GÓC

                  VIỆT CỔ THI

__________________________________________________

Góc Việt Cổ Thi: 

                                 Chùm thơ Xuân 2021

1. Bài thơ NGUYÊN NHẬT của Lê Cảnh Tuân :

 

     元日             NGUYÊN NHẬT

 旅館客仍在,   Lữ quán khách nhưng tại, 

 去年春復來。   Khứ niên xuân phục lai. 

 歸期何日是?   Quy kỳ hà nhật thị ? 

 老盡故園梅。   Lão tận cố viên mai !

            黎景詢                 Lê Cảnh Tuân

 

    

 

* Chú thích :

    - Nguyên Nhật : là Ngày đầu, ta phải hiểu là Ngày ĐầuCủa Một Năm, như chữ Nguyên Đán.

    - Nhưng : là Vẫn, Vẫn Cứ...

    - Phục : là Lại, là Trở lại.

    - Quy Kỳ : Cái kỳ hạn trở về, là Ngày Về.

    - Lão Tận : là Già đến tận cùng, là Già khú,già chát, già khằng !

 

* Nghĩa Bài Thơ :

       

         Người khách tha hương vẫn còn ở nơi quán trọ nầy, nhưng mùa xuân của năm rồi, năm nay lại trở lại. Biết ngày nào mới là ngày về đây ? Chắc cành mai già ở quê nhà đã già cỗi hết rồi !

 

         Não nùng thay tâm trạng của người lìa quê xa xứ trong những ngày xuân đến Tết về. Cội mai già còn cằn cỗi huống hồ chi là các đấng sanh thành chắc cũng không tránh khỏi buồn thương sầu não mà càng héo tàn lụm cụm !

 

* Diễn Nôm :

 

                Mùng Một Tết

 

             Khách còn nơi quán trọ,

             Xuân năm trước lại sang.

             Biết ngày nao trở lại ?

             Cội mai đã cỗi tàn !

 

  Lục bát :

             Trọ nơi lữ quán khách còn

             Mùa xuân năm trước lon ton lại về

             Ngày nao mới được hồi quê ?

             Cội mai vườn cũ xuân về khẳng khiu !

                                      Đỗ Chiêu Đức diễn Nôm

 

2. Bài thơ XUÂN TỪ của Ngô Chi lan :

 

    春詞                             XUÂN TỪ

 

初晴薰人天似醉,    Sơ tình huân nhân thiên tự túy,

艷陽樓臺浮暖氣。    Diễm dương lâu đài phù noãn khí.

隔簾柳絮度鶯梭,    Cách liêm liễu nhứ độ oanh thoa,

繞檻花鬚穿蝶翅。    Nhiễu hạm hoa tu xuyên điệp xí.

階前紅線日添長,    Giai tiền hồng tuyến nhựt thiêm trường.

粉汗微微沁綠裳。    Phấn hạn vi vi tẩm lục thường.

小子不知春思苦,    Tiểu tử bất tri xuân tứ khổ,

傾身含笑過牙牀。    Khuynh thân hàm tiếu quá nha sàng.

             吳芝蘭                                              Ngô Chi Lan

        

 

* Chú Thích :

   - Sơ Tình 初晴 : là nắng mới, chỉ nắng của mùa xuân sau ba tháng mùa đông lạnh lẽo.

   - Huân Nhân 薰人 : là Hanh người, là Làm cho con người cảm thấy ấm áp.

   - Diễm Dương 艷陽 : là Ánh nắng đẹp, trời nắng rất đẹp đẽ.

   - Oanh Thoa 鶯梭 : Các con chim oanh len lỏi trong cành liễu như con thoi.

   - Nhiễu Hạm 繞檻 : là Lòng vòng ở dưới mái hiên.

   - Giai Tiền 階前 : là Trước thềm.

   - Phấn Hạn 粉汗...câu 6 : Mồ hôi rịn ra phấn dồi thấm nhè nhẹ vào tà áo xanh.

  

* Nghĩa Bài Thơ :

                                     Thơ  Mùa Xuân

        

      - Nắng mới ấm áp hanh người làm cho trời cũng tựa như đang say,

      - Lâu đài chìm trong nắng đẹp cũng chan hòa vẽ ấm áp.

      - Trên cành tơ liễu cách rèm bên ngoài chim oanh len lỏi trong các cành liễu tựa con thoi.

      - Bay vòng dưới mái hiên con bướm bị các tua hoa xuyên qua cánh.

      - Những vệt nắng như những sợi chỉ hồng trước thềm làm cho ngày như dài thêm ra.

      - Mồ hôi rịn ra phấn dồi thấm nhè nhẹ vào tà áo xanh.

      - Chàng tuổi trẻ kia không biết được sự nhớ nhung trong mùa xuân là khổ tâm như thế nào (mùa xuân là mùa đoàn tụ mà phải xa nhau nhớ nhau), nên mới...

      - Nghiêng mình cười mĩm mà đi qua giường ngà (như chẳng có việc gì xảy ra !).

 

         Nằm trên giường ngà để nhớ người tình xa trong mùa xuân ấm áp tràn đầy nhựa sống thì còn gì khổ tâm và ray rức hơn nữa.  Tâm sự và nỗi lòng nầy làm cho ta nhớ đến nàng thiếu phụ có chồng là quan to, nên mỗi buổi sáng mùa xuân, lúc đôi lứa đang mặn nồng và ấp yêu nhất, thì lại  phải dậy sớm để đi chầu vua, bỏ mặc gối chăn thơm phức và nàng vợ trẻ. Bài thơ "Vị Hữu" của Lý Thương Ẩn như sau :

 

                  Vị hữu vân bình vô hạn kiều,             爲有雲屏無限嬌,

                  Phụng thành hàn tận phạ xuân tiêu.   鳳城寒盡怕春宵.

                  Vô đoan giá đắc kim qui tế,               無端嫁得金亀婿,

                  Cô phụ hương khâm sự tảo triều .      辜負香衾事早朝 .

 

Có nghĩa :

                   Vì có bình phong đẹp lắm mầu

                   Kinh thành hết  lạnh, sợ canh thâu

                   Khéo xui lấy được ngài quan lớn

                   Phụ bạc gối chăn, sớm phải chầu  !

   Lục Bát :

                   Bình phong đẹp đẽ yêu kiều

                   Phụng thành đông hết, xuân tiêu đêm dài

                   Vô duyên lấy phải quan ngài

                   Gối chăn bỏ hết mặc ai,… đi chầu !

 

                   

 

* Diễn Nôm :

                               THƠ XUÂN

 

                  Nắng mới hanh người trời túy lúy,

                  Lâu đài nắng đẹp ấm xuân khí.

                  Ngoài rèm tơ liễu rộn oanh ca,

                  Bướm lượn vờn hoa tua rách xí.

                  Vệt nắng trước thềm ngày chẳng nhanh,

                  Mồ hôi hòa phấn thấm bào xanh.

                  Trẻ con nào biết xuân nhung nhớ,

                  Cười mĩm nghiêng mình lại dạo quanh !

    Lục bát :

                  Hanh người nắng mới trời say,

                  Nắng lên ấm đẹp lâu đài thêm xuân.

                  Ngoài rèm oanh hót liễu xanh,

                  Xuyên hoa cánh bướm lượn quanh hiên nhà.

                  Trước thềm vệt nắng dài ra,

                  Mồ hôi rịn phấn thấm tà áo xanh.

                  Trẻ trung nào biết xuân tình,

                  Thản nhiên cười mĩm nghiêng mình lướt qua !

                                                      Đỗ Chiêu Đức diễn Nôm 

 

3. Bài thơ SƠ XUÂN của THÁI THUẬN :

 

      初春                          SƠ XUÂN

三冬過了一春歸,     Tam đông qúa liễu nhất xuân qui,

乍暖東風放放吹。  Sạ noãn đông phong phóng phóng xuy.  

冰雪凍痕鋪水面,     Băng tuyết đống ngân phô thủy diện, 

乾坤生意上林枝。     Càn khôn sanh ý thượng lâm chi. 

柳還舊綠鶯猶靜,     Liễu hoàn cựu lục oanh do tĩnh, 

桃試新紅蝶未知。     Đào thí tân hồng điệp vị tri. 

日暮鄉關迴首望,     Nhật mộ hương quan hồi thủ vọng, 

草心遊子不塍悲。     Thảo tâm du tử bất thăng bi !

              蔡順                                        Thái Thuận

 

* CHÚ THÍCH :

   SƠ XUÂN : Mới bắt đầu mùa xuân, là Chớm Xuân, là Đầu Xuân.

   TAM ĐÔNG : Chỉ 3 tháng của mùa đông.

   SẠ NOÃN : SẠ 乍 là Bất chợt, Bỗng nhiên, Mới vừa. SẠ NOÃN là Chợt ấm lên

   NGÂN 痕 : là Vết sẹo, là Dấu vết.

   SANH Ý 生意 : là Cái ý sống, cái ý sinh tồn. Sau dùng rộng ra chỉ Sự làm ăn buôn bán của con người để kiếm sống.

   THẢO TÂM : Nỗi lòng của tấc cỏ.

 

* NGHĨA BÀI THƠ :

                                   CHỚM XUÂN

       Mùa xuân vừa mới trở về sau ba tháng của mùa đông đã qua đi rồi. Trời chợt ấm lại nên gió xuân từ hướng đông đã hay hẩy thổi đến. Dấu ấn của băng tuyết còn sót lại bày ra trên mặt nước, và ý sống của đất trời đã nẩy mầm trên các cành ngọn của cây rừng. Liễu thì vẫn xanh tốt như xưa, và đào thì đã trổ màu hồng mới nhưng bướm vẫn còn chưa hay biết. Trời chiều quay đầu trông ngóng về phía quê xa, tấc lòng của người con du tử không tránh khỏi nỗi xót xa !

      Bài thơ Sơ Xuân của Thái Thuận đọc lên nghe như có âm vang hơi hám của thuở Thịnh Đường, ngay từ câu đầu tiên 

                        三冬過了一春歸        Tam đông qúa liễu nhất xuân quy.

     Từ " Tam đông " làm ta nhớ đến từ " Tam xuân " trong 2 câu trong bài " Du Tử Ngâm " của Mạnh Giao đời Đường là :

                        誰言寸草心,      Thuỳ ngôn thốn thảo tâm,

                        報得三春暉.        Báo đắc Tam Xuân huy.

   mà cụ Nguyễn Du đã thoát dịch rất hay là :

                        " Liều đem tấc cỏ quyết đền ba xuân "

   Ta thấy từ " Thảo Tâm Du Tử " : Tấc lòng của người con du tử, lại được Thái Thuận sử dụng ở câu cuối :

                        草心遊子不塍悲。    Thảo tâm du tử bất thăng bi ! 

(Tấm lòng như tấc cỏ của người con du tử không tránh khỏi buồn thương ray rức )...

   và nhất là câu:

                       日暮鄉關迴首望,       Nhật mộ hương quan hồi thủ vọng

 

    lại làm cho ta nhớ đến 2 câu thơ của Thôi Hiệu trong bài Hoàng Hạc Lâu là:

                       日暮鄉關何處是?      Nhật mộ hương quan hà xứ thị

                       煙波江上使人愁。      Yên ba giang thượng sử nhân sầu.

 ... mà Tản Đà đã dịch rất hay là :

                         Quê hương khuất bóng hoàng hôn,

                         Trên sông khói sóng cho buồn lòng ai !

 

* DIỄN NÔM :

                     CHỚM XUÂN

            Ba tháng đông qua xuân lại thay,

            Gió xuân hây hẩy ấm lòng ai.

            Dấu tàn băng tuyết in dòng nước,

            Chồi mới đất trời biếc ngọn cây.

            Liễu đã xanh om oanh vắng tiếng,

            Đào đà đỏ nụ bướm chưa hay.

            Quay nhìn quê cũ khi chiều xuống,

            Du tử bồi hồi mắt lệ cay !

 Lục bát :

           Đông qua nay lại chớm xuân,

           Khí trời chợt ấm gió đông lào xào.

           Nước trôi băng tuyết dạo nào,

           Rừng cây nẩy lộc chồi cao xanh cành.

           Liễu buồn oanh hãy vắng tanh,

           Đào buồn vắng bướm cành xanh ửng hồng.

           Trời chiều quê cũ vời trông,

           Bồi hồi du tử chạnh lòng xót xa !

                                        Đỗ Chiêu Đức diễn Nôm

 

4. Bài thơ XUÂN HIỂU của Thái Thuận :

 

  春曉                 XUÂN HIỂU

忽聞何處鳥,   Hốt văn hà xứ điểu, 

客枕夢回新。   Khách chẩm mộng hồi tân. 

窗外雲如幕,   Song ngoại vân như mạc, 

空中雨似塵。   Không trung vũ tự trần. 

花容猶隱露,   Hoa dung do ẩn lộ, 

草色欲圍人。   Thảo sắc dục vi nhân. 

遊子吟風月,   Du tử ngâm phong nguyệt, 

誰能報得春。   Thùy năng báo đắc xuân.

           蔡順                      Thái Thuận

 

     

 

* Nghĩa Bài Thơ :

                           Buổi Sáng Mùa Xuân

      Chợt nghe tiếng chim hót xa xa như ở tận nơi nào, bên gối khách vừa tỉnh dậy sau một giấc mộng dài. Ngoài song mây giăng giăng như màn che, trên bầu trời mưa lưa thưa lất phất như bụi. Những đóa hoa nở như còn đọng lại những hạt sương đêm và màu cỏ xanh mơn mởn như vây lấy con người. Người du tử ngâm câu hoa nguyệt, nhưng nào ai đã báo đáp được nàng xuân đâu !

 

* Diễn Nôm :

 

                       SÁNG XUÂN

              

 

              Chim nơi đâu chợt hót,

              Khách bỗng tỉnh mộng dài.

              Ngoài song mây mờ phủ,

              Bên trời mưa bụi bay.

              Hoa nở sương còn đọng,

              Cỏ xanh biếc quanh ai,

              Du tử ngâm thơ thẩn,

              Ai báo được xuân nay ?

  Lục bát :

              Chợt nghe chim hót đâu đây,

              Khách choàng tỉnh mộng mới say giấc nồng.

              Mây che rèm phủ ngoài song,

              Phất phơ mưa bụi trên không mơ hồ.

              Lá hoa còn ngậm sương mơ,

              Biếc xanh đồng cỏ ơ hờ quanh ta.

              Ngâm câu tuyết nguyệt phong hoa,

              Nào ai báo được xuân qua bao lần ?!

                                         Đỗ Chiêu Đức diễn nôm

 

Kính mời đọc lại bài ...

                                  

              春曉  Xuân hiểu

                              孟浩然  Mạnh Hạo Nhiên

          春眠不覺曉,  Xuân miên bất giác hiểu,

          處處聞啼鳥。  Xứ xứ văn đề điểu,

          夜來風雨聲,  Dạ lai phong vũ thanh,

          花落知多少。   Hoa lạc tri đa thiểu?   

       

DIỄN NÔM :

                       SÁNG XUÂN

                 Đêm Xuân ngủ quên sáng,

                 Chim hót khắp nơi nơi !

                 Đêm qua dường mưa gió,

                 Bao nả cánh hoa rơi ?!

Lục bát :

                Đêm xuân quên sáng ngủ vùi,

                Chợt nghe chim hót nơi nơi rộn ràng

                Đêm qua mưa gió mơ màng,

                Bao nhiêu hoa rụng bàng hoàng sáng xuân.

                                                            Đỗ Chiêu Đức diễn Nôm

 

              

  5. Bài thơ XUÂN DẠ ĐỘC THƯ của Cao Bá Quát :

 

  春夜讀書                   Xuân Dạ Độc Thư

             

今人不見古時春,     Kim nhân bất kiến cổ thời xuân 

惆悵今春對古人。     Trù trướng kim xuân đối cổ nhân. 

世事幾何今不古,     Thế sự kỷ hà kim bất cổ, 

眼前莫認幻為真。     Nhỡn tiền mạc nhận huyễn vi chân 

幾多名利終朝雨,     Kỷ đa danh lợi chung triêu vũ, 

無數英雄一聚塵。     Vô số anh hùng nhất tụ trần. 

自笑俗拘拋未得,     Tự tiếu tục câu phao vị đắc, 

邇來攜卷太諄諄。     Nhĩ lai huề quyển thái truân truân.

          高伯适                               Cao Bá Quát

 

         

 

 2. Chú Thích :

  * Độc Thư : là Xem Sách mà cũng có nghĩa là Học Hành nữa, vì ngày xưa Xem Sách tức là đang Học Tập đó.

  * Trù Trướng : là Do dự, Ngập ngừng, là Ngơ Ngẩn.

  * Huyễn Vi Chân : là Lấy ảo làm thực, lấy huyễn hoặc làm thực tế.

  * Triêu Vũ : là Mưa buổi sáng.

  * Tụ Trần : làBụi phủ, Bụi mờ.

  * Tục Câu : Tục ở đây có nghĩa là Thói Thường, nên Tục Câu có nghĩa là những câu nệ tầm thường, những thói xấu tầm thường khó bỏ. PHAO VI ĐẮC là Không dứt bỏ được. 

  * Nhĩ lai : là Gần đây, là Dạo nầy.

  * Huề Quyển : là Cầm quyển sách lên, ý chỉ Học tập. 

  * Truân Truân : là Cần mẫn, Chăm chỉ.

 

3. Nghĩa Bài Thơ :

                                Đọc Sách Đêm Xuân

          Người của ngày hôm nay không thấy được mùa xuân của thủơ xưa, nên giờ ta đang ngẩn ngơ trước mùa xuân hôm nay mà đối mặt với người xưa trên sách vở. Chuyện đời biết như thế nào mà nói, vì hôm nay chứ không phải ngày xưa nữa, nên đừng có nhận lầm những cái huyễn hoặc trước mắt là thực tế ( mà phải phân biệt cho rõ ràng ). Biết bao nhiêu danh lợi chỉ đến trong đêm như một giấc mộng, rồi kết thúc bằng một trận mưa sáng trôi đi tất cả, cũng như vô số anh hùng tụ hợp rồi cũng tan biến như lớp bụi mờ. Ta tự cười mình vì cái tật xấu xưa nay không bỏ đi được, nên gần đây hễ cứ cầm quyển sách lên là cứ đọc một cách chăm chỉ như ngày xưa vậy !

         Biết được rằng Xưa không phải là Nay nữa, Xuân xưa khác xuân nay và Chuyện xưa cũng khác với Chuyện ngày nay, bằng chứng là biết bao danh lợi chỉ thoáng qua như giấc mộng trong đêm, anh hùng hào kiệt rồi cũng tan biến như bụi trần. Biết thế, mà vẫn cứ thế, hễ cầm được quyển sách lên là lại cứ muốn chăm chỉ mà học tập theo gương của người xưa, để làm gì ?! Vì rốt cuộc cũng có được gì đâu ?! Cao Bá Quát vừa cười mình ngớ ngẩn có thói quen xấu khó bỏ, lại vừa đề cao mình là người luôn luôn chăm chỉ học tập mặc dù biết rằng đọc sách chỉ là nhại lại những cái bã của cổ nhân!

 

  4. Diễn Nôm :

 

                       Xuân Đọc Sách Xưa

 

                   

 

               Người nay chẳng thấy được xuân xưa,

               Ngơ ngẩn xuân nay trước cổ thư.

               Bao nả chuyện đời kim khác cổ,

               Chớ lầm trước mắt thực làm hư.

               Biết bao danh lợi theo mưa sáng,

               Vô số hùng anh khuất bụi mờ.

               Thói xấu cười mình không bỏ được,

               Hễ cầm quyển sách cứ khư khư !

Lục bát :

               Người nay không thấy xuân xưa,

               Xuân nay ngơ ngác người xưa đâu rồi.

               Chuyện đời kim cổ đổi vời,

               Chớ lầm hư thực thực rồi hóa hư.

               Lợi danh như sáng mưa thu,

               Anh hùng bao kẻ mịt mù trần ai.

               Cười mình tật cũ khó phai,

               Quơ nhằm quyển sách miệt mài thâu canh.

                                                Đỗ Chiêu Đức diễn Nôm

 

6. Bài thơ XUÂN HÀN Nguyễn Bỉnh Khiêm :

 

   春寒                      XUÂN HÀN

十二韶光春一團,      Thập nhị thiều quang xuân nhất đoàn,       

一天料峭送餘寒.      Nhất thiên liệu tiễu tống dư hàn.

輕陰借雨侵花易,      Khinh âm tá vũ xâm hoa dị,

殘雪因風墜柳難.      Tàn tuyết nhân phong trụy liễu nan.

繡闥佳人低玉帳,      Tú thát giai nhân đê ngọc trướng,

香街醉客促金鞍.      Hương giai túy khách xúc kim an.

旋乾自有神功在,      Toàn kiền tự hữu thần công tại,   

已播陽和滿際蟠.      Dĩ bá dương hoà mãn tế bàn.

              阮秉謙                       Nguyễn Bỉnh Khiêm

 

             

* Chú Thích :

    - XUÂN HÀN 春寒 : Cái lạnh của buổi đầu xuân.

    - Thiều Quang 韶光 : là Cái khoảng thời gian đẹp đẽ.

    - Liệu Tiễu 料峭 : là LIỆU TIỄU XUÂN HÀN 料峭春寒 là thành ngữ dùng để hình dung cái lạnh của buổi đầu xuân.

    - Khinh Âm Tá Vũ 輕陰借雨 : là Trời âm u nhẹ trong cơn mưa xuân.

    - Tàn Tuyết Nhân Phong 殘雪因風 : là Gió cuốn những tàn dư của băng tuyết còn lại.

    - Tú Thát 繡闥 : là Trong phòng thêu, tức là Khuê phòng của các cô gái.

    - Hương Giai 香街 : là Đường phố thơm, ý chỉ những đường phố có nhiều người đẹp ở hay đường phố có nhiều kỹ viện.

    - Xúc 促 : là Thúc mạnh vào. KIM AN 金鞍 : là Yên cương ngựa mạ vàng.

    - Toàn Kiền 旋乾 : là Tuyền Càn Chuyển Khôn 旋乾轉坤 là thành ngữ chỉ xoay chuyển từ Càn qua Khôn, từ Dương sang Âm và ngược lại; Nói chung là chỉ sự xoay vần của trời đất, vạn vật, mùa màng... hết đông rồi đến xuân...

    - Bá 播 : là Gieo hạt giống , là Truyền Bá, là Rải khắp.

    - Dương Hoà 陽和 : là Khí dương xuân, chỉ khí trời ấm áp của mùa xuân.

    - Tế Bàn 際蟠 : là Trời Đất, do sách Trang Tử có câu: "Thượng tế vu thiên, hạ bàn vu địa 上際于天,下蟠于地", nghĩa là: Trên rộng đến trời, dưới khắp cả đất. Sau người ta dùng gọn bốn từ "Tế thiên bàn địa 際天蟠地" như là một thành ngữ. Ở đây, tác giả lại lược đi hai từ, chỉ còn hai từ "tế bàn 際蟠" nhưng cần hiểu như nghĩa của cả câu "tế thiên bàn địa".

 

* Nghĩa Bài Thơ :

                         CÁI LẠNH CỦA BUỔI ĐẦU XUÂN

       Cái khoảng thời gian đẹp đẽ của 12 ngày đầu năm đã mở màn cho một vừng xuân sắc, Từng ngày một ta sẽ lần lượt đưa tiễn cái lạnh của buổi đầu xuân. Trời râm nhẹ với mưa xuân phơi phới sẽ ngấm vào hoa cỏ một cách dễ dàng, những làn gió đầu xuân còn rất lạnh khó mà thổi được những băng tuyết còn sót lại cho rơi xuống gốc liễu. Trong khuê phòng các giai nhân còn buông thấp rèm ngọc xuống vì trời còn lạnh, trên đường phố nơi có nhiều người đẹp các khách say cũng thúc vào yên cương mạ vàng để đi mau qua. Trời đất âm dương đã xoay chuyển một cách thần kỳ từ đông sang xuân, vá ánh dương xuân đã được gieo đầy khắp cả trên trời dưới đất.  

 

* Diễn Nôm :

                         XUÂN HÀN 

 

                   

 

                 Mười hai xuân sắc đã vầy đoàn,

                 Cái lạnh lui dần tiết mới sang.

                 Phơi phới mưa xuân hoa ướm nhụy,

                 Rao rao gió nhẹ tuyết dần tan.

                 Khuê phòng người đẹp buông rèm ngọc,

                 Trên phố khách say thúc ngựa vàng.

                 Chuyển đổi thần công trời lẫn đất,

                 Ánh xuân chan chứa khắp nhân gian.

      Lục bát :

                 Mười hai ngày tiết xuân hàn,

                 Mỗi ngày cái lạnh lại càng bớt đi.

                 Mưa xuân dễ thấm hoa chi,

                 Gió xuân lay liễu tuyết thì chưa tan.

                 Phòng khuê người đẹp buông màn,

                 Trên đường khách hãy yên vàng thúc mau.

                 Càn khôn huyền diệu làm sao,

                 Ánh dương xuân đã phủ mau đất trời !

                  

                                                                                杜紹德

                                                                            Đỗ Chiêu Đức   

                                          Kính chúc mọi người Xuân Tân Sửu 2021 An Khang Thịnh Vượng. 

Góc Việt Cổ Thi: 

 

                                   Thơ NGUYỄN TRUNG NGẠN

                                                     (Phần 3)

11. Bài thơ Thái Thạch Độ :

 

  采石渡             THÁI THẠCH ĐỘ

采石乃天塹,    Thái Thạch nãi thiên tiệm,

江南舊霸圖。    Giang Nam cựu bá đồ.

群山連建業,    Quần sơn liên Kiến Nghiệp,

一水接蕪湖。    Nhất thủy tiếp Vu Hồ.

風景愁猶在,    Phong cảnh sầu do tại,

英雄事己無。    Anh hùng sự dĩ vô.

六朝興廢事,    Lục Triều hưng phế sự,

攬轡獨長呼。    Lãm bí độc trường hô !

         阮忠彥               Nguyễn Trung Ngạn

    

* Chú Thích :

  - Thái Thạch Độ 采石渡 : là Bến đò Thái Thạch. THÁI THẠCH là tên ghềnh đá nằm ở phía nam của sông Trường Giang thuộc thành phố Mã Yên Sơn tỉnh An Huy Trung Quốc. Hình thế nơi đây hiểm trở, hùng tráng. Từ đời Lưỡng Hán trở về sau là chỗ  chiến trường hay xảy ra các cuộc chiến tranh giành nhau ở nơi đây.

  - Thiên Tiệm 天塹 : là Trời đẻo tạc ra, chỉ địa thế hiễm trở.

  - Kiến Nghiệp 建業 : là tên gọi của thành phố Nam Kinh thời Đông Ngô, là đô thành của Đông Ngô thời Tam Quốc. 

  - Vu Hồ 蕪湖 : Còn gọi là Giang Thành 江城, gọi tắt là Vu, là hồ ở phía tây nam huyện Vu Hồ, tỉnh An Huy, Trung Quốc.

  - Lục Triều 六朝 : Sáu triều đại của Trung Quốc trong khoảng từ năm 222 đến năm 589, gồm Đông Ngô, Đông Tấn, Lưu Tống, Nam Tề, Lương, Trần. Sáu triều đại này đều đóng đô ở Kiến Khang (tức Kiến Nghiệp thời Tam Quốc, Nam Kinh của ngày hôm nay).

  - Lãm Bí 攬轡 : LÃM là Nắm, là Ôm đồm. BÍ là dây cương ngựa, nên LÃM BÍ là nắm chặc lấy dây cương ngựa, là ghìm cương ngực lại.

 

* Nghĩa bài thơ :

                                  Bến Đò THÁI THẠCH

 

       Thái Thạch là hào rãnh của trời đất tạc dựng nên. Đây là nơi tranh bá đồ vương của đất Giang nam xưa. Các dãy núi nối liền nhau chạy dài đến tận vùng Kiến Nghiệp và một dòng sông nối tiếp với đất Vu Hồ. Vẻ ưu sầu của cảnh vật thì vẫn hãy còn đây, nhưng những sự tích anh hùng ngày xưa thì đã không còn nữa. Biết bao nhiêu là chuyện hưng vong thành bại của thời buổi Lục Triều, ta chỉ còn biết nắm chặc dây cương mà một mình hú to lên để tỏ niềm cảm khái mà thôi !

       Đây quả là một bài thơ hoài cổ vô cùng cảm khái ! Khiến người đọc cũng không khỏi bâng khuâng trước đỗi thay thành bại của cuộc đời. Lịch sử đã sang trang, thời gian đà biền biệt. Than ôi, thời oanh liệt nay còn đâu !?...

 

* Diễn Nôm :

                        THÁI THẠCH ĐỘ

                  

                  Thái Thạch hào rãnh đất trời,

                  Giang Nam tranh bá tự thời Đông Ngô.

                  Núi liền Kiến Nghiệp lô nhô,

                  Một dòng sông tiếp Vu Hồ đâu đây.

                  Cảnh xưa sầu vẫn đong đầy,

                  Anh hùng thế sự đã phai mất rồi.

                  Lục Triều hưng phế đầy vơi,

                  Ghìm cương cảm khái bên trời hú vang !

 

                                                         Đỗ Chiêu Đức

 

12. Bài thơ Trường An Thành Hoài Cổ :

 

  長安城懷古          TRƯỜNG AN THÀNH HOÀI CỔ

 

木落禾凋帝業移,    Mộc lạc hòa điêu đế nghiệp di,

李家收得版圖歸。    Lý gia thâu đắc bản đồ quy.

山圍故國規模小,    Sơn vi cố quốc quy mô tiểu,

竹暗荒城草木非。    Trúc ám hoang thành thảo mộc phi.

古寺僧鍾敲落日,    Cổ tự tăng chung xao lạc nhựt,

斷溪牛笛弄斜暉。    Đoạn khê ngưu địch lộng tà huy.

英雄舊事無尋處,    Anh hùng cựu sự vô tầm xứ,

獨倚江亭看翠微。    Độc ỷ giang đình khán thúy vi.

               阮忠彥                        Nguyễn Trung Ngạn

* Chú Thích :

  - Trường An 長安 : là Trường kỳ bình an 長期平安, là Bình an dài lâu, từ dùng để đặt tên cho kinh đô từ đời nhà Hán, trải qua 13 triều đại sau đó đều gọi kinh đô là Trường An, cho đến đời nhà Minh mới đổi tên thành Tây An cho đến hiện nay. Trong lịch sử Việt Nam ta cũng gọi Thăng Long thành là Trường An.

  - Mộc Lạc Hòa Điêu 木落禾凋 : Cây rụng lá, lúa rơm tàn tạ; chỉ cảnh hoang tàn buổi cuối thu, cảnh tiêu điêu hoang phế của di tích bị bỏ hoang. Bốn chữ đầu câu 1, lẽ ra có thể nói đơn giản là THẢO MỘC ĐIÊU LINH 草木凋零 (Cỏ cây tàn tạ), nhưng lại được nói cầu kỳ là MỘC LẠC HÒA ĐIÊU, phải chăng cụ Nguyễn Trung Ngạn muốn nhắc cho ta nhớ lại bài sấm cây gạo của Sư Vạn Hạnh làm ra để hợp thức hóa cho Lý Thái Tổ Lý Công Uẩn lên ngôi, trong đó có 2 câu chính là :

                 ...禾刀木落     Hòa đao mộc lạc,

                    十八子成...  Thập bát tử thành.

Có nghĩa :

        - 禾 Hòa 刀 Đao 木 Mộc : ghép ba chữ này lại với nhau thành chữ 梨 LÊ, đồng âm với chữ LÊ là họ LÊ 黎; LẠC là rơi rụng; chỉ Nhà LÊ mất.

        - 十 Thập 八 Bát 子 Tử : ghép ba chữ này lại với nhau thành chữ 李 LÝ; THÀNH là Thành lập, chỉ nhà LÝ sẽ được thành lập nên.                 

  - Lý Gia 李家 : Nhà họ Lý, ở đây chỉ triều đại của Lý Thái Tổ 李太祖, tên thật là Lý Công Uẩn 李公蘊, là vị hoàng đế lập ra nhà Lý trong lịch sử Việt Nam, ông trị vì từ năm 1009 đến khi qua đời vào năm 1028.

  - Tăng Chung 僧鍾 : Tiếng chuông do các nhà sư dộng lên ở trên chùa.

  - Ngưu Địch 牛笛 : Tiếng sáo của những đứa trẻ chăn trâu.

  - Giang Đình 江亭 : Cái đình cất ở ven sông.

  - Thúy Vi 翠微 : Tên của một loại hoa Lan; đồng thời THÚY VI cũng có nghĩa là cảnh vật xanh tươi của núi sông, hay chỉ cây cỏ xanh tươi rậm rạp.

 

* Nghĩa bài thơ :

                          TRƯỜNG AN THÀNH HOÀI CỔ

       Cây rụng lá, cỏ rơm tàn tạ héo úa, cảnh vật hoang tàn khi cơ nghiệp của đế vương đã vời đi nơi khác, Nhà họ Lý đã thâu tóm được bản đồ của giang san nầy về một mối. Những dãy núi vây quanh nước cũ quy mô như bị nhỏ lại; những rừng trúc dại che mờ cả thành trì bị bỏ hoang, cây cỏ như chẳng biết gì. Tiếng chuông chùa cổ ngân lên trong ánh nắng tà huy và tiếng sáo của trẻ mục đồng cũng véo von trong buổi chiều tà. Chuyện hào hùng xưa của các anh hùng giờ biết tìm nơi đâu ? Ta chỉ còn một mình dựa vào cái đình bên sông nầy mà ngắm cảnh vẫn xanh tươi của núi non cây cỏ mà thôi !

                        

       Đọc bài thơ nầy làm cho ta nhớ đến bài "Thăng Long Thành Hoài Cổ" của Bà Huyện Thanh Quan với :

 

                        Lối xưa xe ngựa hồn thu thảo,

                        Nền cũ lâu đài bóng tịch dương.

và thật cảm khái với :

                        Đá vẫn trơ gan cùng tuế nguyệt,

                        Nước còn cau mặt với tang thương !

 

       Cảnh hoài cổ nào mà chẳng buồn, chẳng làm xúc động lòng người !?

 

* Diễn Nôm :

                      TRƯỜNG AN THÀNH HOÀI CỔ                     

 

                    Cỏ cây tàn úa nghiệp vua vời,

                    Nhà Lý gồm thâu hết mọi nơi.

                    Núi phủ nước xưa quy mô nhỏ,

                    Trúc che thành cũ cỏ cây phơi.

                    Chuông ngân cổ tự chiều nghiêng bóng,

                    Sáo vẳng mục đồng nắng xế lơi.

                    Sự nghiệp anh hùng đâu thấy nữa,

                    Tựa đình lặng ngắm núi mây trôi !...

       Lục bát :

                    Vua vời cây cỏ tàn phai,

                    Gom về họ Lý đất đai một nhà.

                    Núi vây cố quốc quanh ta,

                    Thành hoang trúc phủ la đà cỏ cây.

                    Chuông chùa cổ vẳng đâu đây,

                    Mục đồng sáo trúc hây hây nắng chiều.

                    Anh hùng chuyện cũ buồn thiu,

                    Tựa đình nước ngắm non chiều xanh xanh !

 

                                                                  Đỗ Chiêu Đức

 

13. Bài thơ Túc Hoa Âm Tự :

  宿花陰寺             TÚC HOA ÂM TỰ

 

偶徬招提宿,      Ngẫu bạng chiêu đề túc,

僧留半榻分。      Tăng lưu bán tháp phân

石泉朝汲水,      Thạch tuyền triêu cấp thuỷ,

紙帳夜眠雲。      Chỉ trướng dạ miên vân.

松子臨窗墜,      Tùng tử lâm song truỵ.

猿聲隔岸聞。      Viên thanh cách ngạn văn

粥魚敲夢醒,      Chúc ngư sao mộng tỉnh,     

花雨落繽紛。      Hoa vũ lạc tân phân.  

        阮中彥                   Nguyễn Trung Ngạn

 

       

* Chú Thích :

  - Hoa Âm Tự 花陰寺 : Chùa Hoa Âm, ở phía bắc của thành phố Loan Châu thuộc đông bộ của tỉnh Hà Bắc hiện nay. HOA ÂM TỰ hiện đã phát triển thành Bắc Tự Công Viên 北寺公園.

  - Ngẫu Bạng 偶徬 : NGẪU là Ngẫu nhiên, là Tình cờ đến bên cạnh...

  - Chiêu Đề 招提 : Có gốc tiếng Phạn là caturdeśa, phiên âm tiếng Hoa là "Thác đấu đề xa 拓鬥提奢", gọi tắt là THÁC ĐỀ, sau nhầm chữ THÁC 拓 thành chữ CHIÊU 招, nên mới gọi là CHIÊU ĐỀ. Vốn có nghĩa Phạn là "Bốn Phương", dùng để chỉ các tăng lữ vân du bốn phương gọi là "CHIÊU ĐỀ TĂNG 招提僧". Bắc Ngụy Thái Võ Đế cất tăng viện, gọi là CHIÊU ĐỀ, nên sau gọi chung chùa chiền là CHIÊU ĐỀ hoặc GIÀ LAM 伽藍, tiếng Phạn là samghrma, cũng là từ dùng để chỉ "Thiền Môn Chùa Chiền"  như trong Truyện Kiều tả lúc Thúy Kiều ở Chiêu Ẩn Am với sư Giác Duyên có câu :

 

                         Gió quang mây tạnh thảnh thơi,

                       Có người đàn việt lên chơi cửa GIÀ.

 

      Cửa GIÀ là cửa GIÀ LAM là Cửa Chùa giống như là CHIÊU ĐỀ vậy. Nên...

   - Chiêu Đề Túc 招提宿 : là Tá túc lại trong chùa, là ngủ qua đêm trong chùa. 

   - Tháp 榻 : là cái sạp, cái giường hẹp mà dài. Như TRÚC THÁP 竹榻 là cái Chỏng bằng tre. BÁN THÁP 半榻 là Nửa cái chỏng, nửa cái giường nằm.

   - Cấp Thủy 汲水 : là Múc nước, rút nước.

   - Chỉ Trướng 紙帳 : là Màn giấy, là cái mùng ngủ được làm bằng vỏ của cây mây đai kết sơ sài lại để làm mùng, phía trên được phủ bởi một lớp vải mỏng có vẽ hình các loại hoa, ở trong chùa thì vẽ hình mây bay ở trên trời, nên câu thơ "Chỉ Trướng dạ miên vân 紙帳夜眠雲" có nghĩa : "Ban đêm ngủ với MÂY trong mùng giấy" là thế.

   - Chúc Ngư 粥魚 : là cái Mỏ, là khúc cây đẽo hình con cá được móc rổng ruột để gỏ cho kêu, còn gọi là MỘC NGƯ 木魚.

   - Tân Phân 繽紛 : là Sặc sỡ, là lả tả. LẠC TÂN PHÂN là Rơi lả tả.

 

* Nghĩa Bài Thơ :

                        ĐÊM TRỌ CHÙA HOA ÂM

       Tình cờ đến cạnh ngôi chùa và tá túc qua đêm nơi đây, nhà sư đã chia cho ta nửa chiếc giường để nằm. Buổi sáng thì đi lấy nước ở các khe suối đá, còn ban đêm thì ngủ với mây trong mùng giấy. Những trái thông sột soạt rụng ngay trước song cửa và tiếng vượn hú gọi đàn vẳng bên kia bờ khe suối. Tiếng mỏ sáng vang lên làm tỉnh giấc mộng buổi ban mai, nhìn ra ngoài thấy những cánh hoa đang lả tả rơi rụng như mưa !  

 

* Diễn Nôm :

                         ĐÊM TRỌ CHÙA HOA ÂM

                    

                       Ngủ lại chùa đêm xuống,

                       Nửa giường sư nhượng ta.

                       Nước đá khe sáng lấy,

                       Mùng mây giấc đêm qua.

                       Bên song nghe thông rụng,

                       Tiếng vượn vẳng bờ xa.

                       Mỏ sớm choàng tỉnh mộng,

                       Lả tả trận mưa hoa !                              

  Lục bát :

                      Tình cờ tá túc Hoa Âm,

                      Sư chia một nửa giường nằm qua đêm.

                      Nước trong suối đá êm êm,

                     Màn mây trướng giấy êm đềm giấc mơ.

                     Ngoài song tùng rụng ơ hờ,

                     Cách bờ vượn hú ngẩn ngơ khách chùa.

                     Giật mình tiếng mỏ sáng khua,

                     Tơi bời hoa rụng như mưa trước thềm !

 

                                                  Đỗ Chiêu Đức (diễn Nôm)

 

14. Bài thơ Tư Quy:   

 

      思歸                             TƯ QUY

百歲能堪幾別離,    Bách tuế năng kham kỷ biệt ly ?

異鄉久客未成歸。    Dị hương cửu khách vị thành quy.

春深庭院槐陰合,    Xuân thâm đình viện hòe âm hợp,

日暖池塘柳絮飛。    Nhật noãn trì đường liễu nhứ phi.

萬斛鄉愁難當酒,    Vạn hộc hương sầu nan đáng tửu,

三分病骨不勝衣。    Tam phân bệnh cốt bất thăng bi.

黃塵無限都門外,    Hoàng trần vô hạn đô môn ngoại,

早趁南薰賦式微。    Tảo sấn nam huân phú Thức Vi.

              阮中彥                                 Nguyễn Trung Ngạn

 

        

* Chú Thích :

  - Cửu Khách 久客 : Ở nơi đất khách lâu ngày.

  - Xuân Thâm 春深 : Xuân đã vào sâu, có nghĩa là đã cuối xuân rồi.

  - Liễu Nhứ 柳絮 : Hạt và hoa liễu màu trắng ở buổi cuối xuân.

  - Vạn Hộc 萬斛 : Một Hộc = 10 đấu; VẠN HỘC ở đây chỉ Thật nhiều thật nhiều.

  - Nan Đương Tửu 難當酒 : Khó mà uống được rượu, khó mà rót rượu uống cho nổi.

  - Bất Thăng Y 不勝衣 : Không mặc nổi áo, không có sức để mặc áo.

  - Sấn 趁 : Nhân lúc, Thừa dịp...

  - Nam Huân 南薰 : Theo Khổng Tử Gia Ngữ, có dẫn bài ca của Đế Thuấn là : " Nam phong chi huân hề, khả dĩ giải ngô dân chi uẩn hề. 南風之薰兮,可以解吾民之愠兮。 "... Có nghĩa : Cái mát mẻ ấm áp của gió Nam, có thể giải tỏa được nỗi lòng u uẩn ẩn ức của dân Nam ta ! Với thâm Ý nầy, ông Phạm Qùynh đã lập ra Nam Phong Tạp Chí với Ý đồ mở mang dân trí và xoa dịu lòng dân để ẩn nhẫn đợi thời ! NAM HUÂN ở đây chỉ sự mát mẻ của gió nam vào những buổi trưa.

 - Thức Vi 式微 : Tên bài thơ thuộc chương Bắc Phong 邶風 trong Kinh Thi 詩經 như sau :

 

                             

                          式微,式微 !   Thức vi! Thức vi! 

                          胡不歸 ?        Hồ bất quy? 

                         微君之故,         Vi quân chi cố,

                         胡為乎中露 !   Hồ vi hô trung lộ ? 

     Có nghĩa :

                        Tối rồi đa, tối rồi đa !

                        Sao chẳng về nhà, ở đó làm chi ?

                        Vì vua nên phải chay lì,

                        Dầm sương dãi nắng xá chi thân nầy !

 

   - Phú Thức Vi 賦式微 : Ngâm bài ca dao Thức Vi, ý nói "Sao chẳng về nhà ?"

 

* Nghĩa bài thơ :

                                 MUỐN TRỞ VỀ

      Đời người trăm năm có thể chịu đựng được mấy lần ly biệt đây ? Làm khách nơi xứ lạ quê người đã lâu nhưng còn chưa về được. Trong buổi tàn xuân nhìn bóng cây hòe trong sân họp lại. Ánh nắng ấm áp bên ao hồ tơ liễu trắng tung bay. Rượu cả vạn hộc nhưng vì lòng đang mang mối sầu quê hương nên không thể chuốc chén được; Bệnh tật đã thâm vào xương hết ba phần rồi nên hầu như không còn sức để mặc áo nữa ! Ngoài cửa Đô môn bụi vàng (của những ngựa xe qua lại) cuốn bay mờ mịt. Ta muốn sớm nhân lúc gió nam còn mát mẻ nầy mà tìm đường về lại quê nhà (hát bài Thức Vi, tức là Ý muốn về lại quê nhà).

 

* Diễn Nôm :

                               TƯ QUY                   

                 Trăm năm chịu được mấy phân ly ?

                 Đất khách muốn về dễ mấy khi.

                 Sân trước xuân tàn hòe rợp bóng,

                 Ao truôm nắng ấm liễu bay đi.

                 Lòng quê trước rượu khôn nâng chén,

                 Bệnh tật vào xương áo khó ghì.

                 Mù mịt bụi vàng bay trước ngõ,

                 Gió nam hát khúc "Thức Vi" thi !

    Lục bát :

                 Trăm năm chịu mấy chia ly ?

                 Xứ người thân khách mấy khi được về !

                 Xuân tàn sân rợp bóng hòe,

                 Bên ao nắng ấm đón hè liễu bay.

                 Nhớ quê muôn chén khó say,

                 Xương tàn bệnh tật khôn cài áo khuy.

                 Cửa Đô bụi cuốn bay đi,

                 Gió nam hát khúc Thức Vi muốn về !

                                         Đỗ Chiêu Đức diễn nôm

 

15. Bài thơ Tương Giang Tặng Biệt:

 

    湘江贈別             TƯƠNG GIANG TẶNG BIỆT

 

數杯別酒驛亭邊,    Sổ bôi biệt tửu dịch đình biên,

君上征鞍我上船。    Quân thướng chinh yên ngã thướng thuyền.

獨倚蓬山愁不語,    Độc ỷ Bồng sơn sầu bất ngữ,

一江湘水碧連天。    Nhất giang Tương thủy bích liên thiên !

              阮中彥                                Nguyễn Trung Ngạn

* Chú thích :

  - Tương Giang 湘江 : Còn được gọi là Tương Thủy 湘水, là một trong những con sông nhánh quan trọng của Trường Giang và con sông lớn nhất của tỉnh Hồ Nam.

  - Sổ 數 : là Một vài, là Mấy. Nếu là Động từ thì có nghĩa là Đếm; Còn nếu đọc là SỐ thì là Danh từ chỉ các chữ số, con số.

  - Dịch Đình 驛亭 : là Cái trạm, cái đình cất ở ven đường hay ven sông để nghỉ chân và để làm nơi đưa tiễn nhau.

  - Chinh Yên 征鞍 : là cái yên ngựa, mà cũng để chỉ con ngựa sẽ được cởi đi xa.

  - Bồng Sơn 蓬山 : Núi Bồng Lai, chỉ chung nơi tiên ở.

  

* Nghĩa bài thơ :

                             TẶNG LÚC CHIA TAY TRÊN SÔNG TƯƠNG

      Bên cạnh quán dịch bên đường, ta cùng bạn uống vài chung rượu chia tay. Đoạn bạn lên ngựa để vượt đường xa còn ta thì bước xuống thuyền. Ta một mình đứng tựa thuyền nhìn núi Bồng Lai mà buồn nói chẳng nên lời. Xa xa dòng nước sông Tương xanh biếc như nối liền cả nước trời lại với nhau.

 

     Đọc hai câu chót của bài nầy làm cho ta nhớ đến bài thất ngôn tứ tuyệt "黃鶴樓送孟浩然之廣陵 Hoàng Hạc Lâu Tống Mạnh Hạo Nhiên Chi Quảng Lăng" của Thi Tiên Lý Bạch :

 

                      故人西辭黃鶴樓,    Cố nhân tây từ Hoàng Hạc Lâu, 

                      煙花三月下陽州。    Yên ba tam nguyệt hạ Dương Châu. 

                     孤帆遠影碧空盡,    Cô phàm viễn ảnh bích không tận, 

                     惟見長江天際流。    Duy kiến Trường Giang thiên tế lưu.

     Diễn Nôm :

                          

                        Giả từ Hoàng Hạc phía lầu tây,

                        Xuân đến Dương Châu rực cỏ cây.

                       Chỉ thấy cánh buồm côi khuất dạng,

                       Trường Giang nước chảy lẫn trời mây !  

 

      Lý Bạch không nói gì đến tình cảm thắm thiết của mình với "cố nhân", nhưng qua hình ảnh đứng nhìn theo cánh buồm của chiếc thuyền chở bạn đi đến khi mất hút trong bầu trời xanh mà vẫn còn nhìn mãi dòng nước chảy đã đưa bạn đến tận phía chân trời, ta cũng thấy được sự quyến luyến vô vàn của một tình bạn nồng nàn thắm thiết đến cở nào ! Nhà thơ Nguyễn Trung Ngạn của ta cũng vậy, một mình đứng tựa thuyền mà trông dòng sông Tương xa xa mênh mông xanh biếc trời nước liền nhau mà buồn nói chẳng nên lời.  

 

* Diễn Nôm :

                        TƯƠNG GIANG TẶNG BIỆT                       

 

                   Dịch quán chia tay rượu mấy hồi,

                   Xuống thuyền lên ngựa tách đôi nơi.

                   Núi Bồng sầu tựa buồn không nói,

                   Một dãi sông Tương nước lộn trời.

       Lục bát :

                   Tiễn đưa mấy chén quan hà,

                   Bạn thì lên ngựa còn ta xuống thuyền.

                   Bồng Sơn sầu tựa núi tiên,

                   Sông Tương một dãi nối liền trời mây !

                                    

       Mời đọc tiếp Thơ NGUYỄN TRUNG NGẠN (phần 4)

       

  杜紹德

  Đỗ Chiêu Đức

__________________________________

Góc Việt Cổ Thi: 

 

                                   Thơ NGUYỄN TRUNG NGẠN

                                                     (Phần 2)

6. Bài thơ Hoàng Hạc Lâu:

 

     黃鶴樓                  Hoàng Hạc Lâu

旅懷何處可消憂,    Lữ hoài hà xứ khả tiêu ưu ?

黃鶴磯南一倚樓。    Hoàng hạc cơ nam nhất ỷ lâu.

夏口遠帆來別浦,    Hạ Khẩu viễn phàm lai biệt phố,

漢陽晴樹隔滄洲。    Hán Dương tình thọ cách thương Châu.

樓前歌管迴翁醉,    Lâu tiền ca quản hồi ông túy,

檻外煙波太白愁。    Hạm ngoại yên ba Thái Bạch sầu.

猛拍欗杆還自傲,    Mãnh phách lan can hoàn tự ngạo,

江山奇絕我茲遊。    Giang sơn kỳ tuyệt ngã tư du !

              阮忠彥                        Nguyễn Trung Ngạn

 

     

* Chú Thích :

  - Lữ Hoài 旅懷 : LỮ là Ở xa nhà, HOÀI là Nỗi lòng, nên LỮ HOÀI là Nỗi lòng của người xa xứ.

  - Tiêu Ưu 消憂 : là Tiêu trừ ưu tư, là Làm cho hết buồn lo.

  - Hoàng Hạc Cơ 黃鶴磯 : là núi đá nhô lên trên Xà Sơn của thành phố Vũ Xương tỉnh Hồ Bắc. Tương truyền có tiên nhân Tử An cởi hạc ghé ngang qua đây, nên mới có tên là HOÀNG HẠC CƠ. Hoàng Hạc Lâu được xây dựng trên Hoàng Hạc Cơ nầy.

  - Hạ Khẩu 夏口 : Nằm trong quận Giang Hạ, là Hán Khẩu của thành phố Vũ Hán hiện nay, nằm ở phía đông của Hán Thủy và bờ bắc của sông Trường Giang.

  - Hán Dương 漢陽 : Địa danh nằm ở phía tây Hoàng Hạc Lâu và ở bờ bắc của sông Hán Thủy.

  - Thương Châu 滄洲 : Phiếm chỉ Đại từ dùng để chỉ những bến nước hay cồn đảo, nơi mà ngày xưa các ẩn sĩ hay tìm đến để ở. Còn THƯƠNG CHÂU 滄洲 (địa danh) là thành phố lớn phía đông nam của tỉnh Hà bắc, phía đông giáp biển Bột Hải, phía bắc giáp thành phố Thiên Tân, cách Hoàng Hạc lâu rất xa.

  - Hồi Ông Túy 迴翁醉 : Chỉ Ông đạo sĩ trở lại uống rượu say sưa lần chót trên lầu, rồi thổi tiêu cho hạc bay xuống và cởi hạc đi mất.

  - Thái Bạch Sầu 太白愁 : Thi tiên Lý Bạch buồn vì không làm thơ được trước bài thơ qúa hay của Thôi Hiệu.(Mời đọc bài Hoàng Hạc Lâu theo link dưới đây sẽ rõ :   57 . Hoàng Hạc Lâu & .... - Đỗ Chiêu Đức 1

57 . Hoàng Hạc Lâu & .... - Đỗ Chiêu Đức 1

 

  - Mãnh Phách 猛拍 : là Vỗ mạnh, vỗ đánh đét vào ...cái gì đó.

  - Tư 茲 : là Nay, là Nầy. TƯ DU 茲遊 là Nay ta được dạo chơi ở đây. 

 

                       

* Nghĩa Bài Thơ :

                                    LẦU HOÀNG HẠC 

        Nỗi lòng của người xa xứ biết nơi nào mới có thể tiêu sầu được đây ? Chỉ có đứng vựa vào lầu để ngắm lầu Hoàng Hạc trên Hoàng Hạc Cơ mà thôi ! Từ cửa Hạ Khẩu ta thấy những cánh buồm xa xa đến từ những bến bờ khác, Cách các cồn đảo trên sông nước ta thấy hàng cây xanh bày ra bên bờ Hán Dương xa xa. Trước lầu tiếng tiêu thiều ca múa như lúc ông đạo sĩ uống say trở lại, và bên ngoài lầu khói sóng trên sông làm cho Lý Thái Bạch phải buồn bã vì không làm thơ được. Ta vỗ mạnh vào lan can mà tự mãn nguyên rằng, ngày hôm nay, tại nơi đây ta cũng đã ngắm được cảnh núi sông kỳ tuyệt nầy.

 

         Vẫn giữ vần điệu và âm vận bất hủ của bài "Hoàng Hạc Lâu của Thôi Hiệu" với các vần như LÂU, CHÂU, SẦU ... làm người đọc có cảm giác như đây là  một tục bản của Hoàng Hạc lâu thuở nào . Sau nầy cụ Nguyễn Du và Phan Thanh Giản khi đi sứ phương bắc cũng có thơ vịnh Hoàng Hạc Lâu, mặc dù không theo các âm vận trên, nhưng cũng có nét độc đáo riêng của Lầu Hoàng Hạc nên thơ và gợi cảm theo cách nhìn và cảm xúc của từng người theo từng thời đại ...

 

* Diễn Nôm :

                       HOÀNG HẠC LÂU

                  

                 Nỗi lòng viễn xứ tỏ nơi đâu ?

                 Đứng tựa nam cơ Hoàng Hạc Lâu.

                 Hạ Khẩu buồm xa từ bến lạ,

                 Hán Dương cây tạnh cách thương châu.

                 Trước lầu tiêu sáo ông say đến,

                 Ngoài bãi khói sông Lý Bạch sầu.

                 Vổ mạnh lan can lòng tự mãn,

                 Núi sông tuyệt đẹp khỏi tìm đâu !

    Lục bát :

                 Lòng sầu lữ khách khôn khây,

                 Lên lầu Hoàng Hạc ngắm mây cuối trời.

                 Cánh buồm Hạ Khẩu ngoài khơi,

                 Hán Dương trời tạnh cây phơi bãi cồn.

                 Trước lầu tiêu sáo dập dồn,

                 Ngoài hiên Lý Bạch chợt buồn vì thơ.

                 Lan can vổ mạnh chẳng ngờ,

                 Núi sông thắng cảnh hiện giờ riêng ta !

 

                                               Đỗ Chiêu Đức

 

7.Bài thơ Hồi Nhạn Phong:

 

    回鴈峰                     HỒI NHẠN PHONG

竹露松煙曉翠岩,   Trúc lộ tùng yên hiểu thúy nham,

參差亭下出青嵐。   Sâm si đình hạ xuất thanh lam.

山頭回去秋風雁,   Sơn đầu hồi khứ thu phong nhạn,

誰為傳書到嶺南。   Thùy vị truyền thư đáo Lĩnh Nam ?

               阮忠彥                        Nguyễn Trung Ngạn

* Chú Thích:

  - Hồi Nhạn Phong 回鴈峰 : Địa danh, nằm ở thành phố Hành Dương tỉnh Hồ Nam. Độ cao hơn mặt nước biển 96.8 m, đứng đầu trong 72 ngọn núi cao của Nam Nhạc, xưng là Nam Nhạc Đệ Nhứt Phong. Tương truyền, khi nhạn xuôi nam, bay đến đây đều quay ngược trở về, nên mới có tên là Hồi Nhạn Phong.

  - Hiểu Thúy Nham 曉翠岩 : HIỂU là Buổi sáng, THÚY là Màu xanh biếc, NHAM là Nham thạch, là những tảng đá xanh biếc trong buổi sáng.

  - Sâm Si 參差 : Vốn là chữ THAM 參 và chữ SAI 差, ở đây ghép lại thành Hình Dung Từ, nên đọc là SÂM SI : có nghĩa là So le, cao thấp không đều nhau. Trong Thiên " Chu Nam. Quan Thư 周南. 關雎 " trong Kinh Thi có bài :

  

          參差荇菜,左右流之。Sâm si hạnh thái, Tả hữu lưu chi.

          窈窕淑女,寤寐求之。Yểu điệu thục nữ, Ngụ mị cầu chi.

          求之不得,寤寐思服。Cầu chi bất đắc, ngụ mị tư phục.

          悠哉悠哉,輾轉反側。Du tai du tai, Triển chuyển phản trắc.                            

Có nghĩa :

           So le rau Hạnh, phải trái xuôi dòng.

           Yểu điệu thục nữ, đêm nhớ ngày mong.

           Cầu mà chẳng được, thức ngủ nhớ mong.

           Dài thay dài thay, trăn trở mấy vòng !        

Lục bát :

              

 

                    Kìa xem rau hạnh so le,

              Theo nước trong xè, phải trái chảy đi.

                    Cô em yểu điệu nhu mì,

              Ngày mong đêm nhớ kể gì thời gian.

                    Cầu mà chưa được chẳng an,

              Thức ngủ mơ màng, đêm nhớ ngày mong.

                    Dài ghê đêm tối mông lung,

              Nằm mãi trong mùng, trăn trở trở trăn !

                                       (ĐCĐ diễn Nôm)

  - Thanh Lam 青嵐 : THANH là màu xanh, nhưng LAM 嵐 ở đây là "Sơn Lam Chướng Khí" chứ không phải màu xanh LAM 藍.

  - Lĩnh Nam 嶺南 : Xưa chỉ Quảng Đông, Quảng Tây, Hải Nam và vùng đồng bằng sông Hồng bắc Việt Nam. Ngày nay chỉ dùng để chỉ tỉnh Quảng Đông, Hải Nam và Hương Cảng. Trong bài thơ Nguyễn Trung Ngạn mượn để chỉ Việt Nam nơi quê nhà.

 

* Nghĩa bài thơ :

                           HỒI NHẠN PHONG

        Những cây trúc đẫm sương đêm, những cây thông mờ hơi khói và những tảng đá xanh biếc trong buổi sáng, nằm so le ẩn hiện dưới mái đình nhuốm đầy sơn lam chướng khí. Trên đầu núi những con nhạn bay đến khi gió thu thổi đã bay hết cả trở lại, thì còn ai đâu có thể giúp ta đưa thư về quê nhà ở đất Lĩnh Nam của ta đây ?  

 

* Diễn Nôm :

                         HỒI PHONG NHẠN

                  

                  Đá xanh tùng trúc khói sương pha,

                  Ẩn hiện dưới đình lam chướng xa.

                  Thu nhạn quay đầu trên đĩnh núi,

                  Thư ai đưa đến Lĩnh Nam ta ?!

     Lục bát :

                  Khói sương tùng trúc đá xanh,

                  Thấp cao ẩn hiện dưới đình sơn lam,

                  Núi cao ngăn nhạn xuôi nam,

                  Ai người đưa hộ Lĩnh Nam thư nhà ?!

                                                 ĐCĐ diễn Nôm

 

8. Bài thơ Kinh Môn:

 

      荊門                           KINH MÔN

溪風溪雨作黃昏,    Khê phong khê vũ tác hoàng hôn,

夜泊東昌近酒村。    Dạ bạc đông xương cận tửu thôn.

歡伯澆愁眠正熟,    Hoan bá kiêu sầu miên chính thục,

西風吹夢到荊門。    Tây phong xuy mộng đáo kinh môn.

               阮忠彥                               Nguyễn Trung Ngạn

 

          * Chú Thích :

  - Kinh Môn 荊門 : KINH là một loài cây cỏ mọc từng bụi, cao bốn năm thước, lá như cái bàn tay, hoa nhỏ, sắc tím hơi vàng, cành gốc cứng rắn, mọc rải rác ở nơi đồng áng làm lấp cả lối đi, tục gọi là Cỏ Gai. Nên KINH MÔN là cửa đan bằng cỏ gai, ý chỉ cửa sơ sài của quê nghèo; chớ không phải chỉ Thành phố Kinh Môn nằm bên bờ sông Trường Giang thuộc tỉnh Hồ Bắc của Trung Hoa.

  - Khê 溪 : là Khe nước trong núi chảy ra sông lớn.

  - Đông Xương 東昌 : Địa danh được đặt vào đời nhà Nguyên, nay thuộc tỉnh Sơn Đông của Trung Hoa.

  - Hoan Bá 歡伯 : là Cái "Ông bác vui vẻ", tên riêng để gọi Rượu.

  - Kiêu 澆 : có 3 chấm thủy bên trái, nên KIÊU có nghĩa là Tưới tiêu. Hoan Bá Kiêu Sầu 歡伯澆愁 : Có nghĩa Rượu tưới lên sầu, ý nói "uống rượu để giải sầu".

 

* Nghĩa bài thơ :

                                           KINH MÔN

       Gió và mưa trong khe suối tạo nên bức tranh của cảnh hpoàng hôn, ta ghé thuyền đậu ở bến Đông Xương gần xóm rượu. Định uống rượu để giải sầu không ngờ lại ngủ quá say, nhờ gió tây thổi đưa giấc mộng về đến quê hương.

 

* Diễn Nôm :

                           KINH MÔN

                      

                   Gió khe mưa núi cảnh chiều tà,

                   Đêm ghé Đông Xương xóm rượu qua.

                   Mượn chén tiêu sầu say tuý luý,

                   Gió tây đưa mộng đến quê nhà !

     Lục bát :

                   Mưa khe gió núi hoàng hôn,

                   Đêm về thuyền ghé tửu thôn ben bờ.

                   Tiêu sầu quá chén vào mơ,

                   Gió tây đưa mộng dật dờ về quê !

 

                                                         Đỗ Chiêu Đức 

 

9. Bài thơ Nhạc Dương Lâu  (1) :

 

   岳陽樓 (一)                NHẠC DƯƠNG LÂU (1)

 

猛拍欄杆一朗吟,     Mãnh phách lan can nhất lãng ngâm,

悽然感古又懷今。     Thê nhiên cảm cổ hựu hoài câm (kim).

山浮鰲背蓬宮杳,     Sơn phù ngao bối bồng cung yểu,

水接龍涯海藏深。     Thủy tiếp long nhai hải tạng thâm.

景物莫窮千變態,     Cảnh vật mạc cùng thiên biến thái,

人生安得幾登臨。     Nhân sinh an đắc kỷ đăng lâm,

江湖滿目孤舟在,     Giang hồ mãn mục cô chu tại,

獨抱先懮後樂心。     Độc bão tiên ưu hậu lạc tâm !

              阮忠彥                        Nguyễn Trung Ngạn

 

     * Chú Thích :

  - Nhạc Dương Lâu 岳陽樓 : Là một lầu cổ nằm ở cửa tây Cổ thành của thành phố Nhạc Dương thuộc tỉnh Hồ Nam Trung Hoa. Lầu nằm bên bờ sông Trường Giang, phía dưới lầu là Động Đình Hồ, hướng trước mặt là Quân Sơn. Nhạc Dương Lầu nổi tiếng với bài phú "Nhạc Dương Lầu Ký 岳陽樓記" của Phạm Trọng Yêm 范仲淹 đời Tống, với câu kết bất hủ là " Tiên thiên hạ chi ưu nhi ưu, Hậu thiên hạ chi lạc nhi lạc 先天下之憂而憂,後天下之樂而樂". Có nghĩa : "Lo trước cái lo của thiên hạ, Vui sau cái vui của thiêb hạ". Đây cũng là ý của câu cuối của bài thơ nầy :"獨抱先懮後樂心 Độc bão tiên ưu hậu lạc tâm": Ôm ấp lấy tấm lòng LO TRƯỚC và VUI SAU.

  - Lãng Ngâm 朗吟 : là Ngâm to lên (chỉ sự hưng phần).

  - Thê Nhiên 悽然 : là Xúc động thương cảm.

  - Sơn phù NGAO bối BỒNG cung yểu 山浮鰲背蓬宮杳 : Có tích như sau : Theo chương Thang Vấn trong sách Liệt Tử : Bồng Lai là một trong 5 đảo núi lớn trôi nổi trên Bột Hải, nên thượng đế mới sai những con Ngao to lớn (loại Ba ba hay Rùa biển) lặn xuống bên dưới đội đảo lên cho đứng vững một chỗ, vì Bát Tiên hay dạo chơi và ở trên đảo Bồng Lai nên đảo nầy nổi tiếng hơn các đảo khác. BỒNG CUNG là cung điện của tiên ở trên đảo Bồng Lai. YỂU 杳 : là Mờ mịt xa thẳm.

- Mạc Cùng 莫窮 : là Vô cùng, là Khôn cùng, là không lường trước được.

- An Đắc 安得 : là Khó mà có được, không mấy khi có được.

 

* Nghĩa bài thơ :

                                    LẦU NHẠC DƯƠNG

       Ta muốn vổ mạnh vào lan can mà ngâm lớn lên vì xúc động bồi hồi, cảm khái cho chuyện xưa và chuyện nay. Trước mắt núi Quân Sơn tựa như cung Bồng Lai đang trôi nổi xa xăm và mặt nước tiếp giáp như hàm rồng dưới biển sâu ẩn chứa biết bao là châu báu. Cảnh trí luôn luôn như thiên biến vạn hóa vô cùng tận, còn đời người thì biết có được mấy lần đứng trên lầu cao mà ngắm cảnh thế nầy ?Nước sông hồ mênh mông trước mắt một chiếc thuyền côi vẫn còn đó, lòng vẫn riêng ôm hoài bão lo trước cái lo của thiên hạ và vui sau cái vui của thiên hạ.

 

      Nhạc Dương Lâu bên hồ Động Đình nổi tiếng với câu nói :"Động Đình thiên hạ thủy, Nhạc Dương thiên hạ lâu 洞庭天下水,岳陽天下樓". Có nghĩa : Hồ Động Đình là nước dưới thiên hạ, còn Nhạc Dương Lâu là lầu ở dưới thiên hạ. Ý muốn nói : Nước trong thiên hạ không đâu qua được nước của Động Đình Hồ và Lâu đài trong thiên hạ không đâu qua được Nhạc Dương Lâu ! Nhạc Dương Lâu cùng với Hoàng Hạc Lâu ở Vũ Xương, Đằng Vương Các ở Nam Xương hợp xưng là "Giang Nam tam đại danh lâu", còn người đời thì gọi Nhạc Dương Lâu là "Thiên hạ đệ nhất lâu".

 

* Diễn Nôm :

                         NHẠC DƯƠNG LÂU

                   Lan can đánh đét giọng cao ngâm,

                   Cảm khái làm sao chuyện cổ câm.

                   Núi nổi ngao nâng Bồng Lai cách,

                   Biển sâu rồng quẩy báu châu trầm.

                   Vô cùng cảnh vật ngàn năm đổi,

                   Khó được đời người mấy thuở thăm.

                   Sông nước mênh mông thuyền lẻ bóng,

                   Vui sau lo trước giữ lòng nhân !

       Lục bát :

                   Lan can đánh đét ngâm vang,

                   Cổ kim thế sự bàng hoàng xuyến xao.

                   Bồng Lai núi nổi nhờ ngao,

                   Biển sâu ẩn dấu biết bao hàm rồng.

                   Đổi vời cảnh vật ngàn năm,

                   Ngưòi đời mấy thuở được thăm nơi nầy.

                   Giang hồ thuyền lẻ còn đây,

                   Giữ lòng lo trước vui vầy đến sau !

 

                                                                    Đỗ Chiêu Đức

 

  10. Bài thơ  Nhạc Dương Lâu  (2) :                              

 

   岳陽樓 (二)                NHẠC DƯƠNG LÂU (2)

 

危樓高枕岳陽城,    Nguy lâu cao chẩm Nhạc Dương Thành,

城下扁舟泛洞庭。    Thành hạ biển chu phiếm Động Đình.

湖水展開圓鏡白,    Hồ thuỷ triển khai viên kính bạch,

君山點出一螺青。    Quân sơn điểm xuất nhất loa thanh.

霸圖空闊分吳楚,    Bá đồ không khoát phân Ngô Sở,

元氣淋漓浸日星。    Nguyên khí lâm ly tẩm nhật tinh.

安得南枝今有便,    An đắc nam chi kim hữu tiện,

鵬風萬里過南溟。    Bằng phong vạn lý quá nam minh.

              阮忠彥                            Nguyễn Trung Ngạn

 

       * Chú Thích :

  - Nguy Lâu 危樓 : NGUY là Cao mà không vững; nên NGUY LÂU là Lầu cao vòi vọi.

  - Chẩm 枕 : Danh từ là Cái gối; Động từ có nghĩa là Gối đầu lên...cái gì đó.

  - Biển Chu 扁舟 : là chiếc thuyền dẹp, ý chỉ chiếc thuyền con.

  - Phiếm 泛 : là Trôi nổi lan man không định hướng, nên BIỂN CHU PHIẾM ĐỘNG ĐÌNH 扁舟泛洞庭 : là chiếc thuyền con thả nổi, mặc tình trôi dạt trên hồ Động Đình. Như PHIẾM LUẬN 泛論 là bàn luận lan man về một chủ đề nào đó .

  - Loa 螺 : là Con Ốc, là hình Xoắn ốc.

  - Bá Đồ 霸圖 : là Tranh bá đồ vương.

  - Nguyên Khí 元氣 : là cái khí đầu tiên, cái khí vốn có của trời đất.

  - Bằng Phong Vạn Lý 鵬風萬里 : Như cánh chim bằng lướt qua vạn dặm đường.

  - Nam Minh 南溟 : là biển nam, nơi quê nhà.

 

* Nghĩa bài thơ :

                                  Lầu NHẠC DƯƠNG (2)

       Lầu cao vòi vọi nằm gối đầu lên bờ thành Nhạc Dương, Dưới thành thả một chiếc thuyền con trôi nổi trên hồ Động Đình. Ta sẽ thấy nước hồ mở ra như một tấm gương tròn trắng lớn, và Quân Sơn ở giữa hồ điểm xuyết như là một con ốc xanh to lớn. Việc tranh bá đồ vương trong khoảng hồ nước mênh mông nầy đã chia hai bờ thành nước Ngô và nước Sở. Cái nguyên khí của đất trời bao la cũng đầm đìa làm chìm đắm cả sao trời và mặt nhựt. Làm sao có được một cành nam để làm phương tiện cho hôm nay và cánh chim bằng có thể vượt qua vạn dặm mà về đến biển nam quê nhà.

 

* Diễn Nôm :

                           NHẠC DƯƠNG LÂU (2)

                         

                     Cao cao lầu gối Nhạc Dương thành,

                     Một lá thuyền con lướt Động Đình.

                     Hồ nước như gương soi kính bạc,

                     Núi Quân tựa ốc điểm màu xanh.

                     Đồ vương tranh bá chia Ngô Sở,

                     Nguyên khí đầm đìa đắm nhựt tinh.

                     Mong được cành nam phương tiện tiếp,

                     Cánh bằng muôn dặm biển quê mình !

     Lục bát :

                     Cao cao lầu gối Nhạc thành,

                     Dưới kia thuyền nhỏ Động Đình nổi trôi.

                     Như gương hồ nước trắng ngời,

                     Quân Sơn tựa ốc xanh tươi giữa hồ.

                     Đồ vương tranh bá Sở Ngô,

                     Khí nguyên trời đất đắm mờ trăng sao.

                     Cành nam mong được ai trao,

                     Cánh bằng muôn dặm lướt mau biển nhà !

             

      Mời đọc tiếp Thơ NGUYỄN TRUNG NGẠN (phần 3)

 

                                                                                                  杜紹德

                                                                                              Đỗ Chiêu Đức

__________________________

Góc Việt Cổ Thi: 

 

                                   Thơ NGUYỄN TRUNG NGẠN

                                                     (Phần 1)

 Nguyễn Trung Ngạn 阮忠彥 (1289-1370) tự Bang Trực 邦直, hiệu Giới Hiên 介軒, sinh tại làng Thọ Hoàng, huyện Thiên Thi, tỉnh Hưng Yên. Nguyễn Trung Ngạn từ nhỏ đã thông minh xuất chúng, nổi tiếng thần đồng. Năm 15 tuổi (1304) ông đã đỗ hoàng giáp đời vua Trần Anh Tông, có trong tay bằng tiến sĩ (cùng khoa với Mạc Ðĩnh Chi), năm 24 tuổi được làm Giám quân, năm 28 tuổi đi sứ nhà Nguyên. Tính ông cương trực, tài kiêm văn võ, có nhiều đóng góp cho công việc xây dựng và bảo vệ đất nước lúc bấy giờ. Ông phò tá Vua Trần Minh Tông trong các chiến dịch bình định vùng Đà Giang và dẹp loạn ở Lào. Trong cuộc đời làm quan qua năm đời vua triều Trần, ông từng được phong là Đại Học Sĩ Trụ Quốc Hướng Huyện Bá, Thiếu Bảo Khai Quốc Nội Hầu... cuối cùng làm đến chức Ðại Hành Khiển tước Thân Quốc Công, thọ 82 tuổi.

 

       Dưới đây là những bài thơ tiêu biểu của ông.

 

1. Bài thơ Bắc Sứ Sơ Độ Lô Giang :

 

 北使初渡瀘江         Bắc Sứ Sơ Độ Lô Giang

 

叨持使節出京華,   Thao trì sứ tiết xuất Kinh hoa,

駐馬孤亭日未斜。   Trú mã cô đình nhật vị tà.

別酒一杯分客興,   Biệt tửu nhất bôi phân khách hứng,

瀘江東畔即天涯。   Lô Giang đông bạn tức thiên nha.

              阮忠彥                        Nguyễn Trung Ngạn

 

     

* Chú Thích :

  - Thao Trì 叨持 : THAO là Nhờ vào, ké vào, May mà có được. Nên THAO TRÌ : là may mắn mà cầm được. Bốn chữ THAO TRÌ SỨ TIẾT 叨持使節 : May mắn mà cầm được cây cờ tiết của sứ giả. Đây là cách nói khiêm nhượng, ý là : Rất hân hạnh được cử đi sứ (nơi đất Bắc). 

  - Kinh Hoa 京華 : là Kinh thành hoa lệ, chỉ kinh đô Thăng long.

  - Trú Mã 駐馬 : là Dừng ngựa lại để nghỉ ngơi.

  - Cô Đình 孤亭 : là cái trường đình cô độc, nơi để cho những người đưa tiễn nhau đặt tiệc tiễn hành.

  - Đông Bạn 東畔 : là Ở phía đông của bờ sông.

  - Thiên Nha 天涯 : là Chân trời, chỉ nơi rất xa xôi.

 

* Nghĩa Bài Thơ :

                  Lúc Mới Sang Đò Sông Lô Khi Đi Sứ Bắc Quốc

 

       Ta rất may mắn và hân hạnh ra khỏi kinh thành hoa lệ để đi sứ Bắc quốc. Dừng ngựa nơi trường đình cô độc khi trời chưa ngã bóng về chiều. Một chén rượu tiễn đưa chia cái tửu hứng của các người khách đến đưa tiễn. Khi đã qua được bên kia bờ đông của Lô Giang thì đã là nơi đất khách xa xôi như tận chân trời góc biển rồi !

 

* Diễn Nôm :

                    Bắc Sứ Sơ Độ Lô Giang

                Giương cờ sứ tiết xuất kinh thành,

                Dừng ngựa bên đình bóng nắng hanh.

                Một chén rượu đưa chia tửu hứng,

                Sông Lô bên ấy ngút trời xanh !

  Lục bát :

                Ơn Vua cờ sứ rời kinh,

                Bóng chiều chưa ngã bên đình dừng chân.

                Tiễn đưa chén rượu bâng khuâng,

                Chân trời mờ mịt bên dòng sông Lô !

 

                                                    Đỗ Chiêu Đức

                  

 2. Bài thơ Bắc Sứ Túc Khâu Ôn Dịch :     

 

北使宿丘溫驛           Bắc Sứ Túc Khâu Ôn Dịch

  

挽盡天河洗甲兵,     Vãn tận Thiên Hà tẩy giáp binh,

廟堂無意事邊征。     Miếu đường vô ý sự biên chinh.

江山有限分南北,     Giang sơn hữu hạn phân nam bắc,

胡越同風各弟兄。     Hồ Việt đồng phong các đệ huynh.

月滿蠻村閒夜柝,     Nguyệt mãn man thôn nhàn dạ thác,

雨餘野燒樂春耕。     Vũ dư dã thiếu lạc xuân canh.

君恩未效涓埃報,     Quân ân vị hiệu quyên ai báo,

一介寧辭萬里行。     Nhất giới ninh từ vạn lý hành.

               阮忠彥                            Nguyễn Trung Ngạn

 

        * Chú Thích :

  - Vãn tận Thiên Hà tẩy giáp binh 挽盡天河洗甲兵 : Câu thơ nầy có xuất xứ từ hai câu thơ trong bài Tẩy Binh Mã (Rửa khí giới) của Đỗ Phủ như sau : 

                  An đắc tráng sĩ vãn thiên hà;           安得壯士挽天河,

                  Tịnh tẩy giáp binh trường bất dụng.  淨洗甲兵長不用. 

Có nghĩa:

      Làm sao có được một tráng sĩ nào đó kéo nước sông Ngân xuống (dịch chữ Thiên hà); Rửa sạch khí giới và áo giáp, mãi mãi không dùng đến nữa.( Ý chỉ có người tài giỏi, dẹp yên chiến tranh để dân chúng được an hưởng thái bình, nhưng mà... thực tế thì đâu có được người như thế !)

     Đọc câu nầy làm cho ta lại nhớ đến câu "Tẩy binh vô lộ vãn Thiên hà 洗兵無路挽天河" trong bài Thuật Hoài của danh tướng Đặng Dung cũng ở đời Trần. Nhưng Đặng Dung 鄧容 (1373 – 1414) sanh sau hơn Nguyễn Trung Ngạn 阮忠彥 (1289-1370). Có thể khi viết câu thơ trên Đặng Dung đã đọc qua bài thơ của Nguyễn Trung Ngạn rồi, nên mượn ý để viết lại mà thôi.

  - Miếu Đường 廟堂 : Chỉ Triều đình.

  - Biên Chinh 邊征 : Chiến chinh vùng biên giới biên ải xa xôi.

  - Man Thôn 蠻村 : MAN là Dã Man 野蠻 chưa khai hóa; THÔN xóm. MAN THÔN chỉ bản làng của người dân tộc.

  - Dạ Thác 夜柝 : Ban đêm trăng sáng đi hái những nhánh cây khô để làm củi.

  - Dã Thiêu 野燒 : Chữ THIÊU là Đốt được đọc thành THIẾU cho đúng luật Bằng Trắc ở trong câu. Nên DÃ THIÊU : là Đốt cỏ khô và rơm rạ ngoài đồng để làm phân, chuẩn bị cho vụ mùa canh tác của mùa xuân tới (XUÂN CANH).

  - Quyên Ai 涓埃 : QUYÊN là dòng nước nhỏ; AI là hạt bụi nhỏ, nên QUYÊN AI là nhỏ nhoi, nhỏ nhặt, là Một chút xíu.

  - Nhất Giới 一介 : chỉ Cá nhân nhỏ nhoi của mình (lời nói khiêm tốn).

 

* Nghĩa Bài Thơ :

                             Đi Sứ Phương Bắc Trú Tại Dịch Quán Khâu Ôn

 

        (Làm sao có thể) kéo hết nước của sông Thiên hà xuống để rửa sạch khí giới và áo giáp (để không còn chiến tranh nữa). Triều đình cũng không có ý gây sự chiến tranh ở các vùng biên cương xa xôi. Núi sông có mốc giới phân định hẵn hoi hai vùng nam bắc, người Hồ kẻ Việt đều cùng chung phong tục tập quán nên đều cùng là anh em cả. Đêm trăng sáng nhàn rỗi nên dân của các bản làng đi bẻ nhánh gom cành làm củi, sau cơn mưa lại đốt cỏ khô rơm rạ để làm phân cho mùa xuân canh tác sắp tới. Ơn vua thì chưa báo đáp được mải mai nào cả, nên bản thân cũng không dám tỏ ý từ nan mà phải đem thân đi sứ ở ngoài muôn dặm như thế nầy.

 

* Diễn Nôm :

                    Bắc Sứ Túc Khâu Ôn Dịch

                Kéo nước Thiên Hà rửa giáp binh,

                Triều đình chẳng có ý chiến chinh.

                Núi sông định rõ phân nam bắc,

                Hồ Việt đành rành cũng đệ huynh.

                Trăng sáng bản làng đi kiếm củi,

                Lửa thiêu cỏ rạ đợi xuân canh.

                Ơn vua chưa mải mai đền đáp,

                Sao dám từ nan vạn lý hành !?

   Lục bát :

                Kéo sông Ngân, rửa giáp binh,

                Triều đình chẳng ý chiến chinh biên thùy.

                Núi sông nam bắc phân kỳ,

                Anh em Hồ Việt tông chi cùng đồng.

                Đêm trăng tìm củi rổi công,

                Sau mưa đốt cỏ cho đồng xuân canh,

                Ơn vua chưa đáp mong manh,

                Dẫu đi muôn dặm không đành từ nan.

 

                                                       Đỗ Chiêu Đức

 

3. Bài thơ DẠ TỌA :

 

                  夜坐                   DẠ TỌA                       

      蝶夢家千里,    Điệp mộng gia thiên lý,

      鵑啼夜五更。    Quyên đề dạ ngũ canh.

      悲風號野館,    Bi phong hào dã quán,

      古木暗荒城。    Cổ mộc ám hoang thành.

      飄蕩蓬萍客,    Phiêu đãng bồng bình khách,

      淹留犬馬情。    Yêm lưu khuyển mã tình.

      有懷成獨坐,    Hữu hoài thành độc tọa,

      茅店又雞聲。    Mao điếm hựu kê thanh.

               阮忠彥                 Nguyễn Trung Ngạn

      

     

 

* Chú Thích :

  - HÀO 號 : Tiếng gầm của con hổ, nên HÀO có nghĩa là Gào, thét, gầm gừ; ở đây chỉ tiếng gió hú, tiếng gió gào. Chữ nầy còn một âm nữa đọc là HIỆU 號 : là Lời kêu gọi, như Hiệu Triệu 號召. Khi là Danh Từ thì có nghĩa là Tên Hiệu.

  - ÁM 暗 : là Mờ, là Tối. Ở đây ÁM là Động từ, có nghĩa là Làm Cho Mờ Tối.

  - Phiêu Đãng 飄蕩 : là Trôi nổi dật dờ. 

  - Bồng Bình Khách 蓬萍客 : BỒNG là cỏ bồng, BÌNH là bèo; một bay theo gió, một trôi theo nước; nên BỒNG BÌNH KHÁCh là Người khách lạc loài trôi nổi vô định. 

  - Yêm Lưu 淹留 : Từ có xuất xứ từ Thiên LY TAO của SỞ TỪ, có nghĩa : Lưu lạc nơi xứ lạ quê người.

  - Khuyển Mã Tình 犬馬情 : Là Cái tình của chó và ngựa, hai con vật rất trung thành với chủ; Ở đây mượn chỉ "Cái lòng trung thành đối với nhà vua".

  - Mao Điếm Hựu Kê Thanh 茅店又雞聲 : Câu thơ nầy làm cho ta nhớ đến 2 câu thơ trong bài Thương Sơn Tảo Hành 商山早行 của Ôn Đình Quân 溫庭筠 là :

 

                   雞聲茅店月,     Kê thanh mao điếm nguyệt,

                   人跡板橋霜。     Nhân tích bản kiều sương.

 

    ... mà cụ Nguyễn Du đã mượn để gom lại thành một câu thơ rất hay để tả cảnh khi Thúy Kiều trốn khỏi Quan Âm Các là :

 

                            (mịt mờ dặm cát đồi cây),

                   Tiếng gà điếm nguyệt, dấu giày cầu sương !

                    

  * Nghĩa bài Thơ :

                           Ngồi Trong Đêm

        Ngồi một mình trong đêm chỉ mơ về quê hương ngàn dặm trong mộng điệp mà thôi; Tiếng cuốc kêu suốt cả năm canh đêm hè. Gió buồn rít mạnh nơi quán trọ hoang vắng, và các cây cổ thụ che kín mờ cả thành hoang. Thân ta nơi đất  khách trôi nổi như cỏ bồng như bèo nước, nhưng luôn luôn giữ lòng trung như khuyển mã đối với quân vương. Vì trong lòng hoài cảm nên mới ngồi suốt trong đêm khi tiếng gà đã eo óc gáy nơi quán cỏ nầy.

 

* Diễn Nôm :

                      Ngồi Trong Đêm

 

               Nhớ nhà ngàn dặm qua mơ,

               Cuốc kêu ra rả tờ mờ năm canh.

               Gió sầu rít mạnh quán tranh,

               Thành hoang u ám bóng xanh cây già.

               Nổi trôi bèo dạt gió qua,

               Gửi thân đất khách tình nhà không khuây.

               Một mình đêm vắng ngồi đây,

              "Tiếng gà điếm nguyệt dấu giày cầu sương"!

 

                                                      Đỗ Chiêu Đức

 

4. Bài thơ Đăng Dương Châu Thành Lâu :

 

登楊州城樓       Đăng Dương Châu Thành Lâu

 

八千餘里客,     Bát thiên dư lý khách,

二十四橋秋。     Nhị Thập Tứ Kiều thu.

異國逢佳景,     Dị quốc phùng giai cảnh,

忙中強倚樓。     Mang trung cưỡng ỷ lâu !

          阮忠彥                 Nguyễn Trung Ngạn

 

    * Chú Thích :

  - Nhị Thập Tứ Kiều 二十四橋 : là Cây cầu nổi tiếng ở Tây Hồ thành phố Dương Châu tỉnh Giang Tô. Cầu gồm một nhịp tròn như cầu vòng, lan can bằng ngọc trắng, dài 24 m, rộng 2,4m, có 24 trụ lan can, 24 bậc thang... mỗi mỗi đều lấy 24 làm tiêu chuẩn, nên mới gọi là "NHỊ THẬP TỨ KIỀU".

  - Giai Cảnh 佳景 : Vừa có nghĩa là "Cảnh đẹp" vừa có nghĩa là "Hoàn cảnh tốt".

  - Cưỡng 強 : là Gắng gượng, là miễn cưỡng. Khi đọc là CƯỜNG thì có nghĩa là Mạnh.

 

* Nghĩa bài thơ :

                  Lên Chơi Thành Lầu Ở Dương Châu

 

      Khách từ ngoài tám ngàn dặm đến đây, gặp lúc Nhị Thập Tứ Kiều đang vào thu. Ở nước lạ mà gặp được cảnh đẹp như thế nầy, nên mặc dù rất bận vẫn ráng cố gắng lên thành tựa lầu mà ngắm phong cảnh đẹp hiếm có nầy.

 

      Đọc bài thơ nầy làm ta nhớ tới bài thất ngôn tứ tuyệt của Đỗ Mục 杜牧 "Ký Dương Châu Hàn Xước Phán Quan 寄揚州韓綽判官" như sau :

                   

                 青山隱隱水迢迢,  Thanh sơn ẩn ẩn thủy điều điều,

                 秋盡江南草未凋。  Thu tận Giang Nam thảo vị điêu.

                 二十四橋明月夜,  Nhị thập tứ kiều minh nguyệt dạ,

                 玉人何處教吹簫。  Ngọc nhân hà xứ giáo xuy tiêu !?

    Có nghĩa :

                     Núi xanh thấp thoáng nước mênh mông,

                     Thu úa Giang Nam hoa vẫn hồng.

                     Nhị Thập Tứ Kiều trăng sáng qúa,

                     Nơi nao người ngọc tiếng tiêu lồng!?

 

      Từ xưa đến nay, Tây Hồ ở Dương Châu vừa nổi tiếng là nơi có phong cảnh đẹp, có nhiều người đẹp và lắm thức ăn ngon.

 

* Diễn Nôm :

                    Đăng Dương Châu Thành Lâu

              

                    Tám ngàn dặm, khách cô liêu, 

                    Đến đây Nhị Thập Tứ Kiều vào thu.

                    Nước người gặp cảnh thanh u,

                    Bận sao cũng gắng vựa lầu ngắm xem. 

 

                                                                Đỗ Chiêu Đức

 

5. Bài thơ  Động Đình Hồ :

 

   洞庭湖                      Động Đình Hồ

 

雲濤雪浪四漫漫,    Vân đào tuyết lãng tứ man man,

砥柱中流屹一山。    Chỉ trụ trung lưu ngật nhất san.

鶴蹟不來松歲老,    Hạc tích bất lai tùng tuế lão,

妃魂猶在竹痕斑。    Phi hồn do tại trúc ngân ban.

乾坤卵破洪蒙後,    Càn khôn noãn phá hồng mông hậu,

日月萍浮浩渺間。    Nhật nguyệt bình phù hạo diễu gian.

岸芷汀蘭無限興,    Ngạn chỉ đinh lan vô hạn hứng,

片心空羡白鷗閒。    Phiến tâm không tiện bạch âu nhàn.

              阮忠彥                                Nguyễn Trung Ngạn

 

       * Chú Thích :

  - Vân Đào Tuyết Lãng 雲濤雪浪 : Những đợt sóng cuồn cuộn như mây, vỗ vào nhau làm cho những hạt nước bắn tung tóe trắng xóa như tuyết rơi.

  - Chỉ Trụ Trung Lưu Ngật Nhất San 砥柱中流屹一山 : Một ngọn núi đứng sừng sững vươn lên giữa dòng nước chảy (chỉ ngọn núi Quân Sơn ở giữa Hồ Động Đình).

  - Hạc Tích 鶴蹟 : Vết tích của chim hạc; ở đây chỉ dấu chân hạc.

  - Phi Hồn 妃魂 : Chỉ hồn phách của hai bà Tương Phi là Nga Hoàng và Nữ Anh. Theo tích vua Thuấn chết ở cuối sông Tương, nơi chảy vào hồ Động Đình. Hai bà phi là Nga Hoàng và Nữ Anh tìm đến khóc chồng suốt chín ngày chín đêm, máu và nước mắt hòa vào nhau bắn tung toé khắp rừng trúc hai bên bờ, làm cho tất cả các cây trúc ở đây đều có lốm đốm các vết màu đỏ, màu nâu, màu tím rất đẹp, gọi là TƯƠNG PHI TRÚC 湘妃竹 như những hình ảnh kèm theo sau đây.

 

   - Ngân Ban 痕斑 : NGÂN là Vết sẹo (thẹo), BAN là cái Vệt, cái Đốm. nên NGÂN BAN là Các vết các vệt lốm đốm  (trên cái gì đó...)

  - Noãn Phá 卵破 : là Trứng nứt ra.

  - Hồng Mông 洪蒙 : là Thuở trời đất còn mờ mịt khi mới được tạo lập ra.

  - Hạo Diễu 浩渺 : là mênh mông bát ngát, diệu vợi bao la.

  - Tiện 羡 : là Tiện Mộ  羨慕, là Hâm mộ, ái mộ, ngưỡng mộ.

 

* Nghĩa bài thơ :

                                   Hồ ĐỘNG ĐÌNH

       Những đợt sóng cuồn cuộn như mây, vỗ vào nhau làm cho những hạt nước bắn tung tóe trắng xóa như tuyết rơi khắp bốn phương trời mênh mông mờ mịt. Ngọn núi Quân Sơn sừng sững như dựng đứng giữa dòng chảy của lòng hồ. Những vết chân hạc không đến được nơi nầy, chỉ trơ trọi có mấy cây thông già; Hồn của hai bà Tương Phi như còn phảng phất đâu đây còn in ngấn lệ trên thân cây tre trúc. Trời nước lẫn lộn mịt mờ như mới từ trong trứng vỡ ra sau buổi hồng hoang, và mặt trời mặt trăng như bèo dạt hoa trôi trong khoảng không mênh mông bát ngát nầy. Cỏ chỉ cỏ lan hai bên bờ tạo nên niềm cảm hứng vô cùng, một tấm lòng chỉ ước ao ngưỡng mộ sao cho được nhàn tản như những con chim âu trắng đang tự do bay lượn trên hồ nước !

 

* Diễn Nôm :

                                 

                 Như mây như tuyết sóng mênh mông,

                 Sừng sững Quân Sơn đứng giữa dòng.

                 Dấu hạc bặc tăm thông lão cổi,

                 Hồn Phi còn đó trúc nâu hồng.

                 Đất trời tựa nhập sau hoang hóa

                 Nhật nguyệt như bèo giữa cỏi không.

                 Cỏ chỉ cỏ lan thêm hứng thú,

                 Ước như âu trắng lượn thong dong. 

     Lục bát :    

                 Sóng như mây tuyết chập chùng,

                 Quân Sơn sừng sững giữa dòng nước trôi.

                 Bặc tăm dấu hạc thông còi,

                 Hồn Tương Phi đó rạng ngời dấu tre.

                 Càn khôn hỗn độn chưa chia,

                 Trời trăng mây nước bèo kia bềnh bồng.

                 Cỏ lan cỏ chỉ hứng lòng,

                 Ước như âu trắng thong dong bên trời !

 

                 

      Mời đọc tiếp Thơ NGUYỄN TRUNG NGẠN (phần 2)

 

                                                                                                  杜紹德

                                                                                              Đỗ Chiêu Đức

DẠ TỌA

Nguyễn Trung Ngạn & Nguyễn Du

Phỏng dịch: Mailoc, Đỗ Chiêu Đức, Songquang, Phương Hà

_____________________________________________

Xin gởi đến VTT hai bài thơ của hai thi nhân tài danh của chúng ta ngày xưa với cùng một đề tài Dạ Toạ, mời các bạn lắng nghe nỗi niềm của hai thi nhân khi ngồi một mình trong màn đêm tối.

Chúc tất cả một cuối tuần vui vẻ, nếu có nhả hứng mời bạn thơ VTT góp vần cho vui. Xin nhờ Thầy Đồ Chiêu Đức giúp dịch nghĩa giùm. Cám ơn

Thân mến

ML

 

DẠ TOẠ 

           Nguyễn Trung Ngạn

 

Ðiệp mộng, gia thiên lý,
Quyên đề, dạ ngũ canh.
Bi phong hào dã quán,
Cổ mộc ám hoang thành.
Phiêu đãng bồng bình khách,
Yêm lưu khuyển mã tình.
Hữu hoài thành độc toạ,
Mao điếm hựu kê thanh.

 

     Dịch Thơ:

 

  Ngồi Trong Đêm

 

Ngàn dặm xa quê hương bướm mộng

Khắc khoải lòng, quyên vọng năm canh.

Gió sầu len lén quán tranh

Âm u cổ thụ hoang thành mờ che.

Đời bềnh bồng não nề thân khách

Khuyến mã tình canh cánh nặng mang.

U hoài bóng lẻ canh tàn

Tiếng gà eo óc mơ màng điếm tranh.

       

MaiLoc phỏng dịch 

 

    DẠ TOẠ 

               Nguyễn Du

 

Tứ bích cùng thanh náo dạ miên

Ải sàng đi hướng khúc lan biên.

Vi phong bất động sương thuỳ địa

Tà nguyệt vô quang tinh mãn thiên.

Kim cổ nhàn sầu lai tuý hậu

Thuần lô hương tứ tại thu tiên.

Bạch đầu sở kế duy y thực

Hà đắc cuồng ca tự thiếu niên!

 

    Dịch Thơ:

 

Ngồi Trong Đêm

 

Suốt đêm thâu tư bề dế khóc

Quay chỏng tre hướng góc hiên nhà.

Đất mờ gió nhẹ sương sa

Sao trời lấp lánh trăng tà nhạt phai

Men đã nhạt xưa nay sầu lại

Mùi cá rau thu dậy nhớ nhà

Bạc đầu cơm áo xót xa

Còn đâu niên thiếu cuồng ca một thời.

     

         MaiLoc phỏng dịch 

ĐỖ CHIÊU ĐỨC:

 

A. Bài thơ DẠ TỌA của Nguyễn Trung Ngạn:

 

        Nguyễn Trung Ngạn 阮忠彥 (1289-1370) tự Bang Trực 邦直, hiệu Giới Hiên 介軒, sinh tại làng Thọ Hoàng, huyện Thiên Thi, tỉnh Hưng Yên. Nguyễn Trung Ngạn từ nhỏ đã thông minh xuất chúng, nổi tiếng thần đồng. Năm 15 tuổi (1304) ông đã đỗ hoàng giáp đời vua Trần Anh Tông, có trong tay bằng tiến sĩ (cùng khoa với Mạc Ðĩnh Chi), năm 24 tuổi được làm Giám quân, năm 28 tuổi đi sứ nhà Nguyên. Bài thơ DẠ TỌA ông làm trong lúc đi sứ lần nầy. 

 

         

 

         夜坐                   DẠ TỌA

      蝶夢家千里,    Điệp mộng gia thiên lý,

      鵑啼夜五更。    Quyên đề dạ ngũ canh.

      悲風號野館,    Bi phong hào dã quán,

      古木暗荒城。    Cỗ mộc ám hoang thành.

      飄蕩蓬萍客,    Phiêu đãng bồng bình khách,

      淹留犬馬情。    Yêm lưu khuyển mã tình.

      有懷成獨坐,    Hữu hoài thành độc tọa,

      茅店又雞聲。    Mao điếm hựu kê thanh.

               阮忠彥                 Nguyễn Trung Ngạn

 

      

* Chú Thích :

  - HÀO 號 : Tiếng gầm của con hổ, nên HÀO có nghĩa là Gào, thét, gầm gừ; ở đây chỉ tiếng gió hú, tiếng gió gào. Chữ nầy còn một âm nữa đọc là HIỆU 號 : là Lời kêu gọi, như Hiệu Triệu 號召. Khi là Danh Từ thì có nghĩa là Tên Hiệu.

  - ÁM 暗 : là Mờ, là Tối. Ở đây ÁM là Động từ, có nghĩa là Làm Cho Mờ Tối.

  - Phiêu Đãng 飄蕩 : là Trôi nổi dật dờ. 

  - Bồng Bình Khách 蓬萍客 : BỒNG là cỏ bồng, BÌNH là bèo; một bay theo gió, một trôi theo nước; nên BỒNG BÌNH KHÁCh là Người khách lạc loài trôi nổi vô định. 

  - Yêm Lưu 淹留 : Từ có xuất xứ từ Thiên LY TAO của SỞ TỪ, có nghĩa : Lưu lạc nơi xứ lạ quê người.

  - Khuyển Mã Tình 犬馬情 : Là Cái tình của chó và ngựa, hai con vật rất trung thành với chủ; Ở đây mượn chỉ "Cái lòng trung thành đối với nhà vua".

  - Mao Điếm Hựu Kê Thanh 茅店又雞聲 : Câu thơ nầy làm cho ta nhớ đến 2 câu thơ trong bài Thương Sơn Tảo Hành 商山早行 của Ôn Đình Quân 溫庭筠 là :

 

                   雞聲茅店月,     Kê thanh mao điếm nguyệt,

                   人跡板橋霜。     Nhân tích bản kiều sương.

 

    ... mà cụ Nguyễn Du đã mượn để gom lại thành một câu thơ rất hay để tả cảnh khi Thúy Kiều trốn khỏi Quan Âm Các là :

 

                            (mịt mờ dặm cát đồi cây),

                   Tiếng gà điếm nguyệt, dấu giày cầu sương !

 

                   

* Nghĩa bài Thơ :

                           Ngồi Trong Đêm

        Ngồi một mình trong đêm chỉ mơ về quê hương ngàn dặm trong mộng điệp mà thôi; Tiếng cuốc kêu suốt cả năm canh đêm hè. Gió buồn rít mạnh nơi quán trọ hoang vắng, và các cây cổ thụ che kín mờ cả thành hoang. Thân ta nơi đất  khách trôi nổi như cỏ bồng như bèo nước, nhưng luôn luôn giữ lòng trung như khuyển mã đối với quân vương. Vì trong lòng hoài cảm nên mới ngồi suốt trong đêm khi tiếng gà đã eo óc gáy nơi quán cỏ nầy.

 

* Diễn Nôm :

                      Ngồi Trong Đêm

 

               Nhớ nhà ngàn dặm qua mơ,

               Cuốc kêu ra rả tờ mờ năm canh.

               Gió sầu rít mạnh quán tranh,

               Thành hoang u ám bóng xanh cây già.

               Nổi trôi bèo giạt gió qua,

               Gửi thân đất khách tình nhà không khuây.

               Một mình đêm vắng ngồi đây,

              "Tiếng gà điếm nguyệt dấu giày cầu sương"!

 

                                                      Đỗ Chiêu Đức

 

B. Bài thơ DẠ TỌA của Nguyễn Du:

 

                  夜坐                               DẠ TỌA

      四壁蛩聲鬧夜眠,    Tứ bích cùng thanh náo dạ miên,

      矮床移向曲欄邊。    Ải sàng di hướng khúc lan biên.

      微風不動霜垂地,    Vi phong bất động sương thùy địa,

      斜月無光星滿天。    Tà nguyệt vô quang tinh mãn thiên.

      今古閒愁來醉後,    Lim cổ nhàn sầu lai túy hậu,

      蓴鱸鄉思在秋先。    Thuần lô hương tứ tại thu tiên.

      白頭所計惟衣食,    Bạch đầu sở kế duy y thực,

      何得狂歌似少年?    Hà đắc cuồng ca tự thiếu niên ?!

                       阮攸                                   Nguyễn Du

        

 

* Chú Thích :

    - Cùng Thanh 蛩聲 : là Tiếng dế kêu.

    - Ải Sàng 矮床 : Chiếc giường thấp.

    - Khúc lan 曲欄 : Chỗ quanh của hành lang.

    - Thuần Lô 蓴鱸 : THUẦN là Rau thuần, như rau nhút, một loại rau của đồng quê; LÔ là cá Chép. Theo sách Tấn Thư. Trương Hàn Truyện 晉書·張翰傳:Hàn nhân kiến thu phong khởi, nãi tư Ngô trung cô thái, Thuần canh, Lô ngư khoái 翰因見秋風起,乃思吳中菰菜、蓴羹、鱸魚膾。Có nghĩa : Trương Hàn nhân thấy gió thu nổi lên thì lại nhớ đến canh cải cô cải THUẦN, và gói cá LÔ. Ý chỉ : Nhớ đến mùi vị của quê hương. Như trong Truyện Kiều, khi tả Thúc Sinh về thăm Hoạn Thư suốt một năm trường đã chán với mùi vị của quê hương rồi, nên cụ Nguyễn Du viết : 

                                   Thú quê THUẦN HỨC bén mùi,

                                Giếng vàng đã rụng một vài lá ngô...

    - Sở Kế 所計 : Cái kế sách mà ta phải lo lắng đến, Ở đây chỉ "Cái sinh kế phải quan tâm..."

    - Cuồng Ca 狂歌 : Không phải là " Hát khùng hát điên" mà là "Hát một cách phóng khoáng thoải mái".

 

* Nghĩa Bài Thơ :

                                     Ngồi Trong Đêm

       Tiếng dế ri rỉ bốn bên vách suốt đêm không ngủ được, Ta quay chiếc giường nhỏ thấp vào bên khúc quanh của hiên nhà. Gió nhẹ hắt hiu sương rơi đầy cả mặt đất, Bóng trăng chênh chếch mờ ảo nên ta thấy bầu trời đầy cả các vì sao. Nỗi buồn bâng quơ từ kim cổ chợt đến, khi rượu đã ngà ngà say; và nỗi nhớ nhà trước tiên trong mùa thu là thấy được gỏi cá Lô và canh rau Thuần. Tuổi đã già, đầu đã bạc rồi thì cái sinh kế phải quan tâm duy nhất là cơm áo mà thôi; làm sao còn có thể sống phóng khoáng như lúc tuổi còn trẻ được nữa chứ ?!

 

* Diễn Nôm :

                              Ngồi Trong Đêm

                   Dế kêu ri rỉ bốn bề,

                   Giường nằm dời chỗ hướng về phía hiên.

                   Gió lay sương ướt bên thềm,

                   Trăng mờ chênh chếch sao thêm rạng ngời.

                   Mối sầu kim cổ khôn vơi,

                   Thuần Lô thu đến nhớ mùi quê hương.

                   Bạc đầu cơm áo lo lường,

                   Được sao như lúc đường đường thiếu niên ?!

 

                                                                 Đỗ Chiêu Đức

SONGQUANG:

 

                  ĐÊM ĐẤT KHÁCH

                 (Lướt ý qua thơ tiền nhân Nguyễn Trung Ngạn)

 

                 Nhớ quê hương dặm ngàn qua mộng

                 Tiếng quốc kêu vang vọng năm canh

                 Gió sầu rít mạnh quán tranh

                 Cây già che kín phủ xanh hoang thành

                 Nơi đất khách quẩn quanh thân cỏ

                 Mà tình nhà khó ngỏ cho khuây

                 Cảm hoài thao thức ngồi đây

                 Tiếng gà gáy điểm canh chầy sắp tan

 

                 songquang 

 

                ĐÊM ĐẤT KHÁCH

                (lướt ý thơ tiền nhân Nguyễn Du)

 

                Tiếng dế kêu bốn bề khó ngủ

                Xoay giường tre ra chỗ hiên nhà

                Sương rơi gió hắt thềm qua

                Trăng mờ chênh chếch sao sa đầy trời

                Quơ nỗi buồn khôn vơi chợt đến

                Rượu ngà say nhớ món ăn nhà

                Bạc đầu cơm áo lo xa

                Một thời niên thiếu cuồng ca trong đời

 

               songquang 

               20201019

PHƯƠNG HÀ:

 

               I- Phỏng dịch bài DẠ TỌA của Nguyễn Trung Ngạn

 

               NGỒI TRONG ĐÊM

 

              Đêm hạ một mình mơ cố hương

              Cuốc kêu ra rả suốt canh trường

              Quán nghèo gió lốc gây sầu não

              Thành cổ cây lùm gợi vấn vương

              Trôi nổi thân cô buồn viễn xứ

              Trung thành lòng sáng nhớ quân vương

              Nghĩ suy hoài cảm quên thời khắc

              Eo óc tiếng gà gọi sớm sương

 

              Phương Hà phỏng dịch

 

              II- Phỏng dịch bài DẠ TỌA của Nguyễn Du

 

              NGỒI TRONG ĐÊM

 

              Mất ngủ suốt đêm nghe dế kêu

              Giường tre xoay trở góc hiên nghèo

              Hắt hiu gió thoảng sương mù động

              Chênh chếch trăng mờ sao sáng khêu

              Chén rượu hương nồng vừa nhấm tới

              Món mồi quê cũ đã thèm theo 

              Bạc đầu vẫn phải lo tìm sống

              Giây phút an nhàn chẳng bấy nhiêu.

 

              Phương Hà phỏng dịch

_____________________

Góc Việt Thi:  

                  

                            Trạng Trình NGUYỄN BỈNH KHIÊM

                                                    Kỳ tam

16. Bài thơ ƯU ĐÀM HOA :

 

     優曇花                         ƯU ĐÀM HOA

碧水池邊長綠陰,    Bích thủy trì biên trưởng lục âm,

幽林花好趁禪林。    U lâm hoa hảo sấn thiền lâm.

開時不要爭春色,    Khai thời bất yếu tranh xuân sắc,

只要如如見佛心。    Chỉ yếu như như kiến Phật tâm !

 

* Chú Thích :

    - ƯU ĐÀM HOA 優曇花 : Là một loại hoa qúy của nhà Phật, có tên khoa học là Epiphyllum oxypetalum, Ưu Đàm là gọi tắt của ƯU ĐÀM BÁT HOA 優曇缽華 do phiên âm từ tiếng Phạn là udumbara trong Pháp Hoa Kinh mà ra. Tương truyền ba ngàn năm mới nở một lần. Khi nở thì Kim Luân xuất thế, chân Phật ra đời. Theo thành ngữ Đàm Hoa Nhất Hiện 曇花一現 thì là một loại Quỳnh Hoa, chỉ nở trong đêm phút chốc rồi tàn.                                                        

    - U Lâm 幽林 : là Rừng thâm u tĩnh lặng.

    - Thiền Lâm 禪林 : là Rừng Thiền.

    - Như Như 如如 : Từ nhà Phật, chỉ chân như luôn tồn tại vĩnh hằng. Chỉ chư pháp đều bình đẵng theo pháp tính của nhà Phật. NHƯ NHƯ cũng có nghĩa là Như Lai, Như Thị.

 

* Nghĩa Bài Thơ :

                        HOA ƯU ĐÀM

        Bên ao nước xanh biếc mọc lên một bóng hoa cũng xanh biếc. Bên rừng vắng thâm u hoa đẹp cũng nở nương vào rừng thiền. Khi nở hoa cũng không phải để tranh xuân sắc với các loại hoa khác, mà chỉ muốn soi rọi pháp tính chân như của đức Như Lai vĩng hằng mà thôi !

 

        Bài thơ ẩn chứa ý thiền, nên không tiện lạm bàn, chỉ tùy ngộ duyên của người đọc tự mình cảm nhận mà thôi.

 

* Diễn Nôm :

                        ƯU ĐÀM HOA

                  

                 Bên ao nước biếc lá xanh om,

                 Rừng vắng hoa nương nở cửa thiền.

                 Không để cạnh tranh xuân sắc thắm,

                 Chỉ thay lòng Phật kết thiền duyên.

     Lục bát :

                 Bên ao nước biếc lá xanh,

                 Rừng thiền nương bóng hoa lành nở ra.

                 Chẳng tranh xuân sắc ngàn hoa,

                 Chân như Phật tánh là hoa vĩnh hằng.

                                                 杜紹德

                                              Đỗ Chiêu Đức

 

17. Bài thơ VŨ :

          雨                                        VŨ

陰陽和合運玄機,    Âm dương hòa hợp vận huyền cơ,

解作甘霖喜及時。    Giải tác cam lâm hỉ cập thời.

沛自九天恩既渥,    Bái tự cửu thiên ân ký ốc,

潤沾次土物咸宜。    Nhuận triêm thứ thổ vật hàm nghi.

民蘇霓望王師至,    Dân tô nghê vọng vương sư chí,

士吸風成聖教施。    Sĩ hấp phong thành thánh giáo thi.

雨順豐登金上瑞,    Vũ thuận phong đăng kim thượng thụy,

太平又一此休期。    Thái bình hựu nhất thử hưu kỳ.

                   阮秉謙                          Nguyễn Bĩnh Khiêm

                

          

* Chú Thích :

    - Âm Dương Hòa Hợp 陰陽和合 : Chỉ trời đất thích ứng hòa vào nhau.

    - Huyền Cơ 玄機 : Bộ máy huyền diệu. Ở đây chỉ sự vận hành của trời đất.

    - Cam Lâm 甘霖 : LÂM 霖 nầy có bộ VŨ ở trên, có nghĩa là Mưa dầm. Cam Lâm chỉ mưa rào trong lúc trời hạn hán.

    - Cập Thời 及時 : là Đúng lúc, nên CẬP THỜI VŨ 及時雨 là Mưa đúng lúc; đây cũng là ngoại hiệu của Tống Giang, thủ lãnh của 108 Anh hùng Lương Sơn Bạc, vì khi đang làm chức Áp Ti, Tống Giang thường hay cứu giúp những anh hùng hảo hán rất đúng lúc khi họ đến bước đường cùng hay gặp hoạn nạn nửa chừng.

    - Bái 沛 : là Bái Nhiên Hạ Vũ  沛然下雨 là Mưa sầm sập đổ xuống.

    - Nhuận Triêm 潤沾 : là Thấm nhuần.

    - Tô Nghê 蘇霓 : TÔ là Thức tỉnh; NGHÊ là Cầu vồng, chỉ mưa; nên TÔ NGHÊ là thức tỉnh sau cơn mưa.

    - Vương Sư 王師 : Lực lượng chính quy, quân chính thống của triều đình.

    - Phong Thành 風成 : Phong hóa được hình thành.

    - Phong Đăng 豐登 : là Lúa thóc được mùa.

    - Thụy 瑞 : Còn đọc là THOẠI : là Điềm lành.

    - Hưu Kỳ 休期 : là Thời kỳ tốt đẹp.

 

* Nghĩa Bài Thơ :

                                 MƯA

       Âm dương trời đất hòa vào nhau như một chiếc máy huyền diệu đang vận hành, giải tỏa cho ra một trận mưa rào thật đúng lúc với thời vụ canh tác. Cơn mưa sầm sập từ chín từng trời đổ xuống chan hòa khắp cả, thấm nhuần mặt đất và vạn vật được hài hòa. Dân chúng như thức tỉnh sau cơn mưa chờ vương sư đến, kẻ sĩ cũng đã thấm nhuần và hình thành phong hóa của thánh nhân. Mưa thuận gió hòa nên được mùa là nhờ đức lành của nhà vua (Kim Thượng), và thời kỳ tốt đẹp lại được mở ra trong cảnh thái bình.

 

* Diễn Nôm :

                                 VŨ

                 

                      Âm dương hòa hợp máy huyền cơ,

                      Mưa ngọt tạo nên thật kịp giờ.

                      Sầm sập chín từng cây cỏ ướt,

                      Thấm nhuần mặt đất vật người mơ.

                      Dân choàng tỉnh đợi vương sư tới,

                      Sĩ kịp hình thành phong hóa xưa.

                      Mưa thuận được mùa nhờ thánh đức,

                      Thái bình lại mở vận âu ca !

       Lục bát :

                      Âm dương hòa hợp máy trời, 

                      Tạo cơn mưa ngọt kịp thời hạn khô.

                      Chín từng sầm sập tuôn mưa,

                      Thấm nhuần mặt đất cho vừa cỏ cây.

                      Vương sư dân đợi về đây,

                      Hình thành phong hóa vui vầy tương thân.

                      Được mùa nhờ đức thánh ân,

                      Thái bình thịnh trị xa gần hân hoan ! 

                                                              杜紹德

                                                         Đỗ Chiêu Đức 

18. Bài thơ VẤN NGƯ GIẢ :

      問漁者                       VẤN NGƯ GIẢ
湖海扁舟漁者誰,     Hồ hải thiên chu ngư giả thùy ?
生涯一笠一蓑衣。     Sinh nhai nhất lạp nhất thoa y.
水村沙近鴟為侶,     Thủy thôn sa cận si vi lữ,
江興秋高鱸正肥。     Giang hứng thu cao lư chính phì.
短笛清風閒處弄,     Đoản địch thanh phong nhàn xứ lộng,
孤帆明月醉中歸。     Cô phàm minh nguyệt túy trung quy.
桃源往事依然在,     Đào nguyên vãng sự y nhiên tại,
秦晉興亡是卻非。     Tần Tấn hưng vong thị khước phi !
                   阮秉謙                                 Nguyễn Bĩnh Khiêm
                  

           

* Chú Thích :
    - Ngư Giả 漁者 : là Người câu cá, người đánh bắt cá.
    - Thiên Chu 扁舟 : chữ 扁 đọc là BIỂN thì có nghĩa lã Dẹp; đọc là THIÊN thì có nghĩa là Nhỏ. Nên THIÊN CHU là chiếc thuyền nhỏ, không phải Thuyền dẹp.
    - Lạp 笠 : Nón Lá; Thoa 蓑 : là Áo tơi, áo lá.
    - Si 鴟 : Chim cú mèo. Lữ 侶 : là Bầu bạn.
    - Lư 鱸 : còn đọc là LÔ, là cá vượt, cá chép. Thịt ăn rất ngon.
    - Địch 笛 : Cây sáo; Lộng 弄 là Chơi, chọc. LỘNG ĐỊCH 弄笛 là Thổi sáo.
    - Đào Nguyên 桃源 : là Đào Hoa Nguyên Ký của Đào Uyên Minh đời Tấn, kể lại chuyện của người giăng câu đi lạc vào xóm Đào Nguyên, nơi dân chúng sống an lành như cỏi thần tiên.
    - Thị Khước Phi 是卻非 : Phải mà trái, đúng mà sai.

* Nghĩa Bài Thơ :
                                       Hỏi Người Câu Cá
       Người đánh bắt cá trên sông hồ với một con thuyền nhỏ kia là ai, mà chỉ thấy sinh nhai với một chiếc nón lá và một manh áo tơi. Xóm ven sông gần bãi cát nên chỉ thấy làm bạn với diều hâu cú mèo, mùa thu nước thu dâng cao chính là lúc các loài cá vượt cá chép đang mập mạp ngon lành. Thỉnh thoảng đưa ngang tiếng sáo theo làn gió mát nhàn nhã, hoặc trong say thả chiếc buồm con theo vầng trăng sáng mà về. Chuyện cũ về Đào Nguyên như vẫn còn phảng phất đâu đây và chuyện hưng vong của nước Tần nước Tấn nghe như phải mà trái, như đúng mà lại sai !
       Nguyễn Bỉnh Khiêm tự ví mình như ông lão đánh cá, bạn cùng chim chóc cá tôm, khi nhàn nhã thì thổi một khúc sáo theo gió sông, khi hứng thì uống say rồi thả thuyền theo trăng sáng mà về. An nhiên tự tại như cuộc sống của dân chúng ở Đào Nguyên mà không màng đến thế sự thị phi đúng sai phải trái nữa !  

* Diễn Nôm :
                         VẤN NGƯ GIẢ

                        

              

                      
                    Thuyền câu đánh cá ấy là ai ?
                    Nón lá áo tơi với lưới chài.
                    Bến nước hải âu cùng hủ hỉ,
                    Thu cao cá vượt nhậu lai rai.
                    Khi nhàn thổi sáo sông theo gió,
                    Lúc xỉn mặc thuyền trăng khứ lai.
                    Chuyện cũ Đào Nguyên như hiển hiện,
                    Mặc Tần mặc Tấn đúng mà sai !
       Lục Bát :
                    Ai người đánh cá sông hồ ?
                    Áo tơi nón lá là đồ sinh nhai.
                    Chim âu bầu bạn hôm mai,
                    Thu cao bến cát nhiều loài cá tôm.
                    Gió đưa khúc sáo chiều hôm,
                    Khi say trăng sáng thuyền con đưa về.
                    Đào Nguyên chuyện cũ bề bề,
                    Hưng vong Tần Tấn đúng hề...mà sai !
                                                                          杜紹德
                                                                     Đỗ Chiêu Đức 

 

19. Bài thơ THỦY HÀNH PHÓ DOANH CẢM TÁC :

 

 

 

 

 

 

 


 
 水行赴營感作       THỦY HÀNH PHÓ DOANH CẢM TÁC

祇期誓復舊山河,     Chỉ kỳ thệ phục cựu sơn hà,
慷慨登舟發浩歌。     Khảng khái đăng chu phát hạo ca.
棹擺水紋推白雪,     Trạo bãi thủy văn đôi bạch tuyết,
帆移月影弄寒波。     Phàm di nguyệt ảnh lộng hàn ba.
孤忠敦越乾坤老,     Cô trung đối việt càn khôn lão,
四顧微茫草樹多。     Tứ cố vi mang thảo thụ đa.
記取賊奴平定後,     Ký thủ tặc nô bình định hậu,
重尋津館侶魚蝦。     Trùng tầm tân quán lữ ngư hà.
                   阮秉謙                            Nguyễn Bỉnh Khiêm
                 

 

                        
* Chú Thích :
    - PHÓ 赴 : là Đi đến. PHÓ DOANH 赴營 là đi đến doanh trại.
    - Chỉ Kỳ 祇期 : là Chỉ kỳ vọng rằng. Chỉ mong mõi rằng.
    - Thệ Phục 誓復 : là Thề sẽ khôi phục lại.
    - Hạo Ca 浩歌 : là Lời ca hào hùng.
    - Trạo Bãi Thủy Văn 棹擺水紋 : là Chèo đùa sóng nước.
    - Phàm Di Nguyệt Ảnh 帆移月影 : là Cánh buồm làm ánh trăng lay động.
    - Đối Việt 敦越 : là Rất dãi dầu vất vả.
    - Vi Mang 微茫 : là Mờ mịt, mông lung.
    - Tặc Nô 賊奴 : Giặc giã thổ phỉ hèn hạ.
    - Trùng Tầm Tân Quán 重尋津館 : là Tìm lại căn nhà ở ven sông.
    - Lữ Ngư Hà 侶魚蝦 : là Làm bạn với Cá Tôm.

* Nghĩa Bài Thơ :
                     Cảm Tác Khi Đi Đường Thủy Đến Doanh Trại
       Lòng chỉ kỳ vọng vào lời thề khôi phục lại núi sông ngày cũ, nên rất khảng khái mà bước lên thuyền cất cao lời ca đầy hào khí. Mái chèo quạt nước đẩy đi những mảng tuyết trắng trên sông, và những cánh buồm di chuyển làm lay động cả bóng trăng trên sóng nước lạnh căm. Lòng trung thành miệt mài theo năm tháng khiến cho trời đất cũng như già đi. Nhìn quanh bốn bên mờ mịt thấy cây cỏ như nhiều thêm ra. Nhớ lấy là khi đã bình định được lũ giặc như thổ phỉ kia rồi, thì hãy tìm về với cái quán nhỏ ven sông mà làm bạn với cá tôm cho qua ngày đoạn tháng.  

* Diễn Nôm :
                    THỦY HÀNH PHÓ DOANH CẢM TÁC
                 

                   Kỳ vọng phục hồi lại núi sông,
                   Lời ca khảng khái trước thuyền rồng.
                   Chèo khua đẩy tuyết thuyền nương sóng,
                   Buồm động rung trăng nước lạnh căm.
                   Mài miệt lòng trung trời đất thấu,
                   Mịt mờ tầm mắt cỏ cây thâm.
                   Sau ngày bình giặc nên ghi nhớ,
                   Quán cũ tìm về với bến sông.
      Lục bát :
                   Thề mong khôi phục sơn hà,
                   Lên thuyền khảng khái lời ca hào hùng.
                   Mái chèo quẫy tuyết trên sông,
                   Cánh buồm lay động trăng rung sóng vờn.
                   Lòng trung mài miệt càn khôn,
                   Mịt mờ bốn phía xanh rờn cỏ cây.
                   Nhớ sau bình định giặc nầy,
                   Trở về bến nước vui vầy cá tôm.
                                                            杜紹德
                                                       Đỗ chiêu Đức

20. Bài thơ XUÂN HÀN :

 

 

 

 

 

 

 

 

 


   春寒                      XUÂN HÀN
十二韶光春一團,      Thập nhị thiều quang xuân nhất đoàn,      
一天料峭送餘寒.      Nhất thiên liệu tiễu tống dư hàn.
輕陰借雨侵花易,      Khinh âm tá vũ xâm hoa dị,
殘雪因風墜柳難.      Tàn tuyết nhân phong trụy liễu nan.
繡闥佳人低玉帳,      Tú thát giai nhân đê ngọc trướng,
香街醉客促金鞍.      Hương giai túy khách xúc kim an.
旋乾自有神功在,      Toàn kiền tự hữu thần công tại,  
已播陽和滿際蟠.      Dĩ bá dương hoà mãn tế bàn.
         阮秉謙                       Nguyễn Bỉnh Khiêm
                       

 

* Chú Thích :
    - XUÂN HÀN 春寒 : Cái lạnh của buổi đầu xuân.
    - Thiều Quang 韶光 : là Cái khoảng thời gian đẹp đẽ.
    - Liệu Tiễu 料峭 : là LIỆU TIỄU XUÂN HÀN 料峭春寒 là thành ngữ dùng để hình dung cái lạnh của buổi đầu xuân.
    - Khinh Âm Tá Vũ 輕陰借雨 : là Trời âm u nhẹ trong cơn mưa xuân.
    - Tàn Tuyết Nhân Phong 殘雪因風 : là Gió cuốn những tàn dư của băng tuyết còn lại.
    - Tú Thát 繡闥 : là Trong phòng thêu, tức là Khuê phòng của các cô gái.
    - Hương Giai 香街 : là Đường phố thơm, ý chỉ những đường phố có nhiều người đẹp ở hay đường phố có nhiều kỹ viện.
    - Xúc 促 : là Thúc mạnh vào. KIM AN 金鞍 : là Yên cương ngựa mạ vàng.
    - Toàn Kiền 旋乾 : là Tuyền Càn Chuyển Khôn 旋乾轉坤 là thành ngữ chỉ xoay chuyển từ Càn qua Khôn, từ Dương sang Âm và ngược lại; Nói chung là chỉ sự xoay vần của trời đất, vạn vật, mùa màng... hết đông rồi đến xuân...
    - Bá 播 : là Gieo hạt giống , là Truyền Bá, là Rải khắp.
    - Dương Hoà 陽和 : là Khí dương xuân, chỉ khí trời ấm áp của mùa xuân.
    - Tế Bàn 際蟠 : là Trời Đất, do sách Trang Tử có câu: "Thượng tế vu thiên, hạ bàn vu địa 上際于天,下蟠于地", nghĩa là: Trên rộng đến trời, dưới khắp cả đất. Sau người ta dùng gọn bốn từ "Tế thiên bàn địa 際天蟠地" như là một thành ngữ. Ở đây, tác giả lại lược đi hai từ, chỉ còn hai từ "tế bàn 際蟠" nhưng cần hiểu như nghĩa của cả câu "tế thiên bàn địa".

* Nghĩa Bài Thơ :
                         CÁI LẠNH CỦA BUỔI ĐẦU XUÂN
       Cái khoảng thời gian đẹp đẽ của 12 ngày đầu năm đã mở màn cho một vừng xuân sắc, Từng ngày một ta sẽ lần lượt đưa tiễn cái lạnh của buổi đầu xuân. Trời râm nhẹ với mưa xuân phơi phới sẽ ngấm vào hoa cỏ một cách dễ dàng, những làn gió đầu xuân còn rất lạnh khó mà thổi được những băng tuyết còn sót lại cho rơi xuống gốc liễu. Trong khuê phòng các giai nhân còn buông thấp rèm ngọc xuống vì trời còn lạnh, trên đường phố nơi có nhiều người đẹp các khách say cũng thúc vào yên cương mạ vàng để đi mau qua. Trời đất âm dương đã xoay chuyển một cách thần kỳ từ đông sang xuân, vá ánh dương xuân đã được gieo đầy khắp cả trên trời dưới đất.  

* Diễn Nôm :
                         XUÂN HÀN                 

                

                 Mười hai xuân sắc đã vầy đoàn,
                 Cái lạnh lui dần tiết mới sang.
                 Phơi phới mưa xuân hoa ướm nhụy,
                 Rao rao gió nhẹ tuyết dần tan.
                 Khuê phòng người đẹp buông rèm ngọc,
                 Trên phố khách say thúc ngựa vàng.
                 Chuyển đổi thần công trời lẫn đất,
                 Ánh xuân chan chứa khắp nhân gian.
      Lục bát :
                 Mười hai ngày tiết xuân hàn,
                 Mỗi ngày cái lạnh lại càng bớt đi.
                 Mưa xuân dễ thấm hoa chi,
                 Gió xuân lay liễu tuyết thì chưa tan.
                 Phòng khuê người đẹp buông màn,
                 Trên đường khách hãy yên vàng thúc mau.
                 Càn khôn huyền diệu làm sao,
                 Ánh dương xuân đã phủ mau đất trời !

                 
                                                                              杜紹德
                                                                         Đỗ Chiêu Đức    

 
                                         

Góc Việt Thi:  

                  

                            Trạng Trình NGUYỄN BỈNH KHIÊM

                                                    Kỳ tam

11. Bài thơ TỐNG LÃO THIẾP HOÀN THÔN CƯ :

 

 送老妾還村居        TỐNG LÃO THIẾP HOÀN THÔN CƯ 

 

無限東風暖襲人,    Vô hạn đông phong noãn tập nhân,

醉中扶起老來身。    Túy trung phù khởi lão lai thân.

慇懃報道無他語,    Ân cần báo đạo vô tha ngữ,

江館煙村共一春。    Giang quán yên thôn cộng nhất xuân.

                  阮秉謙                                  Nguyễn Bỉnh Khiêm

 

     

 

* Chú Thích :

    - TỐNG LÃO THIẾP HOÀN THÔN CƯ 送老妾還村居 là Đưa người thiếp già trở về nơi ở cũ trong thôn xóm.

    - Vô Hạn 無限 : là Rất nhiều, là Đầy rẫy cả.

    - Đông Phong 東風 là Gió từ hướng đông thổi đến, tức là Gió xuân đó.

    - Tập 襲 : là Đánh lén, đánh úp (như Tập Công); ở đây có nghĩa là Thâm nhiễm, là bao phủ quanh, nên NOÃN TẬP NHÂN 暖襲人 là Cái ấm áp ập đến quanh người.

    - Phù 扶: là Nâng đỡ, nên PHù KHỞI 扶起 là Đỡ dậy.

    - Báo Đạo 報道 : là Báo đáp lại cái đạo lý giữa tướng công và tì thiếp.

    - Giang Quán 江館 : QUÁN ở đây là TRÚ QUÁN 住館 là Nhà ở, nên GIANG QUÁN có nghĩa là Căn nhà nhỏ ở ven sông. 

    - Yên Thôn 煙村 : là Xóm khói, là Xóm trong sương khói, chỉ Xóm thôn vắng vẻ.

 

* Nghĩa Bài Thơ :

                                       ĐƯA NGƯỜI THIẾP GIÀ VỀ THÔN

 

       Làn gió xuân tràn ngập làm cho hơi ấm cũng ập đến quanh người. Trong cơn say, ta đỡ dậy tấm thân già nua của người tì thiếp. Rất ân vần để báo đáp cho trọn cái đạo làm người, chớ không nói năng gì khác nữa. Căn nhà nhỏ ven sông trong xóm thôn vắng lặng như cùng tràn ngập trong mùa xuân.

 

      Đối với những người hầu thiếp ngày xưa khi về già, thường được chủ nhân (cũng là người đầu ấp tay gối trong biết bao năm, lắm khi tình nghĩa còn hơn là người hôn phối chính thức được cưới khi đã hiển đạt) ban cho chút đỉnh tiền bạc, khá lắm thì thêm được một người hầu để về quê dưỡng già đợi ngày theo ông theo bà về nơi chín suối. Cụ nguyễn Bỉnh Khiêm đã rất tình nghĩa và đúng đạo làm người, đích thân đưa người thiếp già về quê để an hưởng tuổi già cho phải đạo.

 

* Diễn Nôm :

                         TỐNG LÃO THIẾP HOÀN THÔN CƯ

 

                        

 

                        Gió xuân ấm áp thổi quanh người,

                        Say đỡ thân già đến tận nơi.

                        Trọn đạo ân cần không cắng đắng,

                        Nhà bên sông vắng đón xuân tươi !

    Lục bát :

                       Quanh người thổi ấm gió xuân,

                       Trong say đỡ dậy ân cần dìu nhau.

                       Ít lời trọn đạo trước sau,

                       Nhà ven sông vắng rạt rào gió xuân !

                                                                        杜紹德

                                                                   Đỗ Chiêu Đức

12. Hai bài thơ TỰ THUẬT :

 

 自述 (其一)            TỰ THUẬT (kỳ nhất)

 

年方七十已休官,    Niên phương thất thập dĩ hưu quan,

重憶幽居覓故山。    Trùng ức u cư mịch cố san.

津館日高眠未起,    Tân quán nhựt cao miên vị khởi,

青雲爭似白雲閑。    Thanh vân tranh tự bạch vân nhàn.

 

 自述 (其二)          TỰ THUẬT (kỳ nhị)

 

得優遊可便優遊,    Đắc ưu du khả tiện ưu du,

心逸神閒日日休。    Tâm dật thần nhàn nhựt nhựt hưu.

最愛五湖湖上客,    Tối ái ngũ hồ hồ thượng khách,

清風明月一扁舟。    Thanh phong minh nguyệt nhất biên chu.

             阮秉謙                                       Nguyễn Bỉnh Khiêm

 

           

* Chú Thích :

    - Niên Phương 年方 : Năm khoảng; ở đây chỉ Tuổi khoảng...

    - Trùng Ức 重憶 : là Nhớ lại.

    - Tân Quán 津館 : là Quán ven bờ, có nghĩa : Gian nhà nhỏ bên bến sông.

    - Tranh Tự 爭似 : Giành nhau để được giống như là...

    - Ưu Du 優遊 : là Ưu tiên du ngoạn, là Du ngoạn một cách thoải mái.

    - Tâm Dật Thần Nhàn 心逸神閒 : DẬT 逸 là Buông thả, thoải mái. nên TÂM DẬT THẦN NHÀN là Tâm thần buông thả thoải mái nhàn nhã.

    - Nhất Biên Chu 一扁舟 : là Một chiếc thuyền mỏng, chỉ Một chiếc thuyền con.

 

* Nghĩa Bài Thơ :

                                   TỰ THUẬT 

                                     (bài 1)

        Tuổi khoảng 70 đã từ quan để về hưu, còn nhớ lại chỗ ở thanh u vắng vẻ ngày trước nên tìm về núi cũ. Bên bến sông trong quán nhỏ, mặt trời đã lên cao vẫn còn ngủ chưa dậy. Mây xanh như tranh đua sự nhàn nhã với mây trắng trên bầu trời. 

 

                                     (bài 2)

        Được vui chơi thảnh thơi thì hãy cứ vui chơi thảnh thơi. Trong lòng thoải mái thần trí nhàn nhã thì ngày ngày cứ nghỉ ngơi. Yêu nhất là cảnh của  Ngũ Hồ và khách du trên Ngũ Hồ, cứ thả một lá thuyền con mà thưởng ngoạn trăng thanh gió mát !

 

       Câu đầu của bài 2 "Đắc ưu du khả tiện ưu du 得優遊可便優遊,làm cho ta nhớ đến 2 câu thơ trong Tăng Quảng Hiền Văn là :

 

                  遇飲酒時須飲酒, Ngộ ẩm tửu thời tu ẩm tửu,

                  得高歌處且高歌。 Đắc cao ca xứ thả cao ca !

     Có nghĩa :

                  Gặp lúc uống rượu thì cứ vui chơi mà uống rượu;

                  Lúc cất cao giọng hát thì cứ hát cho thả giàn !

 

       Còn hai câu sau nối tiếp theo ý của hai câu trên nữa là :

 

                  今朝有酒今朝醉,  Kim triêu hữu tửu kim triêu túy,

                  明日愁來明日憂.   Minh nhựt sầu lai minh nhựt ưu !

     Có nghĩa :

                  Hôm nay có rượu thì hôm nay hãy uống cho say;

                  Ngày mai sầu đến thì ngày mai hãy lo toan !

  

       Đã về hưu hưởng nhàn rồi thì phải sống cho thoải mái, xả láng, không lo nghĩ gì nữa cả !

 

                    

* Diễn Nôm :

                         TỰ THUẬT

                          (bài 1)

                  Tuổi vừa bảy chục đã về hưu,

                  Núi cũ tìm về với cựu cư.

                  Tân quán nắng cao người vẫn ngủ,

                  Mây xanh mây trắng mãi du du !

     Lục bát :

                  Tuổi vừa bảy chục từ quan,

                  Nhớ nơi ở cũ cố san tìm về.

                  Nắng cao nhà vắng ngủ mê,

                  Mây xanh mây trắng tranh về nhàn du.

 

                              (bài 2)

                  Được lúc thảnh thơi cứ thảnh thơi,

                  Tâm tình thoải mái ngày ngày vui.

                  Ngũ Hồ yêu nhất người du ngoạn,

                  Gió mát trăng thanh thuyền nhỏ bơi.

     Lục bát :

                  Thảnh thơi thì cứ thảnh thơi,

                  Trong lòng nhàn nhã niềm vui ngày ngày.

                  Ngũ Hồ du khách nhất đời,

                  Trăng thanh gió mát thuyền chơi khắp miền.

                                                       杜紹德

                                                   Đỗ Chiêu Đức

   

13. Bài thơ XUÂN ĐÁN CẢM TÁC :

 

    春旦感作               XUÂN ĐÁN CẢM TÁC

 

行年七十四年餘,    Hành niên thất thập tứ niên dư,

喜得投閒訪舊居。    Hỉ đắc đầu nhàn phỏng cựu cư.

歲始旁觀新宇宙,    Tuế thủy bàng quan tân vũ trụ,

家貧唯富舊詩書。    Gia bần duy phú cựu thi thư.

秀花野竹三春好,    Tú hoa dã trúc tam xuân hảo,

淨月明窗一室虛。    Tịnh nguyệt minh song nhất thất hư.

誰是誰非休說著,    Thùy thị thùy phi hưu thuyết trước

老狂自笑太庸疏。    Lão cuồng tự tiếu thái dung sơ !

               阮秉謙                                 Nguyễn Bỉnh Khiêm

 

                

 

* Chú Thích :

    - Đầu Nhàn 投閒 : Vấn thân vào việc hưởng nhàn, như ĐẦU QUÂN 投軍 là Gia nhập vào quân đội vậy. 

    - Phỏng 訪 : là Thăm viếng. PHỎNG CỰU CƯ 訪舊居 là Thăm lại chỗ ở cũ.

    - Tuế Thủy 歲始 : Tuổi bắt đầu, có nghĩa là Đầu năm.

    - Tú Hoa Dã Trúc 秀花野竹 : Hoa đẹp trúc hoang (chỉ tre mọc phóng túng).

    - Tịnh nguyệt Minh Song 淨月明窗 : Trăng thì trong, cửa song thì sáng.

    - Lão Cuồng 老狂 : Không phải là Ông già điên, mà là Ông già ngông nghênh.

    - Dung Sơ 庸疏 : DUNG là Dung tục là tầm thường; SƠ là Hời hợt không ý tứ. Nên DUNG SƠ là Hời hợt tầm thường.

 

* Nghĩa Bài Thơ :

                                     CẢM TÁC NGÀY ĐẦU XUÂN

        Tuổi đời đã bảy mươi tư tuổi có thừa rồi, vui vì được về thăm lại chỗ ở cũ khi đã hưởng nhàn. Đầu năm cứ đứng một bên mà xem vũ trụ đổi mới; nhà nghèo chỉ giàu ở số sách thi thơ đã cũ mèm. Ba tháng mùa xuân thì vui với hoa đẹp và những khóm tre dại; Một căn phòng trống với trăng trong cửa sáng. Mặc ai phải ai trái xin đừng nói đến nữa, ta chỉ tự cười mình là lão già ngông nghênh tầm thường hời hợt và vô tích sự mà thôi !

 

* Diễn Nôm :

                      XUÂN ĐÁN CẢM TÁC

 

                  

 

                  Tuổi đà bảy chục lại thêm tư,

                  Mừng được nhàn thăm chốn cựu cư.

                  Năm mới vui còn xem vũ trụ,

                  Nhà nghèo giàu chỉ có thi thư.

                  Trúc hoang hoa đẹp ba xuân thắm,

                  Song sáng trăng thanh một thảo lư.

                  Phải trái ai người đừng nói đến,

                  Già ngông hời hợt tự cười trừ ! 

     Lục bát :

                  Tuổi già đã bảy mươi tư,

                  Vui nhàn thăm chốn cựu cư năm nào.

                  Đầu năm vũ trụ đổi màu,

                  Nhà nghèo sách cũ làm giàu quanh năm.

                  Trúc hoang hoa đẹp ba xuân,

                  Trăng thanh cửa sáng một phòng trống không.

                  Thị phi ai đó khôn phân,

                  Tự cười hời hợt già ngông vụng về.  

                                                         杜紹德

                                                    Đỗ Chiêu Đức

 

14. Bài thơ THU THANH :

 

   秋聲                   THU THANH

蕭條秋夜滴寒更,   Tiêu điều thu dạ trích hàn canh,

玉律回音暗土聲。   Ngọc luật hồi âm ám thổ thanh.

但覺樹間鳴晰晰,   Đản giác thọ gian minh tích tích,

忽驚月下響錚錚。   Hốt kinh nguyệt hạ hưởng tranh tranh.

初聞戍婦愁無寐,   Sơ văn thú phụ sầu vô mỵ,

自觸寒螿惹不平。   Tự xúc hàn tương nhạ bất bình.

擬作穎川歐子賦,   Nghỉ tác Dĩnh Xuyên Âu tử phú,

恐惶模仿被時輕。   Khủng hoàng mô phỏng bị thời khinh.

              阮秉謙                                Nguyễn Bỉnh Khiêm

 

            

* Chú Thích :

    - Tiêu Điều 蕭條 : là Xơ xác vắng lặng.

    - Ngọc Luật Hồi Âm Ám Thổ Thanh 玉律回音暗土聲 : NGỌC là cái ống bằng ngọc, người xưa đốt tro của màng cây sậy bỏ vào bên trong, đến các khí tiết như Đông chí, Lập xuân v.v... thì chất tro trong ống luật được khí trời thổi bay lên, người ta dựa vào đó để đoán xem thời tiết; ÁM THỔ THANH là ngầm có tiếng thổ là đất, theo Thái Cực Đồ thì ngũ hành (kim, mộc, thuỷ, hoả, thổ) ứng với tứ thời, kim ứng với mùa thu, mộc ứng với mùa xuân, thuỷ và thổ ứng với mùa đông, hoả ứng với mùa hè. Ở đây ý nói rằng tuy là đang trong mùa thu mà trong ống ngọc luật đã ngầm có tiếng thổ, tức là báo trước sắp tới mùa đông rét mướt.

   - Tích Tích, Tranh Tranh 晰晰,錚錚 : Từ Tượng thanh, chỉ tiếng côn trùng kêu trong đêm thu.

   - Thú Phụ 戍婦 : là Vợ của những người lính thú lưu đồn ở xa.

   - Hàn Tương 寒螿 : Một loại ve sầu nhỏ, chỉ kêu khi mùa thu lạnh lẽo. 

   - Nghỉ Tác 擬作 : Định nhái theo để làm... cái gì đó.

   - Dĩnh Xuyên Âu Tử Phú 穎川歐子賦 : ÂU TỬ tức là Âu Dương Tu, người đất Dĩnh Xuyên, sống vào đời Tống ở Trung Quốc, là Tễ Tướng và là một danh sĩ có làm bài "Thu Thanh Phú 秋聲賦" (Phú Tiếng thu) rất nổi tiếng.

 

* Nghĩa Bài Thơ :

                                  TIẾNG THU

        Trong đêm thu tiêu điều vắng lặng chỉ nghe tiếng đồng hồ nhỏ giọt điểm canh lạnh lẽo; Trong ống ngọc luật lại ngầm vang tiếng thổ báo hiệu mùa đông rét mướt sắp tới. Lại nghe thấy trong khóm cây có tiếng kêu ri rỉ, và chợt giật mình khi nghe tiếng ra rả dưới trăng. Thoáng nghe tiếng người vợ của các anh lính thú buồn vì không ngủ được, lại xúc động tâm tình như những con ve sầu đang kêu vang như than cho nổi bất bình. (Trước cảnh tình nầy), ta định làm bài phú về tiếng thu như Âu Dương Tu của đất Dĩnh Xuyên, nhưng lại e rằng người đời bảo là ta bắt chước mà khinh rẻ ta chăng !?

 

* Diễn Nôm :

                            THU THANH

                    

                    Đồng hồ nhỏ giọt đêm thu lạnh,

                    Ngọc luật âm vang tiếng thổ thanh.

                    Chợt thấy trong cây vang chích chắc,

                    Giật mình dưới nguyệt tiếng lanh canh.

                    Não nề thú phụ buồn khôn ngủ,

                    Xúc động ve sầu rỉ suốt canh.

                    Muốn học Dĩnh Xuyên làm phú vịnh,

                    Còn e bắt chước bị người khinh.

       Lục bát :

                    Tiêu điều nhỏ giọt đêm thu,

                    Âm vang ngọc luật nghe như thổ hành.

                    Trong cây vẳng tiếng lanh canh,

                    Dưới trăng ra rả giật mình tiếng ve.

                    Trở trăn cô phụ buồn nghe,

                    Dế mèn ri rỉ như chia bất bình.

                    Muốn làm bài phú Thu Thanh,

                    Chỉnh e mô phỏng buồn tình lại thôi !

                                                             杜紹德

                                                        Đỗ Chiêu Đức

 

15. Bài thơ TRỪ TỊCH TỨC SỰ :

 

  除夕即事             TRỪ TỊCH TỨC SỰ

新歲才臨舊歲除,    Tân tuế tài lâm cựu tuế trừ,

老來笑我太庸疏。    Lão lai tiếu ngã thái dung sơ.

乾坤不盡煙花景,    Càn khôn bất tận yên hoa cảnh,

門館無私水竹居。    Môn quán vô tư thủy trúc cư.

兩度手層扶日轂,    Lưỡng độ thủ tằng phù nhựt cốc,

一封書肯上公車。    Nhất phong thư khẳng thượng công xư(xa).

年年管得春光好,    Niên niên quản đắc xuân quang hảo,

知是天心獨厚余。    Tri thị thiên tâm độc hậu dư.

         阮秉謙                          Nguyễn Bỉnh Khiêm

 

         

* Chú Thích :

    - Tài Lâm 才臨 : là Mới vừa đến.

    - Dung Sơ 庸疏 :DUNG là Dung tục là tầm thường, SƠ là Thưa thớt, hời hợt. Nên DUNG SƠ là Hời hợt tầm thường, vô tích sự, không làm được gì cả.

    - Càn Khôn 乾坤 : là hai quẻ tượng trưng cho Trời và Đất trong Bát quái.

    - Yên Hoa Cảnh 煙花景 : Cảnh hoa nở rộ đẹp đẽ của mùa xuân.

    - Thủy Trúc Cư 水竹居 : Nhà ở trên bến nước có tre trúc hữu tình.

    - Nhựt Cốc 日轂 : là Mặt trời, ở đây chỉ nhà vua, nên PHÙ NHỰT CỐC 扶日轂 là Phò trợ nhà vua.

    - Công Xa 公車 : là Xe công, chỉ Xe của vua đi.

    - Quản Đắc 管得 : là Quản lý được, có nghĩa là Nắm bắt được, là Hưởng được.

    - Độc Hậu Dư 獨厚余 : ĐỘC là Riêng lẻ, HẬU là Hậu đãi, DƯ là Ta; nên ĐỘC HẬU DƯ là Hậu đãi riêng với mình ta.

 

* Nghĩa bài Thơ :

                                      Tức Sự đêm Giao Thừa

 

       Năm mới vừa đến thì năm cũ cũng đi qua; cười ta già đầu rồi mà còn hời hợt tầm thường vô tích sự. Cảnh hoa đẹp của mùa xuân trong đất trời thì vô cùng tận, và nơi ở nhàn nhã trước cửa có sông nước trúc tre cũng không chỉ dành riêng cho ai; Cũng đã hai lần từng phò vua giúp nước, nhưng một phong thư (kể công) cũng không chịu trình lên xe vua. (Chỉ cần) mỗi năm ta đều hưởng được những mùa xuân đẹp đẽ, thì biết là lòng trời còn hậu đãi ưu ái đến ta lắm rồi !

 

      Qủa là lòng của một lão thần trung nghĩa, không hám vinh hoa phú qúy; không màng danh lợi buộc ràng, chỉ muốn yên thân nhàn tản thưởng ngoạn sự đẹp đẽ ưu ái của đất trời của tiết xuân với hoa thơm cỏ đẹp khi mỗi độ xuân về. 

        

* Diễn Nôm :

                       TRỪ TỊCH TỨC SỰ

 

                   

 

                   Năm mới đến đi lại một năm,

                   Cười ta già ngố lại vô tâm.

                   Đất trời cảnh trí hoa xuân thắm,

                   Nhà cửa ven sông tre trúc râm.

                   Hai lượt phò vua luôn dốc sức,

                   Một phong thư tấu mãi trầm ngâm.

                   Năm năm cứ được vui xuân đến,

                   Là phúc riêng trời kẻ hảo tâm.

      Lục bát :

                   Năm mới đến, năm cũ đi,

                   Cười ta ngớ ngẩn khác gì năm qua.

                   Đất trời xuân thắm bao la,

                   Bên sông tre trúc cửa nhà riêng ai.

                   Hai lần phò chúa ra tay,

                   Một phong thư lại ngại hoài chẳng dâng.

                   Năm năm vui hưởng sắc xuân,

                   Biết trời hậu đãi lão thần riêng ta.

 

                                                                杜紹德

                                                             Đỗ Chiêu Đức 

Góc Việt Thi:  

                  

                            Trạng Trình NGUYỄN BỈNH KHIÊM

                                                    Kỳ nhị

6. Bài thơ LOẠN HẬU QUY CỐ VIÊN VỊNH MAI :

 

亂後歸故園詠梅     LOẠN HẬU QUY CỐ VIÊN VỊNH MAI

 

萬紫千紅都是春,    Vạn tử thiên hồng đô thị xuân,

等閑開謝總紛紛。    Đẳng nhàn khai tạ tổng phân phân.

雪中不改堅貞操,    Tuyết trung bất cải kiên trinh tháo,

惟有寒梅伴主人。    Duy hữu hàn mai bạn chủ nhân !

                  阮秉謙                              Nguyễn Bỉnh Khiêm

 

         

* Chú Thích :

    - Tựa bài thơ : Sau loạn về quê cũ vịnh hoa mai.

    - Vạn Tử Thiên Hồng 萬紫千紅 : là Muôn tía ngàn hồng, ta nói là "Muôn hồng ngàn tía" hoặc "Ngàn tía muôn hồng".

    - Đẵng Nhàn 等閑 : là Bình thường, là Lẽ Tự Nhiên.

    - Kiên Trinh Tháo 堅貞操 : là cái Tiết tháo kiên trinh, kiên định chẳng đổi thay.

 

* Nghĩa Bài Thơ :

                                SAU LOẠN VỀ LẠI QUÊ NHÀ VỊNH HOA MAI

        Muôn hồng ngàn tía đều nở ra vì mùa xuân, theo lẽ thường tình hoa nở rồi hoa tàn đều bát nháo như thế cả. Chỉ có hoa mai là vẫn giữ tiết tháo kiên trinh trong trời đông tuyết phủ vẫn nở đúng hẹn để bầu bạn với chủ nhân, không thay đổi bao giờ !

        Hoa Mai, một trong Tuế Hàn Tam Hữu 歲寒三友, ba người bạn vẫn tốt tươi trong cuối năm lạnh lẽo của mùa đông. Hoa Mai vẫn ngạo nghễ vươn lên nở hoa trong tuyết giá, là biểu tượng của sự kiên định bất khuất, với hương thơm nhẹ thoảng tượng trưng cho sự thanh cao của người quân tử. Không chỉ có cụ Nguyễn Bỉnh Khiêm ca ngợi hoa mai, trong các danh nhân cổ đại của ta còn có Cao Bá Quát cũng bái phục mai hoa với đôi câu đối :

 

                        Thập tải luân giao cầu cổ kiếm,   十 載 輪 交 求 古 劍,

                        Nhất sinh đê thủ bái mai hoa.      一 生 低 首 拜 梅 花.

    Có nghĩa :

                         Mười năm lần lữa tìm gươm cổ,

                         Một đời cúi lạy trước hoa mai.

 

* Diễn Nôm :

                   LOẠN HẬU QUY CỐ HƯƠNG VỊNH MAI

                   Muôn hồng ngàn tiá đón xuân sang,

                   Hoa nở hoa xinh lại úa tàn. 

                   Trong tuyết kiên trinh không dời đổi,

                   Hoa Mai duy nhất vẫn thi gan !

     Lục bát :

                   Muôn hồng ngàn tía đón xuân,

                   Hoa tàn hoa nở vốn trong tuần hoàn.

                   Kiên trinh trong tuyết đông sang,

                   Hoa mai vẫn nở ngập tràn với ta !

                                                         杜紹德

                                                     Đỗ Chiêu Đức 

 

 

7. Bài thơ NGỘ TRUNG NGUYÊN XÁ TỘI :

 

  遇中元捨罪          NGỘ TRUNG NGUYÊN XÁ TỘI

 

天地那容罪惡人,    Thiên địa na dung tội ác nhân,

是何捨罪有良辰。    Thị hà xá tội hữu lương thần ?

我今欲仗慈悲力,    Ngã kim dục trượng từ bi lực,

救得無辜塗炭人。    Cứu đắc vô cô đồ thán nhân !

               阮秉謙                       Nguyễn Bỉnh Khiêm

 

       

* Chú Thích :

    - NGỘ TRUNG NGUYÊN XÁ TỘI 遇中元捨罪 : Gặp ngày lễ Trung Nguyên xá tội vong nhân. TRUNG NGUÊN là ngày rằm tháng 7 âm lịch, còn gọi là ngày lễ VU LAN BỒN 盂蘭盆, do phiên âm chữ Phạn Ullambana, có nghĩa là cực khổ tột độ, lại có nghĩa là cứu vớt khỏi cảnh cực khổ tột độ. XÁ TỘI 捨罪 là Bỏ đi tội lỗi, là Tha tội.

    - Dung 容 : Danh từ là Dung nhan. Động từ DUNG là chứa đựng, là Chịu đựng, là Tha thứ; ta có từ kép DUNG THA hay DUNG THỨ.

    - Lương Thần 良辰 : LƯƠNG là Tốt lành; THẦN là Giờ giấc, ngày tháng. Nên LƯƠNG THẦN là Ngày lành tháng tốt. Ý chỉ ngày lễ Vu Lan Bồn.

    - Trượng 仗 : là Ỷ lại, là Nhờ vào..., vựa vào...

    - Từ Bi Lực 慈悲力 : là Sức mạnh của lòng từ bi.

    - Vô Cô 無辜 : là Vô Can, Vô tội.

    - Đồ Thán 塗炭 : ĐỒ là Bôi, là tô. THÁN là Than củi, là đen đúa. Nên ĐỒ THÁN là Bị bôi đen như than; ta nói là Lầm Than, Khổ nhọc.

 

* Nghĩa Bài Thơ :

                           GẶP NGÀY TRUNG NGUYÊN XÁ TỘI

        Trời đất nào có dung tha cho những người làm nên tội ác. Nhưng tại sao lại có được ngày lành tháng tốt để xá tội vậy ?. Nay ta muốn vựa vào sức mạnh của lòng từ bi để cứu cho những người vô tội phải chịu cảnh lầm than khổ nhọc  (dưới Địa ngục).

 

         Câu chót của bài thơ nầy dường như chưa thông tình đạt lý cho lắm : 救得無辜塗炭人 Cứu đắc vô cô đồ thán nhân !. Có nghĩa : "Cứu được những người vô tội phải chiụ cảnh lầm than". Những người đã bị đày vào địa ngục thì đều là những người CÓ TỘI cả rồi, sao lại là người VÔ CÔ (Vô Can) cho được. Và TỪ BI LỰC 慈悲力 Sức mạnh của lòng từ bi để CẢM HÓA những người có tội, chớ không phải để CỨU những người có tội cho được. Nên theo thiển ý, câu chót của bài thơ nầy nên đổi lại là :

 

             GIẢI đắc TỘI ĐỒ đồ thán nhân.    解得罪徒塗炭人。

Có nghĩa :

            ( Vựa vào sức mạnh của lòng từ bi, để...)

         Giải thoát (cảm hóa) các tội đồ cho họ thoát khỏi cảnh lần than !  

 

* Diễn Nôm :

                    NGỘ TRUNG NGUYÊN XÁ TỘI

                  Đất trời vốn dĩ không dung ác,

                  Xá tội sao còn có Vu Lan ?

                  Sức mạnh từ bi ta muốn vựa,

                  Cứu người vô tội khỏi lầm than !

      Lục bát :

                  Ác nhân trời đất không dung,

                  Sao còn có được Trung tuần Vu Lan ?

                  Từ bi sức mạnh vô vàn,

                  Cứu người vô tội lầm than cửu tuyền.

                                                        杜紹德

                                                     Đỗ Chiêu Đức 

 

8. Bài thơ NGỤ Ý :

 

      寓意                               NGỤ Ý

名遂功成休矣休,    Danh toại công thành hưu hĩ hưu,

等閒世故一虛舟。    Đẳng nhàn thế cố nhất hư chu.

風來江館涼宜夏,    Phong lai giang quán lương nghi hạ,

月到書樓明正秋。    Nguyệt đáo thư lâu ming chính thu.

紅日東昇知大海,    Hồng nhật đông thăng tri đại hải,

白雲西望是神州。    Bạch vân tây vọng thị thần châu.

溪山亦足供吾樂,    Khê sơn diệc túc cung ngô lạc,

忍負前盟萬里鷗。    Nhẫn phụ tiền minh vạn lý âu.

              阮秉謙                         Nguyễn Bỉnh Khiêm

 

        

* Chú Thích :

    - Ngụ Ý 寓意 : Gởi gắm cái ý niệm của mình hoặc Gởi gắm một ẩn ý nào đó.

    - Hưu Hĩ Hưu 休矣休 : là Thôi hãy hưu trí cho rồi đi.

    - Đẵng Nhàn Thế Cố 等閒世故 : Chuyện Nhân tình thế cố thường ngày trong cuộc sống.

    - Hư Chu 虛舟 : là Chiếc thuyền trống rổng, không có gì cả.

    - Thần Châu 神州 : là Đất liền, nơi ta đang cư ngụ. Đây là khái niệm về Địa lý lúc ban đầu của người Trung Hoa, chia đất liền thành 9 châu huyện, gọi là Cửu Châu và gọi chung đất đai mà con người cư ngụ là Xích Huyện Thần Châu. 

    - Cung 供 : là Cung cấp, cung ứng. CUNG NGÔ LẠC 供吾樂 : là Cung cấp đáp ứng cho niềm vui của ta.

    - Nhẫn 忍 : là Nhịn, là Đành cam, nên NHẪN PHỤ 忍負 : Không đành lòng phụ.

    - Tiền Minh 前盟 :Những lời hẹn ước trước đó.

 

* Nghĩa Bài Thơ :

                                                     NGỤ Ý

      Công đã thành danh đã toại rồi thì thôi hãy về hưu đi thôi ! Những chuyện nhân tình thế cố thường ngày như một chiếc thuyền trống rổng, (rốt cuộc cũng chẳng có gì). Khi gió thổi vào cái quán nhỏ mà ta ngồi hứng gió ở ven sông thì đó chính là mùa hè; còn lúc trăng chiếu vào thư lâu nơi ta đọc sách, thì đó chính là đang lúc mùa thu. Mắt trời đỏ rực mọc lên ở hướng đông thì biết nơi đó là biển cả, còn mây trắng bay xa xa về hướng tây thì biết đó là đất liền nơi ta cư ngụ. Sơn khê sông suối núi rừng cũng đã đủ đáp ứng cho niềm vui của ta rồi, lại nở nào đành lòng quên đi lời hứa trước đây với lũ chim âu trên sông nước hay sao ?!

 

      Quả là cảnh nhàn nhã, ung dung tự tại suốt bốn mùa, quanh năm vui với trăng thanh gió mát, đọc sách ngâm thơ, đón mặt trời lên và ngóng nhìn mây trắng, vui với sông suối núi rừng và lũ chim âu trên sông nước để tiêu dao ngày tháng tự do tự tại tựa tiểu thần tiên.

 

* Diễn Nôm :

                                 NGỤ Ý 

                     

 

                  Công thành danh toại đến kỳ hưu,

                  Thế sự nhân tình đã chán ru !

                  Gió mát đón hè vui sông nước,

                  Trăng thanh đọc sách sáng lầu thu.

                  Trời đông rực nắng ngoài xa biển,  

                  Mây trắng về tây tận cuối châu.

                  Khe suối núi sông vui ngất ngưởng,

                  Lòng nào nở phụ lũ chim âu !

      Lục bát :

                  Công thành danh toại nghỉ hưu,

                  Nhân tình thế sự hư chu não lòng.

                  Hè về hóng gió ven sông,

                  Thu thì đọc sách trăng trong bên lầu.

                  Biển đông trời mọc nắng cao,

                  Thần châu mây trắng nơi nào về tây.

                  Sơn khê đã thỏa lòng này,

                  Sao đành lỗi hẹn với bầy chim âu !?

                                                         杜紹德

                                                     Đỗ Chiêu Đức                                         

 

9. Bài thơ NGUYÊN ĐÁN THUẬT HOÀI :                  

  

   元旦述懷               NGUYÊN ĐÁN THUẬT HOÀI

 

今我行年六十支,      Kim ngã hành niên lục thập chi,

老來卻與病相期。      Lão lai khước dữ bệnh tương kỳ.

惜春強勸數杯酒,      Tích xuân cưởng khuyến sổ bôi tửu,

憂國休言兩鬢絲。      Ưu quốc hưu ngôn lưỡng mấn ty.

織紝不勤嗟懶婦,      Chức nhẫm bất cần ta lãn phụ,

家庭無教笑癡兒。      Gia đình vô giáo tiếu si nhi.

閒中聊寓閒中趣,      Nhàn trung liêu ngụ nhàn trung thú,

豈為逢人說浪詩。      Khởi vị phùng nhân thuyết lãng thi.

               阮秉謙                                 Nguyễn Bỉnh Khiêm

 

     
    

* Chú Thích :

    - Thuật Hoài 述懷 : Tỏ bày hoài bão; Kể lể nỗi niềm tâm sự.

    - Chi 支 : là Thập Nhị Địa Chi 十二地支, mỗi CHI là một Con Giáp, tượng trưng cho một năm, nên LỤC THẬP CHI 六十支 là Sáu mươi tuổi.

    - Tương Kỳ 相期 : là Cùng nhau hẹn ước; là Hẹn hò với nhau.

    - Cưỡng Khuyến 強勸 : là Miễn cưỡng khuyên nhau...

    - Hưu Ngôn 休言 : Đừng bao giờ nói; Đừng bảo là...

    - Chức Nhâm 織紝 : là Canh cửi, là dệt vải. Chữ NHÂM ở đây được đọc là NHẪM cho ăn với luật Bằng Trắc để nghe cho êm tai.

    - Lãn Phụ 懶婦 : là người đàn bà lười biếng; là Người vợ lười.

    - Si Nhi 癡兒 : là Con ngu dại, si ngốc.

    - Liêu Ngụ 聊寓 : Ngụ ý là...; Cứ cho là...

    - Thuyết Lãng Thi 說浪詩 : Lạm bàn lan man về thơ ca.

 

* Nghĩa Bài Thơ :

                           TẾT NGUYÊN ĐÁN KỂ LỂ NỖI LÒNG

        Tết nay thì ta cũng đã được sáu mươi tuổi rồi; Càng già lại càng như là có ước hẹn với bệnh tật vậy. Tiếc xuân nên miễn cưỡng mời nhau vài ly rượu. Lo cho nước thì chớ bảo là hai mái tóc mai đã bạc như tơ cả rồi. Canh cưởi không siêng năng thì than là con vợ biếng nhác; Gia đình không dạy dỗ thì sợ người ta cười con mình ngu ngốc. Trong lúc nhàn nhã thì cứ cho là hưởng thú nhàn nhã đi, sao lại phải nói chuyện lan man về thơ ca khi gặp người nầy người nọ.

        Than già than bệnh, nhưng uống rượu vui chơi với nhau lúc xuân về thì miễn cưỡng vẫn còn được, còn nói đến lo cho nước thì chớ có thoái thác là tóc đã bạc người đã già. Cũng như con vợ không siêng năng dệt cửi là tại ta thiếu quan tâm đôn đốc; gia đình không giáo dục thì con cái ngu dốt sẽ bị người cười chê. Tề gia không tốt lại đi đổ thừa cho vợ lười biếng, con ngu si. Trong khi chỉ thích hưởng thụ nhàn tản để nói ba điều bốn chuyện về những thơ ca lan man không đâu với những người gặp gỡ vô tích sự. Không biết là cụ Trạng đã mượn chuyện của mình để nhắc nhở người khác hay là cụ đang ám chỉ ai đây trong cái xã hội khá rối ren bát nháo, vàng thao lẫn lộn của lúc bấy giờ : Vừa Mạc vừa Lê vừa Trịnh vừa Nguyễn...

 

* Diễn Nôm :

                     NGUYÊN ĐÁN THUẬT HOÀI

                   Đến Tết ta đà sáu chục rồi,

                   Càng già bệnh tật lại theo đuôi.

                   Tiếc xuân miễn cưởng vài chung rượu,

                   Lo nước chớ màng tóc bạc vôi,

                   Canh cửi không siêng bà vợ biếng,

                   Ngu si thiếu dạy lũ con tồi.

                   Muốn nhàn thì cứ vui nhàn tản,

                   Sao phải vì ai lãng phí lời !

     Lục bát :

                   Nay ta sáu chục tuổi rồi,

                   Càng già bệnh tật như mời theo đuôi.

                   Tiếc xuân vài chén uống vùi,

                   Nước không lo nổi rối nùi tóc mai.

                   Vợ lười canh cửi tại ai,

                   Con ngu vì bởi vô tài dạy khuyên.

                   Nhàn thì hãy cứ nhàn liền,

                   Sao còn thơ thẩn huyên thuyên với người !

                                                         杜紹德

                                                     Đỗ Chiêu Đức                                         

                                                

10. Bài thơ BỘ MINH NHÂN TƯ MINH PHỦ CÔNG SAI VIÊN :

 

步明人思明府公差員   BỘ MINH NHÂN TƯ MINH PHỦ CÔNG SAI VIÊN

 

鶯聲啼趂馬聲驕,      Oanh thanh đề sấn mã thanh kiêu,

快著行鞭春色饒。      Khoái trước hành tiên xuân sắc nhiêu.

况値北南無事日,      Huống trực bắc nam vô sự nhật,

一天明月共良霄。      Nhất thiên minh nguyệt cộng lương tiêu.

              阮秉謙                                       Nguyễn Bỉnh Khiêm

 

         

 

* Chú Thích :

    - BỘ MINH NHÂN TƯ MINH PHỦ CÔNG SAI VIÊN 步明人思明府公差員 : Tản bộ với viên Công sai người Minh ở phủ Tư Minh.

    - Sấn 趂 : Một hình thức khác của chữ SẤN 趁, có nghĩa Nhân lúc, nhân dịp, thừa cơ, thừa lúc...

    - Nhiêu 饒 : là Nhiều, đầy đủ, phì nhiêu.

    - Trực 値 : là Đúng dịp, gặp dịp. Một âm nữa là TRỊ 値 là Đáng giá, Trị giá.

    - Lương Tiêu 良霄 : là Đêm an lành, đêm đẹp đẽ.

 

* Nghĩa Bài Thơ :

                   Tản Bộ Với Viên Công Sai Người Minh Ở Phủ Tư Minh. 

        Tiếng chim oanh hót cũng vừa đúng lúc tiếng ngựa đang hí vang vang, trong tiếng roi ngựa vun vút lúc sắc xuân đang tràn ngập khắp nơi. Cũng vừa đúng lúc bắc nam gì đều thái bình vô sự, giữa một đêm an lành cũng tràn ngập ánh trăng sáng khắp cả bầu trời.

        Qủa là một cảnh đẹp trong mùa xuân giữa lúc thái bình thịnh thế, làm cho ta nhớ đến câu tả cảnh đẹp của đêm xuân trong Thiên Gia Thi của Tô Đông Pha đời Tống là :

                    Xuân tiêu nhất khắc trị thiên kim.    春宵一刻值千金. 

    Có nghĩa : Đêm xuân một khắc giá đáng ngàn vàng.(Chỉ đêm xuân khí trời êm ả, mát mẻ đẹp đẽ vô cùng. Sau nầy được người ta trích câu nói nầy để chỉ một ý khác với ý của tác giả lúc ban đầu).

 

* Diễn Nôm :

                   BỘ MINH NHÂN TƯ MINH PHỦ CÔNG SAI VIÊN

 

                   

                     Tiếng oanh lẫn tiếng ngựa rền vang,

                     Roi vút ngựa phi xuân ngập tràn.

                     Huống lúc Bắc Nam đều vô sự,

                     Một trời trăng sáng đáng ngàn vàng !

      Lục bát :

                     Tiếng oanh hót, tiếng ngựa vang,

                     Tiếng roi vùn vụt xuân tràn khắp nơi.

                     Bắc Nam phải buổi thảnh thơi,

                     Một đêm trăng đẹp, một trời sáng trăng.

 

 

         Hẹn bài dịch tới :  

                                 Trạng Trình NGUYỄN BỈNH KHIÊM (kỳ Tam)

   

                                                                                                    杜紹德

                                                                                                Đỗ Chiêu Đức                                                          

Góc Việt Thi:  

                  

                            Trạng Trình NGUYỄN BỈNH KHIÊM

                                                    Kỳ nhất

 

NGUYỄN BỈNH KHIÊM 阮秉謙 (1491-1585) huý là Văn Đạt 文達, tự Hanh Phủ 亨甫, hiệu Bạch Vân cư sĩ 白雲居士, người làng Trung Am, huyện Vĩnh Lại, Hải Dương, nay thuộc xã Lý Học, huyện Vĩnh Bảo, Hải Phòng. Xuất thân từ một gia đình trí thức Nho học, cha là Nguyễn Văn Định có văn tài. Mẹ là Nhữ Thị Thục, con thượng thư Nhữ Văn Lan, thông tuệ, giỏi văn chương, am tường lý số. Nguyễn Bỉnh Khiêm thông minh, hiếu học, từ nhỏ đã được mẹ đem thơ quốc âm và kinh truyện ra dạy. Lớn lên, vào Thanh Hoá, theo học bảng nhãn Lương Đắc Bằng, được thầy truyền thụ môn học Dịch lý và sách Thái Ất Thần Kinh. Tuy học giỏi, nhưng lớn lên vào lúc xã hội loạn lạc, Nguyễn Bỉnh Khiêm ẩn chí, đợi thời, không chịu ra thi. Mãi sau này, Mạc thay Lê, tình hình xã hội ổn định, ông mới ra ứng thí, đậu Trạng Nguyên (1535), rồi làm quan với nhà Mạc, bấy giờ ông đã 45 tuổi. Làm quan ở triều đình được 8 năm (1535-1542), thấy gian thần hoành hành, bè phái, triều chính ngày một xấu thêm, ông dâng sớ xin chém 18 lộng thần, không được chấp nhận, bèn thác cớ xin trí sĩ. Về sau, vì sự ràng buộc của nhà Mạc với các sĩ phu có uy vọng, vì muốn tác động đến thời cuộc, ông trở lại tham gia triều chính với cương vị như một cố vấn. Ông từng theo quân Mạc, đi chinh phạt Vũ Văn Mật, Vũ Văn Uyên. Ông cũng từng bày mưu tính kế giúp Mạc bảo toàn vương nghiệp. Vì thế, hoạn lộ của ông từ Lại bộ Tả thị lang, Đông các đại học sĩ, trải thăng đến Lại bộ Thượng thư, Thái phó, Trình Tuyền hầu, rồi lại gia phong Trình quốc công nên đời thường gọi là Trạng Trình. Mãi đến ngoài 70 tuổi, ông mới thực sự treo xe, treo mũ từ quan.

          Thời gian sống ở quê nhà, bên bờ sông Tuyết Hàn, Nguyễn Bỉnh Khiêm dựng am Bạch Vân, lấy đạo hiệu là Bạch Vân cư sĩ mở trường dạy học, rồi lập quán, xây cầu, dựng chùa, mở chợ, trồng cây... Ông có nhiều học trò nổi tiếng, như Nguyễn Quyện, Phùng Khắc Khoan, Lương Hữu Khánh, Nguyễn Dữ v.v... người thờ Mạc, người theo Lê, người suốt đời ẩn dật. Ông được người đương thời tôn kính như bậc thầy. Ngoài triều Mạc, họ Trịnh, họ Nguyễn đều có sai sứ đến hỏi ý kiến ông về những việc hệ trọng. Tháng mười một năm Ất Dậu (1585) ông qua đời, hưởng thọ 94 tuổi, học trò truy tôn là Tuyết giang phu tử 雪江夫子.

          Tác phẩm của Nguyễn Bỉnh Khiêm có Bạch Vân Quốc Ngữ Thi Tập 白雲國語詩集, Bạch Vân Am Thi Tập 白雲庵詩集 và một số bài văn chữ Hán. Các tập sấm ký như Trình Quốc Công Sấm Ký, Trình Tiên Sinh Quốc Ngữ, v.v... tương truyền là của ông nhưng về mặt văn bản chưa đủ độ tin cậy.

 

         Sau đây là một số bài thơ chữ Hán tiêu biểu của ông trong Bạch Vân Am Thi Tập 白雲庵詩集 :

 

1. Bài thơ CẢM HỨNG :

 

   - Tương truyền bài thơ này làm ra để tiên đoán việc nhà Lê sẽ trung hưng và nói đến việc họ Trịnh sẽ chuyên quyền lấn áp vua Lê. Những việc của ông tiên đoán đều không sai mảy may.

 

        

 

        感興                           CẢM HỨNG

  

泰和宇宙不虞周,     Thái hòa vũ trụ bất Ngu Chu,

互戰教爭笑兩讎。     Hỗ chiến giáo tranh tiếu lưỡng thù.

川血山骸隨處有,     Xuyên huyết sơn hài tùy xứ hữu,

淵魚叢雀為誰驅。     Uyên ngư tùng tước vị thùy khu.

重興已卜渡江馬,     Trùng hưng dĩ bốc độ giang mã,

後患應防入室貙,     Hậu hoạn ưng phòng nhập thất khu,

世事到頭休說著,     Thế sự đáo đầu hưu thuyết trước,

醉吟澤畔任閒遊。     Túy ngâm trạch bạn nhậm nhàn du.

                 阮秉謙                                  Nguyễn Bỉnh Khiêm

 

      

 

* Chú Thích :

    - Thái Hòa 泰和 : Chỉ cảnh sống thật hòa bình không có chiến tranh.

    - Ngu Chu 虞周 : NGU là Ngu Thuấn; CHU là nhà Tây Chu, Hai triều đại thái bình thịnh thế của Trung Hoa cổ đại.

    - Hỗ Chiến 互戰 : HỖ là Hỗ Tương, là Lẫn nhau, nên Hỗ Chiến là Đánh đấm lẫn nhau.

    - Xuyên Huyết Sơn Hài 川血山骸 : XUYÊN là con sông; HÀI là Thi hài; nên XUYÊN HUYẾT là con sông máu; SƠN HÀI là Thi hài như núi. Ta thường nói : Thây người chất thành núi và máu chảy thành sông.

    - Uyên Ngư Tùng Tước 淵魚叢雀 : UYÊN là Vực sâu; Tùng là Bụi cây; nên UYÊN NGƯ TÙNG TƯỚC là Cá trong vực sâu và chim sẻ trong bụi rậm.

    - KHU 貙 : là người hóa ra cọp. Ở đây mượn ý để chỉ "Rước kẻ dữ vào nhà."

    - Trạch Bạn 澤畔 : là Bên đầm nước (Hồ nước nhỏ).

 

* Nghĩa Bài Thơ :

                                              CẢM HỨNG

             Trời đất trong cảnh thái bình thịnh vượng, nhưng sao không giống như thuở đời Chu và Ngu Thuấn. Lại bày trò đánh nhau như hai kẻ thù để làm trò cười cho thiên hạ. Đến nỗi nơi nào cũng có cảnh thây chất thành núi và máu chảy tựa sông cả. Làm cho cá trong vực sâu, chim sẻ trong bụi rậm như bị ai đó đuổi bắt mà không thể sống yên ổn được. Muốn trùng hưng lại triều chính thì phải xua ngựa qua sông, nhưng hậu hoạn phải đề phòng là coi chừng sẽ dẫn cọp vào nhà. Thôi thì chuyện đời khó có thể mà nói trước được, hãy cứ uống rượu ngâm thơ và nhàn du bên bờ hồ cho thỏa thích mà thôi !

 

* Diễn Nôm :

                               CẢM HỨNG

 

                    Thái bình sao chẳng giống Ngu Chu,

                    Đánh đấm lẫn nhau tựa kẻ thù.

                    Thây núi máu sông đầy rẫy khắp,

                    Chim lùm cá vực khó an cư.

                    Độ mã qua sông trùng hưng lại,

                    Dẫn cọp vào nhà hậu hoạn hư.

                    Thế sự đổi thay ai biết được,

                    Bên hồ thơ rượu cứ nhàn du !

    Lục bát :

                   Thanh bình chẳng giống Ngu Chu,

                   Đánh nhau dường tựa kẻ thù bao năm.

                   Thây như núi, máu thành sông,

                   Cá sông chim bụi cũng không yên nào.

                   Trùng hưng ngựa vượt chiến hào,

                   Hậu hoạn dẫn hổ chẳng sao phòng hờ.

                   Chuyện đời khó nói dường mơ,

                   Câu thơ bầu rượu vẩn vơ bên hồ !

                                                               Đỗ Chiêu Đức

 

2. Bài thơ CỰ NGAO ĐỚI SƠN :

 

   巨鰲戴山               CỰ NGAO ĐỚI SƠN

碧浸仙山徹底清,    Bích tẩm tiên sơn triệt để thanh,

巨鰲戴得玉壺生。    Cự ngao đới đắc ngọc hồ sinh.

到頭石有補天力,    Đáo đầu thạch hữu bổ thiên lực,

著腳潮無卷地聲。    Trước cước triều vô quyển địa thanh.

萬里東溟歸把握,    Vạn lý đông minh quy bả ác,

億年南極奠隆平。    Ức niên nam cực điện long bình.

我今欲展扶危力,    Ngã kim dục triển phù nguy lực,

挽卻關河舊帝京。    Vãn khước quan hà cưu đế kinh !

                 阮秉謙                                Nguyễn Bỉnh Khiêm

 

* Chú Thích :

    - CỰ NGAO ĐỚI SƠN 巨鰲戴山 : là Con ngao lớn đội núi. NGAO là một loại Ba ba biển lớn. Theo chương Thang Vấn trong sách Liệt Tử chép rằng ở biển Bột Hải có năm ngọn núi là : “Đại Dư” 岱輿, “Viên Kiệu” 員嶠, “Phương Hồ” 方壺, “Doanh Châu” 瀛洲, và “Bồng Lai” 蓬萊. , chân núi không dính vào đâu cả, núi cứ theo nước thuỷ triều mà lên và xuống lênh đênh trên mặt biển. Thượng đế sợ các ngọn núi ấy trôi về Tây cực bèn sai 5 con ngao thần rất lớn lặn xuống lấy đầu đội lên, nên từ đó năm ngọn núi ấy mới đứng vững ở một chỗ.

      CỰ NGAO ĐỚI SƠN: ý của Nguyễn Bỉnh Khiêm là muốn làm việc lớn để gánh vác giang sơn như con ngao lớn đội núi đá cho vững để khỏi trôi nổi trên biển vậy.

    - Triệt Để 徹底 " là Tới đáy, nên Triệt Để Thanh là Trong thấy đáy.

    - Ngọc Hồ 玉壺 : Ở đây không có nghĩa là cái bình bằng ngọc, mà mượn để chỉ cái Đầm Nước nơi ẩn cư.

    - Thạch Hữu Bổ Thiên Lực 石有補天力 : là Đá có sức để vá trời. Theo Tam Hoàng Bản Kỷ trong Sử Ký của Tư Mã Thiên : Thời Thượng cổ, hai vị thần nước là Cung Công và thần lửa là Chúc Dung đánh nhau. Đánh mãi không thắng nổi thần Chúc Dung cho nên thần Cung Công nổi giận, lấy đầu húc núi Bất Chu, làm đổ núi ấy khiến cho cột chống trời bị gãy. Nữ thần Nữ Oa, chặt bốn chân con ngao thần làm bốn cực chống cho trời khỏi sụt xuống. Rồi luyện đá ngũ sắc để vá trời.

    - Đông Minh 東溟 : chỉ biển Đông Hải.

    - Bả Ác 把握 : là Cái Nắm tay. Chuyện cầm chắc trong tay, là chuyên trong khả năng có thể làm được. 

    - Nam Cực 南極 : chỉ vùng đất cực nam của Trung Hoa là nước Việt Nam ta đó. Ngày xưa đâu có biết có vùng Nam Cực của trái đất bây giờ đâu.

 

* Nghĩa Bài Thơ :

                         CỰ NGAO ĐỚI SƠN

        Núi tiên ngâm mình trong biển nước biếc trong đến tận đáy. Ta như con ngao lớn có sức gánh vác được sinh ra từ đầm nước nơi đây. Trên đầu có thể làm đá để vá trời, còn dưới chân thì sóng cũng ổn định không có tiếng cuốn đất. Biển đông vạn dặm có thể quy vào trong lòng bàn tay, và trong ức triệu năm có thể ổn định được vùng đất cực nam nầy. Nay ta muốn thi triển cái sức phò nguy cứu khổn của mình, để cứu vãn lấy sơn hà và đế kinh cũ.

 

        Qủa là có chí lớn, muốn phò vua giúp nước, gánh vác giang san để tỏ rõ tài thao lược. Đọc bài thơ nầy làm cho ta nhớ đến bài THUẬT HOÀI của danh tướng Đặng Dung đời Trần với hai câu :

 

                   致主有懷扶地軸,    Trí chúa hữu hoài phù địa trục,

                   洗兵無路挽天河.    Tẩy binh vô lộ vãn Thiên hà.

     Có nghĩa :

                           Giúp Chúa những toan xoay trục đất,

                           Giáp binh khó nổi kéo sông trời.

 

          Cả hai đều ôm mộng lớn như nhau, nhưng đều chẳng gặp thời, chẳng thi thố gì được cho cái hoài bão to lớn của mình cả !

 

* Diễn Nôm :

                        CỰ NGAO ĐỚI SƠN

 

             

                 Núi tiên biển biếc nước trong xanh,

                 Ngao lớn sinh từ đầm nước thanh.

                 Đầu cất vá trời thay đá luyện,

                 Chân chùn sóng nước đất yên lành.

                 Biển Đông ngàn dặm trong tầm nắm,

                 Nam Cực muôn năm sẽ thái bình.

                 Ta muốn phù nguy thi triển sức,

                 Phục hồi sông núi vững kinh thành !

    Lục bát :

                 Núi tiên nước biếc biển trong,

                 Sinh từ đầm nước ngao mong đổi đời.

                 Cất đầu thay đá vá trời,

                 Xoạt chân sóng vổ ngàn khơi đất lành.

                 Biển đông tay nắm rành rành,

                 Nam cực vùng đất yên lành muôn năm.

                 Phò nguy thử sức anh hùng,

                 Vãn hồi sông núi góp công kinh thành.

                                                           Đỗ Chiêu Đức

                     

3. Bài thơ ĐÔNG CÚC :

 

    冬菊                    ĐÔNG CÚC

 

一種延年館裡栽,    Nhất chủng diên niên quán lý tài,

晚香獨向雪中開。    Vãn hương độc hướng tuyết trung khai.

莫笑爭芳時太晚,    Mạc tiếu tranh phương thời thái vãn,

先春肯讓一枝梅。    Tiên xuân khẳng nhượng nhất chi mai !

                  阮秉謙                                       Nguyễn Bỉnh Khiêm

 

      

 

* Chú Thích :

    - Đông Cúc 冬菊 : Cúc mùa đông; thay vì THU CÚC 秋菊 là cúc nở vào mùa thu, thì bài nầy là ĐÔNG CÚC có thể đây là hoa cúc nở muộn.

    - Diên Niên 延年 : là Kéo dài suốt cả năm.

    - Vãn Hương 晚香 : là Mùi hương muộn màng.

    - Mạc Tiếu 莫笑 : là Chớ cười, chớ nhạo.

    - Tranh Phương 爭芳 : là Tranh cái thơm cái đẹp. Đây là từ chỉ dành riêng cho Hoa và phái Nữ.

    - Khẳng Nhượng 肯讓 : là Chịu nhường, là Chi nhường, là "Chưa chắc đã chịu nhường".

 

* Nghĩa Bài Thơ :

                                     Cúc Mùa Đông

        Đây là loại hoa được trồng quanh năm trong thư quán; Mùi hương muộn màng chỉ nở ra khi tuyết bắt đầu rơi. Chớ có cười nhạo là sao tranh thơm tranh đẹp muộn màng thế. Vì trước khi mùa xuân đến chưa chắc ta đã chịu nhường cái thơm cái đẹp nầy cho hoa mai đâu !

     Tả hoa cúc, nhưng suốt bài thơ không có từ nào nhắc đến chữ CÚC cả !

 

     Hoa Cúc là loại hoa thanh nhã cao khiết chỉ nở vào mùa thu trong gió thu hiu hắt, nổi tiếng nhờ có thể ũ thành Cúc tửu, gọi là Hoàng Hoa Tửu và nhất là được danh sĩ Đào Tiềm đời Tấn trồng khi ở ẩn, với các câu thơ : Thái cúc đông ly hạ, du nhiên kiến nam sơn 採菊東籬下,悠然見南山. Có nghĩa : "Hái cúc dưới giậu bờ đông, Xa xa ẩn hiện chập chùng Nam sơn". Cúc vốn chịu lạnh, nên hoa cúc nở kéo dài cho đến mùa đông, khi mai sớm đã bắt đầu khai nhụy. Và màu vàng của hoa cúc há dễ chiụ nhường cho màu vàng của hoa mai hay sao ?! 

 

* Diễn Nôm :

                                 ĐÔNG CÚC                   

 

                 Quanh năm trong quán được vun trồng,

                 Nở muộn hương nồng lúc tuyết đông.

                 Chớ nhạo muộn màng khoe sắc thắm,

                 Trước xuân chi chịu kém mai đông.

     Lục bát :

                 Vun trồng trong quán quanh năm,

                 Nở ra trong tuyết âm thầm tỏa hương.

                 Chớ cười nở muộn tranh phương,

                 Đầu xuân há đã chịu nhường hoa mai.                                              

                                                           Đỗ Chiêu Đức

 

4. Bài thơ HẠ CẢNH :

 

        夏景                                 HẠ CẢNH

 

日長賓館小窗明,     Nhật trường tân quán tiểu song minh,

風納荷香遠益清。     Phong nạp hà hương viễn ích thanh.

無限吟情誰會得?     Vô hạn ngâm tình thùy hội đắc ?

夕陽樓上晚蟬聲!     Tịch dương lâu thượng vãn thiền thanh !

                  阮秉謙                                          Nguyễn Bĩnh Khiêm

 

        

 

* Chú Thích :

    - Tân Quán 賓館 : TÂN là Khách. TÂN QUÁN là Quán dịch nơi tiếp đón các quan viên vãng lai khi thuyên chuyển hay công vụ.

    - Tiểu Song 小窗 : là Cái cửa sổ nhỏ.

    - Hà Hương 荷香 : HÀ là Hoa sen, nên Hà Hương là Hương thơm của hoa sen.

    - Thanh 清 : THANH có 3 chấm thủy 氵nên có nghĩa là Trong; nhưng ở đây chỉ muì hương của hoa sen, nên VIỄN ÍCH THANH 遠益清 có nghĩa là : Càng xa thì mùi hương sen càng thoang thoảng hơn.

    - Ngâm Tình 吟情 : là Cái tình cảm ngâm nga trong thi phú, tức là cái HỒN THƠ, cái NÊN THƠ của cảnh trí đó vậy.

    - Thiền Thanh 蟬聲 : là Tiếng Ve kêu.

 

* Nghĩa Bài Thơ :

                                 Cảnh Mùa Hè

        Ngày dài dằng dặc trong dịch quán tiếp tân xuyên qua cái cửa song sáng trưng nho nhỏ, Gió đưa mùi hương của hoa sen càng xa lại càng thoang thoảng hơn lên. Ai biết được cảnh trí lại càng nên thơ hơn khi đứng trên lầu cao nhìn nắng chiều nghiêng chiếu mà nghe tiếng ve ngâm tỉ tê trong buổi chiều tà nầy.

 

        Đọc bài thơ nầy của cụ Nguyễn Bĩnh Khiêm làm cho ta lại nhớ đến hai câu thơ trong bài Thu Từ 秋詞 của Lưu Vũ Tích đời Đường như sau :

 

                  晴空一鶴排雲上,    Tình không nhất hạc bài vân thượng,

                  便引詩情到碧霄。    Tiện dẫn THI TÌNH đáo bích tiêu.

  Có nghĩa :

                         Cánh hạc vút lên mây xanh ngắt,

                         HỒN THƠ theo vút tận trời cao.

 

                          

        Cảnh trí quả thật nên thơ biết bao nhiêu !

 

* Diễn Nôm :

                               CẢNH HÈ                

 

                 Dịch quán ngày dài song cửa sáng,

                 Hương sen nhẹ thoảng gió hiu hiu.

                 Nên thơ cảnh trí nào ai biết ?

                 Vẳng tiếng ve ngâm giữa nắng chiều !

    Lục bát :

                 Cửa song dịch quán ngày dài,

                 Hương sen theo gió thoảng bay ngoài đồng.

                 Nên thơ cảnh đẹp biết không ?

                 Nắng chiều nghiêng bóng ve ngâm vang lầu !                                                      

                                                                       Đỗ Chiêu Đức

 

   

5. Bài thơ KHUÊ TÌNH :

 

        閨情                               KHUÊ TÌNH

吟落西風陣陣吹,     Ngâm lạc tây phong trận trận xuy,

深閨兒女獨眠時。     Thâm khuê nhi nữ độc miên thì.

忽聞寒氣侵簾幕,     Hốt văn hàn khí xâm liên mạc,

始覺人情有別離。     Thủy giác nhân tình hữu biệt ly.

去夢不辭沙塞遠,     Khứ mộng bất từ sa tái viễn,

憂懷還動鼓鼙思。     Ưu hoài hoàn động cổ bề ti.

無端點滴階前雨,     Vô đoan điểm trích giai tiền vũ,

自有幽人語夜遲。     Tự hữu u nhân ngữ dạ trì.

                  阮秉謙                          Nguyễn Bỉnh Khiêm

 

      

 

* Chú Thích :

    - Khuê Tính 閨情 : là Tâm tình của kẻ ở chốn khuê phòng.

    - Tây Phong 西風 : Gió tây là gió của mùa thu, trời đã bắt đầy se lạnh.

    - Liêm Mạc 簾幕 : là Rèm màn che song cửa.

    - Sa Tái 沙塞 : là Vùng sa mạc ngoài biên ải xa xôi.

    - Ưu Hoài 憂懷 : là Nỗi lòng ưu tư lo lắng.

    - Cỗ Bề 鼓鼙 : là Tiếng trống trận.

    - Vô Đoan 無端 : như Vô tình, vô tâm, khi khổng khi không.

    - U Nhân 幽人 : là Con người cô đơn vắng vẻ !

 

* Nghĩa Bài Thơ :

                                                KHUÊ TÌNH

       Như tiếng ngâm thơ lạc theo từng trận gió tây hiu hắt, cũng là lúc cô gái trong chốn khuê phòng đang ngủ có một mình. Bất giác cô cảm nhận được cái hơi lạnh đang xâm nhập qua rèm sáo bên song cửa, và cô chợt hiểu ra cái ấm lạnh của tình người trong cơn ly biệt. Dõi theo hồn mộng không ngại vùng sa mạc biên ải xa xôi, mối ưu tư trong lòng còn vang như hồi trống trận. Mặc cho từng giọt từng giọt mưa rơi hờ hững trước thềm, như có người u uẩn nào đó đang thủ thỉ suốt đêm dài.

 

         Qủa là mối cảm tình da diết của người thiếu nữ đang xuân phải chịu cảnh phòng không chiếc bóng để nhớ thương về nơi quan ải xa xăm, nơi gió cát mịt mùng trong tiếng trống trận vang vang... trong đêm mưa dai dẳng bên thềm suốt đêm rả rít như kể lể nỗi niềm tâm sự.

 

 

* Diễn Nôm :

                             KHUÊ TÌNH              

 

                  Như tiếng ngâm theo trận gió tây, 

                  Cô miên nhi nữ suốt canh chầy.

                  Bỗng nghe màn sáo tràn hơi lạnh,

                  Mới biết chia ly thổn thức đầy.

                  Theo mộng chẳng nề quan ải cách,

                  Ngoài biên còn ngại trống quân rây.

                  Hững hờ rả rít cơn mưa tối,

                  Thủ thỉ canh trường dạ khó khuây !

   Lục bát :

                  Gió tây hiu hắt từng hồi,

                  Phòng khuê thiếu nữ bồi hồi cô miên.

                  Bỗng nghe hơi lạnh tràn hiên,

                  Mới hay ly biệt nên tình xót xa.

                  Mộng theo biên tái quan hà,

                  Ưu tư trống trận tù và thúc quân.

                  Bên thềm rả rít mưa nhuần,

                  Như than như vản thì thầm suốt đêm !

                                                                  杜紹德

                                                             Đỗ Chiêu Đức

 

 

            Mời xem tiếp Kỳ Nhị!

Góc Việt Thi : 

                                 Thơ THÁI THUẬN

Thái Thuận 蔡順 (1440-?) tự Nghĩa Hoà 義和, hiệu Lục Khê 陸溪, biệt hiệu Lữ Đường 呂塘, sinh 1440. Đậu tiến sĩ 1475 (niên hiệu Hồng Đức thứ 6). Làm quan ở nội các viện triều Lê Thánh Tông hơn 20 năm, sau được bổ làm tham chính ở Hải Dương. Ông là người có đạo đức, lại có tài văn chương, được người đương thời rất kính trọng. Vì vậy, ông được vua Lê Thánh Tông cho dự chức Tao đàn Sái phu (sau thăng Tao đàn Phó Nguyên Súy) trong Hội Tao Đàn do chính nhà vua thành lập năm 1495.

       Tác phẩm còn lại: Lữ Đường di cảo thi tập 呂塘遺藁詩集 (Tập thơ di cảo của Lữ Đường) gồm hơn 200 bài thơ do con trai là Thái Khác 蔡恪 và học trò là Đỗ Chính Mô 杜正謨 sưu tầm biên soạn.

 

                Sau đây là một số bài thơ tiêu biểu của ông được nhiều người biết đến.

 

1. Bài thơ HẠ CẢNH :

 

    夏景                             HẠ CẢNH

南風庭院日如年,    Nam phong đình viện nhựt như niên,

面對書窗古聖賢。    Diện đối thư song cổ thánh hiền.

傍砌榴花紅噴火,    Bàng thế lưu hoa hồng phún hỏa,

入簾草色綠生煙。    Nhập liêm thảo sắc lục sanh yên.

元亨理契庖犧易,    Nguyên Hanh lý khế Bào Hy dịch,

康阜功歸帝舜絃。    Khang Phụ công quy Đế Thuấn huyền.

千古道心呼得起,    Thiên cổ đạo tâm hô đắc khởi,

槐龍影裏夕陽蟬。    Hòe long ảnh lý tịch dương thiền !

         蔡順                               Thái Thuận

* Chú Thích :

    - HẠ CẢNH 夏景 : Quang cảnh của mùa hè.

    - Nam Phong 南風 : là Gió Nam, gió thổi mát mẻ vào những buổi trưa hè. NAM PHONG CA là "Bài ca gió nam". Bản đàn như lời ca dao mà vua Thuấn ngày xưa thường đàn để nói về đời sống của nhân dân với các câu : "Nam phong chi huân hề, khả dĩ giải ngô dân chi uẩn hề 南風之薰兮,可以解吾民之慍兮。" Có nghĩa : Cái mát mẻ ấm áp của gió nam có thể giải tỏa được lòng u uẩn sầu muộn của dân ta. Do câu nói nầy mà cụ Phạm Quỳnh ngày trước đã đặt tên cho tạp chí của mình là NAM PHONG TẠP CHÍ.

   - Bàng Thế 傍砌 : Bên cạnh các bậc thềm nhà.

   - Nguyên Hanh 元亨 : là NGUYÊN HANH LỢI TRINH 元亨利贞, là lời từ của quẻ Càn trong kinh Dịch. Có nghĩa : NGUYÊN là Bắt đầu; HANH là Thông suốt. LỢI là Lợi lộc. TRINH là Đứng đắn ngay thẳng. Nên Nguyên Hanh chỉ sự tốt lành nói chung.

   - Bào Hy 庖犧 : Tức vua Phục Hy (4500 tr CN), một trong Tam hoàng ngũ đế, thánh nhân thời tiền sử Trung Quốc, thuỷ tổ của Kinh Dịch.

   - Khang Phụ 康阜 : là vế sau của Nam Phong Ca đã nêu ở trên : Nam phong chi thời hề, khả dĩ phụ ngô dân chi tài hề 南風之時兮,可以阜吾民之財兮。Có nghĩa : Cái đúng lúc của gió nam có thể làm cho dân ta giàu có.

   - Đế Thuấn huyền 帝舜絃 : Dây đàn của vua Thuấn, tức là Tiếng đàn của vua Thuấn.

   

* Nghĩa Bài Thơ :

                               CẢNH MÙA HÈ

        Gió nam thổi hiu hiu vào sân nhà trong mùa hè làm ta cảm thấy ngày dài ra như một năm. Đối diện với song cửa để sách vở của thánh hiền ngày xưa. Bên cạnh các bậc thềm nhà hoa lựu nở đỏ thắm như đang phun lửa. Màu cỏ xanh hắt vào rèm như sương như khói. Nguyên Hanh Lợi Trinh là cái lý ăn khớp với Dịch lý của Bào Hy (trong quẻ Càn thuộc thuần dương như cái nóng của mùa hè). Cũng như lời ca Khang Phụ trong Nam Phong Ca là công của tiếng đàn của vua Thuấn (có thể giải đi phiền muộn u uẩn và làm cho người dân sống sung túc hơn). Tiếng ve ra rả trong buổi chiều nắng xế trên các cây hòe có thể gọi dậy lòng trọng đạo thiên cổ của nhân dân.

 

* Diễn Nôm :

                           CẢNH HÈ

 

                   

 

                  Ngày dài sân vắng gió nam đầy,

                  Song sách thánh hiền xưa vẫn đây.

                  Lửa lựu lặp lòe chen thềm vắng,

                  Cỏ xanh mờ ảo phủ rèm đầy.

                  Nguyên Hanh dịch lý Bào Hy đó,

                  Khang Phụ tiếng đàn Đế Thuấn đây.

                  Tâm đạo ngàn xưa chừng gọi dậy,

                  Bóng hòe nghiêng nắng tiếng ve đầy !

     Lục bát :

                  Gió nam hây hẩy ngày dài,

                  Bên song đối mặt thư trai thánh hiền.

                  Lặp lòe lửa lựu bên thềm,

                  Cỏ xanh sắc biếc vào rèm khói mây.

                  Nguyên Hanh dịch lý Đào Hy,

                  Tiếng đàn Đế Thuấn thiếu gì Phụ Khang.

                  Ngàn xưa tâm đạo khơi tràn,

                  Bóng hòe nghiêng nắng bàng hoàng tiếng ve !

 

                                                       Đỗ Chiêu Đức

 

2. Bài thơ ẨN GIẢ :

 

      隱者                              ẨN GIẢ

 

往來蹤跡倦紅塵,    Vãng lai tung tích quyện hồng trần,

占斷林泉作主人。    Chiếm đoạn lâm tuyền tác chủ nhân.

景有山川花是客,    Cảnh hữu sơn xuyên hoa thị khách,

門無車馬草常春。    Môn vô xa mã thảo thường xuân.

桐江釣月忘歸漢,    Đồng Giang điếu nguyệt vong quy Hán,

芝嶺耕雲樂去秦。    Chi Lãnh canh vân lạc khứ Tần.

卻羨陶朱興越日,    Khước tiện Đào Chu hưng Việt nhật,

五湖煙水一閒身。    Ngũ hồ yên thủy nhất nhàn thân.

                蔡順                                       Thái Thuận.

 

       

 

* Chú Thích :

    - ẨN GIẢ 隱者 : Người đi ở ẩn.

    - Vãng Lai Tung Tích 往來蹤跡 : là Dấu vết qua lại; có nghĩa là " Tới lui bôn ba bương chải với cuộc sống".

    - Chiếm Đoạn 占斷 : là Chiếm đứt luôn, là Giành hẵn cái gì đó.

    - Đồng Giang điếu nguyệt 桐江釣月 : ĐỒNG GIANG : Tên con sông ở Tứ Xuyên Trung Quốc. Đời Hán, Nghiêm Tử Lãng cùng bạn là Hán Quang Vũ, không chịu làm quan, hàng ngày ngồi câu ở Đồng Giang. Câu để mua vui nên được gọi là “điếu nguyệt” (câu trăng chứ không câu cá).

    - Chi Lãnh canh vân 芝嶺耕雲 : CHI LÃNH là Đĩnh của ngọn núi Chi Sơn, còn được gọi là Thổ Tố Sơn, tên ngọn núi ở Giang Tây. Đời Đường, quan Thứ sử là Tiết Chấn lên núi tìm được cỏ chi, nên đổi là Chi Sơn. Đời Tống, Giang Vạn Lý bị gièm pha, phải mất chức, đến Chi Sơn đào ao, lập vườn, sống ẩn dật. Khi quân Nguyên đánh chiếm Trung quốc, ông nhảy xuống ao tuẫn tiết.

    - Đào Chu 陶朱 : Còn được gọi là Đào Chu Công. Tên hiệu của Phạm Lãi, một công thần của Việt Vương Câu Tiễn, vì sợ bị sát hại, đã tìm đường ẩn cư để tránh nạn. Tương truyền ông đã dắt theo nàng Tây Thi xinh đẹp để ngao du Ngũ Hồ và trở nên giàu có nhờ hành nghề thương buôn. 

 

* Nghĩa Bài Thơ :

        Vất vả bôn ba bương chải với cuộc sống cũng đã mõi mệt giữa chốn hồng trần nầy rồi, nên giành hẵn chốn lâm tuyền nầy để làm chủ mà ở hẵn luôn. Cảnh trí thì có núi có sông mà khách là những khóm hoa rừng. Trước cửa không có dấu xe dấu ngựa nên cỏ thường tươi tốt như mùa xuân. Như Nghiêm Tử Lãng cùng bạn là Hán Quang Vũ, không chịu ra làm quan, hàng ngày ngồi câu trăng ở Đồng Giang mà không về với nhà Hán. Và như Giang Vạn Lý vui vẻ về với Chi Sơn đất Tần mà cày mây cuốc nguyệt. Lại hâm mộ cuộc sống của Đào Chu Công khi nước Việt đã hưng thịnh, ông bèn từ quan mà đi kinh thương ở đất Ngũ Hồ để sống cuộc đời nhàn tản với sông nước cho khỏe tấm thân.

 

* Diễn Nôm :

                       NGƯỜI ĐI Ở ẨN

 

                  

 

                Tất bật hồng trần mõi mệt đành...

                Lui về rừng suối chủ lều tranh.

                Cảnh sông cảnh núi hoa làm khách,

                Không ngựa không xe cỏ mãi xanh.

                Điếu nguyệt Đồng Giang mơ đã thỏa,

                Cày mây Chi Lãnh mộng vui thành.

                Đào Chu quy ẩn khi hưng Việt...

                Sông nước Ngũ Hồ khỏe một thân !

    Lục bát :

                Hồng trần bương chải mõi mê,

                Lâm tuyền làm chủ lui về thong dong.

                Hoa làm khách của núi sông,

                Ngựa xe vắng bóng cỏ trông xanh rờn.

                Đồng Giang điếu nguyệt từ quan,

                Cày mây Chi Lãnh mơ màng bao thu.

                Việt hưng quy ẩn Đào Chu,

                Ngũ Hồ dạo hết nhàn du khắp miền.

                                                          

                                                        Đỗ Chiêu Đức

 

3. Bài thơ VỌNG PHU SƠN :

 

   望夫山                    VỌNG PHU SƠN

 

化石山頭幾夕曛   Hóa thạch sơn đầu kỉ tịch huân, 

傷心無路更逢君。Thương tâm vô lộ cánh phùng quân. 

天崖目斷年年月,Thiên nhai mục đoạn niên niên nguyệt 

江上魂消暮暮雲。Giang thượng hồn tiêu mộ mộ vân. 

青淚一般花露滴,Thanh lệ nhất ban hoa lộ trích, 

離情萬種草煙雰。Ly tình vạn chủng thảo yên phân. 

湘妃若識相思苦,Tương Phi nhược thức tương tư khổ, 

不惜哀絃寄予聞。Bất tích ai huyền ký dữ văn.

                蔡 順                                 Thái Thuận.

CHÚ THÍCH :

     - TỊCH HUÂN : là Nắng quái, ánh nắng thừa của mặt trời khi vừa lặn.

     - THANH LỆ 青淚 : là Giọt lệ xanh; giọt lệ của tượng đá hòa lẫn với rong rêu nên có màu xanh.

     - PHÂN 雰 : là Hơi khí sương mù.

     - TƯƠNG PHI OÁN 湘妃怨 là tên bài thơ của Trịnh Tiều đời Tống, thông qua việc tả Tương Phi để gởi gấm tâm sự ai oán của mình. Một tài liệu khác...

     - TƯƠNG HOÀN trong lúc được Vua sủng ái, lại khuyên Vua chia đều ơn vũ lộ với những cung tần khác, nhưng lại muốn Vua luôn đến để nghe mình đàn bài từ được phổ nhạc của TÀO HUÂN đời Tống là : Vũ tiêu tiêu hề Động Đình, Yên phi phi hề Hoàng Lăng. ( Mưa rả rít kìa Động Đình, khói mơ màng nọ Hoàng Lăng ! ).

     - TƯƠNG PHI OÁN còn là tên của một ca khúc đời NGUYÊN ( NGUYÊN KHÚC ) tả việc oán hận tương tư của một cung nhân thương nhớ Vua như CUNG OÁN NGÂM KHÚC của ta vậy.

 

DỊCH NGHĨA :

                         NÚI VỌNG PHU

       Đã biết bao buổi chiều tà nung nấu đến nỗi phải hóa đá trên đầu núi, Quả đáng thương tâm vì không còn đường nào để gặp lại chàng được nữa ! Năm năm cứ mãi nhìn mút con mắt cái vầng trăng ở phía chân trời, và mỗi chiều chiều hồn mộng cứ vẩn vơ theo những đám mây ở ven sông. Những giọt lệ màu xanh nhễu xuống như những giọt sương rêu, còn tình ly biệt thì tản mạn như hơi khói bốc lên từ cỏ dại. Nàng Tương Phi nếu biết được là tương tư sẽ phải khổ sở như thế nầy, thì chắc cũng không tiếc chi những tiếng tơ ai oán mà không gởi cho nhau nghe !

 

       Đọc bài thơ nầy lại làm cho ta nhớ đến 4 câu thơ trong bài NƯỚC TÔI của Nguyễn Văn Cổn, một thi sĩ thời Tiền chiến :

 

               ... Đá Vọng Phu nhớ thương thổn thức,

                   Tay bồng con non nước vời trông.

                   Xa xa mặt biển mênh mông,

                   Đầu non tượng đá tỏ lòng tiết trinh...

 

                     

DIỄN NÔM :

                   NÚI VỌNG PHU

            Bao chiều hóa đá đứng đầu non,

            Gặp lại người xưa mộng hết còn.

            Mút mắt chân trời trăng đã bạc,

            Tiêu hồn mặt nước dạ chưa tròn.

            Lệ nhòa sắc biếc trông sương khói,

            Tình quyện màu mây ngóng mõi mòn.

            Nếu biết tương tư càng chuốc khổ,

            Tương Phi chẳng tiếc gởi lòng son.

  Lục bát :

            Đầu non hóa đá bao chiều,

            Hết đường gặp lại chồng yêu thuở nào.

            Mõi mòn ngóng ánh trăng cao,

            Trên sông hồn mộng lao đao mây trời.

            Lệ xanh rêu đá sương rơi,

            Muôn tình ly biệt tơi bời cỏ hoa.

            Tương Phi ví biết lòng ta,

            Tiếng tơ há tiếc đàn hòa tri âm.

                                                     Đỗ Chiêu Đức.

                

4. Bài thơ XUÂN DẠ :

 

    春夜                           XUÂN DẠ

重重簾影月斜移,    Trùng trùng liêm ảnh nguyệt tà di,

刺繡無人語夜遲。    Thích tú vô nhân ngữ dạ trì.

枕上夢魂誰喚醒,    Chẩm thượng mộng hồn thùy hoán tỉnh,

杜鵑聲在百葩枝。    Đỗ Quyên thanh tại bách ba chi !

 

          

 

* Chú Thích :

    - Trùng Trùng 重重 : là Lớp lớp, tầng tầng, là Chập chùng.

    - Liêm Ảnh 簾影 : Bóng của rèm cửa.

    - Thích Tú 刺繡 : THÍCH 刺 là Đâm, TÚ 繡 là Thêu. Thích Tú là từ kép chỉ Thêu Thùa.

    - Hoán Tỉnh 喚醒 : HOÁN là Gọi, TỈNH là Vở lẻ ra, là Dậy. Nên HOÁN TỈNH là gọi cho thức dậy.

    - Đỗ Quyên 杜鵑 : là tên chim. Ta còn gọi là con chim Cuốc, con quấc.

 

* Nghĩa Bài Thơ :

                               ĐÊM XUÂN

  

        Cái bóng chập chùng của rèm cửa xuyên qua ánh trăng đã từ từ nghiêng ngã. Không người thêu thùa trong cảnh đêm xuân vắng lặng đang chầm chậm trôi. Trên gối chợt tỉnh mộng hồn như có ai đó gọi dậy. Thì ra tiếng chim Đỗ quyên đang trên đầu cành hót giữa trăm hoa.

        Nhớ người cùng ngồi trò chuyện thêu thùa trong đêm xuân vắng lặng, nếu không phải là bà nội tướng thì là một hồng nhan tri kỷ nào đó... đến nổi ngủ quên đến khi nghe tiếng chim cuốc kêu trên cành hoa mới biết rằng trời đã sáng tỏ !

 

* Diễn Nôm :

                        ĐÊM XUÂN

               Chập chùng rèm lọt ánh trăng nghiêng,

               Không kẻ thêu thùa đêm lặng yên.

               Bên gối mộng hồn choàng tỉnh giấc,

               Đầu cành hoa rộn tiếng chim quyên.

    Lục bát :

               Ánh trăng lớp lớp nghiêng rèm,

               Thêu thùa vắng bóng ai đêm xuân dài.

               Bàng hoàng chợt tỉnh hồn mai,

               Đỗ quyên rộn rã bên ngoài cành hoa.

                                                                     

                                                                 Đỗ Chiêu Đức

 

5. Bài thơ GIANG THÔN TỨC SỰ :

 

 江村即事                   Giang thôn tức sự    

 

暖潮半落曉風微,        Noãn triều bán lạc hiểu phong vi ,

個個沙鷗向背飛。        Cá cá sa âu hướng bối phi. 

江上天歸何處所 ?        Giang thượng thiên qui hà xứ sở  ?

寒煙冷雨一縗衣。        Hàn yên lãnh vũ nhất thôi Y.

          蔡順                               Thái Thuận.

      

        
             

* Chú Thích :

    - Noãn Triều 暖潮 : Nước thủy triều ấm áp; dòng noãn lưu.

    - Hiểu Phong 曉風 : gió sớm mai thổi khi trời rựng sáng. 

    - THÔI Y 縗衣 : là áo Sô gai, một loại áo tang, ở đây chỉ áo Lá mặc để che mưa che nắng và.... chống lạnh !

       

* Nghĩa Bài Thơ :

         Dòng thủy triều ấm áp đã xuống hơn phân nửa (chỉ nước ròng) và gió sớm đã hây hẩy chung quanh, từng con từng con chim hải âu bay về hướng sau lưng. Nhìn bầu trời in trên sông nước mà tự hỏi là trời sẽ trôi về đâu đây ? Trong cảnh khói sóng và mưa rơi lạnh lẽo nầy chỉ còn có một chiếc áo tơi đơn độc !

     

 Diễn Nôm :

            Chép việc nơi xóm bên sông.

          (Người dịch: Thi sĩ Quách Tấn)

 

          Gió thổi trào lui nửa cát bày, 

          Đoàn âu chiếc chiếc nối lưng bay.

          Trên sông trời hướng về đâu tá ? 

          Một mảnh tơi che lạnh tháng ngày !

                                      Quách Tấn.

             

 

          Gió sớm hây hây tiễn nước ròng,

          Hải âu lớp lớp vút sau lưng.

          Mênh mông trời nước về đâu nhỉ ?

          Mưa khói lạnh lùng một lão ông !

 Lục bát :

          Nước ròng gió sớm hây hây,

          Hải âu lũ lượt cùng bay ngang đầu.

          Sông trôi trời sẽ về đâu ?

          Áo tơi sương khói mưa sầu một ông.

                                       

                                                Đỗ Chiêu Đức

 

6. Bài thơ Đông Triều Tảo Phát :

 

 東潮早發       ĐÔNG TRIỀU TẢO PHÁT

 

晨雞猶未报,    Thần kê do vị báo, 

客棹起江心。    Khách trạo khởi giang tâm. 

月淡山斜翠,    Nguyệt đạm sơn tà thúy, 

潮鹹水躍金。    Triều hàm thuỷ diệu câm(kim). 

沙鷗風冷冷,    Sa âu phong lãnh lãnh, 

漁浦樹陰陰。    Ngư phố thọ âm âm. 

誰詠滄浪曲,    Thùy vịnh Thương Lang khúc ?

前村驚睡禽。    Tiền thôn kinh thụy cầm.

       蔡順                     Thái Thuận

 

         

 

* CHÚ THÍCH :

   - TẢO PHÁT 早發 : là Khởi hành xuất phát sớm.

   - THẦN KÊ 晨雞 : là Gà buổi sáng.

   - TRIỀU HÀM THỦY DIỆU KIM 潮鹹水躍金 : Nước mặn nên gợn sóng lăn tăn lắp lánh như những gợn vàng.

   - NGƯ PHỐ 漁浦 : là Bến cá. Ở đây chỉ bến câu của các thuyền câu thường đậu.

   - THƯƠNG LANG KHÚC 滄浪曲 : là Khúc hát Thương Lang, tên của một khúc hát của các Ngư phủ trong sách Khuất Nguyên nước Sở xưa.

   - KINH 驚 : là Sợ. Ở đây có nghĩa là Giật mình.

 

* DỊCH NGHĨA :

                   Khởi hành sáng sớm ở Đông Triều

        Tiếng gà buổi sáng còn chưa kịp gáy thì mái chèo của khách đã quẩy động lòng sông rồi. Ánh trăng nhàn nhạt chiếu lên triền núi nghiêng nghiêng xanh biếc và làm dậy lên những đợt sóng do nước mặn lắp lánh tựa những gợn vàng lăn tăn. Gió sớm thổi lành lạnh trên bãi cát của chim hải âu và trên bến của các ngư ông hàng cây còn âm u im lìm đứng lặng. Văng vẳng xa đưa tiếng của ai đang hát khúc Thương Lang làm cho các con chim đang ngủ ở xóm trên giật mình thức giấc.

 

* DIỄN NÔM :

                  

 

                    Gà còn chưa gáy sáng,

                    Chèo khách đã khua vang.

                    Trăng mờ non xa biếc,

                    Nước xanh sóng gợn vàng.

                    Gió lạnh bờ cát vắng,

                    Cây mờ bến cá ngang.

                    Ai hát Thương Lang khúc,

                    Giật mình chim đầu làng.

  Lục bát :

                    Tiếng gà sáng chửa gáy vang,

                    Mái chèo khách đã sẵn sàng bến sông.

                    Núi xanh trăng chiếu mênh mông,

                    Nước xanh gợn sóng lăn tăn ánh vàng.

                    Lạnh lùng gió sớm thổi sang,

                    Âm u cây bến mơ màng ngư ông.

                    Thương Lang ai hát giữa dòng,

                    Giật mình chim bến bên sông thôn ngoài.

                                                   

                                                 Đỗ Chiêu Đức

 

7. Bài thơ XUÂN HIỂU

 

  春曉                 XUÂN HIỂU

忽聞何處鳥,   Hốt văn hà xứ điểu, 

客枕夢回新。   Khách chẩm mộng hồi tân. 

窗外雲如幕,   Song ngoại vân như mạc, 

空中雨似塵。   Không trung vũ tự trần. 

花容猶隱露,   Hoa dung do ẩn lộ, 

草色欲圍人。   Thảo sắc dục vi nhân. 

遊子吟風月,   Du tử ngâm phong nguyệt, 

誰能報得春。   Thùy năng báo đắc xuân.

      蔡順                    Thái Thuận

 

      
     

* Chú Thích :

    - Xuân Hiểu 春曉 : HIỂU là trời rựng sáng; nên XUÂN HIỂU là SÁNG XUÂN.

    - Khách Chẩm 客枕 : CHẨM là Cái Gối để gối đầu khi ngủ. Nên KHÁCH CHẨM là Ngủ nơi đất khách.

    - Vân Như Mạc 雲如幕 : Mây phủ như màn che.

    - Vũ Tự Trần 雨似塵 : Mưa như bụi.

    - Do Ẩn Lộ 猶隱露 : Còn ẩn chứa sương sớm.

    - Dục Vi Nhân 欲圍人 : Như vây quanh lấy người.

    - Hai câu chót lấy ý trong bài Du Tử Ngâm của Mạnh Giao đời Đường là :

 

                    Thùy ngôn thốn thảo tâm,   誰言寸草心,

                    Báo đắc tam xuân huy ?     報得三春暉。

      Có nghĩa :

                       Ai bảo nỗi lòng tấc cỏ,

                       Báo đền được nắng ba xuân ?

 

* Nghĩa Bài Thơ :

                            Buổi Sáng Mùa Xuân

      Chợt nghe tiếng chim hót xa xa như ở tận nơi nào, bên gối khách vừa tỉnh dậy sau một giấc mộng dài. Ngoài song mây giăng giăng như màn che, trên bầu trời mưa lưa thưa lất phất như bụi. Những đóa hoa nở như còn đọng lại những hạt sương đêm và màu cỏ xanh mơn mởn như vây lấy con người. Người du tử ngâm câu hoa nguyệt, nhưng nào ai đã báo đáp được nàng xuân đâu !

 

* Diễn Nôm :

 

                SÁNG XUÂN

 

           

 

           Chim nơi đâu chợt hót,

           Khách bỗng tỉnh mộng dài.

           Ngoài song mây mờ phủ,

           Bên trời mưa bụi bay.

           Hoa nở sương còn đọng,

           Cỏ xanh biếc quanh ai,

           Du tử ngâm thơ thẩn,

           Ai báo được xuân nay ?

 

  Lục bát :

           Chợt nghe chim hót đâu đây,

           Khách choàng tỉnh mộng mới say giấc nồng.

           Mây che rèm phủ ngoài song,

           Phất phơ mưa bụi trên không mơ hồ.

           Lá hoa còn ngậm sương mơ,

           Biếc xanh đồng cỏ ơ hờ quanh ta.

           Ngâm câu tuyết nguyệt phong hoa,

           Nào ai báo được xuân qua bao lần ?!

                                                

                                            Đỗ Chiêu Đức

     

8. Bài thơ THU DẠ :

 

        秋夜                           THU DẠ

    碧天如水露花零,    Bích thiên như thủy lộ hoa linh,

    桐葉無聲落滿庭。    Đồng diệp vô thanh lạc mãn đình.

    望斷鵲橋人獨坐,    Vọng đoạn thước kiều nhân độc tọa,

    一般詩思到繁星。    Nhất ban thi tứ đáo phồn tinh.

                  蔡順                                      Thái Thuận

 

         

 

* Chú Thích :

    - Bích Thiên 碧天 : Chỉ màu trời xanh biếc.

    - Lộ Hoa Linh 露花零 : Những hạt sương rơi làm cho hoa héo úa.

    - Đồng Diệp 桐葉 : là Lá của cây ngô đồng.

    - Vọng Đoạn 望斷 : Nhìn đến mút con mắt.

    - Thước Kiều 鵲橋 : Cầu ô thước.

    - Phồn Tinh 繁星 : là Ngàn sao, chỉ trời đầy cả sao.

 

* Nghĩa Bài Thơ :

                                ĐÊM THU

        Đêm thu màu trời xanh biếc như nước và rây đầy khắp cả những hạt sương đêm làm héo lạnh trăm hoa. Trong sân nhà phủ đầy cả lá ngô đồng âm thầm rơi rụng. Ta ngồi một mình nhìn mút mắt chiếc cầu ô thước xa xăm mà tất cả tứ thi và hồn thơ như bay bổng cả lên chốn ngàn sao của dãy Ngân Hà trên kia. 

         

        Bài thơ nầy làm cho ta nhớ đến hai câu thơ chót trong bài THU TỪ của Lưu Vũ Tích 劉禹錫 đời Đường là :

                  晴空一鶴排雲上,    Tình không nhất hạc bài vân thượng,

                  便引詩情到碧霄.     Tiện dẫn thi tình đáo bích tiêu.

   Có nghĩa :

                       Vút trời một hạc mây xanh ngắt,

                       Bay bổng tình thơ đến bích tiêu !

* Diễn Nôm :

                      ĐÊM THU

              Trời trong như nước sương hoa héo,

              Lá rụng ngô đồng ngập kín sân.

              Mút mắt ngắm nhìn cầu ô thước,

              Hồn thơ bay bổng tận sông Ngân !

    Lục bát :

              Trời thu sương héo trăm hoa,

              Ngô đồng lá rụng là đà đầy sân.

              Một mình ngồi ngắm sông Ngân,

              Hồn thơ bay bổng chín tầng cầu Ô !

 

                                                                                    杜紹德                                   

                                                                                Đỗ Chiêu Đức

                                                NGÔ CHI LAN

                                         

                                                TỨ THỜI THI

 

          Ngô Chi Lan 吳芝蘭 (1434-?) còn có tên là Nguyễn Hạ Huệ, tự là Quỳnh Hương, tên tục là Ngô Thị Hĩm; là một nữ sĩ dưới triều vua Lê Thánh Tông trong lịch sử Việt Nam. Theo Toàn Việt thi lục là người làng Phù Lỗ (nay thuộc huyện Kim Anh, Phúc Yên), vợ ông Phù Thúc Hoành (người làng Phù Xá cũng thuộc huyện ấy, làm quan đến Đông Các Đại Học Sĩ). Bà thiên tư thông minh, có tài văn chương, được vua Lê Thánh Tông phong làm Phù Gia Nữ Học Sĩ, ban hiệu là Kim Hoa Nữ Học Sĩ, dạy các cung nữ học. Mỗi khi yến tiệc, vua thường sai làm thơ, chỉ thoắt chốc là bà làm xong ngay, không cần phải sửa chửa gì cả. Năm ngoài 40 tuổi bà mất, táng ở cánh bãi Tây Nguyên. Để tỏ lòng tiếc thương và ngưỡng mộ bà, nhân dân Phù Lỗ đã dựng đền thờ với tên đề “Kim Hoa Nữ Học Sĩ”. Ngôi đền đó hiện nay được đặt ngay trên nền nhà ở ngày xưa của gia đình bà.

 

         Ngô Chi Lan chỉ có một tập thơ duy nhất là Mai Trang Tập 梅莊集 (Tập thơ Vườn Mai). Dưới đây là những bài TỨ THỜI THI rất đặc biệt và độc đáo của bà. 

 

         * ĐẶC BIỆT vì 4 bài đều là Thất Ngôn Bát Cú, nhưng lại không phải là thơ Đường Luật.

         * ĐỘC ĐÁO vì 4 bài đều chia làm hai VẬN : 4 câu đầu gieo vần TRẮC, 4 câu sau gieo vần BẰNG.

 

         Đỗ Chiêu Đức đã tôn trọng theo ý của nữ sĩ, nên trừ bài diễn Nôm bằng Lục bát ra; Tất cả đều được Diễn Nôm 4 câu đầu gieo vần TRẮC; và 4 câu sau gieo vần BẰNG.

 

         Kính mời qúy Thầy Cô và Thân Hữu tùy nghi mà thưởng thức và Diễn Nôm cho vui !

 

                                                                                             Nay kính,

                                                                                              杜紹德 

                                                                                         Đỗ Chiêu Đức

                   ....................................................................................

 

1. Tứ Thời Thi : XUÂN TỪ.

 

    春詞                             XUÂN TỪ

 

初晴薰人天似醉,    Sơ tình huân nhân thiên tự túy,

艷陽樓臺浮暖氣。    Diễm dương lâu đài phù noãn khí.

隔簾柳絮度鶯梭,    Cách liêm liễu nhứ độ oanh thoa,

繞檻花鬚穿蝶翅。    Nhiễu hạm hoa tu xuyên điệp xí.

階前紅線日添長,    Giai tiền hồng tuyến nhựt thiêm trường.

粉汗微微沁綠裳。    Phấn hạn vi vi tẩm lục thường.

小子不知春思苦,    Tiểu tử bất tri xuân tứ khổ,

傾身含笑過牙牀。    Khuynh thân hàm tiếu quá nha sàng.

 

        

 

* Chú Thích :

   - Sơ Tình 初晴 : là nắng mới, chỉ nắng của mùa xuân sau ba tháng mùa đông lạnh lẽo.

   - Huân Nhân 薰人 : là Hanh người, là Làm cho con người cảm thấy ấm áp.

   - Diễm Dương 艷陽 : là Ánh nắng đẹp, trời nắng rất đẹp đẽ.

   - Oanh Thoa 鶯梭 : Các con chim oanh len lỏi trong cành liễu như con thoi.

   - Nhiễu Hạm 繞檻 : là Lòng vòng ở dưới mái hiên.

   - Giai Tiền 階前 : là Trước thềm.

   - Phấn Hạn 粉汗...câu 6 : Mồ hôi rịn ra phấn dồi thấm nhè nhẹ vào tà áo xanh.

  

* Nghĩa Bài Thơ :

                                     Thơ  Mùa Xuân

        

      - Nắng mới ấm áp hanh người làm cho trời cũng tựa như đang say,

      - Lâu đài chìm trong nắng đẹp cũng chan hòa vẽ ấm áp.

      - Trên cành tơ liễu cách rèm bên ngoài chim oanh len lỏi trong các cành liễu tựa con thoi.

      - Bay vòng dưới mái hiên con bướm bị các tua hoa xuyên qua cánh.

      - Những vệt nắng như những sợi chỉ hồng trước thềm làm cho ngày như dài thêm ra.

      - Mồ hôi rịn ra phấn dồi thấm nhè nhẹ vào tà áo xanh.

      - Chàng tuổi trẻ kia không biết được sự nhớ nhung trong mùa xuân là khổ tâm như thế nào (mùa xuân là mùa đoàn tụ mà phải xa nhau nhớ nhau), nên mới...

      - Nghiêng mình cười mĩm mà đi qua giường ngà (như chẳng có việc gì xảy ra !).

 

         Nằm trên giường ngà để nhớ người tình xa trong mùa xuân ấm áp tràn đầy nhựa sống thì còn gì khổ tâm và ray rức hơn nữa.  Tâm sự và nỗi lòng nầy làm cho ta nhớ đến nàng thiếu phụ có chồng là quan to, nên mỗi buổi sáng mùa xuân, lúc đôi lứa đang mặn nồng và ấp yêu nhất, thì lại  phải dậy sớm để đi chầu vua, bỏ mặc gối chăn thơm phức và nàng vợ trẻ. Bài thơ "Vị Hữu" của Lý Thương Ẩn như sau :

 

               Vị hữu vân bình vô hạn kiều,             爲有雲屏無限嬌,

               Phụng thành hàn tận phạ xuân tiêu.   鳳城寒盡怕春宵.

               Vô đoan giá đắc kim qui tế,               無端嫁得金亀婿,

               Cô phụ hương khâm sự tảo triều .      辜負香衾事早朝 .

 

Có nghĩa :

                   Vì có bình phong đẹp lắm mầu

                   Kinh thành hết  lạnh, sợ canh thâu

                   Khéo xui lấy được ngài quan lớn

                   Phụ bạc gối chăn, sớm phải chầu  !

   Lục Bát :

                   Bình phong đẹp đẽ yêu kiều

                   Phụng thành đông hết, xuân tiêu đêm dài

                   Vô duyên lấy phải quan ngài

                   Gối chăn bỏ hết mặc ai,… đi chầu !

 

                   

 

* Diễn Nôm :

                               THƠ XUÂN

 

                  Nắng mới hanh người trời túy lúy,

                  Lâu đài nắng đẹp ấm xuân khí.

                  Ngoài rèm tơ liễu rộn oanh ca,

                  Bướm lượn vờn hoa tua rách xí.

                  Vệt nắng trước thềm ngày chẳng nhanh,

                  Mồ hôi hòa phấn thấm bào xanh.

                  Trẻ con nào biết xuân nhung nhớ,

                  Cười mĩm nghiêng mình lại dạo quanh !

    Lục bát :

                  Hanh người nắng mới trời say,

               Nắng lên ấm đẹp lâu đài thêm xuân.

                  Ngoài rèm oanh hót liễu xanh,

             Xuyên hoa cánh bướm lượn quanh hiên nhà.

                  Trước thềm vệt nắng dài ra,

              Mồ hôi rịn phấn thấm tà áo xanh.

                  Trẻ trung nào biết xuân tình,

           Thản nhiên cười mĩm nghiêng mình lướt qua !

                                                    

 

2. Tứ Thời Thi : HẠ TỪ.

 

      夏詞                               HẠ TỪ 

 

風吹柳花紅片片,    Phong xuy liễu hoa hồng phiến phiến,

佳人閒打鞦韆院。    Giai nhân nhàn đả thu thiên viện.

傷春背立一黄鶯,    Thương xuân bối lập nhất hoàng oanh,

惜景哀啼雙紫燕。    Tích cảnh ai đề song tử yến.

停針無語翠眉低,    Đình châm vô ngữ thúy mi đê,

倦倚紗窗夢欲迷。    Quyện ỷ sa song mộng dục mê.

却怪捲簾人喚起,    Khước quái quyển liêm nhân hoán khởi,

香魂終不到遼西。    Hương hồn chung bất đáo Liêu Tê (Tây).

  

     
        

* Chú Thích :

    - Thu Thiên 鞦韆 : là Cái Đu; nên ĐẢ THU THIÊN 打鞦韆 là Đánh Đu. 

    - Thương Xuân 傷春 : là Đau xót vì mùa xuân đã đi qua.

    - Bối Lập 背立 : là Đứng xây lưng lại.

    - Tích Cảnh 惜景 : là Tiếc cảnh xuân đà hết.

    - Ai Đề 哀啼 : là Tiếng chim hót bi ai, buồn thảm. Nếu từ nầy dùng cho người thì có nghĩa là "Khóc lóc một cách thảm thiết".  

    - Quyện Ỷ 倦倚 : Mõi mệt mà vựa vào... SA SONG 紗窗 : là Cửa sổ có màn che.  

    - Khước Quái 却怪 : Lại trách rằng...QUÁI là Động từ có nghĩa : Trách móc. 

    - Hương hồn 香魂 : là cái Hồn thơm, chỉ Hồn của phái nữ. Của phái nữ thì CÁI GÌ cũng thơm cả, kể cả hồn phách. (Mời đọc bài Tạp ghi và Phiếm luận : "HƯƠNG trong Truyện Kiều" sẽ rõ.) 

    - Liêu Tây 遼西 : Tên một quận xưa nằm ở phía tây của Liêu Hà thuộc tỉnh Liêu Ninh hiện nay, nhưng lại là vùng biên tái ngày xưa. 

 

* Nghĩa Bài Thơ :

                                         THƠ  MÙA HÈ

       Gió thổi hoa liễu từng mảnh từng mảnh đo đỏ bay bay. Người đẹp rảnh rỗi nên chơi đánh đu ở trong sân nhà. Vì thương xót cho mùa xuân đã đi qua nên một con oanh còn kêu trên cành liễu và hai con én tía còn tiếc cảnh xuân mà cất tiếng líu lo buồn bã. Nàng ngừng mũi kim thêu đôi mày biếc cúi thấp xuống, mõi mệt vựa vào màn nhiễu của song cửa chập chờn trong giấc mộng. Chỉ trách ai đó đã đến cuốn rèm làm cho nàng giật mình tỉnh giấc, nên mộng hồn rốt cuộc vẫn không thể đến được xứ Liêu Tây nữa rồi.

 

       Đọc bài thơ nầy làm cho ta nhớ đến bài kệ của Thiền sư Thích Trung Nhân đời Tống 宋.释中仁 là :

 

                 二八佳人刺繡遲,   Nhi bát giai nhân thích tú trì,

                 紫荊花下囀黃鸝。   Tử kinh hoa hạ chuyển hoàng li.

                 可憐無限傷春意,   Khả lân vô hạn thương xuân ý,

                 盡在停針不語時。   Tận tại đình châm bất ngữ thì !

Có nghĩa :

                Thêu thùa lơ đễnh giai nhân,

                Dưới cành hoa tím chim oanh hót chào.

                Thương thay xuân sắc dạt dào,

                Ngừng kim lặng lẽ biết bao ý tình !

 

       Hai câu chót của bài thơ lại làm cho ta nhớ đến bài "Y Châu Ca 伊州歌" của Kim Xương Tự 金昌绪(Có bản cho là Xuân Oán 春怨 của Cáp Gia Vận 亦作蓋嘉運)đời Đường :

 

                打起黃鶯兒,   Đả khởi hoàng oanh nhi,

                莫教枝上啼。   Mạc giao chi thượng đề.

                啼時驚妾夢,   Đề thời kinh thiếp mộng,

                不得到遼西。   Bất đắc đáo Liêu Tê (Tây).           

 Có nghĩa :

                Đuổi đi con chim hoàng oanh,

                Đừng để trên cành cất tiếng hót vang.

                Giật mình thiếp tỉnh mộng vàng,

                Liêu Tây khó đến thăm chàng đêm nay !

 

               

 

      Ngồi ở cảnh mùa hè, mà lại cứ nhớ tiếc cảnh mùa xuân. Bài thơ có tựa là HẠ TỪ (Thơ mùa Hạ) nhưng đúng ra là một bài thơ THƯƠNG XUÂN (Thương cảm cho mùa Xuân) thì đúng hơn.

 

*Diễn Nôm :

                                    HẠ TỪ

    

                   Lấm chấm liễu hồng bay phất phới,

                   Người đẹp đánh đu lòng phơi phới.

                   Thương cảm oanh vàng một tiếng kêu,

                   Đôi chim én liệng buồn hè tới.

                   Dừng kim nín lặng nhíu mày xanh,

                   Tựa màn song cửa mộng hồn quanh.

                   Trách kẻ kéo rèm làm tỉnh giấc,

                   Liêu Tây chẳng thể đến cùng anh.

    Lục bát :

                   Liễu hồng bay rụng phất phơ,

                Đánh đu người đẹp vẩn vơ vườn nhà. 

                   Thương xuân một chú oanh già,

                 Một đôi chim én la đà tiếc xuân.

                   Dừng kim nín lặng tần ngần,

               Tựa song hồn mông lâng lâng cỏi nào.

                   Trách ai kéo tỉnh giấc đào,

              Liêu Tây rốt cũng không sao gặp chàng !   

                                            

            

3. Tứ Thời Thi : THU TỪ.

            

    秋詞                               THU TỪ

 

清商浮空澄霽景,   Thanh thương phù không trừng tể cảnh,

霜信遙將孤雁影。   Sương tín diêu tương cô nhạn ảnh.

十丈蓮殘玉井香,   Thập trượng liên tàn ngọc tỉnh hương,

三更楓落吳江冷。   Tam canh phong lạc Ngô giang lãnh.

飛螢夜度碧闌干,   Phi huỳnh dạ độ bích lan can,

衣薄難禁剪剪寒。   Y bạc nan câm tiễn tiễn hàn.

聲斷洞簫凝立久,   Thanh đoạn động tiêu ngưng lập cữu,

瑤臺何處覓驂鸞 ?   Dao đài hà xứ mịch tham loan ?

 

         

* Chú Thích :

    - Thanh Thương 清商 : THANH là Trong, THƯƠNG là Một trong Ngũ Âm : Cung, Thương, Giốc, Trủy, vũ. THƯƠNG có giọng thê lương bi thiết, nên gọi là Thanh Thương. Ở trong bài mượn để chỉ tiếng gió thu hiu hắt. 

    - Trừng Tể 澄霽 : TRỪNG là trong vắt. TỂ là Trời vừa tạnh mưa. Nên TRỪNG TỄ là Trời quang mây tạnh.

    - Sương Tín 霜信 : là Tin Sương. Mỗi năm cứ gần đến tiết Sương giáng thì có chim nhạn bay đến trước để báo tin, nên thấy nhạn bay đến là biết sắp có sương rơi. Lâu dần, Tin Sương chỉ còn có nghĩa chỉ "Tin Tức" mà thôi. Như trong Truyện Kiều tả cô Kiều nhớ nhà lúc ở lầu Ngưng Bích :"Tin Sương luống những rày trông mai chờ".

    - Cô Nhạn 孤雁 : là Con nhạn cô độc.

    - Ngọc Tỉnh 玉井 : là Giếng Ngọc. Theo truyền thuyết, trên núi Thái Hoa có giếng ngọc, trong giếng có bạch liên ngàn cánh. Người nào ăn được hoa sen trắng ngàn cánh nầy có thể lên tiên. Trong bài thơ CỔ Ý của Hàn Dũ đời Đường có câu :"Thái Hoa phong đầu ngọc tỉnh liên, Hoa khai thập trượng ngẫu như thuyền 太华峰头玉井莲,花开十丈藕如船", vì thế NGỌC TỈNH còn gọi là BẠCH LIÊN TRÌ 白莲池 là "Giếng hoa sen trắng".

    - Phi Huỳnh 飛螢 : là Những con đom đóm lặp lòe đêm thu.

    - Nan Câm 難禁 : Khó mà cấm, Khó tránh khỏi, Không ngăn được...

    - Tiễn Tiễn Hàn 剪剪寒 : Từng trận từng trận gió lạnh.

    - Ngưng Lập 凝立 : là Ngưng đọng lại. Đứng một chỗ.

    - Dao Đài 瑤臺 : là Lầu cao được dát ngọc, thường dùng để chỉ chỗ tiên ở.

    - Tham Loan 驂鸞 : THAM là Xe ba ngựa kéo. LOAN là Chim Loan. THAM LOAN có nghĩa Cởi Chim Loan lên tiên dạo chơi.

 

* Nghĩa Bài Thơ :

                            THƠ MÙA THU

        Tiếng gió thu se sắt như cung thương rít trong cảnh từng không trong vắt khi trời quang mây tạnh. Nhìn bóng nhạn cô đơn mà mong ngóng tin sương. Hoa sen trắng đã tàn nhưng củ sen mười trượng trong giếng ngọc vẫn tỏa hương. Canh điểm ba nửa đêm lá cây phong rụng xuống làm cho nước sông Ngô chợt lạnh thêm. Những con đom đóm ban đêm bay vào lan can bằng đá xanh biếc. Áo mỏng nên không ngăn nổi từng trận từng trận gió lạnh. Tiếng tiêu ngọc đà chấm dứt hèn lâu mà người vẫn còn tần ngần đứng đó. Biết chim tham loan ở đâu mà tìm để cởi về Dao Đài cho đây ?

                   

                    

* Diễn Nôm :

                        THU TỪ

               Gió thu se sắt tầng xanh ngắt,

               Cánh nhạn tin sương trời trong vắt.

               Mười trượng sen tàn giếng tỏa hương,

               Ba canh phong rụng sông lạnh ngắt.

               Đêm về đom đóm lượn lan can,

               Gió thổi áo the rét ngập tràn.

               Lặng ngắt tiêu thiều thanh đứt đoạn,

               Dao đài tìm chốn cởi tham loan.

   Lục bát :

               Gío thu hiu hắt trời quang,

               Tin sương cô nhạn vút ngang lưng trời.

               Sen tàn hương tỏa nơi nơi,

               Ngô giang phong rụng nước trôi lạnh lùng.

               Lan can đóm lượn đêm nhung,

               Áo the từng trận lạnh cùng gió thu.

               Tiêu thiều lặng ngắt từ lâu,

               Dao Đài muốn đến phải cầu tham loan.

                                       

 

4. Tứ Thời Thi : ĐÔNG TỪ.

 

    冬詞                             ĐÔNG TỪ

 

寶爐撥火銀瓶小,    Bảo lô bát hỏa ngân bình tiểu,

一杯羅浮破清曉。    Nhất bôi La Phù phá thanh hiểu.

雪將冷意透疎簾,    Tuyết tương lãnh ý thấu sơ liêm,

風遞輕冰落寒沼。    Phong đệ khinh băng lạc hàn chiểu.

美人金帳掩流蘇,    Mỹ nhân kim trướng yễm lưu tô,

紙護雲窗片片糊。    Chỉ hộ vân song phiến phiến hồ.

暗裏挽回春世界,    Ám lý vãn hồi xuân thế giới,

一株芳信小山孤.      Nhất chu phương tín tiểu sơn cô.

 

        

 

* Chú Thích :

    - Bảo Lô Bát Hỏa 寶爐撥火 : là Bươi lửa (than) trong cáo lò nhỏ (qúy).

    - Nhất Bôi La Phù 一杯羅浮 : Một ly rượu La Phù.

    - Thanh Hiểu 清曉 : Buổi sáng trong lành.

    - Sơ Liêm 疎簾 : là Bức rèm thưa.

    - Hàn Chiểu 寒沼 : Đầm (ao) nước lạnh.

    - Kim Trướng 金帳 : là Cái mùng bằng chỉ kim tuyến.

    - Lưu Tô 流蘇 : Cái viền mùng có tua đẹp.

    - Ám lý 暗裏 : Trong âm thầm. Trong lặng lẽ.

    - Nhất Chu Phương Tín 一株芳信 : là do câu thơ của Tô Đông Pha đời Tống :" Niên niên phương tín phụ hồng mai 年年芳信负红梅". Có nghĩa : Mỗi năm cái cây mang lại tin thơm là đều vựa vào hồng mai cả. Ý chỉ mỗi năm báo tin thơm ( tin của mùa xuân sắp đến) đều là nhờ vào hồng mai cả ! Còn dân miền Nam Việt Nam ta thì chỉ biết có mai vàng báo tin xuân mà thôi, cũng như dân Miền Bắc, hễ cứ "Mỗi năm hoa đào nở" là biết xuân về Tết đến ngay !

 

* Nghĩa Bài Thơ :

                                Thơ Mùa Đông

        Khều lửa trong cái lò qúy để cho cái bình bằng bạc nho nhỏ ở trên, hâm lên một chung rượu La Phù để phá tan cái lạnh của một buổi sớm mai trong lành. Tuyết đem cái ý lạnh thấm qua bức màn thưa bên song của và gió lạnh đã đưa những làn băng mỏng rơi trên mặt ao lạnh. Cái màn bằng kim tuyến của người đẹp có tua viền đẹp đẽ phủ quanh. Trong khi bên cửa sổ chỉ che đậy bằng những mảnh giấy ván bằng hồ. Trong âm thầm cái thế giới của mùa xuân đang được vãn hồi, khi tin thơm của cây hồng mai đang trổ bông trên ngọn núi cô đơn nho nhỏ.

 

        
  

* Diễn Nôm :

                          ĐÔNG TỪ

 

               Bình bạc than hồng bên lò nhỏ,

               La Phù một chén trời sáng tỏ.

               Tuyết đem hơi lạnh thấm rèm thưa,

               Gió bấc đưa băng ao đóng bó.

               Người đẹp màn vàng phủ nhiễu tô,

               Bên song cản gió giấy thoa hồ.

               Âm thầm thế giới xuân hồi phục,

               Một cội mai hồng nở núi cô.

   Lục bát :

               Lò hồng bình bạc lửa reo,

            La phù một chén sáng theo nhau về.

               Tuyết rơi lạnh thấm màn the,

            Gió đưa băng mỏng phủ che mặt hồ.

               Trướng vàng người đẹp nhiễu tô,

             Giấy hoa chắn gió song hồ căm căm.

               Hồi xuân thế giới âm thầm,

            Một cành mai đỏ trổ bông báo điềm !

 

       Trên đây là TỨ THỜI THI đủ bốn mùa XUÂN HẠ THU ĐÔNG của nữ sĩ Ngô Chi Lan, một nữ tài danh thi nhân Việt nam dưới thời Hậu Lê, Trịnh Nguyễn.

       Xin được giới thiệu cùng tất cả các Thầy Cô, Các Thân Hữu trong Vườn Thơ Thẩn cùng tất cả các em học sinh thần mến; nếu có cảm hứng , xin cùng dịch cho vui !

 

                                                                                        Nay kính,

                                                                                     Đỗ Chiêu Đức

                                                                                          杜紹德

                                                                                       04-30-2020 

THƠ PHAN THANH GIẢN

                                                             Biên khảo Đỗ Chiêu Đức

 PHAN THANH GIẢN 潘清僩 (1796-1867) là danh sĩ, đại thần triều Nguyễn, tự Tĩnh Bá, Đạm Như, hiệu là Lương Khê 梁溪 và Ước Phu, biệt hiệu Mai Xuyên. Quê làng Bảo Thạnh, huyện Bảo An, tỉnh Vĩnh Long, nay là xã Bảo Thạnh, huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre. Phan Thanh Giản đậu cử nhân năm 1825, năm 1826 đậu tiến sĩ, ông là  vị Tiên Sĩ đầu tiên của đất Nam Kỳ. Năm 1862, ông cùng với Lâm Duy Hiệp đại diện cho triều đình Tự Đức ký Hoà ước năm Nhâm Tuất (05-06-1862) giao 3 tỉnh miền Đông Nam Kỳ cho Pháp. Năm 1863, ông được cử làm Chánh sứ (Phó sứ là Phạm Phú Thứ và Nguỵ Khắc Đản) sang Pháp thương nghị chuộc 3 tỉnh miền Đông Nam Kỳ. Năm 1867, quân Pháp đánh chiếm ba tỉnh miền Tây Nam Kỳ trong lúc ông đang nhậm chức Kinh Lược Sứ. Thấy tình thế không chống cự nổi, ông nộp thành Vĩnh Long cho Pháp, rồi nhịn ăn 17 ngày, kế đó uống thuốc độc tự tử vào ngày 4-8-1867, thọ 71 tuổi.
     Phan Thanh Giản sáng tác khá nhiều. Hầu hết các sáng tác của ông được tập hợp lại trong hai bộ sách Lương Khê Thi Thảo (in 1876) có 103 bài. Xin được giới thiệu một số bài dưới đây.

1. Bài thơ CỔ MAI LÂM CƯ 古梅林居 :


       Đây là một trong 20 bài vịnh cảnh Mai Lâm, nơi cha ông Phan Thanh Giản lớn lên và quay về sống phần đời còn lại.

      古梅林居                 CỔ MAI LÂM CƯ

 寒香依約合成墟,     Hàn hương y ước hợp thành khư,
   沙磧依然太古餘.     Sa tích y nhiên thái cổ dư.
   定識春花秋葉外,     Định thức xuân hoa thu diệp ngoại,
   菊溪桃徑又何如?     Cúc khê đào kính hựu hà như ?

  * Chú Thích :
      - Y Ước 依約 : là Chập chờn, thoang thoảng, khi có khi không.
      - Khư 墟 : là Gò đất lớn.
      - Sa Tích 沙磧 : Những cồn cát tụ lại.
      - Y Nhiên 依然 : là Vẫn cứ thế, vẫn như cũ.
      - Xuân Hoa Thu Diệp 春花秋葉 : là Hoa của mùa xuân và lá của mùa thu.
      - Cúc Khê Đào Kính 菊溪桃徑 : là Hoa cúc nở theo dòng khe nước và hoa đào nở dọc theo lối mòn.

  * Nghĩa Bài Thơ :
                         MAI LÂM Nơi Ở Cũ
        Hơi lạnh đưa hương thoang thoảng kết thành trên gò đất lớn. Những cồn cát từ ngàn xưa vẫn cứ trơ gan như cũ. Biết chắc là hoa nở vào mùa xuân và lá rụng lúc thu sang, còn những hoa cúc nở bên dòng khe nước và hoa đào nở dọc theo lối mòn thì hiện giờ ra sao ?!

  * Diễn Nôm :
                       MAI LÂM NƠI CŨ

               

               Hương thơm thoang thoảng chốn gò cao,
               Cồn cát y nhiên tự thuở nào.
               Vẫn biết hoa xuân thu lá rụng,
               Lối đào đường cúc đã ra sao ?!
     Lục bát :
               Gò cao hương lạnh chập chờn;
               Im lìm cồn cát chờn vờn xưa nay.
               Xuân hoa thu lá rụng bay,
               Đường đào lối cúc giờ rày ra sao ?!
                                             

2. Bài thơ HOÀNH KIỀU 橫橋 :


       Cảnh cầu tre lắt lẻo bắt ngang sông rạch ở Nam Bộ được cụ Phan Thanh Giản miêu tả lại như sau :

         橫橋                        HOÀNH KIỀU

    野人村塢隔林溪,    Dã nhân thôn ổ cách lâm khê,
    野徑沙頭略彴低。    Dã kính sa đầu lược chước đê.
    幽鳥一聲林際起,    U điểu nhất thanh lâm tế khởi,
    行人已渡夕陽西。    Hành nhân dĩ độ tịch dương tê (tây).

* Chú Thích :
      - Hoành Kiều 橫橋 : Cầu bắt ngang qua sông ngòi kênh rạch.
      - Thôn Ổ 村塢 : Xóm nhà ở trên cao xung quanh bao bọc bởi sông nước.
      - Chước 彴 : Cầu độc mộc, cầu khỉ.
      - U Điểu 幽鳥 : Những con chim trong rừng thâm u vắng lặng.
      - Độ 渡 : là Đi ngang qua sông ngòi kênh rạch, thường thì đi bằng đò, còn trong bài là đi ngang qua cầu.
      - Tê 西 : là chữ Tây, đọc trại đi cho ăn vận. TỊCH DƯƠNG TÊ 夕陽西 là Nắng chiều ở phía trời tây.

  * Nghĩa Bài Thơ :
                             CẨU NGANG

         Người sống nơi thôn dã với sông ngòi rừng hoang bao quanh, con đường quê đưa đến bến cát đầu sông làm cho chiếc cầu khỉ như thấp hẵn xuống. Một tiếng chim chiều kêu làm dậy cả rừng vắng thâm u, trong khi người bộ hành cũng đã đi ngang qua sông trong nắng chiều nghiêng chiếu phía trời tây.
         Qủa là cảnh thôn quê nên thơ vắng lặng dưới ánh nắng chiều chiếu nghiêng chiếc cầu khỉ bắt qua sông với người bộ hành đang vội vả quay về nhà trước khi trời sụp tối.

  * Diễn Nôm :
                             CẦU NGANG

                  

                 Thôn dã sông ngòi bủa tứ giăng,
                 Đường quê cầu khỉ bắt ngang sông.
                 Chim kêu rừng vắng người ngơ ngẩn,
                 Nắng chiếu trời chiều vội bước chân.
     Lục bát :
                 Sông ngòi rừng lẫn làng quê,
                 Đường mòn cầu khỉ nhiêu khê ngại ngùng.
                 Chim kêu rừng vắng mông lung,
                 Nắng chiều nghiêng chiếu qua sông bộ hành.



3. Bài thơ THUẬN PHAN :


      Bình Thuận Phan Rang với những bãi cát trắng, đất đỏ, con sông ở Bình Thuận xuất hiện trong thơ Phan Thanh Giản và trong đó thoáng hiện đời sống của ngư dân, nông dân, kẻ bán rau người bán cá tấp nập nhộn nhịp bên bến sông. 

  歷盡沙崖與水隈,    Lịch tận sa nhai dữ thủy ôi,
    此間風物洞然開.    Thử gian phong vật đỗng nhiên khai.
    閭閻撲地成居聚,    Lư diêm phác địa thành cư tụ,
    舸艦迷津任溯洄.    Kha hạm mê tân nhậm tố hồi.
    賣菜兒童青洞出,    Mại thái nhi đồng thanh động xuất,
    沽魚婦女綠濱囬.    Cô ngư phụ nữ lục tân hồi.

* Chú Thích :
    - Lịch Tận 歷盡 : là Trải qua hết, là Xuyên suốt, là Vượt qua hết.
    - Sa Nhai 沙崖 : là Vách núi cát (ven sông).
    - Thủy Ôi 水隈 : là Những khúc quanh trên dòng sông.
    - Đỗng Nhiên 洞然 :là Một cách rõ rệt.
    - Lư Diêm Phác Địa 閭閻撲地 : là Nhà cửa ở chen chút đầy cả mặt đất.
    - Kha Hạm Mê Tân 舸艦迷津 : là Thuyền bè chen chút đậu chật cả bến sông.
    - Mại Thái 賣菜 : là Bán cải bán rau.
    - Cô Ngư 沽魚 : là Mua cá mua tôm.

* Nghĩa Bài Thơ :
                               THUẬN  PHAN
     Lướt qua hết các vách núi cát và các khúc quanh của dòng sông, thì phong cảnh trước mắt hiện ra một cách rõ rệt ở nơi nầy. Nhà cửa chen chút nhau đầy cả mặt đất tạo thành một quần cư ở nơi đây, dưới bến thì thuyền bè chen chút nhau đậu chật cả bến sông mặc tình xuôi ngược. Những đứa bé bán rau cải đi ra từ các hang động xanh, và các chị bạn hàng mua bán cá trở về từ bến nước xanh lơ.

     Hai thành ngữ "Lư Diêm Phác Địa 閭閻撲地" và "Kha Hạm Mê Tân 舸艦迷津" có xuất xứ từ bài "Đằng Vương Các Tự 滕王閣" của Vương Bột, một trong Tứ Kiệt của buổi sơ Đường. Nguyên văn như sau :

        閭閻撲地,鐘鳴鼎食之家;Lư diêm phác địa, chung minh đĩnh thực chi gia;
        舸艦彌津,青雀黃龍之舳。Kha hạm mê tân, thanh tước hoàng long chi trục.
Có nghĩa :
              Nhà xây chật đất, đều là hàng quyền qúy cao sang;
              Thuyền đậu đầy sông, toàn được vẽ rồng vàng thanh tước.
               (Thanh Tước : Tước là Khổng tước, con công màu xanh).

      Đó là hai câu tả cảnh trí và địa thế của Đằng Vương Các ở Nam Xương ( thuộc tỉnh Giang Tây) đời Đường, được cụ Phan mượn dùng để tả lại cảnh trí bến sông của Bình Thuận Phan Rang lúc bấy giờ đã rất phát triển và sầm uất.

* Diễn Nôm :
                         THUẬN PHAN

                

               Xuyên suốt vượt khúc sông vách đá,
               Cảnh nơi đây tất cả hiện ra.
               Ven sông chen chút những nhà,
               Bến sông tấp nập thuyền qua theo dòng.
               Bán rau cải, đồng xanh lũ trẻ,
               Bạn hàng mua tôm cá bờ xanh,
               Phồn vinh cảnh đẹp dường tranh !
    Lục bát :
               Vượt qua vách đá quanh sông,
               Bỗng như sáng rực cánh đồng mở ra.
               Bờ sông chen chút là nhà,
               Ghe thuyền chật bến lại qua theo dòng.
               Trên bờ bán cải nhi đồng,
               Dưới sông tôm cá mặc lòng bán buôn !


4. Bài thơ GIAO HÀNH (2) 郊行 (2) :


       Cảnh đồng bằng bao la của Bắc bộ, lau sậy chen chúc với vườn dâu tằm. Cảnh nông dân thu hoạch vụ lúa mạch. Cảnh hàng tre xanh lả ngọn ở góc làng, chén nước chè trong quán chè quê toả ngát hương... đều được cụ Phan Thanh Giản miêu tả lại tỉ mỉ trong bài thơ sau đây :

           郊行 (2)                   GIAO HÀNH (2)

       渺渺平蕪一望茫,     Diểu diểu bình vu nhất vọng mang,
       茅柴雜遝對麻桑.     Mao sài tạp đạp đối ma tang.
       田家幾處收新麥,     Điền gia kỷ xứ thu tân mạch.
       邨落數緣長嫩篁.     Thôn lạc sổ duyên trưởng nộn hoàng.
       熱茗店蒸溪水净,     Nhiệt mính điếm chưng khê thủy tịnh,
       逺途客苦夏炎長.     Viễn đồ khách khổ hạ viêm tràng.

* Chú Thích :
    - Giao Hành 郊行 : GIAO là Giao Ngoại 郊外, là vùng ngoại ô; nên Giao Hành là đi dạo ở vùng ngoại ô đồng nội. Hoặc "Đi Ngang Vùng Ngoại Ô" của nơi nào đó.
    - Bình Vu 平蕪 : là Cánh đồng trống. 
    - Mao Sài 茅柴 : MAO là loại cỏ dài lá sắc lỏi cứng có thể phơi khô để lợp nhà, ta gọi là MAO ỐC 茅屋 là Nhà lá, nhà cỏ. SÀI là Những loại cây tạp có thể dùng làm củi, như lau sậy; Nên MAO SÀI nói chung là Cây cỏ hoang. 
    - Ma Tang 麻桑 : hay Tang Ma cũng thế. MA là cây đay (Miền Nam gọi là cây Bố) dùng để kéo sợi. TANG là cây Dâu tằm ăn, dùng để nuôi tằm lấy tơ. 
    - Tân Mạch 新麥 : MẠCH là Lúa Mì, nên TÂN MẠCH là Lúa mì mới chín.
    - Nộn Hoàng 嫩篁 : NỘN là còn non, HOÀNG là Cây tre, nên NỘN HOÀNG là Măng tre mới mọc còn non.
    - Mính 茗 : còn đọc là MINH : là Trà, nên NHIỆT MÍNH là Trà nóng.

* Nghĩa Bài Thơ :
                         ĐI DẠO VÙNG NGOẠI Ô (2)

       Cánh đồng trống mênh mông nhìn mút mắt, cỏ cây tạp nhạp mọc đối diện với ruộng dâu, ruộng đay. Có mấy chỗ nhà nông đang thu hoạch lúa mạch mới, mấy con đường trong xóm đưa tới lũy tre làng đang lúc trổ măng non. Quán trà nóng bên đường được nấu bằng nước trong trong khe chảy ra, người khách đường xa đang khổ vì cái nóng của mùa hè đang kéo dài ra. 

* Diễn Nôm :
                             GIAO HÀNH (2)

                    

                     Đồng hoang cỏ mọc ngút chân mây,
                     Lau sậy dâu tằm lẫn ruộng đay.
                     Lúa mạch mấy nơi thu hoạch sớm,
                     Măng non đầu xóm lũy tre gai.
                     Hàng chè khói tỏa trong khe nước,
                     Lữ khách than thân hạ nóng dài.
    Lục bát :
                     Mênh mông đồng cỏ mịt mờ,
                     Sậy lau tạp nhạp ngang bờ dâu đay.
                     Lúa mì thu hoạch đầu tay,
                     Bụi tre làng xóm đã nhoài măng non.
                     Vệ đường quán nước chè thơm,
                     Hạ nung lữ khách dặm trường than thân.


        (Hai bài thơ THUẬN PHAN và GIAO HÀNH (2) trích theo tài liệu trên mạng :  "Phan Thanh Giản với những đóng góp vào văn học Hán Nôm Nam Bộ" của tác giả LÊ QUANG TRƯỜNG - HÁN NÔM - 26 THÁNG 7 2017. Hình như mỗi bài đều thiếu mất 2 câu kết cuối.)

 

5. Bài thơ GIAO HÀNH (3) 郊行 (3):

         Bài 3 trong chùm thơ Giao Hành tả lại cảnh mưa chiều tắt nắng với những đứa trẻ chăn trâu đang lùa trâu về băng qua những vũng nước, những người đi đò chiều tranh nhau qua đò, khói mây bay trong gió và tiếng lách tách trong bụi tre, tiếng quạ kêu rộn rã lúc chiều tàn :

 

      郊行 (3)                   GIAO HÀNH (3)

 

    牧童驅犢晚還莊,     Mục đồng khu độc vãn hoàn trang,

    迅歩行過水上塘.     Tấn bộ hành qua thủy thượng đường.

    叢笋雨來喧鎧甲,     Tùng duẫn vũ lai huyên khải giáp,

    湖菱波細露鋒鋩.     Hồ lăng ba tế lộ phong mang.

    數團煙逐溪風去,     Sổ đoàn yên trục khê phong khứ,

    一簇人争野渡忙.     Nhất thốc nhân tranh dã độ mang.

    惆悵鄕關何處是?     Trù trướng hương quan hà xứ thị ?

    寒鴉枯樹閙斜陽!     Hàn nha khô thọ náo tà dương !

 

      

 

 * Chú Thích :

     - Khu Độc 驅犢 : KHU 驅 có bộ MÃ là Ngựa bên trái, vốn có nghĩa là LÙA NGỰA; sau dùng chung để chỉ "Luà những con vật có bốn chân". ĐỘC 犢 là Con Nghé, chỉ chung các con trâu mới lớn. Nên KHU ĐỘC là Lùa trâu.

     - Tấn Bộ 迅歩 : TẤN là Nhanh nhẹn; BỘ là Bước đi. Nên TẤN BỘ là bước nhanh, chỉ Đi một cách vội vã.

     - Tùng Duẫn 叢笋 : TÙNG là Khóm, là Bụi. DUẪN là Măng non. nên Tùng Duẫn là Bụi tre non.

     - Khải Giáp 鎧甲 : là Áo giáp có dát bạc dát đồng cho cứng. Trong bài thơ cụ Phan Thanh Giản mượn để diễn tả tiếng các cây tre cọ xát vào nhau nghe kẽo kẹt giống như là tiếng áo giáp va chạm nhau vậy.

     - Phong Mang 鋒鋩 : PHONG là cái Chóp, cái Đĩnh, Cái Mũi. MANG là Bén, Nhọn, lắp lánh. Nên Phong Mang là cái mũi nhọn; trong bài thơ chỉ những búp hoa ấu còn chưa kịp nở.

     - Sổ Đoàn Yên 數團煙 : là Mấy đám khói (sóng).

     - Nhất Thốc Nhân 一簇人 : là Một đám người, một toán người.

     - Trù Trướng 惆悵 : là Bồi hồi, Ngơ ngẩn.

     - Náo 閙 : là Náo Loạn, là Ồn ào.

     - Tà Dương 斜陽 : là Ánh nắng xiên; chỉ ánh nắng đã về chiều.

 

 * Nghĩa Bài Thơ :

                                ĐI NGANG VÙNG NGOẠI Ô (3)

 

      Mục đồng đang xua lũ trâu con trong buổi chiều tà để trở về thôn xóm, đang bước nhanh qua những vũng nước đọng ở trên đường. Bụi tre non sau cơn mưa đang kẽo kẹt trước gió như những manh áo giáp cọ vào nhau, bên hồ ấu những búp hoa ấu non nhọn và sắc đang nhấp nhô trong sóng nước trước những làn gió nhẹ lướt qua. Trên sông vài cuộn khói sóng lơ lửng theo gió bay đi, một đám người đang nhốn nháo tranh nhau qua đò để về nhà cho kịp tối. Lòng ta cảm thấy bồi hồi ngơ ngẩn tưởng nhớ đến quê hương giờ đang ở nơi đâu ? Tiếng lũ quạ lạnh đang kêu lên rộn rã trên các cành cây khô trong ánh nắng của buổi chiều tà !

 

     Những hình ảnh hoạt động, những âm thanh sống động quen thuộc của vùng thôn dã Việt Nam được hiễn hiện một cách rõ nét trong thơ của cụ Phan Thanh Giản trong những lần kinh lược từ nam ra bắc, tạo nên một sắc thái đặc biệt Việt Nam của những vần thơ Đường Luật với đầy đủ những âm hưởng và thi vị của những áng thơ Đường nổi tiếng, như câu :

 

            惆悵鄕關何處是?   Trù trướng hương quan hà xứ thị ?

 

làm cho ta nhớ tới câu :

 

            日暮鄕關何處是?   Nhật mộ hương quan hà xứ thị ?

 

trong bài thơ nổi tiếng Hoàng Hạc Lâu của Thôi Hiệu đời Đường. Và câu cuối...

 

            寒鴉枯樹閙斜陽!   Hàn nha khô thọ náo tà dương !

 

lại làm cho ta nhớ tới bài thơ Thiên Tịnh Sa -Thu Tứ 秋思 nổi tiếng của Mã Trí Viễn đời Nguyên là :

 

            枯藤老樹昏鴉...    Khô đằng lão thọ hôn nha...

            夕陽西下,          Tịch dương tây hạ,

            斷腸人在天涯。    Đoạn trường nhân tại thiên nha !

  Có nghĩa :

                  Mây khô quạ ám cây già...

                  Nắng chiều ngã bóng tà tà về tây,

                  Chân trời đứt ruột người đây !

 

     Trong suốt thời gian làm quan của cụ Phan Thanh Giản, trên những chặng đường bôn ba kinh lược, ông đã ghi lại những cảm xúc trong những cuộc hành trình : Gia Định, Bình Thuận, Khánh Hoà, Phú Yên, Bình Định, Quảng Ngãi, Quảng Nam, Đà Nẵng, Thuận Hoá, Quảng Trị, Quảng Bình, Ninh Bình, Thái Nguyên... Những bài thơ làm trong các hành trình đó, cảnh vật con người của từng địa phương,  một phần được phản ánh dưới cái nhìn mới mẻ, thanh tân của ông một cách rất chân thành. 

* Diễn Nôm :

                                 GIAO HÀNH

 

                      Đuổi trâu chiều xuống lẹ về làng,

                      Nhanh bước xuyên qua vũng nước ngang.

                      Kẽo kẹt gió lùa tre tiếng vọng,

                      Nhấp nhô sóng nước ấu hoa vàng.

                      Chập chờn khói sóng bay theo gió,

                      Nhốn nháo bến đò tất tả sang.

                      Quê cũ ngẩn ngơ chiều khuất bóng,

                      Cành khô quạ rộn nắng chiều tàn !

    Lục bát :

                     Mục đồng xua lũ trâu về,

                     Chiều hoang nước đọng tư bề bước chân.

                     Tre làng rít tựa giáp ngân,

                     Nhấp nhô hoa ấu chập chờn sóng xao.

                     Trên sông khói sóng dạt dào,

                     Qua đò nhốn nháo tranh nhau những người.

                     Quê hương khuất bóng chiều rơi,

                     Nắng tàn tiếng qụa bồi hồi cây khô !

  

 
6. Bài thơ ĐĂNG HOÀNG HẠC LÂU :

       Năm 1834, Minh Mạng thứ 15, Cụ PHAN THANH GIẢN được cử đi sứ Trung Quốc. Khi đi ngang qua ngôi lầu nổi tiếng nầy, cũng như tất cả những thi nhân từ ngàn xưa đến nay, ông đã không bỏ lỡ dịp may lên thăm và ngắm ngôi lầu với nhiều huyền thoại nầy, và cũng vì thế mà ta mới có dịp thưởng thức thêm một bài thơ trác tuyệt của ông : ĐĂNG HOÀNG HẠC LÂU sau đây : 

    ĐĂNG HOÀNG HẠC LÂU                           登黃鶴樓     
                     

Tích thời hạc dĩ hà niên khứ ?                  昔時鶴已何年去?   
Thiên tải nhân tòng Nam cực lâm.            千載人從南極臨。
Anh vũ châu tiền phương thảo lục,           鸚鵡洲前芳草綠,
Tình Xuyên Các thượng bạch vân thâm.    晴川閣上白雲深。
Bán liêm lạc nhật phù Giang Hán,            半簾落日浮江漢,
Nhất phiến hàn lưu tống cổ câm (kim)      一片寒流送古今。
Mãn mục yên ba chuyển trù trướng,         滿目煙波轉惆悵,
Du du trần mộng thập thu tâm.               悠悠塵夢拾秋心!
 
Dịch Nghĩa :
 
       Câu 1 :  Ngày xưa, Hạc đã bay đi mất tự năm nào ? 
       Câu 2 : Ngàn năm sau, mới có người từ vùng cực Nam đến đây.( Ngàn năm chỉ là cách nói nhấn, để chỉ rất nhiều năm rồi. Đối với Trung Hoa xưa thì nước ta ở về phía cực Nam. Câu nầy Cụ Phan tự chỉ mình là người đến từ Nước cực Nam, là nước xa tít ở cỏi Nam  ).
      Câu 3 : Cỏ non vẫn còn xanh tươi trên cù lao Anh Vũ ở giữa ngã ba sông. Liên hệ câu : Phương thảo thê thê Anh Vũ Châu 芳草萋萋鸚鵡洲, trong bài Hoàng Hạc Lâu của Thôi Hiệu đời Đường ).
      Câu 4 : Mây trắng vẫn còn chập chùng trắng xóa khi ta đứng trên Tình Xuyên Các. ( chữ " Thâm " ở đây không có nghĩa là " sâu " , mà là " Đậm ", dùng để chỉ màu sắc, mây trắng mà " đậm ", là mây " trắng xóa chập chùng " . Chữ THÂM ở đây còn dùng để đối với chữ LỤC ở câu trên.
      Câu 5 : ( Vì đứng trong lầu nhìn ra, nên thấy...) Mặt trời lặn như nổi trên sông nước lung linh xuyên qua Nửa Bức Rèm ( bán liêm ) treo trên lầu .
      Câu 6 : Một dãy nước chảy âm thầm, lạnh lùng xuyên suốt từ ngàn xưa đến nay.
      Câu 7 : Mãn mục là " đầy mắt " , ở đây có nghĩa là khoảng không gian mênh mông trước mắt. Câu nầy có nghĩa : Khói sóng mênh mông khiến cho lòng xúc đông bồi hồi ( trù trướng ).
      Câu 8 : ( Nên chi )...Trong ( giấc mộng trần thế ) cuộc đời mộng ảo nầy cũng chỉ nhặt nhạnh ( thập )  được lòng hoài cảm trong mùa thu mà thôi !. Câu cuối nầy, có thể Cụ PHAN đã chơi chữ đây, vì chữ THU 秋 ở trên, chữ TÂM 心 ở dưới, nếu ghép lại thì ta sẽ có chữ SẦU 愁. Cũng vừa hợp với chủ ý của bài thơ gốc của Thôi Hiệu :

             Nhật mộ hương quan hà xứ thị             日暮鄉関何處是
             Yên ba giang thượng sử nhân SẦU        烟波江上使人愁

mà nhà thơ Tản Đà đã dịch rất xuất sắc là :

               Quê hương khuất bóng hoàng hôn
               Trên sông khói sóng cho buồn lòng ai  !....

        Mặc dù không sử dụng vần " LÂU...SẦU " như Thôi Hiệu, nhưng âm hưởng của bài Đăng Hoàng Hạc Lâu của cụ Phan Thanh Giản vẫn tạo nên một nỗi niềm hoài cổ sâu xa man mác với hạc vàng mây trắng, với Anh Vũ Châu, với Tình Xuyên Các : Một kiến trúc được xây dựng nên và được đặt tên do câu thơ bất hủ của Thôi Hiệu " Tình xuyên lịch lịch Hán dương thọ ". Bài thơ được kết thúc bằng lối chơi chữ chiết tự tài hoa của cụ Phan để hướng bài thơ về với mối sầu thiên cổ " Du du trần mộng thập thu tâm ! " làm ta nhớ đến câu : " Ai đem thu cảnh họa cùng thu tâm !" của Nữ sĩ Tương Phố trong Thi Ca Tiền Chiến...
 
      Bài thơ Đăng Hoàng Hoạc Lâu nầy của cụ PHAN đã được Thầy Trò Cựu học sinh PHAN THANH GIẢN & ĐOÀN THỊ ĐIỂM TP. Cần Thơ của chúng tôi cùng " xúm nhau " diễn nôm, xem đây như là một hoài niệm, một chút lòng thành của đám hậu sinh tưởng nhớ về vị Tiến Sĩ đầu tiên của đất Nam Kỳ sinh sau đẻ muộn. Mời tất cả cùng đọc cho vui...
                  

                                            Hoàng Hạc lâu xưa và nay


      Trước tiên là bài DIỄN NÔM của Thầy PHAN HUY VIÊN với bút hiệu CHÂN DIỆN MỤC (Tây Đô Cuồng Sĩ) :

     LÊN LẦU HOÀNG HẠC


 Hạc đã bay đi tự thuở nào
 Một người Nam muộn đến lầu cao
 Bãi xa thơm cỏ xanh xanh mắt
 Sông tạnh lầu mây trắng một mầu
 Rèm hắt bóng tà vờn trên sóng
 Nước buồn trôi lạnh một chiều sâu
 Bồi hồi gửi mắt qua sương khói
 Đem mộng ngàn năm ủ nỗi sầu
                                         
CDM.

      Lên Lầu Hoàng Hạc 
                   
cô Phạm Thảo Nguyên 
Chim hạc năm nao đã vút bay
Ngàn sau nam cực tới nơi đây
Cỏ non Anh Vũ xanh xanh ngắt
Lầu vắng lâng lâng trắng những mây
Trời lặn nửa rèm sông Hán rợn
Lạnh trôi một dải tự xưa nay
Bao la khói sóng bồi hồi dạ
Đời mộng lòng thu sầu góp đầy
                                         PTN
Đăng Hoàng Hạc Lâu
                       
Thầy Phạm Khắc Trí
Thuở nào xưa hạc đã cao bay ,
Viễn khách trời đưa đẩy đến đây.
Anh Vũ cồn xanh ngàn cỏ biếc ,
Tình Xuyên gác trắng một màu mây.
Nửa rèm kim cổ chiều sông lạnh ,
Một dải giang hà vạt nắng phai.
Khói sóng mênh mang nao tấc dạ ,
Mộng đời lãng đãng nỗi niềm tây.
                                           PKT.
        Lên Lầu Hoàng Hạc
                             
Trầm Vân 
Hoàng hạc ngày nao đã vút bay
Cực Nam người đến ghé lầu này
Cỏ non Anh Vũ màu xanh mướt
Mây trắng Tình Xuyên gió biếc say
Ác lặn nửa rèm sương lãng đãng
Sông dài một dải nước khoan thai
Ngập trời khói sóng giăng sầu nhớ
Dằng dặc lòng thu nỗi cảm hoài
 
Bài thứ hai theo thể Lục Bát :
                             
Trầm Vân 
Ngày xưa hoàng hạc cao bay
Cực Nam  người đến chốn này ngàn sau
Cỏ non Anh Vũ biếc màu
Tình Xuyên mây trắng bên lầu phiêu du
Nửa rèm ác lặn sương mờ
Sông dài một dải gió thơ thẩn luồn
Mênh mông khói sóng sầu buông
Nhớ quê dằng dặc gieo buồn thu tâm
                                               
Thầy  Võ Văn Vạn.

    LÊN LẦU  HOÀNG  HẠC
                             Song Quang 
Hoàng Hạc ngày xưa đã vút bay
Người Nam đến viếng  ở nơi nầy
Cỏ non Anh Vũ còn xanh thẩm
Mây trắng Tình Xuyên vẫn chẳng phai
Ác lặn nửa rèm chìm sông vắng
Nước dòng cuộn chảy tự xưa nay
Mênh mông khói sóng hồn giao động
Lối mộng thu tâm cảm kích hoài.
                                               
 SQ.
 
   LÊN LẦU HOÀNG HẠC
                               
Đỗ Chiêu Đức

Ngàn xưa hoàng hạc đã cao bay,
Người đến ngàn sau, viếng chốn nầy
Anh Vũ cỏ non màu vẫn biếc
Tình Xuyên mây trắng sắc chưa phai
Nửa rèm ác lặn chìm như nổi
Một dãi sông dài xưa đến nay
Khói sóng ngập trời nghe cảm khái
Thu tâm dằng dặc mộng trần ai !

    Lục Bát :

Ngàn xưa hoàng hạc cao bay
Ngàn sau người đến bên trời cực Nam
Vũ Châu cỏ vẫn xanh non
Trên Tình Xuyên Các mây còn trắng bông
Nửa rèm ác lặn bên sông
Cổ kim thế sự theo dòng nước trôi
Mênh mông khói sóng bời bời
Cỏi trần dằng dặc bồi hồi thu tâm !

 

                                   Đỗ Chiêu Đức


*Đính kèm theo bài viết nầy là tài liệu về ...

                             晴川阁     TÌNH XUYÊN CÁC

       晴川阁是湖北省重点文物保护单位。位于武汉城内汉阳龟山东麓长江边的禹功矶上。晴川阁始建于明代嘉靖年间,其名取自唐代诗人崔颢诗句"晴川历历汉阳树"。有"楚四名楼"之誉。因与对岸黄鹤楼隔江对峙,相映生辉,被称为"三楚胜境"。
 
      TÌNH XUYÊN CÁC 晴川阁 là đơn vị trọng điểm bảo vệ những vật phẩm văn hóa. Vị trí nằm ở trên bờ đá Vũ Công Cơ của sông Trường Giang, phía đông của Quy Sơn thuộc địa phận Hán Dương ở trong thành Vũ Hán. Tình Xuyên Các được bắt đầu xây dựng từ năm Gia Tĩnh triều Minh. Tên lầu được đặt theo câu thơ " Tình xuyên lịch lịch Hán Dương thọ 晴川历历汉阳树 " của Thôi Hiệu đời Đường. Tình Xuyên Các thuộc một trong bốn lầu các nổi tiếng của đất Sở ( Sở tứ danh lâu 楚四名楼 ), vì nằm đối diện với Hoàng Hạc Lâu ở bên kia sông, nên cùng soi rọi làm đẹp cho nhau, được xưng tụng là " tam Sở thắng cảnh 三楚胜境 " (  một trong ba thắng cảnh của đất Sở ).

 

                                                                                      Đỗ Chiêu Đức dịch.               

 

 * Hình ảnh của Tình Xuyên 晴川阁 Các hiện nay.

Thơ TRẦN QÚY CÁP

                       Biên khảo Đỗ Chiêu Đức

 Trần Quý Cáp 陳季恰 (1870-1908) tự Dã Hàng 野航, Thích Phu 適夫, hiệu Thai Xuyên 台川, chí sĩ nhiệt tình trong phong trào Duy Tân, nhà thơ Việt Nam, quê làng Bất Nhị, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam. Đỗ tiến sĩ năm 1901, ông là một trong Ngũ hổ, năm người học trò giỏi xứ Quảng bấy giờ. Sớm có tinh thần yêu nước, mê “tân thư”, ông định trốn sang Nhật Bản theo Phan Bội Châu nhưng không thành, sau cùng Phan Chu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng cổ động cho phong trào Duy Tân, bài xích cách học từ chương, đề xướng lối học mới ích nước lợi dân. Khi làm giáo thụ phủ Thăng Bình (Quảng Nam), ông mời thầy đến dạy quốc ngữ và tiếng Pháp ở trường phủ, theo chủ trương của Phan Chu Trinh. Vì công kích bọn quan lại địa phương nên ông bị đổi đi Diên Khánh, tỉnh Khánh Hoà. Nhân vụ chống sưu thuế ở Trung Kỳ năm 1908, ông bị thực dân Pháp bắt và kết án tử hình chém ngang lưng, mặc dù kẻ thù không có chứng cớ.

 

      Hiện chỉ tìm thấy 2 bài thơ bằng chữ Hán của ông trên THI VIÊN là "Đà Nẵng Cảm Hoài" và " Vãn Quá Hải Vân Quan", mời tất cả cùng nghiên cứu.

 

1. Bài thơ ĐÀ NẴNG CẢM HOÀI :

 

   沱曩感懷                   ĐÀ NẴNG CẢM HOÀI

 

此地何由起戰鋒,    Thử địa hà do khởi chiến phong ?

祇今到處豕蛇蹤。    Chỉ kim đáo xứ thỉ xà tung.

船臨內埠三才颭,    Thuyền lâm nội phụ tam tài triển,

車駛重關一路通。    Xa sử trùng quan nhất lộ thông.

故國山河鄰笛裏,    Cố quốc sơn hà lân địch lý,

誰家樓閣夕陽中。    Thùy gia lâu các tịch dương trung.

安能再起陳興道,    An năng tái khởi Trần Hưng Đạo,

共挽藤江偉大功。    Cộng vãn Đằng Giang vĩ đại công ?!

 

             陳季恰                                   Trần Quý Cáp 

                   Tàu Liên quân Pháp - Tây Ban Nha tấn công Đà Nẵng năm 1858

 

*CHÚ THÍCH :

   - Đà Nẵng 沱曩 : là Thương cảng lớn nhất miền Trung trên cửa sông Hàn ở Quảng Nam, tàu bè ngoại quốc lui tới nhiều, buôn bán phát đạt, là nhượng địa của ta cho  Pháp lúc bấy giờ.

   - Hà Do 何由  : là Vì lý do gì ?

   - Thỉ Xà 豕蛇 : là Heo Rắn, do thành ngữ "Phong Thỉ Trường Xà 封豕長蛇" mà ra. Có nghĩa là "Lợn to rắn dài", thường dùng để chỉ những kẻ tham lam hung bạo; trong bài thơ chỉ những người Châu Âu như Pháp Tây ban Nha, Bồ Đào Nha ...

   - Nội Phụ 內埠 : là Bến cảng cho ghe thuyền lui tới buôn bán trong nước.

   - Tam Tài 三才 : Theo sách Tam Tự Kinh thì TAM TÀI là Thiên Địa Nhân, còn ở đây dùng để chỉ lá cờ Tam Sắc ba màu Xanh Trắng Đỏ của Pháp.

   - Trùng Quan 重關 : là Cửa quan ải trùng lắp, ở đây chỉ cửa quan của ta và cửa quan của Pháp.

   - An Năng 安能 : là Nghi vấn tự, có nghĩa : Làm sao có thể ... được ?

   - Tái khởi 再起 : là Lại khơi dậy. AN NĂNG TÁI KHỞI là Làm thế nào để có thể khơi dậy...được.

   - Cộng Vãn 共挽 : là Cùng nhau vãn hồi, cùng nhau làm lại...

 

* NGHĨA BÀI THƠ :

                                  CẢM HOÀI về Cửa Khẩu ĐÀ NẴNG

             Nơi đây vì cớ chi mà lại nổi lên một trận chiến tranh giao phong với nhau, để đến nỗi bây giờ khắp nơi những lợn lòi rắn độc, những người xấu xa hung ác ngang dọc tới lui. Tàu cặp vào bến cảng thương buôn đều phấp phới lá cờ tam tài, còn xe thì chạy một lèo xuyên qua cả hai cửa quan ải. Sông núi nước non cũ chìm trong tiếng sáo của làng bên, và lầu các nhà ai đang nhuộm buồn dưới ánh nắng chiều. Làm thế nào để có thể khơi dậy tinh thần của Trần Hưng Đạo để cùng nhau làm lại cái chiến công hiển hách vĩ đại của trận Bạch Đằng Giang đây ?!

 

            Chữ ĐỊCH 笛 là Cây sáo, là Tiếng sáo, nên LÂN ĐỊCH 鄰笛 là Tiếng sáo của vùng lận cận, là tiếng sáo của làng bên cạnh. Nhưng ĐỊCH 笛 cũng là tiếng Còi Hụ, như Cảnh Địch 警笛 là Tiếng còi hụ báo động của cảnh sát. Trong bài thơ trên, LÂN ĐỊCH có thể là chỉ tiếng còi hụ của các chiếc tàu buôn Pháp đang đậu gần  ở bến Đà Nẵng. Còn LÂU CÁC 樓閣 ở đây cũng có thể là những dãy nhà lầu do người Pháp xây dựng nên, nên cụ Trần Qúy Cáp mới mĩa mai bằng hai chữ THÙY GIA 誰家 là Nhà ai ? Những dãy nhà lầu nầy là nhà của ai mà lại nằm trong ánh nắng chiều của xứ ta vậy ?! Cho nên, mới đưa đến hai câu kết là : " Muốn làm sao cho được như Hưng Đạo Đại Vương làm sống lại trận Bạch Đằng Giang oai hùng để đánh đuổi quân xâm lược ra khỏi bờ cỏi non sông !"

 

* DIỄN NÔM :

                           ĐÀ NẴNG CẢM HOÀI

 

                 

                    Hà cớ nơi nầy nổi chiến tranh,

                    Nên nay heo rắn mặc tung hoành.

                    Thuyền buôn ba sắc cờ phe phẩy,

                    Cửa ải một lèo xe lướt nhanh.

                    Non nước sơn hà còi hụ vẳng,

                    Nhà ai lầu các nắng chiều hanh.

                    Làm sao sống lại Trần Hưng Đạo,

                    Vang vội Bạch Đằng tỏ rạng danh !

    Lục bát :

                    Cớ sao gây sự chiến tranh,

                    Bây giờ lợn rắn tranh giành ra oai.

                    Thuyền buôn ba sắc cờ bay,

                    Cửa quan xe chạy thẳng ngay một lèo.

                    Nước non còi hụ buồn thiu,

                    Lâu đài ai đó nắng chiều giăng giăng.

                    Làm sao dựng lại Bạch Đằng,

                    Đại Vương Hưng Đạo vang lừng sử xanh !

 

                                                             Đỗ Chiêu Đức

 

2. Bài thơ VÃN QÚA HẢI VÂN QUAN :

 

  晚過海雲關           VÃN QÚA HẢI VÂN QUAN

 

崔嵬萬仞古雄關,   Thôi ngôi vạn nhận cổ hùng quan,

幾度登臨俯仰間。   Kỷ độ đăng lâm phủ ngưỡng gian.

愁眼望窮滄海外,   Sầu nhỡn vọng cùng thương hải ngoại,

怒拳揮破白雲端。   Nộ quyền huy phá bạch vân đoan.

孤舟分掉荒村暮,   Cô chu phân trạo hoang thôn mộ,

倦鳥投林古木寒。   Quyện điểu đầu lâm cổ mộc hàn.

七里縈迴穿過後,   Thất lý oanh hồi xuyên qúa hậu,

鬱蔥佳氣五行山。   Uất thông giai khí Ngũ Hành San.

 

              陳季恰                                    Trần Quý Cáp 

* CHÚ THÍCH :

   -  Hải vân Quan 海雲關 :  là Ải Hải Vân, là Đèo Hải vân, là cửa ải ở trên núi Hải Vân, giáp giới tỉnh Thừa Thiên Huế và tỉnh Quảng Nam (miền Trung).

   -  Thôi Ngôi 崔嵬 : Cao lớn, nguy nga, đồ sộ.

  -  Vạn Nhận 萬仞 : NHẬN 仞 : Đơn vị đo lường xưa, bằng 8/10 trượng. Nhưng từ Vạn Nhận thường được xem như là Vạn Trượng 萬丈, thường dùng để chỉ chiều dài thật dài hoặc chiều cao thật cao. 

  -  Phủ Ngưỡng 俯仰 : PHỦ 俯 là cúi xuống, NGƯỠNG 仰 là Ngước lên. Chỉ đường núi khúc khủy trắc trở, khi phải cúi mặt xuống khi phải ngước mặt lên.

  -  Vọng Cùng 望窮 : là Nhìn đến mút con mắt.

  -  Huy Phá 揮破 : là Giơ nắm đấm lên đấm cho vỡ ra.

  -  Oanh Hồi 縈迴 : là Lòng vòng lèo vèo.

  -  Uất Thông 鬱蔥 : là Rậm rạp xanh tươi.

 

* NGHĨA BÀI THƠ :  

                                     CHIỀU QUA ẢI HẢI VÂN   

           Cửa ải xưa hùng vĩ nguy nga cao trên muôn trượng, đã mấy lần ta lên đến nơi nầy trên đường đi lồi lõm lúc cúi xuống lúc ngữa lên. Đứng trên nầy ta đưa mắt buồn bã nhìn mút ngoài biển xanh, và đưa nắm đấm giận dữ lên đấm tan làn mây trắng. chiếc thuyền nan cô lẻ gác mái nơi thôn vắng lúc chiều tà, lũ chim mõi mệt bay về rừng trên những tàn cây to lạnh lẽo. Quanh quẩn vòng vèo xuyên qua suốt bảy dặm đường, cuối cùng cũng thấy được cái khí thế đẹp đẽ quanh cỏ cây xanh tươi sầm uất của Ngũ hành Sơn.

 

* DIỄN NÔM :

                             CHIỀU QUA ĐÈO HẢI VÂN  

                        Nguy nga muôn trượng ải xưa hùng,

                        Mấy lượt ngẩn lên cúi xuống trông.

                        Mắt buồn nhìn suốt xanh lơ biển,

                        Tay nắm vung tan mây trắng bông. 

                        Thuyền côi gác mái chiều thôn vắng,

                        Chim mõi về rừng cây lạnh trông.

                        Bảy dặm loanh quanh xuyên dốc núi,

                        Ngũ Hành tươi tốt khí lành trong. 

        Lục Bát :

                        Vút cao muôn trượng đèo Vân,

                        Ngửa lên cúi xuống mấy lần leo qua.

                        Mắt buồn nhìn biển ngút xa,

                        Tay vung mây trắng tan ra lưng trời.

                        Thuyền côi gát mái thôn ngoài,

                        Chim rừng mõi cánh chiều bay về cành.

                        Quanh co bảy dặm núi xanh,

                        Trong lành khí sắc Ngũ Hành Sơn kia.

 

                                                                                            Đỗ Chiêu Đức

                                                                                                Biên dịch

CHÙM THƠ XUÂN

 

        Nhân dịp xuân về, Kính gởi đến Quý Thầy Cô và Anh Chị Em Vườn Thơ Thẩn một "Chùm thơ Xuân" của Việt Thi, bắt đầu bằng bài thơ "Xuân Hiểu" của ông Vua Trần Nhân Tông nhé !

 

1. XUÂN HIỂU  Trần Nhân Tông.  

 

  春曉                      Xuân hiểu 

 

睡起啟窗扉,      Thụy khởi khải song phi, 

不知春已歸。      Bất tri xuân dĩ quy.  

一雙白蝴蝶,      Nhất song bạch hồ điệp,  

拍拍趁花飛。      Phách phách sấn hoa phi.

 

   

 

CHÚ THÍCH :

 

 * Thụy Khởi 睡起 : là Ngủ dậy, chỉ Vừa thức giấc.

 * Khải 啟 : là Mở ra, giống như chữ KHAI (thanh BẰNG, còn KHẢI là thanh TRẮC ).

 * Song Phi 窗扉 : Cánh cửa của Cửa sổ.

 * Phách Phách 拍拍 : là Vổ vổ(cánh), ở đây có nghĩa là Vổ Phần phật.

 * Sấn : là Nhân(dịp), ở đây có nghĩa là Hướng về...

 

NGHĨA BÀI THƠ :

 

                              Sáng Sớm Mùa Xuân

          Vừa mới ngủ dậy, ta mở toang hai cánh cửa sổ ra... Đâu biết rằng mùa xuân đã về đến rồi !( Trông kìa,) một đôi bướm trắng nỏn nà đang vổ vổ cánh bay về các khóm hoa ( đang nở rộ !). 

 

DIỄN NÔM :

 

          SÁNG XUÂN

 

     Thức giấc mở song ngay,

     Xuân đến nào có hay.

     Một đôi bươn bướm trắng,

     Hướng hoa vổ cánh bay !

 

Lục bát :

     Vừa thức giấc, mở cửa song,

     Nào hay xuân đã về trong đất trời.

     Một đôi bướm trắng xinh tươi,

     Khóm hoa bay lượn thành đôi chập chờn.

                                                     

                              Đỗ Chiêu Đức

 

2. XUÂN ĐÁN Chu Văn An :

 

  

   春旦                     XUÂN ĐÁN                 

寂寞山家鎮日閒,    Tịch mịch sơn gia trấn nhựt nhàn,

竹扉斜擁護輕寒。    Trúc phi tà ủng hộ khinh hàn.

碧迷草色天如醉,    Bích mê thảo sắc thiên như túy

紅濕花梢露未乾。    Hồngthấp hoa tiêu lộ vị can.

身與孤雲長戀岫,    Thân dữ cô vân trừơng luyến tụ

心同古井不生瀾。    Tâm đồng cổ tỉnh bất sanh lan.

柏薰半冷茶煙歇,    Bá huân bán lãnh trà yên yết,

溪鳥一聲春夢殘。    Khê điểu nhất thanh xuân mộng tàn.

              朱文安                                    Chu Văn An

 

* CHÚ THÍCH :

    - Xuân Đán 春旦 : là Ngày Xuân, mà cũng có nghĩa là Ngày Tết nữa.

    - Trấn Nhật 鎮日 : la Suốt ngày. 

    - Trúc Phi 竹扉 " là Cửa tre. 

    - Tà Ủng 斜擁 : TÀ là Xiên, xéo. ỦNG là Ôm. nên TÀ ỦNG là Ôm xeo xéo.

    - Thiên Như Túy 天如醉 : Trời như say.

    - Lộ Vị Can 露未乾 : Sương chưa khô

    - Tụ 岫 : là Hang núi trên cao, thường có mây vần vũ trên đó.

    - Lan 瀾 : là Gợn sóng lăn tăn.

    - Trà Yên Yết 茶煙歇 : trà Thuốc đều hết.

    - Khê Điểu 溪鳥 : Những con chim trong khe núi.

 

* Dịch Nghĩa :

                                     NGÀY XUÂN

 

        Suốt ngày nhàn hạ rảnh rổi với ngôi nhà quạnh quẽ vắng lặng ở trên núi nầy. Chiếc cửa tre xiêu vẹo ôm ấp lấy căn nhà che chắn bớt cái cơn lạnh nhè nhẹ đang lan tỏa. Nhìn xuống xa xa bãi cỏ non xanh biếc, bầu trời cũng xanh biếc như ngất ngây say. Những đóa hoa hồng lên trên cành rực rỡ với các giọt sương còn lóng lánh chưa khô. Tấm thân ta như đám mây đơn lẻ kia cứ mãi quyến luyến không nở rời đỉnh núi, và lòng ta thì đã khô cằn như chiếc giếng xưa kia đã không còn dậy sóng nữa. Những nhánh tùng bách cháy tàn nửa vời lạnh lẽo, trà thuốc cũng đã cạn rồi. Những con chim bên khe núi vổ cánh bay tiếng kêu oang oác làm ta chợt tỉnh giấc, nên mộng xuân cũng tàn lụi theo luôn.

 

* DIỄN NÔM :

                       NGÀY XUÂN

  

              Nhà tịch mịch núi cao nghe vắng vẻ,

              Cửa phên tre nghiêng ngã lạnh lan tràn.

              Trời như say thảm cỏ biếc mênh mang,

              Hoa đỏ thắm đầu cành sương chưa ráo.

              Thân nầy tựa như mây còn luyến núi,

              Lòng thì như giếng cạn sóng đà an.

              Lửa tắt trà khô thuốc hết đêm tàn,

              Chim oang oác giật mình tan giấc mộng !

  Lục bát :

              Nhà cao vắng vẻ an nhàn,

              Cửa tre xiêu vẹo lạnh tràn gió đông.

              Trời xanh đồng cỏ mênh mông,

              Ngậm sương mấy đóa hoa hồng nở xinh.

              Thân như mây nổi linh đinh,

              Lòng như giếng cạn không sinh sóng hời.

              Đêm tàn lửa tắt trà vơi,

              Chim kêu tỉnh giấc một trời xuân mơ !

 

                                                    Đỗ Chiêu Đức.

     

3. XUÂN DẠ  Nguyễn Du:          

         Năm 1789, Tây Sơn chiếm Bắc Hà, cụ vừa 24 tuổi. Để tránh nạn binh lửa, cụ đã về ẩn tại quê vợ, huyện Quỳnh Côi (Thái Bình). Bài thơ trên nằm trong Thanh Hiên Tiền Hậu Tập, có lẽ đã được cụ Nguyễn Du làm trong thời gian này, lúc cụ chưa tới 30 tuổi. Qua đấy ta có thể thấy thể chất của cụ không mấy khỏe mạnh do cuộc sống nghèo túng và bản thân cụ cũng hay đau ốm. Chính nơi đây đã chôn vùi quãng đời thanh xuân của cụ. Sống nơi thôn dã, cụ đã gần gũi và hiểu biết rõ ràng đời sống và tâm tình của tầng lớp dân quê nghèo khó. Mãi hơn 10 năm sau, lúc đã 37 tuổi (1802) cụ mới ra làm quan với triều Nguyễn với chức vụ Tri Huyện Phù Dung (Hưng Yên) rồi sau đó thăng Tri phủ Thường Tín (Hà Tây).

 

     春 夜                         Xuân dạ

 

黑 夜 韶 光 何 處 尋?      Hắc dạ thiều quang hà xứ tầm ?

小 窗 開 處 柳 陰 陰.      Tiểu song khai xứ liễu âm âm

江 湖 病 到 經 時 久,      Giang hồ bệnh đáo kinh thời cửu

風 雨 春 隨 一 夜 深.      Phong vũ xuân tùy nhất dạ thâm

羈 旅 多 年 燈 下 淚,      Ký lữ đa niên đăng hạ lệ

家 鄉 千 里 月 中 心.      Gia hương thiên lý nguyệt trung tâm

南 臺 村 外 龍 江 水,      Nam Đài thôn ngoại Long Giang thủy

一 片 寒 聲 送 古 今.      Nhất phiến hàn thanh tống cổ câm (kim).

                阮攸                                Nguyễn Du

 

    

 

* CHÚ THÍCH :

    - Thiều Quang 韶光 :là Ánh sáng tốt đẹp của mùa xuân, của tuổi trẻ. Như cụ Nguyễn Du cũng đã viết trong Truyện Kiều :"Thiều Quang chín chục đã ngoài sáu mươi".

    - Liễu Âm Âm 柳陰陰 : Liễu nằm im lìm rũ bóng trong đêm.

    - Ký Lữ 羈旅 : Gởi thân nơi đất khách.

    - Nam Đài 南臺 : Tên xóm nhà nơi Nguyễn Du ở trọ.

    - Long Giang 龍江 : Còn gọi là Thanh Long giang, tức Sông Lam.

 

* NGHĨA BÀI THƠ :

                            ĐÊM XUÂN

       Biết đến nơi đâu để tìm cho được ánh thiều quang rực rỡ trong đêm tối nầy ? Nơi cánh cửa sổ nhỏ mở ra là cành liễu rũ im lìm trong đêm tối. Thân trải giang hồ sông nước nên bịnh cứ dai dẵng mãi cho đến hiện nay. Mưa gió lại theo ngày xuân mà về trong đêm dài dằng dặc nầy. Dưới đèn ta lại rơi lệ vì thân còn phiêu bạc xứ người đã nhiều năm nay. Ngắm trăng mà trong lòng tưởng nhớ đến quê hương ở xa ngoài ngàn dặm. Nhìn dòng nước Long Giang chảy ngoài thôn Nam Đài với dãi nước cuồn cuồn lạnh lùng như cuốn trôi cả dòng đời kim cổ.

 

* DIỄN NÔM : 

                    ĐÊM XUÂN

 

            Ánh xuân đêm tối biết đâu tìm,

            Mờ mịt ngoài song liễu lặng im.

            Bệnh tật song hồ cùng dai dẵng,

            Gió mưa xuân sắc vẫn im lìm.

            Dưới đèn giọt lệ sầu xa xứ ,

            Bóng nguyệt quê nhà xót nhói tim.

            Dòng nước Long Giang cuồn cuồn mãi,

            Lạnh lùng cuốn sạch cổ cùng kim.

  Lục bát :

            Tìm đâu đêm tối thiều quang ?

            Ngoài song liễu rũ mơ màng trong đêm.

            Giang hồ dai dẳng bệnh thêm,

            Gió mưa não nuột bên thềm xuân sang.

            Dưới đèn lệ nhỏ trăng ngàn,

            Tấm thân lữ thứ ly tan ai hoài.

            Long Giang dòng nước Nam Đài,

            Lạnh lùng cuồn cuộn chảy dài cổ kim.

 

                                        Đỗ Chiêu Đức.

 

4. XUÂN NHẬT HỮU CẢM Trần Quang Khải :

 

         

 

 春日有感 一.                 XUÂN NHẬT HỮU CẢM 1.

 

雨白肥梅細若絲,            Vũ bạch phì mai tế nhược ty,

閉門兀兀坐書癡。           Bế môn ngột ngột tọa thư si.

二分春色閒蹉過,            Nhị phân xuân sắc nhàn sai quá,

五十衰翁已自知。           Ngũ thập suy ông dĩ tự tri.

故國心還飛鳥倦,           Cố quốc tâm hoàn phi điểu quyện,

恩波海濶縱鱗遲。           Ân ba hải khoát túng lân trì.

生平膽氣輪囷在,            Sinh bình đãm khí luân khuân tại,

醉倒東風賦一詩。           Túy đảo đông phong phú nhất thi.

        

 

 春日有感 二.                  XUÂN NHẬT HỮU CẢM 2

 

月色微微夜向闌,           Nguyệt sắc vi vi dạ hướng lan,

東風特地起春寒。           Đông phong đặc địa khởi xuân hàn.

翻空柳絮黏高閣,           Phiên không liễu nhự niêm cao các,

攪夢湘筠撲畫欄。           Giác mộng tương quân phốc hoạ lan.

被物潤從天外雨,           Bị vật nhuận tòng thiên ngoại vũ,

驚心紅褪昔時顏。           Kinh tâm hồng thối tích thời nhan,

袪愁賴有三杯酒,           Khử sầu lại hữu tam bôi tửu,

撫劍悠悠憶故山。           Phủ kiếm du du ức cố san.

               陳光啓                            Trần Quang Khải.          

 

* NGHĨA 2 BÀI THƠ :

  BÀI 1 :

          Mưa xuân trắng xóa phơi phới như tơ làm tươi tốt mấy cành mai, một thư sinh mọt sách đóng cửa ngồi trơ mà nhìn ra ngoài. Hai phần ba xuân sắc đã trôi qua một cách vô ích, Lão già năm mươi già yếu tự biết sức mình. Tấm lòng đối với cố quốc thì như cánh chim bay đà mõi, Còn ơn Vua thì rộng như biển nên chưa kịp vươn vẫy để cố bơi. Cái đãm khí của bình sinh vẫn còn sừng sửng đó, nên say khước dưới gió xuân vẫn làm nốt một bài thơ !

  BÀI 2 :

       Bóng trăng mờ ảo nhạt dần vì trời sắp sáng, gió xuân có Ý mang cái lạnh của sáng mùa xuân đến, những cành liễu bay lộn trên không phất vào gác cao, những cành trúc đập vào lan can làm tỉnh giấc mộng xuân. Muôn vật được tưới gội nhờ mưa từ trời đổ xuống, giật mình vì dung nhan ngày cũ đã phai tàn. Đành chỉ mượn ba chung rượu để tiêu sầu, và chỉ còn biết vuốt ve kiếm báu mà nhớ đến sông núi xưa vằng vặc đã qua rồi !

 

* DIỄN NÔM :

 

               

 

                   CẢM XÚC NGÀY XUÂN

    BÀI 1 :

              Mai đẹp mưa xuân gội trắng ngần,

              Thư sinh trong cửa dạ lần khân.

              Hai phần xuân đã qua hơn nửa,

              Năm chục già đà tự biết thân.

              Cố quốc chút lòng chim cánh mõi,

              Ơn Vua tợ biển cá đuôi sần.

              Bình sinh đởm lượt còn hun đúc,

              Say khướt gió xuân vẫn họa vần !

    BÀI 2.

             Ánh trăng mờ chiếu báo đêm tàn,

             Se lạnh hơi xuân gió sớm sang.

             Phe phẩy liễu cành vương gác tía,

             Phất phơ trúc nhánh vướng lan can.

             Tốt tươi vạn vật nhờ mưa móc,

             Già cỗi một lòng nhớ sắc nhan.

             Đành mượn tiêu sầu ba chén rượu,

             Vuốt thanh kiếm báu nhớ giang san !

 

                                          Đỗ Chiêu Đức 

 

 

5. SƠ XUÂN Nguyễn Tử Thành :

 

    

 

    初春                    SƠ XUÂN