THƠ TRUYỆN

NGUYỄN VĨNH LONG

 

Durham, North Carolina

__________________________

                 

         Ly rượu cù lao

Ngày cuối mặt theo bờ vai người đợi

Gió mùa đâu thổi nhẹ phía hiên ngoài

Thôi cứ mặc cho dòng đời xuôi chảy

Mời em tôi ly rượu lẫn buồn vui

 

Cù lao Dài sao thời gian quá ngắn

Mới hôm qua còn mắt sóng môi cười

Ta đưa người như một nhánh sông trôi

Ngày trở lại buồn hơn ly rượu đắng

 

Rượu vừa cạn theo hoàng hôn tắt nắng

Mặt thân quen, nay kẻ mất người còn

Phà An Bình ngang con nước Cổ Chiên

Một lần gặp đã môi mềm xa cách

 

Bốn mươi năm,

 cũng dòng đời trước mặt

Ly rượu đầy xin gặp lại nhau đây

Mắt thôi đã ướt nhòa năm tháng cũ

Cù lao buồn tiếng gió ngậm bờ cây

 

Em yêu dấu, hãy nâng ly rượu cạn

Uống dùm tôi giọt dâu bể thăng trầm

Uống dùm tôi giọt tình mặn trăm năm

 Hương phấn cũ đâu lời xưa hẹn ước…

 

Nguyễn Vĩnh Long

__________________________

Cuối Nhánh Sông Dài

 1.

 

                   Người đàn bà với tay kéo tấm bạt vải phủ hai mặt bàn thấp và lổng chổng mấy cái ghế úp lại phía trên. Buổi chiều tháng chín nhả vài vệt nắng vàng sậm trên mấy lùm cây mắm khẳng khiu mọc hoang dại bên hông. Căn nhà chia làm hai, phía trên mặt lộ làm quán lộ thiên, phần còn lại là căn nhà sàn nằm doi ra mặt bờ kinh Cụt. Mặt quán cũng được biến dạng mỗi ngày. Sáng có cà-phê, hàng xôi và thuốc lá. Buổi trưa là quán cơm bình dân cho đám khách hàng chợ Giữa, đến từ các huyện xa xôi. Tối đến, chỉ còn vỏn vẹn thùng thuốc lá bán lẻ. Tất cả sinh hoạt biến dạng dưới bàn tay của người đàn bà và đứa con gái nhỏ. Người ta nhìn thấy trong đôi mắt nâu đen của hai mẹ con in đậm hình ảnh căn nhà chật chội, bày biện lượm thượm những ghế bàn buồn bã, lạnh lùng. Bóng dáng người đàn bà và bếp lửa áo cơm, vẫn không đủ vẽ lên khung cảnh đầm ấm của một gia đình. Đứa con gái mười bốn tuổi, giống mẹ, lầm lũi như chiếc bóng trong nhịp đời hờ hững.              

Tiếng chim chài-chài gọi chiều văng vẳng dọc bờ kinh quen thuộc. Người đàn bà ngồi lặng lẽ, đếm những tờ giấy bạc nhăn nheo bỏ vào chiếc hộp thiếc trốc sơn, cũ kỷ. Dáng dong dỏng cao, người đàn bà chừng như nhốt cả cuộc đời trong những bước chân rời rạc, nặng nề. Tóc cắt ngắn, lưa thưa trên khuôn mặt xương dài, khô dúm. Phía gò má trái xụp xuống, kéo theo con mắt to lệch khó nhìn. Khuôn mặt méo mó được phủ lên màn sương lạnh bao quanh, lại càng khó đoán được tuổi của người đàn bà. Trên năm mươi cũng không quá đáng, dưới bốn mươi cũng không chừng. Thỉnh thoảng, người đàn bà đứng thẩn thờ nhìn lên khung hình nhỏ treo sau góc cột, lẫn lộn với những tấm lịch thời trang cũ trên tường. Bức ảnh bán thân của người con gái đẹp, có đôi mắt buồn xa xăm và mái tóc xỏa dài đen mượt. Bụi thời gian chưa làm hư mờ màu ảnh, mà sóng cuộc đời đã xô dạt bao biến động của người xưa.

- Mẹ à, con dọn cơm xong rồi. Mẹ vô ăn đi, để nguội.           

Tiếng gọi mẹ của con, nhắc người đàn bà trở về thực tại. Bà ngồi xuống bàn, so đủa và đở lấy chén cơm từ tay con. Tô canh rau dền nấu tép và diã thịt nạc kho tương để trước mặt là những món ưa thích, mà bà cũng chẳng mấy để tâm. Gió buổi chiều trở lộng, mang theo hơi nước dìu dịu của dòng kinh. Đứa con gái miệng nhắc mẹ ăn, tay gắp từng nhúm rau miếng thịt bỏ vào chén cho bà. Chậm rãi, người đàn bà nhai đều thức ăn trong miệng như đang nhai lại bao nỗi lòng, bao hình ảnh chập chờn của quá khứ. Thỉnh thoảng, có vài chuyến ghe lưới trễ về ngang, bà ngừng ăn, đưa mắt dõi theo buồn bã.       

  

            Chợt có tiếng nhừa nhựa, ồn ào của đàn ông và tiếng cười rú lên của đám con gái vọng vào. Người đàn bà hốt hoảng, bật dậy, đánh rơi đôi đũa xuống sàn nhà. Không đợi, đứa con gái đứng dậy, chạy nhanh ra cửa.

- Không phải ba về đâu ! Mẹ cứ yên tâm, để con lấy đôi đủa khác.     

Ngực nằn nặng, nhói đau, người đàn bà cố nuốt từng miếng cơm nhệu nhạo, khó khăn. Dù không phải hắn, nhưng làm sao bà quên được những tiếng cười rú nham nhở đó. Đã quá nhiều lần và dù đã lâu, mà bà vẫn còn ghê tởm, thù ghét. Lúc con Yến mới vừa thôi bú, đang tập ăn bột bích-chi và cháo nấu lỏng thì hắn, Bảo kinh Cụt, chồng bà bắt đầu phất lên. Nhà nước bỏ cách làm ăn tập thể, hợp đồng với tư nhân. Có chuyến ba ngày, có chuyến tuần lễ, chiếc ghe của Bảo lần nào về bến cũng đầy ấp cá, tôm. Phần bán hợp đồng, phần lọt mối chui, chẳng bao lâu hắn mua tàu đánh cá lớn, trang bị hiện đại. Một rồi thêm chiếc thứ hai. Căn nhà lá xập xệ thành căn nhà ngói, thềm tráng xi-măng. Hắn đi biển thì thôi, lần nào về bến, nhà cũng đầy khách khứa, nhậu nhẹt ngày đêm. Công chuyện làm ăn của chồng, bà muốn hết lòng chăm lo, ủng hộ phía sau, cho thuận vợ thuận chồng, tát biển Đông cũng cạn. Người đàn bà chỉ mong như vậy, từ lâu. Từ ngày bỏ cả việc làm, để về làm vợ của Bảo. Cô sinh viên một thời, trưởng phòng bưu điện huyện, Nguyễn Thị An. Nàng tiên nga của lớp 12C, hoa khôi trường phổ thông cấp 3 huyện. Bạn bè quen thân giờ đây gặp lại, nhìn không ra. Nhắc lại, sững sờ, chỉ còn biết ôm lấy nhau đầm đìa nước mắt. Còn đám bạn bè khác, trước thường ghen tị, nay được dịp thỏa mãn tự ái và làm ra vẻ thương hại. Tấm tuồng đời, thường tình, đâu cũng vậy. Nước mắt rồi cũng khô, chịu đựng rồi cũng quen. Trước mắt còn lại là cuộc đời phải sống, gia đình phải lo và đứa con gái cần có tình thương của mẹ. Cánh cửa cuộc đời tự nó, chẳng khép lại với ai. Nhưng với người đàn bà đó, là sự tự nguyện, đóng kín. Để phải sống, cho con, cho những bóng mờ quá khứ và cho cả thói quen đấp đổi qua ngày...            

 

Từ cảnh trói buột, cấm chợ ngăn sông, chính sách kinh tế nhà nước chợt mở rộng rồi bất ngờ thả nổi, vô chừng. Cơm gạo tác xã chạy ra ngoài chợ, người khó lại càng khốn hơn. Nông thôn đổ ra huyện lỵ, tỉnh xa tràn về thành phố. Kinh tế phát triển đại trà, nhiều ngành nghề mới xuất hiện cùng khắp. Trong đó, phong trào “làm gái” bành trướng mạnh mẽ, từ thành đến huyện, hang cùng ngõ hẹp. Những buổi liên hoan nhậu nhẹt cơ quan, bây giờ, phải kết thúc bằng những cuộc mua vui xác thịt với gái làng chơi. Không có không đúng thủ tục, không hài lòng cấp trên, không có những hợp đồng được ký. Đám dân đánh cá, đi biển lại càng hưởng ứng nhiều hơn. Đi thôi, còn lên bến phải nhậu thả ga và chơi thả cửa. Bảo và đám bạn của hắn cũng góp phần tích cực nâng cao phong trào. Hắn chơi bời nổi tiếng kinh Cụt, lờn mặt cả đám chị em bên thị trấn. Cho đến hôm Bảo theo đám bạn lên tận Cần Thơ kiếm gái, thì hắn bị làm mủ dương vật, đi tiểu ra máu và đau nhức thấu xương. Hắn lén đi y tá trong huyện chích trụ sinh và lây bệnh cho vợ. Căn nhà lót gạch lợp ngói chỉ còn lại là căn nhà sàn lợp lá nằm doi ra mặt bờ kinh.            

Người đàn bà không thể nào quên được những cơn đau đớn và những mũi thuốc trụ sinh hoành hành cơ thể, không đứng dậy nổi. Nhưng cũng từ đó, vết ung mủ của thể xác đã lan tràn, ăn sâu vào tâm hồn bà như chứng di căn ác tính. Ghê tởm chồng bao nhiêu, người đàn bà cũng ghê tởm chính mình bấy nhiêu. Nơi phần kín đáo tận cùng của cơ thể, nơi giao hợp những giây phút tuyệt vời của tình yêu vợ chồng, là nơi chứa đựng biết bao thứ vi trùng hôi hám, đớn đau. Người đàn bà suy xụp chỉ còn xương bọc da. Tóc rụng từng lọn, da mặt nám khô từng dề bởi sự dị ứng  của việc dùng thuốc trụ sinh không liều lượng nhất định, bừa bải. Chỉ vài tháng sau, người đàn bà đập nát mấy tấm gương soi trong nhà. Bà kinh hải mỗi khi phải đối diện với trong mọi sự phản chiếu hình bóng của chính mình. Hiện tại là vũng đau nhức không cùng và ngày mai lại là bãi lầy của những vùng đau đớn khác. Hắn thề sống thề chết sẽ chừa chơi gái. Được đâu đôi ba tuần, hắn lại tìm đến xóm chị em. Nhưng lần nầy hắn dẫn gái về tận nhà, trên giường ngủ của vợ chồng hắn. Lý do, hắn giải thích, chỗ chứa gái dơ và nhiều xui xẻo... Giữa khuya đêm đó, người đàn bà chợt giấc vì tiếng nhừa nhựa đầy rượu của hắn và tiếng con gái cười lanh lẻo. Cửa mở, hắn cặp tay đứa con gái tuổi không quá hai mươi, lớn tiếng:               

- Tối nay anh và em Hà đây, ngủ nhà. Bà chịu khó bồng con xuống nằm cái chỏng dưới bếp.             

Người đàn đứng chết lặng, miệng đắng khô và tay chân lạnh cứng.

            - Bộ điếc hả, đi lẹ đi. Hay đợi tôi tống cổ xuống dưới. Hết cả đêm của người ta!

Người đàn bà nằm ôm chặt con trong lòng, đôi mắt khô cứng trừng trừng vào lòng đêm sâu. Tiếng hôn hít, cười cợt của hắn và đứa con gái vọng ra rõ ràng từng tiếng.              

- Vợ con gì đâu nhìn mà phát chán. Mình mẩy chỉ toàn là xương sườn, khô đét. Ớn đến cần cổ... chớ đâu có đẹp đẽ, mịn màn, tươi mát như em.             

Đầu óc căng cứng, người đàn bà buông lỏng con ra và ngồi bật dậy. Sự chịu đựng đã vỡ tan, niềm oán hận đang tràn bờ. Người đàn bà xô mạnh cửa buồng, bên trong là tiếng thở dồn dập, hổn loạn của hắn và tiếng cười rúc rít của đứa con gái. Cả hai đang trần truồng làm tình, hốt hoảng, ngồi bật dậy. Hắn chợt định thần thấy vợ, hét lớn:              

- Bà làm gì xấm xác vô đây. Bộ điên rồi à... Đồ vợ con mất dạy !           

Hắn vừa nói vừa lôi cánh tay vợ đẩy ra. Người đàn bà gằn lại, mắt trừng nhìn hắn trần truồng khinh bỉ. Bất ngờ, hắn cung tay đấm thẳng vào mặt vợ. Thân thể ốm cao chúi về phía sau, ngả quị. NgườI đàn bà nghe đau buốt, tối tăm một bên mặt. Cánh cửa đóng sầm, không ráng gượng dậy được, người đàn bà đành xuôi tay nằm trên sàn nhà lạnh giá.  Một thoáng lặng yên, rồi những tiếng động làm tình hổn hển vọng ra cùng tiếng khóc của đứa con gái giật mình thức giấc, vọng lên từ dưới bếp. Cố đỡ tay một phía bên mặt, người đàn bà nương vách đứng dậy, lần tay đi về phía tiếng khóc tối tăm của con mình. Đêm không trăng, dòng kinh Cụt lạnh đen xuôi về cửa biển mù khơi.  

 

2.

                   

Bốn năm đại học thoáng qua, giã từ đời sinh viên nàng bắt đầu bước vào cuộc đời bằng nhiều cánh cửa may mắn. Bằng đại học bưu điện chỉ là mảnh giấy cầm tay, như những công lệnh đi đường của bao nhiêu người khách bộ hành khác trong guồng máy hành chánh mang tính đoàn thể, đảng quyền. Nhưng với An, nhan sắc mặn mà của nàng mới chính là chiếc chìa khóa vạn năng mở toang bao nhiêu cánh cửa địa vị khác trong xã hội. Cuộc phỏng vấn chỉ toàn là những lời khen ngợi bóng gió, bâng quơ. Trưởng ban nhân viên kiểm soát bưu phẩm rồi trưởng phòng bưu điện huyện trong một thời gian ngắn. Thật ra thì công việc của An là ra vào động viên nhân viên bưu điện bằng những nụ cười và thay mặt huyện đi họp tỉnh mỗi tháng vài ba lần. Các buổi tiệc tùng, liên hoan của cơ quan bạn, ủy ban hành chánh huyện tỉnh đều mời cho bằng được sự hiện diện của nàng. Chung quanh An biết bao cuộc tình mời gọi. Từ mấy anh đồng nghiệp, thanh niên hàng xóm đến các tên trưởng phòng địa phương. Trong đó, người gây nhiều cảm tình cho An là Tuân, bác sĩ trẻ tuổi, làm bên bệnh viện đa khoa huyện, đối diện phòng bưu điện. Chiều nào Tuân cũng đợi An về, chạy theo sau chuyến xe lam hoặc dạm hỏi, cho nàng quá dang. Đoạn đường bốn năm cây số, những chuyến xe lam lại ngày một thưa bởi xăng dầu ngày càng hiếm và đồng lương trưởng phòng của An cũng chỉ vừa đủ cho buổi ăn trưa tập thể và hai chuyến xe đi về. Tuân cũng mới ra trường, đang tập sự, tính tình phóng khoáng và dễ nhìn. Ở tuổi hai ba, không còn những mơ mộng viễn vông nữa, mà An phải chuẩn bị chuyện ở đời, duyên nợ. Bạn bè chung quanh thì thầm “kết” nàng và Tuân.

      Bến Trống chạy dài theo bãi sông, nối liền với biển mặn. Dọc bờ là rừng mắm, loại cây thân võ khô, rễ tủa lên trên mặt đất bùn non. Bến Trống không đẹp nhưng là nơi lý tưởng hẹn hò, gió lộng quanh năm. An ngồi chụm gối, đôi mắt đẹp dõi xa xăm khoảng trời xanh nhạt cuối ngày. Bên cạnh, Tuân xiết chặt tay người yêu và thỉnh thoảng, không ngăn được tiếng thở dài dấu trong lồng ngực. Thời gian hờ hững, trôi chầm chậm chung quanh... Đã bao lần hò hẹn, nhưng An vẫn không cảm nhận được sự rung động của mình bên Tuân. Nàng vẫn thờ ơ, cứng ngắc trong vòng tay. Những nụ hôn trên mắt, trên môi của Tuân chỉ là đốm lửa tàn nhanh chóng, thoáng qua. Bao mơn trớn thể xác, tuyệt nhiên không để lại dấu vết gì trong xúc cảm của người con gái. Mọi cố gắng cũng thừa. Mọi đánh lừa cảm giác cũng dửng dưng, tội nghiệp. Chừng như không chỉ có An, mà Tuân cũng cảm nhận điều nầy.

- Anh yêu em hơn tất cả mọi thứ trên đời. Em hiểu điều nầy... Anh sẽ ở lại, cùng em, chấp nhận thử thách của hạnh phúc và khổ đau trước mặt. Hoặc em sẽ cùng anh đi khỏi nơi nầy, vào một cuộc phiêu lưu không định hướng. Có em, anh tin vào ngày mai, tin vào mọi rủi may số mệnh.

             Tuân cố gắng trong cơn mê đồng bóng. Người con gái cúi đầu, cố nhìn sâu vào tận đáy lòng mình. Không hiểu. Mối tình Tuân dành cho nàng như một thứ đá quý đặt trước mặt người đang bơ vơ, thất lạc trên sa mạc mênh mông không điểm tới. Nhưng thứ đá quý đó không phải là những ngụm nước.              

- Anh phải làm gì để được tình yêu của An ?               

- Anh không cần làm điều gì khác hơn, anh đã dành cho em. Có lẽ mình có duyên mà không nợ. Anh hãy tha lỗi cho An.

Và, không hiểu sao thốt lên điều đó, niềm ân hận tràn ngập lòng nàng. Trái tim khốn khổ của An đang đập những nhịp ngược lại tầm nhìn trong tâm tưởng. Tình yêu không thể hiện diện với niềm ân hận. Người con gái đang nói lên sự thật đầy mâu thuẩn lòng mình. Phải chăng chính điều nầy đã làm nên định mệnh của mỗi con người chúng ta ?            

Vài tháng sau, Tuân xin chuyển công tác đi nơi khác. Buổi chia tay lặng lẽ, Tuân đưa lại cho An khung ảnh bán thân của chính nàng tặng Tuân những ngày mới quen. Hôm đó, An khóc thầm cả đêm.                      

 

Gặp lại Bảo, Huỳnh Thanh Bảo bạn cùng lớp, tình cờ ở ty bưu điện tỉnh. Bảo đang sắp hàng gửi thư bảo đảm. Mới hơn bốn năm mà Bảo sững sờ nhìn An, vừa bối rối vừa mừng rỡ. Ngược lại, Bảo cũng thay đổi nhiều, cao lớn, chững chạc và đẹp dáng đàn ông hơn xưa. Bao nhiêu kỷ niệm học trò, trường lớp chợt hiện về như mới hôm qua. Câu chuyện kéo An và Bảo từ buổi tình cờ gặp gỡ đến những lần hẹn nhau quán nước bên đường. Những khuôn mặt của lớp 12C, có cuộc đời yên ổn, có bước ngoặt không ngờ. Trưởng lớp Bùi Văn Thơ vẫn còn “du học” ở Tiệp chưa về. Cô nhỏ mắt nâu Đặng Thị Thúy, lấy chồng sớm nhất đang chuẩn bị đi Mỹ, đoàn tụ gia đình. Nguyễn Thị Sơn, con chim sơn ca của dòng sông thị xã, học sinh giỏi toán tỉnh vừa ly dị chồng và bồng con về sống với mẹ cha... Bảo chợt hỏi An về việc làm, đời sống nhất là hoàn cảnh gia đình. Ngập ngừng, Bảo hỏi thêm rằng, nghe bạn bè nói An đã lập gia đình với ông bác sĩ bên bệnh viện huyện. An vừa cười vừa xoà hai bàn tay trơn trống, “đâu được cái may mắn như lời đồn đãi”.  Bảo vui mừng hẳn lên và cho biết đang làm cho công ty thủy sản. Cũng như nàng, Bảo than phiền về công việc tù túng, đồng lương khó khăn  và những nhảy vọt của nền kinh tế chợ đen. Bảo đang chuẩn bị làm ăn riêng, trở lại ghề đánh cá biển truyền thống của gia đình. Mặt biển bao la, một cuộc sống phơi phới tự do không ràng buột vào những qui tắc cơ quan, đoàn thể phiền toái. Không biết tự lúc nào, An bị lôi cuốn vào những dự tính và mơ ước của Bảo. Trước mặt An không còn là người học trò rụt rè, bẻn lẽn ngày nào mà một thanh niên tư tin và nhiều ước vọng.

         Buổi chiều đi dọc theo ven bờ biển thị xã, Bảo cầm đôi bàn tay và cúi hôn thật nhanh lên môi An. Lần đầu tiên nàng thấy chơi vơi, niềm xúc cảm chạy rần cơ thể. Để lúc chia tay, nụ hôn Bảo lâu hơn quyện trên đầu lưỡi hôn trả của An nồng cháy. Suốt cả đêm An trăn trở và chập chờn cơn mộng mị trong vòng tay say đắm dục tình của Bảo. Không mặc cảm xấu hổ, ngược lại, An háo hức để được gặp lại Bảo ngày mai. Chưa bao giờ, tâm hồn nàng lại  bâng khâng và thân thể ngây ngất, đợi chờ như vậy. An biết mình đã bắt đầu yêu Bảo thiết tha.    

 

3.

 

                    Buổi sáng trời mờ sương và ẩm thấp. Nước kinh Cụt dâng cao, ngầu đục sau trận mưa rào đêm qua. Người đàn bà kéo thẳng hai tấm khăn trải bàn màu vàng nhạt treo lên sào và kẹp lại ở hai đầu. Mấy giọt nước nhiễu xuống từ góc khăn, theo chiều gió, rơi xuống mặt sông những vòng bóng nước. Đàn cá ròng-ròng đang lội ngược dòng, chợt tưởng mồi, lao vào hớp bóng. Người đàn bà ngồi sệt xuống sàn ván lở, thờ thẩn dõi theo mấy cụm lục bình trôi dạt trên sông. Phận đời rễ nước, lênh đênh về đâu khi dòng sông xuôi lòng biển mặn... Tất cả chung quanh chừng như không có gì thay đổi. Căn nhà, dòng sông, bến nước và những cuộc đời lặng lẽ ở đây. Người đàn bà chợt rùng mình, nhớ lại những giấc mộng trong đêm. Gần đây bà thường nằm mơ. Nhiều giấc mơ ngắn ngủi, nối chấp, trộn lẫn vào nhau bao hình ảnh hổn loạn. Chỉ còn lại những khuôn mặt hiện ra thật rõ, thật quen thân mà dù cố gắng, bà vẫn không nhớ được cái tên ! Họ là ai mà với bà trên chuyến xe lam ? Họ là ai mà đi chung cùng đoạn đường, có hàng cây bạch-đàn và dưới cổng trường gạch đỏ ? Cái đầu bé nhỏ, u muội của bà như có muôn ngàn mủi kim và hàng vạn con vòi lúc nhúc đục phá, vỡ tung... Chẳng lẽ bà còn phải chịu đựng đến hết một đời. Mười năm, hai mươi năm hay cả ba bốn mươi năm trước mặt. Yến đang ý thức dần dần những gì đang xảy ra cho mẹ nó. Đứa con gái ở lứa tuổi mới lớn, tuổi chuẩn bị đâm chồi cho bao mộng ước ban đầu. Xã hội chung quanh hổn loạn, quan hệ gia đình nhầy nhụa, xót xa. Yến sẽ còn lại gì vun bón cho những mầm non hy vọng, rễ bám vào đâu giữa bao ung nhọt, cáu bẩn bủa vây. Thấy gì đây, mười mấy năm đời bà là những bóng nước thoáng chốc, vỡ tan. Thỉnh thoảng trên đường ngoài chợ hoặc vài khách bộ hành ghé quán thì thầm với nhau, “Chị An, chị Nguyễn Thị An, trưởng phòng bưu điện huyện mình hồi trước đó”! ‘”Thật sao ? Nghe nói chị ấy là người đẹp cả huyện mà”, rồi tất cả chợt lặng yên hồi tưởng, nuối tiếc... Hàng xóm chung quanh kinh Cụt gọi người đàn bà là bà Sáu quán. Cô nữ sinh lớp 12C Nguyễn Thị An ngày xưa đã chết, đã vĩnh viễn ra khỏi kiếp đời nầy. 

 

                      Người đàn bà mệt mõi gượng đứng dậy, đôi mắt mờ dại thường ngày chợt đanh lại, lạnh bén. Thò tay vào túi áo bà ba xanh bạc màu, người đàn bà nâng nê trong tay gói thuốc bột diệt chuột cực mạnh. Tháng trước nhà nước phát động phong trào diệt chuột đang hoành hành cùng khắp tỉnh thành. Họ cấp phát cho mỗi hộ gia đình những bịt thuốc bột loại cực mạnh, trộn vào thức ăn làm mồi. Chuột chết cùng nhà, khắp cả xóm phường, gom thành từng đống. Bà đã giữ lại, gói kỷ càng, cất riêng cho mình. Mãi đến hôm nay, người đàn bà mới quyết định xữ dụng gói bột. Cho chính cuộc đời mình. Cho người đàn ông, bà một thời yêu tha thiết. Và trên hết, cho ngày mai đứa con gái, nắm ruột xót xa và cả một phần đời của bà còn lại. Tự ban đầu, bà chỉ nghĩ đến người đàn ông đã xô đẩy đời mẹ con vào vũng bùn lầy của địa ngục trần ai. Nhưng khi nhìn đứa con gái đang sống lặng lẽ bên cạnh, bà không thể chỉ dừng lại ý định đó nữa. Rồi bà sẽ làm được gì cho đời sống nó ? Hay cũng thay thế vũng lầy đời nầy bằng bóng tối bao la khác. Con ơi, hãy tha thứ cho mẹ. Người mẹ suốt đời chỉ ước mơ cho con có được trọn một nụ cười. Gói thuốc bột dư để bà và chồng cùng tìm giấc mơ an lành, vĩnh viễn. Để trả lại hết cho cuộc đời nầy những giấc mơ đầm ấm, yên vui. Để cho con bà có lại những mộng mơ một thời con gái; một hạnh phúc ngày mai mà sự hiện hữu của bà là màn đêm phủ tối, là tiếp nối cơn ác mộng đời sau... Người đàn bà đã gửi con gái về bên dì của nó, chuyến đò sáng sớm hôm nay. Trong bọc hành trang của Yến, bà đã cẩn thận gói ghém đôi bông tai ngày cưới, món tiền bà dành dụm lâu nay và khung hình bán thân thời con gái.

             Mặt trời đã lên khỏi hàng cây mắn mọc hoang dại dọc bờ kinh. Người đàn bà mồi bếp lửa, hâm lại xoong thịt kho tiêu ưa thích của chồng. Chậm rãi, bà rắc gói thuốc bột vào xoong. Mùi thịt kho tiêu vẫn bốc lên thơm nồng. Bên trong nhà vọng lại nhiều tiếng động quen thuộc, chồng bà đã tỉnh rượu, thức giấc. Người đàn bà cúi xuống, tay quậy thật đều mấy miếng thịt kho và những giọt nước mắt tuôn tràn từ khuôn mặt méo mó,  lạnh tanh của bà. Tiếng con chim chèo-bẽo từ đâu bay về, chợt cất lên não nuột, văng vẳng dọc bờ kinh...    

 

4.

 

              Người đàn ông ngồi chết lặng, nuốt trọn từng lời của người con gái mang nét đẹp quen thuộc, dịu hiền trước mặt. Cổ họng ông tắt nghẹn, cảnh vật chung quanh mờ nhạt một màn nước phủ vây. Ông cố ngước mặt lên trần nhà, tránh phải đối diện với người con gái cũng đang gục đầu thổn thức bên kia. Không gian bơ vơ, đặc sệt những hình ảnh của quá khứ, không thuộc về họ. Khung ảnh bán thân màu trắng đen, trên mặt bàn, thơ ngây nhìn ông trong nụ cười không tắt.

               - Ước mơ trên hết và cuối cùng của mẹ cháu, là trao lại được bức ảnh nầy đến tận tay bác. Bây giờ, chắc hồn mẹ cháu vẫn ở quanh đây và đang mĩm nụ cười mãn nguyện.

Giọng người con gái chợt mừng, chợt tủi. Người đàn ông vẫn lặng yên, không tìm được ngôn ngữ gì để thắp lên câu chuyện. Căn phòng nhỏ, bày biện đơn sơ nhưng ngăn nắp,  sáng sủa và ấm áp. Khung cảnh hạnh phúc của một gia đình trẻ. Tất cả đã đổi thay. Những đổi thay chừng như theo đúng qui luật tuần hòan của vạn vật. Con người cũng không nằm ngòai phạm trù đó. Trong sự phát triển chóng mặt của nền kỹ thuật tòan cầu, xã hội chừng như bị cuốn hút theo chiều thẳng đứng của thời gian. Mặt tốt đẹp cũng nhiều, nhưng những xấu xa, tệ trạng cũng không phải ít. Ông đã chứng kiến và nhận thức rõ bao biến đổi chung quanh. Những nuối tiếc, hoài niệm của quá khứ không đủ để khước từ và chối bỏ những đổi thay của đời sống chung quanh. Như khung cảnh gia đình nhỏ của Yến, ngăn nấp và ấm áp. Sự sống và hạnh phúc đôi khi không phát nguồn từ những cảm nhận và phán đoán bên ngoài. Mà từ bên trong, trong mỗi trái tim và niềm hạnh phúc riêng tư của chúng ta. Ông cũng không ngọai lệ, chỉ là kẻ đứng bên ngoài, ngắm nhìn hạnh phúc, khổ đau của người ngoại cuộc. Đôi mắt cay cay, trũng nước ông chợt nghe có tiếng khóc trẻ con vọng ra từ phòng phía bên trong.

              - Con trai đầu lòng của cháu, vừa được tám tháng. Để cháu vào bồng ra chào bác. 

Người con gái vừa dợn bước đi, chợt quay lại hỏi nhanh:

              - Chừng nào bác Tuân trở về Mỹ?

Ông chưa kịp trả lời, thì người con gái đã bước vội vào trong. Bên ngoài cửa sổ, trời nắng tháng Chín rực vàng, chói chang. Ông cảm nhận đâu đây mùi nắng gió của bãi rừng mắn, mọc hoang du dọc theo bờ biển bùn mù khơi. Chừng như có ánh mắt ai thầm lặng, đang dõi theo từng con sóng nhỏ, xô dạt trăm năm cuối tận nhánh sông dài... 

 

Durham, North Carolina

Nguyễn Vĩnh Long

GIỮA HAI MẶT ĐỜI

Bây giờ em đã ngủ chưa?

Khi bên anh ngày mới bắt đầu

Giấc ngủ em mơ là ngày anh có thật

Chạy hết vòng đời mà chẳng gặp nhau?

 

Đã bao lần ta xếp nỗi đau

Vào thăm thẵm kiếp này những nếp

Đuôi mắt leo nheo tình đời quá hẹp

Cá chậu chim lồng biết thuở nào ra?

 

Em ở đầu sông hay bên biển rộng

Con nước buồn và biển mặn ngàn năm

Anh ở cuối sông nơi bờ biển cạn

Giọt nước mắt nào cũng mặn trầm luân…

 

Em hãy ngủ say, đừng chút phân vân

Dẫu năm tháng có hao mòn nhan sắc

Vì mỗi nụ hôn là nhắm nghiền đôi mắt

Ta mãi một đời đâu cứ nhìn nhau!

 

Giữa anh và em muôn vạn chiều sâu

Đôi mắt người đời chỉ như miệng giếng

Cứ ngỡ tình yêu là soi mặt kiếng

Nhìn thấy bóng mình vẽ những niềm đau

 

Giữa anh và em là ngày nối đêm thâu

Là giấc mơ luôn bắt đầu ngày có thật..!

 

Durham, North Carolina

Nguyễn Vĩnh Long

                                    Lục Bát Cồn Mây

Qua cồn tay níu nhánh sông

Nhẹ buông con nước một dòng chân mây

Hương người một thuở còn đây

Mà trăm năm đã những ngày tháng trôi

 

Tìm đâu tăm cá chim trời

Tìm đâu  những nụ hôn rời rã nhau

Bây giờ chạm hãy còn đau

Vết môi xưa đã nhuốm màu nhân gian

 

Đứng trông giữa những muộn màng

Cuối cồn mây trắng bay ngàn năm qua

Cồn Mây một thoáng hương xa

Về đây trong chén quan hà tỉnh say

 

Phà xưa qua phía cồn này

Còn nghe con nước gọi hoài tên sông

 Mái đình rêu phủ ngói cong

Ngoài sân đôi hạc chờ mong một người

 

Cồn Mây gọi cố nhân ơi…

 

Durham, North Carolina

Nguyễn Vĩnh Long

Phấn trắng bụi mờ

Sau gần một năm học tập chính trị và lao động thực tế, tôi được phân công về nhận “nhiệm sở” dạy môn Văn vào khoảng giữa học kỳ năm 1976. Thời gian nầy, trường cũng vừa chuyển về cơ sở mới vài ba tháng. Thầy cô giáo và học sinh vẫn còn tiếp tục sắp xếp phòng học, văn phòng, thư viện và thích nghi với môi trường mới. Thật khó mà diễn tả tâm trạng của tôi trong buổi giới thiệu, gặp gỡ đầu tiên với thầy cô và học sinh của mình. Có chút gì đó băn khoăn, nghi ngại xen lẫn với niềm hân hoan của một thầy giáo trẻ. Giai đoạn chuyển thể, đầy tính “bi-kịch-lịch-sử” của một nền giáo dục mới, học đường mới. Ngôi trường nhỏ, khiêm tốn của tôi cũng ngập đầy không khí sinh hoạt chính trị. Chính trị xâm nhập vào mỗi tiết học, mọi bộ môn giảng dạy. Sinh hoạt đoàn thể trong học sinh, thầy cô giáo, và hơn thế nữa, sinh hoạt đoàn thể chung cho cả học sinh và thầy cô giảng dạy của toàn trường. Những sinh họat đoàn thể và chính trị kiểu nầy đã tạo ra nhiều cảnh “dở khóc dở cười”, đầy chua xót. Thời kỳ mà học trò tham dự “duyệt xét” lý lịch của thầy cô để giới thiệu “kết nạp” vào “đoàn” trường... Thời kỳ xuất hiện nhan nhản khắp đường phố, mọi môi trường công tác chuyên nghiệp những nhân vật “cách mạng 30” kỳ quặc, hủ bại nhất trong lịch sử đất nước, mà trường học cũng không ngoại lệ.

 

Nhưng chỉ vài năm sau, tôi quen thuộc từng khung cửa sổ của mỗi lớp học, những viên gạch thụng nghiêng, sứt mẻ hay cả những chỗ dột của vài phòng học khi trời đổ mưa. Ngôi trường gồm ba dãy nhà trệt, quay ra phía mặt đường. Dãy giữa dài, gồm sáu phòng học và một phòng cuối làm thư viện, thiết bị. Nối theo đầu nầy, là dãy nhà bốn phòng tập thể cho thầy cô giáo ở  xa. Đối diện phía bên kia là một dãy ba phòng học với nền cao hơn. Phía cuối chừng như là một phòng học dự định xây bỏ dở, chỉ xong phần nền. Chính giữa ba dãy phòng là sân trường, nửa nền xi-măng và nửa nền đất là phần sân cho giờ thể dục. Con đường “thơ mộng” thêm lên, với hai công trình lao động đào ao của” lực lượng” học sinh và thầy cô cả trường. Trong một thời gian ngắn, bên góc ao đã thắm đầy hoa Súng màu hồng tím thật đẹp. Đối diện trường, bên kia con lộ là vài quán nước nhỏ - chủ yếu bán cho học trò và thầy cô của trường. Một trong quán nước đó, có quán cà-phê nhà dì Năm, tôi biết tên qua lời chuyền tai của học trò. Nơi chứng kiến, là nhân chứng biết bao chuyện vật đổi sao dời cho sự nghiệp dạy học ngắn ngũi của tôi.

Buổi chiều trời hanh nắng, từng cơn gió hắt hiu thổi qua dãy hàng lang trống trải. Ngôi trường nhỏ, nằm khuất phía sau hai hàng bạch đàn càng khiêm tốn, lặng yên. Vài tiếng chim cu đất gáy xa xa, vọng lại. Tôi xếp vội sấp bài đang chấm dở, định bước ra khỏi lớp học nhưng chần chừ, lại thôi. Vạt nắng chiều xuyên cửa sổ, nằm vắt dọc theo dãy bàn ghế trống phía dưới. Mùi rạ khô sau mùa gặt từ những thửa ruộng bên hông trường, như loang tỏa khắp căn phòng. Tôi muốn ngồi lại, tận hưởng khoảnh khắc tĩnh lặng nầy… Từng dãy bàn ghế trống không, lặng lẽ phía dưới. Chừng như chúng cũng mang một đời sống riêng, chừng như chúng cũng có một linh hồn. Hình ảnh những buổi chiều như vậy, tấm bảng gỗ đen, dãy bàn ghế chợt như thì thầm với tôi một câu chuyện kể.

 

  1. Người Thầy Giáo Cũ

 

Hôm đó, sau tiết dạy lớp 12C, vài học trò nhắn có người muốn gặp mặt tôi ngoài quán nước dì Năm. Hỏi ra mới biết cũng là một thầy giáo đã từng dạy trường Kiên Thành trước kia, nay đổi thành cấp 3 Rạch Sỏi. Người thầy giáo “cũ” đó tên là Phương. (Đến nay tôi không còn nhớ họ tên đầy đũ của thầy. Chỉ nhớ học trò gọi là thầy Phương, dạy lý hóa). Tôi đã nghe các thầy cô trong trường và học trò nhắc nhở nhiều về thầy Phương với những tình cảm trân trọng. Khi tôi về trường, thì thầy Phương đã xin nghỉ dạy? Câu chuyện chung quanh thầy Phương, khiến tôi rất quan tâm và tò mò. Đặc biệt là học trò thường nhắc nhở và thăm viếng sau khi thầy Phương không còn dạy nữa. Muốn gặp mặt chắc là đám học trò đã “tán hưu tán nai” về ông thầy giáo mới về trường, lại dạy môn văn “hổng giống ai” trong thời buổi này. Cũng may mà không bị ty giáo dục cho “nghỉ” việc mà chỉ bị anh ba Thái (trưởng đồn công an Rạch Sỏi lúc đó) bắt giữ vài lần về tội “để tóc dài” và tư cách “tiểu tư sản”!

Việc xin nghỉ dạy của thầy Phương được thầy cô và học trò chuyền nhau kể lại. Nghe câu chuyện tôi rất xúc động và cũng mong được một lần gặp mặt. Chừng như trong thời gian dạy học, thầy Phương phát giác mình có triệu chứng của bệnh phong cùi. Để phòng ngừa và chữa trị, thầy Phương cất một căn nhà nhỏ ở tách riêng với gia đình và làm đơn xin nghỉ dạy. Tôi có hỏi thăm các thầy cô, nhưng cũng không ai biết thêm gì nhiều. Chỉ biết thầy Phương tính tình nề nếp, gương mẫu, rất gần gũi và được học trò quý mến. Cũng có vài dư luận cho rằng, bệnh phong cùi chỉ là cớ để thầy Phương xin nghỉ dạy vì không chấp nhận chương trình giảng dạy của nhà trường trong xã hội mới. Nhưng dù lý do nào, thầy cũng thể hiện sĩ khí của một kẻ sĩ trước những biến động thời cuộc... Ra gặp thầy Phương, ngoài tôi còn có một số học trò đã từng học với thầy và đang học với tôi. Dáng người chắc, da ngâm nắng, khuôn mặt hơi khắc khổ và có nụ cười tươi, gần gũi, thầy Phương hơn tôi chừng 3, 4 tuổi (?). Tôi tự giới thiệu và thân mật đưa tay ra bắt tay anh. Chút ngần ngại, anh chào tôi và mời ngồi nhưng không chịu bắt tay. Cũng không để thầy Phương khó xử, tôi vui vẻ  ngồi xuống bàn và xin được gọi thầy Phương bằng anh. Sau vài phút xã giao ban đầu, không khí và câu chuyện chúng tôi cởi mở hơn. Qua chuyện trò và quan sát gần, tôi không thấy dấu hiệu gì ở thầy những triệu chứng bệnh phong. Trong ánh mắt, tôi nhìn thấy nhiều nuối tiếc và niềm đam mê vẫn còn đó của anh Phương dành cho trường lớp. Bên ly cà phê nóng của quán dì Năm, câu chuyện thầy trò chúng tôi không chừng, không dứt. Khác với cái bất cần, lãng đãng “công tử bột” của tôi, cái bất cần mang nhiều tính hảo hán “Lương Sơn Bạc” của anh khiến người đối diện có nhiều ấn tượng. Giọng nói chậm, rõ chữ và đặc sệt “miệt dưới” anh gây rất nhiều cảm tình cho tôi. Câu chuyện bắt đầu từ trường lớp, đến thời cuộc, xã hội, rồi đến những “thế thái nhân tình”, từng mảnh vụn cuộc đời trong giọng anh dường như mang nhiều cay đắng pha lẫn chút xót xa, mai mỉa. Anh nói như nhắn nhủ với tôi những đoạn đường anh đã qua là những gì tôi đang bước tới. Có rất nhiều điều tôi đồng tình, nhưng cũng có ít kinh nghiệm tôi chưa hề nếm trãi. Cho dù thế nào tôi vẫn trân trọng những gì anh muốn gửi gấm, tâm tình.

Trong đời chúng ta có biết bao nhiêu gặp gỡ, biết bao nhiêu con người, biết bao nhiêu khuôn mặt nhưng chỉ có vài ánh mắt, vài khuôn mặt dù chỉ một lần, ngắn ngũi sẽ ở lại trong ta một đời không quên. Tôi biết chắc cuộc gặp mặt hôm nay sẽ theo tôi nhiều năm tháng mai này. Tôi bắt tay thầy Phương thật chặc, thật lâu trong lời bịn rịn chia tay và hứa có dịp sẽ cùng các em học trò ghé thăm anh tại nhà. Để suốt ngày hôm đó lòng tôi cứ khắc khoải, bâng khuâng về hình ảnh một người “thầy cũ”, một người bạn mới quen, về những cưu mang một kiếp người lắm đổi, giữa bao nhiêu trùng vây đến cuối một dòng đời. 

Đó là lần đầu tiên cũng là lần cuối tôi gặp thầy Phương. Đời sống cứ cuốn trôi không ngừng nghỉ, một ngày bộn bề hay trống rỗng lần qua, chúng ta không ý thức, không hay biết. Cho đến hôm chợt giật mình nhìn lại, những ngậm ngùi, nuối tiếc thắt chặc trái tim mình! Các bạn đã bao lần lỡ hẹn hay đã bao lần lỗi hẹn? Chắc cũng như tôi, không ít? Để đôi lúc trong đời, một phương trời nào đó chạnh lòng, loáng thoáng những khuôn mặt của thời gian..?

 

  1. Cô Học Trò “Khách Lạ”

 

Ra dấu cho cả lớp ngồi xuống, tôi mở sổ nhìn nhanh vào cột điểm hàng tháng, đã gần kín. Hôm nay không phải gọi học sinh hỏi bài, nhe nhõm. Với tôi học và dạy môn văn chương là sự cảm nhận không phải thuộc lòng. Khi đã cảm nhận được, thì chỉ sợ khó quên chứ nói gì đến phải “thuộc”. Tôi không “mặn” với vọng cổ, với cải lương. Trong suốt cuộc đời đến nay, tôi chưa hề cầm tay một bài ca vọng cổ nào. Vậy mà chỉ một lần, một lần qua phà Mỹ Thuận, tôi tình cờ nghe cô bé hát dạo bài ca vọng cổ. Mãi đến nay tôi vẫn không thể quên được:

“Em ở nơi nào, em ở đâu

“Lời ca tức tưởi mấy cung sầu

“Quê nghèo, áo nhuộm màu sương gió

“Một kiếp phong trần, mấy bể dâu...   (1)

 

Viết tựa cho bài giảng hôm nay, tôi chợt có một cảm giác rất lạ phía sau. Giác quan thứ sáu báo tôi là có điều gì đó khác thường trong lớp. Quay lại, tôi chậm trãi nhìn quanh những dãy bàn. Một khuôn mặt lạ ngồi cuối dãy bàn góc phải, ánh mắt đen nháy nhìn tôi bối rối. Một cô học trò “khách lạ” đang ngồi “dự giờ” của tôi đây mà. Không quá ngạc nhiên, vì đây không phải là trường hợp thứ nhất. Đã có vài em học sinh vì lý do gia đình hay lý do nào đó phải nghỉ học, nhớ trường lớp, nhớ bạn bè cũng đã vào lớp giờ của tôi, để làm người học trò “khách lạ”. Hơn ai hết, tôi hiểu và xúc động vô cùng. Cười nhẹ, tôi bắt đầu bài giảng như không hề nhìn thấy cô học trò “khách lạ” đáng mến đó. Thường thì 1 tiết dạy của tôi quan trọng nhất là 15 phút cuối (30 phút cuối cho buổi dạy 2 tiết). Những giây phút cuối của buổi học sẽ để lại cho các em những trãi nghiệm khó quên trong đời. Ít nhất là tôi nghĩ như vậy! Sẽ là những đoạn thơ, những bài thơ trong và ngoài nước hay nhất của dòng văn học hiện đại. Là những câu chuyện kể về huyền thoại và nền văn học hiện sinh của phương Tây ảnh hưởng rộng lớn vào nhân sinh quan của nhân loại. Tôi biết rõ điều này có thể đưa đến việc bị “đuổi việc” hay nặng hơn là bị kết tội giảng dạy nền văn học “phản động”, “đồi trụy” và vào đồn công an huyện như chơi. Nhưng không hiểu sao tôi tin tưởng tuyệt đối vào học trò của mình. Tôi tin các em, trong nhận thức trong sáng, hồn nhiên đó sẽ cảm thế nào là tính trữ tình, tính nhân bản trân quý. Và thật vậy, niềm tin của tôi đã được các em giữ kín trong lòng.

Tiếng kẻng hết giờ vang lên, tôi ngỏ lời cám ơn cô học trò “khách lạ” đã đến dự giờ dạy và mong gặp lại bất cứ lúc nào em muốn trở lại! Cô học trò “khách lạ” cúi đầu và tôi đã nhìn thấy đôi vai em rung lên từng hồi. Em đang khóc, khóc như bao nhiêu con nước chợt tràn bờ trong một lần mưa vỡ. Những giọt nước mắt của em khiến tôi phải cắn chặc môi mình, bước nhanh ra khỏi lớp. Qua học trò tôi được biết tên của cô học trò “khách lạ” là L.T. Hồng Phượng. Trước Hồng Phượng là một học sinh giỏi và rất ham học, vì “hoàn cảnh” gia đình em phải nghỉ học cuối năm lớp 11 để phụ giúp mẹ buôn bán, nuôi đàn em nhỏ. Thỉnh thoảng nhớ bạn bè trường lớp, Hồng Phượng lại làm người học trò “khách lạ” dự những buổi học bất chợt mà em có cơ hội, có thời gian. Vài tuần lễ sau tôi bất ngờ nhận được lá thư tay của em gửi. Lá thư không dài nhưng đủ để tôi phải trằn trọc nhiều đêm, không ngủ. Cuối cùng tôi đã đốt lá thư, cho em và cho tôi. Một phần, tôi đã thuộc từng chữ viết của em; phần khác, tôi muốn giữ kín nội dung lá thư cho riêng mình... Không đầy một năm sau, tôi nghe học trò báo tin em đã lấy chồng về xứ lạ. Nét hân hoan trên khuôn mặt ái ngại sau giờ học và ánh mắt tin yêu đã nhuộm phấn bụi đời ở mãi trong trái tim tôi sau những mai này...

 

  1. Dấu Bụi Thời Gian

 

Cuối tháng Tám, nơi tôi ở là mùa của những cơn giông từ phía bờ Đại Tây Dương. Buổi chiều mưa như trút nước, gió thổi nghiêng khoảng rừng cây thưa bao quanh chỗ tôi làm. Từ khung cửa kiếng lấm tấm nước, tôi chợt thấy thời gian đang ngưng đọng theo cơn mưa chiều. Những buổi chiều mưa nuối tiếc bóng đời người. Mọi ngập ngừng, bỏ lỡ không bám lại một bến bờ tình cờ nào suốt dòng đời nghiệt ngã, trôi xa.

 

“... Cụm rừng nào lá xác xơ cây
Từ vực sâu nghe lời mời đã dậy
Ôi cát bụi phận này
Vết mực nào xóa bỏ không hay…”  (2)

 

Đâu bóng người xưa, thôi những bụi mờ phấn trắng. Thấp thoáng trong cơn mưa trút bao nỗi nhớ chiều nay, đâu đó là những bóng hình. Một ngôi trường thân thương nhỏ bé; một khuôn mặt của người thầy cũ mà chỉ một gặp mặt, chạm tay; một ánh mắt hân hoan, ái ngại của cô học trò “khách lạ” một lần, sao như chợt nhớ chợt quên. Những dòng chữ nghẹn ngào trong lá thư tay như bay chơi vơi trong tim tôi muôn vàn lớp bụi của thời gian phủ lấp. Cố moi mọi ngõ ngách của tiềm thức, nhưng sao tôi vẫn không hình dung được khuôn mặt của nỗi nhớ. Càng cố gắng, trí nhớ càng phản bội tôi đến tàn nhẩn. Lờ mờ cơn mưa hay mắt tôi chợt lờ mờ trong nỗi nhớ tình cờ, đọng những giọt nước mặn môi, bao dấu bụi đời một thuở, “… Những người muôn năm cũ – Hồn ở đâu bây giờ?” (3).

 

Mùa tựu trường, 2019.

Durham, North Carolina

Nguyễn Vĩnh Long      

 

(1)        Sầu Vương Ý Nhạc – Viễn Châu

(2)        Cát Bụi – Trịnh Công Sơn

(3)        Ông Đồ - Vũ Đình Liên

Bên bờ dĩ vãng

1.

  

Tiếng người phi đoàn trưởng vọng lên từ phòng lái, báo tin cho hành khách phi cơ đang trên độ cao của vòm trời thành phố Hồ Chí Minh, thời tiết tốt và nắng ráo. Tôi bồi hồi nhìn ra khung cửa sổ, từng cụm mây trắng chen lẫn bên dưới là những khoảng đất màu xanh mướt. Quê hương tôi đó, mảnh đất yêu thương, nặng lòng suốt một quãng đời quá khứ của tôi. Nước mắt dàn dụa, đầu óc trống không, chỉ tràn ngật những thổn thức quặn thắt trong lòng. 

“Quê hương mỗi người chỉ một 

“Như là chỉ một mẹ thôi 

“Quê hương nếu ai không nhớ 

“Sẽ không lớn nổi thành người…”   (Quê Hương – thơ Đỗ Trung Quân – nhạc Giáp Văn Thạch)

Văng vẳng bên tai bài hát như vang vọng từng nỗi khắc khoải, nhớ thương không màu sắc, không trọng lượng nào so sánh được. Vậy rồi cũng trở về, để không biết còn gì nữa đây, tôi phải đối mặt với bao thực tại mất mát, biển dâu. Nhạn ơi hề gì, đã thành người, tôi đã lớn nổi thành người, sao lại không thương nhớ quê hương. Vài giây phút nữa thôi, tôi sẽ đặt bước chân mình trên mảnh đất mến yêu nhất, sẽ gặp lại tất cả hình ảnh, tình cảm của một thời dĩ vãng chất ngất nhớ thương.

 

            … Là con gái thứ trong gia đình ba chị em, cha mất sớm, tôi chịu thiệt thòi nhiều nhất. Mọi kỷ niệm hay ước vọng chưa thành, mẹ tôi dồn vào chị Bình. Tên chị là nơi mẹ gặp cha và thành hôn ở đó, Vĩnh Bình. Đám cưới chị, mẹ gom góp hết của cải dành dụm, để đưa chị Bình về nhà chồng. Mẹ nói, con gái về nhà chồng tay không thường bị coi khinh rẻ rúng. Còn Trinh là con gái út. Bao nhiêu tình thương còn lại bà dồn vào nó. Mỗi lần nhìn Trinh đi lại, cười nói trong nhà là mẹ như nhìn thấy cha. Người đàn ông mà suốt cuộc đời nầy bà yêu thương, kính nể. Trinh lớn khôn như trái cây được “dú” kỹ lưỡng trong vòng tay của bà. Chỉ mình tôi là bà ít khi quan tâm và bày tỏ lòng trìu mến. Tôi là một loại trái chín hoang, bơ vơ trong vòng bổn phận của mẹ.

      Sau ngày chị Bình về nhà chồng, tôi trở thành người đàn ông trong nhà. Mẹ tôi chủ hụi, ngoài việc thay bà đi khui hoặc góp hụi, mọi việc hành chánh giấy tờ tới sửa chửa linh tinh nhà cửa, đều một tay tôi. Trinh học dưới tôi một lớp, tính tình nhút nhát lại bệnh hoạn rề rề, nên chẳng đở được gì mà chỉ thêm phiền lụy. Chẳng bao lâu bạn bè lẫn người hàng xóm ai cũng gọi tên tôi là “Nhạn đen”. Suốt ngày chạy rong khắp chợ huyện, chỉ nán đen không cháy là may mắn rồi. Ngược lại Trinh càng lớn càng đẹp, ca hay múa giỏi, nổi tiếng cả trường, cả huyện.  Mẹ và tôi đều hãnh diện và thương yêu, chiù chuộng Trinh một mực. Nhiều lần đi chợ chung, tiếng bàn tán xì xào chung quanh tôi và Trinh, “Chị em mà hổng giống chút nào… Em đẹp bao nhiêu, thì chị lại đen đúa, xấu xí bấy nhiêu…”. Tôi chẳng bao giờ để ý quan tâm hay tủi thân, buồn bã. Công việc chăn nuôi mẹ tôi mỗi ngày một phát triển. Từ hai con heo, bầy gà, vài cặp thỏ và mấy luống rau muống căn nhà mẹ tôi trở thành trại chăn nuôi kiểu mẩu. Khách khứa nhà tôi tấp nập, một phần công chuyện làm ăn nhưng phần khác lớn hơn, là vì mẹ tôi và Trinh. 

      Biến cố lịch sử tháng Tư, 1975 thay đổi hoàn toàn cuộc sống mẹ con xảy ra vào cuối năm tôi học lớp mười một. Vẫn trường lớp, thầy cô giáo cũ nay xuất hiện thêm nhiều đoàn thể và ban lãnh đạo nhà trường với cách ăn mặc, sinh hoạt lạ mắt hơn. Chúng tôi ca hát, họp hội và lao động ngoài trời nhiều hơn trong lớp học. Vỡ hụi, rồi trại chăn nuôi trở nên hoang tàn, mẹ tôi như người mất trí. Suốt ngày bà lẩn quẩn trong vườn, lúc khóc lúc cười, lúc thì bà lẩm bẩm nói chuyện một mình. Vài tháng sau, chị Bình dẫn hai đứa con nhỏ về ở chung, chồng đi học tập cải tạo nói một tháng đến nay đã hơn một năm vẫn biệt tăm. Hai mẹ con lại ôm nhau khóc nức nở, và bà bắt đầu chửi rủa chính quyền mới không tiếc lời. 

            Tôi bắt đầu niên học mới cùng với một số thầy cô giáo mới đổi về trường. Học sinh càng lúc càng vắng dần, thầy cô giáo cũ cũng bỏ dạy, chạy vại nghề khác nuôi gia đình, nuôi con. Nhà trường phải dồn lớp, giáo viên dạy đôn cấp, chéo môn nhằm giải quyết tình trạng khẩn cấp trên. Tôi không còn chạy rong góp hụi nữa mà thay vào, chạy theo đám con buôn mua bán đồ nhu yếu phẩm. Từ đường cát, bột ngọt, sữa hộp, thuốc tây... đến cả thịt heo bán theo chế độ, tất cả đều trở thành thị trường chợ đen, chuyền tay bán sổ. Thời gian nầy tôi gặp Long. Huyện lỵ nhỏ như bàn tay, con buôn lạ được nhận diện ra ngay. Long chạy thuốc tây từ thành phố, tìm bỏ mối tỉnh nhỏ. Không phải chuyên nghiệp, Long cũng như tôi, năm thứ hai khoa dược, bỏ học đi buôn. Tôi và Long dễ thân nhau ngay. Trong thời gian ngắn, tôi trở thành “mối” chính của anh. Công việc làm ăn nhanh chóng phát triển, tôi bỏ dần những việc linh tinh khác, tập trung vào phân phối thuốc tây cho Long đến những con buôn nhỏ. Thuốc càng khan hiếm, chúng tôi càng kiếm được nhiều tiền. Đời sống gia đình khá hơn, mẹ và chị Bình tỉnh táo lại sau cơn xáo trộn, đổi đời. 

            Chừng như tất cả công việc đối với Long như một trò chơi, càng gây cấn hiểm nguy anh càng thích thú. Kết quả và tiền bạc chỉ đóng một vai trò nhân chứng, chính quyền mà nhất là đám công an là đối tượng chính của anh trong trò chơi nầy. Tôi biết theo anh là bén với lửa, nhưng hề gì với đời sống ngột ngạt, dãy đầy giả dối chung quanh. Được mánh, anh ăn mừng cười giỡn đã đành, đằng nầy cả khi lổ vốn anh cũng cười giỡn như không. Có lần thấy tôi vừa tiếc vừa bực tức, anh nói:

         - Được làm vua thua làm lại, mắc gì buồn bực cho lổ thêm bản thân.

     Tôi chịu anh, lắc đầu cười trừ cho khỏi lổ thêm. Gia đình tôi ai cũng mến Long, dù mỗi người nhìn anh ở một khía cạnh khác nhau. 

     Mẹ tôi:

        - Long nó chạy mánh, buôn bán chợ trời nhưng có ăn học, trí thức. Không giống người khác, nó khẳng khái, thông minh, “đi với bụt thì mặc aó cà sa còn đi với ma thì mặc áo giấy”. Gia đình nó gia giáo, nề nếp vì hoàn cảnh mà con cái ra nông nổi nầy... Rồi bà thở dài, như chợt nói đến hoàn cảnh của chính mình.

    Chị Bình triết lý hơn:

        - Long không chỉ buôn bán để sống, mà đùa cợt thách thức với hoàn cảnh, với định mệnh cuộc đời. Đúng hơn, Long buôn thời, buôn thế.

    Trinh thì khác:

        - Anh Long thông minh, nghệ sĩ. Ảnh luôn nhìn con người bằng tấm lòng của mình, không bằng con mắt “trần trụi”. Thời buổi nầy được người như anh Long, không phải dễ.

            Phong trào vượt biên nổi lên rầm rộ. Từng đợt người liều chết ra đi. Chính quyền bối rối, đám địa phương được dịp “nước đục thả câu”, nạn hối lộ tràn ngập. Có “cây” là có cơ hội đi. Rồi những bức thư gởi về từ những phương trời tự do, xa lạ. Vượt biên trở thành ước vọng, đề tài ở khắp mọi nơi từ đầu đường góc phố, đến mọi sinh hoạt trong mỗi gia đình. Long nhiều lần nửa đùa nửa thật:

          - Được xuống tàu ra biển với Nhạn có chết cũng cam lòng, đừng nói chi tới được bến bờ tự do...

          - Anh cứ mở miệng là nói bậy. Hơn nữa, chết với đứa con gái đen đúa, xấu xí như em, anh khó đầu thai lắm nghen.

        Rồi tôi nhìn quanh, thấp giọng: 

          - Mà anh nói thiệt hông vậy?

          - Anh nói thiệt. Gia đình đồng ý, khuyến khích anh nếu có cơ hội thì cứ ra đi. Anh đã liên lạc được vài chỗ tin cậy, chỉ chờ ý kiến Nhạn và bác. Nếu đời anh được chết chung với em, anh không cần đầu thai nữa.

          - Ai nói thì nhớ nghen.

          - Còn chị Bình và Trinh thì sao?

          - Chị Bình thì nhất định ở lại chờ anh Nhân trở về. Trinh thì ởm ờ, không dứt khoát. Mẹ em thì từ ngày giải phóng đến nay bao nhiêu của cải dành dụm đều tiêu tán cả. Bây giờ thì thân ai nấy lo... Vã lại, đời mẹ khổ nhiều rồi, tụi em không muốn phiền lụy đến bà nữa.

          - Anh hiểu. 

            Không nói ra, nhưng ai cũng hiểu mối quan hệ ngày càng thắm thiết giữa tôi và Long. Mà cả anh và tôi cũng vậy. Chưa bao giờ anh ngõ lời nói yêu tôi, ngược lại, tôi vẫn ngượng ngùng mỗi lần hai đứa đề cập đến tình cảm. Anh chỉ nói bóng gió bâng quơ, còn tôi thì cũng nửa đùa nửa thật. Vậy mà đầm ấm thiết tha biết chừng nào. Vắng anh một ngày là tôi xót xa thương nhớ. Vắng tôi một ngày là anh ngơ ngẩn không yên. Một lần anh bất ngờ hôn lên môi, tôi đón nhận ngây ngất và nhũn người trong vòng tay anh khép chặc. Tôi biết mình đã thuộc về anh, hai đứa đã thuộc về nhau mất rồi.

      Có lần mẹ tôi nhìn ba chị em, nói nhỏ:

        - Sinh ra các con, mẹ muốn nhìn hạnh phúc của từng đứa. Không làm được điều nầy, mẹ ân hận vô cùng... Khả năng mẹ có hạn, Bình thì chồng con ở đây, Trinh còn nhỏ, mẹ chỉ lo được cho Nhạn. Hơn nữa, Long là người đứng đắn, biết lo, đi với nó mẹ yên lòng vô cùng. Nói rõ ý mẹ là lo cho Nhạn ra đi cùng với thằng Long. Các con nghĩ sao cho mẹ biết.

      Chị Bình:

       - Mẹ tính rất phải. Có điều nên làm lễ thành hôn cho Nhạn và Long trước khi hai đứa ra đi thì tốt hơn.

     Trinh gật đầu:

          - Con cũng đồng ý với mẹ và chị Bình.

          - Mẹ đã nghĩ đến chuyện nầy. Nhưng tính lại, đợi khi hai đứa đến nơi đến chốn, ổn định đời sống đâu đó rồi làm đám cưới tốt đẹp hơn. Nhạn, con thấy thế nào cho gia đình biết.

        Tôi xúc động vô cùng trước sự lo lắng của mọi người, run giọng:

          - Con xin hứa sẽ làm đúng theo lời mẹ dặn...

            Với khả năng quen biết, chỉ một thời gian ngắn Long tìm được chuyến đi cho hai đứa. Mọi việc trôi chảy, lại chỗ tin cậy, ngày giờ cho chuyến đi được ấn định không xa. Từ những ngày tháng nầy, tôi tự coi mình như đã thuộc về Long. Tôi dọn mình, dọn lòng sẵn sàng trao cho anh tất cả tâm hồn và thể xác mình. Nhưng Long luôn thì thầm, ước vọng:

          - Anh muốn đêm động phòng của chúng mình phải ở trên phần đất tự do. Nơi mà nhân phẩm con người được tôn trọng, nơi mà nếu may mắn thành tựu tình yêu chúng ta hình thành, phải là mầm sống của tình người và yêu thương. Không phải là nơi của lọc lừa, áp bức và nhân phẩm chỉ là trò đùa của xã hội.

 

Đêm hôm đó, tôi xuống ghe nhỏ theo một nhóm khác gồm nhiều đàn bà và trẻ con. Còn anh cùng một số thanh niên, chủ tàu, thợ máy đi theo một hướng khác để tránh sự dòm ngó của đám công an và chính quyền địa phương. Tất cả sẽ gặp nhau ở ghe lớn đã neo sẵn ngoài khơi. Kế hoạch tỉ mỉ, chu đáo không để trong tôi và anh chút lo lắng nào. Tôi nhìn anh, cười thật tươi rồi khẻ hẹn gặp lại nhau ngày mai trên chuyến tàu ra khơi, về miền đất hứa.

            Tôi lên ghe lớn trời còn tờ mờ sương. Trên ghe lóc nhóc, đầy cứng người. Cho đến lúc tàu kéo neo, bắt đầu tốc độ chạy, tôi vẫn chưa nhận dạng được anh. Tôi đinh chắc là anh ở phía sau hầm máy hoặc trên buồng lái, nên cứ yên tâm ngồi gục gật chờ khi trời sáng. Mãi đến lúc người ta chuyển cho tôi vắt cơm trưa, tôi mới biết chắc là anh không có trên chuyến tàu định mệnh nầy. Tôi nhũn người, cắn chặc môi để khỏi bật ra tiếng thét não lòng. Tôi đang làm gì ở đây, không có anh tôi chỉ là cái bềnh bồng trên chuyến tàu ly biệt. Nước mắt tuôn tràn, tôi bật ngồi dậy, muốn chạy lên trước mũi ghe và nhảy thẳng xuống lòng biển, để được trôi dạt trở về nơi có anh. Lườn ghe chật, nhiều tiếng càu nhàu, la hét khi chiếc tàu chồng chềnh trước động tác điên rồ của tôi. Vài tiếng khóc thét của trẻ con kéo tôi trở về hoàn cảnh thực tại. Định mệnh đang bủa chung quanh tôi với biết bao nhiêu sinh mạng con người. Long ơi, bây giờ anh ở đâu, làm gì, có chết cả tấm lòng như em. Biển cả mênh mông, dòng đời cuộn chảy, thân phận chúng ta nhỏ bé, vô vọng biết chừng nào. Và, tôi đã khóc, khóc đến cạn khô nước mắt, nhưng sâu thẵm trong lòng từ đây sẽ chẳng bao giờ ráo lệ… Từng khuôn mặt hiện ra chập chờn trước mắt tôi. Khuôn mặt tần tảo, chịu đựng của mẹ, khuôn mặt mõi mòn của chị Bình, khuôn mặt đẹp hờ hững của Trinh và luôn luôn ở lại trong tôi là khuôn mặt bướng bỉnh, cợt đời của Long. Cuối cùng, tôi thiếp đi trong từng cơn mộng dữ không ngừng...

 

2.

 

           Thời gian chảy, đá mòn sông núi lở, sao lòng chẳng chút đổi thay. Cuộc sống mới, xứ người mở rộng trước mặt tôi biết bao choáng ngập của tự do và thử thách. Tôi trở lại với nhịp sống của con Nhạn ngày nào, chỉ khác là trên một vùng đất thật lạnh lùng, xa lạ. Mỗi nhịp cánh tôi bay là mỗi một lựa chọn nát lòng cho thân phận làm con gái. Có được, có không, có mất mát nhưng cũng có tràn ngập những vùng trời đầy nhịp sống mới. Tôi vẫn là tôi trước hết cho cuộc sống chính mình và sau mới là những tình cảm phủ mờ của quá khứ. Con người cúi đầu, bó tay với quá khứ, nhưng vẫn sống cho hiện tại và với hy vọng thay đổi được hình ảnh của tương lai. Nếu không, có lẽ, tôi đã tự hủy đời mình từ bước chân bờ đất xa lạ, hững hờ; từ những bức thư đưa tin bao nhiêu thay đổi xé nát lòng. Định cư ở  Mỹ được vài năm, mẹ tôi mất. Sau sự xúc động vỡ bờ, bơ vơ tôi chợt thấy chút nhẹ lòng. Thôi thì một đời khốn khổ cưu mang, nay mẹ đã thực sự trở về với cõi yên bình vĩnh cữu. Dòng đời mãi mãi lạnh lùng trôi mặc cho bao thay đổi, dâu bể chung quanh. Dưng không cũng một kiếp người. Những tháng năm sau đó mới thật sự là những thử thách, những đối diện với định mệnh khắc nghiệt của lòng. Thư của Long cũng thưa dần theo thời gian và trong những giòng chữ chừng như anh có điều gì vướng mắc, ngậm ngùi. Tôi hiểu thế nào là xa mặt cách lòng, nhưng lòng tôi một dạ thủy chung nào ngại gì khoảng xa cách  không gian. Chịu phong thổ, hình tôi gởi về đã thấy thắm nhiều da thịt. Nhiều khuôn mặt, tấm tình loáng thoáng chung quanh, dành cho tình cảm tôi những cuộc tình hứa hẹn. Không hiểu sao, miệng tôi mĩm cười mà lòng tôi vẫn cứ nguội lạnh dững dưng. Tôi biết mình vẫn một lòng chờ đợi anh. Cho đến hôm nhận được bức thư dài, lượm thượm với lời lẽ ngập ngừng báo tôi hay anh và Trinh chuẩn bị làm lễ thành hôn. Tôi không nhớ trong thư Long đã viết gì, mà chỉ còn lại trong tôi là nỗi nghẹn ngào, trống rỗng mênh mông. Rồi tiếp theo là thư Trinh và cả chị Bình, tất cả là những chấp vá cho biết bao nguyên nhân đưa đến cảnh ngộ trái lòng nầy… Mọi nghịch cảnh dù có to lớn đến đâu, cũng chỉ là hạt bụi thổi bám qua cây lá cuộc đời. Tôi vẫn sống và đám cưới của anh và Trinh vẫn tổ chức long trọng với quà mừng của tôi cùng lời chúc trăm năm hạnh phúc. Bao năm qua tôi đã cuộn lòng trong chăn, nay ra khỏi kén, lại tiếp tục nhả cho đời bao sợi tơ lòng chua xót, đắng cay. Tơ càng óng ả, đời sống tôi càng lặng lẽ trôi qua.

            - Con người có thể trân trọng, tiếc thương quá khứ nhưng không ai, Nhạn à, sống mãi cho quá khứ đời mình.

        Tuấn, người bạn cùng chỗ làm, thường nhắc nhở mỗi khi anh nghe tiếng thở dài khe khẻ của tôi. Phải, đơn giản như vậy ai mà không biết. Nhưng quái ác thay, cái định mệnh của người nầy không là cuộc sống của người kia. Nên ngày tháng trôi qua tôi lặng lẽ đi bên cạnh cuộc chơi nầy. Tôi đành cúi đầu chịu mình ngu dại, thua thiệt chớ không thể nào làm khác hơn. 

            - Nhạn hỏi thiệt, anh Tuấn có yêu lần nào chưa.

            - Nhạn làm như anh là gỗ đá gì đây. Có chớ, yêu lăn lóc, yêu trằn trọc, cứ như nếu không có ngày mai trời sẽ không sáng.

            - Ghê vậy. Còn bây giờ thì sao, Nhạn thấy anh cứ hết cô nầy lại tiếp cô khác.

            - Vậy là Nhạn không biết gì hết. Người đàn ông bao giờ cũng yêu mỗi lần một người và mỗi người đều hết trọn trái tim, nhưng chỉ nửa cái đầu thôi!   

         Tuấn nói xong, nhìn tôi cười cười, đắc ý. Tôi trả đủa ngay:

            - Hèn chi người ta nói đàn ông chỉ xài phân nửa khối óc còn đàn bà mới sữ dụng trọn vẹn não bộ của mình.

         Nói chỉ là để nói, rồi đâu cũng vào đó. Tuấn vẫn sống cuộc sống dễ dàng, buông thả còn tôi vẫn chôn mình trong tu viện cô đơn của chính mình. Lẽ nào tôi sẽ chẳng bao giờ tìm thấy được cánh cửa cứu rổi cho mình trong cuộc sống đầy bất trắc, rủi may nầy? Mà nhất là tình yêu, với tôi, như chim phải ná sợ cành cây cong. Thời gian chừng như phản bội lại mọi ước mơ và bao nỗi đợi chờ. Quá khứ thì mù tăm, bến đời thì dịu vợi chỉ có Tuấn và tôi thì thật gần, một tầm tay với chừng thôi. Anh bên tôi như từng tiếng thở dài, tôi bên anh như một đường thẳng song song. Khác với tôi, tình yêu của Tuấn luôn gắn liền cuộc sống hiện tại và cho hiện tại. Với tôi, tình yêu vẫn là một đường thẳng song song với cuộc sống hiện tại, vì một sân ga biệt ngàn dĩ vãng. Chừng như trái tim người đàn ông luôn đập theo nhịp tới, không phải nhịp lùi. Sự hiện diện của anh đã giúp tôi mở ra nhiều hướng của tình cảm và ý niệm của lòng vị tha. Tôi lớn lên, trưởng thành như trái chín hoang vu, trải mình trong nắng gió cuộc đời. Nếu Long là giòng sông thời mới lớn, thì Tuấn là nhịp cầu bắt qua đời tôi những tháng ngày với bao thác ghềnh của nghịch cảnh. Nhiều lúc tôi muốn buông thả, nổi loạn thì Tuấn dìu tôi lại, nhắc nhở tôi giá trị của tình yêu và mơ ước. Thế là tôi và anh sống êm ả, lặng lẽ bên nhau như đôi bờ của một dòng sông đời trôi xuôi không bờ bến.

 

3.

          

Phi trường Tân Sơn Nhất, trời Sài-gòn nắng như đổ lửa. Đầu óc tôi bềnh bồng sau hơn hai mươi mấy giờ trên những chuyến bay. Hai tai tôi ù ù những tiếng động rền vang của bao thứ âm thanh hổn loạn và mắt như hoa lên những người và người. Tiếng gọi ơi ới vọng lại từ mọi phía, không biết đã bao năm rồi tôi mới được sống lại với ngôn ngữ mẹ đẻ vây bủa cùng khắp chung quanh. Tôi đưa mắt nhìn dáo dác đám đông, mong nhận ra khuôn mặt nào đó quen thuộc. 

              - Chị Nhạn... Chị Nhạn. Em, Trinh nè chị !

           Tôi quay đầu lại về hướng tiếng kêu. Trước mặt tôi là Trinh, người đàn bà trẻ tóc uốn cao, nụ cười vẫn còn phảng phất nét con gái quen thuộc, thân thương. Trinh ôm chặc lấy tôi nức nở và tôi sau bao năm tháng lưu lạc cũng mặc cho giòng lệ tuôn tràn. Chỉ trong khoẳng khắc niềm tủi hận chợt tan biến, còn lại là những thương cảm dạt dào tràn ngập trong tôi. 

             Sau cơn xúc động, Trinh nhanh nhẹn dành chiếc xách tay và kéo chiếc xe đẩy đầy hành lý ra khỏi cửa phi trường. Tôi cũng trở về thực tế vớI đám đông đón ngườI dầy đặc chung quanh. Khó mà tưởng tượng được tiếng người, tiếng kèn, tiếng động cơ xe cộ và mùi không khí nặng nề phủ vây. Tôi cố định thần để bắt giữ lấy hình ảnh chung quanh nhưng đầu óc cứ vẫn căng thẳng, đảo chao. Trinh không còn là đứa con gái yếu đuối, rề rà ngày xưa mà rắn chắc và lanh lợi hơn nhiều. Tay đẩy tay cầm, Trinh rẽ đám đông kéo tôi đi về phiá bải đậu xe. Mồ hôi tôi rịn ướt cả người. Trinh vẩy tay, trờ ngừng trước mặt tôi chiếc xe van màu trắng. Bước xuống xe là ngườI đàn ông đứng tuổi, da ngâm đen với nụ cười khó nhọc trên môi.

                 -  Chị Nhạn, mừng chị mới về...

                 -  Anh Long nầy, giúp em một tay để đồ lên xe. Xớ rớ đó làm gì, về dưới nhà rồi tha hồ mà nói chuyện.

               Tôi lặng lẽ nhìn người đàn ông dáng lom khom, tóc lấm tấm bạc đang hăm hở chất đồ lên xe. Long của tôi ngày xưa đây sao? Người đàn ông đã đem lại cho tôi bao mơ ước của một thời con gái. Không biết sao lòng tôi trong giây phút nầy thật hờ hững, xa lạ hay cuộc đời trớ trêu đã biến con người thành những vỡ tuồng khóc cười dở dang. Long bướng bỉnh, khinh bạc ngày nào đã mất, bây giờ chỉ còn là một người đàn ông lam lũ, rụt rè, tầm thường như bao nhiêu ngườI đàn ông tầm thường khác. Tôi không biết phải nói gì, cư xử thế nào cho phải nên chỉ đành im lặng, cúi đầu chào anh. Thời gian làm con người lớn hơn cũng khiến người ta nhỏ bé lại. Đôi mắt tôi vẫn ngời sáng theo bao nghịch cảnh đổi dời, mà sao đôi mắt của Long đã đục mờ theo cơm áo. Tôi xót xa cho quá khứ, cho chính mình bao nhiêu thì càng thương xót cho Long, cho Trinh bấy nhiêu. Dòng sông quê hương tôi một thời con gái vẫn cuồn cuộn chảy nhưng chừng như đã cuốn trôi theo biết bao hình ảnh của ngày xưa. Sao người đi lại mang theo mãi bao bóng hình của dĩ vãng, mà người ở lại dễ chừng đã phôi phai những kỷ niệm ngày nào? Cuộc sống xã hội thật sự chôn vùi, thật sự đắp mộ bao cuộc tình, bao mơ ước của đời người thoáng hoặc. Nước mắt tôi ơi, sao cứ trôi ngược thắm sâu vào lòng những bờ vực của hôm qua. Thôi thì cảm ơn thay một lần gặp lại, tôi chợt thấy tim mình thoáng đập những nhịp nhẹ hôm nay, mông lung một nỗi yêu đời bất chợt. Nắm chặc tay Trinh, tay Long trong đôi bàn tay tôi mở rộng niềm xúc cảm vô bờ. 

               Nhạn ơi, một nơi nào đó, cuộc sống và tình yêu có thật đang chờ. Tôi ơi, hãy soi rõ khuôn mặt mình, tấm lòng mình với dòng sông đời đang cuộn chảy. Đưa mắt nhìn những dãy nhà, những cánh đồng xanh lướt qua khung cửa xe, tôi như trong giấc mơ đời mình có thật. Sao đang trên quê hương mà lòng tôi cứ thương tưởng một vùng quê xa lắt nghìn trùng? Tình yêu tôi thiết tha một thời con gái sao chợt dưng tan biến, vọng lại những thinh không trong đáy giếng sâu hun hút, buồn tênh… 

 

Durham, North Carolina

Nguyễn Vĩnh Long

Nếu Có Kiếp Sau 

Nếu có kiếp sau,

                        chắc gì ta gặp lại

Thôi thì em sống trọn cả đời này

Tiếc chi lời tình tự gió rừng cây

Mùa thay lá cho chồi non bén nụ

 

Đừng cứ thở những ngày meo móc cũ

Cả đời sau chẳng biết nhớ nhung gì

Để đêm nằm cứ ngỡ nghĩa tình si

Là giấc ngủ nghèo nàn không mộng mị

 

Nếu có kiếp sau,

                        em nhớ đừng hoang phí

Đừng nếm chi chén cháo cầu Nại Hà   (*)

Đừng tưởng quên là hết những chia xa

Đừng tưởng bỏ là được nhiều hơn trước

 

Đừng tưởng vui là những gì có được

Hạnh phúc đầy là những lúc cho đi

Gió thương tay không phải bởi xuân thì

Kho báu vật là mùi hương để lại

 

Nếu có kiếp sau,

                        là tình yêu tồn tại

Trong bao la dựng mãi những kiếp người

Tôi xin làm hạt bụi bám viền môi

Theo em những kiếp đời tôi không có…

 

Nguyễn Vĩnh Long

 

(*) Người ta khi chết phải qua cầu Nại Hà, nơi ăn bát cháo để quên đi kiếp trước.

Chân Dung Người Mẹ

 

-Viết nhân Mother’s Day 2019-

​“… Con thuyền chật cứng lúc bắt đầu ra Bãi Giá. Bây giờ chắc không ai chợt thấy lòng thuyền bỗng rộng hơn. Mọi người đã đói lã, không còn nghĩ gì ngoài cái ăn. Sau 39 ngày lênh đênh trên biển, hơn một nửa đã vắng mặt vì bịnh và vì đói khát. Xác họ đã làm mồi cho cá mập. Cơn đói khát và mất người thân khiến nhiều người phát điên. Chị Út V. ôm cứng con vào lòng bằng tất cả sức lực còn lại của mình. Con bé mới tuổi rưỡi cũng đang thoi thóp. Từ hai hôm nay những người trên thuyền chỉ muốn ăn thịt con bé. Họ nói dầu gì thì con bé không thể sống được. Chị Út V. biết chị không thể nào chống trả hay kêu gọi nhân tính của họ, những người tìm mọi cách để sống còn. Nửa đêm chị Út V. lần mò ra trước mủi thuyền, nhẹ nhàng thả con trên lượn sóng biển Đông.

Chị thấy từng đoạn ruột của mình đang rỉ máu trên những ngọn sóng vô tình”.  (Cắt Ruột Thả Xuống Biển Đông – Trần Bang Thạch)

Tôi cố gắng giữ giọng đọc của mình đến dòng chữ cuối cùng. Không dám quay qua, nhưng biết bà xã đang xúc động và mắt tôi cũng lưng tròng. Còn bao nhiêu câu chuyện nữa về người mẹ. Hoàn cảnh chỉ là một điển hình, con thuyền trên biển chỉ là một nơi chốn. Còn biết bao hằng triệu triệu hoàn cảnh và nơi chốn khác trên cùng khắp đời này để hiển vinh trái tim người mẹ.

            Năm nay Mother’s Day nhằm ngày cuối tuần, Chúa nhật 12 tháng 5. Thông thường mà nói, Ngày Của Mẹ chúng ta nhắc đến, nhớ ơn đến và thương tưởng đến mẹ của mình – cũng như biểu tượng về Mẹ. Lần này xin làm một chút khác hơn, tôi viết về một “người mẹ” đang có mặt bên cạnh mình, người mẹ của các con tôi... Câu chuyện bắt đầu từ một đêm tháng 5, 1981:

 

            Đêm của biển thật sâu thẵm, thật hãi hùng trong cơn bão nổi. Sóng bủa vây, nối tiếp và không ngừng đẩy chiếc thuyền bé nhỏ, mong manh nghiêng xuôi về hướng gió. Mưa biển đêm như giận dữ, trút những ngọn giáo thép bằng nước đâm thẳng vào ba mươi sáu sinh mạng con người trên mảnh gỗ (gọi là thuyền) giữa biển trời vô tận. Chừng như tôi nghe từng hơi thở vô vọng của mọi người trên con thuyền, trong sự chờ đợi một đợt sóng dậy cuối cùng. Không hiểu sao tôi cảm thấy thật bình thản và tỉnh táo đến như vậy. Tôi thật sự không nhìn thấy mỗi một con người trên thuyền đang làm gì, hay đã say sóng nằm ngất lịm không ý thức chung quanh. Nhưng lờ mờ trong biển đêm bão nổi, tôi nhìn thấy vợ mình đang cố hết sức nối chiếc khăn rằn với vài chiếc áo và dùng nó buột chặt đứa con trai vào sát lồng ngực của mình (đứa con trai tôi lúc đó vừa 6 tháng tuổi). Cả hai mẹ con trở thành một khối, chờ đợi…

            Ba mươi tám năm trôi qua, tôi chưa lần nhắc lại và cũng không lần dám hỏi bà xã về hành động đêm năm đó. Đứa bé ngày xưa đã trở thành người đàn ông 39 tuổi đời. “Nó già đầu rồi, em không thể cứ theo cưu mang nó hoài được”, tôi thường nói với bà xã. Nhưng hình như lần nào bà ấy cũng cười, “biết rồi, khổ quá nói mãi”, mà chẳng bao giờ nghe theo. Cuộc hôn nhân đầu của Kha, Nguyễn Đình Kha tên đứa con trai tôi, đổ vỡ sau chưa đầy ba năm chung sống. Cũng may là cả hai chưa có con, nên mọi chuyện ly dị không thêm nông nổi. Điều đáng nói là, người đau khổ nhất, mất ăn mất ngủ nhiều nhất cũng chính là bà xã. Vợ đầu của Kha là một y tá người Lào, sinh ra ở Paris, Pháp và quen nhau ở đại học tại Mỹ… Đứa con trai cố gắng cắt nghĩa sự đổ vỡ cho mẹ thế nào đi nữa, bà ấy vẫn “nhất định” không chịu hiểu. Đến nổi hai mẹ con không nói chuyện với nhau cả mấy tuần lễ!  

            Rồi mọi chuyện cũng qua đi, hòa bình tái lập, bà xã tiếp tục nấu phở gọi con về ăn và nhắn đem quần áo dơ của nó về mỗi cuối tuần để giặt. Những năm tháng đứa con trai làm ở nước ngoài, Thái Lan và Myanmar, bà ấy đóng góp rất nhiều cho công ty điện thoại viễn liên AT&T. Và “life goes on”, như lời bài hát:

“… Life goes on while you're miles away
I need you
Time rolls on as night steals the day
There's nothing I can do

You heal up my wounds
I tasted your tears
You spilled out your heart
So I let out my fears

But one fear I kept to myself
How I prayed that you'd love no one else
Like you're saying you love me…”  (*)

Năm ngoái, thằng con về báo với mẹ, “con đang chung sống với người bạn gái mới”. Cũng là một y tá, người Mễ gốc Tây Ban Nha, sinh ra và lớn lên ở Mỹ. Bà xã nghe cười vui rồi chợt thoáng buồn. Tôi hiểu tại sao. Ước mơ của bà xã là, vợ hay chồng của con mình phải là người Việt hay ít nhất là người Á châu. “Gần gũi tập quán, chia sẻ món ăn là nhịp cầu gần nhất nối liền với tình cảm”, ngày trước ao ước và bây giờ bà ấy thở dài… Mọi việc cũng trôi qua, sau khi gặp mặt con dâu mới, “con thương ai thì mẹ cũng yêu người đó!”, bà xã nói với đứa con trai. Vai trò người mẹ ngày nay không phải dễ dàng gì so với thời kỳ chinh chiến, gian khổ những năm tháng ngày qua. Sống trên xứ lạ quê người, ngôn ngữ là vật cản thứ nhất, phong tục tập quán, láng giềng hàng xóm, chưa kể người gia đình quyến thuộc chung quanh… lại là những vấn đề trong trái tim của người mẹ. “Nhập gia tùy tục”, người mẹ phải lần mò vừa học, vừa sống, vừa “nhập gia” để phải vừa nuôi dưỡng và dạy dỗ con mình!

Đã hơn một năm sống chung, “chừng nào hai đứa làm đám cưới?”, người me hỏi con trai. “Lần này không cần gấp đâu mẹ”, nó thường trả lời cho qua “trạm”. Bà ấy lại thở dài và thỉnh thoảng hối thúc. Cô con gái út của tôi cũng không khá gì hơn. Năm nay đã 36 tuổi đời vẫn sống qua lại với bạn trai người Mỹ mấy năm rồi, mà chưa lần mặc “áo cưới”. Mẹ gặn hỏi, cô nhỏ cười trừ lần khân “Vội chi mẹ. Rồi lại ly dị như anh hai, rắc rối, đau buồn và tổn thương vật chất lẫn tình cảm”. Bà mẹ nhìn con gái lắc đầu, không hiểu. Tất cả thời đại đang từng phút từng giây trôi qua với những đổi thay mà trái tim người mẹ vẫn đập theo từng nhịp riêng của mình.

Những nhịp đập riêng hay chung với cuộc sống, trái tim người mẹ vẫn chỉ có một nhiệm vụ, đẩy mọi dòng máu của mình luân lưu cho mỗi bước chân đi và hơi thở của con trong bất cứ không gian và thời gian nào có thể…

Đây chỉ là phớt họa chân dung một người mẹ, tầm thường đơn giản mà các bạn có thể bắt gặp hằng ngày, ở bất cứ nơi nào trong mọi hướng mắt nhìn. Hằng triệu, hằng tỷ người phụ nữ trên cùng khắp toàn cầu đã, đang và sẽ trở thành người mẹ.

 

Hoàn cảnh địa lý, sắc màu dân tộc, phong tục tập quán hay trong mọi thời đai khoa học kỹ thuật hiện đại mai này, chân dung và trái tim của người Mẹ sẽ mãi mãi là điều kỳ bí và không thể thiếu trong sự tồn vong của nhân loại.

Tôi xin khép lại bài viết bằng câu nói dưới đây của nhà biên kịch người Anh Bernard Shaw trong Ngày Của Mẹ 2019:   

NVL

(*) "Life Goes On", sáng tác và trình bày bởi ban nhạc Poison, Hoa kỳ.

Người chạy xe ôm Bến Ninh Kiều

            Khoảng gần ba giờ chiều tôi rời khách sạn Ninh Kiều, cuối đường Hai Bà Trưng, nhìn ra sông Cần Thơ. Trời hanh nóng và đứng gió. Giấc ngủ trưa dài sau bữa ăn trễ, khiến tôi tỉnh táo và phấn chấn hẳn lên. Hãy còn sớm, hai giờ nữa tôi mới có hẹn với bà xã và mấy đứa cháu ở nhà hàng Hoa Sứ. Thời gian đủ để tôi dạo chơi và ghé chợ Cần Thơ tìm mua một vài thứ đồ lưu niệm. Bà xã thì trưa nay đã theo mấy đứa cháu gái đi “làm đẹp”: làm tóc gội đầu, móng tay và cả massage. Nghe nói những loại dịch vụ này gần đây rất phổ biến và giá cả rất “mềm”, các bà tha hồ mà chăm sóc mặt mày, tóc da. Vài cơn gió nhẹ mang theo hơi nước từ dòng sông thổi dọc theo công viên thật dễ chịu. Bến Ninh Kiều ngày nay thật khang trang và đẹp. Đi dọc mé sông, từ đây tôi có thể nhìn thấy chiếc cầu treo Cần Thơ sừng sững, hiện đại. Phía trước khách sạn là nhà hàng nổi và không xa là chiếc du thuyền nhà hàng lộng lẫy về đêm. Du khách vừa ăn tối vừa dạo cảnh quanh sông và có cả chương trình văn nghệ thật đặc sắc của miền Tây sông nước. Bến nước Ninh Kiều còn có một đội ngũ đò máy cho khách du lịch thăm viếng chợ nổi Cái Răng, những khu sinh thái nhà vườn và các cù lao, cồn vùng lân cận... Trong tiếng động của nhịp sống chung quanh tôi thấy thật gần gũi, quen thuộc nhưng cũng có chút gì đó ngập ngừng, bỡ ngỡ. Trên đường ồn ào xe máy, dưới sông rộn ràng ghe đò tạo khu công viên bến Ninh Kiều mang hình ảnh đặc trưng của một thành phố đô thị miền Tây.

Loáng thoáng đã gần bốn mươi năm, tôi trở lại nơi này. Trưa ngày mùng bốn Tết năm 1978 là lần đầu tiên tôi ghé Tây đô. Mùi hương khói tỏa, màu vàng của những chậu cúc và mai vàng vẫn còn cùng khắp những con đường. Bến đò Ninh Kiều thưa thớt, trống vắng vào mấy ngày mùng. Không khí Tết tuy trầm mặc nhưng vẫn phảng phất đâu đó cuộc sống đời thường đang trỗi dậy chung quanh. Tìm đến bến đò đi về thị xã Vị Thanh, mà tôi chưa hề biết. Địa chỉ đến của tôi chỉ là một lời dặn dò. Đúng hơn là một lời hứa tưởng chừng như vu vơ, vậy mà tôi vẫn giữ. “Làm sao để gặp lại Nguyệt?”. “Anh cứ đến bến đò Vị Thanh, Chương Thiện hỏi bất cứ ai: nhà của cô N.H. Nguyệt. Là sẽ gặp lại em thôi”. “Anh hứa sẽ đến!”. Chỉ có vậy, võn vẹn có vậy cho chuyến đi năm đó của tôi.

 

           Người con gái có đôi mắt to tròn biết nói, tên N.H. Nguyệt, tôi làm quen trên chuyến xe qua phà Mỹ Thuận. Rồi vài năm sau mới chợt nhớ và tôi đã trên chuyến đò vượt “Mười Bốn Ngàn” kinh xáng Xà-No để tới. Một đời người có bao nuối tiếc, để một lần tôi đánh vỡ chiếc bình thủy tinh thời gian không hàn gắn lại được. Để rồi đêm nằm quạnh quẽ trong nhà nghỉ bên dòng kinh xáng, tôi cuộn tròn lòng mình sâu thẵm trong đáy mắt ai một lần gặp mặt. Căn nhà có tên người con gái tôi quen đã trở thành cửa hàng thương nghiệp. Người chung quanh cho biết cả gia đình của N.H. Nguyệt đã ra đi hơn nửa năm qua. Gió đêm thổi từ dòng kinh xáng thì thầm lời cảm ơn em, cám ơn đầm sen hồ thủy tạ nằm giữa thị xã Vị Thanh cho tôi một đời thương tưởng không nguôi.

            -“Ông anh đi xe ôm hông?... Tui lấy giá thiệt hữu nghị…”

Tiếng mời hỏi quanh đây, kéo tôi trở về thực tại. Tôi quay lại, người đàn ông khắc khổ đội chiếc nón vải, cười nhe cả hàng răng cái mất cái còn. Tôi chưa kịp lắc đầu từ chối, người đàn ông nói vội:

            -“Cả ngày ế ẩm… ông anh đi một cuốc giúp tui nghen”.

Thật là khó đoán tuổi của người chạy xe ôm. Không trẻ hơn và cũng không quá già hơn tuổi tôi, dù trên khuôn mặt anh in hằn nhiều vết nắng gió bụi đường. Mấy món đồ lưu niệm để chập tối hoặc mai mua cũng còn kịp. Nhưng nhớ lời “căn dặn” nhiều lần của bà xã, “đi đâu phải bằng taxi, nhất định không được đi xe ôm. Rất nguy hiểm”. Nếu biết tôi liều mạng, không “nghe lời” chắc chắn là bà ấy sẽ giam lỏng tôi suốt chuyến đi còn lại. Nhìn ánh mắt, khuôn mặt người đàn ông chạy xe ôm, lòng tôi lại thương cảm. Thôi đành dối vợ lần này, nhưng bây giờ thì tôi chưa biết phải đi đâu? Tôi ngập ngừng, nói thật:

            -“Muốn đi giúp anh… Nhưng thiệt tình tui hổng biết đi đâu?”

            -“À… nhìn là biết ông anh là khách du lịch. Để tui chở ông anh đi vòng quanh Cần Thơ cho biết. Tui lấy rẻ 110 thôi”.

            Mắc hay rẻ tôi nào biết, chỉ gật đầu cười. Thoáng ánh vui mừng trong mắt, anh đưa tôi chiếc mũ bảo hiểm. Cũng như anh, chiếc xe không mới cũng không cũ. Người và xe cứ như hai đôi bạn dạn dày mưa nắng của thời gian.

            -“Tui chở ông anh đi đại lộ Hòa Bình, qua tòa nhà ủy ban nhân dân tỉnh, công viên Lưu Hữu Phước. Lòng vòng đường Lý Tự Trọng, Trần Hưng Đạo, Nguyễn Đình Chiểu… rồi mình qua khu dân cư Hưng Phú, nam đô thị mới của thành phố Cần Thơ… cho biết”.

            -“Dạ… Anh cứ chạy tới chỗ nào đẹp, nổi tiếng của Cần Thơ là được… Anh chạy xe ôm lâu chưa dzậy? Vợ con, gia đình anh ở đâu?”. Tôi bắt chuyện, khi chiếc xe ôm rời khỏi bến Ninh Kiều.

            -“Chạy xe ôm cũng tầm 10 năm rồi ông anh. Nhà cửa tui ở bên kia Xóm Chài. Hai vợ chồng tui có ba đứa, hai gái một trai. Tụi nó lớn hết rồi…”

Rồi anh chuyển qua giới thiệu cảnh quang hai bên đường. Thành phố Cần Thơ như khoắc lên người chiếc áo mới, vừa lộng lẫy lại vừa vừa lem nhem đến lạ lùng. Những con đường chen chúc con người, xe cộ ngột ngạt mà hầu hết là thế hệ trẻ, dưới tuổi bốn mươi. Chạy lòng vòng một lúc, khi qua khỏi công viên Lưu Hữu Phước, hướng về ty bưu điện thì trời đang nắng bỗng lất phất mưa. Anh hỏi tôi có cần áo mưa không, sẽ dừng lại. Tôi nói không cần, nhưng cảm thấy chừng như anh run nhè nhẹ và sôi bụng. Anh đang đói hoặc ăn quá ít bữa trưa? Nói anh ghé vào quán ăn nào đó dọc đường, tôi làm như mình cũng đói và tìm chút gì lót dạ. Anh liền cho xe vào con đường nhỏ (hình như là Ngô Văn Sở) có nhiều hàng quán dọc bên đường. Tôi mời anh vào ăn chung cho vui, có bạn.

 

Một dĩa cơm thịt nướng bì trứng và chén canh cải ngọt cho anh, tô bún nước lèo cho tôi. Lúc này thì không còn e ngại nữa, anh ăn thật ngon lành. Tôi nhìn anh rõ hơn, ốm cao và ngoài hàm răng chiếc còn chiếc mất, khuôn mặt anh rắn rỏi đường nét. Tóc nhiều cứng dợn cao, đôi mắt sâu dù có mờ sương gió vẫn còn đó nét sáng rạng chập chùng. Tôi nghĩ, lúc còn trẻ chắc chắn anh rất sáng sủa, đẹp trai.

            -“Rồi vợ con anh làm gì? Mấy cháu có gia đình con cái gì chưa anh?”

            -“Vợ tui trước làm phụ nấu cho nhà hàng, lương cũng khá lắm. Có lần qua phà vấp té, bể xương hông chậu, nay bả đi đướng khó khăn nên nghỉ làm”!

Bên ngoài trời đổ cơn mưa lớn…  Anh xuất thân con nhà nghèo ở Xóm Chài, năm lớp 10 phải nghỉ học đi làm phụ giúp gia đình.  Gặp chị, vừa đẹp vừa là con gái nhà buôn bán khá giả ở Phụng Hiệp. Hai người yêu nhau thắm thiết. Ba má chị ngăn cấm vì thấy anh nghèo, không tương lai. Nhưng chị quyết tâm một lòng yêu thương anh, về làm dâu Xóm Chài mặc cho gia đình quay lưng từ bỏ… Giọng anh kể ngập ngừng, khó nhọc.

            -“Tui làm mọi nghề, đụng đâu làm đó. Đến nay vẫn chưa lo cho bả được một lần ăn ngon mặc đẹp. Nói thiệt với ông anh, nhiều khi tui hổng dám về nhà nhìn mặt vợ con”.

Tôi thấy đôi mắt anh đượm buồn, sũng nước. Ly trà đá trong tay anh cũng run nhẹ. “Thấy tui làm quần quật, bả đòi đi làm nhưng cả nhà đều cản. Sợ có chuyện lần nữa, tiền đâu lo thuốc thang… Tháng trước bả nhận đan giỏ bện lục-bình tại nhà. Hổng bao nhiêu tiền nhưng cũng đở tù túng tay chân…”, mắt anh Nhân (tên anh) dù buồn nhưng tràn ngập yêu thương mỗi lần nhắc đến vợ. Không hiểu sao, tôi muốn được nắm tay và ôm anh với lòng ngưỡng mộ. Có lẽ đã lâu lắm rồi tôi mới nhìn thấy được ánh mắt, được tấm chân tình của tình yêu. Tình yêu thật đẹp và quý giá có thật, đang hiệu hữu trước mặt tôi, của người chạy xe ôm ở bến Ninh Kiều.

            -“Thằng con trai lớn làm thợ hồ chánh công trường, lương hướng rất khá. Mấy năm trước bị đá đè, gãy một chân mặt. May mà người ta thương, vẫn còn cho nó làm bảo vệ. Lương ít ỏi nhưng vẫn hơn thất nghiệp nằm nhà”.     

Sợ anh chạnh lòng nhiều hơn, tôi hỏi lãng sang chuyện khác: “mỗi ngày chạy xe ôm anh kiếm được bao nhiêu?”. “Thời taxi đầy đường, trừ xăng dầu tiền bến kiếm được sáu, bảy chục là mừng. Nhằm bữa ế ẩm, chạy xe không còn lỗ cả tiền xăng…”, anh cho biết. Lúc trước anh còn ráng chạy thêm ban đêm, nhưng mấy tháng trở lại đây hổng dám nữa vì nạn cướp bóc hoành hành. Nhiều bạn chạy xe ôm ban đêm, mất tiền mất xe và đôi khi mất cả luôn mạng. Rồi anh tâm sự tiếp về hoàn cảnh gia đình mình:

            -“Đứa con gái kế làm công nhân ở Bình Dương, đủ ăn đủ mặc. Lâu lâu cũng gửi dzề vợ chồng tụi chút đỉnh. Còn con út tui thì lấy chồng xa… Được cái, mấy đứa nó thương vợ chồng tui lắm…”  

Bên ngoài trời cũng bớt mưa, tôi hỏi anh thức ăn ở đây có ngon không? Anh cười, “cơm chỗ này là nhứt rồi”! Tôi gọi thêm 3 phần cơm để anh mang về. Anh ngại ngùng từ chối, rồi cũng nhận với lời lúng túng cám ơn. 

  

            -“Chắc ông anh là Việt kiều phải hông?”

            -“Hông… tui là dân buôn bán trà ở Đà Lạt”, tôi đành phải nói dối anh cho qua chuyện. Điện thoại di động của tôi rung liên hồi trong túi. Chắc bà xã đang gọi, gần năm giờ rồi. Tôi nói anh Nhân chở tôi trở lại bến Ninh Kiều. Trên đường về anh trầm ngâm và ít nói hơn. Sau cơn mưa không khí những đường phố Cần Thơ trở nên dễ chịu và thơm mùi đất mới. Có lẽ cũng như tôi, anh đang cố sắp xếp lại câu chuyện anh và tôi gặp gỡ, để về kể lại cho vợ con nghe. Rồi chừng như tôi cũng ngồi im lặng phía sau không biết nói gì thêm. Chiếc xe ôm chạy rong ruổi trên những mặt đường, còn tôi và anh đang bên nhau chạy mênh mông trên những mặt đời nghiệt ngã.   

Tôi nhắc anh để tôi xuống hơi xa khách sạn, phòng khi bà xã bất ngờ bắt gặp. “Ông anh cho bao nhiêu cũng được… Hổng cần trả cũng hổng sao…”, anh nói lí nhí khi tôi đưa lại chiếc mũ bảo hiểm. Tôi nhìn anh cười nhẹ, rồi móc túi quần gom hết món tiền bà xã đưa tôi dằn túi nhét trọn vào tay anh, “anh Nhân nhớ lấy tiền mua cho chị nhà vài bộ đồ mới cho đẹp nghen”! Anh nhìn tôi ngẩn người. Không để anh khó xữ, tôi định quay đi, thì nghe anh nói nhanh:

-“Dạ, cảm ơn ông anh thiệt nhiều. Nhưng chắc hổng dám lấy tiền mua quần áo đẹp cho bả được đâu..!”. Giọng anh nghèn nghẹn, xót xa:  “Đứa con gái út, tui nói nó lấy chồng xa… Thiệt ra nó đi lấy chồng Đài Loan, rồi chết vì tai nạn giao thông bên đó. Vợ chồng tui phải chắt mót dành dụm, để trả nợ số tiền mang hài cốt nó về nhà mấy tháng trước…”

 

                                Hình ảnh Bến Ninh Kiều ngày xưa:

Tôi khựng người, chợt nghe trái tim mình như đang bị ai bóp nghẹn. Không dám quay lại nhìn anh, tôi cố bước chân đi thẳng và thấy lòa nhòa công viên màu nắng tắt. Số phận đời người sao cứ như cơn gió thoảng vô tình...

Rồi anh sẽ qua chiếc phà về bên kia Xóm Chài, với cuộc đời mỏi mòn còn lại. Rồi tôi sẽ trở về bên kia xứ lạ, một đời đầy vơi kiếp sống tha hương. Anh có thể quên tôi, một người khách trên chuyến xe ôm giữa muôn vàn dòng người tất bật. Nhưng chắc chắn tôi sẽ không thể quên anh, chuyến xe chở cả một trái tim sâu thẳm, một cuộc đời có thật của người đàn ông chạy xe ôm ở bến Ninh Kiều. Buổi chiều như một nốt nhạc trầm buồn, chảy vàng vọt trên dòng sông quê hương tôi muôn thuở…

 

Durham, North Carolina

Nguyễn Vĩnh Long  

Điệu Bolero Tháng Tư Buồn

1.

"... Phố nhỏ đường mưa trơn lối về

Trăng sầu nhân thế đậu hoen mi

Có ai ngồi đếm mùa nhung nhớ

Nỗi niềm đầy lại vơi

Mỗi mùa tiễn đưa một người"   (Nỗi Buồn Gác Trọ - Mạnh Phát & Hoài Linh)

 

Tiếng hát Cẩm Vân trong trẻo, vút cao, nghèn nghẹn đầy xúc cảm. Tôi buông thả Mi 7 và chuyển vội La thứ như chưa muốn ngừng những âm vang cuối. Nốt dứt đoạn ngân dài, tất cả lặng yên, bên ngoài có tiếng gió đêm Sài-gòn vội về, bất chợt. Vốn không "mặn" với bolero, nhưng mấy hôm nay tự dưng bọn tôi lại vô tình chọn những bài hát loại này. Vậy mà "thấm", mà "cảm" vô cùng.  Từ trưa ngày 11 tháng 4, 1975 thì căn gác trọ của tôi trở thành điểm tụ họp và thông tin của cả nhóm. Duy dọn về ở hẳn với tôi. Giảng đường trở thành tin hành lang hơn là lớp học. Một số giáo sư vắng mặt, có tin đã cùng gia đình di tản ra nước ngoài. Sáng cả bọn vào trường, tụ tập, nghe ngóng "ai còn, ai mất" rồi kéo nhau quán cà phê dì Năm bàn bạc tình hình "chiến sự". Ngồi chán thì kéo nhau về căn gác trọ tôi, vừa nấu ăn vừa nghe tin đài VOA, BBC và đàn hát vu vơ.  Tất cả năm người chúng tôi đang ngồi bẹp dưới sàn nhà, Cẩm Vân, Ngọc Tuyền (khoa hóa sinh, bạn Vân), Duy, Từ Dung và tôi.

Đã hơn bảy giờ, trời tối mưa lưa thưa hạt, vẫn chưa thấy bóng dáng của Trầm Hương. Trong ban chấp hành sinh viên trường, trưởng ban ngoại vụ, Trầm Hương họp và đi công tác liên tục. Tuần trước, cùng ban đại diện liên trường: văn khoa, khoa học, dược và sư phạm, đã quyên góp và chuyên chở thực phẩm, thuốc men cứu trợ đồng bào di tản từ cao nguyên và miền trung đang được tạm trú tại Long Thành. "Chừng như có chuyện "lấn cấn" giữa tổng hội sinh viên Sài-gòn và ban chấp hành các trường", Trầm Hương cho biết. Dáng dong dỏng cao, khuôn mặt thon rạng ngời, với nụ cười có thể "thắp sáng" cả gian phòng khi Trầm Hương hiện diện. Nhờ sắc dáng đó, nàng rất dễ thành công trong việc vận động quyên góp, kết hợp công tác liên trường. Tôi ngỏ ý tình nguyện đi theo, nhưng Trầm Hương ngắt ngay: "Mình em đi thôi. Anh ở nhà nghe ngóng tình hình gia đình. Để nếu có chuyện gì, mất hết liên lạc thì không được. Nghe em đi!". Tôi đành ở lại. Mà quả thật như vậy, ngày sau cô Út tôi lên mang tin tức và quyết định của gia đình từ Vĩnh Long. "Ở lại, không di tản. Nội dặn, dù xảy ra bất cứ chuyện gì, con cứ ở Sài-gòn chờ tin, nhất định không được về Vĩnh Long!", cô Út dặn đi dặn lại tôi nhiều lần. Sau khi trả tiền trọ hết năm, đưa tôi một sợi dây chuyền và một số tiền phòng khi "ly tán", cô Út vội trở về Vĩnh Long ngay...

Ngoài phần tin tức chẳng đâu vào đâu của đài phát thanh Sài-gòn: tháo lui trật tự, bảo toàn lực lượng, là bài họp ca thật hùng tráng:

"Trên đầu súng ta đi, tổ quốc đã vươn mình

Trên lưỡi lê căm thù, hờn căm như triều sóng

Ôi xôn xao... chiêng trống hối thúc

Đã giục giã khắp chốn rộn ràng

Ôi lửa thiêng dậy bập bùng

Tay đốt lửa, tay vung kiếm

Trên đầu súng xâm lăng, xiềng xích với bạo tàn

Trên lưỡi lê nô lệ, cùm gông phải gục ngã

Tay nâng niu cây súng, súng thép..."  (Trên Đầu Súng - Anh Việt Thu (*)

 

Chợt có tiếng xe dừng lại dưới đường. Vặn nhỏ radio, tôi đi nhanh về phía cửa sổ và nhìn xuống. Phía sau chiếc xe Honda là Trầm Hương áo thun nâu quần xanh đậm. Hình như người chở là Toàn. Trầm Hương xuống xe, chào Toàn và bước vội vã lên gác. Nàng nắm tay Từ Dung, Ngọc Tuyền đứng trước cửa rồi chạy vào ôm chầm lấy tôi không "nể nang" ai. Mọi người đã quá quen với tính tình sôi nổi, tự nhiên của Trầm Hương nên không ngạc nhiên.

-Mọi người cùng ăn cơm nghen. Trễ quá rồi...

Duy trong bếp nói vọng ra. Trầm Hương vừa ngồi bẹp xuống vừa cười nói:

-Đói muốn xỉu luôn. Hồi nãy mấy anh bên khoa dược mời kéo em ở lại cùng ăn, nhưng em từ chối, nhờ anh Toàn chở về. Thôi vừa ăn em vừa kể cho nghe. Tình hình lộn xộn, nguy hiểm  lắm. .

Tôm khô canh cải ngọt và thịt kho hột vịt, đói nên tất cả ăn ngon vô cùng. Trầm Hương cho biết đã vận động được công ty dược phẩm La Thành rất nhiều loại thuốc thông dụng, trụ sinh và nhất là thuốc cầm máu đang quý hiếm. Thực phẩm gồm gạo, mì gói, các loại đồ khô và cả rau cải, thực phẩm tươi đóng thùng. Tất cả sẵn sàng cho chuyến cứu trợ đồng bào di tản ở khu tạm trú Long Thành trong ngày tới. Khi đoàn về tới trường đại học khoa học thì đã thấy lực lượng cảnh sát dã chiến tăng cường trong khu vực chung quanh trường. Vài thành viên trong ban chấp hành sinh viên liên trường đã bị bắt vì tình nghi là việt cộng nằm vùng. Nói tới đây Trầm Hương nhìn tôi ra vẻ "quan trọng":

-Không hiểu sao có vài người lạ mặt cứ bám theo em mấy hôm nay. Cả anh Toàn cũng nhận thấy như vậy.

-Mật vụ thì không sao. Nhưng nếu "bên kia", Hương phải thật cẩn thận đó!

Duy nói giọng hoài nghi. Tôi nắm tay Trầm Hương:

-Hay là từ hôm nay, anh sẽ đi theo em cho an toàn.

-Anh hả? Có anh theo, em càng thêm lo thôi, chứ an toàn gì! Một mình, có chuyện em dễ xoay sở hơn, thiệt mà!

-Nhỏ Hương nói đúng, có anh cũng chẳng giúp được gì. Hơn nữa, lúc nào bên cạnh nhỏ Hương cũng có anh Toàn và mấy anh trong ban chấp hành.

Toàn là anh em chú bác ruột của Trầm Hương bên khoa dược. Có lẽ như vậy cũng đúng, tôi đành nói xuôi:

-Vậy anh làm gì để giúp em?

-Yêu em và nhớ em là đủ rồi! Trầm Hương nói, giọng thật nhỏ.

 

Rồi mọi người chợt yên lặng. Tin tức từ đài VOA lập lại việc chuyển giao chính quyền và nội các mới của cựu tổng thống NVT và TVH. Tất cả diễn biến lịch sử xảy ra quá nhanh, đột ngột. Số phận mỗi con người bé nhỏ chúng tôi chừng như chỉ chờ đợi. Chờ đợi một cơn bão nổi, chờ đợi vận mệnh đất nước cuốn theo dòng chảy của lịch sử không ngừng. Ngày mai sẽ ra sao? Không ai muốn nói ra, nghĩ tới nhưng cũng không thể chối từ những đau thương, mất mát đang diễn ra từng phút từng giờ chung quanh. Đài BBC loan tin hàng loạt tướng lãnh cao cấp, các bộ trưởng, nội các chính phủ di tản, đào thoát khỏi Việt Nam sau cựu tổng thống NVT và phó tổng thống NCK.  Niềm tin đang cạn kiệt, và hy vọng chỉ là một lá bài đã "lật ngửa" trên chiếu bạc.

-Yên lặng kiểu này chắc chết ngột. Từ Dung hát bài gì đi, anh đàn cho.

Duy phá bầu không khí ngột ngạt và ôm cây guitar nói với Từ Dung.

-Dung hát đi Dung... Dung hát bài gì hôm trước Dung hát ở sân trường đó... Nhớ rồi, bài Tạ Từ Trong Đêm của Trần Thiện Thanh.

Trầm Hương nằm gối đầu trên chân tôi, hối thúc bạn mình. Từ Dung gật đầu, ra dấu cho Duy và cất tiếng hát:

"... Anh hỏi một câu khi trong đêm dài vọng về tiếng súng

Sao em cúi mặt không nhìn đôi mắt hứa thương em trọn đời

Đầu đường chia phôi anh không nói gì

Nên phong kín lời hẹn tình lứa đôi

Nếu anh có về khi tan chinh chiến

Xin em cúi mặt dấu lệ mừng nghe em..."  

 

Tiếng hát Từ Dung rung nhẹ, hun hút trong đêm chìm khuất. Xa xa, văng vẳng tiếng đại bác và hàng loạt tiếng súng vọng về, vây quanh thành phố. Điệu bolero thiết tha như đưa tiễn đêm tháng Tư buồn lặng lẽ chìm sâu...     

 

2.

 

Hơn bốn mươi năm sau, vào Youtube bạn chỉ cần đánh dòng chữ: "chương trình ca nhạc bolero" và "nhắp" chuột nút "tìm kiếm". Hàng loạt chương trình ca nhạc, chương trình thi ca nhạc bolero sẽ hiện lên kênh Youtube. Từ khởi nguồn của đài truyền hình Vĩnh Long (Solo Cùng Bolero, 2014) đến nay thì cùng khắp, Hậu Giang, Cần Thơ, thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội..v..v.. Khắp mọi miền, mọi tụ điểm ca nhạc và đếm không hết các chương trình ca nhạc bolero tự phát trên Youtube và các trang "mạng"... Các ca nhạc sĩ hải ngoại về nước và được mời làm giám khảo cho nhiều cuộc thi truyền hình ca nhạc bolero: Phương Dung, Giao Linh, Họa Mi, Phi Nhung, Mỹ Huyền, Elvis Phương, Đức Huy,...

 

Nhưng điều gì đã làm cho âm nhạc một thời "ủy mị", "đồi trụy", "phản động"... sống lại mạnh mẽ, rầm rộ từ nam chí bắc? Từ "phản động" trở thành "trữ tình"? Từ "đồi trụy" trỡ thành "nhân bản", bất chợt? Hay trong hoàn cảnh xã hội hiện nay phải cần đến sự "ủy mị", "đồi trụy"  để bớt đi phần nào tính "bạo lực"  và "vô cảm"? Phải chăng sau hơn 40 năm xây dựng và phát triển, nhà nước CSVN mới nhận ra cái "nghèo nàn", cứng ngắt, vô hồn của văn học nghệ thuật, nhất là lãnh vực âm nhạc. Tính trữ tình, đại chúng và nhân bản gần như là những "yếu tố" cội nguồn của âm nhạc Viêt Nam, đã vắng mặt trong hơn 40 năm qua? Hay chính những "bản án" ủy mị, ru ngủ của dòng nhạc bolero được nhà nước cho áp dụng lại trong tinh hình xã hội ngập ngụa bất công, đàn áp, tham nhũng và "cái ác" đang lên ngôi, ngự trị trong sinh hoạt hàng ngày? Cán cân giàu nghèo giữa tầng lớp giai cấp "áp bức" bên trên và quần chúng "bị trị" bên dưới, như một con dốc thẳng đứng. "Ở đâu có áp bức, ở đó có đấu tranh", dòng nhạc bolero phải chăng sẽ góp phần hiệu quả trong công tác văn hóa "tiếng hát át khó khăn", "tiếng hát át đấu tranh" cho công bằng, cho sự thật của thế hệ trẻ hôm nay và ngày mai? Nếu không có sự "đồng ý", "khếnh mại" của nhà nước XHCN "cấp trên", thì liệu dòng nhạc "bolero" có tự nhiên phục hồi do nhu cầu âm nhạc của quần chúng? Sợi chỉ hồng của chuyên chính vô sản có thật "tình cờ" xuyên suốt cả gia tài âm nhạc một thời bị lên án "phản động" ngày xưa?   

 

"... Đời còn nhiều bâng khuâng

Có ai vì thương góp nhặt tâm tình này

Gửi giúp đến cố nhân mua nụ cười

Và xin ghi kỷ niệm một đêm thôi"    (Nửa Đêm Ngoài Phố - Trúc Phương)

Tiếng hát ngọt ngào, nức nỡ của "sầu nữ" Thúy Huyền trong một chương trình bolero đưa tôi về "kỷ niệm một đêm thôi" của hơn 40 năm về trước. Lê Thị Từ Dung đã vĩnh viễn nằm ở một nơi nào đó của biển Đông trong một chuyến vượt biển. Đỗ Thị Ngọc Tuyền đã biệt tích trên một chuyến đi đường bộ xuyên qua đất nước Cambodia. Cả hai, Từ Dung và Ngọc Tuyền, đều ở lứa tuổi hai mươi bốn.  Cặp Cẩm Vân và Duy cũng không thành. Cẩm Vân lấy chồng, đồng nghiệp, sau đó nghỉ dạy và hiện làm chủ hai nhà hàng nổi tiếng ở Sài-gòn. Duy vẫn độc thân, họa sĩ vẻ phông sân khấu, trình bày bìa sách, lịch và hiện nay có phòng tranh ở quận 5 thành phố Sài-gòn. Trầm Hương, người con gái  dấu yêu một thuở, và chồng là Huỳnh Nam Giao sinh sống ở Củ Chi. Hương nay đã về hưu đang cùng gia đình chăm sóc cửa tiệm bán sinh tố, trái cây tươi. Giao sau một lần lâm bệnh nặng, cũng đã về hưu hẳn và trông coi khu vườn trồng cây ăn trái ở Củ Chi cho cửa tiệm. Công việc làm ăn khá giả, cuộc sống ổn định. Chúng tôi đã bước qua tuổi "tri thiên mệnh", tóc ngả màu bạc trắng đời thường. Mọi nỗi vui buồn có chừng mực hơn. Trong câu chuyện trùng phùng đã mang nhiều dấu tích của trải nghiệm, của an phận trong mỗi nụ cười. Người ở lại, kẻ ra đi cũng chỉ là những may rủi kiếp người? Phải chăng đời này chúng ta chẳng "nợ nần" gì nhau, hãy để mọi niềm tin yêu xuôi theo dòng số phận? Hãy để riêng nhau một góc đời và cầu mong hạnh phúc cho người.

Mỗi số phận của chúng ta, đôi khi gắn liền với những biến động của hoàn cảnh và lớn rộng hơn, của lịch sử. Nhưng đôi khi, số mệnh của chúng ta lại lặng yên nằm bên lề của mọi cơn lốc cuộc đời. Dù ở phía nào, sự hữu hạn của kiếp người, chỉ cho mỗi chúng ta chiêm nghiệm được một phần thật nhỏ nhoi của thân phận. Không có mẫu số chung cho định mệnh. Ý niệm "suy bụng ta ra bụng người", như mấy anh mù sờ voi! Hãy mở rộng mọi ý thức và đừng bao giờ đóng kín những đổ vỡ của trái tim. Cuộc đời sẽ tin yêu ta, nếu ta đặt trọn mọi tin yêu có thể cho người. Lá khô rụng kín mùa này là mần non hoa trái mùa sau. Có bao nhiêu dư âm xưa trong đêm dài chờ sáng? Có bao nhiêu cuộc chia ly trong giọt lệ trùng phùng? Trái tim đang đập theo từng nhịp của hôm nay, sao dòng máu tôi cứ vẫn luân lưu, tuần hoàn trong mỗi tế bào của quá khứ? Những ngày tháng Tư sao vẫn buồn và khoắc khoải trôi qua:  

"... Phương trời mình đi xa thêm xa

Nghe vạn mùa thu sau lưng ta

Em ơi, em ơi! Thu thiết tha

Ơi người vì ta qua phong ba

Có còn gì sâu trong tâm tư

Mắt lệ mờ hoen dư âm xưa"   (Tinh Lỡ - Thanh Bình)

  

Durham, North Carolina

Những ngày tháng Tư đầy nỗi nhớ,

Nguyễn Vĩnh Long

 

(*) Nghe bài họp ca: Trên Đầu Súng - Anh Việt Thu

https://www.youtube.com/watch?v=Fgcko7vUWUE

Linh Hồn Gió

1.

Ngôi chùa nằm sâu trong con đường nhỏ, ngoại ô thành phố Raleigh, bang North Carolina. Chùa mang tên Vạn Hạnh, cách nhà tôi khoảng 1 giờ lái xe. Thiền sư Vạn Hạnh, người đã phò Lý Công Uẩn lên ngôi hoàng đế (Lý Thái Tổ), tạo dựng triều đại nhà Lý kéo dài cả 216 năm và đã để lại bài kệ nổi tiếng Thị Đệ Tử:

"Thân như điện ảnh hữu hoàn vô

"Vạn mộc xuân vinh thu hựu khô

"Nhậm vận thịnh suy vô bố úy

"Thịnh suy như lộ thảo đầu phô

Ngô Tất Tố dịch thơ:

"Thân như bóng chớp, có rồi không

"Cây cối xuân tươi, thu não nùng

"Mặc cuộc thịnh suy đừng sợ hãi

"Kia kìa ngọn cỏ giọt sương đông

 

Hàng năm bà xã và tôi thường đi chùa chỉ đôi ba lần, đêm Giao thừa, lễ Phật Đản và Vu-lan. Phần ở xa, phần bà xã dựng một bàn thờ Phật ở góc, ngay trong phòng khách, nên thường lễ tại nhà. Lần này thì ngoại lệ, bà xã muốn đến chùa thỉnh một cái phong linh để treo phía sau nhà. Thứ bảy, cuối tuần bãi xe không còn chỗ, tôi phải đậu xe dọc ven đường phía ngoài chùa. Khuôn viên chính điện thật đông người, mùi hương khói ngào ngạt từ xa. Những người quen cười, vẫy chào nhau, tay bắt mặt mừng. Nhìn khung cảnh chùa, tôi chợt nhớ đến bài thơ "Nhớ Chùa" của thi sĩ, hòa thượng Thích Mãn Giác:

"... Biết đến bao giờ trở lại quê

"Phân vân lòng gửi nhớ nhung về

"Tang thương dẫu có bao nhiêu nữa

"Cũng nguyện cho chùa khỏi tái tê

 

"Chuông vẳng nơi nao nhớ lạ lùng

"Ra đi ai chẳng nhớ chùa chung

"Mái chùa che chở hồn dân tộc

"Nếp sống muôn đời của tổ tông. 

 

Ngày xưa tôi hay theo bà nội đi chùa, gần như một hai lần trong tháng. Ngôi chùa ở đầu làng, nằm ẩn trong khoảng sân đầy cây kiểng và tượng Phật rất đẹp. Tôi thích nhất là tượng Phật Quan Âm với nét thanh thoát, diệu hiền và trang nhã đứng giữa hồ sen nhỏ. Tuy chưa hiểu những lời kinh kệ, nhưng tôi thích nghe tiếng tụng niệm vang dìu dặt theo tiếng mõ. Cho đến bây giờ, tôi vẫn chưa hiểu hết những lời kinh kệ, nhưng mùi hương khói trầm tỏa quyện trong tiếng niệm vang theo tiếng mõ, như đưa tâm hồn ta thoát khỏi mọi bận phiền tục lụy vây quanh.

                                        Chùa Vạn Hạnh - Raleigh, North Carolina

 

Sau khi cùng bà xã thắp hương trong chính điện, tôi hay đi loanh quanh vãng cảnh chùa và gặp gỡ vài người bạn đồng hương cùng thành phố. Nhìn nét mặt trang nghiêm của bà xã ngồi niệm Phật trong chính điện, tôi chợt chạnh lòng. Chừng như suốt cuộc đời, bà ấy có nhiều niềm tin để... khổ. Niềm tin chồng, tin vào mọi niềm ước vọng của chồng. Bà xã đã hy sinh một đời làm vợ, cho mọi mơ ước của tôi được thành hiện thực. Rồi niềm tin vào con, đem tất cả nghị lực, lòng hy sinh để đưa các con vươn tới những tầm cao nhất mà chúng có thể. Riêng mình, bà xã tin số phận, tin vào định mệnh đã dành sẵn cho mình. Nhiều lần tôi nói với bà ấy, bây giờ đến phiên em tuy muộn, nhưng em muốn làm gì, đi đâu hay có điều gì muốn thực hiện, hãy làm ngay đi, anh và các con sẽ ủng hộ hết mình. "Làm gì nữa bây giờ. Tất cả đã trở thành nếp, thành thói quen. Em sẽ không biết phải làm gì, đi đâu nếu không có anh và con", bà xã thường nói như vậy. Một lần tôi "đẩy" bà ấy đi Seattle thăm người bạn gái thân thiết thời "áo trắng", hai tuần lễ. Nhưng vừa đúng một tuần là bà xã đã đáp chuyến bay về sớm, dù phải tốn thêm tiền thay đổi chuyến bay! "Tâm sự, đi chơi, ăn uống một tuần là hết chuyện. Mỗi người đã một cảnh, một góc đời, một cuộc sống. Chỉ còn lại với nhau là ký ức, là kỷ niệm", bà xã bùi ngùi... 

Trời bắt đầu có nắng, hoa cảnh chung quanh chùa rộ nở, hoa hồng leo, hoa mười giờ, hoa hiên, hoa cúc Thái, hoa ngọc hân.. . sắc màu thắm tươi, rực rỡ. Đi quanh đã thấy nhiều khuôn mặt lạ, nhiều gia đình thế hệ trung niên đang dần dà thay đổi đám đông của cộng đồng người Việt ở đây. Hỏi ra, biết được các anh, các bác phần lớn thời gian đến chùa đều ở phía "hậu liêu", phòng ăn dưới căn bếp. Đã lui vào hậu trường, cả một thế hệ "tiền phong", gầy dựng ngôi chùa thuở chỉ là một mảnh đất trống. Nay thật khang trang, xứng đáng để lại thế hệ mai sau như một thành quả văn hóa tinh thần như hai câu thơ của hòa thượng Thích Mãn Giác: "Mái chùa che chở hồn dân tộc / Nếp sống muôn đời của tổ tông".

 

2.

 

Chừng như gió và tôi là cả một duyên nợ. Từ thuở nhỏ, tôi đã yêu những cơn gió đổi mùa mỗi năm. Bên dòng sông nhà nội, mùa gió đổi mang theo thật nhiều ký ức. Mùa gió đổi của mùa nước nổi. Nước ngập tràn vào sân nhà trước, lúp xúp mí của căn nhà dưới. Có thể ngồi câu cá ngay bên cạnh sàn nước hông nhà. Mùa gió đổi của những ngày hè oi ả, nghỉ học theo đám bạn trong làng đi cắm câu, tát đìa. Mùa của ngày nước cạn, có thể đi qua bên kia sông mà không cần phải biết bơi. Mùa của cây trái vườn sau, từng liếp chôm-chôm sặc sỡ màu, quằng cành ăn trừ bửa. Rồi mùa gió đổi cuối năm, đồng ngập lúa vàng, mùi thơm của nồi cơm gạo mới. Gió đã theo tôi, thì thầm suốt quãng thời thơ ấu...

Những buổi chiều ngồi lặng lẽ, cặm cụi chấm bài trong lớp học trống trải, chỉ có lũ ghế bàn và gió vọng phía sân ngoài. Gió hắt hiu của vùng biển bùn, nặc nồng mùi muối mặn. Gió vẫn thì thầm với tôi, và nay tôi đã là bạn gió. Có những điều tôi không biết nói với ai hay không thể nói, đành tỉ tê cùng những cơn gió mùa trở ngọn. Có khi gió thổi từ cuối dãy sân trường. Có khi gió bắt đầu từ ngoài cổng, thổi dạt dào vào những khe cửa những buổi học rộn ràng. Trò áo mới mừng đầu năm học; thầy tâm hồn mới cho một đợt "khách qua sông"! Gió đón người và gió tiễn đưa ai?

"Gió... gió về là về miền xuôi

"Anh đưa em nước lớn nước ròng

"Để em qua sông qua suối thăm chồng

"Gió về miền xuôi qua bốn vịnh năm vời

"Đò vẫn đưa đưa ngược xuôi

"Em ơi, em ơi!

"Đường về quê ta mấy bước, đường về quê xa mấy ngõ

"Mà sao người nỡ bỏ quên đường...  (Gió Về Miền Xuôi - Anh Việt Thu)   

 

Bên ngoài, bây giờ trời cũng đang trở gió. Tiếng chuông ngân nhịp ngắn nối vài ba nhịp dài, âm thanh khoắc khoải, thiết tha. Chừng như gió mượn chiếc phong linh để nói lên tiếng lòng của mình trong vô lượng đất trời, bát ngát. Chừng như vạn vật đều có một linh hồn, một cuộc sống trong một cõi riêng của nó. Cuộc sống thay đổi, vạn vật cũng không ngừng đổi thay. Gió phía đông có nhịp thở không như gió phía tây? Tiếng gió của những buổi chiều trên bến sông quê nội có còn không, khi những dãy nhà mới xây chạy dài theo bãi nước? Có còn không, tiếng linh hồn gió thì thầm đêm chia tay Rạch Giá, không thấy rõ mặt người? Thuyền mang chúng tôi ra khơi, chạy dọc theo cơn gió mùa định mệnh. Gió đùa với biển, biển đùa với bao nhiêu thân phận con người! Gió mãi theo tôi, mang theo bao nhiêu thao thức của bến sông chiều ngày tiễn biệt. Có gió len lõi dọc theo con nước, dãy nhà ven sông cúi bờ kinh hay chợt loay xoay giữa ngã ba sông về phía một bến bờ?  Có bao nhiêu hình bóng chợt thoáng qua, một đời người bắt gặp. Như thật, như không. Những linh hồn gió ngày đó đã phương nào? Vẫn tất bật giữa đời rong ruổi hay đã biền biệt dấu này một đời người thương tưởng, cưu mang? Cho dù thế nào, gió có hôm trở về như linh hồn của câu chuyện kể hôm qua.

Tiếng leng-keng ngắn dài chợt rộn rã hơn, linh hồn của gió như trở về bên tôi "những ngày xưa thân ái"! Có bước chân ai đang trở về từ chập chùng dĩ vãng, mang âm vang  tiếng cười nói vọng cố nhân... Bao nhiêu khuôn mặt, bao nhiêu nụ cười và cả bao nhiêu đôi mắt ướt long lanh dòng lệ đã qua đời nhau? Những người con gái ta yêu và những người con gái yêu ta, tất cả như đang chợt hiện về trong tiếng ngân vang linh hồn của gió? Cảm ơn người, cảm ơn đời và cảm ơn em đã cho tôi những ngày tháng một đời không tiếc:

"... Ôm lòng đêm,

"nhìn vầng trăng mới về

"Nhớ chân giang hồ

"Ôi phù du, từng tuổi xuân đã già

"Một ngày kia đến bờ

"Đời người như gió qua... 

(Phôi Pha - Trịnh Công Sơn)

 

Đêm chợt tĩnh lặng, sau vài cơn gió mùa trở nhẹ. Những tiếng ngân của chiếc phong linh treo sau nhà cũng tắt lịm, thoáng qua. Tôi nằm thẳng, cố giữ hai vành tai không vật cản, chờ đợi tiếng linh hồn gió sẽ đến bên ngoài. Dù là một thoáng nhẹ, bạn có nghe, tiếng linh hồn gió của hôm qua. Huyễn hoặc, vô cùng. Có những tiếng lung linh của linh hồn gió hôm nay? Không thể. Gió  hôm nay không thể có linh hồn nếu không phải là gió của hôm qua. Có lẽ ở một thang tuổi nào đó, chúng ta sẽ dễ ý thức hơn cái nhỏ bé của kiếp người, cái mong manh của hiện tại. Hãy nghiêng tai, lắng nghe lượng từ tâm đất trờ; những linh hồn gió của bao tháng ngày trôi xuôi một dòng thoáng chợt:

            "... Những người muôn năm cũ

"Hồn ở đâu bây giờ ?   (Ông Đồ  - Vũ Đình Liên)

 

Durham, North Carolina

Nguyễn Vĩnh Long

_______________________________

. Hương Đêm

1.

 

              Sống chung được hơn một năm thì tôi và Tầm quyết định chia tay. Cũng không có gì hệ trọng hay bi đát đến nổi thù địch. Cả tôi và nàng đều ở tuổi quá ba mươi, đã trưởng thành và ít nhiều dạn dày trong tình trường không ràng buộc của trách nhiệm. Tự nguyện và tự do cho mọi lựa chọn của bản thân. Không đổ lỗi cho ai, không oán hờn số phận. Yêu nhau như đang yêu và cho nhau tất cả những xúc cảm, hạnh phúc trong từng giây phút hiện hữu. Ngày mai, như rồi sẽ đến với nhiều hoàn cảnh của chính nó, chứ không phải là những ước hẹn trói buộc đời nhau... Tầm giữ lại căn nhà đang ở, tôi thì dọn ra ngoài. Đơn giản, nhẹ hững và buồn tênh.

           

              Khu chung cư cũ kỷ nằm trên lưng chừng trên ngọn đồi trọc. Năm nay mùa thu đến thật chậm. Đã giữa tháng mười mà mấy rừng cây thưa vẫn còn xanh lá thấp. Nhiều vùng trong tiểu bang lũ lụt, nước chưa kịp rút từ những cơn mưa của mùa bão bất thường phía biển đông. Khu chung cư chia từng cụm, mỗi cụm ba căn. Phòng tôi ở căn bìa tầng trên, nên được thêm cánh cửa sổ rộng bên hông. Mỗi buổi sáng từ đó, tôi có thể nhìn thấy sinh hoạt của một góc phố. Tôi bỏ lại hết đồ đạc cho Tầm. Thật ra phần lớn là do cả tôi và Tầm mua sắm chung. Nằm trên miếng nệm trơ trọi trên thảm, tôi chợt nghe lòng tha thiết một tay ôm. Nhớ Tầm bao nhiêu, tôi càng thấy thương thân phận mình bấy nhiêu. Không hiểu sao, tôi không tìm được một lý do nào đó để tự ái nổi lên, để quên Tầm dễ dàng hơn. Người đàn bà biết mình đẹp là người đàn bà để trái tim trên khung mắt và lý trí nằm trong ngực. Họ thở bằng niềm kiêu hảnh và bước đi bằng sự lãng quên. Là Tầm. Qua Tầm, tôi thấu hiểu tình yêu không chỉ đơn thuần là những rung cảm của trái tim và xác thịt. Tình yêu còn là chiếc áo khoác sắc màu lộng lẫy, cho những đòi hỏi của thói quen xã hội chung quanh. Có lẽ, thế hệ của tôi cuộc sống vận chuyển bằng những ký hiệu của ngôn ngữ hơn là ý nghĩa bao hàm của nó chăng? Tôi không có câu trả lời. Dễ hiểu, vì tôi đang dự phần, đang là nạn nhân. 

            Tôi biết mình cũng giống như bao nhiêu người đàn ông khác, tham lam và ích kỷ trong tình yêu. Trọn vẹn và tất cả, từ đầu ngọn tóc đến ngón chân, phải là của tôi, phải thuộc về tôi... Tầm là một ngoại lệ, trong nhiều ý nghiã khác nhau. Khốn nổi, tôi chỉ làm chủ và thấy Tầm tuyệt đẹp từ lỗ rún trở xuống. Điều nầy không phải để tôi coi thường và lãng quên nàng, mà ngược lại. Giá trị của sự thật bao giờ cũng tồn tại lâu dài hơn những điều giả dối, đãi bôi. Tôi yêu thương và không quên được Tầm, ít nhất nàng vẫn còn phân nửa của đời sống thật. Con người của thế kỷ mới, chắc gì sự thật đã có trong giấc mơ?

           Tầm có quá nhiều khuôn mặt cho đời sống, quá nhiều nhịp đập tham vọng trong một trái tim. Tôi chỉ là một dự phần quá nhỏ. Những giây phút ngắn ngũi của ngất ngây khoái cảm, chính là những giây phút chúng tôi sống hoàn toàn chân thật cho nhau. Nàng thật sự tước bỏ tất cả những khuôn mặt và trái tim ngừng đập những nhịp giả dối hằng ngày. Giây phút đó, những tiếng kêu nguyên thủy không lừa dối mới thật sự thuộc về nàng. Để rồi không quá hai mươi phút sau, Tầm lại trổi dậy, mở cái laptop và di chuyển "con chuột". ' Click..! click..! ' những tiếng khô khan, dẫn Tầm vào thế giới con số "ma-quái " của thị trường chứng khoán. Như một nổi đam mê cùng cực. Như một loại "cocain" thấm sâu vào huyết quản nàng. Tầm quên tôi ngay, nói gì những giây phút ngắn ngũi đó, so với những con số thị trường "stock". Con số ngự trị đời sống xã hội đã đành, ngày nay, con số ngự trị cả tình yêu và thể xác. Tôi lên tiếng phàn nàn, Tầm giả đò câm điếc. Để rồi mỗi tháng nàng nhìn những con số báo cáo của ngân hàng, vui cười ngất ngưỡng và tận thưởng đêm đó với tôi, những giây phút dục tình ngút tận... Nhưng mặt đời sống rộng hơn mặt đêm, nên tôi và Tầm không có cùng nhiều ước vọng. Vậy mà tôi vẫn thương nhớ Tầm, phân nửa thân người và phân nửa phần đời tiếc nuối. Vài tuần lễ sau, có người gặp Tầm đi chung với một thương gia lớn tuổi người Hồng-kông. Tôi mong Tầm sẽ tìm được những con số thích hợp cho lòng mình.

 

              - Hi, chào ông. Chắc ông vừa mới dọn vào. Tôi tên là Kate, người láng giềng của ông đây. 

              - Chào cô Kate. Tôi tên Hiếu. Rất vui mừng được biết cô là người láng giềng của tôi...

              - Cám ơn ông Hiếu. Tôi cũng hân hạnh được quen ông. Có điều tôi phải nhắc chừng trước, để ông khỏi phiền về sau nầy. Tôi có chú mèo đen giống Trung-đông, tên Titan, nếu có lạc qua phòng xin ông đừng khó chịu với nó. Tính nó hay lén lút, lang thang sang nhà hàng xóm.

              - Cô đừng lo. Nếu Titan của cô ăn được cơm Việt Nam thì lúc nào tôi cũng đón chào nó mà.

           Tôi vừa nói vừa cười xã giao. Kate thì cười ngất, cảnh cáo:

              - Để rồi ông coi..! Gặp lại ông.

              - Chúc cô vui vẻ.    

           Nỗi buồn và thất vọng chợt vơi đi, khi tôi khám phá ra người láng giềng sát vách là một cô gái da trắng thật trẻ và vui tính. Ít ra tôi sẽ có những ngày vui chờ đón trước mắt. Những háo hức để chạm mặt người con gái có đôi mắt xanh lơ và hàm răng cười tươi, đều như những hạt bắp trắng. Lần gặp đầu tiên mà tôi cứ nhớ mãi đôi má đỏ hồng và đầy lông măng của Kate. Chừng như cô gái ở nhà cả ngày hoặc có đi làm, cũng chỉ part-time. Thỉnh thoảng tôi mới thấy Kate rời khỏi nhà vào những buổi chiều cuối tuần. Vài lần tôi làm bộ tình cờ ra hiên vẫy chào. Nàng liếc nhìn, rồi quay vội đi, như chưa hề biết mặt, chuyện trò. Con gái Mỹ trắng, máu lạnh như tình, tình vội như mưa. Mà chẳng hề gì tôi, người mướn phòng mới tới. Kate làm cho một bar rượu "playboy" rất nổi tiếng trong thành phố. Con nhỏ ăn diện như người mẫu và rất hãnh diện về nghề nghiệp của mình.

            Buổi chiều đi làm về ghé chợ, tôi mua thêm vài hộp thức ăn cho mèo. Đã mấy tuần rồi, tôi cứ mong con mèo Titan lạc qua phòng tôi kiếm ăn. Chắc chắn cô gái rất mê cuốn phim tình cảm dài nổi tiếng thế giới vừa chiếu khắp nơi, Titanic. Con người đang chìm vào cơn đói khát của sự lãng mạng, Titanic đáp ứng kịp thời nhu cầu thời đại nầy chăng ? Với tôi, ngoài kỹ thuật vĩ đại và tốn kém hằng trăm triệu mỹ-kim cho những thước phim cho cảnh đắm tàu, chuyện tình đôi trai gái chẳng làm tôi xúc động chút nào. Một thứ bi kịch trưởng giả và đầy tính chất "cải lương"... Trên đời tôi sợ nhất là thằn-lằn và ghét nhất là con mèo cái. Xúi tôi làm gì cũng được, "lận" dao đánh lộn, ngủ bãi tha ma, nhưng kêu bắt con thằn-lằn thì tôi đành chạy trước. Không hiểu sao tôi ớn sợ cái làn da lạnh tanh và  mềm mại của nó đến như vậy. Còn mèo, tôi ghét cay ghét đắng cái dáng điệu õng ẹo, làm bộ ngoan hiền đầy móng vuốt của nó... Nhưng ghét gì thì ghét, tôi cũng phải dụ cho được con mèo Titan sang nhà tôi ăn "vụng". Kế hoạch sẵn sàng, tôi chỉ thêm chút kiên nhẫn đợi chờ là đủ. Chiều hôm đó, tôi chẳng phải chờ lâu, nàng xuất hiện thật dịu dàng, e lệ phía ngoài cửa sổ phòng tôi. Nàng không đen hết như Kate miêu tả mà nhiều đường viền trắng, vàng như loại mèo tam thể. Tôi lẹ tay khui hộp gan gà, bỏ vào cái chén nhỏ và kéo khung cửa sổ lên cao. Con mắt Titan cũng giống như chủ nó, xanh lơ. Chờ nàng ăn xong, tôi sẽ bồng qua trả lại cho chủ để có dịp rũ buổi hẹn hò.

            Có tiếng gõ cửa. Chủ nhanh hơn tôi. Cánh cửa mở rộng trước mặt tôi là hai mẹ con người Á-châu, đứa con gái chừng bảy tám tuổi.

               - Con Sue, mèo của con có lạc sang nhà chú không ?

           Người đàn bà có mái tóc dài, khuôn mặt đẹp thật giản dị và yếu đuối.

               - Xin lỗi ông, tôi đã vô ý để hở cánh cửa sổ. Ông là người Việt, tôi thấy họ ông mới dán ở hộp thư.

               - Dạ phải. Chị gọi tôi bằng tên được rồi. Tôi tên Hiếu. Con mèo của cháu đang ăn trong nhà. Cháu tên gì ?

               - Cháu tên Hà. Để cháu vào bồng nó về, sợ phiền chú. 

               - Mời chị và cháu Hà vào nhà, làm quen hàng xóm mới. Biết có gia đình chị người Việt, cũng mừng lắm. Dạ, chị tên gì ?

              - Tôi tên Liên. Gia đình tôi ở căn cuối. Tôi phải về có việc, hôm nào rãnh, mời anh Hiếu sang chơi.

            Hai mẹ con ôm mèo về, tôi đứng nhìn theo ngơ ngẩn. Khuôn mặt đẹp thanh tú, bình dị nầy, chừng như tôi đã gặp đâu đây. Tôi cố moi mọi ngõ ngách của trí nhớ. Quen vô cùng mà không nhớ từ đâu?  Một lúc sau, nhìn lại chồng băng nhạc và sách báo trên bàn, tôi chợt nhớ ra khuôn mặt đẹp của người đàn bà vừa gặp. Hình bìa băng nhạc của một ca sĩ nổi tiếng, với giọng ca quyến rũ và nét đẹp thật bình dị, thanh tú. Đúng rồi, Liên có mái tóc và khuôn mặt thật giống người nữ ca sĩ mang tên của miền biển xanh cát mịn. Người ca sĩ tôi tương tư, từ tiếng hát lẫn dáng người... Tại sao mẹ con Liên lại sống trong khu chung cư rẽ tiền, cũ kỷ và không mấy an toàn nầy. Tôi lan man, tự hỏi.

            Buổi chiều chợt tắt nắng thật nhanh. Tôi thấy lòng rộn rã với bao nhiêu sự tình xảy ra thoáng chốc, bất ngờ. Tôi muốn tìm một quán ăn, uống chút bia và ghé quán cà-phê nhâm nhi sau đó. Đêm sẽ đẹp vô cùng và nhiều mộng mị.

 

2.   

   Chị Hiền gọi điện thoại nhắc tôi về mừng năm mới với gia đình. Mẹ lúc nầy không được khỏe, đi đứng khó khăn và thường hay nói nhảm. Tôi không hứa vì có thể phải trực ở sở làm, nếu không, tôi hẹn sẽ có mặt ở nhà trong dịp chào mừng năm mới. Chị hỏi thăm Tầm. Tôi nói, hai đứa không hạp nhau và đã chia tay. Giọng chị buồn buồn, an ủi tôi vài câu rồi hẹn gặp lại. Tôi biết mình đã làm thất vọng nhiều ở chị Hiền và mẹ. Bao nhiêu niềm ước vọng lớn lao của cả hai đều đặt vào tôi, đứa con trai duy nhất của gia đình. Tôi cũng đỗ đạt, bằng cấp đàng hoàng và có việc làm tương đối. Nhưng đời sống bản thân và tình cảm không làm cho hai người phụ nữ thân yêu nhất đời tôi an tâm. Đó là việc lấy vợ có con, làm chồng làm cha, và để mẹ tôi có cháu như bao nhiêu người thanh niên trưởng thành khác. Hơn ba mươi tuổi mà tôi vẫn lông bông, chẳng chịu đeo gông mọc rễ. Chuyện không cưới hỏi mà dọn vào sống chung, thì dù có nói, giải thích thế nào mẹ tôi cũng không hiểu. Bà chỉ lắc đầu buồn bã, thở dài rồi nhìn bâng quơ vào khoảng quá khứ vô hình... Mười giờ rưỡi, tôi định nằm đọc một tạp chí mua dài hạn vừa mới nhận, thì lại có tiếng gõ cửa hối hả. Ngạc nhiên, ai lại tìm tôi giờ nầy. Bên ngoài là con nhỏ Kate. Mặt mày hơ hải, nó ngượng ngùng nói nhanh:

               - Xin lỗi Hiếu, phải làm phiền ông... Tôi... tôi có chuyện rất cần ông giúp đỡ. Mong ông đừng nói lại với bất cứ ai điều nầy, tôi cảm ơn ông nhiều lắm.   

               - Kate hãy vào trong nhà và cứ yên tâm, tôi không hở môi đâu!  Mà Kate cần tôi giúp đỡ điều gì?

            Nàng bước vào, khép cửa và nhìn tôi thật lâu. Tôi ngửi thấy mùi rượu trong giọng nói của Kate:

               - Tôi đang cần gấp số tiền... Cần lắm, tôi có thể chết được... Nếu Hiếu có thể giúp cho tôi một trăm đô-la ngay bây giờ, tôi sẽ... Tôi sẽ trả lại sau nầy hoặc Hiếu muốn giải quyết tình dục với tôi cũng được.

            Bất ngờ, tôi ngây người nhìn đứa con gái da trắng. Kate dễ nhìn và thân hình thật hấp dẫn. Nhưng lúc nầy, tôi thấy ái ngại rất nhiều. Kate đưa tay nhìn chiếc đồng hồ dạ quang rẻ tiền.

              - Còn một giờ nữa là tôi phải đi với số tiền đó. Tôi biết ông thích tôi lắm... Nhưng nếu ông không muốn, tôi sẽ đi ngay và tìm người khác vậy...

            Không chút háo hức, nhưng tôi chợt nghĩ đến bộ mặt của tên thương gia già Hồng-kông hôn lên mắt môi của Tầm.

              - Tôi có tiền, có đủ một trăm tiền mặt.

             Tôi trả lời thật nhanh và đi vào trong. Kate theo tôi, không nói thêm gì. Vào phòng ngủ chưa kịp tắt đèn, Kate đã bắt đầu cởi ngay quần áo. Tôi còn loay xoay thì nó đã nằm sẵn trên giường. Hai vú Kate vung tròn và căng cứng, mình mẩy đầy tàn nhang và  nhám lông con. Kate yêu cầu tôi sờ vú nhẹ tay, không được bóp mạnh, vì nó mới "độn silicon" cách đây mấy tuần. Tôi càng cụt hứng hơn khi miệng nó vẫn còn nồng mùi rượu. Kate tìm mọi cách kích thích tôi cho nhanh, cho xong chuyện. Rồi tất cả cũng tới nơi, cũng xong phần đổi chác. Trong đời tôi, chưa bao giờ có lần làm tình nào cảm hứng nghèo nàn và chán chường đến như vậy. Kate cầm tiền ra khỏi phòng, tôi vẫn còn nằm nghĩ ngợi không đâu. Tại sao tôi lại không từ chối ngay từ đầu, những chung chạ xác thịt giả dối và ghê tởm nầy. Tôi chợt thở dài trong nỗi cô đơn cùng tận...

 

           Không quen chăm sóc người bệnh, tôi lúng túng nhìn chị Liên thiêm thiếp trên giường. Mặt tái xanh, hằn nét chịu đựng và trán chị rịn ướt mồ hôi. Bé Hà ngồi bên giường nước mắt tuôn tràng, tập trung hết sức xoa tay mẹ, như đã quen, đã lập lại nhiều lần. Tôi ngõ ý đưa chị đi bệnh viện, nhưng chị đều lắc đầu. "Quen rồi. Chịu đựng chút sẽ qua thôi", chị cố gắng thì thào. Cũng may chiều nay tôi về sớm. Chưa kịp lên nhà thì bé Hà đã chận lại và cho hay mẹ nó ngất xỉu dưới sàn nhà. Tôi đỡ chị Liên lên giường, lấy thuốc cho chị uống theo lời hướng dẫn. Nửa giờ sau khuôn mặt chị giảm đau dần và thiếp đi. Tôi ra dấu cho bé Hà ra phòng ngoài, để yên cho chị ngủ lấy sức. Bây giờ tôi mới ý thức được mùi dầu nóng bay nồng chung quanh. Trên bàn cơm nước còn lỡ dỡ, tôi hỏi bé Hà. Con bé lắc đầu không đói. Tôi cũng bồn chồn đầy bụng.

               - Mẹ bé Hà bệnh gì và lâu chưa?

               - Bé Hà không biết. Nhưng đôi khi mẹ ngất xỉu làm Hà sợ!

               - Rồi ba của bé Hà đâu, chú không gặp?

               - Ba Hà ở gần đây lắm. Nhưng ba có mẹ và em bé khác. Lâu lâu ba mới ghé thăm con.

          

            Giọng nó nhẹ và buồn. Tôi chợt thở dài, đầu óc trống rỗng. Chính những điều nầy mà tôi không muốn có trách nhiệm, trước khi bước vào sự ràng buộc của hôn nhân. Nó không chỉ dừng lại cuộc sống của hai cá nhân, mà là nỗi ám ảnh đau đớn cho tuổi thơ. Đứa trẻ sẽ trở thành người lớn, cưu mang bao nhiêu niềm oán hận trong lòng. Nó không có tình thương thì lấy gì ban phát. Một đời nối hai, từ hai nối tiếp biết bao nhiêu thế hệ buộc chặt ước mơ với chính nỗi oán hận của mình. Xã hội ghẻ lạnh và tình người mang nhiều dấu ấn của sự hận thù quá khứ. Đôi mắt ngây thơ của bé Hà không có cái nhìn tinh khiết của tuổi thơ. Tôi không muốn mình đóng góp vào thế giới đầy văn minh vật chất và thiếu vắng tình yêu nầy. Đã quá đủ, cần phải giảm bớt đi nhiều. Dưng không tôi buồn bực và oán trách cuộc đời. Nhìn thấy hoàn cảnh mẹ con chị Hà, hay khi nhìn khuôn mặt vật vã, chịu đựng của chị Liên. Khuôn mặt của chị trong cơn đau thêm đẹp não nùng... Tôi định đứng dậy trở về phòng, nhưng lại thôi. Bé Hà đang ngồi yên tâm bên cạnh tôi coi chương trình hoạt họa trên màn ảnh truyền hình. Thấy tôi không hỏi gì thêm, nó cũng không màng kể lể. Trẻ con ở đây, trong thế hệ nầy còn biết dè dặt hơn cả tôi. Chúng nó khôn ngoan và lớn rất nhiều hơn trước tuổi. Buổi chiều tắt nhanh, đêm vươn rộng cánh tay ngập tràn bóng tối.

 

            Tôi giật mình tỉnh giấc. Không biết tôi đã thiếp đi tự bao giờ. Bên tay tôi bé Hà cũng đang ngã đầu ngủ ngon. Tiếng động vọng ra từ trong phòng chị Liên. Tôi nhẹ tay đỡ đầu bé Hà xuống sofa, chưa kịp đứng dậy thì đã thấy chị Liên bước ra khỏi phòng. Thấy tôi chị gượng cười nhẹ. Trông chị tỉnh táo và có thần sắc. Tôi bồng bé Hà vào trong giường, trở ra thấy chị đang lui cui bắt ấm nước.

               -  Phiền anh Hiếu nhiều quá. Đồ ăn còn nguyên, anh đã ăn uống gì chưa ?

               - Chị đừng lo. Chị Liên thấy thế nào, khỏe hẳn chưa chị ?

               - Bệnh lâu rồi anh à. Thỉnh thoảng nó trở chứng, uống thuốc và chịu đựng một chút thì cũng qua thôi... Anh Hiếu uống chút trà hay cà-phê sữa cho ấm.

              - Chị cho tôi ly cà-phê sữa, ít cà-phê nhiều sữa... Chỉ có hai mẹ con như vầy, xảy ra chuyện gì thì nguy hiểm quá.

              - Quen rồi anh...

            Chị Liên bỏ lững câu nói, khuấy ly cà-phê cho tôi và tách trà cho chị. Mùi trà quyện lên thơm nhè nhẹ. Tự dưng tôi thèm một ly trà hơn. Khuôn mặt mệt mõi của chị trong đêm đẹp lạ lùng. Có lẽ đây là lần đầu tiên trong đời, tôi nhìn thấy một người đàn bà đẹp thật xa vắng, chiêm ngưỡng. Không một vết vẫn đục, không một thoáng chiếm đoạt. Tôi biết lòng mình đang rung động như mái tóc dài biếng chải, buông lơi trong những phất phơ tình cờ. Ngụm cà-phê nóng làm tôi dễ chịu và tỉnh hẳn. Tôi và chị ngồi yên lặng, bâng quơ. Tách trà nóng cũng giúp chị Liên tươi tắn hơn. Vài lần ánh mắt chúng tôi chạm nhau. Chút ngượng ngùng, chút xót xa.

 

            ...Lớn hơn tôi bốn tuổi, chị lấy chồng lúc tuổi hai lăm. Chị Liên sinh khó ngay đứa con trai đầu lòng. Hai mẹ con đều trải qua cơn thập tử nhất sinh. Nhưng chỉ được vài năm sau thì đứa bé bỏ chị ra đi. Chị buồn da diết, còn anh ấy thì bảo lỗi tại chị sinh khó, làm đứa bé không khỏe mạnh, chết non. Hơn năm sau, chị có thai lần nữa. Khốn khổ thay, chị lại sinh khó. Để bảo vệ đứa nhỏ và cứu chị trong cơn hiểm nghèo, bác sĩ phải cắt hẳn tử cung của chị. Vĩnh viễn chị sẽ không còn sinh sản được nữa. Bé Hà là đứa con gái duy nhất và cuối cùng của vợ chồng chị. Đã vậy, sau khi mổ, tuy cứu mạng sống nhưng chị mất sức hoàn toàn. Mấy tháng sau khi sanh, chị Liên mới đi đứng lại tương đối bình thường. Không khí gia đình bắt đầu nặng nề, lấn cấn. Chồng chị  thường vắng nhà, chơi bời nhậu nhẹt và khi về nhà chỉ nhìn quanh thở dài. Không đủ sức đi làm, nhưng không được chứng nhận mất sức lao động, chị lại thêm gánh nặng gia đình. Công việc làm của chồng những năm đó lêu bêu, kinh tế nước Mỹ khó khăn, nạn thất nghiệp trần trọng. Nay làm mai nghỉ, không chừng. Nỗi lo lắng trao trùm không khí gia đình chị vốn đã buồn tanh. Đến một hôm anh nói với chị rằng, vợ chồng tạm thời ly dị, chị và bé Hà sẽ được hưởng trợ cấp của chính phủ theo diện không chồng phải nuôi con nhỏ. Như vậy sẽ đỡ gánh nặng cho cả gia đình. Trên mặt giấy tờ thôi, còn bên trong vẫn tình nghiã vợ chồng. Nhiều người đã làm như vậy. Đợi khi con lớn, hợp thức hoá lại quan hệ vợ chồng, không khó gì. Chị đồng ý ngay. Giải pháp chồng muốn, vã lại, thuận lợi cho mẹ con chị trong lúc ngặt nghèo nầy... Mấy tháng đầu anh ấy thăm mẹ con chị thường xuyên. Rồi thưa dần, vài tuần, cả tháng. Không đầy năm sau, anh ấy lập gia đình và có đứa con trai với người đàn bà khác. Mẹ con chị vẫn còn sống nhờ tiền trợ cấp và chị uống thuốc mỗi ngày, vào bệnh viện mỗi tháng. Không ngờ có một ngày chị lại trở thành một thứ "nô lệ mới" trong cái xã hội cực kỳ văn minh tiến bộ và đầy nhân phẩm nầy..!

 

            Giọng chị chậm rãi, đều đặn và hờ hững như không. Đã quen rồi câm lặng. Đã chai lì những xúc cảm trong lòng. Tôi nuốt từng ngụm cà-phê khó khăn, chua xót.

                - Sự thật đơn giản có vậy. Anh Hiếu có coi thường mẹ con Liên cũng đành chịu thôi... Liên còn chống chỏi vượt qua những cơn đau, không phải chỉ nhờ những viên thuốc mà còn vì bé Hà. Nó còn quá nhỏ để mất cha và luôn cả mẹ.

               - Chị Liên đừng nói vậy. Mỗi người một hoàn cảnh, một cuộc đời. Tốt và xấu của con người không lệ thuộc vào những hoàn cảnh rủi may. Tôi luôn quý trọng và yêu mến sự thật, cho dù nhiều lúc không phải là điều hoàn hảo nhất.

               - Cảm ơn anh Hiếu... Mong anh sẽ giữ được mãi mãi điều tốt đẹp nầy trong lòng.

            Đêm đã khuya, thoáng lạnh. Cả tôi và chị đều không muốn cúi nhìn đồng hồ, lãng quên nhịp thời gian. Ly cà-phê mang lại cho tôi nhiều cảm kích. Kể xong cho tôi, như trút hết bao nỗi đớn đau trong lòng, chị phấn chấn hẳn lên. Nhìn chị, chừng như tôi không còn thấy cơn đau vật vã đến ngất xỉu, mà chị đã chịu đựng vừa qua. Tất cả đã trôi xuôi theo dòng định mệnh giữa đời. Như có không mờ ảo, như thật giả vô hình... Đêm càng sâu, khuôn mặt chị càng thêm đẹp. Chợt ngước lên, chị Liên bắt gặp đôi mắt tôi đang nhìn chị đăm đăm. Ánh mắt chạm nhau như lượng trời trĩu nặng, vô biên. Tôi biết mình phải chào chị ra về. Chị biết đến lúc phải tiễn tôi ra cửa. Cuộc đời luôn rộng mở, nhưng những vô tình, đôi khi khép chặt những tấm lòng.

           

             Cánh cửa hé mở nhỏ. Khoảng cách giữa tôi và chị không quá một tầm tay. Khuôn mặt chị mơ hồ, thanh thoát. Tâm hồn tôi chợt vời vợi thương yêu. Bàn tay tôi muốn đưa lên, vuốt ve mái tóc buông dài suốt bờ dĩ vãng. Ánh mắt chị nhìn tôi tha thiết nỗi xúc cảm không thể thành lời. Tôi khẻ chào chị. Cánh cửa khép lại. Tôi đi dọc hành lang nghe tiếng thở dài tôi nhè nhẹ trong ngực và thoảng đâu đây, môi mắt chị thơm ngát hương đêm.

 

3.

 

                  Đi ăn trưa về, tôi nhận được voice-mail của Tầm nhắn cần gặp tôi chiều nay sau giờ làm. Tầm không nói lý do. Tôi gọi lại chỗ làm và nhà Tầm, chỉ có máy nhắn tin. Chắc phải có chuyện thật khẩn cấp và hệ trọng. Tôi không chịu nổi nhưng biết rõ tánh Tầm. Tham vọng và rất nhiều tự ái. Hôm chia tay, không nói ra, nhưng qua ánh mắt của nàng tôi biết là lần chia tay cuối cùng. Tôi cũng không có gì luyến tiếc. Dường như đã hết mọi cố gắng. Dường như đã cạn rồi ngôn ngữ cho nhau. Trong tình yêu, sự ghê gớm nhất của cuộc chia ly không phải là lòng oán giận, mà là sự dững dưng. Tự ái của sự oán giận không đẩy tình yêu hoàn toàn lùi vào bóng tối. Chỉ là lớp sơn thỏa mãn dễ trốc lên, lộ mọi nỗi tuyệt vọng của những hờn ghen. Người đàn bà không thể quay lưng với tình yêu, họ chỉ lẩn tránh sự lệ thuộc đầy thói quen của chiếc bóng. Tầm có quá nhiều lệ thuộc của những thói quen đời sống, vật chất và nhu cầu.

            Cuối tháng Mười, trời tối thật nhanh và trở lạnh bất thường. Căn phòng Tầm không có ánh đèn. Nhìn đồng hồ, tôi đến rất đúng giờ. Tầm chưa kịp về hay còn trong chỗ làm, nhìn lại lần nữa những bảng biểu đồ thị trường chứng khoán vừa đóng cửa chiều nay. Thất vọng vì những triền dốc. Yêu đời vì những đỉnh cao. Tôi vẫn đưa tay gõ cửa như một thói quen, hờ hững.

               - Anh Hiếu phải không. Vào đi anh, cửa không khóa.

           Rõ ràng là giọng của Tầm. Căn phòng tối lờ mờ, tôi thấy bóng Tầm trong bộ đồ ngủ màu trắng lụa. Tôi hỏi Tầm để đưa tay mở đèn. Tầm ngồi co ro, để càm trên hai đầu gối chụm lại như đứa con gái nhỏ vừa có cuộc tình lỡ, thoáng qua. Ánh đèn soi khuôn mặt Tầm ủ rủ, tâm sắc thất lạc.

               - Tầm đang bệnh?  Trông em tiều tụy, xanh xao quá.

               - Em không có bệnh gì đâu... Nhưng em không muốn sống nữa đây!

            Rồi Tầm ôm mặt khóc nức nỡ. Tôi ngồi xuống bên Tầm, đỡ hai vai nàng, hỏi nhanh:

              - Có chuyện gì xảy ra? Tầm nói anh nghe đi.

            Mùi dầu gội đầu quen thuộc từ tóc Tầm tỏa ra thơm nhẹ. Nàng gục đầu vào vai tôi, như phản xạ tự nhiên, buông thả. Dễ dàng phán đoán, dễ dàng nói từ khoảng cách xa nhưng có ai phân biệt ghét thương trong tầm tay ấm. Tôi cũng như bao nhiêu người đàn ông khác, quên ngay đối xử của Tầm trong những ngày qua. Nước mắt mặn và trong của người đàn bà đẹp là một thứ vũ khí, một loại độc dược ngọt ngào nhất của bao nhiêu trang tình sử. Biết vậy, mà đành chịu vậy mỗi khi. Cũng may Tầm ít nước mắt, nên tôi cũng không phải chịu đựng cảnh mũi lòng dài lâu. Nàng chùi nhanh nước mắt, ngước nhìn tôi ánh mắt đắng cay, thảm hại. Qua đôi mắt ấy, tôi biết Tầm đang ngập đầy tủi nhục và hờn căm. Tôi hiểu mình cần phải lấy lại khoảng cách cần thiết của tấm lòng. Lắng nghe và đương đầu trong những nghịch cảnh cần thiết. Xúc cảm chỉ là kết quả của sự nông nổi thói thường, không đáng tin cậy.

               - Không phải chỉ mình em, mà nhiều người đàn bà khác nữa, đều bị hắn lường gạt. Cả tình lẫn tiền. Thật là hổ thẹn và đáng đời cho hạng đàn bà con gái như em...

               - Tầm nói đến người bạn thương gia Hồng-kông, thường đi chung với Tầm. 

            Tôi hỏi thật thận trọng. Bắt đầu câu chuyện không đầu không đuôi, thường là dấu hiệu sắp bùng nổ của người đàn bà, của Tầm.

               - Thằng cha già khốn nạn đó, chớ bạn gì. Hắn làm quen với Tầm trong một cái seminar của hãng e-Trade. Có đầy đủ giấy tờ chứng nhận hắn là đại diện một công ty mua bán thị trường 'stock' lớn nhất nhì Hồng-kông. Hắn tìm mọi cách để Tầm mở trương mục và mua bán 'stock' qua công ty của hắn. Tuần lễ đầu, lời hơn hai chục ngàn. Dễ dàng, tiền bạc kiếm vào như trở bàn tay... Không hiểu ma quỷ dẫn đường thế nào, em trút hết tiền bạc để dành vào trương mục của công ty hắn. Kể cả cái xe Volvo mới vừa trả xong tháng trước. Hắn biến mất. Giấy tờ giả, công ty ma. Nhờ luật sư truy tố, không biết hắn ở đâu, chính quyền cũng đành chịu. Không làm gì hơn được, chỉ biết điền đơn để đó thôi.

            Tôi lắng nghe, ngạc nhiên nhiều hơn thương cảm. Một người như Tầm mà bị lường gạt về lãnh vực "xương máu" của mình. Tôi có thể hiểu và cảm thông an ủi trong mọi hoàn cảnh đau buồn, thất vọng của người thân chung quanh. Nhưng tôi lại rất vụng về khi phải đề cập đến mọi giao cảm đối với những con số. Tôi không có duyên phận và chung đường với nó. Nên tôi chỉ biết yên lặng, chờ đợi. Hèn gì, tôi sực nhớ ra, đã không thấy chiếc xe Volvo S70 màu xanh đậm đậu trước nhà thường khi.

               - Bây giờ em không biết phải làm gì. Món tiền mượn được cuối cùng đã thanh toán hết cho luật sư. Không xe, lại phải làm thêm job ban đêm... Không còn ai để em than oán, nên đành gọi anh. Anh đừng giận Tầm...

               - Xui rủi, không giúp đỡ ai nỡ giận Tầm. Anh có thể giúp gì, Tầm cứ nói.

               - Nhờ anh cho Tầm mượn tạm mười ngàn mua tạm chiếc xe, đi làm. Tầm sẽ trả mỗi tháng. Trong vòng một năm em hứa sẽ trả lại hết cho anh.   

           

Tôi nhớ lại cái trương mục rỗng trơn của mình trong mấy tháng qua. Mỗi thứ mỗi sắm, cơm hàng cháo chợ từ khi dọn ra ngoài. Tuần nào xong tuần đó, tháng nào sạch tháng đó... Tôi bất chợt nhìn khuôn mặt Tầm. Đẹp vô cùng trong nét muộn phiền. Có lẽ, người đàn bà đẹp nhất là những lúc buồn bã, yếu đuối. Nhất lại là những người đàn bà đẹp như Tầm. Ánh mắt chạm nhau. Lặng yên, rung động. Tầm ghì mặt tôi hôn lên môi, quyện đầu lưỡi thật sâu, cuồng nhiệt. Mọi vật chuyển động, hừng hực. Tầm như dồn nén mọi uất ức, tràn ngập, vỡ bờ trong cơn xúc cảm thể xác. Thân thể nàng trắng ngần, mịn màn với hai bờ ngực nhỏ đầy, xinh xắn... Tôi chợt nhớ đến hành lang vắng lạnh dọc theo căn phòng tôi ở. Tôi chợt nhớ đến thân thể nhám lông con và hai vú độn 'silicon' to lớn của đứa con gái Mỹ. Trong căn phòng tối lờ mờ, tôi ngữi có mùi hương trà thoang thoảng đâu đây. Tôi đẩy Tầm ra, bật ngồi dậy. Tất cả bất chợt, ngỡ ngàng. Căn phòng và Tầm nằm sẵn sàng, chờ đợi như tấm gương soi phiá sau cả đoạn đời tôi dĩ vãng. Tôi không thể nhìn lại để đi lùi. Tôi không thể suốt đời làm nô lệ cho những xúc cảm của quá khứ. Thôi tôi ơi, hãy để những ngày ấy lụi tàn...

               - Anh không muốn, Tầm đừng thắc mắc... Anh để lại chiếc xe, ngày mai sẽ trở lại ký giấy chủ quyền cho Tầm. Anh đón xe bus, Tầm không cần phải đưa.

 

            Thời gian nhẹ tênh, trôi ngược. Tôi đi dọc con đường, thư thả về một nơi đã định. Gió se sắt lạnh, phả lên khuôn mặt tôi nỗi cô-đơn-hạnh-phúc vô cùng. Dưng không tôi thèm một tách trà, một bàn tay gầy guộc,  xanh xao. Có chút hương đêm loang tỏa, bâng khuâng trĩu nặng những con đường dẫn bước chân theo. Chừng như có cửa sổ nhà ai quên khép khung che, để vệt đèn khuya soi lệch một góc đời...

 

Durham, North Carolina

Nguyễn Vĩnh Long