Trần Cẩm

                                    Quỳnh-Như

 

Cựu PTG-ĐTĐ

Sài Gòn ____________________________________

                                            CÔ ĐƠN

 


- “Without great solitude, no serious work is possible.” (Picasso)

(Nếu không có sự cô độc lớn lao, không một tác phẩm tử tế nào được sinh ra)
 

- "Người không chịu nổi sự cô đơn sẽ chọn cách giao tiếp, còn người không chịu nổi sự hoạt ngôn sẽ chọn cách làm quen với cô đơn"

(?)

 

1. Con cá buồm hồng cô đơn của tôi

Tôi không hay suy nghĩ về sự cô đơn, vì nó không là vấn đề đối với tôi. Đối với một công việc, nếu xem nó nặng nhọc như một khổ dịch thì mình cứ nghĩ tới nó mãi vì muốn trăm phương ngàn kế thoát ra khỏi nó, nhưng nếu công việc đó là một sự hứng thú mình đang thưởng ngoạn thì ta cứ việc vui vẻ trầm mình trong nó, cần gì suy gẫm hoài về nó làm chi!

 

Rồi tôi nhiều lần đi thăm các Thầy học cũ, lần nào trở về cũng thơ thẩn mấy ngày. Tôi cứ ngẫm nghĩ trầm mặc mãi trong cõi cô đơn của mấy Thầy, thứ cô đơn có thể gặm nhấm từ từ rồi giết chết cả tinh thần lẫn thể xác một ai đó, thứ cô đơn mà ngược lại có thể cho tôi một không gian riêng tư và sự thoải mái không có chi sánh được.

 

Trước khi nói tới nói tới cảnh cô đơn của con người, tôi muốn kể bạn nghe chuyện con cá buồm hồng cô đơn của tôi.

Vào đợt hai Covid 19 giữa năm nay, thằng bạn của con trai tôi, một kiến trúc sư hay mày mò làm ra các món đồ khéo léo và hữu ích dùng trong nhà, sẵn làm cho nhà nó một cây đèn khử khuẩn chiếu tia UV Ozone, nó làm luôn cho nhà tôi một cây. Nguyên tắc sử dụng đèn khử khuẩn là trong khi chiếu đèn, trong phòng tuyệt nhiên không được có người vì tia cực tím rất có hại cho da và mắt, nhứt là cây đèn bóng mét hai này hiệu quả khử khuẩn rất mạnh nên thải khí Ozone mùi nồng nặc.

Nhưng kẹt cái hồ cá "đa quốc gia" với mấy chục sinh mạng gồm hai con chép đuôi dài vàng rực và lũ hồng kim, buồm hồng, buồm xanh và bảy màu, hồ lại vừa nặng vừa cồng kềnh biết chuyển đi đâu. Nhà chật lắm lẽ ra không nên bon chen, nhưng cái hồ cá này thật sự cứu vãn bầu không khí khô cứng của hàng hàng kệ sách cũ kỹ ảm đạm trong phòng dạy học. (Phải mở thêm cái ngoặc ở đây về mấy con cá, sở dĩ lâu nay chúng được khỏe mạnh phởn phơ uốn lượn khoe sắc, đó là nhờ ơn sư phụ Duc Nguyen đã tận tình "dạy hàm thụ" một khóa chăm sóc cá kiểng trong mùa mưa bão). Mà nhà chật như nêm vô phương đâu còn nơi để dời hồ cá, thôi đành lấy vải dày che lại mỗi khi chiếu đèn khử khuẩn, cứ nghĩ chắc hổng sao...

Thế rồi các liệt sĩ từ từ ra đi, trong vòng một tháng hy sinh hết mười bảy mạng vừa lớn vừa trung vừa tí nị. Còn lại năm em buồm hồng và một cụ tỳ bà (cá lau kiếng) trường chinh tử thủ. Tôi bắt đầu đem cho bớt học trò mấy bọc lăng quăng khô Thái Lan mua để dành, vì mấy trự còn lại tuy sống sót nhưng không còn tung tăng vui vẻ như trước nữa mà bơ phờ e dè núp sau đám rong và bắt đầu ăn ít như giữ eo! Rồi cứ cách ba bốn bữa lại làm lễ truy điệu cho một vị, cho tới nay còn lại duy nhứt một anh hùng bất khuất. Nó là con buồm hồng nhỏ nhứt bầy, hay bị bắt nạt nhứt, do vậy cũng nhút nhát nhứt.

 

Bàn viết của tôi kế bên hồ cá, nên thỉnh thoảng tôi hay buông viết quan sát cuộc sống đơn độc của kẻ sống sót. Giống buồm hồng vốn có cách hành xử rất lạ. Khi được cho ăn, chúng không vui vẻ xúm xít tụ lại ăn mồi như các giống cá khác. Chúng luôn tỉnh bơ khoan thai ở tầng nước thấp vờ như khinh khỉnh xem thường lũ tham ăn phàm phu tục tử trên kia đang lanh chanh tranh mồi xao động mặt nước. Rồi chợt vụt như mũi tên, chúng bắn vọt lên ngoạm một chấm mồi, đôi khi làm mấy con bảy màu thân phận nhược tiểu nhát hít nhảy tửng lên vì giật mình, rồi xẹt bắn mình xuống phía dưới tỉnh rụi như chưa từng có chuyện gì xảy ra, cứ thế cho tới khi no bụng. Giống y như những gã đạo đức giả lúc nào cũng khệnh khạng ra vẻ ta đây trong sạch mà âm thầm há mõm chấm mút trong chớp mắt, mà gương mặt lúc nào cũng nghiêm chỉnh cao đạo, miệng hô hào trong sạch, cao thượng và nhân ái!

 

Con buồm hồng còn lại trong hồ một mình một cõi thênh thang. Nó hay thong dong tha thẩn trong đám rong tím rong xanh hoặc núp mình thư giãn sau cái máy lọc nước, thỉnh thoảng lại thả người lơ mơ trong đám bọt không khí máy lọc vừa mới phun, để dòng nước cuốn nó lộn mèo đưa cái bụng trắng lấp lánh làm tôi hết hồn tưởng nó đã chết, rồi láu lỉnh xẹt nhanh lên đớp miếng mồi và như chớp lao xuống ẩn mình gọn hơ trong đám rong. Sinh vật cang cường độc nhứt sống sót sau thảm họa tia UV mà tôi là thủ phạm đáng trách vì không có chỗ dời hồ cá! Nó giờ giống y như anh chàng Will Smith trong phim "I'm Legend", đơn độc sinh tồn trong thành phố hoang tàn sau thảm họa Zombies. Nhưng nó sung sướng hơn Will Smith nhiều, vì nơi ở của nó đâu có hoang tàn, thậm chí còn trong sạch hơn; và nó được nuôi ăn, không phải xách súng đi săn giữa bao nhiêu kẻ thù ghê gớm. Nói theo kiểu nhà văn Hoàng Hải Thủy, nó được an toàn 500%! Một gã/cô nàng hạnh phúc!

 

Quan sát nó mãi, nhiều lúc tôi tự hỏi: Không có kẻ thù, nhưng không có bạn - bạn tâm giao, bạn tình, bạn đời - liệu nó có hạnh phúc??? Phải chăng ta vẫn có thể hạnh phúc trong cô đơn???

 

Depuis, elle me fait des nuits blanches.

Elle s'est pendue à mon cou,

Elle s'est enroulée à mes hanches

Elle se couche à mes genoux.

Partout, elle me fait escorte

Et elle me suit, pas à pas.

Elle m'attend devant ma porte.

Elle est revenue, elle est là,

La solitude, la solitude..

(Chanson - La Solitude)

 

2. Những cách nhìn "cô đơn"

"There is a big difference between solitude and loneliness. Loneliness is a negative state, marked by a sense of isolation. One feels that something is missing. ... Solitude is the state of being alone without being lonely (Dean Griffiths).

(Có sự khác biệt rõ ràng giữa "cô độc" và "cô đơn". "Cô đơn" là một tình trạng tiêu cực, hàm nghĩa bị cô lập. Thứ cảm giác có gì đó mất mác... "Cô độc" là tình trạng chỉ có một mình nhưng không cảm thấy cô đơn).

 

Ở đây xin nói trước tôi không tung hô cô đơn và dìm đi giá trị và sức mạnh của việc cộng tác hữu hiệu và sống hòa hợp với cộng đồng. Tôi chỉ muốn suy gẫm về sự cô đơn ở cả hai phương diện khách quan và chủ quan, nói khác đi tôi không định phân biệt hay chỉ trích sự "cô đơn không tự nguyện" (một người luôn thấy bơ vơ phiền não khi cảm thấy mình luôn bị cô lập giữa trùng trùng cách biệt với tha nhân), hay "cô đơn tự nguyện" (những người luôn cảm thấy dễ chịu khi ở một mình vì thích sự riêng tư và tĩnh lặng).

 

Dù tự nguyện hay không thì, theo nghiên cứu khoa học, người sống một mình, không giao tiếp xã hội thường xuyên hay có ít mối quan hệ cộng đồng, luôn có nguy cơ tử vong cao hơn 26% so với những người hoạt bát thích giao tiếp và tương tác xã hội thường xuyên (nhưng đây lại là một vấn đề khác: biết đâu có người quan trọng "chất" hơn "lượng", chỉ cần sống khỏe chớ không cần sống lâu!), thậm chí còn có thể đi tìm cái chết mặc dù đôi khi cuộc sống vẫn rực ánh hào quang: Ngôi sao màn bạc Marilyn Monroe, nhà văn Ernest Hemingway, họa sĩ Van Gogh, danh hài Robin Williams, Jiah Khan nữ diễn viên Ấn Độ, Kurt Cobain nghệ sĩ Mỹ, ca sĩ Thụy Điển Avicii...

 

Và thật đáng ngạc nhiên và tức cười, thống kê cho thấy hơn 60% số người cô đơn là những người đã kết hôn!

 

Pour avoir si souvent dormi

Avec ma solitude

Je m'en suis faite presque une amie

Une douce habitude

Elle ne me quitte pas d'un pas

Fidèle comme une ombre

Elle m'a suivi çà et là

Aux quatres coins du monde

Non, je ne suis jamais seul

Avec ma solitude.

(La solitude - Georges Moustaki)

 

Tôi có cô bạn ở Canada, một phụ nữ giàu có xinh đẹp và đầy lòng trắc ẩn, thường dành ra vài ngày trong tuần để làm việc thiện nguyện trong một Nursing home. Bạn nói đôi khi những ông bà cụ già dúi tiền vào tay mình để xin mình ở lại thêm một chút chuyện trò với họ. Dĩ nhiên bạn tôi luôn sẵn lòng ngồi lại mà không cần điều kiện gì để mang lại chút hơi ấm cảm thông cho những cõi lòng lạnh lẽo vì xa cách người thân. Bạn tôi nói Covid19 đã lấy đi cả trăm người già nơi đó, và rồi những mái đầu bạc ngày càng trắng xóa, những ánh mắt xa xăm lại càng xa xăm hơn khi tình trạng dịch bệnh lan rộng nên càng hạn chế thân nhân thăm viếng.

 

Càng giàu có, càng cô đơn! Bà lối xóm của tôi, đảng viên 50 năm, góa chồng, không con, cuộc sống sung túc thoải mái. Bà tốt bụng, rộng rãi, và rất sợ cô đơn, nên nghiễm nhiên căn nhà bà như cơ quan Việt tấn xã, là nơi tụ tập các bà tám, chuyên thu và phát tất cả những thông tin nóng hổi trong xóm. Bà không biết xài máy tính, điện thoại thì chỉ nghe gọi, ghét chó mèo, không thích cây kiểng, cũng chẳng mặn mòi gì với chuyện du lịch đó đây, sách báo thì chỉ đọc duy nhứt tờ Sài Gòn Giải Phóng của Phường phát tặng. Thương cho người quá ít thú vui riêng!

Ban ngày căn nhà bà luôn rôm rả tiếng cười nói của mấy bà lối xóm khi hết việc nhà rảnh rỗi tạt ngang góp chuyện. Nhưng khi đêm về... đó là lúc nỗi cô đơn phồng lên choán hết diện tích căn nhà, làm nặng trĩu trái tim èo ọt hay làm reo, hành hạ mấy cái khớp sưng vù vì không chịu nổi sức nặng toàn thân, kéo huyết áp lên chót vót, kèm theo triệu chứng rối loạn tiền đình trường kỳ khiến đầu nhức như búa bổ, và căn bệnh tiểu đường khiến bà phải nửa đêm bò dậy tự chích insuline... Cô đơn bệnh tật hành hạ kèm nỗi chán nản người thân xâu xé lợi dụng, bà cứ lăm le tự tử hoài...Một cuộc sống dư ăn dư mặc không cần lo cơm áo, không có trách nhiệm hay bổn phận gì với ai, hoàn toàn độc-lập-tự-do sao cũng không hạnh-phúc???

 

There you are

In a darkened room

And you're all alone

Looking out the window

Your heart is cold and lost the will to love

Like a broken arrow

(Ricky Martin - Nobody Wants to Be Lonely)

 

Nói chuyện cô đơn của người già, tôi lại nhớ tới người Thầy cũ trong lần thăm viếng vừa rồi, Thầy cứ cầm tay tôi trong hai bàn tay Thầy và lặp đi lặp lại câu nói: "Gặp em Thầy mừng lắm... Nói chuyện với em Thầy vui lắm...". Thầy còn dặn tôi thỉnh thoảng gọi cho Thầy, và nếu có thể, thu xếp đi thăm Thầy đôi tháng một lần!

Tôi hay tự hỏi không biết khi tôi đi tới cuối con đường, tôi có thể có cái nhu cầu bức thiết đó không, cái nhu cầu muốn có bên mình một người để cùng nhắc lại những kỷ niệm vàng son của một thời trai trẻ, để ủi an cho tạm quên đi những bệnh tật hành hạ khổ ải xác thân? (Với tính cách của tôi, tôi không chắc chắn lắm đâu!)

 

Tôi còn có một người Thầy khác, cũng cô độc lắm trong tuổi xế chiều. Thầy sống nội tâm nên thường cố cam chịu và chấp nhận cô đơn như lẽ tự nhiên của con người ở những ngày còn lại. Những mail Thầy gởi cho tôi luôn ẩn hiện sự chấp nhận lặng lẽ đó, và thấp thoáng những ý tưởng Phật pháp thông tuệ và sâu sắc, đi kèm với những ca từ đầy tính triết lý của Trịnh Công Sơn.

 

Hiển nhiên tôi nhìn thấy những thái độ đối với cô đơn hoàn toàn khác biệt, dù người nào cũng buồn bã quạnh hiu trong tuổi xế chiều.

 

Lonely, I'm Mr. Lonely

I have nobody for my own

Now I am so lonely, I'm Mr. Lonely

Wish I had someone to call on the phoneNow I'm a soldier, a lonely soldier

Away from home through no wish of my own

That's why I'm lonely, I'm Mr. Lonely

I wish that I could go back homeLetters, never a letter

I get no letters in the mail

I've been forgotten, yes, forgotten

Oh, how I wonder, how…(Mr. Lonely- Bobby Vinton)

https://www.youtube.com/watch?v=_zSecRAFM14

 

3. Tôi nhìn tôi "cô đơn"

Bạn ngạc nhiên không, vì trên đời này còn có một sở thích, đó là thích cô đơn!

Cô đơn cũng có mặt tích cực đối với một người thích được trầm mình trong bóng tối - bóng tối của đêm đen thật sự và bóng râm bên lề cuộc đời, nghĩa là không thích lộ diện ra ngoài xã hội. Thứ cô đơn không làm ta sợ hãi chán chường, mà là một môi trường luôn được mong đợi trong cõi yên bình cho minh triết và sáng tạo - một sự xa xỉ hiếm có gần như một phép màu nếu bạn sống giữa một thành phố đang bị nạn nhân mãn đe dọa, với tiếng ồn trăm kiểu vây quanh.

 

Hiếu kỳ, tôi đi tìm tôi trong những key words "thích cô đơn", và kinh ngạc khi thấy con người mình có tất cả những dấu hiệu không đáng khuyến khích: sợ đám đông và lọt thỏm giữa những cuộc vui, luôn muốn tách ra khỏi thế giới bên ngoài, giữ khoảng cách để cảm thấy thoải mái, cả về thể chất lẫn tinh thần, thích làm mọi thứ một mình, sống một mình nhưng không hề cảm thấy nhàm chán, trân quý mọi cơ hội được ở một mình, không cảm thấy thôi thúc phải liên tục giữ liên lạc với người khác trong thời gian dài, luôn thức rất khuya để xem một bộ phim hay trong đó có những cuộc tình trong sáng và cao thượng, hoặc đôi khi đơn giản là chỉ muốn hòa mình vào bóng tối, cứ nghe đi nghe lại mãi một bản nhạc, thích đi du lịch một mình, thích hưởng thụ những cuối tuần thoải mái không ràng buộc, ngại kết bạn và gặp gỡ người mới... Ôi chao!

 

Đôi khi tôi hay tự hỏi, chẳng biết mình có kỳ dị lắm không, trong khi bạn bè tôi dô dô vui vẻ ở những quán ăn sang trọng và tinh tế, tôi lại tha thiết muốn hưởng một buổi tối yên tĩnh ở nhà, mặc một bộ đồ ngủ thoải mái và xem bộ phim thú vị. Nó mang lại cho tôi niềm vui lớn hơn nhiều so với việc bỏ thời gian đi shopping hoặc làm đẹp, nên tôi luôn tận dụng thời gian ít ỏi còn lại để làm những gì mình thích và tận hưởng nó như một đặc ân lúc cuối đời. Cô đơn không làm khó được tôi vì tôi sống khép kín chớ không-thể-không-hòa-nhập. Và tôi nghĩ có thể tự tin về bản thân là một trong những tính cách đầu tiên của một người yêu thích cô đơn ở mức độ chấp nhận được không đi tới chỗ cực đoan.

 

Thật ra cũng thú vị lắm khi thỉnh thoảng được ra ngoài gặp vài đứa bạn thân để tán gẫu. Lúc đó ta đâu còn là những người lớn chững chạc nữa, mà trở thành những đứa trẻ sống lâu, tha hồ nhí nhố một trăm lẻ một chuyện trên trời dưới đất, và cảm thấy hạnh phúc khi vẫn còn được gặp hay liên lạc với những đứa bạn dễ thương, những người bạn của năm mươi năm về trước! Chia sẻ những trải nghiệm, cho hay nhận lời khuyên, tâm sự những điều u ẩn không thể nói với ngay chính những người thân của mình, những điều đó chúng ta chỉ có thể kể lể với đôi người bạn thân, do vậy ta cần "bạn" và không thích "bè". Quý hồ tinh bất quý hồ đa, bạn ít thôi nhưng thật lòng với nhau, không có cái cảnh "bằng mặt không bằng lòng", không có những nụ cười giả tạo, ngoài mặt nói cười thơn thớt mà ghìm nhau nhau từng chút để ganh ghét hay xem thường. Một người thích cô đơn chỉ cần bấy nhiêu, nên cuộc sống hiếm khi cảm thấy nhàm chán vì biết rõ mình thích gì, cần và không cần phải làm gì.

 

Đầu tháng Tư 2020, lần đầu tiên trong lịch sử Việt Nam, social distancing do nạn dịch Covid 19 diễn ra kéo theo bao nhiêu bức bối, trầm cảm và xung đột gia đình. Những người tánh hướng ngoại nào giờ đã quen sống bầy đàn, lúc ấy cảm thấy ngột ngạt tù túng thậm chí muốn phát điên khi phải quẩn quanh giữa bốn bức tường của chính căn nhà mình, ăn rồi ngủ! Trong khi những người đã quen với cuộc sống khép kín lại thấy chẳng có gì ghê gớm, thậm chí còn cảm thấy tiện lợi hơn vì khi ngại tới chợ là nơi đông người dễ lây nhiễm, giờ chỉ cần một cú nhấp chuột đặt hàng online là có người đem tới tận nhà. Rồi lợi dụng thời gian cách ly để có nhiều dịp sum họp gia đình hơn, đọc sách xem phim nhiều hơn, và hoàn thiện con người mình hơn qua những kỹ năng còn thiếu sót mà lâu nay cuộc sống cơm áo tất bật bươn bả không có nhiều thì giờ để trau giồi.

 

Như vậy, cùng một sự kiện, xấu hay tốt, khó chịu hay không, đều tùy tính cách và cách nhìn của mỗi người đối với sự kiện đó ra sao.

 

Dẫu sao, bản chất con người luôn có hai thôi thúc mâu thuẫn: chúng ta yêu và muốn được yêu, đồng thời chúng ta cũng khao khát sự riêng tư và độc lập. Cho nên trong giáo dục, phải chăng nên dạy trẻ nhỏ cách làm việc nhóm, nhưng cũng cần thiết dạy chúng chủ động dấn thân để tự mình thực hiện hoặc đeo đuổi một đam mê lành mạnh hay một ngành chuyên môn lâu dài và bền bỉ. Trong khoa học, sự hợp tác trong phòng thí nghiệm đưa đến những kết quả diệu kỳ, nhưng cũng có những nhà khoa học tính cách hướng nội lại rất cần yên tĩnh và riêng tư để có thể thăng hoa khả năng sáng tạo và hiệu suất làm việc tới mức tối ưu.

 

Khi tôi đọc về nỗi cô đơn, đoạn văn dưới đây làm tôi vừa thú vị vừa buồn cười:

"Tôi không cho rằng con người là một hòn đảo. Cuộc sống là vô nghĩa khi chúng ta không có tình yêu, lòng tin, và tình bạn.

...Và những người có khả năng sáng tạo phi thường nhất, trong nhiều ngành nghề khác nhau, phần lớn lại là những người hướng nội, dựa theo một nghiên cứu của hai nhà tâm lý học Mihaly Csikszentmihalyi và Gregory Feist.Họ đủ hướng ngoại để chia sẻ và thúc đẩy những ý tưởng, nhưng họ luôn nhận thức về bản thân như là một cá nhân độc lập.

...Nói cách khác, một người ngồi yên lặng dưới gốc cây ngoài vườn (trong khi những người khác đang rôm rả cụng ly trong nhà) khả năng cao hơn sẽ có táo rơi vào đầu!" (Newton là một trong những người hướng nội vĩ đại nhất trong lịch sử nhân loại: William Wordsworth đã miêu tả ông qua đoạn thơ sau: “Mãi mãi một trí tuệ/ Hành hương qua những biển cả xa lạ của suy tư, trong cô độc.”)

(New York Times)

 

Tôi vẫn còn nhớ quay quắt cái thời đẹp đẽ nhứt của tuổi thanh xuân tươi hồng, đã phải oan uổng chôn đời trong rẫy rừng, trong khi vẫn liên tục ném mình vào những chuyến đi vô vọng. Gần mười năm sau tôi mới trở lại Sài Gòn nối tiếp "giấc mộng con" ở Đại học Tổng hợp.Rảnh rỗi ngồi gẫm lại mới thấy những ngày miễn cưỡng làm thôn nữ, ngày nhổ cỏ trồng trọt tối học ôn dưới ánh sáng tù mù của ngọn đèn dầu, tôi chưa bao giờ thèm muốn ánh sáng kinh thành (cái kinh thành đầy xa lạ và khốn khổ đó đâu còn là chỗ nương thân cho anh chị em chúng tôi!), cũng chưa bao giờ vì mặc áo vá mà thèm thuồng bộ váy rực rỡ và tiếc cho vóc dáng thanh xuân dần mai một nơi quê mùa. Chỉ có một thôi thúc duy nhứt là thoát khỏi lòng giếng tăm tối để được toại chí trong giấc mộng công danh dở dang tức tưởi! Trong thời gian gần mười năm trời đằng đẵng đó, nếu là người ham vui có lẽ tôi đã phát điên vì cái "mộng vuông" phải nằm bó rọ trong một "lỗ tròn" oan nghiệt (A square peg in a round hole). Vậy mà ngược lại, đó là thời gian duy nhứt tôi được thanh thản bên thiên nhiên xanh mút mắt, cách xa những sinh vật ác độc và đạo đức giả, sống hồn nhiên với heo bò gà vịt, chiều chiều nằm lăn trên trảng cỏ mênh mông mà giỡn tưng bừng với mấy con chó con mèo.

 

Cô đơn chăng? Rất nhiều, nếu cứ mãi nhớ về những ngày hạnh phúc ấm êm thoát cái tan đàn sẩy nghé, nếu cứ lạc lõng nơi xa lạ với những người lối xóm cứ chăm chăm để ý coi "nhà giàu Sài Gòn" làm ăn ra sao (đó là họ gọi mỉa mình vậy) và cười nhếch mép khi thấy mình làm ruộng làm rẫy chẳng ra hồn, nếu cứ nhìn mãi những bông dừa cạn tím buồn chìm dần trong hoàng hôn mà nhớ về những cành mai ngày Tết nghiêng mình kiêu sa trong cái lộc bình quý giá của Ngoại, và nếu cứ nghe tiếng pháo giao thừa mà ngỡ như tiếng uất nghẹn chớp bể mưa nguồn khi nhớ về những ngày cuối năm sum họp gia đình yên vui cũ...

 

Hò ơ... Rồng chầu ngoài Huế, ngựa tế Đồng Nai,

Con sông nước sâu sao cứ chảy hoài,

Thương người xa xứ lạc loài tới đây...

 

Rồi mọi thứ cũng dần ổn định sau khi đã... chạm đáy! Càng về già, dù đã có thể thảnh thơi để đi đó đây chút ít, tôi vẫn lười ló mặt ra ngoài, dần sợ những mối quan tâm hời hợt, những mối quan hệ xã giao "có cho có", càng ngại ngùng những ồn ào quanh mình : tôi ghét một tiếng còi xe vô duyên chát chúa trong ngõ nhỏ, không ưa những tiếng động ồn ả, cho dù đó là âm thanh Karaoke ầm ĩ với giọng lè nhè ngang phè của đám người đang ngà ngà say cách đó vài căn, tiếng chuông mõ tụng niệm rền rĩ vào những lúc người ta cần nghỉ ngơi nhứt ở căn đối diện, hay tiếng hát thánh ca vang rền của cả gia đình sát nhà mà tôi bị bắt phải nghe mỗi hừng sáng (dù tôi vẫn lầm thầm đọc chú Đại Bi và Bát Nhã tâm kinh mỗi ngày và thỉnh thoảng cũng nghêu ngao nho nhỏ vài bài Thánh ca!) . Tôi trang bị cho căn phòng của mình dễ chịu tối đa, tương đối cách âm, để nó trở thành thế giới của riêng tôi, an toàn và tĩnh lặng, nơi đó tôi thu tôi vào một góc thoải mái, tha hồ cất kín tâm tư, gần như chỉ giải bày qua ngòi bút và những trang giấy. Một cuộc sống thụ động và gần như ẩn cư giữa những bộn bề nơi phố thị.

Sau những mất mát, tan tác, con chim trúng tên đôi lần mãi sợ cành cong.

Cho nên dù tôi có một gia đình yên ấm, một nghề nghiệp ổn định và được quý mến, những người bạn (online và offline) thật dễ thương, những mối quan hệ gia đình và xã hội khá tốt đẹp, nhưng tôi vẫn chỉ là người cô đơn với hạnh phúc một mình.

 

Life is a moment in space

When the dream is gone

It's a lonelier place

I kiss the morning goodbye

But down inside you know

We never know why

The road is narrow and long

(Woman in love - Barry and Robin Gibb)

 

 

SG, 1/11/2020

Trần Cẩm Quỳnh-Như

______________________

J'ai cueilli ce brin de bruyère

L'automne est morte souviens-t'en

Nous ne nous verrons plus sur terre

Odeur du temps Brin de bruyère

Et souviens-toi que je t'attends

(L'adieu- Guillaume Apollinaire)

 

1. Thu. Lãng mạn và bâng khuâng biết bao trong văn, thơ, nhạc! Nào "Tôi đi học" Thanh Tịnh, "The last Leaf" O'Henry, đến "Nature en deuil" Sybille Rembard, "Chansons d'Automne" Paul Verlaine, "L'adieu" Guillaume Apollinaire, "Sonnet 73" William Shakespeare, "To Autumn" John Keats, "Fall, leaves, fall" Emily Brontë, "Thu tịch lữ hoài" Lý Bạch, "Thu hứng bát thủ" Đỗ Phủ, "Thu giang tống khách" Bạch Cư Dị, rồi "Cây đàn cuối thu" Nguyễn Bính, "Gửi người dưới mộ" Đinh Hùng, "Tiếng thu" Lưu Trọng Lư, "Gió thu" Tản Đà, và "Buồn tàn thu" Văn Cao, "Thu vàng" Cung Tiến, "Giọt mưa thu" Đặng Thế Phong, "Thu quyến rũ" Đoàn Chuẩn, "Mùa thu Paris" Cung Trầm Tưởng - Phạm Duy...

 

Nhiều đến nỗi đã trở nên bình thường một tâm cảm mùa thu và nghệ sĩ. Và những-con-đường-thu-có-một-tôi-thơ-thẩn luôn là niềm mơ ước cho kiếp sau với trùng trùng lá chết...

 

Dans le parc aux lointains voilés de brume, sous

Les grands arbres d’où tombe avec un bruit très doux

L’adieu des feuilles d’or parmi la solitude

Sous le ciel pâlissant comme de lassitude

(Dans le parc - Albert Samain)

 

Rồi tôi được đọc "Thu, vàng mấy đỗi..." của tác giả không xa lạ gì Cao Vị Khanh. Bảo là quen, nhưng dường như lần nào tôi cũng ngạc nhiên như đọc lần đầu văn phong lạ lẫm một tác giả chưa quen. "Thu" vào tay Cao Vị Khanh đã không còn bình thường, nó mang dấu ấn ngọc với dịu vợi ngôn từ. Đến nỗi khi ông xã tôi hỏi bài viết (Thu, vàng mấy đỗi...) nói gì trong đó mà em bảo đọc hoài không chán? Tôi ngẩn người không biết trả lời sao: Ủa, trí nhớ mình già cỗi hết date không nhớ nổi nội dung bài viết vừa mới đọc, hay nó kỳ ảo đến nỗi khi đi lạc vào đó tôi lơ ngơ như kẻ đang đằm đằm trong cỗ máy thời gian muôn hồng ngàn tía, để rồi khi đã bước trở về thực tại, tôi vẫn còn lơ mơ chân thấp chân cao?

 

2. Cao Vị Khanh đã "lẩm rẩm" những gì mà có thể hấp dẫn người đọc như một thứ Love Lotion Number 9? Trước tiên là choáng váng với cách dùng chữ thần kỳ của ông. Trời đất ơi, văn thì đọc miên man mà thử lọc chữ dùng phát chóng mặt! Ai cũng biết, chỉ bắt đầu từ độ tuổi năm, sáu mươi, não bộ con người đã bắt đầu lão hóa làm rớt rơi từng từ vựng, nhớ mãi không ra tên gọi những thứ hết sức bình thường quanh ta, đành chỉ tay cái này, cái kia. Hội thoại hằng ngày kém sinh động vì cứ ư a đã đành, viết lách càng tệ hại khi nghĩ hoài không ra chữ đúng để diễn tả ý tưởng...

Chuyện đó không hề xảy ra với Cao Vị Khanh! Hãy xem đoạn mở đầu khi "Sương" tràn ngập từ tượng hình đến nỗi trong cái đầu-luôn-cự-tuyệt-những-con-số của tôi chợt bật lên một ý nghĩ cắc cớ: Để mình thử đếm xem Cao Vị Khanh đã sử dụng bao nhiêu chữ diễn tả "Thu", và hết hồn hết vía khi thấy trong một đoạn đầu ngắn xíu chiếm hết hai mươi mốt động từ tả "sương": nấn níu, là là, lả lả, mù mù, váng vất, len lách, lan man, lấp lửng, bay, rơi, tuôn, bốc, tràn, thổi, vắt, luồn, trườn, sà, nghiêng, vói, thấm!!! Và một đoản văn không dài không ngắn chiếm không nhiều, chỉ tròm trèm... hơn năm mươi tính từ tả "Thu": bâng khuâng, xao xác, lãng đãng, nao nao, bảng lảng, nằng nặng, hiu hiu, ngan ngát, mang mang, băn khoăn, ray rứt, lê thê, lung linh, tiêu sơ, long lanh, lồng lộng, miên man, sẽ sàng, khắc khoải, tan tác, xào xạc, quạnh hiu, xốn xang, thăm thẳm, trìu trĩu, tàn phai, mỏi mòn, vv...Quá kinh khủng cho một cái đầu còn cực kỳ tinh anh ở tuổi ông. Và vô cùng tinh tế.

 

Sous ces rayons cléments des soleils de septembre

Le ciel est doux, mais pâle, et la terre jaunit.

Dans les forêts la feuille a la couleur de l’ambre ;

L’oiseau ne chante plus sur le bord de son nid.

(Les Soleils de Septembre - Auguste Lacaussad)

 

3. Tôi có một tật xấu, là khi đọc cuốn sách hay, hoặc xem một phim buồn, tôi cứ ở mãi trong đó không thoát ra được. Cho nên giờ đây, khi mơ ngủ, khi làm việc nhà, thậm chí khi đang dạy học (dĩ nhiên lúc học trò đang làm bài), tôi vẫn mãi mơ mộng về một mùa "Thu, vàng mấy đỗi" ngập lá phong vàng... Có vọng ngoại không khi tôi nói quanh tôi chỉ có xác lá tuôn đổ muôn chiều trong mưa làm những giọt nước mắt hòa với nước mưa đầm đìa ký ức của một dĩ vãng nhiều sinh ly tử biệt, tuyệt không có những chiều thu vàng xao động lòng người, những con đường hun hút đẹp đến nỗi tôi một tâm hồn đã chết từ bao độ chợt trỗi dậy niềm ước ao được tay trong tay với một ai đó chưa có chân dung, thong dong trên xào xạc lớp lớp lá chết mùa này mùa trước; hay được ngồi với tri âm trên băng đá bờ hồ một ngày thu, yên lặng ngắm những con thiên nga sang trọng và đĩnh đạc chớm di thê...

 

La couleur verte

tremble

entre les mains

de l’automne

La mort maquille

les feuilles

pour leurs noces

avec le givre

(Arrière-saison -Kamal Zerdoum)

 

"Sương" la đà len lách khắp chốn của Cao Vị Khanh cũng thoắt đưa tôi về đoạn phim bốn mươi năm trước một cô nhỏ tương lai vô định muốn tan trong sương mù một ngày bão bùng ở Đà Lạt, thành phố ngàn thông. Mưa lất phất và gió cắc cớ cứ chực lật ngược cây dù khốn khổ trong màn sương trắng xóa không tỏ mặt người trên con dốc chừng như đi hoài không hết, đến nỗi khiến cho cô cảm thấy mọi thứ dường như đều chống lại mình: Mưa, lạnh, gió, sương... Và định mệnh.

Một đóa dã tường vi đỏ thắm thẹn thò bên rào nhà ai run rẩy khóc, như giọt máu bầm loang lỗ trong làn sương trắng...

 

Oui, dans ces jours d’automne où la nature expire,

A ses regards voilés, je trouve plus d’attraits,

C’est l’adieu d’un ami, c’est le dernier sourire

Des lèvres que la mort va fermer pour jamais !

(L'automne - Alphonse de Lamartin)

 

4. Lá tan tác trong gió. Lá long lanh trong nắng. Lá muộn phiền trong mưa... Những chiếc lá của Cao Vị Khanh "xanh mướt, xanh rì, xanh ngát, đốm vàng, ửng hồng, dãi đỏ, hực vàng, lồng lộng, sáng trưng, hực hỡ, vàng lịm, tím thẫm, đỏ quạch, tung hê, tan tác"... Để "ngày vội vã". Để "đêm nơm nớp"... Những nhân cách hóa thâm trầm làm tôi chợt nhớ tới những chiếc lá tội nghiệp của tôi...

 

"Ở đó mỗi khi nhìn gió xoáy từ đầu dốc cuốn theo bao nhiêu lá vàng, để rồi khi xuống tới dưới triền thì tung lên trên không cơ man nào là xác bướm tơi tả, thì hồn mình như cuốn bay theo với lá, bỏ lại sau lưng những khổ đau chốn hồng trần, những "thiên địa vô nhân", những cảnh đời thất thế..." (Trích "Tôi đi chăn bò - TCQN).

 

Sao mà tội nghiệp? Vì chúng bị dập vùi cuốn hết xuống phía triền cỏ thoai thoải dưới kia để chôn đời trong một đầm nước quạnh hiu lau lách, ngàn đời trầm tích, ngàn đời lặng câm. Những chiếc lá cũng có một số phận hẳn hoi cách biệt, đời đời ngưỡng vọng những bạn lá thong dong la đà reo vui đáp xuống vai những bức tượng trắng trong khuôn viên Đại học mênh mông bên nửa kia trái đất, những bạn lá êm êm lót chân cho đôi tình nhân trên những con đường Thu hun hút giữa hai hàng cây kỳ bí thăm thẳm...

 

Une rose trémière restée un peu sauvage

A pleuré ses pétales sur les marbres et les croix.

Dans le vent qui gémit revient l’écho des voix

Des pauvres innocents trépassés avant l’âge.

(Toussaint en Bretagne - Antoine Livic)

 

5. Góp phần vào nét Thu buồn hoang hoải, là hình ảnh chú hề "cô đơn và lạt lẽo như một pho tượng cũ bỏ quên", một chấm phá sinh động âm thầm trong cảnh Thu. Phía sau lớp "son phấn ngây ngô" và nụ cười ngoác vô hồn, là cả một kiếp nhân sinh! Như một nghệ sĩ nghèo khi màn nhung đã khép, nợ cơm áo và nỗi cô đơn luôn thường trực vây quanh. Đâu rồi kèn trống dặt dìu, đâu những tiếng cười reo khoái trá, đâu rồi cờ xí rợp trời, đâu những tràng vỗ tay vang rền theo nhịp ngựa bước kiệu điệu đàng! Chỉ còn lại một hình người buồn bã, đã buồn như pho tượng, còn cũ kỹ và bị quên lãng, giữa vòng vây các thứ bừa bộn như phế tích chất chồng, "mếu máo", "xộc xệch", nhòe nhoẹt"...Mọi thứ đều buồn thảm, như đất trời lộng lẫy trước khi chớm tàn phai...

 

Thêm diễm lệ cho nàng Thu muôn vẻ não nùng, là những câu văn kéo dài sự thâm trầm bằng chỉ hai chữ cuối câu:

 

"Vói tay ngắt chiếc lá, cọ nhẹ vào môi nghe mềm mại, mặt lá ửng hồng túa ra li ti những đường gân nhỏ như ngàn mạch máu vân vi trên má ai ngày xưa, nhan sắc".

"Dứt mưa, nước thấm vào thân cây đen sẩm, tàng lá đã đỏ, ửng đỏ thêm, chòm lá đã vàng, hực vàng thêm, tuyệt tác".

"Rồi tới lúc đỏ con mắt mới thấy được một đốm xanh, lẻ mọn".

"Cái lộng lẫy rồi có phải, chẳng qua … cũng chỉ là tín hiệu của một sự tàn phai, sẽ đến".

"Những tình nhân e thẹn được dịp cũng muốn tung hê ra cho hết, một lần".

"Mang theo hết đi, mang theo hết đi, mùa thu".

 

Và phải chăng đây chính là những câu thơ được dệt bằng văn xuôi?

"... Thoáng như ráo hoảnh… Có một cái gì bảng lảng đâu đây. Có một cái gì chực hờ muốn nói ... mà môi không hở được ra lời".

 

"Có điều trời đất đó dưng không ra chiều lãng đãng. Gió mây đó bỗng nằng nặng nỗi niềm. Cũng là cơn gió quen nhưng trưa nay sao thấy hiu hiu. Vẫn là vạt mây đó sao hoàng hôn này lại ngan ngát. Có cái gì đó đang trở dậy, cựa mình, dù đã thúc thủ nằm yên từ lâu lắm trong cái góc khuất nhất của lòng ta".

 

"Ngọn đuốc cháy lập loè trên khuôn mặt sinh ly. Giọt nước mắt tử biệt khóc ngoài ngàn dặm. Ánh trăng xanh mướt một đêm mười bảy. Ngón tay ngoéo hờ giữa góc phố trăm năm".

 

"Ngày vẫn lên mà chừng như uể oải. Đêm mỏi mòn mỗi lúc một lê thê hơn".

 

"Rồi lắm khi những cơn mưa bất chợt, mưa bay nghiêng làm như nước cũng đổi màu".

 

"Ai đó đã qua đây, rồi có để lại gì không, kể cả một dấu chân đã dẫm lên mấy lần lá úa. Lá sẽ rơi lấp lên tất cả, con đường, bãi cỏ, ngõ phố, công viên, tiếng cười lanh lảnh một mùa hè, giọt nước mắt lẫn vào giọt mưa bất chợt, ngón tay cong như một lời hẹn vu vơ".

 

"Vàng thu chỉ là ảo ảnh. Và tình thu chỉ là một thứ đoạn trường".

 

"Để lại chăng, đôi khi chỉ là một chiếc lá vàng mà ai đó ép khô giữa hai trang sách cũ, rồi bỏ quên giữa mối mục thời gian…"

 

"Làm chi mấy lớp sương thu, để hai con mắt tôi mù hướng em. Tìm đâu thấy, dấu đã chìm? Có chăng trong xác lá lìm lịm khô…"
 

 

Ai chà! Trước đây tôi hay gọi Cao Vị Khanh "Nhà văn lan man những diệu kỳ". Giờ tôi muốn đổi thành nick "CVK, phù thủy của ngôn từ".

Nhứt định phải meo cho ổng hay mới được !

 

 

SG, 13/10/2020

Trần Cẩm Quỳnh Như

_________________________

SANG và GIÀU

Đã nói thôi bớt bớt FB lại, nghỉ dưỡng bệnh!
Rồi nằm khoèo buồn quá lại quơ cây viết xấp giấy, ngồi không nổi bắt thằng nhóc làm thơ ký gõ lóc cóc, nên bữa nay lại làm rối mắt bà con!
-------------------------------

Cổ kim đa thiểu anh hùng lệ,
Anh hùng nan dữ mệnh tranh hoành,
(Xưa nay những giọt lệ anh hùng đều do không chống lại được số mệnh)
(?)

1. Kể bạn nghe, hồi tôi còn trẻ, có thầy tướng vốn là chỗ quen biết của Ba tôi, đã phán một câu như vầy: "Con QN này nếu may mắn lắm cũng chỉ có thể có quý, chắc chắn không bao giờ có phú!". Tôi cà rỡn: "Con muốn phú hè, con không cần quý đâu hu hu!". Mười tám tuổi lớn xộn rồi cũng chưa biết khi nghèo nó khổ tới cỡ nào, mà cũng không tin ông bà cha mẹ khá giả mình cũng cố công học tập sao mình lại nghèo!
Cho đến tuổi mười chín, gia cảnh suy sụp tan tác, tử biệt sinh ly, tài sản gia đình bỗng nhiên bị "mượn" đâu mất hết, chà lúc đó mới thật sự thấm thía "giá trị" của cái nghèo! Thật là một cuộc "đổi đời" ngoạn mục!

Khi không còn được sống phong lưu như xưa nữa, thỉnh thoảng tôi vẫn hay suy nghĩ về lời ông thầy tướng, gẫm lại câu nói đúng chóc "Tính cách làm nên số phận", rồi lại ngẫm nghĩ hoài về chuyện "phú" chuyện "quý", không biết cái "quý" nó khác cái "phú" nhiều thế nào, vừa "phú" vừa "quý" ra sao, có "quý" không "phú" thê thảm không, ngược lại có "phú" không "quý" giống con giáp nào?

Ngày xưa tôi hay nghe mấy người lớn trong nhà cắt nghĩa về một "famille hiển đạt" và luôn tỏ ý trầm trồ ngưỡng mộ, có lẽ ý muốn tôi cố gắng học hành chăm chỉ cho gia đình nở mặt nở mày. Trong trí nhớ non nớt của tôi thuở đó, một famille hiển đạt bao gồm "giàu gốc" (kiểu bên nội bên ngoại xuất nhập cảng hay điền chủ), con cái du học tự túc bên Tây tốt nghiệp Sorbonne, thế hệ thứ ba cũng học rất giỏi, hoặc tốt nghiệp Đại học trong nước, hoặc có bourse đi học bên Mỹ, Pháp, Anh, Thụy Sĩ... (Tôi muốn nói đến trường hợp các học sinh giỏi du học nước ngoài trước 75, không nói chuyện sau này mấy đứa nhỏ ăn chơi đàn đúm học dốt như me, trong nước chuyên đội sổ, được cha mẹ mua nhà triệu đô ở nước ngoài rồi đẩy qua bển học cho le và để "giữ chân" cho cả gia đình một khi người lớn đã "hạ cánh an toàn"). Khi trở về, các trí thức thành đạt có địa vị, sống sang trọng trong giản dị (hay giản dị trong sang trọng) với cử chỉ lịch sự, thái độ hòa nhã, và đóng góp đáng kể thành quả học tập cho xã hội cộng đồng. Rõ ràng đây là giai cấp "vừa phú vừa quý"!

Tôi cũng muốn mở cái ngoặc ở đây, trên có nói về những người có xuất thân ông bà là điền chủ, là với nghĩa tốt, không phải "địa chủ ác ôn". Dĩ nhiên ở đâu cũng có người tốt kẻ xấu, nhưng một điều chắc chắn không phải ai giàu cũng ác ôn. Như thời trước điền chủ Tăng Khoánh, là người xếp hàng thứ tư trong bốn điền chủ giàu nhứt Sóc Trăng Bạc Liêu, là người xốc vác chơn chất, luôn ra ruộng làm chung với các tá điền, nhà có mấy cái citerne nước mưa rất lớn, mùa hạn hay cho bà con tới gánh nước miễn phí về xài, trong xã có ai nghèo khổ qua đời sẽ được ông cấp cho ít tiền, cùng hòm và chiếu.

Cần gì phải ác ôn mới giàu! Đất phương Nam cò bay gãy cánh chó chạy cong đuôi không sức mà cày, sản vật phong phú, nước ngọt tràn bờ (lúc đó chưa có mười một cái đập khổng lồ của Tàu, đồng ruộng miền Nam phù sa đỏ quạch quanh năm, đâu có bị xâm mặn hạn hán như bây giờ). Nếu miền Nam không trù phú phì nhiêu, tại sao ai ai tận ngoài Bắc ngoài Trung xa lắc tí tè quảy gói "tới đây" rồi "cũng ở lại đây", cắm rễ hoài không muốn trở về??? Những hình ảnh còn sót lại của một miền Nam dù trong chiến tranh vẫn văn minh thanh lịch cuộc sống dễ dàng những năm 60 - 70 đủ minh chứng cho điều đó.

2. Có "quý" không "phú" thê thảm không?

Văn học ta xưa từng miêu tả những ông đồ nghèo thất cơ lỡ vận chỉ vì khẳng khái không chịu "vứt bút lông đi giắt bút chì", nhận dạy vài đứa con nít ê a, ra đường vẫn cố gắng tươm tất, áo dài mòn mỏng đến nỗi không dám cử động mạnh, khuỷu tay và cổ áo sờn thấp thoáng những mủi vá khéo của người vợ tảo tần.

Sau 75, không phất lên như những kẻ cơ hội, có những giáo sư được đi dạy lại với đồng lương còm cõi, vẫn nghiêm chỉnh áo chemise trắng bỏ trong thẳng thớm dù đã ngả màu xỉn vì chỉ giặt nước tro hay xà bông kem vò hoài không ra bọt (mà cũng phải đứng chờ rồng rắn trước hợp tác xã lâu hơ mới mua được phần mình), quần tây thắt lưng da nút chót gài vào "vòng eo 58" vì quá đói khổ; nước da xanh lướt vì ăn cơm độn khoai mì ròng rã cùng với đọt rau muống chấm tương hột (thứ rau được gọi là "giành ăn với heo" vì mót lại từ bó rau muống của vợ nuôi heo trong căn nhà phố ngay giữa thị thành). Những giáo sư dù biết mình chỉ còn dạy vài tuần hay vài tháng là ra khơi, nhưng vẫn cố gắng truyền đạt kiến thức cho đám học trò còn ngơ ngác sau cơn chấn động lịch sử, giảng bài như trối để trang bị được bao nhiêu hay bấy nhiêu cho những đứa trẻ mới lớn đang hoang mang chập chững rẽ vào tương lai trăm nẻo...

Quả là có "quý" không "phú" vô cùng thảm hại trong thời đại "nước cạn bèo chấm đất"!

Nhưng rồi theo với thời gian mọi thứ dần sáng sủa hơn. Một người với số vốn tri thức phong phú khó thể khổ hoài! Nhưng trong xã hội mới này, chỉ tri thức thôi, cộng với sự gìn giữ lòng tự trọng và phẩm giá, có thể thoát được nghèo đói, chỉ vươn lên mức sống trung lưu chớ khó thể gia nhập vào hàng ngũ giàu có hay chữ mới bây giờ gọi chung là "đại gia" (xưa gọi "đại xì thẩu"), vì không thích và cũng không có "khiếu" làm ăn kiểu con buôn, và cũng vì có đầy lòng trắc ẩn, không thể sống thanh thản vô cảm trong dư dả khi nhìn thấy quanh mình toàn bất hạnh và bức bối, nên "sẻ chia" còn là một trong những phẩm hạnh của một người chỉ có "quý"! Lòng nhân ái nhân lên gấp bội, và đời sống bao năm vẫn không vượt qua ngưỡng thanh bạch. Họ luôn là những bóng mờ vô danh âm thầm đứng nép một bên đường, không khoe khoang, không tự sơn phết, không nói chuyện nhân nghĩa, không ăn mặc như con cá bảy màu, không có kiểu làm từ thiện mà lúc trao tặng, người nhận phải cầm bao thơ "đứng hình" thiệt lâu để kịp chụp hình và quay phim. Không gì cả. Họ chỉ là những người hết sức bình thường ngoài sở hữu tri thức, chỉ còn lại một thứ duy nhất là tấm lòng!

May mắn thay những trung lưu kiểu đó vẫn còn khá đông trong thời đại vỡ đê niềm tin này. Họ luôn là người biết phân định chánh tà, biết phẫn nộ trước bất công và cái ác, biết sử dụng động tiền chân chính vào những mục đích chân chính góp phần xoa dịu bất hạnh của con người.

3. Có "phú" không "quý" ra sao nhỉ?


Họ được gọi chung là giai cấp "nouveau riche", trọc phú, giàu nẩy, hay giàu xổi.
(Nouveau riche people are people from a low social class who have recently become very rich and like to show this publicly by spending a lot of money). Giàu xổi là người vốn từ giai cấp thấp kém bỗng một ngày trở nên giàu có nên hay thích khoe khoang tiền của. (Nguồn: https://dictionary.cambridge.org/dictionary/english/nouveau-riche)
Họ ở lâu đài dát vàng khóe chân còn vàng đậm màu phèn, bao gồm những con buôn nhờ làm ăn chụp giựt lừa đảo mà phất lên, hoặc những kẻ cơ hội lợi dụng thời cơ và quyền thế vơ vét cho thỏa, bù lại những ngày sống cúi đầu trong khốn cùng tăm tối.

Dễ dàng nhận thấy dân giàu nẩy qua bề ngoài cũng như tính cách: bộ sưu tập siêu xe, cặp kè với cả lố chân dài, đeo dây chuyền vàng như xích chó, có thể có hai ba đại học nhờ văn bằng chôm chỉa bán mua, dù ở nhà riêng hay nơi công cộng lúc nào miệng cũng bô bô lớn lối nước bọt bắn như mưa, vô nhà hàng ngồi như nước lụt, ăn xong xương và giấy ăn vương vãi khắp bàn và sàn nhà, thích chơi ngông và hám danh, ăn tiệc buffet như heo hục máng, cử chỉ và thái độ lố bịch hợm hĩnh, tự đắc khoe khoang, ăn mặc lòe loẹt như con đúm (búp bê vải đúm lại bằng nhiều miếng đủ màu) bất cần hòa hợp về gu màu sắc, tuổi tác, nước da hay dáng dấp, đeo đồ trang sức và phụ kiện như cây thông Noël; nuôi chó Tây Tạng, mèo Savannah vài chục ngàn đô để thể hiện đẳng cấp...

Không hoàn toàn dốt nát như trọc phú đời xưa, một số “giàu nẩy” bây giờ du học tận trời Tây, không rửa chén kiếm tiền học như du học sinh trước 75 mà được cha mẹ mua hẳn nhà đẹp ở nước ngoài, chè chén tiệc tùng ầm ỉ, vặt sạch cây trái của hàng xóm cách vô tư, sành điệu hợp thời trang và xài tiền như nước - thói thường đồng tiền không đến từ mồ hôi luôn rất dễ phóng tay!

Từ khi ra trường, tôi chỉ dạy cho các trung tâm sinh ngữ và dạy hợp đồng cho các cơ quan, sau này lớn tuổi thì dạy kèm ở nhà, và gặp một trường hợp vừa trí thức vừa giàu có mà cư xử rất ngộ nghĩnh làm tôi nhớ mãi: Đứa học trò lớp 11 mất căn bản tiếng Anh trầm trọng, gia đình giàu có nên bao nhóm học một mình, ông bà Ngoại tiệm vàng, ông bà Nội buôn nhà đất, cha mẹ đều là kiến trúc sư ăn mặc thời thượng, gặp thời thế nhu cầu xây dựng tăng vọt, nghe nó khoe ba mẹ nó mỗi ngày từ công trình về, tiền để chật cốp xe. Tôi luôn ngưỡng mộ những người trẻ tuổi ăn nên làm ra bằng chính công sức và tài năng của mình... Nhưng cái cách họ đối với thầy dạy con mình thì quả là cổ kim hiếm thấy: Không bao giờ nhớ ngày đóng học phí cho con, cứ dùng dằng trầy trợt trễ nãi, tới khi đóng tiền thì cầm một nùi mà đưa, không bao giờ có bao thơ, có khi tiền cũ rách đến nỗi làm tôi suýt tưởng mình đang giơ nón đứng cửa chợ! Chưa hết, thằng nhỏ học quá kém mà cứ nghỉ ngang vì cùng cả gia đình đi nghỉ mát ở resort, lúc đi về, họ đòi mình dạy bù! Mỗi khi thằng nhỏ nghỉ học đi dự sinh nhật bạn, hoặc đi đám cưới cùng với cha mẹ, họ gom các buổi đó lại để trừ tiền!


Dĩ nhiên là sau đó tôi cho nghỉ vì quá ngán ngẩm - một lợi thế khi dạy tự do. May mắn là trong đời dạy học, tôi rất hiếm khi gặp phải "phụ huynh lương hảo" kiểu đó. Chỉ tội nghiệp đứa học trò, cứ chứng kiến cách cư xử của cha mẹ, lớn lên chắc cũng chẳng cần tế nhị lịch lãm, coi đồng tiền bằng bánh xe bò - mà có khi nhờ vậy nó dễ thành đại gia! 


Trường hợp này trí thức cũng cư xử tương đương trọc phú, thua xa một phụ huynh ít học đen đúa còm nhom vì tảo tần một nắng hai sương ngoài chợ, đóng học phí cho con đúng ngày tăm tắp, trên bao thơ còn ngoằn ngoèo dòng chữ: "Cám ơn Cô"!

"Du thanh nhiên nhi hậu đăng phương minh"! (Dầu sạch trong ngọn đèn mới sáng). Rõ ràng, "sang" không phải chỉ có tri thức, mà còn phải xuất thân nề nếp, được đào tạo bài bản và trưởng thành trong một môi trường có giáo dục, có tinh thần kỷ luật và cả tinh thần quốc gia! Hiển nhiên luôn phải có sự tương ứng về đạo đức, học thức và hành vi. Nói cách khác đó là sự kết hợp giữa vẻ đẹp của tri thức và cư xử đúng mực.
Hãy nhìn người dân Nhật Bản luôn điềm đạm, lịch sự và biết điều ngay trong khốn khó (không phải cứ hễ đói thì ăn vụng, túng thì làm càn), từ đứa trẻ tới người già, ai cũng bình tĩnh xếp hàng nối đuôi chờ tới phiên mình được phát hay mua thực phẩm, một hình ảnh văn minh đáng ngưỡng mộ nhất trong hoàn cảnh ngặt nghèo thê thảm của tai họa sóng thần năm 2011 (Cảnh sát Quốc gia Nhật Bản chính thức xác nhận có 15.893 người thiệt mạng, 6.152 người bị thương và 2.572 người mất tích tại 18 tỉnh của Nhật Bản và hơn 125.000 công trình nhà ở bị hư hại hoặc phá hủy hoàn toàn. Chính phủ Nhật Bản cho biết tổn thất do động đất và sóng thần tàn phá miền Đông Bắc có thể lên đến 309 tỉ USD. Đây là kỉ lục thế giới về thiệt hại do thiên tai gây ra. Nguồn: https://vi.wikipedia.org/wiki/%C4%90%E1%BB%99ng_%C4%91%E1%BA%A5t_v%C3%A0_s%C3%B3ng_th%E1%BA%A7n_T%C5%8Dhoku_2011).

Đem so với hình ảnh tranh cướp ấn đền Trần tại Nam Định, hàng chục ngàn người xô đẩy dữ dội, ùn ùn qua cổng Ngũ Môn, leo rào vào đền thờ, la ó chửi rủa hỗn loạn mông muội, cướp lộc trên bàn thờ, nhảy cả lên bàn thờ để đặt lễ (!)... Chao ôi là xấu hổ! Thật là dày dặn gương mặt người đàn ông cao lớn mặc veste xanh rêu , miệng toét cười hài lòng tay giơ cao nhánh "lộc" là một nhánh hoa giả màu vàng chóe vừa mới cướp được từ bàn thờ!


Như vậy rõ ràng những người "sang" Nhật Bản cũng làm nên văn hóa và thể diện một quốc gia!

4. "Sang" trọng "phẩm", "Tiện" trọng "lượng". "Sang" đi đôi với "quý", nhưng "giàu" có thể đi với cả "quý" lẫn "tiện"!

Người "giàu" mà "tiện" luôn xem miếng ăn làm trọng, làm ăn chụp giựt, cuộc sống tăm tối với những thú vui nhầy nhụa thấp kém, nếu có đi học cũng chỉ để dùng bằng cấp kiếm thêm lợi quyền, leo cao hơn phẩm trật chớ không phải vì muốn có thêm kiến thức.


Cho nên mỗi một trọc phú khi muốn khoe khoang hợm hĩnh nên tự hỏi mình do đâu mà giàu? Và mỗi một trí thức trước khi khoe bằng cấp đôi ba cái, cũng nên tự hỏi bằng cấp đó do đâu mà có, có phải do học hành chăm chỉ mà đậu, hay chỉ là thứ bằng cấp mua bán hoặc mì-ăn-liền: học "bồi dưỡng" dăm ba tháng nửa năm rồi lâu ngày tự huyễn hoặc rằng mình cũng bằng vai phải lứa với những bằng cấp đại học ròng rã bốn năm năm trời nấu sử sôi kinh!

Người "sang" kết bạn với những ai có cùng sở thích, tính cách, quan niệm và phẩm chất.

"Giàu xổi" thích kết bạn với kẻ quyền thế để mong nhờ vả, thích kết bạn với nhà giàu vì tự trong máu hàn vi đã khiếp sợ và ngưỡng mộ nhà giàu.

Người "sang" dùng tiền đúng mực để mua lấy sự thoải mái, tiện dụng và hiệu quả. "Giàu xổi" cái gì cũng quy ra tiền, luôn nghĩ hễ quăng tiền ra là có mọi thứ và mọi người phải cúi rạp trước mình. Thật sự giàu có và địa vị chưa chắc đã được mọi người tôn trọng, nếu có chỉ là sự phỉnh nịnh của kẻ tiểu nhân.

Mạnh Tử nói: "Nhân bất tự vũ nhi hậu nhân vũ" (Tự khinh thì người khác cũng khinh mình). Nhìn cử chỉ có thể đoán biết quý tiện dễ dàng. Người "quý" ánh mắt trong sáng, tướng mạo đoan nghiêm, cử chỉ đĩnh đạc, dáng vẻ an nhiên, ăn nói điềm đạm, nhận xét tinh tế, "nhứt kiến khả kính" (thoạt nhìn liền thấy kính nể), ngũ nhạc hài hòa, khí lượng bao dung.

Giàu có, địa vị, thành đạt mà ăn nói bổ bã, hời hợt suồng sã, thô tục phóng túng là do cốt tiện, "Nhứt kiến khả hỉ, tà đãng nhi dị dụ" (vừa trông thấy đã muốn cợt nhã, tánh tình tà đãng), tà thị du thị (trông lén nhìn trộm)...

5. Thế nhưng trên thế gian này đâu có nhiều người được trọn vẹn xuất thân nề nếp giàu sang, cùng bản thân thành đạt gồm thâu phú quý! Cho nên luận về việc kết bạn thì từ người giàu gốc đến kẻ giàu mới, từ người công thành danh toại đến kẻ nửa đường gãy gánh, ngay cả những người ít học nghèo khó làm nghề hạ bạc đều có thể là BẠN TỐT của mình nếu họ SỐNG TỬ TẾ. Bạn sẽ tủm tỉm cười. "Chỉ tử tế!". Giống như kiểu nói: "Tôi không cần gì ngoài hạnh phúc", mà hạnh phúc lại bao gồm tất cả: giàu có, may mắn, thành đạt, cả yêu và được yêu!

Bạn hãy yên tâm, cái great delicacy này tuy không dễ gặp nhưng chịu khó tìm sẽ thấy, trừ phi trong tử vi bạn, cung Nô Bộc (bạn bè, đồng nghiệp, cấp dưới) quá xấu, đi kèm Mệnh có Cự Môn, Hóa Kỵ! :-) Nhưng cũng không nên vì thế mà vội than "Ô hô ô hô thiên!". Cứ sống tử tế, đêm về không ác mộng vì mặc cảm tội lỗi, lòng luôn thư thái thong dong, tức đã là người hạnh phúc!

Sài Gòn, 11/09/2020
Trần Cẩm Quỳnh-Như

QUYỂN SÁCH MỘT ĐỜI 

             Phần 1: Quyền sách một đời        Phần 5: Sông Gành Hào

                       Phần 2: Chiếc ghe ngo                 Phần 6: Con Bày đưa đò

                       Phần 3: Hòn Cổ Tron                   Phần 7: Miễu Bà Chúa Xứ

                       Phần 4: Hương rừng                  Phần 8: Một cuộc biển dâu

                                      Phần cuối: Tình nghĩa giáo khoa thư

                   

BẠN MẾN, ĐÂY KHÔNG PHẢI LÀ LOẠT BÀI PHÊ BÌNH VĂN CHƯƠNG CÁC TRUYỆN NGẮN TRONG “HƯƠNG RỪNG CÀ MAU”, CHỈ LÀ NHỮNG Ý NGHĨ LAN MAN TRÊN TRỜI DƯỚI ĐẤT, NHỮNG LIÊN TƯỞNG ĐẦU NGÔ MÌNH SỞ CHỢT ĐẾN CHỢT ĐI TRONG ĐẦU KHI ĐỌC TRUYỆN, VÀ MÌNH GHI LẠI LÀM VUI. - QN.

 

Cám ơn thầy Phó Lễ Hùng và chị Lê Thị Hồng Cúc đã khuyến khích em ghi lại những cảm nhận năm xưa khi đọc tuyển tập truyện ngắn "Hương rừng Cà Mau" của nhà văn Sơn Nam.
---------------------------------------------------------------------------------

PHẦN 1:

QUYỂN SÁCH MỘT ĐỜI


 

 

 

 

 

 

 

 

Có những quyển sách lẽo đẽo đi theo con người suốt cả một đời. Với tôi, đó là quyển "Hương rừng Cà Mau" của nhà văn Sơn Nam.

Đêm, nằm nghĩ giờ này con nhỏ bạn đang ở sân bay, nó ra đi lẳng lặng một mình không chịu cảnh đón đưa, bỗng nhớ tới câu "Cái cảnh kẻ ở người đi sao mà buồn vậy" trong "Tình nghĩa giáo khoa thư", dù bây giờ việt kiều đi đi về về như đi chợ, cảnh biệt ly đâu còn sướt mướt kiểu "ra đi không hẹn ngày về" như hồi mấy chục năm trước nữa...

Mỗi lần ăn cháo lòng, lại nhớ tới "con Bảy đưa đò", lúc đã trở thành dì Bảy bán cháo, cổ nói luộc lòng cũng cần một tấm lòng! Ngộ hen, cái chuyện nhỏ mọn tầm thường như luộc mớ lòng cũng cần tới thứ xa xỉ này sao? Ngày nay, tấm lòng nếu có thì cũng "theo gió cuốn đi" thôi mà!

Nằm khoèo coi một phim Hàn quốc tình cảm trong sáng, lại nhớ tới mối tình tội nghiệp của hai đứa nhỏ trong "Cây huê xà". Rồi lại nghĩ lẩn thẩn, mối tình đau đớn này đẹp mãi trong lòng thằng Lợi, chớ nếu mọi thứ suông sẻ, tụi nó lấy nhau rồi, con đùm cháu đống, biết có còn thương yêu nhau như lúc ban đầu?

Mỗi dịp lễ lạt, nhìn đàn cờ sao bay phần phật trong gió sớm, lại nhớ tới tâm trạng khó tả của lục cụ khi được ban thưởng lá cờ Phú Lang Sa trong "Đua ghe ngo"...

Rồi mỗi khi tủi thân lúc lạc loài nơi rẫy vắng, lại nhớ tới cô Hoàng Mai chôn đời trong rừng sâu với câu nói: "Anh Tư nắm cái chéo áo thôi em cũng đủ vui rồi"...

Sao quyển sách đó lại ảnh hưởng quá nhiều đến tâm tình của tôi đến vậy? Phải chăng vì đó là cuốn truyện ngắn đầu tiên tôi được người lớn cho phép đọc - Và một đứa nhỏ thị thành thụ động nhút nhát như tôi, như được mở ra một chân trời xa lạ mà gần gũi, nó thơ thẩn lạc về nơi đồng quê mát rợi sông nước bao la, có khi là đảo xa ngút sương mờ trong mênh mông sóng vỗ, có những con người chơn chất mà trượng nghĩa, và cả những số phận ngậm ngùi mà khi xếp sách lại rồi lòng vẫn rưng rưng...

Bỗng muốn trở về tuổi thơ để sống lại cùng những trang sách cũ.


Bỗng muốn thở trong bầu không khí trong lành của sông nước miền Nam thời xa xưa đó.


Bỗng muốn cười và khóc với những con người giản dị hiền lương...

Và thật lòng, trong phút giây nào đó, muốn tìm lại chút yên bình, mong trốn chạy hiện thực bức bối thập diện mai phục, dù biết tỏng rằng làm vậy chẳng khác gã say cạn nghĩ đi tìm lãng quên nhất thời trong men rượu, ngủ vùi phó mặc ngày mai!

TCQN

SG, 19/09/2017

QUYỂN SÁCH MỘT ĐỜI (2)

 

CHIẾC GHE NGO

"Nếu người ta muốn đập phá bàn thờ tổ quốc, phải đi vào tận gia đình và phân tán tro tàn của nó. Nói đúng hơn là phải lục soát tận đáy lòng người và đánh bật những nguyên tắc sơ khởi của tình yêu".
(Jules Simon)

 

Năm 76, tôi với thằng Út bị "lưu đày" về tận Sóc Trăng quê nội. Hai chị em - đúng nghĩa học trò: kiếng cận và da trắng nhách, ai ngứa mắt xỉ trán một cái là té bật ngửa rồi - lon ton khăn gói về quê đi "mần guộng" (nghe thiệt le đời!). Trong thời gian lưu lại nơi đó, tôi được chứng kiến một sự kiện ngộ nghĩnh, đó là lễ hội "Đi Bơi".

Vầy, một hôm nghe xôn xao một âm thanh rất lạ từ xa, rồi tụi cousin, cousine nó hò ỏm tỏi từ sân phơi lúa: "Chị Năm ơi, ra coi họ "đi bơi" nè, vui lắm á, một năm mới có một lần, lẹ!".

Chị Năm là tôi lúc đó đang trùm mền rên hừ hừ vì rêm nhức cùng mình do bữa trước đi nhổ cỏ ruộng khom khom dang nắng cả ngày cái lưng muốn gãy làm hai, nên tôi hết xí quách nằm im re không ừ hử. Tụi quỷ sứ nó vô nó lôi mình ra cho bằng được! Cũng không đâu xa, ngay trên đường đất dọc theo con kênh lớn chảy xuôi vườn nhà Nội.

Đập vô mắt tôi là một cảnh tượng vừa long trọng huy hoàng, vừa vô lý đến kỳ cục, làm tôi cứ đơ người trố mắt ra khiến tụi nhỏ khoái chí vỗ tay ầm ỉ: "Đó, thấy hơm!".

"Hò khoan, hò bơi; hò khoan, hò bơi!"... Trong tiếng kèn trống ỉ eo và tiếng hò đồng loạt đầy phấn khích, một đoàn người đông ken dẫn đầu là các vị bô lão chức sắc áo dài khăn đóng cầm cờ phướn đủ màu, kế đó một bàn nhang đèn trái cây đầy vun, vờn theo uốn lượn uyển chuyển ngay phía sau là một con rồng vàng rực lấp lánh đến chói mắt do chục người điều khiển như múa rồng ngày Tết, rồi một chiếc thuyền lên nước bóng lưỡng khá lớn coi bộ nặng trịch được toán thanh niên vạm vỡ trần trùng trục hè hụi khiêng trên vai, theo sau là một đám khác, mỗi người một chèo dầm, vừa hò vừa chèo hươi nhịp nhàng trong không khí, và cuối cùng là rồng rắn đen nghẹt con nít người lớn, tất cả đều "hò khoan" cuồng nhiệt, tưởng tượng như mỗi người đều hò rống đến gân cổ nổi lục cục...

Tới khi đám rước lễ chỉ còn là đám bụi mù...

Tôi quá thắc mắc: "Ê nhóc họ làm gì vậy? Thuyền lủng khiêng đi vá hay sao? Thuyền hư mắc gì hò reo dữ? Sao cả đám chèo thuyền trên cạn làm chi?".

Bọn nhóc cười ngặt nghẽo khi nghe con chị ngờ nghệch chốn thị thành hỏi mấy câu dồn dập thiệt là... ngốlừa. Tụi nó cắt nghĩa: "Lễ cầu mưa mà, chèo vậy cho ông Trời ổng thấy ngược đời, ổng tức mình ổng mưa!".

- Vậy con rồng bương theo làm chi?

- Lát ra sông họ dìm đầu con rồng xuống nước, ý là bắt nó hút nước làm mưa cho mình.

Tôi cười ngất: Oái, dìm đầu rồng xuống nước, nó chết ngộp còn chi. Thiệt là ép người quá thể !

Tiếng bà Nội nạt: Con nít biết gì nói bậy nói bạ, ổng quở bây giờ!

Thắc mắc trong bụng, không biết "ổng quở" là ổng nào quở, mà thôi, hổng dám hỏi.

Trở vô nhà trong lòng cứ ngẫm nghĩ về ý tưởng chèo ghe trên cạn "chọc tức" ông Trời và cho rồng "sặc nước" để bắt nó làm mưa. Thật là quá đơn giản và có phần ngô nghê.

Chẳng biết giờ đây hơn bốn mươi năm sau, lễ hội cầu mưa kiểu đó hằng năm có còn tái diễn?

Hình ảnh chiếc ghe đen mun và con rồng vàng lóe uốn lượn uy nghi dưới nắng sớm cứ hiển hiện trước mắt làm tôi chợt nhớ tới chiếc ghe đua như "con rắn thần Naga" oai hùng lướt sóng băng băng trong truyện "Chiếc ghe ngo" trong “Hương rừng Cà Mau” với cảnh đua ghe sinh động đến ám ảnh.

"Hình ảnh con rắn thần Naga mà lục cụ giảng giải khi nãy hiện ra trước mặt chú. Hai con mắt ghe chớp lên. Toàn thân ghe như rung chuyển, ngời từng đốm xanh đỏ như vảy rắn. Lái ghe, đằng xa kìa, như quơ qua quơ lại. Gió thổi rào rạt vào trại lá. Ào ! Ào ! Hai tai chú nghe lùng bùng tiếng cồn, tiếng trống, tiếng hò reo. Ghe nọ run mình đòi phóng tới, gân cốt chuyển nghe răng rắc".

"Ngoài sông Cái Lớn, hai chiếc ghe ngo đã biến thành hai con rắn thần bay trên mặt nước...


Phó hương quản Hem vội chụp lấy cây dầm nhỏ, nâng lên cao, bơi trên gió như thu hút tất cả sức mạnh của trời, của đất. Ghe vượt qua. Ðoàn dũng sĩ ôm cán dầm sát vào ngực, ngã mạnh tới, chuyển tất cả nhân lực vào mái dầm. Nước bay trắng xóa".

Nhớ tới tiếng thở dài trong câm lặng của lục cụ khi nhận được lá cờ tam sắc của Phú Lang Sa như một phần thưởng "danh dự" cho đội về nhứt do ông Đốc Phủ tặng chùa.

"Lục cụ không nói nửa tiếng, nuốt nước miếng như cố nén chút gì tủi nhục, xót xa".

Ai bảo hễ xuất thế thì không còn liên quan gì đến chuyện trần thế?

Ai bảo một khi đã xuống tóc quy y cửa Phật là quyết lòng buông bỏ thân tâm và quên đi xã hội bên ngoài cổng chùa lầm than khốn khó?

Ai bảo đã quyết tâm xa lìa trần thế thì không có tinh thần quốc gia?

Nhớ tới chiếc ghe ngo cổ xưa nằm im lìm trong lòng đất như một linh hồn chưa tan từ sáu trăm năm trước. Nó như cũng trở mình thở dài cùng với sự trăn trở đầy nỗi niềm của lục cụ. Linh hồn chiếc ghe cổ và người tu sĩ già cùng đau lòng trước phận nước điêu linh, dù không làm được gì để chuyển động bánh xe lịch sử, nhưng ít nhất cũng không đến nỗi vô tri vô cảm như phường ca nữ bên sông Tần Hoài!


Thương nữ bất tri vong quốc hận

Cách giang do xướng Hậu Đình Hoa.
(Bạc Tần Hoài - Đỗ Mục)

Ca nhi hận nước mặc ai
"Hậu đình hoa" vẫn ngân dài bờ khuya

(Bản dịch Lê Phụng)

Nhưng lục cụ là một cao tăng, như tác giả đã giới thiệu ngay từ đầu truyện: "Thiên hạ đồn rằng lục cụ Tăng Liên có phép mầu nghe được tiếng chim kêu, gió thổi và nghe cả đến tâm sự từng giọt nước, từng hạt bụi trong lòng đất".


Cho nên người đã thấy trước biết trước cảnh đời không mãi mãi chỉ là biển cả, rồi có ngày cái nơi sóng nước đùa mênh mông sẽ hóa nương dâu xanh bát ngát, có ngày giông bão dập vùi sẽ trốn vào cầu vồng nhường lại cho thế gian nắng ấm vàng tươi: "Hồi lâu, cụ lắc đầu, cười xòa rồi đỡ chú phó hương quản đứng dậy...Vạn vật đều biến đổi. Duy có nụ cười của đức Quan Âm bốn mặt... Bốn mặt của Ngài nhìn bốn phía để cứu khổ chúng sinh, khuyên ai nấy trầm tĩnh vì sự đời mãi đổi thay, thay đổi".

Phải, nếu không trông mong vào sự đổi thay của vạn vật, há chẳng quá uổng phí thời gian bao nhiêu năm đằng đẳng ta lưu lại đời này ???

 

TCQN

SG, 20/09/2017

QUYỂN SÁCH MỘT ĐỜI (3) - Hòn Cổ Tron

Thị phi niệm trục triêu hoa lạc

Danh lợi tâm tùy dạ vũ hàn
Hoa tận vũ tình sơn tịch tịch
Nhất thanh đề điểu hựu xuân tàn
(Sơn phòng mạn hứng - Vua Trần Nhân Tông)

Phải, trái, niệm rơi hoa buổi sớm.
Lợi, danh lòng lạnh trận mưa đêm.
Hoa tàn, mưa tạnh, non yên tĩnh.
Còn tiễn xuân tàn, một tiếng chim!
(Người dịch: Minh Đức Triều Tâm Ảnh)

Bật mí bạn nghe, tôi bị kêu chết tên "Bà Từ Thông" do ông xã đặt cho, để phản đối quan niệm "vô gia cư" của tôi, với ước mơ lúc về già là được sống một mình ở nơi am vắng lưng chừng núi, gần thiên nhiên và xa cách con người.


Tôi tiếp nhận biệt danh đầy ý châm chọc đó một cách thú vị và khoái chí. Nhân vật ông Từ Thông trong "Hòn Cổ Tron" thật đáng mơ ước vì ông đơn sơ từ cách sống cho tới cách suy nghĩ:


"Ở hòn Cổ Tron giữa vời vịnh Xiêm La này, ông Tư Thông cơ hồ quên cả loài người và loài người cũng hầu như quên rằng mình có một đồng loại ở ngoài mỏm đá chơi vơi kia.
...Tóc của ông lốm đốm bạc, khi thì thả dài xuống khỏi lưng quần. Khi thì bới thành búi to sau ót, gài lại bằng một cọng gai kim quít. Một bộ quần áo nghĩ cũng hơi dư mặc đối với ông ! Nhiều khi năm ba tháng liên tiếp ông phơi lưng trần với nắng, bên mấy gốc săn đá cổ thụ, lá cành xơ xác vì những cơn gió triền miên của biển khơi. Khi trời nực thì có những khe suối trong veo đón mời. Ông cứ ung dung mà uống, mà tắm một cách tự nhiên, vô tình khuấy rối giấc mơ của đàn bướm trắng đang xao động bay lên chập chờn như muốn rời mấy nhánh mai hoằng lơ thơ cúi nghiêng mình chấm mí nước... Hôm nào vui cho bằng hôm mười bốn, hôm rằm ! Ông Tư Thông ra sau rẫy, đào lên củ khoai môn to lớn, đem luộc chín. Ngồi trên vồ cẩm thạch, ông chậm rãi ăn buổi chiều, thỉnh thoảng rứt từ miến khoai, thảy xuống nước. Loài cá nhỏ bu lại nhởn nhơ mỗi con khoe một vẻ riêng."

Nhưng cái đơn sơ đó không phải hời hợt và vô cảm. Ở nơi tận cùng hải giác thiên nhai đó, cách xa con người đến vạn dặm, ông vẫn đau đáu với số phận của đồng bào:
"Một mối buồn len vào tâm não ông Từ Thông. Ông nghe gió thổi bốn bề, lạnh lùng. Lương tri như rực sáng nhắc nhở ông món nợ gì đối với đồng bào, giang sơn. Không giúp nước được thì ít ra ông cũng cần biết những gì xảy ra đau buồn trong nước. Cây có cội. Nước có nguồn. Chim có tổ. Cá có hang. Ðôi mắt già của ông Từ Thông ngẩn ngơ nhìn muôn lớp sóng cồn. Chân trời u ám, mấy đám mây tang bay thấp là đà... Ông hổ thẹn, tủi bấy phận mình không bằng con đỗ quyên đêm hè kêu khắc khoải".

Từ tâm trạng đó của ông Từ Thông, ta có thể cảm nhận được đó đây nỗi lòng của rất nhiều những con người tuy hiếm khi nhiều lời phù phiếm nhưng luôn hướng trái tim của mình đến những bất hạnh của đồng bào, khi thưởng thức một món ngon hay bất chợt reo mừng vì một niềm vui nào đó, ngay sau đó lập tức bị xâm chiếm bởi mặc cảm tội lỗi với những người còn đang đói khổ hơn mình, những người đang sống mòn trong lao lý, những người bỗng dưng mất hết cách sinh sống, lơ ngơ không biết bất hạnh từ đâu giáng xuống đầu...
Mặc cảm đó, gẫm ra chẳng đáng một xu vì nó chỉ là cảm nhận thụ động không chút lợi ích cho bất cứ ai. Nhưng ít nhứt nó cũng nói lên được chủng loại của con người đó với phần "con" ít hơn phần "người", để phân loại cho thấy dù không trí thức cũng chẳng bạc tiền nhưng ông Từ Thông khác xa với loài vô cảm dẫm đạp lên bao nhiêu người khác để sống, ngất ngưỡng và hả hê với thành quả đạt được trên máu và nước mắt, luôn tự huyễn hoặc và huyễn hoặc mọi người bằng những giáo điều lúc nào cũng có vẻ rất đạo đức và đầy tính khoan dung!

Trở lại với thế giới của ông Từ Thông, một thế giới đáng mơ ước đối với riêng tôi, một con người đã quá ngán ngẩm tình đời và quá mỏi mệt với quãng đời còn lại. Một thế giới ầm ầm sóng vỗ nhưng rất lặng thầm và bình an. Một thế giới quá đơn giản đến mức hoang sơ nhưng lại cực kỳ "giàu có" với kho tàng kỳ quan của tạo hóa:
"Tận dưới đáy biển, loại sò, loại ốc, loại nhum đang há miệng, le lưỡi bò chậm chạp trên nền đá tím nổi gân vàng, trên nền đá vàng nổi gân trắng. Hoàng hôn tràn tới chính là lúc cảnh vật dưới nước ngời lên, bóng mây phản chiếu lấp lánh như gấm. Ðêm về, trăng mọc. Nơi thủy cung rộn rịp nào kém chốn trần gian ! Từng đợt rong chìm lững lờ mơn trớn, khoác thêm lớp xiêm lụa mỏng cho bầy cá hướng. Và muôn vì sao trên dải Ngân hà sa xuống đậu lấm tấm khắp nhánh san hô trắng bạc".

Còn thú vị nào bằng được ngồi một mình ngoài vồ đá cẩm thạch nghe sóng biển rì rào dưới chân, cảm nhận gió khơi phần phật tỏa nồng hương vị biển, thấm thía sự cô độc an bình khi trên trời là những vì sao còn dưới này ta chỉ một mình... (và ước chi thay vì củ khoai môn ông Từ Thông đang gặm là một smartphone để mình có thể lướt qua FB thăm mọi người) Ây da, bi kịch của con người trời sanh là thú bầy đàn, nên dù chán ngán muốn cách xa nhưng trong thâm tâm vẫn còn mong gắn bó với dăm người bạn dễ thương!).

Hình dáng ông Từ Thông ngồi bất động cắt những nhát sắc cạnh trên nền trời hoàng hôn đỏ rựng gợi nhớ đến hình ảnh một tăng nhân trên chót vót đỉnh núi tuyết của Không Lộ thiền sư, bất giác hú một tràng dài làm lạnh cả hư không:

Trạch đắc long xà địa khả cư,

Dã tình chung nhật lạc vô dư.

Hữu thời trực thướng cô phong đỉnh,

Trường khiếu nhất thanh hàn thái hư.

(Ngôn hoài)

Giữa chốn long xà chọn một nơi
Nước non trời đất chỉ mình chơi
Đôi khi đỉnh núi trèo lên thẳng
Cất tiếng kêu vang lạnh cả trời

(Người dịch: Cổ Mộ)

Tiếng hú đó phản chiếu một sự đốn ngộ để bản ngã hòa lẫn vào hư không, hay tiếng hú là sự phẫn nộ cho nỗi bất lực đằng đẵng của con người?

Rồi tới khi ông Từ Thông có giang tàu buôn vô thăm đất liền, mỗi nỗi thất vọng buồn phiền cứ chiếm lấy con người ông: "Chưa vô tới bờ chợ Rạch Giá là ông Tư Thông cảm thấy cuộc đời đảo ngược, từ địa vị hoàn toàn tự do đến chỗ mất tự do. Ông trung thành với đất nước nhưng cớ sao đất nước đối xử với ông quá bạc bẽo, ghẻ lạnh?"

Sao mà ghẻ lạnh? Té ra chỉ vì ông không có giấy tờ đàng hoàng mà bị giữ lại, nhưng ông được đi lại thong dong, còn được ông chủ quận cho mấy cắc bạc muốn ăn gì thì mua. Thời Pháp thuộc, sao ông Cò Tây, ông chủ Quận, ông xã trưởng, chú hương quản, chú hương tuần đều hiền khô?

"Người giam giữ và người bị giam giữ lần hồi cảm thông nhau. Chú hương tuần lo đặt rượu đế. Ông Từ Thông đi cắm câu, kiếm "mồi" về nhậu".
Ông Từ Thông đâu biết mình là người rất may mắn. Không có giấy thuế thân nhưng ông không bị bạc đãi, không bị tù đày đánh đập, cuối cùng còn được thầy hương quản tìm ghe cho quá giang mà về. Ánh sáng chỉ sáng trong bóng tối. Khi người ta lỡ sanh trong một thời mà mạng người ví như cỏ rác, mới thấy quý báu làm sao cái thời nhiễu nhương loạn lạc, con người phải bỏ xứ mà đi, phá rừng mở đất để chui rúc sống nhưng vẫn còn đó đây le lói chút tình người!

Tôi chưa bao giờ bị ám ảnh hơn bởi câu nói của hương tuần Hay: "Hơi đâu mà buồn. Xứ này chịu cảnh này không biết tự hồi nào, từ hồi chưa có giặc Xiêm lận. Riết rồi quen..."

Phải, dân xứ này "trước - cực, sau - khổ", hơi đâu mà buồn! Chịu nghèo, chịu khổ, chịu cảnh chiến tranh, hết chịu Tàu đô hộ tới chịu Tây ức hiếp, chịu cảnh người mình đè nén người mình, riết rồi... quen!!!

"Chiều chiều, khi ra bờ biển để câu cua, đẩy xịp, người ta nhớ ông Từ Thông như nhớ một cái vỏ ốc xà cừ ngũ sắc tấp vào bãi bùn. Như nhớ vài trang sách Phong Thần tình cờ lượm được trong ngăn tủ bỏ quên, những trang sách rách nát hơi khó hiểu vì thiếu hồi thứ nhứt và không có hồi sau phân giải".

Khi lìa đời, được mọi người nhớ tới như nhớ một vỏ ốc xã cừ ngũ sắc tấp vào bãi bùn, cũng là niềm hạnh phúc! Lại nhớ Tần Thỉ Hoàng, Tào Tháo, Võ Tắc Thiên, lúc sắp chết phải truyền người đắp bao nhiêu mộ giả, cũng tự biết mình tà ác, sợ người đào mồ cuốc mã băm vằm thân xác. Té ra hồi còn sống họ giết hại bao nhiêu người không chớp mắt, lúc chết rồi cũng biết sợ thân xác đớn đau khi nó chỉ còn là cát bụi !!!

 

TCQN

SG, 24/09/1017

QUYỂN SÁCH MỘT ĐỜI (4) - Hương rừng

Niễu niễu cổ đê biên,
Thanh thanh bất thụ yên.
Nhược vi ti bất đoạn,
Lưu thủ hệ lang thuyền.

(Ung Dụ Chi - Giang Biên Liễu)

Bên đê cổ tha thướt,
Liễu như vòm khói xanh.
Giá mà tơ chẳng đứt,
Giữ lấy buộc thuyền anh.
(?)

 

Long Khánh lập đông lạnh và buồn tê tái! Nắng lên rồi, ánh nắng vàng mong manh phơn phớt trên chóp lá mì, con chó Ki vẫn còn lười biếng cuộn mình trong thúng giẻ, đàn gà con còn luyến tiếc chỗ ngủ ấm áp, ăn ba hột rồi vừa quẹt mỏ vừa chạy u vào nấp trong cánh mẹ, những chiếc mỏ nhỏ xíu thấp thoáng líu ríu nũng nịu nho nhỏ.

Thằng Út em tôi thò đầu ra cửa phên léo nhéo:

- "Anh Tư chỉ cần nắm lấy cái tay áo là em đủ vui rồi!".

Tôi phì cười. Nó lặp lại câu nói của cô Hoàng Mai trong "Hương rừng" để chế nhạo khi thấy tôi trùm mấy lớp áo, tay áo dài phủ cả bàn tay.

So sánh cũng hơi khập khễnh. Tôi, cô học trò nhỏ đáng thương bỏ sách bỏ vở đi giam đời nơi rẫy rừng. Và cô Hoàng Mai, cô gái xinh đẹp dòng dõi quý phái bị bệnh phong cùi giấu mình nơi thâm sơn cùng cốc... Có chăng giống nhau ở chỗ cả hai đứa chúng tôi cùng bị số phận đánh cắp tuổi xuân!

Hồi còn đi học, đọc truyện "Hương rừng" chỉ thấy cảm thương cho cuộc đời cô Hoàng Mai bất hạnh với căn bịnh nan y, cho tới khi chính mình sống lưu đày vào tận chốn hoang sơ, nhìn hai bàn tay thô ráp nứt nẻ vì công việc rẫy bái, lúc đó mới thấm thía mới cay đắng nhìn tuổi xuân từ từ trôi đi trong oan nghiệt!

Trở lại với mối tình "mặt ngoài còn e" của cô Hoàng Mai và anh Tư Lập, âu cũng là bi kịch cho cuộc đời cô tiểu thơ mong manh lỡ vận! Cô gái đáng thương với thân thể đớn đau và héo hắt, nhưng trái tim thanh xuân vẫn khát khao một tình yêu dù thừa biết sẽ vô vọng như viên đá lọt thỏm vào lòng đại dương không mong có ngày dạt về bờ cũ. Sống trong đớn đau bệnh tật, sống để nhìn xuân sắc tàn phai, và sống trong mỏi mòn chờ đợi thinh không. Chỉ một trong ba điều trên cũng đủ giết chết tâm can một con người!

Hảo hoa bất thường khai
Hảo cảnh bất thường tại
Sầu đôi giải tiếu mi
Lệ sái tương tư đái
Kim tiêu li biệt hậu
Hà nhật quân tái lai?

(Hà nhật quân tái lai - lời Bối Lâm, nhạc Lưu Tuyết Am)


Hoa đẹp không thường nở
Cảnh đẹp không thường còn
Buồn đầy tan mắt cười
Lệ đẫm tràn nhung nhớ
Đêm nay xa nhau rồi
Bao giờ anh trở lại?
(?)

 

Khi Tư Lập nắm lấy chéo áo cô Hoàng Mai, "một mùi hôi hám từ trong tay áo bay ra. Khi níu cái chéo tay áo của người đẹp. Tư Lập thấy rõ ràng bên trong : ngón tay của nàng rụng mất hồi nào, chỉ có năm cuộn vải nhỏ vấn khéo léo thay thế. Hôm sau, chú viện cớ ra đi lúc mùa bông tràm nở trắng rực".

Quả thật anh chàng Tư Lập này khá là thực tế và dứt khoát! Ở đây nếu tôi đòi hỏi một anh thợ ăn ong đem lòng cảm thương và luyến lưu mãi bóng hình thanh thoát thấp thoáng sau cội mai vàng cổ thụ và rồi anh chọn sống âm thầm bên cô như cái bóng để một ngày khóc nấc ôm cô trong tay khi cô trút hơi thở cuối cùng, có lẽ là tôi đã bị phim "ngôn tình" Hàn quốc ám ảnh quá nặng rồi!

Với hành động dứt áo ra đi ngay hôm sau, có thể nói Tư Lập rất tỉnh táo trong tình yêu. Phải chăng nên mạnh dạn chấm dứt khi thoáng cảm thấy có gì đó chông chênh không vững bền? Phải chăng thật sai lầm khi dấn sâu vào một cuộc hôn nhân không vẹn toàn, để rồi hối tiếc khi ngoái đầu nhìn lại? Và phải chăng sẽ là bi kịch khi ta chỉ nhận ra điều đó lúc màu tóc đã điểm sương?

Dù khó trách Tư Lập, nhưng cái cách cư xử kém lãng mạn của anh chàng này làm độc giả ít nhiều thất vọng... Nhưng không, hai năm sau anh trở lại nơi này, vì đâu? Phải chăng đúng như Tư Lập nói, "nghề ăn ong có nghiệp chướng", hay vì trong lòng anh vẫn còn xót xa hình bóng cũ, muốn quay về dù biết sẽ chẳng có gì thơ mộng đón chờ anh...

Tiếc thay chút nghĩa cũ càng,
Dẫu lìa ngó ý còn vương tơ lòng.
(Nguyễn Du)

Duyên cầm bằng đã đứt, hoài niệm tưởng phôi pha vẫn còn sợi tơ mong manh nắm níu vương vấn khiến xui anh trở về như để tìm lại ký ức oằn đau của một cuộc tình sáng trong chưa kịp bắt đầu đã vỡ tan tành không cách chi cứu vãn.

Mai đây khi dong rủi trường giang thâm sơn ngàn dặm, mỗi buổi chiều hiu hiu gió thổi, Tư Lập sẽ ngồi buồn ngui ngút nhớ rừng tràm lấm tấm bạt ngàn bông trắng tuyết, nhụy hoa ngọt chỉ ngửi thôi cũng đủ say lòng người nhưng cùng lúc cái dằm trong tim anh lại nhói lên từng giọt đắng ngắt, buồn tênh...

 

TCQN

SG, 28/09/2017

                     QUYỂN SÁCH MỘT ĐỜI (5) - Sông Gành Hào


Cổn cổn Trường Giang đông thệ thủy

Lãng hoa đào tận anh hùng

Thị phi thành bại chuyển đầu không

Thanh sơn y cựu tại

Kỷ độ tịch dương hồng
(Tam Quốc Diễn Nghĩa Ðề Từ - Dương Thận)

Cuồn cuộn Trường Giang về biển cả

Sóng hoa vùi cuốn hết anh hùng

Thị phi thành bại tan theo nước

Núi cũ bao chiều bóng tịch dương
(Thầy Phạm Khắc Trí dịch)

Những ngày bỏ phố lên rừng sống heo hút giữa thâm sơn cùng cốc thật buồn tẻ nhưng đó cũng là khoảng thời gian thanh tịnh, bình an và xum họp duy nhất trong đời mấy anh em tôi. Ban ngày chạy máy bơm tưới rẫy bạc hà mênh mông (lá bạc hà nấu tinh dầu, chớ không phải cây bạc hà nấu canh chua), nhổ cỏ rẫy khoai mì khoai lang, ban đêm cả nhà chỉ có hai cây đèn dầu leo lét, người lớn rì rầm đọc kinh Phật mong cho qua cơn mưa dầm để nắng lên cho vạn vật hồi sinh, con nít thì ôn lại sinh ngữ với hy vọng có cơ hội đắp vá lại tương lai e sớm lụi tàn.

Một buổi tối anh tôi dúi cho tôi cuốn kinh mỏng, bảo rảnh đọc đi nhóc, dễ hiểu mà thú vị lắm: Tôi biết "Na Tiên tỳ kheo kinh" của dịch giả Đoàn Trung Còn năm vừa tròn hai mươi tuổi.
Vừa đọc vừa cứ ngờ ngợ cảnh vua Di Lan Đà và ngài Na Tiên chắp tay xá nhau dường như quen thuộc lắm. Mấy ngày sau đang cho gà ăn mới sực nhớ ra, à thì ra chi tiết đó mình đã đọc qua trong truyện ngắn "Sông Gành Gào" (tập truyện Hương Rừng Cà Mau) của nhà văn Sơn Nam.

Chợt trong lòng tự nhiên có gì đó thôi thúc, muốn lục tìm để đọc lại, vì tôi tin rằng ở mỗi độ tuổi khác nhau, ta sẽ hiểu một quyển sách cách khác nhau rất nhiều. Khốn nỗi, sau đại dịch xé đốt sách xưa, nhà tôi đúng thật là khánh kiệt! Cả một thư phòng lớn với sách trên các kệ ăm ắp đủ thể loại đầy ứ lên tận trần nhà, mà mỗi lần lấy sách phải rê một cái thang, giờ chỉ còn leo queo dăm cuốn tự điển lãnh thưởng!

Mãi nhiều năm sau, sau khi lục lọi cả buổi ở chợ sách Đặng Thị Nhu, tôi mới tìm mua lại được quyển Hương Rừng Cà Mau với giá trên trời, có lẽ do tôi bị người bán "bắt thóp" khi thấy mình cầm cuốn sách có đóng con dấu tên anh tôi "TTD" mà mắt rưng rưng... Ngày nay sách đẹp in tràn lan, giới trẻ sẽ không bao giờ biết được tâm trạng ngẩn ngơ của một người, sau khi đã bị mất đi tất cả tài sản tinh thần (sách), có thể mừng rỡ và cảm động đến độ nào khi bất ngờ "trùng phùng" một quyển sách mình yêu thích, nhất là khi đó chính là một trong cả ngàn quyển sách lưu lạc của gia đình mình ngày xưa, có đóng dấu riêng ở trang đầu và mỗi mười trang, mà khi chợt nhìn thấy là lòng thảng thốt và nước mắt cứ chực trào!

Trở lại với câu chuyện "Sông Gành Hào" với ông Tây kiểm lâm Rốp và chú Tư Đức. Ở đây ta gặp một ông Tây không hề bóc lột hung tàn theo kiểu "thằng Tây ác quá" trong các sách giáo khoa, mà là một ông Tây hiền lành mộ đạo, đã đọc và biết trân trọng bộ kinh Na Tiên, nên cách cư xử với người dân bản địa có phần ôn hòa nhân ái. Tuy nhiên, thái độ xem thường dân An Nam của một kẻ đô hộ đối với người dân của một đất nước kém phát triển và dĩ nhiên là dân trí thấp là điều không thể tránh, nhứt là đối với người chở củi lậu như chú Tư Đức. (Sự miệt thị của người nước ngoài đối với dân Việt Nam cho đến ngày nay, thật đau lòng, ngày lại càng sâu đậm! Có nghĩa là xem ra mũi tên dân trí không tỷ lệ thuận với sự phát triển của đất nước trên biểu đồ!).

- "Xứ này thiếu gì cây để cất nhà, thiếu gì lá để lợp nhà. Chú làm biếng, không chịu tạo lập".
- "Hồi 150 năm trước Thiên Chúa, phía bắc Ấn Ðộ có mấy ông vua Hy Lạp cai trị, giống như người Pháp cai trị An Nam bây giờ. Hồi đó, người cai trị với người dân bổn xứ thương nhau. Tại người dân bổn xứ tài giỏi quá, đâu phải như người An Nam bây giờ. Bây giờ không còn cảnh đó nữa ! Thí dụ tôi là vua Hy Lạp từ Âu Châu tới, chú là thầy tu Ấn Ðộ bị tôi cai trị. Chú có điều gì giỏi hơn tôi đâu mà hòng dạy lại tôi".

Vì đâu cuối cùng ông kiểm lâm Rốp từ xem thường chuyển sang thán phục và ví chú Tư Đức như ngài Na Tiên?


Sau khi chứng kiến người đàn ông mộc mạc chiến đấu với sấu dữ, giết ác thú nhưng sau đó lại thờ nó: "Bất luận là sấu hay cọp, hễ nó hại mình thì mình giết. Hễ giết được rồi, mình nên thờ... Ðể tỏ rằng mình sợ nó nhưng mà cũng... không sợ nó. Phải để cho nó tu tâm dưỡng tánh trong kiếp sau. Tôi không ưa sát sanh".


Sấu thường đi một đôi, nhưng chú Tư Đức đã từ chối giết con kia:
"Mình giết một con đủ rồi, giết hết mình có tội với Trời Ðất. - Tội gì vậy, chú Tư ? - Tội sát sanh. Ðể con còn lại cho nó đi tu. Ðạo Phật của ông bà có nói lại như vậy đó".

Điều này cho thấy đức hiếu sinh của dân ta xưa, giết vì buộc phải giết để đem lại an lành cho con người, chớ không phải giết chóc vì tính hiếu sát, không phải để giải trí như đế quốc Anh xưa một thời đã xem Phi Châu là nơi săn bắn vô tội vạ, cũng không phải để chứng tỏ quyền sinh sát tối thượng đối với những sinh linh nhỏ bé và yếu ớt trong tay mình.


Và giết sấu không phải chỉ để cứu nguy cho người sống, mà còn: "Phen này tôi mừng vì cứu được vong hồn mấy người đã bị sấu ăn thịt. Theo lời tục truyền : họ thành cô hồn, sống vất vưởng trên lưng sấu. Lần lần cô hồn nọ bị sấu mê hoặc nên dẫn đường dắt nẻo cho sấu đi sát hại kẻ đồng loại. Bây giờ sấu chết, bao nhiêu cô hồn đã thảnh thơi, có thể tự do đi đầu thai trở thành người lương thiện".

Đến đây ông Rốp đã hoàn toàn bị chú Tư Đức khuất phục:
"Ông Rốp trầm ngâm suy nghĩ. Ông dè đâu người đốn củi lậu nọ có tài, có đức, biết thương người, thương cuộc đời đến mức ấy.

Ông chắp tay lại mà nói :

- Tôi khen chú nhiều lắm. Dân "An Nam" giỏi quá, hiền từ quá.

Ông Rốp giựt mình, nhìn lại bức tranh, tấm bản đồ Châu Âu, Châu Á rồi sực nhớ tới mấy lời nói hôm trước. Tấm hình nọ diễn lại cảnh đẹp ngàn xưa : hai ngàn năm về trước, tại hoàng thành của tiểu quốc nọ ở phía bắc Ấn Ðộ, lần đầu tiên người phương Ðông và phương Tây thông cảm nhau, cư xử bình đẳng. Giờ đây, qua bao cuộc luân hồi, hưng vong đầy nước mắt mà máu trên giải đất tận cùng của nước Việt Nam lại có hai người cũng đồng cảnh ngộ, đồng niềm thông cảm.

Ông Rốp buột miệng :

- Chú Tư Ðức là thầy tu Na Ga Sơ Na".

Ông Rốp đã tìm thấy nơi người An Nam vô danh nghèo khó một đức tính đáng quý, đó là sự khiêm cung, điềm đạm, nhân ái nhưng đầy mưu lược và dũng cảm, sẵn sàng đối đầu không nao núng với kẻ thù độc ác và hùng mạnh hơn mình gấp nhiều lần. Và dù đã chiếm thế thượng phong nhưng không hề ngạo mạn hay say máu đối với con mồi, lòng dạ luôn ngay thật hiền lành, trong tiếng cười không có gươm đao. Đó há chẳng phải là đức-Dũng-của-thánh-nhân?

Và nữa, tuy nghèo nhưng chú Tư Đức luôn dửng dưng trước lời đề nghị hấp dẫn của ông Rốp:
- "Chú Tư họ gì, mấy tuổi. Ðể tôi chạy tờ về quan Tham biện chủ tỉnh xuất số tiền về thưởng công lao cho chú. Chú muốn làm lính kiểm lâm không? Tôi cho chú làm chức "bếp", ăn lương mỗi tháng mười lăm đồng bạc.

Chú Tư Ðức cười :

- Vì đất nước chớ đâu phải vì danh vì lợi. Sách có câu: "Kiến nghĩa bất vì vô dõng giả, lâm nguy bất cứu mạc anh hùng".

Thử hỏi có mấy ai không mềm lòng trước cuộc sống sung sướng no đủ, lại đi chọn nghề đốn củi cực nhọc thiếu trước hụt sau, tài sản chỉ là con thuyền rách? Về điểm này, người đàn ông An Nam nghèo khổ ít học ăn đứt vô số những kẻ giàu có, quyền thế hay trí thức "đáng kính" trong xã hội, bị vị tanh của đồng tiền khuynh loát, sẵn sàng chà đạp lên mọi sinh mạng, bẻ cong mọi giá trị đạo đức, đánh mất tư cách và nhân tính chỉ để được vinh thân phì gia!

Nhắc tới sông Gành Hào, tôi có một kỷ niệm khó quên. Khoảng năm 80 tôi tham gia một chuyến đi ở Gành Hào. Đứa học trò khờ khạo đi theo người trưởng đoàn trong "chuyến đi bão táp" từ Sài Gòn về tận Bạc Liêu. Chiếc xe cà khổ đầy ắp người vẫn dừng lại chớp nhoáng không dưới mươi lần để rước thêm khách, rồi chạy như giông như gió để "vượt trạm" (thời ngăn sông cấm chợ, trạm đặt ven đường chi chít để tịch thu gạo, vải, thịt heo, thuốc tây "lậu"). Một vài khách trên xe nôn thốc nôn tháo bắn ướt áo người ngồi bên. Trong chiếc xe đầy nghẹt người đứng chật lối đi, mùi hơi người, mùi xăng, mùi thức ăn nôn ra, mùi dầu gió lẫn với mùi mồ hôi... tất cả những thứ đó trộn lại thành một mùi kinh hoàng, nhớ tới còn rùng mình!

Xuống tới Hộ Phòng, lội sình một đỗi để leo lên tắc ráng, vượt thêm khoảng sông dài tưởng như Biển Hồ mênh mông không thấy bờ, chúng tôi tới Gành Hào lúc chiều chạng vạng. Lại lội bộ một đỗi nữa chừng cây số giữa hai bên sân rộng phơi cá tanh tưởi, vô tới nhà "vệ tinh" lòng mừng húm vì đã rã rời và đói lã. Đèn dầu leo lét đỏ quạch, mỗi căn nhà lá chìm trong tăm tối bí hiểm, phía sau là nhà sàn lé đé giáp mí nước, cách đó khoảng một cây số là cửa biển mênh mông u tịch như bị nén xuống dưới gầm trời chiều âm u xám xịt. Từng đoàn tàu đánh cá lũ lượt kéo nhau về nhộn nhịp, đưa sóng dập hết đợt này tới đợt khác ì oạp vào các cột gỗ làm cả gian nhà sàn sóng sánh đung đưa...

Cơm tối qua loa, đám con nít trong nhà "đi coi hát" đâu ngoài xã, người lớn vây quanh phân loại đống cá mới chuyển từ tàu. Đó đây những ụ muối trắng tinh nổi bật trong ánh sáng tù mù nhá nhem. Ngoài kia những thùng phuy tép nấu sôi trào bọt (để làm tôm khô), lửa bập bùng cháy sáng một vùng như những con mắt yêu tinh nhấp nháy trong đêm.

Tôi ngồi bó gối ngoài nhà sàn, mắt dõi nhìn biển xa tít ngoài kia đen kịt âm hiểm, lòng ngổn ngang trăm mối, nửa lo cho mẹ, chị, nửa lo cho phận mình. Tiếng con mèo con eo éo yếu ớt đâu đây... Trên cái sạp tre, con mèo mun mắt vàng ệch vô cảm ngoạm đứa con có lẽ vừa mới lọt lòng không lâu vất đó rồi bỏ đi mất. Đứa nhỏ còn chưa mở mắt, lông đen thui ướt nhẹp vì mới được nhả ra từ miệng mẹ, thân chỉ nhỉnh hơn ngón tay cái, éo éo đến khản cổ và oằn oại lê la tìm mẹ như con sâu non gầy gò.


Trời đổ mưa mù mịt ngoài kia. Trong cuộc đời đứa học trò nệm ấm chăn êm, ngờ đâu có ngày ướt đẫm mưa biển với mưa rừng... Trong tiếng mưa đêm rì rào chen tiếng sóng ì oạp, con mèo con tiếng kêu giờ thành è è khản đặc oặt oại trong tay tôi. Hai linh hồn bé nhỏ tội nghiệp chìm sâu trong vùng sáng nhờ nhờ của ánh đèn dầu, viền bấc lụn tàn hấp hối...


TCQN

SG, 9/10/2017

                   QUYỂN SÁCH MỘT ĐỜI (6) - Con Bảy đưa đò

 

Nhân gian tối khổ, tối khổ thị phân ly
Quân ái ngã, ngã ái quân, thanh thảo ngạn đầu nhân độc lập
Họa thuyền đông khứ lỗ thanh trì
Sở thiên đê, hồi vọng xứ lưỡng y y

(Liễu Phú)

(Điều khổ nhất nhân gian là cảnh phân ly
Tôi yêu em , em yêu tôi , ngọn cỏ xanh mướt đầu sông một mình đứng ngóng
trông con thuyền lặng lẽ xuôi về bên đông , tiếng bơi chèo chầm chậm
Trời nước Sở nặng u buồn , người đứng vọng phía xa lòng cô tịch)

 

Sống tới từng tuổi này, thỉnh thoảng tôi vẫn tự hỏi: Tình yêu có thật sự tồn tại, hay nó chỉ là âm thanh?


Rồi sau đó luôn cảm thấy mình giống như con ve sầu tội nghiệp, sống không qua mùa Hè nên không tin rằng có mùa Đông!

Nhớ ngày còn đi học, đọc tới truyện "Con Bảy đưa đò", tôi hay thắc mắc với chị Hai tôi: Sao chỉ mới thoáng gặp nhau trên sông mà cô Bảy này đã dành cả đời để chờ đợi? Chị Hai cười tủm tỉm: "Vì đó là tình yêu, và nó đẹp vì không có đoạn kết. L'amour est seulement beau quand il est inachevé". Dường như vẻ đẹp não nùng của thứ tình dang dở đó vẫn còn giữ nguyên giá trị trong mọi thời?

Tôi hay tưởng tượng bóng cô Bảy đưa đò trong sương sớm, dáng nghiêng nghiêng uyển chuyển tay chèo, mắt dõi nhìn đám lục bình xa xa, mong mãi một bóng hình trong hy vọng mong manh. Sự tự nguyện đợi chờ của cô qua năm tháng đem mỏi mòn vào từng sợi bạc trên mái tóc ngày nào vẫn còn tươi xanh. Sao mà ủy mị đến vậy, phải lòng nhau qua một tiếng hò! Sao mà cảm động đến vậy, đi đem lòng yêu mến và chờ đợi cả đời một nhánh rong phiêu bạt, một chàng trai yêu nước vô danh!

Sự chọn lựa đợi chờ của cô Bảy đã được dứt khoát khẳng định dù ngay từ đầu người ấy đã thoái thác "Chí trai bốn biển là nhà". Tình yêu không phải chỉ phù du, tình yêu còn rất dại dột! Cho đến một ngày, "con Bảy" đã thành "dì Bảy": "Ngồi đây mà nhớ đến cái thời xuân xanh năm nào ! Nó như chiếc lá già rụng, mục nát trở về lòng đất để làm phân cho nghững cây tơ khác đâm lộc nẩy hoa. Nó như một chiếc xuồng cũ kéo lên trên đất khô, phơi dưới ánh nắng day gắt. Còn đâu hơi gió cũ ? Còn đâu ánh trăng xưa ? Còn đâu hơi thở, còn đâu dáng người ? Còn đâu bến sông "nhánh bần gie con đốm đậu" ? Và dì đã nói một câu bâng quơ không ăn nhập gì tới chuyện luộc lòng sao cho ngon: "Ở đây, hồi đó có người nói là cần "một tấm lòng"!

Tấm lòng của cô gái đưa đò hiện ra đẹp như lõi gỗ tạc thô sơ không sơn phết màu mè, không môi miếng bóng bẩy, cũng không hề nhân danh bất cứ thứ tình nào, chỉ đơn giản hiển hiện dài lâu, mỗi ngày một sâu đậm.


Câu truyện cũng đơn giản, hồi kết cũng đơn giản, nhưng đã lắng lại trong lòng bao thế hệ câu hỏi: Phải chăng tấm lòng là thứ đơn giản vô cùng, mà cũng hiếm hoi vô cùng???

Mảnh tình cô Bảy đưa đò gây ấn tượng mạnh trong tôi đến nỗi nhiều lúc tôi băn khoăn tự hỏi, có phải cô gái nào khi về già cũng có một câu nói để hồi tưởng về một bóng hình xưa cũ: "Hồi đó có người nói..."?


Riêng tôi, đó là câu: "Ở đây, hồi đó có người nói... đặc biệt thích nhạc phẩm Hương Xưa của Cung Tiến". Câu nói nửa đùa nửa thật kèm ánh mắt nheo nheo thăm dò, hàm răng trắng lóe và nụ cười nhếch kiểu Clark Gable lúc ấy đã cho tôi một cảm giác vô cùng bất an. Còn rất trẻ, tôi đã sớm nhận ra con bướm đuôi phụng đẹp đến nao lòng sẽ là mục tiêu không ngừng nghỉ của vô sốnhững kẻ yêu chuộng cái đẹp. Tôi thì không sẵn sàng dành cả đời mình để luôn luôn ở thế thủ và gìn giữ những thứ mà ai cũng thèm thuồng muốn tranh đoạt.

Thế là sau nhiều giông tố và lưu đày (cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng), "Hương Xưa" đã bay xa đến tận nửa vòng trái đất... Tôi chưa kịp chúc bướm đuôi phụng bình an và may mắn tìm được đóa hoa khác xinh đẹp giỏi giang hơn tôi, anh đã đột ngột ra đi trong một tai nạn thảm khốc, không kịp trở về tiếp tục dạy tôi môn Văn chương Pháp như anh đã hứa. Và vì mãi chen chân trong biển kiến thức mênh mông nên vẫn chưa kịp bay một vòng vườn hoa tươi thắm xứ người để tìm một đóa cho riêng mình...
...
Ôi, những đêm dài hồn vẫn mơ hoài một kiếp xa xôi
Buồn sớm đưa chân cuộc đời
Lời Ðường thi nghe vẫn rền trong sương mưa
Dù có bao giờ lắng men đợi chờ
Tình Nhị Hồ vẫn yêu âm xưa
Cung Nguyệt Cầm vẫn thương Cô-tô
Nên hồn tôi vẫn nghe trong mơ tiếng đàn đợi chờ mơ hồ.
Vẫn thương muôn đời nàng Quỳnh Như thuở đó...

(Hương Xưa - Cung Tiến)

Giọng đọc thơ trầm buồn mang mang sẽ đi theo tôi đến hết cuộc đời, và có lẽ còn theo đến kiếp sau, nếu thật sự tôi còn nợ người...

Oui, l'heure est venue
Où chaque baiser perdu
Ne revient plus...
Oui, l'heure est venue
Où chaque baiser perdu
Ne revient plus...
(La chanson d'Orphée)

(Vâng, rồi thời gian sẽ đến
Nơi mà mỗi chiếc hôn bị bỏ quên
Không bao giờ trở về
Vâng, rồi thời gian sẽ đến
Nơi mà mỗi chiếc hôn bị bỏ quên
Không bao giờ trở về...)

 

TCQN
SG, 15/10/2017

               QUYỂN SÁCH MỘT ĐỜI (7) - Miễu Bà Chúa Xứ

 

Gà không gáy trời vẫn sáng
Cây không héo đời vẫn buồn

Tôi nép dưới mái hiên
Cố tin rằng hôm nay không có người bất hạnh

Nhanh một bước vẫn thấy người thở dài
Chậm một bước vẫn đông người ăn uống

Lá khóc cho ai
Đẫm ướt đường dài?

Mưa day dứt suốt mùa thu day dứt
Bao khát vọng mỏi mòn còn ở bên sông

( Hữu Thỉnh - Dưới mái hiên )
----------------

"Tôi lạnh người. Gió thổi hiu hiu. Phải chăng oan hồn thuở trước đang về đây ? Họ trở thành cát bụi, đang thu hình vào rễ lúa để vươn lên mặt đất, đòi đơm bông kết trái ?"

"Hay là họ buồn rầu khi nhìn cậu bé chăn trâu còn sống sót thuở nọ giờ đây sống hẩm hiu. Từng vệt sao rơi, phải chăng đó là những niềm tin tưởng soi sáng quyển sử trường cửu của đất nước, một quyển sử không có số trương mà mỗi luống cày là một tờ giấy bao la, mỗi bụi lúa là một nét chữ không nhòa, muôn năm linh động ?"

(Miễu bà Chúa Xứ - Sơn Nam)
-----------------

Tôi kể bạn nghe một truyện ma có thật. Ai ở Sài Gòn, dân Phú Nhuận chắc chắn biết tiệm phở Quyền ngay ngã tư Phan Đăng Lưu và Hoàng Văn Thụ. Khoảng ba mươi năm trước, nhỏ học trò của ông xã tôi ở ngay kế phở Quyền. Nó than nhà có ma, không ở được. Nó kể một hôm đi lên gác, nó nhìn thấy rõ ràng một bà già chỉ có nửa người trên sàn gác, gương mặt phẳng lặng bình an, khóe cười nhẹ đượm chút giễu cợt. Nó điếng hồn điếng vía vắt giò lên cổ phóng xuống tầng trệt thì thấy nửa thân dưới của bà sát trên trần nhà, tựa như bị ván gác cắt đôi người! Sau này mỗi khi có dịp đi ngang đó, tôi lại lan man nghĩ tới bà lão đó... Lâu quá rồi, không biết linh hồn bà đã siêu sanh chưa hay vẫn thỉnh thoảng cắc cớ chơi trò ảo thuật David Copperfield để hù dọa thiên hạ?

Con nít đứa nào cũng sợ ma, mà lại rất mê truyện ma! Hồi đó đọc tới truyện "Miễu bà Chúa Xứ"trong "Hương Rừng Cà Mau" của nhà văn Sơn Nam, tôi cứ hau háu đọc tới tới coi có con ma nào xuất hiện hay không. Tới cái đoạn ông Tư Đạt ngậm một đầu cọng súng, còn ông già ma ngậm một đầu, người thì răng đánh bò cạp, ma thì cứ nhai riết cho tới khi hai gương mặt đụng nhau lạnh ngắt, thú thật tóc tôi muốn dựng ngược!

Nhưng cái đặc biệt của câu truyện ma này, không phải để cho độc giả rợn người kinh sợ, mà lại làm ta thổn thức vì cảm thương!

Ông Tư Đạt, ông từ giữ nghĩa trang, xưa vốn là thằng bé chăn trâu sống sót từ một trận càn của Pháp. Cả làng chết hết! Những cái chết quá bi thảm và đột ngột đã giam giữ linh hồn họ trong hoang mang ở bên kia ngưỡng sinh tử, họ không biết đường mà về với cát bụi, cứ lẩn quẩn hoài nơi trần gian vì lòng oán hờn ngun ngút làm vô minh đọng lại không tan. Vậy mà chỉ cần chút khói hương đã đủ ấm lòng những vong linh tội nghiệp.

"... Người chết quá nhiều. Người còn sống quá ít. Làm sao mà chôn ? Ban đầu còn bó thây bằng chiếu, mỗi hầm chôn một người. Sau cùng, cứ chôn chung một hầm, đủ già trẻ bé lớn. Khiêng nhiều chuyến quá sanh ra mệt mỏi ! Họ khiêng bằng võng, đặt hai xác chết trên một võng, người trở đầu phía trước, người trở đầu phía sau.
... Lâu quá rồi ! Thiên hạ chết oan ! Cả xóm chết giống nhau. Không một người khóc. không một miếng khăn tang. Cả tháng sau, quạ còn bay đen trời như tàn nhà cháy... Tôi là người quen với họ, họ thương tôi lắm. Tôi không sợ ma, nhờ đó mà ít gặp ma. Vậy mà không hiểu can cớ gì buổi trưa đó tôi gặp họ. Ði gặt về, dọc dường tôi ghé lại bờ Ðìa Gừa. Thấy nước trong quá, tôi nhảy xuống tắm rồi ngắt một cọng bông súng. nhai vô miệng cho mát. Tôi nhớ rõ : cọng bông súng dài lắm. Nhai một hồi, bỗng nhiên thấy một ông già hiện ra, đâu mặt với tôi, miệng ổng thì nhai đầu kia của cọng bông súng. Sợ quá, tôi nhả ra nhưng không được. Hàm răng của tôi cứng lại rồi... đánh bùa cạp. Sau rốt, ông già nọ nhai lần cọng bông súng đến gần mặt tôi, hai mặt đụng nhau, sát rạt, lạnh ngắt.

Ông già nọ hỏi tôi :

- Cái thằng Ðạt chăn trâu ! Nhớ ta đây không ?"

Sự hiện hữu của ma quỷ trên thế gian này tới nay vẫn còn là một dấu hỏi lớn. Vài người tình cờ chụp được hồn ma âm thầm có mặt đâu đó trong những tấm ảnh đời thường, dù chẳng biết ảnh thật hay ảnh ghép. Các nhà khoa học Tây phương đã tốn nhiều giấy mực cũng như phim ảnh để chứng minh sự hiện diện của linh hồn bằng các thiết bị khoa học hiện đại như Radar Detection, máy thu âm tần số cao, máy đo từ trường và năng lượng, máy dò tìm sóng âm..., thậm chí còn có những biệt đội săn ma lui tới những nơi nổi tiếng có ma lai vãng để truy tìm sự thật. Các chương trình "Người Săn Ma" (Ghost Hunters) được làm ra để câu khách, người xem hăm hở theo dõi vài tập thấy họ làm ghê gớm rình rang mà kết quả chẳng đi tới đâu, tức anh ách, lâu dần cũng chán chẳng buồn xem!

Bỏ qua vấn đề ma hiện hữu hay không, lịch sử luôn chứng minh ma quỷ, thậm chí là ác ma, cũng không tàn độc và nguy hiểm bằng con người! Các Holocaust của Đức quốc xã với hơn mười một triệu mạng người Do Thái, "Cánh Đồng Chết" đã chôn xác một phần tư dân số Campuchia, và còn nữa, những khe hố đầy ngập xương người đó đây đã chứng minh hùng hồn rằng không phải ma quỷ nào có thể tàn độc ra tay thảm sát cho đống xương vô định ngày càng cao chất ngất...

Trong quyển Cổ Học Tinh Hoa có truyện này:

“Ma nói chuyện - Có người trốn tránh quân thù nghịch, đi ẩn núp ở chốn núi thẳm hang cùng. Một đêm, gió mát trăng thanh, người ấy bỗng thấy con ma vẩn vơ, quanh quẩn dưới gốc cây dương liễu, sợ quá anh ta nằm phục xuống, không dám trở dậy. Ma thấy thế, nó đến tận nơi, bảo:

- Sao không ra đây mà chơi!

Người kia run rẩy trả lời: Thưa, con sợ lắm!

Ma nói: Sao anh gàn thế! Việc chi mà sợ! Kể ra nếu đáng sợ thì chỉ có giống người mới đáng sợ hơn cả. Anh nghĩ lại xem, vì ai mà anh đảo điên cơ cực thế này! Vì đồng loại của anh hay vì tôi? Vì người hay vì ma?

Ma nói xong, cười rồi biến mất”.

Ngay trong câu truyện "Miễu bà Chúa Xứ", chính con người đã tàn sát cả làng, còn ma chỉ muốn được người sống nhớ tới qua một nén nhang! Thật giản dị và quá đáng thương!

Trong truyện ma này, nhà văn Sơn Nam còn lạc đề rất dễ thương trong cái cách ông Tư Đạt cắt nghĩa tại sao:

"Một mai thiếp có xa chàng,
Đôi bông thiếp trả đôi vàng thiếp xin"

Hạnh phúc của đôi vợ chồng trẻ đôi khi không tự nó rạn nứt mà do sự can thiệp của những người lớn. Cho nên một ngày ta chia tay, đôi bông của cha mẹ đi cưới em xin gởi trả, chỉ xin giữ lại đôi vàng là kỷ niệm bao năm chia ngọt sẻ bùi của vợ chồng ta!
Nếu không đọc qua chi tiết này, mấy ai để ý thắc mắc vì sao cô gái trả đôi bông mà lại xin giữ đôi vàng! Thật dễ thương nhưng cũng thật đáng thương. Theo tôi, câu ca dao còn ngấm ngầm nói lên sự bất lực và hèn nhược của người chồng. Khi tình yêu đã chết thì mỗi người một ngã là chuyện nên làm, nhưng sao còn yêu nhau đến vậy mà không chở che được cho vợ mình, không làm được cây tùng cây bách, không làm được trụ cột vững vàng, để cả hai phải nuốt lệ chia tay? Trong trường hợp đó, có lẽ người vợ cũng không nên khổ đau luyến tiếc chi một người chồng yếu hèn không đứng được đầu sóng ngọn gió để bảo vệ cho hạnh phúc gia đình! Có lẽ anh không hề biết rằng chiếc-bánh-thương-yêu dù được san sẻ ra bao nhiêu phần, thì mỗi phần của nó vẫn đầy đặn không hề vơi đi!


Anh chồng này làm tôi chợt nhớ lan man đến một anh chàng, đêm tân hôn để cô dâu mãi ngồi trơ trọi trong phòng, còn anh bỏ ra cửa sổ tựa cằm nhìn ra bầu trời đầy sao và trầm ngâm nhớ thương về bà mẹ đã khuất! Chuyện khó tin nhưng một trăm phần trăm có thật. Đúng mẫu người "Trai thời trung hiếu làm đầu"!

Đối lập với mẫu người không hề quan tâm tới cảm nhận của người phối ngẫu, ta có vô số phụ nữ cả đời hy sinh tất cả cho chồng như cô vợ ma đáng thương của người họa sĩ già Mishio trong truyện ngắn "Tan theo sương mù" của nữ văn sĩ Nguyễn Thị Hoàng. Linh hồn ấy, với vóc dáng mảnh mai và đôi mắt đằm thắm trong trẻo như mắt cá vàng, đã nguyện cả đời làm cái bóng phất phơ nơi trần gian để quanh quẩn yêu thương chăm sóc cho chồng, kéo dài mối tình nồng nàn hơn hai mươi năm cho đến khi nhận ra người đàn ông bắt đầu thoáng đa mang, lập tức vẻ tươi trẻ trên gương mặt cô biến mất, hình dáng thanh xuân thoắt cái biến thành cụ bà lọm khọm héo hắt đúng với số tuổi, và linh hồn ấy âm thầm tan theo sương mù...

Tôi bỗng tự hỏi đã đến lúc hay chưa việc dẹp hẳn thói quen ca ngợi đức hy sinh của người phụ nữ. Tại sao chỉ có phụ nữ mới phải hy sinh? Nó đâu khác gì tục bó chân của phụ nữ Trung Hoa, chỉ là chiêu bài đưa ra để che đậy mục đích xấu xa của một số nam nhân, để họ có thể được phụ nữ tự nguyện phục vụ toàn tâm toàn ý!

Để tới khi hai bàn tay móng đã cùn, thần trí đã lụn, tuổi thanh xuân quay ngoắt, gương mặt lờ đờ nhăn nhúm, tấm thân nhầu nhèo xộc xệch, lồng ngực teo tóp hắt ra hơi thở cuối cùng vẫn mãn nguyện mỉm cười đầy vẻ tự hào rằng chỉ chúng ta, những phụ nữ cao cả, mới được độc quyền đức tính hy sinh !

 

TCQN

SG, 23/10/2017

 

                           QUYỂN SÁCH MỘT ĐỜI (8) - Một cuộc biển dâu

Muốn về
nhặt lá úa vàng
Làm nơi yên nghỉ
cho ngàn thu qua

Giữa khuya
hứng giọt sương sa
Soi đêm chợt thấy còn ta
rã rời

(Lục bát không đề - Trần Đức Lập)

----------------

 

"Nắng đổ xuống từng đóm lửa đỏ như mấy cục sắt trong lò rèn mới rút ra, chóa lên rồi bay bổng xa dần, trở nên phiêu diêu, mát rượi như bầy đom đóm vô hình bay trong đêm...


Bây giờ là ngày hay đêm ? Ở đây là biển trần khổ hay là ở trên bồng lai ? Trong mớ ánh sáng lung linh, dường như có muôn ngàn gương mặt khác nhau hiện ra không rõ rệt, dịu hiền như ngọc nữ kim đồng, trong tiếng tiêu, tiếng sáo, tiếng đờn cò, giữa bầy phụng hoàng bay lượn".

Đó là giây phút cận tử của ông già Bích trên chiếc xuồng nhỏ giữa trời nước mênh mông. Theo nhà Phật, thì không khí mát dịu, tiếng đàn, tiếng sáo... là một dấu hiệu tốt báo trước rằng người ra đi sẽ đầu thai vào một cảnh giới tốt đẹp bình an.

Tôi từng nhiều lần tự hỏi, ở ranh giới giữa sự sống và cái chết, khoảnh khắc cận tử sẽ diễn ra ra sao và bao lâu? Mỗi lần đọc một tài liệu về cận tử nghiệp, cảm giác lo âu nặng nề lại đeo bám lấy tôi, vì tôi càng hiểu rõ tâm quan trọng của tâm trí người sắp chết ảnh hưởng sâu nặng đến nghiệp lực của người đó như thế nào.

"Trước khi chết, những tư tưởng đã đi sâu vào cốt tuỷ của con người là tâm trạng chính, là yếu tố chính quyết định sự tái sinh..." (Đạt-lai Lạt-ma).

Mà những người thân đã mất trong gia đình tôi, tất cả đều "bất thiện chung", họ đã chịu một cái chết tức tối khổ đau trong thời gian khổ nạn, sao tránh khỏi tâm trí oán hờn trước khi nhắm mắt. Nếu sống một đời tử tế lương thiện nhưng chết trong oan khuất, lòng dấy lên một niệm uất ức lập tức bị đọa vào cõi xấu, như vậy có bất công lắm không?

Trở lại với cái chết héo hắt đáng thương của ông già Bích, thân xác lênh đênh trên chiếc thuyền nhỏ giữa cánh đồng nước mênh mông không thấy bờ trong "Một cuộc biển dâu". Hình ảnh thằng Kim tội nghiệp mếu máo bơ vơ trong cảnh u tịch gây ấn tượng mạnh đến nỗi đọc Hương Rừng Cà Mau đã lâu nhưng cái cảnh mủi lòng đó như hiển hiện trước mắt tôi, sống động và bi thảm. Hãy tưởng tượng giữa bao la trời nước sóng gợn bạt ngàn, không một bóng người cũng chẳng có một mái nhà xa xa, một chiếc xuồng chèo trong vô định trên đó người cha sắp trút hơi con gắng gượng thều thào: "Ba để lại cho con cái áo này... Yếu quá... ba ngồi dậy cởi áo không được. Con.."

Tôi nhớ mấy năm về trước Đài truyền hình thành phố có làm một bài phóng sự về Cần Giờ, phỏng vấn một bà cụ nghèo khó tới tuổi tám mươi vẫn còn phải kiếm sống độ nhật. Phóng viên hỏi bà có mong ước gì cho tương lai, bà nói chỉ mong sao có đủ cơm ăn no mỗi ngày!

Té ra thời Pháp thuộc hay lúc thanh bình vẫn còn đó đây những mảnh đời cực kỳ bất hạnh, như ông Bích ngày đó tới chết chỉ có tấm áo để lại cho con, như bà cụ Cần Giờ ngày nay chỉ cơm thôi cũng chẳng no lòng!

Và, trong khi người Tây Tạng "điểu táng" người thân trên chót vót cao những đỉnh núi mây vờn với hạnh nguyện hy sinh trọn vẹn cho muôn loài, thì dân ta thời ấy vào mùa nước nổi phải đành lòng neo xác người thân nơi đáy nước, dằn theo tảng đá lớn hoặc cối đá xanh, chờ nước rút mới đem xương cốt đi chôn. Cả đời vai trĩu oằn biết bao buồn thương và gánh nặng cơm áo, tới khi chết đi vẫn còn bị neo đá như một kẻ tử tù!

"Hai chiếc nóp gói kín xác kẻ bạc mạng. Bà Hai vào nhà rút mười sợi dây choại, chuyền xuống. Sau rốt, hai ông bà lum khum khiêng xuống xuồng thớt trên của cái cối xay lúa cũ...


Ðôi mắt thằng Kim mở rộng, trừng trừng. Cả mặt nước giờ đây hiển hiện như con ác thú khổng lồ há miệng ra nuốt trọn thân xác cha nó rồi ngậm miệng lại, giận dữ vì chưa no..."

Chết là hết đối với người ra đi. Nhưng hình ảnh mặt nước mênh mông nuốt chửng lấy thân xác người thân duy nhứt của mình, sao không khỏi đau lòng thổn thức?

Nhưng nếu đem so với những cái chết vùi dập vô danh, thì ông Bích vẫn còn hạnh phúc hơn nhiều! Sau khi nước rút, con cháu còn biết người chết nằm đâu để trở lại đó đem xương cốt về chôn cất thờ phượng tử tế. Còn những cái chết vô danh mà người thân nơi quê nhà năm này qua năm nọ mỏi mòn trông ngóng người đi và cuối cùng đành lấy ngày đi làm ngày giỗ...

Tôi muốn kể bạn nghe cái chết bi thảm và cô quạnh của một người vô danh. Đó là vào những năm "anh hùng lỡ vận lên rừng đốt than", anh tôi bỏ dạy đi làm rẫy, lúc nông nhàn anh đi mua củi bi (là thứ gỗ tạp còn nguyên thân, chỉ cưa khúc dài chừng một mét) ở sâu trong rừng Sác rồi chèo tay về tận vàm Phú Xuân (sông Sài Gòn) để bán cho vựa. Khi anh chèo qua một con tắc (rạch nhỏ) trong rừng, ghé lại lùm cây nghỉ ngơi và định lấy gô cơm ra ăn thì chợt thấy một xác người nằm vắt vẻo xa xa, có lẽ là người vượt biên bị "tế thần". Muốn chôn giúp nhưng trong tay không có cuốc xuổng, muốn xem gốc gác để báo tin giùm cho thân nhân nhưng trên người nạn nhân không một mảnh giấy tùy thân. Đành lầm thầm xin lỗi, lấy cây rừng che chắn, niệm danh Phật A Di Đà rồi lẳng lặng ra đi.

Anh tôi nói anh nhớ hoài gương mặt hiền lành trí thức và cặp kiếng cận đã gãy lìa, một càng kiếng gãy đâm sâu vào thái dương có lẽ do cú ngã bất thần, nhớ vết thương trí mạng đâm từ sau lưng, vết máu loang rộng đã đen quánh, nhớ màu áo xanh bết bùn nhờ nhờ trong ánh chiều chạng vạng... Là người đa cảm, thấy phận người nhớ thân mình, nên anh nhớ mãi cảnh bi thương, hai ngày chèo chống không nuốt nổi cơm chỉ uống nước cầm hơi. Đã vậy khi xuống tới vựa củi ở vàm Phú Xuân còn bị thương lái ép giá, anh tôi giáo sư Việt văn hiền khô nào biết bán buôn ngoa ngoắt... Lần đó anh trở về mặt mũi hốc hác, mấy ngày trời gương mặt đăm đăm buồn. Người thanh niên thành phố đáng thương ấy có lẽ đâu bao giờ ngờ rằng đời mình có ngày chấm dứt đau đớn oan nghiệt nơi rừng sâu lạnh lẽo. Đâu đó có bà mẹ già, người vợ trẻ cùng đứa con thơ mỏi mòn ngóng tin người ra đi...

Vài năm sau anh tôi cũng ra đi, bất hạnh không kém. Anh tôi chết vì bệnh không có thuốc uống. Và chết đói... Nhiều đêm mất ngủ, nhớ tới anh tôi hay tự hỏi: Không biết khi nhìn thấy xác người lạ đáng thương đó, có bao giờ anh ngờ được rằng, rồi có ngày anh cũng "bất thiện chung"? Anh tôi cao lớn lắm, cười có duyên lắm, trong mấy anh em chỉ mình anh thừa hưởng đôi mắt phượng của Má, ánh lấp lánh cương nghị sau cặp kiếng trắng, anh tôi giảng Kiều hay tuyệt khiến không ít nữ sinh thời đó thầm thương trộm nhớ... Vậy mà...

Ruồng nát mấy cuốn "Tướng mệnh khảo luận" của Vũ Tài Lục, tôi tìm hoài không ra tướng mạo nào khiến anh tôi yểu mạng.


Lâu dần tôi nghiệm ra rằng, có khi lòng khẳng khái cũng dẫn con người vào chốn oan khiên...


TCQN
SG, 04/11/2017

          QUYỂN SÁCH MỘT ĐỜI (9) - Tình nghĩa giáo khoa thư

 

Ngang lưng thì thắt bao vàng,
Đầu đội nón dấu, vai mang súng dài.
Một tay thì cắp hỏa mai,
Một tay cắp giáo, quan sai xuống thuyền.
Thùng thùng trống đánh ngũ liên,
Bước chân xuống thuyền, nước mắt như mưa.


(Lính thú đời xưa - Quốc văn giáo khoa thư)

 

Có lẽ thế hệ "sáu bó" chúng ta hiếm có ai không đọc qua quyển "Quốc văn giáo khoa thư" của nhóm tác giả Trần Trọng Kim, Nguyễn Văn Ngọc, Đặng Đình Phúc, Đỗ Thận biên soạn, một quyển sách hết sức dễ thương mang tính giáo dục cao, dạy cho trẻ nhỏ trở thành những công dân tốt và người tử tế mà giá trị của nó tới nay vẫn không hề xưa cũ.

Trong câu chuyện "Tình nghĩa giáo khoa thư" của nhà văn Sơn Nam đã diễn ra một cuộc gặp mặt thật độc đáo giữa anh chàng phái viên báo Chim Trời với anh Tư Có ở cái xóm Cà Bây Ngọp khỉ ho cò gáy:

"Ðường đi ấp Cà Bây Ngọp quá xa vời ! Chiếc tam bản nhún xuống một cái "ồ" rồi nhảy tới một cái "sạt" theo nhịp chèo hai chèo. Nắng chang chang rắc vàng trên thảm cỏ hoang xanh ngắt. Vài nhánh bình bát gie ra, quất vào bụi sột soạt. Xế chiều, cò trắng phất cờ như đón người khách lạ. Trích, cúm núm kêu ré lên. Con rạch thâu hẹp lại. Chiếc tam bản lắc nghiêng như trái dừa khô trên mặt nước đầu sóng gió. Ánh trạo chèo một chèo, nghiêng mình bên hữu. Rồi bỗng nhiên anh chụp mỗi tay một cây chèo mà chèo trên đất khô bên bờ rạch. Chiếc tam bản lại lướt nhanh trong lòng nước quá hẹp, vừa đủ lọt bề ngang".

Nếu Bá Nha có Tử Kỳ, Tả Bá Đào có Vương Giác Ai, thì tri kỷ tri âm với nhau có thể nói là "đôi đũa lệch" anh phái viên với chàng bắt lươn tay lấm chân bùn! Trong ánh đèn dầu cá leo lét, bên chiếc bếp un dưới đất tỏa khói cuồn cuộn, hai kẻ mê "Quốc văn giáo khoa thư" tranh nhau kể rành rọt từng bài trong sách, đến nỗi anh chàng phái viên cảm cái tình "Quốc văn giáo khoa thư" mà không đành đòi nợ người độc giả đặc biệt, đành ra về tay không sau khi hứa hẹn sẽ tiếp tục gởi báo về tặng không!

Thú thật tôi cũng là một trong những người yêu thích "Quốc văn giáo khoa thư". Đó cũng là "quyển sách một đời" mà mỗi người trong chúng ta nhớ mãi từng bài theo chiều dài cuộc đời để luôn làm "người tử tế", vì thời gian trôi qua bao nhiêu năm tháng nhưng có thể nói chưa có quyển sách nào có tính văn học cao và đầy hiệu quả giáo dục tâm hồn trẻ thơ như "Quốc văn giáo khoa thư"!

Nó cũng gợi lại cho tôi thật nhiều kỷ niệm... Có lẽ ai trong chúng ta cũng có lần nghêu ngao: "Ai bảo chăn trâu là khổ, chăn trâu sướng lắm chứ!" Thật là một cuộc sống đáng mơ ước! Cứ như là kẻ ẩn sĩ quy điền không màng danh lợi, thơ thẩn trên lưng trâu thưởng ngoạn thú điền viên "thảnh thơi thơ túi rượu bầu".

"Ai bảo chăn trâu là khổ?
- Không, chăn trâu sướng lắm chứ! Đầu tôi đội nón mê như lọng che. Tay cầm cành tre như roi ngựa, ngất nghểu ngồi trên mình trâu, tai nghe chim hót trong chòm cây, mắt trông bươm bướm lượn trên đám cỏ. Trong khoảng trời xanh, lá biếc, tôi với con trâu thảnh thơi vui thú, tưởng không còn gì sung sướng cho bằng!"

Phải chăng nhà thơ Giang Nam cũng từ bài học này mà ấp ủ một tình "Quê Hương" ?

“Thuở còn thơ ngày hai buổi đến trường,
Yêu quê hương qua từng trang sách nhỏ.
Ai bảo chăn trâu là khổ,
Tôi mơ màng nghe chim hót trên cao…”

Người Anh hay nói: "Don't edit the sad parts", đừng lược bỏ mặt tối của đời sống. Hình ảnh em bé ngồi lưng trâu sẽ đẹp đẽ và thư thái biết bao nếu ta đừng nhắc tới chuyện đời chăn trâu bữa đói bữa no, chuyện bị chủ đánh tơi tả khi để trâu ăn lúa nhà người, hay khi ham chơi dẫn trâu về bụng chưa căng cỏ!

Tôi không bao giờ quên được những năm 70 hình ảnh tương phản của thằng em tôi da trắng bóc từ thành phố về quê lần đầu tiên cỡi lên lưng con trâu đen trùi trũi của Nội, miệng hò rầm trời: "Ai báo chăn châu la khồ...". Thiệt đúng là:

Mười năm cắp sách theo thầy
Năm thứ mười một vác cày theo trâu!

(?)

Nhưng thằng em tôi nó lại cười ha hả, coi bộ chẳng buồn phiền gì khi bị nghỉ học về quê làm ruộng. Ôi thằng em cực kỳ thông minh và vô cùng khéo tay của tôi! Tính khí ương ngạnh và kém chí tiến thủ với mấy mươi năm lưu lạc đã biến đứa học trò hiền lành dễ thương thành kẻ phong trần bất đắc chí... Số phần nghiệt ngã đẩy đưa xô dạt những mảnh đời non trẻ, buồn hơn là có khi chính mình đã vô tình tiếp tay cho đời mình thêm bất hạnh long đong...

Và có ai còn nhớ bài thơ tả mùa Hè trong Quốc văn giáo khoa thư, đề là "Thơ cổ" nhưng thật ra là của Dương Bá Trạc, một nhà thơ yêu nước:

Ai xui con cuốc gọi vào hè.
Cái nóng nung người, nóng nóng ghê!
Ngõ trước, vườn sau um những cỏ.
Vàng phai, thắm nhạt ngán cho huê.
Đầu cành kiếm bạn, oanh xao xác.
Trong tối đua bay, đóm lập lòe
May được nồm nam cơn gió thổi.
Đàn ta, ta gảy khúc Nam nghe.

Bối cảnh là một mùa hè bức bối ngột ngạt, mọi thứ tiêu điều (Ngõ trước, vườn sau um những cỏ), hoa lá nhạt phai (Vàng phai, thắm nhạt ngán cho huê), lòng mong chờ mãi một cơn gió nồm nam, để tới khi đó: Đàn ta, ta gảy khúc Nam nghe. Sao mà nhẹ nhàng, sao mà dễ thương! Hoàn toàn tự chủ, trọn vẹn thoải mái, vô cùng thanh thản, tuyệt đối thư thái... Khi muốn nghe đàn, ta cứ gãy khúc nhạc ta yêu thích mà không một ràng buộc nào, không một áp lực nào, không một miễn cưỡng nào. Ta tự do trôi người theo cảm xúc bình yên như như... Đàn ta, ta gảy khúc Nam nghe...

Và đây, đố bạn tìm đâu ra đoạn văn cực ngắn hơn trăm năm về trước mà lột tả được sinh động cảnh trí một dòng thác. Chỉ đôi ba dòng đã gây ấn tượng mạnh mẽ vào đầu óc non nớt một đứa bé Tiểu học, khiến cho nó nảy lòng yêu thiên nhiên đến nỗi khi lớn lên có thể cảm động rưng rưng khi đứng trước một quang cảnh kỳ vĩ:


"THÁC KHÔNE - Sông Cửu Long chảy đến Khône thuộc về Hạ Lào, thì có nhiều thác cao tới mười lăm, mười sáu thước và dài đến hàng nghìn thước. Khúc sông ở phía trên thác thì hẹp lại rồi chảy tràn một vùng có đá lởm chởm và rộng tới bốn năm dặm. Phong cảnh chỗ ấy thật là hùng vĩ thanh tú. Dưới sông nước chảy ầm ầm nghe như tiếng sấm; trên núi "cỏ cây chen đá, lá chen hoa". Giữa thác, đàn cá vẫy vùng; xa xa chim trời lênh bênh theo dòng nước chảy. Thác Khône thật là một nơi tiểu sơn lâm mà có đại kỳ quan vậy".

Này là tiểu sử cụ Phan Thanh Giản. Cái chết hào hùng là vậy nhưng vẫn bị một số người đời sau kết tội, tượng thờ bị đập phá tan hoang.


"ÔNG PHAN THANH GIẢN - Ông Phan Thanh Giản làm Kinh lược sứ ba tỉnh phía tây trong Nam Việt. Khi chánh phủ Pháp đánh lấy ba tỉnh ấy, ông biết rằng chống với nước Pháp không được nào, mới truyền đem thành trì ra nộp. Nhưng ông muốn tỏ lòng trung với vua và tự trị tội mình không giữ nổi tỉnh thành cho nước, ông bèn uống thuốc độc tự tử.
Chánh phủ Pháp thấy ông là một bậc vĩ nhân mà chết như thế, lấy làm cảm phục lắm, mới làm ma cho ông rất trọng thể, cho một chiếc tàu chiến đem linh cữu ông về quê ông, lúc chôn có lính tây làm lễ chào".


Và bạn ơi, nếu bạn là người Sài Gòn, thì hãy nhìn lại Sài Gòn của những năm 1900, vốn đã trật tự, hiện đại, văn minh, tiến bộ, để xem ngày nay có còn lưu lại chút gì của ngày cũ, để bùi ngùi hồi tưởng lại không khí lịch sự êm đềm xưa:

"SÀI GÒN - Trước khi người Pháp sang bên ta, Sài Gòn là một nơi có nhiều ao đầm kênh rạch bùn lầy ẩm thấp. Thế mà bây giờ thành ra một nơi đô hội rất đẹp ở nước ta. Người ngoại quốc đã cho là "một hạt trân châu ở Viễn Đông" này. Mà thật thế, bây giờ ở Sài Gòn có nhiều lâu đài tráng lệ, nhà cửa đẹp đẽ, phố xá rộng rãi, vườn tược mát mẻ, nước máy trong sạch, đèn điện sáng choang, nhân dân đông đúc, kể có hơn tám vạn người, buôn bán phồn thịnh, tàu bè qua lại tấp nập cả năm. Đứng trên cao trông xuống, thành phố Sài Gòn chẳng khác nào một khu vườn rộng mông mênh, một màu xanh biếc, lô nhô nổi lên trên ngọn cây những nhà cao lớn, tựa hồ như muốn ganh đua với cỏ cây mà chiếm lấy một chỗ ở trên cao vậy".


Và còn nữa, như hiện ra sinh động trước mắt tôi hình ảnh con ếch phình bụng tròn vo để được to bằng con bò, chị ếch đỏm dáng mang giày quả ớt che dù lá tía tô, con bé Mão ác độc bị mèo cào, thằng Canh bị chó dại cắn, lũy Đồng Hới sừng sững nổi bật trên nền trời, tướng Carnot cúi người chào thầy cũ, hai đứa bé không biết đoàn kết bị tẽn tò khi cầm hai mảnh vỏ bứa còn nhân bứa đã bị người khác ăn mất rồi, người xin việc cẩn thận cúi lượm cây kẹp ghim vào áo, và đây hình ảnh đáng sợ và gây ấn tượng nhứt đối với tôi: thằng bé ở dơ không chịu tắm lâu ngày biến thành rừng cây biết đi ...

Lại thêm một kỷ niệm không vui: Khi cánh đồng bạc hà bạt ngàn xanh um vừa thu hoạch xong, anh Ba tôi bắt đầu nấu lá bạc hà lấy tinh dầu. Những năm đầu 80 mọi vật dụng còn rất thô sơ, cái nồi sắt khổng lồ dùng tinh cất ngốn vào bao nhiêu cần xế lá bạc hà như con quái vật đen ngòm ăn mãi không no. Khi lửa nổi lên un khói mù mịt căn chòi lá, anh tôi nhễ nhại mồ hôi, kiếng cận xệ tuốt gần chót mũi, hai mắt đỏ ngầu trong khói cay như Hỏa nhãn kim tinh Tôn Ngộ Không trong lò bát quái của Thái Thượng Lão Quân, vậy mà vẫn tếu táo ngâm nga:
...
Chém tre đẵn gỗ trên ngàn
Hữu thân hữu khổ phàn nàn cùng ai
Miệng ăn măng trúc măng mai
Những dang cùng nứa biết ai bạn cùng
Nước-giếng-trong-con-cá-nó-vẫy-vùng!

Tại sao bỗng dưng đang trùng trùng dang nứa nơi rừng thẳm lại có giếng nước trong, trong đó vẫy vùng một con cá đơn độc? Tại sao không là trường giang, không là trùng dương cho cá kia thỏa chí phiêu bồng, lại chỉ là một giếng nước trong? Ý nghĩ này ám ảnh tôi rất nhiều năm, cũng như trong "Lưu Nguyễn biệt thiên thai" của nhà thơ Tản Đà, tôi tìm ra chữ "chơi" đắc địa đầy ám ảnh trong câu cuối "Ngàn năm thơ thẩn bóng trăng chơi", mà không tầm thường như "Ngàn năm thơ thẩn bóng trăng soi"!

Tôi nhớ một anh học trò (gọi là "anh" vì lúc học với tôi, người đó lớn tuổi hơn tôi nhiều), trong giờ thực hành Conditional sentences (câu điều kiện), tôi hỏi "Bạn sẽ mua một chiếc Mercedes chăng, nếu bạn có một món tiền lớn?". Anh đó nói "Một xe gắn máy tốt là đủ. Khi tôi đói, tôi chỉ cần một miếng gà, tôi đâu cần tới thịt phượng hoàng!".
Câu trả lời vô cùng thú vị đó tôi nhớ mãi và muốn đem ra dùng để lý giải cho trường hợp "Nước-giếng-trong-con-cá-nó-vẫy-vùng" này. Phải, chỉ cần giếng thôi, có cần chi tới trời xanh biển thẳm...

Và tại sao lại là "giếng trong"? Tôi lại liên tưởng tới câu ca dao sâu sắc và cảm động về bà mẹ cò: "Có xáo thì xáo nước trong, đừng xáo nước đục đau lòng cò con". Phải, anh tôi không cần trời cao bể rộng, anh chỉ cần một giếng nước nhỏ, mà phải là nước trong, để anh có thể thỏa sức bơi lội vẫy vùng trong môi trường thực sự tự do và trong sạch!


Trong hoàn cảnh của anh em tôi lúc ấy, ai mà không mơ được làm con cá nhỏ xíu vẫy vùng trong làn nước giếng trong leo lẻo ấy, có phải?

Lúc đó hai anh em tôi bất giác nhìn nhau, mặt mày lọ nghẹ và nước mắt ràn rụa trong đám khói mù.


Khói cay.
Và đời cũng cay...

Ngậm ngùi! Trở về tuổi thơ với những bài học dạy cho con trẻ làm người tử tế nghe như được trở về sống trong một xã hội biết giữ gìn nhân cách, biết quý trọng nhân nghĩa lễ trí tín... Khi mua chiếc vé trở về tuổi thơ, niềm vui sao quá ngắn ngủi! Bức tranh hiện thức quá ảm đạm khi mọi giá trị đạo đức đều tuột dốc không phanh.
Không thể một mình chấn chỉnh cho mọi thứ trở về trật tự cũ, cũng không thể thoát ra được mớ bòng bong hỗn độn đầy rối rắm của một môi trường sống đầy hiểm họa, há chẳng đáng buồn cho những bậc thức giả trong một xã hội đại loạn nhân tâm ???

-------------------------------------------

Thay lời kết:


“Chẳng ai sống đời đời kiếp kiếp, chẳng cái gì vĩnh viễn không phai. Này, người anh em, nhớ kỹ điều đó và vui lên mà sống.

Đời ta đang sống đâu phải gánh nặng duy nhất từ xưa để lại; đường ta đang đi đâu phải cuộc hành trình đơn độc dài vô tận, vô cùng.

Một thi nhân riêng mình chẳng phải viết bài ca trường cửu. Hoa nở rồi tàn; nhưng ai đó đã cài hoa lên áo cũng chẳng cần khóc thương hoa mãi mãi bao giờ. Này, người anh em, nhớ kỹ điều đó và vui lên mà sống.
Đối với ta tri thức là quý báu, vì lẽ không bao giờ ta có đủ thời gian nắm thâu tất cả. Mọi việc đã được hoàn tất và an bài ở trên Trời vĩnh cửu. Nhưng chết chóc đã giữ cho hoa ảo mộng của trần gian vĩnh viễn mát tươi. Này, người anh em, nhớ kỹ điều đó và vui lên mà sống”.

(Rabindranath Tagore - Tâm tình hiến dâng)

(Đỗ Khánh Hoan dịch)

 

TCQN
SG, 8/11/2017

(HẾT)

_____________________________

 

 

TÔI ĐỌC "ĐI LOANH QUANH VỚI... TRẦN BANG THẠCH"

Và cứ giữ nghe em
những ngày xưa ấy
Giữ giùm ta một góc trời quê
để hồn ta còn có chỗ trở về
khi đất lạ ta mồ xanh cỏ.

(Có một chỗ để về - Nguyễn Cát Đông)
(Trần Bang Thạch)

 

 

1. Tôi vừa được một huynh trưởng đồng môn ở hải ngoại gởi cho bài viết hết sức thú vị: Nhà văn Cao Vị Khanh bình văn nhà văn Trần Bang Thạch với tựa đề "Đi loanh quanh với... Trần Bang Thạch". Bài viết hết sức giản dị mà hóm hỉnh, sâu sắc. Thứ giản dị mà mọi người cầm viết đều ước ao vì tuy văn phong gần gũi đơn sơ nhưng nó rất cô đọng và chuyển tải vô số thông tin và cảm xúc.

 

Phần nhập đề của Cao Vị Khanh thiệt là dài, cố ý nói ba đồng bảy đỗi để giới thiệu một Trần Bang Thạch "lẩm rẩm vậy mà thâm", một Trần Bang Thạch "lẩn tha lẩn thẩn, lúc tha lúc thúc một mình, chớ ai mà rảnh rỗi đi cùng!", một người chừng như đứng ngoài lề cuộc đời mà hiền lành ngó ngấp và kể lại những chuyện hết sức bình thường, những chuyện "đầu trên xóm dưới gần xịt", những chuyện "ối-hơi-đâu-mà-nghe", những chuyện "lụn vụn lặt vặt" mà không đơn giản chút nào vì "cuộc đời vốn trăm mặt mà ông Trần Bang Thạch này ổng còn muốn lôi ra cái mặt thứ một trăm lẻ một nữa là khác"! "Ông ngắm nghía so đo cân nhắc để tìm cái chỗ-thương-cho-được (mà thật ra có cuộc đời nào mà không đáng thương giữa cái cõi đời rất đáng ghét này)"

Cao Vị Khanh cho rằng văn Trần Bang Thạch "nhẹ hều", chữ nghĩa "êm ru bà rù" nhưng làm cho người ta đau "thấu tuột vào tới ruột gan", là lối viết "của một người tốt bụng" vì "buồn vui hờn giận gì cũng nhẹ nhàng thanh thản".

 

Tôi biết khen Cao Vị Khanh dùng chữ dễ thương-gì-đâu và chính-xác-không-sai-một-li-ông-cụ thiệt giống như "khéo khen phò mã tốt áo", nhưng thiệt tình không thể vì một nhà văn đã quá  được yêu mến mà mình không cần ngợi khen thêm nữa! Nếu bạn là "fan cứng" của Trần Bang Thạch (tôi mạn phép xài chữ mới chế của tụi nhỏ bây giờ) phải thấy nhận xét này của Cao Vị Khanh là không sai vào đâu: "Lật tới lật lui những mảnh đời" với "cái nhìn xuất phát từ tâm địa rất lành, lành như văn ông"! Và "Đôi khi để làm một việc ngó bộ nhỏ nhoi lại phải cần một tấm lòng vô cùng quảng đại"! Và nữa: "Ông cảm được hết, kể cả những hạnh phúc rất trái cựa, những đau khổ rất lặng lẽ, những oái oăm ẩn nấp đằng sau cái vẻ nhởn nhơ của những nếp đời rất mực phẳng phiu". Ôi perfect!

 

Quả thật không phải ngẫu nhiên mà Cao Vị Khanh đã đem vào bài bình văn câu thơ hay xuất thần của Trần Tử Ngang thi sĩ lừng danh đời Đường trong "Đăng U Châu đài ca": "Niệm thiên địa chi du du" (Ngẫm đất trời mênh mông vời vợi - Hoàng Nguyên Chương dịch) vì chỉ có những người đã từng chứng kiến và trải qua bao cảnh vật đổi sao dời, nhân tâm biến loạn, mới có thể làm ta bất giác cũng "Độc sảng nhiên nhi thế hạ"! (Lệ bỗng rơi thương cảm mình ta - Hoàng Nguyên Chương dịch).

"Ai cũng có một nỗi lòng". Đó là lời nhận xét của Cao Vị Khanh khi nhắc tới các tác phẩm "chuyện-đời-ta-ở-xứ-người" của Trần Bang Thạch. Nó làm tôi chợt liên tưởng tới câu nói của con Bảy đưa đò trong tập truyện "Hương rừng Cà Mau" của nhà văn Sơn Nam, vì cái "nỗi lòng" đó nó cũng là "tấm lòng" ở văn phong Trần Bang Thạch: "Ở đây, hồi đó có người nói là cần "một tấm lòng"!

 

Tới cái ý nghĩ vô cùng dễ thương và nao nao tâm sự kẻ tha hương khi chọn mua cái nhà chỉ vì hai hàng me keo! Thứ cây dại ở miền Nam đi đâu cũng gặp, vậy mà nó lại đưa đến một quyết định trị giá gần cả gia tài! Như những người xa xứ kiểu "ngựa Hồ hí gió Bắc", ráng xoay sở trồng một bụi tre một cây chuối để ngày ngày chăm sóc cưng như con mọn rồi thơ thẩn ngắm hoài không chán và đêm đêm không ngủ cứ nghe tiếng lá reo xào xạc, tiếng cong cong lớt phớt dưới mặt sân, mơ một ngày về rũ nắm xương tàn nơi chôn nhau cắt rún, mà gẫm chừng khó thành hiện thực! Tôi lại nhớ Má tôi hơn bốn mươi năm trước khi lạc loài nơi đất lạ, đã trả giá cao để mua cho được căn nhà bình thường và miếng đất nhỏ chỉ vì nó có tượng Phật Bà trước sân. Pho tượng cao chừng mét rưỡi với gương mặt hiền lành kiểu Á Đông và chéo áo phất lên như đang lướt trên mây trong gió biển Nam Hải. Tượng thạch cao trắng tinh khiết và dáng Phật Bà thanh tú nổi bật dưới bóng râm của rặng tre thân vàng và lá xanh um lạ lùng trong vùng đất cát trắng dã bạc màu xứ rừng Long Khánh.

 

Cao Vị Khanh cũng tha thẩn như đứa trẻ đa cảm lượm lên nâng niu từng viên sỏi đẹp thanh tao trắng muốt có những sợi gân tim tím đẹp lạ kỳ trong văn chương Trần Bang Thạch. Đó là những chữ "đổ" trong "thức ăn dư thừa (của bà mẹ già nấu sẵn “dụ” mấy đứa con về ăn mà nó… không về) bà còn có thể đổ đi, còn nỗi buồn của người mẹ già nua… bà biết đổ đi đâu!". Rồi chữ "thỏi" trong "sáng sáng vừa đi bách bộ vừa nghe chim hót trên ngọn me keo, vừa thấy lòng mình đang mọc cánh bay về một thỏi cù lao bên bờ sông Hậu". Quả thật khó thể nặn óc để tìm và thay thế được những chữ nào xuất thần như vậy. Lại làm tôi nhớ chữ "chơi" vô cùng đắc địa trong "Tống biệt" của Tản Đà: "Ngàn năm thơ thẩn bóng trăng chơi". Không là "soi", không là "thanh", cũng không là "xưa", trời, chữ "chơi" sao rợn người khi gợi ra hình ảnh ánh trăng xanh xao lạnh lùng lướt thướt nơi "Cửa động, Đầu non, Đường lối cũ". Chữ nghĩa Trần Bang Thạch cũng diệu kỳ y vậy!

 

Tới đây, tôi không thể dừng ý nghĩ muốn đập tay Hi-five một cái cùng ông, nhà văn Cao Vị Khanh!

 

2. Tôi biết Trần Bang Thạch lâu thiệt lâu rồi, từ lúc chẳng biết ổng là ai, và từ cái thuở mới ti toe học đòi dùng máy tính. Lúc đó nhờ thằng nhỏ tậu cho cái địa chỉ mail mà mình tưởng chừng như mình làm được việc gì "đại sự" lắm, và rồi liên lạc qua lại với mấy đứa bạn cũ, tình cờ có đứa nó gởi cho truyện ngắn "Thủy táng" tác giả là Trần Bang Thạch. Trời ơi tôi đọc tôi khóc hết nước mắt.  Không phải chỉ chảy nước mắt lặng lẽ mà khóc quặn người hu hu thành tiếng ... Lâu lâu giở ra đọc lại, khóc y như đọc lần đầu! Trong bụng tôi nói Trần Bang Thạch là cái ông nào viết truyện hay bất nhơn! Lúc đó tôi còn khờ me lắm, chưa biết surf ra sao cũng chẳng biết search để tìm thêm thông tin về tác giả, nên tôi in ra truyện đó trên giấy dày A4 để lâu lâu lấy ra cầm đọc cho dễ. Cũng cần nói thêm nhà có cái máy in HP mà ít khi xài tới vì mực nó mắc như quỷ, khi nào cần in tài liệu luyện thi cho học trò thì đem ra tiệm in rồi photo rẻ hơn nhiều. Những bản in tại nhà phải là những trường hợp rất đặc biệt, in đáng đồng tiền bát gạo, không thấy xót tiền.

 

Ít lâu sau đó một đứa khác gởi cho tôi truyện ngắn: "Gặp ông Khương Tử Nha" cũng của ông Trần Bang Thạch, trời ơi tôi lại "lã chã châu sa", vì cứ như thấy hiển hiện trước mặt một ông Khương Tử Nha râu tóc trắng xóa đang ngồi "thả hồn trên bọt sóng", chẳng màng đến chuyện thế sự thăng trầm... Rồi tôi chợt cũng muốn làm một ông "Hi" (vì tác giả và ông già Cuba này không biết tên nhau, gặp nhau chỉ chào "Hi") để có thể nói câu "Có lẽ vì chúng tôi cùng nhìn về quê hương mình ẩn hiện phía sau những con sóng bạc ngang đầu. Hình như màn đêm làm chúng tôi nhìn rõ quê hương mình hơn". Cho dù quê hương ở ngay dưới chân tôi đây chớ chẳng đâu xa...

 

Rồi một ngày anh bạn học cùng ban C ghé thăm và cho hay: "QN biết trang web trường mình bên Mỹ hông? Ủa hông biết hả? Vô đọc đi, nhiều bài hay lắm. Cứ gõ ptgdtd usa là ra hà!".

Buổi tối tôi lật đật vô liền: Đúng vậy, bao nhiêu thứ để xem! Rồi thiệt bất ngờ tôi thấy cái tên Trần Bang Thạch ở ngay trang đầu! Ủa té ra ông Trần Bang Thạch này ổng là huynh trưởng đồng môn của mình! Trời lọt vô đúng ổ truyện của ổng, như trúng số! Lúc đó thiệt tội nghiệp cặp mắt yếu ớt của tôi, ngấu nghiến riết tới mấy tép nhỏ mắt Cationorm luôn làm bạn đồng hành!

 

Tôi rất thích lối nói đặc biệt miền Nam của ông với những chữ "nhen, hén...", mới đọc tự nhiên đã thấy thân thuộc. Và cái cách ổng diễn tả, nói khơi khơi mà nghe buồn thúi ruột: "Thấy buồn như thỏi đất An Trụ cô đơn quạnh quẽ ngàn năm nhoài mình ra dòng sông Bassac"... Với tâm sự "Cây quất bứng từ nước Yên sang trồng bên nước Tần"... Đặc biệt nhứt là cách kể chuyện theo kiểu "Lã Sanh Môn" (Rashomon - Án mạng trong rừng trúc - Đạo diễn Akira Kurosawa ) qua lời nói của những nhân vật khác nhau xoay quanh câu chuyện (Thầy giáo làng, Chấp chới bàn tay mẹ, Điều chưa kịp nói với Ba, Bóng tối ngọt ngào...).

 

Tôi còn nhớ lâu rồi anh Nguyễn Trung Quân cựu hiệu trưởng PTG có lần ghé tặng tôi một chồng sách Phật và sách Thiền, có lẽ ý anh muốn tôi quên đi những bất hạnh trong quá khứ mà tìm vui trong Phật pháp và Thiền định để gột sạch tâm hồn luôn nặng nề với những ký ức buồn thương. Nhưng tôi là đứa "tâm viên ý mã" nên tuy tôi ngồi một chỗ ráng tập trung mà cái đầu tôi nó cứ chạy nhảy tứ phương. Chính đại tật này nó làm tôi đọc truyện Trần Bang Thạch mà liên tưởng tới đủ chuyện trên trời dưới đất: Đọc "Xuân sớm" cảm thương ông già Phước cũng "ông này ông nọ" nơi quê nhà, mà qua bên đó cam chịu cả đời làm dân "blue collar", rồi rảnh rỗi cứ đi lượm lon nhôm để mót tiền gởi về cho những thuộc cấp bất hạnh hơn mình, thì chợt nghĩ tới những người học thiệt cao bằng cấp cả nắm mà qua trời Tây chỉ biết vinh thân phì gia.

Đọc "Ngoại tôi và dòng sông nhỏ" xót thương cho người phụ nữ chung thủy và cang cường "một thân một mình chèo chống trên sông tìm hoài cái đầu (của chồng) đã mất", tình tiết vừa lôi cuốn vừa buồn thương cảm động. Cuộc báo thù cho chồng của bà làm tôi thoắt nhớ tới những "vendetta" đẫm máu nơi đảo Corse, và hình ảnh Quan Vân Trường lơ lửng trên mây cứ mãi mê ngộ đi tìm cái đầu của mình ở núi Ngọc Toàn, dù nó không dính dáng gì tới nội dung truyện.

 

Trong "Người đuổi bắt dĩ vãng", với giọng văn thật đặc biệt và lôi cuốn người đọc mãi bám theo tâm tình một người đàn ông không còn thiết sống đi mãi về phía triền núi và sa chân xuống vực, vậy mà câu kết vẫn như một nắm bông gòn nhẹ bâng: "Nhiều ngày hôm sau một thằng bé con đi chơi lang thang trên bãi cát, nó thấy một bộ xương người mà nó tưởng là bộ xương cá đuối. Nó nhấc bộ xương gối trên kè đá, để ngày ngày làm một món đồ chơi". "Tuyết trên đỉnh Kilimanjaro" của Ernest Hemingway và "Bản chúc thư trên ngọn đỉnh trời" của Mai Thảo, cũng tâm tình một con người hữu hạn luôn luôn khát vọng về vô hạn, cũng hay đến vậy là cùng!

"Đêm gầm gừ. Đêm xếp cánh. Đêm đi": Những câu ngắn sắc gọn trong "Thả khói lên trời" ám ảnh tôi nhiều ngày. "Tượng Phật" với địa danh "Ngã Ba An Trạch" là một sự trùng hợp diệu kỳ giữa tôi và tác giả, vì nó mở ra cho Má ông một con đường mới chấm dứt cuộc hôn nhân buồn thảm, nó lại từ đó khép cuộc đời của Má tôi trong gia đình giàu có bên chồng!

"Sư bà Thích Nữ An Trụ gõ mõ đi trước quan tài. Nước mưa hay nước mắt đã làm ướt đôi mắt của một nhà sư". Câu kết chỉ vậy thôi mà ngầm kể cho ta nghe cả một chuyện tình buồn của "Thầy giáo làng" với hồi kết là cuộc đời cô độc và cái chết yên bình của ông Thầy già, lối diễn tả rất nhẹ nhàng nhưng làm người đọc rưng rưng theo tâm tình ni sư tội nghiệp. Câu chuyện cũng đưa ta về những câu thơ bất hủ của thi sĩ Hồ Dzếnh: "Ta nằm trong ván trông ra..." nhưng không phải kiểu "Tủi thân vì thấy người hoa vẫn cười", mà ông Thầy hồn lơ lửng nhìn xuống những đứa học trò nhỏ xíu ngày nào giờ đây đã thành nhân chi mỹ và đang buồn rầu đội tang trắng khóc thương ông.

Thỉnh thoảng ta cũng phì cười với cách dùng chữ thật tếu của Trần Bang Thạch mà nghe ra rất thấm: "Nhà cửa thoạt nhìn như một tổ ấm, nhìn lâu thì thấy tổ ong". Thấm vô cùng...


Cũng mỉm cười mơ về một thời thơ trẻ hồn nhiên nơi quê nhà: "Ưỡn ngực, vung tay cũng không ôm hết đất trời tinh khiết. Tai có mở rộng cũng không chứa hết tiếng líu lo của từng bầy chim trong vườn cũ".

Bổi hổi bồi hồi với mối tình già chung thủy và sự biết ơn của người chồng khi "Cây thập giá đời cả ngàn năm sau đã rơi xuống đôi vai mỏng như lá mềm như sương của người con gái đất Long Hồ (và của hầu hết những phụ nữ miền Nam)" (Căn nhà mùa Xuân).

"Có khi dưới chân, nước là những con bạch tuộc có hàng trăm vòi. Là máu. Là cái bụng sình chương. Là đôi con mắt thiếu tròng. Là giọt máu phun ra từ cái đầu xanh non như lá cỏ. Sóng nước ở một bãi bờ xa lạ trong một đất nước bỗng nhiên xa lạ đã thủy táng hai người thân yêu nhứt của ông bà giáo già. Nhưng mà, lạ chưa, bây giờ ông bà cũng muốn sống hết đời ngay trên những lớp phong ba của một dòng sông dữ! Ôi! Cũng là một cách thủy táng đau thương! Ông bà ngồi đây mà tâm hồn thì đang bập bềnh trên sóng nước. Muôn đời oan hồn người con trai duy nhứt và đứa cháu nội duy nhứt đang trôi nổi bồng bềnh đâu đây trong khói, trong sương, trong màu chiều đỏ như máu và trong màn đêm đen như mực". (Thủy táng). Ôi, những câu văn đầy ám ảnh! Tôi không thoát ra được truyện ngắn này trong nhiều ngày. Tôi như nhập luôn vào trong đó, ngập ngụa, ngột ngạt, và đau đớn: "Trời nước mênh mông, phong ba cuồng nộ đã chôn sống hai (những) người thân yêu nhứt của họ (tôi), cũng đang chôn sống thể xác họ (tôi), nhưng không chôn hết được nỗi buồn của người bỗng khánh tận lúc cuối đời"!

Và nữa, nếu ngày xưa tôi yêu mến "Tôi đi học" của Thanh Tịnh với "Hằng năm cứ vào cuối thu, lá ngoài đường rụng nhiều và trên không có những đám mây bàng bạc, lòng tôi lại nao nức những kỷ niệm hoang mang của buổi tựu trường. ..."  bao nhiêu, thì sau này tôi thích "Tôi đi học" của Trần Bang Thạch bấy nhiêu, vì nó không phải đơn giản là tâm trạng của đứa con nít đi học với những cảm xúc đầu đời, mà là "trang đời cũ đang được mở ra, những ước vọng đang hình thành". Vì tôi cũng như người trung niên trong truyện, "một trang đời đầy ắp chữ nghĩa đã bị (tức tưởi) xếp lại, đóng lại suốt ba mươi năm". Khi con cái đã khôn lớn, ông trở lại giảng đường lòng cảm khái khôn nguôi, cứ lẩn tha lẩn thẩn nơi khuôn viên đại học khi tất cả giáo sư sinh viên đã ra về, để ngui ngút nhớ lại chuyện xưa và kéo dài cái giây phút hạnh phúc được đi học lại: "Cái hụt hẩng này phải đợi tới hơn hai mươi năm nơi xứ người, phải đợi đến hôm nay mới được tiếp nối". Ông đã may mắn hơn tôi rất nhiều, vì trang đời của tôi đã không bao giờ được mở ra, nếu có cũng chỉ là hưởng ké cái cảm giác rạt rào bâng khuâng của ông khi được ôm cặp trong tay, cho nên tôi cứ mãi mãi muốn ở lại trong truyện của ông và chết luôn trong đó, không muốn bước chân ra ngoài, nơi thực tế đáng chạnh lòng này! Cô giáo sư trẻ người Mỹ của ông không hiểu tại sao có một sinh viên già cứ quẩn quanh trong khuôn viên đại học không chịu ra về, nhưng tôi, bà giáo già này thì hiểu vô cùng, thấm vô cùng, và ước ao được đứng ngẩn ngơ nơi đó như ông vô cùng, dù biết rằng ao ước đó mãi mãi là không tưởng!

 

 

Vẫn còn vô số những "Cầu Bà Nội", "Chuyện New York một ngày", "Ông già trên bãi rác số Mười", "Đem theo ngày xa xứ", "Cắt ruột thả xuống biển Đông", "Hai màu áo trong ngày...", "Chuyện một người lính Hoa Kỳ", "Người ngậm tăm suốt ngày"... Sao trong câu chuyện nào của Trần Bang Thạch tôi cũng thấy thấp thoáng có một chút hay rất nhiều mình trong đó, để cùng cười, cùng khóc, cùng cay đắng ngậm ngùi với mỗi nhân vật của ông trong thời khắc "Giờ thứ 25" !

Nhiều khi tôi lan man vẩn vơ ngẫm nghĩ, làm một nhân tài thật hạnh phúc, hạnh phúc cảm nhận cho riêng mình và còn đem đến hạnh phúc vô cùng cho tha nhân. Với ý nghĩ đó, tôi cảm ơn nhà văn Trần Bang Thạch đã mở ra cho chúng tôi những người đồng thanh đồng khí một chân trời văn mênh mông bát ngát, cho dù chân trời đó có đủ hỉ nộ ái ố, mà "ai" luôn luôn nhiều hơn "lạc"!
 

SG, 12/08/2020

Trần Cẩm Quỳnh-Như

 

 

                                              MÙA THƯƠNG NHỚ

1. Nắng tháng Năm oi nồng rền rỉ tiếng ve... Mùa hè thanh xuân vẫn là mùa hè xưa với xác phượng trải đường như xác pháo, cuộc chia tay ngập ngừng của những mối tình học trò thơ dại. Nhưng với tôi, những mùa hè thơ ngây đã lùi lại mãi tận phía-sau-của-quá-khứ. Nghĩa là đã xa lắm rồi! Để tôi cứ mãi chắp tay mặc niệm cho một quá-khứ-gần với nhiều chia ly và tan tác.

Cũng trong một ngày hè, tôi cứ nhớ mãi những người vợ và người mẹ tội nghiệp, sống cúi đầu và chết vô danh, cực nhục một đời, ê chề một đời, lam lũ nghèo khó một đời, thương nhớ chồng con thắt lòng một đời, và bị quên lãng một đời, bên cạnh những phụ nữ được vinh danh với quà hàng hiệu và hoa đắt tiền.

Tiếng ve không còn trong veo tươi vui như những ngày xưa cũ. Nó thành đắng gắt và chát chúa như khoan xoáy vào tai. Sắc phượng hồng không còn sáng bừng như tương lai, mà đỏ lói như tung máu giữa trời xanh.

Sống nhiều để làm gì? Tuổi già ác độc! Ban ngày nó nhuộm xám tròng kiếng tôi, khiến cho tôi cứ thấy ghê sợ những gương mặt tà ác giả nhân giả nghĩa; đêm đêm nó rủ về những thanh tân, vô ưu và vàng son, cho tôi thêm buồn cười và tội nghiệp cái tôi ngày càng già cỗi , lãng đãng, bệnh tật, lẩm cẩm, cứ ước gì tâm hồn được chai sạn dần lên, nhưng như một nghịch lý hết sức đáng ghét: vốn được thầy Lê Văn Quới đặt chết tên Lâm Đại Ngọc vì bịnh đa cảm, giờ đây tôi càng "bánh bèo" gấp nhiều lần hơn: tôi có thể không vì lý do gì, khóc bi lụy như Mạnh Khương khóc chồng, nước mắt cứ xoắn lấy con tim đến nghẹn thở, cảm giác thổn thức đè nặng cả lồng ngực, nhứt là khi nghe một nhạc phẩm xao xác tiếng còi tàu nhói lòng hay đì đùng tiếng súng trận xa xa, hoặc khi đọc một bài thơ tưởng nhớ một bóng hình thân yêu của một thời u uất đến tận cùng.

2. Chữ viết cũng là một kỷ niệm đã xa! Chẳng biết thời đi học có đứa học trò nào như tôi, thương thật nhiều nét chữ của mình! Mỗi khi chép bài, làm luận, thậm chí mãi đến khi đã ra dạy học, lòng luôn luôn nhẹ nhàng bâng quơ thích thú khi viết ra nét chữ của mình, cảm giác dịu dàng rung động như cánh bướm non.

Mười năm nay bệnh khớp ngày càng nặng, mấy khớp tay sưng đau đơ cứng, chữ viết thế là cứ nghiêng ngiêng như người cô độc luôn đi cúi đầu, không còn tròn trịa nữa mà góc cạnh tùm lum. Bây giờ mỗi khi nhìn lại các tài liệu dạy học đã soạn lúc trước, thấy chữ mình đều tăm tắp và tròn vo như con ốc gạo, ngậm ngùi lắm, cảm giác như đã xa một người bạn rất đỗi thân yêu!

Những người thân đã lần lượt bỏ tôi đi hết, giờ ngay cả chữ viết của tôi nó cũng bạc lòng quay lưng!


Điều đó như cũng minh xác cho việc rất nhiều thứ đã xa lắc rồi, và rõ ràng là tôi đang từng bước lò dò đi về phía triền dốc phía bên kia cuộc đời!

3.
Ta lần mò leo mãi không qua được vách sầu
Ta tìm một tiếng yêu thấy toàn là sầu đau
Ước vọng ngày thơ ấu chưa xin được chút nào
Suốt đời còn ước ao khát vọng còn cấu cào
Ôi thôi đời ta phung phí trong cơn buồn phiền
Ta xin tháng ngày rồi bình yên
Ô hay tại sao ta sống chốn này
Quay cuồng mãi hoài có gì vui
Có một lần mất mát mới thương người đơn độc
Có oằn mình đớn đau mới hiểu được tình yêu
Qua dầm dề mưa tuyết mới vui ngày nắng về
Có một đời khóc than mới hiểu đời đá vàng

(Đời đá vàng - Vũ Thành An)

https://www.nhaccuatui.com/bai-hat/doi-da-vang-xuan-phu.dsIG88l5YkfB.html

Trời ơi sao như nói hộ lòng mình! Nhưng làm sao những lời nhạc u buồn và thanh tao này lại có thể được viết ra bởi một nhạc sĩ bị mang tiếng một thời chỉ điểm? Không biết bên trong có gì uẩn khúc? Lại còn nói ông bẻ ngoặc cuộc đời trở thành phó tế để sám hối cho tội lỗi của mình! Như một thói quen tôi luyện mấy chục năm nay, trước một nguồn tin tôi hay dè dặt chỉ tin một nửa: Thời đại bão thông tin này đúng là "đời đá vàng" mà đá luôn nhiều hơn vàng, nên ai cũng vỡ đê niềm tin! Người phạm lỗi bị thế gian nguyền rủa muôn đời - ngay cả kẻ đại gian ác như Tào Tháo khi dùng xong kẻ phản bội chủ tướng còn lập tức đem giết chết, huống hồ người đời vốn thích sướng miệng lên án người khác trong khi đầy người ướt lầy nhơ nhớp!


Trường hợp bị đổ oan thì sao nhỉ? Nguyễn Trãi, Phan Thanh Giản... Có lẽ cũng đành một mình câm lặng cho đến lúc tan theo mây trời... Rồi nhiều thế hệ trôi qua, người chết đã chết rồi, hậu thế đòi con cháu họ hãy quên đi và tha thứ!

Tôi chợt liên tưởng đến nhân vật Marguerite bị chồng phản bội trong một phim xem đã lâu quên mất tên, cứ ngồi nhìn mãi chiếc giường của đôi lứa, nơi đó không còn gợi nhớ những phút giây kỳ diệu và cảm động khi cô và chồng ôm siết nhau mặn nồng ân ái, chỉ còn ký ức méo mó về hình ảnh gối chăn xô lệch quyện hai con thú người - chồng cô và tình nhân - mê mãi quấn lấy nhau, trên chính cái giường của cô, quằn quại và kinh tởm.


Bạn bè khuyên Marguerite nên quên đi và tập tha thứ. Họ cao đạo giảng cho cô hiểu là dại khờ khi cứ mãi ngóng về quá khứ vàng son một thuở, là u mê hẹp hòi khi cứ mãi khắc ghi những phút giây thảm họa đáng nguyền rủa, chỉ tổ dằn vặt u uất kéo mình xuống chính địa ngục lòng mình.


Nhưng cô không quên được, chỉ một nguyên do hết sức đơn giản: Vì chính cô mới là người mất mác, còn những người khuyên cô quên và tha thứ họ chẳng mất mác thứ gì, lắm khi còn được lợi từ bất hạnh của cô. Cho nên cát trong chân ai người nấy xót, nếu chính những kẻ lên giọng cao đạo đó trở thành nạn nhân, có lẽ họ không chịu đựng và u uất như cô đâu, mà đã giải quyết mọi hận thù bằng máu!

4. Trong xóm tôi thỉnh thoảng có một người bán kem dạo đẩy chiếc xe nhỏ vào bán trong xóm với điệu nhạc quen thuộc mà mấy đứa con nít hát đặt lời nhại theo thiệt tức cười: "Không có tiền, không có tiền thì không có kem!". Thùng xe sơn xanh úa ngã màu loang lổ, hai quai gỗ làm tay đẩy lên nước bóng ngời. Anh lui tới xóm tôi dễ có hơn hai mươi năm rồi, chiếc nón tai bèo xùm xụp bạc thếch, dáng người muôn đời đen đúa khắc khổ với chiếc sơ mi mỏng te bạc màu rộng thùng thình, giờ có khác chăng là mái tóc mỏng hơn và thêm nhiều sợi bạc, còn gương mặt vẫn hốc hác đến trơ xương gò má với một con mắt lúc nào cũng u buồn hay cúi xuống cặm cụi chớ ít khi nhìn mặt khách, có lẽ mặc cảm muốn giấu con mắt còn lại không tròng khuyết lõm vô hồn.

Con nít bây giờ đâu còn thích ăn kem xe bán dạo. Chúng nó thích đi siêu thị sang trọng ăn kem Wall's, Cornetto, Celano, hay kem Ý có cái chóp nhọn nhọn hình xoắn ốc... Bọn trẻ cũng thích mua đồ ăn "hiện đại" như pizza, sushi, sashimi, gimbap... làm sẵn trong hộp, đem về cũng chưa vội ăn, chúng trang trọng bày ra bàn chụp hình "cúng FB" khoe bạn bè, đâu có như xưa vô tư đứng tại chỗ ăn chuối xào dừa, ăn xong còn lè lưỡi liếm sạch sẽ cốt dừa trên lá chuối, không chừa một hột mè!


Đâu còn cái cảnh đám nhỏ trần trùi trụi bu đen bu đỏ xe kem hay xe kẹo kéo mà quay số để reo hò hay cười nhạo khi chiếc kim chạm số! Đâu còn hình ảnh thằng nhỏ hau háu nhìn ông bán kem thao tác nhanh nhẹn rọc cái bánh mì ngọt tròn ủm một nhát gọn hơ rồi cho cục kem vào giữa bằng cái kẹp múc kem inox chuyên dụng; và chừng như thằng nhỏ không thể đợi được đến khi trao tay, nó quăng mấy đồng bạc lăn leng keng lên mặt thùng xe, giật lấy cái bánh mì kẹp kem, vừa chạy vừa ngoạm vào bánh, kem tràn ra hai khóe miệng, hai mắt sáng ngời khi vị giác được kích thích đẩy lên tới nấc cuối cùng!

Cứ thế người bán kem vẫn lầm lũi đi về, dù ít thấy đứa nhỏ nào trong xóm kêu kem. Mùa mưa anh hay núp dưới mái hiên đối diện nhà tôi, nhìn thơ thẩn lên bầu trời xám xịt, hay ngó qua ngắm mãi mặt tiền nhà tôi, cũ kỹ và nhỏ nhắn được ngụy trang rất kỹ bằng hoa giấy nhàn nhạt hồng một bên và sử quân tử đỏ rực một bên, với mấy dây trầu bà lã lơi đong đưa, khóm linh lăng lẳng lơ với tay chọc ghẹo bụi vạn niên thanh xanh mướt như cẩm thạch, đứng chen vào đám hỗn độn đó vượt lên cây tắc xum xuê chỉ tốt lá nên chủ nó cắc cớ treo chục trái tắc giả, ngày qua ngày những trái tắc cứ hãnh mặt vàng tươi mơn mởn chẳng chút mặc cảm mình là đồ giả, làm bao khách qua đường đứng lại suýt xoa.


Anh bán kem cứ ngước nhìn mãi, không biết chỉ để chờ mưa tạnh, hay lòng mãi ước ao có được một căn nhà nhỏ xíu như vậy nơi thị tứ, để vợ con có chỗ trú ngụ không phải chui rúc trong dãy nhà trọ tận ngoại ô nóng hầm hập như cái lò bánh mì vào mùa nắng hay dột ngoi ngóp và đường mòn vào nhà lầy lội vào mùa mưa...

5. Những ngày chôn đời nơi rẫy rừng sau 75, tôi cũng có biết một anh bán kem.


Cuộc đời đang tươi đẹp biết mấy, mười ngón tay búp măng chỉ quen với cây viết nhẹ nhàng, bỗng xước máu với cỏ tranh, sưng phồng với cày cuốc... Xa thành phố, thị trấn cũng chẳng gần, chậc, cái thời nghèo đói sau 75, mấy đứa tôi đang sức ăn sức lớn, cái gì cũng thèm. Mấy thứ bánh men, bánh tai heo, thèo lèo, bánh kẹp... mà bây giờ người ta đem cúng cô hồn ở gốc cây, ngoài lề đường, con nít không thèm lượm, vậy mà mỗi lần đi chợ xã mua về là cả đám xúm nhau trợn mắt mà ăn. Còn nhớ ngày trước kem Foremost thần thánh ngon lịm người, thơm béo mà mịn chắc dẽ dặt chớ không phải lờ lợ xốp xốp như kem Vinamilk đóng hộp bây giờ. Tới khi về rẫy, trời ơi, cây kem hình ống cắt khúc, khi bán thì đóng bụp bụp cái que tre chuốt sơ sài còn lông lá te tua, kem ký thì mềm èo, lờ lợ, hỉnh mũi ngửi hoài hèn lâu cũng chẳng thấy mùi cốt dừa ở đâu, vậy mà xúm lại ăn không kịp nuốt.


Đôi ba ngày ông bán kem mới chạy xe ngang rẫy, chiếc xe cọc cạch cũ như không thể nào cũ hơn, nó run lên theo mỗi vòng bánh xoay và có cảm tường như có thể bung bét bất cứ lúc nào, bánh đi đằng bánh, khung đi đằng khung...

Chủ nhân của nó cũng chẳng hơn gì, ốm tong teo và đen nhánh như một nhành cây khô. Thằng em tôi tếu táo nói ông bán kem có đôi lông mi bò và ánh mắt con trâu! Ví von thật khiếm nhã nhưng quả thật không thể nào đúng hơn: lông mi anh thật dày và dài, không cong mà thẳng đơ. Và có bạn nào thử quan sát ánh mắt của con trâu, lúc nào cũng xa xăm vời vợi buồn muôn thuở!

Mỗi khi nghe tiếng chuông leng keng anh còn xa tít ngoài gò mối, là đám con Chiêu Hà, con Ngọc Thố, con Cỏ May sủa rân nhảy tửng lên mừng rỡ (vì tụi nó cũng có phần), còn tôi thì quơ vội cái nón lá chạy ra đón đường. Cái anh bán kem thiệt là, buôn bán gì mà tay chân cứ run lóng nga lóng ngóng, và lắp bắp xin lỗi khi phải múc kem bằng muỗng múc canh. Anh nói xe chạy tưng đường ruộng văng mất cái kẹp múc kem inox của anh rồi. Nói mà giọng muốn khóc, đôi mắt buồn thoáng ánh nước, thiệt là thương! Nhìn bàn tay anh những ngón dài thon thả, tôi đoán có lẽ trước đây anh sống đời công chức, chưa từng mua bán cắc củm hạ bạc... Chuyện này cũng thành bình thường trong thời gian đó thôi mà, vì tất cả thoắt cái đều biến dịch bể dâu.

“Danh sĩ kim trùy thạch
Tướng quân học tú hoa
Phu nhân cánh hạ hải
Tiểu thư diệc đảo sa
Bộ trưởng cam ti siển
Tài thần nhẫn xuất gia
Chỉ nhân đào họa loạn
Luân lạc đáo thiên nha”.

(?)

(Danh sĩ đi xay gạo giã thịt, Ông tướng cầm kim chỉ thêu gối thêu khăn lấy tiền, Các bà mệnh phụ xuống biển chở đò, Tiểu thư khuê các gánh nước giặt thuê, Bộ trưởng làm anh bán vé xe điện, Phú ông lang thang đầu đường xó chợ, Tất cả chỉ vì chạy loạn, Nên mới lênh đênh góc biển chân trời).

Hôm nay mùa thương nhớ, tôi lại nhớ tới anh, chắc bây giờ cũng đã trên bảy mươi, lên chức nội ngoại lâu rồi... Không biết anh có còn lam lũ kiếm sống, hay đã thanh thản hưởng nhàn bên con cháu trong căn nhà gỗ bên rừng thu và hồ thiên nga cách đây nửa vòng trái đất, hay đã xương trắng dập dờn bên rong xanh ngoài biển cả, hồn oan đeo mãi theo bánh lái tàu rẽ nước đi muôn phương...

6. Nhớ... nhớ... nhớ... Sao có quá nhiều chuyện để nhớ khi trời đất chuyển mùa... Khắp nơi những trái sao rơi ngập đường một màu ròng phiền muộn như chiếc áo nâu sồng của nhà tu. Bài giảng pháp của một vị sư có bảo bàn tay ta tuy nhỏ nhưng giơ lên có thể che khuất cả mặt trời to đẹp trên kia. Và vì tôi cứ giăng buồn ngang mắt nên làm sao có thể thấy được niềm vui quanh mình!

Sực nhớ nhỏ bạn cho hay mới block một anh chàng tóc bạc phơ rồi nhưng rất thích gởi hình cực kỳ gợi cảm của những cô gái đương thì, áo quần mỏng tanh dán sát vào người, thường là một mảnh, hai mảnh, hay đôi khi chẳng có gì che thân, những hình ảnh được tuyển chọn kỹ lưỡng, nghệ thuật có, dung tục cũng có... Bạn tôi nói nó ước ao có được loại đầu óc chỉ quẩn quanh những điều đơn giản vậy thôi - đơn giản và hừng hực đến nỗi không giấu riêng mấy thứ đó để thưởng thức một mình mà phải gởi đi khắp chốn cho mọi người cùng "rửa mắt" bất kể người ta có thích hay không. Cũng có lý, cuộc đời mũ ni che tai như vậy sẽ đáng sống biết mấy, lo gì trời sập, lo gì thế cuộc đảo điên, lo gì ma quỷ lộng hành thời mạt pháp...

Khi con ngựa thồ có hai miếng da che kín hai bên mắt thì nó cứ sung sướng thẳng đường mà đi. Và cũng vậy khi con người cứ thế vô tư mà sống, quên thương nhớ, chắc cũng sẽ dễ tha thứ hơn nhiều...

SG, 18/05/2020
Trần Cẩm Quỳnh-Như

TIẾC THƯƠNG THẦY PHAN THÔNG HẢO

Tiếc thương Thầy, buồn lòng quá... Rồi những kỷ niệm xa xưa bỗng ùa về... Để tôi kể bạn nghe.

Tánh tôi vốn nhút nhát. Trời xui đất khiến sao Đoàn Thị Điểm không có ban C, nên gởi mấy đứa con gái qua Phan Thanh Giản học ké. Đám Pháp văn tụi tôi le que chưa đủ chục, nên trường lại phải gom chung với nhóm Anh văn, khi tới giờ sinh ngữ thì mới chia đôi.
Nhát hít, lớp lạ, mà bước ra khỏi lớp là trùng điệp con trai, và ông Thầy dạy sinh ngữ chính Pháp văn là thầy Phan Thông Hảo, nổi tiếng dạy giỏi, mà cũng nổi tiếng... dữ. Khỏi phải nói tôi căng thẳng tới cỡ nào mỗi khi đi học, và khỏi phải nói tôi sợ thầy Hảo tới cỡ nào! Trong trí nhớ của tôi, Thầy thiệt cao lớn, tay xách cái cặp bự, tướng đi phăm phăm nhanh nhẹn, gương mặt đầy đặn, ánh mắt luôn nghiêm nghị sau cặp kiếng gọng vàng.
Bình thường Thầy cũng khá vui tánh, chỉ những đứa lười học bài mới chết với Thầy. Tôi thuộc dạng mọt sách, học hành khá chăm chỉ, cũng khá tự tin trong các giờ sinh ngữ, nhưng không biết sao tôi lại sợ Thầy như sợ cọp! Có lẽ do bị ám ảnh về những tin đồn “Thầy Hảo dạy Pháp văn bên Phan Thanh Giản hét ra lửa chỉ sau thầy Ba Trương”! Nhớ rõ cảm giác lạnh người khi chạm vào ánh mắt Thầy giờ khảo bài, và hai chân quíu lại khi tình cờ gặp Thầy ngoài đường: đụng độ ngay mặt thì chào Thầy cái rụp, mà hễ còn xa xa, trốn được là nhanh như chớp núp vô cái rẹt, trời, ai có trải qua thời học trò mới biết, né được ông Thầy mà mình sợ xanh mắt, nó sướng gì đâu!

Nhờ sợ thầy Hảo, tôi lọ mọ về học ráo những thứ cần và cả những thứ không cần chung quanh cuốn Cua Xào Lăn (Cours de Langue et de Civilisation françaises). Còn nhớ có lần thi Oral, sau khi đã trả lời suông sẻ các câu hỏi của Thầy, do vocabulaire có chữ pèlerinage (cuộc hành hương), thầy Hảo hỏi tôi: “Quel est le pèlerinage le plus long dans l’histoire de Chine?”và nói: “Câu này hỏi thêm, em không trả lời được cũng không sao”. Hà hà, tôi trúng tủ trả lời liền: “C’est le pèlerinage vers l’Ouest de M. Trần Huyền Trang sous la dynastie de Đường”. Thầy cười tươi rói, gục gặc đầu: “Merci. Tui cho cô điểm tuyệt đối, cô chịu hông?”. Đó là câu hỏi Oral duy nhứt tôi nhớ tới già, vì một chữ “hành hương” đơn giản mà Thầy dẫn tôi đi mút chỉ tới truyện Tam Tạng thỉnh kinh!

Lúc còn đi học, Thầy không ưa tánh nhút nhát thụ động của tôi. Thầy thích một lớp học sinh động. Một câu hỏi Thầy đưa ra, Thầy thích nhiều cánh tay nhiệt tình đưa lên. Tôi luôn ngồi im re, chỉ khi bị Thầy chỉ ngay mặt, và khi đứng lên trả lời xuôi rót, tôi đã không được cộng điểm vô sổ mà còn bị mắng “Biết sao hổng giơ tay?”.


Còn nhớ nữ sinh tụi tôi ngày xưa ăn mặc rất kín đáo, đâu dám mặc voile mỏng khêu gợi, cũng không bao giờ thả nút cổ hay xắn tay áo như một số nữ sinh bây giờ (Nhưng phải công nhận là cùng với áo dài may khéo, nếu chỉ mặc áo ngực thôi thì dáng đẹp hơn nhiều so với mặc thêm một lớp áo lót, dáng vừa cứng đơ vừa trông thiệt cù lần!). Nhưng đừng có dại mà mặc áo dài không mặc áo lót nhé, nếu lỡ “xí xọn” mà gặp thầy Hảo thì chắc chắn sẽ bị kêu lại mắng vuốt mặt không kịp!


Có thời gian tôi học riêng Pháp văn với Thầy ở nhà, song song đó cũng học Anh văn với thầy Ngô Văn Tuấn cùng địa điểm. Một kỷ niệm đáng nhớ là đang đi lơn tơn trong sân bị con chó của Thầy Hảo cắn trộm từ sau đùi, lần đó bị chích mấy mũi thuốc dưới da bụng đau điếng thiệt là nhớ đời!

1975. Mọi sự đổi thay dâu bể trên khắp miền Nam. Tôi long đong bảy nổi ba chìm khắp chốn... Mười mấy năm sau về lại Cần Thơ, gặp lại Nguyễn Văn Quyền, ảnh nói thầy Hảo sau khi đi “học tập” về mặc toàn đồ nâu, và lần nào gặp ảnh, Thầy cũng hỏi thăm: “Con Quỳnh-Như giờ sao rồi? Em có tin tức gì của nó không?”.


Có lẽ thời điểm đó hai Thầy trò tôi đã có điểm chung là cùng nỗi khổ nhà có người đi học tập cải tạo, mà gia đình tôi còn thê thảm hơn vì lắm chết chóc và tán gia bại sản. Lúc đó ở Cần Thơ, người ta đồn tôi vượt biên chết mất xác. Mới nghe cứ nghĩ họ khéo tưởng tượng hay ác khẩu, nhưng gẫm lại thấy có lý lắm: Một con bé học trò nhút nhát tiểu thơ, bỗng dưng mất tích chẳng tăm hơi trong thời điểm thiên hạ vượt biên rầm rộ, chẳng chết mất xác là gì!

Rồi một cơ duyên khiến tôi liên lạc được với Lâm Vì, cô bạn thân từ thời để chỏm. Lâm Vì hiện đang ở Canada, nó nói vẫn thường phone thăm thầy Hảo, và thỉnh thoảng Lâm Vì còn cùng chồng sang Mỹ ghé thăm Thầy. Thế là tôi có được địa chỉ mail của Thầy! Cái mail đầu tiên của tôi đã gây không ít bất ngờ cho Thầy. Và thật lạ lùng, từ một người Thầy mà tôi luôn e sợ từ thuở thiếu thời, Thầy trò chúng tôi bỗng trở thành tri âm! Nhiều năm về trước Lâm Vì về VN, Thầy gởi theo tặng tôi nhiều bài viết của Thầy về chùa Đàn Tiên, về dòng họ Phan Thông và các tài liệu khác về vài địa danh ở Cần Thơ, cả một xấp xướng họa thơ Đường chung quanh bài “Phong kiều dạ bạc” của thi sĩ Trương Kế.

Tôi hay mail kể lể Thầy nghe chuyện VN, còn Thầy thì cứ bảo Thầy già rồi, không mong gì được thấy VN một ngày sáng tươi cường thịnh. Thầy mong niềm vui đó thế hệ chúng tôi sẽ được hân hạnh đón chào. Giờ đây, tôi nghĩ có lẽ tôi nên lặp lại câu nói của Thầy cho con tôi nghe, vì cảm thấy mình cũng như Thầy, không còn đủ thời gian để chờ đợi!


Một điều mà ở cuối mail nào Thầy cũng căn dặn, là phải biết chia sẻ, phải biết bố thí để tạo nhiều phước báu.

Năm 2010 Thầy gởi về cho tôi hai đĩa ghi lại ngày khánh thành chùa Giác Lâm do Thầy đứng ra quyên góp xây dựng. Nhờ đó tôi lại có dịp trông thấy Thầy đi đứng, nói cười, và đọc diễn văn. Các em con Thầy đều trưởng thành và nên người, về già Thầy lại thành tựu một việc tốt đẹp nên Thầy có vẻ rất hạnh phúc và mãn nguyện.

Tuổi già như chuối chín cây... Thế hệ chúng tôi lần lượt tiễn đưa các Thầy Cô ra đi cũng là điều tất nhiên. Nhưng mỗi khi hay tin một Thầy/Cô qua đời, chúng tôi đều không tránh được buồn thương ngậm ngùi. Có lẽ ngoài tình cảm quyến luyến Thầy trò, còn có sự tiếc nuối một thời đại mà sự giáo dục còn là một môi trường chưa bị lấm lem, một môi trường có đạo đức trong tư cách người Thầy và có nề nếp tôn ti trong cách hành xử của học trò.

Tiếv thương thầy Phan Thông Hảo, còn là tiếc thương một tấm gương đầy nhiệt huyết trong giảng dạy, luôn muốn mọi điều tốt đẹp nhứt cho các học trò của mình. Không ít chúng tôi đã từng e sợ Thầy, sau này chỉ khi ra đời mới biết, tìm một người khó khăn với mình như vậy, nhiệt tình truyền hết kiến thức cho mình như vậy, thật không dễ!

HÔM NAY TÔI MUỐN GỞI TỚI THẦY Ở TRÊN CAO ĐÔI LỜI TIỄN BIỆT:
CHÚNG EM CẦU CHÚC GIÁO SƯ DẠY PHÁP VĂN CỦA CHÚNG EM ĐƯỢC RA ĐI THANH THẢN VỀ MIỀN CỰC LẠC; VÀ NƠI ĐÂY, CHÚNG EM LUÔN NHỚ TỚI THẦY NHƯ MỘT GIÁO SƯ ĐẦY TRÁCH NHIỆM, HƠN NỮA CÒN LÀ MỘT NGƯỜI CHỒNG CÓ TÌNH VÀ CHUNG THỦY, MỘT NGƯỜI CHA TUYỆT VỜI VÀ MỘT CON NGƯỜI LUÔN LUÔN HƯỚNG THIỆN.


 

SG, 14/05/2020
Trần Cẩm Quỳnh-Như

TUẦN CÁCH LY THỨ HAI

Thứ ba ngày 14/04/2020. Hết tuần cách ly thứ hai.


1. Mẹ: “Bố với Kata có để ý sáng này nghe tiếng còi xe cứu thương hơi nhiều hơn mọi bữa?”
Bố: (Chắt lưỡi) “Hổng biết bữa nay số người nhiễm tăng lên hay sao?”
Con trai: “Đâu có tăng Bố. Vì cách ly ra dô đụng mặt nhau quài sanh bực bội nên vợ chồng đấu khẩu đưa tới ấu đả phải nhập viện đó thôi”.
Rồi nó cười hí hí châm thêm: “Đám nhập viện là mấy người bình dân học vụ, còn nhiều chữ nghĩa thì đang đứng cách nhau hai mét xếp hàng rồng rắn trên tòa nộp đơn ly dị kia kìa. Hổng tin Bố Mẹ đi coi thử coi!”.

Cái thằng! Cũng không phải không có lý do: Xóm tôi mấy ngày nay nhà đối diện và nhà bên cánh phải, kẻ u đầu người mỏ sưng vêu, tổ trưởng can không được phải kêu công an xuống “vỗ yên trăm họ”! Thiệt là con Covi nó chẳng những hủy hoại sức khỏe con người mà còn tàn phá gia can khủng khiếp! Gẫm con người thiệt giống y mấy con sâu róm mùa đông, xa nhau thì bị lạnh, mà gần nhau quá lại đâm gai nhọn vào nhau!

2. Mới xem một clip có ông Thầy người Anh lớn tuổi vì ảnh hưởng Covi bị thất nghiệp, hết tiền mua thức ăn phải ra đường cầm bảng xin cứu giúp. Cảm thương thân phận người trí thức lỡ vận tha hương! Những Thầy Cô của tôi, David, Laura, Abigail, Lisa, Alex, Nathan... có lẽ giờ cũng cùng chung số phận, tiến thoái lưỡng nan, về nước không thể mà ở lại cũng khó khăn vô cùng...

Ông xã hỏi bữa nay 14 rồi chưa có thông báo chính thức mới, mấy phụ huynh cứ phone tới giục riết, tính sao em?”. Tôi nói em với Bố cũng già quá rồi, bạn bè mình đã hưu từ khuya, thôi cứ kể như con Covi nó cho mình dưỡng lão thời gian đi, đừng có lăn tăn hoài chuyện tiền bạc chi thêm phiền. Cùng lắm nấu cháo ăn mắm kho quẹt tử thủ vài tháng, chờ tụi giẫy chết coi nó có tìm ra được thuốc đặc trị cho thế giới nhờ hay không, biết sao giờ!

3. Buồn, cứ lên mạng nói chuyện tầm phào với mấy đứa bạn già. Rồi chatroom thành ra chỗ điểm phim: việc nhà xong cứ vào ới tụi bây ơi phim này hay lắm nè!
Tuần rồi tình cờ xem được phim hoạt họa “Ngư ông và biển cả” dựa trên nguyên tác “The old man and the sea” của nhà văn tài hoa Ernest Hemingway , nội dung ý nghĩa, nét vẽ xuất thần và màu sắc tuyệt vời không thể chê vào đâu.


Tuần này chọn được hai phim rất đáng giá, vào xem IMDb thấy rating khá cao. Thật ra cũng không cần vào xem IMDb (Internet Movie Database - Cơ sở dữ liệu điện ảnh trên Net) làm gì, chỉ cần lướt qua nội dung phim và nhìn tài tử là chắc chắn phim hay miễn bàn!

Phim thứ nhứt “The Nightingale” (Chim sơn ca) sản xuất năm 2018, lấy bối cảnh vào năm 1825, nói về cuộc rượt đuổi trả thù ngoạn mục qua vùng đất Tasmania (Úc) của một cô gái Ái Nhĩ Lan với đám lính Anh đã cưỡng bức cô, giết người chồng và quăng chết đứa con bé bỏng mới vài tháng tuổi. The Nightingale gây tác động mạnh mẽ đến nỗi nó đi vào trong giấc ngủ của tôi, nơi tôi cảm nhận sự uất ức và căm phẫn của con người đến ứ đầy lồng ngực khi ai đó phải sống trong một xã hội không có công lý: đám lính Anh là những con người bốn chân độc ác và hèn hạ tự cho mình có quyền định đoạt số phận những kẻ yếu đuối hơn mình - những người Ái Nhĩ Lan khốn khổ và những thổ dân Úc tội nghiệp -, chúng hành hạ, giết chóc và cười ngạo nghễ trên máu và nước mắt đồng loại, cuối cùng mỗi tên đã phải trả giá thích đáng.


Tôi luôn cho điểm mười cho những phim đem đến sự trả thù đầy tính nhân quả: The Count of Monte Cristo 2002, Kill Bill 2003 2004, Bedevilled (2010), John Wick (2019)...

Phim thứ hai “Tiếng gọi nơi hoang dã” (2020) dựa theo nguyên tác “The call of the wild” của nhà văn Mỹ Jack London. Những ai yêu thương thú vật, những người đã từng phát cuồng các tác phẩm trăm năm tuyệt vời của nhà văn tài năng: Love of life, To build a fire, White Fang, The law of life..., từng bị ám ảnh bởi các địa danh Klondike, Yukon, Chilkoot... của một thời Gold Rush, chắc chắn không thể bỏ qua tuyệt phẩm “The call of the wild” này, với sự góp mặt của Harrison Ford, anh hùng một thuở Indiana Jones.
Phim gây ấn tượng không kém với cốt truyện cực kỳ cảm động và góc quay tuyệt đẹp. Đến nỗi khi xem xong, những đồng cỏ xanh ngát rực hoa dại, những con sông gập ghềnh nước xiết, và Bắc cực quang xanh biếc của phương Bắc lạnh giá hoang sơ đã trải dài trong những giấc mơ của tôi, cùng với gương mặt chú chó Buck lạc loài nhân hậu với cuộc đời lưu lạc thăng trầm, và tình bạn ấm áp của chú với người đàn ông cô độc và nhân ái John Thornton.

Những gì thể hiện trong phim có vẻ êm đềm, hiền lành và tròn trịa so với nguyên tác khốc liệt trong sinh tồn và bạo tàn trong những con thú người ác độc. Ngay cả cái kết cũng được thay đổi chút ít để tránh sự nhạy cảm về vấn đề sắc tộc (trong nguyên tác John Thornton người chủ cuối cùng của chú chó Buck bị bộ tộc da đỏ Yeehats giết chớ không phải một gã da trắng như trong phim). Một số chi tiết và nhân vật cũng được lược bỏ khá hợp lý để cô đọng tác phẩm văn học vào một bộ phim dài hai tiếng hấp dẫn trong từng scene.

Bất chấp tất cả khác biệt với nguyên tác, bộ phim vẫn là tuyệt phẩm cho mọi lứa tuổi, dù đã hay chưa đọc qua tác phẩm gốc. Xem để cùng biết yêu thương động vật hơn, cùng hiểu được rằng khi nuôi một con pet, đó là biến nó thành người thân của mình, chăm sóc, nói chuyện và âu yếm chúng, chớ không phải chỉ đơn giản là do lợi ích chó giữ nhà mèo bắt chuột; và rằng cũng như con người, chúng cũng có nhu cầu yêu thương và được yêu thương!
Tim tôi thổn thức và mắt rưng rưng khi John Thornton chết, Buck nằm kế bên chủ, để cho chủ gối đầu yên nghỉ và trút hơi thở cuối cùng trên bộ lông êm ái của nó... Người tử tế với nó duy nhứt trong đời đã chết, dây liên lạc với con người đã đứt, nó còn lưu luyến gì cái thế giới độc ác này...


Tôi không bao giờ quên được ánh mắt u buồn thê thiết của Buck khi từ đồi cao lần cuối nó nhìn về căn lều cháy đen của người chủ đã chết, trước khi quay lưng để nhập đàn với bầy sói hoang dã...

4. Haizzz! Đời không như là phim! Trốn vào phim để phút giây quên đi thực tại nhiều trăn trở, âu lo và bất nhẫn! Cầu Phật Trời phò hộ cho tất cả chúng ta qua cơn đại nạn, cho thú và người đều được sống trong an lành và yêu thương!


SG, 14/04/2020
Trần Cẩm Quỳnh-Như

AI BIẾT CON ĐÀ ĐIỂU THẤY ĐƯỢC GÌ TRONG CÁT?

Thứ Ba 07/04/2020. Đúng một tuần sau lệnh “cách ly toàn xã hội”. Lại có tin mới, có thể gia hạn cách ly tới cuối tháng! Hổng biết còn mấy cái gia hạn nữa đây! Rầu!

1. Chưa bao giờ trong đời dạy học, trừ mấy ngày Tết, tôi lại được thảnh-thơi-để-bịnh như hiện tại. "Mất dạy" đã đành, còn khỏi lo ăn sáng và chợ búa (ship hết), chỉ làm bếp chút đỉnh, ngoài ra là cho hai chân nghỉ dưỡng vì suy tĩnh mạch lúc nào cũng đau tức, cái lưng đau oằn tội nghiệp và mấy khớp ngón tay sưng vù cũng được nghỉ ngơi nhiều, (bịnh chóng mặt lung linh bác sĩ nói do thiếu ngủ, bây giờ rảnh ráng ngủ nhiều hơn cũng chẳng thấy khả quan!) rồi nghe nhạc, đọc tin, lướt face, còm tếu táo và cười một mình, chat với đám bạn già, tâm sự với vài bạn face dễ thương, gõ lăng quăng đôi điều, xem phim, tập thể dục chim bay cò bay ngày mươi phút... Một cuộc sống an dưỡng và êm đềm trong âu lo.

Thật ra kiểu sống này cũng gần gũi với đời sống bình thường của tôi lắm, vì tôi thích tĩnh lặng, sợ chỗ đông người, chỉ có khác là giờ thong dong hơn nhiều. Cho nên tôi chẳng thấy tù túng ngột ngạt, không bó chân bó cẳng, cũng không xì trét gì cả. Về chuyện "ở tù lỏng" này có lẽ nữ giới giỏi chịu đựng hơn cánh đàn ông chăng, vì phụ nữ vốn là cái nhân của gia đình?

Bà già cả ngày trong khung cửa, chẳng có anh chàng nào đứng tựa tường hoa, và vì gần nhau hăm bốn trên hăm bốn nên nhìn nhau mà lệ ứa, mỗi ngày một cách xa (trộm ý thơ “Một mùa đông” - Lưu Trọng Lư). Chữ “ứa” phát âm phải nhấn mạnh dấu sắc kiểu Loan Anh Ngo, là ứa gan đó ha ha!

2. Không biết ngoài kia người ta xoay sở làm ăn ra sao! Từ nhà tôi nhìn ra, ngã tư Phú Nhuận có thưa thớt hơn nhưng cũng tương đối dập dìu, không đến nỗi thành ngã tư chết. Khuya, xe tải cũng kìn kìn, bốn năm giờ sáng cũng kha khá xe gắn máy chở hàng ra chợ. Không ngủ được, gần sáng tôi hay nhìn ra màn đêm thỉnh thoảng vụt qua một bóng xe, thắc mắc không biết ngoài đó dịch bệnh thực sự diễn biến tới đâu rồi. Gần thì nghĩ thương các bác sĩ, y tá, những thiện nguyện viên, những người đang dốc sức làm việc từ thiện, những người bỗng dưng bị mất việc mà không có của để dành... Xa hơn, nhớ tới cô bé Anne Frank tội nghiệp với những dòng nhật ký mãi mãi không bao giờ trở về với người viết. Có gượng gạo lắm không khi so sánh Cô Vy với Đức quốc xã? Kể ra mức độ tàn ác có lẽ kẻ tám lạng người nửa cân, khác chăng là kẻ vô hình người hữu hình!

Bảo "Ở nhà ăn với ngủ đã là cống hiến cho đất nước", chớ thật ra cũng ít nhiều mặc cảm vô ích đối với cộng đồng. Còn mấy đứa nhỏ vô trách nhiệm, bứt rứt tù túng rồi ngứa chân ngứa cẳng chạy ra ngoài chơi, lợi dụng không mấy khi đường vắng để đua xe lạng lách nẹt pô thì thôi ngoại hạng miễn bàn!

Ai cũng rảnh quá chẳng biết làm gì, và trong cơn âu lo sợ hãi, họ đều muốn bám víu vào đức tin tôn giáo: cánh phải vặn tối đa kinh Phật, cánh trái cả nhà Protestant hè nhau hát Thánh ca hết mức volume... Làm ơn, có tu thì tu một mình, đừng bắt thiên hạ phải tu theo mình e tác dụng ngược: điếc con ráy cả ngày, lối xóm hỏi sao không bực, rồi người ta buông lời ta thán thành ra tổn đức! Nghiệt cái, mấy nhà "đạo hạnh" đó toàn là dân thiếu điều động chút xách côn nhị khúc ra nói chuyện bằng tiếng Đức, âm điệu trầm bỗng giòn tan!

3. Chậc, nói không tù túng, chớ thời khắc này thèm được ngồi trong khu vườn yên tĩnh của bạn Kim Tuyet biết mấy: Mấy chú cá chép đỏ vàng đớp mống gợn mặt ao lăn tăn, đám hoa súng tím rịm nghiêng lơi dập dờn, cái sân gạch tàu đỏ au hễ mưa lớn là ngập lé đé, cho mấy con bảy màu xí xọn rủ nhau thừa dịp tung tăng, gió đu đưa những chùm xoài gợi thèm, nhánh bông giấy đỏ thẫm đâm toạc trời xanh, và vòm sử quân tử sinh-bạch-tử-hồng rực rỡ vườn bên lã lơi làm điệu với người dưng...

Còn nữa, thèm được mơ màng trong cái giang sơn êm đềm của chị Lê Thị Hồng Cúc gì đâu: Vườn rau xanh um, lá xà lách non tơ, mấy trái cà màu tím than đẹp không thể tả, cây xoài góc sân đong đưa khoe trái tròn ủm, vườn hồng muôn sắc tỏa hương ngan ngát trong bầu không khí thanh sạch lặng lẽ, thỉnh thoảng chíu chít tiếng con chim gì tìm sâu trong đám cỏ lau trắng xóa; vài hôm nữa lại được nghe tiếng anh gà trống tre vóc dáng chỉ nhỉnh hơn nắm tay mà cũng bày đặt ra vẻ ta đây lắm, sáng tinh mơ đứng ưỡn ngực te te gáy vang cốt lấy le với hai em mái tơ thon thả điệu đàng, tiếng gáy thanh thanh vang xa cả khu cư xá... Cứ quay qua quay lại ngắm rau ngắm hoa và giỡn với mấy con gâu gâu cũng hết một ngày không hay!

Được ngụp lặn trong những không gian dễ thương đến tuyệt vời như vậy, xin hãy cho tôi cách ly cả đời!

4. Rửa tay riết lòng tay ngón tay eczema nổi đầy! Đâu phải đợi tới dịch bệnh mới thường rửa tay. Từ nhỏ thấy Ba Má anh chị cầm tiền xong luôn rửa tay, mình cũng quen nếp rồi (nghe nói ai thương tiền quý tiền hun tiền mới giàu, còn mấy người chê tiền dơ tiền hôi tiền vi trùng thì nghèo mạt kiếp cùng căn!). Nhưng giờ thì rửa tay rất nhiều lần hơn, dù hằng ngày lau alcool mấy tay nắm cửa, các ống khóa, và dù có cây đèn khử khuẩn để khử tất tần tật thực phẩm mới giao hay quần áo vừa thay ra sau khi mới ra đầu ngõ mua chút gì cần thiết. Ý là đã tận dụng bao tay xốp cho nhiều trường hợp, nhưng nếu xắt thịt cho mỏng, gọt trái cây hay đếm tiền... thì mấy vụ này xài bao tay bảo đảm tôi thua! Tưởng tượng vài bữa dạy lại, hai bàn tay cô giáo cùi cụt: da tay sần sượng vì eczema, khớp tay sưng lục cục biến dạng, bàn tay như làm nông!

Ờ mà vẫn tưởng "mất dạy" sẽ nhớ nghề da diết, ai dè đâu không hề! Phụ huynh cứ phone hối riết: "Cô ơi cho tụi nhỏ học lại đi cô, lớp có mấy đứa hổng sao đâu, để lâu chắc tụi nó dốt như me!". Ừ thì biết sao giờ em, đại nạn thì phải chịu chung, cứ cầm bằng tụi nhỏ mất trắng một năm. Thương nhứt là tụi 12! Không dám nói chắc cô nghỉ luôn! Mà muốn nghỉ luôn thiệt. Sao cảm thấy quá mệt mỏi cái thân ta này! Mười tám tuổi, gia đình suy sụp tập tành dạy kèm, rồi mười năm lận đận thất bại nối tiếp thất bại, trở về SG bắt đầu thật sự dạy kèm kiếm tiền học lại đại học, cho tới bây giờ ròng rã bốn mươi lăm năm trời bán chữ mỏi mòn, dù dạy tự do không tra đời vào guồng máy nhưng giờ còn tiếc gì mà chưa gối đầu lên kiếm ngủ một giấc dài như tráng sĩ vân du một đời nay đà mỏi gối chồn chân!

5. "We're still here". Ta vẫn còn đây. Chưa bao giờ tôi cảm nhận sự mừng rỡ và tự hào của người thốt ra câu này lại vỡ òa đến vậy! Chợt nhớ tới bao nhiêu phim hậu tận thế giá trị đã xem: 12 Monkeys (1995 - Bruce Willis, Brad Pitt), Children Of Men (2006 - Julian Moore, Micheal Caine), I'm Legend (2007 - Will Smith), The Road (2009 - Charlize Theron), The Book of Eli (2010 - Denzel Washington, Gary Oldman), The Cured (2017 - Ellen Page), Cargo (2018 - Martin Freeman)... Lòng tự hỏi, kết thúc nào đau đớn hơn: bị giết bởi dịch bệnh, zombie hay phiến quân , hoặc sống chui lủi đói khát kéo dài trong sợ hãi???

Ý nghĩ này đưa tôi trở lại triết lý sống của AQ (Lỗ Tấn): Dẫu sao mình cũng còn yên ổn no ấm hơn bao người! (dù không biết yên ổn được bao lâu). Rồi cảm thấy mình sao giống con đà điểu. "Any fool can turn a blind eye but who knows what the ostrich sees in the sand!" (Samuel Beckett). Phải, đứa ngu nào cũng có thể nhắm mắt lại không muốn nhìn quanh, nhưng đâu ai biết con đà điểu thấy được gì trong cát???

 

SG, 07/04/2020

Trần Cẩm Quỳnh-Như

                  ĐƯA CHỊ VỀ BIỂN

Tóc xanh em thuở nguyệt rằm

Xuân nay ngó lại nụ hồng phai phôi

Nẽo về gót ngọc chia đôi

Ai ngồi nhặt hạt thu rơi cuối mùa

(Cát bụi đường bay - Hàn Long Ẩn)

 

Sáng hôm ấy bầu trời xanh ngăn ngắt. Từng đàn mây cừu kéo nhau về trắng một góc trời. Hai dì cháu Duyên lách người qua những gộp đá lổm ngổm đen đủi trùng điệp vỏ hào bén ngót. Chỉ nơi đây bãi biển mới vắng người để người chị khốn khổ của Duyên, qua một đời nhánh rong phiêu bạt, giờ có thể mỉm cười yên nghỉ với sóng biển rì rào, với mấy con cá nhỏ le te lội, với con ốc tí ti tròn xoe hồng hồng như những con mắt buồn ngơ ngác... Chị sẽ nằm lặng yên ngắm bọn dã tràng bé xíu lăng xăng chạy như lướt trên bờ cát để mỉm cười gẫm lại đời mình sao y hệt phù vân!

Chọn một bờ cao cheo leo, họ nhìn biển dưới sâu xanh biếc lùa những con sóng nhỏ trắng xinh vào tận bờ đá và vỡ oà như tiếng trẻ reo. Chính nơi đây mấy mươi năm trước có lần, chị, trong cơn tuyệt vọng đã dắt díu hai đứa con nhỏ ra tận ghềnh đá... Rồi ở tận rìa sự sống, không biết nghĩ sao chị lại lếch thếch dắt con về ! Có lẽ chị không thể nào làm được cái việc kinh khủng là đẩy hai đứa con vô tội đang líu ríu hớn hở vì được đi chơi xa, xuống thăm thẳm dưới kia muôn trùng sóng vỗ rồi nhảy theo để chấm dứt cuộc sống hãi hùng của một kẻ thất thế khi đất trời thoắt nổi cơn gió bụi...

Duyên muốn thốt lên một câu mà mọi người nghe xong chắc cảm thấy bất bình: Giá mà chị can đảm hơn một chút, nhẫn tâm hơn một chút... Giá chị đừng nhìn vào những đôi mắt tròn vo và trong sáng của hai chị em nó... Giá chị đừng nghĩ gì tới nghĩa tào khang, gắng gượng sống để nuôi chồng đang kéo dài bản án vô lý đến vô cực trong vòng lao lý... Giá mà... Giá mà... Để cuộc đời đớn đau và tủi nhục của cả ba mẹ con kết liễu sớm hơn... Vì sống như vậy đâu phải là sống, chỉ là thoi thóp kéo dài chuỗi đau thân khổ tâm của một trường-đoạn đoạn-trường, lay lắt cúi đầu gắng trả cho hết những nghiệp dĩ đâu từ kiếp trước!

Gió lên! Từng vốc tro chị bay tung, đính những hạt trắng hạt xám lên tóc, lên áo họ : Phút giây luyến lưu cuối cùng của người ra đi với những người thân nơi trần thế. Rồi chị theo gió bay đi thật xa, ra tận rìa sóng bạc ngoài kia, ngồi xoã tóc đong đưa sáng loá dưới ánh nắng vàng ươm... Nương sóng chị trở lại bờ, lóng lánh theo hạt cát níu gấu quần họ, rì rầm nói lời từ biệt... Chị cười thật tươi trong tấm hình nhỏ gắn trên chiếc hũ - chiếc thuyền đời long đong chênh vênh lênh đênh một đỗi rồi từ từ chìm hẳn vào sóng nước mênh mông. Mặt biển lô xô bình thản thâm trầm như chưa từng có một linh hồn mới vừa reo vui khi được hoà mình vào biển cả.

Hai dì cháu rưng rưng niệm Phật, miệng nhoẻn cười mà nước mắt long lanh chảy dài trên má, cho chị ra đi yên lòng an nhiên, cho cuộc chia tay thuận theo tánh tự nhiên: người đến rồi đi, xác thân trở lại ngũ hành, linh hồn theo nghiệp duyên cao thấp nặng nhẹ bắt đầu một hành trình đi tìm cuộc sống mới...

Triều dâng con nước vỗ bờ

Thuyền không neo bến nên giờ về xa

Ngẫm câu cát bụi đời ta

Thì thôi nhân thế cũng là bóng câu

(Cát bụi đường bay - Hàn Long Ẩn)

TCQN

SG, 01/01/2020

________________________________________________

 

CHỊ HAI QUỲNH DAO TÔI 

                 để tưởng nhớ người chị bạc mệnh

 
Thân như điện ảnh hữu hoàn vô 

Vạn mộc xuân vinh thu hựu khô 

Nhậm vận thịnh suy vô bổ úy 

Thịnh suy như lộ thảo đầu phô 

(Thiền sư Từ Đạo Hạnh) 
 

 
Thân như ánh chớp hiện rồi mất  
Hoa lá xuân tươi thu héo tàn  
Cái lẽ mất còn trời đã định  
Hạt sương ngọn cỏ đọng rồi tan 

(Thầy Phạm Khắc Trí dịch) 
 

 

1. Nhỏ cháu luôn tay đốt giấy tiền vàng bạc, từng tảng lửa bùng lên tung khói tro bay mù. Tôi nhắc: "Quỳnh Chi à, đốt vừa thôi, coi chừng phiền lối xóm".

Nó khóc nức nở: "Dì Như ơi, mấy năm nay từ khi con suy sụp, Má sống với con quá cực nhục, con biết mà con làm cách gì cũng không trở mình nổi, nên bây giờ Má chết, con đốt cho Má thiệt nhiều tiền, thiệt nhiều đô, cho Má có tiền xài thoải mái, cho Má được ăn ngon, được uống cà phê thoả thích, nghen Má, hu hu hu..."

Có thế giới bên kia không? Để chị Hai tôi được gặp lại đứa con trai bé bỏng đã rời Mẹ từ rất sớm, để chị Hai lại được sang trọng trong tà áo dài tha thướt, lại được nở nụ cười hàm đan với hai hàm răng trắng ngọc - hàm răng đã bị gãy mất oan uổng mấy chục năm về trước khi chị tảo tần buôn bán khắp nơi nuôi chồng học tập, chạy theo xe đò té sấp đập mặt xuống be sắt bắc Cần Thơ... 

  1.  

2. Chị Tư tôi ngồi co ro ở góc phòng, ánh mắt lạnh lẽo và gương mặt bất động. Nhiều năm rồi tôi không gặp chị Tư, số phận thật trớ trêu, chỉ cho chúng tôi gặp nhau vào những lúc một người thân dứt áo ra đi!

Đây hòm của chị Hai, kiểu đơn giản tới mức không thể đơn giản hơn, được một người hàng xóm tốt bụng tặng cho vì nhà cháu tôi khó khăn nhứt xóm, một mình nó phải nuôi Mẹ nuôi Dì. Hòm nằm trơ trỏng giữa căn phòng trống hoác, góc phòng là mấy thùng giấy cạc tông đựng mớ tài sản ít ỏi còn sót lại của hai mẹ con. Màu hòm đỏ gụ bóng loáng quằn quện bê bết như những vết máu đã cũ xỉn màu, nằm trong đó chị Hai tôi chắc đang quay về hồi ức mấy mươi năm vàng son tuổi thanh xuân và sau đó là cả quãng đời dài bất hạnh.

Đâu rồi người đẹp đẽ thông minh nhứt trong ba chị em tôi? Đâu rồi người học giỏi nhứt trường, dáng mặc áo dài thanh mảnh, biết bao người thầm thương trộm nhớ... Đâu rồi bà Trung tá Không quân sang trọng ngồi trên xe jeep nụ cười thiệt tươi như đoá hoa hàm tiếu? 

  1.  

Một kiếp người nào khác giấc chiêm bao 

Bao mộng tưởng trả về trăng sao hết 

Ai sống mãi còn ai không thể chết? 

Kiếp trầm luân nhọc mệt có gì vui 

Cảnh tang thương vạn kiếp vẫn ngậm ngùi 

Rồi tất cả cũng trở về cát bụi 

(Kiếp sống vô thường - Huỳnh Ngọc Anh Kiệt) 

 
Tôi ngồi bên chị Hai, cố gắng không khóc để người đi đừng luyến thương. Sao tôi phải khóc? Tôi còn mừng cho chị không hết! Như mừng cho khách lữ hành kiệt sức đã đi hết đoạn đường dài gió bụi, giờ tới ga cuối cùng! 

Chị Hai đi êm thắm không đau đớn, y như Má tôi mười hai năm về trước. Má và chị đã trả sạch nghiệp sau hơn bốn mươi năm mưa dập gió vùi, buồn thương sân hận trả hết cho thế gian, rồi lặng lẽ trả luôn thân xác mệt nhoài về cho ngũ hành. 

Ôi chị Hai tôi, thanh lịch là vậy, học giỏi là vậy, thông minh là vậy, nhưng buồn thay, cuộc đời chị sao quá đỗi vô duyên! Sao tôi cứ nhớ hoài chiếc áo dài cưới của chị Hai, chiếc áo gấm Thượng Hải hai da, một bên màu vàng vương giả, một bên xanh ngọc điểm xuyết từng khóm cúc đại đoá nho nhỏ kiêu kỳ. Hoa cúc chỉ nở rộ vào mùa Thu nên hạnh phúc của chị Hai giẫy chết khi sang Đông. Tôi vẫn nhớ lời Ba tôi khi ông cố can ngăn: "Quỳnh Dao à, nó bay ở trên trời, con thì đi dưới đất, làm sao con theo kịp?". Nhưng cuối cùng Ba cũng cho phép hai người lấy nhau, đám cưới được tổ chức linh đình ở biệt thự Song Quỳnh, Sóc Trăng. Sao có thể không linh đình khi chị Hai là cháu nội đầu của điền chủ Trần Khoánh, một trong bốn người giàu nhứt Sóc Trăng Bạc Liêu! 

Rồi mươi năm sau tôi đi học về thấy trong nhà khói bốc ngùn ngụt. Chị Hai vừa khóc nức nở vừa đốt chiếc áo dài cưới lộng lẫy khi anh Hai đòi chị Hai bằng lòng cho anh đem một cô xẩm nào đó ở Bạc Liêu về ở chung để "làm chị làm em" và cười nhếch nửa miệng gọi chị Hai tôi là "Hoàng Hậu mất ngôi"! 
 

Có đáng không cuộc đời chị Hai, cô gái trắng bóc sáng sủa dong dỏng cao biết bao chàng trai Cần Thơ thầm trồng cây si, biết bao gia đình nề nếp khá giả mong được cưới về làm dâu? 
Có đáng không khi chị Hai bỏ mặc hai đứa con nhỏ nhít cho Ngoại và mấy Dì chăm sóc để ngày ngày đi rình bắt ghen ở cổng trại Lê Lợi đường Hoà Bình Cần Thơ? 
Có đáng không khi chị Hai u mê mù quáng đuổi bóng bắt hình, trong khi chị nên đi học lại để bắt đầu một cuộc đời mới? 

 
3. Lạc loài vết nhạn trời mây 

Rã đôi cánh mỏng thêm dài thu phong 

Tưởng đâu con nước xuôi dòng 

Ngờ đâu nước cũng lên ghềnh xuống ao

(Cát bụi đường bay - Hàn Long Ẩn) 

  1.  

Rồi 30/04 ! 

Chị Hai tôi, tiểu thơ và vương phi (dù anh Hai nói chị mất ngôi rồi) giờ phải lăn xả ra chợ trời, may từng chiếc áo cho con của bạn học kiếm chút tiền công, đi Châu Đốc mua quần mặc nưa về năn nỉ từng người bà con mua giúp, xách từng giỏ thuốc tây từ Sài Gòn đi buôn khắp Cần Thơ, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau để nuôi anh Hai học tập cải tạo.  
Bị trạm thuế bắt, bị tịch thu nhiều lần cụt vốn, một ngày chị Hai tôi trong lúc cạn nghĩ, không còn muốn tiếp tục cảnh đời cực nhục rẻ rúng khi thất thế, đã uống ực hết ống thuốc ngủ và nằm thoi thóp chờ chết ngoài đồng. Nhưng nghiệp chị Hai lúc đó còn dài, nên khiến xui một cặp vợ chồng người Miên ra thăm ruộng sớm... 
Rồi chị Hai bình phục, lại xin Má ít vốn lụi cụi ngược xuôi buôn bán, lại rang từng "gô" (lon Guigoz) muối sả, mắm ruốc, gom từng trăm gram đường tán để xách giỏ khệ nệ thăm nuôi anh Hai. Lúc bấy giờ chắc chị Hai đã lấy lại được "vương vị" rồi, không còn là "Hoàng Hậu mất ngôi" nữa, vì những bông hoa tươi thắm vây quanh anh Hai - một số hoa mắt vì mấy bông mai trắng trên quân phục anh Hai, một số do cấp dưới nịnh hót tấn cúng - đã bỗng nhiên biến mất không tăm hơi, chỉ còn lại chị Hai tôi như con kiến chăm chỉ còm cõi nhặt nhạnh cụ bị từng giỏ lác, đi theo từng đoàn mấy bà vợ sĩ quan khốn khổ thăm chồng trên con đường thiên lý, giỏ nặng bao nhiêu cũng ráng tha, ráng vác, ráng kéo... để cho chồng đủ sức vượt qua nhưng tháng ngày lao lung. 

 
Chàng ơi phụ thiếp làm chi 

Thiếp như cơm nguội đỡ khi đói lòng! 

(Ca dao) 
 

Thơ viết cho anh Hai trong tù, chị Hai ký tên "Cơm Nguội". Không biết anh Hai có lần nào ăn năn khi nhớ lại những tháng ngày bay bướm? Anh rể tôi không đẹp trai, nếu chấm khắt khe có thể nói xấu là đằng khác, nhưng anh có hàm răng đẹp vô cùng và nụ cười cực kỳ có duyên, lại ăn nói điềm đạm nhẹ nhàng khiêm tốn. Anh mặc vest không đẹp nhưng lại rất hợp với bộ đồ bay áo liền quần và cái nón ca lô đội lệch hào hoa, foulard lụa xanh da trời quanh cổ (có lẽ theo mốt ông Kỳ lúc đó hay mặc đồ bay quấn foulard tím cà), và đặc biệt đôi cánh trên áo bay chị Hai thêu khéo tới mức tài hoa.  
Có lẽ lúc nằm trong xà lim lạnh lẽo anh Hai tôi cũng nghĩ thương người vợ tội nghiệp, và thương cả gia đình vợ phải lan can điêu đứng, vì mình mà nhà cửa bên vợ bao lần bị kiểm kê niêm phong. Khi anh Hai ra tù, anh tìm cách vượt biên, và có vợ khác bên Mỹ sau một thời gian. Chị Hai tôi lại làm "Hoàng hậu mất ngôi"! 

Công bằng mà nói, anh rể tôi không tệ. Khi qua được bên đó, vốn là người chịu thương chịu khó, anh cày cật lực để có tiền trả nợ (lúc vượt biên đi thiếu chịu) rồi từ từ gởi tiền về nuôi con. Chị Hai tôi mất hết giấy tờ lần tự tử ngoài đồng nên không thể làm giấy tờ bảo lãnh (tôi đoán có lẽ chị Hai cũng không muốn đi), còn con gái lại quyết định có chồng ở lại VN, không chịu làm giấy tờ xuất cảnh (một quyết định sai lầm giết chết cuộc đời nó). Anh Hai tôi là đàn ông sao có thể ở vậy cả đời, nên việc anh đi lấy vợ khác cũng là chuyện tất nhiên. 

4. Cháu gái tôi Quỳnh Chi cũng bạc phận y như Má nó, mà còn tệ hơn gấp bội! Cái con nhỏ mít ướt, chăm chỉ, hiền lành, biết điều, chịu khó, thương người, nhưng có lẽ kiếp trước nghiệp duyên quá nặng nên đời này nó phải trả quả thật đắng cay, một cuộc đời không thấy tương lai vì không được phước đàng chồng càng vô phước đàng con!  
Còn thằng em nó, cháu Tuệ, cuối năm 1975, mới chín tuổi đã đoạn trường từ biệt mọi người. Cả nhà tôi thảng thốt!  
Sao tôi không thể quên được ký ức buồn thảm đó dù đã xảy ra hơn bốn mươi năm ! Ba giờ khuya, tôi với chị Hai từ phòng cấp cứu đi theo chiếc băng ca đẩy thân xác bé nhỏ của cháu tôi vào nhà xác bệnh viện Cần Thơ (hồi đó gọi Nhà Thương Lớn). Chị Hai tôi rũ người mềm oặt, cố lết về nhà báo tin dữ và lấy quần áo của cháu vào liệm, vì cháu nhỏ quá người ta khuyên không nên đem xác về nhà. Tôi ngồi ngoài hiên lạnh nhìn ra khoảng sân nhỏ trước nhà xác, một thân cây dừa cong cong nguệch ngoạc mấy chữ vôi trắng "Nhà vĩnh biệt". Phía trong, mấy xác người phủ drap trắng nằm im lìm trên những dãy bàn dài. Cháu Tuệ tôi hình hài nhỏ xíu, nhìn từ hiên vào như tấm drap ai đắp lên con búp bê.

Rạng sáng chị Hai phờ phạc tới cùng với hai người đạo tì khiêng chiếc hòm gỗ đóng sơ sài. Người ta đẩy băng ca đưa cháu ra khoảng sân nhỏ, một người đưa chai rượu bảo tôi lau cho cháu, và bảo tôi cắt mấy cái nút áo để họ mặc vào sau này lấy cốt nút không lẫn vào xương. Tôi vừa làm vừa khóc, nước mắt nhoè nhoẹt, tay chân lóng ngóng. Tôi con bé mười tám tuổi nhút nhát, sợ ma sợ gián sợ sâu cái gì cũng sợ, đã cẩn thận lau chùi cho cháu tôi gương mặt bầu bĩnh dễ thương và từng ngón tay ngón chân. Hơi lạnh từ cháu toả ra khắp thân thể đầy vết tụ máu vì phản ứng dữ dội của hai ống Gardenal 10. Cắt những hột nút mới nhận ra đó là bộ đồ nó ưa thích nhứt, cái áo sơ mi cao bồi ca rô đỏ và quần tây nhung màu trái xây đậm anh Hai mua khi tu nghiệp bên Mỹ.

Kìa anh Hai chống nạng đi tới, gương mặt xanh lướt đau đớn. Ôi thằng con trai duy nhứt của anh, thằng con đẹp trai và lém lỉnh hai con mắt tròn vo đen thui như hai hột nhãn và mấy cái răng cửa mới thay to ề. Máu tươi đỏ thắm bỗng rỉ ra chảy dài từ mũi, miệng cháu tôi khi anh Hai tôi Ba nó vừa tới gần. Tôi với chị Hai bật khóc hụ hụ: "Tuệ ơi!". Gương mặt anh Hai càng trắng bệch. Những sợi gân hai bên thái dương nổi rõ như muốn bung ra khi anh cố kìm nén tiếng khóc... 

 
Viết những dòng xót thương người chị bạc mệnh, sao tôi lại quá dài dòng về cái chết của cháu tôi? Vì đó chính là nỗi đau không thể diễn tả bằng lời của chị Hai tôi, nỗi đau mất chồng, mất con, mất cả tương lai... Chị Hai lúc đó là một thiếu phụ trẻ, trẻ lắm, nhưng chị tôi tay trắng không còn gì ngoài tấm thân yếu đuối run rẩy, vì ngay cả những đồ đạc trong căn nhà sĩ quan cao cấp trong phi trường Trà Nóc cũng bị người ta làm như thương cảm, "để anh đi dọn nhà giùm thím Tám" (anh Hai tôi thứ Tám), mà đồ giá trị họ chở hết về nhà họ, rồi chở về đổ đống trong sân nhà chúng tôi những thứ vô giá trị và một đống tù hụ quân dụng quân trang! 

Số mệnh đã ràng buộc chúng tôi lại nơi đây như chiếc bè xộc xệch lung lay trong cơn bão dữ, rồi vỡ tung từng mảnh qua những ba đào... Mấy chục năm trôi qua tôi cứ ám ảnh với ý nghĩ nếu anh Hai không bị pháo kích gãy chân ngày 24/04, nếu anh Ba Duệ tôi chịu bước chân lên chiếc trực thăng rời đi ngày 28, có lẽ bây giờ cuộc đời gia đình chúng tôi tất cả đã sang trang... 

 
Cháu Tuệ tôi được chôn ở nghĩa trang Từ thiện Cần Thơ, gần Bót Số Mười, trên đường đi Cái Tắc. Chỗ cháu nằm là một dãy mộ toàn con nít lớn nhỏ cuối rào nghĩa trang, bên kia rào là mảnh ruộng lớn đang cày bừa dở dang lầy lội. 

 
Một buổi sáng mùa xuân, một đứa bé yên nằm 

Bàn tay cầm cỏ dại, có hoa vàng mong manh 

Một buổi sáng mùa Xuân, một đứa bé im lìm 

Bờ môi dường thầm hỏi, có thiên đường hay không? 

(Một buổi sáng mùa xuân - Trịnh Công Sơn) 

 
5. Có thiên đường hay không? Chắc là phải có chớ hả? Để những linh hồn hiền lành thua thiệt chịu nhiều khổ nạn chúng tôi có nơi ủi an bám víu. Chúng tôi đã sống-không-ra-sống bao nhiêu năm rồi, lẽ nào Đất Trời nhẫn tâm khiến chúng tôi chết-cũng-không-ra-chết, hồn phách bơ vơ không chỗ tựa nương?

Từ trong hạt bụi bay bay

Có Tam Thiên Giới bờ này bến kia

Đâu là ngộ, đâu là mê?

Mưa lên trăm hướng cũng về biển xa

(Cát bụi đường bay - Hàn Long Ẩn) 

  1.  

Sau bốn mươi bốn năm, chị Hai tôi chắc đã được gặp lại đứa con trai bé bỏng! Lồng lộng trên kia, tôi nhìn thấy hai mẹ con ôm chầm lấy nhau vừa khóc vừa cười thật hạnh phúc trên vùng trời mây trắng - và cả Ba Má tôi, anh Ba Duệ tôi, những linh hồn oan khuất !  
Chị Hai giờ thoả nguyện, sẽ không còn vì nhớ con trai mà mua bao nhiêu tấm vé số, bao nhiêu lon đậu phộng của những bé trai trạc tuổi cháu tôi khi chị tất tả qua bắc Cần Thơ. 

Không còn khóc lên khóc xuống thấy mình bị phản bội như lúc còn trẻ, khi tình cờ nhìn thấy trong túi bay anh Hai lạc loài vài cái condom. 

Cũng không còn khổ sở cực nhục khi tuổi già phải lôi thôi lếch thếch đi theo đứa con gái khốn khổ tội nghiệp hết tỉnh này tới xã kia năm sáu năm nay, khi không may con nhỏ làm ăn suy sụp phải âm thầm tha phương khắp nơi. 
Không còn gì hết... 

Chị Hai nhẹ nghiệp rồi, thênh thênh... 
 

Lời kinh hiện bóng trăng ngàn 
Vườn tâm hé nụ đá vàng trổ bông 
Người đi trong cõi sắc không 
Hành trang chỉ chút nắng hồng trên vai 

(Cát bụi đường bay - Hàn Long Ẩn) 

 
Chị Hai ơi, em nói này nghe: "Cuộc chơi nào chẳng phiêu bồng. Cuộc đi nào chẳng âm thầm tiêu tương" (Cát bụi đường bay - Hàn Long Ẩn). Xin chị Hai ra đi thong dong. Một mai nếu không được may mắn làm cây thông đầu non hay mây trắng ngàn bay, thì chị em mình, dẫu không có duyên gặp nhau ở kiếp sau đi nữa, cũng hãy nắm tay cùng một lời nguyện đầu thai làm những phụ nữ độc thân, xinh đẹp và tài năng, thành đạt và hạnh phúc, nghe chị Hai! 

Em gái Quỳnh-Như ./. 


13/10/2019 

Trần Cẩm Quỳnh-Như 

HẬU ĐÌNH HOA

Vô blog dọn dẹp, tình cờ xí được bài này viết hồi nẳm... 
Bài khá dài, nhưng không thích hợp để đăng trên mạng, nên muốn đăng phải cắt cúp tùm lum chỉ còn lại nhiêu. 
Bà con ghét chuyện buồn thôi đừng vào đọc kẻo lại tốn gạch :-) 

------------------------------

Khuya, hai chân đau nhức, bao tử cũng quặn, chẳng thiết tha meo miếc với bạn bè... Ai nấy ngủ rồi, mình cứ ngồi bó gối nhìn ra cửa sổ. Đèn quảng cáo ở ngã tư sáng đến nỗi soi lên thấy mây. Dường như lâu lắm rồi không được thấy trăng sao gì. Bầu trời cứ bị cắt nhỏ bởi mái tôn và nhà lầu, muốn nhìn trời phải ngước lên mỏi cổ. Không gian như giếng trời, như cái lô-cốt vô hình, cứ hun hút dìm mình xuống. Đôi lúc chợt nhớ tới con ma trẻ con ác độc và tội nghiệp trong phim “The Ring”. Dưới giếng sâu, biết bao cô độc lạnh lùng... Trong lòng tôi bây giờ cũng gợn lên bao nỗi quạnh hiu...

Tiếng con dế lửa ông xã nuôi cứ gáy ra rả không mòn mỏi. Ổng mua dế cho con chích chòe cưng của ổng ăn, lộn trong đám dế choắt có con dế trống tiếng gáy quá oai hùng, vậy là ông già U.70 chợt nhớ lại tuổi thơ bắt dế giữa đồng, bèn để lại nuôi đặng nghe nó gáy chơi. Mà khổ, ổng quên rằng bà vợ già của ổng rất khó ngủ về đêm ! Nhưng khuya nay không phải tội con dế...

Đã bao đêm mình ngồi bó gối như vầy, vì tất cả những lý do trời ơi ? Trong vườn thượng uyển của Thái tử Siddhartha, người ta không để vàng một chiếc lá, không để héo một bông hoa, và kìa nỗi khổ của chúng sinh vẫn miên man không dứt...

Thoắt nhớ một đêm mấy chục năm về trước, cũng có lần tôi ngồi bó gối nhìn trăng như vầy. Đó là cái hôm cả nhà được lá thơ anh Hai lần đầu tiên gởi về từ sau những chấn song. Nửa đêm, không ngủ được, thấy trời sáng trăng, tôi ra phần sân ngăn giữa nhà trước và nhà sau ngồi ôm con chó nhỏ, trong lòng ngổn ngang trăm mối...

Bỗng rợn người, một tiếng hát trong vắt và lanh lãnh vang lên từ trời cao. Cách nhà tôi một con hẻm nhìn lên là hành lang một khách sạn bốn tầng. Trên đó một cô gái ngồi hát, giọng khỏe khoắn nhưng sao liêu trai buồn thảm. Ánh trăng nhờ nhờ, chỉ thấy mái tóc dài, hai cánh tay trần với bờ vai trắng nuột. Mấy câu hát cứ lặp đi lặp lại hoài, giọng bi ai thê thiết. Giữa những khoảng lặng là đốm thuốc lá lóe đỏ trong bóng đêm...

Hậu Đình Hoa, ơi Hậu Đình Hoa ! 
Ngàn năm mang mang hận sầu, 
Bên sông thương nữ lả lơi...

Trời ơi, rờn rợn nổi lên từng đợt và nước mắt tôi chảy ướt mặt bao giờ không hay. Cô gái là ai? Cách ăn mặc hở hang với điếu thuốc trên tay ngồi trong bóng đêm một khách sạn, không cần suy nghĩ cũng có thể đoán biết. Nhưng sao cô gái lại hát khúc Hậu Đình Hoa ? Tình cờ nghêu ngao khi vắng khách mà không cần hiểu ý nghĩa của ca từ, hay hát để khóc than thân phận tuyết sạch giá trong, một chiều tao loạn đã sa vào nơi cát vẩn bụi lầm ?

Con chó nhỏ bị nước mắt tôi rơi xuống liên tục xuống đầu xuống mặt nên nó khó chịu vùng vằng bỏ đi. Còn tôi vẫn ngồi bất động trong bóng đêm, khóc mùi, khóc cho tương lai vô định, khóc cho thân phận con người mỏng manh trong cơn gió bụi năm nào...

Trăng lẫn vào mây rồi. Tối đen.

Trần Cẩm Quỳnh Như
06/2010

 NÚI CŨ RỪNG XƯA

Giang gian ba lãng kiêm thiên dũng
Tái thượng phong vân tiếp địa âm
Tùng cúc lưỡng khai tha nhật lệ
Cô chu nhất hệ cố viên tâm

 

Ngất trời sóng dội lòng sông
Mịt mù mặt đất, mây lồng ải xa
Con thuyền buộc mối tình nhà
Hai lần cúc nở, lệ sa hai hàng
(Trần Trọng Kim dịch)

 

1. Nhỏ bạn gởi về cho tôi tấm hình những nụ hoa perce-neige xinh xinh vừa mới nhú lên trên nền tuyết trắng, có lẽ muốn khuyên tôi cang cường vượt qua bệnh tật đời thường, như những bông hoa nhỏ bé mong manh mà sức sống mãnh liệt hơn hết trong các loài hoa, xé đất rẽ tuyết vươn lên trong cái giá lạnh khắc nghiệt của mùa đông hoang hoải.

Chà, nằm bịnh mà vô album bạn bè nước ngoài coi hình thiệt là thú vị tới quên buồn! Này khóm magnolia rực hồng một góc sân, màu hồng phớt sang trọng điểm xuyết vài sợi đỏ cánh sen nổi bật trên hàng rào gỗ trắng muốt. Kia nhà cô giáo sư cũ kề bên bờ hồ, mặt hồ phẳng lặng trong vắt, trời xanh, nước xanh, thu thủy cộng tràng thiên nhất sắc! Ven hồ gia đình vịt líu chíu dắt nhau kiếm ăn, cảnh vật bình yên đến nao lòng... Đây hình nhỏ học trò cũ ngồi xõa tóc điệu đàng bên hồ ngan ngát, xa xa bầy thiên nga đen đỉnh đạc rẽ nước xuôi dòng. Kìa cánh đồng lavender tím ngắt ngút ngàn như vô tận đến chân trời, vợ chồng cô bạn tôi yêu đời như những đứa bé ngây ngô, hai tay giơ cao nhảy cẩng lên phấn khích, pose hình cắt rõ nét hai chiếc bóng như đang phi thân giữa nền trời trong trắng xóa mây cừu.

Thầy tôi tuổi già lạnh lẽo tha hương, lòng lúc nào cũng ngui ngút nhớ bụi chuối xào xạc sau nhà, nhớ dĩa rau muống xào tỏi bóng ngời xanh mướt, nhớ nồi bánh tét chụm bằng củi gộc thâu đêm ngoài sân những ngày giáp Tết, nhớ bến Ninh Kiều lộng gió thổi giề lục bình trôi mãi không về. Thày nói Thầy như giề lục bình đó, một ngày dứt áo nức nở ra đi đâu hẹn ngày về, rễ lục bình muốn ăn sâu bám đất nhưng nước dâng mãi cuốn lục bình theo con xoáy ra tận biển khơi...

Tôi thì sao? Tôi cũng có cùng ký ức tuổi thơ đẹp đẽ như Thầy, Cô và các bạn mình vậy, nhưng tôi không có tuyết rơi lả tả để ngậm ngùi, không có bạt ngàn tulipe ngợp sắc màu để nhớ thương cây vạn thọ mộc mạc vàng ươm ngay ngáy dưới bến hoa, cũng không được cúi mình ngắt nhánh muguet trắng bé nhỏ gục đầu bên đường để hồi tưởng bụi ngò gai xanh um lô nhô chen lên giữa những khe gạch bậc tam cấp nhà Nội ngày hè.

Và cũng chưa một lần tên tôi được in trên tấm bìa quyển luận án - luận án với áo thụng nón vuông chuẩn mực đúng nghĩa, không phải thứ luận án "thời thượng" sao chép thuê mướn, cũng không phải thứ áo thụng hàng mã vẹo vọ màu mè. "Không thành công cũng thành nhân" chăng? Ừ thì thành nhân vậy!

Vượt nạn phục ma thành tiên thánh,
Chẳng ma chẳng nạn chẳng thành nhân.

(Diệu Giác)

Tôi chỉ còn những ký ức buồn thảm, những tử biệt sinh ly, những biển trời ngùn ngụt mây đen mây xám... Ngày đó, tôi bỏ Cần Thơ đi biệt xứ mấy mươi năm. Tan tác, suy sụp, và cả tang tóc... Tôi sống cúi đầu lâu đến nỗi, một ngày bỡ ngỡ nhìn thấy mình qua tủ kiếng tiệm may bên đường, giật mình không nhận ra cô bé tươi tắn cao ráo yêu đời luôn nhảy chân sáo ngày nào, thoắt cái biến thành một phụ nữ trung niên xa lạ, vai so, đầu cúi, buồn bã, mệt mỏi, xác xơ...

2. Rồi một ngày tôi quyết định âm thầm về thăm lại CT: Mình còn không nhận ra được mình, làm sao những người quen cũ, sau mấy mươi năm thương hải tang điền có thể nhận ra cô tiểu thơ ngày cũ! Cũng may (!) VN bây giờ ô nhiễm thành vấn nạn, ai ai ra đường cũng thành ninja. Thế là kết đen, kính râm, và khẩu trang, tôi hòa vào đám người Việt tội nghiệp của tôi, mà mỗi người đều trang bị tận răng y như sắp cướp nhà băng.

Sao mà không muốn gặp lại người quen? Bạn ơi, ta mặc áo gấm võng lọng về làng, chớ có ai đi mặc áo rách, áo vá thăm quê? Suy cho cùng, áo rách chỉ là cách nói, chớ cái rách nát ở đây là tâm hồn tôi, nó tả tơi như tấm màn voan mục nát trong căn nhà vô chủ, trỏng trơ, phe phẩy mệt mỏi đến tội nghiệp mỗi khi cơn gió hồi ức thoảng về!

Tôi lặng lẽ rời thành phố khi trời còn chưa rựng. Hai chiếc cầu treo tân kỳ thay thế hai bến bắc cộng thêm con đường cao tốc Trung Lương đã rút ngắn đáng kể đường về quê cũ. Nhớ quá những chiếc bắc lừng lững trôi trên dòng sông mênh mông đục lờ chảy xiết. Nhớ những hàng quán hai bên đường xuống bắc đầy ngập trái cây bánh mứt đặc sản miền Tây. Nhớ những lần theo giúp chị Hai tôi đi buôn thuốc Tây nuôi anh Hai anh Ba học tập cải tạo, mà đi có vài lần đã bị chị Hai "đuổi việc" vì cái tội dáng tôi cao nhồng gần mét bảy, cộng với nước da trắng nhách, mấy thằng trạm thuế nó dễ nhớ mặt!

Xe chạy vòng vèo mấy đỗi rồi xuống bến ở tận ngoại ô lạ hoắc, làm tôi nhớ sao là nhớ hàng trúc đào xưa hồng rực lúc xuống bắc CT vào Bến xe mới. Kêu Grabcar về khách sạn ở trung tâm thành phố, lại ngồi nhớ đường về nhà thuở nào. Hồi đó xe lôi về nhà bằng đường Nguyễn Trãi qua nhà thầy Phan Thông Hảo dạy Pháp văn, nơi tôi bị con chó của Thầy cắn trộm sau đùi; kế tới nhà bác Cò mi Giác với khoảng sân rộng mênh mông bao quanh nào xoài nào khế, cho con bé mơ mộng là tôi thơ thẩn cả buổi lượm xoài con khế con đựng đầy hai túi áo, rồi dí bắt mấy con gà con ẵm lên vuốt ve lớp lông vàng êm tơ của nó, bị con gà mẹ đá cho trầy trụa hai bắp chuối mấy lần vẫn không chừa; bên cạnh cây xơ ri đỏ rực trái là hòn non bộ thật lớn giữa sân, là cả một thế giới bí mật đối với tuổi thơ tôi ngây ngô hiếu kỳ, những ngọn núi phủ rêu âm u huyền bí, ông câu lưng còng ngồi bất động bên bờ nước, con cò trắng tí teo đứng một chân nghiêng đầu ngó ngấp tìm mồi, tiếng con cá nhỏ quẫy đuôi dưới làn nước thăm thẳm...

Cũng trên con đường này, nhà Cậu Ba tôi giáo sư Phạm Minh Đức với chiếc bảng hiệu Roneo Nguyễn Trãi, lã lướt nét vẽ chữ tài hoa của chị Thủy tôi con gái lớn Cậu Ba. Cuối con đường là nhà bác sĩ Giu, người bác sĩ gia đình có lần chọc thằng em út tôi là "vịt đẹt" vì mười sáu tuổi rồi mà nó còn nhỏ xíu chưa "nhổ giò" như các anh chị người nào cũng toàn tre miễu với nhện chân dài. Sau đó gia đình tôi ly tán, chớ nếu bác Giu có dịp gặp lại em tôi chắc chắn sẽ hết hồn vì mấy năm sau nó cao gần mét tám!

Đối diện xéo xéo nhà bác Giu là khu Nhà Đèn, cuối năm bảy lăm tôi theo cả lớp vào đó một lần duy nhất vì chuyện đau lòng: đưa nhỏ bạn cùng lớp đến nơi an nghỉ cuối cùng!

Kìa công viên Đồ Chiểu ngang dinh Tỉnh Trưởng, nơi chị em chúng tôi và mấy anh chị con Dì Hai Cậu Ba có lần tụ tập coi bắn pháo bông ngày Tết Tây, ngày vui dính liền với một giai thoại buồn cười về sự ngờ nghệch ngốc nghếch của tôi mà khi nhắc lại cả nhà đều cười nhạo: Năm đó tôi khoảng mười hai mười ba tuổi, khi pháo bông đang bụp bụp nổ sáng trời thì một trái dái ngựa bỗng đâu rơi xuống trúng đầu tôi cái bốp đau điếng. Từ đó về sau, mãi cho tới gần ba mươi tuổi, tôi cứ tưởng người ta luôn cài dái ngựa trong mấy trái pháo bông!!! Và có bạn nào còn nhớ trong công viên đó ở mé ngoài đường lớn, có cái cây cổ thụ lạ lùng hình một người bị chôn ngược, hai thân cùng một gốc giống y như hai chân chổng ngược lên trời?
Dinh Tỉnh Trưởng xưa cất kiểu Tây giữa vườn cây rộng, giờ là chiếc hộp bê tông nhiều ngăn như tổ ong...

 

 Tôi như một người xa lạ lạc lõng giữa mớ nhà lô xô mê hồn trận, đi đâu cũng cứ thỉnh thoảng dừng lại ngó nghiêng chỗ này chỗ nọ như anh chàng Tư Ếch ở quê lên tỉnh. Tư Ếch trố mắt vì thấy cái gì cũng lạ cũng hay, còn tôi ngơ ngác cố tìm chút dư ảnh còn sót lại thuở thiếu thời nhưng hoàn toàn thất bại...

 

Thiếu tiểu ly gia , lão đại hồi

Hương âm vô cải , mấn mao thôi

Nhi đồng tương kiến bất tương thức

Tiểu vấn “khách tòng hà xứ lai”

(Hồi hương ngẫu thư - Hạ Tri Chương)

 

Ngẫu hứng về làng

Trẻ đi, già trở lại nhà
Giọng quê không đổi, sương pha mái đầu.
Trẻ con nhìn lạ không chào
Hỏi rằng khách ở chốn nào đến chơi?
(Nguyễn Ngọc Hùng dịch)

 

Đường Hòa Bình, con đường thênh thang yên ắng và thơ mộng ngày nào, giờ vẫn còn chút tĩnh lặng nếu so với các đại lộ Sài Gòn, nhưng thơ mộng thì không nữa rồi, vì về đêm, nó được trang trí bằng hàng ngàn bóng đèn led đủ màu trên mỗi cổng vòm cách nhau một quãng ngắn, nghe nói được gọi là "đường đèn nghệ thuật". Những bông hoa ngo ngoe đủ cỡ đủ kiểu chen chúc rực rỡ, thứ rực rỡ làm hoa mắt người lớn và khiến con nít vỗ tay tri trô.

Tôi đi bộ thật chậm bắt đầu từ cái siêu thị hiện đại xưa là trường Nữ Tỉnh lỵ, nơi tôi trải qua suốt cấp tiểu học trong bộ áo bà ba trắng quần satin đen, tung tăng khắp sân trường chơi cút bắt sau những cây còng cổ thụ, vào mùa ra hoa từ xa nhìn như những tán dù hồng rực khổng lồ.

Đâu trường Thọ Nhơn, đâu trường Khải Trí? Không thể định vị được nữa rồi. A, đây nhà nha sĩ Phạm Thành Nam, nơi suốt tuổi thơ tôi bị ám ảnh dữ dội bởi tiếng chuông ré lên thót tim trong phòng chờ, như... "lệnh xé xác" báo hiệu tới phiên mình vô nhổ răng!

Ghé một tiệm bán trái cây ngay góc đường Đề Thám - Hòa Bình, tôi bảo xấp nhỏ xếp cho một giỏ trái cây thiệt đẹp để tôi cúng giỗ Ba một đứa bạn thân. Con bé bán hàng vừa dán sợi băng keo cuối cùng vừa liếc nhìn lên, mắt vẽ đuôi dài bén ngót (nghe giọng nói và nhìn sơ dáng dấp mình biết chắc nó vốn là "thằng" dù nó mặc áo bà ba). "Cô bển mới dìa?". Tôi phì cười: "Không, cô ở Sài gòn" (vừa cười thầm: Ủa mình "phèn" quá trời, có gì giống "vịt kìu" đâu ta!).

"Số nhọ", người Bắc dùng chữ này thiệt hay! Cái khách sạn tôi ở dạo ấy sao nhiều người Trung Quốc đến vậy! Đúng nghĩa xí xô xí xào, họ tra tấn tôi bất kể ngày đêm. Nhiều khi tôi không thể phân biệt là họ đang nói chuyện bình thường hay đang cãi lộn! May mà tôi cũng đi gần như cả ngày.

Tôi lại lang thang. Từ chùa Phật Học vòng qua tìm phòng mạch chữa mắt của bác sĩ Hoạch, tôi đứng lớ ngớ trước một dãy ngân hàng và cửa tiệm san sát, rồi chịu thua, rẽ sang chùa Khánh Quang, muốn nhìn lại cái villa của Dì Hai tôi bỏ lại lúc đi Pháp, nhưng cũng chịu thua luôn. Mớ nhà phố chen chúc hết cỡ tranh nhau thò ra mặt đường, tưởng tượng như chúng nó huých vào mạn sườn nhau để chòi ra cho được. Đâu mảnh sân trồng hoa lan tím của Dì? Đâu mấy cái lu nuôi cá kiểng của ông anh tôi? Đâu giàn dạ lý hương ngào ngạt khi đêm về, hoa từng chùm trắng rợp phớt xanh lã lơi trong gió?

Kìa nhà thương lớn về đêm chấp chới ánh đèn, rộng rãi và mới mẻ hơn xưa, không biết có đáp ứng nổi vì diện tích bệnh viện tăng theo cấp số cộng còn bệnh nhân lại tăng theo cấp số nhân! Ngày nào ba giờ sáng nơi nhà xác, tôi ôm lấy xác thân bé nhỏ lạnh ngắt và vuốt mắt cho đứa cháu dại dột đã chọn lìa đời vào một ngày tháng bảy năm bảy lăm. Bây giờ nghĩ lại thằng nhỏ hóa ra khôn ngoan. Đa thọ đa nhục mà. Con chị nó giờ đây vẫn còn trầm luân mãi trong túng khó nợ nần - cái nốt ruồi đen thui sau đuôi mắt con nhỏ, giọng nói run run và ánh mắt lúc nào cũng buồn rười rượi của nó, từ nhỏ Ba tôi đã tiên đoán một cuộc đời chẳng bao giờ hanh thông. Vậy những người còn lại trong gia đình, có ai khiếm khuyết chỗ nào trầm trọng theo tướng số mà sao toàn là "bất thiện chung"? Không phải đều là do nghiệp duyên đưa đẩy cả sao?

Từ nhà thương lớn, bây giờ là bệnh viện đa khoa, xuôi về càng gần nhà cũ tim tôi càng đập mạnh. Trời tối, con đường lại rất lớn nên tôi có thể từ bên kia đường nhìn qua thoải mái mà không sợ ai nhận ra. Hai căn nhà chính và phụ giờ đã trở thành một khách sạn nhiều tầng bề thế. Không biết vô tình hay hữu ý, người chủ mới (là lối xóm cũ) đã lấy hai chữ Song Quỳnh đặt tên cho khách sạn. Thật mỉa mai! Tim tôi thắt lại, có ai đặt tảng đá nặng lên ngực, tự nhiên thấy khó thở, tay run... "Biệt thự Song Quỳnh" được khắc trên bảng đồng chính tay Ba tôi cắm trụ trước sân căn biệt thự ở Sóc Trăng, nay cũng đã thuộc về người khác! Cay đắng... "Lòng như muối xát" không phải là một expression trừu tượng. Nó đau đến tận cùng những ngóc ngách tâm can...

Không muốn lưu lại lâu hơn, tôi bỏ đi xuôi về phía chợ. Đường Phan Đình Phùng giờ thành tên đường gì tôi không để ý, vì nãy giờ những bước chân tôi bỗng trở nên quờ quạng vô hồn. Nhớ thằng con nhắn về: "Mẹ đừng tới nhà cũ làm chi thêm buồn!". Vậy mà tôi vẫn tới. Thú đau thương chăng?

Lần theo đường lớn xuống phố xá nhộn nhịp dưới bến Ninh Kiều, đôi lúc tôi quên, tưởng mình đang ở một góc Sài Gòn! Nhà hàng, khách sạn, shop này shop nọ vô thiên lủng, đèn giăng chớp tắt như sao sa. Kìa là chùa Ông xưa phía trước có hai lồng đèn trắng thật lớn chi chít chữ Tàu đỏ, giờ là một dãy đèn lồng nhỏ đủ cỡ sáng rực như phố cổ Hội An. Chùa cửa đóng then cài, tôi cũng ngại ngần chỉ đứng ngắm từ xa...

Rồi tôi ngạc nhiên đứng thẩn thờ trước bức tường trắng với hoa văn trang nhã in nổi mấy chữ "Bến Ninh Kiều", bức tường giản dị làm tôi cảm động muốn rơi nước mắt, vì nó là thứ hiếm hoi còn sót lại sau mấy mươi năm vật đổi sao dời! Căn cứ Hải quân xưa không còn nữa, tất nhiên... Về phía xa xa, cầu đi bộ lộng gió với hai đài sen cao vợi, mà người ta còn gọi là cầu tình nhân, rực rỡ đèn màu, nườm nượp người đi. Giọng miền ngoài the thé ồn ả, áo đầm củn cởn có, lướt thướt có, áo dài nhung thêu xanh đỏ tím vàng, tất tả túm lên mà chạy kéo nhau lên cầu... Tôi cũng chỉ đứng nhìn xa xa. Dường như những nơi đèn hoa đô hội không phải dành cho tôi.

Hai chân suy tĩnh mạch đã lên tiếng làm reo. Lết bết. Lệt bệt. Ý là đã biết thân chọn đôi giày thể thao ôm chân thiệt êm. Rồi cũng lết được về trường xưa. Không có gì ngạc nhiên vì tôi theo dõi số phận hai ngôi trường Phan Thanh Giản và Đoàn Thị Điểm thường xuyên trên facebook các bạn và trong các trang PTGDTD Mỹ và Úc. Chỉ mong khi gặp lại lần nữa, màu vàng chùa chiền của trường PTG phai đi ít nhiều. 

Ngồi nghỉ chân bên hông trường PTG, uống ly nước mía nước nhiều hơn mía, mắt vẫn không rời mấy viên ngói xanh giả cổ lồng trên tường gạch. Hàng sứ trắng buồn rầu dưới ánh đèn vàng vọt, mấy con thằn lằn tha thẩn ăn đêm... Lòng bàng bạc, mênh mang... Nỗi buồn không có tên, không lý do, nó quện sệt lại và bám chặt mọc rễ nhọn hoắc đâm vào tim tôi những nhát đau xót và nặng nề đến choáng ngộp...

“Hồ tử tất như khau
Quyện điểu quy cựu lâm”

Cáo chết tất quay đầu về núi gò
Chim mỏi tất bay về rừng cũ

(Khuất Nguyên) 

 

Giờ đây cáo sắp cuối đời núi gò đâu tá? Chim mỏi cánh rồi, nhưng biết rừng xưa nơi đâu mà về?

Thôi ráng thêm nữa tôi ơi, chút kiếp này cho trọn, ân oán đời này xin không gặp lại kiếp sau!

 

Mong ta hoá kiếp làm mây trắng
Bay giữa tầng cao thoát nẻo sầu

(thơ Lê Trọng Minh)

 

Trần Cẩm Quỳnh Như
SG, 09/08/2019

ANH DUỆ TÔI VÀ NHỮNG NGƯỜI BẠN

                          Ảnh trích từ Bài viết của anh Nguyễn Tri Tông đăng trong ĐS PTGĐTĐ số 8 - ĐH VII, Seattle WA 2003 

 

 

"Hồng trần như mộng, người tỉnh mộng tan. 

Nhân sinh như kịch, người tan kịch tàn!"

(?)

 

Hôm anh Nguyễn Trung Quân về VN ghé thăm tôi, có nhắc bài của anh Nguyễn Tri Tông viết về anh Ba tôi (Trần Tuấn Duệ), tôi thử lên mạng tìm cầu may nhưng tìm mãi không ra. Chịu thua một thời gian dài nhưng trong lòng khó chịu lắm, vì khát khao muốn biết được tình cảm tốt đẹp của bạn bè dành cho người anh đã mất, nên một hôm tôi đánh bạo nhờ anh Trần Bang Thạch tìm giúp, thật bất ngờ, nhờ anh bữa trước, bữa sau anh đã lập tức gởi bài! Tôi cảm động và mang ơn anh vô cùng!

 

Vừa đọc vừa khóc, nhứt là câu cuối anh Tông viết: "Bên kia thế giới, chắc Duệ đã gặp mặt..." 

Anh Ba tôi lớn hơn tôi tới mười sáu tuổi, nên anh thường nói đùa: "Tao ráng thêm hai năm là đẻ được bây!". 

Trên cầu chợ Biên Hòa một chuyến ra đi không thành, tôi như còn thấy rõ ràng trước mắt dáng anh cao lớn trong bóng nắng sáng lòa đăm đăm đứng nhìn xuống tôi lúc ấy đang trên con thuyền nhẹ trôi lướt qua. Sao tôi cứ nhớ mãi hình ảnh đó, mới tinh như ngày hôm qua... Sau này khi anh tôi mất rồi, tôi mới thấy sao anh giống đến vậy hình ảnh Patrick Swayze đoạn cuối phim "Ghost" đứng giữa luồng ánh sáng trắng nhìn người thân lần cuối cùng trước khi rời thế gian... 

 

Anh Nguyễn Tri Tông là đàn anh của anh Ba tôi nên có lẽ không có nhiều kỷ niệm thời đi học với nhau như anh Nguyễn Trung Quân, anh Triệu Canh Ngũ, anh Huỳnh Thiện Hân, không có nhiều kỷ niệm thời dạy học với nhau như anh Võ Văn Trí, thầy Võ Đăng Lành...

 

Già, chuyện mới thì quên đầu quên đuôi mà sao chuyện xưa cứ nhớ hoài! Để từ từ tôi kể bạn nghe... 

Tôi thành thật xin lỗi nếu có chi tiết nào không chính xác do thời gian hơn năm mươi năm bào mòn ký ức bao giờ không hay.

 

Tôi còn nhớ những ngày luân lạc nơi rẫy rừng, buổi tối nằm tòn ten trên võng dưới ánh đèn dầu tù mù, anh tôi hay kể ngày nhỏ cùng mấy người bạn từ thời để chỏm trốn ngủ trưa xuống bến Ninh Kiều tắm sông hay đi đá banh bàn, bị Má cầm roi đi tìm rượt chạy tán loạn. Anh vừa kể vừa cười ha ha có vẻ thú vị lắm. Có lẽ đó là giây phút hiếm hoi tôi thấy anh cười, kể từ sau khi anh bỏ dạy đi làm nông dân.

 

Còn lần đầu tiên tôi thấy anh khóc? Đó là lần anh Thọ tử trận. Anh tôi về nhà tả lại cái chết thê thảm của bạn, giọng run, tay run, nước mắt chảy ròng ròng. Sau này cứ mỗi lần nghe tin một quân nhân chết trận, tôi luôn hình dung nỗi đau đớn dai dẳng anh Thọ chịu đựng trước khi lìa đời, và gia đình tôi ai cũng xót thương chị Thiên Kim, vành khăn tang trắng quàng lên mái tóc lúc ấy hãy còn rất xanh.

 

Hồi gia đình chưa suy sụp, thỉnh thoảng anh tôi hay kéo bạn về nhà đãi đằng. Trong lúc Má và hai chị tôi bận túi bụi dưới bếp với mấy món nem nướng cháo bồi thì tôi, lúc đó chỉ là con nhỏ chín mười tuổi, hay len lén chạy lên nhà trên núp nghe mấy anh nói chuyện rôm rả. Trong đám bạn anh Ba tôi, tếu nhứt và sôi nổi nhứt là anh Nguyễn Trung Quân. Tôi vẫn còn nhớ rõ câu chuyện tiếu lâm anh Quân có lần kể về anh tân binh đứng xớ rớ hoài không biết xếp vào hàng tòm tem em vợ hay vào hàng tòm tem chị vợ! 

Kỷ niệm với anh Quân khá nhiều, nhưng hai kỷ niệm nhớ đời là lần đi vượt biên chung với anh chị và hai nhóc Trấn Quốc, Thư Trung lúc đó còn nhỏ xíu, khi thất bại trở về lúc nửa đêm tấp vô cồn cỏ sông Sài Gòn, cả thuyền bị muỗi độc cắn vết nào vết nấy sưng bằng bánh cam, ở giữa có một tim mủ vàng, ngứa ngáy không chịu nổi tới nửa tháng sau. 

Kỷ niệm thứ hai là khoảng năm 73, 74 (?) anh Quân ra tranh cử, anh Ba bắt tôi và thằng em út đi dài dài ngoài đường phát tờ rơi vận động bỏ phiếu cho anh Quân, hai chị em ôm chồng tờ rơi nặng chịch và xấp carte de visite từ chợ Cần Thơ lội bộ đi phát từng nhà, vô tới qua khỏi cầu Tham Tướng, khi về tới nhà hai chân mỏi rụng.

 

Tôi cũng nhớ anh Cao Thanh Tùng sử dụng nhiều nhạc cụ rất hay, và anh Tòng em trai anh Tùng (không biết tôi nhớ đúng không) tại nhà tôi đã hát bài "Những chiều không có em" cao vút tuyệt vời. Những chiều không có em, phố buồn nằm im bóng. Ai chờ ai đây, mà bâng khuâng nhặt lấy chiếc lá úa, Tiếc thời xuân xanh tựa chiếc lá vàng kia khi mùa thu gọi hồn... Giọng anh Tòng khi hát tới "chiếc lá úa" bỗng vút lên hoang hoải, thê thiết, và đôi mắt anh mơ màng ngập tràn nghệ sĩ tính.

Hồi đó hễ tới giờ phát chương trình "Đố vui để học" là cả nhà đều đón xem anh Cao Thanh Tùng dẫn chương trình với chất giọng trầm ấm rõ ràng, vừa sinh động, vừa tài hoa: Hễ cần minh họa cho một đoạn thơ là anh rút ống sáo ra thổi liền một hơi dài lâm ly làm ai cũng lác mắt!

 

Anh Triệu Canh Ngũ rất ít nói, đôi mắt một mí và hàng ria đậm. Tất cả những gì tôi nhớ nhứt về anh Ngũ là anh học rất giỏi, thi Tú Tài ban A đậu hạng Bình rồi cao hứng thi luôn ban B được hạng Bình Thứ, là tấm gương chuyên cần mà anh Ba tôi cứ khen ngợi hoài để nhắc nhở mấy đứa em. Hồi đó anh tôi cũng hay kể chuyện nhạc sĩ Trịnh Công Sơn nghe nói cô Diễm Xưa lên Đà Lạt chơi bèn lập tức chạy lên tìm để rồi chứng kiến cảnh anh Ngũ đang dạy cho Diễm khiêu vũ trên đồi Cù. Sau 75 trong nhà tôi quay qua quay lại lủ khủ toàn là thuốc anh Ngũ bào chế: Dầu gió Phật Bà, thuốc nhỏ mắt, thuốc cảm, thuốc ho, thuốc chống dị ứng, viêm mũi... Chị Triệu Quới, em gái anh Ngũ, là bạn học với chị tôi. Đứa con nít là tôi đã bao lần thầm ước ao được mau lớn và được đẹp thanh thoát như chị!

 

Anh Huỳnh Thiện Hân dáng nhỏ thó, nụ cười hiền lành, lúc rối ren nhứt năm 75 đã từ miền Trung di tản về SG cùng một chuyến tàu với tướng Ngô Quang Trưởng và nghe Ông buồn rầu tâm sự: "Quân sự không theo kịp chính trị, anh à!".

 

Trong những người bạn của anh tôi từ thời để chỏm, chơi thân nhau tới lớn và cùng nhau thành đạt, có một người lúc nào cũng hiền lành trầm lặng, ánh mắt lúc nào cũng buồn buồn, đó là anh Hoài. Anh bị tật ở lưng nhưng bệnh tật không làm anh thua sút bạn bè với tấm bằng dược sĩ đáng ngưỡng mộ. Sau này khi gia đình tôi tan tác và suy sụp phải lui về ẩn cư nơi rẫy rừng, thỉnh thoảng trong những chiều mưa rỉ rả, chúng tôi hay ngồi xúm lại bếp lửa ấm áp vùi mấy củ khoai mì khoai lang thơm phức và khi cùng nhau nhắc lại những người Cần Thơ, thế nào chị Tư tôi cũng nhắc đến anh Hoài, chị nói không biết anh Hoài có sống mạnh giỏi không, có lẽ lúc bấy giờ anh đã có con có cháu, và chị tôi luôn cầu mong anh một đời bình an.

 

Tôi không biết nhiều về anh Nguyễn Công Đức, con của bác Văn Nhiều. Kỷ niệm duy nhứt tôi còn nhớ là anh Ba hay dẫn tôi ra tiệm sách Văn Nhiều để tìm mua sách mới, mỗi lần dễ đến cả chồng! Có khi anh Ba gặp anh Đức, hai người đứng nói chuyện rôm rả ngoài hiên, thì tôi, con bé mười mấy tuổi ranh mãnh "lợi dụng thời cơ" mặc sức lang thang trong tiệm sách, ngấu nghiến "coi cọp" mấy cuốn truyện ma! "Truyện đường rừng" của Lan Khai, "Vàng và máu" của Thế Lữ - mấy tựa sách này đều có sẵn ở nhà nhưng anh Ba không cho tôi đọc, vì cái tội sợ ma không dám thức khuya học bài! 

Anh tôi có niềm đam mê đọc sách lớn đến nỗi tiền dạy học bao nhiêu đều đem đi mua sách, do vậy nhà tôi y như thư viện, từ nhỏ đến lớn tôi chưa hề phải đi tìm mua hay mượn sách từ nơi khác. Sau ngày 30, tất cả các sách đều phải đem nộp cho Phường. Sách nhà nhiều quá, muốn nộp hết cho Phường chắc phải cần tới xe tải! Mà chúng tôi cũng không cam tâm. Vậy là mớ xé, mớ đốt, mớ bán ve chai. Xé tới sưng tay, đốt tới sưng mặt (vì hơi nóng). Mấy chị em vừa xé, vừa đốt, vừa khóc hu hu.

 

Thời Hiệu Trưởng Võ Văn Trí còn "tại vị", học trò chúng tôi chẳng đứa nào không biết câu: "Tóc em dài em cài hoa thiên lý, Tóc anh dài ông Trí cạo đầu anh!". Ngôi trường Phan Thanh Giản mấy năm đó như thay da đổi thịt, cây kiểng tươi tốt trong sân trường và xanh um hai bên những lối đi, đến nỗi anh Trí tự hào nói với anh tôi: "Tao sẽ làm cho trường mình đẹp như lăng Khải Định!". Giờ gẫm lại thấy cũng... ngộ, trường học, sao không ví với cái gì, lại ví như lăng mộ? Phải chăng đó là điềm gỡ báo trước ngôi trường sẽ mất tên, mất cả tượng cụ Phan sau đó không lâu!

Anh Trí cũng cao lớn và mang kiếng trắng như anh Ba tôi, nước da bánh ích, cười lúm đồng tiền rất có duyên. Đặc biệt hai người đều có giọng giảng bài oang oang như lệnh vỡ. Anh Trí giảng Cours De Langue bên kia Phan Thanh Giản, anh tôi giảng Kiều bên này Đoàn Thị Điểm, hai trường cách nhau một con đường nhỏ xíu nên nghe tiếng nhau vang vọng, thế là hai ông thò đầu ra cửa sổ, giơ nắm tay dứ dứ nhau, và toét miệng cười... 

 

Tôi không nhớ chính xác năm nào các giáo sư miền Nam buộc phải đi học quân sự chín tuần ở Thất Sơn. Anh Trí và anh Ba tôi cao lớn nên mặc đồ treillis nhìn thiệt bặm trợn và oai hùng. Hai anh cùng cận thị, nhưng lại cùng đoạt bằng thiện xạ! 

Điều thú vị hơn nữa, là thầy Võ Đăng Lành dạy Pháp văn Đoàn Thị Điểm, người nhỏ thó nhưng học bắn súng trường không hề thua  kém ai. Anh tôi kể khi có cố vấn Mỹ đến thăm, người sĩ quan đứng đầu (lúc đó tôi còn nhỏ quá không để ý  tướng, tá nào) không gọi anh Duệ, anh Trí, mà gọi thầy Lành ra bắn biểu diễn cho gã Mỹ mắt tròn mắt dẹt nhìn vị giáo sư nhỏ bé nhanh nhẹn bắn những phát súng liên tiếp trúng đích!

 

Khoảng năm tám mươi, lúc đó anh tôi còn yên ổn làm rẫy, thỉnh thoảng lại dong ruỗi về Sài Gòn trên con "chiến mã" SS50, anh hay chạy tới trước chợ Tân Định để gặp anh Lưu Thùy Sử, lúc đó đang chạy xe ôm, nợ cơm áo khiến anh quá đỗi phong trần, ốm nhom đen thùi, nhìn không ai biết anh từng xuất thân Cao học hành chánh. Lần đầu tiên anh Ba dẫn tôi ra chỗ anh Sử, anh tròn mắt nhìn tôi kêu trời: "Trời đất ơi, con QN đây sao? Sao nó cao dữ ôn?".

Thời gian anh tôi bị nạn, lần nào tình cờ gặp tôi trước chợ, anh Sử cũng kêu đứng đó chờ anh chạy vô mua bịch mè, biểu đem về rang gởi anh tôi ăn "để ráng cầm cự". Khi gia đình tôi bỏ xứ ra đi, cũng là nhờ anh Sử cho tá túc qua đêm để hôm sau lại lên đường về rẫy rừng. Rất lâu sau này khi đã về Sài Gòn và yên bề gia thất, tôi có trở lại chợ Tân Định tìm anh, nhưng mấy ông xe ôm ở đó không ai còn ai biết anh Sử là ai. Qua bài viết này nếu tình cờ anh Sử có đọc được những dòng này, xin hãy nhận nơi em và gia đình em lòng  biết ơn sâu sắc. Khi một con người mới vừa thất thế, lúc đó lập tức biết ngay ai là bạn, ai là bè! Anh Sử là người bạn trong cơn hoạn nạn, chớ không phải bạn chỉ có mặt lúc trà dư tửu hậu, để rồi vội vã trở mặt phủi tay khi đất trời nổi cơn gió bụi.

 

Cứ nghe trong thơ nhạc và tiểu thuyết nói hoài mấy chữ "thế thái nhân tình", nhiều khi còn thấy nó... cải lương! Đến một ngày khi đã thấm đẫm tình đời, mới thấy bốn chữ đó sao mà thấm thía! 

Anh Ba tôi đau lắm, thấm lắm mỗi lần nhắc lại chuyện bị người bạn thân xua ra khỏi nhà khi anh tôi ghé nhà hỏi xem anh đó có tính toán gì không vào những ngày đầu tháng Năm - người bạn mà anh tôi quý mến nhiều đến nỗi trước đây cứ dặn đi dặn lại chị em tôi là phải chọn em cún giống papillon đẹp nhứt trong bầy để đem tặng. Vừa thấy anh tôi, anh bạn đó lộ vẻ sợ hãi, rồi bất ngờ chợt khóc tu tu, và móc túi đưa cho anh tôi một vốc tiền giấy đủ loại lẫn lộn trong hai bàn tay ngửa: "Duệ à, mầy cầm tiền rồi đi đi !!!"

Anh tôi ngỡ ngàng đến chết sững vài giây, rồi quay lưng không nói một lời, để lại anh bạn tần ngần đứng đó với vốc tiền đầy, dáng cao to lừng lững trong nắng chiều - cái người mà mới hôm qua còn thân thiết với anh tôi như anh em cùng khúc ruột, và từng là mục tiêu mơ ước của bao nhiêu cô gái đẹp Cần Thơ!

Có lẽ đó là vố đời đau đớn nhứt của anh tôi, mở màn cho những vố khác sau đó, cho đến khi anh tôi qua đời trong đói khát bệnh tật sau những chấn song.

 

 

Anh tôi trả nghiệp sớm. 

Mà không phải chỉ mình anh, sau đó những người thân của tôi cũng lần lượt trả nghiệp rồi ra đi... 

Hiu quạnh quá! 

 

Vị thập ma, vị thập ma?

Thiên hữu giá dạng đích an bài?

 

Bởi vì sao, bởi vì sao?

Ta lại chịu cảnh thế này?

 

(Trích "Ngũ bách niên tang điền thương hải")

 

 

May mắn thay, đến một lúc nào đó tôi cũng kịp nhận ra: "Đời sống ta như một dòng sông, vỗ vào bờ mình, chẳng phải để cảm thấy bị giam hãm, mà để mỗi lúc nhận thức rằng mình có một lối thoát vô tận về phía biển cả" (Tagore). 

 

Phải, anh tôi đã thoát rồi. Biết đâu anh giờ này đang vui cười ở một thế giới không có ác đạo, và nhìn xuống ngậm ngùi thương cho đứa em gái côi cút còn lạc loài ở chốn nhân gian???

 

 

TCQN

28/05/2018

 THƠ GỞI MỘT NGƯỜI BẠN 

 

 

Bạn già quý mến,

Cám ơn bạn đã mất công gởi nhiều tài liệu và hướng dẫn tui trong chuyện tu tập. 
Tui chịu ơn bạn nhiều, hồi đó là giúp đỡ lúc tui khó khăn, bây giờ lại giúp đỡ phần hồn!

Bạn à, từ lâu rồi tui vốn "thấm" cái lẽ vô thường qua cảnh gia đình mình bảy nổi ba chìm trong cơn chính biến. Hồi trẻ đọc Hồng Lâu Mộng, khi thấy một gia đình giàu có đông đúc lúc tàn cuộc thảm thê, kẻ chết âm thầm trong tù ngục, người luân lạc chốn lầu xanh, kẻ bỏ đi tu dưới trời mưa tuyết, là tui cứ ngậm ngùi mang mang trong lòng. 

Ngoảnh lại cuộc đời mình chỉ là bức tranh vân cẩu! Tuổi thanh xuân bao nhiêu mộng mơ về tình yêu, về công danh, về sự thành đạt, thoắt cái đất trời nổi cơn gió bụi, gia đình suy sụp rồi tiếp nối bao nhiêu người thân ra đi trong oan nghiệt, tui còn ngu dốt suy nghĩ không thông, cứ oán trời trách đất, không nghĩ mình và gia đình biết đâu đang phải trả bao nhiêu tội, nghiệp, đã gây trong kiếp trước! Càng sống, càng thấm thía ý nghĩa của sự thành, trụ, hoại, không...
 

Nên tui luôn có ý xa rời thế gian này, dĩ nhiên chỉ trong tâm tưởng, vì bổn phận làm mẹ, làm vợ vẫn còn canh cánh, chỉ xa rời bằng cách hạn chế đến mức tối đa chuyện đình đám tụ họp (đám tang thì đi, đám tiệc thì trốn). Xa rời bằng cách co mình lại để có nhiều thời giờ hơn nghĩ suy cho cùng cái lẽ "Tái ông thất mã", "thương hải tang điền", "thiện ác chi nghiệp diệc bất vong"... 

Bắt đầu thấm thía cái nỗi "nước cạn bèo chấm đất", "phù thịnh bất phù suy". 
Bắt đầu thấy rõ sự bấp bênh của cái gọi là sự sung túc thịnh vượng của một dòng tộc. 
Bắt đầu thấy rõ sự mai mỉa của cái gọi là tình chị em, thật ra thứ tình đó chỉ tồn tại khi những đứa trẻ hãy còn thơ dại, và lập tức dẫy chết khi trong chị em bắt đầu manh nha ý thức về "quyền tư hữu". 

Cũng từ từ thấy được sự vô nghĩa của cái gọi là tình yêu, thật ra chỉ là một cuộc trao đổi những điều kiện ắt có và đủ. 
Bắt đầu thấy rõ mặt trái của cái gọi là tình vợ chồng, thật ra chỉ là bèo nước tương phùng. 

Và bắt đầu biết sợ luân hồi...

Bạn biết không, ngày còn đôi mươi, những đêm "mai phục" ở rẫy rừng chờ những chuyến đi, đêm nào tui cũng đọc kinh Phật dưới ánh đèn dầu leo lét. Khi thì kinh Phổ Môn, kinh Na Tiên Tỳ kheo của dịch giả Đoàn Trung Còn, lúc thì kinh Duy Ma Cật, kinh Địa Tạng, kinh Kim Cang... Vừa đọc vừa so sánh nghĩa tiếng Việt và tiếng Hán, nhưng khi tụng thì thích tụng tiếng Hán, vì không hiểu sao lại thích nghe tiếng tụng kinh của mình trầm buồn vang lên đơn độc trong đêm vắng... Không hiểu hết ý nghĩa đâu, chỉ phần nào thôi, nhưng thấy thích lắm, nhứt là những câu:

...Nhất thiết hữu vi pháp

Như mộng huyễn bào ảnh

Như lộ diệc như điện

Ưng tác như thị quán...

Lúc đó hoang mang lắm, bơ vơ lắm, không biết tương lai đi về đâu, nên tui cứ bám lấy Phật như một cái phao mong đời mình được cứu rỗi. Được cứu rỗi - lúc đó - là được độ trì cho ra đi suông sẻ, được sống bình an trong một đất nước văn minh, có công lý, được đi học lại, và cái tên của mình sẽ oanh liệt nằm trên bìa đỏ cuốn luận án Tiến sĩ ở một đất nước cách đây nửa vòng trái đất... Được cứu rỗi, là mong mình một ngày được trở thành một phụ nữ rạng rỡ công danh...

Giờ thì, (không chối là vẫn còn chút xíu tiếc nuối mỗi khi đọc tin một cô gái thành đạt nơi xứ người), nhưng may thay, đã khác đi nhiều, không cứ mãi ngậm ngùi với hai tiếng "phải chi". 

Qua bao nhiêu năm, thú thật, vì không bỏ công nghiên cứu nên kiến thức về Phật pháp không tăng thêm bao nhiêu, nhưng cảm nhận về Phật pháp thì đầy đặn hơn, biết bằng lòng với hiện tại vì hiểu cuộc đời bèo bọt như bóng nắng một ngày. Tin Phật, cầu Phật, niệm Phật, giờ không phải để ngóng tìm sự giúp đỡ cho những điều kiện vật chất nhỏ nhoi và phù hoa, mà là cầu sự độ trì để thân tâm luôn bình an, để tiêu tan tội, nghiệp, và để thoát cảnh luân hồi, về bên chân Phật. 

Ước muốn đó chắc không dễ gì thành tựu nơi kiếp này, thôi thì cầu cho được kiếp sau làm người bình an - bình an mà có trí huệ, để lại được tin Phật, cầu Phật, niệm Phật, đến bao nhiêu muôn kiếp nữa, đủ phước báu để thoát cảnh làm người, đến nơi không có ác đạo, để được "như như" mà nghe "chư bảo hàng thọ, cập bảo la võng, xuất vi diệu âm, thí như bá thiên chủng nhạc đồng thời câu tác"!

Đôi dòng tâm sự cùng bạn. Một lần nữa thật lòng cảm ơn bạn. Chúc bạn mọi điều hanh thông, sức khỏe dồi dào để luôn tinh tấn trên đường học Phật.

Bạn cũ QN

 

TCQN

SG, 09/05/2018

 

 

Viết nhân ngày 30/4/2018 

MANG MANG

 

Tâm bất tại diên, thị nhi bất kiến, thính nhi bất văn. 
(Nếu không chú ý, dù xem chẳng thấy, dù lắng chẳng nghe - Kinh Phật)

Sáng Chủ Nhật 29/4.  

Đạp xe lóc cóc đi chợ. Chưa lễ mà cờ đã bay lác đác phất phới suốt con đường. Vắng vẻ cách lạ lùng. Cảnh kẹt xe chen chúc khói bụi ngập ngụa còi xe inh ỏi thoắt cái biến mất như tan theo sương mù. Thành phố chợt mộc mạc, dễ thương và hiền hòa như "ngày xưa"... 

Mấy cụ bà áo dài quạt giấy đi lễ nhà thờ. Lác đác vài người đi chợ sớm. Anh xe Grab khoanh tay ngủ gục dưới hiên nhà ai... Tiếng con chim chích chòe hót vang khỏe khoắn, như thể nó đã quên khuấy cảnh tù đày giam hãm nơi lồng son...

Gió sớm mai mát rượi. Chân vẫn đạp những vòng vô cảm. Lòng mang mang, trơ trơ... 
Chợt nhớ hồi đi học có đọc một truyện ngắn đã quên tên, có anh chàng "anh hùng lỡ vận" phải đi làm kiếm sống trong một xưởng máy. A square peg in a round hole. Sau buổi làm việc đầu tiên, hai tay anh đầy mùi dầu nhớt nồng nặc, rửa bao nhiêu lần khi ăn cơm mùi dầu vẫn bốc lên đến lợm giọng. Dầu như thấm vào áo, vào tóc, vào người, và vào cả chén cơm đang cầm trên tay. Vậy rồi nhiều ngày sau, anh chợt khám phá mình không còn nghe thấy mùi dầu tởm lợm từ hai bàn tay và thân thể mình nữa. Như thể anh với dầu đã hòa làm một. Và anh bỗng thấy đau đớn, muốn òa khóc: Anh đã dần quên mình là ai, nên quen dần với cái mùi trước đây vốn xa lạ gớm ghiếc, như hình ảnh quãng đời tăm tối "lên rừng đốt than". 

Có những lúc hồi ức quay về làm muộn phiền đến độ tưởng như có thể chết được vì trái tim ứ máu đến héo hắt. Mà lạ, mấy năm gần đây vào thời điểm này tâm tư sao cứ bàng bạc mơ hồ, cõi lòng thành trơ trơ...

Tôi bỗng cũng muốn òa khóc như anh chàng lỡ vận. Thì ra nỗi đau cũng có thể quen dần, đến một ngày ta và nó hòa nhau làm một, ta không còn nhận ra chân tướng nỗi đau. Nó khiến cuộc đời ta điêu linh hay ta làm cho đời ta điêu linh? Cùng hùa với nỗi đau, ta đã làm chi đời ta?

Trần Cẩm Quỳnh Như
30/4/2018

 

8. Tình nghĩa giáo khoa thư

 

Ngang lưng thì thắt bao vàng, 

Đầu đội nón dấu, vai mang súng dài. 

Một tay thì cắp hỏa mai, 

Một tay cắp giáo, quan sai xuống thuyền. 

Thùng thùng trống đánh ngũ liên, 

Bước chân xuống thuyền, nước mắt như mưa. 

(Lính thú đời xưa - Quốc văn giáo khoa thư)

 

Có lẽ thế hệ "sáu bó" chúng ta hiếm có ai không đọc qua quyển "Quốc văn giáo khoa thư" của nhóm tác giả Trần Trọng Kim, Nguyễn Văn Ngọc, Đặng Đình Phúc, Đỗ Thận biên soạn, một quyển sách hết sức dễ thương mang tính giáo dục cao, dạy cho trẻ nhỏ trở thành những công dân tốt và người tử tế mà giá trị của nó tới nay vẫn không hề xưa cũ.

 

Trong câu chuyện "Tình nghĩa giáo khoa thư" của nhà văn Sơn Nam đã diễn ra một cuộc gặp mặt thật độc đáo giữa anh chàng phái viên báo Chim Trời với anh Tư Có ở cái xóm Cà Bây Ngọp khỉ ho cò gáy:

 

"Ðường đi ấp Cà Bây Ngọp quá xa vời ! Chiếc tam bản nhún xuống một cái "ồ" rồi nhảy tới một cái "sạt" theo nhịp chèo hai chèo. Nắng chang chang rắc vàng trên thảm cỏ hoang xanh ngắt. Vài nhánh bình bát gie ra, quất vào bụi sột soạt. Xế chiều, cò trắng phất cờ như đón người khách lạ. Trích, cúm núm kêu ré lên. Con rạch thâu hẹp lại. Chiếc tam bản lắc nghiêng như trái dừa khô trên mặt nước đầu sóng gió. Anh trạo chèo một chèo, nghiêng mình bên hữu. Rồi bỗng nhiên anh chụp mỗi tay một cây chèo mà chèo trên đất khô bên bờ rạch. Chiếc tam bản lại lướt nhanh trong lòng nước quá hẹp, vừa đủ lọt bề ngang".

 

Nếu Bá Nha có Tử Kỳ, Tả Bá Đào có Vương Giác Ai, thì tri kỷ tri âm với nhau có thể nói là "đôi đũa lệch" anh phái viên với chàng bắt lươn tay lấm chân bùn! Trong ánh đèn dầu cá leo lét, bên chiếc bếp un dưới đất tỏa khói cuồn cuộn, hai kẻ mê "Quốc văn giáo khoa thư" tranh nhau kể rành rọt từng bài trong sách, đến nỗi anh chàng phái viên cảm cái tình "Quốc văn giáo khoa thư" mà không đành đòi nợ người độc giả đặc biệt, đành ra về tay không sau khi hứa hẹn sẽ tiếp tục gởi báo về tặng không! 

 

Thú thật tôi cũng là một trong những người yêu thích "Quốc văn giáo khoa thư". Đó cũng là "quyển sách một đời" mà mỗi người trong chúng ta nhớ mãi từng bài theo chiều dài cuộc đời để luôn làm "người tử tế", vì thời gian trôi qua bao nhiêu năm tháng nhưng có thể nói chưa có quyển sách nào có tính văn học cao và đầy hiệu quả giáo dục tâm hồn trẻ thơ như "Quốc văn giáo khoa thư"! 

 

Nó cũng gợi lại cho tôi thật nhiều kỷ niệm... Có lẽ ai trong chúng ta cũng có lần nghêu ngao: "Ai bảo chăn trâu là khổ, chăn trâu sướng lắm chứ!" Thật là một cuộc sống đáng mơ ước! Cứ như là kẻ ẩn sĩ quy điền không màng danh lợi, thơ thẩn trên lưng trâu thưởng ngoạn thú điền viên "thảnh thơi thơ túi rượu bầu". 

 

"Ai bảo chăn trâu là khổ? 

- Không, chăn trâu sướng lắm chứ! Đầu tôi đội nón mê như lọng che. Tay cầm cành tre như roi ngựa, ngất nghểu ngồi trên mình trâu, tai nghe chim hót trong chòm cây, mắt trông bươm bướm lượn trên đám cỏ. Trong khoảng trời xanh, lá biếc, tôi với con trâu thảnh thơi vui thú, tưởng không còn gì sung sướng cho bằng!"

 

Phải chăng nhà thơ Giang Nam cũng từ bài học này mà ấp ủ một tình "Quê Hương" ?

"Thuở còn thơ ngày hai buổi đến trường, 

Yêu quê hương qua từng trang sách nhỏ. 

Ai bảo chăn trâu là khổ, 

Tôi mơ màng nghe chim hót trên cao..."

 

Người Anh hay nói: "Don't edit the sad parts", đừng lược bỏ mặt tối của đời sống. Hình ảnh em bé ngồi lưng trâu sẽ đẹp đẽ và thư thái biết bao nếu ta đừng nhắc tới chuyện đời chăn trâu bữa đói bữa no, chuyện bị chủ đánh tơi tả khi để trâu ăn lúa nhà người, hay khi ham chơi dẫn trâu về bụng chưa căng cỏ!

 

Tôi không bao giờ quên được những năm 70 hình ảnh tương phản của thằng em tôi da trắng bóc từ thành phố về quê lần đầu tiên cỡi lên lưng con trâu đen trùi trũi của Nội, miệng hò rầm trời: "Ai báo chăn châu la khổ...". Thiệt đúng là:

Mười năm cắp sách theo thầy 

Năm thứ mười một vác cày theo trâu! 

(?)

 

Nhưng thằng em tôi nó lại cười ha hả, coi bộ chẳng buồn phiền gì khi bị nghỉ học về quê làm ruộng. Ôi thằng em cực kỳ thông minh và vô cùng khéo tay của tôi! Tính khí ương ngạnh và kém chí tiến thủ với mấy mươi năm lưu lạc đã biến đứa học trò hiền lành dễ thương thành kẻ phong trần bất đắc chí... Số phần nghiệt ngã đẩy đưa xô dạt những mảnh đời non trẻ, buồn hơn là có khi chính mình đã vô tình tiếp tay cho đời mình thêm bất hạnh long đong...

 

Và có ai còn nhớ bài thơ tả mùa Hè trong Quốc văn giáo khoa thư, đề là "Thơ cổ" nhưng thật ra là của Dương Bá Trạc, một nhà thơ yêu nước:

Ai xui con cuốc gọi vào hè. 

Cái nóng nung người, nóng nóng ghê! 

Ngõ trước, vườn sau um những cỏ. 

Vàng phai, thắm nhạt ngán cho huê. 

Đầu cành kiếm bạn, oanh xao xác. 

Trong tối đua bay, đóm lập lòe

May được nồm nam cơn gió thổi. 

Đàn ta, ta gảy khúc Nam nghe.

 

Bối cảnh là một mùa hè bức bối ngột ngạt, mọi thứ tiêu điều (Ngõ trước, vườn sau um những cỏ), hoa lá nhạt phai (Vàng phai, thắm nhạt ngán cho huê), lòng mong chờ mãi một cơn gió nồm nam, để tới khi đó: Đàn ta, ta gảy khúc Nam nghe. Sao mà nhẹ nhàng, sao mà dễ thương! Hoàn toàn tự chủ, trọn vẹn thoải mái, vô cùng thanh thản, tuyệt đối thư thái... Khi muốn nghe đàn, ta cứ gãy khúc nhạc ta yêu thích mà không một ràng buộc nào, không một áp lực nào, không một miễn cưỡng nào. Ta tự do trôi người theo cảm xúc bình yên như như... Đàn ta, ta gảy khúc Nam nghe...

 

Và đây, đố bạn tìm đâu ra đoạn văn cực ngắn hơn trăm năm về trước mà lột tả được sinh động cảnh trí một dòng thác. Chỉ đôi ba dòng đã gây ấn tượng mạnh mẽ vào đầu óc non nớt một đứa bé Tiểu học, khiến cho nó nảy lòng yêu thiên nhiên đến nỗi khi lớn lên có thể cảm động rưng rưng khi đứng trước một quang cảnh kỳ vĩ:

"THÁC KHÔNE - Sông Cửu Long chảy đến Khône thuộc về Hạ Lào, thì có nhiều thác cao tới mười lăm, mười sáu thước và dài đến hàng nghìn thước. Khúc sông ở phía trên thác thì hẹp lại rồi chảy tràn một vùng có đá lởm chởm và rộng tới bốn năm dặm. Phong cảnh chỗ ấy thật là hùng vĩ thanh tú. Dưới sông nước chảy ầm ầm nghe như tiếng sấm; trên núi "cỏ cây chen đá, lá chen hoa". Giữa thác, đàn cá vẫy vùng; xa xa chim trời lênh bênh theo dòng nước chảy. Thác Khône thật là một nơi tiểu sơn lâm mà có đại kỳ quan vậy". 

 

Này là tiểu sử cụ Phan Thanh Giản. Cái chết hào hùng là vậy nhưng vẫn bị một số người đời sau kết tội, tượng thờ bị đập phá tan hoang. 

"ÔNG PHAN THANH GIẢN - Ông Phan Thanh Giản làm Kinh lược sứ ba tỉnh phía tây trong Nam Việt. Khi chánh phủ Pháp đánh lấy ba tỉnh ấy, ông biết rằng chống với nước Pháp không được nào, mới truyền đem thành trì ra nộp. Nhưng ông muốn tỏ lòng trung với vua và tự trị tội mình không giữ nổi tỉnh thành cho nước, ông bèn uống thuốc độc tự tử. Chánh phủ Pháp thấy ông là một bậc vĩ nhân mà chết như thế, lấy làm cảm phục lắm, mới làm ma cho ông rất trọng thể, cho một chiếc tàu chiến đem linh cữu ông về quê ông, lúc chôn có lính tây làm lễ chào". 

 

Và bạn ơi, nếu bạn là người Sài Gòn, thì hãy nhìn lại Sài Gòn của những năm 1900, vốn đã trật tự, hiện đại, văn minh, tiến bộ, để xem ngày nay có còn lưu lại chút gì của ngày cũ, để bùi ngùi hồi tưởng lại không khí lịch sự êm đềm xưa: 

"SÀI GÒN - Trước khi người Pháp sang bên ta, Sài Gòn là một nơi có nhiều ao đầm kênh rạch bùn lầy ẩm thấp. Thế mà bây giờ thành ra một nơi đô hội rất đẹp ở nước ta. Người ngoại quốc đã cho là "một hạt trân châu ở Viễn Đông" này. Mà thật thế, bây giờ ở Sài Gòn có nhiều lâu đài tráng lệ, nhà cửa đẹp đẽ, phố xá rộng rãi, vườn tược mát mẻ, nước máy trong sạch, đèn điện sáng choang, nhân dân đông đúc, kể có hơn tám vạn người, buôn bán phồn thịnh, tàu bè qua lại tấp nập cả năm. Đứng trên cao trông xuống, thành phố Sài Gòn chẳng khác nào một khu vườn rộng mông mênh, một màu xanh biếc, lô nhô nổi lên trên ngọn cây những nhà cao lớn, tựa hồ như muốn ganh đua với cỏ cây mà chiếm lấy một chỗ ở trên cao vậy. 

Sài Gòn là hải cảng to nhất ở xứ Đông Dương. Thành phố ấy ở trên bờ sông Sài Gòn, có hai cái lạch chảy hai bên, có đường sắt, đường bộ và nhất là đường thủy, tức các nhánh sông Cửu Long (Mékong), sông Đồng Nai và nhiều những kênh, ngòi, làm giao thông với các tỉnh khác và xứ Cao Mên nữa. Có rất nhiều những tàu, sà lan và các thuyền chở thóc lúa ở khắp xứ Nam Việt về Chợ Lớn, mang lên các nhà máy gạo để xay, giã, rồi lại chở sang bến Sài Gòn để xuất cảng. Ở ngoài bến thì có tàu biển chạy ra Bắc Việt, sang Tàu, Nhật, Xiêm, Phi Luật Tân, Nam Dương quần đảo, sang Pháp và các nước khác bên Âu Châu".

 

Và còn nữa, như hiện ra sinh động trước mắt tôi hình ảnh con ếch phình bụng tròn vo để được to bằng con bò, chị ếch đỏm dáng mang giày quả ớt che dù lá tía tô, con bé Mão ác độc bị mèo cào, thằng Canh bị chó dại cắn, lũy Đồng Hới sừng sững nổi bật trên nền trời, tướng Carnot cúi người chào thầy cũ, hai đứa bé không biết đoàn kết bị tẽn tò khi cầm hai mảnh vỏ bứa còn nhân bứa đã bị người khác ăn mất rồi, người xin việc cẩn thận cúi lượm cây kẹp ghim vào áo, và đây hình ảnh đáng sợ và gây ấn tượng nhứt đối với tôi: thằng bé ở dơ không chịu tắm lâu ngày biến thành rừng cây biết đi ... 

 

Lại thêm một kỷ niệm không vui: Khi cánh đồng bạc hà bạt ngàn xanh um vừa thu hoạch xong, anh Ba tôi bắt đầu nấu lá bạc hà lấy tinh dầu. Những năm đầu 80 mọi vật dụng còn rất thô sơ, cái nồi sắt khổng lồ dùng tinh cất ngốn vào bao nhiêu cần xế lá bạc hà như con quái vật đen ngòm ăn mãi không no. Khi lửa nổi lên un khói mù mịt căn chòi lá, anh tôi nhễ nhại mồ hôi, kiếng cận xệ tuốt gần chót mũi, hai mắt đỏ ngầu trong khói cay như Hỏa nhãn kim tinh Tôn Ngộ Không trong lò bát quái của Thái Thượng Lão Quân, vậy mà vẫn tếu táo ngâm nga: 

... 

Chém tre đẵn gỗ trên ngàn

Hữu thân hữu khổ phàn nàn cùng ai 

Miệng ăn măng trúc măng mai 

Những dang cùng nứa biết ai bạn cùng 

Nước-giếng-trong-con-cá-nó-vẫy-vùng! 

 

Tại sao bỗng dưng đang trùng trùng dang nứa nơi rừng thẳm lại có giếng nước trong, trong đó vẫy vùng một con cá đơn độc? Tại sao không là trường giang, không là trùng dương cho cá kia thỏa chí phiêu bồng, lại chỉ là một giếng nước trong? Ý nghĩ này ám ảnh tôi rất nhiều năm, cũng như trong "Lưu Nguyễn biệt thiên thai" của nhà thơ Tản Đà, tôi tìm ra chữ "chơi" đắc địa đầy ám ảnh trong câu cuối "Ngàn năm thơ thẩn bóng trăng chơi", mà không tầm thường như "Ngàn năm thơ thẩn bóng trăng soi"!

 

Tôi nhớ một anh học trò (gọi là "anh" vì lúc học với tôi, người đó lớn tuổi hơn tôi nhiều), trong giờ thực hành Conditional sentences (câu điều kiện), tôi hỏi "Bạn sẽ mua một chiếc Mercedes chăng, nếu bạn có một món tiền lớn?". Anh đó nói "Một xe gắn máy tốt là đủ. Khi tôi đói, tôi chỉ cần một miếng gà, tôi đâu cần tới thịt phượng hoàng!". Câu trả lời vô cùng thú vị đó tôi nhớ mãi và muốn đem ra dùng để lý giải cho trường hợp "Nước-giếng-trong-con-cá-nó-vẫy-vùng" này. Phải, chỉ cần giếng thôi, có cần chi tới trời xanh biển thẳm... 

 

Và tại sao lại là "giếng trong"? Tôi lại liên tưởng tới câu ca dao sâu sắc và cảm động về bà mẹ cò: "Có xáo thì xáo nước trong, đừng xáo nước đục đau lòng cò con". Phải, anh tôi không cần trời cao bể rộng, anh chỉ cần một giếng nước nhỏ, mà phải là nước trong, để anh có thể thỏa sức bơi lội vẫy vùng trong môi trường thực sự tự do và trong sạch! Trong hoàn cảnh của anh em tôi lúc ấy, ai mà không mơ được làm con cá nhỏ xíu vẫy vùng trong làn nước giếng trong leo lẻo ấy, có phải?

Lúc đó hai anh em tôi bất giác nhìn nhau, mặt mày lọ nghẹ và nước mắt ràn rụa trong đám khói mù. 

Khói cay. 

Và đời cũng cay...

 

Ngậm ngùi! Trở về tuổi thơ với những bài học dạy cho con trẻ làm người tử tế nghe như được trở về sống trong một xã hội biết giữ gìn nhân cách, biết quý trọng nhân nghĩa lễ trí tín... Khi mua chiếc vé trở về tuổi thơ, niềm vui sao quá ngắn ngủi! Bức tranh hiện thực quá ảm đạm khi mọi giá trị đạo đức đều tuột dốc không phanh. 

Không thể một mình chấn chỉnh cho mọi thứ trở về trật tự cũ, cũng không thể thoát ra được mớ bòng bong hỗn độn đầy rối rắm của một môi trường sống đầy hiểm họa, há chẳng đáng buồn cho những bậc thức giả trong một xã hội đại loạn nhân tâm ??? 

 

-------------------------------------------

 

Thay lời kết:

 

Chẳng ai sống đời đời kiếp kiếp, chẳng cái gì vĩnh viễn không phai. Này, người anh em, nhớ kỹ điều đó và vui lên mà sống. 

 

Đời ta đang sống đâu phải gánh nặng duy nhất từ xưa để lại; đường ta đang đi đâu phải cuộc hành trình đơn độc dài vô tận, vô cùng. 

 

Một thi nhân riêng mình chẳng phải viết bài ca trường cửu. Hoa nở rồi tàn; nhưng ai đó đã cài hoa lên áo cũng chẳng cần khóc thương hoa mãi mãi bao giờ. Này, người anh em, nhớ kỹ điều đó và vui lên mà sống. 

 

Đối với ta tri thức là quý báu, vì lẽ không bao giờ ta có đủ thời gian nắm thâu tất cả. Mọi việc đã được hoàn tất và an bài ở trên Trời vĩnh cửu. Nhưng chết chóc đã giữ cho hoa ảo mộng của trần gian vĩnh viễn mát tươi. Này, người anh em, nhớ kỹ điều đó và vui lên mà sống.

 

(Rabindranath Tagore - Tâm tình hiến dâng)

(Đỗ Khánh Hoan dịch)

 

TCQN 

SG, 9/11/2017

(Hết)

7. MỘT CUỘC BIỂN DÂU

(Đây là một trong tám bài ghi lại cảm nhận về tám truyện ngắn trong quyển "Hương Rừng Cà Mau" của nhà văn Sơn Nam) 

 

 

Muốn về 

nhặt lá úa vàng 

Làm nơi yên nghỉ 

cho ngàn thu qua

 

Giữa khuya 

hứng giọt sương sa 

Soi đêm chợt thấy còn ta 

rã rời

 

(Lục bát không đề - Trần Đức Lập)

 

----------------

 

 

"Nắng đổ xuống từng đóm lửa đỏ như mấy cục sắt trong lò rèn mới rút ra, chóa lên rồi bay bổng xa dần, trở nên phiêu diêu, mát rượi như bầy đom đóm vô hình bay trong đêm... Bây giờ là ngày hay đêm? Ở đây là biển trần khổ hay là ở trên bồng lai? Trong mớ ánh sáng lung linh, dường như có muôn ngàn gương mặt khác nhau hiện ra không rõ rệt, dịu hiền như ngọc nữ kim đồng, trong tiếng tiêu, tiếng sáo, tiếng đờn cò, giữa bầy phụng hoàng bay lượn".

 

Đó là giây phút cận tử của ông già Bích trên chiếc xuồng nhỏ giữa trời nước mênh mông. Theo nhà Phật, thì không khí mát dịu, tiếng đàn, tiếng sáo... là một dấu hiệu tốt báo trước rằng người ra đi sẽ đầu thai vào một cảnh giới tốt đẹp bình an.

 

Tôi từng nhiều lần tự hỏi, ở ranh giới giữa sự sống và cái chết, khoảnh khắc cận tử sẽ diễn ra ra sao và bao lâu? Mỗi lần đọc một tài liệu về cận tử nghiệp, cảm giác lo âu nặng nề lại đeo bám lấy tôi, vì tôi càng hiểu rõ tầm quan trọng của tâm trí người sắp chết ảnh hưởng sâu nặng đến nghiệp lực của người đó như thế nào.

 

"Trước khi chết, những tư tưởng đã đi sâu vào cốt tuỷ của con người là tâm trạng chính, là yếu tố chính quyết định sự tái sinh..." (Đạt-lai Lạt-ma).

 

Mà những người thân đã mất trong gia đình tôi, tất cả đều "bất thiện chung", họ đã chịu một cái chết tức tối khổ đau trong thời gian khổ nạn, sao tránh khỏi tâm trí oán hờn trước khi nhắm mắt. Nếu sống một đời tử tế lương thiện nhưng chết trong oan khuất, lòng dấy lên một niệm uất ức lập tức bị đọa vào cõi xấu, như vậy có bất công lắm không?

 

 

 Nhà văn Sơn Nam

Trở lại với cái chết héo hắt đáng thương của ông già Bích, thân xác lênh đênh trên chiếc thuyền nhỏ giữa cánh đồng nước mênh mông không thấy bờ trong "Một cuộc biển dâu". Hình ảnh thằng Kim tội nghiệp mếu máo bơ vơ trong cảnh u tịch gây ấn tượng mạnh đến nỗi đọc Hương Rừng Cà Mau đã lâu nhưng cái cảnh mủi lòng đó như hiển hiện trước mắt tôi, sống động và bi thảm. Hãy tưởng tượng giữa bao la trời nước sóng gợn bạt ngàn, không một bóng người cũng chẳng có một mái nhà xa xa, một chiếc xuồng chèo trong vô định trên đó người cha sắp trút hơi còn gắng gượng thều thào: "Ba để lại cho con cái áo này... Yếu quá... ba ngồi dậy cởi áo không được. Con.."

 

Tôi nhớ mấy năm về trước Đài truyền hình thành phố có làm một bài phóng sự về Cần Giờ, phỏng vấn một bà cụ nghèo khó tới tuổi tám mươi vẫn còn phải kiếm sống độ nhật. Phóng viên hỏi bà có mong ước gì cho tương lai, bà nói chỉ mong sao có đủ cơm ăn no mỗi ngày!

 

Té ra thời Pháp thuộc hay lúc thanh bình vẫn còn đó đây những mảnh đời cực kỳ bất hạnh, như ông Bích ngày đó tới chết chỉ có tấm áo để lại cho con, như bà cụ Cần Giờ ngày nay chỉ cơm thôi cũng chẳng no lòng!

 

Và, trong khi người Tây Tạng "điểu táng" người thân trên chót vót cao những đỉnh núi mây vờn với hạnh nguyện hy sinh trọn vẹn cho muôn loài, thì dân ta thời ấy vào mùa nước nổi phải đành lòng neo xác người thân nơi đáy nước, dằn theo tảng đá lớn hoặc cối đá xanh, chờ nước rút mới đem xương cốt đi chôn. Cả đời vai trĩu oằn biết bao buồn thương và gánh nặng cơm áo, tới khi chết đi vẫn còn bị neo đá như một kẻ tử tù!

 

"Hai chiếc nóp gói kín xác kẻ bạc mạng. Bà Hai vào nhà rút mười sợi dây choại, chuyền xuống. Sau rốt, hai ông bà lum khum khiêng xuống xuồng thớt trên của cái cối xay lúa cũ... Ðôi mắt thằng Kim mở rộng, trừng trừng. Cả mặt nước giờ đây hiển hiện như con ác thú khổng lồ há miệng ra nuốt trọn thân xác cha nó rồi ngậm miệng lại, giận dữ vì chưa no..."

 

Chết là hết đối với người ra đi. Nhưng hình ảnh mặt nước mênh mông nuốt chửng lấy thân xác người thân duy nhứt của mình, sao không khỏi đau lòng thổn thức? 

 

Nhưng nếu đem so với những cái chết vùi dập vô danh, thì ông Bích vẫn còn hạnh phúc hơn nhiều! Sau khi nước rút, con cháu còn biết người chết nằm đâu để trở lại đó đem xương cốt về chôn cất thờ phượng tử tế. Còn những cái chết vô danh mà người thân nơi quê nhà năm này qua năm nọ mỏi mòn trông ngóng người đi và cuối cùng đành lấy ngày đi làm ngày giỗ...

 

Tôi muốn kể bạn nghe cái chết bi thảm và cô quạnh của một người vô danh. Đó là vào những năm "anh hùng lỡ vận lên rừng đốt than", anh tôi bỏ dạy đi làm rẫy, lúc nông nhàn anh đi mua củi bi (là thứ gỗ tạp còn nguyên thân, chỉ cưa khúc dài chừng một mét) ở sâu trong rừng Sác rồi chèo tay về tận vàm Phú Xuân (sông Sài Gòn) để bán cho vựa. Khi anh chèo qua một con tắc (rạch nhỏ) trong rừng, ghé lại lùm cây nghỉ ngơi và định lấy gô cơm ra ăn thì chợt thấy một xác người nằm vắt vẻo xa xa, có lẽ là người vượt biên bị "tế thần". Muốn chôn giúp nhưng trong tay không có cuốc xuổng, muốn xem gốc gác để báo tin giùm cho thân nhân nhưng trên người nạn nhân không một mảnh giấy tùy thân. Đành lầm thầm xin lỗi, lấy cây rừng che chắn, niệm danh Phật A Di Đà rồi lẳng lặng ra đi. 

 

Anh tôi nói anh nhớ hoài gương mặt hiền lành trí thức và cặp kiếng cận đã gãy lìa, một càng kiếng gãy đâm sâu vào thái dương có lẽ do cú ngã bất thần, nhớ vết thương trí mạng đâm từ sau lưng, vết máu loang rộng đã đen quánh, nhớ màu áo xanh bết bùn nhờ nhờ trong ánh chiều chạng vạng... Là người đa cảm, thấy phận người nhớ thân mình, nên anh nhớ mãi cảnh bi thương, hai ngày chèo chống không nuốt nổi cơm chỉ uống nước cầm hơi. Đã vậy khi xuống tới vựa củi ở vàm Phú Xuân còn bị thương lái ép giá, anh tôi giáo sư Việt văn hiền khô nào biết bán buôn ngoa ngoắt... Lần đó anh trở về mặt mũi hốc hác, mấy ngày trời gương mặt đăm đăm buồn. Người thanh niên thành phố đáng thương ấy có lẽ đâu bao giờ ngờ rằng đời mình có ngày chấm dứt đau đớn oan nghiệt nơi rừng sâu lạnh lẽo. Đâu đó có bà mẹ già, người vợ trẻ cùng đứa con thơ mỏi mòn ngóng tin người ra đi... 

 

Vài năm sau anh tôi cũng ra đi, bất hạnh không kém. Anh tôi chết vì bệnh không có thuốc uống. Và chết đói... Nhiều đêm mất ngủ, nhớ tới anh tôi hay tự hỏi: Không biết khi nhìn thấy xác người lạ đáng thương đó, có bao giờ anh ngờ được rằng, rồi có ngày anh cũng "bất thiện chung"? Anh tôi cao lớn lắm, cười có duyên lắm, trong mấy anh em chỉ mình anh thừa hưởng đôi mắt phượng của Má, ánh lấp lánh cương nghị sau cặp kiếng trắng, anh tôi giảng Kiều hay tuyệt khiến không ít nữ sinh thời đó thầm thương trộm nhớ... Vậy mà... 

 

Ruồng nát mấy cuốn "Tướng mệnh khảo luận" của Vũ Tài Lục, tôi tìm hoài không ra tướng mạo nào khiến anh tôi yểu mạng. 

Lâu dần tôi nghiệm ra rằng, có khi lòng khẳng khái cũng dẫn con người vào chốn oan khiên... 

 

 

TCQN 

SG, 04/11/2017 

(Còn tiếp) 

 

                                                         

 

 

Viếng thăm Thầy PHÓ LỄ HÙNG & Thầy VÕ ĐĂNG LÀNH

MÙA THU DAY DỨT

 

 

Lặng xuôi năm tháng êm trôi 

Con đò kể chuyện một thời rất xưa 

Rằng người chèo chống đón đưa 

Mặc cho bụi phấn giữa trưa rơi nhiều 

 

Bay lên tựa những cánh diều 

Khách ngày xưa đó ít nhiều lãng quên 

Rời xa bến nước quên tên 

Giờ sông vắng lặng buồn tênh tiếng cười 

 

Giọt sương rơi mặn bên đời 

Tóc thầy bạc trắng giữa trời chiều đông 

Mắt thầy mòn mỏi xa trông 

Cây bơ vơ đứng giữa dòng thời gian

 

(Thầy và Chuyến Đò Xưa - Nguyễn Quốc Đạt)

Sáng thứ Bảy 30/9 bốn đứa tôi: Lệ Hoa, Thu Liễu, Thu Hồng và Quỳnh Như lên đường đi thăm Thầy Phó Lễ Hùng(dạy Việt văn trường Đoàn Thị Điểm) ở quận 7, và Thầy Võ Đăng Lành (dạy Pháp văn trường ĐTĐ) ở Biên Hòa. 

 

Trời nắng đẹp cả ngày, không có mưa đá như ông xã tôi tiên đoán (vì xưa nay tôi hiếm khi đi đâu), mà chắc Trời cũng nghĩ thương chúng tôi bốn cụ bà gốc Quảng Ninh (vì gặp nhau đứa nào cũng thi nhau THAN bịnh quá trời!). 

 I. ĐI THĂM THẦY PHÓ LỄ HÙNG

 

Thầy Phó Lễ Hùng vẫn nụ cười hiền lành, vẫn giọng nói điềm đạm như ngày nào, nhưng vì nhiều bệnh nên ốm nhiều. Căn phòng thuê nhỏ xíu nhưng ngăn nắp, trong gian bếp bé tí như bàn tay, tôi tưởng tượng Thầy tôi một mình lụm cụm nấu chút cơm, hâm chút thức ăn, rồi tôi nhớ câu nói của Thầy: "Đối với Thầy, việc bếp núc nó nặng nhọc làm sao!", tưởng tượng Thầy tôi loay hoay giặt giũ bằng một tay, vì tay kia suy tĩnh mạch nặng phải quấn băng thun cả ngày, tưởng tượng Thầy tôi những ngày mưa dầm lướt thướt hay những đêm dài mùa đông giáp Tết, nửa đêm Thầy lên cơn khó thở mặt mũi tái xanh vì viêm phế quản mãn tính, những buổi trưa mái tôn hầm hập mà Thầy lại trùm mền lạnh run...

 

Chúng tôi đứa nào cũng xót xa cho Thầy tuổi già cô độc, bịnh tật luôn cố xoay sở một mình vì không muốn phiền con. Lệ Hoa, Thu Liễu muốn đưa Thầy đi chơi đây đó cho khuây khỏa, rủ Thầy đi thăm Thầy Lành, "dụ" đưa Thầy về CT thăm trường cũ người xưa, nhưng Thầy chỉ lắc đầu từ chối với nụ cười buồn. Chúng tôi nhắc đến giọng hát Thầy ngày xưa thật trầm ấm vào ngày liên hoan tất niên với "Tình xa" của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn: Giọt rượu nào mãi chua cay trong tình vẫn u mê... Từ một ngày tình ta như núi rừng cúi đầu. Ôi tiếng buồn rơi đều, Nhìn lại mình đời đã xanh rêu.... , nhắc cô Hoàng Yến dạy Nữ công mà lũ học trò quỷ quái cứ viết tên hai Thầy Cô lên bảng để gán ghép cho bằng được...

 

Riêng tôi có một kỷ niệm đẹp ngày đi học với Thầy Hùng: Năm đệ Thất (lớp Bảy), lớp P1 chúng tôi học Việt văn với 1 vị Thầy. Thầy nầy luôn cho rằng tôi không trung thực vì nhờ người lớn làm giùm luận văn, nên chưa bao giờ điểm luận của tôi vượt quá con số Sáu! Tôi mang hoài nỗi ấm ức kéo dài cho đến khi được chuyển qua học với Thầy Hùng. "Ước mơ bắt đầu chắp cánh khi một người Thầy tin tưởng nơi bạn", lần này khả năng tôi được Thầy công nhận và rồi trở thành học trò cưng của Thầy. Sự khích lệ tích cực này đã tác động rất lớn đối với tâm lý trẻ con khiến tôi tiến bộ nhanh hơn, yêu thích môn Văn nhiều hơn, vì vậy tôi luôn mang ơn Thầy Hùng đã giúp tôi sớm cởi bỏ mặc cảm xấu hổ và nỗi khổ tâm không đáng có lúc tôi còn học với vị Thầy trước.

 

Với tôi, Thầy Hùng còn là người Thầy "tri kỷ" vì hai Thầy trò tính cách gần giống nhau, thích sống yên tĩnh và độc lập, hay nghĩ cho người nhiều hơn cho mình nên luôn cố tự xoay sở, luôn sợ làm phiền và tính tự trọng rất cao. Những bài viết của tôi được Thầy đọc và nhận xét rất đặc biệt mà ngay cả người thân của tôi cũng không thấy được những khía cạnh đó đằng sau những ý nghĩ đơn giản và ít khi có tính tích cực vui sống của tôi. Tôi luôn cho rằng dù muộn, tôi vẫn may mắn liên lạc được với người Thầy dạy Văn cũ, để tuổi già Thầy trò có thể cảm thông nhau vì cả hai đều nhiều bịnh tật, đồng cảm cái đẹp của văn thơ, cùng có mối quan tâm chung về những vấn đề văn học, và nhứt là các tài liệu chuyển tiếp Thầy gởi cho tôi qua mail thường là những bài viết rất thú vị, hữu ích và hiếm gặp.

 

Chia tay Thầy Hùng trong bịn rịn, chúng tôi lên đường đi Biên Hòa với hình ảnh Thầy trong kiếng chiếu hậu ốm yếu mảnh khảnh đứng tựa cửa mãi nhìn theo...

 II. ĐI THĂM THẦY VÕ ĐĂNG LÀNH  

Ngày cuối tuần, thiên hạ kìn kìn ra khỏi thành phố đi chơi xa, đi nghỉ dưỡng, khiến con đường ra khỏi thành phố đông ken nên gần hai tiếng sau chúng tôi mới tới được Biên Hòa.  

 

Xe dừng trước một căn nhà rộng trên con đường nhỏ khá yên tĩnh. Thầy Võ Đăng Lành đang lần mò đi ra về phía cổng. Mắt Thầy mờ lắm rồi, chỉ có thể thấy được chúng tôi như những bóng mờ... Tuy nhiên Thầy trông rất phương phi hồng hào, khí sắc rất tươi sáng, có lẽ nhờ sau này vợ chồng người con út đã chuyển về sống chung và chăm sóc Thầy, nên Thầy không còn phải mò mẫm tự làm mọi thứ như trước. Chúng tôi ai cũng mừng cho Thầy, vì thời gian trước qua điện thoại nghe Thầy tả cảnh mò mẫm tìm viên thuốc đánh rơi, hoặc khi làm bếp một mình mò tìm mãi trái cà chua lăn dưới gầm bàn, ôi thật xót lòng!

 

Với Thầy Lành, tôi có khá nhiều kỷ niệm vì ngày còn dạy Đoàn Thị Điểm, Thầy và anh Duệ tôi rất thân nhau. Tôi nhớ chiều chiều Thầy Lành hay ghé chơi nhà tôi, cùng anh tôi mở rộng cửa và ngồi trước nhà, vừa ngắm thiên hạ qua lại vừa tán gẫu chuyện trường, chuyện đời. Có lần pháo kích cách nhà tôi không xa, một miếng miểng trắng đục như cục gang bằng chân cái ghim vào cửa sắt nhà tôi, ngay đúng tầm đầu hai người hay ngồi. May mắn chiều đó Thầy Lành không ghé chơi, thật hú hồn!

 

Hè lớp đệ Lục (năm này bắt đầu gọi là lớp Bảy) tôi vào nhà Thầy Lành trong Khu Văn Hóa (kế sát nhà Thầy Nguyễn Cửu Triệp dạy Vạn Vật) để học ké với mấy chị lớp đệ Tam (lớp Mười) Pháp văn sinh ngữ phụ. Giờ về, chờ Thầy quay lưng, tôi lén bỏ bao thơ học phí kẹp vô sách Thầy rồi ù chạy mất. Buổi học sau, cái bao thơ quay về chủ nó, kèm cái ký đầu khá đau!

Lúc đó Thầy Lành ở chung với Thầy Đạt (cũng dạy Pháp văn). Thầy Đạt to lớn bậm trợn nhưng rất sợ... gián!. Cứ hễ chúng tôi đang học với Thầy Lành ở phòng ngoài mà nghe bên trong Thầy Đạt vừa giậm chân đùng đùng vừa chạy vù ra mặt mày nhớn nhát là biết ngay Thầy mới gặp gián!

 

Khoảng năm tám mươi, tám mốt, tôi có tìm đến Thầy Lành ở đường Trương Định, Sài Gòn, đối diện cổng Tao Đàn để học riêng với Thầy một thời gian. Hai Thầy trò bất đắc chí có dịp cùng nhau bàn luận chuyện đời dâu bể... Thầy kể tôi nghe chuyện Thầy phải đi làm kiếm sống vất vả từ trẻ, nhắc lại những ngày vui khi còn dạy chung Đoàn Thị Điểm với anh tôi, nhớ câu nói cửa miệng của mấy chị học trò lớp lớn thời đó: "Ở hiền gặp LÀNH, ở ác gặp DUỆ", kể lại thời gian học quân sự chín tuần ở Thất Sơn với kỷ niệm đẹp là Thầy, anh tôi và thầy Hiệu trưởng Phan Thanh Giản Võ Văn Trí cùng đạt chứng chỉ thiện xạ... Để mỗi ngày mưa lất phất khi học Thầy về, lòng luôn ngậm ngùi khi tản bộ từ nhà Thầy về đường Hiền Vương (giờ là Võ Thị Sáu), Tân Định, ngắm bông sao như chong chóng quay quay la đà sau mỗi cơn gió, xác buồn nâu chết ngập cả con đường thăm thẳm...

 

Thời gian trôi nhanh không ngờ! Các Thầy Cô ngày nào tuổi thanh xuân hừng hực bầu nhiệt huyết giờ ai cũng tóc bạc phơ phơ, người ra đi, người nằm bịnh, kẻ sống lặng thầm cô đơn... Những con bé con ngày nào còn cột vạt áo dài nhảy lò cò vô tư trong sân trường, giờ đã là những bà già lục tuần, đuôi mắt đầy vết chân chim...

 

Cầu xin cho các Thầy Cô chúng tôi - những người giáo sư đúng nghĩa đã tận hiến đời mình làm đò đưa lũ học trò chúng tôi đến được vùng tri thức và phẩm hạnh - được tuổi già thanh thản bình yên, xin cho các vị luôn được tương đối khỏe mạnh, ít bị bệnh tật dày vò và nhất là khi ươn yếu cầu xin được ân cần chăm nom trong vòng tay thương mến của những người thân!

TCQN 

SG, 02/10/17 

 ----------------------------------

Sau đây BBT Trang Nhà xin phép đăng địa chỉ 2 Thầy để các đồng nghiệp hay học trò có thể liên lạc, thăm hỏi và nếu có dịp thì ghé nhà vấn an. Được vậy thì chắc hẳn 2 Thầy sẽ rất vui và được an ủi trong tuổi già bóng xế, đau ốm, đi đứng khó khăn:

- Thầy Hùng: Số 61, đường 43, Phường Tân Quy, Quận 7, Sài Gòn.

ĐT: 0983 73 9476

Email: pholehung1944@yahoo.com

 

- Thầy Lành: Số 29, đường Quang Trung, Phường Hòa Bình, Biên Hòa, Đồng Nai.

ĐT: 012345 54 675. Thầy Lành không có địa chỉ email 

_________________________________________________________

TRỜI XANH NGOÀI KHUNG CỬA

 

Tọa trung khấp hạ thùy tối đa 

Giang Châu Tư Mã thanh sam thấp

(Bạch Cư Dị - Tỳ bà hành)

 

Lệ ai chan chứa hơn người ?

Giang Châu Tư Mã đượm mùi áo xanh.

(Phan Huy Vịnh dịch)

 

1. Bịnh nhẹp, sốt lơ mơ. Nằm hoài lưng đau nghiến, lết ngồi dậy kê gối dựa tường nhìn ra cửa sổ. Nắng vàng tươi chảy tràn trên nhánh bông giấy đỏ hồng mơn mởn. Lũ trầu bà xanh mướt ngã ngớn khi gió lay. Tiếng người gọi nhau í ới. Tiếng trả giá ồn ào từ chợ chồm hổm đầu hẻm. Ngoài và trong, hai thế giới quá khác biệt chỉ cách nhau một ô cửa...

Dường như cuộc đời tôi, một cách hết sức vô tình, luôn gắn liền với một ô cửa nào đó.

Từ nhỏ, tôi đã có thói quen thích ngồi trầm ngâm sau khung cửa sổ, thường là nép một bên để bí mật quan sát thế giới bên ngoài. Lặng lẽ, không lộ diện. Sao vậy nhỉ? Sao phải giấu mình? Để một ngày khi mình không còn nơi thế giới này, đời vẫn vậy không trống vắng? Như mất đi một chiếc bóng âm thầm, như chiếc lá la đà rụng xuống, nhẹ nhàng không âm vang...?

Nhà tâm lý phán : Hay mãi ngóng nhìn về trời xanh ngoài ô cửa là người có quá nhiều ước mơ, nhưng "mơ rất nhiều nhận chẳng bao nhiêu". Đúng không nhỉ? 

 

 

Thêm chuyện này, kỳ lạ, một năm đôi lần, tôi lại mơ thấy mình bay chập choạng nặng nề trong một không gian đặc quánh và tối đen, bên dưới sóng nước cũng đen kịt và bóng loáng như nhựa đường chảy nhão, dập dờn đầy vẻ đe dọa.

 

Sách giải mộng nói hay mơ bay là cảm thấy bất lực trong cuộc sống. Chẳng biết đúng không?

Nếu kết hợp mơ bay và khung cửa, hóa ra đời mình buồn vậy, bất lực vậy, và mơ chỉ là mơ?

Nhức đầu quá, nhưng cái đầu bướng bỉnh không muốn nghỉ ngơi, cứ nghĩ hoài, nhớ hoài theo từng mốc thời gian để xem mình đã từng ngắm gì, nghĩ gì, thấy gì bên từng ô cửa...

 

2. Bật mí bạn nghe, lúc nhỏ, tôi có tên Bé Nâu, vì tóc nâu, tròng mắt nâu, mày nâu, thậm chí những sợi lông tay cũng anh ánh nâu. Lúc thôi nôi, tôi sổ sữa lắm, tay chân có ngấn ú nu. Nhỏ xíu đã có "thành tích" rồi nghen : Má ẵm đi "đấu xảo" bé khỏe, tôi đoạt giải nhứt được sáu trăm đồng với mười hộp sữa con chim!

Nghe mấy anh chị nói lại, từ lúc mới sinh tôi đã rất ngoan, hay nằm chơi một mình, tay nắm ngón chân, mắt mơ màng nhìn ra cửa sổ, chân mày lúc nào cũng cau cau như triết gia, nên hay bị mấy thím gọi trêu là "Bác Hai".

Làm dâu điền chủ không dễ, Má tôi lại là dâu cả phải chăm sóc mọi việc từ kẻ ăn người ở trong nhà cho tới việc trông coi suất ăn lúc tờ mờ sáng của mấy chục tá điền, nên dù nhà Nội có mấy người làm, Má vẫn bận bịu suốt ngày. Vậy là Má trải chiếu gần cửa sổ, lấy thúng đồ chơi bỏ đó cho tôi chơi một mình, không quên dặn con chó Mực nằm kế bên "coi chừng em". Con Mực khôn lắm, hễ Má dặn rồi là nó không bao giờ ham chơi bỏ đi. Nhưng cứ bò toài vật lộn đùa giỡn với Mực một lát cũng chán, tôi bèn lẫm chẫm đứng lên bám vào khung cửa sổ, ngây người nhìn sững qua khe hở của những chiếc lộc bình bằng xi măng ngoài hiên, lần đầu tiên tôi biết say mê ngắm ánh nắng vàng tươi, mấy con bướm trắng chập chờn trên giàn mướp xanh mướt ngập hoa vàng, con gà tre nhỏ xíu đang cục cục bươi đất tìm trùng cho đám con lăng xăng... Má nói tôi cứ đứng vậy rất lâu, nín thinh đến nỗi Má làm việc gần đó giựt mình vì tưởng tôi bò đâu mất. Má phì cười khi thấy tôi quàng cổ con Mực, hai đứa cùng ngó đăm đăm ra ngoài trời, lặng yên mơ màng! Chẳng hiểu trong cái đầu nhỏ xíu của tôi ngày ấy có ý nghĩ gì không khi nhìn ra khung cửa đầu đời... Một tâm hồn đa cảm dễ thổn thức và xao động với cỏ cây, hoa bướm.

Nhưng sau này, thời gian phải xa hoa bướm của tôi lại quá dài cho một đời...

 

3. Tôi có hai bà chị. Hai chị tôi lớn hơn tôi rất nhiều tuổi. Chị Hai tôi đẹp nhứt trong ba chị em, thông minh nhứt, học giỏi nhứt, và cuộc đời cũng vô duyên nhứt. Khi tôi học tới lớp Ba trường Nữ Tiểu học thì chị Hai lấy chồng. Tiệc đàng gái không đãi ở Cần Thơ mà diễn ra ở biệt thự Ba tôi tại Sóc Trăng. Khi người lớn đang lu bu tiệc tùng, tôi lẳng lặng mở quả lấy mấy cái bánh plum-cake chị Tư làm để đãi tiệc, rồi bỏ ra lan can lầu sau thơ thẩn một mình. Mới tám tuổi tôi đã không ưa đám đông, không ưa không khí đám cưới cười nói nhậu nhẹt rần rần...

Tôi ngồi thụp ở cửa sổ gần lan can, nhìn ra những ngọn cây xanh non trong nắng sớm, và mê mẩn ngắm trời xanh thăm thẳm. Rất lâu sau, bất ngờ nhìn xuống khu vườn, tôi chợt thấy anh Hai chị Hai đang ôm hôn nhau say đắm. Tôi còn nhỏ lắm nhưng tôi cũng biết đó là một cử chỉ yêu đương. Điều đó kịch liệt kích thích óc tò tò của một đứa con nít, nhứt là tôi đang ngồi ở một nơi an toàn và kín đáo. Nhưng hai người ở khá xa. Tôi cố lắm cũng chỉ thấy bàn tay anh Hai ôm chặt eo chị Hai, mái tóc quân nhân ngắn chơm chởm vùi vào mái tóc chị Hai dài xõa bồng bềnh. Dáng chị Hai cao ráo, thanh tú và sang trọng. Gió ùa qua những kẽ  lá, đẩy mấy vạt nắng vàng xô lệch trên mặt đất. Vạt áo cưới chị Hai bay phơ phất, chiếc áo gấm hai mặt mua tận Thượng Hải vàng rực những hoa cúc đại đóa, chiếc áo mà mười mấy năm sau chị Hai vừa khóc nức nở vừa đốt nó thành tro chỉ vì đêm trước anh Hai đi bay về bảo chị Hai chấp nhận cô xẩm nào đó ở Bạc Liêu về sống chung "làm chị làm em"... 

Nhưng tại sao ngày ấy lúc ngắm nhìn hình ảnh tuyệt đẹp ngập tràn hạnh phúc của anh chị Hai tôi khi hai người ôm nhau trong khu vườn đầy nắng, tôi vẫn không hề ước ao sau này được mặc áo cưới sang trọng như chị Hai, mà chỉ cảm thấy đám cưới sao quá nhiều phiền toái! Thật lạ, tôi con bé mới tám tuổi đầu không hề thấy đó là hình ảnh bóng lộn rực rỡ đáng mơ ước, chỉ thấy toàn những rắc rối và hệ lụy - dĩ nhiên trong đầu tôi lúc đó chỉ có một cảm nhận mơ hồ, chớ không diễn tả được bằng lời như tôi đang kể bây giờ.

Phải chăng đó là cái điềm, hay một thứ khẩu khí khiến cho về sau quả thật tôi chưa được một lần mặc áo cô dâu cho đúng nghĩa?

4. Khi tôi lớn lên một chút, vào đệ Thất trường Nữ trung học Đoàn thị Điểm, bàn học của tôi cũng đặt sát cửa sổ. Nhà Ngoại ở Cần Thơ vừa lớn vừa dài hơn ba mươi thước, nên khi cất nhà, Ngoại chừa một khoảng sân nhỏ ngăn cách nhà trên và nhà dưới, nghe người lớn gọi là "sân ché", để căn nhà dù dài hun hút vẫn sáng sủa phong quang. Nơi sân ché có hai dãy lu bốn vú, Ngoại thường gọi là "cái mái", lúc nào cũng đâỳ nước phông tên để Ngoại cho người ta đổi nước.

Lúc đó tôi chưa biết ham học lắm đâu. Trừ hai môn Việt văn và Sinh ngữ, còn mấy môn Toán, Lý, Hóa tôi sợ lắm, nên tôi ngồi học mà cứ mãi nhìn ra phía sân ché sáng trưng, ngó mấy dì mấy chị quẫy gánh tới đổi nước, hóng hớt hàng trăm câu chuyện "bà tám" thật đa dạng và phong phú! Má thấy vậy hay đe nếu không siêng học thì sau này tôi sẽ phải đi gánh nước mướn. Và để chứng minh đó là một nghề vô cùng nặng nhọc, Má biểu tôi ra nhớm thử. Đôi thùng thiếc chỉ đổ nước có phân nửa mà tôi ghé vai ứ hự mấy lần muốn khọm lưng vẫn không đứng lên nổi!

Thời đó chỉ có tivi trắng đen. Tôi với thằng em chết mê chết mệt chương trình ca nhạc Hoàng Thi Thơ và chương trình tạp lục Tùng Lâm. Nhưng chị Tư tôi dữ lắm, ăn cơm chiều xong tụi tôi chỉ được phép coi tivi tới đúng tám giờ tối là phải ra nhà sau học bài. Thằng Út rất láu cá, nó hay làm bộ đau bụng để đi toa lét, vì từ toa lét nó có thể hí hí nhìn về phía tivi ở nhà giữa, mà khổ, xa lơ xa lắc, chắc nó chỉ thấy được gương mặt ca sĩ, diễn viên nhỏ bằng ngón tay cái mà thôi!

Tôi thì khờ hơn, và tôi cũng biết sợ cái viễn cảnh vô trường bị kêu trả bài mà đứng đực mặt ra trước bàn dân thiên hạ, nên tôi đành nuốt cục tiếc mà ráng nhai mớ bài như nhai gạo sống!

Trở lại chuyện cái sân ché. Ban đêm học bài nhìn ra sân ché vắng lặng tăm tối thấy ghê. Nó cắt căn nhà ra làm đôi, chạy băng qua lưng nhà lối xóm (vì nhà nở hậu) và ăn thông với một hẻm nhỏ, mà thằng bạn kế nhà hay kể ở đó lúc nửa đêm về sáng thường có một con ma mặt mày trắng bệt tóc tai rũ rượi đứng núp đâu đó để hù nhát mấy ông say rượu mò vô hẻm "trút bầu tâm sự". Do vậy bao giờ ngồi học gần đó tôi cũng gài cửa lớn cửa sổ thiệt kỹ, mặc cho thằng Út cằn nhằn vì cánh cửa che khuất tivi. Nhiều khi đang học bài mà cứ hí hí lén nhìn ra khe cửa coi có cái bóng trắng nào đang lướt qua không. Nhưng thường tôi hay gặp con mèo già "anh hùng diệt chuột" của bà Sáu hàng xóm đang chùn người rình chuột bên dãy lu, mắt phóng quang trong bóng tối nhờ nhờ... Nó cứ bất động như vậy lâu lắm, tới khi tôi hết kiên nhẫn quan sát thì "chóe" một tiếng chuột kêu, nhanh như chớp, con chuột cống vừa lò dò xuất hiện đã nằm gọn dưới nanh mèo, cổ ục ục tràn máu, bốn chân quơ quào trong tuyệt vọng. Con mèo thường đùa giỡn với con mồi đến chán chê mới bắt đầu ăn, nhưng cũng có khi cu cậu đói bụng nên xực liền tại chỗ, nó vừa nhai vừa ngoao ngoáo nho nhỏ trong cổ họng, tiếng xương bể nghe rau ráu... Mấy con thằn lằn trước phòng Ngoại gần đó nhìn xuống chắt lưỡi liên hồi...

Thế nào sáng mai chị Hai hay chị Tư mở cửa thức dậy thấy cái đầu con chuột hai mắt trợn trừng và mớ ruột máu me bầy nhầy một đống ngay giữa đường đi, mấy bả sẽ la bài hãi mà kêu Như ơi Như à rùm lên cho coi...

  

----------------------------------------------------------------------------- 

 THU PHỤC KHUYỂN TÂM

 

5. Khi lên tới lớp Chín tôi mới biết lo học không cần người lớn nhắc nhở. Lúc này bàn học của tôi không còn ở chỗ nhìn ra sân ché nữa, mà dời hẳn vô phòng ngủ. Tôi có cái dở là đầu óc không tập trung được chỗ ồn ào (trong khi con bạn tôi thì phải vặn nhạc nó mới học được!). Ngay cả tới bây giờ già rồi, mà hễ đang soạn bài chấm bài mà ông xã cầm cây đàn gảy tứng từng tưng là tôi liền ôm sách chạy lên lầu tị nạn, còn viết bài thì phải chờ nửa khuya!

Bàn học của tôi lúc bấy giờ sát cửa sổ nhìn ra sân nhà người lối xóm làm nghề bán cá kiểng, có cây ổi ghé nhánh thơm thơm vào tận song cửa, và mấy hàng lu lớn nhỏ đủ cỡ nuôi đủ loại cá thượng vàng hạ cám, từ những con cá tàu đuôi voan tha thướt óng ánh bạc sang trọng, tới bầy cá bảy màu lúc nào cũng lăng xăng vui mắt lượn vòng vòng trong lu như chơi cút bắt. Một khung trời nho nhỏ mở ra dễ thương và sinh động với biết bao sinh vật nhỏ bé tung tăng dưới thế giới nước diệu kỳ!

Nhưng con chó phóc nhà đó thì khó chịu vô cùng! Nó rất khôn, bao nhiêu con nít ra vô mua cá nhà nó, nó chỉ cười cười (đó là do tôi thấy miệng nó hơi mở ra, ánh mắt như cười) và vẫy đuôi nhè nhẹ chớ không bao giờ sủa. Nhưng cứ hễ thấy tôi vén màn nhìn ra phía nhà nó để ngắm ké bầy cá nhỏ bơi tung tăng dưới đám rong đuôi chồn, là nó bắt đầu xuống tấn bốn chân ông ống sủa. Cái mặt nó lúc đó thấy ghét lắm, hai mắt ốc nhồi trợn ngược lên, răng nhe ra làm vẻ nguy hiểm dù thân thể nhỏ xíu có một nắm, mặt vênh, mũi chỉa lên trời kiểu ta đây sả thân bảo vệ lãnh thổ "Nam quốc sơn hà Nam đế cư". Thứ chó nhỏ, tiếng sủa không "ông ông" vang dội oai hùng như chó berger, mà ăng ẳng nheo nhéo nhọn hoắc như xỉa vào tai mình, nghe rất khó chịu. Được rồi, hãy đợi đấy nhóc à...

Tôi bắt đầu một chiến dịch thu phục nhân tâm, ủa quên khuyển tâm. Mỗi ngày khi vừa vén màn là tôi quăng cho ẻm khi thì miếng chả lụa thơm phứt, lúc thì miếng bánh xốp kẹp kem va ni thơm lừng. Ban đầu cu cậu nghi ngại lắm. Chắc ẻm đã được giáo dục tới nơi tới chốn, rằng tự nhiên được đối xử tử tế có thể tiềm ẩn vài nguy cơ... Nhưng chả lụa là chả lụa chị Hai tôi mua tận lò chả Vĩnh Long nổi tiếng, cắt ra hồng hồng ươn ướt thơm sực nức mùi nước mắm ngon... Cu cậu đứng từ xa hít hít ngửi ngửi mùi chả lụa tỏa hương trong gió, chắc là nước miếng nước mồm túa đầy chân răng rồi đây... Rồi kìa, đuôi ẻm bắt đầu vẫy nhè nhẹ, bốn chân bồn chồn, nửa muốn bỏ đi, nửa thèm thuồng hết nhìn miếng chả tới nhìn tôi, lúc này đang cầm một miếng chả bự khác trên tay, gian ác cố tình nhai chóp chép thiệt lớn... Cuối cùng, chịu hết xiết, thằng bé phóng tới táp phập, nuốt không kịp nhai, cả người run lên vì sảng khoái.

Ha ha, cứ mỗi ngày đều đều như vậy, khi thì thịt cá, khi thì bánh ngọt, chưa tới một tuần cu cậu đã bị tôi "đốn" ngã chúi nhủi! Sau này cứ hễ vừa thấy tôi vén màn là ẻm chạy ù tới vẫy đuôi lia lịa, mắt đen láy nhìn tôi đắm đuối, thậm chí còn đứng chồm lên tường cho tôi vuốt đầu gãi tai! "Tình yêu" của một chú cún cũng đi qua đường bao tử, hén! 

----------------------------------------- 

THIÊN TÌNH SỬ... NGOÀI LUỒNG

6. Năm mười tám tuổi rưỡi, chuỗi đời tôi bắt đầu lận đận tiếp nối lao đao, rồi gia đình tôi phiêu bạt lên Long Khánh mua rẫy. Tôi ban ngày nuôi gà chăn heo, nhổ cỏ mì, tối về học ôn sinh ngữ dưới ánh đèn dầu leo lét. Bàn viết của tôi bấy giờ được đóng sơ sài bằng mấy miếng ván tạp xin của trại cưa cách đó hơn cây số. Và bàn cũng được đặt kế cửa sổ, song cửa là mấy cây đước khòng khoèo nhỏ bằng chân cái cắm sâu vào tường đất bện rơm. Nơi đó tôi bắt đầu làm quen với các bộ kinh Phật - phải chăng khi cảm thấy tương lai đầy bất ổn và tăm tối, khi không còn biết bám víu vào đâu nữa, thì người ta quay ra bám víu vào những đấng thiêng liêng? Tôi bắt đầu thấy thích thú với sự phóng khoáng trong ý nghĩa của kinh Duy Ma Cật và những cuộc đối thoại đầy thú vị của vua Di Lan Đà với tỳ kheo Na Tiên trong "Na Tiên tỳ kheo kinh"...

Cũng bên những chấn song cửa sổ đó, biết bao lần tôi đã ngồi lặng để mơ màng nhìn ra khung trời cao rộng ngoài kia. Biết bao ước mơ, biết bao khao khát, biết bao kỳ vọng đã trôi qua theo tháng lại ngày qua... Tương lai thuở nào tưởng như rộng mở đã không bao giờ mở rộng với tôi. Nó khép lại vĩnh viễn cùng với cõi lòng tôi, đứa con gái nhỏ trước đây cứ tưởng đời toàn kẹo hạnh nhân bọc đường... Đã đến lúc phải tỉnh mộng! Ở cái nơi chó ăn đá gà ăn muối này, mọi cuộc đời xán lạn sẽ bị mai một, tuổi thanh xuân đẹp đẽ sớm bị chôn vùi, mọi ước mơ tươi sáng sẽ bị thui chột...

Buổi tối, cũng ở khung cửa sổ đó, tôi lặng nhìn chòm sao Hiệp sĩ với thanh kiếm hờ hững treo dưới thắt lưng lấp lánh sừng sững trên bầu trời, ngắm bầy đom đóm đang chấp chới họp chợ tình nhộn nhịp ngoài bụi tre, lòng tự hỏi rồi đây ai sẽ là hiệp sĩ của đời mình, và mối tình đầu đời của mình bao giờ sẽ đến? Tôi cũng tưởng tượng ra một dáng người dong dỏng cao với gương mặt cương nghị. Tôi đặt người đó trong khuôn viên một trường Đại học ở tận nửa kia trái đất, và chúng tôi sẽ cầm tay nhau đi trên những lối đi phủ ngập lá vàng...

Ở đây, nơi chòi rẫy, cái gì cũng thiếu, chỉ có khoai mì lớp lớp và trời xanh miên man. Màu xanh biêng biếc, trong vắt, đau đáu, thăm thẳm. Một màu xanh không nơi nào có được. Nó làm tôi nhớ tới chiếc áo dài xanh hôtesse de l'air của nhỏ bạn Thanh Mỹ. Lúc tôi học đệ nhị cấp, có phong trào đứa con gái mới lớn nào cũng may một áo dài xanh. Dáng Thanh Mỹ thanh mảnh, lần đầu tiên mặc chiếc áo dài xanh da trời phớt nhẹ, trông nó xinh như cô tiên nhỏ. Tôi cũng muốn may một áo dài xanh y vậy, nhưng chị Tư tôi nói dáng tôi lêu nghêu như cây tre miễu nên mặc quần tây hoặc áo đầm, chớ tôi mặc áo dài "tướng giống du côn"! Vậy là suốt quãng đời thanh xuân của tôi, từ lúc mới lớn cho đến khi gia đình tan tác, tôi chưa hề có được một áo dài màu, chỉ toàn mấy áo dài trắng đồng phục!

Ở rẫy, tôi hay mặc áo vá - cách điệu, ton sur ton, contraste... bằng những mũi kim may tay đều tăm tắp như thêu máy. Tựa hồ quỹ thời gian quá lớn nên phải cố tìm vui trong một công việc tưởng chừng nghèo khó mà đầy tính mỹ thuật! Nhiều lúc tôi nghĩ, những chiếc áo vá của tôi, nếu sau này có dịp được tôn vinh như hình ảnh của một thời lưu lạc đến tận cùng "quê hương và lưu đày", thì chúng sẽ là những tác phẩm nghệ thuật chẳng bao giờ đụng hàng! Nhưng thôi, tôi sẽ kể chuyện này ở một bài khác.

Trở lại nơi khung cửa chốn đèo heo hút gió, buổi trưa vắng ngắt tôi hay ngồi nhìn ra rẫy mì trùng trùng, cứ tội nghiệp những đọt mì quắt queo lả người dưới cái nắng cháy da. Mây ở đây nhiều lắm, dày lắm, và trắng ngần, trắng đến không thể trắng hơn. Và nõn như bông. Đến nỗi tưởng tượng nếu chạm được tay vào sẽ thấy xốp mềm và êm ái như khi mở nhẹ trái gòn chín già, chạm vào mớ bông nõn nở bung vừa mềm mại vừa mát rượi...

Nhưng vẫn có những ngày gió đuổi mây đi mất để lại bầu trời một màu xanh sâu thẳm hiu quạnh. Tôi ngẩn ngơ, tự nhiên thấy mình sao cô độc gì đâu... Cũng có những buổi trưa bầu trời đầy mây cừu trắng, tôi ngồi khóc nức nở chẳng vì cái gì. Khóc như Mạnh Khương uất hận, như Nga Hoàng u ẩn, và cứ nghĩ rằng nước mắt tôi có thể thấm ướt tất cả bông mây nõn trắng muốt trên kia...

 

 

"Sáng nay mưa về, 

Có một người khóc...

Ngỡ như đêm qua vẫn còn,

Một giọt sương khuya héo hắt...

 

 

 

Nỗi buồn len lén tâm hồn

Có lúc như mây, mây trôi xa xôi

Rồi như gió, gió đem mưa về rã rời...

 

Và tôi đã nghẹn ngào nước mắt,

Ngắm mưa vẫn rơi bên song

Dù đã cố quên đi những ngày hồng..."

 

(Ô cửa sổ - Võ Thiện Thanh)

 

 

Cũng vào những buổi trưa này, tôi đã có một kỷ niệm ngồ ngộ, để tôi kể bạn nghe. Cứ một tuần đôi lần, có một thanh niên đi bộ ngang qua ngõ vắng rẫy mì nhà tôi, thồ trên xe đạp một xe đầy ngập tre rừng xanh ngắt dài vút. Người đó nhỏ thó, đội chiếc nón lá rách tả tơi, lúc nào cũng ở trần phơi ra tấm lưng đen trùi trũi và chỉ mặc độc một chiếc quần dài lơ lững phía trên mắc cá chân. Có khi trời mưa, người đó khoác ngoài một áo tơi bện rơm, lầm lũi đi dưới màn mưa mờ đục như Lưu Nguyễn thất vọng chốn trần gian xa lạ nên tìm đường trở lại Thiên Thai...

Nghe thằng Út nói người đó tên Bảy, nhỏ hơn tôi ba bốn tuổi gì đó, nhỏ lớn làm ruộng rồi sau này chuyển qua đi rừng đốn tre đem bán dưới thị trấn. Cứ đúng lúc tôi dọn dẹp bếp núc bữa trưa xong xuôi, rảnh rỗi ngồi vào bàn viết lách và chợt nhìn ra cửa sổ là thấy Bảy dắt xe tre đi qua. Ánh mắt hai bên thường gặp nhau một thoáng. Ái ngại chăng? Tôi thì tội nghiệp Bảy một đời lam lũ, còn Bảy có lẽ cảm thương "con nhỏ mang kiếng" ở đâu lưu lạc tới xứ này (mà cũng có lẽ do tôi giàu tưởng tượng chăng?).

Một bữa anh Ba cười khì khì hỏi tôi :"Nè bây, tao thấy cái thằng Băm Bu đó đi ngang đây lần nào nó cũng ngó vô muốn trẹo cổ, bây có để ý không?" Băm Bu? Tôi ngẩn tò te một lúc rồi phì cười. Anh Ba muốn nói Bảy đó (bamboo). Thằng Út cười ha ha nói hùa: "Băm Bu nhỏ con vậy mà chấm chị Năm cao nhồng, chắc nó tính hy sinh đời bố, củng cố đời con đó mà. Hí hí tưởng tượng nó đứng gần chị Năm giống cục than đứng gần cục bột, mắc cười quá". Tôi nạt Út: "Thôi kệ nó, đừng nói gì nó tủi thân tội nghiệp".

Sau đó thấy Bảy cứ kiếm chuyện vô nhà kiếm thằng Út "đi uống cà phe" hoài, ăn mặc đàng hoàng hơn: quần jean ống loe bạc thếch lai cá rô rỉa với áo... "ba la ma" (pyjama). Bảy hỏi tôi: "Út có có có có nhà không không không chị Năm?" mà môi run lập bà lập bập, hai tay lẩy bẩy vò riết vạt áo...

Nhiều năm sau, khi tôi đã đầu hàng số phận và quyết định thôi không tìm tương lai trong những chuyến đi mịt mờ, tôi trở về Sài Gòn đi học lại Đại học nhưng vẫn thỉnh thoảng nhớ tới Băm Bu, nhớ tới gương mặt phong trần luôn đầy vẻ bối rối, nhớ nụ cười hiền lành có đôi chút ngờ nghệch, nhớ đôi mắt sáng luôn nhìn xuống đầy vẻ tự ti... Chắc bây giờ Băm Bu đã có cháu nội cháu ngoại, lâu lâu có nhớ đến "chị Năm thằng Út" chắc cũng thoáng ngậm ngùi. L'amour est seulement beau quand il est inachevé!

----------------------

TIẾC CHI ĐỜI PHÙ HOA

7. Bỏ rừng, về Sài Gòn học lại Đại học, tôi ở trọ trong một căn phòng nhỏ ở cuối một căn nhà bề ngang chưa tới ba thước và uốn lượn ngoằn ngoèo như con rắn liu điu. Ngay trên phòng tôi là phòng thờ Phật của bà chủ nhà. Cứ bốn giờ sáng là bà thức dậy tụng kinh gõ mõ gióng chuông vang trời. Thuở đời, mình có tiền mướn nhà ở trọ, mà luôn khổ vì bà chủ nhà trọ bả sùng đạo quá mức, lúc nào bả cũng muốn thiếu điều lôi mình xềnh xệch tới chùa, miệng thì luôn mè nheo cằn nhằn "đạo Phật gì mà chẳng đi chùa, chẳng quy y, chẳng có pháp danh, cũng chẳng gõ mõ tụng kinh...". 

Tôi yêu thích đạo Phật không đơn thuần chỉ là một tôn giáo, mà còn là một triết lý, nhưng vốn tánh phóng khoáng không ưa cuộc sống nhuốm màu tôn giáo, mà nể bà là chủ nhà, tôi cũng ậm ừ cho qua truông:

- "Phật tại tâm" mà bác, Phật đâu chỉ ngồi ở chùa. Con chưa quy y, nhưng con có pháp danh rồi đó nghe: "Thích Tự Tại". Bác coi pháp danh con đẹp ác hôn?

Vậy là bả chủ nhà bả giẫy nẫy lên như đĩa phải vôi, nói tôi tếu táo báng bổ...

Bàn học của tôi lần này nhìn ra mảnh sân nhỏ tí như cái khăn mù soa, là sàn rửa chén của chủ nhà, được cái nhìn thấy chút trời xanh, và ở góc sân cây mai chiếu thủy nở hoa thơm ngát. Nơi đây bao lần tôi ép những cánh hoa chiếu thủy trắng muốt để kỷ niệm tình yêu đầu đời, mà bây giờ mấy mươi năm giở lại, xác hoa đã khô vàng trong quyển nhật ký chép đầy một tình duyên trắc trở nhưng cuối cùng cũng kết trái đơm hoa. Bạn bè nhiều đứa hỏi tôi nghĩ sao mà thời này lại đi chọn cho mình một cuộc sống túp lều tranh hai quả tim vàng. Con trai tôi sau này cũng có lần cắc cớ hỏi: "Mẹ nghĩ sao mà không ưng cậu Tâm ở Pháp, lại chọn Bố?". Tôi cười: "Nếu mẹ đi Pháp, có lẽ mẹ sẽ thực hiện được giấc mộng công danh, nhưng làm sao mẹ có được con, hả con trai?"

Mà cũng lạ, ông xã chẳng mảy may giống "người trong mộng" tôi tưởng tượng trước kia, sao vậy nhỉ...? 

Có lẽ do ấn tượng đầu tiên là chiếc áo đi mưa vai đúp màu beige đậm anh mặc trong sân trường giống hệt áo anh Ba tôi lúc đó hãy còn ở một nơi rất xa, bệnh tật đói khát nhưng vẫn luôn đau đáu cho những người thân ở nhà. 

Có lẽ suốt trong thời gian dài mấy năm anh đeo đuổi tôi, tôi đã được anh quá yêu chiều nên lâu dần xiêu lòng trước tấm chân tình. 

Mà cũng có lẽ chỉ do một nguyên nhân hết sức đơn giản, là duyên phận: Nguyệt lão đã dùng "xích thằng" cột hai mảnh đời chúng tôi lại rồi, chạy đâu cho thoát?

 

8. Cuộc đời tôi đã lặng lẽ lướt qua bao nhiêu ô cửa! Biết bao cảm xúc, biết bao buồn thương, biết bao nụ cười, biết bao nước mắt...

Giờ đây mỗi khi ngồi bên bàn viết nhìn qua ô cửa sổ, thấy trời xanh thăm thẳm và mây trắng mông mênh, lòng tôi lại cuồn cuộn thổn thức bao nỗi niềm. Vừa luôn khát khao được lãng du như mây, lại vừa thầm biết ơn các Đấng Thiêng Liêng đã ban cho tôi một người chồng tốt, một đứa con ngoan, và hơn nửa đời hai chữ bình an.

Mong cho con trai được bay xa, để nó có thể chắp lại giùm tôi những ước mơ tan nát. Còn tôi, xin cho đây là ô cửa cuối cùng. Để tuổi già mỗi khi nhìn ra trời xanh, biết quên hết dĩ vãng buồn thương u uất, biết vui với tia nắng vàng mới đáp, biết hòa với tâm hồn con bướm nhỏ vừa ghé giàn hoa...

Để một ngày hồn tôi thoát xác vẫn ở yên trong tư thế ngồi bên khung cửa, mắt đăm đăm ngưỡng vọng trời xanh...

 

 

Bạch cốt tịch vô ngôn

Thanh tùng khởi tri xuân

 

 

Tiền hậu cánh thán tức

Phù vinh hà túc trân

 

(Nghĩ Cổ - Lý Bạch) 

 

 

Xương trắng ngàn năm ngủ ,

Thông xanh bốn mùa ca.

 

 

Trước sau là thế cả ,

Tiếc chi đời phù hoa.

 

(Thầy Phạm Khắc Trí dịch)

 

 

TCQN

02/2014

GIÀ CŨNG YÊU

 

Bài ký sự "Về BT vào mùa phượng nở" của đại tỷ có nhắc đến cái tình đằm thắm của đôi uyên ương Hải - Phượng. Nhân đây mình đăng bài "Già cũng yêu" viết mấy năm về trước, mình kể chuyện mình, nhưng đề tặng tất cả các bạn, những đôi vợ chồng từng cùng nhau chia ngọt sẻ bùi, và đã đi bên nhau gần trọn đường đời với tất cả lòng yêu thương và hi sinh thầm lặng...

 

Bạn nói già không còn tình yêu, chỉ còn cái nghĩa? Đâu phải. Người già cũng yêu dữ lắm chớ, chỉ có điều tình yêu của người già biểu lộ đằm thắm và êm đềm chớ không bồng bột cuồng vội như tụi trẻ.

Già. Bà già chỉ cần đi ngang vuốt cánh tay nhăn nheo của ông già khi ổng đang ở trần quần tà lỏn lọ mọ lau nhà, hay ông già đi qua bếp ghé hun nhẹ một bên má bà già khi bả đang lui cui nấu nướng nhễ nhại mồ hôi mồ kê, thì "đối tượng" cũng hấp hem đôi mắt già mà cảm động lắm rồi, đâu cần phải ôm ghì (ôm chặt quá sợ bà già bả tắt thở) hay hun môi đắm đuối như trong phim mới gọi là yêu ? (hun môi sợ rớt răng giả lọt vô bụng).

Già. Mấy mươi năm chung sống với nhau, biết rành nhau từng tánh tốt thói xấu, thuộc lòng từng món ăn ưa thích... Có khi người này nghe người kia nói điều gì chướng tai chịu không được (già chớ còn hăng) bèn ngứa mỏ khởi động một cuộc tranh luận rùm beng nảy lửa khiến thằng con phải nhảy ra "cầm còi", rồi bao giờ nó cũng cười hí hí kết luận bằng câu : "Trên mạng họ nói vợ chồng già cãi nhau thông phổi, tốt cho sức phẻ lắm đó Ba Mẹ !". Ông già thấy vậy bèn bắt chước phim Hàn quốc nói "Anh sai rồi" để cho bà già khoái chí cười móm mém...

Già. Mấy mươi năm chia sẻ buồn vui đồng cam cộng khổ, tưởng tượng có ngày một người ra đi trước, mắt người kia bỗng rưng rưng. Đã là thói quen bên nhau quá lâu... đủ lâu để cảm thấy quạnh hiu khi lẻ bóng.

Mất ông, ai leo nóc nhà sửa chỗ dột, ai chèo chống đắp vá phía sau khi mưa giông tốc miếng nhựa, đồ đạc ướt ngoi ngóp. Ai sửa mấy cái lắt nhắt trong nhà, robinet, điện đóm, máng xối, quạt bàn, cái nào cũng thi nhau muốn dưỡng lão... Con cái cũng phụ vào nhưng kém hiệu quả vì tuổi trẻ thường làm cái gì cũng vụt chạc, và hay lạm dụng sức thanh niên chớ không cẩn thận, cũng không biết dùng cái đầu tính thế dài lâu, hở chút là chạy ra tiệm mua cái mới chớ không biết tận dụng đồ cũ, không như ông già lọ mọ sửa đồ nhà không tốn cắc nào, hoặc tốn rất ít, làm xong lau chùi sạch trơn, máy chạy êm ru !

Mất bà, ai chăm chút từng bữa ăn cho cả nhà (làm bếp không giỏi nhưng chịu khó học lóm trên tivi, có khi hên, thành công hỉ hả ; có khi xui, làm xong cha con ráng nuốt nhìn nhau nghẹn ngào...). Ai ủi đồ thẳng tắp không sai một pli, ai dẽ xương sẵn mỗi khi ăn món cá, ai gọt trái cây để sẵn trong tủ lạnh, ai hớt tóc cho mấy cha con (tính gom lại tiền hớt tóc mấy chục năm, "truy lãnh" chắc cũng mua được vài chỉ vàng), ai chót chét cha con bây ăn cơm nhểu nhão nước mắm tùm lum trên bàn, ai cằn nhằn nhức xương cái giường thằng con mền gối lùm xùm y như chuồng heo...

Già. Xương cốt chỗ nào cũng rơ, bù loong đinh ốc rã rời... Thiên hạ có tiền đi massage toàn thân, vợ chồng nghèo đấm bóp cho nhau... Bỏ ra vài trăm đi massage tiệm sang trọng, làm sao cảm động bằng đôi tay ấm áp của người phối ngẫu! (trừ mấy ông không thích mát xa chỉ thích mát gần!). Trái gió trở trời, lấy ai cạo gió - nhớ hồi mới lấy nhau, xui xẻo gặp bà vợ "đừng đụng tới Việt Nam" (vì bả yếu như bún thiu, đụng một cái là bả chúi nhủi), ông già cạo gió rào rạo như nạo dừa ; mấy chục năm sau, ổng trở thành chuyên gia đấm bóp cạo gió đại tài. Một ngày thức giấc buổi sáng, quay nhìn kế bên mền gối lạnh tanh, không còn nghe giọng nói ân cần : "Nằm quay lại anh bóp chân cho". Không còn phì cười khi nghe ông già cười ngỏn ngoẻn khoe khoang : "Hồi đó ở Đại học Tổng Hợp, mấy ông thầy với mấy thằng học chung suýt giết Ba vì Ba dám đeo đuổi Mẹ"...

Quạnh hiu... Con cái có cuộc đời riêng tươi đẹp đằng trước, có gia đình riêng, có sự nghiệp, mọi thứ đều có vẻ tinh khôi và thuận lợi. Chúng thỏa thuê bơi lội trong dòng đời như con cá gặp nước lớn, sao có thể hiểu được những ngóc ngách sâu thẳm trong thế giới thầm lặng của người già ?

Khi một trong hai người một ngày ra đi, người còn lại sẽ bơ vơ, mất phương hướng, già, cũ, lẩn thẩn, lạc hậu (với một chút, hay rất nhiều bảo thủ), lẩm cẩm, quên đầu quên đuôi, trầm mặc trong hỗn mang thế giới kỷ niệm, mở miệng ra là "Hồi đó...".

Bất giác chép miệng trách : "Sao đành bỏ tui mà đi trước" ? Mắt lại rưng rưng...

Ai nói già không còn yêu ?

TCQN

03/12/2011

 

 

TẢN MẠN THÁNG TƯ


1. Happy ending

Thằng cha biên tập báo X gọi tới nói chuyện lằng nhằng cả buổi, rốt cuộc gút lại chỉ có ba chuyện : Thứ nhứt : Truyện của em buồn đứt ruột, sửa lại đoạn kết nghe, cho nó "xây dựng" tí. Thứ hai : Em ráng đi tìm quảng cáo cho báo, "anh em mình" cưa đôi. Thứ ba : Hôm nào rảnh ghé anh chơi, bà xã anh về Trung rồi, nhà vắng vẻ buồn muốn chết.

 

Tôi cố lắng nghe, dạ dạ cho qua. Lúc gác máy, ráng hết sức vẫn phải thở dài. Không phải tôi tiếc cái truyện bốn ngàn năm trăm chữ đi toong, mà tiếc một tờ báo danh tiếng có con sâu bự quá cỡ. Lầm bầm một mình : "Em gái" cũng gút lại ba chuyện : 
Thứ nhứt : Truyện của em "xây dựng tí" sẽ thành vô duyên "đỉnh trên đỉnh" (tôi xin phép xài cái term đang rất "hot" sau vụ lùm xùm "họa mi Talent hót sáu thứ tiếng"), nếu vậy ngòi bút cong vòng, tôi chẳng còn là tôi. 
Thứ hai : "Anh trai" hết chuyện sao biểu cái con đệ nhứt cù lần đi tìm mối quảng cáo để "anh em mình" chia chác. 
Thứ ba : "Em gái" tuy quá date, mặt mũi xếp plis hết rồi nhưng cũng không quá mê mải chút hư danh đặng lò mò tới "nói chuyện văn chương" cho anh trai đỡ buồn, để anh ban ơn mưa móc cho đăng cái truyện nhuận bút chỉ hơn triệu. Chậc chậc, thôi chờ đủ ba tháng cho hợp lệ rồi gởi đăng báo khác vậy.


Kể với con bạn thân, thế nào nó cũng la rùm :"Tao đã nói, đọc truyện nào của mầy xong cũng muốn đi tự vận, báo nào thèm đăng". Ừ ừ, tài hèn chí khí thấp, mình có phải "văng xỉ" đâu, viết tùm lum tùm la cho đỡ buồn thôi mà. Truyện buồn có cái hay của truyện buồn, mắc gì phải sửa ? Chỉ tại mình viết chưa "tới" thôi, chớ "Cánh đồng bất tận" của Nguyễn Ngọc Tư, "Câu hát tìm nhau" của Quế Hương, "Trăng nghẹn" của Hoài Tường Phong, buồn thê thảm vậy vẫn nổi như cồn, biên tập nào dám biểu sửa lại đoạn kết cho "xây dựng tí"  ?

 

 

2. Nhà có cây trứng cá

 

Giữa trùng trùng chi chít những cái hộp bằng xi măng lợp tôn hay bê tông đúc, tìm một căn nhà có cảnh quê giữa thành phố Sài Gòn này không phải là chuyện dễ. Một ngày tôi đi công chuyện bị kẹt một lô cốt mới tinh nằm chễm chệ ngay ngã ba rẽ vào chợ. Xe cộ ùn tắc nhả khói mịt trời, chân thì lạnh buốt vì lủm chủm nước ngập sau cơn mưa sớm. Đành quay đầu xe đi tìm "tiểu lộ". Con đường nhỏ xíu vô danh kìn kìn những nạn nhân bị kẹt đường. 
Bỗng thấy mát rượi giữa chang chang nắng đổ, tôi tấp vào lề, ngạc nhiên đến ngẩn ngơ : một căn nhà nhỏ xanh xám u buồn, cửa lá sách gỗ cũ kỷ nằm nép dưới tàng cây trứng cá xum xuê, cánh cửa sổ mục nát lắc lay, khoảng sân đất nhỏ xíu như chiếc khăn tay, lơ thơ vài đám rêu xanh mướt, mớ me đất tươi tốt bên bụi sả um tùm đang bị con gà mẹ cày lật lên bằng đôi chân lực sĩ, chung quanh là mươi cuộn tơ vàng lít chít lăng xăng...

 

Căn nhà lạc loài tội nghiệp giữa lô xô dãy nhà phố như thu mình lại dưới cây trứng cá lấm tấm hoa... Luồng xe vẫn chảy qua vùn vụt, vài người ngoái lại nhìn tôi bằng cặp mắt lạ lùng, có lẽ tự hỏi chẳng biết sao bà già bỗng dưng ngừng xe thờ thẩn bên đường...

 

Cây trứng cá xum xuê gợi nhớ những ngày thơ ấu, ngày hè về quê nội lang thang theo đám anh chị em họ trong khu vườn mênh mông, hái trái cây đủ loại chất đầy mấy nón lá rồi chèo xuồng dọc con rạch lớn trong khuôn viên vườn, cả đám con nít vừa ăn uống vừa ca hát, có khi hò hét khản cổ vui gì đâu ! Trong nón lá, chen trong mấy trái xoài vàng ươm mơn mởn, những khúc mía Thơm Dịu mềm mụp ngọt lịm, mấy trái vú sữa tím lịm bóng ngời, là chi chít những trái trứng cá đo đỏ hồng hồng căng mọng có cái chúm đen xiu xíu dễ thương. Tôi không bỏ cả nắm trứng cá vào miệng ngồm ngoàm như tụi nó đâu, mà bao giờ cũng cầm một trái tỉ mẩn rứt cái cuống ra, bóp nhè nhẹ cho nước ngọt điểm lấm tấm những hạt li ti trào ra từ chỗ cuống mới rứt, để thưởng thức từ từ mùi ngọt nhẹ thanh thanh...

 

Kể từ ngày đó, hôm nào có việc đi về hướng này, tôi cũng cố tình chạy luồn vào con đường nhỏ vô danh để có dịp ngắm căn nhà cũ đìu hiu, ngắm cây trứng cá dù cát bụi thành đô dù khói xe mù mịt vẫn phởn phơ xanh mướt, đó đây lấp ló những trái nhỏ xíu xanh xanh hồng hồng... Và tôi cứ tự hỏi không biết căn nhà nhỏ cửa đóng im lìm ấy của ai, những công nhân đi làm tăng ca mắt thâm quầng vì thiếu ngủ, những người thợ bám công trường xa nhà tháng này qua tháng nọ mòn mỏi chờ lương, hay là người kéo xe chở hàng ở khu chợ gần đó, mảnh dây dù xe cút kít cứa rách vai áo để lộ màu da xanh xao héo hắt vì thiếu ăn ???

 

Bẳng đi một đỗi khá lâu không có dịp đi ngang, một ngày tôi cố tình tìm lại chốn xưa, căn nhà nhỏ không còn, cây trứng cá cũng biến mất. Thay vào đó là một tiệm uốn tóc mới tinh, trước cửa tòn ten cái bảng nhỏ bán cạc điện thoại... 
Tôi đứng bên kia đường nhìn qua, hụt hẩng, buồn thiu. Say say như bị tình phụ...

 

3. Nước cạn... thăm thẳm!

 

Thằng nhóc nhà tôi một hôm thắc mắc : Sao mình không đặt một hòn non bộ nhỏ nhỏ trên cái hộc đồng hồ nước cho đỡ trơ hả Mẹ ? Ờ ờ, ý hay đa. Nhà nhỏ xíu, muốn bon chen chút tiểu cảnh để nhìn cho đỡ "xì trét" nên phải trưng dụng tối đa diện tích sử dụng. Vậy là một hôm đẹp trời, mẹ con khệ nệ khiêng về một hòn non bộ hao hao hòn Phụ Tử nằm thoai thoải trên cái chậu lớn vừa bằng... cái nón lá. Bỏ vài cọng rong đuôi chồn, thả vài con cá bảy màu... Ái chà chà, ra vẻ ra phết ! Chỉ có điều hành lang trước nhà rộng có hơn mét, nên muốn ngắm non bộ phải ngồi thu lu bó gối, thiệt là mất... nhã hứng ! Thôi đành "tri túc" vậy.

 

Ấy vậy mà chiều chiều, lấy cái ghế cóc ngồi ngắm thế giới nhỏ bé ấy cũng lắm điều thú vị. Đá trắng chập chùng, cây cần thăng tí nị nằm nghiêng dáng thác đổ soi bóng xuống mặt nước tĩnh lặng, mấy con cá nhỏ xíu lội lăng xăng... Một sự thú vị đơn giản mà đầy đặn dẫn tôi về với biết bao ký ức xa xưa...

 

Tôi chẳng biết gì về phong thủy, nhưng rõ ràng là cái non bộ mini đã thay đổi toàn bộ bộ mặt ỉu xìu của cái hành lang xưa nay chỉ có mấy nhánh vạn niên thanh cỗi gốc lắc lay buồn bã, cây nào cây nấy ốm đơ cao nhồng như bụi mía với túp lá xanh mòn mỏi bên trên. Chợt nhớ anh bạn cùng lớp chuyên tiểu cảnh và non bộ, trong một phim tài liệu đã luận về thuyết âm dương ngũ hành, biến những viên đá vô tri thành những vật sống đầy văn chương và triết lý. Dân ban C có khác.

 

Ờ, hồi đó nhà Ngoại rộng mênh mông, sao mấy người lớn không ai có ý làm một hòn non bộ giữa sân ta ? Cứ để cái sân lót gạch tàu trơ vơ thấy thương, cũng may là ngoài cổng còn cây dạ lý hương um tùm thơm ngát về đêm và mấy bụi cần dầy lá xanh um. Góc sân có một hồ nước bằng xi măng rất lớn xây kín chỉ chừa một khoảng trống vuông nhỏ, nhưng nó luôn được đậy kín tùm hụp giữ cho nước sạch, thỉnh thoảng cũng thấy bà Ngoại cho người ta đổi nước...

Vui nhứt là lâu lâu Ngoại sai anh tôi súc hồ, thôi thì đám con nít tụi tôi "lợi dụng thời cơ", mặc tà lỏn chui xuống, tha hồ tóe nước và vẫy vùng la hét để nghe tiếng vọng u u  lạ lùng sởn gai ốc. 
Kỷ niệm tức cười nhứt là có lần tụi tôi bàn nhau lén thả một mớ tép sống xuống hồ, tính nuôi cho nó lớn lên thành tôm càng xanh (tụi tôi tưởng vậy), nhưng sau đó vài ngày tụi nó chết sình cả lũ, làm thúi hoắc cả hồ nước, báo hại cả đám tụi tôi bị Ngoại bắt nằm sắp lớp trên bộ ván ngựa, mỗi đứa được vài cái bánh tét nhưn mây la khóc rân trời.

Bây giờ nhà đã về tay kẻ khác, căn nhà xưa đầy kỷ niệm giờ thành một khách sạn bề thế, xa lạ, dửng dưng giương mắt nhìn người chủ cũ thất thế một ngày trở về nhìn lại chốn xưa trong ngập tràn ưu uất và tiếc nuối...

 

Ký ức về một cuộc sống thanh bình chợt sống dậy : dĩ vãng sao đầy đặn đến choáng ngộp, hiện tại lại đơn giản đến ngậm ngùi... Tất cả những người thân yêu của tôi đã dứt áo quay lưng với thế gian này bỗng lần lượt hiện về buồn bã xanh xao... Lớp nước cạn trong lòng non bộ tí teo bỗng bàng bạc và thăm thẳm như chất chứa ngập ngụa nỗi buồn u ẩn không tên...

 

 

 TCQN

 04/2012 

NGÀY TẾT, ĐÓNG CHẶT CỬA PHÒNG, TÔI LẠI LÀ TÔI

 

Tết nữa rồi.

Người không an nên nhìn đâu cũng động, lòng không vui nên nhìn đâu cũng phiền.

Gió sớm mai lành lạnh luồn qua khe cửa, buồn.

Mây mùa Đông lúc tinh mơ bàng bạc những đàn cừu ngơ ngác, buồn.

Vọc tay vào thau nước lạnh ngắt sương đêm, buồn.

Ngắm cội mai nhà ai tích nhựa cho nụ chi chít đầu cành chờ ngày bung vỏ lụa, sao cũng buồn!

Đâu rồi những mùa Tết bình yên?

Gởi bạn một bài viết cũ, tâm trạng giờ đây sao vẫn y như năm nào...

 

NGÀY TẾT, ĐÓNG CHẶT CỬA PHÒNG, TÔI LẠI LÀ TÔi

 

Tôi có chờ đâu, có đợi đâu 

Đem chi xuân lại gợi thêm sầu? 

Với tôi, tất cả như vô nghĩa 

Tất cả không ngoài nghĩa khổ đau! 

 

Ai đâu trở lại mùa thu trước 

Nhặt lấy cho tôi những lá vàng? 

Với của hoa tươi, muôn cánh rã, 

Về đây đem chắn nẻo xuân sang!

.....

 

(Xuân - Chế Lan Viên)

 

 

Bạn ơi, Tết nữa rồi! Hồi nhỏ mỏi mắt mong Tết, sao cứ thấy một năm nó dài lê thê. Lúc trộng tuổi rồi, Tết cứ vùn vụt tới rồi vùn vụt qua... Tôi để ý cứ hễ đầu năm, ăn Tết xong kể như sắp hè tới nơi, rồi quay qua quay lại là tháng chín tựu trường. Học trò vô học được vài tháng là tới Tết Trung thu, rồi Giáng sinh, Tết Tây ập tới, rùng rùng theo sau là Tết Ta với bao nỗi lo toan cho người lớn và cả chục bài tập về nhà thầy cô trong trường giao cho bọn nhỏ.

Bạn đọc tới đây chắc cười tôi : Con người gì mà bi quan dữ, chỉ thấy toàn gai trên cành hồng, chớ không thấy trên thân gai là đóa hồng đẹp lung linh! Ờ, con người tôi kỳ thiệt. Có lẽ mấy mươi lần Tết buồn trong quá khứ đã bám chặt lấy tim tôi...

Thí dụ như những đêm giáp Tết âm thầm chờ một chuyến đi nên ở xa nhà thiệt xa. Nhớ nhà, nhớ Má... Cứ mỗi chạng vạng tàu về là gia nhập đạo quân mấy chục người làm cá khô ven biển, còm lưng cóp cổ, tay làm cá nhanh thoăn thoắt dưới ánh đèn dầu leo lét nơi bãi cá miệt Gành Hào, Hộ Phòng. Cá mối lớn bằng cườm tay, hình dáng như những con cá sấu nhỏ màu nâu, vun đống ngút ngàn. Cá đuối khổng lồ đường kính cả sải tay, cái đuôi dài như con diều lã lướt, thất thế và thoi thóp nằm dài ngổn ngang trên cát. Và kìa những đôi sam khăng khít từng cặp và hầm hố như những chiếc xe tăng có đuôi, ánh thép bóng ngời, nặng nề lịch kịch lẻn tìm đường về biển cả và ngơ ngác đến tội nghiệp khi bị người ta chận đường túm quăng nghiêng ngửa lên bờ cao... Thấp thoáng trải dài theo bờ cát, dăm bảy nồi lớn như thùng phuy nấu tép biển làm tôm khô, lửa đỏ rực bập bùng... Gió biển lồng lộng, mùi cá biển tanh tưởi xộc vào tận óc, tâm tình hoang mang lo lắng, tay thì cứ kéo mãi cái lai quần che kỹ đôi cổ chân nhỏ xíu trắng trẻo học trò, mắt nhìn xa không rõ vì cận nặng mà lại giấu kỹ cái kiếng cận trong túi áo, nhưng vẫn cố nhìn ra biển xa ì ầm tối đen, như muốn tìm kiếm một con đường trong thăm thẳm vô vọng... 

Những ngày Tết bàn thờ lặng ngắt, không có mai vàng, không có bánh trái, chỉ có làn khói mỏng manh của mấy nén nhang Má tôi mới thắp, cầu xin ơn trên phò hộ cho những đứa con khờ khạo hiền lành đang chênh vênh trong cơn gió bụi, và tiếng thở dài của Má u uất muộn phiền... Tiếng khóc của ai như tiếng tôi, tuyệt vọng se thắt như con thú đến bước đường cùng khi đoán biết con đường học vấn bị cắt đứt từ đây...

Những ngày gần Tết ngồi cả tiếng đồng hồ rang cho thiệt khô chảo tàu hũ muối sả và làm gô mắm-ruốc-không-thịt gởi cho anh Hai anh Ba... 

Những ngày Tết không có người lớn, mấy đứa con nít : tôi, thằng em út, đứa cháu gái nhỏ, lon ton dắt díu kéo nhau ra ngồi ngoài bờ ruộng, chia nhau mấy cục thèo lèo nhai lóc cóc, đứa này hỏi đứa kia không biết giờ này Má mình chị mình đang làm gì trong căn nhà mênh mông ở Cần Thơ, có giữ được nhà hay mai mốt lại lôi thôi lếch thếch kéo nhau về đây...

Những ngày Tết đi thăm mấy anh tôi qua những cánh đồng lau mút mắt, rồi tới những rẫy khoai mì xanh mướt bạt ngàn, thấp thoáng mảnh áo nâu của đoàn người u buồn cắm cúi nhổ cỏ, kìa cánh rừng nhỏ bị khai phá loang lổ nham nhở, ở đó một nhóm người còm cỏi đang lầm lũi đào đất làm một hồ nhân tạo khổng lồ cho công trình du lịch đầy hứa hẹn, trong khi những người khác è ạch khuân đá xanh từng tảng lớn xây thành hồ, đôi người nhìn về phía chúng tôi, những đôi mắt buồn u ẩn bám chặt bước chân người đi...

Những ngày Tết lặng tanh trong rẫy sâu, mấy anh em ngồi chùm nhum bên cây đèn dầu tù mù, mỗi đứa ăn một chén chè đậu xanh lỏng bỏng nấu với mấy tán đường móng trâu mà tưởng như đang húp yến sào vi cá ! Anh tôi nằm võng tòn ten, hắng giọng rồi ngâm một chiều rừng mưa, ba người anh từ chiến trường Đông Bắc, được tin em gái mất, trước tin em lấy chồng... Giọng ngâm anh sao buồn thê thiết. Hồi anh tôi còn dạy Đoàn Thị Điểm, ngày liên hoan tất niên mấy chị học trò hay yêu cầu anh ngâm thơ rồi cả lớp xúm lại vỗ tay rần rần. Tôi chọc anh, nói tại anh đào hoa nên mấy chị vỗ tay lấy lòng đó thôi. Nhưng những đêm nơi rẫy vắng, giọng ngâm của anh tôi nghe sao ngậm ngùi, sao mà thấm thía một nỗi bất lực, đau đáu một mối cảm hoài... 

Và còn nhiều ngày Tết sau đó, cũng trong rẫy rừng, cũng dưới ánh đèn dầu leo lét đỏ quạch, Má tôi và mấy chị em tôi mỗi người ngồi một góc chẳng ai nói câu nào nhưng tôi biết tim ai cũng đang rỉ máu khóc thương cho những người thân yêu đi mãi không về. Khi ấy con chó Ki bỗng ngóng mõm lên trời tru trăng thê thảm. Và con chim ục về khuya kêu lên ghê rợn ngoài bụi tre gai... Tiếng pháo đì đùng rất xa vọng về đâu từ thị trấn. Ở đó có ánh đèn, có Tết. Chúng tôi thì chìm đắm mãi trong tăm tối hiu quạnh, nên lâu rồi đâu biết Tết là gì...

Giờ đây cuộc sống bớt khó khăn rồi, sao nỗi buồn vẫn cứ còn nguyên hoài không thôi đeo đẳng? Đêm giao thừa, tôi tha thẩn ra phố, nhìn những người bán hàng ngồi buồn thiu bên hàng hoa còn đầy ắp mãn đình hồng, vạn thọ, cúc vàng đại đóa; những đống quần áo, xắc tay, giày dép sida bên đường chất chồng cao nghệu vắng người mua; đêm trăn trở lắng tai nghe tiếng bành bạch của những chiếc xe gắn máy thồ hàng qua lại vùn vụt ngoài ngã tư nửa đêm về sáng; và nữa, những đứa bé lang thang, đôi mắt trong vắt trên gương mặt xanh xao thiếu ăn, đôi bàn chân mốc thếch, ngày Tết đêm về vẫn ngủ bụi ngủ bờ; những bà cụ rụt rè đưa ra xấp vé số, đôi mắt đục ngầu mỏi mệt, chiếc lưng còng không gánh nổi thời gian... 

Lòng tôi vẫn tự hỏi còn bao nhiêu người không bao giờ biết Tết? Tôi nhạy cảm quá chăng sao cứ cho rằng Tết không phải dành cho tất cả mọi người? Sao cứ nghĩ rằng những người khốn khó, những kẻ buồn đau sẽ khốn khó hơn sẽ buồn đau hơn nhiều trong những ngày giáp Tết? 

Giờ phút giao thừa thiêng liêng một năm mới có một lần, lòng tôi sao cứ trơ ra như gỗ đá, không vui, không buồn, tâm trí ong ong như lọt vào một khoảng không mênh mông, một lỗ đen tăm tối... Cứ quay, cứ rơi, cứ chơi vơi, cứ bồng bềnh, cứ lênh đênh, vô cảm... Cũng chưa bao giờ có ý nghĩ kéo nhau chen chúc đi coi pháo bông đêm giao thừa. Tôi rất sợ đám đông, sợ không khí lễ hội... Mười hai giờ đúng, tiếng pháo bông vang lên ì ùm xa xa từ bến Bạch Đằng gợi cho tôi nhớ tới những đóm mắt hỏa châu lập lòe trên bầu trời đêm một thời lửa đạn... Bật tivi xem thiên hạ bu đen như kiến rừng ven sông Sài Gòn, ai cũng ngước mắt nhìn lên, hết ô tới a trầm trồ mỗi khi một hoa pháo nở đẹp trên nền trời. Năm nay báo đăng Hà Nội hăm chín điểm bắn pháo bông, Sài Gòn tám điểm, Cần Thơ sáu... Một cái pháo bông giá bao nhiêu nhỉ? Có ai đó làm giùm tôi bài toán nhân...

Bao nhiêu năm nay, ngày Tết của tôi bao giờ cũng y như ngày thường, có chăng không phải tất tả thu xếp việc nhà, việc dạy, không phải gân cổ giảng bài, không phải vui cười lúc giao tiếp, khi trong lòng không có niềm vui...

Ngày Tết, đóng chặt cửa phòng, tôi lại là tôi...

 

TCQN

02/2013

(Tết Quý Tỵ)

________________________________________________

  

 

TRO LẠNH

 

 

Tiết tháng bảy mưa dầm sùi sụt, 
Toát hơi may lạnh buốt xương khô 
Não người thay buổi chiều thu, 
Ngàn lau nhuốm bạc lá ngô rụng vàng... 
( Văn tế thập loại chúng sinh - Nguyễn Du)


 Cette vie est un songe, et la mort un réveil. 
(Cuộc đời như cơn mộng, cái chết mới là sự tỉnh giấc) 
(Calderon de la Barca)


 

Death is the door to a better life : the oldest strongest and most insistent wish of mankind. 

(Cái chết mở ra một cuộc đời khác tốt đẹp hơn, là ước vọng xưa cũ, mạnh mẽ và kiên trì nhất của con người) 
(Freud)

 

1. Không hiểu lúc trước bà chị tôi nghĩ sao mà đem hũ cốt của ông bà Ngoại, Ba Má, anh tôi và thằng cháu nhỏ gởi hết vô chùa "Hột Xoàn" (biệt danh một ngôi chùa lớn ở SG). Lúc đó sau 75 nhiều năm rồi, gia đình tôi suy sụp rồi, nhưng có lẽ luân lưu trong huyết quản của từng đứa chúng tôi vẫn còn rần rật dòng máu "công tử Bạc Liêu", nên chọn một chỗ yên nghỉ cho người thân, bà chị tôi cũng đi chọn chùa "sang", với một lý do rất ư là chánh đáng : nếu một ngày đẹp trời các chùa bị "dẹp", thì đây gần như "quốc tự", chắc được giữ lại, ông bà không đến nỗi bị "vô gia cư" !

Khi nói đến "chùa", ta hay liên tưởng đến chuyện "miễn phí". Như coi phim chùa, ăn chùa, xài chùa... Nhưng một chỗ nhỏ vừa đủ đặt một hũ cốt trên kệ của tháp cốt không hề "chùa" ! Khu "chung cư cao cấp Phú Mỹ Hưng" này được chia làm ba tầng, tầng dưới là tầng VIP, sáng sủa đẹp đẽ, được ở kế sát tượng Phật Địa Tạng đen mun sáng loáng. Tầng hai âm u hơn, chật chội hơn, là của "thường dân". Tầng ba trên cao rất sáng sủa phong quang, dành riêng cho các tăng ni đã viên tịch. Tầng trên tầng dưới, kệ cao kệ thấp, hàng "mặt tiền", hàng bên trong, tất cả đều có giá tiền khác nhau.

Tôi thường đi viếng tro cốt người thân vào các ngày bất định trong năm. Không phải Thanh Minh, không phải Vu Lan, không rằm tháng Bảy cũng chẳng phải lễ Tết. Tôi không chịu nổi khói nhang và cảnh chen chúc khó thở vào những ngày đặc biệt đó. Tôi chọn một ngày rất bình thường để có thể hoàn toàn thư thả cúi lạy chư Phật ở chánh điện mà không sợ chúi nhủi vào người khác, để có thể ngồi yên ắng trên mấy bậc của cái cầu thang xoắn ốc trên tháp cốt và thì thầm nói chuyện với từng người thân. Những gương mặt thân quen mà sao vời vợi xa, những ánh mắt sao trong vắt mà u buồn đến vậy... Nói theo kiểu Trịnh Công Sơn khóc mẹ : "Nhìn vào thấy buồn, ngậm ngùi, và sự vô nghĩa của cái chết càng vô nghĩa hơn...". Nỗi đau quặn thắt khi ta mất một người thân theo thời gian rồi có lúc cũng phai nhạt, chỉ còn lại nỗi ngậm ngùi bàng bạc, một niềm thương cảm cho những phận người sinh bất phùng thời trong phút chốc đất trời nổi cơn gió bụi...

2. Nếu là người cuối cùng của gia đình, chắc chắn tôi sẽ đem tất cả những hũ tro cốt đang gởi ở chùa ra rải ngoài sông lớn. Người ta cho rằng mỗi một linh hồn được nương nhờ cửa Phật sẽ sớm siêu sinh nhờ nghe các sư đọc kinh sớm tối. Tôi lại cho rằng cát bụi nên trở về cát bụi. Cả đời đã sống chung chạ với con người, vất vả ngoi ngóp trong cái quần thể phức tạp lẫn lộn giả chân ấy chưa đủ sao, đến khi bước sang thế giới bên kia còn muốn chen chúc nằm ngồi trong những dãy kệ u buồn ngột ngạt mù mịt khói nhang ở tháp cốt, mỗi ngày tai nghe mắt thấy cảnh tính toán tủn mủn của người giữ tháp (mập đến không thể nào mập hơn), luôn hăm he cho cốt "vượt biên xuống sông" nếu thân nhân không chăm chỉ lui tới cúng dường, và cười tít mắt miệng buông hàng tràng "tình thương mến thương" khi nhận phong bao - đó là tôi chỉ nói đến trường hợp ở nơi gia đình tôi gởi cốt, chớ không dám quơ đũa cả nắm.

Chẳng phải lãng mạn lắm sao, khi linh hồn ta bồng bềnh cao cao trên kia nhìn xuống thấy thân xác mình lấm tấm trắng mặt sông rồi chan hòa theo dòng chảy? Gió nhẹ, chiều buồn, mấy con chim nhỏ chao chác trên mặt nước lăn tăn... Ai "ham vui" thì nương theo sóng mà lên chơi mặt nước cùng với sóng tung tóe reo vui, ai muốn thật sự yên nghỉ thì cứ nằm yên nơi đáy nước, ru hờ với rong rêu...

Khi còn trẻ tôi thường tưởng tượng ngôi mộ của mình đìu hiu chênh chếch trên đồi vắng, dưới bóng cây cổ thụ râm mát, có cỏ xanh bạt ngàn và tiếng chim ca trong vắt gần xa...

Trời cuối thu rồi em ở đâu? 
Nằm trong đất lạnh chắc em sầu. 
Thu ơi đánh thức hồn ma dậy, 
Ta muốn vào thăm nấm mộ sâu...

(Đinh Hùng)

Lớn lên, tôi thích nghĩa trang Tây phương, bình đẳng, sáng sủa, an bình, thảm cỏ xanh mướt phẳng phiu, bia mộ y nhau đều tăm tắp, không như nghĩa trang người Á đông, ma quái u tịch:

Trèo lên bức tường đổ mà trông về quãng đường xa : mồ con mã lớn chỗ năm chỗ ba. 
Trước kia cũng là người cả, bây giờ đã hóa ma. 
Nào vợ nào con, nào cửa nào nhà... 
Nào câu đối đỏ, nào mành mành hoa. 
Nào đâu, đâu cả, chỉ thấy sương mờ, nắng dãi với mưa sa... 
(Tản Đà)

Càng không ưa kiểu quần thể lăng mộ lòe loẹt lãng phí quá mức để khoe mẽ ở một số địa phương ngoài Trung, chết rồi vẫn bị lôi kéo vào cái không khí đua chen vật chất, khiến cho ngôi nhà của người chết trở thành bộ mặt hợm hĩnh của người sống, nơi yên nghỉ ngàn thu biến thành chỗ khoe giàu khoe sang...

Nghe nói giờ đây khoa học tiến bộ, có những người vợ cho người ép tro cốt của chồng thành kim cương hay hồng ngọc để làm nhẫn đeo. Tôi lẩn thẩn tự hỏi làm sao biết người chết có thích không khi ở mãi bên ta? Sợ rằng ngoài mặt thâm tình mà trong lòng ngán nhau như cơm nếp nát? Đâu có ai trở về ghi lại cảm nhận của mình khi đã được tự do giải phóng rồi nhưng thân xác vẫn bị o ép câu thúc chẳng được thoải mái trở về hư không ? Mà ai lại nỡ đem đun tro cốt người thân trong lò nhiệt độ cực cao mấy ngàn độ suốt ròng rã chục tiếng đồng hồ để ép thành kim cương hay hồng ngọc làm nữ trang cho mình, dù vẫn biết rằng "chết là hết"...

3. Tôi làm đơn hiến xác cho Đại học Y Dược Sài Gòn từ khi còn rất trẻ. Mỗi tháng chạp âm lịch hằng năm, bộ môn Giải phẫu học Đại học Y Dược đều có thơ mời tham dự lễ Macchabée tri ân những người hiến xác cho khoa học. Mấy năm sau này nghi lễ đơn giản hơn, chỉ tổ chức gói gọn trong sinh viên và các giáo sư bác sĩ. Chồng con tôi không ai đồng ý chuyện hiến xác. Mấy cha con không thoải mái khi nghĩ đến cảnh thân xác tôi bị mổ xẻ manh mún cho đến khi không còn xài được nữa sẽ được đem thiêu, sau đó tro cốt gởi trả về cho gia đình. Do vậy chuyện tro cốt của tôi thỉnh thoảng lại là vấn đề gây tranh cãi. Tôi thì chỉ nghĩ đơn giản rằng, chắc rất có ích khi bọn sinh viên trường y mổ bung tôi ra để nghiên cứu một trường hợp khá là đặc biệt : một cơ thể đầy bịnh tật mà bề ngoài trông vẫn rất... hiên ngang !

Tôi không thích tro cốt của mình lưu lại nơi tháp cốt nhà chùa, ngột ngạt lắm những hũ cốt san sát, tối tăm... Rãi tro ra biển, lãng mạn, trữ tình ! Thân xác tung hê theo gió lộng. Mặt nước có lẽ cũng không nề hà chi nhúm tro tội nghiệp, mà cuộc đời bất đắc chí chẳng mong kéo dài chi cho đa thọ đa nhục.

O Mort ! 
Vieux capitaine, il est temps, levons l'ancre ! 
Ce pays nous ennuie. 
O Mort ! Appareillons ! 
(Hỡi Tử thần ! 
Vị thuyền trưởng già ơi, đã đến giờ rời bến ! 
Cõi đời này ta đã ngấy. 
Tử thần ơi hãy sửa soạn đi thôi !) 
(Beaudelaire)

 

Chẳng biết sao cứ hễ nói chuyện tro cốt, là tôi lại nhớ tới một chuyện đáng xấu hỗ cho một quân vương : Sau khi đánh thắng quân Tây Sơn, Nguyễn Ánh đã cho tàn sát tất cả những người có liên quan đến Tây Sơn, còn cho đào mộ dòng họ vua Quang Trung lên, bỏ xương cốt vào sọt để quân binh tiểu tiện vào, sau đó đem xương sọ của mấy anh em vua Quang Trung bỏ vào lu ếm đối, xiềng xích.

Có sách nói sở dĩ Nguyễn Ánh trả thù tàn độc như vậy là do ngày trước vua Quang Trung đã cho đào xương cốt cha mẹ Nguyễn Ánh quẳng xuống sông. Thực hư chẳng biết ra sao, nhưng nếu chuyện này là thật (nếu Quang Trung Nguyễn Huệ có lỗi trước) thì, cư xử y chang kẻ bất nhân, cũng hóa ra mình là kẻ bất nhân, không xứng đáng làm vua một nước. Hơn nữa, dù cố biện hộ thế nào, thì việc Nguyễn Ánh xử tử mẹ con nữ tướng Bùi thị Xuân bằng cách cho voi giày, cũng là một hành động trả thù tàn ác và hèn mọn.

Xưa nay kẻ chiến thắng chỉ được mọi người tôn trọng và sử sách tôn vinh khi cư xử với kẻ bại trận bằng tấm lòng cao thượng vị tha. Khổng Minh Gia Cát Lượng thời Tam quốc bắt Man Vương Mạnh Hoạch dễ như trở bàn tay, nhưng vì muốn thu phục nhân tâm nên bảy lần bắt rồi lại thả, để cuối cùng Mạnh Hoạch "tâm phục khẩu phục", suốt đời trung thành với Thục Hán. Khổng Minh trả đất trả ngôi cho Mạnh Hoạch, không tham cưỡng chiếm, không đặt quan cai trị. "Người Man biết ơn, tự lập sinh từ thờ Khổng Minh bốn mùa, từ đó biên cương phía nam yên bình không lo chinh chiến"... Vậy mới biết làm dân đen thì dễ, làm người cầm cân nảy mực mới khó!

Xin lỗi bạn, tôi lạc đề xa quá. Tôi trở lại đây. Giờ tôi sẽ kể bạn nghe một chuyện kỳ lạ xảy ra với tôi nhiều năm về trước khi tôi đi viếng hũ cốt người thân ở chùa. Như đã nói ở trên, tầng hai tháp cốt khá chật chội và âm u - chật chội không phải vì tháp không đủ lớn, mà vì tất cả các kệ đều chập chùng đầy ngập hũ cốt, chỗ trống hầu như không còn mấy. Một bàn thờ Phật nhỏ, thấp, được đặt ở giữa tháp, nhang khói mù mịt. Có bảng thông cáo yêu cầu không cắm nhang ở các hũ cốt, nhưng thấp thoáng đó đây vẫn thấy nghi ngút khói trên các dãy kệ (có lẽ do người Việt mình luôn "nổi tiếng" không ưa khuôn phép). Mùi trầm hăng hắc của nhang, mùi thơm nồng từ các vòng hoa lài trắng tinh chất vun dĩa trên bàn Phật và trên các hũ, mùi tanh tanh lành lạnh của âm khí... đã tạo nên một mùi rất đặc trưng nơi tháp cốt.

Các hũ cốt xếp san sát thành ba bốn hàng trước sau trên các kệ vòng quanh tháp. Nếu hũ nằm ở kệ trên, phải leo lên cầu thang xoắn mới thấy được người thân (nếu hũ ở "mặt tiền"), nhưng không thể với tới. Do vậy, khi muốn lau sạch bụi bậm cho các hũ, mình không thể tự làm, mà phải nhờ thằng bé giúp việc trong tháp cốt, dĩ nhiên là kèm thù lao. Nó sẽ leo lên một cái thang cao ngất, phất lia miếng giẻ sơ sài qua loa. Thôi thì miễn bụi không phủ dầy che mờ ảnh chụp gắn trên hũ là được rồi. Có những chuyện mình không thể không chắt lưỡi cho qua, dù có bực bội ít nhiều.

Hôm đó tháp cốt khá vắng. Tôi ngồi trên bậc cầu thang xoắn, lầm thầm "nói chuyện" với từng người thân trong cái không khí nhờ nhờ lặng ngắt đó. Này là ông Ngoại tôi, giàu có vàng phơi bằng nia mà gương mặt khắc khổ như một lãng tử phong trần. Này là bà Ngoại tôi một phụ nữ cứng cỏi bản lĩnh. Ba tôi lừng lẫy một thời công tử Bạc Liêu, Má tôi đôi mắt buồn nửa đời u uất, anh tôi một đời tài hoa khẳng khái, đôi mắt sáng xếch nhẹ và nụ cười tươi, và cuối cùng, thằng cháu nhỏ của tôi đôi mày đen nhánh hai mắt tròn ngây thơ, nó cười toe toét răng còn chưa mọc đủ... Tất cả những cuộc đời khổ đau có, hạnh phúc có, phong lưu có, bất hạnh có... giờ chỉ là những nắm tro buồn tù túng ngột ngạt trong các bình sứ vô tri...

Giữa không gian trầm mặc đó, từ góc khuất xa nhứt của tháp cốt, một chuỗi cười thơ trẻ vang lên, khanh khách, vang vọng xa mà gần, giòn tan trong vắt, ngân như tiếng khánh. Tôi hoàn toàn không có ý niệm về sự sợ hãi, cứ cho là có đứa bé nào theo người lớn vào tháp rồi đùa giỡn cười vang. Ngồi nãy giờ cũng đã lâu, tôi xá người thân rồi đứng dậy xuống lầu ra về. Lúc đó chung quanh rất vắng lặng, xuống đến tầng dưới, chỉ đôi ba cụ già quỳ lạy Phật Địa Tạng, vị sư giữ tháp đang ngồi tại bàn lúi húi đếm tiền, tuyệt nhiên không có đứa trẻ nào. Tôi đi vòng ra phía sau tháp, chỉ là một khoảng đất rộng vắng người, cỏ dại lô xô lởm chởm gạch đá, ở góc tường năm bảy hình nhân xe ngựa chờ đốt, xa xa một đống rác lớn nghi ngút khói... Ai đã buông tràng cười giòn giã pha lê? Linh hồn trẻ thơ không vướng bận thiên hạ sự, bồng bềnh trong chốn u minh, chơi vơi theo tiếng kinh kệ, lòng thanh khiết đọng thành chuỗi cười vô tư?

4. Tôi có nhỏ bạn thân từ hồi còn học đệ Thất. 75 giải phóng, 76 nó lấy chồng là thủ trưởng của nó, lớn hơn nó gần hai mươi tuổi. Bạn bè từ hồi để chỏm, hơn ba mươi năm sau tôi gặp lại nó nhân dịp một đứa trong bọn gả con, lúc ấy nó đã cháu nội, cháu ngoại đầy đàn. Bốn năm con bạn già nằm gác chân lên nhau, nói chuyện suốt đêm, mấy bà già U.60 gọi nhau í ới bằng "hỗn danh" Tre Miễu, Hột Mít, Chim Sâu... và nhát ma nhau la í ới y như hồi còn đi học. Rồi nhỏ đó kể cho cả bọn nghe chuyện hồi nẳm lúc chồng nó đi bộ đội bên Campuchia, tối đóng quân ở một ngôi chùa, chồng nó không tin có ma, là người "chẳng sợ trời cũng không sợ đất" (nguyên văn), ổng mới cắc cớ tới chỗ bàn thờ cốt, nạy nắp hũ cốt của người ta ra rồi đổ tro cốt của người này qua hũ của người kia, giỡn với nhau rần rần, bảo "ông này qua hũ bà kia nằm chung cho ấm cúng". Nó kể chuyện tỉnh bơ, vừa kể vừa cười hí hí, không có vẻ gì là chê trách, còn lộ vẻ tự hào lấy được ông chồng bạo dạn.

Tôi ngỡ ngàng. Con bạn tôi mới ngày nào còn rất sùng đạo và duy tâm, giờ đây nó đem chuyện xúc phạm người chết ra làm chuyện tếu, thì có lẽ bạn tôi đã đổi thay quá nhiều???

5. Lúc cải táng Ngoại tôi ở Long Khánh đem về thiêu ở lò thiêu Phú Thọ, Sài Gòn, việc thiêu xác còn thủ công lắm, qua cửa sổ lò thiêu thấy tận mắt hòm cháy từ từ, chờ tới khi thiêu xong, họ đổ ra một khay thiếc rất lớn hình chữ nhựt, chờ bớt nóng mới dùng cái gắp than để lượm cốt lẫn lộn trong tro than. Nghe họ nói tro cốt thì nhẹ và trắng bông, còn tro than thì nặng và đen xám. Lúc đó tôi sợ họ lựa sót nên cũng tới giúp một tay, mới biết hơi nóng vẫn còn hừng hực bốc lên rát mặt, mới thấy thương cho những kiếp người vất vả kiếm sống nơi lò thiêu.

Mấy năm sau này, khi Má tôi mất, thiêu ở Bình Hưng Hòa, mọi thứ gọn nhẹ đơn giản hơn nhiều. Người ta cho chúng tôi thắp nhang lạy Má lần cuối rồi hạ quan tài xuống lò thiêu bằng thang máy, sau đó bảo mình ra về nhường chỗ cho những đám sau, hẹn đầu giờ chiều trở lại, họ đưa cho mình hũ cốt hoàn tất. Tôi cầm hũ tro cốt Má trong tay, ngậm ngùi liên tưởng đến cả một cuộc đời đủ đầy ngọt ngào cay đắng, cuối cùng còn lại nhúm tro nhẹ tênh này đây, mà cũng không biết họ có thật sự cho hết tro cốt của Má vào không, hay là vốc đại một nắm nhỏ bỏ vào lấy lệ, phần còn lại thì xiêu lạc phương nào? Thì thôi, đức Phật nói thân xác con người chỉ là vật hư ảo, một sự luân chuyển tứ đại mà thôi, nên sau khi nhắm mắt mọi thứ "hoàn không" cũng là lẽ thường tình, chớ cứ nghĩ ngợi hoài làm chi những chuyện thao túng trong tay thiên hạ, mà mình bất lực chẳng làm được gì ?

Quê Nội tôi ở Sóc Trăng, đất đai của Nội chạy dài tới tận Bạc Liêu, nhưng không hiểu sao khu mộ gia đình lại ở miếng đất lớn khoảng giữa đường đi Kế Sách. Mộ ông bà Nội xây theo kiểu Tàu hình cánh dơi (ông nội tôi là người Minh hương), dưới chân ông bà là con cái, cháu chắt nằm lớp lớp yên bình. Chắc chắn ở đó sẽ thiếu một chi họ là gia đình chúng tôi, những đứa cháu không may mắn, đã và sẽ gởi nắm xương tàn khắp bốn phương trời vì không có dịp quay về cố hương.

Riêng tôi, một ngày nào nằm yên nơi đáy nước, có lẽ đó mới là lúc cảm thấy an bình thật sự. Cởi bỏ hết những muộn phiền tiếc hận, tâm trí thong dong, lòng thanh thản... Hạt tro là tôi bây giờ mới vô tư vươn mình đùa chơi cùng con cá nhỏ...

Trần gian bay biến vào hư ảo, 
Ta sẽ mơ bằng tim đã tro... 

(Pha Lê)

TCQN 

HÀN THUYÊN TẠI LIỄU

 

 

Cô nhìn vào đồng hồ khi vừa nằm vào bàn mổ : Hai giờ mười lăm. Mũi kim đâm nhói lên ở gân bàn tay và giọng nói vỗ về của vị giáo sư bác sĩ : "Yên tâm nhé, không đau đớn gì đâu..."

 

Một cảm giác gì đó mường tượng như là cái chết. Nhẹ nhàng vô cùng. Thư thả vô cùng. Trong màu vàng ánh của chất dịch truyền trên kia, cô mơ màng thấy mình muốn bay. Tại sao không nhỉ? Cô sắp trở thành cô gái bay như một nhân vật nữ trong quyển truyện Nga nào đó... Cô gái ấy, thất vọng trong đời sống thấp thỏi này, đã dùng ý chí như một khả năng vô hình huyền bí để đưa mình lên trên kia đi tìm một cái gì đó không có ở mặt đất. Đã rất nhiều đêm cô cũng nhìn lên bầu trời tím thẫm trên kia, cũng ngắm nhìn những vì sao lấp lánh, và tự hỏi trên ấy có một đời sống nào không, hay toàn những buồn nản bao giờ cũng ngự trị nơi địa ngục lòng mình. Và cô ước mơ được bay lên, được thoát khỏi thế giới này đầy phiền muộn chán chường. Bay lên cho gió rì rào reo trong tóc xõa, người đê mê cuộn êm trong mây, và cho ngàn sao lanh canh lướt qua kẻ tay khi cô đắm mình trong dãi Ngân Hà màu sữa dịu... Vậy là dòng sao cứ trôi. Bồng bềnh. Bồng bềnh. Trần nhà thành mây xốp mềm, trắng xóa. Những đôi mắt cúi xuống sau các khẩu trang...Trong chớp mắt, cô mê đi.

 

Năm giờ chiều. Phòng hậu phẫu. Từ miệng cô, máu bầm, máu tươi và nhớt dãi cứ mỗi giây lại trào ra lênh láng, chồng cô phải hứng và chùi liền tay. Không như người ta nằm yên cho tới khi tỉnh thuốc mê, cô cứ vật vã và co giật...Người ta đặt cô nằm nghiêng vì sợ máu tràn vào họng, nhưng nghiêng trái lại ép tim khiến cô không thở được. Đàm cứ trào lên càng làm khó thở. Và họng đau buốt như lửa đốt. Bất giác lòng cô bỗng dâng lên một nỗi buồn mênh mông.

 

Vậy là cô đã trở về với thực tại, đã rớt lại xuống mặt đất này hèn mọn và đang phải uống cạn chén đau đớn này rất đỗi trần gian.

 

Phải. Cô không bao giờ vượt thoát được cái barrière khốn khổ của loài người đáng thương, nên cô cứ bám mãi mặt đất này như con ve sầu run rẩy bám lấy chiếc lá liễu khi mùa đông sắp tới. Cái thân phận "hàn thuyên tại liễu" đó cô đã thấy trước, đã biết trước và tuy cố làm ra vẻ bình tâm an nhiên, cô vẫn thấy lòng ngậm ngùi như cảm giác hối tiếc Xuân xưa khi đẫm tay vào thau nước lạnh một sáng lập đông.

Cô muốn thốt nên một lời gì đó, dù là tiếng thở dài an phận nhưng hai hàm cô như dính chặt vào nhau.

Cô muốn mở mắt ra xem mình đang ở đâu, nhưng bờ mi tê dại chỉ vừa đủ hé cho thấy những vạt áo blouse trắng qua lại vội vã. Cô muốn cử động, nhưng cô như bị trói chặt bằng những dây gai vô hình và đè nặng bởi tảng đá to.

Cô cảm thấy hai tay bị ôm chặt, đầu bị giữ chặt cho nghiêng về một phía. Một tiếp xúc rất quen thuộc. Một hơi ấm rất quen thuộc. Và một tiếng nói cũng rất quen thuộc. Em ơi, có sao không? Tỉnh chưa em? Bác sĩ ơi, nhà tôi có sao không?

 

Bàn tay ai vỗ vỗ vào má cô, rồi tiếng người y tá cằn nhằn khi thấy cô vật vã. Đầu cô lắc lư như người lên đồng, chốc chốc lại khạc lên một tràng ròng rọc như tiếng người ta ngửa cổ súc miệng. Cứ mỗi lần nhè ra nhớt và máu, cơ lưỡi cử động làm họng cô đau buông buốt. Bỗng dưng thần thức cô sáng láng lạ thường, nó tự nhủ phải nhớ lấy từng cảm giác, từng ý nghĩ bây giờ để có dịp ghi lại sau này. Và cô chợt buồn cười cho cái gàn dỡ của chính mình ngay cả trong cơn đau choáng ngộp.

 

Cô nằm cùng phòng với một ni sư và một cô gái làm massage. Ni sư bị viêm xoang nặng đã giải phẫu được hơn tuần, còn cô gái thì trước đó sửa mũi bị nhiễm trùng nặng giờ phải mổ để lấy silicone ra mới mấy ngày nay. Trông cả hai đều khỏe mạnh tươi tỉnh, không như cô, tái nhợt như một xác chết.

Cô nằm li bì, vòm họng lúc nào cũng như lửa đốt. Những người cắt amygdale cùng ngày với cô đã về nhà ngay hôm sau. Sao con người cô đụng vào việc gì cũng gặp trở ngại, cũng thành khó khăn.

 

Thấy cô chỉ tiểu phẩu mà lâu ngày chưa khỏe lại, ni sư khuyên cô niệm Phật để giải nghiệp. Niệm Phật ư? Cô đã niệm Phật từ mấy mươi năm nay, nhưng niệm Phật không cứu được gia đình cô khỏi cảnh sa sút tan tác, không cứu được Ba cô đột quỵ vì buồn rầu gia sản chớp mắt khánh kiệt, không cứu được đứa cháu bé bỏng bị bỏ mặc đến chết trong bệnh viện, không cứu được anh cô sống còn trở về từ những cực nhục lao lý, không cứu được đứa em khỏi kiếp lạnh lẽo dập dềnh nơi đáy nước, và cuối cùng niệm Phật cũng đâu cứu vãn được một đời cô đầy khổ đau dằn vặt...

 

Cô nhớ lại đã có một thời đắm chìm trong giáo lý nhà Phật một cách mê cuồng. Cô ngưỡng mộ Đức Phật như một triết gia vĩ đại hơn là một giáo chủ đầy quyền năng. Cô không say mê đạo Phật như một tín đồ say đạo mà là tìm tòi, nghiên cứu và thần phục đạo Phật như một triết lý cao vời mà gần gũi vô cùng. Cô sưu tập khá nhiều tạng kinh, và hai bộ kinh cô ưa thích nhất là kinh Kim Cang và kinh Duy Ma Cật. Kinh Kim Cang cao vời thoát tục, còn kinh Duy Ma Cật thì đầy những ứng đối thông minh. Thật thú vị và hạnh phúc khi người ta còn có một niềm tin làm nơi nương tựa tinh thần.

 

Nhưng rồi cái tang tóc cuối cùng - anh cô - bỗng nhiên đẩy bật cô ra khỏi niềm tin được giải nghiệp. Năm này qua năm khác, cô cứ ray rứt mãi về cái chết vô lý của người anh thương yêu. Tại sao anh không chết đi vào những thời điểm gay go nhất của đời anh, anh lại đi chết oan nghiệt và vô nghĩa như con chim giã từ trời cao lồng lộng len mình vào lồng hẹp để rồi bị bóp chết bởi bàn tay đứa trẻ vô tâm. Không. Mãi mãi cô sẽ không chấp nhận cái chết đó. Cái chết của con thiêu thân ảo tưởng về một ngày tươi đẹp trong ánh lửa cháy bỏng. (Hay chính sự vô nghĩa đó mới làm nên ý nghĩa đời thiêu thân ?). Cô lập lại lời nói của Roméo : "I challenge the stars !". Nghiệp dĩ còn bao nhiêu cô sẵn sàng chấp nhận trả hết.

 

Cô thôi niệm Phật kể từ dạo ấy. Có thể lúc ấy cô chưa hiểu thấu được Luật Nhân Quả. Nhưng Nhân với Quả cách nhau quá xa vời mà cô là phàm nhân nên chẳng bao giờ có thể kiên nhẫn đợi chờ, cũng chẳng bao giờ kiên tâm chấp nhận. Và nữa, có ai định nghĩa được thế nào là vị mặn mòi của muối, một khi chưa nếm muối ra sao. Những dâu bể cô đã gặp trong đời có mấy ai biết được mà hiểu tới những ngóc ngách địa ngục lòng cô ?

 

Trong cơn đau vật vã, cô vẫn nghe tiếng niệm kinh của ni sư lúc nửa đêm về sáng... Xá Lị Phất, sắc bất dị không, không bất dị sắc ; sắc tức thị không, không tức thị sắc ; thọ, tưởng, hành, thức, diệc phục như thị... Cô nhìn ni sư ngồi kia, gương mặt an bình như mặt nước hồ một chiều lặng gió, khác xa với một ni sư ban ngày cả ăn lẫn nói giống y người thường, một người thường yêu đời và biết hưởng thụ với gương mặt tròn trịa hồng hào và đôi hàm răng chắc khỏe. Ni sư có thực sự hiểu rõ từng lời Phật dạy, thực sự thấm nhuần cái lẽ sắc không ? Tự nhiên cô có cảm tưởng ni sư đã rất bằng lòng với đời sống này quá an nhàn và đầy đủ với bao nhiêu đệ tử vây quanh cúc cung hầu hạ. Cô hay tò mò lắng nghe ni sư và các đệ tử kháo với nhau những chuyện cơm áo gạo tiền tầm thường phàm tục tưởng chừng như không bao giờ có thể xảy ra trong đời sống tăng lữ...

 

Cô chợt nhớ có lúc mình đã muốn rời xa thành phố này để sống đời viễn ly ở một ngôi chùa nghèo hẻo lánh, nhưng kịp nghĩ từng chuỗi chuông buồn thúc giục hàng hàng nữ tu khoác y vàng tươi màu hoa sen nhái đang nhanh chân cắm cúi trên những bực thang dẫn lên chánh điện có phải thực sự là nơi trú ẩn vững chắc cho tâm hồn ? Phải chăng Chân Hạnh Phúc chỉ có nơi Niết Bàn xa vợi ? Trên gương mặt bình lặng của Đức Phật, có lẽ tương lai không đáng lưu tâm, công danh là số không vô vị, và tình yêu... Niết Bàn chỉ có tình thương chớ không có tình yêu, vì thế không có khổ đau ray rứt.

 

Rồi cô lại nghĩ - những ý nghĩ quá mâu thuẫn với những gì cô đang chịu đựng - nhưng cuộc sống không có khổ đau, làm sao hiển hiện được niềm vui vĩnh cửu ? Cô nhớ một câu thật hay không biết của ai : "Bóng tối tượng trưng cho một kinh nghiệm kép : hoặc nó xác nhận không có ánh sáng, hoặc nó bao hàm sự hiện hữu của ánh sáng... Vậy suy ra ánh sáng cũng tượng trưng cho một kinh nghiệm kép : hoặc nó xác nhận không có bóng tối hoặc nó bao hàm sự hiện hữu của bóng tối, như thủy chung làm nổi bật phản trắc, giàu sang làm nổi bật khốn cùng, hạnh phúc làm nổi bật khổ đau". 

Ôi, mình lại điên khùng nữa rồi. Tại sao lúc nào cũng chỉ là những ý nghĩ ? Làm sao để chúng đừng hiện diện cười cợt mãi trong đầu mình ? Làm sao để mình có thể sống đời mộc mạc, an nhiên mà không bị những ý nghĩ vẩn vơ quấy rối ? Tâm viên ý mã. Đó chính là con người khốn khổ của cô.

 

Lại suy nghĩ. Đối với những kẻ tuyệt vọng với cuộc đời như cô, những thiên thần được mọi người ngưỡng vọng thật ra chỉ là mặt nạ da người của từng ấy ác quỉ, những thiên tài những vĩ nhân chỉ đáng "kính nhi viễn chi", thiên đàng huyền diệu là là mỗi địa ngục trá hình, và hạnh phúc dường như chỉ là âm thanh... Lời than khóc của hạt sương nhỏ bé với ánh mặt trời lại trở về trong cô : "Tôi mơ mộng Ngài, nhưng để được hầu hạ Ngài, không bao giờ tôi dám hi vọng. Tôi quá nhỏ bé để kéo Ngài về với tôi, hỡi Chúa Tối Cao và suốt đời tôi đầm đìa giọt lệ" (Tagore). Hỡi ôi, Vầng Thái Dương đã chiếu rọi khắp cả khung trời vô hạn, nhưng lại không hạ cố đến một giọt sương nhỏ nhoi ! Chẳng trách thiên hạ rộng lớn vô cùng nhưng một Tiêu Phong đáng thương của Kim Dung đã không còn một chỗ dung thân !

 

Vậy nên trách Định Mệnh hẹp hòi hay phải trách tại sao con người ngu si đã chọn làm người, lại đi làm một con người đa cảm và đầy mẫn tính ! Trang Tử xưa đã nói về Hạnh Phúc một cách thật dễ dàng và khoan lượng : "Nếu biết thuận theo tánh tự nhiên mà sống thì Hạnh Phúc có ngay lúc đó, không phải cầu cạnh đâu khác ở ngoài". 

Ôi, lý thuyết chỉ có giá trị như một thuyết lý, mà thực tại lại quá nhẫn tâm !

 

Tiếng chửi thề thô tục của cô gái giường bên bất mãn mấy người y tá đem cô trở về thực tại... Cô trở mình, cảm thấy quá mỏi mệt vì những suy nghĩ lung tung. Đầu cô nặng nề quá. Đôi tai kêu u u. Cô xòe bàn tay nhỏ bé nhăn nheo và xanh lướt của mình, rồi liếc nhìn đôi cánh tay mập mạp tròn căng của cô gái, chợt thấy mình sao già cỗi héo hon cả thể xác lẫn tâm hồn.

Lòng cô bỗng chùng xuống. Cô lại nhớ đến Tất Đạt và Thiện Hữu với tiếng nói huyền nhiệm của dòng sông. Nhưng cuộc sống đâu chỉ có chờ đợi và nhịn đói. Nhịn đói đã khó, biết đợi chờ lại càng khó hơn. Vì vậy mãi mãi cô ngồi một mình bên dòng sông đời, lắng tai hoài không nghe thấy tiếng OM...

 

Trời đã sáng tỏ. Con chim nhỏ đen đủi huýt lên những tiếng cao vút lạ lùng ngoài sân bệnh viện. Cô ngồi tựa lưng vào tường, khép mắt lại và thiếp đi trong giấc ngủ đầy mộng mị về một thời đã xa tít tắp...

 

  

 

TCQN

SG, 02/1995

 

TUI ĐI CHĂN BÒ

 

Đi chăn bò, cầm cây roi thật to,

Bò không đi, ta lấy cây roi ta chọt đít bò, bò đứng dậy đi ngay...

(Bài hát chế Cây Đàn Ta Lư)

 

Mấy chục năm về trước, hình ảnh tui đi chăn bò rất ngộ, bạn có tưởng tượng ra? Một cô nhỏ hai mươi tuổi, cao mét sáu tám, kiếng cận, da trắng bóc, đội cái nón lá te tua như cá rô rỉa, tay cầm nhánh cây khoai mì còn túp lá phe phẩy như người xưa cờ lau tập trận, áo bà ba, quần mỹ a đằm thắm (áo bà ba sửa từ áo dài rồi đem nhuộm đen thùi lùi - than ôi thời oanh liệt quần patte một série mười hai màu bấy giờ còn đâu!!!)...

Cần nói thêm, tui chăn bò đây không phải là bò nhà tui, mà là tui đi chăn bò... ké!

 

Chuyện là vầy, thuở đó nhà tui từ thành phố dọn về là khu rẫy sâu trong rừng, rải rác mấy căn nhà tranh, dân tứ xứ trôi về kiếm sống có, người thành phố lưu lạc về cũng có. Nhà tui, nhà tranh vách đất trăm phần trăm nghĩa đen, "tọa lạc" trên thế đất khá cao nhìn xuống một triền cỏ chạy dài, bên trái là gia đình ký giả H người Sài Gòn với một vợ ốm yếu quặt quẹo và đàn con bảy đứa nheo nhóc, bên phải là khu đất của bà Hai người Bắc năm tư và hai đứa con trai vốn là lính không quân. Nói bên phải bên trái cho le, chớ thật ra mỗi nhà cách xa nhau gần cả... tiếng hú. Xa hơn nữa, cách năm sáu cây số là nhà họa sĩ Lê Trung, tác giả những hình vẽ trên bìa tập tụi mình hồi đó, thường là những cô gái có thân hình "đồng hồ cát", mặc áo dài trắng tay vịn nón lá .

Nói dông dài để bạn có thể hình dung sơ sơ "khu phố" nhà tui.

 

Lâu lâu bà Hai cuốc bộ tới rìa đất mà hú "Rư ơi, Rư, qua tao bảo!", vậy là biết bữa đó bà ể mình cảm sốt, hai ông con trai đã vô rừng làm rẫy, nên bà nhờ tui đi... chăn giùm con bò.

 

 

TUI ĐI CHĂN BÒ 2

Loan Mắt Nhung

 

Lần đầu thiệt là căng thẳng. Nghe người ta thường nói "đau như bò đá", nên mình phải "thăm dò dư luận" cái đã: "Bà Hai ơi, nó có cắn con hông? Đi gần nó có buồn buồn đá con hông?"

Bà bật cười, rê dài chữ "không" đặc trưng giọng Bắc: 'Khô ô ông. Nó hiền chết rứ. Mày cứ dắt nó đi từ từ, ra chỗ cỏ cao gần nhà mày ấy, kiếm cái cây mà cột nó rồi đi nhổ cỏ mì hay làm gì làm, để ý nếu nó ăn hết cỏ chỗ đó rồi thì đem nó cột chỗ khác nhá!". Tui bắc cho bà nồi cháo nhỏ, rồi e dè dắt con bò ra đồng cỏ. Vừa dắt nó đi vừa nói chuyện với nó, vuốt vuốt chân nó, vỗ vỗ má nó, mà coi bộ cu cậu cũng hảo ngọt, nó quay ra ngó ngó tui rồi nín thinh ngoan ngoãn bước theo chẳng mè nheo gì (chắc nó nghĩ tội nghiệp chị nhỏ mặt khờ me, ở đâu trôi giạt dìa đây)... 

Cứ vậy nhiều lần, tui và con bò thành bạn với nhau. Ngoài trảng cỏ, tui hay nằm gối đầu lên tay nhìn mây trắng bay trên nền trời xanh thẳm, có khi ngồi núp dưới cái cây dại ngay dưới chân tổ mối cao hai ba thước, kè kè cuốn L'Anglais Vivant vì sợ có ngày chữ nghĩa nó bay ráo, học chán lại quay ra rì rầm nói chuyện với con bò, không thì giỡn với con mèo mẹ và mấy nhóc mèo con phá như giặc, hay rị mọ bắt bọ chét cho con chó Ki già. Nếu bạn hỏi tui thời gian nào thư thái nhứt trong đời, tui sẽ nói liền không do dự: Đó là thời gian tui đi chăn bò!. Ở đó mỗi khi nhìn gió xoáy từ đầu dốc cuốn theo bao nhiêu lá vàng, để rồi khi xuống tới dưới triền thì tung lên trên không cơ man nào là xác bướm tơi tả, thì hồn mình như cuốn bay theo với lá, bỏ lại sau lưng những khổ đau chốn hồng trần, những "thiên địa vô nhân", những cảnh đời thất thế...

...

Có một kẻ đi sau người chăn bò mê mải
Túi áo gói đầy hương cỏ thơm
Trái tim đựng đầy tiếng sáo và tiếng mõ
Đôi mắt đong đầy giàn giụa suối trăng non...

(Đàn bò vàng trên đồng cỏ hoàng hôn - Nguyễn Đức Mậu)

Bò nhà bà Hai là một em bò thanh niên đẹp đẽ vô cùng, vai rộng, lưng thẳng vút, lông một màu vàng sẫm bóng mượt, đùi nở nang, móng khít khao cứng cáp, vóc đứng toát lên vẻ vạm vỡ khỏe mạnh. Mà ngộ cái là đôi mắt nó sao lúc nào cũng ánh lên nét u buồn, lại hay nhìn xa xa phía chân trời, tròng mắt đen láy, bóng ngời, đôi lông mi dày thẳng tắp. Thế là tui liền đặt nó tên "Loan Mắt Nhung", cái tên sặc mùi...du đãng làm trong nhà ai nghe cũng phì cười. Những lúc nhìn vào mắt nó, tui thường tự hỏi trong cái đầu to đùng của nó, những ý nghĩ gì đang thoáng qua, tủi thân trâu cày ngựa kéo, ráng nhịn nhục cho hết nợ đời, hay là nó chẳng biết nghĩ gì, đầu óc tăm tối mông lung, chỉ thấy cỏ là ăn, bị đánh đau là chạy???

Bò là giống ăn tạp. Không chỉ ăn cỏ, rơm, nó còn ăn cùi bắp, vỏ mít, và hầu như tất cả mọi cây cối trên đường đi... Thỉnh thoảng nó còn được ăn chè "bồi dưỡng", thứ chè đậu xanh loãng nhách nấu với mấy tán đường móng trâu, đổ vô cái xô nhỏ, cu cậu ưa lắm, vục mõm ực như chớp. Nhưng ổng mà lạc vô vườn cây mới ươm hay rẫy khoai mì thì đúng là tai họa, cái giống nước miếng bò thiệt độc, nó mà nhơi trúng ngọn cây nào thì y như rằng cái cây đó èo uộc còi cọc cả đời chẳng ra làm sao, chủ vườn đành bấm bụng nhổ bỏ cho rồi.

Ờ, để tui kể bạn nghe chuyện tui xém chết khi đi chăn bò. Một bữa đang ngồi tựa lưng vào tổ mối, bỗng nghe tiếng cùm cụp cùm cụp rất lạ nho nhỏ sau lưng. Tui rình tìm mãi, hồi lâu mới thấy có con gì giống như con cua bò trong đám cỏ. Ủa sao giữa đồng cỏ hanh khô mà lại có cua? Nhưng ngó bộ nó ô dề vậy mà nhanh nhẹn lắm, mới thấy đó đã lủi mất hút trong đám cỏ, kiếm hoài không ra. Bữa sau hí hởn kể cho thằng nhỏ chăn bò "đồng nghiệp" nghe, nó la làng: "Ối mẹ ơi, bò cạp núi, nó mà cháp một cái là phẻ đời nghe chị Năm!". Hà hà số mình còn kéo dài nhiều tập gay cấn, đâu có dễ chết lãng xẹt chỉ vì con bò cạp tồ vô danh tiểu tốt! 

---------------

TUI ĐI CHĂN BÒ 3
Bà Tổng Giám Đốc tập đoàn PHABOVI

Lượm phân bò cũng là một chuyện thú vị lắm nghe bạn (!). Trước bảy lăm, nếu có ông thầy bói nào nói có ngày con QN sẽ đi dọc theo đường quốc lộ lượm phân bò tỉnh bơ không biết gớm, thì tui sẽ ngã lăn ra cười, vì đúng là chuyện như đùa!... Vậy mà thời gian đó, mỗi lần tui với nhỏ cháu đi chợ xã, nó thì xách giỏ nhựa đựng thức ăn, còn tui thủ cái giỏ lác bự chảng, một tay bọc trong lớp nylon, bận đi lượm được phân nửa, thêm bận về đầy ắp... phân bò khô. Đem về ủ lâu lâu trong một hố nhỏ phủ rơm rạ, chờ nó "hoai" để dành bón cây...

Bây giờ ở Sài Gòn muốn bón cây tui phải mua một bịch phân bò nhỏ xíu mười ngàn đồng! Thiệt đúng là gia đình tui chẳng ai có máu kinh doanh, chớ nếu biết nhìn xa trông rộng, thì giờ tui nghiễm nhiên đã là "vua phân bò", quên, "nữ hoàng phân bò", hay nói cho le, bà Tổng Giám Đốc tập đoàn "Phân Bò Việt", có chuỗi cửa hàng thu mua và phân phối cả nước, biết đâu còn thò vòi bạch tuộc xuất khẩu "hàng" qua tận... bên Tây, có đâu cứ bám cái nghề bán chữ thanh bạch và bạc bẽo này...

Trở lại chuyện thằng bạn Loan Mắt Nhung của tui. Tui muốn đính chính chuyện người ta hay mắng "ngu như bò"! Con bò không hề ngu, có ngu chăng là sức vóc to lớn vậy mà để cho con người đè đầu cưỡi cổ, hành hạ đánh đập giết chóc... Ờ có lẽ chỉ vì trời sanh nó quá hiền lành chăng? Chuyện đời, hiền lành thì thua thiệt mà, người ta cũng vậy thôi! 
Bò cũng có tình cảm, cũng biết ai thương nó, ghét nó, và nó cũng có cách cư xử riêng trong từng trường hợp. Có thể tui phiến diện, vì tui  đâu có sống với bò cả đời mà vội rút ra kết luận này nọ. Ừ thì tui nói con Mắt Nhung thôi vậy! 

 

Mỗi ngày gặp bà Hai đi chăn bò ngoài rẫy, tui đều chạy ra nói chuyện với hai bà cháu, cho em nó bó cỏ tươi hay trái bắp, hoặc miếng vỏ mít vàng ươm.

Mỗi khi đi "chăn bò ké", khi hai đứa lang thang trên đồng cỏ, thì những gì u uất chất chứa trong lòng, những hoang mang về tương lai mờ mịt, những tiếc nuối về bao ngày xưa cũ ấm êm, tôi đều kể hết cho Mắt Nhung nghe. Chẳng biết nó có hiểu hay không, nhưng đôi mắt nó cũng ươn ướt buồn rầu như đồng cảm với con nhỏ học trò nửa đường đứt gánh... Mà cần gì nó hiểu, chẳng phải khi gặp được người "chịu lắng nghe" mình, đã là hạnh phúc rồi sao, cho dù "luôn luôn lắng nghe, lâu lâu mới hiểu"!
Với tôi, nó ngoan ngoãn cực kỳ, dẫn đi đâu đi đó, không như với chủ nó anh Bình con bà Hai, nó cứng đầu không thể tả - lúc này nó lại bị chửi "lỳ như trâu"! - cho nên phải ăn bao nhiêu cơn mưa roi, bị đâm bao nhiêu đót vào mông đến nỗi mông nó lúc nào cũng lún phún máu đặc (đót là cây gậy thúc bò, một đầu có cù ngoéo làm cán và một đầu đóng đinh sắc nhọn dài khoảng một phân để đâm vào mông bò thúc nó đi nhanh).

 

----------------

 

TUI ĐI CHĂN BÒ 4

Phủi sạch nợ trần

 

Khoảng nửa tháng một lần, bà Hai cho Mắt Nhung đi kéo gỗ mướn tận trong rừng sâu. Công việc của nó là kéo gỗ mới đốn gom lại một chỗ, gọi là "tập kết", đến khi đủ số thì lòn lách đường mòn đi thâu đêm để kịp về điểm thu mua của lái gỗ dưới bến sông rừng Sác lúc mới hừng trời. Mỗi lần đi một chuyến về, tội nghiệp, nó kiệt sức, ốm nhom, hai bên mông nát bét dấu đót, tui thương quá, đem xức thuốc đỏ ai thấy cũng cười. Bà Hai cho nó nghỉ ngơi ăn uống lại sức, để một tuần mười ngày lại đi chuyến khác. 

 

Chẳng hiểu có phải cũng biết sợ những chuyến đi rừng "trần ai lai khổ" hay không, mà có một lần, trước hôm tới chuyến, Mắt Nhung... bỏ nhà đi bụi. Nửa đêm nửa hôm, tiếng bà Hai và hai ông con trai kêu ơi ới ngoài rẫy nhờ mình chia ra tìm giúp. Anh Ba với thằng Út mặc áo đi liền, không quên dặn tui với nhỏ cháu ở nhà cửa nẻo cẩn thận. Đuốc đốt sáng rẫy. Đèn pin lia tứ phía. Tiếng người í ới xa xa, tiếng kêu "Bò... về..., bò... về..." như lúc dẫn bò về chuồng lặp đi lặp lại văng vẳng xa dần.

Trời tự nhiên đổ mưa. Mưa rừng, bạn biết không, có khi chẳng chuyển, chẳng gầm gừ báo trước, hễ ổng muốn mưa là cứ trút ào xuống, ầm ầm như đạo binh giáp trắng càn qua hung hãn. Sấm, chớp liên hồi. Cả đồng cỏ thoắt chốc bao trùm thứ ánh sáng trắng xanh thê lương ma quái rồi lại nhanh chóng chìm vào đêm đen...Tui nhìn ra màn đêm mênh mông, nóng ruột trông đứng trông ngồi, sợ anh Ba với thằng Út đi về bị cảm lạnh. Sợ con Mắt Nhung đi lạc sâu trong rừng bị cọp vồ, mặc dù dân miệt này nhiều lần xác nhận nhím, thỏ, nai, mễnh thì có, chớ cọp thì chưa thấy bao giờ. Lại sợ nó bị trộm bắt rồi đem vào rừng xẻ thịt... Ở đây trộm thường không dắt bò đi xa, mà lựa chỗ rừng vắng đâm họng xẻ thịt tại chỗ, có khi gấp quá chúng chỉ kịp cắt đi hai cái đùi, mấy bữa sau chủ bò mới tìm ra thì xác bò đã bắt đầu có mùi...

Cả tiếng sau, nghe tiếng anh Ba với thằng Út nói chuyện lao xao ngoài sân, chợt ảnh "ủa" một tiếng rồi la lên: "Nó đây nè Bác Hai ơi!". Thì ra Mắt Nhung đã về trong sân nhà tui từ bao giờ, đứng nín thinh dưới mưa... Tui chưa kịp mở cửa chạy ra thì anh Bình con bà Hai đã tới kéo nó đi, chỉ kịp thấy nó đầu cúi thấp dưới ánh chớp sáng trắng, đôi sừng nhọn lắc lắc, và đột nhiên nó ngoái kêu lên một thôi dài buồn bã trầm thống: "Bò ò ò ò ò"...

Mấy ngày sau anh Bình từ rừng về cho hay mấy ngày mưa thúi đất thúi đai, đường rừng nhão nhoét như một lòng chảo khổng lồ ngập bùn dẽo, Mắt Nhung bị mắc lầy, và vì bị thợ rừng đót liên tiếp đau không chịu nổi, nó rống lên một tiếng vang trời, ráng hết sức vùng lên kéo xe gỗ nặng, bị đứt ruột mà chết! 

Ôi Mắt Nhung tội nghiệp của tôi! Nó đã đi rồi, quá sớm ở cái tuổi hừng hực trai tráng... Lúc đó tui còn trẻ quá, cứ nhớ tới nó là nước mắt tuôn tuôn, thẩn thờ bao nhiêu ngày trời khi quẩn quanh ngoài trảng cỏ. Tôi không hiểu rằng nó đã tới lúc phủi sạch nợ trần! Thôi vậy còn hơn cả đời bị bóc lột và hành hạ, để rồi lúc cuối đời nước mắt ứa ròng ròng khi thấy con người tàn ác đang lăm lăm bổ búa vào đầu. Con người vốn bạc. Như họ hát về con trâu: "Con trâu có một hàm răng, ăn cỏ đất bằng uống nước bờ ao. Hồi nào mầy ở với tao, bây giờ mầy chết tao cầm dao xẻ mầy..." !

Mắt Nhung đã đến tìm tui vào cái đêm trước khi nó chết, phải chăng nó biết sắp vĩnh viễn ra đi nên bỏ nhà tìm tới nói lời từ giã? Đau lòng quá Mắt Nhung ơi...

Tui ân hận vì chưa kịp nói câu an ủi nào, chưa kịp vuốt cái mõm ươn ướt hiền lành của nó, chưa kịp vỗ nhẹ vào chiếc má hõm gân guốc của nó, chưa kịp nhìn vào đôi mắt lúc nào cũng u buồn của nó để chúc nó đi đầu thai làm người cuộc đời bình an...

Ngoài rẫy xa, tiếng bà Hai khóc lóc rền rĩ vì không còn Mắt Nhung đi rừng đổi gạo, tiếng khóc như tiếng người đàn bà Bắc hờ con, thê thảm, áo não, đắng cả ruột gan...

 

TCQN
04/2014

Cô ma buồn 

 

 

 

Sau 75, mấy chị em tôi nghỉ học theo gia đình về làm ruộng ở quê nội Sóc Trăng. Hai  năm sau, thất bại thảm hại chốn ruộng đồng, Má tôi rút mấy chị em về lại Cần Thơ, góp cho mỗi đứa hai cây vàng vô làm tổ viên tổ hợp mía đường. 

Bạn nào còn nhớ tiệm bán dụng cụ học sinh khá lớn hiệu "Thế Giới" ở cái đường gì đi xuống Chợ Gà? (đối diện xéo xéo tiệm thuốc tây Khương Bình Tịnh). Chính ông chủ tiệm Thế Giới này đã đứng ra kêu gọi một số tư sản và trí thức hùn lại xây dựng một lò đường ở sâu trong đường Nhà thương dưỡng lão, lúc đó còn là ngoại ô thành phố Cần Thơ.

Lò đường nằm trên mảnh đất khá rộng, phía trước là sông cái bát ngát, cách một con đường là lò đường với sân trước, văn phòng, khu máy ép, kế tới khu lò nấu xây cao vút với sáu chảo khổng lồ đường kính hơn sải tay, gian trái là nhà bếp, gian phải kho trấu, cuối cùng là sân sau dùng phơi bã mía, nói sân cho le, thật ra là phơi ké chỗ trống trong một nghĩa trang nhỏ.

Tụi tôi, mới ngày nào còn là mấy đứa học trò ngơ ngáo trói gà không chặt, bỗng dưng đùng cái biến thành nông dân (dù là nông dân dỏm), rồi sau đó không lâu nghiễm nhiên trở thành tổ viên một lò đường lớn được chia lời mỗi sáu tháng, vừa là công nhân, vác mía, ép mía mỗi ngày theo ca sáng tối.

Có một chuyện ngược đời, là sống đời công nhân vất vả trăm bề nhưng hầu hết tổ viên và công nhân ở đây đều vui vẻ tếu táo, không khí rất dễ chịu hòa đồng. Không hiểu sao lúc đó chúng tôi rất dễ cười. Có lẽ vì người nào cũng lờ mờ hiểu đây chỉ là một giai đoạn tạm bợ, rồi mỗi chúng tôi đều có một con đường riêng để đi, như mây trên trời tụ lại rồi tan, và thời gian gắn bó với nơi này sẽ trở thành một kỷ niệm khó quên?

Lần đầu tiên vác mía, không biết lông tơ trên cây mía gây ngứa nên không lót vải tời trên vai, kết quả là cả bọn ngứa gãi như Tề Thiên, CƯỜI!

Láp bộ che (máy ép) đang chạy ngon lành bỗng gãy rốp, CƯỜI! (vì máy hư thì được nghỉ - công nhân kiểu gì mà nghỉ việc không lương lại khoái chí gì đâu).

Vác trấu đổ vô lò bị bụi trấu làm mẩn ngứa toàn thân, "đàn Ta Lư" cả buổi, CƯỜI!

Chờ "hỏa đầu quân" (là một ông già người Tàu, tụi tôi gọi ông là " lào pề", nghĩa là "ông bác") vừa ngủ mở miệng ngáy o o, một đứa lén lén bỏ vô miệng ông dúm muối, ông tóp tép cái miệng móm xọm rồi ngủ tiếp, CƯỜI!

Đứa trèo cây hái trộm xoài lối xóm (mật hiệu : mission impossible), đứa đứng canh mắt la mày lém, hái xong cả đám chạy u về, sẵn nước mắm nhà bếp và đường mới nấu còn nóng hổi, làm tô mắm đường hoành tráng, vàng sánh, long lanh, bỏ thêm mấy lát ớt đỏ thắm, í chà, mỗi đứa một lát xoài xanh, quệt mắm đường nhai rôm rốp, cay điếc lỗ tai, vừa hít hà vừa nghe bà "chủ xoài" bả chửi sa sả ngoài kia, CƯỜI!

Nhưng chuyện thú vị nhứt, có lẽ là chuyện con ma áo trắng. Ngay lúc những chảo nấu đường khổng lồ được đem về lắp ráp vào bệ lò, tụi tôi đã nghe đồn râm ran về con ma ngoài nghĩa địa cuối đất. Nghe nói đó là một cô gái tự tử chết vì tình, hồn mãi không tan nên cứ hiện về ngồi lặng yên bên mộ mình những đêm trăng sáng. Nhiều năm trôi qua, con ma có lẽ góp đủ thời gian hấp thụ dương khí hay sao mà cả gan dám hiện hình ban ngày, lúc đúng ngọ. Mỗi khi nhắc tới chuyện này, mấy "bà tám" gần đó trưng liền bằng chứng sống là anh thợ làm cà ràng ông táo trong xóm, trẻ măng và vạm vỡ như lực sĩ Lý Đức, một ngày bỗng hóa điên khi tình cờ giữa trưa nhìn thấy ma nữ ngồi vắt vẻo bên mộ, hai mắt phóng quang và nụ cười buồn hiu nhợt nhạt...

Trong lò đường, cánh đàn bà con gái thôi khỏi nói, ra tới sân sau là sợ xanh mặt, hất cần xế bã mía xuống một cái là chạy cong đuôi vô không dám ngoái lại. Bã mía rất mau khô, phơi một nắng đã chụm được rồi nên cánh thanh niên được giao nhiệm vụ chiều chiều ra đó lấy bừa cào gom vô kho để chụm dần (lò nấu bằng củi gộc và vỏ trấu, nhưng cũng tận dụng bã mía cho khỏi phí). Tưởng sao, thanh niên thân dài vai rộng cũng nhát hít, đứa nào ra đó cũng lấm la lấm lét, chân trước chân sau sửa soạn phóng cái rẹt phòng khi "có biến"!

Một ngày tôi làm ca sáng, vì trời lành lạnh sau cơn mưa đêm nên chọn cái áo bà ba hisofi trắng mặc cho ấm (đây là áo sửa từ áo dài để dành đi đám ma của Má. Bạn còn nhớ thời đó áo dài bị "thất sủng", toàn đem nhuộm đen nhuộm nâu rồi sửa làm áo bà ba?). Thường ngày tôi đi làm đều mặc toàn quần patte áo sơ mi (bạn sẽ thắc mắc, công nhân gì ăn mặc kỳ vậy, không sợ bị phê bình kiểm điểm sao? Đó là mớ quần áo trước 75 còn sót lại, và vì đây là tổ hợp tư nhân, toàn tư sản và công chức nên đầu óc cũng tương đối "thoáng"), tự nhiên bữa đó tôi mặc áo bà ba, ai cũng xúm lại chọc "dáng đứng Bến Tre".

Công việc của tôi hôm đó là xúc trấu liền tay cho tụi con trai vác đổ vô lò. Giờ ăn trưa, trong khi một số công nhân chia phiên ăn cơm nóng sốt bên nhà bếp, thì một số tản ra tìm chỗ giở cơm nhà ra ăn. Tôi cũng vậy, ngồi lại trong kho trấu, tôi mở gô cơm nguội lạnh ra ăn (gô = lon Guigoz, chắc bạn còn nhớ thời đó lon Guigoz quý lắm vì đa dụng, nhôm tốt và nắp kín, công nhân viên chức thì dùng làm gà-men đựng cơm, mấy bà sĩ quan thì đựng đồ ăn khô đi thăm chồng học tập cải tạo, thậm chí người ta còn dùng làm đơn vị đo lường : một gô, hai gô...). Tội nghiệp Má tôi, 5 giờ sáng đã phải lục đục nấu cơm cho ba chị em đem theo ăn trưa, thường là cơm bời rời khô bã với một miếng thịt chiên mỏng hay khứa cá chiên sả ớt, vài lát cà chua, dưa leo, thời đó ăn vậy đã sang lắm rồi.

Đang ăn nhẩn nha, một tiếng thét hãi hùng vang lên rất gần làm tôi hồn vía lên mây, bủn rủn chân tay, gô cơm rớt tung tóe. Mọi người chạy ùa tới, thì ra anh thợ làm cà ràng ông táo trong xóm, như mọi ngày nửa tỉnh nửa mê đi lang thang khắp nơi, vô lò đường xin mía ăn, đi ngang qua kho trấu thấy tôi áo bà ba trắng ngồi quay lưng, tưởng cô nàng ma cố nhân ngoài mả, anh chàng hét lên một tiếng lanh lãnh chói tai, mắt trợn ngược kinh hoàng, rồi quỳ sụp xuống đất lạy tôi như tế sao.

Khi bà má tội nghiệp của gã-điên-hiền-khô chạy tới vừa khóc vừa kéo gã về nhà, ai nấy xúm lại cười chọc tôi quá trời, nói tôi "ma" gì nhát hơn thỏ đế. Họ nói không ngoa, lúc đó tôi sợ quá, mặt mày trắng bệch xanh lét như ma thiệt.

Sau đó tôi được biết thêm một sự thật động trời : sát ngay sau bức tường của kho thóc là ngôi mộ của cô gái ma ! Lúc đó tôi cứ nghĩ hoài về cô. Tôi cho rằng cô cần gặp được một người cởi bỏ cho cô những mê ngộ. Đường đường tuấn kiệt khẳng khái như Quan Vân Trường thuở xưa mà chỉ sau khi gặp Phổ Tĩnh thiền sư ở núi Ngọc Toàn, Ngài mới thôi lang thang đi tìm đầu của mình, huống hồ một cô gái sầu tình nhỏ nhoi... Tôi hỏi thăm mới biết nhiều thầy cúng đã được mời tới để cúng kiến và đọc kinh cho cô siêu thoát, chuyện này đã nhiều năm trôi qua, nhưng người ta vẫn thỉnh thoảng thấy cô ngồi sụt sùi trong đêm vắng... Tôi đoán cô ma cần gặp một bậc tu hành có tâm và đạo pháp uyên thâm để nghe lý lẽ mà hết mê ngộ, chớ không phải chỉ là những ông thầy cúng chỉ biết thắp nhang và tụng kinh ê a mà thật sự chưa hiểu hết ý nghĩa câu Nam Mô.

Một ngày, đợi ai nấy nghỉ trưa vắng vẻ, tôi vô kho trấu lầm thầm khấn cô (tôi sợ lắm không dám ra ngoài mả cô). Tôi không cao đạo, cũng không phải chân tu, tôi chỉ có một tấm lòng thương cảm. Tôi nói : "Nhiều lần tôi thắc mắc, không biết cô còn luyến tiếc gì ở trần gian này? Người xưa chăng? Giờ đâu còn của mình ! Bạc tình ư? Vậy đâu đáng gì cho mình nuối tiếc ! Còn tuổi thanh xuân? Cuộc sống đầy giả trá và bạc ác này đâu có nhân nhượng những mảnh đời tươi đẹp ! Tôi xin cô tan đi, đầu thai cho một kiếp sau tốt đẹp hơn, hoặc nếu cô từ chối làm người, hãy tan thành bọt nước hay trở thành hư không, luyến tiếc làm gì, quẩn quanh làm gì cuộc sống này ô trọc !". Tôi khấn vậy đó. Chắc bạn tức cười. Tuổi hai mươi mà, nghĩ sao làm vậy, cô ma có nghe thấy hay không cũng đâu có sao...

Lò đường hoạt động được vài năm thì giải thể, vì thua lỗ, và vì quá nhiều tổ viên và công nhân lần lượt bỏ đi vượt biên. Dòng đời đẩy đưa tôi cùng gia đình bỏ Cần Thơ phiêu bạt lên tận một tỉnh xa miền Đông sống đời rẫy bái. Môi trường mới khắc nghiệt, chúng tôi phải đối mặt với quá nhiều vất vả lo toan. Thời tiết nơi đó thật lạ lùng, nắng thì nắng cháy da phỏng trán, mưa rừng thì dù ầm ầm hay rỉ rả cũng kéo dài cả tuần lễ mười ngày đem theo khí núi giăng mờ lạnh giá. Con người cũng lạ. Lối xóm ban ngày chào nhau tay bắt mặt mừng, đêm về hàng rào đất nhà mình như có chân, cứ cách vài đêm nó "chạy" từ mí đất lấn vào phía trong dăm ba tấc, mình thắc mắc thì họ dao búa kéo ra cả bầy. Còn mấy con chó nhà tôi, tội nghiệp, lâu lâu con thì mất tích, con thì chạy về hốt hoảng mắt lạc thần với một hai nhát chém trên lưng...

Đêm về, mấy chị em ngồi chùm nhum bên cây đèn dầu leo lét, cùng nhắc lại những ngày cực khổ mà vui vẻ ở lò đường. Và nhắc tới cô ma. Không biết bây giờ cô chịu tan chưa hay đêm đêm vẫn còn quẩn quanh bên thềm mộ. 

Biết đâu bao nhiêu thầy cúng không thuyết phục được cô, nhưng cô lại nghe lời tôi, lúc đó chỉ là một con bé mọt sách ngốc nghếch, đối với cô chỉ có chút tình chớ đâu có lễ vật đèn nhang và những lời giảng pháp cao siêu. 

Biết đâu những lời trẻ con giản dị mà chân thành đã làm cho linh hồn trĩu nặng buồn hận của cô nhẹ vơi đi và cô đã nhẹ nhàng tan theo sương chiều... 

Biết đâu cô đã qua cầu Nại Hà và có ngày định mệnh đẩy đưa cùng tôi làm bạn vong niên? 

Biết đâu cô không thèm làm người mà hóa thành cơn gió, thoảng ghé thăm tôi qua tiếng phong linh lanh canh reo nhẹ bên hiên nhà? 

Ờ, biết đâu...

TCQN 

 

MA Ở TRƯỜNG ĐOÀN THỊ ĐIỂM VÀ PHAN THANH GIẢN


Bạn thân mến, ở nước ngoài, 31 tháng 10 là ngày lễ Ma Quỷ (Halloween). Việt Nam mình mới du nhập ngày này từ năm bảy năm nay, khi mấy trường Quốc tế (chương trình Anh, giáo viên người nước ngoài) bày ra cho tụi học trò (toàn con của các "đại gia") có sân chơi. Giới sinh viên cũng bắt đầu mê không khí lễ hội ma quái này, nhưng nói chung phong trào cũng chưa rộng khắp. 
Ở trung tâm Sài Gòn gần cuối tháng 10, mấy nhà hàng lớn trang trí theo phong cách ghê rợn, các món ăn mô phỏng những bộ phận của con người như tròng mắt hay những ngón tay bê bết máu, với những tên gọi "cầu kỳ" : Ma Cà Rồng Transylvania hay Vết cắn của Dracula...
Các quán nhỏ ngoại ô thì câu khách bằng cả một quan tài nghi ngút khói hương đặt ngay trước mặt tiền, và giữa quán nằm chình ình một xác chết (tạc bằng mút xốp) đắp drap trắng xóa, có cả nãi chuối và dĩa trứng vịt để dằn lên bụng ! 
Ăn theo ngày này là chuyện kinh doanh phụ kiện ma quỉ gồm mặt nạ (nanh vuốt, máu me), áo choàng thần chết và lưỡi hái, nón phù thủy và cây chổi, bộ đồ Bạch Cốt Tinh..., giá dao động từ vài chục ngàn cho đến một vài triệu. Vào thời điểm này vài con đường ở trung tâm Sài Gòn và Chợ Lớn đang buôn bán mặt hàng này rất nhộn nhịp ... 

Nhân ngày này, tui xin kể các bạn nghe về chuyện MA trường mình.


1. Thời đi học, nhứt là bọn con gái, chắc bạn nào cũng đã từng rất sợ... ma mỗi khi vào toilette của trường hoặc đi ngang góc cầu thang vắng. Bây giờ già rồi, tui nhớ lại phát phì cười vì trí óc tưởng tượng phong phú thời trẻ dại.

Tui nói chuyện ma bên Đoàn Thị Điểm trước nhe. Khi tui học đệ nhứt cấp trường ĐTĐ, từ năm đệ Thất đã nghe tụi bạn rỉ tai nhau những chuyện ma ly kỳ xảy ra trong trường. Thật sự chưa có đứa nào tận mắt nhìn thấy con ma mặt mũi tròn dẹt ra sao, nhưng chuyện con ma nữ hay hiện ra thấp thoáng ở cầu thang bên phải gần hội trường lúc nhá nhem được nhắc tới nhiều nhứt, và trở nên một nỗi ám ảnh đáng sợ khi đứa nào có việc phải đi ngang đó vào giữa giờ, lúc đó học trò đã vào lớp hết, hành lang và cầu thang vắng lặng ghê người, chỉ còn tiếng đọc bài xa xa...

Khoảng năm 68, 69, 70, anh Ba tui lúc đó còn dạy ở ĐTĐ, tui không nhớ chính xác thời điểm (chuyện này có lẽ mấy Thầy mình nhớ rõ hơn), nhưng có thời gian các giáo sư phải vô trường ngủ để gác đêm. Một bữa sáng sớm anh Ba tui gác đêm từ trường về, tủm tỉm kể cho cả nhà nghe chuyện này: Tối đó anh cùng gác với Thầy Võ Đăng Lành (dạy Pháp văn) và một nhân viên của trường là chú Tám Rộng, đầu hôm mấy ông nói chuyện như pháo ran, tới khuya mới chia phiên nhau ngủ. Chưa được bao lâu, anh thấy chú Tám mở mắt mà miệng ú ớ, tay chân quơ loạn xạ. Ảnh tới lay chú dậy thì chú hoảng hốt mắt lạc thần, người toát mồ hôi lạnh. Chú líu lưỡi nói tiếng được tiếng mất, rằng có một bà già cụt đầu quần áo te tua lết từ gầm cầu thang ra quờ quạng níu lấy chú. Anh Ba tui phì cười : Ma cụt đầu mà sao ông biết "bà" hay "ông"?? Chú Tám ngẩn người : "Ừa, tự nhiên tui biết hè, thầy không tin thì thôi, mà tui còn thức chớ không phải ngủ mớ đâu à nghen!".

Thiệt tình, lúc đó nghe anh Ba kể, tui tin sái cổ, giờ nghĩ lại, chắc chắn đó là do chú Tám "tám" chuyện ma đã đời hồi đầu hôm nên mới bị ám ảnh lúc vừa chợp mắt. 

2. Lên lớp 10, khi tui chọn ban C phải qua Phan Thanh Giản học ké, ba năm trời tui chưa hề biết cái toilette của trường ra sao, chỉ vì quá... sợ ma! Anh chị tui kể hồi xưa trường mình bị Nhựt Bổn chiếm đóng thời Đệ nhị thế chiến, vì vậy người ta đồn trong trường nhiều ma lắm, có lẽ suy ra từ chuyện nhiều người đã bị tra tấn đến chết ở đó, những linh hồn với đầy lòng oán hận và sự đau đớn chưa tan, nên họ vẫn còn quanh quất đâu đó trên đầu cây ngọn cỏ...


Em trai tui (học dưới tui một lớp) rắn mắc lắm, nó nghe bạn bè xì xầm hoài chuyện ma cỏ trong trường, ngày nọ tan học đi ngang một lớp trống, nó đứng bên ngoài nắm tay lại dùng hết sức đấm vào khoảng không bên trong cửa sổ và la lớn :"Ma nè!". Cú đấm quá mạnh làm tay nó trật khớp đau điếng, nó xanh mặt chạy về nhà với cườm tay sưng vù. Má tui phải dẫn nó đi cho người ta nắn khớp, cả tuần mới bớt. Bà Ngoại tui vốn dị đoan, cứ cằn nhằn riết, cho rằng tại nó liếng khỉ nên mới bị "ông bà quở", rồi đi đốt bó nhang lầm rầm khấn vái tứ phương!

Thời gian Thầy Võ Văn Trí làm hiệu trưởng, anh Ba tui có dạy thêm lớp Bán công đêm PTG, có lần một nam sinh xồng xộc thở không ra hơi chạy đến kể cho ảnh nghe một chuyện như vầy: "Thầy ơi, em vừa ở toilette ra, thấy thấp thoáng một người mặc áo treillis ở cái cột ngoài hành lang, nón che tai kiểu lính Nhựt, mà sao hai con mắt ổng đen thùi lùi, khi em lại gần thì chẳng thấy ai, ghê quá Thầy ơi!". Anh Ba tui liền gạt ngang, bảo học sinh đó thần hồn nát thần tính - có lẽ cũng do anh đó trong lớp vốn nổi tiếng rắn mắc nên lời nói không có trọng lượng?

Còn tui, nếu bạn hỏi chỗ nào trong trường PTG tui sợ nhứt, thì tui sẽ trả lời liền không suy nghĩ, đó là chỗ cái cầu thang gỗ! Ở đó không gian lờ mờ, bầu không khí đặc biệt ảm đạm. Có lẽ đó là do cái đầu sợ-ma-có-hạng của tui nó tưởng tượng ra thôi, nhưng nói thiệt, chỉ cần đi ngang đó thôi là tui sởn da gà cúi đầu đi thẳng! Tui chưa hề dám ngước nhìn lên, vì cứ sợ thứ ánh sáng nhờ nhờ đặc quánh khói sương đó biết đâu sẽ từ từ đọng lại thành một bóng ma u u lờ lững kéo lê những xiềng xích gông cùm, tiếng loảng xoảng mơ hồ xa xăm... 
Thuở đó tui luôn nghĩ: sao không phải là một cái cầu thang ciment đúc, sẽ sáng sủa hơn và chắc chắn hơn? Và nhứt là cho chúng ta một cảm giác an toàn hơn là một cầu thang gỗ cũ kỹ nứt nẻ u ám. 
Thiệt là cạn nghĩ! Nếu trường PTG không có cái cầu thang gỗ, thay vào đó là cái cầu thang ciment cứng ngắc, thì còn gì đặc biệt để chúng ta nhớ về sau mấy mươi năm xa trường xa lớp?? 
Và lạ lùng ghê, ở cái chỗ mà xưa kia tui ớn nhứt, lại là nơi tui rưng rưng nước mắt đầu tiên khi mấy năm trước cùng người bạn cũ ở Canada về trở lại thăm trường, bước lên cầu thang gỗ đó để vào thắp nhang phòng Sư Đạo Tôn! Có cảm giác như gặp lại một người bạn vong niên từ thuở xa xưa, tôi xúc động thì thầm:"Ủa, mi vẫn còn đây ha?". 
Ánh mắt một người trung niên giờ khác đi rồi so với thời son trẻ: Cầu thang gỗ đâu còn vẻ dễ sợ u ám, mà nó hiện ra hiền lành và chịu cam, sống thực đến nỗi tưởng như nó có thể chồm dậy tay bắt mặt mừng: "A, bạn đã về đó sao?"

Đã xem quá nhiều phim ma ở Star Movies, HBO, Cinemax. Lại thêm thằng nhóc con biết goût mẹ thích phim ma nên nó "train" tui cách tải phim về coi, rốt cuộc trong "kho" máy tui ôi thôi vô số phim kinh dị. Xem riết rồi "trơ", bớt sợ ma, lại rút ra được một điều thú vị: Ma quỷ dù gớm ghiếc tới đâu cũng không đáng sợ bằng con người! Bạn nghĩ coi có đúng không: Gương mặt ma tóc tai rũ rượi máu me nanh vuốt thiệt dễ sợ nhưng nó trăm phần trăm không biết diễn kịch, toan tính hay thủ đoạn. Nhát chơi hay nhát trả thù, thậm chí giết chơi hay giết trả thù, thì nó cứ đường đường mà nhát, đường đường mà giết thôi. Nó không làm bộ tươi cười mà lận dao sau lưng, không ti tiện mà vỗ ngực khoan dung, cũng không tàn độc mà cứ trơ mặt xưng mình đạo đức...

Thôi chết, xó ri các bạn, tui chuyên môn nói... lạc đề. Lại còn lý sự nữa mới ghê! (Hồi đó học ĐH Tổng Hợp, Thầy Bửu hay gọi (ngạo) tui là philosopher, riết rồi chết tên, hic). Thôi hẹn bạn dịp khác nhé! Thân ái.

SG, 10/2011

TCQN

____________________________________________________ 

 THẰNG BỤI ĐỜI

 

(Giống chó Papillon)

 -----------------------------------------

Mấy hôm nay những người yêu cún đều xôn xao tin bé cún bị băng mõm đến hoại tử trơ xương mũi ở Bến Tre. Tôi chợt nhớ tới thằng Bụi Đời đáng thương của tôi ngày nào. Nó được cứu, nhưng tội nghiệp, nó không thích nghi được với cuộc sống ấm êm, như cậu bé rừng xanh không quen với cuộc sống văn minh. Nên nó đã bỏ tôi, bỏ cái thế giới độc ác này mà đi...

 

(Chú thích: Hai bé cún Fidèle và Loyale tôi nhắc trong bài, khi nuôi lớn tôi tặng Fidèle cho bạn của anh tôi, được cưng như trứng mỏng, tiếc thay con bé không hưởng được hạnh phúc dài lâu, sau 75 Fidèle bị cho vào bao chở đi thật xa đem bỏ, không biết sống chết ra sao. Loyale may mắn hơn, được thương yêu và ở hết đời với bạn tôi Trần Ngọc Thanh Mỹ con thầy Tổng Giám thị Trần Ngọc Nhung).

-------------------------------------

THẰNG BỤI ĐỜI

 

Cô đặt tên nó là thằng Bụi Đời hẳn có lý do.

 Lần đầu tiên cô gặp nó là lúc nó đang lùi cái cơ thể bé xíu tàn tật vào tận góc đống rác để chống cự một cách vô vọng với ba con chó lớn hung hãn. Lúc đó nó còn nhỏ, nhỏ lắm. Răng sữa, và nanh dù còn bé tí trong vắt cũng nhe ra dữ dội, lông trên lưng dù thưa thớt và dơ dáy bùn sình, cũng dựng đứng lên như những chú chó anh hùng quyết tử. Nó xoạc ba chân - vì nó chỉ còn có ba chân - mà gầm gừ, tuy run run nhưng đầy dũng khí, một chân sau buông thõng lặc lìa với những túm lông se lọn thảm thương.

Bà già bán thuốc lá gần đó quăng mấy viên đá vào lũ chó lớn làm chúng tháo chạy tán loạn, những âm thanh ăng ẳng inh tai túa ra khắp bốn phía. Cô tưởng con chó nhỏ của bà, nhưng không phải.

- Chó nhà ai bỏ đây lâu rồi đó cô. Tội nghiệp quá, cứ bị chó lớn đánh suốt.

 Cô vẫn ngồi trên xe đạp, lòng phân vân. Chiếc giỏ đi chợ của cô hãy còn trống không, mà nửa tiếng nữa cô phải có mặt ở lớp Anh văn thầy Sở - hôm ấy tới phiên cô thuyết trình. Một dung rủi không hợp thời. Cô lại nhớ đến thân phận ở nhờ của mình. Nhưng cô không nỡ bỏ đi. Không nỡ - đó là nhược điểm cố hữu mà ông Trời rắn mắc đã thân tặng cô như một vố chơi khăm.

 Cô đến bên nó, gọi Kiki thân thiện. Con chó nhỏ nhìn cô đầy cảnh giác. Nó cứng người lại giữ thế thủ như để sẵn sàng chống trả. Nhìn gần, nó xấu xí dễ sợ. Đó là một chú cún con đen thui, xơ xác và ốm đói chưa từng thấy. Mõm nó nhọn hoắc như mõm chồn, một bên tai rách toác đã thành thẹo, đôi mắt nhỏ tí như hai hột đậu màu vàng nhạt ánh lên nét lạ lùng hoang dã. Máu rướm trên hai bả vai và bê bết ở mạng sườn, cái sinh vật nhỏ bé bằng cườm tay đó đang run lên từng cơn dưới ngọn gió lạnh lùng của buổi sáng lập đông.

- Cô ơi, đem nó về nuôi đi, làm phước - Bà bán thuốc lá lại gọi.

Cô cười: "Cháu không có nhà, nhưng đỡ hơn nó cái không bị ai cắn". Và nghĩ thầm: Người ta cắn không chảy máu, dù vết cắn tàn ác hơn nhiều...

 Cô xòe tay gần hơn, lại gọi Kiki. Lần này khả quan hơn, nó ngửi ngửi tay cô, đuôi hơi cụp và lông lưng đã xếp. "Ngoan nhe, Kiki..."

Cô âu yếm vuốt đầu nó khi thấy cái đuôi xác xơ và trụi lủi như đuôi con chuột cống bắt đầu vẫy nhẹ. Nó làm thinh khi cô nhấc nó lên bỏ vào giỏ. Thật tình mà nói, lúc ấy cô không thể không nhăn mặt vì nó hôi hám đến phát khiếp.

 Suốt đoạn đường về nhà, nó khá biết điều, nằm yên trong giỏ. Thật may, nhỏ-bạn-chủ-nhà của cô lúc ấy đi vắng. Chưa kịp mở cửa, con Lucky-ù của bạn cô nghe hơi lạ sủa rinh. Nó biết địa vị chủ nhà của nó và không chấp nhận có hai mặt trời.

Cô đi nhanh vào nhà trong, đóng cửa ngang để chận con Lucky rồi nghiêng giỏ. Con cún bước ra, đàng hoàng và từ tốn như một bang chủ, mặc kệ tiếng sủa ông ống của con Lucky điên cuồng cà khịa bên kia cánh cửa. Nghĩ là nó đói lắm, cô lục tủ kiếm thứ gì cho nó ăn tạm. Khoai lang, chê. Khuấy một chút sữa trong chén, cũng ngoảnh. Cô bực mình: "Hổm rày mầy ăn cháo bào ngư chắc?".

Sau đó cô nghĩ tội nghiệp có lẽ nó bị đau nhiều vì những vết thương nên đi lấy thuốc đỏ bôi cho. Nằm vùi trên chiếc khăn lông cũ cô xếp trong góc nhà, nó nhìn theo cô lom lom. Dường như con vật bị đuổi xua và vùi dập quá sớm trong thời thơ ấu hiểu rõ luật đời nên không quen biểu lộ tình cảm dù với người ơn.

 Trưa, bạn cô về, nó la rầm - chỉ kém ồn hơn con Lucky-ù của nó một chút: "Trời ơi, mi lại đem cái gì về nữa đây? Ghê quá!"

Cô cười hì hì: "Ta có nuôi ở đây đâu. Cho nó ở nhờ qua đêm, mai ta đem về trại. Thôi đừng nhăn hoài mau già, làm phước gặp chồng hiền!"

Bạn cô phì cười, nhưng mỗi khi ra nhà sau, nó bịt mũi và nhổ nước miếng luôn miệng. Nó vái dài khi thấy cô pha nước nóng tắm cho Bụi Đời... Thằng bé vẫn lặng yên để cho cô muốn làm gì nó thì làm. Tắm xong, nó sạch sẽ hơn nhưng vẫn xấu xí cách đáng thương. Nó liếm láp chút sữa như một em mèo quý tộc rồi vào chỗ mình ngủ vùi...

Thật may là ngay hôm ấy chị cô ghé thăm nên hôm sau cô gởi nó về trại theo chị. Thế nào khi thấy Bụi Đời, Má cô cũng nói: "Cái con, hết mèo mù tới chó què. Thiệt tình!"

Cô biện hộ trong thơ, đại để: "Nhà mình đất rộng lại quá ít người, con Chiêu Hà mới bị người ta thuốc chết, con Cỏ May thì đã già, sau này thằng Bụi Đời sẽ là tay giữ trại đắc lực vì nó anh hùng như cảm tử quân..."

 Chị cô về trại. Cô yên tâm về phận Bụi Đời, mỉm cười nghĩ đến lúc về thăm thấy nó đã lớn xộn và chạy ra mừng quấn quýt...

Rồi cô chợt nhớ đến những con chó xinh đẹp của một thời vàng son. Hồi đó, lúc gia đình cô còn giàu có, người ta biếu cho đôi chó tuyệt đẹp giống Papillon. Con đực cô đặt tên Bích Ty, con cái Yên Thảo, lấy ý từ câu thơ "Yên thảo như bích ty" (Xuân Tứ - Lý Bạch).

Yên Thảo lớn lên sinh lứa đầu được hai gái một trai. Hai bé gái, Fidèle và Loyale, trắng muốt, xinh đẹp như cha mẹ chúng. Còn thằng út, không biết giống ai mà đen thủi đen thui với hai chấm vàng tròn xoe trên mắt, lông không xù và bốn chân ngắn ngủn. Lọt lòng được vài ngày, mắt cả ba đều bị mưng mủ. Bác sĩ bảo chúng bị trùng huyết vì cha mẹ là anh em ruột. Cô chăm sóc cho chúng như con mọn vì chúng vừa bệnh tật, mà mẹ chúng lại không có một giọt sữa! Ở cái tuổi ham ăn ham ngủ, cô phải dậy mấy lần trong đêm để nhỏ mắt và khuấy sữa rồi cho vào chai nhỏ mắt, sau đó nhỏ sữa từng giọt vào miệng mỗi đứa.

Khi chúng đã mạnh lành, biết ăn cơm và chạy giỡn lung tung khắp nhà thì ba cô, vì chịu không nổi lũ nhỏ ngứa răng cứ xé vớ và gặm giày, bắt phải đem cho hết. Cô đành cho hai bé gái, còn thằng út É Lâm - tên thằng mọi nhỏ trong một quyển truyện tuổi thơ - thì cô nhất quyết giữ lại, viện lẽ nó xấu xí sợ bị người ta hất hủi.

Ngày cho Fidèle và Loyale, cô khóc đến sưng mắt khiến cả nhà đều buồn cười. Anh cô nói: "Cái con, lớn rồi mà như con nít".

Ba cô thì không vui. Ông cho rằng cái tư chất Lâm Đại Ngọc báo trước những điều không hay cho đời cô sau này.

Một năm sau, tháng tư bảy lăm, cô được biết Fidèle bị chủ nó quẳng ra đường không thương tiếc vì sợ mang tiếng xa hoa. Nhưng đến lúc ấy thì cô đã không còn nước mắt để khóc cho chúng nữa...

 

Ngày nay, thằng Bụi Đời là hình ảnh trái ngược với những con chó "tiểu thơ" nhà cô. Cô nghĩ, đã bắt đầu cuộc đời ở đống rác, nó sẽ sống vững trước mọi biến cố, cho dù gia đình cô một lần nữa có ly tan...

Cô lầm. Tháng sau chị cô lên SG cho hay về nhà được một tuần thì nó chết. Chị nói cơm cá nó không thèm ngửi, chỉ ra hiên nhà bắt kiến ăn. Ăn kiến? Thật lạ lùng. Chị còn bảo suốt tuần ấy nó không chịu làm quen với ai, ngay cả con Cỏ May tuy đã già nhưng rất thân thiện với bọn cún con, thậm chí sẵn lòng cho chúng bú thép. Em trai cô gọi Bụi Đời là "Thành Cát Tư Hãn" để đọc trại tên "Thiết Mộc Chân" thành "Thiếu Một Chân". Vậy mà nó mang máng biết người ta giễu cợt, bèn thử một miếng nanh, may mà em cô tránh kịp, từ đó hễ thấy bóng em cô từ xa là nó gầm gừ dọa dẫm.

Rồi chị cô kết luận: "Đó là một con chó vừa xấu xí vừa thù dai, thật không dễ thương chút nào".

Bạn cô bồi thêm: "Không phải là chó, nó là con chuột cống lại chồn hôi!"

 

Hơn mười năm rồi. Đã quá nhiều thay đổi. Bạn cô lấy chồng, ly dị, rồi đi Pháp, sống khổ sống sở vì trong nước đã quen phóng túng với vô số nhân tình, bây giờ phải một mình lăn lộn kiếm sống với số vốn sinh ngữ quá khiêm tốn, nay đã có ý muốn quay lại quê nhà.

Thầy Sở cũng đã đi Mỹ, không biết có khi nào chợt nhớ đến cô học trò, tuy học khá nhưng ba trợn, đã bỏ bài thuyết trình quan trọng để đem con chó hoang tàn tật về nuôi như thầy đã cười nhạo cô ngày nào.

 Đời cô cũng trải nhiều khúc quanh. Và thật kỳ, cô cứ nhớ tới bé cún ba chân đáng thương của cô, mỗi lúc càng thấu hiểu tâm trạng nó như chính tâm trạng mình: mặc cảm, nghi kỵ, hằn học, lạnh lùng... Và mỗi ngày càng thấy thương nó như chính thương thân...

 

Trần Cẩm Quỳnh Như

15/11/1994 

 

CON KI GIÀ 

 

Để nhớ lại thời gian mấy anh em tui sống hẩm hút với nhau ở rẫy rừng mù sương, tuy vất vả nơi hẻo lánh nhưng là thời gian hạnh phúc an bình, dù là quá ngắn ngủi...

 

 

1. Thuở trời đất nổi cơn gió bụi

 

Bạn thân mến, 

 

Bữa trước tui qua biếu quà Tết bà lối xóm, mới thấy trong nhà bả có con chihuahua tí xíu đẹp tuyệt vời luôn. Anh chàng thầm lặng quá nên mình ở kế bên mà không hay biết sự có mặt của ảnh. Khi thấy tui mon men tới gần tính làm quen, ảnh mới lùi lại, bốn chân xoạc ra oai hùng và bắt đầu sủa, trời đất ơi tiếng sủa nghe cũng dễ thương nữa, ấu ấu ấu ấu... Có anh này giữ nhà chắc ăn trộm nó vô dọn hết nhà rồi nó bóp mũi ảnh bỏ vô bị xách đi luôn quá ha ha !

 

Chục triệu đó, không bớt một cắc !", bà lối xóm nói. Trời Phật ơi, nói theo kiểu phim Bắc, mua con cún mất biết bao nhiêu cân thóc ! Ghê thiệt, nhưng phải nói là cũng đáng đồng tiền bát gạo, "đắt xắt ra miếng": dáng anh cún rõ ràng là rặt giống, từ đầu tới chân màu vàng rơm, bộ điệu cực kỳ thanh tú và sang trọng như một con nai đực thu nhỏ, bốn chân cao, ngực ưỡn vồng, xương chân nhỏ bằng tay cái, mỏ nhọn mắt lồi đen lay láy, cái mũi gãy cúp mà dễ thương lạ kỳ ! Thằng nhóc nhà tui mà thấy chắc nó ngó em cún tới rớt con mắt luôn !

 

Thiệt đúng là chó nhà giàu, thức ăn là mấy cái bánh nho nhỏ hình khúc xương thơm phức, đựng trong cái chén tuyệt đẹp in chữ puppy cách điệu, làm tui chợt nhớ mà thương đứt ruột mấy con chó giữ rẫy nghèo khổ của tui những năm sau 75, chuyên ăn độn cơm với khoai mì và hột mít luộc (vì trong sân có trồng vài cây mít), chan chút nước khô cá đù kho muối mà tụi nó táp phập phập vài miếng là hết tô, còn thòm thèm lượm từng miếng khoai mì rơi vãi ngoài đất lấm lem cát bụi. 

 

Tui tội nghiệp nhứt là con Lucky, ở nhà hay gọi tắt là con Ki, tên là vậy nhưng cuộc đời không lucky chút nào, đường đường là berger lai nên khá bự con nhưng trước khi vượt biên chủ nó nhờ anh Ba tui đem về rẫy nuôi (sau đó cái villa của chủ nó ở đường Cây Điệp gần đường Đinh Tiên Hoàng Sài Gòn bị niêm phong và tịch thu vì cả nhà đi vượt biên hụt bị bắt, ngày ngày cả nhà chủ nó phải xuống ruộng ngâm mình nhổ cỏ lác ở một trại cải tạo dưới Năm Căn, Cà Mau, vì cái tội "bỏ đất nước đi tìm.. bơ sữa", sau đó đứt liên lạc, chẳng biết gia đình đó sau này ra sao). Con Ki dần quên nỗi buồn chia ly, hằng ngày giải trí bằng cách ngóng mỏ ra đám lau sậy ngoài rẫy sủa ông ổng đuổi mấy con chồn gian ác rình bắt gà hay mấy tay thợ mộc say rượu hát ê a ngoài đường mòn về khuya...

 

Đất trại rộng lắm, đất của mình mà mình rào, lại bị người ta ghét, thiệt là cái xứ gì kỳ cục... Vài người lối xóm rất hung dữ, lại khoái ăn thịt chó thịt mèo nên cuộc đời của mấy con chó giữ rẫy nhà tui cũng lắm gian nan. Con Chiêu Hà bị bắt ban đêm, mờ sáng nghe đám con trai đất bên lao xao ra giếng xách nước mài dao và mồi rơm. Con Ngọc Thố đi chơi mãi không thấy về, mấy ngày sau có người kể lại, nói nó bị một xe Jeep cán chết, họ đã bỏ chạy một đỗi mà nghĩ lại còn tiếc, cho de xe lại xách con chó quẳng lên xe lúc nó còn đang giẫy chết máu me đầy mình.

 

Còn con Ki một bữa tự nhiên nằm buồn hiu bỏ ăn. Khi tui tới vuốt ve hỏi han mới thấy nó bị chém một nhát dài rất sâu bên sườn, máu đen dính bết lông, vết thương còn rịn máu. Ôi ôi đau lòng ! Tui chảy nước mắt : "Sao mầy không cho tao hay, để chịu đựng một mình ?" Nó rên ư ử khi được xức thuốc, được ưu tiên ăn cháo trắng với miếng đường tán (mấy năm đó, chó mà được ăn cháo trắng là sang lắm rồi) mà mặt vẫn lạnh tanh hờ hững, chắc là nó đau quá. Người ta nói "chó liền da, gà liền xương" thiệt đúng, nếu người ta mà mất máu kiểu đó chắc nằm bẹp dí cả tháng trời, còn con Ki chỉ vài ngày là chạy lon ton đi cà khịa với con mèo mẹ rồi.

 

2. Cún cũng truân chuyên

 

Chuyện tình của con Ki cũng như cuộc đời nó, không có một happy ending. Cách đó một con đường và một triền dốc là nhà một ông chủ trại cưa. Con chó Vện của ông này ngấp nghé nàng Ki nhà tui ghê lắm, tụi tui hay cà rỡn dặn con Ki : "Giấy rách phải giữ lấy lề nghe hôn Ki, cái thằng dữ dằn mất nết đó cứ rượt cắn gà nhà mình hoài, mầy dầu gì cũng giống berger, không được cặp kè với thằng đó nghe chưa !".

 

Nhưng ở cái xứ chó ăn đá gà ăn muối đó có lẽ tìm đỏ mắt cũng không ra một thằng nào xứng đáng hơn, nên con Ki nhà tui đành vuốt bụng ngậm ngùi về nâng khăn sửa túi cái thằng xấu xí vằn vện đó (đó là tui nói cho "văn chương", thật ra nó đi hẹn hò với trai mà mặt mày tí ta tí tởn chớ có ngậm ngùi chi đâu!). Kết quả của mối tình vụng trộm này (cũng dóc nữa, con Ki này ghê lắm, nó chẳng sợ gì ai mà lén lút, có khi còn dám dẫn thằng nọ về tận nhà, hai đứa bày trò yêu đương nhăng nhít lăn lộn ở bãi cỏ ngoài rẫy khoai mì ngay trước nhà !) là cái "ba lô ngược", rồi nó hạ sanh hai đứa nhỏ, một con đực khỏe mạnh tròn vo đen thùi, tui đặt tên là Tonneau (mẹ vàng cha vện nhưng con lại hắc quẫy, chắc là giống chú bác dì cậu chi đây !), và một con cái lem luốc vằn vện èo uột sổ mũi liên miên từ lúc mới sinh cho tới khi chết, thấy nó coi bộ hổng thọ, tui đặt tên Phù Du.

 

Khi con Ki vừa sanh xong chừng vài tiếng đồng hồ, liếm láp hai đứa con sạch sẽ và cho bú xong xuôi, nó liền chạy một mạch về phía nhà thằng Vện (thiệt tình tui cũng thắc mắc quá, không biết nó chạy qua bển làm chi?) rồi chút xíu chạy u về úm con. Anh Ba tui hỏi : "Sao, Ki, thằng Vện nó chịu cấp dưỡng cho mẹ con mầy không ?". Cả nhà xúm lại cười rân. Con Ki ngớ mặt ra, chắc nó không hiểu tại sao cả nhà xúm lại cười nó, nhưng mặc, nó không quan tâm, bây giờ trong mắt nó có lẽ chỉ quan trọng nhứt là "hai cục vàng" nhỏ xíu đang chòi chòi nhủi nhủi vô lòng nó bú tí.

 

Con Tonneau thấy khỏe mạnh vậy lại chết trước, mà nó bị bịnh gì kỳ lắm, cả người sưng lên, nhứt là chỗ bộ phận sinh dục, rồi bỏ ăn mà chết, có lẽ do mẹ nó cả đời ăn cơm độn khoai mì, mà khổ, thời đó con người còn ăn độn tới da mặt bủng beo, huống gì chó mèo ! Em gái nó cầm cự được tới mùa Tết năm sau, nó thoi thóp mòn mỏi rồi một bữa tắt thở trên tay tui, trên mình vẫn còn mặc chiếc áo vải do chính tay tui "thiết kế" đặc biệt đúng size nó với hàng nút bóp đơm dài trên lưng. Con Ki ngẩn ngơ mấy ngày liền, chắc nó thấy vắng mấy đứa con lớn xộn rồi mà cứ lẽo đẽo đeo vú mẹ kéo lết, hay nó nhớ cái dáng rầu rĩ của đứa con gái yếu ớt, cứ mỗi lần nhảy mũi là đứng xuống tấn bốn chân rồi hắt xì một cái run bắn mình mẩy, mũi dãi lòng thòng phát ghê.

 

Con Ki trở lại thời kỳ son rỗi ! Anh Ba hay gọi con Ki với chiếc xe Honda SS50 của ảnh là  "chiến hữu". Anh Ba khó tánh nhưng hiền, hay gần gũi với thú vật chớ không hung dữ như thằng Út lúc bị vướng chân là nó quạu quọ đá phóc một cái khiến con Ki kêu hự một tiếng khi rớt xuống đất. Trước khi anh Ba gặp nạn mấy ngày, tự nhiên con Ki cứ tru suốt. Má tui sợ lắm, vừa đe nẹt con Ki vừa cầu Trời khấn Phật, nhưng cái gì tới là tới làm sao tránh được. Anh Ba không có nhà, chiếc xe Honda của ảnh cứ bị dòm ngó suốt nên chị Tư đem bán rẻ cho một người quen. Khi ông đó tình cờ chạy ngang, nghe tiếng xe, con Ki đang ngủ lơ mơ bỗng ngồi vụt dậy vẫy đuôi lia lịa, miệng rít lên ư ử cuống quít. Khi chiếc xe vụt qua và con Ki chợt nhận ra người ngồi trên xe không phải anh Ba, nó thất vọng nằm dài xuống, đầu đặt lên hai chân trước, mắt buồn bã xa xăm. Nhà bốn năm con chó giữ trại, sao chỉ mình con Ki là để ý chờ anh Ba về ?

 

Nhưng anh Ba mãi mãi không về, con Ki lúc đó cũng già yếu lắm rồi. Không biết có phải trùng hợp ngẫu nhiên, nó chết đúng một tháng sau khi nhà tui hay tin anh Ba chết oan nghiệt nơi xa. Tối đó thấy nó tệ quá - bỏ ăn nhiều ngày ốm rạc, mũi khô xám, mắt dại - Má tui vừa nói vừa khóc hu hu: "Chắc con Ki sắp đi theo anh Ba tụi bây rồi". Chị Tư nói: "Thằng Út bỏ đi chơi hoài, không có nó ai chôn con Ki ! Mà biết chôn ở đâu bây giờ ?" Má chép miệng: "Thôi chôn nó gần bụi tre đi". Bạn tin được không, sáng sớm hôm sau không thấy con Ki trong nhà, ra kiếm khắp rẫy, mới thấy nó nằm chết chèo queo ngoài bụi tre tự bao giờ, mắt mở trừng trừng, bộ lông xơ xác ướt nhẹp hơi sương... Cả nhà đã khóc anh Ba cả tháng rồi, giờ tới khóc con Ki... Nó chết mà mắt mở trừng trừng, phải chăng vẫn nhớ về một thời vang bóng với tiếng sủa ông ông oai hùng trong ngôi biệt thự mênh mông ở Sài Gòn, hay nó vẫn mỏi mắt trông anh Ba tui về, người hay vỗ đầu nó nói chuyện, cười khà khà và gọi nó là "chiến hữu" ?

 

Mùa mưa năm sau, bụi tre Mạnh Tông nơi chôn con Ki đột nhiên tươi tốt dù thằng Út rất lười dọn gốc. Những mụt măng nhung nâu mập mạp nhú lên chen chúc hết đợt này tới đợt khác. Tui xắn măng đem về Sài Gòn biếu mấy Thầy trong Đại học Tổng Hợp giáp vòng vẫn chưa hết măng. Con Ki cả đời giữ rẫy đắc lực, tới chết cũng còn có ích, mà tội nghiệp, nó lỡ sống vào cái thời cả nước đói khổ, người còn không có cơm ăn, phận chó ra gì ! Có lẽ kiếp trước nó nợ nhà tui chăng ?

 

3. Sứ giả thưởng thiện phạt ác

 

 Ờ quên, để tui kể bạn nghe chuyện con Ki từng làm trợ thủ nhiệt tình cho tui trong việc "thực thi công bằng xã hội". Chuyện là vầy, ngày nọ có anh bạn của anh Ba tui ghé chơi, đem theo con gà nòi lông xám. Anh này vốn là kỹ sư công chánh, sau 75 đi... buôn gà, rồi rẽ qua buôn gà đá. Nghe ảnh ca tụng con gà đang ẳm trên tay có nhiều tướng quý mà phát ham, nào là con "Tướng Quân" này là con "thần kê", có tướng "lắc mặt né chuồng", nào là tướng "lục đinh" mỗi chân ba cựa... Không biết thần kê ra sao, nhưng vừa vô sân là nó lắc mặt lia lịa, mắt láo liêng thấy ghét, hai cánh khuỳnh khuỳnh xệ xệ ra vẻ ta đây, lông thì có mấy cọng để lộ ngực và hông đỏ au giống y một gã cao bồi vườn mặc áo chim cò bỏ nút ngực.

 

Buổi tối nghe anh đó nói chuyện với anh Ba ca tụng giống gà nòi anh hùng quá trời, tui nghe chướng tai nhưng không dám tranh cãi, sợ bị rầy con nít nói leo. Hôm sau anh đó về Biên Hòa, chẳng biết sao gởi lại con Tướng Quân cho anh Ba nuôi giùm vài tháng. Trời đất ơi, gà chiến mà để lại đây ăn chơi trác táng nhất dạ đế vương với vài chục em gà mái hơ hớ kiểu này một thời gian chắc không liệt bại cũng gối mỏi chân chồn!

 

Tui chờ khách về, hậm hực nói với anh Ba :"Em có thấy gà đá anh hùng chỗ nào đâu, khi một con gà lâm trận, đó là nó đánh lại một địch thủ không quen biết không thù hận, chỉ vài cái chớp mắt là cái cựa của nó đâm trúng mắt hay xuyên cổ. Nó không có trí khôn bị người ta xúi giục giết hại đồng loại, giết hại anh em, sao gọi là anh hùng? Nếu "hiếp dâm ngôn từ" mà gọi là "dũng" thì đó là chỉ cái dũng của kẻ thất phu!". Anh Ba tui cười hì hì : "Con gái hay lý sự coi chừng sau này bị ống chềđó nghe!". Kệ, ống chề thì ống chề, trung ngôn nghịch nhĩ mà!

 

Con Tướng Quân mới về đã đi một vòng cà khịa với con gà trống của tui trong sân, và vì nó là tay gà chiến nên con gà trống của tui đá thua chạy có cờ. Từ đó nó trở thành Tần Thỉ Hoàng làm chủ đám tam cung lục viện, con gà trống của tui dám hó hé xáp lại gần con gà mái nào là nó chạy đến đá cho trối chết. Tui ngứa mắt lắm rồi, vì vốn ghét quân cướp có "pa tăng" (môn bài), nhưng phải tới khi một chuyện quá bụng xảy ra lúc anh Ba không có nhà, tui  mới quyết định trừng trị nó đích đáng. Số là con gà mái trắng Snow của tui đang ấp một ổ trứng gần nửa tháng rồi, mà nó ham ấp quá đến bỏ ăn, đem lúa tới tận miệng, nó chỉ mổ vài cái lấy lệ rồi lăng xăng lấy mỏ trở trứng dưới bụng. Một bà mẹ tuyệt vời!

 

Qua tới tuần thứ ba, nó lỏng khỏng nhảy xuống sân chạy lại máng tìm nước uống, dáng đi yếu ớt nghiêng ngã. Chợt con Tướng Quân ở đâu xồng xộc nhào tới đạp mái. Gà mái đang ấp đâu bao giờ chịu trống nên Snow xù lông cự lại. Tui chưa kịp chạy ra can thiệp thì pặc! bằng đôi chân gân guốc của một thằng lỗ mãng vai u thịt bắp, con Tướng Quân quất một cú đá như trời giáng vào đầu khiến con gà mái khốn khổ tội nghiệp ngã lăn ra đất giãy đành đạch. Ôi ôi đau lòng! Phẫn nộ! Giọt nước tràn ly! Tức nước vỡ bờ, tui hét lên một tiếng: "Ki !" (chắc lúc đó nhìn mặt tui thấy ghê lắm, có lẽ là mắt trợn trắng lông mày dựng ngược như Trương Phi thét quân Tào Tháo ở cầu Trường Bản), và quăng cục đất về phía thằng gian ác, lúc này đã biến thành nạn nhân khốn khổ kêu trời không thấu, chỉ còn nước cục ta cục tác la làng chạy vắt giò lên cổ.

 

Con Ki khỏe thiệt, nó rượt con gà chạy băng đồng, xa xa thoáng thấy Tướng Quân la éc một tiếng, bay vụt lên, con Ki hăng tiết phóng vọt lên theo, táp phập một cái, hụt, lông phao câu Tướng Quân bay tứ tán, ôi ôi đã thiệt! Tui khoái chí quá, lại thấy con mái trắng hồi tỉnh cục cục trở vô chuồng ấp lại, nghĩ trừng phạt vậy đủ rồi nên ra lệnh thu quân: "Ki, thôi!". Con Ki đang hứng chí phóng bạt gió, nghe tui kêu, nó thắng lại cái két đứng ngơ ngác giữa cánh đồng lau : một bên là bại tướng chạy thục mạng, một bên là bổn phận phục tùng... Nó đắn đo vài giây rồi lon ton ngoan ngoãn chạy về, nằm thở hồng hộc nơi thềm nhà. "Giỏi đa Ki, để tao đi kiếm đồ ăn thưởng cho mầy". Còn thằng tướng cướp hèn nhát chuyên hiếp đáp kẻ yếu đuối thì sợ xanh máu mặt, cứ thơ thẩn mãi ngoài rẫy khoai mì, tới chiều sẫm mới dám lỏn lẻn về chuồng.

 

Tui dặn thằng Út với con Chi con chị Hai giấu anh Ba chuyện này, cho tới khi ảnh trả con gà về cho bạn ảnh ở Biên hòa và bữa nọ cho hay: "Thằng T nó nói con Tướng Quân tự nhiên bị "rót", không còn chiến như trước nữa". Thằng Út buột miệng: "Chắc tại chị Năm cho con Ki rượt nó chạy sút quần hôm trước đó". Anh Ba đang nằm võng ngồi nhổm dậy liền: "Ủa sao vậy Như?" Tui tỉnh bơ: "Tại nó hiếp người quá đáng. Có sứ giả thưởng thiện phạt ác ở đây thì bọn gian ác đâu có đất sống". Anh Ba tui lắc đầu phì cười: "Thiệt hết biết cái con này !".

 

Chắc bạn cũng đang cười tui phải không? Ờ, đã có một thời tui luôn ước ao được trở thành một nhân vật huyền thoại nào đó, Batman, Spiderman hay Superman gì đó, để đi trừ gian diệt bạo cứu giúp kẻ yếu. Nhưng bi kịch là tui và gia đình lại trở thành những nạn nhân khốn khổ thân cô thế cô. Do vậy tui đã chảy nước mắt ròng ròng khi hay tin Christopher Reeve, người đóng vai siêu nhân mới chết gần đây sau bao nhiêu năm ngồi xe lăn vì té ngựa chấn thương cột sống. Tui khóc vì nghĩ tui có khác chi anh chàng sống mũi thẳng vút và cặp mắt xanh biếc này đâu, là một kẻ tàn phế từng đóng vai siêu nhân, dù chỉ là lấy lại sự công bằng cho con gà mái tội nghiệp !!! 

 

 

Trần Cẩm Quỳnh Như                                               

SG, Tết Canh Dần (2010)

GIỌT LỆ VÀ NỤ CƯỜI


"Buổi chiều đến bông hoa khép những cánh lại và yên ngủ, ôm ấp nỗi hoài mong. Khi buổi sáng đến, nó hé môi để đón nhận nụ hôn của mặt trời. Đời sống của một bông hoa là mong mỏi và thành tựu.

Một giọt lệ và một nụ cười".
(Kahlil Gibran)

Trước khi kể chuyện Tư Ếch đi họp bạn, xin cho QN gởi lời xin lỗi đến quý Thầy và tất cả các bạn vì sự chậm trễ của mình. Vì trong ngày nhiều lần bị làm mệt nên con trai không yên tâm khi để mẹ đón xe đi một mình, nó có buổi họp bất thường trong công ty, nhắn về tới ba lần "con sắp về" mới thấy nó xuất hiện. Trời ơi mình ở nhà nóng như lửa đốt, phần sợ vô phép với mấy Thầy, phần sợ Đại Tỷ mắng, phần sợ bạn bè phiền... QN rất xin lỗi.

 

Bước vào nhà hàng, đường vô chỗ các bạn phải băng ngang qua một sân khấu nhạc sống, nhạc bùm bùm rầm rầm làm bủn rủn chân tay, tôi quíu chân ôm ngực chạy qua như Tào Tháo chạy trận Xích Bích, mắt cập bà lờ kịp nhìn thấy bạn Thân bạn Lưu từ xa, ôi ôi mừng húm. Có ai đó la lớn "Nó kìa!" (cũng may không nghe la thêm: Đứng lại, không được chạy!). Đại tỷ chạy ra ôm cái tình thương mến thương, rồi tôi chạy liền tới xin lỗi mấy Thầy, ôi đã quá nhiều năm không gặp, nhìn mấy mái tóc trắng như cước mà nao lòng, chợt nhớ mình đã ngót nghét sáu bó rồi chớ nhỏ nhít chi!

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Ảnh chụp tại Sài Gòn 22/4/2015

Đứng, từ trái: Ngô thiện Trung, Ngô thị Trường Xuân (12C 72-73), Nguyễn văn Đức, Ngô thị Loan Anh, Vũ văn Thân, Bùi thị Thanh Phước, Nguyễn minh Quang, Lê thị Lan Chi, Trần Cẩm Quỳnh Như (Các năm đầu học ĐTĐ, năm cuối học lớp 12C PTG, em của thầy Trần tuấn Duệ), Nguyễn sĩ Ân, Trương hữu Điều và bạn Nguyễn văn Lưu. Tất cả là CHS 68-75, trừ CHS Trường Xuân.

Ngồi: Quý Thầy: Võ Hiếu Nghĩa, Trịnh Tri Tấn, Phạm Khắc Trí 

 Chụp ảnh, chụp ảnh, ai cũng giơ điện thoại lên "tác nghiệp" rần rần. Tôi la "Kata chụp cho mẹ với!" Trời đất ơi nó không thèm đếm xỉa gì tới mình, mà chạy tới bắt chuyện với Mark, bạn của Trung. Về nhà tôi rầy, nó cười hè hè: "Mẹ ơi thôi mấy Cậu mấy Dì chụp cũng dư xài, trong sở con tụi Ấn Độ, Nga, Ukraina, Yougoslavia nó phát âm tiếng Anh trời ơi đất hỡi, tụi nó tuôn pằng pằng như súng AK không cần mẹo luật, nên con rất muốn nói chuyện với một người Mỹ... thứ thiệt coi sao!" (Cho nên bài viết này không có hình minh họa, các bạn chịu khó qua nhà của mấy bạn khác coi hình nha).

 

Một vòng chụp ảnh xong là tôi ngồi xuống run lẩy bẩy lấy thuốc giọt trợ tim ra uống liền, trái tim yếu ớt không chịu nổi sự xúc động và vui mừng quá lớn. Tư Ếch tôi cả đời ở nhà cơm nước dạy học và sống yên vui với... bịnh tật, như con lươn ngàn năm ngóc mỏ lên khỏi mặt bùn, ôi không khí choáng ngộp tưởng không thở nổi...

 

 Cám ơn các Thầy đã tuổi già sức yếu nhưng vẫn có mặt gần như đầy đủ để hội ngộ với các học trò già. Cám ơn lắm Thanh Phước đã tạo cơ hội ngàn vàng cho tôi gặp lại đầy đủ Thầy bạn mà không phải vượt đường xa vạn dặm, cảm ơn tình cảm của Đại tỷ Trường Xuân và tất cả các bạn có mặt chiều qua!

 

Về tới nhà, biết tật, uống một viên Night Queen trước khi đi ngủ vì thừa hiểu những tình cảm căng tràn trong tim và hình ảnh tràn ngập trong đầu chắc chắn sẽ quấy quả mình cả đêm trắng. Mười hai giờ khuya, mắt vẫn trao tráo như đèn pha. Nhớ nụ cười tươi tắn của Thanh Phước, Lan Chi, Loan Anh, nhớ cái ôm ấm áp của Đại Tỷ, những cái bắt tay nồng hậu, những lời thăm hỏi ân cần của các bạn nam.

 

Nhớ thầy Trí nắm tay gọi mình là "cô bạn thơ yêu quý của tôi" và bảo "Tôi đi hôm nay là vì cô đấy"; nhớ thầy Nghĩa với nụ cười phúc hậu, mái tóc trắng xóa trái ngược với hình ảnh tay cầm điện thoại chụp hình nhoai nhoái; nhớ thầy Tấn vẫn rất minh mẫn khi tôi tới chào: "Thầy ơi Thầy còn nhớ em không, em Quỳnh Như em anh Duệ nè", Thầy cười khì: "Sao tui có thể quên được, tui có ghé nhà em một lần để đưa hình anh Duệ cho em nữa mà, giờ em còn ở chỗ cũ không?". Ôi trời Thầy giỏi thiệt, Thầy vẫn nhớ đủ dù một lần tai biến đã làm cho gương mặt Thầy thoáng nét trầm ngâm mệt mỏi và Thầy nói chuyện có phần chậm rãi hơn xưa. Ôi thời gian! Thầy Tấn ngày nào với nước da bánh mật, sống mũi cao ngất, dáng đi nhanh nhẹn và nụ cười tươi tắn có duyên pha chút châm biếm. Tôi còn nhớ hồi đó có lần vừa bước vô lớp Thầy đã chỉ ngay choc bạn Vương Thúy Phượng và hỏi :"Sông gì nước chảy chia đôi?". Phượng còn đang ngơ ngác thì Thầy cười nói: "Tui không hỏi ai khác, tui kiếm người trong ban Văn nghệ mới hỏi, mà bộ cô không biết "Nhà Bè nước chảy chia đôi hay sao?"...

 

Có bạn nào nói chụp hình, chụp hình, mai mốt biết đâu chẳng còn đầy đủ được như vầy. Tỷ la quá, không cho nói vậy, tỷ nói tao còn yêu đời lắm nghen bây...

 

Hai giờ rưỡi, bò ra uống viên thuốc ngủ thứ hai, miệng thì Om Ma Ni Pát Mê Hùm tía lia nhưng cái đầu tâm viên ý mã chạy ào ào rần rần qua những cánh đồng ký ức đầy cỏ hoa...

 

"Thầy đi dự nhiều cuộc họp mặt PTGDTD, nhưng đây là lần Thầy vui nhất. Hôm nào Thầy sẽ tới thăm vợ chồng em", nhớ lời thầy Trí nói.

 

Nhớ lúc ra về, bắt tay bạn Trung, "Bạn về bình an nhen" mà lòng cũng thoáng buồn dù mới gặp bạn ấy lần đầu...

 

Nhớ câu chuyện "gia đình văn hóa" của bạn Sĩ Ân.

 

"QN tới được là quá tốt rồi", Đức nói vậy.

 

"Your mum's presence is priceless", Mark nói với Kata.

 

"Chộp được hình con QN để đưa lên phây là tao khoái gồi", Loan Anh vừa nói vừa cười hí hí...

 

Một giọt nước mắt chảy xuống gối, không phải vì trái tim tội nghiệp đang loạn nhịp, không phải vì cái lưng đau nghiến, không phải vì bao tử đang đau oằn, cũng không phải vì mấy cái tĩnh mạch căng tức muốn bung hai chân, mà vì những tình cảm nồng ấm của Thầy của bạn, thứ hạnh phúc tôi thoắt tìm được gần mãi cuối đời.

 

Ba giờ sáng, tôi đã đi vào giấc ngủ nhẹ nhàng, với nụ cười, và giọt lệ.

 

Trần Cẩm Quỳnh Như

 23/4/2015