THƠ VĂN THÁNG TƯ ĐEN

Nhiều tác giả

Cao Vị Khanh, Đoàn Xuân Thu, Trần Bang Thạch, Võ Thị Bạch Nữ, Đỗ Chiêu Đức, Nguyên Nhung, Ngô Thị Trường Xuân, Anh Tú, Huyền Vân Thanh, Mailoc, Phan Thượng Hải, Giáng Xưa, Trầm Vân, Hớn Chiêu Tuyết Mai, Trương Nhị Kiều...(còn tiếp)

 

CAO VỊ KHANH: 

 

Tháng tư

 

.................................

Tháng tư như một vết sẹo gần

Tưởng quên rồi lại bồi hồi nhớ

Khi máu trong tim vụt trở trăn

 

Tháng tư ồ tháng tư xuân

Đâu đây lấp ló góc mộ phần

Nửa chìm lặng lẽ, nửa trồi hận

Ôi tháng tư gian dối vô nhân

 

Tháng tư ôi tháng tư thầm

Rền rền như từng nốt nhạc câm

Réo kêu đục đẽo dao tùng xẻo

Ôi tháng tư bạc bẽo sát nhân

 

Tháng tư, ờ tháng tư đen

Nám da nắng lửa tù thay ngựa

Kéo lết căn phần tội-tổ-tông

 

Cao vị khanh

Mời nghe Duy Trác đọc cvk:

 

https://1drv.ms/u/s!AivKU8Cy4J3AuSJOdljSD9vKFq16

Lệ Sử

 

Người thức từng đêm theo vận nước

Lệ sông Gianh thấm ướt ngàn sao

Tội những người đi xanh tóc mượt

Kéo về chết thảm trắng chân hào

 

Em có nghe rền theo thiên cổ

Lời nguyền rủa động suốt thiên thu

Em có nghe rì rào sóng vổ

Nợ tiền khiên kêu réo oán thù

(Xin bấm vào đây để đọc trọn bài)

 

CVK

____________________________

đoàn xuân thu:

Ngả ba sông.

Đất lành, quê, giờ là đất dữ,
cải tạo xong, an phận không xong,
đành phải chịu, nén lòng vượt biển,
đưa con buồn, vàm, ngả ba sông.

Cơm ơn huệ : tép rang mằn mặn,
canh mồng tơi, con nhớ quê nhà,
rưng rưng Má, nhai cơm, nhai sạn,
đưa con vào chổ chết đêm nay?!

Vào chổ chết tìm ra chổ sống,
tử biệt buồn hay nỗi sanh ly?
thuyền ra biển, trùng trùng biển sóng,
vỗ ngàn sao – dõi mắt con đi.

Đêm ác mộng nhớ ngày năm cũ,
đưa con buồn, vàm, ngả ba sông,
xót Má xa con, trời vần vũ,
đêm mịt mùng… Má sợ bão giông.

Con chạm đảo, Má mừng hết biết;
công an hầm hè, hỏi: “nó đâu?”
“nó vượt biên rồi, giờ đở khổ,
còn thân già …nhốt…cũng chẳng sao”.
***
Đất quê người biết thân, biết phận,
công danh gì ? con nhận cu li,
cơm hộp xách đi, chiều tắt nắng,
xe lái về trời rạng bình minh.

Tiền con gởi Má may áo mới,
giữ dùm con tấm áo năm nào,
áo vá vai, nhớ ngày nhịn đói,
cắt rừng thăm, nuôi con… tù đày.

Chiều cuối năm nhớ nhà, nhớ Tết,
tép rang mằn mặn, canh mồng tơi,
năm tận, tháng cùng, ngày sắp hết,
lệ chan cơm buồn lắm Má ơi!

Đoàn Xuân Thu.
Melbourne. 

_____________________________

TRẦN BANG THẠCH

Khởi đi từ cái ngày 30/4 ấy....

 

Người ngậm tăm suốt ngày

 

Không biết có nên gọi ông Lê là người ngậm tăm suốt ngày hay suốt đời. Thật sự thì quỹ thời gian của ông Lê gần cạn, cho nên ông có ngậm tăm suốt ngày, suốt tháng hay suốt đời không phải là điều cần quan tâm. Cái mà có người muốn biết là tại sao lúc nào gặp ông Lê là thấy cây tăm xĩa răng trên miệng, như là vật bất ly thân. Ăn xong buổi trưa, ông phóng cây tăm nằm giữa đôi môi thì có thể hiểu được; chớ cái việc sáng sớm uống xong một tách cà phê rồi điểm tâm bằng một que tăm thì ít thấy trên đời. Có người còn tỏ vẽ thắc mắc là sao ít nghe ông Lê nói chuyện. Câu hỏi lảng xẹt: Đã thấy cây tăm lúc nào cũng nằm chình ình giữa hai hàm răng thì bắt ông phải nói bằng hai cái lổ mũi à?

(Xin bấm vào đây để đọc trọn bài)

Nặng oằn vai gánh

 

Tôi nhìn hoài những cơn mưa khuya

Em cô phụ nhọc nhằn quá đỗi

tần tão nuôi con, nuôi chồng tù tội

đâu sá gì vóc hạc, hình mai

 

Tôi mười năm rồi gánh nước ở đây

Vai không nặng mà tim chừng đã nặng

Gánh hận bại binh, gánh ngàn cay đắng

Gánh nhớ, gánh thương nghĩa vợ tình chồng                              Khung thơ: Tố Lang

 

Em một thân cò vất vả ven sông

Tôi nát thân tù nơi đèo heo hút gió

Khi nhớ nhau ta có vầng trăng cổ độ

để nghe lòng ấm chút hơi quen

 

Ta tìm nhau giữa lối nhớ trong tim

Ta nói với nhau những lời trong mộng

Hơi thở ta quyện nhau giữa đất trời cao rộng

Thù hận nào tạo được cách chia!

 

Em gánh gồng vạn dặm đường khuya

Chân phải vững để đá mòn dưới gót

Tôi cắn chặt răng những đêm dài lạnh buốt

để ngày mai còn đủ sức dựng cờ.

 

tbt

 

VÕ THỊ BẠCH NỮ

Bây giờ mà kể chuyện vượt biển thì có lẽ hơi lỗi thời. Mỗi người trong chúng ta có kinh nghiệm riêng về chuyến hải trình của mình. Đây là chuyến hải trình của riêng cá nhân tôi đã trải qua xin được kể lại cho các bạn chuyến đi thay đổi vận mệnh đời mình. Thân ái.

Started 16-Feb-2020

Những Ngày Dài Nhất

 

Sự mong chờ

Sau năm 1976, tôi được học nội trú ở dự bị đại học. Không hiểu sao tôi không chọn Sư Phạm ngoại ngữ khi tôi đủ điểm đậu vô phân khoa này. Định mệnh dung rủi tôi chọn ngành Gây Mê Hồi Sức chỉ vì cái tên. Nhờ vậy tôi được biết người bạn tốt Bạch Loan. Bạch Loan và tôi học chung khoá Gây Mê Hồi Sức, sau vài tháng học chung chúng tôi trở thành bạn. Loan tính tình tốt biết cảm thông, thương người và có tính khôi hài. Đất Sài Gòn, Gia Định, Chợ Lớn chúng tôi đi cùng khắp, chúng tôi đi ăn hàng khắp nơi đặc biệt là quận năm  có nhiều khu vực ăn uống.

Năm 1975, Loan học xong lớp mười một chương trình Pháp ở Regina Pacis và có tú tài Việt năm 1976. Năm 1978, gia đình Loan đang tìm chỗ cho Loan đi vượt biên, Loan hỏi tôi có muốn đi cùng. Việc này ngoài dự định của tôi vì tôi không đủ vàng để thực hiện. Tình cờ Tết năm đó tôi về Cần Thơ, một người bạn thuở nhỏ của tôi có trong tổ chức vượt biên ở Cần thơ và tôi giới thiệu Loan như một người khách để được đi ké. Tôi trả lệ phí bằng một sợi chuyền vàng năm chỉ, cái đồng hồ Thụy sĩ Titoni và cái nhẫn xoàn ba ly của Bà nội tôi sắm cho tôi khi tôi mười sáu tuổi. Đó là tất cả kỹ niệm của bà Nội tôi để lại cho tôi. Trong khi Loan phải trả ba cây vàng. Việc học chúng tôi lúc ấy thật lơ là vì nghĩ rằng mình sẽ ra đi. Hai đứa mơ ước và dự định mình sẽ học gì và làm gì khi được đến nước ngoài. Giấc mơ Loan với tôi không thực hiện được khi biết tôi bị bỏ lại. Có thể chủ tàu muốn nhờ tôi ở lại móc nối thêm người cho ông ấy rồi sẽ đi chuyến sau cùng vì tôi có nhiều quen biết trong giới  ngành y.

 

(Xin mời bấm vào đây để đọc trọn bài)

ĐỖ CHIÊU ĐỨC: 

EM CÓ BUỒN TA

 

Buông súng ba mươi nhớ tháng nầy,

Em buồn ta vẫn muốn ta say.

Nhớ xưa chinh chiến oai hùng khắp,

Tưởng lúc hành quân dũng khí đầy.

Mấy lượt truy thù hồn bỏ xác,

Bao lần khiến địch vía lên mây.

Vần xoay cuộc chiến bao hờn oán,

Uất ức thua cay xác héo gầy !

 

Đừng bảo đành thôi để khỏi buồn,

Lưu vong biệt xứ đã tan hồn.

Chí hùng đã nhụt từ xa nước,

Hào khí còn đâu lúc bỏ thôn.

Túy ngọa sa trường đành gát lại,

Liều mình chiến địa chí chưa mòn.

Tháng ngày lần lựa tàn thân xác,

Sức mỏn lấy gì cứu nước non ?!!!

 

                     Đỗ Chiêu Đức

Nơi đất khách nghe mưa nhớ nhà

  聽雨                          THÍNH VŨ

軒外瀟瀟細雨音,   Hiên ngoại tiêu tiêu tế vũ âm,

寒窗孤影酒單斟。   Hàn song cô ảnh tửu đơn châm.

猢猻樹倒皆離散,   Hồ tôn thọ đảo giai ly tán,

鳥獸限時各別林。   Điểu thú hạn thời các biệt lâm.

客地悠悠亡國恨,   Khách địa du du vong quốc hận,

家鄉耿耿故園心。   Gia hương cảnh cảnh cố viên tâm.

舊時鄰里今何在?   Cựu thời lân lý kim hà tại ?

安樂歡歌無處尋!   An lạc hoan ca vô xứ tầm !

              杜紹德                        Đỗ Chiêu Đức

 

  

 

* Dịch Nghĩa :

                      NGHE MƯA

       Ngoài hiên tiếng mưa thánh thót rả rít rơi,

       Một bóng bên song cửa lạnh đơn độc tự rót rượu cho mình.

       Cây cao đã ngã nên đàn khỉ đều tự tan đàn xẻ nghé,

       Hạn lớn đổ đến nên chim thú đều mạnh ai nấy bỏ rừng mà đi.

       Dằng dặc nơi đất khách luôn mang trong lòng cái hờn vong quốc,

       Canh cánh tình quê luôn mang nặng lòng tưởng nhớ đến quê hương.

       Làng xóm khi xưa giờ đã ra sao rồi, có còn như xưa chăng ?

       Cảnh vui vẻ hoan ca không còn tìm đâu được nữa !

 

* Diễn Nôm :

 

                  NGHE MƯA

 

         Ngoài hiên thánh thót tiếng mưa rơi,

         Trong cửa tự say bóng một người.

         Cây ngã hồ tôn đi tứ tán,

         Hạn về chim thú tản muôn nơi.

         Quê người dằng dặc hờn không dứt,

         Đất mẹ bâng khuâng nhớ khó nguôi.

         Làng xóm khi xưa đà mất hút,

         Tìm đâu hoan lạc thuở xưa vui !

 

                                    Đỗ Chiêu Đức

NGUYÊN NHUNG:

ĐỪNG HỎI VÌ SAO

Tháng Tư buồn

Năm vừa qua, chuyến xe đưa chúng tôi từ Đà Nẵng về Qui Nhơn, tôi mới có dịp đi qua đoạn đường "máu đổ thây phơi" của 40 năm trước. Đi qua những địa danh quen thuộc miền Trung, từ Đức Phổ, Mộ Đức, những quận lỵ xơ xác đói nghèo vì chiến tranh đã được hồi sinh. Có lẽ 40 năm  sóng biển Sa Huỳnh vẫn vỗ vào bờ một nỗi buồn xa vắng. Hai bên ruộng lúa vẫn xanh rờn, xa xa dải núi mờ sương lại khiến tôi thương cảm không cầm được giọt lệ. Tôi biết anh đã yên nghỉ, nhưng nắm xương tàn nằm ở đâu thì cho đến bây giờ vẫn chưa tìm lại được.


Tháng Tư. Đốt nén hương lòng tưởng nhớ anh, một người anh hiền hoà, luôn thương yêu các em. Sau 40 năm anh đã yên nghỉ , gửi nắm xương tàn nơi rừng sâu núi thẳm, nhưng nỗi thương nhớ vẫn còn ở lại với người thân trong gia đình.

 Bốn mươi năm mới viết nổi bài thơ,  "Đừng Hỏi Vì Sao Tháng Tư Buồn", hay 40 năm nhìn lại với một nỗi buồn khó nguôi.

Nguyên Nhung

NGÔ THỊ TRƯỜNG XUÂN

THÁNG TƯ VỀ RỒI

 

Tháng tư về rồi! Em có nhớ không?
Hai đứa chúng ta, mỗi đứa một đường. 
Mây bốn phương trời, không chỗ dừng chân,
Nên em cứ đi hoài không trở lại?

Em có nhớ tháng tư buồn muôn thuở, 
Sao cả một đời, tôi chỉ nhớ tháng tư thôi.!?

Em có nhớ cánh phượng hồng tơi tả, 
Suốt một mùa cứ nức nở tình xa. 


Bóng nắng chưa phai ở góc sân trường, 
Đã vội vã ngập tràn mưa tháng sáu...

Tôi đứng bên này, tiễn em bên đó, 
Chẳng biết nói gì cho cuộc từ ly. 


Tháng tư thật buồn khi em đã ra đi, 
Tôi nhớ mãi cánh phượng tàn rơi rụng.

Tôi nhớ mãi bàn tay em nắm vội, 
Để thay lời từ tạ giữa chiều trôi. 


Bóng nắng bên sông bỗng chốc ngập ngừng, 
Mênh mông quá một buổi chiều tiễn biệt.!

Sao vẫn nhớ! Tháng tư buồn muôn thuở!? 
Sao cả một đời, chỉ nhớ tháng tư thôi...

13/4/2019

Ngô Thị Trường Xuân

ANH TÚ:

Mà Sao Mỗi Tháng Tư?

 

Không trống chùa công phu, không chuông nhà thờ

không tiếng gà gáy sáng ... như thuở nào trên quê hương

mà trong lòng tôi sao mãi vang dội tiếng yêu thương.

 

Xung quanh không bè bạn, không học trò, không lớp trường

mà sao trong mơ tôi nghe tiếng hỏi chào vương mùi phấn bảng.

Đang sói đầu, mắt mờ, tai lểnh lảng, chân mỏi đứng im

khi mỗi tháng Tư về mà sao cảm như còn hừng hực lý tưởng trong tim.

 

Giờ đây ...trong ngõ cụt im lìm hừng đông đang lố dạng

mà sao mơ hồ  tiếng " lạch bạch" xe lambretta

nhắc nhớ chuyến đi Chợ Vãng-Bình Minh mỗi sáng

đến trường chẳng ngại đường xa.

 

Đường xa bị nghẽn bến mơ; ước mơ đã chết tự bao giờ

khắc khoải với ngày tháng hao mòn, còn ngắn ngủi

niềm vui là những con chữ hững hờ

và chỉ còn đợi chờ lúc cuối đời hất hủi.

 

Anh Tú

HUYỀN VÂN THANH

NHẮC LÀM GÌ

NHỮNG CHUYỆN ĐAU LÒNG

 

       * Kính tặng tất cả Quân Dân Cán Chính VNCH 

          còn ở lại quê nhà sau cơn bức tử 30-4-1975

* Thân tặng tất cả những người từng chịu nhục nhã 

    trong các trại tù “cải tạo” sau năm 1975.

 

Có vui gì khi nhắc chuyện đã qua

Mà vận nước thật sự sang trang tức tửi

Trách cứ phiền nhau, bảo ai lầm lỗi

Cũng muộn màng, đau xót buốt tim gan.

 

Những năm dài trong tù ngục lầm than

Mới ngẫm lại đời sao nhiều gian dối

Chỉ câu nói giản đơn khiến muôn dân tiếc nuối

“Buông súng đầu hàng” (1) - Mệnh lệnh vô tâm!

 

Lại bảo rằng “Làm gì có cà pháo mắm tôm

Chạy ra nước ngoài là những tên hèn, phản quốc” (2)

Một câu nói nức lòng miền Nam ruột thịt

Vậy mà Người đã ra đi hết sức ung dung.

 

Lại bảo rằng “Tôi sẽ chiến đấu bên cạnh anh em

Quân đội từ nay có thêm tay súng” (3)

Địch quân chưa vào, quê hương chưa đẫm máu

Ngoảnh lại nhìn, Người đã vượt xa xăm!

 

Tội cho người gắn bó với quê hương

Phải chấp nhận vào cuộc đời tăm tối

Kẻ chiến thắng mặc tình luận tội

Họ cho rằng “Trời không dung, đất chẳng tha”

“Nước biển Nam Hải không rửa sạch mùi

Lấy trúc Nam Sơn ghi không hết tội! (4)

 

Cuộc sống đời người khó vượt qua trăm tuổi

Nhưng tiếng lưu danh mãi mãi trường tồn

Xấu tốt… đâu cần tô vẽ thiệt hơn

Bởi “lịch sử đúng” – là “cán cân công lý”

 

Nên bây giờ - đã phần tư thế kỷ

Nhắc làm gì những chuyện đau lòng

Đường ta đi hãy giữ mãi sáng trong

Kẻ gian dối – thế lực nào cũng bị đời lật tẩy.

 

30 tháng 4-1994

 

HUYỀN VÂN THANH

(Văn Nghệ VỀ NGUỒN Tây Đô)

 

Bài thơ đăng trên BNS DÂN TA tháng 4-1995

Đăng lại trên tạp chí VHVN số 29 – mùa hè 2005

___________

 

(1). Mệnh lệnh của tướng Dương Văn Minh, Tổng Thống cuối cùng của

       VNCH ra lệnh cho toàn quân buông súng vào lúc 10 giờ sáng ngày 30-4-1975.

(2). Câu nói của Tướng Nguyễn Cao Kỳ, cựu Phó Tổng Thống VNCH.

(3). Câu nói của Tướng Nguyễn Văn Thiệu, cựu Tổng Thống VNCH.

(4). Cán bộ chính trị của CSVN mỗi lần “lên lớp” trước anh em “tù cải tạo” đều lấy

       câu nói của Nguyễn Trãi trong “Bình Ngô Đại Cáo để luận tội.

MAILOC:

 MỘT CHUYẾN ĐI

 

Bước chân đi lào xào cát sỏi

Lũ thuỳ dương gió tối vi vu 

Xóm chài vắng lặng mịt mù

Đèn pin le lói lù mù không gian.

 

Gió se lạnh mênh mang đồi cát

Bước lần theo sậy lác mắt nhoà

Giật mình tiếng súng tiếng la

Ai còn ai mất đạn sa nhạn nào?

 

Đêm dần xuống xạc xào lau lách

Nước trầm mình lạnh ngắt cóng chân.

Thuỷ triều nước cứ lên dần

Thuyền đâu không thấy miệng thầm vái van.

 

Tiếng lõm bõm xuồng đang dần tới

Bế con lên vừa mới thở phào

Một tràng súng nổ rào rào

Băng băng thuyền cứ sóng trào biển khơi.

 

Đêm trùng dương rợn người khó tả

Nước đen ngòm bờ đã xa xôi

Quê hương bỏ lại chia phôi

Kẻ đi người ở bồi hồi chinh nhân !

 

       Mailoc

     4-28-2020

PHAN THƯỢNG HẢI

Người ở lại ngày 30-4-75 

 

                         Bệnh viện Bình Dân 30-4-1975 (Nguyên bản) 

Giặc đến, người đi, súng nổ vang 

Bình Dân nội trú lúc nguy nàn 

Cứu thương giải phẫu không ngừng nghỉ 

Thiển ý vô tư chẳng rộn ràng 

Giúp đỡ đồng bào khi biến loạn 

Quên tìm tỵ nạn được bình an 

Bùi ngùi nhớ lại ngày xưa ấy 

Thời thế trần ai khó luận bàn? (*) 

Phan Thượng Hải

 4/26/12 

 (*) Chú thích:

            Ai Công Hầu, ai Khanh Tướng, trong trần ai ai dễ biết ai. (Đặng Trần Thường) 

            Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế thế thời vẫnthế. (Ngô Thì Nhậm) 

            Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế thế thời phải thế. (Phan Huy Ích) 

 

Bài thơ nầy kính tặng các Nội trú ở Bình Dân trong lúc đó còn sống tới ngày hôm nay: LQ Nghĩa, NQ Đức, LB Lợi, NĐ Tuệ, HQ Minh, NK Hòa, NT Lộc, NT Phương, TT Nhơn... và những người đã qua đời: VT Tĩnh, TH Tâm...

Người Di Tản ngày 30-4-75 

  

Miền Nam đã mất phải sinh ly 

Bỏ lại quê hương họa hiểm nguy 

Chiến hữu lao tù thân khốn khổ 

Đồng bào nô lệ dạ sầu bi 

Lương tâm nuôi dưỡng người di tản 

Chí hướng trường tồn lúc thịnh suy 

Trọn kiếp không quên thề chống Cộng 

Hằng năm tưởng niệm chuyến ra đi. 

Phan Thượng Hải 

4/23/17 

MỘT NGÀY 30-4

Bốn lăm năm chẵn đã qua đi

Viễn xứ hoài hương tận nghĩ suy

Vô ngã chơn không lòng oán hận

Vô thường sở trụ dạ sầu bi

Ân tình còn đó câu tình nghĩa

Ái quốc còn đây lá quốc kỳ

Quá khứ hàn ôn bao kỷ niệm

Bảy mươi già lão biết đường đi.

Phan Thượng Hải

30-4-2020

GIÁNG XƯA - TRẦM VÂN (hoạ)

HỚN CHIÊU TUYẾT MAI

 

CHUYỆN BÂY GIỜ MỚI KỂ...

về tháng 4 của tôi

 

 

Tôi sinh vào ngày 10 tháng 4, tôi Vu quy ngày 26 tháng 4 và chính thức về nhà chồng làm lễ Thành hôn ngày 30 tháng 4. Sẽ chỉ là những dấu mốc thời gian bình thường trong một đời người nếu ngày 30 tháng 4 đó không là 30 tháng 4 năm 75, cái ngày gắn liền với lịch sử đất nước.

Do tình hình chiến sự căng thẳng, đường sá xa xôi nên chỉ có Ba tôi đưa con gái về nhà chồng...bằng xe đò, chuyện rất hiếm có trước đây. Xe khởi hành từ Cần Thơ lúc 7 giờ sáng, định đến Phụng Hiệp lúc 9 giờ , sẽ có thuyền hoa rước dâu. Nhưng xe chạy khỏi Cái Tắc đã phải dừng để chờ phá mô do VC đắp. Lần đầu tiên trong đời tôi nhìn tận mắt cái gọi là mô. Chỉ là một mớ lục bình, mấy nhánh cây, thân chuối kéo ngang đường nhưng bên dưới là mìn, lựu đạn, xe chạy qua sẽ bị nổ tung.Không ít người dân đã thiệt mạng vì cái trò phá hoại này. Gần 9 giờ xe mới tiếp tục chạy nhưng chưa được bao lâu lại phải dừng vì tiếng bom đạn từ bên phía trong ruộng. Khói đen bay lên từng cụm, máy bay chao liệng ném bom xuống, đạn bên dưới bắn lên từng tràng. Mọi người trong xe nhìn, bình thản, chỉ có tôi lo sợ vì cũng là lần đầu nhìn thấy cảnh đạn bom. Một lúc sau có chiếc GMC chở đầy lính vượt qua chúng tôi . Bác tài xế nói: “Chắc tiếp viện. Kiểu này là kẹt lâu!”. Rồi hai chiếc thiết giáp từ hướng đó chạy ngược lại, trên xe đầy vỏ đạn. Ai đó nói: “Đánh lớn à“. Có người đáp: “Hổm rày vậy hoài”. Phải hơn hai tiếng sau xe mới đi được. Nhưng đến Long Thạnh thì lại bị dừng, một đoàn xe đậu sát lề nhường đường cho mấy chiếc GMC bít bùng, lúc chạy ngược về Cần Thơ, lúc chạy xuôi về phía Phụng Hiệp. Trước xe tôi là một chiếc GMC không mui, chở một quan tài phủ cờ vàng, người lính lái xe mệt mỏi gục đầu trên tay lái. Trời nắng nóng, mùi xăng, mùi khói xe, đủ thứ mùi ngột ngạt khó chịu, chúng tôi xuống xe, đứng bên đường. Nhiều người lại nhìn quan tài, “không biết chết ở đâu, chắc lâu rồi“, rồi lãng chỗ khác, có người đưa tay che mũi. Chốc sau, có một người từ nhà bên đường mang theo nãi chuối, thẻ nhang và một bao thuốc lá đến đưa người lính lái xe. Tôi thấy anh gật đầu nhận, cười mà mặt buồn như khóc. Rồi anh leo lên xe, vỗ lên quan tài như vỗ vai người bạn, đặt nãi chuối lên quan tài, bật quẹt thắp nhang cắm lên nãi chuối. Sau đó anh ngồi bệt xuống, lại bật quẹt châm điếu thuốc, anh rít một hơi rồi đặt lên nãi chuối, thì thầm : “Tao cố đưa mày về quê mà không được rồi, thôi mầy trở về đơn vị với tụi tao. Mày linh thiêng nhớ phù hộ anh em nghe”. Khói nhang lan toả, hương thơm thanh thoát, linh thiêng xua tan mùi tử khí. Mọi người cúi đầu, có người chắp tay vái. Tôi cố không khóc nhưng cứ nghẹn. Vừa thương người chết trận vừa thương người lính lái xe, ai cũng mang nặng trên vai tổ quốc và trách nhiệm. Và người lính đã hi sinh này nay còn mang thêm lời gửi gắm của đồng đội.

Gần 11 giờ trưa (giờ VNCH), nắng gắt, chúng tôi lên xe. Bác tài xế mở radio ngóng tin tức. Vẫn là tin chiến sự. Vùng I, Vùng ll, Vùng lll đều rối loạn, không có tin gì về Sài Gòn....Bỗng im bặt một lúc lâu, đúng 11 giờ, lời kêu gọi quân lính VNCH buông súng đầu hàng quân Giải phóng của Dương Văn Minh vang lên. Mọi người bàng hoàng. Ba tôi, người đọc báo, nghe tin chiến sự hàng đêm, ngồi im lặng một lúc lâu mới nói: “Vậy là hoà bình rồi!”. Nhiều người trên xe cũng lao nhao: ”Hết đánh nhau rồi, hoà bình rồi“. Chưa kịp bày tỏ hết thái độ, cảm xúc thì mọi người lại lao nhao vì lệnh giới nghiêm trên toàn quốc cho đến ngày mai. Thế là tôi không về được nhà chồng! Mọi người lại xuống xe, họ hoang mang vì lịnh giới nghiêm chứ không phải lo sợ vì không có chỗ nghỉ đêm nay. Ở cái miền Tây hiền hoà này, mọi người sẽ sẵn sàng cho người lỡ đường nghỉ chân, huống gì lúc này. Ba tôi cũng tìm được nhà người quen để nghỉ nhờ. Đêm vắng ngắt, tăm tối vì cúp điện, cũng không ai dám đốt đèn dầu, nhưng không ai ngủ. Nhìn qua cửa sổ, tôi thấy một đoàn người mang súng dài, nối đuôi hàng một im lặng đi âm thầm trong bóng đêm, như một đoàn quân ma. Tôi nghe Ba thở dài!...

Đến sáng, anh chủ nhà đón được xe cho chúng tôi về Cần Thơ. Chiếc áo dài đỏ và đôi hài đỏ cô dâu của tôi bị thay bằng cái áo bà ba trắng mặc ngủ của ông xã tôi. Chị chủ nhà tốt bụng cho tôi cái quần đen, cái nón lá cũ và đôi dép mủ. Tôi không nhận quần vì không quen mặc quần áo của người lạ nhưng cái quần satin trắng bóng loáng của tôi làm Ba lo ngại nên đẩy tôi vào ngồi ở góc cuối xe và dặn phải luôn che nón và giấu đôi bàn tay sơn móng màu hồng. Xe chật, Ba và ông xã tôi phải chen chúc đứng ở phía cửa xe. Lâu lâu xe bị chận lại, một người mặc đồ đen mang súng, có khi là nữ khoác khăn rằn, mặt hằm hằm bước lên xe, nhìn ngó một vòng rồi cho xe chạy. Lần đầu tiên

đi xe phải ngồi xa người thân, tôi sợ muốn khóc, sợ bị lạc, sợ không biết đường về nhà nên cứ lóng nhóng nhìn ra cửa xe tìm Ba và chồng. Chợt có tiếng nói bên cạnh tôi: ”TM phải không?“. Tôi giật mình nhìn qua: áo thun trắng, quần vải đen, dép kẹp, đôi chân đầy bùn đất. “ Anh biết tui sao?”. Anh ta cười: ”Ai học Phan Thanh Giản mà không biết TM. Người đẹp đi đâu mà ...mặc đồ ngộ vậy?“. Tôi cười: ”Hôm qua đám cưới tui nhưng giới nghiêm, tui không về bên nhà chồng được”. Ông xã đâu rồi?“. Tôi hất hàm chỉ về phía trước và hỏi: “Còn anh đi đâu vậy? “. Anh nhỏ giọng: “Đi lính. Tui liệng súng và quần áo xuống sông rồi xin đồ dân mặc”. Bây giờ anh đi đâu? “. Anh ậm ừ: ” Về nhà trước rồi tính“. Có cái gì đó khiến tự nhiên cả hai cùng trầm ngâm...

Xe dừng lại trước bệnh viện Thủ Khoa Nghĩa, ai cũng vội vã xuống xe, tôi không kịp chào anh.Đến khi đã ngồi trên xe lôi, tôi mới nhớ quay lại tìm. Trong đám đông, tôi thấy một cánh tay cầm khăn vẫy, tôi nhận ra đó là chiếc khăn tay tôi buộc tóc, chắc rớt trên xe...

Ngày 30 tháng 4 năm 75! 45 năm rồi, 45 năm ngày cưới, 45 năm bị cuốn theo dòng đời nhiều vất vả, mệt mỏi hơn là hạnh phúc, tôi chưa một lần thắp nến kỷ niệm ngày cưới. Cái hạnh phúc riêng nhỏ nhoi của mình có ý nghĩa gì so với nỗi đau thương mất mát của bao nhiêu người khác! Nhưng tôi chưa bao giờ thôi nghĩ, thôi xúc động về ngày đó. Tôi luôn tự hỏi người ngồi cạnh mình trên chuyến xe năm ấy bây giờ ở đâu? Và người lính lái xe, chắc chắn không kịp trở về đơn vị, không biết có chạy thoát hay là không nỡ bỏ đồng đội giữa đường và rồi...? Còn cái quan tài cô đơn kia...? Tôi không dám nghĩ xa hơn, chỉ tin rằng với tấm lòng nhân hậu của dân mình, chắc anh đã được mồ yên mả đẹp ở một mảnh vườn nào đó. Dù họ ở đâu, 45 năm qua , tôi vẫn luôn nhớ và cầu nguyện bình an cho những người tôi đã gặp ngày ấy, kể cả anh chị chủ nhà cho chúng tôi nghỉ nhờ. Không biết bao nhiêu lần về nhà chồng đều phải qua khoảng đường đó nhưng tôi không nhớ được vị trí ngôi nhà , cũng không biết được tin tức họ để đáp đền ơn nghĩa. Đành mang nặng trong lòng món nợ ân tình không trả được dù tôi biết, đối với người miền Tây mình, tặng một bữa cơm, một đêm nghỉ chân cho người lỡ đường là chuyện rất bình thường. Không biết tôi sẽ còn đếm được bao nhiêu lần 30 tháng 4 nữa để nhớ lại ngày ấy nhưng bao giờ tôi cũng luôn tâm niệm lời nguyện cầu bình an đến mọi người, mọi nhà. Cuộc chiến tranh chúng ta đã phải trải qua thật là tốn nhiều máu và nước mắt!

Viết những dòng này, tôi lại nhớ Quang Hoà, người bạn thời Đại học của chúng tôi. Q Hoà thường nhắc : chuyện hai người ly kỳ vậy sao không viết lại. Tôi nói chưa lắng đọng được cảm xúc. Hôm nay tôi viết thì Q Hoà đã đi rất xa. Dù ở đâu đó, Q Hoà hãy đọc và cứ cho lời bình tự nhiên nhe.

HỚN CHIÊU TUYẾT MAI

TRƯƠNG NHỊ KIỀU

bốn mươi lăm năm

 

45 năm nổi, trôi theo vận nước

cuộc đổi đời cay nghiệt chẳng vì đâu.

thân phận con người có khác gì nhau

thằng ở lại, thằng ra đi lưu lạc !

 

nơi đất khách, mày buồn thân viển xứ

sống nhọc nhằn, thân phận kẻ ly hương 

buồn vây quanh, trong nổi nhớ niềm thương

ngày hai buổi đi về như chiếc bóng.

 

tao ở lại vẩy vùng trong lửa bỏng

bởi đòn thù từ mọi phía bủa vây

khổ nhục chất chồng sớm tối lay quay

kẻ thua cuộc có khác gì thằng nô lệ!

 

tao hứng chịu, những đắng cay dâu bể 

vững niềm tin, nuôi hy vọng ngày mai

bóng tối đêm đen, không thể kéo dài

bình minh đến báo tin ngày nắng ấm.

 

ngày vui đó dù đến mau hay chậm

mơ ước thành sự thật sẽ không xa 

đất nước tự do, dân chủ thái hòa

thầy bạn, anh em mừng vui Hạnh Phúc

 

Bốn mươi lăm năm nổi trôi theo vận nước

Bọn chúng mình “mất hết chỉ còn nhau “

 

trương nhị kiều