hmpg.jpg
Titlej (1).jpg
TL_Butmuc.png

VIẾT CHUNG

Chúng ta cùng viết - Chúng ta cùng đọc              

tl_teardrop.jpg
TL_30thang4vaBoatPeople.jpg

Tưởng

nhớ

Nguyễn Thị Thanh Dương, Kim Loan, Cao Vị Khanh    

I'm a paragraph. Click here to add your own text and edit me. It's easy.

I'm a paragraph. Click here to add your own text and edit me. It's easy.

 

NGUYỄN THỊ THANH DƯƠNG:

 

 

 

 

 

 

Ai may mắn đi qua cầu Jetty,

Pulau Bidong làm người tị nạn,

Những người Việt Nam lìa quê vượt biển,

Đến Mã Lai chờ ngày đi định cư.

Chỉ là chiếc cầu gỗ dài đơn sơ,

Chiếc cầu lạ của người dưng xứ lạ,

Ngày đầu tiên đi qua cầu bỡ ngỡ

Ở lại đây cầu bỗng hoá thân tình..

Ai  có lúc đứng trên cầu một mình,

Biển mênh mông mà nhìn về một hướng,

Biển Bidong chân trời hoàng hôn xuống,

Nước mắt như biển mặn nhớ quê nhà.

 

Ai đã đón người qua cầu Jetty,

Thuyền nhân mới đến kẻ quen người lạ,

Chiếc cầu  chuyển thực phẩm và hàng hóa,

Chiếc cầu vui buồn đời sống tạm dung

 

Ai  đã rời cầu Jetty thân quen,

Ai đứng bên cầu Jetty bịn rịn,

Ngày đi định cư chiếc cầu đưa tiễn ,

Biển Bidong rào rạt dưới chân người.

 

Cám ơn biển đã đưa ta đến nơi,

Cám ơn đảo đã vòng tay mở rộng,

Thương chiếc cổng đơn sơ khi mới đến,

Thương: “Welcome to Pulau Bidong”.

 

Mong đi định cư sao chân ngại ngùng,

Sao bước chậm khi qua cầu đến thế,

Đến rồi đi. Chào cầu Jetty nhé,

Đến rồi đi cảm động lúc qua cầu.

 

Bao nhiêu kỷ niệm bỏ lại nơi này,

Đời tị nạn, một khoảng đời thương qúa…

Cầu tiễn ta đi về miền đất hứa,

Ta đi đâu vẫn nhớ chiếc cầu này..

    Nguyễn Thị Thanh Dương.

 

KIM LOAN

 

THÁNG TƯ CỦA NGƯỜI VƯỢT BIỂN

(Để nhớ những chuyến tàu ra khơi vì tự do)

 

Ai đã từng qua một lần vượt biển

Sau Tháng Tư, Một Chín Bảy Mươi Lăm

Tìm tự do nơi miền đất xa xăm

Trên những con thuyền với bao ước mộng?

 

Biển ban ngày dịu màu xanh hy vọng

Lòng kẻ xa nhà gợn sóng hoang mang

Bỏ lại quê hương, bỏ lại người thân

Và mẹ già đang từng ngày trông ngóng

 

Biển ban đêm, là màu đen hoang vắng

Bóng tối chập chờn nỗi sợ mênh mông

Thuyền bơ vơ trôi đi giữa biển đông

Mong trời sáng thấy bình minh ló dạng

 

Có khi biển chợt nổi cơn điên loạn

Sóng bạo tàn, gào thét khắp trùng khơi

Thuyền lênh đênh như chiếc lá chơi vơi

Biển bao la nào thấy đâu bờ bến

 

Cũng có khi biển lạnh lùng tàn nhẫn

Đồng loã cùng bọn hải tặc hung hăng

Gieo kinh hoàng và những tiếng khóc than

Trong giây phút, thuyền chao nghiêng rạn vỡ

 

Nhưng biển cũng mở lòng ra che chở

Những xác thân vừa nằm xuống đại dương

Mộng tự do mang theo cõi vô thường

Xin yên nghỉ nơi đây nghe sóng vỗ

 

Biển cũng đưa những con thuyền bé nhỏ

Vào đất liền trong bao nỗi mừng vui

Đói khát, sợ lo, hiểm nguy qua rồi

Nơi đất lạ, thắp lên niềm tin mới

 

Cám ơn Bidong, Galang, White Head

Panat, Sikiew, Palawan, Songkla…

Bỗng thân thương để ta gọi là “nhà”

Chốn tạm dung vẫn thấy lòng ấm áp

 

Cám ơn Cao Uỷ, cám ơn Red Cross

Cùng những đoàn thiện nguyện khắp năm châu

Vẫn còn đây trong cuộc sống nhiệm màu

Người với người trao nhau tình đồng loại

 

Ta nếm trải buồn vui đời tỵ nạn

Vẫn đau lòng nhớ chuyến hải hành qua

Biển hiện về, cay đắng lẫn thiết tha

Trong khuya vắng giữa những cơn mộng mị

 

Bốn mươi bảy năm! Biển mãi là kỷ niệm

Của những thuyền nhân vượt biển khi xưa

Thời gian qua, cũng chẳng thể xoá nhoà

Ký ức biển… Một thời ta đã có

 

KIMLOAN ___________________

 

CAO VỊ KHANH

Chiều tháng tư về qua sông Cổ Chiên

 

Gió quậy tư bề sóng nhọn hoắc

Thuyền quay như lá cuối mùa rơi

Người qua sông muộn tay ghìm chặt

Vực trống chìm sâu đến rụng rời

 

Nước chảy hung hăng lở sạt bờ

Tưởng ngàn vó ngựa sải qua mau

Người về từ cõi đầy xương sọ

Lòng bể trăm chiều miểng cứa đau

 

Nước vẫn tuôn tuôn, sầu cuộn cuộn

Ngó lục bình trôi tưởng rã hàng

Người xưa có đợi ? Chờ có muộn ?

Mà cứ trông chừng một bóng sang

 

Thuở nhỏ qua sông ý đã liều

Thách trời, kiêu ngạo cả hư vô

Hai mươi năm lẻ về vội vã

Nước mất, đường quê rặt bóng mồ

 

Gió đẩy thuyền đi, hận quá giang

Cồn xa bỗng lạnh rợn âm quen

Chiêng trống thời xưa gào xung trận

Trách kẻ đời nay để phận hèn

 

 CAO VỊ KHANH _____________

NGUYỄN THỊ THANH DƯƠNG:

NTTD_JettyBridge_2.png
CVK_TuyButThangTu.JPG

thơ Trần Hoài Thư                    

 

Ơn đền nợ trả
                   (trich từ Thơ làm ở tuổi 80)
1.

Ngày và đêm, đêm và ngày
Làm sao tôi biết thân này của tôi
Mẹ tôi cho tôi ra đời
Đao binh tôi xỏ đôi giày saut da
Hòa bình, đốn củi lợp nhà
Nợ nần tôi được hóa thân thú người
Tôi vay tôi trả cho đời
Giờ tôi 80 còn gì trả không?

Sao mà dạ cứ bâng khuâng
Sẹo hằn thân thể vẫn nằm ngủ yên
Này miễng lựu đạn màu đen
Này vết sẹo láng như viền album
Này đùi non, dấu chiến thương
Vậy mà vẫn sống sau mùa binh đao

Ơn này không biết trả ai ?

(thơ làm ở tuổi 80)

 

Chiêm bao

 

Bởi chiêm bao không mọc lên từ chiến hào
Mà đến từ đằng sau màn khói thuốc
Khi cô hàng cà phê má đỏ hồng trong bếp
Nồi nước sôi reo, hồn lính reo sôi
Trên vách nhà in bóng ba thằng lính phong sương
Thêm bóng khẩu súng trường lặng im,
nòng súng kề vai cùng ông thầy sống chết

Vây mà những hớp xây chừng sao mà đậm đà quá sức
Khiến ta cà đời nhớ quán sớm với bài thơ:

"Mở hàng. Súng  gát vào phên vách
Đôi giày bùn ướt còn bám đầy
Cô hàng ơi, xin ly xí nại
Mới ở mật khu về, thèm quá cà phê

Quán chật, mấy thằng ngồi cụm sát
Bỏ qua đêm trắng mắt bằng đồng
Nghe như mùi đất còn vương tóc
Lính bụi mà, em có thương không ?"

THT

YungKrall_audiobook_2.JPG
YungKrall_book.JPG

Danh sách tưa đề cho 44 chương của cuốn sách NGÀN GIỌT LỆ RƠI,

và link trên Youtube: 

 

  1. Lời giới thiệu cho cuốn sách. 

  2. Năm 1954chương 1https://www.youtube.com/watch?v=zFQePiAO1iU&t=1657s

  3. Người làm Cách Mạngchương 2Ahttps://www.youtube.com/watch?v=IiOboiAse3s

  4. Cuộc sống gia đình kháng chiến miền Namchương 2Bhttps://www.youtube.com/watch?v=6kwr7J9VaMI&t=3s

  5. Mẹ tôi và Ông Ngoại-chương 3Ahttps://www.youtube.com/watch?v=Iw7US75U81w

  6. Quyết định Chia ly-chương 3Bhttps://www.youtube.com/watch?v=HWWm_LdVk1c

  7. Giữa 2 lằn ranh-chương 4https://www.youtube.com/watch?v=uert1evHlz0

  8. Đi Saigon lần đầuchương 5https://www.youtube.com/watch?v=v7URrCzKNhU

  9. Rắc rối ở Saigonchương 6https://www.youtube.com/watch?v=ommGkoAIRZY&t=294s

  10. Tuổi thơ và Cần Thơchương 7https://www.youtube.com/watch?v=L1rRmmvFuqY

  11. Trở lai Saigon chương 8. https://www.youtube.com/watch?v=eyB15OAEjqQ

  12. Giấy khai sinh mớichương 9https://www.youtube.com/watch?v=4-PmiuGfDa8&t=131s

  13. Phải nói dốichương 10https://www.youtube.com/watch?v=alD_Qg9MkT0

  14. Tà đạo bủa vâychương 11. https://www.youtube.com/watch?v=6gKpTx_gung&t=4s

  15. Người Mỹ và làn sóng di cưchương 12https://www.youtube.com/watch?v=6LDCAJGidk0

  16. Vào Trung học Công lậpchương 13https://www.youtube.com/watch?v=79gZSuZS-Io&t=2s

  17. Nỗ lực tuyên truyềnchương 14. https://www.youtube.com/watch?v=Dj-8CzkwUHs

  18. Năm 1963- chương 15A. https://www.youtube.com/watch?v=UPaUHdpIjYM&t=3s

  19. Lý lịch và việc làmchương 15Bhttps://www.youtube.com/watch?v=XG0DfjGyFCM

  20. Biên tập viênchương 16https://www.youtube.com/watch?v=qrbwuIvDKlU&t=2s

  21. Thử tháchchương 17https://www.youtube.com/watch?v=W5tSGTm0Q-8&t=3s

  22. Phép lạchương 18https://www.youtube.com/watch?v=oZxUBEyvBzM&t=3s

  23. Người Quốc Gia - chương 19https://www.youtube.com/watch?v=NnKSmRImQFw&t=4s

  24. Gái Cần Thơ- chương 20https://www.youtube.com/watch?v=k3KXDSR89rM&t=11s

  25. Đi làm sở Mỹchương 21. https://www.youtube.com/watch?v=lrcFqyB9d_Y

  26. Cặp mắt xanh- chương 22. https://www.youtube.com/watch?v=OJmJ-09KSoY&t=32s

  27. Tết 1968chương 23https://www.youtube.com/watch?v=lvw5iqDmer4&t=27s

  28. Lấy chồng xa- chương 24. https://www.youtube.com/watch?v=ARcdX3NFmK0&t=1s

  29. Chí làm traichương 25https://www.youtube.com/watch?v=bqc-aEYz6hA&t=33s

  30. 1975- Tin dữchương 26. https://www.youtube.com/watch?v=hHDVPGVSvUs&t=366s

  31. Mạo hiểm về Saigonchương 27. https://www.youtube.com/watch?v=31dIM0_C8DY&t=66s

  32. Trùm CIAchương 28. https://www.youtube.com/watch?v=ltojyc3aYqo&t=10s

  33. Định mệnh bắt đầu- chương 29https://www.youtube.com/watch?v=95fy1EuGKVU&t=392s

  34. Đi Tokyochương 30. https://www.youtube.com/watch?v=58sYBwfbJOE&t=7s

  35. Tình Cha con- chương 31https://www.youtube.com/watch?v=F1c3SmtZnLI

  36. Lời con trẻchương 32https://www.youtube.com/watch?v=l5vABgEFois&t=2s

  37. Lá thưchương 33https://www.youtube.com/watch?v=_fLcTLmNpUM&t=2s

  38. Một chuyến đichương 34. https://www.youtube.com/watch?v=4sd4dpOofh0&t=2s

  39. Vào sứ quán giặcchương 35https://www.youtube.com/watch?v=iONNFk6XcLg&t=518s

  40. Giáp mặtchương 36https://www.youtube.com/watch?v=97iJffSYC8s&t=4s

  41. Ép buộc hồi hươngchương 37. https://www.youtube.com/watch?v=CrV1YF8m7r4&t=2s

  42. Sự lựa chọnchương 38 A. https://www.youtube.com/watch?v=yymr3LTh3pE&t=2s

  43. Đinh Bá Thichương 38Bhttps://www.youtube.com/watch?v=-_HcDLP5tNU&t=2s

  44. Huỳnh Ngọc Châuchương 39https://www.youtube.com/watch?v=f1fghFFL8_Y&t=6s

  45. Trương Đình Hùngchương 40https://www.youtube.com/watch?v=A0BrJUxJCXA&t=5s

  46. Chuyển đến Luân Đônchương 41https://www.youtube.com/watch?v=BmIupY0ruAc&t=9s

  47. Tình vợ chồngchương 42. https://www.youtube.com/watch?v=PE0-n4A7NFU&t=7s

  48. Tâm sự của Bachương 43. https://www.youtube.com/watch?v=dd9kTlrPBeU&t=3s

  49.  Viếng Thăm Chấm Dứt-chương 44Chương cuốihttps://www.youtube.com/watch?v=eL8DuNmKmBQ&t=6s

  50. Lời Bạt.(Chưa xong)

________________________________

THT_Tocboduoiga_1.jpg

Bạn bè khuyên tôi phải nghỉ ngơi, làm tuỳ sức, tuổi 80 rồi còn gì. Tôi cứ thắc mắc nghỉ ngơi nghiã là làm sao. Ngủ ? tôi rất khó ngủ, Đọc sách ? Phần lớn những sách tôi thích đều đọc trong thời tuổi trẻ. Sách bây giờ đọc càng nhức đầu thêm. Thiền ? Tụng kinh ? Gym ? đó cũng chỉ là những công việc đòi hỏi công sức. Vậy thì tôi phải làm gì đây để nghe lời khuyên của bạn bè thân mến.


Trưa nay con tôi chở tôi đến thăm mẹ nó ở Viện Dưỡng Lão. Thăm để thấy mặt, để càng đau lòng vì những con kiến càng, kiến lưả, kiến thợ của thời gian càng ngày càng đục khoét thân xác người bệnh. Vậy thì tôi phải làm gì, bạn khuyên tôi đi. Hay là tôi sẽ ngồi trưóc maý như bạn, xem youtube, hay 12 ngôi chuà đẹp nhất ở Huế... Trong khi cả thân hình tôi như xiêu đổ, tay chân tôi cuả thời mang giày saut giờ mang 2 caí cùm hay hai cục đá của thời gian. 

Bạn bè khuyên vì còn thương tôi. Có nghĩa là mấy lão trượng ấy chưa : “đoạn trường ai có qua cầu mới hay”. Chúc mừng bạn vì bạn không bốc nhầm lá thăm xấu. Lá thăm ấy đã có kẻ khác bốc nhầm rồi.

Chỉ có một kẻ không khuyên tôi nghỉ ngơi như bạn. Kẻ đó là con trai của tôi. Thỉnh thoảng nó mang về thùng giấy nặng triủ, để tôi in ấn sách báo hay mang ra bưu điện những thùng sách báo nặng trĩu giúp tôi gởi trả lại thư viện Cornell hay những thân hữu order sách của tôi. Nó là bác sĩ chuyên khoa về cưú cấp tại một bệnh viện cách nhà tôi hai tiếng đồng hồ xe chạy. Chỉ có nó mới bắt tôi làm việc, không nghỉ ngơi. Cứ mỗi lần tôi nằm lâu trên giường, nó gọi bảo ba phải hoạt động. Đi trong nhà. In sách..

Hoạt động. Nó không phải là bác sĩ về therapy để dạy tôi hoạt động như thế nào. Phần ấy là do tôi đảm trách. Tôi tự nghĩ ra, và tự làm. Không ai có thể nghĩ như tôi. Để bây giờ dù qua phim MRI, cái cục maú như cái mô vẫn tồn tại. Nó không phát triển để làm tắt nghẻn đường dây thần kinh. Nó chừa một khoảng trống. Và dù muốn dù không, nó cũng ảnh hưởng it nhiều đến sự vận hành của trí nảo, tay chân, và cơ thể.

Cái toa thuốc ông bác sĩ cho tôi là uống baby aspirin mỗi ngày để làm loãng máu. Phòng ngừa stroke mới. Không có thuốc làm tan cục máu nghẻn. Ông nói với tôi như thế – trừ mổ. Nhưng với cục maú rất nhỏ mổ thì rất nguy hiểm. Nhân viên therapy tập tôi một tháng như tập đứa con nít. Nào là tập bước chừng 5 thước. Tập leo tam cấp. Tập mở cửa vào xe (phía hành khách). Tập ráp đồ..…

Và việc tập lâu hay mau tuỳ thuộc vào insurance. Insurance cho bao nhiêu thì còn tâp, hết cho thì tốt nghiệp.

Thú thật, có tiến bộ thật. Tiến bộ ở đây là cầm chiếc càng walker mà bước. Nhưng cầm đủa muỗng thì run. Cơm hay thức ăn thường hay vuơng vải ra ngoài. Nhiều lúc tủi thân muốn rưng rưng nước mắt.

Vậy mà bây giờ, tôi đã đánh maý xong 140 trang khi thực hiện Giai phẩm TQBT số 97. Phép lạ? Hồi phục ? Không phép lạ gì hết, Mà phải Cảm tạ ông ký giả Lô Răng vì ông viết tạp ghi quá hay. Và củng cái sáng kiến gõ thơ, gõ văn trên keyboard, đã khiến những ngón tay của tôi thuần nhuyễn diệu kỳ. Tôi có thể xỏ chỉ vào kim khi thực hiện bộ thơ 5  cuốn cho một độc giả bên Úc mới đây. Lúc naỳ tôi mới hiểu được sự mầu nhiệm do “gõ chữ” mang lại.  Cậu bác sĩ con tôi tấm tức khen. Cô nhân viên ở trung tâm Rehab cũng thú nhận: cách cuả ông tuyệt vời. Tôi nói quá lời chăng. Không. Bằng chứng là cuốn Giai phẩm TQBT 97 được hoàn tất, do một mình tôi bao dàn từ A-Z được phát hành sau khi Bộ cũ TQBT thường lệ đình bản. Bạn bè noí là tôi điên hay thêm một lần tội nghiệp cho tôi. Có người giận vì tôi không nghe lời họ. Phân trần cách mấy họ cũng không nghe. Thôi  đành chịu mất lòng bạn bè chứ sao .

Hôm qua, cha con tôi đi thăm Y.. Nhà tôi được người giúp việc đẩy xe lăn từ phòng ra ngoài phòng khách. Cha con tôi tiếp tục la gào em/mẹ biết ai không ? Stroke mới nhất đã đánh nhà tôi, lần này ác liệt. Bên ngoaì đôi mắt ấy là vô hình. Đàng sau đôi mắt ấy là vô ảnh. Tôi nói với con tôi, phải chi mẹ bị stroke lúc naỳ, ba sẽ cưú mẹ, như ba tự cưú ba.

Lợi dụng cơ hội naỳ, tôi tự tập physical therapy. Đoạn đường hành lang khá dài. Cuối hành lang là phòng Rehab (phục hồi), tôi nhìn vào. Những ngưởi đang ngồi đạp xe. Một ông giả hét tao không muốn chụp khi cô chuyên viên thảy quả bong bóng về phía ông ta. Hay trên hành lang 2 người nhân viên đang tập một bệnh nhân đi bằng walker. Tôi không cần người diù, vịn, bởi tôi có Y. , có xe tình. Tôi đẩy xe, hai chân bước thong thả. Y. đang ngủ. Tôi chợt bàng hoàng. Hôm nay người giúp việc cắc cớ cột sợi dây thun vào máí tóc, làm như kiểu đuôi gà. Tôi  nhớ lại những câu ca dao:

Một thương tóc bỏ đuôi gà
Hai thương ăn nói mặn mà có duyên.
Ba thương má lúm đồng tiền,
Bốn thương răng nhánh hạt huyền kém thua.
Năm thương cổ yếm đeo bùa,
Sáu thương nón thượng quai tua dịu dàng.
Bảy thương nết ở khôn ngoan,
Tám thương ăn nói lại càng thêm xinh.
Chín thương cô ở một mình,
Mười thương con mắt có tình với ai.

Như vậy “tóc bỏ đuôi gà” được chiếm hàng đầu trong danh sách “anh thương”. Đừng chế nhaọ lão già này nhé. Cái đẹp là của chung mà. Cả một hình tượng trầm luân trước mặt bị che khuất vì tôi ở đằng sau lưng, chỉ thấy một giòng suối mun đen chảy trên lưng, óng ánh dướí ánh đèn nhiều nến. Đó là kiểu tóc bắt tôi mê mệt một thời. Nay nó đang trở lại, khiến đôi chân tôi bước mạnh thêm, con tim ấm áp thêm hơn bao giờ.

Tôi khoe với con tôi là hôm nay tôi đã đẩy xe mẹ đến 20 vòng. Tôi dấu việc máí tóc đuôi gà của mẹ đã giúp tôi đi khỏang 2 miles.

Trần Hoài Thư

KY_ChandungPTG_TVKy_2.JPG

CÁC BÀI VIẾT & TRUYỀN THANH

về CỤ PHAN THANH GIẢN và HỌC GIẢ TRƯƠNG VĨNH KÝ

nhân 1 văn bản ngày 5/1/2022 của Ban Tuyên Giáo

Nguồn: VOA & SBS

KY_banTuyenGiao_vvPTGTrVKy.JPG

BÀI # 1: LS WINSTON PHAN ĐÀO NGUYÊN

(Trích từ VOA 22/1/2022: https://www.voatiengviet.com/a/phan-thanh-gian-truong-vinh-ky-tuyen-giao-trung-uong/6407031.html

Phan Thanh Giản Và Trương Vĩnh Ký

- hai đại trí thức Nam Kỳ cùng chung số phận.

 


Phan Thanh Giản và Petrus Trương Vĩnh Ký, hai nhà đại trí thức của xứ Nam Kỳ Lục Tỉnh, tuy có xuất thân rất khác nhau, nhưng lại có rất nhiều điểm giống nhau.

Điểm giống nhau gần đây nhất là trong bản Công Văn số 2274 của Ban Tuyên Giáo Trung Ương Đảng Cộng Sản Việt Nam, với chỉ thị cho các địa phương từ tỉnh đến thành phố không được dùng tên của hai nhân vật lịch sử này để đặt cho đường phố hoặc các công trình công cộng - do còn “những ý kiến trái chiều” về hai người này. Bản công văn nói trên được viết vào ngày 5 tháng 1, 2022 với chữ ký của Phó Trưởng Ban Tuyên Giáo Phan Xuân Thủy.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Công văn của Ban Tuyên giáo Trung ương ngày 5/1/2022. Photo Sachhiem.

Theo bản công văn, vì cho đến nay “các cơ quan chức năng vẫn chưa làm sáng tỏ được những vấn đề liên quan đến hai nhân vật lịch sử Phan Thanh Giản và Trương Vĩnh Ký đối với lịch sử Việt Nam”, và Nghị Định Chính Phủ số 91 năm 2005 đã quy định rằng với những “nhân vật lịch sử còn có ý kiến đánh giá khác nhau hoặc chưa rõ ràng về mặt lịch sử”, thì không cho dùng tên để đặt cho đường phố và các công trình công cộng. Do đó, chiếu theo Nghị Định này, Phan Thanh Giản và Trương Vĩnh Ký là hai nhân vật lịch sử đã được đặc biệt nêu tên trong bản Công Văn, với chỉ thị “cụ thể” là không được dùng tên để đặt cho đường phố tại các địa phương từ tỉnh tới thành phố.

Tóm lại, vì Phan Thanh Giản và Trương Vĩnh Ký là hai nhân vật mà còn có những “ý kiến trái chiều”, hoặc “ý kiến đánh giá khác”, “chưa rõ ràng”, cho nên theo Nghị Định Chính Phủ số 91 và thực hiện bởi bản công văn này, hai nhà đại trí thức Nam Kỳ đã được Ban Tuyên Giáo Trung Ương ra lệnh đặc biệt cấm các địa phương không được dùng tên đặt cho đường phố.

Hai nhân vật lịch sử của thế kỷ 19 này đều là người sinh quán ở tỉnh Vĩnh Long thuộc Nam Kỳ, và nay lại cùng thuộc địa phận tỉnh Bến Tre. Một già một trẻ thuộc hai thế hệ khác nhau và hai xuất xứ hoàn toàn khác nhau, nếu không muốn nói là đối nghịch nhau.

Phan Thanh Giản theo cái học cử nghiệp Khổng Nho và là Tiến Sĩ đầu tiên của nhà Nguyễn xuất thân từ Nam Kỳ. Ông làm quan qua ba triều nhà Nguyễn, Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức. Văn tài của ông đã được vua quan nhà Nguyễn khen tặng là “cổ nhã”. Sự nghiệp làm quan của ông thăng trầm lắm lúc, nhưng ông chính là rường cột và là triều thần được tin tưởng và trông cậy duy nhất của vua Tự Đức để đối phó với Pháp, khi họ tấn công nước Đại Nam của nhà Nguyễn vào thập niên 1860s.

Sau khi đại tướng Nguyễn Tri Phương đại bại tại chiến lũy Chí Hòa vào năm 1861 và Pháp lần lượt chiếm hết ba tỉnh miền Đông Nam Kỳ là Gia Định, Định Tường, Biên Hòa, cộng thêm thủ phủ của ba tỉnh miền Tây là tỉnh Vĩnh Long, thì con đường chống cự bằng quân sự của nhà Nguyễn đã trở thành bất khả thi. Và vua Tự Đức lúc đó chỉ còn trông cậy vào Phan Thanh Giản với tài ngoại giao của ông để cầm chân quân Pháp tại Nam Kỳ, ngõ hầu quân Nguyễn có thể quay sang dẹp loạn Lê Duy Phụng ở Bắc Kỳ. Và Phan Thanh Giản đã thành công cho mục đích này qua việc ký kết hòa ước 1862, hợp thức hóa việc mất ba tỉnh miền Đông cho Pháp cũng như bồi thường chiến phí. Nhưng bù lại, vua Tự Đức được rảnh tay ở Nam Kỳ để quay ra Bắc Kỳ dẹp loạn. Và hơn nữa, Phan Thanh Giản còn điều đình để đòi lại được tỉnh Vĩnh Long theo điều số 11 của hòa ước 1862. Đây là một thắng lợi về ngoại giao của Phan Thanh Giản mà không một sử gia nào nhắc đến.

Và chính vì những thành công về mặt ngoại giao đó, Phan Thanh Giản đã được vua Tự Đức liên tiếp trao trọng trách qua Pháp để điều đình về hòa ước 1862 nhằm lấy lại ba tỉnh miền Đông. Mặc dù đã gần 70 tuổi, Phan Thanh Giản vẫn lãnh đạo phái đoàn nhà Nguyễn qua Pháp vào năm 1863 và đã thương thuyết có kết quả. Nhưng những điều thương thuyết tại Pháp sau đó đã không được Pháp thi hành, và người Pháp quyết định chiếm luôn ba tỉnh miền Tây. Một lần nữa, vua Tự Đức đã phải nhờ đến Phan Thanh Giản với tài ngoại giao và uy tín đặc biệt của ông đối với người Pháp khi cử ông làm Kinh Lược Sứ ba tỉnh miền Tây Nam Kỳ, với hy vọng mong manh là có thể giữ được ba tỉnh. Nhưng với quyết tâm của người Pháp và thế chênh lệch của hai bên, Phan Thanh Giản biết rằng không thể chống cự được. Rồi để tránh nạn binh đao cho người dân Nam Kỳ đã bao nhiêu năm khổ sở vì chiến tranh, ông đã viết sớ nhận tội với nhà vua và uống thuốc độc tự tử.

Do đó, có thể nói rằng Phan Thanh Giản chính là một người trung quân, và do đó, ái quốc tột bậc, không còn gì để tranh cãi. Còn về mặt đạo đức của ông thì danh tiếng thanh liêm của ông, lòng thương dân của ông đã vang lừng khắp Nam Kỳ lục tỉnh. Người thường dân Nam Kỳ đã có thơ để khen ngợi ông, và toàn thể nhân dân Nam Kỳ lúc đó và cho đến sau này cũng đều thương mến ông, chứ không hề có một “ý kiến trái chiều” nào khác cả.

Trong khi đó, Trương Vĩnh Ký lại có một xuất thân hoàn toàn đối nghịch với Phan Thanh Giản. Ông là người theo đạo Thiên Chúa và từ thuở nhỏ đã theo học tại các chủng viện ở Cao Miên rồi Mã Lai để trở thành linh mục. Là một chủng sinh, học vấn của ông căn bản là Tân học, là cái học của phương Tây, ngược lại với Phan Thanh Giản. Trương Vĩnh Ký nổi danh là một thiên tài về ngôn ngữ, điều mà tất cả mọi người đều phải công nhận, mặc dù những ngôn ngữ mà ông biết được phần nhiều là do tự học.

Năm 1858, khi từ Mã Lai trở về Việt Nam để chịu tang mẹ thì Trương Vĩnh Ký đã bị triều đình nhà Nguyễn đưa vào một hoàn cảnh không có sự lựa chọn: họ lùng bắt ông để bỏ tù, hoặc để xử tử, chỉ vì ông là một giáo dân và hơn nữa là một người sắp trở thành linh mục. Ông phải chạy trốn cuộc lùng bắt này từ Cái Nhum lên Sài Gòn và sau đó ra làm việc cho người Pháp trong vai trò thông dịch viên. Nghĩa là triều đình nhà Nguyễn đã không hề cho ông có một sự lựa chọn giữa họ và Pháp. Và Trương Vĩnh Ký cũng chưa bao giờ là một người theo cử nghiệp với cái quan niệm vua là con trời, cũng như chưa bao giờ nhận ân huệ của nhà Nguyễn như Tôn Thọ Tường. Có thể thấy rằng ông là một loại “du học sinh” từ nhỏ đã rời xa xứ sở, và khi mới trở về thì đã bị chính quyền lùng bắt chỉ vì tôn giáo của ông.

Nhưng mặc dầu như vậy, Trương Vĩnh Ký đã không hề oán trách nhà Nguyễn với những nỗi gian khổ mà ông trải qua. Ông tin tưởng rằng đó là những thử thách của Chúa dành cho ông. Nhưng quan trọng hơn cả, ông phản đối việc quân Pháp đã mượn cớ cứu giúp các tín đồ Thiên Chúa Giáo để xâm lăng Việt Nam. Ông luôn luôn tự hào mình là người “An Nam”, và ông chính là người Việt đầu tiên đã nêu ra, đã thấy được cái “tình cảm dân tộc” hay cái “tinh thần dân tộc” của người Việt, khi mà chủ nghĩa dân tộc hoàn toàn chưa được biết đến tại Việt Nam. Cũng vì cái tinh thần dân tộc đó, ông đã kiên quyết từ chối không vào quốc tịch Pháp, cho dù người Pháp đã lắm phen yêu cầu.

Và Trương Vĩnh Ký còn có một phương châm sống vì người khác, sống để có ích cho những người chung quanh, hay nói đúng hơn, cho đồng bào của ông, được thể hiện qua câu Latin “sic vos non vobis”. Ông là người tiên phong trong việc dùng chữ quốc ngữ để dạy cho người Việt nhằm tiếp thu cái học phương Tây được nhanh chóng hơn. Ông đã sưu tầm, khảo cứu và lưu lại những tinh hoa trong kho tàng văn chương bình dân cũng như bác học của Việt Nam. Ông là ông tổ của ngành báo chí Việt Nam. Ông cũng chính là sử gia độc lập đầu tiên của Việt Nam. Có thể nói ngắn gọn rằng ông chính là ông tổ của nền học thuật tân thời nước Việt Nam.

Tóm lại, Trương Vĩnh Ký chính là người với chủ trương “dân tộc” đầu tiên, và chính là người đã tạo dựng nên nền học thuật tân thời của Việt Nam, với những đóng góp cực kỳ đa dạng về nhiều phương diện, từ văn chương, báo chí, giáo dục, đến lịch sử, phong tục, đạo đức …

Nghĩa là cả hai nhà đại trí thức xứ Nam Kỳ, Phan Thanh Giản và Trương Vĩnh Ký, tuy có hai xuất xứ khác nhau, hai con đường tiến thân và trưởng thành khác nhau, nhưng họ lại có một điểm chung rất lớn: đó là lòng thương mến đồng bào của họ và việc họ đã làm hết sức trong khả năng để giúp đỡ và bảo vệ những người đồng bào này.

Cũng bởi điểm chung đó mà họ đã thông cảm nhau, cho dù họ thuộc về hai phe đối nghịch nhau. Cần nói cho rõ rằng hai phe nói trên là nhà Nguyễn (Phan Thanh Giản) và Pháp (Trương Vĩnh Ký), chứ không phải là “nhân dân” Việt và thực dân Pháp.

Rồi hai đối thủ Phan Thanh Giản và Trương Vĩnh Ký đã gặp nhau trong chuyến hải hành mấy tháng trời trên đường qua Pháp vào năm 1863, trong chuyến đi nhằm điều đình xin chuộc ba tỉnh miền Đông của nhà Nguyễn. Lão thần Phan Thanh Giản lúc gần 70 tuổi, với vai trò Chánh Sứ của phái đoàn Đại Nam, đã gặp thanh niên Trương Vĩnh Ký, lúc đó mới ngoài hai mươi tuổi, trong vai trò Thông Dịch Viên cho phái đoàn Soái Phủ Pháp, trên cùng chuyến tàu. Theo những tài liệu còn lưu lại, Trương Vĩnh Ký đã đích thân thông dịch nhiều lần cho Phan Thanh Giản khi ông trò chuyện với trưởng đoàn Pháp là Henri Rieunier tức Lý A Nhi. Tại Pháp, tại Tây Ban Nha, tại Ý (Vatican), Trương Vĩnh Ký đã được phái đoàn Việt tin tưởng và giao cho trách nhiệm thông dịch, cho dù ông là người làm việc cho Pháp.

Cũng bởi cái tình tri ngộ đó mà sau này Trương Vĩnh Ký đã viết như sau về cuộc đời Phan Thanh Giản:

“Thương vì làm tôi vua đã hết lòng ngay, giúp việc nước đã hết sức bền, mà già không trót đời, chết không an phận ! Vì nước vì nhà mà quên sống ! Tưởng được tử ấm thê vinh. Ai hay tội-lệ vấn-vương. Công-nghiệp bấy lâu một phút phải rồi ! Mất hết mọi sự: chức-tước, ngôi-thứ, phẩm-hàm gì đều bị lột ráo; lại còn phải mang án xử tử giam hậu nữa.

Hèn chi Trương-lương mà chẳng tính bề minh triết bảo thân?

Làm người mà ham học, ít có như ông Phan-lương-Khê,
Làm quan mà thanh-liêm, ít có như ông Phan-lương-Khê,
Làm tôi vua hết ngay, ít có như ông Phan-lương-Khê,
Làm việc nước hết sức, ít có như ông Phan-lương-Khê.

Mà tội-lụy còn dường ấy ! thật đáng thương đáng tiếc!” (1)

Không hiểu có phải vì Trương Vĩnh Ký thấy được cái gương làm quan của Phan Thanh Giản cho nên đã học theo Trương Lương mà “minh triết bảo thân”? Nhưng có một điều chắc chắn là hai nhà đại trí thức Nam Kỳ đã có một sự thông cảm cho nhau.

Và hai nhà đại trí thức này có một điểm chung nữa là cả hai đã được toàn dân Nam Kỳ thương mến, cho dù họ đứng ở hai phe đối nghịch nhau, cho dù họ đi theo hai con đường khác nhau. Bởi, đối với người thường dân Nam Kỳ, tức “nhân dân”, thì người nào có quyền chức mà thương yêu họ và lo cho họ thì họ thương mến lại. Đó là lý do mà Phan Thanh Giản được người dân Nam Kỳ làm thơ khen tặng. Đó là lý do mà Trương Vĩnh Ký được người dân lục tỉnh Nam Kỳ góp tiền đúc tượng đồng, và đến 1945 khi toàn thể các tượng Pháp ở Sài Gòn bị giật sập thì không ai đụng đến tượng của ông.

Thế nhưng cả hai đều đã bị cuốn vào một cơn bão lốc chính trị sau năm 1954, khi chế độ miền Bắc chủ trương viết lại lịch sử để lên án tất cả những điều không có lợi cho cuộc chiến tranh với miền Nam của họ. Trong đó, hai đối tượng quan trọng nhất cần phải bị hạ nhục chính là Phan Thanh Giản và Trương Vĩnh Ký, hai nhà đại trí thức miền Nam. Suốt hai năm 1963 và 1964, trong mấy chục bài viết trên tờ Nghiên Cứu Lịch Sử, cơ quan ngôn luận chính thức của Viện Sử Học miền Bắc, hai nhà đại trí thức Nam Kỳ được toàn dân Nam Kỳ ngưỡng mộ đã bị các sử gia miền Bắc đem ra đấu tố.

Và đó chính là nguồn gốc của những “ý kiến trái chiều” về hai nhà trí thức này.

Nghĩa là chúng chỉ có từ những năm 1963-1964 tại miền Bắc.

Do các “sử gia” miền Bắc chế tạo ra.

Trước nhất, với Phan Thanh Giản, vì không kiếm ra được bằng chứng nào cho việc “nhân dân” đã lên án ông, ông Trần Huy Liệu, cựu Bộ Trưởng Tuyên Truyền đầu tiên của nước VNDCCH, tức là tiền thân của Ban Tuyên Giáo Trung Ương hiện nay, đã “sáng tạo” ra câu “Phan Lâm mãi quốc, triều đình khí dân”. Ông tuyên bố rằng câu này đã được nghĩa quân Trương Định dùng để đề lên lá cờ khởi nghĩa. Nghĩa là ông đã tạo ra cái tội “bán nước” cho Phan Thanh Giản, và tạo ra cái “ý kiến trái chiều” này về Phan Thanh Giản.

Kế đến, với Trương Vĩnh Ký, các sử gia miền Bắc đã tạo ra cái tội làm “gián điệp” cho Pháp của Trương Vĩnh Ký, qua hai chuyến đi của ông. Chuyến đi thứ nhất ra miền Bắc năm 1776 và chuyến thứ hai ra Huế năm 1886. Họ cho rằng Trương Vĩnh Ký đã sử dụng hai chuyến đi này để do thám tình hình miền Bắc cũng như tình hình triều đình nhà Nguyễn. Trong khi vào năm 1776 thì Pháp đã chiếm thành Hà Nội lần thứ nhất rồi trả lại cho nhà Nguyễn, và được quyền đặt toà lãnh sự ở đó. Tức là người Pháp đã có mặt tại Bắc Kỳ thường trực. Nhưng theo các sử gia miền Bắc thì họ phải sai Trương Vĩnh Ký làm một chuyến ra Bắc để “do thám tình hình” và báo cáo! Còn năm 1886 khi Trương Vĩnh Ký ra Huế thì kinh đô đã thất thủ và người Pháp đã lập vua Đồng Khánh lên làm ông vua bù nhìn dưới sự bảo hộ của họ. Triều đình Huế sau đó còn phong chức quan cho cả Paul Bert và Trương Vĩnh Ký để mua chuộc cảm tình. Và Trương Vĩnh Ký còn được Paul Bert cử làm thầy của vua Đồng Khánh. Tức là người Pháp đã nắm toàn bộ triều đình Huế. Họ chẳng có lý do gì mà phải cho Trương Vĩnh Ký làm “gián điệp” để do thám tình hình.

Nhưng cũng giống như cách đối xử với Phan Thanh Giản, các sử gia miền Bắc đã sáng tạo ra một tội danh nghiêm trọng để hạ nhục Trương Vĩnh Ký. Nếu như Phan Thanh Giản bị họ gán cho cái tội “bán nước” qua câu “Phan Lâm mãi quốc, triều đình khí dân”, thì Trương Vĩnh Ký bị gán cho tội “gián điệp” qua hai chuyến đi nói trên.

Và đến khi một nhà nghiên cứu người Việt ở Mỹ là ông Vũ Ngự Chiêu tuyên bố đã tìm được một lá thư do Trương Vĩnh Ký khoảng năm 1858-9 viết và ký tên Petrus Key, kêu gọi người Pháp hãy đánh chiếm Việt Nam vì tình hình của quân đội nhà Nguyễn lúc đó rất yếu kém, lá thư này đã lập tức được nắm ngay lấy để làm bằng chứng cho tội làm “gián điệp” cho Pháp của Trương Vĩnh Ký ngay từ thời gian đó.

Thế nhưng như tác giả bài viết này đã viết nhiều bài báo và một cuốn sách để chứng minh, những tội danh “mãi quốc” và “gián điệp” nói trên chính là những sự ngụy tạo để kết tội hai nhà đại trí thức Nam Kỳ là Phan Thanh Giản và Trương Vĩnh Ký. Và hai tội danh nói trên đều có xuất xứ từ một sự cố tình sáng chế và thao túng tài liệu lịch sử, nhằm hạ thấp uy tín của hai nhân vật được kính trọng này.

Câu “Phan Lâm mãi quốc, triều đình khí dân” chính là một sản phẩm đã được tạo ra bởi ông Trần Huy Liệu, Viện Trưởng Viện Sử Học, và cũng là cựu bộ trưởng đầu tiên của Bộ Tuyên Truyền, tiền thân của Ban Tuyên Giáo Trung Ương. Bởi một câu như vậy không thể nào lại được “nghĩa quân Trương Định” đề lên lá cờ của mình như ông Trần Huy Liệu đã viết, với những điều kiện lịch sử trong thời gian đó.

Còn hai chuyến đi của Trương Vĩnh Ký đã được tờ Nghiên Cứu Lịch Sử của ông Trần Huy Liệu bóp méo cho biến thành hai chuyến đi “do thám” của “đặc vụ” Trương Vĩnh Ký. Cũng như lá thư ký tên Petrus Key đã được gán cho Trương Vĩnh Ký làm tác giả, cho dù chữ viết và nội dung hoàn toàn trái ngược với một lá thư khác do chính tay ông viết ngay trong thời gian đó.

Nhưng chỉ với sự ngụy tạo ra hai tội danh này thì các sử gia miền Bắc mới có thể hạ thấp được uy tín của Phan Thanh Giản và Trương Vĩnh Ký. Cũng vì câu “Phan Lâm mãi quốc, triều đình khí dân” mà mặc dù đã có hai cuộc hội thảo về Phan Thanh Giản nhưng những người dân miền Nam, thậm chí cả những cán bộ gốc miền Nam, đã không thể phục hồi danh dự lại cho Phan Thanh Giản. Bởi ở cả hai lần hội thảo, mọi cố gắng minh oan hay phục hồi đều bị dừng lại bởi cái câu được cho là “dư luận của nhân dân” nói trên. Trong khi đó, cũng vì tội danh “gián điệp” cho Pháp mà nỗi oan của Trương Vĩnh Ký vẫn tiếp tục. Một cuốn sách về ông, cuốn “Petrus Ký, Nỗi Oan Thế Kỷ” đã bị cấm không được lưu hành.

Nhưng có một điều không thể chối cãi là cho dù sau 60 năm trời ngụy tạo tài liệu sử học, bẻ cong ngòi viết để lên án hai nhân vật lịch sử Nam Kỳ nói trên, đảng CSVN vẫn không thành công trong việc bôi nhọ họ. Bởi những người miền Nam vẫn thương yêu kính trọng hai nhà đại trí thức này và đòi hỏi công lý cho họ. Những sách báo nghiên cứu về hai nhân vật này vẫn tiếp tục được viết, được in, cho dù bị cấm.

Và tên của hai nhà đại trí thức Nam Kỳ này đã được tiếp tục dùng để đặt cho trường học, đường phố tại các địa phương miền Nam. Có lẽ đó chính là nguyên nhân cho sự ra đời của bản công văn số 2274 của Ban Tuyên Giáo Trung Ương.

Nếu như 60 năm trước, vì mục đích đánh chiếm miền Nam, và khi cần phải lên án sự “chủ hòa” của Phan Thanh Giản và việc hợp tác với Pháp của Trương Vĩnh Ký, cho nên những sử gia kiêm nhiệm vụ tuyên truyền của Đảng đã phải ngụy tạo ra tài liệu để bôi nhọ hai nhà trí thức Nam Kỳ này - thì đây là điều dù không thể chấp nhận được, nhưng có thể hiểu được.

Còn bây giờ đã 60 năm sau, và sau khi đã thống nhất đất nước gần nửa thế kỷ, mà Ban Tuyên Giáo vẫn phải ra công văn cấm đặt tên đường cho hai nhân vật này, chỉ vì còn “những ý kiến trái chiều”? Những ý kiến mà do chính họ chứ không phải ai khác đã tạo ra từ mấy mươi năm trước và đem vào nhà trường để dạy cho trẻ con?

Một điều có thể thấy rõ từ văn bản này là Ban Tuyên Giáo đã nhắm chính xác đến hai nhân vật tiêu biểu cho trí thức miền Nam, một cựu học, một tân học. Hai nhân vật mà tài đức đều được người dân miền Nam công nhận từ bao đời nay. Bản công văn không nói đến bất kỳ một nhân vật lịch sử nào khác, mà chỉ nói đến hai nhân vật đại diện cho trí thức Nam Kỳ.

Phải hiểu sự việc này như thế nào đây?

Chắc rằng người dân miền Nam đã thấy ra, đã quá chán ngán với những sự giả dối ngụy tạo lịch sử kiểu như “ngọn đuốc sống” Lê Văn Tám, và họ không muốn phải chấp nhận những điều giả dối đó nữa, nên họ đòi hỏi phải được quyền đặt tên đường phố cho hai danh nhân, hai đại trí thức miền Nam là Phan Thanh Giản và Trương Vĩnh Ký. Giống như cha ông họ trược đây, người dân miền Nam không cần phân biệt giữa “ta” là bọn phong kiến thối nát hay “địch” là bọn thực dân xâm lăng. Họ chỉ biết rằng hai nhà trí thức nói trên là hai người có tài, có đức bậc nhất tại Nam Kỳ, và họ kính trọng hai người đó.

Nhưng có lẽ Ban Tuyên Giáo thì lại chỉ muốn dân miền Nam tin tưởng và sùng bái những “danh nhân” tưởng tượng như Lê Văn Tám hay thuộc giai cấp bình dân như Võ Thị Sáu mà thôi. Còn những người Nam Kỳ thuộc loại “có lý luận”, nhất là những đại học sĩ, học giả như Phan Thanh Giản, như Trương Vĩnh Ký thì không thể chấp nhận được.

Chỉ có như vậy mới hiểu được lý do cho sự ra đời của bản công văn 2274 do Ban Tuyên Giáo ký vào tháng 1 năm 2022.

Có thể là người viết bài này hiểu sai dụng ý của Ban Tuyên Giáo. Nhưng nếu như vậy thì Ban Tuyên Giáo nên công bố rõ ràng lý do và ý định của mình, kèm theo những chứng cứ và lý luận thuyết phục, chứ không phải là những “dư luận trái chiều” do chính các cơ quan tuyên truyền miền Bắc làm ra.

Winston Phan Đào Nguyên
19/1/2022

(1) Miscellanées (Sự Loại Thông Khảo) No. 5 - Sept. 1889 – No. 6 - Oct. 1889, Phan-Lương-Khê Tự Thuật Thế-Sự

BÀI #2: Từ VOA TIẾNG VIỆT

21/01/2022

Ban Tuyên giáo, cụ Phan, cụ Trương, tên đường và nỗi đau

Sau một loạt các kiểm duyệt trong ngành xuất bản liên quan đến các ấn phẩm viết về hai nhân sĩ lừng danh Phan Thanh Giản và Trương Vĩnh Ký, nay Đảng Cộng sản Việt Nam lại ra công văn hướng dẫn các địa phương “không xem xét lấy tên hai nhân vật nêu trên (Phan Thanh Giản, Trương Vĩnh Ký) đặt tên cho đường, phố, công trình công cộng”. Giới nghiên cứu nhận định với VOA rằng văn bản này của Ban Tuyên giáo Trung ương đi ngược lại sự thật của lịch sử và gây hoang mang trong nhân dân, “sỉ nhục tiền nhân”, và “kỳ thị” trí thức miền Nam.

Phan Thanh Giản (1796-1867), một đại thần triều Nguyễn, làm quan trải qua 3 đời vua, Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức, là một nhân vật lịch sử, nhà thơ, nhà sử học, đỗ Đại khoa tiến sĩ đầu tiên của đất Nam Kỳ, được nhiều nhà nghiên cứu đánh giá cao trên nhiều lĩnh vực chính trị, ngoại giao, văn hóa.

Trương Vĩnh Ký (1837-1898), là một nhà bác học, nhà ngôn ngữ học tiêu biểu của Việt Nam trong thế kỷ XIX, người am tường và có cống hiến lớn trên nhiều lĩnh vực lịch sử, ngôn ngữ học, văn học, báo chí.

 

Văn bản gây tranh cãi

“Cho đến nay, các cơ quan chức năng vẫn chưa làm sáng tỏ được những vấn đề liên quan đến hai nhân vật Phan Thanh Giản và Trương Vĩnh Ký đối với lịch sử Việt Nam”, công văn đề ngày 5/1 do Phó Trưởng ban Tuyên giáo Trung ương Phan Xuân Thủy ký, nêu lý do.

“Những nhân vật lịch sử còn có ý kiến đánh giá khác nhau hoặc chưa rõ ràng về mặt lịch sử thì xem xét chưa đặt tên đường, phố và công trình công cộng,” công văn có đoạn.

Hai nguồn tin thân tín với các cấp ủy trong ban tuyên giáo ở các tỉnh, nơi tiếp nhận văn bản này, cho VOA biết rằng công văn này là có thật.

Ban Tuyên giáo Trung ương chưa phản hồi yêu cầu bình luận của VOA.

Sự đánh giá này là sự đánh giá mang tính chính trị. Dường như họ không đọc những nghiên cứu cả 100 năm nay về cụ Phan Thanh Giản và Trương Vĩnh Ký và những đóng góp của họ đối với đất nước.

GS Ngô Vĩnh Long

Có lẽ các cấp chính quyền và các bộ ngành đã “quen” với việc tiếp nhận “chỉ đạo” kiểu này từ Ban Tuyên giáo Trung ương vì Đảng Cộng sản giữ vai trò lãnh đạo “toàn diện” và “sát sao”, cho dù có phần lấn át vai trò của hội đồng nhân dân cấp tỉnh – cơ quan duy nhất có thẩm quyền theo luật định ra nghị quyết về việc đặt tên đường, đổi tên đường ở Việt Nam.

(Ảnh: Công văn của Ban Tuyên giáo Trung ương ngày 5/1/2022. Photo Sachhiem).

Ông Ngô Vĩnh Long, Giáo sư khoa lịch sử của Đại học Maine, Hoa Kỳ, nêu nhận định với VOA về công văn của Ban Tuyên giáo Trung ương:

“Sự đánh giá này là sự đánh giá mang tính chính trị. Dường như họ không đọc những nghiên cứu cả 100 năm nay về cụ Phan Thanh Giản và Trương Vĩnh Ký và những đóng góp của họ đối với đất nước.

“Có thể họ cho rằng Phan Thanh Giản ký hiệp định với Pháp là bán nước, nhưng ông chỉ là người được vua cử đi đàm phán. Trong khi đó ông Trương Vĩnh Ký là một nhà khoa học lỗi lạc, biết bao nhiêu thứ tiếng, dịch nhiều sách và đóng góp rất lớn cho đất nước. Tại sao nói là “chưa rõ ràng”?

Giáo sư sử học nhận định rằng Phan Thanh Giản không thể tự mình làm trái ý vua, và vì vậy không thể quy tội “bán nước” hay “phản bội Tổ quốc”.

“Rõ ràng đây là hành động chính trị chưa được suy xét đàng hoàng. Nó làm mất mặt chính quyền hiện tại và mất mặt cho giới trí thức Việt Nam, trí thức Việt Nam đã thực hiện biết bao nghiên cứu, bài viết về hai ông mà họ bỏ qua hết.”

 

Từ California, nhà giáo Nguyễn Trung Quân, cựu hiệu trưởng trường Phan Thanh Giản ở thành phố Cần Thơ trước năm 1975, nói với VOA rằng công văn của Ban Tuyên giáo vừa “không đúng đắn” về nội dung vừa “không có tính lịch sử”. Ông nói:

“Đó là một điều phi lý. Cụ Phan Thanh Giản mất tính đến nay là 155 năm, cụ Trương Vĩnh Ký mất tính đến nay là 124 năm, người Cộng sản chiếm miền Nam tính đến nay là gần 47 năm. Vậy cái cơ quan đó làm cái chi mà không làm sáng tỏ được những vấn đề liên quan đến hai nhân vật Trương Vĩnh Ký và Phan Thanh Giản.

“Từ mấy mươi năm nay, qua các cuộc hội thảo ở Việt Nam và ở ngoại quốc, chúng tôi đã có những nghiên cứu đề cập đến vấn đề đó. Viện sử học Việt Nam trong văn thư ngày 20/1/2008 nói rất rõ rằng: Cụ Phan Thanh Giản có nhiều đóng góp lớn đối với lịch sử dân tộc trên lĩnh vực văn học, sử học. Về nhân vật lịch sử Phan Thanh Giản, đã có nhiều công trình nghiên cứu chuyên sâu, nhiều cuộc hội thảo khoa học được tổ chức để đánh giá một cách khách quan về cuộc đời, sự nghiệp và những cống hiến của ông đối với lịch sử dân tộc. Với nhận định mới trên quan điểm cụ thể, nhân vật Phan Thanh Giản xứng đáng được tôn vinh bằng nhiều hình thức khác nhau.”

Nỗi đau xuyên thế kỷ

Các nhà nghiên cứu cho biết rằng chính quyền cách mạng ở miền Bắc từ sau Hiệp định Gevene 1954 đã không có thiện ý đặt tên đường mang tên Phan Thanh Giản và Trương Vĩnh Ký, và quan điểm này cũng kéo theo sự thay đổi tên đường, phá vỡ hay di dời tượng đài của hai nhân vật lịch sử này sau khi chính quyền Nam Việt Nam bị mất năm 1975.

Thời Pháp thuộc, Hà Nội đã có đại lộ Phan Thanh Giản từ năm 1949, và đến năm 1954 thành phố Hải Phòng cũng có đại lộ Phan Thanh Giản. Tuy nhiên, sau khi miền Bắc “tiến lên” chủ nghĩa xã hội từ 1955 ở Hải Phòng con đường này được đổi tên thành Cù Chính Lan, và tại Hà Nội con đường mang tên Phan Thanh Giản cũng đổi tên thành Nguyễn Hữu Huân từ năm 1964.

Khi Đô thành Sài Gòn có tên mới là thành phố Hồ Chí Minh thì những con đường mang tên Phan Thanh Giản cũng không còn. Vào tháng 8/1975, Ủy ban Quân quản thành phố Sài Gòn - Gia Định quyết định đổi tên đường Phan Thanh Giản ở quận 3, có từ năm 1955, thành đường Điện Biên Phủ. Vài năm sau đó, một con đường Phan Thanh Giản ở quận Gò Vấp bị thay đổi tên thành Nguyễn Thái Sơn.

Tại Cần Thơ, từ năm 1917 đã có ngôi trường trung học mang tên Phan Thanh Giản (dành cho nam sinh) tọa lạc ngay trên đường Phan Thanh Giản. Sau năm 1975, trường này bị đổi tên thành trường cấp 3 An Cư và đến năm 1985 lại đổi tên thành trường Trung học phổ thông Châu Văn Liêm.

(Ảnh: Một góc trường Châu Văn Liêm ở Cần Thơ vào năm 2018, trước đây là trường Phan Thanh Giản. Photo Sunny Doan)

Nhà giáo Nguyễn Trung Quân chia sẻ nỗi đau khi ngôi trường mang tên Phan Thanh Giản do ông làm hiệu trưởng bị đổi tên và bức tượng Phan Thanh Giản ở giữa sân trường bị chính quyền mới phá vỡ. Sự việc xảy ra cách nay hơn 45 năm, nhưng đối với ông, “nỗi đau vẫn day dứt.”

“Từ khi những người cộng sản vào miền Nam vào tháng 4/1975, thì sang đến tháng 5/1975, họ đập vỡ tượng cụ Phan Thanh Giản ở giữa sân trường của chúng tôi. Họ hạ bảng tên để đổi tên trường nhằm như rằng để dằn mặt trí thức miền Nam.

Từ khi những người cộng sản vào miền Nam vào tháng 4/1975, thì sang đến tháng 5/1975, họ đập vỡ tượng cụ Phan Thanh Giản ở giữa sân trường của chúng tôi. Họ hạ bảng tên để đổi tên trường nhằm như rằng để dằn mặt trí thức miền Nam.

Nhà giáo Nguyễn Trung Quân, cựu hiệu trưởng trường Phan Thanh Giản Cần Thơ

“Lối hành động đó chúng tôi biết là sai, chúng tôi mấy mươi năm nay đã liên lạc thẳng với họ chỉ rõ sự sai lầm lịch sử của họ... Chúng tôi gửi văn thư cho chính quyền Cần Thơ, chính quyền Trung ương hơn 20 năm nay.

“Cụ Phan Thanh Giản là một người yêu nước, tuẫn tiết để giữ vẹn chữ trung.

“Ông Thủ tướng Võ Văn Kiệt, một người cộng sản mà còn tặng tượng cụ Phan Thanh Giản cho tỉnh Vĩnh Long để dựng tượng lên. Ông cũng cho rằng cụ Phan Thanh Giản là người yêu nước.

“Còn chúng tôi và những học sinh gắn bó với trường, chỉ yêu cầu làm theo đúng lịch sử - trả lại tên trường. Thế nhưng đến nay, họ vẫn có thái độ lập lờ, bởi vì họ dùng chính trị, chứ không phải lịch sử, nhằm mục đích hạ bệ cụ Phan Thanh Giản.”

Cũng sau năm 1975, đường Phan Thanh Giản ở Cần Thơ bị đổi tên thành đường Phan Đăng Lưu và không lâu sau lại đổi tên thành đường Xô Viết Nghệ Tĩnh.

Từ thời Pháp, ở Sài Gòn có trường Lycée Pétrus Trương Vĩnh Ký (Trung học Petrus Trương Vĩnh Ký) được thành lập từ năm 1927, còn được gọi là trường Pétrus Ký, là nơi mà các ông Nguyễn Minh Triết, Trương Tấn Sang... từng theo học, sau này đi theo cách mạng và trở thành những nhà lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.

(Ảnh: Lớp Đệ Tam C, Petrus Ký, niên khóa 1957 – 1958. (Hình: Phạm Phú Minh cung cấp)

Năm 1937, nhân lễ kỷ niệm sinh nhật lần thứ 100 của Trương Vĩnh Ký, trường đặt tượng bán thân bằng đồng của ông tại giữa sân trường. Đây là tác phẩm của nhà điêu khắc người Pháp, thực hiện từ năm 1889, khi nhà bác học Trương Vĩnh Ký còn tại thế, theo báo Tuổi Trẻ.

Sau biến cố 1975, trường bị đổi tên, thay tượng. Tên mới của trường là Lê Hồng Phong, Tổng bí thư Đảng giai đoạn 1935-1936; và bức tượng đồng của nhà bác học Trương Vĩnh Ký cũng bị dời đi.

Trong khi đó, một bức tượng đồng toàn thân của cụ Trương Vĩnh Ký, đúc năm 1927, được nhân dân Nam Bộ góp tiền xây dựng nên và đặt ở vườn hoa trước Dinh Độc Lập, gần đường Alexandre de Rhodes ở quận Nhất, đến năm 1975 bị chuyển vào một góc hẹp ở Bảo tàng Mỹ thuật TP. Hồ Chí Minh.

Các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước nhận định rằng người có công đầu trong việc sáng tạo ra chữ Quốc Ngữ là Alexandre de Rhodes, nhưng để chữ Quốc Ngữ phát triển như hiện nay phải kể đến công lao của Pétrus Trương Vĩnh Ký.

Ông Trương Minh Đạt, chắt của Trương Vĩnh Ký, người quản lý và trông coi khu lăng mộ Trương Vĩnh Ký trên đường Trần Hưng Đạo, Sài Gòn, nói với Luật khoa tạp chí: “Người ta luôn nghĩ ông Trương Vĩnh Ký là Việt gian, vì cái tên Petrus Trương Vĩnh Ký nên người ta nghĩ Petrus là Pháp rồi nhưng thật sự theo đạo thì tên thánh đi trước, chứ ông đi xứ với Phan Thanh Giản vẫn mặc áo dài khăn đóng bình thường, ông không mặc đồ Tây. Pháp kêu theo quốc tịch Pháp vẫn không theo”.

“Ai công nhận thì cảm ơn, ai không công nhận thì thôi. Xấu cũng được, tốt cũng được, người sau hậu thế sẽ nhận xét. Như ông Trương Vĩnh Ký đã viết, về sau hãy để hậu thế nhận xét ông có tội hoặc không có tội,” Trương Minh Đạt nói.

 

 

 

 

 

 

 

Phan Thanh Giản và vụ án “Phan Lâm mãi quốc, Triều đình khí dân”

 

Luật sư Phan Đào Nguyên ở California, tác giả khảo cứu “Phan Thanh Giản và vụ án ‘Phan Lâm mãi quốc, Triều đình khí dân’”, nói với VOA rằng các sử gia tại miền Bắc Việt Nam đã sử dụng câu này liên tục từ thập niên 1950 đến nay, nhân danh “nhân dân” để kết tội bán nước cho hai đại thần triều Nguyễn là Phan Thanh Giản (Phan) và Lâm Duy Hiệp (Lâm); với sự chú trọng đặc biệt vào Phan Thanh Giản, vị tiến sĩ đầu tiên của đất Nam Kỳ.

Câu trên có nghĩa là Phan (Thanh Giản), Lâm (Duy Hiệp) bán nước, Triều đình bỏ rơi dân chúng. Lâm Duy Hiệp (1806-1863) là một quan đại thần triều Nguyễn.

Nghiên cứu của Luật sư Phan Đào Nguyên đưa ra kết luận, sau năm 1975 thì câu “Phan Lâm mãi quốc, triều đình khí dân” đã được đem từ miền Bắc vào phổ biến ở miền Nam. Rồi từ đó, nó được coi như “một sự thật lịch sử trong cả nước”.

“Theo sự nghiên cứu của tôi thì “cái tội” lớn nhất mà các sử gia miền Bắc đã gán cho Phan Thanh Giản là “tội bán nước”, và họ dùng câu “Phan Lâm mãi quốc, Triều đình khí dân” như là một bằng chứng mà họ cho rằng nhân dân miền Nam đã gán cho Phan Thanh Giản sau khi ông ký hòa ước Nhâm Tuất năm 1862.

“Theo nghiên cứu của tôi, câu “Phan Lâm mãi quốc, Triều đình khí dân” không có nguồn gốc từ nhân dân miền Nam, và cũng không phải đã được dùng để đề lên trên lá cờ khởi nghĩa của Trương Định như các sử gia miền Bắc đã nói, mà câu này là một sản phẩm được chế tạo ra bởi ông Trần Huy Liệu, Viện trưởng Viện Sử học ở miền Bắc vào thập niên 1950-1960. Sau đó câu này được đem vào nhà trường dạy cho trẻ con ở miền Bắc và sau 1975 thì được dạy cho khắp cả nước.

Khi được hỏi liệu nghiên cứu của ông có phải là nguyên nhân, hay một phần nguyên nhân, đưa đến văn bản gần đây của ban Tuyên Giáo hay không, luật sư Phan Đào Nguyên nói, tám chữ nêu trên chính là nguồn gốc cho sự lên án Phan Thanh Giản trong suốt mấy mươi năm qua, và là “căn bản cho cái gọi là “ý kiến trái chiều” về Phan Thanh Giản”.

“Câu này đã tạo nên cái mà chúng ta có thể thấy trong công văn của Ban Tuyên giáo Trung ương, trong đó có ghi “ý kiến trái chiều hay những đánh giá khác” về Phan Thanh Giản,” ông Phan Đào Nguyên nhận định.

Nhà giáo Nguyễn Trung Quân nêu nhận định tương tự:

“Quyển sách dài 384 trang của nhà nghiên cứu Phan Đào Nguyên đã khiến cho họ không thể trả lời được. Nó cho thấy rõ gian kế của người cộng sản và thực tế cách thức làm việc của người mà họ cho là “sử gia” miền Bắc.

“Hai vị Phan, Trương là hai học giả lớn của miền Nam, bị họ dồi dập lên xuống, rồi ra cái văn thư theo kiểu đòn thù thì thật không xứng đáng với cách thức làm lịch sử. Mà thật vậy, họ làm chánh trị, chứ không làm lịch sử.”

(Ảnh: Trường trung học tư thục Phan Thanh Giản ở Đà Nẵng (1969 - 1975). Photo Thuong mai truong xua.

Làn sóng mới từ sau Đại hội Đảng XII?

Tác giả Phan Đào Nguyên bắt đầu nghiên cứu về hai nhân vật Phan Thanh Giản và Trương Vĩnh Ký trong vài năm gần đây và biết rằng chính quyền Việt Nam đã dùng “mệnh lệnh” miệng để cấm phát hành hai quyển sách viết về hai nhân vật này.

“Có hai quyển sách về hai nhân vật lịch sử này: Petrus Ký, nỗi oan thế kỷ và Phan Thanh Giản – Nhà ái quốc và người mở đường cho nước Việt Nam hiện đại: Những năm cuối đời đã được in ra ở bên Việt Nam nhưng rồi đã bị cấm, và theo tôi hiểu trong đó có quyển bị cấm mà không có công văn gì cả.”

Vào tháng 8/2017, cuốn “Petrus Ký, nỗi oan thế kỷ” do nhà nghiên cứu lão thành Nguyễn Đình Đầu chủ biên, một công trình tập hợp các bài viết của nhiều tác giả xưa và nay, nói về học giả Trương Vĩnh Ký (1837-1898), bị thu hồi khỏi các hiệu sách và bị cấm phát hành ở Việt Nam.

Quyển sách trên được Cục Xuất bản cấp giấy phép với đầy đủ các thủ tục giấy tờ và đã qua thời hạn lưu chiểu theo luật định để lưu hành, được dự trù ra mắt tại Đường Sách Sài Gòn, nhưng đã bị hủy theo “một chỉ thị miệng” và báo chí được tin nhận cảnh báo không đưa tin về cuốn sách này, trang BBC dẫn lời tác giả Nguyễn Đình Đầu cho biết.

Cuối 2019 đầu 2020, cuốn sách “Phan Thanh Giản – Nhà ái quốc và người mở đường cho nước Việt Nam hiện đại: Những năm cuối đời (1862-1867)” của hai tác giả Phan Thị Minh Lễ và Pierre Ph. Chanfreau, do dịch giả Phan Tín Dụng chuyển ngữ từ tiếng Pháp, đã phải tạm dừng phát hành, theo trang Người Đô thị.

Trang này dẫn nội dung công văn số 09/CV/XBHN của nhà xuất bản Hà Nội viết: “Trong quá trình rà soát lại, NXB Hà Nội nhận thấy một vài nội dung cần có sự nghiên cứu kỹ lưỡng để có thể chỉnh sửa cho phù hợp hơn”, đồng thời đề nghị tạm dừng phát hành quyển sách công phu về nhân vật “gây tranh cãi” Phan Thanh Giản để hai bên cùng thống nhất và tổ chức chỉnh sửa.

Cuốn sách này về Phan Thanh Giản từng được nhà xuất bản L’Harmattan (Paris, Pháp) ấn hành vào năm 2002 có tựa đề “Phan Thanh Gian: patriote et précurseur du Vietnam moderne. Ses dernières années 1862-1867”.

Từ thành phố Hồ Chí Minh, tác giả trẻ Tôn Phi, người có ấn phẩm phát hành trên mạng Amazon, nêu nhận định với VOA:

“Cho dù hai ông Trương Vĩnh Ký và Phan Thanh Giản có như thế nào đi chăng nữa thì đó là những tên tuổi rất lớn, có nhiều đóng góp cho lịch sử và tiến trình văn hóa của nước nhà.

“Việc đặt tên đường phải thực hiện theo nguyện vọng của nhân dân và khi nhân dân yêu cầu trả lại tên đường thì chế độ cầm quyền buộc phải trả lại tên đường, nhất là tên những con đường đó vô hại đối với văn hóa xã hội.

“Ban Tuyên giáo Trung ương cố tìm mọi cách để thao túng tâm lý của một bộ phận dân chúng, song ngày nay với sự tiến bộ của Internet, không ai có thể giấu được bất kỳ điều gì, vì người dân đã rất ý thức về điều này”.

 

(Ảnh: Đường Phan Thanh Giản ở Mỹ Tho, Tiền Giang, tháng 12/2021. YouTube Mytho Around).

Giữ nguyên trạng? và ‘rút kinh nghiệm’?

Hiện tại ở miền Nam, vẫn có những ngôi trường và con đường mang tên Phan Thanh Giản và Trương Vĩnh Ký, nhưng hầu hết là trường tư thục hay dân lập và là tên của những con phố nhỏ, ví dụ như đường Phan Thanh Giản ở thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang, hay đường Trương Vĩnh Ký ở thị xã Lagi, tỉnh Bình Thuận.

Các nhân viên tại hai trường dân lập Trương Vĩnh Ký ở Tp. Hồ Chí Minh và ở Đồng Nai nói với VOA rằng nhà trường không có kế hoạch phải đổi tên và cũng không biết gì về công văn của Ban Tuyên giáo.

Có lẽ ngôi trường công lập duy nhất hiện tại mang tên Trương Vĩnh Ký ở Việt Nam là một ngôi trường trung học ở xã Vĩnh Thành, huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre, sinh quán của nhà bác học.

(Ảnh: Trường trung học công lập Trương Vĩnh Ký ở Bến Tre. Photo Bao Dong Khoi)

Trường được Tỉnh ủy và Hội đồng nhân dân tỉnh ra quyết định thành lập vào năm 2009, sau khi thừa nhận kết luận của một cuộc tọa đàm của các nhà khoa học về những đóng góp to lớn của Trương Vĩnh Ký, đặc biệt trong lĩnh vực văn hóa và ngôn ngữ. Vào cuối năm 2010, bức tượng đồng tạc nhà bác học Trương Vĩnh Ký do tạp chí Xưa & Nay quyên góp, được khánh thành tại ngôi trường này.

Trước đó, vào năm 2008, chính quyền tỉnh Bến Tre thành lập giải thưởng mang tên Trương Vĩnh Ký, do hội khuyến học đề nghị, để vinh danh các học sinh trung học xuất sắc trên toàn tỉnh.

Vào năm 2008, chính quyền tỉnh Vĩnh Long tổ chức lễ rước và an vị tượng Phan Thanh Giản tại Khu Di tích Văn Thánh Miếu Vĩnh Long – nơi Kinh lược sứ đại thần Phan Thanh Giản tuẫn tiết. Pho tượng do cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt phụng hiến. Tượng đúc bằng đồng, cao 85cm, nặng 250 kg, được tỉnh Vĩnh Long đặt trang trọng tại nơi thờ trong Văn Thánh Miếu.

Cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt từng viết: “Tôi khẳng định rằng Phan Thanh Giản là một người yêu nước, thương dân mà lo không tròn bổn phận, Cụ đã tự làm án cho chính mình: đó là cái chết. Một cuộc đời thanh sạch, thật đáng để lại gương soi cho hậu thế… Tôi đã về thăm mộ cụ Phan Thanh Giản và đốt nhang lạy hương hồn cụ. Và tôi cũng quyết định sửa sang lại khu mộ phần và nhà thờ cụ bởi mộ đã bị thời gian bào mòn quá nhiều.”

Một nguồn tin cấp ủy thân tín với ban tuyên giáo nói với VOA rằng chính quyền có thể sẽ cho giữ nguyên trạng những gì đã có, và sẽ “rút kinh nghiệm” trong việc lấy tên hai cụ để đặt tên đường, công trình công cộng trong tương lai.

Với công văn mới này của Ban Tuyên giáo Trung ương, có lẽ trường THPT Trương Vĩnh Ký ở Bến Tre sẽ là ngôi trường công lập cuối cùng ở Việt Nam mang tên này, và cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt cũng là lãnh đạo cộng sản duy nhất và cuối cùng chính thức tôn vinh công lao của nhân vật lịch sử Phan Thanh Giản. Nhưng Thủ tướng Kiệt đã qui tiên cùng hai cụ Phan, Trương mất rồi!

BÀI # 3: ĐÀI SBS VIỆT NGỮ, ÚC CHÂU:

Trương Vĩnh Ký và Phan Thanh Giản "không đủ tài đức" để được đặt tên đường!

                                                   Mai Hoa Phạm (SBS Radio Úc Châu)

(Nguồn: https://www.sbs.com.au/language/vietnamese/audio/truong-vinh-ky-va-phan-thanh-gian-khong-du-tai-duc-de-dat-ten-duong)

 

Là văn bản mới ra ngày 5/01/2022) của Ban Tuyên Giáo lệnh cho các tỉnh thành không được lấy tên hai vị đại học giả Nam Kỳ đặt tên đường hay các công trình công cộng. Lý do ‘chỉ đặt tên: “danh nhân đó phải là người nổi tiếng, có đức có tài, có đóng góp to lớn cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc”‘. Các cựu học sinh trường Petrus Ký Sài Gòn và Phan Thanh Giản Cần Thơ hiện là các nhà khoa học và học giả uy tín tại Úc nói gì về điều này?

Văn bản mới ra vào đầu năn nay (5/01/2022) của Ban Tuyên Giáo lệnh cho các tỉnh thành không được lấy tên hai cụTrương Vĩnh Ký và Phan Thanh Giản đặt tên đường hay các công trình công cộng. Lý do ‘chỉ đặt tên: “danh nhân đó phải là người nổi tiếng, có đức có tài, có đóng góp to lớn cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc”‘.

 

(Ảnh (xin xem ảnh ở trên: Văn bản Tuyên Giáo ra ngày 5/01/2022 yêu cầu các tỉnh thành không lấy tên Trương Vĩnh Ký và Phan Thanh Giản đặt tên đường và các công trình công cộng. Source: Sachhiem/VOA)

Cụ Phan Thanh Giản là người nổi tiếng thanh liêm từng giữ chức vụ Hiệp biện Đại học sĩ, đó là chức quan hàm tùng nhất phẩm, trên thượng thư một bậc. Cụ là Tổng tài phụ trách việc biên soạn bộ Khâm định Việt sử thông giám cương mục, là bộ Quốc sử đồ sộ, lớn nhất thời Nguyễn gồm 53 quyển.

Ông Trương Vĩnh Ký được biết nhiều về thông minh xuất chúng và giỏi nhiều ngôn ngữ. Tuy nhiên cũng cần nói thêm rằng nếu người Việt mang ơn ông Alexandre de Rhodes trong việc sáng tạo ra chữ quốc ngữ cho người Việt thì người giúp đưa chữ quốc ngữ đi tới đại đồng công chúng phải kể đến công lao của ông Trương Vĩnh Ký trong vai trò chủ bút Gia Định Báo – một trong những tờ báo chữ quốc ngữ đầu tiên của người Việt, và giám đốc trường Sư Phạm (École normale) là trường Sư Phạm đầu tiên ở Việt Nam đào tạo các thầy cô giáo để dạy chữ quốc chữ cho thế hệ trẻ người Việt Nam.

Với những vai trò và đóng góp đó của hai vị tiền nhân đã không xứng bằng với vô số những nhân vật mà chính quyền Cộng Sản đặt tên đường, trường, thành thị và các công trình công cộng.

Văn bản mới ra vào đầu năm nay (5/01/2022) của Ban Tuyên Giáo đã khẳng định điều đó.

Vì sao đến giờ vẫn còn có loại văn bản này?

KY_VOA_Book.JPG
KY_SBS_ThanhTranHLV.JPG

Trong cuộc trò chuyện với Mai Hoa, Giáo sư Trần Thạnh từ trường đại học New South Wales (UNSW) – cựu học sinh Petrus Ký Sài Gòn, nói rằng không chỉ Phan Thanh Giản và Trương Vĩnh Ký – hai vị đại trí thức của Nam Kỳ bị chính quyền Cộng Sản Việt Nam hạ bệ mà công lao mở mang bờ cõi của Nhà Nguyễn cũng bị Cộng sản chối bỏ.

Tiến Sĩ Huỳnh Long Vân thuộc Nhóm Nghiên cứu Văn hóa Đồng Nai Cửu Long Úc Châu – nguyên là Nhà khoa học của CSIRO Úc Châu – cựu học sinh trường Trung học Phan Thanh Giản Cần Thơ trích lại câu thơ mà ông Hồ Chí Minh tự ví mình ngang với các vị Vua Hùng “Bác dựng nước, tôi giữ nước” để trả lời cho câu hỏi phải chăng lịch sử quốc gia và dân tộc Việt Nam là lịch sử được viết bởi người Cộng Sản cho Cộng sản?

Mời vào phần audio để nghe toàn bộ nội dung:

https://www.sbs.com.au/language/vietnamese/audio/truong-vinh-ky-va-phan-thanh-gian-khong-du-tai-duc-de-duoc-dat-ten-duong

KY_SBS_audio.JPG
THT_Đêm trở lại nhà.JPG

đêm trở lại nhà

 

Tài xế là một thanh niên Mỹ đen

Lòng xe là một cõi đen

Ngoài kia trời cũng tối đen

 

Đêm nay tôi trở lại căn nhà thân yêu

Trong cõi đen âm thầm hiu quạnh

Cuối cùng rồi cũng đã đến nhà

Thấy mập mờ chiếc xe thân yêu

Đã hơn một tuần nằm đợi chủ

 

Người thanh niên cố mang xe lăn lên thềm tam cấp

Mở giùm cánh cửa

Tìm dùm contact điện ở phòng khách

Chiếc xe lăn của tôi nằm đâu đó ở góc phòng

 

Tôi đang bám vịn vào màu đen

Màu da người và màu thủy tinh sơn đen lóng lánh dưới ánh điện nhà

 

Hình như có xấp thơ từ

Chở tình người phương xa âm thầm suốt hai mươi năm nay

Đang nằm trên bàn

Vậy mà khi chân tôi đứng lên từ xe lăn

Cơn đau nhức vô cùng tận

Gout lại hành

Khớp lại không tha

Lò cừ lại tiếp tục

 

Tôi tặng chàng Mỹ đen một số tiền típ hậu hĩnh

Khiến chàng cám ơn rối rít

Tôi muốn nhân danh một người viết văn làm thơ

đang bị thương hại

Em giúp tôi bật lại ánh đèn

Rồi tôi sẽ tập

Tập hoài

Tập đến hộc thở

Để được đứng dậy rời xe lăn

Để thăm nàng

Để siết tay nàng

Tôi chỉ cần bấy nhiêu

trong đêm trở lại

Trần Hoài Thư

(From Blog THT Nov 16, 2021)

NgHongTuyen_pic.JPG

Di cảo của Cố Đại Tá - Cựu học sinh PTG

THIÊN PHONG NGUYỄN HỒNG TUYỀN

           1933 - 2021

NgHTuyen_airplane.JPG

Người Ăn Mày Mé Láng

                      Thiên Phong

Một buổi chiều mùa hè, trời mưa khá to nổi bong bóng. Dòng nước cuốn dài theo bờ măng trên đường Lê Thánh Tôn chảy về phía đường Nguyễn Huệ kéo theo tất cả rác rến dân chúng xả ra đường che lấp các miệng ống cống thoát nước của đô thành, làm nước tràn thành vũng lên các bờ măng trên đường đi. Xe tôi ngừng trước cửa của hãng Hàng Không Việt Nam, tôi bước vào cửa cầu thang lên văn phòng. Cánh cửa vừa mở tôi gặp ngay ông già Tư Râu độ chừng năm mươi tuổi ăn xin thường túc trực hơn hai tháng nay nơi cột đèn trước cửa HKVN. Ông tìm sự giúp đỡ của tha nhân kẻ đi qua người đi lại để sống độ nhựt. Thân trần trùi trụi, lòi các ba sườn của người lớn tuổi thiếu dinh dưỡng, các vết thương nhiều đốm đen lớn nhỏ còn rỉ máu và nước vàng trên lưng. Phía sau hai cánh tay ốm tong teo chỉ còn da nhiều hơn thịt. Vừa thấy tôi bước vào ông vội lật đật ôm hành trang là chiếc bao bố tời gói ghém tất cả gia tài sự nghiệp của đời không nơi nương tựa trong tuổi xế chiều, định bước đi ra ngoài.

– Sao Ông Tư Râu, ăn cơm chưa, hôm nay có khá không? Ngoài trời mưa to gió lớn thổi lạnh lắm, đứng đó đi để tôi bảo ông Hai gác dan đem cho ông cái áo mặt đỡ lạnh…

– Dạ…

Tiếng run run có vẻ vì lạnh và các vết thương trên người đang hành ông. Tôi vừa bước cửa vào văn phòng thấy ông Hai đang quét dọn lau chùi bàn ghế.
– Chào ông Phó…
– Chào ông Hai. Soạn trong quần áo đánh tơ nít của tôi có cái áo nào ấm ấm và chiếc quần dài đem xuống cho ông Tư Râu mặt đỡ lạnh rồi bảo ông lên đây gặp tôi ở phòng họp.
– Dạ… Ông Hai gác dan đi ra mà chưa hiểu ý tôi nên hỏi lại. Ông Phó bảo tôi dẫn ông Tư Râu lên phòng họp?
– Ðúng rồi…

Tôi đợi chừng mười lăm phút, bước ra cầu thang nhìn xuống thấy ông Hai và ông Tư Râu đang dằng co, kẻ kéo tay người dằng lại, có tiếng của ông Hai: Anh Tư ơi! lên đi đừng để Ông Phó đợi trên đó… phiền lắm. Tôi liền bảo:
– Ông Tư Râu ơi, lên đây tôi có chút việc muốn nói với ông.

Chờ ông Tư Râu bước lên khỏi cầu thang, quần áo chỉnh tề vào phòng họp tôi chỉ ghế ngồi, ông còn chần chừ chưa dám ngồi, còn đứng xớ rớ lòng đang bỡ ngỡ nhìn chung quanh…
– Ngồi đi ông Tư Râu ơi!

Ông ngồi ghé ngoài mép bờ ghế và ôm trong lòng túi balô, nhìn tôi trong ánh mắt dò hỏi có chuyện gì đây…
– Ông Tư Râu nên ngồi tự nhiên đi, để cái balô xuống sàn, mình còn nói chuyện cùng nhau lâu lâu một chút.

Ông Tư Râu ngồi tử tế trên ghế, ông Hai đem hai tách nước trà vô, tôi mời ông Tư Râu dùng trà cho ấm. Tôi hỏi ông Tư Râu vài câu xin ông thành thật trả lời cho tôi thì tôi có thể giúp ông để chữa có thể lành các vết thương trên người ông. Hôm trước cách đây hai tuần, khi ông ngồi trước cột đèn vào buổi trưa, ông cởi áo ngồi khóc vừa rên vì các vết thương hành hạ ông.
Tôi có hỏi ông vì sao bị thương vậy, ông còn do dự không muốn trả lời. Tôi có nói thêm, ông nói đi tôi có thể giúp ông chữa bịnh mà không tốn tiền đâu mà lo.

Ông Tư Râu nhìn tôi với đôi mắt bơ phờ nửa tin nửa ngờ vực của người quá đau khổ trong tâm tư. Im lặng không một lời nói, nhìn lên trời cao xanh như đang tìm những dĩ vãng đau thương hay để đánh giá một tia hy vọng nào đó trong lời hứa của tôi cho cuộc đời ông.
– Hôm nay tôi xin lặp lại lời hứa hôm trước đó, ông Tư Râu suy nghĩ sao cho tôi biết ý kiến.

Ông Tư Râu mắt sáng lên như người đi lạc giữa rừng rậm hoang vu gặp được ông tiều phu chỉ đường ra khỏi cơn mê hồn trận mới chịu mở miệng:
– Ông Phó hứa… giúp tôi đây… không biết tôi lấy gì để đền đáp… công… ơn đó… (tiếng nói ông Tư Râu sùi sụt đứt khoảng hai hàng lệ rơi có lẽ vì quá cảm động), làm cho tôi cũng thấy mủi lòng. Nhờ thánh thần thiên địa phù hộ cho tôi gặp được quới nhơn giúp đỡ. Chẳng nói dấu gì với Ông Phó, tôi tên là Châu Văn Tư sanh đẻ 1920 tại quận Ba Ðộng tỉnh Trà Vinh (vừa nói vừa cúi xuống balô mở ra lấy thẻ kiểm tra còn khá mới trong cái bóp da đã cũ kỹ đưa cho tôi xem). Lớn lên trong nghề đánh cá mùa gió êm, làm ruộng mùa mưa bão, sống với gia đình ở quân Ba Ðộng. Sau lấy vợ tên Ðào Thị Nở sanh năm 1924 ở làng Mé Láng cùng nghề làm ruộng. Thời cụ Ngô Đình Diệm làm tổng thống tôi có đi lính Địa Phương Quân, rồi được bầu làm xã trưởng một xã của làng Mé Láng quận Ba Động tỉnh Trà Vinh. Vùng thường đụng độ chết sống với tụi du kích địa phương để bảo vệ dân làng trong tám năm. Cũng có nhiều ân oán thù hận giang hồ, tôi có được hai người con trai sau cũng đi lính Ðịa Phương Quân, chưa lập gia đình cũng ở Mé Láng.

Ngày đầu tháng giêng ta năm 1962, một tiểu đoàn viêt cộng chánh quy từ miền Bắc xâm nhập bằng ghe máy đổ bộ lên làng Mé Láng trong một đêm mưa gió bão bùng. Làng báo cáo lên quận rồi quận lên tỉnh, sáng ngày sau cuộc hành quân từ tỉnh đổ quân xuống một tiểu đoàn Ðịa Phương Quân tỉnh xuống làng Mé Láng, trời mờ mờ sáu giờ sáng cho đến mười giờ trưa hai bên dằng co với nhau làng Mé Láng thành tro bụi, dân làng, nghiã quân, địa phương quân, nhân dân tự vệ chết cũng nhiều trong đó có vợ và hai thằng con trai của tôi vì cháy không nhìn được xác. Vào khoảng mười giờ có một tiểu đoàn chính quy của bên ta Biệt động quân đổ xuống tiếp viện có máy bay săn giặc và đầm già đến yểm trợ cuộc hành quân đánh tụi nó tan tành banh xà rông. Lúc máy bay đến chúng tôi rút lui từ trong làng về hướng quân bạn ngoài ruộng lúa. Trời thần đất mẹ ơi, tụi nó đeo dính khắng theo, bị phi cơ thả một trái bom đầu tiên nổ ra vùng ánh sáng xanh chụp rớt xuống đụng đâu cháy đó, nước, cây cỏ, đất sình gì cũng cháy hết trơn hết trọi hà. Quỷ thần thiên địa ơi, tui là người chạy đầu, xa gốc trái bom nổ chụp ở ngọn trúng sau lưng tui năm mười ánh sáng thôi mà thấy nóng. Tui chui xuống nước còn nóng hơn nữa, đứng dậy cởi áo bỏ ra nhìn phía sau đám việt cộng bị cháy lên khói, chết quá xá cỡ thợ mộc… Tui cố gắng chạy trối chết về phía quân tiếp viện vvà bất tỉnh luôn… cho đến khi mở mắt ra thì thấy đang nằm điều trị ở bênh viện tỉnh Trà Vinh. Tui nằm úp mặt xuống, ở trần truồng nhòng nhọng mình mẩy tui được thoa một chất nhớt nhớt và đắp nước đá có rất nhiều mục đen chấm nhỏ nhỏ bằng đầu ngón tay út sau lưng, giây nhợ tùm lum tùm la… nhưng vẫn còn thấy nóng. Các ông y tá khi thấy tôi mở mắt mừng rỡ la lên: Ông Tư tỉnh rồi. Sau đó có hai vị bác sĩ một Mỹ, một Việt đến thăm có hỏi tôi còn nóng nhiều ít, tôi trả lời ít. Ông bác sĩ Mỹ nói, bác sĩ Việt dịch là tôi đã sống lại rồi, nhưng còn phải tinh dưỡng lâu lâu. Sau hai tháng ở bịnh viện tỉnh các mụt chấm đen nhỏ đã kéo da non tôi được xuất viện cho về nhà. Trời đất quỷ thần thiên địa ơi, ông Tư Râu nói trong tiếng nấc, vợ bị chết cháy không nhìn được xác và hai đứa con trai đều hy sinh trong trận đánh ở Mé Láng. Nhà cửa cháy rụi, bây giờ chỉ còn tấm thân tàn ma dại nầy trên cõi đời ô trọc thôi. Tui không thể trở về sống ở Mé Láng được vì lúc nầy tụi nó về đông lắm. (Tính ra ông Tư Râu mới có bốn mươi bốn tuổi mà thấy già như ông già sáu bảy mươi tuổi vậy.)

Từ đó tui rời bỏ xứ sở ra đi lên Sài Gòn để kiếm thằng em đi lính nhảy dù không ngờ nó đã chết trong trận Bào Sung. Không kiếm được việc làm vì các ông chủ thấy những vết thương tưởng đâu tôi bị bịnh cùi lở. Tui sống lây lất đầu đường xó chợ tha phương cầu thực, tối ngủ dưới các gầm cầu qua những đêm mưa gió bão bùng. Các vết thương lâu lâu nó nóng lên chảy nước vàng lở ra càng ngày càng lớn thêm có những đêm trời mưa lạnh nó nhức tận xương tủy chỉ còn có nước ngồi đâu đó dưới hàng hiên chợ Bến Thành chịu trận cho qua đêm.

Ðôi mắt ông Tư Râu mờ lệ nhìn ra cửa sổ như hồi tưởng lại những nỗi kinh hoàng trông đêm việt cộng tấn công tàn sát dân làng Mé Láng năm xưa. Khi ông Tư Râu dứt lời, tôi bảo:
– Trễ lắm trong tuần nầy tôi cố gắng tìm chỗ để chữa những vết thương cho ông Tư.

Tôi xách hộ cái balô của ông Tư Râu đưa ông xuống cầu thang, trời đã hết mưa, để ông ra chỗ cột đèn tiếp tục cuộc đời hành khất của ông. Ông nói cám ơn tôi với khuôn mặt vui tươi đầy hy vọng. Tôi trở lại văn phòng ngồi trầm ngâm lòng tôi se thắt lại, đau khổ cho dân tộc Việt sao quá nhiều thảm cảnh thương đau. Dân chúng giữa hai lằn đạn Quốc gia và Cộng sản quá tàn nhẩn và ê chề trong cảnh chiến tranh vì miền Bắc vô thần đem trận giặc vào Nam gây không biết bao nhiêu cảnh điêu tàn tang tóc cho dân tộc Việt.

Mé Láng một làng nhỏ của quận Ba Ðộng tỉnh Trà Vinh. Tôi còn nhớ rõ một buổi sớm mai, trong phi vụ hành quân đời phi công khu trục, tôi bay cùng Ðại úy Faucett huấn luyện viên Không Lực Hoa kỳ của Phi Ðòan Farm Gate để định chuẩn ra phi tuần trưởng khu trục.

Mé Láng, lần đầu đời tôi mới nghe đến địa danh đó nếu không có trận chiến tranh Việt Nam. Một làng nhỏ bên trong nhiều thửa ruộng được cấy lúa lên màu xanh lơ nhiều miếng vườn cây ăn trái lá cành xanh um. Bên ngoài mé bờ biển giáp nối với Thái Bình Dương thật nên thơ ngoạn mục, nếu không có chiến tranh Mé Láng là nơi lý tưởng để sống cuộc đời an nhàn thanh tịnh.

Chúng tôi cất cánh từ phi trường Biên Hòa, một phi tuần nặng bốn phi cơ T28 mang bom WP (White Phosphorous, Lân tinh), và hỏa tiễn 2.75. Khi vừa đến, liên lạc được với phi cơ quan sát bắn trái khói màu chỉ điểm mục tiêu. Tôi nhìn xuống đó là một xóm làng độ chừng hai trăm căn, nhà lá có, nhà gạch ngói có đang cháy khói tỏa mịt mù thẳng lên trời vì hôm nay yên lặng không có gió. Sau khi đánh hỏa tiễn xong mục nói trên, chúng tôi bay về hướng tây cách Mé Láng chừng hơn hai cây số. Nơi quân bạn Biệt Ðộng Quân đang đụng độ với địch cố thủ trong một miếng vườn xanh tươi cây trái sum suê chừng năm mẫu tây. Quân địch đào hố và công sự phòng thủ kiên cố chung quanh là những miếng ruộng lúa lên xanh tươi đầy nước nên quân bạn khó tấn công vào mục tiêu vì không có điểm tựa. Ðại úy Faucett cho tôi biết mình sẽ đánh bom WP Lân tinh) và yêu cầu tôi báo cho quân bạn đừng vào chiếm mục tiêu sau khi đánh bom WP. Vì sợ lân tinh sẽ làm thương tích cho quân bạn, phải đợi ít lắm là một tuần lễ để lân tinh cháy hết rồi hãy vào. Ðây là lần đầu tiên dùng bom WP (Lân Tinh) trên chiến trường Việt Nam. Tôi thông báo cho phi cơ quan sát và quân bạn xong, chúng tôi nhào xuống thả trái bom WP đầu tiên nổ tỏa ra một vùng ánh sáng trắng xanh như hoa pháo bông bao trùm chừng năm mươi thước ngoài ngọn những đốm trắng li ti thật đẹp rớt xuống nước vẫn còn cháy lên khói… Phi tuần bốn phi cơ đánh trong vòng hai mươi phút miếng vườn cháy và lên khói hoàn toàn cây lá vàng đen cháy úa. Một bức họa chiến tranh điêu tàn khủng khiếp làm lòng tôi xốn xang đau xót cho người dân Việt phải chịu cảnh màn trời chiếu đất khi làng xã bị đốt cháy tan hoang.

Phi tuần đánh xong trở về căn cứ Biên Hòa vô sự. Tôi có hỏi Ðại uý Faucett tại sao quân bạn không chiếm mục tiêu liền được thì được trả lời: Phải chờ cho Lân Tinh cháy hết rồi mới vào chiếm mục tiêu vì rất nguy hiểm cho quân bạn có thể bị cháy nếu đạp lên Lân tinh. Tôi không ngờ ba năm sau tôi gặp lại ông Tư Râu nạn nhân của cuộc đánh bom Lân tinh ngày đó ở Mé Láng, làm lòng tôi ân hận đau xót nghẹn ngào thương cho người dân vô tội phải chịu trăm cay ngàn đắng trong cuộc chiến chống xâm lăng.

Chiều hôm nay tôi về sớm lên căn cứ Tân Sân Nhứt tìm ông bác sĩ Giụ, Y sĩ trưởng Trung Tâm Y Khoa KQ, xem ông có giúp đỡ gì được ông Tư Râu không. Bác sĩ Giụ bảo về vấn đề lân tinh lúc đó KQVN chưa có khả  năng chữa cho, ông đề nghị tôi ra ngoài Bệnh Viện Dã Chiến 3 Hoa Kỳ (US Army 3rd Field Hospital) của Mỹ đóng trước cổng Phi Long xem sao? Tôi ra tìm bác sĩ Newman y sĩ trưởng của Bệnh Viện Dã Chiến 3 Hoa Kỳ tôi thường liên lạc với ông trong những trường hợp cấp cứu khẩn cấp khi có phi cơ lâm nạn, lúc tôi làm chỉ huy trưởng căn cứ Tân Sân Nhứt vào năm 1964. Tôi được gặp ông Newman trình bày về tình trạng của ông Tư Râu, vì những vết thương từ trái bom Lân Tinh, ông bảo sẽ cố gắng chữa cho ông Tư Râu nhưng không dám hứa sẽ lành bệnh. 

Ðược lời như cởi bớt đau buồn, trên đường về nhà khu cư xá Hàng Không Việt Nam ở đường Ðinh Tiên Hoàng Ðakao. Tâm tôi cầu nguyện mong sao việc cứu chữa cho ông Tư Râu được kết quả mỹ mãn để lòng tôi vơi đi được chút tình buồn ân hận và lương tâm đỡ cắn rứt của đời phi công khu trục. Một đêm trằn trọc không nhắm mắt ngủ được, chỉ mong cho mau sáng để đem ông Tư Râu đi chữa bệnh. Vào lúc một giờ sáng nghe tiếng nổ của pháo kích và tiếng còi báo động hụ lên từng chập trong đêm khuya âm u như nhắc nhở dân chúng thần chết đang lảng vảng trên không phận Sàigòn. Tiếng còi xe cứu thương bí bo nghe lanh lãnh rợn người từ nhiều nơi đồng hướng về phía sân bay Tân Sân Nhứt. Sáng tôi đi làm đem theo một quần dài, một áo sơ mi, một áo thun lót và đôi dép cho ông Tư Râu thay để đi chữa bệnh. Sáng nay vào văn phòng tôi có bảo ông Hai chừng nào ông Tư Râu đến chỉ vào phòng tắm cho ông tắm rửa thay quần áo để đi chữa các vết thương trên người ông. Chừng nào xong cho tôi biết. Ngồi trên văn phòng từng hai của trụ sở Hàng Không Việt Nam nhìn xuống đường Nguyễn Huệ hôm nay thứ sáu trời đẹp nắng ấm. Trước cửa toà Ðô Chính cũng vắng bóng các sinh viên biểu tình yêu cầu ông thị trưởng Văn Văn Của thả các sinh viên ra về tội chống đối chánh phủ của người nghèo do Thiếu Tướng KQ Nguyễn Cao Kỳ làm Chủ tịch Uỷ Ban Hành Pháp Trung ương. Ở bên kia đường rạp hát bóng Rex dân chúng đi xem xuất mười giờ sáng khá đông, tuồng ‘Vertigo’ của Alfred Hitchkock do hai tài tử thượng thặng thủ vai nam chánh James Stewart và vai nữ Kim Novak. Ngày mai tôi dự định đem Nhỏ và hai con Thiên Nga và Hồng Hải đi xem phim Vertigo.

Tiếng gõ cửa ông Hai dẫn ông Tư Râu vào quần áo chỉnh tề tuy có hơi rộng, tóc chải cột phía sau, và râu đã cạo thành ra ông Tư không râu nhìn thấy như người trẻ ra hơn mười tuổi. Tôi bảo:
– Ông Tư cạo râu rồi trẻ ra mà đẹp trai nữa. Ông Tư cười vui ra mặt. Hôm nay tôi sẽ đưa ông Tư đi chữa các vết thương trong bệnh viện Mỹ ở Tân Sơn Nhứt. Bây giờ ông đem tất cả đồ đạc trong bao bố tời ra xem thứ quần áo gì cũ rách vá tả tơi và những dụng cụ như đôi đũa mun, cái muỗng bạc, cái ca và bi đông đựng nước của quân đội không cần thiết bỏ hết đi.

Cuối cùng tất cả quần áo cũ đồ đạc bỏ đi gia tài sự nghiệp chỉ còn lại một cái muỗng bạc, cái bóp cũ kỹ một gói cuộn giấy báo quấn giây thun và tấm ảnh. Ông Tư cầm ảnh lên rồi ôm vào ngực hai dòng lệ nóng chảy tuôn xuống đôi má hóp khô cằn. Ông nhìn ra phương trời xa xôi như muốn gởi lòng mình về tận hướng làng Mé Láng cố mong tìm lại hình bóng thân yêu của người vợ, một giọng nức nở nghẹn ngào… Trời ơi!!! em Nở ơi! Sao đời anh khổ quá vậy nè… Ông Hai bỏ đi ra ngoài, tôi cũng mủi lòng ngồi yên im lặng quay mặt đi chỗ khác để che dấu hai hàng lệ từ từ chảy như để chia sẻ nỗi đau khổ của ông Tư Râu mà lòng tôi tự hỏi: Vì đâu và tại sao Dân Việt… Hận thù nhau? Chém giết lẫn nhau. Oan Nghiệt ơi? Ðau thương ơi?.. Sau cùng nỗi buồn lòng đã lắng xuống ôngTư Râu cầm gói giấy báo vừa mở ra đưa cho tôi xem toàn là giấy một đồng, năm đồng, mười đồng, và nói:
– Chẳng nói dấu gì ông Phó, mấy năm nay tôi đi xin được cần kiệm gom góp một số tiền là hai ngàn hai trăm đồng để mong ngày nào đem về làng Mé Láng xây lại mồ mả cho vợ con.

Ông Tư Râu như còn luyến tiếc ngồi mân mê quần áo và các món đồ dùng trong balô vừa tính bỏ đi có lẽ các món hành trang đã theo ông để chia sẻ những nỗi buồn vui trong cuộc đời hành khất bao nhiêu năm qua vì họa chiến tranh. Tôi liền bảo:
–Thôi cái balô của ông cứ giữ đây và tôi cất giùm cho, chừng nào chữa bênh xong rồi về đây lấy lại. Tôi sẽ biếu cho Ông Tư bằng số tiền giấy lẻ đó, bốn tờ giấy năm trăm và hai tờ một trăm để bỏ vào bóp cho tiện. Còn số tiền lẻ đó ông Tư gói lại cho kỹ cất vào trong balô tôi giữ đây cho ông Tư để ngày nào chữa hết bịnh trở về đây nhận lại balô. Chờ cơ hội thuận tiện đem tiền đó về xây mồ mả vợ con.

Ông Tư Râu nhìn tôi với đôi mắt vẻ ngờ ngợ gật đầu hình như chưa tin được khi nghe những lời tôi vừa cho ông biết và lặp lại:
– Ông Phó cho tôi tiền chẳn và giữ lại số tiền lẻ sau khi tôi lành bịnh, ông Phó cho tôi về xây mồ mả vợ con… phải không?
– Ðúng rồi ông Tư ơi!!!

Ông Tư liền tuột xuống đất quỵ lạy tôi để tỏ cử chỉ cám ơn tôi vừa nói:
– Trời thần thiên địa ơi!.. Câu nói chưa dứt, tôi vội đỡ ông Tư đứng lên hai tay ông còn run vì quá xúc động và tôi nói:
– Ông Tư ơi, đừng làm vậy khổ lòng tôi! Thôi mình ra xe đi lên bịnh viện đừng để trễ giờ hẹn.
– Cám ơn ông Phó.

Bệnh Viện Dã Chiến 3 Hoa Kỳ (US Army 3rd Field Hospital)

Chúng tôi ra xe trực chỉ về hướng Tân Sơn Nhứt, tôi cho ông Tư Râu biết sẽ được vào bệnh viện Mỹ để điều trị. Tôi đã lo xong rồi ông Tư khỏi lo lắng gì hết cứ yên tâm mà chữa trị. Trên đường đi, tôi ghé tiệm phở bà Dậu để dùng trưa, nhìn ông Tư râu ăn tô phở nóng gắp từng miếng thịt, từng miếng bánh phở cọng rau thơm và húp muỗng nước lèo cuối cùng. Ông Tư uống ly chanh muối ngon lành làm lòng tôi vơi bớt nỗi ân hận buồn đau vì đã gây thương tích cho một người dân mà cũng là một chiến hữu đồng chiến tuyến với tôi. 


Chúng tôi đến Bệnh Viện Dã Chiến 3 Hoa Kỳ thấy có rất nhiều người Việt đứng lố nhố trước văn phòng. Kẻ khóc sướt mướt người than trách thánh thần, khi người thơ ký đưa vào ngồi chờ bác sĩ Newman. Chúng tôi mới biết trong đêm qua việt cộng pháo kích căn cứ Tân Sân Nhứt lạc ra khu phố đường Trương Minh Giảng cách Lăng Cha Cả vài trăm thước làm thiệt mạng bốn người lớn, sáu trẻ em và hơn hai mươi người bị thương toàn là đám người dân vô tội. Ông Bác sĩ Newman cùng nhân viên bệnh viện đang cấp cứu các nạn nhân bị thương tích trong một phòng riêng biệt phía cuối bệnh viện. Chúng tôi chờ chừng mười lăm phút, ông bác sĩ Newman trở về, bước vào văn phòng, nhìn ông trong bộ quần áo bác sĩ xanh mầu da trời dính đầy máu vì ông đã cùng các bác sĩ khác và ý tá của bệnh viện làm trọn đêm cứu cấp các nạn nhân bị thương tích vì pháo kích. Tôi đứng dậy bắt tay ông và giới thiệu ông Tư Râu. Chúng tôi được bác sĩ Newman đưa xuống phòng chữa bệnh nhiều bệnh nhân người Việt bị thương trong đêm qua. Y tá chỉ cho ông Tư một cái ghế bố trong phòng bệnh nhân có người y tá Việt thông dịch viên lại làm giấy tờ nhập viện cho ông Tư. Bác sĩ Newman bảo tôi cho ông Tư biết phải nằm đây chừng hai tháng để chữa vì phải lấy thịt các vết thương ra thử xem lân tinh có ăn thấu vào tới xương chưa. Cắt các vùng thịt bị nhiễm lân tinh bỏ đi rồi mới lấy da ở bụng và nơi đùi đắp vào các vết thương. Cả một công trình cứu chữa nhiều vất vả phải cần đến bàn tay các bác sĩ chuyên môn để chữa trị. Bác sĩ Newman nhờ tôi hỏi ý kiến ông Tư, vì ông còn mạnh khoẻ đi đứng được nên cũng giúp đỡ quét dọn trong phòng các bệnh nhân khi cần. Còn khi nào nằm chữa bệnh thì thôi. Tôi báo ông Tư biết và hứa sẽ vào thăm ông Tư hàng tuần hoặc khi cần thiết và ông Tư phải ký giấy tờ chịu trách nhiệm về việc cứu chữa vì không có thân nhân, và tôi ký tên làm chứng. Ông Tư thay đồ ra mặt quần áo bệnh viện lên nằm nghiêng trên ghế bố để y tá lấy máu các thớ thịt mẫu trên các vết thương đem thử nghiệm.

Tôi từ giã ông Tư và chào bác sĩ Newman ra về và không quên để số điện thoại lại khi có việc cần văn phòng thông báo cho tôi rõ. Trở về phần sở tôi theo đường Trương Minh Giảng vừa qua khỏi Lăng Cha Cả những nhà cửa còn bốc lên những đám khói cuối cùng mà các anh em sở chữa lửa đô thành đang cố gắng dập tắt.

Bên lề đường kẻ ngồi đang khóc cho người thân đã chết trong đêm qua. Người đứng khoanh tay rầu rĩ tiếc của nhìn cảnh nhà cháy tan tành đang lo cho ngày mai vợ chồng con cái biết lấy đâu để làm mái ấm, phải sống màn trời chiếu đất. Trường hợp người dân lành vô tội, như hoàn cảnh ông Tư Râu và dân tình Mé Láng, người dân thành thị đường Trương Minh Giảng, họ lưỡng đầu thọ… đạn địch và bạn, dân thành thi thì ăn… đạn pháo 122ly của đám giặc Hồ vô thần tàn ác, dân thôn quê thì hưởng… bom WP vô tình của quân bạn, thật trớ trêu cho cảnh người dân vô tội của một nước nhược tiểu phải chịu tai ách oan ương giữa hai giòng lý tưởng Tự do và Cộng sản đang tranh dành nhau trên mảnh đất Việt thân yêu. Còn những người Mỹ như ông bác sĩ Newman chẳng hạn, từ một phương trời xa lạ nào đó đã rời bỏ mái ấm gia đình vợ con để đến nơi nầy ra tay cứu chữa cho các nạn nhân bị pháo kích trong đêm qua. Nhưng thanh niên Mỹ ở những nơi đèo heo hút gió ngày đêm ghìm súng giữ giặc nơi Ashau, Alưới, Khe Sanh, U Minh, Chương Thiện, Ðổ Xá, Ðak Tô, Ðak Sút, Bình Ðịnh, Hoài Ân… những chiến trường dầu sôi lửa bỏng trên phần đất mà không phải quê hương của họ. Có khi hy sinh cả tánh mạng trong những phi vụ như Tr/Úy O’Connor đã gãy cánh cùng Th/úy Võ Trường Chí trên chiến trường đẫm máu miền đồng bằng sông Cửu Long trong buổi sáng mờ sương. Một Ðại/Tá Sauers ngày chót trong phi vụ cuối cùng tua cố vấn hai năm cho Sư Ðoàn 4 KQ VNCH đã về miền miên viễn cùng Thiếu Tướng Nguyễn Huy Ánh Tư lệnh Sư Ðoàn 4 KQ. Nhưng mà họ đang giúp giữ hai chử ‘’Tự Do’’ trên mảnh đất miền Nam cho dân tộc Việt. Chỉ nói vì tình người xin đừng bàn về chánh trị, họ là các người anh hùng vô danh, họ hưởng được gì, phải chăng hưởng vài vòng hoa chiến thắng hoặc vài tấm bảng khẩu hiệu ‘’Hoan Hô’’. Nhưng cuối cùng họ hưởng không ít sự hận thù chửi rủa của những tở báo miền Nam thân cộng hay các nhà Sư, các ông Cha hòa hơp hòa giải và cả một số dân chúng hưởng được Mỹ viện trợ. Họ và chánh phủ họ không màng đến được trả ơn. Và khi họ dứt hai năm nhiệm vụ ở VN, khi trở về Mỹ được bọn phản chiến dẫn đầu là Jane Fonda và chồng Tom Hayden chào đón với những câu chửi rủa tàn tệ, nào kẻ giết trẻ thơ, giết ông già bà cả.

Tôi ngừng xe lại vì có hồi còi hụ của xe cứu thương chạy ngược chìều, đang sắp ngừng đậu trước một căn nhà tường gạch sụp đổ cháy tiêu tan. Người mẹ đang hớt hơ hớt hãi chạy theo một anh lính chữa lửa đang bồng trên tay một em bé đầu xanh vô tội chừng bốn năm tuổi máu me đầy người còn thoi thóp được tìm thấy dưới đống gạch vụn vách tường đổ vỡ.

Anh lính chữa lửa đang hối hả chạy đem ra xe cứu thương, các anh em y tá cho em thở oxy cửa xe đóng lại xe hụ còi inh ỏi chạy về hướng bệnh viện đô thành. Xe cứu thương xa khuất dần trên đường Trương Minh Giảng. Tôi rồ máy xe chạy đi mắt mờ, lòng bùi ngùi thương cảm tình cảnh người dân Việt đau thương, tội tự hỏi tại sao dân tộc tôi phải chịu nhiều cảnh ngang trái. Hận Thù ơi!!!… Ðau thương ơi!!!… Oan Nghiệt ơi!!!.. Cho đến bao giờ mới chấm dứt cảnh tương tàn. Những hình ảnh vừa qua làm tôi nhớ đến Nhỏ và các con tôi đang làm gì giờ nầy. Trên đường về sở làm tôi ghé xe qua nhà thăm một chút Nhỏ và con tôi. Xe vừa qua đường Ðinh Tiên Hoàng để rẽ vào cư xá Hàng Không Việt Nam, tôi vừa ngừng lại ở sân đậu trước nhà, nhìn ngoài bãi cỏ Nhỏ tôi và các con Thiên Nga, Hồng Hải ‘’Tímunchô’’ đang vui đùa trên bãi cỏ xanh trước nhà. Nhỏ tôi và Thiên Nga đang chơi cút bắt, còn Tímunchô đang tập đạp chiếc xe máy ông nội vừa mua cho trong tuần vừa qua, một bức họa thanh bình gia đình quá êm đẹp giữa mùa ly loạn đã làm ấm lại lòng tôi. Bước vội vã về hướng Nhỏ và các con tôi, Tímunchô vừa nhìn thấy tôi la lên: Bố dề… Bố dề… Tôi tới ôm Thiên Nga, Tímunchô và Nhỏ tôi vào lòng. Trong vòng tay tôi là cả một bầu không gian hạnh phúc tràn đầy mà tôi nguyện lòng sẽ cố gắng giữ mãi… Tiếng nói líu lo Thiên Nga, Tímunchô… Sao Bố dề sớm dậy… Sao Bố dề sớm dậy….Tímunchô ngước mặt nhìn tôi… Hai giọt lệ vô tình đã rơi vào mặt con… Sao Bố khóc dậy Bố… Không, Bố đâu có khóc đâu vì cái nón của Tínmunchô quẹt trúng vào mắt bố nên chảy nước mắt đó thôi. Nhỏ nhìn thẳng vào mắt tôi tiếng êm dịu hỏi… Có chuyện gì vậy Bố… Tôi tươi cười trả lời… Có chuyện… chiều nay đi xem hát bóng tuồng Vertigo… ở rạp Rex, suất bốn giờ cho đến chừng cỡ bảy giờ ra đi ăn cơm tiệm luôn, Nhỏ khỏi phải nấu cơm. Có tiếng đồng thanh hoan hô của Thiên Nga và Tímunchô.

Sau ba ngày, tôi được điện thoại chiều hôm qua cô thư ký ông bác sĩ Newman gọi cho biết lên gấp. Tình trạng ông Tư đang gặp khó khăn trong việc chữa trị khi đang mổ các vết thương để lấy các vùng thịt bị nhiễm lân tinh ra bỏ đi thì bị xốc bất tỉnh. Hôm nay sẵn dịp lênTân Sân Nhứt giải quyết vấn đề lương tháng mười ba cho các nhân viên HKVN. Tối ghé qua thăm ông Tư Râu xem tình trạng như thế nào, trên đường đi lên TSN lòng tôi như tơ vò trăm mối. Lo cho tính mạng Ông Tư Râu nếu có mệnh hệ gì muôn phần trách nhiệm về tôi. Lòng tôi muốn cứu ông Tư Râu đem đi chữa bịnh lại hại đời ông. Tôi tự hỏi sao Trời Phật, Chúa lại để cho đời tôi vào ngõ cụt, trong tình huống nghẹn ngào nghịch cảnh như thế nầy. Tôi không biết làm gì hơn vì ngoài tầm tay nhỏ bé của tôi, chỉ còn lòng kính cẩn dâng lời nguyện cầu xin Phật, Chúa phù hộ giúp đỡ cho ông Tư Râu tai qua nạn khỏi trong tình trạng thập tử nhứt sanh nầy. Sau nửa giờ xe đến cổng bộ Tổng Tham Mưu QÐVNCH, tôi rẽ xe vào hướng đến cửa Bệnh Viện Dã Chiến 3 Hoa Kỳ. Hôm nay bệnh viện có lẽ trở lại bình thường vì các nạn nhân bị thương trong vụ pháo kích vừa qua đã được chăm sóc trong lúc khẩn cấp và được di tản về các bệnh viện đô thành hết rồi. Tôi bước vào cửa văn phòng thư ký, ông bác sĩ Y sĩ trưởng Newman cũng vừa vào đến bắt tay tôi và bảo: Tất cả đều xong tốt cả rồi, ông Tư Râu đã tỉnh lại và đang được chăm sóc ở phòng hồi sinh.

Tôi theo chân bác sĩ Newman vào thăm ông Tư Râu, đang nằm thở đều đều được ghi trên máy đo tim. Giây nhợ tùm lum như người phi hành gia sắp lên cung trăng, mang ống hơi thở dưỡng khí, dây truyền máu vào tay. Sau khi bác sĩ Newman thăm nghe tim phổi và bảo với tôi mọi sự đều tốt cho ông Tư Râu. Tôi nhìn lên trời thầm cám ơn Trời, Phật, Chúa đã đáp lời cầu nguyện của tôi cho ông Tư Râu được bình an. Ông nằm sấp trên giường bệnh trải ra trắng, đầu nằm nghiêng qua bên tay phải thở đều đều, trên hai cánh tay và lưng những vết mổ được băng bó kỹ càng sau khi mổ xong. Tôi đếm được tám vết trên lưng và sáu vết trên hai cánh tay ông Tư Râu. Mười bốn vết hằn được ghi lại vĩnh viễn ngàn đời bằng lửa đạn… bạn nhầm lẫn, trên thân người chiến sĩ quốc gia, mà tôi chính là kẻ gây lên tai nạn đó. Lòng tôi đau buốt nghẹn ngào, tôi tới nắm bàn tay xương xẩu lạnh, hình như hơi ấm từ tay tôi chuyền qua làm ông Tư từ từ mở mắt nhìn tôi cố gắng mỉm cười trên vành môi tái xanh khô héo của người mới trở về từ cõi chết. Tôi nói:
– Bác sĩ vừa bảo với tôi ông Tư khỏe mạnh rồi đó ráng tịnh dưỡng đừng lo lắng gì hết có hại cho sức khỏe. Chừng tháng sau ông Tư sẽ được trở lại đời sống bình thường.

Tay ông Tư Râu bóp nhẹ tay tôi và gục gặc đầu như thầm hiểu những lời căn dặn của tôi và vì có lẽ quá cảm xúc hai dòng nước mắt chảy dài xuống gò má khô cằn nhăn nheo của người dân vô tội qua quá nhiều đau khổ trong chiến tranh. Tôi tạm biệt ông Tư Râu và theo bác sĩ Newman trở lên văn phòng. Bác sĩ Newman cho tôi biết sớm lắm ngày mai ông Tư Râu sẽ được dời ra khỏi phòng hồi sinh. Khi đang mổ tới vết thương cuối cùng ở tay vì chất lân tinh đã thấm vào xương tủy nên phải cạo một ít xương ra cho sạch chỗ bị nhiễm lân tinh. Có lẽ vì yếu sức ông Tư Râu bị bất tỉnh nhưng tim vẫn đập đều và máu bơm vào đầu bình thường làm cho óc vẫn hoạt động. Tôi nói chân thành cảm tạ bác sĩ Newman và các nhân viên bệnh viện đã lo giúp đỡ và chăm sóc ông Tư Râu. Tôi kiếu từ bác sĩ Newman ra về lòng khoan khoái nhẹ nhõm như người vừa trút được gánh nặng ngàn cân trên đôi vai trách nhiệm nặng nề về sự chết sống của ông Tư Râu.

Tôi thấy lòng sảng khoái hân hoan đến làm việc với anh em ở các phần sở Hàng Không Việt Nam trên Tân Sân Nhứt. Vào đến phòng họp còn năm phút trước mười một giờ, các anh em đại diện các phần sở nhân viên trên bốn trăm người trong phòng chật cứng. Ông Lâm Ngọc Diệp, Phó giám đốc nhân viên phi hành và không phi hành. Ông Việt Phó giám đốc kỹ thuật và ông… Phó giám đốc tài chánh đưa tôi vào bàn chủ tọa, sau ba hồi chuông reo vang tất cả hội trường đều an tọa, ông phó giám đốc Diệp đứng lên điều khiển đọc chương trình buổi họp hôm nay. Bắt đầu trước giới thiệu quan khách chủ tọa đoàn và các đại diện các phần sở liên hệ trước xin các quý vị sau đó rồi sẽ vổ tay, sau đọc chương trình buổi họp về lương tháng mười ba, có bốn mươi lăm phút để thảo luận và mười lăm phút ý kiến của ban giám đốc Hàng Không Việt Nam mà ông Phụ Tá Chủ tịch Nguyễn Hồng Tuyền đại diện Chủ tịch Tổng Giám Ðốc HKVN ông Phạm Long Sửu. Sau khi ông Lâm Ngọc Diệp giới thiệu quan khách, các phần sở liên hệ xong một tràng pháo vổ tay chấm dứt. Ông tuyên bố khai mạc và xin ông Phụ tá có đôi lời với tất cả các nhân viên và mời cô Vương Thúy Lan phó trưởng phòng tố tụng làm thơ ký buổi họp.
– Chúng tôi hôm nay lên đây trước để chuyển lời Chủ tịch Tổng giám đốc HKVN ông Phạm Long Sửu vì hôm nay ông có dự buổi họp cùng bên Bộ Giao thông Vân tải để bàn về việc bành trướng thêm các đường bay hải ngoại. Trước chào mừng tất cả quí vị và sau để cùng quí vị bàn luận về vấn đề lương tháng mười ba cho toàn thể nhân viên HKVN của niên lịch 1965 nầy. Chúng tôi trên ban giám đốc đã quan tâm đến việc làm tích cực của tất cả nhân viên trong ba tháng vừa qua và xin quí vị nghe lời báo cáo của ông… Phó giám đốc tài chánh thông báo cho quí vị biết rõ tình hình tài chánh của công ty, tôi xin giới thiệu ông Trình.

– Xin thông báo cùng quí vị, tình hình thu nhập tài chánh công ty rất khả quan, trong ba tháng vừa qua rất khích lệ tổng số thu gia tăng thêm 7% trên số thu dự định và nếu chúng ta tiếp tục như sự tiến triển trong ba tháng vừa qua cho tròn năm nay, thì tháng tưởng thưởng mười ba của tất cả các nhân viên không thành vấn đề. Ông phó giám đốc tài chánh dứt lời… tiếng vổ tay hoan hô vang dậy.

– Như vậy chúng ta chắc ai cũng đồng ý về lời trình bày về tháng mười ba của ông Phó giám đốc tài chánh, để rút ngắn thời giờ cho buổi họp hôm nay, chúng tôi có câu hỏi sau đây:
– Có ai không đồng ý nhận lãnh tháng mười ba xin đưa tay lên cho biết ý kiến.

Tất cả hội trường đều im lặng với nỗi lòng thoải mái và hân hoan vì chắc được tháng mười ba, chỉ có một người đứng lên… có tiếng ồn ào phản đối của tất cả hội trường… (có tiếng ai nói… Không muốn lãnh hả… để tui lãnh giùm cho… ngồi xuống đi cha nội ơi!!! Không lãnh hả để tụi tui lãnh đầu năm đánh xập xám cho vui nhà vui cửa…) Tiếng hội trường cười rộ lên làm vui nhộn cho buổi họp hôm nay. Ông Phó giám đốc Lâm Ngọc Diệp yêu cầu tất cả giữ im lặng để tiếp tục buổi họp, và xin người vừa đứng lên tự giới thiệu và phát biểu.
– Tôi tên là Henri Hoạt, trưởng ban đại diện công nhân công ty HKVN xin có ý kiến, nếu chủ tọa đoàn chấp thuận, anh xin tiếp tục. Ông Lâm Ngọc Diệp nhìn tôi như hỏi ý kiến, tôi gật đầu. Ông Diệp nói chấp thuận. Anh Henri Hoạt nói, nếu được lãnh tháng mười ba thì ban giám đốc cho chúng tôi lãnh ra sao? chia ra hai phần một phần lãnh trước kèm theo với tháng mười một và một phần lãnh kèm theo với tháng mười hai hay là lãnh trọn luôn trong tháng mười hai? Lại có tiếng ai đó nói lớn lên… có được lãnh tháng mười ba là đã sướng quá rồi, trước sau gì cũng lãnh lo lắng chi cho mệt… Bỏ qua đi tám!!!..)

– Ý kiến nầy phải hỏi lại ông Phó tài chánh mới được.
– Ðể tiện việc số sách cuối năm, tôi xin đề nghị ban giám đốc cho lãnh tháng mười ba tưởng thưởng cùng với tháng mười hai cuối năm thì rất dễ dàng tiện việc sổ sách cho văn phòng tài chánh, tiếng hoan hô ầm lên cả hội trường.

– Vậy để tiết kiệm thời giờ để các anh em còn trở lại làm việc, chúng tôi xin chuyển lời ông Chủ tịch Tổng giám đốc về quyết định của hội đồng quản trị, (hội trường im thin thít chờ nghe…) theo lời đề nghị của ông Chủ tịch tháng tưởng thưởng mười ba… đã được chấp thuận, tiếng hoan hô và tiếng cười rộn rã ầm vang cả hội trường. Còn hơn nửa giờ chúng tôi xin cho quí vị biết sơ qua các chương trình dự định năm năm bành trướng 1965/1970 công ty HKVN trong tương lai, nội địa thêm các tuyến đường bay Sài Gòn, Rạch Giá, Hà Tiên, Cà Mau, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Phan Thiết, Phan Rang, Tuy Hòa, Qui Nhơn, Quảng Ngãi… Các tuyến đường bay hải ngoại hướng Ðông Bắc, tuyến đường bay nối dài qua từ Hồng Kông 1965/66 đến Seoul Nam Hàn và Tokyo Nhật Bổn, về phía Ðông Nam tuyến đường bay thẳng qua Sidney Úc Châu. Về phía Tây Nam nối tiếp tuyến đường bay từ Thái Lan đi đến Indonesia và Birmani trong năm 1966/67.

Ðể tăng cường về phi cơ sẽ mướn thêm cho nội địa của các hãng hàng không bạn như China Air Lines và Far Eastern của Ðài Loan. Mướn/Mua thêm Boeing 727 cho các tuyến đường bay hải ngoại và cùng hùn/chia vớí CAS (Continental Air Servises) 1965/1972 thay thế Air America, chỉ bay riêng cho các cơ quan hành chánh và tòa đại sứ Mỹ. HKVN lo sửa chữa và bảo trì các phi cơ. Vào cuối năm 1966/67, tăng cường mở đường bay Âu châu qua Pháp. Chuẩn bị nối liền Tokyo qua Mỹ San Francisco và Los Angeles nếu tình hình cho phép, chương trình liên lạc PanAm để mướn/mua 6 phi cơ 707/320 vừa chở hành khách và hành lý. Vào năm 1968 sẽ có hai chương trình:


1) – Là thành lập thêm công ty Hàng Không Chuyên Chở có tên VAT (Việtnamese Air Transport).
2) – Hùng vốn với Hilton Hotel xây cất một Hotel năm sao, sáu từng chừng hai ngàn phòng. Từng một với đầy đủ khu buôn bán lẻ, nhà hàng và bộ chỉ huy HKVN, trên miếng đất mà hiện tại Bộ Giao Thông Vận tải đang chiếm giữ. Bộ sẽ dời đi nơi khác vì nơi đây quá nhỏ cho sự bành trướng của Bộ Giao thông Vận tải trong tương lai.

Ðó là chương trình bành trướng công ty HKVN trong tương lai, sau cùng xin kính chúc quí vị có nhiều sức khỏe và cố gắng thêm lên trong công việc hằng ngày và giữ vửng lòng tin vì sự thành công của công ty HKVN nằm trong tay quí vị. Sau đây nhờ cô Vương Thúy Lan thơ ký buổi họp đọc laị biên bản, xin quí vị Phó giám đốc ký tên vào và chuyển về phòng hành chánh công ty HKVN để trình lên Ông Chủ Tịch Tổng Giám Đốc.

Buổi họp chấm dứt trong sự vui vẻ của tất cả đại diện cho các nhân viên phần sở. Khi ra về lòng được nhiều phấn khởi vì tháng mười ba tưởng thưởng đã thành sự thật không còn thắc mắc lo âu bàn cãi nữa trong giờ làm việc của các cơ quan liên hệ. Buổi họp được bế mạc trong niềm phấn khơỉ của tất cả nhân viên HKVN.

Trên đường trở về văn phòng, lòng tôi khoan khoái chi lạ, công tác cho hãng đã được kết quả mỹ mãn và việc ông Tư Râu hồi tỉnh lại đem đến cho tôi niềm vui nội tâm yên ổn thoải mái cho tình người phi công khu trục. Sau khi thông báo kết quả buổi họp cho Trương Ðăng Lượng chánh văn phòng, ông chủ tịch còn đang họp với Bộ Công chánh về việc xin Bộ Ngoại giao giới thiệu công ty HKVN đến các nước liên hệ để được mở thêm các tuyến đường hàng không trong tương lai.


Chiều nay về đến nhà cùng Thiên Nga, Hải Tímunchô và Nhỏ yêu của tôi đi ăn mì Cây Nhãn, chưa bao giờ tôi được sống hai ngày cuối tuần hạnh phúc tròn vẹn cùng gia đình nhỏ bé của chúng tôi.

Sau hai tuần công tác để mở thêm đường bay quốc tế ở Ðài Loan và Seoul Nam Hàn trở về trình bày cho ông chủ tịch công tác về việc bành trướng các đường bay được theo ý muốn. Chỉ chờ ngày ông Chủ tịch đi thăm viếng xã giao Ðài Loan, Nam Hàn và ký giấy tờ là xong. Anh tổng thư ký Trương Ðăng Lượng cho biết có điện thoại của văn phòng Bệnh Viện Dã Chiến 3 Hoa Kỳ gọi, và cho biết tình trạng sức khỏe của ông Tư rất khả quan. Ngày hôm sau trước khi lên thăm ông Tư, tôi ghé qua tiệm chú Khén mua tô hủ tiếu khô có nước lèo để riêng, và lại chỗ bánh mì Ba Lẹ mua hai ổ đem lên cho ông Tư. Đến Bệnh Viện Dã Chiến 3 Hoa Kỳ, tôi ghé vào văn phòng của Y sĩ trưởng gặp ngay bác sĩ Newman chào đón tôi và cho biết chừng một tuần lễ nữa để vá thêm bốn vết thương ở tay trái là xong, chờ lành thêm thời gian không hơn hai tuần nữa ông Tư có thể xuất viện.

Tôi theo chân bác sĩ Newman xuống thăm ông Tư nơi phòng nằm dưỗng bịnh chung với các binh sĩ Hoa Kỳ. Vừa trông thấy tôi, ông Tư ngồi dậy mừng rỡ và chảy nước mắt, vì có lẽ sợ tôi bỏ bê ông ta vì thấy hai tuần vừa qua tôi vắng mặt. Tôi ngồi xuống an ủi ông Tư, vì tôi bận công tác hải ngoại hai tuần, mới vừa về hôm qua nay lên thăm liền ông Tư đây. Tôi có mua cho ông Tư một quần Jeans và cái áo tay ngắn kiểu Hạ Uy Di, có thêm tô hủ tiếu và bánh mì thịt nguội Ba Lẹ nữa cho Ông Tư đây. Tôi biết chắc mấy tuần ở đây ăn cơm Mỹ ngán lắm rồi phải không. Ông Tư bước xuống giường theo tôi ra phòng dành cho thân nhân thăm viếng, chân, tay, lưng còn băng bó lổn ngổn nhưng gương mặt ông Tư có thần và hình như sức khỏe đã trở lại khả quan. Ông Tư ngồi xuống bàn và xin phép cho ăn hủ tiếu. Vừa ăn ngon lành tô hủ tiếu và ổ bánh mì Ba Lẹ, vừa nhìn tôi với đôi mắt thầm cảm ơn, ông Tư dùng xong tôi mới lời hỏi chuyện:
– Ông Tư thấy sức khỏe ra sao, và các vết thương còn nóng và đau nhức như hồi xưa không?
– Dạ hết nóng rồi, sức khỏe khá tốt hết còn nhức nhối khi trời nóng hay lạnh, ăn ngủ được ngon giấc, không còn thức giấc ban đêm vì các vết thương hết hành hạ rồi.

Ông Tư cho tôi coi ở đùi và ống chân các chỗ lấy da để ‘’vá’’ các vết thương trên lưng và tay cũng đã bắt đầu kéo da non. Nghe ông Tư nói lòng tôi thấy yên vui, nỗi đau buồn đã vơi bớt được phần nào trong tâm não, thầm cám ơn Trời, Phật, Chúa đã ban ơn cho ông Tư được thoát khỏi sự chết từ từ âm thầm đến trong những phút sống cuối đời phiêu bạt. Tôi từ biệt ông Tư ra về, ông Tư cám ơn các món đồ tôi mua cho và mong gặp lại tôi trong tuần tới. Trên đường về lòng tôi rối vò trăm mối, làm sao đây chỉ còn ba tuần nữa thôi. Khi Ông Tư rời bịnh viện, rồi về đâu, không lẽ tôi lại trả ông về cuộc đời hành khất nữa sao. Rày đây mai đó sống nhờ các tha nhân thương hại cho từng đồng bạc, hay vài chục xu. Ngày dựa cột đèn dơ tay xin chút tình thương của đồng loại, đêm về sống dưới gầm cầu mưa gió lạnh lùng cô đơn cho kiếp đời lang bạt. Không biết ông có dự định muốn trở về Mé Láng nữa không, nơi một lần chiến tranh đã phá nát gia cang, vợ con bị chết cháy thê thảm? Tôi phải tìm một ngõ đường sáng sủa hơn để ông Tư làm lại cuộc đời dang dở, mới thỏa lòng ân hận và đau xót của tình người phi công khu trục. Làm sao cho cuộc đời ông Tư Râu được bình thường trong tương lai, vì kiếp người như ông Tư chịu quá nhiều tai ương hoạn nạn tàn phá.

Mỗi tuần tôi đều có lên thăm ông Tư, tình trạng sức khỏe rất khả quan, đi đứng vững vàng, đã làm giúp bịnh viện trong các công tác như đem nước uống hay cà phê cho các thương binh Hoa kỳ, đốt thuốc lá, quét phòng… Tuần lễ thứ ba tôi được thông báo cuối tuần vào ngày thừ sáu ông Tư sẽ được cho xuất viện. Ngày thứ hai vào làm việc tôi bàn cùng ông Hai, người lo chăm sóc văn phòng, để tìm chỗ ở cho ông Tư Râu, và công việc thì sẵn Air Việt Nam đang trên đà bành trướng, việc cho ông Tư một chỗ làm chắc không khó. Làm nhân công khuân vác hành lý hoặc làm trong nhà nấu thức ăn cho các chuyến bay hải ngoại, hay nhân viên chăm sóc vệ sinh văn phòng. Ông Hai đưa ý kiến để giúp cho ông Tư, cho ở không tiền thuê cùng nhà ông Hai mướn trong ba tháng đầu, và sau đó chia 2 phần 5 tiền mướn. Tôi đưa tiền ông Hai đi chợ trời mua một cái vali cỡ trung và mua bốn bộ quần áo, khăn lông, một ghế bố và cái mùng chiến trận cho ôngTư Râu. Tuần lễ qua mau thứ sáu đến, tôi ghé nhà hàng Thanh Thế mua bốn chục tôm chiên lăn bột, bốn chục gỏi cuốn, bốn chục chả giò và sáu chai rượu chát: ba chai đỏ Cabernet Savignon và ba chai Chablis trắng, đem lên làm quà cho các bác sĩ và nhân viên của Bệnh Viện Dã Chiến 3 Hoa Kỳ. Tôi lên đến vào khoảng mười hai giờ cũng vừa bữa cơm trưa, tôi vào phòng làm việc của bác sĩ Newman nhờ cô thơ ký cho người tiếp tay tôi bưng những hộp đồ ăn vào, cũng vừa khi bác sĩ Newman vừa trở về phòng có dẫn theo ông Tư Râu. Trong bộ quần Jeans áo sơmi xanh nhạt cụt tay, mặt mày có da có thịt lanh lẹ tỏ ra người đã được chữa trị lành hết các vết thương của chiến tranh.

Không ai có thể nhìn ra ông Tư Râu hành khất ngày xưa, hôm nay là người thanh niên trai trẻ đầy sức sống. Tôi cũng vui lây. Ông bác sĩ Newman cũng lấy làm sung sướng đã chữa lành người bệnh nhân có căn bệnh khó tánh mà đây cũng là một trong những người đầu tiên ông ra tay cứu độ. Ông bảo cho tôi biết dù ông Tư Râu có vẻ khỏe mạnh nhưng chưa biết kết quả thực thụ trường kỳ trong tương lai ra sao. Còn phải theo dõi bệnh nhân và sau một tháng phải bảo ông Tư Râu trở lại khám bệnh. Tay chân còn yếu đừng cho làm việc gì nặng nhọc hoặc bưng sức nặng trên mười ký lô, đừng nên uống rượu nhiều có thể làm sưng hoặc ung thối những miếng da thịt vá các vết thương. Ông Tư Râu phụ bưng các món ăn qua phòng ăn của các nhân viên bệnh viện, bày ra trên bàn và khui rượu ra. Tôi mời bác sĩ Newman cùng tất cả các các bác sĩ chuyên khoa mổ xẻ và y tá nhân viên cùng nâng ly trước để nói lên sự biết ơn của ông Tư Râu và tôi, sau mừng người nạn nhân của chiến tranh mà bác sĩ Newman cùng tất cả quý vị có mặt hôm nay đã ra tay cứu độ được thành công tốt đẹp. Ông bác sĩ Newman cùng tất cả các nhân viên bệnh viện đồng chúc ông Tư Râu nhiều may mắn. Buổi tiệc bắt đầu, các món ăn chả giò, gỏi cuốn và tôm lăn bột chiên cùng rượu chát đỏ Cabernet Savignon được tất cả người bạn đồng minh rất khoái khẩu và hoan hô. Chúng tôi từ biệt ra về ông Tư Râu bắt tay từ giã các người bạn chân tình đã giúp chỉnh trang lại mảnh đời vô vọng thành một cuộc đời đầy tương lai và có ý nghĩa sống cho ông Tư Râu. Trên đường về văn phòng của tôi, ông Tư Râu nói cám ơn tôi với dòng lệ và sự lo lắng.

Không biết tôi chở ông về văn phòng làm gì đây, viển ảnh hành khất đen tối đang ám ảnh tâm tư. Ông khóc thành tiếng, cây cột đèn trước cửa HKVN quen thuộc hằng ngày, mái hiên chợ Bến Thành những trưa hè nắng cháy da, hay gầm cầu chữ Y trong những đêm cô độc lạnh buốt xương nằm nhìn đếm trăng sao… Tôi chia sẻ cùng ông và muốn ông Tư Râu nhờ dòng lệ tuôn ra cho hết tất cả tâm tư thầm kín đau khổ của mảnh đời vô vọng hành khất ngày qua để không còn đọng lại trong tiềm thức dù rằng chỉ một mảnh nhỏ bụi khổ đau của ngày qua… Ðể ông Tư Râu sống trọn đầy nghị lực mà ông đang phải bươn bả nhào vô chấp nhận đương đầu với cuộc sống mới trong tương lai…

Xe cũng vừa đến, thấy ông Hai đang quét dọn hàng ba trước cửa hãng Hàng Không Việt Nam. Ông Hai theo chân tôi và ông Tư Râu lên văn phòng, hai người rối rít hỏi thăm nhau, vào đến phòng khách ông Tư Râu đã thấy balô của ông đã có sẵn đó và cái vali nằm kế bên cùng ghế bố và chiếc mùng quân đội mà ông đã quen thuộc. Ông tư Râu hết nhìn tôi rồi đến ông Hai như tìm hiểu việc gì xảy ra đây cho cuộc đời ông trong tương lai? Thấy ông Hai và tôi cười vui, ông Tư Râu cũng cười với những giọt nước mắt lưng tròng và sự lo lắng thấm kín.
– Ngồi xuống ghế đi ông Tư Râu, ông xem lại balô coi còn đủ đồ như trước khi ông đi chữa bệnh không?


Ông Tư Râu nói một câu đầy ân nghĩa:
– Thưa ông Phó và ông Hai, tôi không xem lại và tôi chắc chắn đồ của tôi còn đủ và có thêm một tình thương vô bờ bến mà ông Phó và ông Hai dành cho tôi trong những ngày qua, lúc tôi được chữa bệnh.

Với cử chỉ lanh lẹ ông Tư Râu móc túi lấy cái bóp ra, lấy hai ngàn hai trăm đồng trả lại cho tôi.
– Ông Tư Râu ơi, giữ đó đi hôm nào về xây mồ mả cho vợ con. Ðây ông Tư Râu nghe kỹ, những gì tôi dư định cho cuộc sống trong tương lai, nếu ông Tư Râu thấy không vừa lòng thì cho tôi biết để tôi lo liệu sau. Bây gìờ về phần chỗ ở, ông Hai cho ông Tư Râu về ở chung trong ba tháng đầu không lấy tiền sau đó rồi sẽ tính sau. Công việc làm tôi đã lo xong rồi, cho ông Tư Râu vào làm với hãng Hàng Không Việt Nam trong nghề phụ bếp ở Tân Sơn Nhứt. Nhà ông Hai cũng ở gần đó, đi làm rất tiện lợi, như vậy ông Tư cho biết ý kiến ra sao?


Vừa nghe tới đó ông Tư Râu oà lên tiếng khóc trong sung sướng và nói:
– Tôi không biết nói gì hơn ngoài hai tiếng cám ơn từ đáy con tim. Những gì ông Phó và ông Hai đã chỉ bảo, tôi xin nhận với tất cả lòng hân hoan thành thật và sự vui mừng ngoài sự tưởng tượng của đời tôi.

Ông Hai mở vali ra, chỉ tất cả quần áo đồ dùng trong đó là của ông Tư Râu, cả mùng mền và chiếc ghế bố nữa đó. Tôi bảo ông Hai dẫn ông Tư Râu xuống văn phòng ông Chỉnh chánh sở nhân viên làm giấy tờ vào làm HKVN. Ngày mai, ông Hai chở giúp ông Tư Râu lên trình diện phần sở sản xuất phần cơm cho các phi vụ đường xa và ngoại quốc ở Tân Sơn Nhứt để bắt đầu cuộc sống mới.

Năm giờ chiều, văn phòng đóng cửa nhân viên ra về, tôi vừa xuống cửa cầu thang, nhìn thấy ông Chỉnh chở trên xe giúp ông Tư Râu chiếc vali, ghế bố và mùng. Còn ông Hai chở ông Tư Râu trên xe Mobilette trực chỉ hướng về Trương Minh Giảng, nhà ông Chỉnh và ông Hai gần bên nhau. Trên đường về với vợ con tôi cảm thấy lòng khoan khoái vô ngần, vì sự đau khổ thầm kín của đời người phi công khu trục được giải tỏa một phần nào. Khi nhìn hình ảnh ông Tư Râu ngày hôm nay đi đứng bình thường, sức khoẻ khả quan không còn dấu vết của ông già hành khất khổ đau vì bệnh tật, khập khểnh lê từng bước chân đi lần vào con đường cuối nhỏ hẹp của định mệnh quá khắt khe dành cho ông Tư Râu.

Tháng sau tôi chở ông Tư Râu đi khám bệnh lại và được bác sĩ Newman cho biết tình trang sức khỏe ông Tư Râu rất khả quan nhưng về sau coi chừng nhắc nhở ông để ý cánh tay phải vì vết thương ăn sâu nên coi chừng bị mục xương. Chiều đó về tôi được ông Chỉnh báo cho biết, giấy cảnh sát đòi ông Tư Râu ngày mai trình diện tại bót đô thành đường Trần Hưng Ðạo về vấn đề vì trùng tên sao đó và khai không đúng lý lịch là vợ chết, trong việc kiểm tra an ninh cho nhân viên vào làm ở Hàng Không Việt Nam. Sau khi đi trình diện cảnh sát xong ông Chỉnh chở ông Tư Râu về văn phòng gặp tôi, báo cho tôi biết vì cảnh sát đã truy tầm ông Tư Râu trong gần một năm nay mà không tìm ra tung tích. Trong cuộc hành quân càn quét của quân đội VNCH vào mật khu VC ở tỉnh Trà Vinh quận Trà Cú có bắt được nhiều người trong đó có một ngươì đàn bà hiện đang nhốt ở khám tỉnh đường Trà Vinh chờ điều tra và kiểm chứng. Khai tên Ðào Thị Nở là vợ của ông Châu Văn Tư làm xã trưởng Mé Láng bị việt cộng bắt lùa đi để dùng làm chị nấu ăn (chị nuôi) sau cuộc tấn công vào Mé Láng tháng giêng năm 1962. Ông Tư Râu đã chứng minh được mình là xã trưởng ở làng Mé Láng nhờ tờ giấy chứng nhận của ông cựu quận trưởng và thẻ kiểm tra mà ông Tư Râu còn cất giữ. Nên cảnh sát cho hai tuần lễ gia hạn để ông Tư Râu trở về Trà Vinh gặp người đàn bà khai là vợ, để kiểm chứng có đúng sự thật hay không? Sau lời trình bày của ông Chỉnh tôi nhìn thấy trên mặt ông Tư Râu nửa mừng nửa lo, mừng vì nghe tin người vợ còn sống, lo là không biết tụi VC lưu manh có lấy giấy tờ thẻ kiểm tra của vợ là Ðào Thị Nở ghép vào cho cán bộ của chúng nó để qua mắt nhà cầm quyền VNCH hay không? Tôi bảo ông Chỉnh làm giấy phép cho ông Tư Râu mười lăm ngày nghỉ để về lo việc gia đình.

Sau một tuần lễ ông Tư Râu trở lên Sài Gòn có dẫn theo một người đàn bà cỡ độ bốn mươi. Khi mới nhìn tưởng đâu cũng trên sáu mươi tuổi, có lẽ vì thiếu dinh dưỡng, tuy ốm yếu nhưng nhưng lanh lẹ, giới thiệu cùng tôi là vợ, và bà Tư cám ơn tôi:
– Nhờ Trời Phật phù hộ nên nhà tui đã gặp được ông Phó cứu giúp trong cảnh khốn cùng, được chữa lành bệnh và đi làm. Nếu không có… „chiện“ được đi làm… „diệc“ mà còn sống cuộc đời ăn mày thì tui chắc ở tù suốt đời vì chẳng bao giờ cảnh sát tìm ra tông tích được ông nhà tui đâu.

Tôi gọi ông Hai lên gặp bà Tư Râu, hôm nay có thêm khách ở nhà cho vui. Tôi cũng chúc cho ông bà Tư Râu được an vui và nhiều sức khoẻ. Ngày mai ông Tư Râu dẫn bà Tư đi đến cảnh sát để chứng mình đã lãnh vợ ra và điều chỉnh lý lịch trong tờ khai an ninh của hãng Hàng Không Việt Nam. Sau ba tháng ông bà Tư Râu chia sẻ tiền nhà cùng ông Hai và bà Tư được vào làm cùng sở với ông Tư Râu lo việc rửa các mâm và rau cải. Có lần tôi ghé thăm ông Hai và ông bà Tư Râu, thấy các ông đang nhậu bia Heineken và bà Tư Râu đang lo các món nhâm nhi. Thấy tôi bước vào, ông Hai khoe liền, từ ngày có ngườì em trai kết nghĩa và cô em gái ông Hai được an hưởng tình gia đình ấm cúng mà từ lâu nay ông đã mất đi sau khi vợ ông qua đời ở làng Ba Xe quận Long Tuyền Cần Thơ, trong một đêm Tây ruồng bố vào năm 1945. Ông Hai bỏ làng ra đi từ đó. Như trong gia đình bà Tư Râu lo cơm nước và rửa chén bát vệ sinh trong nhà.

Từ cuối năm 1967 tôi rời Air Việt Nam trở về Không Quân ra Nha Trang ở Căn cứ Huấn Luyện KQ rồi về vùng Bốn làm chỉ huy trưởng Căn Cứ KQ Sóc Trăng. Sau đó, 1971 trở lại vùng Hai làm chỉ huy trưởng Căn Cứ 60 Chiến Thuật KQ Phù Cát Bình Ðịnh cho đến ngày rời bỏ VN mến yêu ngày 30 tháng tư năm 1975. Khi ngồi viết lại những dòng chữ nầy tôi xin nhắn cùng ông Tư Râu về việc chính tôi là người phi công khu trục vô tình đã thả trái bom lân tinh gây nên những vết thương muôn đời trên thân thể ông Tư Râu mà ngày xưa tôi không đủ can đảm thú nhận chuyện đau lòng đó cùng ông. Ðến năm nay ông Tư Râu cũng đã chín mươi tuổi nếu còn sống trên cõi đời nầy hay đã hoá ra người thiên cổ rồi xin ông Tư Râu nhận nơi đây những lời chân thành tạ tội của một người phi công khu trục.

Có một lần vào năm 2006, khi đi dự đêm hội ngộ HKVN ở Westminster, Los Angeles có người bạn thuật cho tôi nghe một chuyện sau ngày mất nước ở HKVN. Trong buổi họp các nhân viên HKVN để cán ngố tuyên truyền, sau khi dứt lời một cán ngố bảo: Cách mạng đã về, thành công trong công việc giải phóng quê hương dưới sự kìm kẹp của Mỹ Ngụy. Các đồng bào hãy hồ hởi phấn khởi lên làm việc gấp trăm lần hơn Mỹ Ngụy để bảo vệ nền dân chủ tự do thành công của cách mạng. Có ai có ý kiến gì không?

Trong phòng im lặng không có ai lên tiếng trả lời, cán ngố liền chỉ bà Tư Râu, cụ bà phát biểu đi chứ! Bà Tư đứng dậy chậm rãi nói: „Nhờ Trời Phật Thánh Thần Thiên Ðịa phù hộ, hoan hô Cách mạng thành công… dìa thành… làm ơn ’’diệt’’ luôn tụi….’’diệt cộng’’… đừng để chúng nó pháo kích lung tung… „diết“… chết dân lành vô tội…“
 

Thiên Phong

________________

PTG_1_Bán thân màu.jpg

SỬ GIA TRẦN HUY LIỆU: ÔNG THẦY BỊA SỬ

                                                * Phan Thanh Tâm

 

“Phan Lâm mãi quốc, triều đình khí dân” là “một sản phẩm được chế ra bởi chính Viện Trưởng Viện Sử Học miền Bắc, Giáo sư Trần Huy Liệu”. Và chuyện “đề cờ” chung quanh câu này đã trở thành một thứ “sự thật lịch sử", “siêu tài liệu”, hay “siêu bằng chứng” là nhờ tài nghệ sáng tác cùng kinh nghiệm làm báo cũng như làm chính trị của “người anh cả” giới sử học Hà Nội. Luật Sư Winston Phan Đào Nguyên đã xác định như vậy trong cuốn “Phan Thanh Giản và vụ án “Phan Lâm Mãi Quốc, Triều Đình Khí Dân”. Tác giả đã dành một năm nghiên cứu quá trình nguồn gốc tám chữ được dùng để hạ nhục cụ Phan "vì mục đích đánh chiếm miền Nam”.

Tác giả sách cho biết câu “Phan Lâm mãi quốc, triều đình khí dân” xuất hiện lần đầu tiên tháng 8 năm 1955 trên số 9 tập San Văn Sử Địa tiền thân của tờ Nghiên Cứu Lịch Sử trong bài viết có tựa đề “ Việt Nam Thống Nhất Trong Quá Trình Đấu Tranh Cách Mạng” của ông Trần Huy Liệu. Tuy là bài nóí chuyện tại Câu Lạc Bộ Đảng Xã Hội Việt Nam, nhưng được coi như là một bài viết rất công phu với nhiều chú thích; riêng câu có tám chữ về cụ Phan thì ông Liệu không hề cho hay nguồn gốc câu đó ở đâu. Sinh năm 1964 tại Cần Thơ, là một thuyền nhân đến Mỹ năm 1980, Tiến sĩ Luật khoa Phan Đào Nguyên xác định câu này không có mặt trong cả nước trước 1954 và miền Nam từ 1954 cho đến năm 1975.

Khác với giáo sư Phan Huy Lê khi kể lại chuyện cây đuốc sống Lê Văn Tám là một nhân vật không có thật do ông Trần Huy Liệu chế tạo, giáo sư Lê đã không nói rõ, là Giáo sư Trần Huy Liệu đã nhắn nhủ với Giáo sư trong trường hợp nào. Đằng này, khi công bố chuyện sử gia Viện trưởng Viện sử học chế ra câu “Phan Lâm Mãi Quốc Triều Đình Khí Dân” với sự phụ hoạ của giáo sư sử học Trần Văn Giàu, tác giả Tiến Sĩ Luật Khoa Phan Đào Nguyên đã viết cả môt cuốn sách dày gần 400 trang. Sách được phát hành nhân buổi Hội Thảo và Triển Lãm về Nhân Vật Lịch Sử Phan Thanh Giản” và trao giải thhưởng Văn Học PhanThanh Giản 2021 tại Houston.  Buổi này do Gia Đình Cựu Học Sinh Trung Học Phan Thanh Giản & Đoàn Thị Điểm Cần Thơ tại Houston, Texas, tổ chức ngày 15/8/2021.

Trong sách Tiến sĩ Luật khoa Phan Đào Nguyên, Cử nhân khoa Lịch sử bằng danh dự năm 1987 tại UCLA, đã chỉ trích thế hệ giáo sư sử học ở Việt Nam do hai bậc trưởng thượng, ông Trần Huy Liệu và Trần Văn Giàu, đào tạo ra trong đó có “tứ trụ”  Hà Văn Tấn, Đinh Xuân Lâm, Phan Huy Lê, và Trần Quốc Vượng. Ba ông sau đã tiếp tay phổ biến câu “thần chú vạn năng” này. Cuốn sách là một thách đố cho các sử gia miền Bắc: “Họ đã không làm phận sự giáo sư bộ môn lịch sử – là phải tìm hiểu cặn kẽ về một câu có tầm vóc lịch sử. Giỏi lắm thì họ có đặt chút nghi ngờ về xuất xứ của câu này, nhưng rồi vẫn tiếp tục cho rằng đó là một nguồn dư luận cần phải được ghi nhận”. 

Phải phục vụ chế độ

Tại sao không nói đến xuất xứ tám chữ nói trên? Vì cứu cánh biện minh cho phương tiện. Đề ra những phương pháp sử học cơ bản nhưng khi cần đạt được mục đích tối hậu thì sử gia cọng sản không làm nhiệm vụ của một sử gia là đưa ra những suy nghĩ vô tư dựa trên những tài liệu uy tín mà “ta chỉ thấy toàn những lời bịa đặt”. Tác giả Phan Đào Nguyên trang 348 trích dẫn tôn chỉ của sử gia Trần Huy Liệu khi ông chủ trương : chúng ta không phải nghiên cứu để nghiên cứu mà là nghiên cứu để phục vụ cho những công tác trước mắt; gắn chặt việc yêu nước với việc yêu chế độ xã hội chủ nghĩa; chứng minh chế độ ta là một chế độ tốt đẹp hơn chế độ thối nát của Mỹ –  Diệm ở miền Nam. 

Trang 32 cuốn sách kể lại chuyện Giáo sư Trần Văn Giàu thổ lộ với nhà nghiên cứu Cao Tự Thanh rằng “Đó là thằng Liệu, không phải tao” khi nghe nhắc tới chuyện khoảng năm 1960 – 1963 đảng Cộng Sản hạ quyết tâm dùng bạo lực cách mạng để giải phóng miền Nam.  Phan Thanh Giản là một nhân vật “chủ hoà” bị mang ra đấu tố. Trong phiên toà ông Phan đã bị kết án xử tử.  Ông Trần Huy Liệu trước khi dàn dựng phiên toà đấu tố trên tờ Nghiên Cứu Lịch Sử năm 1963 do ông làm chủ nhiệm và Tổng Biên Tập, ông đã nghiên cứu cách đấu tố điạ chủ ở miền Bắc 10 năm trước. Điều này được tiết lộ qua con trai ông là Trần Chiến viết trong cuốn “Cõi Người – Chân Dung Trần Huy Liệu” trang 367. 

Phiên tòa đấu tố là “một vụ xử án một chiều rất trắng trợn”. Tác giả Phan Đào Nguyên viết, câu “Phan Lâm mãi quốc, triều đình khí dân” đã được đem ra để làm bằng chứng duy nhất cho tội “mãi quốc”. Nó chứng minh cho việc Phan Thanh Giản đã đi ngược lại “nguyện vọng của nhân dân”; từ đó bác bỏ việc xin khoan hồng cho tội “mãi quốc”. Quan toà tuyên bố bản án tối hậu cho cụ Phan mà chỉ dựa vào  tám chữ mà tám chữ đó lại do chính giáo sư sử học và là quan toà bịa ra. Phiên toà không có sự đối thoại hay tranh luận nào hết.  Có một độc giả Hải Thu viết bài “góp ý về Phan Thanh Giản” cũng đã miệt thị và buộc tội cụ Phan. Sau này người ta khám phá Hải Thu là bút hiệu của Trần Huy Liệu.  

Về tội “mãi quốc”, theo Luật sư Phan Đào Nguyên, đây là động từ cho thấy có sự trao đổi giữa kẻ bán và kẻ mua. Nếu cụ Phan bị tuyên án “mãi quốc” thì  quan toà Trần Huy Liệu ít nhất phải có một bằng chứng cho cuộc mua bán, đổi chác giữa cụ Phan và Pháp và đã là mua bán thì cái giá của sự trao đổi là gì? Có phải là tiền bạc, chức tước, hay đất đai cho chính Phan Thanh Giản hoặc con cháu gia đình ông để đổi lấy mấy tỉnh Nam Kỳ? Những điều kiện phải có cho tội danh “bán nước” đã không được đếm xỉa tới. Đó là chưa nói tới việc Phan Thanh Giản chẳng làm gì có quyền gì mà bán. Tất cả quyết định tối hậu là ở vua Tự Đức. Hoà ước 1862  ký xong trong vòng một năm phải được vua Napoleon III và vua Tự Đức chấp thuận.

 Điều 11 Hoà Ước 1862

Theo Luật sư Tiểu Bang California và Liên Bang Mỹ Phan Đào Nguyên các sử gia miền Bắc và sử gia Trần Huy Liệu không đọc hết hoà ước 1862 (Nhâm Tuất). Họ gọi Hoà ước này là “hàng ước” và Phan Thanh Giản, Lâm Duy Hiệp là những kẻ “đầu hàng” hay “bán nước”. Hoà ước có điều khoản 11, cực kỳ quan trọng. Viện trưởng Viện sử học và đàn em không bao giờ nhắc đến điều 11 vì “nó là một công trạng và thắng lợi về ngoại giao cũng như về chính trị của Phan Thanh Giản mà họ không hề biết, hoặc không muốn cho ai biết”. Theo điều này Pháp sẽ trả lại tỉnh thành Vĩnh Long cho vua An Nam, nếu vua An Nam ra lệnh và giải tán những lực lượng kháng Pháp tại hai tỉnh Gia Định và Định Tường.

Liên quân Pháp-Tây Ban Nha đánh bại Nguyễn Tri Phương tại đồn Chí Hoà năm 1861 và sau đó họ liên tiếp chiếm luôn bốn tỉnh lân cận Gia Đinh, Định Tường, Biên Hoà và Vĩnh Long chỉ trong vòng một năm. Gia Định là thủ phủ của ba tỉnh miền Đông. Vĩnh Long là thủ phủ của ba tỉnh miền Tây Nam Kỳ. Do đó, việc mất tỉnh Vĩnh Long vào tay liên quân Pháp – Tây Ban Nha đồng nghĩa với việc sẽ mất trọn  Nam Kỳ. Lúc bấy giờ có những cuộc nổi loạn ở Bắc kỳ. Vua Tự Đức muốn rảnh tay đối phó với tình hình phiá Bắc, đành nhận chịu mất ba tỉnh miền Đông Nam kỳ. Việc Pháp trả tỉnh Vĩnh Long cho Việt Nam là một sự nhương bộ của Pháp- Tây Ban Nha do tài ngoại giao của cụ Phan.  

Để lấy lại được Vĩnh Long, Phan Thanh Giản phải thực thi điều 11 của Hoà Ước. Ông buộc Pháp phải thực thi việc trả lại tỉnh này và cụ phải chứng minh cho người Pháp thấy là ông đã từng viết thư kêu gọi Trương Định giải giáp và bãi binh theo lệnh của vua. Đó là lý do tại sao khi Trương Định không chịu làm theo lệnh vua thì Phan Thanh Giản tuyên bố với phe Pháp là Trương Định là kẻ phản loạn để triều đình Huế hết chịu trách nhiệm về ông ta nữa. Nhờ sự khéo léo về chính trị của cụ Phan, nhà Nguyễn lấy lại Vĩnh Long trong vòng chưa đầy một năm sau khi ký Hoà ước 1862 mà không mất một mạng người nào. Các sử gia miền Bắc không đọc điều 11 nên tuyên bố cả 12 điều trong Hoà Ước là sự nhục nhã của nhà Nguyễn.

Trang 147 sách in lại Hịch Quản Định bản tiếng Việt của Petrus Trương Vĩnh Ký. Hịch Trương Định thông báo lý do ông đánh Pháp để đền ơn chúa và còn nói rõ ông tiếp nhận chiếu phụng của vua, nhận lãnh ấn Tống Binh của triều đình đồng thời thừa lệnh vua kêu gọi mọi người chiến đấu chống Pháp. Ngoài ra, cũng qua bài hịch, tác giả Phan Đào Nguyên viết “ta còn được chính tác giả Trương Định cho biết rằng lá cờ của ông đã đề sẵn bốn chữ “Bình Tây Đại Tướng” chớ không phải “Phan Lâm mãi quốc, triều đình khí dân” như hai sử gia Trần Huy Liệu và Trần Văn Giàu đã kể.  Vẫn theo tác giả Phan Đào Nguyên, Trương Định biết cụ Phan cũng là “một phần tử của nhà vua đang tìm cách lấy lại đất bằng đường lối khác”.

Tại sao Viện Trưởng Viện Sử Học chọn Phan Thanh Giản làm mục tiêu tấn công và đem cụ làm nhân vật chính trong câu “Phan Lâm mãi quốc, triều đình khí dân”?  Theo Luật sư Phan Đào Nguyên năm 1955 khi nhận thấy miền Nam không có tổng tuyển cử và miền Bắc chủ trương dùng chiến tranh để chiếm miền Nam thì Trần Huy Liệu chỉ trích đường lối ngoại giao của Phan Thanh Giản là “ảo tưởng” là “liều thuốc độc” và những người không chọn chủ chiến là thành phần “do dự hoang mang”.  Để tranh thủ người dân miền Nam và cán bộ tập kết phải cùng theo con đường đảng đề ra – ông Trần Huy Liệu răn đe – nếu không họ sẽ mang cái án bán nước, đầu hàng và cấu kết với giặc như Phan Thanh Giản bị kết án qua tám chữ nêu trên.

Cả nước ca ngợi quan Phan

Ngoài ra, vẫn theo Luật sư Phan Đào Nguyên, Phan Thanh Giản là một vị quan đức độ và có uy tín sâu rộng trong nhân dân Nam kỳ. Uy tín này có thể làm cho người dân Nam kỳ tin tưởng rằng đường lối ngoại giao của ông Phan là đúng. Do đó, ông Trần Huy Liệu phải chọn cụ Phan làm đối tượng phải diệt.Tiếp đó, ông ta đưa Phan Thanh Giản vào làm nhân vật chủ chốt hay là kẻ tội phạm đứng đầu sổ trong câu “Phan Lâm mãi quốc, triều đình khí dân” mà đã do chính ông ta chế tạo ra.  Đây là một việc làm cần thiết cho mục tiêu tối hậu của ông Trần Huy Liệu- là giành lấy chính nghĩa và sự ủng hộ của dân miền Nam cho đường lối chủ chiến của phe ông ta ở miền Bắc trong cuộc chiến tranh đang diễn ra ở miền Nam.

Tiến sĩ Phan Đào Nguyên quả quyết, câu “Phan Lâm Mãi Quốc, Triều đình Khí Dân” không có trong sách báo bằng chữ quốc ngữ của cả nước từ trước và ở miền Nam từ năm 1954 đến 1975. Theo ông Nguyễn văn Trấn (1914 – 1998) còn gọi Bảy Trấn, là một nhà báo, nhà văn, nhà hoạt động cách mạng chống Pháp, Chính ủy Bộ Tư lệnh Khu 9 và giảng viên trường Nguyễn Ái Quốc viết trong cuốn “Chợ Ðệm Quê Tôi” thì câu nói đó là câu nói của đàng ngoài: “Chớ tôi từng đọc sách sử, chưa thấy ở trong Nam này có sĩ phu bốc đồng nào nói ra câu bia miệng đó”.

Luật sư Phan Đào Nguyên cho biết sau khi Phan Thanh Giản (1796–1867) qua đời cụ đã được tất cả các sĩ phu và dân chúng miền Nam cũng như cả nước ngợi khen, như có thể thấy qua thơ văn của Nguyễn Đình Chiểu, Nguyễn Thông, Phạm Viết Chánh, Phạm Phú Thứ.  Chẳng có văn thơ nào lên án Phan Thanh Giản cả. Có một người duy nhất tạm cho là có giọng điệu phê phán quan Phan là Phan Văn Trị, với câu “ngậm cười hết nói nỗi oan (quan?) ta”. Câu này có thể diễn dịch là một câu trách móc nhẹ nhàng chớ không phải là một lời lên án hay kết tội gì cả. Chữ oan hay quan theo lối nói của người miền Nam thì hơi giống nhau.

Ở  Miền Bắc trước 1954 cũng không hề nghe nói đến câu này. Tác giả Phan Đào Nguyên đã cố tìm trong các báo có uy tín như Nam Phong Tạp Chí của Thượng Chi Phạm Quỳnh, và bộ Tri Tân Tạp Chí của Ứng Hòe Ngô Tất Tố cũng không thấy có bài nào chê bai hay lên án Phan Than Giản mà toàn là những bài viết ca ngợi về sự hy sinh và đức độ cũng như thông cảm cho hoàn cảnh của quan Phan. Ở trong Nam, những tác giả chuyên nghiên cứu về PhanThanh Giản như Lê Thọ Xuân, Trực Phần, Trường Sơn Chí, Khuông Việt  cũng không thấy nói về tám chữ ở đầu bài. Ông Lê Thọ Xuân đã cùng một người Pháp viết cả một cuốn sách với rất nhiều tài liệu bằng tiếng Pháp về cụ Phan cũng không có chữ nào về Phan Lâm Mãi Quốc .

Sử gia hay sử tặc?

Miền Nam sau năm 1954 cho đến năm 1975 không có sách báo nào viết chê bai cụ Phan. Tạp San Sử Điạ tại Sài Gòn không thấy có bài nào đề cập tới câu này. Có một trường hợp ngoại lệ là bài của sử gia Phạm Văn Sơn viết về câu này Phan Lâm bán nước, triều đình khí dân. Ông cũng đã chú thích ở cuối bài là tham khảo từ Lịch sử 80 năm chống Pháp của T-H-L  trang 32 và Nam kỳ chống Pháp của T-V-G trang 160.  Thời này một trong những con đường lớn nhất ở Sài Gòn là đường Phan Thanh Giản nay là đường Điện Biên Phủ. Cần Thơ và Đà Nẵng có trường Phan Thanh Giản coi như cùng cỡ với trường Quốc Học ở Huế hay trường Petrus Ký ở Sài Gòn. Ngoài ra, ở miền Tây cũng còn có một bệnh viện lớn mang tên Phan Thanh Giản.   

Nhà văn Sơn Nam kể lại, hồi xưa khi đi ngang qua miếu Văn Thánh học trò phải cúi đầu chào ông Phan. Nhà văn nói: ”Tôi lại vào bên hông miếu Văn Thánh để cúi đầu trước bức ảnh cụ Phan, chớ nào ai vào chánh điện để chào ông Khổng, ông Tăng Sâm, Tử Lộ”. Nhà văn đề nghị, “trong chương trình sử học cho học sinh, nên có một bài nói về ông, đủ tình đủ lý”. Cố học giả Vương Hồng Sển, trong cuốn Nửa Ðời Còn Lại, chương “Trở lại, thử tìm hiểu cảnh ngộ quan Phan khi đi sứ sang Pháp”, ông viết, “bấy lâu nay (1990), tôi nghe đầy tai lời trách quan Phan làm cho mất nước và vua Tự Ðức đứng đầu tội ấy. Thấp cổ bé miệng, tôi có dại gì cãi họ duy trong thâm tâm riêng tưởng họ chưa tới mắt cá quan Phan”.  

“Làm thầy thuốc mà sai lầm thì chỉ giết một người; làm chính trị mà sai lầm thì tàn hại cả đất nước; làm văn hoá mà sai lầm thì gây tai họa cho muôn đời.” Còn làm sử gia mà xuyên tạc thì sao đây? Người viết bài này khẩn thiết mong giới sử gia Bắc Hà nên lên tiếng về cuốn sách và ý kiến về “người anh cả” của mình. Cùng với chiến thắng trong việc đổi tên thành phố Sai gon, những ngụy tạo của ông Trần Huy Liệu đã được đưa vào dạy ở trong Nam sau 1975. Cây đuốc sống Lê Văn Tám và câu “Phan Lâm mãi quốc, triều đình khí dân”đã thành một “siêu bằng chứng” mà mọi người Việt Nam đều nghe nói Sử gia Trần Huy Liệu (1901-1969) thực hiện vụ án này có chỉ đạo. Vì sự công bình của lịch sử và là hậu duệ của cụ Phan, người viết bài này đòi hỏi Viện Sử Học Việt Nam phải có lời xin lỗi và đền bồi danh dự cho gia đình họ Phan chúng tôi về những cáo giác khi lên án cụ Phan Thanh Giản. Qua bút hièu Hải Thu ông đã đã hạ thấp cụ xuống hàng súc vật, đòi nhốt cụ trong “chuồng”. Lừa cả nước khi tạo ra Lê Văn Tám, Ông còn phịa ra vụ án “Phan Lâm mãi quốc, triều đình khí dân”. Hơn 60 năm sau mới bị khui ra bởi Tiến sĩ Phan Đào Nguyên, Ông Trần Huy Liệu nên còn gọi ông là sử gia hay nên gọi là sử tặc?

Phan Than Tâm

California, tháng 8/2021.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

___________________________

HT_PTTam.JPG

TƯỞNG NHỚ NGÀY NẦY 20 NĂM TRƯỚC: 9/11/2001 - 9/11/2021

1.Như Không NNH:9/11 vài tấm hình kỷ niệm

2.Trần Bang Thạch: Tượng, Thơ và Tinh Thần Nữu Ước - Chuyện New York, một ngày

3.Cao Vị Khanh: Ở một chỗ rất gần sao

1. NHƯ KHÔNG NGUYỄN NHƯ HÙNG:

9-11 VÀ TẤM HÌNH KỶ NIỆM


9-11-2001 đến 9-11-2011. 

Từ ngày 9-11-2001, bọn khủng bố Al Qaeda phá xập tháp đôi cao chót vót của thành phố New York (NY), gieo rắc bao tang thương chết chóc đến hàng ngàn  gia đình người dân vô tội, đến nay, 9-11-2011, 10 năm trôi qua, khu tháp đôi vẫn còn là khoảng đất trống (ground zero). Phá hoại thì dễ, xây dựng mới khó.

 Hình ảnh kinh hoàng trên TV ngày 9-11-2001, máy bay đâm thẳng vào tòa tháp, tháp đôi ngùn ngụt bốc cháy, khói đen tỏa khắp bầu trời, rồi ..xụp đổ. Từ đó đến nay chúng ta không trông thấy tháp đôi vượt lên cao giữa bao cao ốc khác của NY nữa.

 Tôi tìm lại phim chụp cũ và phóng lớn treo trên tường. Tấm hình kỷ niệm đó nay trở thành tấm hình lịch sử đối với tôi và cũng có tiểu sử như bất kỳ một hiện vật nào khác.

Nhân chuyến qua miền đông nước Mỹ, hè 2000, ông bạn thân Mai-Đức-Trí đưa chúng tôi đi thăm tượng Nữ Thần Tự Do (NTTD) và thành phố NY. Khi phà rời bến New Jersey, đưa du khách ra thăm tượng NTTD, ông bạn tôi đứng chờ trên bờ. Chúng tôi vẫy tay chào tạm biệt, cứ như Ông Tây Bà Đầm tiễn đưa nhau ở bến cảng Hải Phòng hay Saigon của những năm đầu thế kỷ trước. Tôi chợt nhớ lại là khoảng hơn 20 năm trước, 1979, chúng tôi cũng có dịp xuống tàu dời xa quê hương mà không có người thân nào vẫy tay chào tiễn đưa. Trời tối như mực, dắt díu đàn con nhỏ, chạy trốn loài quỷ đỏ, tâm trạng hoang mang lo sợ, còn lòng dạ nào mà ngó lên bờ chào vĩnh biệt quê hương yêu dấu; rồi tất cả già trẻ lớn bé bị đẩy xuống hầm tàu chật ních những người, thiếu không khí, mùi hôi nồng nặc… Đâu có thảnh thơi đứng giữa trời cao mây nước, thở không khí tự do, trên chiếc phà đi thăm tượng NTTD như thế này. Phà đang hướng về đảo Tự Do (Liberty Island) có tượng NTTD, xa kia là thành phố New York với tháp đôi cao vượt trội. Tôi đứng dựa vào cột sắt  trên tàu để giảm bớt độ rung, lấy máy bấm vài kiểu hình kỷ niệm. Phà tới đảo, tôi rảo bước thẳng đến tượng NTTD. Đứng dưới chân tượng, sao cảm giác vui sướng lạ lùng. Giấc mơ từ nửa thế kỷ nay, khi còn là cậu học sinh bé nhỏ, chỉ ngắm tượng NTTD qua hình mấy trang sách anh ngữ vỡ lòng, bây giờ mới thực hiện đươc. Cái chữ TỰ DO (Liberty), tên bức tượng, nó ám ảnh suốt cuộc đời và là niềm khao khát vô biên của con dân xứ nhược tiểu. Bức tượng Nữ thần vĩ đại đứng giữa cửa biển, giơ cao ngọn đuốc Tự Do, chào đón di dân từ mọi nơi đến. Tôi bấm máy lia lịa quanh tượng, đằng trước, đằng sau, bên trái, bên phải, từ dưới lên trên, chỉ tiếc không có trực thăng để có thể chụp từ trên xuống. Hướng nào cũng đẹp. Nhưng khi chui vào trong bụng tượng đài thì chẳng thấy gì đẹp nữa . Đấy cũng là một kinh nghiệm nho nhỏ cho những vị thích đi săn “cái đẹp”!

  Nghe đâu, tổng thống Obama sẽ đọc diễn văn nhân ngày 9-11-2011 để tưởng niệm khoảng 3000 nạn nhân xấu số, cùng tôn vinh các nhân viên cứu hỏa đã hy sinh trong thảm nạn này, cũng như vinh danh những chiến sĩ đã và đang chiến đấu tận diệt bọn khủng bố tại hai chiến trường Iraq và Afghanistan.

 

Như Không

Tháng 9-2011( Thêm hình Sep 2021)

NNH_NY 2000.JPG
NNH_Hình NY 2015_1.JPG
NNH_NY 2015_2.JPG
NNH_NY 2015_3.JPG
tl_NY9_11.jpg

2. TRẦN BANG THẠCH: 

 

TƯỢNG, THƠ

TINH THẦN NỮU ƯỚC

 

     Bạn thân,

      Trước hết mời bạn đọc nguyên văn bài thơ nầy:

Not like the brazen giant of Greek fame,

     With conquering limbs astride from land to land;

     Here at our sea-washed, sunset gates shall stand

A mighty woman with a torch, whose flame

Is the imprisoned lightning, and her name

    Mother of Exiles. From her beacon-hand

    Glows world-wide welcome; her mild eyes command

The air-bridged harbor that twin cities frame.

“Keep ancient lands, your storied pomp!” cries she

     With silent lips. “ Give me your tired, your poor,

Your huddled masses yearning to breathe free,

     The wretched refuse of your teeming shore.

Send these, the homeless, tempest-tost to me,

      I lift my lamp beside the golden door!”

        Tôi sẽ rất vô lễ với bạn và với chính tác giả nếu tôi không ghi lại nguyên văn bài thơ trên đây, một bài thơ được coi là tuyệt tác, vì nó đã nói đầy đủ ý nghĩa của pho tượng và thể hiện thật rõ tinh thần Hiệp Chủng Quốc, nên từ năm 1903 bài thơ đã được tạc trên một tấm đá đặt dưới chân tượng Nữ Thần Tự Do trên đảo Bedloe's Island, sau được đổi thành Liberty Island, ở New York . Tôi đã chép bài thơ này khi đứng dưới chân tượng đài. Bài thơ có tựa là “The New Colossus” do nữ thi sĩ Emma Lazarus (1849-1887), một New Yorker chính cống, viết năm 1883 để biểu tỏ niềm tin của mình vào một nước Hoa Kỳ tượng trưng cho thiên đường của những người bị áp chế. Bản thân của nhà thơ Lazarus cũng là một biểu tượng của tình người. Bà là người giàu tâm và giàu của, đã cống hiến những năm cuối đời mình và hầu hết tài sản của mình cho việc cứu trợ những người di dân Do Thái giáo nhập cư nước Mỹ. Họ đã từng bị đối xử tàn tệ tại nước Nga.

      Đọc những câu thơ của người xưa, rồi ngước mắt nhìn pho tượng đồng, tôi thấy mình có được một gặp gỡ vô cùng hiếm quí với hai biểu tượng của tính nhân bản cao vòi vọi.

      Trước hết là bài thơ. Kẻ hậu thế nầy hiểu thế nào thì xin được ghi ra như vậy, chớ không dám làm công việc dịch thơ:

Chẳng phải là tượng đồng của danh tướng Hy Lạp xưa,

kẻ chỉ biết vươn tay mà gồm thu đất đai thiên hạ.

Người đứng đó giữa trời mây sóng cả,

giương thật cao ngọn đuốc soi đường.

Mẹ là Mẹ hiền của người lử thứ, của kẻ tha hương,

Mẹ chong mắt, Mẹ vẫy tay mời gọi.

Hãy tụ về đây làm nên phố đông, bến mới.

Nhớ đừng quên quốc tổ ngọn nguồn.

Hãy bỏ những nhọc nhằn, nghèo đói, những dâu bể, tang thương

 Để được thở như chưa từng được thở.

Người đã bị đuổi xua nơi những bãi bờ đâu đó,

hay đang trong bão táp mịt mùng,

 Cứ theo ánh đuốc nầy mà ghé Bến Chung.

Cửa đã mở và ánh vàng đã lóe.

      Mình đã có lần mang khát vọng Tự Do lên thuyền nan vượt sóng. Biển cả thì trùng trùng mà bến đậu thì mù tăm. Hôm nay nghe ý tứ của thơ, chữ nghĩa của thơ sao thấy gần gũi quá, như có mình trong đó, và có trong đó hàng triệu triệu những di dân từ muôn phương đổ về vùng đất ghé tạm của đoàn hải hành Kha Luân Bố hồi năm 1492. Ghé tạm nhưng đã hình thành một đất nước của Tự Do, tiếp tục xây dựng một bến bờ của kẻ đi tìm Tự Do từ khắp xứ.

      Còn khối tượng đồng nặng gần nửa triệu cân, cao hơn 300 thước, người ta có thể theo 168 nấc thang bên trong tượng mà leo đến tận cái vương miện hay theo cánh tay mà leo tới ngọn đuốc; để từ đó nhìn khắp thành phố Nữu Ước. Nhìn từ xa, pho tượng như đứng trên triều sóng, trên đầu là những dãy mây xanh, khiến ta thấy pho tượng vừa uy nghi gần gũi, vừa lung linh thoát trần. Tượng thật đẹp và thật vĩ đại. Nhưng tính chất vĩ đại có lẽ ẩn tàng nơi ánh mắt của người mẹ hiền hướng về đại dương cùng với cánh tay mặt cầm ngọn đuốc chỉ đường cho những người đang lênh đênh trên biển cả, ngọn đuốc sáng rực ban đêm với 19 ngọn đèn tổng cộng 1300 watts. Cánh tay trái thì cầm phiến đá khắc ngày ra đời của Bản Tuyên Ngôn Độc Lập Hoa Kỳ, July 4, 1776, ngày sinh của một quốc gia, cũng là bước nhảy xa của một nhà vô địch hoàn cầu. Dưới chân tượng là sợi xích sắt bị bẻ gãy, tượng trưng cho sự cáo chung củạ bạo tàn. Ân cần mời gọi, soi lối chỉ đường, cưu mang, chia sẻ, dân chủ, tự do... đã thể hiện hết trên The Statue of Liberty, một quà tặng của nước Pháp cho nhân dân Hoa Kỳ nhân ngày lễ Độc Lập July 4, 1884; sau đó được dựng thành tượng đài ngày 28 tháng 10, năm 1886. Hơn trăm năm nay Tượng Đài đứng đó giữa bốn bề sóng nước phải chăng cũng đã góp phần gìn giữ tinh thần Mỹ quốc xứng đáng với tên gọi, một quốc gia lúc nào cũng thể hiện dân chủ, tự do và biết tôn trọng công bằng, bác ái.

      Cảm ơn Thơ với Tượng đồng, những sáng tạo của nghệ thuật đã nâng ý nghĩa của hai chữ Tự Do cao tới mây và sáng như sao trời.

      Quý biết bao phút gặp gỡ của tôi với cái Ý của Thơ và cái Hồn của Tượng.

      Bạn thân,

      Không nhắc chắc bạn cũng nhớ còn vài hôm nữa là tới ngày 11 tháng 9. Chắc bạn cũng không quên hai năm trước vào ngày này lương tâm nhân loại đã bị rúng động với sự sụp đổ của 2 tòa nhà chọc trời ở Nữu Ước. Gần 3000 người chết thảm, chết trong hoảng hốt cực độ. Có người chết mà điện thoại còn trên tay, có người còn cầm tách cà phê chưa uống cạn. Bao nhiêu cái chết không toàn thây. Quĩ vương đã hiện hình ngay trước mắt loài người, ngay trước mắt Tượng Thần Tự Do, trước mắt những câu thơ chứa chan tình nhân loại. Ghé lại Ground Zero để thấy đá sỏi và bốn phía rào, thấy một bãi hoang mà 2 năm trước đây là nơi tọa lạc của hai tòa cao ốc song sinh tượng trưng cho nền kinh tế đứng đầu thế giới. Người ta treo trên hàng rào tấm bảng ghi danh những nạn nhân. Có quá nhiều cái tên, tôi không đọc hết được, nhưng có một câu chữ viết tay nguệch ngoạc trên khung ván của bảng danh sách nạn nhân mà tôi đã phải đọc đi đọc lại nhiều lần, đọc mỗi lần là mỗi thấy tim mình nhói đau. Chị bạn đi chung chỉ đọc một lần mà đã thấy nghẹn thở. Ai đó đã viết như thế nầy: “You have gone, but my heart has been dying”. Người đi, người đã đi rồi, lòng tôi chết điếng theo người, người ơi. Không biết hôm đó có bao nhiêu những người đang yêu nhau phải giữa đường gãy gánh, khiến người tình  còn ở lại phải thốt lên lời thống thiết, để chúng tôi nghe hôm nay giữa vuông đất đã chôn vùi xương thịt của mấy ngàn xác thân và mấy ngàn vong linh uỗng tử.

      Bạn thân,

      Có một bài thơ tựa là IF I KNEW tôi đọc được trên net sau ngày 11 tháng 9 thảm khốc đó. Bài thơ không ghi tên tác giả, dài 13 khổ, mỗi khổ 4 câu thơ. Chữ nghĩa của mỗi câu thơ thật là đơn giản. Nhưng ý tứ của mỗi khổ thơ là một nuối tiếc, một niềm hối hận đã bỏ lỡ dịp cuối cùng để biểu lộ tình thương yêu đối với người thân vừa mới đột ngột vĩnh viễn ra đi. Ra đi mà không kịp nói một lời vĩnh biệt:

       Nếu em biết đó là lần cuối anh bước ra khỏi ngưỡng cửa này, em sẽ ôm anh, sẽ hôn anh, sẽ kêu anh bước trở lại để em ôm anh, hôn anh thêm một lần nữa.

      “If I knew it would be the last time that I see you walk out the door, I would give you a hug and kiss and call you back for one more”.

      Cho nên nếu mình đợi đến ngày mai mới nói lên tình thương yêu này, tại sao không làm ngay hôm nay để không phải hối tiếc nếu ngày mai không bao giờ đến.

      “So if you're waiting for tomorrow, why not do it today? For if tomorrow never comes, you'll surely regret the day”.

     

      Tôi nghĩ rất nhiều người đã có dịp đọc bài thơ này và đã suy nghĩ cũng rất nhiều.

      Bạn thân,

      Tôi đã mời bạn cùng tôi đi phà sang Liberty Island để thấy biểu tượng của Nữu Ước. Đã mời bạn ghé mạn Nam của Manhattan đến đứng ngoài vòng rào của Ground Zero suy nghĩ một chút về tội ác để tôi có cớ mời bạn nhìn Tinh Thần Nữu Ước. Phải, hai tòa cao ốc sụp đổ nhưng Tinh Thần Nữu Ước không phải vì vậy mà không còn. Từ hàng trăm năm nay, với đôi tay rộng mở, Nữu Ước đã là đất lành cho hàng triệu triệu lưu dân tứ xứ. Họ đến một nơi biết trọng tự do và nhân cách của con người. Họ đến để lập thân và lập nghiệp và lập chí. Từ những khổ nhục, những đàn áp, những mất mát, những đớn đau “... tại quê nhà, họ đã tạo nên Thành phố Nữu Ước giàu mạnh. Từ những ước mơ nhỏ bé của những người chỉ muốn làm Người, họ đã tạo nên Tinh Thần Nữu Ước: hòa đồng để thương yêu nhau, nắm chặt tay nhau để cùng tiến tới, tôn trọng và bình đẳng”.

      Tinh thần nầy, thưa bạn, tôi đã thấy được, mọi người đã thấy được suốt 29 tiếng đồng hồ Nữu Ước bị mất điện từ xế chiều ngày 14 tháng 8. Gần ba mươi năm, Nữu Ước mới bị mất điện lần này, và là lần dài nhất trong lịch sử Nữu Ước. Chen chân giữa lòng phố lạ với hàng trăm ngàn người, thoạt đầu tôi thấy mình kém may. Tự dưng từ một thành phố cực nam làm một chuyến du hành cực bắc để xui xẻo đi vào đêm đen của một thành phố ánh sáng được mệnh danh là Thành phố Không Ngủ (Sleepless City), là Hạt Ngọc về đêm! Nhưng thưa bạn, người xưa nói trong cái rủi có cái may. Đúng lắm. Không có cái rủi đó làm sao tôi được sống cái ngàn năm một thuở hôm ấy hỡ bạn! Nhất là làm sao tôi thấy được cái Tinh Thần Nữu Ước.

      Thành phố Nữu Ước với trên 20 triệu dân, cộng với hàng trăm ngàn du khách mỗi ngày, có một hệ thống xe điện ngầm lớn nhất thế giới. Mất điện vào giờ tan sở nên người ta phải cần hơn 3 tiếng đồng hồ để đưa 350 ngàn người ra khỏi các toa xe dài ngoằn và các trạm xe điện, chui lên mặt đất, nhập vào với hàng triệu người ra đường từ các công, tư sở. Xe cộ bị tắc nghẽn . Chỉ có các xe của nhân viên công lực luồn lách trên đường phố. Những người đang ở trong các chung cư tránh cái nóng nên cũng túa ra đường. Rừng người. Cả thế giới đã thấy rừng người đó trên TV. Thưa bạn, trong rừng người đó có tôi. Có tôi người khách lạ trên khu phố Brooklyn, lần đầu tiên đến thăm Nữu Ước. Sau hơn một tiếng đồng hồ ngồi trong lòng xe buýt không thể lăn bánh và không có máy lạnh, tôi phải bước xuống xe và  phải đi bộ hơn 4 tiếng đồng hồ, vượt hơn  8 dặm đường, tới chỗ rồi còn  phải leo 25 từng lầu, dò từng bước một như đi trong hầm tối để lên căn phòng tạm trú qua đêm. Chúng tôi đã đi như vậy trên các khu phố lạ hoắc không một ánh điện. Khu chung cư cũng tối đen. Những vệt đèn xe cảnh sát hay xe cứu thương chỉ đủ cho người ta nhìn thấy mặt nhau trong thoáng chốc. Sợ là sẽ có những kẻ lợi dụng bóng đêm để cướp bóc, giựt dọc, vv.. . Không, không có gì hết. Không một tiếng nổ. Chỉ có tiếng trực thăng nghe rõ trên bầu trời đêm.Thành phố Nữu Ước bình yên. Người Nữu Ước, có lẽ đã học thêm được bài học 11 tháng 9 từ 2 năm trước, rất bình tĩnh và rất trật tự, không sợ hãi.  Họ tình nguyện giúp nhân viên công lực hướng dẫn xe cộ lưu thông, hướng dẫn người đi bộ, họ hỏi han, chăm sóc đủ điều. Tôi thấy có những em thiếu niên để người già lên yên xe đạp rồi dẫn đi. Có những cửa hàng cho không những chai nước uống.. ..Chúng tôi đi bộ tuy có xa nhưng không thấy mệt, có lẽ nhờ tinh thần lạc quan, thái độ thân thiện, giúp đỡ của người Nữu Ước.

Sau đêm đen Nữu Ước đó trở về nhà, trong đầu tôi lúc nào cũng chập chờn câu hỏi của một em bé không quen: Are you OK? I can help. Đêm đó tôi đã lắc đầu nhưng bây giờ thì tôi thấy quả tình em bé đã nối dài thêm cánh tay của Tượng, đã ghép thêm lời cho Thơ và đã kết thêm một bông hoa vào cành hoa hồng Nữu Ước. Cũng từ hôm đó, tôi thường nghe lại tiếng hát của Frank Sinatra: “New York, New York. I want to be part of it. I wanna wake up in a city that doesn't sleep…”.

Khi cái ác vẫn còn rình rập quanh đây thì làm sao mà Nữu Ước ngủ được. Và Tượng, và Thơ cũng sẽ thức hoài với Tinh Thần Nữu Ước.

Thượng tuần tháng 9/2003

TBT

3.TRẦN BANG THẠCH: 

 

CHUYỆN NEW YORK,

MỘT NGÀY

 

​(Từ Blog Caovikhanh: chuyen-new-york-mot-ngay-tbt.pdf | Cao Vị Khanh (caovikhanh.com)

 

    Gần nửa đêm rồi mà chị Suzanne vẫn còn ngồi trước ông bạn mặt vuông là cái computer. Xung quanh chị  ngổn ngang giấy tờ, hồ sơ trên bàn, trên kệ, trên thảm...Đã nhiều lần chị Suzanne muốn đặt lưng xuống cái khoảng thảm còn trống nơi góc phòng, hay cứ gục đầu xuống bàn mà ngủ một giấc, rồi mọi sự ra sao thì ra. Nhưng nghĩ tới công việc chưa xong chị cố nhướng mắt tiếp tục sục sạo, tìm tòi, rồi ghi chép, rồi lướt 10 ngón tay trên dàn chữ. Sáng mai là một ngày thật quan trọng cho chị. Đúng ra là ngày quan trọng của công ty nơi chị làm việc. Công ty sẽ ký một hợp đồng thương mại với một khách hàng khổng lồ hoàn toàn mới và khó nuốt, đó là bộ công thương nghiệp Trung Quốc. Thất bại lần này công ty chắc phải chuẩn bị khai phá sản. Từ vài tháng nay, do kinh tế suy trầm, công ty bị ảnh hưởng nặng. Nhân viên lần lượt ra đi. Còn hơn một tháng rưỡi nữa mới tới ngày lễ Halloween mà bóng ma thất nghiệp cứ lảng vảng trong các phòng làm việc của cái cao ốc 110 từng phía nam này. Còn cái cao ốc anh em sanh đôi ở mặt bắc kia chắc cũng không khá gì hơn, người đi làm càng ngày càng thưa thớt. Nhiều khung cửa sổ đã không thấy ánh đèn. Hôm qua còn hẹn nhau đi ăn trưa, hôm nay phải dành giờ ăn phụ tiếp bạn dọn dẹp nơi làm việc để move out ! Bạn bè hôm trước còn nói cười rôm rã, còn chat nhau trên net, hôm sau ứa nước mắt chia tay. Phút bịn rịn họ chỉ có thể nói với nhau lời chúc may mắn. Người đi, kẻ ở không ai biết chuyện gì sẽ xảy ra cho mình trong những ngày sắp tới.

    Cho nên chuyện thành bại của công ty ngày mai chắc chắn sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến những người còn lại, trong đó có chị Suzanne. Đúng ra tuần này chị Suzanne vẫn còn nghỉ bịnh. Chứng dị ứng thời tiết cứ làm chị khốn đốn mỗi năm mấy tuần. Nhưng người chủ trực tiếp của chị là bà phó giám đốc Helen sau mười ngày đi Bắc Kinh, khi trở về tức tốc yêu cầu chị Suzanne đi làm từ sáng hôm nay. Bà nói  kết quả chuyến đi của bà đến sớm không ngờ: Xế chiều ngày mai, thứ Ba, một phái đoàn từ Bắc Kinh sẽ đại diện chánh phủ đến Công ty duyệt xét toàn bộ vấn đề để chánh thức ký hợp đồng hay không. Hơn một tháng nay công sức của bà phó giám đốc Helen đã đổ quá nhiều trong cái dịch vụ này, nó không thể thất bại được. Công ty không thể chết được. Bà nói bà cần tới cái tài cung ứng tài liệu của chị Suzanne để trình với phái đoàn ngày mai. Đến gần sáng thì chị Suzanne đã có những printouts cần thiết với chi chít những con số và những biểu đồ đủ màu sắc để cung cấp cho bà Helen. Chị Suzanne đứng dậy, rời bàn giấy. Chị đi đến cửa sổ, vén màn rồi mở tung hai cánh cửa kính. Chị vươn vai hít thở không khí trong mát buổi sáng tinh mơ của New York. New York như người thiếu phụ nửa chừng xuân, lịch lãm, sang cả và rực rỡ như kim cương. Chị Suzanne tự thưởng cho mình một ly sữa lạnh rồi sang phòng ngủ của hai con, đắp lại tấm chăn, hôn mỗi đứa trước khi lên giường rón rén nằm cạnh chồng, anh Frank. Thật sự thì anh Frank chưa ngủ. Anh không thể nào mà ngủ được khi người vợ đang đau ốm của mình sau một ngày vất vả tại sở làm còn đem về nhà hàng đống hồ sơ để làm tiếp cho xong. Anh Frank thì không thể tiếp gì được cho vợ. Anh vốn là người thợ hàn nên chuyện hồ sơ giấy má anh chỉ biết đứng đó mà nhìn. Nhiều lúc nghe vợ mình cố đè nén những cơn hắt hơi sợ làm thức giấc chồng con, anh Frank thấy thương và tội nghiệp vợ vô cùng. Cái lồng ngực mỏng manh lép kẹp đó không biết ngày nào sẽ nổ tung vì chứa chấp nhiều thứ quá: những tràng hắt hơi như cơn địa chấn nhỏ trong nội tạng và bao nỗi lo toan của một người đang gánh nặng cái gánh gia đình với hai đứa con nhỏ và người chồng thất nghiệp. Phải, từ hơn bảy tháng nay, từ ngày anh Frank mặt mũi méo xệch nhận tờ giấy màu hồng của sở thông báo anh tạm nghỉ việc tại hãng hàn xì này thì  người vợ ốm yếu của anh phải mang thêm trên vai vài hòn đá tảng. Một cái xe đã bị chủ nợ kéo đi. Tiền lương khiêm nhường của một nữ thư ký và chút ít tiền trợ cấp thất nghiệp, anh chị vén khéo lắm mới tạm đủ chi tiêu cho việc ăn uống sinh sống hàng ngày và hàng tháng trả tiền thuê căn chung cư cũ kỹ trong vùng Manhattan mắc mỏ này. Tuy vợ không nói ra nhưng anh Frank biết vợ anh đang lo lắng cho những ngày sắp tới, những ngày mà cả hai vợ chồng đều thất nghiệp. 

     Chị Suzanne thức dậy lúc gần tám giờ. Anh Frank đang mớm sữa cho con bé Michelle đang nằm trong nôi. Thằng Bobbie nơi bàn ăn với chén cereal trộn với sữa tuơi. Gần đây Frank lo hết mọi chuyện trong nhà, kiêm luôn người giữ trẻ. Người father mom này mỗi khi đi chợ búa hay đi xin việc đều có con bé chưa đầy tuổi trên tay và thằng bé mới hơn ba tuổi xoắn xít dưới chân. Thấy mà tội nghiệp. Chị Suzanne sửa soạn qua loa, hôn tạm biệt chồng và hai con rồi ra trạm xe buýt. Cái samsonite trong tay chị Suzanne như phòng lên cao hơn so với bình thường, một phần vì giấy tờ quá nhiều, một phần vì nó có chứa thêm niềm hy vọng của cả nhà chị Suzanne trong đó. Nghĩ đến đây chị Suzanne chợt mỉm cười: Phải rồi, biết đâu con bé Michelle 8 tháng tuổi cũng cố nhét cái hy vọng nhỏ tí xíu của nó vào cái samsonite của chị? Chiếc xe buýt số 32 B tấp vào lề, vẫn đúng giờ như thường lệ. Vẫn những tiếng hi, hi quen thuộc, thân mật, rộn rã. Một ngày như mọi ngày. Gió vẫn mát lạnh từ dòng Hudson. Đường phố vẫn đông nghẹt người. Xe cộ vừa thở vừa bò. Người bạn đồng hành người Á đông với mấy lớp áo mũ nặng chình chịch luôn luôn trên người mỗi ngày vẫn đón chuyến búyt ở đường 14 rồi xuống xe ở đường Canal để vào làm việc tại khu China Town trên đường Broadway. Vẫn tiếng chẫu sành quen thuộc từ người Tàu già khi gặp chị Suzanne hay bất cứ nguời nào ông gặp trên xe. Vẫn cái mùi từ ly cà phê ngửi mà phát thèm sáng nào cũng trên tay của ông Do Thái ngồi ở băng cuối. Và cũng như thường ngày, khi chị Suzanne đọc hết tin tức trang đầu của tờ Wall Street Journal thì xe buýt dừng lại nơi chị phải bước xuống, đó là toà cao ốc phía nam của Trung tâm thương mại thế giới. Từ dòng Hudson ở hướng Tây gió vẫn mát lạnh. Và lá vẫn chớm vàng khi  New York đang bước vào thu. Tượng Nữ thần Tự do vẫn mịt mờ trong sương ở vùng vịnh Upper Bay. New York vẫn là New York vừa cao ngạo, vĩ đại, vừa thân thương, gần gũi.

    Một buổi sáng như mọi buổi sáng New York. Như mọi buổi sáng của người New York.

 

    Tuy giờ làm việc bắt đầu từ chín giờ nhưng khoảng  tám giờ rưỡi thì hầu hết nhân viên và ban giám đốc đã có mặt. Bà Helen và vài nhân viên khác đã đến đây từ sáng sớm. Bà nói mọi chuyện phải sẵn sàng cho một ngày quan trọng. Mọi người đều biết đó là ngày gì. Mọi người có vẻ ăn mặc trang phục đẹp nhất của mình. Mày râu nhẵn nhụi, áo quần bảnh bao. Bà Helen mừng ra mặt khi chị Suzanne bày trước mặt bà những đồ biểu và tài liệu, kể cả những negative phóng ảnh. Giọng bà Helen chắc nịch: “Như vầy là ăn chắc. Cái khế ước thương mại này không chạy đi đâu được”. Rồi mọi người hỉ hả nâng cao cốc cà phê buổi sáng như thầm nói với nhau: Mình còn làm việc nơi tầng cao thứ 101 này thêm ít nhất là 3 năm nữa. Chị Suzanne gọi cho Frank để chia sẻ niềm vui đầu ngày này. Chị còn cho  Frank hay ngày mai chị được nghỉ phép cho đến hết tuần để đánh vật với thằng dị ứng đã theo chị từ hơn tháng nay. Chị nói chị sẽ ném xác nó xuống Đại Tây Dương nên đề nghị với Frank là ngày cuối tuần sẽ đi xuống cực nam của Brooklyn cho hai con chơi ở Astroland, rồi ghé Kings Plaza shopping center mua sắm ít đồ mùa đông đang đại hạ giá. Bao giờ họ cũng chấm dứt điện đàm bằng câu: I love you. See you soon, Honey.

    Vậy mà sau câu nói thương yêu đó họ không còn gặp nhau nữa. Không bao giờ gặp nhau nữa. Vĩnh viễn họ đã mất nhau. Thật sự thì lúc 8 giờ 45 phút ngay sau khi một trái lửa vĩ đại phụt ra từ tòa cao ốc phía bắc cùng với tiếng nổ kinh hồn, trong nỗi thảng thốt cùng tột, chị Suzanne có gọi chồng, gọi nhiều lần. Không có tiếng trả lời. Từ tòa cao ốc phía nam này nhiều người chạy ra cửa sổ nhìn tòa nhà phía bên kia. Khói. Lửa. Tiếng nổ. Không ai biết chuyện gì đang xảy ra. Hay đầu óc mọi người cũng đang nổ tung để không ai còn biết trời trăng mây nước gì nữa hết.

    Rồi ầm ầm như sấm nổ, như sét rền, như đất chuyển trời rung. Như trời sập. Mọi người mạnh ai nấy chạy. Tiếng kêu gào thất thanh. Tiếng la. Tiếng khóc. Có người chạy loanh quanh, không còn biết đâu là lối ra cầu thang hay thang máy. Trời đất tối sầm. Người ta dồn cục khắp hành lang.

    Ở một khắc giây nào đó chị Suzanne thấy mình bay bỗng lên không trung rồi như một mảng bông tuyết tan ra trắng xóa trên bầu trời New York.

 

    Trong căn phòng khách ở tầng thứ 41 của tòa chung cư trên đường số 23, anh Frank thấy mặt thằng Bobbie bỗng nhiên ngơ ngơ, đôi bàn tay nhỏ nhắn xòe ra xoay xoay trong không khí, mồm nói với anh mấy lời mà anh không nghe rõ; anh nhìn màn ảnh truyền hình trước mặt thì những chú thỏ con nhiều màu đã biến mất, thay vào đó là một trái lửa vĩ đại từ tòa cao ốc. Anh Frank mở cửa chạy ra hành lang chung cư, tai còn nghe giọng nói hoảng hốt của người xướng ngôn viên. Anh Frank tận mắt thấy trái lửa. Anh chạy vào nhà, trái lửa choán hết màn ảnh truyền hình. Anh Frank đã dùng hết điện thoại nầy đến điện thoại khác mà anh có trong nhà để gọi vợ. Không có tiếng trả lời. Anh chạy ra hành lang. Cục lửa bây giờ là một đụn khói khổng lồ bao trùm gần hết vòm trời Manhattan. Rồi anh Frank có hoa mắt không khi thấy một chiếc phi cơ ghim ngay giữa tòa nhà phía nam, nơi vợ anh đang làm việc? Không, không thể nào có chuyện như thế được. Lửa. Lửa. Tất cả là khói, là lửa. Là sấm động, phong ba. Cả dòng Hudson cũng là lửa khói. Ở tít phía nam kia, tượng Nữ thần Tự do thoát hiện, thoát biến trong màn khói đen.

    Không còn nghi ngờ gì nữa: hai tòa cao ốc đang bốc cháy. Cũng không cần biết gì thêm từ cái truyền hình, anh Frank bỏ hai con vào một xe đẩy, hộc tốc đi thang máy xuống chỗ để xe, lái về hướng đám lửa to như quả núi . Xe anh chỉ chạy được một đoạn đường thật ngắn thì phải dừng lại, không thể nhích thêm một thước nào nữa. Mọi người đang đổ ra đường. Tiếng la hét, tiếng còi hụ inh ỏi một góc trời. Anh Frank bỏ xe bên vệ đường rồi hai tay bồng hai đứa nhỏ cố đi ngược dòng người để đến gần hai tòa cao ốc. Đến ngả tư đường Houston và Park Avenue thì anh hoàn toàn bị cảnh sát chận lại. Trước mặt anh trái lửa như con ác quỉ vĩ đại đen ngòm với hàng ngàn cái lưỡi đỏ lòm như máu tươi. Con bé Michelle đã ngủ trên vai anh, còn thằng Bobbie thì ngơ ngác trước cảnh tượng trên đường và cụm khói trước mặt. Không thể đi thêm được nữa, anh Frank rẽ vào trường đại học New York, bế hai con lên từng cao, hy vọng thấy vợ mình trong đám người đang hơ hải chạy phía duới. Từ đây anh Frank thấy hết mũi Manhattan trong khói lửa và trong hỗn loạn. Hàng ngàn người chen lấn trên cầu Brooklyn và cầu Manhattan. Vô số người đổ dồn về phía bến cảng số 11 để lên phà sang New Jersey. Khắp nơi là đầu người nhấp nhô. Ở một giây bất ngờ, anh Frank thấy một thân người phóng ra từ  cửa sổ của một từng lầu gần chót vót trên cao, thân người chơi vơi như tờ giấy trắng bay phất phơ trong gió. Rồi như cảnh tượng trong phim ảnh, hai toà nhà lần lượt sụp đổ theo sau những tiếng nổ kinh hoàng, như hai người khổng lồ bị trúng tên độc ngã chúi trên hào thành. Hàng trăm xe cứu hỏa, xe cảnh sát từ khắp nơi và hàng đoàn xe cứu thương từ khu Bịnh viện Cựu chiến binh cách mấy block đường hụ còi inh ỏi hướng về phía hai trái núi sắt đang bốc lửa. Nhìn xuống con đường West Broadway anh thấy khói xám bốc lên từng đợt như sóng lượn. Tro than bao trùm các con phố. Anh Frank cố giương mắt thật to tìm cái áo len màu hồng phấn mà vợ anh mặc sáng nay. Tất cả là những áo quần xám ngoẹt đầy tro than. Không biết bây giờ là lần thứ mấy trăm anh Frank bấm số gọi vợ. Cái điện thoại ác ôn vẫn im tiếng. Đường giây đã bị cắt đứt từ lâu rồi. Đôi mắt vô hồn, nhìn ngó bâng quơ, anh Frank bây giờ chỉ biết đứng bên đường, ôm chặt hai con mà khóc.

                                                                   xXx

 

    Không biết hôm nay là ngày thứ mấy anh Frank dẫn hai con đứng nơi góc đường West và Chambers nầy. Trước mặt anh và xung quanh khu đổ nát là những bảng cấm vượt qua. Cảnh vật ở đây sao lạ lẫm vô cùng với sự vắng mặt của hai tòa cao ốc. Có phải nơi đây vẫn là New York? Anh Frank đang đứng giữa lòng New York hay đang bơi giữa hành tinh xa lạ nào? Khắp nơi là gạch đá vương vãi, là sắt thép trần trụi, cong queo, ám khói. Có những cột sắt đen thui đứng thẳng như trời trồng, như còn ngạc nhiên cho cái tai họa từ một chốn u minh nào chợt tới. Khắp nơi là nỗi kinh hoàng còn bám dính trên từng mảnh gạch vụn, là hàng ngàn oan hồn uổng tử với cái chết tức tưởi đang chấp chới bay trong không gian đầy tro bụi. Hàng trăm xe cần trục, xe xúc, xe ủi, xe vòi rồng ... cùng với hàng ngàn con người làm việc ngày đêm từ mấy hôm nay vẫn chưa đem về cho Frank người vợ thương yêu. Hình như mỗi người lái xe cần trục, mỗi người lính cứu hỏa đang làm phận sự tại hiện trường đều có nghe người cha đầu bù tóc rối với hai đứa con còn nhỏ hỏi han về một cái áo len màu hồng phấn. Người đàn ông với đôi mắt thất thần nhiều khi nói mà như mê. Con bé Michelle hình như cũng biết trông ngóng mẹ nên mỗi ngày nơi góc phố này nó nằm yên trong xe đẩy, mở mắt thao láo nhìn phía trước mặt. Còn thằng Bobbie thì cứ khóc đòi mẹ. Tới ngày hôm nay thì tiếng nó đã khan rồi. Anh Frank như đứt từ đoạn ruột. Đường dây điện thoại đã nối. Anh Frank  gọi vợ hàng trăm lần mỗi ngày, anh mong được nghe tiếng vợ mình đang đi lạc ở một khu phố nào đó, hay đang điều trị tại một bịnh viện; hay trong tình huống xấu nhất là được nghe tiếng rên thoi thóp của nàng từ dưới đống gạch vụn. Anh Frank viết tên vợ trên những tấm giấy cứng rồi đeo trước ngực và sau lưng mình. Thằng Bobbie cũng mang một tấm trước ngực chạy lăng xăng vừa khóc vừa gọi mẹ.

    Có nhiều lúc ba cha con ngồi ôm nhau mà khóc giữa tiếng ầm ầm của các loại xe cơ giới và trong hơi gió âm u như tiếng nấc của các oan hồn.

 

    Nữ Thần Tự Do từ đằng xa kia chắc cũng đang rơi nước mắt.

Tháng 9 – 2001

Trần Bang Thạch

4. CAO VỊ KHANH

Ở MỘT CHỖ RẤT GẦN SAO

Có lần người bạn thi sĩ ở bên này bờ Hudson, phía New Jersey hứa mời tôi đi uống cà-phê ở một nơi rất gần với mấy vì sao. Những vì sao xa tít vốn dĩ là quê hương rất đỗi ngây thơ của những "Ông Hoàng bé ".

Thử cho anh coi lại điệu vũ của bầy sao đêm. Anh ta nói với tôi như vậy. Mấy lần điện thoại rủ rê, cứ hẹn lần hẹn lượt tôi vẫn chưa uống được tách cà-phê pha giữa trời sao đó lần nào.


Chỗ tôi đang ở cũng là một thành phố lớn, nằm chênh chếch về phía đông bắc lục địa. Những con đường ngang dọc từ trên cao nhìn xuống cũng y như mấy miệng vực hun hút giữa khu rừng cao ốc. Mỗi lần ra phố chỉ thấy từng hẻm mây buồn rầu. Thuở mới đến, có bận nhớ nhà, tôi hay len lỏi đi tìm ngó trăng sao. Và lần nào cũng buồn ngẩn buồn ngơ vì trăng sao cứ trốn đâu mất biệt. Thay vào đó là ngàn ngàn con mắt đèn như bầy đom đóm đeo dính mấy tấm vách thẳng băng ngước nhìn tới mỏi cổ. Hơn nữa chưa hết tầm nhìn đã chóa mắt giữa hằng hà sa số ngọn néon xanh xanh đỏ đỏ. Riết rồi thua buồn cũng quên lửng luôn những vì sao đã chắt chiu mang theo như để đánh dấu điểm đứng của quê hương. Vâng, có ngôi sao chỉ mọc ở phương nam. Chắc quê hương tôi ở hướng đó.


Thuở mười một mười hai tuổi, mỗi lần được cho về quê nội, cứ đợi chiều xuốnglà tôi trèo tuốt lên mấy đụn rơm cao ngất ngoài bìa ruộng, dang tay nằm ngữa đợi trời tối. Ngó lên là trời vòi vọi cao, không một bợn mây mà lại xanh mướt, xanh ngọt cả lòng. Thuở đó tôi đâu biết tả ra sao cái màu ngan ngát của buổi chiều đương chuyển sang đêm. Chỉ thấy nó lâng lâng đến nổi hồn nhỏ cũng muốn bay bổng. Rồi chiều lánh đi thư thả. Ðêm nhón chân tới, rất nhẹ. Rồi con sao thứ nhất bắt đầu ló ra. Cũng êm ru như đã ở đó tự bao giờ. Chớp lia chớp
lịa như để nháy gọi nhau, một chút nhẻo thôi là không biết ở đâu mà sao đã rảira đầy trời. Ðêm trước mắt bỗng lộng lẫy như tấm nhung đen đính hàng triệu kimcương hột mẳn đều như tấm, nhiều đến ngó không xuể. Có lần tính thử đếm chơi nhưng rồi cứ vuột khỏi mấy lần bàn tay nên chán bỏ. Nhưng mà lần nào cũng không quên ao ước hể thấy có một vệt sao băng. Mà rồi y như lần nào cũng trễ, thành ra không kịp có một lời nguyện nào cho tròn. Cho đến một lúc thằng bé chỉ chờ sao lên thôi cũng đủ. Mỗi vì sao như chiếc cầu vòng nhỏ xíu dắt nó vào một thế giới khác, thần tiên. Rồi càng lúc đêm sao lại càng nở ra, trùng trùng điệp điệp. Ðứa nhỏ, tấm lòng hả lớn đến hết cở như muốn hớp cả vào người cái cõi bao la và bí nhiệm đó. Nhưng mà lòng nó nhỏ quá, vũ trụ thì quả thật mênh mông. Có khi nó chảy nước mắt mà không biết vì sao.


Từ đó, bầy sao cứ lấp lánh theo tôi như những cặp mắt dõi theo từ quê nội, nấn níu chờ tôi lớn lên ở thành phố, đợi có ngày yên ổn rủ tôi trở về làng. Nhưng rồi cái ngày đó không có nữa. Tôi bỏ quê đi thật xa, xa đến mất luôn một lúc cả trời sao trăng nước ở một xóm nhỏ bên bờ kinh Bình Phụng. Bởi vậy mà chừng nghe lời bạn rủ rê đi ngó sao ở một chỗ thật gần, tôi náo nức lắm. Vậy mà rồi không kịp. Cái chỗ rất gần sao đó không còn nữa. Buổi sáng ngày11 tháng 9 năm 2001, lòng căm thù của con người đã làm nó nổ tung. Hai

tòa nhà cao cả trăm từng cùng với mấy ngàn sinh mạng nát ngứu ra thành bụi. Mấy triệu tấn sắt thép và thủy tinh cộng với tim óc của con người dựng đứng thẳng lên trời giữa lòng đảo Manhattan như một thách thức với thiên nhiên bỗng vỡ tan như cám vụn. Nó đã chống chọi với gió cuồng bão dữ không suy xuyển. Vậy mà lần này nó không chống nỗi với cơn bạo hành của ác tính. Phút chốc cả một khối sống hừng hực bỗng hư vô chẳng đáng một mảy may. Phút chốc lòng tin của tôi cũng thành ảo. Phút chốc cái có đó đã hóa không. Có. Có. Không. Không.
 

Không tưởng tượng nỗi. Cái đầu vốn vẫn thường nghĩ xa tới ngàn ngày, nghĩ rộng tới ngàn dặm mà vẫn như không đủ tầm cỡ để chứa được cái chuyện vừa xảy ra. Làm như cái việc vừa xảy ra trước mắt là không thể có được. Tôi sững sờ đến bất động. Cả ngày tôi cứ ngồi dán mắt vào máy truyền hình, nhìn cảnh máy bay đâm thẳng vào cái khối sắt thép lừng lững đó, rồi lửa khói bùng lên và sau hết cái nấm bụi khổng lồ bùng ra như một cơn lốc dữ mà bàng hoàng đến ngớ ngẩn. Miệng tôi không nói ra được một lời. Không có một lời nào nói ra được sự kinh khiếp đó. Sự hung dữ đó. Sự mù quáng đó. Rồi cảnh người sống chạy chết. Cảnh gạch đá sắt thép văng bay tứ tung. Còi xe cứu thương kêu rú in ỏi. Khói bụi bốc trắng mù mịt. Tôi ngồi chết trân nhìn trực tiếp cảnh tàn phá điên dại từ bàn tay con người. Con người. Tuyệt phẩm của thượng đế. Con người. Tuyệt phẩm của ma vương. Con người. Quả tình tôi không hiểu nỗi. Tôi muốn tắt máy mà lại cứ để mở. Nhìn ngó đến hãi hùng. Ống kính truyền hình thu không sót một góc. Nhưng có một cảnh mà máy không thu được. Một cảnh thiếu mất thốt nhiên nghĩ tới làm tôi hốt hoảng, chết điếng. Cùng một lúc, chớp mắt, mấy ngàn người tiêu ra tro bụi. Cùng một lúc, mấy ngàn người mới đó bỗng hư không. Một người cha, một người mẹ, một người con, một người tình... mới sáng đó còn hăm hở thức dậy sửa soạn ra đường, lái xe, đi métro, xe bus tới sở làm. Một tiếng đồng hồ trước đó còn hăm hở bước vào thang máy, cười với người quen này, nói đùa với người quen nọ. Nửa tiếng đồng hồ trước đó còn hăm hở ngồi vào bàn giấy, vừa đưa tay mở máy com-pu-tơ vừa bấm điện thoại gọi đến tiệm hoa nhắn gởi mấy cánh hồng cho người bạn gái. Năm phút trước đó còn vừa mở xấp hồ sơ vừa nghĩ đến bữa cơm chiều với vợ và bầy con nhỏ.
 

Một phút trước đó còn vừa lau sàn nhà vừa nghĩ đến số tiền sẽ gởi cho bà mẹ ở một xứ Á xa xôi... Vâng cái cảnh thiếu sót trong mấy bản tin quá đầy đủ đó nó chỉ có trong đầu tôi thôi liền khi tòa nhà thứ nhất sụp xuống. Rồi tòa nhà thứ hai sụp xuống. Bỗng chốc. Xương thịt. Tro than. Cái cảnh không ai thấy được mặc dù đã xảy ra sờ sờ, cùng lúc với khi mũi phi cơ tiếp giáp với khung sắt thép, cùng lúc với tiếng nổ của hàng trăm tấn dầu, cùng lúc với lòng thù hận biến con người thành thú dữ. Cái cảnh không có trong phim ảnh bởi vì không có máy nào chụp được nhưng nó thật sự có đó, có đó rõ ràng giữa hiện trường, càng lúc càng lớn ra, càng lúc càng lớn ra, lớn đến khủng khiếp. Cái chỗ trống hoang bỏ lại của mấy ngàn nhân mạng mất đi cùng một lúc. Cùng một lúc thất tung. Cùng một lúc biệt tích. Cùng một lúc tan tành. Thịt xương. Niềm tin. Hy vọng. Cái khoảng trống im ỉm của pháp trường sau khi bọn đao phủ đã bỏ đi. Cái khoảng trống điêu tàn của mặt đất không còn người ở. Cái trống hoác ghê rợn nổi lênngay sau khi lớp tro than đã lắng xuống. Không còn gì nữa. Có còn lại chăng là cái Trống Không khủng khiếp.
Có còn lại chăng, những ngày sau, là cái không vô cùng vô tận trong lòng tôi, trong lòng mọi người.


Mấy ngày sau, tôi thấy lại cái khoảng trống đó trên đường phố của một Nữu Ước thất thần, lơ láo trên những nến, hoa và nước mắt. Và đặc biệt trong những tờ giấy viết tay nhắc một cái tên, những tấm hình nhắc một khuôn mặt, những tiếng kêu thất thanh toát ra từ cặp mắt lặng lẽ của một người vợ tìm chồng, trong tia nhìn lạc lõng của một đứa con tìm mẹ, trong hai bàn tay bưng đầu bất lực của người lính cứu hỏa ngồi bệt xuống bên đường mếu máo, trong tiếng kèn đồng sầu thảm của người da đen vừa thổi vừa khóc khi chiều xuống ở một góc công viên... Cái khoảng trống lớn ra hoài không chặn lại được. Và sẽ còn lớn ra nữa.


Một tháng sau. Một năm sau. Nhiều năm sau nữa...


Bởi vì sau buổi sáng tàn khốc đó, tôi biết trong tôi sẽ chỉ còn lại niềm tuyệt vọng. Tôi bỏ xứ ra đi đã hai mươi năm, sống lây lất ở xứ người như một thân chùm gởi. Tôi bỏ trời sao của tôi lại cho một lũ điên khùng chưa bao giờ biết trời sao là ân huệ của thượng đế. Tôi xa xứ mà lòng cưu mang từng chuyện thương tâm hai mươi mấy năm trước. Những chuyện thương tâm chưa bao giờ kể đủ về những đọa đày gây ra bởi sự cuồng bạo của mê muội. Tôi đi mà cầu trời khẩn phật cho có ngày đất nước tôi sáng lán, người ở quê tôi tìm lại được tình thương và niềm tin cậy giữa người và người. Tôi chờ mà cứ sợ không còn dịp.


Giao thừa năm trước, cả hoàn cầu mở hội hoa đăng đón kỷ nguyên mới. Người ta nắm tay nhảy múa ca hát, ôm nhau hôn mừng giữa trời đất mới nguyên. Dường như có một lúc tôi thấy mọi người đều hớn hở, tin cậy, nhiệt thành, lòng mở ra vượt quá biên cùng của lề thói hẹp hòi, của nhỏ nhoi và hèn mọn, của thù oán và ghét bỏ, của hiềm khích và đuổi xua, của phân chia và chấp nhất, của lừa đảo và phản trắc... Có lúc sao tôi thấy dường như ai nấy cũng thân ái, nồng nàn, độ lượng, khoan dung... Ai nấy cũng sẵn sàng chín-bỏ-làm-mười. Mọi tiếng nói đều cười tiếng cười giống nhau. Mọi màu da đều mừng nỗi mừng giống nhau. Và như vậy nghĩa là mọi tiếng khóc cũng giống nhau như hệt, mặc kệ đen vàng trắng đỏ, mặc kệ nam bắc đông tây, mặc kệ tư bản cộng sản, mặc kệ chúa, phật, hồi giáo, bà la môn giáo, ấn độ giáo ... gì gì nữa cũng chỉ là một. Chỉ có một tiếng khóc cho nên chỉ có một niềm vui. Cái này, cái kia, cái nọ chỉ có trong đầu óc giặc giã của ta. Kẻ này, kẻ kia, kẻ nọ chỉ có trong cặp mắt loạn lạc của ta. Chớ thật ra tất cả chỉ là MỘT. Cái một tròn trịa nguyên vẹn. Cái một hồng hào hạnh phúc. Cái một lấy CON NGƯOI làm đấng cứu thế. Lấy con người làm đối tượng cho cuộc cứu rỗi. Cho con người và vì con người. Không còn chủ nghĩa tôn giáo chỉ còn con người. Không còn biên giới chủng tộc chỉ còn con người. Sẽ không còn diệt chủng ở Rwanda. Sẽ không còn thảm sát ở Kosovo. Sẽ không
còn chôn sống ở Huế... Pháo bông bắn lên cao vút, lời nguyền bay lên cao vút, vụt khỏi mấy tầng mây, sáng át cả mấy chòm sao sáng nhất. Tôi thấy tôi trẻ lại. Và hy vọng. Và hứng khởi. Và tin tưởng. Kỷ nguyên mới. Kỷ nguyên của văn minh, của tiến bộ, của nhân ái. Những vòng tay cứ mở ra, mở rộng ra đến vô chừng tưởng như ôm giáp cả vòng lưng của địa cầu, ôm hết cả vòng eo của nhân loại. Tôi mừng như gặp lại tấm lòng " con đỏ " mà Lão Ðam đã mơ ướcmột đời. Biết đâu đất nước tôi cũng có cơ theo giòng vận hội mới... Tôi hào hứng
đến nỗi làm được cả thơ vui...Tim sẽ cùng tim nối nhịp liền. Mắt bồ câu thoáng hiện nhơn duyên. Em xiêm áo mới quàng vai chị. Ðón gió ngàn năm kỷ mới nguyên.


Nhưng rồi xiêm áo đó rách bươm buổi sáng tháng chín này. Cái vòng tay khít liền đó gãy vụn ra, tan nát. Người của thế kỷ hai mươi mốt giống y như người của thế kỷ hai mươi, giống y như người của thế kỷ thứ nhứt, thứ mười, thứ mười lăm, giống y như thời của pháp đình tôn giáo với giàn hỏa, giống y như thời "thánh chiến " đẩm đầy máu Jésus và Allah. Lịch sử chỉ quay vòng vòng như trò chơi rồng rắn. Và con người thì vẫn đắm chìm trong ngu tối, dốt nát và thù hận.


Ðã từ bao lâu, con người thôi ăn lông ở lỗ nhưng đâu thôi suy nghĩ và hành động như cái thời còn ở trong hang động. Chúa, Phật, Allah chắc cũng chỉ biết ngậm ngùi.
Hành động sát nhân một cách tỉnh táo của cái đám gọi là " tử vì đạo " đó làm tôi bần thần dã dượi suốt mấy ngày. Ðúng ra ai cũng có quyền dành cho mình một cái chết để phục vụ cho lý tưởng đã chọn. Nhưng lý tưởng nào để biện hộ cho việc lạnh lùng kéo nhập cục cùng một lúc mấy trăm người đồng hành và ngàn ngàn người vô tội khác vào chỗ chết một cách thảm khốc như vậy. Nhân danh - lại nhân danh! - một chủ nghĩa một niềm tin của người này để cướp lấy quyền sống của người khác có phải là phương thế để xây dựng một thế giới hoà bình, công bằng và bền vững? Có thượng đế nào chứng nhận được việc đó. Có cứu cánh nào biện minh được cho phương tiện cùng hung cực ác như vậy. Và nếu việc làm đó để nhằm vinh danh một phần nhân loại thì chắc cũng phải vì nhân loại mà phủ nhận sự vinh danh đó.


Nhiều ngàn năm rồi không đủ cải hóa con người. Thú tánh vẫn còn đó. Những thông điệp kêu gọi cảm thông, vị tha, hòa đồng cứ bay lượn đầy trời như những đàn bồ câu trắng. Và vẫn tiếp tục bay lượn hoài trong sự lãnh đạm trơ lì. Con đường đi xuống địa ngục gần nhất vẫn còn là con đuờng đi qua lòng người. Lời nguyện đêm giao thừa giữa hai thế kỷ có thay đổi được gì đâu. Con người vẫn là kẻ thù nguy hiểm nhất của chủng loại. Có dấu hiệu nào đâu để tôi còn mơ ước cho quê hương?

Những đêm như đêm nay, ở thành phố đó sao vẫn mọc đầy trời. Nhưng còn chỗ nào gần nhất để tôi leo lên vói bắt ước mơ tôi .

Cao Vị khanh

_____________

Nhớ Sài Gòn,

Qua Bài Thơ “Mai sau dù có bao giờ” của Đỗ Hồng Ngọc (1)

Lương Thư Trung

 

Giới thiệu chương trình nhạc chủ đề“Tình Ca Việt Nam” trên đài phát thanh Sài Gòn, vào đầu thập niên 1970, nhà văn Nguyễn Đình Toàn viết:

“Tình ca, những tiếng nói thiết tha và tuyệt vời của một đời người, bao giờ cũng bắt đầu từ một nơi chốn nào đó, một quê hương, một thành phố, nơi người ta đã yêu nhau.

Tất cả mùa màng, thời tiết, hoa lá, cỏ cây của cái vùng đất thần tiên đó, kết hợp lại, làm nên hạnh phúc, làm nên nỗi tiếc thương của chúng ta…”(2)

 

Vâng, đó là chương trình nhạc chủ đề mà hồi ấy, những “Ngày hai mươi tuổi, có những đêm chong đèn ngồi…” (3), chúng tôi rất mê và ghiền lời giới thiệu các bản nhạc trong chương trình này mà nhà văn Nguyễn Đình Toàn đã gởi đến thính giả; mà dường như cách nào đó, với Sài Gòn, nơi thành phố ấy của hơn nửa thế kỷ (55 năm) trước, chúng tôi có những lần hẹn hò với một cuộc tình rất tha thiết và nồng nàn mà giờ ngồi hồi tưởng lại đúng là thành phố ấy nó“làm nên hạnh phúc, làm nên nỗi tiếc thương của chúng ta…”

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Đó là nhạc chủ đề, còn trong thơ ca thì sao? Xin mời bạn nghe Đỗ Hồng Ngọc (tức nhà thơ Đỗ Nghê), hơn bốn mươi năm trước, đã viết một bài thơ rất đằm thắm, thiết tha trong tâm trạng tiễn người bạn cũ giã từ để ra đi về “nửa vòng trái đất cõi người ta” trong bài thơ Mai sau dù có bao giờ…

Lâu nay đọc thơ Đỗ Hồng Ngọc, ít khi thấy ông “thiệt thà” bày tỏ nỗi lòng riêng tư, nhưng với mai sau dù có bao giờ ta thấy thêm góc khuất khác của nhà thơ Đỗ Nghê vậy.

“Cám ơn em đã đến giã từ
Dù sao năm tháng vẫn chưa phai
Em cười mà mắt còn đẫm ướt
Hình như tối qua trời không mưa”

Lần đó, họ không nói với nhau một lời nào, mà chỉ trao cho nhau những nỗi niềm bằng ánh mắt; bởi lẽ trong những hoàn cảnh như vậy lời nói nào đủ nghĩa yêu đương cho bằng ánh mắt thiết tha:

“Tôi hiểu – em đừng nói gì thêm
Những lời không đủ nghĩa đâu em
Tôi sẽ đưa em thăm thành phố
Em không ngại là tôi cũng ghen 

Rồi họ cùng đi thăm lần cuối “một quê hương, một thành phố” nơi mà “cả mùa màng, thời tiết, hoa lá, cỏ cây của cái vùng đất thần tiên đó, kết hợp lại, làm nên hạnh phúc, làm nên nỗi tiếc thương”…

Thành phố – nơi ta đã lớn lên
Nơi ta hò hẹn buổi đầu tiên
Nơi ta hờn giận ta vui sướng
Thành phố – chân hôn mỗi bậc thềm!” 

Vâng, với nhà thơ, Sài Gòn là cả một vùng kỷ niệm chập chùng với bến Bạch Đằng ngày ấy, (Bạn còn nhớ Nguyên Sa: “hãy đưa tôi ra bờ sông, để tôi nhìn dòng nước chảy, tôi nhìn tôi bơ vơ…” không?) và cả ngôi trường Trưng Vương với màu áo xanh của các nàng nữ sinh thướt tha trong nắng sớm sân trường, với khung trời Đại học của một thời sinh viên nhiều mộng đẹp nữa …; nhiều và nhiều lắm… Những chữ “lối xưa xanh áo”, “mờ rưng rưng”… rất thiết tha và gợi lại biết bao nỗi nhớ mà con tim và tâm hồn của những người trong cuộc không khỏi bồi hồi, ray rứt, bâng khuâng …

“Tôi sẽ đưa em ra bờ sông
Sông Sài Gòn mà bến Bạch Đằng
Lối xưa xanh áo Trưng Vương đó
Mái trường Đại học mờ rưng rưng”

Nhắc tới Sài Gòn là nhắc tới những con đường tình rợp lá me bay như đường Gia Long, đường Lê Thánh Tôn và nhứt là con đường Nguyễn Du trong bài thơ, nhưng không thể không nhắc tới cái nắng của Sài Gòn, những cơn nắng làm “hanh đôi má” nàng, và “mồ hôi mặn”, nhưng với họ, những đôi tình nhân gắn bó ấy thì lúc bấy giờ họ không lấy gì làm khó chịu với cái nắng nóng ấy, mà còn “thấy thương ghê”… Mấy chữ “rợp mát bóng me che” trong câu thơ tả cảnh con đường Nguyễn Du dưới đây, thiệt là hết ý!

“Tôi sẽ đưa em ghé Nguyễn Du
Con đường rợp mát bóng me che
Cái nắng Sài Gòn hanh đôi má
Giọt mồ hôi mặn thấy thương ghê”

Qua con đường Nguyễn Du, một trong những con đường tình tiêu biểu của Sài Gòn, và dĩ nhiên Sài Gòn không chỉ có thế, mà Sài Gòn ai đã đến đó và ở đó dù lâu, dù mau đều nhận ra rằng Sài Gòn bên cạnh những con đường lớn, những tòa nhà cao, những khu mua bán sầm uất, nó còn có rất nhiều con hẻm nhỏ mà ở đó nhà nhà, người người chen chúc nhau kiếm sống lây lất qua ngày, dù tất bật, nhưng không thiếu tình chòm xóm, tình lân láng, tình người…: 

 

“Tôi sẽ đưa em về Bàn Cờ
Xóm nghèo nho nhỏ đường quanh co
Tình người thắm đượm từng nếp áo
Bà mẹ ngày nao em nhớ chưa” 

Nhớ lại hồi cách nay năm mươi lăm năm về trước, chúng tôi còn nhiều lắm những kỷ niệm qua bao lần nơi ghế đá công viên, những quán nước bên đường, những cà phê gốc me vào mùa mưa tháng Sáu của Sài Gòn; những rạp xi nê với các phim thời tài tử Alain Delon ăn khách một thời, nào rạp Rex, nào Eden, nào quán Tre quán Trúc nơi thương xá TAX thuở nào… với những hẹn hò mà chúng tôi không “làm sao quên” được, như nhà thơ muốn nói với người thương của mình: 

“Tôi hiểu em còn muốn đi thêm
Một đời chưa đủ phải không em
Chân bước đi mặt còn ngoảnh lại
Xao xuyến hồn ta – làm sao quên!” 

Ở đây, nếu bạn để ý một chút, trong đoạn thơ trên chúng ta sẽ bắt gặp tác giả không cố ý làm cho câu thơ cao siêu, bóng bảy; trái lại ông rất khéo léo dùng một chút tâm sự của “kẻ ở người đi” trong sách Quốc văn Giáo Khoa Thư mà có lẽ ai ai trong chúng ta cũng có lần đã đọc qua mà có khi vì dòng đời tất bật quá, rồi lại quên:“Chân bước đi, mặt còn ngoảnh lại: từ cái mái nhà, cái thềm nhà, cái lối đi, cho đến bụi cây, đám cỏ, cái gì cũng làm cho tôi quyến luyến khác thường!”(4). Cái hay của ý thơ vừa rồi là nó rất gần, rất quen mà gợi đúng cái tâm trạng của “kẻ ở người đi” trong một lần từ giã. Là một người đã hơn một lần “giã từ” Sài Gòn, hơn một lần“giả từ” người thân yêu của mình, tôi rất thấm thía câu thơ này của tác giả, nó nói lên được tấm lòng của người ở lại lo cho người thân của mình, rồi ra ở nơi “Nửa vòng trái đất cõi người ta” ấy, em sẽ sống thế nào và em sẽ phải làm gì với đất trời xa lạ ấy?

“Thôi nhé từ nay em sẽ xa
Nửa vòng trái đất cõi người ta”

Giữa chập chùng những ý nghĩ vừa lo lắng, vừa ái ngại ấy, rất may, tác giả không quên nuôi trong lòng niềm hy vọng, như một niềm an ủi cho chính mình và cho người thương yêu của mình:

 

“Mai sau dù có bao giờ nữa
Thành phố – lòng mẹ vẫn bao la”

Cái hay ở câu thơ “Mai sau dù có bao giờ nữa”, một phần rất Kiều (5), và một phần rất Đỗ Hồng Ngọc! Ở chữ “nữa” của Đỗ Hồng Ngọc, vốn là một trạng từ, mà tác giả cho vào cuối câu Kiều, nó vừa là niềm tin yêu và hy vọng, nó vừa là nỗi bịn rịn không rời như “nữa mai”, “nữa rồi”, “nữa khi”, “nữa là”…mà bàng bạc một tấm lòng! Chính những chữ “nữa” ấy là những chữ làm gợi dậy tấm chơn tình trong tình yêu thương có lẽ chưa bao giờ dứt được… Nó vừa nhẹ nhàng mà thân ái, nó vừa tha thiết mà nồng nàn, nó làm tim gan người trong cuộc nhiều khi muốn đứt ruột nhưng vẫn giữ cho lòng chút hy vọng một ngày nào đó còn có dịp gặp lại nhau dù cho bao lâu sau đi chăng“nữa”!!!


Vâng, với Sài Gòn, với thành phố ấy với những đôi tình nhân đã yêu nhau cách nay hơn năm mươi lăm năm ấy, rồi ra, vớichúng tôi, tôi chợt nhớ lại qua những kỷ niệm ngày nào quả quá đúng như nhà văn Nguyễn Đình Toàn nói “làm nên hạnh phúc, làm nên nỗi tiếc thương của chúng ta…”! Và với nhà thơ Đỗ Hồng Ngọc, khi tuổi đời giờ không còn trẻ trung gì, và đọc được bài thơ “Mai sau dù có bao giờ” này của ông, rồi tôi có dịp hồi tưởng lại những nơi chốn hẹn hò của những “Ngày hai mươi tuổi, có những đêm chong đèn ngồi…” với những con đường tình của Sài Gòn một thời, và nhìn lại lòng mình, tôi thấy ông nói quả quá đúng, không sai chút nào được khi ông viết:“Mai sau dù có bao giờ nữa!” thì Sài Gòn lúc nào cũng“Xao xuyến hồn ta – làm sao quên!

 

Hai Trầu Lương Thư Trung

Houston, ngày 21.07.2021 

 

Phụ chú:

1/ “Mai sau dù có bao giờ” của Đỗ Hồng Ngọc (1980)

(trích từ tập thơ Giữa hoàng hôn xưa, Đỗ Hồng Ngọc, nhà xuất bản Trẻ, 1993)

[Theo trang nhà Trần Thị Nguyệt Mai, ngày 16.07.2021]

2/ Trích CD Nhạc Chủ Đề Tình ca Việt Nam 1970 của Nguyễn Đình Toàn.

3/ “Ngày hai mươi tuổi, có những đêm chong đèn ngồi…” )[Trích trọng “Trên Đồi Là Lô Cốt” Lữ Kiều-Thân Trọng Minh, Thư Ấn Quán xuất bản, Hoa Kỳ, năm 2006]

4/ Trích “Kẻ ở người đi”, Quốc Văn Giáo Khoa Thư (Lớp Sơ đẳng) của Trần Trọng Kim, Nguyễn Văn Ngọc, Đặng Đình Phúc và Đỗ Thận, nhà xuất bản Thanh Niên tái bản, năm 2000. 

5/ Truyện Thúy Kiều của Nguyễn Du do Bùi Kỷ và Trần Trong Kim hiệu khảo, bản in lần thứ bảy (năm 1925). Nhà xuất bản Đại Nam (Hoa Kỳ) tái bản, (không thấy ghi năm).

_______________________

LTT_Cho hoa NH.JPG
THT_ChiYen_1.JPG
THT_Yen_2017_1.jpg
THT_Yen_2017_2.jpg

2 hình chụp 2017

THƠ TRẦN HOÀI THƯ

Giải lụa đào của em


Giải lụa đào của em giữa chợ  phất phơ
Anh như con diều hâu đói mồi lao chụp
Kinh nghiêm chiến trường vồ nhanh rút lẹ
Nên hội chợ đào anh đoạt một hoa khôi

Từ đó giải lụa đào em xẻ làm hai
Một nửa để dành may áo dài hôn lễ
Một nửa cho anh làm khăn choàng quấn cổ
Thay chiếc khăn choàng đơn vị thám kích diều hâu (*)

Chiếc khăn choàng theo anh trong suốt chiến tranh
quấn lấy đời anh, như giải lụa hồng đầy quyền phép
Giúp anh chạy giữa bom gầm đạn réo
Giúp anh lặn lành giữa lựu đạn mìn chông
Giúp anh lau những bụi khói mồ hôi
Giúp anh những giọt nước biển hồi sinh khi anh ở phòng cứu cấp

oOo

Bây giờ, Chiếc khăn choàng ngày xưa đã mất
Nhưng màu hồng  đào vẫn còn lại không phai
Tình cờ ngày hôm nay, trong viện nursing
em mặc áo hồng mắt cười rạng rỡ,
Anh nhớ giải lụa đào
bèn ra vườn sau, ngắt chùm hoa giấy đỏ
Cắm vào lọ bình nho nhỏ
tiếp tục những niềm vui…………

Trần Hoài Thư

___
(1) Màu khăn choàng cổ của đơn vị

HAI TRẦU                                        

 

ĐỂ TRẢ LỜI VÀI BA CÂU HỎI 


 

Thưa bạn,

Có lần bạn đã hỏi tôi “lúa mùa” là lúa gì?

Ở các nơi làm ruộng thuộc tỉnh Long Xuyên, Châu Đốc, Sa Đéc… hồi đời trước, cách nay có tới sáu bảy chục năm, hồi đó nông dân làm ruộng mỗi năm chỉ có một mùa; bắt đầu cày phá đất vào đầu tháng ba âm lịch, cuối tháng ba cày trở, đầu tháng tư âm lịch bắt đầu có mưa thì bừa đất cho nhuyễn và sạ lúa, đến tháng chạp lúa chín lác đác và tháng giêng cắt gặt… Sạ chứ hổng phải “xạ” như có người viết chữ “x”. Do vậy lúa mùa còn được gọi lúa sạ vì người ta gieo giống bằng cách sạ lúa. 

 

Sạ lúa là cách người nông dân mang trước ngực những thúng lúa giống rồi dùng bàn tay hốt những nắm lúa giống vừa đi vừa quăng ra đều trên mặt ruộng. Nhưng muốn cho hạt giống được rải đều, trước khi sạ lúa người ta dùng lá dừa hoặc cây sậy cắm thành từng lối thẳng từ đầu ruộng tới cuối miếng ruộng, bề ngang vừa một sải tay, khoảng từ hai tới ba thước bề ngang, gọi là cắm rò; trong khi sạ, để cho chắc ăn người ta còn nhờ một người khác đi theo lối giữa hai hàng lá dừa ấy, đi rất chậm để cho người bưng thúng lúa giống vừa đi theo người này vừa hốt lúa đầy trong nắm tay rồi rải đều ra; và người dẫn đường cho người sạ lúa như vậy gọi là người lội rò.

 

Về lúa giống, người ta có thể dùng lúa giống khô sạ trực tiếp xuống ruộng hoặc ủ giống để giống lên mộng rồi mới mang lên đồng để sạ. Về phương pháp sạ thì có sạ khơi và sạ dập. Sạ khơi là sạ lúa xong rồi bỏ đó để hột giống hứng sương hoặc gặp mưa rồi hạt giống sẽ tự động nẩy mầm và mọc cây; sạ dập là khi sạ xong người ta sẽ dùng bò hoặc trâu bừa qua một tác để lấp hột giống lại. Sạ khơi có cái bất tiện là dễ bị chuột bọ ăn hột giống nên khi lúa lên cây lúa sẽ bị hao hớt; trái lại sạ dập dù tránh được nạn chuột bọ phá hại nhưng sạ cách này lúa cũng dễ bị đất đè lên và bị nghẹt, nhiều lúc ruộng cũng bị hao vì lúa lên hổng đều.

 

Cũng là lúa mùa nhưng có nơi làm lúa cấy. Các vùng Sóc Trăng, Bạc Liêu, Rạch Giá, Cần Thơ, Mỹ Tho, Tân An người ta ưa dùng cách cấy lúa thay vì sạ như các vùng Long Xuyên, Châu Đốc. Làm lúa sạ có cái lợi là làm được nhiều, diện tích đất từ vài chục mẫu tới vài ba trăm mẫu; trái lại làm lúa cấy thì vì sức người có hạn nên diện tích canh tác cũng có giới hạn; tùy theo vùng đất nhiều hoặc đất ít và nhơn công cấy dễ mướn hoặc khó tìm thì số đất ruộng cấy được sẽ ít hoặc nhiều. 

 

Trong ruộng cấy có mấy giai đoạn như sau: trước nhứt là rải mạ. Người ta dọn một miếng đất thật bằng phẳng rồi cày bừa cho nhuyễn và đem giống ra rải lên miếng đất ấy. Vì rải mạ nên người ta cần sạ giống cho dày, vừa để tránh hao hớt vừa để sau này khi mạ đầy tháng còn nhổ mạ và chiết ra để cấy lại đất ruộng đang chờ để cấy. Bởi vậy trong dân gian khi có ai làm việc gì mà bị đổ đầy trên mặt bàn hay trên mặt đất người ta gọi rải mạ. Sau khi rải mạ như vậy mưa xuống hột giống sẽ lên dày bịt và đúng một tháng hoặc trồi sụt chút đỉnh là bắt đầu nhổ mạ và đem đi cấy. 

 

Nhổ mạ là nhổ nguyên một vạt đất như vậy và mỗi người nhổ mạ xong gom lại chừng hai nắm tay thì họ dùng dây lạt bó mạ lại ở phần gần ngọn cây mạ. Trước ngày cấy lúa trên đất đã cày bừa trục nhuyễn sẵn thì công việc kế tiếp là giang mạ. Giang mạ là người ta chở mạ hoặc gánh các bó mạ vừa mới nhổ xong bỏ đều trên miếng ruộng sắp cấy. Tùy theo muốn cấy dày hoặc cấy thưa mà mỗi công đất sẽ được phân phối số mạ nhiều hay ít. Trung bình người ta tính theo cây tầm đo đất, chiều dài 3 thước, gọi là tầm cấy hoặc tầm cắt. Mỗi tầm cấy như vậy cấy 12 bụi mạ, gọi là cấy dày; nếu cấy 10 bụi mạ, gọi là cấy vừa, còn cấy 6 hoặc 8 bụi mạ thì gọi là cấy thưa. 

 

Thông thường người đi cấy lúa mướn thì ba người họ lãnh cấy chung nguyên một công đất, tức là mỗi người cấy một phần ba (1/3) công, còn gọi tắt là một góc ba. Do vậy tâm lý giữa chủ ruộng và công cấy có những suy nghĩ trái ngược nhau. Chủ thì lúc nào cũng muốn công cấy cấy dày; còn công cấy thì muốn cấy thưa cho mau xong công đất để mau về sớm. Ở nhà quê có câu thiệu: “Bắt nhẻ, cấy thưa, tầm đưa vô đít”, ý nói “bắt nhẻ” là bắt mạ rất ít, (có lẽ do chữ “nhỏ nhẻ” mà nói trại ra), thay vì vừa tay cho một bụi mạ thì công cấy tách mạ rất ít để cấy cho mau khỏi mất công cứ lấy mạ hoài lâu rồi công. “Bắt nhẻ” như vậy có cái hại là gặp trời nắng nước ruộng bị nóng và bụi mạ khó bén rễ, có khi mạ bị chết và miếng ruộng này khi lúa lớn lên sẽ hao hớt, thưa thớt.

 

Về động tác cấy có mấy động tác chính như tay mặt vừa cầm nắm mạ vừa cầm nọc cấy, ngón cái bàn tay mặt vừa đẩy một ít mạ tách rời nắm mạ gọi là ra mạ, nếu ra mạ mà ít quá gọi là bắt nhẻ. Thay vì một bụi mạ tối thiểu phải bốn hoặc năm cây mà mình chỉ ra mạ có ba cây gọi là nhẻ.

 

Cũng là ruộng cấy nhưng ở miệt Cái Côn (Cần Thơ) người ta dùng chày tỉa để tỉa mạ. Chày tỉa là một cái cây làm bằng cây tràm hoặc bất cứ cây gì mà săn chắc bào cho láng, một đầu chuốt nhọn như trái vụ để khi cầm chày tỉa cắm xuống đất khi lấy chày lên sẽ để lại một cái lỗ nhỏ vừa với một nhúm hột giống để gieo mạ. Công việc tỉa mạ có hai người cùng làm, một người dùng chày tỉa xắn lỗ và người kia bỏ hột giống và lấp đất lại. Sau vài ba ngày tùy theo giống khô hoặc giống ngâm mà mạ mau lên hoặc chậm lên. Cái này cũng có cái lợi và cái hại tùy theo thời tiết. Gặp trời nắng nóng thì giống khô ít hao, lúa giống nằm đó chờ mưa hoặc hơi sương ướt rồi từ từ mọc mộng và lên cây; trái lại gặp trời mưa thì giống ngâm mau lên cây hơn, mạ ít hao. Sau khi cấy mạ được một tháng, người ta bắt đầu dùng tay nhổ mạ. 

 

Nhổ mạ như vậy rồi cũng dùng dây lạt để bó mạ nhưng chưa đem ra ruộng cấy liền, mà phải dọn sẵn một miếng đất khác để cấy số mạ này. Công đoạn cấy lần này gọi là cấy giâm. Cấy giâm có nghĩa là đem mạ còn non cấy lại một lần nữa cho cây mạ cứng cáp và nở thêm nhiều rồi mới bứng mạ một lần nữa và lúc bấy giờ mới giang mạ và cấy thiệt thọ trên miếng đất mà mình muốn trồng lúa. 

 

Sở dĩ gọi bứng mạ vì giai đoạn này phải dùng dao để xắn bụi mạ lên chứ không phải nhổ mạ bằng tay như mấy lúc trước. Con dao bứng mạ cũng chỉ là con dao yếm là loại dao thông dụng trong nhà bếp mà dân quê thường dùng để xắt thịt, làm cá nhưng với dao yếm bứng mạ thì mũi dao bản bự hơn loại dao yếm thường, đặc biệt là được mài rất bén. Thông thường một bụi mạ người ta phải xắn ba góc mới lấy bụi mạ lên được an toàn không bị đứt rễ nhưng với dân bứng mạ chuyên nghiệp người ta chỉ bứng hai nhát dao là bụi mạ lấy lên được khỏi mặt đất và không bị đứt rễ. Cái hay của chuyên môn là ở cách bứng mạ ấy vì nhờ vậy mà công việc bứng mạ mau hơn và đỡ mất nhiều công sức. 

 

Còn cấy giặm là cấy thêm những chỗ ruộng lúa bị hao hớt vì lúa chết hoặc cua kẹp. Dù làm lúa sạ hay lúa cấy gì khi lúa bị hao người ta hay mướn công cấy và chiết mạ từ những chỗ lúa dày để giặm vá vào những chỗ trống này.

 

Có bạn còn hỏi gom lúa là gì? Chất lúa thành cà lang là sao?

Để trả lời hai chữ dùng này cũng còn tùy. Nếu làm lúa mùa hồi đời trước có người làm năm ba chục mẫu ruộng, có người làm cả mấy trăm mẫu nữa nên ruộng đất nhiều, lúa tới mùa cũng nhiều, nên không thể ôm từng ôm, từng ôm lúa mang vô sân cùng lúc được do vậy phải dùng bò trâu kéo lúa vô sân, nên mới gọi là gom lúa. Nhưng trước khi gom lúa chủ ruộng kêu công cắt để cắt lúa; cắt lúa xong còn phải phơi lúa bông vài nắng nhằm mục đích cho bông lúa khô để khi trâu bò đạp lúa mau rụng hột; phơi lúa bông như vậy gọi là dan lúa. Khi thấy lúa vừa ráo bông, chủ ruộng kêu công chồng mớ lúa. Khi cắt lúa các thợ cắt lúa bỏ lúa từng mớ, từng mớ theo lối cắt của họ, những mớ lúa này nằm rải đều trên diện tích miếng ruộng nên khi chồng mớ lúa, người ta lội theo từng lối lúa cắt như vậy và ôm những mớ lúa bông này chồng lên nhau thành một mớ lúa vừa với người ôm khi gom lúa. Thường thường mỗi một ôm lúa bông như vậy tùy theo lúa mớ nhiều hoặc ít mà người ta gom lại bốn hoặc năm mớ lúa chất thành một ôm; không chất ôm lúa lớn quá mà cũng không chất ôm lúa nhỏ quá vì nếu lớn quá khi mình gom lúa, lúa bông sẽ dễ bị rơi rớt; còn nếu ôm lúa nhỏ quá thì lại tốn nhiều công sức mà việc gom lúa lên cộ sẽ bị chậm chạp, mất nhiều thì giờ. Dụng cụ để gom lúa này được gọi là cái cộ. Cái cộ là vật dụng làm bằng tre. Người ta lựa hai gốc tre già làm thanh cộ. Sở dĩ dùng gốc tre già vì nó vừa chắc mà cũng vừa tiện trong việc thanh cộ kéo trên ruộng trơn láng dễ hơn là dùng cây săn chắc làm cộ thường bị đất bùn làm chất gỗ lún xuống đất sâu rất nặng cho trâu bò. 

 

Tùy theo bạn dùng trâu hay bò để kéo cộ mà cái cộ dùng gom lúa có khác nhau. Nếu dùng bò thì phải dùng tới hai con bò vì bò sức yếu, nên gọng cộ là hai thanh cộ ở phần máng bò kéo cộ nhập lại làm một để mỗi bên máng một con; nếu bạn dùng trâu thì chỉ dùng một con trâu thôi, vì trâu mạnh hơn bò nên thanh cộ ở chỗ máng ách tách ra làm hai, và đặt trâu ngay vào giữa hai thanh cộ này, không nhập lại như cộ bò. 

 

Trên sàn cộ người ta dùng vạt tre lót làm sàn cộ và để tránh lúa rụng rơi rớt dọc đường, người ta lót lên sàn cộ một tấm đệm bàng, loại đệm nhà quê hay mua để làm nóp ngủ hoặc dùng để phơi lúa. Xung quanh cộ có làm thêm những thanh tre đứng để giữ cho lúa khỏi bị đổ. Thành ra, gom lúa là mình chất lúa lên cộ và cho trâu bò kéo lúa về sân. Vì lúa hồi xưa làm nhiều nên phải chất thành đống lúa rất cao thành hình chóp gọi là cà lang lúa.

 

Khi gom lúa và chất thành cà lang cao xong là tới giai đoạn dùng trâu hoặc bò đạp lúa, lúc bấy giờ người chủ ruộng mới mướn nhơn công dùng mỏ xải (1) để vích lúa trải đều ra xung quanh chưn cà lang lúa nhắm chừng bề dày khoảng từ ba tấc tới năm tấc, gọi là ra bã lúa; rồi cho bò hoặc trâu kéo cái trục đi vòng quanh lên lớp lúa vừa trải ra này gọi là đạp lúa; sau khi trâu bò đạp lúa một đỗi chừng nửa giờ hay lâu hơn tùy theo bã lúa dày hay mỏng, người chủ ruộng thấy các bông lúa rụng hột hết rồi, lúc bấy giờ chỉ còn là những cọng rơm bong ra và người ta tháo ách thả trâu bò ra cho chúng nghỉ và nhân công bắt đầu lấy mỏ xải vích lớp rơm khô này tấp ra bên ngoài bìa sân lúa, công đoạn này ở nhà quê gọi là làm bã lúa. Sau đó lấy trang cào lớp lúa hột này gom lại một chỗ và bắt đầu ra bã lúa tiếp theo và cho trâu bò đạp lúa tiếp cho đến khi nào hết cà lang lúa thì coi như xong vụ đạp lúa bông ra lúa hột.

 

Thường thường lúa hột trâu bò đạp ra như vậy vẫn còn rơm hoặc lúa lép lẫn lộn, do vậy mà nông dân phải dùng bốn cây tre dựng thành cái giàn tương đối hơi cao, chắc chắn, có chỗ cho một người đứng vững vàng; ngay dưới chỗ người đứng này có tấm vạt bằng tre hoặc một tấm đăng mỏng được trải ra và rồi mọi người cùng nhau xúc lúa vô thúng rê và đội lên giàn, để cho người ở đó bưng thúng lúa trút xuống tấm vạt để rê lúa với mục đích là làm cho lớp lúa lép, rơm, bụi bay đi hết và chỉ còn lúa hột chắc còn lại thôi; nên giai đoạn này gọi là rê lúa.

 

Sau khi rê xong hết đống lúa vừa kể, tùy theo miếng ruộng lớn hay nhỏ, có khi đống lúa hột này nhiều tới năm ba trăm giạ lúa là thường (1 giạ lúa= 40 lít) là tới giai đoạn dùng xe trâu kéo lúa về nhà nếu nhà tương đối gần miếng ruộng; còn trường hợp nhà xa ruộng, người ta phải dùng xe trâu kéo lúa ra bờ kinh; rồi từ bờ kinh, chủ ruộng mới dùng ghe xuồng chở lúa về nhà; giai đoạn dùng trâu bò kéo lúa từ trong ruộng ra bờ kinh để dùng ghe chở lúa về nhà gọi là lòi lúa. Qua kinh nghiệm làm ruộng lâu ngày, chủ ruộng biết sức lực của trâu bò, nên khi họ làm cộ để cộ lúa hay dùng cây đóng thành xe trâu để chở lúa về nhà, mỗi xe trâu như vậy sức chở tối đa là 25 giạ lúa; không ai làm xe trâu chở nhiều hơn số 25 giạ ấy vì quá con số này trâu kéo xe rất mệt và trâu bò làm quá sức thì mau kiệt sức, không bền đó là trong nhiều trường hợp trâu bò bị đuối sức, không cày bừa nổi nữa, người nhà quê gọi là bò trâu bỏ mùa.

LTT_Thung_Tao.JPG

Rồi bạn lại hỏi tôi về loài chim nhạn ở đồng ruộng mấy chục năm về trước lúc còn làm lúa mùa giống chim này có những đặc tính nào để mình dễ nhận ra loài chim ấy?

Xin thưa với bạn rằng, trước nhứt loại chim này nhỏ con với bộ lông màu trắng và ưa bay chung với nhau thành từng đàn, từng đàn mà rất hiền! Chúng có hai đặc tính mà ai ai từng làm ruộng lúa mùa ngày trước khoảng 1940-1960 hoặc lúa thần nông sau này những năm 1960-1990 đều biết là chúng biết chỗ nào có cá ở trong rong và chúng luôn bảo vệ cái ổ của chúng.

 

Trong đời sống thiên nhiên của chim nhạn trắng, hồi mấy năm tôi về quê làm ruộng, giăng lưới, giăng câu, buổi sáng sớm, tôi thường chống xuồng lên đồng nước ngập mênh mông, chỗ nào mà có bầy nhạn trắng bay vòng vòng trên bầu trời ngay trên đầu mình là tôi cắm xuồng dừng lại chỗ đó và bắt đầu dọn luồng bủa lưới, nhứt là lưới cá linh, thì sau khi bủa lưới một hồi, cỡ hút tàn điếu thuốc, rồi mình bắt đầu thăm lưới, bạn có biết sao hông? Cá dính lưới guộn viền luôn! Thành ra, theo kinh nghiệm người nhà quê tụi tôi là chỗ nào có nhạn bay vòng vòng trên trời là chỗ đó có cá linh nhiều lắm!

 

Còn nữa, vào tháng ba, tháng tư âm lịch, trên đồng đất khô nứt nẻ ở những cánh đồng lớn vùng Mặc Cần Dưng (Long Xuyên) hoặc sau này vùng đồng ruộng làng Tân Bình (Lấp Vò, Sa Đéc), chỗ nào mà nhạn bay vòng vòng hoài một chỗ là ngay mặt đất chỗ nhạn bay đó, mình đi tìm một hồi là có ổ nhạn đang đẻ trứng gần đó. Dân quê vùng ruộng dưới tôi ưa gọi loài nhạn này là "nhạn đất". Nhạn đất lấy rơm rạ làm ổ đẻ trên mặt đất, không lót ổ trên cây như các loài chim khác. Vui lắm! Tóm lại, so với các loài chim khác thì chim nhạn đất là loại chim rất hiền!

 

Rồi bạn lại hỏi, câu thơ của Phạm Thiên Thư mở đầu bài thơ Động Hoa Vàng: “Mười con nhạn trắng về tha”; sao tác giả không dùng hình ảnh con cò trắng hoặc con hạc trắng cũng có bộ lông màu trắng như chim nhạn vậy? 

 

Thưa bạn, về việc dùng hình ảnh “con nhạn trắng” này, thú thiệt với bạn, tôi là dân quê gốc gác làm ruộng nên rất dốt và chắc chỉ có tác giả Phạm Thiên Thư mới cắt nghĩa được câu thơ của ông thôi! Tuy vậy, có hai điển tích về chim nhạn trong tự điển Phật Học là “Ngũ bách nhạn quần văn Phật Pháp sinh thiên” (thuyết) và “Ngũ bách nhạn vi ngũ bách La-Hán (Bản sinh) cùng hai từ ngữ “Nhạn vương” gọi danh Đức Phật và “nhạn môn” chỉ cửa chùa (2), chắc có liên quan đến “con nhạn trắng” trong câu thơ mà bạn vừa hỏi! Và ứng vào dòng đời của nhà thơ Phạm Thiên Thư, có lúc ông xuất gia đi tu thời gian tới 9 năm với pháp danh Thích Tuệ Không (từ 1964-1973) (3) rồi hoàn tục, thì theo trí ngu của mình, tôi thiển nghĩ “con nhạn trắng” ở đây là ngầm hiểu là người xuất gia, người đi tu, người ở chùa mà cũng có thể để chỉ chính tác giả vì ông vốn là một tu sĩ nữa. 

 

Còn “cò trắng” và “hạc trắng” mỗi loài lại được dân gian và sách vở dùng để chỉ riêng cái nét tiêu biểu của chúng như cò trắng thì làm mình nhớ câu ca dao“con cò lặn lội bờ sông”, còn “hạc trắng” chỉ tuổi thọ như người đời ưa nói tuổi hạc, hoặc hạc tượng trưng cho sự nhàn nhã như Lâm Ngữ Đường có nói trong “Một quan niệm về sống đẹp” (Nguyễn Hiến Lê dịch).

 

Rồi bạn lại hỏi: “Sao lại chỉ “mười con nhạn trắng” mà hổng phải năm ba con?”Thú thiệt, câu hỏi này cũng như câu hỏi vừa rồi đều là những câu hỏi khó, mọi sự hiểu và trả lời đã có các bậc thức giả giải đáp cặn kẽ hết rồi; ở đây, nếu có thể được xin bạn nên hỏi tác giả vì chỉ có ông Phạm Thiên Thư là biết rành hơn ai hết! Nhưng chính tôi nhiều lúc tôi cũng bần thần thắc mắc là sao lại là “mười con nhạn trắng”? Giống như Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc có nói “ở đây nhà thơ nói “nhạn” nhưng không phải “nhạn” và từ đó, tôi mới nghĩ Phạm Thiên Thư khi ông viết “mười con nhạn trắng” vậy thôi, chớ thiệt tình ra, có thể không phải số lượng là “mười con nhạn trắng” như người đời thường quen đếm số từ 1, 2, 3, 4… rồi tới 10. Chữ “mười” trong câu thơ vừa rồi, theo tôi, qua cái nhìn nhà quê của mình, ở đây chữ “mười” nó không phải là “số đếm” mà là “số từ”, là một trạng từ, như trong chữ “mười mươi” có ý nói lên sự chắc chắn về một ý nghĩ, về một quyết định quan trọng nào đó…  Điều suy nghĩ này nó cũng ứng hợp với ý câu thơ mà cũng khế hợp với dòng đời của tác giả Phạm Thiên Thư là “mười phần chắc mười” nhà tu rồi ra sẽ trở về một nơi khác, một cõi khác hơn cõi “nhạn môn”; tức là rồi sẽ rời cửa chùa để trở về nhà, trở về với cái thân ngũ uẩn của mình! Có như vậy ông mới có thể “lên non tìm động hoa vàng” được chứ! Phải vậy hông, thưa bạn? Ông làm bài thơ này năm 1971 và ông hoàn tục vào năm 1973 (3). Đại khái là vậy, và ở đây, tôi chỉ đoán mò thôi vì tôi không biết và cũng không rành việc chữ nghĩa thơ phú này, nên mong bạn thông cảm và đừng cười cho cái ý thô thiển này là tôi mừng rồi! Rất mong vậy!

 

Thưa bạn,

Qua chuyện kể về nhạn đất vừa rồi, chỗ nào có chim nhạn bay là chỗ đó có nhiều cá, nhứt là cá linh; rồi bạn lại hỏi sao gọi loại cá nhỏ này là cá linh?

Về điểm này, đã khá lâu, tôi có nhắc qua vài đặc tính về loại cá linh này trong các cuốn Bến Bờ Còn Lại (2000), Mùa Màng Ngày Cũ (2011, 2015), nên nay xin nhắc vài nét chính của loại cá này thôi, kẻo mình cứ lặp đi lặp lại hoài một việc thấy cũng hơi kỳ kỳ!

Số là vào tháng Năm âm lịch, khi nước các sông rạch vùng miền Tây nước sông Cửu Long có màu ngầu đục và chảy xiết, dân quê vùng này gọi là mùa nước đổ. Nước vào mùa này có màu ngầu đục như vậy vì phù sa của con sông Cửu Long từ trên Biển Hồ bên Cao Miên chảy xuống trong đó có mang theo cá linh non trôi trong nước thành từng bầy từng bầy, nhiều vô số kể! Cá linh non là cá linh mới nở hoặc đã nở mấy ngày, nên cá còn rất nhỏ, cỡ đầu đũa ăn, rồi trôi theo nước và lớn dần; khi xuống tới Châu Đốc, Long Xuyên, Sa Đéc, Cao Lãnh… cá linh theo các kinh rạch và tràn lên đồng vào mùa nước lên tháng Bảy âm lịch rồi theo các cánh đồng lúa mùa ở các vùng ấy và lớn dần, lớn dần, cá lớn nhứt cỡ bằng ngón chưn cái, lúc bấy giờ dân quê gọi cá linh lớn này là cá linh già; tuy gọi là như vậy nhưng ít có cá linh nào lớn bằng nửa cườm tay; do vậy mà dân quê mới sắm các dụng cụ để bắt cá linh như đăng đó, vó cất, vải chài, giăng lưới, đóng đáy, đặt dớn… là những dụng cụ có lỗ rất nhỏ, nếu lưới thì lưới một phân hoặc lưới thưa hơn chút có lưới một phân rưỡi.

 

Có hai loại cá linh là cá linh ống và cá linh rìa. Cá linh ống hình ống tròn, vảy màu trắng nhuyễn; cá linh rìa hình dẹp vảy nhuyễn pha vài chấm nhỏ màu sẫm dọc theo hai sống lưng. Các đặc tính của cá linh khi chúng ở trên đồng nước ngập hằng năm vào tháng Tám, tháng Chín, tháng Mười âm lịch, chúng có chung những đặc tính sau đây:

  • Cá linh sống thành từng đàn, từng đàn; miệng cá rất nhỏ, chỉ ăn rong, và các phiêu sinh vật, nên ít ai sắm câu để câu cá linh, nên giăng lưới cá linh là chính. 

  • Thường thường vào giác sáng sớm và vào lúc gần khoảng sau giờ chùa công phu chiều là giăng lưới dính cá linh nhiều vì vào hai khoảng thời gian ấy cá linh ưa đi ăn nên dễ mắc lưới.

  • Giác trưa nắng, trời đứng bóng, lưới không dính cá như hai giác sáng sớm và giác chiều vì vào buổi trưa cá linh tìm các đám rong vào nghỉ mát...

  • Ở đồng quê vào mùa nước lên thì ngày nào nước cũng dâng lên tùy theo nước lớn hoặc nước nhỏ mà mực nước dâng lên nhiều hoặc ít; nhưng đến đúng ngày 25 tháng Chín âm lịch thì mực nước trên đồng bắt đầu dừng lại, không lên tiếp như mấy ngày trước, lúc bấy giờ dân quê gọi là nước phân đồng. Nước phân đồng kéo dài khoảng vài ba ngày thì tới khoảng mùng 10 tháng Mười âm lịch nước khắp các cánh đồng bắt đầu chảy mạnh ra các kinh rạch, dân quê gọi mùa này là mùa nước giựt.

  • Cá linh khôn lắm, khi nước mênh mông trên đồng bắt đầu nhớm giựt thì cá linh ào ạt rủ nhau rút xuống các cựa gà, các ngã ba kinh rạch và xúm nhau trở về sông…