BIÊN KHẢO - THƠ - VĂN

Phan Thượng Hải

California_________________________

BBT: Qua GS Nguyễn Trung Quân, tác giả Phan Thượng Hải lần đầu tiên đến với Trang Nhà bằng bài biên khảo rất giá trị, nhằm gởi đến đọc giả đại chúng với cái nhìn tổng lượt của một người trẻ về 1 nhân vật văn hóa vĩ đại của nước nhà.

BS Phan Thượng Hải (CHS PTG 61-64) cùng với người em là LS Winston Phan Đào Nguyên là con của 1 công chức cao cấp của tòa án Cần Thơ, cũng là nhà thơ nổi tiếng của đất Cần Thơ thập niên 40, 50: Thi Sĩ LÃNG BA

Chúng tôi cám ơn tác giả và trân trọng giới thiệu cùng đọc giả Trang Nhà.

TBT _____________________________________________________________________________

 BỆNH COVID-19

                                     (Bs Phan Thượng Hải)

Bệnh Covid-19 bắt đầu từ 3-4 tháng nay từ thành phố Vũ Hán của Trung Quốc và lan truyền khắp địa cầu.  Tuy có nhiều điều chưa biết nhưng mong rằng bài viết nầy làm căn bản cho sự hiểu biết của quần chúng thông thường đặc biệt là người Mỹ gốc Việt (Vietnamese American).

 

Căn Bệnh 

 

Bệnh Covid-19 là bệnh nhiễm trùng từ 1 loại Virus sinh ra bệnh Viêm đường Hô hấp cho tới cuối đường Hô hấp là 2 lá Phổi.

Bệnh nhiễm trùng = Infectious Disease

Viêm đường Hô hấp = Inflammation of the Respiratory tract 

Viêm Phổi = Pneumonia

 

Nhiễm trùng Virus vì bị Lây từ người đã bị bệnh.

Triệu chứng (Symptoms) liên quan với thể Bệnh:

Nhiễm trùng ----> Nóng sốt (Fever)

Viêm đường Hô hấp, kể cả viêm Phổi ------> Ho (Cough), có Đờm hay không có Đờm (Sputum).

Viêm Phổi ------> Khó Thở (Dyspnea, Shortness of Breath)

Ngoài Nóng Sốt, cũng có những triệu chứng khác giống bệnh Flu (do "Flu" viruses): 

Mệt mõi (Fatigue) 

Nhức mình (Myalgia).

 

Viêm Phổi có thể xuất hiện ngay từ lúc đầu cho tới 6-7 ngày sau đó.  Triệu chứng chính của Viêm Phổi là Khó thở.

Viêm Phổi của Covid-19 thường là tổn thương (lesions) rải rác trong 2 lá Phổi (BronchoPneumonia) chứ không tụ ở vài chỗ (Lobar Pneumonia).  Định bệnh Viêm Phổi căn cứ trên Hình quang tuyến của Phổi (Chest X Ray = CxR) hay CT Scan.

                                 (Chest X Ray của 1 bệnh nhân từ nhẹ tới nặng) 

 

Người thường Dễ bị Lây trong 1 của 3 trường hợp:

Đã có tiếp xúc cá nhân với người có Bệnh hay người bị nghi là có Bệnh.

Đã ở những vùng hay quốc gia bị Dịch Bệnh.

Đã có ở những Events được biết có người đã bị Bệnh như concert, ball game... (Tiếp xúc trong Tập thể).

 

Định bệnh bằng Thử nghiệm chứng nhận có Virus trong đường Hô hấp ---> lấy Mẫu thử nghiệm (specimen) từ lỗ Mũi.

Test thuộc loại RT-PCR (Reverse Transcription - Polymerase Chain Reaction): nhận (identify) sự hiện hữu của Virus (không phải Test cho Antibody của Virus).

Tên của Virus gây bệnh Covid-19 là SAR-Cov-2.

 

Một lần Test PCR "dương tính" (positive) là đủ Định (Diagnosis) là người được thử có nhiễm Virus.

Phải 2 lần Test PCR "âm tính" (negative), trong khoảng cách 24 giờ hay hơn nữa, mới đủ chứng minh người bệnh (đã bị nhiễm Virus) hết còn nhiễm Virus trong thân mình nữa.


 

Trị Bệnh và Phòng Bệnh

 

Test Định Bệnh xảy ra ở Clinic hay chỗ Định bệnh, hay ER và Urgent care (hoặc trong Bệnh viện hay Nursing Home cho bệnh nhân đang nằm).  Test phải có Lệnh (order) của Bác sĩ.

 

Người nghi là bị Bệnh cần nên Test định Bệnh:

Có 1 trong 3 triệu chứng chính: Nóng Sốt, Ho và Khó thở

(+) Có 1 trong 3 trường hợp dễ bị Lây như kể trên.

 

Người nên gặp Bác sĩ ngay tức khắc (vì cần cả 2: định Bệnh và chữa), ở ER hay Urgent care hay ít nhất ở Clinic:

Có Khó thở (*).

 

Người Bệnh chỉ cần ở Nhà và Cách ly (Isolation - Quarantine) với những điều kiện (conditions):

Chỉ có Nóng sốt hay Ho hoặc cả 2. 

Có thể bị thêm Khó thở nhẹ nhưng phải tùy theo quyết định của Bác sĩ đã khám, tùy nặng nhẹ hay có Viêm Phổi hay không; và tùy nặng nhẹ của Khó thở. (*)

Thí dụ 1 bệnh nhân VIP ở Nhà là Thủ tướng Johnson của nước Anh.

Đây là lời mô tả của Ông:

"I do not feel well, have (high) Temperature and (a) consistent Cough.  So I got tested and (have) Positive. Now, I stay (at) Home."

 

Cách ly chấm dứt (thường từ hơn 1 tới 3 tuần) khi:

Hết Nóng sốt (không do Thuốc giảm Sốt) và hết Ho trong 72 giờ và đã bệnh hơn 7 ngày kể từ lúc bắt đầu có triệu chứng.  Có thể kể như là hết Bệnh, theo lâm sàng (clinically).

Có khi lúc đó cần phải có 2 Tests PCR "âm tính" (negative) trong khoảng cách hơn 24 giờ nhưng khó áp dụng trong thực tế cho bệnh nhân ở Nhà.  (Áp dụng cho bệnh nhân trong Bệnh viện thì không khó).


 

(*)

Khó thở (Shortness of Breath - Dyspnea):

là triệu chứng cần phải định bệnh nếu bệnh nhân có Viêm Phổi hay không bằng cách Chụp hình Phổi (CxR) hay dùng CT Scan và thường là sau đó phải nhập bệnh viện (hospitalization) nếu có Viêm Phổi (Pneumonia).

Như đã nói, Khó thở và Viêm Phổi có thể xuất hiện bất cứ lúc nào từ ngày đầu tới 1 tuần sau.  Do đó nếu trong khi Cách ly, người bệnh tự nhiên bắt đầu Khó thở hay Khó thở nặng hơn thì phải gặp Bác sĩ ngay (thường là tới Bệnh viện).

 

Bệnh nhân Khó thở, dù đã hay chưa định bệnh là Covid - 19, luôn cần được coi ở urgent care hay ER hay ít nhất là ở Clinic:

cần định sự hiện hữu (existence) cũng như định sự nặng nhẹ (severity) của Viêm Phổi bằng quang tuyến (CxR hay CT Scan)

cần coi Hypoxemia hay không bằng cách đo O2 Sat hay có khi ABG để đo sự nặng nhẹ (severity) của Khó thở.

Viêm Phổi và Khó thở (Shortness of Breath) là 2 yếu tố quyết định nhập viện.

 

Người mạnh khoẻ muốn tránh Lây bệnh phải biết Virus lây làm sao rồi áp dụng phương cách tránh Lây bệnh (Transmission).

 

Bệnh lây bằng truyền Respiratory Drooplets (giọt nước hay dịch của đường Hô hấp) từ đường Hô hấp của người Bệnh sang đường Hô hấp của người không bệnh.

- Truyền trực tiếp qua không gian: người bệnh thở ra hay ho ra Respiratory Dropplets rồi người không bệnh hít vào 

-----> phương cách tránh lây bệnh: Social distancing (cách 2 M hay 6 feet) và mang Mask.

- Truyền gián tiếp -----> phương cách tránh lây bệnh: Rửa tay cẩn thận sau khi nghi là có tiếp xúc hay rửa nhiều lần

Truyền gián tiếp: Respiratory Dropplets của người bệnh dính vào đồ vật rồi tay của người không bệnh chạm vào đồ vật nầy rồi tay rờ vào mũi, môi miệng hay mặt của mình rồi hít vào đường Hô hấp (của người không bệnh).  

Virus sống ngoài đường Hô hấp, trên đồ vật, khoảng 3 giờ nhưng hiện nay nghĩ là lâu hơn (tới 17 ngày như trên tàu cruise?).

 

Thời gian Ủ bệnh (Incubation period) = 2-14 ngày (trung bình = 4, 5 ngày).

 

Bệnh Covid-19 chưa có thuốc chữa chính thức.

Các thuốc đã thử (có khi dùng chung 2 thứ):

Chloroquine đã dùng trị Malaria (Sốt Rét)

HydroxyChloroquine (Plaquenil) đã thường dùng để trị những bệnh Viêm Khớp kinh niên (chronic Arthritis) như của Lupus, của Psoriasis hay Rhematoid Arthritis

Erythromycin và Zithromax đã thường được dùng chữa Viêm Đường Hô hấp cấp tính (acute) do Vi trùng (Bacteria).

Các thuốc đã thử nầy hình như chỉ có PO (uống) chớ không có Injection (chích).

FDA đã công nhận IV Plasma chứa Antibody: đúng với lý thuyết nhưng phải đợi kết quả của thực hành.

 

Vaccin cần phải thử trong khoảng trung bình 18 tháng trước khi dùng được.


 

Hiểu Biết Bệnh

 

Diễn tiến của Bệnh (Evolution)

Bệnh nhẹ ở Nhà: không có Viêm Phổi và không (thêm) Khó thở, chỉ có Nóng sốt và Ho ----> lành bệnh trong khoảng trên 2-3 tuần.

Bệnh nặng: Viêm Phổi trong bệnh viện và không thành critical (hình như lành bệnh trong 3-6 tuần).

Bệnh rất nặng (critical): cần Máy thở (Ventilator) và ICU

Nguyên nhân có thể là ARDS (Acute Respiratory Distress Syndrome).  

Ở trên ventilator càng lâu prognosis càng xấu.  Cho dù trên Ventilator vẫn chết vì Hypoxemia từ Respiratory failure.  

Có khi sinh ra thêm Shock hay MOF (Multi-Organ Failure).

 

Bệnh nhân High Risk (dễ bị bệnh, bệnh nặng hay critical): là bệnh nhân đã có mang những bệnh Kinh niên, kể cả những bệnh kinh niên thông thường như DM và HTN.

Đa số:

Bệnh Tim Mạch

Diabetes (Đái Đường)

Bệnh đường Hô hấp (kể cả Phổi)

Hypertension (HTN)

Khác: Bệnh nhân bị Ung thư đang chữa trị - Bệnh nhân yếu Miễn nhiễm (Immunocompromised).

Dĩ nhiên cũng High Risk cho Người Già và bệnh nhân ở Nursing Home.
 

Ở nước Mỹ,

- Không có Test người không có Triệu chứng (Asymptomatic person): có thể có người bị bệnh nhưng không biết hay không cần biết? (Not testing everybody is the US policy now).

- Trong số những Người có Triệu chứng (thường là giống như Flu hay Common Cold) và bị nghi ngờ (1 trong 3 trường hợp dễ bị lây) được Test:

10-15% có bệnh Covid-19 (test positive)

   Trong số những Người có bệnh (test positive):

10-20% nhập bệnh viện (hospitalization)

   Trong số những Bệnh nhân Covid-19 trong Bệnh viện:

1/4 - 1/3 trong ICU (mostly on Ventilator)

Tử vong của Covid-19 (Mortality) = 1.5% của tổng số người bệnh Covid-19.  Như vậy gần 1/3 bệnh nhân cần ICU (hay Máy thở = Ventilator) sẽ Chết?

 

Sự nguy hiểm của Virus bệnh Covid-19 (khác Flu):

1) Sức lây lan quá mạnh (strong Contagion - strong Contagiousness) ---> Sự lan truyền (transmission) quá rộng và quá nhanh trên toàn Thế giới.  Chỗ hẹp mà đông người dễ bị lây lan nhất (như New York, urban area).

2) Dễ gây Bệnh nặng và rất nặng cho những người có High Risk cũng như người Già.  Những người bị bệnh kinh niên thông thường cũng trong High Risk như Diabetes hay Hypertensin là điều đáng lo ngại.  

 

Bệnh Covid-19 hiện đang gây Hậu quả tai hại cho Sinh mạng, Kinh tế và Chính trị của toàn Thế giới.  

 

Bs PHAN THƯỢNG HẢI biên soạn

(3/27/2020)

  NHỮNG BÀI THƠ "SỐNG CHẾT" TRONG LỊCH SỬ

                                                                                   (Bs Phan Thượng Hải)

 

Hậu thế thường truyền tụng một bài thơ ái quốc của ông Phan Bội Châu:

 

SỐNG

Sống tủi làm chi đứng chật trời

Sống nhìn thế giới hổ chăng ai

Sống làm nô lệ cho người khiến

Sống chịu ngu si để chúng cười

Sống tưởng công danh không tưởng nước

Sống lo phú quí chẳng lo đời

Sống mà như thế đừng nên sống

Sống tủi làm chi đứng chật trời.

(Phan Bội Châu)

 

Tuy nhiên Tiền nhân ái quốc thường phải "Sống và Chết" trong cuộc đời đấu tranh cho chính nghĩa độc lập và tự do như các ông Đặng Văn Bá, Mai Xuân Thưởng và Nguyễn An Ninh.

 

 

Đặng Văn Bá

 

Gần đây có xuất hiện 2 bài thơ Sống Chết của bạn của ông Phan Bội Châu là ông Đặng Văn Bá (còn gọi là Đặng Văn Bách).

Ông Đặng Văn Bá (1873-1931) đậu Cử Nhân năm 1900 (cùng khóa với ông Phan Bội Châu).  Ông gia nhập phong trào Duy Tân với Phan Bội Châu và Ngô Đức Kế (1905) rồi bị đày Côn Đảo (1908-1916 hay 1921).  Được thả về ông sống ở Sài Gòn rồi ở Huế với ông Phan Bội Châu và sau cùng về sống ở quê nhà (Hà Tĩnh) đến khi qua đời.

Năm 1926 cái chết của ông Phan Châu Trinh gợi cảm hứng cho ông làm 2 bài thơ Sống Chết:

 

CHẾT

Chết mà vì nước, chết vì dân

Chết ấy làm trai hết nợ nần

Chết bởi Đông Chu thời thất quốc

Chết vì Tây Hán lúc tam phân

Chết như Hưng Đạo hồn thành thánh

Chết tựa Trưng Vương phách hóa thần

Chết cụ Tây Hồ hồn chẳng chết

Chết mà vì nước, chết vì dân.

(Đặng Văn Bá)

 

SỐNG

Sống dại mà chi sống chật đời

Sống xem Âu Mỹ hổ chăng ai ?

Sống làm nô lệ cho người khiến

Sống chịu ngu si để bạn cười

Sống tưởng công danh không tưởng nước

Sống lo phú quí chẳng lo đời

Sống mà như thế đừng nên sống

Sống dại sinh chi đứng chật đời.

(Đặng Văn Bá)

 

Bài thơ “Sống” của ông Phan Bội Châu cũng hơi giống như bài thơ "Sống"của ông Đặng Văn Bá?

 

SỐNG                                                            SỐNG

Sống tủi làm chi đứng chật trời                      Sống dại mà chi sống chật đời

Sống nhìn thế giới hổ chăng ai                       Sống xem Âu Mỹ hổ chăng ai ?

Sống làm nô lệ cho người khiến                     Sống làm nô lệ cho người khiến

Sống chịu ngu si để chúng cười                      Sống chịu ngu si để bạn cười

Sống tưởng công danh không tưởng nước      Sống tưởng công danh không tưởng nước

Sống lo phú quí chẳng lo đời                          Sống lo phú quí chẳng lo đời

Sống mà như thế đừng nên sống                     Sống mà như thế đừng nên sống

Sống tủi làm chi đứng chật trời.                      Sống dại sinh chi đứng chật đời.

(Phan Bội Châu)                                              (Đặng Văn Bá)

 

 

Mai Xuân Thưởng

 

Hai bài thơ "Sống Chết" của Đặng Văn Bá có lẽ chịu ảnh hưởng từ ông Mai Xuân Thưởng của phong trào Cần Vương.

 

Ông Mai Xuân Thưởng đi thi Cử Nhân ở trường Bình Định thì kinh thành Huế thất thủ (1885).  Nhiều sĩ tử bỏ thi nhưng ông vẫn tiếp tục thi và cùng 5 người khác được chấm đậu Cử Nhân.  Quan Chủ Khảo (khuyết danh) làm bài thơ khuyên những người thi đậu:

 

VÔ ĐỀ

Sơn hà phong cảnh dị tiền niên               Non sông rày đã khác xưa

Hoành giám du khan thử địa huyền        Gương nêu tài tuấn còn nêu chốn nầy

Hận mãn xương môn trần ám ngoại       Hận tràn cung khuyết bụi bay

Lệ linh văn viện bút đình biên                Tay cam dừng bút lệ đầy viện văn

Lịch truyền giáo dục ân như hải             Bao triều tắm gội biển ân

Bát giải thinh danh thẩm thự tiên           Phẩm tiên tám giải thêm phần thanh cao

Nhất dự y quan nan tự ủy                       Cân đai trót đã dự vào

Cương thường khán tử cố anh hiền        Cương thường noi dấu anh hào soi chung.

(Chủ khảo)                                              (? Dịch)

 

Tương truyền rằng đêm trước đó quan Chủ Khảo nằm mộng thấy 1 bà lão cho 1 cành mai trắng trổ bông nhụy vàng (tượng trưng là một quý nhân).  Sáng hôm sau ông đọc lại những bài thi thì thấy bài của ông Mai Xuân Thưởng là có chí khí nhứt và tên (Mai Xuân Thưởng) cũng hợp nên nghĩ rằng giấc mộng đó nói về ông nầy. Quan Chủ Khảo nói riêng cho ông Mai Xuân Thưởng biết (về giấc mộng) do đó ông quyết tâm chống Pháp cứu nước.

Ông theo Tổng đốc Bình Định là ông Đào Doãn Định khởi nghĩa Cần Vương ở Bình Định.  Sau khi TĐ Đào Doãn Định bị bệnh mất (1885), ông Mai Xuân Thưởng trở thành lãnh tụ của Cần Vương ở Bình Định.  

 

Ông có làm bài thơ dưới đây trong khi đánh nhau với Pháp:

 

CHẾT NÀO CÓ SỢ

Chết nào có sợ chết như chơi

Chết bởi vì dân chết bởi thời

Chết hiếu chi nài xương thịt nát

Chết trung bao quản cổ đầu rơi

Chết nhân tiếng để vang nghìn thủa

Chết nghĩa danh thơm vọng mấy đời

Thà chịu chết vinh hơn sống nhục

Chết nào có sợ chết như chơi.

(Mai Xuân Thưởng)

 

Và bài thơ dưới đây trước khi bị hành quyết cùng với ông Bùi Điền:

 

NỢ TRAI

Không tính làm chi chuyện mất còn

Nợ trai lo trả ấy là khôn

Gió đưa hồn nghĩa gươm ba thước

Đá tạc lòng trung quý mấy hòn

Tái ngắt mặt gian xương tợ giá

Đỏ loè bia sách máu là son

Rồi đây thoi ngọc đưa xuân tới

Một nhánh mai già nảy rậm non.

(Mai Xuân Thưởng)

 

 

Nguyễn An Ninh

 

Hai bài thơ "Sống Chết" của Đặng Văn Bá từ Phan Châu Trinh cũng ảnh hưởng tới hai bài thơ "Sống Chết" sau nầy của 1 người bạn đồng chí hướng với Phan Châu Trinh là Nguyễn An Ninh, làm ngay trước khi qua đời.

 

Ông Nguyễn An Ninh (1900-1943) là con của ông Nguyễn An Khương sanh ở Cần Giuộc, Long An.  Ông Nguyễn An Khương, một dịch giả truyện Tàu nổi danh, có lập khách sạn Chiêu Nam Lầu (1908) ở Chợ Cũ, Sài Gòn là nơi kinh tài và trú ngụ của những người thuộc phong trào Duy Tân chống Pháp của ông Phan Châu Trinh.  

Năm 1918 ông Nguyễn An Ninh sang Pháp, học Đại Học có 1 năm (thay vì 4 năm) là đậu Cử Nhân Luật.  Năm 1920, ông gia nhập nhóm các ông Phan Châu Trinh, Phan Văn Trường, Nguyễn Thế Truyền và Nguyễn Tất Thành hoạt động về báo chí chống chế độ thuộc địa đế quốc của Pháp.  

Ông Nguyễn An Ninh về nước năm 1922, diễn thuyết chống Pháp nhưng bị cấm nên trở lại Pháp năm 1923. Cùng năm đó ông trở về Sài Gòn nhờ tiền của ông Nguyễn An Khương mở tờ báo bằng tiếng Pháp tên là La cloche fêlée (Chuông Rè/The broken bell) để chống Pháp mà không bị kiểm duyệt nhưng vẫn bị mật thám Pháp làm khó dễ và đe dọa nhân viên và độc giả nên năm sau (1924) tờ báo phải đóng cửa.  Ông Nguyễn An Ninh lại sang Pháp dẫn ông Phan Châu Trinh về Sài Gòn.  Ông nhờ ông Phan Văn Trường (đã về nước) làm chủ và mở lại tờ La cloche fêlée vì ông Phan Văn Trường (1876-1933) là công dân Pháp.  Tuy nhiên sau đó ông Nguyễn An Ninh vẫn bị bỏ tù 10 tháng.  Từ năm 1928 đến 1931, ông Nguyễn An Ninh có sang Pháp một lần rồi lại về nước, bị tù và được thả ra.  Trong thời gian nầy ông có một chí sĩ mới là ông Phan Văn Hùm.

 

Từ năm 1933, hoàn toàn ở lại Nam Kỳ, ông Nguyễn An Ninh cộng tác với báo La Lutte (Tranh Đấu) của nhóm Đệ Tứ Quốc Tế là các ông Tạ Thu Thâu, Phan Văn Hùm và Trần Văn Thạch cũng như với báo Trung Lập của ông Nguyễn Văn Tạo thuộc Đệ Tam Quốc Tế.  Ông Nguyễn An Ninh là linh hồn đấu tranh chống Pháp bằng báo chí nên ông bị tù vài lần nữa từ năm 1936.  Năm 1939 ông bị tù lần thứ năm ở Côn Đảo và rồi chết ở đây vì kiệt sức năm 1943.  Khi đem xác đi chôn người ta tìm thấy trong túi áo của ông một miếng giấy ghi 2 bài thơ dưới đây:

 

SỐNG

Sống mà vô dụng sống làm chi

Sống chẳng lương tâm sống ích gì?

Sống trái đạo người, người thêm tủi

Sống quên ơn nước, nước càng khi

Sống tai như điếc, lòng đâm thẹn

Sống mắt dường đui, dạ thấy kỳ

Sống sao nên phải, cho nên sống

Sống để muôn đời sử tạc ghi.

(Nguyễn An Ninh)

 

CHẾT

Chết sao danh tiếng vẫn còn hoài

Chết đáng là người đủ mắt tai

Chết được dựng hình, tên chẳng mục

Chết đưa vào sử, chữ không phai

Chết đó, rõ ràng danh sống mãi

Chết đây, chỉ chết cái hình hài

Chết vì Tổ Quốc người khen ngợi

Chết cho hậu thế đẹp tương lai.

(Nguyễn An Ninh)

 

 

Hậu thế ngày nay không cảm thông được Nghĩa Tử của người xưa nên thường chỉ biết bài thơ "Sống" của ông Phan Bội Châu.  Tiền nhân ngày xưa cũng có người chỉ có bài thơ "Chết" như của các ông Trần Cao Vân, Thủ Khoa Huân và Phan Thanh Giản.

 

 

Trần Cao Vân

 

Năm 1916, vua Duy Tân (1900-1945) mưu đảo chánh Pháp ở Huế và vùng phụ cận với hai ông Trần Cao Vân (1868-1916) và Thái Phiên (1882-1916) của Việt Nam Quang Phục Hội nhưng việc bị lộ và thất bại.  Ông Thái Phiên và Trần Cao Vân bị xử chém và Vua Duy Tân bị đày ra đảo Réunion với cha là vua Thành Thái.  Trước khi ra pháp trường, ông Trần Cao Vân có bài thơ:

 

CHẾT CHÉM

Đứa nào muốn chết chết như chơi

Chết vị non sông chết vị trời

Chết thảo bao nài xương thịt nát

Chết ngay há ngại cổ đầu rơi

Chết trung tiếng để ngoài muôn dặm

Chết nghĩa danh lưu đến vạn đời

Chết được như vầy là hả lắm

Ta không sợ chết hỡi ai ơi.

(Trần Cao Vân)

 

 

Thủ Khoa Huân

 

Ông Nguyễn Hữu Huân (1816-1875), người ở Chợ Gạo, Định Tường đi thi Cử Nhân đậu Thủ Khoa (còn gọi là Giải Nguyên) năm 1852.  Tuy là văn quan, ông đã khởi nghĩa Cần Vương chống Pháp ở Định Tường (1861-1875).  Dù bị bắt lưu đày rồi được tha nhiều lần cũng nhưđược Tổng Đốc Đỗ Hữu Phương giúp đỡ và dụ hàng nhưng ông Thủ Khoa Huân không bao giờ đầu hàng.  

 

KHI BỊ LƯU ĐÀY

Muôn việc cho hay ở số trời

Cái thân chìm nổi biết là nơi

Mấy hồi tên đạn ra tay thử

Ngàn dặm non sông dạo bước chơi

Chén rượu Tân đình nào luận tiệc

Câu thơ Cố quốc chẳng ra lời

Cang thường bởi biết mang tên nặng

Hễ đứng làm trai chác nợ đời.

(Thủ Khoa Huân)

 

KHI ĐƯỢC THA VỀ

Tòng cúc tuy mừng hãy đặng còn

Râu mày thêm thẹn với sông non

Miếu đường cách trở bề tôi chúa

Gia thất riêng mang nỗi vợ con

Áo Hán nhiều phần thay vẻ lạ

Rượu Hồ một mặt đắm mùi ngon

Giang Đông mang tiếng đa tài tuấn (*)

Cuốn đất kìa ai dám hỏi đon.

(Thủ Khoa Huân)

 

(*) Chú thích: 

            Hạng Võ khi thua Lưu Bang thì được người Đình trưởng khuyên qua sông Trường giang sang Giang Đông sẽ có nhiều người theo giúp để đánh lại.  

 

Lần cuối cùng (1875) sau khi bị bắt ngồi tù trước khi bị đem ra pháp trường hành quyết, ông Thủ Khoa Huân có làm bài thơ dưới đây:

 

MANG GÔNG

Hai bên thiên hạ thấy hay không

Một gánh cang thường há phải gông

Oằn oại đôi vai quân tử trúc (*)

Long lay một cổ trượng phu tòng (*)

Thác về đất Bắc danh còn rạng

Sống ở thành Nam tiếng bỏ không

Thắng bại dinh hư trời khiến chịu (*)

Phản thần, “đụ hỏa” đứa cười ông 

(Thủ Khoa Huân)

 

(*) Chú thích: 

            Từ câu "Trúc xưng quân tử, Tòng hiệu trượng phu".  Dinh hư=đầy vơi.

 

 

Phan Thanh Giản

 

Tháng 6, 1867, Thiếu tướng De La Grandière hội 1000 quân Pháp ở Mỹ Tho định tấn công Vĩnh Long.  Ngày 20-6-1867, De La Grandière đánh Vĩnh Long.  Biết thế chống không nỗi và để cứu sinh linh, ông Phan Thanh Giản đầu hàng ở Vĩnh Long và ra lệnh cho Tuần phủ Hà Tiên và An Giang đầu hàng. Pháp chiếm 3 tỉnh Tây Nam Kỳ trong 4 ngày (từ 20 tới 24-6-1867).  Từ đó đất Nam Kỳ Lục Tỉnh thành ra đất thuộc địa của Pháp; thuế má, luật lệ, điều gì cũng do soái phủ ở Sài Gòn quyết định cả. 

Ông Phan Thanh Giản gởi trả áo mão cho triều đình.  Sau nửa tháng không thấy triều đình trả lời, ông phiền muộn lo lắng, nhịn đói và uống thuốc phiện với giấm thanh hằng ngày để tự tử.  Cuối cùng ông chết ngày 4-8-1867, thọ 72 tuổi.  Trong thời gian gần nửa tháng nầy, ông Phan Thanh Giản có làm bài thơ:

 

TUYỆT CỐC (*)

Trời thời đất lợi lại người hòa

Há dễ ngồi coi phải nói ra

Lăm trả ơn vua đền nợ nước

Đành cam gánh nặng ruổi đường xa

Lên ghềnh xuống thác thương con trẻ

Vượt biển trèo non cám phận già

Những tưởng một lời an bốn cõi

Nào hay ba tỉnh lại chầu ba. (*)

(Phan Thanh Giản)

 

(*) Chú thích:

            Tuyệt cốc = Nhịn (ăn)cơm

            Đã không lấy lại được 3 tỉnh Biên Hòa, Gia Định và Định Tường mà còn mất thêm 3 tỉnh Vĩnh Long, An Giang và Hà Tiên.

 

 

Bs PHAN THƯỢNG HẢI biên soạn

                                                    PHAN BỘI CHÂU

                                                                    Bs Phan Thượng Hải

 

Thơ và Sử đã mô tả cuộc đời của ông Phan Bội Châu từ khi sáng lập phong trào Đông Du ở Nhật Bản, hoạt động cách mạng ở bên Tàu cho đến khi bị bắt giải về Việt Nam và bị quản thúc ở Huế.  Cách mạng bên Tàu cũng có người Nam Kỳ hưởng ứng như các ông Nguyễn Quang Diêu và Nguyễn Thần Hiến.


 

Phong Trào Đông Du 

 

*

Đông Du ở Nhật Bản

 

Năm 1905, ông Phan Bội Châu và ông Đặng Tử Kính sang Nhật nhờ giúp đỡ và lập phong trào Đông Du.  Nhờ ông Tăng Bạt Hổ, hai ông lén đem Kỳ Ngoại Hầu Cường Để và thanh niên sang Nhật học quân sự và khoa học.

 

Ông Tăng Bạt Hổ (1858-1906) khi 14 tuổi theo Lưu Vĩnh Phúc đánh Pháp ở Bắc Kỳ.  Sau đó ông theo ông Mai Xuân Thưởng hưởng ứng hịch Cần Vương của vua Hàm Nghi, khởi nghĩa ở Bình Định.  Sau khi cuộc khởi nghĩa thất bại, ông Tăng Bạt Hổ trốn sang Lào, Xiêm, Trung Hoa rồi cuối cùng ở Nhật Bản.  Ông phục vụ trong quân đội Nhật thắng quân Nga ở Lữ Thuận và Đại Liên. Nhờ có công, được Minh Trị Thiên Hoàng biết đến, nên ông liên lạc và xin với các chính khách Nhật như Khuyển Dưỡng Nghị (?) và Đại Ôi Trọng Tín (Shigenobu) chấp nhận du học sinh Việt Nam.  Trong một chuyến đưa rước các học sinh ông mất trên 1 chiếc thuyền ở sông Hương (1906). Năm 1956, ông được cải táng cạnh mộ ông Phan Bội Châu ở Huế.                

 

Ông Tú Xương có bài thơ tả đúng như dự định của ông Phan Bội Châu:

 

GỬI ÔNG PHAN THỦ KHOA

Mấy năm vượt bể lại trèo non

Em hỏi thăm qua bác hãy còn

Mái tóc Giáp Thìn đà nhuộm tuyết (*)

Điểm đầu Canh Tý chửa phai son (*)

Vá trời gặp hội, mây năm vẻ (*)

Lấp bể ra công, đất một hòn

Có phải như ai mà chẳng chết?

Giương tay chống vững cột càn khôn.

(Tú Tài Trần Tế Xương)

 

(*) Chú thích:

Năm Giáp Thìn (1905), ông Phan Bội Châu xuất dương

Năm Canh Tý (1900), ông Phan Bội Châu đậu Thủ Khoa ở kỳ thi Hương Nghệ An.

Ý muốn lập ông Cường Để làm vua.


 

Đây là chí khí của ông Phan Bội Châu khi rời cảng Hải Phòng đi Nhật:

 

XUẤT DƯƠNG LƯU BIỆT 1905

Sinh vi nam tử yếu vi kỳ                           Làm trai phải lạ ở trên đời

Khẳng hứa càn khôn tự chuyển di            Há để càn khôn tự chuyển dời

Ư bách niên trung tu hữu ngã                   Trong khoảng trăm năm cần có tớ

Khởi thiên tải hậu cánh vô thùy                Sau này muôn thuở há không ai?

Giang sơn tử hĩ sinh đồ nhuế                    Non sông đã mất, sống thêm nhục

Hiền thánh liêu nhiên tụng diệc si            Hiền thánh còn đâu, học cũng hoài

Nguyện trục triền phong Đông Hải khứ   Muốn vượt bể Đông theo cánh gió

Thiên trùng bạch lãng nhất tề phi.            Muôn trùng sóng bạc tiễn ra khơi.

(Phan Bội Châu)                                       (Tô Quang Phiệt dịch)

                                          (Kỳ Ngoại Hầu Cường Để)

 

Tháng 9 năm 1908, Pháp ký hiệp ước với Nhật.  Thế là tất cả nhà cách mạng và học sinh Việt Nam đều bị Nhật trục xuất: hoặc về nước hoặc trốn sang Tàu.  Ông Phan Bội Châu, ông Đặng Tử Kính và Kỳ Ngoại Hầu lưu lạc tận Xiêm La (Thái Lan bây giờ).  

 

*

Việt Nam Quang Phục Hội

 

Năm 1912, sau cách mạng Tân Hợi, các ông về lại Tàu, cùng với ông Nguyễn Thượng Hiền (rể ông Tôn Thất Thuyết) lập Việt Nam Quang Phục Hội và Quang Phục Quân với những hoạt động như quấy nhiễu biên giới (tấn công đồn Tà Lùng) và sai người về nước ám sát những quan Việt Nam theo Pháp.  

 

Năm 1914, Tàu hết ủng hộ, ông Phan Bội Châu vô tù ra khám.  Năm 1915, ông Kỳ Ngoại Hầu Cường Để (1882-1951) sang sống bên Nhật, lấy vợ Nhật (là con gái nuôi của Thiên Hoàng) nhưng vẫn hoạt động cách mạng ở Tàu.


 

Đây là 2 bài thơ tù của 2 ông Phan Bội Châu và Phan Châu Trinh cùng bị giam trong Đệ Nhất Thế Chiến: 

 

CẢM TÁC VÀO NHÀ NGỤC                    TRONG NGỤC QUỐC SỰ PHẠM 

QUẢNG ĐÔNG                                           LA SANTÉ

Vẫn là hào kiệt vẫn phong lưu                     Từ ấy giam luôn mấy tháng tròn

Chạy mỏi chân thì hẵng vào tù                     Nhờ trời ngủ kỹ lại ăn ngon

Đã khách không nhà trong bốn bể                Ngày ba lần xực coi còn đói

Lại người có tội giữa năm châu                    Đến chín giờ chơi ngáy vẫn giòn

Dang tay ôm chặt bồ kinh tế                         Mỗi bữa nửa giờ ra hóng mát

Mở miệng cười tan cuộc oán thù                  Mỗi tuần hai bận xuống thăm con

Thân ấy hãy còn còn sự nghiệp                    Vui buồn mình biết lòng mình vậy

Bao nhiêu nguy hiểm sợ gì đâu.                   Miễn trả cho rồi nợ nước non.

(Phan Bội Châu)                                           (Phan Châu Trinh)

 

*

Cách Mạng ở Việt Nam

 

Tiếng tăm của Việt Nam Quang Phục Hội được biết trong nước qua cuộc chính biến của vua Duy Tân và khởi nghĩa Thái Nguyên.

Các ông Thái Phiên và Trần Cao Vân sau khi đi tù Côn Đảo với ông Phan Châu Trinh (1908-1911) về, có mưu với vua Duy Tân đảo chánh Pháp (1916) dưới danh nghĩa của Việt Nam Quang Phục Hội nhưng thất bại. 

Khởi nghĩa Thái Nguyên do Đội Cấn (Trịnh Văn Cấn) cùng 175 lính khố xanh giải thoát ông Lương Ngọc Quyến của Việt Nam Quang Phục Hội và 203 tù nhân chiếm Thái Nguyên xưng là Đại Hùng Đế Quốc ngày 30-8-1917.  Năm ngày sau (5-9-1917), Pháp chiếm lại Thái Nguyên. Ông Lương Ngọc Quyến tử thương. Ông Trịnh Văn Cấn (1881-1917) rút về Tam Đảo rồi Vĩnh Yên và cuối cùng tự tử bằng súng ngày 11-1-1918.  

 

Ông Lương Ngọc Quyến (1885-1917) là con thứ của ông Lương Văn Can (Hiệu trưởng trường Đông Kinh Nghĩa Thục).  Ông vượt biển theo chương trình Đông Du của ông Phan Bội Châu, học và tốt nghiệp trường võ bị Chấn Vũ của Nhật (1905-1908).  Sau khi bị Nhật trục xuất ông sang Trung Hoa làm sĩ quan trong quân đội Trung Hoa Dân Quốc (chức Thiếu tá?). Năm 1912 ông Lương Ngọc Quyến gia nhập Việt Nam Quang Phục Hội và về nước hoạt động ở Nam Kỳ.  Ông bị Pháp bắt và giam ở Hà Nội rồi Thái Nguyên. Tại ngục Thái Nguyên theo lời chiêu dụ của ông nên ông Trịnh Văn Cấn mới khởi nghĩa chống Pháp.

Người bạn từng sống với ông ở Nam Kỳ là ông Dương Bá Trạc có bài thơ thương tiếc:

 

LƯƠNG NGỌC QUYẾN

Đoạn tuyệt gia đình với núi sông

Phất cờ Đông học trẩy tiên phong

Lục quân Nhật Bản tinh thao luyện

Chiến địa Trung Hoa thỏa vẫy vùng

Bắc Hải vẫn ghi lời thoại biệt

Long Xuyên bao xiết chuyến trùng phùng

Thái Nguyên độc lập năm ngày trọn

Cho biết tay đây cọp sổ lồng.

(Dương Bá Trạc)

 

*

Cách Mạng ở bên Tàu

 

Cách mạng ở bên Tàu thầm lặng cho đến năm 1924 mới nổi trở lại nhờ “Tiếng bom sa điện” của liệt sĩ Phạm Hồng Thái của Tâm Tâm Xã.  Ngày 21-6-1924, ông Phạm Hồng Thái ném bom để ám sát Toàn Quyền Đông Dương là Merlin ở tô giới Sa Diện (Samien, có khi viết sai là Sa Điện) của Pháp ở Quảng Châu nhưng việc không thành.  Ông nhảy xuống sông Tây Giang (Châu Giang) tự tử. Nhà cầm quyền Trung Hoa đem xác chôn ở Hoàng Hoa Cương.  

Về sau có hậu sinh tới viếng mộ và làm thơ:

 

VIẾNG MỘ LIỆT SĨ PHẠM HỒNG THÁI (Nguyên Bản)

Một tiếng bom tung tiếng dậy hùng

Vì nòi giống Việt diệt thù chung

Thực Dân vạn kiếp kinh hồn vía

Hào Khí Trường Tồn với núi sông (*)

Liệt sĩ treo cao gương ái quốc

Hậu sinh quyết nối gót cha ông

Khấu đầu trước mộ thành tâm khấn

“Xin Phạm tiền nhân chứng giám lòng”.

(Nguyễn Đạt Tôn) 

6/2/99

 

(*) Chú thích: Trước cổng Hoàng Hoa Cương có đề 4 chữ: “Hào Khí Trường Tồn”.

 

VIẾNG MỘ LIỆT SĨ PHẠM HỒNG THÁI (Họa)

Việt Nam Hồng Thái đấng anh hùng

Vì nước hy sinh rửa hận chung

Mưu giết Thực Dân liều tính mạng

Chôn vùi Hào Khí mượn giòng sông 

Dư âm Lưỡng Quảng bom “sa điện”

Thăm viếng Hoàng Hoa lễ mộ ông

Nghĩa cả nêu cao nơi đất khách

Ngàn sau ghi nhớ khắp muôn lòng.

(Phan Thượng Hải)

6/2/99

 

Tâm Tâm Xã thành lập năm 1923 từ những người trẻ trong Việt Nam Quang Phục Hội như Lê Hồng Phong, Phạm Hồng Thái, Lê Hồng Sơn, Hồ Tùng Mậu…

Năm 1925, Nguyễn Ái Quốc (lúc đó còn có tên là Lý Thụy, vừa từ Liên Xô sang) lập Việt Nam Thanh Niên Cách Mạng Đồng Chí Hội ở Quảng Châu từ Tâm Tâm Xã.  

Cùng năm đó (1925), ông Phan Bội Châu bị Pháp bắt cóc ở Thượng Hải và giải về Việt Nam.  Ông Đặng Tử Kính (1875-1928) sang sống ở Xiêm và mất ở đây. Ông Nguyễn Thượng Hiền đi tu, Việt Nam Quang Phục Hội gần như ngưng hoạt động.  Nguyễn Ái Quốc giữ Việt Nam Thanh Niên Cách Mạng Đồng Chí Hội sau nầy thành Đông Dương Cộng Sản Đảng (1930). 

Sự kiện ông Phan Bội Châu bị Pháp bắt vẫn còn là một nghi vấn trong lịch sử. 


 

Phan Bội Châu tại Huế

 

*

Thực Dân Pháp bí mật giải ông Phan Bội Châu bằng tàu về nước.  Trên tàu, ông làm bài “Tuyệt Mệnh Thi” bỏ vào 1 cái chai liệng xuống biển.  Người đánh cá lượm được nên toàn quốc mới biết tin và biểu tình phản đối.  

 

TUYỆT MỆNH THI

 

Nhất lạc nhân hoàn lục thập niên                Sáu chục năm nay ở cõi đời

Hảo phùng kim nhật liễu trần duyên           Trần duyên giờ hẳn rũ xong rồi

Bình sinh kỳ khí vi hà tử                             Bình sinh chí lớn là đâu tá

Nguyệt tại ba tâm vân tự thiên                    Trăng rọi lòng sông mây ngất trời

 

Sinh bất năng trừ thiên hạ loạn                   Sống đã kông xong trừ giặc nước

Na kham tử lụy hậu lai nhân                       Chết đi há lụy đến người sau

Hảo tòng hổ khẩu hoàn dư nguyện             Phen nầy miệng cọp âu đành dạ

Khẳng nhượng Di Tề nhất cá nhân             So với Di Tề có kém đâu.

 

Thống khốc gian san dữ quốc dân              Thương khóc non sông với quốc dân

Ngu trung vô kế cực trầm luân                   Tài hèn không vớt được trầm luân

Thử tâm vị liễu thân tiên liễu                      Lòng nầy chưa hả thân đà chết

Tu hướng tuyền đài diện cố nhân.              Chín suối thẹn thùng gặp cố nhân.

 

(Phan Bội Châu)                                         (Vô Danh dịch)

 

*

Vì toàn dân trong nước biểu tình phản đối nên Pháp không dám kết án ông.  Ông Phan Bội Châu bị quản thúc (tại gia) ở Huế từ năm 1925 cho đến khi qua đời năm 1940 trong thầm lặng.  Ông sống lẽ loi một mình kể cả vợ con cũng không được thăm hỏi. Thỉnh thoảng ông làm thơ đăng lén trên báo Tiếng Dân ở Huế của ông Huỳnh Thúc Kháng.

 

Đây là một bài thơ tiêu biểu:

 

THƠ TẶNG CÔ GÁNH NƯỚC

Vì nỗi thương người phải nhục mình

Hai vai một gánh nặng đôi bình

Sóng vơi giếng cạn lòng đầy mãi

Nắng dãi mưa dầm gót chạy lanh

Rưới cỏ thêm màu cho đất trắng

Làm mưa chia sức với trời xanh

Nhà nhà có nước là vui vẻ

Chẳng quản công trình, chẳng kể danh.

(Phan Bội Châu) 1929

 

Thật ra sau đó ông Phan Bội Châu có làm 2 bài thơ “Con Gánh Nước”. 

 

THAN VỚI CON GÁNH NƯỚC              CON GÁNH NƯỚC TRẢ LỜI

Đầu mun mặt trú có ra gì?                         Tớ thấy ông than tớ nực cười

Mà gánh đòi vai trót tháng ngày                Trao cho riêng nặng ấy là ai

Khổ nỗi chết mầy thời chết nước               Khô khan chúng cũng khô khan cả

Nặng lòng thương nước phải thương mầy Gánh vác mình sao gánh vác hoài?

Nếu không ai khát đành ngồi nể                Thăm hết mấy sông cùng mấy giếng

Vì có người trông phải dậy đi                    May còn hai cẳng với hai vai

Trách lão Trời già sao lắm việc                 Nếu ông lòng có thương tôi thật

Sinh người sinh nước ấy mà chi.               Chắc đã mây mưa rày hoặc mai?

(Phan Bội Châu)                                        (Phan Bội Châu)

 

Ông Phan Bội Châu và ông Phan Châu Trinh là 2 nhà cách mạng chân chính chỉ vì dân vì nước, không theo những chủ nghĩa được dùng sau nầy: Quốc Dân, Cộng Sản, Xã Hội, Đế Quốc, Quốc Gia…

                                    Phan Bội Châu

*

Hậu thế thường truyền tụng một bài thơ ái quốc của ông Phan Bội Châu:

 

SỐNG

Sống tủi làm chi đứng chật trời

Sống nhìn thế giới hổ chăng ai

Sống làm nô lệ cho người khiến

Sống chịu ngu si để chúng cười

Sống tưởng công danh không tưởng nước

Sống lo phú quí chẳng lo đời

Sống mà như thế đừng nên sống

Sống tủi làm chi đứng chật trời.

(Phan Bội Châu)

 

Gần đây lại có xuất hiện 2 bài thơ của bạn của ông Phan Bội Châu là ông Đặng Văn Bá (còn gọi là Đặng Văn Bách).

Ông Đặng Văn Bá (1873-1931) đậu Cử Nhân năm 1900 (cùng khóa với ông Phan Bội Châu).  Ông gia nhập phong trào Duy Tân (1905) rồi bị đày Côn Đảo (1908-1916 hay 1921). Được thả về ông sống ở Sài Gòn rồi ở Huế với ông Phan Bội Châu và sau cùng về sống ở quê nhà (Hà Tĩnh) đến khi qua đời.

 

Năm 1926 cái chết của ông Phan Châu Trinh (Tây Hồ) gợi cảm hứng cho ông Đặng Văn Bá làm 2 bài thơ dưới đây:

 

CHẾT

Chết mà vì nước, chết vì dân

Chết ấy làm trai hết nợ nần

Chết bởi Đông Chu thời thất quốc

Chết vì Tây Hán lúc tam phân

Chết như Hưng Đạo hồn thành thánh

Chết tựa Trưng Vương phách hóa thần

Chết cụ Tây Hồ hồn chẳng chết

Chết mà vì nước, chết vì dân.

(Đặng Văn Bá)

 

SỐNG

Sống dại mà chi sống chật đời

Sống xem Âu Mỹ hổ chăng ai?

Sống làm nô lệ cho người khiến

Sống chịu ngu si để bạn cười

Sống tưởng công danh không tưởng nước

Sống lo phú quí chẳng lo đời

Sống mà như thế đừng nên sống

Sống dại sinh chi đứng chật đời.

(Đặng Văn Bá)

 

Bài thơ “Sống” cũng hơi giống như của ông Phan Bội Châu?

 

SỐNG                                                             SỐNG

Sống tủi làm chi đứng chật trời                      Sống dại mà chi sống chật đời

Sống nhìn thế giới hổ chăng ai                       Sống xem Âu Mỹ hổ chăng ai?

Sống làm nô lệ cho người khiến                     Sống làm nô lệ cho người khiến

Sống chịu ngu si để chúng cười                      Sống chịu ngu si để bạn cười

Sống tưởng công danh không tưởng nước      Sống tưởng công danh không tưởng nước

Sống lo phú quí chẳng lo đời                          Sống lo phú quí chẳng lo đời

Sống mà như thế đừng nên sống                     Sống mà như thế đừng nên sống

Sống tủi làm chi đứng chật trời.                      Sống dại sinh chi đứng chật đời.

(Phan Bội Châu)                                              (Đặng Văn Bá)


 

Nguyễn Quang Diêu

 

*

Phong trào Đông Du của ông Phan Bội Châu rất được người Nam Kỳ hưởng ứng vì năm 1904, ông Phan Bội Châu có đến Nam Kỳ vận động trước khi xuất dương sang Nhật.  

 

Ông Nguyễn Thần Hiến (1857-1914) là người Hà Tiên nhưng sống ở Cần Thơ.  Ông đem hết tài sản trong nhà ra ủng hộ (20,000 đồng lúc đó vào khoảng mất trăm cây vàng bây giờ) lập “Quỹ Khuyến Du Học Hội".  Bị Pháp tìm bắt, ông phải trốn sang Xiêm (1908) rồi đến năm 1910 sang Tàu gia nhập VN Quang Phục Hội làm Trưởng Chi bộ Nam Kỳ. Ông Nguyễn Thần Hiến bị bắt ở Hương Cảng (1913) giải về Hà Nội (1914) sắp phải đày đi French Guiana (Nam Mỹ) nhưng ông tuyệt thực và chết trong tù Hỏa Lò ở Hà Nội (1914).  

Bạn tù là ông Nguyễn Quang Diêu có bài thơ tiếc:

 

NGUYỄN THẦN HIẾN

Bấy lâu bay bổng cánh chim hồng

Lạc lối giờ ra phải máy cung

Chín suối có thiêng hồn tổ quốc

Trăm năm còn tạc gánh tang bồng

Đổi dời nghĩ gớm câu dâu bể

Thổ lộ cùng ai chuyện núi sông

Thôi để làm gương cho sắp bé

Ngàn năm trong nước dấu anh hùng.

(Nguyễn Quang Diêu)

 

*

Ông Nguyễn Quang Diêu (1880-1936) là người Cao Lãnh.  Năm 1913, ông cùng một số người Nam Kỳ sang Hương Cảng để gia nhập cách mạng theo ông Phan Bội Châu và ông Nguyễn Thần Hiến nhưng chẳng may bị Pháp bắt cùng lúc với ông Nguyễn Thần Hiến ở Hương Cảng và giải về Hà Nội.  

 

Sau đó ông Nguyễn Quang Diêu bị đày đi French Guiana (1914).  Bị giải lên tàu ở Hà Nội, ông và các bạn tù Việt Nam qua Ấn Độ Dương, kênh Suez và Địa Trung Hải tới Marseille.  Sau 1 thời gian ngắn bị tạm giam ở Marseille, ông Nguyễn Quang Diêu và các bạn lại bị giải lên tàu xuyên qua Đại Tây Dương tới French Guiana (1914). 

Năm 1917, ông Nguyễn Quang Diêu cùng 2 bạn là ông Đinh Hữu Thuật và ông Lý Liễu vượt ngục trốn sang Trinidad (Trung Mỹ).  Papillon Henri Charrière phải mất 11 năm mới trốn khỏi French Guiana (1941) trong khi đó ông Nguyễn Quang Diêu chỉ cần 3 năm.

Sau 3 năm sống ở Trinidad, vào năm 1920, ông Nguyễn Quang Diêu lên Washington DC đi tàu của lái buôn Trung Quốc vượt biển tới Hương Cảng (Hongkong).  Chuyến đi nầy qua kênh đào Panama và Thái Bình Dương.  

Từ khi bị bắt ở Hương Cảng (1913) cho tới khi trở lại Hương Cảng (1920) ông Nguyễn Quang Diêu đã đi vòng quanh thế giới, và chắc chắn là người Việt đầu tiên hoàn thành công trình nầy.  Jules Verne tả chuyện đi vòng quanh thế giới trong 80 ngày nhưng ông Nguyễn Quang Diêu đi mất 8 năm và đi ngược đường với câu chuyện của Jules Verne. 

 

Từ Hương Cảng (1920), ông Nguyễn Quang Diêu tới Quảng Châu tìm ông Phan Bội Châu và Kỳ Ngoại hầu Cường Để nhưng chỉ gặp được ông Nguyễn Hải Thần.  Do đó, ông tới sống ở Tứ Xuyên. Năm 1926, ông Nguyễn Quang Diêu trốn về Nam Kỳ, đổi tên là Trần Văn Vẹn, tiếp tục đi khắp nơi bí mật hoạt động chống Pháp cho đến khi mất vì bệnh ở Tân An (1936).  

                                      Nguyễn Quang Diêu

*

Cuộc đời hy sinh vì cách mạng của ông Nguyễn Quang Diêu là một thiên hùng ca.  Ông lại là một thi sĩ đại tài đã để lại những bài thơ tuyệt tác.

 

Tinh thần ái quốc trước khi sang Trung Quốc:

 

TỰ THUẬT

Nghĩ mình mang lấy tiếng nam nhi

Cái nợ cung dâu gánh nặng trì

Tuổi tác đã vừa ba chục chẵn

Công danh chưa có ít nhiều chi!

Rừng cao yến đổ yên nhờ chỗ

Gió thuận hồng mong gặp gỡ khi

Xem khắp thế tình rồi nghĩ nghị

Muốn noi Thánh trước cỡi bè đi. (*)

(Nguyễn Quang Diêu) 1910

 

(*) Chú thích: 

Tương truyền Tổ Thiền Tông là Bồ Đề Đạt Ma cỡi bè đi đường biển từ Ấn Độ tới Trung Quốc.  (Chuyện nầy được truyền bá ở Nam Kỳ trong thời Pháp Thuộc).

 

Khi xuất dương đi Trung Quốc theo cách mạng không kịp giã từ vợ, ông viết bài thơ nhờ bạn chuyển cho vợ:

 

GIÃ VỢ ĐI LÀM CÁCH MẠNG

Sông cũng khi khô, đá cũng mòn

Cùng ai tạc một tấm lòng son

Trăm năm ngồi đứng trong trời đất

Một kiếp thề ghi với nước non

Hương hỏa trước mong duyên mãi mãi (*)

Tang bồng nay há nợ con con (*)

Ai ơi ! hãy nếm mùi ly biệt

Có nếm rồi ra mới biết ngon!

(Nguyễn Quang Diêu) 1913

 

(*) Chú thích

Hương hỏa: do câu "Tam sinh hương hỏa", dùng để chỉ việc nhơn duyên có con cháu nối dõi.  Sách Quỳnh Ngọc Chú chép: có người con trai tên là Tỉnh Lang chiêm bao thấy đi chơi non Bồng, gặp một nhà sư tụng niệm, trước mặt có hương thắp khói bay (Hương hỏa) nên hỏi; nhà sư trả lời "khi cắm hương khấn nguyện, hương còn cháy mà đã sinh ra 3 kiếp người rồi (Tam sinh).

Tang bồng: (Cái cung bằng) cây dâu, (cái tên bằng) cỏ bồng.  Nói đủ câu là "Tang bồng hồ thỉ". Tục lệ người Tàu xưa khi sanh con trai thì dùng cung bằng cây dâu và tên bằng cỏ bồng mà bắn ra 4 phương và trên trời dưới đất để cầu cho đứa bé lớn lên được thỏa chí khí dọc ngang khắp sông hồ.   


 

Những bài thơ lúc bị tù đày:

 

TẾT TÂY TRONG ĐỀ LAO

Vừa khỏi Du dê đến Tết Tây (*)

Gớm ghê máy tạo lẹ làng xây

Nom ra thành phố cây cờ phất

Ngảnh lại non sông nước mắt đầy

Vui sướng thiếu gì ai nấy đó

Đắng cay chỉ có lũ mình đây!

Rau xanh vài dĩa cơm vài bát

Cũng gọi là vui cái tiệc nầy.

(Nguyễn Quang Diêu) 1914

 

(*) Chú thích:

Tết Tây đầu năm 1914 ở nhà ngục Hỏa lò, Hà Nội.  Du dê = (tháng) Juillet, ý nói ngày lễ Độc lập của Pháp (14 Juillet)


 

BỊ GIAM Ở MARSEILLE CẢM TÁC

Chẳng biết rằng mình có tội chi

Tội chi nào có, có nao gì!

Phép thần công lý đành không hiệu

Luật nước văn minh gẫm cũng kỳ

Nếm mật nằm gai đành tạm lúc

Sổ lồng tháo cũi hẳn chờ khi

Làm sao cũng chẳng làm sao vậy

Thương nước gan ông nó đã lỳ.

(Nguyễn Quang Diêu) 1914

 

CẢM TÁC KHI ĐI ĐÀY ĐẾN CAI DANH (*)

Bấy chầy mong mỏi xứ Cai Danh

Phong cảnh xem qua bắt động tình

Bể rộng mênh mông dòng nước biếc

Nội bằng mờ mịt mạn rừng xanh

Dã man thảm hại cho người đó

Tân khổ nài bao cái lũ mình!

Tuyệt chủng rõ ràng gương dưới mắt

Trông người, ta lại ngẫm mà kinh.

(Nguyễn Quang Diêu) 1914

 

(*) Chú thích: 

Guiana có 3 phần: thuộc Pháp, Anh và Hà Lan.  Ông Nguyễn Quang Diêu bị đày ở Guiana thuộc Pháp.  Thị trấn của Guyenne (French Guiana) là Cayenne, đọc âm tiếng Việt thành ra Cai Danh.

 

Tương truyền bài dưới đây làm ở Quảng Châu sau khi từ Guiana trở về (1920) và ông Nguyễn Hải Thần có họa lại nhưng bài họa bị thất lạc không tìm được.

 

SẦU NON NƯỚC

 

Hỏi tôi buồn những sự gì đây

Mượn rượu làm khuây cũng chẳng khuây?

Mắt mãi chứa chan cơ hội trước

Lòng hằng chua xót nước non nầy

Hồn khôn vấn vít thân còn dở

Phách dại mơ màng kiếp sống say (1)

Bĩ thái then trời đâu dễ chắc (2)

Lẽ nào có rủi lại không may.

 

Không may sá quản chút thân này

Thượng Đế ngồi cao lẽ cũng hay!

Đường lắm chông gai chơn ngại bước

Trời chưa mưa gió cánh không bay

Tấm lòng hồ thỉ còn mong mãi (3)

Món nợ san hà muốn trả ngay

Vẫn tính vẫy vùng cho phỉ chí

Ngặt vì còn thiếu cả chân tay.

 

Chân tay thiếu cả liệu sao mà

Biết ngỏ cùng ai tâm sự ta?

Tủi phận vẩn vơ hùm lạc núi

Xót thân dật bạ chó không nhà (4)

Bệnh nghèo vắng thấy tay trừ quỉ

Cơn ngặt ầm nghe tiếng nhát ma!

Mùi có nếm rồi, rồi mới biết

Càng cay đắng lắm chí càng già.

 

Chí càng già dặn lúc truân chuyên

Có đẩy xô gì chẳng đổ nghiêng

Dầu tớ chạy nam dầu chạy bắc

Mặc ai rằng nghịch mặc rằng điên!

Rừng nhiều beo hạm tay không súng

Đường lắm tàu xe túi chẳng tiền

Mưa nắng chi chi đâu dám nại

Ấy là trách nhiệm giống Rồng Tiên.

 

Giống Rồng Tiên trước kém gì ai

Mày mặt giờ ra thẹn với đời

Toan cắp Thái Sơn sang bể cả 

Rắp đem tinh vệ lấp miền khơi (5)

Vai hằng gánh nặng thù non nước

Lòng mãi vương mang nghĩa đất trời

Thành bại lẽ thường đâu sá quản

Gọi là trả chút nợ làm trai.

 

Làm trai nay gặp hội tân trào

Ngồi đấy khoanh tay nỡ bụng nào!

Ách thảm nặng quằn vai nghĩa liệt

Lửa thù đốt cháy ruột anh hào

Trông về non nước lòng thêm bận

Đoái lại mày râu tuổi đã cao

Thời đại thế mà dân tộc thế

Không cùng khóc ngất lại cười nhào. (6)

 

Cười nhào những đứa giả văn minh

Mượn lối thương dân tính lợi mình

Gạt chúng khua rầm mồm nhiệt huyết

Dối đời lơ láo mắt vô tình

Bộ tuồng công đức trông ra dáng

Cái lốt nô nhan lộ cả hình (7)

Huyết tánh con người ai lại chẳng

Dại gì không tưởng đến sanh linh.

 

Sanh linh rủi gặp lúc phong trần (8)

Nước chẳng ra gì lựa đến thân!

Ngoài cuộc điên ba trông vắng bặt (9)

Trong vòng nô lệ đứng chần ngần

Sóng tràn chán mắt làng phi cựu (10)

Sấm nổ ầm tai tiếng cách tân (11)

Ai cũng anh em Hồng Lạc cả

Ai ơi phải biết phận làm dân!

 

Phận làm dân tộc nước Nam ta

Hơn bốn nghìn năm nối nghiệp nhà

Mở rộng gian san cho cháu chắt

Hao bao huyết hãn của ông bà (12)

Máu thù nô lệ sôi lòng trẻ

Cuộc biến tang thương chán mắt già (13)

Tình cảnh thế nầy không thể chịu

Bút linh đành mượn đánh đàn ma.

 

Đàn ma hút cả máu dân gầy

Bảy tám mươi năm trải đến rày

Mưa gió Mỹ Âu mòi đã trổ

Anh em Hồng Lạc giấc còn say!

Biển trần chưa định thân chìm nổi (14)

Cuộc biến còn nhiều lúc rủi may

Nỗi nước nỗi nhà còn lắm nỗi

Hỏi tôi buồn những sự gì đây?

 

(Nguyễn Quang Diêu) 1920

 

Chú thích:

(1) Sống say: do câu "Túy sinh mộng tử" (Sống giữa cơn say, chết trong chiêm bao, trong mộng mị)

(2) Bĩ thái = suy và thịnh.  Then trời: ý nói "cơ trời", có khi "máy trời"

(3) Hồ thỉ: từ câu "Tang bồng hồ thỉ", sự tích như "Tang bồng".

(4) Dật bạ = trôi nổi lông bông tạm bợ không chắc vào đâu.  Tiếng thông dụng ở Nam kỳ vào thời đó. Đó là chữ đôi: Dật = thất lạc; Bạ đi đôi với Dật, không có nghĩa gì hết.

(5) Tân trào = Trào lưu mới

(5) Tinh vệ: tên một loại chim nhỏ ở ngoài biển.  Tục truyền con gái vua Viêm Đế vì chết chìm nên căm tức hóa thành chim ngậm đá để lấp biển.  Nghĩa bóng: người có một mối thù thâm sâu, quyết trả cho được.

(6) Cười nhào = cười dữ lắm đến lộn nhào người ra

(7) Nô nhan = mặt (người) đày tớ.  Do câu "Nô nhan tỳ tất" (Mặt đày tớ, gối con hầu).  Ngụ ý khinh khi.

(8) Sanh linh = con người

(9) Điên ba = sóng dữ.  Có bản chép "phong ba" (sóng gió)

(10) Cách  cựu = trái với "cựu"; không thủ cựu (=không giữ cái cũ)

(11) Cách tân = làm ra cho mới

(12) Huyết hãn = máu và mồ hôi

(13) Tang thương: do câu "Thương hải biến vi tang điền" (Bể xanh hóa thành ruộng dâu); ý nói cuộc thay đổi lớn.  Từ ngữ "Bể dâu" cũng cùng một nghĩa.

(14) Biển trần = cõi trần thế rộng như biển cả

 

Năm 1926, ông Nguyễn Quang Diêu đến viếng mộ của ông Phạm Hồng Thái ở Hoàng Hoa Cương và có làm nhiều bài thơ, nay chí còn truyền lại 1 bài:

 

HOÀNG HOA CƯƠNG (*)

Mồ bảy mươi hai liệt sĩ đây

Hoàng Hoa Cương hẹn đã bao ngày

Liễn nêu dũng cảm đời roi dấu

Bia tạc anh hùng địch khiếp oai

Ngắm cảnh riêng mừng non nước đấy

Trông gương như đốt ruột gan nầy

Kèn khi khởi nghĩa dường nghe giục

Gánh nợ quê hương nặng lại đầy

(Nguyễn Quang Diêu) 1926

 

(*) Chú thích:

Hoàng Hoa Cương (ngọn đồi Hoàng Hoa) là nơi dành chôn 72 liệt sĩ Quốc Dân đảng Trung Hoa tử trận trong cuộc khởi nghĩa ở Quảng Châu ngày 29-3-1911 (trước cách mạng Tân Hợi tháng 10, 1911).  Sau khi Liệt sĩ Phạm Hồng Thái chết ở sông Tây giang, Quảng Châu; Tổng đốc Hồ Hán Dân cho cải táng từ chân đồi Bạch Vân về Hoàng Hoa Cương (tháng 3, 1925).

 

Những bài thơ sau khi về nước cho đến khi qua đời (1926-1936).  Ông Nguyễn Quang Diêu phải hoạt động bí mật, trốn tránh chính quyền thuộc địa:

 

KHÔNG NHÀ KHÔNG NƯỚC

Chẳng phải tiên cũng chẳng phải thần

Không nhà  không nước khổng ra thân

Trời cao lồng lộng ê da óc

Đất rộng mênh mông sợ sẩy chân

Tím ruột bầm gan nhìn võ trụ

Châu mày sốt mắt ngó đay cân

Thôi liều nhắm mắt đưa chơn vậy

Một kiếp phù sinh dễ mấy lần.

(Nguyễn Quang Diêu)

 

THƯƠNG ... TRÁCH

Thương ai ai nỡ chẳng thương mình

Tưởng lúc gian truân chán thế tình

Nhớ đến thề lòng non với nước

Trông sao bền dạ sắt cùng đinh

Đợi cơn mây kịt trời dông dữ

Chờ hội trời nghiêng đất hết chinh

Than phận thuyền con mà bể cả

Trách vì chưa phỉ chí bình sinh.

(Nguyễn Quang Diêu)

 

KHÔNG NHÀ

Thiên hạ bao nhiêu bợm chẳng nhà

Hỏi coi ai có cảnh như ta ?

Phôi pha tình tứ thơ và rượu

Chầu chực hôm mai chó với gà

Thấy khách toan mời e khách lạ

Trông trời muốn hỏi ngại trời xa

Thôi ôm cầm đợi tri âm đã

Sẽ ngỏ cùng nhau chuyện ruột rà.

(Nguyễn Quang Diêu)

 

NƯƠNG MÌNH CỬA PHẬT

Trải nếm mùi trần chán đắng chua

Tương rau đạm bạc bữa cơm chùa

Răng lòng cửa Phật cơn sa sút

Nóng ruột đường đời nỗi được thua

Tủi kiếp trầm luân làn sóng dập

Tỉnh hồn đọa lạc tiếng chuông khua !

Co tay tính lại mười năm lẻ

Trải lắm mùi trần chán đắng chua ?

(Nguyễn Quang Diêu)

 

PHẬN BÈO

Liều lĩnh gì hơn cái phận bèo

Mặc dầu sóng gió nổi phêu phêu

Ngảnh tai phiêu bạc chầm theo nước

Gởi dấu đông tây cứ chực dèo (*)

Tầm khách tha hương đoàn tụ mãi

Báo phương ngư phủ thảm sầu đeo

Trông vời bể cả bườn men tớt

Liều lĩnh gì hơn cái phận bèo !

(Nguyễn Quang Diêu)

 

(*) Chú thích: Chực dèo = chờ mòi = chờ đợi và coi mòi.  Từ ngữ miền Nam lúc bấy giờ.

 

Chí khí của ông Nguyễn Quang Diêu không thay đổi:

 

NGÀY TẾT THẤY CỜ CẢM TÁC

Dọc ngang cờ Pháp với cờ Tàu

Ủa lá cờ ta hẳn ở đâu?

Trông thế lực người sôi máu sắt

Nghĩ danh giá nước thẹn mày râu

Non sông vì nợ xưng Hồng Lạc

Mặt mũi nào còn ngó Mỹ Âu

Vinh nhục chung nhau ai cũng thế

Thương nhau ta phải liệu sao nhau?

(Nguyễn Quang Diêu)

 

So với ông Phan Bội Châu cũng vào lúc cuối đời:

 

CÂY CỜ

Ai ơi xin thử ngó cây cờ

Một lá kia kìa dáng phất phơ

Cao thấp quyền về tay kẻ múa

Trắng vàng màu lựa mặt người ưa

Trên cao mấy cửa chiêu bài hão

Xoay đủ tứ bề ngọn gió đưa

Rồi cũng về tay ai nấy phất

Xôn xao dưới bóng bọn vây hùa.

(Phan Bội Châu)


 

Bs PHAN THƯỢNG HẢI biên soạn

 

Bài viết nầy đăng lần đầu tiên trong phanthuonghai.com (trong mục "Thơ và Sử": viết sau bài "Phan Châu Trinh" và trước bài "Phạm Quỳnh và Nguyễn Văn Vĩnh").

 

Tài Liệu Tham Khảo:

Việt Sử Tân Biên (Phạm Văn Sơn)

Chí Sĩ Nguyễn Quang Diêu (Nguyễn Văn Hầu)

Văn Uyển (Lãng Ba Phan Văn Bộ)

Trang Thơ Thi Viện Net

Wikipedia

   THƠ KHI VỀ THĂM VIỆT NAM 2020

                                                               (Bs Phan Thượng Hải)


 

Đi Du Lịch từ Bắc vô Nam

 

*

Bắc Kỳ: Hà Nội, Ninh Bình và Hoa Lư và vịnh Hạ Long

 

THĂM HÀ NỘI

Thủ đô Hà Nội cạnh sông Hồng

Du khách dừng chân một cuối Đông

Lẩn quẩn Ba Đình quanh Phố cổ

Lang thang Hoàn Kiếm gặp hàng rong

Viếng vài hồ đẹp đà ưng ý

Thăm những chùa xưa được thỏa lòng

Viễn thị Long Biên, cầu lịch sử

Tìm xem Văn miếu nhớ Thăng Long.

(Phan Thượng Hải)

1/8/20

 

CHÙA TRẤN QUỐC

Trang nghiêm xinh xắn cạnh Tây Hồ

Cổ tự lâu đời trấn quốc đô

Mái thấp, chùa sau bên đại thụ

Tầng cao, tháp trước giữa phù đồ

Tượng thờ chánh điện trầm hương tỏa

Hoa đẹp tổ đình phướn điểm tô

Vãng cảnh Thiền môn quì lạy Phật

Tai nghe văng vẳng tụng nam mô.

(Phan Thượng Hải)

1/12/20

 

CHÙA MỘT CỘT

Từ thời nhà Lý tự hoàng gia

Chùa nhỏ và xưa nhất nước nhà?

Một cột chống lên, xây chánh điện

Một hồ ở dưới, nổi liên hoa

Thiên thu biểu thị nguồn tôn giáo

Thiên thủ Quan Âm tượng Phật Bà

Kiến trúc dị thường và đặc biệt

Đến xem thấy rõ toại lòng ta.

(Phan Thượng Hải)

2/6/20


CHÙA BÁI ĐÍNH MỚI

Tân lập, tự hào của quốc gia

Ngôi chùa quá rộng giữa Ta Bà

Tượng nhiều, La Hán bên Bồ Tát

Tượng lớn, Quan Âm với Thích Ca

Ngắm nghía điện thờ trông tráng lệ

Ngắm nhìn tầng tháp thấy nguy nga

Làm nơi du lịch dùng tôn giáo

Mê hoặc nhân dân dụng Phật Đà.

(2/4/20) 

 

ANH HÙNG HOA LƯ (*)

Viết sử Hoa Lư, chọn chữ trung

Sử gia chối bỏ một anh hùng

Đinh Tiên Hoàng tựa cành lau động

Lê Đại Hành như cánh hộc tung

Phá Tống liệt oanh tròn nghĩa cả

Bình Chiêm dũng cảm trả thù chung

Công lao hậu thế nên ghi nhớ

Bảo quốc an dân chúng phục tùng.

(Phan Thượng Hải)

2/7/20

(*) Chú thích: 

Sử gia hiện đại viết về Hoa Lư chỉ vinh danh Đinh Tiên Hoàng mà thôi và lên án Lê Đại Hành, cho rằng đã âm mưu với Thái hậu Dương Vân Nga soán ngôi (Đinh Tiên Hoàng).

 

DU NGOẠN VỊNH HẠ LONG

Một phen du ngoạn đã hằng mong

Thế giới kỳ quan, vịnh Hạ Long

Sóng nước êm đềm trên biển rộng

Làn mây lơ lửng giữa trời trong

Ngắm ngàn hòn đảo gồm thiên hạ

Đi một khách thuyền lướt gió đông

Nhàn nhã thân tâm hòa cảnh lịch

Lâng lâng cảm giác nhẹ mênh mông.

(Phan Thượng Hải)

2/5/20


 

*

Trung Kỳ: Hội An, Đà Nẵng, Huế, Quảng Trị và Quảng Bình (Phong Nha).

 

ĐÈO HẢI VÂN

Trên biển dưới mây gọi Hải Vân

Chính là Đèo Cả của Trung phần

Biển xanh nước biếc khơi trùng sóng

Mây trắng trời trong thoát lụy trần

Không chống xâm lăng gìn đất nước

Ít làm hứng khởi giúp thi nhân

Đường hầm hiện đại đi bên dưới

Đèo Cả xuyên qua thiếu hải vân.

(Phan Thượng Hải)

1/17/20

 

VIẾNG HUẾ

Ghé thăm viếng Huế, đất Thần Kinh

Thú vị đôi ngày chốn địa linh

Hiểu biết hoàng triều từ Đại nội

Làm quen ẩm thực tự cung đình

Hương giang lướt nhẹ qua Long Thọ

Thiên Mụ nhìn xa thấy Ngự Bình

Thán phục công trình lăng Khải Định

Cố tìm nhân kiệt, gặp O xinh.

(Phan Thượng Hải)

1/18/20

 

THÁNH ĐỊA LA VANG HIỆN ĐẠI

Chiều Đông vắng lặng ghé La Vang

Phong cảnh dạo xem thấy ngỡ ngàng

Phế tích thánh đường còn hiện hữu (1)

Tượng hình Đức Mẹ đã tân trang (2)

Cội nguồn danh tánh đà thay đổi (3)

Địa điểm hành hương quá mở mang

Cảm thấy mất đi truyền thống cũ (4)

Tâm tư thắc mắc dạ bàng hoàng.

(Phan Thượng Hải)

2/3/20 

 

Chú thích:

(1) Thánh đường La Vang đã bị phá hủy trong chiến tranh vào năm 1972 chỉ còn lại phế tích là cái lầu chuông mà thôi.

(2) Tượng Đức Mẹ mới trang phục như một phụ nữ Việt Nam thuở xưa.

(3) Chỗ nầy khi Đức Mẹ hiện ra vào năm 1798 có nhiều cây Lá Vằng.  Khi người Pháp đến, viết bằng chữ Pháp không bỏ dấu nên thành ra La Vang và thành tên của nơi nầy.  Cây Lá Vằng là loại cây có hạt đen ăn được và làm vị thuốc được. Hiện có 1 khu vườn nhỏ trồng cây Lá Vằng ở đây để làm chứng. 

(4) Tương truyền vào thời cấm đạo của vua Cảnh Thịnh, giáo dân phải trốn vào một vùng hẻo lánh (ngày nay thuộc huyện Hải Lăng, Quảng Trị) thì có Đức Mẹ Maria hiện ra giúp đỡ như là một phép lạ (1798).  Đó là câu chuyện phép lạ của “Đức Mẹ La Vang”. Một giả thuyết về cái tên “La Vang” là vì ở một nơi hẻo lánh nên để liên lạc với nhau thì phải “la” lớn, mà “la” lớn thì phải “vang”. Thánh địa La Vang trở thành Vương Cung Thánh Đường (Basilica) đầu tiên của nước Việt Nam (1961), một năm trước Nhà Thờ Đức Bà Sài Gòn.

(Phế tích Thánh đường cũ)                     (Hình tượng Đức Mẹ mới)


CẦU HIỀN LƯƠNG

Đi ra Bến Hải, ghé Hiền Lương

Kinh nghiệm ngang qua những chiến trường

Quảng Trị, Đông Hà; bao thảm khốc

Gio Linh, Cam Lộ; lắm tang thương

Miền Nam, Miền Bắc; hờn phân quốc

Cộng Sản, Cộng Hòa; hận đối phương

Lặng ngắm cầu xưa ôn dĩ vãng

Đau buồn uất ức kẻ ly hương.

(Phan Thượng Hải)

1/18/20

(Cầu Hiền Lương xưa ở bên phải; cầu hiện đại ở bên trái)

 

*

Nam Kỳ: Cần Thơ, Châu Đốc, Mỹ Tho và Sài Gòn

 

CẦN THƠ KỶ NIỆM

Cái gì kỷ niệm xứ Cần Thơ?

Cái bến Ninh Kiều đẹp mộng mơ

Cái Tắc xe đi đường tẽ lối

Cái Răng ghe nhóm chợ gần bờ

Cái Vồn qua bắc, tàu xuôi ngược

Cái Khế ngang sông, nước lặng lờ

Cái Sắn theo kinh, người giữ đạo

Cái tình luyến nhớ thuở còn thơ.

(Phan Thượng Hải)

1/21/19

 

MIẾU BÀ CHÚA XỨ

Linh thiêng tồn tại với thời gian

Nổi tiếng miếu Bà khắp Hậu Giang

Từ đỉnh núi Sam hình xuất hiện

Ngự nơi Châu Đốc tượng huy hoàng

Tôn thờ, dân chúng về cầu nguyện

Tín ngưỡng, dân tình thắm điểm trang

Ngày vía tháng tư, người tụ họp

Tắm Bà Chúa Xứ hiển vinh quang.

(Phan Thượng Hải)

1/21/20

(Bắc và Bến bắc Cần Thơ thuở xưa)


 

BẮC MIỀN TÂY

Nay còn đâu những Bắc Miền Tây

Để lại tình xưa những nhớ đầy

Mỹ Thuận rộn ràng thời trẻ dại

Cần Thơ êm ái tuổi thơ ngây

Thay nhiều bến cũ đà hoang phế

Với lắm cầu treo mới dựng xây

Vàm Cống băng qua, nhìn Rạch Miễu

Thương về quá khứ chạnh niềm tây.

(Phan Thượng Hải)

1/24/20

 

*

Kết Luận

 

VIẾNG QUÊ HƯƠNG

Tết nầy du lịch viếng quê hương

Quá bộ nhiều nơi lắm nẻo đường

Từ Bắc hiếu kỳ tìm cảnh đẹp

Vô Nam ký ức rộn lòng thương

Tri tân cảm cựu dù minh mẩn

Cỡi ngựa xem hoa khó tận tường

Bốn chục năm qua vui viễn xứ

Kiếp tằm buông thả cứ tơ vương?

(Phan Thượng Hải)

1/24/20



 

Ở Sải Gòn thăm Gia đình và Bạn bè

 

*

SÀI GÒN HOÀI CẢM (*)

Địa danh sống mãi ở tình trường

Bốn chục năm qua trải gió sương

Đã hết êm đềm thời lộng nguyệt

Lại thêm hỗn độn dưới tà dương

Sài Gòn hoa lệ tràn nhung nhớ

Hòn Ngọc Viễn Đông vợi tiếc thương

Cách mặt đau lòng không đổi dạ

Hương xưa hoài cảm tự can trường.

(Phan Thượng Hải) 

Năm 2015

(*) Họa bài Thăng Long Hoài Cổ của Bà Huyện Thanh Quan.

 

*

CHỊU TRẬN (*)

Bốn chục năm nay hết chiến chinh

Thương ai ở lại mộng an bình

Sống đời chật vật qua "hồ hởi"  

Gần kẻ ngu đần biết chí minh

Xâm lược ngoại bang gieo thảm họa

Độc tài nội trị hại sanh linh

Thắng thua chiến cuộc ngưng hồi ký (*)

Chịu trận lâu nay đủ thất tình?

(Phan Thượng Hải)

6/28/18

 

(*) Chú thích:

Người ở lại Miền Nam sau 75 tự gọi mình là "Người Chịu Trận", gọi người từ Miền Bắc vào là "Người Thắng Trận" và gọi người lánh ra ngoại quốc là "Người Thua Trận".

Hồi ký = ghi nhớ lại 


 

NGƯỜI BẮC NGƯỜI NAM

Hơn thua khác biệt tự hai miền

Người Bắc luôn giành đứng trước tiên

Xã hội xã giao cao tước lộc

Kinh doanh kinh tế lắm đồng tiền

Đỉnh cao trí tuệ làm văn hóa

Sức mạnh tham ô nắm chánh quyền

Trong cảnh thanh bình đà tiến bộ

Người Nam vẫn sống vẫn người hiền.

(Phan Thượng Hải)

1/26/20

 

*

Kết Luận

 

VIẾNG QUÊ NHÀ DỊP TẾT

Nhân khi dịp Tết viếng quê nhà

Nguồn cội tìm về tổ quốc ta

Quyến thuộc kiếm thăm, lòng xúc động

Thân bằng gặp lại, dạ hài hòa

Đồng bào vô niệm đang vui vẻ

Cảnh vật vô thường đã nở hoa

Thời thế cảm thông tình viễn xứ

Lương tâm an ủi trở về nhà.

(Phan Thượng Hải)

1/30/20


 

So sánh với những bài thơ cũ

 

*

CHÙA TRẤN QUỐC

Trang nghiêm xinh xắn cạnh Tây Hồ

Cổ tự lâu đời trấn quốc đô

Mái thấp, chùa sau bên đại thụ

Tầng cao, tháp trước giữa phù đồ

Tượng thờ chánh điện trầm hương tỏa

Hoa đẹp tổ đình phướn điểm tô

Vãng cảnh Thiền môn quì lạy Phật

Tai nghe văng vẳng tụng nam mô.

(Phan Thượng Hải)

1/12/20

 

CHÙA TRẤN QUỐC

Trung lập càn khôn vững đế đô

Mảnh danh trấn quốc ở Tây Hồ

Xuân thu thêm có mười phần lạ

Hoa cỏ đành hay một thức phô

Hây hẩy hương trời thơm nữa xạ

Làu làu đèn bụt rạng như tô

Kìa ai đủng đỉnh làm chi đấy

Một tiếng kinh khua một chữ mô.

(Lê Thánh Tông)

 

CHƠI CHÙA TRẤN QUỐC

Trấn Bắc hành cung cỏ dãi dầu

Khách đi qua đó chạnh niềm đau

Mấy tòa sen rót mùi hương ngự

Năm thức mây phong nếp áo chầu

Sóng lớp phế hưng coi đã rộn

Chuông hồi kim cổ lắng càng mau

Người xưa cảnh cũ nào đâu tá?

Khéo ngẩn ngơ thay lũ trọc đầu.

(Bà Huyện Thanh Quan)

 

*

ĐÈO HẢI VÂN

Trên biển dưới mây gọi Hải Vân

Chính là Đèo Cả của Trung phần

Biển xanh nước biếc khơi trùng sóng

Mây trắng trời trong thoát lụy trần

Không chống xâm lăng gìn đất nước

Ít làm hứng khởi giúp thi nhân

Đường hầm hiện đại đi bên dưới

Đèo Cả xuyên qua thiếu hải vân.

(Phan Thượng Hải)

1/17/20

 

VỊNH ĐÈO CẢ (HẢI VÂN)

Dặm liễu nghìn mai cảnh quạnh hiu

Chia đôi Thuận Quảng một hòn đèo 

Lá dòm mặt nước cây mong lội

Biển bọc chân non sóng muốn trèo

Trái đất nằm ngang đường ngốc ngách

Chưn trời đứng sựng dốc cheo leo

Vén chân thử bước lên trên ngút

Dỏi thấy vầng trăng đỏng đảnh theo.

(Vua Lê Thánh Tôn) 

 

*

SÀI GÒN HOÀI CẢM (Họa)

Địa danh sống mãi ở tình trường

Bốn chục năm qua trải gió sương

Đã hết êm đềm thời lộng nguyệt

Lại thêm hỗn độn dưới tà dương

Sài Gòn hoa lệ tràn nhung nhớ

Hòn Ngọc Viễn Đông vợi tiếc thương

Cách mặt đau lòng không đổi dạ

Hương xưa hoài cảm tự can trường.

(Phan Thượng Hải) 

Năm 2015

 

THĂNG LONG HOÀI CỔ (Nguyên bản)                                             

Tạo hóa gây chi cuộc hí trường                 

Đến nay thấm thoát mấy tinh sương          

Lối xưa xe ngựa hồn thu thảo                    

Nền cũ lâu đài bóng tịch dương                 

Đá vẫn trơ gan cùng tuế nguyệt                 

Non còn cau mặt với tang thương              

Nghìn năm gương cũ soi kim cổ                

Cảnh đấy người đây luống đoạn trường.   

(Bà Huyện Thanh Quan)                           

 

SÀI GÒN

Sài-gòn có bến Chương-dương

Có dinh Độc-lập có đường Tự-do

Phường Chợ-quán, khóm Cầu-kho

Bến xe Lục-tỉnh, con đò Thủ-thiêm

Ô-tô-buýt chạy khắp miền

Vườn chơi có Thảo-cầm-viên, Tao-đàn...

Bến-thành có tiếng tăm vang

Chợ Cầu-ông-Lãnh lại càng nên đi...

Xe đò xe máy tắc xi

Bình-tây, Khánh-hội, ngại gì xa xôi

Chánh-hưng, Phú-nhuận, đây rồi

Thị-nghè, Tân-định, nhiều nơi còn chờ

Trải bao thay đổi đến giờ

Khắp nơi đã rợp bóng cờ vinh quang

Sài-gòn, thủ phủ Việt-nam

Mai ngày kiến thiết mở mang còn nhiều.

(Bảo Vân)

Thời Đệ nhất Cộng hòa 1950s

 

*

CẦN THƠ KỶ NIỆM

Cái gì kỷ niệm xứ Cần Thơ?

Cái bến Ninh Kiều đẹp mộng mơ

Cái Tắc xe đi đường tẽ lối

Cái Răng ghe nhóm chợ gần bờ

Cái Vồn qua bắc, tàu xuôi ngược

Cái Khế ngang sông, nước lặng lờ

Cái Sắn theo kinh, người giữ đạo

Cái tình luyến nhớ thuở còn thơ.

(Phan Thượng Hải)

1/21/19

 

CÁI GÌ ĐÂY

Cái Sắn vinh danh, nhớ Cái Côn

Cái Nhum cầu nguyện rỗi linh hồn

Cái Mơn nặng trĩu đầy hoa trái

Cái Khế theo về tận xóm thôn

Cái Tắc xứ quê người trở lại

Cái Bè cam ngọt tiếng như cồn

Cái Răng giữ nước từ muôn ngả

Cái Cối bên sông, giống Cái Vồn.

(Cóc Mun Trương Sang)

8/18/11


 

Bs Phan Thượng Hải biên soạn

2 THẾ HỆ (1960-2020), 1 Ý THƠ (CANH TÝ)

 

XUÂN CANH TÝ CẢM TÁC

Chẳng biết năm nay thứ chuột nào?

Nếu mà chuột lắt, phá làm sao

Hễ là chuột xạ, thì la ó

Bằng phải chuột cơm, để nấu xào

Chuột cống, nước dơ thường giẵm lội

Chuột lang, đất ráo cứ bươi đào

Chuột cà xốc thích làm anh chị

Còn xích đu chơi, ắt chuột Tàu.

Lãng Ba Phan Văn Bộ

16-1-1960 

 

XUÂN CANH TÝ CHUỘT XÔNG NHÀ

Canh Tý đến rồi, Kỷ Hợi qua

Phải nhờ đúng chuột đến xông nhà

Thặng dư, chuột cống khôn tìm tớ

No đủ, chuột cơm dại kiếm ta

Chuột lắt bé con, người vẫn trẻ

Chuột lang thanh bạch, đức thêm già

Giao thừa chuột lợn mừng năm mới 

Tiếp tục an khang sống thuận hòa.

Phan Thượng Hải

19-12-2019

THƠ MỘNG HOÀNG HẠC LÂU


                                                                                    Phan Thượng Hải

Hoàng Hạc Lâu ở bên bờ sông Trường Giang (sông Dương Tử), thuộc thành phố Vũ Hán tỉnh Hồ Bắc, Trung Quốc. Hoàng Hạc Lâu được xem là một trong bốn tứ đại danh lâu của Trung Quốc và là ngôi lầu nổi tiếng với bài thơ "Hoàng Hạc Lâu" của Thi sĩ Thôi Hiệu đời nhà Đường.


Ba ngôi lầu nổi tiếng kia là: Nhạc Dương Lâu, Đằng Vương Các và Bồng Lai Các.


Bố Cục
Hoàng Hạc Lâu (trang 1)
Thơ Chữ Hán
Thôi Hiệu (trang 2)
Lý Bạch (trang 6)
Đường Thi (trang 8)
Sứ Thần Nước Việt (trang 9)
Thơ Chữ Quốc Ngữ
Thơ Dịch bài thơ của Thôi Hiệu (trang 16)
Thơ Sáng tác (trang 20)
Kết Luận (trang 21)

HOÀNG HẠC LÂU


Hoàng Hạc Lâu là ngôi lầu được xây dựng ở trên ghềnh đá Hoàng Hạc của núi Xà Sơn thuộc huyện Vũ Xương tỉnh Hồ Bắc.


Có 3 truyền thuyết cho rằng có người thấy:


Tiên ông Vương Tử An (Wang Zi An) cởi hoàng hạc từ ghềnh đá nầy của núi Xà Sơn mà
bay lên trời.
Tiên ông Phí Văn Vi (Fei Wen Yi) cởi hạc hạ cánh xuống nghỉ ở ghềnh đá nầy.
Tiên ông Lữ Đồng Tân (Lu Dong Bin) trong Bát Tiên từ trời giáng hạ xuống Xà Sơn.
Do đó ngôi lầu nầy có tên là Hoàng Hạc Lâu.


Theo như lịch sử thời Tam Quốc, sau khi thắng Quan Vũ (Quan Công) và chiếm đất Kinh Châu của nước Thục (gồm 2 tỉnh Hồ Bắc và Hồ Nam bây giờ) vào năm 219; triều đình nước Ngô dưới thời Tôn Quyền cho xây 1 tòa thành (Citadel) ở Vũ Xương để phòng thủ đường sông Trường Giang thì Hoàng Hạc Lâu đầu tiên được xây cất cùng một lúc ở đây (năm 223).


Hoàng Hạc Lâu ngày xưa là nơi gặp mặt tao đàn của các văn nhân mặc khách đương thời. Trong thời Đường (618-907), các thi nhân đến Hoàng Hạc Lâu để vừa thưởng ngoạn phong cảnh non nước mây ngàn hữu tình, vừa uống rượu làm thơ.


Đến nay đã gần 1800 năm Hoàng Hạc Lâu đã có 12 lần bị thiêu hủy (vì chiến tranh), 12 lần xây cất lại. Năm 1957 khi cây cầu đầu tiên vượt sông Trường Giang được xây cất, vị trí cũ của Hoàng Hạc Lâu bị trưng dụng và các kiến trúc Hoàng Hạc Lâu được dời cách vị trí cũ 1 km.

Tháng 10 năm 1981, Hoàng Hạc Lâu được tái thiết và tháng 6 năm 1985 được khánh thành. Đó là một công trình được xây lại bằng vật liệu hiện đại và có một cầu thang máy. Hoàng Hạc Lâu hiện đại nằm trong Hoàng Hạc Công Viên là nơi thu hút du khách trong và ngoài nước Trung Quốc.


Hoàng Hạc Lâu nằm ở Vũ Xương ngay chỗ sông Hán Thủy chảy vào sông Trường Giang làm thành như hình chữ nhân (của Hán tự). Hai con sông nầy chia Thành phố Vũ Hán (Wuhan) ralàm 3 vùng: Vũ Xương (Wuchang) ở hữu ngạn sông Trường Giang và Hán Khẩu (Hankou) và Hán Dương (Hanyang) ở tả ngạn sông Trường Giang (2 bên bờ sông Hán Thủy). Mặt tiền của Hoàng Hạc Lâu (ở Vũ Xương) nhìn qua Hán Dương bên kia bờ sông Trường Giang. Bãi Anh Vũ ở bờ sông Trường Giang, thuộc Hán Dương.

THƠ CHỮ HÁN (HÁN TỰ)


1) Thôi Hiệu


Hoàng Hạc Lâu nổi tiếng với một bài thơ của Thôi Hiệu (710-754) làm vào thế kỷ thứ 8. Có sách cũ viết là Thôi Hạo.

HOÀNG HẠC LÂU
Tích nhân dĩ thừa hoàng hạc khứ
Thử địa không dư Hoàng Hạc lâu
Hoàng hạc nhất khứ bất phục phản
Bạch vân thiên tái không du du
Tình xuyên lịch lịch Hán Dương thụ
Phương thảo thê thê Anh Vũ châu
Nhật mộ hương quan hà xứ thị
Yên ba giang thượng sử nhân sầu.

(Thôi Hiệu)

* Nội Dung bài thơ


(Dịch nghĩa)
HOÀNG HẠC LÂU (= LẦU HOÀNG HẠC)
Tích nhân dĩ thừa hoàng hạc khứ
= Người xưa đã cỡi hoàng hạc (=hạc vàng) đi (rồi)
Thử địa không dư Hoàng Hạc lâu
= Đất ấy không chở (đi) Hoàng Hạc lâu
Hoàng hạc nhất khứ bất phục phản
= Hoàng hạc (=hạc vàng) một đi không trở lại lần nữa
Bạch vân thiên tái không du du
= Ngàn mây trắng lửng lơ đầy bầu trời
Tình xuyên lịch lịch Hán Dương thụ
= Sông quang tạnh (thấy) rất rõ ràng cây (của vùng đất) Hán Dương
Phương thảo thê thê Anh Vũ châu
= Cỏ thơm buồn bã tịch mịch bãi (đất bồi) Anh Vũ
Nhật mộ hương quan hà xứ thị
= Trời tối quê nhà là nơi đâu?
Yên ba giang thượng sử nhân sầu.
= Khói sóng trên sông khiến người (thấy) buồn (=sầu).


(Dịch Thơ)
Hạc vàng ai cưỡi đi đâu
Mà đây Hoàng Hạc riêng lầu còn trơ
Hạc vàng đi mất từ xưa
Ngàn năm mây trắng bây giờ còn bay
Hán Dương sông tạnh cây bày
Bãi xa Anh Vũ xanh đầy cỏ non
Quê hương khuất bóng hoàng hôn
Trên sông khói sóng cho buồn lòng ai

(Tản Đà)

Nội Dung của bài thơ có 3 Đoạn:


Đoạn 1 kể chuyện người xưa cởi hạc đi không trở lại chỉ còn ngôi lầu Hoàng Hạc:
Người xưa đã cỡi hoàng hạc (=hạc vàng) đi (rồi)
Đất ấy không chở (đi) Hoàng Hạc lâu
Hoàng hạc (=hạc vàng) một đi không trở lại lần nữa
Đoạn 2 tả cảnh chung quanh trên dưới lầu Hoàng Hạc:
Ngàn mây trắng lửng lơ đầy bầu trời
Sông quang tạnh (thấy) rất rõ ràng cây (của vùng đất) Hán Dương
Cỏ thơm buồn bã tịch mịch bãi (đất bồi) Anh Vũ
Đoạn 3 tức cảnh sinh tình, nhìn sông (Trường Giang) vào buổi chiều mà buồn nhớ quê nhà:
Trời tối quê nhà là nơi đâu?
Khói sóng trên sông khiến người (thấy) buồn (=sầu).
Bài thơ không tả "Hoàng Hạc lâu" ra sao.
Bố cục không theo đúng thể thức "Đề, Thực Luận, Kết" của Thơ Đường cổ điển.

* Hình Thức của bài thơ


Trên lý thuyết bài thơ được sắp theo thể thơ Đường Luật Thất Ngôn Bát Cú.
Nếu như vậy thì bài thơ thất luật.


- Thất Luật 1:
Trước hết là trật âm luật
Những chữ in đậm là những chữ trật âm luật:
HOÀNG HẠC LÂU
Tích nhân dĩ
thừa hoàng hạc khứ
Thử địa không dư Hoàng Hạc lâu
Hoàng hạc nhất
khứ bất phục phản
Bạch vân thiên tái không du du
Tình xuyên lịch lịch Hán Dương thụ
Phương thảo thê thê Anh Vũ châu
Nhật mộ hương quan hà xứ thị
Yên ba giang thượng sử nhân sầu.
(Thôi Hiệu)
- Thất Luật 2:
Câu 3 và câu 4 phải đối nhau nhưng chúng đối không chỉnh trong bài thơ:
HOÀNG HẠC LÂU
Tích nhân dĩ thừa hoàng hạc khứ
Thử địa không dư Hoàng Hạc lâu
Hoàng hạc
nhất khứ bất phục phản
Bạch vân thiên tái không du du
Tình xuyên lịch lịch Hán Dương thụ
Phương thảo thê thê Anh Vũ châu

Nhật mộ hương quan hà xứ thị
Yên ba giang thượng sử nhân sầu.
(Thôi Hiệu)
- Thất Luật 3:
Nói về vần thì nếu Câu 1 không có vần, nó phải đối với Câu 2. Câu 1 của bài thơ không có vần mà lại đối không chỉnh với câu 2:
HOÀNG HẠC LÂU
Tích nhân dĩ thừa
hoàng hạc khứ
Thử địa không dư Hoàng Hạc lâu
Hoàng hạc nhất khứ bất phục phản
Bạch vân thiên tái không du du
Tình xuyên lịch lịch Hán Dương thụ
Phương thảo thê thê Anh Vũ châu
Nhật mộ hương quan hà xứ thị
Yên ba giang thượng sử nhân sầu.
(Thôi Hiệu)
- Thất Luật 4:
Cuối cùng, bài thơ có điệp ngữ một cách không thứ tự hay không cân đối.
Chữ hoàng hạc có thể được dùng lại ở câu 1 và 2 nhưng không được dùng ở câu 3 vì
như vậy thì không khéo.
Chữ khứ ở câu 1 dùng lại một cách vụng về ở câu 3.
HOÀNG HẠC LÂU
Tích nhân dĩ thừa
hoàng hạc khứ
Thử địa không dư
Hoàng Hạc lâu
Hoàng hạc nhất khứ bất phục phản
Bạch vân thiên tái không du du
Tình xuyên lịch lịch Hán Dương thụ
Phương thảo thê thê Anh Vũ châu
Nhật mộ hương quan hà xứ thị
Yên ba giang thượng sử nhân sầu.
(Thôi Hiệu)


Bài thơ nầy thất luật rất nhiều nhưng mọi người đều cho là tuyệt tác nên Thi sĩ Quách Tấn trong sách Thi Pháp Thơ Đường của mình đành dùng từ ngữ phá luật cho bài nầy chứ không dám dùng từ ngữ thất luật!

* Hình Thức khác của bài thơ


Theo Trần Trọng San thì có một bản khác của bài thơ chỉ khác 2 chữ ở câu 1: Chữ bạch vân thay thế chữ hoàng hạc ở câu 1:

HOÀNG HẠC LÂU
Tích nhân dĩ thừa bạch vân khứ
Thử địa không dư Hoàng Hạc lâu
Hoàng hạc nhất khứ bất phục phản
Bạch vân thiên tái không du du
Tình xuyên lịch lịch Hán Dương thụ
Phương thảo thê thê Anh Vũ châu
Nhật mộ hương quan hà xứ thị
Yên ba giang thượng sử nhân sầu.
(Thôi Hiệu)


Nếu theo hình thức của bản nầy, Bài thơ không thất luật 3 và 4.


- Câu 1 và 2 đối chỉnh
- Điệp ngữ bạch vân và hoàng hạ đều là điệp ngữ khéo léo vì có thứ tự và cân đối.
Câu 1 lại không trật âm luật.
Tiếc thay bản nầy không được ai kể đến cho tới bây giờ! Nếu dùng nó và sửa chữ khứ (thành chữ khác có âm Bằng) và sửa chữ kép du du (thành 2 chữ đơn khác nhau) thì bài thơ có hình thức toàn hảo (perfect). Điều nầy nào có khó khăn cho một Thi sĩ như Thôi Hiệu?


HOÀNG HẠC LÂU
Tích nhân dĩ thừa bạch vân khứ
Thử địa không dư Hoàng Hạc lâu
Hoàng hạc nhất khứ bất phục phản
Bạch vân thiên tái không du du
Tình xuyên lịch lịch Hán Dương thụ
Phương thảo thê thê Anh Vũ châu
Nhật mộ hương quan hà xứ thị
Yên ba giang thượng sử nhân sầu.
(Thôi Hiệu)

2) Lý Bạch
*
Lý Bạch (701-762) bị tội phải đi đày xuống ở miền nam Trung Quốc (năm 758). Trên đường đi, tới Vu Sơn, Tứ Xuyên thì được triều đình tha tội (năm 759). Ông ghé qua ở vùng Hán Dương của Hoàng Hạc Lâu (năm 759-760). Tương truyền Lý Bạch khi thăm Hoàng Hạc Lâu đọc bài thơ của Thôi Hiệu (chết năm 754) thì có đọc lên hai câu thơ:
Nhãn tiền hữu cảnh đạo bất đắc
Thôi Hiệu đề thi tại thượng đầu.
(Lý Bạch)

Dịch nghĩa:


Nhãn tiền hữu cảnh đạo bất đắc
= Trước mắt có cảnh (mà) đạo lý không thích hợp hay Trước mắt có cảnh (mà) nói không
được (nên lời).
Thôi Hiệu đề thi tại thượng đầu
= Thôi Hiệu (đã) đề thơ ở trên đầu (của ta).
Đọc 2 câu thơ nầy ta khó lòng biết được ý của Lý Bạch là khen hay chê bài thơ của Thôi Hiệu, chỉ biết là ông không muốn làm thơ vì bài thơ của Thôi Hiệu đã tại ngay trên đầu (của ông).


*
Tuy không làm bài thơ nói về Hoàng Hạc Lâu nhưng Lý Bạch có làm 3 bài thơ có liên quan tới Hoàng Hạc Lâu trong khi ông ở vùng Hán Dương (759-760).


TỐNG MẠNH HẠO NHIÊN CHI QUẢNG LĂNG
Cố nhân tây từ Hoàng Hạc Lâu
Yên hoa tam nguyệt hạ Dương Châu
Cô phàm viễn ảnh bích không tận
Duy kiến Trường Giang thiên tuế lưu.
(Lý Bạch)


TIỄN MẠNH HẠO NHIÊN ĐI QUẢNG LĂNG (Dịch)
Cố nhân từ giả lầu Hoàng Hạc
Tháng ba hoa khói xuống Dương Châu
Bóng buồn mất hút trong trời biếc
Chỉ thấy Trường Giang trôi chảy mau.
(Trần Trọng San dịch)


ĐỀ BẮC TẠ BI
Nhất vi thiên khách khứ Trường Sa
Tây vọng Trường An bất kiến gia
Hoàng Hạc Lâu trung xuy ngọc địch
Giang thành ngũ nguyệt lạc mai hoa.
(Lý Bạch)


Chú thích:
Bắc Tạ bi: bia đá Bắc Tạ ở Hoàng Hạc lâu
Trường Sa: thủ phủ của tỉnh Hồ Nam
Trường An: kinh đô nhà Đường (lúc bấy giờ), nay thuộc tỉnh Thiểm Tây


ĐỀ BIA BẮC TẠ (Dịch)
Đi đày mình đến đất Trường Sa
Trông lại Trường An chẳng thấy nhà
Tháng năm thổi sáo lầu Hoàng Hạc
Thành sông vang khúc Lạc Mai Hoa.
(Trần Trọng San dịch)

ANH VŨ CHÂU
Anh Vũ lai quá Ngô giang thủy
Giang thượng châu truyền Anh Vũ danh
Anh vũ tây phi Lũng sơn khứ
Phương châu chi thụ hà thanh thanh
Yên khai lan diệp hương phong khởi
Ngạn giáp đào hoa cẩm lãng sinh
Thiên khách thử thời đồ cực mục
Trường châu cô nguyệt hướng thùy minh.
(Lý Bạch)


Chú thích:
Anh vũ: là con chim két.
Anh Vũ Châu: tên bãi sông ở Hán Dương, Hồ Bắc. Bên kia bờ sông Trường Giang là
Hoàng Hạc lâu.
Ngô giang: khoảng sông Trường Giang ở đất Ngô. Hán Dương thuộc đất Ngô.
Lũng Sơn: tên núi ở huyện Lũng Sơn, Thiểm Tây
Bài thơ nầy thất luật!


BÃI ANH VŨ (Dịch)
Ngày xưa anh vũ đến sông Ngô
Nên bãi mang tên tự bấy giờ
Anh vũ sang tây qua núi Lũng
Xanh xanh cây bãi ngát hương đưa
Gió lan thơm tỏa tan làn khói
Sóng gấm đào dâng sát cạnh bờ
Hờ hững kẻ đày buồn ngắm cảnh
Soi trên bãi nguyệt thấy bơ vơ.
(Trần Trọng San dịch)


3) Đường Thi


Tương truyền Hoàng Hạc Lâu ngày xưa là nơi gặp mặt tao đàn của các văn nhân mặc kháchđương thời. Trong thời Đường (618-907), các thi nhân đến Hoàng Hạc Lâu để vừa thưởng ngoạn phong cảnh non nước mây ngàn hữu tình, vừa uống rượu làm thơ.
Tuy nhiên trong tài liệu Đường Thi của thế kỷ 20 ở Việt Nam không thấy có nhiều bài thơ liên quan tới Hoàng Hạc Lâu. Ngoài bài thơ của Thôi Hiệu và những bài thơ trên của Lý Bạch vào thời Thịnh Đường (713-766) chỉ tìm thấy một bài thơ của Thôi Đồ (chết năm 901) vào thời Vãn Đường (836-905).


ANH VŨ CHÂU XUÂN VỌNG
Trướng vọng xuân khâm uất vị khai
Trùng lâm Anh Vũ ích kham ai

Tào Công thượng bất năng dung vật
Hoàng Tổ hà nhân phản ái tài
U đảo noãn văn Yên nhạn khứ
Hiểu giang tình giác Thục ba lai
Thùy nhân chính đắc phong đào tiện
Nhất điểm khinh phàm vạn lý hồi.
(Thôi Đồ)


Chú thích:
Anh Vũ châu: thời Tam Quốc, Nễ Hành làm bài phú Anh Vũ tại bãi nầy nên có tên (là Anh Vũ).
Nễ Hành có văn tài nhưng ngạo mạn nên Tào Tháo ( Tào công) sai đi sứ gặp Hoàng Tổ ở Hán Dương, mượn tay Hoàng Tổ giết Nễ Hành và chôn tại Anh Vũ Châu.
(Đất) Yên: nay là tỉnh Hà Bắc
(Đất) Thục: nay là tỉnh Tứ Xuyên


NGẮM CẢNH XUÂN TRÊN BÃI ANH VŨ (Dịch)
Ngắm cảnh lòng xuân bực bội hoài
Lại qua Anh Vũ càng bi ai
Tào công còn chẳng hay thương khách
Hoàng Tổ làm sao lại tiếc tài
Đảo ấm, nhạn Yên bay đã hết
Trời quang, sóng Thục chảy sang ngay
Sóng xuân gió thuận, ai người được
Một chấm buồm về vạn dặm khơi.
(Trần Trọng San dịch)


Từ những bài thơ nầy, độc giả biết thêm về xuất xứ tên Anh Vũ châu và biết rằng có bia Bắc Tạ ở Hoàng Hạc lâu.

4) Sứ Thần Nước Việt
Sứ thần nước Việt vào thế kỷ 18 và thế kỷ 19 thường viếng Hoàng Hạc Lâu khi đi sứ sang Trung Quốc và để lại nhiều bài thơ bằng Hán tự.
Đây là danh sách các Sứ thần có thơ vịnh Hoàng Hạc Lâu:
Năm 1715: Lê Anh Tuấn (Chánh sứ). Ông là cha nuôi bà Đoàn Thị Điểm
Năm 1761: Lê Quý Đôn (Phó sứ), Chánh sứ là Trần Huy Bật
Năm 1790: Phan Huy Ích (Chánh sứ) và Đoàn Nguyễn Tuấn (Phó sứ). Phan Huy Ích làm
3 bài thơ, Đoàn Nguyễn Tuấn làm 4 bài thơ (nhưng nay chỉ còn lưu lại 1 bài).
Năm 1807: Ngô Thì Vị (Phó sứ), sau nầy làm Chánh Sứ (năm 1821). Ông là em Ngô Thì
Nhậm.
Năm 1813: Nguyễn Du (Chánh sứ)
Năm 1834: Phan Thanh Giản (Chánh sứ)

(Hoàng Hạc Lâu vào cuối thế kỷ 18 và đầu thế kỷ 19)
*
Những bài thơ của Lê Anh Tuấn, Lê Quý Đôn, Đoàn Nguyễn Tuấn và Phan Thanh Giản đều chịu ảnh hưởng từ bài thơ của Thôi Hiệu với tình ý gần giống vậy nhưng không kể lại chi tiết chuyện Hoàng Hạc bay đi mất.


ĐĂNG HOÀNG HẠC LÂU VỌNG HÁN DƯƠNG THỤ
Dực Chẩn danh phong chí Hán Dương,
Tứ hoàn cảnh sắc nhập bình chương.
Yên ba hạo diểu sầu nhân tứ,
Phong nguyệt chiêu yêu túy khách thương.
Già ngạn mạc liêm hoành cổ thụ,
Mê tân lâm mộc thụ phong tường.
Cư tân thùy thị trượng nhân giả,
Tu thuyết cơ tâm cứu thượng hương.

(Lê Anh Tuấn) 1671-1731


LÊN LẦU HOÀNG HẠC NHÌN CÂY HÁN DƯƠNG (Dịch)
Dực, Chẩn danh lam đất Hán Dương,
Bốn bề cảnh sắc vào văn chương.
Mênh mang khói sóng buồn lòng khách,
Trăng gió gọi mời say chén suông.
Cổ thụ giăng màn che bến nước,
Cột buồm dựng thẳng tựa rừng sương.
Trượng phu trên bến là ai đó?
Có thẹn lòng bao nỗi vấn vương.
(Nhất Uyên dịch)

HOÀNG HẠC LÂU
Tình Xuyên các ngoại hựu phương chu,
Hoàng Hạc lâu đầu ức cựu du.
Phương thảo phi quan tiền cổ hận,
Bạch vân hồn tự khứ niên thu.
Thanh sơn lịch lịch như tương thức,
Ngọc địch mangmang bất khả cầu.
Nam vọng gia hương kim giáo cận,
Yên ba giảm khước nhất phân sầu.
(Lê Quý Đôn) 1726-1784


HOÀNG HẠC LÂU (Dịch)
Ngoài gác Tình Xuyên thuyền lại qua
Trước lầu Hoàng Hạc nhớ chơi xa
Cỏ thơm hệ lụy niềm thương hận,
Mây trắng còn nguyên thu đã qua.
Núi xanh mồn một dường quen biết,
Sáo ngọc miên mang chẳng thiết tha,
Vời ngóng quê Nam gần chút nữa,
Nhìn khói trên sông bớt nhớ nhà.
(Nhất Uyên dịch)

ĐĂNG HOÀNG HẠC LÂU
Bách xích phi lâu ỷ bích không,
Nhất điều tịnh luyện giới tây đông.
Phương châu thảo mật dao song thúy,
Tình các phong sơ cách ngạn hồng.
Hùng bá tranh hành kỳ cục lý,
Thần tiên khiếu vịnh địch thanh trung.
Thừa xà hữu khách đăng cao vọng,
Thanh điếu trường giang khởi mộ trung.
(Đoàn Nguyễn Tuấn) 1750 - ?


LÊN HOÀNG HẠC LÂU (Dịch)
Trăm thước lầu cao dựa khoảng không,
Một làn lụa trắng cách tây đông.
Bãi thơm cỏ mượt xanh ngoài cửa,
Gác nắng rừng phong đỏ cách sông.
Hùng bá cuộc cờ tranh hợp lý
Thần tiên ngâm vịnh sáo bên trong
Cưỡi bè có khách lên cao ngắm,
Tiếng cối chiều hôm nổi giữa dòng.
(Nhất Uyên dịch)

ĐĂNG HOÀNG HẠC LÂU
Tích thời hạc dĩ hà niên khứ,
Thiên tải nhân tòng nam cực lân.
Anh Vũ châu tiền phong thảo lục,
Tình Xuyên các thượng bạch vân thâm.
Bán liêm lạc nhật phù Giang Hán,
Nhất phiến hàn lưu tống cổ câm (kim)
Mãn mục yên ba chuyễn trù trướng,
Du du trần mộng thập thu tâm. (*)
(Phan Thanh Giản) 1796-1867


(*) Nếu viết bằng Hán tự, chữ thu nằm trên chữ tâm thành chữ sầu Thu tâm ám chỉ
sầu buồn như câu kết của Thôi Hiệu.


LÊN CHƠI HOÀNG HẠC LÂU (Dịch)
Hạc vàng xưa khuất đã bao năm,
Từ góc trời Nam người đến thăm.
Anh Vũ trước bờ xanh cỏ mượt,
Tình Xuyên gác lững trắng mây râm,
Nửa màng trời lặn trôi Giang Hán,
Một dãi sông dài xuyên cổ kim.
Khói sóng mênh mông lòng cảm xúc
Nhặt chút lòng thu giấc mộng trần.
(Nhất Uyên dịch)


Qua những bài thơ trên, độc giả nhận ra một danh từ riêng mới là Tình Xuyên các, ngoài
những danh từ riêng đã có trong bài thơ của Thôi Hiệu (Hán Dương và Anh Vũ). (Các là tầng lầu hay tầng gác, đó là tầng của một ngôi nhà hay ngôi lầu mà không phải là tầng dưới đất).


Như vậy có 2 nhận định:
Trong Hoàng Hạc lâu có một tầng tên là Tình Xuyên
Trong bài thơ Hoàng Hạc lâu của Thôi Hiệu, chữ Tình xuyên có thể là danh từ riêng
ám chỉ Tình Xuyên các đã có vào lúc đó? Cũng có thể một tầng trong Hoàng Hạc lâu được đặt tên là Tình Xuyên các lấy từ bài thơ của Thôi Hiệu? Tình xuyên nếu là danh từ chung thì có nghĩa là sông quang tạnh, nó đã được hiểu như vậy trong bài thơ của Thôi Hiệu. Dùng như danh từ chung, chữ tình xuyên trong bài thơ của Thôi Hiệu có ý chính xác hơn.
*
Riêng Phan Huy Ích (1751-1822) có viết bài văn xuôi tả lầu Hoàng Hạc với những câu:
"Truyền thuyết Phí Văn Phi đắc đạo thành Tiên, thường cởi hạc vàng chơi ở đó.
Nay tầng thứ nhất thờ Phí Văn Phi. Tầng thứ nhì thờ Lã Đồng Tân cạnh là tượng thờ Lư Sinh. Cách bờ là bến lớn sông Hán người đông đúc hàng hóa chất đầy.
Núi Quì sơn, gác Tình Xuyên và bãi Anh Vũ thật là những cảnh đẹp trong trời đất.
Không như những Sứ thần khác, chuyến đi sứ của Phan Huy Ích vào năm 1790 rất quan trọng về phương diện chính trị. Sau khi thắng quân Thanh, vua Quan Trung phải kết ngoại giao với Tàu bằng cách cho cháu của mình là Phạm Công Trị (giả làm vua Quan Trung) sang Trung Quốc gặp 
vua Càn Long nhà Thanh. Chánh sứ là Phan Huy Ích và Ngô Văn Sở và Phó sứ là Đoàn Nguyễn Tuấn. Ngô Thì Nhậm ở Lạng Sơn để tùy cơ ứng biến.
Khi Phan Huy Ích tới thăm Hoàng Hạc Lâu thì ông có làm tất cả 3 bài thơ.
Ngày đầu, Phan Huy Ích làm thơ tả Hoàng Hạc Lâu cũng như những Sứ thần khác:


DU HOÀNG HẠC LÂU
Khê ki duy lãm phỏng tiên du,
Bách xích phi manh nhiếp thượng đầu.
Hoàng Hạc bạch vân nga tuyệt diệu,
Bích ba hồng thụ điếu thanh thu.
Thị thành hoa lệ đồ phi tiếu,
Yên thủy thương man khách diệc sầu.
Chân cảnh mãn tiền ngâm vị cánh,
Tá đề liêu kí thử đăng lâu.
(Phan Huy Ích)


ĐI CHƠI HOÀNG HẠC LÂU (Dịch)
Ghềnh đá buộc neo thăm cảnh tiên,
Mái cao trăm thước đỉnh lầu trên.
Hạc vàng, mây trắng, lời ngâm tuyệt,
Sóng biếc cây hồng thu gió lên.
Thành thị vẽ tranh lầu chẳng giống,
Khói sông man mác khách sầu thêm.
Cảnh đầy trước mặt ngâm chưa đã,
Mượn thơ ghi lại thú lầu tiên.
(Nhất Uyên dịch)

Và Phan Huy Ích cũng làm bài thơ gởi anh vợ của mình (là Ngô Thì Nhậm) đang lo lắng ở Lạng Sơn.


HOÀNG HẠC LÂU (Nguyên bản)
Vạn lý trì khu thủy bán trình,
Phân phân hoa phát đới sầu sinh.
Tình Xuyên các ngoại cô phàm ảnh,
Hoàng Hạc lầu tiền đoản địch thanh.
Hồi ức chi hương đồng chí khí,
Phân giao tảo bút diệc cư hành.
Giang thành nhất phiến đoàn viên nguyệt,
Tưởng diệc Đông kiều nguyệt dạ minh.
(Phan Huy Ích)


Chú thích:
Đông Kiều (Cầu Đông) bắt ngang sông Tô Lịch ở phía đông Thăng Long.

HOÀNG HẠC LÂU (Dịch)
Muôn dặm ruổi dong được nửa đường
Bạc phơ mái tóc nhuốm sầu thương
Tình xuyên ngoại cảnh buồm đơn chiếc
Hoàng Hạc trong lầu sáo đã ngưng
Nhớ lại rượu thơm, cùng chí khí
Phân chia bút viết, thãy lo lường
Sông nầy chung một vầng trăng sáng
Soi tới Cầu Đông sáng lạ thường.
(Phan Thượng Hải dịch)


Ngày hôm sau, Phan Huy Ích trở lại Hoàng Hạc Lâu làm một bài thơ tự họa bài thơ hôm trước cũng gởi cho Ngô Thì Nhậm:


TẠC LAI HOÀNG HẠC LÂU (Tự họa)
Phương thảo tình xuyên cựu khứ trình,
Qui biền hỉ tự vũ hàn sinh.
Thu quang tỉnh chiếu lâu tam điệp,
Hương tứ mang tùy nhạn nhất thanh.
Thoan sự thư hồi bưu kỵ mẫn,
Chu tư lộ viễn khách chu hành.
Nam quan bả ác tưong kỳ cứu,
Thời phán sơn đài nguyệt sắc minh.
(Phan Huy Ích)


TRỞ LẠI HOÀNG HẠC LÂU NGÀY HÔM QUA (Dịch)
Sông tạnh cỏ thơm lại tới đây
Trong xe mưa lạnh thấy vui đầy
Rạng lầu ba gác, mùa thu đó
Mang nỗi nhớ quê, tiếng nhạn nầy
Xong việc, gửi về, thư chóng tới
Hết lo, xa cách, khách về ngay
Nam Quan chắc chắn như thời hạn
Trăng sáng đầu non, định chẳng sai.
(Phan Thượng Hải dịch)


Phan Huy Ích mượn hai bài tự xướng họa trên ở Hoàng Hạc lâu để nói tâm tình của sứ thần và việc nước tại Hoàng Hạc lâu.
*
Những bài thơ của Nguyễn Du và Ngô Thì Vị đối đầu với bài thơ của Thôi Hiệu:


ĐĂNG HOÀNG HẠC LÂU
Hà xứ thần tiên kinh kỷ thì,
Do lưu tiên tích thử giang mi.
Kim lai cổ vãng Lư Sinh mộng,

Hạc khứ lâu không Thôi Hiệu thi.
Hạm ngoại yên ba chung diểu diểu,
Nhãn trung thảo thụ thượng y y.
Trung tình vô hạn bằng thùy tố,
Minh nguyệt thanh phong dã bất tri.
(Nguyễn Du) 1766-1820


Chú thích:


Lư Sinh đời Đường đến 1 quán trọ, nằm đợi chủ quán nấu nồi kê (hoàng-lương), ngủ
quên, nằm mộng thấy lấy vợ, đẻ con, sinh cháu, giầu sang, vinh hoa, phút tỉnh dậy thấy mất cả (Hoàng Lương Mộng / Giấc Mộng Kê Vàng của Lư Sinh). (theo TĐ Đào Duy Anh).
Lư Sinh có tượng thờ trong Hoàng Hạc lâu


LÊN HOÀNG HẠC LÂU (Dịch)
Xa khuất thần tiên trải bấy lâu
Bến sông dấu cũ vẫn bên lầu
Xưa đi nay lại Lư còn mộng
Hạc vắng lầu hoang Hiệu mấy câu
Ngoài gác nước mây vời vợi thẳm
Trong tầm cây cỏ vẫn xanh mầu
Ý tình chan chứa cùng ai ngỏ?
Trăng gió vô tình có biết đâu?!
(Hoàng Hoa Nguyễn Hoài Trung dịch)


LÊN HOÀNG HẠC LÂU (Dịch)
Thần tiên đã đến tự bao giờ?
Còn lại dấu tiên trên bến mơ.
Giấc mộng Lư Sinh kim cổ vọng,
Vần thơ Thôi Hiệu hạc lầu trơ.
Ngoài hiên khói sóng bay mờ mịt,
Trước mắt cỏ cây vẫn thuở xưa.
Nỗi niềm có biết cùng ai tỏ.
Trăng thanh gió mát cũng thờ ơ!
(Nhất Uyên dịch)

ĐỀ HOÀNG HẠC LÂU
Hán thủy thành biên vân thụ thụ,
Tiên nhân bất kiến, chỉ không lâu.
Hà thời tiên tế lai hoàng hạc,
Đề ý giang trung phó bạch âu.
Lý bá vị ưng thâu bút lực,
Thôi quân bất hợp tác tương sầu.
Việt Nam sứ giả Ngô Thời Vị,
Đấu đảm đề thi ký thử du.
(Ngô Thì Vị) 1774-1821

Chú thích:
Lý bá là Lý Bạch, nhắc tới 2 câu thơ của Lý Bạch
Thôi quân là Thôi Hiệu, nhắc tới bài thơ của Thôi Hiệu


ĐỀ THƠ TẠI HOÀNG HẠC LÂU (Dịch)
Sông Hán bên thành rợp lá mây,
Người tiên không thấy, thấy lầu đây.
Hạc vàng đi mãi bao giờ lại?
Âu trắng dành riêng dãi nước đầy.
Lý bá cớ chi chùn bút vội?
Thôi quân sao lại nhớ quê ngay?
Sứ thần nước Việt: Ngô Thời Vị,
Chẳng sợ làm thơ viếng cảnh này.
(Nhất Uyên dịch)

THƠ CHỮ QUỐC NGỮ
1) Dịch bài thơ "Hoàng Hạc Lâu" của Thôi Hiệu
Sau khi có chữ Quốc Ngữ, bài thơ Hoàng Hạc Lâu của Thôi Hiệu được dịch ra từ Hán tự và trở nên phổ thông trong văn học Việt Nam nhất là bản dịch bằng thơ Lục bát của Tản Đà.
Bản dịch đầu tiên là của Ngô Tất Tố rồi tới Tản Đà và Trần Trọng Kim. Những bài thơ dịch dùng 1 trong 2 thể thơ: Đường Luật hoặc Lục Bát.
Đến thời VNCH, bài thơ của Hoàng Hạc Lâu của Thôi Hiệu và bài thơ Phong Kiều Dạ Bạc của Trương Kế nổi tiếng nhất trong tất cả Đường Thi nói riêng và thơ Trung Quốc nói chung. Đa số học sinh Trung học đều biết và nhớ 2 bài nầy.


Học giả Trần Trọng San của bộ Văn hóa Giáo dục lúc bấy giờ và là 1 trong những dịch giả thơ Hán tự nổi tiếng có viết:
Tôi bước vào cảnh giới Đường thi từ bến Phong Kiều cho tới lầu Hoàng Hạc. Phong
Kiều Dạ Bạc và Hoàng Hạc Lâu là hai bài đã in trong tôi ấn tượng sâu đậm nhất trong số những bài thơ Đường mà gia nghiêm dùng dạy tôi học chữ Hán trong lúc ấu thời.
Từ đó cho tới bây giờ có không biết bao nhiêu người dịch bài thơ Hoàng Hạc Lâu của Thôi Hiệu.


* Nghệ thuật của Dịch giả


Trước khi đọc những bài thơ dịch, ta phải biết rành và rõ nội dung của bản chính để coi bản dịch có sát và đúng với bản chính hay không.


Bản chính:
HOÀNG HẠC LÂU
Tích nhân dĩ thừa hoàng hạc khứ
Thử địa không dư Hoàng Hạc lâu

Hoàng hạc nhất khứ bất phục phản
Bạch vân thiên tái không du du
Tình xuyên lịch lịch Hán Dương thụ
Phương thảo thê thê Anh Vũ châu
Nhật mộ hương quan hà xứ thị
Yên ba giang thượng sử nhân sầu.
(Thôi Hiệu)

Dịch nghĩa:
HOÀNG HẠC LÂU (= LẦU HOÀNG HẠC)
Tích nhân dĩ thừa hoàng hạc khứ
= Người xưa đã cỡi hoàng hạc (=hạc vàng) đi (rồi)
Thử địa không dư Hoàng Hạc lâu
= Đất ấy không chở (đi) Hoàng Hạc lâu
Hoàng hạc nhất khứ bất phục phản
= Hoàng hạc (=hạc vàng) một đi không trở lại lần nữa
Bạch vân thiên tái không du du
= Ngàn mây trắng lửng lơ đầy bầu trời
Tình xuyên lịch lịch Hán Dương thụ
= Sông quang tạnh (thấy) rất rõ ràng cây (của vùng đất) Hán Dương
Phương thảo thê thê Anh Vũ châu
= Cỏ thơm buồn bã tịch mịch bãi (đất bồi) Anh Vũ
Nhật mộ hương quan hà xứ thị
= Trời tối quê nhà là nơi đâu?
Yên ba giang thượng sử nhân sầu.
= Khói sóng trên sông khiến người (thấy) buồn (=sầu).
Sau đó ta phải nhận xét giá trị riêng về thể cách và chữ nghĩa của các bài thơ dịch.

* Thời Pháp Thuộc


LẦU HOÀNG HẠC (Dịch)
Người xưa cưỡi hạc đã lên mây
Lầu Hạc còn suông ở chốn nầy
Một vắng hạc vàng xa lánh hẳn
Nghìn năm mây bạc vẩn vơ bay
Vàng gieo bến Hán, ngàn cây hửng
Xanh ngút châu Anh, lớp cỏ dầy
Trời tối quê nhà đâu tá nhỉ?
Đầy sông khói sóng gợi niềm tây.
(Ngô Tất Tố dịch)

GÁC HOÀNG HẠC (Dịch)
Hạc vàng ai cưỡi đi đâu
Mà đây Hoàng Hạc riêng lầu còn trơ
Hạc vàng đi mất từ xưa
Ngàn năm mây trắng bây giờ còn bay
Hán Dương sông tạnh cây bày
Bãi xa Anh Vũ xanh đầy cỏ non
Quê hương khuất bóng hoàng hôn
Trên sông khói sóng cho buồn lòng ai
(Tản Đà dịch)


LẦU HOÀNG HẠC (Dịch)
Người đi cưỡi hạc từ xưa,
Đất này Hoàng Hạc còn lưu một lầu.
Hạc vàng đi mất đã lâu,
Ngàn năm mây trắng một màu mênh mông.
Hán Dương cây bóng lòng sông,
Bãi kia Anh Vũ cỏ trông xanh rì.
Chiều hôm lai láng lòng quê,
Khói bay sóng vỗ ủ ê nỗi sầu.
(Trần Trọng Kim dịch)

* Thời VNCH ở Miền Nam


HOÀNG HẠC LÂU (Dịch)
Người xưa cưỡi hạc bay đi mất,
Riêng lầu Hoàng Hạc vẫn còn đây.
Hạc đã một đi không trở lại,
Man mác muôn đời mây trắng bay.
Hán Dương sông tạnh, cây in thắm,
Anh Vũ bờ thơm, cỏ biếc dày.
Chiều tối, quê nhà đâu chẳng thấy 
Trên sông khói sóng gợi buồn ai.
(Trần Trọng San dịch)


HOÀNG HẠC LÂU (Dịch)
Xưa hạc vàng bay vút bóng người
Đây lầu Hoàng Hạc chút thơm rơi
Vàng tung cánh hạc đi đi mất
Trắng một màu mây vạn vạn đời
Cây bến Hán Dương còn nắng chiếu
Cỏ bờ Anh Vũ chẳng ai chơi
Gần xa chiều xuống đâu quê quán
Đừng giục cơn sầu nữa sóng ơi
(Vũ Hoàng Chương dịch)

* Quốc Nội ngày nay


LẦU HOÀNG HẠC (Dịch)
Ai cưỡi hạc vàng đi mất hút,
Trơ lầu Hoàng Hạc chốn này thôi!
Hạc vàng một đi đã đi biệt,
Mây trắng ngàn năm bay chơi vơi.
Sông tạnh Hán Dương cây sáng ửng,
Cỏ thơm Anh Vũ bãi xanh ngời.
Hoàng hôn về đó, quê đâu tá?
Khói sóng trên sông não dạ người.
(Khương Hữu Dụng dịch)


LẦU HOÀNG HẠC (Dịch)
Người xưa cưỡi hạc biết đi đâu? 
Hoàng hạc trơ đây một mái lầu. 
Biền biệt hạc vàng không trở lại, 
Phiêu diêu mây trắng vẫn trên đầu. 
Sông quang rõ nét Dương Hán thụ. 
Cỏ mướt xanh màu Anh Vũ châu. 
Quê cũ chiều tà đâu chẳng thấy. 
Trên sông khói sóng khiến ai sầu.
(Văn Toàn dịch)


LẦU HOÀNG HẠC (Dịch)
Người xưa cưỡi hạc bay đi, 
Trơ lầu Hoàng Hạc còn gì nữa đâu! 
Một đi hạc chẳng quay đầu, 
Ngàn năm mây trắng một màu phiêu diêu. 
Hán Dương cây cối mỹ miều, 
Bãi xa Anh Vũ, bóng chiều cỏ xanh. 
Hoàng hôn đâu bóng quê mình? 
Khói lan sóng nước, buồn tênh ai người?
(Văn Toàn dịch)


LẦU HOÀNG HẠC (Dịch)
Người xưa theo cánh hạc vàng
Còn đây dư một bóng Hoàng Hạc lâu
Hạc vàng đi chẳng về đâu!
Nghìn năm vời vợi trắng mầu mây bay....
Hán Dương hun hút dòng cây
Mênh mang Anh Vũ cỏ say hương ngàn
Quê xưa mơ ảnh chiều tàn
Trên sông khói sóng miên man nỗi buồn...
(Tử Đinh Hương dịch)

LẦU HOÀNG HẠC (Dịch)
Người xưa hạc lánh phương trời,
Lầu hoang Hoàng hạc ngậm ngùi còn đây.
Không về nữa! Hạc vàng bay,
Mênh mông mây trắng trôi dài thiên thu.
Bóng cây sông Hán lặng lờ,
Cỏ xanh Anh Vũ đầy bờ chơi vơi.
Quê hương đâu bóng chiều ơi?
Khói sông man mác, đầy vơi lòng sầu.
(Nhất Phiến Vân dịch)

* Nơi Hải Ngoại ngày nay


HOÀNG HẠC LÂU (Dịch)
Người theo cánh hạc vút về đâu
Còn lại quanh đây quạnh mái lầu
Một chuyến hạc vàng biền biệt dạng
Ngàn năm mây trắng quẩn quanh đầu
Hán Dương sông lặng cây nghiêng bóng
Anh Vũ bờ thơm cỏ biếc mầu
Nắng ngã chiều rồi quê chẳng thấy
Trên dòng, khói sóng chợt dâng sầu.
(Thiên Tâm Đặng Phương Trạch dịch)
2/9/2004

2) Thơ Sáng Tác


Tuy không có dịp viếng thăm Hoàng Hạc lâu, nhưng có rất nhiều Thi sĩ làm thơ bằng chữ Quốc ngữ để vịnh Hoàng Hạc Lâu như Thôi Hiệu.

* Thời VNCH
Vũ Hoàng Chương vừa có dịch thơ Hoàng Hạc Lâu vừa có thơ vịnh Hoàng Hạc lâu. Thơ vịnh của Vũ Hoàng Chương mượn tứ thơ của Nguyễn Du.


HOÀNG HẠC LÂU
Đã bao giờ có hạc vàng đâu
Mà có người tiên để có lầu!
Tưởng hạc vàng đi mây trắng ở
Lầm Thôi Hiệu trước, Nguyễn Du sau
Hạc chưa thoát khỏi mê hồn kịch
Tiên vẫn nằm trong vạn cổ sầu

Trăng gió hão huyền như khói sóng
Nồi kê đã chín nghĩ mà đau.
(Vũ Hoàng Chương)

* Nơi Hải Ngoại


Thi sĩ hải ngoại ngày nay vẫn giữ tình tứ của Thôi Hiệu.
Đây là 2 bài tiêu biểu:


HOÀNG HẠC LÂU
Thần tiên ngày ấy biệt chơi vơi
Để dấu bên sông chẳng thấy người
Sự thế xưa nay dường giấc mộng
Thơ Thôi còn đó hạc xa khơi
Gợn buồn khói sóng bên hiên vắng
Cỏ biếc mênh mang tận cuối trời
Cảnh ấy tình nầy ai thấu rõ?
Gió trăng man mác mặc tình đời.
(Bùi Đắc Hùm)
1/28/13


HOÀNG HẠC LÂU
Nào có bao giờ có hạc đâu
Thần tiên nào có có chăng lầu
Tao nhân trông thấy dâng nguồn hứng
Mặc khách nhìn mây vớ vẩn sầu
Cây bến Hán Dương lồng bóng nước
Cỏ bờ Anh Vũ thắm tươi mầu
Khách thơ qua đó bâng khuâng dạ
Thương hải tang điền chạnh xót đau.
(Hoàng Hoa Nguyễn Hoài Trung)
1/20/13

KẾT LUẬN


Tháng 10 năm 1981, Hoàng Hạc Lâu được tái thiết và tháng 6 năm 1985 khánh thành. Đó là một công trình được xây lại bằng vật liệu hiện đại và có một cầu thang máy. Hoàng Hạc Lâu hiện đại nằm trong Hoàng Hạc Công Viên là nơi thu hút du khách trong và ngoài nước Trung Quốc. Vũ Hán thành một thành phố lớn, mệnh danh là Chicago của Trung Qu

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Hoàng Hạc Lâu ngày nay       Ngày nay từ Hoàng Hạc Lâu nhìn về sông Trường Giang và Tp Vũ Hán: Vũ Xương bên nầy và Hán Dương bên kia sông)


Du khách viếng thăm Hoàng Hạc Lâu vào thế kỷ 21 có bài thơ:


THĂM HOÀNG HẠC LÂU HIỆN ĐẠI
Hoàng hạc nghe danh, có gặp đâu
Thế mà tái dựng lắm ngôi lầu
Thi nhân thử vận đề hoa tự

Du khách khai quan thượng mỹ lâu
Anh Vũ nơi nao, toàn phố xá
Hán Dương chốn đó, cách cây cầu
Khó lòng giả bộ theo Thôi Hiệu
Tức cảnh thành thơ, dạ chẳng sầu.
(Phan Thượng Hải)


5/3/2007

PHAN THƯỢNG HẢI biên soạn


Tài Liệu tham khảo:
1) Đường Thi (Trần Trọng Kim)
2) Đường Thi (Trần Trọng San)
3) Lý Bạch, Đỗ Phủ, Bạch Cư Dị (Trần Trọng San)
4) Thi Pháp Thơ Đường (Quách Tấn)
5) Làm Thơ Đường Luật Thất Ngôn Bát Cú (Phan Thượng Hải / phanthuonghai.com)

 THƠ VỀ GIÁNG SINH VÀ CÔNG GIÁO

                                                                            Phan Thượng Hải

 

Lễ Giáng Sinh và Phục Sinh

 

*

GIÁNG SINH ĐẦU TIÊN (Nguyên bản)

Hai ngàn năm trước lạnh đông về

Hang đá Bê Lem một chốn quê

Thiên Chúa giáng trần dân chúng muốn

Giu Se gõ cửa chủ nhà chê (*)

Mục đồng thiếu mặc còn canh thức

Quan chức thừa ăn đã ngủ mê

Tiếng hát thiên thần vang thánh thót

Ngôi sao dẫn lối khắp ba bề.

Thạch Ngọc Trương Ngọc Thạch

12/7/14

(*) Thánh Giu Se 

 

TIN MỪNG GIÁNG SINH (Họa)

Giáng sinh một tối lúc đông về

Truyền bá Tin Mừng tự dưới quê

An ủi nhân loài bao khốn khổ

Lánh xa tục thế lắm khen chê

Đừng e địa ngục sau thần chết

Đã có thiên đàng vượt bến mê

Bác ái thiện tâm chờ cứu rỗi

Yêu người mến chúa vẹn đôi bề.

Phan Thượng Hải

12/9/14

 

*

NGUYỆN CẦU ĐÊM GIÁNG SINH (Họa)

Mỗi độ Giáng Sinh lại nhớ về

Đồng bào nghèo khổ ở miền quê

Cơm ăn thiếu thốn không đòi hỏi

Áo mặc tồi tàn chẳng dám chê

Cán bộ rặt từng bầy ngốc nghếch

Chính quyền toàn một lũ u mê

Nguyện cầu Thiên Chúa ban ơn phước

No ấm tự do được trọn bề.

Chánh Minh Nguyễn Văn Minh

12/7/14

 

TÂM TÌNH ĐÊM GIÁNG SINH (Nguyên Bản)

Bài thánh ca vang rộn giáo đường

Liên hồi chuông đỗ vọng muôn phương

Bao lòng rộn rã mừng tin Chúa

Riêng kẻ bồi hồi nhớ cố hương

Mấy độ thu sầu đông rét mướt

Bao đêm thao thức suốt canh trường

Sáu mươi tuổi ấy già chưa nhỉ

Dốc cạn ly sầu nén giọt tương.

Hoàng Hoa Nguyễn Hoài Trung

12/24/09

 

TÂM TÌNH ĐÊM GIÁNG SINH (Họa)

Mừng đón Giáng Sinh khắp nẻo đường

Đề thi thăm bạn khắp mười phương

Thích đời oanh liệt trời Âu Mỹ?

Vui sống an nhàn chốn cố hương?

Năm tháng mãi lo người quyến thuộc

Giờ đây chợt nhớ bạn đồng trường

Mong cùng giữ mãi tình thân hữu 

Sống lại từ đây với sóng Tương. (*) 

Phan Thượng Hải

12/25/09

 

(*) Chú thích:

    Thiếp tại Tương Giang đầu

          Quân tại Tương Giang vỹ

          Tương tư bất tương kiến

          Đồng ẩm Tương Giang thủy. 

          (Cổ Thi)

 

*

MERRY CHRISMAS (Nguyên bản)

Merry Christmas đến quanh nhà

Chợt thấy yêu đời hát thánh ca

“Thập giá tình yêu” vì bá tánh

“Giáo đường bóng nhỏ” chỉ riêng ta

“Con quỳ lại chúa” lòng thanh thản

“Đêm thánh vô cùng” vọng thiết tha

Dưới gác chuông ngân, hồi tưởng lại

Mùa đông năm ấy tựa hôm qua

Phan Kim Thành

12/16/17

 

MERRY CHRISTMAS (Họa)

Merry Christmas nước non nhà

Dâng tiếng kinh cầu cất tiếng ca

Mừng Chúa thiện tâm nên cứu thế

Giáng Sinh bác ái bởi vì ta

Bình an nhân loại nguồn ơn phước

Hy vọng nhân loài tội thứ tha

Đêm Thánh nhiệm mầu ghi nhớ mãi

Đức Tin từng trải tháng ngày qua.

Phan Thượng Hải

12/2117

 

*

CHÚC MỪNG GIÁNG SINH (Nguyên bản) 

Mừng chúc bạn hiền lễ Giáng Sinh

Ngày vui đoàn tụ với gia đình

Thông đèn giăng mắc nhà tươi mát

Quà bánh trưng bày cảnh đẹp xinh

Con cháu vây quanh đầy quý mến

Anh em quấn quít ắp ân tình

Đó đây dương thế còn tranh chấp

Cầu Chúa thương ban phúc thái bình

Thạch Ngọc Trương Ngọc Thạch

Xmas 2014

12/10/14

 

CHÚC MỪNG GIÁNG SINH (Họa)

Nhân loại mừng ngày lễ Chúa sinh,

Khắp nơi yến tiệc đãi linh đình.

Cụ già quần áo trông tươi đẹp,    

Em bé mặt mày thấy xắn xinh.

Quà cáp tặng người thân kính mến,   

E-mail chúc bạn hữu thâm tình.

Vẫn còn thù hận và nghèo đói,

Cầu nguyện mong sao thế giới bình.

Chánh Minh Nguyễn Văn Minh

12/11/14 

   

KỶ NIỆM GIÁNG SINH (Họa)

Kỷ niệm Giáng Sinh đón Phục Sinh

Từ trong đêm tối vọng thiên đình

Chúc mừng nồng ấm, nhân loài tốt

Lễ lộc tưng bừng, thế giới xinh

Giản dị bình dân, gìn bác ái

Xa hoa nghi thức, giữ chân tình

Đợi nghe gà gáy luôn canh thức

Như thánh Phê-rô, Chúa bất bình.

Phan Thượng Hải

12/13/14

 

*

ĐÓN PHỤC SINH

Hướng thiện tâm tình đón Phục Sinh

Từ trong nhẫn nhục có quang vinh

Đức tin hướng vọng về thiên giới

Lời nguyện cầu xin tự thánh kinh

Rửa tội nhân loài là ý Chúa

Dùng cây thập tự hiến thân mình

Giê Su hằng sống gìn Tân Ước

Phán xét từng người lúc tử sinh.

Phan Thượng Hải

3/27/18

 

Chúa Giê Su Ki Tô

 

Jesus Christ = Giê Su Ki Tô = Gia Tô Cơ Đốc

Christ = Đấng Cứu Thế = Đấng Ki Tô

 

GIA TÔ CƠ ĐỐC (Nguyên bản)

Gia Tô Cơ Đốc đấng con Trời

Đặc cách lâm phàm cứu khắp nơi

Chẳng lấy lợi danh mà tạo nghiệp

Không dùng vương bá để xây đời

Vâng lời thiên mệnh đành thân diệt

Gánh tội nhân gian chịu máu rơi

Dĩ nhược thắng cường mệnh chứng tỏ

Kiếp sau hiện hữu sống muôn thời.

Linh Mục Phan Văn Minh

 

GIÊ SU KI TÔ (Họa)

Vinh danh đẹp ý Chúa trên trời

Đem đến Tin Mừng khắp mọi nơi

Nếu giữ thiện tâm gìn bác ái

Được đầy ơn phước sống yên đời

Niềm tin nhân loại luôn kỳ vọng

Cứu thế Giê Su chẳng bỏ rơi

Sẽ đến Thiên Đàng nơi vĩnh cửu

Hết còn đau khổ lúc sinh thời.

Phan Thượng Hải

4/22/16

 

Tín hữu Ki Tô

 

*

ĐỨC TIN 

Nhân loài tồn tại với tình thương

Sống mãi Đức Tin chẳng bất thường

Mến Chúa thiện tâm tha tội lỗi

Yêu người bác ái biết khiêm nhường

Bình an dưới thế, năng cầu nguyện

Cám dỗ bên mình, chớ vấn vương

Thể xác một mai về (thành) cát bụi

Linh hồn cứu rỗi đến Thiên Đường.

Phan Thượng Hải

8/15/13

 

PHÉP LẠ

Sống lâu thấy phép lạ trên đời

Cảm tạ ơn trên lúc nghỉ ngơi

Sau trước ở hiền luôn thoải mái

Trong ngoài dùng đủ chẳng đầy vơi

Thân qua bệnh hoạn thân còn tốt

Số thoát tai ương số được lời

Biết kiếp con người không vĩnh cửu

An tâm tin tưởng có ông Trời.

Phan Thượng Hải

3/25/18

 

*

HỒNG Y NGUYỄN VĂN THUẬN

Tâm nguyện Thuận theo ý Chúa Trời

Hiền lành sống đạo chẳng hề ngơi

Yêu thương, thánh thiện không sờn chí

Hy vọng, đức tin vững trọn đời

Chủ nghĩa vô thần giành địa lợi

Tình người Công Giáo được thiên thời

Sá chi cải tạo đà Chân Phước (*)

Khai lối Hồng Y đến nước Trời.

Phan Thượng Hải

12/29/15

(*) Chân Phước (Beatus)=Á Thánh=đã được nhận vào Thiên Đàng.  


 

Thánh địa và Hành hương.

 

- Lourdes giúp cho người bệnh tật:

 

LỘ ĐỨC (Lourdes)

Lộ Đức vinh danh Maria

Giúp người Công Giáo đến từ xa

Tình thương bác ái, Ngài nâng đỡ

Phép lạ phi thường, Mẹ hiện ra

Lần chuổi, đọc kinh, xin nước thánh

Rước đèn, dâng lễ, thỏa lòng ta

Hành hương cầu nguyện đầy ơn phước

Sống trọn niềm tin mến Đức Bà.

Phan Thượng Hải

10/10/11

 

- Fatima giúp cho Hòa Bình và Bác Ái của Nhân Loại:

 

FATIMA

Phép lạ nhiệm mầu Maria

Vững tin nhân loại sống an hòa

Từ nơi Đức Mẹ tin lành đến

Nhờ miệng nhi đồng tiếng vọng xa

Mừng được phúc âm ơn cứu rỗi

Hành hương thánh địa Fatima

Nắm tay quỳ gối cùng tâm nguyện

Mến Chúa yêu người mãi thiết tha. (*)

Phan Thượng Hải

10/11/11

 

(*) 

KINH HÒA BÌNH

 

Lạy Chúa từ nhân

Xin cho con biết mến thương và phụng sự Chúa trong mọi người.

 

Lạy Chúa xin hãy dùng con như khí cụ bình an của Chúa.

Để con đem yêu thương vào nơi oán thù

đem thứ tha vào nơi lăng nhục

đem yên hòa vào nơi tranh chấp

đem chân lý vào chốn lỗi lầm.

Để con đem tin kính vào nơi nghi nan

đem trông cậy vào nơi thất vọng.

Để con rọi ánh sáng vào nơi tối tăm

đem niềm vui đến chốn u sầu.

 

Lạy Chúa xin hãy dạy con:

Tìm an ủi người hơn được người ủi an

Tìm hiểu biết người hơn được người hiểu biết

Tìm yêu mến người hơn được người mến yêu

 

Vì chính lúc hiến thân là khi được nhận lãnh

chính lúc quên mình là lúc tìm lại bản thân

Vì chính khi thứ tha là khi được tha thứ

chính lúc chết đi là khi vui sống muôn đời

 

Ôi Thần Linh Thánh Ái xin mở rộng lòng con

Xin ban cho những ai lòng đầy thiện chí ơn an bình.

 

(Thánh Francisco)

 

(*) 

Seigneur, faites de moi un instrument de votre paix

 

Là où il y a de la haine, que je mette l’amour

Là où il y a l’offense, que je mette le pardon

Là où il y a la discorde, que je mette l’union

Là où il y a l’erreur, que je mette la vérité

Là où il y a le doute, que je mette la foi

Là où il y a le désespoir, que je mette l’espérance

Là où il y a les ténèbres, que je mette votre lumière

Là où il y a la tristesse, que je mette la joie

 

Ô maitre, que je ne cherche pas tant à être consolé qu’à consoler

                                                          à être compris qu’à comprendre

                                                          à être aimé qu’à aimer

 

Car c’est en donnant qu’on recoit

       c’est en s’oubliant qu’on trouve

       c’est en pardonnant qu’on est pardonné

       c’est en mourant qu’on resuscite à l’éternelle vie.

 

(St Francis Bernadone d’Assisi/La Cochette 1912)

 

(*) 

Lord, make me an instrument of your peace

where there is hatred, let me sow love

where there is injury, pardon

where there is doubt, faith

where there is despair, hope

where there is darkness, light

where there is sadness, joy

 

O Divine Master

Grant that I may not so much seek to be consoled as to console

                                                        to be understood as to understand

                                                        to be loved as to love

 

For it is giving that we receive

      it is pardoning that we are pardoned

      and it is in dying that we are born to Eternal Life.

 

(St Francis of Assisi/Friends’ Intelligencer 1927)


 

Bs PHAN THƯỢNG HẢI biên soạn



 

MỪNG CHÚA RA ĐỜI 

(Thánh ca Giáng sinh)

 

(ĐK)

Hát lên mừng Chúa giáng sinh ra đời, 

(Đêm Đông lạnh lẽo Chúa sinh ra đời), 

Chúa sinh ra đời nằm trong hang đá nơi máng lừa.

Trong hang Bê Lem ánh sáng tỏa ra tưng bừng.

Nghe trên không trung tiếng hát Thiên thần vang lừng

Đàn hát, 

(cùng cất tiếng hát)

Xướng ca, 

(dư âm vang xa)

Ôi Chúa thiên tòa giáng sinh vì ta.

Người hỡi, 

(cất tiến bước tới)

Đến xem, 

(nơi hang Bê Lem)

Ôi Chúa giáng sinh khó khăn thấp hèn.

 

(PK 1)

Nửa đêm mừng Chúa giáng sinh ra chốn dương trần

Người đem ơn phước xuống cho muôn dân lầm than

Nơi hang Bê Lem Thiên thần xướng ca

Thiên Chúa vinh danh chúng dân an hòa.

 

(PK2)

Nửa đêm mừng Chúa giáng sinh ra chốn dương trần

Người đem ơn phước xuống cho muôn dân lầm than

Nơi hang Bê Lem mục đồng xúm quanh

Ca hát vang lừng mến yêu chân thành.

 

(PK 3)

Nửa đêm mừng Chúa giáng sinh ra chốn dương trần

Người đem ơn phước xuống cho muôn dân lầm than

Nơi hang Bê Lem huy hoàng ánh sao

Đưa lối ba Vua hướng Đông đến chầu.

 

(PK 4)

Nửa đêm mừng Chúa giáng sinh ra chốn dương trần

Người đem ơn phước xuống cho muôn dân lầm than

Nơi hang Bê Lem ta quì thiết tha

Xin Chúa nhân hiền xuống ơn chan hòa.

TỰ VI SƯ

 

Nhớ lời xưa: "Nhất tự vi sư" (*)

Tội nghiệp quí Thầy nghiệp quả dư

Bảo thủ uy linh, nơi tín ngưỡng

Bảo trì tráng lệ, chốn đầu tư

Kinh tài sinh hoạt nguồn kinh tế

Định giới tu hành kiếp định cư

Mong ước quí Thầy mau giác ngộ

Mới khuyên rằng: "Bán tự vi sư". (*)

Tự họa tiếp theo:

 

Bởi nhờ từ: "Bán tự vi sư"

Danh lợi khỏi lo, lại có dư

Chính trực nhân tâm thông tánh Phật

Tu hành kiến tánh tuệ tâm tư

Sắc không vô ngã, vui tòng đạo

Sắc dục vô thường, sống tịnh cư

Tụng niệm tham thiền như bá tánh 

Thanh từ nhất hạnh tự vi sư. (**)

 

Phan Thượng Hải

12/17/19 

 

(*) Nhất tự vi sư, bán tự vi sư = (có) Một chùa (cũng) làm Thầy, bán chùa (cũng) làm Thầy.

(**) Tự vi sư = Tự (mình) làm Thầy (mình).

Mấy ngày nay nghe chuyện chùa BQ mà chán ngán. Cám ơn PTH đã mần thơ kiểu "chém treo ngành" nghe thật đã. Cũng có tí hứng bèn mần thêm vài câu gọi là họa góp vui:

 

Họa: Đâu phải trọc là sư

 

Ta đã trọc rồi, hãy gọi sư!

Tiền ư? Ta cũng triệu thiên dư

Không đủ? Ta còn trăm mẫu đất

Chưa vừa? Người có lắm ưu tư!

Chánh niệm? Nhớ hoài thêm quẩn trí

Tu tâm? Quên hết để an cư

Đã đủ chưa đây? Chàng khó tánh (!?)

Đủ chưa, chưa đủ…cũng là sư

 

Trần Bang Thạch

Houston, Texas

LÃNG BA PHAN VĂN BỘ

và dòng thơ lịch sử thập niên 1950s

                                                                   * Bs Phan Thượng Hải

 

Đây là những bài thơ của một thường dân ở Cần Thơ làm chứng nhân cho lịch sử của Nam Kỳ Tự Trị, Quốc Gia Việt Nam và Đệ Nhất Cộng Hòa trong thập niên 1950s.  Đó là Thi sĩ Lãng Ba Phan Văn Bộ (1908-1966).

 

Nam Kỳ Khởi Nghĩa và Tự Trị

 

*

Tháng 3 năm 1945, sau khi đảo chánh Pháp, Nhật cho vua Bảo Đại lập chính phủ Trần Trọng Kim.  Trong Nam Kỳ, vua Bảo Đại được đặt một quan Khâm Sai, là ông Nguyễn Văn Sâm, cũng như Khâm Sai Phan Kế Toại ở Bắc Kỳ.  

Tuy nhiên thực quyền được Nhật giao cho Mặt Trận Quốc Gia Thống Nhất gồm tất cả các đảng phái và giáo phái ở Nam Kỳ, cai trị Sài Gòn và địa phương.  Ngày 23-3-45, Mặt Trận Quốc Gia Thống Nhất rút lui nhường quyền lãnh đạo cho Ủy Ban Hành Chánh Lâm Thời Nam Bộ của Việt Minh (Cộng Sản Đệ Tam Quốc Tế) với Trần Văn Giàu (thuộc CS Đệ Tam Quốc Tế) làm Chủ Tịch.  

 

*

Tháng 8 năm 1945, Nhật đầu hàng Đồng Minh, quân Anh vào giải giới quân Nhật phía Nam vỹ tuyến 16 (từ Tourane tức là Đà Nẳng tới mũi Cà Mau) gồm Nam Trung Kỳ và Nam Kỳ.  Quân Pháp theo chân quân Anh vào Sài Gòn.  

Trong khi đó Ủy Ban Hành Chánh Lâm Thời Nam Bộ đã bị chống đối của Cao Đài, Hòa Hảo và Đệ Tứ Quốc Tế (Trotskyist) nên phải nhượng bộ và cải tổ, Phạm Văn Bạch (cũng thuộc Đệ Tam Quốc Tế) thay Trần Văn Giàu làm Chủ Tịch.  Sài Gòn hoàn toàn rối loạn giữa người Pháp, người Việt và các đảng phái.

                                Quân Pháp trở lại Sài Gòn

 

Sau một thời gian thương thuyết, quân Pháp tấn công quân Việt Nam và chiếm Tòa Thị Chính Sài Gòn là trụ sở của Ủy Ban Hành Chánh Lâm Thời Nam Bộ ngày 23-9-45.  (Ngày 23-9 nầy sau nấy được gọi là ngày Nam Bộ Kháng Chiến). Quân Việt Nam thua, phải rút ra ngoại ô và phong tỏa Sài Gòn. Ngày 3-10-45, tướng Leclerc đem 10.000 quân đổ bộ vào Sài Gòn.  Ngày 9-10, Anh và Pháp ký hiệp ước ở Luân Đôn xác định Anh hoàn toàn ủng hộ Pháp trong việc cai trị toàn Đông Dương dưới vỹ tuyến 16.  

 

*

Ngày 16-10-45, quân Việt Minh rút về vùng kháng chiến.  Khi rút đi, Việt Minh giết 20 người nồng cốt của phe Đệ Tứ Quốc Tế (Trotskist), trong đó có ông Phan Văn Hùm.  Quân đội của Cao Đài, của Hòa Hảo (gọi là Dân Xã) và của Bình Xuyên (của Tướng Bảy Viễn) không tham gia, chỉ rút về địa phận của mình.  

Trong Mặt trận Thống nhất Quốc gia Liên hiệp còn có Việt Nam Quốc Gia Độc Lập Đảng của các ông Nguyễn Văn Sâm (cựu Khâm sai), Phan Khắc Sửu, Trần Văn Ân và Hồ Văn Ngà.   Nó là hậu thân của Việt Nam Phục Quốc Đồng Minh Hội (của Kỳ Ngoại Hầu Cường Để) ở Nam Kỳ. Năm 1946, ông Nguyễn Văn Sâm và Hồ Văn Ngà bị VM thủ tiêu.  

Trong khoảng 1945-1946, VM dưới quyền của Trần Văn Giàu và Dương Bạch Mai thủ tiêu khoảng 2.500 người đối lập (theo lời của Trần Văn Giàu về sau nầy), trong đó có ông Bùi Quang Chiêu (1872-1945) bị giết ngày 29-9-1945.  Hai người bạn của ông trong đảng Lập Hiến (1923-1937) là ông Nguyễn Phan Long (1889-1960) và ông Trương Văn Bền (1883-1956) sang Pháp năm 1948 may mắn sống sót. Con gái của ông Bùi Quang Chiêu là bà Henriette Bùi Quang Chiêu đậu Bác sĩ Y Khoa ở Pháp vào năm 1929, là Bác sĩ Y Khoa đầu tiên của Việt Nam.  

Sau nầy, Đức Giáo Chủ Huỳnh Phú Sổ (1919-1947) của đạo Hòa Hảo cũng mất tích ngày 16-4-1947 trong chuyến đi hội với VM ở Tân Phú.      

 

*

Quân Pháp lần lượt chiếm lại lãnh thổ: phía Nam Sài Gòn chiếm đến mũi Cà Mau (25-10-45 tới 5-2-46) và phía Bắc Sài Gòn tới Kom Tum và Đà Nẳng (23-10-45 tới tháng 7-46).  Về chính trị, Pháp cho lập Nam Kỳ Quốc trong Liên Bang Đông Dương với chính phủ của Thủ Tướng Bs Nguyễn Văn Thinh ra mắt ngày 26-3-46, làm bù nhìn cho Pháp, cai trị dưới vỹ tuyến 16.


 

Quốc Gia Việt Nam

 

*

Chính Phủ

 

Sau khi quân Pháp có chiến tranh với Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa của Hồ Chí Minh ở bắc vỹ tuyến 16, nước Pháp dùng “Lá Bài Bảo Đại”.  Quốc Gia Việt Nam được thành lập do hiệp ước Hạ Long (5-6-48) ký trên tàu chiến của Pháp ở vịnh Hạ Long giữa Pháp và Cựu Hoàng Bảo Đại (với hậu thuẩn của Mặt trận thống nhất quốc gia liên hiệp gồm Cao Đài, Hòa Hảo, Việt Cách, Việt Quốc, Đại Việt…).  Quốc Gia Việt Nam chính thức thay thế Nam Kỳ Quốc. 

 

Chính phủ Nam Kỳ Quốc trở thành Chính phủ của Quốc Gia Việt Nam với Quốc Trưởng là Cựu Hoàng Bảo Đại và thủ đô ở Sài Gòn, Quốc Trưởng chỉ định Thủ Tướng lập chính phủ.  Cựu Hoàng Bảo Đại ký hiệp ước Élysée với Tổng thông Vincent Auriol của Pháp (ngày 8-3-49) chính thức công nhận Hiệp ước Hạ Long. Thay thế Nam Kỳ Quốc, Quốc Gia Việt Nam (L’État du Việt Nam) thuộc Liên Bang Đông Dương trong Liên Hiệp Pháp trên danh nghĩa gồm toàn lãnh thổ Việt Nam.  Khác Nam Kỳ Quốc, lãnh thổ của Quốc Gia Việt Nam trên danh nghĩa gồm cả bắc và nam vỹ tuyến 16.  

Những Thủ Tướng của Nam Kỳ Quốc: 

Bs Nguyễn Văn Thinh, Thiếu tướng Nguyễn Văn Xuân và Bs Lê Văn Hoạch (người Cần Thơ).  Bs Nguyễn Văn Thinh treo cổ tự tử trong khi tại chức!

Những Thủ Tướng của Quốc Gia Việt Nam: 

Thiếu tướng Nguyễn Văn Xuân, Bảo Đại, Nguyễn Phan Long, Trần Văn Hữu, Nguyễn Văn Tâm (hùm xám Cai Lậy), Nguyễn Phúc Bửu Lộc và Ngô Đình Diệm.  Có người làm Thủ Tướng hai lần.

                                         Quốc trưởng Bảo Đại

 

Trải qua thời kỳ nầy các chính phủ và chính khách chỉ là bù nhìn do Pháp đưa ra chứ không có bầu cử gì hết.  Quốc Gia Việt Nam trên danh nghĩa quản trị toàn lãnh thổ nhưng thật sự chỉ có từ vỹ tuyến 16 trở vào nam. Từ năm 1950, Quốc Gia Việt Nam chính thức có thêm “Hoàng Triều Cương Thổ” của vùng Cao nguyên Trung Phần (Tây Nguyên).  Pháp vẫn giữ quyền kiểm soát tài chánh, thương mại, quân sự và ngoại giao.

 

THỜI CUỘC CẢM TÁC (Xướng)

 

Khói lửa chăng vì nợ núi sông

Trào lưu cách mạng dễ ngăn dòng

Thổ thiêu kháng chiến tro đầy chợ

Bao bố tảo thanh xác chật đồng

Ái quốc quật cường mong đứng dậy

Thực dân phản động há ngồi không

Hạ Long mấy độ lui rồi tới

Đau khổ thay cho giống Lạc Hồng.

 

Gió bụi ba thu kết quả nào

Tính đi tính lại chẳng là bao

Ba tòa nội các thay ba sắc

Một khối quốc gia giữ một màu

Thả bóng Việt kỳ bay phới phới

Cầu hồn nội trị để lâu lâu

Sĩ phu xót dạ khôn ngồi đứng

Hố thẩm tuôn rơi giọt máu đào.

 

(Lãng Ba) 9-8-48


 

THỜI CUỘC CẢM TÁC (Họa)

 

Ba năm tranh đấu đắp non sông

Nhuệ khí hùng tâm chửa cạn dòng

Sinh tử quyết liều tròn dạ sắt

Bại thành nguyện giữ chắc gan đồng

Sơn hà thống nhứt bao năm đợi?

Xã tắc hòa bình mấy tháng không?

Đốt đỉnh hương trầm ta khấn vái

Mau cho tổ quốc trổ vừng hồng.

 

Phân rẽ anh em gốc gát nào

Nồi da xáo thịt hận dường bao?

Cao Đài, Dân Xã, đâu nhiều sắc (*)

Việt Cách, Đồng Minh, cũng giống màu (*)

Phản Trụ đầu Châu tan tổ quốc

Chung Nam hiệp Bắc hận dài lâu

Việt kỳ noi bóng toàn dân quyết

Một giọt máu rơi một điểm đào.

 

(Ngự Hương) 11-8-48

 

(*) Chú thích: 

Dân Xã là Hòa Hảo; Việt Cách là Việt Nam Cách Mệnh Đồng Minh Hội của Nguyễn Hải Thần và Đồng Minh là Việt Nam Độc Lập Đồng Minh (Việt Minh) của Hồ Chí Minh.

 

SÂN KHẤU CHÍNH TRỊ (Xướng)

Người lên ngựa kẻ xuống voi

Diễn trò múa rối thảy quen mòi

Giáp tuồng vênh mặt vài ông tướng

Hạ lớp xụi râu mấy sợi còi

Thuở trước anh hùng hay dụng võ

Đời nay chánh khách chả cần roi

Nước nhà đưa đẩy đầu môi lưỡi

Miễn được túi đầy vạn bạc thoi.

(Thượng Đức) 14-1-50

 

SÂN KHẤU CHÍNH TRỊ (Họa)

Tuồng chi đuôi chuột lại đầu voi

Dàn cảnh làm sao cũng ló mòi

Cổ động tập trung vang tiếng trống

Hô hào độc lập mõn hơi còi

Xé chia cẩm tú ông cha để

Dày đạp can thường sách sử roi

Mãi quốc những ai mau thức tỉnh

Đạo trời báo phục chóng dường thoi.

(Lãng Ba) 16-1-50

   

XU THỜI

Chánh quyền chuyển hướng mãi chưa ngừng

Xoay trở theo hoài chẳng mỏi lưng

Tuy sẳn điệu hùa hay lắm lắm

Lại còn lối xạo quá chừng chừng

Cựu tà, cựu chánh, đều chê trách

Tân giả, tân chơn, cứ đón mừng

Nay áp hoan nghinh, mai đả đảo

Xu thời số một tiếng vang lừng.

(Lãng Ba) 10-10-52


 

*

Kháng Chiến

 

Trong khi đó Pháp vẫn đô hộ với quân đội.  Kháng chiến thuộc Việt Minh không được người trong Nam ủng hộ, mặc dù kháng chiến rất dữ dội ở miền Bắc.  Kháng chiến Việt Minh trong Nam (thường gọi là Nam Bộ) thật ra gồm Nam Trung Bộ, Tây Nguyên và Nam Bộ. (Chữ Bộ được người kháng chiến dùng thế cho chữ Kỳ).  

Các nhân vật của Nam Bộ Kháng Chiến lúc đầu từ Ủy Ban Hành Chánh Nam Bộ bị chuyển về Bắc như Trần Văn Giàu, Phạm Văn Bạch, Dương Bạch Mai, Bs Phạm Ngọc Thạch, Nguyễn Văn Tạo… (trừ Hà Huy Giáp).  Đổi lại chính phủ Hồ Chí Minh đưa vào Nam Tôn Đức Thắng (1946) rồi Lê Duẫn, Phạm Hùng, Lê Đức Thọ và các tướng Nguyễn Bình, Nguyễn Sơn... (Nguyễn Bình tử trận năm 1951 còn Nguyễn Sơn trở về với Trung Cộng năm 1950).  Khi tập kết năm 1954 thì có tên của các tướng Tô Ký, Đồng Văn Cống, Trần Văn Trà….  

Kháng chiến Nam Bộ của Việt Minh (dưới vỹ tuyến 16) không thành công như Bắc Bộ vì đa số lãnh thổ vẫn còn kiểm soát bởi quân đội Pháp và Quốc Gia Việt Nam.

 

THUYỀN VIỆT

Xuống lắm vịnh, lên cũng lắm voi

Ngửa nghiêng thuyền Việt đã trơ mòi

Sang sông, thấy mạch lô chùi súng (*)

Đến chợ, nghe san đá túc còi (*)

Vô ruộng còn hềm (hiềm) người múa kiếm

Vào rừng lại ngán kẻ quơ roi

Không nơi đỗ được linh đinh mãi

Tháng lụn ngày qua chóng tựa thoi.

(Lãng Ba) 1-5-52

 

(*) Chú thích: 

Mạch lô=lính thủy của Tây và San đá=lính bộ của Tây


 

TRANH NƯỚC VIỆT 

Xã hội ngày nay đã lộn mèo

Tình hình rối rắm cảnh cheo leo

Tiểu nhân lên mặt toan làm dữ

Quân tử xuống chơn ráng chịu nghèo

Anh chị miền Nam tranh lộc nước

Bà con đất Bắc trải thân bèo

Trống xuôi kèn ngược bi hài nhỉ!

Đuốc Việt lu câm gió thổi phèo.

(Lãng Ba) 3-2-53

 

TẤN CÔNG HOÀ BÌNH

Tám năm rày xéo bởi can qua

Máu đỗ thịt rơi nát cửa nhà

Kẻ bám lợi quyền còn chủ chiến

Người thương nòi giống chỉ mong hòa

Báo chương rộn rịp đăng như thế…

Quần chúng xôn xao biết phải là…

Kèn huyễn bàng quang gieo ác ý

Giang sơn ai nỡ xẻ chia nà.

(Lãng Ba) 22-12-53

 

XUÂN GIÁP NGỌ CẢM TÁC (1954)

Ngay buổi sơ giao khó cạn lời

Nóng lòng hỏi thử Ngựa mà chơi

Phanh da bọc tướng trong bao trận

Cất vó độ binh đến mấy nơi?

Đất Việt khói sầu giăng mịt mịt

Trời Nam lửa hận chói ngời ngời

Phải trang thần mã thì xông lướt

Cứu quốc an dân tiếng để đời.

(Lãng Ba) 6-2-54

 

 

*

Hội Nghị Genève

 

Sau trận Điện Biên Phủ (1954) mới có Hội Nghị Genève ở Thụy Sĩ (từ 26-4-54 tới 20-7-54) với Liên Xô (Nga) và Anh đồng chủ tịch.

 

Hội nghị Genève có mục đính chấm dứt chiến tranh ở lãnh thổ Đông Dương giữa chánh quyền Pháp và chánh quyền Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, gồm có:

Đại diện Chánh quyền của nước chủ nhà: Thụy Sĩ

Đại diện chánh quyền của nước chủ tịch đàm phán: Anh và Liên Xô

Đại diện của chánh quyền Pháp và chánh quyền Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa trực tiếp đàm phán.

Ngoài Anh và Liên Xô, Đại diện của chánh quyền Mỹ và Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc (Trung Cộng) cũng tham gia trực tiếp đàm phán.

Đại diện của các chánh quyền khác tham gia gián tiếp thông qua ủy quyền đại diện

của chánh quyền Pháp: Quốc Gia Việt Nam, Vương quốc Lào và Campuchia

của chánh quyền Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa: Pathet Lào và Khmer Assarak

Lãnh thổ thật sự của Việt Nam: trước và sau HĐ Genève


 

Lãnh thổ Đông Dương (trong văn kiện của Hội nghị Genève):

Lãnh thổ của Chánh quyền Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa là miền Bắc Việt Nam trên vỹ tuyến 16.

Lãnh thổ của Chánh quyền Pháp là Liên Bang Đông Dương (thuộc Liên Hiệp Pháp) gồm có:

Miền Nam Việt Nam dưới vỹ tuyến 16, quản trị bởi chánh quyền Quốc Gia Việt Nam dưới quyền của nước Pháp.

Lào, quản trị bởi chánh quyền nước Lào dưới quyền của nước Pháp.

Camphuchia, quản trị bởi chánh quyền Campuchia. dưới quyền của nước Pháp.

Nhưng lãnh thổ thật sự thì khác (xem bản đồ).

 

Trưởng Đoàn đại diện của chánh quyền Pháp là George Bidault

Trưởng Đoàn đại diện của chánh quyền Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa là Phạm Văn Đồng

Trưởng Đoàn đại diện của chánh quyền Quốc Gia Việt Nam lần lượt có 3 người, người cuối cùng là Bác sĩ Trần Văn Đỗ.

 

CẢM TÁC

Hiểm họa hăm chia xẻ nước nhà

Ưu thời, ai chẳng nghĩ gần xa

Sắc màu lem luốc, tranh Nam Việt

Xương máu phôi pha, cảnh Bắc Hà

Thụy quốc rộn ràng bàn lại cãi (*)

Điện thành oanh liệt bắt rồi tha (*)

Trả xong độc lập còn thương thuyết

Nghĩa cũ tình xưa hết đậm đà.

(Lãng Ba) 26-5-54

 

(*) Chú thích:

Thụy quốc là nước Thụy Sĩ và Điện thành là Điện Biên phủ

 

HỘI NGHỊ GENÈVE

Khéo hội nghị hoài, cũng có công

Lòng không thành thực, chí không đồng

Ngọt ngào lắm lúc như chè ỷ (*)

Tráo trở đòi phen tựa bánh phồng

Một số vấn đề không giải quyết

Hai luồng tư tưởng khó giao thông

Đông Tây cứ mãi tranh khôn dại

Trời đất có ngày sẽ nổi giông.

(Lãng Ba) 29-6-54

 

(*) Chú thích: Chè Ỷ là Chè xôi nước nhưng không có nhưn

 

*

Hiệp Định Genève

 

Cuối cùng hiệp định Genève ký kết vào ngày 21-7-54: Chiến tranh Đông Dương giữa chánh quyền Pháp (Liên Hiệp Pháp) và chánh quyền Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa chính thức chấm dứt.  Hòa bình trên toàn lãnh thổ Đông Dương gồm Việt Nam, Lào và Campuchia.

Hiệp định được ký giữa Tướng Henri Delteil, quyền Tổng Tư lệnh Lực lượng Liên Hiệp Pháp ở Đông Dương và Tạ Quang Bửu, Thứ trưởng Quốc phòng của chánh quyền Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa. 

Tướng Henri Delteil và Thứ trưởng Quốc Phòng Tạ Quang Bửu ký HĐ Genève

 

Riêng về lãnh thổ Việt Nam, Hiệp định chia ra làm 2:

Miền Bắc trên vỹ tuyến 17 thuộc chánh quyền độc lập của nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa

Miền Nam dưới vỹ tuyến 17 thuộc chánh quyền Quốc Gia Việt Nam dưới quyền của nước Pháp (Liên Hiệp Pháp).

Thật ra một tháng trước khi Hiệp định Genéve ký kết, Pháp đã ký Hiệp ước Matignon (giữa Thủ Tướng Joseph Laniel và Thủ Tướng Nguyễn Phúc Bửu Lộc) công nhận Quốc Gia Việt Nam hoàn toàn độc lập (khỏi Pháp và Liên Hiệp Pháp).  

 

Như vậy, tình trạng tạm thời chia nước Việt Nam làm Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa và Quốc Gia Việt Nam lấy sông Bến Hải ở vỹ tuyến 17 làm ranh giới với dự trù Tổng Tuyển Cử 2 năm sau đó.  Nước Pháp hoàn toàn rút ra khỏi Đông Dương. 

Dự trù Tổng Tuyển Cử không có trong Hiệp định Genève chính thức ký kết giữa chính phủ Pháp và chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa.  Dự trù Tổng Tuyển Cử nầy chỉ được ghi trong Bản Tuyên Ngôn Chung của Hội Nghị Genève:

Xác nhận rằng đường giới tuyến chỉ có tính cách tạm thời, và không được coi như một biên goới chính trị hoặc lãnh thổ; mong rằng sự đình chiến sẽ tạo cơ hội cần thiết để sớm giải quyết vấn đề chính trị Việt Nam.

Dân tộc Việt Nam phải được hưởng tự do dân chủ, và Tổng Tuyển Cử sẽ được tổ chức vào tháng 7 năm 1956, dưới sự kiểm soát quốc tế; và hai miền Nam Bắc sẽ bắt đầu trao đổi ý kiến về vấn đề nầy từ 20-7-1955. 

 

Trong "Tuyên Bố lần thứ 1", Ngoại trưởng Trần Văn Đỗ (của Quốc Gia Việt Nam) phản kháng: 

Sự hy sinh của những vùng còn có Quân đội Quốc Gia Việt Nam kiểm soát

Sự lạm quyền của bộ Tổng Tư lệnh Pháp dám tự ý ấn định ngày Tổng Tuyển Cử

Sự ký kết Hiệp định Đình chiến (HĐ Genève) trái với nguyện vọng độc lập và thống nhất của dân tộc Việt Nam.

Nguyên văn bản chữ Pháp:

Le Gouvernement de l'État du Việt Nam demande qu'il luit soit donné acte de ce qu'il proteste solennellement contre le facon dont l'armistice a été conclu, et contre les conditions de cet armistice qui ne tient aucun compte des aspirations profondes du peuple Vietnamien, et de ce qu'il rérserve une entière liberté d'action pour sauvegarder le droit sacré du peuple Vietnamien à l'indépendance, à la liberté.

 

NGƯNG BẮN

Hay tin, khoái quá, thánh thần ôi!

Ngưng bắn, đôi bên ký kết rồi

Buông súng chăm nom người vợ góa 

Xách cày nuôi nấng đứa con côi

Quạ diều đã hết ăn xương máu

Yêu quái đâu còn hưởng thịt xôi

Bài học chín năm suy thấu chẳng?

Từ rày huynh đệ chớ lôi thôi.

(Lãng Ba) 21-7-54 

 

*

Di Cư

 

Những người kháng chiến Nam Bộ phải lìa gia đình, tập kết ra Bắc hy vọng 2 năm sau tổng tuyển cử.  Gần một triệu người miền Bắc lại di cư vào Nam sau Hiệp định Genève.

Theo thống kê chính thức ngày 1-7-1955 (1 năm sau HĐ Genève), Tổng số dân di cư vào Nam: 

533,868 người vào Nam bằng tàu biển

243, 657 người vào Nam bằng máy bay

                                Di cư vào Miền Nam


 

CHIA LY (*)

Cảnh vật điêu linh bởi đợi chờ

Hồn lìa khỏi xác, mít lìa xơ

Đạn tên đã vắng hàn thương tích

Gia thất tạm ly vững cõi bờ

Chim Việt rời Nam vì nợ máu 

Ngựa Hồ về Bắc há tình cờ 

Hai năm còn lại còn tranh đấu

Hồng Lạc còn dài nghĩa tóc tơ.

(Lãng Ba) 27-7-54

 

(*) Chú thích: Ám chỉ những người trong Nam vỹ tuyến 16 tập kết ra Bắc.

 

DI CƯ

Sau ngày đình chiến, những lương dân…

Bỏ xứ mang theo một chữ bần

Lạ nước lạ non chưa lập nghiệp

Thiếu ăn thiếu mặc khó toàn thân

Sanh tồn, bổn quốc lo trăm (nhiều) kế

Ủy lạo, ngoại bang đỡ một (ít) phần

Bắc Việt lâm nguy, Nam Việt cứu

Vì tình vì nghĩa cũng vì nhân.

(Lãng Ba) 24-8-54

 

DI CƯ VÀO NAM

Nam Bắc ngày nay tựa Hớn Hồ

Bắc đô từ giả đến Nam đô

Áo cơm thiếu thốn hằng sa ngả

Lý tưởng buộc ràng quá đuổi xô

Hấp tấp người đi cong vỹ Sở

Phàn nàn kẻ ở lắc đầu Ngô

Nước non, Bến Hải đà phân cách

Muốn viếng thăm nhau chẳng thấy đò.

(Lãng Ba) 20-11-54

 

XUÂN CỦA NGƯỜI DI CƯ

Nhắc Tết năm xưa lệ mấy hàng

Kẻ hèn còn tủi, huống người sang

Mộng mơ đất Bắc lòng tê tái

Nương náo trời Nam phận lỡ làng

Rót chén trà sen ngơ ngẩn nhớ

Nâng ly rượu cúc ngậm ngùi than

Buồn xuân nghĩ giận ai ngoài ấy

Bởi ghét ghen nhau (nên) tách dậm ngàn.

(Lãng Ba) 17-2-55

 

XUÂN ẤT MÙI CẢM TÁC

Rồng tiên hớn hở đón Xuân Mùi

Viễn ảnh hòa bình hết tối thui

Độc lập vãn hồi, nên thỏa mãn

Tự do ban bố, mới an vui

Mở mang làng nước thêm hưng thịnh

Cải cách điền viên hưởng ngọt bùi

Tuyển cử ắt nhiều cơ đắc thắng

Đồng bào khỏi chịu cảnh chia phui.

(Lãng Ba) 17-1-55 

 

*

"Bài Phong"

 

Dưới áp lực của Mỹ và đức Hồng Y Spellman, Cựu Hoàng Bảo Đại nhận ông Ngô Đình Diệm từ NewYork về nước làm Thủ Tướng thay thế ông Nguyễn Phúc Bửu Lộc (16-6-54).  Ông Ngô Đình Diệm lập chính phủ mới ngày Song Thất (7-7-54), 2 tuần lễ trước ngày ký Hiệp định Genève. Ông đuổi Thiếu Tướng Nguyễn Văn Hinh (em của cựu Thủ Tướng Nguyễn Văn Tâm, tư lệnh quân đội của Quốc Gia Việt Nam từ 1953) là người thân Pháp và thân Bảo Đại, dùng Thiếu Tướng Lê Văn Tỵ để nắm lại quân đội.  

Ô. Nguyễn Văn Xuân, Tướng Nguyễn Văn Hinh, Ô. Ngô Đình Diệm và Tướng Lê Văn Viễn

 

Quân đội hay Lực Lượng Vũ Trang đóng vai trò quan trọng nhứt trong chính trường ở Nam Kỳ.

Đệ Tam Quốc Tế Cộng Sản Việt Minh lợi dụng danh nghĩa Ủy Ban Hành Chánh Nam Bộ rồi Kháng Pháp để mộ quân.  Thanh Niên Tiền Phong (1945-46) dưới sự lãnh đạo của Bác sĩ Phạm Ngọc Thạch (một đảng viên CS) gia nhập và trở thành lực lượng của Việt Minh.  Khi tập kết (1954), VM của Nam Kỳ có 2 sư đoàn của Thiếu tướng Tô Ký và Thiếu tướng Đồng Văn Cống.

Thủ tướng Trần Văn Hữu của Quốc Gia Việt Nam chính thức lập Vệ Binh Quốc Gia Việt Nam (11-1950) rồi nó thành Quân Đội của Quốc Gia Việt Nam (8-12-50) với Tổng chỉ huy là Quốc Trưởng Bảo Đại.  Theo lệnh “động viên” của Thủ tướng Trần Văn Hữu quân số từ 40.000 người (5-1951) lên tới 158.000 (12-1951). Đại tá Nguyễn Văn Hinh, Chánh Võ phòng của QT Bảo Đại được thăng thành Thiếu tướng và giữ chức Tổng Tham mưu trưởng Quân Đội (12-4-52).  Đến năm 1953, Quân Đội Quốc Gia Việt Nam có 230.000 người (165.000 chính quy và 65.000 địa phương).

 

Đức Giáo Chủ Huỳnh Phú Sổ của Đạo Hòa Hảo, cùng với ông Trần Văn Ân, lập Dân Xã Đảng (21-9-46) có lực lượng vũ trang.  Sau khi Giáo Chủ bị mất tích vào ngày 16-4-47, Hòa Hảo chia ra 4 nhóm.

         Các Tướng Nguyễn Giác Ngộ, Lê Quang Vinh, Trần Văn Soái và Trình Minh Thế

 

Bốn nhóm của Lực lượng Hòa Hảo:

Trần Văn Soái tự là Năm Lửa, thủ lãnh “Quân Đội Hòa Hảo”, hoạt động ở Cần Thơ và Vĩnh Long đóng ở Cái Vồn, Cần Thơ.

Lâm Thành Nguyên tự là Hai Ngoán hoạt động ở Châu Đốc và Long Xuyên đóng ở Cái Dầu (Châu Phú), Châu Đốc

Lê Quang Vinh tự là Ba Cụt, thủ lãnh “Nghĩa Quân Cách Mạng”, hoạt động ở Rạch Giá và Long Xuyên đóng ở Thốt Nốt, Long Xuyên.

Nguyễn Giác Ngộ tự là Ba Gà Mổ, thủ lãnh “Nghĩa Quân Nguyễn Trung Trực”, hoạt động ở Long Xuyên đóng ở Chợ Mới, Long Xuyên.

Trần Văn Soái, Lâm Thành Nguyên và Lê Quang Vinh đều liên minh với Pháp chống Việt Minh.  Riêng ông Nguyễn Giác Ngộ thì về hợp tác với chính phủ Quốc Gia Việt Nam thành 1 trung đoàn của Quân Đội Quốc Gia Việt Nam (1950).

        Hộ pháp Phạm Công Tắc và Tướng Navarre    Tướng Nguyễn Thành Phương


 

Sau khi được thả về với điều kiện phải liên minh với Pháp chống VM, Đức Hộ Pháp Phạm Công Tắc của Đạo Cao Đài lập lực lượng vũ trang Cao Đài (năm 1946), phong cho một chức sắc là Giáo sư Thượng Vinh Thanh Trần Quang Vinh làm Trung tướng và chỉ huy lực lượng.  Chức chỉ huy đổi qua Thiếu tướng Nguyễn Văn Thành (1951) nhưng ông nầy rất hà khắc nên trở lại với Trung tướng Trần Quang Vinh (1953). Mấy tháng sau, Thiếu tướng Nguyễn Thành Phương (và Thiếu tướng Trình Minh Thế) bắt cóc Trung tướng Trần Quang Vinh buộc Đức Hộ Pháp phải giao quyền chỉ huy cho TT Nguyễn Thành Phương và phong cho TT Trình Minh Thế làm Tham mưu trưởng.  Tuy nhiên TT Trình Minh Thế cũng có lúc lập chiến khu riêng của mình vừa chống Pháp vừa chống VM. Ông Trần Quang Vinh (1897-1975) từ đó chỉ lo về Đạo (và bị mất tích sau 30-4-75).

 

Bình Xuyên ở làng Chánh Hưng, quận Nhà Bè, Sài Gòn là tên (? sào huyệt) của nhóm du đãng giang hồ ven Sài Gòn thành lập vào năm 1945 bởi Dương Văn Dương (Ba Dương).  Bình Xuyên của Ba Dương chống Pháp khi Pháp trở lại Đông Dương (1945-46) ở vùng Tân Thuận, Tân Qui, Nhà Bè và Thủ Thiêm cho đến khi Ba Dương tử trận (1946). Em là Dương Văn Hà theo VM (?).  Nhưng phần lớn thành phần của Bình Xuyên theo Lê Văn Viễn (Bảy Viễn) về gia nhập Quân Đội Quốc Gia Việt Nam. Bảy Viễn được phong Đại tá rồi lên Thiếu tướng (1952) được Pháp cho kiểm soát các sòng bài và nhà thổ ở Sài Gòn Chợ Lớn. 

 

Vào thời đầu VNCH, tất cả Lực lượng vũ trang của Cao Đài, Hòa Hảo và Bình Xuyên được gọi là “Phong” (Phong Kiến) cũng như quân Pháp gọi là “Thực” (Thực Dân).  Ngày 4-3-1955, “Lực Lượng Phong” chính thức lập Mặt Trận Thống Nhứt Toàn Lực Quốc Gia dưới sự lãnh đạo của Đức Hộ Pháp Phạm Công Tắc và 6 võ tướng là: 

Trung tướng Năm Lửa Trần Văn Soái (Hòa Hảo)

Thiếu tướng Lâm Thành Nguyên (Hòa Hảo)

Thiếu tướng Ba Cụt Lê Quang Vinh (Hòa Hảo)

Trung tướng Nguyễn Thành Phương (Cao Đài)

Thiếu tướng Trình Minh Thế (Cao Đài) 

Thiếu tướng Bảy Viễn Lê Văn Viễn (Bình Xuyên) 

Mặt Trận cũng có các ông Trần Văn Ân, ông Hồ Hữu Tường…  Mặt Trận chính thức chống lại Thủ tướng Ngô Đình Diệm. Bình Xuyên ở Sài Gòn sẵn sàng tấn công Dinh Độc Lập.  

Tuy nhiên ngay sau đó các Tướng Lâm Thành Nguyên, Nguyễn Thành Phương và Trình Minh Thế lại theo về với Thủ tướng Ngô Đình Diệm.  Bình Xuyên bị Quân Đội Quốc Gia đánh bại (4-1955) phải chạy về Rừng Sác (thuộc Cần Giờ, Sài Gòn). Tướng Trình Minh Thế tử trận ở cầu Chữ Y khi đánh nhau với Bình Xuyên.  

 

Sau chiến dịch Hoàng Diệu (9-1955) của Đại tá Dương Văn Minh và Đại tá Đỗ Cao Trí, Bình Xuyên bị tiêu diệt, Bảy Viễn trốn qua Cao Miên rồi sang Pháp cho đến khi chết năm 1971.  

Ngày 5-10-55, Tướng Nguyễn Thành Phương đem quân của mình về vây Toà thánh Tây Ninh thanh trừng những ai chống đối Thủ tướng Ngô Đình Diệm.  Đức Hộ Pháp Phạm Công Tắc (1890-1959) phải lén trốn sang Cao Miên (3 giờ sáng ngày 6-2-56) rồi qua đời ở Nam Vang vì bệnh (17-5-59).  

 

Sau chiến dịch Nguyễn Huệ (1-1950), Tướng Năm Lửa Trần Văn Soái (1889-1961) bị thua và đầu hàng vào ngày 8-3-56 cùng với 1056 sĩ quan và 4600 quân rồi chết ở Sài Gòn (1961).  Tướng Ba Cụt Lê Quang Vinh (1923-1956) sống sót chiến dịch Nguyễn Huệ nhưng sau đó ông bị dụ hàng rồi bị bắt, bị xử tử bằng máy chém (đầu) ở Cần Thơ (13-7-56).

                Ông Ba Cụt Lê Quang Vinh tại Tòa án Cần Thơ



 

Việt Nam Cộng Hòa

 

*

Với hậu thuẩn của quân đội, ông Ngô Đình Diệm tổ chức Cuộc Trưng Cầu Dân Ý ngày 6-10-55 để dân chúng chọn giữa Ông và Cựu Hoàng Bảo Đại (lúc đó sống ở bên Pháp!).  Lòng dân lúc bấy giờ có nhiều người không thích Bảo Đại:

 

ÔNG VUA YẾM THẾ

Mấy trang tình sử lật qua rồi

Đô hội phồn hoa, ít thấy tôi

Tửu sắc vừa nghe, đà ứ hự

Khí tài có rủ, cũng ôi thôi (*)

Thấy cơ lập nghiệp, nào vơ lấy

Gặp dịp cầu danh, cứ thả trôi

Chờ nhóm chán đời tôn chúa tể

Ngần nầy bản lĩnh, ắt lên ngôi!

(Lãng Ba) 15-1-55 

 

(*) Chú thích: Khí = thuốc phiện.  Tài = cờ bạc

 

NGAI VÀNG SỤP ĐỖ

Ngôi cũ thối hư, gió mới đùa

Có ngày nước Việt phế nhà vua

Thực nuôi, Phong dưỡng, lời sao thuận

Quan trách, dân phiền, lý phải thua

Nảy mực cầm cân, ưa trốn tránh

Xiêu đình ngả quán, thích tranh đua

Ươn hèn hết xứng vai thiên tử

Thà để cho con sãi ở chùa. (*)

(Lãng Ba) 17-5-55

 

(*) Chú thích:

Con vua thì đặng làm vua

Con sãi ở chùa thì quét lá đa (Ca dao)

 

Ông Ngô Đình Diệm thắng cử trong cuộc Trưng Cầu Dân Ý và chính thức thành lập nước Việt Nam Cộng Hòa với ông làm Tổng Thống đầu tiên vào ngày 26-10-55.  Ngày Quốc Khánh 26-10 được gọi là ngày Tết Cộng Hòa dưới thời Đệ Nhất Cộng Hòa của ông Ngô Đình Diệm. Chính phủ Ngô Đình Diệm sau đó từ chối Tổng Tuyển Cử và gọi ngày ký Hiệp định Genève 20-7 là ngày Quốc Hận.

                                                Kết quả Trưng Cầu Dân Ý

 

CHÀO MẦNG NGÔ TỔNG THỐNG

Chào mầng vị Tổng Thống đầu tiên (*)

Bao quản phong ba lái Việt thuyền

Vạch lối tự do, dồi chủng tộc

Xây nền độc lập, vững sơn xuyên

Cộng hòa khai sáng tròn danh nghĩa

Dân chủ tài bồi vẹn phúc duyên

Toàn quốc suy tôn người cứu quốc

Chào mầng vị Tổng Thống đầu tiên.

(Lãng Ba) 29-10-1955

 

(*) Chú thích : Mầng = mừng (tiếng người Nam Kỳ).

 

MỘT NĂM CHẤP CHÁNH

Ngô thị, một năm, nắm chính quyền

Lập nhiều thành tích ngoại bang kiêng

Thanh trừng hối lộ, trừng con bạc

Nghiêm cấm mại dâm, cấm bợm ghiền

Đả đảo Thực Phong, dân giải thoát

Tiểu trừ Việt Cộng, nước bình yên

Di cư hàng triệu lo chu đáo

Nội trị chỉnh tu vẹn mối giềng.

(Lãng Ba) 20-10-56

 

ĂN TẾT CỘNG HÒA

Nhân dịp ta ăn Tết cộng hòa

Thích nhìn thành tích bốn năm qua

Tự do, bình đẳng, danh đồn khắp

Độc lập, hùng cường, tiếng dội xa

Sông núi điểm tô, xinh tựa gấm

Giống nòi cải tiến, đẹp như hoa

Tương lai sáng lạn càng tin tưởng

Ca bản “Suy tôn”, nhắp rượu trà.

(Lãng Ba) 26-10-58

 

*

CỜ VIỆT NAM

Không trung phất phới vẻ vang kỳ

Việt quốc nêu cao lá quốc kỳ

Chính chính da vàng chung một giống

Đường đường sọc đỏ hợp ba kỳ

Con Hồng nâng đỡ bằng bao cách

Cháu Lạc điểm tô biết mấy kỳ

Bốn bể năm châu đều rõ mặt

Không trung phất phới vẻ vang kỳ.

(Lãng Ba) 21-11-59

 

Ngày 26-3-46, Nam Kỳ Cộng Hòa Quốc (Nam Kỳ Quốc) hay Cộng Hòa Tự Trị Nam Kỳ trong Liên Bang Đông Dương được thành lập với lá cờ nền vàng 3 sọc xanh chen kẻ 2 sọc trắng ở giữa tượng trưng cho 3 con sông Đồng Nai, Tiền Giang và Hậu Giang.

Ngày 2-6-1948, Quốc Gia Việt Nam thành lập, chính phủ Nguyễn Văn Xuân dùng lá cờ nền vàng với 3 sọc đỏ.  Lá cờ vàng ba sọc đỏ nầy đuợc nước Việt Nam Cộng Hòa tiếp tục dùng từ 26-10-55 cho đến 30-4-1975 (qua thời Đệ Nhất và Đệ Nhị Cộng Hòa).

    TT Ngô Đình Diệm ngồi trước GM Ngô Đình Thục và ÔB Ngô Đình Nhu

*

Thời Đệ Nhất Cộng Hoà còn có những cải cách xã hội rất hữu ích: Cấm cờ bạc, hút thuốc phiện, đĩ điếm và bất hợp pháp chế độ đa thê:

                 Sòng bạc Đại Thế Giới ở đ. Trần Hưng Đạo

 

KIM CHUNG ĐÓNG CỬA (*)

“Chuông Vàng” tốn bạc mới im đây (*)

Ai cũng mừng cho xứ sở nầy

Gái hết “cầu âu” gìn trọn tiết (*)

Trai không “tài xiểu” giữ toàn thây (*)

Đủ ăn đủ mặc nhà thêm ổn

Ít ác ít gian ngục bớt đầy

Tệ ấy trừ rồi trừ tệ khác

Cho dân đỡ khổ được vui vầy.

(Lãng Ba) 8-1-55

 

(*) Chú thích:

Kim Chung (cùng với Đại Thế Giới) là sòng bạc lớn nhứt ở Sài Gòn do Pháp mở ra.  Nó ở chỗ mì “La Cay” đường Nguyễn Tri Phương dưới thời VNCH. Kim chung=Chuông vàng.

Cầu âu là đánh me.  Tài xiểu là đánh tài xiểu

 

KHÓC Ả PHÙ DUNG

Phù Dung tiên nữ, ả phiền ôi (*)

Chánh phủ đã ra lệnh cấm rồi

Nặng nợ ống nồi còn muốn nữa

Dứt tình thuốc nhựa phải đành thôi

Nhớ đèn leo lét, không ăn uống

Thèm khói thơm tho, khó đứng ngồi

Mộng điệp, nhìn nhau rơi lệ thảm

Phù Dung tiên nữ, ả phiền ôi.

(Lãng Ba) 10-12-55

 

(*) Chú thích:

Ghẹo mấy người ghiền thuốc phiện là mê Phù Dung tiên nữ (Hút vô là thăng lên tiên!).

Opium dịch là (thuốc) á phiện, từ ngữ Nam Kỳ cố tình đọc trại là “ả phiền” ("Ả" là người đàn bà, "phiền" là buồn).  

 

CHẾ ĐỘ ĐA THÊ CHẤM DỨT

Đơn thê dự luật thảo xong rồi

Thiếp phải thôi, hầu cũng phải thôi

Chuồng lợn nằm co, chồng khỏi sợ (*)

Chăn bông đắp trọn, vợ không rời (*)

Chẳng khai mương nữa, hư hao đất (*)

Đâu cắn cỏ chi, náo động trời (*)

Nam nữ bình quyền, gây hạnh phúc

Hết ai là chúa, hết ai tôi.

(Lãng Ba) 16-6-58 

 

(*) Chú thích:

Tục ngữ: Một vợ nằm giường lèo, hai vợ nằm chèo queo, ba vợ nằm chuồng heo. 

Thơ Hồ Xuân Hương: Kẻ đắp chăn bông kẻ lạnh lùng.  Chém cha cái kiếp lấy chồng chung. 

Ca dao: Lập vườn thì phải khai mương

                         Làm trai hai vợ phải thương cho đồng. 

Ca dao: Vợ lớn đánh vợ nhỏ 

                         Bước ra ngoài ngõ, cắn cỏ kêu trời, 

                         Nhứt phu lưỡng phụ ở đời sao an? 

 

Tổng Thống Ngô Đình Diệm với 2 vợ chồng người em là ông bà Cố Vấn Ngô Đình Nhu và Trần Lệ Xuân được đa số dân ủng hộ trong cuối thập niên 1950s.


 

Thi Sĩ Lãng Ba Phan Văn Bộ

 

Thi sĩ Lãng Ba Phan Văn Bộ (1908-1966) là người Cao Lãnh, học ở trung học Mỹ Tho và Cần Thơ, đậu bằng Thành Chung (Diplôme) và làm việc ở Tòa án Mỹ Tho và Cần Thơ.

Thi sĩ Lãng Ba là người đầu tiên làm thơ về thơ, về người làm thơ và xử dụng tất cả kỹ thuật của thơ Đường.

 

Thơ về thơ:

HỒN THƠ

Lãng mạn hồn thơ thích dạo chơi

Hồn bay liệng khắp chốn xa vời

Nương mây, hồn viếng thăm sông núi

Tựa gió, hồn ngang dọc bể trời

Hồn ngắm ác vàng sa nội quạnh

Hồn nhìn thỏ bạc vượt mù khơi

Suối reo chim hát hồn say đắm

Say đắm, hồn quên phức sự đời.

(Lãng Ba) 20-1-54

 

CÁI THÚ THƠ ĐƯỜNG

Việt tự, Đường văn (thi), mặc khách say

Ngâm hoa vịnh nguyệt suốt canh dài

Chọn đề thích thú, lời vui ngộ

Gieo vận ngọt ngào, tứ đẹp hay

Biền ngẫu khéo khôn xem khoái mắt

Trắc bình hòa hợp đọc bùi tai

Hương thơ tuyệt diệu hồn thơ cảm

Cảm hứng tìm chơi, được mấy ai ?

(Lãng Ba) 12-2-59

 

Thơ về người làm thơ:

TRÁCH CHỒNG THI SĨ

Thi sĩ ngông ôi, mình hởi mình

Con kêu vợ nói cứ làm thinh

Sớm trưa lẩm bẩm: đề cùng vận

Năm tháng loay hoay: trắc với bình

Câu chữ gọn gàng ngâm dẫu đẹp

Cảnh nhà thiếu thốn nhắm nào xinh

Trên đường danh lợi không chen lấn

Theo mãi văn chương, mãi sập sình.

(Lãng Ba) 16-8-56

 

Kỹ thuật làm thơ:

TỰ TRÀO

Lẹ làng, lịch lãm, lại lu lờ

Thỏa thích thì thôi thả thất thơ

Mèo mở mỏi mê mà mãi miết

Chén chè châm chước chẳng chần chờ

Tánh tình tồi tệ toan tu tỉnh

Sự sản sơ sài sẽ sởn sơ

Hiền hữu hay ho ham hội họp

Vui vầy vồn vã vịnh vu vơ. (*)

(Lãng Ba) 27-9-47

 

(*) Chú thích: Những chữ trong mỗi câu đều bắt đầu với 1 phụ âm.


 

Bs PHAN THƯỢNG HẢI biên soạn

 

Bài viết nầy đăng lần đầu tiên trong phanthuonghai.com (trong mục "Thơ và Sử": viết sau bài "Phạm Đình Bách và Quách Tấn" và trước bài "Nhân Văn Giai Phẩm").

 

Tài liệu tham khảo

Miền Nam Nước Việt và Thơ Lãng Ba (Phan Thượng Hải) - phanthuonghai.com

Hai Mươi Năm Qua: 1945-1964 (Đoàn Thêm)

Wikipedia

__________________________________________________________________

BÁC SĨ GIÀ

Ông Ký, quí Chị và quí Liệt Lão thân kính

Tui làm bài thơ Bác Sĩ già khi nghĩ tới quí Liệt Lão (và quí Chị) trong lớp.

Còn có thêm 1 bài nữa theo thể Liên Hoàn.  Xin gởi quí vị đọc chơi:

 

(Bác Ca sĩ)

Mạnh giỏi, tâm tình bác chửa vơi

Hát theo dòng nhạc biết yêu đời

Giọng ca lão luyện lời tha thiết

Bài bản u hoài dạ thảnh thơi

Bác sĩ có danh nên có tiếng

Bác già còn sức mới còn hơi

Dư âm lưu luyến lòng thương nhớ

Đẹp mãi hương xưa của một thời.

 

(Bác Thi sĩ)

Minh tâm, liệt lão biết ưu thời

Tình ý còn đầy cứ lả lơi

Dùng chữ tuy xưa vừa thích thú

Làm thơ dù cũ đủ vui chơi

Bác già trời giúp, mong thêm tuổi

Bác sĩ nghiệp dư, thích lắm lời

Thi bá thành danh nhờ mẫn thế 

Theo vần thong thả sống theo đời.

 

(Bác Tửu gia)

Những bác tửu gia biết sống đời

Rành nghề ẩm thực đúng tay chơi

Món nầy thức nọ ăn ngon miệng

Rượu đó đồ kia uống hợp thời

Rượu mạnh, bác già ngưng lão liệt

Rượu vang, bác sĩ cứ khoe mời

Hòa đồng thú vị say tình bạn

Khẩu nghiệp đa mang vẫn tuyệt vời.

 

(Bác Nhiếp ảnh gia)

Bác nhiếp ảnh gia khéo vẽ vời

Sống vì nghệ thuật chụp không ngơi

Bác già viễn thị nhòm qua lỗ

Bác sĩ mát tay bấm đã đời

Show cảnh mỹ miều hơn hội họa

Tả người xinh xắn khỏi thêm lời

Giữ bao kỷ niệm trong hình ảnh

Cùng với thâm tình chuyển khắp nơi.

(Bác Văn sĩ)

Truyền bá văn chương khắp mọi nơi

Giờ đây viết lách chẳng hề ngơi

Luận bàn rộng rãi, trần tình lý

Biên khảo xa xôi, kể chuyện đời

Bác sĩ ký toa thành ký giả

Bác già tùy bút đúng tùy thời

Góp công vun đắp nền văn học

Chuyển hướng tài ba, dạ thảnh thơi.

 

Phan Thượng Hải

1/27/16 & 12/8/19

LỄ THANKSGIVING

 

Bỏ đi phú quí với phồn vinh

Tìm đất tự do sống thái bình

Nông nghiệp mở mang khi kiếm sống

Kinh doanh phát triển lúc mưu sinh

Quốc gia giàu mạnh nhờ dân chủ

Quốc tế hùng cường trải chiến chinh

Hiệp chủng kết tình toàn lãnh thổ

Cùng vui mừng lễ Thanksgiving.

 

Mỗi năm đến lễ Thanksgiving

Cảm tạ ơn trên giúp đỡ mình

Tỵ nạn miền Nam qua khốn khó

Công dân nước Mỹ sống thanh bình

Vẹn tình thông cảm toàn thân thuộc

Trọn đạo kiên trì nhất nghệ tinh

Hy vọng từ tâm nhìn thế sự

Thủ thường an phận đủ phồn vinh.

 

Phan Thượng Hải

11/22/18

  NGÔ ĐÌNH DIỆM

                                                                    (Bs Phan Thượng Hải)

 

Thơ và Sử ghi nhận quảng đời của ông Ngô Đình Diệm từ lúc làm Thượng thư cho vua Bảo Đại rồi làm cách mạng trong và ngoài nước trước khi về làm Thủ tướng cho Quốc trưởng Bảo Đại.  Ông có một người cháu nổi tiếng sau 30-4-1975 là Hồng Y Nguyễn Văn Thuận.

 

Vua Bảo Đại

 

Cuối năm 1925 vua Khải Định băng hà.  Hoàng tử Vĩnh Thụy (1913-1997) đăng quang ngày 8-1-26 lấy niên hiệu là Bảo Đại.  Sau tang lễ, vua mới có 13 tuổi, phải sang Pháp tiếp tục học, việc nước ở Trung Kỳ trong tay người Pháp.  Phụ Chính Tôn Thất Hân chỉ giữ việc tế lễ và lo lăng miếu.  

Tháng 5-1933, vua Bảo Đại, 20 tuổi, học xong Trung Học (?) nên về nước.  Vua cải tổ Nội các, giao những chức Thượng Thư cho các ông Ngô Đình Diệm, Phạm Quỳnh, Hồ Đắc Khải, Bùi Bằng Đoàn, Thái Văn Toản.  Các quan Thượng Thư cũ bị mất chức: Nguyễn Hữu Bài (Lại bộ), Tôn Thất Đàn (Hình bộ), Phạm Liệu (Binh bộ), Võ Liêm (Lễ bộ) và Vương Tứ Đại (Công bộ).  

(Các T. T. Hồ Đắc Khải, Phạm Quỳnh, Thái Văn Toản, Ngô Đình Diệm và Bùi Bằng Đoàn)

 

Ông Hoài Nam Nguyễn Trọng Cẩn có làm bài thơ “chơi chữ” để ghẹo.  "Chơi chữ" là dùng loại từ chung với ngụ ý thứ nhì là danh tự riêng.

 

CẢI TỔ NỘI CÁC

Năm cụ khi không rớt cái ình

Đất bằng sấm dậy thảy đều kinh

Bài không đeo nữa xin dâng lại

Đàn nỏ ai nghe khéo dấu hình

Liệu thế không xong binh chẳng đặng

Liêm đành giữ tiếng lễ đừng rinh

Công danh thôi thế là hưu hỉ

Đại sự xin nhường lớp hậu sinh.

(Hoài Nam Nguyễn Trọng Cẩn)


 

Ngày 20-3-1934, vua Bảo Đại (21 tuổi) chính thức kết hôn với cô Nguyễn Hữu Thị Lan (20 tuổi) và phong tước là Nam Phương Hoàng Hậu.  Nam Phương Hoàng hậu là con gái của ông Nguyễn Hữu Hào và là cháu ngoại của ông Lê Phát Đạt, 1 trong 4 người nổi tiếng giàu nhứt Nam Kỳ lúc bấy giờ (thường được biết với danh hiệu Huyện Sỹ).  Bà Nguyễn Hữu Thị Lan là 1 trong 3 người được mang tước hiệu Hoàng hậu của nhà Nguyễn khi còn sống.


 

Ông Ngô Đình Diệm

 

Ông Ngô Đình Diệm (1901-1963) là con của ông Ngô Đình Khả, triều thần của vua Thành Thái.  Ông Ngô Đình Diệm lúc nhỏ vào chủng viện nhưng ra dòng. Ông tốt nghiệp trường Hậu Bổ (1921) ra làm Tri Huyện.  Năm 1933, ông Ngô Đình Diệm đang làm Tuần Phủ Phan Thiết thì được vua Bảo Đại triệu về Huế phong làm Lại Bộ Thượng Thư thay thế Nguyễn Hữu Bài (là cha vợ của anh mình là Tổng Đốc Quảng Nam Ngô Đình Khôi). 

            (Vua Bảo Đại và Thượng thơ Ngô Đình Diệm)

 

Sau mấy tháng tại chức, ông Ngô Đình Diệm từ chức Lại Bộ thượng thư.  Ông Phan Bội Châu có gửi đăng trên báo Tiếng Dân ở Huế của ông Huỳnh Thúc Kháng một bài thơ vô đề tỏ ý khen ngợi ông Ngô Đình Diệm nhưng bị Pháp kiểm duyệt bỏ mất câu thứ 4.  (Lại Bộ thượng thư đứng đầu trong Triều Đình như Thủ Tướng trong chính phủ hiện đại). 

Đến năm 1957, tạp chí Văn Đàn của ông Phạm Đình Tân ở Sài Gòn trong thời VNCH mới đăng trọn bài thơ:

 

VÔ ĐỀ

Ai biết trời Nam hãy có người

Sịch nghe tuởng ngỡ sấm bên tai

Lông hồng coi nhẹ vàng muôn lượng

Ngôi quý xem dường dép nửa đôi (*)

Phơi tỏ cùng trời gan đỏ chói

Nhá nhem thây kệ mắt đen thui

Ví chăng kịp lúc làm vai vế

Sau ngựa Châu xin quất ngọn roi. (*)

(Phan Bội Châu)

 

(*) Chú thích: 

Câu thơ thứ 4 đã bị Pháp kiểm duyệt.

Qua 2 câu cuối của bài thơ, ông Phan Bội Châu muốn theo phò ông Ngô Đình Diệm?

 

Năm 1933, ông Ngô Đình Diệm vào Nam liên lạc với chính giới Nam Kỳ như ông Nguyễn Phan Long rồi trở ra Quảng Bình lập đảng Đại Việt Phục Hưng thu phục các linh mục, cảnh sát và lính khố xanh.  Khi Nhật vào Đông Dương, ông ủng hộ Kỳ Ngoại Hầu Cường Để. Sau 1945, Việt Minh thủ tiêu người anh cả là Ngô Đình Khôi và bắt giải ông ra Bắc gặp Hồ Chí Minh rồi giam ở Tuyên Quang. Nhờ Giám mục Lê Hữu Từ can thiệp mới được thả.  

Năm 1948, ông Ngô Đình Diệm sang Hương Cảng gặp cựu hoàng Bảo Đại.  Sau hiệp ước Hạ Long, ông từ chối làm Thủ Tướng chính phủ Quốc Gia Việt Nam theo lời mời của cựu hoàng Bảo Đại.  Về nước ông ở với em là ông Ngô Đình Nhu ở Đà Lạt và Vĩnh Long với anh là Giám Mục Ngô Đình Thục, lập đảng Xã Hội Thiên Chúa Giáo.  Năm 1950, biết Việt Minh toan ám sát ông nên Giám mục Ngô Đình Thục đem ông sang Vatican, sang sống ở các tu viện ở New Jersey (1951-52) và Bỉ Pháp (53-54). Năm 1954 ông sang New York gặp Hồng Y Spellman rồi được Mỹ đưa về nước làm Thủ Tướng.


 

Hồng Y Nguyễn Văn Thuận

 

*

Từ đạo Thiên Chúa, nước Việt Nam có một Thủ Tướng rồi Tổng Thống là ông Ngô Đình Diệm nhưng gia đình ông cũng có một Hồng Y là Đức Cha Francisco Xavier Nguyễn Văn Thuận (1928-2002).  Đức Cha Nguyễn Văn Thuận sinh ở Phú Cam, Huế là anh cả của 1 gia đình 8 anh chị em. Cha là ông Nguyễn Văn Ấm và mẹ là bà Ngô Đình Thị Hiệp (em ruột của Giám Mục Ngô Đình Thục và Tổng thống Ngô Đình Diệm).  

 

Năm 12 tuổi đi tu vào chủng viện đến năm 1953 thì được thụ phong Linh Mục ở Huế (25 tuổi), Cha Nguyễn Văn Thuận trở thành Giám Mục Chánh Tòa Giáo phận Nha Trang vào năm 1967.  Ngày 23-4-1975, Đức Cha Nguyễn Văn Thuận được phong là Tổng Giám Mục Phó của Tổng Giáo phận Sài Gòn nhưng vì biến cố ngày 30-4-75 nên đến ngày 7-5, GM Nguyễn Văn Thuận mới vào Sài Gòn nhận nhiệm vụ mới.  Hai tháng sau (1-7-75), chính quyền GPMN yêu cầu GM Nguyễn Văn Thuận về lại Nha Trang (làm chức vụ cũ) rồi đến ngày 15-8-75, Đức Cha bị bị bắt đi tù cải tạo 13 năm (gồm 9 năm cuối ở Bắc Kỳ). Ngày 21-11-1988, Bộ trưởng Công An Mai Chí Thọ đến trại cải tạo gặp Đức Cha Nguyễn Văn Thuận và 2 ngày sau (23-11-88) Đức Cha được thả về.

Năm 1989, GM Nguyễn Văn Thuận được xuất ngoại sang Úc gặp gia đình rồi sang Roma gặp Đức Giáo Hoàng.  Trở về Việt Nam vào tháng 11-1989, GM bị bệnh Tiền Liệt Tuyến (Prostate) phải giải phẫu ở bệnh viện Việt Đức (Hà Nội) rồi chuyển sang Roma (tháng 4-1990).  Cùng lúc đó, chính quyền CHXHCNVN chính thức cấm GM Nguyễn Văn Thuận trở lại Việt Nam.

(Gm Nguyễn Văn Thuận trước và trong khi học tập cải tạo)

 

*

Năm 1994, Đức Cha Nguyễn Văn Thuận chính thức từ chức Tổng Giám Mục Phó của Tổng Giáo Phận Sài Gòn và nhận chức Phó Chủ Tịch Hội Đồng Giáo Hoàng về Công Lý và Hoà Bình (Pontifical Council of Justice and Peace) rồi làm Chủ Tịch (1998-2002).  Năm 2001, Đức Cha được thụ phong Hồng Y. Năm 2002, LA Times trong bài “The man who would be Pope” tiên đoán 14 Hồng Y sẽ kế vị Đức Giáo Hoàng John Paul II trong đó có Đức Hồng Y Francisco Xavier Nguyễn Văn Thuận. Tuy nhiên Hồng Y qua đời vì ung thư ngày 16-9-2002.  

Năm 2007, Hội Thánh bắt đầu chương trình phong Chân Phước (Beatification) cho cố Hồng Y Nguyễn Văn Thuận.  Chân Phước hay Chân Phúc (Beatus) còn gọi là Á Thánh là danh hiệu của Hội Thánh Công Giáo công nhận cho một vị đáng kính đã được chấp nhận vào Thiên Đàng và có khả năng cầu nguyện thay cho hay giúp cho những người cầu nguyện với họ.

 

Đây là những ý kiến của Hồng Y Nguyễn Văn Thuận:

“Cho dù các anh giết tôi tôi vẫn yêu thương các anh.  Tại vì Chúa Ki Tô đã dạy tôi phải yêu thương tất cả mọi người, cả những kẻ thù.  Nếu tôi không làm như vậy, tôi không đáng gọi là Ki Tô hữu (Christian)”.

“Thất bại lớn của đời người là mất niềm hy vọng”.  Niềm hy vọng chính là Đức Tin.

 

ĐỨC TIN 

Nhân loài tồn tại với tình thương

Sống mãi Đức Tin chẳng bất thường

Mến Chúa thiện tâm tha tội lỗi

Yêu người bác ái biết khiêm nhường

Bình an dưới thế, năng cầu nguyện

Cám dỗ bên mình, chớ vấn vương

Thể xác một mai thành cát bụi

Linh hồn cứu rỗi đến Thiên Đường.

(Phan Thượng Hải)

8/15/13

 

HỒNG Y NGUYỄN VĂN THUẬN

Tâm nguyện thuận theo ý Chúa Trời

Hiền lành sống đạo chẳng hề ngơi

Yêu thương, thánh thiện không sờn chí

Hy vọng, đức tin vững trọn đời

Chủ nghĩa vô thần giành địa lợi

Tình người Công Giáo được thiên thời

Sá chi cải tạo đà Chân Phước

Khai lối Hồng Y đến nước Trời.

(Phan Thượng Hải)

12/29/15  


 

Bs PHAN THƯỢNG HẢI biên soạn

 

Bài viết nầy đăng lần đầu tiên trong phanthuonghai.com (trong mục "Thơ và Sử": viết sau bài "Khải Định" và trước bài "Trần Trọng Kim").

 

Tài Liệu Tham Khảo:

Trang Thơ Thi Viện Net

Wikipedia

_________________________________

                    PETRUS TRƯƠNG VĨNH KÝ

                            DƯỚI CÁI NHÌN CỦA MỘT NGƯỜI GỐC MIỀN NAM

                          VÀO NĂM 2019

                                                                               

                                                                                             Phan Thượng Hải

 

     Trong khoảng 100 năm, người Nam Kỳ rồi người Miền Nam luôn tin mến ông Petrus Trương Vĩnh Ký như một bậc Thầy. Bắt đầu từ năm 1975, có những hậu sinh khác lý tưởng và không ở cùng thời gian hay không gian đã kết tội nặng nề ông Petrus Trương Vĩnh Ký về phương diện chính trị. Do đó nhiều người Miền Nam đã cố gắng minh oan cho ông Petrus Trương Vĩnh Ký trong thời gian gần đây.

    Cũng là một người sinh và sống ở Miền Nam trong gần 30 năm, với lòng kính mến ông Petrus Trương Vĩnh Ký, tác giả cố gắng viết rõ ràng và thứ tự về ông Petrus Trương Vĩnh Ký cho quần chúng thông thường có cái nhìn toàn thể và minh bạch cũng như mình, ngõ hầu góp phần minh oan cho ông.

    Là một danh nhân văn hóa tài ba và là một cá nhân đúng đắn và sáng suốt trong môi trường chính trị (và quân sự) khó khăn lúc sinh tiền, ông Petrus Trương Vĩnh Ký đã cố gắng thực hiện một công trình văn hóa to lớn trong suốt cuộc đời của mình để làm ích lợi trực tiếp và lâu dài cho người dân Nam Kỳ và gián tiếp góp phần giúp nước Việt Nam trong tương lai. Ông hoàn toàn không có tội với dân tộc về phương diện diện chánh trị

                                                                   Trung học Petrus Ký (đường Cộng Hòa, Sài Gòn)

DANH NHÂN VĂN HÓA

*

Tiểu Sử

- Thời Kỳ Niên Thiếu (1837-1858)

Ông Petrus Trương Vĩnh Ký sinh ra và sống thời niên thiếu ở Nam Kỳ.

Ông sanh ngày 6-12-1837 tại ấp Cái Mơn thuộc tỉnh Vĩnh Long đời vua Minh Mạng,

ngày nay thuộc huyện Chợ Lách tỉnh Bến Tre. Ông là con của quan Lãnh binh Trương Chánh Thi.

Năm 1842 (lúc 5 tuổi), ông cùng người anh học chữ Nho với một thầy Đồ trong xóm.

Năm 1845 (lúc 8 tuổi), Lãnh binh Trương Chánh Thi theo phái đoàn sứ thần sang Cao

Miên và bị bệnh chết bên ấy. Theo lời khuyên của Cố Tám, ông được mẹ cho vào đạo Thiên Chúa (Công Giáo) với tên là Jean-Baptiste-Petrus Trương Chánh Ký. Về sau tên Trương Chánh Ký đổi thành Trương Vĩnh Ký. Ông vào tiểu chủng viện Cái Nhum (thuộc tỉnh Vĩnh Long) và học với Linh mục Henri Borelle (tên Việt là Hòa).

Năm 1849 (lúc 11 tuổi), ông theo Linh mục Charles Émile Bouillevaux (tên Việt là Long)

học chữ La tinh ở nhà thờ Cái Nhum. Lúc đó Cha Bouillevaux mới từ Pháp sang ở Cái Nhum.

Ông Petrus Trương Vĩnh Ký đi học ở ngoại quốc từ năm 13 tuổi (1850) cho tới khi ông trưởng thành vào năm 21 tuổi (1858).

Năm 1850, ông theo Linh mục Bouillevaux sang học ở trường đạo Pinha Lu ở Phnom

Penh (thuộc Cao Miên).

Năm 1851, ông được nhận sang học ở trường đạo Dulalma ở đảo Penang trong vùng biển của Nam Dương (nay thuộc nước Mã Lai).

Năm 1858 (lúc 21 tuổi), ông học xong và về nước thì vào lúc mẹ ông qua đời.

- Thời Kỳ Sống Dưới Chính Quyền Của Nhà Nguyễn (1858-1860)

Năm 1858-1860, ông bắt đầu phụ cho Linh mục Borelle dạy tại tiểu chủng viện Cái Nhum. Ông là nạn nhân của phong trào đàn áp đạo Thiên Chúa do lệnh của Chính quyền nhà Nguyễn (thời vua Tự Đức).

- Thời Kỳ Sống Dưới Chính Quyền Thuộc Địa Pháp - Giai Đoạn 1 (1860-1886)

Những biến cố lịch sử văn hóa của ông Petrus Trương Vĩnh Ký:

Năm 1860, vì bị đàn áp đạo Thiên Chúa (Công Giáo), ông trốn lên Sài Gòn sống dưới

chính quyền thuộc địa của Thực Dân Pháp cho đến khi qua đời (1898).

Năm 1863, ông làm thông ngôn cho phái đoàn Pháp đi cùng với phái bộ Phan Thanh

Giản của chính quyền nhà Nguyễn sang Pháp. Mục đích của phái bộ là xin chuộc 3 tỉnh Đông Nam Kỳ. Trong chuyến đi nầy, ông gặp nhiều danh nhân văn hóa ở Pháp, Bồ Đào Nha và Ý; và ông có được yết kiến Giáo hoàng tại Roma.

Năm 1865, ông xin mở tờ Gia Định Báo thì được chấp thuận.  Lúc đầu tờ Gia Định Báo phải do một Giám đốc người Pháp điều hành.  Đến năm 1869, ông mới được làm Giám đốc điều hành tờ báo nầy và bạn ông, ông Paulus Huỳnh Tịnh Của làm Chủ bút. 

Năm 1866, ông xuất bản quyển sách chữ Quốc Ngữ đầu tiên của mình là "Chuyện Đời Xưa Lựa Nhón Lấy Những Chuyện Hay Và Có Ích". 

Năm 1874, ông được chọn đứng hàng thứ 17 trong 18 thành viên của hội " Savants du Monde" (Hội "Những nhà Bác học của Thế giới").

Năm 1883 (ngày 17-5-1883) ông được Hàn Lâm Viện Pháp phong làm Viện sĩ (Officier d'Académie).

 

Trong giai đoạn 1 nầy (1865-1885), ông Petrus Trương Vĩnh Ký viết và làm báo (Gia Định Báo); sáng tác, biên khảo và phiên dịch; xuất bản sách; và dạy học tại trường Thông Ngôn và Hậu Bổ cùng với 2 ông Paulus Huỳnh Tịnh Của và Trương Minh Ký.  Chương trình văn hóa của ông được người Pháp giúp đỡ về phương diện tài chánh.


 

- Thời Kỳ Sống Dưới Chính Quyền Bảo Hộ Pháp - Giai Đoạn 2 (1886)

 

Năm 1886, ông Petrus Trương Vĩnh Ký ra Huế phụ giúp Khâm sứ Paul Bert trong chương trình khai hóa của ông nầy ở Trung Kỳ và Bắc Kỳ (từ tháng 6 đến tháng 11-1886).  Chương trình Văn hóa chưa kịp thành hình thì Paul Bert đột ngột qua đời (11-11-1886)


 

- Thời Kỳ Sống Dưới Chính Quyền Thuộc Địa Pháp - Giai Đoạn 3 (1887-1898)

 

Từ năm 1887, ông Petrus Trương Vĩnh Ký về sống cuộc đời của một thường dân Nam Kỳ không dư dả ở Sài Gòn và tiếp tục công trình Văn hóa của mình cùng với ông Paulus Huỳnh Tịnh Của và ông Trương Minh Ký cho tới khi ông qua đời vì bệnh (1898).  Ông tiếp tục dạy học ở trường Thông Ngôn và Hậu Bổ, viết báo và ấn bản sách. Tờ Gia Định Báo vẫn còn, do ông Trương Minh Ký (học trò của ông Petrus Trương Vĩnh Ký) làm Chủ nhiệm. Năm 1888-1889, ông Petrus Trương Vĩnh Ký có xuất bản Tạp chí tư nhân đầu tiên là Nguyệt san Thông Loại Khóa Trình (Miscellanées).  Tạp chí ra được 18 số (trong 9 tháng) thì phải đóng cửa vì lý do tài chánh.

 

Trong giai đoạn 3 nầy (1887-1898), ông Petrus Trương Vĩnh Ký chật vật vì chính quyền thuộc địa Pháp không còn giúp đỡ tài chánh cho ông xuất bản sách báo như trong giai đoạn 1 (1865-1885).


 

*

Công trình Văn hóa (1865-1898)

 

Dưới chiêu bài khai hóa hay đồng hóa, Thực dân Pháp muốn Nam Kỳ tách ra khỏi văn hóa Á Đông của Tàu và lệ thuộc vào văn hóa Âu Tây nhất là văn hóa Pháp để chánh quyền thuộc địa Pháp dễ cai trị.  Phương tiện tạm thời và đương thời lúc bấy giờ là dùng chữ Quốc Ngữ thay thế chữ Hán và chữ Nôm.  Chữ Quốc Ngữ trước đó đã được các giáo sĩ đạo Thiên chúa (Công Giáo) dùng để truyền đạo. 

 

May mắn cho dân Việt ta, chữ Quốc Ngữ ích lợi và tiện lợi cho người dân Việt ngoài mong ước.  Nó có những đặc tính:  

Đơn giản và dễ học, chỉ cần một thời gian ngắn là một người bình thường có thể biết đọc và biết viết.  Nó không khó khăn như chữ Hán và chữ Nôm.

Diễn tả hoàn toàn được Quốc Ngữ, ngôn ngữ của người Việt, vì nó tượng thanh.

Dùng mẫu tự La tinh như văn tự của các nước Âu Tây và viết được Hán ngữ với kỹ thuật bính âm dễ áp dụng.

 

Lợi dụng thời cơ nầy, ông Petrus Trương Vĩnh Ký tận dụng chữ Quốc Ngữ trong văn chương (sáng tác, biên khảo và dịch thuật) qua sách báo để không những truyền bá và phát huy văn hóa Âu Tây theo danh nghĩa đồng hóa hay khai hóa của thực dân Pháp mà ông còn truyền bá và phát huy văn hóa Á Đông của người Tàu và người Việt.  Ông dùng ngôn từ bình dân của người Nam Kỳ trong văn chương của mình để người dân thường ở Nam Kỳ dễ hiểu và dễ tiếp thu. Ông muốn mọi người bình dân đều có thể học được cái hay và cái đẹp của văn hóa Đông Tây để nâng cao dân trí. Như vậy dân Nam Kỳ mới tiến bộ và trong tương lai đủ sức chống lại và đánh bại chánh quyền thuộc địa để tự lập chính quyền độc lập của người dân.  

Khi bắt đầu chương trình của mình, ông Petrus Trương Vĩnh Ký cũng thấy Văn hóa nước Đại Nam ảnh hưởng từ văn hóa của Tàu lúc bấy giờ lạc hậu và khiếm khuyết rất nhiều, nhất là về phương diện Khoa học và Kỹ thuật.  Nó chỉ gồm có triết lý Nho giáo bảo thủ và văn thơ cổ điển của "Kẻ sĩ". Với văn hóa cũ nầy, người Việt không thể đánh bại được người Pháp về phương diện chính trị và quân sự để dành lại độc lập. 

Đó là dự định và chương trình Văn hóa của một nhà Bác học thông thái văn hóa Đông Tây Petrus Trương Vĩnh Ký đã đem ích lợi cho người dân.  Qua lời văn, ông còn biểu lộ tâm tánh hiền từ, thật thà và khiêm tốn.

 

Trong gần 35 năm, ông Petrus Trương Vĩnh Ký có 121 tác phẩm (đại đa số viết bằng chữ Quốc Ngữ và thiểu số viết bằng chữ Pháp) gồm có những Sáng tác, Biên khảo và Dịch thuật về Văn hóa Đông Tây.  Ông Petrus Trương Vĩnh Ký còn thu dụng được 2 phụ tá đồng tình ý và chí hướng là bạn của ông, ông Paulus Huỳnh Tịnh Của và học trò của ông là ông Trương Minh Ký. Hai ông nầy cũng có nhiều tác phẩm Sáng tác, Biên khảo và Dịch thuật về Văn hóa Đông Tây như ông Petrus Trương Vĩnh Ký.  Riêng ông Trương Minh Ký còn là một Thi sĩ. 

Theo Văn Hóa Quốc Ngữ ở Nam Kỳ của Bằng Giang, ông Petrus Trương Vĩnh Ký là nhà Bác ngữ học.

Ông biết đọc và nói 15 sinh ngữ và tử ngữ Tây phương (Pháp, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, La Tinh, Ý, Hy Lạp...)

Ông biết viết 11 ngoại ngữ hầu hết thuộc miền Viễn Á và có viết sách giáo khoa dạy 9 ngoại ngữ Á châu (9 trong số 11 ngoại ngữ nầy): Trung Quốc, Indoustan (Ấn Độ), Tamoul (Nam Ấn Độ), Miến Điện, Xiêm (Thái Lan), Mã Lai, Cao Miên (Campuchia), Lào và Chiêm Thành.  Để dạy mỗi thứ tiếng, ông soạn một bộ gồm 4 cuốn, tức là có tất cả 36 cuốn đều in thạch bản.

 

Tài ba về Văn hóa của ông Petrus Trương Vĩnh Ký đều được mọi người công nhận và khen ngợi.  Học giả Nguyễn Văn Tố tóm tắt trong 3 tiếng: Bác học, Tâm thuật và Khiêm tốn. 

 

Nhà văn Vũ Ngọc Phan viết:

Trong số những sách dịch thuật, khảo cứu và sáng tác của ông, người ta thấy những sách khảo cứu của ông là có giá trị hơn cả.  Người ta thấy ông rõ là một nhà bác học có óc tổ chức và có phương pháp. (Trích từ bài "Trương Vĩnh Ký - wikipedia).

 

Linh mục Thanh Lãng viết:

Trương Vĩnh Ký không đạo mạo, không đài các, không cao kỳ; ông trai trẻ hơn, ông mới hơn...  Và nhờ ông, câu văn Việt được giải phóng khỏi xiềng xích chữ Hán. Chủ trương của ông chính là "cách nói tiếng An Nam ròng" và "viết trơn tuột như lời nói".  Nếu đem phân tích theo ngữ pháp thì thấy lôi thôi nhưng so với văn xuôi khác ra đời sau ông 20, 30 năm, văn của ông vẫn còn hay hơn, mạch lạc khúc chiết hơn. (Trích từ bài "Trương Vĩnh Ký - wikipedia).

 

Giáo sư Nguyễn Huệ Chi viết:

Những biên soạn của Trương Vĩnh Ký đã có những đóng góp quan trọng cho một số ngành khoa học đương thời, nhất là khoa ngôn ngữ học và khoa học lịch sử.  Các sáng tác của Trương cũng nói lên ít nhiều cá tính một con người cần mẫn trong công việc, có cái nhìn tinh tế và óc tò mò trước sự vật, nhiều lúc có khả năng hài hước hóa mọi chuyện ở đời.  (Trích từ bài "Trương Vĩnh Ký - wikipedia).


 

DANH NHÂN VĂN HÓA TRONG MÔI TRƯỜNG CHÍNH TRỊ VÀ QUÂN SỰ

 

Ông Petrus Trương Vĩnh Ký với trí thông minh và tánh siêng năng đã đạt được tài ba về văn hóa và trở thành một Danh nhân.  Tuy nhiên công trình Văn hóa của ông dù đem ích lợi cho người dân Việt cũng gặp phải nhiều khó khăn và riêng ông cũng bị hiểu lầm vì môi trường Chính trị quân sự trong thời gian và không gian nầy.  Ông Petrus Trương Vĩnh Ký phải cố gắng rất nhiều mới giữ được một cuộc đời đúng đắn, trong sạch và sáng suốt trong khi thực hành chương trình Văn hóa của mình, không bị cấm hay gián đoạn trong khoảng gần 35 năm.

 

Sau khi ông qua đời, con cháu đã tìm được 1 bài thơ trong 1 cuốn sổ chép tay của ông Petrus Trương Vĩnh Ký.  Bài thơ nầy được hậu thế cho là của ông làm ra và đặt cho nó tựa đề là "Tuyệt Bút Lúc Lâm Chung" mặc dù trong khi còn sống ông không được biết là có sáng tác thơ!

 

TUYỆT BÚT LÚC LÂM CHUNG

Quanh quanh quẩn quẩn lối đường quai

Xô đẩy người vô giữa cõi đời (*)

Học thức gởi tên con sách nát

Công danh rút cục cái quan tài (*)

Dạo hòn, lũ kiến men chân bước

Bò xối, con sùng chắc lưỡi hoài (*)

Cuốn sổ bình sinh công với tội

Tìm nơi thẩm phán để thừa khai. (*)

(Sĩ Tải Trương Vĩnh Ký) 

1898

 

(*) Chú thích:

Có bản viết là "cuộc" thay vì là "cõi".

Có bản viết là "rốt cuộc" thay vì là "rút cục".

Có bản viết là "chắt" thay vì là "chắc".

Có bản viết là "thưa khai" thay vì là "thừa khai".

 

Bài thơ nầy, nhất là từ 2 câu cuối, gợi ý cho hậu thế lợi dụng để kết tội ông Petrus Trương Vĩnh Ký về phương diện Chính trị.

Dù ông sống dưới chính quyền nhà Nguyễn hay chính quyền thuộc địa Pháp, lịch sử đã cho thấy rõ ràng ông Petrus Trương Vĩnh Ký không hề có tội với dân Việt trên phương diện chính trị.  Những luận điệu kết tội của những hậu sinh chỉ là chủ quan, không sáng suốt về thời gian và không gian của lịch sử cũng như bị ảnh hưởng bởi lý tưởng chính trị hay tôn giáo khác biệt. 

 

*

Thời Kỳ sống dưới chính quyền nhà Nguyễn (1858-1860)

 

Là một tín đồ đạo Thiên Chúa (Công Giáo), ông Petrus Trương Vĩnh Ký trở thành nạn nhân của phong trào đàn áp tàn bạo đạo Thiên Chúa của chính quyền nhà Nguyễn.  Trong 63 năm (1820-1883), có tất cả 32 sắc chỉ của 3 vua Minh Mạng, Thiệu Trị và Tự Đức cấm và đàn áp đạo Thiên Chúa (đạo Gia Tô). Hậu quả là dưới triều vua nhà Nguyễn từ năm 1820 có hàng trăm ngàn tín đồ đạo Thiên Chúa (Công Giáo) bị giết hại, thương tật và tù tội.

 

Dưới sự bắt bớ và đàn áp đạo Thiên Chúa (Công Giáo) ở Cái Nhum, ông Petrus Trương Vĩnh Ký đã vất vả và liều mạng trốn lên Sài Gòn vào năm 1860.  Từ đó ông mới thoát được khỏi phong trào đàn áp đạo Thiên Chúa (Công Giáo) của chính quyền quân chủ nhà Nguyễn vì từ năm 1860 thành phố Sài Gòn thuộc dưới quyền của chính quyền thuộc địa Pháp.

Tuy nhiên lịch sử đàn áp đạo Thiên Chúa (Công Giáo) kéo dài cho tới hết năm 1883.

Năm 1862: theo Hòa ước 1862, Nước Đại Nam phải để cho giáo sĩ Pháp và I Pha Nho được tự do vào giảng đạo và để dân gian được tự do theo đạo.

Năm 1874: có phong trào Bình Tây Sát Tả giết hại tín đồ đạo Thiên chúa của Trần Tấn và Đặng Như Mai ở Nghệ An.  

Năm 1884: sau hòa ước 1884 mới có tự do tôn giáo hoàn toàn cho đạo Thiên chúa (Công Giáo) ở Bắc Kỳ và Trung Kỳ.

 

Sử gia Nguyên Vũ Vũ Ngự Chiêu trong vòng hơn 20 năm nay (từ năm 1997) đã tuyên truyền rằng ông Petrus Trương Vĩnh Ký trong khi trốn chạy từ Cái Nhum lên Sài Gòn đã viết một lá thơ xin quân đội Pháp giết người Việt ở Nam Kỳ (1860) rồi ông Vũ Ngự Chiêu kết tội ông Petrus Trương Vĩnh Ký là "bán nước" và "đã góp phần trong cuộc xâm lăng Việt Nam của Pháp".  Ông Vũ Ngự Chiêu đã chỉ dựa trên bản dịch của một lá thơ ký tên "Petrus Key" mà không công bố toàn bộ nguyên văn bản chính viết bằng chữ Pháp của lá thơ nầy. Gần đây (năm 2018), Luật sư Winston Phan Đào Nguyên đã tìm ra bản chính của lá thơ "Petrus Key" nầy và chứng minh được rằng lá thơ nầy là giả mạo chứ không phải thật sự viết từ ông Petrus Trương Vĩnh Ký.


 

*

Thời Kỳ sống dưới Chính quyền Thuộc địa Pháp ở Nam Kỳ - Giai Đoạn 1 (1860-1886) 

 

Những biến cố lịch sử của Chính quyền Thuộc địa Pháp và Chính quyền vua Nhà Nguyễn.

Ở Nam Kỳ:

Năm 1859-1867: Pháp đánh Nam Kỳ.  Chiến tranh Việt Pháp chấm dứt với Hòa ước 1862 giữa Pháp và nhà Nguyễn, Pháp chính thức chiếm 3 tỉnh miền Đông Nam Kỳ.  Phái bộ Phan Thanh Giản của nhà Nguyễn sang Pháp xin chuộc lại 3 tỉnh nầy nhưng thất bại. Pháp chiếm nốt 3 tỉnh miền Tây Nam Kỳ (1867).  Chính quyền thuộc địa Pháp trực tiếp và hoàn toàn cai trị Nam Kỳ. Chính quyền nhà Nguyễn không còn tồn tại ở Nam Kỳ.

Năm 1859-1875: Phong trào Kháng chiến chống Pháp ở Nam Kỳ.

Ở Bắc Kỳ:

Năm 1873-1874: Pháp chiếm Hà Nội và 4 tỉnh Trung châu.  Hòa ước 1874 được ký kết, nhà Nguyễn chính thức nhượng Nam Kỳ là thuộc địa của Pháp.  Pháp trả lại đất chiếm được ở Bắc Kỳ.

Năm 1882-1885: Pháp lại chiếm Hà Nội.  Chiến tranh giữa liên quân Việt Tàu và quân Pháp ở Bắc Kỳ chấm dứt hoàn toàn sau Hòa ước Thiên Tân giữa Pháp và nhà Thanh (1885).  Nhà Nguyễn ký hòa ước 1884 công nhận Pháp bảo hộ Bắc Kỳ và Trung Kỳ. Pháp lập Liên bang Đông Dương: Nam Kỳ là thuộc địa của Pháp; còn Bắc Kỳ và Trung Kỳ là lãnh thổ bảo hộ của Pháp.  Chính quyền nhà Nguyễn ở Trung Kỳ và Bắc Kỳ phải chịu dưới quyền bảo hộ của Chính quyền thuộc địa Pháp.  

 

Những biến cố lịch sử của ông Petrus Trương Vĩnh Ký dưới Chính quyền thuộc địa Pháp ở Nam Kỳ:

Năm 1862, ông được nhận vào dạy ở trường Thông Ngôn.  Ông làm thông ngôn cho sứ thần Pháp thương thuyết cho hòa ước 1862. 

Năm 1863, ông làm thông ngôn cho phái đoàn Pháp đi cùng với phái bộ Phan Thanh Giản của chính quyền nhà Nguyễn sang Pháp.  Trong chuyến đi nầy ông gặp nhiều Danh nhân văn hóa ở Pháp, Bồ Đào Nha và Ý, và ông có yết kiến Giáo hoàng tại Roma.

Năm 1865, ông xin mở tờ Gia Định Báo thì được chấp thuận.  Lúc đầu tờ Gia Định Báo phải do một Giám đốc người Pháp điều hành.  Đến năm 1869, ông mới được làm Giám đốc điều hành tờ báo nầy và bạn ông, ông Paulus Huỳnh Tịnh Của, làm Chủ bút. 

Năm 1866, ông xuất bản quyển sách chữ Quốc Ngữ đầu tiên của mình là "Chuyện Đời Xưa Lựa Nhón Lấy Những Chuyện Hay Và Có Ích". 

Năm 1866-1868, ông được bổ làm giáo sư dạy tiếng Pháp tại trường Thông Ngôn Sài Gòn.  

Năm 1869, sau khi theo giúp phái đoàn Tây Ban Nha ký thương ước với triều đình Huế, ông có đi thăm Hồng Kông và Lưỡng Quảng.

Năm 1872, ông được Pháp phong hàm Tri huyện và phong chức Thư ký Hội đồng châu thành thành phố Chợ Lớn.

Năm 1874, ông làm giáo sư dạy chữ Pháp và Tây Ban Nha tại trường Hậu Bổ rồi là Đốc học trường nầy.  Cùng năm đó, ông lãnh chức Ủy viên trong Hội đồng Giáo dục.

Năm 1874, ông được chọn đứng hàng thứ 17 trong 18 thành viên của hội " Savants du Monde" (Hội "Những nhà Bác học của Thế giới").

Năm 1876, ông đi thăm Bắc Kỳ sau khi Pháp đánh Bắc Kỳ (1873) và Hòa ước năm 1874 ký ở Bắc Kỳ.  Sau đó ông viết và xuất bản sách "Chuyến Đi Bắc Kỳ Năm Ất Hợi (1876)".

Năm 1877, ông được cử vào Ủy Viên Hội Đồng thành phố Sài Gòn.

Năm 1881, ông viết thư từ chối không vào quốc tịch Pháp.

Năm 1883 (ngày 17-5-1883) ông được Hàn Lâm Viện Pháp phong làm Viện sĩ (Officier d'Académie).

 

Trong giai đoạn 1 nầy (1860-1898), được chính quyền thuộc địa Pháp ủng hộ và trên danh nghĩa là công cụ đồng hóa hay khai hóa của Chính quyền thuộc địa Pháp; ông Petrus Trương Vĩnh Ký thực hành tích cực Chương trình Văn hóa của mình.  Ông viết và làm báo (Gia Định Báo); sáng tác, phiên dịch và xuất bản sách và dạy học tại trường Thông Ngôn và Hậu Bổ cùng với 2 phụ tá là ông Paulus Huỳnh Tịnh Của và Trương Minh Ký.

 

Trong giai đoạn nầy, Chính quyền thuộc địa Pháp ở Nam Kỳ đánh bại Chính quyền quân chủ Nhà Nguyễn và hoàn toàn cai trị Dân tộc và Lãnh thổ Nam Kỳ từ 2 Hòa ước ký giữa 2 Chính quyền vào năm 1862 và 1874.  Công dân Petrus Trương Vĩnh Ký (cũng như Paulus Huỳnh Tịnh Của và Trương Minh Ký) thuộc về Chính quyền thuộc địa Pháp. Chính quyền quân chủ Nhà Nguyễn đã thua và bỏ rơi họ cũng như tất cả người dân Việt sống ở lãnh thổ Nam Kỳ.

Đối với chính quyền thuộc địa Pháp ở Nam Kỳ, ông Petrus Trương Vĩnh Ký giữ bề ngoài là công cụ đồng hóa hay khai hóa của họ (tức là truyền bá văn hóa Âu Tây), lễ phép đối với họ, không cầu cạnh nhưng nhận những chức tước ở địa phương không có quyền lực được họ tự động ban thưởng để thực hiện dự định và chương trình Văn hóa của mình.  Ông không hề dựa thế lực của chính quyền thuộc địa Pháp để hưởng lợi cho riêng mình và gia thuộc của mình hay làm "chó săn" đàn áp người dân Nam Kỳ. Ông từ chối khéo lời mời vào công dân Pháp (1881). Hơn nữa ông còn phải khôn khéo để chính quyền thuộc địa Pháp không nhìn thấy được mục đích khác cho tương lai của chương trình văn hóa của ông và các vị phụ tá.  Ông Petrus Trương Vĩnh Ký không dùng phương tiện sách báo của mình để tuyên truyền chính trị cho Chính quyền thuộc địa Pháp lúc bấy giờ.

 

Đây là những ý kiến hữu lý mặc dù không hoàn toàn đầy đủ về ông Petrus Trương Vĩnh Ký của 2 học giả người Nam Kỳ.

Ông Vương Hồng Sển viết:

Trương Vĩnh Ký, Trương Minh Ký, Huỳnh Tịnh Của là ba ông minh triết bảo thân, gần bùn mà chẳng nhuốm mùi bùn, không ham "đục nước béo cò" như ai, chỉ say đạo lý và học hỏi, sống đất Tào mà lòng giữ Hán, thác không tiếng nhơ, thấy đó mà mừng thầm cho nước nhà những cơn ba đào sóng gió còn hiếm người học trò cửa Khổng.  (Trích từ bài "Trương Vĩnh Ký - wikipedia").

 

Nhà văn Sơn Nam viết:

Ông Trương Vĩnh Ký từ khi đỗ đạt cho đến khi mất vẫn tỏ ra thân Pháp.  Tuy nhiên người ở miền Nam không bao giờ khinh rẻ ông. Ông không gia nhập Pháp tịch; trước khi mất ông biết thân phận của học giả sống trong thời kỳ khó khăn.  Ông này khi sanh tiền tuy là nhà nước tin cậy mặc dầu chớ chẳng hề ỷ thế mà hại quê hương, chỉ vẽ cho các quan Lang sa biết phong tục lễ nghĩa của con nhà An Nam, cho khỏi chỗ mích lòng nhau, làm cho mẹ gà phải thương con vịt.  Đêm ngày lo đặt sách này dịch sách kia cho kẻ hậu sinh dễ học. Thiệt là quan thầy của cả và Nam Kỳ. Ngoài những tác phẩm biên khảo mang tính cách bác học, ông Trương Vĩnh Ký còn chú ý đến độc giả bình dân, lời văn theo lời ăn tiếng nói thông dụng lúc bấy giờ.  "Chuyện Đời Xưa" của ông cùng là "Chuyện Giải Buồn" của Huỳnh Tịnh Của hãy còn được nhắc nhở. (Trích từ bài "Trương Vĩnh Ký - wikipedia").

 

Trong hơn 15 năm (1859-1875) có Phong trào Kháng Pháp của một số người Nam Kỳ dùng vũ lực quân sự với mục đích đánh bại Chính quyền thuộc địa Pháp, chiếm lại lãnh thổ Nam Kỳ cho Chính quyền quân chủ Nhà Nguyễn.  Phong trào nầy do những Sĩ phu (Nho giáo) hay cựu sĩ quan của nhà Nguyễn hướng dẫn và lãnh đạo chủ yếu là vì lòng Trung Quân (trung với vua nhà Nguyễn) mặc dù không được Chính quyền của vua Nhà Nguyễn công khai công nhận.  Phong trào Kháng Pháp ở Nam Kỳ chỉ là thiểu số, không tổ chức, không kinh nghiệm quân sự, không thống nhất và liên kết, với vũ khí cũ và thô sơ và chỉ dựa trên tinh thần văn hóa Á Đông lỗi thời. Dĩ nhiên là phong trào Kháng Pháp nầy phải thất bại.  Nó tạo ra những anh hùng liệt sĩ lãnh đạo hy sinh vì nước lưu danh hậu thế như ông Trương Công Định hay ông Thủ Khoa Huân nhưng nó gây tai hại cho hàng ngàn thường dân Nam Kỳ lúc bấy giờ theo hay không theo phong trào Kháng Pháp phải bị sát hại, thương tật và tù đày vì chiến tranh, thù hận và trừng phạt.  

 

Ông Petrus Trương Vĩnh Ký không phò tá chính quyền thuộc địa Pháp về quân sự hay ngoại giao để đánh dẹp phong trào Kháng Pháp nầy ở Nam Kỳ như Tôn Thọ Tường hay Trần Bá Lộc với mục đích tư lợi hoặc trả thù (của một tín đồ Công Giáo đã bị chính quyền vua nhà Nguyễn đàn áp). 

Ông Petrus Trương Vĩnh Ký hoàn toàn không có tham gia Phong trào Kháng Pháp ở Nam Kỳ trong thời kỳ nầy.  Ông là một người không có sức mạnh và không là một võ sĩ, không có tài ba và kinh nghiệm quân sự và có lẽ là một người sáng suốt thấy rõ cái tai hại và vô ích của phong trào Kháng Pháp cũng như ông chấp nhận là tham sống sợ chết như con người thông thường thay vì là thành những anh hùng liệt sĩ Kháng Pháp.  Ông cũng biết là phải sống sót để thực hiện công trình Văn hóa của mình.  

 

Đây là lời một phê bình không hợp lý của Sử gia Trần Văn Giàu:

Khi mà kẻ xâm lược và kháng chiến đang chọi nhau trên chiến trường Thắng-Bại chưa ngã ngũ hẳn, khi ấy thì ai đứng hẳn về phe kẻ địch (của dân tộc Việt Nam) thì nhà chép sử nào, dù có rộng xét mấy cũng không thể lấy bất kỳ số sách vở sáng tác hay phiên dịch nào để biện bạch và giảm nhẹ trách nhiệm tinh thần của một dân nước, nhất là của một "Kẻ Sĩ" (chỉ Trương Vĩnh Ký).  (Trích từ bài "Trương Vĩnh Ký - wikipedia"). 

 

Gần đây lại có một ý kiến đã chủ quan thổi phòng và viết thêm để kết tội ông Petrus Trương Vĩnh Ký liên quan tới việc Chính quyền thuộc địa Pháp đánh Bắc Kỳ.

Tác giả bài "Trương Vĩnh Ký của Wikipedia" viết:

Năm 1876, Thống đốc Nam Kỳ Duperré (Dupré ?) cử ông (Petrus Trương Vĩnh Ký) ra Bắc Kỳ tìm hiểu tình hình miền Bắc.  Khi về Sài Gòn, ông viết cuốn "Chuyến đi Bắc Kỳ năm Ất Hợi (1876)". Trong đó mô tả tài nguyên Bắc Kỳ đồng thời kêu gọi Pháp nên giành lấy xứ nầy như đã làm với Nam Kỳ.

 

Trong cuốn sách nầy, ông Petrus Trương Vĩnh Ký có mô tả Tài nguyên Bắc Kỳ nhưng không có viết câu nào kêu gọi chính quyền thuộc địa Pháp nên giành Bắc Kỳ.  Đây là sách công khai xuất bản chứ không là "mật thám" cho Pháp. Hơn nữa, chính quyền thuộc địa Pháp đã đánh Bắc Kỳ 3 năm trước đó (1873).

Sau khi hoàn toàn chiếm Nam Kỳ (1867), Chính quyền thuộc địa Pháp đã muốn chiếm Bắc Kỳ để tiện cho việc Thương mại (Buôn bán) nhất là với miền Nam nước Tàu.  Thống đốc Nam Kỳ là Hải quân Thiếu tướng Dupré đã từ lâu có ý định nầy. Sau khi thám hiểm trong hơn 1 năm và thấy đường sông Cửu Long không thể áp dụng được cho việc thông thương, Thống đốc Dupré nghĩ tới đường sông Hồng Hà từ kinh nghiệm của Thương gia người Pháp tên là Jean Dupuis (tên Việt là Đồ Phổ Nghĩa). 

Việt Nam Sử Lược (quyển II, trang 280) viết:

Đến khi Millot (người cộng tác với Đồ Phổ Nghĩa ở Bắc Kỳ) về Sài Gòn kể công chuyện ở Bắc Kỳ, Thiếu tướng lại điện về Paris nói rằng: "Việc Đồ Phổ Nghĩa ở Bắc Kỳ đã thành công rồi.  Cần phải lấy xứ Bắc Kỳ và giữ lấy con đường thông sang Tàu. Không cần phải viện binh. Thành công chắc lắm."

Ngay sau đó (năm 1873), Thống đốc Nam Kỳ Tướng Dupré sai Đại úy Francis Garnier đem quân ra Bắc Kỳ.  Garnier chiếm Hà Nội và 4 tỉnh ở Trung châu. Chính quyền nhà Nguyễn nghị hòa và được Chính quyền thuộc địa Pháp đồng ý khi Garnier bị phục binh giết chết ở Cầu Giấy.  Hòa ước 1874 ký giữa 2 bên có những điều khoản chú trọng với Kinh doanh Thương mại theo ý của chính quyền thuộc địa Pháp. Đây là những điều khoản trích từ Việt Nam Sử Lược (quyển II, trang 287):

Khoản XI: Vua nước Nam phải mở cửa Thị Nại (Qui Nhơn), cửa Ninh Hải (Hải Phòng), thành Hà Nội và sông Hồng Hà cho ngoại quốc vào buôn bán.

Khoản XIII: Nước Pháp được quyền đặt Lĩnh sự ở các cửa bể và các thành thị đã mở cho ngoại quốc vào buôn bán (Sau đó có tòa Lĩnh sự Pháp ở Hà Nội và ở Hải Phòng của Bắc Kỳ).

Khoản XV: Người nước Pháp hay là người ngoại quốc hễ có giấy thông hành của quan Lĩnh sự Pháp và có chữ quan Việt Nam phê nhận thì được phép đi xem các nơi ở trong nước.

 

Là người Nam Kỳ, ông Petrus Trương Vĩnh Ký muốn đi thăm Bắc Kỳ để viết sách khảo cứu vào năm 1876 thì phải có giấy thông hành của Chính quyền thuộc địa ở Nam Kỳ theo đúng Hòa ước 1874.  Cuốn sách nầy của ông Petrus Trương Vĩnh Ký (năm 1876) chỉ chú trọng tới Tài nguyên ở Bắc Kỳ. Nó không phải là nguyên nhân Pháp đánh Bắc Kỳ lần thứ nhất trước đó (1873) và lần thứ nhì (1882) sau đó.  Kinh doanh Thương mại (Buôn bán), nhất là với Tàu theo sông Hồng, là nguyên nhân Pháp đánh Bắc Kỳ lần thứ nhất và cũng là nguyên nhân chánh Pháp đánh Bắc Kỳ lần thứ nhì (1882).

Về nguyên nhân Chính quyền thuộc địa Pháp đánh Bắc Kỳ lần thứ nhì (1882), Việt Nam Sử Lược (quyển II, trang 295) viết:

Vả về sau, sự cai trị ở Nam Kỳ đã thành nếp, giặc giã đã yên cả; ở bên Pháp thì thế lực đã mạnh, và đã có nhiều người bàn đến việc bên Viễn Đông nầy và việc bảo hộ ở Bắc Kỳ.  Lại nhân có những nước I-ta-ly, I-pha-nho, Anh-cát-lợi và Hoa Kỳ muốn sang thông thương với nước Nam mà có ý không muốn chịu để quan Pháp phân xử những việc can thiệp đến người những nước ấy. 

Tháng 6 năm Kỷ Mão (1879), Thống đốc Nam Kỳ mới là Le Myre de Vilers (không thuộc quân đội) sang nhậm chức ở Sài Gòn.

Ở Bắc Kỳ thì người Pháp đã ra vào buôn bán, nhưng vì quan ta không biết lo sự khai hóa, việc thông thương không được tiện lợi nhưng ở mạn Thượng du thì quân Cờ Đen tuy là mượn tiếng theo lệnh quan ta nhưng kỳ chúng làm gì cũng không ai ngăn cấm được.  Bởi vậy chính phủ Pháp mới lấy những điều đó mà trách quan ta và sai quan đem quân ra Bắc Kỳ (1882), lấy cớ nói ra mở mang sự buôn bán, kỳ thực là ra kinh doanh việc (buôn bán) ở vùng ấy (Bắc Kỳ). 


 

*

Thời Kỳ sống dưới Chính quyền Bảo hộ Pháp ở Huế (Trung Kỳ) - Giai Đoạn 2 (1886) 

 

Những biến cố lịch sử của Chính quyền Bảo hộ Pháp và Chính quyền vua Nhà Nguyễn.

Ở Trung Kỳ và Bắc Kỳ:

Sau khi vua Tự Đức chết (1883), 2 quan Phụ chính Tôn Thất Thuyết và Nguyễn Văn Tường thao túng triều đình Huế, giết vua Dục Đức và vua Hiệp Hòa và giết quan Phụ chính Trần Tiễn Thành.  Sau đó vua Kiến Phúc rồi vua Hàm Nghi chỉ là bù nhìn, được 2 quan Phụ chính nầy lập làm vua. Quân nhà Nguyễn thua ở Bắc Kỳ và chiến tranh ở Bắc Kỳ chấm dứt ở Bắc Kỳ sau hòa ước 1884.  

Năm 1885, Phụ chính Tôn Thất Thuyết giận quan Pháp ở Huế, khởi binh đánh đồn Mang Cá của quân Pháp ở Huế nhưng bị thua.  Ông đem vua Hàm Nghi chạy ra Tân Sở và truyền hịch Cần Vương rồi tự mình trốn lánh sang Tàu. Phong trào Cần Vương bắt đầu với sĩ dân kháng Pháp rãi rác tạo nên chiến tranh khắp nơi ở Trung Kỳ và Bắc Kỳ.  

Pháp lập vua chủ hòa Đồng Khánh và vào cuối tháng 1-1886 chính quyền Pháp ở Paris cử một văn thần là Paul Bert sang làm Khâm sứ Trung Kỳ và Bắc Kỳ (An Nam et Tonkin).  Paul Bert chủ trương nghị hòa với vua cũ là Hàm Nghi và dùng chính sách hòa giải ngoại giao và khai hóa để chấm dứt chiến tranh và ổn định Trung Bắc Kỳ. Quân Pháp ngưng tấn công nghĩa quân Cần Vương.  Vua Đồng Khánh và sau đó Đại thần Hoàng Kế Viêm (người đã cầm đầu quân nhà Nguyễn đánh Pháp ở Bắc Kỳ trước năm 1885) cố gắng nghị hòa với vua Hàm Nghi, với các sĩ quan theo phò tá và với các sĩ phu lãnh đạo phong trào Cần Vương (như ông Phan Đình Phùng) để chấm dứt chiến tranh vũ lực của phong trào Cần Vương nhưng việc không thành.

Ngày 11-11-1886, Khâm sứ Paul Bert đột ngột qua đời vì bệnh Kiết lỵ (Dysenterie). Việt Nam Sử Lược (quyển II, trang 330) viết:

Thống đốc Paul Bert ở Huế đến cuối trung tuần tháng 4-1886 lại ra Hà Nội, rồi một mặt thì lo đánh dẹp, một mặt thì mở Pháp Việt học đường, lập Thương Nghiệp cục, đặt lệ đồn điền.  Chủ ý của Thống đốc là muốn khai hóa đất Bắc Kỳ cho chóng được thạnh lợi. Nhưng cũng vì Thống đốc phải lo nghĩ nhiều việc, vả lại nay đi kinh lược chỗ nầy mai đi kinh lược chỗ nọ, thành ra khí lực suy nhược đi, cho nên mới cảm bệnh nặng, đến ngày Rằm tháng 10 năm Bính Tuất (11-11-1886) thì mất. 

 

Những biến cố lịch sử của ông Petrus Trương Vĩnh Ký dưới Chính quyền bảo hộ Pháp ở Trung Kỳ:

Năm 1886 (cuối tháng 1), Paul Bert (Nghị sĩ, Hội viên Hàn Lâm, Bác học gia Sinh vật học và cựu Bộ trưởng Giáo dục) được cử sang làm Khâm sứ Trung Kỳ và Bắc Kỳ.  Vốn là bạn từ trước nên Paul Bert mời ông Petrus Trương Vĩnh Ký, một người Nam Kỳ (thuộc địa Pháp) ra Huế giúp việc. Khoảng đầu tháng 6-1886, ông Petrus Trương Vĩnh Ký ra Huế thì được vua Đồng Khánh phong chức Cơ Mật viện Tham tá sung Hàn Lâm viện Thị giảng Học sĩ.  Hàn Lâm viện điều hành về Văn hóa và văn học.  

Sau khi Paul Bert đột ngột qua đời 5 tháng sau đó (tháng 11-1886), ông Petrus Trương Vĩnh Ký bỏ về Nam Kỳ.  Phong trào Cần Vương tiếp tục kéo dài trong hơn 10 năm sau đó cho tới năm 1895.

 

Ông Petrus Trương Vĩnh Ký đã thực hiện chương trình Văn hóa của mình dưới sự chấp thuận và đúng theo chương trình khai hóa và đồng hóa của Chính quyền thuộc địa Pháp ở Nam Kỳ trong 20 năm (1865-1885).  Ông thấy hậu quả thất bại, gây tai hại cho người dân, và không thức thời của chiến dịch quân sự từ phong trào Kháng Pháp Cần Vương do giới sĩ phu lãnh đạo. Khâm sứ Paul Bert chủ trương khai hóa ở Bắc Kỳ và Trung Kỳ và ông chủ hòa với vua cũ là Hàm Nghi cũng như với các quan lại và sĩ phu trong phong trào Cần Vương.  Khâm sứ Paul Bert và vua Đồng Khánh hứa sẽ dùng họ trong chính quyền của nhà Nguyễn chứ không trừng phạt hay sát hại. Chủ trương của Paul Bert là đúng với tâm chí của ông Petrus Trương Vĩnh Ký, một người của thuộc địa Nam Kỳ, không phải là dân của Bắc Kỳ và Trung Kỳ.  Paul Bert còn chủ trương mở rộng quyền hành của chính quyền nhà Nguyễn (dĩ nhiên phải tuân theo chính sách khai hóa và hòa bình của chính quyền bảo hộ Pháp ở Bắc Kỳ và Trung Kỳ). Ông Petrus Trương Vĩnh Ký được Paul Bert mời ra Huế làm việc chứ không tự nguyện hay tình nguyện.  

Khác với tình trạng ở Nam Kỳ trước đó, ông Petrus Trương Vĩnh Ký bắt buộc phải làm việc với chính quyền nhà Nguyễn (Triều đình Huế) vì vua Đồng Khánh, đồng ý với chính sách của ông Paul Bert, đã bổ nhiệm ông Petrus Trương Vĩnh Ký vào Cơ Mật Viện của triều đình.  Nhiệm vụ của ông Petrus Trương Vĩnh Ký là làm chắc chắn chính sách chủ hòa và nhất là khai hóa của Paul Bert cũng được chính quyền nhà Nguyễn hưởng ứng và thực hiện. Vua Đồng Khánh rồi Đại thần Hoàng Kế Viêm cố gắng nghị hòa với vua Hàm Nghi và các sĩ quan lãnh đạo phong trào Cần Vương nhưng chưa thành công.  Riêng ông Petrus Trương Vĩnh Ký phải tư vấn thay đổi một số quan lại ở triều đình cho đúng với chính sách hòa bình và khai hóa. Trong giai đoạn 6 tháng nầy, ông Petrus Trương Vĩnh Ký đã gặp nhiều khó khăn và hiểu lầm nhiều nhất trong suốt gần 35 năm thực hiện công trình Văn hóa của mình. 

Sau khi Khâm sứ Paul Bert qua đời, ông Petrus Trương Vĩnh Ký từ bỏ quan chức bổng lộc mà trở về Nam Kỳ sống chật vật tiếp tục công trình Văn hóa của mình ở Nam Kỳ.  Ông không tham quyền cố vị mà nịnh bợ chính quyền bảo hộ Pháp cũng như vua nhà Nguyễn. Ngoài những tư vấn ở triều đình Huế trong giai đoạn 6 tháng nầy, ông Petrus Trương Vĩnh Ký chưa phát động được chương trình Văn hóa cũng như ông không có liên hệ gì tới phong trào Cần Vương (thuộc phương diện chính trị và quân sự).  Chính quyền bảo hộ Pháp và các nhà lãnh đạo Chính trị của Chính quyền vua nhà Nguyễn (như vua Đồng Khánh và các Đại thần Hoàng Kế Viêm và Nguyễn Thân) nghị hòa rồi giao chiến với các lãnh tụ của phong trào Cần Vương (như vua Hàm Nghi, ông Phan Đình Phùng...) sau khi ông Petrus Trương Vĩnh Ký đã từ chức.

 

Tuy nhiên ông Petrus Trương Vĩnh Ký cũng bị nói xấu và kết tội từ những Sử gia hiện đại đã mượn thời cơ từ giai đoạn 6 tháng nầy (từ tháng 6 đến tháng 11-1886) với những luận điệu chỉ trích chủ quan, chỉ thổi phòng hay từ tưởng tượng; dễ gây hiểu lầm của quần chúng hậu sinh không hiểu rõ về ông Petrus Trương Vĩnh Ký và việc đã làm của ông ở Nam Kỳ trong hơn 20 năm trước đó (1865-1885) cũng như không thấy rõ tình hình chính trị trong giai đoạn lịch sử nầy ở Huế, Trung Kỳ (An nam) và Bắc Kỳ.

Đây là những luận điệu chủ quan từ bài "Trương Vĩnh Ký - wikipedia":

Ông Petrus Ký coi phong trào Cần Vương là dân phiến loạn không hiểu thời cuộc.

Ông Petrus Ký cho rằng về phương diện chính trị và kinh tế, nước Pháp là người đi đồng hóa còn người An nam là kẻ chịu đồng hóa.  

Ông Petrus Ký tin rằng việc người Pháp tấn công Việt Nam là một "sứ mệnh mà Thiên Chúa giao phó".  Và người Pháp với tư cách là "chủ nhân", cần giảng dạy người An nam những tư tưởng và khái niệm cần thiết cho việc cải tạo người An Nam.

Ông Petrus Ký tư vấn Paul Bert ép vua Đồng Khánh nhượng cho Pháp khu đất giữa trấn Bình Đài và Linh Hựu Quán để xây thêm doanh trại, đồn bót, nhà thương và kho hậu cần...

 

Và đây là nguyên văn luận điệu chủ quan của Sử gia Trần Huy Liệu:

Về phẩm cách cá nhân của một sỹ phu lúc ấy, không phải chỉ nhìn ở sinh hoạt thông thường mà chủ yếu là phải lấy thái độ đối với dân tộc, đối với giặc cướp nước làm tiêu chuẩn.  Là người học rộng, Trương không làm tay sai như kiểu Trần Tử Ca, Trần Bá Lộc... mà đóng vai trò mưu sĩ bày cho giặc (Pháp) những thủ đoạn thâm trầm dùng người bản xứ trị người bản xứ, dùng danh nghĩa Nam triều (nhà Nguyễn) để đánh nghĩa quân.  Cái học vấn của Trương càng uyên bác bao nhiêu thì tác hại của Trương càng lớn bấy nhiêu... (Trích từ bài "Trương Vĩnh Ký" - wikipedia)


 

*

Thời Kỳ sống dưới Chính quyền Thuộc địa Pháp - Giai Đoạn 3 (1887-1898) 

 

Những biến cố lịch sử của Chính quyền Thuộc địa Pháp và Chính quyền vua nhà Nguyễn:

Năm 1886-1895: Phong trào Cần Vương ở Bắc Kỳ và Trung Kỳ.

 

Những biến cố lịch sử của Cá nhân Petrus Trương Vĩnh Ký dưới Chính quyền thuộc địa Pháp:

Từ năm 1887, ông Petrus Trương Vĩnh Ký về sống cuộc đời của một thường dân Nam Kỳ không dư dả ở Sài Gòn và tiếp tục Chương trình văn hóa của mình với 2 ông Paulus Huỳnh Tịnh Của và Trương Minh Ký.  Ông tiếp tục dạy học ở trường Thông Ngôn Hậu Bổ, viết báo (Gia Định báo và Thông Loại Khóa Trình) và xuất bản sách.  Việc viết và xuất bản sách của ông gặp khó khăn về tài chánh vì phải tự lập và không còn được Pháp hỗ trợ. Nguyệt san tư nhân Thông Loại Khóa Trình của ông phải đóng cửa sau khi chỉ ra được 18 số (9 tháng) vì thiếu tiền. 

Ngày 1-9-1898, ông Petrus Ký qua đời vì bệnh, thọ 62 tuổi.  Mộ phần và nơi thờ phượng ở chỗ nhà ở, gần nhà thờ Chợ Quán, ở góc đường Trần Hưng Đạo và Trần Bình Trọng. 

 

Trong giai đoạn 3 nầy (1887-1898), ông Petrus Trương Vĩnh Ký không còn bị hậu sinh chỉ trích vì ông không còn liên hệ chính trị với Chính quyền thuộc địa Pháp ở Nam Kỳ.  Phong trào Cần Vương xảy ra ở Bắc Kỳ và Trung Kỳ xa xôi trong khi Nam Kỳ không có chiến tranh và biến loạn. 


 

DANH NHÂN VĂN HÓA VÀ CÔNG NGHIỆP

 

*

"Nước Nam ta mai sau này hay dở cũng ở chữ Quốc Ngữ"

 

Trong gần 35 năm vào hậu bán thế kỷ 19, dù trong một môi trường Chính trị và quân sự rất khó khăn và phức tạp, ông Petrus Trương Vĩnh Ký đã cùng 2 ông Paulus Huỳnh Tịnh Của và Trương Minh Ký để lại một công nghiệp Văn hóa to lớn đem ích lợi cho người dân Việt (nhất là người Nam Kỳ) bằng cách khởi đầu và tận dụng chữ Quốc ngữ qua sách báo.  Văn hóa Âu Tây cũng như Á Đông được truyền bá và phát huy. Ông còn dùng ngôn ngữ bình dân của người Nam Kỳ trong văn chương để tất cả người dân thường ở Nam Kỳ dễ hiểu và dễ tiếp thu. Ông muốn mọi người bình dân đều có thể học được cái hay và cái đẹp của văn hóa Đông Tây để nâng cao dân trí. Như vậy người dân mới tiến bộ và trong tương lai đủ sức chống lại và đánh bại chánh quyền thuộc địa để tự lập chính quyền độc lập của người dân.  

Khi bắt đầu công trình của mình, ông Petrus Trương Vĩnh Ký cũng thấy Văn hóa nước Đại Nam của Chính quyền quân chủ nhà Nguyễn ảnh hưởng từ văn hóa của Tàu lúc bấy giờ lạc hậu và khiếm khuyết rất nhiều nhất là về mặc Khoa học và Kỹ thuật.  Với văn hóa cũ nầy, người Việt không thể đánh bại được người Pháp về phương diện chính trị và quân sự để dành lại độc lập qua phong trào Kháng Pháp Cần Vương. Do đó ông Petrus Trương Vĩnh Ký đã sáng suốt mượn thời cơ khi Chính quyền thuộc địa Pháp muốn khai hóa hay đồng hóa người dân Nam Kỳ theo Âu Tây mà thực hiện được công trình của mình một cách khôn khéo trong gần 35 năm.  

 

Sau ông Petrus Trương Vĩnh Ký và 2 phụ tá của ông, trong tiền bán thế kỷ 20 cũng có những Chương trình Văn hóa cùng ý hướng dựa trên chữ Quốc Ngữ.

Năm 1906-1908, Phong trào Duy Tân của ông Phan Châu Trinh (và Đông Kinh Nghĩa Thục) áp dụng một chương trình văn hóa ở Bắc Kỳ giống như ông Petrus Trương Vĩnh Ký.  Tiếc thay phong trào thất bại vì chính quyền bảo hộ của Pháp ở Bắc Kỳ và Trung Kỳ đã khám phá ra được thâm ý chính trị của nó. Sau nầy khi sang Pháp rồi về nước ở Nam Kỳ (1925), ông Phan Châu Trinh cũng có cùng một chí hướng như ông Petrus Trương Vĩnh Ký nhưng nhấn mạnh nhiều tới mục đích chính trị của việc nâng cao dân trí.  

Đông Dương tạp chí (1913-1919) và Nam Phong tạp chí (1917-1934) ở Bắc Kỳ và Trung Kỳ cũng có cùng công trình văn hóa giống như của ông Petrus Trương Vĩnh Ký đã làm hàng chục năm trước đó ở Nam Kỳ.  

Gần 20 năm sau khi ông Petrus Trương Vĩnh Ký qua đời, ông Nguyễn Văn Vĩnh của Đông Dương tạp chí cũng cùng ý chí như ông Petrus Trương Vĩnh Ký khi ông nói: 

Nước Nam ta mai sau này hay dở cũng ở chữ Quốc Ngữ.

 

Công nghiệp văn hóa của ông Petrus Trương Vĩnh Ký là khởi đầu giúp ích cho người dân Nam Kỳ và Việt Nam trưởng thành về Dân trí rồi 50 năm sau (bắt đầu hậu bán thế kỷ 20) dành lại độc lập từ chính quyền thuộc địa Pháp khi thời cơ chín mùi.  Đây là một công nghiệp ích nước lợi dân.  

Khi chưa có Chính quyền dân chủ (mà chỉ có Chính quyền quân chủ của vua nhà Nguyễn và chính quyền thuộc địa của Thực Dân Pháp trong lúc đó), làm ích lợi cho dân là nâng cao dân trí để người dân trưởng thành dành độc lập lãnh thổ và lập Chính quyền Dân chủ chính là thể hiện lòng ái quốc làm ích lợi cho quốc gia vậy.  Một quốc gia gồm có Dân tộc, Lãnh thổ và Chính quyền; giúp ích cho Dân tộc trong lúc đó và nhờ đó Dân tộc trưởng thành và dành lại Chính quyền và Lãnh thổ trong tương lai chính là hành vi Ái quốc. Đó là hành vi của ông Petrus Trương Vĩnh Ký và 2 phụ tá đồng sự là ông Paulus Huỳnh Tịnh Của và ông Trương Minh Ký. Như vậy thì làm sao người dân Việt, sau khi dành lại lãnh thổ và chính quyền, có thể kết tội cho ông Petrus Trương Vĩnh Ký là phản quốc được? 

 

*

"Sic Vos Non Vobis" (Không phải cho Tôi)

 

Tình ý và chí hướng làm lợi ích cho dân Việt của ông Petrus Trương Vĩnh Ký được thể hiện qua Câu văn của ông viết trong bức thơ bằng chữ La tinh gởi cho bạn mình, Bác sĩ Alexis Chavanne (vào tháng 10, năm 1887).

Nguyên bản tiếng La tinh:

Unum et unicum quaero, esse sulicet posse utilem, quamvis dicendum sit: Sic vos non vobis.  Haec est mea sors et consolatio.

Dịch bản tiếng Pháp của Barquissau:

La seule et unique chose que je cherche, c'est de pouvoir être utile, quoiqu'il faille dire: "sic vos non vobis".  Tel est mon sors et ma consolation.

 

Từ nhiều năm nay có 2 Dịch bản sai nghĩa và thêm nghĩa của Khổng Xuân Thu:

Dịch bản 1: Điều duy nhất và đơn độc (về chính trị) mà tôi tìm kiếm, là có ích đúng như câu châm ngôn La tinh: "Sic vos non vobis (Ở với họ mà không theo họ)".  Đó là định mệnh của tôi và điều tự nhủ chính bản thân tôi.

Dịch bản 2: Điều độc nhất mà tôi tiến đến là làm sao giúp ích, làm sao để thực hành câu "theo họ nhưng không lệ thuộc họ" (sic vos non vobis).  Đó là số phận của tôi, là điều an ủi của tôi.

 

Gần đây mới có 1 Dịch bản đúng nghĩa của Winston Phan Đào Nguyên:

Điều duy nhứt mà tôi theo đuổi là làm sao thành có ích, tuy phải nói thêm rằng: (ích lợi đó) không phải cho tôi.  Đó là số phần và niềm an ủi của tôi.

 

Khổng Xuân Thu đã dịch 2 lần hoàn toàn sai phần chánh yếu "Sic vos non vobis":

Sic vos non vobis = Ở với họ mà không theo họ

                                    = Theo họ nhưng không lệ thuộc họ

(Họ = ám chỉ Thực dân Pháp)

 

Từ phần dịch sai lầm nầy của Khổng Xuân Thu, hậu thế chỉ chú trọng tới sự liên hệ giữa ông Petrus Trương Vĩnh Ký và chánh quyền thuộc địa Pháp.  Từ đó sinh ra những tranh cãi thiển cận và không thực tế về "Cá nhân Petrus Trương Vĩnh Ký trong môi trường chính trị". Qua những dữ kiện lịch sử đã nêu ra trong bài nầy, chúng ta đã thấy là sự liên hệ của ông Petrus Trương Vĩnh Ký với chính quyền thuộc địa Pháp không có gì sai lầm như những phê phán kết tội một cách thiển cận của nhiều hậu sinh trong khi ông thực hành công trình văn hóa có ích cho dân chúng của mình .  Tâm tình và công nghiệp của một nhà Bác học như ông Petrus Trương Vĩnh Ký còn cao cả và sâu rộng hơn nhiều.  

 

Winston Phan Đào Nguyên dịch đúng đắn và chính xác phần chánh yếu "Sic vos non vobis":

Sic vos non vobis = (ích lợi đó) không phải cho tôi.

Với câu đó, Winston Phan Đào Nguyên muốn nhấn mạnh tới công trình văn hóa ích lợi cho dân chúng và cho quốc gia trong lúc đó và trong tương lai của ông Petrus Ký.

"Ích lợi đó không phải cho tôi" chính là tình ý và chí hướng không ích kỷ của ông Petrus Trương Vĩnh Ký.  Ông Petrus Trương Vĩnh Ký không tự mình mà còn biết dùng 2 người đồng sự cùng tình ý và chí hướng là ông Paulus Huỳnh Tịnh Của và ông Trương Minh Ký.  Cái công nghiệp văn hóa ích lợi cho dân cho nước của 3 ông khởi đầu từ bậc Thầy là ông Petrus Trư