Thơ, Truyện

                                                   lê trúc khanh

CHS-GS Phan Thanh Giản

______________________

Heading 1

LÊ TRÚC KHANH

_____________________________________________________

(Kỷ niệm 20 năm – năm mất của  Hà Huy Thanh  2001- 2021)

 

HÀ HUY THANH

BÁN HÀNG THAY CHUYỆN BÁN VĂN CHƯƠNG...

1

 

Những năm 60 của thế kỷ XX, cuộc chiến ở miền Nam bắt đầu lan rộng. Nhiều vùng quê bom cày đạn xới, cái chết diễn ra thường trực. Có nhiều ngôi trường tôi đi qua khói còn nghi ngút để rồi băn khoăn tự hỏi: bao nhiêu tuổi thơ  đã bị tước đoạt sự bình yên vùi thân  trong lửa đạn? Nhưng Cần Thơ vẫn bình yên, phố chợ đông người, bến Ninh Kiều luôn ồn ào dập dìu du khách. Hình như chiến tranh bỏ quên vùng đất cây lành trái ngọt nầy. Cách thành phố mười sáu cây số, là thị trấn Cái Tắc yên ả, thanh bình, trục đường chính nối với tỉnh Chương Thiện qua ngang chợ vẫn rộn ràng người mua kẻ bán, quán xá hai bên không lúc nào vắng khách. Con đường  Cần Thơ - Cái Tắc ngày đó  chưa tốt như bây giờ, chuyến  xe lam dằn xóc, nhưng khi ghé bến, ta cảm giác như bao nhiêu mệt mỏi đều tan biến khi trước mắt ta là một vùng quê mà ta cứ ngỡ là đã gặp từ trong kiếp trước! Cái Tắc trong suy nghĩ của bản thân tôi  như vậy, từ lần gặp gỡ  đầu tiên. 

Tôi đến Cái Tắc cùng với Thanh Điệp, Thanh Trân qua lời mời của Hà Huy Thanh. Nhà Thanh là một quán cà phê hầu như suốt ngày đều đông khách. Hai bác ba má Thanh  là người Hoa chánh gốc, theo con sóng lưu dân trôi giạt đến Cần Thơ. Cuộc sống “gạo chợ nước sông” đã tạo nên mối đồng  cảm giữa những người lưu lạc để rồi đi đến cuộc hôn nhân bền bĩ cả một đời. Gia đình Hà Huy Thanh lúc đó không phải loại giàu, chỉ  thuộc dạng khá, nhưng Thanh đã được hai bác trang bị cho một chiếc HonDa dame để làm phương tiện di chuyển, trong khi chúng tôi hầu như rất khó tìm một chiếc xe đạp để đi!. Vì  vậy, chiếc Hon Da màu xám đó, một thời gian là phương tiện thuận lợi cho chúng tôi khi về Cái Tắc (dù phải chất cả 4 đứa trên xe).  Đúng là cái thời “liều mạng” của tuổi học trò,  đường xa, nguy hiểm, vậy mà không đứa nào biết sợ, lại coi đó là một thành tích vẻ vang!  Hai bác lại vô cùng hào phóng, thương các bạn của con mình như con ruột, ăn uống thoải mái, lại được cho ở một ngôi nhà phía sau chợ , rộng rãi nằm yên bình sau hàng rào bông bụp. Tôi đã có những ngày hè hạnh phúc như thế  trong năm 1964.

Những lần sau, tôi thường về một mình trong các kỳ nghỉ Tết. Thời chiến, người dân Miền Nam chờ  đợi mùa Xuân , bởi đi theo nó là những ngày “hưu chiến”. Hai từ này, hình như đã bị xóa mất trong nhận thức của người dân từ sau 1975. Những người trẻ tuổi hôm nay chắc cũng vô cùng lạ lẫm khi nghe nhắc đến từ “hưu chiến”. Trong thời binh lửa, khi cái chết đe dọa thường trực, khi niềm ước mơ ngày đất nước thanh bình vẫn là giấc mơ xa vời, thì những khoảnh khắc im tiếng súng, tắt bóng hỏa châu là một thứ hạnh phúc không dễ gì có được. Lúc đó, cả hai phía trên chiến trường miền Nam cùng thống nhất ngưng bắn từ trưa 30 đến hết ngày mùng 3 Tết, để dân chúng được yên ổn vui tết, để bà con có thể về quê  thăm viếng lẫn nhau. Nhưng trên thực tế, chiều 30 vẫn còn tiếng súng hòa trong tiếng pháo và mới sáng mùng hai thì chiến trường đã bắt đầu sôi động.

Những ngày vui ngắn ngủi đó, tôi và Hà Huy Thanh thường rủ nhau đi vòng chợ Cái Tắc, qua trường Tân Phú Thạnh tới chợ Bang Thạch, có khi xuống Tầm Vu thăm anh Mai Huỳnh Văn,  ghé chợ Rạch Gòi uống cà phê,  rồi lại trở về nhà cùng các em trai,  gái của Thanh trong  những bữa cơm ấm cúng hương vị gia đình. Mới đó, mà đã hơn nửa thế kỷ trôi qua. Các em  hầu hết qua tuổi sáu mươi và có em đã rời bỏ cuộc chơi từ vài mươi năm trước. Trong những ngày vui đó, anh em tôi vẫn bị ám ảnh bởi một ngày mai: chỉ cần một lần thi rớt là có thể phải tham gia vào chuyến đi không có ngày trở lại!. 

Cái Tắc- anh buồn con phố nhỏ

Dòng sông trước mặt vẫn mồ côi

Ở đó - và còn xa chút nữa

Ngày vui nào trọn kiếp con người ?

 

Anh làm lữ khách ăn cơm trọ

Quên nhớ - như vừa quên chiến tranh

Tết với người ta – bè bạn cũ

Mùa xuân đâu phải chỉ riêng mình ?

 

2

Rồi những mùa xuân, mùa hè như thế lần lượt đi qua, chúng tôi lớn dần lên, cuộc sống bị vây bủa trùng trùng bởi chiến tranh, gia đình, cơm áo. “Bạn bè tan tác , đời muôn nẻo - Anh lạc bầy bay đến dại khờ”. Hà Huy Thanh kém phần may mắn trên đường khoa cử.  Rớt kỳ thi Tú Tài một,  sau nhiều lần “thoát nạn”  nhờ ba má Thanh có chút quen biết, đến  khoảng năm 1970 bị gọi nhập ngũ và đưa vào một đơn vị tác chiến ở Vị Thanh. Anh học trò yếu đuối, hiền lành ấy không chịu nổi cuộc sống gian khổ lại bị cái chết đe dọa thường xuyên, nên bỏ ngũ và sau đó bị bắt giam vào quân lao trên đường Kiến Quốc (nay là đường Nguyễn văn Cừ). Lúc nầy tôi  đã tốt nghiệp ĐHSP và về dạy tại trường TH Phong Phú (Ô Môn). Làm lính thời chiến đã khổ thì là một “đào binh” trong trại giam lại khổ gấp trăm lần. Tình cờ, một buổi sáng khi đi làm lao dịch, Thanh chợt nhìn thấy Đại Úy Sung đứng ở VP. Lúc nầy anh Sung là người phụ trách trại giam. Biết tôi và anh Sung có mối liên hệ gia đình, Thanh viết thư kêu cứu và cho tiền xe ôm cấp tốc mang đến địa chỉ nhà tôi. Lúc đó, tôi đi dạy và đến trưa mới về nhà. Cầm thư bạn trên tay,  lá thư viết bằng giấy họ trò nhàu nát, nét chữ run run, lòng tôi bồi hồi xúc động. Thanh nhắn tôi, bằng mọi giá, phải  giúp Thanh ra khỏi nơi giam giữ vì đã quá sức chịu đựng. “Nếu mầy không giúp được, có lẽ tao phải tìm sự giải thoát bằng cái chết”. Tôi vội vàng chạy tới nhà anh Sung  đưa thư cho anh đọc và khẩn thiết nhờ anh giúp đỡ. Đại Úy Sung đọc thư xong, vỗ vai tôi: “Giáo sư yên tâm đi, tôi sẽ giải quyết ngay buổi chiều nay”. Và anh đã giữ lời. Chiều hôm đó, Thanh được gọi lên để nhận một công việc khác ở văn phòng. Công việc nhẹ nhàng, không bị mất tự do và Thanh có thể thoải mái ra ngoài tìm tôi đi uống cà phê. Mấy tháng sau, nhờ có người giúp đỡ, Hà Huy Thanh chuyển qua làm lính trong trung  đội bảo vệ Đài Phát thanh Cần Thơ cho đến tháng 4 năm 1975. Sự nhiệt tình của anh Sung đã cứu bạn tôi khỏi cái chết tự chọn (tôi hiểu Hà Huy Thanh rất dễ xúc động và nhiều lần nói về cái chết  như thế) là một ơn nghĩa  mà tôi không bao giờ quên.

Từ khi về làm lính Đài Phát Thanh Cần Thơ, Hà Huy Thanh  là người trợ thủ đắc lực của Chương trình thi văn Về Nguồn. Cứ mỗi  trưa  Chủ Nhật, Thanh có mặt rất sớm để đón các bạn vào thu âm, nhiều lần cùng Mặc Uyên Thi, Thuần Phong... thay tôi giới thiệu chương trình (nhất là khi tôi vào quân trường Quang Trung).  Hơn thế nữa, Hà Huy Thanh còn là một trong những Mạnh thường Quân lớn (thời đó chưa có từ đại  gia!)  trả tiền nước cho các diễn viên ở cái  quán quen thuộc nằm trên đường liên tỉnh.

Những ngày đó, anh em Về Nguồn đã làm rất nhiều việc: Chương trình thi văn phát thanh hằng tuần, Nguyệt san Khơi Dòng, Quán Cà phê Về Nguồn... cũng như tiếp tục xuất bản tác phẩm của cộng sự viên và bằng hữu Về Nguồn.

Chúng tôi lao vào công việc bằng cả sự say mê, cộng thêm nhiệt tình thời tuổi trẻ và cũng để bù đắp vào những mất mát do các bạn đã phải ra đi: Huyền Vân  Thanh, Nguyễn Hoài Vọng, Vương Doãn Chi, Phù Sa Lộc, Thanh Điệp, Sao Ngân Hà, Phạm Trường Giang, Lê Viễn Xứ….

 

3

 

Những năm đầu sau 1975, Hà Huy Thanh vẫn còn  nặng nợ văn chương. Có một thời gian là Tổng thư ký Hội Văn nghệ (nay là Hội nhà văn) Thành phố Cần Thơ. Trong giai đoạn nầy, chúng tôi còn ấn hành được hai tuyển tập nhỏ tưởng nhớ Nhà sưu khảo văn học Nguyễn Bá Thế và nhà thơ Mai Huỳnh Văn.  Sau đó  không lâu, do hoàn cảnh gia đình, Thanh về ở hẳn quê nhà Tân Phú Thạnh. Bấy giờ, thì nhà thơ hiền lành ấy vẫn mỗi ngày dong ruổi trên chiếc xe Mobilet cũ màu xanh, xuôi ngược Cái Tắc - Cần Thơ, lấy hàng về bán tại chợ cho người ăn chay. Nhà Thanh  mới cất lại, nằm sâu trong một con đường cặp bờ sông  Cái Tắc, cách chợ đến vài cây số. Đây cũng là nơi chúng tôi có buổi chia tay đầy lưu luyến với  anh chị Huyền vân Thanh- Kiều Diễm Phượng trước khi gia đình anh sang Mỹ định cư theo diện H.O. Nơi bán hàng của Thanh là một cái sạp nhỏ nằm trên lối vào nhà lồng chợ, thường chỉ bán từ sáng đến khoảng mười giờ hơn thì đã thưa người. Tôi nói đùa với bạn mình: “Bây giờ thì mầy bán hàng thay chuyện bán văn chương!”.

Những hôm không có giờ dạy, tôi thường chạy xe từ Cần Thơ vào đây để gặp bạn mình, có lúc anh Mai Huỳnh Văn cũng từ Tầm Vu ra, anh Nguyễn Ngọc Bích từ Phong Điền tới, ghé vào góp chuyện. Bên ly cà phê “lưng chừng” thời bao cấp, chúng tôi bùi ngùi nhắc về bè bạn, nhắc những người đã và sắp ra đi theo dòng di tản, nhắc chuyện buồn vui, mưa nắng Về Nguồn - những năm tháng thần tiên của một thời binh lửa.

Mùng 3 tết năm Tân Tỵ (26/01/2001), tôi và Hà Huy Thanh ngồi suốt buổi chiều  ở bộ bàn ghế đá phía sau nhà. Nơi đây là một khoảng vườn trống khá rộng, cây  cối um tùm. Chúng tôi có buổi gặp  mặt đón Tết dù chỉ có hai người, nhưng thật vui khi cùng nhau nhắc về kỷ niệm. Nhắc lại thời học trò xanh mộng ước, có tôi, có Thanh, có đông đủ bè bạn nhóm Về Nguồn… và có cả cô bé láng giềng hồn nhiên, trinh trắng:

 

Phiên chợ chiều quê ru tiếng thở

Vành môi nghiêng nón lá gòn bay

Phơi áo - em cười xanh mái tóc,

Mười lăm, anh đợi tháng mong ngày…

 

Nhưng tất cả đã vùi chôn vào quá khứ “ký ức ngày xanh cưốn bụi mù”. Hai bác ba má Thanh  đã quá vãng  từ lâu. Dì Mười, Dượng Mười cũng trở thành thiên cổ. Các em trai, em gái của Thanh  là những cánh lục bình  trôi dạt cuối trời xa. Bạn bè chúng tôi người còn kẻ mất, tựa như những cánh hoa sao đầu thu  trong thành phố cũ. Những cánh hoa ấy chỉ đẹp trong giây phút phù du khi nó xoay tròn theo gió, rồi mãi mãi chôn vùi bên lề  đường, hè phố, để hóa thân  làm một hạt bụi lặng câm trong cái vô tình, khắc nghiệt của thời gian. Tôi và Thanh có chung mơ ước là lúc nào đó, tập họp được hết những người bạn cũ, không chỉ trong nhóm mà có cả những bằng hữu của Về Nguồn. Nhưng có ngờ đâu, buổi họp mặt không thành, và nơi chúng tôi ngồi chiều hôm đó, lại là nơi Hà Huy Thanh nằm lại vĩnh viễn từ ngày Mùng 1 tháng 8 năm Tân Tỵ  (17/ 09/2001).

Thanh đã tự chọn cho mình một cách ra đi, giấu kín trong lòng nỗi buồn thân phận như chính Thanh đã viết những dòng  trong tập thơ “Trong nỗi buồn thầm” :

Xót xa tình vẫy tay chào

Em heo hút mốt tình đầu tiễn đưa

Thì thôi mộng trả về mơ

Tôi xin vuốt mặt tôi giờ phút xa…

  

4

 

Sáng Chủ nhật 16/9/2001, Hà Huy Thanh từ Cái Tắc ra Cần Thơ, ghé lại nhà cũ ở đường Đề Thám. Từ đây Thanh gọi điện thoại bàn cho tôi. Thời điểm nầy, tôi đã đi uống cà phê sáng với các đồng nghiệp trường THPT Châu văn Liêm. Con gái tôi hỏi: “Chú cần gặp ba con không?” Thanh trả lời: “Thôi khỏi, chú chỉ hỏi thăm ba con thôi”. Khi về nhà nghe con kể lại, tôi nghĩ là một cuộc thăm hỏi bình thường vì mới gặp nhau tuần trước, hơn nữa, lúc bấy giờ hầu như chưa có ai dùng di động nên cũng không cách nào liên lạc, trừ khi ta ở nhà gọi hoặc nhờ một trạm điện thoại bên đường... Thanh về Cái Tắc trong buổi sáng đó. Và tôi cũng không bao giờ ngờ được, sáng sớm hôm sau, gia đình báo tin là Hà Huy Thanh đã ra đi. Như vậy, người bạn thân thiết nhất của tôi (đã có sự chuẩn bị trước) muốn gặp bạn mình để nói lời giã biệt, thế mà  chỉ chậm một bước thôi  là mãi mãi chia lìa. 

Trong một bài viết về chợ hoa Ninh Kiều dịp Tết, người tôi nhắc tới đầu tiên là Hà Huy Thanh, người bạn đồng song đã sớm chia tay cùng bao nhiêu  người thân thuộc:

“Xuân nầy, tôi lại có dịp đi chợ hoa Ninh Kiều, nhưng bên cạnh là đứa cháu ngoại vừa ở tuổi biết cảm nhận cái đẹp của hoa và cũng có hàng trăm câu hỏi về hoa mà đôi lúc ông ngoại phải chào thua vì không có lời giải đáp! Lại nhớ lan man về những người bạn học, trong đó có nhiều  người đã vĩnh viễn ra đi. Một đêm nào trong mùa xuân chiến tranh, tôi và Hà Huy Thanh đã đi chợ Tết Ninh Kiều với cả tấm lòng phơi phới tuổi hai mươi :

                            Ra chợ đêm chờ xem pháo bông

                            Bến bờ bên ấy vẫn mênh mông.

                            Hai thằng bạn rủ đi trên pháo

                            Để thấy tình yêu vẫn đẹp hồng..

Rồi người bạn thân ấy cũng đã nói lời vĩnh biệt. Ngày bạn mất, lòng tôi đau nhói vì Hà Huy Thanh ra đi là đã mang theo  một phần đời thanh niên của tôi ở đất Cần Thơ . Điều đó, hôm nay tôi cũng không thể tâm sự với cháu mình mà chỉ giấu kín trong lòng.  Rồi lại nhớ cô bé học trò mỗi ngày với tà áo trắng bay trên đường Phan Thanh Giản để cho ai kia cứ theo bước giai nhân, khoảng đường gần mà mắt thì xa dịu vợi!:

Đại lộ và mười  lăm cột đèn

Bây giờ nghe khoảng cách dài thêm

Dấu chân hai đứa nhòa sương bụi

Anh ngẩn ngơ- thời gian lãng quên…

Cố nhân  nay cũng đã là bà nội, ngoại, tóc bạc màu theo năm tháng và có lẽ những câu thơ vụng về chắc cũng không còn nhớ nổi  dù hồi nào tôi đã nắn nót từng dòng trên giấy poluer xanh để kín đáo gửi cho nàng. Mà thôi, nhắc làm gì cái thời hoa bướm đó. Tôi chợt ngước nhìn lên khung trời tháng chạp. Quê hương tôi đang bước vào xuân với không gian bát ngát màu xanh, cao vời vợi như những niềm mơ ước không cùng. Lẫn trong  cái nền xanh bình yên đó, có một vầng mây trắng phiêu bạt cuối trời xa, trôi rất chậm như có chút gì lưu luyến nên bất chợt trong  khoảnh khắc dừng lại  phía vàm sông. Có phải đó là Hà Huy Thanh, là Lăng Cảnh Huy, là Mai Huỳnh Văn, là Huỳnh Túy Liêm… hay bao nhiêu người khác nữa, những người cùng tôi góp mặt  trong chợ Tết Ninh Kiều mà  giờ đây  đã là “bạch vân thiên tải “?”

Năm năm sau ngày anh Mai Huỳnh Văn vĩnh  biệt , lại đến lượt Hà Huy Thanh. Đã tròn hai mươi năm. Thêm một thế  hệ trưởng thành và thêm nhiều người nữa ra đi. Điều đáng tiếc là lớp con cháu chúng tôi không ai nối nghiệp văn chương. Trong xu thế thời đại, khi xã hội chuyển mình phi mã theo đà tiến bộ của khoa học kỹ thuật, thì chuyện sáng tác thơ văn với lớp trẻ hôm nay hình như trở thành xa xỉ! 

Nhắc lại chuyện ngày qua mà lòng chợt bồi hồi. Có lẽ cũng như bao người bạn khác, Hà Huy Thanh chỉ xem trần gian là cỏi tạm. Nó giống như hồi lần đầu về quê bạn, tôi đã viết cho Thanh:

Cái Tắc- với tao là quán trọ

Còn mầy, đâu phải chốn dung thân.

Cần Thơ, tháng 12/ 2020.

         

                                                                                                               LÊ TRÚC KHANH

 HÀ HUY THANH (1949- 2001)

-Tên thật Lý Thành Tuấn, sinh 1949 tại Tân Phú Thạnh, Cần Thơ.

-Cựu học sinh trường TH Phan Thanh Giản (Cần Thơ)

Sáng tác đăng trên thi tuyển Về Nguồn, các tạp chí, tuần san ở miền Nam trước 1975.

- Quản nhiệm tạp chí Khơi Dòng (1972).

-Biên tập viên chương trình thi văn Về Nguồn trên Đài PT Cần Thơ.

-Thành viên trong các hoạt động khác của Về Nguồn như: Cơ sở xuất bản, quán Về   

Nguồn…

-Có thời gian là Tổng thư ký Hội văn nghệ Cần Thơ (sau 1975)

-Tác phẩm đã xuất bản: Trong nỗi buồn thầm (1970)

- Viết cho những người còn ở lại (chung với Lê Trúc Khanh và Lệ Thy.)

- Giấc lửa: Tuyển tập thơ 8 tác giả (1968)

- Gởi lại mùa đông (thơ, in chung với Lê Trúc Khanh ).

- Mất tại quê nhà Tân Phú Thạnh năm 2001 và cũng an táng tại đây.

___________________

CÁC BẠN HẢI NGOẠI

Xin thắp 1 nén hương lòng tưởng niệm bạn văn HÀ HUY THANH

MAI HUỲNH VĂN:

CÁNH CHIM “SƠN CA LẶNG LẼ BAY RỒI”.

                         Tựa đề bài viết là một câu trong bài thơ lục bát có tên “Một nửa cuộc đời” của Mai Huỳnh Văn viết khoảng thập niên 70 thế kỷ 20 :

                                            Sơn ca lặng lẽ bay rồi

                                            Mùa xuân rét mướt tôi mời tôi đi..

                        Lời thơ như một dự báo buồn, vì cánh chim đó đã bay vào cõi vô cùng, giã từ gia đình, bè bạn trong một ngày chớm đông cách đây tròn 25 năm. Nếu còn sống, thì nay anh đã  qua tuổi 80. Anh quê ở Tầm Vu, nay là xã Thạnh Hòa, huyện Phụng Hiệp , tỉnh Hậu Giang. Anh cũng là học sinh trường Trung học Phan Thanh Giản – Cần Thơ. Từ những năm còn ngồi trên ghế nhà trường, Văn đã bắt đầu sáng tác thơ, có mặt đều đặn trên các giai phẩm xuân của trường phát hành vào dịp Tết.

                        Trong tờ giai phẩm Xuân trường Phan Thanh Giản năm Mậu Thân 1968, chúng tôi có mở thêm chuyên mục “ Vùng xanh đã mất”. Đây là chuyên mục giới thiệu  sáng tác của những học sinh cũ đã rời trường, là chút kỷ niệm về thầy cô, bè bạn. Lần đó,  chuyên mục nầy giới thiệu hai tác giả là Mai Huỳnh Văn với bài thơ “Nhìn về thân phận” và Dy Trang ( Nguyễn Thanh Liêm) với đoản văn “ Khi xa Cần Thơ mến yêu”.

                        Thơ Mai Huỳnh Văn chơn chất, thực thà mà cũng đầy sâu lắng, nhanh chóng  được bạn bè thuộc lòng, nhắc hoài trong những lần gặp mặt :

                                                  “Tôi bây giờ như chiếc xe tang

                                              Chở đám ma tôi chở đám ma nàng...

                                              Chở đám bạn bè, chở người thân thuộc

                                                   Về nghĩa trang nào nằm ngủ cho yên ?”

                            Thậm chí , có nhiều chàng “cải biên” thành thơ “trào phúng” :

                                          “Tôi bây giờ như chiếc xe...lôi..”

                         Nhưng có mấy ai hiểu đằng sau những dòng thơ ấy là ẩn chứa cả một nỗi đau xót lặng thầm của kiếp người trôi nổi lênh đênh giữa cái đói nghèo triền miên vây bủa ?

                          Có thể nói không quá lời, các thành viên Ban Văn nghệ báo chí  trường Phan Thanh Giản năm đó không ai là không thuộc hai câu thơ trên, dù nhiều bạn chưa hề gặp mặt, chưa hề biết tên tác giả Mai Huỳnh Văn!

                               Viết tới đây , lòng tôi băn khoăn, ray rứt. Bởi vì sau mùa xuân 1968, cuộc chiến bắt đầu lan rộng, bạn bè lần lượt lên đường và rất nhiều người không trở lại. Trong đêm họp mặt liên hoan của Ban báo Chí , chúng tôi đã cùng thực hiện một tập san in ronéo lấy tên là “Góp lửa”. Có phải chăng là  linh cảm về một sự chia lìa,  nên các bạn đã thức suốt đêm từ 23 đến rạng 24 tháng 1 năm 1968, để hát hò,tâm sự, làm báo và cả một tập thơ? Trong  tờ tập san, các thành viên tự ghi tên, địa chỉ và ký tên mình. Tôi vẫn còn giữ tờ báo và danh sách đó. Có tất cả 45 người. Phần cuối danh sách, chúng tôi còn ghi rất rõ ràng: “Tờ báo được hình thành sau một đêm thức trắng.Tờ báo của Ban Báo chí kỷ niệm đêm họp mặt sau cùng. Tờ báo ghi vội những ý nghĩ thoáng qua trong phút chốc..Góp Lửa phát hành trong phạm vi nội bộ với 60 số. Ban kỹ thuật : Thương Phượng-Vũ Hà- Lê trúc Khanh- Lê viễn Xứ- Hồ văn Khê.” Có điều,giờ nầy  khi điểm lại, thì nhiều bạn ra đi  vĩnh viễn, nhiều bạn ở góc biển chân trời...Năm chục năm rồi. Khoảng thời gian đủ dài để cho một người qua tuổi 60 dần quên quá khứ. Hy vọng nếu đọc được những dòng nầy, rất mong  những “cố nhân” của “đêm dài vô tận” năm ấy lên tiếng để biết đâu chúng ta có dịp đoàn viên?

                        Sau mùa xuân Mậu Thân 1968, những chàng trai mười tám của trường mới có dịp gặp gỡ  và quen biết anh Mai Huỳnh Văn nhiều hơn. Lý do là sau khi rời trường, anh đã vào quân đội, nhưng còn chút may mắn là tuy khoác áo lính nhưng công việc chính là một nhân viên văn phòng ở Quận Cái Răng.Vậy là bao nhiêu Bản sao lược giải cá nhân, chứng chỉ học trình , chứng chỉ tạm thay bằng Tú tài 1 , Tú tài 2 ...được các “chính chủ ” lần lượt mang vào văn phòng Quận xin thị thực để nộp hồ sơ hoản dịch hoặc tìm một việc làm. Anh Văn là người tiếp nhận trình ký cấp trên. Chẳng những không tốn lệ phí sao y bổn chánh ( hồi đó trích lục , sao y giấy tờ phài trả phí ), mà còn được một buổi cà phê bên hông nhà lồng chợ Cái Răng ! Nhớ biết bao nhiêu những ngày mưa rã rích, những buổi chiều  đất trời chừng như vàng úa vì âm thanh chiến tranh vẳng lại qua tiếng đại bác xé không gian..anh em chúng tôi ngồi bên nhau mà cứ bồi hồi nhắc chuyện thơ văn, rồi chuyện áo cơm, gia đình oằn vai..  trong mùa ly loạn.

                                      Quen biết lâu, anh tâm sự: “Tên trong khai sanh tôi là Mai  Hồng Văn, nghe buồn quá, tôi không thích chữ “Hồng”,  nên tôi lấy bút hiệu là Mai Huỳnh Văn”. Nhưng Hồng Văn hay Huỳnh Văn, thì anh vẫn luôn hiện diện trong tôi và bao nhiêu người bạn văn nghệ thời đó, là một người anh đáng quí. Bao giờ cũng vậy, dù đang làm văn phòng ở thời chiến tranh ly loạn hay phải dầm mưa dãi nắng , ngược xuôi mấy mươi cây số từ Tầm Vu đến Cần Thơ vì cơm áo, nhưng luôn đối với bạn là cả sự chân thành, bình dị chẳng hề thay đổi.

                                      Sau năm 1975, anh về sống ở quê nhà. Lúc bấy giờ- bạn tôi- Hà Huy Thanh , cũng về Cái Tắc, giống như anh “Bán hàng thay chuyện bán văn chương”. Tôi có viết cho Hà Huy Thanh trong lời ai điếu khi Thanh âm thầm giã từ cuộc sống mang theo nỗi khổ riêng mình :

                                        Cái Tắc- với tao là quán trọ.      

                                        Còn mầy- đâu phải chốn dung thân?

                                       Rất hiếm hoi những lần như thế, anh Mai Huỳnh Văn từ Tầm Vu ra chợ Cái Tắc, hội ngộ với người bạn thuở thiếu thời là anh Nguyễn Ngọc Bích. Cũng có khi anh,  Hà Huy Thanh và tôi ngồi ở một góc quán nhỏ trong chợ Cái Tắc, bàn chuyện trên trời dưới đất để quên đi những muộn phiền trong cuộc sống. Tôi cũng không ngờ được là một thời gian sau, hai người bạn thân thiết ấy lại lặng lẽ ra đi.

                                      Một kỷ niệm không thể nào quên với Mai Huỳnh Văn nữa, là trong những năm gian khó, khi đứa con gái đầu lòng ra đời anh đã đặt tên cháu là Mai thị Hiền Xuân và viết tặng con một bài thơ có tựa “Thơ cho đứa con gái nhỏ mới sanh” đầy xúc động.

                          …..

                              Con ra đời như một giấc mơ

                           Hiền Xuân con yêu quí

                           Con lớn khôn bằng sự yên lành

                           Không bao giờ ai gọi con đi lính

                           Con là con gái giữa thời buổi chiến tranh

                           Là đặc ân của Thượng đế

                           Dành cho con đó.

                          …….

                           Buổi sáng ba ngồi quán cà phê

                           Với bạn bè lính tráng của ba

                           Mà nghe lòng bâng khuâng rất lạ

                           Ba hút một điếu thuốc

                           Để hình dung đôi mắt con

                           Đôi mắt đen hạt nhãn

                           Ba vắng đôi ngày là nhớ băn khoăn…..

                         ……..

                            Bài thơ nầy làm theo thể tự do, đăng trên Nguyệt san Khơi Dòng số 2, phát hành vào mùa xuân Tân Hợi 1971. Nhưng không may mắn, cháu Hiền Xuân  đã bỏ lại cha mình, bỏ lại người thân vì bạo bệnh. Giấc mơ hồng về đứa con gái thân yêu tan vỡ. Anh vốn  ít nói lại càng ít nói hơn, đôi mắt buồn thăm thẳm và cũng ít sáng tác hơn. Phải chăng trong muôn nỗi dằn vặt, đắng cay , lòng anh vẫn ao ước một một mùa Xuân trong sáng, vẹn tròn mà không bao giờ có được ? Năm mươi tám năm đặt chân vào cõi tạm, anh mãi mãi ra đi từ một buổi sáng mùa đông như anh đã viết “Mùa xuân rét mướt tôi mời tôi đi”. Bây giờ thì có lẽ con-chim-trốn-tuyết ấy đã thực sự bay đến  chốn trường sinh để tìm thấy mùa -Xuân-vĩnh – cửu.

Phần mộ nhà thơ MAI HUỲNH VĂN ở xã Thạnh Hòa, Huyện Phụng Hiệp, tỉnh Hậu        Giang. ( ảnh chụp của Phan Hữu Tiếp )

 

                        Tháng 3/1996, nhân kỷ niệm 100 ngày mất của anh, Hà Huy Thanh, tôi và một số bạn bè đã  góp nhặt lại sáng tác của anh để in thành một tập thơ mỏng có tên “Thân phận tôi” gởi tặng thân hữu để gọi là chút kỷ niệm về một nhà thơ tài hoa mà gặp nhiều lận đận. Anh sáng tác không nhiều, chỉ khoảng trên dưới 50 bài và trong tập thơ nhỏ nầy chỉ có 23 bài mà thôi. Ở những trang cuối tập thơ, tôi đã ghi lại cảm xúc của mình với bài viết “Những bài thơ-Một đời người” bên cạnh 4 câu thơ điếu Mai Huỳnh Văn đầy xúc động của anh Nguyễn Ngọc Bích.

                                             Chuyến xe thiên cổ anh về trước

                                             Một đóa nhân sinh đã úa tàn

                                             Chí trai mộng lớn trong trời đất

                                             Gói lại không đầy cỗ áo quan.

                         Trước sau, anh vẫn là một người sáng tác tự do, không ở trong một bút nhóm nào. Thế nhưng, với bạn bè tôi, anh đã dành cho những ân tình sâu đậm. Những năm trước 1975, anh thường có mặt trong các sinh hoạt của quán  cà phê Về Nguồn ( một tụ điểm sinh hoạt văn nghệ của chúng tôi nằm trên đường Tạ Thu Thâu, nay là đường Mậu Thân ), viết bài cho nguyệt san Khơi Dòng.  Ở Đài phát thanh Cần Thơ, thì anh cũng thường tới vào chiều Chủ nhật mỗi tuần để hỗ trợ cho Chương trình thi văn Về Nguồn vì “ái mộ” giọng ngâm thơ của “đồng hương” Huỳnh Túy Liêm; đôi lúc lại đóng vai một “Mạnh thường quân” bất đắc dĩ, giúp tôi trả tiền giải khát cho các nghệ sĩ nghiệp dư nơi cái quán nghèo dọc đường liên tỉnh. Sau 1975, lâu lâu anh lại mang cho tôi, Hà Huy Thanh, Lê Tiến Minh, Nguyễn Hoài Vọng.. vài lít rượu nếp chánh gốc Tầm Vu. Hình ảnh người đàn ông gầy gò, chiếc áo trắng hơi sờn vai đã ngã màu, gò lưng trên chiếc xe đạp cũ, hai bên ghi đông treo hai cái bình nhựa đựng rượu- đối với tôi- vừa thân thuộc, vừa yêu quí, mà cũng đầy ám ảnh về một hướng trời xa mịt mờ trong ngày tháng cũ. Sự hào sảng, nặng tình đậm nghĩa của người bạn nghèo trong cơn biến động lịch sử đáng quí gấp vạn lần so với những người: “Quên tình, quên nghĩa , quên thề hẹn. Học thói phàm nhân giữa chợ chiều”…..

 

                             Mới đó , mà đã một phần tư thế kỷ trôi qua. Lần lượt theo chân anh là  Nguyễn Hữu Phương, Phương Giang, Phạm Hữu Quang, Hà Huy Thanh, Lăng Cảnh Huy, Nguyễn Hoài Vọng, Vương Doãn Chi, Huỳnh Túy Liêm, Phạm Trường Giang, La thị Sinh, Minh Phước, Trần Hòa Nhã, Trúc Thanh Tâm, Trần Trung Hiếu, Tất Hữu Chí… và bao nhiêu người bạn  văn nghệ khác nữa trên khắp miền đất nước? 

  

                              Rất  may mắn, từ đầu năm nay, tôi liên lạc được với nhiều người bạn cũ, trong đó có Phan Hữu Tiếp. Tiếp đã từng góp mặt với những sáng tác của mình cho Chương trình thi văn Về Nguồn từ trước năm 1975. Anh cũng là đồng hương và cũng là bà con thân tộc với anh Mai Huỳnh Văn. Qua Phan Hữu Tiếp, tôi biết thêm nhiều hơn về cuộc sống nghèo khó, vất vả nhưng thanh cao, trong sạch và tấm lòng “trọng nghĩa khinh tài” của một nhà thơ lỡ vận: những điều mà khi còn sống, Mai Huỳnh Văn chưa hề  lên tiếng với bạn bè. Nhân cách ấy, càng làm cho cánh chim  sơn ca dù lặng lẽ bay vào cõi vĩnh hằng, nhưng vẫn còn để lại cho đời âm vang tiếng hót đầy bi tráng.

                                

                             25 năm-  nhớ về anh-  xin được ghi lại ở đây bài thơ viết năm 1995 như những lời  ai điếu.

 

        KHÓC MAI HUỲNH VĂN.

Một mảnh hồn thơm giã biệt đời
Giữa mùa đông muộn thoáng mưa rơi
Còn chăng với cuộc phù sinh ấy
Chia chút niềm vui, chút nụ cười?

Năm tám năm trời gãy cánh chim
Vòng xe cơm áo bỗng chao nghiêng
"Thanh sơn tự tiếu đầu tương hạc"
Nên những dòng thơ ứa máu tim...

Cái Răng- lâu lắm, dù không ghé
Tôi vẫn lòng riêng nhớ một thời
Dinh quận đìu hiu mùa bão loạn
Giọt cà phê lắng khói chơi vơi.

Chiến tranh làm cỗi thời trai trẻ
Con gái: "Hiền Xuân" , gởi trọn lòng
Hai chục năm rồi, mơ ước đó,
Xuân hiền- sao vẫn sống long đong?

Thực bất ngờ, như buổi sớm mai
Muốn đem thơ cũ tặng cho người.
Hồng Văn - nên máu hòa trong chữ
Anh đã nghìn năm " bỏ cuộc chơi" !

Thì thôi- mãi mãi là chia biệt
Ray rứt tình sông dạt bến bờ
" nhân diện bất tri hà xứ khứ"
Chỉ còn bát ngát những trang thơ....

 

Cần Thơ,  đầu năm 2020.

LÊ TRÚC KHANH

                                                   

 

 

 

CUỐI NĂM, VỀ CHỢ MỚI

                                   Gởi Nguyễn Hùng Dũng

 

 

 

 

 

 

 

                     

 

 

 

                           Phà An Hòa, An Giang

Tôi về như máu dạt về tim

Một chút tình kia vạn nỗi niềm

Bát ngát trời thơ vào tháng Chạp

Phải mùa hoa sứ nở trong đêm?

 

Mấy chục năm xa lòng vẫn nhớ

Một thời áo trắng- một thời tươi

Áo cơm oằn nặng mùa chinh chiến

Sao vẫn hồn nhiên những nụ cười ?

 

Chúng ta là những dòng sông nhỏ

Chảy bốn phương trời mới gặp nhau

Bởi vậy, khi tôi về cố xứ

Qua phà Rạch Miễu, nhớ Vàm Nao!

 

Bạn ở quê nghèo thời chiến loạn

Tôi thì  lưu lạc  bỏ quê hương

Mỹ Luông  -Tân Thạch xa lăng lắc

Mà rất gần theo mấy dặm đường.

 

Trường xưa nằm cạnh đường liên tỉnh.

Rau ngỗ xanh đầy dọc lối đi

Một khúc lươn thôi là quá đủ

Lai rai rượu thuốc nhấp vài ly!

 

Học trò ngang tuổi thầy cô giáo

Tôi thích làm thơ, bạn thích đàn

Một đám thư sinh thời mới lớn

Bây giờ đầu bạc nhớ mang mang...

 

Theo bạn về quê ngày nghỉ dạy

Qua phà, qua mấy quảng đường xa

Giáo đường xưa vẳng hồi chuông muộn,

Ngọn khói hoàng hôn ấm mái nhà...

 

Mộng ước một thời trơ gió cát

Qua rồi ba lượt tuổi hai mươi.

Dũng ơi- Đoản khúc rời xuân ấy

Trang Đuốc Hồng kia phủ bụi rồi!

 

 Cần Thơ, những ngày cuối năm.

LÊ TRÚC KHANH

 

___________________________________________________

 

 

 

 

HÃY THẮP LÊN NGỌN LỬA TÌNH YÊU !

 

Thương gởi tất cả các học trò tôi, thế hệ học sinh 1985-1988 với lòng trân trọng.
LTK



 

 

 

 

 

 

 

Chiều ấy- hình như đang bão rớt
Mà sao rất ấm những tình thân
Các em về giữa mùa giông tố
Nhưng lại bình yên gấp vạn lần!

Vạt nắng ban mai vừa trở lại
Khung trời xanh lắm bóng mây xa
Tiếng ai rộn rã cầu đi bộ
Sao giữa hoàng hôn mắt lệ nhòa?

Ba chục năm dài bao biến động
Những dòng trong đó chảy trăm miền
Bến lạ trời xa mù ký ức
Phù sa ân nghĩa vẫn y nguyên...

 

Hơn hai mươi lớp thời đi học
Ai biết ngày mai sẽ đến đâu
Nên rất hồn nhiên thời trẻ dại
Tháng ngày, kỷ niệm cũng thêm sâu...

Có bạn ra trường đi dạy học
Bạn làm công chức, bạn lao đao 
Trăm nghề nên cũng trăm lần khổ
Đôi lúc gần nhau chỉ kịp chào.

Có bạn trầm luân nơi đất khách
Lòng quê đau đáu nỗi hồi hương
Có bạn nghỉ yên lòng đất mẹ
Và bao nhiêu bạn giữa trùng dương?

Chiều nay, xin bỏ bao phiền muộn
Giai cấp, hèn, sang... gởi lại đời
Hãy khoác lên ta màu áo tím
Vạn lòng như một để cùng vui.


Ta vui với bạn bè năm cũ.
Bên cạnh thầy cô tự buổi đầu
A một (A 1), A mười (A 10), Nga (N) hoặc Pháp (P).
Cần Thơ- Hưng Phú cũng như nhau!

Hãy nhắc cùng nhau thời tuổi ngọc
Sân trường rưng nắng đẹp như tranh
Tuổi sắp năm mươi đầu sắp bạc
Ngậm ngùi trong đáy mắt long lanh...

Bài hát vang lên lời quá khứ:
Hành khúc trường ta vẫn tự hào
Tiếng hát học trò mười  tám tuổi
Đêm nầy sao vẫn cứ bay cao ?


Ngọn lửa thầy cô gởi các em
Cùng nhau ta thắp sáng trong đêm
Lung linh cả một trời thương nhớ
Ôi những tình yêu ứa máu tim!


Thầy muốn ngồi yên trong bóng tối
Quanh mình ngọn nến bập bùng soi
Học trò tôi đó - thầy cô đó

Xin giữ dùm nhau suốt cuộc đời...


Ngày mai chia biệt về muôn ngã
Bạn sẽ rời quê - tôi ở đây
Mong ước bao nhiêu lần tái ngộ
Đêm nào - ai biết - giống đêm nay?

Thôi giã từ nhau - nhé - các em
Một bình minh lại nối đêm đen
Vì muôn tia sáng lần tương hội
Sẽ tiếp đường bay vạn cánh chim!

Cần Thơ, 17/07/2018. 
LÊ TRÚC KHANH.

  

 

 

 

KHÔNG GIỮ TRƯỜNG, NHƯNG PHẢI GIỮ HỒN XƯA..

           

2 viên ngói của Trường PTG                                                                                      do GS LPN đem qua Houston, tháng 5/2017

 

                                                              Viết thay học trò tôi, thế hệ 85-88  nhân                                                                                                        mùa kỷ niệm.  

 

                                                              -Gởi Mỹ Phượng và A 10  thân yêu.

 

 

Ai nhặt dùm ta những chùm phượng đỏ

Tháng năm về vang vọng tiếng ve ngân

Chưa đến mùa thi, dạt dào biển gọi

Ôi mùa hè bỗng chốc hóa mùa xuân!

 

Rồi một sớm khi ta mười tám tuổi

Bước xuống đời sao lại thấy bâng khuâng

Giã biệt thầy cô - mái trường ân nghĩa

Nét hồn nhiên đã mất giữa vô chừng....

 

Và chúng ta như những dòng sông nhỏ.

Ba mươi năm biền biệt chảy trăm miền

Đất Mỹ, trời Âu - nặng lòng cố xứ

Cùng ngược nguồn trong một sớm bình yên.

 

Ta về đây, vẫn Cần Thơ nắng đẹp

 Như những lần nao nức buổi liên hoan

Đêm cắm trại hát hò bên ánh lửa

Má ai hồng nên ai nhớ mang mang....

 

Rồi ‘'ai đó'' và bao người bạn trẻ

Chỉ chung trường, chung lớp, chẳng chung đôi.

Xin quá khứ một lần quay trở lại

Để ngậm ngùi khi  tuổi chớm năm mươi...

 

Khi về đây, cổng trường xưa đã khép

 Đường Ngô Quyền mưa đẫm gót chân ta

Trời tháng bảy có em còn đứng đợi

Lời chia tay gởi lại chốn quê nhà...

 

Ôi bạn đồng song, người còn kẻ mất

Bốn dãy bàn  - mấy chục chỗ ngồi quen

Ba năm học dù ít nhiều thay đổi

Nhưng bạn bè thì không thể nào quên...

 

Trường mới cất vẫn trên nền đất cũ

Thời học trò phong kín giữa lòng sân.

Thương lớp nhỏ, thương bạn bè thuở trước.

Một tình yêu hoài niệm đến hai lần!

 

Ta về đây như một người khách lạ

Lớp sóng sau đùa mất bãi bờ xa

Muốn tìm lại dãy hành lang thân thuộc

Khung cửa nào gởi trọn trái tim ta ?

 

Đã mất rồi sao, hình hài buổi trước

Thế kỷ qua, thương biết mấy cho vừa.

Dù gạch đá trăm năm là cát bụi,

Không giữ trường, nhưng phải giữ hồn xưa !

 

 

LÊ TRÚC KHANH.

 

 

 

GỞI NGƯỜI TRĂM NĂM CŨ

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Tôi về buổi ấy trời hoen nắng

Một dãy Tiền Giang sóng gợn buồn

Từng chuyến xe qua cầu  Rạch Miễu

Bồi hồi kỷ niệm nhớ quê hương....

 

Người vẫn nằm đây- vẫn ở đây

Nhói lòng nghe súng vọng phương tây

" Bến Nghé của tiền tan bọt nước

Đồng Nai tranh ngói nhuốm màu mây"

 

Hào khí miền Nam vùi đáy mộ

Thành xưa đã bặt tiếng quyên sầu

Một giấc Long Hồ vang chiến sử

Xin làm mây trắng miệt Ngao Châu...

 

Thắp vội tuần hương rời Bảo Thạnh

Ba Tri tăm tắp một dòng trôi

Nhớ người, nhớ cả ngôi trường cũ

Giấc mộng trăm năm lỡ hẹn rồi....

 

LÊ TRÚC KHANH