Cần xem tiết mục nào xin click vào Trang bài / webpage trong MENU dưới đây:

TRANG CHÍNH / HOME  . BÀI MỚI ĐĂNG SINH HOẠT HOUSTON, TX  .  ĐH XXIII-MARYLAND 2019  .  ĐH XXII-SAN JOSE 2018  .  ĐH XXI-HOUSTON 2017   .  SINH HOẠT CANADA  .  SINH HOẠT ÚC CHÂU  CÁC ĐẶC SAN ĐH  .  SINH HOẠT BẮC - NAM CALI . SINH HOẠT VÙNG NEW ENGLAND . SINH HOẠT VIỆT NAMTIN SINH HOẠT CÁC NƠI  GÓC SÂN TRƯỜNG NHÀ  .  VĂN HC - NGHỆ THUẬT  .  VÒNG TAY NGHĨA TÌNH  .  CHIA BUỒN - CHUNG VUI  TÌM NGƯỜI - NHẮN TIN

 

TÁC GIẢ: Anh Tú, Cao Vị KhanhChân Diện MụcDương Hồng ThủyĐan Quế PhongĐoàn Xuân ThuĐỗ Chiêu ĐứcĐỗ Mỹ ThuậtHoàng Thị Tố LangHồ NguyễnHồ Trung ThànhHương Sơn Lê Khánh DuệKim Quang, La Thanh Khải, La Tuấn DzũngLê Cần ThơLê Dung, ,Lê Trúc Khanh, Lương Liên HoaLương Ngọc Thành, MailocMỹ Trinh, Ngô Thị Trường XuânNguyên Nhung, Nguyễn Đấu Lộc, Nguyễn Hồng Tuyền, Nguyễn Như HùngNguyễn Ngọc Tuyết, Nguyễn Thanh BìnhNguyễn Thiên Long, Nguyễn Thị Thanh Dương, Nguyễn Trung Nam, Nguyễn Văn TrườngNguyễn Vĩnh LongNgười Ô MônPhan Thượng Hải, Phạm Khắc Trí, Phạm Khắc Trí & Các Thi Hữu, Phạm Trinh CátPhương Hà, Phượng TrắngSongquang, Thái Vĩnh Thụy Biên, Thanh Vũ, Trầm VânTrần Bang Thạch, Trần Bá XửTrần Cẩm Quỳnh Như, Trần Phù Thế, Trương Nhị Kiều, Võ Thị Bạch Nữ

THƠ VĂN

Võ Thị Bạch Nữ

CHS Đoàn Thị Điểm

Winnipeg, Canada

____________________

Ở Winnipeg tháng chín mưa nhiều. Chiều nay trên đường về bị đoàn xe lừa chạy ngang. Ngồi trong xe dưới trận mưa rào mà thấy lòng man mác. Cảm nghĩ về mưa thật đầy, thật tròn trịa.

 

                                             Tiếng Mưa Rơi

 

Tiếng mưa rơi đều đặn nhỏ từng giọt cách khoảng đều nhau. Tiếng mưa rớt trên mặt sông từng giọt vừa thánh thót, vừa lỏm bỏm làm thành những vòng tròn lan rộng ra và biến mất tan vào mặt nước mênh mông. Có những giọt nổi bọt trôi lềnh bềnh trên mặt hồ rồi tan biến đi không để lại dấu vết gì. Mưa mơn trớn. Mưa lẳng lơ.

 

Xen lẫn đâu đó tiếng mưa rơi trên lá xô đẩy nhau làm cành cây khẽ đong đưa để những giọt mưa rơi xuống thấm vào đất. Mưa thế này thì dai dẳng lắm, nằm trên giường nghe tiếng mưa mà lòng chừng như chùng lại, nhớ về thuở xa xưa. Mưa da diết. Mưa nhớ cội, nhớ nguồn.

 

Tiếng mưa rơi đều trên mái ngói chậm rãi, đều đặn như tiếng di chuyển của chùm ruột trong bụng một bà mẹ có mang, ru đứa trẻ thơ chín tháng ấm êm trong lòng mẹ. Mưa vỗ về. Mưa âu yếm.

 

Mưa dai dẳng khác với tiếng mưa có sấm sét và tiếng gió hú vang trong đêm lạnh làm cảm giác ấm cúng khi nằm trong chiếc chăn ấm áp. Thỉnh thoảng có tiếng gió rít lên tạo thanh âm như tiếng hú từ cõi xa xăm. Vẳng vẳng tiếng côn trùng rên rỉ, tiếng dế kêu hòa lẫn tiếng mưa rơi làm cõi lòng người thêm ấm cúng. Mưa cho cuộc tình bắt đầu. Mưa trong hạnh phúc. Mưa cho sự tan vỡ, mưa buồn như nước mắt.  Mưa của tuyệt tình.

 

Có những trận mưa giông, nước mưa trút xuống ầm ầm trên mái ngói, mái tôn, trên đọt lá, trên đất khô cằn vì nắng cháy. Mưa phần phật trong gió, mưa ào ào trong không gian như giận dữ xua đi cái nóng đun người của trời đất. Mưa tàn nhẫn. Mưa vô tình.

 

Mưa tắm gội cho cây cỏ hoa lá tươi mầm, cần thiết cho sinh vật gột rữa những bụi bẩn trần gian. Mưa tưới mát. Mưa làm mới sinh vật và cỏ cây.

 

Mưa nhớ đất, mưa tuôn xuống thấm vào đất, len lõi tìm về nguồn nước nhỏ năm nào rồi vui vẻ chảy ra ngọn suối con, nhập vào con rạch nhỏ gọp về sông lớn rồi cùng nhau ra biển. Mưa ân tình. Mưa thủy chung.

 

Mưa cả ngày, tiếng mưa rả rít như nhớ ai, như nhớ tới những buổi mưa dầm ngồi nhà gặm bắp nóng hay khoai lang luộc và nghe bà, nghe cô kể chuyện ngày xưa, chuyện mẹ tôi lúc sinh thời. Chuyện cây vú sữa trái sai quằn thiếu điều gảy nhánh. Nhớ mùi mít chín thoang thoảng ở góc nhà, thèm mà không được ăn vì trời tối Bà sợ nặng bụng không ngủ được nên để dành hôm sau. Nhớ cây chùm ruột bên hông nhà Bà chờ đợi tôi hái. Nhớ tiếng dế kêu ra rả ngoài hiên nhà như réo gọi ai về. Nhớ thuở xưa trầm mình trong nước sông ấm áp giữa cơn mưa, vừa tắm mưa vừa xách chứa nước mưa trữ dùng làm nước uống. Mưa mong nhớ. Mưa trong nỗi nhớ.

Tiếng mưa như một niềm nhớ nhung dạt dào, nhớ thuở xưa trên đường đi học về mắc mưa ướt sủng, bị cảm lạnh vì mưa. Chứng kiến những chuyện tình nho nhỏ dưới cơn mưa hay đứng trú mưa dưới hiên nhà nghe giọt mưa rơi thánh thót, trông vào nhà ai mà mơ ước bữa cơm chiều đầm ấm quanh bàn ăn.

Mưa rơi trên biển cả làm con thuyền chênh vênh, làm con người chới với, chòng chành trên sợi dây sanh tử. Mưa ướt cả mặt người hòa cùng nước mắt. Mưa khắc khoải, mưa quan hoài như trông chờ định mệnh đẩy đưa. Mưa trong những đêm đen huyền diệu, mơ về cõi xa xăm hay mơ về những chuyện tình ấm áp ngọt ngào.

Những cơn mưa rữa sạch những con đường bụi bậm, làm mới những bộ mặt của cỏ cây, muôn hoa xinh tươi mọc đầy lối.
 

Sao ta vẫn mãi mê trên đường thiên lý chẳng muốn dừng chân tuy đường dài đã mỏi? Mưa đưa lối cho ta về nơi cũ kẽo ta đây đang lạc nẻo đi về…

Winnipeg, 11:40 PM,  01-Sept-2020

Bach Nu Vo

______________________

                                                  MÁI TÓC

 

Ngày 4-11-2018 thầy Hùng chia sẽ cho tôi nghe bài nhạc “Tóc Xưa” của nhạc sĩ Ngô Thụy Miên phổ nhạc từ bài thơ Tóc Xưa của Bác sĩ Dương văn Thiệt viết về sợi tóc tình cờ nhặt được trên gối sau khi vợ mất nên ông xúc cảm viết lên bài thơ. Sau khi nghe nhạc tôi thương cảm mà viết lên bài “Mái Tóc.

 

Bài thơ "Mái Tóc" được ra đời trong tâm trạng đồng cảm với một người không quen, ông đã tìm thấy sợi tóc thân thương của người vợ vừa qua đời, còn vương trên gối.

Bài thơ "Mái Tóc" của tôi được ra đời sau khi thầy PLH chia sẽ bài nhạc "Tóc Xưa "với tôi.

 

 

          Mái tóc!

 

         Quanh quẩn đâu đây dáng ai ngồi.

         Chải tóc bên thềm, hong gió hạ.

         Tóc thơm mùi nắng, dạ ngẩn ngơ.

         Tóc buông lơi, phất phơ trong gió.

         Tóc buông dài, nuôi dưỡng tình ai.

         Mái tóc huyền; suối, mây cả thẹn.

         Óng ả trôi, chảy xuống suối đời.

         Sợi tơ tình buộc tóc xuân xanh.

         Đem thương cảm ướm lòng cô quạnh.

 

         Winnipeg, 10:55 PM, 05-Nov-2018.

         Bạch Nữ.

_______________________________________

Sáng nay trên đường đến sở làm đi qua cánh đồng rộng xanh rì một dãy xa. Bãi cỏ được cắt bằng phẳng trông thật đẹp. Những ngày cỏ chưa được cắt tôi thấy có những lũ chim, ngỗng trời, vịt trời, thỏ... sáng sáng điểm tâm trên ngọn cỏ non tươi. Hôm nay các loài thú đi nơi khác vì các ngọn cỏ non đã không còn nữa! 

Thiên nhiên là của muôn loài, chúng ta chỉ là một trong những loài. Bài thơ "Đâu rồi ngọn cỏ non" ra đời trong tâm trạng thương cảm cho muôn loài đã mất đi nguồn sinh sống quen thuộc hàng ngày. Bài thơ được làm năm 2019. 

Năm nay 2020 thì bãi cỏ đã biến thành bãi đậu xe.

Đâu rồi ngọn cỏ non!


Trên cánh đồng cỏ,

mênh mang.

Có con chim nhỏ,

lang thang.

Có con thỏ nhỏ,

hoang mang.

Và con chuột nhỏ,

huênh hoang.

Nai vàng ngơ ngác,

lan man.

Có con mèo nhỏ,

miên man.

Bò vàng miệt mài,

gặm cỏ.

Nắng vàng chan hoà,

ấm áp.

Kìa, xe cắt cỏ,

lù đù.

Đi lằn ngay ngắn,

đoạn lìa.

Ngọn cỏ non xanh.

Không còn.

Những luống cỏ non.

Để cho.

Loài thú ngơ ngác,

Nghiêng đầu.

Lửng thửng bước đi.

                                    Ảnh chụp: Bạch Nữ

 

Winnipeg, 20:00 01-Aug-2019.

Bạch Nữ.

Kỷ niệm một thời nghiêng ngã trước đôi mắt đẹp của cô bạn thân thương. Xin tặng những ai có ánh mắt đẹp như ngõ hẹp của thiên đường, có đôi môi thắm xinh như hoa dại bên đường. Không cần son phấn, không cần điểm tô mà vẫn cuốn hút qua cái nhìn, cái duyên ngầm chưa điêu luyện.

Em Chưa Đẹp Lắm!

Em chưa đẹp mà đất trời nghiêng ngả.
Mắt em buồn trời lấp ló trong mây.
Miệng em cười như vầng trăng mười sáu.
Đoá hồng tươi phải dấu mặt thẹn thùa.

 

Ngỏ hẹp thiên đường dưới hàng mi rậm.

Sâu thăm thẳm thời gian như ngưng đọng.

Đưa anh lên từng nấc thang tuyệt diệu.

Xin một lần như “Lưu-Nguyễn”lạc thiên thai!

 

Anh là sa mạc khô cằn nắng cháy.

Chờ em như nước mát tự suối nguồn.

Tưới hồn anh thấm mát những mầm xanh.

Để anh nhìn áng mây trời nồng ấm.

 

Ánh nắng ban mai ngọt ngào soi sáng.

Vẫn còn nhường hồng nhuận của đôi môi.

Mấp máy thôi thì anh đã say rồi!

Như nhấp phải “nước đời ”nồng hương vị!

 

Em ở đó đừng đi đâu em nhé!

Để anh còn thưởng thức ánh chiều buông.

Đợi vầng trăng than khóc giữa lòng trời.

Vì em cả ! Rằng em chưa đẹp lắm!

 

Winnipeg, 22:05,  04-Nov-2019.

Bạch Nữ.

                                        BƯỚM VUA

 

Xứ lạnh như Canada và phía Bắc nước Mỹ nhiều thú vật phải thích ứng với môi trường sống để sinh tồn như ngỗng trời, bướm vua…Nhìn sự chuẩn bị tập dợt theo đội hình vào cuối thu báo cho loài người biết là mùa đông sắp đến. Những dự báo tự nhiên này rất chính xác khiến người dân bản xứ họ chỉ nhìn vào hiện tượng chuyển mình của các loài như ngỗng trời để tiên đoán mùa.

Các loài thú này phải ra đi hàng ngàn dặm đường để tránh mùa đông khắc nghiệt ở Canada. Ngỗng trời to và đi từng đàn nên dễ nhận ra còn loài bướm vua, thân bé nhỏ nên ít ai để ý đến chúng. Tôi quan tâm đến chúng vì mỗi khi đi dạo dọc bờ sông gần những cây thông sữa, nhận ra chúng nhờ màu sắc cam trên thân thể chúng. Loài bướm này cánh màu cam có vân đen và những đớm trắng viền quanh rìa cánh. Đặc biệt là có màu đỏ cam đậm gần phía trên cánh.

Bướm ở vùng Bắc Mỹ, vào mùa thu phải bay xuống phía nam để tránh đông. Chúng trốn mùa đông từ tháng mười tới tháng ba trên những cành thông linh san trên đồi cao ở Mễ Tây Cơ. Hay chúng tụ chung với nhau trong những khu rừng trắc bá kín đáo ở miền Nam California hoặc Florida.

Hàng năm vào mùa thu khoảng cuối tháng tám tới tháng mười, những con bướm vua ở Canada, phía Đông của dãy núi Rocky, phải chuẩn bị bay một cuộc hành trình dài gần 5000 cây số xuống Mễ Tây Cơ để trú đông, bay với tốc độ chín cây số một giờ. Phía Đông bờ Đại Tây Dương thì bay xuống Florida, phía Tây bên kia dãy núi Rocky cạnh bờ Thái Bình Dương thì bay xuống Nam California.

Chúng phải bay qua suốt chiều dài nước Mỹ để tới Mexico trú đông trong rừng, tụ với nhau từng nhóm, ngủ và sống bằng chất mỡ dự trữ trong mùa Hè. Đến mùa xuân chúng chuẩn bị bay về Canada vào cuối tháng năm tới cuối tháng sáu hoặc đầu tháng bảy cho kịp mùa hè. Ở Canada cho mùa hè trong thời gian ba tháng là chúng bắt đầu bay trở lại nam.

Trong mùa xuân trên đường bay về, chúng phải dừng lại để đẻ trứng trên những cây thông sữa (Milkweed). Sau đó qua qúa trình biến thành những con bướm con để tiếp tục hành trình bay về phương bắc thay cho ông bà và bố mẹ chúng.


Bướm vua đẻ trứng trên lá cây non của cây thông sữa trong mùa xuân. Mỗi con có thể đẻ ngàn trứng. Trứng sống trên cây thông sữa và ăn lá cây này để sinh tồn. Khoảng ba tới tám ngày để trở thành ấu trùng và sống hai tuần để trở thành bướm và bắt đầu tiếp tục hành trình về phương bắc. Tuy nhiên hành trình dài sẽ không hoàn thành vì vậy chúng phải dừng và đẻ thêm.

Qua vài thế hệ thì bướm mới bay về tới quê hương Canada và vui hưởng mùa hè. Những con bướm bay đi đã không có dịp trỡ lại quê nhà mà là những đàn chắt hoặc chít của chúng hoàn thành cuộc hành trình về quê hương của cha, ông chúng. Tuy vậy chúng không lạc dấu về quê do sự xúc cảm tự nhiên, chúng biết đúng hướng để bay về quê hương Canada của cha ông, mặc dù chúng chưa bao giờ biết nơi bắt đầu cho việc di cư tạm.

Thế hệ sau cùng bay về đến Canada sẽ chậm phát triễn đường sinh dục để hoàn thành sứ mạng nên chúng có thể kéo dài sự sống tới bảy tháng trong khi bướm chỉ sống bốn đến sáu tuần trừ phi chúng đang mang sứ mạng trên hành trình cuối bay về.

Loài bướm này giúp các loại trái cây được thụ phấn cho chúng ta ăn. Chúng còn có tên là “biến thể trong khi ngủ” (sleepy transformation). Chúng cần ba ngày để phát triển bộ phận sinh dục sau khi lột khỏi lớp ấu trùng và bắt đầu sinh sản sau năm ngày. Chúng còn được gọi là milkweed butterfly.

Loài vật cũng có những hành trình di dân gian nan để hoàn thành sứ mạng sinh tồn và tìm về nguồn cội. So với khả năng và hoàn thành nhiệm vụ chúng ta cũng phải ngã mũ chào những sinh vật tuy bé nhỏ cho dù phải vạn dặm bay về quê hương chỉ để thăm nơi tổ tiên mình đã được sinh ra và đã không quên đi cội nguồn dù trải qua bao nhiêu thế hệ.

 

Winnipeg, 24-Feb-2019.

Bạch Nữ.

_______________________

         Tỉnh giấc!                   


 

Bừng tỉnh dậy hơi hướm còn phảng phất.
Giấc mơ nào như chợt hiển hiện ra.
Bóng dáng ai thơ thẩn giữa khoảnh trời.
Lòng ta dại như thuở đầu yêu dấu.

 

Chiếc cầu vòng in trời mang màu sắc.

Ẩn sau màn sương mỏng đợi mây tan.

Dáng ai ẩn sau vầng mây rực sáng.

Đợi chờ hồng tia nắng gió thoảng qua.

 

Trong khoảnh khắc chợt hiện về tất cả.

Lòng phập phồng những cảm xúc thoáng qua.

Là ai đó đem tôi về qúa khứ.

Chiếc cầu vòng như tình bừng tỉnh cơn mơ.

 

Winnipeg, 12:30 24-Jun-2020.

Bạch Nữ

          LÁ                                      

Lá xanh, xanh mướt trên cành.

Lung linh trước gió, mỡ màng nắng mai.

Khi nắng ấm, lúc mù sương.

Lá thì thầm với gió xuân rộn ràng.

Lá xanh lả lướt rung cành.

Lao xao với gió, thì thào cùng cây.

Thoảng khi mây phủ che trời.

Cây xum xuê lá không rời xa nhau.

Hạ về nắng ấm tỏa lan.

Lá xanh mịn mượt, nhựa tràn non tơ.

Lá vui đùa với cây, hoa.

Hoa khoe sắc thắm, lá đong đưa cười.

Mưa tuôn lá tắm nước trời.

Lá tươi mát ngát một màu xanh trong.

Rằng cây giao cảm, dịu lòng.

Nương cây, lá luyến, dịu dàng sống vui.

Lá run rẫy trước gió lùa.

Vẫy tay chào Hạ, đón nàng Thu sang.

Qua bao sóng gió ngỡ ngàng.

Lá cùng cây vẫn chan hòa ấm yên.

Thời gian như thể bóng câu.

Héo hắt lá sầu, dạ rối thẩn thơ.

Chưa xa, lòng luống bùi ngùi.

Dọc bên sông, cây trơ soi bóng lẻ.

Lá bay theo gió, theo mây.

Sương lạnh xuống đầy, phủ nấm mộ trơ!

Dương trần cây nhớ điếu ai!

Lá về nguồn cội, đắp đầy chân cây

Cảm khái khi dự đám tang Bác Doãn. Đầu mùa Thu năm rồi.

BẠCH NỮ

LẮNG NGHE

                   Cảm giác lắng đọng vì Covid-19.
Lời kêu gọi! 

Lắng Nghe!

Khép cánh cửa, nhốt mình trong khung gỗ.
Nhìn chung quanh, tôi thấy một mình tôi.
Ôi yên qúa, tôi nghe từng nhịp thở.
Tiếng côn trùng đang than khóc ngoài kia.

Sao yên thế, sao mà yên như thế?
Nhịp tim tôi đập khẻ, tiếng bập…bùng.
Vì sao yên? Vì sao lại qúa yên?
Nhịp sống chậm, tiếng ồn sao biến mất?

Lắng nghe lòng như thể chẳng được nghe.
Hãy chậm lại, nhịp đời đang nhanh qúa.
Trái đất này cũng bớt đi chấn động.
Ôi diệu kỳ, khói xe vơi hơn nửa.

Xã hội ta ngập chìm trong tiếng thét.
Luôn kích động, nhịp sống vội vô tâm.
Bình tâm lại, hưởng mùi hương hoa cỏ.
Sự sống này của muôn loài, muôn vật.

 

Của cỏ cây, trả lại khí trong lành.
Lặng suy tư các biến cố trong đời.
Điều chỉnh lại, hoà mình cùng tạo hoá.
Sẽ hạnh phúc khi ta nghe nhịp đập.

Trái tim người và cả trái tim ta.
Hòa nhịp điệu để cùng nhau chung sống.
Lắng nghe sâu tiếng gọi của chính mình.
Trong tăm tối, mong chờ ánh bình minh.

Nhớ ơn đời, ghi trí nhớ vào tim.
Chờ sớm mai tìm thấy mặt mọi người.
Dâng tâm hồn trong ý nghĩ cầu kinh.
Lòng cảm thấy an bình trong tâm tưởng.

Winnipeg, 3:10 Sáng 11-Apr-2020.

Bạch Nữ.

Bài viết về trí nhớ của một đứa bé chưa đầy năm tuổi trong đám tang của người mẹ được kể lại sau hơn sáu mươi năm cất giữ trong lòng. Hy vọng không làm cho mọi người buồn lây vì chuyện cũ đã qua rồi. Chu kỳ sống chết cũng bình thường như một phần của đời sống. Happy Mothers’Day.

Nước Mắt Trẻ Thơ

Năm ấy tôi gần năm tuổi, em trai tôi vừa lên bốn, mẹ tôi bạo bệnh qua đời sau vài năm vật vã trên giường bịnh và cách ly con cái. Bệnh lao phổi vào những năm cuối thập niên 1950 không có thuốc điều trị. Mẹ tôi qua đời vào giữa mùa Thu, trời se se lạnh nhưng trong xanh, mây trắng cao thăm thẳm. Nước sông êm ả, sóng gợn lăn tăn, từng đám lục bình trôi lững lờ theo dòng nước chảy. Trăng thu về khuya hình như cũng tỏ hơn, soi vằng vặc trên bóng cây vườn nhà bà tôi.

Mẹ tôi nằm yên ả trên một chiếc divan, cạnh bên cửa sổ. Mẹ nằm yên bất động, khăn trắng phủ khắp châu thân. Hôm ấy, chúng tôi chạy rong chơi bình thường như mọi ngày. Bốn, năm tuổi thì biết gì về chết chóc với lìa đời. Mẹ nằm đó như mọi ngày mẹ vẫn nằm, chỉ có hôm nay mẹ không ho như ngày thường mẹ vẫn ho. Không gian hôm nay hình như hơi thiếu vắng vì mẹ không ho như mọi ngày. Nhà nhiều người tới thăm, dòng họ và hàng xóm đều đến viếng.

Trên bến sông ngoài, một số người đang cố đẩy chiếc ghe tam bản vào con rạch nhỏ sắp cạn sát đáy. Trên ghe có môt chiếc quan tài màu đỏ, đỏ như máu bầm. Tiếng đẩy ghe hì hục hòa với bước chân lội bì bỏm trong lòng sông sắp cạn. Nhờ con rạch nhỏ nầy cung cấp nước hàng ngày cho gia đình tôi và cũng là nơi tôi tập tễnh ôm thân cây chuối tập bơi mỗi chiều.

Chị em chúng tôi theo cô Bảy và mọi người đi xuống bến trong để xem. Cuối cùng mọi người cũng đẩy được chiếc ghe vào tận đầu cầu bến trong. Hai chị em tôi đứng dưới cây vú sữa, nhìn mọi người đang đem cái quan tài đỏ kia lên bờ.

Nắng chiều chiếu xéo qua cành cây in bóng hai chị em tôi nằm dài trên lòng sông, giờ đã cạn. Trời chiều trong trẽo, xanh hơn mọi khi, hơi lạnh trộn lẫn với những làn nắng cuối ngày rọi trên chiếc hòm đỏ, phản chiếu chói vào mặt chị em tôi.

Nước ròng về chiều càng sát, lộ ra những vũng nước nhỏ trên lòng sông. Từng vũng nước ấy có chứa những con cá con mắc cạn vì không bơi ra kịp nước thuỷ triều. Đợi ngày mai, nước thuỷ triều trở lại, chúng sẽ tiếp tục cuộc hành trình trưởng thành trong dòng sông rộng lớn.

Chiếc quan tài đã được khiêng lên nhà, đặt phía bên trái trong căn nhà trên vì mẹ tôi là dâu và còn trẻ nên không được đặt giữa nhà. Cô Bảy dẫn chị em tôi theo đám người vào nhà. Ngoài sân rạp được che lên với bàn ghế cho khách đến thăm viếng ngồi.

Trời mùa thu tối nhanh. Bên ngoài trời bắt đầu chạng vạng; ánh trăng lưỡi liềm muộn treo lơ lững trên cành cây cao soi mờ mờ, tranh sáng với ánh đèn măng sông trong rạp. Trong nhà đèn đuốc sáng choang, người người đi lại sắp ghế, dọn bàn. Trà bánh được dọn lên cho những người thăm viếng.

Phía bên phải phòng khách, bà nội và bà ngoại tôi ngồi trên chiếc divan, đang chăm chú tháo những chiếc cúc áo của mẹ tôi. Hai bà khóc khi tìm thấy tiền giấy mẹ tôi may vào lai áo để cất giữ. Các cô, dì, chú, bác không cầm được nước mắt khi nhìn thấy vì nhớ mẹ tôi là một người tiết kiệm. Những chiếc áo này sẽ là hành trang mang theo cho mẹ tôi.

Cô, dì tôi đang may hai bộ áo trắng và khăn tang cho hai chị em tôi. Tự nhiên tôi cảm thấy màu trắng gần gũi và thân thiết lắm. Hình ảnh và dấu ấn này mang theo suốt cuộc đời tôi, y phục tôi nhiều màu trắng và hầu như tôi không mặc màu đỏ cho đến khi tôi lớn tuổi. Lúc này tôi đã ý thức về sự ác cảm của tôi đối với màu đỏ kia.

Trời càng về khuya gió lùa nhẹ làm lá cây ổi ngoài cửa sổ đùn đẫy kêu lao xao. Tiếng kinh kệ và gõ mõ làm mọi người ngưng nói chuyện và làm tiếng lá rung cây càng nghe rõ mồn một.

Đến giờ khâm liệm mẹ tôi. Bốn người đàn ông nắm bốn góc khăn liệm màu trắng, nhấc mẹ tôi lên và đặt vào chiếc quan tài màu đỏ bầm kia. Hai chị em chúng tôi hốt hoảng; tôi thì nín thở, ôm mặt khóc không ra tiếng trong khi Năm Võ, em tôi, gào to và kêu : “Má ơi”.

Cô Bảy ôm Năm Võ vào lòng và dỗ dành em tôi. Còn tôi, đứng sau lưng cô Bảy, tay vặn xoắn chéo áo, cong người lại và nhìn người ta bỏ khăn trắng, áo trắng của mẹ tôi vào quan tài mà trong lòng run sợ, thấy hụt hẫng chơi vơi. Bà ngoại mặc tang phục cho chúng tôi, dắt chi em tôi quỳ trước quan tài và lạy từ gĩa mẹ. Phút chốc, chúng tôi quên đi và nín khóc. Chị em tôi từ đó không còn thấy mẹ nữa.

Tôi lặng đứng nhìn người ta dần dần đóng nắp chiếc quan tài màu đỏ lại mà quặn lòng hơ hãi. Tôi cảm thấy bầu trời như nhỏ lại bằng chiếc quan tài của mẹ và có cảm giác ngạt thở như mẹ bị ngạt thở trong cái nơi tù túng và tối tăm ấy. Tôi hình dung gương mặt mẹ. Tôi muốn ghi nhớ hình ảnh sau cùng của mẹ nhưng tất cả hình như nhạt nhòe không rõ nét.

Đám tang mẹ tôi diễn ra trong ngày thứ sáu sau khi mẹ mất vì tất cả mọi người đã về đông đủ. Ba tôi, chú tôi, các cô và dì dẫn chị em tôi đi cạnh quan tài mẹ, chậm chậm đi dần ra khu đất mộ gia đình, vượt qua khu vườn chuối, đi thẳng ra bờ dừa ngăn đôi khu vườn và khu đất mộ. Khu đất mộ gia đình nằm sát bờ ruộng lúa, cách một rạch nước nhỏ và hàng dừa dài suốt chiều ngang của đất nhà. Khu đất mộ trông mát mẻ và khá kín đáo nằm giữa hai hàng dừa xanh ngắt.

Tiếng thầy chùa tụng kinh và mõ gõ vang lên, hòa lẫn với tiếng khóc của chị em chúng tôi. Đến khu đất mộ, một cái huyệt được ông Bảy, dượng rễ của ba tôi, đào sẵn, nằm về phía chân và bên trái của mộ ông nội tôi. Quan tài được đặt trước huyệt và chúng tôi một lần nữa hụt hẫng như có một lỗ hổng trong tim. Cô tôi khóc, bà tôi khóc, chị em chúng tôi khóc, hầu như mọi người đều khóc trừ các ông đứng tuổi đang chăm chú lo việc chôn cất.

Sau khi thầy chùa đọc lời kinh kệ mà tôi còn quá bé để hiểu; quan tài mẹ tôi được dần dần hạ xuống. Tôi và em tôi khóc vật vã. Nhất là Năm Võ, khóc nhào ra đất và đòi theo mẹ tôi. Tôi vừa khóc trong thinh lặng, vừa nhìn từng cụm đất được quăng xuống, dần dần che lấp quan tài màu đỏ cho đến khi chúng tôi không còn thấy gì, chỉ còn đất và đất. Giờ thì không còn thấy gì nữa rồi, chỉ là màu đen xám của đất, nơi mà mẹ tôi phải ở lại mãi mãi.

Tôi có thói quen khóc không ra tiếng, đôi khi có tiếng nấc nho nhỏ hay tiếng mũi sụt sùi. Chúng tôi còn bé nên không hiểu gì nhiều ngoài việc chấp nhận mẹ phải ở trong chiếc quan tài đỏ ối kia. Mọi người dắt Năm Võ và tôi đi trở vô nhà. Cô tôi dỗ dành chúng tôi nín khóc. Tối hôm đó bà con về gần hết. Chúng tôi một lần nữa khóc đòi mẹ, đến khi mệt qúa Năm Võ ngủ vùi trong lòng bà ngoại, miệng còn mút ngón tay cái. Còn tôi nức nở mãi rồi ngủ với cô Bảy.

Sau ngày mở cửa mả, chúng tôi không khóc đòi mẹ nữa, chấp nhận là mẹ không về được nữa. Tôi trở lại trường học, tôi học lớp năm (lớp một bây giờ), còn Năm Võ học vở lòng nơi trường cô Ba ở ngoài đầu rạch Cái Da. Chú Út đi học ở ngoài chợ Cần Thơ, chú Út ở trọ nhà của ông Bề tôi gần bến Ninh Kiều để thi tú tài. Sau đó thì chú lên Sài Gòn học và sau này ở luôn trên ấy.

Có lẽ mẹ đi nhưng không được an lòng vì núm niú hai đứa con còn thơ dại. Mẹ tôi nhắn nhủ cùng các cô và chú tôi nhiều tháng trước khi qua đời: “ Anh Năm còn trẻ sau khi chị chết, ảnh sẽ đi tái giá, cô và chú hứa chăm sóc và thay chị nuôi hai đứa nhỏ nên người”. Bà Nội, các cô và chú hứa với mẹ tôi sẽ lo và chăm sóc chúng tôi nên người, không để sống chung với ba, nếu ba tôi tái giá. Lời hứa ấy được cô và chú tôi trân trọng cho đến khi tôi rời khỏi quê hương.

Một năm trôi qua nhanh. Ở cái tuổi lên bốn lên năm, chị em chúng tôi bận rộn sống, lớn và tập trưởng thành như một bổn phận nối dõi, nối dòng. Chúng tôi dần dà quên đi chuyện gì đã xảy ra, hình bóng mẹ dần dà phai nhạt, không còn hiện diện rõ nét trong trí của tôi. Bà Nội thương mẹ tôi lắm, bà Nội luôn kể về người con dâu vắn số này. Bà Nội muốn chúng tôi nhớ về mẹ của chúng tôi nên hay kể về sinh họat của mẹ lúc người còn sống. Nhờ vậy mà tôi nhớ rất rõ những sinh hoạt của mẹ tôi. Tuy vậy sau này khi lớn lên, tôi không tài nào nhớ được gương mặt của mẹ tôi, có lẽ vì bị cách ly lâu ngày và vì chúng tôi còn qúa nhỏ khi mẹ ra đi.


Mẹ được các cô và chú tôi nhớ đến như một người chị dâu hiền lành và tốt bụng. Có lẽ vì thế mà tôi được nuôi nấng và được cho học hành tử tế.

Năm 2016, tôi về thăm chú bị bệnh, chú tôi còn vui vẻ nhắc về người chị dâu qúa cố :“ Má con là người tốt và hiền lắm”. Và rồi chú cũng ra đi như mẹ tôi vài tháng sau khi tôi về thăm. Hầu như những người yêu thương tôi đều dần dà xa tôi vì lý do này hay lý do khác. Có lẽ khi mất mẹ rồi thì những người khác cũng rời xa tôi giống như là một điệp khúc buồn mà số phận đã gắn cho tôi. Mỗi người đến với tôi như một chương sách của đời tôi, ra đi và để lại cho tôi những nỗi buồn sâu kín.

Tôi như con cá mắc cạn trong vũng nước giữa lòng rạch nhỏ năm nào, chờ nước thủy triều lên để tiếp tục cuộc hành trình trưởng thành trong dòng sông đời rộng lớn.

Viết dựa theo lời kể của cô, chú và nhất là bà Nội của tôi.


Winnipeg, 27-Jan-2019. Revised 18-Feb-2019.
VTBN

Ba tôi khi trẻ. Mẹ tôi khoảng tuổi ngoài hai mươi, minh họa

Bây giờ mà kể chuyện vượt biển thì có lẽ hơi lỗi thời. Mỗi người trong chúng ta có kinh nghiệm riêng về chuyến hải trình của mình. Đây là chuyến hải trình của riêng cá nhân tôi đã trải qua xin được kể lại cho các bạn chuyến đi thay đổi vận mệnh đời mình. Thân ái.

Started 16-Feb-2020

Những Ngày Dài Nhất

 

Sự mong chờ

Sau năm 1976, tôi được học nội trú ở dự bị đại học. Không hiểu sao tôi không chọn Sư Phạm ngoại ngữ khi tôi đủ điểm đậu vô phân khoa này. Định mệnh dung rủi tôi chọn ngành Gây Mê Hồi Sức chỉ vì cái tên. Nhờ vậy tôi được biết người bạn tốt Bạch Loan. Bạch Loan và tôi học chung khoá Gây Mê Hồi Sức, sau vài tháng học chung chúng tôi trở thành bạn. Loan tính tình tốt biết cảm thông, thương người và có tính khôi hài. Đất Sài Gòn, Gia Định, Chợ Lớn chúng tôi đi cùng khắp, chúng tôi đi ăn hàng khắp nơi đặc biệt là quận năm có nhiều khu vực ăn uống.

Năm 1975, Loan học xong lớp mười một chương trình Pháp ở Regina Pacis và có tú tài Việt năm 1976. Năm 1978, gia đình Loan đang tìm chỗ cho Loan đi vượt biên, Loan hỏi tôi có muốn đi cùng. Việc này ngoài dự định của tôi vì tôi không đủ vàng để thực hiện. Tình cờ Tết năm đó tôi về Cần Thơ, một người bạn thuở nhỏ của tôi có trong tổ chức vượt biên ở Cần thơ và tôi giới thiệu Loan như một người khách để được đi ké. Tôi trả lệ phí bằng một sợi chuyền vàng năm chỉ, cái đồng hồ Thụy sĩ Titoni và cái nhẫn xoàn ba ly của Bà nội tôi sắm cho tôi khi tôi mười sáu tuổi. Đó là tất cả kỷ niệm của bà Nội tôi để lại cho tôi. Trong khi Loan phải trả ba cây vàng. Việc học chúng tôi lúc ấy thật lơ là vì nghĩ rằng mình sẽ ra đi. Hai đứa mơ ước và dự định mình sẽ học gì và làm gì khi được đến nước ngoài. Giấc mơ Loan với tôi không thực hiện được khi biết tôi bị bỏ lại. Có thể chủ tàu muốn nhờ tôi ở lại móc nối thêm người cho ông ấy rồi sẽ đi chuyến sau cùng vì tôi có nhiều quen biết trong giới ngành y.

 

Trước ngày đi vào giữa tháng giêng năm 1979, Loan có nói tôi biết là tôi bị bỏ lại và sẽ đi vào chuyến kế tiếp với chủ tàu. Vị chủ tàu này cũng là chỗ quen biết của tôi. Loan cho tôi biết đường đi, nơi tụ điểm, nơi xuống tàu, lúc ấy tôi có thể đi theo như người “canh mer“, nhưng vì tự ái tôi chọn ở lại. Thế là tôi mất tất cả số nữ trang mà bà nội tôi sắm cho tôi và cũng không có lần đi kế tiếp. Nhưng nghĩ lại tôi thầm cám ơn vì bị bỏ lại, cuối tháng hai dương lịch năm 1979 Bà Nội tôi qua đời. Vị chủ tàu cũng không có cơ hội thứ hai để thực hiện. Đúng là cái số của ông ấy.

 

Khoảng giữa tháng giêng, tôi được tin Loan đến Pulau Bidong. Một năm sau thì Loan đi định cư ở Seattle, Washington State, Mỹ. Còn tôi ở lại lo học xong, ra trường và làm việc ở bệnh viện Chợ Rẫy cho tới ngày rời khỏi. Loan bây giờ là trợ y ( Physician Assistant) sinh sống ở Seattle.

Mãi hai năm sau tôi mới có dịp đi nhờ vào sự giúp đỡ của ba mẹ Loan và cô tôi. Lần đầu tiên tôi đi với em trai họ, con của cô tôi. Chuyến đi ấy không thành công. Cô tôi sợ và đòi tiền lại. Nhà của chị tổ chức ở cách cô tôi vài căn, hai gia đình quen khá thân. Cô tôi lấy lại phần vàng của em tôi. Chị tổ chức thấy tôi độc lập và vàng cũng đã chung rồi nên có ý định giữ tôi đi cùng. Cô tôi cho tôi phân nửa và ba mẹ của Bạch Loan cho tôi một nửa đóng lệ phí ra đi, dù rằng tôi chỉ phải trả có nửa giá thôi do có sự liên hệ tới nghề nghiệp của tôi.

 

Tổ chức gọi tôi đi lần thứ nhì sau đó vài tháng, với điều kiện chỉ một mình tôi đi thôi. Vì vậy tôi ra đi một mình. Chị tổ chức bảo tôi tìm cách ra khỏi nhà cô tôi trước khi đi vài tuần vì họ sợ bị lộ. Tôi không biết đi đâu đành tới nói thật với ba mẹ Loan, và tôi tới đó ở trong khi chờ đợi. Vì sự thân tình nên cô tôi không nghi ngờ gì và Ba tôi cùng gia đình không ai biết.

 

Rời Sài Gòn dấu yêu

 

Ngày bảy tháng bảy năm 1981, người tổ chức báo tin sẽ đi trong nay mai. Hôm đó là ca trực đêm cuối cùng của tôi. Sáng mùng tám trong giờ giao ban trước khi ra về tôi nhìn tất cả các bạn đồng nghiệp mà lòng hoang mang lắm. Cả ngày hôm đó tôi về thăm cô tôi, ăn cơm với gia đình và các em họ tôi. Sau đó tôi về nhà mẹ Loan và đi từ giã cô bạn thân của tôi, Cẩm Tú. Tôi nhờ Cẩm Tú mang đơn xin phép nghỉ của tôi với lý do ba tôi bị té nên tôi phải về quê gấp. Cẩm Tú, lúc ấy đang làm ở bệnh viện Ung Bướu, kế bệnh viện Nguyễn Văn Học cũ (Bv Nhân Dân). Sanh ra trong gia đình kịch sĩ nổi tiếng, Cẩm Tú thông minh lanh lợi nên việc xin phép dùm tôi rất êm xui. Tôi chỉ thấy áy náy với cô trưởng phòng mỗ đã yêu thương giúp đỡ tôi khi tôi muốn ở lại Sài Gòn, thay vì nhận nhiệm sở ở bệnh viện Thủ Khoa Nghĩa Cần Thơ. Tôi luôn nhớ ơn cô.

 

Tôi rời lúc Sài gòn đang giữa mùa hè nóng bức. Năm giờ sáng ngày chín tháng bảy Bác trai, Ba của Loan, đưa tôi ra cửa và chờ tôi lên chiếc xe xích lô đi ra Xa Cảng Miền Tây. Bác trai nói: ”Con đi đừng quay đầu lại”, vì sợ tôi đi không lọt như nhiều lần trước. Đi ra bến xe sáng sớm tôi rất sợ vì hiếm khi tôi đi đâu một mình. Sợ, nhưng phải đương đầu một mình nên tôi phải cố gắng vượt qua. Rồi tôi cũng mua vé và lên xe đi về miền Tây với sự can đảm. 

 

Xuống xe ở ngả ba Trung Lương tôi gặp được chị tổ chức với đứa con gái năm tuổi và đứa con trai ba tuổi. Chị ở cách nhà cô tôi vài căn nên chúng tôi cũng biết nhau. Tôi đã giúp người dì chồng của chị trong việc hồi sức sau mỗ nên được chị rủ và cho đi nửa giá. Chúng tôi ngồi chung lại với nhau trong quán cà phê bên đường chờ đợi hiệu lệnh của người dẫn đường. Không hẹn mà mọi người đều ngồi chung một quán cà phê. Ngồi cũng khá lâu thì có người đưa tin cho biết là phải vô Mỹ Tho ngủ qua đêm ngày hôm sau sẽ xuống tàu. Chúng tôi hai người lớn và hai đứa bé được ở chung một nhà nằm điểm ngay trung tâm thành phố. Tờ mờ sáng hôm sau chúng tôi được gọi dậy và trở ngược ra Trung Lương. Mệt vì mất ngũ và lo sợ nên chúng tôi khá uể oải.

 

Trong quán cà phê, chúng tôi tranh thủ mua bánh mì ăn sáng cho vững bụng. Đó là bữa ăn cuối cùng của tôi trước khi rời đi. Bữa ăn kế tiếp của tôi là trên sà lan của giàn khoan dầu ngoài khơi của Thái Bình Dương thuộc vùng biển của Nam Dương (Indonesia), sau mười hai ngày lênh đênh trên biển cả.

 

Xuống tàu

 

Do sắp xếp của người tổ chức, tôi xuống tàu trước một mình. Trong chiếc áo bà ba, quần soie đen đúng điệu gái quê, trên tay cầm giỏ rơm như đi chợ về trong đó có ba bộ đồ, một số đồ vệ sinh cá nhân và chiếc áo mưa. Bác gái, mẹ của Loan mua cho tôi một lượng sâm để ngậm khi cần và chuẩn bị một bọc nhỏ chanh đường phơi khô từ nhiều tháng trước. Tôi luôn nhớ ơn những người không ruột thịt đã thương yêu và giúp đỡ tôi. Tôi tin đó là những hồng phước hay là sự bù đắp mà tôi có được khi ơn trên đã lấy mất người mẹ để chăm lo cho tôi.

 

Từ trên quốc lộ đi theo đường mòn nhỏ xuống bến sông chừng tám trăm thước. Tôi đội chiếc nón lá lụp xụp cúi đầu bước đi mà lòng rối như đánh lô tô. Vừa sợ lại không biết đường đi chỉ nghe lời chỉ dẫn theo con đường này đi thẳng là tới bờ sông nơi ấy có chiếc ghe chở cây cam, chanh, chuối trên nóc ghe thì đi thẳng xuống không cần hỏi ai.

Tôi đi lầm lũi dè dặt từng bước, nhìn quanh không thấy ai ngoài hai lằn đường đi sạch cỏ do người dẫm chân qua nhiều năm tháng. Hai bên đường mòn là những đám cỏ rậm cao nửa người có hoa trắng và bong ra như đuôi chồn, trông hoang sơ và vắng vẻ. Tôi sợ mà không  dám quầy trở ra, chợt nghe tiếng nói của một đám người dân địa phương đi cùng đường ngay phía sau tôi. Họ đi nhanh nên bắt kịp tôi không mấy khó khăn. Tôi đánh bạo đi nhanh hơn và cố trấn tỉnh, cúi đầu cấm cúi đi như không để ý ai. Họ đi vượt qua tôi mà chẳng để ý gì đến tôi vì mãi lo nói chuyện.

 

Xa xa tôi thấy một chiếc ghe ở bờ sông như đã được miêu tả, nhưng có đám người này nên tôi đi chậm lại, định đi thẳng luôn thì bỗng có người gọi tôi và nói to “Ghe đậu đây nè chị ơi.”. Tôi biết là họ nhắc tôi nên tôi vội xoay về hướng chiếc ghe và bước lên chiếc cầu ván nhỏ bắt nối liền ghe và bến để đi xuống ghe. Một phen hú hồn! Vừa bước lên đầu ghe, anh chủ tàu khoảng hai lăm tuổi, cũng là người em họ của chị tổ chức nên tôi cũng biết mặt, nói nhỏ với tôi “Xuống hầm nhanh đi chị”. Tôi im lặng bước xuống bậc thang dẫn tới hầm phía dưới ghe. Đó là ngày mười tháng bảy năm 1981.

 

Khoảng mười giờ sáng nên cũng sáng đủ để thấy rõ dưới hầm tàu. Tôi đưa mắt nhìn một chỗ trống gần người phụ nữ có đứa con trai nhỏ chừng hai tuổi và hai cô em gái chừng mười hai, mười ba tuổi, tôi ngồi xuống bên cạnh gần nơi cửa hầm. Hình như chị đang mang bầu. Tôi yên lặng quan sát chung quanh khoảng hơn bốn chục người ngồi san sát vào nhau. Một ý nghĩ thoảng nhanh trong đầu tôi: “Những người có cùng một đoạn đường định mệnh với mình đây”. Tôi chú ý một cặp trai gái còn trẻ mặt mày sáng sủa có vẻ là dân sinh viên thành phố, ngồi đối diện, tôi đưa mắt mỉm miệng cười hy vọng được làm quen. Sau này tôi biết hai anh chị học Y khoa năm thứ tư, đã có đám hỏi và gia đình anh đã lo cho hai người đi. Chiếc tàu dài khoảng sáu thước, chiều ngang không qúa ba thước. Chúng tôi ngồi gần nhau chật chội, chân không thể duỗi thẳng được. Tôi ngồi yên lặng, lòng hồi hộp nhìn mọi người thấy hai cô gái nhỏ cười toe toét không có vẻ gì là lo lắng cả. Nhìn sâu vào phía sau đuôi tàu thì cũng thấy người ngồi lớp lớp yên lặng chờ đợi giờ khởi hành.

 

Ngồi đợi đến gần mười hai giờ trưa thì tàu rời bến sau khi chị tổ chức và hai đứa con chị xuống cuối cùng. Người tổ chức thường là những người cuối cùng xuống tàu, rủi có gì họ còn ở trên bờ, họ sẽ có cơ hội giông trước. Chiếc tàu nhỏ đi đường sông chở hơn bốn mươi người trong hầm tranh tối tranh sáng. Tôi rất sợ bóng tối, tiếng máy tàu chạy xình xịt, di chuyển với tốc độ bình thường. Tôi nghe người chủ tàu nói chuyện trên nóc tàu làm ra vẻ dân buôn bán bình thường. Máu tôi chảy nhanh, tim tôi đập nhanh và không cầm được sự bồn chồn lo lắng. Hầu như ai cũng mang nỗi lo sợ như nhau. Lượng adrénaline (Một loại kích thích tố tiết ra khi bị lo âu hay sợ hãi) chắc là sản xuất ra nhiều lắm và đang tuôn tràn trong huyết quản của tôi. Mọi người im lặng phần vì không ai quen ai, phần vì quá căng thẳng nên ai nấy giữ ý nghĩ cho riêng mình.

 

Tới khoảng gần bảy giờ tối tàu neo tại bến tàu gần chợ trên đường ra cửa biển, chờ thêm người xuống và mua thêm xăng dầu. Thời gian ở bến tàu thật là căng thẳng vì ngay chợ đông thuyền bè mà trên tàu có ba trẻ nhỏ, chỉ sợ chúng khóc là bị lộ ngay. Mọi người ngồi yên lo lắng.

 

Ra khơi chiều ngày 10-7-1981

 

Đường sông này dẫn ra cửa Đại nên sông rộng khó thấy hai bên bờ. Trời tối nhanh như đồng loã với những người con rời xa quê mẹ. Lúc ở trên tàu vì lo sợ nên có lẽ không ai nghĩ rằng khi mình dứt áo ra đi, không biết rằng có ngày trở lại quê hương hay chăng?

Cuối cùng rồi ghe cũng rời bến, thẳng ra cửa biển. Tới nửa đêm thì chúng tôi ra tới hải phận quốc tế êm ru và trót lọt. Xa xa nhìn vào bờ chỉ thấy nước biển mênh mông, một màu trắng bạc dưới nửa ánh trăng thượng tuần mờ ảo. Lòng tôi không vui không buồn chỉ thấy nhẹ nhõm.

 

Sáng hôm sau tất cả các cây chuối, cam, chanh đều bị chúng tôi quăng xuống biển cho nhẹ ghe. Và tôi cũng được dịp ló đầu nhìn ra biển cả, sóng biển vổ nhẹ mạn thuyền nghe lao xao. Nhìn xa xa nơi nước giáp với đường chân trời điểm những tia nắng hồng le lói. Một ngày mới trên chiếc thuyền nan giữa trùng khơi không bến bờ, đi trong vô định, tôi bắt đầu thấy sợ hoang mang, không lâu tôi bị say sóng bèn ngồi xuống.

 

Cả ngày tàu chạy êm ru, bỗng chủ tàu cho biết nhìn thấy đảo Côn Sơn, nghĩa là ghe đang đi về phía nam khoảng giữa đất liền và côn đảo. Để tránh Côn đảo, tàu chạy bọc ra xa hơn về phía Đông Nam của Côn đảo. Từng đàn cá heo bơi lượn lờ phía bên dưới của đáy thuyền, đôi khi một hai con bơi ngang hông thuyền vươn đôi mắt tinh anh nhìn như đùa giỡn, thấy cá to quá cũng sợ, nhưng hình như chúng khá thân thiện. 

 

Một ngày trôi qua nắng đẹp chan hoà, cả ghe vui mừng đã ra tới hải phận quốc tế tuy còn gần bờ biển Việt nam lắm. Chiều chậm dần, mọi người mừng quá quên cả đói khát. Lòng tôi miên man suy nghĩ vừa vui vừa buồn với bao nhiêu tâm tình bỏ lại. Ánh nắng ấm khuất dần phía chân trời xa trên mặt biển tôi chỉ thấy mặt nước giáp ranh với chân trời hồng thẩm mù khơi. Rõ ràng là trái đất hình vòng cung khi chúng ta trên mặt biển mênh mông.

Bão tố. Đêm 11-7-1981, rạng sáng 12-7-1981

                                                          Ảnh : desktopimages.org from Internet.

 

Đêm đến gió thổi hình như mạnh hơn. Tiếng sóng biển cũng bắt đầu gầm thét to hơn, thuyền nhô lên nhồi xuống. Tôi đứng lên trên bậc thang chỉ vừa khỏi cái đầu, nhìn ra bên ngoài. Trời bắt đầu mưa. Nơi tôi ngồi là chỗ lổ hổng dùng để bước lên nóc về phía đầu thuyền, vì vậy tôi có thể nhìn thẳng lên bầu trời ngay phía trên đầu tôi. Vị trí tôi ngồi ngày thì bị nắng, tối bị sương và mưa thì không trốn đâu được. Tôi sợ nơi kín không thấy ánh sáng nên tôi yên tâm ngồi gần lối lên mui thuyền. Không lâu sau đó thì người tôi hầu như ướt sủng nước mưa, tôi ngửa mặt nhìn lên nền trời đen kịt, há miệng to để uống từng giọt nước mưa mằn mặn cho đỡ khát. Dần dần cũng có người bắt chước tôi ngửa mặt uống nước vì lúc ấy hình như họ ý thức được rằng chính mình cũng đang khát. Nước mưa ở giữa biển có vị mằn mặn chứ không ngọt như trong đất liền.

 

Cơn mưa to ở giữa biển sao mà khủng khiếp. Mưa suốt đêm, gọi là bão mới đúng, biển động, sóng to và gió mạnh. Anh tài công khoảng chừng hai mươi ba tuổi, trẻ có kinh nghiệm đi biển từ bé. Tài công khuyên nên quay về, vì sợ nên anh ta chỉ chạy vòng vòng một chỗ trong suốt đêm qua. Rạng sáng chúng tôi nghe tiếng bàn cải nên đi tiếp hay không đi tiếp. Trên thuyền có một ông Trung uý và một ông Thiếu tá, cả hai là anh em họ vừa học tập mới về chưa được bao lâu và có dẫn cô cháu gái trạc tuổi tôi đi theo ngồi trong phòng bên dưới chỗ phòng lái tàu. Nói phòng lái cho oai chứ chỉ là cái nóc có mái che cao ở trên để dễ bề nhìn thấy xa, bên dưới là nơi người ta làm chỗ nằm nghỉ hoặc là nơi nấu cơm.

 

Họ quyết định đi, sống chết gì cũng đi. Thế là thuyền lênh đênh trên biển trong tình trạng biển vẫn còn động, sóng to và cao như cái nhà. Nhìn lên mui tôi thấy sóng ngay ở trên đỉnh đầu tôi như chực chờ ập xuống. Nhờ có học vật lý tôi mới bớt sợ vì biết rằng sóng di chuyển theo đường tịnh tiến hoặc lan truyền như sóng sau đẩy đùa sóng trứơc, không đánh ập xuống từ trên cao như mình nhìn thấy. Tuy vậy khi nhìn thấy cột sóng cao dựng đứng cũng thấy hãi sợ đôi phần, bài học nằm lòng ngày xưa cũng bay đi mất tiêu.

 

Lúc này tôi mới nhớ ra rằng tôi có cái áo mưa mà người tôi ướt như mèo mắc mưa. Tôi tần mần tìm cái áo mưa trong cái bọc nylon trong giỏ mây. Tôi trùm áo mưa trên đầu để tránh những hạt mưa vô tình rơi xuống xối xả không thương tiếc. Tôi ngồi và làm một chỗ trũng trên cái áo mưa, hứng từng giọt nước mắt trời cho và giữ như vậy cho tới khi uống hết. Mớ nước tôi giữ cũng uống được vài hôm, đỡ khát cho nhiều người chung quanh.

Mưa vẫn mưa tuy nhỏ hơn, lúc này sáng tỏ hơn, sấm chớp cũng lưa thưa. Trời vẫn còn âm u, gió vẫn thổi bần bật, chiếc thuyền chạy nhưng hầu như di chuyển từng chút một. Chiếc thuyền hướng cưỡi đầu con sóng, tiến dần về phía nam chầm chậm và vì không thể đi nhanh hơn mười ki lô mét một giờ. Đến chiều thuyền xa bờ nhiều hơn, cơn mưa hạ đã ngưng hẳn. Cả người tôi vẫn ướt và bắt đầu thấm lạnh, nhờ cái áo mưa cản gió cũng đỡ được phần nào. Sắp tối chúng tôi cũng chả được cho ăn gì nghe đâu chủ tàu có dừa tươi, nhưng chừng nào mới tới lượt chúng tôi, cả chị tổ chức và hai đứa bé, con của chị cũng thế. Cũng không nghe ai than đói khát gì cả. Có lẽ vì cơn bão ai nấy lo ra không nhớ gì khác.

 

Đêm 13-7-1981. Nửa vầng trăng thượng tuần

 

 

 

                                           Photo by Bạch Nữ

 

Đêm đó là đêm thứ ba, nửa vầng trăng thượng tuần treo hờ hững trên bầu trời đen thẩm, tôi ngủ thiếp đi, tay vẫn giữ cái áo mưa, bảo vệ những giọt mật trời cho. Ngày dài, ngồi không nên tôi hay nghĩ ngợi lung tung, buồn nhiều vì nghĩ tới những người thân còn ở lại, nhưng không khóc. Buồn nhiều hơn vì mai này tôi sẽ bơ vơ, một thân một mình ở một nơi xa lạ nào đó. Khóc trong lòng! Tôi có vui không? Thật lòng là không đó, có tin tuỳ ở mỗi người.

 

Tôi lan man nghĩ ngợi nhớ tới cô bạn Bạch Loan của tôi, liên tưởng đến chuyến đi của Loan chắc cũng giống như của tôi. Nghĩ tới sẽ được gặp nhau lòng thấy vui lên tí, tôi thiếp dần vào giấc ngủ lúc nào không biết. Tôi mơ thấy Bạch Loan và tôi đi ăn hoành thánh ở khu chợ đêm Nguyễn Tri Phương, tô hoành thánh bốc hơi điểm mấy cọng hành ngò, dầu mè thơm ngậy, tôi chép miệng húp miếng nước lèo. Ôi sao mà ngon lạ lùng! Tôi xiêu xiêu nghiêng vai cặm cụi chăm chú húp thêm một muỗng nước lèo, bỗng nhiên cảm thấy vai mình sao nặng thế. Tôi tỉnh thức mở hé mắt nhìn chung quanh, lòng tiếc nuối tô hoành thánh trong mơ, mùi thơm dầu mè như còn phảng phất. Mọi người đều say ngủ. Có ai đó dựa đầu vào vai tôi ngủ, tôi thức giấc mà tô hoành thánh còn hiện rõ trước mắt. Đúng thật có một cậu trai trẻ đang dựa vào vai tôi ngủ ngon lành. Tôi muốn giận vì cậu ta làm tôi mất đi giấc mơ hoành thánh của tôi. Tôi ngại qúa nhưng không dám động đậy gì. Sau này tôi mới biết cậu ta là em trai út của ông thiếu tá, khoảng mười bảy ,mười tám tuổi. Chắc là nhớ mẹ hay chị nên dựa vào tôi cho đỡ nhớ. 

 

Ngày 14-7-1981. Nhớ ngày ấm êm

 

Mãi tới sáng hôm sau, mọi người đều dật dờ tỉnh giấc. Tôi thấy đói bèn lấy chút chanh đường ra ngậm và tôi chia cho một số người quanh tôi có các em nhỏ vài nhúm. Phần còn lại tôi gói kỹ cất đi. Nhìn gói chanh đường tôi lại nhớ mẹ của Loan chờ tôi về dùng cơm mỗi chiều. Mấy hôm nay chắc hai Bác cũng nghĩ tôi đang ở nơi đâu. Bác thường mua khóm hay đu đủ ướp lạnh của chiếc xe đẩy bên kia đường cho tôi ăn mỗi tối. Chị bán hàng đã mất mối rồi.

 

Ngày thứ tư xa Sài Gòn tôi nhớ phòng mỗ, nhớ bộ đồng phục màu xanh. Nhớ những ánh nhìn và khuôn mặt chỉ có đôi mắt và chiếc khẩu trang. Nghĩ về mấy đêm trực chung ca với bác sĩ An Lộc Sơn, chúng tôi gọi ông như nhân vật của thời Đường Minh Hoàng vì tên của ông. Vị bác sĩ này rất thương tôi thường cho tôi phiếu bồi dưỡng ăn khuya. Chắc ông ấy cũng nghĩ tôi đang bốc hơi ? Nghĩ tới phiếu bồi dưỡng tôi lại nhớ bánh ướt chả lụa với bánh cống vàng ươm. Bánh ướt cuộn xếp từng lớp, cắt ngắn để trong cái dĩa, vài lát chả lụa điểm thêm vài miếng bánh cống ngập nước mắm chua ngọt thêm vài cọng quế. Ôi thôi là nhớ! Không biết bồi dưỡng tháng này ai sẽ lãnh phần của tôi. Nửa kí thịt, hai hộp sữa, trăm gram bột ngọt, nửa kí đường. Bồi dưỡng phòng mỗ thật là ưu ái.

 

Tôi không biết giờ này cô tôi làm gì, chắc cô không tưởng tượng được tôi đang trên đầu sóng ngọn gió, có biết tôi đang đói khát giữa biển khơi hay chăng? Mấy ngày trước khi đi tôi về thăm, cô dẫn tôi qua tiệm hủ tiếu đối diện nhà, hai cô cháu ăn cháo thập cẩm. Tôi còn nhớ rõ ông chệt xào vài lát thịt bò, hai miếng bong bóng cá, một nhúm thịt heo bầm, hai con tôm, vài lát cải bắc thảo cắt khúc, đổ vào vá rưỡi cháo trắng, hai vá nước lèo và hành ngò. Lúc thường thì tôi không nhớ nhưng bây giờ sao tôi nhớ tất cả như một trình tự nằm lòng. Buồn cười thật. Đói! Khát!

 

Tiếng sóng vỗ vào mạn thuyền dập dềnh nghe như đánh như ru. Đánh vào lòng tôi đau và ru tôi ngủ chập chờn. Mây trắng lơ lững trên nền trời chiều như nhòe nhoẹt hòa cùng với gió biển miên man không bao giờ dứt. Tôi lại nhớ Sài Gòn. Các bạn của tôi đang có những ca mỗ gì và tên tôi chắc không còn được lên chương trình nữa, ai sẽ thay vào phòng của tôi. Mọi người nghĩ chắc tôi đã "bốc hơi” rồi như chúng tôi thường đùa khi có ai đó vắng mặt vài ngày. Mà đúng thật tôi đang “bốc hơi” giữa cái nóng của biển, cái giận của sóng, cái mơn man của gió. Cái thân phận mỏng manh của mỗi con người chúng tôi trên chiếc thuyền nan đang đối diện với sự cuồng nộ của biển cả đêm trước, vẫn còn là nỗi sợ hoang mang.

 

Sóng vỗ vào mạn thuyền tung bọt trắng xóa làm tôi trở về với thực tại. Thuyền vẫn rẻ sóng lao về phía trước, đôi lúc sóng to làm thuyền chao đảo nghiêng ngả. Chúng tôi lại một phen lộn nhào cả ruột gan. Lại một đêm ngủ trong cơn đói.

 

Tôi hay ăn quà vặt nên bây giờ tôi nhớ ly sữa đậu nành mà chiều chiều trên đường đi thực tập về tôi dừng ở ngả bảy uống vội vàng. Tôi nhớ xe bánh mì thịt bò vo viên nướng than ăn với tương ngọt thơm lừng mỗi khi đi ngang qua ngã sáu Cộng Hòa và Hồng Thập Tự từ bệnh viện Từ Dủ chạy về. Nơi đây có bán thịt rừng vào mỗi chiều thứ năm.

 

Tôi nhớ bà bán xôi vò sáng sớm ở đầu đường Cao Thắng và Phan Thanh Giản (Điện Biên Phủ) gần bệnh viện Bình Dân, đôi khi tôi ghé qua mua vội vàng trước khi vào lớp. Nhớ xe nước mía ở trên đường Lê Văn Duyệt, Cẩm Tú và tôi từng ghé qua trước khi về nhà Tú ở đường Trần Quý Cáp. Nước mía có thơm mùi dâu, mùi quất. Tôi nhớ Bác Sĩ T (Khoa RHM) bao chúng tôi ăn miến gà trước cửa bệnh viện. Ông ấy hỏi tôi cho phép ông cắt lấy mỡ mắt không lấy tiền, chỉ cho chụp hình trước và sau khi mỗ để quảng cáo cho ông, nhưng tôi không chịu vì sợ thay đổi tướng mạo sẽ ảnh hưởng đến vận mệnh đời tôi. Bây giờ thì tiếc vì mình từ chối.

 

Tôi nhớ bánh chuối nướng trước bệnh viện Nguyễn Văn Học, gói lá chuối nướng vàng chan nước cốt dừa. Nhớ bò bía bên hông trường Gia Long cũ. Nhớ cả ca mỗ tắt ruột của bác sĩ D mà tôi đã gây mê ở bênh viện Nguyễn Văn Học, ca này gấp ra cả trăm con giun đũa là nguyên nhân của nghẽn ruột. Bác sĩ D sợ giun nên để cho các anh sơ bộ gắp ra. Tôi sợ lại hé mắt nhìn thì bà D la tôi: "Con nhỏ này đã sợ mà còn nhìn nữa". Không biết bây giờ bà có nghĩ tôi bốc hơi không nhỉ? Tôi cũng nhớ những đêm trực ở bệnh viện Saint Paul, các chị điều dưỡng vòng trong chỉ tôi làm bánh hạnh nhân và dùng lò nướng của phòng mỗ. Nhớ con đường Điện Biên Phủ chạy ra Bình Thạnh thăm và dùng cơm với gia đình bạn Minh Đức nhiều chiều chủ nhật. Tôi cũng nhớ Tết năm rồi chúng tôi múa cho bệnh nhân nằm qua Tết ở bệnh viện Bình Dân giải khuây.

 

Năm ngày trôi qua sau cơn bão hôm thứ hai ra biển, trời vẫn yên bình. Tôi đã làm quen với cái bồng bềnh của thuyền trên sóng nước nên không còn buồn nôn như lúc mới lên. Trời trong trẻo, đẹp đến ngỡ ngàng dưới ánh nắng vàng rực rỡ. Tôi đứng lên vì suốt đêm ở tư thế ngồi nên chân tôi tê cứng, tôi vừa duỗi chân vừa nhìn ra biển cả. Tôi chiêm ngưỡng những con cá từ bên dưới nước lao vút trên không và buông mình rơi trút xuống làn nước xanh thẳm giống như buổi biểu diễn trong những đoàn xiếc. Đó là lần đầu tiên tôi thấy cá bay. Tôi mục kích cá bay vọt lên cao khỏi mặt nước và bay là đà trên mặt nước độ vài mét, rồi dùng đuôi vẩy mạnh trên mặt nước để rồi vọt lên lần nữa. C’est magnifique. Thật là kỳ diệu thay.

                                                        Ảnh : Pinterest from Internet.

Hy vọng mong manh

Chúng tôi thấy những tàu to chạy ở xa xa nhưng không làm sao tới gần được. Ai nấy mừng quá la hét, vẫy tay nhất là các anh thanh niên. Lúc trước nhờ Bạch Loan khuyến khích tôi học thuộc để nhận ra màu cờ các nước cho việc chuẩn bị ra đi. Từ xa tôi nhận ra nhiều tàu từ những nước khác nhau qua cờ của nước. Nào Pháp, Nhật, Panama, Hy Lạp, Đức, Hòa Lan…, nhưng không thấy bóng dáng tàu Mỹ vì đó là niềm hy vọng lớn nhất được cứu vớt trong tinh thần trách nhiệm.

Cũng có một chiếc du thuyền to lớn, cao đẹp và cực sang chầm chậm đi trong khoảng cách, đi qua một cách hờ hững và dần dần xa. Và trước khi biến mất tôi thấy những cánh tay từ những khoang cửa nhỏ vẫy khăn trắng. Tôi cảm thấy những người ngồi cao trên kia hơi nhẫn tâm và thầm tủi cho thân phận. Sau này tôi mới biết đó là chiếc cruise. Gần đây tôi có dịp ngồi trên những chiếc cruises, mới hiểu rằng nếu gặp những hoàn cảnh như vậy chúng tôi chỉ có thể chia sẽ sự đồng cảm, thương xót nhưng bất lực. Những cái vẫy khăn kia tôi hiểu là những lời chào chúc bằng an và may mắn.

 

Không chiếc nào có dấu hiệu muốn vớt chúng tôi. Họ quan sát nhìn từ xa thấy mọi người còn sống và còn khỏe, họ đã bỏ đi.  Vì bảo vệ chiếc ghe nhỏ bé, tàu họ dừng lại hoặc đi thật chậm trong một khoảng cách nhất định, nếu không ghe nhỏ sẽ bị đắm chìm do sóng tàu của họ đập vào. Chiếc ghe bé bỏng chỉ bằng một chấm nhỏ như con kiến so với những chiếc tàu to trên mặt biển mênh mông.

 

 Vào thời điểm đó, Liên Hiệp Quốc ra luật tàu nước nào vớt thuyền nhân sẽ phải có trách nhiệm nhận vào nước họ, có lẽ vì thế nên họ chỉ cứu khi mình bị hiểm nguy chìm tàu một cách bất đắc dĩ vì nhân đạo.

 

Ghe đi loanh quanh những chiếc tàu ở khu vực quốc tế với hy vọng được vớt. Tuy máy chết không chạy, nhưng chiếc tàu vẫn di chuyển bởi sóng đẩy đưa. Những chiếc tàu to chạy quanh chiếc ghe rồi bỏ đi mất. Càng muốn ghe mình đến gần thì lại càng bị đẩy ra xa vì tàu to, sóng cũng vì thế mà mạnh mẽ. Anh chủ tàu la: “Cười nói nhảy dựng lên như vậy thì ai mà vớt, phải nằm giả chết thì họ mới cứu”.  Lang thang thêm vài giờ,  tôi thấy chiếc tàu mang cờ Pháp chở những thùng hàng trên boang tàu tiến gần, thật gần rồi ngừng hẳn lại. Gần đến nỗi chúng tôi thấy rõ thủy thủ trên tàu của họ đi lại và đứng nhìn chăm chú vào chiếc ghe. Tàu thấp và bằng phẳng như chiếc sà lan chở gạch đá ngày xưa, chứ không cao to như những chiếc tàu trước đã đi qua. Lần này chúng tôi mừng tin chắc sẽ được vớt. Kinh nghiệm lần trước theo lệnh chủ tàu mọi người nằm yên giả chết không đông đậy.

 

Khoảng một thời gian lâu, bỗng nhiên tàu nọ dần dần rời đi. Tôi hiểu rằng họ có quan sát và biết  không ai có vẻ gì sắp chết, tuy không động đậy hay nói cười, khuôn mặt cũng tố cáo là chúng tôi còn đủ sức qua ống nhòm tinh vi.

 

Khi tàu bắt đầu rời xa trong cơn tuyệt vọng của cả thuyền, có người đề nghị đục thuyền tự đánh chìm, buộc họ phải cứu. Cách này thật là liều lĩnh nhỡ họ không thấy hoặc tới lúc họ thấy thì không còn kịp nữa. Tôi nói: ”Thà rằng mình còn tự cứu mình bằng cách lênh đênh thì có phải hơn không, biết đâu mình sẽ tấp vào đất liền nào đó”. Có tiếng nói hướng về phía tôi “Cái chị kia có muốn tôi thẩy chị xuống biển không”. Tôi sợ quá vì đơn thân một mình, cũng may có nhiều người phản đối vì mức độ liều của sự việc, nhất là những người có con nhỏ. Còn tôi phản đối vì tôi không biết bơi. Chúng tôi nhìn chiếc tàu xa dần và mất hẳn sau vòng cung cuối chân trời chỉ còn sóng nước vẫy vùng trong nỗi buồn tuyệt vọng.

 

Dần dần chiếc ghe xa dần khu vực có nhiều tàu qua lại. Đầu máy đã nguội, tôi nghe tiếng máy giựt nổ trở lại sau nhiều giờ không chạy. Thế là chúng tôi tiếp tục cuộc hành trình vô định. Ghe cứ thế đi dần về hướng nam, không có la bàn nên cứ xem mặt trời mà đi với tốc độ khoảng mười kí lô mét một giờ. Ghe lại trôi dạt vào vùng xa xăm không tàu nào lai vãng. Nước biển rất đậm màu, gần như mực đen đồng nghĩa với độ sâu của đại dương. 

 

Lòng tin trong sự hoang mang

 

Có trên bốn mươi người trên chiếc ghe tôi đi. Đêm đến tôi nghe chị tổ chức bắt đầu đọc kinh Phật vang lên trong đêm tối. Rồi chị gọi tôi: ”Bạn đọc kinh với mình đi”. “Mô Phật”, tôi biết gì mà đọc. Từ bé đến lớn chưa bước chân vô chùa một lần biểu tôi đọc kinh chẳng khác nào làm khó tôi rồi. Ngoài tiếng “Mô Phật“ ra tôi chẳng biết gì hơn. Tôi thấy người ngoan đạo khi họ gặp điều bất hạnh trong đời ít ra họ cũng có chỗ dựa tinh thần vững chắc, không sợ bị phản bội hay chơi trác. Còn tôi xưa đến giờ gia đình tôi ngoài thờ kính ông bà, có biết lễ Phật hay nhà thờ Chúa gì đâu chứ. Khi còn bé, bạn bè là nguồn tinh thần vững mạnh mà tôi dựa vào.

Trong tình cảnh này, tôi mới nhận ra rằng tôi không có chỗ dựa tinh thần nào, ngoài cái tình chung hội chung thuyền với những người bạn mới quen đang cùng cộng hưởng số phần sống chết. Tôi nghĩ những lời cầu nguyện trong trường hợp này không phải để được cứu độ hay để được nhận ơn thí đức. Nhưng lời cầu kinh là để xin đấng tối cao ban cho sức mạnh và lòng can đảm để chịu đựng với nghịch cảnh trong hiện tại. Tôi cũng lầm bầm khấn nhỏ trong đầu: ”Xin cho con có sức mạnh và lòng quả cảm để vượt qua cơn sóng gió này”.

 

Phải chăng khi con người tuyệt vọng thì trở thành tín đồ ngoan ngoãn nhất để vun đắp hy vọng thoát ra nghịch cảnh.

 

Thấy tôi im lặng chị có vẻ giận. Chị ngồi thẳng dậy bồng đứa trai, tay kéo đứa gái bò dần về bậc thang chỗ tôi ngồi và leo lên thang để lên trên nóc tàu. Rồi ba mẹ con nằm trước mũi tàu, sóng đập vào mạn thuyền văng lên tung toé, ướt tóc chị và hai đứa nhỏ. Hai đứa nhỏ sợ quá khóc thét lên. Tôi sợ dùm chị đứng lên hai tay nắm chặt chân ba mẹ con chị và năn nỉ chị xuống kẻo bị ướt lạnh. Chúng tôi chẳng phải đã ướt nửa thân người rồi ư?

 

Sợ thì làm theo khả năng mình thôi nhưng nếu chị có bị rớt chắc tôi cũng không giữ nỗi vì chị to và phốt pháp hơn tôi nhiều, tuy chúng tôi bằng tuổi. Em chồng họ của chị, con của người dì chồng mà tôi giúp cho nhập viện và chăm sóc khi mỗ, bèn la chị và biểu tôi khuyên chị xuống hầm kẻo rơi xuống biển. Công nhận chị gan thật. Tôi chỉ đứng ló đầu lên chứ không dám leo ra như chị vì tôi nhát và không biết bơi. Dỡ thế, đi biển mà không biết bơi, nói chắc không ai tin.

Mấy hôm nay nước mưa tôi hứng cũng uống vừa hết rồi. Bây giờ đang lo không biết phải uống gì cho đỡ cơn khát. Cuối cùng cũng nhờ chị làm nư nên chủ tàu xuất hiện để kêu chị xuống hầm tàu. Thì ra chị muốn cậu em chủ tàu ra mặt. Từ đó có phát ít nước cho chúng tôi uống cầm hơi, mỗi ngày được hai nắp bình đựng nước. Cũng nhờ có mưa lai rai nên tôi hứng nước mưa và ngồi đó mà ôm lấy cái áo mưa bảo tồn nguồn nước uống cho mọi người. Nhờ giữ chiếc áo mưa có nước uống nơi tôi ngồi tương đối sạch nhất. Những nơi khác bị nôn mửa trông thật là khủng khiếp lắm, chưa kể những chất đào thải khác hòa lẫn cùng nước biển biến thành một “hỗn hợp không tên”. Tàu bị vô nước vì có những chỗ bị nước biển mặn làm tróc chai trét nên nước rỉ vào tàu. Từ eo tôi trở xuống là ngâm trong nước biển vừa mặn vừa rát vì bị khô da rạn nứt nơi bàn tọa do ngồi lâu quá. Khi lên tới đảo Galang tôi phải nhập viện xin trụ sinh uống mới hết. Lúc này tôi mới thấy đau, thấy khổ và thấy sợ hãi bội phần. Cậu em của ông Thiếu tá có nhiệm vụ đi trét lại những chỗ bị nước tràn vô và vận động mọi người phụ tát nước ra. Tôi cũng có phụ tát nước đến sưng cả cánh tay.

 

Lênh đênh trên biển vắng

 

Máy nóng vì chạy liên tục, tàu bị chết máy nhiều lần sau nhiều ngày lênh đênh trên biển. Nghe đâu chú tài công đã rớt xuống biển ngay đêm bão tố và sau đó không ai được biết số phận cậu ta ra sao? Vì không có la bàn nên ghe bị lạc vào vùng biển sâu giữa Thái Bình Dương. Nước biển vẫn một màu đen sẫm.

 

Chiếc ghe đi lạc vào khu vực không có tàu bè qua lại trong nhiều ngày. Ngày ngày tôi tranh thủ đứng lên để nhìn biển mà trong lòng nghĩ là chỉ có làm mồi cho cá mập nếu không tìm được phương hướng đi ra khỏi vùng biển xa xăm này.  Tuy vậy nguồn hy vọng vẫn được mọi người khẩn cầu và nuôi dưỡng. Mỗi ngày ai nấy nhìn chung quanh với hy vọng thấy cánh chim biển, có chim bay có nghĩa là gần đất liền. Chưa lúc nào tôi thấy mình yêu loài chim biển đến thế.

 

Mấy anh thanh niên bây giờ lên nóc ghe ngồi cho thoáng vì tàu chạy chậm và biển êm.  Tôi thích đứng lên để nhìn ra biển dữ, bình thường tôi rất yêu biển. Có phải biển như những cô gái trong cơn ghen Họan Thư thì chẳng chút hiền lành.

 

Trên ghe, mọi người đều có vẻ hiền hòa và chân chất nên không có chuyện hỗn loạn gì xảy ra. Mọi người đều lo nhưng ai nấy giữ trong lòng, không lời than vãn hay oán trách vì thiếu ăn hay thiếu uống. Kể cả những đứa trẻ cũng rất ngoan có lẽ chúng không còn sức để kêu khóc.

 

Màu xanh của biển đậm dần chập chờn qua triền sóng uốn lượn. Tôi bắt đầu quên đếm thời gian và để ý tới cảnh biển nhiều hơn. Lòng nghĩ rằng chắc không còn dịp. Nghĩ tới lòng thấy sợ và nuối tiếc vì mình còn trẻ chưa làm gì, chưa hưởng gì. Thoạt tiên tôi hoảng sợ rồi từ chối, rồi mặc cả với nhiều lý do và cuối cùng chấp nhận. Tôi nghĩ khi có chuyện xảy ra, tôi sẽ nằm thả nỗi trên mặt biển để nhìn cho thỏa cảnh trời, mây, nước  trước khi không còn thở nữa.

 

Ngày dài với lắm nỗi suy tư hoang mang đối diện với thực tại. Đi đâu và tương lai mờ mịt phó thác cho số mạng. Bây giờ tâm tư tôi xáo trộn nghĩ rằng mình ở lại cũng đâu đến nỗi qúa khổ, không làm giàu nhưng cũng có thể nuôi được bản thân. Có nghề nghiệp, việc làm tại sao phải lặn lội cực khổ thế này? Chưa có người yêu, nhưng người thương tôi cũng không phải không có. Cuối cùng cũng sẽ gặp người làm mình cảm động thôi. Con gái đâu cần phải yêu trước, chỉ cần học yêu người mình gần và ngoan là cũng hạnh phúc lắm rồi. Tôi nghĩ đơn giản lắm.

 

Người ta đi vì là dính dáng chính quyền cũ mắc mớ gì mình đi. Nuối tiếc! Nhớ thương người thân còn ở lại không biết có còn cơ hội gặp lại hay chăng. Đau lòng! Tâm tư xáo trộn vui, buồn, sợ, tiếc, thương, lẫn lộn đều có đủ. Lúc này là lúc mọi xúc cảm của tôi dào dạt nhất trong đời.

 

Cô đơn trong đêm trăng tròn

 

Lại một ngày lênh đênh, đêm nay sao trăng tròn quá chắc là ngày rằm hay ngày mười sáu. Trăng tròn, to treo lơ lững trên cao soi sáng một vùng biển rộng. Nếu tôi không nhớ lầm thì hôm nay là ngày thứ bảy chúng tôi ra khơi. Tối đến mọi người đều ngủ, tôi trăn trở đứng nhìn trăng, trăng tròn và to hơn những ánh trăng trong đất liền mà tôi từng thấy. Tôi thấy mình như già đi vì bối cảnh, biết ưu tư, để ý và suy nghĩ cho lần đầu tiên trong đời. Trăng giữa biển hình như to hơn có lẽ vì trăng chiếm trọn không gian đêm mông mênh của biển và không bị gì che khuất chung quanh. Tỉnh lặng, không một tiếng ồn ngoài tiếng thì thầm của sóng, nước và gió. Chiếc ghe của chúng tôi như chiếc ghe ma quái giữa đêm trăng huyền hoặc, trôi lềnh bềnh giữa lòng đại dương đen thẳm, sóng sánh dưới ánh trăng vàng. Đẹp vô cùng. Tôi bỏ một vài phút thưởng thức ánh trăng đẹp mà quên mình đang đi trong vô định.

                                             Ảnh: wallpaperbetter.com from Internet.

 

Mặt biển ngút ngàn xa tít mù trong đêm trăng làm tôi rờn rợn. Máy ghe ngừng hẳn trôi dập dềnh trên mặt biển, cô đơn trong cảnh biển vắng lặng. Chúng tôi, những sinh linh nhỏ bé đang vật lộn với thần chết của biển cả. Ngày mai đây liệu chúng tôi có gặp được đất liền hay vẫn lang thang không bờ bến. Tôi không dám ngủ vì sợ trong khi tôi ngủ không biết có chuyện gì xảy ra quanh tôi. Biển và trăng, sóng và nước vừa tốt đẹp lại vừa hiểm nguy. Lúc dữ dội sao giờ yên bình thế.

Chiếc ghe trôi bềnh bồng di chuyển bởi sóng gió đẩy đưa, bổng ở phía xa sát chân trời trong bóng đêm tôi thấy có tia sáng leo lét. Tôi nhìn kỷ hơn ánh đèn hình như càng lên cao hơn. Ghe tôi đang trôi về phía có ánh sáng kỳ diệu, tôi sợ mình đang ngủ mê. Trời bây giờ cũng rất khuya, ánh trăng cao thẳng trên đỉnh đầu. Tôi mỏi chân bèn ngồi xuống, lòng mừng hy vọng sáng mai mình sẽ được cứu vớt.

 

Mệt mỏi tôi ngồi xuống nhắm mắt dưỡng thần. Ghe đã được tát nước và vá bít những nơi bị nước vô nên bây giờ khô ráo hơn. Trời êm và vắng lặng dưới ánh trăng nguyên sơ toàn vẹn. Tôi ngồi yên trong bóng tối chập chờn dần dần đi vào giấc ngủ. Tôi mơ thấy mình đi trong khu rừng vắng vẻ, đang lang thang thì bỗng gặp Bạch Loan đang dang tay chạy về phía tôi miệng cười nói. Tôi cũng vừa chạy vừa khóc, tay đưa ra định nắm lấy tay Loan, càng tới gần thì Loan càng lùi xa. Tôi chạy nhanh hơn để bắt kịp Loan thì có ai nắm tay tôi quăng ra. Tôi tỉnh giấc thì con bé bên cạnh nói: “Chị mơ gì mà đánh vào mặt tui vậy?”. Tôi cười nói: ”Chị mơ thấy bạn chị”.  Ý nghĩ đầu tiên qua giấc mơ sau khi tỉnh giấc làm tôi sợ lạnh người. Điềm báo không gặp được Loan có phải là không tới bến bờ. Rồi tất cả chìm trong yên tỉnh. Tôi tiếp tục tìm lại giấc ngủ nhưng cơn mơ làm tôi phập phồng lo sợ, không sao ngủ được. Trời hẳn còn khuya lắm. Ánh trăng thấp hơn làm ánh sáng chiếu xéo vào mắt tôi, tôi nghiêng đầu nhắm mắt. Ở trên ghe tôi chỉ ngủ chẳng làm gì cũng không cần năng lượng nhiều nên không còn thấy đói nữa.

 

Khi tôi mở mắt ra thì mọi người cũng đã thức, tôi mò vào giỏ tìm gói chanh đường thì đụng gói sâm lấy ra ngậm, chia cho vài người lớn chung quanh và cho phần chanh đường cho các bé nhỏ.

Tôi không thích vị đắng của sâm nên chia hết cho mọi người.

 

Có chí thì nên

 

Trời sáng tỏ ghe bắt đầu chạy tiếp, tôi ngồi thẩn thờ nhìn chung quanh, đầu óc trống rỗng. Ghe tiến về hướng có nhiều đốm đen phía xa xa có ánh đèn mà tôi thấy lúc ban tối. Khoảng chiều ghe tới gần, nhiều tàu dập dìu qua lại, cũng chạy quanh quan sát rồi lại bỏ đi. Có chiếc tàu mang cờ Đại Hàn thẩy xuống biển tiếp tế hai thùng to trôi bồng bềnh trên mặt nước. Sóng to đẩy hai thùng ấy ra xa hơn, khoảng cách xa dần và không còn thấy nữa. Hai thùng đó có lẽ là thực phẩm, ghe đang chết máy không di chuyển theo mong muốn. Họ cho thực phẩm có nghĩa là để tiếp tục cuộc hành trình chứ không vớt. Tuy vậy lòng tốt của người không quen biết, cũng xin tạc dạ ghi lòng.

 

Mọi người thất vọng ngồi uể oải thở dài. Hai cô bé thì ngồi bắt chí cho nhau. Chí! Tôi rùng mình có cảm tưởng ngứa khắp đầu. Tôi sợ quá từ nhỏ đến giờ tôi chưa bao giờ bị chí. Từ đó tôi cứ thấy đầu tôi ngứa ngáy, không yên. Khỏi phải nói, tôi đã có chí. Làm sao tránh khỏi khi không gian chật hẹp, ngồi san sát vào nhau, chưa nói lúc ngủ đầu có thể kề bên nhau, cô bé có mái tóc khuất vai cũng như tôi. Chí không thể nhảy, nhưng bò từ sợi tóc này qua sợi tóc kia.

 

Cũng may trên ghe không có ai bệnh hoạn gì, chỉ có thiếu ăn và thiếu nước uống. Nhưng nhờ thế nên đỡ chật vật cho cái nhu cầu đào thải trong suốt chuyến hải trình. Vả lại ai còn tâm hồn đâu mà thiết tới ăn uống.

 

Giàn khoan dầu thần thánh

 

Chiếc ghe lại lênh đênh thêm nhiều ngày nữa. Ngày đi, đêm tắt máy nghỉ ngơi. Không gian yên lặng không ai nói chuyện với ai, trong lòng mỗi người có mối lo nghĩ riêng và cũng có mối lo chung cho tình huống hiện tại. Quên đói khát, tôi vẫn còn tí chanh đường cuối cùng định để dành trước khi có chuyện gì thì ngậm để khỏi thành ma đói.

 

Không biết hôm nay là ngày mấy mà trăng đã khuyết hơn nửa, tôi đã quên mất thời gian. Ở giữa biển bão tố thường êm hơn gần bờ vì không có những vật cản đùn đẩy sóng đập vào và dội lại.

Mấy ngày nay ngoài những trận mưa rào nho nhỏ cũng không có gì đáng lo.

 

Sáng nay tôi đứng nhìn ra xa, trời, mây và biển cả. Đang thả hồn suy nghĩ vẫn vơ, nhìn phía xa cuối chân trời có một chấm nhỏ trên nền trời xanh biếc. Có một số thanh niên cũng thấy với tôi, ai nấy nhốn nháo chắc là gần bờ nên có chim bay. Mừng rỡ ghe chạy về phía ấy. Không phải chờ quá lâu, tiếng động cơ trên nền trời đầy nắng ấm chói chang. Hai cô gái nhỏ la to: “Mình được cứu rồi”. Cả ghe nhốn nháo lo chuẩn bị những hành lý tối thiểu mang đi. Mọi người vui mừng như chưa bao giờ được mừng đến thế.

 

Ai nấy mừng quá nhìn lên nền trời nắng sớm. Một chiếc trực thăng đang đảo vòng vòng trên đầu như ra hiệu cho ghe đi theo hướng của họ. Có thể từ giàn khoan dầu họ thấy chúng tôi qua ống nhòm nên gởi trực thăng tới quan sát. Chiếc ghe lại một lần nữa nổ máy đúng thời điểm, chạy theo trực thăng. Vì độ cong của biển nên bị mất dấu đôi lần. Chiếc trực thăng cũng đảo đi đảo lại vài lần để dẫn đường. Nhờ vậy chiếc ghe đi theo trong rộn ràng, tiếng sóng cũng nhịp nhàng hơn không còn thấy dữ dội như trước. Có phải khi tâm trạng vui tươi thì lòng người cũng dễ dãi theo.

 

Cuối cùng chiếc sà-lan của giàn khoan dầu hiện dần trong tầm mắt. Tôi đứng nhìn và cầm cái giỏ rơm lên vì đó là tất cả gia sản của tôi trong lúc ấy. Mọi người chuẩn bị gom đồ đạc cá nhân sẵn sàng chờ đợi đi lên. Mất khoảng vài tiếng đồng hồ từ lúc thấy giàn khoan, ghe mới cặp bên cạnh chiếc sà-lan thần thánh. Không biết công ty dầu hỏa nào đang khai thác tại thềm lục địa của Indonesia. Trên tàu có nhiều sắc dân làm việc. Ngôn ngữ giao tiếp bằng tiếng Anh.

 

Lúc này có người giúp để chiếc ghe cặp sát vào chiếc sà lan.  Họ quăng dây cho nắm và kéo vào gần rồi cột ghe chúng tôi lại. Họ giúp nâng từng người leo lên sà-lan. Sau khi lên và ra hiệu để đồ vào một nơi, họ lùa mọi người đi về phía đầu sà-lan rồi dùng vòi nước xịt nước sát trùng từ đầu tới chân, ướt sủng. Vòi nước mạnh và ai nấy bồng bềnh như đang đứng trên đám mây, xiêu xiêu muốn ngả vì say sẩm. Phải mất khoảng gần mười phút tôi mới đứng vững trên nền của chiếc sà-lan.

 

Bây giờ khi nghe hỏi số người trên ghe, tôi được biết có bốn mươi bảy người được vớt trừ anh tài công trẻ tuổi đã rớt xuống biển ngay đêm bão tố. Cho đến bây giờ không ai biết tin tức gì của anh ta. Tôi lại một phen ngậm ngùi thương tiếc cho anh thanh niên trẻ vắn số.

 

Tôi đứng trên chiếc sà-lan nhìn xuống chiếc ghe bé bỏng đang chập chùng trên sóng nước lòng vui và xót thương lẫn lộn. Nghĩ tới lúc lênh đênh trên sóng nước bấp bênh tôi xúc cảm đến nghẹn ngào. Sau khi chụp hình, có hai người xuống quan sát chiếc ghe và hỏi han tin tức về chuyến đi, chiếc ghe được lệnh đục thủng cho chìm. Tôi nhìn chiếc ghe đã cưu mang bao nhiêu sinh mạng trong suốt cuộc hành trình, cho tới khi khuất dần dưới làn nước bạc sóng sánh trong ánh nắng chiều vàng vọt. Đó là ngày 22-7-1981. Ngày sinh nhật thứ hai của tôi. Chiếc ghe định mệnh đã chìm sâu dưới đáy biển thay cho chúng tôi.

 

Nỗi vui được sống sót làm tôi muốn òa khóc như một đứa bé lúc mới chào đời. Nỗi vui mừng khôn tả!

Sau đó họ phát sà phòng và khăn tắm rồi ai nấy sắp hàng thay phiên nhau tắm rữa. Lúc đó khoảng năm, sáu giờ chiều. Tôi đem ba bộ quần áo, khăn lau nhỏ, bàn chải đánh răng, tất cả vẫn còn khô ráo tuy nhăn nhưng sạch sẽ. Tôi cũng tranh thủ giặt bộ đồ mới thay ra và phơi qua đêm đến sáng cũng khô ráo. Mười hai ngày không tắm rữa không cần phải nói chúng tôi thật là bẩn thỉu và hôi hám lắm. Sau khi tắm hai anh chị sinh viên y khoa và tôi biết chút ít tiếng Anh nên có trò chuyện cùng với vài người trên chiếc sà-lan. Hai chị em ở lại để dọn dẹp phòng tắm cho sạch sẽ sau khi mọi người dùng. Thật là khủng khiếp!

 

Có ông kỹ sư người Phần Lan thấy chị và tôi nói được tiếng Anh mời ăn táo và trò chuyện. Tôi được dịp sử dụng mớ tiếng Anh đã học ba năm ở Hội Việt Mỹ, dạy tại trường tiểu học Nữ tỉnh lỵ Cần Thơ. Tuy không giỏi nhưng cũng bập bẹ được vài câu, câu được câu mất.

Anh bếp trưởng người Phi Luật Tân nấu cơm trắng và đậu petit pois hầm với thịt bò bầm cho bữa ăn tối. Sau nhiều ngày không ăn, những thức ăn nặng như thịt sẽ khó tiêu hóa, nên tôi chỉ uống sữa và ăn bánh lạt. Những người khác ăn bao nhiêu bị nôn ra hết sạch, tuy vậy cũng thỏa mãn cơn đói và thèm ăn.

 

Tôi nằm bên cạnh hai cháu bé và chị tổ chức nằm bìa phía bên kia. Mọi người mừng vui nhưng không ai nói gì chỉ có anh chủ ghe là kể thôi đủ chuyện. Tôi gối đầu trên cánh tay để chồng lên chiếc giỏ rơm, nhìn lên ánh trời đêm với nửa vầng trăng khuyết, lòng vừa bùi ngùi vừa thương cảm. Đêm đến gió biển lồng lộng mọi người nằm theo đuổi giấc mơ riêng, không quen nhiều đủ để nói chuyện tâm tình. Lòng tôi vui. Tôi nhìn chung quanh rồi lại ngước nhìn đếm sao trời, rồi đi dần vào giấc ngủ không mơ mộng gì. Đêm nay có lẽ là đêm ngủ yên bình nhất sau mười hai ngày lang thang không bờ bến. Xin cám ơn tới những người có tấm lòng nhân ái đã cứu vớt chúng tôi, trong phút giây thập tử nhứt sanh, đã kéo chúng tôi ra khỏi đường dây sinh tử.

 

Người trách nhiệm thông báo tất cả sẽ được đưa tới trại chuyển tiếp tên Kuku thuộc đảo Jemajah trong quần đảo Anambas. Chúng tôi cũng không muốn tìm hiểu gì hơn khi nỗi mừng được sống vẫn còn vang vọng trong tâm trí. Đến tối chiếc sà-lan bắt đầu khởi hành đi tới trại chuyển tiếp. Chiếc sà-lan chạy khoảng năm mươi kí lô mét một giờ (50 kms/giờ) trong suốt đêm. Thử hỏi chiếc ghe định mệnh chạy mười kí lô mét một giờ, ngày chết máy vài lần, đi bao nhiêu ngày mới tới. Chiếc sà-lan tới đảo Kuku khoảng tám giờ sáng ngày 23-7-1981 như được thông báo.

 

 Giấc mơ thành hiện thực

                                                                Pictures by Mr. Gaylord Barr On Internet

 

Vừa cặp bến ai nấy nhao nhao nôn nóng để được lên bờ. Cảnh sát Nam Dương mặt rất ngầu, nhìn phát khiếp. Sau khi người trách nhiệm bàn giao với người có quyền trên đảo, chúng tôi sắp hàng lên cây cầu dài từ ngoài xa để đi vào trong. Ngay đầu cầu có cái nhà sát bờ nước để tiếp nhận thuyền nhân.

Mọi người vừa vui mừng, vừa hồi hộp chờ đợi. Chúng tôi được lệnh cởi tất cả quần áo trên người sắp hàng một đi vô. Quần áo đồ đạc để vào một nơi trên người không còn gì hết, có lẽ vì lý do an ninh. Những người có gia đình thì họ đỡ ngượng ngùng hơn, còn tôi chưa có gia đình tôi thấy rất là khó thực hiện. Bản thân tôi là dân gây mê đã tỉnh bơ nhìn thấy bao nhiêu người không quần áo trên bàn mỗ. Bây giờ tới lượt mình không mảnh vải diễu hàng trước mặt cảnh sát và các nhân viên Nam Dương. Chúng tôi sắp hàng một đi qua dãy người. Đến người y tá cuối hàng, bảo há miệng và thẩy một đống đủ loại thuốc vào miệng. Rồi cuộc diễu hành cũng qua, chúng tôi mặc quần áo vào và lên bờ tìm nơi ở. Dầu vậy người ta giúp đỡ mình nên không oán trách gì mà phải mang ơn họ đã cưu mang dân mình trong nhiều năm.

 

Từ xa tôi đã thấy những dãy nhà lá tụm lại với nhau từng khu nhỏ. Anh chủ tàu nhanh nhẹn nói chuyện với các người lên trước nên họ chỉ dẫn chọn lều để ở. Tôi ở chung lều với chị tổ chức, em họ chồng và hai đứa con của chị nên cũng đỡ lẽ loi. Đầu óc tổ chức cộng đồng của ngừơi Việt chúng ta thật đáng phục. Đến nơi lạ tự lo, tự chăm sóc, sống tương trợ đùm bọc lẫn nhau.

 

Cao ủy phát cho mỗi hộ mùng, mền, sà phòng và một bao ̣ lương thực gồm gạo, thịt hộp, trà, đường, cà phê, sữa hộp, muối, tiêu, có cả đậu xanh để nấu chè nữa cùng nồi, chảo và ấm nước. Họ chu đáo đến nỗi cho cả cái khui đồ hộp nữa. Lò rechaud thì người trước để lại cho người sau. Dầu đốt thì Cao uỷ phát cho người đại diện rồi chia nhau xài.

 

Cái bụng rỗng của tôi không chịu nỗi sức thuốc nên khi về lều tôi bị xỉu lúc đi tìm phông tênh nước suối. Lý do vì có anh trên ghe mời uống trà đường, trong lúc ấy tôi không suy nghĩ và chưa kịp nấu nước uống, nên tôi uống một ly, liều thuốc mạnh theo đường vào máu nhanh, cơ thể tôi không chịu nỗi. Mấy thanh niên trẻ bảo nhau khiêng tôi về lều và kêu tôi tỉnh dậy. Ngày đầu lên trại mọi người được nghỉ ngơi và ổn định ăn ở.

 

Tôi đi vòng quanh khu vực để tìm chỗ tắm rữa. Ở Kuku có phông tênh nước chảy suốt ngày đêm, dẫn từ nguồn một thác nước suối, vì vậy ở Kuku nước xài rất thoải mái. Ngày đầu tiên tôi tìm hiểu trò chuyện cùng người đến trước để mượn đồ dùng. Tôi đã có chí, tôi sợ quá. Hàng ngày tôi ra vòi phông tênh đút đầu vào vòi, dùng lược chải ngược tóc dưới dòng nước chảy với hy vọng chải hết chí xuống. Tôi ở Kuku khoảng một tháng đầu tôi cũng hết chí, nhờ tôi hàng ngày năm sáu lần đút đầu vô vòi nước và chải tóc dưới dòng nước chảy.

 

Những người đi cùng thuyền với tôi họ cũng khá hiền lành nên mối quan hệ cũng êm ả. Đi chung thuyền trong những ngày qua cũng có người mến tôi, khi lên tới Kuku họ đi bẫy chuột, nướng và mời tôi ăn nhưng tôi sợ quá không dám ăn. Kuku nhiều chuột, tối ngủ, không may để chân sát vách mùng, tôi bị chuột gặm mấy ngón chân nát hết. Dân bản xứ cũng thích đến đảo, nhất là người Nam Dương gốc Hoa, họ mang rau xanh vào đảo để trao đổi đồ hộp với chúng tôi. Họ mang đồ hộp về rồi làm nhãn hiệu bán lại ở nơi khác để kiếm lời. Dân Nam Dương cũng chất phát hiền lành, trừ mấy ông lính làm nhiệm vụ.

 

Sáng sớm hôm sau cao ủy phát giấy tờ cho mọi người khai báo. Đại diện Cao uỷ Liên Hiệp Quốc phỏng vấn và làm hồ sơ lý lịch cho người mới đến, có thông dịch viên. Nhiều người đã ở trên đảo chỉ vẽ bảo khai nhỏ tuổi để sau này được đi học ở Mỹ không tốn tiền. Tâm lý người vượt biên là đi Mỹ nên tất cả chuẩn bị tâm lý để đến Mỹ, không nơi nào khác. Tôi thì thuộc loại nhát, nên khai y chang với hy vọng mình còn dùng bằng cấp của mình khi ổn định.

 

Lúc này thì ai cũng có thể làm cho mình một hồ sơ hoàn toàn mới để xóa sạch những gì không hài lòng trong quá khứ. Chán vợ, sợ con thì khai độc thân để lập đời mới. Học hết lớp chín thì khai hết lớp mười hai hay đại học… Muôn màu muôn vẻ. Thượng vàng hạ cám. Tôi nghĩ cứ khai thật để không phải nói dối cả đời. Chúng tôi hiện giờ là vô quốc tịch ( Stateless). Tâm trạng hụt hẫng vì chưa bao giờ tôi nghĩ là mình không thuộc quốc gia nào hoặc gỉa là mình từ chối mình là ai (No Identity).

 

Cao ủy làm việc không phân biệt ai hết. Trên đảo có nhiều chuyện thật khó tin nhưng thật một trăm phần trăm. Còn có chuyện ông chồng dẫn hai bà vợ đi theo, Cao Ủy bắt chỉ chọn một bà vợ và bà kia phải tách hộ đi riêng. Thật là nhiêu khê, kể ra ông chồng cũng tốt bụng đem cả hai đi. Bà kia uống dầu hôi tự tử may mà cứu được. Cuối cùng cũng phải tách ra vì ông chồng có con với vợ lớn. Bởi vậy phụ nữ thật khổ. Đôi khi nghĩ lại vừa thấy thương, vừa giận, vừa không hiểu.

 

Trại Kuku thành lập năm 1979, có những ghe tàu đi thẳng tới đảo như tàu của anh xã tôi cặp vô bến Kuku và tự lên đảo lúc trời nửa đêm chưa ai thức giấc, trước tôi ba tháng. Nhưng sau khi báo động lính Nam Dương bắt trở ra thoát y, sắp hàng làm thủ tục nhập đảo.

 

Những túp lều hoang sơ được dựng lên tạm bợ để che mưa nắng trong thời gian ngắn hạn, chờ chuyển sang trại Galang. Tuy vậy vì nhu cầu, trại có bệnh viện nhỏ do nhóm Bác sĩ Không Biên Giới ( Medecins Sans Frontières) thành lập. Đồng thời cũng có một nghĩa địa cho những người Việt không may bỏ mình nơi này.  Những nấm mộ lấp đất sơ sài nằm hiu quạnh ở lại nơi bìa rừng hoang vắng vì sau đó các thân nhân còn phải lo sống tiếp cuộc đời đang dở nửa chừng.

 

Toàn trại Kuku tập trung gần sát bờ biển để tiện việc nhận và chuyển người đi, cũng nằm trong tầm mắt của lính Nam Dương. Lều tôi nằm ở phía tay phải ngay cầu tàu từ biển nhìn vào, theo chiều dọc vô phía trong của trại, căn thứ hai, phía sau lều có con đường đi ra vòi nước suối.

 

Trong lều có một sạp gỗ dài để hai người lớn và hai bé ngủ. Còn em chồng chị tổ chức thì ngủ cái sạp nhỏ gần lối đi phía sau gần lò nấu cơm. Lối đi trước và sau trống trơn không có cửa. Không lều nào có cửa, có người giỏi thì làm một cái miếng vách che khi ngủ ban đêm.

 

Đa số lều đều đối diện hay gần bờ biển. Cao uỷ và lính Nam Dương ở bên phải từ biển nhìn vào, trên đất cao sát bờ biển, nhìn ngang khắp trại, có đài phát thanh. Cha tuyên uý người Ý (Cha Dominici) ở Galang mỗi tháng đến làm lễ. Giáo dân mỗi sáng tụ lại đọc kinh trong một cái lều nylon để trống khá lớn sâu phía trong có thánh giá trước lều. Lều to này phòng hờ lúc dân tới dồn dập, các lều nhỏ không đủ thì dùng để tập trung tạm, chờ có đợt chuyển sang Galang, có trống lều cho mỗi hộ. Dọc phía trái bờ biển là nhiều lều, đến cuối đường là một dãy cầu vệ sinh công cộng được làm trên biển như cầu cá dồ ngày xưa ở Việt Nam, quê mình. Khi nhìn thấy dãy cầu vệ sinh này làm tôi liên tưởng đến cầu vệ sinh ở bờ biển gần cổng Tam quan Rạch gía mà thuở nhỏ tôi có dịp ở với dì tôi, khoảng năm 1961. Đi sâu bên trong đảo có bệnh viện, bệnh viện này mang tên vị bác sĩ người Pháp đã phục vụ và chết tại nơi đây. Tôi cảm thấy mình mang nợ cả nhân loại.

 

Trong sâu hơn có một cái thác nhỏ từ trên cao đổ xuống và nhiều trái cây rừng như mít tố nữ, chà là. Vì là phụ nữ nên tôi sợ và ít đi đâu một mình kể cả đi vệ sinh luôn có hai, ba người đi cùng. Mấy thanh niên đi vô sâu phía trong để hái trái cây rừng. Tôi thì không dám đi đâu. Trên trại sợ nhất là bị sốt rét, trước đó có nhiều người chết vì sốt rét. Nhập trại với một liều thuốc ngừa mạnh ai nấy cũng đở được nạn sốt rét. Lúc này có xịt thuốc trừ muỗi nên cũng ít sợ.

 

Khoảng thời gian tôi tới trại năm 1981, tình trạng trại Kuku an ninh cũng được Cao ủy chăm sóc nên lúc tôi ở, tệ nạn bị hà hiếp bởi lính Nam Dương không thấy xảy ra.

 

Tôi tôn trọng cái bao tử của tôi cho nên suốt thời gian ở Kuku tôi chỉ ăn cháo nấu với thịt gà hộp. Các loại thịt gà hộp được viện trợ từ Úc, rất ngon. Mùng, chiếu do Trung quốc bảo trợ. Những nước trong Liên Hiệp Quốc đều tài trợ cho không phân biệt từ đâu. Dù thích hay không mình cũng không chối cải đã dùng và mang ơn họ.

 

Thịt Jambon và xúc xích hộp thì tôi đổi lấy rau tươi ăn cho có đủ dưỡng chất, tôi không có đem vàng nên chỉ trao đổi thôi. Chị tổ chức có vàng và cũng có cho tôi mượn nhưng tôi thấy không cần và vì tự trọng tôi không nhận. Nhờ đức tính này mà tôi lấy được cảm tình của anh xã nhà tôi khi tới đảo Galang. Thời gian ở đảo ngắn hạn và không dám đi đâu chứ sau này tôi nghe nói Kuku là một trong những đảo đẹp với nhiều bãi biển hút hồn du khách. Trại Kuku đóng cửa năm 1996.

 

Một quãng đường khép lại

Chuyến hải trình của tôi tuy có đói khát khổ cực nhưng mức độ gian truân có thấm gì so với những thuyền nhân đối đầu với hải tặc, với những hà hiếp, với khổ cực, đương đầu với hiểm nguy, chứng kiến những đoạn trường bi đát. Đó là chưa kể đến những người đã gởi mình trong lòng đại dương sâu thẳm. Thử hỏi ai muốn như thế chăng? Tôi và những người còn sống sót qủa là có hồng phúc lớn.


Những hành vi bạo ngược vô nhân tính mà thuyền nhân phải đối đầu trên biển cả hay ở ngưỡng cửa bước vào lãnh thổ khác qủa là đáng trách. Thường chúng ta lên án hay kết tội kẻ gây ác và ghét người làm việc xấu. Nhưng người đã giúp đỡ chúng ta thì không phải là ít, lời tốt đẹp cho những người này ít khi được kể đến, có phải là chúng ta đã quá thiếu xót đó chăng?


Đâu đó tôi vẫn nhận ra có sự quan tâm và lòng nhân ái của những người không cùng chủng tộc. Tôi tin tưởng lòng nhân hậu vẫn còn nhiều dù một số nhỏ người đã hủy hoại nó vì lý do ích kỷ, lòng tham và sự ác.


Qua cuộc hải trình và trải nghiệm đắc giá tôi nghiệm thấy rằng, trong mọi hoàn cảnh đều có tình người với người qua cách đối xử, giúp đỡ nhau bằng cái tình nhân loại không phân biệt màu da. Nhân phẩm con người được tôn trọng đúng nghĩa. Không ai phải có trách nhiệm giúp ta mà chỉ có sự nhân hậu trong lòng những con người vượt không gian, vượt biên giới ấy. Trong bước đường gian lao khổ cực tôi thực sự nhận được lòng nhân ái từ những con người không quen biết, không có bổn phận đối với tôi nói riêng và người dân chúng ta nói chung. Họ đã và đang góp bàn tay cứu vớt, giúp chúng ta làm lại từ đầu. Xin nhận lòng mang ơn sâu sắc qua cuộc bể dâu của một người lưu lạc như tôi.

 

Winnipeg, 10-Mar-2020.

VTBN

Sống chết là chuyến đi về. Tuy không muốn nhưng không hẳn là không hạnh phúc.

Chiếc ghế đá dài êm ấm

Hôm nay là lần đầu tiên Dung được đi Thermal spa kiểu Bắc Âu rất thịnh hành trong thời gian gần đây, đặc biệt là ngay ngày sinh nhật của mình.


Thermëa spa xuất xứ từ rất lâu đời của các xứ Scandinavians. Dung muốn khám phá và trải nghiệm sự thoải mái mới lạ này. Đứng sắp hàng để trả tiền và mướn áo khoác ngoài, Dung mường tượng cảm giác dễ chịu thoải mái khi ngâm mình trong hồ nước ấm giữa trời tuyết rơi.


Một khám phá mới lạ đối với Dung.


Cô bạn thân Kate, chuẩn bị sẵn sàng và thuyết phục Dung. Kate dẫn Dung đi vì muốn giới thiệu bạn mình và vì thấy Dung chỉ biết đi làm và quanh quẩn trong nhà. Hơn nữa, Dung ít kết bạn nên nàng cũng lâm vào hoàn cảnh không có nhiều bè bạn, chỉ có Kate. Thương bạn Kate chỉ biết khuyên Dung nên chăm sóc bản thân. Hơn nữa Dung thể tạng ốm yếu tuy không bệnh gì nhưng không gọi là khỏe. Bây giờ các con của Dung đã lớn và tự lập. Dung tính hay lo, đôi khi hoang mang vì những chuyện vặt nho nhỏ trong nhà. Chồng nàng qua đời sau một cơn ung thư ngặt nghèo nên Dung càng thấy mình lẽ loi ngay trong chính căn nhà của mình.


Thermal Spa chính là nơi mà Dung thật sự cần để trút bỏ đi tất cả, bỏ lại sau lưng những muộn phiền để sống thật với ý nghĩ và cảm giác của chính mình ở mức độ sâu nhất trong tâm hồn.


Cũng chính là nơi cho nàng không gian để suy nghĩ chính chắn cái gì là quan trọng cho cuộc đời và những quan hệ với bản thân mình. Nơi mà nàng tránh xa cái ti vi, cái điện thoại hay facebook.


Quang cảnh bên trong spa đông đảo, xem ra ai ai cũng thích thú khi ở trong hồ nước ấm ngoài trời, tuyết rơi nhẹ. Thay đồ tắm xong hai cô bạn gái đi vào phòng tắm hơi trước. Dọc hành lang có bình nước đá lạnh với trái cây xắt lát và ly giấy cho mọi người giải khát. Không gian ấm cúng như trong sân sau nhà của mỗi gia đình.


Bước vào phòng tắm hơi, có ba tầng ghế ngồi. Tầng cao nhất là nơi gần hơi nước nóng tỏa ra và có nhiệt độ nóng nhất, có thể lên cao từ bảy mươi lăm tới tám mươi lăm độ (75-85 độC), tầng càng thấp nhiệt độ thấp hơn. Với nhiệt độ cao này, các lỗ chân lông đều nở ra để điều chỉnh nhiệt độ thân thể đồng thời thải các độc tố trong người ra ngoài qua sự bài tiết mồ hôi. Thời gian ở trong phòng này từ năm đến mười lăm phút.
Dung thấy nóng, hơi ngộp lúc mới bước vào, vì vậy cả hai ngồi ở hàng thấp nhất để làm quen với hơi nước mù mù trước mặt. Thần trí mê mẫn với cái mới lạ và không còn suy nghĩ gì chỉ chú ý tới hơi thở ra, hít vào mang đầy hơi nước. Cảm giác dễ chịu dần dà xâm chiếm. Sau mười lăm phút Dung và Kate bước ra ngoài choàng áo khoác dài, đi chậm ra và rót một ly nước đầy chầm chậm uống để giảm nhiệt độ thân thể. Nàng nhìn người đàn ông đang đứng dưới ngọn thác đổ mà không có vẻ gì là lạnh cả. Cả hai bước ra khỏi hành lang của phòng tắm hơi, tiến dần về phía thác nước lạnh.
Nhiệt độ của thác nước thấp chừng mười độ Celsius. Vừa ra khỏi phòng tắm hơi, bây giờ cả hai thấy người đang nóng toát mồ hôi, bèn cởi áo khoác chui vào thác nước lạnh cho gần mười lăm giây, cảm thấy tê tái cả người, vội ra chạy ra. Có người lăn người trên tuyết trước khi vào thác rồi chạy ra ngay. Nhưng Dung chưa dám lăn ngoài tuyết vìsợ chịu lạnh không nổi, hứa với lòng lần sau đi, sẽ làm thử cho biết cảm giác như thế nào. Thác nước lạnh này đổ vào hồ nhỏ bên dưới cho những ai không thích đứng dưới thác thì ngâm mình dưới hồ lạnh thì ít bị sốc lạnh hơn. Thác nước lạnh này là một cái sốc mạnh để cơ thể làm các lỗ chân lông co khít lại đồng thời làm kíchthích tố adrenaline tiết ra từ nang thượng thận. Kích thích tố này là kích thích tố năng động, làm máu lưu thông nhanh hơn trong mạch máu.

Sau khi ra khỏi thác nước lạnh, choàng áo khoác ngoài để giữ ấm, cả hai chậm rãi bước tới phòng ngồi nghỉ chừng hai mươi phút, trước khi trở ra đi lần thứ nhì. Cái vòng “Nóng-Lạnh-Nghỉ ngơi” phải làm ít nhất ba lần mới tốt và hiệu quả.


Cái nóng làm cho các bắp cơ dãn nở và có cơ hội sửa chửa lại những mỏi mệt đau nhức. Cái lạnh run người làm nhiệm vụ đóng các lỗ chân lông giúp máu di chuyển nhanh đến khắp châu thân duy trì tốt cơ tim và nhịp tim. Vòng nghỉ ngơi yên ả và trầm lắng khiến cho sự nghỉ ngơi được trọn vẹn, tiêu tan những lo lắng, làm mới lại những bắp cơ đồng thời làm mới lại tâm hồn với ý nghĩ lạc quan và nhiều năng động trong đời sống hơn.


Trong lúc ngồi nghỉ trên ghế dựa nhìn vào ánh lữa lung linh ai nấy cảm thấy lòng dịu lại, mọi lo buồn như tan biến và thấy rằng từ trước đến giờ mình đã bỏ sót một thi vị của hương đời. Tất cả suy nghĩ, suy tư được gạn lọc cho cảm giác trong suốt nhẹ nhàng. Lòng bâng khuâng tự nghĩ phải chi mình đáng hưởng những cái như thế này đã lâu, rồi Dung tủm tỉm cười một mình, tự hứa với lòng sẽ trải nghiệm thêm. Hai mươi phút trôi qua Dung đắm chìm trong dòng suy nghĩ trong khi Kate đã ngủ được hơn mười lăm phút. Cả hai đứng dậy để đi vòng thứ nhì của chu kỳ “Nóng, Lạnh, Nghỉ ngơi.”
Lần này hai người bạn đi vào phòng tắm hơi nóng khô, cũng ở nhiệt độ cao nhưng không có hơi nước, thở dễ dàng và dễ chịu hơn. Mồ hôi thoát ra cùng với những vẫn đục cuộc đời, những muộn phiền độc hại. Ngồi khoảng mười lăm phút cả hai lại đi ra hồ nước mát cho mười phút xong đi nghỉ ở giường đá ấm. Phòng nghỉ này trang bị hai tầng có nệm mỏng được sưởi ấm.


Cách bởi một lối đi nhỏ là một tấm phản dài bằng đá có sưởi ấm, cả hai nằm sấp trên mặt đá phẳng, cả thân mình tiếp giáp với mặt đá ấm và phẳng lì. Thời gian nghỉ ngơi ở phòng này là hai mươi phút. Có người thích nằm trên chiếc võng có mền sưởi ấm bên ngoài. Nằm võng có cái thú vị là ta có thể nhìn lên nền trời đêm, ngắm trăng sao nếu có. Rồi tiếp tục chu kỳ thứ ba.

Lần thứ ba Kate dẫn Dung vào cái phòng tắm hơi nước nhỏ hơn. Trong phòng nhỏ này có cái vòi nước bông sen và một chậu muối lấy từ Hi mã lạp sơn cho chúng ta chà xát muối lên người. Loại muối này có màu hồng do bị oxy hóa khi gặp chất sắt trong lòng đất. Theo truyền thuyết, chà muối lên da làm cho da kích thích khiến máu chảy đều hơn và làm mới máu trong cơ thể. Ngoài ra muối này còn làm tốt phổi, cân bằng nồng độ axít và kiềm ( Độ pH ) trong máu, đào thải chất độc trong cơ thể. Loại muối Hi Mã Lạp Sơn chứa nhiều chất khoáng, ít chất muối, giàu calcium, chất sắt (iron), và potassium. Muối này còn có tác dụng làm trẻ da, cứng xương và đặc biệt tăng cường lực (libido) cho quí ông.


Dung vốc một nắm muối chà lên mặt, lên cánh tay, và chân xoa mạnh ngồi nghỉ độ mười phút rồi xả nước ấm. Bước ra khỏi phòng tắm hơi này Dung cảm thấy người sạch sẽ và tươi tắn. Đi bộ dần ra phía ngoài thác nước lạnh nhưng vì sợ lạnh nên cả hai không vào thác mà đi bộ vòng vòng trong tuyết đến khi hơi cảm thấy lạnh. Sau đó cả hai đi vào hồ nước nóng ngoài trời ngâm người ngồi trước những luồng nước xịt thẳng vào những bắp cơ làm những động tác massage thư giản.


Đứng trong hồ nước nóng Dung có dịp ngắm trời đêm. Đêm nay không trăng nhưng trời trong không gợn một áng mây. Nàng ngước nhìn trời cao mà ngẫm nghĩ cuộc đời trôi nỗi của mình và muốn thay đổi cuộc sống với ý nghĩ mới mẻ hơn. Một, hai, ba vì sao trơ trọi trên nền trời trong trẻo.


Dung nói khẽ như nói với chính mình: ”Trời trong mà chỉ có ba vì sao thôi”.
Một cô gái trẻ kề bên ngước lên nhìn và nói: ”Tôi đếm được hai mươi mốt vì sao”.
Dung ngẩn ngơ nhìn lên thử đếm lại cũng chỉ có ba vì sao le lói.
Kate hỏi:” Bỏ quên mắt kiếng rồi phải không?”
Thì ra là vậy. Mắt mình già mất rồi Dung lẩm bẩm.

Đã đủ hai mươi phút trong hồ nước nóng, Dung và Kate bước ra khỏi hồ đi lần vô nơi nghỉ ngơi.


Lần này hai người đi vào phòng ghế đá dài có sưởi ấm. Phòng này cũng có ba tầng băng ghế đá, để sưởi những chiếc đá này chắc hẳn phải tốn nhiều nguồn năng lượng lắm. Dung và Kate chọn hàng thấp nhất. Dung thích ngồi trong cùng để tha hồ nghĩ ngợi và tránh phiền hà mọi người.
Kate ngồi kế bên, nhắm mắt nghỉ ngơi. Dung cũng bắt chước nhắm mắt lại, trong đầu suy nghĩ khi nào thì mình sẽ đi lần tới. Có lẽ vì không khí êm đềm và ấm áp cả hai cảm thấy nhẹ nhàng, thư thái. Cảm giác nhẹ nhàng và đầm ấm lan tỏa khắp người đã dễ dàng dắt dìu cả hai vào trạng thái lắng sâu vào nội tâm. Dung nghe từng tế bào phổi nở rộng, cơ tim nở ra và co thắt lại, dần dà ru cả hai vào giấc ngủ.


Đang lơ mơ Dung thấy mình đang đi tới một nơi có nhiều luồng ánh sáng xanh, có nhiều người qua lại, ai cũng có vẻ nhàn nhã vui cười. Cố đến gần hơn thì chợt thấy mình đang đứng trước một dòng sông to, giữa dòng có một con thuyền đang chèo vào bến nơi nàng đang đứng. Trên bờ mọi người đi đâu cả chỉ còn Dung đứng chơ vơ cạnh bờ. Chiếc thuyền chèo tới bên cạnh chỗ nàng đứng, trên thuyền có vài người mà Dung không nhìn rõ mặt ngoại trừ người lái thuyền. Mọi người đều xa lạ, Dung chưa gặp mặt bao giờ.


Người chèo thuyền chợt hỏi: “Chị có muốn qua bên kia sông không?”
Dung ngần ngừ một thoáng bèn nói: ”Dạ muốn ạ”.
Người ấy nói: ”Thế thì lên thuyền đi cho kịp”.
Dung nghĩ không biết Kate có đợi mình trở về không? Lòng thầm nghĩ lần tới nhất định phải thử lăn trong tuyết xem lạnh thế nào. Vừa nghĩ vừa vén cái áo khoác trắng bước lên thuyền chưa kịp ngồi thì thuyền đã rời bến.


Kate lay Dung: ”Dung ơi, dậy đi về, hai mươi phút qua rồi, ngồi trong này lâu quá không tốt.”
Dung ngồi yên không động đậy trên chiếc ghế đá ấm áp. Kate gọi thêm, Dung vẫn ngồi yên 
không trả lời, bàn tay nàng ngửa ra rời xa cơ thể…Từ trên cao nhìn xuống, Dung thấy mình ngồi dựa vào ghế đá, mắt nhắm nghiền, miệng như đang mỉm cười, mặt tươi tắn. Không gian yên tỉnh và ấm áp. Dung thấy Kate lay tay của mình. Dung quan sát chung quanh, Kate đứng bên ôm mặt hai bờ vai rung lên nhè nhẹ, chung quanh có vài người mặt áo blouse trắng, vạch mắt và rọi đèn pin vào mắt nàng.


Dung lưỡng lự muốn trở về thân xác của mình nhưng bao nhiêu người bạn đang mời mọc nàng ở lại nơi có ánh sáng xanh dịu dàng và nhiều người vui cười nhộn nhịp. Dung trong tâm trạng thoải mái vui với Kate, đang hưởng thụ cái chiếc ghế đá êm ấm đã đưa nàng vào trạng thái không muốn rời xa cảm giác ấm êm ấy. Dung chọn giữ lại cảm giác này mãi mãi. Dung nhìn bạn mình rời phòng ghế đá, tuy muốn nhắn nhủ với bạn đôi lời trước khi rời khỏi, Dung có kêu nhưng Kate hình như không nghe thấy. Cảm giác êm đềm, ấm cúng làm Dung không muốn trở lại thân xác mình trong nỗi lẻ loi ám ảnh mãi đeo đuổi nàng trong suốt cuộc đời. Từ đây sẽ không còn phải âu lo, thôi thì để cho qua mọi việc, Dung chọn ở lại nơi vui tươi không phải lo buồn gì nữa.


Dung hét to mong Kate nghe: ”Giã biệt bạn tôi”. Kate lầm lũi đi không nghe gì ngoài tiếng lòng đang nức nở, xót thương người bạn thân. Ít ra trước khi rời đi Dung còn mỉm một nụ cười như thỏa mãn, như hài lòng về sự chọn lựa nơi nàng đang đến.


Kate ra khỏi phòng đi chậm về phía phòng thay đồ, mắt ươn ướt. Tiếng còi xe cấp cứu trước cổng xa dần rồi mất hẳn.


Winnipeg, 00:20, 18-Apr-2020.
VTBN

                                  Xuân và Chồi Non

Sáng qua mây mù vây kín bầu trời. Mưa nhè nhẹ rơi từng sợi mỏng như tơ. Tuy nhẹ vậy nhưng mưa ở đây không giống mưa phùn ở miền Bắc Việt nam, mưa miền Bắc nước ta nhẹ hơn, rơi như bụi. Giọt mưa xuân hôm nay trông như những sợi tơ nước. Những sợi nước mỏng mảnh như sợi tơ nhện từ trời. Mưa không đủ ướt tóc, nhưng thấm vào những mầm non trên cây trơ cành trong suốt mùa Đông dài chờ Xuân trở lại, cần thiết cho chồi non chổi dậy. Nhiệt độ chừng ba độ Celsius, không quá lạnh để những giọt tơ nước biến thành tuyết cũng không ấm đủ để những giọt nước to hơn biến thành mưa. Có lẽ vì thế ta có mưa Xuân và chỉ có mùa Xuân chúng ta mới hưởng được những giọt mưa nhẹ như tơ không làm ướt áo.

Tôi thích cây cỏ, hoa lá nhưng tôi mê mẫn hơn những chồi non mơn mởn, xanh tươi và mỏng manh dễ gãy. Có lẽ vì thế tôi thích chiết cành vì có dịp ngắm những chồi non vươn lên từ những cành khô tưởng như già cỗi. Nhìn những chồi non, tôi liên tưởng đến sự sống mạnh mẽ trong cái mong manh dễ vỡ cho tôi những cảm xúc dâng trào. Những cành hoa đẹp muôn sắc màu nhưng không cho tôi cảm giác tươi vui sống động như nhìn chồi non xanh biếc. Những chồi non tơ thức dậy như bơm vào tâm hồn tôi một luồng năng lượng lạc quan vô tư và cuồn cuộn nhựa sống.

Cây lựu của tôi cho những chồi non trong tháng ba sau mùa Đông dài ngủ kỷ, bật dậy tràn trề sinh lực với màu xanh mạ non lôi cuốn sự vật và con người, gieo niềm tin cùng niềm hy vọng một cái gì tươi đẹp sắp xảy ra. Những mầm sống mới mang lại cho tôi những cảm giác hy vọng trong thời điểm mà nỗi buồn và sự lo sợ tiêu cực đến cho nhân loại chúng ta (Covid-19). Đã bao lần tôi nhìn ngắm chồi non vào mỗi mùa Xuân, lần nào tôi cũng có cảm giác là lần đầu tiên. Chồi non đẹp, qúi vì sự mỏng manh và qua đi rất nhanh trước khi con người nhận ra cái đẹp của những búp non ngà ngọc.

Gần tới mùa Phục Sinh, song song với những chồi non đang vươn mình khoe sức sống, hoa Crocus sắp sửa trồi lên giữa dãy tuyết trắng nơi những đồi cao ở vùng quê miền Nam Manitoba, Canada. Hoa màu tím nhạt thể hiện nhân phẩm, hãnh diện và thành công. Tôi chưa thấy Crocus màu vàng của sự vui tươi và trẻ trung hay màu trắng của sự ngây thơ và trong trắng. Tôi được dịp nhìn những Crocus màu tím nhạt nở giữa mảng tuyết phủ trên triền đồi vùng Tây Nam Manitoba, nơi tôi ở nhiều năm trước. Mùa Xuân thiên nhiên ở nơi ấy rất đẹp và tinh tuý với những cảnh của đồi tuyết điểm sắc bởi những hoa Crocus tím nở đầu tiên trong mùa Xuân. Hoa vươn lên giữa mảng tuyết trắng như một sức sống trẻ trung, tràn trề và mạnh mẽ để chào mừng mùa Xuân tươi đẹp trở về.

Những cụm tuyết đang tan dần để lộ những mảng cỏ xanh tươi như ngọc, vượt thẳng lên để đón ánh mặt trời. Bên triền đồi, từng cụm ngỗng trời đang mải mê rỉa từng cọng cỏ non xanh mềm mại vừa nhú lên khỏi mặt đất lạnh băng. Mùa Xuân đã hiện diện trong đất trời thổi luồng sinh khí mới, không khí mát mẻ, ánh nắng đẹp chan hòa. Mầm non là nguồn hy vọng thể hiện như một quyền năng cho sự cảm hứng diệu kỳ, là tia nắng ấm, là mầm của sự sống mới.

Sự sống trong thiên nhiên có nét đẹp khôn tả khiến cho lòng người dễ xúc động đến lạ kỳ. Những chồi non nõn nà trỗi dậy như sự sống tuôn trào khiến tôi luôn trông chờ và mong mỏi. Cây cỏ trong nhà là những người bạn quí mà tôi tâm sự và thổn thức những tâm tình không thể thổ lộ cùng ai. Tôi hát cho bạn nghe, tôi khen tặng những cành lá xanh tươi đã truyền cho tôi nhiều năng lượng cùng cảm hứng. Người bạn mà tôi chưa bao giờ dám quên lãng nghĩa là chăm sóc, tỉa cành, tưới phân như một nghĩa vụ thiêng liêng của một người bạn tâm giao tri kỷ.

Winnipeg, 22:00, 01-Apr-2020.
VTBN

Xa rồi một độ.


 

Dường như đâu đó đã xa.

Dường như âm hưởng như là âm vang.

Xót xa một dạo đậm đà.
Bây giờ như thể không là: Người quen.

 

Khi xa nghĩ chuyện ân cần.

Hỏi han cầu chúc tuy xa, thật gần.

Xa rồi một chữ cũng không.

Có gì luyến tiếc nghĩ gần, cũng xa.

 

Lòng buồn như khói lam mơ.

Bến mê đã mõi một thì hư không.

Giật mình tỉnh mộng phù vân.

Thôi thì thả khói về nơi mây mù.

 

Winnipeg, 23:00, 23-Mar-2020.

VTBN

__________________

Mây trắng trong nắng chiều

trên tầng khí quyển

                                                             Ảnh chụp từ cửa sổ máy bay by Bạch Nữ

Có tảng mây phẳng lì, trong suốt như mặt hồ màu xanh nhạt như soi thấu tình bạn trong trẻo của chúng tôi. Phải nói là thật trong trẻo, không vướng một sợi tơ buồn nào.

Có nơi gồ cao như hòn núi đá băng, chập chùng như những dãy núi nhấp nhô trong ánh nắng chiều chen lẫn những vùng phẳng lì giữa những hồ nước nho nhỏ, không khỏi khiến lòng người xuyến xao, rung động. Sự rung động khẽ khàng như những lời tình tự xa vắng mà chỉ có những tâm hồn đồng điệu mới đủ sâu sắc để cảm thông.

Có cái trải dài như bức tường thành chia cách đôi bờ miên man bất tận. Sự chia cách không còn lối chung, đi song song không có điểm giao nào. Một sự phân ly không có lời giao ước gặp nhau. Không giao ước nhưng duyên gặp gỡ như một lời hứa tự xa xưa mà chúng tôi gìn giữ. Nếu trên đâu đó là thiên đàng thì trần gian cũng có những hình thể rất là tự nhiên một cách phong phú và đẹp đẽ khó tả nên lời như tình bạn năm mươi năm của chúng tôi.

Có những hình thể như những viên đá quí màu hồng nhạt với những đường vân khoảng cách đều nhau như có bàn tay họa sĩ tài ba vẽ, cũng tô đậm được sự giàu có và màu sắc tươi đẹp của tình bạn chúng tôi. Tình cảm chúng tôi như những viên ngọc quí  không cần thợ mài dũa mà vẫn sáng rực rỡ muôn màu.

Cũng có những hình dài ngoằn ngoèo như rắn lượn, cũng như lòng tôi đang rối bời với những xúc cảm nhẹ nhàng, sâu lắng, dịu êm.

Thứ tình cảm mà chúng tôi có sẽ không giống bất cứ ai trên thế gian này, không so sánh, cũng không để trên bàn cân trọng lượng. Nó cũng có thể rất nhẹ nhàng thơ thới, cũng có thể chắc nặng vô cùng, không ai có thể lay chuyển được.

Những ngày qua chúng tôi cùng nhau ăn chung ngày ba bữa. Buổi sáng đi bộ vòng quanh chiếc tàu to và cùng ngắm mặt trời lên. Những buổi tối uống trà đàm đạo, rồi chụp hình muôn kiểu như ngày nào chúng tôi điệu đà, nhí nhảnh. Thời gian mười ngày trôi qua nhanh, đồng nhịp điệu lướt sóng của chiếc tàu trở về bến cũ. Đến lúc chúng tôi phải chia tay, trở về với thực tại.

Giờ này người về Bắc Mỹ, kẻ chờ về phía Đông Nam xa xôi nửa quả địa cầu. Tuy xa bao năm mà lòng vẫn như ngày hôm qua. Tình bạn tuổi thơ của chúng tôi chỉ biết ngưỡng mộ nhau mà không cần bộc lộ. Một cái nắm tay nhẹ nhàng, nhìn nhau cười, đi bên nhau cũng không cần nói gì cũng thấy ấm lòng như uống vài chung rượu mạnh.

On airplane 18-Oct-2018.

Bạch Nữ

Chiều đi dạo bên bờ sông Hồng (Red River, Winnipeg), nhìn nước trôi trên dòng sông êm ả, chạnh lòng nhớ tới quê nhà Bến Ninh Kiều, Cần Thơ dấu yêu. Cảm cảnh, Bài thơ “Mong Chờ” được ra đời.


Mong Chờ!

Mong chờ, mong chờ, mong đợi mong.
Thuyền ai bến đỗ nước xuôi dòng.
Trên sông, tiếng sóng reo róc rách.
Trăng tỏ bên trời sáng lung linh.
Tiếng chèo khua nhẹ nghe bì bỏm.
Thuyền nhỗ neo rồi, khỏi đợi trông.
Có ai than thở bên gành nước.
Có phải đang chờ, kẻ đợi trông?


Winnipeg, 3:35 PM on 11-Aug-2018
Võ Thị Bạch Nữ

CHIẾC CẦU KHỈ MIỀN TÂY

                                                                      Photo by Nam Hưng

 

Miền Tây quê tôi, Cần Thơ nói riêng, có nhiều sông rạch chằng chịt, có những con rạch lớn, nhỏ chia ranh giới chủ đất rời nhau; đồng thời dẫn nước vào tận nơi để dùng cho sinh hoạt hằng ngày. Vì thế phương tiện vận chuyển trên sông bằng ghe xuồng, di chuyển trên bờ thì qua những chiếc cầu khỉ gập ghềnh.

Ví dầu cầu ván đóng đinh.
Cầu tre lắc lẽo gập ghềnh khó đi.

(ca dao)

Do hành động đu đưa trên thân cây cầu như khỉ đu cây nên được gọi là cầu khỉ. Ngoài giải thích đó ra không biết có giải thích nào hợp lý hơn chăng?

Đối với những người ở quê, đi qua cầu khỉ thật là dễ dàng như đi trên đất. Qua nhiều năm tháng trở thành một cái sở trường. Ở những nơi không có những mạng lưới sông ngòi, đôi khi trải qua sự tập luyện lâu dài mà vẫn không chinh phục được sự sợ hãi khi phải đi qua một chiếc cầu khỉ.


Từ lúc bốn năm tuổi tôi đã biết đi qua cầu khỉ khá thành thạo để đến trường làng.


Những cô gái vùng quê miền Tây tướng đi dịu dàng uyển chuyển một phần nhờ phải đi trên những chiếc cầu độc mộc lắc lư nầy. Các cô đã phải giữ thăng bằng khi đi trên đường thẳng của cầu.


Các cô phải giữ đầu thẳng, cằm thẳng, mắt nhìn xa phía trước và giữ trọng tâm thân người cân bằng. Các cô phải bước đi theo chữ x vì phải đặt chân đúng chỗ trên thân cầu không thì rơi tòm xuống sông.


Còn điêu luyện hơn nữa vừa đi vừa đội thúng rau quả trên đầu và giữ thăng bằng cho khỏi ngã giúp cho thân mình một sự di chuyển nữ tính gợi cảm một cách tự nhiên.


Ngày xưa trong hoàng gia các nước, các công nương, quận chúa tập đi trên đường thẳng để có một tướng đi mềm mại. Ngày nay các cô người mẫu đội quyển tự điển trên đầu và đi trên đường thẳng vẽ sẵn trên sàn nhà. Có người trả số tiền lớn để học cách đi như cách di chuyển của các cô ở quê miền Tây trên cây cầu khỉ. Thật là không phải ngẫu nhiên mà các cô gái miền Tây có dáng đi yễu điệu, yêu kiều.


Thêm vào thao tác nhịp nhàng chèo ghe tam bảng cũng tích cực góp phần vào sự cân đối của cơ thể một cách thuận lợi cho ba vòng căn bản. Nhờ sự tích góp những kỷ năng thuận với thiên nhiên phối hợp với con người mà có được những vẻ đẹp mà không cần chủ tâm luyện tập.


Ngày nay chiếc cầu khỉ dần dần biến mất nhường lại cho những chiếc cầu xi măng mà các loại xe đều có thể qua lại dễ dàng, tiện lợi. Đó là một tiến bộ cho sự an toàn cho trẻ con cùng người già và cập nhật hoá theo việc thành thị hoá nông thôn.


Hình ảnh chiếc cầu độc mộc đã lui dần trong dĩ vãng. Trong tương lai không biết các em nhỏ có biết đến chuyện về cây cầu khỉ hay chăng? Hy vọng cầu khỉ vẫn còn đựơc mô tả và nhắc nhỡ trong văn thơ miền Tây Nam Bộ.


Đối với thế hệ chúng ta, hình ảnh chiếc cầu khỉ luôn hiện diện trong tâm tưởng với bao hồi ức tuổi thơ ở vùng sông nước Cữu Long

Winnipeg, 29-Sept-2019.

Bạch Nữ