GÓC

                  VIỆT CỔ THI

__________________________________________________

                                                NGÔ CHI LAN

                                         

                                                TỨ THỜI THI

 

          Ngô Chi Lan 吳芝蘭 (1434-?) còn có tên là Nguyễn Hạ Huệ, tự là Quỳnh Hương, tên tục là Ngô Thị Hĩm; là một nữ sĩ dưới triều vua Lê Thánh Tông trong lịch sử Việt Nam. Theo Toàn Việt thi lục là người làng Phù Lỗ (nay thuộc huyện Kim Anh, Phúc Yên), vợ ông Phù Thúc Hoành (người làng Phù Xá cũng thuộc huyện ấy, làm quan đến Đông Các Đại Học Sĩ). Bà thiên tư thông minh, có tài văn chương, được vua Lê Thánh Tông phong làm Phù Gia Nữ Học Sĩ, ban hiệu là Kim Hoa Nữ Học Sĩ, dạy các cung nữ học. Mỗi khi yến tiệc, vua thường sai làm thơ, chỉ thoắt chốc là bà làm xong ngay, không cần phải sửa chửa gì cả. Năm ngoài 40 tuổi bà mất, táng ở cánh bãi Tây Nguyên. Để tỏ lòng tiếc thương và ngưỡng mộ bà, nhân dân Phù Lỗ đã dựng đền thờ với tên đề “Kim Hoa Nữ Học Sĩ”. Ngôi đền đó hiện nay được đặt ngay trên nền nhà ở ngày xưa của gia đình bà.

 

         Ngô Chi Lan chỉ có một tập thơ duy nhất là Mai Trang Tập 梅莊集 (Tập thơ Vườn Mai). Dưới đây là những bài TỨ THỜI THI rất đặc biệt và độc đáo của bà. 

 

         * ĐẶC BIỆT vì 4 bài đều là Thất Ngôn Bát Cú, nhưng lại không phải là thơ Đường Luật.

         * ĐỘC ĐÁO vì 4 bài đều chia làm hai VẬN : 4 câu đầu gieo vần TRẮC, 4 câu sau gieo vần BẰNG.

 

         Đỗ Chiêu Đức đã tôn trọng theo ý của nữ sĩ, nên trừ bài diễn Nôm bằng Lục bát ra; Tất cả đều được Diễn Nôm 4 câu đầu gieo vần TRẮC; và 4 câu sau gieo vần BẰNG.

 

         Kính mời qúy Thầy Cô và Thân Hữu tùy nghi mà thưởng thức và Diễn Nôm cho vui !

 

                                                                                             Nay kính,

                                                                                              杜紹德 

                                                                                         Đỗ Chiêu Đức

                   ....................................................................................

 

1. Tứ Thời Thi : XUÂN TỪ.

 

    春詞                             XUÂN TỪ

 

初晴薰人天似醉,    Sơ tình huân nhân thiên tự túy,

艷陽樓臺浮暖氣。    Diễm dương lâu đài phù noãn khí.

隔簾柳絮度鶯梭,    Cách liêm liễu nhứ độ oanh thoa,

繞檻花鬚穿蝶翅。    Nhiễu hạm hoa tu xuyên điệp xí.

階前紅線日添長,    Giai tiền hồng tuyến nhựt thiêm trường.

粉汗微微沁綠裳。    Phấn hạn vi vi tẩm lục thường.

小子不知春思苦,    Tiểu tử bất tri xuân tứ khổ,

傾身含笑過牙牀。    Khuynh thân hàm tiếu quá nha sàng.

 

        

 

* Chú Thích :

   - Sơ Tình 初晴 : là nắng mới, chỉ nắng của mùa xuân sau ba tháng mùa đông lạnh lẽo.

   - Huân Nhân 薰人 : là Hanh người, là Làm cho con người cảm thấy ấm áp.

   - Diễm Dương 艷陽 : là Ánh nắng đẹp, trời nắng rất đẹp đẽ.

   - Oanh Thoa 鶯梭 : Các con chim oanh len lỏi trong cành liễu như con thoi.

   - Nhiễu Hạm 繞檻 : là Lòng vòng ở dưới mái hiên.

   - Giai Tiền 階前 : là Trước thềm.

   - Phấn Hạn 粉汗...câu 6 : Mồ hôi rịn ra phấn dồi thấm nhè nhẹ vào tà áo xanh.

  

* Nghĩa Bài Thơ :

                                     Thơ  Mùa Xuân

        

      - Nắng mới ấm áp hanh người làm cho trời cũng tựa như đang say,

      - Lâu đài chìm trong nắng đẹp cũng chan hòa vẽ ấm áp.

      - Trên cành tơ liễu cách rèm bên ngoài chim oanh len lỏi trong các cành liễu tựa con thoi.

      - Bay vòng dưới mái hiên con bướm bị các tua hoa xuyên qua cánh.

      - Những vệt nắng như những sợi chỉ hồng trước thềm làm cho ngày như dài thêm ra.

      - Mồ hôi rịn ra phấn dồi thấm nhè nhẹ vào tà áo xanh.

      - Chàng tuổi trẻ kia không biết được sự nhớ nhung trong mùa xuân là khổ tâm như thế nào (mùa xuân là mùa đoàn tụ mà phải xa nhau nhớ nhau), nên mới...

      - Nghiêng mình cười mĩm mà đi qua giường ngà (như chẳng có việc gì xảy ra !).

 

         Nằm trên giường ngà để nhớ người tình xa trong mùa xuân ấm áp tràn đầy nhựa sống thì còn gì khổ tâm và ray rức hơn nữa.  Tâm sự và nỗi lòng nầy làm cho ta nhớ đến nàng thiếu phụ có chồng là quan to, nên mỗi buổi sáng mùa xuân, lúc đôi lứa đang mặn nồng và ấp yêu nhất, thì lại  phải dậy sớm để đi chầu vua, bỏ mặc gối chăn thơm phức và nàng vợ trẻ. Bài thơ "Vị Hữu" của Lý Thương Ẩn như sau :

 

               Vị hữu vân bình vô hạn kiều,             爲有雲屏無限嬌,

               Phụng thành hàn tận phạ xuân tiêu.   鳳城寒盡怕春宵.

               Vô đoan giá đắc kim qui tế,               無端嫁得金亀婿,

               Cô phụ hương khâm sự tảo triều .      辜負香衾事早朝 .

 

Có nghĩa :

                   Vì có bình phong đẹp lắm mầu

                   Kinh thành hết  lạnh, sợ canh thâu

                   Khéo xui lấy được ngài quan lớn

                   Phụ bạc gối chăn, sớm phải chầu  !

   Lục Bát :

                   Bình phong đẹp đẽ yêu kiều

                   Phụng thành đông hết, xuân tiêu đêm dài

                   Vô duyên lấy phải quan ngài

                   Gối chăn bỏ hết mặc ai,… đi chầu !

 

                   

 

* Diễn Nôm :

                               THƠ XUÂN

 

                  Nắng mới hanh người trời túy lúy,

                  Lâu đài nắng đẹp ấm xuân khí.

                  Ngoài rèm tơ liễu rộn oanh ca,

                  Bướm lượn vờn hoa tua rách xí.

                  Vệt nắng trước thềm ngày chẳng nhanh,

                  Mồ hôi hòa phấn thấm bào xanh.

                  Trẻ con nào biết xuân nhung nhớ,

                  Cười mĩm nghiêng mình lại dạo quanh !

    Lục bát :

                  Hanh người nắng mới trời say,

               Nắng lên ấm đẹp lâu đài thêm xuân.

                  Ngoài rèm oanh hót liễu xanh,

             Xuyên hoa cánh bướm lượn quanh hiên nhà.

                  Trước thềm vệt nắng dài ra,

              Mồ hôi rịn phấn thấm tà áo xanh.

                  Trẻ trung nào biết xuân tình,

           Thản nhiên cười mĩm nghiêng mình lướt qua !

                                                    

 

2. Tứ Thời Thi : HẠ TỪ.

 

      夏詞                               HẠ TỪ 

 

風吹柳花紅片片,    Phong xuy liễu hoa hồng phiến phiến,

佳人閒打鞦韆院。    Giai nhân nhàn đả thu thiên viện.

傷春背立一黄鶯,    Thương xuân bối lập nhất hoàng oanh,

惜景哀啼雙紫燕。    Tích cảnh ai đề song tử yến.

停針無語翠眉低,    Đình châm vô ngữ thúy mi đê,

倦倚紗窗夢欲迷。    Quyện ỷ sa song mộng dục mê.

却怪捲簾人喚起,    Khước quái quyển liêm nhân hoán khởi,

香魂終不到遼西。    Hương hồn chung bất đáo Liêu Tê (Tây).

  

     
        

* Chú Thích :

    - Thu Thiên 鞦韆 : là Cái Đu; nên ĐẢ THU THIÊN 打鞦韆 là Đánh Đu. 

    - Thương Xuân 傷春 : là Đau xót vì mùa xuân đã đi qua.

    - Bối Lập 背立 : là Đứng xây lưng lại.

    - Tích Cảnh 惜景 : là Tiếc cảnh xuân đà hết.

    - Ai Đề 哀啼 : là Tiếng chim hót bi ai, buồn thảm. Nếu từ nầy dùng cho người thì có nghĩa là "Khóc lóc một cách thảm thiết".  

    - Quyện Ỷ 倦倚 : Mõi mệt mà vựa vào... SA SONG 紗窗 : là Cửa sổ có màn che.  

    - Khước Quái 却怪 : Lại trách rằng...QUÁI là Động từ có nghĩa : Trách móc. 

    - Hương hồn 香魂 : là cái Hồn thơm, chỉ Hồn của phái nữ. Của phái nữ thì CÁI GÌ cũng thơm cả, kể cả hồn phách. (Mời đọc bài Tạp ghi và Phiếm luận : "HƯƠNG trong Truyện Kiều" sẽ rõ.) 

    - Liêu Tây 遼西 : Tên một quận xưa nằm ở phía tây của Liêu Hà thuộc tỉnh Liêu Ninh hiện nay, nhưng lại là vùng biên tái ngày xưa. 

 

* Nghĩa Bài Thơ :

                                         THƠ  MÙA HÈ

       Gió thổi hoa liễu từng mảnh từng mảnh đo đỏ bay bay. Người đẹp rảnh rỗi nên chơi đánh đu ở trong sân nhà. Vì thương xót cho mùa xuân đã đi qua nên một con oanh còn kêu trên cành liễu và hai con én tía còn tiếc cảnh xuân mà cất tiếng líu lo buồn bã. Nàng ngừng mũi kim thêu đôi mày biếc cúi thấp xuống, mõi mệt vựa vào màn nhiễu của song cửa chập chờn trong giấc mộng. Chỉ trách ai đó đã đến cuốn rèm làm cho nàng giật mình tỉnh giấc, nên mộng hồn rốt cuộc vẫn không thể đến được xứ Liêu Tây nữa rồi.

 

       Đọc bài thơ nầy làm cho ta nhớ đến bài kệ của Thiền sư Thích Trung Nhân đời Tống 宋.释中仁 là :

 

                 二八佳人刺繡遲,   Nhi bát giai nhân thích tú trì,

                 紫荊花下囀黃鸝。   Tử kinh hoa hạ chuyển hoàng li.

                 可憐無限傷春意,   Khả lân vô hạn thương xuân ý,

                 盡在停針不語時。   Tận tại đình châm bất ngữ thì !

Có nghĩa :

                Thêu thùa lơ đễnh giai nhân,

                Dưới cành hoa tím chim oanh hót chào.

                Thương thay xuân sắc dạt dào,

                Ngừng kim lặng lẽ biết bao ý tình !

 

       Hai câu chót của bài thơ lại làm cho ta nhớ đến bài "Y Châu Ca 伊州歌" của Kim Xương Tự 金昌绪(Có bản cho là Xuân Oán 春怨 của Cáp Gia Vận 亦作蓋嘉運)đời Đường :

 

                打起黃鶯兒,   Đả khởi hoàng oanh nhi,

                莫教枝上啼。   Mạc giao chi thượng đề.

                啼時驚妾夢,   Đề thời kinh thiếp mộng,

                不得到遼西。   Bất đắc đáo Liêu Tê (Tây).           

 Có nghĩa :

                Đuổi đi con chim hoàng oanh,

                Đừng để trên cành cất tiếng hót vang.

                Giật mình thiếp tỉnh mộng vàng,

                Liêu Tây khó đến thăm chàng đêm nay !

 

               

 

      Ngồi ở cảnh mùa hè, mà lại cứ nhớ tiếc cảnh mùa xuân. Bài thơ có tựa là HẠ TỪ (Thơ mùa Hạ) nhưng đúng ra là một bài thơ THƯƠNG XUÂN (Thương cảm cho mùa Xuân) thì đúng hơn.

 

*Diễn Nôm :

                                    HẠ TỪ

    

                   Lấm chấm liễu hồng bay phất phới,

                   Người đẹp đánh đu lòng phơi phới.

                   Thương cảm oanh vàng một tiếng kêu,

                   Đôi chim én liệng buồn hè tới.

                   Dừng kim nín lặng nhíu mày xanh,

                   Tựa màn song cửa mộng hồn quanh.

                   Trách kẻ kéo rèm làm tỉnh giấc,

                   Liêu Tây chẳng thể đến cùng anh.

    Lục bát :

                   Liễu hồng bay rụng phất phơ,

                Đánh đu người đẹp vẩn vơ vườn nhà. 

                   Thương xuân một chú oanh già,

                 Một đôi chim én la đà tiếc xuân.

                   Dừng kim nín lặng tần ngần,

               Tựa song hồn mông lâng lâng cỏi nào.

                   Trách ai kéo tỉnh giấc đào,

              Liêu Tây rốt cũng không sao gặp chàng !   

                                            

            

3. Tứ Thời Thi : THU TỪ.

            

    秋詞                               THU TỪ

 

清商浮空澄霽景,   Thanh thương phù không trừng tể cảnh,

霜信遙將孤雁影。   Sương tín diêu tương cô nhạn ảnh.

十丈蓮殘玉井香,   Thập trượng liên tàn ngọc tỉnh hương,

三更楓落吳江冷。   Tam canh phong lạc Ngô giang lãnh.

飛螢夜度碧闌干,   Phi huỳnh dạ độ bích lan can,

衣薄難禁剪剪寒。   Y bạc nan câm tiễn tiễn hàn.

聲斷洞簫凝立久,   Thanh đoạn động tiêu ngưng lập cữu,

瑤臺何處覓驂鸞 ?   Dao đài hà xứ mịch tham loan ?

 

         

* Chú Thích :

    - Thanh Thương 清商 : THANH là Trong, THƯƠNG là Một trong Ngũ Âm : Cung, Thương, Giốc, Trủy, vũ. THƯƠNG có giọng thê lương bi thiết, nên gọi là Thanh Thương. Ở trong bài mượn để chỉ tiếng gió thu hiu hắt. 

    - Trừng Tể 澄霽 : TRỪNG là trong vắt. TỂ là Trời vừa tạnh mưa. Nên TRỪNG TỄ là Trời quang mây tạnh.

    - Sương Tín 霜信 : là Tin Sương. Mỗi năm cứ gần đến tiết Sương giáng thì có chim nhạn bay đến trước để báo tin, nên thấy nhạn bay đến là biết sắp có sương rơi. Lâu dần, Tin Sương chỉ còn có nghĩa chỉ "Tin Tức" mà thôi. Như trong Truyện Kiều tả cô Kiều nhớ nhà lúc ở lầu Ngưng Bích :"Tin Sương luống những rày trông mai chờ".

    - Cô Nhạn 孤雁 : là Con nhạn cô độc.

    - Ngọc Tỉnh 玉井 : là Giếng Ngọc. Theo truyền thuyết, trên núi Thái Hoa có giếng ngọc, trong giếng có bạch liên ngàn cánh. Người nào ăn được hoa sen trắng ngàn cánh nầy có thể lên tiên. Trong bài thơ CỔ Ý của Hàn Dũ đời Đường có câu :"Thái Hoa phong đầu ngọc tỉnh liên, Hoa khai thập trượng ngẫu như thuyền 太华峰头玉井莲,花开十丈藕如船", vì thế NGỌC TỈNH còn gọi là BẠCH LIÊN TRÌ 白莲池 là "Giếng hoa sen trắng".

    - Phi Huỳnh 飛螢 : là Những con đom đóm lặp lòe đêm thu.

    - Nan Câm 難禁 : Khó mà cấm, Khó tránh khỏi, Không ngăn được...

    - Tiễn Tiễn Hàn 剪剪寒 : Từng trận từng trận gió lạnh.

    - Ngưng Lập 凝立 : là Ngưng đọng lại. Đứng một chỗ.

    - Dao Đài 瑤臺 : là Lầu cao được dát ngọc, thường dùng để chỉ chỗ tiên ở.

    - Tham Loan 驂鸞 : THAM là Xe ba ngựa kéo. LOAN là Chim Loan. THAM LOAN có nghĩa Cởi Chim Loan lên tiên dạo chơi.

 

* Nghĩa Bài Thơ :

                            THƠ MÙA THU

        Tiếng gió thu se sắt như cung thương rít trong cảnh từng không trong vắt khi trời quang mây tạnh. Nhìn bóng nhạn cô đơn mà mong ngóng tin sương. Hoa sen trắng đã tàn nhưng củ sen mười trượng trong giếng ngọc vẫn tỏa hương. Canh điểm ba nửa đêm lá cây phong rụng xuống làm cho nước sông Ngô chợt lạnh thêm. Những con đom đóm ban đêm bay vào lan can bằng đá xanh biếc. Áo mỏng nên không ngăn nổi từng trận từng trận gió lạnh. Tiếng tiêu ngọc đà chấm dứt hèn lâu mà người vẫn còn tần ngần đứng đó. Biết chim tham loan ở đâu mà tìm để cởi về Dao Đài cho đây ?

                   

                    

* Diễn Nôm :

                        THU TỪ

               Gió thu se sắt tầng xanh ngắt,

               Cánh nhạn tin sương trời trong vắt.

               Mười trượng sen tàn giếng tỏa hương,

               Ba canh phong rụng sông lạnh ngắt.

               Đêm về đom đóm lượn lan can,

               Gió thổi áo the rét ngập tràn.

               Lặng ngắt tiêu thiều thanh đứt đoạn,

               Dao đài tìm chốn cởi tham loan.

   Lục bát :

               Gío thu hiu hắt trời quang,

               Tin sương cô nhạn vút ngang lưng trời.

               Sen tàn hương tỏa nơi nơi,

               Ngô giang phong rụng nước trôi lạnh lùng.

               Lan can đóm lượn đêm nhung,

               Áo the từng trận lạnh cùng gió thu.

               Tiêu thiều lặng ngắt từ lâu,

               Dao Đài muốn đến phải cầu tham loan.

                                       

 

4. Tứ Thời Thi : ĐÔNG TỪ.

 

    冬詞                             ĐÔNG TỪ

 

寶爐撥火銀瓶小,    Bảo lô bát hỏa ngân bình tiểu,

一杯羅浮破清曉。    Nhất bôi La Phù phá thanh hiểu.

雪將冷意透疎簾,    Tuyết tương lãnh ý thấu sơ liêm,

風遞輕冰落寒沼。    Phong đệ khinh băng lạc hàn chiểu.

美人金帳掩流蘇,    Mỹ nhân kim trướng yễm lưu tô,

紙護雲窗片片糊。    Chỉ hộ vân song phiến phiến hồ.

暗裏挽回春世界,    Ám lý vãn hồi xuân thế giới,

一株芳信小山孤.      Nhất chu phương tín tiểu sơn cô.

 

        

 

* Chú Thích :

    - Bảo Lô Bát Hỏa 寶爐撥火 : là Bươi lửa (than) trong cáo lò nhỏ (qúy).

    - Nhất Bôi La Phù 一杯羅浮 : Một ly rượu La Phù.

    - Thanh Hiểu 清曉 : Buổi sáng trong lành.

    - Sơ Liêm 疎簾 : là Bức rèm thưa.

    - Hàn Chiểu 寒沼 : Đầm (ao) nước lạnh.

    - Kim Trướng 金帳 : là Cái mùng bằng chỉ kim tuyến.

    - Lưu Tô 流蘇 : Cái viền mùng có tua đẹp.

    - Ám lý 暗裏 : Trong âm thầm. Trong lặng lẽ.

    - Nhất Chu Phương Tín 一株芳信 : là do câu thơ của Tô Đông Pha đời Tống :" Niên niên phương tín phụ hồng mai 年年芳信负红梅". Có nghĩa : Mỗi năm cái cây mang lại tin thơm là đều vựa vào hồng mai cả. Ý chỉ mỗi năm báo tin thơm ( tin của mùa xuân sắp đến) đều là nhờ vào hồng mai cả ! Còn dân miền Nam Việt Nam ta thì chỉ biết có mai vàng báo tin xuân mà thôi, cũng như dân Miền Bắc, hễ cứ "Mỗi năm hoa đào nở" là biết xuân về Tết đến ngay !

 

* Nghĩa Bài Thơ :

                                Thơ Mùa Đông

        Khều lửa trong cái lò qúy để cho cái bình bằng bạc nho nhỏ ở trên, hâm lên một chung rượu La Phù để phá tan cái lạnh của một buổi sớm mai trong lành. Tuyết đem cái ý lạnh thấm qua bức màn thưa bên song của và gió lạnh đã đưa những làn băng mỏng rơi trên mặt ao lạnh. Cái màn bằng kim tuyến của người đẹp có tua viền đẹp đẽ phủ quanh. Trong khi bên cửa sổ chỉ che đậy bằng những mảnh giấy ván bằng hồ. Trong âm thầm cái thế giới của mùa xuân đang được vãn hồi, khi tin thơm của cây hồng mai đang trổ bông trên ngọn núi cô đơn nho nhỏ.

 

        
  

* Diễn Nôm :

                          ĐÔNG TỪ

 

               Bình bạc than hồng bên lò nhỏ,

               La Phù một chén trời sáng tỏ.

               Tuyết đem hơi lạnh thấm rèm thưa,

               Gió bấc đưa băng ao đóng bó.

               Người đẹp màn vàng phủ nhiễu tô,

               Bên song cản gió giấy thoa hồ.

               Âm thầm thế giới xuân hồi phục,

               Một cội mai hồng nở núi cô.

   Lục bát :

               Lò hồng bình bạc lửa reo,

            La phù một chén sáng theo nhau về.

               Tuyết rơi lạnh thấm màn the,

            Gió đưa băng mỏng phủ che mặt hồ.

               Trướng vàng người đẹp nhiễu tô,

             Giấy hoa chắn gió song hồ căm căm.

               Hồi xuân thế giới âm thầm,

            Một cành mai đỏ trổ bông báo điềm !

 

       Trên đây là TỨ THỜI THI đủ bốn mùa XUÂN HẠ THU ĐÔNG của nữ sĩ Ngô Chi Lan, một nữ tài danh thi nhân Việt nam dưới thời Hậu Lê, Trịnh Nguyễn.

       Xin được giới thiệu cùng tất cả các Thầy Cô, Các Thân Hữu trong Vườn Thơ Thẩn cùng tất cả các em học sinh thần mến; nếu có cảm hứng , xin cùng dịch cho vui !

 

                                                                                        Nay kính,

                                                                                     Đỗ Chiêu Đức

                                                                                          杜紹德

                                                                                       04-30-2020 

THƠ PHAN THANH GIẢN

                                                             Biên khảo Đỗ Chiêu Đức

 PHAN THANH GIẢN 潘清僩 (1796-1867) là danh sĩ, đại thần triều Nguyễn, tự Tĩnh Bá, Đạm Như, hiệu là Lương Khê 梁溪 và Ước Phu, biệt hiệu Mai Xuyên. Quê làng Bảo Thạnh, huyện Bảo An, tỉnh Vĩnh Long, nay là xã Bảo Thạnh, huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre. Phan Thanh Giản đậu cử nhân năm 1825, năm 1826 đậu tiến sĩ, ông là  vị Tiên Sĩ đầu tiên của đất Nam Kỳ. Năm 1862, ông cùng với Lâm Duy Hiệp đại diện cho triều đình Tự Đức ký Hoà ước năm Nhâm Tuất (05-06-1862) giao 3 tỉnh miền Đông Nam Kỳ cho Pháp. Năm 1863, ông được cử làm Chánh sứ (Phó sứ là Phạm Phú Thứ và Nguỵ Khắc Đản) sang Pháp thương nghị chuộc 3 tỉnh miền Đông Nam Kỳ. Năm 1867, quân Pháp đánh chiếm ba tỉnh miền Tây Nam Kỳ trong lúc ông đang nhậm chức Kinh Lược Sứ. Thấy tình thế không chống cự nổi, ông nộp thành Vĩnh Long cho Pháp, rồi nhịn ăn 17 ngày, kế đó uống thuốc độc tự tử vào ngày 4-8-1867, thọ 71 tuổi.
     Phan Thanh Giản sáng tác khá nhiều. Hầu hết các sáng tác của ông được tập hợp lại trong hai bộ sách Lương Khê Thi Thảo (in 1876) có 103 bài. Xin được giới thiệu một số bài dưới đây.

1. Bài thơ CỔ MAI LÂM CƯ 古梅林居 :


       Đây là một trong 20 bài vịnh cảnh Mai Lâm, nơi cha ông Phan Thanh Giản lớn lên và quay về sống phần đời còn lại.

      古梅林居                 CỔ MAI LÂM CƯ

 寒香依約合成墟,     Hàn hương y ước hợp thành khư,
   沙磧依然太古餘.     Sa tích y nhiên thái cổ dư.
   定識春花秋葉外,     Định thức xuân hoa thu diệp ngoại,
   菊溪桃徑又何如?     Cúc khê đào kính hựu hà như ?

  * Chú Thích :
      - Y Ước 依約 : là Chập chờn, thoang thoảng, khi có khi không.
      - Khư 墟 : là Gò đất lớn.
      - Sa Tích 沙磧 : Những cồn cát tụ lại.
      - Y Nhiên 依然 : là Vẫn cứ thế, vẫn như cũ.
      - Xuân Hoa Thu Diệp 春花秋葉 : là Hoa của mùa xuân và lá của mùa thu.
      - Cúc Khê Đào Kính 菊溪桃徑 : là Hoa cúc nở theo dòng khe nước và hoa đào nở dọc theo lối mòn.

  * Nghĩa Bài Thơ :
                         MAI LÂM Nơi Ở Cũ
        Hơi lạnh đưa hương thoang thoảng kết thành trên gò đất lớn. Những cồn cát từ ngàn xưa vẫn cứ trơ gan như cũ. Biết chắc là hoa nở vào mùa xuân và lá rụng lúc thu sang, còn những hoa cúc nở bên dòng khe nước và hoa đào nở dọc theo lối mòn thì hiện giờ ra sao ?!

  * Diễn Nôm :
                       MAI LÂM NƠI CŨ

               

               Hương thơm thoang thoảng chốn gò cao,
               Cồn cát y nhiên tự thuở nào.
               Vẫn biết hoa xuân thu lá rụng,
               Lối đào đường cúc đã ra sao ?!
     Lục bát :
               Gò cao hương lạnh chập chờn;
               Im lìm cồn cát chờn vờn xưa nay.
               Xuân hoa thu lá rụng bay,
               Đường đào lối cúc giờ rày ra sao ?!
                                             

2. Bài thơ HOÀNH KIỀU 橫橋 :


       Cảnh cầu tre lắt lẻo bắt ngang sông rạch ở Nam Bộ được cụ Phan Thanh Giản miêu tả lại như sau :

         橫橋                        HOÀNH KIỀU

    野人村塢隔林溪,    Dã nhân thôn ổ cách lâm khê,
    野徑沙頭略彴低。    Dã kính sa đầu lược chước đê.
    幽鳥一聲林際起,    U điểu nhất thanh lâm tế khởi,
    行人已渡夕陽西。    Hành nhân dĩ độ tịch dương tê (tây).

* Chú Thích :
      - Hoành Kiều 橫橋 : Cầu bắt ngang qua sông ngòi kênh rạch.
      - Thôn Ổ 村塢 : Xóm nhà ở trên cao xung quanh bao bọc bởi sông nước.
      - Chước 彴 : Cầu độc mộc, cầu khỉ.
      - U Điểu 幽鳥 : Những con chim trong rừng thâm u vắng lặng.
      - Độ 渡 : là Đi ngang qua sông ngòi kênh rạch, thường thì đi bằng đò, còn trong bài là đi ngang qua cầu.
      - Tê 西 : là chữ Tây, đọc trại đi cho ăn vận. TỊCH DƯƠNG TÊ 夕陽西 là Nắng chiều ở phía trời tây.

  * Nghĩa Bài Thơ :
                             CẨU NGANG

         Người sống nơi thôn dã với sông ngòi rừng hoang bao quanh, con đường quê đưa đến bến cát đầu sông làm cho chiếc cầu khỉ như thấp hẵn xuống. Một tiếng chim chiều kêu làm dậy cả rừng vắng thâm u, trong khi người bộ hành cũng đã đi ngang qua sông trong nắng chiều nghiêng chiếu phía trời tây.
         Qủa là cảnh thôn quê nên thơ vắng lặng dưới ánh nắng chiều chiếu nghiêng chiếc cầu khỉ bắt qua sông với người bộ hành đang vội vả quay về nhà trước khi trời sụp tối.

  * Diễn Nôm :
                             CẦU NGANG

                  

                 Thôn dã sông ngòi bủa tứ giăng,
                 Đường quê cầu khỉ bắt ngang sông.
                 Chim kêu rừng vắng người ngơ ngẩn,
                 Nắng chiếu trời chiều vội bước chân.
     Lục bát :
                 Sông ngòi rừng lẫn làng quê,
                 Đường mòn cầu khỉ nhiêu khê ngại ngùng.
                 Chim kêu rừng vắng mông lung,
                 Nắng chiều nghiêng chiếu qua sông bộ hành.



3. Bài thơ THUẬN PHAN :


      Bình Thuận Phan Rang với những bãi cát trắng, đất đỏ, con sông ở Bình Thuận xuất hiện trong thơ Phan Thanh Giản và trong đó thoáng hiện đời sống của ngư dân, nông dân, kẻ bán rau người bán cá tấp nập nhộn nhịp bên bến sông. 

  歷盡沙崖與水隈,    Lịch tận sa nhai dữ thủy ôi,
    此間風物洞然開.    Thử gian phong vật đỗng nhiên khai.
    閭閻撲地成居聚,    Lư diêm phác địa thành cư tụ,
    舸艦迷津任溯洄.    Kha hạm mê tân nhậm tố hồi.
    賣菜兒童青洞出,    Mại thái nhi đồng thanh động xuất,
    沽魚婦女綠濱囬.    Cô ngư phụ nữ lục tân hồi.

* Chú Thích :
    - Lịch Tận 歷盡 : là Trải qua hết, là Xuyên suốt, là Vượt qua hết.
    - Sa Nhai 沙崖 : là Vách núi cát (ven sông).
    - Thủy Ôi 水隈 : là Những khúc quanh trên dòng sông.
    - Đỗng Nhiên 洞然 :là Một cách rõ rệt.
    - Lư Diêm Phác Địa 閭閻撲地 : là Nhà cửa ở chen chút đầy cả mặt đất.
    - Kha Hạm Mê Tân 舸艦迷津 : là Thuyền bè chen chút đậu chật cả bến sông.
    - Mại Thái 賣菜 : là Bán cải bán rau.
    - Cô Ngư 沽魚 : là Mua cá mua tôm.

* Nghĩa Bài Thơ :
                               THUẬN  PHAN
     Lướt qua hết các vách núi cát và các khúc quanh của dòng sông, thì phong cảnh trước mắt hiện ra một cách rõ rệt ở nơi nầy. Nhà cửa chen chút nhau đầy cả mặt đất tạo thành một quần cư ở nơi đây, dưới bến thì thuyền bè chen chút nhau đậu chật cả bến sông mặc tình xuôi ngược. Những đứa bé bán rau cải đi ra từ các hang động xanh, và các chị bạn hàng mua bán cá trở về từ bến nước xanh lơ.

     Hai thành ngữ "Lư Diêm Phác Địa 閭閻撲地" và "Kha Hạm Mê Tân 舸艦迷津" có xuất xứ từ bài "Đằng Vương Các Tự 滕王閣" của Vương Bột, một trong Tứ Kiệt của buổi sơ Đường. Nguyên văn như sau :

        閭閻撲地,鐘鳴鼎食之家;Lư diêm phác địa, chung minh đĩnh thực chi gia;
        舸艦彌津,青雀黃龍之舳。Kha hạm mê tân, thanh tước hoàng long chi trục.
Có nghĩa :
              Nhà xây chật đất, đều là hàng quyền qúy cao sang;
              Thuyền đậu đầy sông, toàn được vẽ rồng vàng thanh tước.
               (Thanh Tước : Tước là Khổng tước, con công màu xanh).

      Đó là hai câu tả cảnh trí và địa thế của Đằng Vương Các ở Nam Xương ( thuộc tỉnh Giang Tây) đời Đường, được cụ Phan mượn dùng để tả lại cảnh trí bến sông của Bình Thuận Phan Rang lúc bấy giờ đã rất phát triển và sầm uất.

* Diễn Nôm :
                         THUẬN PHAN

                

               Xuyên suốt vượt khúc sông vách đá,
               Cảnh nơi đây tất cả hiện ra.
               Ven sông chen chút những nhà,
               Bến sông tấp nập thuyền qua theo dòng.
               Bán rau cải, đồng xanh lũ trẻ,
               Bạn hàng mua tôm cá bờ xanh,
               Phồn vinh cảnh đẹp dường tranh !
    Lục bát :
               Vượt qua vách đá quanh sông,
               Bỗng như sáng rực cánh đồng mở ra.
               Bờ sông chen chút là nhà,
               Ghe thuyền chật bến lại qua theo dòng.
               Trên bờ bán cải nhi đồng,
               Dưới sông tôm cá mặc lòng bán buôn !


4. Bài thơ GIAO HÀNH (2) 郊行 (2) :


       Cảnh đồng bằng bao la của Bắc bộ, lau sậy chen chúc với vườn dâu tằm. Cảnh nông dân thu hoạch vụ lúa mạch. Cảnh hàng tre xanh lả ngọn ở góc làng, chén nước chè trong quán chè quê toả ngát hương... đều được cụ Phan Thanh Giản miêu tả lại tỉ mỉ trong bài thơ sau đây :

           郊行 (2)                   GIAO HÀNH (2)

       渺渺平蕪一望茫,     Diểu diểu bình vu nhất vọng mang,
       茅柴雜遝對麻桑.     Mao sài tạp đạp đối ma tang.
       田家幾處收新麥,     Điền gia kỷ xứ thu tân mạch.
       邨落數緣長嫩篁.     Thôn lạc sổ duyên trưởng nộn hoàng.
       熱茗店蒸溪水净,     Nhiệt mính điếm chưng khê thủy tịnh,
       逺途客苦夏炎長.     Viễn đồ khách khổ hạ viêm tràng.

* Chú Thích :
    - Giao Hành 郊行 : GIAO là Giao Ngoại 郊外, là vùng ngoại ô; nên Giao Hành là đi dạo ở vùng ngoại ô đồng nội. Hoặc "Đi Ngang Vùng Ngoại Ô" của nơi nào đó.
    - Bình Vu 平蕪 : là Cánh đồng trống. 
    - Mao Sài 茅柴 : MAO là loại cỏ dài lá sắc lỏi cứng có thể phơi khô để lợp nhà, ta gọi là MAO ỐC 茅屋 là Nhà lá, nhà cỏ. SÀI là Những loại cây tạp có thể dùng làm củi, như lau sậy; Nên MAO SÀI nói chung là Cây cỏ hoang. 
    - Ma Tang 麻桑 : hay Tang Ma cũng thế. MA là cây đay (Miền Nam gọi là cây Bố) dùng để kéo sợi. TANG là cây Dâu tằm ăn, dùng để nuôi tằm lấy tơ. 
    - Tân Mạch 新麥 : MẠCH là Lúa Mì, nên TÂN MẠCH là Lúa mì mới chín.
    - Nộn Hoàng 嫩篁 : NỘN là còn non, HOÀNG là Cây tre, nên NỘN HOÀNG là Măng tre mới mọc còn non.
    - Mính 茗 : còn đọc là MINH : là Trà, nên NHIỆT MÍNH là Trà nóng.

* Nghĩa Bài Thơ :
                         ĐI DẠO VÙNG NGOẠI Ô (2)

       Cánh đồng trống mênh mông nhìn mút mắt, cỏ cây tạp nhạp mọc đối diện với ruộng dâu, ruộng đay. Có mấy chỗ nhà nông đang thu hoạch lúa mạch mới, mấy con đường trong xóm đưa tới lũy tre làng đang lúc trổ măng non. Quán trà nóng bên đường được nấu bằng nước trong trong khe chảy ra, người khách đường xa đang khổ vì cái nóng của mùa hè đang kéo dài ra. 

* Diễn Nôm :
                             GIAO HÀNH (2)

                    

                     Đồng hoang cỏ mọc ngút chân mây,
                     Lau sậy dâu tằm lẫn ruộng đay.
                     Lúa mạch mấy nơi thu hoạch sớm,
                     Măng non đầu xóm lũy tre gai.
                     Hàng chè khói tỏa trong khe nước,
                     Lữ khách than thân hạ nóng dài.
    Lục bát :
                     Mênh mông đồng cỏ mịt mờ,
                     Sậy lau tạp nhạp ngang bờ dâu đay.
                     Lúa mì thu hoạch đầu tay,
                     Bụi tre làng xóm đã nhoài măng non.
                     Vệ đường quán nước chè thơm,
                     Hạ nung lữ khách dặm trường than thân.


        (Hai bài thơ THUẬN PHAN và GIAO HÀNH (2) trích theo tài liệu trên mạng :  "Phan Thanh Giản với những đóng góp vào văn học Hán Nôm Nam Bộ" của tác giả LÊ QUANG TRƯỜNG - HÁN NÔM - 26 THÁNG 7 2017. Hình như mỗi bài đều thiếu mất 2 câu kết cuối.)

 

5. Bài thơ GIAO HÀNH (3) 郊行 (3):

         Bài 3 trong chùm thơ Giao Hành tả lại cảnh mưa chiều tắt nắng với những đứa trẻ chăn trâu đang lùa trâu về băng qua những vũng nước, những người đi đò chiều tranh nhau qua đò, khói mây bay trong gió và tiếng lách tách trong bụi tre, tiếng quạ kêu rộn rã lúc chiều tàn :

 

      郊行 (3)                   GIAO HÀNH (3)

 

    牧童驅犢晚還莊,     Mục đồng khu độc vãn hoàn trang,

    迅歩行過水上塘.     Tấn bộ hành qua thủy thượng đường.

    叢笋雨來喧鎧甲,     Tùng duẫn vũ lai huyên khải giáp,

    湖菱波細露鋒鋩.     Hồ lăng ba tế lộ phong mang.

    數團煙逐溪風去,     Sổ đoàn yên trục khê phong khứ,

    一簇人争野渡忙.     Nhất thốc nhân tranh dã độ mang.

    惆悵鄕關何處是?     Trù trướng hương quan hà xứ thị ?

    寒鴉枯樹閙斜陽!     Hàn nha khô thọ náo tà dương !

 

      

 

 * Chú Thích :

     - Khu Độc 驅犢 : KHU 驅 có bộ MÃ là Ngựa bên trái, vốn có nghĩa là LÙA NGỰA; sau dùng chung để chỉ "Luà những con vật có bốn chân". ĐỘC 犢 là Con Nghé, chỉ chung các con trâu mới lớn. Nên KHU ĐỘC là Lùa trâu.

     - Tấn Bộ 迅歩 : TẤN là Nhanh nhẹn; BỘ là Bước đi. Nên TẤN BỘ là bước nhanh, chỉ Đi một cách vội vã.

     - Tùng Duẫn 叢笋 : TÙNG là Khóm, là Bụi. DUẪN là Măng non. nên Tùng Duẫn là Bụi tre non.

     - Khải Giáp 鎧甲 : là Áo giáp có dát bạc dát đồng cho cứng. Trong bài thơ cụ Phan Thanh Giản mượn để diễn tả tiếng các cây tre cọ xát vào nhau nghe kẽo kẹt giống như là tiếng áo giáp va chạm nhau vậy.

     - Phong Mang 鋒鋩 : PHONG là cái Chóp, cái Đĩnh, Cái Mũi. MANG là Bén, Nhọn, lắp lánh. Nên Phong Mang là cái mũi nhọn; trong bài thơ chỉ những búp hoa ấu còn chưa kịp nở.

     - Sổ Đoàn Yên 數團煙 : là Mấy đám khói (sóng).

     - Nhất Thốc Nhân 一簇人 : là Một đám người, một toán người.

     - Trù Trướng 惆悵 : là Bồi hồi, Ngơ ngẩn.

     - Náo 閙 : là Náo Loạn, là Ồn ào.

     - Tà Dương 斜陽 : là Ánh nắng xiên; chỉ ánh nắng đã về chiều.

 

 * Nghĩa Bài Thơ :

                                ĐI NGANG VÙNG NGOẠI Ô (3)

 

      Mục đồng đang xua lũ trâu con trong buổi chiều tà để trở về thôn xóm, đang bước nhanh qua những vũng nước đọng ở trên đường. Bụi tre non sau cơn mưa đang kẽo kẹt trước gió như những manh áo giáp cọ vào nhau, bên hồ ấu những búp hoa ấu non nhọn và sắc đang nhấp nhô trong sóng nước trước những làn gió nhẹ lướt qua. Trên sông vài cuộn khói sóng lơ lửng theo gió bay đi, một đám người đang nhốn nháo tranh nhau qua đò để về nhà cho kịp tối. Lòng ta cảm thấy bồi hồi ngơ ngẩn tưởng nhớ đến quê hương giờ đang ở nơi đâu ? Tiếng lũ quạ lạnh đang kêu lên rộn rã trên các cành cây khô trong ánh nắng của buổi chiều tà !

 

     Những hình ảnh hoạt động, những âm thanh sống động quen thuộc của vùng thôn dã Việt Nam được hiễn hiện một cách rõ nét trong thơ của cụ Phan Thanh Giản trong những lần kinh lược từ nam ra bắc, tạo nên một sắc thái đặc biệt Việt Nam của những vần thơ Đường Luật với đầy đủ những âm hưởng và thi vị của những áng thơ Đường nổi tiếng, như câu :

 

            惆悵鄕關何處是?   Trù trướng hương quan hà xứ thị ?

 

làm cho ta nhớ tới câu :

 

            日暮鄕關何處是?   Nhật mộ hương quan hà xứ thị ?

 

trong bài thơ nổi tiếng Hoàng Hạc Lâu của Thôi Hiệu đời Đường. Và câu cuối...

 

            寒鴉枯樹閙斜陽!   Hàn nha khô thọ náo tà dương !

 

lại làm cho ta nhớ tới bài thơ Thiên Tịnh Sa -Thu Tứ 秋思 nổi tiếng của Mã Trí Viễn đời Nguyên là :

 

            枯藤老樹昏鴉...    Khô đằng lão thọ hôn nha...

            夕陽西下,          Tịch dương tây hạ,

            斷腸人在天涯。    Đoạn trường nhân tại thiên nha !

  Có nghĩa :

                  Mây khô quạ ám cây già...

                  Nắng chiều ngã bóng tà tà về tây,

                  Chân trời đứt ruột người đây !

 

     Trong suốt thời gian làm quan của cụ Phan Thanh Giản, trên những chặng đường bôn ba kinh lược, ông đã ghi lại những cảm xúc trong những cuộc hành trình : Gia Định, Bình Thuận, Khánh Hoà, Phú Yên, Bình Định, Quảng Ngãi, Quảng Nam, Đà Nẵng, Thuận Hoá, Quảng Trị, Quảng Bình, Ninh Bình, Thái Nguyên... Những bài thơ làm trong các hành trình đó, cảnh vật con người của từng địa phương,  một phần được phản ánh dưới cái nhìn mới mẻ, thanh tân của ông một cách rất chân thành. 

* Diễn Nôm :

                                 GIAO HÀNH

 

                      Đuổi trâu chiều xuống lẹ về làng,

                      Nhanh bước xuyên qua vũng nước ngang.

                      Kẽo kẹt gió lùa tre tiếng vọng,

                      Nhấp nhô sóng nước ấu hoa vàng.

                      Chập chờn khói sóng bay theo gió,

                      Nhốn nháo bến đò tất tả sang.

                      Quê cũ ngẩn ngơ chiều khuất bóng,

                      Cành khô quạ rộn nắng chiều tàn !

    Lục bát :

                     Mục đồng xua lũ trâu về,

                     Chiều hoang nước đọng tư bề bước chân.

                     Tre làng rít tựa giáp ngân,

                     Nhấp nhô hoa ấu chập chờn sóng xao.

                     Trên sông khói sóng dạt dào,

                     Qua đò nhốn nháo tranh nhau những người.

                     Quê hương khuất bóng chiều rơi,

                     Nắng tàn tiếng qụa bồi hồi cây khô !

  

 
6. Bài thơ ĐĂNG HOÀNG HẠC LÂU :

       Năm 1834, Minh Mạng thứ 15, Cụ PHAN THANH GIẢN được cử đi sứ Trung Quốc. Khi đi ngang qua ngôi lầu nổi tiếng nầy, cũng như tất cả những thi nhân từ ngàn xưa đến nay, ông đã không bỏ lỡ dịp may lên thăm và ngắm ngôi lầu với nhiều huyền thoại nầy, và cũng vì thế mà ta mới có dịp thưởng thức thêm một bài thơ trác tuyệt của ông : ĐĂNG HOÀNG HẠC LÂU sau đây : 

    ĐĂNG HOÀNG HẠC LÂU                           登黃鶴樓     
                     

Tích thời hạc dĩ hà niên khứ ?                  昔時鶴已何年去?   
Thiên tải nhân tòng Nam cực lâm.            千載人從南極臨。
Anh vũ châu tiền phương thảo lục,           鸚鵡洲前芳草綠,
Tình Xuyên Các thượng bạch vân thâm.    晴川閣上白雲深。
Bán liêm lạc nhật phù Giang Hán,            半簾落日浮江漢,
Nhất phiến hàn lưu tống cổ câm (kim)      一片寒流送古今。
Mãn mục yên ba chuyển trù trướng,         滿目煙波轉惆悵,
Du du trần mộng thập thu tâm.               悠悠塵夢拾秋心!
 
Dịch Nghĩa :
 
       Câu 1 :  Ngày xưa, Hạc đã bay đi mất tự năm nào ? 
       Câu 2 : Ngàn năm sau, mới có người từ vùng cực Nam đến đây.( Ngàn năm chỉ là cách nói nhấn, để chỉ rất nhiều năm rồi. Đối với Trung Hoa xưa thì nước ta ở về phía cực Nam. Câu nầy Cụ Phan tự chỉ mình là người đến từ Nước cực Nam, là nước xa tít ở cỏi Nam  ).
      Câu 3 : Cỏ non vẫn còn xanh tươi trên cù lao Anh Vũ ở giữa ngã ba sông. Liên hệ câu : Phương thảo thê thê Anh Vũ Châu 芳草萋萋鸚鵡洲, trong bài Hoàng Hạc Lâu của Thôi Hiệu đời Đường ).
      Câu 4 : Mây trắng vẫn còn chập chùng trắng xóa khi ta đứng trên Tình Xuyên Các. ( chữ " Thâm " ở đây không có nghĩa là " sâu " , mà là " Đậm ", dùng để chỉ màu sắc, mây trắng mà " đậm ", là mây " trắng xóa chập chùng " . Chữ THÂM ở đây còn dùng để đối với chữ LỤC ở câu trên.
      Câu 5 : ( Vì đứng trong lầu nhìn ra, nên thấy...) Mặt trời lặn như nổi trên sông nước lung linh xuyên qua Nửa Bức Rèm ( bán liêm ) treo trên lầu .
      Câu 6 : Một dãy nước chảy âm thầm, lạnh lùng xuyên suốt từ ngàn xưa đến nay.
      Câu 7 : Mãn mục là " đầy mắt " , ở đây có nghĩa là khoảng không gian mênh mông trước mắt. Câu nầy có nghĩa : Khói sóng mênh mông khiến cho lòng xúc đông bồi hồi ( trù trướng ).
      Câu 8 : ( Nên chi )...Trong ( giấc mộng trần thế ) cuộc đời mộng ảo nầy cũng chỉ nhặt nhạnh ( thập )  được lòng hoài cảm trong mùa thu mà thôi !. Câu cuối nầy, có thể Cụ PHAN đã chơi chữ đây, vì chữ THU 秋 ở trên, chữ TÂM 心 ở dưới, nếu ghép lại thì ta sẽ có chữ SẦU 愁. Cũng vừa hợp với chủ ý của bài thơ gốc của Thôi Hiệu :

             Nhật mộ hương quan hà xứ thị             日暮鄉関何處是
             Yên ba giang thượng sử nhân SẦU        烟波江上使人愁

mà nhà thơ Tản Đà đã dịch rất xuất sắc là :

               Quê hương khuất bóng hoàng hôn
               Trên sông khói sóng cho buồn lòng ai  !....

        Mặc dù không sử dụng vần " LÂU...SẦU " như Thôi Hiệu, nhưng âm hưởng của bài Đăng Hoàng Hạc Lâu của cụ Phan Thanh Giản vẫn tạo nên một nỗi niềm hoài cổ sâu xa man mác với hạc vàng mây trắng, với Anh Vũ Châu, với Tình Xuyên Các : Một kiến trúc được xây dựng nên và được đặt tên do câu thơ bất hủ của Thôi Hiệu " Tình xuyên lịch lịch Hán dương thọ ". Bài thơ được kết thúc bằng lối chơi chữ chiết tự tài hoa của cụ Phan để hướng bài thơ về với mối sầu thiên cổ " Du du trần mộng thập thu tâm ! " làm ta nhớ đến câu : " Ai đem thu cảnh họa cùng thu tâm !" của Nữ sĩ Tương Phố trong Thi Ca Tiền Chiến...
 
      Bài thơ Đăng Hoàng Hoạc Lâu nầy của cụ PHAN đã được Thầy Trò Cựu học sinh PHAN THANH GIẢN & ĐOÀN THỊ ĐIỂM TP. Cần Thơ của chúng tôi cùng " xúm nhau " diễn nôm, xem đây như là một hoài niệm, một chút lòng thành của đám hậu sinh tưởng nhớ về vị Tiến Sĩ đầu tiên của đất Nam Kỳ sinh sau đẻ muộn. Mời tất cả cùng đọc cho vui...
                  

                                            Hoàng Hạc lâu xưa và nay


      Trước tiên là bài DIỄN NÔM của Thầy PHAN HUY VIÊN với bút hiệu CHÂN DIỆN MỤC (Tây Đô Cuồng Sĩ) :

     LÊN LẦU HOÀNG HẠC


 Hạc đã bay đi tự thuở nào
 Một người Nam muộn đến lầu cao
 Bãi xa thơm cỏ xanh xanh mắt
 Sông tạnh lầu mây trắng một mầu
 Rèm hắt bóng tà vờn trên sóng
 Nước buồn trôi lạnh một chiều sâu
 Bồi hồi gửi mắt qua sương khói
 Đem mộng ngàn năm ủ nỗi sầu
                                         
CDM.

      Lên Lầu Hoàng Hạc 
                   
cô Phạm Thảo Nguyên 
Chim hạc năm nao đã vút bay
Ngàn sau nam cực tới nơi đây
Cỏ non Anh Vũ xanh xanh ngắt
Lầu vắng lâng lâng trắng những mây
Trời lặn nửa rèm sông Hán rợn
Lạnh trôi một dải tự xưa nay
Bao la khói sóng bồi hồi dạ
Đời mộng lòng thu sầu góp đầy
                                         PTN
Đăng Hoàng Hạc Lâu
                       
Thầy Phạm Khắc Trí
Thuở nào xưa hạc đã cao bay ,
Viễn khách trời đưa đẩy đến đây.
Anh Vũ cồn xanh ngàn cỏ biếc ,
Tình Xuyên gác trắng một màu mây.
Nửa rèm kim cổ chiều sông lạnh ,
Một dải giang hà vạt nắng phai.
Khói sóng mênh mang nao tấc dạ ,
Mộng đời lãng đãng nỗi niềm tây.
                                           PKT.
        Lên Lầu Hoàng Hạc
                             
Trầm Vân 
Hoàng hạc ngày nao đã vút bay
Cực Nam người đến ghé lầu này
Cỏ non Anh Vũ màu xanh mướt
Mây trắng Tình Xuyên gió biếc say
Ác lặn nửa rèm sương lãng đãng
Sông dài một dải nước khoan thai
Ngập trời khói sóng giăng sầu nhớ
Dằng dặc lòng thu nỗi cảm hoài
 
Bài thứ hai theo thể Lục Bát :
                             
Trầm Vân 
Ngày xưa hoàng hạc cao bay
Cực Nam  người đến chốn này ngàn sau
Cỏ non Anh Vũ biếc màu
Tình Xuyên mây trắng bên lầu phiêu du
Nửa rèm ác lặn sương mờ
Sông dài một dải gió thơ thẩn luồn
Mênh mông khói sóng sầu buông
Nhớ quê dằng dặc gieo buồn thu tâm
                                               
Thầy  Võ Văn Vạn.

    LÊN LẦU  HOÀNG  HẠC
                             Song Quang 
Hoàng Hạc ngày xưa đã vút bay
Người Nam đến viếng  ở nơi nầy
Cỏ non Anh Vũ còn xanh thẩm
Mây trắng Tình Xuyên vẫn chẳng phai
Ác lặn nửa rèm chìm sông vắng
Nước dòng cuộn chảy tự xưa nay
Mênh mông khói sóng hồn giao động
Lối mộng thu tâm cảm kích hoài.
                                               
 SQ.
 
   LÊN LẦU HOÀNG HẠC
                               
Đỗ Chiêu Đức

Ngàn xưa hoàng hạc đã cao bay,
Người đến ngàn sau, viếng chốn nầy
Anh Vũ cỏ non màu vẫn biếc
Tình Xuyên mây trắng sắc chưa phai
Nửa rèm ác lặn chìm như nổi
Một dãi sông dài xưa đến nay
Khói sóng ngập trời nghe cảm khái
Thu tâm dằng dặc mộng trần ai !

    Lục Bát :

Ngàn xưa hoàng hạc cao bay
Ngàn sau người đến bên trời cực Nam
Vũ Châu cỏ vẫn xanh non
Trên Tình Xuyên Các mây còn trắng bông
Nửa rèm ác lặn bên sông
Cổ kim thế sự theo dòng nước trôi
Mênh mông khói sóng bời bời
Cỏi trần dằng dặc bồi hồi thu tâm !

 

                                   Đỗ Chiêu Đức


*Đính kèm theo bài viết nầy là tài liệu về ...

                             晴川阁     TÌNH XUYÊN CÁC

       晴川阁是湖北省重点文物保护单位。位于武汉城内汉阳龟山东麓长江边的禹功矶上。晴川阁始建于明代嘉靖年间,其名取自唐代诗人崔颢诗句"晴川历历汉阳树"。有"楚四名楼"之誉。因与对岸黄鹤楼隔江对峙,相映生辉,被称为"三楚胜境"。
 
      TÌNH XUYÊN CÁC 晴川阁 là đơn vị trọng điểm bảo vệ những vật phẩm văn hóa. Vị trí nằm ở trên bờ đá Vũ Công Cơ của sông Trường Giang, phía đông của Quy Sơn thuộc địa phận Hán Dương ở trong thành Vũ Hán. Tình Xuyên Các được bắt đầu xây dựng từ năm Gia Tĩnh triều Minh. Tên lầu được đặt theo câu thơ " Tình xuyên lịch lịch Hán Dương thọ 晴川历历汉阳树 " của Thôi Hiệu đời Đường. Tình Xuyên Các thuộc một trong bốn lầu các nổi tiếng của đất Sở ( Sở tứ danh lâu 楚四名楼 ), vì nằm đối diện với Hoàng Hạc Lâu ở bên kia sông, nên cùng soi rọi làm đẹp cho nhau, được xưng tụng là " tam Sở thắng cảnh 三楚胜境 " (  một trong ba thắng cảnh của đất Sở ).

 

                                                                                      Đỗ Chiêu Đức dịch.               

 

 * Hình ảnh của Tình Xuyên 晴川阁 Các hiện nay.

Thơ TRẦN QÚY CÁP

                       Biên khảo Đỗ Chiêu Đức

 Trần Quý Cáp 陳季恰 (1870-1908) tự Dã Hàng 野航, Thích Phu 適夫, hiệu Thai Xuyên 台川, chí sĩ nhiệt tình trong phong trào Duy Tân, nhà thơ Việt Nam, quê làng Bất Nhị, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam. Đỗ tiến sĩ năm 1901, ông là một trong Ngũ hổ, năm người học trò giỏi xứ Quảng bấy giờ. Sớm có tinh thần yêu nước, mê “tân thư”, ông định trốn sang Nhật Bản theo Phan Bội Châu nhưng không thành, sau cùng Phan Chu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng cổ động cho phong trào Duy Tân, bài xích cách học từ chương, đề xướng lối học mới ích nước lợi dân. Khi làm giáo thụ phủ Thăng Bình (Quảng Nam), ông mời thầy đến dạy quốc ngữ và tiếng Pháp ở trường phủ, theo chủ trương của Phan Chu Trinh. Vì công kích bọn quan lại địa phương nên ông bị đổi đi Diên Khánh, tỉnh Khánh Hoà. Nhân vụ chống sưu thuế ở Trung Kỳ năm 1908, ông bị thực dân Pháp bắt và kết án tử hình chém ngang lưng, mặc dù kẻ thù không có chứng cớ.

 

      Hiện chỉ tìm thấy 2 bài thơ bằng chữ Hán của ông trên THI VIÊN là "Đà Nẵng Cảm Hoài" và " Vãn Quá Hải Vân Quan", mời tất cả cùng nghiên cứu.

 

1. Bài thơ ĐÀ NẴNG CẢM HOÀI :

 

   沱曩感懷                   ĐÀ NẴNG CẢM HOÀI

 

此地何由起戰鋒,    Thử địa hà do khởi chiến phong ?

祇今到處豕蛇蹤。    Chỉ kim đáo xứ thỉ xà tung.

船臨內埠三才颭,    Thuyền lâm nội phụ tam tài triển,

車駛重關一路通。    Xa sử trùng quan nhất lộ thông.

故國山河鄰笛裏,    Cố quốc sơn hà lân địch lý,

誰家樓閣夕陽中。    Thùy gia lâu các tịch dương trung.

安能再起陳興道,    An năng tái khởi Trần Hưng Đạo,

共挽藤江偉大功。    Cộng vãn Đằng Giang vĩ đại công ?!

 

             陳季恰                                   Trần Quý Cáp 

                   Tàu Liên quân Pháp - Tây Ban Nha tấn công Đà Nẵng năm 1858

 

*CHÚ THÍCH :

   - Đà Nẵng 沱曩 : là Thương cảng lớn nhất miền Trung trên cửa sông Hàn ở Quảng Nam, tàu bè ngoại quốc lui tới nhiều, buôn bán phát đạt, là nhượng địa của ta cho  Pháp lúc bấy giờ.

   - Hà Do 何由  : là Vì lý do gì ?

   - Thỉ Xà 豕蛇 : là Heo Rắn, do thành ngữ "Phong Thỉ Trường Xà 封豕長蛇" mà ra. Có nghĩa là "Lợn to rắn dài", thường dùng để chỉ những kẻ tham lam hung bạo; trong bài thơ chỉ những người Châu Âu như Pháp Tây ban Nha, Bồ Đào Nha ...

   - Nội Phụ 內埠 : là Bến cảng cho ghe thuyền lui tới buôn bán trong nước.

   - Tam Tài 三才 : Theo sách Tam Tự Kinh thì TAM TÀI là Thiên Địa Nhân, còn ở đây dùng để chỉ lá cờ Tam Sắc ba màu Xanh Trắng Đỏ của Pháp.

   - Trùng Quan 重關 : là Cửa quan ải trùng lắp, ở đây chỉ cửa quan của ta và cửa quan của Pháp.

   - An Năng 安能 : là Nghi vấn tự, có nghĩa : Làm sao có thể ... được ?

   - Tái khởi 再起 : là Lại khơi dậy. AN NĂNG TÁI KHỞI là Làm thế nào để có thể khơi dậy...được.

   - Cộng Vãn 共挽 : là Cùng nhau vãn hồi, cùng nhau làm lại...

 

* NGHĨA BÀI THƠ :

                                  CẢM HOÀI về Cửa Khẩu ĐÀ NẴNG

             Nơi đây vì cớ chi mà lại nổi lên một trận chiến tranh giao phong với nhau, để đến nỗi bây giờ khắp nơi những lợn lòi rắn độc, những người xấu xa hung ác ngang dọc tới lui. Tàu cặp vào bến cảng thương buôn đều phấp phới lá cờ tam tài, còn xe thì chạy một lèo xuyên qua cả hai cửa quan ải. Sông núi nước non cũ chìm trong tiếng sáo của làng bên, và lầu các nhà ai đang nhuộm buồn dưới ánh nắng chiều. Làm thế nào để có thể khơi dậy tinh thần của Trần Hưng Đạo để cùng nhau làm lại cái chiến công hiển hách vĩ đại của trận Bạch Đằng Giang đây ?!

 

            Chữ ĐỊCH 笛 là Cây sáo, là Tiếng sáo, nên LÂN ĐỊCH 鄰笛 là Tiếng sáo của vùng lận cận, là tiếng sáo của làng bên cạnh. Nhưng ĐỊCH 笛 cũng là tiếng Còi Hụ, như Cảnh Địch 警笛 là Tiếng còi hụ báo động của cảnh sát. Trong bài thơ trên, LÂN ĐỊCH có thể là chỉ tiếng còi hụ của các chiếc tàu buôn Pháp đang đậu gần  ở bến Đà Nẵng. Còn LÂU CÁC 樓閣 ở đây cũng có thể là những dãy nhà lầu do người Pháp xây dựng nên, nên cụ Trần Qúy Cáp mới mĩa mai bằng hai chữ THÙY GIA 誰家 là Nhà ai ? Những dãy nhà lầu nầy là nhà của ai mà lại nằm trong ánh nắng chiều của xứ ta vậy ?! Cho nên, mới đưa đến hai câu kết là : " Muốn làm sao cho được như Hưng Đạo Đại Vương làm sống lại trận Bạch Đằng Giang oai hùng để đánh đuổi quân xâm lược ra khỏi bờ cỏi non sông !"

 

* DIỄN NÔM :

                           ĐÀ NẴNG CẢM HOÀI

 

                 

                    Hà cớ nơi nầy nổi chiến tranh,

                    Nên nay heo rắn mặc tung hoành.

                    Thuyền buôn ba sắc cờ phe phẩy,

                    Cửa ải một lèo xe lướt nhanh.

                    Non nước sơn hà còi hụ vẳng,

                    Nhà ai lầu các nắng chiều hanh.

                    Làm sao sống lại Trần Hưng Đạo,

                    Vang vội Bạch Đằng tỏ rạng danh !

    Lục bát :

                    Cớ sao gây sự chiến tranh,

                    Bây giờ lợn rắn tranh giành ra oai.

                    Thuyền buôn ba sắc cờ bay,

                    Cửa quan xe chạy thẳng ngay một lèo.

                    Nước non còi hụ buồn thiu,

                    Lâu đài ai đó nắng chiều giăng giăng.

                    Làm sao dựng lại Bạch Đằng,

                    Đại Vương Hưng Đạo vang lừng sử xanh !

 

                                                             Đỗ Chiêu Đức

 

2. Bài thơ VÃN QÚA HẢI VÂN QUAN :

 

  晚過海雲關           VÃN QÚA HẢI VÂN QUAN

 

崔嵬萬仞古雄關,   Thôi ngôi vạn nhận cổ hùng quan,

幾度登臨俯仰間。   Kỷ độ đăng lâm phủ ngưỡng gian.

愁眼望窮滄海外,   Sầu nhỡn vọng cùng thương hải ngoại,

怒拳揮破白雲端。   Nộ quyền huy phá bạch vân đoan.

孤舟分掉荒村暮,   Cô chu phân trạo hoang thôn mộ,

倦鳥投林古木寒。   Quyện điểu đầu lâm cổ mộc hàn.

七里縈迴穿過後,   Thất lý oanh hồi xuyên qúa hậu,

鬱蔥佳氣五行山。   Uất thông giai khí Ngũ Hành San.

 

              陳季恰                                    Trần Quý Cáp 

* CHÚ THÍCH :

   -  Hải vân Quan 海雲關 :  là Ải Hải Vân, là Đèo Hải vân, là cửa ải ở trên núi Hải Vân, giáp giới tỉnh Thừa Thiên Huế và tỉnh Quảng Nam (miền Trung).

   -  Thôi Ngôi 崔嵬 : Cao lớn, nguy nga, đồ sộ.

  -  Vạn Nhận 萬仞 : NHẬN 仞 : Đơn vị đo lường xưa, bằng 8/10 trượng. Nhưng từ Vạn Nhận thường được xem như là Vạn Trượng 萬丈, thường dùng để chỉ chiều dài thật dài hoặc chiều cao thật cao. 

  -  Phủ Ngưỡng 俯仰 : PHỦ 俯 là cúi xuống, NGƯỠNG 仰 là Ngước lên. Chỉ đường núi khúc khủy trắc trở, khi phải cúi mặt xuống khi phải ngước mặt lên.

  -  Vọng Cùng 望窮 : là Nhìn đến mút con mắt.

  -  Huy Phá 揮破 : là Giơ nắm đấm lên đấm cho vỡ ra.

  -  Oanh Hồi 縈迴 : là Lòng vòng lèo vèo.

  -  Uất Thông 鬱蔥 : là Rậm rạp xanh tươi.

 

* NGHĨA BÀI THƠ :  

                                     CHIỀU QUA ẢI HẢI VÂN   

           Cửa ải xưa hùng vĩ nguy nga cao trên muôn trượng, đã mấy lần ta lên đến nơi nầy trên đường đi lồi lõm lúc cúi xuống lúc ngữa lên. Đứng trên nầy ta đưa mắt buồn bã nhìn mút ngoài biển xanh, và đưa nắm đấm giận dữ lên đấm tan làn mây trắng. chiếc thuyền nan cô lẻ gác mái nơi thôn vắng lúc chiều tà, lũ chim mõi mệt bay về rừng trên những tàn cây to lạnh lẽo. Quanh quẩn vòng vèo xuyên qua suốt bảy dặm đường, cuối cùng cũng thấy được cái khí thế đẹp đẽ quanh cỏ cây xanh tươi sầm uất của Ngũ hành Sơn.

 

* DIỄN NÔM :

                             CHIỀU QUA ĐÈO HẢI VÂN  

                        Nguy nga muôn trượng ải xưa hùng,

                        Mấy lượt ngẩn lên cúi xuống trông.

                        Mắt buồn nhìn suốt xanh lơ biển,

                        Tay nắm vung tan mây trắng bông. 

                        Thuyền côi gác mái chiều thôn vắng,

                        Chim mõi về rừng cây lạnh trông.

                        Bảy dặm loanh quanh xuyên dốc núi,

                        Ngũ Hành tươi tốt khí lành trong. 

        Lục Bát :

                        Vút cao muôn trượng đèo Vân,

                        Ngửa lên cúi xuống mấy lần leo qua.

                        Mắt buồn nhìn biển ngút xa,

                        Tay vung mây trắng tan ra lưng trời.

                        Thuyền côi gát mái thôn ngoài,

                        Chim rừng mõi cánh chiều bay về cành.

                        Quanh co bảy dặm núi xanh,

                        Trong lành khí sắc Ngũ Hành Sơn kia.

 

                                                                                            Đỗ Chiêu Đức

                                                                                                Biên dịch

CHÙM THƠ XUÂN

 

        Nhân dịp xuân về, Kính gởi đến Quý Thầy Cô và Anh Chị Em Vườn Thơ Thẩn một "Chùm thơ Xuân" của Việt Thi, bắt đầu bằng bài thơ "Xuân Hiểu" của ông Vua Trần Nhân Tông nhé !

 

1. XUÂN HIỂU  Trần Nhân Tông.  

 

  春曉                      Xuân hiểu 

 

睡起啟窗扉,      Thụy khởi khải song phi, 

不知春已歸。      Bất tri xuân dĩ quy.  

一雙白蝴蝶,      Nhất song bạch hồ điệp,  

拍拍趁花飛。      Phách phách sấn hoa phi.

 

   

 

CHÚ THÍCH :

 

 * Thụy Khởi 睡起 : là Ngủ dậy, chỉ Vừa thức giấc.

 * Khải 啟 : là Mở ra, giống như chữ KHAI (thanh BẰNG, còn KHẢI là thanh TRẮC ).

 * Song Phi 窗扉 : Cánh cửa của Cửa sổ.

 * Phách Phách 拍拍 : là Vổ vổ(cánh), ở đây có nghĩa là Vổ Phần phật.

 * Sấn : là Nhân(dịp), ở đây có nghĩa là Hướng về...

 

NGHĨA BÀI THƠ :

 

                              Sáng Sớm Mùa Xuân

          Vừa mới ngủ dậy, ta mở toang hai cánh cửa sổ ra... Đâu biết rằng mùa xuân đã về đến rồi !( Trông kìa,) một đôi bướm trắng nỏn nà đang vổ vổ cánh bay về các khóm hoa ( đang nở rộ !). 

 

DIỄN NÔM :

 

          SÁNG XUÂN

 

     Thức giấc mở song ngay,

     Xuân đến nào có hay.

     Một đôi bươn bướm trắng,

     Hướng hoa vổ cánh bay !

 

Lục bát :

     Vừa thức giấc, mở cửa song,

     Nào hay xuân đã về trong đất trời.

     Một đôi bướm trắng xinh tươi,

     Khóm hoa bay lượn thành đôi chập chờn.

                                                     

                              Đỗ Chiêu Đức

 

2. XUÂN ĐÁN Chu Văn An :

 

  

   春旦                     XUÂN ĐÁN                 

寂寞山家鎮日閒,    Tịch mịch sơn gia trấn nhựt nhàn,

竹扉斜擁護輕寒。    Trúc phi tà ủng hộ khinh hàn.

碧迷草色天如醉,    Bích mê thảo sắc thiên như túy

紅濕花梢露未乾。    Hồngthấp hoa tiêu lộ vị can.

身與孤雲長戀岫,    Thân dữ cô vân trừơng luyến tụ

心同古井不生瀾。    Tâm đồng cổ tỉnh bất sanh lan.

柏薰半冷茶煙歇,    Bá huân bán lãnh trà yên yết,

溪鳥一聲春夢殘。    Khê điểu nhất thanh xuân mộng tàn.

              朱文安                                    Chu Văn An

 

* CHÚ THÍCH :

    - Xuân Đán 春旦 : là Ngày Xuân, mà cũng có nghĩa là Ngày Tết nữa.

    - Trấn Nhật 鎮日 : la Suốt ngày. 

    - Trúc Phi 竹扉 " là Cửa tre. 

    - Tà Ủng 斜擁 : TÀ là Xiên, xéo. ỦNG là Ôm. nên TÀ ỦNG là Ôm xeo xéo.

    - Thiên Như Túy 天如醉 : Trời như say.

    - Lộ Vị Can 露未乾 : Sương chưa khô

    - Tụ 岫 : là Hang núi trên cao, thường có mây vần vũ trên đó.

    - Lan 瀾 : là Gợn sóng lăn tăn.

    - Trà Yên Yết 茶煙歇 : trà Thuốc đều hết.

    - Khê Điểu 溪鳥 : Những con chim trong khe núi.

 

* Dịch Nghĩa :

                                     NGÀY XUÂN

 

        Suốt ngày nhàn hạ rảnh rổi với ngôi nhà quạnh quẽ vắng lặng ở trên núi nầy. Chiếc cửa tre xiêu vẹo ôm ấp lấy căn nhà che chắn bớt cái cơn lạnh nhè nhẹ đang lan tỏa. Nhìn xuống xa xa bãi cỏ non xanh biếc, bầu trời cũng xanh biếc như ngất ngây say. Những đóa hoa hồng lên trên cành rực rỡ với các giọt sương còn lóng lánh chưa khô. Tấm thân ta như đám mây đơn lẻ kia cứ mãi quyến luyến không nở rời đỉnh núi, và lòng ta thì đã khô cằn như chiếc giếng xưa kia đã không còn dậy sóng nữa. Những nhánh tùng bách cháy tàn nửa vời lạnh lẽo, trà thuốc cũng đã cạn rồi. Những con chim bên khe núi vổ cánh bay tiếng kêu oang oác làm ta chợt tỉnh giấc, nên mộng xuân cũng tàn lụi theo luôn.

 

* DIỄN NÔM :

                       NGÀY XUÂN

  

              Nhà tịch mịch núi cao nghe vắng vẻ,

              Cửa phên tre nghiêng ngã lạnh lan tràn.

              Trời như say thảm cỏ biếc mênh mang,

              Hoa đỏ thắm đầu cành sương chưa ráo.

              Thân nầy tựa như mây còn luyến núi,

              Lòng thì như giếng cạn sóng đà an.

              Lửa tắt trà khô thuốc hết đêm tàn,

              Chim oang oác giật mình tan giấc mộng !

  Lục bát :

              Nhà cao vắng vẻ an nhàn,

              Cửa tre xiêu vẹo lạnh tràn gió đông.

              Trời xanh đồng cỏ mênh mông,

              Ngậm sương mấy đóa hoa hồng nở xinh.

              Thân như mây nổi linh đinh,

              Lòng như giếng cạn không sinh sóng hời.

              Đêm tàn lửa tắt trà vơi,

              Chim kêu tỉnh giấc một trời xuân mơ !

 

                                                    Đỗ Chiêu Đức.

     

3. XUÂN DẠ  Nguyễn Du:          

         Năm 1789, Tây Sơn chiếm Bắc Hà, cụ vừa 24 tuổi. Để tránh nạn binh lửa, cụ đã về ẩn tại quê vợ, huyện Quỳnh Côi (Thái Bình). Bài thơ trên nằm trong Thanh Hiên Tiền Hậu Tập, có lẽ đã được cụ Nguyễn Du làm trong thời gian này, lúc cụ chưa tới 30 tuổi. Qua đấy ta có thể thấy thể chất của cụ không mấy khỏe mạnh do cuộc sống nghèo túng và bản thân cụ cũng hay đau ốm. Chính nơi đây đã chôn vùi quãng đời thanh xuân của cụ. Sống nơi thôn dã, cụ đã gần gũi và hiểu biết rõ ràng đời sống và tâm tình của tầng lớp dân quê nghèo khó. Mãi hơn 10 năm sau, lúc đã 37 tuổi (1802) cụ mới ra làm quan với triều Nguyễn với chức vụ Tri Huyện Phù Dung (Hưng Yên) rồi sau đó thăng Tri phủ Thường Tín (Hà Tây).

 

     春 夜                         Xuân dạ

 

黑 夜 韶 光 何 處 尋?      Hắc dạ thiều quang hà xứ tầm ?

小 窗 開 處 柳 陰 陰.      Tiểu song khai xứ liễu âm âm

江 湖 病 到 經 時 久,      Giang hồ bệnh đáo kinh thời cửu

風 雨 春 隨 一 夜 深.      Phong vũ xuân tùy nhất dạ thâm

羈 旅 多 年 燈 下 淚,      Ký lữ đa niên đăng hạ lệ

家 鄉 千 里 月 中 心.      Gia hương thiên lý nguyệt trung tâm

南 臺 村 外 龍 江 水,      Nam Đài thôn ngoại Long Giang thủy

一 片 寒 聲 送 古 今.      Nhất phiến hàn thanh tống cổ câm (kim).

                阮攸                                Nguyễn Du

 

    

 

* CHÚ THÍCH :

    - Thiều Quang 韶光 :là Ánh sáng tốt đẹp của mùa xuân, của tuổi trẻ. Như cụ Nguyễn Du cũng đã viết trong Truyện Kiều :"Thiều Quang chín chục đã ngoài sáu mươi".

    - Liễu Âm Âm 柳陰陰 : Liễu nằm im lìm rũ bóng trong đêm.

    - Ký Lữ 羈旅 : Gởi thân nơi đất khách.

    - Nam Đài 南臺 : Tên xóm nhà nơi Nguyễn Du ở trọ.

    - Long Giang 龍江 : Còn gọi là Thanh Long giang, tức Sông Lam.

 

* NGHĨA BÀI THƠ :

                            ĐÊM XUÂN

       Biết đến nơi đâu để tìm cho được ánh thiều quang rực rỡ trong đêm tối nầy ? Nơi cánh cửa sổ nhỏ mở ra là cành liễu rũ im lìm trong đêm tối. Thân trải giang hồ sông nước nên bịnh cứ dai dẵng mãi cho đến hiện nay. Mưa gió lại theo ngày xuân mà về trong đêm dài dằng dặc nầy. Dưới đèn ta lại rơi lệ vì thân còn phiêu bạc xứ người đã nhiều năm nay. Ngắm trăng mà trong lòng tưởng nhớ đến quê hương ở xa ngoài ngàn dặm. Nhìn dòng nước Long Giang chảy ngoài thôn Nam Đài với dãi nước cuồn cuồn lạnh lùng như cuốn trôi cả dòng đời kim cổ.

 

* DIỄN NÔM : 

                    ĐÊM XUÂN

 

            Ánh xuân đêm tối biết đâu tìm,

            Mờ mịt ngoài song liễu lặng im.

            Bệnh tật song hồ cùng dai dẵng,

            Gió mưa xuân sắc vẫn im lìm.

            Dưới đèn giọt lệ sầu xa xứ ,

            Bóng nguyệt quê nhà xót nhói tim.

            Dòng nước Long Giang cuồn cuồn mãi,

            Lạnh lùng cuốn sạch cổ cùng kim.

  Lục bát :

            Tìm đâu đêm tối thiều quang ?

            Ngoài song liễu rũ mơ màng trong đêm.

            Giang hồ dai dẳng bệnh thêm,

            Gió mưa não nuột bên thềm xuân sang.

            Dưới đèn lệ nhỏ trăng ngàn,

            Tấm thân lữ thứ ly tan ai hoài.

            Long Giang dòng nước Nam Đài,

            Lạnh lùng cuồn cuộn chảy dài cổ kim.

 

                                        Đỗ Chiêu Đức.

 

4. XUÂN NHẬT HỮU CẢM Trần Quang Khải :

 

         

 

 春日有感 一.                 XUÂN NHẬT HỮU CẢM 1.

 

雨白肥梅細若絲,            Vũ bạch phì mai tế nhược ty,

閉門兀兀坐書癡。           Bế môn ngột ngột tọa thư si.

二分春色閒蹉過,            Nhị phân xuân sắc nhàn sai quá,

五十衰翁已自知。           Ngũ thập suy ông dĩ tự tri.

故國心還飛鳥倦,           Cố quốc tâm hoàn phi điểu quyện,

恩波海濶縱鱗遲。           Ân ba hải khoát túng lân trì.

生平膽氣輪囷在,            Sinh bình đãm khí luân khuân tại,

醉倒東風賦一詩。           Túy đảo đông phong phú nhất thi.

        

 

 春日有感 二.                  XUÂN NHẬT HỮU CẢM 2

 

月色微微夜向闌,           Nguyệt sắc vi vi dạ hướng lan,

東風特地起春寒。           Đông phong đặc địa khởi xuân hàn.

翻空柳絮黏高閣,           Phiên không liễu nhự niêm cao các,

攪夢湘筠撲畫欄。           Giác mộng tương quân phốc hoạ lan.

被物潤從天外雨,           Bị vật nhuận tòng thiên ngoại vũ,

驚心紅褪昔時顏。           Kinh tâm hồng thối tích thời nhan,

袪愁賴有三杯酒,           Khử sầu lại hữu tam bôi tửu,

撫劍悠悠憶故山。           Phủ kiếm du du ức cố san.

               陳光啓                            Trần Quang Khải.          

 

* NGHĨA 2 BÀI THƠ :

  BÀI 1 :

          Mưa xuân trắng xóa phơi phới như tơ làm tươi tốt mấy cành mai, một thư sinh mọt sách đóng cửa ngồi trơ mà nhìn ra ngoài. Hai phần ba xuân sắc đã trôi qua một cách vô ích, Lão già năm mươi già yếu tự biết sức mình. Tấm lòng đối với cố quốc thì như cánh chim bay đà mõi, Còn ơn Vua thì rộng như biển nên chưa kịp vươn vẫy để cố bơi. Cái đãm khí của bình sinh vẫn còn sừng sửng đó, nên say khước dưới gió xuân vẫn làm nốt một bài thơ !

  BÀI 2 :

       Bóng trăng mờ ảo nhạt dần vì trời sắp sáng, gió xuân có Ý mang cái lạnh của sáng mùa xuân đến, những cành liễu bay lộn trên không phất vào gác cao, những cành trúc đập vào lan can làm tỉnh giấc mộng xuân. Muôn vật được tưới gội nhờ mưa từ trời đổ xuống, giật mình vì dung nhan ngày cũ đã phai tàn. Đành chỉ mượn ba chung rượu để tiêu sầu, và chỉ còn biết vuốt ve kiếm báu mà nhớ đến sông núi xưa vằng vặc đã qua rồi !

 

* DIỄN NÔM :

 

               

 

                   CẢM XÚC NGÀY XUÂN

    BÀI 1 :

              Mai đẹp mưa xuân gội trắng ngần,

              Thư sinh trong cửa dạ lần khân.

              Hai phần xuân đã qua hơn nửa,

              Năm chục già đà tự biết thân.

              Cố quốc chút lòng chim cánh mõi,

              Ơn Vua tợ biển cá đuôi sần.

              Bình sinh đởm lượt còn hun đúc,

              Say khướt gió xuân vẫn họa vần !

    BÀI 2.

             Ánh trăng mờ chiếu báo đêm tàn,

             Se lạnh hơi xuân gió sớm sang.

             Phe phẩy liễu cành vương gác tía,

             Phất phơ trúc nhánh vướng lan can.

             Tốt tươi vạn vật nhờ mưa móc,

             Già cỗi một lòng nhớ sắc nhan.

             Đành mượn tiêu sầu ba chén rượu,

             Vuốt thanh kiếm báu nhớ giang san !

 

                                          Đỗ Chiêu Đức 

 

 

5. SƠ XUÂN Nguyễn Tử Thành :

 

    

 

    初春                    SƠ XUÂN

 

臘梅開盡雪飄零,      Lạp mai khai tận, tuyết phiêu linh,

老大情懷節勿驚。      Lão đại tình hoài tiết vật kinh.  

傍水人家楊柳嫩,      Bàng thủy nhân gia dương liễu nộn,

寒天客院半陰晴。      Hàn thiên khách viện bán âm tình .   

遊蜂摘蜜穿花去,      Du phong trích mật xuyên hoa khứ,            

野蝶偷香帶粉經。      Dã diệp thâu hương đới phấn khinh. 

檢點名園供勝賞,      Kiểm điểm danh viên cung thắng thưởng, 

春花一樣百般生。      Xuân hoa nhất dạng bách ban sinh.

         阮子成                              Nguyễn Tử Thành   

  

       

* NGHĨA BÀI THƠ : 

                     ĐẦU XUÂN

      Tháng chạp hoa mai đã nở hết trong khi tuyết vẫn còn bay lả tả,

      Tâm tình của người già biết tiết chế, nên không lấy làm lạ.

      Nhà ai đó bên mé nước với hàng dương liễu xanh non.

      Phòng khách trong mùa lạnh nên nửa nắng nửa râm.

      Ong đi lấy mật nên bay xuyên qua cả chòm hoa.

      Bướm ngoài đồng trộm hương nhẹ nhàng mang theo cả phấn hoa.

      Điểm qua hết các vườn hoa nổi tiếng để mà thưởng ngoạn, thì thấy...

      Cũng chỉ là trăm vẻ hoa xuân cùng đẹp như nhau mà thôi !

 

* DIỄN NÔM :

 

                       ĐẦU XUÂN

 

              

 

               Tuyết rơi mai nở báo xuân sang,

               Già cả nhìn quen chẳng ngỡ ngàng.

               Bến nước nhà ai xanh liễu mới,

               Trời đông phòng khách nắng râm vàng.

               Ong vui hái mật đùa bay lượn,

               Bướm hút nhuỵ hoa vội tách ngang.

               Điểm hết xưa nay bao thắng cảnh,

               Hoa xuân trăm vẻ đẹp mơ màng.               

 

                                      Đỗ Chiêu Đức 

 

 

6. HỮU SỞ CẢM  Phạm Đình Hổ :

 

        

 

  有所感                   Hữu Sở Cảm

 

長安小兒女,           Trường An tiểu nhi nữ;  

纖手綰丫鬟。           Tiêm thủ quán a hoàn. 

深閨不知苦,           Thâm khuê bất tri khổ;  

猶掃落花看。           Do tảo lạc hoa khan.  

 

長安小兒女,           Trường An tiểu nhi nữ; 

眉黛月雙彎。           Mi đại nguyệt song loan.  

為愛梅花潔,           Vị ái mai hoa khiết;  

臨風不覺寒。           Lâm phong bất giác hàn. 

 

長安小兒女,           Trường An tiểu nhi nữ;  

花前獨倚欄。           Hoa tiền độc ỷ lan.  

只怕檀郎聽,           Chỉ phạ đàn lang thính;  

橫琴笑不彈。           Hoành cầm tiếu bất đàn.

  

     范廷虎                         Phạm Đình Hổ

 

* CHÚ THÍCH :

    - Trường An 長安 : Còn đọc là Tràng An. Vốn là từ chỉ kinh đô cuả thời Tây Hán. Sau dùng chung để chỉ kinh thành, nơi vua ở. Trong bài thơ nầy chỉ kinh đô Thăng Long của ta ngày xưa.

    - Tiêm Thủ 纖手 : Chỉ đôi cánh tay nhỏ nhắn dịu dàng của các cô gái.

    - Quán A Hoàn 綰丫鬟 : Búi hai búi tóc hình trái đào ở trên đầu. Đây là kiểu búi tóc của các cô bé mới lớn. Ngày xưa các tiểu thơ hay có các cô bé theo hầu búi tóc như thế, nên từ A HOÀN 丫鬟 (còn đọc là NHA HOÀN) dùng thét rồi trở thành danh từ chung để gọi các cô hầu của nhà quyền qúy.

    - Mi Đại 眉黛 : Đôi mày đen đẹp.

    - Nguyệt Song Loan 月雙彎 : là Cong như hai vành trăng.

    - Ỷ Lan 倚欄 : Đứng tựa vào lan can.

    - Đàn Lang 檀郎 : Từ dùng để gọi bóng dáng người yêu của các bà các cô xưa.

 

* NGHĨA BÀI THƠ :

 

Cô con gái nho nhỏ ở Trường An.

Đôi tay nhỏ xinh xinh bện hai bím tóc đen.

Ở trong khuê phòng thầm kín chẳng biết sầu khổ là gì.

Cô còn đang quét hoa rụng xem chơi.

 

Cô con gái nho nhỏ ở Trường An,

Đôi mày tô điểm cong cong như hai vành trăng cánh cung.

Vì yêu thích sự trong sạch của hoa mai, nên... 

Cô ra gió ngắm hoa mà không cảm thấy lạnh.

 

Cô con gái nho nhỏ ở Trường An,

Một mình đứng tựa lan can trước khóm hoa.

chỉnh e người yêu nghe thấy, nên...

Cô đặt ngang đàn cầm, cười mà không gảy.

 

* DIỄN NÔM :

 

                   CÓ NIỀM CẢM XÚC

 

               

 

                 Trường An cô thiếu nữ,

                 Tay ngọc búi tóc cao.

                 Phòng khuê nào biết khổ,

                 Quét hoa dạ chẳng nao !

 

                 Trường An cô thiếu nữ,

                 Mày trăng mới cong sao !

                 Thương mai hoa tinh khiết,

                 Gió bấc chẳng lạnh nào !

 

                 Trường An cô thiếu nữ,

                 Ngắm hoa tựa lan can.

                 Vì sợ chàng nghe thấy,

                 Cười e ấp không đàn ! 

    Lục bát :

                 Trường An cô bé xinh xinh,

                 Tay ngà búi tóc cho mình thêm tươi.

                 Buồng khuê chỉ biết vui cười,

                 Quét tàn hoa rụng làm vui xuân về !

 

                 Trường An cô bé xinh ghê,

                 Đôi mi cong tựa trăng thề trên cao.

                 Yêu mai tinh khiết biết bao,

                 Mặc cho gió lạnh lao xao chẳng màng.

 

                 Trường An cô bé mơ màng,

                 Trước hoa ngồi tựa lan can e dè.

                 Chỉnh e đâu đó chàng nghe,

                 Đặt ngang cầm phím, cười e, không đàn !

 

 Xuân Canh Tý 2020

 Đỗ Chiêu Đức  

Thơ MẠC ĐĨNH CHI

Mạc Đĩnh Chi 莫挺之 (1272 - 1346), tự là Tiết Phu 節夫, hiệu là Tích Am 僻庵, người làng Lan Khê, huyện Bàng Hà, lộ Lạng Giang (nay là huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Hưng) sau dời sang làng Lũng Động, huyện Chí Linh cùng trong lộ đó (nay cũng thuộc Hải Hưng). Ông là một quan đại thần và là nhà ngoại giao nổi tiếng triều Trần trong lịch sử Việt Nam. Năm 1304, đời vua Trần Anh Tông niên hiệu Hưng Long thứ 12, ông thi đỗ Trạng Nguyên. Nhờ thông minh, hiểu biết sâu rộng, ông nhiều lần được cử đi sứ sang Trung Hoa. Ngoài ra, ông còn được biết đến như là ông tổ trực hệ của các đời vua  nhà Mạc, được Mạc Thái Tổ truy tôn miếu hiệu là Viễn Tổ 遠祖 (Tổ tiên của các đời xa xưa trước), thụy là Kiến Thủy Khâm Minh Văn Hoàng Đế 建始欽明文皇帝.

       Trạng Nguyên Mạc Đĩnh Chi còn để lại rất nhiều giai thoại văn chương truyền tụng trong dân gian, nhưng văn thơ thì chỉ để lại vỏn vẹn có môt bài "Phiến Minh", hai bài "Giáo Tử Phú và Ngọc Tỉnh Liên Phú" cùng với Bốn bài thơ sau đây :

 

1. HỈ TÌNH THI 喜晴詩 :

 

     喜晴詩            HỈ TÌNH THI

   好景明人眼,    Hảo cảnh minh nhân nhãn,   

   江山正豁然。    Giang sơn chính khoát nhiên.

   烟笼初出日,    Yên lung sơ xuất nhật,

   波漾嫩晴天。    Ba dạng nộn tình thiên.

   岸柳垂金节,    Ngạn liễu thùy kim tiết,

   汀花朴画船。    Đinh hoa phác họa thuyền.

   淒凉宽旅思,    Thê lương khoan lữ tứ,

   和暖喜新年。    Hòa noãn hỉ tân niên.

         莫挺之                   Mạc Đĩnh Chi

 

      

 

* CHÚ THÍCH :

    - Hỉ Tình Thi 喜晴詩 : là "Thơ mừng trời nắng ráo".

    - Khoát Nhiên 豁然 : là "Rực sáng lên một cách bất ngờ".

    - Yên Lung 烟笼 : là Khói mờ, là Sương khói làm cho mờ ảo.

    - Ba Dạng 波漾 : là Những gợn sóng lăn tăn. Nộn 嫩 : là Non nớt.

    - Tình Thiên 晴天 : là Trời quang mây tạnh, trời nắng lại sau cơn mưa.

    - Kim Tiết 金节 : là những đốt như vàng. Ở đây chỉ những nhành liễu với những đốt ngã màu vàng rũ xuống sau cơn mưa.

    - Đinh Hoa 汀花 : là loại hoa nở trôi nổi trên mặt nước.

    - Thê Lương 淒凉 : Thê là Lạnh, Lương lá Mát; nên THÊ LƯƠNG là Mát lạnh, cũng có nghĩa là Rất mát mẻ, hoặc rất lạnh lẽo buồn bã (tùy theo ngữ cảnh).

    - Hòa Noãn 和暖 : là Hòa dịu ấm áp, chỉ khí hậu ôn hòa ấm áp của mùa xuân.

 

* NGHĨA BÀI THƠ :

                                  THƠ MỪNG TRỜI NẮNG RÁO

 

        Cảnh đẹp nên làm cho mắt của con người cũng sáng rực lên, và sông múi nước non cũng chợt như rực sáng. Mặc dù khói sương như còn che phủ vầng thái dương vừa ló dạng, nhưng những gợn sóng lăn tăn làm cho bầu trời như phủ màu xanh non hơn. Bờ liễu ven sông cành rũ xuống những đốt vàng lấp lánh và những bông hoa dưới nước cứ vỗ vào mạn thuyền có vẽ hoa văn xinh đẹp. Trong cái mát mẻ đượm chút lạnh lẽo nầy người lữ khách cũng khoan khoái để cho dòng suy tư thả theo cái ôn hòa ấm áp của cái không khí mừng đón năm mới đang sang.

 

        Bài thơ có tựa là "Thơ Mừng Trời Tạnh", có thể là sau cơn mưa, và cũng có thể là trên đường đi sứ. Vì ta thấy Mạc Đĩnh Chi nhắc đến "Họa Thuyền" là thuyền của vua chúa hay quan quyền sứ giả ngày xưa sử dụng, nhất là câu "Thê lương khoan lữ tứ". LỮ TỨ 旅思 là những cảm xúc suy tư của người lữ thứ xa quê sau cơn mưa trời lại sáng trong ánh nắng xuân ôn hòa ấm áp lúc người người đang mừng đón tân niên.

 

* DIỄN NÔM :

                       HỈ TÌNH THI

  

           

 

                  Cảnh đẹp sáng mắt ra,

                  Sông núi rực chói lòa.

                  Khói mờ vầng nhật xuất,

                  Trời xanh gợn sóng xa.

                  Liễu rũ vàng theo gió,

                  Sóng vỗ họa thuyền hoa.

                  Thê lương lòng lữ khách,

                  Đón mừng năm mới qua.

    Lục bát :

                  Sau mưa cảnh sáng mắt người,

                  Núi sông rực rỡ xinh tươi nắng vàng.

                  Vầng dương mới mọc mơ màng,

                  Lăn tăn sóng gợn trời càng xanh lơ.

                  Vàng tươi liễu rũ bên bờ,

                  Sóng xô hoa vỗ ngẩn ngơ họa thuyền.

                  khoan thai lòng khách thôi phiền,

                  Ôn hòa ấm áp tân miên đón mừng !

 

                                                       Đỗ Chiêu Đức

 

2. Quá Bành Trạch Phỏng Đào Tiềm Cựu Cư 過彭澤訪陶潛舊居 :

 

過彭澤訪陶潛舊居 QUÁ BÀNH TRẠCH PHỎNG ĐÀO TIỀM CỰU CƯ

    自性本閒曠,          Tự tánh bổn nhàn khoáng,

    初不比碌碌。          Sơ bất tỉ lục lục.

    斗米肯折腰,          Đấu mễ khẳng chiết yêu,

    解印寧辭祿。          Giải ấn ninh từ lộc.

    扶疏五株柳,          Phù sơ ngũ chu liễu,

    冷澹一籬菊。          Lãnh đạm nhất ly cúc.

    寥寥千載後,          Liêu liêu thiên tải hậu,

    清名吾可服。          Thanh danh ngô khả phục.

           莫挺之                                  Mạc Đĩnh Chi

    

       

 

 

 

 

 

 

* CHÚ THÍCH :

    - Đào Tiềm 陶潛 (365-427), tự là Nguyên Lượng (元亮), hiệu là Uyên Minh (淵明), lại có biệt hiệu là Ngũ liễu tiên sinh (五柳先生), là một trong những nhà thơ lớn của Trung Hoa thời nhà Tấn và Lưu Tống.

    - Bành Trạch 彭澤 : Nơi mà Đào Tiềm làm Huyện lệnh, nên ông còn được gọi là Đào Bành Trạch.

    - Nhàn Khoáng 閒曠 : là Rảnh rỗi không bận bịu.

    - Lục Lục 碌碌 : là Lăng xăng bận rộn. 

    - Chiết Yêu 折腰 : là Gãy lưng. Chỉ cúi rạp mình xuống.

    - Từ Lộc 辭祿 : là Từ chối bỗng lộc, có nghĩa là từ quan.

    - Ngũ Chu Liễu 五株柳 : là Năm cây liễu. Trong tự truyện, Đào Tiềm kể về một ông gìa nhà có trồng năm cây liễu, nên mọi người đều gọi ông ta là Ngũ Liễu Tiên Sinh. Đó cũng là hình ảnh mà Đào Tiềm tự ví mình.

    - Nhất Ly Cúc 一離菊 : là Một hàng rào cúc (Giậu cúc). Khi về vườn, Đào Tiềm trồng rất nhiều hoa cúc ở phía đông hàng rào nhà mình. Nên thơ ông có câu : Thái cúc đông ly hạ 採菊東籬下. Có nghĩa : Hái hoa cúc ở dưới rào mé đông.

    - Liêu Liêu 寥寥 : Vốn nghĩa là Thưa thớt, lẻ tẻ. Ở đây dùng chỉ thời gian nên có nghĩa là : Vằng vặc, xa xôi diệu vợi.

 

* NGHĨA BÀI THƠ :

                             Đi Ngang Qua Bành Trạch Thăm Chỗ Ở Cũ Của ĐÀO TIỀM

 

       Ta vốn tính phóng khoáng ưa nhàn tản, nên ban đầu cũng không chịu được với thói lăng xăng bận rộn để bợ đỡ người khác. Cũng như Đào Uyên Minh đã không vì năm đấu gạo mà chịu khom lưng để cho người sai khiến, nên mới phải treo ấn mà từ bỏ bổng lộc kia. Thà về nhà vun trồng năm cây liễu thưa thớt và sống đạm bạc với giậu cúc phía tường đông. Xa xôi vằng vặc cả ngàn năm sau rồi, nhưng thanh danh của Đào Tiềm vẫn còn làm cho ta phải cảm phục.

 

      Nhân đi sứ nước người, ngang qua đất Bành Trạch, sẵn ghé thăm nơi mà cao sĩ Đào Uyên Minh đã từng vì năm đấu gạo mà phải làm Tri Huyện ở nơi đây. Ý của Trạng Nguyên Mạc Đĩnh Chi là cũng muốn mượn cái tính cách thanh cao của Đào Tiềm để tỏ rõ cái ý chí của mình. Khâm phục cái thanh danh của Đào Tiềm tức là đã nâng cao cái phẩm chất của mình rồi đó vậy !

 

                      

* DIỄN NÔM :

           Qua Bành Trạch Thăm Chỗ Ở Cũ Của ĐÀO TIỀM

 

                 Vốn ta ưa phóng khoáng,

                 Không chịu đứa lăng nhăng.

                 Khom lưng vì đấu gạo,

                 Treo ấn phải từ quan.

                 Về trông năm cội liễu,

                 Vui với cúc một giàn.

                 Ngàn năm sau vằng vặc, 

                 Người phục lại danh vang.

    Lục bát :

                 Tính ta phóng khoáng thanh nhàn,

                 Sớm không ưa kẻ lang bang chào mừng.

                 Vì năm đấu gạo khom lưng,

                 Thà treo quách ấn nửa chừng từ quan.

                 Về trồng năm liễu bên đàng,

                 Vui cùng khóm cúc bên hàng rào đông.

                 Ngàn năm sau vẫn nhớ ông,

                 Thanh danh cao nhã cho lòng kính yêu.

 

                                                        Đỗ Chiêu Đức

 

3. TẢO HÀNH 早行 :    

  

       早行                   TẢO HÀNH

   蝴蝶醒殘夢,      Hồ điệp tỉnh tàn mộng,

   商郎聞櫂歌。      Thương Lang văn trạo ca.

   張帆開夙霧,      Trương phàm khai túc vụ,

   擺櫂破晴波。      Bãi trạo phá tình ba.

   水入九江闊,      Thủy nhập Cửu Giang khoát,

   山歸三楚多。      Sơn quy Tam Sở đa.

   濂溪何處是?      Liêm khê hà xứ thị ?

   我欲訪煙蘿.        Ngã dục phỏng yên la.

            莫挺之                          Mạc Đĩnh Chi 

 

    

 

*CHÚ THÍCH :

      -  Tảo Hành 早行 : là Khởi hành sớm, Khởi hành lúc ban mai.

      -  Hồ Điệp...Mộng 蝴蝶...夢 :  là Giấc Bướm, thường dùng để chỉ giấc ngủ chập chờn, do tích Trang Sinh (Trang Tử) nằm mơ thấy mình hoá bướm dạo chơi khắp nơi, tỉnh ra, còn ngờ ngợ, không biết là mình hoá ra bướm hay là bướm đã hóa ra mình. Dùng rộng ra chỉ để chỉ GIẤC NGỦ mà thôi, như ta thường nghe nói " Giấc ĐIỆP hay Giấc BƯỚM.

      -  Trạo Ca 櫂歌 : Trạo là Mái chèo; nên TRẠO CA là lời hát hò trên sông lúc chèo thuyền.

      -  Trương Phàm 張帆 : là Giương buồm.

      -  Túc Vụ 夙霧 : là sương mù buổi sáng sớm.

      -  Khoát  闊 : là Rộng rãi. 

      -  Yên La 煙蘿 : Yên là Khói; La là Dây leo; Nên YÊN LA là Các dây leo bao phủ quanh các cây lớn như sương như khói.        

  

* NGHĨA BÀI THƠ :

                                   KHỞI HÀNH LÚC BAN MAI

             

      Chợt tỉnh mộng khi giấc bướm vừa tàn, đã nghe tiếng hát hò trên sông Thương Lang. Thuyền giương buồm lên lướt tới rẻ đám sương mù buổi sáng dày đặc. Tiếng chèo khua phá tan sóng nước làm vỡ tan ánh nắng ban mai. Nước Chảy vào Cửu Giang như làm cho dòng sông thêm rộng ra; những dãy núi chạy dọc về Tam Sở như càng lúc càng nhiều hơn lên. Dòng Liêm Khê là ở nơi nào ? Ta muốn đi thăm các cây cối và dây leo chằng chịch như khói như sương ở nơi đó.

 

      Đây chắc chắn là chuyến đi sứ trên đất Trung Hoa với các dòng sông và địa danh bên đó như : Sông Thương Lang, Huyện Cửu Giang thuộc đất Sài Tang, Tầm Dương xưa; đất Tam Sở đời Tần Hán, gồm có Đông Sở, Tây Sở và Nam Sở, cũng như dòng sông Liêm Khê thuộc tỉnh Hà Nam nằm ở dưới chân núi Bàng Lãnh... Cái thư thả của chuyến đi sớm sau khi đã tàn giấc điệp, rất thi vị với các giọng hát hò trên sông với sông nước bao la, núi non trùng điệp hùng vĩ lẫn khuất trong các cây cỏ xanh tươi đẹp đẽ hữu tình.

 

* DIỄN NÔM :

                           TẢO HÀNH

                 

            
 

                 Chợt tỉnh sau giấc bướm,

                 Thương Lang vọng tiếng ca.

                 Buồm giương trong sương sớm,

                 Chèo quẫy vỡ sóng xa.

                 Nước Cửu Giang thêm rộng,

                 Núi Tam Sở nhiều ra.

                 Liêm Khê nơi nào nhỉ ?

                 Ta muốn ngắm cỏ hoa.

  Lục bát :

                 Chập chờn giấc bướm tỉnh ra,

                 Thương Lang đã vọng tiếng ca câu hò.

                 Giương buồm lướt gió sương mờ,

                 Mái chèo quẫy sóng xanh lơ nắng vàng.

                 Nước về thêm rộng Cửu Giang,

                 Núi xanh Tam Sở như càng nhiều ra.

                 Liêm Khê xứ ấy có xa ?

                 Lòng ta muốn ngắm cỏ hoa khắp vùng .

 

                                                      Đỗ Chiêu Đức

 

  4. VÃN CẢNH 晚景 :       

 

          晚景                        VÃN CẢNH

      空翠浮煙色,        Không thúy phù yên sắc,

      春藍發水紋。        Xuân lam phát thủy văn.

      墻烏啼落照,        Tường ô đề lạc chiếu,

      野雁送歸雲。        Dã nhạn tống quy vân.

      漁火前灣見,        Ngư hỏa tiền loan kiến,

      樵歌隔岸聞。        Tiều ca cách ngạn văn,

      旅顏悲冷落,        Lữ nhan bi lãnh lạc,

      借酒作微醺。        Tá tửu tác vi huân.

              莫挺之                          Mạc Đĩnh Chi 

 

        

 

* CHÚ THÍCH :

       - Vãn Cảnh 晚景 : là Cảnh Đêm, là Cảnh trí lúc về đêm.

       - Thúy 翠 : là Màu xanh biếc.

       - Thủy Văn 水紋 : là Vết nhăn của nước, có nghĩa là Mặt nước chỉ gợn sóng lăn tăn.

       - Lạc Chiếu 落照 : là Ánh nắng còn rơi rớt lại lúc chiều tàn.

       - Ngư Hỏa 漁火 : là Lửa của cá, là Đèn đóm trên các ghe chài lưới.

       - Loan 灣 : là Khúc quanh của con sông.

       - Tiều Ca 樵歌 : là Tiếng hát hò của những tiều phu đốn củi.

       - Lữ Nhan 旅顏 : là Nét mặt của người lữ thứ xa quê hương.

       - Vi Huân 微醺 : là Say nhẹ, là Chếnh choáng say.

 

* NGHĨA BÀI THƠ :

                                        CẢNH TRÍ VỀ ĐÊM

 

          Tầng không xanh biếc nổi lên những sắc màu như sương khói. Dòng nước xuân xanh lam chỉ gợn sóng lăn tăn. Những con qụa trên tường kêu oang oác dưới ánh nắng chiều còn rơi rớt lại, trên không đàn nhạn đang bay gấp như đang đưa tiễn các đám mây bay trở về. Đèn đóm của các ghe chài lưới đã thấp thoáng ở khúc quanh phía trước của dòng sông, và tiếng hát hò của các tiều phu bên kia bờ đã vang lên trên đường đi về. (Trước cảnh chiều tàn nầy) Mặt người lữ khách đượm buồn trong buổi chiều lạnh lẽo cô liêu, nên mới mượn chung rượu để chếnh choáng say (cho vơi đi mối sầu lữ thứ)!

 

      Đây là bài thơ cuối cùng còn sót lại của Trạng Nguyên Mạc Đĩnh Chi, mà cũng là bài thơ cuối cùng trên đường đi sứ. Ngồi trên ghe nhìn trời nhìn nước trong buổi chiều tàn, thấp thoáng lửa chài, đâu đó tiếng qụa kêu, đàn nhạn bay về trong tiếng hát cách bờ của các tiều phu cũng đang vội vã quay về. Trước cảnh lạnh lẽo cô liêu của buổi chiều trên sông nước càng gợi thêm mối sầu lữ thứ của kẻ xa quê. Uống chút rượu để chếnh choáng say cho càng thấm thía hơn cái nỗi buồn trên sông nước !

 

* DIỄN NÔM :

                         CẢNH CHIỀU HÔM

 

                  

 

                      Trời xanh vờn mây khói,

                      Nước biếc gợn lăn tăn.

                      Qụa kêu trong nắng xế,

                      Nhạn bay về thinh không.

                      Lửa chài quanh sông nước,

                      Tiều phu hát cách sông.

                      Buồn trong chiều xuống lạnh,

                      Mượn rượu giải khây lòng.

 Thơ sáu chữ :

                      Khói quyện bầu trời xanh biếc,

                      Sóng xuân nước dợn lăn tăn.

                      Quạ kêu chiều rơi tường vắng,

                      Nhạn trời đưa tiễn phù vân.

                      Lửa chài bên vàm thấp thoáng,

                      Tiều phu cất tiếng cách sông.

                      Lữ khách buồn thân cô quạnh,

                      Giải sầu mượn chén đêm thanh !

       Lục bát :

                      

 

                      Từng không xanh ngắt khói mờ,

                      Nước xuân gợn sóng ơ hờ chiều buông.

                      Oang oang tiếng qụa đầu tường.

                      Theo mây đàn nhạn kêu sương bay về.

                      Lửa chài thấp thoáng dòng khê,

                      Tiếng tiều phu vẳng đi về bên sông.

                      Chiều buồn lữ khách bâng khuâng,

                      Mượn lưng chén rượu cho lòng lâng lâng.

 

      Đỗ Chiêu Đức

Thơ NGUYỄN TRÃI  

     E. Thơ làm trong thời sang Trung Quốc.

                        

1. Bài thơ QUÁ HẢI :

 

      過海                         QUÁ HẢI

撥盡閑愁獨倚蓬,    Bát tận nhàn sầu độc ỷ bồng,

水光渺渺思何窮。    Thủy quang diểu diểu tứ hà cùng.

松林地斥疆南北,    Tùng lâm địx xích cương nam bắc,

龍尾山橫限要衝。    Long vĩ sơn hoành hạn yếu xung.

義氣掃空千障客,    Nghĩa khí tảo không thiên chướng khách,

壯懷呼起半帆風。    Tráng hoài hô khởi bán phàm phong.

扁舟羨我朝天客,    Biển chu hâm ngã triều thiên khách,

直駕鯨鯢跨海東。    Trực giá kình nghê khóa hải đông.

* CHÚ THÍCH :

     - BÁT 撥 : là Vạch, Vén. BÁT TẬN 撥盡 : là Vén hết, là Gạt bỏ hết.

     - NHÀN SẦU 閑愁 : Mối sầu rảnh rổi; Ý chỉ Những nỗi buồn vu vơ.

     - BỒNG 蓬 : là Cỏ Bồng. ở đây là BỒNG PHÀM 蓬帆 : là Vải thô làm thành Cánh Buồm.

     - TÙNG LÂM 松林 : hay Tùng Kính Lâm, thuộc Vĩnh Yên (Bắc Việt) sát biên giới Việt Trung.

     - LONG VĨ 龍尾 : Núi Bạch Long Vĩ tại châu Vạn Ninh, tỉnh Quảng Yên (Bắc Việt), cũng gọi là bán đảo vì dãy núi đi từ lục địa ra biển về hướng đảo Hải Nam của Trung Quốc; có lẽ được mệnh danh theo địa thế giống như đuôi rồng. Xưa thuyền bè qua đây thường bị sóng gió.

     - CHƯỚNG VỤ 障霧 : là Mây mù. Còn gọi là Chướng Khí.

     - BIỂN CHU 扁舟 : Biển là Dẹp là Mỏng; nên Biển Chu chỉ Thuyền con, Thuyền nhỏ.

     - HÂM 羨 : là Mâm mộ, là Trầm trồ.

     - KÌNH NGHÊ 鯨鯢 : Cá Kình cá Nghê. là các loại cá Ông cá Nhà táng, những  loại cá lớn ngoài biển.

 

* NGHĨA BÀI THƠ :

                        QUA BIỂN 

        Gạt bỏ hết những nỗi buồn vớ vẩn mà một mình dựa vào cánh buồm, nhìn dòng nước loang loáng trước mắt mà suy nghĩ mông lung không ngừng. Tùng Kính Lâm trước mắt là đất cương lĩnh chia đôi nam bắc, còn núi Bạch Long Vĩ nằm vắt ngang qua vùng đất xung yếu nầy. Cái khí nghĩa dũng xung lên như muốn quét sạch muôn ngàn mây mù chướng khí và lòng hùng tráng như gió rít làm căng nửa cánh buồm thuyền. Chiếc thuyền nhỏ như hâm mộ ta là khách đi chầu thiên triều, nên trực chỉ như cá kình cá nghê lướt sóng biển đông.

* DIỄN NÔM :

                        QUÁ HẢI

 

            Tựa cột buồm cao gát hết sầu,

            Nước trong loang loáng nghĩ đâu đâu.

            Tùng Lâm chia đất bờ nam bắc,

            Long Vĩ vắt ngang cỏi địa đầu.

            Nghĩa khí vút cao sương khói nhạt,

            Chí hùng căng gió cánh buồm thâu.

            Thuyền con hâm mộ người đi sứ,

            Như cá kình nghê lướt sóng chầu.

   Lục bát :

            Gát buồn tựa cột buồm cao,

            Mênh mông loang loáng dạt dào ưu tư.

            Tùng Lâm nam bắc phân cư,

            Bạch Long Vĩ ấy địa đầu vắt ngang.

            Tan sương nghĩa khí ngút ngàn,

            Chí hùng căng cánh buồm ngang lưng trời.

            Thuyền con theo sứ ra khơi,

            Như kình nghê vượt qua trời biển đông.

 

                                        Đỗ Chiêu Đức

 

2. Bài thơ THÁI THẠCH HOÀI CỔ :

 

  采石懷古             THÁI THẠCH HOÀI CỔ

采石曾聞李謫仙,   Thái Thạch tằng văn Lý Trích Tiên,

騎鯨飛去已多年。   Kỵ kình phi khứ dĩ đa niên.

此江若變為春酒,   Thử giang nhược biến vi xuân tửu,

只恐波心尚醉眠。   Chỉ khủng ba tâm thượng túy miên.

* CHÚ THÍCH :

    - THÁI THẠCH 采石 : Thái Thạch là tên con sông thuộc tỉnh An Huy, Trung Quốc. Tương truyền khi đi thuyền trên sông nầy Lý Bạch 李白 đã uống rượu say rồi nhảy xuống sông định bắt lấy ánh trăng nên bị chết đuối tại đây. Vì thế nơi đây có xây một cái đài gọi là Tróc Nguyệt đài 捉月臺 (đài bắt trăng). Lý Bạch tự cho mình là Hải thượng kỵ kình 海上騎鯨 (khách cưỡi cá kình trên biển). Người đương thời bảo Lý Bạch là tiên bị đày xuống trần gian, nên gọi là Lý Trích Tiên 李謫仙. Đỗ Phủ, cùng thời với Lý Bạch, có câu: “Nhược phùng Lý Bạch kỵ kình ngư, Đạo Phủ vấn tấn kim hà như ? 若逢李白騎鯨魚,道甫問訊今何如?” (Nếu có gặp Lý Bạch đang cưỡi cá kình, Thì hãy nói dùm rằng Phủ tôi đây hỏi Bạch nay đã ra sao rồi ?).

 

                

 

    - TẰNG VĂN 曾聞 : là Đã từng nghe.

    - NHƯỢC 若 : là Nhược bằng, là Nếu như.

    - CHỈ KHỦNG 只恐 : Chỉnh e, Chỉ sợ rằng...

    - BA TÂM 波心 : Trong lòng đợt sóng trên sông.

    - THƯỢNG 尚 : là Vẫn, Vẫn còn...

 

* NGHĨA BÀI THƠ :

                            Nhớ Chuyện Xưa Bên Dòng Sông Thái Thạch

 

       Đã từng nghe nói về Lý Trích Tiên trên dòng sông Thái Thạch nầy, ông ta  cởi cá kình mà bay đi đã nhiều năm lắm rồi. Nếu như nước của dòng sông nầy đều  biến thành rượu xuân, thì e rằng ông ta vẫn còn say ngủ trong lòng những đợt sóng trên sông.

 

* DIỄN NÔM :

                 

                 THÁI THẠCH HOÀI CỔ

              

              

 

              Thái Thạch từng nghe Lý Bạch say,

              Cởi kình bay biết mấy năm nay.

              Sông này nếu biến thành xuân tửu,

              Lòng sóng e rằng vẫn ngủ say !

    Lục bát :

              Từng nghe Thái Thạch Trích Tiên,

              Cởi kình bay mất bao niên trước rồi.

              Nước sông biến rượu xuân trôi,

              Chỉnh e lòng sóng nay say vùi ngủ yên !

              

                                                            Đỗ Chiêu Đức

 

3. Bài thơ Bình Nam Dạ Bạc :

 

  平南夜泊                BÌNH NAM DẠ BẠC

片帆高颭晚風輕,    Phiến phàm cao chiếm vãn phong khinh,

暮宿平南古縣城。    Mộ túc Bình Nam cổ huyện thành.

燈影照人和月影,    Đăng ảnh chiếu nhân hòa nguyệt ảnh,

樹聲敲夢併灘聲。    Thọ thanh xao mộng tính than thanh.

湖山有約違初志,    Hồ sơn hữu ước vi sơ chí,

歲月如流漫此生。    Tuế nguyệt như lưu mạn thử sanh.

夜半戍樓吹畫角,    Dạ bán thú lâu xuy họa giác.

客中悽愴不勝情。    Khách trung thê sảng bất thăng tình.

 

       
 

* CHÚ THÍCH :

    - BÌNH NAM 平南 :

      Tên một huyện ngày xưa thuộc phủ Tầm Châu trên sông Tầm Giang thuộc tỉnh Quảng Tây, Trung Quốc hiện nay. 

    - CAO CHIẾM 高颭 : là Lay động ở trên cao.

    - TÍNH 併 : là Cùng , Đều, Kiêm.

    - VI 違 : là Không theo..., Làm trái lại.

    - MẠN 漫 : là đầy tràn. ở đây có nghĩa là : Uổng phí. Vô ích.

    - THÚ LÂU 戍樓 : Lầu Canh, Gác canh.

    - HỌA GIÁC 畫角 : Cái Tù Và thổi trong đêm canh gác.

    - THÊ SẢNG 悽愴 : là Thê lương sầu thảm xót thương.

 

* NGHĨA BÀI THƠ :

                     Đêm Đậu Thuyền Ở Bình Nam

       Một cánh buồm giương cao phập phồng trong gió chiều nhè nhẹ. Đêm ghé bến Bình Nam là một huyện thành xưa cổ. Bóng đèn và bóng trăng cùng chiếu vào bóng người, tiếng cây lá xạc xào cùng tiếng lao xao trên bến bãi làm tỉnh giấc mơ. Lời ước hẹn với sông hồ còn chưa thỏa chí của lúc ban đầu, ngày tháng trôi qua như nước chảy làm uổng phí mất kiếp sống nầy. Nửa đêm nghe tiếng tù và thổi sang canh trên lầu canh, khiến cho người lữ khách không sao ngăn được xúc động buồn thương cho cảnh tha hương đất khách.

         

          Trương Kế với PHONG KIỀU DẠ BẠC 楓橋夜泊, còn Nguyễn Trãi thì với BÌNH NAM DẠ BẠC 平南夜泊. Trương Kế nổi tiếng với 2 câu :

 

                     姑蘇城外寒山寺,  Cô Tô thành ngoại Hàn San Tự,

                     夜半鐘聲到客船。  Dạ bán chung thanh đáo khách thuyền.

Có nghĩa :

               Chùa Hàn San ngoại thành Cô Tô ấy,

               Nửa đêm buồn chuông vẳng đến thuyền ai.

 

      Còn Nguyễn Trãi thì cũng nổi tiếng với 2 câu kết là :

 

                   夜半戍樓吹畫角,  Dạ bán thú lâu xuy họa giác.

                   客中悽愴不勝情。  Khách trung thê sảng bất thăng tình.

Có nghĩa :

               Trên lầu canh nửa đêm tù và vẳng,

               Khách xa nhà ray rức chạnh niềm riêng !

 

* DIỄN NÔM :

                          ĐÊM GHÉ BẾN BÌNH NAM

  

                   Một cánh buồm cao gió phất phơ,,

                   Bình Nam đêm ghé cổ thành xưa.

                   Bóng đèn bóng nguyệt mờ nhân ảnh

                   Tiếng lá tiếng người chợt tỉnh mơ.

                   Sông núi ước xưa đà lỗi hẹn,

                   Tháng ngày như nước hết mong chờ.

                   Nửa đêm còi điểm lầu canh vắng,

                   Lòng khách dạt dào vạn ý thơ.

      Lục bát :

                   Buồm cao gió nhẹ chiều hôm,

                   Qua đêm ghé bến Bình Nam cổ thành.

                   Bóng đèn lồng bóng trăng thanh,

                   Tiếng người hòa tiếng cây cành lao xao.

                   Núi sông đà lỗi hẹn nào,

                   Tháng ngày như nước tiêu hao hết đời.

                   Tù và canh điểm đêm vơi,

                   Khiến người lữ khách ngậm ngùi thở than.            

 

   Đỗ Chiêu Đức

CÁC BẢN DỊCH KHÁC:

                  Dịch Thái Thạch Hoài Cổ

                  Từng nghe Thi Tiên, mộ ở Thái Thạch,

                  Đã cỡi cá kình thoát tục lâu rồi.

                  Ví thử nước sông là dòng xuân tửu,

                  Ắt Ngườì còn say ngủ giữa sóng vùi. 

 

                  Phạm Khắc Trí

 

                  QUA BIỂN

                  ( Quá Hải )

                  Nguyễn Trãi

 

                  Mạn thuyền tựa, muộn sầu đã gác

                  Sắc nước trời man mác ý dâng.

                  Phân chia Nam Bắc, Tùng Lâm

                  Yếu xung Long Vĩ nằm ngang núi dài.

                  Gạt mây mù lòng đầy dũng khí

                  Chí hào hùng như chiếc buồm căng.

                  Thuyền con đi sứ băng băng

                  Kình ngư sóng cỡi đạp bằng biển đông.

           

                  Mailoc phỏng dịch

                  (Thu phân 2019 )

 

                  ĐÊM ĐẬU THUYỀN Ở BÌNH NAM

                  (Bình Nam Dạ Bạc)

                         Nguyễn Trãi

 

                   Buồm phập phồng gió chiều nhẹ thổi

                   Ghé Bình Nam qua tối cổ thành.

                   Ánh đèn hoà với ánh trăng

                   Cây reo nước vẳng xua tan giấc nồng.

                   Lời nguyền ước núi sông dang dở

                   Tháng năm trôi đã lỡ một đời.

                   Tiếng tù canh tối bồi hồi

                   Cho lòng lữ khách không vơi nỗi niềm!

       

                   Mailoc phỏng dịch

                   9-23-19

_______________________________

 Thơ NGUYỄN TRÃI 

    D. THƠ LÀM TRONG THỜI Ở ẨN TẠI CÔN SƠN. 

 

1. BÀI THƠ " VÃN HỨNG " :

     

 

           

 

      晚興                            VÃN HỨNG 

               阮豸                                      Nguyễn Trãi 

窮巷幽居苦寂寥         Cùng hạng u cư khổ tịch liêu,  

烏巾竹杖晚逍遙         Ô cân trúc trượng vãn tiêu diêu.

荒村日落霞棲樹         Hoang thôn nhật lạc, hà thê thụ,

野徑人稀水沒橋         Dã kính nhân hi, thủy một kiều. 

今古無窮江漠漠         Kim cổ vô cùng giang mạc mạc, 

英雄有恨葉蕭蕭         Anh hùng hữu hận diệp tiêu tiêu.

歸來獨凭欄杆坐         Quy lai độc bẵng lan can tọa,

一片冰蟾掛碧霄         Nhất phiến băng thiềm quải bích tiêu.

 

* CHÚ THÍCH :

    - CÙNG HẠN 窮巷 : Hạng là Con hẽm; nên CÙNG HẠN là ở cuối con hẽm, cũng có nghĩa là : Ở nơi hang cùng ngõ hẹp.

    - Ô CÂN TRÚC TRƯỢNG 烏巾竹杖 : là Khăn đen gậy trúc, chỉ sự phục sức của dân dã miền núi non.

    - HÀ THÊ THỌ 霞棲樹 : là Ráng chiều đậu trên cây, Ý nói những ánh nắng chiều tàn còn rơi rớt lại trên cành lá.

    - THỦY MỘt KIỀU 水沒橋 : là Nước ngập cầu. Nước lớn dâng lên làm ngập cả những cây cầu bắt ngang qua mương rạch.

    - GIANG MẠC MẠC 江漠漠: Nước sông lửng lờ trôi..

    - DIỆP TIÊU TIÊU 葉蕭蕭 : Cây lá xạc xào vì gió lay động.

    - NHẤT PHIẾN BĂNG THIỀM 一片冰蟾 : Một mảnh thiềm thừ băng giá, Ý nói một vầng trăng lạnh lẽo. Theo thần thoại Trung Hoa trong cung trăng có con Thiềm Thừ (Con Cóc) ba chân, nên cung trăng còn gọi là Thiềm Cung 蟾宫.

    - QUẢI BÍCH TIÊU 掛碧霄 : là Treo trên bầu trời xanh biếc.

         

* DỊCH NGHĨA :

 

                              NIỀM CẢM KHÁI HỨNG KHỞI LÚC BAN CHIỀU

           Ở chỗ thanh u trong hang cùng ngõ hẹp nầy chỉ khổ một nỗi là quá tiêu điều vắng lặng, nên mỗi chiều ta đều chống gậy trúc, bịt khăn đen rất tiêu dao mà ngắm cảnh chiều tà. Cảnh thôn trang hoang vắng khi mặt trời chen lặn với ráng chiều như còn lưu luyến trên các ngọn cây, và trên đường mòn vắng vẻ người qua lại nầy, dòng nước như cuộn chảy ngập cả những cây cầu bắt ngang. Chuyện cổ kim xưa nay không dứt như dòng sông lờ lững chảy hoài, còn mối hận của kẻ anh hùng thì cũng xạc xào mãi như những chiếc lá lay động trong gió chiều.. Ta trở về một mình ngồi tựa lan can mà cảm khái trong bầu trời xanh biếc với mảnh trăng treo lạnh lẽo ở tầng không.

 

* DIỄN NÔM :

                         

 

                                  VÃN HỨNG 

 

              Ngõ hẹp hang cùng sống quạnh hiu,

              Khăn đen gậy trúc vẻ tiêu diêu.

              Ráng chiều thôn vắng mây vương ngọn,

              Cầu ngập người thưa nước cuốn nhiều.

              Kim cổ vô cùng sông cuộn cuộn,

              Anh hùng ôm hận lá liu xiu.

              Trở về ngồi tựa lan can ngắm,

              Một mảnh trăng treo lạnh cả chiều !

  Lục bát :

              Ẩn cư tận chốn hang cùng,

              Khăn đen gậy trúc vui cùng quạnh hiu.

              Ráng chiều thôn vắng tiêu điều,

              Nước lên cầu ngập đường chiều lơ thơ.

              Cổ kim như nước lửng lờ,

              Anh hùng ôm hận hững hờ lá rơi.

              Tựa lan can, một mình ngồi,

              Ngắm vầng trăng lạnh bên trời xanh lơ !

              

                                                       Đỗ Chiêu Đức.

 

2. Bài thơ TIÊN DU TỰ :

 

   仙遊寺                Tiên Du tự

            阮廌                       Nguyễn Trãi

短棹繫斜陽,     Đoản trạo hệ tà dương 

匆匆謁上方。     Thông thông yết thượng phương. 

雲歸禪榻冷,     Vân quy Thiền sáp lãnh, 

花落澗流香。     Hoa lạc giản lưu hương. 

日暮猿聲急,     Nhật mộ viên thanh cấp

山空竹影長。     Sơn không trúc ảnh trường 

箇中真有意,     Cá trung chân hữu ý, 

欲語忽還忘。     Dục ngữ hốt hoàn vương (vong).

 

      

 

* Chú Thích :

    - HỆ 繫 : Chữ HỆ nầy có bộ MỊCH 糸 là Sợi Tơ bên dưới, nên có nghĩa là Trói, là Buộc, là Cột. Ở đây có nghĩa là GÂY (GÂY CHÈO : là dùng một sợi dây cuộn tròn như hình số 8 rồi dùng chèo gá vào xoay một hoặc hai vòng cho cột chèo và cây chèo ăn vào với nhau để chèo ).

    - THÔNG THÔNG 匆匆 : Vội vàng, Tất bật.

    - YẾT 謁 : là Yết Kiến 謁見, thường dùng để chỉ người nhỏ ra mắt người lớn, người thường ra mắt người có chức có quyền...

    - SÁP 榻 : Cái Sạp. Thiền Sáp 禪榻 là Cái Sạp để ngồi Thiền. 

    - GIẢN 澗 : là Dòng nước chảy len lỏi giữa núi đá, nhỏ hơn suối.

    - VONG 忘 : Chữ VONG nầy có bộ TÂM 心 ở dưới, nên có nghĩa là Quên; Vì muốn cho ăn Vận nên phải đọc trại thành VƯƠNG.

 

* Dịch nghĩa:

             Chùa Tiên Du

Mái chèo ngắn vội gây (buộc) trong ánh nắng chiều tà. 

Vội vàng lên chùa để yết kiến đức Phật ( Thượng Phương ).

Mây kéo về làm lạnh giường Thiền nơi tu tập .

Hoa rụng xuống khiến hương hoa theo dòng suối trôi đi. 

Chiều hôm buông  xuống nên tiếng vượn kêu rộn rả.

Núi trống không nên bóng trúc như dài thêm ra .

Trong cảnh trí thật là hữu tình hữu ý  đó …

Ta muốn nói nên điều gì đó, nhưng bỗng dưng lại quên mất lời. 

 

      Bài thơ tả cảnh chiều xuống thật nhẹ nhàng trên bến chùa Tiên Du. Hoa rụng nước trôi vượn kêu núi vắng, khiến người trong cuộc cảm xúc dạt dào, muốn nói nhưng quên mất lời, không biết phải nói làm sao mới diễn đạt được hết lòng cảm xúc của mình. Qủa là một ý thiền rất là ... thiền ! Không nói được nhưng dường như đã ... nói rất nghiều !

 

 Diễn Nôm :

                       

 

 

 

 

 

                        CHÙA TIÊN DU

 

                  Chèo ngắn buộc tà vương,

                 Tất bật lễ Thượng phương.

                 Mây về giường thiền lạnh,

                 Hoa rụng suối đưa hương.

                 Trời chiều tiếng vượn gấp,

                 Núi vắng lá tre vươn,

                 Cảnh trí muôn vàn ý,

                 Muốn nói, bỗng...quên luôn !

   Lục bát :

                 Mái chèo gây vội nắng tà, 

                 Tất bật lễ bái hương hoa Phật tiền.

                 Mây về nghe lạnh sạp thiền,

                 Hoa rơi hương cuốn theo miền nước trôi.

                 Trời chiều vượn hú liên hồi,

                 Núi không bóng trúc vươn dài thênh thênh.

                 Ý do cảnh trí mà nên …

                 Dường như muốn nói bỗng liền quên ngay !

                                                                              

                                                                Đỗ Chiêu Đức

 

3. Bài thơ MỘ XUÂN TỨC SỰ :

 

   暮春即事             Mộ Xuân Tức Sự

閑中盡日閉書齋,   Nhàn trung tận nhật bế thư trai,

門外全無俗客來。   Môn ngoại toàn vô tục khách lai.

杜宇聲中春向老,   Đỗ Vũ thanh trung xuân hướng lão,

一庭疏雨楝花開。   Nhất đình sơ vũ luyện hoa khai.

 

 

 

 

 

 

 

* Chú Thích :

    - MỘ 暮 : Chự MỘ nầy có bộ NHẬT 日 là Mặt trời bên dưới, nên có nghĩa là Buổi Chiều. MỘ XUÂN 暮春 là Xuân đã về chiều, nên có nghĩa là CUỐI MÙA XUÂN. Khác với XUÂN MỘ 春暮 là CHIỀU XUÂN.

    - TẬN 盡 : là Cuối cùng, nhưng TẬN NHẬT 盡日 Không phải là Cuối Ngày, mà có nghĩa là SUỐT NGÀY.

    - TỤC KHÁCH 俗客 : là Khách phàm tục; Ý chỉ những khách khứa tầm thường, không phải là hạng Nho gia hay kẻ sĩ có học.

    - Đỗ VŨ 杜宇 : Chỉ Chim Đỗ Quyên, là con Chim Cuốc, con Quấc. ĐỖ VŨ là tên của vua nước Thục, xưng là Vọng Đế, khi chết hoá thành chim Đỗ Quyên là con chim Cuốc. Nên Đỗ Vũ, Đỗ Quyên, Thục Đế, Vọng Đế đều cùng chỉ một người, một loại chim : Chim Quấc (Quốc).

    - SƠ VŨ 疏雨 : Mưa lưa thưa, mưa lâm thâm, mưa phùng.

 

* Nghĩa Bài Thơ :

                        TỨC CẢNH CUỐI XUÂN

        Trong thời gian nhàn nhã nên suốt ngày cứ khép kín cửa thư trai để đọc sách. Ngoài cửa không có khách phàm tục nào đến để quấy rầy cả. Trong tiếng kêu của con chim quấc nên biết rằng mùa xuân đã già, xuân đã sắp tàn rồi. Trong làn mưa rơi lất phất hoa soan rụng đầy cả sân trong nhà (báo hiệu cho mùa hè đã sắp đến).

 

* Diễn Nôm :

                     CUỐI XUÂN TỨC CẢNH

 

                Suốt ngày nhàn tản khép thư trai,

                Ngoài cửa khách thường chẳng vãng lai.

                Trong tiếng cuốc kêu xuân sắp hết,

                Đầy sân lất phất sắc soan tươi !

    Lục bát :

                Suốt ngày nhàn khép thư phòng,

                Tịnh không tục khách thong dong tháng ngày.

                Cuốc kêu xuân sắp tàn phai,

                Đầy thềm soan nở bay bay mưa phùn !

 

                                                             Đỗ Chiêu Đức

 

4. Bài thơ GIANG HÀNH :

 

  

 

   江行               GIANG HÀNH

西津初艤棹,   Tây tân sơ nghĩ trạo,

風景便江湖。   Phong cảnh tiện giang hồ.

雨過山容瘦,   Vũ qúa sơn dung sấu,

天長鴈影孤。   Thiên Trường nhạn ảnh cô.

滄浪何處是?   Thương Lang hà xứ thị ?

漁釣好為徒。   Ngư điếu hảo vi đồ.

回首東華地,   Hồi thủ Đông Hoa địa,

塵埃覺已無。   Trần ai giác dĩ vô.

 

* Chú Thích :

    - NGHĨ 艤 : Thuyền ghé vào bờ, nên NGHĨ TRẠO 艤棹 : là Gác mái chèo lên để đậu thuyền lại.

    - SẤU 瘦 : là Ốm, là Gầy. Trong bài thơ chỉ dáng vẻ thanh thoát trong sáng của núi rừng sau cơn mưa.

    - THƯƠNG LANG 滄浪 : Phần hạ lưu sông Hán Thủy (Trung Quốc). Hai câu thơ 5 và 6 đề cập khúc sông này và những ngư phủ sống ở đây khiến ta nhớ lại bài ca Ngư Phủ 漁父 của Khuất Nguyên 屈原 trong Sở Từ 楚辭. Cuối bài có hai câu: "Thương Lang chi thuỷ thanh hề, khả dĩ trạc ngô anh, Thương Lang chi thuỷ trọc hề, khả dĩ trạc ngô túc 滄浪之水清兮,可以濯吾纓。滄浪之水濁兮,可以濯吾足. Có nghĩa : Dòng nước Thương Lang trong ư ? Ta có thể giặt giải mũ, Dòng nước Thương Lang đục ư ? Ta có thể rửa chân. Ý nói : Phải biết tùy hoàn cảnh mà sống, chớ không nên làm ra vẻ thanh cao hơn thiên hạ.

    - ĐÔNG HOA 東華 : là nơi có cửa Đông Hoa Môn của hoàng cung, lối đi dành riêng cho các quan chức được đòi vào chầu vua. Đây ý chỉ nơi phồn hoa đô hội.

 

* nghĩa Bài Thơ :

                      ĐI THUYỂN TRÊN SÔNG

        Bến bờ tây vừa gác mái chèo đậu lại, thì phong cảnh sông nước giang hồ đã hiện ra trước mắt. Sau cơn mưa dung nhan (cảnh trí) của núi như ốm (thanh thoát) hơn ra. Bầu trời cao rộng nên bóng của con chim nhạn như càng cô đơn hơn. Sông Thương Lang ở nơi đâu để ta có thể làm ông câu ở nơi đó. Quay nhìn về chốn phồn hoa đô hội, ta cảm thấy như mình đã rũ sạch bụi trần ai !

        Thật cảm khái cho cảnh nhàn cư ẩn dật, muốn sống đời sống nhàn nhã thanh cao, nhưng lòng vẫn... còn chút quyến luyến với đời sống nơi phồn hoa đô hội. Nói là như ... rũ sạch bụi trần ai, nhưng thật ra là lòng còn luyến nhớ !

 

* Diễn Nôm :

              ĐI THUYỀN TRÊN SÔNG            

 

       

 

              Bờ tây vừa gát mái,

              Cảnh sông nước phơi bày.

              Sau mưa núi thanh thoát,

              Trời rộng nhạn lẻ bay.

              Thương Lang nơi đâu nhỉ ?

              Ngư phủ ước được rày.

              Quay đầu về đô hội,

              Như rũ sạch trần ai !

   Lục bát :

              Bờ tây vừa gát mái chèo,

              Giang hồ sông nước như theo với người.

              Sau mưa cảnh núi xinh tươi,

              Nhạn như cô lẻ bầu trời thênh thênh.

              Thương Lang sông nước gập ghềnh,

              Ngư ông an phận lênh đênh theo giòng.

              Quay đầu nhìn đất Hoa Đông,

              Trần ai nhân thế thong dong qua rồi !

 

                                                        Đỗ Chiêu Đức

 

5. Bài thơ TRẠI ĐẦU XUÂN ĐỘ : 

 

  

 

  寨頭春渡                 TRẠI ĐẦU XUÂN ĐỘ

 

渡頭春草綠如煙,   Độ đầu xuân thảo lục như yên,

春雨添來水拍天。   Xuân vũ thiêm lai thủy phách thiên.

野徑荒涼行客少,   Dã kính hoang lương hành khách thiểu,

孤舟鎮日擱沙眠。   Cô chu trấn nhật các sa miên.

 

* Chú Thích :

    - ĐỘ 渡 : Độ nầy có 3 chấm thủy 氵bên trái, nên có nghĩa là đi ngang qua nước (sông, hồ, ao, biển). Danh từ ĐỘ ĐẦU 渡頭 : là Nơi để đi ngang qua sông, ta gọi là BẾN ĐÒ. XUÂN ĐỘ 春渡 là Bến đò xuân.

    - THỦY PHÁCH THIÊN 水拍天: là Nước vổ trời. Trong cảnh sông nước bao la, ta thấy những đợt sóng lăn tăn như vổ vào tận chân trời.

    - DÃ KÍNH 野徑 : Con đường đi ngoài ngoại ô, là Đường đồng trống vắng.

    - TRẤN NHẬT 鎮日 : là Suốt ngày, Cả ngày.

    - CÁC 擱 : Có bộ THỦ 扌là Tay bên trái, nên có nghĩa là Đặt, Để, Kê, Gác. Trong bài thơ có nghĩa : Chiếc đò nằm gác lên trên bãi cát vì không có khách sang sông.

 

* Nghĩa Bài Thơ :

                               BẾN ĐÒ XUÂN ĐẦU TRẠI

        Cỏ xuân trên bến đò xanh biếc như sương khói, cộng thêm với mưa xuân phơi phới nên những sóng nước lăn tăn như vổ tận chân trời. Con đường hoang vắng ở ngoại ô ít khách vãng lai, nên con đò đơn lẻ suốt ngày nằm gác lên trên cát mà ngủ.

        Cảnh bến đò vắng khách trên bến sông xuân vắng lặng, đẹp một cách nên thơ đầy thi vị của cuộc sống êm ả ở thôn quê, càng trở nên yên ắng hơn với con đò như nằm ngủ yên trên bãi cát vì không có khách sang sông ! 

 

* Diễn Nôm :

                 BẾN ĐÒ XUÂN ĐẦU TRẠI

 

              Trên bến đò xuân sắc cỏ tươi,

              Mưa xuân phơi phới nước ngang trời.

              Khách xuân thưa thớt đường xuân vắng,

              Đò nhỏ nằm trơ cát ngủ vùi !

    Lục bát :

              Cỏ xanh như khói bến xuân,

              Thêm mưa xuân vổ sóng lưng ngang trời.

              Đường xuân thưa thớt vắng người,

              Đò xuân trơ cát ngủ vùi sáng trưa !

 

               Đỗ Chiêu Đức

Thơ Nguyễn Trãi

Thơ Làm Khi Công Thành Danh Toại

 

 

 

 

 

 

 

 

                    (Nguyễn Trãi)

 

1. Bài thơ Thượng Nguyên Hỗ Giá Chu Trung Tác

 

 

 

 

 

 

上元扈駕舟中作 Thượng Nguyên Hỗ Giá Chu Trung Tác 

沿江千里燭光紅, Duyên giang thiên lý chúc quang hồng,
彩鷁乘風跨浪篷。 Thái Nghịch thừa phong khóa lãng bồng.
十丈樓臺消蜃氣, Thập trượng lâu đài tiêu thận khí,
三更鼓角壯軍容。 Tam canh cổ giác tráng quân dung.
滄波月浸玉千頃, Thương ba nguyệt tẩm ngọc thiên khoảnh,
仙杖雲趨天九重。 Tiên trượng vân xu thiên cửu trùng.
午夜篷窗清夢覺, Ngọ dạ bồng song thanh mộng giác,
猶疑長樂隔花鐘。 Do nghi Trường Lạc cách hoa chung.
阮廌                         Nguyễn Trãi


* Chú Thích:

- Thượng Nguyên 上元 : là Rằm tháng giêng, là Tiết Nguyên Tiêu.

- hỗ giá 扈駕 : HỖ là theo sau, hộ vệ; HỖ GIÁ : Đi theo hầu thuyền vua.

- Duyên Giang 沿江 : là Dọc theo bờ sông.

- Thái Nghịch 彩鷁 : là tên đặt cho một chiếc thuyền vua có vẽ hình con chim Nghịch đón gió với màu sắc rực rỡ.

- Thận khí 蜃氣 là Ảo ảnh. Ánh sáng rọi xuống biển, phản chiếu ngược lên trên không thành muôn hình vạn trạng, như lâu đài, chợ búa ... Ngày xưa cho là vì có con sò thần biến hóa ra cảnh thần tiên, nên gọi là “Thận Lâu Hải Thị 蜃樓海市 là Lầu Sò Chợ Biển" để chỉ các ảo ảnh về cảnh thần tiên trên biển chỉ là hư ảo không có thật.

- Cổ Giác 鼓角 : Cổ là Trống; Giác là Sừng. Nên CỔ GIÁC là Tiếng trống tiếng tù-và thổi trong quân lúc gác đêm.

- Thương Ba 滄波 : là Sóng xanh, xuất xứ từ THƯƠNG HẢI 滄海 là Biển xanh.

- Tiên Trượng 仙杖 : là Gậy tiên. Gậy tre của tiên chống, có thể hóa thành rồng cởi để bay lên mây xanh.

- Cửu Trùng 九重 : là Chín tầng. Theo truyền thuyết cổ đại của Trung Hoa thì Trời có 9 tầng, nên gọi là Cửu Trùng Thiên 九重天. Vua là Thiên Tử là con trời, nên cũng gọi vua là Đấng Cửu Trùng; Tiếng Nôm ta gọi là Chín Tầng, như mở đầu Chinh Phụ Ngâm Khúc có câu :

 

CHÍN TẦNG gươm báu trao tay,

Nửa đêm truyền hịch định ngày xuất chinh. 

- Ngọ Dạ 午夜 : là Nửa đêm. Phiếm chỉ Đêm khuya.

- Trường Lạc 長樂 : là Cung Trường Lạc. Một cung điện của nhà Hán xưa ở trong thành Trường An (thuộc tỉnh Thiểm Tây Trung Quốc ngày nay), cùng với cung Vị Ương 未央 là nơi xưa Hán Cao Tổ hay đón tiếp quần thần và chư hầu. 

 

 

* Nghĩa Bài Thơ: 

 

 Cảm Tác Ngày Rằm Thượng Nguyên Hỗ Giá trong Thuyền 

 

Cả ngàn dặm dọc theo bờ sông đều rực sáng bởi ánh đuốc sáng rực. Chiếc thuyền có chạm hình chim Thái Nghịch rực rỡ đang cởi gió lướt đi trên sóng. Lầu thuyền cao mười trượng lấp lánh hư ảo như cảnh thần tiên trên biển, và tiếng trống giục hòa lẫn tiếng tù-và rít lên lúc canh ba càng làm tăng thêm vẻ hùng tráng của quân binh. Thuyền lướt trên sóng xanh với ánh trăng lắp loáng chìm trong đáy nước như muôn ngàn mảnh ngọc vỡ ra; những cây cột buồm như những cây gậy tiên như vươn cao và lướt trên mây lên tận chín từng trời. Ta chợt tỉnh giấc mộng thanh thản bên song thuyền lúc giữa đêm khuya, mà còn ngờ là đang nghe tiếng chuông hoa đang gọi chầu nơi cung Trường Lạc. 

 

Quả là cảnh hỗ giá sau thanh bình chiến thắng trở về, với sĩ khí lên cao, đèn hoa rực rỡ trong đêm rằm Nguyên Tiêu sau Tết Nguyên Đán trên thuyền của vua đi. Nguyễn Trãi đã nằm trong khoang thuyền theo sau thuyền vua, nhìn ra trước mũi thuyền có chạm trổ hình chim nghịch với màu sắc rực rỡ như đang lướt đi trên sóng và các cột buồm như những chiếc gậy tiên đang chọc thẳng lên chín từng mây. Cảnh náo nhiệt với các đuốc hoa rực rỡ dọc theo bờ sông, cảnh hùng tráng với tiếng tù-và tiếng trống giục trên thuyền của quân binh đã vẽ nên một cảnh thanh bình thịnh vượng của một đất nước độc lập tự chủ sau những năm trầm luân trong đô hộ. 


* Diễn Nôm: 

Thượng Nguyên Hỗ Giá Chu Trung Tác 

Ngàn dặm ven sông đuốc rực hồng,
Thuyên rồng cởi gió lướt trên sông.
Lâu thuyền mười trượng mờ tiên cảnh,
Còi trống ba quân vẳng khí hùng.
Trăng vỡ ngàn sao nhòa đáy nước,
Gậy tiên chín lớp vượt không trung.
Nửa đêm tỉnh mộng bên song cỏ.
Còn ngỡ chuông hoa Trường Lạc cung! 

Lục bát: 


Ven sông ngàn dặm đuốc hồng,
Mũi thuyền cởi gió lướt dòng sóng xanh.
Lâu thuyền cao xóa khí lành,
Trống còi giục giã đêm thanh hào hùng.
Trăng chìm đáy nước mông lung,
Gậy tiên vươn thẳng chín từng mây cao.
Nửa đêm tỉnh giấc song đào,
Còn ngờ Trường Lạc hôm nao gọi chầu. 

Đỗ Chiêu Đức

***

2. Bài thơ Đề Kiếm:

 

 

 

 

 

 

題劍                         Đề Kiếm


藍山自昔臥神龍, Lam Sơn tự tích ngọa thần long,
世事懸知在掌中。 Thế sự huyền tri tại chưởng trung.
大任有歸天啓聖, Đại nhậm hữu quy thiên khải thánh,
昌期一遇虎生風。 Xương kỳ nhất ngộ hổ sanh phong.
國讎洗盡千年恥, Quốc thù tẩy tận thiên niên sỉ,
金匱終藏萬世功。 Kim quỹ chung tàng vạn thế công.
整頓乾坤從此了, Chỉnh đốn càn khôn tòng thử liễu,
世間那更數雄英。 Thế gian na cánh sổ anh hùng.
阮廌                         Nguyễn Trãi

 

* Chú Thích:

- KIẾM ở đây là Thuận Thiên kiếm 順天劍 hay kiếm thần Thuận Thiên là thanh kiếm huyền thoại của vua Lê Lợi, người đã đem lại độc lập cho Việt Nam từ ách cai trị của nhà Minh phương Bắc.

- LAM SƠN 藍山 : Tên núi ở huyện Thọ Xuân (Thanh Hóa ngày nay), năm 1418 (Mậu Tuất), Bình Định Vương Lê Lợi đã khởi nghĩa tại đây.

- NGỌA THẦN LONG 臥神龍 : "Ngoạ long" là con rồng nằm, thường dùng để chỉ Gia Cát Khổng Minh thời Tam Quốc (Trung Hoa) lúc còn ở ẩn tại Ngoạ Long Cương (huyện Nam Dương, tỉnh Hà Nam). Trong bài này, Nguyễn Trãi dùng "Ngoạ Thần Long" để chỉ Lê Lợi khi còn ở núi rừng Lam Sơn.

- THIÊN KHẢI THÁNH 天啓聖 : Trời bảo cho thánh nhân (tức Lê Lợi) biết. Chỉ việc Lê Lợi được trời cho kiếm thần trên có chữ "Thuận Thiên". Năm 1428 (Mậu Thân), Lê Lợi lên ngôi vua, lấy hiệu là Thuận Thiên.

- HỔ SANH PHONG 虎生風 : Cọp sinh ra gió. Lấy ý ở quẻ Càn 乾 trong kinh Dịch 易: "Vân tòng long, phong tòng hổ" 雲從龍,風從虎 (Mây theo rồng, gió theo cọp).

- KIM QŨY 金匱 : Do chữ "Kim quỹ thạch thất" 金匱石室 là rương làm bằng vàng, nhà xây bằng đá để cất giữ sử sách. Vua Cao Tổ nhà Hán dùng tráp bằng vàng cất giữ những biểu dương ghi chép công lao của các công thần.

- CÀN KHÔN 乾坤 : chỉ Âm dương Trời đất, mượn để chỉ cuộc đời nầy.

 

* Nghĩa Bài Thơ:
Đề Lưỡi Kiếm Thần của Lê Lợi

 

Đất Lam Sơn từ xưa vốn là nơi đã nằm sẵn một con rồng thần. Chuyện đời đã biết rõ rành rành như trong lòng bàn tay. Khi trách nhiệm lớn đã có người gởi gắm thì trời cũng báo cho bậc thánh nhân biết trước, và khi thời cơ tốt đã đến thì như chúa sơn lâm được sự hỗ trợ của gió vậy. Quốc thù cũng đã được rửa sạch cái nhục của cả ngàn năm, và rương vàng cũng cất giữ lại công lao muôn đời của các bậc công thần. Từ nay đã kết thúc việc chỉnh đốn lại càn khôn trời đất của ta, thử nghĩ trên đời nầy có được mấy người anh hùng như thế chứ ?!

Ý là Đề Gươm, nhưng thật ra là để ca ngợi sự kiên nhẫn và chiến tích vẻ vang của Bình Định Vương Lê Lợi. Được kiếm Thuận Thiên là thuận theo ý trời, như hùm gặp gió, như hổ thêm vây rửa sạch cái nhục ngàn năm mà ổn định lại trật tự xã hội của dân Nam, thành tích nầy không phải anh hùng nào cũng làm được! 

Nhà thơ Nguyễn Văn Cổn thời Tiền Chiến trong bài thơ Nước Tôi cũng đã lấp lửng mà ca ngợi bằng hai câu thơ :

Rùa thiêng nổi trước thuyền rồng,

Trên Hồ Hoàn Kiếm anh hùng là ai ?


* Diễn Nôm:
   Đề Kiếm


Lam Sơn xưa vốn đất tiềm long,
Thế sự trong tay đã tỏ lòng.
Đại cuộc chuyển xoay trời ban thánh,
Thuận Thiên kiếm báu hổ nương phong.
Báo xong thù nước ngàn năm nhục,
Ghi dấu hộp vàng muôn thuở công.
Chỉnh đốn đất trời nay trọn vẹn,
Anh hùng mấy kẻ được như ông ?!


Lục bát:


Lam Sơn xưa đất ẩn rồng,
Chuyện đời đã rõ như lòng bàn tay.
Thế trời tỏ rõ thánh hay,
Thuận Thiên thần kiếm thêm vây cho hùm.
Ngàn năm thù nước báo xong,
Rương vàng nhà đá ghi công muôn đời.
Đất trời chỉnh đốn xong rồi,
Anh hùng dưới thế mấy người như ông ?!

Đỗ Chiêu Đức

***

3. Bài thơ Đề Bá Nha Cổ Cầm Đồ

 

 

 

 

 

 

題伯牙鼓琴圖         Đề Bá Nha Cổ Cầm Đồ


鐘期不作鑄金難, Chung Kỳ bất tác chú kim nan,
獨抱瑤琴對月彈。 Độc bão dao cầm đối nguyệt đàn.
靜夜碧霄涼似水, Tĩnh dạ bích tiêu lương tự thủy,
一聲鶴唳九皋寒。 Nhất thanh hạc lệ cửu cao hàn!
阮廌                         Nguyễn Trãi

 

* Chú Thích:

- BÁ NHA 伯牙: hay Sở Bá Nha, họ Du tên Thụy, người nước Sở nhưng làm quan Thượng Đại Phu nước Tấn. Ông là một khách phong lưu, có ngón đàn thất huyền cầm nổi tiếng đương thời. Tương truyền một năm nọ, Bá Nha phụng chỉ vua Tấn đi sứ qua nước Sở. Trên đường trở về đến sông Hán, gặp đêm trung thu trăng thanh gió mát, ông lệnh cho quân lính dừng thuyền uống rượu thưởng nguyệt. Cao hứng mang đàn ra gảy nhưng bản đàn chưa dứt đã bị đứt dây. Bá Nha ngờ có người biết nghe đàn, định truyền quân lên bờ đi tìm thì vừa hay có tiếng chàng trai nói vọng xuống, rằng mình là một tiều phu, thấy khúc đàn hay quá nên dừng chân nghe. Bá Nha có ý nghi hoặc, nhưng khi chàng trai đối đáp trôi chảy, thậm chí biết rõ bản đàn mà mình vừa gảy thì ông không còn mảy may ngờ vực nữa, bèn mời xuống thuyền đàm đạo. Trên thuyền, Bá Nha gảy khúc nhạc Cao sơn Lưu thủy, người tiều phu rung cảm sâu sắc, cao đàm khoát luận, khiến Bá Nha khâm phục hết mực.

 

Chàng trai trẻ đó chính là Chung Tử Kỳ 鍾子期, họ Chung tên Huy, nhà tại Tập Hiền Thôn gần núi Mã Yên cửa sông Hán Giang, là một danh sĩ ẩn dật, đốn củi sớm tối phụng dưỡng mẹ cha già yếu. Được người tri âm, Bá Nha có ý mời Tử Kỳ cùng mình về kinh tiến cử cho Tấn vương để cùng vui hưởng vinh hoa phú quý. Nhưng Tử Kỳ thoái thác vì chữ hiếu. Bá Nha đành phải hẹn Tử Kỳ trung thu năm sau sẽ gặp lại ở chốn nầy. Nhưng khi Bá Nha trở lại bến sông xưa, thì Tử Kỳ đã mất trong một cơn bạo bệnh. Trước khi chết Tử Kỳ còn trăng trối phải chôn chàng nơi bến sông Hán Dương, cạnh núi Mã Yên, để giữ lời hẹn với Bá Nha. Bá Nha tìm đến mộ Tử Kỳ, bày đồ tế lễ, khóc than sầu thảm, gảy một bản nhạc ai điếu. Đàn xong, ông đập đàn vào đá, thề trọn đời không đàn nữa vì biết mình từ nay vĩnh viễn không còn bạn tri âm nữa.

- CỔ CẦM 鼓琴: CỔ danh từ là Cái Trống; động từ là Đánh Trống. nên CỔ CẦM ở đây có nghĩa là Đánh Đàn, Gãy đàn.

- CHÚ KIM 鑄金 : là Đúc bằng vàng. CHÚ KIM NAN là Khó mà đúc được bằng vàng.

- BÍCH TIÊU 碧霄: là Bầu trời xanh biếc.

- CỬU CAO 九皋: là chín cái đầm nước. Kinh Thi chương Hạc minh có câu: “Hạc minh vu cửu cao, thanh văn vu dã” 鶴鳴于九皋,聲聞于野: Chim hạc kêu ở chỗ có chín đầm nước vang khắp đồng nội. Số 9 ở đây là phiếm chỉ, chỉ rất nhiều đầm nước ở ngoài đồng nội.

 

* Nghĩa Bài Thơ:

Đề Bức Tranh Bá Nha Gãy Đàn

 

Không làm được Chung Kỳ vì đúc tượng vàng Chung Kỳ khó.(Ý muốn nói: Chung Tử Kỳ là người tri âm qúy hiếm, rất khó tìm thấy trên đời, kể cả đúc bằng kim loại), Nên mới một mình ôm cây dao cầm mà đàn dưới ánh trăng. Đêm thanh vắng, bầu trời xanh biếc trong mát như nước. Một tiếng chim hạc kêu làm lạnh cả chín đầm nước ngoài đồng nội.

 

* Diễn Nôm:

Đề Tranh Bá Nha Gảy Đàn

 

Chung Kỳ khó gặp đúc nên vàng,
Đơn độc dưới trăng lạnh gãy đàn.
Đêm mát trời xanh trong tợ nước,
Hạc kêu một tiếng chím đầm vang!


Lục bát:
Tri âm khó đúc hơn vàng,
Dưới trăng một bóng ôm đàn gảy suông.

Đêm thanh trời mát tợ gương,
Hạc kêu một tiếng lạnh vương chín đầm!


Đỗ Chiêu Đức

***

4. Bài thơ Quá Thần Phù Hải Khẩu:

 

 

 

 

 

 

 

 

 

過神符海口             Quá Thần Phù Hải Khẩu

神符海口夜中過, Thần Phù hải khẩu dạ trung qua,
奈此風清月白何。 Nại thử phong thanh nguyệt bạch hà.
夾岸千峰排玉筍, Giáp ngạn thiên phong bài ngọc duẩn,
中流一水走青蛇。 Trung lưu nhất thủy tẩu thanh xà.
江山如昨英雄逝, Giang sơn như tạc anh hùng thệ,
天地無情事變多。 Thiên địa vô tình sự biến đa.
胡越一家今幸睹, Hồ Việt nhất gia kim hạnh đổ,
四溟從此息鯨波。 Tứ minh tòng thử tức kình ba !
阮廌                         Nguyễn Trãi

 

* Chú Thích:
- THẦN PHÙ HẢI KHẨU 神符海口 : là Cửa biển Thần Phù. Theo Nam Ông Mộng Lục 南翁夢錄, Vua Lý Thái Tông mang quân Nam tiến để đánh dẹp Chiêm Thành, đến cửa biển này gặp gió to sóng dữ, không đi được; may nhờ một đạo sĩ có phép thuật cao cường dẹp yên sóng dữ. Khi ban sự trở về, đạo sĩ mất ở dọc đường. Vua cho lập đền thờ ở cửa biển, phong hiệu là "Áp Lãng Chân Nhân 壓浪真人" (Chân nhân dẹp yên được sóng dữ) và đặt tên nơi đây là cửa biển Thần Phù.
- NẠI... HÀ 奈...何 : Phải làm sao đây ? Biết nói sao đây ?! 
- PHONG THANH NGUYỆT BẠCH 風清月白 : Ta nói là Gió mát trăng thanh.
- GIÁP NGẠN 夾岸 : Hai bên bờ.
- NGỌC DUẨN 玉筍 : là Măng non mới mọc.
- GIANG SƠN NHƯ TẠC 江山如昨 : Núi sông như mới ngày hôm qua.
- HỒ VIỆT 胡越 : Tên các nước thuộc Trung Quốc. Hồ chỉ các nước nhỏ ở phía bắc, Việt chỉ các nước nhỏ ở phía nam, nên HỒ VIỆT ý chỉ hai nơi rất xa nhau. Tác giả ngụ ý khi hoà hợp thì xa cũng hoá gần.
- TỨ MINH 四溟 : là Tứ Phương Chi Hải 四方之海, là Biển của bốn phương; ta nói là Bốn Bể, có nghĩa là khắp nơi khắp chốn.
- KÌNH BA 鯨波 : Sóng do con cá kình lội mà tạo nên, ở đây mượn ý để chỉ các chiến thuyền lướt sóng như cá kình cá voi; và Chiến Thuyền Lướt Sóng hàm ý chỉ chiến tranh.

* Nghĩa Bài Thơ:
Qua Cửa biển Thần Phù

 

Trong đêm đi ngang qua cửa biển Thần Phù, trong cảnh gió mát trăng thanh nầy, ôi, phải biết nói sao đây ?! Giáp hai bên bờ là hàng ngàn ngọn núi vươn lên như những búp măng mới mọc, và ở giữa là một dòng chảy lấp loáng dưới ánh trăng như một con rắn xanh. Sông núi vẫn như ngày hôm qua, nhưng những người anh hùng thì đã khuất. Trời đất vô tình trước sự biến hóa đổi thay. May mắn là đã nhìn thấy được hôm nay Hồ Việt đã chung lại một nhà, bốn biển từ đây cũng đã

Non nước Thần Phù

* Diễn Nôm:

Qua Cửa biển Thần Phù

Thần Phù cửa biển giữa đêm qua,
Gió mát trăng thanh biết phải là?
Núi đá hai bờ như duẩn ngọc,
Nước xanh một dãi tựa thanh xà.
Giang sơn còn đó anh hùng mất,
Trời đất vô tình thế sự đa.
Hồ Việt nay đà chung một mái,
Thanh bình bốn biển hết can qua!


Lục bát:


Thần Phù cửa biển trong đêm,
Nói sao gió mát êm đềm trăng thanh.
Đôi bờ ngàn núi như tranh,
Giữa trôi lấp lánh rắn xanh một dòng.
Giang sơn đó, đâu anh hùng ?
Sự đời biến đổi vô chừng thoáng qua.
Nay mừng Hồ Việt một nhà,
Từ nay chinh chiến can qua chẳng còn!

Đỗ Chiêu Đức

***

5. Bài thơ Dục Thúy Sơn

 

 

 

 

 

 

 

浴翠山             Dục Thúy Sơn


海口有仙山, Hải khẩu hữu tiên san
年前屢往還。 Niên tiền lũ vãn hoàn.
蓮花浮水上, Liên hoa phù thủy thượng,
仙景墜人間。 Tiên cảnh trụy nhân gian.
塔影簪青玉, Tháp ảnh trâm thanh ngọc,
波光鏡翠鬟。 Ba quang kính thúy hoàn.
有懷張少保, Hữu hoài Trương Thiếu Bảo,
碑刻蘚花斑。 Bi khắc tiễn hoa ban.
阮廌                         Nguyễn Trãi


* Chú Thích:

- DỤC THÚY SAN 浴翠山 : Dục Thúy là Tắm trong màu xanh biếc. Núi Dục Thuý, tức núi Non Nước ở Ninh Bình, tên Dục Thuý là do Trương Hán Siêu đặt, vì núi soi bóng xuống cửa biển với một màu xanh biếc.

- LŨ VÃN HOÀN 屢往還 : là Mấy lượt đi về. Đi đi về về mấy lượt.

- TRỤY NHÂN GIAN 墜人間 : là Rơi xuống trần gian.

- TRƯƠNG THIẾU BẢO 張少保 : Tức Trương Hán Siêu đời Trần, được phong hàm Thiếu Bảo, sau khi mất được thăng Thái Bảo, hàm chánh nhất phẩm. Trương Hán Siêu tự là Thăng Phủ, quê làng Phúc Thành, huyện An Ninh (sau đổi là Phúc Âm, huyện Gia Khánh, tỉnh Ninh Bình, làm quan đời Trần, chức Tham Tri Chính Sự. Về già ở ẩn tại núi Dục Thuý.

- BI 碑 : là Bia. TIỄN 蘚 : là Rong rêu.

 

* Nghĩa bài Thơ:
Núi Thúy Sơn

 

Trước cửa biển có núi tiên, năm trước đây ta đã mấy lượt đi về nơi nầy. Toà núi như là một đóa hoa sen nổi trên mặt nước như là cảnh tiên rơi xuống nhân gian nầy vậy. Bóng tháp in trên nước như trâm bích ngọc và các gợn sóng sáng lấp lánh như gương soi các lọn tóc xanh. Trước cảnh đẹp nầy, làm cho ta chợt nhớ đến Trương Thiếu Bảo, nhưng tấm bia đá khắc về ông đã lốm đốm rêu xanh cả rồi!


* Diễn Nôm :
Núi Thúy Sơn


Cửa biển có tiên san,
Năm qua vẫn khứ hoàn.
Hoa sen trên mặt nước,
Tiên cảnh lạc nhân gian.
Bóng tháp như trâm ngọc,
Sóng xanh tựa tóc nàng.
Nhớ ngài Trương Thiếu Bảo,
Bia khắc cỏ rêu lan.


Lục bát:


Núi tiên cửa biển cận kề,
Năm qua mấy lượt đi về nơi đây.
Như sen nổi mặt nước đầy,
Bồng Lai tiên cảnh đọa đày nhân gian.
Tháp in đáy nước trâm vàng,
Sóng vờn tựa kính soi làn tóc mây.
Nhớ Trương Thiếu Bảo nơi nầy,
Rêu xanh lốm đốn phủ đầy thạch bia!

Đỗ Chiêu Đức

 

———————————————

 

 

Gối Cỏ Đầu Xuân

Với Đôi Vần Thơ Xuân Của Tiền Nhân  

 

 

Tác giả là một bậc anh quân đời nhà Trần và là Sư Tổ sáng lập Thiền Phái Trúc Lâm Yên Tử. PKT 02/18/2019

 

SƠN PHÒNG MẠN HỨNG

Trần Nhân Tông  (1258 - 1308)

 

Thùy phược cánh tương cầu giải thoát

Bất phàm hà tất mịch thần tiên

Viên nhàn mã quyện nhân ưng lão

Y cựu vân trang nhất tháp thiền

 

Thị phi niệm trục triêu hoa lạc

Danh lợi tâm tùy dạ vũ hàn

Hoa tận vũ tình sơn tịch tịch

Nhất thanh đề điểu hựu xuân tàn

 

Mạn Hứng Ở Sơn Phòng

PKT - Mây Tần

 

Có ai trói buộc mình đâu mà phải cầu giải thoát  / Bụi trần đã không còn vướng mắc rồi thì hà tất đi tìm thần tiên làm chi nữa  / Bầy vượn nhởn nhơ, con ngựa đã mỏi, người nay đã già / Am mây và chiếc giường thiền ngày nào vẫn  còn đó / / Nỗi thị phi phải quấy đã được rũ bỏ theo từng cánh hoa rụng rơi ban sáng / Niềm hám danh hám lợi đã được cuốn theo từng đợt  mưa lạnh trong đêm / Hoa đã rụng hết, mưa đã tạnh hẳn, núi non tịch mịch trước mắt / Một tiếng chim hót, ừ nhỉ , cái lẽ tuần hoàn trời đất, xuân đến rồi đi  


 

SƠN PHÒNG MẠN HỨNG

PKT  - Mây Tần

 

Ai trói buộc đâu mà cầu giải thoát,

Lòng đã thoát phàm hà tất tìm Tiên.

Vượn nhàn, ngựa mỏi, thân lão,

Chốn cũ, am mây, một chiếc giường thiền.

 

Sáng ngắm hoa rơi, thị phi rũ bỏ,

Ðêm nghe mưa lạnh, danh lợi buông trôi.

Hoa tàn, mưa tạnh, núi vắng,

Một tiếng chim hót tiễn Xuân ngang trời.        

 

Tri Khac Pham
Phamid1934@gmail.com

 

 

 

 

 

Đỗ Chiêu Đức, Mailoc, Phương Hà, Mùi Quý Bồng 

HAI BÀI THƠ XUÂN

của ÔNG VUA Trần Nhân Tông

 

         Trong dịp xuân về, Kính gởi đến Quý Thầy Cô và Anh Chị Em Vườn Thơ Thẩn  2 bài thơ "Xuân" của ông Vua Trần Nhân Tông...

       

                      Xuân hiểu   

 

,      Thụy khởi khải song phi, 
。      Bất tri xuân dĩ quy.  
,      Nhất song bạch hồ điệp,  
。      Phách phách sấn hoa phi.

 

CHÚ THÍCH : 

 * Thụy Khởi : là Ngủ dậy, chỉ Vừa thức giấc.

 * Khải : là Mở ra, giống như chữ KHAI ( thanh BẰNG, còn KHẢI là thanh TRẮC ).

 * Song Phi : Cánh cửa của Cửa sổ.

 * Phách Phách : là Vổ vổ(cánh), ở đây có nghĩa là Vổ Phần phật.

 * Sấn : là Nhân(dịp), ở đây có nghĩa là Hướng về...

 NGHĨA BÀI THƠ :

                              Sáng Sớm Mùa Xuân

          Vừa mới ngủ dậy, ta mở toang hai cánh cửa sổ ra... Đâu biết rằng mùa xuân đã về đến rồi !( Trông kìa,) một đôi bướm trắng nỏn nà đang vổ vổ cánh bay về các khóm hoa ( đang nở rộ !). 

DIỄN NÔM :

        SÁNG XUÂN

     Thức giấc mở song ngay,

     Xuân đến nào có hay.

     Một đôi bươn bướm trắng,

     Hướng hoa vổ cánh bay !

Lục bát :

     Vừa thức giấc, mở cửa song,

     Nào hay xuân đã về trong đất trời.

     Một đôi bướm trắng xinh tươi,

     Khóm hoa bay lượn thành đôi chập chờn.

                                                         

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Trần Nhân Tông 陳仁宗 (7 tháng 12 năm 1258 - 14 hoặc 16 tháng 12 năm 1308) là vị hoàng đế thứ ba của vương triều Trần trong lịch sử Việt Nam. Ông trị vì từ năm 1278 đến năm 1293, sau đó làm Thái thượng hoàng từ năm 1293 cho đến khi qua đời. Trần Nhân Tông được nhiều sử gia đánh giá là một vị vua anh minh, đã có nhiều đóng góp cho sự phát triển bền vững của Đại Việt cuối thế kỷ 13, cũng như việc bảo vệ nền độc lập và mở rộng cương thổ đất nước. Ngoài ra, ông cũng là một thiền sư lớn của Phật giáo Việt Nam thời trung đại.              

 

   Xuân Vãn

  Trần Nhân Tông

                           

        

春晚                          Xuân Vãn

               陳仁宗                          Trần Nhân Tông

年少何曾了色空     Niên thiếu hà tằng liễu sắc không, 

一 春心在百花中    Nhất xuân tâm tại bách hoa trung.

 如今勘破東皇面    Như kim khám phá đông hoàng diện, 

 禪板蒲團看墜紅    Thiền bản bồ đoàn khán truỵ hồng.

 

Dịch Nghĩa:                           Xuân Muộn

     Câu 1 : 年少何曾了色空     Niên thiếu hà tằng liễu sắc không,


     Từ HÀ TẰNG : HÀ là Như thế nào, là Ra Làm Sao ?. TẰNG là Từng, là Đã Từng. Nên :
     HÀ TẰNG : là một NGHI VẤN TỰ dùng theo cách PHẢN VẤN có nghĩa : Làm sao mà nói được đã từng ?
     LIỄU : là Kết thúc, là Hết.( kết liễu ). Nên...
     HÀ TẰNG LIỄU có nghĩa : Làm sao nói được là đã kết thúc...? Đưa đến nghĩa cả câu là :
     " Tuổi còn trẻ thì làm sao mà có thể nói là đã kết thúc với chuyện sắc không cho được ?!" Nghĩa bóng là :
     " Thanh niên thì làm sao mà có thể nói là không còn nghĩ đến chuyện sắc không nữa ?!". Đưa đến nghĩa của...

 

     CÂU 2 :   一 春心在百花中    Nhất xuân tâm tại bách hoa trung.


      NHẤT XUÂN TÂM : có nghĩa là Một tấm lòng xuân, là Một tấm lòng son trẻ. Nghĩa cả câu là...
      " Một tấm lòng xuân đều ở trong trăm hoa " Nghĩa bóng là : " Một tấm lòng xuân ( son trẻ ),( như cánh bướm cứ xuyên suốt mê mẫm mãi ) trong trăm ( ngàn ) đóa hoa ( đẹp ).
      Câu 2 nầy còn có thể ngắt câu như thế nầy :
     " NHẤT XUÂN, Tâm tại bách hoa trung " !
     Có nghĩa :
         " Hễ đến mùa xuân là lòng cứ vướng bận mãi với trăm hoa ". Nhưng dù ngắt câu như thế nào thì nghĩa của nó vẫn ăn với Câu 1 cả !

 

      CÂU 3, CÂU 4 thì nghĩa đã rõ :


          如今勘破東皇面    Như kim khám phá đông hoàng diện,

          禪板蒲團看墜紅    Thiền bản bồ đoàn khán truỵ hồng.


      KHÁM PHÁ : là Nghiệm ra được, là Thấu hiểu một cách rõ ràng. là Nhìn rõ bộ mặt thật.
      ĐÔNG HOÀNG : là Ông Hoàng ở hướng đông, ta gọi là Chúa Xuân. Ông Chúa của mùa Xuân ở hướng đông.
      THIỀN BẢN, BỒ ĐOÀN...
      THIỀN BẢN : là Miếng Ván dùng để ngồi Thiền.
      BỒ ĐOÀN : là Cái Vòng tròn được kết bằng cỏ Bồ, dùng để ngồi đọc kinh hay ngồi thiền.
        Cho nên...
        THIỀN BẢN và BỒ ĐOÀN là 2 thứ đồ đều dùng để ngồi thiền. Hai từ nầy hô ứng và nhấn mạnh cho nhau chỉ sự tu tập.
        Nghĩa của câu 3, câu 4 là :
        Như hiện nay ( Bây giờ ), đã nhìn rõ được bộ mặt thật của Chúa Xuân rồi ( Xuân đến rồi cũng sẽ đi, hoa nở rồi cũng sẽ tàn ! ). Nên, dù ngồi trên Thiền bản hay Bồ Đoàn gì cũng được ( đã tu tập thiền rồi, đã hiểu rõ nghĩa luân hồi đào thải rồi ) thì lòng rất thản nhiên mà nhìn những cánh hồng rơi rụng ! ( Nhìn hoa tàn mà không còn thương hương tiếc ngọc hay xót liễu vì hoa gì nữa cả, vì đã giác ngộ được lẽ tuần hoàn của tạo hóa ! ).

Xin được góp bài DIỄN NÔM :


          VÃN : là Tối, là muộn, là Cuối, nên...
          XUÂN VÃN là Xuân Muộn, là

                    

  CUỐI XUÂN

  Tuổi trẻ sắc không sao khỏi vướng,
  Lòng xuân quyến luyến mãi trăm hoa.
  Nhưng nay đà tỏ khi xuân tận,
  Hoa rụng lòng thiền chẳng xót xa!

Lục bát :

                   Tuổi xuân nào dứt sắc không,

                   Lòng xuân chìm đắm mãi trong sắc màu.

                   Như nay đà tỏ âm hao,

                   Tâm thiền hoa rụng chẳng nao lòng trần !
                                        
                                                               Đỗ Chiêu Đức.

GÓP THƠ DỊCH: Mailoc, Phương Hà, Múi Quý Bồng

SÁNG  XUÂN

(1)

Sớm mai thức dậy mở song ngoài

Xuân tới kia rồi chẳng có hay.

Bướm trắng một đôi đang đập cánh

Chập chờn theo đuổi cánh hoa bay!

(2)

Sáng dậy mở song ngoài

Xuân về chẳng có hay

Nhởn nhơ đôi bướm trắng

Đập cánh theo hoa bay!

        Mailoc

 

       CHIỀU  XUÂN

 

(1)

Sắc không tuổi trẻ chẳng tinh tường

Xuân đến hoa cười dạ vấn vương.

Mặt thật chúa xuân nay khám phá

An nhiên tịnh toạ ngó rơi hường!

(2)

Sắc không niên thiếu lòng chẳng bận

Rộn rã xuân về vấn vương hoa.

Chúa xuân mặt thật hiểu ra

Bồ đoàn tịnh tọa mặc hoa tơi bời!

        Mailoc

 

I- Phỏng dịch bài Xuân Hiểu

 

(1) Sáng Xuân

 

Sáng ra thức giấc tựa song ngoài

Xuân đến bao giờ đâu có hay

Bướm trắng một đôi âu yếm lượn

Hướng về hoa thắm nhởn nhơ bay.

 

(2) Sáng Xuân

 

 Sớm mai ra tựa song ngoài

Mới hay rộn rã đất trời vào xuân

Một đôi bướm trắng tưng bừng

Nhởn nhơ đập cánh trên từng đóa hoa.

 

                    Phương Hà phỏng dịch

 

 

II- Phỏng dịch bài Xuân Vãn

 

(1) Cuối Xuân

 

Tuổi trẻ lòng sao khỏi sắc không

Muôn hoa vương vấn mãi trong lòng

Nhưng nay biết được khi xuân tận

Hoa rã...tâm thiền đã lĩnh thông.

 

(2) Cuối Xuân

 

Tráng niên nào khỏi sắc không

Hoa xuân phơi phới trong lòng rộn say

Lẽ đời khi đã tỏ hay

Xuân tàn, hoa rụng...tâm này thản nhiên 

 

                  Phương Hà phỏng dịch

 

XUÂN SỚM

 

Mở cửa sáng vừa thức,

Xuân đến mà không biết.

Chập chờn đôi bướm bay

Vào vườn hoa diễm tuyệt.

 

Mùi Quý Bồng

01/24/2019

 

XUÂN MUỘN

 

Tuổi trẻ mơ hoài chuyện sắc không. 

Trăm hoa đua nở giữa lòng xuân.

Xuân đến, xuân đi, nay đã tỏ.

Rụng, rơi, hoa chẳng động lòng thiền.

 

Mùi Quý Bồng

01/24/2019