GÓC

                                              ĐƯỜNG THI

__________________________

Góc Đường Thi : 

                                               CHÙM THƠ GIAO THỪA

 

          Đón Giao Thừa CANH TÝ (2020), kính mời tất cả Thầy Cô, Đồng Môn và Thân hữu... cùng đọc và dịch 5 bài thơ TRỪ DẠ 除夜 (Đêm Giao Thừa) để cùng đồng cảm với cổ nhân và cũng để cùng thấm thía hơn với nỗi lòng của những kẻ phải đón Tết tha hương như chúng ta hiện nay khi tuổi đã xế chiều !...

 

1.    除夜                        TRỪ DẠ

 

事關休戚已成空,   Sự quan hưu thích dĩ thành không,

萬里相思一夜中。   Vạn lý tương tư nhất dạ trung.

愁到曉雞聲絕後,   Sầu đáo hiểu kê thanh tuyệt hậu,

又將憔悴見春風。   Hựu tương tiều tụy kiến xuân phong.

               來鵠                                              Lai Hộc

                                  Thi sĩ Lai Hộc đời Đường

 

* Chú thích :

  - Hưu Thích 休戚 : là chuyện vui buồn, thành bại, được mất ở đời.

  - Hiểu Kê 曉雞 : là Gà gáy sáng.

  - Tiều Tụy 憔悴 : là Võ vàng sầu muộn, không có tinh thần.

 

* Nghĩa Bài Thơ :

        Những chuyện vui buồn thành bại trong đời đã là con số không rồi. Bây giờ thân đang ở ngoài ngàn dặm để nhớ về nhau trong một đêm nay thôi. Nỗi ưu sầu cứ ray rức cho đến khi tiếng gà gáy sáng dứt hẵn mới thôi. Ta lại đón gió xuân với cái thân hình tiều tụy và với cái bộ mặt võ vàng này !

 

* Diễn Nôm :

                      GIAO THỪA

 

               

 

             Vui buồn được mất cũng thành không,

             Ngàn dặm đêm nay nhớ ngập lòng.

             Sầu đến tiếng gà thôi gáy sáng.

             Võ vàng lần nữa đón xuân phong !

   Lục bát :

             Buồn vui thành bại qua rồi,

             Giao thừa ngàn dặm nhớ hoài quê xa.

             Lòng sầu theo với tiếng gà,

             Đón xuân tiều tụy năm qua lại sầu !

 

                                                   Đỗ Chiêu Đức

 

2.  除夜                  TRỪ DẠ

 

九冬三十夜,    Cưủ đông tam thập dạ,

寒與暖分開。    Hàn dữ noãn phân khai.

坐到四更後,    Tọa đáo tứ canh hậu,

身添一歲來。    Thân thiêm nhất tuế lai.

魚燈延臘火,    Ngư đăng diên lạp hỏa,

獸炭化春灰。    Thú thán hóa xuân hôi.

青帝今應老,    Thanh Đế kim ưng lão,

迎新見幾回。    Nghinh tân kiến kỷ hồi !

       尚顏                    Thượng Nhan

 

    

    Thượng Nhan            Thanh Đế

 

* Chú Thích :

  - Cửu Đông 九冬 : Chỉ 90 ngày của mùa Đông.

  - Ngư Đăng 魚燈 : Cái Chưn đèn hình con cá.

  - Lạp Hỏa 臘火 : Lửa do đèn sáp (đèn cầy, nến) cháy sáng.

  - Thú Thán 獸炭 : Những cây than củi có hình như con thú.

  - Xuân Hôi 春灰 : Tro của mùa xuân.

  - Thanh Đế 青帝 : là Ông vua Xanh, là một trong Ngũ Phương Thiên Đế 五方天帝, năm ông vua ở trên trời. Theo truyền thuyết Trung Hoa xưa : Thanh Đế là ông vua cai quản hướng đông, là biểu tượng của con rồng xanh, là thần của mùa xuân và của muôn hoa, nên còn gọi là Chúa Xuân. Như trong bài thơ "Mai Rụng" của J. Leiba thời Tiền Chiến :

               ... Yêu chàng, em cố chuốt hình dong

                   Tô cặp môi son, điểm má hồng,

                   Em thấy xuân nay hoa nở đẹp,

                   Cảm tình THANH ĐẾ, tạ đông phong.

 

* Nghĩa Bài Thơ :

        Trong đêm Ba Mươi cuối cùng của chín mươi ngày mùa đông nầy, cái lạnh và cái ấm được phân chia ra rõ rệt. Ta ngồi đợi cho đến sau canh tư (sang canh năm) thì thân ta lại được thêm một tuổi nữa rồi ! Cái giá đèn hình con cá còn lắp loáng áng sáng tàn của đèn nến và những củi than hình thù quái dị như những con thú (đốt để sưởi ấm) cũng đã tàn tạ thành những đống tro xuân cả rồi. Chúa Xuân năm nay chắc cũng đã gìa cả như ta rồi, không biết còn có thể đón xuân thêm mấy lượt nữa đây ! 

       Câu cuối còn có nghĩa : Không biết còn gặp được Chúa Xuân mấy lần nữa đây (Vì chúa xuân cũng đã gìa rồi, biết lần sau còn gặp được "ông ta" không ?).

 

* Diễn Nôm :

                   ĐÓN GIAO THỪA

                 

                

 

                Cuối đông đêm ba mươi,

                Ấm lạnh phân hai nơi.

                Ngồi đến canh tư điểm,

                Ta thêm một tuổi rồi.

                Đèn nến tàn sắp lụn,

                Than thành tro xuân thôi.

                Chúa Xuân chừ gìa cỗi,

                Còn gặp mấy lăm hơi !?

      Lục bát : 

                Đông qua chín chục giao thừa,

                Phân chia ấm lạnh hai mùa đông xuân.

                Canh tư qua, trời rạng đông.

                Ta thêm một tuổi bâng khuâng canh tàn.

                Chân đèn sáp chảy lan man,

                Củi than cháy lụn tro tàn ai gom.

                Chúa Xuân chắc đã gìa còm,

                Thêm vài năm nữa có còn gặp nhau !?

 

                                                       Đỗ Chiêu Đức

 

3.歲除夜           TUẾ TRỪ DẠ

   

官曆行將盡,    Quan lịch hành tương tận,

村醪強自傾。   Thôn dao cưởng tự khuynh.

厭寒思暖律,   Yếm hàn tư noãn luật,

畏老惜殘更。   Úy lão tích tàn canh.

歲月已如此,   Tuế nguyệt dĩ như thử,

寇戎猶未平。   Khấu nhung do vị bình.

兒童不諳事,   Nhi đồng bất am sự,

歌吹待天明。   Ca xúy đãi thiên minh.

          羅隱                             La Ẩn

 

   

       La Ẩn : Thi nhân đời Đường

 

* Chú Thích :

  - Tuế Trừ Dạ 歲除夜 : là Đêm Giao Thừa, Đêm Trừ Tịch.

  - Quan Lịch 官曆 : Lịch của nhà quan. Theo sách "Hậu Hán Thư. Luật Lịch chí trung 后漢書·律曆志中" : Lịch do Quan Phủ phát hành theo Khâm Thiên Giám của triều đình. Sau dùng rộng ra để chỉ Thời Gian.

  - Thôn Dao 村醪 : Rượu đục, rượu của nhà quê chưa được cất lọc.

  - Khấu Nhung 寇戎 : Giặc cướp và rợ Nhung.

  - Am Sự 諳事 : Am tường sự việc, là hiểu chuyện.

  - Ca Xúy 歌吹 : Đàn hát vui chơi.

 

* Nghĩa Bài Thơ :

        Ngày tháng theo lịch đã gần tàn, cất chén rượu đục của nhà quê gắng gượng mà uống cạn. Chán ngán với cái lạnh nên mong cái ấm sẽ đến, cũng như sợ cái gìa sồng sộc đến mà tiếc từng thời gian của canh tàn. Ngày tháng thì cứ qua đi như thế mà giặc cướp thì chưa dẹp yên được. Lũ trẻ con không thông hiểu thế sự, nên cứ đàn ca xướng hát mà đợi trời sáng (để ăn Tết).

       Người lớn thì buồn cho giặc giã chiến tranh thời cuộc, còn bọn trẻ thì cứ vô tư vui chơi đợi Tết mà thôi. Cũng như "người lớn" ở Mỹ hiện nay thì cứ ưu tư cho thời cuộc, cho đất nước quê hương; chứ bọn trẻ lớn lên ở Mỹ có biết chi đâu mà ưu thời mẫn thế ?!

 

* Diễn Nôm :

 

                 ĐÊM TRỪ TỊCH

     

             

 

             Lịch quan xem đà gần hết,

             Rượu quê chuốc chén riêng ta.

             Sợ lạnh nên mong xuân ấm,

             E già lại tiếc canh qua.

             Năm tháng nhanh như thoi cưởi,

             Giặc nhung chưa hết can qua.

             Trẻ con không thông nhân sự,

             Suốt đêm đợi Tết hát ca !

    Lục bát :

             Lịch quan chừng đã hết rồi,

             Rượu quê chuốc chén bồi hồi riêng ta.

             Lạnh tràn mong ấm mau qua,

             Sợ gìa nên tiếc canh tà dần trôi.

             Tháng ngày hun hút qua rồi,

             Rợ Nhung còn đó ngút trời lửa binh.

             Trẻ con chẳng biết sự tình,

             Vui chơi ca hát đợi bình minh sang !

 

                                       Đỗ Chiêu Đức

 

4.  除夜                    TRỪ DẠ

 

寒燈耿耿漏遲遲,    Hàn đăng cảnh cảnh lậu trì trì,

送故迎新了不欺。    Tống cố nghinh tân liễu bất khi.

往事並隨殘曆日,    Vãng sự tịnh tùy tàn lịch nhật,

春風寧識舊容儀。    Xuân phong ninh thức cựu dung nghi.

預慚歲酒難先飲,    Dự tàm tuế tửu nan tiên ẩm,

更對鄉儺羨小兒。    Cánh đối hương na hâm tiểu nhi.

吟罷明朝贈知己,    Ngâm bãi minh triêu tặng tri kỷ,

便須題作去年詩.     Tiện tu đề tác khứ niên thi.

          徐鉉                             Từ Huyền

 

       

         Từ Huyền qua Họa hình và Điện ảnh  

 

* Chú Thích :

  - Cảnh Cảnh 耿耿 : Vẻ Sáng sủa lấp lánh.

  - Lậu 漏 : là Rỉ ra; Ở đây chỉ đồng đồ xưa rỉ nước ra.

  - Tịnh Tùy 並隨 : là Đi theo song song, là Liền theo sau đó.

  - Ninh Thức 寧識 : Vốn dĩ đã biết.

  - Tuế Tửu 歲酒 : Rượu dùng để cúng tế cuối năm.

  - Hương Na 鄉儺 : Những hương thân mặc đồ tế lễ theo tục lệ xưa.

 

* Nghĩa Bài Thơ :

         Ánh đèn lạnh lẽo sáng lấp lánh trong tiếng đồng hồ chầm chậm nhỏ giọt, Tống cựu nghinh tân trong năm hết nên chẳng dám xem thường. Chuyện cũ đã qua đi song song với tờ lịch cũng gần tàn, còn gió xuân thì chắc chắn đã biết cái bộ mặt nầy của ta rồi. Rượu dùng để tế lễ cuối năm nên ngại ngùng không dám uống trước, càng hâm mộ đám trẻ con hơn khi chúng thấy những hương thân mặc đồ tế lễ theo kiểu xưa. Ngâm xong bài thơ cuối năm để sáng mai đem tặng người tri kỷ, thì đã phải đề rằng đây là bài thơ của năm ngoái rồi !

 

* Diễn Nôm :

                    ĐÊM GIAO THỪA

 

                 

 

             Đồng hồ nhỏ giọt lạnh đêm đông,

             Tống cựu nghinh tân chạnh tấc lòng.

             Chuyện cũ đành theo tờ lịch giám,

             Gió xuân đã tỏ nét nghi dong.

             Rượu dành tế lễ nên kiêng uống,

             Đồ tế hương thân bởi trẻ mong.

             Ngâm nốt bài thơ mai tặng bạn,

             Đã thành thơ cũ mới làm xong !

    Lục bát :

             Đèn lạnh buốt, tiếng đồng hồ,

             Nghinh tân tống cựu ngẩn ngơ tấc lòng.

             Chuyện qua theo lịch lụi dần,

             Dung nghi vốn dĩ bạn cùng gió xuân.

             Kiêng khem rượu lễ chớ dùng,

             Nhi đồng hâm mộ hương thân tế thần.

             Ngâm xong mai tặng tri âm.

             Đã là thơ cũ của năm qua rồi !

 

                                          Đỗ Chiêu Đức

 

5.  除夜                    TRỪ DẠ              

 

病眼少眠非守歲,    Bệnh nhỡn thiểu miên phi thủ tuế,

老心多感又臨春。    Lão tâm đa cảm hựu lâm xuân.

火銷燈盡天明後,    Hỏa tiêu đăng tận thiên minh hậu,

便是平頭六十人 !    Tiện thị bình đầu lục thập nhân !

         白居易                            Bạch Cư Dị

 

     

 

 

* Chú Thích :

  - Bệnh Nhỡn 病眼 :là Con mắt bệnh; ở đây chỉ con mắt của người gìa bệnh tật.

  - Thủ Tuế 守歲 : là Giữ tuổi, là Đợi để đón giao thừa.

  - Hỏa Tiêu Đăng Tận 火銷燈盡 : là Lửa tắt đèn tàn.

  - Bình Đầu 平頭 : là bằng đầu, là Ngang bằng, ta nói là Cán mức.

 

* Dịch Nghĩa :

 

     Con mắt của người già bệnh tật ít ngủ, nên không ngủ được chớ không phải là thức để đợi giao thừa. Lòng của những người già đã đa cảm rồi lại gặp phải buổi đón xuân sang (nên càng thấy lòng cảm xúc hơn). Lửa đã tắt đèn đã tàn (đêm đã hết) sau khi trời sáng thì ta đã là ông cụ già cán mức sáu mươi tuổi rồi ! 

 

     Nên biết là vào đời Đường (618—907), theo lịch sử thống kê, tuổi thọ trung bình của con người chỉ có 45 tuổi mà thôi. Nên 60 tuổi đã là thọ lắm rồi, và vì thế mà Thi Thánh Đỗ Phủ đã hạ hai câu thơ nổi tiếng để đời trong bài "Khúc Giang" là :

 

                 Tửu trái tầm thường hành xứ hữu,   酒債尋常行處有,

                 Nhân sinh thất thập cổ lai hi.     人生七十古來稀。

Có nghĩa :

            Nợ rượu tầm thường khắp nơi đều có cả, còn...

            Đời người sống đến bảy mươi tuổi thì xưa nay rất hiếm.

 

      Đó là vào đới Đường, còn hiện nay, bước ra đường bất cứ lúc nào ta cũng có thể gặp được người già trên 70 tuổi cả ! Bạch Cư Dị thọ được sáu mươi tuổi đã ra vẻ già yếu mất ngủ vì bệnh tật, nên rất dễ cảm xúc lúc xuân về tết đến, thi nhân đã rất cảm khái trong đêm giao thừa lúc đêm tàn năm hết, vì đến sáng ngày mai mình đã là kẻ thọ được sáu mươi tuổi rồi ! Trong hoàn cảnh hiện tại, sau năm 1975 đến nay, chúng ta những người đang sống lưu vong trên đất Mỹ đều đã gần "tám bó" cả rồi, sự cảm khái của kẻ đón xuân nơi đất khách chắc chắn còn hơn Bạch Cư Dị bội phần.

 

* Diễn Nôm :                                  

                          GIAO THỪA

 

                  

 

                  Mắt già khó chợp đón giao thừa,

                  Đa cảm lòng già xuân lại qua.

                  Lửa tắt đèn tàn trời rựng sáng,

                  Đã là người sáu chục niên hoa.

    Lục bát :

                  Không ngủ chẳng tại giao thừa,

                  Lòng già đa cảm khi vừa đón xuân.

                  Đèn tàn lửa tắt bâng khuâng.

                  Sáng ra sáu chục xuân hồng đã qua !

 

                                            Đỗ Chiêu Đức

_________________________________________________

                           CHÙM THƠ XUÂN

 1. KÝ XUÂN   Vương Bột : 

                                       

   

 

 

    羈春                           KÝ XUÂN                                                   

客心千里倦,           Khách tâm thiên lý quyện,

春事一朝歸.           Xuân sự nhất triêu quy.

還傷北園里,           Hoàn thương bắc viên lý,

重見落花飛.           Trùng kiến lạc hoa phi.

         王勃               Vương Bột

 

* CHÚ THÍCH :

        Tác giả Vương Bột, quê quán miền bắc (Sơn Tây), con nhà gia thế, tuổi trẻ tài cao, được Bái Vương Lý Hiền vời vào phủ cho giữ việc tu soạn và rất tin dùng. Vì một bài thơ trách đùa con gà chọi của Anh Vương, vua Cao Tông nổi giận, sai trục xuất ông khỏi phủ. Ông đi chu du nhiều nơi ở phương nam, cuối cùng chết đuối trên đường đi Giao Chỉ thăm cha, lúc mới 26 tuổi…

        Bài thơ trên đây làm lúc ông bị trục xuất khỏi Bái Vương Phủ đang chu du nơi đất Thục. Vốn dĩ muốn mượn cảnh trí thiên nhiên hùng vĩ của núi sông đất Thục để tiêu sầu, nhưng lòng quê nhớ về đất bắc vẫn canh cánh khôn nguôi.

     - Ký Xuân 羈春:KÝ là Ở lại, giữ lại. Nên KÝ XUÂN có nghĩa là "Xuân đến mà vẫn phải ở lại nơi đất khách".

     - Quyện 倦:là  Mõi mệt, buồn chán.

     - Xuân Sự 春事: là Chuyên mùa xuân. Ý chỉ Cảnh sắc chung quanh khi xuân về.

 

* NGHĨA BÀI THƠ :

                                          XUÂN Ở NƠI XA

            Trên bước đường ngàn dặm, lòng người khách tha hương đã mõi mê chán ngán rồi. Trước mắt lại thấy cảnh trí của mùa xuân ập về nên lòng lại càng muốn về ngay quê nhà. Cảnh quê xưa ở phương bắc còn để lại nhiều thương cảm ở trong lòng, không biết đến bao giờ mới thấy lại được cảnh hoa rụng bay lả     tả ở quê nhà đây.

            Hoa rụng khi hoa đã tàn, xuân đã hết, cũng như tuổi trẻ rồi sẽ già đi, rồi sẽ giả từ cuộc sống nầy như hoa rơi rụng vậy, nhưng sẽ nhìn hoa rơi rụng ở đâu ? Ý của Vương Bột là muốn được nhìn hoa rơi rụng ở quê nhà, thâm ý của thi nhân là muốn được già được chết ơ quê hương hơn là bỏ thây nơi xứ lạ.

 

* DIỄN NÔM :

                         

 

                               XUÂN TRÊN ĐẤT KHÁCH

                               Ngàn dặm lòng quê mòn mõi,
                                Xuân về một sớm nhớ thay,
                                Đất bắc quê xưa trông ngóng,
                                Ngàn trùng chỉ thấy hoa bay !.
       Lục bát :
                                Mõi mòn ngàn dặm lòng quê,
                                Xuân về một sớm tái tê nhớ nhà.
                                Thương về đất bắc quê xa,
                                Ngàn trùng chỉ thấy la đà hoa bay !

                                                                             Đỗ Chiêu Đức

 

2. KHÁCH TRUNG THỦ TUẾ  Bạch Cư Dị :

     

    

 

   客中守歲        KHÁCH TRUNG THỦ TUẾ

 

  守歲樽無酒,     Thủ tuế tôn vô tửu,

  思鄉淚滿巾。     Tư hương lệ mãn cân.

  始知爲客苦,     Thủy tri vi khách khổ,

  不及在家貧。     Bất cập tại gia bần.

  畏老偏驚節,     Úy lão thiên kinh tiết,

  防愁預惡春。     Phòng sầu dự ố xuân.

  故園今夜裏,     Cố viên kim dạ lý,

  應念未歸人。     Ưng niện vị quy nhân.

        白居易                 Bạch Cư Dị

 

* CHÚ THÍCH :

    - Khách Trung 客中 : là Trong đất khách, có nghĩa là Đang ở nơi đất khách.

    - Thủ Tuế 守歲 : là Giữ tuổi, ý chỉ : Giữ lấy tuổi cũ để đón tuổi mới, có nghĩa là Thức để đón Giao Thừa trong đêm ba mươi Tết âm lịch.

    - Thủy Tri 始知 : Mới biết được rằng ...

    - Bất Cập 不及 : Không bằng được ...

    - Úy 畏 : là Sợ, mà Kinh 驚 : cũng là Sợ, ta có từ kép Kinh Úy 驚畏 là Sợ Hãi.

    - Ố 惡 : là Ghét. ta có từ KHẢ Ố 可惡 : là Đáng ghét.

    - Cố Viên 故園 : là Vườn Xưa, từ dùng để chỉ Quê Nhà, Quê Xưa.

    - Ưng Niệm 應念 : Có nghĩa : Chắc là đang nhắc đến ...

 

                   

 

* NGHĨA BÀI THƠ :

                                 ĐÓN GIAO THỪA NƠI ĐẤT KHÁCH

 

       Đón giao thừa mà trong chai đã hết rượu rồi. Nước mắt nhớ quê hương ướt đẫm cả khăn. Mới biết rằng làm người khách xa quê hương là rất khổ, không bằng nghèo khó mà được ở quê nhà. Vì sợ gìa nên cũng sợ luôn các lễ Tết, dự phòng sầu muộn nên cũng ghét luôn cả mùa xuân. Ở nơi quê nhà trong đêm nay, chắc mọi người cũng đang nhắc đến cái người đi chưa về là mình đây !

 

      Lễ Tết đến mà lại phải tha phương cầu thực. Đón giao thừa nơi đất khách mà chai thì hết rượu, túi lại không tiền, Mới biết rằng thà nghèo khổ mà Tết được ở nhà còn hơn đi tìm chữ công danh mà lang thang chân trời góc bễ. Trong khi tuổi già cứ sồng sộc ập xuống đầu nên càng sợ xuân về Tết đến hơn nữa, như lời thơ của nhà thơ Xuân Diệu thời Tiền Chiến :

 

                                  Tôi có chờ đâu có đợi đâu,

                             Mang chi xuân đến gợi thêm sầu !

 

      Buồn cho thân phận tha phương đón Tết của mình, Bạch Cư Dị cũng buồn luôn cho những thân nhân đang đón giao thừa ở quê nhà : Chắc mọi người cũng đang khoắc khoải trông ngóng lo lắng cho mình, là kẻ còn lưu lạc phương trời, không biết sẽ đón Tết ra sao ?!

 

* DIỄN NÔM :

 

          

 

               ĐẤT KHÁCH GIAO THỪA

 

                Giao thừa chai hết rượu,

                Nhớ quê lệ ướt khăn.

                Mới hay tha hương khổ,

                Không bằng nghèo yên thân.

                Ngại gìa lại e Tết,

                Sợ buồn cũng ghét xuân.

                Quê nhà đêm nay chắc,

                Nhớ người đi bâng khuâng.

   Lục bát :

                Giao thừa chai rượu lại không,

                Nhớ quê lệ ướt đầm khăn đêm này.

                Mới hay lưu lạc khổ thay,

                Không bằng nghèo khó ngày ngày yên thân.

                Sợ gìa sợ cả nàng xuân,

                Sợ ngày tháng lụn năm cùng ngổn ngang.

                Đêm nay chắc cả thôn làng,

                Ngóng trông những kẻ lang thang chưa về !

 

                                                             Đỗ Chiêu Đức

 

 

3. XUÂN DẠ LẠC THÀNH VĂN ĐỊCH Lý Bạch :

 

          

 

  春夜洛城聞笛        Xuân dạ Lạc thành văn địch

                                             

  誰家玉笛暗飛聲,   Thùy gia ngọc địch ám phi thanh,

  散入春風滿洛城.   Tán nhập xuân phong mãn Lạc thành.

  此夜曲中聞折柳,   Thử dạ khúc trung văn Chiết Liễu,

  何人不起故園情 ?  Hà nhân bất khởi cố viên tình ?!

                    李白                                    Lý Bạch

            

* CHÚ THÍCH :

     - CHIẾT LIỄU 折柳 hay CHIẾT DƯƠNG LIỄU 折楊柳 là Bẻ Cành Dương Liễu, tên của một khúc Sáo đời Hán, nội dung chỉ cảnh biệt ly, khi đưa tiễn nhau ở " Bề ngoài mười dặm tràng đình ", người đưa tiễn hay bẻ một nhành liễu tặng cho bạn mình làm roi ngựa. Đến đời Đường, điệu sáo nầy được thêm thắc và đổi tên thành CHIẾT DƯƠNG LIỄU CHI 折楊柳枝 với lời thơ như sau : 『上馬不捉鞭,反拗楊柳枝。下馬吹橫笛,愁殺行客兒。』Thượng mã bất tróc tiên, Phản áo dương liễu chi. Hạ mã xuy hoành địch, Sầu sát hành khách nhi ! Có nghĩa : Lên ngựa chẳng cầm roi, Lại bẻ cành dương liễu. Xuống ngựa thổi sáo ngang, Buồn chết người ly biệt !. Nên...

       CHIẾT LIỄU là chỉ cảnh chia tay, chỉ nỗi sầu ly biệt của kẻ ở người đi. LÝ BẠCH là kẻ tha hương tìm danh lợi, nhưng lại chưa thi thố được hoài bão của mình, nên trong đêm nghe lời " Bẻ Liễu " lại chạnh nhớ đến quê hương !

 

* DIỄN NÔM :

 

         ĐÊM XUÂN NGHE SÁO THÀNH LẠC DƯƠNG.

 

              

 

             Nhà ai tiếng sáo vẳng đêm thanh,

             Tan nhập gió xuân khắp Lạc thành.

             Réo rắc trong đêm lời bẻ liễu,

             Ai người chẳng động cố hương tình ?

   Lục bát :

             Nhà ai sáo ngọc vẳng sang,

             Gió Xuân đưa đẩy ngập tràn Lạc Dương.

             Véo von Bẻ Liễu đêm trường,

             Ai người chẳng thấy vấn vương quê nhà ?!

 

                                                                Đỗ Chiêu Đức

 

4. TRỪ DẠ TÁC  Cao Thích :

 

    

 

   除夜作                     TRỪ DẠ TÁC

 

旅館寒燈獨不眠,      Lữ quán hàn đăng độc bất miên,

客心何事轉悽然 ?      Khách tâm hà sự chuyển thê nhiên?

故鄉今夜思千里,      Cố hương kim dạ tư thiên lý,

霜鬢明朝又一年 !      Sương mấn minh triêu hựu nhất niên!

          高適                                  Cao Thích

 

* Nghĩa bài thơ :

                      Cảm Tác Trong Đêm Trừ Tịch

 

    Một mình đơn độc ngồi bên ngọn đèn lạnh lẽo trong lữ quán.

    Vì chuyện chi mà lòng khách lại trở nên thê lương sầu thảm?

    Thì ra đêm nay khách đang nhớ đến quê hương xa ngoài ngàn dặm.

    Sáng mai trên mái tóc sương pha nầy lại chồng thêm một tuổi đời xa quê hương nữa !

 

         Qủa là tâm sự xót xa của kẻ tha hương lữ thứ! Cao Thích không về được quê hương để đón xuân vì quan sơn cách trở, và vì công chưa thành danh chưa toại, mà xót xa cho thân mình còn lưu lạc tha phương trong đêm Trừ tịch! Không như ...

 

        Chúng ta ngày nay, không phải vì núi sông cách trở, cũng không phải chờ đợi công danh. Chúng ta có đầy đủ phương tiện, điều kiện tiện nghi để về thăm quê hương bất cứ lúc nào, bất cứ khi nào chúng ta muốn... Nhưng, về đến quê hương rồi cũng không tìm đâu ra được những làng xóm ngày xưa, những phố phường năm cũ, kỷ niệm của những ngày xưa thân ái... đã biền biệt... chân trời! 

       Thôi thì, thà ở đây, để làm kẻ tha hương, xa quê, nhớ quê để nuối tiếc về những tháng ngày dĩ vãng... vang bóng một thời!!!

 

                 

* Diễn nôm :

                        ĐÊM GIAO THỪA

 

                 Quán lạnh đèn tàn chẳng ngủ yên,

                 Lòng ai da diết những ưu phiền. 

                 Quê hương ngàn dặm đêm nay nhớ,

                 Đầu bạc sáng ngày lại một niên ! 

   Lục bát :

                 Thức cùng quán lạnh đèn tàn, 

                 Lòng người lữ thứ dạ càng tái tê.

                 Ngàn trùng canh cánh tình quê,

                 Sáng ra đầu bạc năm về lại năm.

Câu 3 :

       故鄉今夜思千里,Cố hương kim dạ tư thiên lý,

Còn được hiểu là : Đêm nay, cố hương nhớ về người ở xa ngàn dặm. Chắc trong cảnh đoàn tụ vui vầy để cùng đón Tết mà thiếu mất một người còn chưa kịp về. Cao Thích không nói là mình ở ngoài ngàn dặm nhớ về cố hương , mà nói Cố hương nhớ về mình còn đang ở xa ngoài ngàn dặm.

 

PHỎNG DỊCH :

                      THƠ LÀM ĐÊM GIAO THỪA

 

                   Quán trọ, đèn khuya, ngủ chẳng yên,

                   Lòng luôn canh cánh vạn niềm riềng.

                   Quê nhà, nhớ qúa, xa ngàn dặm,

                   Mai Tết, năm qua, tóc bạc thêm !                                                   

CẢM TÁC :

                   Giao thừa giao cả niềm riêng,

                Lòng quê cánh cánh tận miền xa xăm.

                   Mai ngày năm lại qua năm,

                Bao giờ mới khỏi về thăm quê nhà ?!

 

                                                             Đỗ Chiêu Đức

 

 

5. LINH LĂNG TẢO XUÂN   Liễu Tông Nguyên :

 

                  

 

               

 

 

 

 

 

 

LINH LĂNG TẢO XUÂN               零 陵 早 春

 

               Vấn xuân tòng thử khứ,          問 春 從 此 去,

               Kỷ nhật đáo Tần Nguyên.       幾 日 到 秦 原. 

               Bằng ký hoàn hương mộng,    凭 寄 還 鄕 夢,

               Ân cần nhập cố viên.              殷 勤 入 故 園.

                          Liễu Tông Nguyên                            柳宗元  

 

* CHÚ THÍCH :

    - Linh Lăng 零陵 : là một địa danh ở miền Nam, còn Tần Nguyên 秦原 thì ở miền Bắc. Ở miền Nam ấm áp nên mùa xuân đến sớm hơn, còn miền Bắc lạnh lẽo nên nàng xuân sẽ đến muộn hơn.

    - Tòng Thử 從此: là Từ nơi đây, từ chỗ nầy.

    - Bằng Ký 凭寄: là Dựa vào ai đó mà gởi gắm. Ở đây chỉ Dựa vào nàng xuân.

    - Hoàn Hương Mộng 還鄕夢: là Giấc mơ được về với quê hương.

                      

* NGHĨA BÀI THƠ :

                               MÙA XUÂN ĐẾN SỚM Ở XỨ LINH LĂNG

 

        Hỏi Xuân rằng, từ đây đi, thì mấy ngày Xuân mới đến được xứ Tần Nguyên. Cho ta gởi theo cái "  mộng hoàn hương ", ân cần về tận quê nhà.( Chứ đang ở nơi xa xôi nầy, ta sẽ không sao về lại nhà trong mùa xuân nầy được ! ). 

 

* DIỄN NÔM :

                           

 

                               XUÂN SỚM Ở XỨ LINH LĂNG

 

                                 Hỏi Xuân từ đây giả biệt

                                 Bao giờ mới đến Tần Nguyên

                                 Ta gởi mộng hồn tha thiết

                                 Ân cần về tận cố viên !

 

        Thơ Lục Bát :

                                 Từ đây giả biệt, hỏi Xuân

                                 Bao giờ mới đến xứ Tần Nguyên ta

                                Gởi lòng theo mộng thiết tha

                                Ân cần về tận quê nhà xa xăm  !

 

             Thấy xuân đến, chạnh lòng nhớ quê mà gởi cái " mộng hoàn hương ", ân cần nhờ nàng xuân mang về tận quê nhà, đây quả là một lối gởi đặc biệt và tuyệt vời biết bao !

 

             Mặc dù, chúng ta đang ở đất Bắc (Bắc Mỹ), và mặc dù Mỹ đi sau hơn Việt Nam đến mười hai tiếng đồng hồ, nhưng sao ta vẫn thấy nao nao mỗi độ xuân về, cứ lo cho quê hương chưa có mùa xuân, nhưng có biết đâu rằng chính chúng ta đây mới là những kẻ đang khao khát mùa xuân, và chỉ hoài niệm, rồi nuối tiếc mà đi tìm những mùa xuân trong quá khứ.....

 

             Đầu Xuân, gởi chút mộng lòng tha thiết về với quê hương......                            

 

                                              Từ đây giả biệt, hỏi Xuân

                                              Bao giờ mới đến xứ "CẦN THƠ" ta

                                              Gởi lòng theo mộng thiết tha

                                              Ân cần về tận quê nhà xa xăm !

 

                                                                                                 Đỗ Chiêu Đức

                                                                                                 Xuân Canh Tý 2020

                             TẢO THU SƠN CƯ

                              Ôn Đình Quân

Bản dịch: Mailộc, Đỗ Chiêu Đức, Phương Hà

Bản dịch MAILOC

Tảo thu sơn cư 
(Ôn Đình Quân )

Sơn cận giác hàn tảo, 
Thảo đường sương khí tình. 
Thụ điêu song hữu nhật, 
Trì mãn thuỷ vô thanh. 
Quả lạc kiến viên quá, 
Diệp can văn lộc hành. 
Tố cầm cơ lự tĩnh, 
Không bạn dạ tuyền thanh. 

-- Dịch nghĩa:  -- 

Tiết thu sớm ở trong núi 

Ở gần núi biết trời lạnh sớm 
Nhà thảo đường sương bay lúc trời tạnh 
Cây héo lá, ngoài cửa sổ có ánh mặt trời 
Ao đầy nước lặng lẻ 
Quả cây rụng thấy vượn đến 
Lá khô nghe rõ chân hươu đi 
Gảy đàn, lòng lo nghĩ đều yên 
Chỉ bạn với nước suối về đêm. 

 

--Bản dịch của Mai Lộc-- 

Thu Sớm Trong Núi 
 (1)
Trong rừng núi , đã nghe lạnh sớm , 
Mái tranh nghèo , thu chớm , mờ sương . 
Ngoài song lá úa nắng vương , 
Ao đầy vắng lạnh , khói dường như mây. 
Hoa trái rụng trên cây vượn hú 
Đạp lá vàng một lũ hươu nai . 
Gảy đàn thanh thoát lòng ai , 
Bạn cùng suối nước đêm nay riêng mình . 
(2) 
Trong núi lạnh heo may , 
Mái nghèo sương khói bay . 
Song ngoài nắng lá úa , 
Ao vắng nước tràn đầy . 
Qủa rụng , vượn đâu đến , 
Lá vàng vẳng hươu nai . 
Gảy đàn lòng tĩnh lặng , 
Suối nước bạn đêm nay . 

Đỗ Chiêu Đức tham gia với các phần sau đây :

 

1. Nguyên bàn chữ Nho của bài thơ :

 

  

 

       早秋山居        TẢO THU SƠM CƯ

      山近覺寒早,   Sơn cận giác hàn tảo,

      草堂霜氣晴。   Thảo đường sương khí tình.

      樹凋窗有日,   Thụ điêu song hữu nhật,

      池滿水無聲。   Trì mãn thuỷ vô thanh.

      果落見猿過,   Qủa lạc kiến viên quá,

      葉幹聞鹿行。   Diệp can văn lộc hành.

      素琴機慮靜,   Tố cầm cơ lự tịnh,

      空伴夜泉清。   Không bạn dạ tuyền thanh.

            溫庭筠                      Ôn Đình Quân

 

       

 

2. Chú Thích :

    - THẢO ĐƯỜNG 草堂 : ĐƯỜNG là Hall trong tiếng Anh, là cái phòng rộng lớn. Nhưng THẢO ĐƯỜNG ở đây là căn nhà cỏ, nhà tranh của những văn nhân thi sĩ ngày xưa khi ở ẩn. Gọi là Thảo Đường cho có vẻ cao nhã thanh thoát mà thôi.

    - TÌNH 晴 : là Tạnh, là Nắng ráo. Sương Khí Tình là chỉ Hơi sương đã tan.

    - THỤ ĐIÊU 樹凋 : là Cây héo. Ở đây chỉ Lá cây vàng rụng nên cành lá thưa thớt. LINH là Điêu Linh là lưa thưa héo úa. 

    - TỐ CẦM 素琴 : là Cây đàn chay. Có nghĩa Cây đàn không có trang trí thêm hoa văn gì cho đẹp cả.

 

3. Nghĩa bài thơ : 

                                THU SỚM TRONG VÙNG NÚI

 

       

 

 

 

 

 

Vì ở gần với núi non nên có cảm giác là cái lạnh của mùa thu đến sớm hơn. Trong gian nhà cỏ đã tạnh hơi sương, ta nhìn qua song cửa thấy ánh nắng đã le lói qua các cành cây lưa thưa lá úa, và một ao nước thu đầy lạnh lẽo trong veo trong yên tĩnh. Trái cây cũng vàng rụng nên thấp thoáng bóng của các con vượn thoáng qua. Bên tai lại nghe tiếng xạc xào của các con nai đạp trên lá vàng khô. Ta gãy chiếc đàn mộc mạc mà lòng lâng lâng yên tịnh, đến khi đêm xuống thì chỉ còn nghe có tiếng suối trong thanh thoát hòa lẫn với tiếng đàn mà thôi.

 

     Câu thứ tư trong bài "池滿水無聲 Trì mãn thuỷ vô thanh" làm cho ta nhớ đến Tam nguyên Yên Đỗ với ...

 

                    Ao thu lạnh lẽo nước trong veo !

 

    và... câu thứ sáu "葉幹聞鹿行 Diệp can văn lộc hành" trong bài, lại làm cho ta liên tưởng đến thi sĩ Lưu Trọng Lư với ...

 

                    Con nai vàng ngơ ngác...

                    Đạp trên lá vàng khô !

 

    Quả là một bài thơ đẹp cho cảnh mùa thu đến sớm với những người ẩn cư tại các vùng núi non xa xôi hẻo lánh : Yên tịnh, thanh thoát và cao nhã !

 

4. Diễn Nôm :

 

             SỚM THU TRONG NÚI

 

   

 

            Hắt hiu núi gần lạnh sớm,

            Nhà tranh vừa tạnh sương mù.

            Cây rụng lưa thưa song nắng.

            Nước đầy trong trẻo ao thu.

            Bóng vượn chập chờn trái rụng,

            Tiếng nai xào xạc lá khô.

            Thanh thoát tiếng đàn mộc mạc,

            lẫn trong tiếng suối như thơ.

 Lục bát :

            Hắt hiu xóm núi lạnh tràn,

            Hơi thu nhà cỏ một gian sương mờ.

            Nắng xuyên song cửa lơ thơ,

            Cây cành thưa lá ao hồ nước dâng.

            Vượn buồn trái rụng bâng khuâng,

            Xạc xào nai đạp lá rừng vàng khô.

            Đàn tranh mộc mạc lửng lơ,

            Hoà cùng tiếng suối như mơ đêm trường.

 

                                       Đỗ Chiêu Đức

Phương Hà xin góp bài phỏng dịch:

 

THU SỚM TRONG NÚI

 

Cái lạnh mùa thu đến sớm hơn

Nhà tranh tĩnh lặng vắng hơi sương

Lưa thưa lá úa trên cành nắng

Lạnh lẽo hồ trong tựa mặt gương

Thấp thoáng vượn tìm hoa quả rụng

Xạc xào nai đạp  lá vàng vương

Gẩy cây đàn mộc ngân cùng suối

Thanh thản lòng ta nhẹ lạ thường.

 

Phương Hà

______________________________________

KHÁCH CHÍ

Đỗ Phủ

                 Mùa xuân năm Thượng Nguyên thứ hai đời Đường (761), Đỗ Phủ đã năm mươi tuổi. Lúc bấy giờ ông đang định cư nơi đất Thục với một ngôi thảo đường (nhà cỏ) ở đầu các khe suối vùng ngoại ô của Thành Đô. Sau những năm lưu ly loạn lạc, đây là thời gian ông được sống an nhàn nơi thảo dã. Bài KHÁCH CHÍ được làm trong khoảng thời gian nầy.

 

    客至                           KHÁCH CHÍ

舍南舍北皆春水,   Xá nam xá bắc giai xuân thủy,

但見羣鷗日日來。   Đản kiến quần âu nhựt nhựt lai.

花徑不曾緣客掃,   Hoa kính bất tằng duyên khách tảo,

蓬門今始爲君開。   Bồng môn kim thủy vị quân khai.

盤飧市遠無兼味,   Bàn tôn thị viễn vô kiêm vị,

樽酒家貧只舊醅。   Tôn tửu gia bần chỉ cựu phôi.

肯與鄰翁相對飲,   Khẳng dữ lân ông tương đối ẩm,

隔籬呼取盡餘杯。   Cách ly hô thủ tận dư bôi.

            杜甫                                       ĐỖ PHỦ

 

* CHÚ THÍCH :

    - XÁ 舍 : là Nhà trọ, Quán trọ. Chỉ nhà cất sơ sài, thường dùng để chỉ nhà của mình ở, như TỆ XÁ 敝舍 (gọi nhà của người ta là QÚY PHỦ 貴府). 

    - ÂU 鷗 : là chim Hải âu.

    - DUYÊN 緣 : là Duyên cớ, nên có nghĩa là VÌ...

    - BÀN TÔN 盤飧 : BÀN là Mâm, TÔN là Bửa ăn thường; nên BÀN TÔN là bửa ăn xoàng, bửa ăn đạm bạc.

    - CỰU PHÔI 舊醅 : CỰU là cũ, PHÔI là Ủ (rượu cho lên men); CỰU PHÔI ở đây chỉ rượu có sẵn ở trong nhà (để dành không dám uống) chỉ đem ra đãi khách.

    - KHẲNG DỮ 肯與 : là KHẲNG là Chịu, DỮ là Cùng; KHẲNG DỮ có nghĩa : Nếu như chịu cùng ...

    - LÂN ÔNG 鄰翁 : là Ông già hàng xóm.

    - CÁCH LY 隔籬 : CÁCH ở đây có nghĩa là Sát bên, LY là Hàng rào; Nên CÁCH LY là Sát bên rào.

 

* NGHĨA BÀI THƠ :

                                KHÁCH ĐẾN

       Phía nam phía bắc của nhà tôi ở đều là những dòng sông xuân xanh biếc, chỉ có những bầy chim hải âu ngày ngày bay lượn đến. Lối mòn phủ đầy hoa rụng chưa từng được quét vì khách (Hôm nay anh đến thăm nên mới được quét đây); và cánh cửa bằng cỏ bồng nầy hôm nay mới được mở ra vì bạn đến. Trên mâm chỉ có những thức ăn đạm bạc không có thêm được món ngon nào vì chợ ở rất xa; còn rượu thì chỉ là những thứ cũ kỹ ủ để dành, nhà nghèo nên không có mua rượu mới. Nếu bạn đồng ý cùng uống vài ly với ông hàng xóm, tôi sẽ cách rào gọi một tiếng ông ta sẽ cùng uống với chúng ta những cốc rượu thừa nầy.

 

       Cảnh nước sông xuân vắng lặng yên tĩnh thanh nhàn xung quanh ngôi nhà cỏ, chỉ có các con chim âu bay đến hằng ngày. Hôm nay con đường rụng đầy hoa được quét sạch, cánh cửa bằng cỏ lâu nay vẫn khép im ỉm, lại được mở ra vì : Có bạn đến chơi nhà ! Niềm vui của người ẩn cư được bạn bè nhớ đến ghé thăm, nhưng vì cảnh ẩn dật thanh bần không có cao lương mỹ vị để tiếp đãi bạn biền, cả rưọu cũng phải uống rượu cũ ủ lâu ngày sắp hóa chua vì chợ ở xa không đi mua rượu ngon được. Câu nầy lại làm cho ta nhớ đến Tam Nguyên Yên Đỗ Nguyễn Khuyến trong bài "Bạn Đến Chơi Nhà" :

 

                      Chả bấy lâu nay bác tới nhà,

                      Trẻ thời đi vắng chợ thời xa !...

 

      Bài thơ lại được kết với một niềm vui chan chứa, vô tư nhưng rất tự nhiên bộc lộ niềm vui với ý niệm chia xẻ cùng ông hàng xóm : Nếu bạn chịu, tôi sẽ hê ông hàng xóm đến cùng nhậu chung cho vui !

 

                 肯與鄰翁相對飲,   Khẳng dữ lân ông tương đối ẩm,

                 隔籬呼取盡餘杯。   Cách ly hô thủ tận dư bôi.

    

     

DIỄN NÔM :

                     BẠN ĐẾN CHƠI NHÀ

 

            

 

             Mặt nam mặt bắc nước sông dài,

             Chỉ thấy chim âu lượn mỗi ngày.

             Nẻo vắng đầy hoa không khách quét,

             Cửa bồng luôn khép mở vì ai ...

             Chợ xa đạm bạc bày vài món,

             Rượu cũ nhà nghèo ủ mấy chai.

             Nếu chịu cùng ông hàng xóm nhậu,

             Cách rào một tiếng đến lai rai !...

Lục bát :

             Nước xuân nam bắc chảy dài,

             Chim âu bay lượn ngày ngày ven sông.

             Lối mòn hoa rụng đầy sân,

             Cửa bồng luôn khép, mở mừng bạn ta.

             Lèo tèo món nhậu chợ xa,

             Nhà nghèo rượu cũ ủ đà bao năm.

             Thích cùng ông lão đông lân.

             Cách rào một tiếng đến cùng nâng ly !

 

                                                     Đỗ Chiêu Đức