Thơ, Truyện

                                                   lê trúc khanh

CHS-GS Phan Thanh Giản

______________________

MAI HUỲNH VĂN:

CÁNH CHIM “SƠN CA LẶNG LẼ BAY RỒI”.

                         Tựa đề bài viết là một câu trong bài thơ lục bát có tên “Một nửa cuộc đời” của Mai Huỳnh Văn viết khoảng thập niên 70 thế kỷ 20 :

                                            Sơn ca lặng lẽ bay rồi

                                            Mùa xuân rét mướt tôi mời tôi đi..

                        Lời thơ như một dự báo buồn, vì cánh chim đó đã bay vào cõi vô cùng, giã từ gia đình, bè bạn trong một ngày chớm đông cách đây tròn 25 năm. Nếu còn sống, thì nay anh đã  qua tuổi 80. Anh quê ở Tầm Vu, nay là xã Thạnh Hòa, huyện Phụng Hiệp , tỉnh Hậu Giang. Anh cũng là học sinh trường Trung học Phan Thanh Giản – Cần Thơ. Từ những năm còn ngồi trên ghế nhà trường, Văn đã bắt đầu sáng tác thơ, có mặt đều đặn trên các giai phẩm xuân của trường phát hành vào dịp Tết.

                        Trong tờ giai phẩm Xuân trường Phan Thanh Giản năm Mậu Thân 1968, chúng tôi có mở thêm chuyên mục “ Vùng xanh đã mất”. Đây là chuyên mục giới thiệu  sáng tác của những học sinh cũ đã rời trường, là chút kỷ niệm về thầy cô, bè bạn. Lần đó,  chuyên mục nầy giới thiệu hai tác giả là Mai Huỳnh Văn với bài thơ “Nhìn về thân phận” và Dy Trang ( Nguyễn Thanh Liêm) với đoản văn “ Khi xa Cần Thơ mến yêu”.

                        Thơ Mai Huỳnh Văn chơn chất, thực thà mà cũng đầy sâu lắng, nhanh chóng  được bạn bè thuộc lòng, nhắc hoài trong những lần gặp mặt :

                                                  “Tôi bây giờ như chiếc xe tang

                                              Chở đám ma tôi chở đám ma nàng...

                                              Chở đám bạn bè, chở người thân thuộc

                                                   Về nghĩa trang nào nằm ngủ cho yên ?”

                            Thậm chí , có nhiều chàng “cải biên” thành thơ “trào phúng” :

                                          “Tôi bây giờ như chiếc xe...lôi..”

                         Nhưng có mấy ai hiểu đằng sau những dòng thơ ấy là ẩn chứa cả một nỗi đau xót lặng thầm của kiếp người trôi nổi lênh đênh giữa cái đói nghèo triền miên vây bủa ?

                          Có thể nói không quá lời, các thành viên Ban Văn nghệ báo chí  trường Phan Thanh Giản năm đó không ai là không thuộc hai câu thơ trên, dù nhiều bạn chưa hề gặp mặt, chưa hề biết tên tác giả Mai Huỳnh Văn!

                               Viết tới đây , lòng tôi băn khoăn, ray rứt. Bởi vì sau mùa xuân 1968, cuộc chiến bắt đầu lan rộng, bạn bè lần lượt lên đường và rất nhiều người không trở lại. Trong đêm họp mặt liên hoan của Ban báo Chí , chúng tôi đã cùng thực hiện một tập san in ronéo lấy tên là “Góp lửa”. Có phải chăng là  linh cảm về một sự chia lìa,  nên các bạn đã thức suốt đêm từ 23 đến rạng 24 tháng 1 năm 1968, để hát hò,tâm sự, làm báo và cả một tập thơ? Trong  tờ tập san, các thành viên tự ghi tên, địa chỉ và ký tên mình. Tôi vẫn còn giữ tờ báo và danh sách đó. Có tất cả 45 người. Phần cuối danh sách, chúng tôi còn ghi rất rõ ràng: “Tờ báo được hình thành sau một đêm thức trắng.Tờ báo của Ban Báo chí kỷ niệm đêm họp mặt sau cùng. Tờ báo ghi vội những ý nghĩ thoáng qua trong phút chốc..Góp Lửa phát hành trong phạm vi nội bộ với 60 số. Ban kỹ thuật : Thương Phượng-Vũ Hà- Lê trúc Khanh- Lê viễn Xứ- Hồ văn Khê.” Có điều,giờ nầy  khi điểm lại, thì nhiều bạn ra đi  vĩnh viễn, nhiều bạn ở góc biển chân trời...Năm chục năm rồi. Khoảng thời gian đủ dài để cho một người qua tuổi 60 dần quên quá khứ. Hy vọng nếu đọc được những dòng nầy, rất mong  những “cố nhân” của “đêm dài vô tận” năm ấy lên tiếng để biết đâu chúng ta có dịp đoàn viên?

                        Sau mùa xuân Mậu Thân 1968, những chàng trai mười tám của trường mới có dịp gặp gỡ  và quen biết anh Mai Huỳnh Văn nhiều hơn. Lý do là sau khi rời trường, anh đã vào quân đội, nhưng còn chút may mắn là tuy khoác áo lính nhưng công việc chính là một nhân viên văn phòng ở Quận Cái Răng.Vậy là bao nhiêu Bản sao lược giải cá nhân, chứng chỉ học trình , chứng chỉ tạm thay bằng Tú tài 1 , Tú tài 2 ...được các “chính chủ ” lần lượt mang vào văn phòng Quận xin thị thực để nộp hồ sơ hoản dịch hoặc tìm một việc làm. Anh Văn là người tiếp nhận trình ký cấp trên. Chẳng những không tốn lệ phí sao y bổn chánh ( hồi đó trích lục , sao y giấy tờ phài trả phí ), mà còn được một buổi cà phê bên hông nhà lồng chợ Cái Răng ! Nhớ biết bao nhiêu những ngày mưa rã rích, những buổi chiều  đất trời chừng như vàng úa vì âm thanh chiến tranh vẳng lại qua tiếng đại bác xé không gian..anh em chúng tôi ngồi bên nhau mà cứ bồi hồi nhắc chuyện thơ văn, rồi chuyện áo cơm, gia đình oằn vai..  trong mùa ly loạn.

                                      Quen biết lâu, anh tâm sự: “Tên trong khai sanh tôi là Mai  Hồng Văn, nghe buồn quá, tôi không thích chữ “Hồng”,  nên tôi lấy bút hiệu là Mai Huỳnh Văn”. Nhưng Hồng Văn hay Huỳnh Văn, thì anh vẫn luôn hiện diện trong tôi và bao nhiêu người bạn văn nghệ thời đó, là một người anh đáng quí. Bao giờ cũng vậy, dù đang làm văn phòng ở thời chiến tranh ly loạn hay phải dầm mưa dãi nắng , ngược xuôi mấy mươi cây số từ Tầm Vu đến Cần Thơ vì cơm áo, nhưng luôn đối với bạn là cả sự chân thành, bình dị chẳng hề thay đổi.

                                      Sau năm 1975, anh về sống ở quê nhà. Lúc bấy giờ- bạn tôi- Hà Huy Thanh , cũng về Cái Tắc, giống như anh “Bán hàng thay chuyện bán văn chương”. Tôi có viết cho Hà Huy Thanh trong lời ai điếu khi Thanh âm thầm giã từ cuộc sống mang theo nỗi khổ riêng mình :

                                        Cái Tắc- với tao là quán trọ.      

                                        Còn mầy- đâu phải chốn dung thân?

                                       Rất hiếm hoi những lần như thế, anh Mai Huỳnh Văn từ Tầm Vu ra chợ Cái Tắc, hội ngộ với người bạn thuở thiếu thời là anh Nguyễn Ngọc Bích. Cũng có khi anh,  Hà Huy Thanh và tôi ngồi ở một góc quán nhỏ trong chợ Cái Tắc, bàn chuyện trên trời dưới đất để quên đi những muộn phiền trong cuộc sống. Tôi cũng không ngờ được là một thời gian sau, hai người bạn thân thiết ấy lại lặng lẽ ra đi.

                                      Một kỷ niệm không thể nào quên với Mai Huỳnh Văn nữa, là trong những năm gian khó, khi đứa con gái đầu lòng ra đời anh đã đặt tên cháu là Mai thị Hiền Xuân và viết tặng con một bài thơ có tựa “Thơ cho đứa con gái nhỏ mới sanh” đầy xúc động.

                          …..

                              Con ra đời như một giấc mơ

                           Hiền Xuân con yêu quí

                           Con lớn khôn bằng sự yên lành

                           Không bao giờ ai gọi con đi lính

                           Con là con gái giữa thời buổi chiến tranh

                           Là đặc ân của Thượng đế

                           Dành cho con đó.

                          …….

                           Buổi sáng ba ngồi quán cà phê

                           Với bạn bè lính tráng của ba

                           Mà nghe lòng bâng khuâng rất lạ

                           Ba hút một điếu thuốc

                           Để hình dung đôi mắt con

                           Đôi mắt đen hạt nhãn

                           Ba vắng đôi ngày là nhớ băn khoăn…..

                         ……..

                            Bài thơ nầy làm theo thể tự do, đăng trên Nguyệt san Khơi Dòng số 2, phát hành vào mùa xuân Tân Hợi 1971. Nhưng không may mắn, cháu Hiền Xuân  đã bỏ lại cha mình, bỏ lại người thân vì bạo bệnh. Giấc mơ hồng về đứa con gái thân yêu tan vỡ. Anh vốn  ít nói lại càng ít nói hơn, đôi mắt buồn thăm thẳm và cũng ít sáng tác hơn. Phải chăng trong muôn nỗi dằn vặt, đắng cay , lòng anh vẫn ao ước một một mùa Xuân trong sáng, vẹn tròn mà không bao giờ có được ? Năm mươi tám năm đặt chân vào cõi tạm, anh mãi mãi ra đi từ một buổi sáng mùa đông như anh đã viết “Mùa xuân rét mướt tôi mời tôi đi”. Bây giờ thì có lẽ con-chim-trốn-tuyết ấy đã thực sự bay đến  chốn trường sinh để tìm thấy mùa -Xuân-vĩnh – cửu.

Phần mộ nhà thơ MAI HUỲNH VĂN ở xã Thạnh Hòa, Huyện Phụng Hiệp, tỉnh Hậu        Giang. ( ảnh chụp của Phan Hữu Tiếp )

 

                        Tháng 3/1996, nhân kỷ niệm 100 ngày mất của anh, Hà Huy Thanh, tôi và một số bạn bè đã  góp nhặt lại sáng tác của anh để in thành một tập thơ mỏng có tên “Thân phận tôi” gởi tặng thân hữu để gọi là chút kỷ niệm về một nhà thơ tài hoa mà gặp nhiều lận đận. Anh sáng tác không nhiều, chỉ khoảng trên dưới 50 bài và trong tập thơ nhỏ nầy chỉ có 23 bài mà thôi. Ở những trang cuối tập thơ, tôi đã ghi lại cảm xúc của mình với bài viết “Những bài thơ-Một đời người” bên cạnh 4 câu thơ điếu Mai Huỳnh Văn đầy xúc động của anh Nguyễn Ngọc Bích.

                                             Chuyến xe thiên cổ anh về trước

                                             Một đóa nhân sinh đã úa tàn

                                             Chí trai mộng lớn trong trời đất

                                             Gói lại không đầy cỗ áo quan.

                         Trước sau, anh vẫn là một người sáng tác tự do, không ở trong một bút nhóm nào. Thế nhưng, với bạn bè tôi, anh đã dành cho những ân tình sâu đậm. Những năm trước 1975, anh thường có mặt trong các sinh hoạt của quán  cà phê Về Nguồn ( một tụ điểm sinh hoạt văn nghệ của chúng tôi nằm trên đường Tạ Thu Thâu, nay là đường Mậu Thân ), viết bài cho nguyệt san Khơi Dòng.  Ở Đài phát thanh Cần Thơ, thì anh cũng thường tới vào chiều Chủ nhật mỗi tuần để hỗ trợ cho Chương trình thi văn Về Nguồn vì “ái mộ” giọng ngâm thơ của “đồng hương” Huỳnh Túy Liêm; đôi lúc lại đóng vai một “Mạnh thường quân” bất đắc dĩ, giúp tôi trả tiền giải khát cho các nghệ sĩ nghiệp dư nơi cái quán nghèo dọc đường liên tỉnh. Sau 1975, lâu lâu anh lại mang cho tôi, Hà Huy Thanh, Lê Tiến Minh, Nguyễn Hoài Vọng.. vài lít rượu nếp chánh gốc Tầm Vu. Hình ảnh người đàn ông gầy gò, chiếc áo trắng hơi sờn vai đã ngã màu, gò lưng trên chiếc xe đạp cũ, hai bên ghi đông treo hai cái bình nhựa đựng rượu- đối với tôi- vừa thân thuộc, vừa yêu quí, mà cũng đầy ám ảnh về một hướng trời xa mịt mờ trong ngày tháng cũ. Sự hào sảng, nặng tình đậm nghĩa của người bạn nghèo trong cơn biến động lịch sử đáng quí gấp vạn lần so với những người: “Quên tình, quên nghĩa , quên thề hẹn. Học thói phàm nhân giữa chợ chiều”…..

 

                             Mới đó , mà đã một phần tư thế kỷ trôi qua. Lần lượt theo chân anh là  Nguyễn Hữu Phương, Phương Giang, Phạm Hữu Quang, Hà Huy Thanh, Lăng Cảnh Huy, Nguyễn Hoài Vọng, Vương Doãn Chi, Huỳnh Túy Liêm, Phạm Trường Giang, La thị Sinh, Minh Phước, Trần Hòa Nhã, Trúc Thanh Tâm, Trần Trung Hiếu, Tất Hữu Chí… và bao nhiêu người bạn  văn nghệ khác nữa trên khắp miền đất nước? 

  

                              Rất  may mắn, từ đầu năm nay, tôi liên lạc được với nhiều người bạn cũ, trong đó có Phan Hữu Tiếp. Tiếp đã từng góp mặt với những sáng tác của mình cho Chương trình thi văn Về Nguồn từ trước năm 1975. Anh cũng là đồng hương và cũng là bà con thân tộc với anh Mai Huỳnh Văn. Qua Phan Hữu Tiếp, tôi biết thêm nhiều hơn về cuộc sống nghèo khó, vất vả nhưng thanh cao, trong sạch và tấm lòng “trọng nghĩa khinh tài” của một nhà thơ lỡ vận: những điều mà khi còn sống, Mai Huỳnh Văn chưa hề  lên tiếng với bạn bè. Nhân cách ấy, càng làm cho cánh chim  sơn ca dù lặng lẽ bay vào cõi vĩnh hằng, nhưng vẫn còn để lại cho đời âm vang tiếng hót đầy bi tráng.

                                

                             25 năm-  nhớ về anh-  xin được ghi lại ở đây bài thơ viết năm 1995 như những lời  ai điếu.

 

        KHÓC MAI HUỲNH VĂN.

Một mảnh hồn thơm giã biệt đời
Giữa mùa đông muộn thoáng mưa rơi
Còn chăng với cuộc phù sinh ấy
Chia chút niềm vui, chút nụ cười?

Năm tám năm trời gãy cánh chim
Vòng xe cơm áo bỗng chao nghiêng
"Thanh sơn tự tiếu đầu tương hạc"
Nên những dòng thơ ứa máu tim...

Cái Răng- lâu lắm, dù không ghé
Tôi vẫn lòng riêng nhớ một thời
Dinh quận đìu hiu mùa bão loạn
Giọt cà phê lắng khói chơi vơi.

Chiến tranh làm cỗi thời trai trẻ
Con gái: "Hiền Xuân" , gởi trọn lòng
Hai chục năm rồi, mơ ước đó,
Xuân hiền- sao vẫn sống long đong?

Thực bất ngờ, như buổi sớm mai
Muốn đem thơ cũ tặng cho người.
Hồng Văn - nên máu hòa trong chữ
Anh đã nghìn năm " bỏ cuộc chơi" !

Thì thôi- mãi mãi là chia biệt
Ray rứt tình sông dạt bến bờ
" nhân diện bất tri hà xứ khứ"
Chỉ còn bát ngát những trang thơ....

 

Cần Thơ,  đầu năm 2020.

LÊ TRÚC KHANH

                                                   

 

 

 

CUỐI NĂM, VỀ CHỢ MỚI

                                   Gởi Nguyễn Hùng Dũng

 

 

 

 

 

 

 

                     

 

 

 

                           Phà An Hòa, An Giang

Tôi về như máu dạt về tim

Một chút tình kia vạn nỗi niềm

Bát ngát trời thơ vào tháng Chạp

Phải mùa hoa sứ nở trong đêm?

 

Mấy chục năm xa lòng vẫn nhớ

Một thời áo trắng- một thời tươi

Áo cơm oằn nặng mùa chinh chiến

Sao vẫn hồn nhiên những nụ cười ?

 

Chúng ta là những dòng sông nhỏ

Chảy bốn phương trời mới gặp nhau

Bởi vậy, khi tôi về cố xứ

Qua phà Rạch Miễu, nhớ Vàm Nao!

 

Bạn ở quê nghèo thời chiến loạn

Tôi thì  lưu lạc  bỏ quê hương

Mỹ Luông  -Tân Thạch xa lăng lắc

Mà rất gần theo mấy dặm đường.

 

Trường xưa nằm cạnh đường liên tỉnh.

Rau ngỗ xanh đầy dọc lối đi

Một khúc lươn thôi là quá đủ

Lai rai rượu thuốc nhấp vài ly!

 

Học trò ngang tuổi thầy cô giáo

Tôi thích làm thơ, bạn thích đàn

Một đám thư sinh thời mới lớn

Bây giờ đầu bạc nhớ mang mang...

 

Theo bạn về quê ngày nghỉ dạy

Qua phà, qua mấy quảng đường xa

Giáo đường xưa vẳng hồi chuông muộn,

Ngọn khói hoàng hôn ấm mái nhà...

 

Mộng ước một thời trơ gió cát

Qua rồi ba lượt tuổi hai mươi.

Dũng ơi- Đoản khúc rời xuân ấy

Trang Đuốc Hồng kia phủ bụi rồi!

 

 Cần Thơ, những ngày cuối năm.

LÊ TRÚC KHANH

 

___________________________________________________

 

 

 

 

HÃY THẮP LÊN NGỌN LỬA TÌNH YÊU !

 

Thương gởi tất cả các học trò tôi, thế hệ học sinh 1985-1988 với lòng trân trọng.
LTK



 

 

 

 

 

 

 

Chiều ấy- hình như đang bão rớt
Mà sao rất ấm những tình thân
Các em về giữa mùa giông tố
Nhưng lại bình yên gấp vạn lần!

Vạt nắng ban mai vừa trở lại
Khung trời xanh lắm bóng mây xa
Tiếng ai rộn rã cầu đi bộ
Sao giữa hoàng hôn mắt lệ nhòa?

Ba chục năm dài bao biến động
Những dòng trong đó chảy trăm miền
Bến lạ trời xa mù ký ức
Phù sa ân nghĩa vẫn y nguyên...

 

Hơn hai mươi lớp thời đi học
Ai biết ngày mai sẽ đến đâu
Nên rất hồn nhiên thời trẻ dại
Tháng ngày, kỷ niệm cũng thêm sâu...

Có bạn ra trường đi dạy học
Bạn làm công chức, bạn lao đao 
Trăm nghề nên cũng trăm lần khổ
Đôi lúc gần nhau chỉ kịp chào.

Có bạn trầm luân nơi đất khách
Lòng quê đau đáu nỗi hồi hương
Có bạn nghỉ yên lòng đất mẹ
Và bao nhiêu bạn giữa trùng dương?

Chiều nay, xin bỏ bao phiền muộn
Giai cấp, hèn, sang... gởi lại đời
Hãy khoác lên ta màu áo tím
Vạn lòng như một để cùng vui.


Ta vui với bạn bè năm cũ.
Bên cạnh thầy cô tự buổi đầu
A một (A 1), A mười (A 10), Nga (N) hoặc Pháp (P).
Cần Thơ- Hưng Phú cũng như nhau!

Hãy nhắc cùng nhau thời tuổi ngọc
Sân trường rưng nắng đẹp như tranh
Tuổi sắp năm mươi đầu sắp bạc
Ngậm ngùi trong đáy mắt long lanh...

Bài hát vang lên lời quá khứ:
Hành khúc trường ta vẫn tự hào
Tiếng hát học trò mười  tám tuổi
Đêm nầy sao vẫn cứ bay cao ?


Ngọn lửa thầy cô gởi các em
Cùng nhau ta thắp sáng trong đêm
Lung linh cả một trời thương nhớ
Ôi những tình yêu ứa máu tim!


Thầy muốn ngồi yên trong bóng tối
Quanh mình ngọn nến bập bùng soi
Học trò tôi đó - thầy cô đó

Xin giữ dùm nhau suốt cuộc đời...


Ngày mai chia biệt về muôn ngã
Bạn sẽ rời quê - tôi ở đây
Mong ước bao nhiêu lần tái ngộ
Đêm nào - ai biết - giống đêm nay?

Thôi giã từ nhau - nhé - các em
Một bình minh lại nối đêm đen
Vì muôn tia sáng lần tương hội
Sẽ tiếp đường bay vạn cánh chim!

Cần Thơ, 17/07/2018. 
LÊ TRÚC KHANH.

  

 

 

 

KHÔNG GIỮ TRƯỜNG, NHƯNG PHẢI GIỮ HỒN XƯA..

           

2 viên ngói của Trường PTG                                                                                      do GS LPN đem qua Houston, tháng 5/2017

 

                                                              Viết thay học trò tôi, thế hệ 85-88  nhân                                                                                                        mùa kỷ niệm.  

 

                                                              -Gởi Mỹ Phượng và A 10  thân yêu.

 

 

Ai nhặt dùm ta những chùm phượng đỏ

Tháng năm về vang vọng tiếng ve ngân

Chưa đến mùa thi, dạt dào biển gọi

Ôi mùa hè bỗng chốc hóa mùa xuân!

 

Rồi một sớm khi ta mười tám tuổi

Bước xuống đời sao lại thấy bâng khuâng

Giã biệt thầy cô - mái trường ân nghĩa

Nét hồn nhiên đã mất giữa vô chừng....

 

Và chúng ta như những dòng sông nhỏ.

Ba mươi năm biền biệt chảy trăm miền

Đất Mỹ, trời Âu - nặng lòng cố xứ

Cùng ngược nguồn trong một sớm bình yên.

 

Ta về đây, vẫn Cần Thơ nắng đẹp

 Như những lần nao nức buổi liên hoan

Đêm cắm trại hát hò bên ánh lửa

Má ai hồng nên ai nhớ mang mang....

 

Rồi ‘'ai đó'' và bao người bạn trẻ

Chỉ chung trường, chung lớp, chẳng chung đôi.

Xin quá khứ một lần quay trở lại

Để ngậm ngùi khi  tuổi chớm năm mươi...

 

Khi về đây, cổng trường xưa đã khép

 Đường Ngô Quyền mưa đẫm gót chân ta

Trời tháng bảy có em còn đứng đợi

Lời chia tay gởi lại chốn quê nhà...

 

Ôi bạn đồng song, người còn kẻ mất

Bốn dãy bàn  - mấy chục chỗ ngồi quen

Ba năm học dù ít nhiều thay đổi

Nhưng bạn bè thì không thể nào quên...

 

Trường mới cất vẫn trên nền đất cũ

Thời học trò phong kín giữa lòng sân.

Thương lớp nhỏ, thương bạn bè thuở trước.

Một tình yêu hoài niệm đến hai lần!

 

Ta về đây như một người khách lạ

Lớp sóng sau đùa mất bãi bờ xa

Muốn tìm lại dãy hành lang thân thuộc

Khung cửa nào gởi trọn trái tim ta ?

 

Đã mất rồi sao, hình hài buổi trước

Thế kỷ qua, thương biết mấy cho vừa.

Dù gạch đá trăm năm là cát bụi,

Không giữ trường, nhưng phải giữ hồn xưa !

 

 

LÊ TRÚC KHANH.

 

 

 

GỞI NGƯỜI TRĂM NĂM CŨ

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Tôi về buổi ấy trời hoen nắng

Một dãy Tiền Giang sóng gợn buồn

Từng chuyến xe qua cầu  Rạch Miễu

Bồi hồi kỷ niệm nhớ quê hương....

 

Người vẫn nằm đây- vẫn ở đây

Nhói lòng nghe súng vọng phương tây

" Bến Nghé của tiền tan bọt nước

Đồng Nai tranh ngói nhuốm màu mây"

 

Hào khí miền Nam vùi đáy mộ

Thành xưa đã bặt tiếng quyên sầu

Một giấc Long Hồ vang chiến sử

Xin làm mây trắng miệt Ngao Châu...

 

Thắp vội tuần hương rời Bảo Thạnh

Ba Tri tăm tắp một dòng trôi

Nhớ người, nhớ cả ngôi trường cũ

Giấc mộng trăm năm lỡ hẹn rồi....

 

LÊ TRÚC KHANH