top of page
hmpg.jpg
TL_blinkingsquareblock.gif
Titlej (1).jpg

BIÊN KHẢO - THƠ - VĂN

Phan Thượng Hải

California_________________________

BBT: BS Phan Thượng Hải (CHS PTG 61-64) cùng với người em là LS Winston Phan Đào Nguyên là con của 1 công chức cao cấp của tòa án Cần Thơ, cũng là nhà thơ nổi tiếng của đất Cần Thơ thập niên 40, 50: Thi Sĩ LÃNG BA Phan Văn Bộ

_____________________________________________________________________________

CHUYỆN TẾT VÀ THƠ TẾT                 
 
                                 
Bs Phan Thượng Hải biên soạn 


Dù đã tha hương 40 năm, ký ức ngày Tết khi còn thơ ấu vẫn trở lại mỗi khi đón mừng năm mới. 
Những chuyện về Tết cũng như những bài thơ cũ tự nhiên sống lại. 


TẾT NĂM XƯA
Nhớ Tết năm xưa thú tuổi thơ
Khi đưa ông Táo ngóng trông chờ
Xem lân nhẩy múa thăm thành thị
Nghe pháo giao thừa tỉnh giấc mơ
Mừng tuổi lì xì trong quyến thuộc
Thắp hương ăn cỗ trước bàn thờ
Đi chùa, xông đất, lời cung chúc
Cờ bạc vui trò chuyện vẩn vơ...
(Phan Thượng Hải)
Nay đã 70 tuổi, tác giả cố gắng viết bài nầy như là một tài liệu lưu niệm để tâm tình viễn xứ hoài  hương không bao giờ phai nhạt

TẾT
Theo nhà văn Sơn Nam, Tết là nói trại từ Tiết mà ra. Một năm gồm 4 mùa 8 tiết, ngày đầu năm âm lịch thuộc về Tiết Nguyên Đán (ngày đầu tiên của năm mới). Ngày đầu năm rất quan trọng vì chẳng lẽ con người cứ sống qua thời gian mà chẳng biết lấy gì để đo lường thời gian. Thời xưa lấy năm âm lịch làm chuẩn dựa vào thời tiết mưa nắng hay xuân hạ thu đông để tính tuổi tác con người, để qui định thời điểm đóng thuế và đồng thời chọn thời điểm để gieo giống thu hoạch mùa màng nông nghiệp, tạo niềm hy vọng. Trong bốn mùa chỉ có mùa Xuân là tươi đẹp nhất, khí trời mát mẻ nên Vua chúa (từ thời Tam Hoàng) dùng ngày đầu mùa Xuân cho ngày Tết (ngày đầu năm mới).
Sinh hoạt Tết chia ra làm 3 giai đoạn. Giai đoạn trước Tết vào khoảng 2 Tuần trước Tết cho đến chiều ngày Tất Niên. Ngày Tất Niên là ngày cuối của năm cũ, là ngày 29 tháng Chạp hay 30 tháng Chạp (nếu là năm nhuần). Kế đến là 3 ngày đầu năm (Tân Niên) gồm có Mùng 1, 2 và 3.
Tết chấm dứt từ ngày Mùng 4 hay 5.
Giai đoạn trước Tết là giai đoạn sửa soạn và chưng diện. Nhà cửa dọn dẹp sạch sẻ và đàng hoàng; trang hoàng đặc biệt với Tranh, Câu Đối, Hoa, Cây Nêu và nhất là trang hoàng Bàn thờ tổ tiên (ông bà). Ngày đầu năm kiêng cử không quét nhà vì chẳng khác nào đưa của cải ra ngoài  đường. Dân chúng mua sắm quần áo mới và đẹp và chuẩn bị Đồ ăn Thức uống cho những ngàyTết. Đường phố cũng trang hoàng đẹp đẽ. Báo chí thì có Báo Xuân.
Chợ thành ra Chợ Tết bành trướng rất nhộn nhịp và có thêm Chợ Hoa.


 

CHỢ TẾT
Lấn chen, xe cộ lẫn người ta
Khó lẫn giàu sang, trẻ lẫn già
Bùi, ngọt, thơm, ngon, kìa bánh trái
Xanh, vàng, trắng, đỏ, nọ bông hoa
Đó bao giày nón bao xiêm áo
Đây những cá tôm những rượu trà
Ngày nhóm rần rần đêm cũng nhóm
Sắm mua đủ thứ, rước Xuân mà.
(Lãng Ba Phan Văn Bộ)

ÔNG TÁO

Ngày 23 tháng Chạp có Lễ cúng đưa Ông Táo về Trời để tấu trình chuyện dân gian với Ngọc Hoàng Thượng Đế. Lễ cúng với Thịt, Cá, Bánh kẹo và Rượu nếp.

Ông Táo (Táo Quân) lãnh phận sự về Trời, báo cáo tình trạng sinh sống của gia đình. Tục truyền Ông Táo cỡi cá chép về Trời. Tuy nhiên từ thời VNCH, Ông Táo về Trời nhờ những thứ vàng mã gọi là "cờ bay ngựa chạy", phương tiện nhanh chóng nhất vào thời xưa. Dân gian lại còn sắm áo mão cho Ông Táo về Trời (qua vàng mã). Dân gian bày chuyện tiếu lâm bảo Ông Táo về Trời thiếu cái quần. Thời xưa quần không quan trọng cho lắm vì cái áo rộng và quá dài che phủ tận đầu gối. Thi đậu Trạng Nguyên chỉ được Vua ban áo mão chớ không có quần.
Cho tới ngày nay, sự tích "Ông Táo về Trời" dựa trên sự tích "Ông Táo".
Sự Tích Ông Táo (theo Đạo Lão) như sau:
Trọng Cao có vợ là Thị Nhi ăn ở với nhau đã lâu mà không có con, nên sinh ra buồn phiền hay cãi cọ nhau. Một hôm, Trọng Cao vì giận nên đánh vợ. Thị Nhi bỏ nhà ra đi và sau đó gặp và bằng lòng làm vợ Phạm Lang. Về sau Trọng Cao hối lỗi đi tìm vợ. Trong lúc đi tìm tiền bạc xài hết nên phải đi ăn xin. Khi Trọng Cao đến ăn xin nhà Thị Nhi thì hai người nhận ra nhau. Thị Nhi rước Trọng Cao vào nhà, hai người kể chuyện và Thị Nhi tỏ lòng ân hận vì đã trót lấy Phạm Lang làm chồng.
Phạm Lang trở về nhà, sợ chồng bắt gặp Trọng Cao nơi đây thì khó giải thích nên Thị Nhi bảo Trọng Lang ẩn trong đống rơm ngoài vườn. Phạm Lang về nhà liền đốt đống rơm để lấy tro bón ruộng. Trọng Cao không dám chui ra nên bị chết cháy. Thị Nhi trong nhà chạy ra thấy Trđng Cao đã chết bởi sự sắp đặt của mình nên nhảy vào đống rơm đang cháy để chết theo Phạm Lang gặp tình cảnh quá bất ngờ, thấy vợ chết không biết tính sao, liền nhảy vào đống rơm đang cháy để chết theo vợ.

Linh hồn của ba vị được đưa lên Thượng Đế. Thượng Đế thấy ba người có nghĩa, nên sắc phong cho làm Táo Quân, gọi chung là Định Phúc Táo Quân nhưng mỗi người giữ một việc:
Phạm Lang làm Thổ Công, coi việc bếp. Danh hiệu: Đông Trù Tư Mệnh Táo Phủ Thần Quân
Trọng Cao làm Thổ Địa, trông coi việc nhà cửa. Danh hiệu: Thổ Địa Long Mạch Tôn Thần Thị Nhi làm Thổ Kỳ, trông coi việc chợ búa. Danh hiệu: Ngũ Phương Ngũ Thổ Phúc Đức Chánh Thần.
Đến cuối năm vào ngày 23 tháng Chạp thì Táo Quân lại lên trời chầu Ngọc Hoàng Thượng Đế để tâu những công việc hằng năm của mọi gia đình mà Thần đã có bổn phận trông nom suốt năm qua.
Thi sĩ Lê Uyên Sanh có bài thơ vào đầu Thế kỷ 20:
ĐƯA ÔNG TÁO VỀ TRỜI
Hoa quả trà thô tạm ít chung
Kỉnh đưa ngài lại chốn thiên cung
Nạn dân mắt thấy hòng ra sức
Ách nước lòng thương phải gắng công
Đói rách dân đen thường có đủ
Ấm no con đỏ phải chia đồng
Cao xa đâu thấu càng khôn đặng
Thế sự đau lòng phải cậy ông.
(Lê Uyên Sanh)

HOA TẾT
Chợ Tết bán Hoa rất rộn rịp. Thiên hạ mua chậu hoa về để chưng trong sân nhà và cành hoa để chưng trong nhà hay trên bàn thờ tổ tiên.
Đua chen Thu Cúc Xuân Đào

Lựu phun lửa Hạ, Mai chào gió Đông
(Bích Câu Kỳ Ngộ)

Tết ở cuối mùa Đông và đầu mùa Xuân nên hai hoa chánh trong ngày Tết là Hoa Mai và Hoa Đào (Peach Blossoms). Hoa Mai có 2 loại. Ở Miền Nam và Miền Trung có Apricot Blossoms (Mickey Mouse Blossoms) và ở Miền Bắc có Plum Blossoms.
Những Hoa khác (Other Flowers): Cúc (Chrysanthenum), Vạn Thọ (Marigold), Mồng Gà(Cockscomb), Pensée (Pansies), Thủy Tiên (Paperwhite), Bonsai, Hường (Rose), Huệ (Tuberose), Thược Dược (Dahlia)...
NGƯỜI ĐẸP HOA XINH
Xuân kề, thục nữ dạo hàng hoa
Lưỡng sắc đua phô vẻ mặn mà
Má phấn yêu kiều bên thược dược
Môi son diễm lệ giữa mồng gà
Tay ngà nựng cánh hường mơn mởn
Mắt ngọc trông cành huệ thướt tha
Quang cảnh huy hoàng như ngự uyển
Vào ngày Thượng Đế hội Tiên Nga?
(Lãng Ba Phan Văn Bộ)
MÂM NGŨ QUẢ
Ngoài những cành hoa, bàn thờ còn có chưng trái cây (quả). Theo truyền thống có chưng mâm Ngũ Quả. Năm thứ quả trên lý thuyết được chọn theo quan niệm ngũ hành của người xưa, cũng có thể chọn sao cho trình bày trông đẹp mắt hoặc lựa chọn dựa trên sự thịnh vượng và may mắn cho gia quyến.
Mâm Ngũ Quả của người miền Bắc gồm: chuối, bưởi, đào, hồng, quýt hay là chuối, ớt,bưởi, quất, lê. Có thể thay thế bằng cam, táo, mãng cầu. Nói chung, người miền Bắc không có phong tục khắt khe về mâm ngũ quả và hầu như tất cả các loại quả đều có thể bày được, miễn là nhiều màu sắc.
Mâm Ngũ Quả người miền Nam gồm dừa, đu đủ, mãng cầu Xiêm, xoài, sung, với ngụ ý "cầu sung vừa đủ xài". Người miền Nam thường kiêng kỵ chưng trái có tên mang ý nghĩa xấu (kể cả khi đọc trại) như chuối (chúi nhủi), cam (cam chịu), lê (lê lết), sầu riêng (sầu riêng tư), táo hay bom (bom đạn), lựu (lựu đạn)... và không chọn trái có vị đắng, cay.

 

THỰC PHẨM NGÀY TẾT
Có những món ăn hoàn toàn đặc biệt cho ngày Tết:
Bánh: Bánh Chưng*, Bánh Giầy, Bánh Tét*...
Mứt: Mứt Gừng, Mứt Bí, Mứt Dừa, Mứt Hạt sen...
Kẹo: Kẹo Dừa*, Kẹo Đậu phọng, Kẹo Thèo lèo, Kẹo Mè Xửng*...
Hạt: Hạt Dưa*...
Trái: Mâm Ngũ Quả; Dưa hấu đỏ ruột.
Thức Uống: đủ thứ Rượu và Trà; Nước Ngọt...
Món Ăn:
(Bắc) Gà luộc, Bóng bì, Canh măng, Chân giò có nấm hương, Miến nấu lòng gà, Xôi gấc, Thịt đông, Giò lụa, Nộm, Dưa hành*
(Trung) Thịt heo quay, Cá rô chiên, Canh khổ qua, Xôi, Tré (như Giò thủ nhưng có vị củ riềng, thịt chua và lỗ tai heo).
(Nam) Thịt kho nước dừa*, Nem, Bì, Dưa giá, Tôm khô, Củ kiệu*


Nói về món ăn ngày Tết, người Bắc di cư vào Nam (1954) có 2 câu đối trong Giai phẩm Văn Hóa Ngày Nay của Nhất Linh.
Câu Đối ở miền Bắc:
Nêu cao, pháo nổ, bánh chưng xanh
Thịt mỡ, dưa hành, câu đối đỏ
Câu Đối sau khi di cư vào Sài Gòn (miền Nam):
Cột (điện) cao, xe nổ, tiêu tiền xanh
Củ kiệu, tôm khô, dưa hấu đỏ


BÁNH DẦY BÁNH CHƯNG
Ngày xưa, đời Vua Hùng Vương thứ 6, sau khi đánh dẹp xong giặc Ân, vua có ý định truyềnngôi cho con. Nhân dịp đầu Xuân, vua mới họp các hoàng tử lại, bảo rằng: "Con nào tìm đượcthức ăn ngon lành, để bày cỗ cho có ý nghĩa nhất, thì ta sẽ truyền ngôi vua cho".
Các hoàng tử đua nhau tìm kiếm của ngon vật lạ dâng lên cho vua cha, với hy vọng mình lấy được ngai vàng.
Trong khi đó, người con trai thứ 18 của Hùng Vương, là Lang Liêu (ngày nay còn gọi là TiếtLiêu) có tính tình hiền hậu, lối sống đạo đức, hiếu thảo với cha mẹ. Vì mẹ mất sớm, thiếu ngườichỉ vẽ, nên ông lo lắng không biết làm thế nào. Một hôm, Lang Liêu nằm mộng thấy có vị Thầnđến bảo: "Này con, vật trong Trời Đất không có gì quý bằng gạo, vì gạo là thức ăn nuôi sống conngười. Con hãy nên lấy gạo nếp làm bánh hình tròn và hình vuông, để tượng hình Trời và Đất.
Hãy lấy lá bọc ngoài, đặt nhân trong ruột bánh, để tượng hình Cha Mẹ sinh thành". Lang Liêutỉnh dậy, vô cùng mừng rỡ. Ông làm theo lời Thần dặn, chọn gạo nếp thật tốt làm bánh vuông để tượng hình Đất, bỏ vào chõ chưng chín gọi là Bánh Chưng. Và ông giã xôi làm bánh tròn, để tượng hình Trời, gọi là Bánh Dầỵ Còn lá xanh bọc ở ngoài và nhân ở trong ruột bánh là tượnghình cha mẹ yêu thương đùm bọc con cái.
Đến ngày hẹn, các hoàng tử khác đều đem thức ăn đến bày trên mâm cỗ, đủ cả sơn hào hải vị, nhiều món ngon lành. Hoàng tử Lang Liêu thì chỉ có Bánh Dầy và Bánh Chưng. Vua HùngVương lấy làm lạ hỏi, thì Tiết Liêu đem chuyện Thần báo mộng kể, giải thích ý nghĩa của Bánh Dầy Bánh Chưng. Vua cha nếm thử, thấy bánh ngon, khen có ý nghĩa, bèn truyền ngôi Vua lại cho Lang Liêu con trai thứ 18.
Kể từ đó, mỗi khi đến Tết Nguyên Đán, thì dân chúng làm bánh Chưng và bánh Dầy để dâng cúng Tổ Tiên và Trời Đất. Nó trở thành truyền thống của người dân Việt.


CẢNH TẾT
Ai dám chê ta tết nhất nghèo
Nghèo mà lịch sự đố ai theo
Bánh chưng chất chặt chừng ba chiếc
Rượu thuốc ngâm đầy độ nửa siêu
Trừ tịch kêu vang ba tiếng pháo
Nguyên tiêu cao ngất một gang nêu
Ai xuân ta cũng chơi xuân với
Chung đỉnh ơn vua ngày tháng nhiều
(Nguyễn Công Trứ)


CÂY NÊU
Cu kêu ba tiếng cu kêu
Cho mau đến Tết dựng Nêu ăn chè.
(Ca dao)
Sách Gia Định Thành Thông Chí của Trịnh Hoài Đức, Tập Hạ chép rằng: "Bữa Trừ tịch (tức ngày cuối năm) mọi nhà ở trước cửa lớn đều dựng một cây tre, trên buộc cái giỏ bằng tre, trong giỏ đựng trầu cau vôi, ở bên giỏ có treo giấy vàng bạc, gọi là "Lên Nêu"... có ý nghĩa là để làm tiêu biểu cho năm mới mà tảo trừ những xấu xa trong năm cũ".
Cây Nêu là 1 cây tre cao khoảng 5, 6 m. Ở ngọn thường treo nhiều thứ (tùy theo địa phương) như vàng mã, bùa trừ tà, cành xương rồng, bầu rượu bện bằng rơm, hình cá chép bằng giấy (cho ông Táo cỡi về Trời), giải cờ bằng vải điều màu đỏ, những chiếc khánh nhỏ (va chạm nhau kêu leng keng) ... Vào buổi tối, đèn lồng được treo trên cây Nêu để tổ tiên thấy đường về nhà ăn Tết với con cháu. Từ Giao Thừa có đốt pháo treo trên cây Nêu để xua đuổi ma quỉ.
Thực ra Cây Nêu thường được dựng vào ngày 23 tháng chạp, là ngày Táo Quân về trời chính vì từ ngày này cho tới đêm Giao thừa vắng mặt Táo công, ma quỷ thường nhân cơ hội này lẻn về quấy nhiễu, nên phải trồng cây nêu để trừ tà. Ngày 7 tháng Giêng triệt hạ, gọi là "hạ nêu" phàm những khoản vay mượn thiếu thốn trong tiết ấy không được đòi hỏi, đợi ngày hạ nêu rồi mới được đòi hỏi.
Khi đứng giữa sân ngày Tết nhìn Cây Nêu, một Thi sĩ có làm bài thơ đăng trong Nam Phong tạp chí:
VUI TẾT TỨC CẢNH
Ta đã vui xuân gác nỗi buồn
Mong cho được gặp Tết luôn luôn
Kìa đàn chó giáy hương thơm ngát
Mà chiếc sân vôi pháo nổ dồn
Ví chẳng cành Nêu giồng trước ngõ
Còn đâu cá khánh chói nhà thôn
Ai đi nhắn lũ văn minh giả
Cố quốc còn đây gọi chút hồn.
(Mân Châu)


CÂU ĐỐI TẾT
Câu Đối Tết đã có từ lâu đời, đến ngày nay vẫn còn thịnh hành. Trước là viết bằng chữ Nho bây giờ là bằng chữ Quốc Ngữ.
Vế đối viết trên vải hay trên giấy, dán lên tường để chưng trong nhà. Tú Xương có bài thơ theo thể Hát nói được nhiều người biết.
DÁN CÂU ĐỐI TẾT
Nhập thế cục bất khả vô văn tự
Chẳng hay ho cũng nghĩ một vài bài
Huống chi mình đã đỗ Tú tài
Ngày Tết đến cũng phải một hai Câu Đối
Đối rằng;
Cực nhân gian chi phẩm giá phong nguyệt tình hoài
Tối thế thượng chi phong lưu giang hồ khí cốt
Viết vào giấy dán ngay lên cột
Hỏi mẹ mày rằng dốt hay hay
"Rằng hay thì thực là hay
Chẳng hay sao lại đỗ ngay Tú tài
Xưa nay em vẫn chịu ngài".
(Tú Tài Trần Tế Xương)


TẤT NIÊN
Ngày Tất Niên là ngày cuối của năm cũ: 29 tháng Chạp hoặc 30 tháng Chạp (nếu là năm nhuần).
Nhà nhà đều có Lễ cúng rước Ông Bà tổ tiên về ăn Tết vào buổi chiều. Thường là có cỗ linh đình toàn gia đình với nhiều món ăn và thức uống. Đến đúng Giao Thừa thì cúng nhẹ và bắt đầu đốt Pháo ở nhà và ngoài đường (tiễn năm cũ và rước năm mới). Từ đó Pháo đốt vui Chơi trong suốt những ngày Tân Niên.
Đêm của ngày Tất Niên cho đến sáng hôm sau gọi là "đêm Trừ Tịch". Trừ là đổi, bỏ đi. Tịch là đêm hay ban đêm. Do đó Trừ Tịch có nghĩa là Đêm đổi bỏ từ năm cũ sang năm mới. Nói cho gọn thì Trừ Tịch là Đêm cuối năm.
Đứng giữa đêm 29 (hay 30) và bắt đầu ngày Mùng 1 Tết gọi là Giao Thừa hay "đêm Giao Thừa".
Theo nghĩa đen thì Giao Thừa là "cũ giao lại, mới tiếp qua". Đúng giữa đêm Trừ Tịch (12 AM), "lúc năm cũ qua, năm mới" đến gọi là Giao Thừa.
GIAO THỪA
Xuân lại đông qua thấm thoát vừa
Nửa đêm nghi ngóp dậy Giao thừa
Đổi trao một phút nhanh ra chớp
Tiếp tục hai năm giáp cắn cưa
Ngoài xóm đì đoành tràng pháo nổ
Trong nhà nghi ngút khói nhan đưa
Cùng nhau hí hửng mừng năm mới
Thử hỏi nhau rằng đã mới chưa?
(Cử Nhơn Đỗ Giang)


NGUYÊN ĐÁN


TẾT NGUYÊN ĐÁN
Giao thừa pháo rộ báo xuân sang
Không khí vui tươi cảnh nhộn nhàng
Cờ xí rỡ ràng treo khắp xứ
Áo xiêm loè loẹt dạo đầy đàng
Bông hoa liễn đối chưng nhà cửa
Trà rượu bánh dưa đãi họ hàng
Lễ bái ông bà hương bát ngát
Địa cười lân múa chúc an khang.
(Lãng Ba Phan Văn Bộ)
Sau ngày Tất Niên là Tân Niên (Năm Mới).
Ngày đầu của Năm Mới, ngày mùng 1 tháng Giêng Âm Lịch, có nhiều tên gọi: Ngày Tết, Ngày Mùng Một Tết, Ngày Nguyên Đán hay Tết Nguyên Đán.
Ngày đầu tháng Giêng Âm Lịch được dùng làm ngày Tết từ Hán Vũ Đế (140 tr CN). Theo lịch xưa, tháng Giêng là tháng Dần.
Nguyên là bắt đầu; Đán là buổi sớm. Nguyên Đán thường có nghĩa là Nguyên Nhật, ngày đầu (của Năm). Ngày cuối Năm gọi là Chí Nhật và ngày đầu Năm là Nguyên Nhật.
Ba ngày đầu Năm (mùng 1, 2 và 3) là 3 ngày Tết với Lễ Tết và Ăn Chơi Tết.


CHÚC TẾT


Chúc Tết là việc đầu tiên và căn bản của Lễ Tết. Khi gặp nhau, mọi người đều chúc Tết lẫn nhau. Những câu Chúc Tết thông thường: "Sống lâu trăm tuổi", "An khang thịnh vượng", "Vạn sự như ý", "Sức khoẻ dồi dào", "Tiền vô như nước".
"Mừng Tuổi" tức là Chúc Tết người lớn hơn mình về tuổi tác hay chức vị hoặc vai lớn hơn trong quyến thuộc (ông bà, cha mẹ, họ hàng). Sau đó Người được Mừng Tuổi chúc lại và "Lì Xì" cho mình. Thông thường là Trẻ em mừng tuổi người trưởng thành và được Lì xì.


CHÚC TẾT
Xuân về Tết đến chúc nhiều nhiều
May được bao nhiêu đỡ bấy nhiêu
Phước Lộc Thọ trường, đời cực lạc
An khang thịnh vượng, sống tiêu diêu
Tuổi già bệnh tật không sanh chuyện
Đất nước toàn dân tốt đủ điều
Tri túc lễ nghi tròn lễ nghĩa
Tỏ lòng quí trọng mến thương nhiều.
(Phan Thượng Hải)
Lì Xì là một tên gọi của tục lệ mừng tuổi trẻ em trong dịp Tết Nguyên đán ở các nước Á Đông và Việt Nam, đó là lệ đặt tiền vào chiếc phong bì nhỏ có trang trí màu vàng son rực rỡ để mừng tuổi trẻ em. Trong phương ngữ miền Nam của tiếng Việt, tiền ấy được gọi là tiền Lì-Xì.
Theo Hạo-Nhiên Nghiêm Toản, Lì Xì là từ chữ Tàu 利市 viết theo Pinyin là Lì Shì và đọc theo tiếng Quan Thoại là Lì Sì còn đọc theo theo tiếng Hán là Lợi Thị.
Lợi là Ích lợi hay Tiện lợi hoặc là Tiền lời. Thị là Chợ. Lợi Thị có nghĩa đen là Chợ có ích lợi, tiện lợi và có lời.
Tuy nhiên Nghiêm Toản lại cắt nghĩa Lì Xì (Lì Shì) có ba nghĩa "bóng" như sau (không giống nghĩa đen của nó):
- Số lời có được do mua bán mà ra.
- Tốt lành có lợi: Khi người phụ nữ lấy chồng về đến cửa, mọi người đi theo cũng như người nhà đều xin Lợi-thị (hoặc đồ vật, hoặc là tiền)
- Vận tốt, vận may: Sách "Bắc-mộng-tỏa-ngôn" rằng: "Khi Hạ-hầu Tư chưa gặp thời, còn luân lạc linh đinh, người ta gọi Tư là viên Tú-tài chẳng Lợi-Thị"
Do đó trong cả ba trường hợp, "Lợi-thị" hay "Lì-Xì", đều có nghĩa là được lợi, được tiền, được may mắn. Tác giả Hạo-nhiên khẳng định rằng tiền Lì-Xì, mừng tuổi, chính là thứ tiền đem lại cái hên, điều lành, điều tốt, cho trẻ em dịp đầu xuân.
Cũng có giả thuyết rằng chữ Lì-Xì đọc theo âm Quảng Đông được chấp nhận rộng rãi: Ở Trung Quốc có Phong Tục tặng phong bao bằng giấy đỏ trong đựng tiền (=Hồng Bao 紅包). Phong Tục nầy tiếng Quảng gọi là Lì Xì viết làm 3 cách với 3 nghĩa:
(1) 利事 (đọc theo tiếng Hán là Lợi Sự): Lợi là ích lợi, tiện lợi hay có lời. Sự là sự việc.
Lợi Thị có nghĩa là: sự việc ích lợi, tiện lợi và có lời.
(2) 利是 (đọc theo tiếng Hán là Lợi Thị): Lợi là ích lợi, tiện lợi hay có lời. Thị 是 có nghĩa là ấy là, như thế, phải (đúng). Lợi Thị có nghĩa là: đúng là hay ấy là ích lợi, tiện lợi và có lời (như thế). (Phải=đúng; phản nghĩa với Trái=sai).
(3) 利市 (đọc theo tiếng Hán là Lợi Thị): Lợi là ích lợi, tiện lợi hay có lời. Thị 市 là Chợ. Giống như nghĩa đen trong chữ "Lì Shì" của Ông Nghiêm Toản, Lợi Thị là Chợ ích lợi, tiện lợi và có lời.
Nghĩa thứ (1) và (2) thấy đúng với Lì Xì trong ngày Tết hơn cái Nghĩa thứ (3).
Tuy nhiên, ở Trung Quốc, Phong tục Lì Xì không chỉ có trong Tết Nguyên Đán mà còn trong nhiều dịp khác, cũng không chỉ dành cho trẻ em! (Muốn đút lót ai thì có Lì Xì!).


VIẾNG TẾT


Trong 3 ngày Tết mọi người thăm viếng lẫn nhau để Chúc Tết hay ăn chơi với nhau. Khi đithăm viếng thì có phong tục Xuất hành và Xông nhà hay xông đất.
Xuất hành là lần đầu tiên ra khỏi nhà trong ngày Tết để đi đâu thì phải chọn một hướng tương hợp tương sinh với mình với con giáp của năm để xuất hành cầu tài đón lộc. Ngoài việc chọn đúng hướng còn phải chọn đúng giờ để gặp sự may mắn và tránh việc rủi trong năm mới.
Người ta nhờ người hợp tuổi, hợp mệnh đến xông nhà, cầu mong sang năm lấy được vía tốt của người xông nhà hay còn gọi là Xông Đất. Người đến Xông nhà hay Xông đất là người đầu tiên đến Nhà hay Đất đó trong 3 ngày Tết. Có khi sau khi đi chùa hay thăm người khác, chủ nhà chọn giờ tốt hay hướng tốt trở về tự xông nhà hay xông đất của mình.
Tục lệ nầy được nhà văn Thạch Lam tả trong 2 câu đối:
Tối Ba Mươi, đuổi chú Nghèo đi, chú bất Nghĩa chú tìm đường chú cút
Sáng Mùng Một, mời ông Giàu lại, ông có Nhân ông mở cửa ông vào
(Thạch Lam)


LỄ CHÙA


Ngày nay cũng có đi Lễ Nhà Thờ nhưng Lễ Chùa đã có từ lâu. Có người cả năm không đi lễ, nhưng đến Tết nhất thiết phải qua chùa thắp nén hương, dâng tiền giọt dầu hoặc tiền công đức cho chùa. Vào ngày đầu năm, tại chốn linh thiêng, người ta tin rằng điều cầu khấn của mình có nhiều khả năng thành hiện thực.
Do đó Chùa và Nhà Thờ tấp nập trong ngày Tết.
NHÀ SƯ KHAI BÚT
Gió Xuân phe phẩy áo cà sa
Bát ngát hương nhan bệ Thích Ca
Lộc Phật tay nâng vài phẩm oản
Vẻ xuân mắt liếc một cành hoa
Chuông dồi mõ dục vui sư vãi
Pháo đốt nêu trừ cấm quỷ ma
Tín nữ có ngoan làm lễ Tết
Nhà chùa làm phúc khắp tư gia.
(Nguyễn Văn Chúc) Nam Phong tạp chí
Không ai biết chắc chắn phong tục Xin Xăm này có từ bao giờ và tại sao nhưng trong những ngày đầu năm âm lịch thì rất nhiều người thích đi lễ ở các lăng tẩm, đền chùa để cúng bái và xin xăm nhất là vào buổi sáng mồng một, phong tục này thường được tiến hành chung với tục lệ chọn hướng xuất hành và hái lộc.
Xin Xăm là một hình thức tin vào các thẻ xăm có ghi lời sấm báo trước điềm lành hay dữ trong năm và thường cần có thầy bàn xăm. Ở miễn Bắc có tục "bốc quẻ thẻ" giống như tục "xin xăm" ở phía Nam. Người xin thẻ dâng một lễ mọn rồi chọn lấy một quẻ thẻ bằng tre viết chữ Hán. Trên quẻ thẻ thường ghi một câu văn ngắn gọn rút từ điển tích Trung Hoa cổ. Căn cứ câu văn ấy, người xin thẻ có thể luận ra "tiền định" cuộc đời mình trong năm đó. Nếu không thông thạo Hán Văn, có thể thuê thầy đồ luận giải giúp. Ngày nay, người ta thường bỏ thẻ tre và thay vào đó bằng những tờ bướm in chữ quốc ngữ với lời giải được soạn sẵn.
Nếu xuất hành ra chùa hay đền, sau khi lễ bái, người Việt còn có tục bẻ lấy một cành lộc để mang về nhà lấy may, lấy phước. Đó là tục Hái Lộc (còn gọi là Thỉnh Lộc).
Lộc là chồi cây non vừa nhú ra, tượng trưng cho sức sống dồi dào trong những ngày sắp tới, nhưng cũng đồng âm với lộc theo nghĩa tài lộc bỗng dưng đưa đến. Cành lộc là một cành đa nhỏ hay cành đề, cành si... là những loại cây quanh năm tươi tốt và nảy lộc. Tục hái lộc ở các nơi đền chùa ngụ ý xin hưởng chút lộc của Thần, Phật ban cho nhân năm mới. Cành lộc thường đem về cắm ở bàn thờ.
Ngày nay đền chùa không có đủ lộc non cho hàng trăm nghìn người đến hái, nên đặt mua lộc (thường là chồi cây phát tài) đặt sẵn trên bàn ở sân hay cổng đền chùa. Khách đến thỉnh về và cứ tùy hỉ cúng chút ít tiền.


ĂN TẾT VÀ CHƠI TẾT
Ăn Tết là ăn uống vui vẻ và thịnh soạn tại gia hay tại cao lâu tửu quán trong 3 ngày Tân Niên.
Thường là nhiều người tụ họp ân uống.
(Câu Đối)
Bốn nghìn lần: Xuân Hạ Thu Đông, vạn vật lanh quanh vòng lẩn quẩn
Ba ngày Tết: Xôi Chè Rượu Thịt, tứ dân hì hục chén no nê


Chơi Tết gồm có: Cờ Bạc, Múa Lân, Đốt Pháo, Đá Gà, Văn Nghệ (Hát Cải Lương, Hát Bội, Hát Bóng...).
Trong khi Múa Lân có Ông Địa, đốt Pháo và múa Võ. Theo thông lệ, Lân tới múa trước cửa nhà hay cửa tiệm để trừ tà và đem phúc đức cho năm mới.


MÚA LÂN
Phất cờ, ông Địa trước, lân sau
Chiêng trống múa men bụi lấp đầu
Khi trợn khi phùng khi mọp sát
Lúc vùng lúc vẫy lúc lên cao
Ma tà trừ hộ, trừ chưa hử?
Hạnh phúc chúc cho, chúc được nào?
Nhờ pháo trợ oai nghe lốp bốp
Thích xem, đàn trẻ lấn chen nhau.
(Lãng Ba Phan Văn Bộ)


Pháo Tết bắt đầu đốt từ ngay Giao Thừa. Đặc biệt, nước Việt Nam chỉ có đốt Pháo trong ngàyTết. Trong Văn học sử có 2 bài thơ tiêu biểu về Pháo:
CÂY PHÁO
Xác không vốn những cậy tay người
Khôn khéo làm sao buộc chẳng rời
Kêu lắm lại càng tan tác lắm
Thế nào cũng một tiếng mà thôi.
(Nguyễn Hữu Chỉnh)
CÂY PHÁO
Giấy xanh giấy trắng ở tay người
Bao nả công trình tạch cái thôi
Cao lắm lại càng xơ xác lắm
Cũng mang một tiếng ở trên đời.
(Nguyễn Khuyến)
Pháo Tết thường bị cấm vào thời chiến. Sau chiến tranh kháng Pháp và có hiệp định Genève (1954) thì Tết đầu năm 1955 được cho đốt pháo. Thi hứng từ Pháo Tết làm thành thơ:
PHÁO XUÂN ẤT MÙI (1955)
Trót chín xuân rồi vắng tiếng ai
Nay về lốp bốp nổ rền tai
Mùi xưa khét khét còn hăng hái
Sắc cũ hồng hồng vẫn đắm say
Làng mạc ít tiền thì chấm chút
Thị thành lắm bạc mới dằng dai
Lối chơi dẫu kém phần tao nhã
Triệu chứng dân mừng khỏi nạn tai.
(Lãng Ba Phan Văn Bộ)
Gia đình có nề nếp quanh năm cấm đoán con cháu không được cờ bạc rượu chè nhưng trong dịp Tết thì tam cúc, tứ sắc, cờ tướng, cờ gánh, cờ nhảy, chắn, tổ tôm, lắc bầu cua,... ai thích trò nào chơi trò ấy. Đến lễ khai hạ (hạ nêu) thì xé bộ tam cúc, cất bộ tổ tôm...hoặc đốt các bộ bài trong lễ Tết.
Giai phẩm Văn Hóa Ngày Nay thời VNCH có câu kết về Ăn Chơi ngày Tết:
"Ăn Chơi Tết thì có Ăn Tiêu và Ăn Thua rồi Ăn Năn. Tuy nhiên có Kiêng: Ăn Chịu và Ăn Nằm".


VỀ QUÊ ĂN TẾT
Người Việt theo phong tục phải "về quê ăn Tết", dù đi làm xa cũng phải cố gắng về quê. Thân phụ của tôi làm việc ở Cần Thơ nhưng ngày Tết thường ráng đem vợ con về quê là Cao Lãnh.
Thường là ngày mùng 2 hay mùng 3, ông bao một chiếc xe chở cả gia đình về Cao Lãnh, sáng đi chiều về hay ngủ qua 1 đêm.
Đây là bài thơ cảm tác:
XUÂN NHỰT HỒI HƯƠNG
Xa cách mặc dù dám lảng xao
Tết về hội họp chỗ chôn nhau
Viếng mồ cha mẹ, tình thông cảm...
Gõ cửa bà con, nghĩa đổi trao...
Chơn giẵm quê xưa, vui biết mấy
Mặt mừng người cũ, thích làm sao!
Trong bầu không khí đầy thân mật
Chim Việt cành Nam đỡ khát khao. (*)
(Lãng Ba Phan Văn Bộ)
(*) Hồ mã tê Bắc phong.
Việt điểu sào Nam chi.


Nếu không về quê ăn Tết được thì buồn. Những bài thơ cũ của Ba tôi vào thời Đệ Nhất Cộng Hòa cũng mang tâm trạng giống như chúng ta tha hương lúc bây giờ.
TÂN XUÂN CẢM CỰU
Nhớ Tết năm nào ở xứ ta
Nhớ mừng cha mẹ, cúng ông bà
Nhớ lân giỡn pháo vui làng mạc
Nhớ liễn thăm nêu đẹp cửa nhà
Nhớ bỡn cô đò mang áo xuyến
Nhớ chào lão quán bịt khăn là
Nhớ bao bạn hữu bao chè chén
Nhớ mãi thời xuân tiếc tuổi già.
(Lãng Ba Phan Văn Bộ)


XUÂN NHỰT LỮ HOÀI
Sinh hoạt tha hương dẫu sự thường
Tết nầy xem tựa vắng mùi hương
Đò xưa cách mặt chưa quên lối
Bến mới lê chân vẫn lạ đường
Hơi rượu cúng cha nồng nỗi nhớ
Giọng thơ chúc mẹ nực niềm thương
Xuân về, lãnh đạm cùng xuân sắc
Đưa mắt xa trông, vạn dặm trường.
(Lãng Ba Phan Văn Bộ)
XUÂN DẠ LỮ HOÀI
Mấy độ xuân về vọng cố hương
Tưởng tơ, tơ tưởng, ngẩn ngơ dường
Đình thần miễu thánh hằng mơ mộng
Vong mẹ hồn cha mãi vấn vương
Chợ búa, mùi hương gây nỗi nhớ
Đồng quê, tiếng pháo gợi niềm thương
Người xưa cảnh cũ chừ đâu tá?
Đất khách năm canh luống đoạn trường.
(Lãng Ba Phan Văn Bộ)


Người Việt tha hương ở Mỹ cũng có tỏ nỗi lòng qua những vần thơ:
CHIỀU BA MƯƠI TẾT
Chiều ba mươi Tết cúng ông bà
Lặng lẽ ngôi nhà quạnh quẽ xa
Dưa giá thịt kho và bánh mứt
Nhang đèn bức ảnh với bình hoa
Tha hương xa vắng bao phong tục
Viễn xứ xa vời một quốc gia
Ngày Tết năm xưa thành kỷ niệm
Tân xuân cảm cựu tuổi thêm già.
(Phan Thượng Hải)


Bs PHAN THƯỢNG HẢI biên soạn và giữ bản quyền
Bài viết này đăng lần đầu trong phanthuonghai.com mục Văn Hóa phần Học Thức và Đời
Sốn

MÙA XUÂN TRONG TÂN NHẠC MIỀN NAM

 

                                  Bs Phan Thượng Hải biên soạn 


 

A. Cảnh Tình Mùa Xuân

 

(1)

- Nhạc phẩm Xuân đầu tiên luôn được nhắc đến là Bến Xuân, nhạc và lời của Văn Cao.  Phạm Duy dùng nhạc của bản nhạc này mà đặt lời thành ra nhạc phẩm Bến Xuân thứ nhì.  Văn Cao lại đặt lời mới cho nhạc phẩm Bến Xuân thứ ba và đổi tựa đề mới là Đàn Chim Việt.

 

Bến Xuân 1 - Điệu Slow.

Nhà tôi bên chiếc cầu soi nước.  Em đến tôi một lần.  Bao lũ chim rừng hợp đàn trên khắp bến xuân

(Văn Cao)

 

Bến Xuân 2 - Điệu Slow.

Nhà tôi nay vẫn còn ngơ ngác.  Em vắng tôi một chiều

(Nhạc: Văn Cao - Lời: Phạm Duy) 

 

Bến Xuân 3 / Đàn Chim Việt - Điệu Slow.

Về đây khi gió mùa thơm ngát.  Ôi lũ chim giang hồ.  Bao cánh đang cùng dật dờ trên khắp cố đô

(Văn Cao) 


 

- Nhạc Tiền chiến còn có những nhạc phẩm âm hưởng của Bến Xuân và của Văn Cao.

 

Bến Xuân Xanh - Điệu Valse - 1949.

Ngày xuân êm ấm.  Nắng xuân tưng bừng, hoa tô màu thắm, bướm bay quyến luyến

(Dương Thiệu Tước) 

 

Tiếng Sáo Thiên Thai - Điệu Tango Habanera; Điệu Rumba.

Xuân tươi.  Êm êm ánh xuân nồng.  Nâng niu sáo bên rừng

(Thơ: Thế Lữ - Nhạc: Văn Cao)

 

Đây là những nhạc phẩm tiền chiến có tiếng rất được thính giả của Tân Nhạc Miền Nam mến chuộng.


 

(2)

- Tân Nhạc Miền Nam đón chào Mùa Xuân đến hay trở về qua những nhạc phẩm phổ thông mô tả cảnh tình của Mùa Xuân. 

 

Xuân Đã Về - Điệu Ballade.

Xuân đã về, xuân đã về.  Kìa bao ánh xuân vàng tràn lan mênh mông

(Minh Kỳ) 

 

Đón Xuân - Điệu Fox Moderato; Điệu Pop.

Xuân đã đến rồi reo rắc ngàn hồn hoa xuống đời.  Vui trong bình minh

(Phạm Đình Chương) 

 

Mừng Nắng Xuân Về - Điệu Chachacha.

Nắng xuân về trên muôn hoa.  Nắng xuân về tươi thắm mọi nhà

(Thơ: Thanh Sơn - Nhạc: Huỳnh Anh) 

 

Gió Mùa Xuân Tới - Điệu Chachacha.

Gió mùa xuân tới, cánh hồng tươi thắm trong nắng vàng.  Muôn bướm tung bay mang sắc tươi phô cùng trời sáng

(Hoàng Trọng) 


Những Ngày Xưa Thân Ái - Điệu Bolero.

Những ngày xưa thân ái Anh gửi lại cho ai.  Gió mùa xuân êm đưa.  Mang hàng cau lưa thưa

(Phạm Thế Mỹ) 


- Hoa Xuân được nhấn mạnh trong Cảnh Tình của Mùa Xuân.

 

Hoa Xuân - Điệu Slow Rock - 1953.

Xuân vừa về trên bãi cỏ non.  Gió xuân đưa lá vàng xuôi nguồn

(Phạm Duy) 

 

Trong các loại Hoa, Hoa Đào là Hoa của Mùa Xuân như câu "Đua chen Thu Cúc Xuân Đào" của Bích Câu Kỳ Ngộ.

 

Ai Lên Xứ Hoa Đào - Điệu Bolero.

Ai lên xứ hoa đào dừng chân bên hồ nghe chiều rơi.  Nghe hơi giá len vào hồn người chiều xuân mây êm trôi.

(Hoàng Nguyên)

 

Bài Thơ Hoa Đào - Điệu Bolero.

Ngày nào dừng chân phiêu lãng.  Khách tới đây khi hoa đào vươn lối đi.

(Hoàng Nguyên)

 

Mùa Hoa Anh Đào - Điệu Rumba.

Mùa xuân sang có hoa anh đào.  Màu hoa tôi trót yêu từ lâu

(Thanh Sơn)


 

(3)

Nhạc cho Mùa Xuân luôn được các nhạc sĩ nhấn mạnh trong tựa đề của nhạc phẩm của mình.  Những nhạc phẩm này thường có những Điệu lạ.  

 

- Từ năm 1937, nhạc sĩ Lê Yên đã có điệu Paso Doble cho nhạc phẩm Xuân Hành Khúc.

 

Xuân Nghệ Sĩ Hành Khúc - Điệu Paso Doble - 1937.

Xuân tươi xuân vui xuân đẹp trong ý thơ đẹp trong tiếng ca

(Lê Yên) 


- Ba nhạc phẩm dưới đây có dùng những điệu nhạc lạ trong nền Tân Nhạc Miền Nam.

 

Nhạc Khúc Mừng Xuân - Điệu Samba.

Đàn chim tung bay trong cánh dưới ánh nắng hồng mừng xuân mới.  Ngàn hoa tươi khoe chim hót ríu rít trên cành chào xuân tới

(Phạm Mạnh Cương) 

 

Điệp Khúc Mùa Xuân - Điệu Rap.

Nắng lung linh hoa vàng.  Chờ tia nắng về trong ánh mùa sang

(Quốc Dũng)


Xuân Ca - Điệu Pop.

Xuân trong tôi đã khơi trong một đêm vui.  Một đêm một đêm gối chăn phòng the đón cha mẹ về

(Phạm Duy) 


- Có 2 nhạc phẩm với cùng một tựa đề Khúc Nhạc Ngày Xuân nhưng có 2 lịch sử khác nhau.  Khúc Nhạc Ngày Xuân của Nhật Bằng luôn được ưa chuộng và phổ thông cho đến ngày nay.  Tuy nhiên nhạc phẩm Khúc Nhạc Ngày Xuân của Văn Xứng đã chìm trong quên lãng và cho đến ngày nay thì không còn ai biết tác giả Văn Xứng là ai.

 

Khúc Nhạc Ngày Xuân - Điệu Valse.

Ngày trôi theo tháng giá mùa đông.  Vàng phai theo lá úa ngoài song.  Kìa chim oanh đã tới đầu sân

(Văn Xứng)

 

Khúc Nhạc Ngày Xuân - Điệu Slow-Fox - 1955.

Ngàn hoa thắm tươi hé môi mừng chào đón xuân.  Bày chim tung cánh bay trên muôn cành cùng hát vang

(Nhật Bằng) 


 

- Có nhạc phẩm chú trọng về Âm Nhạc nhiều hơn là Mùa Xuân trong nội dung.

 

Tiếng Dương Cầm - Điệu Andante Espressivo; Điệu Slow Ballade.

Nhớ hôm nào mùa xuân mới sang.  Muôn bầy chim ca hót vang

(Văn Phụng)


 

(4)

Cảm giác vui mừng hòa với Mùa Xuân cũng được nhấn mạnh trong nhiều nhạc phẩm khác.

 

Tâm Sự Ngày Xuân - Điệu Bolero - 1966.

Trong thế gian đang vui mừng đón xuân.  Chắc nàng xuân năm nay đẹp bội phần

(Hoài An)

 

Hạnh Phúc Đầu Xuân - Điệu Rumba Bolero.

Thấm thoát là đây một mùa xuân mới với ngàn cánh mai vàng.  Nụ cười trên môi

(Lê Dinh và Minh Kỳ)

 

Nụ Cười Sơn Cước - Điệu Valse.

Tôi nhớ mãi một chiều xuân chia phôi.  Mây mờ buông xuống núi đồi

(Tô Hải / Hoàng Phú) 

 

Vó Câu Muôn Dặm (+ lời: Văn Khôi) - Điệu Fox Trot (Country).

Một đoàn trai đi khi xuân tới.  Hẹn rằng gieo tình thương khắp nơi

(Văn Phụng)


 

(5)

Từ Mùa Xuân có thanh xuân và sự trẻ đẹp qua những nhạc phẩm:

 

Khúc Hát Thanh Xuân (nhạc ngoại quốc: When we were young, Johan Strauss) - Điệu Tempo di Valse - 1946 Hà Nội.

Ngày ấy khi xuân ra đời.  Một trời bình minh có lũ chim vui

(Phạm Duy) 

 

Xuân Và Tuổi Trẻ - Điệu Valse Moderato; Điệu Valse.

Ngày thắm tươi bên đời xuân mới.  Lòng đắm say bao nguồn vui sống

(Lời Việt: Thế Lữ - Lời Trung Hoa: Diệp Truyền Hoa - Nhạc: La Hối)

 

Gái Xuân - Điệu Habanera; Điệu Rumba.

Em như cô gái hãy còn xuân.  Trong trắng thân chưa lắm bụi trần

(Thơ: Nguyễn Bính - Nhạc: Từ Vũ) 


 

B. Tình Yêu trong Mùa Xuân

 

(1)

Tình yêu trong Mùa Xuân là một Tựa đề không thể thiếu và rất được ưa chuộng.

 

Tình Khúc Mùa Xuân - Điệu "dìu dặt"; Điệu Slow Rock.

Tình yêu đó cho em.  Tháng năm trên từng phím xuân lay.  Đôi môi xinh giòng tóc mây bay

(Ngô Thụy Miên và Huy Linh) 


Nhớ Một Chiều Xuân - Điệu Slow Tango - 1962 - Lệ Thanh hát đầu tiên.

Chiều nay thấy hoa cười chợt nhớ một người.  Chạnh lòng tôi khơi bao niềm nhớ

(Nguyễn Văn Đông)

 

Đón Xuân Nầy Nhớ Xuân Xưa - Điệu Habanera - 1967.

Đón xuân nầy tôi nhớ xuân xưa.  Một chiều xuân em đã hẹn hò

(Châu Kỳ và Anh Châu) 

 

Nhớ Nhau Hoài - Điệu Ballade - 1957.

Em ở nơi nào, có còn mùa xuân không Em?  Rừng ngàn lá gió, từng đêm nhắc nhở thì thầm

(Anh Việt Thu và Thiên Hà) 

 

Người Về Bỗng Nhớ

Mùa xuân yêu em đồi núi thênh thang.  Hồ nước long lanh ngàn cánh vàng

(Trịnh Công Sơn)


Mộng Chiều Xuân - Điệu Tango - 1970.

Gió chiều thầm vương bao nhớ nhung.  Người yêu thoáng qua trong giấc mộng

(Ngọc Bích) 

 

Mộng Ban Đầu - Điệu Tango.

Quê Em miền thùy dương.  Lúa ngọt ngào hoa mới.  Gió mang mùa xuân tới

(Lời: Hồ Đình Phương - Nhạc: Hoàng Trọng)


Cô Láng Giềng - Điệu Rumba.

Hôm nay trời xuân bao tươi thắm.  Dừng bước phiêu lưu về thăm nhà

(Hoàng Quý)

 

Cô Lái Đò 

Xuân đã mang mong nhớ trở về.  Lòng cô lái ở bến sông kia

(Thơ: Nguyễn Bính - Nhạc: Nguyễn Đình Phúc)


 

(2)

Nhạc sĩ đi ngay vào "thực tế" của Tình Yêu qua các tựa đề của những nhạc phẩm.

 

Anh Cho Em Mùa Xuân - Điệu Tango Habanera - 1972.

Anh cho Em mùa xuân.  Nụ hoa vàng mới nở, chiều đông nào nhung nhớ

(Nhạc: Nguyễn Hiền - Thơ: Kim Tuấn) 

 

Nếu Xuân Này Vắng Anh - Điệu Habanera; Boléro Raval - 1967 - Trúc Ly hát đầu tiên.

Xuân đã về anh có hay? Hoa bướm vui mùa sum vầy.  Nơi phương trời anh có nhớ.  Một người luôn nhắc tên anh

(Bảo Thu) 

 

Mùa Xuân Gửi Em - Điệu Bolero - 1965.

Nghe gió xuân hay rằng xuân đã về.  Gói tâm tình vào trong bao ý thơ

(Lê Dinh và Minh Kỳ) 

 

Em Có Bao Giờ Còn Nhớ Mùa Xuân - Điệu Slow Rock.

Em có bao giờ còn nhớ mùa xuân.  Nhớ tháng năm xưa của tuổi đợi chờ

(Ngô Thụy Miên)


Mùa Xuân Đầu Tiên - Điệu Bolero - 1966.

Bao nhiêu thương nhớ gom thật đầy, Anh trở về thăm Em.  Bao lần ngồi thâu đêm nghe mùa xuân vừa đến

(Tuấn Khanh) 


 

C. Mùa Xuân trong Thời Chiến 

 

- Trong thời Kháng chiến chống Pháp đã có đề tài này trong âm nhạc.

 

Chàng Đi Theo Nước - Điệu Tempo di Valse - 1954.

Chiều xuân ấy chàng bước chân đi.  Theo hồn nước duyên tình nhớ chi

(Hiếu Nghĩa)


- Từ bắt đầu thập niên 1960, Miền Nam lại lâm vào tình trạng chiến tranh.  Mùa Xuân trong chiến tranh bắt đầu ảnh hưởng mạnh mẽ đến đề tài của nhạc sĩ.

Nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông là người đầu tiên sáng tác cho đề tài này vào đầu thập niên 1960.

 

Phiên Gác Đêm Xuân - Điệu Tango Habanera.

Đón Giao Thừa một phiên gác đêm.  Chào xuân đến súng xa vang rền

(Nguyễn Văn Đông)


 

- Tiếp theo là nhạc sĩ Trần Thiện Thanh với 3 nhạc phẩm vào những thập niên 1960 và 1970.

 

Đồn Vắng Chiều Xuân - Điệu Biguine Rock; Điệu Chachacha - 1964.

Đầu xuân năm đó anh ra đi.  Mùa xuân nầy đến anh chưa về

(Trần Thiện Thanh)

 

Phút Giao Mùa - Điệu Bolero - 1968.

Lại một mùa xuân nữa đến trong khói lửa chiến tranh.  Mùa xuân vẫn xanh như cuộc tình em với anh

(Anh Chương Thanh Trân = Trần Thiện Thanh)

 

Đám Cưới Đầu Xuân - Điệu Bolero; Điệu Chachacha - 1972.

Ngày xửa ngày xưa đôi ta chung nón đôi ta chung đường.  Lên sáu lên năm đôi ta cùng sách đôi ta cùng trường


 

- Hai nhạc sĩ Trần Trịnh và Nhật Ngân, ký chung bút hiệu là Trịnh Lâm Ngân, cũng có 3 nhạc phẩm trong cùng thời gian với Trần Thiện Thanh.

 

Mùa Xuân Của Mẹ - Điệu Ballade - 1969.

Mẹ ơi hoa cúc hoa mai nở rồi.  Giờ đây đời con đang còn lênh đênh

(Trịnh Lâm Ngân)

 

Xuân Này Con Không Về - Điệu Tango Habanera - 1969.

Con biết bây giờ mẹ chờ tin con.  Khi thấy mai đào nở vàng trên nương

(Trịnh Lâm Ngân) 

 

Thư Xuân Trên Rừng Cao - Điệu Ballade - 1971.

Mời anh mời chị mùa xuân lên đây thăm tôi.  Nơi xa xôi khuất nẻo thưa người

(Trịnh Lâm Ngân)


 

- Chiến tranh được nhấn mạnh trong nhạc phẩm.

 

Lời Đầu Năm Cho Con - Điệu Habanera - 1970 - Phương Đại hát đầu tiên.

Lời đầu năm ba viết cho con.  Chuyện quê hương khói lửa rã mòn

(Nguyên Thảo) 

 

Đầu Xuân Lính Chúc - Điệu Beguine Rock - 1967 - Trung Chỉnh hát đầu tiên.

Ngày đầu xuân chúc non nước thanh bình.  Ngày mồng hai chúc cho lứa đôi mình

(Hoài Linh và Tấn An)


 

D. Lễ Xuân

 

Lễ Xuân trong dịp Tết cũng là nguồn cảm hứng cho các nhạc sĩ của Miền Nam.

 

Câu Chuyện Đầu Năm - Điệu Tango Habanera.

Trên đường đi lễ xuân đầu năm.  Qua một năm ruột rối tơ tằm

(Hoài An)


Cánh Thiệp Đầu Xuân - Điệu Bolero.

Hoa lá nở thắm đẹp làn môi hồng.  Xuân đến rồi đây nào ai biết không

(Lê Dinh và Minh Kỳ)

 

 Ly Rượu Mừng - Điệu Valse.

Ngày xuân nâng chén.  Ta chúc nơi nơi.  Mừng anh nông phu vui lúa thơm hơi

(Phạm Đình Chương) 


Đầu Xuân Lính Chúc - Điệu Beguine Rock - 1967 - Trung Chỉnh hát đầu tiên.

Ngày đầu xuân chúc non nước thanh bình.  Ngày mồng hai chúc cho lứa đôi mình

(Hoài Linh và Tấn An)



E. Một nhạc phẩm của Đoàn Chuẩn?

 

Đây là nhạc phẩm về Mùa Xuân gây nhiều tranh cãi lúc gần đây vì có 2 Lời cho nhạc phẩm:

- Lời thường được hát ở hải ngoại như là "nhạc tiền chiến của Đoàn Chuẩn" nhưng thật ra thì không phải của Đoàn Chuẩn.

-  Lời thường được hát ở trong nước và chính thực là của Đoàn Chuẩn, sáng tác vào năm 1956, sau khi Hiệp định Genève 1954 chia hai đất nước.

 

Gửi Người Em Gái Miền Nam (Gửi Người Em Gái) - Điệu Slow

Cành hoa tim tím bé xinh xinh báo xuân nồng.  Rừng đào phong kín khép mong manh đóa hoa lòng

(Đoàn Chuẩn)


 

Bs PHAN THƯỢNG HẢI biên soạn và giữ bản quyền

 

Tài liệu tham khảo: 

Tân Nhạc Miền Nam (Bs Phan Thượng Hải) trong phanthuonghai.com 

_______________________________

 

 

TRẦN BÁ LỘC VÀ DỊ NHƠN 

 

     Bs Phan Thượng Hải biên soạn

Kháng chiến Nam Kỳ bị thất bại vì có những "Việt Gian" tay sai giúp Pháp như Lãnh binh Huỳnh Công Tấn, Tổng đốc Đỗ Hữu Phương (Tổng Đốc Phương) và nhứt là Trần Bá Lộc (1845-1887).  

Trần Bá Lộc truy đuổi ông Thiên Hộ Dương phải chạy khỏi Đồng Tháp Mười và rồi ông bị hải tặc giết chết (1866); bắt sống ông Nguyễn Trung Trực ở Phú Quốc (1868); và bắt sống ông Thủ Khoa Quân ở Chợ Gạo, Mỹ Tho (1875).  

Về sau Trần Bá Lộc còn ra Trung Kỳ bắt ông Lê Thành Phương ở Phú Yên rồi hợp sức với Nguyễn Thân bắt ông Mai Xuân Thưởng và ông Bùi Điền ở Quảng Nam.  

Tất cả những vị anh hùng kháng Pháp nầy đều bị Pháp hành hình.

 

Trần Bá Lộc sinh ở Cù Lao Giêng, An Giang.  Cha là Tú Tài Trần Bá Phước theo đạo Thiên Chúa nên bị bắt an trí ở Bình Thuận.  

Emanuel Trần Bá Lộc cũng theo đạo, tình nguyện làm Cai “Lính Mã Tà” cho Pháp rồi được phong làm Tri Huyện Kiến Phong (nay là Cái Bè, Mỹ Tho).  Nhờ đó Trần Bá Lộc dùng quyền lực mua đất trở thành điền chủ giàu nhứt ở tỉnh Mỹ Tho.  

Sau khi phong trào kháng Pháp được dẹp yên, Trần Bá Lộc về ở Cái Bè mang danh “Hàm Tổng Đốc”, bạn của Toàn Quyền Paul Doumer, có lập một dinh thự rất lớn rồi khi bệnh chết thì ra lệnh “chôn đứng”.  Mồ của Trần Bá Lộc nay ở đất thánh sau nhà thờ Cái Bè.  Trần Bá Lộc có cho đào 1 con kinh dài 47 km rộng 10 m.

 

Trần Bá Phước sinh ra Trần Bá Lộc; Trần Bá Lộc sinh ra Trần Bá Thọ.  Trần Bá Thọ cũng làm nhiều điều “bất hảo” nên họ Trần mất hết tước vị và tài sản.  Về sau dân chúng ghét nên đốt dinh của Trần Bá Lộc.  Một thi sĩ ở Nam Kỳ là Dị Nhơn có bài thơ:

 

ĐỐT DINH TRẦN BÁ LỘC  

Dám đem xương máu của đồng bào

Mà cất cái dinh thiệt lớn lao

Khói tỏa cung A rằng chuyện cũ (*)

Lửa thiêu dinh Bá khác đâu nào? (*)

“Phỉ da” quân đối “sơn hà cổ”

“Báo oán” dân đồng “nhựt nguyệt cao”

Nước sạch Cái Bè trong léo lẻo

Làm gương cho sách để về sau.

(Dị Nhơn)

 

(*) Chú thích:

Cung A Phòng của Tần Thủy Hoàng bị Sở Bá Vương Hạng Võ đốt.

Dinh Bá là dinh Trần Bá Lộc

 

Nếu ở ngoài Bắc có Hồ Xuân Hương với thơ chữ Hán Nôm thì ở trong Nam 100 năm sau có Dị Nhơn với thơ chữ Quốc Ngữ cùng một điệu “Thanh và Tục”.  Hai người đều có tông tích bí mật.  Tuy nhiên hình như Dị Nhơn cũng là đàn bà.

 

VỊNH QUAN HOẠN

Chú min ơi hỡi chú min ơi

Tăn hẳn sự nầy thế thế thôi

Cán cân tạo hóa rơi đâu mất?

Nâng túi càn khôn trả nợ đời.

(Hồ Xuân Hương)

 

DƯƠNG VẬT

Bác mẹ sinh ra vốn chẳng hèn

Ban đêm không mắt sáng hơn đèn

Đầu đội nón da loe chóp đỏ

Lưng đeo bị đạn rủ thao đen.

(Hồ Xuân Hương)

 

DƯƠNG VẬT

Ngóc đầu từng bước chốn cung son

Căm giận chuyện đời tiếng gọi “con”

Vương bá cậy tài nên vóc vạc

Quan dân nhờ sức đặng vuông tròn

Xông đồn lắm lúc đầu nào mẻ

Đột lũy ghe phen giáo chẳng mòn

Ở khách má đào ai cũng thế

Vẹn gìn chớ để thẹn sông non.

(Dị Nhơn)

 

ÂM VẬT

Tượng mắng người đồn gẫm quá thô

Đố ai cho khỏi đút đầu vô

Trong vòng khép lại nhiều vương tướng

Ngoài ngõ chung ra hiếm cống đồ

Ai dẫu có tình dành dựa thế

Người mà không lễ dễ gần mô

Giúp đời có thủa tuôn mây (mưa) móc

Cây cỏ nhờ hơi nắng chửa khô.

(Dị Nhơn)

 

CỤC CỨT

Đương khi chộn nhộn ló đầu ra

Thiên địa ai ai cũng gớm va

Ỷ thế dọc ngang nằm dích đốc

Rồi đây gặp lúc chó liền tha.

(Dị Nhơn)


 

Bs PHAN THƯỢNG HẢI biên soạn và giữ bản quyền 

 

Bài này là 1 đoạn trích từ bài "Thơ và Sử Việt - Thời Kỳ Pháp Thuộc (Thế Kỷ 19)" (Bs Phan Thượng Hải) trong phanthuonghai.com mục Lịch Sử Và Thơ Văn phần Thời Pháp Thuộc.

 

 

PTH_Mainui.JPG

       THƠ XUÂN TẾT             
 

XUÂN Ý

 

Năm nay tớ được bảy mươi ba

Từng sống đã lâu tự thấy già

Khi biết yếu đau xin ý Chúa

Lúc nhìn thay đổi tận tình ta 

Văn chương đẹp dạ hồn thơ dệt 

Kỷ niệm động lòng dĩ vãng qua

Nghĩ lại đời mình hên sống sót

Chào Xuân đón Tết quẩn quanh nhà.

 

Sơn hà nhàn dật thú yên hà

Tự tại hoa viên thưởng thức hoa

Độc ẩm tửu bôi hoan tửu nhạc

Tương tư thi bút hứng thi ca

Tha hương sầu niệm hoài hương lý

Cố quốc u tình ái quốc gia 

Xuân đáo tân niên, niên lão ngộ 

Hòa đồng thân hữu chúc an hòa.

 

(Phan Thượng Hải)

12/22/22

* Đoạn 8 câu đầu dùng hầu hết là Tiếng Nôm. Đoạn 8 câu sau dùng toàn Hán ngữ, mỗi câu đều có điệp ngữ.

PTH_VHC_1.JPG

Ông Vũ Hoàng Chương (1916-1976), người Hưng Yên, là một thi sĩ tiền chiến nổi danh. Ông di cư vào Nam sau hiệp định Genève 1954. Thơ của ông Vũ Hoàng Chương đã làm nhân chứng cho lịch sử của Miền Nam cho đến khi ông qua đời, sau ngày 30-4-1975.

Thi Sĩ của Người Bắc Di Cư

Là người di cư từ Miền Bắc, thi sĩ Vũ Hoàng Chương nhớ người bạn thơ còn ở lại Miền Bắc là Ngân Giang nữ sĩ:

NỔI TRÔI
Đặt bút cùng ngâm khúc bể dâu
Nổi trôi từ đấy xót cho nhau
Một phen nhật nguyệt tranh ngôi sáng (*)
Hai ngả lòng thu dựng tháp sầu (*)
Tình cũng hoài thôi say chẳng nỡ
Xuân sang đó nhỉ mộng về đâu
Rằng hư rằng thực lời tâm huyết
Non vẫn cao hề nước vẫn sâu.
(Vũ Hoàng Chương)
Chú thích: Theo chiết tự của chữ Hán: chữ “nhật” và chữ “nguyệt” ghép lại là chữ “minh” (=sáng) còn chữ “tâm” (=lòng) và chữ “thu” ghép lại là chữ “sầu”.
Vì thương bạn là ông Phan Khôi trong vụ Nhân Văn Giai Phẩm ở ngoài Bắc, ông có làm bài thơ tặng dưới đây bằng tiếng Hán Việt rồi tự mình dịch ra tiếng Việt:

LOẠN TRUNG HỮU BIỆT                             TRONG THỜI LOẠN XA BẠN
Đối diện tằng xưng thiên cãi văn                         Từng khen tuyệt tác ấy văn trời
Kim chiêu biệt hỹ, bút ưng phần!                        Tạm biệt từ đây bẻ bút thôi
Đông tây mộng quải tam canh nguyệt                Giấc mộng đông tây vầng nguyệt lửng
Nam bắc tình khiên vạn lý vân                              Tơ tình nam bắc đám mây trôi
Trọc tửu vô đăng sầu bất ngữ                                Tỉnh say một cuộc đành không bạn
Hoàng sam thanh nhãn ý hà vân                          Hào hiệp ngàn xưa dễ mấy người
Thu phong sạ khởi tiêu hồn cực                          Chợt nổi gió thu lòng héo hắt
Hổ khiếu viên đề hoảng hốt văn.                          Đâu đây hổ thét vượn than dài.
(Vũ Hoàng Chương)                                              (Vũ Hoàng Chương tự dịch)

Tâm hồn di cư của ông vẫn còn nhớ ngoài Bắc:

NHỚ BẮC

Phách dựng hồn lên đỉnh nhịp ba
Đàn chìm sâu tận đáy xương da
Chĩu mười năm mộng khoang thuyền khói
Nghiêng trái tim đèn nửa mặt hoa
Bến cát đìu hiu nghe gió lọt
Mành thưa nghẹn lệ vỡ hơi ca
Một cung bùn ngập tràn phương bắc
Lửa quỷ ai thiêu rụng ngón ngà.
(Vũ Hoàng Chương)1962

Ông Vũ Hoàng Chương là Thi sĩ phong phú nhứt trong lịch sử thi văn nước Việt. Tuy dùng chữ Quốc Ngữ nhưng ông làm thơ cả tiếng Hán lẫn tiếng Việt (Hán Nôm). Ông Vũ Hoàng Chương làm tất cả những thể thơ (mới và cũ) kể cả thể thơ Hát Nói và kể cả những phương cách của Thơ Đường (như Họa Vận, Liên Hoàn…).

NHỊP BẮC PHẢN
Lưu Lang có phải tiền thân?
Mặc cho bãi bể mấy lần nương dâu
Tầng rêu khe đá bụi ngầu
Vung tay gỡ thử mối sầuThiên Thai
Trùng du Nam Phố-Trùng Dương tiết
Cuộc truy hoan mài miệt trắng bao đêm
Những vì ai khoảnh khắc trái tim mềm
Đã nửa kiếp lăng tằng-ai đấy nhỉ?
Thị dã-bất tài minh chủ khí?
Phi hồ-đa bệnh cố nhân sơ!
Đắm hồn say trong tiếng túc tơ
Nhịp Bắc Phản đêm mưa càng thánh thót
Quanh ngọn lửa vẫn oanh chào yến hót
Mấy tang thương còn thú yêu hoa
Nhìn nhau-ta lại là ta.
(Vũ Hoàng Chương)

Đây mới chính thực là bài thơ thể Hát Nói cuối cùng của nước Việt?

Thi Sĩ của Phật Giáo

Ông Vũ Hoàng Chương là một người theo Phật Giáo.

HOA SEN
Kiều trang phơi phới gót thanh tao
Đưa đón thời duyên mặc lý đào
Nhụy một khuôn vàng gương náu bụi
Cánh ba tầng ngọc tháp vương cao
Lòng kia vẫn thẳng dù vương vít
Hương ấy càng xa lại ngạt ngào
Biết mặt gió xuân từ mấy độ
Mà hoa quân tử ý chưa trao.
(Vũ Hoàng Chương)

Tâm tình ông Vũ Hoàng Chương cũng giao động trong năm 1963 trước cuộc đấu tranh của Phật Giáo chống lại chính phủ Ngô Đình Diệm. Đứng về phe với Phật Giáo, trong tập thơ “Lửa Từ Bi”, ngoài bài thơ mới “Lửa Từ Bi” hiến dâng cho Thượng Tọa Thích Quảng Đức, ông có làm những bài thơ Đường Luật Thất Ngôn Tứ Tuyệt dưới đây vào những tuần lễ của tháng 10-1963:
TRỜI CAO PHẬT HIỆN
Trời lưu ly hiện Phật Kim Cương
Mây bạc thân vàng nét tỏ gương
Quạ lửa càng sôi cơn thịnh nộ
Càng in bóng ngọc xuống mười phương.
(Vũ Hoàng Chương) 10-10-63

DIỀU CHÁY LƯNG TRỜI
Vận nước dầu sôi trải nấu nung
Nhiệt tâm càng đỏ nén hương chung
Lá bên Ngô dẫu còn no gió
Gặp lửa Tử Bi cũng cháy bùng.
(Vũ Hoàng Chương) 17-10-63

LINH SƠN PHẬT KHÓC
Phật ngự tòa sen…khối xót thương
Vỡ ra thành lệ ngấn còn hương
Lung linh giọt ngọc từng giây phút
Tẩy sạch ngai vàng bóng Quỷ Vương.
(Vũ Hoàng Chương) 20-10-63

LỬA GỌI ĐỒNG THƯA
Ngọc lửa Từ Bi gọi cảm thông
Bảy lần sôi máu khắp non sông (*)
Đàn con Đức Mẹ quỳ, rơi lệ
Chuông thánh đường vang dội tiếng đồng.
(Vũ Hoàng Chương) 27-10-63

(*) Chú thích: Bài cuối cùng (Lửa Gọi Đồng Thưa) làm cùng ngày, ngay sau cuộc tự thiêu cuối cùng (lần thứ 7) của tăng ni Phật Giáo xảy ra ở trước nhà thờ Đức Bà: đó là ngày 27-10-63, ngày sư Thiện Mỹ tự thiêu trước nhà thờ Đức Bà (ở Sài Gòn).














Đây là lịch sử của 7 tăng ni đã tự thiêu:
Ngày 11-6-1963, Thượng Tọa Thích Quảng Đức (1897-1963), trụ trì chùa Quán Âm ở Phú Nhuận, tự thiêu ở ngã tư Lê Văn Duyệt và Phan Đình Phùng lúc 10 giờ sáng trong tư thế kiết già.
Ngày 3-8-1963, Sư Thanh Tuệ (18 tuổi) tự thiêu ở chùa Phước Duyên của huyện Hương Trà, Thừa Thiên.
Ngày 4-8-1963, Sư Nguyên Hương (23 tuổi) tự thiêu tại đài chiến sĩ ở Bình Thuận (Phan Thiết).
Ngày 15-8-1963, Ni Cô Diệu Quang (27 tuổi) tự thiêu ở huyện Ninh Hòa, Khánh Hoà (Nha Trang).
Ngày 16-8-1963, Sư Tiêu Diêu (71 tuổi) tự thiêu trước chùa Từ Đàm ở Thừa Thiên (Huế) Ngày 5-10-1963,
Sư Quảng Hương (37 tuổi), thuộc tỉnh hội Phật Giáo Ban Mê Thuột, tự thiêu ở chợ Bến Thành, Sài Gòn.
Ngày 27-10-1963, Sư Thiện Mỹ (23 tuổi) của chùa Vạn Thọ tự thiêu ở trước nhà thờ Đức Bà, Sài Gòn.

Chính phủ Ngô Đình Diệm sụp đổ sau cuộc đảo chánh 5 ngày sau đó (1-11-1963). Tổng Thống Ngô Đình Diệm và em là Cố Vấn Ngô Đình Nhu bị giết chết (2-11-1963).

Ngày 31-12-1963, các tổ chức Phật Giáo VNCH họp tại chùa Xá Lợi thành lập 1 Giáo hội độc nhất của Việt Nam Cộng Hỏa gồm cả Đại Thừa và Tiểu Thừa gọi là Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất với Hòa Thượng Thích Tịnh Khiết làm Tăng Thống, Thượng Tọa Thích Tâm Châu làm Viện Trưởng Viện Hóa Đạo và Thượng Tọa Thích Trí Quang làm Tổng Thư Ký Viện Tăng Thống.
Đây là tên của các tổ chức kể trên:
Ủy Ban Liên Phái Phật Giáo: TT Thích Tâm Châu (1921-2015), người Ninh Bình (di cư vào Nam năm 1954).
Thiền Tịnh Đạo Tràng: TT Thích Minh Trực
Giáo hội Tăng Già Bắc Việt: TT Thích Tâm Giác
Giáo hội Tăng Già Bắc Việt tại miền Nam: TT Thích Thanh Thái
Giáo hội Tăng Già Trung Phần: TT Thích Huyền Quang (1920-2008), người Bình Định
Giáo hội Tăng Già Nam Việt: TT Thích Thiện Hoa
Giáo hội Nguyên Thủy Việt Nam: TT Thích Pháp Tri
Giáo hội Theravada: Lục Cả Lâm Em
Hội Phật Học Nam Việt: Cư Sĩ Chánh Trí Mai Thọ Truyền
Hội Phật Giáo Nguyên Thủy: Cư Sĩ Nguyễn Văn Hiếu
Hội Phật Giáo Trung Phần: TT Thích Trí Quang (1923-2019), người Quảng Bình
Hội Phật Giáo Việt Nam: Cư Sĩ Vũ Bảo Vinh
Đại diện Phật Tử Theravada: Cư Sĩ Sơn Thái Nguyên.
Lúc đó Sài Gòn có 2 ngôi chùa nổi danh là chùa Xá Lợi (của Cư sĩ Mai Thọ Truyền) và chùa Ấn Quang (của TT Thích Thiện Hòa và TT Thích Thiện Hoa). Sau đó Giáo hội PGVNTN chia thành 2 khối cho đến 1975: Khối “Việt Nam Quốc Tự/Vĩnh Nghiem” của TT Thích Tâm Châu (gồm 8 đoàn thể) và Khối “Ấn Quang” của TT Thích Trí Quang (gồm 3 đoàn thể). Chùa Việt Nam Quốc Tự (của TT Thích Tâm Châu và TT Thích Thiện Minh) cũng như chùa Vĩnh Nghiêm (của TT Thích Tâm Giác và TT Thích Thanh Kiểm) xây sau 1963.
Năm 1966, Phật Giáo ở miền Trung ủng hộ Trung Tướng Nguyễn Chánh Thi chống lại Trung tướng Nguyễn Văn Thiệu và Thiếu tướng Nguyễn Cao Kỳ (và Trung tướng Nguyễn Hữu Có). Ông Vũ Hoàng Chương cũng theo dõi và ủng hộ Phật Giáo ở Huế với 3 bài thơ Đường Luật Thất Ngôn Bát Cú liên hoàn thủ vỹ ngâm rất đặc biệt:

CHUÔNG CHÙA DIỆU ĐẾ
Huế đô sợi tóc buộc ngàn cân
Thành nội vang rền súng ngoại nhân
Sườn núi mở tung gan Phật tử
Lòng sông nghẹn uất máu lương dân
Nhưng chùa Diệu Đế còn cao vút
Thì bóng Ma Vương đã xóa dần
Mình chẳng giết mình ai giết nỗi
Ngàn thu văng vẳng tiếng chuông ngân.

Ngàn thu văng vẳng tiếng chuông ngân
Vàng gợi dư linh thuở Lý Trần
Ai đó cũng thương nòi xót giống
Mà sao nỡ lấy giả làm chân
Sóng sông ngửa mặt từng rung cảm
Vách núi nghiêng tai cũng thấm nhuần
Mình chẳng cứu mình ai cứu nỗi
Chuông khua mười góc bể trầm luân.

Chuông khua mười góc bể trầm luân
Đinh Lý hai triều cũng Phú Xuân
Rằng tự giết mình hay tự cứu
Tuy là nghiệp đấy cũng là thân
Gió lên đỉnh Ngự mây về gốc
Bụi lắng sông Hương nguyệt tới tuần
Bia đá mai đây lòng nặng chĩu
Huế đô sợi tóc buộc ngàn cân.
(Vũ Hoàng Chương) 26-6-66

Thi Sĩ của Lịch Sử *

Trong thời VNCH, thi sĩ Vũ Hoàng Chương đã làm nhiều thơ vịnh lịch sử.

KỶ DẬU HỒI THANH
Kê minh nhật thướng cựu sơn xuyên               Đất xưa gà gáy mặt trời lên
Hồi ức Quang Trung vũ hịch truyền                   Giục nhớ Quang Trung hịch sấm truyền
Sơn vỹ sơn đầu hoa giải ngữ                           Hoa nở cánh chào ngang dọc núi
Hòa âm xuân thảo nhiễu bình nguyên.               Hòa âm cỏ ngát xuống bình nguyên
(Vũ Hoàng Chương)                                         (Vũ Hoàng Chương tự dịch)

VỊNH HAI BÀ TRƯNG
Đồng trụ tan tành lớp phế hưng
Miếu Đồng Nhân vẫn khói hương lừng (*)
Thương chồng thương chị cùng đau đáu
Lo nước lo đời há dửng dưng
Liệt nữ cả hai còn sử chép
Lĩnh Nam riêng một có Vương xưng
Ngàn sau nhuệ khí con nòi Lạc
Mũi kiếm đầu voi đủ tượng trưng.
(Vũ Hoàng Chương)

(*) Chú thích: Đền Đồng Nhân thuộc quận Hai Bà Trưng, Hà Nội thờ Hai Bà Trưng.

CHIẾN CÔNG ĐỜI TRẦN
Trang sử Đông A nhược thắng cường (*)
Đến nay càng đẹp ý treo gương
Hội Diên Hồng đó nền dân chủ
Sóng Bạch Đằng kia hịch đại vương
Giáo trỏ “Thôn Ngưu” trời đã nín (*)
Tay chàm “Sát Thát” giặc nào đương (*)
Khí thiêng Vạn Kiếp bừng mây khói
Lòng chợt hoa quỳ khắp bốn phương.
(Vũ Hoàng Chương)

(*) Chú thích: Đông A là (họ nhà) Trần. Theo Hán Tự, chữ Trần gồm có chữ Đông và một phần của chữ A. (Theo Việt Sử Toàn Thư / Phạm Văn Sơn)
Mượn ý chữ “thôn ngưu” trong bài thơ của Phạm Ngũ Lão. Thôn Ngưu = át, lấy, nuốt sao Ngưu trên trời.
Sát Thát = giết người Thát Đát (Tartar, giống người Mông Cổ). Quân Việt kháng Nguyên có thích trong cánh tay chữ “Sát Thát”.
* Sau Đệ Nhất Cộng Hoà của chính phủ Ngô Đình Diệm, nền Đệ Nhị Cộng Hòa thành hình cho đến năm 1975.

Vào Tết năm Mậu Thân (1968), Miền Bắc tổng tấn công vào thị thành miền Nam và chiến tranh trở thành khốc liệt. Đây là tâm tình thương cảm tiêu cực của thi sĩ đối với cuộc chiến Mậu Thân ở Huế:

HUẾ CẢM
Giường thấp giường cao ruồi nhặng bâu
Xuân sang đối diện Quỷ không đầu
Mơ rồng ấp trứng sông Hương tủi
Lắng vượn gào con đỉnh Ngự sầu
Lăng miếu gần kề lưng chó sói
Thịt xương phó mặc vuốt diều hâu
Miền Nam câu hỏi trăm năm trước
Ai trả lời cho Huế…bởi đâu.

Bởi đâu non nước ấy tan tành
Lửa đỏ mây đen thắt chặt vành
Nặng dẫu bằng non thân cũng gục
Rửa cho hết nước máu còn tanh
Kim Long quẫy đứt hơi sương gió
Bạnh Hổ gầm vang nhịp sắt đanh
Từng tiếng ngân dài chùa tháp Mụ
Hồi thanh rền rĩ súng liên thanh.

Súng liên hồi nổ…kịch ai dàn
Đã một trăm năm chẳng hạ màn
Lần lượt vai trò rơi ấn kiếm
Dằng dai sân khấu ngập bùn than
Sông theo Phật hẹn giòng vơi lệ
Núi chống Trời tin đã vững gan
Gió lọt bỗng dưng trên mặt giấy
La đà bóng trúc…Huế bình an.

Huế bình an chứ đẹp bao nhiêu
Chẳng thấy không gian đủ bốn chiều
Cành trúc gió đưa về gốc Lạc
Câu hò máy đẩy tới trời Nghiêu
Mong người một nước soi gương cũ
Nguyện đấng ngàn tay độ nhiễu điều
Phủ lấy cho càng cao giá ngọc
Thơ ai từng dệt tấm thương yêu.

Dệt tấm thương yêu nhớ ngược giòng
Chín thương mười nhớ đấy Châu Phong
Cố đô Sử chép nhiều tên gọi
Trực bắc Thơ dành một hướng mong
Nối lại thuở nay liền thuở trước
Nghe ra thành Phượng có thành Long
Cả Hoa Lư với Mê Linh nữa
Xác bướm đè muôn tảng đá ong.

Đá ong xây giữa mộng đêm vàng
Sầu Cố Đô lên vút tượng Nàng
Thành quách trải bao nơi lập quốc
Miếu đường thêm một chuyến cư tang
Ngọ Môn vỡ tiếng rên gò đống
Bảo Đỉnh sôi cơn giận xóm làng
Nửa giấc lạnh tanh rời vạc thuốc
Cửa Sài nghe đạn réo vang vang.

Đạn réo vang vang…lửa bốn bề
Như thiêu giường bệnh cháy cơn mê
Sốt dâng mạch loạn càng u uất
Máu chảy ruồi bâu chợt não nề
Cũng đất Hương Bình đen cánh quạ
Hẳn mây Nùng Nhị trắng phương quê
Xác thân mòn mỏi cùng dâu bể
Còn chút hơi thơ gửi vọng về.

Gửi vọng về ngôi Sầu Cố Đô
Tan tành ngọc đá kể chi mô
Chiều Vân Lâu xuống hoài u bến
Gương Tĩnh Tâm soi vẹn nhớ hồ
Đối bóng vẫn mơ màng bóng hiện
Biết ai mà nhắn nhủ ai vô
Ôi bài Huế Cảm xuân dâng ý
Nghe có hơi thu họa dưới mồ.
(Vũ Hoàng Chương)
Sài Đô Xuân Mậu Thân

Đây là 8 bài thơ Đường Luật Liên Hoàn Liên Vận với 14 chữ tựa đề của Thi sĩ Vũ Hoàng Chương:
Hoa hạ chi thành đăng hạ bút
Loạn trung Huế Cảm bệnh trung nhân

Thật ra tổn thất nhân mạng ở Huế rất nặng nề và thảm khốc. Theo báo cáo tổng kết của Douglas Pike lúc bấy giờ là nhân viên Cục Tâm lý chiến của cơ quan thông tin Hoa Kỳ, năm 1970:
Câu chuyện về Huế chưa chấm dứt. Nếu ước đoán của giới chức Huế được coi như gần đúng, khoảng 2.000 người vẫn còn mất tích. Tổng kết về người chết và mất tích như sau:
- Tổng số dân sự tử vong: 7.600 - chết lẫn mất tích
- Chiến trường: - 1.900 bị thương vì chiến cuộc; 944 thường dân chết vì chiến cuộc
- Nạn nhân trong những ngôi mộ tập thể:
       1.173- số tử thi tìm trong đợt đầu sau cuộc chiến, 1968
       809- số tử thi tìm trong đợt nhì, kể cả tìm thấy ở đụn cát, tháng 3-7 năm 1969
      428- số tử thi tìm trong đợt thứ ba, trong khe Đá Mài (khu Nam Hoa) - tháng 9 năm 1969.
       300 - số tử thi tìm trong đợt thứ tư, khu Phu Thu, tháng 11 năm 1969
      100 - số tử thi tìm thấy các nơi trong năm 1969
      1.946 - mất tích (tính đến năm 1970)

Cuộc tổng công kích Tết Mậu Thân của quân đội Miền Bắc nhằm vào các tỉnh thành của Miền Nam đã giết chết khoảng 14.300 thường dân Miền Nam (kể cả phụ nữ và trẻ con) và có hơn 24.000 người bị thương. 630.300 người dân Miền Nam mất nhà cửa phải sống tỵ nạn ở chỗ khác. Chính quyền Miền Bắc đã vi phạm thỏa hiệp hưu chiến cho 3 ngày Tết trong cuộc tấn công nầy.


















Người Miền Nam đã sống trong lúc đó có suy nghĩ khác hơn thi sĩ Vũ Hoàng Chương:

MẬU TUẤT NHỚ MẬU THÂN
Mậu Tuất đây rồi, nhớ Mậu Thân (*)
Miền Nam từ đấy nhuốm phong trần
Chiến trường khốc liệt, nhiều bom đạn
Tổ quốc điêu tàn, chẳng pháo lân
Ngày Tết thảm thương thân tử sĩ
Ngày Xuân thảm khổ kiếp thường dân
Âm mưu thôn tính từ phương Bắc
Bởi bọn tà gian đoạn nghĩa nhân.
(Phan Thượng Hải) 2/5/18

(*) Chú thích: Tết Mậu Thân 1968. Tết Mậu Tuất 2018.
* Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, Miền Nam bị Miền Bắc chiếm. Đầu Xuân năm 1976, thi sĩ Vũ Hoàng Chương cũng đã có làm bài thơ Xuân nói về thời thế xã hội nhân sinh hỗn loạn lúc giao thời ở Miền Nam lúc bấy giờ và tỏ tình ý của mình.

VỊNH TRANH GÀ LỢN (Nguyên bản)
Sáng chưa sáng hẳn, tối không đành
Gà lợn, om sòm rối bức tranh
Rằng vách có tai, thơ có họa
Biết lòng ai đỏ, mắt ai xanh
Mắt gà huynh đệ bao lần quáng
Lòng lợn âm dương một tấc thành
Cục tác nữa chi, ngừng ủn ỉn
Nghe rồng ngâm váng khúc tân thanh.
(Vũ Hoàng Chương) Tết Bính Thìn 1976

VỊNH TRANH GÀ LỢN (Họa)
Vẽ cọp không xong chuyện phải đành
Vịnh tranh gà lợn, ngán đua tranh
Thảm hình thời thế, màu đen đỏ
Thảm họa trần ai, mắt trắng xanh (*)
“Gà chết” chôn theo đời đạo đức
“Lợn lòng” thay đổi dạ trung thành
Giữ riêng bút thép tròn chung thủy
Bảo thủ hoàng chương hữu ngọc thanh. (*)
(Phan Thượng Hải) 2014

(*) Chú thích: Từ câu thơ “Mắt xanh trắng đổi lầm bao khách tục” (Tản Đà)
Hoàng chương là tên của thi sĩ nhưng cũng có nghĩa là "văn chương hay đẹp".

Khoảng một năm sau ngày 30-4-1975; vào đầu tháng 4, 1976, nhà văn Thanh Nghị có tổ chức một "Đêm Họp Mặt Văn Nghệ" để bình bài thơ "Khóc Stalin" của Tố Hữu. Các thi nhân Miền Bắc có đến dự và có phát biểu cảm tưởng ca tụng bài thơ như Xuân Diệu, Huy Cận, Vũ Đình Liên, Hoài Thanh... Ông Vũ Hoàng Chương của Miền Nam cũng được Thanh Nghị mời đến dự và mời phát biểu.

Đây là một đoạn trong toàn phần phát biểu của Vũ Hoàng Chương về bài thơ và kỹ thuật làm thơ của Tố Hữu (theo người viết báo có bút hiệu là Sông Lô):

Thi nhân từ cảm xúc mỗi lúc tác động vào tâm cảnh của mình, để hồn trí phản ứng theo thất tình con người mà vận dụng thi tứ phổ diễn nên lời một tình tự nào đó, rồi đãi lọc thành thơ. Sự vận dụng càng xuất thần, việc phổ diễn càng khẩu chiếm, thơ càng có giá trị cao.
Cảm xúc trước cái chết của một thần tượng được ‘đóng khung’ tự bao giờ trong tâm cảnh mình, Tố-Hữu đã xuất thần vận dụng nỗi u hoài, phổ diễn nên những lời thơ thật khẩu chiếm, rồi dùng những từ thật tầm thường, ít thi tính, đãi lọc nỗi u hoài của mình thành một tiếng nấc rất tự nhiên, đạt đến một mức độ điêu luyện cao.
Lời thẩm định của Thanh-Nghị thật xác đáng, tôi chịu. Nhưng thơ không phải chỉ có thế. Xuất thần khẩu chiếm thuộc phạm vi kỹ thuật, dù đã có thi hứng phần nào, và nếu chỉ có thế thì thơ chỉ có khéo mà thôi, chưa gọi là đạt; tức chưa phải là hay. Thơ hay cần phải khéo như thế vừa phải đạt thật sự. Thi hứng nằm trong sự thực của tình tự phổ diễn nên lời. Tình tự mà không thực, lời thơ thành gượng ép. Vấn đề của thơ, nói cho đến nơi, là ở đây, có nghiã là thơ phải thực.
Tố-Hữu đặt tiếng khóc của chính mình vào miệng một bà mẹ Việtnam, muốn bà dùng mối u hoài của một nhà thơ để dạy con trẻ Việtnam yêu cụ Stalin thay cho mình. Cũng chẳng sao vì đó cũng là một kỹ thuật của thi ca; nhưng trước hết phải biết bà mẹ Việtnam có cùng tâm cảnh với mình không, có chung một mối cảm xúc hay không? Tôi biết chắc là không. Bởi trong đoạn trên của hai câu lục bát này trong bài ‘Đời đời nhớ Ông’ Tố-Hữu đã đặt vào lời bà mẹ hai câu:
Yêu biết mấy nghe con tập nói
Tiếng đầu lòng con gọi Stalin.
Chắc chắn là không có một bà mẹ Việtnam nào, kể cả Bà Tố-Hữu, mà thốt được những lời như vậy một cách chân thành. Cái không thực của hai câu này dẫn tới cái không thực hai câu sau ta đang mổ xẻ.
Một tình tự không chân thực, dù đươc luồn vào những lời thơ xuất thần, khẩu chiếm đến đâu cũng không phải là thơ đẹp, thơ hay, mà chỉ là thơ khéo làm; đó chỉ là thơ thợ chứ không phải là thơ tiên. Loại thơ khéo này người thợ thơ nào lành nghề cũng quen làm, chẳng phải công phu lắm. Nhất là nếu có đòi hỏi một tuyên truyền nào đó. Tố-Hữu nếu khóc lấy, có lẽ là khóc thực, khóc một mình. Nhưng bà mẹ Việtnam trong bài đã khóc tiếng khóc tuyên truyền, không mấy truyền cảm.


Thi sĩ Vũ Hoàng Chương cũng thố lộ kỹ thuật làm thơ của mình trong buổi họp nầy. Ông nói:

Thơ vốn là mộng, là tưởng tượng, là tách rời thực tế, nhưng mộng trên những tình tự thực. (Tôi) Không chấp nhận loại thơ tình tự hoang. Có khoa học giả tưởng, không có thơ giả tưởng. Nói thơ là nói đến thế giới huyễn tưởng, huyễn tưởng trên sự thực để thăng hoa sự thực, chứ không bất chấp, không chối bỏ sự thực. Nhà thơ không được láo; nhà thơ phải thực nhưng thoát sáo sự thực thành mộng để đưa hồn tính người yêu thơ vươn lên sự thực muôn đời đạt đến chân lý cuộc sống. Thiên chức thi ca là ở chỗ đấy. Tôi xin nhắc, sự thực muôn đời là cơ sở duy nhất của thi ca; vì có sự thực cho riêng một người, có sự thực cho riêng một thời, nhưng vẫn có sự thực cho muôn đời, sự thực bao quát không gian, thời gian, chân lý cuộc sống.

Sau khi di cư vào Miền Nam (1954), Vũ Hoàng Chương thường làm thơ theo thể thơ cổ điển nhất là thơ Đường Luật. Ông vẫn dùng kỹ thuật làm thơ như ông đã nói: "đem mộng vào thực".

Khoảng 1 tuần lễ sau đó vào ngày 13 tháng 4 năm 1976, ông Vũ Hoàng Chương bị bắt vào khám Chí Hòa. Đến đầu tháng 9, 1976, vì bệnh nặng nên ông được thả về nhà và qua đời 5 ngày sau đó (6-9-76).

Thi sĩ có làm bài thơ lúc ở trong tù:
TRONG KHÁM CHÍ HÒA (Nguyên bản)
Thấm thoát vào đây tháng đã tròn
Lông hồng gieo xuống nhẹ như non
Một manh chiếu nát thân tơi tả
Nửa bát cơm hôi xác đã mòn
Ngày đến bữa ăn thường nhớ vợ
Đêm về giấc ngủ lại thương con
Dẫu bao nước chảy qua cầu nữa
Hồ dễ gì phai được tấc son.
(Vũ Hoàng Chương) 1976

HOÀNG CHƯƠNG (Họa)
Hoàng chương công nghiệp đủ vuông tròn (*)
Thời thế đồng cam phận nước non
Phật đạo tu tâm, tâm vẫn vững
Văn thơ múa bút, bút không mòn
Lao lung tàn xác thân quân tử
Lao thất thâm tình nghĩa vợ con
Quốc biến sơn hà đa hữu trách (*)
Thi hào tự tại tấm lòng son.
(Phan Thượng Hải) 2020

(*) Chú thích: Hoàng chương là tên của thi sĩ nhưng cũng có nghĩa là "văn chương hay đẹp". Từ câu: "Quốc gia hưng vong thất phu hữu trách"
* Những người Miền Nam ở lại sau ngày 30-4-1975 cũng bày tỏ cảm tưởng của mình về chế độ mới trong nhiều năm sau đó:

CỰC TẢ (Nguyên Bản)
Cửa đóng màn che đã mấy thu
Đời tàn ngõ hẹp sống như tù
Quẩn quanh họp lại thiền Đông Độ
Vào ra luyện mãi phép Tây Du
Rầu rĩ Giáng Tiên ngồi gãi háng
Nẫu nà Từ Thức đứng xoa khu
Ăn chỉ tương cà, chê thịt cá
Sống chẳng tu hành cũng quá tu.
(Hoàng Hải Thủy) 1982

QUÂN TÁN (Họa)
Quân tán còn chi xuất với thu
Thong dong thì cũng xác thân tù
Hữu tật cam đành câu bất dụng
Vô tài nên chịu tiếng nan du
Những tưởng khoan hồng anh hạ bộ
Nào ngờ mắc bẫy chú Xuân Khu (*)
Chung cuộc vài năm cầm cán cuốc
Tu đọi, tu huyền ấy cũng tu.
(Dương Hùng Cường) 1982

(*) Chú thích: Trường Chinh Đặng Xuân Khu.

NGƯỜI Ở LẠI 30-4-75 (Họa)
Ngu dại một ngày để tiếp thu
Dưới quyền nhà nước, giống nhà tù
Hận đời cải tạo hành lao động
Buồn cảnh ly tan mộng viễn du
Lạc hậu tuyên truyền toàn lãnh thổ
Nghèo hèn áp đặt tận biên khu
Ta bà thế giới còn sinh sống
Địa ngục đây rồi khỏi phải tu.
(Phan Thượng Hải) 2014


Bs PHAN THƯỢNG HẢI biên soạn và giữ bản quyền

Bài viết nầy đăng lần đầu tiên trong
phanthuonghai.com trong mục Thơ và Sử phần Thời Cộng Hòa. Tài Liệu

Tham Khảo:
Thơ và Sử Việt - Thời kỳ Độc Lập (Bs Phan Thượng Hải) - phanthuonghai.com
Thơ và Sử Việt - Lãng Ba và Miền Nam (Bs Phan Thượng Hải) - phanthuonghai.com
Thơ Phan Thượng Hải - Tổ Quốc (Bs Phan Thượng Hải) - phanthuonghai.com
Trang Thơ Thi Viện Net
Google Wikipedia


Bs PHAN THƯỢNG HẢI BIÊN soạn và giữ bản quyền



















 

THI VỊ CỦA HÒN VỌNG PHU 

                                                                     

                             Bs Phan Thượng Hải biên soạn

pth_VHC_2.JPG
PTH_HVP_NuiKyLua.JPG

HÒN VỌNG PHU Ở NÚI KỲ LỪA

 

Có hai Hòn Vọng Phu chính trong lịch sử: 

Hòn Vọng Phu ở núi Kỳ Lừa gần thị trấn Đồng Đăng tỉnh Lạng Sơn 

Hòn Vọng Phu ở núi Bà thuộc huyện Phù Cát tỉnh Bình Định (Qui Nhơn).

Hai Hòn Vọng Phu nầy là chứng tích của 2 chuyện tình khác nhau đã tạo nên thi hứng cho nhiều thi nhân từ thi nhân Hồng Đức, thi hào Nguyễn Du, nhà cách mạng Phan Châu Trinh cho tới Hồ Dzếnh.  Thi vị Hòn Vọng Phu cũng thể hiện bằng thơ chữ Hán, chữ Nôm và chữ Quốc Ngữ.


"Đồng Đăng có núi Kỳ Lừa

Có nàng Tô Thị có chùa Tam Thanh" 

 

Hai câu ca dao nầy nói đến núi đá vôi Kỳ Lừa nằm bên sông Kỳ Cùng.  Tương truyền vì mong mỏi chồng (Tô Văn) đi đánh trận lâu về, nàng Tô Thị bồng con lên núi Kỳ Lừa bên bờ sông Kỳ Cùng ngóng trông lâu ngày hóa thành đá.  Hòn đá nầy có hình như người mẹ bồng con gọi là Vọng Phu Thạch (Đá Vọng Phu).  Núi Kỳ Lừa nầy còn gọi là núi Tô Thị.  Hòn Vọng Phu hay Hòn Tô Thị ở Đồng Đăng, Lạng Sơn.  Nó đã bị vỡ nát vào năm 1991.  Sau nầy 1 tượng xi măng được đưa lên thay thế.

Từ Hà Nội đến Nam Quan là 167 km.  Chợ Đồng Đăng ở cây số 162, đồn Tam Lung ở cây số 158, chợ Kỳ Lừa ở cây số 152 và tỉnh lỵ Lạng Sơn ở cây số 150.  

PTH_HVP2.JPG

Sự tích Hòn Vọng Phu ở núi Kỳ Lừa bắt đầu với bài thơ của ông Nguyễn Du vào năm 1803 (đầu thế kỷ 19), được rất nhiều người dịch:

 

VỌNG PHU THẠCH                              ĐÁ VỌNG PHU                             

Thạch da ? Nhân da ? Bỉ hà nhân ?          Là đá là người, ai đó vậy?          

Độc lập sơn đầu thiên bách xuân             Chon von đầu núi mấy nghìn xuân              

Vạn kiếp diểu vô vân vũ mộng                Thần nữ mây mưa không bén mộng

Nhất trinh lưu đắc cổ kim thân                 Chữ trinh một kiếp phải treo thân

Lệ ngân bất tuyệt tam thu vũ                    Mưa trời nước mắt quanh năm tháng

Đài triện trường minh nhất đoản văn       Rêu biếc còn đây một áng văn

Tứ vọng liên sơn diểu vô tế                      Bao la trời đất cương thường ấy

Độc giao nhi nữ tiện di luân.                    Lại trút trên đầu kẻ yếm khăn.

(Nguyễn Du)                                             (Lưu Trọng Lư dịch)

 

VỌNG PHU THẠCH                               ĐÁ VỌNG PHU

Thạch da ? Nhân da ? Bỉ hà nhân ?          Đá hay người ? Chẳng biết là ai ?

Độc lập sơn đầu thiên bách xuân              Đỉnh núi ngàn xuân đứng miệt mài

Vạn kiếp diểu vô vân vũ mộng                 Bỏ mộng mây mưa từ vạn kiếp

Nhất trinh lưu đắc cổ kim thân                 Giữ thân trinh tiết đến muôn đời

Lệ ngân bất tuyệt tam thu vũ                    Ba thu mưa lệ hoài không dứt

Đài triện trường minh nhất đoản văn       Một áng văn rêu mãi tuyệt vời

Tứ vọng liên sơn diểu vô tế                      Núi biếc mênh mông trùng điệp điệp

Độc giao nhi nữ tiện di luân.                    Luân thường phận gái gánh trên vai.

(Nguyễn Du)                                             (Hải Đà dịch)

  

Bài "Vọng Phu Thạch" nầy tìm thấy trong tập thơ "Làm Quan Ở Bắc Hà" của ông Nguyễn Du (1802-1804).  Trong thời gian nầy, ông Nguyễn Du bắt đầu ra làm quan với nhà Nguyễn sau khi vua Gia Long thống nhất đất nước (1802) với chức Tri Huyện rồi Tri Phủ ở trấn Sơn Nam.  Ông không có đi sứ trong khoảng thời gian nầy nhưng có được cử lên Nam Quan tiếp đón sứ nhà Thanh sang phong sắc cho vua Gia Long (1803).  Sau đó sứ thần nầy đến Thăng Long phong sắc cho vua Gia Long và chính thức công nhận tên nước ta là Việt Nam.  Bài thơ "Vọng Phu Thạch" chỉ có thể được làm trong dịp nầy.  Từ năm 1805, ông Nguyễn Du vào làm quan ở miền Trung và triều đình Huế. 

 

Ông Nhàn Vân Đình và ông Trần Thiếp có làm 8 bài thơ xướng họa vào đầu thế kỷ 20 bằng chữ Quốc Ngữ mô tả Lạng Sơn Bát Cảnh: Tam Thanh động, Song Tiên động, Mạc Gia thành, Tô Thị sơn, Kỳ Lừa thị, Kỳ Cùng giang, Na Sầm phố và Tuần Mại quan.  Ngày nay chỉ còn 8 bài họa của ông Trần Thiếp.  

 

TÔ THỊ SƠN

Sắc đá trơ trơ giữa cõi trần

Mong chồng viễn thú dạ phân vân

Chàng vừa tuổi trẻ nhanh tài võ

Thiếp luống canh chầy đợi cửa xuân

Văn gấm gởi đi đường trái lối

Non xanh đành để tuyết pha thân

Hằng Nga ấy bạn tri âm đó

Hợp mặt canh khuya kể mấy lần.

(Trần Thiếp)


 

Hậu thế chỉ có thêm một bài thơ gồm những đoạn thơ Tứ Tuyệt của Thi sĩ Tiền Chiến Hồ Dzếnh (khoảng thập niên 1940-50):

 

NÚI VỌNG PHU

 

Nghe nói ngày xưa biển ở đây

Biển đi để lại núi non nầy

Mưa nguồn chóp bể chia hai ngả

Hòn vọng phu thương vọng hải đài

 

Thuở nhỏ tôi thường hay hỏi mẹ

Vì sao đỉnh núi mọc hình người

- Đợi chồng lâu quá nên thành đá

Hòn Vọng Phu kia đứng với đời

 

Tôi lớn dần lên đá vẫn chờ

Khi xa heo hút giữa sương mờ

Khi gần sừng sững chiều biên giới

Như bức phù điêu nét chửa khô

 

Không chỉ quê tôi núi đợi chồng

Còn nhiều nơi khác cảnh chờ mong

Bắc Nam đâu cũng niềm son sắt

Tạc giữa trời cao dáng thủy chung

 

Ôi nhớ rêu phong hồn cẩm thạch

Mối tình vời vợi giữa không gian

Bốn ngàn năm ấy bao sương gió

Mà vẫn đinh ninh thiếp đợi chàng.

 

(Hồ Dzếnh)

PTH_HVPNuiba.JPG

HÒN VỌNG PHU Ở NÚI BÀ (PHÙ CÁT)

Mỏm núi nào có chỗ cao chỗ thấp giống hình người mẹ và đứa con, qua trí tưởng tượng của người Việt, đều có thể trở thành Hòn Vọng Phu. 

 

Nước Việt ta lại cũng có một câu chuyện Hòn Vọng Phu cho đá Vọng Phu ở Núi Bà thuộc huyện Phù Cát tỉnh Qui Nhơn (Bình Định) với nhiều chi tiết hơn.

Chuyện kể 2 vợ chồng lấy nhau, một hôm người chồng phát hiện ra vợ mình chính là em gái ruột đã xa nhau từ nhỏ từ một vết sẹo trên đầu.  Vết sẹo ấy do ngày trước người anh vì vô tình làm người em chảy máu đầu sợ cha mẹ phạt nên bỏ trốn.  Sau nầy họ lại gặp nhau và lấy nhau nên vợ chồng (vì không biết) và có một đứa con.  Người chồng (người anh) day dứt lương tâm lấy cớ đi biển đánh cá rồi không trở về.  Người vợ (người em) mòn mỏi đợi chờ từng ngày.  Bà nhớ chồng nên ôm con ra hòn đá trước biển (Đông Hải) ngóng trông.  Hai mẹ con chết hóa thành đá.

 

Hòn Vọng Phu nầy ở núi Bà nhìn ra biển Đông khác với Hòn Vọng Phu ở núi Kỳ Lừa (nhìn ra sông Kỳ Cùng).

Từ thời Pháp Thuộc, Hòn Vọng Phu nầy là đề tài của rất nhiều thi sĩ ở Nam Kỳ.  Khởi đầu, ông Tôn Thọ Tường trong Bạch Mai thi xã có 2 bài thơ:

 

VỌNG PHU THẠCH

Đá tạc hình ai đã bấy đông

Con thơ tay ẩm luống trông chồng

Mưa ngâu dầm lụy trông ngàn bắc

Gió nữ rơi sầu giợn khắp đông

Rạng đất rạng trời thêm rạng tiết

Cùng non cùng nước chẳng cùng lòng

Khá khuyên má phấn trăm thu dưới

Lấy đó làm gương sửa tánh hung.

(Tôn Thọ Tường)

 

VỌNG PHU THẠCH (Nguyên bản)         

Hình đá ai đem tạc biển đông                     

In hình nhi nữ dạng ngồi trông                   

Da dồi phấn tuyết phơi màu trắng              

Tóc gội dầu mưa giũ bụi hồng                   

Ngày ngắm gương ô soi đáy nước (*)             

Đêm cài lượt thỏ chải trên không (*)               

Đến nay tuổi đã bao nhiêu thử                   

Trạc trạc bền gan chẳng lấy chồng.            

(Tôn Thọ Tường)

(*) Ô: ám chỉ Mặt Trời.  Thỏ: ám chỉ Mặt Trăng                                        

 

Bài thơ thứ nhì của ông Tôn Thọ Tường có 2 bài họa của vợ chồng thi sĩ Thường Tiên và Song Thanh.

 

VỌNG PHU THẠCH (Họa)                      

Nhìn con chạnh tủi lệ sầu đông                  

Hóa đá trơ hình dạng ngóng trông             

Đêm hứng sương chan đầu điểm bạc        

Ngày phơi nắng ráng má tô hồng               

Gió lay những tưởng thuyền ai ghé           

Trăng dọi nào dè bến nước không             

Sương tuyết chi sờn gan sắt đá                  

Khư khư một dạ chẳng hai chồng.             

(Nữ sĩ Song Thanh)                                    

 

VỌNG PHU THẠCH (Họa)

Nghe nói Vọng Phu núi phía đông

Chơn đi chưa tới mắt chưa trông

Bạc đen bịa lắm tình quân tử

Tiết nghĩa buồn cho phận má hồng

Ôm trẻ dầm sương ai có biết

Trông chồng thành đá kẻ rằng không

Trơ trơ một khối từ sơ tạo

Thêu dệt ra chi chuyện ngóng chồng.

(Thường Tiên)                                    

 

Chỉ có nữ sĩ Song Thanh là thông cảm và thương tiếc, khác với tâm ý của ông Tôn Thọ Tường và ông Thường Tiên?

 

Từ ông Tôn Thọ Tường có những bài thơ Quốc Ngữ khác ở Nam Kỳ vào đầu thế kỷ 20 như của Tri Phủ Lê Văn Châu (tự Uyên Sanh), Tri Huyện Chợ Lớn Phan Văn Bảy tự Nguyện...  Tất cả đều thương tiếc người chinh phụ như bà Song Thanh.


 

VỌNG PHU THẠCH

Muôn kiếp tình si một khối đông

Trơ trơ người đá đứng trông chồng

Tóc thề khắn khắn mây phong chặc

Lòng đợi làu làu tuyết rửa trong

Đoạn thảm dễ mòn non chất ngất

Giọt sầu khôn cạn biển mênh mông

Đã cam cái phận giày mưa gió

Dám phụ trăm năm một chữ đồng.

(Vô Danh Thị)


 

VỌNG PHU THẠCH

 

Vó cu từ thuở tách truông voi

Tin tức sao chàng có vắng mòi

Mày nguyệt hổ se mày nguyệt rậm

Tóc mây biếng gỡ tóc mây còi

Xốn xang nỗi thiếp con quên nựng

Bẳng hẳng vì chàng trẻ nặng roi

Cũng muốn học đòi người dệt gấm

Ngày qua tháng lại biến đưa thoi.

 

Thương xót cho người giữa đảnh non

Trơ trơ hình đá mấy thu tròn

Trông chồng tuyết bủa lòng đâu cạn

Bồng trẻ sương sa dạ dễ mòn

Mây tỏa dây sầu un khắp cảnh

Mưa tuôn giọt thảm chảy đầy hòn

Đa đoan trách bấy cho con tạo

Nỡ để xuân tàn tuổi phấn son.

 

(Lê Uyên Sanh)


 

VỌNG PHU THẠCH

 

Tình chi nên đá chịu non tây

Vỏ vỏ trông ai thắm triệu mày

Con dại vóc truồng chàng áo ráng

Mẹ khoe tuyết cứng vận xiêm may

Rửa tay biếng lóng hơi ve trổi

Ngóng mắt xa nhìn trận nhạn bay

Thầm thỉ duyên xưa khôn mở miệng

Nước non còn đó nước non hay.

 

Trinh phụ ngày xưa rất có lòng

Ôm con dựa đá ngảnh trông chồng

Ngày trương đôi mắt nơi trời bắc

Đêm xót một mình chốn bể đông

Tưởng lúc chia phui sầu lại thảm

Nhớ cơn ly biệt não thêm nồng

Tam tùng sách trước còn roi dấu

Trực tiết ngàn thu tiếng ngợi không.

 

Hình dung thành đá bấy thu nay

Ẩm trẻ trông chồng dạ chẳng khuây

Gió ấy tiếng than sương ấy lụy

Mây in tóc rối cỏ in mày

Lòng bền như sắt đầy trời biết

Tiết cứng nên thần khắp đất hay

Hôm sớm luống chờ quên đói lạnh

Kiên trinh dường ấy ít ai tày.

 

(Bảy Nguyện)


 

Người Trung Kỳ cũng có thơ bắt đầu từ ông Phan Châu Trinh là người Quảng Nam vào đầu thế kỷ 20:

 

VỌNG PHU THẠCH

Sự tám mươi đời có biết không?

Người chăng? hay đá? vợ chăng? chồng?

Đi đâu đến nỗi quên tin tức?

Đứng đó bao giờ luống đợi trông?

Tu vậy hay sao đầu trụi lủi?

Khóc chi lắm hử? mặt phồng bông

Trời cao bể rộng người còn mất?

Biết nặng hòn non, nhẹ cái lông?

(Phan Châu Trinh) 1905

 

Thi sĩ Tiền Chiến Quách Tấn của tỉnh Bình Định (Qui Nhơn) suy nghĩ khác ông Phan Châu Trinh. 

 

ĐÁ VỌNG PHU

Chồng đi biệt tích tự bao giờ

Một gốc trời riêng một dạ chờ

Lụy nhớ mưa ngàn tuôn nượp nượp

Tóc thề mây núi bạc phơ phơ

Non chồng nghĩa nặng cao vòi vọi

Nghĩa vướng tình sâu chảy lững lờ

Dâu bể đã bao đời kiếp trải

Lòng son một tấm mãi trơ trơ.

(Quách Tấn) 

 

Ông Quách Tấn còn khám phá ra bài thơ của ông Thái Thuận về Hòn Vọng Phu nầy từ thế kỷ 15.  Ông Thái Thuận (1441-?) bút hiệu là Lã Đường đậu Tiến Sĩ năm 1475 đời vua Lê Thánh Tông.  Ông có trong Tao Đàn Nhị Thập Bát Tú của vua Lê Thánh Tông.  

 

VỌNG PHU SƠN                                         NÚI VỌNG PHU

Hóa thạch sơn đầu ký tịch huân                   Hóa đá non cao chất tháng ngày

Thương tâm vô lộ cánh phùng quân             Gặp chàng biết có nẻo nào đây?

Thiên nhai mục đoạn thiên thiên nguyệt       Chân trời mắt mỏi năm năm nguyệt

Giang thượng hồn tiêu mộ mộ vân               Mặt sóng hồn tan lớp lớp mây

Thanh lệ nhất ban hoa lộ tích                       Sương đọng lòng hoa rơi giọt thảm

Ly tình vạn chủng thảo yên phân                  Khói vương sắc cỏ rối niềm tây

Tương Phi nhược thức tương tư khổ            Tương Phi vì biết tương tư khổ

Bất tích ai huyền ký dữ văn.                          Dây gởi sầu dây gởi gắm dây.

(Thái Thuận)                                                  (Quách Tấn dịch)

 

Năm 1470, vua Lê Thánh Tôn thân chinh đánh Chiêm Thành.  Vua đem quân theo đường thủy bộ vào Thuận Hóa, ở đây luyện tập quân một thời gian rồi mới theo đường thủy bộ vào đánh kinh đô Đồ Bàn của Chiêm Thành (gần Tp Qui Nhơn ngày nay). 

Trong chiến dịch nầy, vua Lê Thánh Tôn cùng các tướng Đinh Liệt, Lê Niệm và 26 vạn quân Đại Việt hạ kinh đô Đồ Bàn của nước Chiêm Thành, “cắt 4 vạn thủ cấp”, bắt vua Bà La Trà Toàn, gọi tắt là Trà Toàn (1460-1471), và hơn 3 vạn (30,000) tù nhân.  Tướng Bồ Trì Trì rút về nam đèo Cù Mông (giữa Qui Nhơn và Phú Yên) và lên làm vua.  Nước Đại Việt thêm đất Qui Nhơn bành trướng tới đèo Cù Mông.

Đất Qui Nhơn thuộc về Đại Việt từ năm 1471; từ bài thơ của ông Thái Thuận (làm quan của vua Lê Thánh Tông), Hòn Vọng Phu ở Phù Cát, Qui Nhơn và sự tích của nó đã có trước năm 1471 (lúc còn thuộc Chiêm Thành)


 

Nơi hải ngoại vào thế kỷ thứ 21 cũng có Nữ sĩ Hồ Mỹ Đức nhớ đến Hòn Vọng Phu:

 

VỊNH HÒN VỌNG PHU

Mỏi mắt vời xa chẳng thấy đâu

Nỗi niềm quạnh quẽ bấy nhiêu lâu

Một chờ, hai đợi, ba mong nhớ

Năm ngóng, mười trông, vạn tủi sầu

Trời đất mênh mông tin vẫn biệt

Núi mây thăm thẳm biển thêm sâu 

Trung trinh tiết liệt đem ngưng kết 

Thành khối băng tâm tại thạch đầu

(Hồ Mỹ Đức) 

Philadelphia, 7/9/17


 

NHỮNG HÒN VỌNG PHU KHÁC

 

Ngoài ra còn có những Hòn Vọng Phu khác ở Việt Nam:

Hòn Vọng Phu trên đỉnh núi M'drak, Đắc Lắc

Hòn Vọng Phu trên núi Nhồi, Thanh Hóa

Hòn Vọng Phu bên bờ khe Giai, Nghệ An

 

Bên Tàu cũng có những Hòn Vọng Phu như bài thơ dưới đây của Lưu Vũ Tích đời nhà Đường về Vọng Phu Sơn ở huyện Đương Đồ tỉnh An Huy với câu chuyện người vợ chờ đợi chồng mà hóa thành đá nhưng không có chi tiết tình nghĩa đậm đà như chuyện của nước Việt chúng ta.

 

VỌNG PHU SƠN                              NÚI VỌNG PHU

Chung nhật vọng phu phu bất quy     Đợi chồng đâu thấy suốt ngày không

Hóa vi vô thạch khổ tương ti (tư)       Hóa đá cô liêu cảm tấc lòng

Vọng lai dĩ thị kỷ thiên tải                 Vẫn mãi ngàn năm ngong ngóng đợi

Chỉ tự đương thời sơ vọng thì.          Ban đầu thuở ấy vẫn chờ mong.

(Lưu Vũ Tích)                                    (? Dịch)



 

KẾT LUẬN

 

Cũng được nói tới trong cổ nhạc và tân nhạc Việt Nam nhất là 3 bài "Hòn Vọng Phu" của Lê Thương, Hòn Vọng Phu đã trở thành địa danh nổi tiếng trong văn hóa nước ta:

 

HÒN VỌNG PHU

Thiên tạo nên hòn đá Vọng Phu

Tượng hình tình nghĩa tận thiên thu

Thơ về Phù Cát, nhiều thi sĩ

Người biết Kỳ Lừa, có Nguyễn Du

Luân lý trái oan đành cách biệt

Thê nhi thương nhớ khó đền bù

Địa danh đặc tính nền văn hóa

Nhân tạo thành danh tiếng Vọng Phu.

(Phan Thượng Hải)

5/10/17


 

Bs PHAN THƯỢNG HẢI biên soạn và giữ bản quyền

 

Tài Liệu Tham Khảo:

1) Thơ Và Sử Việt - phanthuonghai.com (Bs Phan Thượng Hải)

2) Văn Uyển (Lãng Ba Phan Văn Bộ)

3) Thi Pháp Thơ Đường (Quách Tấn)

4) Tập Làm Thơ (Diên Hương)


 

Bs PHAN THƯỢNG HẢI biên soạn và giữ bản quyền

THƠ VÀ SỬ VIỆT - CHI LĂNG 

                   Bs Phan Thượng Hải biên soạn 


Người Việt ngày nay thường biết ải Chi Lăng nhờ trận Chi Lăng (năm 1427).  Thật ra Sử Việt và Thơ Văn cổ điển đã có viết rất nhiều chi tiết về ải Chi Lăng và trận Chi Lăng.

 

SỬ VIỆT

 

* Trận Chi Lăng (1427) 

 

Trận Chi Lăng là trận cuối cùng và quan trọng nhất đã giúp cho Bình Định Vương Lê Lợi hoàn toàn đánh đuổi được quân Trung Quốc của nhà Minh ra khỏi đất nước sau 10 năm chiến đấu.

Bình Định Vương Lê Lợi (1385-1433) khởi nghĩa tự làng Lam Sơn (thuộc huyện Thường Xuân, Thanh Hóa ngày nay), phải 10 năm mới đánh đuổi quân Minh thâu lại nền độc lập cho nước Đại Việt (1418-1427).  Ông Nguyễn Trãi có viết “Bình Ngô đại cáo” tả lại lịch sử của 10 năm nầy.

 

BÌNH NGÔ

Dành lại giang sơn Đại Việt ta

Với bao xương máu lắm tài ba

Lê Lai vị chúa tròn trung nghĩa

Lê Lợi thành công cứu nước nhà

Tụy Động thừa cơ khai chiến thắng

Chi Lăng tổng kích khải hoàn ca

Mười năm đại nghiệp đầy gian khổ

Trang sử Bình Ngô đã trải qua. (*)

(Phan Thượng Hải)

4/5/15

 

(*) Chú thích: "Ngô" là từ ngữ của người Việt gọi người Trung Hoa, có từ Bắc Hà.  Nguồn gốc của nó chưa được biết rõ ràng.


 

Trận Chi Lăng thật sự diễn ra từ Nam Quan cho đến Xương Giang (gần thành phố Bắc Giang ngày nay) và kéo dài trong gần một tháng.

 

Cuối năm 1427, Nhà Minh sai Liễu Thăng, Lương Minh, Lý Khánh, Thôi Tụ và Hoàng Phúc đem 10 vạn quân từ Quảng Tây và Mộc Thạnh đem 5 vạn quân từ Vân Nam sang cứu.  

 

Sau 3 tháng bao vây (tháng 6 đến tháng 9,1427), các ông Trần Nguyên Hãn, Lê Sát và Nguyễn Lý dùng kế đào đường hầm thông vào trong thành làm nội ứng nên chiếm được thành Xương Giang, một căn cứ quân sự quan trọng (và cuối cùng) của quân Minh giữa biên giới Lạng Sơn và Đông Quan (cách TP Bắc Giang ngày nay 2 km và cách bờ sông Thương 3 km).  

 

Mười ngày sau (8-10-1427), quân Liễu Thăng vượt biên giới.  Bình Định Vương Lê Lợi sai: 

Các ông Phạm Văn Xảo, Trịnh Khả và Nguyễn Chích chận quân Mộc Thạnh ở ải Lê Hoa (gần biên giới ở Cao Bằng)

Ông Trần Lựu giữ ải Khã Ly (Nam Quan)

Các ông Lê Sát, Lưu Nhân Chú, Lê Văn Linh, Đinh Liệt, Lê Thụ, Nguyễn Lổng, Phạm Văn Liêu và Trịnh Khắc Phục và 1 vạn quân, 100 con ngựa và 5 con voi giữ Chi Lăng

Các ông Nguyễn Lý và Lê Văn An và 3 vạn quân đóng ở Cần Trạm để tiếp viện 

Ông Trần Nguyên Hãn giữ thành thành Xương Giang.

pth_tranChiLang.JPG

Chiến trận "Chi Lăng" xảy ra trong gần 1 tháng trời:

Ông Trần Lựu giả thua dụ Liễu Thăng từ Khã Ly, qua Khâu Ôn (tỉnh lỵ Lạng Sơn ngày nay) và Ải Lưu cho đến Chi Lăng.  Ngày 10-10 (20-9 âm lịch), phục binh của bọn ông Lê Sát và Lưu Nhân Chú giết Liễu Thăng ở gò núi Mã Yên (cao 40 m) của thung lũng Chi Lăng và đánh bại quân Minh ở Chi Lăng giết 1 vạn quân Minh.  Quân Minh tiếp tục tiến về hướng nam.  

Ngày 15-10, quân Lam Sơn của bọn ông Lê Sát và Lưu Nhân Chú cùng với quân tiếp viện của các ông Nguyễn Lý và Lê Văn An phục binh ở Cần Trạm (nay là thị trấn Kép, Lạng Sơn) giết Lương Minh.  Quân Minh lại đi về phía nam.  

Quân Lam Sơn (của bọn ông Lê Sát và bọn ông Nguyễn Lý) lại phục binh ở Phố Cát (nay là Xương Lân, huyện Lạng Giang, Bắc Giang) giết thêm 1 vạn quân Minh, Lý Khánh tự tử.  Thôi Tụ dẫn quân Minh lại chạy về phía nam thì bị thành Xương Giang của ông Trần Nguyên Hãn chận đường nên phải đóng quân ở đồng trống cách đó 3 km (nay là xã Tân Dĩnh, h. Lạng Giang, Bắc Giang).  Chỗ nầy thì phía nam có thành Xương Giang, phía tây và tây nam có sông Thương, phía đông nam có sông Lục Nam và phía bắc có quân Lam Sơn ở Phố Cát (của bọn ông Lê Sát và bọn ông Nguyễn Lý).  Thôi Tụ muốn trá hàng để có thì giờ vượt qua bến Bình Than của sông Lục Nam để chạy qua Chí Linh (nay là Chí Linh, Hải Dương).  

Tuy nhiên Bình Định Vương Lê Lợi sai các ông Phạm Vấn, Lê Khôi, Nguyễn Xí, Trương Lôi và 3000 quân thiết đội (quân tinh nhuệ là cận vệ của ông Lê Lợi) với 4 con voi cùng quân Lam Sơn ở Phố Cát mở cuộc tấn công cuối cùng giết 3 vạn quân Minh, bắt sống Thôi Tụ và Hoàng Phúc (ngày 3-11). 

 

Mộc Thạnh ở ải Lê Hoa nghe tin thua trận của cánh quân Liễu Thăng hết hồn rút chạy.  Các ông Phạm Văn Xảo, Trịnh Khả và Nguyễn Chích rượt theo giết 1 vạn quân Minh. 

 

Thế là Vương Thông ở Đông Quan phải đầu hàng.  Sau “Hội thề ở Đông Quan”, ông Lê Lợi tha cho hàng tướng (như Vương Thông và Hoàng Phúc) và hàng quân về Tàu.  

 

Ông Lê Lợi bình định quân Minh thu về lãnh thổ Đại Việt.  Vua Trần Cao bỏ trốn thì bị bắt và có thể là tự tử bằng thuốc độc hay bị ông Lê Lợi giết chết (theo Khâm Định Việt Sử Cương Mục).   Bình Định Vương Lê Lợi lên ngôi là vua Lê Thái Tổ (1428).  


 

* Ải Chi Lăng và Trận Chi Lăng

 

Ải Chi Lăng (thuộc Ôn Châu, Lạng Sơn) và sông Bạch Đằng là 2 cửa ngỏ ra vào Đại Việt của quân Tàu xâm lược.  (Ải = chỗ hiểm trở).  Riêng ải Chi Lăng còn là nơi chiến thắng của vua Lê Đại Hành (Lê Hoàn) nhà Tiền Lê (981).  Sau trận Bạch Đằng nhà Trần cũng có chiến thắng ở vùng núi Kỳ Cấp gần Chi Lăng (1288) là chiến dịch cuối cùng trong lần kháng Nguyên thứ ba.  

 

Đại Việt Sử Ký Toàn Thư viết về chiến công của Lê Đại Hành:

Năm 981, quân nhà Tống chia làm 3 đạo vào Đại Cồ Việt: Hầu Nhân Bảo đến Lạng Sơn, Trần Khâm Tộ vào cửa sông Hồng rồi theo sông Hồng đến bến Tây Kết (nay thuộc Khoái Châu, Hưng Yên) và Lưu Trừng dùng cửa Nam Triệu vào sông Bạch Đằng.  

Vua Lê Đại Hành đóng cọc ngăn sông cầm chân quân Tống của Lưu Trừng ở sông Bạch Đằng.  Kế đó vua theo sông Thương đến Chi Lăng (nam Lạng Sơn) dùng kế trá hàng bắt được Hầu Nhân Bảo đem chém đầu.  Trần Khâm Tộ nghe tin sợ hãi rút quân, vua Lê Đại Hành đem toàn quân tiến đánh, quân Tống của Trần Khâm Tộ thua to chết quá phân nửa, thây chết đầy 

đồng.

pth_3daoquan.JPG

Ải Chi Lăng còn có biệt danh là Quỷ Môn.

 

ẢI CHI LĂNG

Địa đầu phương bắc, ải Chi Lăng

Lịch sử lừng danh sánh Bạch Đằng

Nổi tiếng Quỷ Môn đầy hiểm yếu

Đuổi quân Trung Quốc hết hung hăng

Lê Hoàn phá Tống trừ Nhân Bảo (*)

Lê Lợi bình Ngô sát Liễu Thăng

Chiến tích muôn đời lưu hậu thế

Anh hùng nước Việt chống xâm lăng.

(Phan Thượng Hải)

12/31/14

 

(*) Chú thích: Hầu Nhân Bảo.


 

THƠ VĂN CỔ ĐIỂN

 

* Ải Chi Lăng và Trận Chi Lăng 

 

Đây là những lời thơ tả ải Chi Lăng của ông Phạm Sư Mạnh thời nhà Trần và ông Nguyễn Du thời nhà Nguyễn. 

 

CHI LĂNG ĐỘNG                                     ĐỘNG CHI LĂNG

Thiên lý tuần biên ẩn cổ bề                         Nổi trống tuần biên bước dặm ngàn,

Phiên thành man trại nhất ê kê                    Xem tày trùng nhỏ khóm Phiên, Man.

Giản nan giản bắc hồng kỳ chuyển             Quạt cờ đồng đội che đầu núi,

Quân hậu quân tiền thanh hủy đề                Gầm thét ba quân kéo một đoàn.

Lâu Lại cốc thâm ư tỉnh để                          Lâu Lại hang sâu dò khó tới,

Chi Lăng quan hiểm dữ thiên tề                  Chi Lăng cửa hiểm vượt khôn toan.

Lâu phong bạt mã cao hồi thủ                     Ngựa dong trước gió nghiêng đầu ngắm,

Cấm khuyết thiều nghiêu vân khí tê.           Cung khuyết mây đài lúc rợp tan.

(Phạm Sư Mạnh)                                          (Đinh Văn Chấp dịch)

 

QUỶ MÔN ĐẠO TRUNG                       ĐƯỜNG QUA ẢI QUỶ MÔN

Quỷ Môn thạch kính xuất vân côn           Quỷ Môn đường đá tỏa mây tuôn

Chính khách nan quy dục đoạn hồn         Lữ khách về Nam sợ mất hồn

Thụ thụ đông phong xuy tống mã            Gió thổi cây cây chùn ngựa tiễn

Sơn sơn lạc nguyệt dạ đề viên                 Trăng tàn núi núi vượn kêu dồn

Trung tuần lão thái phùng nhân lãn         Trung niên già thói lười nghênh khách

Nhất lộ hàn uy trượng tửu ôn                   Thấm lạnh trên đường rượu uống luôn

Sơn ổ hà gia tham đại thụy                       Xóm núi nhà ai tham ngủ quá

Nhật cao do tự yểm sài môn                     Then cài cửa đóng nắng cao vương.

(Nguyễn Du)                                              (Nguyễn Thạch Giang dịch)

 

Ông Phạm Sư Mạnh không hề nhắc đến chiến thắng của Lê Đại Hành xảy ra trước và chiến thắng ở vùng núi Kỳ Cấp gần như cùng thời với ông.

Ông Nguyễn Du đã ra làm quan với nhà Nguyễn cũng không nhắc đến chiến thắng của Bình Định vương Lê Lợi!

 

Ngô Thì Nhậm của nhà Tây Sơn cũng có bài thơ tả ải Chi Lăng và nhắc đến lịch sử.  Lời thơ chỉ nhắc đến Liễu Thăng và Mã Viện của Trung Quốc!

 

LẠNG SƠN ĐẠO TRUNG                               DỌC ĐƯỜNG LẠNG SƠN

Nhị Lạng giang sơn cảnh giới liên (*)               Núi sông xứ Lạng kế liền nhau
Bàng thông Kinh Quảng tiếp Cao Tuyên (*)     Tiếp với Kinh Tuyên nối Quảng Cao
Khê lưu bôn sử tranh quy hải                             Suối nước băng băng dồn biển cả
Lĩnh đạo thùy thê trực thướng thiên                   Núi non sừng sững vút trời cao
Thần kiếm thượng lưu Minh tướng thạch (*)     Hòn đá tướng Minh còn vết chém
Quỷ môn không tỏa Hán từ yên (*)                    Khói đền tướng Hán khóa chặt vào
Tự tòng nam bắc thông quan hậu                        Sau khi Nam Bắc thông quan ải
Chỉ điểm tinh biền đáo tự Yên. (*)                      Sứ giả Yên Kinh đến đón chào.

(Ngô Thì Nhậm)                                                  (Lâm Giang dịch)

 

(*) Chú thích:

Nhị Lạng = Lạng Sơn và Lạng Giang (Bắc Giang)

Kinh Quảng = Kinh Châu (Hồ Bắc và Hồ Nam ngày nay) và Quảng Châu (Quảng Đông và Quảng Tây ngày nay).

Cao Tuyên = Cao Bằng và Tuyên Quang

Minh tướng thạch: Tại đèo Mã Yên nơi quân Minh bị phục binh và Liễu Thăng bị giết, tương truyền linh hồn Liễu Thăng thành 1 hòn đá hình người không đầu, trên mình có hằn những vết gươm.

Từ = miếu thờ.  Từ yên = khói của miếu thờ.  Hán từ: chỉ miếu thờ tướng Hán là Mã Viện.  Mã Viện có đi qua đây trong chiến dịch đánh Hai Bà Trưng. 

Quỷ môn: thuộc Chi Lăng, Lạng Sơn.

Chỉ điểm tinh biền đáo tự Yên = Có người đưa xe sứ thần từ Yên kinh tới (Yên kinh là kính đô của nhà Minh và nhà Thanh, ngày nay là Tp Bắc Kinh).  Đó là thông lệ tiếp sứ thần của Trung Quốc!

pth_Minhtuongthach.JPG

(Hòn đá không đầu của Liễu Thăng - Minh tướng thạch)


 

* Trận Chi Lăng (1427) 

 

Ông Nguyễn Trãi, người cùng thời, có tả lại chiến thắng Chi Lăng trong Bình Ngô Đại Cáo. 

Bình Ngô Đại Cáo viết (bản dịch ra Việt ngữ của Ngô Tất Tố):

 

Thằng nhãi con Tuyên Đức động binh không ngừng
Đồ nhút nhát Thạnh, Thăng đem dầu chữa cháy
Đinh mùi tháng chín, Liễu Thăng đem binh từ Khâu Ôn kéo lại
Năm ấy tháng mười, Mộc Thạnh chia đường từ Vân Nam tiến sang.
Ta trước đã điều binh thủ hiểm, chặt mũi tiên phong
Sau lại sai tướng chẹn đường, tuyệt nguồn lương thực
Ngày mười tháng tám, trận Chi Lăng, Liễu Thăng thất thế
Ngày hai mươi, trận Mã Yên, Liễu Thăng cụt đầu
Ngày hăm lăm, bá tước Lương Minh đại bại tử vong
Ngày hăm tám, thượng thư Lý Khánh cùng kế tự vẫn.
Thuận đà ta đưa lưỡi dao tung phá
Bí nước giặc quay mũi giáo đánh nhau
Lại thêm quân bốn mặt vây thành
Hẹn đến giữa tháng mười diệt giặc
Sĩ tốt kén người hùng hổ
Bề tôi chọn kẻ vuốt nanh
Gươm mài đá, đá núi cũng mòn
Voi uống nước, nước sông phải cạn.
Đánh một trận, sạch không kình ngạc
Đánh hai trận tan tác chim muông.
Cơn gió to trút sạch lá khô,
Tổ kiến hổng sụt toang đê vỡ.
Đô đốc Thôi Tụ lê gối dâng tờ tạ tội,
Thượng thư Hoàng Phúc trói tay để tự xin hàng.
Lạng Giang, Lạng Sơn, thây chất đầy đường
Xương Giang, Bình Than, máu trôi đỏ nước
Ghê gớm thay! Sắc phong vân phải đổi,
Thảm đạm thay! Ánh nhật nguyệt phải mờ
Bị ta chặn ở Lê Hoa, quân Vân Nam nghi ngờ khiếp vía mà vỡ mật!
Nghe Thăng thua ở Cần Trạm, quân Mộc Thạnh xéo lên nhau chạy để thoát thân.
Suối Lãnh Câu, máu chảy trôi chày, nước sông nghẹn ngào tiếng khóc
Thành Đan Xá, thây chất thành núi, cỏ nội đầm đìa máu đen.
Cứu binh hai đạo tan tành, quay gót chẳng kịp,
Quân giặc các thành khốn đốn, cởi giáp ra hàng
Tướng giặc bị cầm tù, như hổ đói vẫy đuôi xin cứu mạng
Thần vũ chẳng giết hại, thể lòng trời ta mở đường hiếu sinh
Mã Kỳ, Phương Chính, cấp cho năm trăm chiếc thuyền, ra đến biển mà vẫn hồn bay phách lạc,
Vương Thông, Mã Anh, phát cho vài nghìn cỗ ngựa, về đến nước mà vẫn tim đập chân run.
Họ đã tham sống sợ chết mà hoà hiếu thực lòng
Ta lấy toàn quân là hơn, để nhân dân nghỉ sức.
Chẳng những mưu kế kì diệu
Cũng là chưa thấy xưa nay
Xã tắc từ đây vững bền
Giang sơn từ đây đổi mới
Càn khôn bĩ rồi lại thái
Nhật nguyệt hối rồi lại minh
Ngàn năm vết nhục nhã sạch làu
Muôn thuở nền thái bình vững chắc
Âu cũng nhờ trời đất tổ tông linh thiêng đã lặng thầm phù trợ;


Thật ra lịch sử sau nầy mới biết được là Lê Thái Tổ và nhà Lê (cũng như nhà Mạc) phải triều cống cho nhà Minh và nhà Thanh của Trung Quốc mỗi 3 năm một lần.  Trong lễ triều cống luôn có 2 tượng người bằng vàng (đại thân kim nhân) để đền bù cho việc giết 2 tướng của nhà Minh là Liễu Thăng và Lương Minh trong trận Chi Lăng.

Bí mật nầy được biết nhân việc đi sứ Trung Quốc của 2 ông Ngô Văn Sở và Phan Huy Ích (1788) và qua bài thơ của vua Càn Long.

 

Đây là chi tiết của cuộc đi sứ nầy cùng với 2 bài thơ Xướng Họa của vua 2 nước:

Với quân nghiệp lẫy lừng, vua Quan Trung Nguyễn Huệ đánh đuổi Tôn Sĩ Nghị và quân Thanh xâm lược (đầu năm 1788).  Vua Càn Long nhà Thanh nghị hòa và mời vua Quang Trung thăm Yên Kinh (Bắc Kinh bây giờ).  Theo chính sử, vua Quang Trung chọn cháu kêu bằng cậu rất giống mình tên là Phạm Công Trị trá làm quốc vương rồi sai ông Ngô Văn Sở và ông Phan Huy Ích đưa sang Trung Quốc.  Trong lễ triều cống có đem theo 2 con voi đực (!?).  Tại hành cung ở Nhiệt Hà, vua Càn Long và vua Quang Trung (giả) làm lễ ôm gối như là tình cha con, hội với các thân vương và trao đổi 2 bài thơ Xướng Họa.  

 

(Xướng)

Doanh phiên nhập cận trị thời tuần                

Sơ kiến hồn như cựu thức thân                      

Y cổ vị văn y tượng quốc (1)                              

Thắng triều vãng sự bỉ kim nhân (2)                  

Cửu kinh nhu viễn chi trùng dịch                   

Gia hội ư kim miễn thế nhân                          

Vũ yểm văn tu thiên thuận đạo                      

Đại Thanh tộ vĩnh vạn thiên xuân.                  

(Vua Càn Long)                                                    


 

(*) Chú thích: Theo Việt Nam Sử Lược, những câu thơ này nhắc lại lịch sử:

(1) 

Triều đình nhà Tống sai Quách Quì và Triệu Tiết đem quân sang chiếm nước Đại Việt nhưng bị ông Lý Thường Kiệt chận ở sông Như Nguyệt.  Một thời gian sau hai bên giảng hòa.  Khi rút về đến gần biên giới, quân Tống chiếm giữ châu Quảng Nguyên (nay thuộc Cao Bằng) vì (người) nơi đây có nhiều vàng.  Vua Lý Nhân Tông đem voi sang triều cống để đòi lại (giống như vua Quang Trung?).  Cuối cùng nhà Tống phải trả lại châu Quảng Nguyên.  Người Tàu có 2 câu thơ chê nhà Tống:

“Nhân tham Giao Chỉ tượng (Vì tham voi Giao Chỉ)

Khước thất Quảng Nguyên kim” (Chạy và mất vàng Quảng Nguyên)

(2) 

Sau khi đuổi quân Minh, vua Lê Thái Tổ (Lê Lợi) xin cầu phong với nước Tàu.  Nhà Minh bắt ông phải lập một hậu duệ của nhà Trần là Trần Cao lên làm vua.  Lê Thái Tổ bèn ám sát Trần Cao và nói là nhà Trần không còn ai nữa nên nhà Minh mới thuận cho.  Nhưng từ thời vua Lê Thái Tổ, nước Đại Việt có lệ 3 năm phải triều cống nhà Minh 1 lần.  Lần nào cũng phải đúc 2 người bằng vàng gọi là “đại thân kim nhân” để thế cho 2 tướng nhà Minh là Liễu Thăng và Lương Minh bị giết trong trận Chi Lăng.  

 

(Họa)

Thượng tái cung chiêm ngọc lộ tuần              

Khuynh quỳ nhất niệm hiệu tôn thân             

Ba trừng quế hải tuân hầu độ                           

Nhật noãn minh giai kiến thánh nhân              

Vạn lý thê hành quy hữu cực (*)                          

Cửu trùng vũ lộ mộc đồng nhân                     

Căn hành cảnh ngưỡng vô cương thọ (*)            

Phổ suất tư đào Đế thế xuân.                            

(Vua Quang Trung)                                               

 

(*) Chú thích:

Cực = Ngôi vua

Căn hành = Gốc ngũ hành (Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ) là căn bản của trời đất.

 

Phỏng dịch:

 

(Xướng)                                                          (Xướng)

Doanh phiên nhập cận trị thời tuần                Sắp đi tuần thú, gặp phiên thần

Sơ kiến hồn như cựu thức thân                       Mới thấy, tưởng chừng đã rất thân

Y cổ vị văn y tượng quốc                               Chuyện cũ từng nghe nơi tượng quốc 

Thắng triều vãng sự bỉ kim nhân                    Triều xưa có ghét việc kim nhân 

Cửu kinh nhu viễn chi trùng dịch                   Tránh xa chiến dịch, theo kinh sách

Gia hội ư kim miễn thế nhân                          Nay hội hoàng gia, đỡ thế dân

Vũ yểm văn tu thiên thuận đạo                       Võ yểm, văn tu, trời dẫn đạo

Đại Thanh tộ vĩnh vạn thiên xuân.                 Đại Thanh phước lộc mãi muôn xuân. 

(Vua Càn Long)                                              (Phan Thượng Hải dịch)

 

(Họa)                                                               (Họa) 

Thượng tái cung chiêm ngọc lộ tuần              Đưa chúa tuần du tỏ ý thần

Khuynh quỳ nhất niệm hiệu tôn thân             Một lòng bội phục kính người thân

Ba trừng quế hải tuân hầu độ                          Sóng xô, tuân độ từ Nam Hải 

Nhật noãn minh giai kiến thánh nhân             Nắng rọi, dưới thềm đến thánh nhân 

Vạn lý thê hành quy hữu cực                          Muôn dặm chung quy về Bệ Hạ

Cửu trùng vũ lộ mộc đồng nhân                     Chín tầng mưa móc khắp toàn dân

Căn hành cảnh ngưỡng vô cương thọ             Ngưỡng trông sống mãi như trời đất

Phổ suất tư đào đế thế xuân.                           Hoàng đế trị vì thế giới xuân. 

(Vua Quang Trung)                                         (Phan Thượng Hải dịch)



 

Ải Chi Lăng ngày nay

pth_aiChiLangnow.JPG

Bs PHAN THƯỢNG HẢI biên soạn và giữ bản quyền

 

Tài liệu tham khảo:

1) Thơ và Sử Việt - Thời Lập Quốc (Bs Phan Thượng Hải) - phanthuonghai.com

2) Thơ và Sử Việt - Nhà Lê (Bs Phan Thượng Hải) - phanthuonghai.com

3) Thơ và Sử Việt - Nguyễn Trãi (Bs Phan Thượng Hải) - phanthuonghai.com

4) Thơ và Sử Việt - Nhà Nguyễn (Bs Phan Thượng Hải) - phanthuonghai.com

5) Hình ảnh từ Google.


Bs PHAN THƯỢNG HẢI biên soạn và giữ bản quyền

T

  THƠ VÀ SỬ VIỆT - HUYỀN TRÂN CÔNG CHÚA VÀ CHIÊM THÀNH 

 

                                       Bs Phan Thượng Hải biên soạn

 

Câu chuyện của Huyền Trân Công chúa và Trần Khắc Chung trong Thơ và Sử đã tạo nên sự chú ý của hậu thế về lịch sử giữa Đại Việt và Chiêm Thành.

 

HUYỀN TRÂN CÔNG CHÚA 

 

*

Đời Trần Thái Tông, Vua đánh Chiêm Thành (1252) bắt vương phi của vua Chiêm Thành (Jaya Paramesvaravarman II) là Bồ Gia La.  Sau đó 2 nước đều bị quân Mông Cổ tấn công nên không giao tiếp với nhau.

Năm 1306, theo lời hứa với vua Chiêm Thành trong khi du hành ở đây 5 năm trước, Thượng Hoàng Nhân Tông gả con gái là Huyền Trân công chúa (1287-1340) cho vua Chiêm Thành là Chế Mân (Jaya Sinvaharman III) để đổi lấy 2 châu Ô và Rý (còn đọc là Lý) của Chiêm Thành (nay là vùng nam Quảng Trị và Thừa Thiên).  Lúc đó vua Chế Mân đã có một bà Hoàng hậu chánh là người Java (Nam Dương). Quần thần đồng ý kể cả ông Trần Khắc Chung.  


 

* "Chiêu Quân Giá Hồ"

 

Một số ít văn thần trong triều mượn chuyện vua Hán đem Chiêu Quân (tên là Vương Tường) gả cho vua Hung Nô mà làm thơ quốc âm bằng chữ Hán Nôm để can gián việc nầy.  Toàn bộ có 48 bài thơ Đường Luật Thất Ngôn Bát Cú, tựa là “Chiêu Quân giá Hồ”, một số còn truyền tụng đến nay.  Đây là những bài thơ Hán Nôm thể Đường Luật Thất Ngôn Bát Cú xưa nhất của lịch sử thi văn Việt Nam còn tồn tại, nếu bài thơ “Bán Than” không phải là của ông Trần Khánh Dư.  Những văn thần nầy có thể là những ông Đoàn Nhữ Hài, Trương Hán Siêu, Trần Thì Kiến, Nguyễn Sĩ Cố… đều nổi danh trong văn học sử.

 

Bài 1 có thể là bài thơ Đường Luật Thất Ngôn Bát Cú đầu tiên bằng chữ Hán Nôm:

 

VUA HÁN NGUYÊN ĐẾ TỨC VỊ (Bài 1)

Viêm Lưu trời mở vận trùng quang

Ngôi báu xưa rày vỗ bốn phang (phương)

Rút vỏ gươm A thiêng thế nước (*)

Thêm chân non Thái vững âu vàng (*)

Trong triều giũ áo nền nhân thấm

Ngoài cõi nghiêng tai tiếng đức vàng

Hạng hải thê sơn đều ngóng phục

Lăng loàn hiềm một chút Hồ Khang (Khương). (*)

(Trần triều văn thần)

 

(*) Chú thích:

Gươm Thái A, một kiếm quý thời Xuân Thu

(Cái) âu (bằng) vàng (=Kim âu).  Nghĩa bóng là (Thiên hạ) vững như cái âu bằng vàng.

Hồ Khương: người Hồ và người Khương ở phương Bắc.  Chiêu Quân sẽ xuất giá về đó.

 

Bài 12 và bài 20 tỏ ý muốn can vua đừng gả Công chúa Huyền Trân cho vua Chiêm Thành:

 

CHÚA THUYỀN VU XIN HÒA THÂN (Bài 12)

Hán Hồ từ thuở định thông gia

Chỉ núi thề non nghĩa giảng hòa

Tần Tấn duyên xưa thu lại tốt (*)

Bắc Nam ước cũ xếp can qua

Họ Trần đặt rối mưu con trẻ (*)

Ả Lữ trao thơ chối tủi già (*)

Thiên Tử không nghe thông ước cũ (?)

Một trời âu hẵn một thu xa.

(Trần Triều văn thần)

 

(*) Chú thích:

Lại=quan (lại).  Tốt=(binh) lính.  Thời Xuân Thu nước Tần và nước Tấn kết thông gia (Tần Mục Công lấy Mục Cơ, con Tấn Hiến Công) mà lợi cho 2 nước.

Trần Bình đời Hán Cao Tổ mưu dối Ý Chi (vợ của Thuyền Vu là vua của nước Hồ).

Lữ Hậu, vợ Hán Cao Tổ, bị chúa Thuyền Vu đưa thơ làm nhục (bằng cách đòi lấy bà góa phụ nầy).

 

VUA MUỐN GIỮ VƯƠNG TƯỜNG (Bài 20)

Chi để hương trời lộn cỏ rêu

Vậy ban chiếu chỉ phán hòa triều

Thư Hồ giấy mỏng lời xuôi ngược

Trướng ngọc non dầy nghĩa dấu yêu

Vã trước Bạch Đăng thù chửa trả (*)

Mà nay hồng phấn của đâu liều

Chẳng bằng sắc nước làm yên nước

Kén tướng binh nhung mở cõi Nghiêu. (*)

(Trần triều văn thần)

   

(*) Chú thích: 

Hán Cao Tổ bị người Hung Nô (=rợ Hồ) vây ở Bạch Đăng.

Cõi Nghiêu: nước của vua Nghiêu, thời thạnh trị trong lịch sử Trung Quốc.

 

*

Huyền Trân công chúa sang Chiêm Thành là Hoàng Hậu Paramecvari, sinh một hoàng tử.  

11 tháng sau vua Chế Mân chết (1307).  Vua Trần Anh Tông sai Trần Khắc Chung rước Huyền Trân công chúa đi đường biển trở về.  Hai người đi gần 1 năm trời mới về tới Thăng Long.  Theo Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, Trần Khắc Chung tư thông với công chúa Huyền Trân trong cuộc hành trình nầy.  

Sau đó theo lệnh của Thượng Hoàng Nhân Tông, công chúa Huyền Trân đi tu ở chùa Trâu Sơn (Bắc Ninh) cho đến khi qua đời 23 năm sau (1340).  

 

Sử gia hậu thế cũng có lời bàn:

 

CÔNG CHÚA HUYỀN TRÂN (Nguyên bản) 

Đổi chác xưa nay khéo nực cười

Vốn đà chẳng mất lại thêm lời

Hai châu Ô Lý vuông nghìn dặm

Một gái thuyền quyên đáng mấy mươi

Lòng đỏ khen ai lo việc nước

Môi son phải giống mãi trên đời

Châu đi rồi lại châu về đó

Ngơ ngẫn nhìn nhau một lũ Hời!

(Hoàng Cao Khải)

 

CÔNG CHÚA HUYỀN TRÂN (Họa) 

Nhà Trần tôi chúa đáng chê cười

Lợi dụng Huyền Trân để có lời

Hôn ước vua Chiêm thêm một vợ

Tư thông gái góa mới hai mươi (*)

Hồng nhan mệnh bạc vì non nước

Hiếu nữ tình chung trọn nghiệp đời

Ô Lý đổi trao về Đại Việt

Thương nàng công chúa, tội dân Hời! (*)

(Phan Thượng Hải)

 

(*) Chú thích:

Lúc đó (năm 1307) Huyền Trân Công chúa được 20 tuổi.  Ông Trần Khắc Chung chắc chắn là hơn 40 tuổi và có vợ con rồi vì lúc năm 1285 ông có đi sứ đối khẩu với Ô Mã Nhi thì phải hơn 20 tuổi rồi.

Người dân Hời = người dân Chiêm Thành.  (Xưa gọi là người Chàm, bây giờ là người Chăm).


 

* Trần Khắc Chung

 

Ông Trần Khắc Chung (?-1330) tên thật là Đỗ Khắc Chung, nhờ có công đi sứ chống lại Tướng Ô Mã Nhi của giặc Nguyên nên được vua Trần cho đổi thành họ Trần.  Ông Trần Khắc Chung làm quan đầu trong triều đình đời vua Anh Tông và Minh Tông.  

 

Hoàng tộc nhà Trần biết chuyện (tư thông) giữa ông và công chúa Huyền Trân đều ghét ông Trần Khắc Chung.  Hưng Nhượng Vương (con Hưng Đạo Vương) có mắng ông Trần Khắc Chung tại triều đình.  

 

Sau đó có người vu cáo Huệ Vũ Vương Trần Quốc Chẩn (em vua Trần Anh Tông), Trần Khắc Chung xúi vua Trần Minh Tông bỏ đói ông nầy cho đến chết (mặc dù Trần Quốc Chẩn là chú của Minh Tông và là cha của Hoàng hậu) và còn để cho hàng trăm người nhà ông nầy chết oan theo.  Về sau việc vỡ lỡ nhưng ông Trần Khắc Chung không bị tội.  Khi ông Trần Khắc Chung chết, con của ông Trần Quốc Chẩn cho người đào xác lên mà “bằm nhỏ”. (Theo Đại Việt Sử Ký Toàn Thư).


 

ĐẠI VIỆT VÀ CHIÊM THÀNH

 

* Đại Việt và Chiêm Thành sau khi Huyền Trân Công Chúa về Đại Việt 

 

Năm 1311, vua Chiêm Thành là Chế Chí (Jaya Sinhavarman IV), con Chế Mân, muốn lấy lại 2 châu Ô Lý.  Vua Trần Anh Tông đem ông Phạm Ngũ Lão cùng Huệ Võ Vương Trần Quốc Chân (Chẩn) và Nhân Huệ Vương Trần Khánh Dư phân làm 3 đạo quân đánh Chiêm Thành (1312) bắt Chế Chí về Đại Việt và phong em là Chế Đà A Bà còn gọi là Chế Năng (1312-1318) làm vua Chiêm Thành.  Chế Chí chết ở Đại Việt.

Sau cuộc viễn chinh, vua Trần Anh Tông có làm bài thơ:

 

CHINH CHIÊM THÀNH HOÀN CHU BẠC PHÚC THÀNH CẢNG

(Đánh Chiêm Thành về đậu thuyền ở cửa biển Phúc Thành)

 

Cẩm lãm quy lai hệ lão dung                    Thuyền gấm đường về buộc gốc đa

Hiểu sương hoa trọng thấp vân bồng        Sương mai nặng hạt ướt mui là

Sơn gia vũ cước thanh tùng nguyệt           Đầu thông xóm núi trăng vừa ló

Ngư quốc triều đầu hồng liệu phong         Răm đỏ làng chài gió đã qua

Vạn đội tinh kỳ quang hải tạng                 Muôn đội cờ bay vùng biển rạng

Ngũ canh tiêu cổ lạc thiên cung                Năm canh kèn trống điện trời sa

Thuyền song nhất chẩm giang hồ noãn     Bên song chợt ấm lòng sông biển

Bất phục du chàng nhập mộng trung.       Màn trướng thôi vương giấc mộng hoa.

 

(Trần Anh Tông)                                       (Phạm Tú Châu dịch)


 

Vua Chế Năng cũng muốn chiếm lại Ô Lý nên Trần Minh Tông cùng Huệ Võ Vương Trần Quốc Chẩn và ông Phạm Ngũ Lão sang đánh (1318), Chế Năng thua trận chạy trốn sang Java (Nam Dương).  

Nhà Trần lập một người Chàm từng sống ở Đại Việt là Chế Ba A Niêm hay Chế Anan làm vua (1318-1342).  Nước Chiêm Thành trở thành một “chư hầu” (vassal) của Đại Việt.  Khi Chế Anan chết, người em rể là Trà Hoa Bồ Đề được người Chàm ủng hộ đuổi con của Chế Anan là Chế Mô về Đại Việt.  Nước Chiêm Thành lại độc lập khỏi Đại Việt.  Sau nầy (1353) vua Trần Dụ Tông cho quân đưa Chế Mô về nước Chiêm Thành (làm vua) nhưng bị vua Trà Hoa Bồ Đề (1342-1360) đánh bại.  

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Vua Trà Hoa Bồ Đề chết, người em lên nối ngôi là vua Chế Bồng Nga (1360-1390). 

Vua Chế Bồng Nga (Po Binasuor) là vị vua thứ 39 của lịch sử Chiêm Thành và là vị vua hùng mạnh nhứt.  Chữ “Chế” không phải là “họ” (family name).  Nó là âm tiếng Hán từ chữ “Cei” của Chiêm Thành có nghĩa là “Uncle" thường dùng để gọi những vị Tướng Quân (Generals).


 

* Chế Bồng Nga

 

- Thời Trần Nghệ Tông

 

Vì mẹ của Dương Nhật Lễ sang cầu cứu Chiêm Thành, vua Chế Bồng Nga đem quân tấn công, theo cửa Đại An vào sông Đáy cướp phá Thăng Long làm vua Trần Nghệ Tông phải bỏ chạy khỏi kinh đô (1371).  

 

- Thời Trần Duệ Tông

 

Sau 2 năm làm vua, vua Trần Nghệ Tông (52 tuổi) giữ thông lệ cũ lên làm Thái Thượng Hoàng truyền ngôi cho em là Cung Tuyên Vương Kính tức là Trần Duệ Tông (năm 1373).  Tháng giêng năm 1377, vua Trần Duệ Tông (1337-1377) đi đánh Chiêm Thành để báo thù.  Vua bị Chế Bồng Nga phục binh bắn chết ngay trong thành Đồ Bàn.  Lê Quý Ly giữ hậu quân ở cửa Thị Nại bỏ chạy không tiếp viện.

 

- Thời Trần Phế Đế

 

Thượng Hoàng Nghệ Tông lập con thứ của Duệ Tông là Hoàng tử Trần Hiện (1361-1388), cháu kêu mình bằng bác, đang 16 tuổi, có mẹ là Gia Từ hoàng hậu (em của Lê Quý Ly).  Đó là vua Trần Phế Đế.  

Vua Chế Bồng Nga của Chiêm Thành lại tấn công và cướp phá Thăng Long vào tháng 11 năm 1377 (theo cửa Thần Phù vào sông Chính Đại ở Yên Mô, Ninh Bình) và vào năm 1378 (theo sông Đại Hoàng tức là sông Châu Giang ngày nay nên chắc phải vào cửa Đại An của sông Đáy rồi theo sông Châu Giang qua sông Hồng?).  

Lê Quý Ly và quân nhà Trần chận đứng được quân Chiêm vào năm 1380 (ở Thanh Hóa) và Nguyễn Đa Phương thắng quân Chiêm vào năm 1382 (ở cửa Thần Phù).  

Năm 1383, Chế Bồng Nga cùng tướng là La Khải, theo sơn lộ (? từ Thanh Hóa) đến Quốc Oai (nay là Quốc Oai, Hà Tây) vào cướp phá Thăng Long lần thứ 4, Nghệ Tông lại chạy qua bên kia sông Hồng lánh nạn.  

Quân Mông Cổ chỉ chiếm Thăng Long có 2 lần nhưng quân Chiêm Thành đánh hạ Thăng Long 4 lần (1371, 1377, 1378 và 1383), cướp phá và rút về.  

 

- Thời Trần Thuận Tông

 

Thượng Hoàng Nghệ Tông phế Trần Phế Đế và ép thắt cổ chết rồi lập con nhỏ của mình là Ngung (1377-1399) làm vua là Trần Thuận Tông (năm 1388).  

Đầu năm 1389, Chế Bồng Nga lại tấn công Đại Việt đánh bại Lê Quý Ly ở Thanh Hóa nhưng nhờ ông Nguyễn Đa Phương thủ bờ bắc sông Ngu Giang làm kế nghi binh cấm nhiều cờ xí ở dinh trại nên quân Chiêm không dám tấn công và rút về.  Lê Quý Ly ghen tị giết ông Nguyễn Đa Phương.  Ở địa phận Thanh Hóa có hạ lưu sông Mã.  Khi xưa khi sông Mã chảy gần tới biển là khúc sông Tào Xuyên (gọi là Ngu Giang) ra cửa Lạch Trường nhưng sông và cửa nầy bị hẹp thời nhà Nguyễn nên sông Mã mở rộng theo 1 nhánh nhỏ chảy ra cửa Lạch Hới gần núi Hàm Rồng ngày nay.  Do đó những lần vào Thanh Hóa chắc Chế Bồng Nga dùng cửa Lạch Trường của sông Mã.

Tháng 11 năm 1389, vua Chế Bồng Nga lại vào sông Hồng (cửa Ba Lạt?) đến Hoàng Giang (? khúc sông Hồng ở Nam Xương, Hà Nam), đóng quân và cướp phá ở vùng Thái Bình và Hưng Yên.  Lê Quý Ly cứ bị đánh thua nên Thượng Hoàng Nghệ Tông dùng ông Trần Khát Chân (dòng dõi ông Trần Bình Trọng) cầm quân chống giặc.  Đầu năm 1390, ông Trần Khát Chân đóng quân ở sông Hải Triều (khúc sông Luộc ở giữa Tiên Lữ, Hưng Yên và Hưng Nhân, Thái Bình).  Nhờ một hàng tướng Chiêm Thành (tên là Ba Lậu Kê) cho biết dấu hiệu riêng của thuyền Chế Bồng Nga (có sơn màu xanh), ông Trần Khát Chân nhân lúc Chế Bồng Nga đi thị sát mặt trận ở sông Hải Triều cho quân tập trung hỏa khí bắn vào chiếc thuyền nầy và may mắn giết chết Chế Bồng Nga.  Tướng La Khải và quân Chiêm phải rút về nước, con cháu Chế Bồng Nga đầu hàng và về ở Đại Việt.  Tướng La Khải lên làm vua và từ đó nước Chiêm Thành suy yếu không còn cạnh tranh nổi với Đại Việt.

 

Hậu thế có bài thơ:

 

CHẾ BỒNG NGA

Sơn hà nguy biến tự Chiêm Thành

Bởi Chế Bồng Nga khởi chiến tranh

Đại Việt ra vào không quản ngại

Thăng Long cướp phá mặc tung hoành

Vua Trần thất thế, điều nhân quả?

Sông Luộc đưa đường, chuyện tử sanh 

Hỏa khí Khát Chân tàn thảm họa

Nên khi nước loạn biết hùng anh.

(Phan Thượng Hải)

4/18/15

 

- Thời vua Hồ Quý Ly

 

Năm 1402, nhà Hồ sai tướng Đỗ Mãn sang đánh Chiêm Thành.  Vua Chiêm Thành là Ba Đích Lại sai cậu là Bồ Điền sang dâng đất Chiêm Động hay Ba Động (tỉnh Quảng Nam ngày nay) để xin bãi binh.  Vua Hồ Quý Ly bắt Chiêm Thành phải nhường thêm đất Cổ Lũy hay Cổ Lụy (tỉnh Quảng Ngãi ngày nay) mới chịu rút quân về.  Người Chiêm bỏ 2 vùng đất nầy di cư về Chiêm Thành.  Vua Hồ Quý Ly cho những người dân Đại Ngu có tiền của mà không có đất vào ở và bắt đầu sở hữa đất đai ở đây.


 

* Lịch sửi Việt chiếm Chiêm Thành

 

Chuyện công chúa Huyền Trân đổi lấy 2 châu của Chiêm Thành là một trong những quá trình nước Đại Việt chiếm nước Chiêm Thành (trong hơn 600 năm).

 

Đây là quá  trình lịch sử:

Lúc đầu Hoành Sơn (Đèo Ngang) là biên giới giữa nước Đại Cồ Việt (rồi Đại Việt) và nước Chiêm Thành.

Năm 1069, vua Lý Thánh Tông đánh Chiêm Thành bắt vua Chế Củ về Thăng Long.  Vua Chế Củ dâng 3 châu Địa Lý, Ma Linh và Bố Chính (gồm Quảng Bình và phần bắc Quảng Trị) để chuộc mình.

Năm 1306, Thượng hoàng Trần Nhân Tông gả công chúa Huyền Trân cho vua Chế Mân đổi lấy 2 châu Ô và Lý (phần nam Quảng Trị và Thừa Thiên).  Biên giới là đèo Cả (Hải Vân).

Năm 1402, Chiêm Thành cầu hòa, dâng cho vua Hồ Quý Ly đất Ba Động (Quảng Nam) và đất Cổ Lũy (Quảng Ngãi).

Năm 1470, vua Lê Thánh Tông chiếm kinh đô Đồ Bàn và vùng chung quanh (nay là Qui Nhơn).  Biên giới là đèo Cù Mông.

Năm 1611, chúa Nguyễn Hoàng chiếm Phú Yên (Tuy Hòa)

Năm 1653, chúa Nguyễn Phúc Tần chiếm Nha Trang (Khánh Hòa)

Năm 1693, chúa Nguyễn Phúc Chu sai Chưởng Cơ Nguyễn Hữu Cảnh chiếm Phan Rang và Phan Rí (Phan Thiết).  Nước Chiêm Thành bị tiêu diệt.

 

* Vùng Tây Nguyên

 

Năm 1470, vua Lê Thánh Tôn cùng các tướng Đinh Liệt, Lê Niệm (cháu nội Lê Lai) và 26 vạn quân Đại Việt hạ kinh đô Đồ Bàn của nước Chiêm Thành, “cắt 4 vạn thủ cấp”, bắt vua Bà La Trà Toàn, gọi tắt là Trà Toàn (1460-1471), và hơn 3 vạn (30,000) tù nhân.  Tướng Bồ Trì Trì rút về nam đèo Cù Mông (giữa Qui Nhơn và Phú Yên) và lên làm vua.  Nước Đại Việt thêm đất Qui Nhơn bành trướng tới đèo Cù Mông.

 

Vua Lê Thánh Tông chia nước Chiêm Thành còn lại ra làm 3 nước:  

Bồ Trì (hay Bồ Trì Trì) là vua nước Chiêm Thành gồm Nha Trang, Phan Rang và Phan Thiết.

Hoa Anh Vương cai trị nước Nam Hoa ở Phú Yên 

Nam Bàn Vương cai trị nước Nam Bàn gồm vùng đất phía tây núi Thạch Bì (núi Đại Lĩnh có đèo Hải Vân) tức là vùng Tây Nguyên (Cao Nguyên Trung Phần) ngày nay. 

 

Vùng Tây Nguyên nầy gồm vùng Pleiku, Komtum, Ban Mê Thuột và Lâm Đồng (Đà Lạt-Bảo Lộc).  

Vùng nầy chính thức nhập vô bản đồ nước ta vào thời vua Minh Mạng, chỉ có người Thượng sinh sống và hình như không có cơ quan hành chánh trong thời chúa Nguyễn (dù đã chiếm Phú Yên và Chiêm Thành), nhà Tây Sơn và nhà Nguyễn.  

Năm 1891, Bác sĩ Yersin thám hiểm công viên Lâm Đồng và báo cáo nên người Pháp mới để ý đến vùng nầy.  Từ năm 1896 đến 1899, chính phủ Pháp áp lực triều đình nhà Nguyễn để họ tự cai trị vùng Tây Nguyên (như thuộc địa) và cho người Pháp lên mở đồn điền.  Người Pháp lập tỉnh Komtum (1907), tỉnh Pleiku (1917), thị xã Đà Lạt là nơi nghĩ mát (1917), tỉnh Lâm Đồng (1920) và tỉnh Darlac ở Ban Mê Thuột (1923).

Năm 1946, sau khi trở lại Đông Dương, Cao ủy D’Argenlieu thành lập “Xứ Thượng Nam Đông Dương” (Pays montagnards du Sud Indochinois) do người Thượng tự trị (như Nam Kỳ Quốc).  

Năm 1950, Xứ Thượng Đông Dương sát nhập vào Quốc Gia Việt Nam của Quốc trưởng Bảo Đại (gọi là Hoàng Triều Cương Thổ) cho đến năm 1955 thì thuộc nước Việt Nam Cộng Hòa của chính phủ Ngô Đình Diệm. 


 

Bs PHAN THƯỢNG HẢI biên soạn và giữ bản quyền

 

Bài viết này đăng lần đầu trong phanthuonghai.com mục Thơ và Sử Việt phần Nhà Trần.

 

Tài liệu tham khảo

1) Thơ và Sử Việt - Nhà Trần (Bs Phan Thượng Hải) - phanthuonghai.com

2) Thơ và Sử Việt - Nhà Lê (Bs Phan Thượng Hải) - phanthuonghai.com  


 

Bs PHAN THƯỢNG HẢI biên soạn và giữ bản quyền

HƠ VÀ SỬ VIỆT - HUYỀN TRÂN CÔNG CHÚA VÀ CHIÊM THÀNH
Bs Phan Thượng Hải biên soạn

PTH_Tientrinhnamtien.JPG

 HOA NGHIÊM TÔNG

 

                                         Bs Phan Thượng Hải biên soạn


 

Hoa Nghiêm Tông chủ yếu dựa trên giáo lý của Hoa Nghiêm Kinh.  Sư Pháp Tạng (643-712) tổ chức hoàn thành giáo lý của Hoa Nghiêm Tông.


 

* Toàn Thể và Pháp Giới

 

Kinh Hoa Nghiêm (vào thế kỷ thứ 1 tr CN) mô tả Phật Quả của Toàn Thể (Universal Buddhahood) chứ không của Cá Thể (Individual Buddhahood) như những Tông Phái trước:

Tất cả chúng sanh đều bị thấm vào bởi trí tuệ của Phật (Buddhajnàna).  Đó như là bào thai (=Tạng) của Phật (=Như Lai Tạng).  Đó là sự kết hợp của (Phật) tuyệt đối và (Chúng Sanh) tương đối.

"Tất cả trong Một, Một trong Tất cả" (All in One, One in All).  Tất cả hòa tan vào trong một Toàn Thể (a single whole).  Không có sự phân chia trong Toàn Thể của Sự Thực.  Toàn thể vũ trụ (cosmos) như là Sự Thực toàn thể của Phật (universal reality of Buddha).  Sự kết hợp trong Toàn thể cho phép sự hiện hữu thực sự của mọi Cá thể của thế giới hiện tượng là duy nhứt không có bản tánh thừa hưởng và tùy thuộc vào cái gì hết .

 

Hoa Nghiêm Tông là Duy Thức Phái áp dụng cho Toàn Thể thay vì cho Cá Thể.

Giáo lý Duy Thức áp dụng cho Cá Thể với một Thực Thể tuyệt đối trong Tâm của Cá Thể là Chân Như với những đồng nghĩa là: Như Lai Tạng, Pháp Thân và Phật Tánh.  Vạn Pháp và Vạn Hữu (bên ngoài Cá Thể) sinh khởi và nhận thức từ Tâm Thức của Cá Thể.

Tuy nhiên Cá Thể là một trong Vạn Hữu và Vạn Pháp.  Vạn Hữu là Toàn thể tất cả Cá Thể.  Do đó Giáo lý Hoa Nghiêm Tông áp dụng cho Toàn Thể và dùng Pháp Thân (hay Như Lai Tạng) là một Thực Thể tuyệt đối chung khắp mọi Cá Thể trong Toàn Thể.  

Hoa Nghiêm dùng từ ngữ "Giới" cho "Toàn Thể":

Thế Giới là Toàn Thể Sanh mạng (= Chúng sanh), nhất là Nhân mạng, không kiến ngộ Pháp Thân.  Pháp Giới là Toàn Thể Sanh mạng (= Chúng sanh), nhất là Nhân mạng, kiến ngộ Pháp Thân (Chân Như): "Thế Giới Pháp Thân" nầy gọi tắt là Pháp Giới.

 

Theo Duy Thức Phái thì Bậc Giác Ngộ là Cá Thể kiến ngộ Chân Như hay Phật Tánh hay Pháp Thân hay Như Lai Tạng.  Như vậy Pháp Giới là Toàn Thể đều Giác Ngộ: Chúng Sanh trên Thế Giới nầy đều Giác Ngộ.  Pháp Giới là Thế Giới Giác Ngộ của Phật Giáo có Pháp Thân chung khắp, mỗi và mọi Sanh mạng giác ngộ của Thế giới.  

Hoa Nghiêm Tông cũng là "duy Thức" do đó Pháp Giới của Hoa Nghiêm là thế giới của Tâm Thức (Tinh thần) chứ không phải của "Thân Thể" (Vật chất).

Kinh Hoa Nghiêm ví Pháp Giới như là lâu đài của Đại Nhật Như Lai.  Đại Nhật Như Lai là Pháp 

Thân Phật.

 

 

 

 

 


 

 

 

 

 

Cá Thể = Individual, Individuality

Toàn Thể = Totality

Thế Giới = Realm, World, Universe

Pháp Giới = Realm of The Law = Dharma-dhàtu

Pháp Thân = The Law Body = Dharma-kàya


 

* Tứ Pháp Giới và Pháp Giới

 

Theo Hoa Nghiêm Tông, lịch sử Phật Giáo có 4 loại Pháp Giới (Fourfold Universe) của Vạn Hữu:

1. Sự Pháp Giới (The world of the Facts or Reality): Thế giới của mọi Hiện Tượng (Sự) thông thường. (Pháp Giới của Tiểu Thừa)

2. Lý Pháp Giới (The world of the Principle): Thế giới chung của một Nguyên Lý (Lý) là một Thực Thể hay Tự Tánh tuyệt đối. (Pháp Giới của Tam Luận Tông và Pháp Tướng Tông)

3. Lý Sự Vô Ngại Pháp Giới (The world of Principle and Facts or Reality united): Hiện Tượng và Thực Thể tương quan không chướng ngại.  (Pháp Giới của Thiên Thai Tông)

4. Sự Sự Vô Ngại Pháp Giới (The world of all realities or practical Facts interwoven or identified in perfect harmony): Mọi Hiện Tượng dung hòa đầy đủ (viên dung) không chướng ngại (= Viên dung Vô ngại).  "The fact and fact world perfectly harmonized". (Pháp Giới của Hoa Nghiêm Tông)

 

"Sự" đồng nghĩa với "Hiện Tượng"

Sự = Fact = Sự Vật thật sự (có) xảy ra

Hiện Tượng = Phenomenon = Sự Vật là đối tượng tri giác và cảm giác được.  

Hiện Tượng, Trình Hiện, Hiển Hiện = Manifestation = Sự Vật hiện ra, xảy ra

"Sự" dùng cho Toàn Thể (Hoa Nghiêm Tông) còn "Hiện Tượng" dùng cho Cá Thể (các Tông Phái khác của Đại Thừa). 

Lý (Principle) = Nguyên Lý = Chân Lý (Truth) căn bản hay đúng theo Lý thuyết (theory).  

Hoa Nghiêm Tông chú trọng tới Sự Vật và Nguyên Lý hay Chân lý (của Sự Vật).


 

Pháp Thân ở trong mỗi và mọi Cá thể Giác ngộ của Toàn thể (thế giới) Giác ngộ (= Pháp Giới)

Pháp Thân hay Chân Như (Suchness - Thusness) ở phương diện Tĩnh (static aspect) thì là Tánh Không (Void, Emptiness = Sunyảta), là Thực thể (Noumenon) và có Lý Pháp Giới (realm of Principle).

Pháp Thân hay Chân Như ở phương diện Động (dynamic aspect) thì chỉ là Trình hiện (Manifestation), là Hiện tượng (Phenomenon) và có Sự Pháp Giới (realm of Facts).

 

Sự Pháp Giới thì "Động", là Pháp Giới Duyên Khởi nhưng theo Thập Huyền Duyên Khởi.

Pháp Giới Duyên Khởi là Sự Sự Đồng duyên khởi (simultaneously arise)

Thập Huyền Duyên Khởi là Sự Sự Vô Ngại duyên khởi (arise in harmony).

Pháp Thân = Chân Như = Cá thể Giác ngộ; có Lục (6) Tướng (= Đặc tính = Characters or specific Natures)

 

Pháp Giới Duyên Khởi = Universal Causation of the Law

Thập Huyền Duyên Khởi = Causation by 10 profound Theories

Chân Như = Suchness, Thusness

 

* Thập Huyền Duyên Khởi

(The causation by ten profound theories)

 

Thập Huyền Duyên Khởi là 10 Lý thuyết diễn tả chi tiết Sự Sự Vô Ngại Pháp Giới (The fact and fact world perfectly harmonized).  "Sự Sự" là tương quan giữa mọi Sự Vật.  "Vô ngại" là dung hòa với nhau.

 

1. Đồng thời cụ túc tương ứng môn

= The theory of Co-relation (Tương Ứng)

(Môn=the Theory=Lý thuyết)

Mọi Sự Vật đồng hiện hữu và và đồng sinh khởi đồng thời (co-existence and simultaneous rise).  Vì đồng Hiện hữu nên mọi Sự Vật đều bình đẳng với nhau.  Đồng sinh khởi tức là đều sinh khởi như nhau không có cái nầy sinh ra cái kia, đó là "Trùng trùng vô tận Duyên Khởi" hay "Pháp Giới Duyên Khởi". Nó thay thế Nghiệp Cảm Duyên Khởi và Tạng Thức Duyên Khởi.

 

Pháp Giới Duyên Khởi = Trùng Trùng Vô Tận Duyên Khởi = Universal Causation of the Realm of the Law.

 

2. Chư pháp tương tức tự tại môn

= The theory of perfect freedom of mutual relationship (Tương Tức)

(Chư Pháp=Vạn Pháp)

Mọi Sự Vật tự do hoàn toàn tương tức hòa hợp lẫn nhau không chướng ngại.  Một tức là Hết thảy, Hết thảy tức là Một.  

 

3. Nhất đa tương dung bất đồng môn

= The theory of mutual penetration (Tương Dung) of dissimilar things.

Mọi Sự Vật, số nhiều (đa) hay số một (nhất), tương dung với nhau mặc dù không giống nhau (bất đồng).  (Nhất=một. Đa=nhiều).

 

4. Chư tàng thuần tạp cụ túc môn

= The theory of mutual identification (Tương Thức) of all distinct elements

Mọi Sự Vật dù khác nhau nhưng vì tương quan nên đều nhận biết được: một cũng như hết thảy.  (Thuần=một, Tạp=nhiều) 

 

Chư tàng=chư hành=all elements.

Chư Pháp=Vạn Pháp=all Dharmas=tất cả Hiện Tượng=all Phenomena

Chư Hành=Vạn Hữu=mọi Sự Vật=all Elements, all Elements of existence, all Existences

 

5. Bí mật ẩn hiển câu thành môn

= The theory of mutual complementary supply (Tương Trợ) to make a whole.

(Ẩn ở bề trong là bí mật, Hiển ra bề ngoài là hiển hiện).  

Mọi Sự Vật, ẩn hiện trong ngoài, đều tương trợ lẫn nhau để làm thành Toàn Thể.

 

6. Vi tế tương dung an lập môn

= The theory of construction by mutual penetration (Tương Dung) of minute and abstruse matters.

Mọi Sự Vật, nhỏ hay lớn, tương dung để kiến tạo.

 

7. Nhân Đà La vi tế cảnh giới môn

= The theory of mutual permeation (Tương Thông) and mutual reflection (Tương Phản) as in the region surrounded by the Indra net.

(Indra=Nhân Đà La=Đế Thích Thiên.  Indra là 1 vị "Thiên" hay Deva của Ấn Độ Giáo và Phật Giáo)

Mọi Sự Vật tương thông và tương phản (chiếu) như những bảo châu của Tấm màn của Đế Thích Thiên (Nhân Đà La).

(Trong cung điện của Đế Thích Thiên mắc tấm màn bằng bảo châu có nhiều mắt lưới.  Ánh sáng của những bảo châu soi rọi lẫn nhau, trùng trùng điệp cùng dung thông với nhau mà không chướng ngại nhau).

 

8. Duy tâm hồi chuyển thiện thành môn

= The theory of elucidating the truth by factual illustrations.

Thực Thể thể hiện rõ ràng thành hình ảnh của mọi Sự Vật (Vạn Hữu).  Thực Thể chính là duy Tâm (chỉ có từ Tâm), ý chỉ Pháp Thân hay Như Lai Tạng của Duy Thức.

 

9. Thập thế cách pháp dị thành môn

= The theory of "variously completing ten times periods creating one entity".  

Giải thích về Thập Thế (10 đời): Trong 3 đời quá khứ, hiện tại và vị lai, đều lại bao hàm có 3 đời nên thành 9 đời.  9 đời nầy lại cùng dung thông với nhau, tương tức và tương nhập lẫn nhau trở thành toàn thể của một đời.  Đó là "thập thế dung thông với nhau".

Tóm lại: Giải thích Vạn Pháp tương tức theo thời gian.

 

(Chư pháp tương tức tự tại môn (2): Giải thích Vạn Pháp tương tức trong không gian.  

Thập thế cách pháp dị thành môn (9): Giải thích Vạn Pháp tương tức theo thời gian)

 

10. Thác sự hiển pháp sinh giải môn

= The theory of elucidated principle (of "All-and-one" and "One-and-all") without needing the explanation.

Nguyên lý (Lý) nhất đa tương tức thì hoàn toàn hiển hiện rõ ràng ở nơi mọi Sự Vật (Sự), không cần phải nương vào thí dụ cũng liễu giải được. 

 

Tóm tắt:

"Sự Sự vô ngại Pháp Giới" là tất cả mọi Sự Vật (Vạn Hữu) tương tức không chướng ngại của Pháp Giới:

Mọi Sự Vật đồng hiện hữu và đồng sinh khởi (1)

Do đó mọi Sự Vật có Hiện Tượng hiện ra (=Sự) Tương Tức trong không gian (2) và Tương Tức theo thời gian (9): 

Tương Dung (3) (6) 

Tương Thức (4) 

Tương Trợ (5) 

Tương Thông (7) 

Tương Phản (7).

Như vậy mọi Sự Vật có một Nguyên lý (=Lý) là "Nhất Đa tương tức" (One-and-All and All-and-One) (10).

Bởi vì mọi Sự Vật có chung 1 Thực Thể tuyệt đối là Pháp Thân hay Như Lai Tạng (8) ở khắp trong từng và mọi Sự Vật.

"Sự Sự Vô Ngại" ví như 1 tràng hoa (=hoa nghiêm), là tên của kinh Hoa Nghiêm.

 

Lý=Principle.  Sự=Facts

Vô ngại=không có chướng ngại=in harmony, harmonized=Dung hòa, Viên dung

Tương Tức=mutual relation

Tương Dung=mutual penetration

Tương Thức=mutual identification

Tương Trợ=mutual complementary supply

Tương Thông=mutual permeation

Tương Phản=mutual refeflection

Mọi Sự Vật=Vạn Hữu=all things and all events=all beings=all elements of existence

Chúng Sanh=All sentient beings

Pháp Giới=Dharmadhàtu

Pháp Thân=Dharmakàya


 

* Lục Tướng 

 

Lục Tướng = Sixfold Specific Nature or Characters (of all Dharmas)

Tướng = Đặc tính = Specific Character

 

6 Đặc tính của mỗi Sự Vật (each or every Element) là 6 mối tương liên giữa cái: 

Toàn thể và Riêng biệt (Đơn lẽ); 

Giống nhau và Khác biệt; 

Hòa nhập và Riêng tư.

Có thể nói là những đặc tính (=tướng) của Cá Thể trong Toàn Thể.

 

1. Thể (Essence): tương quan giữa Tổng Tướng và Biệt Tướng (Toàn thể và Đơn lẽ)

Tổng Tướng (Universality): một Tướng Trạng: gồm có các Bộ Phận (organs). 

Biệt Tướng (Speciality as to character itself): các Bộ Phận của một Tướng Trạng: gồm lại thành một Tướng trạng.  

 

Tướng Trạng=Organism: ám chỉ một Cá thể

Bộ Phận=Organ

 

2. Tướng (Existence): tương liên giữa các Biệt Tướng trong Tổng Tướng theo không gian (Giống nhau và Khác nhau)

Đồng Tướng (Similarity): các Bộ Phận tương liên với nhau một cách hòa đồng với nhau trong một Tướng trạng

Dị Tướng (Diversity): các Bộ Phận tương liên với nhau một cách khác nhau trong một Tướng trạng 

 

3. Dụng (Usage): tương quan giữa các Biệt Tướng trong Tổng Tướng theo thời gian (Hòa nhập và Riêng tư)

Thành Tướng (Integration): qua tương liên trong một Tướng Trạng, có các Bộ Phận hòa nhập được nên hình thành

Hoại Tướng (Differentiation): trong tương liên trong một Tướng Trạng, có các Bộ Phận riêng tư (không hòa nhập) nên hủy hoại  

 

Hoa Nghiêm Tông cũng như Thiên Thai Tông hoàn toàn thuần túy của Trung Quốc (không xuất phát từ Ấn Độ).  Giáo lý diễn tả một Thế Giới Phật Giáo quá lý tưởng là Pháp Giới với mọi Chúng Sanh đều thành Phật Quả, động Pháp Thân với Tâm Thức Vô Ngại (dung hòa = in harmony).  

Vì quá lý tưởng nên khó thực hành được cho Hành giả cá thể (Individual Practicioner).


 

Bs PHAN THƯỢNG HẢI biên soạn và giữ bản quyền


Bài này là một Đoạn trích từ bài "Triết Lý Phật Giáo - Từ Phật Thích Ca đến Thiền Tông" đăng trong phanthuonghai.com

PTH_DaiNhatNhuLai.JPG

Sàriputta và Moggallàna (Xá Lợi Phất và Mục Kiền Liên)

 

                                   Bs Phan Thượng Hải biên soạn

 

Sự tích Vu Lan có nguồn gốc từ Moggallàna (Mục Kiền Liên).  Ngài và Sàriputta là 2 đệ tử đứng hàng đầu trong 10 đại đệ tử của Phật Thích Ca.  Tuy nhiên 2 ngài nhập diệt trước Phật Thích Ca.

 

* Sàriputta và Moggallàna 

 

Sàriputta dịch âm là Xá Lợi Phất Đa La và dịch nghĩa là Thu Lộ Tử.  

         Xá Lợi Phất Đa La gọi tắt là Xá Lợi Phất (hay Xá Lị Phất). 

         Sàri (hay Xá Lợi) là tên của người Mẹ; Putta có nghĩa là Tử.  Sàri còn dịch nghĩa là Thu Lộ (một loài chim).  Thu Lộ là "Chim trăm lưỡi" (Bách thiệt điểu) nên tên Sàriputta còn dịch nghĩa là Thu Lộ Tử hay Bách Thiệt Điểu Tử. 

Moggallàna dịch âm là Mục Kiền Liên hay Mục Kiện Liên.

 

Sàriputta sinh ở làng Nalaka cạnh bên làng Kolita là nơi sinh của Moggallàna.  Hai làng nầy ở gần Rajagaha, kinh đô của nước Magadha, và hai người là bạn thân từ thời niên thiếu.  Sàri putta và Moggallàna cùng đi tu làm đệ tử của Sanjaya, một tu sĩ theo chủ thuyết hoài nghi.  Sau khi gặp và đàm luận với 1 đệ tử của Phật Thích Ca là Assaji (A Thuyết Thị = A Xá Bà Kỳ = Mã Thắng), Sàriputta cùng Moggallàna dẫn 250 đệ tử của Sanjaya gia nhập Tăng Già của Phật Thích Ca ở Tịnh xá Veluvana (Trúc Lâm = Bamboo Grove) gần Rajagaha.  Lúc đó 2 ngài vào khoảng 27. 28 tuổi.  Đây là bài kệ giúp Sàriputta và Moggallàna tỉnh thức và đến xin làm đệ tử của Phật Thích Ca:

 

Nhất thiết chư pháp bản       (Sinh ra hết thảy mọi pháp nọ)

Nhân duyên sinh vô chủ       (Đều do nhân duyên không có chủ)

Nhược năng giải thử giả       (Hễ mà hiểu được nghĩa ấy)

Tắc đắc chân thực đạo          (Thì đạo chân thực mới hiểu rõ)

 

Sàriputta có "Trí Tuệ Đệ Nhất" và Moggallàna có "Thần Thông Đệ Nhất" trong các đệ tử. Hai Ngài là đệ tử chính của Phật Thích Ca giúp truyền bá thuyết Duyên Khởi, Tứ Diệu Đế và Bát Chánh Đạo.  Sàriputta giảng dạy rất hay giúp cho các Tỳ kheo hiểu được Phật Pháp còn Moggallàna giúp các Tỳ kheo tu hành đúng theo Phật Pháp và chống lại những tà thuyết.  Phật Thích Ca thường dùng 2 ngài làm gương cho các đệ tử khác trong Tăng Già.

 

* Nhập Diệt của Sàriputta và Moggallàna

 

Đạo của Phật Thích Ca được truyền bá rộng rãi nên sinh ra những người ganh tỵ chống đối. Moggallàna là đối tượng chánh nên ngài bị những người nầy giết chết khi đi khất thực.  Một thời gian ngắn sau đó, Sàriputta cũng nhập diệt.

Tương truyền rằng, vào một ngày kia, Phật Thích Ca (hơn 80 tuổi) nói với các đệ tử rằng chỉ 3 tháng nữa là Ngài nhập diệt.  Lúc đó Moggallàna vừa bị giết chết.  Sàriputta không muốn thấy cảnh Đức Phật qua đời nên xin để mình chết trước, thế là Sàriputta tự mình nhập diệt.

Hai ngài theo Phật Thích Ca trong khoảng 40 năm và nhập diệt trước Phật Thích Ca.

 

Sách "Tỉ Lại Gia Tạp Sự" viết:

Có người hỏi đức Thế tôn: 

         Một bậc thánh như Mục Kiền Liên (Moggallàna) mà bị bọn ngoại đạo đánh chết, thế là Nghiệp gì?  

Đức Thế tôn đáp: 

         Kiếp xưa Mục Kiều Liên là con một họ Bà La Môn vì quá yêu vợ mà bất hiếu với cha mẹ mình.  Người mẹ giận quá có rủa: "Sao những đứa hung ác không đánh chết mầy đi?". Nay tuy chứng cõi thánh là bậc thần thông đệ nhất mà vẫn phải chịu cái Nghiệp bị đánh chết.  

 

* Mục Kiền Liên (Moggallàna) và Lễ Vu Lan

 

- Kinh Vu Lan Bồn viết:

 

Một thời, Đức Phật trú tại khu vườn Kỳ Đà Cấp Cô Độc.  Trưởng giả Đại Mục Kiền Liên chứng đắc sáu thứ Thần thông dùng đạo nhãn quán sát khắp thế giới, thấy người mẹ đã qua đời của mình bị đọa trong loài Ngạ quỷ, không được ăn uống nên thân hình chỉ còn da bọc xương.  Tôn giả Mục Kiền Liên thấy vậy vô cùng xót thương buồn bã, liền lấy bát đựng đầy cơm và vận dụng thần thông đem hiến dâng cho mẹ.  Bà mẹ vừa nhận được bát cơm , liền dùng tay trái che đậy, tay phải bốc ăn, cơm chưa vào miệng đã hóa thành than hồng nên không thể ăn được. Tôn giả Mục Kiền Liên lớn tiếng than khóc trở về bạch với đức Phật, thuật lại đầy đủ mọi sự việc như vậy.

Đức Phật bảo:

         Thân mẫu của ông tội chướng sâu dày.  Tuy lòng hiếu thảo của ông vang động trời đất nhưng cũng không ai có thể làm gì được.  Nay ông phải nhờ oai lực của Tăng chúng ở mười phương thì mới có thể thoát được.

         Này Mục Kiền Liên!  Ngày rằm tháng bảy là ngày Tự tứ của mười phương Tăng chúng, nên vì cha mẹ 7 đời, cha mẹ hiện tại và những người đang ở trong vòng khổ nạn luân hồi mà sắm sửa đầy đủ cơm nước thức ăn và giường nằm đầy đủ để dâng chúng đại đức Tăng chúng khắp mười phương.  Vì giới pháp thanh tịnh đầy đủ nên đạo đức của Tăng chúng sâu rộng mênh mông.  Nếu có người dâng cúng Tăng chúng Tự tứ như vậy thì tất cả cha mẹ bà con quyến thuộc trong đời hiện tại đã quá vãng sẽ được siêu sinh trong 3 đường khổ liền được đầy đủ áo cơm.  Nếu cha mẹ lục thân quyến thuộc còn sống thì được hưởng phước lạc sống lâu trăm tuổi, còn cha mẹ già quá khứ 7 đời thì được sinh lên cõi Trời Tự Tại hóa sinh trong cõi Trời, hoa lệ chói sáng, hưởng vô lượng phước lạc.

Bấy giờ Đức Phật bảo Tăng chúng mười phương hoặc ở nơi Tăng chúng hoặc ở chùa tháp phải chú nguyện như vậy rồi sau mới thọ thực (ăn).

Khi ấy Tôn giả Mục Kiền Liên cùng với chư vị Đại sĩ Bồ tát đều rất hoan hỷ, tiếng than khóc bi thương của ngài Mục Kiền Liên cũng tan biến.  Thân mẫu của ngài cũng trong ngày ấy được thoát khổ trong loài Ngạ quỉ.

Khi ấy ngài Mục Kiền Liên lại bạch:

         Bạch Thế tôn!  Thân mẫu của con đã được si&eci