hmpg.jpg
Titlej (1).jpg

THƠ VĂN THÁNG TƯ ĐEN

Nhiều tác giả

TL_Tolichcu.gif

Trên Trang Mục nầy chúng tôi sẽ giới thiệu những bài viết về 1 thời Miền Nam trước cơn đại hồng thủy tháng 4/1975.

Thời nầy văn học Miền Nam như hoa nỡ rộ bỗng bị tàn úa theo cái ngày 30 tháng 4, 1975. Nên chúng tôi xin mượn dấu mốc lịch sử oan nghiệt nầy làm chủ đề cho Trang Mục Thơ văn Tháng Tư Đen.

       30-4-1975 - 30-4-2021

                   vết thương chưa lành      

TL_30thang4vaBoatPeople.jpg

Cao Vị Khanh, Kim Loan, Đoàn Xuân Thu, Kiên Giang Tiểu Thư, Anh Tú, Kim Oanh, Giáng Xưa, Trầm Vân, Nguyễn Đấu Lộc, Sông Thu, Đỗ Chiêu Đức, Mai Xuân Thanh

(còn tiếp)_________________________

 

1. CAO VỊ KHANH: Tháng Tư

Đọc thêm:

http://www.caovikhanh.com/book/thang-tu.pdf

http://www.caovikhanh.com/pdf/thang-tu-cvk.pdf

2. KIM LOAN: Truyện: Miền Nam mến yêu

                    Thơ: Thư gửi chồng cải tạo - Ý hợp tâm đầu là đôi ta

CVK_ThangTu_2.JPG

THÁNG TƯ

..................................................................................

 

Tháng tư như một vết sẹo gần

Tưởng quên rồi lại bồi hồi nhớ

Khi máu trong tim vụt trở trăn

 

Tháng tư ồ tháng tư xuân

Đâu đây lấp ló góc mộ phần

Nửa chìm lặng lẽ, nửa trồi hận

Ôi tháng tư gian dối vô nhân

Tháng tư ôi tháng tư thầm

Rền rền như từng nốt nhạc câm

Réo kêu đục đẽo dao tùng xẻo

Ôi tháng tư bạc bẽo vô nhân

Tháng tư, ờ tháng tư đen

Nám da nắng lửa tù thay ngựa

Kéo lết căn phần tội-tổ-tông

Cao Vị Khanh

 

MIỀN NAM MẾN YÊU

Dù chỉ được sống trong chính quyền Việt Nam Cộng Hoà vỏn vẹn 9 năm, nhưng ký ức về khung trời tuổi thơ yên vui tươi đẹp, của Miền Nam mến yêu vẫn sống mãi trong tâm tưởng của tôi. Thuở ấy, đầu thập niên 1970s, tôi là cô bé tí tẹo, với mái tóc fashion… “muỗm dừa hồi đó”, cái trán dồ và nick name Bé Tẹt (vì cái mũi tẹt).
Căn nhà mặt tiền của gia đình chúng tôi dùng làm quán nước giải khát do Má và chị Cả quán xuyến, vì Ba tôi là Cảnh Sát Quốc Gia đi làm cả ngày. Phía trước nhà là Trại Đoàn Dư Khương, tức là Trại Quân Cụ (Lục Quân Công Xưởng) của chính quyền VNCH. Đối diện Quân Cụ là một Club Mỹ giữa khu dân cư và hai trại gia binh. Chỉ trong đoạn đường hơn một cây số, đi từ trại Quân Cụ, còn có Trại Truyền Tin, Quân Nhu, Quân Trang là gặp ngã ba. Nếu rẽ trái là đến Thành Cổ Loa, Khu Thiết Giáp, và rẽ phải gặp ngã năm là Kho Đạn, Trại Quân Khuyển mà bà con gọi là Ngã Năm Chuồng Chó.

KL_McKL.jpg

Hướng ngược lại từ nhà của chúng tôi, đi vài trăm mét là ngã ba Thông Tây. Rẽ phải đi lên Xóm Mới, còn rẽ trái đi thêm sẽ gặp Nhà Thờ Hạnh Thông Tây, đi nữa sẽ thấy Nghĩa Trang Quân Đội Gò Vấp (không phải Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hoà), cạnh Làng Trẻ Mồ Côi SOS. Nếu quý vị chưa mỏi chân, thì cứ đi tiếp lên Chợ Cầu, Trung Chánh và đến Quân Trường Quang Trung của những ngày cuối tuần rộn ràng “ hôm nay ngày chúa nhật, vườn tao ngộ em đến thăm anh”.
Đến tuổi đi học, tôi học tiểu học trường Nguyễn Công Trứ, nằm trong khuôn viên Khu Quân Trang, hiệu trưởng là một Sĩ Quan (Thiếu Tá) VNCH. Vì là trường học thuộc quân đội, nên lũ “học sinh là người Tổ Quốc mong cho mai sau” chúng tôi cũng được hưởng chế độ viện trợ của Mỹ. Cứ ba lần trong tuần, có xe chở sữa đẩy đến cửa từng lớp học, đến lớp nào thì cô giáo lùa học sinh ra xếp hàng, mỗi em được một ly sữa tươi và một lát bánh mì mà chúng tôi gọi là “bánh mì Mỹ”. Tôi còn nhớ đó là sữa hiệu Foremost để vào ly nhựa màu xanh lá cây, có in chữ f màu trắng thật to. Ông anh Năm của tôi, lớn hơn tôi vài tuổi, buổi sáng hay dúi vào tay tôi cái bao đựng cơm sấy của quân đội (đã dùng xong), dặn dò: “ Nếu em uống sữa không hết, nhớ bỏ vào bao đem về cho anh, nghe chưa! Sữa Mỹ thơm lắm, bỏ uổng!”.
Lần đó, năm học lớp Ba, chúng tôi được Giáo Sư Nhạc Sỹ Lê Văn Khoa đến trường dạy một vài tiết mục múa hát để quay trên Tivi. Tôi nhõng nhẽo đòi Má sắm cho tôi đôi giầy Bata mới toanh, mua thêm cái váy xanh áo trắng để tôi …lên sóng. Đến ngày lên Đài Truyền Hình, thầy Hiệu Trưởng cho một chiếc xe cam nhông chở cả đoàn diễn viên nhí tới Đài, cho ăn uống bồi dưỡng trên xe, thật vui. Buổi chiều thâu hình xong, xe chở về lại trường, mấy anh lính ra bế từng đứa xuống xe, có phụ huynh chờ sẵn. Riêng tôi chưa thấy người nhà thì thầy Hiệu Trưởng nắm tay tôi:
“Bé Tẹt em cô Thanh bán cà phê đây mà, để chút Thầy đưa về!”.
Tôi bé tí, nhưng cũng biết bắt chước mấy người lớn trong xóm, trả lời:
“Dạ, cám ơn chú…Thiếu Tá!”

Miền Nam bị “giải phóng” khi tôi chưa đầy 9 tuổi, nhưng những kỷ niệm ngọt ngào của những ngày tháng thanh bình (trong thời loạn) chưa hề phai nhoà. Bên cạnh những ký ức êm đềm khi đi học như vừa kể ở trên, còn là những ngày nghỉ hè, tôi đòi Má cho dậy sớm lúc 4 giờ sáng, để xem Má đổ sữa đặc vào từng ly, khoảng vài chục cái như vậy, rồi bỏ cà phê vào vợt, chuẩn bị đón những vị khách đầu tiên. Họ là những công nhân hoặc lính tráng của những trại lính xung quanh.
Là những ngày Tết nắng rực vàng, tôi mặc quần áo mới, đứng khép nép nơi bàn Ba tôi uống trà ăn mứt với khách, đợi tiền lì xì, rồi chạy xuống bếp tìm món thịt đông và chè kho, chạy qua phòng khách còn nghe tivi đang mở bài ca Xuân bất hủ: “ Chúc người binh sĩ lên đàng, chiến đấu công thành, sáng cuộc đời lành, mừng người vì nước quên thân mình ..”
Là những buổi chiều, lũ trẻ con chúng tôi được người khách quen của quán, trong bộ quân phục oai hùng của quân lực VNCH, đưa cả đám lên xe chiếc Jeep còn vương bụi bặm hành quân hoặc bùn lầy thao trường, chạy một vòng quanh khu phố.
Là những người lính đủ cấp bậc, đủ màu da (vì còn có lính Mỹ, Đại Hàn, Philippines …) vào quán nhà tôi uống bia Con Cọp, điếu thuốc Capstan trên tay, với ánh mắt buồn vui bất chợt mà đứa trẻ đa sầu đa cảm như tôi cũng mơ hồ hiểu được.
Và chẳng hiểu sao tôi vẫn nhớ như in, buổi trưa hôm ấy, tôi theo Má trên chuyến xe lam đi Chợ Cầu dự đám tang gia đình một người quen vừa có người con tử trận tại trận địa Phước Long. Chiếc xe lam dừng tại Trung Chánh đón khách, trong tiếng ồn ào hỗn độn mời chào mua bán, một giọng hát ma mị từ chiếc radio của quán nước gần đó, rót vào hồn tôi và ở lại cho đến tận bây giờ, đầy cảm xúc chơi vơi:
“Mùa hè năm nay, anh sẽ đưa em rời phố thị đôi ngày …”.
Có lẽ đó là chút gam màu xám buồn trên bức tranh rực rỡ “Miền Nam Mến Yêu” của tuổi thơ, tôi nguyện sẽ ôm ấp suốt cuộc đời này!

Tháng Tư Đen 2021

KIM LOAN


THƯ GỬI CHỒNG CẢI TẠO

Anh ạ, từ khi anh vắng nhà
Hộ khẩu bốn người, nay còn ba
Gạo châu củi quế, đời vất vả
Thương lắm con thơ, tội mẹ già

Sổ lương thực, mỗi người 9 ký
Vừa gạo, vừa khoai, vừa bo bo
Qua ngày đoạn tháng đời dâu bể
Em chạy chợ trời, cũng tạm no

Mua miếng thịt, mớ rau, khúc củi
Xếp hàng cả ngày, vã mồ hôi
Cô mậu dịch bán hàng phách lối
Mặt xỉa mày sưng. Khổ thêm thôi

Chắt chiu, dành dụm chờ thăm nuôi
Tóp mỡ, tôm khô, nếp nấu xôi…
Lệnh đổi tiền bất ngờ giáng xuống
Mất hết gia tài rồi anh ơi

Bạn bè, người thân ít gặp nhau
Vì ai cũng đang mang nặng sầu
Thỉnh thoảng nghe tin người “đi thoát”
Mừng giùm họ, em lại ước ao

Đánh tư sản, rồi kinh tế mới
Xô đẩy bao thân phận lao đao
Chết tức tưởi trên rừng dưới suối
Em ngậm ngùi lo sợ mai sau

Công an khu vực, mắt cú vọ
Tạm trú tạm vắng, rình ngày đêm
Mỗi tháng hội họp tổ dân phố
Khủng bố tinh thần đám dân đen

Chân yếu tay mềm, nào yên thân
Phải đi thuỷ lợi, phải đào kênh
Con khóc, con đau cũng đành chịu
Bởi vì “lao động là quang vinh”

Mẹ già héo hon, rồi đổ bệnh
“Xuyên tâm liên” uống mãi chẳng lành
Mẹ xuôi tay một chiều mưa lạnh
Hơi thở sắp tàn, kêu tên anh

Và còn bao nhiêu điều khác nữa
Em không thể kể hết ra đây
Địa ngục trần gian đang vây bủa
Đồng bào Miền Nam trong đắng cay

Anh đọc thư này cẩn thận nha
Công em dấu kỹ trong gói quà
Quản giáo bắt được thì mệt đấy:
Vợ phản động! Chồng đi mút mùa!

Mai mốt em lại gửi thư “chui”
Nói hết những cảnh khổ khắp nơi
Anh cứ làm bộ “học tập tốt”
Chờ đọc thư em kể chuyện đời!

Edmonton Tháng 4 Đen 2020

KIM LOAN

Ý HỢP TÂM ĐẦU LÀ ĐÔI TA

Nhận thư anh, em đọc một mạch
Chưa kịp cảm ơn người đưa tin
Dân mình mến thương tù “cải tạo”
Nhiệt tình chuyển giúp dù không quen

Ý hợp tâm đầu, là đôi ta
“Giải phóng” vào, tan cửa nát nhà
Anh trong tù nhỏ, đành câm nín
Tù lớn ngoài đời, em xông pha

Tai hoạ ập xuống khắp Miền Nam
Nào đâu một mình em gian nan
Lá ngọc cành vàng, em đã trải
Giờ phải đổi thay, em sẵn sàng

Nên em đảm đang lắm anh ơi
Sáng cơm nước xong, chạy chợ trời
Bám trụ Nguyễn Thông, Huỳnh Thúc Kháng
Vài hộp thuốc tây bán kiếm lời

Họp tổ dân phố, em có mặt
Gật gù “đường lối” với “chủ trương”
Giơ tay “nhất trí” và “đồng ý”
Tranh cãi làm gì. Thời nhiễu nhương

Thuỷ lợi đắp đê, em không ngại
Đạt “chỉ tiêu” vỡ đất, đào kinh
Người ta làm sao, em làm vậy
Để khỏi bị “kiểm điểm, phê bình”

Đêm đêm giấc ngủ chưa tìm đến
Em mở băng cũ nghe nhạc vàng
Những tình khúc lãng mạn thời chiến
Một thuở Sài Gòn em với anh

Ngày mai trở dậy, lại lo toan
Chầu chực mua gạo, mua khoai lang
Anh đừng lo sợ em vất vả
Em đã biết “Cả Ngày Xếp Hàng”

Em vui vì biết anh nơi ấy
Không cúi đầu, không làm “ăng-ten”
Không bán anh em, không nịnh bợ
Giữa cuộc đổi đời, trắng thay đen

Phút nghỉ ngơi trong giờ lao động
Nhìn mây trời thương nhớ vợ, con
Anh đã nuốt vào lòng tiếng khóc
Buồn riêng và buồn chung nước non

Khinh thường bọn quản giáo, cán ngố
Dốt đặc cán mai, giỏi trả thù
Ngạo mạn cười lũ khỉ lên phố
Anh ung dung giữa chốn lao tù

Đợi em nhé, lần thăm nuôi tới
Mình lại gặp nhau, lén trao thơ
Anh cứ giả vờ “học tập tốt”
Thế giới bên ngoài để em lo

Chồng ở một nơi, vợ một nơi
Vẫn gần dù khoảng cách xa xôi
Vẫn nhắn nhủ nhau cùng “phản động”
Hai đứa mình thật là xứng đôi!

Edmonton, Tháng Tư Đen 

KIM LOAN

3. ĐOÀN XUÂN THU: Thơ: Lời thầy dạy!

Lời thầy dạy!

Con xa trường, chữ không đầy lá mít,

học ít, chơi nhiều, hiểu chẳng bao nhiêu,

rơi rớt hết, chỉ một điều, con nhớ:

“Nhân chi sơ tính bản thiện!” thầy khuyên!

Lời thầy dạy, hành trang, cuộc binh đao,

nơi máu đào, sao tìm ra cái thiện?

ai gây chiến tranh giống nòi dân Việt?

gọi đồng bào! sao mải miết giết nhau?

Con đã qua biết bao nhiêu làng, xóm,

đâu giọng ầu ơ, đâu tiếng học bài?

em thơ dại, võng đưa vào cõi chết,

ca dao buồn, ru sao hết bi ai!

Con đã qua bao giáo đường đổ nát,

duy chỉ còn ngơ ngác gác lầu chuông,

chuông gọi hồn ai? chiều thôi óng ả,

Chúa gục đầu, nhỏ máu, khóc tang thương!

Con đã qua bao ngôi trường đổ nát,

duy chỉ còn ngơ ngác trống trường xưa,

vết xé, đạn thù, tanh bành mặt trống

thì làm sao con gọi bạn tựu trường?!

Tháng Tư đau thương tìm về trường cũ,

cái thiện đâu? khi nước mất, nhà tan

lời thánh hiền, phấn, bảng, thầy ngã xuống!

cái thiện thua rồi, cái ác vênh vang!

Đoàn Xuân Thu.

Melbourne.

4. KIÊN GIANG TIỂU THƯ: Truyện: Tháng Tư, niềm đau còn đó

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

TL_ThangTu.JPG

Tháng Tư, niềm đau còn đó

 

Cái thùng sắt cũ, bên ngoài đã rỉ sét vài nơi. Nó nằm ở một nơi thật khuất của tầng Basement. Bụi phủ một lớp thật dầy trên mặt, chắc cũng lâu lắm rồi chẳng ai buồn mở đến nó. Thế mà sáng hôm nay hai đứa con gái tôi dọn dẹp nhà cửa, tự nhiên hai chị em nó khệ nệ rinh cái thùng ra, và tôi nghe  loáng thoáng tiếng con Ty nói với em nó:  

- Đồ gì không hà,  My nói với Mẹ mình đem bỏ thùng rác đi. 


Tôi hốt hoảng chạy xuống. Thấy Mẹ, con My nhanh nhẩu đưa tay chỉ cái thùng và lên tiếng:

- Mẹ, con đem cái thùng nầy ra garbage nghe Mẹ, toàn là cái gì không hà. Sao Mẹ keep nó làm chi vậy. 


Tôi giật thật mạnh cái thùng từ tay con bé. Tôi nói lắp ba lắp bấp, nghèn nghẹn: 

- Con bỏ cái gì thì bỏ. Còn cái thùng kia và tất cả đồ đạc trong đó giữ nguyên cho Mẹ. 


Nhìn thấy cái cảm xúc tột cùng của Mẹ, hai chị em nó lấm lét đưa mắt nhìn nhau. Chừng như tụi nó không hiểu chuyện gì liên quan giữa Mẹ nó với cái thùng sắt cũ kỹ nầy. Con Ty khẽ bảo:

- Mấy cái đồ trong thùng cũ quá rồi. Còn dùng được nữa đâu. Mẹ để chi cho chật nhà. Như cái khăn nầy Mẹ coi nè... Vừa nói nó vừa kéo cái khăn trong thùng ra.


 Lâu ngày mùi ẩm mốc xông lên làm con bé quay mặt đi. Tôi ngồi bệt xuống. Hai tay ôm lấy đầu. Nước mắt ứa ra.Tay thẫn thờ ve vuốt từ cái nón, từ cái khăn mặt, từ bộ đồ hôm từ giã quê nhà trốn chui trốn nhũi  xuống tàu để ra đi. Tôi run run cầm cây muỗng ăn cơm hồi ở trại, cây muỗng mà  đêm tối để chuẩn bị sáng mai xuống tàu Má đã cẩn thận nhét vào túi xách. Má vừa sắp đồ mà nước mắt Má giọt ngắn giọt dài tuôn chảy. Má nói:

- Đem theo để sang bên đó có cái muỗng mà ăn cơm con ơi.

 

Tất cả vẫn còn đó. Như chứng tích của một đoạn đời nghiệt ngã đã qua. Tại sao tôi không quên hết đoạn đường giông bão ngày nào mà ngay lúc nầy bao nhiêu hình ảnh năm xưa hiện về và về thật rõ hơn bao giờ hết ....

 

 .... Cuối cùng rồi tàu cũng cập bến Mã Lai. Bến bờ đầu tiên tôi đến trên đường đi tìm Tự Do. Đây là một căn cứ của một trạm lính cũ. Nghe mọi người bảo vậy. Đầu óc tôi choáng váng. Lúc nầy một nỗi lo sợ tột cùng vây kín tôi. Trời ơi mới đó mà tôi đã thực sự xa hẳn quê hương tôi rồi sao? và tôi sẽ đi về đâu trong những tháng ngày sắp tới. Tôi bơ vơ hơn lúc nào hết và lúc nầy tôi thèm được úp mặt vào lòng Má và khóc. Đây là lần đầu tiên tôi xa nhà trong hoàn cảnh như thế nầy? mới buổi sáng cách đây mấy ngày còn thấy Má , còn cầm tay Má, còn nghe giọng nói nghẹn ngào của Má trong buổi sáng sớm lên đường.

- Con ơi! thôi con ở lại đi con đi Má khổ lắm. Để các em con đi một mình được mà. Tôi đã nao lòng khi nhìn những giọt lệ đầm đìa trên khuôn mặt người Mẹ thân yêu đã một đời vì con và trong lúc nầy đứa con như đã sắp rời bỏ vòng tay mình mà đi và ngày về biết đến bao giờ.

 Thế mà mới đó mà giờ đây ngàn trùng cách biệt. Tôi đang đứng trên đất trời của quê người. Tôi đã ở tại trại lính Mã Lai nầy hai ngày rồi. Hai ngày mà tưởng chừng như dài cả thế kỷ. Mấy ngày đến đây thần trí tôi như mù mờ nửa tỉnh nửa mê. Đàn bà con gái được ưu tiên cho vào trạm mà ngủ song chỉ chen chúc ngồi mà ngủ vì căn phòng nhỏ xíu mà số người con nít đàn bà đã gần 20 người. Hai ngày nay từ lúc trên tàu xuống đến giờ  tôi không ăn gì cả. Mà thực ra có gì mà ăn đâu. Đồ ăn đem theo của chủ tàu có lẽ còn nhiều song lúc nầy hình như sự chia sớt khó mà có nữa. Ai cũng phòng thân mình, còn đâu mà nghĩ tới kẻ khác. Hôm mới đến, cả tàu được mấy anh lính Mã Lai cho mấy hộp cá mòi nhỏ xíu. Mấy hộp cá bỏ vào soong cho thêm nước và muối làm sao mà chia đủ cho 49 người trên tàu. Thiên hạ tranh nhau giành giựt lẫn nhau vì miếng ăn la ó, chửi bới um sùm. Chưa bao giờ tôi chạm phải hoàn cảnh khốn cùng như lúc nầy.Tôi ngồi yên ở một góc phòng và khóc. Một  cô bé học trò cũ đến đây có lẽ từ mấy ngày trước  đem đến cho cô giáo chén cơm nhỏ xíu khoảng mấy muỗng và có một miếng cá mòi nhợt nhạt màu. Cô bé khẽ cầm tay tôi ngập ngừng  trao chén cơm và nói:

- Cô rán ăn một chút đi cô. Em rán tranh lấy được một chút cho Cô. Mấy ngày nay em thấy cô có ăn gì đâu. Đừng buồn nữa Cô. Em biết cô khổ lắm.

Tôi ôm chầm lấy em và nức nở khóc. Tôi tủi thân hơn lúc nào hết.

Con bé lấy khăn lau nước mắt cho cô giáo, chợt hỏi tôi: 

- Cô đi có một mình sao Cô?

Tôi thuật em nghe chuyến rời quê hương mấy ngày trước, chị em tôi lạc mất nhau, các em tôi đi từ buổi chiều hôm trước. Tôi còn nán lại để lãnh lương sau cùng  cuả tháng để lại cho má tôi. Bao nhiêu vàng vòng đều bán sạch để mua chỗ cho mấy chị em tôi. Tôi đi rồi má tôi mới sống làm sao đây...Khi tôi lên được tàu lớn thì chẳng thấy bóng dáng tụi nó đâu cả. Trên tàu kẻ lạc vợ, kẻ lạc chồng song tàu phải đi thôi không thể quay về. Con bé học trò cũng kể lễ:

- Em cũng lạc má em. Không biết má em có bị bắt không?

Vừa nói nó đưa tay quẹt nước mắt, thút thít khóc. Con bé đến đây một mình. Tôi cũng một mình. Cô trò tôi  gặp nhau trong hoàn cảnh đáng thương cùng cực  nơi đất trời lạ xa nầy. 

TL_Tau.jpg

Mấy ngày sau chúng tôi được chuyển sang trại Cây Dương, nơi đây rộng rãi hơn, nhưng chỉ cây là cây, không một bóng nhà. Thì ra đây cũng là một hòn đảo không người ở. Cô trò tôi theo người ta đi kéo lá về cất nhà để ở. Chẳng mấy chốc mà các túp lều che nắng che mưa được dựng lên để  mọi người có chỗ trú thân. Tôi kêu em về ở chung với tôi cho có bạn. Dù sao cô trò tôi cũng còn có nhau nương nhau để mà sống. Sáng nào hai cô trò cũng len lỏi vào rừng tìm coi có rau gì ăn được thì hái. Có lần gặp được một rừng rau dềnh. Tôi mừng quá đưa tay ngắt một lá và ngửi. Thì ra đúng y chang là mùi rau dềnh . Tôi mừng quá, kêu lên:

- Rau dềnh em ơi.

 Song là loại rau dềnh dại, không phải loại được trông nên màu xanh và hơi có lông chứ không màu tím thẫm như ở bên nhà. Hôm ấy sau thành quả hái được cô trò tôi ăn rau dềnh  luộc một bữa no nê từ sáng đến chiều. Nhớ lúc ăn con bé học trò chừng   như sợ sợ. Con bé  nói:

- Không biết phải rau dềnh không cô. Mùi thì y chang. Hỏng biết mình ăn có sao không nữa?

Tôi cười và bảo:

- Có sao  mai không thức dậy thì biết liền. Giờ thì tất cả đã vào trong bụng rồi. Sợ chi cho mệt hả em ?

Hơn 1/2 tháng không một cọng rau trong người nên mặc dù nói thế cô trò tôi chẳng mấy chốc thanh toán sạch sành sanh hết soong rau luộc.

Sáng hôm sau thức dậy mới biết không sao, mới biết là mình còn sống. Con nhỏ học trò cười khúc khích khi thức dậy và bảo:

- Cô với em gan thiệt, nhưng không sao cô há. Mai mình đi lại chỗ đó hái nữa nghe Cô ...

 

 Rồi cũng không có dịp đi hái rau dềnh lần nữa, chúng tôi được dời sang trại chính thức Cheratin trên đất liền. Nơi đây có chỗ sẵn để ở và Cao Uỷ Tị Nạn sẽ đến để phỏng vấn và bốc đi định cự Hình như là một căn cứ quân sự cũ của Mã Lai nên không phải lo việc cất nhà như bên Cây Dương. Thực phẩm được Hội hồng thập tự cung cấp, mỗi tuần có rau tươi, thịt tươi. Đời sống tương đối hơn, có miếng ăn để mà sống. Ai có tiền có thể nhờ tụi lính Mã Lai mua đồ bên ngoài vào ăn. Các thùng Supply cho người tị nạn thì là đồ hộp. Thùng nào may mắn có mì gói lúc đó là niềm hạnh phúc vô cùng. Chiều chiều cô trò tôi theo người trong trại xuống bến đón những thuyền mới tới hy vọng xem có gặp được người thân của mình. Hôm nay có một thuyền vừa cập bến. Mọi người nhốn nháo đổ xô xuống bến tìm người. Người từ tàu lần lượt lên đất liền như những bóng ma từ cõi chết trở về. Từng người , từng người  một. Không có em tôi. Người cuối cùng trong đoàn người trên taù lên là một cô gái  rất trẻ khoảng 18 thôi. Khuôn mặt em còn đầy nhừng nét kinh hoàng. Em đi như không vững , vừa đến bờ em quỵ xuống bất tỉnh. Người ta vây chung quanh em, đỡ em và  đưa em về bệnh xá. Tôi nghe loáng thoáng ai nói sau lưng "Tội nghiệp .Con nhỏ đó bị hải tặc ...".Tôi nghe mà rưng rưng, thương cho thân phận nữ nhi trong cảnh nước mất nhà tan. Sau hôm đó tôi đi tìm em tôi đem em về ở chung với tôi. Tôi vỗ về ẹm. Tôi săn sóc những  vết đau  còn trên thân thể em. Chiều nào cũng vậy, em một mình  ra bờ biển em ngồi. Em khóc. Có lần em bảo tôi  em muốn tự tử mà chết  để quên chuyện nhục nhằn đã  qua cho trọn với người tình ở lại. 

Em khóc mà bảo rằng:

- Em khổ lắm, không còn gì nữa cô ơi. 
Tôi vuốt tóc em, dịu dàng nói:
- Can đảm lên em ơi. Cả một đất nước điêu linh, không riêng gì chúng mình đâu em.


Rồi cuối cùng tôi cũng đi định cư. Em ở lại chờ giấy bảo lãnh. Nghe tôi xin đi Canada người ta hù tôi đủ chuyện nào là  bên ấy lạnh lắm sẽ chết chịu không nổi đâu. Bước xuống máy bay thở ra là đã đông thành nước đá song tôi bình thản vô cùng và tôi nghĩ rằng người ta ở được thì mình ở được và bất cứ nơi nào cũng khá hơn nơi chốn mà tôi đã bỏ đi, và trong tàu đi tôi là người đi định cư đầu tiên vì ai cũng chờ để đi Mỹ. Hôm từ giã để chia tay lên đường mỗi người mỗi ngã, ai cũng không cầm được nước mắt . 

 

Thế mà hơn bốn  mươi năm trôi qua. Chuyện ngày xưa của gần nửa thế kỷ qua như mới ngày nào.  Bao giờ cho tôi quên đây . Tôi mân mê từng kỷ vật còn lại của quãng đường đi tìm tự do ngày nào.... Từ  cái mũ đen. Từ Chiếc áo bà ba màu trắng ngày nào  đã vàng theo năm tháng, cái áo màu gạch tôm có thêu hoa cúc của em học trò tặng tôi hôm tôi lên đường định cự. Tôi nhớ hoài buổi tối hôm đó khi em ngập ngừng đến lều tôi ở trao chiếc áo cho tôi  mà nghẹn ngào nói:

- Mai cô đi rồi không biết có lần Thầy Trò gặp lại. Em có chiếc áo nầy em mang theo lúc vượt biên. Em xin tặng Cô để cô mặc tươm tất hơn bữa cô lên phi cơ nghe Cô, để mỗi lần cô thấy Nó cô nhớ đến em . Đó là Mai Xuân cô bé học trò Lâm Quang Ky  con của Cô giáo Mai trường Nam Tiểu Học ngày nào. Bây giờ 40 năm sau chiếc áo vẫn còn đây mà người học trò xưa  đã ra người thiên cổ bên trời viễn xứ ...

 

Con gái tôi ngồi yên lặng nảy giờ nghe Mẹ trầm buồn kể cho con nghe chuyện thật thương tâm mà đây là lần đâù con được nghe. Tôi thấy có giọt lệ nào đong đầy trên khóe mắt con tôi. Con tôi nắm tay Mẹ như san sẻ cùng Mẹ nỗi buồn mà người mang theo từ bao năm qua. Con nhẹ nhàng xếp lại những món đồ kỷ niệm của Mẹ vào thùng như cũ. Con khẽ bảo:

- Con hiểu rồi Mẹ. Con xin lỗi đã vô ý làm Mẹ buồn. 

Tôi ôm con tôi và tôi chạnh nhớ người con gái chiều nao trong chuyến đi định mệnh của em. Ngày ấy em cùng trạc tuổi con gái tôi lúc nầy. Không biết bây giờ người em gái năm xưa ra sao? Em ở đâu? em có hạnh phúc bên chồng con và  còn nhớ gì chuyện đau thương ngày cũ ...


Em còn nhớ không em?
Tháng tư ơi! Niềm đau ngày nào vẫn còn đó trong tôi.

TL_ThangTu_girlwalkinginrain.jpg

Kiên Giang Tiểu Thư

5. ANH TÚ: Thơ: Từ thuở đó

TỪ THUỞ ĐÓ...

 

Thuở nào tháng tư nắng nồng nhắc nhớ

Hè về phượng hồng rợp bóng sân trường

Gắng ôn bài thi cuối năm tròn điểm

Thầy cô khen và cha mẹ trọn thương

 

Nôn nóng chờ ba tháng hè hào hứng

Lãng mạn chia tay giã bộ luyến lưu

Với ai đó rưng rưng ghi lưu bút

Ngây ngô vào vai Chức Nữ Chàng Ngưu.

****

Thuở nào tháng tư, xuân còn quanh quẩn

Bảo giông bất ngờ cuồng nộ cuốn phăng

Ngày nắng mặt trời buồn không muốn chiếu

Đêm âm u sầu trăng lắm sao băng.

 

Từ thuở đó tháng tư luôn ảm đạm

Riêng mình tôi, thử hỏi có còn ai?

Dầu khi vui vẫn thấy màu bi thảm

Vết thương lòng này! Miên viễn không phai?

 

Anh Tú

Tháng Tư 2021

AnhTu_TuThuoDo.JPG

6. KIM OANH: Truyện: Thiên thu ngời sáng

KimOanh_soldiers.JPG

 - Con thức dậy đi con.

Mới 6 tuổi đầu, ăn chưa no lo chưa tới cho dù trời sập cũng không hay, mà má con bé cứ gọi nó thức hoài….

- Con ơi, dậy đi con, lẹ lên.

- Má ơi, con buồn ngủ quá.

- Dậy đốt đèn học bài đi con.

- Con học thuộc hết rồi má ơi, để sáng con dậy ôn lại.

Lăn qua trở lại trong tiếng trả lời nhừa nhựa, má con bé cũng cố nài nỉ …. kề bên tai nó.

- Dậy đốt đèn lên, lính đi hành quân về kìa con. Con dậy đốt đèn để người ta biết mình còn thức mà gõ cửa.

- Má nói Ba đi má, 

- Hổng được đâu con, ba con làm vậy ông kẹ bắt ba đi đó. 

 

Tiếng thì thào nhỏ xíu trong tai con bé, nhưng lần này con bé vùng ngồi dậy khi nghe hai tiếng “ông kẹ” nó sợ điếng hồn. Thì ra không sợ ông Trời sập mà con bé sợ ông Kẹ sao?!

- Mà chi vậy má?

- Con biết không con đốt đèn đem ra phòng khách ngồi, đọc bài cho lớn tiếng, để các chú lính biết nhà mình còn thức, họ mới dám gõ cửa xin nấu cơm nhờ nghen con. Tội nghiệp họ lắm khuya khoắt mà bụng dạ không có hột cơm…..

KimOanh_GMC.JPG

Con bé tỉnh táo ngay, nhanh chân thọt đôi guốc và đi đốt đèn, làm y như lời má nói. 

Trong ngôi làng Trung Ngãi nhỏ, mới 8 giờ tối đã yên giấc, xe nhà binh đổ quân về, tiếng hô tập họp điểm danh nghe…rụp…rụp…. ở nhà lồng chợ rõ mồn một. 

Đấy là lần thứ ba lính về làng và đến nhà con bé gõ cửa, mở cửa ra, nhìn những gương mặt quen thuộc của lần trước, nên chẳng những gia đình mà con bé cũng vui mừng khôn tả, như mỗi mùa hè anh chị nó từ tỉnh về, được dịp vòi vĩnh bánh kẹo và nghe chuyện cổ tích ngày xưa.

- Dạ, chào hai bác.

- Dạ, chào các cháu. Tiếng cậu lần đầu đã thay vào tiếng cháu thân thiết.

- Hai bác làm ơn cho chúng cháu tá túc ngoài hiên và cho xin chút lửa củi nấu cơm được không bác.

Trung Uý Hùng vừa hỏi, tay xoa đầu con bé. Các anh khác cũng cười tươi và nhìn con bé trìu mến.

- Các cháu cứ tự nhiên, tối nay bác không khoá cửa, để các cháu có thể sử dụng nhà bếp với giếng nước sân sau.

- Cám ơn hai bác nhiều.

 

Chưa kịp xoay lưng đi, má con bé hạ giọng nói nhỏ, các cháu cứ đốt củi lên cho có khói đi, khỏi nấu gì hết.( vì sợ bên kia biết được thì nguy) Hai bác có sẵn cơm và thức ăn đó nghen.

Trong ánh mắt ngạc nhiên, con bé ra dấu cho chú lính cúi xuống thì thầm “ Anh biết không, hồi nãy lúc các anh vừa xuống xe, ba em đốt lò dầu nấu cơm hết rồi”

Các anh phì cười, vuốt tóc con bé và khen ngoan.

- Mà sao em thức khuya vậy?

Con bé lại làm ra vẻ quan trọng, “ em ngủ rồi nhưng ba má kêu em dậy đốt đèn làm bộ học vì sợ các anh không dám gọi cửa đó chứ”. Ánh mắt các anh nhìn ba má con bé chứa chan lòng biết ơn và xúc động.

- Thôi các cháu ra giếng tắm rửa đi rồi ăn kẻo đói.

Sau khi ăn xong, má con bé lấy những chiếc gối thêu trắng tinh để dành cho khách đến nhà ngủ qua đêm, sắp sẵn trên hai bộ đi-văn ở nhà khách và nhà ngang cho các anh ngả lưng. Nhưng các anh từ chối vì không được phép vào nhà dân ngủ. Chỉ tá túc ở hàng ba.

- Các cháu cứ tự nhiên đi, cực khổ lắm rồi về được nhà thì cứ hưởng chút nào hay chút đó đi các cháu.

 

Bắt đầu từ đêm đó cho những đêm khác, con nít được tha hồ chơi giỡn mà không sợ “ông kẹ’ nào, đi học qua cầu Giồng Ké không phập phồng mìn nổ, không lo súng đụng độ ở Phú Tiên, bỏ lớp bò càng tránh lằn đạn oan nghiệt.

KimOanh_soldiers_2.JPG

Lần đóng quân này, vào dịp hè, nên các chị của con bé từ Vĩnh Long về nghỉ hè, phụ ba má trông em, nên con bé được các anh cưng gấp bội. Nhưng cũng cực hơn vì làm con én đưa thư…

Con bé hồi đó nhỏ xíu có biết gì, các anh bảo đưa thư cho chị rồi cho bé quà, quà mà con bé thích nhất là phần lương thực khô của các anh…hi..hi…

Mà rầu nhứt là thư các anh đi mà thư chị thì không về (ngày xưa nhát quá mà), nên con bé bị các anh hạch hỏi đủ điều, làm con bé không được nhảy dây, chơi chòi với bạn. 

 

Trong trí nhớ nhỏ của con bé thời ấy, Trung Úy Hùng đưa thư cho chị Ba, chị không trả lời là con bé bị kềm chân không được đi, cho đến lúc chị ba đi tìm bé kèm tiếng Pháp… thì Trung Úy Hùng mới được dịp trò chuyện với chị. Mà hai người nói gì con bé có hiểu đâu, anh chị nói toàn tiếng Pháp không hà.

Anh Thy thổi kèn tập họp thì để ý chi Năm.Chú Lùn ( bị gọi vậy luôn) trên cánh tay xăm chữ “ Xa quê hương nhớ Mẹ hiền”, chú Lùn để ý chị Sáu, chú hay hát vọng cổ vì chú thích nghệ sĩ Mỹ Châu. Chú rút tấm hình trong túi nói “anh thích chị Sáu cũng như vầy nè….”

Anh Bá thì thương con nhỏ nhứt, mỗi chiều con bé chơi nhảy cò cò hay nhảy dây đều nghe anh nói với má con bé.

- Bác biết không, con ao ước khi nào giải ngũ, có gia đình được một đứa con ngoan và xinh như con bé, con cưng hết biết luôn. (làm con bé mắc cỡ đỏ mặt)

Anh Bá thường kể chuyện đời xưa cho con bé nghe, anh Nhuận,Trung Sĩ già (các anh gọi vậy đó) dạy con nít hát, kể chuyện vui.

 

Mấy người hàng xóm nói má con bé.

- Chị Mười gan nhe, nhà chị con gái lớn hết mà chị cho lính ở, không sợ sao?

- Sợ gì, mấy cậu đó hiền khô và họ đàng hoàng lắm. Có họ về làng mình đâu có nhà nào đóng cửa, đâu có trộm cắp. Ban đêm ngủ ngon giấc tới sáng béc mà. Phải không?

- Ờ hé, chị Mười nói tụi tui mới để ý nghen.

 

Mà thật có sai đâu, các anh lính Sư Đoàn 9 Bộ Binh ấy rất hiền lành, có ăn học, còn rất trẻ, lòng hy sinh vô bờ bến đối với Quốc gia dân tộc. Hình ảnh ấy, ai mà không ngưỡng mộ chứ!

Làng có các anh về, trẻ con được cắp sách đến trường không lo lắng. Người dân buôn bán tấp nập không sợ sệt. Một cảnh sắc an bình và đầy sức sống. 

 

Sáng sáng ba má con bé dậy rất sớm, làm đủ thứ bánh để các anh ăn sáng, các anh ngại ngần từ chối nhưng làm sao từ chối được tấm lòng yêu lính của ba má con bé.

Mà lúc nào má con bé cũng nhắc “ các cháu thay phiên vào nhà ăn đừng ăn ngoài sân, kẻo không các cháu đi rồi, bác trai bị nguy” 

Ngày các anh đi, lúc nào cũng có những túi lương thực khô ba má con nhỏ làm sẵn nhét vào ba lô các anh đi. Túi gạo rang ngào đường, tôm khô, muối tiêu rang, nấm rơm phơi khô….

Con bé thì được các anh nhét vào tay bánh kẹo…vui nhiều mà buồn không ít…

 

Từ những năm 66 trở về sau, lúc nào con bé cũng nghe những điệp khúc mà ba má thường nói với con “Đời lính chiến sống nay chết mai, phải thương họ nhe con. Ra đi vậy đó chớ không biết có trở về không. Mình phải biết nhớ ơn họ nhe các con”

KimOanh_soldiers_3.JPG

Thời gian trôi… trôi đi con bé trở thành thiếu nữ, những hình ảnh người lính in đậm trong trái tim và khối óc của nó, con bé đã yêu lính tự bao giờ. Đêm đêm học bài bên chiếc radio, chương trình Dạ Lan đã mang những người lính từ rừng sâu, nước đọng đến gần con bé hơn. Dù những người chưa biết mặt biết tên, nhưng tình yêu vô hình ấy đã làm tâm hồn cô bé dậy thì những nỗi nhớ và niềm thương vương vấn.

Chương trình nhạc Tiếng Hát Đôi Mươi của Nhật Trường cũng đã khơi vào lòng con bé những hình ảnh hiên ngang và anh dũng của các anh. Họ là thư sinh sớm rời ghế nhà trường, hy sinh tuổi trẻ, ước mơ, lặn lội bùn sình nơi rừng thiêng nước độc mang ấm no, an bình cho mọi người. Hình ảnh Người Lính Việt Nam Cộng Hòa kiên cường, bất khuất đã khắc sâu vào lòng con bé một cách mãnh liệt.

Thơ gửi ra chiến trường từ căn lớp nhỏ cũng đủ ấp ủ giấc mơ hồng của người em gái nhỏ hậu phương.


Rồi mai nếu ... anh không về nữa
Em bên thềm tựa cửa chờ trông
Bức thơ xưa nét bút viết rong
Trong ngăn cặp một thời áo trắng

 

 

Nhờ các anh mà quê hương thanh bình, con bé được hai buổi đến trường, áo lụa quần là, cặp sách vui vẻ hồn nhiên. Má thấy con gái lớn lên thường nhắc nhở “ Con gái lớn rồi, ra đường có bị lính chọc đừng khinh chê người ta nghen con, mỗi khi họ đi hành quân về có chọc ghẹo là lẽ thường, cho họ xã căng thẳng đi”

 

Tấm lòng của ba má cũng thấm dần vào tấm lòng của chị em con bé… từ từ lớn dần và lớn dần theo thời gian, không bao giờ phai nhạt.

Tiếc là sau trận Tết Mậu Thân, làng cháy rụi ra tro, gia đình con bé bỏ làng ra đi, không còn được gặp các anh và nghe được tiếng nói cười trìu mến xa xưa. các anh không còn được ba má con bé chăm sóc ân cần sau những buổi hành quân trở về. Hay trước phút lên đường.

 

Rồi nếu mai ... anh không về nữa
Con đường xưa im vắng bước chân
Người dần xa... tình vẫn rất gần
Nghe hơi thở lâng lâng nỗi nhớ
………………
Nếu ngày mai... anh không về nữa
Tình bạc đầu.. gõ cửa thiên thu!!!

KimOanh_nghiatrangQD.JPG

Tháng Tư 1975, tình cảm ấy càng đậm nét hơn, niềm mơ ước của con bé vẫn mong tìm được người bạn tâm đầu là lính Cộng Hòa xưa.Dù họ đã ngã ngựa, không còn gì nhưng họ lại có tất cả nét kiêu hùng và trọn tình với Tổ Quốc với toàn dân. 

Ngày Ba má sắp ra đi, vẫn ao ước nói với các con,“ ráng có dịp tìm lại được mấy người lính hồi xưa đóng quân ở nhà mình nghen con, không biết bây giờ sống chết ra sao.” Sau câu nói của má là tiếng chép miệng thở dài não nuột…. đôi mắt buồn xa xăm…..

 

Tình thương yêu tha thiết ấy, nên mỗi tháng Tư về lòng đau thật là đau. Nghe đoạn nhạc, đọc lời văn, câu thơ, xem hình ảnh nói về các anh, những ngày tháng gian nguy của các anh, không thể cầm được nước mắt… nghẹn ngào….

 

Thật không biết giờ đây các anh ấy ở đâu và có còn không? Hy vọng nhỏ nhoi, lời tâm tình này được Trời cao đưa đến các anh. Các anh chắc cũng không quên ngôi làng Trung Ngãi, quận Vũng Liêm, tỉnh Vĩnh Long. Nơi những người dân quê mộc mạc chân tình mãi mãi nhớ đến các anh và tình thương yêu này cũng dành cho tất cả những người chiến sĩ thuộc các binh chủng khác ở khắp mọi miền đất nước Việt Nam ngày nào. 

Cho dù nay họ biệt xứ ra đi, người lưu đày ở lại, hay là một phế binh nhưng đối với con bé ngày xưa mãi mãi anh là vì sao tỏa sáng.

Một nén nhang lòng tri ân những vị Anh Hùng… Thiên Thu Ngời Sáng. 

Nén nhang cầu nguyện Hòa Bình, Tự Do cho Việt Nam, cầu cho tất cả Người dân Việt khắp nơi được an lành trong nỗi đau … Tháng Tư.!

 

 

Người Lính Chiến! Anh không bao giờ chết
Thương yêu này xin dành hết cho anh
Yêu màu áo anh pha xanh rừng lá
Yêu núi rừng với tất cả nhớ mong

Tình Lính Chiến bay vút cao trời lộng
Thơm hương đời gối mộng ngủ nghìn thu
Dù mưa âm u nắng úa sương mù
Người Lính Chiến vẫn thiên thu ngời sáng!

 

 

Kim Oanh
Úc Châu, viết cho 30-4-2013

7- GIÁNG XƯA & TRẦM VÂN: Thơ tranh: Nỗi buồn Tháng Tư

GiangXua_VIET CHO THANG TU GOI NGUOI O L
TV_Nopi buon ly biet.png

8- NGUYỄN ĐẤU LỘC: Thơ: Tiếng quốc kêu...

Tiếng quốc kêu ... 

“dậy đi anh, quê hương đang réo gọi,

đồng bào ơi, mau thức dậy lên đường.

giăc bên ngoài, đang o ép chiếm biên cương,

thù trong nước, luôn cúi lòn dâng lảnh thổ!” 

cảm ơn em, người thư sinh tuổi trẻ, 

nhưng có trái tim nhân dũng lớn vô cùng,

biết đau buồn theo vận nước điêu linh

dám đứng dậy khi núi sông kêu gọi! 

cảm ơn em đã gọi tôi thức dậy, 

bao năm dài, luôn sợ hãi trốn trong chăn,

ngại hiểm nguy, sợ tù tôi khó khăn, 

nên nhắm mắt nằm im ”chờ sung rụng”! 

cảm ơn em đã gọi tôi thức dậy, 

chia sẻ với bạn bè bao vấn nạn của quê hương.

nắm chặt tay nhau, cùng đứng dậy, kiên cường 

thắp sáng niềm tin, phá màn đen tìm ánh sáng. 

nguyễn đấu lộc 

XƯỚNG HỌA: SAU THÁNG TƯ

Sông Thu, Đỗ Chiêu Đức, Mai Xuân Thanh

SAU CHIẾN TRANH

 

Tôi đã đi qua các xóm làng

Chiến tranh tàn phá đến tan hoang

Những khu rừng cũ cây trơ trụi

Những hố bom xưa cỏ úa vàng

Những trẻ cút côi mong mảnh áo

Những người cô phụ chít khăn tang

Mả mồ hiu quạnh không hương khói

Và một nỗi buồn như vết loang...

 

                                         Sông Thu

                                         ( 12/04/2021 )

 

Họa Vận :

 

       SAU CHIẾN TRANH

 

Chiến tranh tàn phá khắp thôn làng,

Lập lại "hòa bình" vẫn phế hoang!

Cấm chợ ngăn sông phường chủ đỏ,

Đói cơm rách áo lũ dân vàng.

Vượt biên lắm kẻ thà chôn xác,

Cải tạo bao nhà chịu tóc tang !

Sao chẳng thương đồng bào ruột thịt?

Vết thương dân tộc cứ dần loang!...

 

                                     Đỗ Chiêu Đức

                                      04-12-2021

 

Họa Vận : Hòa Bình Lập Lại...!

 

( Qua thơ " SAU CHIẾN TRANH " - SÔNG THU )

 

Hòa bình lập lại khắp buôn làng

Cuốc bẫm cày sâu vỡ đất hoang

Bắt bớ "thuyền nhân" nơi biển nóng

Giam cầm "công chức" phía cờ vàng

Cô nhi cực khổ lo cơm áo

Quả phụ tảo tần chít vải tang

Cửa nát, gia đình phân tứ tán

Nhà tan lệ đỗ máu đào loang...!

 

                                       Mai Xuân Thanh

                                          April 13, 2021

 

 

__________________________

HAI TRẦU đọc Thơ Nguyễn Cát Đông

 

Nguồn:

http://thatsonchaudoc.com/banviet2/HaiTrau/HoiKy/TGTP_VaiCAmNghiSauKhiDocThoNCD.htm

VÀI CẢM NGHĨ SAU KHI ĐỌC THƠ NGUYỄN CÁT ĐÔNG

 

 

 

 

 

Chân dung nhà thơ Nguyễn Cát Đông - Trần Bang Thạch.

[Nguồn: Trang nhà Phan Thanh Giản & Đoàn Thị Điểm (Cần Thơ)]


Nhà văn Trần Bang Thạch, trước 1975 ký bút hiệu Nguyễn Cát Đông. Thuở nhỏ, anh học các lớp Sơ học, Tiểu học ở làng quê, lớn lên học trường Trung học Phan Thanh Giản  (Cần Thơ), rồi tiếp tục lên Sài Gòn học Đại Học Văn Khoa và Đại Học Sư Phạm Sài Gòn; ra trường 1970, được bổ nhiệm về dạy tại trường Trung học Thủ Khoa Nghĩa (Châu Đốc), trường Cao Đảng Sư Phạm Long Xuyên (địa điểm trường Thoại Ngọc Hầu cũ).


Nguyễn Cát Đông, vốn là một người được nuôi dưỡng bằng chất liệu phù sa vùng đồng bằng làng Thường Thạnh Đông, quận Châu Thành (Cái Răng), tỉnh Cần Thơ, nên người đọc bắt gặp nhiều ký ức của tác giả qua những vần thơ viết về miền sông nước ấy từ những ngày thơ ấu theo mẹ tản cư chạy giặc trên những cánh đồng đầy đưng, lác:


“Giữa tiếng đạn bom mỗi lần chạy giặc
Giữa lác, đưng, đỉa, muỗi Trà Lồng
Đôi tay mẹ như mây trời bát ngát
Một cánh cò vất vả nuôi con.”


Và rồi, những địa danh thân thiết tự thuở nào của một vùng quê hương lại hiện diện trong thơ anh như dòng nước ngọt nuôi dưỡng những mảnh vườn, những cánh đồng xa xăm cùng những bến sông nhộn nhịp mà sung túc, trù mật ấy của một thời:


“Ngun ngút đồng xanh Thác Lác, Bà Đầm

Tấp nập ghe xuồng Ngã Bảy, Ngã Năm

Cam ngọt Trường Long, khóm thơm Long Mỹ

Rộn rịp hát đình Bình Thủy, Cái Răng”

 (Mẹ Cần Thơ)


Vốn là một một giáo sư còn rất trẻ vào cái thuở mới bước chân vào đời, rất yêu nghề và thương học trò, người thầy cũ giờ cũng ôm ấp trong lòng nỗi nhớ những phấn trắng, những bảng đen, những trường lớp và những học trò cùng biết bao kỷ niệm êm đềm nhiều khi “mắt ướt giữa sương khói chiều” nào!


“Nghe sao lạ những ngói vôi
lạ em giữa lớp, lạ tôi giữa trường
hạt mưa nào rớt qua đường
hay tôi mắt ướt giữa sương khói chiều!”

(Khúc lạ trường)


Có những khi nắng sớm mưa chiều, có những lúc vì dòng đời dời đổi …, thế rồi, nghề dạy học không còn được như ngày nào vừa cao thượng vừa hoa mộng, vừa cần thiết mà bổ ích, nên có lúc người thầy cũ nghe lòng mình bồi hồi nhớ lại những gì thân ái của một thời yêu dấu ấy:


“Em trong cửa lớp nhìn ra
Ta ngoài cửa lớp thấy ta một thời
những thầy,

những bạn,

những tôi
những cơn mộng cũ

ngồi nơi góc nào?!”

(Khúc lạ lớp)

Để rồi từ đó, người thầy cũ chợt nhớ lại mình có lúc cũng đã từng say sưa giảng cho nhiều lớp học trò về những vần thơ tiễn chồng ra mặt trận với “trống trường thành lung lay bóng nguyệt” vừa hùng hồn vừa cảm động, mà nay sao lòng cảm thấy mình lại lạ lẵm với chính mình:


“Vẳng nghe tiếng trống trường thành
với câu chinh phụ còn quanh chỗ ngồi
người xưa?

người đã đi rồi!
còn đây tiếng phấn nhẹ rơi giữa ngày!”

(Khúc lạ thầy)


Các cái “lạ” mà tôi vừa mời bạn cùng tôi lướt qua vài “khúc lạ” ấy cũng chính là những niềm hạnh phúc của một khoảng đời của người thầy cũ! Nỗi nhớ ấy dường như nó bàng bạc đâu đó trong trái tim, trong tâm hồn của người thi sĩ ấy chừng như tha thiết lắm, như một từ-khúc xé lòng của bàn với ghế, của thầy với trò, của hôm qua và hôm nay…, mãi hoài không lúc nào có thể quên đi được…:


“Ghế với bàn là kỷ niệm xưa

hay kỷ niệm ghi trên bàn ghế?

Ngồi xuống đi em. Ngồi lâu lâu nhé

để nâng từng kỷ niệm lâu lâu


Có thật là tuổi trẻ qua mau

hay tuổi trẻ đang ngồi ở đó

giữa ghế bàn im và khung cửa nhỏ

chờ ta về dẫu có trăm năm


Những ảnh những hình tưởng đã biệt tăm

bỗng trở lại bằng xương bằng thịt

một ít chỗ kia, chỗ nầy một ít

cũng no đầy một dãy hành lang


Người trở về dẫu nếp da nhăn

dẫu phiêu bạc chân trời góc bể

Vết phấn xưa nghe chừng vẫn trẻ

Tiếng nhỏ đọc bài ngọt sớt như xưa


Bất kể là người về tới hay chưa

vẫn nghe tiếng trống trường giục giã

vẫn tiếng guốc cầu thang thong thả

vẫn thân tình tiếng gọi mầy tao


Em bây giờ vẫn nét xanh xao

của sách vở tú hai tú một

dẫu em có quần bò, áo mốt

thì cũng em guốc mộc áo dài


Kính mời em dừng lại nơi đây

chỗ tay vịn cầu thang tới lớp

Đứng bên em vẫn nghe hồi hộp

Như ngày xưa hồi hộp bên em


Có điều gì em muốn nói thêm

muốn cười, khóc... hay chi cũng được

Bàn ghế đó: khung trời buổi trước

sẽ theo ta cười, khóc trọn đời


Ghế với bàn, bàn với ghế ta ơi!

Cứ ngồi đó chờ ta trở lại.


(Bàn Với Ghế Ta Ơi)


Xưa nay, dường như không có thi sĩ nào làm thơ hay mà không biết mơ mộng… Hồi còn nhỏ mới ê a học thơ vài ba bài lúc còn ngồi ghế nhà trường, tôi thường nghe thi sĩ Hàn Mặc Tử rao bán trăng:“Ai mua trăng, tôi bán trăng cho…” Vâng, chính cái điều không tưởng tượng nổi có người muốn rao “bán trăng” vì quá đa tình ấy, làm người đọc thế hệ chúng tôi cứ mỗi lần nhắc tới Hàn Mặc Tử là cứ nhớ câu thơ rất quen thuộc nằm lòng!


Nhưng với nhà thơ Nguyễn Cát Đông, anh không muốn rao bán trăng như Hàn Mặc Tử nữa vì, trước nhứt, anh không muốn bắt chước người nổi tiếng; thứ nữa là việc rao bán trăng như vậy đã thuộc về cái thời dĩ vãng qua lâu rồi, không còn hợp thời của Nguyễn Cát Đông của thời buổi bây giờ … Vả lại, nếu anh muốn bán, thì “trăng xưa” của Nguyễn Cát Đông cũng đã “lạc” mất lâu rồi, còn đâu nữa để một lần mà rao với bán!


“Khi người về dẫm dấu chân xưa

có nghe tiếng đìu hiu rất lạ

Lau lách cũ bên dòng kinh ngọn lã

chừng như quen, như lạ người về


Vẫn ngàn năm con cuốc gọi hè

Tiếng bìm bịp nghe trầm con nước lớn

Người dẫu thấy lời chim đoài đoạn

Cũng không ngờ người đoài đoạn hơn chim


Con trăng nào vẫn đậu mái tây hiên

Khăn lụa tím còn phơi bờ giậu

Đã thật xa một mùa trăng cũ

sao trên khăn còn giọt vắn giọt dài


Bếp thẩn thờ nhả khói chiều nay

hồn thục nữ chìm sâu bến đợi

Tình buổi ấy cũng buồn như khói

nên thành mây lạc bến xa bờ


để người về mất dấu trăng xưa

Chim vườn cũ nghe chừng cũng lạc

thì đừng trách lầu không hoàng hạc

chỉ còn nghe lá rụng hiên ngoài


Mỏn một đời đá nát vàng phai

Tàn một cánh hường nhan phận bạc

nên nửa mảnh trăng thề đã khác

đã phôi pha tự buổi xuân tàn!”


(Trăng xưa cũng lạc)

Trần Bang Thạch


Xin mở ở đây một dấu ngoặc để lướt qua một chút về cách dùng chữ “Mỏn một đời”  trong đoạn kết bài thơ vừa rồi của tác giả quá đặc sắc; trước nhứt vì nó quá giản dị, quá gần gũi mà khó dùng vì nó không chứa chút gì chất thơ với thẩn trong đó nhưng nó lại rất là thơ; thứ nữa, nhóm ba chữ ấy nó mang lại cái tứ thơ rất lạ mà hàm súc bởi lẽ “mỏn một đời” là diễn tả được cái cùng cực của một phận người như người ta thường nói “mỏn chí, mỏn dạ, mỏn hơi, mỏn lòng, mỏn sức…” thì ““mỏn một đời”, theo tôi, nó bao hàm tất cả ý nghĩa của những chữ mà tôi vừa lược kể vậy. Bạn không thấy tác giả rất cực khi lựa chọn những chữ này cho câu thơ của anh sao?


Giờ xin trở lại, trong dòng đời trôi, cứ trôi đi mãi không ngừng ấy, đôi lúc “nửa mảnh trăng thề đã khác/ đã phôi pha tự buổi xuân tàn!”,  có lẽ vì để “trăng xưa” mà “ cũng lạc”  nên Nguyễn Cát Đông bị trăng bắt đền, nên anh phải làm rất nhiều thơ về “trăng”.

Chẳng hạn, có một lần, tác giả đã“say trăng”:


“Dù em là nguyệt hay trăng

Thì em cũng vẫn là Hằng Nga tôi

Cao sang em ngự cõi trời

Tôi tên tục tử suốt đời say trăng”

(Say trăng)


Rồi chàng thi sĩ Nguyễn Cát Đông của làng Thường Thạnh Đông của Cái Răng, Cần Thơ thuở ấy, có lần lại ngủ giữa vườn trăng chìm ngập những trữ tình, những lãng đãng của một thời say đắm với ánh trăng treo trên lá trên cành hoặc trăng trôi trên dòng sông trăng bất tận với những cánh bướm, những nụ hoa vàng bông cải cùng tiếng chim sẻ bên hiên nhà chợt thức giấc, cùng những “nụ tình ngập ánh trăng chơi”…:


“Em vô tình

thả rớt một dòng trăng

để cánh bướm vườn khuya mất ngủ

luống cải tàn đông

cũng ngậm trăng mà xôn xao kết nụ

tôi cũng nghe mình đầy ứ một vườn trăng


trăng chảy ngọt ngào

trăng chảy mênh mông

đôi chim sẻ bên hàng hiên chợt thức

chợt chấp chới môi tìm môi ướt

trăng đậm như tình

trăng mộng như thơ


một cánh cửa hồn tôi bỗng hé, đâu ngờ

để em dạo gót hồng thư thả

Em là hương, là trăng

là sóng vàng rộn rã

chảy hiền từ

qua từng ngõ ngách tôi


tôi ngủ hiền từ

giữa nhánh trăng trôi

giữa một vườn em

vườn trăng tình tự


có một lúc, hình như, bỗng nở

mấy nụ thơ tình ngập ánh trăng chơi


Em, một vườn trăng

Vàng một vườn tôi”

(vườn trăng)


Với tám chữ bình dị, mộc mạc mà đơn giản, không trau chuốt cầu kỳ gì mà thi nhân vừa thay lời kết cho những vần thơ vừa kể về trăng, ở đó trăng và người hòa quyện lấy nhau không rời quả là quá đẹp, quá trữ tình và quá lãng mạn:

“Em, một vườn trăng

Vàng một vườn tôi”


Thêm nữa, trong thơ Nguyễn Cát Đông, người đọc bắt gặp trăng lúc nào cũng chan hòa vào một hình tượng có thật như là tóc, như là bông để chúng ta có những câu thơ vẽ nên bức thanh thủy mặc mà giàu cảm xúc, lung linh, sống động…

Xin mời bạn, dưới đây là mấy vần thơ về “tóc trăng” ngọt ngào mà tha thiết:


“Em về tóc nhuộm màu trăng
Tôi mòn con mắt giữa hằng hà sao
Áo hoa hay má em đào
Nghe trong sắc lụa có hào quang em
Ngọt câu tình tự lời chim
Hay lời tôi nghẹn giữa im lặng chờ
Bước em. Bước khẽ. Bước hờ
Em mông lung để vật vờ bước tôi

Cuối đường tóc chảy trăng trôi
Em trong cửa khép. Tôi nơi cõi ngoài

Trăng về ngủ muộn trong mây
Tóc em ngủ muộn trên ngày tháng tôi”


(Tóc trăng)


Và, bài “trăng hoa” với câu thơ ngắt nhịp từng chập, từng chập mà bồi hồi…:


“Rừng bỗng thấp
Thấp
Mù đại lãnh
Núi khốc khô
Đá rớt
Địa tầng
Mầm bỗng nhú từ nghìn thu đọng
Phút định hình hoa động tình trăng.”
(Trăng hoa)


Dường như nhà thơ Nguyễn Cát Đông không có in thơ thành sách, nhưng thơ anh còn rất nhiều, nhiều lắm, rải rác trên các trang mạng, phần nhiều ngự trị trên trang nhà Phan Thanh Giản & Đoàn Thị Điểm (Cần Thơ) mà anh là người chủ bút, hầu hết đều tha thiết, như trong những bài ​“Tháng tư, nhớ Sài Gòn”, “Tiếng cười em”, “Hạt tình”, “ Cây si”, “Ví dầu”, “Nước mắt”, “Thu rơi”, vân… vân… và còn nhiều nữa; nhưng ở đây tôi muốn mời bạn cùng thưởng thức thêm một bài thơ của Nguyễn Cát Đông rất giản dị mà đẹp; đẹp cả hình thức lẫn nội dung, bài “Chuỗi Ngọc”, mà theo thiển ý của tôi, một người nhà quê già, bạn chỉ cần liếc mắt qua một chút với chừng ấy thôi, là bạn đã nhận ra được thế nào là quý báu và hạnh phúc trong tình chồng vợ, nghĩa phu thê mấy chục năm gắn bó với nhau rồi!


Xin mời bạn:


Chuỗi Ngọc

 
“Chợt thấy tình như chuỗi ngọc châu
để anh đếm từng ngày châu ngọc
Hạt chuỗi đầu: em huyền mái tóc
Cho thơ anh suối chảy miên truờng
 
Có chút gì như chút dễ thương
Chút mộng, chút mơ, chút hờn, chút dỗi
Chỉ một chút của em mà lòng anh bão nổi
Nghe sao thương giọt nắng bên thềm
 
Nghe ngọt ngào từng hạt mưa đêm
để anh thức làm thơ. Và làm thêm nỗi nhớ
Rồi từng hạt ngọc châu tình yêu tuổi nhỏ
nối dài thêm xâu chuỗi ân tình

Một đoạn đường dài, vạn nẽo chông chênh
Ta nắm chặt tay vượt ngàn thương khó
Hương lửa ba sinh ngọt ngào từng hơi thở
Hun tình yêu nồng thắm đến bây giờ

Tạ ơn Người Tình-Người Vợ-Người Thơ
Đã hết dạ cùng anh kết tròn xâu chuỗi ngọc”

(Nguyễn Cát Đông- Trần Bang Thạch)


Tóm lại, sau khi đọc một số các bài thơ của nhà thơ Nguyễn Cát Đông-Trần-Bang Thạch trên trang nhà Phan Thanh Giản & Đoàn Thị Điểm, tôi nhận ra được ở những trang thơ ấy cái hơi thơ của tác giả nó phảng phất cái nét văn chương rất uyên bác của một nhà mô phạm mà khiêm cung, bình dân và ân cần; cái giản dị của chữ dùng mà bàng bạc một tấm lòng chơn chất của người con xa quê không lúc nào quên mình là nhà quê, là dân vườn, là dân ruộng. Thêm nữa, Nguyễn Cát Đông còn là một người học trò già luôn ghi khắc trong tâm tấm lòng nhớ ơn thầy cũ của mình và chính anh lại là một người thầy cũ nhớ trường, nhớ lớp, nhớ bàn, nhớ ghế, nhớ bạn và nhớ học trò ngày nào của anh nữa, không dứt…. Đặc biệt, tác giả còn là một người bạn đời chung thủy rất mực với “Tạ ơn Người Tình-Người Vợ-Người Thơ/ Đã hết dạ cùng anh kết tròn xâu chuỗi ngọc”!


Ôi, đẹp biết bao!


Hai Trầu

Houston, ngày 17.01.2021

_____________________________

ba.JPG.w300h453.jpg

Hai Trầu

 

VÀI VẬT DỤNG CẦN THIẾT TRONG ĐỜI SỐNG Ở NHÀ QUÊ

 

Lời mở

 

Trước hết tôi xin chân thành cảm ơn trang nhà của Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc, trang nhà Thất Sơn Châu Đôc của chị Nguyễn Thị Lộc Tưởng, cảm ơn nhà văn Khiêm Cung –Dương Văn Chung đã phác họa hình cái đáy bắt cá và đặc biệt cảm ơn bạn Thái Lý đã bỏ thời giờ quí báu đi sưu tầm và chụp cho nhiều hình ảnh (chiếm khoảng 96%) cho bài viết này. Nếu không có những hình ảnh của các anh chị và của bạn Thái Lý thì bài viết dưới đây chắc chắn là rất khô khan và vô cùng thiếu sót.

 

Một lần nữa xin thành thật cảm ơn các anh chị và Thái Lý nhiều lắm.

 

Trân trọng,

Hai Trầu

Houston-Lấp Vò ngày 27.12.2020

---

 

VÀI VẬT DỤNG CẦN THIẾT TRONG ĐỜI SỐNG Ở NHÀ QUÊ


 

Nhắc tới nhà quê ở miền Tây là nhắc tới những làng mạc nằm dọc theo các kinh rạch chằng chịt với hình ảnh các cây cầu khỉ, cầu ván nằm rải rác khắp mọi nơi; đồng thời nhắc đến đời sống ở nhà quê vùng sông nước này cách nay sáu bảy chục năm, tức là nhắc tới đời sống nông nghiệp nên không thể không nhắc tới những dụng cụ cùng các vật dụng cần thiết mà mỗi nhà đều phải có dù ít hay nhiều tùy theo công việc đồng áng cùng điều kiện tài chánh gia mỗi đình mà dân quê cần mua sắm để có mà dùng tùy theo mỗi vụ mùa; mà ở nhà quê lại có rất nhiều mùa (*) nên việc nhắc lại các vật dụng cần thiết ngày trước mà ngày nay ít người còn nhớ qua những ký ức nghèo nàn của một người nhà quê già có lẽ là một việc cũng nên khuyến khích… 

haiTrau_cầu ván cầu khỉ.JPG
hai Trầu_Cầu rạch Tân Bình.JPG

I/ Lu hũ khạp…

 

Trước nhứt, là việc nước nôi cần trong đời sống mỗi ngày. Mặc dù làng mạc miền Nam, làng nào cũng nằm cặp theo các dòng sông rạch nên nước sát bên bến sông nhưng bạn cũng cần phải có những dụng cụ để chứa nước dùng trong việc nấu nướng, ăn uống hoặc tắm giặt. Do vậy mà dân quê cần có những lu hũ, những ảng, những khạp để chứa nước. Rồi hồi xưa làm gì có máy bơm để bơm nước lên chứa trong các lu khạp ấy, do vậy mà dân quê mới chế ra cách đan những chiếc gàu bằng tre, rồi trét chay lên những chiếc gàu ấy vừa để nước không bị chảy ra mỗi khi dùng gàu gánh nước vừa để chiếc gàu được dùng lâu mà không bị hư hao. Gàu thì phải có cặp, có đôi, và phải gánh đôi gàu lên vai mà gánh nước từ dưới sông lên nhà; từ đó có thêm cái đòn gánh làm bằng tre cật, mỏng, cứng chắc lấy từ gốc tre già làm đòn gánh. Nước gánh lên nhà ở nhà quê chứa vào các lu khạp này, rồi lóng phèn chua nhằm làm cho bùn lắng xuống để nước trong mà dùng.

 

Trong các lu chứa nước, thì cái lu nước uống ngay mái hiên mỗi nhà từ ngoài sân bước vào, thường nhà nào cũng dùng cái kiệu còn gọi là cái ché để đựng nước. Cái kiệu màu da lươn, gần miệng kiệu có đắp hình con rồng cho có vẻ vừa đẹp vừa thanh bai, sạch sẽ. Ở gần đáy kiệu hơi tóp lại, gần miệng kiệu phình ra và miệng kiệu thì hơi túm lại một chút. Trên miệng kiệu có nắp bằng thiết hoặc bằng ván để đậy miệng kiệu hầu tránh bụi bặm và có một cái gáo dừa hoặc có cái ca bằng nhôm úp lên nắp kiệu để múc nước.

 

Tiếp đến là các loại lu lớn, lu nhỏ dùng chứa nước hoặc đựng muối mắm trong nhà. Lu lớn chứa cỡ ba giạ trở lên gọi là mái để phân biệt với lu nhỏ. Những loại lu gọi là mái này có hai loại là mái đầm và mái vú. Mái vú là loại lu có sức chứa khoảng từ ba giạ lúa hột trở lên, các lò sản xuất có đấp thêm bốn cái núm gần miệng lu để dễ nắm, để vịn vào khi di chuyển. Loại mái đầm là loại lu lớn nhưng không có núm như mái vú và thấp hơn. Các vùng nước mặn hoặc vủng nước pha chè miệt gần biển người ta dùng các loại lu lớn này để chứa nước mưa vì nó chứa được nhiều nước. Các vùng khác, nhứt là các vùng nước ngọt người ta không cần chứa nước nhiều như các vùng miệt nước mặn nên mái đầm, mái vú được sử dụng trong việc chứa lúa giống, giú chuối hoặc dùng để đựng mắm; nhứt là các vùng Mặc Cần Dưng, Cầu Số Năm, Vĩnh Hanh, Cần Đăng, Trà Kiết, Định Mỹ, Ba Bần, Phú Hòa thuộc Long Xuyên hoặc các vùng An Phú, Tịnh Biên, Tri Tôn, Tân Châu thuộc Châu Đốc người ta dùng các loại lu lớn này để làm mắm vì các vùng vừa kể tới mùa tát đìa, tát mương, làm lóng cá đen, cá đồng rất nhiều, lu khạp nhỏ chứa mắm hổng đủ.

 

Khạp da bò là loại lu có màu da bò, trơn láng, miệng và đáy tương đối gần bằng nhau, đường kính của miệng khạp khoảng 8 tấc tây, bề cao cũng khoảng chừng cao hơn đầu gối. Mỗi khạp đều có nắp đậy. Các loại khạp này có lúc dùng chứa nước nhưng thông dụng nhứt ở các vùng có cá linh người ta dùng khạp da bò để ủ nước mắm cá linh vào mùa cá ra sông vào tháng 10, tháng 11 âm lịch. Mỗi khạp da bò có thể ủ được một giạ rưỡi cá linh tươi mới bắt lên khỏi mặt nước. Với số lượng cá như vậy, tùy theo kinh nghiệm mỗi người mà dùng lượng muối cho vừa nước vừa cái; thông thường trung bình là năm lít muối cho một khạp ủ 1 giạ rưỡi cá linh thì nước mắm ngon; nếu quá lượng muối này thì nước mắm bị mặn hoặc lượng muối ít hơn thì mắm bị trở, bị hư. Cách ủ mắm thì cứ một lớp cá, rải một lớp muối và cứ rải đều như vậy, đậy nắp kín, để ngoài nắng, sau khoảng ba tháng mở nắp ra xem thấy mắm có mùi thơm là có thể múc mắm ra nồi nấu cho nước mắm sôi lên, để nguội và múc mắm trong nồi đổ vào cái rổ thưa có trải khăn lượt để lượt nước mắm. Nước mắm mới lượt này gọi là nước nước mắm nhứt, nước mắm nguyên chất, rất thơm và ngon. Để tiết kiệm, người ta đổ nước thêm và nấu xác mắm vừa lượt xong nầy thêm một lần nữa và khi nồi nước mắm này sôi cũng múc ra rổ lượt như lần trước gọi là nước mắm nhì; tuy nước mắm nhì nhưng hồi đó ở nhà quê bà con vẫn thấy nước mắm nhì còn rất ngon dùng để kho cá, kho thịt còn tốt hơn ngày nay dùng nước mắm đựng trong chai bán ở các chợ… thiếu hẳn chất cá nguyên chất.

 

Tiếp nữa, còn có những lu nhỏ hình ống, miệng và đáy lu có đường kính cỡ ba tấc và có sức chứa khoảng 20 lít, da lu màu sậm, thường dùng để đựng đường mía ở các lò đường hoặc chứa mắm muối dùng trong nhà; loại lu nhỏ này được gọi là hũ như hũ đường, hũ mắm. Còn cái ảng là một dụng cụ bằng sành, đáy lớn, miệng rộng, chiều cao khoảng khỏi đầu gối, dùng để chứa nước đặt tại các cầu tắm giặt nơi ao hồ hoặc các bến sông trước nhà để tiện múc nước chứa và tiện dụng luôn thể. Hồi đời trước vào mùa hè trời oi bức thường hay có các dịch bịnh, ở nhà quê người ta dùng các ảng miệng lớn này pha nước vôi để trẻ nhỏ tắm khỏi bị bịnh.

Hai Trầu_Lu nuoc.JPG
Hai Trầu_DHNgoc và chiếc kiệu.jpg
haitrau_kiệu.jpg
Hai Trầu_Khạp.JPG

Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc bên kiệu đưng nước uống ở Bình Quới (Sài Gòn) [Trang nhà Bs Đỗ Hồng Ngọc  ngày 20.11.2020]

II/ Vật dụng trong nhà

 

Vì đời sống ở nhà quê là đời sống nông nghiệp mang tính tự túc, tự lực; nên hồi đời xưa mỗi nhà tự xay lúa lấy gạo để nấu ăn nên nhà nào cũng phải sắm một cái cối xay lúa. Cối xay lúa thường thường làm bằng tre và xảm đất sét cho cái cối có trọng lượng khá nặng để khi mình đẩy giằng xaythì sức nặng ấy ma sát vỏ lúa và làm tróc mấy vỏ lúa này, gọi là trấu. Mỗi cối xay lúa gồm có hai thớt. Thớt dưới cố đinh, thớt trên xoay quanh một cái trục có chiều cao chừng năm phân tây, trục cố định này có tên gọi là ngỗng cối. Thớt trên có hai tai cối đối xứng nhau và mỗi tai cối có lỗ tròn để khi xay lúa mình máng cái giằng xay vô cái lỗ tròn này để xay lúa. Cái giằng xay hình chữ T (còn gọi cần xay hay cán cối xay dài), nơi đầu giằng xay có hình ngang chữ T được buộc lên đòn tay nhà, hoặc trính nhà hay buộc lên nhánh cây lớn vững chắc; còn đầu giằng xay kia cúp xuống thành góc vuông làm thế nào để giằng xay ở thế cân bằng khi nằm ngang; ở đầu này có gắn một khúc sắt nhỏ dài cỡ một tấc được đặt vô một trong hai cái lổ tròn chỗ hai tai cối xay. Thế rồi, muốn xay lúa người ta đổ lúa vô cối xay và đứng ở cuối giằng xay và bắt đầu đẩy giằng xay theo chiều kim đồng hồ; khi cối được chuyển động như vậy thì hột lúa bắt đầu được rút xuống và hai thớt cối với các răng cối ngược chiều nhau làm vỏ lúa từ từ trốc ra và còn lại hột gạo theo các kẽ của răng cối đẩy ra chiếc đệm lót sẵn dưới đáy cối để hứng gạo. Xay hết cối lúa này người ta đổ thêm lúa vào và xay tiếp cối lúa khác cho đến khi nào số lúa mình muốn xay đã xay xong thì thôi. Muốn xay lúa cho khỏe, thường có hai hoặc ba người luân phiên nhau để đẩy giằng xay hầu tránh bớt việc mỏi tay. Sau khi xay lúa xong, người ta phải dê bỏ vỏ trấu còn sót để lấy gạo. Các công đoạn xay lúa, dê trấu đều dùng đệm bàng để hứng gạo và trấu thì do gió hoặc dùng chiếu để quạt gió khi dê, cho nên trấu bay ra ngoài trên mặt đất. Sau khi dê trấu và bụi bặm bay hết rồi, lúc bấy giờ chỉ còn lại gạo và gạo này dân quê gọi là gạo lứt vì hột gạo còn lớp vỏ mỏng sậm chưa tróc nên ở nhà quê phải giã gạo này cho tróc vỏ lứt để thành gạo trắng. Sau này, mấy năm cuối thập niên 1940 các vùng Bình Hòa (Long Xuyên), Lấp Vò (Sa Đéc) và nhiều vùng khác mỗi nơi đều có nhà máy xay lúa với ống khói cao khỏi nóc nhà nên việc xay lúa lấy gạo đỡ cực hơn hồi trước nhiều nhưng gạo xay tay thì ngon cơm hơn.

 

Trong việc giã gạo thì có cối giã gạo làm bằng cây, thường thường người ta lựa khúc cây lớn rồi đục bỏ cái ruột cây để làm cối giã gạo bằng chày vồ; loại cối này vừa nặng, vừa bền ít khi bị bể hoặc xứt mẻ. Ngày xưa người ta thường giã gạo chày đôi, tức hai người đứng đối diện hai bên cối giã gạo, mỗi người cầm một cái chày, người này giã chày xuống và vừa lấy chày lên thì người kia tiếp theo quết chày xuống và cứ tuần tự như vậy mà không bị quết trúng lẫn nhau cho tới khi nào cối gạo được giã trắng thì thôi. Có trường hợp những đêm trăng sáng tụ họp vui chơi có thêm người thứ ba nữa, các động tác quết chày xuống và lấy chày lên cũng luân phiên liên tục như vậy, người ta gọi là giã gạo chày ba. Để cho vui, những đêm trăng ở nhà quê cùng nhau giã gạo vui lắm! 

 

Gạo giã tùy theo mình muốn giã trắng thì giã hơi lâu và nặng tay một chút, còn muốn giã lứt thì giã nhẹ tay hơn để lớp cám mỏng còn dính lại chút ít nơi hột gạo; sau khi giã gạo xong là tới màn sàng gạo để loại các loại tấm cám ra và chỉ còn lại gạo trộng. Muốn sàng gạo như vậy, trước tiên phải sắm cái sàng. Sàng được đan bằng trúc hoặc tre mà các rẻ tre trúc này phải được chẻ mỏng và chuốt cho bóng láng. Có hai loại sàng: sàng thưa và sàng dày. Sàng thưa để bắt thóc, và sàng dày để bắt tấm. Cử động khi muốn sàng bắt thóc hay bắt tấm người ta cầm cái sàng bằng hai tay và cứ xoay cái sàng nửa vòng tròn qua tay mặt rồi qua trở qua tay trái một cách uyển chuyển, nhẹ nhàng và cứ lắc như vậy cho tới khi thấy trên sàng còn lại gạo nguyên hột gọi là gạo trộng. Hết sàng này bắt đầu trúc gạo vô thúng và sàng tiếp cho tới khi nào xong thì thôi.

 

Thường thường khi muốn sàng gạo người trả trải dưới đất một chiếc đệm bàng để hứng tấm hoặc cám; nhưng có khi người ta không dùng đệm mà lại dùng cái nia hứng bên dưới, vậy nên trong nhà phải sắm thêm cái nia. Cái nia được đan ( còn gọi là đương) bằng tre hay trúc, đáy nia cạn, có vành cứng, đường kính chừng 8 tấc đến một thước tây hoặc lớn hơn tùy ý thích của mỗi người. Thường thường nia, rổ, sàng do chính chủ nhà chẻ tre trúc để đan, nhưng có người cũng ra chợ mua các dụng cụ này; những loại rổ, sàng, nia mua ở chợ dân quê gọi là “đồ hàng” tức là những đồ vật làm sẵn, mau hư, không bền như mình tự làm lấy. Vì dùng nia hứng tấm cám nên trong dân gian có tục ngữ “Lọt sàng xuống nia” là do vậy.

 

Ngoài cối xay lúa, nhà quê còn sắm thêm cối xay bột bằng đá. Cối có hai thớt, thớt trên và thớt dưới; miệt núi Sập, núi Ba Thê thuộc Long Xuyên chuyên sản xuất loại cối xay bột bằng đá này.

 

Ngoài ra, trong nhà bếp còn có thêm nhiều cái rế để lót nồi trách cho khỏi dính lọ vì ở nhà quê nấu ăn bằng củi nên nồi có nhiều lọ dính bên ngoài. Rế thường thường đan bằng tre hoặc trúc. Ở nhà quê người ta tự chẻ tre hoặc trúc để đan rế dùng trong nhà, nhưng có người cũng ra các tiệm bán rế đan sẵn mà mua về dùng để lót đáy nồi.

 

Về củi chụm trong bếp có hai loại củi tiêu biểu ở nhà quê là củi tre và củi săn. Củi tre là các nhánh tre được chặt ra rồi phơi khô bó lại thành từng bó để dùng trong việc nấu nướng; dân gian có câu tục ngữ “củi tre dễ nấu, chồng xấu dễ xài”; còn một loại nữa là các nhánh cây săn chắc được cưa thành từng khúc rồi bửa ra đem phơi khô, bó lại thành từng bó rồi chất vào thành từng cự để dùng trong việc nấu nướng; loại củi này dân quê gọi chung là củi săn. Những loại cây ở nhà quê ưa làm củi săn gồm các nhánh cây trồng trong vườn hoặc mọc hoang ngoài bờ mương, vườn tre như cây bần, cây gáo, nhánh sao, nhánh dầu, cây bằng lăng, cây mù u, nhánh xoài, cây me nước…, cây nào cũng có nhưng nếu các loại cây nhánh ấy trước khi muốn làm củi mà được ngâm trong nước dưới mương, dưới ao cá hoặc dưới hầm một thời gian rồi mới vớt lên làm củi thì củi cháy rất tốt, dân quê gọi cháy rất “đượm”. Các nhánh chà người ta chất trên sông, sau khi mãn mùa chà nếu đem số chà này làm củi thì hết sẩy! Lửa cháy đượm lắm, hổng có khói!

 

Tóm lại, vì cần phải cưa cây, bửa củi nên trong nhà phải sắm thêm cây cưa và vài cái búa nữa. Cưa thì có cưa tay; búa thì có búa nhỏ bửa củi, búa tài-xồi (ở nhà quê còn gọi là “búa kinh”) tức là loại búa lưỡi lớn, cán dài, phải đứng cầm búa mới bửa những khúc củi lớn ra thành những miếng củi vừa phải; rồi dùng búa nhỏ vừa với tay cầm để chẻ những miếng củi này ra từng miếng củi nhỏ để dễ chụm trong cà rang.

 

Ở nhà quê có cái vui là trước khi có đám tiệc lớn như đám giỗ hằng năm hoặc sắp có đám hỏi, đám cưới người ta chuẩn bị cưa cây hoặc mé nhánh cây sao, cây dầu rồi đem ngâm nước cho rụng hết lá rồi vớt lên chặt ra làm củi để chụm lửa trong việc nấu nướng đám tiệc. Hồi đời trước có tục đi làm rể; tức là sau khi chàng trai đi hỏi vợ rồi, chờ tới ngày làm lễ cưới có khi vài ba năm mới làm đám cưới được vì chờ ngày tháng cho hạp, thì chàng rể tương lai phải qua nhà gái làm rể; nhứt là mấy tháng gần tới ngày cưới, chàng rể tương lại phải ở lại nhà gái làm những công việc như tiếp bửa củi lo đám cưới, tiếp che nhà khách vân.vân… Có nhiều nhà gái có ý muốn thử sức chàng rể bèn đem những gốc bằng lăng, gốc sao, gốc mù u là các loại gốc cây rất dẻo nên rất khó bửa để cho chàng rể thử bửa làm củi. Sau khi cưới được vợ về rồi sau này có con cháu đầy đàn trong lúc gia đình họp mặt vui vẻ người ta mới ngồi nhắc lại chuyện đời xưa ba đi làm rể bên ông bà ngoại bửa củi gần chết rồi cùng nhau cười rất vui và hổng có trách móc gì.

 

Thêm nữa, trong bếp lúc nào cũng có vài ba cây chổi để quét nhà. Có hai loại chổi mà ở nhà quê ưa dùng là chổi tàu cau và chổi ráng. Chổi tàu cau người ta lấy tàu cau khô trong vườn rụng xuống rồi đem tước bỏ các lá mỏng đi chỉ chừa cái cọng cứng thôi và kết nhiều tàu cau lại để làm chổi. Chổi ráng là lọai chổi làm bằng cây ráng; loại cây ráng này mọc hoang trong các vùng rừng tràm hoặc vùng nước mặn, lá dày, thân cứng; sau khi chặt ráng về người ta phơi khô và ép cho lá ráng cùng nằm một chiếu và bó lại nhiều nhánh ráng như vậy làm thành chổi. Miệt Long Xuyên, Châu Đốc, Sa Đéc không có cây ráng, nên các miệt dưới như Cà Mau, Rach Giá ghe buôn ưa chở loại chổi ráng này lên miệt trên để bán cho cư dân ở đây mua về dùng rất tiện và bền. Ngoài hai loại chổi tàu cau và chổi ráng, mấy năm sau này còn có loại chổ bông cỏ, ngọn chổi mềm, mịn thường dùng để quét các nhà có lót gạch tàu, gạch bông rất tiện.

 

Nói tới bếp núc mà không nhắc nồi trách thì còn thiếu. Dường như nhà nào cũng có một cái giàn bếp đắp bằng đất hoặc xi măng trên cái khuông bằng gốc tre hoặc bằng cây gỗ, cao cỡ chừng một thước tới 1thước 2, trên đó để được khoảng ba bốn cái cà rang hoặc vài cái lò; loại cà rang và lò làm bằng đất nung ngoài Phú Quốc (Rạch Giá) thì xài rất bền, lâu bể và có ghe buôn họ chở loại cà ràng này vô bán khắp các làng mạc vùng này. Thêm nữa nhà nào cũng có đủ thứ nồi bằng đất như nồi đất nhỏ dùng nấu cơm; nồi đất lớn hơi túm miệng, đáy bầu, hông phình, nhỏ hơn cái trã dùng hấp bánh gọi là cái trách; còn cái trã là cái trách lớn, là thứ nồi tròn bằng đất nung, đáy bầu, hông phình rộng ra, miệng trã lận vành chắc chắn có ý cho khi mình nhắc cái nồi lên xuống bếp dễ dàng và không bị xứt bể, thường dùng để nấu bắp, hấp bánh tét, bánh ú, hoặc nấu nếp quết bánh phồng dịp Tết nhứt. Ngoài ra còn có cái mẻ để kho cá. Hồi xưa, ngoài những nồi trách bằng đất, đời cố cựu còn có loại nồi đồng, mâm thau; rồi sau này mấy năm 1950 có các loại nồi nhôm, mâm nhôm, rồi tới thời kỳ có nồi làm bằng gang (gang là loại sắt có từ 2,5%  đến 6% các-bon, giòn và cứng hơn sắt) … nhưng hổng có nồi nào nấu cơm ngon cho bằng nồi đất nấu cơm gạo lúa mới và mẻ cá kho khô bỏ thêm vài chùm tiêu non đăm nhuyễn, mẻ cá kho vừa thơm vừa ngon hơn nữa! Gặp lúc bụng đói là ăn cơm hết nồi luôn!

 

Ở nhà quê do nhà nào cũng làm ruộng nên ở dân quê phải có thúng dê, thúng giạ, thúng dê đong, thúng giạ đong, thúng giạ rưỡi. Thúng dê là loại thúng nhỏ dùng để dê lúa; thúng dê đong là loại thúng dùng để xúc lúa vừa đủ 20 lít mỗi khi cần bán lúa người ta dùng thúng này để đong lúa bán bằng thùng hay bằng táu 20 lít. Còn thúng giạ là loại thúng đựng được từ một giạ lúa trở lên; thúng giạ đong là thúng dùng xúc lúa để đong bán cho bạn hàng (loại thúng này gọn nhẹ, khi xúc đầy thúng lúa để đổ vào cái giạ 40 lít khi đong lúa bán thì vừa đủ 1 giạ, hoặc dư chút ít, chứ không dư nhiều như thúng giạ thường, nên gọi là thúng giạ đong); thúng giạ rưỡi là thúng chứa được 1giạ rưỡi lúa hột. Hồi đời trước bán lúa tính bằng giạ nên các nhà có ruộng nhiều cỡ vài ba mẫu tới vài chục mẫu thường sắm thêm cái giạ lít, vừa đúng 40 lít, để đong lúa bán; ngoài ra còn sắm thêm cái táu nhỏ (còn gọi cái thùng) đựng được 20 lít, bằng nửa giạ; rồi có thêm cái lít để khi cần đong gạo, đong cám, đong đậu; một lít như vậy bằng 4 lon sữa bò hiệu con chim hồi đó hoặc hiệu ông thọ sau này! 

 

Về vật dụng trong nhà cũng không thể thiếu các loại rổ thưa, rổ dày để tiện dụng tùy theo từng công việc. Rồi thêm nhà nào trồng nhiều xoài phải có thêm vài ba cái lồng làm bằng ngọn tre xiêm, tre bông dùng để bẻ xoài; có cần xé đựng xoài; cần xé thì có cần xé đít vuông, cần xé đít bầu và hơi tròn ở bên hông, và nhiều thứ lặt vặt khác nữa…. 

Có thêm cái rổ lớn gọi là rổ xúc, vành rổ cứng, đường kính cỡ 8 tấc, đáy sâu cỡ 4 hoặc 5 tấc tây, thường dùng để xúc lùm chỗ nước sâu; và cái sịa bằng tre (viêt với chữ “s”), lỗ sịa nhỏ, đáy cạn, đường kính từ 1 thước tây trở lên dùng để xúc tép chỗ nước cạn hoặc phơi cau khô, chuối khô và còn nhiều lắm, kể hổng xiết! 

 

Tóm lại, việc nào vật nấy, dân quê cố gắng sắm sửa sao cho vừa túi tiền để có vật dụng đủ dùng trong nhà khi cần để đỡ phải mất công cái gì cũng chạy đi mượn ở hàng xóm láng giềng là rất mừng. 

 

Vài hình ảnh tiêu tiêu biểu:

Hai Trầu_chổi_vài vật dụng.jpg
Hai trầu_cần xé, rỗ.JPG
Hai Trầu_Nia, xề.jpg
Hai Trầu_Đệm bàng, xề,,,.jpg
Hai Trầu_táu, cối xây bột, ché, cà ràng.

III/ Vật dụng làm vườn, làm ruộng

 

Ở nhà quê nhà nào cũng có chút vườn, không nhiều thì ít nên nhà nào cũng sắm vài dụng cụ cần thiết để làm công việc trồng trọt, ruộng vườn này. Trước nhứt muốn lập vườn phải có cái len để đào đất. Có hai loại len: Len miểng và len thùng. Len miểng đào đất khô trên vườn; len thùng vít đất bùn dưới mương, dưới rạch bơi lên bờ chứa ở một góc nào cho đất bùn khô lại và khi đất khô lấy đất này bồi bổ mấy gốc cây ăn trái trong vườn, vì vậy, người ta còn phải sắm thêm đôi ki đan bằng tre để gánh đất hoặc phải sắm thêm cái xuổng để bứng cây con hoặc để dùng đào chuột. Xuổng thì có loại lưỡi rời bằng sắt, người ta mua về từ chợ hoặc đặt ở lò rèn họ rèn rồi đem tra cán bằng cây săn chuốt bóng để khi cầm cái xuổng không bị phồng tay; có khi người ta dùng nguyên ống sắt tròn, dài cỡ tám tấc hoặc một thước rồi nhờ lò rèn chẻ ra một đầu rèn thành cái lưỡi xuổng và cán xuổng là phần ống sắt còn lại, rất tiện lợi.

 

Việc ruộng nương rẫy bái cần thêm các dụng cụ như cái cày, cái bừa để cày phá đất, cái trục để trục đất; cái bừa thì có hai loại là bừa răng và bừa muỗng; bừa răng với răng bừa nhọn làm bằng cây hoặc bằng sắt; bừa muỗng với răng bừa bằng sắt có hình dáng như cái muỗng. Hồi đời trước nhà nào cũng có nuôi trâu bò để làm ruộng thì có thêm các vật dụng để nuôi bò như cất chuồng bò để bò ở tránh mưa tránh nắng; còn trâu thì không cần chuồng cứ có gò cao cho trâu nghỉ chưn nằm ngủ và có hầm cho trâu nằm tránh muỗi chích là được;  có thêm dây dàm (viết với chữ “d”) để cột bò trâu; có cộ trâu, cộ bò để gom lúa bông về sân; có xe trâu, xe bò để kéo lúa hột từ trên đồng về nhà; có mỏ xải (dân quê đọc trại thành “mỏ sảy”) để vít rơm, làm bã lúa khi bò trâu vừa đạp xong một bã lúa ra lúa hột; có cái bừa cào (dân quê gọi trại là “bồ cào”) để cào rơm, cào cỏ; có lưỡi hái để căt lúa, cắt cỏ bò; có cái phãng để phát cỏ (phãng có nhiều loại như phãng cổ cò có cái chuôi eo lại dùng phát ruộng sâu; phãng gai loại phãng hơi ngắn dùng để chặt bố; phãng giò nai là loại phãng có cái chuôi dài dùng để phát ruộng khô hoặc ruộng cạn đều được); có cù ngoèo (đọc trại là cù nèo, cù ngoéo) dùng để vừa kéo cỏ gom lại để phát cỏ cho dễ mà cũng vừa để đỡ lưỡi phãng không bị trượt trúng vô chưn, vô giò; có vài cái chét đễ dành giẫy cỏ sân lúa, cỏ vườn, cỏ rẫy bắp, rẫy đậu... Ngoài ra, còn có thêm cái cuốc để cuốc đất vô chưn mía hoặc cuốc đất lên giồng trồng khoai lang; cuốc thì có cuốc tai tượng là thông dụng vì nó bén và hơi bủm (hơi trũng lòng) nên xúc đất được nhiều; sở dĩ gọi cuốc tai tượng vì lưỡi cuốc có bề mặt lớn cúp vô giống như lổ tai voi; bên cạnh có có cái cúp với lưỡi cúp thẳng để xới đất cục cho nhỏ ra.

 

Vài hình ảnh tiêu tiêu biểu:

Hai Trầu_Xuỗng tai chuột.jpg
Hai Trầu_Lưỡi cúp.jpg
Hai Trau_Rỗ các loại.jpg

IV/ Vật dụng chuyên chở, đi lại

 

Ở nhà quê vì là miền sông rạch chằng chịt nên phương tiện đi lại thông dụng đời xưa là xuồng bộng, ghe cộ. Xuồng thì có nhiều loại xuồng và bơi xuồng bằng giằm (viết với chữ “gi”, hổng phải “dằm”). Chẳng hạn như xuồng nhỏ thì có xuồng ba lá, xuồng câu, xuồng lườn (là loại xuồng người ta dùng nguyên một khúc cây và đục bỏ cái ruột cây đi, có mũi và lái thon nhọn, nhẹ bơi, lướt nhanh trên mặt nước); xuồng cui thì mũi và lái hơi cao lên, nặng chở dùng để chở lúa, chở vật nặng. Ghe thì có ghe tam bản, ghe cà-vom, ghe cui với mũi và lái gần bằng nhau, ghe đục tiện cho việc chuyên chở cá từ nơi này đi nơi khác mà cá vẫn còn sống vì nhờ hai bên hông ghe có đục lỗ cho nước ra vô thông thương tự nhiên với hai đầu mũi ghe và lái ghe thì có hai tấm bửng ngăn cho nước không vô được và nhờ vậy mà ghe lúc nào cũng nổi trên mặt nước như cái phao, không bị chìm. Miệt Châu Đốc còn có ghe lườn, ghe mui lón; hồi đời xưa nhiều nhà giàu có như điền chủ thường có ghe hầu, tức là loại ghe tam bản nhưng có mui dài từ trước ra sau được chạm trỗ, sơn phết chim cho đẹp để khi cần các chủ điền nay dùng loại ghe hầu này đi du ngoạn. 

 

Nguyên tắc, khi đi xuồng trên sông thì bơi bằng cây giằm, một người bơi lái, một người bơi mũi; nếu là hai vợ chồng cùng đi trên một chiếc xuồng thì vợ thường thường ngồi bơi lái, chồng bơi mũi. Người biết chuyện, ít có ai để vợ bơi mũi. Khi đi trên đồng lúa vào mùa nước ngập thì xuồng được chống bằng cây sào vì nếu bơi thì vướng lúa, xuồng đi rất chậm. Cây sào chống xuồng được làm bằng cây tầm vông phơi khô và uốn cho thẳng, láng để khi cầm sào chống tay mình không bị phồng. Còn ghe thì không bơi được mà phải chèo vì be ghe nổi lên cao, cách mặt nước rất xa. Tùy theo ghe lớn hoặc ghe nhỏ mà ở mũi ghe có một một chèo và ở phía đằng cuối chiếc ghe có hai cột chèo. Ngoài ra vì ghe lớn nên việc đi trong sông rạch gặp nhiều trở ngại nên trên ghe lúc nào cũng có vài cây sào để phòng hờ khi cần có sào để chống đỡ cho khỏi bị va chạm hoặc đụng vô đầu cầu hay những xuồng ghe khác, nhứt là lúc tấp vô đậu nơi các bến chợ đông đúc dễ bị va chạm với nhiều xuồng ghe khác. Tục ngữ có câu“Đứng mũi chịu sào”. 

 

Trường hợp ghe xuồng muốn đi xa, từ tỉnh này qua tỉnh khác, thì có tàu kéo ghe đường dài chừng nào muốn đi mình xin giòng ghe theo họ và trả tiền công. Nhiều lúc có nhiều tàu kéo một đoàn ghe xuồng dài có tới cả mấy trăm chiếc buộc dây nối đuôi nhau như vậy. Tới mùa cắt lúa, công cắt từ các tỉnh Bến Tre, Vĩnh Long, Trà Vinh muốn lên miệt Long xuyên, Châu Đốc lãnh công cắt lúa mướn, các bà con này luôn luôn phải giòng ghe xuồng theo các đoàn tàu kéo này; đến lúc mãn mùa cắt lúa, bà con từ từ bơi xuồng hoặc chèo ghe chở theo đầy lúa hột về nhà, mà trong bụng mừng vui dữ lắm vì được mùa cắt lúa trúng! Sau này, khi có máy đuôi tôm đặt sau lái ghe thì người ta mua máy gắn sau lái đi đây đi đó đỡ phải chèo ghe mỏi mệt, mà lại đi nhanh nữa

 

Khoảng cuối thập niên 1950, ở Rạch Giá có kiểu xuồng ghe nhỏ, đít bằng, mũi hơi thon và cất cao lên được gọi là ghe tắc ráng; loại ghe này gắn máy đuôi tôm ghe chạy lướt trên mặt nước rất nhanh nhờ mũi ghe cơi lên khỏi mặt nước; lúc bấy giờ ghe chạy nhanh như rắn lãi chạy và dân quê đặt tên cho loại ghe này “vỏ lãi”.

 

Tới thời kỳ cơ giới hóa nông nghiệp với máy cày, máy suốt lúa thịnh hành, để chở những chiếc máy này với sức nặng có tới cả mấy tấn, các trại đóng xuồng ghe nghĩ chế ra cách đóng các chiếc trẹt với be ván rất dày, bề ngang rộng bề dài vừa với chiều dài các chiếc máy cày, máy suốt với bề đáy cạn và di chuyên qua các kinh rạch rất thuận tiện. Ngoai việc vận chuyển máy móc như vừa kể, trẹt còn được dùng để đưa đò ngang qua sông rất thuận lợi vì chở được nhiều người như đưa rước khách bộ hành, đưa học trò qua sông đi học , mà chiếc trẹt nó cũng vững vàng nữa vì cái đáy nó bằng và lớn nên không bị lắc qua lắc lại như ghe nhỏ và nếu bến sông rộng có thể gắn máy đuôi tôm để chạy qua chạy lại mỗi chuyến cho nhanh. Hồi đời trước, ở nhà quê có sắm xe đạp để làm phương tiện đi lại trong làng, tới đầu thập niên 1950 có xe gắn máy, xe mô tô nhưng cũng ít nhà có sắm xe gắn máy; mãi tới thập niên 1960-1970 thì xe gắn máy hiệu Honda của Nhựt rất thịnh hành.

 

Vài hình ảnh tiêu tiêu biểu:

hai Trầu_trẹt, tam bản.png
hai Trầu_ xuồng, chèo đò.png
Hai Trầu_ghe cà dom, kinh Vĩnh Tế.jpg
hai Trầu_Xuồng_3.jpg
Hai Trầu_Tac rang, xuong ve chai.jpg
Hai Trầu_xuồng úp, thợ.jpg

V/ Vật dụng bắt cá tôm

 

Ở nhà quê mà lại là nhà quê miền sông rạch nhiều, mùa nước lên thì đồng ruộng mênh mông nước ôi thôi là nước nên cá tôm nhiều lắm; thành ra sống ở nhà quê nhà nào cũng sắm một ít dụng cụ giăng bắt cá tôm để làm thức ăn trong gia đình mỗi ngày; nếu có dư còn có thể mang ra chợ bán để thêm chút tiền mua dầu lửa, mua mắm muối…

 

Trước nhứt là các loại câu giăng, câu cắm, câu thả. Câu giăng thì nhà nào cũng có năm ba gắp câu giăng, mỗi gắp khoảng 100 lưỡi. Có hai loại lưỡi câu thông dụng đó là lưỡi câu uốn và lưỡi câu đúc. Lưỡi câu uốn người ta dùng dây kẻm nhỏ hoặc vừa để uốn lưỡi câu; sở dĩ người ta dùng dây kẻm vì dây kẻm cứng mà chắc, khi cá dính câu ít bị hoác, còn dây chì thì mềm nên khi gặp cá lóc lớn ăn câu câu dễ bị hoác và khi lưỡi câu mà bị hoác như vậy cá sẽ sẩy. Ở gần chợ Cái Sao (Long Xuyên) có cả một dãy chòi bên lề đường liên tỉnh số 9 chuyên môn uốn lưỡi câu các loại để bán; còn lưỡi câu đúc do nhà máy chế biến thì bán ở chợ chỗ các tiệm chuyên bán chài lưới lưỡi câu có đủ các loại lưỡi câu mà dân quê ưa dùng. Trong hai loại lưỡi câu này người ta thường uốn theo hình dáng dấu chưn con ó, hoặc hình dáng chữ U, cả hai loại lưỡi này đều có ngạnh để khi cá dính câu cá khó bị sẩy.

 

Lưỡi câu dấu ó vì giọng câu nhỏ, nên hợp với các loại cá miệng nhỏ như cá trê vàng, cá trèn, cá thác lác; lưỡi câu đúc giọng câu lớn, thích hợp với các loại cá lớn như cá lóc, cá bông, cá lăng, cá kết, cá trê trắng, cá ngác, cá tra, cá bông lau, cá vồ, cá hô, cá leo, cá kết...

 

Khi bạn có đủ dụng cụ gồm lưỡi câu, giường câu, nhợ câu (nhợ câu là loại dây gai, dây gân có độ mềm hơn giường câu, chẳng hạn giường câu dùng chỉ đậu 9, thì nhợ câu đậu 6, đậu 7, nhằm mục đích để nhợ câu dịu dàng hơn khi lưỡi câu nằm trong nước nhằm làm cho cá dạn ăn) và gắp câu, rồi thì bạn chỉ cần lấy nhợ câu dài khoảng 3 tấc và tóm lưỡi câu lại ở ngay cái chuôi của lưỡi câu; kế tiếp khi đã tóm câu xong xuôi đâu đấy thì bắt đầu buộc các lưỡi câu đó vào giường câu; để cho câu không bị rối, lúc vừa buộc câu vào giường câu xong người ta lấy lưỡi câu máng vào gắp câu; và rồi buộc tiếp lưỡi câu khác và máng vào gắp như trước cho tới khi nào xong 100 lưỡi cho mỗi gắp như vậy là xong. Nhớ là khoảng cách giữa hai lưỡi câu chia đều nhau, thường thường là khoảng cách chừng 1thước hoặc 1 thước 2 tây cho một lưỡi để khi cá ăn câu các con cá khác không bị nhát, vẫn cứ kiếm mồi và có thể ăn câu tiếp, vị chi nếu mình muốn một gắp câu gắp được 100 lưỡi thì giường câu với sợi dây nilon hoặc dây gai đậu 8 hoặc đậu 9 phải dài cỡ hơn 100 thước vừa trừ bì hai đầu giường câu để còn một khoảng cách khoảng dư cỡ 1 thước là được để khi bủa câu mình buộc vô hai cây đài cấm ở hai đầu giường câu.

 

Xin nói thêm về gắp câu hình dáng là một miếng cật tre già và dày, bề dài khoảng một gang tay tức khoảng hơn hai tấc. Sau khi kiếm miếng cật tre dày như vậy người ta mới dùng mác vót bén khoét miếng cật tre ấy thành cái rảnh nhỏ làm thế nào để khi mình máng lưỡi câu vô cái gắp nó không bị kẹt cứng mà cũng không bị lỏng qúa; vì chật quá thì khi mở lưỡi câu ra để bủa câu, câu sẽ dễ bị chậm, trở ngại; còn nếu quá lỏng lẻo, lưỡi câu dễ bị rớt ra ngoài và bị rối nùi.

 

Đó là những luồng câu dài giăng bắt cá trèn, cá thác lác, cá trê bằng mồi trùn, mồi tép và bủa trên những vạt đất rộng theo luồng giữa đồng có nhiều rong đuôi chồn hoặc mã đề vì mấy vạt đất này các loại cá này ưa ở. Còn nếu giăng câu cặp mé vườn thường thường mỗi luồng câu chỉ có khoảng 5 hoặc 10 lưỡi câu là tối đa vì giăng câu cặp mé vườn không phải chỗ nào cũng bủa câu được mà phải lựa chỗ nào êm mà mình biết là cá ưa tới đó tìm mồi; thường thường giăng câu cặp mé vườn người ta dùng mồi chạy như mồi cá linh non, mồi nhái, mồi cá sặt non, cá rô non thì loại câu này ưa dính cá lóc, vì vậy phải canh làm sao cho lưỡi câu vừa chí mí mặt nước thôi để cho con mồi chạy nhảy, bơi lội nơi mặt nước và cá thấy mồi tung tăng như vậy là chúng thích lắm và nhảy lên táp miếng mồi liền hà! Nếu để ngầm lưỡi sâu quá, cá mồi sẽ bị vướng cỏ không lội được thì có khi cá mồi sẽ bị ngộp nước và con mồi bị chết, cá hổng khoái lắm nên câu ít dính cá là do vậy. 

 

Vào tháng 9, tháng 10 âm lịch, muốn giăng câu cá lóc lớn, người ta giăng câu ngầm mùa nước nhớm giựt. Muốn giăng câu ngầm người ta phải lội xuống nước dùng lưỡi hái cắt cỏ cho trống và dọn một cái luồng dài tùy theo số câu mình muốn giăng, có khi một luồng câu dài cả mấy trăm thước. Sở dĩ dọn luồng câu vào mùa này vì câu ngầm giăng bằng mồi ốc, mồi cua nhỏ, nên có luồng trống như vậy để cua bò tới bò lui dễ dàng mà không bị vướng cỏ và cá dạn ăn câu và luồng câu cứ để một chỗ hoài, không phải dời luồng như mùa nước ngập mênh mông đầy đồng.

 

Ngoài câu giăng, ở nhà quê còn dùng câu cắm, câu thả hoặc câu rê, câu phượt, câu nhắp.

Câu cắm thì mỗi cần mỗi lưỡi và cắm dọc theo các mé mương, bờ kinh, hoặc các giồng ranh với mồi chạy hoặc mồi ốc để bắt cá trê, cá lóc; tùy loại cá, và tùy mùa có khi dùng mồi trùn, mồi cắt thì cá mới ăn nhứt là vào mùa lạnh, cá bị ê răng nên mồi cắt là thích hợp nhứt. Câu thả là loại câu người ta buộc lưỡi câu và một khúc sậy hoặc ống trúc cỡ ba bốn tấc nhằm mục đích làm cái phao cho câu nổi trên mặt nước; sau khi móc mồi xong mình mới lựa chỗ nào êm êm nhắm có cá là vạch lỗ trống để thả lưỡi câu xuống chỗ đó; khi cá đi kiếm ăn gặp mồi đang treo lơ lững dưới nước là nó ăn liền rồi bắt đầu cá lội lung tung để tìm cách thoát ra, và rồi bị vướng vô cỏ nằm đó đến khi người ta thăm câu gặp cá dính chỉ cần lấy rổ hoặc lấy vợt xúc cá vô rổ và gỡ cá thôi. Thường thường có người thả mỗi lần như vậy khoảng 100 lưỡi câu hoặc nhiều hơn và có hôm may mắ trúng chỗ cá nhiều họ kiếm được cả giỏ cá chứ hổng ít. Vui lắm!

 

Câu nhắp với với cần câu là ngọn tầm vông vừa phải và gọn chuốt cho láng; ở đầu ngọn cần câu tóm nhợ câu ngắn có chiều dài khoảng vài 2 hoặc 3 thước tây, lưỡi câu lớn; vào mùa nước giựt, người ta đi theo các gốc cây lớn dưới sông hoặc ngồi nơi mũi xuồng cầm cần câu với mồi chạy như cá linh, cá rô đồng còn nhỏ, cá sặt hoặc mồi nhái còn sống và bỏ gần mấy gốc gáo, gốc bần và nhấp nhấp, nhử nhử như vậy, mấy con cá trú ngụ theo mấy gốc cây thấy mồi lội tới lội lui chúng nhào lên ăn mồi và dính câu; người ta nhanh tay giựt mạnh cần câu là dính cá.

 

Câu rê thì cần câu là một ây trúc dài làm cần câu; ở đầu ngọn cần câu người ta tóm một nhợ câu với lưỡi câu đúc lớn để bắt cá lóc. Sở dĩ gọi câu rê vì khi quăng câu với mồi chạy móc sẵn người câu cá cầm cần câu rê qua rê lại nhằm nhử mồi cho cá thấy mồi và ăn câu. Còn câu phượt thì cũng y loại câu rê nhưng nhợ cầu dài hơn và người ta quăng lưỡi câu thật xa trên mặt kinh, mặt hồ nghe tiếng nhợ câu xé gió một cái vút vậy đó và rồi mới kéo lê nhợ câu vô mình, trên đường kéo nhợ câu cá lóc ở gần đó thấy mồi đang di chuyển là nhảy lên táp mồi liền hà; và người câu giàu kinh nghiệm khi biết cá cắn câu là họ giựt mạnh một cái là dính cá và từ từ kéo cá vô bờ rồi bắt cá. Ham lắm! Cả hai loại câu rê và câu phượt khi móc mồi người ta lấy cọng rau muống móc vô chỗ mũi lưỡi câu choàng tới chuôi lưỡi câu nhằm khi mình rê câu hoặc quăng câu rồi kéo câu rề rề trên cỏ câu không bị vướng cỏ mắc gốc.

 

Câu cần thì lưỡi câu loại nhỏ để câu cá nhỏ. Cần câu làm bằng ngọn trúc và loại câu cần nhỏ này câu nhiều loại cá như lòng tong, cá he, cá thỉu, cá rô đồng, cá rô biển, cá trèn, cá thác lác, cá dảnh, cá mè vinh; tóm lại là cá gì câu cần câu cũng được nhưng có hai loại cá miệng nhỏ và ít ăn câu là cá linh non và các sặt. Muốn bắt cá linh thì có nhiều cách như đăng đó, giăng lưới, đóng đáy, vó cất; còn muốn bắt cá sặt non thì đặt lờ hoặc giăng lưới. Hồi đời trước, dường như ở nhà quê nhà nào cũng có vài ba cần câu trong nhà để câu cá ăn mỗi ngày.

 

Câu tôm cũng là một trong những thú nhàn ở nhà quê. Ngoài việc đặt lọp, đặt lờ bắt tôm, người ta còn câu tôm bằng cần câu. Câu tôm bằng cần câu có hai loại, một loại câu có lưỡi và một loại câu không cần lưỡi. Câu có lưỡi thì lưỡi câu nhỏ và không có ngạnh vì tôm chỉ ngậm miến mồi chứ hổng có nuốt mồi nên không lưỡi câu cần ngạnh. Câu không có lưỡi người ta dùng một cọng dây chì và mồi câu là mồi trùn; loại trùn dân quê thường dùng làm mồi câu tôm là trùn hổ đất. Người ta xỏ các con trùn vô cọng dây chì  sau đó cuốn cọng dây chì này lại thành một cục mồi lớn cỡ bằng trái chanh hoặc lớn, rồi ngồi nơi mũi xuồng lựa bến vắng thả mồi và câu tôm. Cả hai cách câu tôm bằng lưỡi câu hoặc không có lưỡi dân quê đều có thêm cái lồng đèn bánh ú, cái vợt với cán dài vừa làm mái giằm vừa để vớt tôm khi tôm ăn mồi. Thí dụ bạn lựa chỗ nào nước vận, tức chỗ dòng nước vừa chảy qua rồi dội cái doi đất và nước chảy vận lại là chỗ tôm ưa ở; thế là thả câu và ngồi chờ; bạn sẽ nghe tôm nhâm nhi miếng mồi ngon lành, dao động cần câu, lúc bấy giờ bạn từ từ kéo nhẹ cần câu lên nhắm vừa tới gần mặt nước và tay kia bạn cằm sẵn cây vợt đưa nhẹ xuống nước và nhẹ nhàng hứng tôm vô vợt; mọi động tác như kéo lưỡi câu lên và đưa vợt vớt tôm bạn phải làm vừa nhanh vừa nhẹ nhàng là bạn sẽ có tôm đầy rộng, vui lắm! 

 

Còn lưới thì hồi xưa người ta đương lưới bằng chỉ, bằng gai, sau này có ni-lon người ta đương lưới bằng ni-lon. Lưới thì tùy theo loại lưới bắt cá nào thì có tên loại lưới cá nấy. Chẳng hạn lưới giăng bắt cá rô thì có lưới ca rô; lưới giăng bắt cá linh thì gọi lưới cá linh; lưới giăng bắt cá trắng thì gọi là lưới cá trắng (hoặc gọi lưới thưa vì cá trắng như cá mè vinh, cá dảnh có bề ngang lớn, có khi 6, 7 hoặc 8 phân, nên lỗ lưới cũng phải lớn theo kích thước của cá, và gọi chung là lưới thưa; trường hợp muốn giăng bắt cá hô, cá bông lau ở sông cái thì lỗ lưới cỡ một tấc tây trở lên mới bắt được mấy loại cá lớn này). Hồi đó, trung bình nhà nào cũng có ít nhứt bốn năm tay lưới mỗi loại và mỗi tay lưới dài chừng từ 50 thước tới 100 thước là thường.  Cách giăng lưới cũng tùy loại lưới mà giăng; chẳng hạn muốn giăng lưới cá linh thì lựa chỗ đồng trống, chỗ mấy cựa gà bủa lưới đón cá đi; giăng lưới cá rô thì bủa theo đường mòn giồng ranh cá rô ưa vô đó kiếm mồi; giăng lưới cá trắng trên đồng thì dọn luồng băng qua những vạt rong đuôi chồn, vạt bông súng hay mã đề các loại cá trắng ưa ở mà bủa lưới…

 

Bắt cá mùa mưa cá sắp lên đồng hoặc mùa cá ra sông vào tháng 10, tháng 11 âm lịch thì người ta dùng vó cất. Trong các nghề bắt cá thì làm nghề vó cất là nhàn nhứt. Chỉ cần hạ vó xuống và cất vó lên là có dính cá, không cần mồi, không cần dời chỗ; cứ cố định tại một địa điểm mà bắt cá hết mùa này sang mùa khác; khi nào hết mùa thì cuốn vó lại và đem phơi cho vó khô và chờ tới mùa đem ra móc vó lên bốn cái càng có sẵn và hứng cá! Trung bình từ khi hạ vó xuống tới khoảng 20 phút hoặc nửa giờ là cất vó lên một lần là có cá dính trong vó! Nhàn dư lắm!

 

Ở nhà quê, còn có nhiều dụng cụ bắt cá khác như lọp đặt bửng để bắt tôm, lọp đặt tép, lọp bắt cá chạch; rồi lờ tôm, mùa tháng 5 chạy dài tới tháng 10, tháng 11 âm lịch; tháng 5 thì đặt lờ dưới sông theo các mé cỏ dọc theo các con kinh, con rạch nhỏ; khi nước nhiều tháng 8 tháng 9 âm lịch thì dời lờ tôm lên đồng đặt mấy chỗ cựa gà nước vận tức là nước chảy qua rồi chảy vận lại là chỗ tôm ưa bò tới bò lui kiếm mồi. Nhà nào cũng sắm sửa một ít lọp, một ít lờ như vậy để đặt lọp đặt lờ bắt cá tôm. Nhà nào cũng sắm một bộ đăng đó để đuổi cá linh, cá ròng ròng và thêm một ít ống trúm để đặt lươn. Cái nôm thì cũng rất cần khi soi cá hoặc khi nước kém cần nôm cá dưới rạch lúc nước ròng sát. Trúm thì làm bằng ống tre gai loại tre có lóng dài, ruột tre bộng, lớn, chiều dài chừng 1,5 thước, một đầu để trống làm miệng trúm, một đầu chừa cái mắt bít kín làm đáy trúm, các mắt tre ở giữa thì dùng cây nhọn như cây tràm hoặc cây sắt thụt các mắt tre nhằm làm các mắt này bị bể ra để khi lươn chun vô không bị vướng lại; miệng ống trúm có một cái hom nhỏ vừa với ống tre được xỏ qua bằng một cây ghim tre nhằm giữ cái hom trúm cho khỏi bị rớt ra ngoài, đồng thời cái ghim này cũng có công dụng là khi mình đặt trúm ghim ống trúm xuống đất ống trúm không bị nước làm trôi hoặc nổi trồi lên mặt nước; đáy ống trùm cất cao lên với góc chừng 30 độ hoặc 35 độ so với bề mặt nước nằm ngang, nhằm mục đích cho lươn chun vô không bị ngộp; do vậy ở đáy ống trùm người ta nướng cây sắt tròn và giùi một cái lỗ hoặc dùng cái đục khoét một đường dài chừng một tấc nhằm làm chỗ thóat hơi để khi lươn chui vô ống trúm chúng có chỗ để thở và không chết ngột. Ngày nay, người ta chế ống trúm bằng ống nhựa, hoặc có người còn dùng rẻ tre rồi bện lại như cái lọp nhỏ, có hom và cũng có cây ghim cắm xuống đất giữ cái lọp này ở thế như đặt ống trúm ngày xưa… Tôi hổng biết đặt loại này có dính lươn nhiều hông thì thú thật tôi hổng rành và loại mới này xem ra hổng hấp dẫn cho lắm! 

 

Ngoài ra, còn có lọp đặt cua. Hồi đời trước ít ai ăn cua đặt lọp bằng mồi vì cho rằng cua mà ăn mồi thì dơ, và chỉ ăn cua vô lờ tôm vì cua này ăn mồi dừa rất béo, hoặc ăn cua đặt lọp đường ven, cua đặt bửng hoặc bắt cua trên đồng vào mùa mưa để ăn, cua sẽ sạch và ngon hơn. Ngày nay vì cua ốc khá hiếm nên có người chế ra các lờ, lọp để chuyên đặt cua đồng. Loại lờ lọp này thì nhìn vào dễ biết vì nan lờ hoặc rẻ lọp to và thô không bóng như lờ lọp đặt tôm cá. 

 

Vì muốn cá, lươn, tôm… còn sống, nhà nào cũng sắm cái rộng để rộng cá. Đại khái có mấy dụng cụ cần trong việc bắt cá tôm như vậy, xin mời bạn xem qua vài hình ảnh tượng trưng do bạn Thái Lý sưu tầm và chụp được mới đây.

 

Vài hình ảnh tiêu tiêu biểu:

Hai Trầu_vó cất, xuồng câu.jpg
Hai Trầu_cửa hàng, bắt cá rô.jpg
hai Trầu_vợt, rộng.jpg
Hai Trầu_Lưới cá, mê bồ.jpg
hai Trầu_Nôm, cần câu.jpg
Hai Trầu_Lọp.jpg
hai Trầu_Lọp đặt chồn.jpg
hai Trầu_Lọp cua.jpg
haiTrầu_sơ đồ lọp.jpg

VI. Thay lời kết

 

Qua vài nét rất sơ lược về các vật dụng cần thiết trong đời sống ở nhà quê mà tôi cố gắng nhớ và lược kể lại với bạn chỉ là một phần rất nhỏ so với thực tế đời sống ở làng quê cách nay bảy tám chục năm thôi, vì còn có nhiều loại vật dụng mà tôi không biết rành hoặc tôi không nhớ được hết do đầu óc của tôi bây giờ nó già cỗi nhiều rồi và chữ nghĩa cũng không có được mấy chữ nên không thể nào diễn tả hết ra đây được. Ngày xưa ông bà mình thường hay nhắc “nhà giàu còn thiếu mẻ kho”; và với những hồi ức này tôi chỉ có một mơ ước rất nhỏ là muốn mang tặng cho bạn cái “mẻ kho” của những ngày rất xa xưa ấy vậy!


 

Hai Trầu

Houston- Lấp Vò, ngày 27-12-2020

 

PHỤ LỤC:

 

(*) Vài mùa màng tiêu biểu ở nhà quê có thể lược kể ra trong cuốn “Mùa Màng Ngày Cũ” như dưới đây:

 

1. Mùa xoài

2. Mùa cày bừa và phát cỏ

3. Mùa dưa leo, dưa hấu, dưa gang

4. Mùa chuột

5. Mùa làm lóng, tát mương, tát đìa, làm mắm, làm khô

6. Mùa bắt lươn, bắt lịch

7. Mùa sạ lúa

8. Mùa cấy lúa

9. Mùa bắp, mùa đậu

10. Mùa bắt cóc, nhái và ếch

11. Mùa xúc lùm, nhảy hùm, quậy đìa

12. Mùa cá về đồng

13. Mùa xuống bửng, đặt lọp, đặt lờ

14. Mùa câu cá và giăng câu

15. Mùa giăng lưới

16. Mùa cá dại, chất chà , dỡ chà

17. Mùa đặt rù, kéo bò, chận ụ, làm mùng

18. Mùa bông súng, bông sen, củ co

19. Mùa màng tháng Chạp

20. Mùa cắt lúa, đạp lúa, mót lúa

21. Có những mùa chim

22. Mùa cuốc khoai lang

23. Mùa trồng kiệu

24. Mùa cua ốc

25. Mùa nước lên và nước giựt

26. Mùa ngồi tum và vớt tràm lụt

27. Mùa làm gạch

28. Mùa trồng mía và ép đường

29. Mùa trồng khóm

30. Mùa dựa rơm và đốt đồng

31. Mùa cắt cỏ cho trâu bò

32. Vài ba mùa khó quên qua năm ba vùng đất cũ.


 

                                                  =======

 

HAI TRẦU

ĐỌC VÀI BÀI THƠ CỦA ĐOÀN XUÂN THU (*)

 

Đoàn Xuân Thu, là tác giả mới đến với Thất Sơn Châu Đốc vào những ngày cuối tháng 10 năm 2008, vậy mà ông đã có 36 bài thơ trên trang nhà này. Điều đó cho thấy Đoàn Xuân Thu chuyên chú làm thơ hơn là viết văn dù ông có vài ba bài tùy bút ngắn vẽ nên nỗi niềm của mình qua những chặng đời.

 

Theo tiểu sử ghi ở phần “vài hàng về tác giả”, Đoàn Xuân Thu còn rất trẻ. Ông sanh năm 1951, tại Mỹ Tho; quê nội gốc người Chăm vùng Châu Giang. Thuở nhỏ học trung học Nguyễn Đình Chiểu (Mỹ Tho) và Trương Vĩnh Ký (Sài Gòn). Ngoài ra, được biết ông có học Đại học Văn Khoa và Sư Phạm Cần Thơ, rồi dạy học, đi lính và  làm thơ như bao chàng trai ngày ấy nhiều mộng mơ một thời lãng mạn.

 

Trong một bận hành quân ngày cũ, lúc tác giả mới chập chững quân hành, nhưng cũng nhận ra đời lính mong manh với khói thuốc lung linh vào một buổi chiều mưa ướt đồng bằng Tân Phú Trung vùng Bình Đại, Bến Tre : 

 

“Chiều! chiều mưa nhiệt đới đẫm đồng bằng,

trùm kín poncho về Tân Phú Trung

giọt ngắn, giọt dài xuôi triền nón sắt

bàn tay che khói thuốc đời mong manh.”

 (Tân Phú Trung)

 

Nhóm chữ “đẫm đồng bằng”, “xuôi triền nón sắt”, “đời mong manh” làm cho câu thơ lắng xuống, ý thơ mang mang và tứ thơ có thần hồn khiến người đọc dễ đồng cảm cùng những suy tư và nỗi niềm của tác giả.

 

Rồi người lính trận ấy cũng như bao chàng trai trẻ ở tuổi đôi mươi của thời chinh chiến cũ ấy khi bước vào đời là họ mang trong lòng cả một trời yêu dấu thiết tha với những mối tình rất lãng mạn mà chơn thật, rất ngọt ngào hương vị qua nụ hôn đầu, mà mỗi mảnh đời phiêu lãng nào mà không qua một lần những nụ hôn đầu thân ái ấy:

 

“Vườn măng cụt em đưa ta qua

trái chín đầu mùa, em chia ta một nửa.

vị măng cụt, nụ hôn đầu hai đứa

ngọt hóa đời ta, bớt những đắng cay.

 

Vườn măng cụt em đưa ta qua

trái chín đầu mùa, em chia ta một nửa.

múi măng cụt, một vầng trăng, vằng vặc

dõi theo ta trong đạn lửa quê nhà.”

(Măng cụt)

 

Chia nhau nửa trái măng chin ngọt ngào như chia nhau nụ hôn gói trọn tình nồng, người con gái vườn măng ngày ấy như cánh hoa đời tươi đẹp để cánh bướm Đoàn Xuân Thu cột chặt hồn mình với hương đồng cỏ nội ấy mãi mãi những ngày :

 

“Vườn măng cụt em đưa ta qua

trái chín đầu mùa, em chia ta một nửa.

mủ măng cụt giữ chân con bướm dại

từ phương nào sao lại lạc đến đây?”

(Măng cụt)

 

Nhưng thực tế dòng đời, nếu chỉ có thế, tức là yêu nhau rồi gần nhau và sống bên nhau trọn kiếp thì thi sĩ làm gì có những bài thơ bất hủ như “Hai sắc hoa tigôn” của TTKH, “Màu tím hoa sim” của Hữu Loan, và nhiều bài thơ khác trong vườn hoa văn học. Thế nên, Đoàn Xuân Thu cũng có những cách trở và những chia lìa cuộc tình lãng mạn nơi vườn măng cụt vào những mùa binh lửa cũ: 

 

“Thôi vĩnh biệt em! vĩnh biệt vườn măng!

ta lại băng mình trong sóng gió

vườn măng cụt: mối tình đầu ta đó 

xót tình ta, vận nước chẳng dài lâu

trúc mai chẳng được bạc đầu với nhau.

 

Nhớ mùa măng chín càng đau!”

(Măng cụt)

 

Trong một đoạn thơ khác, tác giả hé lộ cho người đọc một cách nhìn đời gần hơn về tuổi trẻ và chiến tranh, về chiến tranh và hòa bình, về chết và sống bằng những suy tư rất gần với dấu binh lửa mà rất thâm trầm trong nghĩa lý của đời sống : 

 

“Ta, đời lính, cạn ngàn ly rượu đắng

hiệp định Paris; ngày mai ngừng bắn?

chiến tranh? hòa bình? chết? sống? hư không!

buồn chi em! vạn thọ đã vàng bông!

 

Trời cuối năm, giáp tết,

sống sót đã là may!

ly rượu này, cạn hết 

cùng ta say đêm nay.”

(Cùng ta say đêm nay)

 

 

Khi dòng đời trôi, với người chân lắm tay bùn, người ta chỉ lo làm lụng cày bừa có lấy miếng cơm, họ ít mơ mộng; nhưng với tâm hồn nghệ sĩ, tác giả không khỏi bồi hồi ngồi nhớ lại tuổi đi học ngày nào. Những tà áo trắng của các cô nữ sinh trường trung học Nguyễn Đình Chiểu dịu dàng mà thanh khiết ấy là những bóng hình của một thời chôn chặt trong lòng khi chuyến tàu ra khơi rời xa bến phà Rạch Miễu mà hồn tác giả vẫn không nguôi tưởng nhớ khi chợt nhớ về một chuyến vuợt biển ngàn trùng:

 

“Nguyễn Đình Chiểu của thời áo trắng,

Mỹ Tho mình- sớm nắng, chiều mưa.

súp lê xa bến phà Rạch Miễu, 

chung thủy Mỹ Tho, em vẫn chờ.” 

 

Lạc Hồng, cây đa đà trốc gốc, 

trôi rồi ra biển tuổi xuân anh.

cái thời tuổi trẻ anh yêu dấu,

đã chết lâu rồi bởi chiến tranh.”

(Mỹ Tho)

 

Để rồi có một bận ngồi nơi một bến bờ xa nào cách dòng sông cũ ngàn trùng, tác giả gợi cho ta một trời thương nhớ ấy

 

“Anh trầm tưởng nhánh sông quê

bao nhiêu nước đã trôi về những đâu?

bao nhiêu nước chảy qua cầu?

thời gian, phương thuốc nhiệm mầu, lãng quên?

Không! anh chẳng thể nào quên!

sáng ngơ ngẩn sáng, chiều xiêu xiêu chiều.”

(Một nhánh sông quê)

 

Đoàn Xuân Thu có cái chung tình của một người đi xa nhớ về những bóng hình... Tác giả nhớ tà áo trắng của cô học trò trung học, nhớ nụ hôn đầu nơi vườn măng cụt, nhớ nhánh sông quê và rồi tác giả lại nhớ Thu, một bóng dáng cố nhân của vùng sông nước Bến Tre và mấy mươi năm qua vẫn chưa một lần hội ngộ:

 

“Thơ bất chợt như cơn mưa mùa hạ

gợi ta về vùng quê, Thu đã xa: 

Em sương khói... vườn dừa mơn xanh lá

tóc mai dài em bay mãi trong ta

Sông nước Hàm Long, chiếc xuồng ba lá 

ta xuôi dòng Tiên Thủy, bến sông xa.

Hôn từ biệt em đỏ bừng đôi má 

Em Bến Tre, bông bưởi trắng sau nhà...

 ...............................................................    

                

Thôi vĩnh biệt! em lấy chồng! Thu nhá!

nụ hôn xưa theo gió đã bay rồi

Anh phiêu bạt cuối trời, đời luân lạc

hạnh phúc tìm, đâu có? có thinh không!”

 (Bến sông- Thu)

 

Là người giàu lòng cảm xúc, Đoàn Xuân Thu khi nghe tin quê nhà mưa tràn lũ lụt, tác giả không khỏi bồi hồi thương cảm cho một bóng dáng thân yêu nơi nước lụt quê nhà :

 

“Chiều quê người

em ơi! 

mùa nầy lá rụng

mà đời anh là chiếc lá bay bay.

 

Chiếc lá bay bay 

về đâu? về đâu?

có về quê cũ

cho anh gởi về em

về Cần thơ quê mình

đang chìm trong mùa lũ

niềm thương nhớ khôn nguôi.”

(Thương em, quê mùa lũ)

 

Lòng chung thủy ở Đoàn Xuân Thu còn có cả mái ngói rêu phong của ngôi trường cũ, nơi mà tác giả nhớ lớp, nhớ thầy, nhớ bạn bè và cả những vật vô tri trong lớp như bàn ghế bảng đen cùng phấn trắng mà sao như có linh hồn mời gọi người học trò cũ nhớ về, tha thiết lắm những mùa xa trường đằng đẵng mấy mươi năm:

 

“Thưa thầy!

ngàn dặm xa con bay qua biển bắc

tay con nắm chặt chiếc khăn tay

nước mắt con rơi dài theo biển

Thái Bình ơi! biển mãi chẳng êm đâu!

 

Thưa thầy!

cho con vào lớp cũ

ngồi lại chiếc bàn xưa”

(Trường xưa)

 

Những người “thầy xưa ấy” giờ cũng đã là những “người của muôn năm cũ”, “hồn ở đâu bây giờ”, mà tác giả vẫn nhớ. Điều đó, tượng trưng cho đức chung thủy bền bỉ, không mờ nhạt. Để rồi, người của hôm qua tâm tình cùng tuổi nhỏ hôm nay như một lời nhắn gởi tha thiết, bồi hồi, đầy xúc cảm:

 

“Này em yêu! em gái!

em là tôi của thời thơ dại

thuở áo dài tóc xỏa chấm bờ vai

thuở thơ tình giấu hoài trong vở

tím tình yêu tím cả giấc mơ phai ..

 

(…..)

 

Này em yêu! em nhé!

đông dẫu dài nhưng xuân đà đến ngỏ

em sẽ có những điều em muốn có

cơm áo tự do!

nhưng có một điều rất khó

tuổi học trò theo gió sẽ bay đi.”

 (Trường xưa)

 

Trong bài thơ “Cánh diều của đôi ta”, người đọc bắt gặp mối tình chân quê thời niên thiếu giữa vùng quê êm ái ngày xưa với hai đứa bé chơi thả diều; để rồi chàng trai quê ấy không còn cần những “cánh diều của đôi ta” nữa và chia ly một cuộc tình. Đọc thơ Đoàn Xuân Thu mà ta nghe như chuyện huyền thoại, nhưng ai sống nơi chốn quê mùa chắc chắn không nghĩ rằng câu chuyện tình của đôi trai gái quê này là huyền thoại bao giờ, mà là chuyện thật, có thật, và cảm động:

 

“Cuồn chỉ may của má,

tờ nhựt trình của ba,

bụi tre già của ngoại,

hồ dán của anh hai,

anh, em, thời thơ dại,

cánh diều của đôi ta.

 

Trời quê ta gió nổi 

em chạy, đuổi theo anh

ngã xuống lại đứng lên

anh ơi! chờ em với!

Em chạy, đuổi theo anh 

suốt một thời thơ dại;

em chạy, đuổi theo anh 

suốt một thời con gái;

anh! cánh diều đôi ta

bay xa! đừng băng nhá! 

Rồi một ngày tình ta thôi đã hết!

đốn đủng đỉnh về, anh kết chữ tân hôn

chẻ lá dừa, em giúp anh dựng rạp

anh đâu biết rằng dao cứa nát tim em.

thôi vĩnh biệt! dẫu còn yêu anh mãi!

anh! cánh diều thời thơ dại đã băng.

 

Em trả lại má cuồn chỉ may 

bởi cánh diều đôi ta không còn bay, bay nữa.

em trả lại ba tờ nhựt trình

đăng lời mừng anh: hương lửa ba sinh.

bụi tre già của ngoại lại lên xanh

đâu biết được lòng em đà héo úa.

em trả lại anh hai hồ dán

bởi tình ta đà keo rã, hồ tan.

 

Đêm hợp cẩn, giao bôi 

nếu anh nhớ tình ta thời thơ dại?!

quà cưới em đi, anh hãy mở ra

anh sẽ thấy: cánh diều của đôi ta

và em, ngàn giọt lệ!”

(Cánh diều của đôi ta)

 

Khác với anh chàng nhà quê xa cô gái quê quên “những cánh diều đôi ta”; lần này người tình nhỏ quên giữ lời hẹn ước:

 

“Nhỏ đưa anh, mặt mày ủ dột;

Mỹ Tho buồn, rớt hột, lâm râm…

xe lô Minh Chánh, vừa lăn bánh,

nhỏ lấy mù soa, chấm chéo khăn!

 

Chấm chéo khăn, sao ngăn dòng lệ?

“Xa anh rồi chẳng… dễ gì quên!

nhỏ xa anh, ngọn đèn vàng võ,

biếng châm dầu, lu, tỏ, thâu đêm?!”

 

Thâu đêm, nhỏ mươi lần căn dặn:

“Sài Gòn! đèn ngọn đỏ, ngọn xanh

học hành nha, đừng mê bóng sắc; 

bướm ong gì! nhỏ vẫn chờ anh?!”

 

“ Chờ anh…” rồi phụ anh đi biệt! 

cách mặt xa lòng, mới bốn năm;

lặng lẽ, nhỏ ôm cầm thuyền khác;

“ vẫn chờ anh…” rốt cuộc, anh lầm!!

 

Tình ta đâu phải tuồng cải lương!

“Sao vai nhỏ - đào thương - rất đạt?

đã vong phụ, lại còn vớt vát:

tiếng ru buồn, nhỏ hát bên song!”

 

“Ngày đi lúa chửa đơm bông

ngày về em đã con bồng con mang”*

chữ tình một dở hai dang

duyên ta thời có, nợ mang mang sầu.” 

 (Cay đắng)

 

Dẫn ra hai câu chuyện tình trái ngược, để thấy Đoàn Xuân Thu luôn góp nhặt những mảnh hồn cô lữ làm thơ mình thêm chút duyên thầm. Nó như cái bóng trăng làm mặt nước trên mặt hồ lung linh màu trăng sáng vằng vặc. Thơ không có tâm sự, thơ không hồn, dù nhiếu người khó tính cho rằng thơ nhiều tâm sự sẽ làm người đọc dễ nhàm chán. 

 Nhưng đến khi “lau lệ mình ên”, những câu thơ ở đây không còn là tâm sự thường tình nữa, mà là tâm sự của một người con xa mẹ già và khắc khoải nhớ về. Ai dám bảo lòng thương cha nhớ mẹ là chuyện thường tình không cần nói ? Tôi nghĩ, ở đây, tác giả giữ được cái đạo làm con dù xa bao nhiêu dặm, già bao nhiêu tuổi đời mà lòng vô tâm không nhớ cha mẹ già canh cánh bên lòng nhớ mình, thì làm thơ hay để làm gì khi cái tình mẫu tử thiêng liêng mà ta dám nhẹ quên như nắng sáng mưa chiều hoặc gió tạt bên hè cây quên gió cuốn lá xa cành !?:

 

 

“Em còn có mẹ già bên đó!”

tiếng thơ buồn như tiếng thở than !

anh đọc thấy : “ ...hai hàng lụy nhỏ...

...có mẹ già biết bỏ cho ai ?!”*

 

“Anh cũng có mẹ già bên đó!”

mẹ anh đã nằm dưới mộ sâu.

Cỏ trên mồ chắc xanh thương nhớ;

mẹ chắc nhớ anh, nhớ để rầu.

 

Hai lăm tháng chạp về tảo mộ;

hẹn lần, hẹn lửa, hẹn năm sau.

Năm nào cũng vậy, tiền không có;

không tiền, không có vé máy bay!

 

Ngày khánh tận mà anh khánh kiệt;

chỉ biết tàng xe đến phi trường.

“Ai về xứ Việt, quê hương đó 

cho ké, dùm tôi, nỗi đoạn trường!”

 

Nỗi đoạn trường, áng chừng em khóc;

vẫn còn ai đó vỗ về em,

ai đó làm em không khóc nữa,

nỗi buồn nhớ mẹ, chắc rồi quên.

 

Anh nhớ mẹ, rồi anh cũng khóc;

Melbourne buồn, anh lau lệ mình ên! 

(Lau lệ mình ên) 

 

Tình mẫu tử thiêng liêng đó, Đoàn Xuân Thu nhiều lúc bất lực trước những chữ dùng; bởi chữ nghĩa nào nói hết cái tình mẫu tử thiêng liêng, bao la bất tận ấy !

Xin mời bạn nghe tác giả diễn đạt lòng nhớ mẹ già qua “ Ngọn đèn chong mắt”:

 

“Con xa rồi đất quê,

đêm xuống thuyền vượt biển;

có ngọn đèn chong mắt,

đăm đăm đợi con về.

 

Con đã qua 

mùa đông quê người

lạnh thấu xương!

để con nhớ

quê nhà ta

cả một trời nắng ấm.

Con đã qua 

mùa hạ quê người

cháy rát da!

để con nhớ

quê nhà ta

cuối năm trời chớm lạnh;

đất quê người, 

thân con, đời cô quạnh,

tha thiết hoài, 

nỗi nhớ má, thương quê.

 

Xưa bến cũ con đi;

nay bến cũ con về

mòn mõi má đợi mong,

trong sức tàn, lực kiệt:

đèn khô dầu, lụi bấc

đôi mắt khép lại rồi.

 

Lá rụng phải về cội!

Sao con lạc lối về?

bởi ngọn đèn chong mắt

giờ đã tắt thiên thu.”

(Ngọn đèn chong mắt)

 

Tình cảm ấy với một người con coi đạo hiếu là trọng, còn mãi dạt dào trong lòng nỗi khát khao nhớ tưởng của đứa con của má:

 

“Lẽ công bằng có cho và có nhận, 

má chỉ cho chưa có nhận bao giờ; 

má cho con cà một đời lận đận 

nhận của con nếu có chỉ là thơ.

 

Ngàn pho kinh sách con đã học,

hữu hạn vô cùng chữ nghĩa ơi!

cho vô hạn một đời lao nhọc,

những lầm than, má đã cưu mang!

 

(…..)

 

Ôi! má của con, má của con!

từ nay thôi chắc chẳng còn ai,

thương con như thế nữa?

bếp lửa chiều hôm chợt tắt rồi, 

mờ bóng má chập chờn trên vách lá,

má về đâu? sinh, tử: cõi vô thường.

 

Ôi! má của con, má của con!

từ nay thôi chắc chẳng còn ai,

thương con như thế nữa?

xiêu lạc tha hương, phiêu bạt sầu, 

côi cút bay giữa đời giông bão,

ước vọng tương phùng là ảo vọng 

má thương ơi !!!

(Nhận của con nếu có chỉ là thơ)

 

 

Tình mẫu tử thiêng liêng ấy cũng chính là tình yêu quê hương chan chứa tấm chân tình nơi tác giả:

 

“Chiều cuối năm nhớ quê nhà, nhớ má…

nhớ vô cùng bông mận, trắng vuờn xưa;

phiêu bạt bao năm, cùng trời cuối đất,

con vẫn muốn về gánh mận má ơi!

 (Con vẫn muốn về quê gánh mận)

 

Rồi nào là bóng dáng xuồng ba lá, chiếc cặp đệm, nắm xôi nếp rặt, ngọn khói nấu cơm, đồng bưng, cỏ lác, ruộng vườn…, mỗi mỗi làm nên nỗi nhớ mẹ, nhớ quê tha thiết biết dường nào ! 

 

“Suốt một thời thơ ấu con mang theo:

cặp đệm má đương, nắm xôi má nấu 

xôi nếp một, bếp bình minh khói toả

đường mía lau thơm, vị ngọt quê nghèo!

 

Xuồng ba lá má là con đò dọc

hai lượt: đến trường, tan học, đón, đưa

(ngày tựu học con trốn về với má

số phận, dù không muốn, vẫn tha phương?!)

 

Con lớn lên, con đi vào chiến trận

hành quân hoài mấy bận lội đồng bưng

sao vòng vọng nhịp chày xưa, má giã ?!

giã cỏ bàng, đương cặp đệm, nhớ thương!

 

Nhớ má đồng bưng, ruộng, vườn, rẫy bái

chưn sình lầy, lúa nếp, cánh đồng mưa 

chiều dừng quân, trợn trạo lua cơm sấy 

con bùi ngùi, nhớ lại nắm xôi xưa.

 

Má đồng bưng rưng rưng tình mẫu tử

thương má nhiều, thương cặp đệm, nắm xôi!”

 (Cặp đệm, nắm xôi)

 

 

 Nhà văn J.M.Guyau gọi “Cái đặc quyền của nghề làm thơ là không cần phải chứng minh, không cần phải viện chứng, mà vẫn thâu nhập vào trí não ta những điều mà ta không thể chối cãi được. Vì không gì hơn tình cảm con người (….) Đó là tất cả các điều mà ta đã tư tưởng, đã cảm giác, đã luyến ái từ xưa. Nhà thi sĩ chân chính đích thị là người biết gọi những tiếng vang trong đáy lòng ta vậy.”(**) 

 

Qua nhận định của J.M.Guyau vừa dẫn và qua vài bài thơ của Đoàn Xuân Thu tình cờ mà tôi đọc được, không thể có một cảm nhận nào khác hơn là trong thơ Đoàn Xuân Thu chan chứa nỗi niềm. Nỗi nhớ nhà, nhớ quê, nhớ bạn, nhớ trường, nhớ người yêu cũ và đăc biệt nỗi nhớ thương mẹ già nay không còn, tất cả làm thành một hồn thơ miên man nỗi nhớ. Thơ Đoàn Xuân Thu không mới; chữ dùng không cố trau chuốt cầu kỳ, vận thơ không chạy theo trào lưu làm mới thơ như nhiều tác giả, nếu không muốn nói tác giả là một người làm thơ còn nặng phần cổ điển, nhưng nhờ tác giả đã tích lũy nhiều chất liệu qua dòng sông đời mấy mươi năm nhiều sóng gió nên thơ ông gần gũi với những thế hệ già và lưu lạc. Chính vì vậy, thơ Đoàn Xuân Thu trầm lắng và buồn, tứ thơ không lạ mà làm người đọc dễ rung động, hồn thơ mang mang nỗi nhớ về một thời xa lắm, trải dài hơn năm mươi năm !!! Và Đoàn Xuân Thu đã “biết gọi dậy những tiếng vang trong đáy lòng ta vậy!”

 

 

Hai Trầu

Houston , ngày 06-02-2009

Đọc lại, ngày 24.12.2020

 

 

Phụ chú:

(*) Tất cả các câu thơ dẫn trích từ trang nhà Thất Sơn Châu Đốc, mục Thơ, tác giả Đoàn Xuân Thu.

(**) Nguyên văn lời trích bằng tiếng Pháp, trong bài “La poésie” của J.M.Guyau : “C’est le privilège de l’art que de ne rien de’montrer, de ne rien prouver, et cependant d’introduire dans nos  esprits quelque chose d’irre’futable. C’est que rien ne peut pre’valoir contre le sentiment. (…) C’est ce que vous avez pense’, senti, aime’ . Le vrai poète est celui qui re’veille ces voix.”(Trích trong quyển 100 bài dịch Pháp Văn lớp Đệ Nhị của Vũ Quý Mão, Đoàn Rạng, Trần Như Thuần, nhà xuất bản Khai Trí, Sài Gòn, 1959)

_______________________________________

                              Hai Trầu                                                               

                              TRÒ CHUYỆN VỚI

                             TRẦN THỊ NGUYỆT MAI,

                              TÁC GIẢ CÁC BÀI THƠ TRÊN BÁN NGUYỆT SAN                                            “TUỔI HOA”, SÀI GÒN, NHỮNG NĂM 1970-1975 (1) 

                                 _______________________________         

HaiTrau_self.JPG

Thưa bạn,

 

Dịp lễ Tạ Ơn, ngày 25.11.2020, nhà văn Vũ Thất, tác giả tiểu thuyết Đời Thủy Thủ, gởi cho tôi và Trần Thị Nguyệt Mai một email:

 

“Thưa anh Hai Trầu,

 

Anh cứ phi lộ rằng anh già rồi....

Đọc các bài viết gần đây của anh, tôi thấy trí nhớ của anh còn tuyệt vời hơn trí nhớ thuở năm mươi. Nghĩa là những ghi nhận văn chương của anh càng đậm đà, sắc sảo. Chắc cần thêm một ấn phẩm Người Đọc & Người Viết...


Nguyệt Mai thân mến,

 

Nhân mùa Lễ Tạ Ơn, được Nguyệt Mai cho thưởng thức các bài thơ từ thuở "Tuổi Hoa" khiến vừa ngạc nhiên, vừa thích thú vừa cảm phục.

Xin Tạ Ơn Người. Tạ Ơn Đời. Tạ ơn Mạng Lưới Internet.

Thân chúc mọi người trong gia đình quý bạn luôn an lành.

 

Thân mến,

Vũ Thất

Ngày 25.11.2020”

 

Từ lời cảm thán ấy của anh Vũ Thất về thơ Nguyệt Mai, tôi lò mò vô trang nhà Trần Thị Nguyệt Mai đọc thử, thì ra mới biết Nguyệt Mai đã làm thơ khá lâu rồi, từ những năm còn đi học ở Sài Gòn, mà từ khi được làm quen với Nguyệt Mai qua giới thiệu của bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc, có lẽ cũng năm bảy năm gì rồi, nhưng tôi chưa lần nào nghe Nguyệt Mai nói có làm thơ dù trên trang nhà của Nguyệt Mai, đôi lúc tôi thấy thỉnh thoảng có thơ của bạn nhưng dường như rất ít. Giống như anh Vũ Thất, tôi cũng “vừa ngạc nhiên, vừa thích thú, vừa cảm phục” khi đọc được các bài thơ của Nguyệt Mai từ thuở bán nguyệt san “Tuổi Hoa”, Sài Gòn, những năm 1970-1975.

 

Ngày nay tuổi tôi đã quá già, cái thuở tuổi thơ của những ngày “Tuổi Hoa” không còn nữa, nhưng qua thơ của Nguyệt Mai, dù cách nay tròn nửa thế kỷ, sao nghe ra như ngày ấy của tuổi học trò bé bỏng của tôi thấp thoáng đâu đây! 

 

Nguyệt Mai có thể kể một chút về những ngày đầu làm thơ ấy của bạn được không?


Trần Thị Nguyệt Mai (TTNM):

 

Anh Hai kính mến,

Cảm ơn anh Hai đã quan tâm đến chuyện làm thơ của em.

Đúng như anh nhận xét, em làm thơ không nhiều. Khi nào hứng lắm mới viết.

Về những ngày đầu làm thơ và thơ đăng báo Tuổi Hoa, em đã có lần tâm sự với các bạn ở các comments trên trang này, anh vào xem nhé:

https://123hoang.wordpress.com/2011/08/25/th%c6%a1-tr%e1%ba%a7n-th%e1%bb%8b-nguy%e1%bb%87t-mai/

Kính chúc anh Hai và chị Bảy luôn sức khỏe, an vui.

Nguyệt Mai

 

Hai Trầu (HT)

 

Qua tìm kiếm, tôi đọc được bài thơ dưới đây, Nguyệt Mai kính tặng cô giáo Ngô Thị Vân của trường nữ Trung học Lê Văn Duyệt, Gia Định, ngày xưa:

CÒN MÃI TRONG TIM

Kính tặng Cô Ngô Thị Vân – Giáo Sư Anh Văn
Trường Nữ Trung Học Lê Văn Duyệt – Gia Định


Với chúng em, đây là niên học cuối
một cuộc thi chấm dứt thuở học trò
chỉ còn lại chút dư âm tiếc nuối
những tháng ngày rất đẹp, rất nên thơ…

Ngày cuối cùng Cô giảng xong bài học
dặn những điều cần thiết lúc đi thi
em đã thấy, ở Cô, giòng lệ ngọc
biết bao tình trong giây phút biệt ly

(Em vẫn biết còn học trò áo trắng
là vẫn còn giữ những nét dễ thương
đời mai sau sẽ có nhiều bóng nắng
tìm đâu ra khoảng mát chốn học đường?)

Và Cô ơi! suốt đời em mãi nhớ
giòng lệ nào tràn ngập những thương yêu
một khoảng trời màu hồng trong tim nhỏ
bục gỗ, bàn Thầy, bóng dáng chắt chiu…


Trần Thị Nguyệt Mai
1972

 

Và bài thơ viết về mùa Thu, mùa của những ngày tựu trường:
 

CŨNG LÀ MÙA THU

Khi lá ngoài đường rụng đầy ngõ phố
và bầu trời như thấp xuống – nhiều mây –
mùa thu nào me âu yếm nắm tay
dẫn con gái nón nghiêng che đi học

gió heo may len lén hôn lên tóc
em thẹn thùng nép dưới vạt áo dài
cô bé mang chiếc cặp nhỏ trên vai
và chợt nghĩ mình bây giờ đã lớn!

con đường đi vương đầy sương buổi sớm
những bé như em chúng cũng đến trường
cơ hồ như một niềm vui ngát hương
đang ngự ở trong tim em bé bỏng

ồ trường kia nơi em đang mong ngóng
tí nữa đây me sẽ dẫn em vào
chọn cho con ngồi ngay ở bàn đầu
“me muốn con đầu lớp luôn đó nhé!”

rồi trống trường điểm lên ba tiếng nhẹ
cô giáo bước vào với áo hồng tươi
trên môi cô trang điểm những nụ cười
cô bé thấy thương cô làm sao lạ …

oOo

Và bây giờ khi mùa thu rụng lá
vẫn đến trường lòng vương chút bâng khuâng
cố ngăn đi giòng nước mắt bao lần
em vào lớp, ngôi vị chừ thay đổi

vẫn bảng đen, vẫn phấn còn hương mới
nhưng bàn thầy – chỗ ngồi của em đây
mi mắt sao bỗng dưng lại cay cay
khi nhìn xuống bàn học trò xưa đó

những em bé trước mặt là tập vở
còn thơm mùi giấy trắng thuở ban đầu
nắn nót từng hàng và viết từng câu
bài học mới cô giáo vừa giảng dạy

những gương mặt ban đầu còn ái ngại
len lén nhìn xem cô giáo dữ hiền
(hành động xưa được lặp lại y nguyên)
em bỗng nhớ ngày vàng son thơ ấu …


Trần Thị Nguyệt Mai

(Trích từ bán nguyệt san Tuổi Hoa số 208, phát hành ngày 1-9-1973)


Năm 1972, Nguyệt Mai làm bài thơ cho cô giáo, rồi sau đó, năm 1973, Nguyệt Mai viết bài thơ cho học trò, giữa hai vị thế ấy, Nguyệt Mai thích vị thế nào?

 

TTNM:

 

Kính thưa anh Hai,

Cảm ơn anh đã "theo dõi" rất sít sao.

Em thích ở cả hai vị trí; 

1) Là học trò, được hồn nhiên học hành, vui chơi, không phải lo lắng gì cả.

2) Là cô giáo thì được truyền lại những gì mình học hỏi cho thế hệ sau.

Thực sự, em không theo nghề sư phạm. Nhưng hồi nhỏ, như các bạn gái khác, rất thương & kính phục Thầy Cô nên đã từng mơ ước lớn lên mình sẽ trở thành cô giáo. Em nhớ hồi đó hay kêu bạn hàng xóm đến nhà chơi & "làm cô giáo" dạy học khi chơi trò cô giáo & học trò. Hồi xưa, em có kèm vài em ở tư gia. Chính thức đứng bục gỗ sau 1975 thời xóa nạn mù chữ, dạy cho các bác, cô chú đọc và viết, em là phụ, có một bác thực sự làm nghề giáo là người chính đứng lớp. Lúc ở trại tị nạn Bataan, Philippines em có làm Assistant Teacher, chủ yếu là thông dịch lời cô giáo nói cho các bạn học viên.

Hy vọng em đã trả lời câu anh hỏi.


HT:

 

Hồi đời xưa, mỗi lần nhắc tới bốn mùa Xuân, Hạ, Thu, Đông, người ta hay nhắc câu thơ của Trạng Trình-Nguyễn Bỉnh Khiêm:

“Thu ăn măng trúc, đông ăn giá,

Xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao.”

(Cảnh Nhàn - Nguyễn Bỉnh Khiêm)
 

Nguyệt Mai có những vần thơ về các "mùa" riêng của mình. 

Chẳng hạn: Với mùa Đông thì có:

HƯƠNG MÙA ĐÔNG - Trần thị Nguyệt Mai


EM, ĐÊM THÁNG CHẠP

tiếng chuông xa đổ vang rền
kinh cầu nào nguyện giữa đêm vô cùng
thấy mùa đông đến bao dung
em chiên ngoan nhỏ ngập ngừng lễ đêm.

HÔM QUA

sương khuya rơi ướt áo vàng
mùa đông đã đến bàng hoàng tim em
hôm qua ai bước qua thềm
thổi vào hồn ngọn gió đêm lạnh lùng.

MƯA ĐÔNG

cơ hồ ngày tháng vây quanh
nhớ chi đến thuở lâm hành quan san
mimosa đã nở vàng
mưa rơi đủ nhỏ cho hàng lệ sa.

HOAN CA NGÀY VỀ

đường khuya gió lạnh buốt vai
xin lời thánh sủng mãi đầy trong tim
chim bay về đêm giáng sinh
cất cao tiếng hót giữa thinh không buồn.


TRẦN THỊ NGUYỆT MAI

(Trích từ tạp chí Tuổi Hoa số 229, ra ngày 1-12-1974)

Với mùa Xuân thì có:


BÊN TRỜI THÁNG GIÊNG

Những cành lộc mới đùa trong gió
Bé đứng bên trời Xuân, tháng giêng
Nghe lòng một chút hương hoa cỏ
Xanh ngát hồn thơ trổ ý hiền.



LẬP XUÂN

Có con chim én về mừng tuổi
Nắng lụa trải đường cho bé đi
Anh thấy trong mây trời buổi sáng
Mắt bé màu xanh ngát lưu ly...



SUỐI NGỌT

Tặng me một đóa cúc vàng
Khi mùa Xuân đến dịu dàng trong con
Tình thương mãi đậm tim non
Me là bóng mát, suối nguồn bao dung.


Trần Thị Nguyệt Mai

(Trích từ tạp chí Tuổi Hoa số 231, Tết Ất Mão, ra ngày 25-1-1975)

Với mùa Thu thì có bài:


CŨNG LÀ MÙA THU - Trần thị Nguyệt Mai 

(Có ghi bên trên)
[Trích từ bán nguyệt san Tuổi Hoa số 208, phát hành ngày 1-9-1973]

Và với mùa Hè thì có:


SẦU MƯA THÁNG HẠ - Trần thị Nguyệt Mai

Rồi mùa hạ trở về cùng bóng phượng
Cùng tiếng ve, cùng mưa ướt đầu mùa
Bé nghe lòng bỗng dưng mà xao xuyến
Dội trong hồn vang vọng mấy âm thưa!

Mưa tháng hạ sao hồn mềm quá đỗi
Bé có hay đã tàn hết cuộc vui
Rồi mỗi người một đời sau trôi nổi
Còn lại chăng chút kỷ niệm ngậm ngùi?

Mùa hạ, lỡ tay chào cách biệt
Thì bé ơi mòn mỏi đến bao giờ
Mùa hạ, lỡ gọi người tha thiết
Những cung buồn rụng xuống cõi hồn thơ...


TRẦN THỊ NGUYỆT MAI

(Trích từ tạp chí Tuổi Hoa số 224, ra ngày 1-7-1974)


Từ những ngày xa xưa cách nay 50 năm, qua thời tiết mỗi mùa, Nguyệt Mai ghi lại những cảm xúc rất riêng của mình giữa cái mưa và cái nắng của Sài Gòn vào những năm 1970-1975 ấy, nếu ngày nay có dịp cảm tác lại những vần thơ về mỗi mùa ấy chắc Nguyệt Mai sẽ viết khác đi nhiều vì hôm nay không phải là hôm qua... Nếu quả thực nó là như vậy, Nguyệt Mai sẽ thêm gì và sẽ bớt gì trong trời đất của mỗi ngày mùa thuở ấy?
 

TTNM:

Năm 1970 là năm em có thơ đăng báo đầu tiên. Hình như em đã bắt đầu chập chững viết từ một năm trước đó, viết rồi xé, xé rồi viết.

Mỗi tuổi đương nhiên có cảm nhận khác nhau.

Bây giờ em nhìn mỗi mùa đi qua như đời người.

Mùa xuân là khi còn trẻ, tâm hồn phơi phới

Mùa hạ là lúc đã lớn, đã va chạm, có lúc trời nóng rất khó chịu thì cũng giống như những thứ bất như ý đã xảy ra trong đời.

Mùa thu là mùa lá rụng như tuổi mình đã về chiều, rồi cũng như lá, sẽ lần lần rơi rụng

Mùa đông lạnh lẽo, mùa cuối của năm cũng là lúc tàn một kiếp người.

Có lẽ do đã hết tuổi học trò, nơi em đang ở cũng không có cây phượng, không có ve sầu nỉ non để nhớ chăng? 

Thơ từng mùa bây giờ thường nhìn về ngày cũ, nhớ quê hương...

Em gửi anh những bài thơ mới làm sau này để anh xem. Đặc biệt không có một bài thơ mùa hạ nào. (2)

 

HT:

 

Nguyệt Mai là người làm thơ về “tuổi hoa” trên bán nguyện san “Tuổi Hoa” từ đầu những năm 1970 và có lúc giúp đọc bản thảo của nhiều tác giả; qua nội dung của các trang bản thảo ấy và qua tiểu sử của nhiều tác giả mà Nguyệt Mai tiếp cận, Nguyệt Mai có suy nghĩ gì về văn chương dành cho tuổi thơ?

 

TTNM:

 

Hồi nhỏ em được Ba Má mua cho Sách Hồng (Cái ấm đất, Chiếc áo vua ban, ...) cũng như những truyện cổ tích ngoại quốc dịch lời Việt có hình vẽ màu mè rất đẹp như Bạch Tuyết bảy chú lùn, v.v... để đọc.

Theo em, tất cả sách truyện dành cho thiếu nhi nên là những cuốn sách đẹp, lời văn hay, kết thúc có hậu gợi tính thiện, cho các em thấy ác giả ác báo, để giáo dục, hướng các em đến việc làm điều tốt, điều thiện, tránh xa điều ác, sai trái.

Đó là lối giáo dục ở cả nước trước năm 1954 và ở tại miền Nam từ 1954-1975. Nhờ lối giáo dục này mà Văn chương miền Nam thời chiến (1954-1975) là một nền văn chương nhân bản.

 

Chẳng hạn:

 

Cho tôi đổi một trăm chiến thắng

Lấy một giọt nước mắt kẻ thù

(Giọt Nước Mắt Kẻ Thù – Trang Châu)

 

Lúa có nghĩ rằng ngày mai sẽ khác?

Súng sẽ dùng để đúc lưỡi cày

(Đêm Kích dưới chân đồi Pá – Nguyễn Dương Quang)

 

Và với riêng em, bài thơ “Bao giờ mới thấy” ghi lại cảnh tượng được chứng kiến trên màn hình TV về vụ pháo kích vào trường tiểu học Cai Lậy, Định Tường (viết vào buổi tối ngày 12.3.1974), ở những câu thơ cuối cùng:

 

Tôi vẫn hằng mơ ước

Ngày quê hương thanh bình

Nhưng bao giờ mới được

Thấy ngày hội hoa xinh?

(Bao giờ mới thấy - Trần Thị Nguyệt Mai)

Tuổi Hoa số 221 ngày 1-4-1974

 

Anh đã không thấy một lời nào thóa mạ người bên kia chiến tuyến. Chỉ là mơ ước hòa bình mau đến, không còn chiến tranh, để những cảnh chết chóc, đau thương này không còn xảy ra.

 

Sau này em được biết viết về vụ Cai Lậy còn có bút ký chiến trường "Cánh diều trên đồng cỏ" của anh Trần Hoài Thư, mà phần kết luận cũng rất hiền hòa:

 

Ngày hôm nay, tôi lại bay qua cánh đồng cỏ cũ. Trời vào hè, nắng vàng rực rỡ, chói lòa cả những áng mây xa. Con tàu như quen thuộc hạ xuống 100 bộ. Tôi không còn thấy em bé thả diều nữa. Chỉ còn cánh đồng cỏ màu vàng sậm mênh mông bát ngát. Tôi nghe một nỗi buồn đến đắng cay đầu lưỡi. Một nỗi buồn tê tái như khi nhớ lại chiếc cặp với trái xoài non, những chiếc nắp ken, và con diều, cuộn chỉ vấy máu trên sân trường… 

(Cánh Diều trên đồng cỏ - Trần Hoài Thư)

 

Nếu sự việc này xảy ra với người phía bên kia thì chắc chắn khác hẳn, họ sẽ chửi rủa và kêu gọi "máu phải trả bằng máu", v.v...

 

Đó là cái đẹp của văn chương miền Nam.

 

Cảm ơn anh Hai Trầu Lương Thư Trung rất nhiều đã bỏ thời gian để tìm hiểu về thơ của em ngày ấy, mà chúng em, các bạn Tuổi Hoa, thường gọi là một thời xanh, rất đẹp, rất nên thơ.

 

Trần Thị Nguyệt Mai

29.11.2020


 

Thay lời kết:

 

Văn chương xưa nay vốn lấy cái đẹp và sự trong sáng làm gốc. Theo thiển ý của tôi, một người đọc nhà quê già mà tuổi đời cũng hơi trộng-trộng rồi, thơ Trần Thị Nguyệt Mai từ những ngày bắt đầu đăng trên bán nguyệt san Tuổi Hoa ở Sài Gòn những năm 1970-1975 cho dĩ chí đến hiện tại, đã đạt được hai yếu tố làm nền ấy; chẳng những thế, mà thơ Trần Thị Nguyệt Mai còn tiêu biểu cho một thế hệ được giáo dục rất mẫu mực nữa đó là lòng hiếu thảo với cha mẹ, kính anh, thương em, mến bạn, thương người và yêu kính thầy cô giáo đã bỏ công dạy dỗ mình từ những ngày tuổi thơ cho chí đến lúc nên người! Có lẽ nhờ những chất liệu làm nền ấy nên thơ Nguyệt Mai vừa giản dị mà trong sáng, vừa thành thật mà cảm động; và nói cách khác, trong thơ Nguyệt Mai vừa có “tình” mà lại vừa có “thần” là vậy!

 

Nói như nhà văn Vũ Thất đã nhận xét ở bên trên: “Nhân mùa Lễ Tạ Ơn, được Nguyệt Mai cho thưởng thức các bài thơ từ thuở "Tuổi Hoa" khiến vừa ngạc nhiên, vừa thích thú, vừa cảm phục.”, tôi cũng “vừa ngạc nhiên, vừa thích thú, vừa cảm phục” về những vần thơ của Trần Thị Nguyệt Mai từ những năm cách nay có tới 50 năm y như vậy!

 

Hai Trầu

Houston, ngày 29.11.2020



PHỤ CHÚ:

 

1/ Thơ Trần Thị Nguyệt Mai thời 1970-1975.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 


 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

HƯƠNG MÙA ĐÔNG - Trần thị Nguyệt Mai


EM, ĐÊM THÁNG CHẠP

tiếng chuông xa đổ vang rền
kinh cầu nào nguyện giữa đêm vô cùng
thấy mùa đông đến bao dung
em chiên ngoan nhỏ ngập ngừng lễ đêm.

HÔM QUA

sương khuya rơi ướt áo vàng
mùa đông đã đến bàng hoàng tim em
hôm qua ai bước qua thềm
thổi vào hồn ngọn gió đêm lạnh lùng.

MƯA ĐÔNG

cơ hồ ngày tháng vây quanh
nhớ chi đến thuở lâm hành quan san
mimosa đã nở vàng
mưa rơi đủ nhỏ cho hàng lệ sa.

HOAN CA NGÀY VỀ

đường khuya gió lạnh buốt vai
xin lời thánh sủng mãi đầy trong tim
chim bay về đêm giáng sinh
cất cao tiếng hót giữa thinh không buồn.

 
Trần Thị Nguyệt Mai
(Trích từ tạp chí Tuổi Hoa số 229, ra ngày 1-12-1974)

 

Nguồn: https://tuoihoandmore.blogspot.com

 

THƠ XUÂN 1975 - Trần thị Nguyệt Mai 

 

BÊN TRỜI THÁNG GIÊNG

 
Những cành lộc mới đùa trong gió
Bé đứng bên trời Xuân, tháng giêng
Nghe lòng một chút hương hoa cỏ
Xanh ngát hồn thơ trổ ý hiền.


LẬP XUÂN
 
Có con chim én về mừng tuổi
Nắng lụa trải đường cho bé đi
Anh thấy trong mây trời buổi sáng
Mắt bé màu xanh ngát lưu ly...
  

SUỐI NGỌT
 
Tặng me một đóa cúc vàng
Khi mùa Xuân đến dịu dàng trong con
Tình thương mãi đậm tim non
Me là bóng mát, suối nguồn bao dung.

 

Trần Thị Nguyệt Mai  

(Trích từ tạp chí Tuổi Hoa số 231, Tết Ất Mão, ra ngày 25-1-1975)

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Nguồn : https://tuoihoandmore.blogspot.com

 

RU GIẤC ĐÔNG XƯA - Trần thị Nguyệt Mai 

Em ngủ trong mùa đông
Giấc mơ ươm nụ hồng
Hạnh phúc là hơi thở
Sưởi ấm những cõi lòng
 
Me ru em nho nhỏ
Trong giấc ngủ đông xưa
Em má hồng môi đỏ
Hạnh phúc đã mấy mùa
 
Một mai rồi em lớn
Ngày hồn nhiên sẽ qua
Để một chiều một sớm
Thấy đời những xót xa
 
Tay đan xanh giấc nồng
Bây giờ một mùa đông
Cô bé mắt nai ướt
Có chợt thấy bâng khuâng?


Trần thị Nguyệt Mai
(Trích từ Bán Nguyệt San Tuổi Hoa số 220, ra ngày 1-3-1974)

 

 


 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Nguồn : https://tuoihoandmore.blogspot.com
 

CÔ GIÁO - Trần thị Nguyệt Mai 


tay cô dính đầy bụi phấn

áo cô hồng tô cuộc đời

cô khuyên "không nên thù hận

các em bé nhỏ thương ơi!"

 

nghề cô như là nghiệp dĩ

cô thương ghê lắm trẻ thơ

đôi mắt sáng ngời bao ý

cô giáo một lần mộng mơ…

 

mai sau các em khôn lớn

những cánh chim non rời trường

một lần về thăm chốn cũ

hẳn là ánh mắt nhớ thương

 

các em đi tìm cô giáo

môi cười nhắc lại ngày xưa

lúc ấy mắt cô mờ lệ

mừng cho trái nở đúng mùa

 

và thầy và trò không nói

nhìn nhau lệ đẫm bờ mi

những câu chào mừng han hỏi

giờ đây còn có nghĩa gì...

 

cô giáo say sưa giảng bài

lòng thầm nghĩ đến một mai

cô khẽ mỉm cười sung sướng

với những học trò thơ ngây

 

Trần Thị Nguyệt Mai

(Trích từ bán nguyệt san Tuổi Hoa số 219, ra ngày 15-2-1974)

 

Nguồn : https://tuoihoandmore.blogspot.com

 

NGÀY XƯA - Trần thị Nguyệt Mai 

Khi xưa đi học em dốt toán
Mắc cỡ với cô, với bạn bè
Em thấy buồn buồn,em lo lắng
Làm sao phải giỏi toán mới nghe...

Ba thì đi lính trận miền xa
Lâu thật lâu mới về thăm nhà
Còn me tần tảo lo buôn bán
Gánh hàng lên tận chợ đường xa

Nên anh thay ba làm thầy giáo
Mỗi tối bên đèn dạy kèm em
Em nhớ lời anh thường khuyên bảo
"Làm toán nhiều em sẽ giỏi thêm..."

Mấy tháng học hành em tấn tới
Có bảng mầu hồng đem khoe anh
Khoe me,me khen rằng con giỏi
Em thưa: "Đó là nhờ công anh"

Me thưởng anh em mình hai chục
Mình mua me ngào với bánh đa
Còn tiền chiều đến ra chị Thục
Chén chè mè đen vị đậm đà

Bây giờ em đã xa tuổi nhỏ
Anh nối gót ba chí hải hồ
Nhưng có bao giờ anh còn nhớ
Thiên đường mật ngọt thuở ấu thơ?

 
 Trần thị Nguyệt Mai
(Trích từ tạp chí Tuổi Hoa số 226, ra ngày 1-9-1974)

 

 


 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Nguồn : https://tuoihoandmore.blogspot.com


CŨNG LÀ MÙA THU - Trần thị Nguyệt Mai 

 

Khi lá ngoài đường rụng đầy ngõ phố
và bầu trời như thấp xuống – nhiều mây –
mùa thu nào me âu yếm nắm tay
dẫn con gái nón nghiêng che đi học

gió heo may len lén hôn lên tóc
em thẹn thùng nép dưới vạt áo dài
cô bé mang chiếc cặp nhỏ trên vai
và chợt nghĩ mình bây giờ đã lớn!

con đường đi vương đầy sương buổi sớm
những bé như em chúng cũng đến trường
cơ hồ như một niềm vui ngát hương
đang ngự ở trong tim em bé bỏng

ồ trường kia nơi em đang mong ngóng
tí nữa đây me sẽ dẫn em vào
chọn cho con ngồi ngay ở bàn đầu
“me muốn con đầu lớp luôn đó nhé!”

rồi trống trường điểm lên ba tiếng nhẹ
cô giáo bước vào với áo hồng tươi
trên môi cô trang điểm những nụ cười
cô bé thấy thương cô làm sao lạ …

                      oOo

Và bây giờ khi mùa thu rụng lá
vẫn đến trường lòng vương chút bâng khuâng
cố ngăn đi giòng nước mắt bao lần
em vào lớp, ngôi vị chừ thay đổi

vẫn bảng đen, vẫn phấn còn hương mới
nhưng bàn thầy – chỗ ngồi của em đây
mi mắt sao bỗng dưng lại cay cay
khi nhìn xuống bàn học trò xưa đó

những em bé trước mặt là tập vở
còn thơm mùi giấy trắng thuở ban đầu
nắn nót từng hàng và viết từng câu
bài học mới cô giáo vừa giảng dạy

những gương mặt ban đầu còn ái ngại
len lén nhìn xem cô giáo dữ hiền
(hành động xưa được lặp lại y nguyên)
em bỗng nhớ ngày vàng son thơ ấu …


Trần Thị Nguyệt Mai
(Trích từ bán nguyệt san Tuổi Hoa số 208, phát hành ngày 1-9-1973)

 

Nguồn : https://tuoihoandmore.blogspot.com
 

DỖ EM - Trần thị Nguyệt Mai 


Mưa đổ xuống rồi
Em ơi ngủ say
Kẹo bánh đừng vòi
Má mình đi tự sớm mai…

Kìa em nhìn xem
Những bong bóng nước
Rơi ở bên thềm
Em cười nghiêng nghiêng… mắt ướt…

Thương má cực khổ
Nắng mưa dãi dầu
Thương em còn nhỏ
Đói khóc, no cười, hiểu đâu…

Trời mưa, trời gió
Chị ru nho nhỏ
Em hãy ngủ đi
Ngoan ngoan khép mi, đừng khóc…

   Trần Thị Nguyệt Mai
(Trích từ Bán nguyệt san Tuổi Hoa số 210, ra ngày 1-10-1973)

 

 


 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Nguồn : https://tuoihoandmore.blogspot.com


 

SẦU MƯA THÁNG HẠ - Trần thị Nguyệt Mai 


Rồi mùa hạ trở về cùng bóng phượng 

Cùng tiếng ve, cùng mưa ướt đầu mùa
Bé nghe lòng bỗng dưng mà xao xuyến
Dội trong hồn vang vọng mấy âm thưa!

Mưa tháng hạ sao hồn mềm quá đỗi
Bé có hay đã tàn hết cuộc vui
Rồi mỗi người một đời sau trôi nổi
Còn lại chăng chút kỷ niệm ngậm ngùi

 

Mùa hạ, lỡ tay chào cách biệt   

Thì bé ơi mòn mỏi đến bao giờ
Mùa hạ, lỡ gọi người tha thiết
Những cung buồn rụng xuống cõi hồn thơ...

 

Trần Thị Nguyệt Mai
(Trích từ tạp chí Tuổi Hoa số 224, ra ngày 1-7-1974)

 

 


 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Nguồn : https://tuoihoandmore.blogspot.com



2/ Vài bài thơ Trần Thị Nguyệt Mai hôm nay

 

LỜI NGUYỆN TRONG NGÀY VỌNG GIÁNG SINH 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Buổi sáng bình an chờ ngày sinh Chúa
Cà phê ấm áp lúc tháng năm tàn
Mong ngày Giáng Sinh yêu thương mang đến
Tình Chúa sáng ngời cho khắp thế gian…

 

Trần Thị Nguyệt Mai

24.12.2018



CUỐI NĂM

 

Ta đón Xuân sang từ viễn xứ
Nơi đây tuyết trắng lạnh kinh hồn
Gió thổi càng làm thêm buốt giá
Lòng người xa xứ nỗi hoài hương…

 

Quê hương hai tiếng xa vời vợi
Của những ngày xưa yêu dấu thơ
Của những ngày Xuân trời ấm áp
Nắng lụa mềm trải nhẹ như tơ

 

Em năm mới rộn ràng hơn pháo Tết
Áo đỏ xanh khoe với xóm giềng gần
Phong bì đỏ tươi bên cành lộc biếc
Cùng mai vàng rạng rỡ trời Xuân

 

Nhớ lắm nồi bánh chưng thịt mỡ
Ngoại chuẩn bị làm từ 25
Củ kiệu, dưa hành không thể thiếu
Thịt đông, bánh tráng, cá thu kho…

 

Rồi đến 30 – đêm trừ tịch
(Đêm yên lành trong tất cả đêm)
Ngoại bày bánh mứt, hương, hoa quả…
Dâng cúng Đất Trời, tạ Tổ Tiên

 

Những ngày Tết ấy giờ xa lắm
Người của ngày xưa cũng không còn
Quanh đây chỉ có màu tuyết trắng
Phủ ngập một trời nỗi nhớ thương…

 

Trần Thị Nguyệt Mai
31.12.2014


 

NGÀY XUÂN

Như trong truyện cổ tích
Một bà tiên hiện ra
Cầm đũa thần gõ nhẹ
Úm ba la… ba la…

 

Bỗng thấy mình nhỏ lại
Thuở còn thơ bé thơ
Xúng xính quần áo mới
Tóc ngang vai, cột nơ

Cây mai nở vàng rực
Trước sân nhà khoe bông
Cùng cúc vàng, thược dược,
Thắm tươi với hoa hồng

 

Tủ thờ lư sáng loáng
Mâm ngũ quả đong đầy
Bánh chưng xanh, dưa hấu
Mừng năm mới sum vầy

 

Vòng tay con chúc Tết
Ông bà cùng mẹ cha
Đồng tiền thơm mừng tuổi
Con sung sướng hít hà

 

Xa xa vang tiếng pháo
Giòn giã nơi nhà ai
Ngày xuân tươi vui quá
Mong xuân cứ đến hoài

 

Chợt giật mình thức giấc
Ô! Giấc mơ mà thôi
Soi gương đầu đã bạc
Cô bé xưa xa rồi…

 

Trần Thị Nguyệt Mai


 

NĂM SẮP MỚI

 

Năm sắp mới*
Đang đi tới
Người phơi phới
Tình yêu đời
Mong mọi người
Luôn sức khỏe
Hồn tươi trẻ
Tâm thân an
Quý hơn vàng
Khi năm mới
Đang đi tới…

 

Trần Thị Nguyệt Mai

 

* Trích trong câu chúc của Bs Đỗ Hồng Ngọc

1.1.2017
 

Tết Ly Hương

CÀNH MAI NGÀY TẾT

Thương tặng chị Thái Kim Lan

 

Ngoài vườn sân tuyết ngập
Giá băng lạnh buốt hồn
Trong nhà mai rực rỡ
Ấm áp tết ly hương


Trần Thị Nguyệt Mai
11-2-2018

 

HOA ĐÀO TỪ SANTA ANA

Thương tặng chị Khánh Minh

 

Từ Tiểu Sài Gòn* nắng ấm
Hoa đào nhà ai nở rồi
Màu hồng tươi môi thiếu nữ
Mang Xuân đến cho mọi người…

 

Trần Thị Nguyệt Mai
11-2-2018

(*) Little Saigon, California, USA

 

NỒI BÁNH CHƯNG

Mến tặng anh chị Phạm Cao Hoàng

 

Xa quê nhưng vẫn nhớ
Nồi bánh chưng giao thừa
Màu xanh xanh của lá
Dẻo bùi của nếp thơm
Mà mẹ đã chọn kỹ
Những nguyên liệu thật ngon
Thêm tình yêu trong đó
Gói thành bánh cho con.

 

Trần Thị Nguyệt Mai
11-2-2018


 

TẶNG NGƯỜI SINH NHẬT MÙA THU

Thân mến gửi chị Thanh Lương

 

Sinh nhật mùa thu, sinh nhật mùa thu
mùa đất trời nên thơ rất đỗi
nàng nhẹ bước vào cõi nhân gian
lấp lánh ánh sáng màu xanh biếc
của ngôi sao trên bầu trời diễm tuyệt
nàng là ai nàng là ai
cho đất lành mang mầm xanh
cho cây nở hoa và kết trái

cho thương yêu khâu vá lại tim người (*)
chúc mừng sinh nhật ngày vui
thanh lương yêu nhé một đời bình an...

 

Trần Thị Nguyệt Mai

10.1.2020
(*) những dòng chữ nghiêng lấy ý từ Bài Kinh Ca Tụng Đất Mẹ của Làng Mai.

 

KHẤN NGUYỆN

Mến tặng chị PTC

 

Chúng mình quen nhau mùa Xuân
Hoa cỏ trỗi mình trở dậy
Sau mùa Đông trời lạnh cóng
Cho thêm ấm áp mùa Xuân

Chúng mình yêu nhau mùa Xuân
Hoa nở bừng khoe sắc
Chim líu lo giọng hót
Anh nghe hồn lâng lâng

 

Chúng mình đi qua mùa Hạ
Trời xanh, xanh những áng mây
Không thiếu những ngày nắng nóng
Thương thêm ngày dịu mát này

 

Để khi mùa Thu nhẹ tới
Lá xanh bỗng trở vàng ươm
Thoáng chốc thành màu ủ dột
Còn đâu em thắm môi son?

 

Mùa Thu mùa rơi rụng lá
Anh nhìn từng Thu đi qua
Chắp hai tay anh khấn nguyện
Em đừng vội bỏ đi xa

 

Đừng như mùa Thu rơi lá
Hãy còn ở mãi bên anh
Đừng như mùa Thu tan tác
Tình chúng mình mãi tươi xanh.

 

Trần Thị Nguyệt Mai

5.7.2020

____________________________

TTNMai_noilongcohoctro.jpg
TTNMai_Rugiac.jpg
TTNMai_emthangchap.JPG
TTNMai_TuoiHoaGiangSinh.JPG
TTNMai_TuoihoaXuan.JPG
TTNMai_TuoiHoa220.JPG
TTNMai_TuoiHoa226.JPG
TTNMai_TuoiHoa210.JPG
TTNMai_TuoiHoa224.JPG
TTNMai_LeKyThuongDoHongNgoc.JPG
TTNMai_Tuoihoa208.JPG
HaiTrau_self.JPG

                  HAI TRẦU _______________

 

                          VÀI GHI NHẬN RỜI RẠC

                          SAU HAI CHỤC NĂM ĐỌC LẠI 

                         “QUÊ HƯƠNG XA MÃI NGÚT NGÀN”

                          CỦA LÊ CẦN THƠ

Tôi vốn thích đọc sách viết về công việc đồng ruộng, cày bừa, cắt gặt, giăng câu, giăng lưới ở các tỉnh miền Tây Nam phần, vùng sông nước Cửu Long, lúc còn ở trên Boston, Massachusetts, tôi đã đọc quyển “Quê Hương Xa Mãi Ngút Ngàn” của nhà văn Lê Cần Thơ (2000) và nay sau hai chục năm, tôi lai rai ngồi đọc lại quyển sách này nhằm mục đích vừa giải trí giữa mùa dịch bịnh covid lây lan khắp mọi nơi vừa tìm lại chút tình quê qua các trang sách của tác giả. 

 

1/ Về tác giả.

 

Bìa sau của quyển sách “Quê Hương Xa Mãi Ngút Ngàn” xuất bản năm 2000, phần tiểu sử, tác giả Lê Cần Thơ ghi: “Sinh tại một quê nghèo miệt Cần Thơ; học Trung học tại trường Phan Thanh Giản; Đi lính khóa 5/68 trường Bộ Binh Thủ Đức” và “Tập tành viết lách để tạo cho tinh thần bớt đi căng thẳng trước cuộc sống và tình đời”

 

Mặc dù nói vậy, nhưng qua phần bút danh và phần báo chí mà ông tham dự thì tác giả Lê Cần Thơ viết báo từ thời ông làm Thư ký tòa soạn nguyệt san Triều Sóng Xanh của trường Phan Thanh Giản (Cần Thơ) năm 1966; rồi làm Tổng thư ký tạp chí Văn Nghệ Miền Tây tại Cần Thơ do Ngũ Lang chủ biên năm 1967-1968; từ năm 1988 tới năm 2019 là Chủ bút tạp chí Văn Hóa Việt Nam do Phạm Quang Tân chủ nhiệm; ngoài ra, tác giả còn có rất nhiều bút hiệu khi làm thơ viết văn, cho thấy tác giả Lê Cần Thơ là nhà báo chuyên nghiệp với hơn nửa thế kỷ trong nghề!

lttrung_LCT_3.JPG

2/ Về làng Trường Long, Phong Điền, Cần Thơ

 

Trở lại với cuốn Quê Hương Xa Mãi Ngút Ngàn của tác giả, ở phần “Vào Tập” (Thay lời tựa), tác giả nói rõ hơn về quê quán của mình: “Tôi đã sống trong miền quê Trường Long nghèo khó từ thuở mới chào đời, đã hít thở không khí thôn dã quê mùa, nên trong cách nhìn, cách nghĩ của mình cũng không thoát khỏi cái phong vị nơi mình chào đời.” (trang 9). 

 

Từ đó, người đọc biết quê tác giả là làng Trường Long và nổi tiếng về món cam ngọt mà trong thơ của Nguyễn Cát Đông- Trần Bang Thạch có lần đã nhắc:

“Ngun ngút đồng xanh Thác Lác, Bà Đầm

Tấp nập ghe xuồng ngã Bảy, ngã Năm

Cam ngọt Trường Long, khóm thơm Long Mỹ

Rộn rịp hát đình Bình Thủy, Cái Răng...”

 

Theo sách Địa Chí Hành Chính Các Tỉnh Nam Kỳ Thời Pháp Thuộc (1859-1954) của tác giả Nguyễn Đình Tư xuất bản năm 2017(*), theo thống kê năm 1939, thì làng Trường Long thuộc tổng Thới Bảo, quận Ô Môn gồm các làng: Định Môn, Thới Đông, Thới Lai, Thới Thạnh, Trường Lạc, Trường Long, Trường Thành, và ngày nay thuộc quận Phong Điền (Cần Thơ); còn quê của nhà văn Trần Bang Thạch (Nguyễn Cát Đông), theo thống kê năm 1939, là làng Thường Thạnh Đông, tổng Định Bảo, thuộc quận Châu Thành, tức quận Cái Răng. Cả hai tác giả Trần Bang Thạch và Lê Cần Thơ là hai nhà văn tiêu biểu vùng Cái Răng và Phong Điền (Cần Thơ).

 

3/ Về cái tình quê của tác giả

 

Sở dĩ chúng tôi đi tìm quê quán như vậy nhằm tìm ra cái chất sông nước ruộng vườn nơi quê nhà lúc tác giả sống ở đó hồi còn nhỏ phần nào rất ảnh hưởng tới văn phong của tác giả trên những trang sách. Ví dụ, tả về “dòng sông quê tôi”của mình, tác giả, Lê Cần Thơ viết:

“Dòng sông quê tôi (…) nó tiếp giáp sông Cần Thơ vào Cầu Nhiếm, đến ngã ba chợ Phong Điền thì rẻ trái vào Vàm Bi, để từ đây có thể đi Giồng Riềng (tỉnh Kiên Giang). Bà con quen gọi là ngã cái. Bởi ngã cái chạy dọc uốn quanh năm bảy cây số còn có nhiều nhánh con tua tủa hai bên giống các rễ con của một thân cây đeo vào rễ cái, như Kinh Chợ, Rạch Vông, Mương Củi, Cai Cẩm, Mương Điều, Trà Ết, Mương Cau, Rau Muôi, Ông Hào, Cần Đước, Mương Kinh, Xẻo Lá…”

(Dòng Sông Quê Tôi, trang 111)

 

Từ dòng sông quê tôi với nhiều kinh rạch chằng chịt như vậy, tác giả dẫn người đọc tới cái “nghề đăng cá” của gia đình mình qua bài thơ Ghe đăng, có đoạn:

 

“Miền tây sông rạch đan màn lưới

Ba sống nghề đăng cá dưới sông

Hơn nửa kiếp đời thân khó nhọc

Thương con…ba khổ biết khôn cùng.

 

Ba khổ từ khi vừa gặp má

Nhà nghèo, ruộng đất kiếm không ra

Phát thuê, đập mướn từng công đất

Để kiếm tiền mua gạo, muối cà…

 

Từ lúc xóm làng bừng lửa giặc

Cõng con, dẫn mẹ khắp miền quê

Ba lo chạy đói - cơm từng bữa

Khoai bắp thường hơn gạo lúa giê.

 

Rồi ba học được nghề đăng cá

Lặn ngụp từng đêm dưới rạch sâu

Năm năm tháng tháng quen sông nước

Quen nỗi buồn đau kiếp dãi dầu.”


(Ghe Đăng, trang 114)

 

Niềm mơ ước của tác giả rất đơn sơ mà tha thiết: “Ước vọng của tôi là muốn được về bên chiếc ghe đăng cá, là về với dòng sông quê hương, về với kỷ niệm ấu thơ đậm sâu dấu ấn trong cuộc đời mình, vì ở đó đã luôn gợi nhớ trong tôi hình ảnh của Ba suốt đời gian khổ để tạo cho anh em chúng tôi có cuộc sống nên vốc nên hình.”

(Dòng Sông Quê Hương, trang 116)

 

4/ Về cách diễn tả những nỗi niềm khi có nhiều cảm xúc

 

Dường như ngoài những trang văn xuôi, tác giả Lê Cần Thơ khi cần diễn tả tấm chơn tình của mình với nhiều cảm xúc, ông lại mời người đọc bước vào hồn ông qua những vần thơ khá mộc mạc mà chân tình! Những cuộn khói đốt đồng mịt mù ngày nào thuở tác giả còn là những đứa trẻ chạy giỡn theo những cánh diều bay bay trên bầu trời thơm thơm mùi rơm rạ ấy; những cuộn khói ấy nó lùa theo gió vây phủ một khoảng trời, câu thơ của ông rất đơn sơ, mộc mạc mà cảm động:

 

“Tháng này chiều tỏa khói đồng

Trôi xa lãng đãng bên dòng tuổi thơ

Tôi về thương chút mộng mơ

Bỏ quên từ lúc hững hờ chiến tranh.

 

Tháng này trời thiếu màu xanh

Không gian nhàn nhạt buông mành tơ sương

Mùi rơm cháy - mùi khói đồng

Cho tôi cái nhớ khoảng trong kiếp đời.

 

Tháng này đất ruộng nghỉ ngơi

Thuở xưa tôi thích đùa chơi thả diều

Bây giờ tất cả thương yêu

Vụt ngang tiềm thức giữa chiều quê hương.

 

Tháng này chợt nhớ chợt thương

Miền thơ ấu cũ mù sương khói đồng

Nắng chiều tỏa sắc cầu vồng

Tôi men lối cũ mà lòng bâng khuâng…”

(Khói đồng, trang 170)

 

5/ Về vài chữ dùng và không khí nhà quê với đời sống nơi làng Trường Long, Phong Điền (Cần Thơ) của tác giả thời thơ ấu

 

Tập sách Quê Hương Xa Mãi Ngút Ngàn của Lê Cần Thơ, ngoài những trang sách nhắc về các di tích lịch sử văn hóa như chùa chiền, đình thần, núi non, sông rạch hoặc các khu thương mại chợ búa của tỉnh Sóc Trăng, Châu Đốc, Hà Tiên, Trà Vinh, Cần Thơ … nhưng đời sống nơi làng Trường Long (Phong Điền) của tác giả mới là phần chánh yếu dạt dào nỗi lòng của một người con xa quê mà lòng lúc nào cũng khắc khoải nhớ về một chốn cố hương. Theo thiển ý của tôi, các đề mục dưới đây là những nét tiêu biểu ấy:

Ngày mưa rủ nhau đi lượm trái rụng (trang 158).

Dầm mưa đi bắt kiến vàng (trang 160).

Ngày mưa dặm cù bắt chuột (164). 

Nhớ mùa cá lên đồng (169).

Nhớ chuyện ruộng đồng (175).

Đuổi bắt chim trên ruộng lúa (trang 176).

Đặt trúm bắt lươn (trang 183).

Đặt lờ bắt cá sặt (trang 185).

Giăng câu bắt cá theo mùa (trang 186).

 

Là một người đọc gốc gác làm ruộng và già như tôi, tôi đã nhìn ra cái vui sướng của tác giả khi ông kể cho người đọc qua những kỷ niệm hồi còn nhỏ như lượm xoài rụng, bắt kiến vàng, dặm cù chuột, đi soi cá ban đêm, giăng câu, cắm câu, đặt lờ tôm, lờ cá sặt, đặt trúm và tôi nghĩ đây là những trang sách dù còn sơ sài nhưng nó giúp cho người đọc biết thêm nếp sống hồn nhiên của cư dân nơi vùng làm ruộng cấy của tác giả, dù mỗi năm chỉ cấy có một mùa!

 

Nhắc về ruộng cấy ở làng Trường Long, tác giả kể:

 

“Khi cá lên đồng tìm chỗ đẻ một thời gian là nông dân bắt đầu phát cỏ trên các đường lươn để cấy giâm. Lúa giâm bén rễ và bắt đầu nhảy rẻ mập ra… người ta có thể lội qua những đám lúa non đó để giăng câu hay soi bắt cá.” (trang 172)

 

“Khi nước đã tràn đồng, cá đã đẻ xong, cá mẹ dẫn từng đàn cá ròng ròng đi ăn khắp nơi, người ta cũng bắt đầu phát cỏ dọn đất để cấy (cấy giâm khoảng tháng 7 và cấy liền khoảng tháng 10 âm lịch- là cách làm ruộng mỗi năm một mùa vào thời điểm thập niên năm mươi, sáu mươi ở quê tôi). (trang 189).

 

Qua hai đoạn vừa trích, điều này cho biết cư dân các vùng Ô Môn, Cái Răng, Phong Điền, Phong Thuận và nhiều vùng làm ruộng cấy chắc hổng ai có ý thắc mắc gì; nhưng các vùng khác như miệt Châu Đốc, Long Xuyên, Sa Đéc là những vùng tới mùa nước lên mực nước ngập rất sâu và làm lúa sạ, lúa mùa chắc không biết “cấy giâm” và “cầy liền” tức là “cấy thiệt”, “cấy thực thụ”, là cấy thế nào? Hồi đó, mấy năm làm lò gạch Cái Côn, quận Phong Thuận, tỉnh Cần Thơ, ngoài những ngày làm gạch là công việc chính, chúng tôi còn làm thêm cái nghề cấy lúa cho đất ruộng của lò gạch và thỉnh thoảng những ngày cuối tuần còn lãnh cấy lúa mướn cho các miếng ruộng trong vùng nữa, nên tiện đây tôi xin phép ghi lại các giai đoạn của việc cấy lúa này.

 

Trong ruộng cấy có nhiều giai đoạn, nhưng trước nhứt là công việc rải mạ. Người ta dọn một miếng đất thật bằng phẳng rồi cày bừa cho nhuyễn và đem giống ra rải lên miếng đất ấy. Vì rải mạ nên người ta cần sạ giống cho dầy, vừa để tránh hao hớt vừa để sau này khi mạ đầy tháng còn nhổ mạ và chiết ra để cấy lại trên đất ruộng đang chờ để cấy. Bởi vậy trong dân gian khi có ai làm việc gì mà bị đổ đầy trên mặt bàn hay trên mặt đất người ta gọi rải mạ. Sau khi rải mạ như vậy mưa xuống hột giống sẽ lên dày bịt và đúng một tháng hoặc trồi sụt chút đỉnh là bắt đầu nhổ mạ và đem đi cấy. 

 

Nhổ mạ là nhổ nguyên một vạt đất như vậy và mỗi người nhổ mạ xong gom lại, mỗi bó độ chừng hai nắm tay thì họ dùng dây lạt tre hoặc lạt dừa nước bó mạ lại ở phần gần gốc cây mạ có ý làm cho bó mạ không bị sút sổ. Trước ngày cấy lúa trên đất đã cày bừa trục nhuyễn sẵn thì công việc kế tiếp là giang mạ. Giang mạ là người ta chở mạ hoặc gánh các bó mạ vừa mới nhổ xong bỏ đều trên miếng ruộng sắp cấy. Tùy theo muốn cấy dày hoặc cấy thưa mà mỗi công đất sẽ được phân phối số mạ nhiều hay ít. Trung bình người ta tính theo cây tầm đo đất, chiều dài 3 thước, gọi là tầm cấy hoặc tầm cắt. Mỗi tầm cấy như vậy cấy 12 bụi mạ, hoặc 14 bụi, gọi là cấy dầy; nếu cấy 10 bụi mạ, gọi là cấy vừa; còn cấy 8 hoặc 6 bụi mạ thì gọi là cấy thưa. 

 

Về động tác cấy có mấy động tác chính như sau: tay mặt vừa cầm nắm mạ vừa cầm nọc cấy, ngón cái bàn tay mặt vừa đẩy một ít mạ tách rời nắm mạ gọi là ra mạ, nếu ra mạ mà ít quá gọi là bắt nhẻ. Thông thường người đi cấy lúa mướn thì 3 người họ lãnh cấy chung nguyên một công đất, tức là mỗi người cấy một phần ba (1/3) công, còn gọi tắt là một góc ba. Do vậy tâm lý giữa chủ ruộng và công cấy có những suy nghĩ trái ngược nhau. Chủ thì lúc nào cũng muốn công cấy cấy dầy; còn công cấy thì muốn cấy thưa cho mau xong công đất để mau về sớm. Ở nhà quê có câu thiệu: “Bắt nhẻ, cấy thưa, tầm đưa vô đít”, ý nói “bắt nhẻ” là bắt mạ rất ít, thay vì vừa tay cho một bụi mạ khoảng năm gốc mạ thì người công cấy đi cấy mướn lại tách mạ rất ít, chỉ hai hoặc ba gốc mạ thôi, nhằm để cấy cho mau, khỏi mất công phải lấy mạ hoài lâu rồi công. “Bắt nhẻ” như vậy có cái hại là gặp trời nắng nước ruộng bị nóng và bụi mạ khó bén rễ, có khi mạ bị chết và miếng ruộng này khi lúa lớn lên sẽ hao hớt, thưa thớt. 

 

Cũng là ruộng cấy nhưng ở miệt Cái Côn (Cần Thơ) người ta không rải mạ mà dùng chày tỉa để tỉa mạ. Chày tỉa là một cái cây làm bằng cây tràm hoặc bất cứ cây gì mà săn chắc bào cho láng, dài vừa khỏi đầu, một đầu chuốt nhọn như trái vụ để khi cầm chày tỉa cắm xuống đất và khi lấy chày lên sẽ để lại một cái cái lổ vừa gieo mạ. Công việc tỉa mạ có hai người cùng làm, một người dùng chày tỉa xắn lổ và người kia bỏ hột giống và lấy tro trấu lấp hột giống lại. Sau vài ba ngày tùy theo giống khô hoặc giống ngâm mà mạ mau lên hoặc chậm lên. Cái này cũng có cái lợi và cái hại tùy theo thời tiết. Gặp trời nắng nóng thì giống khô ít hao, lúa giống nằm đó chờ mưa từ từ rồi mọc mọng và lên cây; trái lại gặp trời mưa thì giống ngâm mau lên cây hơn, mạ ít hao. Sau khi cấy mạ được một tháng, người ta bắt đầu dùng tay nhổ mạ. Nhổ mạ như vậy rồi cũng dùng dây lạt để bó mạ nhưng chưa đem ra ruộng cấy liền, mà phải dọn sẵn một miếng đất khác để cấy số mạ này. Công đoạn cấy lần này gọi là cấy giâm mà trong sách của tác giả Lê Cần Thơ có nhắc. Cấy giâm có nghĩa là đem mạ còn non cấy lại một lần nữa cho cây mạ cứng cáp và nở ra nhiều thêm rồi mới bứng mạ một lần nữa và lúc bấy giờ mới giang mạ và cấy thiệt thọ còn gọi như tác giả là “cấy liền” trên miếng đất mà mình muốn trồng lúa và chờ tới mùa lúa chín là lo kêu công cắt gặt. 

 

Sở dĩ gọi bứng mạ vì giai đoạn này mạ đã lớn, mỗi bụi mạ nở nhiều tép mạ rất mập và rễ mạ bám chặt xuống đất nên người ta phải dùng dao để xắn bụi mạ lên chứ không phải nhổ mạ bằng tay như lúc mạ còn non nữa. Con dao bứng mạ cũng chỉ là con dao yếm, tức là loại dao thông dụng trong nhà bếp mà dân quê thường dùng để xắt thịt, làm cá nhưng với dao yếm bứng mạ thì mũi dao bản bự hơn loại dao yếm thường, đặc biệt là được mài rất bén. Thông thường một bụi mạ người ta phải xắn ba góc mới lấy bụi mạ lên được an toàn không bị đứt rễ nhưng với dân bứng mạ chuyên nghiệp người ta chỉ bứng hai nhát dao là bụi mạ lấy lên được khỏi mặt đất và không bị đứt rễ. Cái hay của chuyên môn là ở cách bứng mạ ấy vì nhờ vậy mà công việc bứng mạ mau xong sớm. 

 

Còn cấy giặm là cấy thêm những chỗ ruộng lúa bị hao hớt vì lúa chết hoặc cua kẹp. Dù làm lúa sạ hay lúa cấy gì khi lúa bị hao người ta hay mướn công cấy và chiết mạ từ những chỗ lúa dày để giặm vá vào những chỗ trống này.

 

Vì phần nhiều các sự việc làm ruộng, phát cỏ, cấy lúa, bắt cá, bắt lươn… mà tác giả thuật lại trong sách là công việc ở làng Trường Long, quê của tác giả, có lẽ vì là vùng làm lúa cấy nên thời gian làm mùa cũng như những chi tiết về mỗi nghề có khác đôi chút so với các vùng làm lúa mùa, lúa sạ miệt Châu Đốc, Long Xuyên, Sa Đéc và nhiều vùng nước ngập sâu có khi tới hai ba thước nước vào mùa nước lên vào khoảng tháng 9, tháng 10 âm lịch, nên đọc sách của Lê Cần Thơ, người đọc ở thành thị có khi hơi ngờ ngợ. Chẳng hạn như câu thơ: 

 

“Ba khổ từ khi vừa gặp má

Nhà nghèo, ruộng đất kiếm không ra

Phát thuê, đập mướn từng công đất

Để kiếm tiền mua gạo, muối cà…”

 

Hai chữ “đập mướn” theo tôi hiểu có lẽ tác giả muốn nhắc những ngày thân phụ của mình phải đi đập lúa mướn vào mùa cắt gặt; vì làm ruộng cấy, người ta không có gom lúa vô cà lang cao vòi vọi trong một cái sân rộng như lúa sạ lúa mùa miệt Long Xuyên. Bạn còn nhớ hồi xưa, khi tới mùa cắt gặt nếu bạn đi qua các vùng Mỹ Tho, Tân An dọc theo quốc lộ 4 ngày trước làm ruộng cấy, các bạn thấy người ta mướn công cắt và công đập lúa bông ra lúa hột. Lúc bấy giờ có người gom từng ôm lúa và đập vô cái bồ nhỏ dừng chung quanh bằng tấm mê bồ chỉ chừa cái cửa để người đập lúa ôm mớ lúa đập lên tấm vỉ tre cho lúa hột rụng ra và lúa không văng ra ngoài.

 

Nếu có dịp bạn đọc được cuốn sách này, bạn sẽ rất ngạc nhiên khi đọc được đoạn tác giả đi soi cá, soi lươn được cá lươn nhiều lắm; vì cá lươn nhiều quá nên ham cứ mải miết men theo đường nước và soi cá bỏ đầy giỏ; nhưng khi mệt rồi lên bờ ngồi nghỉ thì thấy lại trong giỏ toàn là đất sét với chỉ có vài con cá hủng hỉnh thôi. Đó là lần duy nhứt tác giả bị ma cho cá lươn bằng đất sét. 

 

Nhắc điều này để thấy hồi đời xưa ở các vùng quê nói chung, không riêng gì làng Trường Long (Cần Thơ), ngay ở miệt Lấp Vò (Sa Đéc) hoặc Mặc Cần Dưng (Long Xuyên) đâu đâu người ta cũng hay bị ma nhát, ma giấu vô bụi tre gai và ma cho ăn đất sét là chuyện kể hằng đêm mà hồi nhỏ mấy đứa nhỏ tụi tôi đứa nào cũng thích nghe kể chuyện ma nhưng khi nghe xong rồi tới khuya lại sợ ma hổng dám đi dìa nhà một mình!

 

Riêng tôi thì bị ma nhát hà rằm! Nhứt là những đêm đi ngủ giữ lúa giữa đồng hay những đêm đi giăng câu, giăng lưới, trong lúc ngủ chờ tới giác đi thăm câu, thăm lưới thì thường bị ma đè không nhúc nhích cục cựa gì cho nổi; dù có xuồng mấy bạn đậu cặp bên cùng ngủ với mình nhưng hổng cách gì mở miệng kêu tiếp cứu được; đến lúc tỉnh lại rồi mệt gần chết luôn!

 

Sở dĩ tôi nhắc qua chuyện ma nhát, chuyện ma biến cá lươn thành đất sét như tác giả kể hồi đời xưa trên trang sách là có thật chứ hổng phải chuyện hư cấu, tưởng tượng. Hồi đó cách nay sáu bảy chục năm, ở quê, tụi nhỏ chúng tôi đi bắt cóc, bắt ếch vào mùa mưa hoặc mùa cóc, mùa ếch hội vào tháng 9, tháng 10 âm lịch cũng vậy. Mùa cóc hoặc mùa ếch hội là mùa chúng bắt cặp và đẻ trứng; gặp cóc ếch bắt cặp ham lắm cứ mê mệt vì cóc ếch lúc bấy giờ con đực nằm lên lưng con cái mê man bất kể trời đất, và chúng gần giống như chết vậy, nên lúc bấy giờ mình chỉ cần lượm một cặp, một cặp rồi cứ thể bỏ đầy giỏ, mà nhứt là nơi các gò mả, đất nhị tì nước ngập lắp xắp cóc ếch càng rủ nhau tụ hội rất đông nữa; nhưng lượm cóc ếch một hồi mệt mới ngồi nghỉ và coi lại giỏ cóc gần đầy chưa thì ôi thôi, toàn là đất sét không hà! Lúc bấy giờ mới biết sợ là bị ma nhát! Ghê lắm!

LTTrung_coc hội.JPG

6/ Nhìn lại vài tác giả viết về đồng quê.

 

Ngày nay, viết về đời sống nơi nhà quê cách nay sáu bảy chục năm có nhiều tác giả đã viết. Chẳng hạn như vùng Xà Tón (Tri Tôn) có nhà văn Phong Hưng-Lưu Nhơn Nghĩa với các tác phẩm tiêu biểu Như Cánh Chuồn Chuồn, Con Đường Cũ; viết về vùng Bắc Nam quận An Phú (Châu Đốc) có nhà văn Khiêm Cung- Dương Văn Chung (Úc Đại Lợi) với các tác phẩm Nội Ngoại Đều Thương, Thằng Mập, Nhớ Một Vàm Sông, Những Mảnh Hồn Tôi; viết về ấp Bà Bài (Tịnh Biên, Châu Đốc) có nhà văn Anh Phương- Trần Văn Ngà; viết về Vàm Kinh Cũ (Châu Phong, Châu Đốc) có chị Nguyễn Thị Lộc Tưởng; viết về con sông Láng Thé, làng Long Thuận, đồng Cây Cách (Trà Vinh) có Ký Ức của Huỳnh Văn Lang người sáng lập tạp chí Bách Khoa (Sài Gòn) và quyển “Quê Hương Xa Mãi Ngút Ngàn” của Lê Cần Thơ… Mỗi tác giả có văn cách riêng nhưng dường như các tác giả đều gặp nhau ở một điểm chung là có những ngày tuổi thơ sống nơi các làng quê của mình và cỏ lẽ nhờ thế mà thiên nhiên đã un đúc nên cá tính của mỗi người, từ đó mỗi người có những kỷ niệm riêng và văn phong riêng làm nên những trang sách qua những hồi ức làm nên các tác phẩm riêng của chính mình.

 

7/ Thay lời kết

 

Những trang sách của Lê Cần Thơ qua quyển “Quê Hương Xa Mãi Ngút Ngàn” là loại văn kể chuyện; tác giả kể về những hồi ức của mình thời ấu thơ, thời theo ghe đăng của cha, thời những Ngày mưa rủ nhau đi lượm trái rụng (trang 158), Dầm mưa đi bắt kiến vàng (trang 160), Ngày mưa dặm cù bắt chuột (164), Nhớ mùa cá lên đồng (169), Nhớ chuyện ruộng đồng (175), Đuổi bắt chim trên ruộng lúa (trang 176), Đặt trúm bắt lươn (trang 183), Đặt lờ bắt cá sặt (trang 185), Giăng câu bắt cá theo mùa (trang 186); tức là tác giả muốn phác họa lại bức tranh đồng quê về cuộc sống của cư dân nơi làng Trường Long (Phong Điền-Cần Thơ) của mình có một thời làm ruộng cấy như thế nên văn của ông tự nhiên, mộc mạc, giản dị, không tô chuốt, bóng bảy mà đượm cái tình quê, tình gia đình và tình bạn bè từ những ngày còn thơ ấu cho dĩ chí tới tuổi xế chiều qua dòng đời nhiều biến đổi nhưng những tình tự ấy không thay đổi trên các trang sách của Lê Cần Thơ! (**) 

 

Hai Trầu

Houston, ngày 22 tháng 11 năm 2020

 

Phụ chú:

(*) Theo sách “Địa Chí Hành Chính Các Tỉnh Nam Kỳ Thời Pháp Thuộc (1859-1954) của tác giả Nguyễn Đình Tư, nhà xuất bản Tổng Hợp Tp HCM, 2017, trang 173.

 

(**) Xin đính kèm vài hình ảnh kỷ niệm của nhà văn Lê Cần Thơ với các bạn văn nghệ:

LTTrung_pic_first.JPG
LTTrung_pic_6.JPG
LTTrung_pic_final.JPG
LTTrung_pic_group.JPG

                                            Hai Trầu                             

                               LAI RAI VỚI ANH TRẦN BANG THẠCH

                               VỀ CẦN THƠ CỦA ANH MÀ TUI BIẾT

                                            _______________________________

                                                 

                                                      Hai Trầu với chùm khế quê hương

                                    tại góc vườn nhà nơi đất khách

                                              

 

Anh Trần Bang Thạch quê làng Thường Đông, cách chợ quận Cái Răng tỉnh Cần Thơ khoảng 4 cây số. Hồi còn nhỏ ở quê làm vườn, học tiểu học. Thi tuyển đậu vào lớp đệ Thất trường Trung học Phan Thanh Giản (Cân Thơ). Sau khi học hết bậc Tú Tài, anh theo học tại Đại Học Văn Khoa & Đại Học Sư Phạm Sài Gòn vì hồi đó ở Cần Thơ chưa có Viện đại học. Khi ra trường năm 1970, anh Trần Bang Thạch được bổ nhiệm về dạy ở trường Trung học công lập Thủ Khoa Nghĩa ở Châu Đốc và năm 1980 anh đổi về dạy trường Trung học Thoại Ngọc Hầu Long Xuyên (lúc bấy giờ trường Thoại Ngọc Hầu có tên là trường Cao Đẳng Sư Phạm). Trước 1975, Trần Bang Thạch có viết văn, làm thơ và khi làm thơ ký bút hiệu Nguyễn Cát Đông với mục đích là để nhớ về làng Thường Đông thuộc quận Cái Răng, quê của mình nên trong giới văn chương thường gọi anh là nhà văn, nhà thơ nhưng tui thích gọi anh bằng “anh” hơn vì gọi như vậy nó vừa hợp với tính tình của anh vốn mô phạm, khiêm cung và lúc nào anh cũng nhớ mình là người gốc gác dân quê, miệt vườn, miệt ruộng mà nó cũng rất hạp với cái chất nhà quê của tui vốn là một người đọc già gốc gác ruộng đồng, quê mùa nhưng rất quí trọng người chữ nghĩa hiền tài nữa! 

 

Về thơ của anh, tui nhớ được đoạn thơ của Nguyễn Cát Đông tả cảnh sông nước vùng Cân Thơ của anh:

 

“Ngun ngút đồng xanh Thác Lác, Bà Đầm

Tấp nập ghe xuồng ngã Bảy, ngã Năm

Cam ngọt Trường Long, khóm thơm Long Mỹ

Rộn rịp hát đình Bình Thủy, Cái Răng...”

 

Tui cũng thích và cảm thông được tâm trạng của người thầy không còn đứng trước bảng đen và phấn trắng như những ngày nào lúc mới ra trường nữa qua Liên khúc Trường Xưa của tác giả:


 

* KHÚC LẠ TRƯỜNG
Nghe sao lạ những ngói vôi
lạ em giữa lớp, lạ tôi giữa trường
hạt mưa nào rớt qua đường
hay tôi mắt ướt giữa sương khói chiều!

 

* KHÚC LẠ LỚP
Em trong cửa lớp nhìn ra
Ta ngoài cửa lớp thấy ta một thời
những thầy, 

những bạn, 

những tôi
những cơn mộng cũ 

ngồi nơi góc nào?!
 
* KHÚC THẦY CŨ

Vẳng nghe tiếng trống trường thành
với câu chinh phụ còn quanh chỗ ngồi
người xưa? 

người đã đi rồi!
còn đây tiếng phấn nhẹ rơi giữa ngày!

 

* KHÚC NGƯỜI TRÊN BẾN LỠ
Người đi như sáo qua sông
như con nước lớn nước ròng ngược xuôi
tôi trên bến lỡ một đời
làm thân lá mục lạc trôi giữa dòng

 

(Nguyễn Cát Đông- Trần Bang Thạch, trang nhà Trần Thị Nguyệt Mai, ngày 09-11-2020)


 

Sau khi đã đọc “Lai rai với nhà văn Song Thao…” của Hai Trầu), Trần Bang Thạch viết:

 

“Anh Hai Trầu,

Đọc phỏng vấn nầy khoái quá, đúng là lai rai ba sợi. Lại còn bonus hình ảnh nữa. Vậy mà hay. Không khuôn phép gì ráo. Bạ đâu nói đó. Gốc nông dân nam bộ là vậy. Bây giờ mới biết anh cũng từng "tá túc" nhà tui, còn tui ở đậu nhà anh Châu Đốc và Long Xuyên khi kiếm cơm áo ở Thủ Khoa Nghĩa (Châu Đốc) (từ 70) & Thoại Ngọc Hầu (Long Xuyên) [từ 75 tới 80 rồi xuống "the river of no return" của Robert Mitchum]). Tui nhớ trường Bồ Đề (Cần Thơ) như in vì mỗi chiều (yes, mỗi chiều) tui đi qua lại từ nhà sách Văn Nhiều (38 đường Ngô Quyền, anh là thầy giáo chắc phải ghé nhà sách nầy?), băng qua đường Nguyễn An Ninh, tới đầu đường Nguyễn Trường Tộ, qua trường Bồ Đề, đi vài trăm thước là tới nhà "em yêu" (xéo Tây Đô bóng bàn).

Tiếc là thời đó mình hỏng có duyên gặp nhau. Ở Châu Đốc tui thường cà phe với Khai Phá, nhà thơ Thần Liên Lê Văn Tất, Liêm Châu, nhiều lần qua Hòa Hảo thăm nhà biên khảo Nguyễn Văn Hầu....

Vui và khỏe nghen Hai Trầu”

TBT

(Ngày 26.10.2020)


 

Cảm ơn anh Trần Bang Thạch.
Vậy là hồi đó anh quá hạnh phúc, được gặp các tác giả mà nhiều người mến mộ như “nhà thơ Thần Liên-Lê Văn Tất, Liêm Châu, nhiều lần qua Hòa Hảo thăm nhà biên khảo Nguyễn Văn Hầu..”. Vui quá! Chắc hôm nào anh thấy hứng thú, xin anh kể cho nghe về các vị tiền bối ấy nhe! Giờ mới sực nhớ quê anh hồi đó là làng Thường Đông, Cái Răng, Cần Thơ; rồi anh chạy giặc tản cư vô Trà Lồng năm nào mà anh nhớ và viết rất cảm động quá:

 

“Giữa tiếng đạn bom mỗi lần chạy giặc
Giữa lác, đưng, đỉa, muỗi Trà Lồng
Đôi tay mẹ như mây trời bát ngát
Một cánh cò vất vả nuôi con.”

Từ làng anh tới Trà Lồng có xa lắm hông và bơi xuồng theo con rạch nào vậy
anh?

“Anh Hai Trầu,

Chuyện hồi nhỏ của tui dài lắm anh vì nó bắt đầu lận đận từ 2, 3 tuổi tại 1 xẽo nhỏ là Xẽo Môn (sau nầy thuộc xã Long Thạnh, trên đường Cần Thơ - Phụng Hiệp). Lúc đó còn nhỏ quá mà phải di chuyển thường xuyên, chỉ nghe và nhớ tên các địa danh như Trà Lồng, Trà Cú, Ngả ba An Trạch...còn tới đó bằng ngả nào thì tui chịu!

Thời gian 5 năm ở Châu Đốc là tuyệt vời. Học trò, phụ huynh rất trọng người thầy. Tui thấy ai cũng hiền như Phật. Mỗi lần có đứa học trò sắp đi lính là thầy trò có dịp say từ giã trên đỉnh núi Sam. Nghĩ thật tội lỗi: nhiều lần tụi tui chơi tới bến trong sân chùa Cô ba Tràng (chắc anh biết chùa nầy?).Thời gian nầy nếu tui muốn chuyển về quê quán thì cũng được, nhưng quen đất, quen người không muốn xa. Về Long Xuyên từ sau 4/75 là do nhu cầu của họ khi trường Thoại Ngọc Hầu đổi thành Cao đẳng Sư Phạm. Tui ở nội trú trong trường cùng với các người gọi là giáo viên chi viện từ miền Bắc. Chán muốn chết (gặp họ ngày lẫn đêm!). 

Tui cũng thích đọc Song Thao lắm, ông ấy dùng vốn hiểu biết rộng với cái nhìn rõ nét từng sự việc bình thường. Gần đây tui ít xem báo nên không theo dõi được sinh hoạt làng văn.

Rất mừng anh còn giữ phong độ.

Chúc vui,

TBT

(Ngày 27.10.2020)


 

Dà, cái lễ nghĩa “trọng thầy” là do cái nếp nhà anh à! Hồi lớp tụi tui còn nhỏ xíu mỗi lần gặp thầy từ xa xa là trốn vì sợ thầy gặp, mà rủi tới gần, hổng cách nào trốn khỏi, là khoanh tay cúi đầu chào thầy rất kính nể. Hồi các lớp nhỏ bậc sơ học, tiểu học là thầy ưa đánh đòn mỗi khi dọn bài mà học trò hổng thuộc, mình sợ đã đành; mà khi lớn rồi và bắt đầu vào lớp Đệ Thất bậc trung học các thầy hết dùng roi vọt mình cũng rất sợ thầy dù thầy rất ít khi rầy mình! Dường như hồi đó học trò làng, học trò tỉnh vùng sông nước miền Tây của mình, nói chung, đâu đâu cũng đều kính trọng các thầy là vậy; chẳng những vậy mà các bậc cha mẹ, phụ huynh đều kính trọng thầy hết mực anh à! Bởi vậy, hồi xưa mới có mấy câu thuộc nằm lòng như:“Một chữ là thầy, nửa chữ cũng là thầy”; hoặc “Kính thầy mới được làm thầy”; hoặc “Không thầy đố mầy làm nên”, đó anh!

 

Tui còn nhớ hồi đó, lúc ở Cần Thơ của anh, tui chỉ dạy giờ ở vài trường tư thục như trường Bồ Đề, trường Tân Văn, trường Hậu Giang đâu chừng một niên khóa, rồi tui đổi đi ra Nha Trang khoảng vài ba năm, rồi sau cùng tui lại được hoán đổi để về lại Sài Gòn, vị chi tui xa Cần Thơ của anh khoảng hơn năm năm, vậy mà tới khi tui về lại Kinh Năm (Chương Thiện) phá rừng tràm, đào kinh lên liếp trồng khóm gặp lại học trò cũ ở Tân Văn, ở Bồ Đề cũng vô đây đào kinh lên liếp trồng khóm, có hai em lại hỏi tui:

“Dạ, Thầy còn nhớ em hông?” 

Tui trả lời:

“Lâu quá, thầy quên các em rồi. Em tên gì?”

Hai em đáp:

“Dạ, Em là Tâm; còn em là Bình học ở Bồ Đề và Tân Văn với thầy hồi thầy dạy lớp Đệ Lục đó!”

 

Rồi tui lại hỏi học trò:

“Sao hai em cũng vô đây?”

 

Các em mới trả lời:

“Ở nhà má em vì sợ tụi em ở nhà đi chơi, nên gởi hai em vô phường học, rồi phường đưa tụi em vô đây!”

 

Thiệt là quá cảm động phải hông anh Thạch? Chẳng những vậy mà sau này khi các em được về trước, mình còn kẹt ở lại, các em lại cụ bị đường, bột, gạo, sữa xách đầy giỏ đệm trở vô Kinh Năm thăm thầy mấy lần! Thiệt là tới bây giờ nhắc lại với anh mà tui còn muốn ứa nước mắt!

 

Dà, nhắc đến Cần Thơ của anh, tui có rất nhiều kỷ niệm. Kỷ niệm trước tiên là mấy kỳ xuống Cần Thơ của anh dự các kỳ thi Tú Tài I, Tú Tài II rồi tới khi đi nghe kêu kết quả nữa, có lúc lọt sổ, ôi thôi, Cần Thơ của anh lúc bấy giờ buồn thúi ruột! Có lần tui đi chung với anh bạn cùng làng để nghe kêu kết quả kỳ thi Tú Tài II, tui thì vần T nên số báo danh của tui được kêu trước và tui đậu dù chỉ đậu hạng “thứ” thôi anh à; còn anh bạn tui có vần X số báo danh lớn hơn và ở gần cuối danh sách, ảnh bị lọt tên, rồi tui cũng đâu có vui sướng gì đâu anh khi bạn mình đang buồn! 

 

Mà hồi đó (mấy năm 1963, 1964) Cần Thơ đối với học trò các tỉnh nhỏ tụi tui lần đầu xuống Cần Thơ là thấy Cần Thơ quá lớn, nhà nhà sung túc, phố xá tấp nập, nhứt là các con đường như đường Phan Đình Phùng chạy băng qua thị xã thì sầm uất, nơi có trường trung học tư thục Tân Văn nằm xéo xéo rạp hát Minh Châu, vui quá! 

 

Sau này có dịp trở lại Cần Thơ mấy năm 1966-1967, quan sát kỹ tui thấy Cần Thơ của anh có đại lộ Hòa Bình, rộng thênh thang với ngôi trường Thọ Nhơn dạy chữ Tàu, rồi có Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn IV nữa! Ngoài ra, khi Cần Thơ có Viện Đại Học thì gần khúc trường Thọ Nhơn có văn phòng của Viện Trưởng Viện Đại Học Cần Thơ và văn phòng Tổng Thư Ký của viện Đại Học nữa. Còn con đường Ngô Quyền có nhà sách Văn Nhiều mà có lần anh kể cho tui nghe là từ Cái Răng khi anh ra Cần Thơ theo học lớp Đệ Thất trường trung học Phan Thanh Giản anh trọ ở đó vì ông cậu ruột của anh là chủ nhà sách Văn Nhiều này. Tui mới kể chuyện với bà xã tui về anh và nhà sách Văn Nhiều, bà xã tui có biết tên nhà sách này vì hồi trước, khoảng năm 1970-1975 nhà sách Văn Nhiều thường hay đặt mua các sách báo ngoại ngữ tiếng Anh, tiếng Pháp nơi Bookshop nằm ở số 41E đường Ngô Đức Kế (Sài Gòn) chỗ gần góc đường Ngô Đức Kế & Nguyễn Huệ vì lúc bấy giờ bà xã tui làm kế toán ở đó nên còn nhớ tên nhà sách Văn Nhiều (Cần Thơ), khá quen thuộc!

 

Cần Thơ của anh tui có biết con đường Cống Quỳnh về hướng vô vườn Thầy Cầu, cách cầu Đôi Mới chừng vài ba trăm thước, xéo xéo bên kia bờ rạch Cái Khế là chùa Sư Nữ với tiếng chuông chùa văng vẳng đưa sang bên này đường vào mỗi sáng mỗi chiều làm tui nhớ ngôi chùa Tân Phước Tự làng quê tui hồi những ngày còn nhỏ sống ở làng Tân Bình (Lấp Vò). 

 

Những địa danh mà tui ở trọ lúc mới về làm cu li ở Cần Thơ là căn nhà gần chùa Cây Bàng, nằm sâu trong con đường tráng xi măng từ chợ cầu Xã Đài (hay Cả Đài gì đó lâu rồi tui quên tên, chỗ này nhà thơ Trần Phù Thế nhớ rành lắm vì có lúc ảnh ở gần chỗ này); có lúc tui ở hẻm Hai Địa đường Phan Thanh Giản; rồi sau Tết Mậu Thân, tui dời qua hẻm số 2 đường Nguyễn Trải trọ, chỗ gần nhà đèn Cần Thơ; còn cơm tháng thì có lúc ăn cơm tháng chỗ chị Sáu đường Ngô Quyền, có lúc ăn cơm tháng chỗ Dì Tư nơi Ụ Tàu, chỗ gần chợ Cái Khế trên đường đi Long Xuyên. Nhắc qua những lần tui ăn cơm tháng chỗ này chỗ kia như vậy, giờ nhớ lại mình cũng lang thang quá mạng phải hông anh?

 

Hồi đó, nhớ lại lúc ở Cần Thơ của anh tui ít đi chơi chỗ này chỗ kia dù làm cu li ở đó khoảng gần hai năm; lúc bấy giờ tui có biết vườn sầu riêng Thầy Cầu trong ngọn rạch Cái Khế tới mùa sầu riêng bà con ưa vô vườn mua trái cây như sầu riêng, vú sữa; ngoài ra, gần bắc Cần Thơ, cách chợ Cái Khế một đỗi, phía tay mặt có một vườn ổi xá lị rộng lắm và có mận nữa, tới mùa đông ken trái quằn nhánh, khách thăm vườn đông lắm!

 

Ở Cần Thơ của anh mấy năm đó, cách nay hơn nửa thế kỷ, tui có nhận xét là những con hẻm trong tỉnh lỵ Cần Thơ của anh có cái vui là hẻm nào cũng có vườn tược xanh um, cây trái mát rượi mà nhứt là món mận, món quít, món cam, món bưởi khi tới mùa trổ bông, bông mận, bông cam, bông quít, bông bưởi nở rộ và gió mang theo mùi thơm của các loại bông này lan tỏa khắp cả một vùng! Thơm dữ lắm, nhiều lúc tui cứ tưởng hổng có bông gì tinh khiết và thơm cho bằng các loài bông mận, bông bưởi, bông cam, bông quít đơn sơ và chất phác như các loại bông này! 

 

Đó là nhắc về những ngày đi thi Tú Tài 1, Tú Tài 2, và những ngày đi làm cu-li ở Cần Thơ; còn về sau này có lúc tụi tui ở Long Xuyên cùng bị đưa xuống Chủng viện Cái Răng chỗ quê gốc của anh, trong đó có nhiều anh bác sĩ làm ở Bịnh viện Long Xuyên, có anh TBĐ (Chánh sở Học Chánh Long Xuyên), có cả mấy ông chánh án và nhiều bạn học hồi trước ở Long Xuyên cũng cùng đi xuống Cần Thơ của anh dịp này. Chủng viện Cái Răng tui nhớ chừng dường như cách cầu Cái Răng hổng xa lắm! Nếu mình từ trên Cần Thơ đi xuống theo quốc lộ số 4, về hướng đi Sóc Trăng thì khi xe vừa qua cầu Cái Răng là quẹo tay mặt liền và xe chạy một đỗi đâu chừng chưa tới một cây số là tới Chủng Viện Cái Răng liền hà! Tui chỉ biết quê Cái Răng của anh chỉ có chừng ấy nhưng sao cứ nhớ hoài hà! Chắc có lẽ đó là khoảnh khắc mà mình không có ý đi tu nhưng lại lê bước chưn vào chủng viện Cái Răng rồi ăn và ngủ ở đó ba khoảng ba bốn tháng nhưng lúc bấy giờ nghe trong lòng nó dài thườn thượt!

 

Ở đây, mấy ngày đầu tụi tui bắt đầu làm rẫy trồng cải, trồng rau muống, trồng cà… Đâu chừng ba bốn tháng thì nửa đêm, một số chuyển xuống tàu và tàu chạy hoài, chạy hoài đâu chừng gần cả ngày thì tàu ủi vô bãi bùn đầy dừa nước. Hồi đó cả mấy trăm người cứ lơ mơ chẳng biết mình đang bị đưa đi đâu, về đâu? Với một tâm trạng hoang mang cùng tột lại nhớ câu Kiều để tự an ủi mình thôi anh Trần Bang Thạch:

“Cũng liều nhắm mắt đưa chân,

Thử xem con tạo xoay vần đến đâu!”

Mà thực tình ra, lúc bấy giờ hổng “nhắm mắt” mình cũng chẳng biết phải làm gì hơn nhe anh! Sau này định thần lại rồi nghe người này nói, người kia kể là tàu đi theo lộ trình là bắt đầu vô rạch Cái Răng của anh, rồi vô kinh xáng Xa No, ngang qua chợ Vị Thanh, vô chợ Hỏa Lựu, vô cầu đúc Cái Sình, vô Kinh Năm, vô vùng rừng tràm bạt ngàn thiên dã ngày ấy cách nay cũng gần nửa thế kỷ rồi …

 

Anh biết hông, khi tàu ủi mũi vô tới bãi dừa nước, là từng người, từng người quảy nồi niêu áo quần men theo con đường mòn của con kinh vậy là cứ đi miết, đi miết đâu chừng cả hơn cây số, là bắt đầu vô các trại vừa mới cất bên bờ con kinh còn hoang địa ấy. Vậy mà rồi tui ở đó mút mùa lệ thủy, hổng biết ngày dìa luôn nhe anh!

 

Công việc mỗi ngày lúc bấy giờ là đào kinh, đi rừng đốn tràm, móc gốc tràm để có đất cấy lúa, đào liếp làm rẫy, rồi trồng khóm mà trong thơ anh có nhắc “Cam ngọt Trường Long, khóm thơm Long Mỹ” là trúng y bon đó, vì khóm ở đây cũng như khóm cầu đúc Cái Sình ngọt hổng thua khóm Bến Lức, Tân An anh à! Mà vùng này, người Tiều ở rải rác, xa xa mới có một nhà nhưng nhà nào cũng có trồng nhiều khóm, họ sống với nghề trồng khóm lâu đời; có nhiều rẫy khóm lão, tuổi đời có tới mấy chục năm hơn!

 

Sau mấy tháng làm đủ thứ nghề, có một hôm người ta hỏi anh nào biết lội, tui do dự một hồi rồi giơ tay nói tui biết lội đại hà! Mà hồi xưa con nít ở nhà quê như mấy anh em mình, đứa nào mà hổng biết lội anh Thạch, nhưng lội bập bũm vậy thôi chứ làm cái nghề lặn lội dỡ chà là phải lội giỏi và lặn dài hơi mới làm nổi chứ lội như mình còn lâu mới theo nổi cái nghề này! Thế là tui thuộc vô tổ chất chà và dỡ chà tức là cái tổ chuyên ở trần với cái quần xà lỏn mút mùa chỉ để lội và lặn làm cái nghề chất chà dỡ chà bắt cá dọc theo hai con sông chảy ra vùng ngả ba nước trong tời tuốt xuống vùng Vĩnh Thuận, xa lắm mà tui thì hổng rành địa thế ở đó nên hổng dám tán rộng anh Thạch ơi! Vì lặn dở nên khi tui nín thở để làm cái chuyện nhổ chà, rồi gạn lưới bắt cá ở mấy chỗ sông sâu, nên hồi đó mỗi khi lặn xong một đống chà tui hay bị lùng bùng hai lổ tai như có ai táng mạnh vô lổ tai mình vậy đó; và có lẽ bị vậy mà giờ, khi về già, tui bị điếc quá nặng đó anh!


Thế rồi, tui làm nghề chất chà được đâu khoảng bốn năm có hơn với khoảng trên 30 đống chà chất dọc theo hai con sông nằm hai bên đầu kinh Năm chạy dài xuống tới kinh Zéro thuộc vùng Hỏa Lựu, Long Mỹ đó; với số chà nhiều như vậy nên ngày nào tụi tui cũng đi dỡ chà cứ xoay vòng, xoay vòng hoài hà; nay dỡ đống chà này, mai chất đồng chà dỡ mấy hôm trước rồi ngày mốt lại dỡ đống chà kế tiếp; hồi xưa ông bà mình hay nói “làm mệt nghỉ” nhưng tụi tui làm mệt mà hổng có ngày nghỉ, suốt mấy tháng trời nắng vùng này cho tới mùa mưa thì cá lên đồng, tụi tui gom chà vô mé chờ mùa tới lại chất chà tiếp; cực lắm nhưng bù lại được đi lặn lội ngoài sông cái và có cá tôm ăn lúc hoạn nạn hồi đó vậy!

 

Rồi đến một hôm tụi tui nghỉ dỡ chà và nằm chờ… Đùng một cái có lịnh kêu tên và cụ bị quần áo qua bên hội trường và lý do thì hổng biết để làm gì! Sau ba điều bốn chuyện tụi tui gồm 10 anh em xuống một chiếc tắc ráng và bỏ nghề dỡ chà ở Kinh Năm từ đó. Lúc bấy giờ bắt đầu đi thì từ Kinh Năm, tui nhớ chiếc tắc ráng chở tụi tui đi ra chợ Long Mỹ, rồi ra ngả ba Hòa An, xuống Phụng Hiệp chỗ ngả Bảy Phụng Hiệp nằm bên cạnh quốc lộ 4 đường Cần Thơ đi Sóc Trăng, rồi vỏ lãi lại trực chỉ rạch Cái Côn mà chạy tới chợ Cái Côn rồi quẹo mặt theo sông cái Hậu Giang và rồi ghé lại chỗ lò gạch Cái Côn gần rạch Cái Cau cũng đâu gần tối mịt mới lui cui dọn đồ lên bờ! Mọi thứ lại thêm một lần bỡ ngỡ nữa vì lạ nước lạ cái nhe anh Thạch! 

 

Ở đây nói là lò gạch Cái Côn, chứ khi tụi tui tới thì có một số anh em cùng hoàn cảnh như mình đã có ở đó trước rồi, và tui chẳng thấy lò gạch chỗ nào, mà nhìn chung quanh chỉ thấy cái nền rộng trên một khu đất mà hồi đời trước ở đây người ta có một lò gạch sẵn nhưng nay dường như chỉ còn cái nền thôi! Thế rồi tụi tui làm quen và hòa hợp với mấy anh em trước để bắt đầu những ngày mới! Có cái này vui lắm nhe anh Thạch, trong cuốn Mùa Màng Ngày Cũ, nơi “Mùa làm gạch”, tui có viết:

 

“Việc làm gạch in ngói, nói đúng ra là không có mùa vì gạch ngói in trong nhà, không in ngoài sân, ngoài đồng như nhiều nghề khác. Nói thế nhưng nghề làm gạch là mùa nắng thích hợp nhứt. Vì mùa nắng tiện cho việc làm đất, mà cũng tiện cho việc phơi gạch, vô lò và ra lò nữa. Nhưng trước khi kể qua các công việc quen thuộc ấy, chúng tôi xin nhắc qua một chút về việc xây lò gạch.

HaiTrau_self.JPG
LTTrung_lò gạch.JPG

Trước nhứt bạn muốn xây lò gạch, bạn nên có một sở đất không trồng được loại cây ăn trái gì vì đất nơi ấy là đất sét; mà đất sét trồng cây không tốt nhưng làm gạch ngói rất tốt. Rồi bạn sẽ mướn nhơn công đào gánh đất đắp nền lò gạch, đắp nền nhà in gạch, nhà phơi gạch. Rồi còn phải thêm phần đất để dùng vào việc in gạch nữa. Do vậy, một khuôn đất dựng lên lò gạch tương đối phải hơi rộng mới đủ, bằng không thì lò gạch dựng lên như ở Rạch Gòi Lớn, Rạch Gòi Bé (Long Xuyên) rất nhỏ.

 

Thông thường, theo thợ lò chuyên nghiệp mấy năm chúng tôi về làm lò gạch Cái Côn (Cần Thơ) bên bờ sông Hậu Giang, thì muốn một lò gạch chứa đựng được 100.000 viên gạch để nung cho chín thì phải dùng 100.000 viên gạch xây lên lò gạch ấy. Lò gạch có thể là hình vuông, hình tháp hoặc hình trụ tròn có nóc ở trên. Nhưng trước hết là nền lò gạch phải vững chắc kiên cố thế nào để khi xây 100.000 viên gạch lên cái nền ấy mà không bị lún, bị nghiêng thì đó là cái nền lò lý tưởng nhứt.

 

Nhớ năm ấy, khoảng 1980, toán chúng tôi gồm mười anh em về lò gạch Cái Côn cùng với một số anh em có tại đây trước cùng nhau bắt đầu đào móng đóng cừ tràm xây lò gạch đầu tiên nơi này. Móng thì hình vành khăn tròn, bề ngang khoảng một thước. Với số tràm cừ cây bằng cườm tay, dài ba thước, tổng cộng là 10.000 cây tràm cừ phải đóng hết xuống chưn móng lò gạch dự trù xây lò 100.000 viên như vừa kể. Hồi ấy mình dù còn trẻ nhưng cũng đã qua gần năm năm phá rừng đào liếp khóm rồi nên tay chưn cũng rã rời mỏi mêt dữ lắm. Thế nhưng nay lại phải đóng thêm 10.000 cây cừ tràm sâu xuống 3 thước, từ cây cừ này cách cây cừ kia chỉ một tấc tây, thì thiệt tình chỉ nghe thôi là đã ớn rồi nói gì đóng cho hết số cừ tràm khổng lồ ấy. Vậy mà rồi chúng tôi hai ba anh em theo một cái chày vồ và lần lượt đóng cừ như vậy suốt cả tháng trời! Lúc đầu cố gắng đóng lút cừ; chỗ đất nào mềm cừ dễ xuống sâu, còn chỗ nào gặp đất sét cứng thì cũng rán đóng cho hết chiều dài cây tràm cừ 3 thước như vậy. Mỗi ngày gặp nhiều vùng đất cứng đóng cừ hết xuống nổi, chúng tôi lại càng thấy sức mình quá mỏi mệt. Về sau này khi quen công việc rồi thì chỗ nào đóng cừ xuống tới đâu thì đóng, còn chỗ nào gặp đất cứng cừ hết xuống nữa thì anh em cùng nhau dùng búa chặt ngang phần cây cừ tràm còn lại. Do vậy mà sau này càng đóng cừ càng mau vì số tràm bị chặt lại khá bộn và số này cũng không mất mát đi đâu, chúng tôi chặt ra và chẻ củi cho nhà bếp làm cũi nấu cơm. Và đặc biệt là nền lò gạch vẫn không bị lúng hoặc nghiêng đổ gì. Có lẽ dùng tới 10.000 cây cừ tràm là quá nhiều rồi chăng?

 

Giai đoạn đóng cừ là ngán nhứt nhưng rồi cũng qua. Kế tới là đi mua gạch về để xây lò. Gách thì nặng mà sông Hậu Giang có khi nước ròng sát, ghe xuồng đậu xa bến, chúng tôi phải vác gạch xuống ghe rồi vác gạch lên bờ chuẩn bị xây lò. Với 100.000 viên gạch như vậy mà vừa vác xuống ghe rồi lại vác lên bờ biết bao là cực, nhưng rồi cũng vác xong nhưng tối ngủ nhúc nhích cục cựa gì cũng thấy ê ẩm mình mẩy không bút mực nào kể cho xiết.

 

Có gạch sẵn rồi là bước qua giai đoạn kế tiếp cho ghe qua Trà Ôn chở cát về làm hồ xây lò. Không biết kỹ thuật tân tiến ngày nay xây lò gạch bằng loại hồ gì nhưng vào khoảng trước nữa cho chí tới mấy năm 1980-1983, chúng tôi thấy xây lò gạch có cái vui là không ai xây lò bằng xi măng như xây nhà mà phải dùng bùn non trộn với cát cồn làm hồ xây lò gạch. Khi hồ bằng bùn non và cát cồn gặp lửa hầm gạch nóng lên cát sẽ chảy ra thành chất thủy tinh kết dính các viên gạch lại với nhau nên lò gạch không bị nứt bể; còn nếu bạn dùng xi măng xây lò với sức nóng của lửa nung gạch không cách gì xi măng chịu đựng nổi sức nóng ấy được và lò gạch sẽ bị nứt bể. Còn trộn hồ xây lò gạch, người ta đào một cái hầm bề ngang khoảng ba thước, bề dài chừng bốn hoặc năm thước, chiều sâu chừng năm hoặc sáu tấc rồi xuống sông hoặc xuống hầm gần đó xúc bùn lên đổ vào hầm này; sau đó đổ cát cồn vô trộn đều miễn sao ông thợ chánh thấy hồ có độ dẻo vừa xây lò được là ngưng lại và bắt đầu dùng hồ này xây lò. Khi mẻ hồ bùn với cát này hết, người ta bắt đầu trộn thêm mẻ hồ khác. Nhưng thường thường người ta canh làm sao mỗi ngày chỉ trộn một lần hồ dùng đủ cho cả một ngày thôi, hôm sau sẽ trộn mẻ hồ mới cho ngày hôm sau; có như vậy nhơn công đỡ phải vất vả và mệt nhọc. 

 

Còn việc xúc cát giữa cồn gần chợ Trà Ôn cũng cực nhưng cực gì thì cực miễn sao có đi qua chợ Trà Ôn rồi lên chợ uống cà phê, mua bánh trái ăn thì thấy cũng bớt cực chút đỉnh. Khi ghe qua tới Trà Ôn chỗ cồn mình định xúc cát vào lúc nước đang lớn và cho ghe cắm sào bỏ neo đậu ngay trên nền cồn cát mới nổi ấy. Thế rồi cơm ghe bè bạn lo cơm nước ăn uống xong là ngủ một giấc chờ tới khi nào nước ròng cát lòi lên và chiếc ghe đang nằm khơi trên mặt cồn cát, anh em lại hè nhau mỗi người một cái len miểng chia làm hai toán qua hai bên hông ghe xúc cát vô len và bơi lên ghe. Và cứ vích cát lên ghe vậy hoài cho tới khi nào nhắm ghe cát gần đầy và thấy nặng nặng là ngưng lại, tắm rữa thay quần áo chờ nước lớn ghe cát nổi lên là quay ghe về lại Cái Côn. Về tới lò gạch Cái Côn lại bắt đầu gánh cát lên bờ rồi hôm sau hoặc vài ba ngày sau lại qua Trà Ôn chở cát tiếp cho đến khi lò gạch xây xong mới thôi chở cát nữa. 

 

Công việc xây lò gạch là do ông thợ cái đứng ra xây, chúng tôi chỉ phụ mang gạch và vác hồ cung cấp cho ông thôi. Có một điều rất tài tình là ngoài những vật liệu là gạch, cát và bùn non thôi, kỳ dư không có vật liệu nào khác chống đở nhưng những người thợ chánh xây lò gạch họ đã xây được những lò gạch như các bảo tháp vừa cao vừa lớn mà khi mình bước vô bên trong lò bổng thấy mình vô cùng bé nhỏ trước một không gian mênh mông bên trong lò gạch sản xuất 100.000 viên gạch như vậy.                                     

 

Tưởng cũng nên nhắc qua một chút về khâu làm đất để in gạch. Thật ra, công việc nào làm bằng tay cũng chỉ là do kinh nghiệm mỗi cá nhân làm công việc ấy nhuần nhuyễn nhiều ngày mà ra, không ai tài giỏi gì hơn ai. Chẳng hạn bạn muốn làm đất để in ngói, in gạch tàu thì công việc trước tiên là dùng len miểng xới đất thật mỏng. Công việc này đòi hỏi làm từ từ, không gấp gáp gì và làm sao những lưỡi len xắn đất thật mỏng, đều đều bằng nhau tránh xắn đất không đều, miếng này quá dày, miếng kia qúa mỏng. Vì nếu xới đất không đều sau này khi mang đất lên in gạch ngói đất sẽ bị óc trâu, in ngói dễ bị bể. Sau khi bạn xắn đất giáp mí hầm rồi, bạn ban đất lại cho bằng phẳng, dẽ-dặt và chà láng mặt đất vừa mới xới xong ấy. Sau cùng bạn xả nước vô đầy hầm nhằm mục đính ngâm đất cho đất nở ra. Sau khi ngâm nước như vậy xong, qua vài ngày sau, nếu bạn muốn in ngói, thì lại phải xả nước trong hầm đất này ra và xới đất này lại một lượt nữa; rồi cũng lại ban đất cho bằng mặt, chà láng và lại thả nước vô ngâm đất lần thứ hai. Chừng nào cần in ngói, người ta lại tháo nước ra và chuyền đất này lên bờ vun thành cây cho ráo nước và qua chừng một hoặc hai ngày sau là thợ có thể lấy đất này bắt đầu in ngói, in gạch tàu được rồi. Mỗi một hầm đất như vậy có chiều dài chừng sáu thước, chiều ngang khoảng ba hoặc bốn thước là trung bình. Thường thường trong chu vi lấy đất làm gạch, lúc nào ở dưới đó cũng có sẵn ba bốn hầm đất đã xới xong và ngâm nước sẵn như vậy. Mấy hầm đất này có cái vui là khi mình mới xới một lớp len miểng thì đất vừa tới nửa ống chưn, nhưng sau khi bạn ngâm nước vài đêm thì đất lại nở ra thêm, lúc bấy giờ lớp đất xào xới này lên cao có khi qua khỏi đầu gối. Hồi đó, hai móng chưn cái của tôi qua hơn hai năm làm đất in gạch bị hư hết, không ra móng được vì ngày nào cũng đứng sâu trong bùn như vậy.

 

Đó là cách làm đất in ngói và gạch tàu. Đất in gạch thẻ, còn gọi gạch tiểu, thì không cần phải xới lại lần thứ hai. Nếu in bằng tay thì chỉ một lần xới đất xong rồi ngâm nước như vừa kể là có thể lấy đất lên in gạch được rồi. Đất in gạch đại cũng vậy, không cần làm đất kỹ hai lần như vậy, chỉ xới sơ sơ, ban đất cho dẽ dặt rồi ngâm nước một đêm là lấy đất lên để ráo là in gạch được rồi.