởng Cần Thơ.

 

CẦN THƠ KỶ NIỆM

Cái gì kỷ niệm xứ Cần Thơ?

Cái bến Ninh Kiều đẹp mộng mơ

Cái Tắc xe đi đường tẽ lối

Cái Răng ghe nhóm chợ gần bờ

Cái Vồn qua bắc, tàu xuôi ngược

Cái Khế ngang sông, nước lặng lờ

Cái Sắn theo kinh, người giữ đạo

Cái tình luyến nhớ thuở còn thơ.

(Phan Thượng Hải)

1/21/19

 

Ca Dao:

 

Bánh canh cọng vắn cọng dài

Bánh tằm xe cọng dài cọng vắn

Xứ Cần Thơ gạo trắng nước trong

Ai về xứ bạc thong dong cuộc đời

 

Cần Thơ gạo trắng nước trong

Ai đi đến đó thời không muốn về

 

Cần Thơ gạo trắng nước trong

Đậm tình non nước gợi lòng khách du

 

Nước biếc non xanh 

Người bạn lành khó kiếm

Đây em cũng hiếm

Chẳng (Chưa) lựa đặng chỗ nào

Mảng lo buôn bán ra vào Cần Thơ

 

Phong Dinh đẹp lắm ai ơi 

Bậu về bên đó cho tôi cùng về

 

Quận Bình Thủy ở làng Long Tuyền.  Hai địa danh nầy hay đi đôi với nhau.

Long Tuyền là rạch chảy vào sông Cần Thơ.  Gọi là Long Tuyền vì ở đúng "long mạch" theo phong thủy.  Hình cái đầu vàm Long Tuyền giống như miệng con rồng và rạch Long Tuyền giống như thân con rồng.  Năm 1852, quan Khâm sai Huỳnh Mẫn Đạt đi tới đây thì gặp sóng gió lớn nên thuyền ẩn vào rạch nầy được thoát nạn.  Từ đó Huỳnh Mẫn Đạt đặt tên là Bình Thủy (=nước yên lặng, không sóng gió).  Vào đầu thế kỷ 20, thường được gọi là làng Long Tuyền còn chợ và đình Bình Thủy.

Quận Ô Môn có tên Ô Môn là vì nơi đây trước kia là một vũng có cây môn nước.  Ô Môn là vũng hay bàu có cây môn nước.  Ô là vũng hay bàu.  Ngọn=dòng nước nhỏ ở đầu sông rạch.  Nổng=Gò.  

Quận Ô Môn có Kênh Ô Môn, dài 14 km được đào năm 1894-1895.  Nó được gọi là kênh Bà Đầm vì trong khi đào kênh thì Đốc công Pháp có đem theo vợ con sống trên cái nhà bè coi công nhân làm việc.  Vợ ông Tây thường được gọi là bà Đầm.  

Kênh Ô Môn nối tiếp theo có Kênh Thị Đội chảy về hướng tỉnh Kiên Giang.

Huyện Phong Điền lấy tên theo huyện Phong Điền gần kinh đô Huế vì từ lúc đầu di dân người Phong Điền (Huế) vào ở đây lấy tên nầy để ghi nhớ gốc gác của mình.

Huyện Cờ Đỏ có tên như vậy là vì hồi thời Pháp thuộc ở đây là 1 đồn điền lớn nhứt có cắm cờ màu đỏ (để phân biệt với màu cờ của những đồn điền khác).  Huyện có nhiều kênh: kênh Thị Đội, kênh Thốt Nốt, kênh Đứng...

Thốt Nốt là dịch âm từ tiếng Miên Thnot có nghĩa Cây Dừa đường (Borassus flabellifer).  Nơi đây lúc trước có trồng nhiều cây loại nầy.  Thốt Nốt là đọc trại từ Thnot.

Huyện Thốt Nốt có kênh Thốt Nốt thông với kênh Ô Môn bằng Kênh Đứng.  Kênh Thốt Nốt hợp với Kênh Thị Đội ở tỉnh Kiên Giang.

 

Cái Sắn là vùng dọc theo 2 bên bờ kênh Rạch Sỏi và lộ 80 từ sông Hậu Giang qua huyện Vĩnh Thạnh (thuộc Cần Thơ) và Thị trấn Thạnh An tới huyện Tân Hiệp (thuộc tỉnh Kiên Giang) và Thị trấn  Tân Hiệp.  Kênh Rạch Sỏi ở khúc này gọi là kênh hay "sông" Cái Sắn.  Nằm 2 bên bờ kênh Cái Sắn và quốc lộ 80 (như tủy sống và cột sống) trong khoảng 12km có nhiều kênh đào ngắn như những cái xương sườn dài 1, 2km.  

Cái Sắn có những người di cư đạo Công Giáo từ Bắc vào định cư ở đây vào năm 1956.  Như vậy Cái Sắn ở phía Bắc Thành phố Cần Thơ, nằm trong 3 tỉnh: Cần Thơ-Hậu Giang, Kiên Giang và An Giang.  Cái Sắn không hề là một địa danh hành chánh nhưng trên giấy tờ là thuộc xã Vĩnh Trinh, huyện Thốt Nốt.

 

 

Ca Dao:

 

Anh đây lên thác xuống ghềnh

Đá mòn sông cạn quyết chung tình với em

Bình Thủy lưu linh đáo lại Long Tuyền 

Cảm thương ông Cử bỏ thiềng An Giang. (*)

(*) Ông Cử là ông Ngô Văn Định và ông Phạm Hữu Danh mộ nghĩa binh chống Pháp đánh đồn Săng Đá (ở Cần Thơ) đều bị giặc giết.  Thiềng là Thành (đọc trại âm)

 

Ô Môn lúa tốt đầy đồng

Vàm Nhon, Ba Mít, đượm nồng ý thơ

Anh về Tân Thới bơ vơ

Ba Se em ở bao giờ thăm anh. (*)

(*) Ba Se là thuộc Cờ đỏ

 

Chiều chiều ra đứng cửa sau

Ngó về Thị Đội ruột đau như dần 

 

Kênh Xáng mới đào, tàu Tây mới chạy

Thương thì thương đại bớ điệu chung tình

Con nhạn bay cao khó bắn

Con cá dưới ao quỳnh khó câu.

 

Trường Long nước trong con gái đẹp

Rạch Ông Hào cảnh lịch người xinh. (*)

(*) Rạch Ông Hào và làng Trường Long ở quận Phong Điền.  Rạch lấy theo tên 1 người dân cố cựu ở đây (là ông tên Hào).

 

Chợ Thốt Nốt lập đài khán võ 

Chợ Cờ Đỏ tuy nhỏ mà đông

Thấy em buôn bán anh chẳng vừa lòng

Để anh làm mướn kiếm từng đồng nuôi em

 

Cái Răng là dịch âm từ tiếng Miên là Kran có nghĩa là "Cà Ràn".  Cà Ràn là một loại bếp lò có 3 chấu.  Nơi đây khi xưa có bán loại bếp nầy.  Cái Răng là đọc trại từ Kran và "Cà Ràn".

 

Huyện Châu Thành ACái Tắc thường gọi là Ngã Ba Cái Tắc vì nó nằm ngay quốc lộ 1 có ngã ba tẽ ra lộ 61 đi Vị Thanh (và Long Mỹ).

Châu thành dùng như một danh từ chung để chỉ: phố phường, thành thị, nơi dân cư đông đúc khu vực chính của một xứ hay một tỉnh vùng đất bao quanh ở cạnh, ở cạnh thành phố, thị xã, đơn vị hành chánh cấp huyện.

Sau khi chiếm toàn bộ Nam Kỳ vào năm 1867, Pháp chia 6 tỉnh Nam Kỳ ra 24 Hạt Tham Biện (Arondissement).  Viên quan cai trị là Tham Biện (Inspecteur, sau là Administrateur).  Lỵ sở của Hạt gọi là "Châu Thành" có chức vụ như "Trung tâm hành chánh" của Hạt.  Bắt đầu từ năm 1912, địa danh Châu Thành chánh thức được đặt tên cho nhiều đơn vị hành chánh cấp quận ở các tỉnh Nam Kỳ.  Nam Kỳ có tất cả 11 huyện Châu Thành.  

 

Thị xã Vị Thanh thành lập từ Khu trù mật Vị Thanh thời Đệ Nhất Cộng Hòa.

Thị xã Vị Thanh có kênh Xà No chảy qua.  Kênh Xà No dài 34km nối từ Vàm Xáng của sông Cần Thơ (1 nhánh của sông Hậu Giang) tới rạch Cái Tư (1 nhánh sông Cái Lớn của tỉnh Kiên Giang).

 

Xà No:

là dịch âm từ tên của người Pháp chỉ huy đào kênh nầy tên là Saint Tanoir.  Xà No là đọc trại từ Tanoir.