top of page
hmpg.jpg

BIÊN KHẢO - THƠ - VĂN

BS Phan Thượng Hải

California__________ 

BBT: BS Phan Thượng Hải (CHS PTG 61-64) cùng với người em là LS Winston Phan Đào Nguyên là con của 1 công chức cao cấp của tòa án Cần Thơ, cũng là nhà thơ nổi tiếng của đất Cần Thơ thập niên 40, 50: Thi Sĩ LÃNG BA Phan Văn Bộ

________________

3 Loại Thơ : Thơ Con Cóc, Thơ Con Nhái và Thơ Con Ếch

BA LOẠI THƠ

(Bs Phan Thượng Hải)

 

Có nhiều Loại Thơ nhưng có 2 Loại Thơ chánh tùy theo Thi nhân Làm Thơ: Thơ Con Cóc và Thơ Con Nhái.

 

THƠ CON CÓC (Nguyên bản)  

Thơ như con cóc cũng là thơ 

Trực tiến thanh cao vượt bá vơ (*)

Đúng luật thi văn luôn cẩn thận

Thẳng đường thi vận chẳng ơ thờ 

Cóc cần vị lợi, hòa tình ý 

Cóc muốn thành danh, thỏa ước mơ

Linh động thi nhân cùng nhảy nhót  

Thơ như con cóc dậy hồn thơ.

(Phan Thượng Hải)

2/20/26 

 

(*) Chú thích: Con Cóc đều nhảy thẳng tới trước (= trực tiến) và nhảy rất cao so với sức lực suy ra từ thân thể của nó, theo khoa học gia (= thanh cao). 

 

THƠ CON NHÁI (Tự họa 1) 

Thơ như con nhái cũng nên thơ  

Khỏi phải suy tư nghĩ vẩn vơ

Nhái tựa danh nhân, người kính nể

Nhái theo sáo ngữ, chúng tôn thờ

Từ chương ước lệ sầu thương nhớ

Lãng mạn văn hoa thú mộng mơ

Nối nghiệp thi hào đường chính thống

Thơ như con nhái, nhái thành thơ!

(Phan Thượng Hải)

2/20/26 

 

Có nhiều người ủng hộ Thơ Con Cóc:

 

DÙ …, (Họa)

Đôi khi ngờ nghệch ngỡ ngon thơ

Cũng mới mon men ngưỡng …vất vơ

Có lúc đầu đau vì ý cạn

Lại lần xơ tóc bởi tâm … thờ

Ước người chỉ vẻ thăng hoa cấp

Bừng sáng mộng thơ đẹp tựa mơ

Mong mỏi từng ngày thơ đậm chất

Dù thơ non nớt vẫn là …thơ!

(Phượng Hồng)

2/24/26 

 

THƠ CÓC CŨNG LÀ THƠ (Họa)

Con cóc vì sao cũng thích thơ? 

Gìn câu ưng ý tránh vu vơ. 

Cố công mài vận cho thanh thản, 

Gắng sức vùi nghiêm tránh thẩn thờ. 

Lắm kẻ móc moi chê ý nhạt, 

Nhiều tay bất mãn phủi dòng mơ. 

Một mình tự kiếm nguồn thân cận, 

Mặc kệ cóc cần chỉ có thơ. 

                          * 

Vui nguồn cảm hứng cạnh bên thơ!

(Hồ Nguyễn)

2/25/26

 

Có Thi nhân có nhận xét lạ:

 

THƠ NGÂM NHƯ ẾCH (Họa)

Ngâm như tiếng ếch cũng ngâm thơ!

Đáy giếng sầu rên điệu vẩn vơ

Trăng Thượng Nguyên đêm rằm luống nhớ

Giọng đờn ca kẻ thương người thờ

Quê nhà ơi thuở vẫn xưa đó

Bài vọng cổ còn hoài giấc mơ

Người xứ xa tình già chớ nỡ

Quên sau hè tiếng ếch ngâm thơ!

(Hải Rừng)

2/25/26

 

Do đó suy ra còn có thêm Thơ Con Ếch:

 

THƠ CON ẾCH (Tự họa 2)

Tương tự ếch ngồi xướng vịnh thơ 

Đang khi tỉnh tọa lúc bơ vơ (*)

Trông trời tròn trịa hồn lơ lửng

Thấy đáy cạn sâu ý thẫn thờ   

Dưới giếng cô đơn, thương tiếc nhớ

Trên đầu hy vọng, mộng sầu mơ

Không gian tĩnh tọa hằng tri túc 

Tình tứ thong dong nhã vận thơ.

(Phan Thượng Hải)

2/25/26 

 

(*) Chú thích:

Tỉnh = (cái) Giếng.  

Từ những câu tục ngữ: Ếch ngồi đáy giếng. - Ếch ngồi đáy giếng, coi trời bằng vung. - Ếch ngồi đáy giếng, thấy bao lăm trời.

 

Có người có thể lẫn lộn “Thơ Con Cóc” với “Thơ Con Cóc của Petrus Ký” trong Truyện “Ba Anh Dốt Làm Thơ” của ông Petrus Ký.

 

BA ANH DỐT LÀM THƠ 

(Petrus Ký)

 

Có ba anh học trò dốt ngồi nói chuyện với nhau.  Mới nói: Mình tiếng con nhà học trò mà không có làm thơ làm phú với người ta thì té ra mình dở lắm.  Mấy người kia mới nói phải.  Hè nhau làm ít câu chơi.

Anh thứ nhất thấy con cóc ở trong hang nhảy ra, mới làm câu mở như vầy: Con cóc trong hang con cóc nhảy ra.  

Người thứ hai tiếp lấy: Con cóc nhảy ra con cóc ngồi đó.

Người thứ ba: Con cóc ngồi đó con cóc nhảy đi

 

Lấy làm hay lắm.  Rồi nghĩ lại giựt mình, vì trong sách nói: Hễ học hành giỏi thì sau cũng phải chết.  Cho nên tin như vậy mới biểu thằng tiểu đồng ra đi mua ba cái hàng đất để dành cho sẵn đó.

Tiểu đồng lăng căng đi mua, ghé ra quán uống nước ngồi xớ rớ đó.  Có anh kia hỏi nó đi đâu? Mua giống gì? Thì nó nói: Ba thầy tôi thông minh trí huệ, làm thơ hay lắm, sợ lời sách quở, có khi không sống, nên sai tôi đi mua ba cái hòm.

- Mầy có nghe họ đọc thơ ấy không?

- Có

- Mà có nhớ nói lại nghe chơi, coi thử sức nó hay làm sao?

Thằng tiểu đồng mới nói: Tôi nghe đọc một người một câu như vầy:

Con cóc trong hang con cóc nhảy ra

Con cóc nhảy ra con cóc ngồi đó

Con cóc ngồi đó con cóc nhảy đi

 

Anh kia nghe tức cười nôn ruột, mới nói với tiểu đồng:

- Mầy chịu khó mua giùm cho tao một cái hòm cho luôn trót thể

Tiểu đồng hỏi: Mua làm chi?

Lão nọ mới nói: Tao mua hờ để đó, vì tao sợ tao cười lắm, có khi cũng chết theo ba thầy làm thơ đó nữa.

 

Tuy nhiên "Thơ Con Cóc của Petrus Ký" không phải là Thơ:

 

THƠ CON CÓC CỦA PETRUS KÝ (Tự họa 3)

Thơ như con cóc nhảy ra thơ

Ngồi đó, nhảy đi, chỉ vất vơ

Thi sĩ bất tài từ biếng học

Thi hào nổi tiếng tự riêng thờ

Thơ thì thất luật vô tình ý 

Thơ lại không vần thiếu mộng mơ

Đừng bắt chước theo Petrus Ký

Ba câu thơ cóc, cóc là thơ!

(Phan Thượng Hải)

3/6/26 

 

Bs PHAN THƯỢNG HẢI biên soạn 

_________________________

 

BẢN VỌNG CỔ
(Bs Phan Thượng Hải)


Bản Vọng Cổ, trước hết có tên là Dạ Cổ, do ông Cao Văn Lầu tục gọi là Sáu Lầu ở Bạc Liêu sáng chế hồi năm 1920 lúc ông 30 tuổi (3 năm sau khi Cải Lương ra đời vào năm 1917).

Phan thuong hai_Sau Lau.jpg

Ông cưới vợ được 10 năm nhưng không có con nên cha mẹ ông buộc phải cưới vợ khác vì sợ tuyệt tự. Ông buồn rầu quá không muốn làm ăn gì nữa. Ban ngày ra ngoài đồng, ông nghiền ngẫm những lời vợ ông nói trước khi chia tay, ông vẫn biết đờn cổ nhạc nên trong tâm trạng người chồng đau khổ trước cảnh gia đình tan rã, ông cảm hứng tạo ra bản nhạc 20 câu gọi là “Dạ Cổ Hoài Lang” (Đêm khuya nghe tiếng trống nhớ chồng) có ý để kỷ niệm tâm tình của vợ ông đối với ông. Về sau bản nhạc ấy đổi tên là “Vọng Cổ Hoài Lang” (= Trông mối tình xưa mà nhớ
đến chồng) cho rộng nghĩa hơn.


Tuy nhiên, sau khi ông Sáu Lầu sáng tác bản Vọng Cổ đầu tiên nầy thì Vợ của Ông thụ thai và sau đó Ông Bà ăn ở với nhau có tất cả 6 người con (và hình như ông Sáu Lầu không có vợ nàokhác).


Đây là lờ i bản "Dạ Cổ Hoài Lang" nguyên thủy của ông Sáu Lầu sáng tác hồi năm 1920 (có 20 câu):


  DẠ CỔ HOÀI LANG (Nhịp Đôi)
  1. Từ là từ phu tướng
  2. Bửu kiếm sắc phong lên đàng
  3.Vào ra luống trông tin chàng,
  4. Đêm năm canh mơ màng,
  5. Em luống trông tin nhàn,
  6. Ôi, gan vàng quặn đau.
  7. Đường dầu xa ong bướm,
  8. Xin đó đừng phụ nghĩa tào khang.

  9. Còn đêm luống trông tin bạn,
  10. Ngày mỏi mòn như đá vọng phu,
  11. Vọng phu vọng, luống trông tin chàng,
  12. Lòng xin chớ phụ phàng.
  13. Chàng hỡi, chàng có hay,
  14. Đêm thiếp nằm luống những sầu tây.
  15. Biết bao thuở đó đây xum vầy,
  16. Duyên sắt cầm đừng lợt phai.
  17. Thiếp cũng nguyện cho chàng,
  18. Nguyện cho chàng hai chữ bình an.
  19. Mau trở lại gia đàng,
  20. Cho én nhạn hiệp đôi.

 

Bản Vọng Cổ nguyên thủy nầy ca giọng Bắc (đã biến thể), nhịp đôi và có 20 câu (mỗi câu có khoảng 6,7 chữ) được thông dụng từ 1920 cho đến 1926.


Sau đó bản Vọng Cổ tăng nhịp, xuống 12 câu rồi 6 câu và thêm chữ (cho mỗi câu) cho đến khoảng đầu thập niên 1950s thì đã thành bản Vọng Cổ hiện tại (rất được ưa chuộng) ca giọng Nam (có pha hơi Oán), nhịp 32 hay 64 và có 6 câu (mỗi câu có số chữ lên đến 60,70 chữ).


Năm 1920: ông Sáu Lầu sáng chế bản Vọng Cổ nhịp đôi 20 câu.
Năm 1927: soạn giả kiêm nghệ sĩ Năm Châu (Nguyễn Thành Châu) đổi thành nhịp tư 12 câu.
Năm 1936: nghệ sĩ Năm Nghĩa (Lư Hòa Nghĩa) đổi thành nhịp tám 6 câu. Câu có nhiều chữ hơn nên ca chậm và ngân nga nhiều ở mấy chữ cuối câu.
Năm 1946: nghệ sĩ Út Trà Ôn (Nguyễn Thành Út) đổi thành nhịp 16, 6 câu với lối ca nhịp nhàng hơn.
Năm 1955: soạn giả
Viễn Châu (tức nhạc sĩ Bảy Bá) đổi thành nhịp 32 6 câu với số chữtrong câu tăng nhiều hơn.
Ông Bảy Bá là một thi sĩ kiêm nhạc sĩ nên những bài ca của ông soạn rất dễ ca và ý tứ dồi dào câu văn điêu luyện gọn gàng hấp dẫn. Bài ca của ông xuất bản rất nhiều và giới mộ điệu thườngtặng cho ông danh hiệu “Vua soạn Vọng Cổ”. Năm 1965: soạn giả Viễn Châu lại đổi thêm ra nhịp 64 6 câu bắt đầu áp dụng cho những bài Vọng Cổ hài hước của ông (thường do Hề Văn Hường ca). Tuy ca sĩ ca nhịp 64 nhưng đờn nhịp 128 vì mấy cái láy của bài ca người đờn ni bằng chơn trái nên nhịp chẻ bằng hai số nhịp của bài ca. Còn nhịp chánh ni bằng chơn mặt.
Ngoài việc đổi thành nhịp 16, nghệ sĩ Út Trà Ôn còn lồng vào câu Vọng Cổ những điệu Hò hay điệu nói thơ Vân Tiên…Do đó ông được tặng danh hiệu “Đệ nhứt danh ca miền Nam”. Đến năm 1964, soạn giả Cổ Nhạc cho lồng vào câu Vọng Cổ những điệu Tân Nhạc. Năm 1965 có nhữngbản Vọng Cổ mới gọi là “Tân Cổ Giao Duyên”.


Thường trong tuồng Cải Lương, khi một người ca dứt 1 câu Vọng Cổ, nhằm nhịp Song Lang chót rồi thì đờn nhồi 12 nhịp hoặc 8 nhịp mới bắt qua câu kế. Trong khoảng đờn nhồi nầy vai tuồng không ca. Vậy để tránh cho khỏi “nguôi” tuồng, soạn giả thường cho vai đối thoại nói lối thêm 1 câu ngắn gọi là “Nói lối giặm” đặng trám vào khoảng trống nầy, rồi người ca mới bắt qua câu Vọng Cổ kế.

Để giúp nghệ sĩ “vô” Vọng Cổ (trước câu 1 hay câu 4 hoặc 5), soạn giả thường áp dụng nhiều phương pháp khác nhau để “gối đầu” bản Vọng Cổ:


Dùng những bản ngắn cổ điển: Sơn Đông Hướng Mã, Cao Phi, Giang Tô, Thủ Phong Nguyệt, Hướng Mã Hồi Thành, Lý Con sáo, Lưu Thủy Hành Vân…


Dùng câu lối văn xuôi.
Dùng câu lối văn vần (dùng đủ thể thơ mới hay cũ).
Dùng bản Tân nhạc mới chế có đệm nhạc hay ngâm Tao Đàn.
Dùng bản Tân Nhạc có sẵn (Tân Cổ Giao Duyên). Phương pháp nầy chỉ có cho dĩa hát chớ không thể dùng trong tuồng Cải Lương.
Nốt nhạc dùng trong câu vọng cổ khác nhau giữa giọng Kép và giọng Đào và cũng tương đương với nốt tân nhạc:
Giây Kép: Hò Xự Xang Xê Cóng
La Si Ré Mi Fa
Giây Đào: Hò Xự Xang Xê Cóng
Mi Fa La Si Do


Khi còn 20 câu, mỗi câu phải chấm dứt với 1 nốt nhứt định nhưng khi thêm chữ và xuống số câu (bây giờ là 6 câu) thì hình như không bắt buộc nữa.


Bản Vọng Cổ bắt đầu là điệu tâm tình buồn nhưng nó còn dùng trong những trường hợp khác cho đến cả hài hước như “Vọng Cổ hài hước” của Hề Văn Hường. Cách ca Vọng Cổ cũng cảitiến vào thời VNCH ngoài cách thông thường và theo kiểu Út Trà Ôn còn có theo kiểu Minh Cảnh (Minh Phụng và Minh Vương) hay kiểu Thanh Sang…

Bài Hát của những Điệu Cải Lương thông dụng:
Điệu Sơn Đông Hướng Mã
Lúc nguy biến nên bền tâm
Anh dũng chớ sờn gan
Làm sao ngày sau còn ghi
Dẫu hoạn nạn, nên nghe lời em phân cạn
Hiếu trung giữ tròn
Muôn đời lưu truyền.
Điệu Sơn Đông Hướng Mã
(Giọng Nam)
Sao em đứng một thành hai
Ngực thấp cái bụng cao
(Giọng Nữ)
Hay là chàng nghi rằng em đã thọ thai
(Giọng Nam)
Vợ chồng cách biệt mà nàng thọ thai được
Thiệt là giỏi, giỏi vô cùng
Đồ bạo tàn lăng loàn.

Điệu Lưu Thủy Hành Vân
(Giọng Nam)
Sương trắng nhuộm rừng phong vấn vương
Đưa tiễn em lên đường
Nam Sơn đây chốn chia tay phản hồi gia trang
Hoa lá bay rơi rụng theo dòng
(Giọng Nữ)
Oanh yến vang lời ca tiễn đưa
Đôi mắt hoen lệ mờ
Bao phen toan nói với ai những điều mai sau
Nhưng bỗng dưng em lại nghẹn ngào.
Điệu Lưu Thủy Hành Vân
Trông vó ngựa đường xa ruổi giung
Sương trắng rơi chập chùng
Lên yên, thân thiếp xông pha đâu nài quan san
Nong nả sao cho gặp mặt chàng
Nghe tiếng nhạc chìm trong gió sương
Ai mải mê trên đường
Phu lang! Ôi hỡi Phu lang mau dừng cương yên
Cho thiếp đây tâm sự phân trần.

Điệu Lý Con Sáo
Hoa bay theo, gió cuốn rụng đầy sân rêu
Nhìn hoa tàn rụng rơi
Lan bâng khuâng tê tái tâm hồn
Bởi bao cay đắng dập dồn
Tình đầu vừa tan theo khói sương
Lan khóc than trong tháng năm sầu thương
Mùi thiền đành quen câu muối dưa
Mong lãng quên khổ đau ngày xưa.

Điệu Cao Phi
Lòng nầy xót thương
Nhưng bởi vì bổn phận phải đành
Kìa là nước non
Đường nguy biến phải cảnh chia ly
Con nên yên tâm vững trí
Đợi chờ cho đến chiến thắng
Lứa đôi sẽ thành
Vui chung hưởng những điều vinh hoa.

Vọng Cổ (bài Gánh nước đêm trăng, câu 4-6):


- Câu 4:
(Ca Tân nhạc)
Đêm nay vầng trăng khuya
Như mơ màng lẻ bóng
Bên giếng xưa bơ vơ
Mình tôi thẫn thờ trông ngóng
Ai nỡ quên câu thề ngày nào
Đành sang ngang giữa ngày ly cách
Tôi quay về lòng vương vấn tơ tình


(Vô Vọng Cổ)
Ba năm sau tôi trở về quê cũ gánh nước đêm trăng để tìm lại kẻ chung tình…
Quảy gánh lên vai tôi thờ thẫn một mình. Nước giếng trong leo lẻo soi rõ bóng hình tiều tụy của tôi. Tiếng gà đã gáy tan canh. Trăng mười sáu đã nhô khỏi đầu khóm trúc. Tôi ngồi một mình bên đôi gào nước lòng bâng khuâng chưa vội bước chân về.


- Câu 5:
Nước giếng trong như khối tình trong trắng tự ngàn xưa thệ chẳng phai mờ. Cớ sao em bước sang ngang không đợi không chờ. Chồng của em ở miền đô thị lại là người tốt mã giàu sang còn tôi thì mặt nám da đen bởi mưa nắng của rừng sâu núi thẳm sau ba năm trở về quê với đôi bàn tay trắng biết bán cho ai mua một tấm chung tình.
(Hò)
Hò ơ
Ai phụ tôi có đất trời chứng giám
Phận tôi nghèo đâu xứng đáng cùng ai
Tưởng giếng sâu tôi nối sợi dây dài
Hay đâu giếng cạn ờ Hò ơ
Hay đâu giếng cạn tôi tiếc hoài sợi dây


- Câu 6:
Trăng ơi trăng sáng làm chi khi tình tôi đang u tối. Nước giếng sâu trong vắt nhưng lòng của ai kia như vũng nước trong bùn. Đêm nay dưới ánh trăng khuya tôi lại thẫn thờ ra gánh nước
(Thơ)
Ngồi bên bờ giếng một mình
Có ai giải mối hận tình cho tôi.

Bs PHAN THƯỢNG HẢI biên soạn


Bài viết nầy là Trích đoạn của Bài “Lịch Sử và Nghệ Thuật Cải Lương” đăng lần đầu trong phanthuonghai.com mục Văn Hóa phần Nghệ Thuật và Tiêu Khiển.

Tài Liệu Tham Khảo:
1) Nghệ Thuật Sân Khấu Việt Nam (Trần Văn Khải).
2) Related articles from Google and Wikipedia.

__________________

THƠ YẾT HẬU
Bs Phan Thượng Hải biên soạn


a) Định Nghĩa
* Tự điển Đào Duy Anh (trang 414) viết:
Yết = hết.
Hậu = sau (đối với Tiền = trước).
Yết Hậu thi = Thơ Yết Hậu = Thể thơ tuyệt cú khôi hài , câu sau chót chỉ có 1, 2 chữ.
Thơ Tuyệt cú = Thơ Đường Luật Tứ Tuyệt, hoặc là Ngũ Ngôn (câu 5 ngôn từ, tức là 5 chữ hay 5
tự) hay Thất Ngôn (câu 7 ngôn từ, tức là 7 chữ hay 7 tự).


* Phép Làm Thơ của Diên Hương (trang 125 và 126) viết:
Thơ Yết Hậu là một biến thể của Thơ Đường Luật. Bài thơ thường có 4 câu (ĐL Tứtuyệt); 3 câu đầu đủ chữ: 7 chữ (thất ngôn) hoặc 5 chữ (ngũ ngôn); còn câu chót chỉ có 1 chữ vận mà thôi.
Thí dụ:
GIỮA LÚC BAN NGÀY SƯ GHẸO VÃI

Sư ghẹo vãi:
Chùa vắng có ai là!
Yêu nhau chút gọi là
Rủ nhau ra hậu uyển
                    ta...
Vãi mắng:
Lẳng lơ cái mặt như...
Cóc nhái cũng chẳng từ
Tu hành đâu có thế!
                   hư!
Tiểu tăng dọa:
Hôm qua có chuyện hay
Thầy ghẹo vãi ban ngày!
Bổn đồ không ai biết
                 may!
Sãi van:
Chú tiểu thật là ngoan
Chuyện thấy chớ nói càn!
Đêm rằm cho ăn oản
                 van!
(Vô Danh thị)


* Thi Pháp Thơ Đường của Quách Tấn (trang 376) viết:
Yết Hậu là một lối biến thể của Thơ Đường Luật: câu cuối chỉ có một chữ hoặc hai.
Lối nầy thường là Thơ Tuyệt cú.


Ví dụ:
Sống ở dương gian đánh chén nhè
Thác về âm phủ cắp kè nè
Diêm vương phán hỏi rằng chi thế?
- Be
(Phạm Thái)
Hăm ba ông táo dạo chơi xuân
Đội mũ mang hia chẳng mặc quần
Thượng đế hỏi sao ăn mặc thế?
- Duy tân
(Khuyết danh)


b) Kỹ Thuật của Bài Thơ theo thể Yết Hậu
Thơ Yết Hậu bắt đầu từ Phạm Thái (dùng chữ Hán Nôm) đến thi nhân chữ Quốc ngữ của thế kỷ20 và cuối cùng là thi nhân Internet của thế kỷ 21.
*
Bài thơ Yết Hậu lúc đầu thường có khuynh hướng gồm nhiều đoạn Tứ tuyệt 3 câu với câu thứ tư chỉ là một chữ vận mà thôi. Tuy nhiên bài thơ gồm nhiều đoạn đối thoại giữa những nhân vật khác nhau như "Cha con vợ chồng" hay "Tăng ni và tiểu trong chùa".

 

Bài 1:
CHA CON RƯỢU CHÈ CỜ BẠC
Cha mắng Con cờ bạc:
Ác lặn, xăm xăm tới
Gà kêu, lẻn lẻn về
Quan ngắn hết, quan dài hết
Ghê! ...
Con trách Cha nghiện rượu:
Một năm mười hai tháng
Một tháng ba mươi ngày
Hủ lớn cạn, hủ bé cạn
Say! ...
Vợ than nỗi Chồng Con:
Trông lên nhà đổ đoạn
Trông xuống vách tan rồi
Cha thế ấy, con thế ấy
Thôi! ...
(Phạm Thái)


Bài 2:
GIỮA LÚC BAN NGÀY SƯ GHẸO VÃI
Sư ghẹo vãi:
Chùa vắng có ai là!
Yêu nhau chút gọi là
Rủ nhau ra hậu uyển
Ta...
Vãi mắng:
Lẳng lơ cái mặt như...
Cóc nhái cũng chẳng từ
Tu hành đâu có thế!
Hư!
Tiểu tăng dọa:
Hôm qua có chuyện hay
Thầy ghẹo vãi ban ngày!
Bổn đồ không ai bi
May!
Sãi van:
Chú tiểu thật là ngoan
Chuyện thấy chớ nói càn!
Đêm rằm cho ăn oản
Van!
(Vô Danh thị)


Bài 3:
CHUYỆN VỢ CHỒNG
Vợ bảo Chồng:
Vai năm tấc rộng để làm chi
Tối tối ăn xong lại ngủ khì
Mình ơi thức dậy chiều em tí
Đi!
Chồng bảo Vợ:
Suốt ngày bận bịu với văn bài
Uể cả xương sườn nhức cả vai
Chuyện ấy đêm nay thôi gác lại
Mai!
Vợ bảo Chồng:
Văn bài chuyện ấy thật lông bông
Mình ráng chiều em kiếm chút bồng
Nay cứ hẹn mai, mai hẹn mốt
Không?
Chồng than:
Ngủ chung lắm chuyện bực mình sao
Mình muốn yên thân nó cứ gào
Nếu mà muốn chết, đây cho chết
Nào.
(Khuyết danh)
*
Tuy nhiên ông Phạm Thái cũng có làm bài thơ Yết Hậu với chỉ một đoạn Tứ tuyệt (có câu cuối là một chữ vận mà thôi):


Bài 4:
TỰ TRÀO
Sống ở dương gian đánh chén chè
Chết về âm phủ cắp kè kè
Diêm vương phán hỏi rằng chi đó
Be! ...
(Phạm Thái)


i 5:
CON LƯƠN
Cứ nghĩ rằng mình ngắn
Ai ngờ cũng giải đườn (*)
Thế lại còn chê chạch (*)
Lươn.
(Phạm Thái)
(*) Chú thích:
Giải đườn = nằm trải dài.
Chạch (Trạch) = giống như Lươn nhưng ngắn hơn (hay chui rúc trong bùn).
Ông Nguyễn Công Trứ cũng có để lại 2 bài thơ Yết Hậu có 1 đoạn với 1 chữ vận ở câu thứ 4:

 

Bài 6:
ĐÁNH TỔ TÔM
Tổ tôm tên chữ gọi hà sào (*)
Đánh thì không thấp cũng không cao
Được thì thu cả, thua thì chạy
Nào!
(Nguyễn Công Trứ)
(*) Chú thích: Hà Sào = ông tổ của con tôm (= tổ tôm).

 

Bài 7:
SAY RƯỢU ĐÁNH LONG THẦN
Hôm qua thường tới, tới chơi đây
Đánh vật long thần mấy cánh tay
Khi tỉnh thì nào ai có dám
Say!
(Nguyễn Công Trứ)
Thơ chữ Quốc ngữ của thế kỷ 20 cũng có bài thơ Yết Hậu có 1 đoạn như thơ chữ Hán Nôm của Phạm Thái và Nguyễn Công Trứ.

 

Bài 8:
GHẸO ÔNG DƯƠNG QUẢNG HÀM
Sống ở dương gian chỉ nuốt đàm
Chết về âm phủ nói làm nhàm
Diêm vương phán hỏi rằng ai đó
Hàm!!
(Học trò của GS Dương Quảng Hàm)
*
Ông Phạm Thái lại làm bài thơ Yết Hậu có nhiều Đoạn tuyệt cú (với 1 chữ vận ở câu thứ tư) nhưng không cần phải mượn sự đối thoại.

 

Bài 9:
BỢM RƯỢU (SAY RƯỢU NHÈ)
Sống ở nhân gian đánh chén khè
Trăm năm ngày thác giữ đầy be
Diêm vương phán hỏi rằng ai đó
Nhè! ...
Sống ở nhân gian đánh chén say
Trăm năm ngày thác giữ be đầy
Diêm vương phán hỏi rằng ai đó?
Say! ...
(Phạm Thái)
Bài thơ của Phạm Thái chỉ có 2 Đoạn, nhưng Bác sĩ Trương Ngọc Thạch lại có những bài thơ Yết Hậu không mượn đối thoại nhưng có nhiều Đoạn hơn nữa (và bằng chữ Quốc ngữ).

 

Bài 10:
CAY-MAY-SAY-BAY
Trong ngoài một tháng đến hôm nay
Tiễn biệt phân ưu tới lúc này
Mới thoáng ngó qua đà sáu bác
Cay.
Từ đầu năm mới tới hôm nay
Họp bạn phương xa đến lúc này
Đếm tới đếm lui vừa đủ bốn
May.
Bao năm tháng nữa kể từ nay
Còn được thấy nhau thế giới này
Chia sẻ buồn vui cùng bạn cũ
Say.
Bạn ơi nhớ kỹ cuối năm nay
Hội ngộ Cali của lớp này
Hãy cố về đây tham dự nhé
Bay (Bye).
(Hp-Trương Ngọc Thạch)
2/24/2017
Riverside, California

 

Bài 11:
HAPPY THANKSGIVING 2019
Ơn Trời cho sống đến hôm nay
Bão tố, gian nan cũng đủ đầy
Nhìn lại biết mình đà có phước
May!
Hoa Kỳ đã mở rộng bàn tay
Đón kẻ tha phương đến xứ này
Dân chủ tự do đầy đủ hưởng
Hay!
Thanksgiving, lễ Tạ Ơn này
Con cháu xum vầy, bạn hữu đây
Bàn tiệc gà Tây cùng rượu chát
Say!
Đón mừng ngày lễ lớn hôm nay
Gửi đến bạn hiền lời chúc này
Hạnh phúc, bình an và sức khỏe
Đầy!
(Trương Ngọc Thạch)
Thanksgiving 2019
Những bài thơ Yết Hậu từ ông Phạm Thái cho đến nay đều có tánh khôi hài (như Tự điển Đào Duy Anh đã viết). Tuy nhiên những bài thơ của Bác sĩ Trương Ngọc Thạch đã có sự thay đổi:
Thơ Yết Hậu cũng có nội dung nghiêm chỉnh.
*
Tất cả những bài thơ Yết Hậu tìm được trong văn học sử từ Phạm Thái, Nguyễn Công Trứ cho đến Bác sĩ Trương Ngọc Thạch đều dùng 1 chữ vận ở câu thứ tư của đoạn tuyệt cú; đúng theoluật của ông Diên Hương trong Phép  Thơ.
Tuy nhiên theo ông Quách Tấn và Đào Duy Anh; thơ Yết Hậu còn có thể có 2 chữ ở câu thứ tư của đoạn tuyệt cú. Dĩ nhiên chữ sau hết trong 2 chữ nầy phải là chữ vận.
Ông Quách Tấn ra luật nên ông phải ra thí dụ. Cho tới năm 1975 chỉ có 1 bài thơ khuyết danh có 2 chữ ở câu thứ tư là thí dụ do ông Quách Tấn đưa ra trong sách Thi Pháp Thơ Đường của ông.

 

Bài 12:
ÔNG TÁO
Hăm ba ông táo dạo chơi xuân
Đội mũ mang hia chẳng mặc quần
Thượng đế hỏi sao ăn mặc thế?
Duy tân.
(Khuyết danh)
Sau 1975, có phong trào làm bài thơ Yết Hậu dùng 3 câu đầu có 5 chữ và câu thứ tư có 2 chữ gọi là Thơ 17 Chữ nhưng họ không theo Đường Luật cho 3 câu đầu. Do đó không thể gọi là Thơ Yết Hậu được vì Thơ Yết Hậu là một biến thể của Thơ Đường Luật.
*
Tản Đà làm bài thơ Yết Hậu có tới 5 câu thay vì 4 câu: 4 câu đầu là Đường Luật Tứ Tuyệt và câu thứ năm có 2 chữ gồm 1 chữ vận.

 

Bài 13:
GÀ THIẾN
Gà thiến muốn đi tu
Chưa thuộc tiếng nam mô
Cửa Phật chắc không hẹp
Cho nhờ chỗ bóp bu
Cúc cu.
(Tản Đà)
Đây có lẽ là bài thơ đầu mà cũng là bài thơ cuối làm theo điệu của Tản Đà nầy!

 

c) Kết Luận
Thơ Yết Hậu là một biến thể của thơ Đường Luật. Câu thơ phải theo đúng Niêm Luật và Đối của Đường Luật. Có vài câu thơ trong những bài thơ của Phạm Thái có 6 chữ là vì theo Hàn Luật.
Bài thơ Yết Hậu có câu thứ tư gồm 1 chữ vận thông dụng và hay hơn bài thơ có câu thứ tư gồm 2 chữ.
Thi nhân Đường Luật ít làm thơ Yết Hậu vì:
Thơ dễ làm nên không có giá trị văn chương lắm.
Nội dung thường chỉ dùng để trêu chọc và hơi cộc lốc.
Khuynh hướng biến Thơ Yết Hậu thành Thơ 17 Chữ lại càng giảm giá trị của bài thơ.
Những bài thơ Yết Hậu đều làm bằng Việt ngữ (gồm Hán ngữ và tiếng Nôm) do đó nguồn gốc của Thơ Yết Hậu là từ người Việt chứ không phải từ người Trung Hoa. Văn học sử cho thấy rằng ông Phạm Thái là người đầu tiên làm Thơ Yết Hậu, như vậy chúng ta có thể kết luận rằngông Phạm Thái là người sáng tạo Thơ Yết Hậu. Hơn nữa ba  kiểu Thơ Yết Hậu đều có từ Phạm Thái.


Bs PHAN THƯỢNG HẢI biên soạn và giữ bản quyền


Bài nầy đăng lần đầu trong phanthuonghai.com trong mục Thơ Văn phần Đọc Thơ Cổ điển.
 

Tài liệu tham khảo:
1) Văn Uyển (Lãng Ba Phan Văn Bộ)
2) Thơ Quốc Ngữ Nam Kỳ (Phan Thượng Hải) - phanthuonghai.com
3) Phép Làm Thơ (Diên Hương)
4) Thi Pháp Thơ Đường (Quách Tấn)
5) Thơ và Sử Việt - Nhà Lê (Bs Phan Thượng Hải) - phanthuonghai.com
Bs PHAN THƯỢNG HẢI biên soạn và giữ bản quyền

____________________

CÂY PHONG TRONG BÀI THƠ “PHONG KIỀU DẠ BẠC”

 

Trương Kế tự là Ý Tôn, người Tương Châu (Hồ Bắc) đậu Tiến sĩ năm 753 vào đời Đường Huyền Tông (Đường Minh Hoàng) và làm quan với nhà Đường. 

Ông có một bài thơ rất nổi tiếng và rất được ưa chuộng cho đến ngày nay, được có tựa đề là “Phong Kiều Dạ Bạc”. 

 

PHONG KIỀU DẠ BẠC

Nguyệt lạc ô đề sương mãn thiên

Giang phong ngư hỏa đối sầu miên

Cô Tô thành ngoại Hàn San tự 

Dạ bán chung thanh đáo khách thuyền.

(Trương Kế)

 

“Phong” trong “Giang phong” không có nghĩa là “Gió” như đã lầm tưởng, mà là “Cây Phong” (1 loại cây không phải là Cây Bàng như đã lầm tưởng).  

 

A. Bài thơ “Phong Kiều Dạ Bạc”

 

*

Tương truyền Trương Kế làm được có 2 câu đầu thì nhờ một giai thoại mới làm được 2 câu sau.

Hai câu đầu:

 

         Nguyệt lạc ô đề sương mãn thiên

         Giang phong ngư hỏa đối sầu miên

 

 

Giai thoại được ghi trong sách Thơ Đường của Trần Trọng San:

Một đêm kia, vị sư tại chùa Hàn San làm được 2 câu thơ tả Mặt Trăng:

 

         Sơ tam sơ tứ nguyệt mông lung

         Bán tự ngân câu bán tự cung

 

         (Dịch)

         Mồng ba mồng bốn trăng mờ

         Nửa như móc bạc nửa như cung trời

 

Rồi chú tiểu làm tiếp hai câu:

 

         Nhất phiến ngọc hồ phân lưỡng đoạn

         Bán trầm thủy để bán phù không

 

         (Dịch)

         Một bình ngọc trắng chia hai

         Nửa chìm đáy nước nửa cài từng không.

 

Vị sư mừng quá bèn sai chú tiểu lên điện thắp hương rồi gióng chuông để tạ ơn Phật đã ngẫu nhiên giúp cho thầy trò làm được bài thơ 4 câu ưng ý:

 

Sơ tam sơ tứ nguyệt mông lung

Bán tự ngân câu bán tự cung

Nhất phiến ngọc hồ phân lưỡng đoạn

Bán trầm thủy để bán phù không

 

Chính nhờ tiếng chuông này mà Trương Kế nghe được nên ông mới nghĩ ra 2 câu sau của bài thơ "Phong Kiều Dạ Bạc" của mình:

 

         Cô Tô thành ngoại Hàn Sơn tự 

         Dạ bán chung thanh đáo khách thuyền.

 

Như vậy sau bài thơ của vị sư và chú tiểu của chùa Hàn San (Hàn San tự), Trương Kế nghe tiếng chuông chùa mà làm xong bài thơ:

 

PHONG KIỀU DẠ BẠC

Nguyệt lạc ô đề sương mãn thiên

Giang phong ngư hỏa đối sầu miên

Cô Tô thành ngoại Hàn Sơn tự 

Dạ bán chung thanh đáo khách thuyền.

(Trương Kế)

 

*

Bản dịch phổ thông nhất từ xưa thường được cho là của Tản Đà (thế kỷ 20) nhưng ngày nay được biết là của Nguyễn Hàm Ninh thời vua Tự Đức (thế kỷ thứ 19): 

 

BAN ĐÊM ĐẬU THUYỀN TẠI BẾN PHONG KIỀU

Trăng tà tiếng quạ kêu sương

Lửa chài cây bến sầu vương giấc hồ

Thuyền ai đậu bến Cô Tô

Nửa đêm nghe tiếng chuông chùa Hàn San.

 

Và đây là bản dịch sau này của Tản Đà (trong thời Pháp Thuộc, thế kỷ 20):

 

BAN ĐÊM ĐẬU THUYỀN TẠI BẾN PHONG KIỀU

Họa kêu, trăng lặn, sương rơi

Lửa chày, cây bãi, đối người nằm co

Con thuyền đậu bến Cô Tô

Nửa đêm nghe tiếng chuông chùa Hàn San. 

 

*

Chú thích của Trần Trọng San trong sách "Thơ Đường":

         Phong Kiều: tên đất ở phía tây Ngô Quận thuộc tỉnh Giang Tô.

         Cô Tô: tên núi ở tây nam Ngô Quận. Cuối thời Xuân Thu, Ngô Vương Phù Sai đắp đài cho Tây Thi ở đây.

         Hàn San tự: chùa này ở phía Tây của Phong Kiều.  Đời nhà Đường có 2 vị sư tên là Hàn San và Thập Đắc trụ trì tại đây nên có tên là Hàn San tự (chùa Hàn San).

 

Chú thích của Google Wikipedia (năm 2023):

         Chùa Hàn San là một ngôi chùa hẻo lánh ngoài thành Ngô Huyện thuộc tỉnh Giang Tô. Xung quanh bát ngát rừng mai, phía sau dòng sông xanh ngắt lững lờ uốn khúc, giữa hai dãy núi sừng sững vươn mình trong làn mây trắng xóa. 

         Chùa ở bên cầu có cây "phong" nên gọi là Phong Kiều. Trên sông đêm có ánh lửa chài. Bài thơ của Tần Thục đời Tống có câu: " Ô đề nguyệt lạc kiều biên tự "(Quạ kêu trăng xế chùa bên cầu) và thơ Khang Hữu Vi đời Thanh, có câu "Lãnh tận Hàn San cố tự phong (Lạnh đến cả cây phong bên chùa cổ Hàn San) đều nói rõ chùa Hàn San bên cầu có cây "phong". Như vậy, Giang phong và Ngư hỏa trong bài thơ trên vẫn là cây bên sông và lửa chài, chứ không phải là tên 2 quả núi Giang Phong và Ngư Hỏa như một vài giả thuyết đã nói. 
 

Chữ Phong 楓 trong "Phong Kiều" và "Giang phong" đều có nghĩa là 1 loại cây gọi là Cây Phong.  Chữ Phong (Hán tự) có nghĩa là "Gió" thì viết khác.  Như vậy giải thích của Wikipedia là đúng.

Ta có thể nói là (bến sông) Phong Kiều có cầu (= kiều) và có cây “phong” (= phong) nên được đặt tên là Phong Kiều.

 

Chú thích thêm của Trang Thơ Trương Kế trong Thi Viện:

         Cô Tô: là (tp) Tô Châu. Vì có núi Cô Tô ở tây nam Tô Châu nên Tô Châu còn được gọi là Cô Tô.

         Hàn San tự: ở phía Tây của trấn Phong Kiều, Tô Châu.  Chùa được xây vào đời Lương Võ Đế (502-519).  Đến đời Đường Thái Tông niên hiệu Trinh Quan (627-649) thì bắt đầu có tên là Hàn San tự theo tên của một vị sư "điên" (= cuồng sĩ) tu ở đây.  Có tượng của sư Hàn San nầy và sư Thập Đắc ở trong chùa. 

 

*

Tuy nhiên những bản dịch thơ ra Việt ngữ đều không chính xác.  Nếu ta đọc kỹ bài thơ Hán ngữ và tìm hiểu ý nghĩa từ chữ thì hay hơn.

 

PHONG KIỀU DẠ BẠC

Nguyệt lạc ô đề sương mãn thiên

Giang phong ngư hỏa đối sầu miên

Cô Tô thành ngoại Hàn Sơn tự 

Dạ bán chung thanh đáo khách thuyền.

(Trương Kế)

 

Giải thích:

         Phong Kiều: tên bến sông ở cạnh chùa Hàn San, ngoại thành Cô Tô.

         Dạ = ban đêm.  Bạc = thuyền ghé bến.

         Nguyệt = mặt trăng.  Nguyệt lạc = mặt trăng lặn. Ô = chim quạ (còn có nghĩa là: chim sắc đen, chim sáo).  Đề = (chim) kêu.  Sương = sương, mù sương.  Thiên = trời.  Mãn thiên = đầy trời.

         Giang = sông.  Giang phong = cây Phong ở (bên) sông.

         Ngư = chài, thuyền chài.  Hỏa = lửa.  Ngư hỏa = lửa đốt trên thuyền chài (cho soi sáng lúc ban đêm). Đối = đáp lại, hợp với. 

         Sầu = buồn rầu. Miên  眠 = ngủ.

         Thành ngoại = ngoài thành.  Câu 3: Hàn San tự ở ngoài thành Cô Tô. 

         Dạ bán = nửa đêm.  Chung = cái chuông.  Chung thanh = tiếng chuông.  Đáo = đến, đến nơi đến chốn.  Khách thuyền = thuyền chở khách, nơi tác giả Trương Kế đang ở (và làm thơ). 

 

*

Nhà thơ đời nhà Thanh là Vương Ngư Dương, từng đáp thuyền đi Tô Châu, dừng ở bến Phong Kiều, lúc ấy trời xẩm tối, mưa gió đầy trời, họ Vương đã đến bên trước cửa chùa đề hai bài thơ tứ tuyệt: 
 

Nhật mộ đông đường chính lạc triều

Cô bồng bạc xứ vũ tiêu tiêu

Sơ chung dạ hỏa Hàn San tự

Ký quá Ngô phong đệ kỷ kiều.

 

Giải thích:

         Nhật mộ = trời tối. Đông đường = bờ đông.  Chính = ngay (lúc).  Lạc triều = thủy triều xuống.

         Cô = một mình.  Bồng = thuyền buồm. Cô bồng = một chiếc thuyền buồm mà thôi. Bạc = thuyền ghé bến.  Xứ = chỗ nơi.  Bạc xứ = Chỗ, nơi thuyền ghé bến.  Vũ = mưa.  Tiêu tiêu = thấy rõ ràng.

         Sơ = ít, không nhiều.  Sơ chung = Tiếng chuông thưa thớt.  Dạ hỏa = lửa ban đêm.  

         Ký = nhớ.  Quá = qua.  Phong = cây phong.  Ngô phong = cây phong ở Ngô Quận.  Đệ = theo thứ tự. Kỷ kiêu = ngạo mạn mình. Câu này: Nhớ đi qua những cây phong ở Ngô quận theo thứ tự mà ngạo mạn (mình). 

 

Bài thơ của Vương Ngư Dương cũng nói đến Phong (là Cây Phong) như bài thơ Phong Kiều Dạ Bạc của Trương Kế.

 

B. Cây Phong trong “Phong Kiều Dạ Bạc”

 

*

Chữ Phong 楓 trong "Phong Kiều" và "Giang phong" đều có nghĩa là 1 loại cây gọi là Cây Phong.  Chữ Phong (Hán tự) có nghĩa là "Gió" thì viết khác.

 

- Theo Hán Việt từ điển của Đào Duy Anh,

Phong 楓 (hay Cây Phong) = Cây Bàng.

 

Phong là Hán ngữ (Hán Việt ngữ) nhưng Bàng là Tiếng Nôm chứ không phải là Hán ngữ.

 

- Wikipedia viết:

Cây Bàng (= Indian almond tree), danh pháp là Terminalia catappa, là một loài cây thân gỗ lớn sinh sống chủ yếu ở vùng nhiệt đới, thuộc họ Trâm bầu (Combretaceae). Nguồn gốc của loài này hiện vẫn đang là vấn đề gây tranh cãi, nó có thể có nguồn gốc từ Ấn Độ, bán đảo Mã Lai hay New Guinea. 

Loài cây này có thể mọc cao tới 35m, với tán lá mọc thẳng, đối xứng và các cành nằm ngang. Khi cây già hơn thì tán lá của nó trở nên phẳng hơn để tạo thành hình dáng giống như cái bát trải rộng. Lá to, dài khoảng 15–25 cm và rộng 10–14 cm, hình trứng, xanh sẫm và bóng. Đây là loài cây có lá sớm rụng về mùa khô; trước khi rụng thì các lá chuyển màu thành màu đỏ ánh hồng hay nâu vàng, do các sắc tố như violaxanthin, lutein hay zeaxanthin.  

 

- Theo Hán Việt tự điển của Trần Trọng San và Trần Trọng Tuyên.

Phong 楓 (= Cây Phong) = một loại cây, có lá màu đỏ vào mùa Thu.   

 

- Theo Wikipedia,

Cây Phong = Maple tree. Maple tree có nhiều loại (species) nhưng cũng có loại Terminalia sp.   

 

- Theo Đại Nam Nhất Thống Chí viết về các loại Cây ở nước Việt Nam, chỉ có Cây Bàng chứ không có Cây Phong.  Có thể không có Cây Phong ở nước Việt (nhất là ở Miền Nam theo khí hậu nhiệt đới), mà chỉ có cây Phong (Phong) ở những nước có khí hậu ôn đới như Trung Quốc.

Theo Đại Nam Nhất Thống Chí,

Cây Bàng = Sơn Phong (hay Cây Sơn Phong).

 

- Kết luận: 

Cây Phong (= Phong = Maple tree) trong “Phong Kiều Dạ Bạc” không phải là Cây Bàng (= Sơn Phong = Indian almond tree).  

 

*

Thi văn nước Việt cũng có nói đến Cây Phong (Maple tree) giống như Cây Phong trong “Phong Kiều Dạ Bạc”:

 

- Đoạn Thơ của Nguyễn Du trong Truyện Kiều:

 

Người lên ngựa kẻ chia bào

Rừng phong thu đã nhuộm (nhuốm) màu quan san

Dặm hồng bụi cuốn chinh an

Trông người đã khuất mấy ngàn dâu xanh

Người về chiếc bóng năm canh

Kẻ đi muôn dặm một mình xa xôi

Vầng trăng ai xẻ làm đôi

Nửa in gối chiếc nửa soi dặm trường.

 

- Bài Thơ “Gió Thu” của Tản Đà:

 

Trận gió thu phong rụng lá vàng

Lá bay tường bắc lá bay sang

Vàng bay mấy lá năm già nửa

Thơ thẩn ai xui thiếp phụ chàng.

 

Trận gió thu phong rụng lá hồng

Lá bay tường bắc lá sang đông

Hồng bay mấy lá năm hồ hết

Thơ thẩn kìa ai vẫn đứng trông.  

 

- Từ đó, hậu sinh có bài thơ tổng kết ý tứ những lời thơ của Nguyễn Du và Tản Đà cùng với lời thơ “Phong Kiều Dạ Bạc”.

 

THU PHONG  

Thu phong cổ thụ thắm duyên đời 

Điển tích văn chương tự cựu thời   

Dạ bạc phong kiều liên cảnh động 

Lâm ly phong sắc biệt tình khơi 

Lá vàng thu đến tâm sầu lẻ 

Lá đỏ thu đi dạ nhớ vời 

Lãng mạn văn hoa theo gió thoảng

Thu hương còn đó, lá đà rơi. 

(Phan Thượng Hải)

11/10/25  

 

*

Ca dao Việt Nam mượn 4 câu thơ của Phong Kiều Dạ Bạc mà làm thành một bài thơ với ý tứ khác:

 

Nguyệt lạc ô đề sương mãn thiên

Giang tân ngư hỏa đối sầu miên

Đêm khuya nghe tiếng ai hỏi nhỏ bên thuyền

Hỏi thăm quân tử vượt miền đi đâu?

 

Cô Tô thành ngoại Hàn Sơn tự 

Dạ bán chung thinh đáo khách thuyền

Ai hỏi đon chi đó giống in tiếng con bạn hiền

Đây anh lo phản mại kiếm tiền nuôi thân.

 

Ca dao Việt Nam viết là Giang tân (Giang tân = bờ sông.  Tân = bờ sông); thay vì là Giang phong = cây phong bên sông.  Nếu Trương Kế theo ý tứ của Ca dao Việt Nam thì câu thơ dễ hiểu hơn?

 

Bs PHAN THƯỢNG HẢI biên soạn và giữ bản quyền  

 

Tài liệu tham khảo:

Thơ Đường (Trần Trọng San)

Trang Thơ Thi Viện

Thơ Tình trong Ca Dao (Bs Phan Thượng Hải) – phanthuonghai.com

Wikipedia

Đại Nam Nhất Thống Chí (Quốc Sử Quán Triều Nguyễn)  

____________________

bottom of page