TẠP GHI

                                             

                      đoàn xuân thu

                                               

 

Cựu GS PTG

Melbourne, Australia_____________

Sanh ngày 4 tháng Bảy!

Hoa Kỳ và Úc vốn là đất của thổ dân da đỏ và thổ dân Úc trước khi người Châu Âu, đa số từ Anh, đến giành, nói đất nước nầy là của tụi tao. Nhưng chuyện nước Mỹ, nước Úc đa phần là da trắng, râu rậm, đầu sói sọi chính giữa, mắt xanh, mũi lõ, coi bộ lạc hậu rồi nhe! Thời hiện đại tức hại điện nầy, Hoa Kỳ có tới một phần sáu dân số trong 330 triệu người; Úc, còn hơn nữa, tới một phần ba dân số trong 25 triệu sanh đẻ ở nước ngoài. Chính vì thế nên nhiều vùng ở miền Nam Hoa Kỳ, như tiểu bang Florida, dân nói tiếng Tây Ban Nha nhiều hơn nói tiếng Anh. Văn hóa mang nhiều nét Tây Ban Nha hơn nhiều so với những gì người ta coi là ‘Người Mỹ”. Úc cũng vậy, thị trấn Footscray, miền Tây thủ phủ Melbourne, tiểu bang Victoria, nơi tui bèo giạt hoa trôi tấp lại nơi đây, dân nói tiếng Việt nhiều hơn tiếng Anh. Mùi thịt heo át hẳn mùi thịt bò; mùi nước mắm át hẳn mùi bơ sữa.

***

Vốn là dân lưu lạc đến vùng đất mới, người Việt mình mang theo những cái rất đẹp về tình nghĩa vợ chồng, tình phụ tử, tình mẫu tử của ông bà mình đã dạy. (Dĩ nhiên cũng có ‘cha’ bỏ con vợ già về Việt Nam rước một em vợ trẻ, chân dài tới nách qua để làm ‘bà nội’ mình; nhưng đó là số rất ít không thể nào đại diện cho tất cả các bậc đàn ông Mít của chúng ta!)

Còn cái văn hóa dở ẹc như: khoái nói dóc, dám làm mà không dám chịu, chúng ta đã bỏ lại cho CS trong nước nó xài rồi.

Giờ thảng hoặc có nói dóc, chối bai bải hổng phải tại tui chỉ để đối phó với em yêu tức con vợ nhà. Còn cái vụ nổ, ít xít ra nhiều, một tấc tới trời, mầy có biết tao là ai không; chỉ thỉnh thoảng xảy ra trên bàn nhậu mà thôi.

Vì đối với lũ trẻ sanh đẻ bên nầy, là cha, ông, mình trót lỡ dạy tụi nó là dám làm thì dám chịu. Dám làm mà không dám chịu là người yếu đuối và hèn nhát! Con nít thì có bao giờ nó chịu yếu hèn đâu nè! Nên trong tánh cách Mỹ, làm sai thì nhận sai để tiến bộ vì sẽ không còn phạm phải lỗi lầm xưa cũ, nên tánh trung thực được xếp hàng đầu.

Vì thế nên có cái chuyện vui như vầy: “Một thằng Mỹ bị vợ bỏ, sầu đời, dắt đứa con trai 15 tuổi, sanh đúng ngày 4 tháng Bảy, về miền đồng không mông quạnh, xa chốn thị thành xa hoa phù phiếm đua đòi về quê cắm câu, bắt con nhái bầu để quên phứt cho rồi một con người đen bạc.

Hai cha con sống trong một căn lều tranh vách đất bên bờ rạch. Mùa Hè nóng ơi là nóng và mùa Ðông lạnh ơi là lạnh. Thủy triều lên, nước lé đé tới nền nhà. Cu cậu căm ghét căn nhà đó lắm! Lòng hẹn lòng, ngày nào đó nó sẽ xô căn lều đó xuống con rạch, để không còn chỗ đụt nắng che mưa nữa, cha cậu sẽ dắt cậu trở lại chốn vui, chốn phồn hoa đô hội!

Cuối mùa Ðông, thượng nguồn tuyết tan, con rạch nước tràn mênh mông bờ bến, cu cậu quyết định ra tay. Cuối cùng, căn nhà rớt cái tùm xuống rạch và trôi đi mất tiêu!

“Hôm nay có người đẩy nhà của chúng ta đổ nhào xuống rạch. Ðó là con, phải không ?”

Cu cậu lúng túng, suy nghĩ một lát rồi thú nhận: “Dạ! Con!”. “Nhưng Bố ơi, hôm nay con đọc và biết rằng George Washington chặt cây anh đào và không bị Bố mình ‘đét đít’ vì ông đã thẳng thắn nói ra sự thật.”

Người cha trả lời: “Chà! George Washington không gặp rắc rối vì Bố của George Washington lúc đó không ngồi trên cây anh đào. Còn tao…”

***

Ngoài cái tánh trung thực của người Mỹ ra, tui còn thích cái tính hài hước của một người nữa dù ổng đã chết mất đất tự lâu rồi. Ðó là Tổng thống thứ 40 của đất nước Hoa Kỳ: Ronald Reagan.

Vốn là một minh tinh màn bạc hạng B, chuyên đóng vai cao bồi, chuyên quay ổ đạn súng sáu rèn rẹt, lên cò, rượt mấy tay thổ dân da đỏ chạy chí chết vào trong núi. Làm hoài chỉ có bấy nhiêu! Cứ ỷ súng mà rượt mấy đứa chỉ quen xài cung nỏ; nên tài tử Ronald Reagan chán, bèn bỏ nghề diễn viên để theo đuổi nghề chánh trị. Vì ông cho rằng: “Chánh trị không phải là một nghề xấu. Nếu thành công, bạn có rất nhiều, còn nếu bị thất sủng, bạn luôn có thể viết ít nhứt một cuốn sách”

(Nghĩa là lọt sàng xuống nia! Từ ăn nhiều tới ăn ít chớ hổng có cái vụ phá huề, thì ngu sao mà không làm chánh trị chớ?)

Ronald Reagan ra tranh cử Tổng thống Mỹ khi tuổi đã gần bảy mươi, thiên hạ chê già quá còn ham công danh cái gì hè? Thì Ronald Reagan cười he he, trả lời rằng: “Thomas Jefferson đã nói: Chúng ta đừng bao giờ đánh giá một vị Tổng thống bằng tuổi tác, mà bằng những thành quả của ông ấy. Và kể từ khi biết được chính Thomas Jefferson nói điều đó, tôi đã ngừng lo lắng!”

Rồi ông thêm rằng: “Tôi muốn quý bạn biết rằng tôi sẽ không làm cho tuổi tác trở thành một đề tài của chiến dịch tranh cử này. Tôi sẽ không khai thác, vì mục đích chánh trị, để nhắm vào đối thủ của tôi vốn trẻ tuổi hơn và thiếu kinh nghiệm hơn tôi.”

***

Cái tui thích ở Ronald Reagan nữa là ông căm ghét chế độ CS. Vì ngay cả người Nga cũng giống như ông, cũng căm ghét một chế độ CS độc tài toàn trị, chuyên áp bức dân lành.

Nên có chuyện rằng: “Hai đảng viên đảng CS Liên Xô đang đi trên đường. Tên nầy hỏi tên kia: ‘Chúng ta đã thực sự đạt được chủ nghĩa cộng sản hay chưa?

‘Ồ! Chưa đâu, chỉ tới chủ nghĩa xã hội thôi. Khi tới chủ nghĩa Cộng sản thì mọi thứ sẽ trở nên tồi tệ hơn rất nhiều!’

Hai tay đảng viên Cộng Sản nầy thành thật với nhau nhưng trước toàn thế giới, bộ máy tuyên truyền của nhà cầm quyền CS bao giờ cũng ra rả là: Chế độ CS là ưu việt, là đẹp nhất của nhân loại. Cái cột đèn bên Mỹ nếu nó biết đi, nó cũng ‘bò’ về Việt Nam ta! Ha ha!

Dĩ nhiên thế kỷ 21 rồi, đâu còn ai còn khờ khạo để tin cái bốc phét, bông phèn nầy, nên họ đặt ra cái chuyện xỏ xiên CS như vầy nè: “Một người Mỹ đến Moscow, thủ đô nước Nga, mướn một căn nhà. Sau một tuần, ông không tìm được nơi nào để đổ rác cả. Vì vậy, một hôm, chú Sam nầy đi vào một con hẻm vắng với bọc rác trên tay. Nhưng chú Sam bị một em hàng xóm, đẹp như danh thủ quần vợt Mỹ gốc Nga, em Maria Sharapova, chặn lại: “Này, anh đang làm gì vậy?” ‘Tôi phải vứt những thứ rác rưởi này đi” “Anh không thể vứt ở đây. Hãy đi theo em!”

Người em sầu mộng nầy dẫn chú Sam đến một khu vườn cực kỳ xinh đẹp có nhiều cỏ lạ, hoa thơm và hàng rào được cắt tỉa rất cẩn thận. “Ðây!” Em nói: “Vứt bao nhiêu rác cũng được”

Chú Sam nhún vai như Mỹ, mở túi ra và đổ rác ngay lên những bông hoa. “Cảm ơn em đã chỉ cho tôi một nơi chứa những thứ rác rưởi này. Người Nga thật là lịch sự phải không em?” “Hổng dám lịch sự đâu! Ðây là Ðiện ‘Kremlin’.”

***

Hằng năm tới ngày 4 tháng Bảy, ngày Lễ Ðộc Lập của Hoa Kỳ, (năm nay nhằm ngày thứ Bảy, weekend, nhậu đã nha), tui mừng vì một Thế giới Tự do đã được sinh ra. Từ Nam Bán Cầu xa xôi, từ một đất nước Úc rộng bao la, mà con ‘kangaroo’ (đại thử) nhiều hơn dân, tui cứ ngóng về Bắc Bán Cầu, để chia vui cùng nước Mỹ. Hổng dám bợ ‘đít’ Mỹ đâu!

Tui vui vì thấy rằng: “Qua biết bao phong ba bão táp, cây Ðuốc trên tay Tượng Nữ thần Tự do ở hải cảng New York chưa bao giờ lụi tắt. Cây Ðuốc tự do nầy vẫn là ánh sáng dẫn đường, là niềm tin của nhân dân trên địa cầu trong cơn tăm tối hướng về Thế giới Tự do. Niềm tin đó không ai lay chuyển được. Cuối cùng, Thế giới Tự do sẽ chiến thắng tất cả các chế độ toàn trị độc ác còn sót lại trên thế giới. Tự do sẽ đưa nhân loại trở về với ‘nhân chi sơ tính bổn thiện’. Sống trên thuận theo trời; dưới hòa theo đất.

Ngày 4 tháng Bảy năm nay, bà con có tụm năm tụ bảy ngoài vườn sau, ăn ‘barbeque’, (thịt nướng), ‘hot dog’ và ‘hamburger’ rồi uống beer Budweiser thì nhớ phần dư còn lại hãy cất vào trong tủ lạnh. Năm tới, khi đã tan mùa dịch Cúm Tàu Covid-19, tui sẽ bay qua. Xin nhớ nhé! Ðừng quên nhe!

Đoàn Xuân Thu.

Melbourne

 

Về mái nhà xưa!

Những kẻ tha hương cuối tuần hay tụ tập uống dăm ba ly rượu, văn nghệ cây nhà lá vườn, biết gì chơi nấy. Tiếng đàn ghi ta trầm buồn của một anh bạn văn nghệ, (mới gặp lần đầu), xưa vốn là một trưởng ca đoàn cho nhà thờ Tân Ðịnh, Sài Gòn, trải lòng với bản ‘Về mái nhà xưa!’ (Come back to Sorento!)

Tui cũng góp buồn bằng cách diễn ngâm bài thơ ‘Chạm cửa thiên đường!’ của chính mình trên nền tiếng sáo trúc của Tô Kiều Ngân.

“Vượt trùng dương ngàn cơn bão. Em đã đến Nam Dương, đất nước ngàn, vạn đảo. Em chạm cửa thiên đường! Cửa chưa mở; cơn sốt rừng ập đến. Chiều thu buồn, em nằm lại Kuku!

Hòm Cao uỷ phủ thân người yêu dấu. Thay vòng tay anh ấm, tấm nilong! Mộ chí đề tên, ngày em mất! Mả lạn tàn phai; sương gió thời gian. Mộ chí khắc bằng dao để lòng đau, anh nhớ!

Rượu cay đắng mang theo rửa cốt người yêu dấu. Chiếc nhẫn cưới còn đây. thương hoài tay áp út! Anh hú, anh kêu; tiếng hú chiều tuyệt vọng! Ôi! em yêu!Ôi! đất hỡi! Trời ơi! Sao đóng cửa thiên đường? Khi bàn tay em chạm tới!

Bài thơ khóc em chiều Kuku; ngàn thu vĩnh biệt. Anh mang hài cốt em theo;mình vĩnh biệt Kuku! Kuku! Chiều thu lá rụng! Rụng lá vàng, sao nỡ rụng lá xanh?!”

Anh bạn văn nghệ mới quen nầy, mặt xương xương, vẻ khắc khổ nên trông già đi trước tuổi, sau cặp kính cận, hình như mắt anh rưng rưng đầy ngấn lệ… như cố che giấu đi một nỗi buồn sâu kín đã suốt bao năm!

“Tôi đâu ngờ bài thơ nầy tác giả lại là anh! Người anh đề cập trong bài thơ nầy, trong cái bi kịch đau lòng đó lại chính là bi kịch của một quãng đời tôi! Hơn 30 năm rồi còn gì nữa!”

***

“Tháng Sáu, năm 1982, lúc tôi chưa đầy 26 tuổi, cùng người vợ mới cưới đã liều mình xuống thuyền vượt biển. Sau một chuyến hải hành gian nan đã đến được Kuku, Nam Dương.

Kuku là tên một rẻo rừng dừa trên đảo Jemayah, thuộc quần đảo Anambas, tỉnh Riau, cách thủ đô Jakarta của Nam Dương hơn 1300km.

(Kuku có nghĩa là “Cậu”, âm theo tiếng Hoa! Vì cách đây hơn nửa thế kỷ có một người Tàu đã đến đây khai hoang để trồng dừa. Ông là một người tốt bụng, thường giúp đỡ dân nghèo nên được mọi người thương mến gọi bằng “Cậu”. Sau đó, dân địa phương ở đây đặt tên rừng dừa này là Kuku.)

Bây giờ, Kuku đang ở trước mặt! Bãi biển thênh thang ngày xưa bây giờ hẹp lại vì rừng lấn dần ra biển! Cầu tàu, rồi các dãy lều tạm cư đã biến mất vào hư vô? Chỉ còn xác mấy chiếc ghe vượt biên trơ sườn; vì cát biển theo hàng vạn đợt thủy triều, nắng gió đã chôn vùi phần đáy, nhưng thuyền vẫn còn ráng nhú mũi ghe lên nắm níu, như một bia mộ của một thời dâu bể… (Như bảo: Nhớ đừng quên!)

Cả một rẻo rừng rộng lớn, từng xôn xao bóng hàng ngàn người tỵ nạn năm nào, bây giờ chỉ là một vạt rừng dừa xanh ngăn ngắt, hoang vu! Vì khi những thuyền nhân VN cuối cùng rời Trại tỵ nạn Kuku để chuyển về Trại tỵ nạn Galang, để chờ đi định cư ở một nước thứ ba, chánh quyền địa phương thiêu rụi lều trại Kuku để phòng ngừa dịch bệnh.

Từ đấy, Kuku lại trở về hoang vắng, tiêu điều cho đến nay. Tôi không nhận ra cảnh cũ vì mọi dấu vết đã bị thời gian xóa nhòa gần hết. Ðâu rồi Văn phòng Cao ủy? Ðâu rồi Trạm xá của Trại Tỵ nạn? Ðâu rồi bãi đáp trực thăng trên đỉnh đồi nơi tôi đã từng chôn xác vợ tôi?

Một chiếc thánh giá bằng gỗ đơn sơ, tên em và ngày mất được khắc lên trên đó. Tôi đã chôn theo gương, lược, áo quần! Chiếc nhẫn cưới em vẫn còn đeo trên ngón tay áp út.

Nhìn lên đỉnh đồi phủ mờ mây trắng như một dải khăn tang nghìn trùng xa cách khi chiếc tàu Cao ủy rời xa dần Kuku, tôi đã thầm nói lời từ biệt với em và hẹn ngày trở lại. Và hôm nay, hăm bảy năm sau, tôi đã giữ tròn lời thề năm cũ. Ai nỡ bỏ em mồ hoang cỏ lạnh cho đành phải không?

***

Huyệt mộ là một vùng đất sét pha cát, khá xốp, chứ không phải đá núi và khi chiếc quan tài của Cao ủy trong đó xác bọc bằng một tấm nilong lúc hạ huyệt cũng sâu tới chừng hai thước đất.

Giờ khai quật, cẩn trọng đào xuống gần hai tiếng đồng hồ, chiếc áo quan hiện ra, nắp ván thiên đã mục rã thành cát bụi sau thời gian dài đăng đẳng. Nhờ tấm bọc bằng nhựa khá dầy và chắc chắn của Cao ủy, xác vợ tôi được nằm trọn vẹn bên trong mà không bị xiêu lạc hoặc bị rễ cây đâm xuyên dù hài cốt đã bị phân hủy gần hết.

Khi hài cốt vừa được đưa lên khỏi huyệt mộ, trời Kuku bỗng đổ một cơn mưa rừng nhiệt đới! Mưa xối xả như giúp gội rửa thân thể lấm lem của những người phu mộ vất vả cả buổi sáng!

Mưa như để xóa nhòa đi những dòng lệ tiếc thương của tôi, những dòng lệ chất chứa qua bao tháng năm dài lầm lũi một thân trên bước đường tỵ nạn.

Cơn mưa rừng nhiệt đới ngày xưa phân ly, tôi đi, em ở! Và cơn mưa rừng nhiệt đới chiều nay tôi tìm lại em!

Trên nền xi-măng của bãi trực thăng dưới cơn mưa nặng hạt, tôi thu nhặt toàn bộ mẩu xương cốt, những di vật tôi đã từng chôn theo em, được bỏ trong chiếc bọc ni long. Những di vật như gương lược nầy, Hiền, một em gái nhỏ mới 14 tuổi đi chung chuyến thuyền vượt biển, nhắc: “Anh cho đem theo áo quần, gương lược để chị ấy xài…” Thịt xương vợ tôi đã rã tan nhưng chiếc nhẫn cưới vẫn còn đeo trên ngón tay áp út.

Tấm mộ bia cùng với tấm bọc của Cao ủy cho, được gửi lại xuống lòng huyệt! Xin tạ ơn đất trời Kuku, dẫu quê người, vẫn rộng lượng cho xác thân em tạm nương náu suốt 27 năm qua.

Còn hài cốt của vợ tôi được hỏa thiêu ngay trên hai cái hố sâu đào trên cát. Ngọn lửa bùng lên và hài cốt dần dần biến thành tro trắng! Cát bụi đã trở về cát bụi.

Những tro vụn và tàn củi còn sót lại được gom vào hai chiếc bao lớn mang theo lên ca-nô để rải xuống biển trên đường tôi về lại Letung. Ráng chiều từ từ lặn xuống cuối chân mây! Hoàng hôn bủa lưới nhanh trên biển.

Nắm tro tàn của em, tôi sẽ mang về lại quê hương Việt Nam! Tôi bỏ chiếc nhẫn cưới ngày xưa lại vào hũ tro cốt của em trước khi gởi nó vào Nhà Thờ Tân Ðịnh.

“Sự gì Thiên Chúa đã kết hợp, loài người không được phân ly”.

Nghe hết chuyện tình buồn của anh, mắt tôi cũng rưng rưng đầy ngấn lệ! Chúng tôi cạn ly rượu đỏ như màu máu!

Đoàn Xuân Thu.

Melbourne.

Nhận của con nếu có chỉ là thơ!

Lẽ công bằng có cho và có nhận,
Má chỉ cho chưa có nhận bao giờ:
Má cho con cả một đời lận đận;
nhận của con nếu có chỉ là thơ.

Ngàn pho kinh sách con đã đọc,
hữu hạn vô cùng chữ nghĩa ơi;
cho vô hạn một đời lao nhọc,
những lầm than, Má đã cưu mang!

Câu nhạc Y Vân thường hay bảo:
“Mẹ thương con như biển Thái bình”
Thái Bình! Con vượt trong giông bão,
còn Má thương con chỉ dịu êm!
***
Chiếc đòn vai thả sợi dây dài,
đưa cỗ quan tài từ từ xuống huyệt;
kèn đưa đám trổi giọng buồn thê thiết,
tiếng đàn cò đẫm lệ rủ khăn sô.
gậy tang chống, sao nâng đời con được?
bờ huyệt sâu, ba tấc đất. Má đâu?

Chiếc đòn vai thả sợi dây dài,
đưa cỗ quan tài từ từ xuống huyệt.
cỗ quan tài mang hình hài
Má của con yêu dấu.
họ chôn Má rồi,
họ đã chôn cả thời thơ ấu của con!

Ôi! Má của con, Má của con!
từ nay thôi chắc chẳng còn ai,
thương con như thế nữa?
bếp lửa chiều hôm chợt tắt rồi,
mờ bóng Má chập chờn trên vách lá,
Má về đâu? sinh, tử: cõi vô thường.

Ôi! Má của con, Má của con!
từ nay thôi chắc chẳng còn ai,
thương con như thế nữa?
xiêu lạc tha hương, phiêu bạt sầu,
côi cút bay giữa đời giông bão,
ước vọng tương phùng là ảo vọng


Má thương ơi!!!

Đoàn Xuân Thu.
Melbourne.

Chữ của quê tui !

Hồi học trung học Petrus Ký đệ nhứt cấp, đệ thất tới đệ tứ, môn Quốc Văn mỗi tuần được sáu giờ, sáu giờ chứ không phải sáu tiết, chia làm hai phần: Cổ Văn và Kim Văn.
Kim Văn là văn học hiện đại nhưng học trò mười mấy tuổi như tui tìm đỏ con mắt mà không có một tác giả miền Nam nào hết: Hồ Biểu Chánh không, Phi Vân không, Bình Nguyên Lộc không, Sơn Nam cũng không luôn! Chỉ toàn là Nhất Linh, Khái Hưng, Thạch Lam, Hoàng Đạo trong Tự Lực Văn Đoàn.
Tui đọc Đoạn Tuyệt với Dũng và Loan; Tiêu Sơn Tráng Sĩ với Phạm Thái và Quỳnh Như; còn những nhà văn Nam Kỳ không có một bóng… chớ nói chi tới hình?!
***
Nhớ cô dạy môn Quốc Văn lớp Đệ Lục, chọn bài ‘Hoa Súng’ của ông Đinh Gia Trinh, đăng trên báo Thanh Nghị số 74!
Nhưng trước khi tả Hoa Súng, ông tả Hoa sen. (Hoa Súng, Hoa Sen ngoài Bắc; còn quê mình, trong nầy gọi là Bông Súng, Bông Sen).
“Dọc đườmg đất quanh co, hai bên đầm rộng, ngòi dài. Cuối Thu, sen đã tàn còn để rớt lại trên mặt nước những lá nhăn nheo như buồn một nỗi buồn ly biệt…
…Trên suốt một dải đầm sen, chỉ có lá cây súng tròn như một cái bánh đa, nổi trên mặt nước, duyên keo kết với nước, phô cả bộ mặt với trời xanh như tận hưởng tình của đất trời. Có những chiếc lá hơi tím vàng, có chiếc còn xanh mơn mởn. Nước phô bày một màu áo, như xô đẩ lên trên mặt một linh hồn. Giữa đám lá tẻ ngắt, bỗng ở phía bên kia hồ xa cách đường cái không bao nhiêu, lộ một bông hoa súng màu thanh thiên…
…Rồi cách đây một năm, cuối mùa thu vào chơi làng Triều Khúc ở Hà Đông, …, tôi mới lại được trông thấy một bông hoa súng đúng lúc vừa vặn nở ở một cái ao nhỏ gần một cái quán đầu làng. Vẫn hoa cô lập ngoi lên mặt nước độ hai gang tay, cánh bao dưới màu phớt nâu, cánh hoa thon thon, màu thiên thanh man mác, làm rạng cả mặt hồ.”
***
Quê nhà! Tui không biết đầm rộng, ngòi dài. Không biết thì làm sao mà thấy mà ‘cảm’ cho được. Nên cái hay này chỉ lớt lớt bên ngoài như xức thuốc đỏ, vậy thôi! Đọc thì kêu ‘rốp rẻn’! Rằng hay thì thiệt là hay nhưng đọc để ‘cảm’ thì không có gì; vì cái lối viết vòng vo Tam quốc, chạy vòng vòng như đèn cù (đèn kéo quân) nầy.
Cô dạy môn Quốc văn của tui bảo đó là lối nhập đề lung khởi. Còn các nhà văn miền Nam lại khoái cái lối nhập đề trực khởi hơn; nghĩa là vô đề một cái rẹt hè.
Nhập đề cái rẹt, không làm mất thời giờ vàng bạc của độc giả, hổng phải là dỡ ẹc đâu nhe. Bằng chứng là câu ca dao miền Tây Lục tỉnh quê mình:
“Đôi mình mới gặp hôm nay.
Cho hun một cái, em hai đừng phiền!
Thì em cười chúm chiếm mà rằng:
“Có hun thì hun cho liền!
Đừng làm thổ lộ, láng giềng cười em”
Sao mà tôi thương chữ ‘hun’ này biết bao nhiêu mà kể?! Vì hun là ‘giựt giựt’ đôi môi rồi lan ra cả toàn thân, là khoái lắm hè!
***
Sau nầy hơi trộng trộng, biết ‘ve’ gái, tui áp dụng cái nhập đề trực khởi nầy chớ không bắt chước con gà trống chạy vòng vòng con gà mái, xòe dãy lông háo hức ra như Lữ Bố hí Điêu Thuyền. Vì làm như thế rất mất công, bởi tui vốn là thằng làm biếng!
Cái lối vô cái rẹt nầy đối với mấy em miền Nam mình, kết quả ăn hay thua như đánh bài ba lá, cứ giở ra là mình biết liền hè. Thua thì mình đi ‘ve’ em khác!
Đời ngắn lắm, đâu có quởn mà ‘ngày ấy cây si anh trồng ngay lối đi’ mà chi; cho chúng nó khi: mặt mày sáng láng mà ngu như con gà ‘rù’!
Nhưng mấy anh mình nhớ, đừng chơi chiêu trực khởi với mấy em gốc Bắc 54; vì chưa giở bài ra mình đã biết thua là cái chắc.
Để thử nghiệm, coi nghĩ vậy có trúng hay không, nên một hôm, tan học, tui ngóng cổ chờ một em Bắc Kỳ chín nút từ trường Nữ Trung Học Đoàn Thị Điểm, yểu điệu thục nữ ló ra; để tỏ chút lòng yêu!
Thì em bỉu môi:
“Giời ạ! Ve gái là phải từ từ vòng ngoài rồi mới vào tới vòng trong! Mới sơ bộ mà tính chiếm lũy đoạt thành như ăn cướp đánh vậy anh Hai?”
Phán xong kết quả em cười he he; còn tui về nhà khóc hu hu như ông Tú Xương mới vừa thi rớt Cữ nhân lần thứ 7.
***
Đó là bàn về kỹ thuật nhập đề! Mà trước khi nhập đề thì mình phải có cái đề tài, tìm nó ở đâu? Các nhà văn quê mình chỉ ra rằng:
“Kiếm thẳng từ cuộc đời; (đi và viết); chớ đừng ăn không ngồi rồi, bắn thuốc lào ro ro mà ‘tưởng tượng’ để vẽ ra ‘con voi’.
Đọc Sơn Nam, môt nhà văn tiêu biểu cho cái trường phái: “Đời đẻ ra Văn”; tôi tìm ra được một giai thoại rất thú vị.
Nguyễn Quang Sáng kể rằng: “Khi ông chưa viết văn, thì Sơn Nam đã là nhà văn nổi tiếng. Quê ông Sáng có nhiều câu chuyện rất ly kỳ, ông muốn kể cho Sơn Nam nghe để viết.
Nhưng Sơn Nam lắc đầu từ chối:
“Vùng đó tao không biết. Tao thấy rặng cây từ xa thôi. Mày cũng có chữ nghĩa, viết đi!”.
Theo quan niệm sáng tác của Sơn Nam: Chưa có vốn sống, chưa hiểu biết, chưa trải nghiệm thì không nên viết ẩu! Chuyện gì biết thì viết; không biết thì tra cứu; thì đi hỏi bà con mình chớ không viết ẩu rồi viết trật lất.
***
Đó là cách tìm đề tài; còn cách dùng chữ của những nhà văn quê mình thì sao hè?
Xin quý độc giả thân mến của tui đọc lại một đoạn trong “Đò Dọc” của Bình Nguyên Lộc, mà thầy Võ văn Dung dạy thêm ngoài chương trình chính thức cho người viết vào năm 1963, lớp đệ thất 5, trường Petrus Ký:
“Độ rày cậu làm gì, cậu hai? Hoa lại hỏi.
“Cũng hổng cần làm gì. À, tôi có tự túc một bầy gà Huê Kỳ, coi bộ tương lai “quá khứ” ?
“Tự túc là gì cậu? Hương hỏi thật tình”
“Tự túc là nuôi, chớ là gì!”
“Vậy hà, còn tương lai “quá khứ”?” “Tương lai là tương lai, còn quá khứ là “quá sá”. Tiếng mới mà. Tôi nghe họ nói hay quá, nên tôi bắt chước dùng theo. Đời bây giờ họ bày ra nhiều tiếng mới hay lắm. Thí dụ phạm tội, họ nói “phạm vi”. Thù vặt họ nói “cá nhân”, nghe hay “quá khứ”.
Hoa và Quá núp sau lưng hai chị mà cười đến chảy nước mắt.
Cô Quá, mặt mày còn đỏ rần, bước ra khỏi chỗ núp nói:
“Hôm nay cậu mặt đồ xanh, trông đẹp trai “quá khứ” nhưng cậu lại “phạm vi” về đôi dép. Dép phải quay màu đỏ mới ăn với màu xanh nầy. Tôi tính thiệt nói ngay, cậu đừng có “cá nhân” tôi nghen!”
“Tôi người quân tử mà, ai lại “cá nhân” cô”.
Công tử Quờn chẳng qua là khoái chữ, nhứt là từ Hán Việt cho nó sang chảnh, nên xài loạn lên, trạng từ chỉ thời gian quá khứ’ thành trạng từ chỉ mức độ, là ‘quá xá. Danh từ thành động từ! “Cá nhân’ công tử Quờn xài, theo tui : “Xin đừng ghét bỏ, đừng thù vặt thì nói đại cho rồi, cho nó rõ nghĩa phải không nè?!
***
Rồi sau 75, có nhiều công tử Quờn, từ đồng bưng về thành, dùng chữ cũng làm mình hết hồn, mất vía lắm đó!
Năm nẫm, người viết kiếm đường vượt biên, về quê vợ ở Cà Mau, phường Tám, nhậu với mấy thầy chú để tìm mua bãi, nghe một thầy chú kể rằng:
“Thằng Chiến Thắng, tên của thầy chú, nhậu cho đã, nực… còn xuống kinh Rạch Rập lội rồi chết chìm. Thiệt là lãng mạn!”
Nghe cán bộ nói vậy, tui ‘ngẩn tò te’ (?!) Té ra cán bộ muốn nói thằng Chiến Thắng chết ‘lãng xẹt’.
Cán bộ làm tôi nhớ ‘Đò Dọc’ quá chừng chừng !
Đọc Đò Dọc, nghe công tử Quờn, rồi nghe cán bộ Cà Mau ‘phán’, tôi đâm ra ‘ón’ từ Hán Việt. Chữ nào bình dị, dân dã mà thâm trầm, sâu sắc là tui lượm về bỏ vô bài văn của mình chớ không ‘a dua’, chạy theo cái trường phái màu mè, khoe mẻ; viết vòng vòng rồi hổng biết đường ra. Viết không cần ai hiểu mà chỉ để khoe thôi!
Vậy là tui đi tìm ông Hồ Biểu Chánh, ông Vương Hồng Sển, ông Bình Nguyên Lộc, ông Sơn Nam để học cách dùng chữ của mấy bậc ‘tiền bối’ nầy coi chữ mấy ổng dùng có ‘rối’ như tiếng Việt bây giờ hay không?
Thì tìm được một giai thoại khá thú vị khi nghe nhà văn Sơn Nam dạy đời một người bạn vong niên rằng:
“Có gặp thằng Tín, nói tôi nhắn với nó chuyển sang viết văn xuôi đi, thời buổi này mà làm thơ là húp nước mắm!”
***
Chữ ‘húp nước mắm’ của nhà văn Sơn Nam là ‘chữ của quê tui’. Chữ của quê hương, giờ cách xa hàng ngàn hải lý, làm tui nhớ quê nhà tha thiết lắm …Má ơi!

Đoàn Xuân Thu.
Melbourne.

Tôi đi để lại trường xưa!

“Ôi! Trường ta tang thương!
Theo vận nước nhiễu nhương!
Bạn bè năm cũ giờ đâu cả?
Ðã giạt về đâu mấy nẻo đường?”

***


Mới đây ông Chủ bút kêu réo um sùm:
“Anh Thu ơi! Có bạn học của anh kiếm kìa!”
“Ðứa nào vậy cà?”
Thì ra Bùi Quang Long, đã đi Mỹ du học từ năm 1970, lúc mới vừa đậu Tú tài hai, tìm lại tui, là thằng bạn đồng song của nó.
Ðã 55 năm! Thiệt là chớp mắt! Thiệt là bóng câu qua cửa sổ! Vậy mà bạn học cũ vẫn còn tìm! Thiệt là bùi ngùi cảm động à nhe!
***


Ôi nhớ xưa! Muốn vào học trường Petrus Ký là đám học trò phải qua một kỳ thi tuyển cũng lắm gian nan! Năm, sáu ngàn sĩ tử, chưa tới 500 đứa còn sống sót.
Bài thi gồm 3 môn: Toán quan trọng nhất, hệ số 3, Văn hệ số 2 và Câu hỏi Thường thức hệ số 1.
Bài tủ về môn Toán thường là động tử. Nghĩa là xe chạy. Xe chạy phải hai chiếc, chạy cùng chiều, hoặc chạy ngược chiều. Cho vận tốc mỗi xe rồi tính thời điểm gặp nhau, tính quãng đường hai xe chạy được… đại khái là thế. Cùng chiều, rượt đuổi nhau thì đường dài chia hiệu số hai vận tốc. Còn chạy ngược chiều thì lấy đường dài chia cho tổng số hai vận tốc là ra thời gian hè!
Ðứa nào thông minh giỏi toán, làm trúng hết hai bài, là phẻ re như con bò kéo xe, chỉ có việc ngồi rung đùi, đậu chắc trăm phần trăm. Còn nếu trúng chỉ một bài, còn bài thứ hai trúng lớt lớt như phớt thuốc đỏ thì phải nhờ bài Luận văn hoặc Câu hỏi Thường thức kéo lên cho khỏi xệ.
Bài Luận văn thì khó dàng trời mây đi. Mới 11, 12 tuổi đầu mà quý Thầy ra đề thi kêu tụi em bình luận lời của Ngô Tổng thống là mấy em chết cửa tứ (?!)
***
Năm 63 đó, thằng đậu hạng bét là được 45 điểm cho ba môn. Ðứa đậu hạng nhứt, tức Thủ khoa, được tới 81 điểm, gần gấp đôi thằng đậu hạng bét.
Tên nó là Âu Dương Khoát, (không có bà con dây mơ rể má gì với Tây Độc Âu Dương Phong trong truyện chưởng của Kim Dung hết ráo) sau được xếp vào chung lớp Ðệ thất 5, niên khóa 1963 với tui đó nha!
***


Nhớ ngày đi dò kết quả, tui và thằng anh chen vào cái bảng điểm, che bằng mắt cáo, đề phòng đứa nào rớt, quạu, xé, là hết coi luôn! Bên trong mắt cáo dán chừng 10 tờ giấy đánh máy danh sách thí sinh trúng tuyển, gồm số ký danh, họ tên, ngày tháng năm sanh, điểm, và thứ hạng của thí sinh.
Biết thân mình học dở ẹc nên tui cắm đầu dò từ dưới dò lên! Chớ đời em nào dám mơ mộng gì đâu?! Dò lần lần lên hoài mà hổng thấy tên mình. Chắc tui trợt vỏ chuối rồi quá?
Ai dè thằng anh tui la lên:
“Tên mầy nè, 56 điểm, đậu hạng 176! Má mình mừng lắm đó! Mầy mà rớt, Má hổng có tiền cho mầy đi học trường tư đâu!”
Bữa đó, Tía tui dắt hai anh em tui vinh quy bái tổ ở cái xe bán bò vò viên trước rạp hát Ðại Ðồng! Tía móc túi cho năm chục đồng để ‘tân khoa’ ngồi xơi ‘đại yến’!
Mỗi đứa một chén bò vò viên, mỗi chén 5 đồng. Số tiền còn lại, hai anh em dung dăng, dung dẻ, dắt nhau ngược đường Cao Thắng, lên gần tới đường Trần Quý Cáp, rạp Việt Long, để coi phim ‘Ò e Ro Be đánh đu, Tazan nhảy dù, Zoro bắn súng’
***


Gần tới ngày tựu trường còn được Má dắt ra ông thợ may trong xóm chợ Hai Mươi, góc ngã tư đường Phan Thanh Giản và Cao Thắng, may cho hai cái áo sơ mi tay ngắn và hai cái quần ka ki xanh, và mua cho một đôi dép da của hãng Bata. (Ba Ta chớ hổng phải Ba Tây) (Vì trường Petrus Ký không cho học trò mang dép Nhựt lẹp xẹp, coi nó hổng có oai!). Ðóng bộ vô trông rất oách! Vậy là giã từ cái quần xà lỏn, có mang theo ‘hai quả lắc đồng hồ’ bé tí teo, đi học trường Tiểu học Bàn Cờ trong Cư xá Ðô Thành rồi đó nhe. Vô Đệ Thất, là hết bị Má tui cầm chỗi lông gà kêu cúi xuống vì tội để em té u đầu nữa rồi. Tui chuẩn bị làm người lớn!
Và 9, 10 năm sau đó, từ khi tui thôi học, từ khi tui khoác áo trây-di (treillis), lạc về vùng quê Hốc Bà Tó, rồi thiên duyên tiền định gặp em yêu, tức má đám con tui bây giờ, tui từng ‘nổ’ tơi bời với em là:
“Ðừng thấy anh dở mà rầu!
Ðã từng đi học trường (đứng) đầu Miền Nam đó nhe!”
Làm con vợ tui nó há hốc mồm kinh ngạc: vì lẽ tại sao anh yêu trông lù khù mà lại hổng có ngu… như em hằng tưởng?!
***


Rồi mấy hôm nay, mấy đứa cùng lớp năm xưa, kêu gào bay về họp mặt lớp cũ trường xưa bên Mỹ (chớ hổng phải Mỹ Tho!). Có đứa đề nghị ‘sảng’ là bay về họp mặt ngay tại trường xưa ở đường Cộng Hòa đối diện thành Ô Ma mới được.
Thì đứa khác hổng chịu nói:
“Khi nào cái trường mình lấy lại tên P. Trương Vĩnh Ký thì tao về. Bằng không? ‘Nô quê!’ (No way!)!”
Ngô Văn Trí, Liên toán trưởng ngày xưa, chắc khoái chơi và sưu tầm đồ cổ, gởi cho toàn thể đám học trò danh sách lớp Tứ 5, niên khóa1966, bị gián cắn rìa giấy lổm nhổm hết trơn, cộng với hơi ẩm trong không khí làm chữ bằng viết Bic, bút nguyên tử, cũng tèm lem tuốt luốt, nhưng may mắn thay, đeo kiếng lão vô, vẫn còn đọc được!
Mai mốt mình lấy lại được tên cái trường xưa, tui sẽ đem cái danh sách nầy lộng kiếng (chớ không phải liệng cống), chưng trong phòng Truyền thống của Trường P. Trương Vĩnh Ký để nhát mấy đứa con nít học sau mình chừng một thế kỷ chơi!
***


Bồi hồi đọc cái danh sách mà đầu têu là tên Liên toán trưởng Ngô Văn Trí nầy, thì ký ức như một cuồn phim cũ, tưởng đã mờ phai theo năm tháng, lại hiện về khiến tui cũng rưng rưng nước mắt.
Nhớ thầy Chung Hữu Thế, dạy Anh văn, lớp Ðệ thất 5, định cư ở Canada, vừa quá vãng! Nhớ Thầy rầy (sau khi mấy ‘thằng’ Mỹ, bên USAID, đến dự giờ dạy Anh Văn của Thầy ra về rồi):
“Cái thằng Thu nầy có chữ ‘young’ mà đọc năm lần bảy lượt cũng không xong!”
Em xin cám ơn Thầy đã tế nhị, không nỡ làm quê mặt em với khách đến viếng lớp mình!
***


Tui nhớ trò Châu Minh Nhạn đã bỏ mình trong cuộc chiến khi tuổi mới thanh xuân trong đợt tổng động viên mùa hè đỏ lửa năm 72.
Châu Minh Nhạn là người lạc quan, yêu đời, thường ca, nhạc chế, bài “Where do I begin do” của Andy Williams hát trong phim Love Story do Erich Segal viết kịch bản.
“Where do I begin. To tell the story of how great a love can be”
“Bởi bà già rắc rối, cuộc tình rối rắm, ôi biết nói gì, thì đành nói dối”.
***


Ôi những người bạn học của một thời niên thiếu, đẹp như hoa mộng đó và sau một cuộc biển dâu nầy mà giờ đứa nào may mắn còn sống sót thì cũng đều già cả hết rồi.
Thế nên dẫu chân Trời góc biển nào đó thì tụi tui cũng phải ráng lò dò hay lò cò bay về mà tề tựu một lần sau chót chớ! Tui sẽ mang theo một chai rượu “ông già chống gậy”
(Vì tui cũng đã quá già rồi dù gậy chưa có chống!).
Trước là tế tửu quý Thầy Cô ngày cũ, đã quá vãng, sau để rót xuống cho bạn hiền Châu Minh Nhạn, người đã ngã xuống khi tuổi đời vừa mới chớm đôi mươi.
“Cụng với tao một ly đi mậy!”
***


Ôi Trường xưa! Cho tui xin chịu lỗi nhe! Tui nỡ bỏ ra đi cũng vì phần số thế thôi!
Dẫu vậy, trong trái tim nầy, ở phần sâu thẳm nhất, vẫn còn những hình ảnh cũ của trường xưa, của bạn bè năm cũ, từ giờ tới chết, cũng không thể nào quên!

Đoàn Xuân Thu
Melbourne.

Xã hội Văn Minh!

Nhà thơ, nhà văn, nhạc sĩ, soạn giả tuồng cải lương, nói chung, là những người làm văn nghệ, sáng tác ra một tác phẩm nào; bao giờ cũng chuyển tải theo một tư tưởng nhân bản về cuộc đời, về cách con người đối xử nhân hậu với nhau!
Nhớ những năm đầu thập niên 60, soạn giả Viễn Châu có sáng tác một bài ca vọng cổ “Người đánh đàn trên sông Mỹ Thuận” do danh ca Thanh Nhàn thâu dĩa nhựa, làm cho tác giả lẫn nghệ sĩ trình bày nổi danh khắp cả miền Nam.
Soạn giả Viễn Châu, tức nghệ sĩ đàn tranh Bảy Bá, quê xã Đôn Châu, quận Trà Cú, tỉnh Vĩnh Bình lên Sài Gòn lập nghiệp.
Những lần về lại, thăm quê là ông phải qua Bắc Mỹ Thuận, nối những bờ vui, Mỹ Tho và Vĩnh Long qua con sông Tiền. Nhà soạn giả tài danh nầy chú ý đến một người nghệ sĩ mù, chơi lục huyền cầm trên bến Bắc. Lần sau quay qua chốn cũ, người xưa đà mất dạng… Trên sông khói sóng cho buồn lòng ai!
Viễn Châu lồng vào thân phận của người nghệ sĩ mù đó một số phận đắng cay, một mối tình tan vỡ: Khi anh ra thân tàn phế thì em (thiệt là tệ!) phụ rẫy người xưa đi lấy chồng giàu (?). Chu cha! Xưa giờ cũng vậy!
Anh chỉ còn là một người nghệ sĩ mù lòa trên bến Bắc, đánh đàn trên sông Mỹ Thuận, sống nhờ lữ khách từ tâm qua đường cho chút tiền độ nhựt. Cám ơn!
“Trong một buổi chiều lặng gió/ áo não tiếng tơ đồng như oán, như than…
“Nhạn ơi! Anh ra thân tàn phế; em thì về làm vợ người sang. Đời em sống với bạc vàng. Còn anh làm kẻ đánh đàn ăn xin. Em đi biệt dạng biệt hình. Hết ân, hết ái, hết tình, hết duyên….
Anh ôm đàn dạo lên lần cuối, bản nhạc lòng dang dở năm xưa …
Đó rồi anh mím chặt đôi môi đập vào cội cây cho đến nát tan chiếc đàn sương gió. Rồi nhảy xuống dòng sông giá lạnh, đang mênh mang gợn sóng ba đào.”
Kết cuộc buồn như một câu vọng cổ, chàng nhạc sĩ mù lòa nầy tự trầm.
Cách giải quyết như vậy là bi thảm quá! Nó bỏ mình đi lấy chồng giàu thì mình kiếm con khác. Nếu kiếm không được vì thân phận mù lòa thì ở vậy… có chết thằng Tây nào đâu?!
Thân thể mình là của cha mẹ sanh ra; cuộc đời mình là ân sủng của Trời đất thì ngu sao mà chết?!
(Bên Úc nầy, người chơi nhạc kiếm tiền độ nhựt trên đường phố, được ‘cáo sồ’ khuyến khích; được xã hội tôn trọng, coi như là một ‘busker’ (nghệ sĩ đường phố) thực sự. Chớ không có gọi họ, một cách khi dể, là ăn xin, ăn mày đâu nha!)
***
Rồi năm 1965, sân khấu cải lương Sài Gòn có trình diễn vở tuồng ‘Tiếng hạc trong trăng’ của đôi soạn giả Yên Ba và Loan Thảo.
Đây là vở tuồng kiếm hiệp kỳ tình của xứ Phù Tang. Dĩ nhiên của Nhựt Bổn nên đào kép đều mặc đồ Nhựt Bổn hết ráo… cho nó lạ con mắt!
Nữ nghệ sĩ, sắc nước hương trời, Thanh Nga, trong vai cô gái mù Xuyên Lan, mặc áo kimono, mang guốc mộc, có che một cái dù tre, vẻ hình hoa anh đào, dùng cán dù xoay xoay để múa.
Nam nghệ sĩ Thành Được, xuất sắc trong vai Thy Đằng, tướng cướp một tay, múa gươm xoèn xoẹt, như ‘hiệp sĩ mù nghe gió kiếm vậy!’
Yên Ba và Loan Thảo là hai soạn giả đi theo bước đường của đàn anh mình là Hà Triều Hoa Phượng. Vở tuồng ‘Khi hoa anh đào nở’ ăn khách quá xá quà xa làm nên tên tuổi kép Thành Được trong vai kiếm sĩ Tô Điền Sơn trên sân khấu đoàn Thúy Nga năm 1959. Cái gì ăn khách là mình làm nữa hè!
Với vai diễn xuất sắc nầy, Thành Được đoạt huy chương vàng giải Thanh Tâm của ông nhà báo kiêm chủ báo Trần Tấn Quốc và tuồng ‘Tiếng hạc trong trăng’ cũng được trao giải tuồng xuất sắc nhất năm 1966.
***
Cốt truyện vở tuồng ‘Tiếng hạc trong trăng’ mà tui nhớ lỏm bỏm như vầy:
Bình Thiếu Quân (nghệ sĩ Việt Hùng) vâng lệnh phụ thân là Thần y Đông Trạch (nghệ sĩ Tám Vân) dẫn em gái mù Xuyên Lan (nghệ sĩ Thanh Nga) đi tìm Lý Bình Thanh (nghệ sĩ Hoàng Giang) và phu nhân (nghệ sĩ Kim Giác) để đưa thơ.
(Ngoài đời, Hoàng Giang và Kim Giác góp gạo thổi chung… tức hai vợ chồng)
Dọc đường, họ gặp tên cướp khét tiếng Thy Đằng (nghệ sĩ Thành Được), may nhờ có tráng sĩ Tô Điền (nghệ sĩ Nam Hùng) ra tay giải cứu.
Tướng cướp Thy Đằng tìm đến Lý gia trang để gặp Lý phu nhân, nhắc lại chuyện ngày xưa bà đã thuê hắn giết chồng. Nhưng điều tướng cướp Thy Đằng muốn nhất là gặp lại vợ con đã thất lạc sau cuộc hỗn chiến ngày xưa.
Lý phu nhân cho biết con hắn đã được bà gửi cho Thần y Đông Trạch nuôi dưỡng vì đứa bé ấy bị mù.
Khi biết con gái mình chính là Xuyên Lan, Thy Đằng tự nguyện hiến đôi mắt của mình cho con. Ngày mở băng mắt, Xuyên Lan đau khổ khi biết ân nhân của mình lại là tên cướp khét tiếng mà không hề biết đó chính là cha ruột của mình.
Đoạn cuối, khi Xuyên Lan được Thần y Đông Trạch nhắc lại sơ yếu lý lịch của mình, họ tên và con của ai! Xuyên Lan biết được sự thật cha ruột là tướng cướp Thy Đằng đã cho con đôi mắt sáng ngời, để nhìn đời, nhìn rõ đục trong, và sẽ vầy duyên cá nước cùng tráng sĩ Tô Điền. Sướng nhe!
Nam nghệ sĩ Thành Được xuất thần qua câu hát: “Cháu tôi đứa nào cũng dễ dạy, tụi nó có hai ông ngoại, chúng nói ông ngoại nầy móc mắt ông ngoại kia cho má tôi thấy đường”
Hát xong, Thy Đằng vĩnh biệt con gái yêu Xuyên Lan của mình, lần mò đi vào cánh gà mà trời tuyết đang rơi lã chã! Hình ảnh Thy Đằng rọi trên nền phông sân khấu như một kẻ cô đơn, như ‘Tiếng hạc trong trăng!’
***
“Ò e Ro be đánh đu! Tazdan nhảy dù! Zoro bắn súng! Chết cha con ma nào đây làm tui hết hồn thằn lằn cụt đuôi!”
Bà con đi coi cải lương tới đoạn vãn nầy khóc quá xá! Cô Sáu, dì Bảy, em Hai, em Ba, coi xong tuồng rồi cứ tấm tức và ấm ức hoài!
Tại sao Thy Đằng đã nhường đôi mắt của mình cho con gái yêu là Xuyên Lan rồi; còn đi bụi đời chi nữa để phải lấy cây kiếm quờ quạng lần mò dò đường. Mù lòa mà đi đâu cho khổ thân như vậy hổng biết nữa?!
Tui ‘bí’! Biết trả lời sao? Tại hai ông soạn giả nầy muốn vậy mà.
Khi sáng tác, soạn giả là ông Trời. Muốn cho Thanh Nga mù là phải chịu mù. Cho Thành Được bị chém rụng hết một tay thì tướng cướp Thy Đằng phải cụt một cánh tay!
Rồi năm chục năm sau, tức là nửa thế kỷ, nước chảy qua cầu, đêm nay, viết bài nầy, tui lại tự hỏi tui:
“Cha cái vụ hiến con mắt nầy, nền y học hiện đại giờ chưa thể làm được mà soạn giả nói được là phải được… He he!”
Nhưng cái quan trọng nhứt, cái ý chánh của vở tuồng đã nêu cao được cái phụ tử tình thâm và một cái nhìn rất nhân bản về người khuyết tật, mù lòa.
***
Viễn Châu với ‘Người đánh đàn trên sông Mỹ Thuận’; Yên Ba và Loan Thảo với ‘Tiếng hạc trong trăng’ dạy cho người viết là tui một cái nhìn đúng đắn, để biết cách đối xử với những người không được may mắn như chúng ta.
Còn ai đó cho rằng:
“Người khuyết tật phải gánh chịu số kiếp khuyết tật như vậy vì họ phải trả giá cho việc làm xấu xa ở kiếp trước(?!)”
Nói như vậy là nói bậy!
***
Tui nghe nói xã hội trong nước bây giờ, cũng còn có vài người ‘vô cảm’ lắm! Lành lặn với nhau mà hở một cái là xách dao ra… lụi! Lành lặn còn chơi nhau tới cạn tàu ráo máng như vậy… thì lòng nhân đâu mà đối xử đàng hoàng tử tế với những kẻ không may, những người khuyết tật mà theo thống kê cả nước sau cuộc chiến tranh tàn khốc lên tới 5, 7 triệu người!
Đứa nào làm cho miền Nam văn minh của chúng ta ngày xưa giờ băng hoại đến nỗi nầy?!
Văn minh không phải chỉ là đi mượn nợ nước ngoài để xây thật nhiều cao ốc cho giống hịt Singapore hay lên truyền hình dạy con nít cách nhồi chất nổ C4 vô cái bánh chưng mà giết ‘giặc’ Mỹ đâu nha mấy cha nội!
Muốn biết một xã hội văn minh hay không chỉ cần nhìn vào cách họ đối xử với người khuyết tật.
Đối xử với nhau cho ra cái giống người mới là Xã hội văn minh đó chớ!

Đoàn Xuân Thu.
Melbourne.

                                                                                                 Tranh Bảo Huân

 

 

Ôn hoàng dịch lệ!

Nhắc tới Vũ Hán tỉnh Hồ Bắc thì bà con mình lại nhớ tới bài thơ ‘Hoàng Hạc Lâu’ của Thôi Hiệu, đời nhà Ðường:


“Nhật mộ hương quan hà xứ thị
Yên ba giang thượng sử nhân sầu”


Từ bài thơ Ðường Luật thất ngôn bát cú, nhà thơ Tản Ðà Nguyễn Khắc Hiếu của chúng ta dịch qua thể thơ lục bát với bản dịch tuyệt vời với 2 câu kết là:


“Quê hương khuất bóng hoàng hôn
Trên sông khói sóng cho buồn lòng ai”


Ðời nhà Ðường, Thôi Hiệu, Lý Bạch, Mạnh Hạo Nhiên, Ðỗ Phủ… cũng đã dừng gót giang hồ tại Hoàng Hạc Lâu, nhậu cho đã rồi làm thơ.


Lý Bạch về Hoàng Hạc Lâu; nhưng thấy đã có bài thơ Thôi Hiệu treo ở đấy.


“Nhãn tiền hữu cảnh đạo bất đắc.
Thôi Hiệu đề thi tại thượng đầu”
(Trước mắt có cảnh mà đành chịu!
Vì thơ Thôi Hiệu viết trên đầu).


(Thằng cha Thôi Hiệu nầy viết hay quá! Làm mình cụt hứng. He he!)


Hoàng Hạc Lâu tan nát vì do mấy Chú Ba thời phong kiến đánh nhau cho đã; rồi đốt nhà, nên Hoàng Hạc Lâu cháy tới 12 lần.


Thời CS, Hoàng Hạc Lâu bây giờ cao hơn 50 mét, có năm tầng lầu Trên tầng cao nhất người ta có thể ngắm cảnh trời sông bao la bát ngát, của hai sông Trường Giang và Hán Thủy.


***


Mấy cái chuyện nầy đều liên quan tới cái tỉnh Hồ Bắc, nơi có thủ phủ Vũ Hán, tâm điểm của dịch bệnh “coronavirus’ đang phát tán ra khắp Năm Châu!


Vụ dịch Coronavirus tới giờ nầy đã giết chết ít nhất tới nay là 1.383 người và lây nhiễm hơn 64.000 người (đa số ở Trung Quốc), cái đáng sợ là nó sẽ tiếp tục lan rộng ra ngoài Trung Quốc. Tại Phillipines, tại Nhựt Bản mỗi nước cũng đã có một người chết rồi!


Bị con ‘Coronavirus’ gí tới đường cùn(g), bè lũ ăn hại ở Trung Nam Hải hết dám xưng hùng xưng bá như bữa duyệt binh vào ngày Mùng 1, tháng Mười, năm 2019, (chỉ cách nay có 4 tháng thôi) tại Quảng trường Thiên An Môn để Tập Cận Bình đánh trống thổi kèn ăn mừng 70 năm CS chiếm được chánh quyền, đè đầu cỡi cổ dân Tàu và hăm he mẻ răng các nước khác là:


“Khó khăn nào cũng vượt qua kẻ thù nào cũng đánh thắng!”
(Nghe quen quen à nha!)


Pháo bông bắn đầy trời thủ đô Bắc Kinh và nở ra những cái hình (hình kèm theo) giống hịt như hình con ‘Coronavirus’ mới vậy!


Và cái con ‘coronavirus’ đang rượt chánh quyền Trung Cộng chạy có cờ, chạy vô chạy tuốt ra ngoài tới nước Nga của Vladimir Putin và ngay cả chủ nghĩa tư bản đang giãy đành đạch để chết là bọn Liên Âu để xin ông đi qua bà đi lại giúp đỡ ‘ngộ’ giùm một cái. Nguy cấp quá xá rồi!


***
Vào lúc 6 giờ chiều, ngày thứ Ba, 28 tháng Giêng, năm 2020, chiếc máy bay phản lực Boeing 747, cất cánh từ sân bay Barajas ở thủ đô Madrid, Spain quá cảnh 20 tiếng đồng hồ tại Hà Nội rồi cất cánh bay lên, tới Vũ Hán, thủ phủ tỉnh Hồ Bắc Trung Quốc để làm thuyền cứu sinh, rước công dân của Liên Âu ra khỏi vùng đất chết.


Khi vòng quanh bầu trời Vũ Hán, dưới cánh bay của họ là một sa mạc, một thành phố ma, tiêu điều trong hoang vắng như một chiến trường vừa bị trải qua một trận ném bom B52. Ðường phố vắng hẳn tiếng xe; sân bay hoàn toàn trống vắng.


Phi hành đoàn đeo khẩu trang, mang găng tay, ở nguyên trên máy bay và 72 hành khách lên máy bay rồi họ cất cánh bay lên.


“Ðối với người vượt thoát khỏi tâm điểm của dịch bệnh Corona Wuhan, mừng rỡ giống như họ đang được về nhà và bỏ lại tất cả phía sau”.


Hệ thống y tế của Trung Quốc đã ‘sụm bà chè’; vì giường dành cho bệnh nhân và vật tư y tế cần thiết đã hết. Trong khu cách ly của Bệnh viện số 3, Thành phố Thiên Môn, tỉnh Hồ Bắc, giường số 15 trên lầu 2, bệnh nhân Bá Mạn Nhi, 24 tuổi, gởi lên mạng xã hội Weibo của Trung Quốc lời trăng trối, nghe rất đau lòng.


“Tôi không nghĩ rằng tôi có thể vượt qua đêm nay, và đến giờ tôi cuối cùng cũng có thể nhận ra cái chết là gì. Không ai tin cả. Không ai tin rằng tôi đang trên bờ vực của cái chết.

Bệnh viện chỉ phát hai viên ‘Oseltamivir’, cơm một ngày hai bữa, ngoài ra không còn gì khác vì bệnh viện chỉ có một phương án đó mà thôi.”


Ngày 30, tháng Giêng, năm 2020, y tá đến đo thân nhiệt. Bá Mạn Nhi yếu quá, không thể phản ứng gì, y tá phải kéo chăn ra và không ngừng vỗ vào Bá Mạn Nhi, khi thấy cô không có động tĩnh gì như vậy. Chỉ sau khi Bá Mạn Nhi cố gắng phát ra một giọng nói yếu ớt, y tá mới biết là cô còn sống.


“Tôi nằm trên giường, không thể gượng dậy. Tôi biết hôm nay tôi sẽ phải chết, hô hấp suy kiệt, cũng không được truyền dinh dưỡng nữa. Tôi đã chủ động đi cách ly. Tôi không ngờ rằng mình sẽ phải vào địa ngục trần gian!


Tôi đang bị cách ly trong bệnh viện, tất cả những gì tôi nói đều là sự thật. Tuyên truyền trên báo chí của nhà nước toàn bộ đều là láo khoét, bịa đặt.


Những bệnh nhân đang nằm chờ chết tại đây giống như tôi không hề ít, chúng tôi tin vào chính phủ, vậy mà hiện tại nhận được kết cục như thế này đây!”


***
Vậy mà cũng theo mửng cũ, cái tật không bỏ hè, Tể tướng Lý Khắc Cường vẫn còn lên gân, nổ ‘lép bép’ là:


“Chính phủ Trung Quốc luôn đặt sự an toàn và sức khỏe của người dân lên hàng đầu và đang nỗ lực để ngăn chặn và kiểm soát dịch bệnh một cách minh bạch và có trật tự. Công việc hiện tại là kiềm chế sự lây lan của dịch bệnh và điều trị cho bệnh nhân, cũng như bảo đảm trật tự cuộc sống bình thường của người dân Trung Quốc và người nước ngoài tại Trung Quốc!”


Trong khi đó thì hình ảnh một ông cụ mang khẩu trang nằm chết cô độc trên lề đường của thành phố Vũ Hán, tỉnh Hồ Bắc tràn ngập trên Truyền thông Phương Tây làm ai nấy cũng đều thương cảm!


Rồi bà con ở các nước khác cũng đang lo sốt vó vì sợ bị lây lan! Nước Úc tới giờ phút nầy đã có tới 15 ca bị thử nghiệm dương tính rồi đó.


***
Té ra Lý Thừa tướng hô khẩu hiệu trước bàn dân thiên hạ cho đỡ quê thôi; chớ trong hậu trường, Lý tuân lịnh Hoàng đế Tập, nên đã gởi tên du thuyết ‘Vương Nghị’ đi Nga xin ‘hợp tác’.
(Nói ‘hợp tác’ cho đỡ quê vậy mà! Mà nè trước khi vô Moscow, Vương Nghị có được kiểm dịch hông? Nếu có, thì lúc nói chuyện với thằng Nga, hai cha nhớ mang khẩu trang cho đúng cách, kẻo khi bốc phét, văng nước miếng tùm lum rồi ‘hợp tác’ tặng cho Tổng thống Nga Vladimir Putin (cựu trùm mật vụ KGB) vài con ‘coronavirus’ cho biết với người ta thì bỏ cha cả lũ.)


Rồi đích thân Lý Thừa tướng nói chuyện qua điện thoại với Chủ tịch Ủy ban Châu Âu Ursula von der Leyen hứa trao đổi thêm thông tin (đừng có đưa ‘tin vịt’ nữa được hông nè?) với hy vọng sẽ mua được các dụng cụ y tế cần thiết từ các nước thành viên của Liên Âu.


Liên Âu cho biết sẽ cố gắng hết sức và phối hợp tất cả các phương tiện cần thiết để hỗ trợ cho Trung Quốc.


***


Thôi vì tình nhân loại, người Tàu đang ngụp lặn trong cơn hoạn nạn về dịch bệnh ‘Coronavirus’ thì cộng đồng các nước khác trên thế giới, vì lương tâm, vì tình đồng loại và cũng vì sức khỏe của chính dân mình, nên chung tay góp sức vào việc phòng chống dịch bệnh để cứu dân Tàu trước; sau là để tránh lây lan tới cả dân mình.
Khi cơn dịch bịnh ‘Coronavirus nầy hy vọng sẽ được dập tắt, thì bà con tin tui đi, Trung Cộng sẽ lại đánh trống thổi kèn, vỗ ngực xưng tên nhờ sự lãnh đạo tài tình sáng suốt của đảng ta cho mà coi!


Còn cầm bằng thất bại, dân Tàu chắc chắn sẽ tính sổ tới nơi tới chốn với cái đảng CS ‘ôn hoàng dịch lệ’ nầy!

Đoàn Xuân Thu.
Melbourne.

Tranh Bảo Huân.

                  Cần Thơ đi dễ khó về!

Chữ rằng: “Cần Thơ đi dễ khó về! Trai đi có vợ; gái về có con!”

Đó đó! Đúng y hịt đời tui vậy đó bà con ơi!

Như ai nấy nếu để ý đều biết bất cứ thị trấn, thị xã nào của Lục tỉnh Nam Kỳ, quê mình, đều kề cận một dòng sông.

Vì cũng có câu rằng: “Sông Cửu Long chín cửa hai dòng! Người thương anh vô số, nhưng anh chỉ một lòng với em!”

Rồi thòng thêm câu hỏi nữa: “Bên dưới có sông; bên trên có chợ. Ta với mình chồng vợ nên chăng?”

Thì em yêu, dân Cần Thơ, tóc em dài em cài hoa thiên lý, nghe anh hỏi mi mí… là em biết tỏng cái tim đen, bèn trả lời móc họng anh, như vầy: “Biết rồi mà bày đặt hỏi lôi thôi!”

Có nghĩa là: “Anh có thương em thì thủng thẳng em ừ! Anh đừng thương vội mẫu từ ‘quánh’ em!”

Ha ha! Mẫu từ, mẹ hiền, mà roi vọt bất tử quá vậy ta? Nhưng có nhằm nhè gì! Quánh em; chớ có dám quánh thằng ‘rể đu đủ’ tương lai trời đánh nầy sao mà mình sợ chớ?! Nên tới luôn bác tài…Vì em đã chịu đèn rồi!

***

Chẳng qua là tới tuổi quân dịch, tui vào lính; nhưng bị bịnh mộng du! Bác sĩ quân y thuộc Hội đồng giám định y khoa khám, cho tui về hoãn dịch vì lý do sức khỏe!

Vì tối nào tui cũng ngủ mớ, tuột cái rột, ra khỏi giường, đi vòng vòng doanh trại, dạo mát trăng thanh; nhưng không có ý thức gì ráo!

Mật khẩu không biết, đêm cà lơ phất phơ… lính canh nó phơ ẩu là bỏ mạng sa tràng…

Thôi lính chê thì mình về đi học nữa vậy!

***

Năm 1970, tui theo thằng bạn thân, sau Tết, mùng Bốn, đi Cần Thơ cho biết đó biết đây; ở nhà với Má biết ngày nào khôn?

Từ Sài Gòn xuống Cần Thơ, trên Quốc lộ 4, qua Bắc, leo lên xe Lam, chạy một hơi thôi, khoảng 1300 mét, là tới Ngã ba Lộ tẻ.

Rẽ trái vào trung tâm thành phố Cần Thơ! Rẽ phải vào liên tỉnh lộ dẫn đến Long Xuyên, Châu Đốc, Rạch Giá và Hà Tiên.

Tại Ngã ba Lộ tẻ, có Bến xe mới xe lên Sàigòn; hoặc xuống Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau, chạy thẳng tắp từ đây tới tận quận Cái Răng; mà không phải đi qua trung tâm thành phố.
Vào trung tâm Cần Thơ phải qua cây Cầu đôi bằng sắt, kiểu Eiffel, bắc ngang qua rạch Cái Khế.

Bên kia cầu là một ngôi biệt thự kiểu Pháp, xưa dành cho mấy ông Tây; sau nầy là Dinh của Tư lệnh Vùng 4 Chiến Thuật, Quân lực Việt Nam Cộng Hòa .

Đi tới là dinh Tỉnh Trưởng! Trước mặt là một bùng binh khá rộng, nơi hội tụ của nhiều con đường chạy vòng vòng để khỏi đụng nhau.

Đường Phan Đình Phùng xuất phát từ đây, coi như là cái xương sống của thành phố, chạy ngang qua Ty Bưu điện, Tòa án, Tòa Thị Chánh, Ty Cảnh Sát, Trường Tư thục Nam Hưng, v.v… xuống tận khu Cầu Xéo.

Một đường khác cũng từ dinh Tỉnh Trưởng hướng về Cầu Tham Tướng, là Đại lộ Hòa Bình. Nhưng dân quen gọi là đường Hàng Xoài, vì dọc theo đường có trồng xoài.

Đại lộ Hòa Bình, lớn nhưng ngắn ngủn, chấm dứt khi tới Bệnh viện Thủ Khoa Nghĩa (Nơi em yêu của tui làm đó nhe!). Đường Lý Thái Tổ, bắt đầu từ đây, chạy dài tới cầu đúc Tham Tướng.

Qua cầu, là đường Mạc Tử Sanh, phía bên trái là chợ chồm hổm, chỉ nhóm vào buổi sáng, nhưng tấp nập quanh năm vào buổi chiều tối vì có xề bánh cống, quầy hủ tiếu, gánh cháo gà cho dân nhậu bình dân.

***

(Tham Tướng là Mạc Tử Sanh, con của Mạc Thiên Tích (Hà Tiên), làm cận vệ cho chúa Ðịnh Vương Nguyễn Phúc Thuần.

Năm 1777, quân Tây Sơn ồ ạt tấn công xuống miệt Trấn Giang (Cần Thơ)! Mạc Tử Sanh bị vây, chết trận nơi khoảng rạch nhỏ đổ ra sông Cần Thơ! Sau nầy dân chúng đặt tên là rạch Tham Tướng!)

***

Rạch Tham Tướng chạy vòng vòng phía trong, cắt ngang đường Tạ Thu Thâu, chui qua cái cầu sắt nhỏ, cầu Rạch Bần, vốn là đường thoát nước mưa tự nhiên cho Cần Thơ! Sau nầy nghe nói đã bị lấp! Nên bây giờ mưa lớn một chút là Cần Thơ ngập thấy thảm… thương luôn?! Tội nghiệp mấy em mắc mưa, ướt luôn cái quần lãnh Mỹ A hết ráo!

Cầu Tham Tướng đã biến mất, đường Mạc Tử Sanh đi về hướng Cái Răng cũng bị mất tên luôn, thành đường 30 tháng 4.

Ngã ba Tham Tướng xưa có doanh trại của đại đội Quân vận 411, dưới hàng cây bã đậu. Sau nầy là quán cà phê và quán nhậu bình dân.

Ôi những ngày đói rách, lang thang sau khi mất nước, tui không biết làm gì; chỉ biết long nhong như ở không lắm vậy! Và từng đóng đô thường trực ở đó.

Ngồi tréo ngoảy, trước mặt ly rượu thuốc ngâm ô môi, có màu cho dễ ực; vì màu trắng mắt mèo, e nó có nhúng một đầu tăm thuốc trừ sâu cho rượu trong veo… Thấy ớn quá hà!

Xa em, người đã cả gan bán chịu cho tui ngày cũ (mà không sợ bị giựt)! Biết giờ em giờ phiêu bạt tận phương nào, để tui gởi về em một, hai trăm đô Úc, bồi đáp cái ‘bát cơm phiếu mẫu’ ngày xưa?!

Phần để cho em có tiền mua trầu nhai bỏm bẻm, chống tay lên cằm mà nghĩ tui vẫn còn thương tưởng tới em?!

***

Nhưng nếu bà con mình ở tỉnh khác tới chơi; người ta khoái cái bến Ninh Kiều hơn là chợ Tham Tướng!

Bến Ninh Kiều, nơi nghĩa quân Lam Sơn đã đánh quân Minh xâm lược một trận tơi bời; nên nằm trên đường Lê Lợi.

Thế mới biết ông cha mình đặt tên đường, tên bến nước là đầy trí tuệ, có hậu ý; chớ không phải như sau nầy muốn đổi tên đường sao cũng được; tùy bữa say nhiều hay xỉn ít đâu nha mấy cha?!

***

Nhạc sĩ Lam Phương, năm 75, theo tàu Trường Xuân, ông chạy sớm hơn ai hết thảy. Xa quê, tuốt bên trời hải ngoại, ông vẫn còn nhớ tới bến Ninh Kiều để: “Một đêm anh mơ mình ríu rít đưa nhau về. Thăm quê xưa với vườn cau thề .Bàn tay anh đan dìu em bước trên cỏ khô. Đi trong hoang vắng chiều Tây Đô!”

Đó là ông ước, ông mơ, ông nhớ về ngày tháng cũ: “Bờ sông yêu xưa tà áo thướt tha mỹ miều. Sao anh không thấy về Ninh Kiều? Dường như anh nghe đời nặng trĩu trong màu đen. Đen như manh áo buồn chưa quen!”

Rồi ông nhớ cái thuở học trò! “Ngày xưa ta quen từng viên đá quanh sân trường. Nay nghe sao khác từ tên đường/ Tàu đưa ta đi tàu sẽ đón ta hồi hương. Tây Đô sẽ sống lại yêu thương!”

Cái trường, ông Lam Phương, (xưa ta quen từng viên đá quanh sân trường), là trường Phan Thanh Giản, trường công lập lớn nhất miền Tây, được thành lập vào đầu thế kỷ 20.

Học sinh ở các tỉnh lân cận, như nhà văn Sơn Nam, miệt Rạch Giá, vẫn phải khăn gói đến trường Phan Thanh Giản để học tiếp bậc “Đút rơm trâu ăn mê” (Diplôme) tức Trung học Đệ nhất cấp!

***

Tới năm 1964, trường Phan Thanh Giản lại được tách ra để thành lập Nữ Trung học Đoàn Thị Điểm. (Em yêu của tui đã từng đi học ở đó!)

Sau 75, Trung học Phan Thanh Giản bị thay bằng Châu Văn Liêm.

Mà không phải chỉ cái trường học bị đổi tên đâu mà những con đường chu vi trường cũng chịu cùng chung số phận.

Cổng trường nằm trên đường Phan Thanh Giản bị đổi thành đường Xô Viết Nghệ Tỉnh. Đường Pasteur, giữa trường Phan Thanh Giản và trường Đoàn Thị Điểm, bị đổi tên là Võ Thị Sáu.

Ông Pasteur, dù là Tây; nhưng có công lớn là đã chế ra thuốc chủng ngừa, cứu mạng hàng triệu người, không phân biệt màu da sắc tộc, khỏi bệnh tật!

Công lớn với nhân loại khó có ai sánh bằng vậy mà cũng bị đuổi đi… để thay bằng chị Sáu… ‘mùa lê kim ma’ nở?

Nhưng tui buồn nhứt có lẽ là đường Võ Tánh, dọc bên hông trường, từ đường Phan Thanh Giản tới đường Ngô Quyền; đã đổi thành đường Trương Định.

Không phải tui (dám) ghét bỏ ông Trương Định, một anh hùng kháng Pháp, gì đâu. Mà chẳng qua con đường Võ Tánh, dẫu ngắn, có một khúc tẻo tèo teo thôi; nhưng nó lại mang quá nhiều kỷ niệm…

***

Phía sau lưng đường Võ Tánh nầy là xóm Cả Đài (theo tên Hương cả Phạm Thành Đài), bắt đầu từ cái chợ nhỏ cũng gọi là chợ Cả Đài kéo dài dài đến chùa Cây Bàng; nơi tui từng ở trọ gần trường để tiện đường… đi gõ đầu trẻ hồi năm nẳm.

Tui nhớ quán Ngọc Lan, chuyên bán cơm tháng cho quân nhân và công chức. Năm 1973, nếu mua vé cả tháng, sáng ăn đưa một vé, chiều ăn đưa một vé!

Bữa nào hỏng ăn, lại đi ăn cháo, gỏi đầu cá lóc (bự ế kinh), ngon hết biết, với em yêu ở đường Nguyễn Trường Tộ thì khỏi đưa vé…

Ăn hết xấp vé đó mua xấp vé khác, tốn 4 ngàn đồng bạc, dằn túi; không sợ đói bất tử vì đôi khi hứng xài ẩu… (Hồi thanh niên, đứa nào hỏng vậy cà?)

Từ quán cơm Ngọc Lan, có ông chủ lúc nào cũng mang mặc áo bỏ vô thùng bảnh tỏn, đi vài căn nữa thì tới tiệm chụp hình Phúc Vinh, nơi em yêu làm duyên, chụp tấm hình cho anh lộng bóp; để lúc nào cũng phải nhớ tới em!

Và nếu vắng em, có con ‘quỷ hó’ nào dám lục bóp anh, thì nó thấy tấm hình bà La Sát nầy là nó sẽ bỏ chạy sút dép luôn!

Sau 75, người ta đói xanh râu, đói đến lòi hai cái lỗ tai; nên tiệm Phúc Vinh không còn chụp hình nghệ thuật nữa mà quay sang bán cháo, gỏi gà… để kiếm cơm!

Tui đã từng theo Giáo M. nhà ở hẻm 5, đường Phan Thanh Giản tới đây nhậu.

(Giáo M. có người em gái trắng như bông bưởi! Tắm xong, em hay ra hàng hiên ngồi hong tóc; mà tui tình cờ trông thấy… phải há hốc cái mồm!)

***

Thưa bà con! Dù Cần Thơ không phải là nơi chôn nhau cắt rún của tui nhưng là quê hương yêu dấu ngậm ngùi của em yêu.

Cần Thơ là quê vợ, là người tui rất sợ; nên tui còn yêu Cần Thơ hơn cả quê tui nữa đó!

Vì nơi đó có em… và còn có mấy em khác (tui thầm thương trộm nhớ) nhưng vì đã có vợ rồi nên tui đành phải giữ mối tình câm…Nên riết rồi… tui bị ‘hâm hâm!”

Tui xa Cần Thơ… Đi và đi luôn tới mấy chục năm!

Người xưa bên ấy, mới đây, gởi cho tui câu ca dao nầy, tui lén vợ, tui học thuộc lòng, kẻo quên:

“Con chim buồn, chim bay về cội. Con cá buồn, cá lội trong sông. Em buồn em đứng em trông. Ngõ thì thấy ngõ, người không thấy người!”

Thôi xin tạ lỗi cùng em hẻm 5, đường Phan Thanh Giản!

Thân anh giờ như:“Chim vào lồng; như cá cắn câu! Cá cắn câu biết đâu mà gở; chim vào lồng biết thuở nào ra!”

Thôi đành: “Hẹn nhau kiếp sau ta tìm thấy nhau!”

Đoàn Xuân Thu

Melbourne.

                                  Canh bạc của Tập Cận Bình!

Vũ Hán là thủ phủ của tỉnh Hồ Bắc, Trung Quốc với 11 triệu dân nằm ở ngã ba sông Dương Tử và sông Hán.


Xưa giờ bà con mình, đôi khi chỉ biết địa danh Vũ Hán qua bài thơ thất ngôn bát cú ‘Hoàng Hạc Lâu’ của Thôi Hiệu (704–754) thời nhà Đường.


Nếu là dân lưu lạc tha hương như chúng ta, ai cũng biết hai câu kết là:


“Nhật mộ hương quan hà xứ thị
Yên ba giang thượng sử nhân sầu!’


Nhà thơ Tản Đà đã dịch lại, một cách trác tuyệt, bằng hai câu lục bát là:


“Quê hương khuất bóng hoàng hôn.
Trên sông khói sóng cho buồn lòng ai?”


***
Tuy nhiên từ cuối tháng Chạp, năm 2019 tới nay, Vũ Hán, (tiếng Anh là Wuhan) được dân toàn thế giới biết đến không phải do bài ‘Hoàng Hạc Lâu’ của nhà thơ Thôi Hiệu, mà do con ‘2019 novel coronavirus’ (2019-nCoV), thường gọi là ‘Coronavirus Wuhan’; mà Hoàng đế Tàu muôn đời Tập Cận Bình gọi nó là con ác quỷ.


Vài loại vius được đặt tên theo chỗ hay nơi đầu tiên phát hiện ra nó.


Như MERS, viết tắt của Middle East Respiratory Syndrome (Hội chứng bệnh hô hấp Trung Đông hay). Hoặc ‘Virus Ebola’, tên một con sông ở nước Cộng hòa Dân chủ Congo bên Phi Châu.


Còn “Coronavirus Wuhan”, hình dạng giống như vương miện (corona), vẫn chưa được chánh thức có tên.


***
Con ‘Coronavirus Wuhan’ nầy cho tới nay đã làm hơn 14.300 người mắc bệnh và 305 người đã chết.


Người dân Trung Quốc đang hoảng loạn; vì một người nhiễm bệnh có thể lây cho tới 2.6 người khác; số ca nhiễm bệnh mỗi ngày tăng lên tới 30%.


Cơn dịch bệnh nầy bùng phát từ nước Tàu rồi lan ra tới nhiều nước trên thế giới là vì vị trí địa lý của ổ dịch Vũ Hán.


Vũ Hán là đầu mối giao thông về đường sắt cao tốc Bắc Kinh-Quảng Châu (Bắc xuống Nam) và Thượng Hải-Thành Đô (từ Đông sang Tây).


Rồi phi trường quốc tế Vũ Hán có tới 29 triệu lượt hành khách bay đi khắp tới 109 điểm thuộc 20 nước khắp năm châu như London, Moscow, Paris, Rome, New York, San Francisco, Bangkok, Tokyo and Seoul.


Thời điểm xảy ra cơn đại dịch nầy lại trúng vào ngày Tết Âm lịch. Cả trăm triệu người dân Tàu về quê ăn Tết hay ra nước ngoài du lịch mang theo ‘Coronavirus’ nầy đi gieo rắc khắp nơi.


***
Để đối phó lại dịch bệnh đang bùng phát, Tòa Lãnh sự Mỹ ở thành phố Vũ Hán đã đóng cửa. Bộ Ngoại giao Mỹ đã cảnh báo cấp 4 với công dân của nước mình là: “Đừng đi tới tỉnh Hồ Bắc!”


Còn vì công ăn chuyện làm nhưng không cấp thiết thì khoan đi đến nước Trung Hoa. Có ai lỡ tới rồi Vũ Hán rồi thì Mỹ cho máy bay Boeing 767 với 240 chỗ qua chở dân mình về California, USA.


Đàn anh Mỹ làm vậy; đàn em Úc bắt chước làm theo chuẩn bị cho máy bay qua rước công dân Úc về trong đó có ít nhứt khoảng 100 trẻ em.


***
Hiện tại không có loại thuốc nào hiệu nghiệm để tiêu diệt được loại virus này. Còn thuốc chủng ngừa, theo các chuyên gia về Y tế của trường Đại học Queensland Úc Châu, phải mất ít nhứt 4 tháng nữa mới có.


Trong khi đó các chuyên gia Y tế của nước Mỹ tiên liệu cần phải tới một năm.
Việc phòng chống dịch bệnh, ngăn ngưà việc lây nhiễm phải là sự cộng tác của những chuyên gia về Y tế và người dân.


Thế nên trẻ con, người già, những người bị bạo bệnh trong quá trình hồi phục, có hệ miễn dịch yếu phải tự bảo vệ mình bằng cách tránh tiếp xúc gần gũi với người bị nhiễm bệnh; tránh đến những chỗ đông người.


Rồi vệ sinh thường thức như: rửa tay, che miệng và mũi khi ho hoặc hắt hơi, và khử trùng các bề mặt khi bạn chạm vào. Nếu cần thiết thì phải đeo khẩu trang.
(Chính vì vậy mà các nhà thuốc Tây ở Footscray nầy đây khẩu trang đã bán sạch bách rồi; phải đặt hàng tới tuần sau mới có).


Bộ Y tế Úc muốn người dân tỉnh táo nhận thức được vấn đề, nhưng họ cũng muốn ngăn chặn sự hoảng loạn không cần thiết.


Tuy vậy có một số trường tư ở Sydney và Melbourne buộc học sinh đứa nào mới về Trung Quốc ăn Tết trở qua, trước khi nhập học vào đầu niên khóa thì đừng đến trường trong 14 ngày; rồi phải có giấy chứng nhận của bác sĩ mới được vào lớp học.


Hành động nầy bị cách chuyên gia về Y tế Úc cho rằng làm hơi quá!


Nhưng trường tư thường dành cho con em nhà giàu nên thủ cẳng và thủ kỷ như vậy cho chắc ăn!


***
Trong khi đó thì Tàu Cộng cố che giấu dịch viêm phổi Vũ Hán. Người dân Tàu không biết loại Virus này gây bịnh bình thường hay nặng đến mức phải đi nằm nhà thương. Tình hình nghiêm trọng đến mức nào? Nhân Dân nhựt báo cố tình đăng ‘video’ bệnh nhân khỏi bệnh vui mừng ra dấu hiệu chiến thắng giữa 4 nhân viên y tế mặc đồ bảo hộ.
Chuyện trớ trêu là Vương Nghiễm Phát, người đứng đầu nhóm các nhà nghiên cứu được Bắc Kinh cử đi điều tra tình hình, ngày 11, tháng Giêng, năm 2020 nói rằng:
“Dịch bệnh đã được kiểm soát!”


Nhưng chính ông ta sau đó bị chẩn đoán là đã nhiễm virus.


Rồi ngay giữa khủng hoảng, một cuộc họp đảng lớn của tỉnh Hồ Bắc vẫn được tổ chức ở Vũ Hán và hơn 40.000 gia đình được mời tham dự một bữa tiệc trong nỗ lực lập kỷ lục thế giới.


Thiệt là quái đản!


***
Năm 2002, dịch bệnh SARS (Severe Acute Respiratory Syndrome) lây lan khắp tỉnh Quảng Đông làm 8.000 người mắc bệnh và 774 người thiệt mạng.


Bộ trưởng Y tế cùng Bí thư Thành ủy Bắc Kinh bị cách chức. Cứ tưởng Trung Cộng học được kinh nghiệm để sửa sai. Ai dè sửa sai rồi sai lại sửa.


Các quan chức luôn nói dóc, che dấu nhằm hạ thấp mức nghiêm trọng của vấn đề vì không muốn gây tổn hại đến kinh tế và ổn định xã hội để họ được thăng quan tiến chức. Để khi nghe về nó, và khi vấn đề đã đến chính quyền trung ương, thì nó đã là một vấn đề lớn rồi”.


Chủ tịch thành phố Vũ Hán, Chu Tiên Vượng, lên Truyền hình mếu máo, biện minh là:
“Luật pháp Trung Quốc về các bệnh truyền nhiễm, trước tiên chính quyền địa phương cần báo cáo ổ dịch cho Bộ Y tế , sau đó được sự chấp thuận của Trung Ương trước khi có thể đưa ra thông báo.


Tên tuổi của chúng tôi sẽ bị gắn liền với vết nhơ, nhưng miễn là việc kiểm soát dịch và đảm bảo an toàn cho người dân có hiệu quả hơn, tôi và đồng chí Mã Quốc Cường (Bí thư Thành ủy Vũ Hán) sẵn sàng chịu mọi trách nhiệm”.


Nghĩa là hai tên đầu têu ở Vũ Hán nầy xin nằm cúi xuống cho Tập Cận Bình đét đít, rồi đuổi về chăn gà cho vợ.


Điều tức cười là hai đứa ra lịnh cho dân khi ra chỗ công cộng là phải mang khẩu trang; nhưng tay Bí thư cứ để mặt trần, trụi lủi; còn tay Chủ tịch mang khẩu trang ngược.
Chú, Thiếm Ba chửi um sùm. Ngu dốt như vậy mà Đảng lãnh đạo cái giống gì hè?

***
Trường hợp đầu tiên mắc bệnh viêm phổi Vũ Hán được báo cáo vào ngày mùng 8, tháng Chạp, năm 2019; và các quan chức chính quyền báo cáo láo rằng nó đã được kiểm soát và có thể điều trị.


Dân không tin quan nói; khi thấy trên các trang mạng xã hội người bệnh tay gắn ống truyền dịch, ngồi cạnh những bình oxy gần ba thi thể phủ vải trắng. Các bệnh nhân đeo khẩu trang gục ngã ngoài đường.


Nên hàng trăm người dân rồng rắn chen chúc trong các hành lang bệnh viện để chờ tới lượt điều trị làm nguy cơ lây nhiễm lẫn nhau lại cao hơn. Chính vì vậy mà một chục nhân viên y tế bị nhiễm virus, một bác sĩ đã thiệt mạng.


Nghiêm trọng tới chừng đó, quan chức CS mới quắn ‘đít’ lên, cấm tất cả các chuyến bay và xe lửa ra khỏi thành phố Vũ Hán.


Tất cả 70.000 rạp chiếu phim cùng nhiều khu vui chơi trong dịp Tết bị đóng cửa; chỉ có cây xăng, nhà thuốc và siêu thị mới được phép mở.


Trung Quốc đã đặt gần 60 triệu người, nhiều hơn cả dân số Hàn quốc vào tình trang cách ly một phần hay toàn phần. Công nhân về quê ăn Tết bị cấm trở lại thành phố làm việc.


Các thành phố trực thuộc tỉnh Hồ Bắc, và hơn 15 thành phố lớn thuộc tỉnh khác đã trở thành thàng phố ma. Đường phố vắng tanh, thưa thớt bóng người qua lại.


***
Thị trường chứng khoán Mỹ, Âu Châu, Tokyo Hong Kong giảm mạnh gần 2%, mức lao dốc tồi tệ nhất trong năm.


Chưa có bằng chứng nào cho thấy con virus nầy truyền qua hàng Trung quốc xuất khẩu; nhưng nền kinh tế nước Tàu đã bị thiệt hại rất nặng nề!


Nguy cấp quá nên Chủ tịch Tập Cận Bình bèn sai Thủ tướng Trung Quốc Lý Khắc Cường đến Vũ Hán hô khẩu hiệu:


“Cuộc sống của người dân là vô cùng quan trọng. Khi một dịch bệnh bùng phát, trách nhiệm của chúng ta là ngăn chặn và kiểm soát nó”.


Bằng cách xuất ra 8.7 tỉ đô la, điều thêm 1600 nhân viên Y tế kể cả bác sĩ quân y cùng 1000 người khác sẵn sàng tới Vũ Hán; cho xây thêm một bệnh viện 1.000 giường trong vòng 10 ngày để cố an dân.


***
Mùa Cúm bên Trung Quốc năm nay tệ hại rất nhiều vì con Coronavirus Wuhan lây lan với tốc độ chóng mặt, gây ra rất nhiều hậu quả xấu về văn hóa, kinh tế, chính trị cho Trung Quốc, dưới sự lãnh đạo rất lôm côm và lu bu của đảng CS.


Một chuyên gia Y tế của Tàu đã than thở rằng: “Đợt bùng phát dịch này chắc chắn sẽ lớn hơn; có thể lên đến đỉnh điểm từ giữa tháng Tư đến giữa tháng Năm tại các thành phố lớn”


“Chúng ta đã bỏ lỡ cơ hội bằng vàng để phòng ngừa và kiểm soát được dịch bệnh!”


***


Phải thân chinh nắm quyền chi huy các hoạt động chống dịch bệnh là Chủ tịch Trung Cộng Tập Cận Bình đang đánh một canh bạc rất lớn, ít may nhiều rủi cho sanh mạng chánh trị của mình. Được ăn cả ngả về không!


Nếu thắng, dập tắt được dịch bệnh ‘Coronavirus Wuhan’, thì ghế Chủ tịch của Tập vững như bàn thạch… cho tới cơn dịch tới.


Bằng thua, thì Tập Cận Bình ắt phải về đuổi gà cho vợ thế thôi!


Đuổi gà chớ không phải chăn heo. Vì heo Trung Quốc năm nay đã bị Dịch tả Lợn Châu Phi làm chết hết ráo rồi thì còn đâu nữa mà chăn?

Đoàn Xuân Thu.
Melbourne.

HỒN CỐ THỔ!

Tết nào cũng vậy, tệ nạn cờ bạc nó rộ lên như nấm mối gặp mưa. Sòng bầu cua, sòng tài xỉu ngoài xóm. Đang ăn, nhà cái chưa kịp chung tiền, ai đó hô ‘lính tới’ cả bọn chạy thục mạng. Sau mới biết tụi nó chơi đểu, ăn vùa thua giựt. Thiệt là tức trào máu họng.
Còn bài xấu, cái đầu sù sụ con mắt trỏm lơ, mình đi phất phơ như con chó đói. Do đó lỡ binh xập xám, ba phé ba nơi hoài, đầu hôm xao xác bạc tốt như tiên, đến khuya không tiền bạc như chim cú.
Theo tui thì Tết đừng đánh bài là hay hơn hết. Lỡ mình ăn mình vui; thì người thua cũng bà con lối xóm không hè, họ buồn… Mà Tết nhứt mà làm thiên hạ buồn thì lương tâm mình cũng kẹt… ‘phé’.
Cờ bạc là chuyện không nên chơi; thôi mình nói đến chuyện ăn Tết cho nó no, nó vui hơn.
Tết là mứt bí, mứt dừa, mứt me, mứt mãng cầu, mứt gừng, kẹo chuối, chuối khô, …để quý bà uống trà rồi đàm đạo trong những ngày xuân.
Quý anh sui thì đem cái nhạo rượu nếp rót vô ly hột mít, sùi bọt tăm, thơm lừng mùi nếp; gắp miếng củ kiệu tôm khô, đưa vô mồm nhai ngồm ngoàm, xong khà một tiếng.
Đó là sui gia đến nhà nhau chúc tết, nhâu chơi chút đỉnh để giao tình thương mến thương…Sương sương rồi dông qua chúc Tết bà con lối xóm, đủ mặt văn võ bá quan không sót đứa nào, kẻo nó vạc miểng chén, miểng sành, rủa sả: “Giàu hổng bao nhiêu mà làm bày đặt làm phách!”
Cái vụ đi xông đất nầy tui hổng ham rồi vì rất ngại chủ nhà tin dị đoan, kiêng cử cái nầy cái nọ. Anh Phát, Chú Tài mới đặng. Chớ anh Tài đang ngồi với lai rai với chủ mà ỷ mình tên “Quan’ (chớ không phải lính) lọ mọ bước vào thì bà chủ nhà sẽ lấy cái chỗi chà để mà rượt ‘Quan Tài’ đầu năm chạy xịt khói.
Tên Quan cứ ở nhà làm ‘quan’, nhậu với em yêu là ‘phẻ’ nhứt hạng. Ôi thôi lủ khủ, hầm bà lằng, bao nhiêu món ngon ngày Tết sợ ăn tới ra Giêng còn chưa hết.
Món ăn ngày Tết của bà con mình ba miền Bắc, Trung, Nam coi vậy cũng khá khác nhau. Tết thay vì ăn cơm thì người Bắc ăn xôi gấc có màu đỏ cho nó hên. (Rồi có câu ‘đen bạc đỏ tình’. Quánh bài thua là dê được gái. Cái nầy coi bộ khó tin nhe. Thua sạch bóc, không còn một xu dính túi, áo vũ cơ hàn, lại thả dê ra, tui e rằng em nào cũng bĩu môi chê hết ráo.)

Nói chuyện phong tục ngày Tết mấy nhà văn, biên khảo quê mình ‘phét’ nghe rất ‘bốc’. Chẳng hạn như trên bàn thờ, cúng trái cây phải có trái dừa, trái đu đủ, trái mảng cầu và trái xoài thì quý thức giả nầy phán rằng: “Sỡ dĩ có 4 loại trái nầy là vì bà con miệt Lục tỉnh quê mình tin dị đoan chưng trái cây cúng ông bà tiên tổ với lời ước nguyện là năm mới ‘cầu vừa đủ xài’. (Phải vậy hông?)
Chớ theo ngu ý của tui, Tết tới, mùa trái cây đang chín rộ, thơm ngon thì mình cúng ông bà trước để nhớ ơn người xưa đi mở đất, xong người nay rinh xuống ăn, đâu còn y nguyên đấy chớ ông bà vốn thảo ăn chỉ hưởng cái hương hoa thôi.
Rồi các bực thứ giả nầy tán hưu tán vượn, nói bà con mình tin dị đoan vì chịu ảnh hưởng của mấy chú Ba trong quận Năm, Chợ Lớn.
Tết, chú Ba người Quảng Đông, ăn tôm vì tôm là ‘há’, đồng âm với “hí há tài xiu”, là cười to ha hả trong nhà suốt tháng quanh năm.
Rồi ăn thịt heo, tức là ‘trư’, đồng âm với ‘châu’, ý là “châu long nhập thủy’, châu báu tràn vào nhà như nước. Rồi ăn cải xà lách là ‘phát soi’, đồng âm với ‘phát tài’.
Còn chú Ba, người Triều Châu, ăn bánh tổ là ‘niên cao’, mang ý nghĩa là ước mong cho năm mới, gia chủ được may mắn, phát tài, năm mới sẽ tốt hơn năm cũ.
Rồi chè ‘ỉ’ là viên nếp nhỏ, tròn, không nhưn, được nấu chung với nước đường và gừng, khi ăn rắc thêm muối mè. “Ỉ” nghĩa là “viên”, “tròn”. Ăn chè ‘ỉ’ với mong muốn gia đình sẽ luôn được đoàn viên. (Phải vậy hông?)
***
Cứ mỗi độ xuân về, miền Bắc hoa đào nở rộ, miền Nam mai vàng đua sắc thắm nên có bực thức giả phán như thánh rằng: “Chưng mai vàng vào dịp Tết vì sẽ đem đến may mắn”. (Phải vậy hông?)

Có ông còn đi xa hơn (tui e rằng ổng đi lạc) cắt nghĩa trong mâm cơm ngày Tết của dân Lục tỉnh Nam kỳ bao giờ cũng có canh khổ qua dồn thịt, vì ăn khổ qua là mong muốn cái khổ sẽ qua đi.
Dân vưỡn, miệt vườn như tui, gọi khổ qua là ‘hủ qua’, không có sướng khổ gì ở đây hết ráo, (người Bắc gọi là mướp đắng cũng nó đó). Hổng lẽ ăn mướp đắng dồn thịt heo bằm nhuyễn với bún tàu, nấm mèo thì mong đời mình sẽ đắng nghét như trái mướp đắng hay sao?
Ca dao cũng có câu: “Đói lòng ăn trái khổ qua. Nuốt vô thì đắng, nhả ra bạn cười.”
Khổ qua, ăn sống, nó đắng nghét như thuốc Tetracycline; nhưng dưới tài nghệ ‘cook, cook’ của em yêu, trái khổ qua bào mỏng, bóp muối cho bớt đắng, làm gỏi thịt bò cho chàng ăn và uống với beer. Quá đã!
Phần đói ăn rau đau uống thuốc nên mấy ông thầy thuốc Nam có cắt nghĩa vầy thuyết phục được tui nè: Trái khổ qua ăn mát, giải nhiệt trong cái nóng ẩm ngày tết miền Nam, loại cholesterol (mỡ xấu trong máu), ăn với thịt kho hột vịt không bao giờ ngán ngược.
Tui cho rằng bà con mình ăn Tết món gì là theo kinh nghiệm mấy ngàn năm ăn uống của ông bà mình truyền lại. Nên nhà thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm đưa ra cái định đề về nghệ thuật ăn là mùa nào thức nấy, trong bài Cảnh Nhàn “…Thu ăn măng trúc, đông ăn giá. Xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao…”
Em yêu đã chỉ dạy tui một cách có lý rằng: ăn Tết không dị đoan gì hết ráo. Đừng nghe những nhà văn, nhà báo tán láo. Một mâm cơm ngày Tết ngon là phải có cay, chua, ngọt, bùi, đắng mới làm đã cái lưỡi của mình.

Nhà nào Tết cũng có nồi thịt kho hột vịt sắc cầm hòa hiệp với tô canh khổ qua hầm. Món mặn và món canh nầy nầy nó hợp rơ hết biết, như tình anh với em, chớ không phải ăn khổ qua để cầu mong cái khổ nó qua đâu (?!)
Nhắc tới món thịt kho, không cần tới Tết mới ăn mà giỗ chạp hay ngay cả ngày thường cũng có. Em nào trước khi về nâng khăn ‘móc túi’ anh yêu cũng được má dạy cho cách kho thịt nên rành sáu câu vọng cổ.
Thịt heo tươi, mua về rửa sạch bằng nước muối, cắt miếng vừa ăn có đầy đủ da, thịt và một lớp mở mỏng ở giữa. Ướp với nước mắm nhỉ, đường, bột ngọt, tỏi băm…Thêm một ít ớt sừng trâu chín đỏ. Hột vịt to đùng, lòng đỏ mới nhiều, luộc xong, lột vỏ. Nồi thịt màu cánh kiến, ớt đỏ sừng trâu, chén cơm trắng, dĩa cũ kiệu hay cãi làm dưa. Bảo đảm ăn hết nồi thịt kho, cây kim trên cái cân sẽ vụt cái rét, gãy làm hai vì cái thân bồ tượng của mình sau ba bữa Tết, nếu mình không ăn canh khổ qua để nó làm tan bớt mỡ.
***
Lại nhớ khoảng năm 65, 66 gì đó, thế kỷ trước, hồi tui nhỏ chút éc hè, Má tui kho nồi thịt không phải với hột vịt mà là trứng cút để giúp đồng bào mình qua cơn hoạn nạn.
Chẳng qua dân nghèo thành thị Sài Gòn bị lọt vào bẩy của mấy tay trùm tài phiệt Chợ Lớn cấu kết cùng bè đảng tuốt bên Hương Cảng để xí gạt dân mình. Đó là phong trào nuôi chim cút.
Cái mồi câu bằng cách mướn báo chí rầm rộ đăng tin trứng cút lên giá hàng ngày còn mắc hơn trứng gà, trứng vịt. Có bao nhiêu ‘bao tiêu’ hết bấy nhiêu nên đừng có lo nhe. Cứ mua cút giống về nuôi đi. Cút giống chừng hai tháng là bắt đầu đẻ ngày một trứng, kéo dài đến 9 tháng.
Sau hết đẻ trứng, cút đem ra bán thịt. Rồi lại mua cút giống về gầy đàn mới.
Trứng cút đem bán cho ông chủ tiệm chạp phô người Tàu, cười hè hè nói trứng cút bán chạy lắm, có bao nhiêu nị mang đến đây ngộ bao hết cho.
Trứng cút ăn với muối tiêu như trứng hột vịt lộn đều bổ, cường dương (chắc như viên màu xanh huyền diệu ‘Viagra’ bây giờ vậy). Thịt cút rô ti, chiên bơ lót dưới dĩa là cà tô mát đỏ xắt lát với cải xà lách, cút chấm muối tiêu nhậu với beer 33 là một trăm em ơi chiều nay một trăm phần trăm.
Cái thủ đoạn tinh vi, thâm độc nầy bơm giá chim cút giống phình từng ngày một. Cút giống từ 5,000 đồng một cặp cút giống bằng gần 20 đô la bấy giờ, tăng lên gấp đôi 10 ngàn, rồi tăng lên gấp 15 ngàn đồng một cặp.
Người dân Sài Gòn thuở ấy, cũng có mấy chú Ba nghèo nhưng lương thiện nhắm mắt, nhắm mũi có bao nhiêu tiền để dành, cũng xuất ra mua cút giống về nuôi.
Sau khi đã hốt được hàng chục triệu đô la của dân nghèo, bọn đầu cơ Chợ Lớn cùng đám đại xì thẩu Hong Kong dông mất. Trứng cút, thịt cút ê hề, ế nhệ rớt giá từng ngày nhưng vẫn ít người mua vì dội chợ.
Bà con mình ngơ ngác hổng biết đứa nào cầm đầu mà chơi quá ác, không để đức gì lại cho con cháu hết trơn?
Thôi thì bị xí gạt, bà con mình xúm lại giúp đỡ nhau qua cơn hoạn nạn. Trứng cút được làm nhân bánh bao, thay trứng vịt như bánh bao bà Cả Cần chẳng hạn.
Còn đứa nào làm ác, gạt tiền mồ hôi nước mắt của dân nghèo thì để bà bắt nó.
***
Mấy chú Ba Chợ Lớn, dân buôn bán, thường dán câu đối liễn giấy đỏ chữ vàng như: ‘Tân xuân đại cát. Nhất bổn vạn lợi’. Một đồng vốn bỏ ra mà kiếm được tới 10 ngàn đồng lời thì nằm mơ cũng không có. Nếu có, chỉ bằng cách đầu cơ như phong trào nuôi chim cút. Nhưng làm ăn như vậy thất đức lắm nhe.
Cuối năm, quê người, em yêu cũng nấu canh khổ qua rồi kho một nồi thịt bự ế kinh, nhưng tui thấy vẫn còn thiêu thiếu. Ước chi có được một nồi thịt kho hột vịt do Má tui nấu như ngày xưa cũ mang cái hồn cổ thổ cho tui lúc sống xa quê.


Đoàn Xuân Thu
Melbourne.

MÙA HẠ CHÁY!

Bếp lửa chiều đầm ấm bên nhau!
Nhà đổ sụp còn trơ ống khói
Xe đi giữa lửa rừng cây bối rối
Xác ai đây trong mùa Hạ tro tàn?

Mùa Hạ đôi mình dưới lá khô
Chiều nay lá tan thành tro bụi;
Thị trấn khỏi bản đồ
Chỉ tình ta ở lại!

Mùa Hạ cháy rồi cũng sẽ tàn;
Rừng xưa dẫu còn nghi ngút khói
Anh vẫn nhớ lời em yêu từng nói:
Trong điêu tàn, mình gầy lại mầm xanh!

Đoàn Xuân Thu.
Melbourne.

Đêm Thánh vô cùng!

Mùa đông Bethlehem, chiều bủa lối, tối dâng lên, trời lạnh cắt da, Joseph đưa Mary vào thuê phòng trọ nhưng các chủ nhà trọ đều từ chối.


Cuối cùng, Joseph đưa Mary nghỉ qua đêm trong một cái hang đá giữa cánh đồng cùng với mục đồng, bò, lừa, chiên, dê. Và đêm đó, Chúa Cứu Thế, đã Giáng sinh, nằm trong hang đá nơi máng lừa.


Từ cảm hứng đó, linh mục Joseph Mohr, ở một thị trấn nhỏ Oberndorf bei Salzburg, nước Áo, năm 1816, làm bài thơ bằng tiếng Đức “Stille Nacht”
(Silent Night).


Rồi đêm trước Giáng sinh, Mohr đã mang những lời thơ nầy nhờ nhạc sĩ Franz Xaver Gruber sáng tác một giai điệu đàn ‘guitar’; vì cây Phong cầm (Harmonium) duy nhất của nhà thờ đã bị hư.


Bài thánh ca ‘Stille Nacht’ lời bằng tiếng Đức, được trình diễn lần đầu tiên trong Thánh lễ mừng Chúa Giáng Sinh, vào khuya 24, rạng sáng ngày 25, tháng Chạp, năm 1818 tại nhà thờ Thánh Nicola-Kirche vùng Obendorf của nước Áo.


***
Huyền diệu thay, bài thánh ca ‘Stille Nacht’ đã góp phần tạo ra một cuộc hưu chiến huyền thoại, dù ngắn ngủi, giữa những người lính Mỹ và lính Đức vào đêm Giáng sinh 24, tháng Chạp, năm 1944.


Mùa Giáng sinh năm ấy trời thật lạnh, tuyết phủ rơi quá gối, phủ ngập các lối mòn trong cánh rừng thông. Hai người lính Mỹ dìu một đồng đội, chân bị thương, máu hòng từng giọt nhỏ trên nền tuyết trắng! Họ lầm lũi đi trong rừng để lẩn tránh quân thù đã 3 ngày đêm; vì lạc lối về đơn vị.


Ðêm Giáng Sinh xa nhà, ở một nơi xa lạ, đầy ắp nỗi lo âu và sợ hãi. Rồi trong màn đêm, họ chợt thấy một ánh lửa nhỏ nhoi cuối bìa rừng. Khói nhè nhẹ từ bếp lò, tỏa lên trên mái nhà.


Trong ‘cabin’ bằng gỗ đó, có 2 mẹ con, đứa bé trai mới lên 12 tuổi, tên là Fritz và người mẹ tên là Elisabeth Vincken.


Gia đình họ ở thành phố Aschen, phía Tây nước Ðức sát biên giới Bỉ và Hòa Lan. Khi phi cơ Ðồng Minh thả bom dữ dội, họ phải về trú tạm trong cái ‘cabin’ dành cho săn bắn vào mùa Đông ở bìa rừng Hurtgen, gần biên giới nước Bỉ.


Có tiếng gõ cửa, cậu bé Fritz vui mừng vì nghĩ rằng cha mình về kịp lễ Giáng Sinh. Bà Elisabeth cẩn thận thổi tắt ngọn nến và mở cửa. Trong ánh sáng mờ mờ, bật lên giữa thảm tuyết trắng là 2 người lính Mỹ quân phục nhàu nát, phủ đầy khói thuốc súng, ướt đẫm trong tuyết và phía sau lưng họ là một người thứ ba nằm trên mặt tuyết.


Và bà cất giọng bằng tiếng Ðức, họ lúng túng trả lời bằng tiếng Anh! Sau đó qua là tiếng Pháp vụng về chắp nối; bà cho 3 người lính Mỹ vào nhà, khi nhìn thấy tình trạng của người lính bị thương.


Trà nóng được mang ra, bà mẹ sai cậu bé lấy 6 củ khoai tây và con gà đã được nướng xong để đãi ba người khách không mời mà tới.


Bất ngờ có tiếng gõ cửa. Thoáng nghe tiếng Ðức, bà mẹ lo sợ, khuôn mặt tái đi, vì sẽ bị tử hình nếu che giấu và giúp đỡ kẻ thù.


Những người lính Đức nầy cũng run rẩy vì đói lạnh, chúc mừng Giáng Sinh và xin Bà cho vào nhà để trốn rét.


Bà mẹ bảo rằng họ có thể vào và ăn lễ Giáng Sinh với bà, nhưng trong nhà hiện có vài người được xem là thù địch. Các người lính Ðức thay đổi thái độ ngay, tay đặt lên cò súng.


Bà mẹ nhìn thẳng vào mắt viên Thượng sĩ Ðức và nói: “Es ist Heiligabend und hier wird nicht geschossen.” (Ðêm nay là Đêm Thánh, sẽ không có nổ súng tại nơi nầy!) Nếu muốn được vào nhà, các ông phải bỏ súng ở ngoài!


Khi vào được bên trong, những người lính Đức đứng trân trân nhìn bà mẹ Đức buộc 2 người lính Mỹ buông súng xuống và cất tất cả súng phải xếp vào một góc phòng.


Căng thẳng vì nghi kỵ nhau phút đầu; nhưng rồi ánh lửa ấm áp từ lò bếp, từ ngọn nến, từ thức ăn mừng Giáng Sinh được dọn ra, làm nỗi căm thù của hai bên đối địch lắng xuống và họ ngồi đối diện nhau quanh một chiếc bàn gỗ.


Một trong 4 người lính Ðức, là sinh viên trường Y trước khi nhập ngũ, xem xét vết thương cho người lính Mỹ. Vết thương không nhiễm trùng nhờ Trời giá lạnh nhưng mất máu nhiều nên người lính nầy cần phải ăn và cần phải nghỉ ngơi.


Bữa tiệc Giáng sinh bắt đầu khi người lính Đức khui chai rượu mạnh của mình.


Một người lính Mỹ bóc gói thuốc Lucky Strike ra, chia đều cho mỗi người một điếu.
Khi bà mẹ cúi đầu cầu nguyện, cám ơn Thượng Đế, trước khi vào tiệc Giáng Sinh thì tất cả các người lính của hai phe đều nước mắt lưng tròng.


Đúng nửa đêm, họ cùng bước ra ngoài ‘cabin’ nhìn lên bầu trời. Các vì sao lấp lánh trên đầu bìa rừng; như ‘ngôi sao Bethlehem’ đã dẫn đường cho Ba Vua tới hang đá nơi Chúa Giáng Sinh! Trong lòng họ tràn ngập một “Ðêm Thánh vô cùng”.


Sáng ngày mai, người lính Ðức đã cho những người lính Mỹ một địa bàn, chỉ vào điểm đứng trên bản đồ để hướng dẩn những người lính Mỹ biết lối mà tìm về đơn vị. Những người lính thuộc hai phe thù địch đã bắt tay nhau và chia làm 2 hướng. Từ xa xa, âm vọng ì ầm của đạn pháo lại dội về.


Sống sót sau cuộc chiến, cậu bé Fritz ngày ấy, gần 58 năm sau đêm Giáng Sinh ngày đó, đã kể lại câu chuyện mà ít ai tin! Như phép lạ của mùa Giáng Sinh năm 1944.


***
Tiếc thay trong cuộc chiến Việt Nam, khi CS quân Bắc Việt xua quân xâm chiếm Miền Nam, theo nhà văn John Steinbeck (l902-l968), giải Nobel văn chương năm 1962, về phía CS Bắc Việt, chỉ có căm thù; chớ không hề có có được một câu chuyện nào đầy ắp tình người như người Mẹ Đức, lính Đức đối xử với người lính Mỹ sa cơ, là kẻ thù của mình như thế!


John Steinbeck rời Hoa Kỳ đi Việt Nam suốt 3 tháng trước lễ Giáng Sinh năm 1967 qua khỏi Tết Dương lịch, để chứng kiến tận mắt cuộc chiến đang Việt Nam đang hồi ác liệt.
Là phóng viên chiến trường, John Steinbeck đã viết hàng chục lá thư, ghi lại những cảm nhận của ông về cuộc chiến, gởi về cho tạp chí ‘Newsday’ do bà Alicia Patterson, vợ của một người bạn thân quá cố, đang làm chủ nhiệm kiêm chủ bút.


John Steinbeck đã từng nói cuộc chiến tranh Việt Nam khác hẳn với tất cả cuộc chiến tranh quy ước khác. Nó không có mặt trận, không có hậu phương, không có phía trước và cũng không có phía sau.


Có hứa hẹn hưu chiến lễ Giáng Sinh, nhưng không có ngừng bắn! Hàng trăm vụ vi phạm hưu chiến đều do CS Bắc Việt và VC ở Miền Nam gây ra!


***
Trong bức thơ từ Cần Thơ, vào ngày 21, tháng Giêng, năm 1967, tức ngày 11 tháng Chạp, năm Bính Ngọ, còn 19 ngày nữa mới Đinh Mùi của người Việt chúng ta, John Steinbeck đã viết cho Alicia là: “Sau cuộc tuần tra bình an vô sự trên một dòng sông giữa đôi bờ tĩnh lặng và những vì sao nhấp nháy bởi bầu trời đẫm những hơi sương. Chúng tôi về bến chưa tới 9 giờ đêm. Một phần trong chiến dịch tên Game Warden đặt căn cứ tại Cần Thơ, thành phố lớn nhất vùng châu thổ.

Ở Cần Thơ, có vài nhà hàng nhỏ, nơi người Việt dẫn con cái đi ăn, chuyện trò với nhau bằng tiếng Việt, âm vang như đang hát. Nơi đó đèn không đủ sáng. Vì thiếu điện, phải cần thêm những ánh đèn dầu chập chờn, leo lét.


Khoảng 10 giờ tối, hai thanh niên đang lảng vảng, chợt dừng lại trước cửa nhà hàng đang đông thực khách, bất ngờ ném hai trái lựu đạn xuyên qua khung cửa mở.


Một trái lép. Trái còn lại nổ tung và miểng xé nát thân thể người lớn lẫn trẻ con. Không có bất cứ người lính nào lúc đó trong nhà hàng kể cả Mỹ hay Việt.


Một viên đại úy Mỹ chạy vào và bế ra một em gái nhỏ khoảng chừng 7 tuổi. Khi đưa tới bịnh viện, anh ấy khóc nức nở vì em đã chết rồi!”


Có ai tin rằng VC, những kẻ đã nỡ nhẫn tâm làm như thế với chính đồng bào mình lại có thể vì dân, vì nước khi chúng chiếm được chính quyền. Tôi không tin!”


John Steinbeck là một nhà tiên tri của thời đại! Thảm sát Tết Mậu Thân sau đó chỉ một năm và những biến cố xảy ra sau năm 1975, khi CS chiếm được chánh quyền đã chứng tỏ John Steinbeck biết trước và biết chính xác đến dường nào!


***
 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Đêm nay, quê người viễn xứ, mùa Giáng sinh lại tới. Ngồi bên ly rượu đỏ, trầm ngâm nhớ về nhà thờ Tân Định đêm Giáng Sinh thuở mới biết yêu, tôi nghe Tà Áo Đêm Noel của nhạc sĩ Tuấn Lê (1952- 1988) mà bùi ngùi biết bao trong tấc dạ!
“Tiền đồn biên giới heo hút trong màn tối. Vài đốm hỏa châu lẻ loi soi cuối trời. Chầm chậm chuông ngân đây nghe buồn tênh! Ánh sao hiền lấp lánh báo tin lành Chúa sinh!
Kỷ niệm năm ấy trong phút giây chợt đến. Tà áo màu xanh tha thướt đi lễ đầu; nàng quỳ bên nhau đôi mắt nhung huyền xin chắp tay nguyện Kinh Thánh thầm mơ tôi se mộng lành.
Tôi đã được yêu, e mình còn xa cách lối! Đạo đời ngăn đôi lứa đôi nơi nhưng mà tôi tin có Chúa trời.
Tôi đi, đi vì chiến cuộc quê hương; áo học sinh nhuốm bụi đường, nhớ hoài người tôi đã thương.
Từ miền khu chiến trông ánh sao mà nhớ! Tà áo màu xanh năm ấy, em vẫn chờ! Một mùa Noel hai đứa nghe niềm vui! Hát chung một ca khúc đêm đông lạnh lẽo Chúa sinh ra đời!”
***
Cũng như nhà thơ Kiên Giang, tôi xin: “Lạy Chúa! Con là người ngoại đạo! Nhưng tin có Chúa ngự trên cao!”


Gần 45 năm, ngày mất miền Nam, phải làm thân viễn xứ, tôi xin bắt chước nhà thơ Cao Tần ở Hoa Kỳ mà tin rằng: “Nếu mai mốt bỗng đổi đời phen nữa. Ông anh hùng ông cứu được quê hương. Ông sẽ mở ra nghìn lò cải tạo. Lùa cả nước vào học tập yêu thương!”
‘Silent Night!’ Đêm tỉnh lặng, đêm bình yên, đêm không căm thù, không tiếng súng. Đêm Thánh vô cùng! Đêm rao giảng yêu thương trước sau gì đi nữa ắt sẽ thành hiện thực trên đất quê mình!

Đoàn Xuân Thu.

Melbourne_______________________
 

Kangaroo y bong như Úc!

Nước Úc trừ những thành phố lớn, dân cư đông đúc, nằm dọc theo triền bờ biển Thái Bình Dương như thủ phủ Brisbane, Sydney, Melbourne hoặc Ấn Đô Dương như Perth hay Nam Băng Dương như Adelaide, ngoài ra toàn là vùng hoang dã.
Mùa mưa, nước lũ, cá sấu bơi cả vào nhà và mùa hè nắng cháy thì ruồi bay tá lả. Nói chuyện là phải lấy tay quơ qua, quơ lại, quơ lia lịa mà vẫn còn có con ruồi ‘bờ lông rông’ vô mỏm của mình.
Thế nên có đến Úc du lịch vào mùa Hè xin bà con phương xa đừng có cho là người Úc vô phép, không thân thiện, không hiếu khách vì ít nói quá hè. Ít nói là vì nó sợ ruồi đó bà con ơi!
Thực ra nước Úc không 'ke' cũng chẳng hững hờ hoặc hiếu khách như dân miền Tây quê mình đâu nhe. Người Úc cư xử giống hịt như là con Kangaroo, lè phè nằm trên quốc huy của nước Úc vậy!
***
Lè phè thiệt nhưng đụng chuyện bực mình, nó cũng nổi nóng sảng lắm!
Chuyện rằng: Wodonga thành lập năm 1852, cách Melbounre khoảng 307, 4 cây số, là một thị trấn miền quê, chỉ có 35.100 dân, thuộc vùng Đông Bắc, tiểu bang Victoria, Úc Châu.
Wodonga nằm bên cầu biên giới bắc qua sông Murray, phía bên kia là thị trấn Albury thuộc tiểu bang New South Wales.
Bà con mình chắc chưa biết cái thị trấn buồn thiu nầy nó nằm ở đâu cho tới khi tên Wodonga xuất hiện chình ình trên đài CNN, ở tận Huê Kỳ!
Em Dina dắt chó dạo chơi trên một con đường dành cho người đi bộ trong thị trấn.
(Ở Úc, nuôi chó mà không chịu dắt nó đi dạo mỗi ngày là bị ‘cáo sồ’ (council) Hội đồng xã nó phạt. Rồi dắt chó đi là phải có dây cột cổ chó. Bằng không cũng bị phạt!) Tùm lum phạt! Tổ cha mấy thằng Hội đồng xã nầy, chắc nó mạt lắm hay sao mà tối ngày cứ rình rình mình mà phạt hè?)
Chính vì vậy em yêu của tui rất ghét nuôi chó. Lôi thôi phiền phức quá!
Tui hoàn toàn tán thành ý kiến của em và không quên phụ đề Việt ngữ: “Em nuôi anh cũng đã hết ngày giờ rồi thì ‘quởn’ đâu mà nuôi chó chớ?”
***
Lúc em Úc nầy đang dung dăng dung dẻ dắt trẻ (chó) đi chơi thì đột nhiên con chó giựt dây sút khỏi tay em để đuổi theo một con Kangaroo khá là bự bự.
Vậy là em Dina vội vã rượt theo, tính bắt con chó cưng của mình lại; vì mầy chơi dại chọc con Kangaroo nầy nó sẽ đá mầy thấy Tía!
Con Kangaroo thấy em lo cho con chó, kẻ thù của nó, dám cà khịa với ‘đại ca’ nên từ phía sau nó dùng hai cái chân, rất khỏe đầy cơ bắp, đá em một pháp nghe cái bịch. Em té úp mặt xuống đất mà nó vẫn chưa hả giận; bèn nhảy lên đạp lia lịa vào người em túi bụi từ đầu tới chân.
May mà em Dina kịp úp mặt xuống đất; bằng không là đã lòi con mắt biếc rồi hè.
Em nằm im giả chết cho đến lúc nó bỏ đi. Còn con chó cưng của em thấy hổng êm đã tam thập lục kế dĩ đào vi thượng, cong đuôi dông thẳng!
***
Hậu quả là: em Dina bị lỗ đầu chảy máu, tay chưn bị trầy xướt tùm lum. Bà con thấy vậy, bèn kêu xe cứu thương chở em vào bịnh viện. Bác sĩ phải khâu tới 25 mũi và băng bó những vết trên da trầy xướt.
Đau thấy bà tiên tổ nhưng em Dina, cũng như những người con gái Úc rất dễ yêu khác, là em không trách gì con Kangaroo cả vì hai lẽ:
Một là: Vùng đất nầy vốn thuộc động vật hoang dã như con Kangaroo! Lỗi là do mình, do con người, xâm lăng chiếm đất đai của nó làm thuộc địa nên nó bực bội là phải phải.
Hai là Trời làm hạn hán, cỏ cây không mọc nổi nên Kangaroo thiếu thức ăn; rồi Trời lại không mưa nên nó thiếu nước uống. Chính vì vậy con Kangaroo mới theo em xuống phố trưa nay coi có cái gì lót cái dạ dày lép xẹp của mình hay không? Đói khát như vậy mà còn bị con chó của em rượt theo sủa um hè! Không bực mình sao cho được chớ?
So với tui thì em Dina nầy có tấm lòng ‘đại bác’ hơn nhiều! Lỡ mà tui va vô trường hợp bị Kangaroo đá, đạp, đau quá xá như em là tui sẽ ra nhà hàng Úc mà kêu món ‘steak’ làm bằng thịt Kangaroo.
Tui sẽ ăn thịt đồng loại của nó, uống với beer Úc để trả thù mới được! Vì trái đất nầy con người là Chúa tể mà sao chú mầy lại dám ‘đá đít’ tao? He he!
***
Úc chọn quốc huy là con Kangaroo và con Emu thì Mỹ chọn con chim Ưng, tui còn nghe nói là lúc Lenin từ Phần Lan về xúi giục dân ngu khu đen người Nga cướp được chánh quyền tư bản còn non trẻ của bọn Bạch vệ. Lenin khoái quá bèn triệu Stalin vào điện Cẫm Linh để chánh thức hóa cho đảng CS cai trị nước Nga CS đầu tiên trên thế giới.
Thành lập đảng có đảng ca là bài Quốc tế ca rồi. Nhưng bài Quốc tế ca nầy là của thằng Tây. Đảng kỳ thì Búa với Liềm thấy ghê quá; tới Quốc huy mình phải kiếm con gì riêng của nước Nga mới đặng. Con đó phải thông minh, phải dẻo dai về thể chất để bọn CS chúng ta để nở mày nở mặt và dắt năm châu lên thế giới đại đồng.
Stalin về trằn trọc canh thâu, hôm sau vào chầu: “Đồng chí Lenin kính mến! Úc thành lập nước trước ta không bao lâu đã chọn con Kangaroo và con Emu, Huê Kỳ chọn con Chim Ưng làm quốc huy; thì đảng ta nên ‘cọp dê’ mấy thằng Úc chọn con vật gì thông minh hơn con của chúng mới được. tôi đề nghị đồng chí Lenin kình mến nên chọn con Khỉ!
Nghe vậy! Lenin tức quá lên cơn nhồi máu cơ tim, băng hà lúc mới vừa 54 tuổi và ngồi trên ngai Hoàng đế đỏ chưa tới được 7 năm.
Bà con thấy chưa? Chuyện chọn quốc huy nó quan trọng biết dường nào, ảnh hưởng đến sức khỏe của lãnh tụ và tương lai đen tối của quốc gia nữa đó!
***
Theo ý tui, Stalin suy nghĩ như vậy là thiển cận; vì tưởng rằng con Khỉ của Nga thông minh hơn con Kangaroo của Úc hay sao? Stalin đã lầm to!
Vì Sở Thú của Úc có xảy chuyện nầy: Một con Kangaroo ban đêm cứ thoát khỏi chuồng của nó hoài hè. Viên quản lý vườn thú quyết định xây bức tường cao thêm một mét. Nhưng hổng ăn thua! Con Kangaroo lại trốn thoát đi chơi đêm.
Xây bức tường cao hơn 3 mét cho ta. Lại cũng hổng ăn thua. Con Kangaroo lại trốn thoát đi chơi đêm, hẹn hò với những con Kangaroo cái.
Kangaroo trốn thoát hết lần này đến lần khác. Khi con Kangaroo vừa được đưa trở lại, con Khỉ của Lenin ở chuồng kế bên chỏ mỏ qua hỏi: "Khi nào chú mầy sẽ ngừng trốn khỏi chuồng để đi chơi đêm với gái hả?"
Con Kangaroo trả lời "Chừng nào Trời sập tối, tụi nó nhớ đóng cửa chuồng là tao sẽ hết đi!”
***
Qua câu chuyện trên, bà con mình thấy con Kangaroo giống người Úc ở chỗ rất thông minh về trí tuệ. Còn về thể chất thì sao?
Hình ảnh trong phim hoạt hình cho thấy con Kangaroo với cặp găng tay đấm bốc. Hình ảnh dễ thương đó làm các em bé nảy sinh trong cái đầu ngây thơ của mình rằng con Kangaroo là võ sĩ cực kỳ dễ thương; chớ không đáng ghét như võ sĩ quyền anh hạng nặng Mike Tyson của Mỹ; quánh không lại là cắn đứt lỗ tai của Evander Holyfield đem về cho bà xã của y làm dưa lỗ tai ngâm dấm nhậu chơi!
Mấy nhóc tì suy nghĩ như vậy cũng đúng một phần; nhưng thực sự là những chiến binh Kangaroo nầy không hề quan tâm tới "công lý" hay "dễ thương" gì cả.
Ở mấy nơi cắm trại qua đêm trong rừng, chàng dắt nàng lần theo lối mòn bao giờ cũng thấy mấy con Kangaroo lẻo đẻo nhẩy theo sau để xin ‘chip’ tức khoai Tây chiên. Thiệt là dễ thương!
Nhưng nếu bận hun hít chút chít lung tung không thèm để ý tới chúng gì hết ráo coi chừng mấy con Kangaroo nầy cho hai đứa bậy về nhà húp cháo.
Kinh nghiệm bản thân của tui cho thấy: Bầy Kangaroo lảng vảng trong Khu du lịch đã quen với cách hành xử hơi quái lạ của con người rồi. Ở nhà chăn ấm nệm êm không muốn. Mà chỉ muốn dắt nhau vô rừng hè? Hay là thằng chả trốn bà chằn ở nhà, dắt bồ nhí vào thâm sơn cùng cốc để du dương đây? Rồi sợ mình phá đám nên thủ sẳn chừng chục bịch ‘chip’ hối lộ cho đám Kangaroo mình để yên hầu hai đứa mần ăn đây mà!
Thôi thông cảm cho hai đứa nó! Vì loài Kangaroo của chúng ta vào mùa động dục cũng đánh nhau chết bỏ để giành gái đấy thôi!
***
Cái đám Kangaroo nầy ỷ mình được lên quốc huy của nước Úc nên không ‘ke’ ai hết. Kangaroo đực thì vai u, thịt bắp, mồ hôi dầu. Hổng thích ai là đấm, là đá. Kangaroo cái thì chỉ ‘sex, sex và sex’, không kế hoạch hóa gia đình gì ráo trọi, sanh đẻ cực kỳ vô tổ chức làm số Kangaroo đã lên gấp đôi dân số Úc, vốn tròm trèm chỉ có 24 triệu mống hè.
Tiếc rằng Nội các Kangaroo không bổ nhiệm được một ông Phó Thủ tướng nào phụ trách sanh đẻ có kế hoạch; nên nạn ‘Kangaroo mãn’ là chuyện có thiệt chớ hổng phải chuyện chơi!

 

 

 

 

 

 

 

 


Chính vì vậy, tối qua tui nằm mơ thấy một bầy Kangaroo từ hoang mạc Úc tràn vào Tòa nhà Quốc hội Liên bang ở thủ đô Canberra, rượt dân biểu, nghị sĩ chạy có cờ để chiếm chánh quyền.
Con mập, bự, rộng họng thì leo lên làm Thủ tướng. Con ít mập hơn một chút thì làm Thủ lảnh đối lập! Hai con Kangaroo đầu lĩnh nầy căng cơ bắp ra, chí chóe hù dọa lẫn nhau.
May là chỉ hù chớ chưa có quánh nhau. Bằng lỡ tụi nó giành ăn, giành gái, quánh nhau tơi bời hoa lá thì tui không biết sẽ phải vượt biên lần nữa đi đâu bây giờ để được yên thân?
Để kết bài nầy, bà con hải ngoại thương ca muốn tìm hiểu về dân tộc tính của người Úc thì chỉ cần biết về đặc tính của hai con Kangaroo nầy là xong, là y bong như Úc!


Đoàn Xuân Thu.
Melbourne.


Minh họa Họa sĩ Chuông.

                                  Happy Thanksgiving!

Lễ Tạ Ơn năm nay rơi vào ngày Thứ Năm, 28 tây, tháng Mười Một, kéo dài đến hết cuối tuần, tới 4 ngày (long weekend), nên cả nước Mỹ, như mọi năm, sẽ rùng rùng chuyển động, lên xe, tàu, xe lửa hoặc máy bay, dọc ngang như mắc cửi để đoàn tụ gia đình! Dù nghìn trùng xa cách cũng lặn lội về thăm Tía Má!


Bà con người Mỹ đã vui mà các siêu thị cũng vui, vì ngày Thứ Sáu liền sau ngày lễ Tạ ơn, Black Friday, là ngày buôn bán nhộn nhịp nhứt trong năm.


Cả trăm triệu người ùn ùn đi mua sắm, tốn hết 5, 6 chục tỉ đô la Mỹ để chuẩn bị cho mùa Lễ Giáng sinh đã về gần trước cửa.


Cái tập tục dễ thương nầy do chính những người vượt biên, vượt biển cách đây gần 400 năm (hổng phải người Việt mình đâu nhe), mang tới nước Mỹ.
***
Tháng Chín, năm 1620, tàu Mayflower gồm 121 người Plymouth Pilgrim, chạy trốn sự bách hại về tôn giáo ở quê nhà Anh Cát Lợi, rời Âu Châu. Sau hai tháng vượt biển, ngày mùng 9, tháng Mười Một, năm 1620, thuyền cập bờ Plymouth thuộc tiểu bang Massachusetts ngày nay.


Mùa Ðông Bắc Mỹ thật khắc nghiệt, kéo dài từ cuối tháng Chạp đến hết tháng Ba năm sau, lạnh giá đã quật ngã nhiều thuyền nhân, chỉ còn 55 người sống sót.


Mùa Thu năm 1621, những người sống sót trên vùng đất mới thu hoạch vụ mùa đầu tiên thật sung mãn. Họ có đủ lương thực dự trữ cho mùa Ðông và đủ sống cho đến vụ mùa năm sau. Thời khốn khó đã qua, giờ có của ăn của để!


Thói thường ai làm cái gì tốt cho mình là mình biết ơn hè. Mà người ta thi ơn cho mình quá nhiều mà để đáp lại mình chỉ nói lời cám ơn suông thì hơi yếu. Mình phải tạ ơn mới đúng. Vì cái ơn nầy nặng hơn một tạ!


Chính vì vậy nên những người di dân đầu tiên đã trân trọng kính mời quý thổ dân da đỏ đến nhậu nhẹt cùng tụi tui suốt ba ngày ba đêm vì đã giúp mình bước đầu bỡ ngỡ…Nhậu đã rồi, họ còn vẫy tay chào nhau, xin hẹn lại mùa sau!


Buồn thay là những ngày không phân biệt chủng tộc đó qua mau, vì cái đám tới sau lại cỡi ngựa, móc súng bắn bùm bùm làm mấy tù trưởng giắt lông chim, vẽ mặt vằn mặt vện, chạy chí chết vào trong núi trốn!


***


Lễ Tạ ơn của Mỹ là phải có gà tây (turkey) nên còn gọi đó là ‘Turkey Day’ (Nước Turkey tức Thổ Nhĩ Kỳ hổng có dây mơ rễ má gì vào đây hết ráo). Gà tây hoang dã thịt ngon hơn gà tây công nghiệp nhiều. Có điều là nó mắc quá xá nên chỉ dân Mỹ nhà giàu cỡ Donald Trump mới có tiền mà ăn. Người Mỹ sau nầy đã mang món gà tây đút lò trở về cố xứ Anh quốc để cạnh tranh quyết liệt với món ngỗng quay trong tiệc tối Giáng Sinh của quê nhà năm cũ.


Ðã gọi là truyền thống thì phải giống hịt thuở ban đầu mới được. Mỹ ăn món gà tây đút lò thay vì ngỗng quay là để nhớ tới bốn hương hồn của bốn chú gà tây rừng đã hy sinh chính thân mình cho buổi lễ Tạ ơn đầu tiên trên nước Mỹ.


Trong niềm vui của bình an, sung túc và đoàn tụ nhân mùa lễ Tạ Ơn, người Mỹ luôn nhớ tới những kẻ không may mắn như mình, nhớ 47 người đã chết trong mùa Ðông lạnh lẽo đầu tiên nên dùng dịp này thơm thảo chia lại cho những người cùng khổ.
Cơ quan cứu tế Salvation Army có nhiều tình nguyện viên phục vụ miễn phí bữa ăn tối cho những kẻ không nhà.


Rồi bà con người Việt mình bên Mỹ, mở nhà hàng, nhân lễ Tạ ơn cũng thiệt tình mời những kẻ lang thang cơ nhỡ đến ăn đỡ một bữa ăn miễn phí!


Thiệt là một hành động từ tâm rất là đáng quý!


***
Cả nhà đoàn tụ, cùng đi nhà thờ cầu nguyện, tạ ơn Thượng Ðế đã từ tâm cho gia đình mình một năm đủ ăn, đủ mặc, xong về nhà cùng lên tiệc tối.


Món chủ lực theo truyền thống, không có không được là: món gà tây (bà con mình ở miền Nam gọi là gà lôi) đút lò hoặc chiên bơ, ăn với khoai tây nghiền và nước xốt, bắp, súp bí đỏ, khoai lang và bánh bí ngô.


Ăn nhiều là tốn tiền nhiều! Mỗi mùa lễ Tạ ơn, người Mỹ đã chi tới 3 tỉ đô la, mần thịt tới 51 triệu con gà tây.


Mà gà tây nó bự ế kinh đi, chừng chục ký trở lên, nhưng không sao, ăn không hết đút vào tủ lạnh, ăn từ từ cho tới lễ Giáng sinh.


Ăn rồi đi chơi! Nổi tiếng nhất là Macy’s Thanksgiving Day Parade ở New York, với những bong bóng bay khổng lồ đầy màu sắc, hình Santa Claus để báo hiệu mùa mua sắm Giáng sinh đã bắt đầu.


***


Ðể gánh bớt tội lỗi của dân Mỹ mình vì giết gà tây quá xá, nên năm nào Tổng thống Mỹ cũng ân xá, tha chết cho một con gà tây đại biểu.


Truyền thống nầy bắt đầu từ năm 1982. Tổng thống Ronald Reagan đã tha tội chết cho một con gà tây của The National Turkey Federation. (Liên đoàn Gà Tây Quốc Gia) được trở về Sở Thú mà ở tù chung thân, tới khi ngủm củ tỉ, chớ không phải bị đút vô lò nướng thơm vàng ngậy!


Năm nay, hai con gà Tây đã được đưa vào khách sạn chờ Tổng thống Donald Trump để ‘đức’ lại cho con cháu mà tha chết cho con gà tây, với sự chứng kiến của (Hoàng hậu) Melania Trump và (Hoàng tử) Barron Trump sẽ được trực tiếp truyền hình cho dân Mỹ xem.


Tổng thống Donald Trump tới ba dòng con nên ăn Thanksgiving đông vui hơn mấy ông Tổng thống khác. Và trong đời Donald Trump một năm làm được một việc thiện (được chúng khen) duy nhứt là tha chết cho một con gà!


Hy vọng là Trump sẽ từ tâm thiệt, chớ không phải thấy vậy mà hổng phải vậy. Tha rồi, nên đưa về Sở Thú để tiếp tục nuôi, chứ đừng trục xuất nó về nguyên quán như đòi trục xuất người tầm trú, kẻo con gà tây nầy lại bị đem ra mần thịt thì tội nghiệp cho nó lắm nhe ông Trump!


Vì gà tây cũng dễ thương lắm. Nó giữ nhà là khỏi chê, không thua gì ngỗng, mà sợ còn hay hơn mấy chú chó cò nhà mình nữa kìa. Thấy người lạ là nó kêu ‘lót lót’, còn thấy con nít là nó nhảy lên nó đá làm thằng nhỏ khóc rùm.


***


Úc không có ngày Lễ Tạ ơn như Mỹ, nhưng vài năm trở lại đây, nhiều Tía Má Úc mua gà tây về đút lò, để đãi vợ chồng tụi nó từ hải ngoại về thăm, kẻo ‘bà dâu’ hay ‘ông rễ’ Mỹ nầy lại chầm dầm cái mặt mẹt với con mình!


Úc bây giờ khoái coi Super Bowl (Siêu cúp bóng bầu dục Mỹ) hơn Melbourne Cup (cuộc đua ngựa làm ngưng đọng cả nước Úc) nữa đó!


Mấy ông Úc già than thở rằng: “Chẳng bao lâu nữa nền văn hóa Mỹ sẽ bóp cổ nền văn hóa Úc thè lưỡi ra, chết ngắc cho mà coi. Hồi chuông báo tử đã rung lên rồi đó!”
Tui là Úc gốc Mít nên không lấy gì làm lo lắng. Úc và Mỹ như bà con chú bác. Em Úc bắt chước anh Mỹ, đường ăn chơi mỗi vẻ mỗi hay, thì âu cũng là chuyện thường tình. Xin đừng biến nước Úc thành tiểu bang thứ 51 của Mỹ là được (ngay cả tiểu bang Cali còn muốn ra đi nữa kìa!). Vì ngài Tổng thống Donald Trump ăn nói lôi thôi như con gà lôi lắm lắm!


***


Ôi nhớ xưa, tui lội tới đảo một mình. Sau cuộc ra đi nhứt chín nhì bù đó, nhân sinh quan tui đà thay đổi 180 độ! Xử thế nhược đại mộng, đời chỉ là giấc mộng! Bữa nay còn đó ngày mai mất rồi, nên tui yêu cuồng sống vội!


Trước khi chân bước xuống thuyền nước mắt như mưa, tui đã hứa hôn với em Ba Ù, con thiếm Ba bánh ú ngoài chợ Mỹ (Tho), vậy mà một mình một thân trên đảo, tui vẫn len lén em Ba Ù, ‘sơ cua’ thêm một con mèo (cụt đuôi).


Nhưng tình Bidong có ‘list’ thì dông! Con mèo (cụt đuôi) nầy dông qua Mỹ trước. Chờ tui hoài mà không thấy tăm hơi, chỉ bãi hôm tuôn dậy nước trào mênh mông nên em đành đi lấy Mỹ!
Dẫu vậy, tình năm ba tháng mà thành thiên thu! Bằng cớ là cái ‘mét sịt’, em mới gởi cho tui sau 30 năm vầy nè:

 

“Ngày Thanksgiving năm nay, em sẽ đi mua một con gà tây mập ú như anh, chừng 15, 20 pounds, về, nhồi ruột bằng nếp xào với hành tím, tôm khô và lạp xưởng, làm nước xốt cũng chế biến từ ‘gravy’ của Mỹ nhưng ướp thêm chút ‘nước mắm’ cho đậm đà hương gây mùi nhớ Việt Nam.


Nhưng cái lõi là để nhớ anh, vốn cũng từng thơm lừng như vậy đó, he he!
Happy Turkey Day!”

Đoàn Xuân Thu.
Melbourne.

                                                                         

                                                               Phiếm

                                   MI ĐÃ LÀM GÌ?

                                  _____________

 

Bãi đậu xe khu công nghiệp Waterglade ở Grays phía Đông thủ đô London nước Anh, lúc 1giờ 40 phút sáng, ngày 23, tháng Mười, năm 2019, các nhân viên cấp cứu đã tìm thấy thi thể của 31 người đàn ông và 8 phụ nữ trong một ‘container’ dùng để chở hàng đông lạnh.

Khi mở cửa ‘container’, nhiệt độ xuống đến trừ 25 độ C, nhân viên cấp cứu thấy ‘hàng chục xác người nằm chồng chất lên nhau’. Những người bị nhốt trong container, có thể đã đập tay dữ dội vào cánh cửa muốn được thoát ra đã để lại những dấu tay đẫm máu.

Thi thể 39 người xấu số nầy được chuyển tới Broomfield Hospital ở Chelmsford để khám nghiệm hậu tử, xác định nhân thân và tìm ra nguyên nhân chết trong cái thảm kịch đã làm cả thế giới rúng động suốt cả tuần nay. Cảnh sát Anh cho biết tiến trình này phải mất khá nhiều thời gian nhưng rất quan trọng, nhằm bảo vệ danh dự của các nạn nhân và tôn trọng nỗi buồn đau của thân nhân những người đã khuất.

o O o

Câu hỏi đặt ra là: “Tại sao nước Anh lại là miền đất hứa của những mảnh đời phiêu bạt?” Dân Anh (cũng như dân Úc) không có căn cước, chỉ cần có bằng lái xe xài trong nước; ra nước ngoài mới cần đến sổ thông hành! Và luật pháp nước Anh không buộc người dân phải mang bất kỳ giấy tờ tùy thân nào khi ra đường; nên sống bất hợp pháp cũng không phập phồng lo lắng như những nước khác thuộc khối Liên Âu.

Thường thường thì người tị nạn, người nhập cư, từ khắp nơi trên thế giới bằng nhiều cách khác nhau, đến những bãi xe hàng ở thành phố cảng Calais, nước Pháp, đầu bên này của đường hầm xuyên qua eo biển Manche, nối liền Anh với đại lục Châu Âu. Nơi đó, họ sống lay lắt, tạm bợ trong những lều lán trong rừng để chờ cơ hội vượt biên vào Anh.

Đêm xuống, từng tốp người lẻn vào, tìm các chuyến xe công (container) sẽ sang Anh, rạch bạt chui vào nằm im lẫn giữa hàng hoá; hoặc cắt kẹp chì chui vào những thùng công bằng sắt. Nếu có tiền trả cho tài xế và may mắn vượt qua trạm kiểm soát biên giới, sang đến đất Anh, tài xế sẽ dừng ở một cây xăng hay một trạm nghỉ chân nào đó cho hành khách xuống.

Mỗi ngày có hàng trăm ngàn ‘container’ như vậy. Nước Anh không thể đủ nguồn lực để kiểm tra tất cả, cho dù có dùng công nghệ tiên tiến để phát hiện khí CO2 do con người thở ra, hay dùng cảnh khuyển để đánh hơi người v.v.

o O o

Khi mở chiếc quan tài di động kia ra, Cảnh sát và giới truyền thông Anh quốc căn cứ vào tóc đen da vàng mà tạm thời nhận định các nạn nhân (không có một mẫu giấy tùy thân) là người Trung Quốc! Bởi vì hình ảnh kinh hoàng đó gợi người ta nhớ tới thảm kịch tương tự đã xảy ra vào ngày 18, tháng Sáu, năm 2000 tại hải cảng Dover với 54 người đàn ông và 4 phụ nữ Tàu bị chết ngạt.

Việc xác định nhân thân của 39 người xấu số lần này vẫn phải chờ Cảnh sát nước Anh chánh thức công bố. Tuy nhiên một số làng quê ở Nghệ An và Hà Tĩnh đang chìm trong tang tóc! Những bàn thờ vọng; những chân dung của người trẻ tuổi có đính ngang một dải băng tang; những buổi cầu nguyện trong giáo đường vì có nghi vấn rằng trong số 39 người đã chết đó có rất nhiều người Việt Nam.

Nỗi đau thương ngập tràn; nước mắt ràn rụa trên những khuôn mặt héo khô trong phập phồng lo lắng đợi hung tin. Vậy mà nỡ lòng nào, trên những tờ báo quốc doanh trong nước lại đăng những lời phê phán rất tàn nhẫn như: “Ở Việt Nam thiếu gì cơ hội học tập và làm việc để kiếm sống thì việc gì phải khổ cực và chui lủi vậy?” Nào là: “Cơm áo gạo tiền mà phải đánh đổi cả mạng sống như vậy có đáng không?” Rồi có người nói: “Đau xót quá! Mong có sự nhầm lẫn nào, hy vọng không phải người Việt?” (Người nước nào cũng là con người, cũng là nạn nhân; mà đã là nạn nhân thì không có lỗi, ai cũng đáng thương xót như nhau cả mà thôi!)

Có người còn nhẫn tâm hơn, phê phán rằng: “Đi bất hợp pháp, trả giá bằng tính mạng, rồi làm ảnh hưởng tới uy tín của người Việt.” (Trời ạ! Uy tín của người Việt nào ở đây?)

 

o O o

Theo ông Gareth Ward, Đại sứ Liên hiệp Vương quốc Anh và Bắc Ireland, cho biết người Việt là nạn nhân của tội ác mua bán người (human trafficking) và nô lệ hiện đại (modern slavery) cao nhất tại Anh, chỉ xếp sau Albania: “Những người nước khác do bị dụ dỗ, chèn ép, áp bức để tới nước Anh làm nô lệ thì người Việt Nam lại tự nguyện ra đi bất hợp pháp; giao phó số phận của mình vào tay bọn tội phạm quốc tế với giấc mơ về một miền đất hứa, kỳ vọng về cơ hội đổi đời về kinh tế cho bản thân và gia đình mình!”

Đã làm tới chức Đại sứ một nước lớn, dĩ nhiên ông biết nhiều hơn thiên hạ. Lý giải của ông cũng đúng chớ hổng phải sai, nhưng chỉ đúng có phân nửa. Tuy nhiên nửa ổ bánh mì vẫn là bánh mì, chứ phân nửa sự thực còn hơn là dóc tổ vì định hướng sai công luận.

Hành trình ác mộng từ Việt Nam qua Trung Quốc, rồi cả hằng tháng trời lang thang trong cái lạnh giá ở Nga, Ba Lan, Đức, Pháp và cuối cùng là trốn trong thùng xe tải vượt biên giới từ Pháp sang Anh để rồi chết vì quá lạnh, vì thiếu không khí trong thùng xe - những người bỏ nước ra đi này có biết không?

Dĩ nhiên là biết, và biết rõ hơn các chánh trị gia phương Tây nhiều, vì họ là người trong cuộc. Nhưng tại sao họ lại chọn cách ra đi? Trong chín tầng địa ngục, nếu ông Đại sứ đang ở tầng cuối, có cơ hội đi đến một tầng địa ngục khác đỡ khổ hơn thì ông Đại sứ có đi không?

Họ ra đi vì không còn mảy may sót lại chút lòng tin nào về chế độ đang cầm quyền. Họ ra đi vì tuyệt vọng ở tương lai! Xin đừng lập lờ đánh lận con đen giữa chế độ và đất nước. Cứ ra rả là: “Đừng hỏi đất nước đã làm gì cho bạn mà hãy hỏi bạn đã làm gì cho đất nước?” Câu hỏi nầy nên dành cho giới cầm quyền đang cai trị dân ta mới phải.

 

o O o

Khuya đêm thứ Ba, ngày 23, tháng Mười, năm 2019 định mệnh đó, có một người còn rất trẻ, mới 26 tuổi, tên Phạm Thị Trà My ở thị trấn Nghèn, huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh, gởi những lời trăng trối bi thương trong giờ phút cuối cùng là: “Con xin lỗi Bố Mẹ nhiều Mẹ ơi. Con đường đi nước ngoài đã không thành. Con thương Bố Mẹ nhiều. Con chết vì không thở được!”

Lời trăng trối bi thương của một người con gái Việt Nam, một trong những mảnh đời phiêu bạt, làm rúng động thế giới, mà có người cứ hỏi những cái chết tức tưởi nầy là do lỗi tại ai? Tại nhà cầm quyền CS chớ còn tại ai vô đây nữa?

DXT

Melbourne

“Bốc phét!”

 

Thằng bạn thời Trung học của tui mới vừa đậu xong cái Tú Tài 2 là Bố nó tìm cách cho nó đi Mỹ du học! Trước là vì tương lai của dòng tộc gia đình; sau là để ‘né’, trốn lính một cách hợp pháp; vì cuộc chiến tranh lúc đó đang hồi ác liệt.

Sau 5 năm lang thang trong trường Đại học Mỹ, cuối cùng nó cũng lấy được cái bằng Kỷ sư Điện. Mà thằng nầy ngộ, ở Mỹ hơn nửa thế kỷ mà làm kỷ sư nữa mà sao không nghe nó nổ ‘bùm bùm’ gì ráo? Lạ quá! Làm trong bụng tui nghĩ đi lâu quá nên nó bị mất gốc ‘Mít’, ít xít ra nhiều rồi hè!

Ai dè nó nói: “Sao không? Tao đã từng nổ giống như dân đẻ ở Trảng Bom đó chớ! Nhưng có cái chuyện nầy xảy ra hồi tao mới ra trường nên từ đấy trong tao bừng nắng hạ, hổng dám nổ sảng nữa đấy thôi. Chẳng qua tao hồi mới tốt nghiệp, được NASA, một đế chế về không gian Hoa Kỳ nhận vào thực tập. Ngày đầu tiên tại Sở, mới đặt đít ngồi xuống ghế, là tao vẻ ta đây, bốc điện thoại lên gọi ngay cho ‘căng-tin’ (canteen) của Trung tâm Không gian!

“Ê! Đứa nào mang cho tao một tách cappuccino, (cà phê kiểu Ý) coi! Nhớ rắc nhiều ‘chocolate’ nhe! Lẹ lẹ lên!”

Giọng nói từ đầu dây, phía bên kia: “Bấm lộn số rồi! Chú mầy có biết đang nói chuyện với ai không hả thằng ngu!?”

“Không!”

“Tao là Chief Engineer (Kỷ sư trưởng) của Lyndon B. Johnson Space Center (JSC) ở Houston, Texas nè!”

Tao đổ mồ hôi hột, ngừng một lát, suy nghĩ tìm cách thoát ra khỏi hoàn cảnh ‘oái ăm’ nầy.

“Ê! Chief Engineer. Chú mầy có biết đang nói chuyện với ai không hả thằng ngốc?”

“Không,” Viên Kỷ sư trưởng phẫn nộ trả lời.

“Vậy là tốt!” Tao bèn đặt điện thoại xuống. Hú hồn nhe!”

***

Rồi sau nầy, ăn ‘Hot dog’ của Mỹ cũng khá là lâu, tao nghe nhà văn nổi tiếng toàn nước Mỹ lan ra tới toàn cầu là Mark Twain có nói:“It’s better to keep your mouth shut and appear stupid than open it and remove all doubt!”

(Tốt hơn là câm miệng lại và ra vẻ mình ngu còn hơn là mở mồm ra để thiên hạ không còn hồ nghi nữa!)

Rồi Mark Twain cũng dạy tao là: “Never argue with stupid people, they will drag you down to their level and then beat you with experience.”

(Đừng tranh cãi với mấy thằng ngu vì chúng sẽ lôi mình xuống ngang tầm với nó; rồi sau đó sẽ hạ đo ván mình vì nó có nhiều kinh nghiệm hơn?)

Chính vì vậy nên tao đành phải khiêm tốn đó; chớ đâu có mất gốc gì đâu hè? Phần tao trộm nghĩ nổi tiếng cỡ nhà văn Mark Twain còn khiêm tốn; lèng èn cỡ kỷ sư quèn như tao nổ sảng mà lỡ gặp con cháu ổng là bà Nội cũng đội chuối khô, xấu hổ lắm tụi mầy ạ!

Kỵ nhứt là nổ trước mặt một nhà văn. Mấy thằng chả chuyên về chữ nghĩa; lỡ dại chọc quê nó, một nó đớp lại một phát đau gấp mười lần mình chơi nó; thì dù mình vắt hết cái óc thông mình ra màhổng biết phải trả lời sao cho đừng mất mặt bầu cua mới chết.

Vì có chuyện một thằng nhóc hổn hào, dám vuốt râu cọp bằng cách xỏ xiên Mark Twain là: “Tui nghe nói: ăn cá sẽ thông minh, sẽ đầy trí tuệ để sáng tác ra những tác phẩm xuất sắc. Có phải vậy hay không và phải ăn bao nhiêu con cá mới đủ?”

Thì nhà văn Mark Twain trả lời:

“Chắc chú em nói đúng. Tui cũng thích ăn cá lắm nhưng không nhớ đã ăn hết bao nhiêu con. Nhưng dựa câu hỏi của chú em, tui cho rằng: Chú em chỉ cần ăn cỡ hai con cá Voi chắc sẽ đủ mà!”

Đối với mấy thằng ‘Cu’ cà chớn là vậy; đối với mấy em, nhà văn cũng ‘bụp’ luôn không tiếc ngọc thương hương gìráo mới báo.

Vì có chuyện là: Một hôm Mark Twain đi thăm Sở thú. Tới đảo khỉ, một em đứng cạnh ông, ỏng ẹo hỏi trống

không, chẳng thèm bận tâm thưa gởi cha căng chú kiết nào; nên có vẻ xấc xược là: “Hôm nay lũ khỉ đi đâu hết rồi nhỉ?”

“Chúng vào hang hết rồi, bởi bây giờ đang là mùa... giao phối mà!”

“Thế tôi ném vào vài quả chuối, có ra không?”

“Thế nếu hoàn cảnh của bà y như thế bà có ra không?”

Sau rốt, thằng bạn Kỷ sư điện của tui cạch mặt không những các nhà văn mà toàn thể thiên hạ: “Thôi ngừng nổ đi! Khiêm tốn cho nó lành!”

***

Tuy nhiên, không phải Chú Sam nào cũng học được bài học cay đắng như thằng bạn tui đâu để thủ cẳng, để dè chừng; mà vẫn ‘phom phom’ trên con đường Trảng Bom; nhỏ lớn giờ vẫn thế!

Đó là: Donald Trump đương kim Tổng thống Huê Kỳ. Năm 2016, Donald Trump đắc cử Tổng thống Mỹ; nhân dân toàn thế giới kinh ngạc. Nhưng người ngạc nhiên gấp bội thiên hạ lại chính là Donald Trump đấy ạ!

Chính vì trong cơn say quyền lực nên Tổng thống Mỹ, Donald Trump, nghĩ mình là con ông Trời, muốn làm gì là làm hè. Cận thần đứa nào bất đồng ý kiến với Thiên tử là: “You’re fired” (Chú mấy bị đuổi) về nhà đuổi gà cho vợ!

Mới đây nè, Donald Trump gợi ý cho mấy lãnh tụ khối G7 năm tới đến họp thì chánh phủ Mỹ nên mướn cái trung tâm nghỉ dưởng, đẹp hết biết vì cái ‘view’ của nó nhìn ra biển Bắc Đại Tây Dương, ở Nam Florida của đương kim Tổng thống Huê Kỳ.

Tụi đài NBC chơi xỏ, hỏi khó ngài Tổng thống: “Bộ làm vậy để vớt vác chút nào hay chút đó hay chăng?”

Donald Trump tỉnh bơ mà rằng: “Làm Tổng thống tốn tiền tui hết từ 3 tỉ đến 5 tỉ đô đó chớ! Nhưng tiền bạc tui chẳng quan tâm lắm đâu; nếu quan tâm tui đâu ra tranh cử Tổng thống làm gì hè? Tui thương dân Mỹ số một; tiền bạc là số hai nhe!”

***

Ngoài ra, còn cái vụ Thủ tướng Úc, Scott Morrison, (lãnh đạo có 24 triệu dân, nước Úc diện tích gần bằng nước Mỹ mà dân số chỉ gấp 3 lần thành phố New York!) qua chơi được trải thảm đỏ, kèn ‘tè le tí le’ và 19 phát đại bác đón tiếp cực kỳ nồng nhiệt, đãi luôn quốc yến. Mặc áo đuôi tôm, có thắt nơ cùng họp báo, Trump tán dương Morrison là: ‘a Man of titanium’ tại Phòng Bầu dục của Tòa Bạch ốc.

Sợ đám phóng viên trong ngoài nước, hồi nhỏ đi học vô giờ môn Hóa ngủ gục hết ráo nên không biết ‘titanium’ là cái giống gì nên Tổng thống Mỹ cắt nghĩa thêm là: ‘Titanium cứng hơn thép nhiều nhe!’

(Sỡ dĩ Trump phụ đề Mỹ ngữ, là vì muốn chơi trèo cựu Tổng thống George W. Bush đã từng áo thụng vái nhau, tán dương Thủ tướng Úc thuở đó là: John Howard là: ‘a Man of steel’ (Người Thép).

***

Nói nào ngay, hổng ai đánh tui cũng khai là trên Facebook, tui có lập cái ‘Group conversations’ để vài thằng bạn đồng song năm cũ bữa nào bị vợ chữi, lên mà tán dóc cho đỡ cái buồn rầu.

Thì thằng bạn vốn là thương binh trước 75, nên không được đi Mỹ theo diện HO, đành kẹt lại quê nhà cười khà khà’ phán rằng: “Tổng thống Mỹ Donald Trump và Thủ tướng Úc của tui bây nổ bùm bùm như vậy cũng tạm được vì mấy giả có quyền lực, thiệt tột đỉnh nhân gian, làm Trùm Đế quốc Mỹ, Trùm thực dân Úc thì đâu còn ai ngon hơn”

Bên xứ mình nè! Hổng có quyền lực gì ráo, hoặc mặt trời bé con, cỡ Chủ tịch Xã là nổ gấp bội rồi hè.

Ê đừng nghe Lý Toét, Xã Xệ mà chê nhe! Đứa nào cũng có bằng Tiến sĩ hết ráo đó. Hai thằng bây có bay về Việt Nam thăm tao, nếu lỡ có gặp ai lần đầu thì cứ: “Xin chào Tiến sĩ!” là trúng hết 90% rồi. Đừng có lỡ dại chào ‘Phó Tiến sĩ’ nhe vì quan chức nhà nước chúng nó ngày nay không thằng nào muốn làm Phó hết! Chào xong mà cán bộ có đưa cho một tờ giấy dài ngoằng; đừng tưởng đó là cái thực đơn của nhà hàng mà thực sự nó là cái danh thiếp, cái ‘cạc vi-zít’ (carte de visite), nói kiểu hồi xưa; còn nói kiểu bây giờ, theo tiếng Mỹ, là cái ‘business card’. Trên đó chừng chục cái bằng cấp (chớ không phải bằng cắp) và hàng chục chức vụ khác nhau từ thấp tới cao. Thấp là chăn trâu ba đời; còn cao nhứt là Bí thơ Tỉnh ủy.

Và khi hai đứa bây được mấy quan chức hỏi biết ‘Bác Hồ’ không? Thì đừng có ngây thơ mà móc ‘Iphone’ ra, tìm trên Wikipedia chỉ mất công. Ngay cả người hỏi cũng không biết ‘Bác’ là ai và cũng không cần biết.

Cái mấy chả cần là mấy tờ giấy có in hình Bác là đã đủ. Nghe vậy, tui bây chỉ cần móc xỉa; khỏi cần nói lôi thôi chi cho nó phiền phức nhé.

Chính vì vậy mà đi qua một dinh thự tầm tầm cỡ tư thất của Bill Gates, chủ Microsoft, thì đừng nhầm với dinh cơ của Hắc Công tử (Bạc Liêu) hay Bạch Công tử (Mỹ Tho). Đó là điền trang của Bí thư Huyện ủy huyện nhà do con vợ bé đứng tên đó thôi.

Lỡ có ngồi chung bàn nhậu với mấy quan, nhớ im như thóc, đừng có rượu vô lời ra, hứng sảng lên đố vui để học: “Gandhi hoặc Mandela là ai?” Thì mấy ‘giả’ tưởng na ná như đồng hồ ‘Longines, Rolex’ rồi hỏi chừng nào nhập qua Việt Nam để mấy chả sắp hàng mua về vài cái thì khốn!

Điều cần ghi tâm khắc cốt cho người đi xa mới về như tụi bây là: “Đừng bao giờ tranh luận với quan chức trong nước. Vì trong tự điển của cả đời làm quan chúng nó. vần kh(ờ) không có chữ ‘khiêm tốn’. Mà chỉ có chữ quỳ gối, khom lưng, ninh bợ, đút lót; và bốc phét mà thôi!”

Đi nhậu với quan chức nhớ mang tiền theo; vì quan chức ít khi xài tiền mặt chỉ xài ‘phong bì’ không hè. Phong bì để phòng nhậu say, ủi hay cán vài cái xe gắn máy thì đưa cho cảnh sát giao thong nó thu xếp êm đẹp dùm anh của mầy!

***

Ờ! Tốt nhứt là nên dấu biệt cái mác ‘Việt kiều’ đi nhe hai thằng bây! Giấu bằng cách mua quần áo ‘Sida’ bán ngoài Chợ Dân sinh mà mặc. Mang dép đi lẹp xẹp là được rồi. Đừng hở cái là ‘cám ơn, cám ơn’. Chữ ‘cám ơn’ chỉ dành cho những người yếu đuối, thế cô phải cầu cạnh mà thôi. Thấy đứa nào nhỏ yếu như em bé đánh giày, hoặc bán vé số thì phải xưng là ‘Chúng ông’ từ Trung ương vào mới ‘hách xì xằng’. Còn xui mà gặp thằng đầu gấu Hải Phòng; nhớ đừng xưng chúng ông với nó là không còn cái rang mà ăn cháo.

Bao lời tâm huyết tao tuôn ra hết ráo. Không nhớ để làm theo thì tao nghĩ tốt hơn hai thằng bây đừng về kẻo mà mang họa đó!

Đoàn Xuân Thu.

Melbourne

Nhưng Anh đã không làm!

Người lính tạm biệt vợ ra mặt trận khi đứa con gái mới vừa lên 4 tuổi.

Người lính ấy đã không trở về.

Người vợ quê nhà ở vậy nuôi con!

Đến năm 80 tuổi thì mất, đứa con gái tìm được bài thơ của Mẹ mình bỏ lại!

***

"But you didn't!"

 

Remember the day I borrowed your brand new car and dented it?

I thought you'd kill me, but you didn't.

And remember the time I dragged you to the beach,

and you said it would rain, and it did?

I thought you'd say, "I told you so" But you didn't.

Do you remember the time I flirted with all

the guys to make you jealous, and you were?

I thought you'd leave, but you didn't.

Do you remember the time I spilled strawberry pie

all over your car rug?

I thought you'd hit me, but you didn't.

And remember the time I forgot to tell you the dance

was formal and you showed up in jeans?

I thought you'd drop me, but you didn't.

Yes, there were lots of things you didn't do....

But you put up with me, and loved me, and protected me

There were lots of things I wanted to make up to you

when you returned from Vietnam.....

I was waiting for you to come home. But you didn't!

 

(Unknown Poet)

***

Nhưng Anh đã không làm!

 

Nhớ có lần Em mượn chiếc xe cáu cạnh của Anh!

Rồi làm móp méo!

Em nghĩ rằng: “Anh sẽ giết em!”

Nhưng Anh đã không làm.

 

Nhớ có lần Em lôi Anh ra biển!

Và Anh nói: “Trời sẽ mưa và mưa thật!”

Em nghĩ rằng Anh sẽ cằn nhằn, đã nói mà hổng chịu nghe!

Nhưng Anh đã không làm!

 

Nhớ có lần Em õng ẹo với bọn con trai để làm Anh ghen tức!

Và anh đã!

Em nghĩ rằng Anh sẽ bỏ em đi.

Nhưng Anh đã không làm!

 

Nhớ có lần Em làm đổ kem dâu!

làm bẩn hết thảm xe Anh.

Em nghĩ rằng Anh sẽ đánh em.

Nhưng Anh đã không làm.

 

Nhớ có lần Em quên nói buổi khiêu vũ cực kỳ trang trọng.

Anh đến với chiếc quần jeans.

Em nghĩ Anh sẽ bỏ về!

Nhưng Anh đã không làm!

 

Vâng! Có biết bao nhiêu điều Anh đã không làm.

Trừ chuyện chịu đựng Em, yêu Em và bảo vệ tình Em!

 

Có những điều Em muốn đền đáp lại.

Khi từ Việt Nam, Anh trở về!

 

Em mòn mỏi đợi!

Nhưng Anh đã không làm!

 

Đoàn Xuân Thu.

Melbourne.

(phỏng dịch).

___________________________

 

 Gói Khoai Chiên từ Vạn Sồi và Dân Chủ ở Hong Kong!

Nam Kinh là “Kinh đô phía Nam”, thủ phủ tỉnh Giang Tô, Trung Quốc.

Nam Kinh, hạ lưu sông Dương Tử, là thành phố lớn trong lịch sử và văn hóa Trung Hoa. Nam Kinh từng là kinh đô của 6 triều đại phong kiến Trung Hoa và là thủ đô của Trung Hoa Dân Quốc thời Tưởng Giới Thạch.

Đây còn là trung tâm thương mại, giao thông vận tải, du lịch, giáo dục và nghiên cứu trong suốt lịch sử Trung Hoa thời cận đại, sau Thượng Hải.

Thời Tam Quốc, Khổng Minh Gia Cát Lượng viết về Nam Kinh như sau:

“Chung Sơn long bàn, thạch đầu hổ cứ, chân nại đế vương chi trạch dã” nghĩa là: “Núi Chung thế rồng cuộn, đá hình hổ phục, thật là chốn đế vương vậy!”.

Ngày nay thì đế vương đã về Bắc Kinh. Nam Kinh chỉ còn sót lại một bà lão ăn mày, cô độc, đóivà khát trên đường phố đông người mà chẳng thấy ai lo?!

***

Còn Thousand Oaks (Vạn Sồi), thường được gọi là “T.O.”, là một thành phố thuộc tiểu bang California, Vùng Đại Los Angeles, vì nó có nhiều Sồi.

Một chàng thanh niên Mỹ lớn lên từ thành phố Vạn Sồi (Thousand Oaks) vừa tốt nghiệp trường Đại học Arizona đến Nam Kinh, thủ phủ tỉnh Giang Tô, Trung Quốc làm việc.

Trên góc phố Nam Kinh, chàng thanh niên Mỹ Quốc chia sẻ cùng một bà cụ ăn xin Trung Quốc vài miếng khoai chiên, và chút nước suối giữa mùa hè nóng bức. Ai đó, người dân Trung Quốc, chụp lại hình ảnh này, đưa lên mạng xã hội Sina Weibo. Và nó đã tạo nên cơn bão trong xã hội Trung Quốc thời CS!

Trả lời phỏng vấn tờ Thời Báo Los Angeles, Jason Loose nhớ lại: “Tôi thấy một bà cụ, vẻ buồn bã và cô độc đang xin ăn trên phố đông người. Lúc đó trong cái lon xin tiền của bà, chẳng có một xu. Tôi chợt nghĩ chắc bà ấy đang đói và khát. Mà cần hơn đói và khát là cần một ai đó để cảm thông.

Tôi hỏi mình có thể giúp gì được cho bà cụ đáng thương này hay chăng? Tôi mua một gói khoai chiên, chai nước suối từ McDonald’s và chia sẻ với bà ấy.

Bà ấy, từ một vùng quê tỉnh An Huy, phiêu bạt đến đây. Già và yếu! Làm gì bây giờ? Không ai lo! Chỉ nước ăn xin?!

Trời nóng, khát quá. Tôi rót nước từ chai nước suối cho bà, hỏi han về sức khỏe. Bà nói: “Già yếu rồi. Cám ơn tôi, dù bà không thích khoai tây chiên lắm!”

Jason Loose theo học trường Ðại Học Nam Kinh đã được 9 tháng, không ngờ mình lại trở nên một người nổi tiếng.

“Tôi chỉ tình cờ tặng bà ấy vài miếng khoai chiên mà theo tôi, chúng cũngkhông tốt cho sức khỏe lắm, đồng thời ngồi nói chuyện với bà trong vài phút.

Theo tôi, hành động như thế, chẳng có gì đáng để trở thành một mẫu tin.”

***

Một hành động có thể rất bình thường của chàng sinh viên Mỹ, đến từ thành phố Vạn Sồi, nhưng trở thành phi thường trong mắt một người Trung Quốc, chụpđược bức hình nầy, rồi ‘post’ lên trangmạng xã hội Sina Weibo Trung Quốc.

Một người Trung Quốc cho rằng: “Chinese people, let’s all learn from this!” “Nhân dân Trung Quốc hãy học lấy điều này!”

Nhiều người dân ở Hoa Lục nghĩ rằng: đất nước họ đang nhắm mắt chạy theo đồng tiền mà đánh mất hết đạo lý, khiến ai cũng trở nên dửng dưng trước nỗi thống khổ của những người không quen biết!

***

Người viết cho rằng: Người phải học bài học về tình người này nhất: phải là Bạc Qua Qua? Bạc Qua Qua là ai? Tại sao phải học?

Bạc Qua Qua, sinh năm 1987, cháu nội Bạc Nhất Ba, nguyên Phó Thủ Tướng Trung Quốc, là con Bí Thư Trùng Khánh Bạc Hy Lai đã bị các đồng chí “thân yêu” bợp tai, đá đít văng ra khỏi Bộ Chính Trị Đảng Cộng Sản Trung Quốc và lột luôn lon Bí Thư Thành Ủy Trùng Khánh.

Bạc Qua Qua là một trong những cái tên hàng đầu trong tầng lớp ‘5 C’ (Con Cháu Các Cụ Cả). Thiếu gia nhà họ Bạc lớn lên trong khu biệt thự dành cho cán bộ cao cấp, có lính gác, có tài xế riêng.

“Tôi biết nhiều người thuộc tầng lớp quý tộc thích sống kín đáo, nhưng như thế thì tẻ nhạt quá” Bạc Qua Qua nói. Bạc thiếu gia nổi tiếng với những chiếc xe cỡ Ferrari và xài tiền như nước nhưng “không mặn mà với sách vở”.

Theo bè bạn, thiếu gia họ Bạc từng mời một đoàn võ sư từ chùa Thiếu Lâm sang biểu diễn tại Oxford, nơi thiếu gia đang học. Thiếu gia cũng “nổ” với bạn cùng trường qua việc mời siêu sao phim hành động Thành Long qua chơi, thậm chí còn nhảy lên sân khấu hát chung với Thành Long.

Bạc Qua Qua nổi tiếng với các màn tiệc tùng. Ngay trong những tuần đầu mới nhập học, anh ta đã mua rượu sâm banh (champagne) cho tất cả mọi người và mở một bữa tiệc “kinh hoàng” ngay tại nơi thiếu gia nầy đang ở.

 

Những tấm hình Bạc Qua Qua quần áo xộc xệch, nhậu nhẹt, nhảy nhót với các thiếu nữ xuất hiện đầy trên trang mạng làm người dân Trung Quốc bình thường chua xót phận mình?!

***

Người viết xin có bốn câu thơ gởi Bạc Qua Qua, chơi bạt mạng, sẽ làm đất nước Trung Hoa tàn mạt như vầy: “Có chàng tên Bạc Qua Qua. Bí thư Trùng Khánh là cha của chàng. Mỹ du ăn học

làng nhàng Nhậu nhẹt, gái gú thì chàng là cha”.

Bạc Qua Qua và hàng ngàn thiếu gia nữa “Con Cháu Các Cụ Cả”, sẽ cai quản đất nước Trung Quốc trong một tương lai không xa. Mà bây giờ đã ăn chơitàn mạt như vầy thì chắc chẳng bao lâu Nhân Dân Trung Quốc sẽ đi ăn mày ráo trọi!

Những hành động, lời nói, cách sống của hai thanh niên, đồng trang lứa, thuở đôi mươi: Bạc Qua Qua và Jason Loose cho chúng ta biết trước hai nước: Trung Quốc và Mỹ Quốc sẽ đi về đâu!!!?

Thế nên chúng ta không lấy gì làm ngạc nhiên khi thấy CS Trung Quốc ngang ngược chiếm cứ Tây Tạng và Tân Cương, đàn áp khốc liệt các sắc dân địa phương mà người Tàu đại lục cứ êm ru

bà rù, thản nhiên coi hành động đi ăn cướp đó là chuyện đương nhiên, mạnh được yếu thua trong một thế giới rừng rú nầy! Việt Nam hãy cảnh báo!

***

Trong giờ phút tưởng chừng như tuyệt vọng đó, bổng bùng lên tia lửa tự do của hàng triệu người dân Hong Kong. Suốt cả ba tháng trời ròng rã, cuối tuần nào họ cũng cùng nhau xuống ngập đường, biểu tình hợp pháp đòi tự do dân chủ.

Dù bị Cảnh sát đàn áp, dùng dùi cui đánh sặc máu mũi, chảy máu mồm họ vẫn tiếp tục đi.

Nhưng buồn thay cả tỉ người dân Trung quốc còn lại trên đại lục vẫn dửng dưng, điềm nhiên tọa thị, câm nín; coi như đó không phải là chuyện của mình.

Nếu Bắc Kinh, Thượng Hải và các thành phố lớn khác trong đại lục đồng loạt đứng lên thì chế độ độc tài của Đảng CS Trung Quốc chỉ có một con đườngduy nhứt là đi vô sọt rác củalịch sử mà thôi!

Tính đến nay, Phong trào biểu tình phản đối Luật dẫn độ của Hong Kong đã kéo 3 tháng. Đa phần các nghệ sĩ Trung Quốc có ảnh hưởng với quần chúng, chỉ ngậm miệng vì sợ mất tiền. Giơ tay đầu hang đồng nhân dân tệ vô điều kiện.

Có đứa còn không biết xấu hổ, mở miệng ra ủng hộ Cảnh sát HongKong đàn áp người biểu tình nữa để lấy điểm, lập công với đảng CS Trung Quốc như Thành Long chẳng hạn. Các nghệ sĩ thực sự công khai ủng hộ người biểu tình Hồng Kông chằng có bao nhiêu. Chỉ có Hà Vận Thi, Huỳnh Diệu Minh, Châu Nhuận Phát...Hà Vận Thi nói việc bị Trung Quốc đưa vào danh sách đen đã khiến thu nhập của cô giảm hàng trăm nghìn đô la Mỹ mỗi năm. Huỳnh Diệu Minh cũng cho hay, chỉ vì ông ủng hộ phong trào biểu tình của người Hồng Kông, thu nhập hang năm từ thị trường Trung Quốc và hợp tác với các thương hiệu quốc tế đã giảm hơn một nửa. Ông nói: “Tôi đã hát hơn 30 năm, cái giá này tôi vẫn chịu được.”

Riêng tài tử Châu Nhuận Phát chỉ nói: “Vậy là kiếm tiền ít đi một chút thôi!” (Thà là bị mất tiền chớ nín khe đâu có được nè!)

***

Xưa giờ cũng vậy tương lai của thế giới nầy nằm trong bàn tay của những người tuổi trẻ.

Một thanh niên Mỹ trắng mũi lõ, mặt tàn nhang từ một vùng đất xa xôi vẫnkhông quên mang theo một trái tim, một tấm lòng nhân hậu đến một đất nước xa lạ gặp một con người xa lạ, khác màu da chủng tộc cần được giúp đỡ, là chàng thanh niên nầy chìa tay ra ngay mà không hề định kiến.

Rồi Hoàng Chí Phong, hay Joshua Wong, mới 22 tuổi, là nhà hoạt động sinh viên, đứng đầu cuộc biểu tình tại Hồng Kông 2014, còn được gọi là “Cách mạng dù”.

Trong buổi tuyên bố bãi khóa tháng Chín năm 2014, Hoàng Chi Phong bịt mắt bằng khăn đỏ, tượng trưng cho chế độ đỏ của Trung Quốc làm mù mắt sinh viên. “Chúng tôi không để bị nhồi sọ.”

Và 120,000 người Hong Kong đã hưởng ứng, xuống đường biểu tình.

Hoàng Chí Phong, dân Hong Kong, từ nhỏ lớn lên đã hưởng ít nhiều quyền tự do dân chủ của đế quốc Anh còn để lại, dám can đảm đứng lên đòi dân chủ; dù bài học Thiên An Môn năm 1989, máu của sinh viên đổ xuống trên quảng trường vẫn còn tươi rói, làm người Tàu vẫn còn nuôi hy vọng.

Còn nhân cách sống trác táng, xa hoa bằng tiền ăn cắp của dân, kiểu con ông cháu cha thời CS như Bạc Qua Qua, thì thiên hạ đâu có ai cần tới nó!

đoàn xuân thu

Melbourne

Trắng hết cả màu bông!

 

Đêm cuối cùng cầm tay má. “Con đi!”

Má muốn buông; rồi bám tay bịn rịn;

đêm cuối cùng, thêm lần đau cắt rún

mà lần này con xa mãi Má ơi!

***

Khi con đói, con nhớ về tới Má;

lúc con no, con có nhớ bao giờ?!

Khi con lạnh, con nhớ về tới Má;

lúc ấm êm, con có nhớ bao giờ?!

Khi con bịnh con nhớ về tới Má;

khỏe như trâu; con có nhớ bao giờ?!

Khi thất bại, con nhớ về tới Má;

lúc thành công, con có nhớ bao giờ?!

***

 

Ấm lạnh quê người, đói no con chịu,

buồn thở than, con biết tỏ cùng ai?

giọt nước mắt, con nhớ về tới Má,

Má mất rồi! con khóc với ai đây?!

***

Tình mẫu tử vô ngần mà con không trân quý;

khi mất đi, lòng tự trách: đồ ngu!

con chạy đuổi những phù hoa ảo ảnh,

Má một mình thui thủi bóng hoàng hôn!

***

Ngày Từ Mẫu em cài bông hồng đỏ

thì em ơi! Em may mắn vô cùng;

tôi mất Nước, giờ mất luôn cả Má,

lã chã lệ đời, trắng hết cả màu bông?!

 

Đoàn Xuân Thu

Melbourne

.

Thơ gởi con nhân mùa lễ Vu Lan

Melbourne, ngày...tháng...năm.

 

Con của Ba!

Tối nay Ba đi làm về đã mười hai giờ rưỡi đêm. Ba mỏi, mệt vì phải làm việc suốt tám tiếng đồng hồ, cộng thêm bốn tiếng nữa để đáp xe lửa, leo xe tram, ngồi xe bus mới về được tới nhà. Nhà mình dẫu mướn nhưng luôn luôn là nơi Ba muốn về nhất để gặp Má con, anh Tí và con. Đó là nơi Ba thấy đáng yêu nhất.

Gia đình chính là nguyên nhân của tất cả mọi nguyên nhân mà Ba, Má con phải làm việc vất vả. Tất cả chỉ vì con.

Vậy mà khi về tới nơi, dẫu khuya, đèn vẫn còn chong, hắt ra khung cửa kiếng là một bóng cô đơn. Má con lặng lẽ ngồi, cặm cụi may từng chiếc áo một, kiếm từng mươi xu lẻ để sống sót nơi đất lạ quê người. Ba hỏi con đâu? Má con buồn bã trả lời: Thằng Tèo vẫn chưa về.

Con đã đi chơi suốt từ chiều thứ sáu cho đến nay là tối thứ hai rồi. Hơn ba ngày đêm con không có mặt ở nhà. Vắng ngắt nhà. Mênh mông nhà. Không tiếng chân bước vào ra. Ngoài cửa, gió mùa đông Melbourne rét căm căm.

Bao nhiêu buồn Ba nhất là Má con đang chịu, con có biết không? Ba nghĩ là con biết. Nhưng Ba không hiểu tại sao con lại nỡ dửng dưng trước nỗi đau khổ của Ba và Má. Ba tin rằng trong long con, con vẫn còn thương Ba Má lắm phải không?

Có lần đi chơi khuya về, tình cờ con gặp ba trên chiếc xe tram đầy mỏi mệt.

Rồi cha con mình may mắn chung một đoạn đường về. Ba nói may mắn vì hiếm hoi lắm cha con mình mới có dịp đi bộ cùng nhau. Đột nhiên mình bắt gặp một cánh chim cô đơn, đậu trên nhánh bạch đàn, đong đưa theo mưa gió. Có phải là chim Việt nhớ cành Nam? Nhà mình đâu? Quê mình đâu? Sao biết được ngày bay về tổ cũ!

 

Ba còn nhớ mùa nước lụt năm 1978, ba năm sau ngày miền Nam sụp đổ. Nước tràn mênh mông vườn của Ngoại. Rắn bò cả vào nhà. Gạo không có mà ăn, phải độn khoai lang, khoai mì. Nước cơm pha chút đường dành cho con thay sữa. Ba phải đi hái lá tàu bay, đem luộc làm canh. Nước pha muối để thay nước mắm. Có con gà nuôi dành giỗ nội thì hàng xóm bắt trộm, ăn mất rồi.

Ba buồn nhưng không giận. Vì không phải riêng nhà mình chịu đói. Cả dân tộc lầm than! Mình có nước mà mình không biết giữ để đến nông nỗi này!

Cuối cùng bị dồn đến chân tường, không lẽ ở lại chịu chết, Má con đành phải bán tư trang ngày cưới để có tiền, làm lộ phí cho Ba bế con đi. Nhà mình xẻ hai. Xẻ đàn tan nghé. Ba với con ra đi; Má và anh Tí ở lại để lỡ có bị bắt còn có kẻ thăm nuôi. Vã lại mình cũng không có đủ tiền, vàng chung cho bốn chỗ.

Ngày cha con mình đi, Cần Thơ chìm trong tối. Lúc bế con xuống ghe nhỏ chờ ra tàu lớn, con khóc. Ai bị buộc rời xa quê cha đất tổ, chỗ chôn nhau cắt rún trong một hoàn cảnh bi thương như thế, làm sao mà không khóc? Ba phải cho con uống ‘sirop Phenergan’ để con ngủ.

Rồi lênh đênh trên biển, trong mịt mùng dông bão, đói, khát, cướp biển Thái Lan. Cuối cùng tàu cũng đến được Pulau Bidong. Con lả người trên tay Ba. Ba bế con, bước đi xiêu vẹo vì vẫn còn say sóng. “Xin hãy cứu con tôi!” Đó là lần đầu tiên trong đời Ba đã phải van xin.

 

***

Vậy mà mấy năm sau khi Má và anh Tí con được lãnh qua, ngày gặp lại Má con ở

phi trường Melbourne, con chỉ nói được ‘Hi! Mum’ rồi thôi. Má con nói với Ba rằng mới xa thằng Tèo có mấy năm mà nó đổi thay nhiều quá. Vỏ nó vàng nhưng ruột đã trắng rồi. Hồi ở bên nhà, sợ con mình lớn lên, họ bắt đi nghĩa vụ, chết ở bên Miên. Còn qua bên này, xa hoa, phù phiếm đã bắt mất nó rồi. Ở đâu mình cũng không giữ được con mình. Hồi nhỏ cho nó một cục kẹo, nó cũng mừng; bây giờ mình cho nó cả cuộc đời nó cũng không nhận.

Mười năm, hai chục năm nữa khi Ba Má đã già, cát bụi sẽ trở về cát bụi. Cha còn gót đỏ như son. Đến khi Cha mất gót con lấm bùn.

Ngày hai mươi bốn tiếng đồng hồ. Mười hai tiếng làm việc và di chuyển. Tám tiếng ngủ để hồi sức lao động. Chỉ còn bốn tiếng vào, ra để gặp mặt hai con. Ba đã bán năm phần sáu đời mình cho vòng đời tư bản khốc liệt cạnh tranh để đổi lại vỏn vẹn một phần sáu vô cùng cho cõi thương yêu. Vậy mà cũng không được!

Ba cũng có má giống hệt như con có. Đó là bà Nội của con. Chẳng may Má của Ba mất sớm, rất sớm. Vì sức tàn lực kiệt, đèn khô dầu lụi bấc, qua những ngày, tháng, năm mưa dầm nắng dãi, sớm tần hôm tảo nuôi đàn con nheo nhóc ăn học.

“Mẹ già như chuối chín cây. Gió đưamẹ rụng con rày mồ côi.” Câu hát ru đó đã theo Ba suốt thời quần xanh áo trắng, qua dấu lửa binh, xuống tàu vượt Thái Bình Dương; rồi đất lạ quê người. Ba chắc rằng câu hát ru đó sẽ còn theo Ba mãi, cho đến khi Ba về với Nội. Bây giờ nghĩ lại ngày ba còn thơ dại như con, đôi khi dửng dưng, vô tình làm Má buồn, Ba khổ giống như những gì con đã và đang làm đối với Ba Má bây giờ. Ba đã hối hận biết bao khi Má mình không còn nữa. Có nụ cười nào rạng rỡ hơn khi Má mình thấy mình lẫm đẫm tập đi, bập bẹ tập nói. Có tiếng khóc nào chua xót hơn, đèn đêm đối bóng khi Má mình biết mình trốn học, rong chơi. Làm được gì bây giờ nữa hở con? Có chăng chỉ là một đóa hoa màu trăng trắng, cài lên ngực áo, trong mùa lễ Vu Lan, như thầm nói với đời rằng: mất Má rồi đời chỉ là một dải khăn tang.

***

Ai cũng thích đi chơi hết. Đi chơi vui lắm. Người ta thường bảo sân nhà hang xóm cỏ chắc xanh hơn. Nhưng Tèo con ơi! luống hoa hồng vườn Botany sao đẹp bằng luống rau Má con trồng bên hè nhà mình ở. Con Bulldog nhà hàng xóm sao bằng con Mực nhà ta. Mc Donald’s sao ngon bằng dĩa cơm tấm tình quê. Lẩu nhà hàng Tàu sao ngon bằng nồi canh chua Má nấu. Con trách sao con tên Tèo. Cái tên gợi nhớ quê nghèo đã xa. Cái tên Tony sao bằng cái tên Tèo yêu dấu của đồng chua nước mặn; của những dải bần xanh.

Có thể con cho Ba là lạc hậu, là bảo thủ, là xưa rồi. Nhưng Ba tin rằng có những điều chưa sáng tỏ bây giờ sẽ hoàn toàn đúng trong mươi năm nữa khi con ngồi nghĩ lại.

Ngày mình đi Cần Thơ chìm trong tối. Ngày con về chốn cũ chắc bình minh. Má là quê hương. Quê hương là Má. Quê hương con còn có thể tìm lại được; chớ mất Ba, mất Má rồi thì thôi đã hết trông mong.“Má ơi chim vịt chết chìm. Thò tay vớt nó con cá lìm kìm cắn tay.”

Mười năm, hai mươi năm nữa biết con còn có Má để mà kêu mà réo nữa hay không?

Thư bất tận ngôn.

Ba của con.

Đoàn Xuân Thu

BÚP BÊ

 

Từ mặt trận anh về, anh ghé qua thành phố,

anh mua con búp bê, biết cười và biết khóc.

Con búp bê cùng em

hai đứa chơi nhà chòi.

em cho búp bê ăn;

em dỗ búp bê ngủ;

em chọc búp bê cười;

hai đứa em cùng vui!

Anh trở về binh lửa; búp bê nó nhớ anh

nó không cười, cười nữa; nó khóc, em dỗ dành.

 

Tàn trận đánh, anh về trong hòm gỗ sơn xanh.

Tiễn anh, búp bê khóc, dàn lính bắt súng, chào

tiếng kèn buồn, vĩnh biệt nước mắt đẫm má em

mộ phần ai ném đất vùi sâu anh của em!

Búp bê đòi theo anh bên kia khoảng trời xanh

không còn bom đạn nổ;

không còn người giết người

búp bê làm anh vui; em chắc anh sẽ cười.

Ngủ ngon nhá anh Hai!

Đoàn Xuân Thu.

Phượng tím! Phượng hồng!

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Trái đất của chúng ta tròn quay, đầu hơi dẹp, chia làm hai, bằng đường xích đạo (tưởng tượng). Phía trên, Bắc bán cầu, phía dưới Nam bán cầu. Thời tiết đối nghịch nhau! Tháng Sáu, Bảy và Tám ở Bắc bán cầu đang vào mùa

Hè rực nắng! Tháng Mười Hai, Một và Hai ở Nam bán cầu, Miệt Dưới (Down Under) là nước Úc, Trời đã sang Đông, lạnh quéo râu hè! Ôi nhớ xưa quê mình chỉ hai mùa mưa nắng. Hết nắng rồi mưa; hết mưa rồi nắng. Đôi khi chỉ trong một ngày lại nắng sớm mưa chiều. Còn bữa nào, mưa trong bình minh đó là những ngày bão rớt. Nơi mình sanh ra, rồi lớn lên, ở riết quen không còn để ý nữa. Chỉ đến khi xa rồi, mất rồi mới tha thiết nhớ làm sao? Xin đừng cắm đầu, nhắm mắt, nhắm mũi theo Thanh Tịnh “Hàng năm cứ vào cuối Thu, lá ngoài đường rụng nhiều và trên không có những đám mây bang bạc, lòng tôi lại náo nức những kỷ niệm hoang mang của buổi tựu trường...” chỉ có trong văn thơ của miền Bắc. Dẫu vậy, bất cứ đứa học trò trai hoặc gái của quêmình, của tui một thời thơ dại, ai ai cũng thuộc lòng bài nầy hết ráo!

***

Quê mình khác, quê người khác. Khác từ chuyện ăn đến chuyện học. Ở Úc, niên học bắt đầu từ tháng Giêng và chấm dứt vào cuối tháng Chạp. Học như điên, học suốt 12 tháng hay sao? Đâu có! Học trò Úc cũng có nghỉ, nhưng không nghỉ Hè một lèo, suốt 3 tháng, từ thángSáu cho tới tháng Chín như ở quê mìnhđâu. Một niên học của học trò Úc có 4 học kỳ; có bốn lần nghỉ, mỗi lần hai tuần cho nó phẻ!

So với kỳ nghỉ mùa Xuân, mùa Thu, mùa Đông, nghỉ Hè, cuối niên học, từ 19 tháng Chạp tới 26 tháng Giêng là dài nhứt, là ‘đã’ nhứt vì em yêu lu bu bận giữ cháu Nội, hổng còn thời giờ để mắt canh chừng tui có quậy ‘sảng’ hay không. Lợi dụng thời cơ, một năm xổng chuồng một lần tui bèn dông ra biển. Dông ra biển hổng phải để tắm đâu nhe vì tui sợ cá Mập lắm. Dông ra biển để ‘địa’ mấy em Úc mơn mởn đào tơ, mặc bikini như hổng có mặc gì! Nó đã làm sao đâu!

Mùa hè năm ngoái nè, lúc lơn tơn ra biển, tui thấy một em hình như trái bưởi Biên Hòa của em đang đòng đưa trước gió. Tui bèn nhắc nhỏ: “Em gì gì đó ơi! Hình như nó ló ra ngoài kìa!” Em nhìn xuống ngực rồi thảng thốt kêu lên: “Giời ơi Giời! em đã bỏ quên con em ở trên xe ‘bus’ rồi!”

***

Khi vô quốc tịch, trong buổi lễ của Cáo sồ (Council), Hội đồng thành phốthường cho mỗi tân công dân Úc một cây bạch đàn hoặc một cây Phượng tím còn nhỏ, mình đem về nhà trồng, làm kỷ niệm và tạo thêm môi trường xanh bóng cây nơi mình đang sanh sống!

Loài hoa Phượng tím nầy là do người Việt ly hương chúng ta đặt tên; vì nó nở rộ vào cuối năm học như Phượng hồng của quê mình. Cho dù Phượng tím nở vào mùa Xuân; còn Phượng hồng nở vào mùa Hạ!

Phượng tím, Phượng hồng hình dáng rất khác nhau, màu sắc cũng khác nhau nhưng có cái chung là nở đúng mùa thi nên gọi là hoa học trò đấy thôi. (Ôi tàn mùa thi, em đi lấy chồng; còn tui đi lính. Rồi tàn mùa thi năm sau, người nữ học sanh năm đó vô bảo sanh viện Từ Dũ; còn tui ra biển, dông luôn cho tới tận bây giờ)

Quê người không còn thấy Phượng hồng (vùng nhiệt đới) mà chỉ thấy Phượng tím (vùng ôn đới) không hè. Loài hoa học trò nầy, Úc gọi là Jacaranda, từ các nước Nam Mỹ đến định cư trong các công viên thành phố. Footscray, từ đường Moore, lái xe chở em yêu đi chợ về tới ngã ba, gặp đường Ballarat, trước khi quẹo phải để về nhà, theo thói quen vào tháng Mười, Mười Một và tháng Chạp, tui thường nhìn thẳng vào rìa công viên Footscray, là thấy ngay cành Phượng tím của mùa Xuân xa xứ quê người! (Thành phố Maribyrnong, nơi tui lưu lạc rồi tấp đại vào đây, có hơn 100 công viên cho tình nhân đến để hun nhau,vườn cảnh cho ông già bà lão đến ngồi, càm ràm lẫn nhau một lát rồi nghỉ mệt để ngắm hoa Phượng tím! Đôi ta hai đứa hai đầu băng đá, nhớ lại cái thuở học trò êm đềm, lúc chưa biết yêu nhau, thiệt là đẹp biết bao. Còn hơn bây giờ, tối ngày chỉ lo cãi lộn!)

***

Khi chưa trổ hoa, Phượng tím, Jacaranda, lá xanh khá giống cây Phượng hồng, nhưng đến khi hoa nở thì hoa không giống loài hoa Phượng hồng mà ta đã hằng quen.

Hoa Phượng tím, Jacaranda, như những chiếc chuông nhỏ màu tím, dài chừng 4-5 cm rung rinh trong nắng. Sydney và Melbourne trời ấm muộn hơn hơn nên hoa nở muộn hơn, tím cả một khung Trời tím khi mình ngước mắt nhìn lên. Tím một thảm hoa, đầy trên mặt đất, khi mình nhìn xuống.

Mùa thi đang đến! Những em sinh viên trường Đại học Queensland cũng tin dị đoan thấu Trời đi. Các em nghĩ rằng khi cùng anh, đôi ta chậm bước trên đường đầy hoa Phượng tím mà gió làm rơi một cánh hoa trên mớ tóc mây, em gục vào vai anh khóc nức nở vì tin rằng mình sẽ thi rớt. (Ối đâu cần cánh hoa Phượng tím rơi rơi làm em thi môn nào rớt môn đó. Học không lo, chỉ lo ‘y cà lết’ (yêu) em rớt là cái chắc!)

***

Mùa Hè ngày xưa cũ, trốn cái nóng kinh hoàng không gì bằng thơ thẩn trốn vào công viên Tao Đàn để ngắm Phượng hồng và nghe tiếng kêu râm ram, rền rĩ một khúc tình ca, của những chú ve cô đơn đang gọi bạn tình! Thời thơ dại, chưa biết yêu là phẻ nhứt hè. Lớn lên một chút thì đường vào tình yêu có trăm lần vui có vạn lần buồn. Làm một con tính trừ, thì lỗ quá xá là lỗ nên tui chọn mùa Hè khoan yêu, dứt áo xa em để về quê cắm câu, bắt con nhái bầu nhấp nhấp mấy con cá lóc tham ăn phóng tới, táp nghe cái ‘phập’!

Phải công nhận tuổi học trò đúng là thời hoa mộng, là ăn chưa no, lo chưa tới, đi học chỉ mong đến lúc bãi trường để dông về quê mò cua đồng về rang muối hoặc bắt ốc bưu luộc chấm nước mắm gừng! Bữa khác thì xách cái rổ, lội ra đồng năng, lác quê mình mà xây cù. Nghĩa là cắm cái rổ xuống chỗ nước còn đọng vũng, kêu mấy đứa lội vòng vòng cho cá trắng, cá đen nhỏ bằng mút đũa sợ, nó chạy vô cái rổ của mình. Được kha khá, cá đầy vài ba chén ăn cơm thì đem về rửa sơ sơ với nước muối; xong bắt chảo, chờ mỡ nóng lên, chiên xù. Thịt cá nó bong, nó xù ra, xúc, cuốn với bánh tráng, rau sống: dấp cá, đọt xoài, rau răm, chấm nước mắm me.

Mùa hè dạy tui nhiều điều hay lắm. Thà là mang tiếng ngu như bò, thẩn thơ đồng chiều gốc rạ, không làm gì hết ráo; đôi khi sướng hơn đi học nhiều! Khoái bãi trường là vì vậy! Hi hi!

***

Có người nói yêu thì lỗ mà không yêu thì khổ! Chính vì sợ lỗ và sợ khổ, sợ bị trầm cảm; nên tui trầm đò, khoan yêu em được ngày nào hay nào đó cho nó ‘phẻ phắn’ cái tâm hồn. Tuy nhiên, trước rạo rực của tuổi dậy thì không phải ai cũng biết ‘né’ được như tui đâu! Bằng cớ là nhà thơ Đỗ Trung Quân thở than: “Những chiếc giỏ xe chở đầy hoa phượng. Em chở mùa Hè của tôi đi đâu? Chùm phượng vĩ em cầm là tuổi tôi mười sáu, Thuở chẳng ai hay thầm lặng mối tình đầu...”

Bài nầy do Duy Quang, bạch diện thơ sinh, mày râu nhẳn nhụi, áo (trắng) quần (xanh) bảnh bao hát là hết ý! Vũ Khanh hát cũng rất hay; chỉ có cái là đóng vai học trò nhưng râu ria hơi ‘bị’ nhiều nhe. He he!

Về ca từ, tui cũng xin có một ý kiến nhỏ như con thỏ là: “Chùm Phượng vĩ em cầm là tuổi tôi mười sáu”; xin đừng sửa lại tuổi tôi mười tám mà chi (đừng sợ bị chúng chửi là con nít quỷ). Ông bà mình từng phán: “Nữ thập tam; nam thập lục” nên tuổi tôi mười sáu thầm lặng mối tình đầu là quá phải rồi.

Mười tám tuổi mới biết yêu lần đầu? Tui e chú em nầy chắc do thiếu ‘hóc môn nam’ nên dậy thì muộn hay chăng? Thế đấy, văn thơ không nên thò tay mặt đặt tay trái vô sửa tùm lum tà la nha. Cứ hốp tốp, không cặn kẻ nghĩ suy, sửa chỉ có một con số mà thôi, lại làm bài hát mất biết bao nhiêu là ý nghĩa!

Đoàn Xuân Thu

Melbourne, Australia

Rót xuống chiều nhạt nắng!

 

 

 

 

 

 

 

Mail bạn gởi, gởi hình đang nhậu:

Hennessy vàng ánh, lưng lưng;

xịn XO, tưởng chừng như quá đã,

vui quá mà, sao mắt lệ rưng rưng?

Bởi rượu rót xuống chiều nhạt nắng,

râu tóc buồn, râu tóc bạc phơ;

vầng trán nhăn xẻ dốc đời đi xuống,

nhưng gặp nhau, còn uống, đã là mừng!

 

 

 

 

 

Mai mốt đây, ông già chống gậy*,

sóng sánh ly, rượu cứ đổ hoài,

gặp bạn cũ, thấy ông hình quen quá!

chắc tụi mình có gặp ở đâu đây?!

Say ngà ngà, nhớ toàn chuyện nhỏ,

đời lưu vong sót lại bạn già,

cũng một câu, hỏi hoài... cứ hỏi:

đã uống rồi hay chưa uống đây ta?

Say hết biết, nhớ hoài chuyện lớn,

đời lưu vong sót lại bạn già,

cũng một câu, hỏi hoài...cứ hỏi:

tại sao mình lại lạc lối đến đây?

Tưởng hỏi khó... trả lời dễ ợt,

tại mình thua... chạy tuốt ra đây,

thân mất nước, bạn sầu nên bạc tóc?

ta cũng sầu đứt ruột, xỉn... rồi say!

*Johnnie Walker

Đoàn Xuân Thu

Công tử Quờn!

 

Cách đây hơn nửa thế kỷ, tại trường Petrus Trương Vĩnh Ký ở Sài Gòn, tui học lớp Đệ Thất, rồi cứ đếm ngược theo ‘số thứ tự’ lên là Lục, Ngũ, Tứ, Tam, Nhị, Nhứt!
Mãi tới năm 1969, Bộ Giáo Dục mới đổi tên lớp lại theo ‘số đếm’. Đệ Thất là lớp 6, leo dần 7, 8, 9, 10, 11, 12. Sau đó bỏ kỳ thi Tú tài Một, cuối năm lớp 11 chỉ còn thi Tú tài Hai cuối cấp mà thôi. Sở dĩ cắt nghĩa vòng vo tam quốc dài dòng như vậy sợ em cháu mình sau nầy nó không biết.
Mặc dầu lớp Đệ Thất nhỏ nhứt nhưng quý thầy cô lại già nhứt, có kinh nghiệm giảng dạy nhứt mới được phân dạy cấp lớp nầy đó nhe! Nhứt là trong cái trường trung học nổi tiếng nhứt của miền Nam là trường Petrus Ký. (Thiệt là quá nhiều cái nhứt!)

 

 

 

 

 

 

 

 

                                      Trường Petrus Ký​
Ba năm đầu, môn Quốc văn, tuần học tới 6 giờ, vì là môn quan trọng nhứt! Và có một chuyện ngẫu nhiên lý thú là: quý giáo sư dạy tui môn Quốc Văn đều tên Dung. Dung là tên phái nữ; nhưng thầy dạy Đệ Thất của tui cũng tên Dung; thầy Võ văn Dung.
Nghe tui kể vanh vách như vậy, mấy thằng bạn học cùng lớp năm xưa ngày cũ nó ngán tui quá xá! “Ê già háp mà thằng ‘Tèo’, đã từng một thuở ‘lù coi’ nầy, nó chưa có lẫn!”
***
Thầy tui hồi xưa rất yêu nghề. Vì nghề giáo hồi đó sống khỏe chớ đâu như bây giờ làm giáo chức là dứt cháo, sống bù lăn bù lóc… một đời móc bọc!
Yêu nghề nên tận tâm với nghề; thầy soạn bài kỹ lắm. Nhưng khổ nỗi là thầy chọn những đề tài mà thầy thích rồi dạy, hỏng cần biết sắp nhỏ có đủ khôn để hiểu hay không?
(Mãi tới hơn 50 chục năm, tui mới ‘ngộ’ là nó hay quá xá là hay… Hơn nửa thế kỷ bớt ngu còn đỡ hơn là mình ngu tới chết!)
Thầy tui rất lấy làm ái mộ nhà văn Bình Nguyên Lộc, tác giả quyển tiểu thuyết ‘Đò Dọc’, đoạt giải văn chương toàn quốc năm 1960, nên chọn một đoạn trích giảng vầy nè: “Quờn là một công tử nhà quê, hạng người mẫu. Vì ở gần thành phố quá, mặc dầu thành phố ấy chỉ là một quận lỵ, công tử Quờn lại mang thêm một cố tật dĩ nhiên là muốn thành người thành thị.
Thành không được, Quờn lai căn một cách dị hợm với những bộ bi-da-ma màu hường, màu xanh lá cây mà cậu mặc mãi từ sáng đến tối, từ trong buồng ra đến quận lỵ. (…)
Từ ngày xóm tiếp nhận nữ khách mới thì cậu xức nước hoa chế tạo ở Chợ Lớn và nhét mù xoa nhỏ có thêu chéo xanh xanh đỏ đỏ trên miệng túi bi-da-ma.
Cậu diện thêm một cây đàn băng cầm, cứ chiều chiều xách nó ra đường, không khảy vì chưa biết chơi, nhưng cắt nghĩa lu bù về nhạc cụ ấy, với đám trẻ con bu quanh cậu. (…)
Trong cái lần đầu ấy, thấy Quờn liếc lén mấy chị em, Hoa tấn công ngay: “Chào cậu hai. Đi dạo mát với chị em tôi chơi, cậu!” (…)
Quờn đứng chết sững và ngậm câm, còn hai cô Hoa và Quá thì rũ ra cười; cô Quá cười no rồi nói: “Hay là cậu mặc áo hường rồi chê áo đen của chị em tôi mà không muốn đi chăng?” (..).
Một bữa khác, được nói chuyện với mấy chị em Hoa, Quờn sẽ để lộ cái “dốt”
Quờn mặc bi-da-ma bằng vải ú màu xanh lá cây, đầu chải brillantine Chợ Lớn sực nức mùi chanh, cổ đeo giây chuyền vàng khè, tay nặng trịu nào lắc vàng, cà rá vàng và đồng hồ cũng bằng vàng. (…)
“Độ rày cậu làm gì, cậu hai?” Hoa lại hỏi. “Cũng hổng cần làm gì, à tôi có tự túc một bầy gà Huê-kỳ, coi bộ tương lai quá khứ?”
Cả bốn chị em đều ngạc nhiên, không hiểu cậu ta nói cái gì mà lại tự túc và có tương lai quá khứ? “Tự túc là gì cậu?’” Hương hỏi thật tình. “Tự túc là nuôi, chớ là gì.” “Vậy hà, còn tương lai quá khứ?” “Tương lai là tương lai, còn quá khứ là quá sá. Tiếng mới mà. Tôi nghe họ nói hay quá, nên tôi bắt chước dùng theo. Đời bây giờ họ bày ra nhiều tiếng mới hay lắm. Thí dụ phạm tội, họ nói phạm vi. Thù vặt họ nói cá nhân, nghe hay quá khứ.
Hoa và Quả núp sau lưng hai chị mà cười đến chảy nước mắt. (…) .
***
Chuyện đã lâu, công tử Quờn ngày xưa chắc đã xuống âm phủ mà đờn… Dè đâu bây giờ không phải là một công tử Quờn mà hàng trăm công tử Quờn đội mồ sống dậy!
Một quan chuyên đi thu thuế chỉ dạy đàn em là: “Thu thuế phải như vặt lông vịt, vặt sao cho sạch nhưng đừng quá vội để vịt nó kêu toáng lên”. 
(Thằng cha nội nầy hỗn… dám so sánh dân với ‘vịt’ chớ!)
***
Rồi một quan chuyên quảng cáo du lịch đánh phèng la, la rằng: “Nước Việt Nam ta là cô gái đẹp, tất cả cơ thể này chỗ nào cũng đẹp. Chúng ta phải lựa chọn những bàn tay tinh túy nhất, chứ không phải là ai cũng cho vào. Cho nên lựa chọn nhà đầu tư chiến lược phải có tầm vóc. Nhà đầu tư khi bước vào thì phải đem đến điều gì đó đặc biệt, tạo động lực mạnh mẽ cho đặc khu phát triển.”
(“Ê! Sao mà giống như thuyết minh phim ‘sex’ vậy cha nội?”)
***
Té ra mấy ‘quan anh’ bây giờ, mặt vênh vênh, váo váo, bố lếu bố láo, chém gió, đăng đàn toàn là những chuyện tào lao bắc đế, cũng khoái ví von, khoái chơi chữ lắm, nói tiếng Việt mà hổng biết mình đang nói cái giống gì làm tui lại nhớ tới chuyện hồi xưa giữa bốn chị em của Hoa đối với công tử Quờn ngày xưa đó mà thôi!

Đoàn Xuân Thu.
Melbourne.

Bài thơ viết 20 năm ngày Ba bỏ tụi con, đi!

 

Nhà thương thí miền Tây

con đâu ngờ lần cuối

ráng chiều cháy chân mây

ngày cuối cùng hấp hối

“quê nhà! trái tim Ba!”

Ba nhìn con trăng trối…

***

Vàng thu chiếc lá đời bay

trước sau rồi cũng một ngày phải xa

***

Dẫu biết là tro than

vẫn đau lời vĩnh biệt

công hầu đều khánh kiệt

chỉ còn lại cố hương!

Mộ Má nhìn ra lộ Đông Dương

như trông như ngóng người thương trở về

người thương nay đã trở về

dẫu tro than vẫn câu thề ngày xanh:

“chừng nào xe lửa Mỹ bung vành;

tàu Tây kia liệt máy anh mới đành xa em”*

*Ca dao

 

Đoàn Xuân Thu.

Melbourne.