


Cần xem tiết mục nào xin click vào Trang bài / webpage trong MENU dưới đây:
TRANG CHÍNH / HOME . BÀI MỚI ĐĂNG . SINH HOẠT HOUSTON, TX . ĐH XXIII-MARYLAND 2019 . ĐH XXII-SAN JOSE 2018 . ĐH XXI-HOUSTON 2017 . SINH HOẠT CANADA . SINH HOẠT ÚC CHÂU . CÁC ĐẶC SAN ĐH . SINH HOẠT BẮC - NAM CALI - SINH HOẠT VÙNG NEW ENGLAND - SINH HOẠT VIỆT NAM - TIN SINH HOẠT CÁC NƠI . GÓC SÂN TRƯỜNG NHÀ . VĂN HỌC - NGHỆ THUẬT . VÒNG TAY NGHĨA TÌNH . CHIA BUỒN - CHUNG VUI . TÌM NGƯỜI - NHẮN TIN
BIÊN KHẢO - THƠ - VĂN
BS Phan Thượng Hải
California__________
BBT: BS Phan Thượng Hải (CHS PTG 61-64) cùng với người em là LS Winston Phan Đào Nguyên là con của 1 công chức cao cấp của tòa án Cần Thơ, cũng là nhà thơ nổi tiếng của đất Cần Thơ thập niên 40, 50: Thi Sĩ LÃNG BA Phan Văn Bộ
________________

HÀ NỘI 36 PHỐ PHƯỜNG VÀ PHỐ CỔ
Bs Phan Thượng Hải biên soạn
Trong thời Pháp Thuộc vào đầu thập niên 1930, có sách của văn sĩ Thạch Lam (của Tự Lực Văn
Đoàn) tựa đề “Hà Nội 36 Phố Phường”. Sách này không có danh sách rõ ràng 36 phố phường
của Hà Nội (như tựa đề của nó)!
Cùng trong thập niên này có sách “Việt Nam Thi Văn Hợp Tuyển” của Dương Quảng Hàm và
sách “Văn Đàn Bảo Giám” của Trần Trung Viên đưa ra 2 bài thơ của những tác giả vô danh
(xem như là Ca dao) kể rõ tên của “Hà Nội 36 Phố Phường” như tựa đề của 2 bài thơ. Trong
danh sách 36 phố phường của 2 bài thơ này chỉ có tên của 20 Phố là giống nhau mà thôi. Tổng
cộng danh sách của các Phố trong 2 bài thơ là 52 phố công nghệ và thương mại (20 + 16 + 16).
Từ thi văn có Hà Nội 36 Phố Phường đến Lịch sử có Hà Nội Phố Cổ.
Theo các học giả của Google:
“Hà Nội 36 Phố Phường” là tên chỉ khu Phố Cổ Hà Nội, gồm các khu phố buôn bán
hình thành từ hàng trăm năm về trước.
Sau khi Lý Thái Tổ thành lập kinh thành Thăng Long, thợ thủ công ở khắp nơi nhất là
chung quanh đã tập trung về Thăng Long để kinh doanh và buôn bán tạo nên những Phố phường.
Mãi đến đời vua Lê Hiển Tông (vào hậu bán thế kỷ 19) chia thành Thăng Long ra 36
khu vực thì mới có tên “36 Phố phường”. Tên này được truyền đến thế kỷ 20.
Như vậy, Phố Cổ của Hà Nội (từ thời Nhà Nguyễn và thời Pháp Thuộc cho đến thời Cộng
Hòa), khu vực công nghệ và thương mại chính của thành phố Hà Nội, là nơi của 36 Phố
Phường của kinh đô Thăng Long thời cuối nhà Hậu Lê vào đời vua Lê Hiển Tông.
Vào đầu thời Nhà Nguyễn (tiền bán thế kỷ 19), tên Hà Nội được chính thức thay thế Thăng Long
và Phố Cổ Hà Nội được thành lập. Từ 21 “Phố” còn lại từ thời nhà Lê theo sách Đại Nam Nhất
Thống Chí, viết xong năm 1862, Phố Cổ được bành trướng với rất nhiều Phố công nghệ và
thương mại (khoảng 62 phố) cho đến thời Pháp Thuộc và duy trì cho đến thời Cộng Hòa. Lịch
sử và địa lý của Phố Cổ được ghi lại trong sách “Lược Sử Tên Phố Hà Nội” xuất bản năm
1964.
Kết luận:
Phố Cổ Hà Nội từ tiền bán thế kỷ 19 cho đến hậu bán thế kỷ 20 trải qua thời Nhà
Nguyễn và thời Pháp Thuộc cho đến thời Cộng Hòa, có rất nhiều Phố công nghệ và thương mại
(50 - 60), nhiều hơn con số 36 (phố phường) như “huyền thoại” 36 Phố Phường có từ cuối thời
nhà Hậu Lê (cuối thế kỷ 18).
Với cùng một địa điểm là Phố Cổ; Thăng Long có thể có đúng 36 phố phường vào cuối
thời nhà Hậu Lê nhưng Hà Nội thực tế có rất nhiều hơn 36 phố phường từ thời nhà Nguyễn (tiền
bán thế kỷ 19) cho đến cuối thế kỷ 20.
Con số đúng 36 phố phường của Hà Nội từ Thạch Lam, Dương Quảng Hàm và Trần
Trung Viên không hoàn toàn trung thực với lịch sử và địa lý của Phố Cổ Hà Nội.
Sách Lược Sử Tên Phố Hà Nội là sử liệu trung thực nhất về Phố Cổ Hà Nội với những
Phố phường của nó. Từ sách này, ta có chi tiết về tất cả 62 Phố công nghệ và thương mại (Phố
Nghề) của Phố Cổ Hà Nội và cả những Phố công nghệ và thương mại ở ngoài Phố Cổ. Cũng từ
sách này (và Google ngày nay), có một số Phố được kể trong 2 bài thơ từ Dương Quảng Hàm và
Trần Trung Viên không có thật trong thực tế!
Dàn bài
Hà Nội và Phố Phường
Hà Nội 36 Phố Phường (trang 3)
Hà Nội Phố Cổ - Phố Nghề (trg 10) - Phố theo Địa Danh (trg 24) - Phố theo Nhân Danh
Kết Luận (trang 30)
Hà Nội và Phố Phường
Đại Nam Nhất Thống Chí của Quốc Sử Quán Triều Nguyễn (vào giữa thế kỷ 19) có viết về
Thăng Long và Hà Nội và những “Phố” của nó. Theo Đại Nam Nhất Thống Chí thì đã có 36
Phố phường trong lịch sử nhưng đến thời điểm của sách thì chỉ biết có 21 “Phố”.
*
Đại Nam Nhất Thống Chí viết về lịch sử địa danh cho đến Tỉnh Hà Nội, thành lập vào thời vua
Minh Mạng của nhà Nguyễn.
Đời Hùng Vương xưa là bộ Giao Chỉ. Đời Tần thuộc nước của An Dương Vương.
Đời Hán là bộ Giao Chỉ. Đời Tùy là quận Giao Chỉ. Đời Đường là An Nam Đô Hộ phủ,
bấy giờ mới đắp thành Đại La.
Nước ta nhà Đinh đầu đời Thái Bình gọi là đạo. Nhà Tiền Lê đầu đời Ứng Thiên gọi là
lộ.
Nhà Lý đầu đời Thuận Thiên làm Đô thành, lại gọi là Nam Kinh, thành gọi là Thăng
Long (trước gọi là Long Thành), phủ gọi là Ứng Thiên. Lý Thái Tổ dựng kinh đô ở thành Đại
La, thấy rồng vàng hiện ra trước thuyền ngự, nhân đấy đặc tên thành là Thăng Long và đặt tên
đất là phủ Ứng Thiên.
Nhà Trần đầu đời Thiện Bảo đổi là Trung Kinh.
Thời thuộc nhà Minh làm trị sở của ba ty phủ Giao Châu và gọi là thành Đông Quan.
Nhà Lê (Hậu Lê) năm Thuận Thiên thứ 3 đổi Đông Quan làm Đông Kinh, lại gọi là
Trung Đô. Từ đời Lê Hiển Tông trở đi gọi là Đông Đô (đời Lê Hiển Tông cũng gọi Thanh Hoa
là Tây Đô, nên gọi thành Thăng Long là Đông Đô).
Nhà Tây Sơn gọi là Bắc Thành.
Bản triều năm Gia Long thứ 1 (1802) đặt Bắc Thành Tổng trấn lãnh 11 Trấn:
- Năm Nội trấn: Sơn Nam Thượng, Sơn Nam Hạ, Sơn Tây, Kinh Bắc, Hải Dương.
- Sáu Ngoại trấn: Tuyên Quang, Hưng Hóa, Cao Bằng, Lạng Sơn, Thái Nguyên và
Quảng Yên.
Năm Minh Mạng thứ 12 (1832) bỏ Bắc Thành Tổng trấn và chia làm Tỉnh Hạt; lấy 3 phủ
Ứng Hòa, Lý Nhân và Thường Tín thuộc Sơn Nam và huyện Từ Liêm (thuộc phủ Hoài Đức)
thuộc Sơn Tây lập thành Tỉnh Hà Nội.
*
Đại Nam Nhất Thống Chí viết về Phố phường của tỉnh Hà Nội (vào đầu thế kỷ 19):
Xét: Hà Nội là kinh đô xưa, nguyên trước có 36 Phường Phố; nay ở quanh phía Đông Nam tỉnh
thành gồm 21 Phố Phường; nhà ngói như bát úp, tụ họp các mặt hàng, nhân vật cũng phồn thịnh.
Phố Hà Khẩu: ở địa phận huyện Thọ Xương (các Phố sau cũng thế), nhà buôn nước ta
cùng người Thanh sống lẫn lộn, bày hàng bán các thứ, như sách vở, hóa vật, dược liệu phương
Bắc; có tên nữa là Hàng Buồm.
Phố Việt Đông: chỗ ở cũ chỗ ở mới của khách hộ Minh Hương, là kho tích trữ hàng hóa.
Phố Nam Hoa: có tên nữa là Phố Hàng Bè; gần phố có chợ, họp về buổi chiều, dân cư hai
bên bán thứ thùng bằng tre để gánh nước.
Phố Hàng Mắm.
Phố Báo Thiên: bán vải thâm và dù xanh.
Phố Đồng Lạc: bán yếm và y phục phụ nữ.
Phố Hàng Giày: bán giày dép, chữ Hán là Phố Tố Tịch.
Phố Thái Cực: nhuộm màu hồng lạt để bán; có tên nữa là Phố Hàng Đào. Dư Địa Chí
của Nguyễn Trãi nói: “Hàng Đào nhuộm màu đỏ”, nay đổi là Phường Đại Lợi.
Phố Hàng Mã: bán đồ mã, chữ gọi là Phố Trừng Thanh.
Phố Vàng Bạc: buôn bán các hàng vàng bạc châu báu, phố này trước thuộc Phường Đông
Các, sau Đông Các đổi làm Đông Thọ, thôn Dũng Hãn thuộc phường này tức là thôn Dũng Thọ
ngày nay.
Phố Đông Hà: bán chiếu trơn, có tên nữa là Hàng Bát.
Phố Mã Mây: bán song, mây và sắt.
Phố Phúc Kiến: bán đồ đồng.
Phường Phục Cổ: đúc đồ thiếc để bán.
Phố Hàng Bồ: chữ Hán gọi là Phố Xuân Yên.
Phố Hàng Lam: chữ Hán gọi là Phố Yên Trung.
Phố Hàng Gai: chữ Hán gọi là Phố Phục Cổ.
Phố Hàng Đãy.
Phố Hàng Chè.
Phố Đồng Xuân.
Phố Thanh Hà.
Trong danh sách này có rất nhiều tên Phố (in đậm) cũng có trong Thi Văn “Hà Nội 36 Phố
Phường” (trong 2 bài thơ Ca dao) và trong Lịch sử “Hà Nội Phố Cổ” (trong sách Lược Sử Tên
Phố Hàn Nội).
Hà Nội 36 Phố Phường
Trong thời Pháp Thuộc vào đầu thập niên 1930, có sách của văn sĩ Thạch Lam (của Tự Lực Văn
Đoàn) tựa đề “Hà Nội 36 Phố Phường”. Sách này không có danh sách rõ ràng 36 phố phường
của Hà Nội (như tựa đề của nó)!
Cùng trong thập niên này có sách “Việt Nam Thi Văn Hợp Tuyển” của Dương Quảng Hàm và
sách “Văn Đàn Bảo Giám” của Trần Trung Viên đưa ra 2 bài thơ của những tác giả vô danh
(xem như là Ca dao) kể rõ tên của “Hà Nội 36 Phố Phường” như tựa đề của 2 bài thơ. Trong
danh sách 36 phố phường của 2 bài thơ này chỉ có tên của 20 Phố là giống nhau mà thôi. Tổng
cộng danh sách của các Phố trong 2 bài thơ là 52 phố công nghệ và thương mại (20 + 16 + 16).
*
Bài thơ trong Việt Nam Thi Văn Hợp Tuyển của Dương Quảng Hàm.
36 PHỐ PHƯỜNG
Rủ nhau chơi khắp Long thành
Ba mươi sáu phố rành rành chẳng phai
Hàng Bồ, Hàng Bạc, Hàng Gai
Hàng Buồm, Hàng Thiếc, Hàng Bài, Hàng Khay
Mã Vĩ, Hàng Điếu, Hàng Giày
Hàng Lờ, Hàng Cót, Hàng Mây, Hàng Đàn
Phố Mới, Phúc Kiến, Hàng Ngang
Hàng Mã, Hàng Mắm, Hàng Than, Hàng Đồng
Hàng Muối, Hàng Nón, Cầu Đông
Hàng Hòm, Hàng Đậu, Hàng Bông, Hàng Bè
Hàng Thùng, Hàng Bát, Hàng Tre
Hàng Vôi, Hàng Giấy, Hàng The, Hàng Gà
Quanh đi đến phố Hàng Da
Trải xem phường phố thật là cũng xinh
Phồn hoa thứ nhất Long Thành
Phố giăng mắc cửi đường quanh bàn cờ
Người về nhớ cảnh ngẩn ngơ
Bút hoa xin chép nên thơ lưu truyền.
*
Bài thơ trong Văn Đàn Bảo Giám của Trần Trung Viên.
36 PHỐ PHƯỜNG
Nghìn thu gặp hội thái bình
Trải xem phong cảnh khắp thành Thăng Long
Phố ngoài mọc kín thành trong
Cửa Nam giám Bắc tây đông rõ ràng
Ba mươi sáu mặt phố phường
Hàng Giấy*, Hàng Bạc, Hàng Ngang, Hàng Đào
Người đài các kẻ thanh cao
Qua Hàng Thợ Tiện lại vào Hàng Gai
Hàng Thêu, Hàng Trống, Hàng Hài
Hàng Khay dỡ gót ra chơi Tràng Tiền
Nhác trông chẳng khác động tiên
Trên đồn cờ kéo dưới thuyền buồm dăng
Phong quang lịch sự đâu bằng
Dập dìu võng lọng tưng bừng ngựa xe
Hàng Vôi sang phố Hàng Bè
Qua tòa Thương Chính trở về Đồng Xuân
Trải qua Hàng Giấy* dần dần
Cung đàn nhịp phách riêng xuân bốn mùa
Cầu Đông vang tiếng chuông chùa
Trăng soi giá nến gió lùa khói hương
Mặt ngoài có phố Hàng Đường
Hàng Mây, Hàng Mã, Hàng Buồm, Hàng Chum
Tiếng ngô tiếng nhắng um um
Lên lầu tô điểm tổ tôm đánh bài
Khoan khoan chân dỡ gót hài
Qua Hàng Thuốc Bắc sang chơi Hàng Đồng
Biết bao của báu lạ lùng
Kìa đồ bát bảo nọ lồng ấp hương
Hàng Bừa, Hàng Cuốc, ngổn ngang
Trở về Hàng Cót dạo sang Hàng Gà
Bát ngô Hàng Sắt* xem qua
Hàng Vải, Hàng Thiếc, lại ra Hàng Hòm
Ở đâu nghe tiếng om om
Trống chầu nhà hát thòm thòm vui thay
Hàng Da, chợ Sắt*, ai bầy
Bên kia Hàng Điếu, bên nầy Hàng Bông
Ngã tư Cấm Chỉ đứng trông
Qua Hàng Thợ Nhuộm thẳng dong Hàng Tàn
Đoái xem phong cảnh bàng hoàng
Bút hoa dỡ viết chép bàn mấy câu
Trải qua một cuộc bể dâu
Nào người đế bá công hầu là ai.
Chú thích:
Những chữ có (*) là tên của Phố phường được lập lại trong bài thơ trong Văn Đàn Bảo
Giám (VĐBG).
Những chữ in đậm là tên của những Phố phường có trong cả 2 bài thơ.
Có tất cả 20 Phố trong cả 2 bài thơ (trong Việt Nam Thi Văn Hợp Tuyển và trong Văn Đàn
Bảo Giám):
Hàng Bạc, Hàng Bè, Hàng Bông, Hàng Buồm
Hàng Cót
Hàng Da
Hàng Điếu, Hàng Đồng
Hàng Gà, Hàng Gai, Hàng Giày (Hàng Hài trong VĐBG), Hàng Giấy
Hàng Hòm, Hàng Khai (Hàng Khay trong VĐBG)
Hàng Mã, Hàng Mây
Hàng Ngang
Hàng Thiếc
Hàng Vôi
Cầu Đông
16 Phố chỉ có trong bài thơ trong Việt Nam Thi Văn Hợp Tuyển của Dương Quảng Hàm:
Hàng Bài, Hàng Bát, Hàng Bồ
Hàng Đàn, Hàng Đậu
Hàng Lờ
Hàng Mắm, Hàng Muối
Hàng Nón
Hàng Than, Hàng The, Hàng Thùng, Hàng Tre
Phố Mới, Mã Vĩ, Phúc Kiến
16 Phố chỉ có trong bài thơ trong Văn Đàn Bảo Giám của Trần Trung Viên:
Hàng Bừa
Hàng Cuốc, Hàng Chum
Hàng Đào, Hàng Đường
Hàng Sắt
Hàng Tàn, Hàng Thợ Nhuộm, Hàng Thợ Tiện, Hàng Thêu, Hàng Thuốc Bắc
Hàng Trống
Hàng Vải
Cấm Chỉ, Đồng Xuân
Tràng Tiền
Hà Nội Phố Cổ
Theo các học giả của Google:
“Hà Nội 36 Phố Phường” là tên chỉ khu Phố Cổ Hà Nội, gồm các khu phố buôn bán
hình thành từ hàng trăm năm về trước.
Sau khi Lý Thái Tổ thành lập kinh thành Thăng Long, thợ thủ công ở khắp nơi nhất là
chung quanh đã tập trung về Thăng Long để kinh doanh và buôn bán tạo nên những Phố phường.
Mãi đến đời vua Lê Hiển Tông (vào cuối thời của nhà Lê Trung Hưng) chia thành
Thăng Long ra 36 khu vực thì mới có tên “36 Phố phường”. Tên này được truyền đến thế kỷ
20.
Như vậy, Phố Cổ của Hà Nội (từ thời Nhà Nguyễn và thời Pháp Thuộc cho đến thời Cộng
Hòa), khu vực công nghệ và thương mại chính của thành phố Hà Nội, là nơi của 36 Phố
Phường của kinh đô Thăng Long thời cuối nhà Hậu Lê vào đời vua Lê Hiển Tông.
Vào đầu thời Nhà Nguyễn (tiền bán thế kỷ 19), tên Hà Nội được chính thức thay thế Thăng Long
và Phố Cổ Hà Nội được thành lập. Từ 21 “Phố” còn lại từ thời nhà Lê theo sách Đại Nam Nhất
Thống Chí, viết xong năm 1862, Phố Cổ được bành trướng với rất nhiều Phố công nghệ và
thương mại (khoảng 62 phố) cho đến thời Pháp Thuộc và duy trì cho đến thời Cộng Hòa. Lịch
sử và địa lý của Phố Cổ được ghi lại trong sách “Lược Sử Tên Phố Hà Nội” xuất bản năm
1964.
Kết luận:
Phố Cổ Hà Nội từ tiền bán thế kỷ 19 cho đến hậu bán thế kỷ 20 trải qua thời Nhà
Nguyễn và thời Pháp Thuộc cho đến thời Cộng Hòa, có rất nhiều Phố công nghệ và thương mại
(50 - 60), nhiều hơn con số 36 (phố phường) như “huyền thoại” 36 Phố Phường có từ cuối thời
nhà Hậu Lê (cuối thế kỷ 18).
Với cùng một địa điểm là Phố Cổ; Thăng Long có thể có đúng 36 phố phường vào cuối
thời nhà Hậu Lê nhưng Hà Nội thực tế có rất nhiều hơn 36 phố phường từ thời nhà Nguyễn (tiền bán thế kỷ 19) cho đến cuối thế kỷ 20. Con số đúng 36 phố phường của Hà Nội từ Thạch
Lam, Dương Quảng Hàm và Trần Trung Viên không hoàn toàn trung thực với lịch sử và
địa lý của Phố Cổ Hà Nội.
Sách Lược Sử Tên Phố Hà Nội là sử liệu trung thực nhất về Phố Cổ Hà Nội với những
Phố phường của nó. Từ sách này, ta có chi tiết về tất cả 50-60 những Phố công nghệ và thương
mại của Phố Cổ Hà Nội và cả những Phố công nghệ và thương mại ở ngoài Phố Cổ. Cũng từ
sách này (và Google ngày nay), có một số Phố được kể trong 2 bài thơ từ Dương Quảng Hàm và
Trần Trung Viên không có thật trong thực tế!
Đây là những Phố trong 2 bài thơ tựa đề “Hà Nội 36 Phố Phường” không có thực theo sách
“Lược Sử Tên Phố Hà Nội” cũng như theo tài liệu của Google hiện đại:
- Trong bài thơ (của Việt Nam Thi Văn Hợp Tuyển của Dương Quảng Hàm):
Hàng The
- Trong bài thơ (của Văn Đàn Bảo Giám của Trần Trung Viên):
Hàng Cuốc, Hàng Chum, Hàng Sắt.

Danh sách các Phố công nghệ và thương mại theo sách “Lược Sử Tên Phố Hà Nội”:
a) Những Phố theo hướng Đông Tây, được sắp đặt theo từng đường từ Bắc xuống Nam
- Những Phố ở phía Bắc của Hồ Hoàn Kiếm (Hồ Gươm)
1. Hàng Đậu, Hàng Khoai
2. Hàng Chai, Cầu Đông, Cao Thắng
3. Hàng Mã, Hàng Chiếu
4. Lò Rèn, Hàng Cá, Ngõ Gạch, Nguyễn Văn Siêu, Chợ Gạo
5. Hàng Vải, Lãn Ông (Phúc Kiến), Hàng Buồm
6. Hàng Bút - Hàng Chĩnh
7. Cửa Đông, Hàng Phèn - Lương Ngọc Quyến
8. Bát Đàn, Hàng Bồ, Hàng Bạc, Hàng Mắm
9. Hàng Nón (có Mã Vĩ), Hàng Quạt (có Hàng Đàn) - Gia Ngư
10. Nguyễn Văn Tố, Yên Thái
11. Ngõ Trạm, Hà Trung - Hàng Chỉ
12. Thợ Nhuộn, Hàng Bông (có Hàng Bông Lờ và Hàng Hài), Hàng Gai, Thợ Tiện, Cầu
Gỗ, Hàng Thùng.
- Những Phố ở phía Tây của Hồ Hoàn Kiếm (Hồ Gươm)
13. Chân Cầm, Thọ Xương, Nhà Thờ
- Những Phố ở phía Đông của Hồ Hoàn Kiếm (Hồ Gươm)
14. Lò Sũ, Trần Nguyên Hãn, Lê Thạch, Đinh Lễ
- Những Phố ở phía Nam của Hồ Hoàn Kiếm (Hồ Gươm)
15. Hàng Khay, Tràng Tiền, Hàng Bài
b) Những Phố theo hướng Bắc Nam, được sắp đặt theo từng đường từ Đông sang Tây.
1. Hàng Muối, Hàng Tre, Hàng Vôi
2. Nguyễn Hữu Huân, Lý Thái Tổ
3. Hàng Bè, Hàng Dầu
4. Mã Mây (có Hàng Mây)
5. Đào Duy Từ
6. Tạ Hiện, Đinh Liệt, Cầu Gỗ
7. Nguyễn Thiếp, Nguyễn Thiện Thuật, Hàng Giày
8. Hàng Giấy, Đồng Xuân, Hàng Đường, Hàng Ngang, Hàng Đào
9. Hàng Lược, Chả Cá, Hàng Cân, Lương Văn Can, Hàng Hành, Lê Thái Tổ
10. Hàng Hòm, Hàng Trống
11. Hàng Thuốc Bắc, Hàng Thiếc - Hàng Mành, Nhà Chung, Lý Quốc Sư
12. Hàng Rươi, Hàng Đồng, Bát Sứ
13. Hàng Cót, Hàng Gà, Hàng Điếu, Hàng Da - Đường Thành
Phố công nghệ và thương mại (Phố Nghề) ở Phố Cổ
Phố công nghệ và thương mại (Phố Nghề) thường bắt đầu bằng chữ “Hàng”, thường không có
tên theo nhân danh hay địa danh và thường có tên theo công nghệ và thương mại đặc biệt của
phố. Có tất cả 62 phố công nghệ và thương mại (phố nghề) ở Phố Cổ.
Bát Đàn (khác Hàng Đàn, coi Hàng Quạt)
Phố Bát Đàn tiếp liền với Hàng Bồ về phía tây và đi đến găp phố Phùng Hưng.
Xưa là đất thôn Nhân Nội Thị, tổng Tiền Túc (sau đổi là tổng Thuận Mỹ), huyện Thọ Xương.
Phố này xưa có tên là phố Hàng Bát cũ, hồi trước chuyên bán các thứ bát, đĩa, ấm, chén bằng đồ
đàn, nên lấy tên mặt hàng mà đặt tên cho phố.
Tên thời Pháp Thuộc là Rue Vieille Des Tasses (phố cũ Hàng Chén).
Bát Sứ (Hàng Bát)
Phố Bát Sứ tiếp theo phố Hàng Đồng đi từ phố Hàng Vải đến phố Hàng Đàn.
Xưa là đất thôn Đông Thành Thị, tổng Tiền Túc (sau đổi thành tổng Thuận Mỹ) huyện Thọ
Xương.
Phố này hồi trước chuyên bán các thứ bát, đĩa, ấm, chén bằng sứ nên lấy tên mặt hàng mà đặt
cho phố.
Tên thời Pháp Thuộc là Rue Des Tasses (phố Hàng Chén).
Cấm Chỉ (xem Hàng Bông Lờ)
Chả Cá
Phố Chả Cá đi từ phố Hàng Mã đến phố Lãn Ông (Phúc Kiến); nối liền phố Hàng Lược với phố
Hàng Cân.
Xưa kia phố Chả Cá là phố Hàng Sơn. Vào đầu thế kỷ 20, tại gia đình họ Đoàn ở nhà số 4 của
phố này có món ăn đặc biệt trong nhà, lấy cá nướng làm chả ăn cùng với bún và một số gia vị,
được bạn bè thưởng thức và khen ngợi. Sau đó gia đình họ Đoàn này mới nghĩ cách mở một cửa
hiệu, thường được gọi là hiệu ông Lã Vọng vì ngoài cửa có tượng Lã Vọng bằng gỗ xách một
xâu cá.
Món chả dần dần được người Hà Nội ưa thích và phố này được gọi là phố Chả Cá, dân chúng
hầu như quên hẳn tên cũ là phố Hàng Sơn, chỉ còn tồn tại trong tên dịch trong thời Pháp Thuộc là
Rue De La Laque (Phố Hàng Sơn).
Chân Cầm (xem thêm Hàng Quạt)
Phố Chân Cầm đi từ phố Lý Quốc Sư đến phố Phủ Doãn.
Xưa là đất thôn Minh Cầm, tổng Tiền Túc huyện Thọ Xương; sau đổi thành thôn Chân Cầm,
tổng Thuận Mỹ, huyện Thọ Xương.
Tương truyền rằng dân ở thôn này hồi xưa có nghề làm các thứ đàn: đàn tranh, đàn nguyệt, đàn
huyền, đàn thập lục…
Tên thời Pháp Thuộc là Rue Lagisquet.
Chợ Gạo
Phố Chợ Gạo song hành với phố Ô Quan Chưởng đi từ đường Trần Nhật Duật đến phố Đào Duy
Từ.
Xưa là cửa sông Tô Lịch, thuộc địa phận thôn Hương Nghĩa cũ. Trên bờ sông tụ tập những hàng
bán gạo nên thành tên Chợ Gạo.
Tên thời Pháp Thuộc là Place De Commerce (Khu Buôn Bán).
Đồng Xuân
Phố Đồng Xuân đi từ phố Hàng Giấy thông vào phố Hàng Đường.
Xưa là đất phường Đồng Xuân, tổng Hậu Túc (sau đổi là tổng Đồng Xuân), huyện Thọ Xương
cũ. Trong phường này có một khu chợ lớn nhất Hà Nội là chợ Đồng Xuân.
Phố này còn có tên là phố Hàng Gạo. Do đó tên thời Pháp Thuộc là Rue Du Riz.
Gia Ngư
Phố Gia Ngư đi từ phố Hàng Bè đến phố Hàng Đào.
Xưa là đất thôn Gia Ngư, tổng Hữu Túc (sau đổi là tổng Đông Thọ) huyện Thọ Xương cũ.
Xưa có cái hồ rộng ở khu này (tên là Hồ Thái Cực) có nhiều cá to, thường được đưa vào thành
để tiến vua, do đó thành tên.
Tên thời Pháp Thuộc là Rue Tirant.
Hà Trung (xem Ngõ Trạm)
Hàng Bạc
Phố Hàng Bạc tiếp theo phố Hàng Mắm đến gặp chỗ tiếp giáp giữa phố Hàng Ngang với phố
Hàng Đào và ăn thông ra phố Hàng Bồ.
Hàng Bạc là 1 trong 36 phố phường của kinh thành Thăng Long cũ, chuyên nghề đúc bạc thoi
và đỗi tiền kẽm và bạc vụn. Những người làm nghề này họp thành phường, phần lớn là người
thôn Trâu Khê (giáp Đông An), huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương. Theo gia phả cũ nhất còn
giữ lại được (của họ Hoàng) thì lúc đầu có 2 người ở Trâu Khê ra Thăng Long ở phường Phục
Cổ (khoảng đầu phố Nguyễn Du, gần phố Huế hiện nay) làm nghề vàng bạc, đến đời Tây Sơn
mới có một ông tổ lên gửi rể ở giáp Nỗ Hạ, chợ Trương (Kim ngân Trương thị); như vậy hồi đó
đã có nghề vàng bạc ở phố này rồi.
Hiện có 2 ngôi đình là đình Kim Ngân và đình Trương Thị đều thờ tổ sư nghề bạc (tương truyền
là Hiên Viên hoàng đế, tổ bách nghệ) đều là của dân làng Trâu Khê cũ.
Phố Hàng Bạc đời Lê là giáp Nỗ Hạ, phường Đông Các, tổng Hữu Túc (sang triều Nguyễn đổi là
thôn Dũng Thọ, tổng Đông Thọ).
Đây là một phố tương đối cổ nhất của khu công nghệ thương mại của thành Thăng Long cũ, có
nhiều đền miếu vẫn tồn tại: đình Kim Ngân, đình Trương Thị, đình Dũng Hãn, đình Dũng Thọ…
Tên thời Pháp Thuộc là Rue de Changeurs (Phố của những người đổi “tiền bạc”).
Hàng Bài
Phố Hàng Bài đi từ cuối phố Tràng Tiền đến phố Hàm Long.
Xưa là đất thôn Vũ Thạch và thôn Hồi Mỹ, tổng Tả Nghiêm (sau đổi là tổng Kim Liên) huyện
Thọ Xương cũ.
Phố này xưa kia làm và bán những cỗ bài lá nên thành tên. Trong thời Pháp Thuộc có tên tạm
thời là đại lộ Đồng Khánh. Sau thời Pháp Thuộc có tên tạm thời là đại lộ Triệu Quang Phục.
Hàng Bát (xem Bát Đàn và Bát Sứ)
Hàng Bè
Phố Hàng Bè đi từ giao điểm của phố Hàng Mắm và Hàng Bạc đến (nối tiếp là) phố Hàng Dầu.
Xưa là đất thôn Gia Ngư, tổng Hữu Túc (sau đổi là tổng Đông Thọ), huyện Thọ Xương cũ.
Nguyên trước ở gần cửa ô Mỹ Lộc, đầu phố Hàng Bạc, giáp bờ sông Hồng có một cái bến tên là
Nam Phố, thuận tiện cho các bè bương nứa được đưa lên bờ để bán. Người bán họp thành Chợ
gọi là chợ Hàng Bè. Mới đầu chợ ở gần phố Hàng Tre, về sau mới dời dần vào phố Hàng Bè
hiện nay, do đó thành tên phố.
Tên thời Pháp Thuộc là Rue des Radeaux (dịch từ tiếng Việt ra).
Hàng Bồ
Phố Hàng Bồ nối liền với phố Hàng Bạc ở về phía đông và phố Bát Đàn ở về phía tây.
Xưa là đất thôn Nhân Nội, tổng Tiền Túc (sau đổi là tổng Thuận Mỹ) huyện Thọ Xương cũ.
Phố này xưa kia là nơi tập trung những cửa hàng bán những thứ bồ đan bằng tre nớa.
Tên thời Pháp Thuộc là Rue Des Paniers (dịch từ tiếng Việt ra).
Hàng Bông
Phố Hàng Bông tiếp theo phố Hàng Gai đến gặp phố Cửa Nam và phố Phùng Hưng.
Xưa là đất các thôn Đông Thành, Bắc Thượng, Bắc Hạ và Yên Trung Hạ thuộc tổng Tiền
Nghiêm (sau là tổng Vĩnh Xương), huyện Thọ Xương cũ.
Hồi xưa phố chia ra làm 3 đoạn
Hàng Bông Hài hay Hàng Hài (bán giầy hài bằng giấy, dùng trong việc cúng lễ) ở quãng
đầu giáp phố Hàng Gai.
Hàng Bông Đệm (bán đệm bông và làm chăn) ở quãng giữa.
Hàng Bông Lờ (bán thêm những chiếc lờ đánh cá) ở quãng cuối, giáp phố Cửa Nam.
Tên thời Pháp Thuộc là Rue du Coton (dịch từ tiếng Việt ra).
Hàng Bông Lờ (= Cấm Chỉ)
Ngõ Hàng Bông Lờ đi từ phố Tống Duy Tân (tức phố Kỳ Đồng cũ) đến phố Hàng Bông.
Tên thời Pháp Thuộc là Rue Llonde. Sau thời Pháp Thuộc đổi tên là phố Cấm Chỉ, tên đã được
người địa phương quen dùng vì nơi này xưa kia là nơi “cấm chỉ” không cho nhân dân đi sát vào
chân thành Thăng Long cũ. Đến năm 1964, mới đổi tên là Hàng Bông Lờ (hay gọi tắt là Hàng
Lờ?).
Hàng Buồm
Phố Hàng Buồm đi từ phố Chợ Gạo đến thông vào phố Lãn Ông về hướng tây. Ở phương tây
phố nối với phố Mã Mây (chạy hướng bắc nam).
Xưa kia là đất phường Hà Khẩu, tổng Tả Túc (sau đổi là tổng Đông Thọ), huyện Thọ Xương cũ.
Phố này hồi xưa ở gần cửa sông (= hà khẩu), tức là cửa sông Tô Lịch, thông với sông Hồng.
Tại phố này có đền Bạch Mã, là 1 ngôi đền cổ của kinh thành Thăng Long xưa. Phố Hàng
Buồm là nơi tập trung số đông các Hoa kiều ngay từ thời nhà Lê Trung Hưng.
Tên thời Pháp Thuộc là Rue de Voiles (dịch từ tiếng Việt ra).
Hàng Bút (xem thêm Thuốc Bắc)
Phố Hàng Bút đi từ phố Thuốc Bắc đến gặp phố Bát Sứ.
Xưa là đất thôn Đông Thành Thị, tổng Tiền Túc (sau đổi là tổng Thuận Mỹ) huyện Thọ Xương
cũ.
Phố Hàng Bút còn có 1 tên cổ là phố Hàng Mụn vì có cửa hàng bán những mụn vải còn thừa
sau khi may quần áo. Về sau tại phố này xuất hiện cửa hàng bán bút Nho và mực giấy dùng viết
chữ Hán, do đó thành tên.
Tên thời Pháp Thuộc là Rue Combanère.
Hàng Bừa (xem Lò Rèn)
Hàng Cá
Phố Hàng Cá đi từ phố Hàng Đường đến gặp phố Thuốc Bắc. Phố Hàng Cá nối liền Ngõ Gạch
với phố Lò Rèn.
Xưa là 1 đoạn đê sông Tô Lịch, thuộc giáp Đông thôn Thuận Mỹ, tổng Tiền Túc (sau đổi là tổng
Thuận Mỹ) huyện Thọ Xương cũ.
Tương truyền khi còn khúc đê sông Tô Lịch (độ 70 năm về trước) nơi đây là chỗ tập trung bán cá
của chợ Đồng Xuân (còn làm bằng tranh nứa). Về sau bỏ đê, lấp sông mở phố, nên gọi là phố
Hàng Cá.
Nay còn một ngôi đình ở thôn Đông Thuận ở số 27 giữa phố, thờ vị thần tên Lý Tiến. Theo
truyền thuyết Lý Tiến là 1 trong những anh hùng chống ngoại xâm đầu tiên của nước ta vào đời
Hùng Vương thứ 6 đã đánh giặc Ân nhiều trận nhưng cuối cùng bị hy sinh; sau đó Thánh Gióng
(Phù Đổng Thiên vương) mới xuất hiện.
Tên thời Pháp Thuộc là Rue De La Poissonnerie (dịch từ tên tiếng Việt ra).
Hàng Cân
Phố Hàng Cân đi từ phố Lãn Ông (Phúc Kiến) đến phố Hàng Bồ.
Xưa là đất thôn Hữu Đông Môn và thôn Xuân Yên, tổng Tiền Túc (sau đổi là tổng Thuận Mỹ),
huyện Thọ Xương cũ.
Phố này hồi xưa làm và bán các loại cân tiểu li, hoặc cân đòn ngang, có quả cân bằng sắt hay
bằng đá. Hiện nay phố này vẫn còn có hàng bán cân.
Tên thời Pháp Thuộc là Rue Des Balances (dịch từ tên tiếng Việt).
Hàng Chai
Phố Hàng Chai đi từ phố Hàng Rươi đến gặp phố Hàng Cót.
Xưa là đất thôn Vĩnh Trú, tổng Tiền Túc (sau đổi là tổng Đồng Xuân) huyện Thọ Xương cũ.
Phố này hồi xưa là một ngõ chuyên bán chai lọ và bao ché cũ.
Tên thời Pháp Thuộc là Ngõ Ngang (Ruelle Ngõ Ngang).
Hàng Chiếu
Phố Hàng Chiếu nối liền phố Ô Quan Chưởng với phố Hàng Mã.
Xưa là đất thôn Thanh Hà, tổng Hậu Túc (sau đổi là tổng Đồng Xuân) huyện Thọ Xương. Nay
còn ngôi đình của thôn Thanh Hà ở số 77, giữa phố và ăn thông ra phố Ngõ Gạch.
Tên thời Pháp Thuộc là Rue De Jean Dupuis (lấy theo tên của Jean Dupuis, tới đây trước khi
được ông Nguyễn Tri Phương mượn đường sông Hồng đi Vân Nam để buôn bán với Trung
Quốc).
Tuy nhiên dân địa phương vẫn gọi tên là Phố Mới vì nó mới lập sau các phố phường cổ truyền.
Theo André Schroeder trong Annam Études numisnatique (Tập Nghiên cứu về tiền cổ Việt Nam)
tập I trang 194 thì phố Mới do một viên quan Chưởng ấn về hưu lập ra, nên có tên là Phố Mới.
Trước kia tên phố Hàng Chiếu dùng để chỉ phố Ô Quan Chưởng bây giờ, vì ở phố này có nhiều
cửa hàng bán chiếu cói mua thẳng từ thuyền lên. Về sau các cửa hàng buôn bán chiếu mở lan
dần vào mãi bên trong.
Hàng Chỉ
Phố Hàng Chỉ đi từ phố Tố Tịch đến gặp phố Hàng Hòm.
Xưa là đất thôn Tố Tịch, tổng Tiền Túc (sau đổi là tổng Thuận Mỹ) huyện Thọ Xương cũ.
Phố này hồi xưa có một số nhà trong ngõ làm nghề se chỉ nên thành tên.
Tên thời Pháp Thuộc là Ruelle de Hàng Chỉ (Ngõ Hàng Chỉ) còn giữ tên đến bây giờ.
Hàng Chĩnh
Phố Hàng Chĩnh đi từ đường Trần Nhật Duật đến gặp phố Mã Mây.
Xưa là đất thôn Ưu Nghĩa và xóm Phất Lộc, phường Hà Khẩu, đều thuộc tổng Hữu Túc (sau đổi
là tổng Đông Thọ) huyện Thọ Xương cũ.
Phố này hồi xưa ở gần cửa Ô Ưu Nghĩa (còn có tên là cửa Ô Hàng Mắm), liền với bờ sông Hồng
và bán các thứ chĩnh, chum, vò, lải bằng sành.
Tên thời Pháp Thuộc là Rue Des Vases (dịch từ tên tiếng Việt ra).
Hàng Cót
Phố Hàng Cót đi từ phố Phan Đình Phùng nối liền đến phố Hàng Gà, xuyên qua phố Phùng
Hưng và Gầm Cầu.
Xưa là đất Ngũ giáp thôn Tân Khai và giáp Giáo Phường thôn Đông Thuận thuộc tổng Tiền Túc
(sau đổi là tổng Thuận Mỹ) huyện Thọ Xương cũ.
Phố này hồi xưa bán các thứ cót đan bằng tre nứa, nên thành tên ấy.
Tên thời Pháp Thuộc là Rue Takou (phố Ta-cu).
Hàng Da
Phố Hàng Da đi từ phố Đường Thành đến gặp phố Hàng Bông (chạy ngang).
Xưa là đất giáp Yên Nội, thôn Bắc Thượng, Bắc Hạ thuộc tổng Vĩnh Xương, huyện Thọ Xương
cũ.
Phố này hồi trước toàn bán các loại da trâu bò thuộc, làm các thứ giày dép. Ở đầu phố có chợ
Hàng Da.
Tên thời Pháp Thuộc là Rue des Cuirs (dịch theo tên tiếng Việt).
Hàng Dầu
Phố Hàng Dầu nối tiếp phố Hàng Bè và cuối cùng thông cùng 1 chiều với phố Đinh Tiên Hoàng.
Xưa là đất thôn Tả Vọng và thôn Kiếm Hồ, tổng Tả Túc (sau đổi là tổng Phúc Lâm), huyện Thọ
Xương cũ.
Phố này hồi xưa có bán các thứ dầu nam để đốt đèn, hoặc để tra vào một số dụng cụ.
Tên thời Pháp Thuộc là Rue Du Lac (Phố bên Hồ).
Hàng Đàn (xem Hàng Quạt và Chân Cầm)
Hàng Đào (xem thêm Hàng Vải và Thợ Nhuộm)
Phố Hàng Đào tiếp theo phố Hàng Ngang đến đầu phố Hàng Gai (chỗ giao điểm phố Hàng Gai
và Cầu Gỗ).
Xưa kia là đất phường Đại Lợi và phường Đồng Lạc, tổng Tiền Túc (sau đổi là tổng Thuận Mỹ),
huyện Thọ Xương cũ.
Tại phường Đại Lợi xưa có nhiều người quê ở xã Đan Loan, tỉnh Hải Dương, có nghề nhuộm lụa
đào (hoặc điều) đã ra mở hiệu nhuộm các thứ nhiễu lụa màu đào (màu điều), nên đã thành tên
phố này ngay từ đầu thế kỷ 15 (theo Dư Địa Chí của Nguyễn Trãi).
Tên thời Pháp Thuộc là Rue De La Soie (Phố Hàng Tơ Lụa).
Hàng Đậu
Phố Hàng Đậu đi từ đường Trần Nhật Duật đến phố Phan Đình Phùng, phía bắc của Hàng Khoai.
Xưa vốn là đất phường Hòe Nhai tổng Yên Thành huyện Vĩnh Thuận và đất thôn Nghĩa Lập và
thôn Huyền Thiên tổng Đồng Xuân.
Phố này khi xưa chuyên bán các thứ đậu hột như đậu xanh, đậu đen, đậu nành…
Tên thời Pháp Thuộc là Rue des Graines (dịch từ tiếng Việt ra).
Ngõ Hàng Đậu ở quãng cuối phố Hàng Đậu, dãy nhà số chẵn và nối phố Hàng Đậu với phố
Hồng Phúc.
Tên thời Pháp Thuộc là Ruelle des Graines (ngõ Hàng Đậu).
Hàng Điếu
Phố Hàng Điếu nối từ phố Hàng Gà đến phố Đường Thành. Phố Đường Thành cắt ngang Hàng
Điếu và Hàng Da
Xưa là đất thôn Yên Nội, tổng Tiền Túc (sau đổi là tổng Thuận Mỹ) huyện Thọ Xương cũ.
Phố này hồi trước có bán điếu và xe điếu thuốc lào (hiện nay cũng còn có nhà bán).
Nay ở số 30 có ngôi đền Hỏa Thần (tục gọi là đền Nhà Hỏa) thờ một vị thần coi như có uy lực trị
được hỏa tai.
Tên thời Pháp Thuộc là Rue des Pipes (dịch từ tiếng Việt ra).
Hàng Đồng (xem thêm Hàng Mã)
Phố Hàng Đồng nối tiếp phố Hàng Rươi đi từ phố Hàng Mã đến phố Hàng Vải và tiếp liền với
đầu phố Bát Sứ.
Xưa kia là đất thôn Đông Thành Thị, tổng Tiền Túc (sau đổi là tổng Thuận Mỹ) huyện Thọ
Xương cũ.
Phố này khi trước chuyên bán các thứ đồ đồng như đỉnh, chuông, mâm, nồi, sanh, đèn, nến…
Tên thời Pháp Thuộc chung cho cả phố Bát Sứ và phố Hàng Đồng là Rue des Tasses (phố Hàng
Chén).
Hàng Đường
Phố Hàng Đường tiếp liền với phố Đồng Xuân và nối với phố Hàng Ngang.
Xưa là đất của thôn Vĩnh Hanh và thôn Đức Môn thuộc tổng Đồng Xuân, huyện Thọ Xương cũ.
Phố Hàng Đường ở trong khu trung tân buôn bán Hà Nội, là 1 trong 36 phố phường cũ, chuyên
bán các loại đường mứt, nên thành tên.
Tên thời Pháp Thuộc là Rue Du Sucre (dịch từ tiếng Việt).
Hàng Gà
Phố Hàng Gà tiếp theo phố Hàng Cót thông đến phố Hàng Điếu.
Xưa là đất thôn Tân Lập và Tân Khai, tổng Thuận Mỹ, huyện Thọ Xương cũ.
Phố này ở ngay gần cửa Đông Thành, có nhiều người đem gà vịt đến bán nên được gọi là phố
Hàng Gà Cửa Đông để phân biệt với Hàng Gà phố Huế (thường gọi là dốc Hàng Gà) đi từ ngã
tư phố Hàm Long đến Chợ Hôm.
Tên thời Pháp Thuộc là Rue Tien Tsin (phố Thiên Tân).
Hàng Gai
Phố Hàng Gai nối phố Cầu Gỗ với phố Hàng Bông.
Xưa là đất phường Đông Hà và phường Cổ Vũ, đất Thượng Thôn, tổng Tiền Túc (sau là tổng
Thuận Mỹ) huyện Thọ Xương.
Phố này hồi xưa chuyên bán các thứ dây gai, khắc bản gỗ in các thứ sách truyện và bán các thứ
giấy ta để đóng sách vở, ngoài ra mỗi năm đến dịp Tết Trung Thu, có hay bày bán thêm các thứ
đèn, sư tử, hoa giấy cho trẻ em chơi tết.
Tên thời Pháp Thuộc là Rue du Chauvre (dịch tên phố Hàng Gai mà ra).
Hàng Gạo (xem Đồng Xuân)
Hàng Giày
Phố Hàng Giày tiếp liền với phố Nguyễn Thiện Thuật về phía bắc, cắt ngang qua phố Hàng
Buồm và chạy dọc đến cuối phố Lương Ngọc Quyến.
Ngày trước phố Hàng Giày theo đúng tên gọi của dân chúng gồm có:
Nửa phố Hàng Giày hiện tại (đoạn ở phía nam Hàng Buồm).
Nửa phố Lương Ngọc Quyến (đoạn phía tây phố Tạ Hiện).
Đoạn phố Tạ Hiện từ phía nam phố Lương Ngọc Quyến đến ngõ Hài Tượng.
Phố này ở trên đất phường Hà Khẩu và Dũng Thọ, tổng Tả Túc (sau là tổng Đông Thọ) huyện
Thọ Xương.
Phố tập trung những thợ làm giày cổ truyền, đều là những người ở các làng Phong Lâm, Trúc
Lâm và Văn Lâm, thuộc huyện Từ Ký, tỉnh Hải Dương; và cùng thờ ba vị họ Phạm người cùng
làng, tổ sư nghề thuộc da và nghề giày.
Phố Hàng Giày ngày nay gồm 2 phố:
Phần phía bắc từ phố Hàng Chiếu đến phố Hàng Buồm là phố La Tát (Rue Lataste), khi
xưa có tên là phố Hàng Mãn.
Phần phía nam là phố Nguyễn Duy Hàn, tức là phố Hàng Giày cổ truyền. Nguyễn Duy
Hàn là tên của quan Tuần phủ Thái Bình bị Việt Nam Quang Phục Hội ném lựu đạn ám sát trong
thời Pháp Thuộc.
Hàng Giấy
Phố Hàng Giấy đi từ phố Hàng Đậu đến phố Hàng Khoai và tiếp liền đầu phố Đồng Xuân.
Xưa là đất thôn Hoè Nhai và thôn Huyền Thiên, tổng Hậu Túc (sau đổi là tổng Đồng Xuân),
huyện Thọ Xương.
Phố này hồi xưa bán các thứ giấy nam (?).
Tên thời Pháp Thuộc là Rue du Papier (do tên phố Hàng Giấy dịch ra).
Hàng Hài (xem Hàng Bông)
Hàng Hành (xem thêm Thợ Tiện)
Ngõ Hàng Hành đi từ phố Lương Văn Can đến ngõ Bảo Khánh.
Xưa là đất thôn Bảo Khánh và thôn Khánh Thụy Tả, tổng Tiền Túc (sau là tổng Thuận Mỹ)
huyện Thọ Xương cũ.
Ngõ Hàng Hành khi xưa có bán hành củ và có nhiều nhà làm nghề thợ tiện như cây đèn, ống
hương, đài, mâm, con tiện..
Tên thời Pháp Thuộc là Ruelle Des Oignons (dịch từ tiếng Việt ra).
Hàng Hòm
Phố Hàng Hòm đi từ giao điểm của phố Hàng Quạt và phố Hàng Nón đến giao điểm của phố
Hàng Gai và phố Hàng Bông, tiếp theo nó là phố Hàng Trống.
Xưa thuộc về thôn Yên Thái và thôn Thuận Mỹ, tổng Thuận Mỹ, huyện Thọ Xương.
Cách đây hơn 100 năm, một số người ở làng Hà Vĩ là 1 làng có nghề làm đồ cổ sơn thuộc huyện
Thường Tín tỉnh Hà Đông, ra đây mở tiệm làm hòm; đầu tiên là những hòm sơn đen đựng quần
áo cưới, những tráp sơn đen đựng giấy tờ. Về sau mới làm những hòm gỗ kiểu mới như vẫn còn
thấy hiện nay ở phố này. Do đó thành tên phố. Dân Hà Vĩ ra đây lập một ngôi đình gọi là đình
Hà Vĩ thờ một vị thánh sư nghề sơn không rõ tên họ.
Tên thời Pháp Thuộc là Rue des Caisses (dịch từ tiếng Việt ra).
Hàng Khay
Phố Hàng Khay nối liền phố Tràng Tiền với phố Tràng Thi, ở phía nam của hồ Hoàn Kiếm.
Xưa là đất thôn Tả Vọng , tổng Hữu Tức (sau là tổng Đông Thọ) và thôn Võ Thạch, tổng Tả
Nghiêm (sau là tổng Kim Liên), huyện Thọ Xương.
Phố này hồi xưa chuyên làm đồ gỗ khảm xa cừ như tủ, sập, ghế và khay khảm, nên dân chúng
gọi tên là Hàng Khay.
Thời Pháp Thuộc gọi chung với phố Tràng Tiền là Rue Paul Bert. Sau thời Pháp Thuộc mới
tách ra là phố Hàng Khay. Trong thời Kháng Chiến, phố Hàng Khay có tên tạm thời là phố Anh
Quốc (Great Britain street).
Hàng Khoai
Phố Hàng Khoai đi từ đường Trần Nhật Duật đến gặp phố Hàng Lược.
Xưa là đất thôn Huyền Thiên, phường Đồng Xuân, tổng Hậu Túc (sau đổi là tổng Đồng Xuân)
huyện Thọ Xương cũ.
Phố này hồi trước mỗi khi có phiên chợ Đồng Xuân là nơi tập trung những hàng bán các loại
khoai như khoai lang, khoai sọ, khoai nước…
Tên thời Pháp Thuộc là Rue De Tubercules (tên dịch từ tiếng Việt ra).
Phố này có đền thờ Huyền Thiên Trấn Võ (cũng được thờ ở đền Quan Thánh).
Hàng Lờ (xem Hàng Bông Lờ)
Hàng Lược
Phố Hàng Lược đi từ phố Hàng Cót (và phố Phùng Hưng) cho đến phố Hàng Mã và nối với phố
Chả Cá.
Xưa là đất thôn Phủ Từ và thôn Vĩnh Trù, tổng Hậu Túc (sau đổi là tổng Đồng Xuân), huyện
Thọ Xương cũ.
Hồi xưa có cái cống bắt chéo qua sông Tô Lịch, ở phố ấy lại có nghề bán lược chảy đầu nên có
tên là Cống chéo Hàng Lược.
Tên thời Pháp Thuộc là Rue Du Sông Tô Lịch vì phố này chạy dọc theo sông Tô Lịch cũ. Sông
Tô Lịch bị người Pháp lấp từ năm 1889.
Sông Tô Lịch bắt nguồn từ sông Thiên Phù ở tây nam Hồ Tây và chia làm 2 ngành:
Một ngành phía đông chảy qua Thụy Khê đổ vào hào dọc phía bắc thành cũ quanh xuống
Cống chéo Hàng Lược rồi đi ra Sông Hồng (chỗ phía Chợ Gạo ngày nay).
Một ngành phía nam chảy về phía Cầu Giấy, qua Làng Láng và Ngã Tư Sở, rồi chảy vào
sông Nhuệ (Hà Đông).
Hàng Mã (xem thêm Hàng Đồng và Mã Mây)
Phố Hàng Mã đi từ đầu phố Hàng Đường và tiếp theo cuối phố Hàng Chiếu cho đến gặp phố
Phùng Hưng.
Xưa là đất thôn Yên Phú, tổng Hậu Túc (sau đổi là tổng Đồng Xuân), huyện Thọ Xương cũ.
Nay còn đình Yên Phú ở số 56 giữa phố.
Phố này thời trước chuyên làm tiền giấy, cành hoa, hài giấy, áo mũ giấy, dùng trong việc thờ
cúng mê tín tức là Đồ Mã, nên mới có tên là phố Hàng Mã. Phố này còn bán các thứ đồ chơi
bằng giấy cho trẻ con trong dịp Tết Trung Thu, các thứ hoa giấy, đèn giấy để trang trí trong các
ngày hội hè.
Tên thời Pháp Thuộc là Rue de Cuivre (Phố Hàng Đồng) nhưng dân chúng vẫn gọi phân biệt 2
phố:
Phố Hàng Mã từ phố Hàng Đường đến đầu phố Chả Cá.
Phố Hàng Đồng ở quãng còn lại từ đầu phố Chả Cá đến phố Phùng Hưng.
Sau thời Pháp Thuộc, cả 2 chỉ còn có tên chung là phố Hàng Mã và kéo dài cho đến phố Phùng
Hưng để phân biệt với phố Hàng Đồng hiện tại ở phía bắc của phố Bát Sứ.
Hàng Mãn (xem Hàng Giày)
Hàng Mành
Hàng Mành đi từ phố Hàng Nón và thông ra tiếp theo là phố Lý Quốc Sư.
Xưa là đất thôn Yên Thái và phường Kim Cổ, đều thuộc tổng Tiền Túc (sau đổi là tổng Thuận
Mỹ), huyện Thọ Xương cũ.
Phố này có từ đầu thế kỷ 19, do một số người thuộc làng Giới Tế ở huyện Yên Phong, tỉnh Bắc
Ninh cũ ra lập nghiệp tại đây. Làng Giới Tế là 1 làng chuyên làm mành đã có tên Nôm là “Rừng
Mành”. Hiện nay nghề mành vẫn còn ở một số nhà ở phố này.
Tên trong thời Pháp Thuộc (trong bản đồ) là Rue Des Stores (dịch từ tiếng Việt ra).
Hàng Mắm
Phố Hàng Mắm đi từ đường Trần Nhật Duật thông với phố Hàng Bạc.
Xưa là đất thôn Trường Thanh, tổng Tả Túc (sau đổi là tổng Phúc Lâm) huyện Thọ Xương.
Phố này hồi trước chuyên bán các thứ cá mắm và các thứ thủy sản khác. Khoảng ba bốn mươi
năm lại đây mới thêm nghề làm bia, mộ chí, và các đồ dùng bằng sành, đất nung…
Trong thời kỳ còn kinh thành Thăng Long, đây là vị trí của Ô Ưu Nghĩa (tục gọi là Ô Hàng
Mắm). Tên thời Pháp Thuộc là Rue De La Saumure (dịch từ tiếng Việt ra).
Hàng Mây (xem Mã Mây)
Hàng Mụn (xem Hàng Bút)
Hàng Muối
Phố Hàng Muối đi từ đường Trần Nhật Duật (chỗ cột đồng hồ) đến gặp phố Hàng Mắm và thông
với phố Hàng Tre.
Xưa là đất thôn Ưu Nghĩa, tổng Hữu Túc (sau đổi thành tổng Đông Thọ).
Phố này xưa chuyên bán muối nên có tên ấy.
Tên thời Pháp Thuộc là Rue Du Sel (dịch từ tên Tiếng Việt ra).
Hàng Ngang (xem thêm Hàng Buồm và Lãn Ông)
Phố Hàng Ngang tiếp theo phố Hàng Đường dọc tới tiếp theo là phố Hàng Đào.
Xưa là đất phường Diên Hưng, tổng Hữu Túc (sau đổi là tổng Đông Thọ) huyện Thọ Xương cũ.
Trước thời Pháp Thuộc có những Hoa thương người Quảng Đông và Phúc Kiến đến ở quây
quần với nhau, từ phố này sang phố Hàng Buồm và phố Lãn Ông. Tại phố này hồi đó có dựng
một cái cổng chắn ngang đường, cứ đến canh khuya hoặc khi cần thì đóng lại để giữ trật tự nên
dân chúng thường gọi là phố Hàng Ngang.
Tên thời Pháp Thuộc là Rue des Cantonnais (phố của người Quảng Đông) nhưng dân phố vẫn
quen gọi là phố Hàng Ngang.
Hàng Nón
Phố Hàng Nón nối tiếp phố Hàng Quạt đến gặp phố Đường Thành. Có nhiều phố (chạy dọc
hướng nam bắc) chạy vào phố Hàng Nón: Hàng Hòm, Hàng Mành, Hàng Thiếc và Hàng Điếu.
Xưa là đất thôn Yên Nội, tổng Tiền Túc (sau đổi là tổng Thuận Mỹ), huyện Thọ Xương cũ.
Phố này hồi trước gồm 2 phố:
Đầu phố là phố Mã Vĩ chuyên làm và bán những thứ hàng thêu có tua dùng trang sức cho voi
ngựa và cờ quạt (trước kia là phục vụ cho quan lại, về sau dùng cho việc tế tự).
Phần giữa và cuối phố là phố Hàng Nón làm và bán các thứ nón lá, nón dứa…
Tên thời Pháp Thuộc gọi chung 2 phố là Rue Des Chapeaux (phố Hàng Nón).
Hàng Phèn
Phố Hàng Phèn đi từ phố Thuốc Bắc đến nối tiếp là phố Cửa Đông.
Xưa là đất thôn Đông Thành Thị, tổng Tiền Túc (sau đổi là tổng Thuận Mỹ) huyện Thọ Xương
cũ.
Phố này hồi trước chuyên bán phèn chua, nên gọi là phố Hàng Phèn.
Tên thời Pháp Thuộc là Rue Des Vieux Marché (phố Chợ Cũ) vì xưa có Chợ họp ở đây, do đó
mới có tên cho thôn Đông Thành Thị (= chợ ở phía đông thành).
Hàng Quạt (xem thêm Chân Cầm)
Phố Hàng Quạt đi từ phố Lương Văn Can đến tiếp thông cùng chiều với phố Hàng Nón.
Xưa là đất thôn Tố Tịch và thôn Xuân Yên, tổng Tiền Túc (sau đổi là tổng Thuận Mỹ), huyện
Thọ Xương cũ. Nay còn có đình ở số 74 của phố.
Tên thời Pháp Thuộc là Rue Des Eventails (dịch từ tiếng Việt ra), nhưng dân chúng vẫn phân
biệt 2 phố: phố Hàng Quạt ở nửa phía đông và phố Hàng Đàn ở nửa phía tây.
Phố Hàng Quạt cũ xưa có nghề làm quạt đồi mồi và quạt giấy và ăn lan qua một phần
phố Lương Văn Can. Nghề làm quạt này có trên 100 năm nay do một số người ở làng Đào Xá
Huệ, huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên dời sang và có làm ngôi đình ở số 4 phố Hàng Quạt gọi là
đình “Xuân Phiến Thị” (chợ bán quạt ngày xuân).
Còn phố Hàng Đàn là một khu xưa kia có một số nhà làm đàn bán, nhưng dần dà chuyển
thành những cửa hiệu đóng những đồ gỗ chạm như kiệu bát cống long đình, sau này làm những
đồ gỗ thông thường như bàn ghế, mắc áo…
Ngày nay gom cả 2 phố Hàng Quạt và Hàng Đàn gọi chung là phố Hàng Quạt.
Hàng Rươi
Phố Hàng Rươi đi từ phố Hàng Lược đến phố Hàng Mã, thông qua phố Hàng Đồng.
Xưa là đất thôn Vĩnh Trù và thôn An Phú, tổng Hậu Túc (sau đổi là tổng Đồng Xuân) huyện Thọ
Xương cũ.
Phố này xưa kia cứ đến khoảng tháng chín âm lịch thì có nhiều người đến họp chợ bán rươi nên
gọi là phố Hàng Rươi.
Tên thời Pháp Thuộc là Rue Des Vers Blanes (do tên tiếng Việt dịch ra).
Rươi = con giun chân có đốt, thân có nhiều tơ nhỏ, ở vùng nước lợ, sinh theo mùa và ăn được.
Có món mắm rươi hay rươi nấu măng tươi. Tục ngữ có câu: “Trộm cắp như rươi”.
Hàng Son (xem Chả Cá)
Hàng Sũ (xem Lò Sũ)
Hàng Tàn (xem Hàng Trống)
Hàng Thêu (xem Hàng Trống)
Hàng Thiếc
Phố Hàng Thiếc tiếp theo phố Thuốc Bắc đến gặp phố Hàng Nón
Xưa là đất Yên Nội thành thôn, tổng Tiền Túc (sau là tổng Thuận Mỹ), huyện Thọ Xương.
Phố này chuyên làm và bán các thứ đồ dùng bằng thiếc, sắt tây, tôn, kẽm, và các loại kính.
Tên trong thời Pháp Thuộc là Rue de Ferblamtiers (phố Thợ Thiếc).
Hàng Thùng
Phố Hàng Thùng đi từ đường Trần Nhật Duật thông vào phố Cầu Gỗ.
Xưa là đất thôn Nam Phố tổng Hữu Túc (sau đổi thành tổng Đông Thọ) huyện Thọ Xương cũ.
Phố này hồi xưa chuyên làm các thứ thùng ghép bằng tre nứa gắn sơn, dùng để gánh nước, hoặc
đựng nước mắm, do đó gọi là phố Hàng Thùng.
Thời Pháp Thuộc chia làm 2 đoạn: Đoạn ăn ra đường Trần Nhật Duật gọi là Rue Rodony còn
đoạn thông vào phố Cầu Gỗ gọi là Rue Des Seaux (phố Hàng Thùng).
Hàng Tranh (xem Hàng Trống)
Hàng Tre
Phố Hàng Tre từ phố Hàng Mắm tiếp theo phố Hàng Muối đến phố Lò Sũ và thông ra phố Hàng
Vôi.
Xưa là đất các thôn Trừng Thanh Tả Giáp, Trừng Thanh Ngũ Trung Hầu, Bảo Linh và Thanh
Yên đều thuộc tổng Tả Túc (sau đổi là tổng Phúc Lâm), huyện Thọ Xương cũ.
Phố này khi xưa ở gần bờ sông, tiện cho việc bốc tre nứa lên bờ để bán. Pháp lập tòa án đầu tiên
ở nơi này, nên được gọi là “Tòa án Hàng Tre” (trụ sở tòa án này sau thành sở Công chánh
Đông Dương).
Tên thời Pháp Thuộc là Rue Des Bambous (dịch từ tên tiếng Việt ra).
Hàng Trống
Phố Hàng Trống tiếp theo phố Hàng Hòm và sau đó nối liền với phố Lê Thái Tổ.
Xưa là đất thôn Tự Tháp, tổng Tiền Túc (sau đổi là tổng Thuận Mỹ), huyện Thọ Xương.
Phố Hàng Trống xưa kia có mấy nghề chính như:
Nghề làm trống của dân làng Liêu Thượng (huyện Yên Mỹ, Hưng Yên).
Nghề làm lọng của dân làng Đào Xá (huyện Thường Tín, Hà Đông).
Nghề thêu của dân làng Quất Động và một số làng khác ở huyện Thường Tín, Hà Đông.
Những người dân các làng trên ra lập nghiệp ở đây trên 100 năm, phần lớn nhập tịch làng Tự
Tháp. Ngoài ra phố Hàng Trống còn có nghề vẽ tranh thờ nổi tiếng được gọi là “Tranh Hàng
Trống”.
Như vậy, Hàng Trống trước kia bao gồm cả Hàng Tàn, Hàng Thêu và Hàng Tranh.
Thôn Tự Tháp có nghĩa là thôn “tháp chùa” vì nó ở trong khu vực chùa Báo Thiên cũ dựng từ
đời nhà Lý. Hiện nay còn lại 2 ngôi đình trong đó có ngôi đình Đông Hương ở số 82 phố Hàng
Trống thờ vị thánh nữ tương truyền tên là Huệ, sống vào thế kỷ thứ 15. Trong cuộc kháng chiến
chống quân Minh của Lê Lợi, đã chuốc rượu cho quân Minh đang chiếm đóng Đông Đô uống
say rồi bảo chúng chui vào bao tải để tránh muỗi, sau đó bà bảo cho nghĩa quân đến bắt (và tấn
công vào thành). Ngôi đình thứ hai là đình Nam Hương.
Tên thời Pháp Thuộc là Rue Jules Ferry.
Hàng Vải (xem thêm Hàng Đào và Thợ Nhuộm)
Phố Hàng Vải tiếp theo phố Lãn Ông cho đến gặp phố Phùng Hưng.
Xưa là đất thôn Đông Thành Thị, tổng Tiền Túc (sau là tổng Thuận Mỹ) huyện Thọ Xương cũ.
Phố này hồi xưa có nghề bán vải nhuộm nâu non. Nay còn ngôi đình ở số 43 gọi là đình Hàng
Vải, đó là đình của thôn Đông Thành Thị.
Tên thời Pháp Thuộc là Rue Des Étoffes (phố Hàng Vải).
Hàng Vôi
Phố Hàng Vôi đi từ phố Lò Sũ, nối liền phố Hàng Tre với phố Tôn Đản.
Xưa là đất thôn Hậu Lâu và Tây Luông, tổng Hữu Túc (sau đổi là tổng Đông Thọ), huyện Thọ
Xương cũ.
Phố này hồi xưa có nhiều nhà bán vôi.
Ở gác số 7, phố có đền thờ vua Lê Thái Tổ Lê Lợi nơi của đình làng Kiếm Hồ cũ. Đền bị thực
dân Pháp phá vỡ.
Tên thời Pháp Thuộc là Rue de la Chaux (dịch từ tên tiếng Việt).
Lãn Ông
Phố Lãn Ông đi từ cuối phố Hàng Đường và đầu phố Hàng Ngang đến gặp phố Thuốc Bắc. Phố
Lãn Ông nối liền phố Hàng Vải và phố Hàng Buồm.
Tên thời Pháp Thuộc là Rue Des Phúc Kiến (Phố Người Phúc Kiến).
Lò Rèn
Phố Lò Rèn nối liền với phố Hàng Cá từ phố Thuốc Bắc đến gặp giao điểm của phố Hàng Gà và
phố Hàng Cót.
Xưa là đất thôn Tân Lập, tổng Tiền Túc (sau đổi là tổng Thuận Mỹ), huyện Thọ Xương cũ.
Phố này có tên cũ là phố Hàng Bừa, mới đổi thành phố Lò Rèn vào đầu thế kỷ 20. Phần lớn dân
phố này ở làng Hòe Thị, huyện Từ Liêm dời ra đây. Người làng Hòe Thị vốn làm nghề rèn lâu
đời.
Tên thời Pháp Thuộc là Rue Des Forgerons (dịch từ tiếng Việt ra).
Lò Sũ
Phố Lò Sũ đi từ đường Trần Nhật Duật đến phố Đinh Tiên Hoàng.
Xưa là đất thôn Trang Lâu tổng Phúc Lân huyện Thọ Xương.
Phố này hồi trước có nhiều cửa hàng đóng và bán quan tài (thường gọi là Hàng Sũ), kèm theo
một số đồ gỗ khác.
Dân phần lớn là người làng Liễu Viên và làng Phượng Dực, huyện Thường Tín, tỉnh Hà Đông ra
lập nghiệp ở Hà Nội vào khoảng giữa thế kỷ thứ 19. Ở số 22 của phố này còn có đình Lò Sũ, thờ
vị tổ sư nghề này và ở số 30 là đình của thôn Trang Lâu cũ.
Tên thời Pháp Thuộc là Rue Albert Pouyanne.
Mã Mây (xem thêm Hàng Mã)
Phố Mã Mây đi từ phố Hàng Buồm chuyển theo hướng dọc từ bắc xuống nam đến gặp phố Hàng
Bạc.
Xưa là đất giáp Hương Tượng, phường Hà Khẩu, tổng Hữu Túc (sau đổi thành tổng Đông Thọ),
huyện Thọ Xương.
Phố này hồi xưa gồm 2 phố:
Phố Hàng Mây ở gần Hàng Buồm có những cửa hiệu bán song và mây.
Phố Hàng Mã ở cuối phố về phía Hàng Bạc có những cửa hàng bán đồ mã dùng trong
tang lễ như nhà táng, hình nhân. (Phố Hàng Mã này có trước phố Hàng Mã ở chợ Đồng Xuân,
nên sau khi phố Hàng Mã ở khu chợ Đồng Xuân xuất hiện, người ta thường gọi phố Hàng Mã ở
gần phố Hàng Bạc này là “phố Hàng Mã dưới” để phân biệt với “phố Hàng Mã trên” ở chợ
Đồng Xuân, chuyên làm và bán những hoa giấy đèn giấy dùng trong tế lễ).
Về sau 2 phố Hàng Mã và Hàng Mây này được gộp lại thành phố Mã Mây.
Tên thời Pháp Thuộc là Rue des Pavillons noirs (phố Quân Cờ Đen) vì hồi Pháp đánh chiếm Hà
Nội, sau khi Đại úy Francis Garnier bị giết (1873) có 1 cánh quân Cờ Đen của Lưu Vĩnh Phúc
đóng ở phố này và phố Hàng Buồm.
Mã Vĩ (xem Hàng Nón)
Ngõ Gạch
Phố Ngõ Gạch tiếp liền phố Nguyễn Văn Siêu và đi ra gặp phố Hàng Đường.
Xưa là đất những thôn Hương Bài và Cổ Lương thuộc tổng Đồng Xuân, thôn Hương Nghĩa
thuộc tổng Phúc Lâm và thôn Dũng Thọ thuộc tổng Đông Thọ, đều trong phạm vi huyện Thọ
Xương cũ.
Phố này trước chuyên bán gạch ngói và vôi, nên thành tên. Trước khi Pháp đặt tên phố Án Sát
Siêu (tức phố Nguyễn Văn Siêu hiện tại) thì phố Ngõ Gạch bao gồm cả phố đó.
Tên thời Pháp Thuộc là Rue Des Briques (dịch từ tên tiếng Việt ra).
Phố Mới (xem Hàng Chiếu)
Phúc Kiến (xem Lãn Ông)
Thiên Tân (xem Hàng Gà)
Thợ Nhuộm (xem thêm Hàng Đào và Hàng Vải)
Phố Thợ Nhuộm từ phố Hàng Bông về hướng tây cho đến phố Hai Bà Trưng.
Xưa là đất thôn Đông Mỹ và Bích Lưu thuộc tổng Tiền Nghiêm (sau đổi thành tổng Vĩnh
Xương) huyện Thọ Xương.
Phố này vào thời Nhà Nguyễn có nghề nhuộm thâm. Thợ nhuộm là dân di cư đến từ những nơi
khác như làng Liêu Xá và Liêu Xuyên thuộc huyện Yên Mỹ tỉnh Hải Dương và làng Vân Hoàng
thuộc huyện Thường Tín, Hà Đông. Từ thời Pháp Thuộc, nghề nhuộm thất truyền vì không cạnh
tranh nổi với thuốc nhuộm công nghệ Tây phương do người Pháp đem sang.
Tên thời Pháp Thuộc là Rue Des Teinturiers (dịch từ tiếng Việt ra).
Thợ Tiện (xem thêm Hàng Hành)
Phố Thợ Tiện nối liền phố Hàng Gai và Cầu Gỗ, ở giữa phố Tô Tịch và phố Hàng Đào.
Xưa thuộc đất phường Đông Hà và phường Cổ Vũ tổng Tiền Túc (sau là tổng Thuận Mỹ) huyện
Thọ Xương.
Phố này có những cửa hàng nhỏ từ cuối thế kỷ 19 vừa tiện vừa bán những đồ thờ, mâm bồng,
đèn nến, ống hương, đài rượu, khuôn ván, mõ gỗ… Hàng gỗ tiện hoặc để mộc đen hoặc sơn son
kẻ chỉ vàng đắt giá hơn. Thợ tiện là người làng Nhị Khê huyện Thường Tín, Hà Tây. Về sau vì
cạnh tranh có nhiều cửa hàng khác nên phải dời sang phố Tô Tịch hay Hàng Hành.
Thuốc Bắc (xem thêm Hàng Bút)
Phố Thuốc Bắc đi từ phố Hàng Mã thông ra (nối liền) phố Hàng Thiếc.
Xưa là đất thôn Đông Thành Thị, tổng Tiền Túc (sau đổi là tổng Thuận Mỹ) huyện Thọ Xương
cũ.
Phố Thuốc Bắc khi xưa gồm 3 phố:
Từ đầu phía bắc đến phố Lãn Ông là phố “Hàng Quần Áo Cũ”.
Quãng giữa đến quá ngã ba phố Hàng Bút là phố “Hàng Quần Áo Mới”.
Quãng cuối là phố Hàng Bút.
có một số người ở làng Đa Ngưu (huyện Văn Giang tỉnh Bắc Ninh) sang đây mở hàng buôn
thuốc bắc nên đã thành tên phố.
Tên thời Pháp Thuộc trong bản đồ là Rue De Medicaments (tức là phố Thuốc Bắc).
Tràng Tiền
Phố Tràng Tiền đi từ đường Trần Quang Khải, giáp Viện Bảo Tàng Lịch Sử, qua phía bắc Nhà
Hát Lớn, rồi chạy thẳng đến đầu phố Hàng Khay.
Phố này sở dĩ thành tên là vì Triều Nguyễn vào năm 1813 đã lập xưởng đúc tiền (hay tràng
tiền) tại đây. Xưởng này có tên chữ là “Bảo Toàn Cục” ở vào địa phận ngõ Tràng Tiền và phố
Phạm Sư Mạnh hiện nay, mé tây giáp phố Ngô Quyền, mé nam giáp phố Lý Thường Kiệt, mé
đông giáp phố Phan Châu Trinh và mé bắc giáp phố Tràng Tiền.
Phố Tràng Tiền vốn thuộc địa phận làng Cổ Tân và làng Cựu Lâu thuộc tổng Phúc Lâm, huyện
Thọ Xương.
Tên thời Pháp Thuộc là Rue Paul Bert chạy dài cả phố Hàng Khay hiện tại cho đến ngã năm đầu
quãng trường nhà Hát Lớn; còn quãng tiếp theo cho đến đường Trần Quang Khải thì Pháp đặt là
Rue De France (Phố Pháp Quốc) vì đầu phố sát với khu vực nhượng địa đầu tiên mà triều đình
Huế ký cho Pháp vào năm 1873.
Sau thời Pháp Thuộc, phố Paul Bert chia lại ra phố Tràng Tiền và phố Hàng Khay; đổi phố Pháp
Quốc thành phố Đồn Thủy.
Ngõ Tràng Tiền song hành với phố Tràng Tiền về phía nam; đi từ phố Nguyễn Khắc Cần đến
phố Phan Châu Trinh. Ngõ này ở ngay phía bắc xưởng đúc tiền tức là Tràng Tiền cũ.
Tên thời Pháp Thuộc cho ngõ Tràng Tiền là Ruelle De La Sapèquerie (Ngõ Xưởng Đúc Tiền).
Phố theo Địa Danh ở Phố Cổ
Tên những Phố này lấy theo địa danh, thường không phải là phố công nghệ và thương mại (phố
nghề). Có tất cả 10 phố lấy theo địa danh.
Cầu Gỗ
Phố Cầu Gỗ nối liền phố Hàng Thùng với phố Hàng Gai.
Xưa thuộc thôn Gia Ngư phường Đông Hà tổng Đông Thọ (huyện Thọ Xương?).
Vào khoảng cuối thế kỷ 19, phía bắc phố này là 1 khu hồ ao ra tới phố Gia Ngư và sát phố Hàng
Bạc. Khu hồ ao này ăn thông ra Hồ Hoàn Kiếm nên người ta bắc “cầu gỗ” làm lối đi lại. Đến
thời Pháp Thuộc, Pháp lấp hồ dần dần mở phố nhưng cầu này vẫn còn tồn tại trong một thời gian
Tên thời Pháp Thuộc là Rue Du Pont En Bois (dịch từ tiếng Việt ra).
Cầu Gỗ còn dùng đặt tên cho 1 cái ngõ nối liền phố Trung Yên, đi từ phố Gia Ngư đến phố Cầu
Gỗ. Ngõ này trước đây là phố Cao Bá Nhạ.
Cầu Đông
Phố Cầu Đông đi từ phố Đồng Xuân đến gặp phố Nguyễn Thiện Thuật, chạy sát theo cạnh phía
nam của chợ Đồng Xuân. Phố này mới mở sau khi xây lại chợ Đồng Xuân (1886) và được đặt
tên (Cầu Đông) vào năm 1991. Tên được đặt theo Cầu Đông khi xưa bắc qua sông Tô Lịch (đã
bị lấp 100 năm về trước).
Ngày xưa các phố Nguyễn Siêu (Nguyễn Văn Siêu), Ngõ Gạch, Hàng Cá và Hàng Lược là lòng
sông Tô Lịch. Từ phố Hàng Đào và Hàng Ngang muốn lên (chợ) Đồng Xuân thì phải qua sông
Tô Lịch ở ngã tư Ngõ Gạch - Hàng Đường. Do đó từ xưa đã bắc một cây cầu đá qua sông Tô
Lịch này, gọi là Cầu Đông vì ở ngay cạnh chùa Cầu Đông (số 38 phố Hàng Đường) và cũng
gần Cửa Đông (Cửa chánh Đông) của thành Thăng Long đời nhà Lê. Có 3 làng mang tên Cửa
Đông này và Cửa Đông thời nhà Lê có tên là Cửa Đông Hoa. (Cửa Nam có tên là Cửa Đại
Hưng). Cầu Đông bắc ngang sông Tô Lịch không còn nữa vì sông Tô Lịch bị lấp từ năm
1884, do đó tên của nó được đặt tên cho phố (Cửa Đông) mới mở cách cây cầu cũ (Cầu Đông)
không xa.
Cửa Đông
Phố Cửa Đông tiếp liền phố Hàng Phèn, đi từ phố Hàng Gà đến gặp phố Lý Nam Đế rồi ăn sâu
vào trong thành (Hà Nội) gần đến đường Nguyễn Tri Phương. Phố này đi qua Cửa Đông của
thành Hà Nội, do đó thành tên.
Cửa Đông của thành Hà Nội bị quân Pháp phá hủy trong khoảng 1894-1897. Vị trí cũ của cửa
này ở vào khoảng ngã tư phố Cửa Đông với phố Phùng Hưng hiện nay.
Tên thời Pháp Thuộc là Avenue Général Bichot.
Phố Cửa Đông này ở chỗ Cửa Đông của thành Hà Nội cũ còn phố Cầu Đông ở gần chỗ Cửa
Đông của thành Thăng Long cũ.
Đường Thành
Phố Đường Thành đi từ phố Phùng Hưng đến phố Hàng Bông ăn thông ra phố Phủ Doản. Phố
cắt ngang phố Hàng Điếu và phố Hàng Da.
Xưa là đất thôn Đông Thành, tổng Tiền Túc (sau đổi là tổng Thuận Mỹ) huyện Thọ Xương cũ.
Phố này khi xưa là con đường đi vào Cửa Đông thành Hà Nội, do đó thành tên.
Tên thời Pháp Thuộc là Rue De Citadelle (dịch tên Đường Thành mà ra).
Hà Trung (xem Ngõ Trạm)
Ngõ Trạm
Phố Ngõ Trạm đi từ phố Đường Thành đến phố Phùng Hưng.
Xưa là đất thôn Yên Trung, tổng Tiền Nghiêm (sau là tổng Vĩnh Xương) huyện Thọ Xương. Tại
thôn này xưa kia đã đặt trạm Hà Trung.
Tên thời Pháp Thuộc là Rue Bourret.
Nhà Chung
Phố Nhà Chung đi từ cuối phố Nhà Thờ đến phố Tràng Thi.
Xưa kia là đất thôn Tiên Thị, tổng Thuận Mỹ, huyện Thọ Xương.
Tên thời Pháp Thuộc là Rue De La Mission (Phố “Hội Thừa Sai” hay phố “Hội Truyền Giáo”).
Hội Thừa Sai tức là Hội Truyền Bá Phúc Âm Paris (Mission d’Evangile De Paris).
Nhà Thờ
Phố Nhà Thờ đi từ phố Hàng Trống đến giữa phố Lý Quốc Sư và phố Nhà Chung.
Xưa kia là đất thôn Tự Tháp tổng Tiền Túc (sau là tổng Thuận Mỹ) huyện Thọ Xương nổi tiếng
với ngọn tháp Báo Thiên và ngôi chùa Báo Thiên, xây năm 1057 đời Lý Thánh Tông. Năm
1426, tháp Báo Thiên bị tướng nhà Minh là Vương Thông phá hủy. Chùa Báo Thiên còn lại đến
cuối năm 1883, Kinh Lược Bắc Kỳ là Nguyễn Hữu Độ theo ý của Công sứ Pháp là Bonnal phá
hủy chùa Báo Thiên và dâng đất cho Cố Puginier xây Nhà Thờ Lớn của Công Giáo La Mã. Nhà
Thờ này xây từ năm 1884 đến năm 1888.
Thọ Xương
Theo sách Hà Nội Sơn Xuyên Phong Tục thì Huyện lỵ của huyện Thọ Xương xưa kia ở phía
trong Cửa Đông của thành Hà Nội. Dưới thời Thiệu Trị mới dời về thôn Tiên Thị, tổng Thuận
Mỹ tức là khu phố bắc Nhà Thờ Lớn bây giờ gồm những phố Ấu Triệu, ngõ Huyện và ngõ Thọ
Xương.
Ngõ Thọ Xương hồi Pháp Thuộc có tên là Ruelle Père Dronet.
Yên Thái
Phố Yên Thái đi từ phố Hàng Mành đến phố Đường Thành.
Xưa là đất thôn Yên Thái tổng Thuận Mỷ huyện Thọ Xương. Hiện còn đình của thôn này ở số 8
ngõ Tam Thương gần đấy. Tại ngôi nhà số 24 của phố này có ngôi đình Chợ Thêu tên chữ là
Tú Đình Thị, thờ tổ sư nghề thêu là Lê Công Hành, người làng Quất Động, huyện Thường Tín,
tỉnh Hà Đông.
Tên thời Pháp Thuộc là Ruelle Yên Thái.
Phố theo nhân danh ở Phố Cổ
Tên những Phố này lấy theo nhân danh trong lịch sử, thường không phải là phố công nghệ và
thương mại (phố nghề). Có tất cả 20 phố lấy tên theo nhân danh trong lịch sử.
Cao Thắng
Phố Cao Thắng song hàng với phố Hàng Khoai về phía nam và đi từ phố Trần Nhật Duật đến
gặp đường Nguyễn Thiện Thuật.
Tên thời Pháp Thuộc là Rue Grappin.
Đào Duy Từ
Phố Đào Duy Từ đi từ cửa ô Đông Hà (chỗ tiếp giáp giữa phố Ô Quan Chưởng và phố Hàng
Chiếu) đến phố Lương Ngọc Quyến.
Thời Pháp Thuộc gồm có 2 phố:
Phố Sông Đào cũ (Rue de l’Ancient Canal) đi từ cửa Ô Đông Hà đến phố Hàng Buồm
Phố Đào Duy Từ đi từ phố Hàng Buồm đến phố Lương Ngọc Quyến.
Cũng có Ngõ Đào Duy Từ đi từ phố Đào Duy Từ đến phố Tạ Hiện. Ngõ này hồi Pháp Thuộc gọi
là Ngõ Sầm Công, sau đó trong thời kháng chiến có tên là phố Tôn Thất Yên.
Đinh Lễ
Phố Đinh Lễ đi từ phố Ngô Quyền đến phố Đinh Tiên Hoàng.
Tên thời Pháp Thuộc là Rue De Fourés.
Đinh Liệt
Phố Đinh Liệt tiếp liền với phố Tạ Hiện đi từ phố Hàng Bạc đến phố Cầu Gỗ.
Tên thời Pháp Thuộc là Rue O’dendhal.
Đinh Tiên Hoàng
Phố Đinh Tiên Hoàng đi sát cạnh bờ Hồ Hoàn Kiếm từ cuối phố Hàng Đào, chỗ tiếp giáp với
phố Cầu Gỗ đến cuối phố Tràng Tiền, đầu phố Hàng Bài.
Tên thời Pháp Thuộc là Boulevard Francis Garnier.
Phố Đinh Tiên Hoàng xưa kia có nhiều đền chùa di tích cổ đã bị Pháp phá hủy như chùa Liên
Trì, hiện nay chỉ còn tháp ở ven hồ Hoàn Kiếm. Hiện giờ cạnh phố này còn đền Ngọc Sơn và
đền Bà Kiệu là 2 thắng tích của Hà Nội.
Lãn Ông
Phố Lãn Ông đi từ cuối phố Hàng Đường và đầu phố Hàng Ngang đến gặp phố Thuốc Bắc. Phố
Lãn Ông nối liền phố Hàng Vải và phố Hàng Buồm.
Tên thời Pháp Thuộc là Rue Des Phúc Kiến (Phố Người Phúc Kiến).
Lê Thạch
Phố Lê Thạch ở cạnh vườn hoa Chí Linh, đi từ phố Ngô Quyền đến phố Đinh Tiên Hoàng.
Tên thời Pháp Thuộc là Avenue Chavassieux.
Lê Thạch là cháu kêu Lê Thái Tổ bằng chú. Ông tử trận năm 1421 trong cuộc khởi nghĩa Lam
Sơn.
Lê Thái Tổ
Phố Lê Thái Tổ đi từ phố Lương Văn Can chạy men theo Hồ Hoàn Kiếm đến phố Tràng Thi.
Tên thời Pháp Thuộc là Avenue Beauchamp.
Lương Ngọc Quyến
Phố Lương Ngọc Quyến đi từ đường Trần Nhật Duật đến phố Tạ Hiện.
Tên thời Pháp Thuộc là Rue Galet.
Lương Văn Can
Phố Lương Văn Can tiếp liền phố Hàng Cân và đi từ phố Hàng Bồ đến đầu phố Lê Thái Tổ, gần
bờ hồ Hoàn Kiếm.
Tên thời Pháp Thuộc là phố Lê Quý Đôn.
Lý Quốc Sư
Phố Lý Quốc Sư đi từ phố Hàng Bông đến phố Nhà Thờ.
Tên thời Pháp Thuộc là Rue Lamblot.
Lý Quốc Sư tên là Nguyễn Chí Thành, pháp hiệu là Minh Không (cũng có nơi gọi là Không Lộ
hoặc Khổng Minh Không), người làng Đàm Xá, huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình, trụ trì ở Chùa
Keo (huyện Vũ Tiên, tỉnh Thái Bình).
Lý Thái Tổ
Phố Lý Thái Tổ đi từ phố Lò Sũ đến phố Tràng Tiền, trước Nhà Hát Lớn của thành phố Hà Nội.
Tên thời Pháp Thuộc là Boulevard Amiral Courbet.
Ngô Quyền
Phố Ngô Quyền đi từ phố Hàng Vôi đến phố Hàm Long.
Tên thời Pháp Thuộc là Boulevard Henri Rivière.
Nguyễn Hữu Huân (Thủ Khoa Huân)
Phố Nguyễn Hữu Huân đi từ cột đồng hồ ở đường Trần Nhật Duật đến phố Lò Sũ.
Tên thời Pháp Thuộc là Rue Maréchal Pétain. Sau đó cho đến 1964, phố lần lượt có những tên
tạm thời là phố Bắc Ninh rồi phố Phan Thanh Giản.
Nguyễn Thiện Thuật
Phố Nguyễn Thiện Thuật ở phía sau chợ Đồng Xuân, và đi từ phố Hàng Khoai đến phố Hàng
Chiếu.
Tên thời Pháp Thuộc là Rue Lepage, sau đó tạm thời đổi là phố Tân Thuật cho đến 1964 thì có
tên Nguyễn Thiện Thuật.
Nguyễn Thiếp
Phố Nguyễn Thiếp đi từ phố Nguyễn Trung Trực đến phố Nguyễn Thiện Thuật.
Tên thời Pháp Thuộc là Rue Duranton.
Nguyễn Văn Siêu
Phố Nguyễn Văn Siêu xưa là dòng sông Tô Lịch chảy từ phố Ngõ Gạch xuống, qua phố Nguyễn
Văn Siêu này và phố Chợ Gạo rồi chảy ra Sông Hồng.
Tên thời Pháp Thuộc là Rue Án sát Siêu. (Án sát là chức của ông Nguyễn Văn Siêu). Sau đó có
tên là phố Phương Đình cho đến năm 1964 mới có tên phố Nguyễn Văn Siêu cho tới ngày nay.
(Phương Đình là tên hiệu của Nguyễn Văn Siêu).
Nguyễn Văn Tố
Phố Nguyễn Văn Tố ở vào khu chợ Hàng Da đi từ cuối phố Đường Thành đến phố Phùng Hưng.
Tên thời Pháp Thuộc là Rue Nguyễn Trãi.
Tạ Hiện
Phố Tạ Hiện đi từ phố Hàng Buồm đến phố Hàng Bạc và thông ra phố Đinh Liệt.
Tên thời Pháp Thuộc là Rue Géraud, nhưng dân chúng quen gọi là Ngõ Quảng Lạc, vì giữa phố
chật hẹp này có rạp hát Quảng Lạc (sau đổi tên là rạp Kim Lan) là 1 trong những rạp hát cũ nhất
của Hà Nội.
Trần Nguyên Hãn
Phố Trần Nguyên Hãn đi từ phố Đinh Tiên Hoàng đến đường Trần Quang Khải,
Tên thời Pháp Thuộc là Rue Balny.
Phố công nghệ và thương mại (Phố Nghề) không ở ngay trong Phố Cổ.
Phố công nghệ và thương mại (Phố Nghề) thường bắt đầu bằng chữ “Hàng”, thường không có
tên theo nhân danh hay địa danh và thường có tên theo công nghệ và thương mại đặc biệt của
phố. Có 9 phố công nghệ và thương mại không ở trong Phố Cổ đáng được chú ý.
Hàng Bột
Phố Hàng Bột đi từ phố Nguyễn Thái Học đến phố Nam Đồng.
Xưa là đất phường Thịnh Hào, tổng Hạ Huyện, huyện Vĩnh Thuận và đất Cổ Giám, thôn Văn
Hương, tổng Yên Hòa, huyện Thọ Xương.
Phố này hồi trước có nhiều nhà làm các thứ bột nếp, bột tẻ, cắt thành những thoi nhỏ rồi phơi
khô, đem bán, do đó thành phố.
Tên thời Pháp Thuộc là Rue Soeur Antoine.
Hàng Bột còn là tên một ngõ nối phố Hàng Bột với phố Phan Phù Tiên. Tên thời Pháp Thuộc
là Voie 205 (đường 205).
Hàng Bún
Phố Hàng Bún đi từ đường Yên Phụ đến phố Phan Đình Phùng.
Xưa là đất thôn Yên Ninh và thôn Yên Thành, tổng Yên Thành, huyện Vĩnh Thuặc cũ.
Thôn Yên Ninh xưa có nghề làm bún nổi tiếng, sợi nhỏ và trắng do đó có tên phố này.
Tên thời Pháp Thuộc là Rue Des Vermicelles (dịch từ tiếng Việt ra).
Hàng Cháo (xem thêm Hàng Hương)
Phố Hàng Cháo nối ngang phố Hàng Bột với phố Nguyễn Thái Học.
Xưa thuộc làng Yên Trạch tổng Yên Thành huyện Vĩnh Thuận.
Khu này xưa chuyên môn chẻ tăm hương và làm hương đen nên trong thời Pháp Thuộc còn có
tên là ngõ Hàng Hương. Nghề làm hương đen là nghề cổ truyền của làng Cổ Giám cũ gần khu
vực này. Còn ngõ Hàng Hương ở phố Phùng Hưng, nối ngang phố này với phố Lý Nam Đế
thì chuyên làm hương sạ.
Tên thời Pháp Thuộc là Voie 206 (đường 206), sau đổi là phố Bảng Nhãn Lê Quý Đôn). Từ sau
thời Pháp Thuộc mới đổi là phố Hàng Cháo vì có nhiều người bán cháo rong ở phố này.


Hàng Chuối
Phố Hàng Chuối đi từ phố Hàn Thuyên đến phố Phạm Đình Hổ.
Xưa là đất thôn Hữu Vọng tổng Hậu Nghiêm (nay là tổng Thanh Nhàn), huyện Thọ Xương cũ.
Phố này trước kia là một cái hồ gọi là hồ Hữu Vọng được lấp đi. Bờ hồ có trồng nhiều cây
chuối, sau mở thành đường nên dân chúng quen gọi là phố Hàng Chuối.
Tên thời Pháp Thuộc là Rue Général Beylié.
Hàng Cỏ
Ngõ Hàng Cỏ đi từ phố Trần Hưng Đạo, ở gần cửa ga Hà Nội vào, là ngõ cụt.
Xưa là đất thôn Yên Tập, tổng Tiền Nghiêm (sau là tổng Vĩnh Xương) huyện Thọ Xương cũ.
Tương truyền ở nơi này, hồi chưa xây dựng nhà ga, có nhiều người thường gánh cỏ tới bán để
đưa vào thành cho voi và ngựa ăn; do đó thành tên là Hàng Cỏ và ga Hà Nội cũng được dân
chúng gọi là Ga Hàng Cỏ.
Tên thời Pháp Thuộc là Cité Chân Hưng (Xóm Chân Hưng).
Hàng Hương (xem thêm Hàng Cháo)
Ngõ Hàng Hương đi từ phố Phùng Hưng đến phố Lý Nam Đế.
Xưa là đất Nhân Nội tam thôn, tổng Tiền Túc (sau là tổng Thuận Mỹ) huyện Thọ Xương.
Ngõ này có tên bắt đầu từ đầu thế kỷ 20, do một số người có nghề làm hương lập cơ sở sản xuất
ở nơi này. Hồi đó những người làm quê ở làng Đông Lỗ, huyện Kim Động tỉnh Hưng Yên.
Nghề này có từ cuối thế kỷ 19 do bà Đào Thị Cương bị quân Cờ Đen bắt về Trung Quốc, học
được nghề làm hương nên lúc trở về quê nhà bà đã đem dạy cho người trong làng, sau đó ta
không phải mua loại hương này của Trung Quốc.
Tên Ngõ thời Pháp Thuộc là Cité Maréchal Joffre (Xóm Thống chế Joffre).
Trước đây Hà Nội có một Ngõ Hàng Hương nữa tức là phố Hàng Cháo, chuyên sản xuất loại
hương cổ truyền là hương đen.
Hàng Than
Phố Hàng Than đi từ phố Yên Phụ đến chỗ nối phố Hàng Đậu và phố Quan Thánh.
Xưa là đất thôn Hoè Nhai (còn có tên gọi chệch là Hòa Giai), thôn Yên Thuận và thôn Thạch
Khối, tổng Yên Thành huyện Vĩnh Thuận. Thôn Hoè Nhai sau đổi tên là thôn Giai Cảnh.
Phố này xưa là thôn Thạch Khối làm nghề nung vôi, trong phố có nhiều nhà bán than nên dân
chúng quen gọi là phố Hàng Than.
Tên thời Pháp Thuộc là Rue Du Charbon (dịch từ tiếng Việt ra).
Hiện ở số 54-56 của phố này có một ngôi đình là đình thôn Giai Cảnh và ở số 19 là một ngôi
chùa nổi tiếng là chùa Hòe Nhai (hoặc Hòa Giai), tên chữ là Hồng PhúcTự.
Lò Đúc
Phố Lò Đúc từ cuối phố Phan Châu Trinh đến đường Trần Khát Chân.
Xưa là đất các thôn Phương Viên, Cảm Hội và Lương Yên thuộc tổng Hậu Nghiêm (sau đổi
thành tổng Thanh Nhàn) huyện Thọ Xương cũ.
Tương truyền hồi cuối nhà Lê, tại phía bắc phố này có những lò đúc các thứ nồi, chảo nên nửa
phố phía bắc thường được gọi là phố Lò Đúc; còn nửa phố phía nam thì dân chúng quen gọi là
phố Lương Yên (tên làng Lương Yên ở đây) hay là phố Đống Mác, lấy tên một cửa ô cũ của
kinh thành Thăng Long. Ô Đống Mác hay Ô Thanh Lãng (tên làng cũ) chính tên cũ là Ô Ông
Mạc (theo bia ở chùa Thanh Nhàn).
Tên thời Pháp Thuộc là Boulevard Armand Rousseau.
Lò Lợn
Ngõ Lò Lợn là một ngõ ở cuối phố Bạch Mai về phía dãy nhà số lẻ, gần sát chợ Mới Mơ ở Ngã
tư Trung Hiền.
Vào khoảng trước năm 1942 có một lò mỗ lợn ở trong ngõ này. Lò Lợn này đã bị bỏ ngay từ hồi
Nhật Thuộc.
Kết Luận
Hà Nội Phố Cổ (và Hà Nội 36 Phố Phường) thật sự nằm trong huyện Thọ Xương. Huyện Thọ
Xương còn được biết đến qua 4 câu thơ:
Gió đưa cành trúc la đà
Tiếng chuông Trấn Vũ canh gà Thọ Xương
Mịt mù khói tỏa ngàn sương
Nhịp chày Yên Thái mặt gương Tây Hồ.
(Ca Dao)
Ngày nay, Phố Cổ Hà Nội là địa điểm thắng cảnh hàng đầu được nhiều du khách đến viếng
thăm.
THĂM HÀ NỘI (Nguyên bản)
Thủ đô Hà Nội cạnh sông Hồng
Du khách dừng chân một cuối Đông
Lẩn quẩn Ba Đình quanh Phố Cổ
Lang thang Hoàn Kiếm gặp hàng rong
Viếng vài hồ đẹp đà ưng ý
Thăm những chùa xưa được thỏa lòng
Viễn thị Long Biên, cầu lịch sử
Tìm xem Văn miếu nhớ Thăng Long.
(Phan Thượng Hải)
1/8/20
ĐÁO HÀ NỘI (Họa)
Nội Bài ra cửa thấy màu hồng
Phố Cổ chưa tàn vẫn kẹt đông
Hoàn Kiếm ba vòng khan chỗ đỗ
Cổ Ngư một khúc lắm người rong
Mấy chùm hoa sữa khơi hoài cảnh
Vài cốc bia hơi bớt chạnh lòng
Lại gặp sĩ phu ngồi tiếp chuyện
Bắc Hà ngọa hổ với tàng long.
(Phan Kim Thành)
1/22/26
Bs PHAN THƯỢNG HẢI biên soạn và giữ bản quyền
Bài viết này đăng lần đầu trong phanthuonghai.com mục Lịch Sử và Thơ Văn phần Sử Địa Việt
Nam.
Tài Liệu Tham Khảo:
Lược Sử Tên Phố Hà Nội (Lê Thước, Vũ Văn Sán, Vũ Văn Tỉnh, Trần Huy Bá và
Nguyễn Văn Minh) 1964.
Việt Nam Thi Văn Hợp Tuyển (Dương Quảng Hàm)
Văn Đàn Bảo Giám (Trần Trung Viên)
Google Wikipedia
Thơ Phan Thượng Hải - Cảnh Vật Việt Nam (Bs Phan Thượng Hải) - phanthuonghai.com
Bs PHAN THƯỢNG HẢI biên soạn và giữ bản quyền

CHÙA THIÊN MỤ Ở HUẾ
(Bs Phan Thượng Hải)
VIẾNG HUẾ
Ghé thăm viếng Huế, đất Thần Kinh
Thú vị đôi ngày chốn địa linh
Hiểu biết hoàng triều từ Đại nội
Làm quen ẩm thực tự cung đình
Hương giang lướt nhẹ qua Long Thọ
Thiên Mụ nhìn xa thấy Ngự Bình
Thán phục công trình lăng Khải Định
Cố tìm nhân kiệt, gặp O xinh.
(Phan Thượng Hải)
1/18/20
Chùa Thiên Mụ
*
Chúa Nguyễn Hoàng là người thành lập Nam Hà.
Cuối đời nhà Mạc, ông Nguyễn Kim (1468-1545) phò vua Lê Trang Tông ở Thanh Hóa mong chiếm lại đất nước từ nhà Mạc. Ông Nguyễn Kim bị hàng tướng nhà Mạc là Dương Chấp Nhất thuốc độc chết, binh quyền thuộc về rể là ông Trịnh Kiểm (1503-1570). Thái sư Trịnh Kiểm kiếm cớ định tội giết con của ông Nguyễn Kim là Nguyễn Uông. Đoan Quận Công Nguyễn Hoàng (em Nguyễn Uông) hỏi ý kiến ông Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm thì câu trả lời bất hủ là:
“Hoành Sơn nhất đái, vạn đại dung thân” (Hoành Sơn một dãy, muôn đời dung thân).
Ông Nguyễn Hoàng liền nhờ chị là Ngọc Bảo xin với chồng là ông Trịnh Kiểm vào trấn thủ đất Thuận Hóa (nam của Hoành Sơn) thì được chấp thuận.
Năm 1558, ông Nguyễn Hoàng (1525-1613) dẫn mấy ngàn dân quân vượt Đèo Ngang của Hoành Sơn vào Thuận Hóa (gồm tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị và Thừa Thiên bây giờ).
Năm 1569, ông kiêm nhiệm Trấn thủ Quảng Nam (gồm tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi và Qui Nhơn bây giờ)
Năm 1611 ông Nguyễn Hoàng vượt đèo Cù Mông (giữa Bình Định và Phú Yên) chiếm Phú Yên đến biên giới Tuy Hòa (Phú Yên) và Khánh Hòa (Nha Trang) bây giờ. Đèo Cù Mông là đèo hiểm trở nhất nước Việt dài 7 km, cao 245 m và dốc 9%. Nước Chiêm Thành chỉ còn Khánh Hòa (Nha Trang), Phan Rang và Phan Thiết.
*
Chúa Nguyễn Hoàng cũng đem Phật Giáo vào Nam Hà. Chùa Thiên Mụ, tiêu biểu của Phật Giáo Miền Trung, có nguồn gốc từ Chúa Tiên Nguyễn Hoàng.
Đây là từ ông Thái Văn Kiểm (trong sách "Đất Việt Trời Nam"):
Chùa Thiên Mụ hay là Linh Mẫu Tự. Tục truyền rằng, năm Tân Sửu (1601), Chúa Nguyễn Hoàng đi đến chỗ nầy thấy giữa đất bằng đột khởi lên một cái gò đất như hình đầu con rồng ngoảnh lại, trước có sông sau có hồ, cảnh trí tốt đẹp. Nhân hỏi người ở đây thì được đáp rằng: "Gò ấy rất linh dị, tương truyền lúc xưa có người vào ban đêm thấy một bà già mặc áo đỏ quần lục ngồi trên đỉnh gò mà nói rằng rồi đây sẽ có chân chúa đến lập chùa ở nơi nầy để tụ linh khí mà bền long mạch. Nói xong thì bà ấy biến mất. Nhân thế dân chúng mới gọi cái gò ấy là núi Thiên Mụ". (Mụ=Bà). Chúa Nguyễn Hoàng thấy chỗ đất có linh khí nên lập chùa đặt tên là chùa Thiên Mụ.
.....
Vua Thiệu Trị (1841-1847) cho dựng thêm tháp có 7 tầng gọi là tháp Tu Nhàn, sau đổi tên là tháp Phúc Duyên. Mỗi tầng thờ 1 đức Phật, tầng cao nhất thờ Phật Thích Ca. Chùa Thiên Mụ là một thắng cảnh thuộc làng Kim Long.
......
Từ trong chùa tỏa ra mùi hương ngào ngạt, vọng lại giọng kệ kinh của các vị tăng già cùng tiếng hát câu hò của các cô gặt lúa:
Tiếng chuông Thiên Mụ dặn dò
Em đi cảnh vắng hẹn hò cùng ai?
Và từ bên kia sông trên đồi Long Thọ Cương, tiếng gà gáy xa đưa:
Gió đưa cành trúc la đà
Tiếng chuông Thiên Mụ, canh gà Thọ Cương.
Đi qua Thiên Mụ chừng 300 thước thì có Thánh Miếu hay Văn Miếu. do vua Gia Long dựng nên năm 1808 để thờ Đức Khổng Tử, 4 vị hiền triết môn đệ, 72 triết gia cùng 120 hiền nhân quân tử đời xưa.
(Cương = sống núi = phần nổi cao ở giữa núi)

Tháp Phước Duyên
CHÙA THIÊN MỤ
Thần thoại khởi đầu tự Chúa Tiên
Thần kinh nổi tiếng chốn linh thiêng
Tương lai tín ngưỡng ngài Di Lạc
Hiện tại tôn thờ tháp Phước Duyên
Cổ tự thanh cao luôn tĩnh tịnh
Chúng sanh chiêm bái hết ưu phiền
Tiếng chuông Thiên Mụ vang trần thế
Thức ngộ thành tâm đến cửa Thiền.
(Phan Thượng Hải)
1/20/20
Huế
Theo Việt Nam Sử Lược của Trần Trọng Kim là quyển sử đầu tiên viết bằng chữ Quốc Ngữ vào đầu thế kỷ 20:
Ngài (Vua Gia Long Nguyễn Phúc Ánh) xưng Đế hiệu, đặt quốc hiệu là Việt Nam và đóng Kinh đô ở Phú Xuân tức là kinh thành Huế bây giờ. Tên “Huế” được bắt đầu từ VNSL, nó là đọc trại từ "Hóa" của "Thuận Hóa"?
Sau khi vượt Hoành Sơn vào Nam, chúa Nguyễn Hoàng đặt dinh thự ở Ái Tử (nay gọi là Kho Cây Khế, thuộc huyện Đăng Xương, Quảng Trị).
Năm 1626, chúa Nguyễn Phúc Nguyên trước là Trấn thủ Quảng Nam nên đời dinh Phủ Chúa về làng Phước Yên và làng Bác Vọng (nay thuộc huyện Quảng Điền, Quảng Nam).
Năm 1636, chúa Nguyễn Phúc Lan dời về làng Kim Long (thuộc Tp Huế bây giờ).
Tháng 7 năm 1687, chúa Nghĩa Nguyễn Phúc Trăn (Thái) dời dinh về làng Phú Xuân (thuộc Tp Huế).
Năm 1712, Quốc chúa Nguyễn Phúc Chu dời về lại làng Bác Vọng (Quảng Nam).
Năm 1739, chúa Vũ Vương Nguyễn Phúc Khoát dời về lại Phú Xuân.
Từ đó Phú Xuân lại là kinh đô của vua Quang Trung và vua Cảnh Thịnh và sau cùng của nhà Nguyễn từ vua Gia Long đến vua Bảo Đại (1945).
HUẾ
Gia Long thống nhất cả giang san
Thiết lập Thần kinh lúc khải hoàn
Thuận Hóa địa danh khai Việt Quốc
Ngự Bình địa lợi trải Hương Giang
Trường tiền Thành thái người hiền thục
Thiên mụ Phước duyên chốn mỹ an
Nối tiếp Phú xuân tồn lịch sử
Huế thơ mộng đẹp với thời gian.
(Phan Thượng Hải)
3/22/26
Cầu Trường tiền khi trước có tên (theo vua) Thành thái. Chùa Thiên mụ có tháp Phước duyên ở cửa trước. Phú Xuân là tên trước của Huế, trong thời Chúa Nguyễn và nhà Tây Sơn. Những địa danh Thuận hóa, Ngự Bình, Thành thái, Phước duyên và Phú Xuân mang ý nghĩa tốt cho Huế.
Bs PHAN THƯỢNG HẢI biên soạn
__________________
3 Loại Thơ : Thơ Con Cóc, Thơ Con Nhái và Thơ Con Ếch
BA LOẠI THƠ
(Bs Phan Thượng Hải)
Có nhiều Loại Thơ nhưng có 2 Loại Thơ chánh tùy theo Thi nhân Làm Thơ: Thơ Con Cóc và Thơ Con Nhái.
THƠ CON CÓC (Nguyên bản)
Thơ như con cóc cũng là thơ
Trực tiến thanh cao vượt bá vơ (*)
Đúng luật thi văn luôn cẩn thận
Thẳng đường thi vận chẳng ơ thờ
Cóc cần vị lợi, hòa tình ý
Cóc muốn thành danh, thỏa ước mơ
Linh động thi nhân cùng nhảy nhót
Thơ như con cóc dậy hồn thơ.
(Phan Thượng Hải)
2/20/26
(*) Chú thích: Con Cóc đều nhảy thẳng tới trước (= trực tiến) và nhảy rất cao so với sức lực suy ra từ thân thể của nó, theo khoa học gia (= thanh cao).
THƠ CON NHÁI (Tự họa 1)
Thơ như con nhái cũng nên thơ
Khỏi phải suy tư nghĩ vẩn vơ
Nhái tựa danh nhân, người kính nể
Nhái theo sáo ngữ, chúng tôn thờ
Từ chương ước lệ sầu thương nhớ
Lãng mạn văn hoa thú mộng mơ
Nối nghiệp thi hào đường chính thống
Thơ như con nhái, nhái thành thơ!
(Phan Thượng Hải)
2/20/26
Có nhiều người ủng hộ Thơ Con Cóc:
DÙ …, (Họa)
Đôi khi ngờ nghệch ngỡ ngon thơ
Cũng mới mon men ngưỡng …vất vơ
Có lúc đầu đau vì ý cạn
Lại lần xơ tóc bởi tâm … thờ
Ước người chỉ vẻ thăng hoa cấp
Bừng sáng mộng thơ đẹp tựa mơ
Mong mỏi từng ngày thơ đậm chất
Dù thơ non nớt vẫn là …thơ!
(Phượng Hồng)
2/24/26
THƠ CÓC CŨNG LÀ THƠ (Họa)
Con cóc vì sao cũng thích thơ?
Gìn câu ưng ý tránh vu vơ.
Cố công mài vận cho thanh thản,
Gắng sức vùi nghiêm tránh thẩn thờ.
Lắm kẻ móc moi chê ý nhạt,
Nhiều tay bất mãn phủi dòng mơ.
Một mình tự kiếm nguồn thân cận,
Mặc kệ cóc cần chỉ có thơ.
*
Vui nguồn cảm hứng cạnh bên thơ!
(Hồ Nguyễn)
2/25/26
Có Thi nhân có nhận xét lạ:
THƠ NGÂM NHƯ ẾCH (Họa)
Ngâm như tiếng ếch cũng ngâm thơ!
Đáy giếng sầu rên điệu vẩn vơ
Trăng Thượng Nguyên đêm rằm luống nhớ
Giọng đờn ca kẻ thương người thờ
Quê nhà ơi thuở vẫn xưa đó
Bài vọng cổ còn hoài giấc mơ
Người xứ xa tình già chớ nỡ
Quên sau hè tiếng ếch ngâm thơ!
(Hải Rừng)
2/25/26
Do đó suy ra còn có thêm Thơ Con Ếch:
THƠ CON ẾCH (Tự họa 2)
Tương tự ếch ngồi xướng vịnh thơ
Đang khi tỉnh tọa lúc bơ vơ (*)
Trông trời tròn trịa hồn lơ lửng
Thấy đáy cạn sâu ý thẫn thờ
Dưới giếng cô đơn, thương tiếc nhớ
Trên đầu hy vọng, mộng sầu mơ
Không gian tĩnh tọa hằng tri túc
Tình tứ thong dong nhã vận thơ.
(Phan Thượng Hải)
2/25/26
(*) Chú thích:
Tỉnh = (cái) Giếng.
Từ những câu tục ngữ: Ếch ngồi đáy giếng. - Ếch ngồi đáy giếng, coi trời bằng vung. - Ếch ngồi đáy giếng, thấy bao lăm trời.
Có người có thể lẫn lộn “Thơ Con Cóc” với “Thơ Con Cóc của Petrus Ký” trong Truyện “Ba Anh Dốt Làm Thơ” của ông Petrus Ký.
BA ANH DỐT LÀM THƠ
(Petrus Ký)
Có ba anh học trò dốt ngồi nói chuyện với nhau. Mới nói: Mình tiếng con nhà học trò mà không có làm thơ làm phú với người ta thì té ra mình dở lắm. Mấy người kia mới nói phải. Hè nhau làm ít câu chơi.
Anh thứ nhất thấy con cóc ở trong hang nhảy ra, mới làm câu mở như vầy: Con cóc trong hang con cóc nhảy ra.
Người thứ hai tiếp lấy: Con cóc nhảy ra con cóc ngồi đó.
Người thứ ba: Con cóc ngồi đó con cóc nhảy đi
Lấy làm hay lắm. Rồi nghĩ lại giựt mình, vì trong sách nói: Hễ học hành giỏi thì sau cũng phải chết. Cho nên tin như vậy mới biểu thằng tiểu đồng ra đi mua ba cái hàng đất để dành cho sẵn đó.
Tiểu đồng lăng căng đi mua, ghé ra quán uống nước ngồi xớ rớ đó. Có anh kia hỏi nó đi đâu? Mua giống gì? Thì nó nói: Ba thầy tôi thông minh trí huệ, làm thơ hay lắm, sợ lời sách quở, có khi không sống, nên sai tôi đi mua ba cái hòm.
- Mầy có nghe họ đọc thơ ấy không?
- Có
- Mà có nhớ nói lại nghe chơi, coi thử sức nó hay làm sao?
Thằng tiểu đồng mới nói: Tôi nghe đọc một người một câu như vầy:
Con cóc trong hang con cóc nhảy ra
Con cóc nhảy ra con cóc ngồi đó
Con cóc ngồi đó con cóc nhảy đi
Anh kia nghe tức cười nôn ruột, mới nói với tiểu đồng:
- Mầy chịu khó mua giùm cho tao một cái hòm cho luôn trót thể
Tiểu đồng hỏi: Mua làm chi?
Lão nọ mới nói: Tao mua hờ để đó, vì tao sợ tao cười lắm, có khi cũng chết theo ba thầy làm thơ đó nữa.
Tuy nhiên "Thơ Con Cóc của Petrus Ký" không phải là Thơ:
THƠ CON CÓC CỦA PETRUS KÝ (Tự họa 3)
Thơ như con cóc nhảy ra thơ
Ngồi đó, nhảy đi, chỉ vất vơ
Thi sĩ bất tài từ biếng học
Thi hào nổi tiếng tự riêng thờ
Thơ thì thất luật vô tình ý
Thơ lại không vần thiếu mộng mơ
Đừng bắt chước theo Petrus Ký
Ba câu thơ cóc, cóc là thơ!
(Phan Thượng Hải)
3/6/26
Bs PHAN THƯỢNG HẢI biên soạn
_________________________
BẢN VỌNG CỔ
(Bs Phan Thượng Hải)
Bản Vọng Cổ, trước hết có tên là Dạ Cổ, do ông Cao Văn Lầu tục gọi là Sáu Lầu ở Bạc Liêu sáng chế hồi năm 1920 lúc ông 30 tuổi (3 năm sau khi Cải Lương ra đời vào năm 1917).

Ông cưới vợ được 10 năm nhưng không có con nên cha mẹ ông buộc phải cưới vợ khác vì sợ tuyệt tự. Ông buồn rầu quá không muốn làm ăn gì nữa. Ban ngày ra ngoài đồng, ông nghiền ngẫm những lời vợ ông nói trước khi chia tay, ông vẫn biết đờn cổ nhạc nên trong tâm trạng người chồng đau khổ trước cảnh gia đình tan rã, ông cảm hứng tạo ra bản nhạc 20 câu gọi là “Dạ Cổ Hoài Lang” (Đêm khuya nghe tiếng trống nhớ chồng) có ý để kỷ niệm tâm tình của vợ ông đối với ông. Về sau bản nhạc ấy đổi tên là “Vọng Cổ Hoài Lang” (= Trông mối tình xưa mà nhớ
đến chồng) cho rộng nghĩa hơn.
Tuy nhiên, sau khi ông Sáu Lầu sáng tác bản Vọng Cổ đầu tiên nầy thì Vợ của Ông thụ thai và sau đó Ông Bà ăn ở với nhau có tất cả 6 người con (và hình như ông Sáu Lầu không có vợ nàokhác).
Đây là lờ i bản "Dạ Cổ Hoài Lang" nguyên thủy của ông Sáu Lầu sáng tác hồi năm 1920 (có 20 câu):
DẠ CỔ HOÀI LANG (Nhịp Đôi)
1. Từ là từ phu tướng
2. Bửu kiếm sắc phong lên đàng
3.Vào ra luống trông tin chàng,
4. Đêm năm canh mơ màng,
5. Em luống trông tin nhàn,
6. Ôi, gan vàng quặn đau.
7. Đường dầu xa ong bướm,
8. Xin đó đừng phụ nghĩa tào khang.
9. Còn đêm luống trông tin bạn,
10. Ngày mỏi mòn như đá vọng phu,
11. Vọng phu vọng, luống trông tin chàng,
12. Lòng xin chớ phụ phàng.
13. Chàng hỡi, chàng có hay,
14. Đêm thiếp nằm luống những sầu tây.
15. Biết bao thuở đó đây xum vầy,
16. Duyên sắt cầm đừng lợt phai.
17. Thiếp cũng nguyện cho chàng,
18. Nguyện cho chàng hai chữ bình an.
19. Mau trở lại gia đàng,
20. Cho én nhạn hiệp đôi.
Bản Vọng Cổ nguyên thủy nầy ca giọng Bắc (đã biến thể), nhịp đôi và có 20 câu (mỗi câu có khoảng 6,7 chữ) được thông dụng từ 1920 cho đến 1926.
Sau đó bản Vọng Cổ tăng nhịp, xuống 12 câu rồi 6 câu và thêm chữ (cho mỗi câu) cho đến khoảng đầu thập niên 1950s thì đã thành bản Vọng Cổ hiện tại (rất được ưa chuộng) ca giọng Nam (có pha hơi Oán), nhịp 32 hay 64 và có 6 câu (mỗi câu có số chữ lên đến 60,70 chữ).
Năm 1920: ông Sáu Lầu sáng chế bản Vọng Cổ nhịp đôi 20 câu.
Năm 1927: soạn giả kiêm nghệ sĩ Năm Châu (Nguyễn Thành Châu) đổi thành nhịp tư 12 câu.
Năm 1936: nghệ sĩ Năm Nghĩa (Lư Hòa Nghĩa) đổi thành nhịp tám 6 câu. Câu có nhiều chữ hơn nên ca chậm và ngân nga nhiều ở mấy chữ cuối câu.
Năm 1946: nghệ sĩ Út Trà Ôn (Nguyễn Thành Út) đổi thành nhịp 16, 6 câu với lối ca nhịp nhàng hơn.
Năm 1955: soạn giả Viễn Châu (tức nhạc sĩ Bảy Bá) đổi thành nhịp 32 6 câu với số chữtrong câu tăng nhiều hơn.
Ông Bảy Bá là một thi sĩ kiêm nhạc sĩ nên những bài ca của ông soạn rất dễ ca và ý tứ dồi dào câu văn điêu luyện gọn gàng hấp dẫn. Bài ca của ông xuất bản rất nhiều và giới mộ điệu thườngtặng cho ông danh hiệu “Vua soạn Vọng Cổ”. Năm 1965: soạn giả Viễn Châu lại đổi thêm ra nhịp 64 6 câu bắt đầu áp dụng cho những bài Vọng Cổ hài hước của ông (thường do Hề Văn Hường ca). Tuy ca sĩ ca nhịp 64 nhưng đờn nhịp 128 vì mấy cái láy của bài ca người đờn ni bằng chơn trái nên nhịp chẻ bằng hai số nhịp của bài ca. Còn nhịp chánh ni bằng chơn mặt.
Ngoài việc đổi thành nhịp 16, nghệ sĩ Út Trà Ôn còn lồng vào câu Vọng Cổ những điệu Hò hay điệu nói thơ Vân Tiên…Do đó ông được tặng danh hiệu “Đệ nhứt danh ca miền Nam”. Đến năm 1964, soạn giả Cổ Nhạc cho lồng vào câu Vọng Cổ những điệu Tân Nhạc. Năm 1965 có nhữngbản Vọng Cổ mới gọi là “Tân Cổ Giao Duyên”.
Thường trong tuồng Cải Lương, khi một người ca dứt 1 câu Vọng Cổ, nhằm nhịp Song Lang chót rồi thì đờn nhồi 12 nhịp hoặc 8 nhịp mới bắt qua câu kế. Trong khoảng đờn nhồi nầy vai tuồng không ca. Vậy để tránh cho khỏi “nguôi” tuồng, soạn giả thường cho vai đối thoại nói lối thêm 1 câu ngắn gọi là “Nói lối giặm” đặng trám vào khoảng trống nầy, rồi người ca mới bắt qua câu Vọng Cổ kế.
Để giúp nghệ sĩ “vô” Vọng Cổ (trước câu 1 hay câu 4 hoặc 5), soạn giả thường áp dụng nhiều phương pháp khác nhau để “gối đầu” bản Vọng Cổ:
Dùng những bản ngắn cổ điển: Sơn Đông Hướng Mã, Cao Phi, Giang Tô, Thủ Phong Nguyệt, Hướng Mã Hồi Thành, Lý Con sáo, Lưu Thủy Hành Vân…
Dùng câu lối văn xuôi.
Dùng câu lối văn vần (dùng đủ thể thơ mới hay cũ).
Dùng bản Tân nhạc mới chế có đệm nhạc hay ngâm Tao Đàn.
Dùng bản Tân Nhạc có sẵn (Tân Cổ Giao Duyên). Phương pháp nầy chỉ có cho dĩa hát chớ không thể dùng trong tuồng Cải Lương.
Nốt nhạc dùng trong câu vọng cổ khác nhau giữa giọng Kép và giọng Đào và cũng tương đương với nốt tân nhạc:
Giây Kép: Hò Xự Xang Xê Cóng
La Si Ré Mi Fa
Giây Đào: Hò Xự Xang Xê Cóng
Mi Fa La Si Do
Khi còn 20 câu, mỗi câu phải chấm dứt với 1 nốt nhứt định nhưng khi thêm chữ và xuống số câu (bây giờ là 6 câu) thì hình như không bắt buộc nữa.
Bản Vọng Cổ bắt đầu là điệu tâm tình buồn nhưng nó còn dùng trong những trường hợp khác cho đến cả hài hước như “Vọng Cổ hài hước” của Hề Văn Hường. Cách ca Vọng Cổ cũng cảitiến vào thời VNCH ngoài cách thông thường và theo kiểu Út Trà Ôn còn có theo kiểu Minh Cảnh (Minh Phụng và Minh Vương) hay kiểu Thanh Sang…
Bài Hát của những Điệu Cải Lương thông dụng:
Điệu Sơn Đông Hướng Mã
Lúc nguy biến nên bền tâm
Anh dũng chớ sờn gan
Làm sao ngày sau còn ghi
Dẫu hoạn nạn, nên nghe lời em phân cạn
Hiếu trung giữ tròn
Muôn đời lưu truyền.
Điệu Sơn Đông Hướng Mã
(Giọng Nam)
Sao em đứng một thành hai
Ngực thấp cái bụng cao
(Giọng Nữ)
Hay là chàng nghi rằng em đã thọ thai
(Giọng Nam)
Vợ chồng cách biệt mà nàng thọ thai được
Thiệt là giỏi, giỏi vô cùng
Đồ bạo tàn lăng loàn.
Điệu Lưu Thủy Hành Vân
(Giọng Nam)
Sương trắng nhuộm rừng phong vấn vương
Đưa tiễn em lên đường
Nam Sơn đây chốn chia tay phản hồi gia trang
Hoa lá bay rơi rụng theo dòng
(Giọng Nữ)
Oanh yến vang lời ca tiễn đưa
Đôi mắt hoen lệ mờ
Bao phen toan nói với ai những điều mai sau
Nhưng bỗng dưng em lại nghẹn ngào.
Điệu Lưu Thủy Hành Vân
Trông vó ngựa đường xa ruổi giung
Sương trắng rơi chập chùng
Lên yên, thân thiếp xông pha đâu nài quan san
Nong nả sao cho gặp mặt chàng
Nghe tiếng nhạc chìm trong gió sương
Ai mải mê trên đường
Phu lang! Ôi hỡi Phu lang mau dừng cương yên
Cho thiếp đây tâm sự phân trần.
Điệu Lý Con Sáo
Hoa bay theo, gió cuốn rụng đầy sân rêu
Nhìn hoa tàn rụng rơi
Lan bâng khuâng tê tái tâm hồn
Bởi bao cay đắng dập dồn
Tình đầu vừa tan theo khói sương
Lan khóc than trong tháng năm sầu thương
Mùi thiền đành quen câu muối dưa
Mong lãng quên khổ đau ngày xưa.
Điệu Cao Phi
Lòng nầy xót thương
Nhưng bởi vì bổn phận phải đành
Kìa là nước non
Đường nguy biến phải cảnh chia ly
Con nên yên tâm vững trí
Đợi chờ cho đến chiến thắng
Lứa đôi sẽ thành
Vui chung hưởng những điều vinh hoa.
Vọng Cổ (bài Gánh nước đêm trăng, câu 4-6):
- Câu 4:
(Ca Tân nhạc)
Đêm nay vầng trăng khuya
Như mơ màng lẻ bóng
Bên giếng xưa bơ vơ
Mình tôi thẫn thờ trông ngóng
Ai nỡ quên câu thề ngày nào
Đành sang ngang giữa ngày ly cách
Tôi quay về lòng vương vấn tơ tình
(Vô Vọng Cổ)
Ba năm sau tôi trở về quê cũ gánh nước đêm trăng để tìm lại kẻ chung tình…
Quảy gánh lên vai tôi thờ thẫn một mình. Nước giếng trong leo lẻo soi rõ bóng hình tiều tụy của tôi. Tiếng gà đã gáy tan canh. Trăng mười sáu đã nhô khỏi đầu khóm trúc. Tôi ngồi một mình bên đôi gào nước lòng bâng khuâng chưa vội bước chân về.
- Câu 5:
Nước giếng trong như khối tình trong trắng tự ngàn xưa thệ chẳng phai mờ. Cớ sao em bước sang ngang không đợi không chờ. Chồng của em ở miền đô thị lại là người tốt mã giàu sang còn tôi thì mặt nám da đen bởi mưa nắng của rừng sâu núi thẳm sau ba năm trở về quê với đôi bàn tay trắng biết bán cho ai mua một tấm chung tình.
(Hò)
Hò ơ
Ai phụ tôi có đất trời chứng giám
Phận tôi nghèo đâu xứng đáng cùng ai
Tưởng giếng sâu tôi nối sợi dây dài
Hay đâu giếng cạn ờ Hò ơ
Hay đâu giếng cạn tôi tiếc hoài sợi dây
- Câu 6:
Trăng ơi trăng sáng làm chi khi tình tôi đang u tối. Nước giếng sâu trong vắt nhưng lòng của ai kia như vũng nước trong bùn. Đêm nay dưới ánh trăng khuya tôi lại thẫn thờ ra gánh nước
(Thơ)
Ngồi bên bờ giếng một mình
Có ai giải mối hận tình cho tôi.
Bs PHAN THƯỢNG HẢI biên soạn
Bài viết nầy là Trích đoạn của Bài “Lịch Sử và Nghệ Thuật Cải Lương” đăng lần đầu trong phanthuonghai.com mục Văn Hóa phần Nghệ Thuật và Tiêu Khiển.
Tài Liệu Tham Khảo:
1) Nghệ Thuật Sân Khấu Việt Nam (Trần Văn Khải).
2) Related articles from Google and Wikipedia.
__________________
THƠ YẾT HẬU
Bs Phan Thượng Hải biên soạn
a) Định Nghĩa
* Tự điển Đào Duy Anh (trang 414) viết:
Yết = hết.
Hậu = sau (đối với Tiền = trước).
Yết Hậu thi = Thơ Yết Hậu = Thể thơ tuyệt cú khôi hài , câu sau chót chỉ có 1, 2 chữ.
Thơ Tuyệt cú = Thơ Đường Luật Tứ Tuyệt, hoặc là Ngũ Ngôn (câu 5 ngôn từ, tức là 5 chữ hay 5
tự) hay Thất Ngôn (câu 7 ngôn từ, tức là 7 chữ hay 7 tự).
* Phép Làm Thơ của Diên Hương (trang 125 và 126) viết:
Thơ Yết Hậu là một biến thể của Thơ Đường Luật. Bài thơ thường có 4 câu (ĐL Tứtuyệt); 3 câu đầu đủ chữ: 7 chữ (thất ngôn) hoặc 5 chữ (ngũ ngôn); còn câu chót chỉ có 1 chữ vận mà thôi.
Thí dụ:
GIỮA LÚC BAN NGÀY SƯ GHẸO VÃI
Sư ghẹo vãi:
Chùa vắng có ai là!
Yêu nhau chút gọi là
Rủ nhau ra hậu uyển
ta...
Vãi mắng:
Lẳng lơ cái mặt như...
Cóc nhái cũng chẳng từ
Tu hành đâu có thế!
hư!
Tiểu tăng dọa:
Hôm qua có chuyện hay
Thầy ghẹo vãi ban ngày!
Bổn đồ không ai biết
may!
Sãi van:
Chú tiểu thật là ngoan
Chuyện thấy chớ nói càn!
Đêm rằm cho ăn oản
van!
(Vô Danh thị)
* Thi Pháp Thơ Đường của Quách Tấn (trang 376) viết:
Yết Hậu là một lối biến thể của Thơ Đường Luật: câu cuối chỉ có một chữ hoặc hai.
Lối nầy thường là Thơ Tuyệt cú.
Ví dụ:
Sống ở dương gian đánh chén nhè
Thác về âm phủ cắp kè nè
Diêm vương phán hỏi rằng chi thế?
- Be
(Phạm Thái)
Hăm ba ông táo dạo chơi xuân
Đội mũ mang hia chẳng mặc quần
Thượng đế hỏi sao ăn mặc thế?
- Duy tân
(Khuyết danh)
b) Kỹ Thuật của Bài Thơ theo thể Yết Hậu
Thơ Yết Hậu bắt đầu từ Phạm Thái (dùng chữ Hán Nôm) đến thi nhân chữ Quốc ngữ của thế kỷ20 và cuối cùng là thi nhân Internet của thế kỷ 21.
*
Bài thơ Yết Hậu lúc đầu thường có khuynh hướng gồm nhiều đoạn Tứ tuyệt 3 câu với câu thứ tư chỉ là một chữ vận mà thôi. Tuy nhiên bài thơ gồm nhiều đoạn đối thoại giữa những nhân vật khác nhau như "Cha con vợ chồng" hay "Tăng ni và tiểu trong chùa".
Bài 1:
CHA CON RƯỢU CHÈ CỜ BẠC
Cha mắng Con cờ bạc:
Ác lặn, xăm xăm tới
Gà kêu, lẻn lẻn về
Quan ngắn hết, quan dài hết
Ghê! ...
Con trách Cha nghiện rượu:
Một năm mười hai tháng
Một tháng ba mươi ngày
Hủ lớn cạn, hủ bé cạn
Say! ...
Vợ than nỗi Chồng Con:
Trông lên nhà đổ đoạn
Trông xuống vách tan rồi
Cha thế ấy, con thế ấy
Thôi! ...
(Phạm Thái)
Bài 2:
GIỮA LÚC BAN NGÀY SƯ GHẸO VÃI
Sư ghẹo vãi:
Chùa vắng có ai là!
Yêu nhau chút gọi là
Rủ nhau ra hậu uyển
Ta...
Vãi mắng:
Lẳng lơ cái mặt như...
Cóc nhái cũng chẳng từ
Tu hành đâu có thế!
Hư!
Tiểu tăng dọa:
Hôm qua có chuyện hay
Thầy ghẹo vãi ban ngày!
Bổn đồ không ai bi
May!
Sãi van:
Chú tiểu thật là ngoan
Chuyện thấy chớ nói càn!
Đêm rằm cho ăn oản
Van!
(Vô Danh thị)
Bài 3:
CHUYỆN VỢ CHỒNG
Vợ bảo Chồng:
Vai năm tấc rộng để làm chi
Tối tối ăn xong lại ngủ khì
Mình ơi thức dậy chiều em tí
Đi!
Chồng bảo Vợ:
Suốt ngày bận bịu với văn bài
Uể cả xương sườn nhức cả vai
Chuyện ấy đêm nay thôi gác lại
Mai!
Vợ bảo Chồng:
Văn bài chuyện ấy thật lông bông
Mình ráng chiều em kiếm chút bồng
Nay cứ hẹn mai, mai hẹn mốt
Không?
Chồng than:
Ngủ chung lắm chuyện bực mình sao
Mình muốn yên thân nó cứ gào
Nếu mà muốn chết, đây cho chết
Nào.
(Khuyết danh)
*
Tuy nhiên ông Phạm Thái cũng có làm bài thơ Yết Hậu với chỉ một đoạn Tứ tuyệt (có câu cuối là một chữ vận mà thôi):
Bài 4:
TỰ TRÀO
Sống ở dương gian đánh chén chè
Chết về âm phủ cắp kè kè
Diêm vương phán hỏi rằng chi đó
Be! ...
(Phạm Thái)
Bài 5:
CON LƯƠN
Cứ nghĩ rằng mình ngắn
Ai ngờ cũng giải đườn (*)
Thế lại còn chê chạch (*)
Lươn.
(Phạm Thái)
(*) Chú thích:
Giải đườn = nằm trải dài.
Chạch (Trạch) = giống như Lươn nhưng ngắn hơn (hay chui rúc trong bùn).
Ông Nguyễn Công Trứ cũng có để lại 2 bài thơ Yết Hậu có 1 đoạn với 1 chữ vận ở câu thứ 4:
Bài 6:
ĐÁNH TỔ TÔM
Tổ tôm tên chữ gọi hà sào (*)
Đánh thì không thấp cũng không cao
Được thì thu cả, thua thì chạy
Nào!
(Nguyễn Công Trứ)
(*) Chú thích: Hà Sào = ông tổ của con tôm (= tổ tôm).
Bài 7:
SAY RƯỢU ĐÁNH LONG THẦN
Hôm qua thường tới, tới chơi đây
Đánh vật long thần mấy cánh tay
Khi tỉnh thì nào ai có dám
Say!
(Nguyễn Công Trứ)
Thơ chữ Quốc ngữ của thế kỷ 20 cũng có bài thơ Yết Hậu có 1 đoạn như thơ chữ Hán Nôm của Phạm Thái và Nguyễn Công Trứ.
Bài 8:
GHẸO ÔNG DƯƠNG QUẢNG HÀM
Sống ở dương gian chỉ nuốt đàm
Chết về âm phủ nói làm nhàm
Diêm vương phán hỏi rằng ai đó
Hàm!!
(Học trò của GS Dương Quảng Hàm)
*
Ông Phạm Thái lại làm bài thơ Yết Hậu có nhiều Đoạn tuyệt cú (với 1 chữ vận ở câu thứ tư) nhưng không cần phải mượn sự đối thoại.
Bài 9:
BỢM RƯỢU (SAY RƯỢU NHÈ)
Sống ở nhân gian đánh chén khè
Trăm năm ngày thác giữ đầy be
Diêm vương phán hỏi rằng ai đó
Nhè! ...
Sống ở nhân gian đánh chén say
Trăm năm ngày thác giữ be đầy
Diêm vương phán hỏi rằng ai đó?
Say! ...
(Phạm Thái)
Bài thơ của Phạm Thái chỉ có 2 Đoạn, nhưng Bác sĩ Trương Ngọc Thạch lại có những bài thơ Yết Hậu không mượn đối thoại nhưng có nhiều Đoạn hơn nữa (và bằng chữ Quốc ngữ).
Bài 10:
CAY-MAY-SAY-BAY
Trong ngoài một tháng đến hôm nay
Tiễn biệt phân ưu tới lúc này
Mới thoáng ngó qua đà sáu bác
Cay.
Từ đầu năm mới tới hôm nay
Họp bạn phương xa đến lúc này
Đếm tới đếm lui vừa đủ bốn
May.
Bao năm tháng nữa kể từ nay
Còn được thấy nhau thế giới này
Chia sẻ buồn vui cùng bạn cũ
Say.
Bạn ơi nhớ kỹ cuối năm nay
Hội ngộ Cali của lớp này
Hãy cố về đây tham dự nhé
Bay (Bye).
(Hp-Trương Ngọc Thạch)
2/24/2017
Riverside, California
Bài 11:
HAPPY THANKSGIVING 2019
Ơn Trời cho sống đến hôm nay
Bão tố, gian nan cũng đủ đầy
Nhìn lại biết mình đà có phước
May!
Hoa Kỳ đã mở rộng bàn tay
Đón kẻ tha phương đến xứ này
Dân chủ tự do đầy đủ hưởng
Hay!
Thanksgiving, lễ Tạ Ơn này
Con cháu xum vầy, bạn hữu đây
Bàn tiệc gà Tây cùng rượu chát
Say!
Đón mừng ngày lễ lớn hôm nay
Gửi đến bạn hiền lời chúc này
Hạnh phúc, bình an và sức khỏe
Đầy!
(Trương Ngọc Thạch)
Thanksgiving 2019
Những bài thơ Yết Hậu từ ông Phạm Thái cho đến nay đều có tánh khôi hài (như Tự điển Đào Duy Anh đã viết). Tuy nhiên những bài thơ của Bác sĩ Trương Ngọc Thạch đã có sự thay đổi:
Thơ Yết Hậu cũng có nội dung nghiêm chỉnh.
*
Tất cả những bài thơ Yết Hậu tìm được trong văn học sử từ Phạm Thái, Nguyễn Công Trứ cho đến Bác sĩ Trương Ngọc Thạch đều dùng 1 chữ vận ở câu thứ tư của đoạn tuyệt cú; đúng theoluật của ông Diên Hương trong Phép Thơ.
Tuy nhiên theo ông Quách Tấn và Đào Duy Anh; thơ Yết Hậu còn có thể có 2 chữ ở câu thứ tư của đoạn tuyệt cú. Dĩ nhiên chữ sau hết trong 2 chữ nầy phải là chữ vận.
Ông Quách Tấn ra luật nên ông phải ra thí dụ. Cho tới năm 1975 chỉ có 1 bài thơ khuyết danh có 2 chữ ở câu thứ tư là thí dụ do ông Quách Tấn đưa ra trong sách Thi Pháp Thơ Đường của ông.
Bài 12:
ÔNG TÁO
Hăm ba ông táo dạo chơi xuân
Đội mũ mang hia chẳng mặc quần
Thượng đế hỏi sao ăn mặc thế?
Duy tân.
(Khuyết danh)
Sau 1975, có phong trào làm bài thơ Yết Hậu dùng 3 câu đầu có 5 chữ và câu thứ tư có 2 chữ gọi là Thơ 17 Chữ nhưng họ không theo Đường Luật cho 3 câu đầu. Do đó không thể gọi là Thơ Yết Hậu được vì Thơ Yết Hậu là một biến thể của Thơ Đường Luật.
*
Tản Đà làm bài thơ Yết Hậu có tới 5 câu thay vì 4 câu: 4 câu đầu là Đường Luật Tứ Tuyệt và câu thứ năm có 2 chữ gồm 1 chữ vận.
Bài 13:
GÀ THIẾN
Gà thiến muốn đi tu
Chưa thuộc tiếng nam mô
Cửa Phật chắc không hẹp
Cho nhờ chỗ bóp bu
Cúc cu.
(Tản Đà)
Đây có lẽ là bài thơ đầu mà cũng là bài thơ cuối làm theo điệu của Tản Đà nầy!
c) Kết Luận
Thơ Yết Hậu là một biến thể của thơ Đường Luật. Câu thơ phải theo đúng Niêm Luật và Đối của Đường Luật. Có vài câu thơ trong những bài thơ của Phạm Thái có 6 chữ là vì theo Hàn Luật.
Bài thơ Yết Hậu có câu thứ tư gồm 1 chữ vận thông dụng và hay hơn bài thơ có câu thứ tư gồm 2 chữ.
Thi nhân Đường Luật ít làm thơ Yết Hậu vì:
Thơ dễ làm nên không có giá trị văn chương lắm.
Nội dung thường chỉ dùng để trêu chọc và hơi cộc lốc.
Khuynh hướng biến Thơ Yết Hậu thành Thơ 17 Chữ lại càng giảm giá trị của bài thơ.
Những bài thơ Yết Hậu đều làm bằng Việt ngữ (gồm Hán ngữ và tiếng Nôm) do đó nguồn gốc của Thơ Yết Hậu là từ người Việt chứ không phải từ người Trung Hoa. Văn học sử cho thấy rằng ông Phạm Thái là người đầu tiên làm Thơ Yết Hậu, như vậy chúng ta có thể kết luận rằngông Phạm Thái là người sáng tạo Thơ Yết Hậu. Hơn nữa ba kiểu Thơ Yết Hậu đều có từ Phạm Thái.
Bs PHAN THƯỢNG HẢI biên soạn và giữ bản quyền
Bài nầy đăng lần đầu trong phanthuonghai.com trong mục Thơ Văn phần Đọc Thơ Cổ điển.
Tài liệu tham khảo:
1) Văn Uyển (Lãng Ba Phan Văn Bộ)
2) Thơ Quốc Ngữ Nam Kỳ (Phan Thượng Hải) - phanthuonghai.com
3) Phép Làm Thơ (Diên Hương)
4) Thi Pháp Thơ Đường (Quách Tấn)
5) Thơ và Sử Việt - Nhà Lê (Bs Phan Thượng Hải) - phanthuonghai.com
Bs PHAN THƯỢNG HẢI biên soạn và giữ bản quyền
____________________
CÂY PHONG TRONG BÀI THƠ “PHONG KIỀU DẠ BẠC”
Trương Kế tự là Ý Tôn, người Tương Châu (Hồ Bắc) đậu Tiến sĩ năm 753 vào đời Đường Huyền Tông (Đường Minh Hoàng) và làm quan với nhà Đường.
Ông có một bài thơ rất nổi tiếng và rất được ưa chuộng cho đến ngày nay, được có tựa đề là “Phong Kiều Dạ Bạc”.
PHONG KIỀU DẠ BẠC
Nguyệt lạc ô đề sương mãn thiên
Giang phong ngư hỏa đối sầu miên
Cô Tô thành ngoại Hàn San tự
Dạ bán chung thanh đáo khách thuyền.
(Trương Kế)
“Phong” trong “Giang phong” không có nghĩa là “Gió” như đã lầm tưởng, mà là “Cây Phong” (1 loại cây không phải là Cây Bàng như đã lầm tưởng).
A. Bài thơ “Phong Kiều Dạ Bạc”
*
Tương truyền Trương Kế làm được có 2 câu đầu thì nhờ một giai thoại mới làm được 2 câu sau.
Hai câu đầu:
Nguyệt lạc ô đề sương mãn thiên
Giang phong ngư hỏa đối sầu miên
Giai thoại được ghi trong sách Thơ Đường của Trần Trọng San:
Một đêm kia, vị sư tại chùa Hàn San làm được 2 câu thơ tả Mặt Trăng:
Sơ tam sơ tứ nguyệt mông lung
Bán tự ngân câu bán tự cung
(Dịch)
Mồng ba mồng bốn trăng mờ
Nửa như móc bạc nửa như cung trời
Rồi chú tiểu làm tiếp hai câu:
Nhất phiến ngọc hồ phân lưỡng đoạn
Bán trầm thủy để bán phù không
(Dịch)
Một bình ngọc trắng chia hai
Nửa chìm đáy nước nửa cài từng không.
Vị sư mừng quá bèn sai chú tiểu lên điện thắp hương rồi gióng chuông để tạ ơn Phật đã ngẫu nhiên giúp cho thầy trò làm được bài thơ 4 câu ưng ý:
Sơ tam sơ tứ nguyệt mông lung
Bán tự ngân câu bán tự cung
Nhất phiến ngọc hồ phân lưỡng đoạn
Bán trầm thủy để bán phù không
Chính nhờ tiếng chuông này mà Trương Kế nghe được nên ông mới nghĩ ra 2 câu sau của bài thơ "Phong Kiều Dạ Bạc" của mình:
Cô Tô thành ngoại Hàn Sơn tự
Dạ bán chung thanh đáo khách thuyền.
Như vậy sau bài thơ của vị sư và chú tiểu của chùa Hàn San (Hàn San tự), Trương Kế nghe tiếng chuông chùa mà làm xong bài thơ:
PHONG KIỀU DẠ BẠC
Nguyệt lạc ô đề sương mãn thiên
Giang phong ngư hỏa đối sầu miên
Cô Tô thành ngoại Hàn Sơn tự
Dạ bán chung thanh đáo khách thuyền.
(Trương Kế)
*
Bản dịch phổ thông nhất từ xưa thường được cho là của Tản Đà (thế kỷ 20) nhưng ngày nay được biết là của Nguyễn Hàm Ninh thời vua Tự Đức (thế kỷ thứ 19):
BAN ĐÊM ĐẬU THUYỀN TẠI BẾN PHONG KIỀU
Trăng tà tiếng quạ kêu sương
Lửa chài cây bến sầu vương giấc hồ
Thuyền ai đậu bến Cô Tô
Nửa đêm nghe tiếng chuông chùa Hàn San.
Và đây là bản dịch sau này của Tản Đà (trong thời Pháp Thuộc, thế kỷ 20):
BAN ĐÊM ĐẬU THUYỀN TẠI BẾN PHONG KIỀU
Họa kêu, trăng lặn, sương rơi
Lửa chày, cây bãi, đối người nằm co
Con thuyền đậu bến Cô Tô
Nửa đêm nghe tiếng chuông chùa Hàn San.
*
Chú thích của Trần Trọng San trong sách "Thơ Đường":
Phong Kiều: tên đất ở phía tây Ngô Quận thuộc tỉnh Giang Tô.
Cô Tô: tên núi ở tây nam Ngô Quận. Cuối thời Xuân Thu, Ngô Vương Phù Sai đắp đài cho Tây Thi ở đây.
Hàn San tự: chùa này ở phía Tây của Phong Kiều. Đời nhà Đường có 2 vị sư tên là Hàn San và Thập Đắc trụ trì tại đây nên có tên là Hàn San tự (chùa Hàn San).
Chú thích của Google Wikipedia (năm 2023):
Chùa Hàn San là một ngôi chùa hẻo lánh ngoài thành Ngô Huyện thuộc tỉnh Giang Tô. Xung quanh bát ngát rừng mai, phía sau dòng sông xanh ngắt lững lờ uốn khúc, giữa hai dãy núi sừng sững vươn mình trong làn mây trắng xóa.
Chùa ở bên cầu có cây "phong" nên gọi là Phong Kiều. Trên sông đêm có ánh lửa chài. Bài thơ của Tần Thục đời Tống có câu: " Ô đề nguyệt lạc kiều biên tự "(Quạ kêu trăng xế chùa bên cầu) và thơ Khang Hữu Vi đời Thanh, có câu "Lãnh tận Hàn San cố tự phong (Lạnh đến cả cây phong bên chùa cổ Hàn San) đều nói rõ chùa Hàn San bên cầu có cây "phong". Như vậy, Giang phong và Ngư hỏa trong bài thơ trên vẫn là cây bên sông và lửa chài, chứ không phải là tên 2 quả núi Giang Phong và Ngư Hỏa như một vài giả thuyết đã nói.
Chữ Phong 楓 trong "Phong Kiều" và "Giang phong" đều có nghĩa là 1 loại cây gọi là Cây Phong. Chữ Phong (Hán tự) có nghĩa là "Gió" thì viết khác. Như vậy giải thích của Wikipedia là đúng.
Ta có thể nói là (bến sông) Phong Kiều có cầu (= kiều) và có cây “phong” (= phong) nên được đặt tên là Phong Kiều.
Chú thích thêm của Trang Thơ Trương Kế trong Thi Viện:
Cô Tô: là (tp) Tô Châu. Vì có núi Cô Tô ở tây nam Tô Châu nên Tô Châu còn được gọi là Cô Tô.
Hàn San tự: ở phía Tây của trấn Phong Kiều, Tô Châu. Chùa được xây vào đời Lương Võ Đế (502-519). Đến đời Đường Thái Tông niên hiệu Trinh Quan (627-649) thì bắt đầu có tên là Hàn San tự theo tên của một vị sư "điên" (= cuồng sĩ) tu ở đây. Có tượng của sư Hàn San nầy và sư Thập Đắc ở trong chùa.
*
Tuy nhiên những bản dịch thơ ra Việt ngữ đều không chính xác. Nếu ta đọc kỹ bài thơ Hán ngữ và tìm hiểu ý nghĩa từ chữ thì hay hơn.
PHONG KIỀU DẠ BẠC
Nguyệt lạc ô đề sương mãn thiên
Giang phong ngư hỏa đối sầu miên
Cô Tô thành ngoại Hàn Sơn tự
Dạ bán chung thanh đáo khách thuyền.
(Trương Kế)
Giải thích:
Phong Kiều: tên bến sông ở cạnh chùa Hàn San, ngoại thành Cô Tô.
Dạ = ban đêm. Bạc = thuyền ghé bến.
Nguyệt = mặt trăng. Nguyệt lạc = mặt trăng lặn. Ô = chim quạ (còn có nghĩa là: chim sắc đen, chim sáo). Đề = (chim) kêu. Sương = sương, mù sương. Thiên = trời. Mãn thiên = đầy trời.
Giang = sông. Giang phong = cây Phong ở (bên) sông.
Ngư = chài, thuyền chài. Hỏa = lửa. Ngư hỏa = lửa đốt trên thuyền chài (cho soi sáng lúc ban đêm). Đối = đáp lại, hợp với.
Sầu = buồn rầu. Miên 眠 = ngủ.
Thành ngoại = ngoài thành. Câu 3: Hàn San tự ở ngoài thành Cô Tô.
Dạ bán = nửa đêm. Chung = cái chuông. Chung thanh = tiếng chuông. Đáo = đến, đến nơi đến chốn. Khách thuyền = thuyền chở khách, nơi tác giả Trương Kế đang ở (và làm thơ).
*
Nhà thơ đời nhà Thanh là Vương Ngư Dương, từng đáp thuyền đi Tô Châu, dừng ở bến Phong Kiều, lúc ấy trời xẩm tối, mưa gió đầy trời, họ Vương đã đến bên trước cửa chùa đề hai bài thơ tứ tuyệt:
Nhật mộ đông đường chính lạc triều
Cô bồng bạc xứ vũ tiêu tiêu
Sơ chung dạ hỏa Hàn San tự
Ký quá Ngô phong đệ kỷ kiều.
Giải thích:
Nhật mộ = trời tối. Đông đường = bờ đông. Chính = ngay (lúc). Lạc triều = thủy triều xuống.
Cô = một mình. Bồng = thuyền buồm. Cô bồng = một chiếc thuyền buồm mà thôi. Bạc = thuyền ghé bến. Xứ = chỗ nơi. Bạc xứ = Chỗ, nơi thuyền ghé bến. Vũ = mưa. Tiêu tiêu = thấy rõ ràng.
Sơ = ít, không nhiều. Sơ chung = Tiếng chuông thưa thớt. Dạ hỏa = lửa ban đêm.
Ký = nhớ. Quá = qua. Phong = cây phong. Ngô phong = cây phong ở Ngô Quận. Đệ = theo thứ tự. Kỷ kiêu = ngạo mạn mình. Câu này: Nhớ đi qua những cây phong ở Ngô quận theo thứ tự mà ngạo mạn (mình).
Bài thơ của Vương Ngư Dương cũng nói đến Phong (là Cây Phong) như bài thơ Phong Kiều Dạ Bạc của Trương Kế.
B. Cây Phong trong “Phong Kiều Dạ Bạc”
*
Chữ Phong 楓 trong "Phong Kiều" và "Giang phong" đều có nghĩa là 1 loại cây gọi là Cây Phong. Chữ Phong (Hán tự) có nghĩa là "Gió" thì viết khác.
- Theo Hán Việt từ điển của Đào Duy Anh,
Phong 楓 (hay Cây Phong) = Cây Bàng.
Phong là Hán ngữ (Hán Việt ngữ) nhưng Bàng là Tiếng Nôm chứ không phải là Hán ngữ.
- Wikipedia viết:
Cây Bàng (= Indian almond tree), danh pháp là Terminalia catappa, là một loài cây thân gỗ lớn sinh sống chủ yếu ở vùng nhiệt đới, thuộc họ Trâm bầu (Combretaceae). Nguồn gốc của loài này hiện vẫn đang là vấn đề gây tranh cãi, nó có thể có nguồn gốc từ Ấn Độ, bán đảo Mã Lai hay New Guinea.
Loài cây này có thể mọc cao tới 35m, với tán lá mọc thẳng, đối xứng và các cành nằm ngang. Khi cây già hơn thì tán lá của nó trở nên phẳng hơn để tạo thành hình dáng giống như cái bát trải rộng. Lá to, dài khoảng 15–25 cm và rộng 10–14 cm, hình trứng, xanh sẫm và bóng. Đây là loài cây có lá sớm rụng về mùa khô; trước khi rụng thì các lá chuyển màu thành màu đỏ ánh hồng hay nâu vàng, do các sắc tố như violaxanthin, lutein hay zeaxanthin.
- Theo Hán Việt tự điển của Trần Trọng San và Trần Trọng Tuyên.
Phong 楓 (= Cây Phong) = một loại cây, có lá màu đỏ vào mùa Thu.
- Theo Wikipedia,
Cây Phong = Maple tree. Maple tree có nhiều loại (species) nhưng cũng có loại Terminalia sp.
- Theo Đại Nam Nhất Thống Chí viết về các loại Cây ở nước Việt Nam, chỉ có Cây Bàng chứ không có Cây Phong. Có thể không có Cây Phong ở nước Việt (nhất là ở Miền Nam theo khí hậu nhiệt đới), mà chỉ có cây Phong (Phong) ở những nước có khí hậu ôn đới như Trung Quốc.
Theo Đại Nam Nhất Thống Chí,
Cây Bàng = Sơn Phong (hay Cây Sơn Phong).
- Kết luận:
Cây Phong (= Phong = Maple tree) trong “Phong Kiều Dạ Bạc” không phải là Cây Bàng (= Sơn Phong = Indian almond tree).
*
Thi văn nước Việt cũng có nói đến Cây Phong (Maple tree) giống như Cây Phong trong “Phong Kiều Dạ Bạc”:
- Đoạn Thơ của Nguyễn Du trong Truyện Kiều:
Người lên ngựa kẻ chia bào
Rừng phong thu đã nhuộm (nhuốm) màu quan san
Dặm hồng bụi cuốn chinh an
Trông người đã khuất mấy ngàn dâu xanh
Người về chiếc bóng năm canh
Kẻ đi muôn dặm một mình xa xôi
Vầng trăng ai xẻ làm đôi
Nửa in gối chiếc nửa soi dặm trường.
- Bài Thơ “Gió Thu” của Tản Đà:
Trận gió thu phong rụng lá vàng
Lá bay tường bắc lá bay sang
Vàng bay mấy lá năm già nửa
Thơ thẩn ai xui thiếp phụ chàng.
Trận gió thu phong rụng lá hồng
Lá bay tường bắc lá sang đông
Hồng bay mấy lá năm hồ hết
Thơ thẩn kìa ai vẫn đứng trông.
- Từ đó, hậu sinh có bài thơ tổng kết ý tứ những lời thơ của Nguyễn Du và Tản Đà cùng với lời thơ “Phong Kiều Dạ Bạc”.
THU PHONG
Thu phong cổ thụ thắm duyên đời
Điển tích văn chương tự cựu thời
Dạ bạc phong kiều liên cảnh động
Lâm ly phong sắc biệt tình khơi
Lá vàng thu đến tâm sầu lẻ
Lá đỏ thu đi dạ nhớ vời
Lãng mạn văn hoa theo gió thoảng
Thu hương còn đó, lá đà rơi.
(Phan Thượng Hải)
11/10/25
*
Ca dao Việt Nam mượn 4 câu thơ của Phong Kiều Dạ Bạc mà làm thành một bài thơ với ý tứ khác:
Nguyệt lạc ô đề sương mãn thiên
Giang tân ngư hỏa đối sầu miên
Đêm khuya nghe tiếng ai hỏi nhỏ bên thuyền
Hỏi thăm quân tử vượt miền đi đâu?
Cô Tô thành ngoại Hàn Sơn tự
Dạ bán chung thinh đáo khách thuyền
Ai hỏi đon chi đó giống in tiếng con bạn hiền
Đây anh lo phản mại kiếm tiền nuôi thân.
Ca dao Việt Nam viết là Giang tân (Giang tân = bờ sông. Tân = bờ sông); thay vì là Giang phong = cây phong bên sông. Nếu Trương Kế theo ý tứ của Ca dao Việt Nam thì câu thơ dễ hiểu hơn?
Bs PHAN THƯỢNG HẢI biên soạn và giữ bản quyền
Tài liệu tham khảo:
Thơ Đường (Trần Trọng San)
Trang Thơ Thi Viện
Thơ Tình trong Ca Dao (Bs Phan Thượng Hải) – phanthuonghai.com
Wikipedia
Đại Nam Nhất Thống Chí (Quốc Sử Quán Triều Nguyễn)
____________________