THƠ VĂN THÁNG TƯ ĐEN

Nhiều tác giả

Trên Trang Mục nầy chúng tôi sẽ giới thiệu những bài viết về 1 thời Miền Nam trước cơn đại hồng thủy tháng 4/1975.

Thời nầy văn học Miền Nam như hoa nỡ rộ bỗng bị tàn úa theo cái ngày 30 tháng 4, 1975. Nên chúng tôi xin mượn dấu mốc lịch sử oan nghiệt nầy làm chủ đề cho Trang Mục Thơ văn Tháng Tư Đen.

Hai Trầu

 

VÀI VẬT DỤNG CẦN THIẾT TRONG ĐỜI SỐNG Ở NHÀ QUÊ

 

Lời mở

 

Trước hết tôi xin chân thành cảm ơn trang nhà của Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc, trang nhà Thất Sơn Châu Đôc của chị Nguyễn Thị Lộc Tưởng, cảm ơn nhà văn Khiêm Cung –Dương Văn Chung đã phác họa hình cái đáy bắt cá và đặc biệt cảm ơn bạn Thái Lý đã bỏ thời giờ quí báu đi sưu tầm và chụp cho nhiều hình ảnh (chiếm khoảng 96%) cho bài viết này. Nếu không có những hình ảnh của các anh chị và của bạn Thái Lý thì bài viết dưới đây chắc chắn là rất khô khan và vô cùng thiếu sót.

 

Một lần nữa xin thành thật cảm ơn các anh chị và Thái Lý nhiều lắm.

 

Trân trọng,

Hai Trầu

Houston-Lấp Vò ngày 27.12.2020

---

 

VÀI VẬT DỤNG CẦN THIẾT TRONG ĐỜI SỐNG Ở NHÀ QUÊ


 

Nhắc tới nhà quê ở miền Tây là nhắc tới những làng mạc nằm dọc theo các kinh rạch chằng chịt với hình ảnh các cây cầu khỉ, cầu ván nằm rải rác khắp mọi nơi; đồng thời nhắc đến đời sống ở nhà quê vùng sông nước này cách nay sáu bảy chục năm, tức là nhắc tới đời sống nông nghiệp nên không thể không nhắc tới những dụng cụ cùng các vật dụng cần thiết mà mỗi nhà đều phải có dù ít hay nhiều tùy theo công việc đồng áng cùng điều kiện tài chánh gia mỗi đình mà dân quê cần mua sắm để có mà dùng tùy theo mỗi vụ mùa; mà ở nhà quê lại có rất nhiều mùa (*) nên việc nhắc lại các vật dụng cần thiết ngày trước mà ngày nay ít người còn nhớ qua những ký ức nghèo nàn của một người nhà quê già có lẽ là một việc cũng nên khuyến khích… 

I/ Lu hũ khạp…

 

Trước nhứt, là việc nước nôi cần trong đời sống mỗi ngày. Mặc dù làng mạc miền Nam, làng nào cũng nằm cặp theo các dòng sông rạch nên nước sát bên bến sông nhưng bạn cũng cần phải có những dụng cụ để chứa nước dùng trong việc nấu nướng, ăn uống hoặc tắm giặt. Do vậy mà dân quê cần có những lu hũ, những ảng, những khạp để chứa nước. Rồi hồi xưa làm gì có máy bơm để bơm nước lên chứa trong các lu khạp ấy, do vậy mà dân quê mới chế ra cách đan những chiếc gàu bằng tre, rồi trét chay lên những chiếc gàu ấy vừa để nước không bị chảy ra mỗi khi dùng gàu gánh nước vừa để chiếc gàu được dùng lâu mà không bị hư hao. Gàu thì phải có cặp, có đôi, và phải gánh đôi gàu lên vai mà gánh nước từ dưới sông lên nhà; từ đó có thêm cái đòn gánh làm bằng tre cật, mỏng, cứng chắc lấy từ gốc tre già làm đòn gánh. Nước gánh lên nhà ở nhà quê chứa vào các lu khạp này, rồi lóng phèn chua nhằm làm cho bùn lắng xuống để nước trong mà dùng.

 

Trong các lu chứa nước, thì cái lu nước uống ngay mái hiên mỗi nhà từ ngoài sân bước vào, thường nhà nào cũng dùng cái kiệu còn gọi là cái ché để đựng nước. Cái kiệu màu da lươn, gần miệng kiệu có đắp hình con rồng cho có vẻ vừa đẹp vừa thanh bai, sạch sẽ. Ở gần đáy kiệu hơi tóp lại, gần miệng kiệu phình ra và miệng kiệu thì hơi túm lại một chút. Trên miệng kiệu có nắp bằng thiết hoặc bằng ván để đậy miệng kiệu hầu tránh bụi bặm và có một cái gáo dừa hoặc có cái ca bằng nhôm úp lên nắp kiệu để múc nước.

 

Tiếp đến là các loại lu lớn, lu nhỏ dùng chứa nước hoặc đựng muối mắm trong nhà. Lu lớn chứa cỡ ba giạ trở lên gọi là mái để phân biệt với lu nhỏ. Những loại lu gọi là mái này có hai loại là mái đầm và mái vú. Mái vú là loại lu có sức chứa khoảng từ ba giạ lúa hột trở lên, các lò sản xuất có đấp thêm bốn cái núm gần miệng lu để dễ nắm, để vịn vào khi di chuyển. Loại mái đầm là loại lu lớn nhưng không có núm như mái vú và thấp hơn. Các vùng nước mặn hoặc vủng nước pha chè miệt gần biển người ta dùng các loại lu lớn này để chứa nước mưa vì nó chứa được nhiều nước. Các vùng khác, nhứt là các vùng nước ngọt người ta không cần chứa nước nhiều như các vùng miệt nước mặn nên mái đầm, mái vú được sử dụng trong việc chứa lúa giống, giú chuối hoặc dùng để đựng mắm; nhứt là các vùng Mặc Cần Dưng, Cầu Số Năm, Vĩnh Hanh, Cần Đăng, Trà Kiết, Định Mỹ, Ba Bần, Phú Hòa thuộc Long Xuyên hoặc các vùng An Phú, Tịnh Biên, Tri Tôn, Tân Châu thuộc Châu Đốc người ta dùng các loại lu lớn này để làm mắm vì các vùng vừa kể tới mùa tát đìa, tát mương, làm lóng cá đen, cá đồng rất nhiều, lu khạp nhỏ chứa mắm hổng đủ.

 

Khạp da bò là loại lu có màu da bò, trơn láng, miệng và đáy tương đối gần bằng nhau, đường kính của miệng khạp khoảng 8 tấc tây, bề cao cũng khoảng chừng cao hơn đầu gối. Mỗi khạp đều có nắp đậy. Các loại khạp này có lúc dùng chứa nước nhưng thông dụng nhứt ở các vùng có cá linh người ta dùng khạp da bò để ủ nước mắm cá linh vào mùa cá ra sông vào tháng 10, tháng 11 âm lịch. Mỗi khạp da bò có thể ủ được một giạ rưỡi cá linh tươi mới bắt lên khỏi mặt nước. Với số lượng cá như vậy, tùy theo kinh nghiệm mỗi người mà dùng lượng muối cho vừa nước vừa cái; thông thường trung bình là năm lít muối cho một khạp ủ 1 giạ rưỡi cá linh thì nước mắm ngon; nếu quá lượng muối này thì nước mắm bị mặn hoặc lượng muối ít hơn thì mắm bị trở, bị hư. Cách ủ mắm thì cứ một lớp cá, rải một lớp muối và cứ rải đều như vậy, đậy nắp kín, để ngoài nắng, sau khoảng ba tháng mở nắp ra xem thấy mắm có mùi thơm là có thể múc mắm ra nồi nấu cho nước mắm sôi lên, để nguội và múc mắm trong nồi đổ vào cái rổ thưa có trải khăn lượt để lượt nước mắm. Nước mắm mới lượt này gọi là nước nước mắm nhứt, nước mắm nguyên chất, rất thơm và ngon. Để tiết kiệm, người ta đổ nước thêm và nấu xác mắm vừa lượt xong nầy thêm một lần nữa và khi nồi nước mắm này sôi cũng múc ra rổ lượt như lần trước gọi là nước mắm nhì; tuy nước mắm nhì nhưng hồi đó ở nhà quê bà con vẫn thấy nước mắm nhì còn rất ngon dùng để kho cá, kho thịt còn tốt hơn ngày nay dùng nước mắm đựng trong chai bán ở các chợ… thiếu hẳn chất cá nguyên chất.

 

Tiếp nữa, còn có những lu nhỏ hình ống, miệng và đáy lu có đường kính cỡ ba tấc và có sức chứa khoảng 20 lít, da lu màu sậm, thường dùng để đựng đường mía ở các lò đường hoặc chứa mắm muối dùng trong nhà; loại lu nhỏ này được gọi là hũ như hũ đường, hũ mắm. Còn cái ảng là một dụng cụ bằng sành, đáy lớn, miệng rộng, chiều cao khoảng khỏi đầu gối, dùng để chứa nước đặt tại các cầu tắm giặt nơi ao hồ hoặc các bến sông trước nhà để tiện múc nước chứa và tiện dụng luôn thể. Hồi đời trước vào mùa hè trời oi bức thường hay có các dịch bịnh, ở nhà quê người ta dùng các ảng miệng lớn này pha nước vôi để trẻ nhỏ tắm khỏi bị bịnh.

Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc bên kiệu đưng nước uống ở Bình Quới (Sài Gòn) [Trang nhà Bs Đỗ Hồng Ngọc  ngày 20.11.2020]

II/ Vật dụng trong nhà

 

Vì đời sống ở nhà quê là đời sống nông nghiệp mang tính tự túc, tự lực; nên hồi đời xưa mỗi nhà tự xay lúa lấy gạo để nấu ăn nên nhà nào cũng phải sắm một cái cối xay lúa. Cối xay lúa thường thường làm bằng tre và xảm đất sét cho cái cối có trọng lượng khá nặng để khi mình đẩy giằng xaythì sức nặng ấy ma sát vỏ lúa và làm tróc mấy vỏ lúa này, gọi là trấu. Mỗi cối xay lúa gồm có hai thớt. Thớt dưới cố đinh, thớt trên xoay quanh một cái trục có chiều cao chừng năm phân tây, trục cố định này có tên gọi là ngỗng cối. Thớt trên có hai tai cối đối xứng nhau và mỗi tai cối có lỗ tròn để khi xay lúa mình máng cái giằng xay vô cái lỗ tròn này để xay lúa. Cái giằng xay hình chữ T (còn gọi cần xay hay cán cối xay dài), nơi đầu giằng xay có hình ngang chữ T được buộc lên đòn tay nhà, hoặc trính nhà hay buộc lên nhánh cây lớn vững chắc; còn đầu giằng xay kia cúp xuống thành góc vuông làm thế nào để giằng xay ở thế cân bằng khi nằm ngang; ở đầu này có gắn một khúc sắt nhỏ dài cỡ một tấc được đặt vô một trong hai cái lổ tròn chỗ hai tai cối xay. Thế rồi, muốn xay lúa người ta đổ lúa vô cối xay và đứng ở cuối giằng xay và bắt đầu đẩy giằng xay theo chiều kim đồng hồ; khi cối được chuyển động như vậy thì hột lúa bắt đầu được rút xuống và hai thớt cối với các răng cối ngược chiều nhau làm vỏ lúa từ từ trốc ra và còn lại hột gạo theo các kẽ của răng cối đẩy ra chiếc đệm lót sẵn dưới đáy cối để hứng gạo. Xay hết cối lúa này người ta đổ thêm lúa vào và xay tiếp cối lúa khác cho đến khi nào số lúa mình muốn xay đã xay xong thì thôi. Muốn xay lúa cho khỏe, thường có hai hoặc ba người luân phiên nhau để đẩy giằng xay hầu tránh bớt việc mỏi tay. Sau khi xay lúa xong, người ta phải dê bỏ vỏ trấu còn sót để lấy gạo. Các công đoạn xay lúa, dê trấu đều dùng đệm bàng để hứng gạo và trấu thì do gió hoặc dùng chiếu để quạt gió khi dê, cho nên trấu bay ra ngoài trên mặt đất. Sau khi dê trấu và bụi bặm bay hết rồi, lúc bấy giờ chỉ còn lại gạo và gạo này dân quê gọi là gạo lứt vì hột gạo còn lớp vỏ mỏng sậm chưa tróc nên ở nhà quê phải giã gạo này cho tróc vỏ lứt để thành gạo trắng. Sau này, mấy năm cuối thập niên 1940 các vùng Bình Hòa (Long Xuyên), Lấp Vò (Sa Đéc) và nhiều vùng khác mỗi nơi đều có nhà máy xay lúa với ống khói cao khỏi nóc nhà nên việc xay lúa lấy gạo đỡ cực hơn hồi trước nhiều nhưng gạo xay tay thì ngon cơm hơn.

 

Trong việc giã gạo thì có cối giã gạo làm bằng cây, thường thường người ta lựa khúc cây lớn rồi đục bỏ cái ruột cây để làm cối giã gạo bằng chày vồ; loại cối này vừa nặng, vừa bền ít khi bị bể hoặc xứt mẻ. Ngày xưa người ta thường giã gạo chày đôi, tức hai người đứng đối diện hai bên cối giã gạo, mỗi người cầm một cái chày, người này giã chày xuống và vừa lấy chày lên thì người kia tiếp theo quết chày xuống và cứ tuần tự như vậy mà không bị quết trúng lẫn nhau cho tới khi nào cối gạo được giã trắng thì thôi. Có trường hợp những đêm trăng sáng tụ họp vui chơi có thêm người thứ ba nữa, các động tác quết chày xuống và lấy chày lên cũng luân phiên liên tục như vậy, người ta gọi là giã gạo chày ba. Để cho vui, những đêm trăng ở nhà quê cùng nhau giã gạo vui lắm! 

 

Gạo giã tùy theo mình muốn giã trắng thì giã hơi lâu và nặng tay một chút, còn muốn giã lứt thì giã nhẹ tay hơn để lớp cám mỏng còn dính lại chút ít nơi hột gạo; sau khi giã gạo xong là tới màn sàng gạo để loại các loại tấm cám ra và chỉ còn lại gạo trộng. Muốn sàng gạo như vậy, trước tiên phải sắm cái sàng. Sàng được đan bằng trúc hoặc tre mà các rẻ tre trúc này phải được chẻ mỏng và chuốt cho bóng láng. Có hai loại sàng: sàng thưa và sàng dày. Sàng thưa để bắt thóc, và sàng dày để bắt tấm. Cử động khi muốn sàng bắt thóc hay bắt tấm người ta cầm cái sàng bằng hai tay và cứ xoay cái sàng nửa vòng tròn qua tay mặt rồi qua trở qua tay trái một cách uyển chuyển, nhẹ nhàng và cứ lắc như vậy cho tới khi thấy trên sàng còn lại gạo nguyên hột gọi là gạo trộng. Hết sàng này bắt đầu trúc gạo vô thúng và sàng tiếp cho tới khi nào xong thì thôi.

 

Thường thường khi muốn sàng gạo người trả trải dưới đất một chiếc đệm bàng để hứng tấm hoặc cám; nhưng có khi người ta không dùng đệm mà lại dùng cái nia hứng bên dưới, vậy nên trong nhà phải sắm thêm cái nia. Cái nia được đan ( còn gọi là đương) bằng tre hay trúc, đáy nia cạn, có vành cứng, đường kính chừng 8 tấc đến một thước tây hoặc lớn hơn tùy ý thích của mỗi người. Thường thường nia, rổ, sàng do chính chủ nhà chẻ tre trúc để đan, nhưng có người cũng ra chợ mua các dụng cụ này; những loại rổ, sàng, nia mua ở chợ dân quê gọi là “đồ hàng” tức là những đồ vật làm sẵn, mau hư, không bền như mình tự làm lấy. Vì dùng nia hứng tấm cám nên trong dân gian có tục ngữ “Lọt sàng xuống nia” là do vậy.

 

Ngoài cối xay lúa, nhà quê còn sắm thêm cối xay bột bằng đá. Cối có hai thớt, thớt trên và thớt dưới; miệt núi Sập, núi Ba Thê thuộc Long Xuyên chuyên sản xuất loại cối xay bột bằng đá này.

 

Ngoài ra, trong nhà bếp còn có thêm nhiều cái rế để lót nồi trách cho khỏi dính lọ vì ở nhà quê nấu ăn bằng củi nên nồi có nhiều lọ dính bên ngoài. Rế thường thường đan bằng tre hoặc trúc. Ở nhà quê người ta tự chẻ tre hoặc trúc để đan rế dùng trong nhà, nhưng có người cũng ra các tiệm bán rế đan sẵn mà mua về dùng để lót đáy nồi.

 

Về củi chụm trong bếp có hai loại củi tiêu biểu ở nhà quê là củi tre và củi săn. Củi tre là các nhánh tre được chặt ra rồi phơi khô bó lại thành từng bó để dùng trong việc nấu nướng; dân gian có câu tục ngữ “củi tre dễ nấu, chồng xấu dễ xài”; còn một loại nữa là các nhánh cây săn chắc được cưa thành từng khúc rồi bửa ra đem phơi khô, bó lại thành từng bó rồi chất vào thành từng cự để dùng trong việc nấu nướng; loại củi này dân quê gọi chung là củi săn. Những loại cây ở nhà quê ưa làm củi săn gồm các nhánh cây trồng trong vườn hoặc mọc hoang ngoài bờ mương, vườn tre như cây bần, cây gáo, nhánh sao, nhánh dầu, cây bằng lăng, cây mù u, nhánh xoài, cây me nước…, cây nào cũng có nhưng nếu các loại cây nhánh ấy trước khi muốn làm củi mà được ngâm trong nước dưới mương, dưới ao cá hoặc dưới hầm một thời gian rồi mới vớt lên làm củi thì củi cháy rất tốt, dân quê gọi cháy rất “đượm”. Các nhánh chà người ta chất trên sông, sau khi mãn mùa chà nếu đem số chà này làm củi thì hết sẩy! Lửa cháy đượm lắm, hổng có khói!

 

Tóm lại, vì cần phải cưa cây, bửa củi nên trong nhà phải sắm thêm cây cưa và vài cái búa nữa. Cưa thì có cưa tay; búa thì có búa nhỏ bửa củi, búa tài-xồi (ở nhà quê còn gọi là “búa kinh”) tức là loại búa lưỡi lớn, cán dài, phải đứng cầm búa mới bửa những khúc củi lớn ra thành những miếng củi vừa phải; rồi dùng búa nhỏ vừa với tay cầm để chẻ những miếng củi này ra từng miếng củi nhỏ để dễ chụm trong cà rang.

 

Ở nhà quê có cái vui là trước khi có đám tiệc lớn như đám giỗ hằng năm hoặc sắp có đám hỏi, đám cưới người ta chuẩn bị cưa cây hoặc mé nhánh cây sao, cây dầu rồi đem ngâm nước cho rụng hết lá rồi vớt lên chặt ra làm củi để chụm lửa trong việc nấu nướng đám tiệc. Hồi đời trước có tục đi làm rể; tức là sau khi chàng trai đi hỏi vợ rồi, chờ tới ngày làm lễ cưới có khi vài ba năm mới làm đám cưới được vì chờ ngày tháng cho hạp, thì chàng rể tương lai phải qua nhà gái làm rể; nhứt là mấy tháng gần tới ngày cưới, chàng rể tương lại phải ở lại nhà gái làm những công việc như tiếp bửa củi lo đám cưới, tiếp che nhà khách vân.vân… Có nhiều nhà gái có ý muốn thử sức chàng rể bèn đem những gốc bằng lăng, gốc sao, gốc mù u là các loại gốc cây rất dẻo nên rất khó bửa để cho chàng rể thử bửa làm củi. Sau khi cưới được vợ về rồi sau này có con cháu đầy đàn trong lúc gia đình họp mặt vui vẻ người ta mới ngồi nhắc lại chuyện đời xưa ba đi làm rể bên ông bà ngoại bửa củi gần chết rồi cùng nhau cười rất vui và hổng có trách móc gì.

 

Thêm nữa, trong bếp lúc nào cũng có vài ba cây chổi để quét nhà. Có hai loại chổi mà ở nhà quê ưa dùng là chổi tàu cau và chổi ráng. Chổi tàu cau người ta lấy tàu cau khô trong vườn rụng xuống rồi đem tước bỏ các lá mỏng đi chỉ chừa cái cọng cứng thôi và kết nhiều tàu cau lại để làm chổi. Chổi ráng là lọai chổi làm bằng cây ráng; loại cây ráng này mọc hoang trong các vùng rừng tràm hoặc vùng nước mặn, lá dày, thân cứng; sau khi chặt ráng về người ta phơi khô và ép cho lá ráng cùng nằm một chiếu và bó lại nhiều nhánh ráng như vậy làm thành chổi. Miệt Long Xuyên, Châu Đốc, Sa Đéc không có cây ráng, nên các miệt dưới như Cà Mau, Rach Giá ghe buôn ưa chở loại chổi ráng này lên miệt trên để bán cho cư dân ở đây mua về dùng rất tiện và bền. Ngoài hai loại chổi tàu cau và chổi ráng, mấy năm sau này còn có loại chổ bông cỏ, ngọn chổi mềm, mịn thường dùng để quét các nhà có lót gạch tàu, gạch bông rất tiện.

 

Nói tới bếp núc mà không nhắc nồi trách thì còn thiếu. Dường như nhà nào cũng có một cái giàn bếp đắp bằng đất hoặc xi măng trên cái khuông bằng gốc tre hoặc bằng cây gỗ, cao cỡ chừng một thước tới 1thước 2, trên đó để được khoảng ba bốn cái cà rang hoặc vài cái lò; loại cà rang và lò làm bằng đất nung ngoài Phú Quốc (Rạch Giá) thì xài rất bền, lâu bể và có ghe buôn họ chở loại cà ràng này vô bán khắp các làng mạc vùng này. Thêm nữa nhà nào cũng có đủ thứ nồi bằng đất như nồi đất nhỏ dùng nấu cơm; nồi đất lớn hơi túm miệng, đáy bầu, hông phình, nhỏ hơn cái trã dùng hấp bánh gọi là cái trách; còn cái trã là cái trách lớn, là thứ nồi tròn bằng đất nung, đáy bầu, hông phình rộng ra, miệng trã lận vành chắc chắn có ý cho khi mình nhắc cái nồi lên xuống bếp dễ dàng và không bị xứt bể, thường dùng để nấu bắp, hấp bánh tét, bánh ú, hoặc nấu nếp quết bánh phồng dịp Tết nhứt. Ngoài ra còn có cái mẻ để kho cá. Hồi xưa, ngoài những nồi trách bằng đất, đời cố cựu còn có loại nồi đồng, mâm thau; rồi sau này mấy năm 1950 có các loại nồi nhôm, mâm nhôm, rồi tới thời kỳ có nồi làm bằng gang (gang là loại sắt có từ 2,5%  đến 6% các-bon, giòn và cứng hơn sắt) … nhưng hổng có nồi nào nấu cơm ngon cho bằng nồi đất nấu cơm gạo lúa mới và mẻ cá kho khô bỏ thêm vài chùm tiêu non đăm nhuyễn, mẻ cá kho vừa thơm vừa ngon hơn nữa! Gặp lúc bụng đói là ăn cơm hết nồi luôn!

 

Ở nhà quê do nhà nào cũng làm ruộng nên ở dân quê phải có thúng dê, thúng giạ, thúng dê đong, thúng giạ đong, thúng giạ rưỡi. Thúng dê là loại thúng nhỏ dùng để dê lúa; thúng dê đong là loại thúng dùng để xúc lúa vừa đủ 20 lít mỗi khi cần bán lúa người ta dùng thúng này để đong lúa bán bằng thùng hay bằng táu 20 lít. Còn thúng giạ là loại thúng đựng được từ một giạ lúa trở lên; thúng giạ đong là thúng dùng xúc lúa để đong bán cho bạn hàng (loại thúng này gọn nhẹ, khi xúc đầy thúng lúa để đổ vào cái giạ 40 lít khi đong lúa bán thì vừa đủ 1 giạ, hoặc dư chút ít, chứ không dư nhiều như thúng giạ thường, nên gọi là thúng giạ đong); thúng giạ rưỡi là thúng chứa được 1giạ rưỡi lúa hột. Hồi đời trước bán lúa tính bằng giạ nên các nhà có ruộng nhiều cỡ vài ba mẫu tới vài chục mẫu thường sắm thêm cái giạ lít, vừa đúng 40 lít, để đong lúa bán; ngoài ra còn sắm thêm cái táu nhỏ (còn gọi cái thùng) đựng được 20 lít, bằng nửa giạ; rồi có thêm cái lít để khi cần đong gạo, đong cám, đong đậu; một lít như vậy bằng 4 lon sữa bò hiệu con chim hồi đó hoặc hiệu ông thọ sau này! 

 

Về vật dụng trong nhà cũng không thể thiếu các loại rổ thưa, rổ dày để tiện dụng tùy theo từng công việc. Rồi thêm nhà nào trồng nhiều xoài phải có thêm vài ba cái lồng làm bằng ngọn tre xiêm, tre bông dùng để bẻ xoài; có cần xé đựng xoài; cần xé thì có cần xé đít vuông, cần xé đít bầu và hơi tròn ở bên hông, và nhiều thứ lặt vặt khác nữa…. 

Có thêm cái rổ lớn gọi là rổ xúc, vành rổ cứng, đường kính cỡ 8 tấc, đáy sâu cỡ 4 hoặc 5 tấc tây, thường dùng để xúc lùm chỗ nước sâu; và cái sịa bằng tre (viêt với chữ “s”), lỗ sịa nhỏ, đáy cạn, đường kính từ 1 thước tây trở lên dùng để xúc tép chỗ nước cạn hoặc phơi cau khô, chuối khô và còn nhiều lắm, kể hổng xiết! 

 

Tóm lại, việc nào vật nấy, dân quê cố gắng sắm sửa sao cho vừa túi tiền để có vật dụng đủ dùng trong nhà khi cần để đỡ phải mất công cái gì cũng chạy đi mượn ở hàng xóm láng giềng là rất mừng. 

 

Vài hình ảnh tiêu tiêu biểu:

III/ Vật dụng làm vườn, làm ruộng

 

Ở nhà quê nhà nào cũng có chút vườn, không nhiều thì ít nên nhà nào cũng sắm vài dụng cụ cần thiết để làm công việc trồng trọt, ruộng vườn này. Trước nhứt muốn lập vườn phải có cái len để đào đất. Có hai loại len: Len miểng và len thùng. Len miểng đào đất khô trên vườn; len thùng vít đất bùn dưới mương, dưới rạch bơi lên bờ chứa ở một góc nào cho đất bùn khô lại và khi đất khô lấy đất này bồi bổ mấy gốc cây ăn trái trong vườn, vì vậy, người ta còn phải sắm thêm đôi ki đan bằng tre để gánh đất hoặc phải sắm thêm cái xuổng để bứng cây con hoặc để dùng đào chuột. Xuổng thì có loại lưỡi rời bằng sắt, người ta mua về từ chợ hoặc đặt ở lò rèn họ rèn rồi đem tra cán bằng cây săn chuốt bóng để khi cầm cái xuổng không bị phồng tay; có khi người ta dùng nguyên ống sắt tròn, dài cỡ tám tấc hoặc một thước rồi nhờ lò rèn chẻ ra một đầu rèn thành cái lưỡi xuổng và cán xuổng là phần ống sắt còn lại, rất tiện lợi.

 

Việc ruộng nương rẫy bái cần thêm các dụng cụ như cái cày, cái bừa để cày phá đất, cái trục để trục đất; cái bừa thì có hai loại là bừa răng và bừa muỗng; bừa răng với răng bừa nhọn làm bằng cây hoặc bằng sắt; bừa muỗng với răng bừa bằng sắt có hình dáng như cái muỗng. Hồi đời trước nhà nào cũng có nuôi trâu bò để làm ruộng thì có thêm các vật dụng để nuôi bò như cất chuồng bò để bò ở tránh mưa tránh nắng; còn trâu thì không cần chuồng cứ có gò cao cho trâu nghỉ chưn nằm ngủ và có hầm cho trâu nằm tránh muỗi chích là được;  có thêm dây dàm (viết với chữ “d”) để cột bò trâu; có cộ trâu, cộ bò để gom lúa bông về sân; có xe trâu, xe bò để kéo lúa hột từ trên đồng về nhà; có mỏ xải (dân quê đọc trại thành “mỏ sảy”) để vít rơm, làm bã lúa khi bò trâu vừa đạp xong một bã lúa ra lúa hột; có cái bừa cào (dân quê gọi trại là “bồ cào”) để cào rơm, cào cỏ; có lưỡi hái để căt lúa, cắt cỏ bò; có cái phãng để phát cỏ (phãng có nhiều loại như phãng cổ cò có cái chuôi eo lại dùng phát ruộng sâu; phãng gai loại phãng hơi ngắn dùng để chặt bố; phãng giò nai là loại phãng có cái chuôi dài dùng để phát ruộng khô hoặc ruộng cạn đều được); có cù ngoèo (đọc trại là cù nèo, cù ngoéo) dùng để vừa kéo cỏ gom lại để phát cỏ cho dễ mà cũng vừa để đỡ lưỡi phãng không bị trượt trúng vô chưn, vô giò; có vài cái chét đễ dành giẫy cỏ sân lúa, cỏ vườn, cỏ rẫy bắp, rẫy đậu... Ngoài ra, còn có thêm cái cuốc để cuốc đất vô chưn mía hoặc cuốc đất lên giồng trồng khoai lang; cuốc thì có cuốc tai tượng là thông dụng vì nó bén và hơi bủm (hơi trũng lòng) nên xúc đất được nhiều; sở dĩ gọi cuốc tai tượng vì lưỡi cuốc có bề mặt lớn cúp vô giống như lổ tai voi; bên cạnh có có cái cúp với lưỡi cúp thẳng để xới đất cục cho nhỏ ra.

 

Vài hình ảnh tiêu tiêu biểu:

IV/ Vật dụng chuyên chở, đi lại

 

Ở nhà quê vì là miền sông rạch chằng chịt nên phương tiện đi lại thông dụng đời xưa là xuồng bộng, ghe cộ. Xuồng thì có nhiều loại xuồng và bơi xuồng bằng giằm (viết với chữ “gi”, hổng phải “dằm”). Chẳng hạn như xuồng nhỏ thì có xuồng ba lá, xuồng câu, xuồng lườn (là loại xuồng người ta dùng nguyên một khúc cây và đục bỏ cái ruột cây đi, có mũi và lái thon nhọn, nhẹ bơi, lướt nhanh trên mặt nước); xuồng cui thì mũi và lái hơi cao lên, nặng chở dùng để chở lúa, chở vật nặng. Ghe thì có ghe tam bản, ghe cà-vom, ghe cui với mũi và lái gần bằng nhau, ghe đục tiện cho việc chuyên chở cá từ nơi này đi nơi khác mà cá vẫn còn sống vì nhờ hai bên hông ghe có đục lỗ cho nước ra vô thông thương tự nhiên với hai đầu mũi ghe và lái ghe thì có hai tấm bửng ngăn cho nước không vô được và nhờ vậy mà ghe lúc nào cũng nổi trên mặt nước như cái phao, không bị chìm. Miệt Châu Đốc còn có ghe lườn, ghe mui lón; hồi đời xưa nhiều nhà giàu có như điền chủ thường có ghe hầu, tức là loại ghe tam bản nhưng có mui dài từ trước ra sau được chạm trỗ, sơn phết chim cho đẹp để khi cần các chủ điền nay dùng loại ghe hầu này đi du ngoạn. 

 

Nguyên tắc, khi đi xuồng trên sông thì bơi bằng cây giằm, một người bơi lái, một người bơi mũi; nếu là hai vợ chồng cùng đi trên một chiếc xuồng thì vợ thường thường ngồi bơi lái, chồng bơi mũi. Người biết chuyện, ít có ai để vợ bơi mũi. Khi đi trên đồng lúa vào mùa nước ngập thì xuồng được chống bằng cây sào vì nếu bơi thì vướng lúa, xuồng đi rất chậm. Cây sào chống xuồng được làm bằng cây tầm vông phơi khô và uốn cho thẳng, láng để khi cầm sào chống tay mình không bị phồng. Còn ghe thì không bơi được mà phải chèo vì be ghe nổi lên cao, cách mặt nước rất xa. Tùy theo ghe lớn hoặc ghe nhỏ mà ở mũi ghe có một một chèo và ở phía đằng cuối chiếc ghe có hai cột chèo. Ngoài ra vì ghe lớn nên việc đi trong sông rạch gặp nhiều trở ngại nên trên ghe lúc nào cũng có vài cây sào để phòng hờ khi cần có sào để chống đỡ cho khỏi bị va chạm hoặc đụng vô đầu cầu hay những xuồng ghe khác, nhứt là lúc tấp vô đậu nơi các bến chợ đông đúc dễ bị va chạm với nhiều xuồng ghe khác. Tục ngữ có câu“Đứng mũi chịu sào”. 

 

Trường hợp ghe xuồng muốn đi xa, từ tỉnh này qua tỉnh khác, thì có tàu kéo ghe đường dài chừng nào muốn đi mình xin giòng ghe theo họ và trả tiền công. Nhiều lúc có nhiều tàu kéo một đoàn ghe xuồng dài có tới cả mấy trăm chiếc buộc dây nối đuôi nhau như vậy. Tới mùa cắt lúa, công cắt từ các tỉnh Bến Tre, Vĩnh Long, Trà Vinh muốn lên miệt Long xuyên, Châu Đốc lãnh công cắt lúa mướn, các bà con này luôn luôn phải giòng ghe xuồng theo các đoàn tàu kéo này; đến lúc mãn mùa cắt lúa, bà con từ từ bơi xuồng hoặc chèo ghe chở theo đầy lúa hột về nhà, mà trong bụng mừng vui dữ lắm vì được mùa cắt lúa trúng! Sau này, khi có máy đuôi tôm đặt sau lái ghe thì người ta mua máy gắn sau lái đi đây đi đó đỡ phải chèo ghe mỏi mệt, mà lại đi nhanh nữa

 

Khoảng cuối thập niên 1950, ở Rạch Giá có kiểu xuồng ghe nhỏ, đít bằng, mũi hơi thon và cất cao lên được gọi là ghe tắc ráng; loại ghe này gắn máy đuôi tôm ghe chạy lướt trên mặt nước rất nhanh nhờ mũi ghe cơi lên khỏi mặt nước; lúc bấy giờ ghe chạy nhanh như rắn lãi chạy và dân quê đặt tên cho loại ghe này “vỏ lãi”.

 

Tới thời kỳ cơ giới hóa nông nghiệp với máy cày, máy suốt lúa thịnh hành, để chở những chiếc máy này với sức nặng có tới cả mấy tấn, các trại đóng xuồng ghe nghĩ chế ra cách đóng các chiếc trẹt với be ván rất dày, bề ngang rộng bề dài vừa với chiều dài các chiếc máy cày, máy suốt với bề đáy cạn và di chuyên qua các kinh rạch rất thuận tiện. Ngoai việc vận chuyển máy móc như vừa kể, trẹt còn được dùng để đưa đò ngang qua sông rất thuận lợi vì chở được nhiều người như đưa rước khách bộ hành, đưa học trò qua sông đi học , mà chiếc trẹt nó cũng vững vàng nữa vì cái đáy nó bằng và lớn nên không bị lắc qua lắc lại như ghe nhỏ và nếu bến sông rộng có thể gắn máy đuôi tôm để chạy qua chạy lại mỗi chuyến cho nhanh. Hồi đời trước, ở nhà quê có sắm xe đạp để làm phương tiện đi lại trong làng, tới đầu thập niên 1950 có xe gắn máy, xe mô tô nhưng cũng ít nhà có sắm xe gắn máy; mãi tới thập niên 1960-1970 thì xe gắn máy hiệu Honda của Nhựt rất thịnh hành.

 

Vài hình ảnh tiêu tiêu biểu:

V/ Vật dụng bắt cá tôm

 

Ở nhà quê mà lại là nhà quê miền sông rạch nhiều, mùa nước lên thì đồng ruộng mênh mông nước ôi thôi là nước nên cá tôm nhiều lắm; thành ra sống ở nhà quê nhà nào cũng sắm một ít dụng cụ giăng bắt cá tôm để làm thức ăn trong gia đình mỗi ngày; nếu có dư còn có thể mang ra chợ bán để thêm chút tiền mua dầu lửa, mua mắm muối…

 

Trước nhứt là các loại câu giăng, câu cắm, câu thả. Câu giăng thì nhà nào cũng có năm ba gắp câu giăng, mỗi gắp khoảng 100 lưỡi. Có hai loại lưỡi câu thông dụng đó là lưỡi câu uốn và lưỡi câu đúc. Lưỡi câu uốn người ta dùng dây kẻm nhỏ hoặc vừa để uốn lưỡi câu; sở dĩ người ta dùng dây kẻm vì dây kẻm cứng mà chắc, khi cá dính câu ít bị hoác, còn dây chì thì mềm nên khi gặp cá lóc lớn ăn câu câu dễ bị hoác và khi lưỡi câu mà bị hoác như vậy cá sẽ sẩy. Ở gần chợ Cái Sao (Long Xuyên) có cả một dãy chòi bên lề đường liên tỉnh số 9 chuyên môn uốn lưỡi câu các loại để bán; còn lưỡi câu đúc do nhà máy chế biến thì bán ở chợ chỗ các tiệm chuyên bán chài lưới lưỡi câu có đủ các loại lưỡi câu mà dân quê ưa dùng. Trong hai loại lưỡi câu này người ta thường uốn theo hình dáng dấu chưn con ó, hoặc hình dáng chữ U, cả hai loại lưỡi này đều có ngạnh để khi cá dính câu cá khó bị sẩy.

 

Lưỡi câu dấu ó vì giọng câu nhỏ, nên hợp với các loại cá miệng nhỏ như cá trê vàng, cá trèn, cá thác lác; lưỡi câu đúc giọng câu lớn, thích hợp với các loại cá lớn như cá lóc, cá bông, cá lăng, cá kết, cá trê trắng, cá ngác, cá tra, cá bông lau, cá vồ, cá hô, cá leo, cá kết...

 

Khi bạn có đủ dụng cụ gồm lưỡi câu, giường câu, nhợ câu (nhợ câu là loại dây gai, dây gân có độ mềm hơn giường câu, chẳng hạn giường câu dùng chỉ đậu 9, thì nhợ câu đậu 6, đậu 7, nhằm mục đích để nhợ câu dịu dàng hơn khi lưỡi câu nằm trong nước nhằm làm cho cá dạn ăn) và gắp câu, rồi thì bạn chỉ cần lấy nhợ câu dài khoảng 3 tấc và tóm lưỡi câu lại ở ngay cái chuôi của lưỡi câu; kế tiếp khi đã tóm câu xong xuôi đâu đấy thì bắt đầu buộc các lưỡi câu đó vào giường câu; để cho câu không bị rối, lúc vừa buộc câu vào giường câu xong người ta lấy lưỡi câu máng vào gắp câu; và rồi buộc tiếp lưỡi câu khác và máng vào gắp như trước cho tới khi nào xong 100 lưỡi cho mỗi gắp như vậy là xong. Nhớ là khoảng cách giữa hai lưỡi câu chia đều nhau, thường thường là khoảng cách chừng 1thước hoặc 1 thước 2 tây cho một lưỡi để khi cá ăn câu các con cá khác không bị nhát, vẫn cứ kiếm mồi và có thể ăn câu tiếp, vị chi nếu mình muốn một gắp câu gắp được 100 lưỡi thì giường câu với sợi dây nilon hoặc dây gai đậu 8 hoặc đậu 9 phải dài cỡ hơn 100 thước vừa trừ bì hai đầu giường câu để còn một khoảng cách khoảng dư cỡ 1 thước là được để khi bủa câu mình buộc vô hai cây đài cấm ở hai đầu giường câu.

 

Xin nói thêm về gắp câu hình dáng là một miếng cật tre già và dày, bề dài khoảng một gang tay tức khoảng hơn hai tấc. Sau khi kiếm miếng cật tre dày như vậy người ta mới dùng mác vót bén khoét miếng cật tre ấy thành cái rảnh nhỏ làm thế nào để khi mình máng lưỡi câu vô cái gắp nó không bị kẹt cứng mà cũng không bị lỏng qúa; vì chật quá thì khi mở lưỡi câu ra để bủa câu, câu sẽ dễ bị chậm, trở ngại; còn nếu quá lỏng lẻo, lưỡi câu dễ bị rớt ra ngoài và bị rối nùi.

 

Đó là những luồng câu dài giăng bắt cá trèn, cá thác lác, cá trê bằng mồi trùn, mồi tép và bủa trên những vạt đất rộng theo luồng giữa đồng có nhiều rong đuôi chồn hoặc mã đề vì mấy vạt đất này các loại cá này ưa ở. Còn nếu giăng câu cặp mé vườn thường thường mỗi luồng câu chỉ có khoảng 5 hoặc 10 lưỡi câu là tối đa vì giăng câu cặp mé vườn không phải chỗ nào cũng bủa câu được mà phải lựa chỗ nào êm mà mình biết là cá ưa tới đó tìm mồi; thường thường giăng câu cặp mé vườn người ta dùng mồi chạy như mồi cá linh non, mồi nhái, mồi cá sặt non, cá rô non thì loại câu này ưa dính cá lóc, vì vậy phải canh làm sao cho lưỡi câu vừa chí mí mặt nước thôi để cho con mồi chạy nhảy, bơi lội nơi mặt nước và cá thấy mồi tung tăng như vậy là chúng thích lắm và nhảy lên táp miếng mồi liền hà! Nếu để ngầm lưỡi sâu quá, cá mồi sẽ bị vướng cỏ không lội được thì có khi cá mồi sẽ bị ngộp nước và con mồi bị chết, cá hổng khoái lắm nên câu ít dính cá là do vậy. 

 

Vào tháng 9, tháng 10 âm lịch, muốn giăng câu cá lóc lớn, người ta giăng câu ngầm mùa nước nhớm giựt. Muốn giăng câu ngầm người ta phải lội xuống nước dùng lưỡi hái cắt cỏ cho trống và dọn một cái luồng dài tùy theo số câu mình muốn giăng, có khi một luồng câu dài cả mấy trăm thước. Sở dĩ dọn luồng câu vào mùa này vì câu ngầm giăng bằng mồi ốc, mồi cua nhỏ, nên có luồng trống như vậy để cua bò tới bò lui dễ dàng mà không bị vướng cỏ và cá dạn ăn câu và luồng câu cứ để một chỗ hoài, không phải dời luồng như mùa nước ngập mênh mông đầy đồng.

 

Ngoài câu giăng, ở nhà quê còn dùng câu cắm, câu thả hoặc câu rê, câu phượt, câu nhắp.

Câu cắm thì mỗi cần mỗi lưỡi và cắm dọc theo các mé mương, bờ kinh, hoặc các giồng ranh với mồi chạy hoặc mồi ốc để bắt cá trê, cá lóc; tùy loại cá, và tùy mùa có khi dùng mồi trùn, mồi cắt thì cá mới ăn nhứt là vào mùa lạnh, cá bị ê răng nên mồi cắt là thích hợp nhứt. Câu thả là loại câu người ta buộc lưỡi câu và một khúc sậy hoặc ống trúc cỡ ba bốn tấc nhằm mục đích làm cái phao cho câu nổi trên mặt nước; sau khi móc mồi xong mình mới lựa chỗ nào êm êm nhắm có cá là vạch lỗ trống để thả lưỡi câu xuống chỗ đó; khi cá đi kiếm ăn gặp mồi đang treo lơ lững dưới nước là nó ăn liền rồi bắt đầu cá lội lung tung để tìm cách thoát ra, và rồi bị vướng vô cỏ nằm đó đến khi người ta thăm câu gặp cá dính chỉ cần lấy rổ hoặc lấy vợt xúc cá vô rổ và gỡ cá thôi. Thường thường có người thả mỗi lần như vậy khoảng 100 lưỡi câu hoặc nhiều hơn và có hôm may mắ trúng chỗ cá nhiều họ kiếm được cả giỏ cá chứ hổng ít. Vui lắm!

 

Câu nhắp với với cần câu là ngọn tầm vông vừa phải và gọn chuốt cho láng; ở đầu ngọn cần câu tóm nhợ câu ngắn có chiều dài khoảng vài 2 hoặc 3 thước tây, lưỡi câu lớn; vào mùa nước giựt, người ta đi theo các gốc cây lớn dưới sông hoặc ngồi nơi mũi xuồng cầm cần câu với mồi chạy như cá linh, cá rô đồng còn nhỏ, cá sặt hoặc mồi nhái còn sống và bỏ gần mấy gốc gáo, gốc bần và nhấp nhấp, nhử nhử như vậy, mấy con cá trú ngụ theo mấy gốc cây thấy mồi lội tới lội lui chúng nhào lên ăn mồi và dính câu; người ta nhanh tay giựt mạnh cần câu là dính cá.

 

Câu rê thì cần câu là một ây trúc dài làm cần câu; ở đầu ngọn cần câu người ta tóm một nhợ câu với lưỡi câu đúc lớn để bắt cá lóc. Sở dĩ gọi câu rê vì khi quăng câu với mồi chạy móc sẵn người câu cá cầm cần câu rê qua rê lại nhằm nhử mồi cho cá thấy mồi và ăn câu. Còn câu phượt thì cũng y loại câu rê nhưng nhợ cầu dài hơn và người ta quăng lưỡi câu thật xa trên mặt kinh, mặt hồ nghe tiếng nhợ câu xé gió một cái vút vậy đó và rồi mới kéo lê nhợ câu vô mình, trên đường kéo nhợ câu cá lóc ở gần đó thấy mồi đang di chuyển là nhảy lên táp mồi liền hà; và người câu giàu kinh nghiệm khi biết cá cắn câu là họ giựt mạnh một cái là dính cá và từ từ kéo cá vô bờ rồi bắt cá. Ham lắm! Cả hai loại câu rê và câu phượt khi móc mồi người ta lấy cọng rau muống móc vô chỗ mũi lưỡi câu choàng tới chuôi lưỡi câu nhằm khi mình rê câu hoặc quăng câu rồi kéo câu rề rề trên cỏ câu không bị vướng cỏ mắc gốc.

 

Câu cần thì lưỡi câu loại nhỏ để câu cá nhỏ. Cần câu làm bằng ngọn trúc và loại câu cần nhỏ này câu nhiều loại cá như lòng tong, cá he, cá thỉu, cá rô đồng, cá rô biển, cá trèn, cá thác lác, cá dảnh, cá mè vinh; tóm lại là cá gì câu cần câu cũng được nhưng có hai loại cá miệng nhỏ và ít ăn câu là cá linh non và các sặt. Muốn bắt cá linh thì có nhiều cách như đăng đó, giăng lưới, đóng đáy, vó cất; còn muốn bắt cá sặt non thì đặt lờ hoặc giăng lưới. Hồi đời trước, dường như ở nhà quê nhà nào cũng có vài ba cần câu trong nhà để câu cá ăn mỗi ngày.

 

Câu tôm cũng là một trong những thú nhàn ở nhà quê. Ngoài việc đặt lọp, đặt lờ bắt tôm, người ta còn câu tôm bằng cần câu. Câu tôm bằng cần câu có hai loại, một loại câu có lưỡi và một loại câu không cần lưỡi. Câu có lưỡi thì lưỡi câu nhỏ và không có ngạnh vì tôm chỉ ngậm miến mồi chứ hổng có nuốt mồi nên không lưỡi câu cần ngạnh. Câu không có lưỡi người ta dùng một cọng dây chì và mồi câu là mồi trùn; loại trùn dân quê thường dùng làm mồi câu tôm là trùn hổ đất. Người ta xỏ các con trùn vô cọng dây chì  sau đó cuốn cọng dây chì này lại thành một cục mồi lớn cỡ bằng trái chanh hoặc lớn, rồi ngồi nơi mũi xuồng lựa bến vắng thả mồi và câu tôm. Cả hai cách câu tôm bằng lưỡi câu hoặc không có lưỡi dân quê đều có thêm cái lồng đèn bánh ú, cái vợt với cán dài vừa làm mái giằm vừa để vớt tôm khi tôm ăn mồi. Thí dụ bạn lựa chỗ nào nước vận, tức chỗ dòng nước vừa chảy qua rồi dội cái doi đất và nước chảy vận lại là chỗ tôm ưa ở; thế là thả câu và ngồi chờ; bạn sẽ nghe tôm nhâm nhi miếng mồi ngon lành, dao động cần câu, lúc bấy giờ bạn từ từ kéo nhẹ cần câu lên nhắm vừa tới gần mặt nước và tay kia bạn cằm sẵn cây vợt đưa nhẹ xuống nước và nhẹ nhàng hứng tôm vô vợt; mọi động tác như kéo lưỡi câu lên và đưa vợt vớt tôm bạn phải làm vừa nhanh vừa nhẹ nhàng là bạn sẽ có tôm đầy rộng, vui lắm! 

 

Còn lưới thì hồi xưa người ta đương lưới bằng chỉ, bằng gai, sau này có ni-lon người ta đương lưới bằng ni-lon. Lưới thì tùy theo loại lưới bắt cá nào thì có tên loại lưới cá nấy. Chẳng hạn lưới giăng bắt cá rô thì có lưới ca rô; lưới giăng bắt cá linh thì gọi lưới cá linh; lưới giăng bắt cá trắng thì gọi là lưới cá trắng (hoặc gọi lưới thưa vì cá trắng như cá mè vinh, cá dảnh có bề ngang lớn, có khi 6, 7 hoặc 8 phân, nên lỗ lưới cũng phải lớn theo kích thước của cá, và gọi chung là lưới thưa; trường hợp muốn giăng bắt cá hô, cá bông lau ở sông cái thì lỗ lưới cỡ một tấc tây trở lên mới bắt được mấy loại cá lớn này). Hồi đó, trung bình nhà nào cũng có ít nhứt bốn năm tay lưới mỗi loại và mỗi tay lưới dài chừng từ 50 thước tới 100 thước là thường.  Cách giăng lưới cũng tùy loại lưới mà giăng; chẳng hạn muốn giăng lưới cá linh thì lựa chỗ đồng trống, chỗ mấy cựa gà bủa lưới đón cá đi; giăng lưới cá rô thì bủa theo đường mòn giồng ranh cá rô ưa vô đó kiếm mồi; giăng lưới cá trắng trên đồng thì dọn luồng băng qua những vạt rong đuôi chồn, vạt bông súng hay mã đề các loại cá trắng ưa ở mà bủa lưới…

 

Bắt cá mùa mưa cá sắp lên đồng hoặc mùa cá ra sông vào tháng 10, tháng 11 âm lịch thì người ta dùng vó cất. Trong các nghề bắt cá thì làm nghề vó cất là nhàn nhứt. Chỉ cần hạ vó xuống và cất vó lên là có dính cá, không cần mồi, không cần dời chỗ; cứ cố định tại một địa điểm mà bắt cá hết mùa này sang mùa khác; khi nào hết mùa thì cuốn vó lại và đem phơi cho vó khô và chờ tới mùa đem ra móc vó lên bốn cái càng có sẵn và hứng cá! Trung bình từ khi hạ vó xuống tới khoảng 20 phút hoặc nửa giờ là cất vó lên một lần là có cá dính trong vó! Nhàn dư lắm!

 

Ở nhà quê, còn có nhiều dụng cụ bắt cá khác như lọp đặt bửng để bắt tôm, lọp đặt tép, lọp bắt cá chạch; rồi lờ tôm, mùa tháng 5 chạy dài tới tháng 10, tháng 11 âm lịch; tháng 5 thì đặt lờ dưới sông theo các mé cỏ dọc theo các con kinh, con rạch nhỏ; khi nước nhiều tháng 8 tháng 9 âm lịch thì dời lờ tôm lên đồng đặt mấy chỗ cựa gà nước vận tức là nước chảy qua rồi chảy vận lại là chỗ tôm ưa bò tới bò lui kiếm mồi. Nhà nào cũng sắm sửa một ít lọp, một ít lờ như vậy để đặt lọp đặt lờ bắt cá tôm. Nhà nào cũng sắm một bộ đăng đó để đuổi cá linh, cá ròng ròng và thêm một ít ống trúm để đặt lươn. Cái nôm thì cũng rất cần khi soi cá hoặc khi nước kém cần nôm cá dưới rạch lúc nước ròng sát. Trúm thì làm bằng ống tre gai loại tre có lóng dài, ruột tre bộng, lớn, chiều dài chừng 1,5 thước, một đầu để trống làm miệng trúm, một đầu chừa cái mắt bít kín làm đáy trúm, các mắt tre ở giữa thì dùng cây nhọn như cây tràm hoặc cây sắt thụt các mắt tre nhằm làm các mắt này bị bể ra để khi lươn chun vô không bị vướng lại; miệng ống trúm có một cái hom nhỏ vừa với ống tre được xỏ qua bằng một cây ghim tre nhằm giữ cái hom trúm cho khỏi bị rớt ra ngoài, đồng thời cái ghim này cũng có công dụng là khi mình đặt trúm ghim ống trúm xuống đất ống trúm không bị nước làm trôi hoặc nổi trồi lên mặt nước; đáy ống trùm cất cao lên với góc chừng 30 độ hoặc 35 độ so với bề mặt nước nằm ngang, nhằm mục đích cho lươn chun vô không bị ngộp; do vậy ở đáy ống trùm người ta nướng cây sắt tròn và giùi một cái lỗ hoặc dùng cái đục khoét một đường dài chừng một tấc nhằm làm chỗ thóat hơi để khi lươn chui vô ống trúm chúng có chỗ để thở và không chết ngột. Ngày nay, người ta chế ống trúm bằng ống nhựa, hoặc có người còn dùng rẻ tre rồi bện lại như cái lọp nhỏ, có hom và cũng có cây ghim cắm xuống đất giữ cái lọp này ở thế như đặt ống trúm ngày xưa… Tôi hổng biết đặt loại này có dính lươn nhiều hông thì thú thật tôi hổng rành và loại mới này xem ra hổng hấp dẫn cho lắm! 

 

Ngoài ra, còn có lọp đặt cua. Hồi đời trước ít ai ăn cua đặt lọp bằng mồi vì cho rằng cua mà ăn mồi thì dơ, và chỉ ăn cua vô lờ tôm vì cua này ăn mồi dừa rất béo, hoặc ăn cua đặt lọp đường ven, cua đặt bửng hoặc bắt cua trên đồng vào mùa mưa để ăn, cua sẽ sạch và ngon hơn. Ngày nay vì cua ốc khá hiếm nên có người chế ra các lờ, lọp để chuyên đặt cua đồng. Loại lờ lọp này thì nhìn vào dễ biết vì nan lờ hoặc rẻ lọp to và thô không bóng như lờ lọp đặt tôm cá. 

 

Vì muốn cá, lươn, tôm… còn sống, nhà nào cũng sắm cái rộng để rộng cá. Đại khái có mấy dụng cụ cần trong việc bắt cá tôm như vậy, xin mời bạn xem qua vài hình ảnh tượng trưng do bạn Thái Lý sưu tầm và chụp được mới đây.

 

Vài hình ảnh tiêu tiêu biểu:

VI. Thay lời kết

 

Qua vài nét rất sơ lược về các vật dụng cần thiết trong đời sống ở nhà quê mà tôi cố gắng nhớ và lược kể lại với bạn chỉ là một phần rất nhỏ so với thực tế đời sống ở làng quê cách nay bảy tám chục năm thôi, vì còn có nhiều loại vật dụng mà tôi không biết rành hoặc tôi không nhớ được hết do đầu óc của tôi bây giờ nó già cỗi nhiều rồi và chữ nghĩa cũng không có được mấy chữ nên không thể nào diễn tả hết ra đây được. Ngày xưa ông bà mình thường hay nhắc “nhà giàu còn thiếu mẻ kho”; và với những hồi ức này tôi chỉ có một mơ ước rất nhỏ là muốn mang tặng cho bạn cái “mẻ kho” của những ngày rất xa xưa ấy vậy!


 

Hai Trầu

Houston- Lấp Vò, ngày 27-12-2020

 

PHỤ LỤC:

 

(*) Vài mùa màng tiêu biểu ở nhà quê có thể lược kể ra trong cuốn “Mùa Màng Ngày Cũ” như dưới đây:

 

1. Mùa xoài

2. Mùa cày bừa và phát cỏ

3. Mùa dưa leo, dưa hấu, dưa gang

4. Mùa chuột

5. Mùa làm lóng, tát mương, tát đìa, làm mắm, làm khô

6. Mùa bắt lươn, bắt lịch

7. Mùa sạ lúa

8. Mùa cấy lúa

9. Mùa bắp, mùa đậu

10. Mùa bắt cóc, nhái và ếch

11. Mùa xúc lùm, nhảy hùm, quậy đìa

12. Mùa cá về đồng

13. Mùa xuống bửng, đặt lọp, đặt lờ

14. Mùa câu cá và giăng câu

15. Mùa giăng lưới

16. Mùa cá dại, chất chà , dỡ chà

17. Mùa đặt rù, kéo bò, chận ụ, làm mùng

18. Mùa bông súng, bông sen, củ co

19. Mùa màng tháng Chạp

20. Mùa cắt lúa, đạp lúa, mót lúa

21. Có những mùa chim

22. Mùa cuốc khoai lang

23. Mùa trồng kiệu

24. Mùa cua ốc

25. Mùa nước lên và nước giựt

26. Mùa ngồi tum và vớt tràm lụt

27. Mùa làm gạch

28. Mùa trồng mía và ép đường

29. Mùa trồng khóm

30. Mùa dựa rơm và đốt đồng

31. Mùa cắt cỏ cho trâu bò

32. Vài ba mùa khó quên qua năm ba vùng đất cũ.


 

                                                  =======

 

HAI TRẦU

ĐỌC VÀI BÀI THƠ CỦA ĐOÀN XUÂN THU (*)

 

Đoàn Xuân Thu, là tác giả mới đến với Thất Sơn Châu Đốc vào những ngày cuối tháng 10 năm 2008, vậy mà ông đã có 36 bài thơ trên trang nhà này. Điều đó cho thấy Đoàn Xuân Thu chuyên chú làm thơ hơn là viết văn dù ông có vài ba bài tùy bút ngắn vẽ nên nỗi niềm của mình qua những chặng đời.

 

Theo tiểu sử ghi ở phần “vài hàng về tác giả”, Đoàn Xuân Thu còn rất trẻ. Ông sanh năm 1951, tại Mỹ Tho; quê nội gốc người Chăm vùng Châu Giang. Thuở nhỏ học trung học Nguyễn Đình Chiểu (Mỹ Tho) và Trương Vĩnh Ký (Sài Gòn). Ngoài ra, được biết ông có học Đại học Văn Khoa và Sư Phạm Cần Thơ, rồi dạy học, đi lính và  làm thơ như bao chàng trai ngày ấy nhiều mộng mơ một thời lãng mạn.

 

Trong một bận hành quân ngày cũ, lúc tác giả mới chập chững quân hành, nhưng cũng nhận ra đời lính mong manh với khói thuốc lung linh vào một buổi chiều mưa ướt đồng bằng Tân Phú Trung vùng Bình Đại, Bến Tre : 

 

“Chiều! chiều mưa nhiệt đới đẫm đồng bằng,

trùm kín poncho về Tân Phú Trung

giọt ngắn, giọt dài xuôi triền nón sắt

bàn tay che khói thuốc đời mong manh.”

 (Tân Phú Trung)

 

Nhóm chữ “đẫm đồng bằng”, “xuôi triền nón sắt”, “đời mong manh” làm cho câu thơ lắng xuống, ý thơ mang mang và tứ thơ có thần hồn khiến người đọc dễ đồng cảm cùng những suy tư và nỗi niềm của tác giả.

 

Rồi người lính trận ấy cũng như bao chàng trai trẻ ở tuổi đôi mươi của thời chinh chiến cũ ấy khi bước vào đời là họ mang trong lòng cả một trời yêu dấu thiết tha với những mối tình rất lãng mạn mà chơn thật, rất ngọt ngào hương vị qua nụ hôn đầu, mà mỗi mảnh đời phiêu lãng nào mà không qua một lần những nụ hôn đầu thân ái ấy:

 

“Vườn măng cụt em đưa ta qua

trái chín đầu mùa, em chia ta một nửa.

vị măng cụt, nụ hôn đầu hai đứa

ngọt hóa đời ta, bớt những đắng cay.

 

Vườn măng cụt em đưa ta qua

trái chín đầu mùa, em chia ta một nửa.

múi măng cụt, một vầng trăng, vằng vặc

dõi theo ta trong đạn lửa quê nhà.”

(Măng cụt)

 

Chia nhau nửa trái măng chin ngọt ngào như chia nhau nụ hôn gói trọn tình nồng, người con gái vườn măng ngày ấy như cánh hoa đời tươi đẹp để cánh bướm Đoàn Xuân Thu cột chặt hồn mình với hương đồng cỏ nội ấy mãi mãi những ngày :

 

“Vườn măng cụt em đưa ta qua

trái chín đầu mùa, em chia ta một nửa.

mủ măng cụt giữ chân con bướm dại

từ phương nào sao lại lạc đến đây?”

(Măng cụt)

 

Nhưng thực tế dòng đời, nếu chỉ có thế, tức là yêu nhau rồi gần nhau và sống bên nhau trọn kiếp thì thi sĩ làm gì có những bài thơ bất hủ như “Hai sắc hoa tigôn” của TTKH, “Màu tím hoa sim” của Hữu Loan, và nhiều bài thơ khác trong vườn hoa văn học. Thế nên, Đoàn Xuân Thu cũng có những cách trở và những chia lìa cuộc tình lãng mạn nơi vườn măng cụt vào những mùa binh lửa cũ: 

 

“Thôi vĩnh biệt em! vĩnh biệt vườn măng!

ta lại băng mình trong sóng gió

vườn măng cụt: mối tình đầu ta đó 

xót tình ta, vận nước chẳng dài lâu

trúc mai chẳng được bạc đầu với nhau.

 

Nhớ mùa măng chín càng đau!”

(Măng cụt)

 

Trong một đoạn thơ khác, tác giả hé lộ cho người đọc một cách nhìn đời gần hơn về tuổi trẻ và chiến tranh, về chiến tranh và hòa bình, về chết và sống bằng những suy tư rất gần với dấu binh lửa mà rất thâm trầm trong nghĩa lý của đời sống : 

 

“Ta, đời lính, cạn ngàn ly rượu đắng

hiệp định Paris; ngày mai ngừng bắn?

chiến tranh? hòa bình? chết? sống? hư không!

buồn chi em! vạn thọ đã vàng bông!

 

Trời cuối năm, giáp tết,

sống sót đã là may!

ly rượu này, cạn hết 

cùng ta say đêm nay.”

(Cùng ta say đêm nay)

 

 

Khi dòng đời trôi, với người chân lắm tay bùn, người ta chỉ lo làm lụng cày bừa có lấy miếng cơm, họ ít mơ mộng; nhưng với tâm hồn nghệ sĩ, tác giả không khỏi bồi hồi ngồi nhớ lại tuổi đi học ngày nào. Những tà áo trắng của các cô nữ sinh trường trung học Nguyễn Đình Chiểu dịu dàng mà thanh khiết ấy là những bóng hình của một thời chôn chặt trong lòng khi chuyến tàu ra khơi rời xa bến phà Rạch Miễu mà hồn tác giả vẫn không nguôi tưởng nhớ khi chợt nhớ về một chuyến vuợt biển ngàn trùng:

 

“Nguyễn Đình Chiểu của thời áo trắng,

Mỹ Tho mình- sớm nắng, chiều mưa.

súp lê xa bến phà Rạch Miễu, 

chung thủy Mỹ Tho, em vẫn chờ.” 

 

Lạc Hồng, cây đa đà trốc gốc, 

trôi rồi ra biển tuổi xuân anh.

cái thời tuổi trẻ anh yêu dấu,

đã chết lâu rồi bởi chiến tranh.”

(Mỹ Tho)

 

Để rồi có một bận ngồi nơi một bến bờ xa nào cách dòng sông cũ ngàn trùng, tác giả gợi cho ta một trời thương nhớ ấy

 

“Anh trầm tưởng nhánh sông quê

bao nhiêu nước đã trôi về những đâu?

bao nhiêu nước chảy qua cầu?

thời gian, phương thuốc nhiệm mầu, lãng quên?

Không! anh chẳng thể nào quên!

sáng ngơ ngẩn sáng, chiều xiêu xiêu chiều.”

(Một nhánh sông quê)

 

Đoàn Xuân Thu có cái chung tình của một người đi xa nhớ về những bóng hình... Tác giả nhớ tà áo trắng của cô học trò trung học, nhớ nụ hôn đầu nơi vườn măng cụt, nhớ nhánh sông quê và rồi tác giả lại nhớ Thu, một bóng dáng cố nhân của vùng sông nước Bến Tre và mấy mươi năm qua vẫn chưa một lần hội ngộ:

 

“Thơ bất chợt như cơn mưa mùa hạ

gợi ta về vùng quê, Thu đã xa: 

Em sương khói... vườn dừa mơn xanh lá

tóc mai dài em bay mãi trong ta

Sông nước Hàm Long, chiếc xuồng ba lá 

ta xuôi dòng Tiên Thủy, bến sông xa.

Hôn từ biệt em đỏ bừng đôi má 

Em Bến Tre, bông bưởi trắng sau nhà...

 ...............................................................    

                

Thôi vĩnh biệt! em lấy chồng! Thu nhá!

nụ hôn xưa theo gió đã bay rồi

Anh phiêu bạt cuối trời, đời luân lạc

hạnh phúc tìm, đâu có? có thinh không!”

 (Bến sông- Thu)

 

Là người giàu lòng cảm xúc, Đoàn Xuân Thu khi nghe tin quê nhà mưa tràn lũ lụt, tác giả không khỏi bồi hồi thương cảm cho một bóng dáng thân yêu nơi nước lụt quê nhà :

 

“Chiều quê người

em ơi! 

mùa nầy lá rụng

mà đời anh là chiếc lá bay bay.

 

Chiếc lá bay bay 

về đâu? về đâu?

có về quê cũ

cho anh gởi về em

về Cần thơ quê mình

đang chìm trong mùa lũ

niềm thương nhớ khôn nguôi.”

(Thương em, quê mùa lũ)

 

Lòng chung thủy ở Đoàn Xuân Thu còn có cả mái ngói rêu phong của ngôi trường cũ, nơi mà tác giả nhớ lớp, nhớ thầy, nhớ bạn bè và cả những vật vô tri trong lớp như bàn ghế bảng đen cùng phấn trắng mà sao như có linh hồn mời gọi người học trò cũ nhớ về, tha thiết lắm những mùa xa trường đằng đẵng mấy mươi năm:

 

“Thưa thầy!

ngàn dặm xa con bay qua biển bắc

tay con nắm chặt chiếc khăn tay

nước mắt con rơi dài theo biển

Thái Bình ơi! biển mãi chẳng êm đâu!

 

Thưa thầy!

cho con vào lớp cũ

ngồi lại chiếc bàn xưa”

(Trường xưa)

 

Những người “thầy xưa ấy” giờ cũng đã là những “người của muôn năm cũ”, “hồn ở đâu bây giờ”, mà tác giả vẫn nhớ. Điều đó, tượng trưng cho đức chung thủy bền bỉ, không mờ nhạt. Để rồi, người của hôm qua tâm tình cùng tuổi nhỏ hôm nay như một lời nhắn gởi tha thiết, bồi hồi, đầy xúc cảm:

 

“Này em yêu! em gái!

em là tôi của thời thơ dại

thuở áo dài tóc xỏa chấm bờ vai

thuở thơ tình giấu hoài trong vở

tím tình yêu tím cả giấc mơ phai ..

 

(…..)

 

Này em yêu! em nhé!

đông dẫu dài nhưng xuân đà đến ngỏ

em sẽ có những điều em muốn có

cơm áo tự do!

nhưng có một điều rất khó

tuổi học trò theo gió sẽ bay đi.”

 (Trường xưa)

 

Trong bài thơ “Cánh diều của đôi ta”, người đọc bắt gặp mối tình chân quê thời niên thiếu giữa vùng quê êm ái ngày xưa với hai đứa bé chơi thả diều; để rồi chàng trai quê ấy không còn cần những “cánh diều của đôi ta” nữa và chia ly một cuộc tình. Đọc thơ Đoàn Xuân Thu mà ta nghe như chuyện huyền thoại, nhưng ai sống nơi chốn quê mùa chắc chắn không nghĩ rằng câu chuyện tình của đôi trai gái quê này là huyền thoại bao giờ, mà là chuyện thật, có thật, và cảm động:

 

“Cuồn chỉ may của má,

tờ nhựt trình của ba,

bụi tre già của ngoại,

hồ dán của anh hai,

anh, em, thời thơ dại,

cánh diều của đôi ta.

 

Trời quê ta gió nổi 

em chạy, đuổi theo anh

ngã xuống lại đứng lên

anh ơi! chờ em với!

Em chạy, đuổi theo anh 

suốt một thời thơ dại;

em chạy, đuổi theo anh 

suốt một thời con gái;

anh! cánh diều đôi ta

bay xa! đừng băng nhá! 

Rồi một ngày tình ta thôi đã hết!

đốn đủng đỉnh về, anh kết chữ tân hôn

chẻ lá dừa, em giúp anh dựng rạp

anh đâu biết rằng dao cứa nát tim em.

thôi vĩnh biệt! dẫu còn yêu anh mãi!

anh! cánh diều thời thơ dại đã băng.

 

Em trả lại má cuồn chỉ may 

bởi cánh diều đôi ta không còn bay, bay nữa.

em trả lại ba tờ nhựt trình

đăng lời mừng anh: hương lửa ba sinh.

bụi tre già của ngoại lại lên xanh

đâu biết được lòng em đà héo úa.

em trả lại anh hai hồ dán

bởi tình ta đà keo rã, hồ tan.

 

Đêm hợp cẩn, giao bôi 

nếu anh nhớ tình ta thời thơ dại?!

quà cưới em đi, anh hãy mở ra

anh sẽ thấy: cánh diều của đôi ta

và em, ngàn giọt lệ!”

(Cánh diều của đôi ta)

 

Khác với anh chàng nhà quê xa cô gái quê quên “những cánh diều đôi ta”; lần này người tình nhỏ quên giữ lời hẹn ước:

 

“Nhỏ đưa anh, mặt mày ủ dột;

Mỹ Tho buồn, rớt hột, lâm râm…

xe lô Minh Chánh, vừa lăn bánh,

nhỏ lấy mù soa, chấm chéo khăn!

 

Chấm chéo khăn, sao ngăn dòng lệ?

“Xa anh rồi chẳng… dễ gì quên!

nhỏ xa anh, ngọn đèn vàng võ,

biếng châm dầu, lu, tỏ, thâu đêm?!”

 

Thâu đêm, nhỏ mươi lần căn dặn:

“Sài Gòn! đèn ngọn đỏ, ngọn xanh

học hành nha, đừng mê bóng sắc; 

bướm ong gì! nhỏ vẫn chờ anh?!”

 

“ Chờ anh…” rồi phụ anh đi biệt! 

cách mặt xa lòng, mới bốn năm;

lặng lẽ, nhỏ ôm cầm thuyền khác;

“ vẫn chờ anh…” rốt cuộc, anh lầm!!

 

Tình ta đâu phải tuồng cải lương!

“Sao vai nhỏ - đào thương - rất đạt?

đã vong phụ, lại còn vớt vát:

tiếng ru buồn, nhỏ hát bên song!”

 

“Ngày đi lúa chửa đơm bông

ngày về em đã con bồng con mang”*

chữ tình một dở hai dang

duyên ta thời có, nợ mang mang sầu.” 

 (Cay đắng)

 

Dẫn ra hai câu chuyện tình trái ngược, để thấy Đoàn Xuân Thu luôn góp nhặt những mảnh hồn cô lữ làm thơ mình thêm chút duyên thầm. Nó như cái bóng trăng làm mặt nước trên mặt hồ lung linh màu trăng sáng vằng vặc. Thơ không có tâm sự, thơ không hồn, dù nhiếu người khó tính cho rằng thơ nhiều tâm sự sẽ làm người đọc dễ nhàm chán. 

 Nhưng đến khi “lau lệ mình ên”, những câu thơ ở đây không còn là tâm sự thường tình nữa, mà là tâm sự của một người con xa mẹ già và khắc khoải nhớ về. Ai dám bảo lòng thương cha nhớ mẹ là chuyện thường tình không cần nói ? Tôi nghĩ, ở đây, tác giả giữ được cái đạo làm con dù xa bao nhiêu dặm, già bao nhiêu tuổi đời mà lòng vô tâm không nhớ cha mẹ già canh cánh bên lòng nhớ mình, thì làm thơ hay để làm gì khi cái tình mẫu tử thiêng liêng mà ta dám nhẹ quên như nắng sáng mưa chiều hoặc gió tạt bên hè cây quên gió cuốn lá xa cành !?:

 

 

“Em còn có mẹ già bên đó!”

tiếng thơ buồn như tiếng thở than !

anh đọc thấy : “ ...hai hàng lụy nhỏ...

...có mẹ già biết bỏ cho ai ?!”*

 

“Anh cũng có mẹ già bên đó!”

mẹ anh đã nằm dưới mộ sâu.

Cỏ trên mồ chắc xanh thương nhớ;

mẹ chắc nhớ anh, nhớ để rầu.

 

Hai lăm tháng chạp về tảo mộ;

hẹn lần, hẹn lửa, hẹn năm sau.

Năm nào cũng vậy, tiền không có;

không tiền, không có vé máy bay!

 

Ngày khánh tận mà anh khánh kiệt;

chỉ biết tàng xe đến phi trường.

“Ai về xứ Việt, quê hương đó 

cho ké, dùm tôi, nỗi đoạn trường!”

 

Nỗi đoạn trường, áng chừng em khóc;

vẫn còn ai đó vỗ về em,

ai đó làm em không khóc nữa,

nỗi buồn nhớ mẹ, chắc rồi quên.

 

Anh nhớ mẹ, rồi anh cũng khóc;

Melbourne buồn, anh lau lệ mình ên! 

(Lau lệ mình ên) 

 

Tình mẫu tử thiêng liêng đó, Đoàn Xuân Thu nhiều lúc bất lực trước những chữ dùng; bởi chữ nghĩa nào nói hết cái tình mẫu tử thiêng liêng, bao la bất tận ấy !

Xin mời bạn nghe tác giả diễn đạt lòng nhớ mẹ già qua “ Ngọn đèn chong mắt”:

 

“Con xa rồi đất quê,

đêm xuống thuyền vượt biển;

có ngọn đèn chong mắt,

đăm đăm đợi con về.

 

Con đã qua 

mùa đông quê người

lạnh thấu xương!

để con nhớ

quê nhà ta

cả một trời nắng ấm.

Con đã qua 

mùa hạ quê người

cháy rát da!

để con nhớ

quê nhà ta

cuối năm trời chớm lạnh;

đất quê người, 

thân con, đời cô quạnh,

tha thiết hoài, 

nỗi nhớ má, thương quê.

 

Xưa bến cũ con đi;

nay bến cũ con về

mòn mõi má đợi mong,

trong sức tàn, lực kiệt:

đèn khô dầu, lụi bấc

đôi mắt khép lại rồi.

 

Lá rụng phải về cội!

Sao con lạc lối về?

bởi ngọn đèn chong mắt

giờ đã tắt thiên thu.”

(Ngọn đèn chong mắt)

 

Tình cảm ấy với một người con coi đạo hiếu là trọng, còn mãi dạt dào trong lòng nỗi khát khao nhớ tưởng của đứa con của má:

 

“Lẽ công bằng có cho và có nhận, 

má chỉ cho chưa có nhận bao giờ; 

má cho con cà một đời lận đận 

nhận của con nếu có chỉ là thơ.

 

Ngàn pho kinh sách con đã học,

hữu hạn vô cùng chữ nghĩa ơi!

cho vô hạn một đời lao nhọc,

những lầm than, má đã cưu mang!

 

(…..)

 

Ôi! má của con, má của con!

từ nay thôi chắc chẳng còn ai,

thương con như thế nữa?

bếp lửa chiều hôm chợt tắt rồi, 

mờ bóng má chập chờn trên vách lá,

má về đâu? sinh, tử: cõi vô thường.

 

Ôi! má của con, má của con!

từ nay thôi chắc chẳng còn ai,

thương con như thế nữa?

xiêu lạc tha hương, phiêu bạt sầu, 

côi cút bay giữa đời giông bão,

ước vọng tương phùng là ảo vọng 

má thương ơi !!!

(Nhận của con nếu có chỉ là thơ)

 

 

Tình mẫu tử thiêng liêng ấy cũng chính là tình yêu quê hương chan chứa tấm chân tình nơi tác giả:

 

“Chiều cuối năm nhớ quê nhà, nhớ má…

nhớ vô cùng bông mận, trắng vuờn xưa;

phiêu bạt bao năm, cùng trời cuối đất,

con vẫn muốn về gánh mận má ơi!

 (Con vẫn muốn về quê gánh mận)

 

Rồi nào là bóng dáng xuồng ba lá, chiếc cặp đệm, nắm xôi nếp rặt, ngọn khói nấu cơm, đồng bưng, cỏ lác, ruộng vườn…, mỗi mỗi làm nên nỗi nhớ mẹ, nhớ quê tha thiết biết dường nào ! 

 

“Suốt một thời thơ ấu con mang theo:

cặp đệm má đương, nắm xôi má nấu 

xôi nếp một, bếp bình minh khói toả

đường mía lau thơm, vị ngọt quê nghèo!

 

Xuồng ba lá má là con đò dọc

hai lượt: đến trường, tan học, đón, đưa

(ngày tựu học con trốn về với má

số phận, dù không muốn, vẫn tha phương?!)

 

Con lớn lên, con đi vào chiến trận

hành quân hoài mấy bận lội đồng bưng

sao vòng vọng nhịp chày xưa, má giã ?!

giã cỏ bàng, đương cặp đệm, nhớ thương!

 

Nhớ má đồng bưng, ruộng, vườn, rẫy bái

chưn sình lầy, lúa nếp, cánh đồng mưa 

chiều dừng quân, trợn trạo lua cơm sấy 

con bùi ngùi, nhớ lại nắm xôi xưa.

 

Má đồng bưng rưng rưng tình mẫu tử

thương má nhiều, thương cặp đệm, nắm xôi!”

 (Cặp đệm, nắm xôi)

 

 

 Nhà văn J.M.Guyau gọi “Cái đặc quyền của nghề làm thơ là không cần phải chứng minh, không cần phải viện chứng, mà vẫn thâu nhập vào trí não ta những điều mà ta không thể chối cãi được. Vì không gì hơn tình cảm con người (….) Đó là tất cả các điều mà ta đã tư tưởng, đã cảm giác, đã luyến ái từ xưa. Nhà thi sĩ chân chính đích thị là người biết gọi những tiếng vang trong đáy lòng ta vậy.”(**) 

 

Qua nhận định của J.M.Guyau vừa dẫn và qua vài bài thơ của Đoàn Xuân Thu tình cờ mà tôi đọc được, không thể có một cảm nhận nào khác hơn là trong thơ Đoàn Xuân Thu chan chứa nỗi niềm. Nỗi nhớ nhà, nhớ quê, nhớ bạn, nhớ trường, nhớ người yêu cũ và đăc biệt nỗi nhớ thương mẹ già nay không còn, tất cả làm thành một hồn thơ miên man nỗi nhớ. Thơ Đoàn Xuân Thu không mới; chữ dùng không cố trau chuốt cầu kỳ, vận thơ không chạy theo trào lưu làm mới thơ như nhiều tác giả, nếu không muốn nói tác giả là một người làm thơ còn nặng phần cổ điển, nhưng nhờ tác giả đã tích lũy nhiều chất liệu qua dòng sông đời mấy mươi năm nhiều sóng gió nên thơ ông gần gũi với những thế hệ già và lưu lạc. Chính vì vậy, thơ Đoàn Xuân Thu trầm lắng và buồn, tứ thơ không lạ mà làm người đọc dễ rung động, hồn thơ mang mang nỗi nhớ về một thời xa lắm, trải dài hơn năm mươi năm !!! Và Đoàn Xuân Thu đã “biết gọi dậy những tiếng vang trong đáy lòng ta vậy!”

 

 

Hai Trầu

Houston , ngày 06-02-2009

Đọc lại, ngày 24.12.2020

 

 

Phụ chú:

(*) Tất cả các câu thơ dẫn trích từ trang nhà Thất Sơn Châu Đốc, mục Thơ, tác giả Đoàn Xuân Thu.

(**) Nguyên văn lời trích bằng tiếng Pháp, trong bài “La poésie” của J.M.Guyau : “C’est le privilège de l’art que de ne rien de’montrer, de ne rien prouver, et cependant d’introduire dans nos  esprits quelque chose d’irre’futable. C’est que rien ne peut pre’valoir contre le sentiment. (…) C’est ce que vous avez pense’, senti, aime’ . Le vrai poète est celui qui re’veille ces voix.”(Trích trong quyển 100 bài dịch Pháp Văn lớp Đệ Nhị của Vũ Quý Mão, Đoàn Rạng, Trần Như Thuần, nhà xuất bản Khai Trí, Sài Gòn, 1959)

_______________________________________

                              Hai Trầu                                                               

                              TRÒ CHUYỆN VỚI

                             TRẦN THỊ NGUYỆT MAI,

                              TÁC GIẢ CÁC BÀI THƠ TRÊN BÁN NGUYỆT SAN                                            “TUỔI HOA”, SÀI GÒN, NHỮNG NĂM 1970-1975 (1) 

                                 _______________________________         

Thưa bạn,

 

Dịp lễ Tạ Ơn, ngày 25.11.2020, nhà văn Vũ Thất, tác giả tiểu thuyết Đời Thủy Thủ, gởi cho tôi và Trần Thị Nguyệt Mai một email:

 

“Thưa anh Hai Trầu,

 

Anh cứ phi lộ rằng anh già rồi....

Đọc các bài viết gần đây của anh, tôi thấy trí nhớ của anh còn tuyệt vời hơn trí nhớ thuở năm mươi. Nghĩa là những ghi nhận văn chương của anh càng đậm đà, sắc sảo. Chắc cần thêm một ấn phẩm Người Đọc & Người Viết...


Nguyệt Mai thân mến,

 

Nhân mùa Lễ Tạ Ơn, được Nguyệt Mai cho thưởng thức các bài thơ từ thuở "Tuổi Hoa" khiến vừa ngạc nhiên, vừa thích thú vừa cảm phục.

Xin Tạ Ơn Người. Tạ Ơn Đời. Tạ ơn Mạng Lưới Internet.

Thân chúc mọi người trong gia đình quý bạn luôn an lành.

 

Thân mến,

Vũ Thất

Ngày 25.11.2020”

 

Từ lời cảm thán ấy của anh Vũ Thất về thơ Nguyệt Mai, tôi lò mò vô trang nhà Trần Thị Nguyệt Mai đọc thử, thì ra mới biết Nguyệt Mai đã làm thơ khá lâu rồi, từ những năm còn đi học ở Sài Gòn, mà từ khi được làm quen với Nguyệt Mai qua giới thiệu của bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc, có lẽ cũng năm bảy năm gì rồi, nhưng tôi chưa lần nào nghe Nguyệt Mai nói có làm thơ dù trên trang nhà của Nguyệt Mai, đôi lúc tôi thấy thỉnh thoảng có thơ của bạn nhưng dường như rất ít. Giống như anh Vũ Thất, tôi cũng “vừa ngạc nhiên, vừa thích thú, vừa cảm phục” khi đọc được các bài thơ của Nguyệt Mai từ thuở bán nguyệt san “Tuổi Hoa”, Sài Gòn, những năm 1970-1975.

 

Ngày nay tuổi tôi đã quá già, cái thuở tuổi thơ của những ngày “Tuổi Hoa” không còn nữa, nhưng qua thơ của Nguyệt Mai, dù cách nay tròn nửa thế kỷ, sao nghe ra như ngày ấy của tuổi học trò bé bỏng của tôi thấp thoáng đâu đây! 

 

Nguyệt Mai có thể kể một chút về những ngày đầu làm thơ ấy của bạn được không?


Trần Thị Nguyệt Mai (TTNM):

 

Anh Hai kính mến,

Cảm ơn anh Hai đã quan tâm đến chuyện làm thơ của em.

Đúng như anh nhận xét, em làm thơ không nhiều. Khi nào hứng lắm mới viết.

Về những ngày đầu làm thơ và thơ đăng báo Tuổi Hoa, em đã có lần tâm sự với các bạn ở các comments trên trang này, anh vào xem nhé:

https://123hoang.wordpress.com/2011/08/25/th%c6%a1-tr%e1%ba%a7n-th%e1%bb%8b-nguy%e1%bb%87t-mai/

Kính chúc anh Hai và chị Bảy luôn sức khỏe, an vui.

Nguyệt Mai

 

Hai Trầu (HT)

 

Qua tìm kiếm, tôi đọc được bài thơ dưới đây, Nguyệt Mai kính tặng cô giáo Ngô Thị Vân của trường nữ Trung học Lê Văn Duyệt, Gia Định, ngày xưa:

CÒN MÃI TRONG TIM

Kính tặng Cô Ngô Thị Vân – Giáo Sư Anh Văn
Trường Nữ Trung Học Lê Văn Duyệt – Gia Định


Với chúng em, đây là niên học cuối
một cuộc thi chấm dứt thuở học trò
chỉ còn lại chút dư âm tiếc nuối
những tháng ngày rất đẹp, rất nên thơ…

Ngày cuối cùng Cô giảng xong bài học
dặn những điều cần thiết lúc đi thi
em đã thấy, ở Cô, giòng lệ ngọc
biết bao tình trong giây phút biệt ly

(Em vẫn biết còn học trò áo trắng
là vẫn còn giữ những nét dễ thương
đời mai sau sẽ có nhiều bóng nắng
tìm đâu ra khoảng mát chốn học đường?)

Và Cô ơi! suốt đời em mãi nhớ
giòng lệ nào tràn ngập những thương yêu
một khoảng trời màu hồng trong tim nhỏ
bục gỗ, bàn Thầy, bóng dáng chắt chiu…


Trần Thị Nguyệt Mai
1972

 

Và bài thơ viết về mùa Thu, mùa của những ngày tựu trường:
 

CŨNG LÀ MÙA THU

Khi lá ngoài đường rụng đầy ngõ phố
và bầu trời như thấp xuống – nhiều mây –
mùa thu nào me âu yếm nắm tay
dẫn con gái nón nghiêng che đi học

gió heo may len lén hôn lên tóc
em thẹn thùng nép dưới vạt áo dài
cô bé mang chiếc cặp nhỏ trên vai
và chợt nghĩ mình bây giờ đã lớn!

con đường đi vương đầy sương buổi sớm
những bé như em chúng cũng đến trường
cơ hồ như một niềm vui ngát hương
đang ngự ở trong tim em bé bỏng

ồ trường kia nơi em đang mong ngóng
tí nữa đây me sẽ dẫn em vào
chọn cho con ngồi ngay ở bàn đầu
“me muốn con đầu lớp luôn đó nhé!”

rồi trống trường điểm lên ba tiếng nhẹ
cô giáo bước vào với áo hồng tươi
trên môi cô trang điểm những nụ cười
cô bé thấy thương cô làm sao lạ …

oOo

Và bây giờ khi mùa thu rụng lá
vẫn đến trường lòng vương chút bâng khuâng
cố ngăn đi giòng nước mắt bao lần
em vào lớp, ngôi vị chừ thay đổi

vẫn bảng đen, vẫn phấn còn hương mới
nhưng bàn thầy – chỗ ngồi của em đây
mi mắt sao bỗng dưng lại cay cay
khi nhìn xuống bàn học trò xưa đó

những em bé trước mặt là tập vở
còn thơm mùi giấy trắng thuở ban đầu
nắn nót từng hàng và viết từng câu
bài học mới cô giáo vừa giảng dạy

những gương mặt ban đầu còn ái ngại
len lén nhìn xem cô giáo dữ hiền
(hành động xưa được lặp lại y nguyên)
em bỗng nhớ ngày vàng son thơ ấu …


Trần Thị Nguyệt Mai

(Trích từ bán nguyệt san Tuổi Hoa số 208, phát hành ngày 1-9-1973)


Năm 1972, Nguyệt Mai làm bài thơ cho cô giáo, rồi sau đó, năm 1973, Nguyệt Mai viết bài thơ cho học trò, giữa hai vị thế ấy, Nguyệt Mai thích vị thế nào?

 

TTNM:

 

Kính thưa anh Hai,

Cảm ơn anh đã "theo dõi" rất sít sao.

Em thích ở cả hai vị trí; 

1) Là học trò, được hồn nhiên học hành, vui chơi, không phải lo lắng gì cả.

2) Là cô giáo thì được truyền lại những gì mình học hỏi cho thế hệ sau.

Thực sự, em không theo nghề sư phạm. Nhưng hồi nhỏ, như các bạn gái khác, rất thương & kính phục Thầy Cô nên đã từng mơ ước lớn lên mình sẽ trở thành cô giáo. Em nhớ hồi đó hay kêu bạn hàng xóm đến nhà chơi & "làm cô giáo" dạy học khi chơi trò cô giáo & học trò. Hồi xưa, em có kèm vài em ở tư gia. Chính thức đứng bục gỗ sau 1975 thời xóa nạn mù chữ, dạy cho các bác, cô chú đọc và viết, em là phụ, có một bác thực sự làm nghề giáo là người chính đứng lớp. Lúc ở trại tị nạn Bataan, Philippines em có làm Assistant Teacher, chủ yếu là thông dịch lời cô giáo nói cho các bạn học viên.

Hy vọng em đã trả lời câu anh hỏi.


HT:

 

Hồi đời xưa, mỗi lần nhắc tới bốn mùa Xuân, Hạ, Thu, Đông, người ta hay nhắc câu thơ của Trạng Trình-Nguyễn Bỉnh Khiêm:

“Thu ăn măng trúc, đông ăn giá,

Xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao.”

(Cảnh Nhàn - Nguyễn Bỉnh Khiêm)
 

Nguyệt Mai có những vần thơ về các "mùa" riêng của mình. 

Chẳng hạn: Với mùa Đông thì có:

HƯƠNG MÙA ĐÔNG - Trần thị Nguyệt Mai


EM, ĐÊM THÁNG CHẠP

tiếng chuông xa đổ vang rền
kinh cầu nào nguyện giữa đêm vô cùng
thấy mùa đông đến bao dung
em chiên ngoan nhỏ ngập ngừng lễ đêm.

HÔM QUA

sương khuya rơi ướt áo vàng
mùa đông đã đến bàng hoàng tim em
hôm qua ai bước qua thềm
thổi vào hồn ngọn gió đêm lạnh lùng.

MƯA ĐÔNG

cơ hồ ngày tháng vây quanh
nhớ chi đến thuở lâm hành quan san
mimosa đã nở vàng
mưa rơi đủ nhỏ cho hàng lệ sa.

HOAN CA NGÀY VỀ

đường khuya gió lạnh buốt vai
xin lời thánh sủng mãi đầy trong tim
chim bay về đêm giáng sinh
cất cao tiếng hót giữa thinh không buồn.


TRẦN THỊ NGUYỆT MAI

(Trích từ tạp chí Tuổi Hoa số 229, ra ngày 1-12-1974)

Với mùa Xuân thì có:


BÊN TRỜI THÁNG GIÊNG

Những cành lộc mới đùa trong gió
Bé đứng bên trời Xuân, tháng giêng
Nghe lòng một chút hương hoa cỏ
Xanh ngát hồn thơ trổ ý hiền.



LẬP XUÂN

Có con chim én về mừng tuổi
Nắng lụa trải đường cho bé đi
Anh thấy trong mây trời buổi sáng
Mắt bé màu xanh ngát lưu ly...



SUỐI NGỌT

Tặng me một đóa cúc vàng
Khi mùa Xuân đến dịu dàng trong con
Tình thương mãi đậm tim non
Me là bóng mát, suối nguồn bao dung.


Trần Thị Nguyệt Mai

(Trích từ tạp chí Tuổi Hoa số 231, Tết Ất Mão, ra ngày 25-1-1975)

Với mùa Thu thì có bài:


CŨNG LÀ MÙA THU - Trần thị Nguyệt Mai 

(Có ghi bên trên)
[Trích từ bán nguyệt san Tuổi Hoa số 208, phát hành ngày 1-9-1973]

Và với mùa Hè thì có:


SẦU MƯA THÁNG HẠ - Trần thị Nguyệt Mai

Rồi mùa hạ trở về cùng bóng phượng
Cùng tiếng ve, cùng mưa ướt đầu mùa
Bé nghe lòng bỗng dưng mà xao xuyến
Dội trong hồn vang vọng mấy âm thưa!

Mưa tháng hạ sao hồn mềm quá đỗi
Bé có hay đã tàn hết cuộc vui
Rồi mỗi người một đời sau trôi nổi
Còn lại chăng chút kỷ niệm ngậm ngùi?

Mùa hạ, lỡ tay chào cách biệt
Thì bé ơi mòn mỏi đến bao giờ
Mùa hạ, lỡ gọi người tha thiết
Những cung buồn rụng xuống cõi hồn thơ...


TRẦN THỊ NGUYỆT MAI

(Trích từ tạp chí Tuổi Hoa số 224, ra ngày 1-7-1974)


Từ những ngày xa xưa cách nay 50 năm, qua thời tiết mỗi mùa, Nguyệt Mai ghi lại những cảm xúc rất riêng của mình giữa cái mưa và cái nắng của Sài Gòn vào những năm 1970-1975 ấy, nếu ngày nay có dịp cảm tác lại những vần thơ về mỗi mùa ấy chắc Nguyệt Mai sẽ viết khác đi nhiều vì hôm nay không phải là hôm qua... Nếu quả thực nó là như vậy, Nguyệt Mai sẽ thêm gì và sẽ bớt gì trong trời đất của mỗi ngày mùa thuở ấy?
 

TTNM:

Năm 1970 là năm em có thơ đăng báo đầu tiên. Hình như em đã bắt đầu chập chững viết từ một năm trước đó, viết rồi xé, xé rồi viết.

Mỗi tuổi đương nhiên có cảm nhận khác nhau.

Bây giờ em nhìn mỗi mùa đi qua như đời người.

Mùa xuân là khi còn trẻ, tâm hồn phơi phới

Mùa hạ là lúc đã lớn, đã va chạm, có lúc trời nóng rất khó chịu thì cũng giống như những thứ bất như ý đã xảy ra trong đời.

Mùa thu là mùa lá rụng như tuổi mình đã về chiều, rồi cũng như lá, sẽ lần lần rơi rụng

Mùa đông lạnh lẽo, mùa cuối của năm cũng là lúc tàn một kiếp người.

Có lẽ do đã hết tuổi học trò, nơi em đang ở cũng không có cây phượng, không có ve sầu nỉ non để nhớ chăng? 

Thơ từng mùa bây giờ thường nhìn về ngày cũ, nhớ quê hương...

Em gửi anh những bài thơ mới làm sau này để anh xem. Đặc biệt không có một bài thơ mùa hạ nào. (2)

 

HT:

 

Nguyệt Mai là người làm thơ về “tuổi hoa” trên bán nguyện san “Tuổi Hoa” từ đầu những năm 1970 và có lúc giúp đọc bản thảo của nhiều tác giả; qua nội dung của các trang bản thảo ấy và qua tiểu sử của nhiều tác giả mà Nguyệt Mai tiếp cận, Nguyệt Mai có suy nghĩ gì về văn chương dành cho tuổi thơ?

 

TTNM:

 

Hồi nhỏ em được Ba Má mua cho Sách Hồng (Cái ấm đất, Chiếc áo vua ban, ...) cũng như những truyện cổ tích ngoại quốc dịch lời Việt có hình vẽ màu mè rất đẹp như Bạch Tuyết bảy chú lùn, v.v... để đọc.

Theo em, tất cả sách truyện dành cho thiếu nhi nên là những cuốn sách đẹp, lời văn hay, kết thúc có hậu gợi tính thiện, cho các em thấy ác giả ác báo, để giáo dục, hướng các em đến việc làm điều tốt, điều thiện, tránh xa điều ác, sai trái.

Đó là lối giáo dục ở cả nước trước năm 1954 và ở tại miền Nam từ 1954-1975. Nhờ lối giáo dục này mà Văn chương miền Nam thời chiến (1954-1975) là một nền văn chương nhân bản.

 

Chẳng hạn:

 

Cho tôi đổi một trăm chiến thắng

Lấy một giọt nước mắt kẻ thù

(Giọt Nước Mắt Kẻ Thù – Trang Châu)

 

Lúa có nghĩ rằng ngày mai sẽ khác?

Súng sẽ dùng để đúc lưỡi cày

(Đêm Kích dưới chân đồi Pá – Nguyễn Dương Quang)

 

Và với riêng em, bài thơ “Bao giờ mới thấy” ghi lại cảnh tượng được chứng kiến trên màn hình TV về vụ pháo kích vào trường tiểu học Cai Lậy, Định Tường (viết vào buổi tối ngày 12.3.1974), ở những câu thơ cuối cùng:

 

Tôi vẫn hằng mơ ước

Ngày quê hương thanh bình

Nhưng bao giờ mới được

Thấy ngày hội hoa xinh?

(Bao giờ mới thấy - Trần Thị Nguyệt Mai)

Tuổi Hoa số 221 ngày 1-4-1974

 

Anh đã không thấy một lời nào thóa mạ người bên kia chiến tuyến. Chỉ là mơ ước hòa bình mau đến, không còn chiến tranh, để những cảnh chết chóc, đau thương này không còn xảy ra.

 

Sau này em được biết viết về vụ Cai Lậy còn có bút ký chiến trường "Cánh diều trên đồng cỏ" của anh Trần Hoài Thư, mà phần kết luận cũng rất hiền hòa:

 

Ngày hôm nay, tôi lại bay qua cánh đồng cỏ cũ. Trời vào hè, nắng vàng rực rỡ, chói lòa cả những áng mây xa. Con tàu như quen thuộc hạ xuống 100 bộ. Tôi không còn thấy em bé thả diều nữa. Chỉ còn cánh đồng cỏ màu vàng sậm mênh mông bát ngát. Tôi nghe một nỗi buồn đến đắng cay đầu lưỡi. Một nỗi buồn tê tái như khi nhớ lại chiếc cặp với trái xoài non, những chiếc nắp ken, và con diều, cuộn chỉ vấy máu trên sân trường… 

(Cánh Diều trên đồng cỏ - Trần Hoài Thư)

 

Nếu sự việc này xảy ra với người phía bên kia thì chắc chắn khác hẳn, họ sẽ chửi rủa và kêu gọi "máu phải trả bằng máu", v.v...

 

Đó là cái đẹp của văn chương miền Nam.

 

Cảm ơn anh Hai Trầu Lương Thư Trung rất nhiều đã bỏ thời gian để tìm hiểu về thơ của em ngày ấy, mà chúng em, các bạn Tuổi Hoa, thường gọi là một thời xanh, rất đẹp, rất nên thơ.

 

Trần Thị Nguyệt Mai

29.11.2020


 

Thay lời kết:

 

Văn chương xưa nay vốn lấy cái đẹp và sự trong sáng làm gốc. Theo thiển ý của tôi, một người đọc nhà quê già mà tuổi đời cũng hơi trộng-trộng rồi, thơ Trần Thị Nguyệt Mai từ những ngày bắt đầu đăng trên bán nguyệt san Tuổi Hoa ở Sài Gòn những năm 1970-1975 cho dĩ chí đến hiện tại, đã đạt được hai yếu tố làm nền ấy; chẳng những thế, mà thơ Trần Thị Nguyệt Mai còn tiêu biểu cho một thế hệ được giáo dục rất mẫu mực nữa đó là lòng hiếu thảo với cha mẹ, kính anh, thương em, mến bạn, thương người và yêu kính thầy cô giáo đã bỏ công dạy dỗ mình từ những ngày tuổi thơ cho chí đến lúc nên người! Có lẽ nhờ những chất liệu làm nền ấy nên thơ Nguyệt Mai vừa giản dị mà trong sáng, vừa thành thật mà cảm động; và nói cách khác, trong thơ Nguyệt Mai vừa có “tình” mà lại vừa có “thần” là vậy!

 

Nói như nhà văn Vũ Thất đã nhận xét ở bên trên: “Nhân mùa Lễ Tạ Ơn, được Nguyệt Mai cho thưởng thức các bài thơ từ thuở "Tuổi Hoa" khiến vừa ngạc nhiên, vừa thích thú, vừa cảm phục.”, tôi cũng “vừa ngạc nhiên, vừa thích thú, vừa cảm phục” về những vần thơ của Trần Thị Nguyệt Mai từ những năm cách nay có tới 50 năm y như vậy!

 

Hai Trầu

Houston, ngày 29.11.2020



PHỤ CHÚ:

 

1/ Thơ Trần Thị Nguyệt Mai thời 1970-1975.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 


 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

HƯƠNG MÙA ĐÔNG - Trần thị Nguyệt Mai


EM, ĐÊM THÁNG CHẠP

tiếng chuông xa đổ vang rền
kinh cầu nào nguyện giữa đêm vô cùng
thấy mùa đông đến bao dung
em chiên ngoan nhỏ ngập ngừng lễ đêm.

HÔM QUA

sương khuya rơi ướt áo vàng
mùa đông đã đến bàng hoàng tim em
hôm qua ai bước qua thềm
thổi vào hồn ngọn gió đêm lạnh lùng.

MƯA ĐÔNG

cơ hồ ngày tháng vây quanh
nhớ chi đến thuở lâm hành quan san
mimosa đã nở vàng
mưa rơi đủ nhỏ cho hàng lệ sa.

HOAN CA NGÀY VỀ

đường khuya gió lạnh buốt vai
xin lời thánh sủng mãi đầy trong tim
chim bay về đêm giáng sinh
cất cao tiếng hót giữa thinh không buồn.

 
Trần Thị Nguyệt Mai
(Trích từ tạp chí Tuổi Hoa số 229, ra ngày 1-12-1974)

 

Nguồn: https://tuoihoandmore.blogspot.com

 

THƠ XUÂN 1975 - Trần thị Nguyệt Mai 

 

BÊN TRỜI THÁNG GIÊNG

 
Những cành lộc mới đùa trong gió
Bé đứng bên trời Xuân, tháng giêng
Nghe lòng một chút hương hoa cỏ
Xanh ngát hồn thơ trổ ý hiền.


LẬP XUÂN
 
Có con chim én về mừng tuổi
Nắng lụa trải đường cho bé đi
Anh thấy trong mây trời buổi sáng
Mắt bé màu xanh ngát lưu ly...
  

SUỐI NGỌT
 
Tặng me một đóa cúc vàng
Khi mùa Xuân đến dịu dàng trong con
Tình thương mãi đậm tim non
Me là bóng mát, suối nguồn bao dung.

 

Trần Thị Nguyệt Mai  

(Trích từ tạp chí Tuổi Hoa số 231, Tết Ất Mão, ra ngày 25-1-1975)

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Nguồn : https://tuoihoandmore.blogspot.com

 

RU GIẤC ĐÔNG XƯA - Trần thị Nguyệt Mai 

Em ngủ trong mùa đông
Giấc mơ ươm nụ hồng
Hạnh phúc là hơi thở
Sưởi ấm những cõi lòng
 
Me ru em nho nhỏ
Trong giấc ngủ đông xưa
Em má hồng môi đỏ
Hạnh phúc đã mấy mùa
 
Một mai rồi em lớn
Ngày hồn nhiên sẽ qua
Để một chiều một sớm
Thấy đời những xót xa
 
Tay đan xanh giấc nồng
Bây giờ một mùa đông
Cô bé mắt nai ướt
Có chợt thấy bâng khuâng?


Trần thị Nguyệt Mai
(Trích từ Bán Nguyệt San Tuổi Hoa số 220, ra ngày 1-3-1974)

 

 


 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Nguồn : https://tuoihoandmore.blogspot.com
 

CÔ GIÁO - Trần thị Nguyệt Mai 


tay cô dính đầy bụi phấn

áo cô hồng tô cuộc đời

cô khuyên "không nên thù hận

các em bé nhỏ thương ơi!"

 

nghề cô như là nghiệp dĩ

cô thương ghê lắm trẻ thơ

đôi mắt sáng ngời bao ý

cô giáo một lần mộng mơ…

 

mai sau các em khôn lớn

những cánh chim non rời trường

một lần về thăm chốn cũ

hẳn là ánh mắt nhớ thương

 

các em đi tìm cô giáo

môi cười nhắc lại ngày xưa

lúc ấy mắt cô mờ lệ

mừng cho trái nở đúng mùa

 

và thầy và trò không nói

nhìn nhau lệ đẫm bờ mi

những câu chào mừng han hỏi

giờ đây còn có nghĩa gì...

 

cô giáo say sưa giảng bài

lòng thầm nghĩ đến một mai

cô khẽ mỉm cười sung sướng

với những học trò thơ ngây

 

Trần Thị Nguyệt Mai

(Trích từ bán nguyệt san Tuổi Hoa số 219, ra ngày 15-2-1974)

 

Nguồn : https://tuoihoandmore.blogspot.com

 

NGÀY XƯA - Trần thị Nguyệt Mai 

Khi xưa đi học em dốt toán
Mắc cỡ với cô, với bạn bè
Em thấy buồn buồn,em lo lắng
Làm sao phải giỏi toán mới nghe...

Ba thì đi lính trận miền xa
Lâu thật lâu mới về thăm nhà
Còn me tần tảo lo buôn bán
Gánh hàng lên tận chợ đường xa

Nên anh thay ba làm thầy giáo
Mỗi tối bên đèn dạy kèm em
Em nhớ lời anh thường khuyên bảo
"Làm toán nhiều em sẽ giỏi thêm..."

Mấy tháng học hành em tấn tới
Có bảng mầu hồng đem khoe anh
Khoe me,me khen rằng con giỏi
Em thưa: "Đó là nhờ công anh"

Me thưởng anh em mình hai chục
Mình mua me ngào với bánh đa
Còn tiền chiều đến ra chị Thục
Chén chè mè đen vị đậm đà

Bây giờ em đã xa tuổi nhỏ
Anh nối gót ba chí hải hồ
Nhưng có bao giờ anh còn nhớ
Thiên đường mật ngọt thuở ấu thơ?

 
 Trần thị Nguyệt Mai
(Trích từ tạp chí Tuổi Hoa số 226, ra ngày 1-9-1974)

 

 


 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Nguồn : https://tuoihoandmore.blogspot.com


CŨNG LÀ MÙA THU - Trần thị Nguyệt Mai 

 

Khi lá ngoài đường rụng đầy ngõ phố
và bầu trời như thấp xuống – nhiều mây –
mùa thu nào me âu yếm nắm tay
dẫn con gái nón nghiêng che đi học

gió heo may len lén hôn lên tóc
em thẹn thùng nép dưới vạt áo dài
cô bé mang chiếc cặp nhỏ trên vai
và chợt nghĩ mình bây giờ đã lớn!

con đường đi vương đầy sương buổi sớm
những bé như em chúng cũng đến trường
cơ hồ như một niềm vui ngát hương
đang ngự ở trong tim em bé bỏng

ồ trường kia nơi em đang mong ngóng
tí nữa đây me sẽ dẫn em vào
chọn cho con ngồi ngay ở bàn đầu
“me muốn con đầu lớp luôn đó nhé!”

rồi trống trường điểm lên ba tiếng nhẹ
cô giáo bước vào với áo hồng tươi
trên môi cô trang điểm những nụ cười
cô bé thấy thương cô làm sao lạ …

                      oOo

Và bây giờ khi mùa thu rụng lá
vẫn đến trường lòng vương chút bâng khuâng
cố ngăn đi giòng nước mắt bao lần
em vào lớp, ngôi vị chừ thay đổi

vẫn bảng đen, vẫn phấn còn hương mới
nhưng bàn thầy – chỗ ngồi của em đây
mi mắt sao bỗng dưng lại cay cay
khi nhìn xuống bàn học trò xưa đó

những em bé trước mặt là tập vở
còn thơm mùi giấy trắng thuở ban đầu
nắn nót từng hàng và viết từng câu
bài học mới cô giáo vừa giảng dạy

những gương mặt ban đầu còn ái ngại
len lén nhìn xem cô giáo dữ hiền
(hành động xưa được lặp lại y nguyên)
em bỗng nhớ ngày vàng son thơ ấu …


Trần Thị Nguyệt Mai
(Trích từ bán nguyệt san Tuổi Hoa số 208, phát hành ngày 1-9-1973)

 

Nguồn : https://tuoihoandmore.blogspot.com
 

DỖ EM - Trần thị Nguyệt Mai 


Mưa đổ xuống rồi
Em ơi ngủ say
Kẹo bánh đừng vòi
Má mình đi tự sớm mai…

Kìa em nhìn xem
Những bong bóng nước
Rơi ở bên thềm
Em cười nghiêng nghiêng… mắt ướt…

Thương má cực khổ
Nắng mưa dãi dầu
Thương em còn nhỏ
Đói khóc, no cười, hiểu đâu…

Trời mưa, trời gió
Chị ru nho nhỏ
Em hãy ngủ đi
Ngoan ngoan khép mi, đừng khóc…

   Trần Thị Nguyệt Mai
(Trích từ Bán nguyệt san Tuổi Hoa số 210, ra ngày 1-10-1973)

 

 


 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Nguồn : https://tuoihoandmore.blogspot.com


 

SẦU MƯA THÁNG HẠ - Trần thị Nguyệt Mai 


Rồi mùa hạ trở về cùng bóng phượng 

Cùng tiếng ve, cùng mưa ướt đầu mùa
Bé nghe lòng bỗng dưng mà xao xuyến
Dội trong hồn vang vọng mấy âm thưa!

Mưa tháng hạ sao hồn mềm quá đỗi
Bé có hay đã tàn hết cuộc vui
Rồi mỗi người một đời sau trôi nổi
Còn lại chăng chút kỷ niệm ngậm ngùi

 

Mùa hạ, lỡ tay chào cách biệt   

Thì bé ơi mòn mỏi đến bao giờ
Mùa hạ, lỡ gọi người tha thiết
Những cung buồn rụng xuống cõi hồn thơ...

 

Trần Thị Nguyệt Mai
(Trích từ tạp chí Tuổi Hoa số 224, ra ngày 1-7-1974)

 

 


 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Nguồn : https://tuoihoandmore.blogspot.com



2/ Vài bài thơ Trần Thị Nguyệt Mai hôm nay

 

LỜI NGUYỆN TRONG NGÀY VỌNG GIÁNG SINH 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Buổi sáng bình an chờ ngày sinh Chúa
Cà phê ấm áp lúc tháng năm tàn
Mong ngày Giáng Sinh yêu thương mang đến
Tình Chúa sáng ngời cho khắp thế gian…

 

Trần Thị Nguyệt Mai

24.12.2018



CUỐI NĂM

 

Ta đón Xuân sang từ viễn xứ
Nơi đây tuyết trắng lạnh kinh hồn
Gió thổi càng làm thêm buốt giá
Lòng người xa xứ nỗi hoài hương…

 

Quê hương hai tiếng xa vời vợi
Của những ngày xưa yêu dấu thơ
Của những ngày Xuân trời ấm áp
Nắng lụa mềm trải nhẹ như tơ

 

Em năm mới rộn ràng hơn pháo Tết
Áo đỏ xanh khoe với xóm giềng gần
Phong bì đỏ tươi bên cành lộc biếc
Cùng mai vàng rạng rỡ trời Xuân

 

Nhớ lắm nồi bánh chưng thịt mỡ
Ngoại chuẩn bị làm từ 25
Củ kiệu, dưa hành không thể thiếu
Thịt đông, bánh tráng, cá thu kho…

 

Rồi đến 30 – đêm trừ tịch
(Đêm yên lành trong tất cả đêm)
Ngoại bày bánh mứt, hương, hoa quả…
Dâng cúng Đất Trời, tạ Tổ Tiên

 

Những ngày Tết ấy giờ xa lắm
Người của ngày xưa cũng không còn
Quanh đây chỉ có màu tuyết trắng
Phủ ngập một trời nỗi nhớ thương…

 

Trần Thị Nguyệt Mai
31.12.2014


 

NGÀY XUÂN

Như trong truyện cổ tích
Một bà tiên hiện ra
Cầm đũa thần gõ nhẹ
Úm ba la… ba la…

 

Bỗng thấy mình nhỏ lại
Thuở còn thơ bé thơ
Xúng xính quần áo mới
Tóc ngang vai, cột nơ

Cây mai nở vàng rực
Trước sân nhà khoe bông
Cùng cúc vàng, thược dược,
Thắm tươi với hoa hồng

 

Tủ thờ lư sáng loáng
Mâm ngũ quả đong đầy
Bánh chưng xanh, dưa hấu
Mừng năm mới sum vầy

 

Vòng tay con chúc Tết
Ông bà cùng mẹ cha
Đồng tiền thơm mừng tuổi
Con sung sướng hít hà

 

Xa xa vang tiếng pháo
Giòn giã nơi nhà ai
Ngày xuân tươi vui quá
Mong xuân cứ đến hoài

 

Chợt giật mình thức giấc
Ô! Giấc mơ mà thôi
Soi gương đầu đã bạc
Cô bé xưa xa rồi…

 

Trần Thị Nguyệt Mai


 

NĂM SẮP MỚI

 

Năm sắp mới*
Đang đi tới
Người phơi phới
Tình yêu đời
Mong mọi người
Luôn sức khỏe
Hồn tươi trẻ
Tâm thân an
Quý hơn vàng
Khi năm mới
Đang đi tới…

 

Trần Thị Nguyệt Mai

 

* Trích trong câu chúc của Bs Đỗ Hồng Ngọc

1.1.2017
 

Tết Ly Hương

CÀNH MAI NGÀY TẾT

Thương tặng chị Thái Kim Lan

 

Ngoài vườn sân tuyết ngập
Giá băng lạnh buốt hồn
Trong nhà mai rực rỡ
Ấm áp tết ly hương


Trần Thị Nguyệt Mai
11-2-2018

 

HOA ĐÀO TỪ SANTA ANA

Thương tặng chị Khánh Minh

 

Từ Tiểu Sài Gòn* nắng ấm
Hoa đào nhà ai nở rồi
Màu hồng tươi môi thiếu nữ
Mang Xuân đến cho mọi người…

 

Trần Thị Nguyệt Mai
11-2-2018

(*) Little Saigon, California, USA

 

NỒI BÁNH CHƯNG

Mến tặng anh chị Phạm Cao Hoàng

 

Xa quê nhưng vẫn nhớ
Nồi bánh chưng giao thừa
Màu xanh xanh của lá
Dẻo bùi của nếp thơm
Mà mẹ đã chọn kỹ
Những nguyên liệu thật ngon
Thêm tình yêu trong đó
Gói thành bánh cho con.

 

Trần Thị Nguyệt Mai
11-2-2018


 

TẶNG NGƯỜI SINH NHẬT MÙA THU

Thân mến gửi chị Thanh Lương

 

Sinh nhật mùa thu, sinh nhật mùa thu
mùa đất trời nên thơ rất đỗi
nàng nhẹ bước vào cõi nhân gian
lấp lánh ánh sáng màu xanh biếc
của ngôi sao trên bầu trời diễm tuyệt
nàng là ai nàng là ai
cho đất lành mang mầm xanh
cho cây nở hoa và kết trái

cho thương yêu khâu vá lại tim người (*)
chúc mừng sinh nhật ngày vui
thanh lương yêu nhé một đời bình an...

 

Trần Thị Nguyệt Mai

10.1.2020
(*) những dòng chữ nghiêng lấy ý từ Bài Kinh Ca Tụng Đất Mẹ của Làng Mai.

 

KHẤN NGUYỆN

Mến tặng chị PTC

 

Chúng mình quen nhau mùa Xuân
Hoa cỏ trỗi mình trở dậy
Sau mùa Đông trời lạnh cóng
Cho thêm ấm áp mùa Xuân

Chúng mình yêu nhau mùa Xuân
Hoa nở bừng khoe sắc
Chim líu lo giọng hót
Anh nghe hồn lâng lâng

 

Chúng mình đi qua mùa Hạ
Trời xanh, xanh những áng mây
Không thiếu những ngày nắng nóng
Thương thêm ngày dịu mát này

 

Để khi mùa Thu nhẹ tới
Lá xanh bỗng trở vàng ươm
Thoáng chốc thành màu ủ dột
Còn đâu em thắm môi son?

 

Mùa Thu mùa rơi rụng lá
Anh nhìn từng Thu đi qua
Chắp hai tay anh khấn nguyện
Em đừng vội bỏ đi xa

 

Đừng như mùa Thu rơi lá
Hãy còn ở mãi bên anh
Đừng như mùa Thu tan tác
Tình chúng mình mãi tươi xanh.

 

Trần Thị Nguyệt Mai

5.7.2020

____________________________

                  HAI TRẦU _______________

 

                          VÀI GHI NHẬN RỜI RẠC

                          SAU HAI CHỤC NĂM ĐỌC LẠI 

                         “QUÊ HƯƠNG XA MÃI NGÚT NGÀN”

                          CỦA LÊ CẦN THƠ

Tôi vốn thích đọc sách viết về công việc đồng ruộng, cày bừa, cắt gặt, giăng câu, giăng lưới ở các tỉnh miền Tây Nam phần, vùng sông nước Cửu Long, lúc còn ở trên Boston, Massachusetts, tôi đã đọc quyển “Quê Hương Xa Mãi Ngút Ngàn” của nhà văn Lê Cần Thơ (2000) và nay sau hai chục năm, tôi lai rai ngồi đọc lại quyển sách này nhằm mục đích vừa giải trí giữa mùa dịch bịnh covid lây lan khắp mọi nơi vừa tìm lại chút tình quê qua các trang sách của tác giả. 

 

1/ Về tác giả.

 

Bìa sau của quyển sách “Quê Hương Xa Mãi Ngút Ngàn” xuất bản năm 2000, phần tiểu sử, tác giả Lê Cần Thơ ghi: “Sinh tại một quê nghèo miệt Cần Thơ; học Trung học tại trường Phan Thanh Giản; Đi lính khóa 5/68 trường Bộ Binh Thủ Đức” và “Tập tành viết lách để tạo cho tinh thần bớt đi căng thẳng trước cuộc sống và tình đời”

 

Mặc dù nói vậy, nhưng qua phần bút danh và phần báo chí mà ông tham dự thì tác giả Lê Cần Thơ viết báo từ thời ông làm Thư ký tòa soạn nguyệt san Triều Sóng Xanh của trường Phan Thanh Giản (Cần Thơ) năm 1966; rồi làm Tổng thư ký tạp chí Văn Nghệ Miền Tây tại Cần Thơ do Ngũ Lang chủ biên năm 1967-1968; từ năm 1988 tới năm 2019 là Chủ bút tạp chí Văn Hóa Việt Nam do Phạm Quang Tân chủ nhiệm; ngoài ra, tác giả còn có rất nhiều bút hiệu khi làm thơ viết văn, cho thấy tác giả Lê Cần Thơ là nhà báo chuyên nghiệp với hơn nửa thế kỷ trong nghề!

2/ Về làng Trường Long, Phong Điền, Cần Thơ

 

Trở lại với cuốn Quê Hương Xa Mãi Ngút Ngàn của tác giả, ở phần “Vào Tập” (Thay lời tựa), tác giả nói rõ hơn về quê quán của mình: “Tôi đã sống trong miền quê Trường Long nghèo khó từ thuở mới chào đời, đã hít thở không khí thôn dã quê mùa, nên trong cách nhìn, cách nghĩ của mình cũng không thoát khỏi cái phong vị nơi mình chào đời.” (trang 9). 

 

Từ đó, người đọc biết quê tác giả là làng Trường Long và nổi tiếng về món cam ngọt mà trong thơ của Nguyễn Cát Đông- Trần Bang Thạch có lần đã nhắc:

“Ngun ngút đồng xanh Thác Lác, Bà Đầm

Tấp nập ghe xuồng ngã Bảy, ngã Năm

Cam ngọt Trường Long, khóm thơm Long Mỹ

Rộn rịp hát đình Bình Thủy, Cái Răng...”

 

Theo sách Địa Chí Hành Chính Các Tỉnh Nam Kỳ Thời Pháp Thuộc (1859-1954) của tác giả Nguyễn Đình Tư xuất bản năm 2017(*), theo thống kê năm 1939, thì làng Trường Long thuộc tổng Thới Bảo, quận Ô Môn gồm các làng: Định Môn, Thới Đông, Thới Lai, Thới Thạnh, Trường Lạc, Trường Long, Trường Thành, và ngày nay thuộc quận Phong Điền (Cần Thơ); còn quê của nhà văn Trần Bang Thạch (Nguyễn Cát Đông), theo thống kê năm 1939, là làng Thường Thạnh Đông, tổng Định Bảo, thuộc quận Châu Thành, tức quận Cái Răng. Cả hai tác giả Trần Bang Thạch và Lê Cần Thơ là hai nhà văn tiêu biểu vùng Cái Răng và Phong Điền (Cần Thơ).

 

3/ Về cái tình quê của tác giả

 

Sở dĩ chúng tôi đi tìm quê quán như vậy nhằm tìm ra cái chất sông nước ruộng vườn nơi quê nhà lúc tác giả sống ở đó hồi còn nhỏ phần nào rất ảnh hưởng tới văn phong của tác giả trên những trang sách. Ví dụ, tả về “dòng sông quê tôi”của mình, tác giả, Lê Cần Thơ viết:

“Dòng sông quê tôi (…) nó tiếp giáp sông Cần Thơ vào Cầu Nhiếm, đến ngã ba chợ Phong Điền thì rẻ trái vào Vàm Bi, để từ đây có thể đi Giồng Riềng (tỉnh Kiên Giang). Bà con quen gọi là ngã cái. Bởi ngã cái chạy dọc uốn quanh năm bảy cây số còn có nhiều nhánh con tua tủa hai bên giống các rễ con của một thân cây đeo vào rễ cái, như Kinh Chợ, Rạch Vông, Mương Củi, Cai Cẩm, Mương Điều, Trà Ết, Mương Cau, Rau Muôi, Ông Hào, Cần Đước, Mương Kinh, Xẻo Lá…”

(Dòng Sông Quê Tôi, trang 111)

 

Từ dòng sông quê tôi với nhiều kinh rạch chằng chịt như vậy, tác giả dẫn người đọc tới cái “nghề đăng cá” của gia đình mình qua bài thơ Ghe đăng, có đoạn:

 

“Miền tây sông rạch đan màn lưới

Ba sống nghề đăng cá dưới sông

Hơn nửa kiếp đời thân khó nhọc

Thương con…ba khổ biết khôn cùng.

 

Ba khổ từ khi vừa gặp má

Nhà nghèo, ruộng đất kiếm không ra

Phát thuê, đập mướn từng công đất

Để kiếm tiền mua gạo, muối cà…

 

Từ lúc xóm làng bừng lửa giặc

Cõng con, dẫn mẹ khắp miền quê

Ba lo chạy đói - cơm từng bữa

Khoai bắp thường hơn gạo lúa giê.

 

Rồi ba học được nghề đăng cá

Lặn ngụp từng đêm dưới rạch sâu

Năm năm tháng tháng quen sông nước

Quen nỗi buồn đau kiếp dãi dầu.”


(Ghe Đăng, trang 114)

 

Niềm mơ ước của tác giả rất đơn sơ mà tha thiết: “Ước vọng của tôi là muốn được về bên chiếc ghe đăng cá, là về với dòng sông quê hương, về với kỷ niệm ấu thơ đậm sâu dấu ấn trong cuộc đời mình, vì ở đó đã luôn gợi nhớ trong tôi hình ảnh của Ba suốt đời gian khổ để tạo cho anh em chúng tôi có cuộc sống nên vốc nên hình.”

(Dòng Sông Quê Hương, trang 116)

 

4/ Về cách diễn tả những nỗi niềm khi có nhiều cảm xúc

 

Dường như ngoài những trang văn xuôi, tác giả Lê Cần Thơ khi cần diễn tả tấm chơn tình của mình với nhiều cảm xúc, ông lại mời người đọc bước vào hồn ông qua những vần thơ khá mộc mạc mà chân tình! Những cuộn khói đốt đồng mịt mù ngày nào thuở tác giả còn là những đứa trẻ chạy giỡn theo những cánh diều bay bay trên bầu trời thơm thơm mùi rơm rạ ấy; những cuộn khói ấy nó lùa theo gió vây phủ một khoảng trời, câu thơ của ông rất đơn sơ, mộc mạc mà cảm động:

 

“Tháng này chiều tỏa khói đồng

Trôi xa lãng đãng bên dòng tuổi thơ

Tôi về thương chút mộng mơ

Bỏ quên từ lúc hững hờ chiến tranh.

 

Tháng này trời thiếu màu xanh

Không gian nhàn nhạt buông mành tơ sương

Mùi rơm cháy - mùi khói đồng

Cho tôi cái nhớ khoảng trong kiếp đời.

 

Tháng này đất ruộng nghỉ ngơi

Thuở xưa tôi thích đùa chơi thả diều

Bây giờ tất cả thương yêu

Vụt ngang tiềm thức giữa chiều quê hương.

 

Tháng này chợt nhớ chợt thương

Miền thơ ấu cũ mù sương khói đồng

Nắng chiều tỏa sắc cầu vồng

Tôi men lối cũ mà lòng bâng khuâng…”

(Khói đồng, trang 170)

 

5/ Về vài chữ dùng và không khí nhà quê với đời sống nơi làng Trường Long, Phong Điền (Cần Thơ) của tác giả thời thơ ấu

 

Tập sách Quê Hương Xa Mãi Ngút Ngàn của Lê Cần Thơ, ngoài những trang sách nhắc về các di tích lịch sử văn hóa như chùa chiền, đình thần, núi non, sông rạch hoặc các khu thương mại chợ búa của tỉnh Sóc Trăng, Châu Đốc, Hà Tiên, Trà Vinh, Cần Thơ … nhưng đời sống nơi làng Trường Long (Phong Điền) của tác giả mới là phần chánh yếu dạt dào nỗi lòng của một người con xa quê mà lòng lúc nào cũng khắc khoải nhớ về một chốn cố hương. Theo thiển ý của tôi, các đề mục dưới đây là những nét tiêu biểu ấy:

Ngày mưa rủ nhau đi lượm trái rụng (trang 158).

Dầm mưa đi bắt kiến vàng (trang 160).

Ngày mưa dặm cù bắt chuột (164). 

Nhớ mùa cá lên đồng (169).

Nhớ chuyện ruộng đồng (175).

Đuổi bắt chim trên ruộng lúa (trang 176).

Đặt trúm bắt lươn (trang 183).

Đặt lờ bắt cá sặt (trang 185).

Giăng câu bắt cá theo mùa (trang 186).

 

Là một người đọc gốc gác làm ruộng và già như tôi, tôi đã nhìn ra cái vui sướng của tác giả khi ông kể cho người đọc qua những kỷ niệm hồi còn nhỏ như lượm xoài rụng, bắt kiến vàng, dặm cù chuột, đi soi cá ban đêm, giăng câu, cắm câu, đặt lờ tôm, lờ cá sặt, đặt trúm và tôi nghĩ đây là những trang sách dù còn sơ sài nhưng nó giúp cho người đọc biết thêm nếp sống hồn nhiên của cư dân nơi vùng làm ruộng cấy của tác giả, dù mỗi năm chỉ cấy có một mùa!

 

Nhắc về ruộng cấy ở làng Trường Long, tác giả kể:

 

“Khi cá lên đồng tìm chỗ đẻ một thời gian là nông dân bắt đầu phát cỏ trên các đường lươn để cấy giâm. Lúa giâm bén rễ và bắt đầu nhảy rẻ mập ra… người ta có thể lội qua những đám lúa non đó để giăng câu hay soi bắt cá.” (trang 172)

 

“Khi nước đã tràn đồng, cá đã đẻ xong, cá mẹ dẫn từng đàn cá ròng ròng đi ăn khắp nơi, người ta cũng bắt đầu phát cỏ dọn đất để cấy (cấy giâm khoảng tháng 7 và cấy liền khoảng tháng 10 âm lịch- là cách làm ruộng mỗi năm một mùa vào thời điểm thập niên năm mươi, sáu mươi ở quê tôi). (trang 189).

 

Qua hai đoạn vừa trích, điều này cho biết cư dân các vùng Ô Môn, Cái Răng, Phong Điền, Phong Thuận và nhiều vùng làm ruộng cấy chắc hổng ai có ý thắc mắc gì; nhưng các vùng khác như miệt Châu Đốc, Long Xuyên, Sa Đéc là những vùng tới mùa nước lên mực nước ngập rất sâu và làm lúa sạ, lúa mùa chắc không biết “cấy giâm” và “cầy liền” tức là “cấy thiệt”, “cấy thực thụ”, là cấy thế nào? Hồi đó, mấy năm làm lò gạch Cái Côn, quận Phong Thuận, tỉnh Cần Thơ, ngoài những ngày làm gạch là công việc chính, chúng tôi còn làm thêm cái nghề cấy lúa cho đất ruộng của lò gạch và thỉnh thoảng những ngày cuối tuần còn lãnh cấy lúa mướn cho các miếng ruộng trong vùng nữa, nên tiện đây tôi xin phép ghi lại các giai đoạn của việc cấy lúa này.

 

Trong ruộng cấy có nhiều giai đoạn, nhưng trước nhứt là công việc rải mạ. Người ta dọn một miếng đất thật bằng phẳng rồi cày bừa cho nhuyễn và đem giống ra rải lên miếng đất ấy. Vì rải mạ nên người ta cần sạ giống cho dầy, vừa để tránh hao hớt vừa để sau này khi mạ đầy tháng còn nhổ mạ và chiết ra để cấy lại trên đất ruộng đang chờ để cấy. Bởi vậy trong dân gian khi có ai làm việc gì mà bị đổ đầy trên mặt bàn hay trên mặt đất người ta gọi rải mạ. Sau khi rải mạ như vậy mưa xuống hột giống sẽ lên dày bịt và đúng một tháng hoặc trồi sụt chút đỉnh là bắt đầu nhổ mạ và đem đi cấy. 

 

Nhổ mạ là nhổ nguyên một vạt đất như vậy và mỗi người nhổ mạ xong gom lại, mỗi bó độ chừng hai nắm tay thì họ dùng dây lạt tre hoặc lạt dừa nước bó mạ lại ở phần gần gốc cây mạ có ý làm cho bó mạ không bị sút sổ. Trước ngày cấy lúa trên đất đã cày bừa trục nhuyễn sẵn thì công việc kế tiếp là giang mạ. Giang mạ là người ta chở mạ hoặc gánh các bó mạ vừa mới nhổ xong bỏ đều trên miếng ruộng sắp cấy. Tùy theo muốn cấy dày hoặc cấy thưa mà mỗi công đất sẽ được phân phối số mạ nhiều hay ít. Trung bình người ta tính theo cây tầm đo đất, chiều dài 3 thước, gọi là tầm cấy hoặc tầm cắt. Mỗi tầm cấy như vậy cấy 12 bụi mạ, hoặc 14 bụi, gọi là cấy dầy; nếu cấy 10 bụi mạ, gọi là cấy vừa; còn cấy 8 hoặc 6 bụi mạ thì gọi là cấy thưa. 

 

Về động tác cấy có mấy động tác chính như sau: tay mặt vừa cầm nắm mạ vừa cầm nọc cấy, ngón cái bàn tay mặt vừa đẩy một ít mạ tách rời nắm mạ gọi là ra mạ, nếu ra mạ mà ít quá gọi là bắt nhẻ. Thông thường người đi cấy lúa mướn thì 3 người họ lãnh cấy chung nguyên một công đất, tức là mỗi người cấy một phần ba (1/3) công, còn gọi tắt là một góc ba. Do vậy tâm lý giữa chủ ruộng và công cấy có những suy nghĩ trái ngược nhau. Chủ thì lúc nào cũng muốn công cấy cấy dầy; còn công cấy thì muốn cấy thưa cho mau xong công đất để mau về sớm. Ở nhà quê có câu thiệu: “Bắt nhẻ, cấy thưa, tầm đưa vô đít”, ý nói “bắt nhẻ” là bắt mạ rất ít, thay vì vừa tay cho một bụi mạ khoảng năm gốc mạ thì người công cấy đi cấy mướn lại tách mạ rất ít, chỉ hai hoặc ba gốc mạ thôi, nhằm để cấy cho mau, khỏi mất công phải lấy mạ hoài lâu rồi công. “Bắt nhẻ” như vậy có cái hại là gặp trời nắng nước ruộng bị nóng và bụi mạ khó bén rễ, có khi mạ bị chết và miếng ruộng này khi lúa lớn lên sẽ hao hớt, thưa thớt. 

 

Cũng là ruộng cấy nhưng ở miệt Cái Côn (Cần Thơ) người ta không rải mạ mà dùng chày tỉa để tỉa mạ. Chày tỉa là một cái cây làm bằng cây tràm hoặc bất cứ cây gì mà săn chắc bào cho láng, dài vừa khỏi đầu, một đầu chuốt nhọn như trái vụ để khi cầm chày tỉa cắm xuống đất và khi lấy chày lên sẽ để lại một cái cái lổ vừa gieo mạ. Công việc tỉa mạ có hai người cùng làm, một người dùng chày tỉa xắn lổ và người kia bỏ hột giống và lấy tro trấu lấp hột giống lại. Sau vài ba ngày tùy theo giống khô hoặc giống ngâm mà mạ mau lên hoặc chậm lên. Cái này cũng có cái lợi và cái hại tùy theo thời tiết. Gặp trời nắng nóng thì giống khô ít hao, lúa giống nằm đó chờ mưa từ từ rồi mọc mọng và lên cây; trái lại gặp trời mưa thì giống ngâm mau lên cây hơn, mạ ít hao. Sau khi cấy mạ được một tháng, người ta bắt đầu dùng tay nhổ mạ. Nhổ mạ như vậy rồi cũng dùng dây lạt để bó mạ nhưng chưa đem ra ruộng cấy liền, mà phải dọn sẵn một miếng đất khác để cấy số mạ này. Công đoạn cấy lần này gọi là cấy giâm mà trong sách của tác giả Lê Cần Thơ có nhắc. Cấy giâm có nghĩa là đem mạ còn non cấy lại một lần nữa cho cây mạ cứng cáp và nở ra nhiều thêm rồi mới bứng mạ một lần nữa và lúc bấy giờ mới giang mạ và cấy thiệt thọ còn gọi như tác giả là “cấy liền” trên miếng đất mà mình muốn trồng lúa và chờ tới mùa lúa chín là lo kêu công cắt gặt. 

 

Sở dĩ gọi bứng mạ vì giai đoạn này mạ đã lớn, mỗi bụi mạ nở nhiều tép mạ rất mập và rễ mạ bám chặt xuống đất nên người ta phải dùng dao để xắn bụi mạ lên chứ không phải nhổ mạ bằng tay như lúc mạ còn non nữa. Con dao bứng mạ cũng chỉ là con dao yếm, tức là loại dao thông dụng trong nhà bếp mà dân quê thường dùng để xắt thịt, làm cá nhưng với dao yếm bứng mạ thì mũi dao bản bự hơn loại dao yếm thường, đặc biệt là được mài rất bén. Thông thường một bụi mạ người ta phải xắn ba góc mới lấy bụi mạ lên được an toàn không bị đứt rễ nhưng với dân bứng mạ chuyên nghiệp người ta chỉ bứng hai nhát dao là bụi mạ lấy lên được khỏi mặt đất và không bị đứt rễ. Cái hay của chuyên môn là ở cách bứng mạ ấy vì nhờ vậy mà công việc bứng mạ mau xong sớm. 

 

Còn cấy giặm là cấy thêm những chỗ ruộng lúa bị hao hớt vì lúa chết hoặc cua kẹp. Dù làm lúa sạ hay lúa cấy gì khi lúa bị hao người ta hay mướn công cấy và chiết mạ từ những chỗ lúa dày để giặm vá vào những chỗ trống này.

 

Vì phần nhiều các sự việc làm ruộng, phát cỏ, cấy lúa, bắt cá, bắt lươn… mà tác giả thuật lại trong sách là công việc ở làng Trường Long, quê của tác giả, có lẽ vì là vùng làm lúa cấy nên thời gian làm mùa cũng như những chi tiết về mỗi nghề có khác đôi chút so với các vùng làm lúa mùa, lúa sạ miệt Châu Đốc, Long Xuyên, Sa Đéc và nhiều vùng nước ngập sâu có khi tới hai ba thước nước vào mùa nước lên vào khoảng tháng 9, tháng 10 âm lịch, nên đọc sách của Lê Cần Thơ, người đọc ở thành thị có khi hơi ngờ ngợ. Chẳng hạn như câu thơ: 

 

“Ba khổ từ khi vừa gặp má

Nhà nghèo, ruộng đất kiếm không ra

Phát thuê, đập mướn từng công đất

Để kiếm tiền mua gạo, muối cà…”

 

Hai chữ “đập mướn” theo tôi hiểu có lẽ tác giả muốn nhắc những ngày thân phụ của mình phải đi đập lúa mướn vào mùa cắt gặt; vì làm ruộng cấy, người ta không có gom lúa vô cà lang cao vòi vọi trong một cái sân rộng như lúa sạ lúa mùa miệt Long Xuyên. Bạn còn nhớ hồi xưa, khi tới mùa cắt gặt nếu bạn đi qua các vùng Mỹ Tho, Tân An dọc theo quốc lộ 4 ngày trước làm ruộng cấy, các bạn thấy người ta mướn công cắt và công đập lúa bông ra lúa hột. Lúc bấy giờ có người gom từng ôm lúa và đập vô cái bồ nhỏ dừng chung quanh bằng tấm mê bồ chỉ chừa cái cửa để người đập lúa ôm mớ lúa đập lên tấm vỉ tre cho lúa hột rụng ra và lúa không văng ra ngoài.

 

Nếu có dịp bạn đọc được cuốn sách này, bạn sẽ rất ngạc nhiên khi đọc được đoạn tác giả đi soi cá, soi lươn được cá lươn nhiều lắm; vì cá lươn nhiều quá nên ham cứ mải miết men theo đường nước và soi cá bỏ đầy giỏ; nhưng khi mệt rồi lên bờ ngồi nghỉ thì thấy lại trong giỏ toàn là đất sét với chỉ có vài con cá hủng hỉnh thôi. Đó là lần duy nhứt tác giả bị ma cho cá lươn bằng đất sét. 

 

Nhắc điều này để thấy hồi đời xưa ở các vùng quê nói chung, không riêng gì làng Trường Long (Cần Thơ), ngay ở miệt Lấp Vò (Sa Đéc) hoặc Mặc Cần Dưng (Long Xuyên) đâu đâu người ta cũng hay bị ma nhát, ma giấu vô bụi tre gai và ma cho ăn đất sét là chuyện kể hằng đêm mà hồi nhỏ mấy đứa nhỏ tụi tôi đứa nào cũng thích nghe kể chuyện ma nhưng khi nghe xong rồi tới khuya lại sợ ma hổng dám đi dìa nhà một mình!

 

Riêng tôi thì bị ma nhát hà rằm! Nhứt là những đêm đi ngủ giữ lúa giữa đồng hay những đêm đi giăng câu, giăng lưới, trong lúc ngủ chờ tới giác đi thăm câu, thăm lưới thì thường bị ma đè không nhúc nhích cục cựa gì cho nổi; dù có xuồng mấy bạn đậu cặp bên cùng ngủ với mình nhưng hổng cách gì mở miệng kêu tiếp cứu được; đến lúc tỉnh lại rồi mệt gần chết luôn!

 

Sở dĩ tôi nhắc qua chuyện ma nhát, chuyện ma biến cá lươn thành đất sét như tác giả kể hồi đời xưa trên trang sách là có thật chứ hổng phải chuyện hư cấu, tưởng tượng. Hồi đó cách nay sáu bảy chục năm, ở quê, tụi nhỏ chúng tôi đi bắt cóc, bắt ếch vào mùa mưa hoặc mùa cóc, mùa ếch hội vào tháng 9, tháng 10 âm lịch cũng vậy. Mùa cóc hoặc mùa ếch hội là mùa chúng bắt cặp và đẻ trứng; gặp cóc ếch bắt cặp ham lắm cứ mê mệt vì cóc ếch lúc bấy giờ con đực nằm lên lưng con cái mê man bất kể trời đất, và chúng gần giống như chết vậy, nên lúc bấy giờ mình chỉ cần lượm một cặp, một cặp rồi cứ thể bỏ đầy giỏ, mà nhứt là nơi các gò mả, đất nhị tì nước ngập lắp xắp cóc ếch càng rủ nhau tụ hội rất đông nữa; nhưng lượm cóc ếch một hồi mệt mới ngồi nghỉ và coi lại giỏ cóc gần đầy chưa thì ôi thôi, toàn là đất sét không hà! Lúc bấy giờ mới biết sợ là bị ma nhát! Ghê lắm!

6/ Nhìn lại vài tác giả viết về đồng quê.

 

Ngày nay, viết về đời sống nơi nhà quê cách nay sáu bảy chục năm có nhiều tác giả đã viết. Chẳng hạn như vùng Xà Tón (Tri Tôn) có nhà văn Phong Hưng-Lưu Nhơn Nghĩa với các tác phẩm tiêu biểu Như Cánh Chuồn Chuồn, Con Đường Cũ; viết về vùng Bắc Nam quận An Phú (Châu Đốc) có nhà văn Khiêm Cung- Dương Văn Chung (Úc Đại Lợi) với các tác phẩm Nội Ngoại Đều Thương, Thằng Mập, Nhớ Một Vàm Sông, Những Mảnh Hồn Tôi; viết về ấp Bà Bài (Tịnh Biên, Châu Đốc) có nhà văn Anh Phương- Trần Văn Ngà; viết về Vàm Kinh Cũ (Châu Phong, Châu Đốc) có chị Nguyễn Thị Lộc Tưởng; viết về con sông Láng Thé, làng Long Thuận, đồng Cây Cách (Trà Vinh) có Ký Ức của Huỳnh Văn Lang người sáng lập tạp chí Bách Khoa (Sài Gòn) và quyển “Quê Hương Xa Mãi Ngút Ngàn” của Lê Cần Thơ… Mỗi tác giả có văn cách riêng nhưng dường như các tác giả đều gặp nhau ở một điểm chung là có những ngày tuổi thơ sống nơi các làng quê của mình và cỏ lẽ nhờ thế mà thiên nhiên đã un đúc nên cá tính của mỗi người, từ đó mỗi người có những kỷ niệm riêng và văn phong riêng làm nên những trang sách qua những hồi ức làm nên các tác phẩm riêng của chính mình.

 

7/ Thay lời kết

 

Những trang sách của Lê Cần Thơ qua quyển “Quê Hương Xa Mãi Ngút Ngàn” là loại văn kể chuyện; tác giả kể về những hồi ức của mình thời ấu thơ, thời theo ghe đăng của cha, thời những Ngày mưa rủ nhau đi lượm trái rụng (trang 158), Dầm mưa đi bắt kiến vàng (trang 160), Ngày mưa dặm cù bắt chuột (164), Nhớ mùa cá lên đồng (169), Nhớ chuyện ruộng đồng (175), Đuổi bắt chim trên ruộng lúa (trang 176), Đặt trúm bắt lươn (trang 183), Đặt lờ bắt cá sặt (trang 185), Giăng câu bắt cá theo mùa (trang 186); tức là tác giả muốn phác họa lại bức tranh đồng quê về cuộc sống của cư dân nơi làng Trường Long (Phong Điền-Cần Thơ) của mình có một thời làm ruộng cấy như thế nên văn của ông tự nhiên, mộc mạc, giản dị, không tô chuốt, bóng bảy mà đượm cái tình quê, tình gia đình và tình bạn bè từ những ngày còn thơ ấu cho dĩ chí tới tuổi xế chiều qua dòng đời nhiều biến đổi nhưng những tình tự ấy không thay đổi trên các trang sách của Lê Cần Thơ! (**) 

 

Hai Trầu

Houston, ngày 22 tháng 11 năm 2020

 

Phụ chú:

(*) Theo sách “Địa Chí Hành Chính Các Tỉnh Nam Kỳ Thời Pháp Thuộc (1859-1954) của tác giả Nguyễn Đình Tư, nhà xuất bản Tổng Hợp Tp HCM, 2017, trang 173.

 

(**) Xin đính kèm vài hình ảnh kỷ niệm của nhà văn Lê Cần Thơ với các bạn văn nghệ:

                                            Hai Trầu                             

                               LAI RAI VỚI ANH TRẦN BANG THẠCH

                               VỀ CẦN THƠ CỦA ANH MÀ TUI BIẾT

                                            _______________________________

                                                 

                                                      Hai Trầu với chùm khế quê hương

                                    tại góc vườn nhà nơi đất khách

                                              

 

Anh Trần Bang Thạch quê làng Thường Đông, cách chợ quận Cái Răng tỉnh Cần Thơ khoảng 4 cây số. Hồi còn nhỏ ở quê làm vườn, học tiểu học. Thi tuyển đậu vào lớp đệ Thất trường Trung học Phan Thanh Giản (Cân Thơ). Sau khi học hết bậc Tú Tài, anh theo học tại Đại Học Văn Khoa & Đại Học Sư Phạm Sài Gòn vì hồi đó ở Cần Thơ chưa có Viện đại học. Khi ra trường năm 1970, anh Trần Bang Thạch được bổ nhiệm về dạy ở trường Trung học công lập Thủ Khoa Nghĩa ở Châu Đốc và năm 1980 anh đổi về dạy trường Trung học Thoại Ngọc Hầu Long Xuyên (lúc bấy giờ trường Thoại Ngọc Hầu có tên là trường Cao Đẳng Sư Phạm). Trước 1975, Trần Bang Thạch có viết văn, làm thơ và khi làm thơ ký bút hiệu Nguyễn Cát Đông với mục đích là để nhớ về làng Thường Đông thuộc quận Cái Răng, quê của mình nên trong giới văn chương thường gọi anh là nhà văn, nhà thơ nhưng tui thích gọi anh bằng “anh” hơn vì gọi như vậy nó vừa hợp với tính tình của anh vốn mô phạm, khiêm cung và lúc nào anh cũng nhớ mình là người gốc gác dân quê, miệt vườn, miệt ruộng mà nó cũng rất hạp với cái chất nhà quê của tui vốn là một người đọc già gốc gác ruộng đồng, quê mùa nhưng rất quí trọng người chữ nghĩa hiền tài nữa! 

 

Về thơ của anh, tui nhớ được đoạn thơ của Nguyễn Cát Đông tả cảnh sông nước vùng Cân Thơ của anh:

 

“Ngun ngút đồng xanh Thác Lác, Bà Đầm

Tấp nập ghe xuồng ngã Bảy, ngã Năm

Cam ngọt Trường Long, khóm thơm Long Mỹ

Rộn rịp hát đình Bình Thủy, Cái Răng...”

 

Tui cũng thích và cảm thông được tâm trạng của người thầy không còn đứng trước bảng đen và phấn trắng như những ngày nào lúc mới ra trường nữa qua Liên khúc Trường Xưa của tác giả:


 

* KHÚC LẠ TRƯỜNG
Nghe sao lạ những ngói vôi
lạ em giữa lớp, lạ tôi giữa trường
hạt mưa nào rớt qua đường
hay tôi mắt ướt giữa sương khói chiều!

 

* KHÚC LẠ LỚP
Em trong cửa lớp nhìn ra
Ta ngoài cửa lớp thấy ta một thời
những thầy, 

những bạn, 

những tôi
những cơn mộng cũ 

ngồi nơi góc nào?!
 
* KHÚC THẦY CŨ

Vẳng nghe tiếng trống trường thành
với câu chinh phụ còn quanh chỗ ngồi
người xưa? 

người đã đi rồi!
còn đây tiếng phấn nhẹ rơi giữa ngày!

 

* KHÚC NGƯỜI TRÊN BẾN LỠ
Người đi như sáo qua sông
như con nước lớn nước ròng ngược xuôi
tôi trên bến lỡ một đời
làm thân lá mục lạc trôi giữa dòng

 

(Nguyễn Cát Đông- Trần Bang Thạch, trang nhà Trần Thị Nguyệt Mai, ngày 09-11-2020)


 

Sau khi đã đọc “Lai rai với nhà văn Song Thao…” của Hai Trầu), Trần Bang Thạch viết:

 

“Anh Hai Trầu,

Đọc phỏng vấn nầy khoái quá, đúng là lai rai ba sợi. Lại còn bonus hình ảnh nữa. Vậy mà hay. Không khuôn phép gì ráo. Bạ đâu nói đó. Gốc nông dân nam bộ là vậy. Bây giờ mới biết anh cũng từng "tá túc" nhà tui, còn tui ở đậu nhà anh Châu Đốc và Long Xuyên khi kiếm cơm áo ở Thủ Khoa Nghĩa (Châu Đốc) (từ 70) & Thoại Ngọc Hầu (Long Xuyên) [từ 75 tới 80 rồi xuống "the river of no return" của Robert Mitchum]). Tui nhớ trường Bồ Đề (Cần Thơ) như in vì mỗi chiều (yes, mỗi chiều) tui đi qua lại từ nhà sách Văn Nhiều (38 đường Ngô Quyền, anh là thầy giáo chắc phải ghé nhà sách nầy?), băng qua đường Nguyễn An Ninh, tới đầu đường Nguyễn Trường Tộ, qua trường Bồ Đề, đi vài trăm thước là tới nhà "em yêu" (xéo Tây Đô bóng bàn).

Tiếc là thời đó mình hỏng có duyên gặp nhau. Ở Châu Đốc tui thường cà phe với Khai Phá, nhà thơ Thần Liên Lê Văn Tất, Liêm Châu, nhiều lần qua Hòa Hảo thăm nhà biên khảo Nguyễn Văn Hầu....

Vui và khỏe nghen Hai Trầu”

TBT

(Ngày 26.10.2020)


 

Cảm ơn anh Trần Bang Thạch.
Vậy là hồi đó anh quá hạnh phúc, được gặp các tác giả mà nhiều người mến mộ như “nhà thơ Thần Liên-Lê Văn Tất, Liêm Châu, nhiều lần qua Hòa Hảo thăm nhà biên khảo Nguyễn Văn Hầu..”. Vui quá! Chắc hôm nào anh thấy hứng thú, xin anh kể cho nghe về các vị tiền bối ấy nhe! Giờ mới sực nhớ quê anh hồi đó là làng Thường Đông, Cái Răng, Cần Thơ; rồi anh chạy giặc tản cư vô Trà Lồng năm nào mà anh nhớ và viết rất cảm động quá:

 

“Giữa tiếng đạn bom mỗi lần chạy giặc
Giữa lác, đưng, đỉa, muỗi Trà Lồng
Đôi tay mẹ như mây trời bát ngát
Một cánh cò vất vả nuôi con.”

Từ làng anh tới Trà Lồng có xa lắm hông và bơi xuồng theo con rạch nào vậy
anh?

“Anh Hai Trầu,

Chuyện hồi nhỏ của tui dài lắm anh vì nó bắt đầu lận đận từ 2, 3 tuổi tại 1 xẽo nhỏ là Xẽo Môn (sau nầy thuộc xã Long Thạnh, trên đường Cần Thơ - Phụng Hiệp). Lúc đó còn nhỏ quá mà phải di chuyển thường xuyên, chỉ nghe và nhớ tên các địa danh như Trà Lồng, Trà Cú, Ngả ba An Trạch...còn tới đó bằng ngả nào thì tui chịu!

Thời gian 5 năm ở Châu Đốc là tuyệt vời. Học trò, phụ huynh rất trọng người thầy. Tui thấy ai cũng hiền như Phật. Mỗi lần có đứa học trò sắp đi lính là thầy trò có dịp say từ giã trên đỉnh núi Sam. Nghĩ thật tội lỗi: nhiều lần tụi tui chơi tới bến trong sân chùa Cô ba Tràng (chắc anh biết chùa nầy?).Thời gian nầy nếu tui muốn chuyển về quê quán thì cũng được, nhưng quen đất, quen người không muốn xa. Về Long Xuyên từ sau 4/75 là do nhu cầu của họ khi trường Thoại Ngọc Hầu đổi thành Cao đẳng Sư Phạm. Tui ở nội trú trong trường cùng với các người gọi là giáo viên chi viện từ miền Bắc. Chán muốn chết (gặp họ ngày lẫn đêm!). 

Tui cũng thích đọc Song Thao lắm, ông ấy dùng vốn hiểu biết rộng với cái nhìn rõ nét từng sự việc bình thường. Gần đây tui ít xem báo nên không theo dõi được sinh hoạt làng văn.

Rất mừng anh còn giữ phong độ.

Chúc vui,

TBT

(Ngày 27.10.2020)


 

Dà, cái lễ nghĩa “trọng thầy” là do cái nếp nhà anh à! Hồi lớp tụi tui còn nhỏ xíu mỗi lần gặp thầy từ xa xa là trốn vì sợ thầy gặp, mà rủi tới gần, hổng cách nào trốn khỏi, là khoanh tay cúi đầu chào thầy rất kính nể. Hồi các lớp nhỏ bậc sơ học, tiểu học là thầy ưa đánh đòn mỗi khi dọn bài mà học trò hổng thuộc, mình sợ đã đành; mà khi lớn rồi và bắt đầu vào lớp Đệ Thất bậc trung học các thầy hết dùng roi vọt mình cũng rất sợ thầy dù thầy rất ít khi rầy mình! Dường như hồi đó học trò làng, học trò tỉnh vùng sông nước miền Tây của mình, nói chung, đâu đâu cũng đều kính trọng các thầy là vậy; chẳng những vậy mà các bậc cha mẹ, phụ huynh đều kính trọng thầy hết mực anh à! Bởi vậy, hồi xưa mới có mấy câu thuộc nằm lòng như:“Một chữ là thầy, nửa chữ cũng là thầy”; hoặc “Kính thầy mới được làm thầy”; hoặc “Không thầy đố mầy làm nên”, đó anh!

 

Tui còn nhớ hồi đó, lúc ở Cần Thơ của anh, tui chỉ dạy giờ ở vài trường tư thục như trường Bồ Đề, trường Tân Văn, trường Hậu Giang đâu chừng một niên khóa, rồi tui đổi đi ra Nha Trang khoảng vài ba năm, rồi sau cùng tui lại được hoán đổi để về lại Sài Gòn, vị chi tui xa Cần Thơ của anh khoảng hơn năm năm, vậy mà tới khi tui về lại Kinh Năm (Chương Thiện) phá rừng tràm, đào kinh lên liếp trồng khóm gặp lại học trò cũ ở Tân Văn, ở Bồ Đề cũng vô đây đào kinh lên liếp trồng khóm, có hai em lại hỏi tui:

“Dạ, Thầy còn nhớ em hông?” 

Tui trả lời:

“Lâu quá, thầy quên các em rồi. Em tên gì?”

Hai em đáp:

“Dạ, Em là Tâm; còn em là Bình học ở Bồ Đề và Tân Văn với thầy hồi thầy dạy lớp Đệ Lục đó!”

 

Rồi tui lại hỏi học trò:

“Sao hai em cũng vô đây?”

 

Các em mới trả lời:

“Ở nhà má em vì sợ tụi em ở nhà đi chơi, nên gởi hai em vô phường học, rồi phường đưa tụi em vô đây!”

 

Thiệt là quá cảm động phải hông anh Thạch? Chẳng những vậy mà sau này khi các em được về trước, mình còn kẹt ở lại, các em lại cụ bị đường, bột, gạo, sữa xách đầy giỏ đệm trở vô Kinh Năm thăm thầy mấy lần! Thiệt là tới bây giờ nhắc lại với anh mà tui còn muốn ứa nước mắt!

 

Dà, nhắc đến Cần Thơ của anh, tui có rất nhiều kỷ niệm. Kỷ niệm trước tiên là mấy kỳ xuống Cần Thơ của anh dự các kỳ thi Tú Tài I, Tú Tài II rồi tới khi đi nghe kêu kết quả nữa, có lúc lọt sổ, ôi thôi, Cần Thơ của anh lúc bấy giờ buồn thúi ruột! Có lần tui đi chung với anh bạn cùng làng để nghe kêu kết quả kỳ thi Tú Tài II, tui thì vần T nên số báo danh của tui được kêu trước và tui đậu dù chỉ đậu hạng “thứ” thôi anh à; còn anh bạn tui có vần X số báo danh lớn hơn và ở gần cuối danh sách, ảnh bị lọt tên, rồi tui cũng đâu có vui sướng gì đâu anh khi bạn mình đang buồn! 

 

Mà hồi đó (mấy năm 1963, 1964) Cần Thơ đối với học trò các tỉnh nhỏ tụi tui lần đầu xuống Cần Thơ là thấy Cần Thơ quá lớn, nhà nhà sung túc, phố xá tấp nập, nhứt là các con đường như đường Phan Đình Phùng chạy băng qua thị xã thì sầm uất, nơi có trường trung học tư thục Tân Văn nằm xéo xéo rạp hát Minh Châu, vui quá! 

 

Sau này có dịp trở lại Cần Thơ mấy năm 1966-1967, quan sát kỹ tui thấy Cần Thơ của anh có đại lộ Hòa Bình, rộng thênh thang với ngôi trường Thọ Nhơn dạy chữ Tàu, rồi có Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn IV nữa! Ngoài ra, khi Cần Thơ có Viện Đại Học thì gần khúc trường Thọ Nhơn có văn phòng của Viện Trưởng Viện Đại Học Cần Thơ và văn phòng Tổng Thư Ký của viện Đại Học nữa. Còn con đường Ngô Quyền có nhà sách Văn Nhiều mà có lần anh kể cho tui nghe là từ Cái Răng khi anh ra Cần Thơ theo học lớp Đệ Thất trường trung học Phan Thanh Giản anh trọ ở đó vì ông cậu ruột của anh là chủ nhà sách Văn Nhiều này. Tui mới kể chuyện với bà xã tui về anh và nhà sách Văn Nhiều, bà xã tui có biết tên nhà sách này vì hồi trước, khoảng năm 1970-1975 nhà sách Văn Nhiều thường hay đặt mua các sách báo ngoại ngữ tiếng Anh, tiếng Pháp nơi Bookshop nằm ở số 41E đường Ngô Đức Kế (Sài Gòn) chỗ gần góc đường Ngô Đức Kế & Nguyễn Huệ vì lúc bấy giờ bà xã tui làm kế toán ở đó nên còn nhớ tên nhà sách Văn Nhiều (Cần Thơ), khá quen thuộc!

 

Cần Thơ của anh tui có biết con đường Cống Quỳnh về hướng vô vườn Thầy Cầu, cách cầu Đôi Mới chừng vài ba trăm thước, xéo xéo bên kia bờ rạch Cái Khế là chùa Sư Nữ với tiếng chuông chùa văng vẳng đưa sang bên này đường vào mỗi sáng mỗi chiều làm tui nhớ ngôi chùa Tân Phước Tự làng quê tui hồi những ngày còn nhỏ sống ở làng Tân Bình (Lấp Vò). 

 

Những địa danh mà tui ở trọ lúc mới về làm cu li ở Cần Thơ là căn nhà gần chùa Cây Bàng, nằm sâu trong con đường tráng xi măng từ chợ cầu Xã Đài (hay Cả Đài gì đó lâu rồi tui quên tên, chỗ này nhà thơ Trần Phù Thế nhớ rành lắm vì có lúc ảnh ở gần chỗ này); có lúc tui ở hẻm Hai Địa đường Phan Thanh Giản; rồi sau Tết Mậu Thân, tui dời qua hẻm số 2 đường Nguyễn Trải trọ, chỗ gần nhà đèn Cần Thơ; còn cơm tháng thì có lúc ăn cơm tháng chỗ chị Sáu đường Ngô Quyền, có lúc ăn cơm tháng chỗ Dì Tư nơi Ụ Tàu, chỗ gần chợ Cái Khế trên đường đi Long Xuyên. Nhắc qua những lần tui ăn cơm tháng chỗ này chỗ kia như vậy, giờ nhớ lại mình cũng lang thang quá mạng phải hông anh?

 

Hồi đó, nhớ lại lúc ở Cần Thơ của anh tui ít đi chơi chỗ này chỗ kia dù làm cu li ở đó khoảng gần hai năm; lúc bấy giờ tui có biết vườn sầu riêng Thầy Cầu trong ngọn rạch Cái Khế tới mùa sầu riêng bà con ưa vô vườn mua trái cây như sầu riêng, vú sữa; ngoài ra, gần bắc Cần Thơ, cách chợ Cái Khế một đỗi, phía tay mặt có một vườn ổi xá lị rộng lắm và có mận nữa, tới mùa đông ken trái quằn nhánh, khách thăm vườn đông lắm!

 

Ở Cần Thơ của anh mấy năm đó, cách nay hơn nửa thế kỷ, tui có nhận xét là những con hẻm trong tỉnh lỵ Cần Thơ của anh có cái vui là hẻm nào cũng có vườn tược xanh um, cây trái mát rượi mà nhứt là món mận, món quít, món cam, món bưởi khi tới mùa trổ bông, bông mận, bông cam, bông quít, bông bưởi nở rộ và gió mang theo mùi thơm của các loại bông này lan tỏa khắp cả một vùng! Thơm dữ lắm, nhiều lúc tui cứ tưởng hổng có bông gì tinh khiết và thơm cho bằng các loài bông mận, bông bưởi, bông cam, bông quít đơn sơ và chất phác như các loại bông này! 

 

Đó là nhắc về những ngày đi thi Tú Tài 1, Tú Tài 2, và những ngày đi làm cu-li ở Cần Thơ; còn về sau này có lúc tụi tui ở Long Xuyên cùng bị đưa xuống Chủng viện Cái Răng chỗ quê gốc của anh, trong đó có nhiều anh bác sĩ làm ở Bịnh viện Long Xuyên, có anh TBĐ (Chánh sở Học Chánh Long Xuyên), có cả mấy ông chánh án và nhiều bạn học hồi trước ở Long Xuyên cũng cùng đi xuống Cần Thơ của anh dịp này. Chủng viện Cái Răng tui nhớ chừng dường như cách cầu Cái Răng hổng xa lắm! Nếu mình từ trên Cần Thơ đi xuống theo quốc lộ số 4, về hướng đi Sóc Trăng thì khi xe vừa qua cầu Cái Răng là quẹo tay mặt liền và xe chạy một đỗi đâu chừng chưa tới một cây số là tới Chủng Viện Cái Răng liền hà! Tui chỉ biết quê Cái Răng của anh chỉ có chừng ấy nhưng sao cứ nhớ hoài hà! Chắc có lẽ đó là khoảnh khắc mà mình không có ý đi tu nhưng lại lê bước chưn vào chủng viện Cái Răng rồi ăn và ngủ ở đó ba khoảng ba bốn tháng nhưng lúc bấy giờ nghe trong lòng nó dài thườn thượt!

 

Ở đây, mấy ngày đầu tụi tui bắt đầu làm rẫy trồng cải, trồng rau muống, trồng cà… Đâu chừng ba bốn tháng thì nửa đêm, một số chuyển xuống tàu và tàu chạy hoài, chạy hoài đâu chừng gần cả ngày thì tàu ủi vô bãi bùn đầy dừa nước. Hồi đó cả mấy trăm người cứ lơ mơ chẳng biết mình đang bị đưa đi đâu, về đâu? Với một tâm trạng hoang mang cùng tột lại nhớ câu Kiều để tự an ủi mình thôi anh Trần Bang Thạch:

“Cũng liều nhắm mắt đưa chân,

Thử xem con tạo xoay vần đến đâu!”

Mà thực tình ra, lúc bấy giờ hổng “nhắm mắt” mình cũng chẳng biết phải làm gì hơn nhe anh! Sau này định thần lại rồi nghe người này nói, người kia kể là tàu đi theo lộ trình là bắt đầu vô rạch Cái Răng của anh, rồi vô kinh xáng Xa No, ngang qua chợ Vị Thanh, vô chợ Hỏa Lựu, vô cầu đúc Cái Sình, vô Kinh Năm, vô vùng rừng tràm bạt ngàn thiên dã ngày ấy cách nay cũng gần nửa thế kỷ rồi …

 

Anh biết hông, khi tàu ủi mũi vô tới bãi dừa nước, là từng người, từng người quảy nồi niêu áo quần men theo con đường mòn của con kinh vậy là cứ đi miết, đi miết đâu chừng cả hơn cây số, là bắt đầu vô các trại vừa mới cất bên bờ con kinh còn hoang địa ấy. Vậy mà rồi tui ở đó mút mùa lệ thủy, hổng biết ngày dìa luôn nhe anh!

 

Công việc mỗi ngày lúc bấy giờ là đào kinh, đi rừng đốn tràm, móc gốc tràm để có đất cấy lúa, đào liếp làm rẫy, rồi trồng khóm mà trong thơ anh có nhắc “Cam ngọt Trường Long, khóm thơm Long Mỹ” là trúng y bon đó, vì khóm ở đây cũng như khóm cầu đúc Cái Sình ngọt hổng thua khóm Bến Lức, Tân An anh à! Mà vùng này, người Tiều ở rải rác, xa xa mới có một nhà nhưng nhà nào cũng có trồng nhiều khóm, họ sống với nghề trồng khóm lâu đời; có nhiều rẫy khóm lão, tuổi đời có tới mấy chục năm hơn!

 

Sau mấy tháng làm đủ thứ nghề, có một hôm người ta hỏi anh nào biết lội, tui do dự một hồi rồi giơ tay nói tui biết lội đại hà! Mà hồi xưa con nít ở nhà quê như mấy anh em mình, đứa nào mà hổng biết lội anh Thạch, nhưng lội bập bũm vậy thôi chứ làm cái nghề lặn lội dỡ chà là phải lội giỏi và lặn dài hơi mới làm nổi chứ lội như mình còn lâu mới theo nổi cái nghề này! Thế là tui thuộc vô tổ chất chà và dỡ chà tức là cái tổ chuyên ở trần với cái quần xà lỏn mút mùa chỉ để lội và lặn làm cái nghề chất chà dỡ chà bắt cá dọc theo hai con sông chảy ra vùng ngả ba nước trong tời tuốt xuống vùng Vĩnh Thuận, xa lắm mà tui thì hổng rành địa thế ở đó nên hổng dám tán rộng anh Thạch ơi! Vì lặn dở nên khi tui nín thở để làm cái chuyện nhổ chà, rồi gạn lưới bắt cá ở mấy chỗ sông sâu, nên hồi đó mỗi khi lặn xong một đống chà tui hay bị lùng bùng hai lổ tai như có ai táng mạnh vô lổ tai mình vậy đó; và có lẽ bị vậy mà giờ, khi về già, tui bị điếc quá nặng đó anh!


Thế rồi, tui làm nghề chất chà được đâu khoảng bốn năm có hơn với khoảng trên 30 đống chà chất dọc theo hai con sông nằm hai bên đầu kinh Năm chạy dài xuống tới kinh Zéro thuộc vùng Hỏa Lựu, Long Mỹ đó; với số chà nhiều như vậy nên ngày nào tụi tui cũng đi dỡ chà cứ xoay vòng, xoay vòng hoài hà; nay dỡ đống chà này, mai chất đồng chà dỡ mấy hôm trước rồi ngày mốt lại dỡ đống chà kế tiếp; hồi xưa ông bà mình hay nói “làm mệt nghỉ” nhưng tụi tui làm mệt mà hổng có ngày nghỉ, suốt mấy tháng trời nắng vùng này cho tới mùa mưa thì cá lên đồng, tụi tui gom chà vô mé chờ mùa tới lại chất chà tiếp; cực lắm nhưng bù lại được đi lặn lội ngoài sông cái và có cá tôm ăn lúc hoạn nạn hồi đó vậy!

 

Rồi đến một hôm tụi tui nghỉ dỡ chà và nằm chờ… Đùng một cái có lịnh kêu tên và cụ bị quần áo qua bên hội trường và lý do thì hổng biết để làm gì! Sau ba điều bốn chuyện tụi tui gồm 10 anh em xuống một chiếc tắc ráng và bỏ nghề dỡ chà ở Kinh Năm từ đó. Lúc bấy giờ bắt đầu đi thì từ Kinh Năm, tui nhớ chiếc tắc ráng chở tụi tui đi ra chợ Long Mỹ, rồi ra ngả ba Hòa An, xuống Phụng Hiệp chỗ ngả Bảy Phụng Hiệp nằm bên cạnh quốc lộ 4 đường Cần Thơ đi Sóc Trăng, rồi vỏ lãi lại trực chỉ rạch Cái Côn mà chạy tới chợ Cái Côn rồi quẹo mặt theo sông cái Hậu Giang và rồi ghé lại chỗ lò gạch Cái Côn gần rạch Cái Cau cũng đâu gần tối mịt mới lui cui dọn đồ lên bờ! Mọi thứ lại thêm một lần bỡ ngỡ nữa vì lạ nước lạ cái nhe anh Thạch! 

 

Ở đây nói là lò gạch Cái Côn, chứ khi tụi tui tới thì có một số anh em cùng hoàn cảnh như mình đã có ở đó trước rồi, và tui chẳng thấy lò gạch chỗ nào, mà nhìn chung quanh chỉ thấy cái nền rộng trên một khu đất mà hồi đời trước ở đây người ta có một lò gạch sẵn nhưng nay dường như chỉ còn cái nền thôi! Thế rồi tụi tui làm quen và hòa hợp với mấy anh em trước để bắt đầu những ngày mới! Có cái này vui lắm nhe anh Thạch, trong cuốn Mùa Màng Ngày Cũ, nơi “Mùa làm gạch”, tui có viết:

 

“Việc làm gạch in ngói, nói đúng ra là không có mùa vì gạch ngói in trong nhà, không in ngoài sân, ngoài đồng như nhiều nghề khác. Nói thế nhưng nghề làm gạch là mùa nắng thích hợp nhứt. Vì mùa nắng tiện cho việc làm đất, mà cũng tiện cho việc phơi gạch, vô lò và ra lò nữa. Nhưng trước khi kể qua các công việc quen thuộc ấy, chúng tôi xin nhắc qua một chút về việc xây lò gạch.

Trước nhứt bạn muốn xây lò gạch, bạn nên có một sở đất không trồng được loại cây ăn trái gì vì đất nơi ấy là đất sét; mà đất sét trồng cây không tốt nhưng làm gạch ngói rất tốt. Rồi bạn sẽ mướn nhơn công đào gánh đất đắp nền lò gạch, đắp nền nhà in gạch, nhà phơi gạch. Rồi còn phải thêm phần đất để dùng vào việc in gạch nữa. Do vậy, một khuôn đất dựng lên lò gạch tương đối phải hơi rộng mới đủ, bằng không thì lò gạch dựng lên như ở Rạch Gòi Lớn, Rạch Gòi Bé (Long Xuyên) rất nhỏ.

 

Thông thường, theo thợ lò chuyên nghiệp mấy năm chúng tôi về làm lò gạch Cái Côn (Cần Thơ) bên bờ sông Hậu Giang, thì muốn một lò gạch chứa đựng được 100.000 viên gạch để nung cho chín thì phải dùng 100.000 viên gạch xây lên lò gạch ấy. Lò gạch có thể là hình vuông, hình tháp hoặc hình trụ tròn có nóc ở trên. Nhưng trước hết là nền lò gạch phải vững chắc kiên cố thế nào để khi xây 100.000 viên gạch lên cái nền ấy mà không bị lún, bị nghiêng thì đó là cái nền lò lý tưởng nhứt.

 

Nhớ năm ấy, khoảng 1980, toán chúng tôi gồm mười anh em về lò gạch Cái Côn cùng với một số anh em có tại đây trước cùng nhau bắt đầu đào móng đóng cừ tràm xây lò gạch đầu tiên nơi này. Móng thì hình vành khăn tròn, bề ngang khoảng một thước. Với số tràm cừ cây bằng cườm tay, dài ba thước, tổng cộng là 10.000 cây tràm cừ phải đóng hết xuống chưn móng lò gạch dự trù xây lò 100.000 viên như vừa kể. Hồi ấy mình dù còn trẻ nhưng cũng đã qua gần năm năm phá rừng đào liếp khóm rồi nên tay chưn cũng rã rời mỏi mêt dữ lắm. Thế nhưng nay lại phải đóng thêm 10.000 cây cừ tràm sâu xuống 3 thước, từ cây cừ này cách cây cừ kia chỉ một tấc tây, thì thiệt tình chỉ nghe thôi là đã ớn rồi nói gì đóng cho hết số cừ tràm khổng lồ ấy. Vậy mà rồi chúng tôi hai ba anh em theo một cái chày vồ và lần lượt đóng cừ như vậy suốt cả tháng trời! Lúc đầu cố gắng đóng lút cừ; chỗ đất nào mềm cừ dễ xuống sâu, còn chỗ nào gặp đất sét cứng thì cũng rán đóng cho hết chiều dài cây tràm cừ 3 thước như vậy. Mỗi ngày gặp nhiều vùng đất cứng đóng cừ hết xuống nổi, chúng tôi lại càng thấy sức mình quá mỏi mệt. Về sau này khi quen công việc rồi thì chỗ nào đóng cừ xuống tới đâu thì đóng, còn chỗ nào gặp đất cứng cừ hết xuống nữa thì anh em cùng nhau dùng búa chặt ngang phần cây cừ tràm còn lại. Do vậy mà sau này càng đóng cừ càng mau vì số tràm bị chặt lại khá bộn và số này cũng không mất mát đi đâu, chúng tôi chặt ra và chẻ củi cho nhà bếp làm cũi nấu cơm. Và đặc biệt là nền lò gạch vẫn không bị lúng hoặc nghiêng đổ gì. Có lẽ dùng tới 10.000 cây cừ tràm là quá nhiều rồi chăng?

 

Giai đoạn đóng cừ là ngán nhứt nhưng rồi cũng qua. Kế tới là đi mua gạch về để xây lò. Gách thì nặng mà sông Hậu Giang có khi nước ròng sát, ghe xuồng đậu xa bến, chúng tôi phải vác gạch xuống ghe rồi vác gạch lên bờ chuẩn bị xây lò. Với 100.000 viên gạch như vậy mà vừa vác xuống ghe rồi lại vác lên bờ biết bao là cực, nhưng rồi cũng vác xong nhưng tối ngủ nhúc nhích cục cựa gì cũng thấy ê ẩm mình mẩy không bút mực nào kể cho xiết.

 

Có gạch sẵn rồi là bước qua giai đoạn kế tiếp cho ghe qua Trà Ôn chở cát về làm hồ xây lò. Không biết kỹ thuật tân tiến ngày nay xây lò gạch bằng loại hồ gì nhưng vào khoảng trước nữa cho chí tới mấy năm 1980-1983, chúng tôi thấy xây lò gạch có cái vui là không ai xây lò bằng xi măng như xây nhà mà phải dùng bùn non trộn với cát cồn làm hồ xây lò gạch. Khi hồ bằng bùn non và cát cồn gặp lửa hầm gạch nóng lên cát sẽ chảy ra thành chất thủy tinh kết dính các viên gạch lại với nhau nên lò gạch không bị nứt bể; còn nếu bạn dùng xi măng xây lò với sức nóng của lửa nung gạch không cách gì xi măng chịu đựng nổi sức nóng ấy được và lò gạch sẽ bị nứt bể. Còn trộn hồ xây lò gạch, người ta đào một cái hầm bề ngang khoảng ba thước, bề dài chừng bốn hoặc năm thước, chiều sâu chừng năm hoặc sáu tấc rồi xuống sông hoặc xuống hầm gần đó xúc bùn lên đổ vào hầm này; sau đó đổ cát cồn vô trộn đều miễn sao ông thợ chánh thấy hồ có độ dẻo vừa xây lò được là ngưng lại và bắt đầu dùng hồ này xây lò. Khi mẻ hồ bùn với cát này hết, người ta bắt đầu trộn thêm mẻ hồ khác. Nhưng thường thường người ta canh làm sao mỗi ngày chỉ trộn một lần hồ dùng đủ cho cả một ngày thôi, hôm sau sẽ trộn mẻ hồ mới cho ngày hôm sau; có như vậy nhơn công đỡ phải vất vả và mệt nhọc. 

 

Còn việc xúc cát giữa cồn gần chợ Trà Ôn cũng cực nhưng cực gì thì cực miễn sao có đi qua chợ Trà Ôn rồi lên chợ uống cà phê, mua bánh trái ăn thì thấy cũng bớt cực chút đỉnh. Khi ghe qua tới Trà Ôn chỗ cồn mình định xúc cát vào lúc nước đang lớn và cho ghe cắm sào bỏ neo đậu ngay trên nền cồn cát mới nổi ấy. Thế rồi cơm ghe bè bạn lo cơm nước ăn uống xong là ngủ một giấc chờ tới khi nào nước ròng cát lòi lên và chiếc ghe đang nằm khơi trên mặt cồn cát, anh em lại hè nhau mỗi người một cái len miểng chia làm hai toán qua hai bên hông ghe xúc cát vô len và bơi lên ghe. Và cứ vích cát lên ghe vậy hoài cho tới khi nào nhắm ghe cát gần đầy và thấy nặng nặng là ngưng lại, tắm rữa thay quần áo chờ nước lớn ghe cát nổi lên là quay ghe về lại Cái Côn. Về tới lò gạch Cái Côn lại bắt đầu gánh cát lên bờ rồi hôm sau hoặc vài ba ngày sau lại qua Trà Ôn chở cát tiếp cho đến khi lò gạch xây xong mới thôi chở cát nữa. 

 

Công việc xây lò gạch là do ông thợ cái đứng ra xây, chúng tôi chỉ phụ mang gạch và vác hồ cung cấp cho ông thôi. Có một điều rất tài tình là ngoài những vật liệu là gạch, cát và bùn non thôi, kỳ dư không có vật liệu nào khác chống đở nhưng những người thợ chánh xây lò gạch họ đã xây được những lò gạch như các bảo tháp vừa cao vừa lớn mà khi mình bước vô bên trong lò bổng thấy mình vô cùng bé nhỏ trước một không gian mênh mông bên trong lò gạch sản xuất 100.000 viên gạch như vậy.                                     

 

Tưởng cũng nên nhắc qua một chút về khâu làm đất để in gạch. Thật ra, công việc nào làm bằng tay cũng chỉ là do kinh nghiệm mỗi cá nhân làm công việc ấy nhuần nhuyễn nhiều ngày mà ra, không ai tài giỏi gì hơn ai. Chẳng hạn bạn muốn làm đất để in ngói, in gạch tàu thì công việc trước tiên là dùng len miểng xới đất thật mỏng. Công việc này đòi hỏi làm từ từ, không gấp gáp gì và làm sao những lưỡi len xắn đất thật mỏng, đều đều bằng nhau tránh xắn đất không đều, miếng này quá dày, miếng kia qúa mỏng. Vì nếu xới đất không đều sau này khi mang đất lên in gạch ngói đất sẽ bị óc trâu, in ngói dễ bị bể. Sau khi bạn xắn đất giáp mí hầm rồi, bạn ban đất lại cho bằng phẳng, dẽ-dặt và chà láng mặt đất vừa mới xới xong ấy. Sau cùng bạn xả nước vô đầy hầm nhằm mục đính ngâm đất cho đất nở ra. Sau khi ngâm nước như vậy xong, qua vài ngày sau, nếu bạn muốn in ngói, thì lại phải xả nước trong hầm đất này ra và xới đất này lại một lượt nữa; rồi cũng lại ban đất cho bằng mặt, chà láng và lại thả nước vô ngâm đất lần thứ hai. Chừng nào cần in ngói, người ta lại tháo nước ra và chuyền đất này lên bờ vun thành cây cho ráo nước và qua chừng một hoặc hai ngày sau là thợ có thể lấy đất này bắt đầu in ngói, in gạch tàu được rồi. Mỗi một hầm đất như vậy có chiều dài chừng sáu thước, chiều ngang khoảng ba hoặc bốn thước là trung bình. Thường thường trong chu vi lấy đất làm gạch, lúc nào ở dưới đó cũng có sẵn ba bốn hầm đất đã xới xong và ngâm nước sẵn như vậy. Mấy hầm đất này có cái vui là khi mình mới xới một lớp len miểng thì đất vừa tới nửa ống chưn, nhưng sau khi bạn ngâm nước vài đêm thì đất lại nở ra thêm, lúc bấy giờ lớp đất xào xới này lên cao có khi qua khỏi đầu gối. Hồi đó, hai móng chưn cái của tôi qua hơn hai năm làm đất in gạch bị hư hết, không ra móng được vì ngày nào cũng đứng sâu trong bùn như vậy.

 

Đó là cách làm đất in ngói và gạch tàu. Đất in gạch thẻ, còn gọi gạch tiểu, thì không cần phải xới lại lần thứ hai. Nếu in bằng tay thì chỉ một lần xới đất xong rồi ngâm nước như vừa kể là có thể lấy đất lên in gạch được rồi. Đất in gạch đại cũng vậy, không cần làm đất kỹ hai lần như vậy, chỉ xới sơ sơ, ban đất cho dẽ dặt rồi ngâm nước một đêm là lấy đất lên để ráo là in gạch được rồi.

 

Sau này có máy in gạch ống, gạch tiểu, gạch đại thì làm đất in bằng máy đơn giản hơn. Bạn chỉ cần bắt dây năm, mười người tùy theo chiều xa từ dưới hầm lấy đất lên tới chỗ bỏ đất xa hay gần mà sồ người nhiều hay ít để chuyền đất lên bờ, ngay bên cạnh chỗ nền đặt máy in gạch. Ở điểm cuối cùng này, tức là nơi bỏ đất dồn đống lại, có một hoặc hai người dùng len miểng xắn đất nhỏ lại, lâu lâu lại xách nước tưới sương sương lên đống đất vừa xới, nhưng không nên tưới ướt quá đất sẽ nhão khó in. Đất mà chứa thành đống như vậy gọi là cây đất. Tùy theo số lượng mình muốn in bao nhiêu gạch mà làm mấy cây đất để sẵn để khi cần in là có đất sẵn sàng. Hồi đó chúng tôi lúc nào cũng có ba hoặc bốn cây đất khô để in gạch ống, gạch thẻ như vậy.

 

Việc in gạch ống hay gạch thẻ bằng máy thì cũng đơn giản lắm. Máy chạy có thợ máy coi chừng điều khiển máy đã đành, ngoài ra có toán xắn đất cho vào máy cũng vài ba người túy theo máy chạy nhanh hay chạy chậm. Ở đầu gạch in ra, cũng có vài người bắt gạch để lên xe rồi có người kéo xe đem gạch này đi phơi. Thường thường ở đầu gạch ra này có khoảng ba hoặc bốn xe mới di chuyển gạch vừa in xong đem đi phơi mới kịp. Gạch phơi trong những nhà phơi mái thấp, lấy cái gió làm gạch khô dần chứ không phơi ngoài nắng vì nắng nóng gắt làm gạch dễ bị nứt và bể. Gạch phơi như vậy khi nào khô gom lại chất thành từng cây, mỗi cây gạch khoảng năm trăm viên chẳng hạn miễn sao gạch chất vuông vắn không bị ngã đổ và dễ đếm để khi nào số gạch in đủ 100.000 viên là bắt đầu vô lò để đốt lửa nung gạch.

 

Giai đoạn vô lò chỉ có một ông thợ chánh là có quyền và chịu trách nhiệm sắp xếp gạch, từ dưới lên tới nóc lò với những đường dẫn lửa rất thông để khi đốt lò lửa cháy đều và chạy từ dưới nền lò lên tới nóc lò; còn nhơn công chỉ phụ ông mang gạch vào lò để ông chất thôi. Dường như các nghề thủ công của người Việt Nam ít có ai dạy nghề cho người khác, nên dù làm lò gạch Cái Côn gần ba năm chúng tôi chưa biết phải chất gạch vô lò như thế nào. Nhưng có điều, chúng tôi biết làm nghề thợ chánh vô lò gạch họ rất tin tưởng ông thần lò. Lò gạch nào cũng có bàn thờ ông thần lò ngay cửa ra vào và ông thợ chánh lúc nào cũng nhang đèn cúng kiếng ông thần lò rất chu đáo.

 

Lò gạch với sức chứa 100.000 viên gạch như vậy vô lò cũng mất gần cả tuần mới xong. Xong xuôi đâu đấy ông thợ chánh cho chất củi bên trong cửa lò và van vái ông thần lò trước khi châm mũi lửa đầu tiên đốt lò. Hồi ấy lò gạch Cái Côn chụm bằng củi cây mắm. Các ghe củi mắm chở tới bến lò gạch và chúng tôi vác củi lên chất thành từng cự dài xung quanh lò gạch để khi đốt lò mình vác củi vô lò cũng gần. Mỗi lóng củi mắm như vậy có bề dài chừng tám tấc, bề hoành cỡ ba bốn tấc tùy theo cây mắm lớn hoặc nhỏ.” (…)

 

Sau khoảng hai tuần từ khi bế lửa tắt lò là lò gạch đã nguội rồi. Nói lò nguội là nói chung như vậy nhưng khi chuyền gạch ra lò có chỗ gạch vẫn còn hơi nóng, đôi lúc phỏng tay. Hồi đời trước ra lò gạch thường chuyền tay, sau này nhiều lò gạch có thang để chuyền gạch xuống tiện hơn và ít nguy hiểm hơn chuyền bằng tay.

 

Có một điểm cũng cần nhắc là gạch dù vô lò cùng một lượt, nổi lửa đốt lò nung gạch cùng một lượt, thời gian nung gạch giống nhau nhưng gạch khi ra lò có ba loại gạch khác nhau. Thứ nhứt là gạch chưn lò. Gạch chưn lò dù ở gần bên đống lửa chụm lò nhưng gạch này xấu nhứt vì lửa rút lên trên nên độ chín của nó chưa chín lắm, gạch có màu tái tái. Thứ hai là gạch giữa lò, còn gọi là gạch lòng tàu. Loại gạch này chín màu đỏ au tốt nhứt trong ba loại gạch và nó cũng chiếm tỉ lệ rất cao trong số gạch vừa nung xong. Thứ ba là gạch trên nóc lò, còn gọi là gạch ngọn. Vì bao nhiêu lửa nóng trong lò đều theo đường dẫn lửa rút lên tuốt trên ngọn để thoát ra ống khói nên lửa ở ngọn lò là nóng nhứt. Gạch ngọn vì lửa nóng nên chín quá và viên gạch trơn láng thành da lu, nên gạch này cũng thuộc loại gạch các thợ xây nhà ít dùng vì da láng khi xây với hồ bằng xi măng hồ ít dính.”

 

“Có một điểm nữa khi nhắc về mùa làm gạch ngói, như một định lệ có sẵn là các thợ lò chuyên môn xây lò vô gạch dù tiền ăn công rất cao nhưng sao ông thợ nào cũng hổng được khá cho lắm nếu không muốn nói là rất nghèo. Còn nhơn công làm cho lò gạch trong việc in gạch ngói bằng tay cũng vậy; dường như người nào cũng nghèo, có khi chạy ăn từng bữa, ít khi nào có dư. Thêm nữa những cư dân ở gần lò gạch không biết sao họ cũng nghèo theo. Ngoài lò gạch Cái Côn mà tôi từng làm ở đó, nhơn công người nào cũng nghèo, mà dân tình chung quanh lò gạch ở đó cũng nghèo.”

 

Anh Trần Bang Thạch ơi,

 

Nhơn nhắc Cái Côn (Cần Thơ) của anh tui lại nhớ hồi đó nơi bến sông chỗ lò gạch này sao mà tôm nhiều quá mạng, mà trong “Mùa làm gạch” tui có ghi:

 

“Nhắc lại mùa làm gạch mấy năm cách nay gần năm chục năm làm tui cũng nhớ lại những ngày gian truân một thời. Tôi cũng nhớ những ngày chẻ tre đan lờ đặt tôm ngay dưới bến sông nơi lò gạch Cái Côn tọa lạc. Tôm hồi mấy chục năm trước nhiều lắm. Chiều nào tui cũng cùng vài anh em đem lờ tôm với miếng mồi dừa trắng phau xuống ngay mé sông móc vùng cạnh các gốc bần đặt lờ. Chỉ đơn giản vậy mà sau một đêm thức dậy lo làm đất in gạch để rồi tới trưa khi nghỉ ăn cơm là tui chạy ùn xuống sông dỡ lờ. Vậy mà rồi lờ nào cũng có vài ba con tôm càng lửa phơi mình trong lờ đỏ rực, thấy bắt ham. Hồi ấy, tụi tui cũng lội cặp mé sông dùng rỗ xúc cá bóng trứng theo mấy khóm lục bình, cỏ xước, rau muống tấp nơi các gốc bần, cá bóng nhiều lắm. 

 

Nhắc lại những năm tháng làm lò gạch cũng để nhớ những anh em sống bên nhau một thời, những người đã giúp đở và thương mến tui rất nhiều qua những công việc quá nặng nhọc mà nhiều lúc tui không cách gì kham nổi! Những bạn như bạn Sáu Nhỏ Hòa An, anh Sáu Bá Vị Thanh, anh Trực Thốt Nốt, anh Đính Cần Thơ, anh Tư Bồ Ót, anh Phước Cái Vồn và còn nhiều nữa những tấm lòng yêu thương giữa những ngày cơ cực ấy mà tui vẫn nhớ hoài mỗi lần có dịp ngồi ôn lại một đoạn đời của mình! Nhớ hồi ấy có lần tui đau thập tử nhứt sanh trong suốt gần nửa năm trời; lúc bấy giờ tui đứng không vững, đi phải lần vách tưởng rằng mình sẽ bỏ xác nơi lò gạch Cái Côn ấy vào những năm 1981-1982, nhưng may sao, sau năm sáu tháng đau đi không nổi ấy rồi lại mạnh lại. Xin cảm ơn các anh, các bạn, những người năm cũ ngày nào! Nay các anh và các bạn đang ở đâu?!?”

 

Tưởng cũng nên nhắc qua một chút về chợ Cái Côn thuộc Cần Thơ của anh cho trọn tình với địa danh này… Đây là cái chợ của quận lỵ Phong Thuận nhưng chợ rất nhỏ, nằm ngay ngả ba rạch Cái Côn và sông Hậu Giang. Như mọi chợ làng quê vùng miền Tây của mình, chợ Cái Côn có nhà lồng chợ ở đó bày bán đủ thứ như mấy sạp bán vải, mấy quán cà phê, và vì chợ nhỏ nên tui nhớ dường như chợ Cái Côn hổng có tên đường mà chỉ là những con đường trong chợ nằm dọc theo các dãy phố vậy thôi, nhưng ở đây hồi đó bà con tốt bụng dữ lắm! 

 

Nhờ hồi đó, mỗi cuối tuần, từ lò gạch Cái Côn mấy anh em tụi tui được đi ra chợ theo con đường lộ đá đời Tây đấp còn được dùng cách chợ chừng ba cây số để mua đồ lặt vặt, và mỗi lần mua tương chao hoặc nước mắm, đường, gạo …, các chị bán các hàng hóa ấy họ bán rất rẻ, chỉ lấy chút tượng trưng thôi; có chị như chị Bảy bán nước tương đựng trong mấy can nhựa chứa năm ba lít nước tương, chị tặng luôn, hổng lấy đồng nào hết nhe anh Thạch! 

 

Rồi cũng có lần, khi tui được dìa, nửa đêm tui lội bộ ra chợ Cái Côn rất sớm, chưa có ai
thức hết, men theo con đường lộ đá Cái Côn (Cần Thơ) - Kế Sách (Sóc Trăng) từ hồi đời
Tây còn để lại nhưng mấy năm đó con đường này dường như bỏ hoang chỉ để đi bộ thôi, hổng có xe hơi, xe đò gì chạy hết; con đường lộ đá từ lò gạch Cái Côn này cách chợ quận đâu chừng cả hai ba cây số, quang cảnh vắng vẻ dữ lắm! Hai bên đường nhà cửa của dân quê ở đây xa thiệt là xa mới có một căn nhà nhỏ núp dưới những tàn cây um tùm ít ai dám đi vào giác này vì người ta thường đồn với nhau trên đường này có khu đất nhị tì, có một bà sanh con rồi bị sẩy thai, hai mẹ con chết hết và thành ma; con ma này ưa dẫn con hiện hình nhát người qua lại kể cả lúc ban ngày! Thế mà tui cứ gồng mình mà đi qua đám nhị tì này nhe anh Thạch! Trong bụng thì sợ ma, trống ngực đánh lung tung; còn chưn thì vừa đi vừa muốn chạy lúp xúp vậy đó! Tới chợ Cái Côn rồi, mệt muôn chết và tui mừng quá mạng! Khi tới chợ Cái Côn, tui mới vô nhà lồng chợ và thấy có mấy sạp vải bỏ trống, tui mới trải tấm vải bông hồi đó tui mang theo mấy năm trường để làm mền đắp khi trời lạnh, và nằm ngủ một giấc đâu chừng khoảng chùa công phu, ba bốn giờ sáng nghe có tiếng người nói chuyện lo cụ bị tiệm quán bán cà phê, tui mới thức dậy và tìm nước rửa mặt và kêu một cái xây chừng và ngồi chờ tới giờ tàu Ánh Hồng bắt đầu đi Cần Thơ là mình xuống tàu và lên Cân Thơ của anh chỗ bến Ninh Kiều! Người bán cà phê biết tui là dân làm “lò gạch Cái Côn”, hổng phải là dân cố cựu ở đó và họ hổng có lấy tiền cà phê nhe anh! Thật cảm động!

 

Hồi đó, từ Cái Côn muốn đi Cần Thơ hành khách có thể đi nhiều loại tàu đò như tàu từ Kế Sách (Sóc Trăng) lên hoặc tàu từ Cầu Quang (Trà Vinh) hoặc tàu bên Trà Ôn (Vĩnh Long), nhưng ở ngay chợ Cái Côn bà con ưa đi tàu Ánh Hồng. Tàu này do một chị còn trẻ vừa là chủ vừa là tài công lái, nhậm lẹ và vui vẻ! 

 

Vậy đó, anh Trần Bang Thạch, lai rai với anh về những gì tui biết về Cần Thơ của anh tui chỉ biết được chừng đó thôi với mớ chữ nghèo nàn trong bụng sau sáu bảy chục năm lang bạt bụi mù, nay tui quên nhiều lắm và tui cố nhớ, cố ghi như một người nhà quê già kể chuyện ngày xưa về quê Cần Thơ của anh để anh nghe chơi cho vui vậy thôi anh à; và vì tui hổng phài là nhà-văn-nhà-viết gì nên có gì trúc trắc, không gọn, lòng dòng, dám mong anh bỏ qua cho là tui mừng lắm rồi nhe anh Trần Bang Thạch!

 

Cầu chúc anh chị bình yên, mạnh giỏi và vui vẻ nhen!

 

Thân tình,

 

Hai Trầu

Houston, ngày 15.11.2020

________________________

Bài viết nhân dịp tập truyện song ngữ 

“Mặt Trận Ở Sài Gòn / The Battle of Saigon” tái bản, tháng 10/2020

 

 

NGUYỄN THỊ KHÁNH MINH

NGÔ THẾ VINH, VẾT THƯƠNG CHƯA THỰC SỰ LÀNH*

Khi chỉ mới đọc truyện đầu tiên, truyện mang tên của tựa đề cuốn sách, Mặt Trận Ở Sài Gòn của Ngô Thế Vinh, tôi đã có ước muốn, được hỏi ngay, những anh hùng mà ông đề cập đến trong truyện này, hiện giờ họ ở đâu, họ ra sao, và tôi muốn gửi đến họ, rất muộn, lòng ngưỡng mộ, tri ân và cả nỗi sầu buồn. Và tôi cũng muốn nói ngay với tác giả, khi đọc tới đoạn này, tôi đồng tình với chủ trương của các nhân vật trong truyện:

 

… “Diều Hâu” là biệt danh ông bác sĩ đặt cho tính hiếu chiến của tôi. Xem ra ai cũng có vẻ bực bội về những tin tức xáo trộn ở Sài Gòn. Ông tiếp:
- Tụi sinh viên có đứa nào bất mãn, Diều Hâu cứ việc hốt hết đem lên căn cứ 7 giao cho tôi.
… Cầm lấy ly rượu như muốn bóp vỡ trong tay, thiếu tá Bính giọng gay gắt hơn:
- Cứ để tôi thì khỏi cần tốn phi tiễn với lựu đạn cay. Chỉ cần mấy cỗ đại liên trí mấy đầu phố.
Xem ra chính trị đã làm phân hóa giữa chúng tôi. Rồi ông quay sang hỏi ông Bác sĩ:
- Sao Docteur Zhivago, ông nghĩ sao về tụi sinh viên tối ngày chỉ biết có biểu tình phá rối ấy?
(Mặt Trận Ở Sài Gòn, tr. 27-28)

 

Nếu ngược về năm 1971-1972, đọc đoạn trên thì tôi sẽ rất bất mãn với thái độ của mấy ông quân nhân này. Dạo đó tôi đang là sinh viên năm thứ hai Luật, và là cảm tình viên của phong trào sinh viên phản chiến. Hồi đó chúng tôi rất không ưa, hơn nữa còn gọi là -đám lính cảnh sát đàn áp- biểu tình. Ngày ấy, với bọn chúng tôi, dường như hình ảnh sống có lý tưởng, là phản chiến, là hô hào bãi khóa, xuống đường, chống chế độ, và… nghe nhạc phản chiến. Ai đã dựng nên hình ảnh ấy và đã-thành-công trong việc hướng dẫn cái nhìn của lớp trẻ một thời? Và cứ thế, chỉ biết phản chiến, lên án chiến tranh và gần như coi nhẹ số phận đau đớn, bi thảm của người lính hy sinh mạng sống cho một cuộc chiến đang bị phản đối khắp nơi! Quá tiếc là ngày đó đã không được đọc tác phẩm này, mà nghĩ ra đó là lỗi của thông tin, dân vận của Việt Nam Cộng Hòa đã đánh giá sai tác phẩm này để đưa đến cấm đoán và truy tố tác giả. Thực sự nếu người ta được đọc nó nhiều hơn ngay lúc đó thì đã không có cảnh phân hóa giữa quân dân như vậy, hơn nữa nó sẽ là chiếc cầu nối tình cảm rất hữu hiệu giữa tiền tuyến hậu phương, và như thế sẽ có một khối sức mạnh của sự đồng lòng. Đáng tiếc. Đứng về phía miền Nam thì, nếu hồi đó họ ý thức được như Phúc: Hoàng gốc phản chiến nhưng lại luôn luôn lên án một phía; Phúc không kìm hãm được nói: - Nguyền rủa chiến tranh một bên có giải quyết được gì không hay chỉ làm nản lòng những người đang chiến đấu! (Chiến Trường Tạm Yên Tĩnh, tr. 76). Họ đã không nhận thức đúng để vừa chống mặt phi nhân tàn ác của chiến tranh, đồng thời, có được lập trường sáng tỏ rằng, đó là cuộc chiến bảo vệ cho sự sống còn của miền Nam Việt Nam. Trong khi đó ở miền Bắc thì họ có một khối gắn bó giữa quân dân. Để rồi… miền Nam bị xóa tên, bức tử một đội quân mà nếu không có những người viết như Phan Nhật Nam, Cao Xuân Huy, và nói ở đây, một Ngô Thế Vinh của Mặt Trận Ở Sài Gòn thì có lẽ cái ánh sáng của hy sinh bi thương, hùng tráng kia không soi được đến trái tim mọi người, để biết rằng nếu không có một sự nhìn nhận đúng mức giá trị sự hy sinh của họ thì chúng ta đã nợ họ một sự nhìn lại đúng nghĩa, công bằng, đã nợ họ một sự tri ân, một nghiêng mình rơi lệ. Họ đâu phải là một đội quân vô danh, đâu thể để họ biến mất một cách phi nhân như vậy. Họ là anh hùng. Họ đã chết cho quê hương. Và họ là anh linh. Có thể muộn màng, nhưng không thể để không bao giờ, nói lên… Hẳn khi viết những câu truyện này, Ngô Thế Vinh cũng đang bóc từ từ trong đau đớn từng lớp vết thương tâm thức. 

 

Như con dấu nung
Đóng vào trái tim chàng
Chàng cúi xuống ngực mình
Từ tốn bóc…

(Trần Mộng Tú - Vết Thương Không Chảy Máu Của Chàng, tr. 13)


Hãy cầm cuốn sách ấy lên, lật từng trang, nhẹ như mở vết thương…

Nhìn gương mặt trẻ trung của những người lính ở trang bìa cùng hàng chữ “Tưởng nhớ những đồng đội không bao giờ trở về…” tôi đã những muốn khóc… Tôi thở sâu và biết mình phải lấy can đảm khi nhập vào không gian này của Ngô Thế Vinh, một tác giả mà theo nhận xét của Hoàng Ngọc Nguyên: 

 

… Đối với một tác giả như Ngô Thế Vinh, cuộc sống từ thời thơ ấu đã từng trải từ bắc vô trung và vào nam; trường học đã đi từ Khải Định Huế đến Chu Văn An Sài Gòn, rồi trường Y Khoa; và những năm làm y sĩ tiền tuyến tại những chiến trường xa xôi, heo hút đẫm máu vùng Tam Biên (Việt-Miên-Lào) cho đến ngày mất nước… cuộc đời của ông đã thừa sự phong phú mà không cần vay mượn sự tưởng tượng.

... Ông có đủ sự tự hào và tự tin về mình để nói lên và tìm cách diễn đạt những gì mình quan sát, nhận định, suy tư mà người nghe, người đọc có thể đón nhận. Mặt khác, ông cũng có đủ sự khiêm tốn cần thiết của một người hiểu được sự nhỏ bé, bất lực của con người trước “bể khổ mênh mông”… (Hoàng Ngọc Nguyên - Đi Tìm Sự Yên Tĩnh Với Mặt Trận Ở Sài Gòn, tr. 214-215)

 

Đúng vậy, những điều ông viết đều từ kinh nghiệm thực sống, nên vậy mà những suy tư, nhịp tình cảm của ông đập trên lời văn lôi những con chữ sống dậy lan tỏa vào tâm tình người đọc để cùng theo nó, vui buồn, đau đớn, phẫn nộ. Chữ của Ngô Thế Vinh là chữ sống. Văn Ngô Thế Vinh đầm đẫm cái đẹp bi thương đến não nùng. Đẹp, đến từ cảm xúc trung thực, ở tình tự nhân bản, ở trái tim nhân ái, ở sự hiểu biết sáng suốt, sâu sắc và trầm tĩnh. Tất cả những thứ đó làm nên một văn phong Ngô Thế Vinh đầy hấp lực, hiện thực, quyết liệt mà không thiếu cái nhìn thơ mộng của một tâm hồn nhạy cảm, chính yếu tố này khiến lồng trong tình huống dữ dội đã chừa lại cho người đọc một hơi để thở, phút ngưng lại nhẹ nhàng…

Trong truyện đầu tiên, Mặt Trận Ở Sài Gòn, hiện lên một quá khứ để nhìn lại tất cả, nhìn lại mình, đã như thế nào ở tuổi hai mươi, giai đoạn đẹp nhất của đời người, buồn thay, cái thời mà như Hoàng Ngọc Nguyên nói “chúng ta chỉ có một thời để sống” đã trôi qua với đầy vết tích buồn bã. Ôi các bạn thời hai mươi của tôi, giờ ở những đâu, có đọc Mặt Trận Ở Sài Gòn, để như tôi lúc này, đối diện với quá khứ, âu là một cách giải tỏa nội-kết bao lâu nay…

Trong tản văn Lần Theo Mộng Ảo Mà Về, năm 2013, tôi có viết: “… Một thời sinh viên chúi đầu vào sách vở, cho đến một ngày, đến trường bỗng ngỡ ngàng, bọn con gái chúng tôi hỏi nhau với giọng thảng thốt, sao lớp vắng thế này, bọn con trai đâu cả? Ra năm đó nếu tôi nhớ đúng, 1972, vừa có một luật động viên đôn quân, tôi lúc đó như bị va đầu vào tường, cú đập choáng người. Đã từ bao lâu sinh viên Sài Gòn -như tôi- lúc đó đi bên lề cuộc chiến? Đã bao lâu rồi? Dân Sài Gòn luôn tin rằng Sài Gòn là một ốc đảo mà con sóng của chiến tranh không thể đổ vào bờ. Đã bao nhiêu người tin rằng Sài Gòn là biên giới dừng lại của đường đi súng đạn, chủ nghĩa? Tôi mắc cỡ và cảm thấy như có lỗi... Chúng tôi như những viên gạch lát ngô nghê. Chỉ biết nghêu ngao những điều vô nghĩa trước một thực tế, máu của người dân hai miền đã đổ và thanh niên không ngớt bị tung ra chiến trường.” 

Vậy đó. Lớn lên cùng cuộc chiến, rồi khi qua cơn “thay đổi sơn hà 1975” thì mới vỡ ra được nhiều điều… Hồi đó khi những thành phố, thủ đô Sài Gòn còn yên bình, không ít lớp thị dân sống như thể đô thị này, chiến trường kia là hai thế giới hoàn toàn khác. Rất đúng khi người lính đã có phản ứng:

 

… mà hơn thế nữa, giữa quê hương còn một thứ xã hội trên cao lộng lẫy sáng choang và thản nhiên hạnh phúc. Cái thế giới khác xa họ, chỉ có ngào ngạt hương thơm và những hưởng thụ thừa mứa. Của một đám người kêu gào chiến tranh nhưng lúc nào cũng ở trên và đứng ngoài cuộc chiến ấy.
Rồi những người lính bơ vơ tự hỏi, cầm súng họ bảo vệ cái gì đây? Không lẽ cho một con thuyền xa hoa ngao du trên dòng sông loang máu, nổi trôi đầy những xác chết đồng loại. Cho sự an lạc của một dúm xã hội trên cao, cho những chăm sóc của những con chó con ngựa hơn cả tang thương của kiếp sống? Với những người trẻ tuổi chỉ biết sẵn sàng, lúc nào cũng sẵn sàng chấp nhận hy sinh cả tính mạng của họ để chiến đấu với kẻ thù ngoài chiến trường - tại sao bỗng dưng lại đưa họ về thủ đô. Không lẽ những mộng tưởng binh nghiệp chỉ có thể biến chúng tôi thành những tên gác dan cho bọn nhà giàu, một thứ cảnh sát công lộ chỉ đường trên dòng luân lưu của lịch sử
. (Mặt Trận Ở Sài Gòn, tr. 30)

 

Để hiểu tâm trạng của người lính khi về trấn giữ thủ đô: … rằng chiến trường sắp tới của chúng tôi sẽ chẳng phải là núi rừng Tây nguyên, mà đích thực là một cuộc chiến tranh trong thành phố … Rằng không phải chỉ ở chốn xa xôi biên cương - mà đích thực chiến-trường thách-đố của họ phải là ở Sài Gòn... (Mặt Trận Ở Sài Gòn, tr. 22, tr. 31) 

 

Mà oái oăm, họ đã cảm giác mình như bầy thú hoang lạc về thành phố:  … Không nói ra, ai trong chúng tôi cũng cảm thấy mỏi mệt trước khi dấn thân vào cái chiến trường buồn tênh ấy. Chỉ quen với rừng rú, xuống đó đám lính của tôi sẽ như bầy thú hoang về thành - lạc lõng bơ vơ. (Mặt Trận Ở Sài Gòn, tr. 29)

 

Họ bị tiêu hao bao nhiêu sức mạnh khi bị cô đơn ở hậu phương? Đáng lý nơi đó phải cho họ thêm năng lượng mới đúng! Và mấy ai trong cuộc biểu tình hiểu được thế lưỡng nan của người lính nhận trách nhiệm ổn định an ninh đô thị:

 

… Nếu rõ ràng nhiệm vụ được giao phó là sự có mặt lâu dài ở Sài Gòn, tôi sẽ xin được rời khỏi đơn vị để về một bệnh viện nào đó trên cao nguyên; mặc dù trước đây tôi vẫn tâm niệm rằng đơn vị này là nơi duy nhất tôi đã lựa chọn cho suốt thời gian quân ngũ của mình… Một đằng là những người lính mà ông có bổn phận phải chăm sóc, một đằng là những thanh niên sinh viên đang tham dự cuộc đấu tranh, mà quan điểm của họ được chính ông có phần chấp nhận và chia sẻ. Rõ ràng chúng tôi chỉ là một bánh xe nhỏ trong một guồng máy lớn lao… (Mặt Trận Ở Sài Gòn tr. 29, 28)
 

“Chúng tôi” trong câu nhân vật bác sĩ này nói không chỉ riêng là các anh, mà bao gồm cả chúng tôi, cả con dân nước Việt trong một guồng máy mà ở đó không ngớt tóm lên và quăng thanh niên vào trận địa … để chỉ còn là thụ động chấp nhận - như một định mệnh, đi vào cuộc chém giết vô tri giác… (Nước Mắt Của Đức Phật, tr. 40)

 

Trong bối cảnh thời “Việt Nam hóa chiến tranh”, Mỹ quyết định bỏ rơi đồng minh, chua xót bi phẫn làm sao, khi lính Việt Nam Cộng Hòa đã chiến đấu trong tình huống và tâm trạng, như Tim Page đã nhận định: “… có rất ít sách đề cập tới quan điểm từ miền Nam, từ góc cạnh của những người thất trận nhưng họ đã từng chiến đấu và tin tưởng ở một nền Cộng Hòa miền Nam mới khai sinh. Ngô Thế Vinh qua kinh nghiệm của một y sĩ trong một đơn vị Biệt Cách thiện chiến đã đem tới cho chúng ta những lý giải và soi sáng về những tình huống lưỡng nan ngoài trận địa…” (TIM PAGE, Life – Time, UPI Freelance Reporter, tr. 226-227)

 

… Ý thức sáng suốt rằng khoảnh khắc nữa đây, chúng tôi sắp từ cửa trực thăng nhảy xuống đất Miên, cùng với tin thời sự Tổng thống Mỹ Nixon sắp sang Bắc Kinh rồi Mạc Tư Khoa chuẩn bị cho một giai đoạn giải kết, để rồi chỉ còn sự đối đầu thù nghịch trơ trẽn giữa những người Việt, như một chia lìa lịch sử, một thảm cảnh không thể tránh … một thứ đấu trường mà chỉ có người Việt là những tên giác đấu hung hãn với võ trang là mâu thuẫn ý thức hệ và cả sự u mê… … Không phải chỉ bởi súng đạn mà chính những bế tắc tinh thần đã khiến chúng tôi không còn khả năng suy diễn một điều gì. Đầu óc chỉ còn là một khối chất xám vữa nát, để chỉ còn là thụ động chấp nhận - như một định mệnh, đi vào cuộc chém giết vô tri giác. Còn lại chăng, là thổn thức một trái tim Việt Nam chưa đổi khác, không còn biết hân hoan mà chỉ còn chung một nỗi hận thù đau đớn ... (Nước Mắt Của Đức Phật, tr. 40)
… Những người lính cầm súng ý thức đã phải chiến đấu với lòng tổn thương và hoàn toàn mất tin cậy bên cạnh một đồng minh chỉ biết đặt quyền lợi của họ lên trên cả những mục tiêu tranh đấu tối thượng của dân Việt. Còn riêng đối với Bắc quân, việc phải thí mấy chục ngàn quân để đạt mục tiêu có giá trị chiến lược là điều rất có thể và rất dễ làm. Đó là lý do khiến chúng tôi đã phải vừa cầm súng chiến đấu vừa phải tự ước lượng mức độ của cuộc chiến tranh trong màn hỏa mù để không tự biến thành một đống tro than trong những giờ tàn của cuộc chiến… (Dấu Ngoặc Lịch Sử, tr. 50)

… Từ một quan niệm hết sức đơn giản, phục vụ tổ quốc bằng cái chủ nghĩa kỳ cùng, khắc phục mọi khó khăn gian khổ, tôi đã không thể quan niệm có chính trị trong tập thể quân đội và dứt khoát không muốn dính dáng đến nó. Nhưng dần dà, với dạn dày những chung đụng, tôi thấm thía hiểu rằng không phải chỉ có cầm súng, nhưng chúng tôi còn đang bị xô đẩy vào những hoàn cảnh lắt léo của một thứ chính trị vây bủa. Đã tới lúc người lính phải xác định cái vị trí hoàn cảnh của mình và tự hỏi tại sao lại đang phải chịu rất nhiều hy sinh và tiếp tục cầm súng chiến đấu. (Hòa Bình Không Sớm Hơn, tr. 59)

 

TÍNH NHÂN ÁI, TÌNH NGƯỜI TRONG MẶT TRẬN Ở SÀI GÒN 

 

Sống trực tiếp trong cảnh khốc liệt của chiến trường, chứng kiến những ra đi đau đớn của đồng đội, mà khi nói về phía bên kia không một giọng hằn học, chỉ là tường thuật sự kiện trung thực, với thái độ chấp nhận một cách trầm tĩnh của một người hiểu thấu sự thúc thủ của những con ốc trong một guồng máy, và với cái chết tới bất cứ phút nào. Tôi rất ngưỡng mộ cái tính cách kẻ sĩ, đại trượng phu của ông, mà được vậy nhờ gốc rễ tình người trong ông, xin trích: 

 

… Và chúng tôi đã sẵn sàng ở vị thế tấn công. Sẽ chẳng còn phân biệt nào trên đấu trường. Không có đối thoại giữa súng đạn. Và chỉ còn những người Việt anh dũng - hai phía, tự nguyện đem thân làm đuốc hâm nóng cuộc chiến Đông Dương (Nước Mắt Của Đức Phật - tr. 40). Tôi muốn tô đậm câu Và chỉ còn những người Việt anh dũng - hai phía… Đã có mấy ai viết về chiến tranh mà nhìn nhận thẳng thắn phía đối đầu như thế?

 

… Và năm nay, riêng chiến dịch Đông Xuân, với cao điểm Mùa Mưa - theo phát ngôn viên chánh phủ, đã kết thúc bi thảm cho phía những người chiến sĩ Giải phóng... (Mặt Trận Ở Sài Gòn, tr. 22)

 

Những danh xưng ông dùng chỉ phía bên kia cho ta thấy một cung cách điềm đạm, anh và tôi, mang cùng thân phận, trong một cuộc đối đầu mà ông chua chát - sự đối đầu thù nghịch trơ trẽn giữa những người Việt - (Nước Mắt Của Đức Phật, tr. 40)

Tính nhân ái thể hiện rất rõ trong truyện Hòa Bình Không Sớm Hơn, trải qua một cuộc hành quân sống chết ở rừng già cao nguyên năm 1971, mà nhân vật Hổ Xám vẫn có được cái tình cảm rất hòa bình, rất con người, với tù binh:

 

… Gã tù binh còn rất trẻ, tuy ốm xanh xao nhưng khuôn mặt lanh lợi và ánh mắt thì say đắm. Hắn gợi cho tôi hình ảnh đứa em trai tử trận cũng trên vùng thảo nguyên này cách đây không bao lâu. Lòng tôi như sôi lên một tình cảm rất khó diễn tả: vừa giận dữ vừa xen lẫn thương cảm. Nhưng rồi cái khuôn mặt trẻ thơ ấy đã khiến lòng tôi nguôi ngay lại … … Không phải chỉ vì nhu cầu nguồn tin tức cần khai thác, mà thật giản dị tôi tự thấy có bổn phận phải cứu sống nó. Ánh mắt nó nhìn tôi tin cậy … Tôi thì vẫn thành thật tin tưởng rằng hắn sẽ không sao cho tới khi cùng Đại Đội về đến căn cứ. Vả lại trong thâm tâm tôi muốn được có mặt, tham dự trong cách đối xử mà tôi nghĩ sẽ khác hơn riêng đối với hắn. (Hòa Bình Không Sớm Hơn, tr. 60, 61)

 … khi nghe tiếng vỗ cánh của đoàn trực thăng sà trên bãi thì vẻ mặt hắn biến sắc và để lộ một vẻ sợ hãi khủng khiếp … hắn chỉ kịp quơ tay về phía trước níu lấy tôi kêu thất thanh một tiếng “Anh” rồi ngã rũ xuống và chết tốt … Tôi đưa tay vuốt mắt hắn, mi mắt còn ấm nóng khép lại dễ dàng… Thôi ngủ đi! Tôi nhủ thầm dịu dàng và chưa bao giờ lại thấy gần gũi thân thuộc với cái chết đến như thế.  (Hòa Bình Không Sớm Hơn, tr. 62, 63)

 

Ở chiến trường có những cái chết khó có thể hình dung nổi, như người tù binh trên, chết chỉ vì nghe tiếng máy bay sà xuống, như dùng xác chết thành một thứ bẫy để giết thêm người, và chết oan khốc Xác của những người bạn bị oanh kích lầm với thứ hỏa tiễn mũi tên xóa tan cả mặt mũi, và…

Xin đọc đoạn văn cảm động sau, để ngậm ngùi thương cảm cho tình tự mong manh của nhân vật Hổ Xám, và cũng gây cho ta được niềm tin vào sự tồn tại của tính nhân bản - Cổ họng như đau thắt, tâm hồn tê mỏi nhưng tôi chẳng thể nào có được một giọt nước mắt để khóc. Trong thâm tâm tôi rất muốn được khóc - (Hòa Bình Không Sớm Hơn, tr. 64) 

Đó là gì nếu không phải là Tình Người? 

Đây cũng là một đoạn văn tả cảnh rất hay khiến tôi thấy được cái hoang liêu đìu hiu mấy gò, gió ù ù thổi… (Chinh Phụ Ngâm) của bãi chiến trường, càng thấm cái “tê dại, vô cảm” của nhân vật khi nhìn xuống xác tù binh cô đơn trên bãi.

 

… Lúc này, riêng tôi thấy là nhẫn tâm khi phải bỏ xác hắn tại bãi. Khi tôi là người cuối cùng bước lên trực thăng, con tàu vội vã bốc vọt lên trên một nền trời ủ dột đang vần vũ kéo tới những đám mây bão. Nhìn xuống bãi, gã tù binh vẫn bất động nằm yên như im ngủ, phủ trên mình thay cho lá cờ chỉ là một chiếc võng xanh xao. Cũng đành để hắn ở lại với rừng núi quạnh hiu, và riêng mang theo trong tôi cái tình cảm day dứt khó tả. Phải chi còn đủ thời gian để đào xong một chiếc huyệt cho dù chỉ đủ vùi nông thân xác hắn.
Gió lộng từ những cánh quạt trực thăng, tạt những cụm mây đầy hơi ẩm vào da mặt tôi buốt rát. Da thịt tê dại, cả tâm hồn cũng tê dại, gần như vô cảm, tôi không còn suy nghĩ hay phản ứng được gì … Trung sĩ cận vệ thân tín lên tiếng nhắc tôi và cố nói to. - Em thấy là Hổ Xám quên. “Không, lần này không phải là tao quên.” Nó nhắc tôi việc gài một trái lựu đạn rút kíp dưới xác người tù binh mới chết phải bỏ lại dưới bãi. Hơn một lần địch đã hành động như vậy và gây cho chúng tôi tổn thất. Nhưng ở lần này thì tôi lại nghĩ rằng cho dù có làm thêm một cạm bẫy xác nữa, gây thêm được một vài chết chóc, không vì thế mà ngày mai Hòa Bình sẽ trở lại sớm hơn.
(Hòa Bình Không Sớm Hơn, tr. 64, 65)
  

NHỮNG NHỊP DỪNG THƠ MỘNG TRONG KHÓI LỬA

 

Bên cạnh những đau thương cảm động của tình đồng đội, không khí ngộp thở của chiến trường, như tôi đã nói ở trên, có những đoạn văn tả cảnh với những ngôn từ, hình ảnh buồn diễm lệ, khiến nó như một nhịp dừng cho người đọc quên lãng căng thẳng. Trong người lính Ngô Thế Vinh là một người thơ, nhạy cảm và chan chứa tình người. Người lính ấy trên đường hành quân ghi nhận lại những suy tư, những cảm xúc trước cảnh vật với cái nhìn tinh tế, những dòng văn như khúc đàn bi ai được gẩy lên bởi sự đồng điệu giữa tâm hồn người và cảnh sắc. 

 

… cứ vào đầu mùa mưa, chúng tôi cùng những đơn vị bạn từ vùng đồng bằng châu thổ, ùn ùn kéo lên cao nguyên để tao ngộ với những đại đơn vị địch quân - để tranh nhau một vài ngọn đồi trơ trụi hay giành giật một khúc lộ trống… (Mặt Trận Ở Sài Gòn, tr. 22) 

 

Bạn cảm xúc sao với chữ “tao ngộ” dùng chỉ sự chạm trán một trận chiến? Cách dùng chữ của ông nhà binh Ngô Thế Vinh có dụng ý hay không, để giảm bớt nguy cơ nhồi máu cơ tim cho người đọc khi kéo họ vào không khí khiếp đảm của chiến trường? Những hình ảnh tỷ dụ, những động từ được dùng một cách rất tượng hình, đẹp, lạ, và chính xác đến ngỡ ngàng làm tôi muốn trào nước mắt, tôi biết nhờ hồn thơ bi cảm đã giữ cho ông còn được năng lượng để tiếp xúc, để rung động với cảnh vật thiên nhiên trong tình huống sinh tử:

 

… Vào buổi sáng tinh sương ngày N, khi sương mù còn bao phủ mờ mịt núi rừng quanh ngọn đồi 1003, từ trên cao trên cả những đám mây, trong sự hồi hộp của mọi người, chiếc trực thăng cán gáo như một chiếc lá, đã bất chợt rơi nhẹ nhàng xuống căn cứ an toàn… (Mặt Trận Ở Sài Gòn, tr. 25)

... Xác của người phi công được trực thăng móc ở rừng ra, héo rũ trên dây treo như cách người ta câu về những con thú. (Mặt Trận Ở Sài Gòn, tr. 27)

… Tách khỏi đội hình, giảm dần cao độ, chiếc tàu thả chếnh choáng trên những ngọn cây... (Nước Mắt Của Đức Phật- tr. 40) 

… Bầu trời cực trong xanh và không mây. Không có dấu hiệu của một thời tiết sắp xấu. Những ô ruộng loang loáng nước. Ngọn núi Bà Đen ở phía xa đàng sau - hiện diện như một lầm lỡ của hóa công, một dị dạng của địa hình châu thổ - trơ trụi nhô lên từ mặt phẳng xanh đồng bằng. Ngọn núi chứa đựng nhiều kỳ bí và huyền thoại. Nơi của muỗi độc, sốt rét rụng tóc và của những trận đánh kinh hoàng. Nơi còn vùi xác của những đồng bạn ở cuộc hành quân cách đây bốn năm trước. Những đêm trăng rừng còn như in trong óc, trăng ở Bà Đen cũng mang bộ mặt xanh xao như bị sốt rét ngã nước. (Nước Mắt Của Đức Phật - tr. 36-37) 

… Nhớ lại hôm gặp Tom trên cánh đồng trải dài đến tận chân núi đá; từng đàn dê lổ loang trên đó, một chú dê đực cắt hình trên nền trời từ một mỏm đá thật cao. Biển xanh phẳng lặng phía xa, rải rác những cánh quạt gió chuyển động chậm, kéo nước biển lên những ruộng muối đọng trắng ... Từng cơn gió nồng thổi trườn trên những thửa đất bốc hơi co rút. Cảnh đồng quê sau lũ lụt lại mang vẻ khô héo xác xơ như mùa hạn. (Chiến trường Tạm Yên Tĩnh, tr. 71, tr.76)

… từ đồng ruộng xanh dưới kia đã nổi bật chiếc mái cong, kiến trúc đặc biệt của những ngôi chùa tháp. Làng xã không mấy khác làng xã của Việt Nam nhưng khang trang hơn. Những mái nhà ngói đỏ san sát, xen lẫn những mái tranh xám. Ngọn khói lam của buổi chiều, lũ trẻ nhỏ và đàn trâu bò về chuồng. Khung cảnh nên thơ của một khoảnh đất Á châu còn chút thanh bình kia liệu sẽ còn kéo dài thêm được bao lâu nữa hay thực sự đã qua rồi…. Đàng xa về phía nam, nắng chiều rắc vàng trên dòng Cửu long bao la đầy cá và phù sa. Chập chùng là những cánh rừng cao su tiếp nối với rừng già. Cũng đã hiện ra những ngôi làng trơ trụi bỏ hoang với từng dãy hố bom B52 cày nát. Không còn dấu hiệu người và sinh vật ở dưới đó. Lại như một Dakto, Khe Sanh hay Sơn Mỹ của Việt Nam? Bom đạn giữa những người Việt đã xô dạt những người Khmer kia đi về đâu? Cả xứ Chùa Tháp này đi về đâu? Trong cái mênh mang của cơn say lịch sử, có ai nghĩ được rằng cuộc chiến đang diễn ra giữa những người Việt lại có thể xóa nhòa một nền văn minh Angkor cổ kính. Và trong cái hoang vu lặng lẽ của buổi chiều tàn, giữa ngôi làng đổ nát kia, tôi tưởng tượng rằng vẫn còn một người đàn bà không rõ mặt mũi vẫn ẩn nhẫn ngồi ôm đứa con ru cho bú. Phải chăng vẫn còn hình ảnh an ủi tuyệt đẹp và ngàn năm của ý nghĩa tồn sinh nhân loại… (Nước Mắt Của Đức Phật - tr. 39) 

 

Trên là đoạn tả cảnh cùng suy tư không phải của một người đang ngồi trên máy bay du lịch, mà là suy tư của một người lính sắp được thả vào chiến trường - Ở đó con người chẳng thể định đoạt được gì ngoài sự chấp nhận rủi may như một định mệnh - Cái đẹp ở đây là cái đẹp của bi hùng, vừa sầu buồn vừa cao cả - một thứ tâm hồn Ngô Thế Vinh-, như trong đoạn kết chuyện Nước Mắt Của Đức Phật:

 

… Và cũng không xa Cục R bao nhiêu về hướng Đông Bắc, sau bảy ngày thất lạc trong hoang vu của rừng già, có hai bóng ma lần mò được vào một ngôi làng đổ nát, người được cõng trên vai gần như đã chết. Và suốt trong đêm hôm đó tại một ngôi chùa Miên bỏ hoang, có một người lính Công giáo Việt Nam kiệt quệ và đau khổ, quỳ gối bên xác một đồng bạn, mắt đẫm lệ hướng lên vẻ mặt an tĩnh của Đức Phật thành tâm cầu nguyện cho linh hồn người bạn xấu số sớm được giải thoát. Và bên ngoài trời cơn mưa bão vẫn tràn trề. Gió lung lay cả đêm dài vô minh đang bao trùm khắp Á châu lục địa. (Nước Mắt Của Đức Phật, tr. 42-43)

 

Ở đây, có vẻ mặt an tĩnh của Đức Phật và mắt đẫm lệ của người lính đang cầu nguyện cho linh hồn người bạn chết trên vai. Bạn ơi, có phải Nước Mắt Của Đức Phật đang thị hiện qua nước mắt đang rơi trên mặt người lính sống sót kia? Nghĩ thế tôi càng ngưỡng mộ tác giả khi lấy tựa đề như thế để rồi kết một đoạn như khai-thị cái niềm tin sâu sắc, Phật tánh trong mỗi con người, người lính ấy trong giây phút vô cùng đau khổ đã nhỏ những hạt nước mắt Phật, đã là một vị Phật. Đó là một thông điệp của tác giả.

 

VẾT THƯƠNG CHƯA LÀNH

 

Nói đến nỗi đau, vết thương tâm, ở trong tập truyện này ta thấy những hình ảnh như, 

… Từ sáu năm rồi mà vẫn tưởng như mới hôm qua với cơn đau lột da ấy. (Giấc Mơ Kim Đồng, tr. 70)
… Cũng phải kể tới vết thương khác không chảy máu Bloodless Wounds PTSD - hội chứng tâm thần sau chấn thương ở những năm sau khi anh đã trở lại nước Mỹ… (In Retrospect - Nhìn Lại, tr. 104)

… Những vết thương chưa bao giờ thực sự lành (In Retrospect - Nhìn Lại, tr. 109) nơi những người sống sót. 

… Phan cũng tự hỏi đến bao giờ, cả chính chàng nữa mới thực sự thoát ra khỏi cuộc chiến tranh đã vào quá khứ từ 17 năm rồi. (Một Bức Tường Khác, tr. 101)

… cùng với tin thời sự Tổng thống Mỹ Nixon sắp sang Bắc Kinh rồi Mạc Tư Khoa chuẩn bị cho một giai đoạn giải kết, để rồi chỉ còn sự đối đầu thù nghịch trơ trẽn giữa những người Việt, như một chia lìa lịch sử, một thảm cảnh không thể tránh… (Nước Mắt Của Đức Phật, tr. 40)

Một thảm cảnh như vết sẹo lồi nhô hoài trong tâm thức, mỗi khi cào lên lại thốn đau. Không chỉ người Việt, đồng minh Mỹ ngoài hơn năm chục ngàn lính Mỹ bỏ thân nơi chiến trường Việt Nam, số thoát được khỏi đêm dài vô minh (NTV) ấy trở về thì mang đầy thương tích về thể xác lẫn tâm hồn, di chứng của chiến tranh khiến họ không thể bình thường hội nhập trở lại trên chính quê nhà của họ.

… Jim thường xuyên phải sống trong những cơn ác mộng và hồi tưởng buồn bã về các kinh nghiệm chiến trận đau thương ở Việt Nam. Hắn cảm thấy phẫn nộ vì sự thờ ơ và cả thiếu kính trọng của xã hội đối với hắn và các bạn đồng đội, lẽ ra khi trở về chúng tôi phải được đối xử như những anh hùng... (Một Bức Tường Khác, tr. 99)

… Đã không thiếu những cuộc duyệt binh với rừng cờ sao và sọc và cả rực rỡ những dải băng vàng để chào mừng những người lính như những anh hùng trở về sau cuộc chiến tranh chớp nhoáng mấy tuần ở Vùng Vịnh Desert Storm và rồi cả với những cuộc chiến tranh khác; nhưng hình như đã không có một đối xử như vậy đối với những người cựu chiến binh trở về từ Việt Nam… Họ, đa số là những cựu chiến binh Việt Nam bị lãng quên; phải chăng chỉ vì họ bước ra từ một trận chiến đã không có được chiến thắng vinh quang hay nói trắng ra là trận chiến mà lần đầu tiên nước Mỹ đã bị thua… Họ đã hy sinh một phần đời tuổi trẻ của họ, chịu đựng cả những mất mát - để phục vụ cho một xứ sở có tiếng là giàu có nhất thế giới, để rồi khi giải ngũ, một số không ít phải sống như những người vô gia cư trên các đường phố, chịu đói khát thiếu thốn trong tình cảnh cô đơn và tuyệt vọng… họ vẫn mãi chưa được trở về nhà… (In Retrospect - Nhìn Lại, tr. 105, 106)

Họ vẫn mãi chưa được trở về nhà… Lưu vong trên đất mẹ của mình, và như nhân vật Phan, sau 17 năm chiến tranh vẫn không rời để anh mãi lưu vong trên tâm thức của mình. Một thứ hội chứng tâm thần - Vết thương không chảy máu. Ôi cái gọi là chiến tranh Việt Nam nơi hình ảnh anh lính Gumber treo cổ lơ lửng trên thanh xà bến xe bus, linh hồn mãn nguyện: No more Vietnam, Vietnam never again. Cuộc chiến Việt Nam và cả nỗi đau của những vết thương thực sự chấm dứt từ đây. Việt Nam, nay thì anh đã thực sự giã từ… Và anh Gumber vẫn chưa phải là người lính Mỹ cuối cùng chết trong trận chiến tranh Việt Nam (In Retrospect - Nhìn Lại, tr. 110, 111), rồi thì, người y tá cựu binh, không bị thương ở mặt trận mà vì thứ mìn muỗi chống cá nhân, chẳng biết ai đã ném vô và nằm im trong đám ruộng nhà mình tự bao giờ… Hòa bình rồi hạnh phúc tính là dài lâu nhưng rồi ra cũng chỉ là tính riêng cho mỗi từng ngày… (Người Y Tá Cũ, tr. 122)

Tôi cũng ngậm ngùi tự hỏi như tác giả, bức tường nào, trang sử nào để ghi thêm những cái chết, và bị thương của chiến tranh sau chiến tranh ấy?

KHI NHỮNG NGƯỜI SỐNG QUÊN NGƯỜI CHẾT, THÌ NGƯỜI CHẾT ẤY CHẾT ĐI LẦN THỨ HAI… (Sẽ Rực Rỡ Mùa Thu Này, tr.121)

 

Tôi hình dung mình đang đứng nhìn lá cờ bay phất phới dưới trời xanh trong một buổi vinh danh có oan hồn tử sĩ trở về từ bụi đất, ngọn đồi, sông suối, khu rừng máu đạn khi xưa, và niềm vui của đoàn tụ siêu hình ấy tháo gỡ cho tôi cái mặc cảm u sầu bao lâu nay.

 

… Không kể những người đã chết, chỉ riêng trong đám sống sót trở về - có thể nói họ xứng đáng mang danh anh hùng bằng chính những chiến tích lẫy lừng đi vào huyền thoại. (Mặt Trận Ở Sài Gòn, tr. 24)

… Liệu phải cần bao nhiêu trang sách để nhắc tới những chiến tích lẫy lừng của các anh hùng vô danh này. Ngay từ phút vừa đặt chân xuống đất, hoạt động suốt 96 giờ của toán 81 là một thiên anh hùng ca rực rỡ. (Nước Mắt Của Đức Phật, tr. 41)

 … Đã bao năm rồi, biết bao nhiêu nước chảy qua cầu, có quá nhiều điều để không thể nào quên. Ngay trong tù đày, những hình ảnh hồi tưởng chưa bao giờ là cuộc duyệt binh vĩ đại đầy màu sắc và ồn ào của ngày Quân lực; mà luôn luôn là những bước chân diễn hành thầm lặng của một tiểu đội lính vô danh ở ngày giờ cuối cùng của một thành phố trước khi mất tên Sài Gòn. Người chuẩn úy ấy bây giờ ở đâu, trong một trại cải tạo nào, còn sống hay đã chết, số phận những người lính can đảm kỷ luật tới giờ phút chót ấy bây giờ ra sao, cũng không ai được biết. Liệu có thêm được một dòng chữ nào giữa những trang quân sử viết dở dang để nói về cuộc diễn binh kỳ lạ cấp tiểu đội mang biểu tượng hào hùng của quân lực ở ngày giờ cuối cùng trước khi cả toàn quân tan hàng rã ngũ... (Cựu Kim Sơn Chưa Hề Giã Biệt, tr. 91)

 

Câu hỏi rất xót, có cái gì như mệt mỏi thất vọng… Trang sử trung thực nào để anh linh của họ được an nghỉ dưới ánh sáng của tri ân, tưởng nhớ, chứ không chỉ là nghĩa trang bị bỏ phế đìu hiu, lá khô xao xác trên những tấm bia vỡ và những bình nhang trống. Dù sao, ít ra giờ chúng ta đã có những dòng chữ này của Ngô Thế Vinh, như một sự tưởng niệm công bằng…

… Jim cũng như đa số những người cựu chiến binh Việt Nam được gọi là còn sống, nhưng họ giống như những mảnh bom đạn vương vãi, thực sự chưa thoát ra khỏi trận địa Việt Nam. Liệu có còn thêm một bức tường thương khóc nào khác ở Hoa Thịnh Đốn đủ dài để có thể ghi tên và vinh danh họ. (Một Bức Tường Khác, tr. 101) 

 

Một bức tường khác, những trang quân sử còn thiếu sót… Hẳn còn rất lâu, hoặc chẳng bao giờ, những ước muốn này vẫn chỉ là những ước mơ ngậm ngùi… Nhưng ước mơ đó là một thông điệp đầy tình người của tác giả.

 

NGÔ THẾ VINH, MỘT CHIẾN SĨ XÃ HỘI

 

Trong truyện Mặt Trận Ở Sài Gòn, chứng kiến cảnh thối nát bất công của xã hội, tác giả nêu lên một ưu tư:

 

… Rằng ngoài chiến trường súng đạn quen thuộc, họ còn phải đương đầu với một trận tuyến khác mỏi mệt hơn - đó là cảnh thối nát bất công của xã hội mà dân tộc đang phải hứng chịu trong tối tăm tủi nhục... Từ ba mươi năm nay, đã và đang có quá nhiều anh-hùng-của-chiến-tranh trong khi lại quá thiếu vắng những chiến sĩ xã hội... (Mặt Trận Ở Sài Gòn, tr. 31)

 

Ngô Thế Vinh, một chiến sĩ xông pha chiến trường, một bác sĩ, một nhà văn, một nhà báo, với tất cả tư cách đó cùng những tác phẩm của ông, biết được những việc ông đã làm thì Ngô Thế Vinh đúng là một chiến sĩ xã hội, ở tư cách này ông cũng xứng đáng là một anh hùng. Nếu không thực sự can đảm, nếu không đầy nhiệt huyết với lý tưởng vì người thì ông đã không xông vào những mặt trận xã hội, như làm báo Tình Thương từ thời còn sinh viên y khoa quảng bá y đức, tình người. Và một thời gian dài đập nhịp tim của mình trên bờ sinh tử của lằn tên mũi đạn, để có những kinh nghiệm thực tế viết nên tác phẩm như Mặt Trận Ở Sài Gòn. Cảm ơn định mệnh để ông sống sót qua cuộc chiến. Để sau đó nghiên cứu về nguy cơ cái chết của một dòng sông, ông đã đi tới ngọn nguồn sông Cửu Long với bao bất trắc để cống hiến một loạt sách rất giá trị về Cửu Long. Với những đề tài gắn bó với con người cùng sự cảnh báo mọi thứ hiểm họa hủy diệt hầu góp phần vào việc bảo vệ môi trường, cùng xây dựng một xã hội tốt đẹp hơn, công bằng hơn, tình người hơn. Đó chẳng phải là trách nhiệm của một chiến sĩ xã hội hay sao? Năng lực của ông lấy từ đâu mà có thể làm việc được như thế? Có lẽ nhờ tất cả những chủng tử này, nhiệt huyết, đam mê, nhân ái, cùng những giấc mơ thao thức không nguôi. Và ông đã cống hiến đời mình cho lý tưởng đó một cách hữu hiệu và cảm động.

 

… Những câu chuyện cách đây cả 50 năm ở một nơi nay quá xa xôi bỗng dưng sống lại một cách da diết trong trí nhớ, trong con tim của mỗi chúng ta khi có “Mặt Trận Ở Sài Gòn” đặt đầu bàn ngủ (không phải gối đầu giường). (Hoàng Ngọc Nguyên, Đi Tìm Sự Yên Tĩnh Với “Mặt Trận Ở Sài Gòn”, tr. 214)

 

Chắc là như vậy vì ngay lúc này sau khi đọc hết rồi tôi vẫn cảm thấy chưa thể rời được nó. Phải để ở cái bàn nhỏ có ngọn đèn vàng ấm kia, để nhìn, nhìn mỗi ngày vào vết thương chưa thực sự lành ấy. Nhìn, cho đến khi nào chuyển hóa được vết thương này. Và chìa khóa của chuyển hóa phải chăng là thấy được ít nhiều hiện thực của những giấc mơ -ít nhất cũng là của Ngô Thế Vinh - của những người đồng một quá khứ thương tâm và đau đáu thiết tha những giấc mơ đẹp đẽ, một trong những giấc mơ ấy là một mái ấm của Trăm Họ Trăm Con, nơi ấy sưu tập và lưu trữ những giá trị của quá khứ, nơi hội tụ diễn ra sức sống sinh động của hiện tại, và là một điểm tựa thách đố hướng về tương lai, chốn hành hương cho mỗi người Việt Nam đang sống bất cứ ở đâu trong lòng của thế giới.

Và … Hiện thực của giấc mơ nào đi nữa không phải chỉ do hùng tâm của một người mà là ý chí của cả một tập thể cùng nhìn về một hướng, cùng trông đợi và ước ao niềm vui của sự thành tựu... (Giấc Mộng Con Năm 2000, tr. 152)

 

Xin mượn lời của Tim Page để kết bài viết:

Đọc Mặt Trận Ở Sài Gòn để cảm nhận lắng nghe nỗi bâng khuâng của một con người vẫn gắn bó với những cội rễ tinh thần của một quê hương Việt Nam không thể tách rời. (TIM PAGE, Life – Time, UPI Freelance Reporter)

 

Santa Ana, October 6, 2020

Ntkm


 

* chữ Ngô Thế Vinh trong truyện Nhìn Lại.

 

** Tập truyện song ngữ “Mặt Trận Ở Sài Gòn / The Battle of Saigon”  đã được phát hành và bán trên trang mạng Amazon từ ngày 16/10/2020.

 


Nguyễn Thị Khánh Minh sinh tại Hà Nội, quê ở Nha Trang. Tốt nghiệp Cử nhân Luật tháng 12-1974, khóa cuối cùng của Luật Khoa Đại Học Đường Sài Gòn. Đã xuất bản nhiều tập thơ văn tại Việt Nam và Hoa Kỳ từ năm 1991- 2020. Hiện sống tại Santa Ana, California, Hoa Kỳ.

Cám ơn cô Nguyệt Mai (https://tranthinguyetmai.wordpress.com) đã ưu ái giới thiệu bài viết trên choTrang Nhà www.ptgdtdusa.com

TBT

_____________________________

THƠ THỜI CHIẾN Trần Hoài Thư

LÍNH TIỀN PHƯƠNG

Khi ra trận ta là thằng chết trước

Tổ quốc ghi ơn, lãnh tụ đẹp lòng

Khi tìm vợ, ta là thằng chạy chót

Nên khó lòng ôm vợ đẹp trong chăn

LÍNH QUA SÔNG

Mùa mưa lính mới hay đào ngũ

Lính cũ càng thưa thớt chợ chiều

Chuẩn úy ra trường chơi trung đội

Lèo tèo một đám lính đìu hiu

Phòng tuyến xuôi xuôi đồi Tháp Bạc

Đàn gà lục tục đến bờ sông

Giòng sông nước lớn trôi chầm chậm

Ráng đỏ bừng lên cả một giòng

Đưa súng lên trời, đầu ba lô

Giơ toàn ngực lép cười hô hô

Bỗng nhiên hồn trẻ như mười tuổi

Lính qua sông, rộn rã hai bờ...

Trần Hoài Thư

Trích NGÀY VÀNG, Thơ, Thư Ấn Quán 2002

________________________

Cao Vị Khanh, Đoàn Xuân Thu, Trần Bang Thạch, Võ Thị Bạch Nữ, Đỗ Chiêu Đức, Nguyên Nhung, Ngô Thị Trường Xuân, Anh Tú, Huyền Vân Thanh, Mailoc, Phan Thượng Hải, Giáng Xưa, Trầm Vân, Hớn Chiêu Tuyết Mai, Trương Nhị Kiều...(còn tiếp)

 

CAO VỊ KHANH: 

 

Tháng tư

 

.................................

Tháng tư như một vết sẹo gần

Tưởng quên rồi lại bồi hồi nhớ

Khi máu trong tim vụt trở trăn

 

Tháng tư ồ tháng tư xuân

Đâu đây lấp ló góc mộ phần

Nửa chìm lặng lẽ, nửa trồi hận

Ôi tháng tư gian dối vô nhân

 

Tháng tư ôi tháng tư thầm

Rền rền như từng nốt nhạc câm

Réo kêu đục đẽo dao tùng xẻo

Ôi tháng tư bạc bẽo sát nhân

 

Tháng tư, ờ tháng tư đen

Nám da nắng lửa tù thay ngựa

Kéo lết căn phần tội-tổ-tông

 

Cao vị khanh

Mời nghe Duy Trác đọc cvk:

 

https://1drv.ms/u/s!AivKU8Cy4J3AuSJOdljSD9vKFq16

Lệ Sử

 

Người thức từng đêm theo vận nước

Lệ sông Gianh thấm ướt ngàn sao

Tội những người đi xanh tóc mượt

Kéo về chết thảm trắng chân hào

 

Em có nghe rền theo thiên cổ

Lời nguyền rủa động suốt thiên thu

Em có nghe rì rào sóng vổ

Nợ tiền khiên kêu réo oán thù

(Xin bấm vào đây để đọc trọn bài)

 

CVK

____________________________

đoàn xuân thu:

Ngả ba sông.

Đất lành, quê, giờ là đất dữ,
cải tạo xong, an phận không xong,
đành phải chịu, nén lòng vượt biển,
đưa con buồn, vàm, ngả ba sông.

Cơm ơn huệ : tép rang mằn mặn,
canh mồng tơi, con nhớ quê nhà,
rưng rưng Má, nhai cơm, nhai sạn,
đưa con vào chổ chết đêm nay?!

Vào chổ chết tìm ra chổ sống,
tử biệt buồn hay nỗi sanh ly?
thuyền ra biển, trùng trùng biển sóng,
vỗ ngàn sao – dõi mắt con đi.

Đêm ác mộng nhớ ngày năm cũ,
đưa con buồn, vàm, ngả ba sông,
xót Má xa con, trời vần vũ,
đêm mịt mùng… Má sợ bão giông.

Con chạm đảo, Má mừng hết biết;
công an hầm hè, hỏi: “nó đâu?”
“nó vượt biên rồi, giờ đở khổ,
còn thân già …nhốt…cũng chẳng sao”.
***
Đất quê người biết thân, biết phận,
công danh gì ? con nhận cu li,
cơm hộp xách đi, chiều tắt nắng,
xe lái về trời rạng bình minh.

Tiền con gởi Má may áo mới,
giữ dùm con tấm áo năm nào,
áo vá vai, nhớ ngày nhịn đói,
cắt rừng thăm, nuôi con… tù đày.

Chiều cuối năm nhớ nhà, nhớ Tết,
tép rang mằn mặn, canh mồng tơi,
năm tận, tháng cùng, ngày sắp hết,
lệ chan cơm buồn lắm Má ơi!

Đoàn Xuân Thu.
Melbourne. 

_____________________________

TRẦN BANG THẠCH

Khởi đi từ cái ngày 30/4 ấy....

 

Người ngậm tăm suốt ngày

 

Không biết có nên gọi ông Lê là người ngậm tăm suốt ngày hay suốt đời. Thật sự thì quỹ thời gian của ông Lê gần cạn, cho nên ông có ngậm tăm suốt ngày, suốt tháng hay suốt đời không phải là điều cần quan tâm. Cái mà có người muốn biết là tại sao lúc nào gặp ông Lê là thấy cây tăm xĩa răng trên miệng, như là vật bất ly thân. Ăn xong buổi trưa, ông phóng cây tăm nằm giữa đôi môi thì có thể hiểu được; chớ cái việc sáng sớm uống xong một tách cà phê rồi điểm tâm bằng một que tăm thì ít thấy trên đời. Có người còn tỏ vẽ thắc mắc là sao ít nghe ông Lê nói chuyện. Câu hỏi lảng xẹt: Đã thấy cây tăm lúc nào cũng nằm chình ình giữa hai hàm răng thì bắt ông phải nói bằng hai cái lổ mũi à?

(Xin bấm vào đây để đọc trọn bài)

Nặng oằn vai gánh

 

Tôi nhìn hoài những cơn mưa khuya

Em cô phụ nhọc nhằn quá đỗi

tần tão nuôi con, nuôi chồng tù tội

đâu sá gì vóc hạc, hình mai

 

Tôi mười năm rồi gánh nước ở đây

Vai không nặng mà tim chừng đã nặng

Gánh hận bại binh, gánh ngàn cay đắng

Gánh nhớ, gánh thương nghĩa vợ tình chồng                              Khung thơ: Tố Lang

 

Em một thân cò vất vả ven sông

Tôi nát thân tù nơi đèo heo hút gió

Khi nhớ nhau ta có vầng trăng cổ độ

để nghe lòng ấm chút hơi quen

 

Ta tìm nhau giữa lối nhớ trong tim

Ta nói với nhau những lời trong mộng

Hơi thở ta quyện nhau giữa đất trời cao rộng

Thù hận nào tạo được cách chia!

 

Em gánh gồng vạn dặm đường khuya

Chân phải vững để đá mòn dưới gót

Tôi cắn chặt răng những đêm dài lạnh buốt

để ngày mai còn đủ sức dựng cờ.

 

tbt

 

VÕ THỊ BẠCH NỮ

Bây giờ mà kể chuyện vượt biển thì có lẽ hơi lỗi thời. Mỗi người trong chúng ta có kinh nghiệm riêng về chuyến hải trình của mình. Đây là chuyến hải trình của riêng cá nhân tôi đã trải qua xin được kể lại cho các bạn chuyến đi thay đổi vận mệnh đời mình. Thân ái.

Started 16-Feb-2020

Những Ngày Dài Nhất

 

Sự mong chờ

Sau năm 1976, tôi được học nội trú ở dự bị đại học. Không hiểu sao tôi không chọn Sư Phạm ngoại ngữ khi tôi đủ điểm đậu vô phân khoa này. Định mệnh dung rủi tôi chọn ngành Gây Mê Hồi Sức chỉ vì cái tên. Nhờ vậy tôi được biết người bạn tốt Bạch Loan. Bạch Loan và tôi học chung khoá Gây Mê Hồi Sức, sau vài tháng học chung chúng tôi trở thành bạn. Loan tính tình tốt biết cảm thông, thương người và có tính khôi hài. Đất Sài Gòn, Gia Định, Chợ Lớn chúng tôi đi cùng khắp, chúng tôi đi ăn hàng khắp nơi đặc biệt là quận năm  có nhiều khu vực ăn uống.

Năm 1975, Loan học xong lớp mười một chương trình Pháp ở Regina Pacis và có tú tài Việt năm 1976. Năm 1978, gia đình Loan đang tìm chỗ cho Loan đi vượt biên, Loan hỏi tôi có muốn đi cùng. Việc này ngoài dự định của tôi vì tôi không đủ vàng để thực hiện. Tình cờ Tết năm đó tôi về Cần Thơ, một người bạn thuở nhỏ của tôi có trong tổ chức vượt biên ở Cần thơ và tôi giới thiệu Loan như một người khách để được đi ké. Tôi trả lệ phí bằng một sợi chuyền vàng năm chỉ, cái đồng hồ Thụy sĩ Titoni và cái nhẫn xoàn ba ly của Bà nội tôi sắm cho tôi khi tôi mười sáu tuổi. Đó là tất cả kỹ niệm của bà Nội tôi để lại cho tôi. Trong khi Loan phải trả ba cây vàng. Việc học chúng tôi lúc ấy thật lơ là vì nghĩ rằng mình sẽ ra đi. Hai đứa mơ ước và dự định mình sẽ học gì và làm gì khi được đến nước ngoài. Giấc mơ Loan với tôi không thực hiện được khi biết tôi bị bỏ lại. Có thể chủ tàu muốn nhờ tôi ở lại móc nối thêm người cho ông ấy rồi sẽ đi chuyến sau cùng vì tôi có nhiều quen biết trong giới  ngành y.

 

(Xin mời bấm vào đây để đọc trọn bài)

ĐỖ CHIÊU ĐỨC: 

EM CÓ BUỒN TA

 

Buông súng ba mươi nhớ tháng nầy,

Em buồn ta vẫn muốn ta say.

Nhớ xưa chinh chiến oai hùng khắp,

Tưởng lúc hành quân dũng khí đầy.

Mấy lượt truy thù hồn bỏ xác,

Bao lần khiến địch vía lên mây.

Vần xoay cuộc chiến bao hờn oán,

Uất ức thua cay xác héo gầy !

 

Đừng bảo đành thôi để khỏi buồn,

Lưu vong biệt xứ đã tan hồn.

Chí hùng đã nhụt từ xa nước,

Hào khí còn đâu lúc bỏ thôn.

Túy ngọa sa trường đành gát lại,

Liều mình chiến địa chí chưa mòn.

Tháng ngày lần lựa tàn thân xác,

Sức mỏn lấy gì cứu nước non ?!!!

 

                     Đỗ Chiêu Đức

Nơi đất khách nghe mưa nhớ nhà

  聽雨                          THÍNH VŨ

軒外瀟瀟細雨音,   Hiên ngoại tiêu tiêu tế vũ âm,

寒窗孤影酒單斟。   Hàn song cô ảnh tửu đơn châm.

猢猻樹倒皆離散,   Hồ tôn thọ đảo giai ly tán,

鳥獸限時各別林。   Điểu thú hạn thời các biệt lâm.

客地悠悠亡國恨,   Khách địa du du vong quốc hận,

家鄉耿耿故園心。   Gia hương cảnh cảnh cố viên tâm.

舊時鄰里今何在?   Cựu thời lân lý kim hà tại ?

安樂歡歌無處尋!   An lạc hoan ca vô xứ tầm !

              杜紹德                        Đỗ Chiêu Đức

 

  

 

* Dịch Nghĩa :

                      NGHE MƯA

       Ngoài hiên tiếng mưa thánh thót rả rít rơi,

       Một bóng bên song cửa lạnh đơn độc tự rót rượu cho mình.

       Cây cao đã ngã nên đàn khỉ đều tự tan đàn xẻ nghé,

       Hạn lớn đổ đến nên chim thú đều mạnh ai nấy bỏ rừng mà đi.

       Dằng dặc nơi đất khách luôn mang trong lòng cái hờn vong quốc,

       Canh cánh tình quê luôn mang nặng lòng tưởng nhớ đến quê hương.

       Làng xóm khi xưa giờ đã ra sao rồi, có còn như xưa chăng ?

       Cảnh vui vẻ hoan ca không còn tìm đâu được nữa !

 

* Diễn Nôm :

 

                  NGHE MƯA

 

         Ngoài hiên thánh thót tiếng mưa rơi,

         Trong cửa tự say bóng một người.

         Cây ngã hồ tôn đi tứ tán,

         Hạn về chim thú tản muôn nơi.

         Quê người dằng dặc hờn không dứt,

         Đất mẹ bâng khuâng nhớ khó nguôi.

         Làng xóm khi xưa đà mất hút,

         Tìm đâu hoan lạc thuở xưa vui !

 

                                    Đỗ Chiêu Đức

NGUYÊN NHUNG:

ĐỪNG HỎI VÌ SAO

Tháng Tư buồn

Năm vừa qua, chuyến xe đưa chúng tôi từ Đà Nẵng về Qui Nhơn, tôi mới có dịp đi qua đoạn đường "máu đổ thây phơi" của 40 năm trước. Đi qua những địa danh quen thuộc miền Trung, từ Đức Phổ, Mộ Đức, những quận lỵ xơ xác đói nghèo vì chiến tranh đã được hồi sinh. Có lẽ 40 năm  sóng biển Sa Huỳnh vẫn vỗ vào bờ một nỗi buồn xa vắng. Hai bên ruộng lúa vẫn xanh rờn, xa xa dải núi mờ sương lại khiến tôi thương cảm không cầm được giọt lệ. Tôi biết anh đã yên nghỉ, nhưng nắm xương tàn nằm ở đâu thì cho đến bây giờ vẫn chưa tìm lại được.


Tháng Tư. Đốt nén hương lòng tưởng nhớ anh, một người anh hiền hoà, luôn thương yêu các em. Sau 40 năm anh đã yên nghỉ , gửi nắm xương tàn nơi rừng sâu núi thẳm, nhưng nỗi thương nhớ vẫn còn ở lại với người thân trong gia đình.

 Bốn mươi năm mới viết nổi bài thơ,  "Đừng Hỏi Vì Sao Tháng Tư Buồn", hay 40 năm nhìn lại với một nỗi buồn khó nguôi.

Nguyên Nhung

NGÔ THỊ TRƯỜNG XUÂN

THÁNG TƯ VỀ RỒI

 

Tháng tư về rồi! Em có nhớ không?
Hai đứa chúng ta, mỗi đứa một đường. 
Mây bốn phương trời, không chỗ dừng chân,
Nên em cứ đi hoài không trở lại?

Em có nhớ tháng tư buồn muôn thuở, 
Sao cả một đời, tôi chỉ nhớ tháng tư thôi.!?

Em có nhớ cánh phượng hồng tơi tả, 
Suốt một mùa cứ nức nở tình xa. 


Bóng nắng chưa phai ở góc sân trường, 
Đã vội vã ngập tràn mưa tháng sáu...

Tôi đứng bên này, tiễn em bên đó, 
Chẳng biết nói gì cho cuộc từ ly. 


Tháng tư thật buồn khi em đã ra đi, 
Tôi nhớ mãi cánh phượng tàn rơi rụng.

Tôi nhớ mãi bàn tay em nắm vội, 
Để thay lời từ tạ giữa chiều trôi. 


Bóng nắng bên sông bỗng chốc ngập ngừng, 
Mênh mông quá một buổi chiều tiễn biệt.!

Sao vẫn nhớ! Tháng tư buồn muôn thuở!? 
Sao cả một đời, chỉ nhớ tháng tư thôi...

13/4/2019

Ngô Thị Trường Xuân

ANH TÚ:

Mà Sao Mỗi Tháng Tư?

 

Không trống chùa công phu, không chuông nhà thờ

không tiếng gà gáy sáng ... như thuở nào trên quê hương

mà trong lòng tôi sao mãi vang dội tiếng yêu thương.

 

Xung quanh không bè bạn, không học trò, không lớp trường

mà sao trong mơ tôi nghe tiếng hỏi chào vương mùi phấn bảng.

Đang sói đầu, mắt mờ, tai lểnh lảng, chân mỏi đứng im

khi mỗi tháng Tư về mà sao cảm như còn hừng hực lý tưởng trong tim.

 

Giờ đây ...trong ngõ cụt im lìm hừng đông đang lố dạng

mà sao mơ hồ  tiếng " lạch bạch" xe lambretta

nhắc nhớ chuyến đi Chợ Vãng-Bình Minh mỗi sáng

đến trường chẳng ngại đường xa.

 

Đường xa bị nghẽn bến mơ; ước mơ đã chết tự bao giờ

khắc khoải với ngày tháng hao mòn, còn ngắn ngủi

niềm vui là những con chữ hững hờ

và chỉ còn đợi chờ lúc cuối đời hất hủi.

 

Anh Tú

HUYỀN VÂN THANH

NHẮC LÀM GÌ

NHỮNG CHUYỆN ĐAU LÒNG

 

       * Kính tặng tất cả Quân Dân Cán Chính VNCH 

          còn ở lại quê nhà sau cơn bức tử 30-4-1975

* Thân tặng tất cả những người từng chịu nhục nhã 

    trong các trại tù “cải tạo” sau năm 1975.

 

Có vui gì khi nhắc chuyện đã qua

Mà vận nước thật sự sang trang tức tửi

Trách cứ phiền nhau, bảo ai lầm lỗi

Cũng muộn màng, đau xót buốt tim gan.

 

Những năm dài trong tù ngục lầm than

Mới ngẫm lại đời sao nhiều gian dối

Chỉ câu nói giản đơn khiến muôn dân tiếc nuối

“Buông súng đầu hàng” (1) - Mệnh lệnh vô tâm!

 

Lại bảo rằng “Làm gì có cà pháo mắm tôm

Chạy ra nước ngoài là những tên hèn, phản quốc” (2)

Một câu nói nức lòng miền Nam ruột thịt

Vậy mà Người đã ra đi hết sức ung dung.

 

Lại bảo rằng “Tôi sẽ chiến đấu bên cạnh anh em

Quân đội từ nay có thêm tay súng” (3)

Địch quân chưa vào, quê hương chưa đẫm máu

Ngoảnh lại nhìn, Người đã vượt xa xăm!

 

Tội cho người gắn bó với quê hương

Phải chấp nhận vào cuộc đời tăm tối

Kẻ chiến thắng mặc tình luận tội

Họ cho rằng “Trời không dung, đất chẳng tha”

“Nước biển Nam Hải không rửa sạch mùi

Lấy trúc Nam Sơn ghi không hết tội! (4)

 

Cuộc sống đời người khó vượt qua trăm tuổi

Nhưng tiếng lưu danh mãi mãi trường tồn

Xấu tốt… đâu cần tô vẽ thiệt hơn

Bởi “lịch sử đúng” – là “cán cân công lý”

 

Nên bây giờ - đã phần tư thế kỷ

Nhắc làm gì những chuyện đau lòng

Đường ta đi hãy giữ mãi sáng trong

Kẻ gian dối – thế lực nào cũng bị đời lật tẩy.

 

30 tháng 4-1994

 

HUYỀN VÂN THANH

(Văn Nghệ VỀ NGUỒN Tây Đô)

 

Bài thơ đăng trên BNS DÂN TA tháng 4-1995

Đăng lại trên tạp chí VHVN số 29 – mùa hè 2005

___________

 

(1). Mệnh lệnh của tướng Dương Văn Minh, Tổng Thống cuối cùng của

       VNCH ra lệnh cho toàn quân buông súng vào lúc 10 giờ sáng ngày 30-4-1975.

(2). Câu nói của Tướng Nguyễn Cao Kỳ, cựu Phó Tổng Thống VNCH.

(3). Câu nói của Tướng Nguyễn Văn Thiệu, cựu Tổng Thống VNCH.

(4). Cán bộ chính trị của CSVN mỗi lần “lên lớp” trước anh em “tù cải tạo” đều lấy

       câu nói của Nguyễn Trãi trong “Bình Ngô Đại Cáo để luận tội.

MAILOC:

 MỘT CHUYẾN ĐI

 

Bước chân đi lào xào cát sỏi

Lũ thuỳ dương gió tối vi vu 

Xóm chài vắng lặng mịt mù

Đèn pin le lói lù mù không gian.

 

Gió se lạnh mênh mang đồi cát

Bước lần theo sậy lác mắt nhoà

Giật mình tiếng súng tiếng la

Ai còn ai mất đạn sa nhạn nào?

 

Đêm dần xuống xạc xào lau lách

Nước trầm mình lạnh ngắt cóng chân.

Thuỷ triều nước cứ lên dần

Thuyền đâu không thấy miệng thầm vái van.

 

Tiếng lõm bõm xuồng đang dần tới

Bế con lên vừa mới thở phào

Một tràng súng nổ rào rào

Băng băng thuyền cứ sóng trào biển khơi.

 

Đêm trùng dương rợn người khó tả

Nước đen ngòm bờ đã xa xôi

Quê hương bỏ lại chia phôi

Kẻ đi người ở bồi hồi chinh nhân !

 

       Mailoc

     4-28-2020

PHAN THƯỢNG HẢI

Người ở lại ngày 30-4-75 

 

                         Bệnh viện Bình Dân 30-4-1975 (Nguyên bản) 

Giặc đến, người đi, súng nổ vang 

Bình Dân nội trú lúc nguy nàn 

Cứu thương giải phẫu không ngừng nghỉ 

Thiển ý vô tư chẳng rộn ràng 

Giúp đỡ đồng bào khi biến loạn 

Quên tìm tỵ nạn được bình an 

Bùi ngùi nhớ lại ngày xưa ấy 

Thời thế trần ai khó luận bàn? (*) 

Phan Thượng Hải

 4/26/12 

 (*) Chú thích:

            Ai Công Hầu, ai Khanh Tướng, trong trần ai ai dễ biết ai. (Đặng Trần Thường) 

            Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế thế thời vẫnthế. (Ngô Thì Nhậm) 

            Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế thế thời phải thế. (Phan Huy Ích) 

 

Bài thơ nầy kính tặng các Nội trú ở Bình Dân trong lúc đó còn sống tới ngày hôm nay: LQ Nghĩa, NQ Đức, LB Lợi, NĐ Tuệ, HQ Minh, NK Hòa, NT Lộc, NT Phương, TT Nhơn... và những người đã qua đời: VT Tĩnh, TH Tâm...

Người Di Tản ngày 30-4-75 

  

Miền Nam đã mất phải sinh ly 

Bỏ lại quê hương họa hiểm nguy 

Chiến hữu lao tù thân khốn khổ 

Đồng bào nô lệ dạ sầu bi 

Lương tâm nuôi dưỡng người di tản 

Chí hướng trường tồn lúc thịnh suy 

Trọn kiếp không quên thề chống Cộng 

Hằng năm tưởng niệm chuyến ra đi. 

Phan Thượng Hải 

4/23/17 

MỘT NGÀY 30-4

Bốn lăm năm chẵn đã qua đi

Viễn xứ hoài hương tận nghĩ suy

Vô ngã chơn không lòng oán hận

Vô thường sở trụ dạ sầu bi

Ân tình còn đó câu tình nghĩa

Ái quốc còn đây lá quốc kỳ

Quá khứ hàn ôn bao kỷ niệm

Bảy mươi già lão biết đường đi.

Phan Thượng Hải

30-4-2020

GIÁNG XƯA - TRẦM VÂN (hoạ)

HỚN CHIÊU TUYẾT MAI

 

CHUYỆN BÂY GIỜ MỚI KỂ...

về tháng 4 của tôi

 

 

Tôi sinh vào ngày 10 tháng 4, tôi Vu quy ngày 26 tháng 4 và chính thức về nhà chồng làm lễ Thành hôn ngày 30 tháng 4. Sẽ chỉ là những dấu mốc thời gian bình thường trong một đời người nếu ngày 30 tháng 4 đó không là 30 tháng 4 năm 75, cái ngày gắn liền với lịch sử đất nước.

Do tình hình chiến sự căng thẳng, đường sá xa xôi nên chỉ có Ba tôi đưa con gái về nhà chồng...bằng xe đò, chuyện rất hiếm có trước đây. Xe khởi hành từ Cần Thơ lúc 7 giờ sáng, định đến Phụng Hiệp lúc 9 giờ , sẽ có thuyền hoa rước dâu. Nhưng xe chạy khỏi Cái Tắc đã phải dừng để chờ phá mô do VC đắp. Lần đầu tiên trong đời tôi nhìn tận mắt cái gọi là mô. Chỉ là một mớ lục bình, mấy nhánh cây, thân chuối kéo ngang đường nhưng bên dưới là mìn, lựu đạn, xe chạy qua sẽ bị nổ tung.Không ít người dân đã thiệt mạng vì cái trò phá hoại này. Gần 9 giờ xe mới tiếp tục chạy nhưng chưa được bao lâu lại phải dừng vì tiếng bom đạn từ bên phía trong ruộng. Khói đen bay lên từng cụm, máy bay chao liệng ném bom xuống, đạn bên dưới bắn lên từng tràng. Mọi người trong xe nhìn, bình thản, chỉ có tôi lo sợ vì cũng là lần đầu nhìn thấy cảnh đạn bom. Một lúc sau có chiếc GMC chở đầy lính vượt qua chúng tôi . Bác tài xế nói: “Chắc tiếp viện. Kiểu này là kẹt lâu!”. Rồi hai chiếc thiết giáp từ hướng đó chạy ngược lại, trên xe đầy vỏ đạn. Ai đó nói: “Đánh lớn à“. Có người đáp: “Hổm rày vậy hoài”. Phải hơn hai tiếng sau xe mới đi được. Nhưng đến Long Thạnh thì lại bị dừng, một đoàn xe đậu sát lề nhường đường cho mấy chiếc GMC bít bùng, lúc chạy ngược về Cần Thơ, lúc chạy xuôi về phía Phụng Hiệp. Trước xe tôi là một chiếc GMC không mui, chở một quan tài phủ cờ vàng, người lính lái xe mệt mỏi gục đầu trên tay lái. Trời nắng nóng, mùi xăng, mùi khói xe, đủ thứ mùi ngột ngạt khó chịu, chúng tôi xuống xe, đứng bên đường. Nhiều người lại nhìn quan tài, “không biết chết ở đâu, chắc lâu rồi“, rồi lãng chỗ khác, có người đưa tay che mũi. Chốc sau, có một người từ nhà bên đường mang theo nãi chuối, thẻ nhang và một bao thuốc lá đến đưa người lính lái xe. Tôi thấy anh gật đầu nhận, cười mà mặt buồn như khóc. Rồi anh leo lên xe, vỗ lên quan tài như vỗ vai người bạn, đặt nãi chuối lên quan tài, bật quẹt thắp nhang cắm lên nãi chuối. Sau đó anh ngồi bệt xuống, lại bật quẹt châm điếu thuốc, anh rít một hơi rồi đặt lên nãi chuối, thì thầm : “Tao cố đưa mày về quê mà không được rồi, thôi mầy trở về đơn vị với tụi tao. Mày linh thiêng nhớ phù hộ anh em nghe”. Khói nhang lan toả, hương thơm thanh thoát, linh thiêng xua tan mùi tử khí. Mọi người cúi đầu, có người chắp tay vái. Tôi cố không khóc nhưng cứ nghẹn. Vừa thương người chết trận vừa thương người lính lái xe, ai cũng mang nặng trên vai tổ quốc và trách nhiệm. Và người lính đã hi sinh này nay còn mang thêm lời gửi gắm của đồng đội.

Gần 11 giờ trưa (giờ VNCH), nắng gắt, chúng tôi lên xe. Bác tài xế mở radio ngóng tin tức. Vẫn là tin chiến sự. Vùng I, Vùng ll, Vùng lll đều rối loạn, không có tin gì về Sài Gòn....Bỗng im bặt một lúc lâu, đúng 11 giờ, lời kêu gọi quân lính VNCH buông súng đầu hàng quân Giải phóng của Dương Văn Minh vang lên. Mọi người bàng hoàng. Ba tôi, người đọc báo, nghe tin chiến sự hàng đêm, ngồi im lặng một lúc lâu mới nói: “Vậy là hoà bình rồi!”. Nhiều người trên xe cũng lao nhao: ”Hết đánh nhau rồi, hoà bình rồi“. Chưa kịp bày tỏ hết thái độ, cảm xúc thì mọi người lại lao nhao vì lệnh giới nghiêm trên toàn quốc cho đến ngày mai. Thế là tôi không về được nhà chồng! Mọi người lại xuống xe, họ hoang mang vì lịnh giới nghiêm chứ không phải lo sợ vì không có chỗ nghỉ đêm nay. Ở cái miền Tây hiền hoà này, mọi người sẽ sẵn sàng cho người lỡ đường nghỉ chân, huống gì lúc này. Ba tôi cũng tìm được nhà người quen để nghỉ nhờ. Đêm vắng ngắt, tăm tối vì cúp điện, cũng không ai dám đốt đèn dầu, nhưng không ai ngủ. Nhìn qua cửa sổ, tôi thấy một đoàn người mang súng dài, nối đuôi hàng một im lặng đi âm thầm trong bóng đêm, như một đoàn quân ma. Tôi nghe Ba thở dài!...

Đến sáng, anh chủ nhà đón được xe cho chúng tôi về Cần Thơ. Chiếc áo dài đỏ và đôi hài đỏ cô dâu của tôi bị thay bằng cái áo bà ba trắng mặc ngủ của ông xã tôi. Chị chủ nhà tốt bụng cho tôi cái quần đen, cái nón lá cũ và đôi dép mủ. Tôi không nhận quần vì không quen mặc quần áo của người lạ nhưng cái quần satin trắng bóng loáng của tôi làm Ba lo ngại nên đẩy tôi vào ngồi ở góc cuối xe và dặn phải luôn che nón và giấu đôi bàn tay sơn móng màu hồng. Xe chật, Ba và ông xã tôi phải chen chúc đứng ở phía cửa xe. Lâu lâu xe bị chận lại, một người mặc đồ đen mang súng, có khi là nữ khoác khăn rằn, mặt hằm hằm bước lên xe, nhìn ngó một vòng rồi cho xe chạy. Lần đầu tiên

đi xe phải ngồi xa người thân, tôi sợ muốn khóc, sợ bị lạc, sợ không biết đường về nhà nên cứ lóng nhóng nhìn ra cửa xe tìm Ba và chồng. Chợt có tiếng nói bên cạnh tôi: ”TM phải không?“. Tôi giật mình nhìn qua: áo thun trắng, quần vải đen, dép kẹp, đôi chân đầy bùn đất. “ Anh biết tui sao?”. Anh ta cười: ”Ai học Phan Thanh Giản mà không biết TM. Người đẹp đi đâu mà ...mặc đồ ngộ vậy?“. Tôi cười: ”Hôm qua đám cưới tui nhưng giới nghiêm, tui không về bên nhà chồng được”. Ông xã đâu rồi?“. Tôi hất hàm chỉ về phía trước và hỏi: “Còn anh đi đâu vậy? “. Anh nhỏ giọng: “Đi lính. Tui liệng súng và quần áo xuống sông rồi xin đồ dân mặc”. Bây giờ anh đi đâu? “. Anh ậm ừ: ” Về nhà trước rồi tính“. Có cái gì đó khiến tự nhiên cả hai cùng trầm ngâm...

Xe dừng lại trước bệnh viện Thủ Khoa Nghĩa, ai cũng vội vã xuống xe, tôi không kịp chào anh.Đến khi đã ngồi trên xe lôi, tôi mới nhớ quay lại tìm. Trong đám đông, tôi thấy một cánh tay cầm khăn vẫy, tôi nhận ra đó là chiếc khăn tay tôi buộc tóc, chắc rớt trên xe...

Ngày 30 tháng 4 năm 75! 45 năm rồi, 45 năm ngày cưới, 45 năm bị cuốn theo dòng đời nhiều vất vả, mệt mỏi hơn là hạnh phúc, tôi chưa một lần thắp nến kỷ niệm ngày cưới. Cái hạnh phúc riêng nhỏ nhoi của mình có ý nghĩa gì so với nỗi đau thương mất mát của bao nhiêu người khác! Nhưng tôi chưa bao giờ thôi nghĩ, thôi xúc động về ngày đó. Tôi luôn tự hỏi người ngồi cạnh mình trên chuyến xe năm ấy bây giờ ở đâu? Và người lính lái xe, chắc chắn không kịp trở về đơn vị, không biết có chạy thoát hay là không nỡ bỏ đồng đội giữa đường và rồi...? Còn cái quan tài cô đơn kia...? Tôi không dám nghĩ xa hơn, chỉ tin rằng với tấm lòng nhân hậu của dân mình, chắc anh đã được mồ yên mả đẹp ở một mảnh vườn nào đó. Dù họ ở đâu, 45 năm qua , tôi vẫn luôn nhớ và cầu nguyện bình an cho những người tôi đã gặp ngày ấy, kể cả anh chị chủ nhà cho chúng tôi nghỉ nhờ. Không biết bao nhiêu lần về nhà chồng đều phải qua khoảng đường đó nhưng tôi không nhớ được vị trí ngôi nhà , cũng không biết được tin tức họ để đáp đền ơn nghĩa. Đành mang nặng trong lòng món nợ ân tình không trả được dù tôi biết, đối với người miền Tây mình, tặng một bữa cơm, một đêm nghỉ chân cho người lỡ đường là chuyện rất bình thường. Không biết tôi sẽ còn đếm được bao nhiêu lần 30 tháng 4 nữa để nhớ lại ngày ấy nhưng bao giờ tôi cũng luôn tâm niệm lời nguyện cầu bình an đến mọi người, mọi nhà. Cuộc chiến tranh chúng ta đã phải trải qua thật là tốn nhiều máu và nước mắt!

Viết những dòng này, tôi lại nhớ Quang Hoà, người bạn thời Đại học của chúng tôi. Q Hoà thường nhắc : chuyện hai người ly kỳ vậy sao không viết lại. Tôi nói chưa lắng đọng được cảm xúc. Hôm nay tôi viết thì Q Hoà đã đi rất xa. Dù ở đâu đó, Q Hoà hãy đọc và cứ cho lời bình tự nhiên nhe.

HỚN CHIÊU TUYẾT MAI

TRƯƠNG NHỊ KIỀU

bốn mươi lăm năm

 

45 năm nổi, trôi theo vận nước

cuộc đổi đời cay nghiệt chẳng vì đâu.

thân phận con người có khác gì nhau

thằng ở lại, thằng ra đi lưu lạc !

 

nơi đất khách, mày buồn thân viển xứ

sống nhọc nhằn, thân phận kẻ ly hương 

buồn vây quanh, trong nổi nhớ niềm thương

ngày hai buổi đi về như chiếc bóng.

 

tao ở lại vẩy vùng trong lửa bỏng

bởi đòn thù từ mọi phía bủa vây

khổ nhục chất chồng sớm tối lay quay

kẻ thua cuộc có khác gì thằng nô lệ!

 

tao hứng chịu, những đắng cay dâu bể 

vững niềm tin, nuôi hy vọng ngày mai

bóng tối đêm đen, không thể kéo dài

bình minh đến báo tin ngày nắng ấm.

 

ngày vui đó dù đến mau hay chậm

mơ ước thành sự thật sẽ không xa 

đất nước tự do, dân chủ thái hòa

thầy bạn, anh em mừng vui Hạnh Phúc

 

Bốn mươi lăm năm nổi trôi theo vận nước

Bọn chúng mình “mất hết chỉ còn nhau “

 

trương nhị kiều

                           THIÊN PHONG

                           NGUYỄN HỒNG TUYỀN

                           CHS Phan Thanh Giản

                             Nguyên Đại Tá Không Lực VNCH

                             Pleasant Hill, CA 

 _______________________

 

 Người Con Gái Áo Trắng Ðiện Bàn

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

- Tím Hai......Ðây Tím Một gọi.....

- Tím Hai nghe Tím Một.....5/5. 

- Tím Hai.....Vòng bắn hỏa tiễn cuối cùng rồi vào hợp đoàn về cho sớm đi tắm biển....Chiều nay trời đẹp gió lặn mặt biển yên như tờ giấy...Chắc có nhiều người đẹp...Bikini...tắm lắm. 

- Tím Hai...Roger. 

- Tím Một...In...salvo (bắn hết) luôn hai bó hỏa tiễn 2,75 Tím Một...Out.

Tôi kéo cần lái vội qua tay phải để dể nhìn Tím Hai làm vòng bắn chót. Chiếc phi cơ T28 màu sơn trắng bạc có dấu hiệu đầu Cọp vàng đen của Phi Ðoàn 516 Khu Trục trên đuôi coi oai phong lẫm liệt vào thời năm 1962. 

- Tím Hai...In..... 

Nhìn theo chiếc phi cơ Tím Hai vừa nhả hai ổ hỏa tiễn 14 trái 2.75 Inches phía trước đầy khói. Như rồng phun lửa từ miệng, cuộn khói sau đuôi con tàu làm một vòng hào quang do ánh nắng chiều rọi xuyên đám khói trắng vòng tròn phi cơ vừa bay lướt chui qua ... tuyệt đẹp. Những trái hỏa tiễn nổ trên đồi trong đám rừng cây xanh lá cách đồn quân bạn chừng 300 thước như những... cánh hoa đất.... nở trắng đồi. Ánh nắng chiều vàng le lói xuyên qua giữa những... cánh hoa đất khói trắng vừa nở ....trong rừng xanh tạo nên một bức tranh đẹp mỹ miều khó tả được bằng bút mực cọ sơn của người trần thế. 

- Tím Hai ...Out... 

- Quá đẹp ...Tím Hai. 

Người bạn đường không gian của tôi hôm nay là anh Thiếu úy Phạm quang Ðiềm có biệt hiệu là ông Hoàng Sihanook màu da hơi ngâm ngâm, tánh tình vui vẻ dễ mến, bay rất chì và chịu khó học hỏi. Anh là phi tuần viên số hai của Th/úy Ôn Văn Tài trưởng phòng hành quân phi đoàn Phi Hổ 516 khu trục. Trong lần biệt phái đi Ðà Nẵng 15 ngày kỳ nầy Phi đội Phi Hổ Tím thiếu Minh Chè Tím Hai đi phép, thành ra trưởng phòng hành quân Ôn Văn Tài đề cử Phạm Quang Ðiềm (Sihanouk) người phi tuần viên bay rất cừ và can đảm thay thế Minh Chè chỗ Tím Hai. 

 

- Ðống Đa....Ðống Đa....Ðây Phi Hổ Tím.... 

- Phi Hổ Tím....Ðống Ða nghe bạn 5/5. 

- Phi Hổ Tím.... Phi vụ hoàn tất....Rời khỏi tần số, chúc bạn một đêm ngủ an lành. 

- Ðống Ða ...Vạn lần cám ơn Phi Hổ. Kết quả oanh kích khi kiểm tra sẽ báo cáo sau. 

- Tím Hai ....Ðổi qua tần số 118.5....

- Tím Hai.... Roger. 

- Ðây Một gọi..... 

- Hai ....nghe 5.....

- Hai ơi!!...chắc kết quả ...chẳng có gì....chỉ được chừng ....hai tấn Tăm Xỉa Răng.....Hi ....Hi....Hi....!!!! Tím Hai....Hợp đoàn giữ cao độ 1000 bộ hướng 90 ra bờ biển và lấy hướng bắc để về Ðà Nẵng....

- Tím Hai...Roger !!! 

Trời chiều mùa hè, không mây gió, hợp đoàn xuống 300 bộ, bay theo dọc bờ biển êm ru, mở cocpick ra chừng một tấc, làm lòng người dễ chịu khoan khoái trong phòng lái như có máy lạnh làm mát những con tim đơn côi... của ngừời phi công, trong không gian mênh mông. 

- Hai ....Ðây... ...Một gọi... 

- Hai nghe.....Một......Nói đi....

- Một sẽ xuống 100 bộ.....Hai giữ cao độ 200 bộ.... Trên ....Bay dọc theo bờ cát, ngang cửa biển Fai Fô và bờ biển Thanh Bình chắc có nhiều người đẹp phơi... rùa.... bãi biển lắm nghen... trong mùa hè nầy. 

- Hai....Roger....Hi...Hi.... 

Hợp đoàn qua khỏi Chu Lai, sắp đến cửa biển Fai Fô, vô tuyến đã rồ lên trong nón bay: 

- Phi hổ Tím ...Ðây Panama ...Gọi.... Phi Hổ Tím. ...Ðây Panama...Gọi...... 

- Phi Hổ Tím... Nghe Panama 5/5... 

- Phi Hổ Tím ...Báo Cáo vị thế, xăng...và bom đạn... 

- Vị thế...Trên Cửa biển Fai Fô....Cao độ 100 Bộ...Bơm Và Rockets đã thân tặng cho các Anh em Sanh Bắc Tử Nam hết rồi. Chỉ còn bốn Pot Ðại Liên 30...và 3 ngàn 200 viên đạn, xăng 1giờ 15...Over. 

- Phi hổ Tím..... Phi Vụ Khẩn cấp.....Số Phi vụ #0041 ....Ðồn Ðịa Phương Quân...Ở Ðiện Bàn Bị VC Tấn Công... Tần số FM 51,02...Danh hiệu...Bạch Ðằng.... 

- Phi Hổ Tím hiểu rỏ đang ở cách 5 phút cực Nam mục tiêu.... 

- Liên lạc thẳng với Bạch Ðằng.... Sẽ có Phi Yến Quan sát và Khu Trục thay thế...Phi Hổ Tím trong vòng 30 phút. 

- Xin Panama...lặp lại... Danh hiệu cho rõ ...Bạch Ðằng....Hay là... Bật Ðèn.....đó Chú Tư Cầu ơi!!! 

- Ông Quan Hai tàu bay Tím một ơi....Bạch Ðằng... Bạch Ðằng.....chớ làm gì có ....Bật đèn.....ban ngày đâu!!! 

- Bạch Ðằng...Bạch Ðằng....Phi hổ Tím ....Roger... Out. Ha...Ha...Ha...Cám ơn Chú Tư Cầu. 

 

Hợp đoàn chúng tôi cũng vừa bay đến trên không phận quận Ðiện Bàn nằm về phía đông nam độ ba mươi cây số đường chim bay cách Căn Cứ không quân Ðà Nẵng. 

- Bạch Ðằng....Bạch Ðằng.....Ðây Phi Hổ Tím ...Gọi..??? 

- Phi hổ Tím...Phi Hổ Tím...Bạch Ðằng...Nghe Bạn 5 trên 5. 

- Bạn cho biết tình hình.

- Địch đang chận xe đò phía Ðông Bắc cách đồn chừng một ngàn thước, trên đường tỉnh lộ Bắc Nam. Ðịch lùa hết hành khách xuống đám rừng chạy song song theo đường lộ làm bia đỡ đạn để tấn công đồn Ðiện Bàn. Chúng dùng đại liên 30, súng cối 60 ly pháo kích vào đồn..... Xin Phi Hổ cho một bó Rockets vào đám rừng cây trước mặt đồn chạy dài theo hướng Nam lên Bắc bên kia con đường cho đến các xe đò đang bị chân lại..... 

- Phi Hổ...hiểu rõ... Thi hành ngay... Không thể dùng Rockets, hay bom nổ... Vì quá gần dân chúng.. 

-Tím Hai ....Ðây Một.....

- Hai Nghe 5. Một sẽ... Working Gun (bóp cò vừa đạp cho mũi phi cơ qua lại)....theo bên kia đường ....trên đám rừng từ Nam lên Bắc....ngưng bắn cách 50 thước ...phía Nam của đòan xe đò.... 

- Hai ....Roger.... 

- Một ...In.... 

Chiếc T28 khu trục nhào từ 1000 bộ xuống....hai cây đại liên ...nổ dòn từ 600 bộ...cho đến 200 bộ theo nhịp điệu Working Gun, kéo trái.. nhìn rõ đoàn xe đò không người....

- Một ...Out.... 

- Hai.....In..... 

Phi cơ của Tím Hai cũng theo vòng bắn...như Tím Một....kèm theo bên trái....kéo lên vào khỏang cao độ 200 bộ....

- Hai...out..... 

- Một ...In....

Vừa bóp cò hai đại liên vừa mới nổ......Tôi nhìn thấy một đoàn người từ trong đám rừng trước mặt...ùa lên đường lộ chạy về phiá đồn bạn... quần áo đủ thứ màu trắng xanh, xám. 

- Tím Hai ngưng bắn ...

- Roger... Hai... Out....

Khi Tím Hai bay ngang trên đầu dân chúng tất cả nằm xuống, họ thấy máy bay không còn bắn nên yên tâm đứng dậy bồng bế nhau tiếp tục chạy về hướng đồn bạn. 

- Bạch Ðằng ...Ðây Phi Hổ.... Xin bạn đừng bắn.... đoàn dân chúng đàn bà và trẻ em của đoàn xe đò đang hướng chạy về đồn bạn đó... 

- Bạch Ðằng ...Hiểu rõ ...Phi Hổ Tím... 

Tôi vội nhào phi cơ trở lại từ Bắc xuống Nam lắc cánh qua lại bay bên trái của đoàn người dân vô tội đáng thương hại đang bị kẹt giữa hai lằn đạn... Bạn và thù... Chiến tranh quá đau thương và tàn bạo. Tôi nhìn thấy trong đoàn người đang di chuyển sau cùng có hai người đang dìu một người mặc áo dài trắng, dáng đi khó khăn khấp khểnh, hai tay ôm vạt áo dài trước vào ngực đầy máu, vạt áo sau còn phất phơ theo gió. Hình như bị thương, lòng tôi se thắt lại. Tim tôi bóp nghẹn như đập thiếu nhịp, vì đâu dân Việt bị đau khổ triền miên. Nếu không có người Cộng Sản vô thần vô tổ quốc, đem chiến tranh từ phương Bắc vào Nam, gây cảnh tương tàn sầu thảm thì mảnh đất miền Nam chắc sống thanh bình trong muôn thuở. Chúng tôi bay vờn lên múc xuống như đang bảo vệ, trên đầu đoàn người vô tội đáng thương cố chạy hướng về đồn bạn để tìm sự sống trong cái chết. Khi dân chúng đã đến được vòng rào phòng thủ ngoài của đồn Ðịa Phương Quân an toàn, Phi Tuần trở lại mục tiêu bắn vài loạt đạn cầm chừng trên đám rừng bên phải đường tỉnh lộ chỗ các xe đò bị chận lại. Gần sáu giờ chiều, mặt trời mùa hè vẫn còn sáng ửng đỏ, có lẽ nhờ sự có mặt yểm trợ của Phi cơ khu trục trên vùng nên VC chưa dám tấn công đồn bạn.

 

- Ðây Phi Hổ Vàng Một .....Gọi Tím Một....Nghe không Trả lời.....!!!!! 

- Tím Một.....Nghe...Vàng...5/5....Bạn hãy liên lạc Bạch Ðằng ...Chắc không có gì....Chỉ vài chục...Delta Kilo (Du Kích) thôi. 

- Bạch Ðằng....Ðây Phi Hổ Tím..... 

- Bạch Ðằng nghe ...Phi Hổ Tím...5 trên 5. 

- Ðã có Phi Hổ Vàng thay thế Phi Hổ Tím...Chúng tôi chúc bạn an lành và vững lòng tin để chiến đấu và bên bạn lúc nào cũng có chúng tôi. Xin bạn cho biết có ai bị thương nặng không trong số dân chúng đã về được tới đồn.....

- Phi Hổ Tím ...Không có ai nặng lắm....có người con gái áo trắng bị thương đã được băng bó xong. 

-Cám ơn bạn...Phi Hổ Tím rời khỏi tần số!!!! 

- Panama...Panama....Ðây phi Hổ Tím... 

- Panama...Nghe Phi Hổ Tím 5/5 

- Phi hổ Tím ...Phi Vụ Xong rời tần số.....Panama...

- Chấp thuận... 

- Ðài Kiểm Soát Ðà Nẵng.....Phi Hổ Tím... hai T28...Xin vào vòng phi đạo và hạ cánh.... 

- Chấp thuận... Ðường bay 27 phải ...Gió yên lặng.. 

- Phi Hổ Tím ...Hiểu ....cám ơn Ðà nẳng... 

 

Trong lúc hợp đoàn đáp xong, di chuyển vào bến đậu tôi vẫn còn nghĩ miên man đến... Người Con Gái Áo Trắng... bị thương nặng hay nhẹ, có mệnh hệ gì không??? Lòng tôi nặng trĩu lo âu vì trách nhiệm bảo vệ dân lành oằn oại trên đôi vai của người trai thời chiến, nhứt là đối với các anh em phi công khu trục. Chiến trường miền Trung sôi động, biết bao nhiêu... đạn thù bay ngang đầu cánh...một số bạn bè chết non ...gãy cánh vĩnh viễn ra đi, để lại gia đình và vợ con thương tiếc. Th/úy Võ Trường Chí mất tích ở vùng đồng bằng Cửu Long tỉnh Sóc Trăng. Th/úy Trần Như Hạnh gãy cánh khi thả bom Napalm ở ngoài khơi bờ biển Nha Trang trước sự chứng kiến của đồng bào và cả vợ con. Th/úy Nguyễn Văn Nông, phi vụ thả bom Napalm bị phòng không địch bắn rơi tả tơi trong mật khu phiá tây vùng núi Bạch Mã. Th/úy Thư, Nhàn bị mất tích tại bờ biển Ninh Hòa trong vụ hành quân truy kích địch. Nhưng ấn tượng Người Con Gái Áo Trắng khi tôi gặp lại bất cứ một cô gái nào mặc áo dài trắng... gợi lại hình bóng Người Con Gái Áo Trắng Ðiện Bàn được nâng dìu đi chân bước khấp khểnh vạt áo dài trước ôm vào ngực máu đào thắm đỏ của năm xưa... Hình ảnh áo dài trắng vẫn theo đuổi hồn tôi trọn cuộc đời Bảo Quốc Trấn Không và có lẽ theo tôi cho đến hơi thở cuối cùng trên bước đường lưu lạc nơi xứ người.

 

Chừng một năm sau vào khoảng tháng mười hai năm 1963 chúng tôi được đề cử làm Chỉ huy trưởng Liên Ðoàn Yểm Cứ ở Không đoàn 41 Chiến thuật KQ đầu tiên tại Ðà Nẵng do Th/tá Phạm Long Sửu người anh cả KQ đáng kính và nhiều nể, thành lập trong đà bành trướng của KQVNCH.

 

Thiên Phong Nguyễn Hồng Tuyền

 

Buổi Liên Hoan của Phi Ðoàn 217 H34.

 

 

 

 

 

Buổi tiệc ăn mừng của phi đoàn 217 vào khỏang tháng sáu năm 1964 do Ðaị úy Ông Lợi Hồng Phi Ðoàn Trưởng thành lập ở Ðà Nẵng. Khi nhận H34 do Thủy Quân Lục Chiến Mỹ giao lại, được tổ chức tại phòng họp khá rộng và khang trang của Hàng Không Việt Nam ở lầu một phòng khánh tiết dưới đài kiểm soát không lưu phi trường Ðà Nẵng. Nhiều quan, quân cán chính Việt Mỹ tham dự. Quân Ðoàn có Th/tướng Nguyễn Chánh Thi và đoàn tùy tùng. Bên Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ có Tr/Tướng Walte và đoàn tùy tùng. Không Ðoàn 41 có Th/tá Phạm Long Sửu và anh em Phi Ðoàn 516 Phi Hổ Khu Trục do Ðại/úy Ôn Văn Tài Phi Ðoàn Trưởng hướng dẫn. Bên dân sự có Ðại/tá Thiện, thị trưởng Ðà Nẵng, và rất nhiều người đẹp từ các trường Ðồng Khánh và trường Ðại Học Sư Phạm Huế vào rất đông. Ở địa phương, Trường Nữ Trung Học có một người đẹp như hoa hậu... Cô nữ học sinh lớp 11 tên Thái Thu làm chóa mắt nhiều chiến sĩ và các niên trưởng của vùng hỏa tuyến. Sau các thủ tục chào cờ Mỹ Việt, Mặc Niệm xong, bài diễn văn đầu tiên do người anh cả của Không đoàn 41 Thiếu Tá Phạm Long Sửu chào mừng các quan khách Việt Mỹ và cầu chúc PÐ 217 gặt hái nhiều kết quả trên chiến trường QÐI.. Trong bài diễn văn Thiếu Tướng Nguyễn Chánh Thi thân mến chào tất cả quan khách tham dự buổi lễ hôm nay và khen ngợi sự thành công vượt bực của PÐ 217. Còn riêng với Tr/Tướng Walte và phái đoàn quân sự ghi ân đặc biệt của dân tộc VN nói chung và nói riêng về Quân Ðoàn I. Sự cảm tình sâu đậm dành riêng cho tất cả quân nhân các cấp của Sư Ðoàn Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ. Dưới quyền chỉ huy của Tr/Tướng Walte đã cùng chung vai đấu cật chiến đấu anh dũng với quân đội VNCH trong mọi tình huống để chống trả lại quân thù Cộng Sản Bắc Việt xăm lăng. Tới đến bài diễn văn của Tr/Tướng Walte, trước hết ông kính chào toàn thể quan khách tham dự hôm nay, và ông rất hãnh diện với những lời khen, lời cám ơn, lời chúc tụng của Th/Tướng Nguyễn Chánh Thi và Th/tá KÐT41 Chiến Thuật Phạm Long Sửu đối với Sư Ðoàn dưới quyền chỉ huy của ông. Ông rất hứng thú vui vẻ được làm việc chung với Th/Tướng Nguyễn Chánh Thi Tư Lệnh Quân Ðoàn I, sau cùng ông gởi lời khen ngợi đến Phi Ðoàn Trưởng 217 Trực Thăng Ðại/Úy Ông Lợi Hồng và các sĩ quan phi công với phi hành đoàn, cùng các quân nhân các cấp của Kỹ Thuật đã cố công học tập và huấn luyện trong thời gian kỷ lục ba tháng đã hoàn thành một phi đoàn tân lập và đầy đủ khả năng hành quân đổ bộ cho KQVNCH. Sau cùng Phi Ðoàn Trưởng 217 Ðại/úy Ông Lợi Hồng cám ơn tất cả quan khách hiện diện đông đủ ngày hôm nay và hứa cùng Th/ Tướng Nguyễn Chánh Thi, Phi Ðoàn sẽ cố gắng hết lòng để hoàn thành các phi vụ đổ quân trong tương lai cho Quân Ðoàn I. Còn riêng về Tr/Tướng Walte TQLC Mỹ, và Trung tá Mỹ (Không nhớ tên) Phi Ðoàn Trường Phi Ðoàn Trực Thăng H34 Mỹ, Ðại/úy Ông Lợi Hồng nhân danh Phi Ðoàn Trưởng Trực Thăng 217 gởi đến toàn thể quân nhân và sĩ quan các cấp Hoa Kỳ đã ra công huấn luyện cho phi đoàn 217 VNCH, lòng tri ân và tình cảm sâu đậm ngàn đời không bao giờ quên ơn các người bạn Mỹ của các quân nhân PÐ217. Sau cùng Ðại/úy Hồng không quên cám ơn sự ưu ái của Th/tá KÐT 41 Chiến Thuật dành cho các nhân viên PÐ 217 trong khi tạm trú để huấn luyện tại Ðà Nẵng. Trước khi dứt lời Ðại/úy Ông Lợi Hồng mời toàn thể quan khách cùng dự buổi cơm thân mật ra ngoài sân trước cửa phòng họp. Các phu nhân của sĩ quan trong phi đoàn tiếp tân xếp hàng đón rước quan khách.

Tr/úy Châu Rết trưởng phòng hành quân đọc thực đơn:

1/ Bê thui. 

2/Bò Steak BBQ. 

3/Tôm Rằng Nướng.( tại Chổ). 

4/ Bánh mì và Sà lách 

5/ Nước Uống; Johnny Walker, Beer, Coke, 7Up. 

Quan khách và các quân nhân cơ hữu của phi đòan được một bữa cơm ngon no nê. Nhứt là các người bạn Mỹ rất thích món tôm rằng nướng và món bê thui. Họ ăn hết dĩa nầy tiếp tục thêm dĩa khác. Những tiếng Dô...Dô...Dô vang dậy cùng hòa hợp tiếng... Chear... Chear.... Chear.... rền vang đang nói lên sự liên kết giữa hai dân tộc Việt Mỹ cùng nhau quyết chiến đấu chống quân thù cộng sản. Quyết bảo vệ miền đất tự do Việt Nam Cộng Hòa tiền đồn chống cộng ở Miền Ðông Á Châu. Phòng khánh tiết được trang hoàng chu đáo cho đêm dạ vũ hôm nay. Gồm có hai ban nhạc, một của Thủy Quân Chiến Mỹ và một của KQVN do Tr/úy Tuynh hướng dẫn từ Saìgòn ra. Cho nên đầy hứa hẹn một đêm nhạc dạ vũ vui tưng bừng.Trái đèn địa cầu xoay muôn màu, tiếng nhạc Pasodoble bắt đầu nổi lên, Ð/úy Phi đoàn trưởng khả ái, hào hoa Ông Lợi Hồng dìu người đẹp Ðà thành tên Thái Thu bước ra sàn nhảy để mở đầu buổi dạ vũ hôm nay. Theo đó các quan khách và nhân viên của Phi Ðoàn cũng ra khiêu vũ cùng các người đẹp điạ phương trong bản Paso đầu tiên. 

Hầu như toàn thể các người dự tiệc hôm nay đều chung vui trong đêm dạ vũ nầy, sàn nhảy đã đầy chật các cập trai gái dìu nhau qua các điệu nhạc Rumba, Bolero, tiếp theo Slow Rock, Mambo, Twist... làm cho đêm liên hoan được vui tươi thành công trọnTôi để ý trong một góc bàn ngồi ngoài sân có một tà áo trắng không bao giờ khiêu vũ. Mỗi lần ban nhạc trỗi lên tất cả người ngồi chung bàn đều ra sàn nhảy chỉ còn một mình nàng ngồi lại vẻ mặt tư lự nhìn ra khoảng trời đêm với nghìn ánh sao buồn mênh mông. Tôi bước tới cúi đầu chào làm quen: 

- Xin chào người đẹp... cho phép tôi, ngồi lại cùng bàn để trò chuyện cho vui.. 

- Dạ, chả dám ạ, xin ông cứ tự tiên....

Tôi kéo ghế ngồi kế bên nàng... Sao người đẹp không ra khiêu vủ?

- Em cảm thấy không có thích thú đêm nay. 

- Xin người đẹp cho biết quý danh... Tên em là Thùy Trang..... Tôi là Tuyền... Hân hạnh gặp ông Tuyền... Hân hạnh được biết Thùy Trang... 

- Tên Thùy Trang đẹp quá... Nhưng còn kém xa... người.

Thùy Trang cười mỉm....

- Ðúng là Phi hổ Tím Một rồi phải không?

Tôi quá ngạc nhiên:

- Sao Thùy Trang lại biết Call Sign (Phi Hiệu) của tôi...

- Vì Em có người anh cô cậu mới về Phi Ðoàn 516 Phi Hổ Khu trục, anh tên là Nguyễn Du.... Mỗi lần về thăm gia đình thường hay nhắc tới các ông thầy Papa Sửu, thầy Tuyền và Tài nhiều lắm.... 

Bản Tango vừa dứt để thay ban nhạc của TQLC Mỹ vào. Từ cặp vào bàn ngồi nào là Huề, Sỉ Cò, Cương Khào, Ninh Lumumba, Ðiềm Sihanouk, Lê Trai Ðại Ðức, Hưng Phệ, Hợi Voi, Phiên Rách, Vũ Nghê Ngô những cây bay của phi đoàn và Nguyễn Du người phi công đẹp trai, trẻ nhứt và gan lì của Phi Ðoàn 516 Khu Trục thấy tôi liền đứng nghiêm chào và nói:

- Kính chào thầy....

Tôi chào lại vừa nói:

- Hèn chi Thùy Trang biết từ đầu cánh chong chóng cho đến cuốí đuôi phi cơ của PÐ 516 hết rồi... không còn gì giấu được Thùy Trang nữa đâu, phải không Phi Hổ..Vàng3...

Nguyển Du cười...

- Dạ thưa vâng. 

Ban nhạc Mỹ đã chuẩn bị xong, bản nhạc đầu tiên Let's Twist Against được đánh lên nghe như máu trong người được vận chuyển mau hơn và sự vận động tay chân càng thêm hăng hái bội phần. Nhạc càng đánh những cặp trai gái càng nghiêng qua nghiêng lại, các động tác của toàn thân người khiêu vũ càng lắc... đít lắc, đầu lắc, chân tay lắc, mình lắc, vú ngực lắc,...theo tiếng hát của người ca sĩ Thủy Quân Lục Chiến Mỹ.... đã đem hết nghệ thuật trình diễn hòa vào lòng nhạc và lòng người làm thêm sống động đêm khiêu vũ hôm nay. Tôi để ý thấy Thùy Trang có một nỗi buồn kín đáo trong tâm tư dù rằng ngoại cảnh đang vui tươi rộn rã. Tôi lên tiếng nhỏ nhẹ hỏi: 

- Thùy Trang có tâm sự buồn phải không? Sao tôi thấy Thùy Trang hình như có một tâm sự buồn kín đáo nên không được vui trong đêm nay. 

Lời nói của tôi vừa dứt, như một động lực mãnh liệt khơi dậy nỗi buồn đau đã chôn sâu từ lâu trong tìm thức: Thùy Trang nhìn tôi nhẹ nhàng trả lời: 

- Em đâu có buồn đâu... 

và cúi đầu xoay mặt nhìn qua hướng khác để che dấu hai giọt lệ đang từ từ ứa chảy trên gò má xinh xinh của người trinh nữ. Nàng vội lau đi những giọt lệ rồi nhìn qua tôi. Trên lông mi còn đọng lại những giọt nhỏ li ti lóng lánh như những giọt sương đêm còn tụ động trên đọt lá cỏ may, làm gương mặt Thùy Trang càng đẹp thùy mị và dễ thương hơn. Tôi vội có lời xin lỗi: 

- Nếu tôi có nói lời gì khơi động nỗi buồn thầm kín của Thùy Trang, cho tôi muôn vàn xin lỗi!!! 

- Không đâu, ông Tuyền không có làm gì Thùy Trang buồn và nếu Thùy Trang có làm ông Tuyền không được vui trong đêm nay, xin tạ tội vậy. Ðêm đã khuya, xin ông Tuyền cho Trang về được không? vì ngày mai Trang còn phải dậy sớm để về Huế thăm gia đình. 

Tôi liền nói: 

- Thùy Trang muốn tôi đưa về với một điều kiện! 

- Ðiều kiện gì vậy? 

- Xin đừng gọi tôi bằng Ông. 

- Vậy Thùy Trang gọi anh Tuyền hay Tím một? 

- Thùy Trang gọi sao cũng được. 

- Gọi Ông Tuyền không ổn vì thiếu tế nhị và khách sáo, thôi xin gọi bằng Anh Tuyền hay Tím 1, để cho có vẻ thân tình trong cùng gia đình Phi Hổ và trọng nể để buổi ban đầu gặp gỡ thêm phần ấm êm vui vẻ mong ta còn nhớ mãi về sau. 

Tôi đứng dậy kéo ghế để mời Thùy Trang cùng ra xe, tôi hỏi xem Thùy Trang về đâu? Nàng bảo, em về bên Sơn Trà mà Không Quân các anh thường gọi xóm Monkey Mountain. Xe chạy ra khỏi cổng phi trường tôi quẹo tay phải hướng về phía biển để đưa Thùy Trang về nhà. Xe chạy qua khỏi cầu... vừa vào con đường nhỏ của quận, có rất nhiều ổ gà làm xe Jeep chao đảo sụp xuống nhồi lên. Chắc có lẽ vì chiến tranh, quận năm Sơn Trà chưa có tiền để tu bổ nên tình trạng đường xá càng ngày càng tệ hơn. Nhưng bù lại, nhìn ra ngoài biển đèn ghe đánh cá về đêm sáng cả một vùng trời, như một thành phố nổi riêng biệt ngoài khơi đẹp đẽ muôn màu dễ làm ấm dịu lòng người đang có tâm sự đau buồn như Thùy Trang. Xe rẽ qua con đường tráng nhựa cũ kỷ đầy hang lỗ chắc còn ghi lại vào thời kỳ Pháp thuộc năm xửa năm xưa. Ở chân núi Sơn Trà chạy thẳng ra biển xóm nhà vách tường và lợp ngói đỏ có vườn tược chung quanh, những hàng dừa xanh nên thơ cành lá xum xê đang reo đùa trước gió. Thỉnh thoảng Trang cho tôi biết có những vườn nhãn hột tiêu trái vừa chính mùi thơm như mời gọi đám dơi tứ phương tám hướng về hưởng thụ. Xe chạy tới bờ biển, Thùy Trang chỉ cho tôi đậu xe dưới hàng dương liễu thân cây nghiêng về phía đất liền chứng tỏ hướng gió biển luôn luôn thổi mạnh từ biển vào đất. 

Thùy Trang nói: 

- Chúng mình ngồi đây nhìn trời biển về đêm được không anh? 

Tôi trả lời: 

- Anh hoàn toàn đồng ý và chấp thuận lời đề nghị của Thùy Trang. 

Tôi cho xe đậu lại chiều ngang theo bãi biển dưới hàng dương liễu, về đêm nhìn ra biển khơi những đóm đèn mờ tỏ của các thuyền đánh cá như cả một thành phố trên mặt nước chông chênh. Trên vòm trời có vạn tỷ vì sao như một bức tranh thiên nhiên êm đẹp diệu hiền khó tả và làm lòng người có tâm sự buồn đau như Thùy Trang cũng được trầm lắng xuống dễ chịu hơn trong cảnh nên thơ hiếm có như đêm nay. Tôi vào xe lấy áo ấm jacket phi hành để trải xuống bờ biển cho Thùy Trang ngồi dựa lưng vào thành xe jeep. Trời về đêm vào khoảng tháng sáu nóng bức vì ảnh hưởng gió lèo thổi qua khi ngồi xuống bãi cát vẩn còn thấy ấm bàn tọa. Trên bờ biển nhờ đêm nay trời yên lặng không gió không một đợt sóng, những con dã tràng hăng say tranh đua nhau xe cát làm từng viên nhỏ như đang vui chơi trong trời ấm áp.Thùy Trang và tôi ngồi kế bên nhau tâm sự giữa trời nước mênh mông, mặt biển yên như tờ. Thùy Trang cất tiếng êm nhẹ : 

- Anh có biết không, Thùy Trang chỉ tay về hướng Bắc, nơi bãi biển nhỏ bé xinh đẹp nên thơ và kín đáo nầy ngày xưa có những nàng tiên xuống trần gian để đi tắm biển đó! Nếu ban ngày mình sẽ nhìn thấy các cánh bông hoa rừng xinh tươi muôn màu mọc lên từ các kẻ hở đất cát và vách đá dựa lưng vào Núi Sơn Trà trông rất nên thơ và một vẻ đẹp thiên nhiên tuyệt diệu. Bức tranh thiên tạo ít có trên trần gian. Không chừng vì lẽ đó nơi đây ngày xa xưa các nàng tiên xuống trần để vui đùa cùng sóng nước biển trong xanh trên nền cát trắng mịn, ngắm nhìn các vách đá với những hoa đẹp muôn màu. Các nàng tiên với thân hình đẹp hoàn hảo, dưỡng nghỉ dưới những tàn cây xanh tươi rợp bóng mát trong mùa nắng hạ, nên nhân gian mới cho tên rất mỹ miều thơ mộng bãi biển Tiên Sa. 

- Anh cũng mới biết đây, nghe nói ngày xưa có các nàng tiên giáng xuống trần để vui đùa sóng nước với cảnh thiên nhiên. Anh không biết các nàng tiên ngày xưa đẹp như thế nào vì anh lúc đó còn là hạt bụi nhỏ đang bay lang thang ngoài không gian....nên chưa được gặp bao giờ. Nhưng có một điều anh chắc chắn rằng các nàng tiên xuống đây mặc quần áo tắm toàn kiểu rất mắc tiền hiệu.....No...Kini... 

Thùy Trang liền hỏi: 

- Em thường nghe nói áo tắm cho phụ nữ là phải Bikini hay quá lắm...Monokini, chớ còn em chưa bao giờ nghe thứ áo tắm kiểu No...Kini. Vậy No... Kini là thứ hiệu nào, mặc ra sao vậy anh?? 

Tôi nhìn Thùy Trang nghiêm nghị giải nghĩa: 

- Bi...là hai mảnh, Mono là một mảnh ...... No ..Kini là.... không có mảnh nào hết. Nghĩa là ‘'cuồng trởi''..... 

Thùy Trang đôi mắt diụ vợi thơ ngây, không một lời, với một cử chỉ nhè nhẹ nàng hất cánh tay vào hông tôi, nhìn tôi mỉm cười đầy trìu mến và nói: 

- Anh nầy.... 

Ngồi bên nhau nàng kể tôi nghe về gia đình nàng di cư từ Bắc vào Nam năm 1954, cư ngụ tại Huế. Người cha ngày trước đi lính cho Pháp vào Nam được đi học ra trường sĩ quan Ðồng Ðế chừng độ năm mươi tuổi đang làm đại đội trưởng Ðịa Phương Quân đóng đồn ở quận Điện Bàn tỉnh Quảng Nam. Hai người anh một người hai mươi ba tuổi đang học trường kỹ sư Phú Thọ và một người anh hai mươi mốt tuổi kế Thùy Trang đang học ở trường Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Ðức, nàng mười chín tuổi hiện đang ở với cô chú để theo học trường nữ trung học.....tại Ðà Nẵng và đã thi lớp 12 xong. Năm nay phải vào Qui Nhơn bốn năm nữa cho xong Ðại học Sư Phạm nên không ở theo gia đình được. Nàng còn hai đứa em một gái kế nàng 15 tuổi đang bắt đầu vào trung học Ðồng Khánh và em trai mới ba tuổi. Tôi nhìn nàng cười hóm hỉnh và nói: 

- Ông già còn Gân quá há!!! nên em mới có đứa em mới ba tuổi đầu? 

- Mẹ em đâu có muốn đâu nhưng anh phải hiểu cho đời lính chiến, lâu lâu ba em mới về thăm nhà mà lỵ... Thả giàn.

Tôi bảo cho nàng biết về địa thế ở quận năm, phiá Bắc có núi Sơn Trà, có bãi biển Tiên Sa, ở phía Ðông có biển Mỹ Khê, ở phía Tây thạch động Tiên Trú tại núi Ngũ Hành về phía nam. Cho nên các nàng tiên xuống Tiên Sa tắm biển, lên núi Sơn Trà thưởng thức trà và đàm đạo, rồi về thạch động Tiên Trú... để ngủ qua đêm.. Ngọc Hoàng đã dành một chổ....rất tiện lợi cho các nàng Tiên xuống trần.....

Tôi ngừng ở đây....Thùy Trang nhìn tôi mơ màng trìu mến hỏi: 

- Tiên xuống trần, rồi để làm gì....nữa hở anh...??? 

- Thì các nàng Tiên đi...nghỉ mát.Vacation...và có một nàng tiên mới nhìn dễ mến , nhìn lâu thêm yêu.... Nàng lỡ tay đập bể bình nước của Ngọc Hoàng cho đem theo uống chớ sợ nước trần gian ô nhiểm nên bị đày ở lại và hiện giờ hình như đang lang thang....ở bãi Tiên Sa trong đêm nay...

Và...tôi ngưng ở đây...Trang nhìn tôi hỏi: 

- Nàng tiên đang lang thang.... làm gì ở đâu hở anh??? 

Tôi nhìn thẳng vào đôi mắt ngây thơ dịu hiền của Thùy Trang, rồi thả tầm mắt ra biển đông: 

- Nàng Tiên đang.... đang.....ngồi kế bên anh đây chắc đúng rồi thì phải? Chớ còn gì nữa...phải không em. 

Nàng mỉm cười e lệ nhìn tôi và bảo...

- Anh sao khéo nói... 

Hai đứa chúng tôi cười bên nhau trong đêm thanh vắng giữa trời nước mênh mông. Nàng dựa đầu vào vai tôi hơi thở nhè nhẹ thơm và trìu mến ngước nhìn tôi.... Tôi luôn thận trọng và thương nể những người con gái tôi gặp lần đầu tiên...đó là tánh của tôi không bợp chợp không lợi dụng. Chúng tôi đứng dậy thả dài theo bãi biển, tôi kể chuyện ra đây nhận nhiệm vụ mới ở căn cứ KQ Ðànẳng. Mấy người bạn dẫn đi chung quanh cho biết dân tình, anh thấy địa hình của khu nầy rất hữu tình thật đẹp. Phía bắc có núi Sơn Trà, có bãi biển xinh xinh đẹp nên thơ Tiên Sa, bên ngoài có biển Mỹ Khê, bên phía trong có núi Ngũ Hành toàn đá cẩm thạch... Có chùa Non Nuớc, có thạch động Tiên Trú, xa hơn nữa theo tỉnh lộ lần về phía nam có quận Ðiện Bàn. 

Tiếng Ðiện Bàn vừa dứt, chúng tôi đang đi, Thùy Trang đứng lại xoay qua nhìn tôi với ánh mắt ngỡ ngàng thoáng buồn và thốt lên lời hơi rung động: 

- Anh cũng biết Ðiện Bàn nữa sao?

Thùy Trang quay trở về lại hướng xe Jeep đang đậu, tà áo trắng bay phất phơ, bước đi khập khểnh, chiếc khăn tay che vào miệng để khỏi bật lên thành tiếng khóc. Tôi bàng hoàng bước theo Thùy Trang và cất tiếng xin lỗi: 

- Thùy Trang em, nếu anh có nói gì không phải và chạm phải vào đời tư và tâm sự u buồn của em. Anh xin muôn vàn tạ lỗi vậy!! 

Nàng vẫn khóc thút thít và nói thì thầm bên tai tôi: 

- Trời ơi!! Em khổ lắm anh Tuyền ơi!!! Em khổ lắm!!!! 

Khi đến xe Jeep chúng tôi ngồi xuống, nàng tựa lưng vào tôi dù rằng Thùy Trang đang cắn chặt chiếc khăn tay vẫn còn khóc, bờ vai run run và than thở trong tiếng nấc:

- Trời Phật ơi!!! Ðiện Bàn ơi!! Tại sao lại xảy ra cho đời con phải khổ thế nầy???

Tôi khuyên Thùy Trang:

- Trong đời ai cũng có lầm lỡ, đừng mang theo mãi trong lòng để càng ngày càng lớn nặng tâm tư làm em khổ thêm thôi. Em hãy nói ra đi để được vơi bớt sự đè nén lòng mình trong muôn một. 

Thùy Trang càng nấc lên nhiều hơn, tôi tiếp tục khuyên nàng: 

- Nói đi em, nói đi em, để anh chia xẻ cùng em cho vơi được nỗi tâm sự buồn đau trong tận cùng của con tim. 

Sau một hồi, tiếng nấc lần bớt lại, Thùy Trang ngước nhìn tôi,với hai dòng lệ nóng tràn dâng chan hòa lên khóe mắt với khuôn mặt nặng trĩu buồn đau và nói: 

- Em chưa lầm lỗi trong đời, em chỉ là người con gái trời bắt phải khổ đau thôi. Vết thương đó còn lưu mãi trọn đời, khi em tắm dòng nước mát chảy vào càng đau nhói vào tim, thay quần áo đụng vào còn ê ẩm xót xa và khi nhìn xuống càng buồn hận não lòng cho đời người con gái. Em sẽ mang nó mãi mãi trọn đời cho đến hơi thở cuối cùng khi em đi về miền Miên Viễn...

Thùy Trang bắt đầu kể:

- Mùa hè 1962, lúc bải trường, nếu em chịu nghe lời và cùng đi với mẹ về Huế thì việc chắc không xảy ra. Em được Dì mời cùng đi chung vì em nóng lòng muốn xuống Ðiện Bàn để gặp thăm.....

- Chắc em nôn nóng đi gặp người tình muôn thuở hay người yêu suốt đời của em chớ gì???...

Thùy Trang nghe tôi hỏi bắt đầu khóc ra tiếng trở lại....

- Không đâu anh.... 

-Hoặc Thùy Trang lỡ gặp một chàng đẹp trai mộng tưởng sở khanh nào đó, phá đời trinh nữ, rồi gã quất ngựa truy phong để hận muôn đời trong lòng người trinh nữ phải không em??? 

- Không phải đâu anh!!! Em đi xuống thăm ba.... bằng xe đò... 

- Trời ơi!!! Người cha nào tàn nhẫn vô lương tâm vậy, con gái xuống thăm mà để hận lòng tủi nhục suốt đời cho con vậy??? 

- Không phải như anh tưởng đâu... nghĩ vậy làm thêm đau lòng Trang...Xe đò xuống gần đến quận Ðiện Bàn còn cách chừng hai cây số đến chỗ ba em đóng đồn Ðiạ Phương Quân. Thấy có lính ra chận xe, hành khách tưởng đâu Địa Phương Quân trạm xét hỏi như thường lệ, nào ngờ đâu chúng nó lùa tất cả mọi người xuống trong đám rừng.... 

- Chắc lính ÐPQ chúng nó làm hỗn hại đời trong trắng của em phải không??? Cho anh biết đồn ở đâu, nếu có một cơ hội nào bay ngang qua anh gởi tặng cho chúng nó vài trái bom 500 cân nhắc nhở anh em đừng hãm hại dân lành, phải bảo vệ sinh mang tự do và đời sống của họ. 

- Không đâu ...Tím 1 ơi!!! Đó là tụi lính việt cộng đang định tấn công đồn ba em đó... và phi cơ khu trục bay đến yểm trợ. Chiếc phi cơ đầu bắn một loạt súng, phi cơ thứ hai vừa nhào xuống... ngưng bắn lại kéo lên, may là không thả bom. 

Tới đây Thùy Trang ôm ngực, càng sùi sụt khóc lớn trong tiếng thở than...

- Sao Trời Phật không cho lằn đạn hôm đó nhích thêm chừng một phân nữa đi thẳng vào xuyên tim em chết tức khắc trong giây phút... Như vậy sướng cho đời con gái của em hơn. Sao trời lại bắt đời người con gái phải mang vết đau và tật suốt đời... và phận sự làm mẹ trong tương lai không còn đủ khả năng nữa. 

Vì khi Thùy Trang đang chơi vơi trong biển đau khổ tột cùng như muốn tìm ai chia sẻ và nâng đỡ tinh thần. Nàng không ngần ngại trịt áo dài và áo nịt xuống một phần để lộ rõ ra trên bộ ngực hai bầu sữa của Thùy Trang không còn nguyên vẹn vì viên đạn lạc vô tình. Chỉ còn để lại những vết thẹo sần sùi lồi hủn vì đường may không khéo tay của các y tá bịnh viện. Tôi siết chặt Thùy Trang trong vòng tay, tim như đứng lại, thiếu nhịp không đủ chuyển máu đi nên đóng băng toàn thân, toát mồ hôi lạnh. Ðời sao quá nghiệt ngã để tôi rơi vào một tình huống phũ phàng ngang trái thế nầy. 

Nỗi đau buồn cùng cực của người nữ học sinh ngây thơ vô tội vì chữ hiếu đi thăm cha mà nên nổi nầy...đang dày xéo con tim tôi. Lời nguyền và tinh thần trách nhiệm của đời phi công Khu Trục là bảo vệ dân lành đang cắn xé và nghiến nát tâm cang tôi, sẽ pha hòa lẫn vào dòng máu tôi cho đến trọn đời. Tôi cắn môi đến rỉ máu để khỏi bật tiếng khóc. Nhưng hai giòng nước mắt âm ấm rơi từ từ xuống trên lòng ngực Thùy Trang, không chỉ mong để chia bớt và xoa dịu phần nào vết thương đau ngàn đời trên người trinh nữ, mà mong hòa lòng hối hận mông lung đang tràn ngập đời phi công khu trục của tôi... với tâm sự người con gái trời bắt khổ đau. 

Sau những tiếng Thùy Trang thở than, nào là Tím 1 ơi!!! Phi cơ khu trục đến...bắn loạt súng đầu...phi cơ thứ hai nhào xuống.....ngưng bắn ...kéo lên...đã kéo trả tôi trở về với dĩ vãng... 

Ngày X tháng Y, năm 1962...vào một buổi chiều hè....Panama gọi phi vụ khẩn cấp... Tiếng Bạch Ðằng gọi ...Phi Hổ Tím....Hình ảnh...Người áo trắng...Ðiện Bàn...đi khấp khểnh tay ôm ngực đầy máu tà áo sau bay phất phới...đã theo đuổi tâm hồn tôi trong hai năm qua. Giờ đây tôi gặp được người bằng da bằng thịt, người nữ sinh nạn nhân của chính tay tôi và phận sự của đời trai tôi không làm tròn cho đất nước để bảo vệ dân lành. Chính tôi là thủ phạm và chịu trách nhiệm viên đạn vô tình đã để lại vết hằn trên thân thể của người trinh nữ vô tội giữa hai lằn đạn bạn và thù. Tại sao cao xanh quá trớ trêu và thần linh trên quả đất tròn rộng lớn nầy, đã xui khiến cho tôi gặp lại nạn nhân đau khổ mà chính tay tôi gây ra. Thùy Trang cài nút áo lại sau mấy giọt nước mắt ấm xót đau thương, ăn năn hận tủi rơi vào vùng đỉnh cao chiến thuật của Thùy Trang. Nàng ngước mặt lên: - - Tím 1 cũng khóc để chia sẻ nỗi đau buồn vô tận của tâm tư cùng Trang phải không?? 

- Ðúng vậy, nhưng anh xem đó không chỉ là phần thân thể thầm kín của Thùy Trang, mà nơi tượng trưng lòng đất mẹ bị cày nát vì những vết bơm đạn đau thương hằng ngày chính các anh phải mang đi để ngăn giặc chặn thù trên mảnh quê hương đất Việt miền Nam. 

Trời đã quá khuya hơn hai giờ sáng rồi, muôn vạn vì sao đang chớp trên nền trời, gió im lặng. Cảnh vật như chìm đắm vào tâm tư đau buồn của Thùy Trang hòa cùng nỗi lòng tan nát vì trách nhiệm của người phi công khu trục trong thời chiến tranh tương tàn của đất nước Việt. Thôi chúng mình về đi em, Thùy Trang lên xe, tôi rồ máy trực chỉ nhà nàng. Chừng năm phút sau tôi ngừng lại trước cửa một nhà khá khang trang, cổng vào có giàn hoa thiên lý và hoa lài tỏa một mùi hương thơm dìu dịu làm dễ chiụ lòng người trong đêm khuya thanh vắng. Trước khi bước xuống xe Thùy Trang bảo: 

- Nếu vì chuyện của em làm buồn lòng Tím1 đêm nay, Thùy Trang xin tạ lỗi cùng Tím 1. Bước xuống xe nàng đi vòng qua bên trái chỗ tôi lái xe đứng sát bên nhìn tôi và nói : 

- Một lần nữa xin cám ơn Tím 1 đã cho Thùy Trang một đêm tâm sự đầy tình người. 

Tôi chúc lại Thùy Trang mau thành cô giáo sư đẹp của miền Sông Hương Núi Ngự. Nàng mở cổng hàng rào đi vào gần đến cửa nhà, tôi biết thế nàoTrang cũng trở ra. Cái ví của nàng còn nằm dưới ghế xe tôi, lẹ tay tôi móc túi sau quần lấy trọn bao thơ mà lương của tôi vừa lãnh hồi chiều nhét vào chiếc ví của Thùy Trang. Em trở ra đứng áp sát bên tôi, ngước mặt nhìn tôi với đôi mắt ngây thơ như đang chờ đợi. Tôi lắc đầu nhẹ, lòng tôi ngỗn ngang. Tôi đang cầm chiếc ví, tôi trao cho Trang, nàng nói cám ơn và hôn nhẹ vào bên má trái của tôi rồi thoăn thoắt đi vào nhà. Tôi nói vói theo khi Thùy Trang khi vào đến cổng:

- Anh có gởi cho em món quà trong ví. 

Tôi rồ xe chạy đi, Thùy Trang chạy trở ra cổng và còn đứng trông theo cho đến khi xe quẹo vào tỉnh lộ. Tôi vẫn còn thấy màu áo trắng và sẽ theo đuổi hồn tôi trọn kiếp người. Ngày mai, sau khi đi bay về nhận được tờ thư của Thùy Trang do Phi Hổ Vàng 3 Nguyễn Du đem đến, nàng có đôi lời cám ơn Tím Một và sẽ dùng món quà trọn cho năm học tới ở trường Sư Phạm Qui Nhơn. 

Tháng sáu 1964 tôi đổi về làm chỉ huy trưởng Căn Cứ Tân Sân Nhứt tôi không theo dõi Thùy Trang cho đến năm 1972, khi ra nhận lãnh Căn Cứ 60 Chiến Thuật KQ Phù Cát do Mỹ trao lại, trong chương trình Việt Nam hóa chiến tranh. Tôi có dịp ra thăm Căn Cứ KQ Ðà Nẵng gặp lại Thiếu tá Nguyễn Du, cho biết Thùy Trang đã ra Trường Sư Phạm và làm việc tại Qui Nhơn về thăm gia đình ngoài Huế miền An Cựu vào dip Tết Mậu Thân, cả gia đình đã bị thảm sát, chỉ trừ có người anh thứ ba còn sống mà không biết bây giờ đang phiêu bạt nơi đâu.....

Lời cuối với Thùy Trang 

Thùy Trang em, Tím 1 xin tạ tội cùng em vì anh đã không đủ can đảm thú thật với em, anh chính là người đã gây ra sự đau khổ trọn đời của vết thương trên thân thể người trinh nữ. Anh không muốn gây cho em một ấn tượng ác cảm với các anh em trong Phi Ðoàn 516 Khu Trục Phi Hổ. Trong lúc em có cảm tình sâu đậm và coi mình cũng là một phần trong gia đình Phi Hổ vì có người anh chú bác Phi Hổ Vàng Thiếu tá Nguyễn Du. Tím 1 giữ kín và mang nặng trong lòng nỗi buồn thầm kín tàn phá tâm tư, anh chưa bao giờ thổ lộ cho ai biết đúng nửa thế kỷ từ năm 1964 cho đến nay 2014. Tà Áo Trắng của Cô Gái Ðiện Bàn vẫn vờn bay trong tiềm thức anh, khi Tím 1 nhìn thấy tà áo trắng nào tung bay, anh liên tưởng ngay đến tà áo Thùy Trang...Cô Gái Áo Trắng Ðiện Bàn. 

Thùy Trang mến, anh đã Tám mươi hai tuổi rồi, anh không còn mang nổi mối ân hận về lòng trách nhiệm đó nữa. Vì sau khi anh mổ tim từ 9/9/10 cho đến hôm nay 1/18/14, hơn bốn năm bốn tháng rồi anh không viết thêm được dù chỉ đoạn chót, lúc từ biệt Thùy Trang bên hàng rào đầy hương thơm bông lài và hoa thiên lý trong đêm buồn không trăng nhưng nhiều sao tâm sự cùng nhau ở bãi biển thơ mộng gần Tiên Sa. Mỗi lần anh ngồi xuống là anh thấy màn ảnh trên máy vi tính mờ đi khi giọt nước mắt rơi trên máy. Gợi lại hình ảnh những giọt nước mắt của ngày xa xưa rơi trên vết thương muôn đời không bao giờ lành trên cơ thể em hiện ra làm anh lạnh run và toàn thân tê dại anh phải tắt máy đi. Nhưng hôm nay anh phải cố gắng lắm viết cho xong lời nguyện cầu để gửi đến chúc Thùy Trang và gia đình được hưởng trọn Nhan Thánh Chúa vĩnh cửu nơi Thiên đàng.

 

Thiên Phong

Nguyễn Hồng Tuyền