hmpg.jpg
Titlej (1).jpg
TL_Mountain.jpg

                                                               

                                               GÓC

                                              ĐƯỜNG THI

__________________________

  GIAI THOẠI THI VĂN HOÀNG HẠC LÂU

 

                                                 Bs Phan Thượng Hải biên soạn

PTH_HHL_cuoitheky19.JPG

Bố cục:

 

          Hoàng Hạc Lâu và Thôi Hiệu

          Lý Bạch và Thôi Hiệu

          Nguyễn Du

          Phan Huy Ích 

          Hoàng Hạc Lâu Hiện Đại


 

HOÀNG HẠC LÂU VÀ THÔI HIỆU

 

Hoàng Hạc Lâu

 

*Lịch sử

 

Hoàng Hạc Lâu là ngôi lầu được xây dựng ở trên ghềnh đá "Hoàng Hạc" của núi Xà Sơn thuộc huyện Vũ Xương tỉnh Hồ Bắc.  

Có 3 truyền thuyết cho rằng có người thấy:

Tiên ông Vương Tử An (Wang Zi An) cởi hoàng hạc từ ghềnh đá nầy của núi Xà Sơn mà bay lên trời.

Tiên ông Phí Văn Vi (Fei Wen Yi) cởi hạc hạ cánh xuống nghỉ ở ghềnh đá nầy.

Tiên ông Lữ Đồng Tân (Lu Dong Bin) trong Bát Tiên từ trời giáng hạ xuống Xà Sơn.

Do đó ngôi lầu nầy có tên là Hoàng Hạc Lâu.

 

Theo như lịch sử thời Tam Quốc, sau khi thắng Quan Vũ (Quan Công) và chiếm đất Kinh Châu của nước Thục (gồm 2 tỉnh Hồ Bắc và Hồ Nam bây giờ) vào năm 219; triều đình nước Ngô dưới thời Tôn Quyền cho xây 1 tòa thành (Citadel) ở Vũ Xương để phòng thủ đường sông Trường Giang thì Hoàng Hạc Lâu đầu tiên được xây cất cùng một lúc ở đây (năm 223).

 

Hoàng Hạc Lâu ngày xưa là nơi gặp mặt tao đàn của các văn nhân mặc khách đương thời. Trong thời Đường (618-907), các thi nhân đến Hoàng Hạc Lâu để vừa thưởng ngoạn phong cảnh non nước mây ngàn hữu tình, vừa uống rượu làm thơ.

 

Đến nay đã gần 1800 năm Hoàng Hạc Lâu đã có 12 lần bị thiêu hủy (vì chiến tranh), 12 lần xây cất lại.  Năm 1957 khi cây cầu đầu tiên vượt sông Trường Giang được xây cất, vị trí cũ của Hoàng Hạc Lâu bị trưng dụng và các kiến trúc Hoàng Hạc Lâu được dời cách vị trí cũ 1 km.

Tháng 10 năm 1981, Hoàng Hạc Lâu được tái thiết và tháng 6 năm 1985 được khánh thành.  Đó là một công trình được xây lại bằng vật liệu hiện đại và có một cầu thang máy. Hoàng Hạc Lâu hiện đại nằm trong Hoàng Hạc Công Viên là nơi thu hút du khách trong và ngoài nước Trung Quốc.

 

* Địa lý

 

Hoàng Hạc Lâu nằm ở Vũ Xương ngay chỗ sông Hán Thủy chảy vào sông Trường Giang làm thành như hình chữ "nhân" (của Hán tự).  Hai con sông nầy chia Thành phố Vũ Hán (Wuhan) ra làm 3 vùng: 

Vũ Xương (Wuchang) ở hữu ngạn sông Trường Giang 

Hán Khẩu (Hankou) và Hán Dương (Hanyang) ở tả ngạn sông Trường Giang (2 bên bờ sông Hán Thủy).  

 

Mặt tiền của Hoàng Hạc Lâu (ở Vũ Xương) nhìn qua Hán Dương bên kia bờ sông Trường Giang.  Bãi Anh Vũ ở bờ sông Trường Giang, thuộc Hán Dương (Hanyang).

PTH_HHL_map.JPG

Bài Thơ của Thôi Hiệu

 

Hoàng Hạc Lâu nổi tiếng với một bài thơ của Thôi Hiệu (710-754), làm vào thế kỷ thứ 8.  Có sách cũ viết là "Thôi Hạo".  Bài thơ nầy gắn liền với Hoàng Hạc Lâu từ đó cho đến bây giờ, nó được coi là bài thơ tiêu biểu độc nhất tả Hoàng Hạc Lâu.  Sau đó trong 1300 năm, có rất nhiều bài thơ khác vịnh Hoàng Hạc Lâu nhưng ít được quần chúng để ý tới.

 

HOÀNG HẠC LÂU                                    

Tích nhân dĩ thừa hoàng hạc khứ                 

Thử địa không dư Hoàng Hạc lâu                

Hoàng hạc nhất khứ bất phục phản              

Bạch vân thiên tái không du du                    

Tình xuyên lịch lịch Hán Dương thụ           

Phương thảo thê thê Anh Vũ châu               

Nhật mộ hương quan hà xứ thị                     

Yên ba giang thượng sử nhân sầu.                

(Thôi Hiệu)


 

Thật ra bài thơ được hàng chục người dịch ra Việt ngữ.  Bản dịch thường được biết đến là bản dịch của Tản Đà:

 

(Dịch)

Hạc vàng ai cưỡi đi đâu

Mà đây Hoàng Hạc riêng lầu còn trơ

Hạc vàng đi mất từ xưa

Ngàn năm mây trắng bây giờ còn bay

Hán Dương sông tạnh cây bày

Bãi xa Anh Vũ xanh đầy cỏ non

Quê hương khuất bóng hoàng hôn

Trên sông khói sóng cho buồn lòng ai

(Tản Đà dịch)

 

 

LÝ BẠCH VÀ THÔI HIỆU

 

Lý Bạch

 

Lý Bạch (701-762) bị tội phải đi đày xuống ở miền nam Trung Quốc (năm 758).  Trên đường đi, tới Vu Sơn, Tứ Xuyên thì được triều đình tha tội (năm 759).  Ông ghé qua ở vùng Hán Dương của Hoàng Hạc Lâu (năm 759-760).  Tương truyền Lý Bạch khi thăm Hoàng Hạc Lâu đọc bài thơ của Thôi Hiệu (chết năm 754) thì có đọc lên hai câu thơ:

 

Nhãn tiền hữu cảnh đạo bất đắc   

Thôi Hiệu đề thi tại thượng đầu.

(Lý Bạch)   

 

Dịch nghĩa:

Nhãn tiền hữu cảnh đạo bất đắc = Trước mắt có cảnh (mà) đạo lý không thích hợp hay Trước mắt có cảnh (mà) nói không được (nên lời).

Thôi Hiệu đề thi tại thượng đầu = Thôi Hiệu (đã) đề thơ ở trên đầu (của ta).

 

Đọc 2 câu thơ nầy ta khó lòng biết được ý của Lý Bạch là khen hay chê bài thơ của Thôi Hiệu, chỉ biết là ông không muốn làm thơ bởi vì:

vì "trước mắt có cảnh mà không nên lời vì đạo lý không thích hợp".

vì bài thơ của Thôi Hiệu đã "tại ngay trên đầu (của ông)" 

 

Thật ra Lý Bạch có tới chơi nhiều lần ở Hoàng Hạc Lâu qua bài thơ ông làm:

 

ĐỀ BẮC TẠ BI

Nhất vi thiên khách khứ Trường Sa

Tây vọng Trường An bất kiến gia

Hoàng Hạc Lâu trung xuy ngọc địch

Giang thành ngũ nguyệt lạc mai hoa.

(Lý Bạch)

 

Chú thích:

Bắc Tạ bi: bia đá Bắc Tạ ở Hoàng Hạc lâu

Trường Sa: thủ phủ của tỉnh Hồ Nam

Trường An: kinh đô nhà Đường (lúc bấy giờ), nay thuộc tỉnh Thiểm Tây

 

ĐỀ BIA BẮC TẠ (Dịch)

Đi đày mình đến đất Trường Sa

Trông lại Trường An chẳng thấy nhà

Tháng năm thổi sáo lầu Hoàng Hạc

Thành sông vang khúc Lạc Mai Hoa.

(Trần Trọng San dịch)

 

 

Bài Thơ của Thôi Hiệu

 

Hậu thế bàn rằng vì bài thơ của Thôi Hiệu toàn hảo nên Lý Bạch chịu thua, nghĩ rằng mình làm thơ không hay hơn được cho nên nói lên 2 câu nầy. 

Tuy nhiên, nếu ta đọc kỹ lời của Lý Bạch và bài thơ của Thôi Hiệu thì ta có thể nghĩ rằng Lý Bạch chê bài thơ của Thôi Hiệu vì nó không toàn hảo, nó có khuyết điểm về nội dung và hình thức.

 

HOÀNG HẠC LÂU                                    

Tích nhân dĩ thừa hoàng hạc khứ                 

Thử địa không dư Hoàng Hạc lâu                

Hoàng hạc nhất khứ bất phục phản              

Bạch vân thiên tái không du du                    

Tình xuyên lịch lịch Hán Dương thụ           

Phương thảo thê thê Anh Vũ châu               

Nhật mộ hương quan hà xứ thị                     

Yên ba giang thượng sử nhân sầu.                

(Thôi Hiệu)


 

* Nội Dung bài thơ

 

(Dịch nghĩa)                                                     

 

HOÀNG HẠC LÂU (= LẦU HOÀNG HẠC)                                   

Tích nhân dĩ thừa hoàng hạc khứ

= Người xưa đã cỡi hoàng hạc (=hạc vàng) đi (rồi)                

Thử địa không dư Hoàng Hạc lâu

= Đất ấy không chở (đi) Hoàng Hạc lâu                

Hoàng hạc nhất khứ bất phục phản 

= Hoàng hạc (=hạc vàng) một đi không trở lại lần nữa             

Bạch vân thiên tái không du du 

= Ngàn mây trắng lửng lơ đầy bầu trời

Tình xuyên lịch lịch Hán Dương thụ 

= Sông quang tạnh (thấy) rất rõ ràng cây (của vùng đất) Hán Dương          

Phương thảo thê thê Anh Vũ châu 

= Cỏ thơm buồn bã tịch mịch bãi (đất bồi) Anh Vũ              

Nhật mộ hương quan hà xứ thị

= Trời tối quê nhà là nơi đâu?                     

Yên ba giang thượng sử nhân sầu.

= Khói sóng trên sông khiến người (thấy) buồn (=sầu).                

                                                    

(Dịch Thơ)

 

Hạc vàng ai cưỡi đi đâu

Mà đây Hoàng Hạc riêng lầu còn trơ

Hạc vàng đi mất từ xưa

Ngàn năm mây trắng bây giờ còn bay

Hán Dương sông tạnh cây bày

Bãi xa Anh Vũ xanh đầy cỏ non

Quê hương khuất bóng hoàng hôn

Trên sông khói sóng cho buồn lòng ai

(Tản Đà)

 

Nội Dung của bài thơ có 3 Đoạn:

 

Đoạn 1 kể chuyện người xưa cởi hạc đi không trở lại chỉ còn ngôi lầu Hoàng Hạc:

Người xưa đã cỡi hoàng hạc (=hạc vàng) đi (rồi)

Đất ấy không chở (đi) Hoàng Hạc lâu

Hoàng hạc (=hạc vàng) một đi không trở lại lần nữa

 

Đoạn 2 tả cảnh chung quanh trên dưới lầu Hoàng Hạc:

Ngàn mây trắng lửng lơ đầy bầu trời

Sông quang tạnh (thấy) rất rõ ràng cây (của vùng đất) Hán Dương

Cỏ thơm buồn bã tịch mịch bãi (đất bồi) Anh Vũ 

 

Đoạn 3 tức cảnh sinh tình, nhìn sông (Trường Giang) vào buổi chiều mà buồn nhớ quê nhà:

Trời tối quê nhà là nơi đâu?

Khói sóng trên sông khiến người (thấy) buồn (=sầu).

 

Bài thơ không tả "Hoàng Hạc lâu" ra sao, dĩ nhiên là không nói lầu đẹp (hay không đẹp). 

Bố cục không theo đúng thể thức "Đề, Thực Luận, Kết" của Thơ Đường cổ điển.

 

* Hình Thức của bài thơ

 

Trên lý thuyết bài thơ được sắp theo thể thơ Đường Luật Thất Ngôn Bát Cú.

Nếu như vậy thì bài thơ thất luật, dựa theo cách làm thơ Đường Luật trong những quyển sách của Dương Quảng Hàm, Diên Hương và Quách Tấn.

 

- Thất Luật 1:

Trước hết là "trật âm luật"

Những chữ in đậm là những chữ trật âm luật:

 

HOÀNG HẠC LÂU                                    

Tích nhân dĩ thừa hoàng hạc khứ                 

Thử địa không dư Hoàng Hạc lâu                

Hoàng hạc nhất khứ bất phục phản              

Bạch vân thiên tái không du du                    

Tình xuyên lịch lịch Hán Dương thụ           

Phương thảo thê thê Anh Vũ châu               

Nhật mộ hương quan hà xứ thị                     

Yên ba giang thượng sử nhân sầu.                

(Thôi Hiệu)

 

- Thất Luật 2:

Câu 3 và câu 4 phải "đối" nhau nhưng chúng đối không chỉnh trong bài thơ:

 

HOÀNG HẠC LÂU                                    

Tích nhân dĩ thừa hoàng hạc khứ                 

Thử địa không dư Hoàng Hạc lâu                

Hoàng hạc nhất khứ bất phục phản              

Bạch vân thiên tái không du du                    

Tình xuyên lịch lịch Hán Dương thụ           

Phương thảo thê thê Anh Vũ châu               

Nhật mộ hương quan hà xứ thị                     

Yên ba giang thượng sử nhân sầu.                

(Thôi Hiệu)

 

- Thất Luật 3:

Nói về vần thì nếu Câu 1 không có vần, nó phải đối với Câu 2.  Câu 1 của bài thơ không có vần mà lại đối không chỉnh với câu 2:

 

HOÀNG HẠC LÂU                                    

Tích nhân dĩ thừa hoàng hạc khứ                 

Thử địa không dư Hoàng Hạc lâu                

Hoàng hạc nhất khứ bất phục phản              

Bạch vân thiên tái không du du                    

Tình xuyên lịch lịch Hán Dương thụ           

Phương thảo thê thê Anh Vũ châu               

Nhật mộ hương quan hà xứ thị                     

Yên ba giang thượng sử nhân sầu.                

(Thôi Hiệu)

 

- Thất Luật 4:

Cuối cùng, bài thơ có điệp ngữ một cách không thứ tự hay không cân đối.  

Chữ "hoàng hạc" có thể được dùng lại ở câu 1 và 2 nhưng không được dùng ở câu 3 vì như vậy thì không khéo.

Chữ "khứ" ở câu 1 dùng lại một cách vụng về ở câu 3.

 

HOÀNG HẠC LÂU                                    

Tích nhân dĩ thừa hoàng hạc khứ                 

Thử địa không dư Hoàng Hạc lâu                

Hoàng hạc nhất khứ bất phục phản              

Bạch vân thiên tái không du du                    

Tình xuyên lịch lịch Hán Dương thụ           

Phương thảo thê thê Anh Vũ châu               

Nhật mộ hương quan hà xứ thị                     

Yên ba giang thượng sử nhân sầu.                

(Thôi Hiệu)

 

Bài thơ nầy thất luật rất nhiều nhưng mọi người đều cho là tuyệt tác nên Thi sĩ Quách Tấn trong sách "Thi Pháp Thơ Đường" của mình đành dùng từ ngữ "phá luật" cho bài nầy chứ không dám dùng từ ngữ "thất luật"!


 

* Hình Thức khác của bài thơ

 

Theo Trần Trọng San thì có một bản khác của bài thơ chỉ khác 2 chữ ở câu 1:  Chữ "bạch vân" thay thế chữ "hoàng hạc" ở câu 1:

 

HOÀNG HẠC LÂU                                    

Tích nhân dĩ thừa bạch vân khứ                 

Thử địa không dư Hoàng Hạc lâu                

Hoàng hạc nhất khứ bất phục phản              

Bạch vân thiên tái không du du                    

Tình xuyên lịch lịch Hán Dương thụ           

Phương thảo thê thê Anh Vũ châu               

Nhật mộ hương quan hà xứ thị                     

Yên ba giang thượng sử nhân sầu.                

(Thôi Hiệu)

 

Nếu theo hình thức của bản nầy, Bài thơ không thất luật 3 và 4.

- Câu 1 và 2 đối chỉnh

- Điệp ngữ "bạch vân" và "hoàng hạc" đều là điệp ngữ khéo léo vì có thứ tự và cân đối.

Câu 1 lại không trật âm luật.

 

Tiếc thay bản nầy không được ai kể đến cho tới bây giờ!  Nếu dùng nó và sửa chữ "khứ" (thành chữ khác có âm Bằng) và sửa chữ kép "du du" (thành 2 chữ đơn khác nhau) thì bài thơ có hình thức toàn hảo.  

  

HOÀNG HẠC LÂU                                    

Tích nhân dĩ thừa bạch vân khứ                 

Thử địa không dư Hoàng Hạc lâu                

Hoàng hạc nhất khứ bất phục phản              

Bạch vân thiên tái không du du                    

Tình xuyên lịch lịch Hán Dương thụ           

Phương thảo thê thê Anh Vũ châu               

Nhật mộ hương quan hà xứ thị                     

Yên ba giang thượng sử nhân sầu.                

(Thôi Hiệu)

 

Trong tất cả các bài thơ Hán tự của nước Tàu hay nước Việt với nội dung khác biệt, không có bài thơ nào thất luật như bài thơ của Thôi Hiệu.  Nhưng lạ thay, bài thơ của Thôi Hiệu lại được hậu thế tôn sùng như là tiêu biểu và tuyệt tác của thơ vịnh Hoàng Hạc Lâu?

NGUYỄN DU 

 

Sứ thần nước Việt

 

Sứ thần nước Việt vào thế kỷ 18 và thế kỷ 19 thường viếng Hoàng Hạc Lâu khi đi sứ sang Trung Quốc và để lại nhiều bài thơ bằng Hán tự.

Đây là danh sách các Sứ thần có thơ vịnh Hoàng Hạc Lâu.

- Thời nhà Hậu Lê:

Năm 1715: Lê Anh Tuấn (Chánh sứ).  Ông là cha nuôi bà Đoàn Thị Điểm

Năm 1761: Lê Quý Đôn (Phó sứ), Chánh sứ là Trần Huy Bật

- Thời nhà Tây Sơn:

Năm 1790: Phan Huy Ích (Chánh sứ) và Đoàn Nguyễn Tuấn (Phó sứ).  Phan Huy Ích làm 3 bài thơ, Đoàn Nguyễn Tuấn làm 4 bài thơ (nhưng nay chỉ còn lưu lại 1 bài).

Năm 1790 và 1792: Ngô Thì Nhậm (Chánh sứ)

- Thời nhà Nguyễn:

Năm 1802: Trịnh Hoài Đức (Chánh sứ)

Năm 1803: Lê Quang Định (Chánh sứ)

Năm 1807: Ngô Thì Vị (Phó sứ), sau nầy làm Chánh Sứ (năm 1821).  Ông là em Ngô Thì Nhậm.

Năm 1813: Nguyễn Du (Chánh sứ)

Năm 1834: Phan Thanh Giản (Chánh sứ)

 

Riêng Phan Huy Ích có viết bài văn xuôi tả lầu Hoàng Hạc với những câu:

"Truyền thuyết Phí Văn Phi đắc đạo thành Tiên, thường cởi hạc vàng chơi ở đó".

"Nay tầng thứ nhất thờ Phí Văn Phi.  Tầng thứ nhì thờ Lã Đồng Tân cạnh là tượng thờ Lư Sinh".

"Cách bờ là bến lớn sông Hán người đông đúc hàng hóa chất đầy".

"Núi Quì sơn, gác Tình Xuyên và bãi Anh Vũ thật là những cảnh đẹp trong trời đất".


 

Nguyễn Du

 

Năm 1813, Nguyễn Du đi sứ sang Tàu cũng có ghé Hoàng Hạc Lâu.  Sau khi đọc những bài thơ đã có của những sứ thần nước Việt đến trước ông, Nguyễn Du chỉ khen bài thơ của Lê Quang Định (1803).

Nguyễn Du bình bài thơ này: 

 

Thôi Hiệu thi thành, hậu nhân đáo thử cánh đạo bất đắc. 

崔灝詩成,後人到此竟道不得.  

Thử cú tòng Trần Trung cấu xuất tân tứ, khả dĩ vịnh Hoàng Hạc hĩ. 

此句從陳中構出新思,可以詠黃鶴矣 

 

Dịch nghĩa:

Thôi Hiệu thi thành, hậu nhân đáo thử cánh đạo bất đắc = Thôi Hiệu làm thơ xong, người sau tới không viết được nữa. (Ý chỉ Lý Bạch). 

Thử cú tòng Trần Trung cấu xuất tân tứ, khả dĩ vịnh Hoàng Hạc hĩ = Những câu (thơ) này theo Trần Trung, tạo ra tứ mới lạ, xứng đáng thơ vịnh lầu Hoàng Hạc vậy. (*)

 

(*) Chú thích:

Trần Trung tức Trần Phu 陳孚, tự Cương Trung 剛中, có bài Ngạc chử vãn diểu 鄂渚晚眺 viết khi lên lầu Hoàng Hạc.

Thử cú = (những) câu (thơ) nầy là bài thơ của Lê Quang Định.
 

 

Đây là bài thơ mà Lê Quang Định làm khi ông đi sứ sang Tàu để xin đổi quốc hiệu là Việt Nam (1803).  

 

ĐĂNG HOÀNG HẠC LÂU

Hoàng Hạc lâu đầu tượng ngoại khoan
Hán Dương thành quách nhiễu tình lan
Lữ tiên túy hậu trùng lai diểu (*)
Thôi Hiệu thi thành tái họa nan
Trần mộng vị tinh thanh thảo bạn
Hương tâm mỗi ký bạch vân đoan
Hàn phi tích cổ viêm tưu viễn (*)
Nhân cảnh tao phùng hữu thử quan.

(Lê Quang Định)

 

(*) Chú thích:

Lữ tiên là tiên ông Lữ Đồng Tân, 1 trong Bát Tiên của Đạo Giáo.

Viêm tưu = xứ nóng, ám chỉ xứ ở miền nhiệt đới như Việt Nam.

 

LÀM KHI LÊN LẦU HOÀNG HẠC (Dịch)

Trước lầu cảnh tượng rộng thay
Hán Dương thành quách nước mây bốn bề
Say xong tiên Lữ không về
Hoạ thơ Thôi Hiệu phẩm đề, khó sao!
Mộng chưa tỉnh, cỏ xanh màu
Gửi theo mây trắng nỗi sầu quê hương
Chốn cổ tích xa viêm bang
Người may gặp dịp xem quang cảnh này.

(Hoài Anh dịch)

 

Cũng như tất cả những bài thơ làm sau bài thơ của Thôi Hiệu, bài thơ của Lê Quang Định không có khuyết điểm về hình thức như bài thơ của Thôi Hiệu.  Nội dung của bài thơ cũng bao gồm ý tứ giống như của Thôi Hiệu nhưng nó có 2 điều mới:

Nhắc đến tiên ông Lữ Đồng Tân trong huyền thoại Hoàng Hạc Lâu.

Nhấn mạnh là thơ của một người viễn xứ đến từ miền nhiệt đới.


 

Khác với Lý Bạch, sau khi khen bài thơ của Lê Quang Định, Nguyễn Du cũng có làm bài thơ vịnh Hoàng Hạc Lâu.  

 

ĐĂNG HOÀNG HẠC LÂU

Hà xứ thần tiên kinh kỷ thì
Do lưu tiên tích thử giang mi
Kim lai cổ vãng Lư Sinh mộng
Hạc khứ lâu không Thôi Hiệu thi
Hạm ngoại yên ba chung diểu diểu
Nhãn trung thảo thụ thượng y y
Trung tình vô hạn bằng thùy tố
Minh nguyệt thanh phong dã bất tri.

(Nguyễn Du) 1766-1820

 

Chú thích:

Lư Sinh đời Đường đến 1 quán trọ, nằm đợi chủ quán nấu nồi kê (hoàng-lương), ngủ quên, nằm mộng thấy lấy vợ, đẻ con, sinh cháu, giầu sang, vinh hoa, phút tỉnh dậy thấy mất cả (Hoàng Lương Mộng / Giấc Mộng Kê Vàng của Lư Sinh).  (theo TĐ Đào Duy Anh).

Lư Sinh có tượng thờ trong Hoàng Hạc lâu.

 

LÊN HOÀNG HẠC LÂU (Dịch)

Xa khuất thần tiên trải bấy lâu

Bến sông dấu cũ vẫn bên lầu

Xưa đi nay lại Lư còn mộng

Hạc vắng lầu hoang Hiệu mấy câu 

Ngoài gác nước mây vời vợi thẳm

Trong tầm cây cỏ vẫn xanh mầu

Ý tình chan chứa cùng ai ngỏ?

Trăng gió vô tình có biết đâu?!

(Hoàng Hoa Nguyễn Hoài Trung dịch) 

 

LÊN HOÀNG HẠC LÂU (Dịch)

Thần tiên đã đến tự bao giờ?
Còn lại dấu tiên trên bến mơ.
Giấc mộng Lư Sinh kim cổ vọng,
Vần thơ Thôi Hiệu hạc lầu trơ.
Ngoài hiên khói sóng bay mờ mịt,
Trước mắt cỏ cây vẫn thuở xưa.
Nỗi niềm có biết cùng ai tỏ.
Trăng thanh gió mát cũng thờ ơ!
(Nhất Uyên dịch)

 

Nguyễn Du cũng làm đúng theo ý tứ của Thôi Hiệu nhưng ông cũng nhấn mạnh tới Tiên trong huyền thoại Hoàng Hạc Lâu như Lê Quang Định.  Nguyễn Du còn mượn Lư Sinh với Hoàng Lương Mộng để nói thêm ý niệm thời gian trong nội dung.  (Lư Sinh cũng được thờ trong Hoàng Hạc Lâu).  Đó là những "tân tứ" trong bài thơ của Nguyễn Du.  

Nguyễn Du, cũng như Lê Quang Định, tả những chi tiết của một không gian tại Hoàng Hạc Lâu không khác Thôi Hiệu nhưng ông còn cố tình dùng chữ đôi "diểu diểu" và "y y" trong bài thơ để sánh với bài thơ của Thôi Hiệu đã có 2 chữ đôi là "lịch lịch" và "thê thê".

Nguyễn Du đã tự chứng tỏ thi tài của mình, trội hơn các thi nhân trước đã làm thơ vịnh khi đến Hoàng Hạc Lâu, nhất là thi nhân nước Việt.  Ông cũng chứng tỏ phong cách của mình trội hơn của Lý Bạch tại Hoàng Hạc Lâu.

 

Vũ Hoàng Chương

 

Bài thơ chữ Hán Nôm của Nguyễn Du cũng ảnh hưởng đến một thi sĩ làm thơ chữ Quốc ngữ hơn 100 năm sau là Vũ Hoàng Chương.

Mặc dù không hề đến Hoàng Hạc Lâu, nhưng Vũ Hoàng Chương cũng có làm thơ vịnh Hoàng Hạc Lâu theo ý tứ của Thôi Hiệu và Nguyễn Du:

 

HOÀNG HẠC LÂU

Đã bao giờ có hạc vàng đâu

Mà có người tiên để có lầu!

Tưởng hạc vàng đi mây trắng ở

Lầm Thôi Hiệu trước, Nguyễn Du sau

Hạc chưa thoát khỏi mê hồn kịch

Tiên vẫn nằm trong vạn cổ sầu

Trăng gió hão huyền như khói sóng

Nồi kê đã chín nghĩ mà đau.

(Vũ Hoàng Chương)

 

Bài thơ đầy tình tứ của Vũ Hoàng Chương được nhiều người ưa chuộng mặc dù Đối không được chỉnh lắm.

Vũ Hoàng Chương cũng dịch bài thơ của Thôi Hiệu.

 

HOÀNG HẠC LÂU (Dịch)

Xưa hạc vàng bay vút bóng người

Đây lầu Hoàng Hạc chút thơm rơi

Vàng tung cánh hạc đi đi mất

Trắng một màu mây vạn vạn đời

Cây bến Hán Dương còn nắng chiếu

Cỏ bờ Anh Vũ chẳng ai chơi

Gần xa chiều xuống đâu quê quán

Đừng giục cơn sầu nữa sóng ơi

(Vũ Hoàng Chương dịch)

 

Tuy nhiên bài dịch của ông dù cũng mang nhiều tình tứ nhưng không được sát nghĩa như một vài bài dịch khác:

 

HOÀNG HẠC LÂU                                    

Tích nhân dĩ thừa hoàng hạc khứ                 

Thử địa không dư Hoàng Hạc lâu                

Hoàng hạc nhất khứ bất phục phản              

Bạch vân thiên tái không du du                    

Tình xuyên lịch lịch Hán Dương thụ           

Phương thảo thê thê Anh Vũ châu               

Nhật mộ hương quan hà xứ thị                     

Yên ba giang thượng sử nhân sầu.                

(Thôi Hiệu)

 

HOÀNG HẠC LÂU (Dịch)

Người xưa cưỡi hạc bay đi mất,
Riêng lầu Hoàng Hạc vẫn còn đây.
Hạc đã một đi không trở lại,
Man mác muôn đời mây trắng bay.
Hán Dương sông tạnh, cây in thắm,
Anh Vũ bờ thơm, cỏ biếc dày.
Chiều tối, quê nhà đâu chẳng thấy 
Trên sông khói sóng gợi buồn ai.

(Trần Trọng San dịch)

 

HOÀNG HẠC LÂU (Dịch) 

Người theo cánh hạc vút về đâu

Còn lại quanh đây quạnh mái lầu

Một chuyến hạc vàng biền biệt dạng

Ngàn năm mây trắng quẩn quanh đầu

Hán Dương sông lặng cây nghiêng bóng

Anh Vũ bờ thơm cỏ biếc mầu

Nắng ngã chiều rồi quê chẳng thấy

Trên dòng, khói sóng chợt dâng sầu.

(Thiên Tâm Đặng Phương Trạch dịch)

2/9/2004


 

PHAN HUY ÍCH 

 

Thi nhân làm thơ khi viếng Hoàng Hạc Lâu thường không có mang tâm trạng nào khác.  Riêng có sứ thần Phan Huy Ích của nhà Nguyễn Tây Sơn đến Hoàng Hạc Lâu với sứ mạng chính trị nặng nề và quan trọng. 

 

Với quân nghiệp lẫy lừng, vua Quan Trung Nguyễn Huệ đánh đuổi Tôn Sĩ Nghị và quân Thanh xâm lược (đầu năm 1788).  Vua Càn Long nhà Thanh nghị hòa và mời vua Quang Trung thăm Yên Kinh (Bắc Kinh bây giờ).  Theo chính sử, vua Quang Trung chọn cháu kêu bằng cậu rất giống mình tên là Phạm Công Trị trá làm quốc vương rồi sai ông Ngô Văn Sở và ông Phan Huy Ích đưa sang Trung Quốc.  Trong lễ triều cống có đem theo 2 con voi đực (!?).  Tại hành cung ở Nhiệt Hà, vua Càn Long và vua Quang Trung (giả) làm lễ ôm gối như là tình cha con, hội với các thân vương và trao đổi 2 bài thơ Xướng Họa.  

 

Sứ mạng ngoại giao trong chuyến đi nầy của Phan Huy Ích rất khó khăn.  Vua Quang Trung phải sang gặp vua Càn Long nhưng rất nguy hiểm cho vua Quang Trung ở đất địch.  Do đó theo kế của Binh Bộ Thượng thư là Ngô Thì Nhậm (?), triều đình dùng một người giả là vua Quang Trung sang Trung Quốc.  Việc bí mật nầy chỉ có những triều thần thân tín biết mà thôi và người dẫn đầu sứ bộ vào đất địch và thi hành sứ mạng nầy chính là Chánh sứ, Ngự sử Phan Huy Ích, người em rể của Ngô Thì Nhậm. 


 

Ngô Thì Nhậm đưa tiễn ở Nam Quan và làm bài thơ đề tặng 3 sứ thần: Ngự sử Phan Huy Ích, Công bộ Thượng thư Vũ Huy Tấn và Hiệp trấn Ngô Vi Quý.  Trong bài thơ có câu:

 

Trinh cố thần tâm lợi khắc gian 

(Giữ vững chính đạo trong tâm của kẻ bề tôi, vì cái lợi hơn cái gian) 

 

QUÁ QUAN LƯU TẶNG PHAN NGỰ SỬ, VŨ CÔNG BỘ, NGÔ HIỆP TRẤN

(Qua cửa ải lưu thơ tặng Phan Ngự sử, Vũ Công bộ và Ngô Hiệp trấn)

 

Tinh kỳ lạp lạp xuất Dương Quan (*)                 Quạt cờ phơi phới khỏi Dương Quan
Tương thủ vân trình bát lý san                            Ngước mắt đường mây, tám dặm ngàn
Trung thổ đề phong tòng lĩnh kiệu                      Biên ải trung nguyên theo dãy núi
Tiên hoàng uy đức tại khu hoàn (*)                    Tiên hoàng uy đức khắp nơi vang
Đãng bình vương đạo tuân vô trắc                      Phẳng lì vương đạo không ngăn trở
Trinh cố thần tâm lợi khắc gian                           Bền bỉ bề tôi vượt khổ gian
Bất dụng lâm kỳ châm biệt tửu                            Chẳng chuốc sầu đau ly rượu biệt
Chư quân tằng thử cận diêu hoàn.                       Nơi đây xe sứ sẽ về ngang.

(Phan Huy Ích)                                                    (Lương Trọng Nhàn dịch)

 

(*) Chú thích:

Dương Quan = cửa ải phía Tây của Trung Quốc.  Khi xưa Vương Duy tiễn bạn là Nguyễn Nhị sang sứ An Tây có câu thơ: "Tây xuất Dương Quan vô cố nhân" (Ra khỏi Dương Quan đi về phía Tây sẽ không còn bạn cũ nữa).  Câu nầy thường dùng để tiễn người đi sứ ở cửa ải.

Tiên hoàng: ám chỉ vua Quang Trung.

 

Ngôn từ "gian" có 2 nghĩa diễn tả ngụ ý của chuyến đi sứ nầy:

= dối trá, phạm tội, riêng

= khó khăn, lo lắng


 

Khi đi được nửa đường lên Yên kinh đến quán dịch ở Võ Xương (nay thuộc Vũ Hán, Hồ Bắc), nhìn về Hoàng Hạc lâu, Phan Huy Ích có làm bài thơ gởi cho Ngô Thì Nhậm đang nôn nóng ở Bắc Hà với 2 câu:

 

Hồi ức chi hương đồng chí khí                    
Phân giao tảo bút diệc cư hành                      

 

VÕ XƯƠNG DỊCH THỨ PHỤ QUỐC THƯ KÝ NGÔ BINH BỘ (Nguyên bản)

(Trạm Võ Xương kèm quốc thư gởi Ngô Binh Bộ)

 

Vạn lý trì khu thủy bán trình                         Muôn dặm ruổi dong được nửa đường
Phân phân hoa phát đới sầu sinh                   Bạc phơ mái tóc nhuốm sầu thương
Tình Xuyên các ngoại cô phàm ảnh              Tình Xuyên ngoại cảnh buồn đơn chiếc
Hoàng Hạc lầu tiền đoản địch thanh              Hoàng Hạc trong lầu sáo đã ngưng
Hồi ức chi hương đồng chí khí                      Nhớ lại rượu thơm, đồng chí khí
Phân giao tảo bút diệc cư hành                      Phân chia bút viết, thãy lo lường
Giang thành nhất phiến đoàn viên nguyệt      Sông nầy chung một vầng trăng sáng
Tưởng diệc Đông kiều nguyệt dạ minh.         Soi tới cầu Đông sáng lạ thường.

(Phan Huy Ích)                                               (Phan Thượng Hải dịch)

 

Chú thích:

Đông Kiều (Cầu Đông) bắt ngang sông Tô Lịch ở phía đông Thăng Long.

 

Sau khi đi đến Yên kinh rồi qua Nhiệt Hà yết kiến vua Càn Long, sứ bộ trên đường trở về Nam lại ghé thăm Hoàng Hạc lâu.  Phan Huy Ích vội vã làm bài thơ gởi về cho Ngô Thì Nhậm.  Trong bài thơ có 2 câu tả sự việc đã xong như cất đi gánh nặng:

 

Thoan sự thư hồi bưu kỵ mẫn                    
Chu tư lộ viễn khách chu hành                    

 

TẠC LAI HOÀNG HẠC LÂU (Tự họa)

(Trở lại Hoàng Hạc lâu ngày hôm qua)
 

Phương thảo tình xuyên cựu khứ trình         Sông tạnh cỏ thơm lại tới đây
Qui biền hỉ tự vũ hàn sinh                            Trong xe mưa lạnh thấy vui đầy
Thu quang tỉnh chiếu lâu tam điệp               Rạng lầu ba gác, mùa thu đó
Hương tứ mang tùy nhạn nhất thanh            Mang nỗi nhớ quê, tiếng nhạn nầy
Thoan sự thư hồi bưu kỵ mẫn                      Xong việc gởi về thư chóng tới
Chu tư lộ viễn khách chu hành                    Hết lo xa cách khách về ngay
Nam quan bả ác tưong kỳ cứu                     Nam quan chắc chắn như thời hạn
Thời phán sơn đài nguyệt sắc minh.            Trăng sáng đầu non định chẳng sai.

(Phan Huy Ích)                                             (Phan Thượng Hải dịch)

 

Bây giờ, Phan Huy Ích mới có thời giờ viếng Hoàng Hạc lâu và có làm bài thơ:

 

DU HOÀNG HẠC LÂU                              ĐI CHƠI HOÀNG HẠC LÂU

Khê ki duy lãm phỏng tiên du                      Ghềnh đá buộc neo thăm cảnh tiên
Bách xích phi manh nhiếp thượng đầu.        Mái cao trăm thước đỉnh lầu trên
Hoàng Hạc bạch vân nga tuyệt diệu             Hạc vàng mây trắng lời ngâm tuyệt
Bích ba hồng thụ điếu thanh thu                   Sóng biếc cây bồng thu gió lên
Thị thành hoa lệ đồ phi tiếu                          Thành thị vẽ tranh lầu chẳng giống
Yên thủy thương man khách diệc sầu           Khói sông man mác khách sầu thêm
Chân cảnh mãn tiền ngâm vị cánh                Cảnh đầy trước mặt ngâm chưa đã
Tá đề liêu kí thử đăng lâu.                            Mượn thơ ghi lại thú lầu tiên.

(Phan Huy Ích)                                              (Nhất Uyên dịch)

 

Phan Huy Ích là thi nhân có 3 bài thơ tại Hoàng Hạc Lâu:

2 bài xướng và tự họa.

2 bài tả Hoàng Hạc Lâu: nhìn từ bên ngoài và đến tận nơi thăm viếng.


 

HOÀNG HẠC LÂU VÀ DU KHÁCH HIỆN ĐẠI

 

Tháng 10 năm 1981, Hoàng Hạc Lâu được tái thiết và tháng 6 năm 1985 khánh thành.  Đó là một công trình được xây lại bằng vật liệu hiện đại và có một cầu thang máy. Hoàng Hạc Lâu hiện đại nằm trong Hoàng Hạc Công Viên là nơi thu hút du khách trong và ngoài nước Trung Quốc.  Vũ Hán thành một thành phố lớn, mệnh danh là Chicago của Trung Quốc.

PTH_HHL ngay nay.JPG

Du khách viếng thăm Hoàng Hạc Lâu vào thế kỷ 21 có bài thơ:

 

THĂM HOÀNG HẠC LÂU HIỆN ĐẠI

Hoàng hạc nghe danh, có gặp đâu

Thế mà tái dựng lắm ngôi lầu

Thi nhân thử vận đề hoa tự

Du khách khai quan thượng mỹ lâu

Anh Vũ nơi nao, toàn phố xá

Hán Dương chốn đó, cách cây cầu

Khó lòng giả bộ theo Thôi Hiệu

Tức cảnh thành thơ, dạ chẳng sầu.

(Phan Thượng Hải)

5/3/2007

PTH_HHL_nhin từ Trường Giang.JPG

Bài thơ nầy hiện đại hóa cảnh tình du lịch thăm viếng Hoàng Hạc Lâu.


 

Nhìn lại lịch sử của Hoàng Hạc Lâu, tác giả nhận thấy không có ai họa bài thơ Hán ngữ Hoàng Hạc Lâu của Thôi Hiệu nên mạn phép kính họa bằng một bài thơ Hán ngữ để kết luận:

 

HOÀNG HẠC LÂU (Nguyên bản)                                   

Tích nhân dĩ thừa hoàng hạc khứ                 

Thử địa không dư Hoàng Hạc lâu                

Hoàng hạc nhất khứ bất phục phản              

Bạch vân thiên tái không du du                    

Tình xuyên lịch lịch Hán Dương thụ           

Phương thảo thê thê Anh Vũ châu               

Nhật mộ hương quan hà xứ thị                     

Yên ba giang thượng sử nhân sầu.                

(Thôi Hiệu)

 

HOÀNG HẠC LÂU (Họa)

Thần tiên xuất thế kỵ hoàng hạc

Nhân loại lụy trần tạo mỹ lâu

Thắng cảnh nhãn tiền thi nhã hứng

Kỳ quan thiên hạ khách nhàn du

Thanh danh tự cổ truyền Tam Quốc

Huyền thoại chí kim bá Ngũ Châu

Ngoạn mục cảm tình an lạc thú

Văn chương đắc đạo bất tri sầu.

(Phan Thượng Hải)

3/31/21


 

Bs PHAN THƯỢNG HẢI biên soạn

 

Bài nầy đăng lần đầu tiên trong phanthuonghai.com mục Thơ Văn phần Đọc Thơ

 

Tài Liệu tham khảo:

1) Thơ Mộng Hoàng Hạc Lâu (Phan Thượng Hải) - phanthuonghai.com

2) Thơ và Việt Sử (Bs Phan Thượng Hải) - phanthuonghai.com

3) Đường Thi (Trần Trọng Kim)

4) Đường Thi (Trần Trọng San)

5) Lý Bạch, Đỗ Phủ, Bạch Cư Dị (Trần Trọng San)

6) Thi Pháp Thơ Đường (Quách Tấn)

7) Làm Thơ Đường Luật Thất Ngôn Bát Cú (Phan Thượng Hải) - phanthuonghai.com


 

Bs PHAN THƯỢNG HẢI biên soạn và giữ bản quyền

______________________________________

dcd_phudacthe.png

Phú Đắc Cổ Nguyên Thảo Tống Biệt

Góc Đường Thi: 

                                         Phú Đắc Thể

 

      PHÚ ĐẮC 賦得 là một từ trong văn học cổ; PHÚ là THI PHÚ 詩賦, ĐẮC là ĐẮC THỦ 得手, nên PHÚ ĐẮC có nghĩa rộng là : Làm được một bài thơ hay bài phú nào đó. Nhưng theo tập quán ngôn ngữ thì từ PHÚ ĐẮC trong văn học cổ Trung Hoa dùng để chỉ "Bài thơ nào dùng những câu thơ có sẵn làm đầu đề" thì phải thêm vào hai chữ PHÚ ĐẮC trước bài thơ đó. Ví dụ : 

    * Đời Hán có "Cổ Thi Thập Cửu Thủ 古詩十九首" trong đó bài thứ 6 mở đầu bằng hai câu "Thiệp giang thái phù dung, Lan trạch đa phương thảo 涉江採芙蓉,蘭澤多芳草"; đến đời Nam Bắc Triều, Nam Triều Lương Nguyên Đế có làm bài thơ lấy tựa đề là "PHÚ ĐẮC Lan Trạch Đa Phương Thảo 賦得蘭澤多芳草". 

    * Tào Thực đời Tam Quốc có làm hai bài thơ lục ngôn tựa là "THIẾP BẠC MỆNH 妾薄命", nên vào đời Đường, ông nội của Thi Thánh Đỗ Phủ là Đỗ Thẩm Ngôn cũng làm bài thơ cùng tên đề tựa là "PHÚ ĐẮC Thiếp Bạc Mênh 賦得妾薄命".

 

     Trong thời đại khoa cử, có THÍ THIẾP THI 試帖詩 là cái thiệp trên đó có làm bài thơ để ứng thí của thí sinh trình cho các quan chủ khảo xem xét đánh giá trước. Những bài thơ đó phần nhiều dùng những tựa bài thơ hay những câu thơ đã nổi tiếng làm đầu đề, nên thường đều có hai chữ PHÚ ĐẮC đứng trước tựa của các bài thơ đó. Lâu dần thành thói quen, các thí sinh hay quan chủ khảo khi hội thi phân đề đều nhắm vào hai chữ PHÚ ĐẮC để đánh giá bài thơ một cách nghiêm chỉnh hơn. Sau nầy, đối với luật thi, quan trường lại định hẵn thành một thể thơ trong khoa cử, gọi là PHÚ ĐẮC THỂ 賦得體 với các niêm luật và bố cục đối xứng chặc chẽ khắc khe hơn thơ bình thường. Nên thơ làm theo thể Phú Đắc ít có bài hay. Nói thế chớ sau nầy  các thi nhân khi làm thơ tự tình hay tả cảnh cũng hay thêm vào hai chữ PHÚ ĐẮC cho bài thơ có vẻ trịnh trọng hơn.

 

     Sau đây là những bài thơ làm theo thể Phú Đắc nổi tiếng trong thi ca Trung Hoa. Trước tiên theo thứ tự thời gian, ta đọc bài "Phú Đắc Lan Trạch đa Phương Thảo 賦得蘭澤多芳草" của Lương Nguyên Đế ở Nam Triều nhé !

 

                   

 

    賦得蘭澤多芳草     PHÚ ĐẮC LAN TRẠCH ĐA PHƯƠNG THẢO

      春蘭本無絕,         Xuân lan bởn vô tuyệt,

      春澤最葳蕤。         Xuân trạch tối uy nhuy.

      燕姬得夢罷,         Yên cơ đắc mộng bãi,

      尚書奏事歸。         Thượng thơ tấu sự quy.

      臨池影入浪,         Lâm trì ảnh nhập lãng,

      從風香拂衣。         Tòng phong hương phất y.

      當門已芬馥,         Đương môn dĩ phân phức,

      入室更芳菲。         Nhập thất cánh phương phi.

      蘭生不擇逕,         Lan sanh bất trạch kính,

      十步豈難稀。         Thập bộ khởi nan hi.

          梁元帝蕭繹                Lương Nguyên Đế Tiêu Dịch

 

       LƯƠNG NGUYÊN ĐẾ TIÊU DỊCH 梁元帝蕭繹(508―554)tự là Thế Thành, tự hiệu là Kim Lâu Tử, người đất Lan Lăng, là Lương Nguyên Đế của Triều Lương thời Nam Bắc Triều, ở ngôi từ 552-554. Ông vua nầy giỏi cả làm thơ, thư pháp và hội họa. Người đời xưng tụng ông là "Thi Thư Họa Tam Tuyệt 詩書畫三絕".

 

  * Nghĩa bài thơ :

                            

       Cái vẻ đẹp của hoa lan vào mùa xuân vốn không bao giờ dứt, nhất là ở trong đầm trồng hoa lan nầy, cứ mùa xuân là lại xanh om tươi tốt như người đẹp của nước Yên vừa tỉnh sau giấc mộng đẹp, và như quan thượng thư vừa bãi triều về với tâm trạng vui tươi. Dáng đẹp của hoa lan trên ao soi bóng xuống mặt nước gợn sóng lăn tăn, còn mùi hương thì theo gió thoang thoảng luồn vào xiêm y. Trồng trước cửa đã thơm lừng rồi thoảng vào nhà lại càng ngào ngạt hơn thêm. Hoa lan lại mọc khắp các lối chẳng lựa chọn nơi nào, cứ trong mười bước là đã thấy dáng hoa rồi, nào có khan hiếm chi đâu.

 

* Diễn Nôm :

               PHÚ ĐẮC LAN TRẠCH ĐA PHƯƠNG THẢO

                Hoa lan đẹp mãi trong xuân,

                Đầm xuân hoa nở mười phần đẹp xinh.

                Như Yên Cơ tỉnh mộng lành,

                Thượng thơ hết việc công thành hồi gia.

                Bóng soi sóng gợn mặn mà,

                Đưa hương theo gió vào tà áo thơm.

                Cửa nhà lan tỏa hương thơm,

                Ngạt ngào phòng ốc chờn vờn khắp nơi.

                Hoa lan vốn chẳng chọn nơi,

                Trong vòng mười bước thảnh thơi ngắm nhìn !     

                                                             Đỗ chiêu Đức diễn nôm.

        Tiếp theo đây là bài thơ "PHÚ ĐẮC Thiếp Bạc Mệnh 賦得妾薄命" của Đỗ Thẩm Ngôn ở buổi Sơ Đường. Đỗ Thẩm Ngôn 杜審言(645-708) tự là Tất Giản, người đất Tương Dương, là tổ phụ (ông nội) của Thi thánh Đỗ Phủ. Đậu Tiến sĩ năm Hàm Hanh đời Đường Cao Tông, đến đời Đường Trung Tông vì qua lại với anh em Trương Dịch nên bị đày đến Phong Châu Việt Trì của Việt Nam. Ông từng giữ các chức quan nhỏ như Thành Úy, Lạc Dương Huyện Thừa, Tu Văn Quán Trực Học Sĩ. Ông hay giao du với Lý Kiều, Thôi Dung và Tô Vị Đạo, được người đời xưng tụng là "Văn Chương Tứ Hữu 文章四友", là những người có công trong việc ổn định và lập nền tảng cho Cận Thể Thi 近體詩, tức là Luật Thi sau nầy đó vậy. Sau đây là bài thơ "Phú Đắc Thiếp Bạc Mệnh 賦得妾薄命 của ông :

 

       賦得妾薄命         PHÚ ĐẮC THIẾP BẠC MỆNH

 

       草綠長門掩,       Thảo lục trường môn yểm,

       苔青永巷幽。       Đài thanh vĩnh hạng u.

       寵移新愛奪,       Sủng di tân ái đoạt,

       淚落故情留。       Lệ lạc cố tình lưu.

       啼鳥驚殘夢,       Đề điểu kinh tàn mộng,

       飛花攪獨愁。       Phi hoa giảo độc sầu.

       自憐春色罷,       Tự lân xuân sắc bãi,

       團扇復迎秋。       Đoàn phiến phục nghinh thu!

                杜審言                              Đỗ Thẩm Ngôn

 

               
* Nghĩa bài thơ :

                          Bài Thơ THIẾP BẠC MỆNH

      Cỏ xanh đã mọc dài khi cửa vườn vẫn luôn đóng kín, lối mòn cũng luôn phủ đầy rêu xanh một cách thanh u vắng lặng. Người yêu dấu mới đã đoạt đi cái ân sủng cũ, nước mắt rơi vì tình xưa như còn rơi rớt lại. Tiếng chim hót làm giật mình khi mộng cũng đã vừa tàn, thấy hoa rơi càng gợi thêm nỗi sầu cô độc. Tự cảm thương mình khi xuân sắc đã tàn phai, chiếc quạt lụa tròn đâu còn tác dụng để nghinh đón khi mùa thu đà đến !

 

      Đọc 2 câu thơ cuối nầy, làm cho ta nhớ lại cũng 2 câu thơ cuối trong bài thơ cung oán có tựa là "Trường Tín Cung 長信宮" của Lưu Phương Bình 劉方平, một thi nhân đời Thịnh Đường :

 

                  秋風能再熱,  Thu phong năng tái nhiệt,

                  團扇不辭勞。  Đoàn phiến bất từ lao !      

                 

      Khá thương thay những nàng cung nữ bị thất sủng, cứ suốt ngày mong ngóng mòn mõi đợi bóng xe vua. Hết xuân sang hạ lại vào thu, trời thu đã mát mẻ với những trận gió thu hiu hắt, chiếc quạt trên tay đã mất tác dụng để quạt mát cho đấng quân vương, nhưng lòng vẫn luôn ước ao một cách vô vọng :

                                    Gió thu nếu lại nóng rang,

                           Sẵn sàng đoàn phiến gian nan nào từ !

                                          

  *  Diễn nôm :

                             PHÚ ĐẮC THIẾP BẠC MỆNH

 

                             Cỏ xanh kín cổng mọc dài,

                             Rêu xanh phủ kín vãng lai lối mòn.

                             Yêu mới nới cũ lẽ thường,

                             Lệ rơi tình cũ muôn đường xót xa.

                             Giật mình tỉnh mộng chim ca,

                             Hoa rơi gợi nỗi niềm xa xót sầu.

                             Tự thương xuân sắc về đâu,

                             Quạt tròn bỏ xó đón thu lại về !

                                                              Đỗ Chiêu Đức diễn Nôm                          

          Công Thừa Ức 公乘億, thi nhân đời Đường không rõ năm sanh năm mất. Ông tự là Thọ Tiên 壽仙 (có tài liệu cho là Thọ Sơn 壽山), người đất Ngụy Châu (tỉnh Hà Bắc hiện nay). Xuất thân bần hàn, gần ba mươi tuổi nhưng thi mãi vẫn không đậu. Năm Hàm Thông thứ 12 đời vua Đường Ý Tông (871) mới đậu tiến sĩ. Năm Càn Phù thứ 4 đời Đường Hi Tông, ông nhậm chức Huyện Úy huyện Vạn Niên, được quan Doãn Kinh Triệu là Thôi Dục cử làm quan Chủ Khảo, sau lại được Tiết Độ Sứ Nguỵ Bác thu dụng, gia phong hàm Giám Sát Ngự Sử.

      Sau đây là một trong những bài thơ làm theo "Thể Phú Đắc" của ông :

 

賦得臨江遲來客  PHÚ ĐẮC LÂM GIANG TRÌ LAI KHÁCH

  

  江上晚沉沉,    Giang thượng vãn trầm trầm,

  煙波一望深。    Yên ba nhất vọng thâm.

  向來殊未至,    Hướng lai thù vị chí,

  何處擬相尋。    Hà xứ nghỉ tương tầm ?

  柳結重重眼,    Liễu kết trùng trùng nhởn,

  萍翻寸寸心。    Bình phiên thốn thốn tâm.

  暮山期共眺,    Mộ sơn kỳ cộng thiếu,

  寒渚待同臨。    Hàn chử đãi đồng lâm.

  北去魚無信,    Bắc khứ ngư vô tín,

  南飛雁絕音。    Nam phi nhạn tuyệt âm.

  思君不可見,    Tư quân bất khả kiến,

  使我獨愁吟。    Sử ngã độc sầu ngâm !

           公乘億                  Công Thừa Ức

 

       * Nghĩa bài thơ :

                             Bài Thơ RA BẾN SÔNG ĐÓN BẠN CHẬM ĐẾN

     Đêm xuống chầm chậm và lặng lẽ trên sông, khói sóng mịt mờ nên tầm nhìn như thăm thẳm. Cái hướng đến chưa thấy thuyền bè gì đến cả, thì còn biết tìm kiếm ở đâu đây ? Những hàng liễu lớp lớp ở ven sông như che đi tầm mắt và những bèo nước nhấp nhô trên sóng như chập chờn ở trong lòng, cả núi chiều như cũng cùng trông ngóng về phía xa xa và bờ bến lạnh lùng như cũng đang chờ đợi khách về. Ngược về bắc thì cá cũng bặt vô âm tín, xuôi nam thì nhạn cũng mù mịt âm hao. Nhớ đến người nhưng không thể nào gặp được, làm cho ta càng thêm trầm ngâm với nỗi sầu cô lẽ.

 

*Diễn Nôm :

                 PHÚ ĐẮC LÂM GIANG TRÌ LAI KHÁCH

                    

                 Đêm buông chầm chậm trên sông,

                 Mịt mờ khói sóng vời trông khôn cùng.

                 Hướng về chẳng chút hành tung,

                 Biết nơi nào gởi chút lòng nhớ mong.

                 Hàng hàng liễu khuất khó trông,

                 Chập chờn bèo nước nghe lòng bâng khuâng.

                 Núi chiều chừng cũng ngó mong,

                 Bến chiều thêm lạnh chờ trông mõi mòn.

                 Bắc cá âm tín chẳng còn,

                 Nhạn nam tin cũng chập chờn chân mây.

                 Nhớ người nỗi nhớ đong đầy,

                 Lòng ta luống những ngậm ngùi trầm ngâm !

                                                            Đỗ Chiêu Đức diễn Nôm

         Năm Công nguyên 788 (Năm Trinh Nguyên thứ 3 đời Đường Đức Tôn). Bạch Cư Dị 白居易 lúc đó mới 16 tuổi, đang lai kinh ứng thí. Phàm các thí sinh trước khi dự thi đều phải làm bài tập theo khuôn phép của trường thi đưa ra, như trước đề mục thi phải thêm hai chữ "Phú Đắc", thơ Luật phải tuân thủ nội dung Khởi Thừa Chuyển Hợp (ta nói là Mạo Thực Luận Kết) một cách nghiêm chỉnh. Bạch Cư Dị đã làm một bài tập thật hay, thật nổi tiếng để đời cho đến ngày nay, đó là bài Ngũ ngôn Luât thi có tựa là "THẢO 草" (Cỏ). Nhưng theo quy định trường thi nên tựa của bài thơ ... dài thòn như thế nầy : "PHÚ ĐẮC CỔ NGUYÊN THẢO TỐNG BIỆT 赋得古原草送别 ". Có nghĩa : Bài thơ Tống Biệt Trên Đồng Cỏ Xưa :

 

         草                        THẢO

     離離原上草,     Li li nguyên thượng thảo,

     一歲一枯榮。     Nhất tuế nhất khô vinh.

     野火燒不盡,     Dã hỏa thiêu bất tận,

     春風吹又生。     Xuân phong xuy hựu sanh.

     遠芳侵古道,     Viễn phương xâm cổ đạo,

     晴翠接荒城。     Tình thúy tiếp hoang thành.

     又送王孫去,     Hựu tống vương tôn khứ,

     萋萋滿別情。     Thê thê mãn biệt tình.

               白居易                         Bạch Cư Dị

 

              

               * Nghĩa bài thơ :

      Cỏ trên cánh đồng mượt mà xanh tốt, ai có biết rằng mỗi năm là mỗi độ cỏ héo uá tàn lụi rồi lại xanh tươi trở lại. Mặc cho lửa dại có thiêu đốt thì cũng không diệt nỗi sức sống của cỏ, vì khi gió xuân bắt đầu phe phẩy thổi là cỏ lại vươn lên xanh tốt trở lại ngay.

      Hương cỏ thoảng nhẹ lan xa đến tận những con đường xưa lối cũ, trong nắng xuân ấm áp, cỏ mọc xanh tươi phủ cả lên các thành trì hoang phế. Trong cảnh trí nầy, ta lại phải đưa bạn (Vương Tôn : chỉ các bạn bè của tác giả) lên đường, đồng cỏ vươn dài mượt mà như lưu luyến trước cảnh biệt ly !

 

Diễn nôm :

                                 CỎ

                  

                  Mượt xanh đồng cỏ biếc,

                  Mỗi độ úa rồi xanh,

                  Lửa dại thiêu không chết, 

                  Gió xuân thổi lại xanh.

                  Thoảng hương tràn lối cũ 

                  Sắc biếc phủ thành xanh.

                  Lại tiễn vương tôn nữa,

                  Luyến lưu xanh ngát xanh ! 

 

       Toàn bài thơ đều toát lên sức sống mãnh liệt của CỎ, "Cỏ non xanh rợn chân trời !" Mặc cho thu tàn đông rụi, hễ gió xuân hây hẩy là cỏ lại xanh tươi, sức sống bao trùm cả mặt đất, phủ xanh cả đường xưa lối cũ, tràn ngập cả thành trì hoang phế và màu xanh của cỏ cũng đã làm cho lòng người càng nao nao lưu luyến hơn trước cảnh biệt ly ! Qủa là một bài thơ tuyệt tác về ... CỎ ! Tương truyền ... (theo U Nhàn Cổ Xúy của Trương Cố đời Đường) : 

     Khi Bạch Cư Dị từ Giang Nam vào kinh ứng thí, đã từng đem thi phẩm và bài tập của mình cho danh sĩ lúc bấy giờ là Cố Huống xem (Cố Huống đậu Tiến sĩ năm 757, đang giữ chức Phán Quan của Tể Tướng Hàn Quang). Thấy tên là CƯ DỊ 居易 (có nghĩa là Ở Dễ : Dễ dàng cư trú) bèn nói chơi rằng : "Trường An bách vật qúy, CƯ đại bất DỊ 长安百物贵,居大不易 !". Có nghĩa : Đất Trường An nầy trăm vật đều mắc mỏ, Ở thật không DỄ chút nào !" Ý vừa nói chơi, vừa ngầm có ý bảo rằng : Muốn bon chen để lập thân ở đất Trường An nầy thật không phải dễ đâu !. Nhưng khi đọc đến 2 câu :

 

             野火燒不盡,     Dã hỏa thiêu bất tận,

             春風吹又生。     Xuân phong xuy hựu sanh. 

 

thì ông lại bất giác buộc miệng khen rằng : Hữu cú như thử, cư thiên hạ hà nan 有句如此,居天下何难!Có nghĩa : "Viết được câu như thế nầy, Ở trong thiên hạ đâu có nơi nào mà làm khó được đâu !". Và ... ông đã cổ vũ khen ngơi thơ của Bạch Cư Dị khắp nơi. Qủa nhiên, sau này Bạch Cư Dị đậu Tiến sĩ khi mới 28 tuổi... và trở thành một thi sĩ lớn của đời Đường với 2 tác phẩm thất ngôn trường thiên : Trường Hận Ca và Tì Bà Hành bất hũ.               

                              

* Diễn Nôm Lục bát :

                               

                               Mượt mà đồng cỏ xanh rì,

                               Mỗi năm mỗi độ đông đi xuân về.

                               Lửa hoang đốt cũng chẳng hề,

                               Gió xuân hây hẩy xanh rê một màu.

                               Ngập tràn đường cũ lao xao,

                               Phủ đầy thành quách ngày nào hoang sơ.

                               Đưa người đồng cỏ ngẩn ngơ,

                               Xanh xanh lưu luyến trước giờ chia tay !

 

       Xin được kết thúc bài viết về PHÚ ĐẮC THỂ trong thơ Đường ở đây.

 

                        Hẹn bài viết tới !

 

                                                                                   杜紹德

                                                                              Đỗ Chiêu Đức

___________________________

dcd_4poets.jpg

   Thù Trương Thiếu Phủ

     Phạm Khắc Trí, Đỗ Chiêu Đức, Mai Xuân Thanh

Thù Trương Thiếu Phủ

Vương Duy (699 - 759)

 

Vãn niên duy hiếu tĩnh 

Vạn sự bất quan tâm

Tự cố vô trường sách

Không tri phản cựu lâm

Tùng phong xuy giải đới

Sơn nguyệt chiếu đàn cầm

Quân vấn cùng thông lý

Ngư ca nhập phố thâm

 

Hồi Đáp Trương Thiếu Phủ 

PKT - Mây Tần

 

Cuối đời chỉ mong thân tâm được yên thôi

Mọi chuyện không còn muốn vướng bận gì đến nữa

Tự biết không có phương sách gì giúp ích được cho thiên hạ

Nên tốt hơn cả là hãy quay về chốn cũ rừng xưa

Ngày ngày vui cùng gió thông đùa tung giải áo

Đêm đêm dưới vầng trăng sáng lửng lơ đầu núi thả hồn nghe tiếng đàn tôi    

Riêng về lẽ Cùng Thông vấn hỏi

Tiếng ca ngư phủ vẫn âm vang khắp xóm chài vọng về từ ngoài biển khơi

 

(Lạm Bàn : Vâng, dòng sống, vô thủy vô chung từ bao đời, liên tục mưa nắng, đêm ngày, hết cùng phải đến thông thôi. Let's go with the flow. Cheer up, please! PKT 07/23/2020)

 

Lẽ Cùng Thông Hồi Đáp

PKT - Mây Tần

 

Tuổi già sống với đạo, 

Gác bỏ chuyện ngoài đời.  

Thế sự lo không được, 

Rừng xưa nương bóng vui.  

Gió thông đùa giải áo, 

Trăng núi tiếng đàn tôi.  

Người hỏi cùng thông lý, 

Ca chài vang biển khơi.  

 

A Reply to Deputy Magistrate Zhang

Peter Harris - Three Hundred Tang Poems

 

In the evening of life, I care only for peace and quiet

I can't bother with all the affairs of the world

As I look at myself, I have no grand strategies

I'm simply concerned to go back to my old forest home

Where the wind in the pines loosens the belt of my gown

And the mountain moon shines down on the zither I play

You ask what the principle is for achieving the way

A fisherman's song going into the deep river bank

 

Tri Khac Pham
Phamid1934@gmail.com

 

Đính Kèm : Franz Schubert Serenade

FRANZ SCHUBERT SERENADE NANA MOUSKOURI

Đỗ Chiêu Đức tham gia với các phần sau đây:

 

1. Bản chữ Hán cổ của bài thơ THÙ TRƯƠNG THIẾU PHỦ:

DCD_ThuTruongThieuPhu.jpg

 酬張少府       THÙ TRƯƠNG THIẾU PHỦ

 

晚年唯好靜,    Vãn niên duy hiếu tĩnh,

萬事不關心。    Vạn sự bất quan tâm.

自顧無長策,    Tự cố vô trường sách,

空知返舊林。    Không tri phản cựu lâm.

松風吹解帶,    Tùng phong xuy giải đới,

山月照彈琴。    Sơn nguyệt chiếu đàn cầm.

君問窮通理,    Quân vấn cùng thông lý,

漁歌入浦深。    Ngư ca nhập phố thâm.

       王維                      Vương Duy

 

    

 

2.Xuất Xứ của bài thơ :

       Năm Khai Nguyên thứ 29 đời Đường Huyền Tông (741), Vương Duy làm bài thơ nầy để trả lời cho Trương Thiếu Phủ. Từ chữ "THÙ 酬" : là Chén rượu của chủ mời khách. Ở đây có nghĩa là Hồi Đáp (Thù Đáp 酬答). Ta biết được trước đó Trương Thiếu Phủ tức Thừa Tướng Trương Cửu Linh 張九齡, cũng là một nhà thơ đời Đường, đã có gởi cho Vương Duy một bài thơ rồi. Khi Trương còn làm Thừa Tướng, Vương Duy là một thành viên đắc lực ủng hộ cho chủ trương chính sách của Trương; sau Trương Cửu Linh bị lý Lâm Phủ dèm pha bài xích, bị cách chức Thừa Tướng về quy ẩn, kết thúc khoảng thời gian chính trị tốt đẹp của đời Đường Huyền Tông. Vương Duy cùng các quan viên khác cũng từ quan quy ẩn theo. Đây là bài thơ trao đỗi giữa Vương Duy và Trương Cửu Linh bày tỏ sự chán nản và thất vọng trước triều chính và thời cuộc lúc bấy giờ.

 

3. Chú Thích :

    - Hiếu 好 : là Thích; cũng chữ nầy nếu đọc là HẢO thì có nghĩa là Tốt.Nên HIẾU TĨNH 好靜 là Thích Yên Tịnh.

    - Tự Cố 自顧 : là Tự nhìn lại mình; Tự đánh giá mình.

    - Phản 返 : có bộ Xước 辶(辵) là Đi lòng vòng; nên PHẢN 返 có nghĩa là Đi ngược trở về.

    - Giải Đới 解帶 : là Dây buộc áo được mở ra (ngày xưa không có gài nút áo).

    - Cùng Thông 窮通 : CÙNG là Hết đường (để làm quan); THÔNG là đường được mở ra (để làm quan). nên CÙNG THÔNG LÝ 窮通理 là Cái lẽ cùng thông, gặp thời và hết thời ở đời.

    - Ngư Ca 漁歌 : là Tiếng ca hát của người câu cá, đánh bắt cá ở ven sông. Ở đây mượn để chỉ người ở ẩn

 

4. Nghĩa bài thơ :

                                      Đáp Lời của Trương Thiếu Phủ

        

          Những năm càng về già càng thấy thích với cảnh yên tịnh hơn, nên muôn việc đều không muốn quan tâm đến nữa. Tự nhìn lại mình thì thấy mình cũng chẳng có kế sách hay ho gì khác, thì thôi, chỉ còn biết trở về với mái rừng xưa, để cởi bỏ áo ra mà hứng cái mát mẻ của gió thông, và gãy một khúc đàn vào những đêm trăng núi chênh chếch chiếu. Nếu bạn muốn hỏi ta về lẽ cùng thông ở đời ư, thì bạn ơi, hãy nghe tiếng hát của những người câu cá ở bến sông sâu kia kìa !

 

      Đọc bài thơ nầy lại làm cho ta nhớ đến bài hát nói "Thoát Vòng Danh Lợi" của cụ Nguyễn Công Trứ với :

 

                                Chen chúc lợi danh đà chán ngắt,

                              Cúc tùng phong nguyệt mới vui sao...

 

5. Diễn Nôm :

                      ĐÁP TRƯƠNG THIẾU PHỦ

 

                     

 

                     Năm tàn thích yên tịnh,

                     Muôn việc chẳng quan tâm.

                     Tự biết không ưu sách,

                     Thì thôi về cựu lâm.

                     Gió thông reo mát áo,

                     Trăng núi chiếu đàn cầm.

                     Bạn hỏi cùng thông lý,

                     Tiếng hát chài bên sông.

      Lục bát :

                     Càng già càng muốn yên thân,

                     Thì thôi muôn việc quan tâm làm gì.

                     Tự mình chẳng kế sách chi,

                     Trở về rừng cũ thiết gì lợi danh.

                     Gió thông phe phẩy áo xanh,

                     Núi trăng bát ngát đàn tranh đêm trường.

                     Cùng thông bạn hỏi lẽ thường,

                     Ngư ca trên bến chẳng vương bụi trần !

 

                                                               杜紹德

                                                          Đỗ Chiêu Đức

MAI XUÂN THANH:

Đáp Lời Của Trương Thiếu Phủ

 

(Qua diễn Nôm của thầy Phạm Khắc Trí)

 

Tịnh dưỡng thân già khu vắng lặng

Không thèm ý kiến, chẳng quan tâm

Vô năng kế sách góp phần

Lui về qui ẩn sơn lâm phĩ nguyền

Cởi áo, thông reo triền suối mát

Trăng thanh gảy khúc nhạc đờn cầm

Thấu tình đạt lý tri âm

Chài ghe hát xương hà rầm lưới câu

 

Mai Xuân Thanh

Ngày 23/07/2020

Góc Đường Thi : 

                                               CHÙM THƠ GIAO THỪA

 

          Đón Giao Thừa CANH TÝ (2020), kính mời tất cả Thầy Cô, Đồng Môn và Thân hữu... cùng đọc và dịch 5 bài thơ TRỪ DẠ 除夜 (Đêm Giao Thừa) để cùng đồng cảm với cổ nhân và cũng để cùng thấm thía hơn với nỗi lòng của những kẻ phải đón Tết tha hương như chúng ta hiện nay khi tuổi đã xế chiều !...

 

1.    除夜                        TRỪ DẠ

 

事關休戚已成空,   Sự quan hưu thích dĩ thành không,

萬里相思一夜中。   Vạn lý tương tư nhất dạ trung.

愁到曉雞聲絕後,   Sầu đáo hiểu kê thanh tuyệt hậu,

又將憔悴見春風。   Hựu tương tiều tụy kiến xuân phong.

               來鵠                                              Lai Hộc

DCD_LaiHoc.png

                                  Thi sĩ Lai Hộc đời Đường

 

* Chú thích :

  - Hưu Thích 休戚 : là chuyện vui buồn, thành bại, được mất ở đời.

  - Hiểu Kê 曉雞 : là Gà gáy sáng.

  - Tiều Tụy 憔悴 : là Võ vàng sầu muộn, không có tinh thần.

 

* Nghĩa Bài Thơ :

        Những chuyện vui buồn thành bại trong đời đã là con số không rồi. Bây giờ thân đang ở ngoài ngàn dặm để nhớ về nhau trong một đêm nay thôi. Nỗi ưu sầu cứ ray rức cho đến khi tiếng gà gáy sáng dứt hẵn mới thôi. Ta lại đón gió xuân với cái thân hình tiều tụy và với cái bộ mặt võ vàng này !

 

* Diễn Nôm :

                      GIAO THỪA

 

               

 

             Vui buồn được mất cũng thành không,

             Ngàn dặm đêm nay nhớ ngập lòng.

             Sầu đến tiếng gà thôi gáy sáng.

             Võ vàng lần nữa đón xuân phong !

   Lục bát :

             Buồn vui thành bại qua rồi,

             Giao thừa ngàn dặm nhớ hoài quê xa.

             Lòng sầu theo với tiếng gà,

             Đón xuân tiều tụy năm qua lại sầu !

 

                                                   Đỗ Chiêu Đức

 

2.  除夜                  TRỪ DẠ

 

九冬三十夜,    Cưủ đông tam thập dạ,

寒與暖分開。    Hàn dữ noãn phân khai.

坐到四更後,    Tọa đáo tứ canh hậu,

身添一歲來。    Thân thiêm nhất tuế lai.

魚燈延臘火,    Ngư đăng diên lạp hỏa,

獸炭化春灰。    Thú thán hóa xuân hôi.

青帝今應老,    Thanh Đế kim ưng lão,

迎新見幾回。    Nghinh tân kiến kỷ hồi !

       尚顏                    Thượng Nhan

 

    

    Thượng Nhan            Thanh Đế

 

* Chú Thích :

  - Cửu Đông 九冬 : Chỉ 90 ngày của mùa Đông.

  - Ngư Đăng 魚燈 : Cái Chưn đèn hình con cá.

  - Lạp Hỏa 臘火 : Lửa do đèn sáp (đèn cầy, nến) cháy sáng.

  - Thú Thán 獸炭 : Những cây than củi có hình như con thú.

  - Xuân Hôi 春灰 : Tro của mùa xuân.

  - Thanh Đế 青帝 : là Ông vua Xanh, là một trong Ngũ Phương Thiên Đế 五方天帝, năm ông vua ở trên trời. Theo truyền thuyết Trung Hoa xưa : Thanh Đế là ông vua cai quản hướng đông, là biểu tượng của con rồng xanh, là thần của mùa xuân và của muôn hoa, nên còn gọi là Chúa Xuân. Như trong bài thơ "Mai Rụng" của J. Leiba thời Tiền Chiến :

               ... Yêu chàng, em cố chuốt hình dong

                   Tô cặp môi son, điểm má hồng,

                   Em thấy xuân nay hoa nở đẹp,

                   Cảm tình THANH ĐẾ, tạ đông phong.

 

* Nghĩa Bài Thơ :

        Trong đêm Ba Mươi cuối cùng của chín mươi ngày mùa đông nầy, cái lạnh và cái ấm được phân chia ra rõ rệt. Ta ngồi đợi cho đến sau canh tư (sang canh năm) thì thân ta lại được thêm một tuổi nữa rồi ! Cái giá đèn hình con cá còn lắp loáng áng sáng tàn của đèn nến và những củi than hình thù quái dị như những con thú (đốt để sưởi ấm) cũng đã tàn tạ thành những đống tro xuân cả rồi. Chúa Xuân năm nay chắc cũng đã gìa cả như ta rồi, không biết còn có thể đón xuân thêm mấy lượt nữa đây ! 

       Câu cuối còn có nghĩa : Không biết còn gặp được Chúa Xuân mấy lần nữa đây (Vì chúa xuân cũng đã gìa rồi, biết lần sau còn gặp được "ông ta" không ?).

 

* Diễn Nôm :

                   ĐÓN GIAO THỪA

                 

                

 

                Cuối đông đêm ba mươi,

                Ấm lạnh phân hai nơi.

                Ngồi đến canh tư điểm,

                Ta thêm một tuổi rồi.

                Đèn nến tàn sắp lụn,

                Than thành tro xuân thôi.

                Chúa Xuân chừ gìa cỗi,

                Còn gặp mấy lăm hơi !?

      Lục bát : 

                Đông qua chín chục giao thừa,

                Phân chia ấm lạnh hai mùa đông xuân.

                Canh tư qua, trời rạng đông.

                Ta thêm một tuổi bâng khuâng canh tàn.

                Chân đèn sáp chảy lan man,

                Củi than cháy lụn tro tàn ai gom.

                Chúa Xuân chắc đã gìa còm,

                Thêm vài năm nữa có còn gặp nhau !?

 

                                                       Đỗ Chiêu Đức

 

3.歲除夜           TUẾ TRỪ DẠ

   

官曆行將盡,    Quan lịch hành tương tận,

村醪強自傾。   Thôn dao cưởng tự khuynh.

厭寒思暖律,   Yếm hàn tư noãn luật,

畏老惜殘更。   Úy lão tích tàn canh.

歲月已如此,   Tuế nguyệt dĩ như thử,

寇戎猶未平。   Khấu nhung do vị bình.

兒童不諳事,   Nhi đồng bất am sự,

歌吹待天明。   Ca xúy đãi thiên minh.

          羅隱                             La Ẩn

 

   

       La Ẩn : Thi nhân đời Đường

 

* Chú Thích :

  - Tuế Trừ Dạ 歲除夜 : là Đêm Giao Thừa, Đêm Trừ Tịch.

  - Quan Lịch 官曆 : Lịch của nhà quan. Theo sách "Hậu Hán Thư. Luật Lịch chí trung 后漢書·律曆志中" : Lịch do Quan Phủ phát hành theo Khâm Thiên Giám của triều đình. Sau dùng rộng ra để chỉ Thời Gian.

  - Thôn Dao 村醪 : Rượu đục, rượu của nhà quê chưa được cất lọc.

  - Khấu Nhung 寇戎 : Giặc cướp và rợ Nhung.

  - Am Sự 諳事 : Am tường sự việc, là hiểu chuyện.

  - Ca Xúy 歌吹 : Đàn hát vui chơi.

 

* Nghĩa Bài Thơ :

        Ngày tháng theo lịch đã gần tàn, cất chén rượu đục của nhà quê gắng gượng mà uống cạn. Chán ngán với cái lạnh nên mong cái ấm sẽ đến, cũng như sợ cái gìa sồng sộc đến mà tiếc từng thời gian của canh tàn. Ngày tháng thì cứ qua đi như thế mà giặc cướp thì chưa dẹp yên được. Lũ trẻ con không thông hiểu thế sự, nên cứ đàn ca xướng hát mà đợi trời sáng (để ăn Tết).

       Người lớn thì buồn cho giặc giã chiến tranh thời cuộc, còn bọn trẻ thì cứ vô tư vui chơi đợi Tết mà thôi. Cũng như "người lớn" ở Mỹ hiện nay thì cứ ưu tư cho thời cuộc, cho đất nước quê hương; chứ bọn trẻ lớn lên ở Mỹ có biết chi đâu mà ưu thời mẫn thế ?!

 

* Diễn Nôm :

 

                 ĐÊM TRỪ TỊCH

     

             

 

             Lịch quan xem đà gần hết,

             Rượu quê chuốc chén riêng ta.

             Sợ lạnh nên mong xuân ấm,

             E già lại tiếc canh qua.

             Năm tháng nhanh như thoi cưởi,

             Giặc nhung chưa hết can qua.

             Trẻ con không thông nhân sự,

             Suốt đêm đợi Tết hát ca !

    Lục bát :

             Lịch quan chừng đã hết rồi,

             Rượu quê chuốc chén bồi hồi riêng ta.

             Lạnh tràn mong ấm mau qua,

             Sợ gìa nên tiếc canh tà dần trôi.

             Tháng ngày hun hút qua rồi,

             Rợ Nhung còn đó ngút trời lửa binh.

             Trẻ con chẳng biết sự tình,

             Vui chơi ca hát đợi bình minh sang !

 

                                       Đỗ Chiêu Đức

 

4.  除夜                    TRỪ DẠ

 

寒燈耿耿漏遲遲,    Hàn đăng cảnh cảnh lậu trì trì,

送故迎新了不欺。    Tống cố nghinh tân liễu bất khi.

往事並隨殘曆日,    Vãng sự tịnh tùy tàn lịch nhật,

春風寧識舊容儀。    Xuân phong ninh thức cựu dung nghi.

預慚歲酒難先飲,    Dự tàm tuế tửu nan tiên ẩm,

更對鄉儺羨小兒。    Cánh đối hương na hâm tiểu nhi.

吟罷明朝贈知己,    Ngâm bãi minh triêu tặng tri kỷ,

便須題作去年詩.     Tiện tu đề tác khứ niên thi.

          徐鉉                             Từ Huyền

 

       

         Từ Huyền qua Họa hình và Điện ảnh  

 

* Chú Thích :

  - Cảnh Cảnh 耿耿 : Vẻ Sáng sủa lấp lánh.

  - Lậu 漏 : là Rỉ ra; Ở đây chỉ đồng đồ xưa rỉ nước ra.

  - Tịnh Tùy 並隨 : là Đi theo song song, là Liền theo sau đó.

  - Ninh Thức 寧識 : Vốn dĩ đã biết.

  - Tuế Tửu 歲酒 : Rượu dùng để cúng tế cuối năm.

  - Hương Na 鄉儺 : Những hương thân mặc đồ tế lễ theo tục lệ xưa.

 

* Nghĩa Bài Thơ :

         Ánh đèn lạnh lẽo sáng lấp lánh trong tiếng đồng hồ chầm chậm nhỏ giọt, Tống cựu nghinh tân trong năm hết nên chẳng dám xem thường. Chuyện cũ đã qua đi song song với tờ lịch cũng gần tàn, còn gió xuân thì chắc chắn đã biết cái bộ mặt nầy của ta rồi. Rượu dùng để tế lễ cuối năm nên ngại ngùng không dám uống trước, càng hâm mộ đám trẻ con hơn khi chúng thấy những hương thân mặc đồ tế lễ theo kiểu xưa. Ngâm xong bài thơ cuối năm để sáng mai đem tặng người tri kỷ, thì đã phải đề rằng đây là bài thơ của năm ngoái rồi !

 

* Diễn Nôm :

                    ĐÊM GIAO THỪA

 

                 

 

             Đồng hồ nhỏ giọt lạnh đêm đông,

             Tống cựu nghinh tân chạnh tấc lòng.

             Chuyện cũ đành theo tờ lịch giám,

             Gió xuân đã tỏ nét nghi dong.

             Rượu dành tế lễ nên kiêng uống,

             Đồ tế hương thân bởi trẻ mong.

             Ngâm nốt bài thơ mai tặng bạn,

             Đã thành thơ cũ mới làm xong !

    Lục bát :

             Đèn lạnh buốt, tiếng đồng hồ,

             Nghinh tân tống cựu ngẩn ngơ tấc lòng.

             Chuyện qua theo lịch lụi dần,

             Dung nghi vốn dĩ bạn cùng gió xuân.

             Kiêng khem rượu lễ chớ dùng,

             Nhi đồng hâm mộ hương thân tế thần.

             Ngâm xong mai tặng tri âm.

             Đã là thơ cũ của năm qua rồi !

 

                                          Đỗ Chiêu Đức

 

5.  除夜                    TRỪ DẠ              

 

病眼少眠非守歲,    Bệnh nhỡn thiểu miên phi thủ tuế,

老心多感又臨春。    Lão tâm đa cảm hựu lâm xuân.

火銷燈盡天明後,    Hỏa tiêu đăng tận thiên minh hậu,

便是平頭六十人 !    Tiện thị bình đầu lục thập nhân !

         白居易                            Bạch Cư Dị

 

     

 

 

* Chú Thích :

  - Bệnh Nhỡn 病眼 :là Con mắt bệnh; ở đây chỉ con mắt của người gìa bệnh tật.

  - Thủ Tuế 守歲 : là Giữ tuổi, là Đợi để đón giao thừa.

  - Hỏa Tiêu Đăng Tận 火銷燈盡 : là Lửa tắt đèn tàn.

  - Bình Đầu 平頭 : là bằng đầu, là Ngang bằng, ta nói là Cán mức.

 

* Dịch Nghĩa :

 

     Con mắt của người già bệnh tật ít ngủ, nên không ngủ được chớ không phải là thức để đợi giao thừa. Lòng của những người già đã đa cảm rồi lại gặp phải buổi đón xuân sang (nên càng thấy lòng cảm xúc hơn). Lửa đã tắt đèn đã tàn (đêm đã hết) sau khi trời sáng thì ta đã là ông cụ già cán mức sáu mươi tuổi rồi ! 

 

     Nên biết là vào đời Đường (618—907), theo lịch sử thống kê, tuổi thọ trung bình của con người chỉ có 45 tuổi mà thôi. Nên 60 tuổi đã là thọ lắm rồi, và vì thế mà Thi Thánh Đỗ Phủ đã hạ hai câu thơ nổi tiếng để đời trong bài "Khúc Giang" là :

 

                 Tửu trái tầm thường hành xứ hữu,   酒債尋常行處有,

                 Nhân sinh thất thập cổ lai hi.     人生七十古來稀。

Có nghĩa :

            Nợ rượu tầm thường khắp nơi đều có cả, còn...

            Đời người sống đến bảy mươi tuổi thì xưa nay rất hiếm.

 

      Đó là vào đới Đường, còn hiện nay, bước ra đường bất cứ lúc nào ta cũng có thể gặp được người già trên 70 tuổi cả ! Bạch Cư Dị thọ được sáu mươi tuổi đã ra vẻ già yếu mất ngủ vì bệnh tật, nên rất dễ cảm xúc lúc xuân về tết đến, thi nhân đã rất cảm khái trong đêm giao thừa lúc đêm tàn năm hết, vì đến sáng ngày mai mình đã là kẻ thọ được sáu mươi tuổi rồi ! Trong hoàn cảnh hiện tại, sau năm 1975 đến nay, chúng ta những người đang sống lưu vong trên đất Mỹ đều đã gần "tám bó" cả rồi, sự cảm khái của kẻ đón xuân nơi đất khách chắc chắn còn hơn Bạch Cư Dị bội phần.

 

* Diễn Nôm :                                  

                          GIAO THỪA

 

                  

 

                  Mắt già khó chợp đón giao thừa,

                  Đa cảm lòng già xuân lại qua.

                  Lửa tắt đèn tàn trời rựng sáng,

                  Đã là người sáu chục niên hoa.

    Lục bát :

                  Không ngủ chẳng tại giao thừa,

                  Lòng già đa cảm khi vừa đón xuân.

                  Đèn tàn lửa tắt bâng khuâng.

                  Sáng ra sáu chục xuân hồng đã qua !

 

                                            Đỗ Chiêu Đức

_________________________________________________

DCD_Rooster_GiaoThua.png
DCD_ThuongNhanThanhDe.jpg
DCD_Snow_Dongiaothua.png
DCD_LaAn.jpg
DCD_Demtrutich.png
DCD_TuHuyen.jpg
DCD_DemGiaothua2.png
DCD_BachCuDi.png
DCD_Giaothua3_BCDi.png

                           CHÙM THƠ XUÂN

 1. KÝ XUÂN   Vương Bột : 

                                       

   

 

 

    羈春                           KÝ XUÂN                                                   

客心千里倦,           Khách tâm thiên lý quyện,

春事一朝歸.           Xuân sự nhất triêu quy.

還傷北園里,           Hoàn thương bắc viên lý,

重見落花飛.           Trùng kiến lạc hoa phi.

         王勃               Vương Bột

 

* CHÚ THÍCH :

        Tác giả Vương Bột, quê quán miền bắc (Sơn Tây), con nhà gia thế, tuổi trẻ tài cao, được Bái Vương Lý Hiền vời vào phủ cho giữ việc tu soạn và rất tin dùng. Vì một bài thơ trách đùa con gà chọi của Anh Vương, vua Cao Tông nổi giận, sai trục xuất ông khỏi phủ. Ông đi chu du nhiều nơi ở phương nam, cuối cùng chết đuối trên đường đi Giao Chỉ thăm cha, lúc mới 26 tuổi…

        Bài thơ trên đây làm lúc ông bị trục xuất khỏi Bái Vương Phủ đang chu du nơi đất Thục. Vốn dĩ muốn mượn cảnh trí thiên nhiên hùng vĩ của núi sông đất Thục để tiêu sầu, nhưng lòng quê nhớ về đất bắc vẫn canh cánh khôn nguôi.

     - Ký Xuân 羈春:KÝ là Ở lại, giữ lại. Nên KÝ XUÂN có nghĩa là "Xuân đến mà vẫn phải ở lại nơi đất khách".

     - Quyện 倦:là  Mõi mệt, buồn chán.

     - Xuân Sự 春事: là Chuyên mùa xuân. Ý chỉ Cảnh sắc chung quanh khi xuân về.

 

* NGHĨA BÀI THƠ :

                                          XUÂN Ở NƠI XA

            Trên bước đường ngàn dặm, lòng người khách tha hương đã mõi mê chán ngán rồi. Trước mắt lại thấy cảnh trí của mùa xuân ập về nên lòng lại càng muốn về ngay quê nhà. Cảnh quê xưa ở phương bắc còn để lại nhiều thương cảm ở trong lòng, không biết đến bao giờ mới thấy lại được cảnh hoa rụng bay lả     tả ở quê nhà đây.

            Hoa rụng khi hoa đã tàn, xuân đã hết, cũng như tuổi trẻ rồi sẽ già đi, rồi sẽ giả từ cuộc sống nầy như hoa rơi rụng vậy, nhưng sẽ nhìn hoa rơi rụng ở đâu ? Ý của Vương Bột là muốn được nhìn hoa rơi rụng ở quê nhà, thâm ý của thi nhân là muốn được già được chết ơ quê hương hơn là bỏ thây nơi xứ lạ.

 

* DIỄN NÔM :

                         

 

                               XUÂN TRÊN ĐẤT KHÁCH

                               Ngàn dặm lòng quê mòn mõi,
                                Xuân về một sớm nhớ thay,
                                Đất bắc quê xưa trông ngóng,
                                Ngàn trùng chỉ thấy hoa bay !.
       Lục bát :
                                Mõi mòn ngàn dặm lòng quê,
                                Xuân về một sớm tái tê nhớ nhà.
                                Thương về đất bắc quê xa,
                                Ngàn trùng chỉ thấy la đà hoa bay !

                                                                             Đỗ Chiêu Đức

 

2. KHÁCH TRUNG THỦ TUẾ  Bạch Cư Dị :

     

    

 

   客中守歲        KHÁCH TRUNG THỦ TUẾ

 

  守歲樽無酒,     Thủ tuế tôn vô tửu,

  思鄉淚滿巾。     Tư hương lệ mãn cân.

  始知爲客苦,     Thủy tri vi khách khổ,

  不及在家貧。     Bất cập tại gia bần.

  畏老偏驚節,     Úy lão thiên kinh tiết,

  防愁預惡春。     Phòng sầu dự ố xuân.

  故園今夜裏,     Cố viên kim dạ lý,

  應念未歸人。     Ưng niện vị quy nhân.

        白居易                 Bạch Cư Dị

 

* CHÚ THÍCH :

    - Khách Trung 客中 : là Trong đất khách, có nghĩa là Đang ở nơi đất khách.

    - Thủ Tuế 守歲 : là Giữ tuổi, ý chỉ : Giữ lấy tuổi cũ để đón tuổi mới, có nghĩa là Thức để đón Giao Thừa trong đêm ba mươi Tết âm lịch.

    - Thủy Tri 始知 : Mới biết được rằng ...

    - Bất Cập 不及 : Không bằng được ...

    - Úy 畏 : là Sợ, mà Kinh 驚 : cũng là Sợ, ta có từ kép Kinh Úy 驚畏 là Sợ Hãi.

    - Ố 惡 : là Ghét. ta có từ KHẢ Ố 可惡 : là Đáng ghét.

    - Cố Viên 故園 : là Vườn Xưa, từ dùng để chỉ Quê Nhà, Quê Xưa.

    - Ưng Niệm 應念 : Có nghĩa : Chắc là đang nhắc đến ...

 

                   

 

* NGHĨA BÀI THƠ :

                                 ĐÓN GIAO THỪA NƠI ĐẤT KHÁCH

 

       Đón giao thừa mà trong chai đã hết rượu rồi. Nước mắt nhớ quê hương ướt đẫm cả khăn. Mới biết rằng làm người khách xa quê hương là rất khổ, không bằng nghèo khó mà được ở quê nhà. Vì sợ gìa nên cũng sợ luôn các lễ Tết, dự phòng sầu muộn nên cũng ghét luôn cả mùa xuân. Ở nơi quê nhà trong đêm nay, chắc mọi người cũng đang nhắc đến cái người đi chưa về là mình đây !

 

      Lễ Tết đến mà lại phải tha phương cầu thực. Đón giao thừa nơi đất khách mà chai thì hết rượu, túi lại không tiền, Mới biết rằng thà nghèo khổ mà Tết được ở nhà còn hơn đi tìm chữ công danh mà lang thang chân trời góc bễ. Trong khi tuổi già cứ sồng sộc ập xuống đầu nên càng sợ xuân về Tết đến hơn nữa, như lời thơ của nhà thơ Xuân Diệu thời Tiền Chiến :

 

                                  Tôi có chờ đâu có đợi đâu,

                             Mang chi xuân đến gợi thêm sầu !

 

      Buồn cho thân phận tha phương đón Tết của mình, Bạch Cư Dị cũng buồn luôn cho những thân nhân đang đón giao thừa ở quê nhà : Chắc mọi người cũng đang khoắc khoải trông ngóng lo lắng cho mình, là kẻ còn lưu lạc phương trời, không biết sẽ đón Tết ra sao ?!

 

* DIỄN NÔM :

 

          

 

               ĐẤT KHÁCH GIAO THỪA

 

                Giao thừa chai hết rượu,

                Nhớ quê lệ ướt khăn.

                Mới hay tha hương khổ,

                Không bằng nghèo yên thân.

                Ngại gìa lại e Tết,

                Sợ buồn cũng ghét xuân.

                Quê nhà đêm nay chắc,

                Nhớ người đi bâng khuâng.

   Lục bát :

                Giao thừa chai rượu lại không,

                Nhớ quê lệ ướt đầm khăn đêm này.

                Mới hay lưu lạc khổ thay,

                Không bằng nghèo khó ngày ngày yên thân.

                Sợ gìa sợ cả nàng xuân,

                Sợ ngày tháng lụn năm cùng ngổn ngang.

                Đêm nay chắc cả thôn làng,

                Ngóng trông những kẻ lang thang chưa về !

 

                                                             Đỗ Chiêu Đức

 

 

3. XUÂN DẠ LẠC THÀNH VĂN ĐỊCH Lý Bạch :

 

          

 

  春夜洛城聞笛        Xuân dạ Lạc thành văn địch

                                             

  誰家玉笛暗飛聲,   Thùy gia ngọc địch ám phi thanh,

  散入春風滿洛城.   Tán nhập xuân phong mãn Lạc thành.

  此夜曲中聞折柳,   Thử dạ khúc trung văn Chiết Liễu,

  何人不起故園情 ?  Hà nhân bất khởi cố viên tình ?!

                    李白                                    Lý Bạch

            

* CHÚ THÍCH :

     - CHIẾT LIỄU 折柳 hay CHIẾT DƯƠNG LIỄU 折楊柳 là Bẻ Cành Dương Liễu, tên của một khúc Sáo đời Hán, nội dung chỉ cảnh biệt ly, khi đưa tiễn nhau ở " Bề ngoài mười dặm tràng đình ", người đưa tiễn hay bẻ một nhành liễu tặng cho bạn mình làm roi ngựa. Đến đời Đường, điệu sáo nầy được thêm thắc và đổi tên thành CHIẾT DƯƠNG LIỄU CHI 折楊柳枝 với lời thơ như sau : 『上馬不捉鞭,反拗楊柳枝。下馬吹橫笛,愁殺行客兒。』Thượng mã bất tróc tiên, Phản áo dương liễu chi. Hạ mã xuy hoành địch, Sầu sát hành khách nhi ! Có nghĩa : Lên ngựa chẳng cầm roi, Lại bẻ cành dương liễu. Xuống ngựa thổi sáo ngang, Buồn chết người ly biệt !. Nên...

       CHIẾT LIỄU là chỉ cảnh chia tay, chỉ nỗi sầu ly biệt của kẻ ở người đi. LÝ BẠCH là kẻ tha hương tìm danh lợi, nhưng lại chưa thi thố được hoài bão của mình, nên trong đêm nghe lời " Bẻ Liễu " lại chạnh nhớ đến quê hương !

 

* DIỄN NÔM :

 

         ĐÊM XUÂN NGHE SÁO THÀNH LẠC DƯƠNG.

 

              

 

             Nhà ai tiếng sáo vẳng đêm thanh,

             Tan nhập gió xuân khắp Lạc thành.

             Réo rắc trong đêm lời bẻ liễu,

             Ai người chẳng động cố hương tình ?

   Lục bát :

             Nhà ai sáo ngọc vẳng sang,

             Gió Xuân đưa đẩy ngập tràn Lạc Dương.

             Véo von Bẻ Liễu đêm trường,

             Ai người chẳng thấy vấn vương quê nhà ?!

 

                                                                Đỗ Chiêu Đức

 

4. TRỪ DẠ TÁC  Cao Thích :

 

    

 

   除夜作                     TRỪ DẠ TÁC

 

旅館寒燈獨不眠,      Lữ quán hàn đăng độc bất miên,

客心何事轉悽然 ?      Khách tâm hà sự chuyển thê nhiên?

故鄉今夜思千里,      Cố hương kim dạ tư thiên lý,

霜鬢明朝又一年 !      Sương mấn minh triêu hựu nhất niên!

          高適                                  Cao Thích

 

* Nghĩa bài thơ :

                      Cảm Tác Trong Đêm Trừ Tịch

 

    Một mình đơn độc ngồi bên ngọn đèn lạnh lẽo trong lữ quán.

    Vì chuyện chi mà lòng khách lại trở nên thê lương sầu thảm?

    Thì ra đêm nay khách đang nhớ đến quê hương xa ngoài ngàn dặm.

    Sáng mai trên mái tóc sương pha nầy lại chồng thêm một tuổi đời xa quê hương nữa !

 

         Qủa là tâm sự xót xa của kẻ tha hương lữ thứ! Cao Thích không về được quê hương để đón xuân vì quan sơn cách trở, và vì công chưa thành danh chưa toại, mà xót xa cho thân mình còn lưu lạc tha phương trong đêm Trừ tịch! Không như ...

 

        Chúng ta ngày nay, không phải vì núi sông cách trở, cũng không phải chờ đợi công danh. Chúng ta có đầy đủ phương tiện, điều kiện tiện nghi để về thăm quê hương bất cứ lúc nào, bất cứ khi nào chúng ta muốn... Nhưng, về đến quê hương rồi cũng không tìm đâu ra được những làng xóm ngày xưa, những phố phường năm cũ, kỷ niệm của những ngày xưa thân ái... đã biền biệt... chân trời! 

       Thôi thì, thà ở đây, để làm kẻ tha hương, xa quê, nhớ quê để nuối tiếc về những tháng ngày dĩ vãng... vang bóng một thời!!!

 

                 

* Diễn nôm :

                        ĐÊM GIAO THỪA

 

                 Quán lạnh đèn tàn chẳng ngủ yên,

                 Lòng ai da diết những ưu phiền. 

                 Quê hương ngàn dặm đêm nay nhớ,

                 Đầu bạc sáng ngày lại một niên ! 

   Lục bát :

                 Thức cùng quán lạnh đèn tàn, 

                 Lòng người lữ thứ dạ càng tái tê.

                 Ngàn trùng canh cánh tình quê,

                 Sáng ra đầu bạc năm về lại năm.

Câu 3 :

       故鄉今夜思千里,Cố hương kim dạ tư thiên lý,

Còn được hiểu là : Đêm nay, cố hương nhớ về người ở xa ngàn dặm. Chắc trong cảnh đoàn tụ vui vầy để cùng đón Tết mà thiếu mất một người còn chưa kịp về. Cao Thích không nói là mình ở ngoài ngàn dặm nhớ về cố hương , mà nói Cố hương nhớ về mình còn đang ở xa ngoài ngàn dặm.

 

PHỎNG DỊCH :

                      THƠ LÀM ĐÊM GIAO THỪA

 

                   Quán trọ, đèn khuya, ngủ chẳng yên,

                   Lòng luôn canh cánh vạn niềm riềng.

                   Quê nhà, nhớ qúa, xa ngàn dặm,

                   Mai Tết, năm qua, tóc bạc thêm !                                                   

CẢM TÁC :

                   Giao thừa giao cả niềm riêng,

                Lòng quê cánh cánh tận miền xa xăm.

                   Mai ngày năm lại qua năm,

                Bao giờ mới khỏi về thăm quê nhà ?!

 

                                                             Đỗ Chiêu Đức

 

 

5. LINH LĂNG TẢO XUÂN   Liễu Tông Nguyên :

 

                  

 

               

 

 

 

 

 

 

LINH LĂNG TẢO XUÂN               零 陵 早 春

 

               Vấn xuân tòng thử khứ,          問 春 從 此 去,

               Kỷ nhật đáo Tần Nguyên.       幾 日 到 秦 原. 

               Bằng ký hoàn hương mộng,    凭 寄 還 鄕 夢,

               Ân cần nhập cố viên.              殷 勤 入 故 園.

                          Liễu Tông Nguyên                            柳宗元  

 

* CHÚ THÍCH :

    - Linh Lăng 零陵 : là một địa danh ở miền Nam, còn Tần Nguyên 秦原 thì ở miền Bắc. Ở miền Nam ấm áp nên mùa xuân đến sớm hơn, còn miền Bắc lạnh lẽo nên nàng xuân sẽ đến muộn hơn.

    - Tòng Thử 從此: là Từ nơi đây, từ chỗ nầy.

    - Bằng Ký 凭寄: là Dựa vào ai đó mà gởi gắm. Ở đây chỉ Dựa vào nàng xuân.

    - Hoàn Hương Mộng 還鄕夢: là Giấc mơ được về với quê hương.

                      

* NGHĨA BÀI THƠ :

                               MÙA XUÂN ĐẾN SỚM Ở XỨ LINH LĂNG

 

        Hỏi Xuân rằng, từ đây đi, thì mấy ngày Xuân mới đến được xứ Tần Nguyên. Cho ta gởi theo cái "  mộng hoàn hương ", ân cần về tận quê nhà.( Chứ đang ở nơi xa xôi nầy, ta sẽ không sao về lại nhà trong mùa xuân nầy được ! ). 

 

* DIỄN NÔM :

                           

 

                               XUÂN SỚM Ở XỨ LINH LĂNG

 

                                 Hỏi Xuân từ đây giả biệt

                                 Bao giờ mới đến Tần Nguyên

                                 Ta gởi mộng hồn tha thiết

                                 Ân cần về tận cố viên !

 

        Thơ Lục Bát :

                                 Từ đây giả biệt, hỏi Xuân

                                 Bao giờ mới đến xứ Tần Nguyên ta

                                Gởi lòng theo mộng thiết tha

                                Ân cần về tận quê nhà xa xăm  !

 

             Thấy xuân đến, chạnh lòng nhớ quê mà gởi cái " mộng hoàn hương ", ân cần nhờ nàng xuân mang về tận quê nhà, đây quả là một lối gởi đặc biệt và tuyệt vời biết bao !

 

             Mặc dù, chúng ta đang ở đất Bắc (Bắc Mỹ), và mặc dù Mỹ đi sau hơn Việt Nam đến mười hai tiếng đồng hồ, nhưng sao ta vẫn thấy nao nao mỗi độ xuân về, cứ lo cho quê hương chưa có mùa xuân, nhưng có biết đâu rằng chính chúng ta đây mới là những kẻ đang khao khát mùa xuân, và chỉ hoài niệm, rồi nuối tiếc mà đi tìm những mùa xuân trong quá khứ.....

 

             Đầu Xuân, gởi chút mộng lòng tha thiết về với quê hương......                            

 

                                              Từ đây giả biệt, hỏi Xuân

                                              Bao giờ mới đến xứ "CẦN THƠ" ta

                                              Gởi lòng theo mộng thiết tha

                                              Ân cần về tận quê nhà xa xăm !

 

                                                                                                 Đỗ Chiêu Đức

                                                                                                 Xuân Canh Tý 2020

DCD_Kyxuat.png
DCD_thoxuan_2.png
DCD_BCDi.png
DCD_datkhachgiaothua.png
DCD_demxuannghesao.png
DCD_Trudatac_2.png
DCD_linhlang.png
DCD_xuansomolinhlang.png

                             TẢO THU SƠN CƯ

                              Ôn Đình Quân

Bản dịch: Mailộc, Đỗ Chiêu Đức, Phương Hà

Bản dịch MAILOC

Tảo thu sơn cư 
(Ôn Đình Quân )

Sơn cận giác hàn tảo, 
Thảo đường sương khí tình. 
Thụ điêu song hữu nhật, 
Trì mãn thuỷ vô thanh. 
Quả lạc kiến viên quá, 
Diệp can văn lộc hành. 
Tố cầm cơ lự tĩnh, 
Không bạn dạ tuyền thanh. 

-- Dịch nghĩa:  -- 

Tiết thu sớm ở trong núi 

Ở gần núi biết trời lạnh sớm 
Nhà thảo đường sương bay lúc trời tạnh 
Cây héo lá, ngoài cửa sổ có ánh mặt trời 
Ao đầy nước lặng lẻ 
Quả cây rụng thấy vượn đến 
Lá khô nghe rõ chân hươu đi 
Gảy đàn, lòng lo nghĩ đều yên 
Chỉ bạn với nước suối về đêm. 

 

--Bản dịch của Mai Lộc-- 

Thu Sớm Trong Núi 
 (1)
Trong rừng núi , đã nghe lạnh sớm , 
Mái tranh nghèo , thu chớm , mờ sương . 
Ngoài song lá úa nắng vương , 
Ao đầy vắng lạnh , khói dường như mây. 
Hoa trái rụng trên cây vượn hú 
Đạp lá vàng một lũ hươu nai . 
Gảy đàn thanh thoát lòng ai , 
Bạn cùng suối nước đêm nay riêng mình . 
(2) 
Trong núi lạnh heo may , 
Mái nghèo sương khói bay . 
Song ngoài nắng lá úa , 
Ao vắng nước tràn đầy . 
Qủa rụng , vượn đâu đến , 
Lá vàng vẳng hươu nai . 
Gảy đàn lòng tĩnh lặng , 
Suối nước bạn đêm nay . 

Đỗ Chiêu Đức tham gia với các phần sau đây :

 

1. Nguyên bàn chữ Nho của bài thơ :

 

  

 

       早秋山居        TẢO THU SƠM CƯ

      山近覺寒早,   Sơn cận giác hàn tảo,

      草堂霜氣晴。   Thảo đường sương khí tình.

      樹凋窗有日,   Thụ điêu song hữu nhật,

      池滿水無聲。   Trì mãn thuỷ vô thanh.

      果落見猿過,   Qủa lạc kiến viên quá,

      葉幹聞鹿行。   Diệp can văn lộc hành.

      素琴機慮靜,   Tố cầm cơ lự tịnh,

      空伴夜泉清。   Không bạn dạ tuyền thanh.

            溫庭筠                      Ôn Đình Quân

 

       

 

2. Chú Thích :

    - THẢO ĐƯỜNG 草堂 : ĐƯỜNG là Hall trong tiếng Anh, là cái phòng rộng lớn. Nhưng THẢO ĐƯỜNG ở đây là căn nhà cỏ, nhà tranh của những văn nhân thi sĩ ngày xưa khi ở ẩn. Gọi là Thảo Đường cho có vẻ cao nhã thanh thoát mà thôi.

    - TÌNH 晴 : là Tạnh, là Nắng ráo. Sương Khí Tình là chỉ Hơi sương đã tan.

    - THỤ ĐIÊU 樹凋 : là Cây héo. Ở đây chỉ Lá cây vàng rụng nên cành lá thưa thớt. LINH là Điêu Linh là lưa thưa héo úa. 

    - TỐ CẦM 素琴 : là Cây đàn chay. Có nghĩa Cây đàn không có trang trí thêm hoa văn gì cho đẹp cả.

 

3. Nghĩa bài thơ : 

                                THU SỚM TRONG VÙNG NÚI

 

       

 

 

 

 

 

Vì ở gần với núi non nên có cảm giác là cái lạnh của mùa thu đến sớm hơn. Trong gian nhà cỏ đã tạnh hơi sương, ta nhìn qua song cửa thấy ánh nắng đã le lói qua các cành cây lưa thưa lá úa, và một ao nước thu đầy lạnh lẽo trong veo trong yên tĩnh. Trái cây cũng vàng rụng nên thấp thoáng bóng của các con vượn thoáng qua. Bên tai lại nghe tiếng xạc xào của các con nai đạp trên lá vàng khô. Ta gãy chiếc đàn mộc mạc mà lòng lâng lâng yên tịnh, đến khi đêm xuống thì chỉ còn nghe có tiếng suối trong thanh thoát hòa lẫn với tiếng đàn mà thôi.

 

     Câu thứ tư trong bài "池滿水無聲 Trì mãn thuỷ vô thanh" làm cho ta nhớ đến Tam nguyên Yên Đỗ với ...

 

                    Ao thu lạnh lẽo nước trong veo !

 

    và... câu thứ sáu "葉幹聞鹿行 Diệp can văn lộc hành" trong bài, lại làm cho ta liên tưởng đến thi sĩ Lưu Trọng Lư với ...

 

                    Con nai vàng ngơ ngác...

                    Đạp trên lá vàng khô !

 

    Quả là một bài thơ đẹp cho cảnh mùa thu đến sớm với những người ẩn cư tại các vùng núi non xa xôi hẻo lánh : Yên tịnh, thanh thoát và cao nhã !

 

4. Diễn Nôm :

 

             SỚM THU TRONG NÚI

 

   

 

            Hắt hiu núi gần lạnh sớm,

            Nhà tranh vừa tạnh sương mù.

            Cây rụng lưa thưa song nắng.

            Nước đầy trong trẻo ao thu.

            Bóng vượn chập chờn trái rụng,

            Tiếng nai xào xạc lá khô.

            Thanh thoát tiếng đàn mộc mạc,

            lẫn trong tiếng suối như thơ.

 Lục bát :

            Hắt hiu xóm núi lạnh tràn,

            Hơi thu nhà cỏ một gian sương mờ.

            Nắng xuyên song cửa lơ thơ,

            Cây cành thưa lá ao hồ nước dâng.

            Vượn buồn trái rụng bâng khuâng,

            Xạc xào nai đạp lá rừng vàng khô.

            Đàn tranh mộc mạc lửng lơ,

            Hoà cùng tiếng suối như mơ đêm trường.

 

                                       Đỗ Chiêu Đức

Phương Hà xin góp bài phỏng dịch:

 

THU SỚM TRONG NÚI

 

Cái lạnh mùa thu đến sớm hơn

Nhà tranh tĩnh lặng vắng hơi sương

Lưa thưa lá úa trên cành nắng

Lạnh lẽo hồ trong tựa mặt gương

Thấp thoáng vượn tìm hoa quả rụng

Xạc xào nai đạp  lá vàng vương

Gẩy cây đàn mộc ngân cùng suối

Thanh thản lòng ta nhẹ lạ thường.

 

Phương Hà

______________________________________

DCD_TaoThu.png
DCD_taoThu_2.png
DCD_TaoThu_3.png

KHÁCH CHÍ

Đỗ Phủ

DCD_khachchi_1.png

                 Mùa xuân năm Thượng Nguyên thứ hai đời Đường (761), Đỗ Phủ đã năm mươi tuổi. Lúc bấy giờ ông đang định cư nơi đất Thục với một ngôi thảo đường (nhà cỏ) ở đầu các khe suối vùng ngoại ô của Thành Đô. Sau những năm lưu ly loạn lạc, đây là thời gian ông được sống an nhàn nơi thảo dã. Bài KHÁCH CHÍ được làm trong khoảng thời gian nầy.

 

    客至                           KHÁCH CHÍ

舍南舍北皆春水,   Xá nam xá bắc giai xuân thủy,

但見羣鷗日日來。   Đản kiến quần âu nhựt nhựt lai.

花徑不曾緣客掃,   Hoa kính bất tằng duyên khách tảo,

蓬門今始爲君開。   Bồng môn kim thủy vị quân khai.

盤飧市遠無兼味,   Bàn tôn thị viễn vô kiêm vị,

樽酒家貧只舊醅。   Tôn tửu gia bần chỉ cựu phôi.

肯與鄰翁相對飲,   Khẳng dữ lân ông tương đối ẩm,

隔籬呼取盡餘杯。   Cách ly hô thủ tận dư bôi.

            杜甫                                       ĐỖ PHỦ

 

* CHÚ THÍCH :

    - XÁ 舍 : là Nhà trọ, Quán trọ. Chỉ nhà cất sơ sài, thường dùng để chỉ nhà của mình ở, như TỆ XÁ 敝舍 (gọi nhà của người ta là QÚY PHỦ 貴府). 

    - ÂU 鷗 : là chim Hải âu.

    - DUYÊN 緣 : là Duyên cớ, nên có nghĩa là VÌ...

    - BÀN TÔN 盤飧 : BÀN là Mâm, TÔN là Bửa ăn thường; nên BÀN TÔN là bửa ăn xoàng, bửa ăn đạm bạc.

    - CỰU PHÔI 舊醅 : CỰU là cũ, PHÔI là Ủ (rượu cho lên men); CỰU PHÔI ở đây chỉ rượu có sẵn ở trong nhà (để dành không dám uống) chỉ đem ra đãi khách.

    - KHẲNG DỮ 肯與 : là KHẲNG là Chịu, DỮ là Cùng; KHẲNG DỮ có nghĩa : Nếu như chịu cùng ...

    - LÂN ÔNG 鄰翁 : là Ông già hàng xóm.

    - CÁCH LY 隔籬 : CÁCH ở đây có nghĩa là Sát bên, LY là Hàng rào; Nên CÁCH LY là Sát bên rào.

 

* NGHĨA BÀI THƠ :

                                KHÁCH ĐẾN

       Phía nam phía bắc của nhà tôi ở đều là những dòng sông xuân xanh biếc, chỉ có những bầy chim hải âu ngày ngày bay lượn đến. Lối mòn phủ đầy hoa rụng chưa từng được quét vì khách (Hôm nay anh đến thăm nên mới được quét đây); và cánh cửa bằng cỏ bồng nầy hôm nay mới được mở ra vì bạn đến. Trên mâm chỉ có những thức ăn đạm bạc không có thêm được món ngon nào vì chợ ở rất xa; còn rượu thì chỉ là những thứ cũ kỹ ủ để dành, nhà nghèo nên không có mua rượu mới. Nếu bạn đồng ý cùng uống vài ly với ông hàng xóm, tôi sẽ cách rào gọi một tiếng ông ta sẽ cùng uống với chúng ta những cốc rượu thừa nầy.

 

       Cảnh nước sông xuân vắng lặng yên tĩnh thanh nhàn xung quanh ngôi nhà cỏ, chỉ có các con chim âu bay đến hằng ngày. Hôm nay con đường rụng đầy hoa được quét sạch, cánh cửa bằng cỏ lâu nay vẫn khép im ỉm, lại được mở ra vì : Có bạn đến chơi nhà ! Niềm vui của người ẩn cư được bạn bè nhớ đến ghé thăm, nhưng vì cảnh ẩn dật thanh bần không có cao lương mỹ vị để tiếp đãi bạn biền, cả rưọu cũng phải uống rượu cũ ủ lâu ngày sắp hóa chua vì chợ ở xa không đi mua rượu ngon được. Câu nầy lại làm cho ta nhớ đến Tam Nguyên Yên Đỗ Nguyễn Khuyến trong bài "Bạn Đến Chơi Nhà" :

 

                      Chả bấy lâu nay bác tới nhà,

                      Trẻ thời đi vắng chợ thời xa !...

 

      Bài thơ lại được kết với một niềm vui chan chứa, vô tư nhưng rất tự nhiên bộc lộ niềm vui với ý niệm chia xẻ cùng ông hàng xóm : Nếu bạn chịu, tôi sẽ hê ông hàng xóm đến cùng nhậu chung cho vui !

 

                 肯與鄰翁相對飲,   Khẳng dữ lân ông tương đối ẩm,

                 隔籬呼取盡餘杯。   Cách ly hô thủ tận dư bôi.

    

     

DIỄN NÔM :

                     BẠN ĐẾN CHƠI NHÀ

 

            

 

             Mặt nam mặt bắc nước sông dài,

             Chỉ thấy chim âu lượn mỗi ngày.

             Nẻo vắng đầy hoa không khách quét,

             Cửa bồng luôn khép mở vì ai ...

             Chợ xa đạm bạc bày vài món,

             Rượu cũ nhà nghèo ủ mấy chai.

             Nếu chịu cùng ông hàng xóm nhậu,

             Cách rào một tiếng đến lai rai !...

Lục bát :

             Nước xuân nam bắc chảy dài,

             Chim âu bay lượn ngày ngày ven sông.

             Lối mòn hoa rụng đầy sân,

             Cửa bồng luôn khép, mở mừng bạn ta.

             Lèo tèo món nhậu chợ xa,

             Nhà nghèo rượu cũ ủ đà bao năm.

             Thích cùng ông lão đông lân.

             Cách rào một tiếng đến cùng nâng ly !

 

                                                     Đỗ Chiêu Đức

DCD_khachchi_2.png
DCD_bandenchoinha.png