THƠ VĂN

 

Lê Cần Thơ

Huyền Vân Thanh

Châu Lê

Lê Hoàng Viện

Houston, Texas

TỰ TÌNH MÙA HỌP MẶT


* Viết để tặng Thầy Cô và bạn học vào dịp họp mặt gia đình PTG ĐTĐ hàng năm
do dịch cúm Vũ Hán nên không tổ chức được ĐH XXIV - 2020 ở Boston MA)

Biết rằng gặp lại rồi xa
Biết thời gian vẫn vượt qua tuổi đời
Nhưng làm sao khỏi gọi mời
Bởi trong tiềm thức sáng ngời tuổi tên…
Nhớ Thầy Cô, thuở hoa niên
Đứng trên bục giảng gương hiền sáng soi
Oai nghiêm, đạo đức toả ngời
Chuyền bao kiến thức, trau giồi nghĩa nhân.
Thầy Cô, dù khó vẫn gần
Nụ cười luôn nở mỗi lần gặp nhau...
Bạn bè gặp lại "mầy, tao"
Dù trên mái tóc ngả màu muối, tiêu...
Chỉ vì lưu luyến, thương yêu,
Chỉ vì kỷ niệm quá nhiều trong tim
Chỉ vì kẻ kiếm, người tìm
Chỉ vì thời cuộc gây niềm đau thương
Cách chia trăm hướng ngàn phương
Giờ đây họp mặt, vấn vương, tự tình...
Mỗi năm sinh hoạt gia đình
Thầy Cô, bè bạn... chúng mình gặp nhau
Thoả lòng mong đợi, ước ao
Môn sinh được dịp kính chào Ân Sư...

Houston, 20 tháng 7-2020
HUYỀN VÂN THANH
(Văn nghệ VỀ NGUỒN Tây Đô)

                                                   

 

 

                                CHÂU LÊ 

 

                                          "HÙM CHẾT ĐỂ DA

                   NGƯỜI TA CHẾT ĐỂ TIẾNG"

 

Có lẽ ai trong cuộc sống nầy, ít nhất đã một lần nghe câu nói của người xưa "hùm chết để da, người ta chết để tiếng", nhằm để nhắc nhở về đạo lý ở đời, cố làm điều tốt, điều thiện, tránh xa cái xấu, cái ác... Chẳng hạn, vị vua cuối cùng nhà Hậu Lê là Lê Duy Khiêm (B. tuất 1766 - Q. sửu 1793) miếu hiệu Mẫn đế, vì hiệu năm là Chiêu Thống nên cũng gọi là vua Lê Chiêu Thống. Năm M. thân 1788, Tây Sơn ra Thăng Long lần II, ông bỏ ngôi chạy trốn quanh quất trong hai miền Kinh Bắc và Sơn Nam. Rồi vì ông cầu cứu với nhà Thanh, dẫn đường cho Tôn Sĩ Nghị đem quân Thanh xâm lược nước ta. Đến tháng giêng năm K. dậu 1789, Tây Sơn đánh tan quân Thanh, Chiêu Thống và đám quần thần lưu vong ở Trung Quốc, bị bạc đãi, hắt hủi, vua tôi ông xiết bao tủi nhục. Bọn quan lại nhà Thanh bắt một số tòng thần cho lên xe trâu đày ra xa ngoài 300 dặm. Tình thế ngày càng tuyệt vọng, Chiêu Thống bịnh nặng, đến ngày 16 tháng 10-1793 chết tại Yên Kinh (*). Cuộc đời Lê Chiêu Thống là một bài học xấu muôn đời trong lịch sử. Còn Trần Ích Tắc là con thứ của vua Trần Thái tông, tước Chiêu Quốc vương, khi quân Mông Nguyên sang xâm lược (Â. dậu 1285), ông ta đầu hàng quân Nguyên rồi theo chúng về Trung Quốc, ngụ ở Hán Dương (thuộc tỉnh Hồ bắc). Lúc đầu, vua Nguyên phong ông ta làm An Nam Quốc vương, định dùng ông ta làm chiêu bài để thi hành mưu chước xâm lược lần  nữa, nhưng thất bại, sau chỉ làm Bình chương ở Hồ Quảng. Khi Nguyễn Đại Pháp đi sứ sang Trung Quốc có gặp Trần Ích Tắc nhưng không chào hỏi. Ông ta ngạo mạn bảo Đại Pháp: "Nhà ngươi là gia đồng của Chiêu Đạo vương ngày trước phải không?". Đại Pháp đáp: "Việc đời thay đổi, Đại Pháp tôi ngày trước là tên hầu trà của Chiêu Đạo vương, mà nay là sứ thần. Cũng như ngài, trước là con vua mà nay là tên hàng thần nước người!". (*) Câu trả lời của vị sứ thần là cái tát vào mặt Trần Ích Tắc để đời trong lịch sử.

Nhắc lại hai sự kiện trên trong lịch sử trên đây, tôi lại nhớ đến những chuyện, dù xảy ra mới hơn nửa thế kỷ mà tôi được nghe và biết liên quan đến số phận dân tộc Việt Nam ta. Tôi xin đề cập một nhân vật đi vào lịch sử, biết rằng những người thân tính, có thể gia tộc hoặc người thân của ông ấy hiện còn có mặt trong cõi nhân sinh nầy, nhưng tôi vẫn phải nói lên cảm nhận của mình: đó là tướng Dương Văn Minh. Tôi biết tên ông là một trong những quân nhân cầm đầu cuộc đảo chánh lật đổ vị Tổng thống Đệ nhất cộng hoà Ngô Đình Diệm ngày 1 tháng 11 năm 1963, nhưng khi Tổng thống Ngô Đình Diệm và cố vấn Ngô Đình Nhu bị giết chết (rạng sáng ngày mùng 2 tháng 11-1963), ông chẳng làm nên thành tích nào để đời cả. Nền đệ nhị cộng hoà, do những phức tạp khác mà dẫn đến hệ lụy năm 1975, tôi xin nhắc đến những ngày cuối cùng có sự xuất hiện của ông lần hai (xin được giao quyền Tổng Thống) rồi để đời câu nói lịch sử "buông súng đầu hàng vô điều kiện!". Sau Hiệp định Paris ký ngày 27 tháng giêng 1973, Mỹ lần lượt rút quân ra khỏi Việt Nam, viện trợ của Hoa Kỳ đã cắt giảm nhiều, trong đó vũ khí đạn dược trang bị cho quân lực ngày càng cạn kiệt, trong khi miền Bắc Việt Nam, Nga Sô và Trung Cộng tăng cường viện trợ, trang bị vũ khí đạn dược tối tân cho bộ đội để ào ạt chuyển quân vào đánh cướp miền Nam. Trên chính trường miền Nam, những thành phần chủ hoà, thân cộng... đã gây áp lực buộc Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu phải từ chức, Cụ Trần Văn Hương - Phó Tổng Thống theo Hiến pháp - lên thay chức Tổng Thống. Tôi xin nhắc lại chi tiết nầy, vì nghĩ rằng ai trong chúng ta cũng xem và nghe được trên đài truyền hình Sài Gòn. Cụ Trần Văn Hương kể: "Đại tướng Dương Văn Minh nói với tôi: "Thưa Thày, suốt cuộc đời Thày đã hy sanh vì dân vì nước nhiều rồi. Bây giờ thày hy sanh một lần nữa cũng chẳng sao. Thày giao chức Tổng Thống lại cho tôi". Cụ Hương trả lời: "Xin lỗi Đại Tướng, chức Tổng Thống do dân bầu ra chớ không phải là cái khăn mu-soa, một tờ giấy bạc trong tay tôi móc ra muốn trao ai thì trao nghe Đại tướng!". Dù nói khẳng khái như vậy, nhưng do áp lực của những người làm chánh trị trong Lưỡng Viện Quốc Hội, lúc 5 giờ chiều ngày 28 tháng 4 năm 1975 tại Hội trường Diên Hồng trong Dinh Độc Lập, với sự hiện diện của khoảng 200 người gồm đại diện Thượng và Hạ Viện, Tối Cao Pháp Viện, Giám Sát Viện và một số tổng bộ trưởng trong chánh phủ Nguyễn Bá Cẩn, và hàng trăm ký giả chứng kiến buổi lễ "trao quyền". Cụ Tổng Thống Trần Văn Hương đọc bài diễn văn cuối cùng "trao quyền" cho ông Dương Văn Minh, để rồi chỉ trong một thời gian ngắn ngủi, ông đã tuyên bố đầu hàng vô điều kiện. Hãy nghe nhân chứng có mặt trong Dinh Độc Lập kể:

                                    "Sau khi cựu TT Trần Văn Hương trở về chỗ ngồi, bục diễn đàn                                      vẫn trống trơn. Dương Văn Minh vẫn ngồi yên không hề nhúc                                      nhích. Một người lính tiến vào dưới hàng đèn phản chiếu                                            và gỡ hai lá cờ đem ra khỏi phòng. Sau đó anh ta trở lại tháo                                        gỡ quốc huy cũ của Việt Nam Cộng Hoà gắn trước bục diễn

                                    đàn rồi một người lính khác mang đến gắn huy hiệu mới của                                        Dương Văn Minh, đó là hình hoa mai năm cánh nằm trong                                           dấu hiệu âm dương của người Trung Hoa, tượng trưng cho                                          hai yếu tố đối nghịch tạo thành sự đồng nhất trong vũ trụ". Ông Dương Văn Minh chỉ đọc diễn văn mà không hề tuyên thệ. Như vậy, cho tháo gỡ hai lá quốc kỳ trước khi đọc diễn văn và không thèm tuyên thệ khi nhậm chức Tổng Thống VNCH, phải chăng ông Dương Văn Minh muốn gián tiếp nói với phe Cộng sản rằng ông ta đã xé bỏ bản Hiến Pháp năm 1967 của Việt Nam Cộng Hoà, không còn liên hệ gì đến chế độ Đệ Nhị Cộng Hoà nói riêng và cả lịch sử ba mươi năm chống lại Đảng Cộng sản Việt Nam để bảo vệ tự do cho những người Việt Nam không chịu sống chung với Cộng sản từ miền Bắc cho đến miền Nam sau này nói chung?"(**).

Vào lúc 10 giờ 24 phút sáng ngày 30 tháng 4 năm 1975, "Tổng Thống" Dương Văn Minh đã đọc nhật lệnh trên đài phát thanh Sài Gòn ra lệnh cho tất cả mọi quân nhân thuộc Quân Lực VNCH phải buông súng đầu hàng. Ông Dương Văn Minh tuyên bố như sau:

"Đường lối, chủ trương của chúng tôi là hoà giải và hoà hợp dân tộc để cứu sinh mạng đồng bào. Tôi tin tưởng sâu xa vào sự hoà giải giữa người Việt Nam để khỏi phí phạm xương máu của người Việt Nam. Vì lẽ đó, tôi yêu cầu tất cả các anh em chiến sĩ Việt Nam Cộng Hoà hãy bình tĩnh ngưng nổ súng và ở đâu thì ở đó.

"Chúng tôi cũng yêu cầu anh em chiến sĩ Chính Phủ Cách Mạng Lâm Thời Cộng Hoà Miền Nam Việt Nam ngưng nổ súng, vì chúng tôi ở đây đang chờ gặp Chính Phủ Cách Mạng Lâm Thời Cộng Hoà Miền Nam Việt Nam để cùng nhau thảo luận lễ bàn giao chính quyền trong vòng trật tự, tránh sự đổ máu vô ích cho đồng bào".(**).

Lúc 12 giờ 15 trưa ngày 30-4, khi chiến xa mang số 879 của Lữ Đoàn Thiết Giáp 203 của quân đội Cộng sản Bắc Việt ủi sập hàng rào sắt tiến thẳng vào Dinh Độc Lập, "Tổng Thống" Dương Văn Minh thấy vị sĩ quan Cộng Sản đeo đầy sao vàng trên cầu vai nền đỏ, vì không biết cấp bậc của Quân đội Nhân Dân miền Bắc nên ông Minh tưởng rằng đang đứng trước một tướng lãnh cao cấp: "Thưa Quan Sáu, tôi đã chờ ông từ ban sáng để trao quyền cho ông". Viên sĩ quan Bắc Việt chỉ huy đoàn chiến xa nầy là Thượng Tá Bùi Tùng đã dùng danh từ "mày, tao" xẳng giọng hách dịch và đanh đá lên tiếng:

"Mày dám nói trao quyền hả? Mày chỉ là một kẻ cướp quyền và một bù nhìn. Mày làm gì có quyền nào để trao cho tao? Chúng tao lấy được quyền đó bằng khẩu súng này đây. Ngoài ra tao xác nhận với mày là tao không phải là tướng mà chỉ là một trung tá ủy viên chính trị của một đơn vị chiến xa. Kể từ bây giờ tao cấm mày không được ngồi xuống!" (**). [Đoạn trích trên đây được Trần Đông Phong tác giả cuốn VNCH Mười Ngày Cuối Cùng ghi chú ở cuối trang 362: "Dương Hiếu Nghĩa: "Hồi Ký Dang Dở", kể lại theo lời của Trung Tá Nguyễn Văn Binh, cựu Quận Trưởng Gò Vấp, cựu dân biểu, có mặt tại Dinh Độc Lập vào trưa ngày 30 tháng 4 năm 1975 khi quân Bắc Việt chiếm Sài Gòn. Xuân Thời Luận, California 2004, trang 141 - CL ghi  thêm].

Thế nhưng, chiều hôm đó bọn chúng không cho phép Dương Văn Minh đọc lời đầu hàng tại Dinh Độc Lập tức là Phủ Tổng Thống VNCH mà áp giải đến đài phát thanh Sài Gòn để đọc lời kêu gọi như sau: "Tổng Thống chính quyền Sài Gòn kêu gọi Quân lực Việt Nam Cộng Hoà hạ vũ khí, đầu hàng vô điều kiện Quân Giải Phóng Miền Nam Việt Nam. Tôi tuyên bố chính quyền Sài Gòn, từ trung ương đến địa phương phải giải tán hoàn toàn. Từ trung ương đến địa phương trao lại cho Chính phủ Cách Mạng Lâm Thời Cộng Hoà Miền Nam Việt Nam".

Khác với hình ảnh và tư cách của ông Minh, tôi lại muốn đem so sánh đến hành xử và tư cách của một vị tướng khác mà tôi vừa đọc được bài viết của tác giả Lê Văn Hưởng. [xin mở ngoặc nhắc chi tiết: Sở dĩ tôi để ý đến vị tướng nầy, vì thời ông làm Tỉnh Trưởng Phong Dinh thì tôi là học sinh trường trung học Phan Thanh Giản, từng được lãnh thưởng danh sự của Tổng thống Ngô Đình Diệm và của Tỉnh trưởng tặng mỗi cuối năm học. Khi miền Nam bị cộng sản cưỡng chiếm thì ông là Thiếu Tướng, còn tôi chỉ là Trung Úy biệt phái ngoại ngạch, cùng lúc ra trình diện tại Quân trấn Cần Thơ trên đường Ngô Quyền (đối diện trường Nữ tiểu học). Tôi nhớ khoảng hơn 9 giờ sáng ngày 5 tháng 5 năm 1975, những quân nhân chúng tôi gồm Thiếu tướng Trần Bá Di (vừa mới chết tại Florida), Đại Tá Bùi Quang Hiền (phụ tá Tư lệnh Quân đoàn - đặc trách Nhân Dân Tự Vệ QĐ IV - quân khu 4 - đã chết), Thiếu Tá Nguyễn Ngọc Lựu (phụ tá Tỉnh Thị Trưởng - đặc trách Nhân Dân Tự Vệ tỉnh Phong Dinh và thị xã Cần Thơ - đã chết), Đại Úy Huỳnh Quang Toản (Trưởng Ty Nhân Dân Tự Vệ tỉnh Phong Dinh - ông là anh em bạn rể với hai tướng Đặng Văn Quang và Nguyễn Xuân Trang - đã chết trong trại tù ở Cù lao Dung), Trung Úy Huỳnh Long Nhựt (Trưởng Ban Kế hoạch phòng NDTV thị xã Cần Thơ - không biết tin), Trung Úy Lư Hinh (Trưởng Ban Tuyên Huấn phòng NDTV thị xã Cần Thơ - Calgary Canada) và tôi - Trung Úy biệt phái ngoại ngạch - phụ trách Trưởng Ban Tuyên Huấn kiêm Kế Hoạch ty NDTV tỉnh Phong Dinh. Đóng ngoặc].

Xin phép tác giả Lê Văn Hưởng cho tôi đưa trọn bài viết ngắn "Ông Lão Bán Kem" được ghi chú thời gian năm 1994 tại địa điểm khu giải trí Splendid China, Orlando để giới thiệu cùng bạn đọc trang sổ tay.

                                 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

   "Trời nắng chang chang, với cái nóng nung người của tiểu bang Florida vào mùa hè lối 90 độ F (32 độ C). Trước cửa tiệm bán hàng lưu niệm (Gift Shop) đông người, một ông lão người Việt Nam đứng bán kem cho du khách. Xe bán kem có hình dáng như cái thùng vuông dài, bên ngoài có sơn chữ và hình vẽ mấy bịch kem đông lạnh. Khách khá đông, ông tươi cười với mọi người. Cách đó không xa, một du khách Việt Nam khác, đứng tuổi, nhìn ông bán kem một cách chăm chú, nghĩ mình đang gặp lại một người quen biết từ khi còn ở quê nhà mấy mươi năm về trước. Khách lạ bước đến gần xe kem trong khi ông bán hàng đang bận rộn với khách. Nhìn bảng tên gắn trên áo ông lão bán kem, khách lạ mừng thầm vì đúng tên người mình quen biết. - Chà! "Tha hương ngộ cố tri", còn gì quý cho bằng? - ông suy nghĩ. Đợi đến khi xe kem vắng khách, người khách lạ lên tiếng: - Xin lỗi ông, có phải khi xưa ông làm tỉnh trưởng tỉnh Cần Thơ không? Ông bán kem giật mình, phản ứng ngay: - Không phải đâu, chắc ông lầm người rồi! Người khách lạ "cụt hứng" rồi tự trách: - Mình hấp tấp quá, không lẽ khi xưa ông làm tỉnh trưởng, giờ nầy lại đứng ở đây? Suy tới suy lui, khách lạ chưa chịu thua, nghĩ thầm: - Rõ ràng tên ông trên thẻ trước ngực, sao lầm được? Dáng vóc cũng cao ráo như xưa, nét mặt, cũng vậy, tuy phong trần hơn trước? Khách lạ trở lại ông lão bán kem: - Thưa ông, tôi không lầm đâu, tôi nhớ ơn ông lắm, nhờ ông mà anh em nhà thầu chúng tôi làm ăn rất thoải mái dưới thời ông về làm đầu tỉnh Cần Thơ. Thấy người khách lạ quả quyết, ông bán kem mỉm cười: - Đúng là tôi, nhưng đó là chuyện xa xưa rồi, nhắc làm gì? Từ đó, người khách lạ kết thân với ông bán kem, vì thương mến một công bộc liêm chính mà giờ này sa cơ thất thế. Trong mấy lần gặp gỡ sau đó tại tiệm ăn ngoài Splendid China, khách lạ tâm tình với ông bán kem: - Em thường đấu thầu xây cất cho tỉnh, đời mấy ông tỉnh trước, tụi em gặp khó khăn nhiều, nhưng từ khi ông về làm tỉnh trưởng mấy năm 63 tới 65, tụi em dễ thở hơn nhiều, người nào làm đúng luật lệ thì được trúng thầu, tụi em làm ăn thoải mái, bởi vậy, tụi em nhớ ơn ông hoài... Gặp người tri kỷ, ông lão bán kem thổ lộ: - Tôi có giúp gì ông đâu, đó chẳng qua là nhiệm vụ của tôi thôi. Tổng Thống tín nhiệm tôi, giao chức vụ tỉnh trưởng là để tôi lo an ninh cho người dân, công tác chánh của tôi là về mặt quân sự, dẹp CS quấy rối đồng bào. Dưới quyền tôi, có ông phó tỉnh trưởng dân sự, mọi việc về hành chánh, tôi giao cho ông phó làm hết, nhưng tôi có đặt tiêu chuẩn làm việc, là phải hết sức liêm chánh, không được ăn lối lộ hay có hành vi tham nhũng, v. v... thì ta mới được lòng dân. Trong thời gian ông bán kem tại khu giải trí SC, cũng có một số du khách người Việt Nam nhận ra ông, tỏ lòng thương mến, "tội nghiệp" ông. Ông khẳng khái trả lời: - Cám ơn quý vị đã còn nhớ tới tôi, có cảm tình với tôi nhưng xin quý vị đừng tỏ ra tội nghiệp cho tôi, tôi không thích như thế. Có gì đáng phải tội nghiệp đâu? cộng sản nhốt tôi, giam cầm mấy mươi năm tù, ra được xứ tự do, làm nghề gì đi nữa, miễn chính đáng, vẫn còn sướng hơn ở với CS mà! Nhắc đến việc CS giam cầm, ông nhấn mạnh: - Không nên dùng chữ "tù cải tạo" đối với chúng tôi, nhà tù CS là nơi chúng hành hạ, trả thù, hạ nhục người Quốc Gia, tù là tù chớ không có "cải tạo" gì hết. Ông bán kem trong khu giải trí Splendid China nói trên là cựu Thiếu Tướng Trần Bá Di. Vinh danh một bậc đàn anh gương mẫu.

   Bài viết ngắn hôm nay chỉ nêu vài sự kiện nổi bật, chớ không thể nói lên hết sự nghiệp to lớn của ông trên chiến trường. Lúc còn là tỉnh trưởng Cần Thơ, cấp bực ông là Thiếu Tá, sau lên Trung Tá. Ông nổi tiếng trong các trận đánh như sau: - Giải tỏa tỉnh Vĩnh Long trong Tết Mậu Thân 1968. Sự việc diễn tiến như dưới đây: Gần Tết Mậu Thân, (tháng 1/1968), hai ông đầu tỉnh là Trung Tá Nguyễn Ngọc Diệp và Phụ Tá đi hành quân. Trên đường về, hai ông bị VC phục kích và bị thương, phải chở vào bệnh viện điều trị. Tỉnh Vĩnh Long như rắn không đầu. Thiếu Tướng Lâm Quang Thi, Tư Lệnh Sư Đoàn 9, chỉ định Thiếu Tá Dương Hiếu Nghĩa tạm thời phòng thủ Vĩnh Long. Khi tiếng súng Tết Mậu Thân bùng nổ, Thiếu Tá Nghĩa đã về Sài Gòn thăm gia đình và bị kẹt lại đó. Tướng Thi chỉ thị Đại Tá Trần Bá Di, đang là Tư Lệnh Phó Sư Đoàn 9, vào Vĩnh Long để nghiên cứu tình hình và đối phó với Việt Cộng. Vào chiều tối, một mình với máy truyền tin trên lưng, ông được trực thăng chở đi, dự định đáp vào khuôn viên của tỉnh, nhưng trực thăng bị VC bắn rát quá, phải thả ông tại cầu tàu, rồi từ đó, ông chạy bộ vài chục bước vào được dinh tỉnh trưởng. Tại đây, ông bắt đầu liên lạc với các đơn vị chiến đấu để lo việc phòng thủ, chỉ dẫn trực thăng, pháo binh... bắn vào các điểm tập trung của VC. Nhưng VC vẫn cầm cự, quyết tâm đánh úp tỉnh lỵ, ông phải xin tướng Thi cho tăng viện, nhờ vậy, mấy ngày sau, một Trung Đoàn của ta mở đường tiến vào căn cứ của tỉnh. Sau cùng, ông chỉ huy phá tan lực lượng VC, chúng bị giết hay đầu hàng gần hết. - Trận đánh vào đất Miên, danh ông càng nổi lên năm 1970, khi ông làm Tư Lệnh Sư Đoàn 9 Bộ Binh đánh vào mật khu Ba Thu của VC trên đất Miên (tỉnh Tà Keo), phá hủy cơ sở của chúng, tịch thu vô số chiến lợi phẩm... Ngoài ra, quân ta còn tìm thấy nhiều nhà in và máy in tiền của Mặt Trận Giải Phóng, tiền này chúng tính đem ra thay thế tiền VNCH nếu chúng thắng Miền Nam năm 1968. Ông được thăng cấp đặc biệt tại mặt trận này. Anh hùng sa cơ. Đến năm 1975, khi VC vào chiếm miền Nam, chúng bắt ông và đày ải vào các trại tù trong hơn 17 năm trời. Hai năm sau khi VC thả, ông qua Mỹ năm 1993 theo diện HO (Humanitarian Operation: Chương trình định cư tại Mỹ dành cho người bị CS giam cầm sau 1975). Ba tháng sau khi hoàn tất thủ tục nhập cư, y tế, bằng lái xe, ông bắt đầu đi làm  tại hãng Dobbs, hãng chuyên cung cấp thức ăn cho hành khách trên máy bay. Làm việc tại đây hơn 6 tháng, ông qua khu du lịch Splendid China như có nói trên. Thời gian sau, ông xin vào làm tại Disney World với nhiệm vụ "trưng bày hàng lên kệ" (floor stacker). Ông làm việc tại đây trong 12 năm trời, từ 1999 đến 2011, chỉ thôi việc vì bị đau nhức vào tuổi 80. Tổng cộng thời gian làm việc tại Dobbs, Splendid China và Disney World, ông đã đóng thuế Liên Bang Hoa Kỳ 18 năm, quá tiêu chuẩn 10 năm để được tiền hưu. Có lần, một giám thị ở Disney World khuyên ông: - "You" lớn tuổi rồi, sao "you" không ở nhà nghỉ cho khỏe? - Tuy tuổi đã cao nhưng sức khỏe còn tốt là tôi không nghỉ!- ông đáp ngay. Cũng có người thấy ông cao tuổi, hỏi ông: - Cụ đi làm chi cho khổ, ở nhà lãnh tiền trợ cấp có sướng hơn không? Câu trả lời: - Tôi không "chơi" mấy thứ đó. Tôi rất tự hào không "ăn" một ngày tiền an sinh xã hội, tiền già, tiền tàn tật... Đối với anh em chúng tôi ở tù CS, người Mỹ dành một chương trình đặc biệt để đem chúng tôi đến xứ tự do, hưởng được cuộc sống an toàn trong công bằng, chừng đó thôi đủ để mình biết ơn chính phủ và nhân dân Hoa kỳ rồi, vì lẽ đó, tôi không muốn ngồi chơi để lãnh tiền cấp dưỡng, tạo thêm gánh nặng xã hội cho đất nước này trong khi tay chân còn lành lặn, còn đủ sức khỏe để đi làm. 

     Theo trên, tướng Trần Bá Di là một người rất đặc biệt. Khi còn trong Quân Đội, ông là một công bộc liêm chính, một cấp chỉ huy tài ba, gan dạ, bình dân, yêu thương lính. Đến tuổi cao niên, ông vẫn giữ khí phách của một người hùng. Thiếu Tá Nguyễn Kim Sơn, cựu Chỉ Huy Trưởng Pháo Binh Sư Đoàn 9 Bộ Binh, từng làm việc dưới quyền của tướng Trần Bá Di, có viết trong tuyển tập "Cái Chết Của Một Dòng Sông" như sau: "Thiếu Tướng Trần Bá Di có tấm lòng hiền hòa đức độ nên được thuộc cấp kính trọng và thương mến. Ngày ông rời khỏi Sư Đoàn 9 Bộ Binh, quân dân tỉnh Vĩnh Long đã giăng biểu ngữ khắp đường phố trong tỉnh lỵ để tỏ lòng thương mến và luyến tiếc ông". Mặt khác, trong phúc trình 6 trang giấy gởi về chánh phủ Hòa Kỳ ngày 5 tháng 12 năm 1973, Đại Sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam, Graham Martin, có ca ngợi cuộc đời và binh nghiệp của tướng Trần Bá Di trải qua mấy mươi năm chỉ huy các đơn vị tác chiến trên chiến trường miền Nam, từ cấp Trung Đội, Đại Đội, Tiểu Đoàn, Trung Đoàn, đến Sư Đoàn... Nhắc đến sự liêm chính của tướng Di, phúc trình của Đại Sứ Martin có ghi một đoạn như sau: "Gia đình có 4 con, ba trai một gái từ 17 đến 8 tuổi. Báo cáo cho biết là gia đình ông sống bằng lương bổng nhà binh của ông và không có ghi nhận hành vi tham nhũng nào của ông hay của phu nhân ông". Nguyên văn Anh văn như sau: "They have four children, three boys and a girl from 17 to 8. The Di's reportedly live on his military income and there has been no mention of corrupt activities on his or his wife part". Tài liệu trên được chánh phủ Hoa Kỳ giải mật ngày 13 tháng 8, năm 2009. Thiếu Tướng Trần Bá Di mất ngày 23 tháng Ba, năm 2018, tại Orlando, Florida, hưởng thọ 87 tuổi. Người đời có câu: "Hùm chết để da, người ta chết để tiếng", Tướng Trần Bá Di ra đi để lại danh thơm muôn đời! 

            Tôi đã dài dòng như trên để muốn gợi lại một chi tiết quan trọng khác, mà một nhân vật cũng là tướng lãnh quân lực VNCH, theo tôi thật xứng đáng được đời đời nhắc nhở và thương kính (dù biết rằng cũng có nhiều người chỉ trích ông), đó là cố Trung Tướng - cựu Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu. Câu nói để đời trong lịch sử: "Đừng tin đừng ghe những gì Cộng sản  nói, mà hãy nhìn kỹ những gì Cộng sản làm". Với riêng tôi, tôi rất tâm đắc câu nói nầy, và rất kính phục khi đọc lại, nghe lại bài nói chuyện của Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu ngày 24 tháng 10 năm 1972, trước khi Việt Nam Cộng Hoà bị áp lực buộc phải ký vào Hiệp định Paris 1973. Xin trích như sau:

         "Tôi thiết tha kêu gọi những ai, ở miền Nam này, đang ăn cơm miền Nam, đang thở không khí miền Nam, đang được sự che chở của xương máu Dân Quân miền Nam, mà đến ngày nay, còn âm thầm tiếp tay với Cộng sản, còn lén lút đi đêm với Thực dân, Ngụy hòa, còn tính đâm sau lưng chiến sĩ đồng bào... Tôi kêu gọi lương tri của mấy người, vì đất nước, vì dân tộc, hãy dừng chân lại, hãy dừng tay lại, hãy từ bỏ ý định đó đi mà cùng với 17 triệu rưỡi Dân Quân miền Nam chiến đấu chống kẻ thù Cộng sản. Tôi kêu gọi mấy người hãy suy nghĩ, nếu thích Cộng sản thì hãy có can đảm ra ngoài Bắc ở với Cộng sản, như vậy Cộng sản còn ít khinh rẻ mấy người hơn là làm tay sai cho chúng ở miền Nam này.

         Có thể không ai ở miền Nam tự do này giết mấy người đâu, nhưng chính Cộng sản sẽ giết mấy người.

         Mấy người nếu muốn có tên trong lịch sử, thì cũng có hai lối có tên trong lịch sử. Một đàng khi nhắc đến, thì toàn dân cúi đầu khâm phục, con cháu lại ngẩng đầu lên hãnh diện. Một đàng khác, khi nhắc đến, thì toàn dân ngẩng đầu lên nguyền rủa, còn con cháu mấy người lại cúi đầu tủi nhục. Tôi chắc mấy người sẽ được lịch sử ghi tên vào hạng thứ hai này.

         Nếu mấy người không cầm súng xông pha lửa đạn để chiến đấu, nếu không làm được một việc gì hữu ích cho hậu phương thì mấy người đừng làm gì hại dân bán nước.

         Một hành động ngu xuẩn, phản bội Tổ Quốc, Chiến Sĩ và Nhân Dân, dù có gạt được ai 5, 3 tháng, 5, 3 năm, rồi cũng sẽ bị lịch sử lôi ra chứng minh và cũng sẽ bị trừng trị nghiêm khắc.​​​ Họ là những kẻ góp phần lớn vào sự sụp đổ của Việt Nam Cộng Hòa. Họ không ngừng cực lực lên án chính phủ Quốc gia và không ngừng xuống đường liên tục với đủ sắc áo màu cờ nhân danh phản chiến và hòa bình. Những chiến sĩ VNCH hy sinh biết bao xương máu ngoài mặt trận trong suốt 21 năm trời để bảo vệ hậu phương cho họ tự do lợi dụng và khai thác thể chế dân chủ và tự do để gây rối loạn ở hậu phương. Vô tình hay hữu ý hay thơ ngây, họ trở thành ngọn giáo nối dài của Cộng sản đâm vào hậu phương từng nuôi dưỡng, giáo dục và bảo vệ họ và gia đình. Họ là những sinh viên, trí thức, văn nghệ sĩ, chính trị gia, tu sĩ, và thành phần thứ ba ở miền Nam.

         Những kẻ phản chiến và ngụy hòa này, tức những kẻ đối lập cửa trước rước giặc cửa sau vì, xét cho cùng, trung lập trong chiến tranh chính là bạn của kẻ thù. Nhưng cuối cùng khi cuộc chiến tàn, họ bị Cộng sản bỏ rơi, coi thường, hay cả bị tù đày. Họ chính là những kẻ mà Lenin đặt tên là "những kẻ ngu xuẩn có ích" cho cộng sản. Họ hiện diện thường xuyên trên các đường phố ở miền Nam và Mỹ kêu gọi hòa bình mà thực tế mở đường cho cuộc chiến tranh mới không tiếng súng nhưng tàn ác gấp bội lần".

 

Cựu Tổng Thống từ chức Nguyễn Văn Thiệu đã ra người thiên cổ, nhưng qua lời phát biểu trên rất hay và chính xác; câu nói để đời của ông nhân định về cộng sản với cái nhìn cùng sự hiểu biết rất đáng khâm phục, nghĩ rằng những người viết lịch sử chân chính không nên bỏ qua. Cũng như tác giả Lê Văn Hưởng đã viết: Người đời có câu: "Hùm chết để da, người ta chết để tiếng", Tướng Trần Bá Di ra đi để lại danh thơm muôn đời! Tôi nghĩ, cựu Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu và các vị tướng lãnh, quân nhân các cấp dũng cảm tuẫn tiết khi nghe Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng, dù chết đi cũng đã để lại danh thơm muôn đời.

 

CHÂU LÊ

 

[(*) Nhân Vật Lịch Sử Việt Nam của Nguyễn Quyết Thắng - Nguyễn Bá Thế - NXB Khoa Học Xã Hội 1992, bản in lần thứ 2, tr 330 và tr 866)

(**) Việt Nam Cộng Hoà, Mười Ngày Cuối Cùng của Trần Đông Phong - S Nam Việt 2006     

_________________________

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

THƠ HUYỀN VÂN THANH

 

                       BÓNG THỜI GIAN

 

                                                                * kính nhớ Thầy Cô và bạn học năm xưa

                                   * riêng tặng học trò già HTT với "bộ tự điển kỷ niệm vô giá"

 

Đầu năm lục lại chồng ảnh cũ

Chợt thấy lòng nghe nỗi ngậm ngùi

Những bạn, những Thầy Cô buổi trước

Dậy lên thương cảm nhớ khôn nguôi.

 

Có thể giờ nầy nơi chụp ảnh

Còn ai chạnh nhớ chỗ ngồi xưa

Còn ai điểm lại người bên cạnh

Để nhắc nhau kỷ niệm sớm trưa.

 

Nhớ mặt quên tên sao tránh khỏi

Thời gian mòn xoáy trí con người

Nếu chưa lẫn lộn quanh cuộc sống

Diễm phúc nào hơn một kiếp đời.

 

Bao nhiêu chuyện cũ về trong trí

Thoáng hiện... dường như mới thuở nào

Cái tuổi học trò nhiều mộng mị

Xa vời như một giấc chiêm bao.

 

Ảnh cũ người xưa nhoà sắc nét

Thầy Cô đứng giữa học trò yêu

Bạn bè hoan hỉ vui ra mặt

Đọng lại niềm thương đẹp mỹ miều.

 

Nhớ lắm một thời thơ mộng cũ

Giờ đây khép chặt bóng thời gian

Kẻ còn người mất đời rêu phủ

Muôn kiếp mờ phai giữa dặm ngàn.

 

10-15-2013

HUYỀN VÂN THANH

                                                (Về Nguồn - Tây Đô)

Nhân 1 bạn đồng lớp vừa mới ra đi, cùng nhìn lại những người Đệ Thất D 60-61:

 

LẠI NHỚ BẠN

LỚP ĐỆ THẤT "D" NĂM XƯA

                           

Lê Hoàng Viện

(CHS PTG (1960 - 1968)

         Hôm nay là ngày 31 tháng 12 năm 2006, thời hạn cuối nhận bài cho đặc san 12 PTG & ĐTĐ, nhìn số bài gởi về tôi rất vui, vì thầy cô và đồng môn đã dành nhiều tình cảm cho BBT. Nhưng có một bao thư của đồng môn ở Watertown MA gởi, tôi nhớ có 12 tấm ảnh mà bị thất lạc không có trong số bài nầy, bởi chị gởi rất sớm, gởi ngay sau khi dự đại hội X ở Hoa Thịnh Đốn về. Gần cả ngày bỏ công tìm kiếm, sau cùng mới nhớ ra là vì sợ bị mất số ảnh quý báu đó nên tôi đã cất vào hồ sơ riêng của gia đình để mang theo khi phòng chống bão lụt. Nhờ lục tìm như vậy mà chợt nhiên trong tâm trí tôi lại hiện lên hình ảnh bạn bè cùng trường rồi cùng lớp của thời Trung học Phan Thanh Giản trong một ký ức thật xa vời. Tôi nhớ Kiều Tâm Khánh Lê Công Sinh với bài thơ 16, 17, 18, 19 đăng trong giai phẩm Phan Thanh Giản số đầu tiên năm Giáp Thìn 1964 mà trong số báo đó tôi có bài viết ngắn "Nếu Tôi Còn" ký tên Huyền Vân Thanh và bài thơ Bâng Khuâng ký tên Trang Yến Linh. Anh Lê Công Sinh đã chết rồi!. Tôi nhớ Hồ Trung Thành với bài viết vui "Tự điển bỏ túi" cũng trên giai phẩm đó, rất "ăn khách" nên năm sau anh viết "Lá Số Tử Vi", để rồi anh rời trường, tôi phải mở mục "Gỡ Rối Tơ Lòng... Thòng" với tên Bác Tú Dại để các bạn "giới thiệu" khi dẫn các đoàn đi bán giai phẩm ở trường bạn. Tôi nhớ bạn Nguyên Thy, bây giờ là BS Đặng Hiếu Nghĩa ở California lúc cùng làm nguyệt san Triều Sống Xanh của trường; nhớ Phương Mai Yên với bài thơ "Lời tỏ bày của nhân chứng" bây giờ là Hàn Văn Lâm Văn Yến ở Bắc Cali; nhớ Ngô Hiếu Chí lúc cùng viết bài "Chất Dương" trong giai phẩm xuân năm Đệ Nhất B1 (1966-1967) mang tên chung là "Nhóm Đại Khoa Học Gia"; nhớ Đoàn Ngọc Tấn với bút hiệu Đoàn Kim Sắc lúc mới vô Phan Thanh Giản, chúng tôi tập tễnh làm thơ trong nhóm Ái Hữu của Lại Minh Tâm; nhớ Dương Huỳnh Long và nhóm bạn nửa đêm tụ lại "chòm mả" trong hẻm 2A Pasteur để chơi "cầu cơ" mà cầu hoài chẳng thấy tăm hơi gì! (dù đã tìm cách làm cơ bằng "ván hòm tại nghĩa địa mà người ta vừa lấy cốt".... Nhớ đủ thứ lúc ngồi soạn tìm bao thư đựng ảnh cho đặc san chẳng có lớp lang gì giống như trong một giấc mơ chập chờn. Chợt nhiên tôi lại nhớ cả nguyên một lớp Đệ Thất D niên học 1960-1961, năm đó lớp học bên khu Đệ Nhất cấp (Trường Đoàn Thị Điểm sau nầy), từ ngoài cổng nhìn vào là dãy lầu nằm ngang, bước lên nhiều bậc cầu thang bằng gỗ phía nhà vệ sinh, tới lầu rẽ phải phòng số 4. Rồi tôi lại "lẩn thẩn" làm thơ theo cách của anh Cao Thanh Tùng. Tôi viết TÊN, HỌ và CHỮ LÓT của các bạn nhưng chẳng hiểu có đầy đủ chưa đây? Bài thơ không phải đường luật, mà bài thơ có tới 12 câu như sau:

 

 NHỚ BẠN LỚP ĐỆ THẤT "D" NĂM XƯA

* gởi các bạn thân mến của tôi

 

Ẩn Bảo Bằng Bình Bảy Chí (1, 2) Dung

Điền Hai Lập Nghiệp Hiếu Tăng Nhung

Nguyên Thành Tuấn Nghĩa Sanh Tâm (1)Trạng

Viện Tiếp Vinh Môn Hiệp (1, 2) Phúc Trung

Tỷ Tấn Tư Thanh Tây Trí Tỏ

Viễn Long (1) Thịnh Thiệt Thạnh Sơn Hùng (1)

Phước Long (2) Phú Lợi  Tâm (2) Măng Tiễng

Ngọc Thái Quan Công Đức Hữu Trung

Minh Tấn Huỳnh Thiên Hoàng Hồng Việt

Hồng Thanh  Thành Phước Hiếu Lê Hùng (2)

Lại Trương Đào Đặng Tô Huỳnh Phạm

Dương Nguyễn Trần Ngô Lý Đỗ Ung.

 

Xin chú thích:

  • Các chữ viết Hoa đậm nét là TÊN (51 bạn, hình như còn thiếu hai hay bốn bạn mà tôi cố nhớ mãi không ra).

  • Các chữ viết xiên là CHỮ LÓT (trong số 51 bạn trên đây chỉ có 19 chữ lót)

  • Các chữ viết Hoa thường là HỌ (trong 51 bạn lớp Đệ Thất D có 18 họ)

  • Số trong ngoặc đơn (..) là chỉ các bạn trùng tên khác họ.

 

CÂU 1:

Nguyễn Ngọc Ẩn (ở Cần Thơ)

Nguyễn Thái Bảo (bán tạp hoá ở Cần Thơ)

Nguyễn Văn Bằng (ở Bình Minh)

Nguyễn Trung Bình (không biết tin)

Đổ Văn Bảy (ở Cần Thơ)

Ngô Hiếu Chí (1) (ở San Jose)

Phạm Văn Chí (2) (làm ruộng ở Mỹ Khánh Cần Thơ)

Huỳnh Trung Dung (ở Canada) [ vừa qua đời 8:00 sáng ngày 9 tháng 3-2018]

CÂU 2:

Nguyễn Hữu Điền (Cầu Trắng - Phụng Hiệp)

Nguyễn Văn Hai (không biết tin)

Nguyễn Thành Lập (không biết tin)

Đào Công Nghiệp (trường Đại học Cần Thơ)

Nguyễn Văn Hiếu (Thợ May ở Rạch Gòi Cần Thơ) [đã qua đời năm 2016]

Huỳnh Phước Tăng (đi lính Quân Cảnh - chết)

Nguyễn Văn Nhung (ở chợ Ô Môn Cần Thơ)

CÂU 3:

Huỳnh Ngọc Nguyên (ở Chicago USA)

Nguyễn Văn Thành (tu ở chùa Nam Nhã ở Bình Thủy CT)

Dương Anh Tuấn  (đã chết trước 1975 ở Cần Thơ)

Nguyễn Văn Nghĩa (không biết tin)

Đặng Thái Sanh (bỏ lớp Đệ Lục D theo VC - chết)

Nguyễn Văn Tâm (1)  (không biết tin)

Trần Trung Trạng (tu sĩ ở Sa Đéc)

CÂU 4:

Lê Hoàng Viện (ở Houston Texas)

Trần Thanh Tiếp (ở Virgina)

 Vinh (không biết tin)

Nguyễn Văn Môn (chết)

Nguyễn Đức Hiệp (1)  (chết); Tô Thái Hiệp (2)  (bỏ lớp Đệ lục D theo VC chết)                                  

Lại Hồng Phúc (ở Cầu Trắng Cần Thơ)

Trần Thanh Trung (ở Melbourne VIC - Úc Châu)

CÂU 5:

Trần Tỷ (ở Canberra  ACT -  Úc Châu)

Đoàn Ngọc Tấn (ở San Jose California)

Trương Quan  (Con thầy Trương Quan Liêm  ở Cần Thơ ?)

Lê Văn Thanh (không biết tin)

Đỗ Thành Tây (tự sát sau năn 1975)

Nguyễn Hữu Trí (không biết tin)

Trương Văn Tỏ (ở Thới Lai Cần Thơ)

CÂU 6:

Lương Minh Viễn (ở Louisiana)

Dương Huỳnh Long (1)  (ở Vancouver Canada)

Trương Văn Thịnh (không biết tin)

Lê Văn Thiệt (không biết tin)

Ung Tấn Thạnh (San Jose)

Nguyễn Văn Sơn (ở Hawaii)

Hồng Việt Hùng (thương phế binh cụt chân, ở VN) [chết]

CÂU 7:

Nguyễn Hữu Phước (không biết tin)

Nguyễn Minh Long (2)  (chết)

Đặng Thiên Phú (ở Nam California)

Lý Lợi (không biết tin)

Nguyễn Thành Tâm (2)  (không biết tin)

Huỳnh Văn Măng  (ở Cần Thơ, có lúc vấn thuốc lá lẻ vô bao để bán)

Nguyễn Thành Tiễng (chết)

 

CÂU 8:

Chữ lót Ngọc

Chữ lót Thái

Chữ lót Quan

Chữ lót Công

Chữ lót Đức

Chữ lót Hữu

Chữ lót Trung

CÂU 9:

Chữ lót Minh

Chữ lót Tấn

Chữ lót Huỳnh

Chữ lót Thiên

Chữ lót Hoàng

Chữ lót Hồng

Chữ lót Việt

CÂU 10:

Họ Hồng

Chữ lót Thanh

Chữ lót Thành

Chữ lót Phước

Chữ lót Hiếu

Họ Lê

Lê Văn Hùng (chạy xe lôi ở Cần Thơ)

CÂU 11:

Họ Lại

Họ Trương

Họ Đào

Họ Đặng

Họ Tô

Họ Huỳnh

Họ Phạm

CÂU 12:

Họ Dương

Họ Nguyễn

Họ Trần

Họ Ngô

Họ Lý

Họ Đỗ

Họ Ung

(thiếu 1 chữ lót Văn trong bài thơ, là chữ lót nhiều nhất trong lớp, và chữ lót Anh chỉ có 1. Mong các bạn có chữ lót nầy thông cảm tác giả, vì bài thơ chỉ có 84 chữ mà thôi. Chữ Văn, chữ Anh nếu dùng thì nó là chữ thứ 86.)

 

Houston, ngày 31 tháng 12 năm 2006

Cập nhật và sửa chi tiết ngày 11 tháng 3 năm 2018

 

LHV

_________________________________________

LÊ CẦN THƠ

(Houston - Texas)

 

THẦY ƠI...

XIN GỞI "LỜI XIN LỖI MUỘN"

 

Tôi lặng người nghe điện thoại báo tin

"Mười lăm phút nữa... Thầy Trường sẽ được rút ống"

Mười lăm phút nữa Thầy sẽ giã từ cuộc sống (*)

Sẽ xa rời mọi vướng bận kiếp nhân sinh...

 

Vừa đậu xe vào driveway chưa kịp tắt máy thì điện thoại reo. Bên kia đầu dây anh Trần Bang Thạch hỏi tôi "có biết tin gì chưa?". Tôi hỏi anh "tin gì?". "Mười lăm phút nữa Thầy Trường sẽ được rút ống". Tôi lặng người ngồi yên hằng mấy phút, thoáng trong đầu mấy câu chữ trên đây... rồi tắt máy xe và lầm lủi bước vào nhà định viết tiếp những dòng chữ về người Thầy (dù tôi chưa học một giờ nào trong trường học với Thầy) mà tôi hằng thương kính khi tiếp xúc ngoài đời ở hải ngoại - cụ thể từ khi được gặp Thầy trong sinh hoạt gia đình Phan Thanh Giản và Đoàn Thị Điểm tại Houston Texas khởi đầu từ những ngày gần cuối năm 1995 cho đến bây giờ. Vậy mà từ khi được tin cho đến suốt ngày hôm đó (3 tháng 01-2018) tôi không viết thêm được dòng chữ nào, bởi ngồi trước máy, trong đầu cứ dồn dập thoáng hiện hình ảnh của Thầy, hết lần họp mặt nầy đến lần họp mặt khác suốt hơn hai mươi hai năm qua, đan xen không lớp lang, không trật tự nào hết. Khi thì trong buổi họp một nhóm anh chị cựu học sinh tại nhà hàng Mekong hay nhà riêng của anh chị Lương Minh Khóa, nhà hàng Kim Sơn, Ocean Palace, tiệm ăn trong khu chợ Lê Lai, tại nhà Thầy Cô, tại nhà anh chị Đạt - Bích, anh chị Danh - Nguyệt, anh chị Trang - Hoa, anh chị Nghi - Thơ, anh chị Tuấn - Thu Nguyệt, GS Đặng Xiếu, anh chị Tước - Hương, anh chị Hạnh - Phước, anh chị Thoại - Sương v.v..., tại địa điểm họp mặt đông đảo Club House 9600 Keegan wood vùng South west Houston..., tại điểm sinh hoạt Duy Thành 8 trong khu Downtown, trong các lần đại hội thế giới khắp nơi ở hải ngoại. Đại hội lần đầu năm 1997 tại tửu lầu Kim Sơn Downtown Houston, chợt nhiên tôi nhớ rất rõ Thầy đã được Ban Tổ Chức và nhóm thực hiện giai phẩm số 2 kỷ niệm 80 năm thành lập Trường, mời lên giới thiệu phát hành cuốn báo một cách bất ngờ... khiến Thầy xúc động, vui cười giơ cao cuốn giai phẩm mà đôi mắt Thầy long lanh ngấn lệ!. Rồi có lúc nhớ hình ảnh của Thầy và Thầy Hồ Văn Chiếu phát hành đặc san số 9 trong Đại hội thứ VIII-2004 tại Phoenix Arizona và hình ảnh Thầy đang ngắm thắng cảnh du ngoạn Grand Cayon. Thấp thoáng thấy hình ảnh Thầy, đôi khi cùng Cô dự các bữa cơm hàng tháng của gia đình PTGĐTĐ Houston, lần nào không thấy hiền thê tôi, Thầy đều hỏi "Sao chị không đi? Kỳ rồi đọc bài Diễm Phượng trong Văn Hoá Việt Nam, nhà tôi nhắc chị hoài!." Mới đây hình ảnh Thầy sừng sững lên diễn đàn đọc lời chào mừng trước 756 Thầy Cô và đồng môn về tham dự Đại hội XXI-2017 tại Houston Texas... Các lần sinh hoạt của Hội Giáo Chức Houston mà tôi có dịp may tham dự, nghe Thầy thuyết trình đề tài chọn lọc cũng thoáng hiện lên trong tâm trí mình.

 

 

                                  Ảnh: "Thầy xúc động, vui cười giơ cao cuốn giai phẩm mà đôi                                        mắt Thầy long lanh ngấn lệ!"

 

                                  Thầy Nguyễn Văn Trường cũng là một trong ba người cộng tác                                      đặc biệt từ ban đầu với tạp chí VĂN HOÁ VIỆT NAM tại Houston                                    Texas phát hành số đầu tiên mùa Hè 1998 cho đến hôm nay, là                                      nhà văn Hương Giang Thái Văn Kiểm ở Pháp, BS Nguyễn Lưu                                        Viên ở Virginia (đều đã qua đời). Tạp chí VHVN số 80 - mùa Xuân                                    2018 với bài viết mà tôi đã dàn trang xong trong lúc Thầy còn                                        khoẻ mạnh, Thầy nói với tôi "bài viết nầy đã sửa chữa bổ sung                                      đầy đủ hơn lúc nói chuyện buổi họp mặt tưởng nhớ anh Võ Văn                                    Nghi do chị Thơ tổ chức hôm đó:"AI ĐIẾU TƯỞNG NHƠ BA                                            NGƯỜI BẠN... ".  Không ngờ đây là bài viết sau cùng mà Thầy Trường đã trao cho tôi để in trong VHVN. Có thể tôi sẽ sưu tập các bài viết mà Thầy đã đưa lên trang nhà ptgdtdusa.com trước đây để giới thiệu và gìn giữ những gì mà Thầy đã bõ công sức viết ra để lần lượt giới thiệu tiếp cùng bạn đọc trên tạp chí những số sau nầy.

Tôi biết rằng, sẽ có nhiều bài viết tưởng niệm Thầy, viết về Thầy với sự tôn kính, tiếc thương, với cái nhìn rất riêng biệt của từng cây viết về Thầy. Phần tôi, chỉ xin nhắc lại chút kỷ niệm mà mãi đến hôm nay, tôi lấy làm tiếc là... đã không trả lời sự thật một chuyện mà hơn hai mươi năm qua tôi đã "chưa nói thật" với Thầy, một câu hỏi thật đơn giản. Năm đó... lần sinh hoạt gia đình PTG & ĐTĐ Houston tại Club House 9600 Keegan wood, Thầy có nói đại ý (không nhớ đầy đủ nguyên lời của Thầy): "Tôi là Thầy giáo dạy môn TOÁN, từ thời đi học cho đến đi dạy và mãi sau nầy, tôi vốn KHÔNG ĐỌC THƠ bởi KHÔNG THÍCH THƠ. Nhưng vừa qua khi đọc cuốn giai phẩm số đầu tiên mùa Hè 1996 do nhóm thân hữu cựu học sinh trung học Phan Thanh Giản & Đoàn Thị Điểm tại Houston Texas Hoa Kỳ thực hiện, thấy trang thơ "lục bát lê thị minh trang, mang tựa NGƯỜI DƯNG"rất hay của một người con gái, tự nhiên tôi RẤT THÍCH THƠ. Các bạn chịu khó về lật trang 109 của cuốn giai phẩm số đầu tiên, sẽ thấy mấy bài thơ nầy, rất hay các bạn ơi". Sau đó, Thầy có hỏi riêng tôi "anh biết tác giả là ai không?". Tôi trả lời: "Thưa Thầy... đó là một nữ sinh đang học lớp 12 còn ở Cần Thơ". Trả lời với Thầy như vậy là tôi có lỗi rất nhiều, vì tôi đã không nói thật với thầy. Sự nói dối nầy khiến tôi bị "ray rứt" hoài, định tìm dịp để thố lộ... nhưng lần lữa cho đến khi Thầy qua đời mà tôi vẫn chưa "giải toả", khiến bây giờ tôi hối hận. Thà cứ nói thật "có sao đâu?", vậy mà tôi vẫn không làm được. Chi tiết nầy tôi đã có ghi trong tập thơ đã in "NHỮNG CHẶNG ĐƯỜNG THƠ" - Bản Thảo Lưu Lại - ký bút hiệu HUYỀN VÂN THANH, do Thư Ấn Quán của anh Trần Hoài Thư giúp thực hiện năm 2007. Tập thơ dầy 264 trang mà từ trang 235 đến trang 254 tôi có tiết lộ việc nầy. Bởi số lượng in không nhiều, nên tôi không phổ biến rộng rãi và chắc Thầy cũng không có dịp đọc tập thơ nầy.

Nơi trang 235, tôi có viết: CHÙM THƠ KÝ TÊN LÊ THỊ MINH TRANG "Đây là chùm bài rất đặc biệt, tôi đã viết và đã phổ biến với tên LÊ THỊ MINH TRANG (là tên thật của một đứa cháu) suốt nhiều năm. Tôi cố giữ kín chi tiết nầy, nhưng đây là BẢN THẢO LƯU LẠI của một đời người, tôi buộc phải đưa vào để lưu giữ lại chút kỷ niệm trong những ngày tôi cho là "rong chơi trong rừng chữ nghĩa". Xin nói thêm đôi điều như vậy, trước là để "minh oan" và xin lỗi cháu tôi vốn chẳng làm thơ... và dịp nầy mời quý bạn đi vào tâm sự của cô nữ sinh LÊ THỊ MINH TRANG".[sau những dòng nầy là 24 bài thơ (trong đó có 6 bài in trong cuốn giai phẩm mà Thầy đã đọc và thích), thêm một đoạn văn ngắn CHỌN LẤY NIỀM VUI thay lời bạt cho chùm thơ Lê Thị Minh Trang].

 

Bây giờ Thầy Nguyễn Văn Trường đã vĩnh viễn đi vào cõi vĩnh hằng. Thầy ơi..., một lần nữa, xin thầy tha thứ cho đứa học trò nầy "đã dối Thầy một sự thật" khi trả lời câu hỏi của Thầy về tác giả trang thơ NGƯỜI DƯNG mà Thầy nói là RẤT THÍCH THƠ. Em đã thắp hương quỳ lạy khi viếng linh cữu Thầy hôm qua tại nhà quàn Forest Park East Funeral Home. Và khi nhìn mặt Thầy lần sau cuối hôm nay, em có thầm nói riêng "LỜI XIN LỖI MUỘN' khi chắp tay xá vĩnh biệt Thầy với đôi mắt rưng lệ của em, hy vọng bên kia cuộc đời mới, hương linh Thầy sớm an nhiên tự tại và buông xả điều không nói thật về tác giả mấy bài thơ mà Thầy nói là RẤT THÍCH THƠ, khi biết được lời xin lỗi muộn của em,... THẦY ƠI...

 

LÊ CẦN THƠ

07 tháng 01-2018 

 

 

(*)  theo tin chánh thức của gia đình: rút ống trợ sinh đúng 12 giờ 30 trưa ngày 3 tháng 01-2018, và BS bệnh viện xác nhận tim Thầy ngừng đập lúc 1giờ 45 phút, là ngày giờ Thầy đã vĩnh biệt cõi nhân sinh. (LCT) 

 

 

_______________________________________________________