GÓC

                  VIỆT CỔ THI

__________________________________________________

DẠ TỌA

Nguyễn Trung Ngạn & Nguyễn Du

Phỏng dịch: Mailoc, Đỗ Chiêu Đức, Songquang, Phương Hà

_____________________________________________

Xin gởi đến VTT hai bài thơ của hai thi nhân tài danh của chúng ta ngày xưa với cùng một đề tài Dạ Toạ, mời các bạn lắng nghe nỗi niềm của hai thi nhân khi ngồi một mình trong màn đêm tối.

Chúc tất cả một cuối tuần vui vẻ, nếu có nhả hứng mời bạn thơ VTT góp vần cho vui. Xin nhờ Thầy Đồ Chiêu Đức giúp dịch nghĩa giùm. Cám ơn

Thân mến

ML

 

DẠ TOẠ 

           Nguyễn Trung Ngạn

 

Ðiệp mộng, gia thiên lý,
Quyên đề, dạ ngũ canh.
Bi phong hào dã quán,
Cổ mộc ám hoang thành.
Phiêu đãng bồng bình khách,
Yêm lưu khuyển mã tình.
Hữu hoài thành độc toạ,
Mao điếm hựu kê thanh.

 

     Dịch Thơ:

 

  Ngồi Trong Đêm

 

Ngàn dặm xa quê hương bướm mộng

Khắc khoải lòng, quyên vọng năm canh.

Gió sầu len lén quán tranh

Âm u cổ thụ hoang thành mờ che.

Đời bềnh bồng não nề thân khách

Khuyến mã tình canh cánh nặng mang.

U hoài bóng lẻ canh tàn

Tiếng gà eo óc mơ màng điếm tranh.

       

MaiLoc phỏng dịch 

 

    DẠ TOẠ 

               Nguyễn Du

 

Tứ bích cùng thanh náo dạ miên

Ải sàng đi hướng khúc lan biên.

Vi phong bất động sương thuỳ địa

Tà nguyệt vô quang tinh mãn thiên.

Kim cổ nhàn sầu lai tuý hậu

Thuần lô hương tứ tại thu tiên.

Bạch đầu sở kế duy y thực

Hà đắc cuồng ca tự thiếu niên!

 

    Dịch Thơ:

 

Ngồi Trong Đêm

 

Suốt đêm thâu tư bề dế khóc

Quay chỏng tre hướng góc hiên nhà.

Đất mờ gió nhẹ sương sa

Sao trời lấp lánh trăng tà nhạt phai

Men đã nhạt xưa nay sầu lại

Mùi cá rau thu dậy nhớ nhà

Bạc đầu cơm áo xót xa

Còn đâu niên thiếu cuồng ca một thời.

     

         MaiLoc phỏng dịch 

ĐỖ CHIÊU ĐỨC:

 

A. Bài thơ DẠ TỌA của Nguyễn Trung Ngạn:

 

        Nguyễn Trung Ngạn 阮忠彥 (1289-1370) tự Bang Trực 邦直, hiệu Giới Hiên 介軒, sinh tại làng Thọ Hoàng, huyện Thiên Thi, tỉnh Hưng Yên. Nguyễn Trung Ngạn từ nhỏ đã thông minh xuất chúng, nổi tiếng thần đồng. Năm 15 tuổi (1304) ông đã đỗ hoàng giáp đời vua Trần Anh Tông, có trong tay bằng tiến sĩ (cùng khoa với Mạc Ðĩnh Chi), năm 24 tuổi được làm Giám quân, năm 28 tuổi đi sứ nhà Nguyên. Bài thơ DẠ TỌA ông làm trong lúc đi sứ lần nầy. 

 

         

 

         夜坐                   DẠ TỌA

      蝶夢家千里,    Điệp mộng gia thiên lý,

      鵑啼夜五更。    Quyên đề dạ ngũ canh.

      悲風號野館,    Bi phong hào dã quán,

      古木暗荒城。    Cỗ mộc ám hoang thành.

      飄蕩蓬萍客,    Phiêu đãng bồng bình khách,

      淹留犬馬情。    Yêm lưu khuyển mã tình.

      有懷成獨坐,    Hữu hoài thành độc tọa,

      茅店又雞聲。    Mao điếm hựu kê thanh.

               阮忠彥                 Nguyễn Trung Ngạn

 

      

* Chú Thích :

  - HÀO 號 : Tiếng gầm của con hổ, nên HÀO có nghĩa là Gào, thét, gầm gừ; ở đây chỉ tiếng gió hú, tiếng gió gào. Chữ nầy còn một âm nữa đọc là HIỆU 號 : là Lời kêu gọi, như Hiệu Triệu 號召. Khi là Danh Từ thì có nghĩa là Tên Hiệu.

  - ÁM 暗 : là Mờ, là Tối. Ở đây ÁM là Động từ, có nghĩa là Làm Cho Mờ Tối.

  - Phiêu Đãng 飄蕩 : là Trôi nổi dật dờ. 

  - Bồng Bình Khách 蓬萍客 : BỒNG là cỏ bồng, BÌNH là bèo; một bay theo gió, một trôi theo nước; nên BỒNG BÌNH KHÁCh là Người khách lạc loài trôi nổi vô định. 

  - Yêm Lưu 淹留 : Từ có xuất xứ từ Thiên LY TAO của SỞ TỪ, có nghĩa : Lưu lạc nơi xứ lạ quê người.

  - Khuyển Mã Tình 犬馬情 : Là Cái tình của chó và ngựa, hai con vật rất trung thành với chủ; Ở đây mượn chỉ "Cái lòng trung thành đối với nhà vua".

  - Mao Điếm Hựu Kê Thanh 茅店又雞聲 : Câu thơ nầy làm cho ta nhớ đến 2 câu thơ trong bài Thương Sơn Tảo Hành 商山早行 của Ôn Đình Quân 溫庭筠 là :

 

                   雞聲茅店月,     Kê thanh mao điếm nguyệt,

                   人跡板橋霜。     Nhân tích bản kiều sương.

 

    ... mà cụ Nguyễn Du đã mượn để gom lại thành một câu thơ rất hay để tả cảnh khi Thúy Kiều trốn khỏi Quan Âm Các là :

 

                            (mịt mờ dặm cát đồi cây),

                   Tiếng gà điếm nguyệt, dấu giày cầu sương !

 

                   

* Nghĩa bài Thơ :

                           Ngồi Trong Đêm

        Ngồi một mình trong đêm chỉ mơ về quê hương ngàn dặm trong mộng điệp mà thôi; Tiếng cuốc kêu suốt cả năm canh đêm hè. Gió buồn rít mạnh nơi quán trọ hoang vắng, và các cây cổ thụ che kín mờ cả thành hoang. Thân ta nơi đất  khách trôi nổi như cỏ bồng như bèo nước, nhưng luôn luôn giữ lòng trung như khuyển mã đối với quân vương. Vì trong lòng hoài cảm nên mới ngồi suốt trong đêm khi tiếng gà đã eo óc gáy nơi quán cỏ nầy.

 

* Diễn Nôm :

                      Ngồi Trong Đêm

 

               Nhớ nhà ngàn dặm qua mơ,

               Cuốc kêu ra rả tờ mờ năm canh.

               Gió sầu rít mạnh quán tranh,

               Thành hoang u ám bóng xanh cây già.

               Nổi trôi bèo giạt gió qua,

               Gửi thân đất khách tình nhà không khuây.

               Một mình đêm vắng ngồi đây,

              "Tiếng gà điếm nguyệt dấu giày cầu sương"!

 

                                                      Đỗ Chiêu Đức

 

B. Bài thơ DẠ TỌA của Nguyễn Du:

 

                  夜坐                               DẠ TỌA

      四壁蛩聲鬧夜眠,    Tứ bích cùng thanh náo dạ miên,

      矮床移向曲欄邊。    Ải sàng di hướng khúc lan biên.

      微風不動霜垂地,    Vi phong bất động sương thùy địa,

      斜月無光星滿天。    Tà nguyệt vô quang tinh mãn thiên.

      今古閒愁來醉後,    Lim cổ nhàn sầu lai túy hậu,

      蓴鱸鄉思在秋先。    Thuần lô hương tứ tại thu tiên.

      白頭所計惟衣食,    Bạch đầu sở kế duy y thực,

      何得狂歌似少年?    Hà đắc cuồng ca tự thiếu niên ?!

                       阮攸                                   Nguyễn Du

        

 

* Chú Thích :

    - Cùng Thanh 蛩聲 : là Tiếng dế kêu.

    - Ải Sàng 矮床 : Chiếc giường thấp.

    - Khúc lan 曲欄 : Chỗ quanh của hành lang.

    - Thuần Lô 蓴鱸 : THUẦN là Rau thuần, như rau nhút, một loại rau của đồng quê; LÔ là cá Chép. Theo sách Tấn Thư. Trương Hàn Truyện 晉書·張翰傳:Hàn nhân kiến thu phong khởi, nãi tư Ngô trung cô thái, Thuần canh, Lô ngư khoái 翰因見秋風起,乃思吳中菰菜、蓴羹、鱸魚膾。Có nghĩa : Trương Hàn nhân thấy gió thu nổi lên thì lại nhớ đến canh cải cô cải THUẦN, và gói cá LÔ. Ý chỉ : Nhớ đến mùi vị của quê hương. Như trong Truyện Kiều, khi tả Thúc Sinh về thăm Hoạn Thư suốt một năm trường đã chán với mùi vị của quê hương rồi, nên cụ Nguyễn Du viết : 

                                   Thú quê THUẦN HỨC bén mùi,

                                Giếng vàng đã rụng một vài lá ngô...

    - Sở Kế 所計 : Cái kế sách mà ta phải lo lắng đến, Ở đây chỉ "Cái sinh kế phải quan tâm..."

    - Cuồng Ca 狂歌 : Không phải là " Hát khùng hát điên" mà là "Hát một cách phóng khoáng thoải mái".

 

* Nghĩa Bài Thơ :

                                     Ngồi Trong Đêm

       Tiếng dế ri rỉ bốn bên vách suốt đêm không ngủ được, Ta quay chiếc giường nhỏ thấp vào bên khúc quanh của hiên nhà. Gió nhẹ hắt hiu sương rơi đầy cả mặt đất, Bóng trăng chênh chếch mờ ảo nên ta thấy bầu trời đầy cả các vì sao. Nỗi buồn bâng quơ từ kim cổ chợt đến, khi rượu đã ngà ngà say; và nỗi nhớ nhà trước tiên trong mùa thu là thấy được gỏi cá Lô và canh rau Thuần. Tuổi đã già, đầu đã bạc rồi thì cái sinh kế phải quan tâm duy nhất là cơm áo mà thôi; làm sao còn có thể sống phóng khoáng như lúc tuổi còn trẻ được nữa chứ ?!

 

* Diễn Nôm :

                              Ngồi Trong Đêm

                   Dế kêu ri rỉ bốn bề,

                   Giường nằm dời chỗ hướng về phía hiên.

                   Gió lay sương ướt bên thềm,

                   Trăng mờ chênh chếch sao thêm rạng ngời.

                   Mối sầu kim cổ khôn vơi,

                   Thuần Lô thu đến nhớ mùi quê hương.

                   Bạc đầu cơm áo lo lường,

                   Được sao như lúc đường đường thiếu niên ?!

 

                                                                 Đỗ Chiêu Đức

SONGQUANG:

 

                  ĐÊM ĐẤT KHÁCH

                 (Lướt ý qua thơ tiền nhân Nguyễn Trung Ngạn)

 

                 Nhớ quê hương dặm ngàn qua mộng

                 Tiếng quốc kêu vang vọng năm canh

                 Gió sầu rít mạnh quán tranh

                 Cây già che kín phủ xanh hoang thành

                 Nơi đất khách quẩn quanh thân cỏ

                 Mà tình nhà khó ngỏ cho khuây

                 Cảm hoài thao thức ngồi đây

                 Tiếng gà gáy điểm canh chầy sắp tan

 

                 songquang 

 

                ĐÊM ĐẤT KHÁCH

                (lướt ý thơ tiền nhân Nguyễn Du)

 

                Tiếng dế kêu bốn bề khó ngủ

                Xoay giường tre ra chỗ hiên nhà

                Sương rơi gió hắt thềm qua

                Trăng mờ chênh chếch sao sa đầy trời

                Quơ nỗi buồn khôn vơi chợt đến

                Rượu ngà say nhớ món ăn nhà

                Bạc đầu cơm áo lo xa

                Một thời niên thiếu cuồng ca trong đời

 

               songquang 

               20201019

PHƯƠNG HÀ:

 

               I- Phỏng dịch bài DẠ TỌA của Nguyễn Trung Ngạn

 

               NGỒI TRONG ĐÊM

 

              Đêm hạ một mình mơ cố hương

              Cuốc kêu ra rả suốt canh trường

              Quán nghèo gió lốc gây sầu não

              Thành cổ cây lùm gợi vấn vương

              Trôi nổi thân cô buồn viễn xứ

              Trung thành lòng sáng nhớ quân vương

              Nghĩ suy hoài cảm quên thời khắc

              Eo óc tiếng gà gọi sớm sương

 

              Phương Hà phỏng dịch

 

              II- Phỏng dịch bài DẠ TỌA của Nguyễn Du

 

              NGỒI TRONG ĐÊM

 

              Mất ngủ suốt đêm nghe dế kêu

              Giường tre xoay trở góc hiên nghèo

              Hắt hiu gió thoảng sương mù động

              Chênh chếch trăng mờ sao sáng khêu

              Chén rượu hương nồng vừa nhấm tới

              Món mồi quê cũ đã thèm theo 

              Bạc đầu vẫn phải lo tìm sống

              Giây phút an nhàn chẳng bấy nhiêu.

 

              Phương Hà phỏng dịch

_____________________

Góc Việt Thi:  

                  

                            Trạng Trình NGUYỄN BỈNH KHIÊM

                                                    Kỳ tam

16. Bài thơ ƯU ĐÀM HOA :

 

     優曇花                         ƯU ĐÀM HOA

碧水池邊長綠陰,    Bích thủy trì biên trưởng lục âm,

幽林花好趁禪林。    U lâm hoa hảo sấn thiền lâm.

開時不要爭春色,    Khai thời bất yếu tranh xuân sắc,

只要如如見佛心。    Chỉ yếu như như kiến Phật tâm !

 

* Chú Thích :

    - ƯU ĐÀM HOA 優曇花 : Là một loại hoa qúy của nhà Phật, có tên khoa học là Epiphyllum oxypetalum, Ưu Đàm là gọi tắt của ƯU ĐÀM BÁT HOA 優曇缽華 do phiên âm từ tiếng Phạn là udumbara trong Pháp Hoa Kinh mà ra. Tương truyền ba ngàn năm mới nở một lần. Khi nở thì Kim Luân xuất thế, chân Phật ra đời. Theo thành ngữ Đàm Hoa Nhất Hiện 曇花一現 thì là một loại Quỳnh Hoa, chỉ nở trong đêm phút chốc rồi tàn.                                                        

    - U Lâm 幽林 : là Rừng thâm u tĩnh lặng.

    - Thiền Lâm 禪林 : là Rừng Thiền.

    - Như Như 如如 : Từ nhà Phật, chỉ chân như luôn tồn tại vĩnh hằng. Chỉ chư pháp đều bình đẵng theo pháp tính của nhà Phật. NHƯ NHƯ cũng có nghĩa là Như Lai, Như Thị.

 

* Nghĩa Bài Thơ :

                        HOA ƯU ĐÀM

        Bên ao nước xanh biếc mọc lên một bóng hoa cũng xanh biếc. Bên rừng vắng thâm u hoa đẹp cũng nở nương vào rừng thiền. Khi nở hoa cũng không phải để tranh xuân sắc với các loại hoa khác, mà chỉ muốn soi rọi pháp tính chân như của đức Như Lai vĩng hằng mà thôi !

 

        Bài thơ ẩn chứa ý thiền, nên không tiện lạm bàn, chỉ tùy ngộ duyên của người đọc tự mình cảm nhận mà thôi.

 

* Diễn Nôm :

                        ƯU ĐÀM HOA

                  

                 Bên ao nước biếc lá xanh om,

                 Rừng vắng hoa nương nở cửa thiền.

                 Không để cạnh tranh xuân sắc thắm,

                 Chỉ thay lòng Phật kết thiền duyên.

     Lục bát :

                 Bên ao nước biếc lá xanh,

                 Rừng thiền nương bóng hoa lành nở ra.

                 Chẳng tranh xuân sắc ngàn hoa,

                 Chân như Phật tánh là hoa vĩnh hằng.

                                                 杜紹德

                                              Đỗ Chiêu Đức

 

17. Bài thơ VŨ :

          雨                                        VŨ

陰陽和合運玄機,    Âm dương hòa hợp vận huyền cơ,

解作甘霖喜及時。    Giải tác cam lâm hỉ cập thời.

沛自九天恩既渥,    Bái tự cửu thiên ân ký ốc,

潤沾次土物咸宜。    Nhuận triêm thứ thổ vật hàm nghi.

民蘇霓望王師至,    Dân tô nghê vọng vương sư chí,

士吸風成聖教施。    Sĩ hấp phong thành thánh giáo thi.

雨順豐登金上瑞,    Vũ thuận phong đăng kim thượng thụy,

太平又一此休期。    Thái bình hựu nhất thử hưu kỳ.

                   阮秉謙                          Nguyễn Bĩnh Khiêm

                

          

* Chú Thích :

    - Âm Dương Hòa Hợp 陰陽和合 : Chỉ trời đất thích ứng hòa vào nhau.

    - Huyền Cơ 玄機 : Bộ máy huyền diệu. Ở đây chỉ sự vận hành của trời đất.

    - Cam Lâm 甘霖 : LÂM 霖 nầy có bộ VŨ ở trên, có nghĩa là Mưa dầm. Cam Lâm chỉ mưa rào trong lúc trời hạn hán.

    - Cập Thời 及時 : là Đúng lúc, nên CẬP THỜI VŨ 及時雨 là Mưa đúng lúc; đây cũng là ngoại hiệu của Tống Giang, thủ lãnh của 108 Anh hùng Lương Sơn Bạc, vì khi đang làm chức Áp Ti, Tống Giang thường hay cứu giúp những anh hùng hảo hán rất đúng lúc khi họ đến bước đường cùng hay gặp hoạn nạn nửa chừng.

    - Bái 沛 : là Bái Nhiên Hạ Vũ  沛然下雨 là Mưa sầm sập đổ xuống.

    - Nhuận Triêm 潤沾 : là Thấm nhuần.

    - Tô Nghê 蘇霓 : TÔ là Thức tỉnh; NGHÊ là Cầu vồng, chỉ mưa; nên TÔ NGHÊ là thức tỉnh sau cơn mưa.

    - Vương Sư 王師 : Lực lượng chính quy, quân chính thống của triều đình.

    - Phong Thành 風成 : Phong hóa được hình thành.

    - Phong Đăng 豐登 : là Lúa thóc được mùa.

    - Thụy 瑞 : Còn đọc là THOẠI : là Điềm lành.

    - Hưu Kỳ 休期 : là Thời kỳ tốt đẹp.

 

* Nghĩa Bài Thơ :

                                 MƯA

       Âm dương trời đất hòa vào nhau như một chiếc máy huyền diệu đang vận hành, giải tỏa cho ra một trận mưa rào thật đúng lúc với thời vụ canh tác. Cơn mưa sầm sập từ chín từng trời đổ xuống chan hòa khắp cả, thấm nhuần mặt đất và vạn vật được hài hòa. Dân chúng như thức tỉnh sau cơn mưa chờ vương sư đến, kẻ sĩ cũng đã thấm nhuần và hình thành phong hóa của thánh nhân. Mưa thuận gió hòa nên được mùa là nhờ đức lành của nhà vua (Kim Thượng), và thời kỳ tốt đẹp lại được mở ra trong cảnh thái bình.

 

* Diễn Nôm :

                                 VŨ

                 

                      Âm dương hòa hợp máy huyền cơ,

                      Mưa ngọt tạo nên thật kịp giờ.

                      Sầm sập chín từng cây cỏ ướt,

                      Thấm nhuần mặt đất vật người mơ.

                      Dân choàng tỉnh đợi vương sư tới,

                      Sĩ kịp hình thành phong hóa xưa.

                      Mưa thuận được mùa nhờ thánh đức,

                      Thái bình lại mở vận âu ca !

       Lục bát :

                      Âm dương hòa hợp máy trời, 

                      Tạo cơn mưa ngọt kịp thời hạn khô.

                      Chín từng sầm sập tuôn mưa,

                      Thấm nhuần mặt đất cho vừa cỏ cây.

                      Vương sư dân đợi về đây,

                      Hình thành phong hóa vui vầy tương thân.

                      Được mùa nhờ đức thánh ân,

                      Thái bình thịnh trị xa gần hân hoan ! 

                                                              杜紹德

                                                         Đỗ Chiêu Đức 

18. Bài thơ VẤN NGƯ GIẢ :

      問漁者                       VẤN NGƯ GIẢ
湖海扁舟漁者誰,     Hồ hải thiên chu ngư giả thùy ?
生涯一笠一蓑衣。     Sinh nhai nhất lạp nhất thoa y.
水村沙近鴟為侶,     Thủy thôn sa cận si vi lữ,
江興秋高鱸正肥。     Giang hứng thu cao lư chính phì.
短笛清風閒處弄,     Đoản địch thanh phong nhàn xứ lộng,
孤帆明月醉中歸。     Cô phàm minh nguyệt túy trung quy.
桃源往事依然在,     Đào nguyên vãng sự y nhiên tại,
秦晉興亡是卻非。     Tần Tấn hưng vong thị khước phi !
                   阮秉謙                                 Nguyễn Bĩnh Khiêm
                  

           

* Chú Thích :
    - Ngư Giả 漁者 : là Người câu cá, người đánh bắt cá.
    - Thiên Chu 扁舟 : chữ 扁 đọc là BIỂN thì có nghĩa lã Dẹp; đọc là THIÊN thì có nghĩa là Nhỏ. Nên THIÊN CHU là chiếc thuyền nhỏ, không phải Thuyền dẹp.
    - Lạp 笠 : Nón Lá; Thoa 蓑 : là Áo tơi, áo lá.
    - Si 鴟 : Chim cú mèo. Lữ 侶 : là Bầu bạn.
    - Lư 鱸 : còn đọc là LÔ, là cá vượt, cá chép. Thịt ăn rất ngon.
    - Địch 笛 : Cây sáo; Lộng 弄 là Chơi, chọc. LỘNG ĐỊCH 弄笛 là Thổi sáo.
    - Đào Nguyên 桃源 : là Đào Hoa Nguyên Ký của Đào Uyên Minh đời Tấn, kể lại chuyện của người giăng câu đi lạc vào xóm Đào Nguyên, nơi dân chúng sống an lành như cỏi thần tiên.
    - Thị Khước Phi 是卻非 : Phải mà trái, đúng mà sai.

* Nghĩa Bài Thơ :
                                       Hỏi Người Câu Cá
       Người đánh bắt cá trên sông hồ với một con thuyền nhỏ kia là ai, mà chỉ thấy sinh nhai với một chiếc nón lá và một manh áo tơi. Xóm ven sông gần bãi cát nên chỉ thấy làm bạn với diều hâu cú mèo, mùa thu nước thu dâng cao chính là lúc các loài cá vượt cá chép đang mập mạp ngon lành. Thỉnh thoảng đưa ngang tiếng sáo theo làn gió mát nhàn nhã, hoặc trong say thả chiếc buồm con theo vầng trăng sáng mà về. Chuyện cũ về Đào Nguyên như vẫn còn phảng phất đâu đây và chuyện hưng vong của nước Tần nước Tấn nghe như phải mà trái, như đúng mà lại sai !
       Nguyễn Bỉnh Khiêm tự ví mình như ông lão đánh cá, bạn cùng chim chóc cá tôm, khi nhàn nhã thì thổi một khúc sáo theo gió sông, khi hứng thì uống say rồi thả thuyền theo trăng sáng mà về. An nhiên tự tại như cuộc sống của dân chúng ở Đào Nguyên mà không màng đến thế sự thị phi đúng sai phải trái nữa !  

* Diễn Nôm :
                         VẤN NGƯ GIẢ

                        

              

                      
                    Thuyền câu đánh cá ấy là ai ?
                    Nón lá áo tơi với lưới chài.
                    Bến nước hải âu cùng hủ hỉ,
                    Thu cao cá vượt nhậu lai rai.
                    Khi nhàn thổi sáo sông theo gió,
                    Lúc xỉn mặc thuyền trăng khứ lai.
                    Chuyện cũ Đào Nguyên như hiển hiện,
                    Mặc Tần mặc Tấn đúng mà sai !
       Lục Bát :
                    Ai người đánh cá sông hồ ?
                    Áo tơi nón lá là đồ sinh nhai.
                    Chim âu bầu bạn hôm mai,
                    Thu cao bến cát nhiều loài cá tôm.
                    Gió đưa khúc sáo chiều hôm,
                    Khi say trăng sáng thuyền con đưa về.
                    Đào Nguyên chuyện cũ bề bề,
                    Hưng vong Tần Tấn đúng hề...mà sai !
                                                                          杜紹德
                                                                     Đỗ Chiêu Đức 

 

19. Bài thơ THỦY HÀNH PHÓ DOANH CẢM TÁC :

 

 

 

 

 

 

 


 
 水行赴營感作       THỦY HÀNH PHÓ DOANH CẢM TÁC

祇期誓復舊山河,     Chỉ kỳ thệ phục cựu sơn hà,
慷慨登舟發浩歌。     Khảng khái đăng chu phát hạo ca.
棹擺水紋推白雪,     Trạo bãi thủy văn đôi bạch tuyết,
帆移月影弄寒波。     Phàm di nguyệt ảnh lộng hàn ba.
孤忠敦越乾坤老,     Cô trung đối việt càn khôn lão,
四顧微茫草樹多。     Tứ cố vi mang thảo thụ đa.
記取賊奴平定後,     Ký thủ tặc nô bình định hậu,
重尋津館侶魚蝦。     Trùng tầm tân quán lữ ngư hà.
                   阮秉謙                            Nguyễn Bỉnh Khiêm
                 

 

                        
* Chú Thích :
    - PHÓ 赴 : là Đi đến. PHÓ DOANH 赴營 là đi đến doanh trại.
    - Chỉ Kỳ 祇期 : là Chỉ kỳ vọng rằng. Chỉ mong mõi rằng.
    - Thệ Phục 誓復 : là Thề sẽ khôi phục lại.
    - Hạo Ca 浩歌 : là Lời ca hào hùng.
    - Trạo Bãi Thủy Văn 棹擺水紋 : là Chèo đùa sóng nước.
    - Phàm Di Nguyệt Ảnh 帆移月影 : là Cánh buồm làm ánh trăng lay động.
    - Đối Việt 敦越 : là Rất dãi dầu vất vả.
    - Vi Mang 微茫 : là Mờ mịt, mông lung.
    - Tặc Nô 賊奴 : Giặc giã thổ phỉ hèn hạ.
    - Trùng Tầm Tân Quán 重尋津館 : là Tìm lại căn nhà ở ven sông.
    - Lữ Ngư Hà 侶魚蝦 : là Làm bạn với Cá Tôm.

* Nghĩa Bài Thơ :
                     Cảm Tác Khi Đi Đường Thủy Đến Doanh Trại
       Lòng chỉ kỳ vọng vào lời thề khôi phục lại núi sông ngày cũ, nên rất khảng khái mà bước lên thuyền cất cao lời ca đầy hào khí. Mái chèo quạt nước đẩy đi những mảng tuyết trắng trên sông, và những cánh buồm di chuyển làm lay động cả bóng trăng trên sóng nước lạnh căm. Lòng trung thành miệt mài theo năm tháng khiến cho trời đất cũng như già đi. Nhìn quanh bốn bên mờ mịt thấy cây cỏ như nhiều thêm ra. Nhớ lấy là khi đã bình định được lũ giặc như thổ phỉ kia rồi, thì hãy tìm về với cái quán nhỏ ven sông mà làm bạn với cá tôm cho qua ngày đoạn tháng.  

* Diễn Nôm :
                    THỦY HÀNH PHÓ DOANH CẢM TÁC
                 

                   Kỳ vọng phục hồi lại núi sông,
                   Lời ca khảng khái trước thuyền rồng.
                   Chèo khua đẩy tuyết thuyền nương sóng,
                   Buồm động rung trăng nước lạnh căm.
                   Mài miệt lòng trung trời đất thấu,
                   Mịt mờ tầm mắt cỏ cây thâm.
                   Sau ngày bình giặc nên ghi nhớ,
                   Quán cũ tìm về với bến sông.
      Lục bát :
                   Thề mong khôi phục sơn hà,
                   Lên thuyền khảng khái lời ca hào hùng.
                   Mái chèo quẫy tuyết trên sông,
                   Cánh buồm lay động trăng rung sóng vờn.
                   Lòng trung mài miệt càn khôn,
                   Mịt mờ bốn phía xanh rờn cỏ cây.
                   Nhớ sau bình định giặc nầy,
                   Trở về bến nước vui vầy cá tôm.
                                                            杜紹德
                                                       Đỗ chiêu Đức

20. Bài thơ XUÂN HÀN :

 

 

 

 

 

 

 

 

 


   春寒                      XUÂN HÀN
十二韶光春一團,      Thập nhị thiều quang xuân nhất đoàn,      
一天料峭送餘寒.      Nhất thiên liệu tiễu tống dư hàn.
輕陰借雨侵花易,      Khinh âm tá vũ xâm hoa dị,
殘雪因風墜柳難.      Tàn tuyết nhân phong trụy liễu nan.
繡闥佳人低玉帳,      Tú thát giai nhân đê ngọc trướng,
香街醉客促金鞍.      Hương giai túy khách xúc kim an.
旋乾自有神功在,      Toàn kiền tự hữu thần công tại,  
已播陽和滿際蟠.      Dĩ bá dương hoà mãn tế bàn.
         阮秉謙                       Nguyễn Bỉnh Khiêm
                       

 

* Chú Thích :
    - XUÂN HÀN 春寒 : Cái lạnh của buổi đầu xuân.
    - Thiều Quang 韶光 : là Cái khoảng thời gian đẹp đẽ.
    - Liệu Tiễu 料峭 : là LIỆU TIỄU XUÂN HÀN 料峭春寒 là thành ngữ dùng để hình dung cái lạnh của buổi đầu xuân.
    - Khinh Âm Tá Vũ 輕陰借雨 : là Trời âm u nhẹ trong cơn mưa xuân.
    - Tàn Tuyết Nhân Phong 殘雪因風 : là Gió cuốn những tàn dư của băng tuyết còn lại.
    - Tú Thát 繡闥 : là Trong phòng thêu, tức là Khuê phòng của các cô gái.
    - Hương Giai 香街 : là Đường phố thơm, ý chỉ những đường phố có nhiều người đẹp ở hay đường phố có nhiều kỹ viện.
    - Xúc 促 : là Thúc mạnh vào. KIM AN 金鞍 : là Yên cương ngựa mạ vàng.
    - Toàn Kiền 旋乾 : là Tuyền Càn Chuyển Khôn 旋乾轉坤 là thành ngữ chỉ xoay chuyển từ Càn qua Khôn, từ Dương sang Âm và ngược lại; Nói chung là chỉ sự xoay vần của trời đất, vạn vật, mùa màng... hết đông rồi đến xuân...
    - Bá 播 : là Gieo hạt giống , là Truyền Bá, là Rải khắp.
    - Dương Hoà 陽和 : là Khí dương xuân, chỉ khí trời ấm áp của mùa xuân.
    - Tế Bàn 際蟠 : là Trời Đất, do sách Trang Tử có câu: "Thượng tế vu thiên, hạ bàn vu địa 上際于天,下蟠于地", nghĩa là: Trên rộng đến trời, dưới khắp cả đất. Sau người ta dùng gọn bốn từ "Tế thiên bàn địa 際天蟠地" như là một thành ngữ. Ở đây, tác giả lại lược đi hai từ, chỉ còn hai từ "tế bàn 際蟠" nhưng cần hiểu như nghĩa của cả câu "tế thiên bàn địa".

* Nghĩa Bài Thơ :
                         CÁI LẠNH CỦA BUỔI ĐẦU XUÂN
       Cái khoảng thời gian đẹp đẽ của 12 ngày đầu năm đã mở màn cho một vừng xuân sắc, Từng ngày một ta sẽ lần lượt đưa tiễn cái lạnh của buổi đầu xuân. Trời râm nhẹ với mưa xuân phơi phới sẽ ngấm vào hoa cỏ một cách dễ dàng, những làn gió đầu xuân còn rất lạnh khó mà thổi được những băng tuyết còn sót lại cho rơi xuống gốc liễu. Trong khuê phòng các giai nhân còn buông thấp rèm ngọc xuống vì trời còn lạnh, trên đường phố nơi có nhiều người đẹp các khách say cũng thúc vào yên cương mạ vàng để đi mau qua. Trời đất âm dương đã xoay chuyển một cách thần kỳ từ đông sang xuân, vá ánh dương xuân đã được gieo đầy khắp cả trên trời dưới đất.  

* Diễn Nôm :
                         XUÂN HÀN                 

                

                 Mười hai xuân sắc đã vầy đoàn,
                 Cái lạnh lui dần tiết mới sang.
                 Phơi phới mưa xuân hoa ướm nhụy,
                 Rao rao gió nhẹ tuyết dần tan.
                 Khuê phòng người đẹp buông rèm ngọc,
                 Trên phố khách say thúc ngựa vàng.
                 Chuyển đổi thần công trời lẫn đất,
                 Ánh xuân chan chứa khắp nhân gian.
      Lục bát :
                 Mười hai ngày tiết xuân hàn,
                 Mỗi ngày cái lạnh lại càng bớt đi.
                 Mưa xuân dễ thấm hoa chi,
                 Gió xuân lay liễu tuyết thì chưa tan.
                 Phòng khuê người đẹp buông màn,
                 Trên đường khách hãy yên vàng thúc mau.
                 Càn khôn huyền diệu làm sao,
                 Ánh dương xuân đã phủ mau đất trời !

                 
                                                                              杜紹德
                                                                         Đỗ Chiêu Đức    

 
                                         

Góc Việt Thi:  

                  

                            Trạng Trình NGUYỄN BỈNH KHIÊM

                                                    Kỳ tam

11. Bài thơ TỐNG LÃO THIẾP HOÀN THÔN CƯ :

 

 送老妾還村居        TỐNG LÃO THIẾP HOÀN THÔN CƯ 

 

無限東風暖襲人,    Vô hạn đông phong noãn tập nhân,

醉中扶起老來身。    Túy trung phù khởi lão lai thân.

慇懃報道無他語,    Ân cần báo đạo vô tha ngữ,

江館煙村共一春。    Giang quán yên thôn cộng nhất xuân.

                  阮秉謙                                  Nguyễn Bỉnh Khiêm

 

     

 

* Chú Thích :

    - TỐNG LÃO THIẾP HOÀN THÔN CƯ 送老妾還村居 là Đưa người thiếp già trở về nơi ở cũ trong thôn xóm.

    - Vô Hạn 無限 : là Rất nhiều, là Đầy rẫy cả.

    - Đông Phong 東風 là Gió từ hướng đông thổi đến, tức là Gió xuân đó.

    - Tập 襲 : là Đánh lén, đánh úp (như Tập Công); ở đây có nghĩa là Thâm nhiễm, là bao phủ quanh, nên NOÃN TẬP NHÂN 暖襲人 là Cái ấm áp ập đến quanh người.

    - Phù 扶: là Nâng đỡ, nên PHù KHỞI 扶起 là Đỡ dậy.

    - Báo Đạo 報道 : là Báo đáp lại cái đạo lý giữa tướng công và tì thiếp.

    - Giang Quán 江館 : QUÁN ở đây là TRÚ QUÁN 住館 là Nhà ở, nên GIANG QUÁN có nghĩa là Căn nhà nhỏ ở ven sông. 

    - Yên Thôn 煙村 : là Xóm khói, là Xóm trong sương khói, chỉ Xóm thôn vắng vẻ.

 

* Nghĩa Bài Thơ :

                                       ĐƯA NGƯỜI THIẾP GIÀ VỀ THÔN

 

       Làn gió xuân tràn ngập làm cho hơi ấm cũng ập đến quanh người. Trong cơn say, ta đỡ dậy tấm thân già nua của người tì thiếp. Rất ân vần để báo đáp cho trọn cái đạo làm người, chớ không nói năng gì khác nữa. Căn nhà nhỏ ven sông trong xóm thôn vắng lặng như cùng tràn ngập trong mùa xuân.

 

      Đối với những người hầu thiếp ngày xưa khi về già, thường được chủ nhân (cũng là người đầu ấp tay gối trong biết bao năm, lắm khi tình nghĩa còn hơn là người hôn phối chính thức được cưới khi đã hiển đạt) ban cho chút đỉnh tiền bạc, khá lắm thì thêm được một người hầu để về quê dưỡng già đợi ngày theo ông theo bà về nơi chín suối. Cụ nguyễn Bỉnh Khiêm đã rất tình nghĩa và đúng đạo làm người, đích thân đưa người thiếp già về quê để an hưởng tuổi già cho phải đạo.

 

* Diễn Nôm :

                         TỐNG LÃO THIẾP HOÀN THÔN CƯ

 

                        

 

                        Gió xuân ấm áp thổi quanh người,

                        Say đỡ thân già đến tận nơi.

                        Trọn đạo ân cần không cắng đắng,

                        Nhà bên sông vắng đón xuân tươi !

    Lục bát :

                       Quanh người thổi ấm gió xuân,

                       Trong say đỡ dậy ân cần dìu nhau.

                       Ít lời trọn đạo trước sau,

                       Nhà ven sông vắng rạt rào gió xuân !

                                                                        杜紹德

                                                                   Đỗ Chiêu Đức

12. Hai bài thơ TỰ THUẬT :

 

 自述 (其一)            TỰ THUẬT (kỳ nhất)

 

年方七十已休官,    Niên phương thất thập dĩ hưu quan,

重憶幽居覓故山。    Trùng ức u cư mịch cố san.

津館日高眠未起,    Tân quán nhựt cao miên vị khởi,

青雲爭似白雲閑。    Thanh vân tranh tự bạch vân nhàn.

 

 自述 (其二)          TỰ THUẬT (kỳ nhị)

 

得優遊可便優遊,    Đắc ưu du khả tiện ưu du,

心逸神閒日日休。    Tâm dật thần nhàn nhựt nhựt hưu.

最愛五湖湖上客,    Tối ái ngũ hồ hồ thượng khách,

清風明月一扁舟。    Thanh phong minh nguyệt nhất biên chu.

             阮秉謙                                       Nguyễn Bỉnh Khiêm

 

           

* Chú Thích :

    - Niên Phương 年方 : Năm khoảng; ở đây chỉ Tuổi khoảng...

    - Trùng Ức 重憶 : là Nhớ lại.

    - Tân Quán 津館 : là Quán ven bờ, có nghĩa : Gian nhà nhỏ bên bến sông.

    - Tranh Tự 爭似 : Giành nhau để được giống như là...

    - Ưu Du 優遊 : là Ưu tiên du ngoạn, là Du ngoạn một cách thoải mái.

    - Tâm Dật Thần Nhàn 心逸神閒 : DẬT 逸 là Buông thả, thoải mái. nên TÂM DẬT THẦN NHÀN là Tâm thần buông thả thoải mái nhàn nhã.

    - Nhất Biên Chu 一扁舟 : là Một chiếc thuyền mỏng, chỉ Một chiếc thuyền con.

 

* Nghĩa Bài Thơ :

                                   TỰ THUẬT 

                                     (bài 1)

        Tuổi khoảng 70 đã từ quan để về hưu, còn nhớ lại chỗ ở thanh u vắng vẻ ngày trước nên tìm về núi cũ. Bên bến sông trong quán nhỏ, mặt trời đã lên cao vẫn còn ngủ chưa dậy. Mây xanh như tranh đua sự nhàn nhã với mây trắng trên bầu trời. 

 

                                     (bài 2)

        Được vui chơi thảnh thơi thì hãy cứ vui chơi thảnh thơi. Trong lòng thoải mái thần trí nhàn nhã thì ngày ngày cứ nghỉ ngơi. Yêu nhất là cảnh của  Ngũ Hồ và khách du trên Ngũ Hồ, cứ thả một lá thuyền con mà thưởng ngoạn trăng thanh gió mát !

 

       Câu đầu của bài 2 "Đắc ưu du khả tiện ưu du 得優遊可便優遊,làm cho ta nhớ đến 2 câu thơ trong Tăng Quảng Hiền Văn là :

 

                  遇飲酒時須飲酒, Ngộ ẩm tửu thời tu ẩm tửu,

                  得高歌處且高歌。 Đắc cao ca xứ thả cao ca !

     Có nghĩa :

                  Gặp lúc uống rượu thì cứ vui chơi mà uống rượu;

                  Lúc cất cao giọng hát thì cứ hát cho thả giàn !

 

       Còn hai câu sau nối tiếp theo ý của hai câu trên nữa là :

 

                  今朝有酒今朝醉,  Kim triêu hữu tửu kim triêu túy,

                  明日愁來明日憂.   Minh nhựt sầu lai minh nhựt ưu !

     Có nghĩa :

                  Hôm nay có rượu thì hôm nay hãy uống cho say;

                  Ngày mai sầu đến thì ngày mai hãy lo toan !

  

       Đã về hưu hưởng nhàn rồi thì phải sống cho thoải mái, xả láng, không lo nghĩ gì nữa cả !

 

                    

* Diễn Nôm :

                         TỰ THUẬT

                          (bài 1)

                  Tuổi vừa bảy chục đã về hưu,

                  Núi cũ tìm về với cựu cư.

                  Tân quán nắng cao người vẫn ngủ,

                  Mây xanh mây trắng mãi du du !

     Lục bát :

                  Tuổi vừa bảy chục từ quan,

                  Nhớ nơi ở cũ cố san tìm về.

                  Nắng cao nhà vắng ngủ mê,

                  Mây xanh mây trắng tranh về nhàn du.

 

                              (bài 2)

                  Được lúc thảnh thơi cứ thảnh thơi,

                  Tâm tình thoải mái ngày ngày vui.

                  Ngũ Hồ yêu nhất người du ngoạn,

                  Gió mát trăng thanh thuyền nhỏ bơi.

     Lục bát :

                  Thảnh thơi thì cứ thảnh thơi,

                  Trong lòng nhàn nhã niềm vui ngày ngày.

                  Ngũ Hồ du khách nhất đời,

                  Trăng thanh gió mát thuyền chơi khắp miền.

                                                       杜紹德

                                                   Đỗ Chiêu Đức

   

13. Bài thơ XUÂN ĐÁN CẢM TÁC :

 

    春旦感作               XUÂN ĐÁN CẢM TÁC

 

行年七十四年餘,    Hành niên thất thập tứ niên dư,

喜得投閒訪舊居。    Hỉ đắc đầu nhàn phỏng cựu cư.

歲始旁觀新宇宙,    Tuế thủy bàng quan tân vũ trụ,

家貧唯富舊詩書。    Gia bần duy phú cựu thi thư.

秀花野竹三春好,    Tú hoa dã trúc tam xuân hảo,

淨月明窗一室虛。    Tịnh nguyệt minh song nhất thất hư.

誰是誰非休說著,    Thùy thị thùy phi hưu thuyết trước

老狂自笑太庸疏。    Lão cuồng tự tiếu thái dung sơ !

               阮秉謙                                 Nguyễn Bỉnh Khiêm

 

                

 

* Chú Thích :

    - Đầu Nhàn 投閒 : Vấn thân vào việc hưởng nhàn, như ĐẦU QUÂN 投軍 là Gia nhập vào quân đội vậy. 

    - Phỏng 訪 : là Thăm viếng. PHỎNG CỰU CƯ 訪舊居 là Thăm lại chỗ ở cũ.

    - Tuế Thủy 歲始 : Tuổi bắt đầu, có nghĩa là Đầu năm.

    - Tú Hoa Dã Trúc 秀花野竹 : Hoa đẹp trúc hoang (chỉ tre mọc phóng túng).

    - Tịnh nguyệt Minh Song 淨月明窗 : Trăng thì trong, cửa song thì sáng.

    - Lão Cuồng 老狂 : Không phải là Ông già điên, mà là Ông già ngông nghênh.

    - Dung Sơ 庸疏 : DUNG là Dung tục là tầm thường; SƠ là Hời hợt không ý tứ. Nên DUNG SƠ là Hời hợt tầm thường.

 

* Nghĩa Bài Thơ :

                                     CẢM TÁC NGÀY ĐẦU XUÂN

        Tuổi đời đã bảy mươi tư tuổi có thừa rồi, vui vì được về thăm lại chỗ ở cũ khi đã hưởng nhàn. Đầu năm cứ đứng một bên mà xem vũ trụ đổi mới; nhà nghèo chỉ giàu ở số sách thi thơ đã cũ mèm. Ba tháng mùa xuân thì vui với hoa đẹp và những khóm tre dại; Một căn phòng trống với trăng trong cửa sáng. Mặc ai phải ai trái xin đừng nói đến nữa, ta chỉ tự cười mình là lão già ngông nghênh tầm thường hời hợt và vô tích sự mà thôi !

 

* Diễn Nôm :

                      XUÂN ĐÁN CẢM TÁC

 

                  

 

                  Tuổi đà bảy chục lại thêm tư,

                  Mừng được nhàn thăm chốn cựu cư.

                  Năm mới vui còn xem vũ trụ,

                  Nhà nghèo giàu chỉ có thi thư.

                  Trúc hoang hoa đẹp ba xuân thắm,

                  Song sáng trăng thanh một thảo lư.

                  Phải trái ai người đừng nói đến,

                  Già ngông hời hợt tự cười trừ ! 

     Lục bát :

                  Tuổi già đã bảy mươi tư,

                  Vui nhàn thăm chốn cựu cư năm nào.

                  Đầu năm vũ trụ đổi màu,

                  Nhà nghèo sách cũ làm giàu quanh năm.

                  Trúc hoang hoa đẹp ba xuân,

                  Trăng thanh cửa sáng một phòng trống không.

                  Thị phi ai đó khôn phân,

                  Tự cười hời hợt già ngông vụng về.  

                                                         杜紹德

                                                    Đỗ Chiêu Đức

 

14. Bài thơ THU THANH :

 

   秋聲                   THU THANH

蕭條秋夜滴寒更,   Tiêu điều thu dạ trích hàn canh,

玉律回音暗土聲。   Ngọc luật hồi âm ám thổ thanh.

但覺樹間鳴晰晰,   Đản giác thọ gian minh tích tích,

忽驚月下響錚錚。   Hốt kinh nguyệt hạ hưởng tranh tranh.

初聞戍婦愁無寐,   Sơ văn thú phụ sầu vô mỵ,

自觸寒螿惹不平。   Tự xúc hàn tương nhạ bất bình.

擬作穎川歐子賦,   Nghỉ tác Dĩnh Xuyên Âu tử phú,

恐惶模仿被時輕。   Khủng hoàng mô phỏng bị thời khinh.

              阮秉謙                                Nguyễn Bỉnh Khiêm

 

            

* Chú Thích :

    - Tiêu Điều 蕭條 : là Xơ xác vắng lặng.

    - Ngọc Luật Hồi Âm Ám Thổ Thanh 玉律回音暗土聲 : NGỌC là cái ống bằng ngọc, người xưa đốt tro của màng cây sậy bỏ vào bên trong, đến các khí tiết như Đông chí, Lập xuân v.v... thì chất tro trong ống luật được khí trời thổi bay lên, người ta dựa vào đó để đoán xem thời tiết; ÁM THỔ THANH là ngầm có tiếng thổ là đất, theo Thái Cực Đồ thì ngũ hành (kim, mộc, thuỷ, hoả, thổ) ứng với tứ thời, kim ứng với mùa thu, mộc ứng với mùa xuân, thuỷ và thổ ứng với mùa đông, hoả ứng với mùa hè. Ở đây ý nói rằng tuy là đang trong mùa thu mà trong ống ngọc luật đã ngầm có tiếng thổ, tức là báo trước sắp tới mùa đông rét mướt.

   - Tích Tích, Tranh Tranh 晰晰,錚錚 : Từ Tượng thanh, chỉ tiếng côn trùng kêu trong đêm thu.

   - Thú Phụ 戍婦 : là Vợ của những người lính thú lưu đồn ở xa.

   - Hàn Tương 寒螿 : Một loại ve sầu nhỏ, chỉ kêu khi mùa thu lạnh lẽo. 

   - Nghỉ Tác 擬作 : Định nhái theo để làm... cái gì đó.

   - Dĩnh Xuyên Âu Tử Phú 穎川歐子賦 : ÂU TỬ tức là Âu Dương Tu, người đất Dĩnh Xuyên, sống vào đời Tống ở Trung Quốc, là Tễ Tướng và là một danh sĩ có làm bài "Thu Thanh Phú 秋聲賦" (Phú Tiếng thu) rất nổi tiếng.

 

* Nghĩa Bài Thơ :

                                  TIẾNG THU

        Trong đêm thu tiêu điều vắng lặng chỉ nghe tiếng đồng hồ nhỏ giọt điểm canh lạnh lẽo; Trong ống ngọc luật lại ngầm vang tiếng thổ báo hiệu mùa đông rét mướt sắp tới. Lại nghe thấy trong khóm cây có tiếng kêu ri rỉ, và chợt giật mình khi nghe tiếng ra rả dưới trăng. Thoáng nghe tiếng người vợ của các anh lính thú buồn vì không ngủ được, lại xúc động tâm tình như những con ve sầu đang kêu vang như than cho nổi bất bình. (Trước cảnh tình nầy), ta định làm bài phú về tiếng thu như Âu Dương Tu của đất Dĩnh Xuyên, nhưng lại e rằng người đời bảo là ta bắt chước mà khinh rẻ ta chăng !?

 

* Diễn Nôm :

                            THU THANH

                    

                    Đồng hồ nhỏ giọt đêm thu lạnh,

                    Ngọc luật âm vang tiếng thổ thanh.

                    Chợt thấy trong cây vang chích chắc,

                    Giật mình dưới nguyệt tiếng lanh canh.

                    Não nề thú phụ buồn khôn ngủ,

                    Xúc động ve sầu rỉ suốt canh.

                    Muốn học Dĩnh Xuyên làm phú vịnh,

                    Còn e bắt chước bị người khinh.

       Lục bát :

                    Tiêu điều nhỏ giọt đêm thu,

                    Âm vang ngọc luật nghe như thổ hành.

                    Trong cây vẳng tiếng lanh canh,

                    Dưới trăng ra rả giật mình tiếng ve.

                    Trở trăn cô phụ buồn nghe,

                    Dế mèn ri rỉ như chia bất bình.

                    Muốn làm bài phú Thu Thanh,

                    Chỉnh e mô phỏng buồn tình lại thôi !

                                                             杜紹德

                                                        Đỗ Chiêu Đức

 

15. Bài thơ TRỪ TỊCH TỨC SỰ :

 

  除夕即事             TRỪ TỊCH TỨC SỰ

新歲才臨舊歲除,    Tân tuế tài lâm cựu tuế trừ,

老來笑我太庸疏。    Lão lai tiếu ngã thái dung sơ.

乾坤不盡煙花景,    Càn khôn bất tận yên hoa cảnh,

門館無私水竹居。    Môn quán vô tư thủy trúc cư.

兩度手層扶日轂,    Lưỡng độ thủ tằng phù nhựt cốc,

一封書肯上公車。    Nhất phong thư khẳng thượng công xư(xa).

年年管得春光好,    Niên niên quản đắc xuân quang hảo,

知是天心獨厚余。    Tri thị thiên tâm độc hậu dư.

         阮秉謙                          Nguyễn Bỉnh Khiêm

 

         

* Chú Thích :

    - Tài Lâm 才臨 : là Mới vừa đến.

    - Dung Sơ 庸疏 :DUNG là Dung tục là tầm thường, SƠ là Thưa thớt, hời hợt. Nên DUNG SƠ là Hời hợt tầm thường, vô tích sự, không làm được gì cả.

    - Càn Khôn 乾坤 : là hai quẻ tượng trưng cho Trời và Đất trong Bát quái.

    - Yên Hoa Cảnh 煙花景 : Cảnh hoa nở rộ đẹp đẽ của mùa xuân.

    - Thủy Trúc Cư 水竹居 : Nhà ở trên bến nước có tre trúc hữu tình.

    - Nhựt Cốc 日轂 : là Mặt trời, ở đây chỉ nhà vua, nên PHÙ NHỰT CỐC 扶日轂 là Phò trợ nhà vua.

    - Công Xa 公車 : là Xe công, chỉ Xe của vua đi.

    - Quản Đắc 管得 : là Quản lý được, có nghĩa là Nắm bắt được, là Hưởng được.

    - Độc Hậu Dư 獨厚余 : ĐỘC là Riêng lẻ, HẬU là Hậu đãi, DƯ là Ta; nên ĐỘC HẬU DƯ là Hậu đãi riêng với mình ta.

 

* Nghĩa bài Thơ :

                                      Tức Sự đêm Giao Thừa

 

       Năm mới vừa đến thì năm cũ cũng đi qua; cười ta già đầu rồi mà còn hời hợt tầm thường vô tích sự. Cảnh hoa đẹp của mùa xuân trong đất trời thì vô cùng tận, và nơi ở nhàn nhã trước cửa có sông nước trúc tre cũng không chỉ dành riêng cho ai; Cũng đã hai lần từng phò vua giúp nước, nhưng một phong thư (kể công) cũng không chịu trình lên xe vua. (Chỉ cần) mỗi năm ta đều hưởng được những mùa xuân đẹp đẽ, thì biết là lòng trời còn hậu đãi ưu ái đến ta lắm rồi !

 

      Qủa là lòng của một lão thần trung nghĩa, không hám vinh hoa phú qúy; không màng danh lợi buộc ràng, chỉ muốn yên thân nhàn tản thưởng ngoạn sự đẹp đẽ ưu ái của đất trời của tiết xuân với hoa thơm cỏ đẹp khi mỗi độ xuân về. 

        

* Diễn Nôm :

                       TRỪ TỊCH TỨC SỰ

 

                   

 

                   Năm mới đến đi lại một năm,

                   Cười ta già ngố lại vô tâm.

                   Đất trời cảnh trí hoa xuân thắm,

                   Nhà cửa ven sông tre trúc râm.

                   Hai lượt phò vua luôn dốc sức,

                   Một phong thư tấu mãi trầm ngâm.

                   Năm năm cứ được vui xuân đến,

                   Là phúc riêng trời kẻ hảo tâm.

      Lục bát :

                   Năm mới đến, năm cũ đi,

                   Cười ta ngớ ngẩn khác gì năm qua.

                   Đất trời xuân thắm bao la,

                   Bên sông tre trúc cửa nhà riêng ai.

                   Hai lần phò chúa ra tay,

                   Một phong thư lại ngại hoài chẳng dâng.

                   Năm năm vui hưởng sắc xuân,

                   Biết trời hậu đãi lão thần riêng ta.

 

                                                                杜紹德

                                                             Đỗ Chiêu Đức 

Góc Việt Thi:  

                  

                            Trạng Trình NGUYỄN BỈNH KHIÊM

                                                    Kỳ nhị

6. Bài thơ LOẠN HẬU QUY CỐ VIÊN VỊNH MAI :

 

亂後歸故園詠梅     LOẠN HẬU QUY CỐ VIÊN VỊNH MAI

 

萬紫千紅都是春,    Vạn tử thiên hồng đô thị xuân,

等閑開謝總紛紛。    Đẳng nhàn khai tạ tổng phân phân.

雪中不改堅貞操,    Tuyết trung bất cải kiên trinh tháo,

惟有寒梅伴主人。    Duy hữu hàn mai bạn chủ nhân !

                  阮秉謙                              Nguyễn Bỉnh Khiêm

 

         

* Chú Thích :

    - Tựa bài thơ : Sau loạn về quê cũ vịnh hoa mai.

    - Vạn Tử Thiên Hồng 萬紫千紅 : là Muôn tía ngàn hồng, ta nói là "Muôn hồng ngàn tía" hoặc "Ngàn tía muôn hồng".

    - Đẵng Nhàn 等閑 : là Bình thường, là Lẽ Tự Nhiên.

    - Kiên Trinh Tháo 堅貞操 : là cái Tiết tháo kiên trinh, kiên định chẳng đổi thay.

 

* Nghĩa Bài Thơ :

                                SAU LOẠN VỀ LẠI QUÊ NHÀ VỊNH HOA MAI

        Muôn hồng ngàn tía đều nở ra vì mùa xuân, theo lẽ thường tình hoa nở rồi hoa tàn đều bát nháo như thế cả. Chỉ có hoa mai là vẫn giữ tiết tháo kiên trinh trong trời đông tuyết phủ vẫn nở đúng hẹn để bầu bạn với chủ nhân, không thay đổi bao giờ !

        Hoa Mai, một trong Tuế Hàn Tam Hữu 歲寒三友, ba người bạn vẫn tốt tươi trong cuối năm lạnh lẽo của mùa đông. Hoa Mai vẫn ngạo nghễ vươn lên nở hoa trong tuyết giá, là biểu tượng của sự kiên định bất khuất, với hương thơm nhẹ thoảng tượng trưng cho sự thanh cao của người quân tử. Không chỉ có cụ Nguyễn Bỉnh Khiêm ca ngợi hoa mai, trong các danh nhân cổ đại của ta còn có Cao Bá Quát cũng bái phục mai hoa với đôi câu đối :

 

                        Thập tải luân giao cầu cổ kiếm,   十 載 輪 交 求 古 劍,

                        Nhất sinh đê thủ bái mai hoa.      一 生 低 首 拜 梅 花.

    Có nghĩa :

                         Mười năm lần lữa tìm gươm cổ,

                         Một đời cúi lạy trước hoa mai.

 

* Diễn Nôm :

                   LOẠN HẬU QUY CỐ HƯƠNG VỊNH MAI

                   Muôn hồng ngàn tiá đón xuân sang,

                   Hoa nở hoa xinh lại úa tàn. 

                   Trong tuyết kiên trinh không dời đổi,

                   Hoa Mai duy nhất vẫn thi gan !

     Lục bát :

                   Muôn hồng ngàn tía đón xuân,

                   Hoa tàn hoa nở vốn trong tuần hoàn.

                   Kiên trinh trong tuyết đông sang,

                   Hoa mai vẫn nở ngập tràn với ta !

                                                         杜紹德

                                                     Đỗ Chiêu Đức 

 

 

7. Bài thơ NGỘ TRUNG NGUYÊN XÁ TỘI :

 

  遇中元捨罪          NGỘ TRUNG NGUYÊN XÁ TỘI

 

天地那容罪惡人,    Thiên địa na dung tội ác nhân,

是何捨罪有良辰。    Thị hà xá tội hữu lương thần ?

我今欲仗慈悲力,    Ngã kim dục trượng từ bi lực,

救得無辜塗炭人。    Cứu đắc vô cô đồ thán nhân !

               阮秉謙                       Nguyễn Bỉnh Khiêm

 

       

* Chú Thích :

    - NGỘ TRUNG NGUYÊN XÁ TỘI 遇中元捨罪 : Gặp ngày lễ Trung Nguyên xá tội vong nhân. TRUNG NGUÊN là ngày rằm tháng 7 âm lịch, còn gọi là ngày lễ VU LAN BỒN 盂蘭盆, do phiên âm chữ Phạn Ullambana, có nghĩa là cực khổ tột độ, lại có nghĩa là cứu vớt khỏi cảnh cực khổ tột độ. XÁ TỘI 捨罪 là Bỏ đi tội lỗi, là Tha tội.

    - Dung 容 : Danh từ là Dung nhan. Động từ DUNG là chứa đựng, là Chịu đựng, là Tha thứ; ta có từ kép DUNG THA hay DUNG THỨ.

    - Lương Thần 良辰 : LƯƠNG là Tốt lành; THẦN là Giờ giấc, ngày tháng. Nên LƯƠNG THẦN là Ngày lành tháng tốt. Ý chỉ ngày lễ Vu Lan Bồn.

    - Trượng 仗 : là Ỷ lại, là Nhờ vào..., vựa vào...

    - Từ Bi Lực 慈悲力 : là Sức mạnh của lòng từ bi.

    - Vô Cô 無辜 : là Vô Can, Vô tội.

    - Đồ Thán 塗炭 : ĐỒ là Bôi, là tô. THÁN là Than củi, là đen đúa. Nên ĐỒ THÁN là Bị bôi đen như than; ta nói là Lầm Than, Khổ nhọc.

 

* Nghĩa Bài Thơ :

                           GẶP NGÀY TRUNG NGUYÊN XÁ TỘI

        Trời đất nào có dung tha cho những người làm nên tội ác. Nhưng tại sao lại có được ngày lành tháng tốt để xá tội vậy ?. Nay ta muốn vựa vào sức mạnh của lòng từ bi để cứu cho những người vô tội phải chịu cảnh lầm than khổ nhọc  (dưới Địa ngục).

 

         Câu chót của bài thơ nầy dường như chưa thông tình đạt lý cho lắm : 救得無辜塗炭人 Cứu đắc vô cô đồ thán nhân !. Có nghĩa : "Cứu được những người vô tội phải chiụ cảnh lầm than". Những người đã bị đày vào địa ngục thì đều là những người CÓ TỘI cả rồi, sao lại là người VÔ CÔ (Vô Can) cho được. Và TỪ BI LỰC 慈悲力 Sức mạnh của lòng từ bi để CẢM HÓA những người có tội, chớ không phải để CỨU những người có tội cho được. Nên theo thiển ý, câu chót của bài thơ nầy nên đổi lại là :

 

             GIẢI đắc TỘI ĐỒ đồ thán nhân.    解得罪徒塗炭人。

Có nghĩa :

            ( Vựa vào sức mạnh của lòng từ bi, để...)

         Giải thoát (cảm hóa) các tội đồ cho họ thoát khỏi cảnh lần than !  

 

* Diễn Nôm :

                    NGỘ TRUNG NGUYÊN XÁ TỘI

                  Đất trời vốn dĩ không dung ác,

                  Xá tội sao còn có Vu Lan ?

                  Sức mạnh từ bi ta muốn vựa,

                  Cứu người vô tội khỏi lầm than !

      Lục bát :

                  Ác nhân trời đất không dung,

                  Sao còn có được Trung tuần Vu Lan ?

                  Từ bi sức mạnh vô vàn,

                  Cứu người vô tội lầm than cửu tuyền.

                                                        杜紹德

                                                     Đỗ Chiêu Đức 

 

8. Bài thơ NGỤ Ý :

 

      寓意                               NGỤ Ý

名遂功成休矣休,    Danh toại công thành hưu hĩ hưu,

等閒世故一虛舟。    Đẳng nhàn thế cố nhất hư chu.

風來江館涼宜夏,    Phong lai giang quán lương nghi hạ,

月到書樓明正秋。    Nguyệt đáo thư lâu ming chính thu.

紅日東昇知大海,    Hồng nhật đông thăng tri đại hải,

白雲西望是神州。    Bạch vân tây vọng thị thần châu.

溪山亦足供吾樂,    Khê sơn diệc túc cung ngô lạc,

忍負前盟萬里鷗。    Nhẫn phụ tiền minh vạn lý âu.

              阮秉謙                         Nguyễn Bỉnh Khiêm

 

        

* Chú Thích :

    - Ngụ Ý 寓意 : Gởi gắm cái ý niệm của mình hoặc Gởi gắm một ẩn ý nào đó.

    - Hưu Hĩ Hưu 休矣休 : là Thôi hãy hưu trí cho rồi đi.

    - Đẵng Nhàn Thế Cố 等閒世故 : Chuyện Nhân tình thế cố thường ngày trong cuộc sống.

    - Hư Chu 虛舟 : là Chiếc thuyền trống rổng, không có gì cả.

    - Thần Châu 神州 : là Đất liền, nơi ta đang cư ngụ. Đây là khái niệm về Địa lý lúc ban đầu của người Trung Hoa, chia đất liền thành 9 châu huyện, gọi là Cửu Châu và gọi chung đất đai mà con người cư ngụ là Xích Huyện Thần Châu. 

    - Cung 供 : là Cung cấp, cung ứng. CUNG NGÔ LẠC 供吾樂 : là Cung cấp đáp ứng cho niềm vui của ta.

    - Nhẫn 忍 : là Nhịn, là Đành cam, nên NHẪN PHỤ 忍負 : Không đành lòng phụ.

    - Tiền Minh 前盟 :Những lời hẹn ước trước đó.

 

* Nghĩa Bài Thơ :

                                                     NGỤ Ý

      Công đã thành danh đã toại rồi thì thôi hãy về hưu đi thôi ! Những chuyện nhân tình thế cố thường ngày như một chiếc thuyền trống rổng, (rốt cuộc cũng chẳng có gì). Khi gió thổi vào cái quán nhỏ mà ta ngồi hứng gió ở ven sông thì đó chính là mùa hè; còn lúc trăng chiếu vào thư lâu nơi ta đọc sách, thì đó chính là đang lúc mùa thu. Mắt trời đỏ rực mọc lên ở hướng đông thì biết nơi đó là biển cả, còn mây trắng bay xa xa về hướng tây thì biết đó là đất liền nơi ta cư ngụ. Sơn khê sông suối núi rừng cũng đã đủ đáp ứng cho niềm vui của ta rồi, lại nở nào đành lòng quên đi lời hứa trước đây với lũ chim âu trên sông nước hay sao ?!

 

      Quả là cảnh nhàn nhã, ung dung tự tại suốt bốn mùa, quanh năm vui với trăng thanh gió mát, đọc sách ngâm thơ, đón mặt trời lên và ngóng nhìn mây trắng, vui với sông suối núi rừng và lũ chim âu trên sông nước để tiêu dao ngày tháng tự do tự tại tựa tiểu thần tiên.

 

* Diễn Nôm :

                                 NGỤ Ý 

                     

 

                  Công thành danh toại đến kỳ hưu,

                  Thế sự nhân tình đã chán ru !

                  Gió mát đón hè vui sông nước,

                  Trăng thanh đọc sách sáng lầu thu.

                  Trời đông rực nắng ngoài xa biển,  

                  Mây trắng về tây tận cuối châu.

                  Khe suối núi sông vui ngất ngưởng,

                  Lòng nào nở phụ lũ chim âu !

      Lục bát :

                  Công thành danh toại nghỉ hưu,

                  Nhân tình thế sự hư chu não lòng.

                  Hè về hóng gió ven sông,

                  Thu thì đọc sách trăng trong bên lầu.

                  Biển đông trời mọc nắng cao,

                  Thần châu mây trắng nơi nào về tây.

                  Sơn khê đã thỏa lòng này,

                  Sao đành lỗi hẹn với bầy chim âu !?

                                                         杜紹德

                                                     Đỗ Chiêu Đức                                         

 

9. Bài thơ NGUYÊN ĐÁN THUẬT HOÀI :                  

  

   元旦述懷               NGUYÊN ĐÁN THUẬT HOÀI

 

今我行年六十支,      Kim ngã hành niên lục thập chi,

老來卻與病相期。      Lão lai khước dữ bệnh tương kỳ.

惜春強勸數杯酒,      Tích xuân cưởng khuyến sổ bôi tửu,

憂國休言兩鬢絲。      Ưu quốc hưu ngôn lưỡng mấn ty.

織紝不勤嗟懶婦,      Chức nhẫm bất cần ta lãn phụ,

家庭無教笑癡兒。      Gia đình vô giáo tiếu si nhi.

閒中聊寓閒中趣,      Nhàn trung liêu ngụ nhàn trung thú,

豈為逢人說浪詩。      Khởi vị phùng nhân thuyết lãng thi.

               阮秉謙                                 Nguyễn Bỉnh Khiêm

 

     
    

* Chú Thích :

    - Thuật Hoài 述懷 : Tỏ bày hoài bão; Kể lể nỗi niềm tâm sự.

    - Chi 支 : là Thập Nhị Địa Chi 十二地支, mỗi CHI là một Con Giáp, tượng trưng cho một năm, nên LỤC THẬP CHI 六十支 là Sáu mươi tuổi.

    - Tương Kỳ 相期 : là Cùng nhau hẹn ước; là Hẹn hò với nhau.

    - Cưỡng Khuyến 強勸 : là Miễn cưỡng khuyên nhau...

    - Hưu Ngôn 休言 : Đừng bao giờ nói; Đừng bảo là...

    - Chức Nhâm 織紝 : là Canh cửi, là dệt vải. Chữ NHÂM ở đây được đọc là NHẪM cho ăn với luật Bằng Trắc để nghe cho êm tai.

    - Lãn Phụ 懶婦 : là người đàn bà lười biếng; là Người vợ lười.

    - Si Nhi 癡兒 : là Con ngu dại, si ngốc.

    - Liêu Ngụ 聊寓 : Ngụ ý là...; Cứ cho là...

    - Thuyết Lãng Thi 說浪詩 : Lạm bàn lan man về thơ ca.

 

* Nghĩa Bài Thơ :

                           TẾT NGUYÊN ĐÁN KỂ LỂ NỖI LÒNG

        Tết nay thì ta cũng đã được sáu mươi tuổi rồi; Càng già lại càng như là có ước hẹn với bệnh tật vậy. Tiếc xuân nên miễn cưỡng mời nhau vài ly rượu. Lo cho nước thì chớ bảo là hai mái tóc mai đã bạc như tơ cả rồi. Canh cưởi không siêng năng thì than là con vợ biếng nhác; Gia đình không dạy dỗ thì sợ người ta cười con mình ngu ngốc. Trong lúc nhàn nhã thì cứ cho là hưởng thú nhàn nhã đi, sao lại phải nói chuyện lan man về thơ ca khi gặp người nầy người nọ.

        Than già than bệnh, nhưng uống rượu vui chơi với nhau lúc xuân về thì miễn cưỡng vẫn còn được, còn nói đến lo cho nước thì chớ có thoái thác là tóc đã bạc người đã già. Cũng như con vợ không siêng năng dệt cửi là tại ta thiếu quan tâm đôn đốc; gia đình không giáo dục thì con cái ngu dốt sẽ bị người cười chê. Tề gia không tốt lại đi đổ thừa cho vợ lười biếng, con ngu si. Trong khi chỉ thích hưởng thụ nhàn tản để nói ba điều bốn chuyện về những thơ ca lan man không đâu với những người gặp gỡ vô tích sự. Không biết là cụ Trạng đã mượn chuyện của mình để nhắc nhở người khác hay là cụ đang ám chỉ ai đây trong cái xã hội khá rối ren bát nháo, vàng thao lẫn lộn của lúc bấy giờ : Vừa Mạc vừa Lê vừa Trịnh vừa Nguyễn...

 

* Diễn Nôm :

                     NGUYÊN ĐÁN THUẬT HOÀI

                   Đến Tết ta đà sáu chục rồi,

                   Càng già bệnh tật lại theo đuôi.

                   Tiếc xuân miễn cưởng vài chung rượu,

                   Lo nước chớ màng tóc bạc vôi,

                   Canh cửi không siêng bà vợ biếng,

                   Ngu si thiếu dạy lũ con tồi.

                   Muốn nhàn thì cứ vui nhàn tản,

                   Sao phải vì ai lãng phí lời !

     Lục bát :

                   Nay ta sáu chục tuổi rồi,

                   Càng già bệnh tật như mời theo đuôi.

                   Tiếc xuân vài chén uống vùi,

                   Nước không lo nổi rối nùi tóc mai.

                   Vợ lười canh cửi tại ai,

                   Con ngu vì bởi vô tài dạy khuyên.

                   Nhàn thì hãy cứ nhàn liền,

                   Sao còn thơ thẩn huyên thuyên với người !

                                                         杜紹德

                                                     Đỗ Chiêu Đức                                         

                                                

10. Bài thơ BỘ MINH NHÂN TƯ MINH PHỦ CÔNG SAI VIÊN :

 

步明人思明府公差員   BỘ MINH NHÂN TƯ MINH PHỦ CÔNG SAI VIÊN

 

鶯聲啼趂馬聲驕,      Oanh thanh đề sấn mã thanh kiêu,

快著行鞭春色饒。      Khoái trước hành tiên xuân sắc nhiêu.

况値北南無事日,      Huống trực bắc nam vô sự nhật,

一天明月共良霄。      Nhất thiên minh nguyệt cộng lương tiêu.

              阮秉謙                                       Nguyễn Bỉnh Khiêm

 

         

 

* Chú Thích :

    - BỘ MINH NHÂN TƯ MINH PHỦ CÔNG SAI VIÊN 步明人思明府公差員 : Tản bộ với viên Công sai người Minh ở phủ Tư Minh.

    - Sấn 趂 : Một hình thức khác của chữ SẤN 趁, có nghĩa Nhân lúc, nhân dịp, thừa cơ, thừa lúc...

    - Nhiêu 饒 : là Nhiều, đầy đủ, phì nhiêu.

    - Trực 値 : là Đúng dịp, gặp dịp. Một âm nữa là TRỊ 値 là Đáng giá, Trị giá.

    - Lương Tiêu 良霄 : là Đêm an lành, đêm đẹp đẽ.

 

* Nghĩa Bài Thơ :

                   Tản Bộ Với Viên Công Sai Người Minh Ở Phủ Tư Minh. 

        Tiếng chim oanh hót cũng vừa đúng lúc tiếng ngựa đang hí vang vang, trong tiếng roi ngựa vun vút lúc sắc xuân đang tràn ngập khắp nơi. Cũng vừa đúng lúc bắc nam gì đều thái bình vô sự, giữa một đêm an lành cũng tràn ngập ánh trăng sáng khắp cả bầu trời.

        Qủa là một cảnh đẹp trong mùa xuân giữa lúc thái bình thịnh thế, làm cho ta nhớ đến câu tả cảnh đẹp của đêm xuân trong Thiên Gia Thi của Tô Đông Pha đời Tống là :

                    Xuân tiêu nhất khắc trị thiên kim.    春宵一刻值千金. 

    Có nghĩa : Đêm xuân một khắc giá đáng ngàn vàng.(Chỉ đêm xuân khí trời êm ả, mát mẻ đẹp đẽ vô cùng. Sau nầy được người ta trích câu nói nầy để chỉ một ý khác với ý của tác giả lúc ban đầu).

 

* Diễn Nôm :

                   BỘ MINH NHÂN TƯ MINH PHỦ CÔNG SAI VIÊN

 

                   

                     Tiếng oanh lẫn tiếng ngựa rền vang,

                     Roi vút ngựa phi xuân ngập tràn.

                     Huống lúc Bắc Nam đều vô sự,

                     Một trời trăng sáng đáng ngàn vàng !

      Lục bát :

                     Tiếng oanh hót, tiếng ngựa vang,

                     Tiếng roi vùn vụt xuân tràn khắp nơi.

                     Bắc Nam phải buổi thảnh thơi,

                     Một đêm trăng đẹp, một trời sáng trăng.

 

 

         Hẹn bài dịch tới :  

                                 Trạng Trình NGUYỄN BỈNH KHIÊM (kỳ Tam)

   

                                                                                                    杜紹德

                                                                                                Đỗ Chiêu Đức                                                          

Góc Việt Thi:  

                  

                            Trạng Trình NGUYỄN BỈNH KHIÊM

                                                    Kỳ nhất

 

NGUYỄN BỈNH KHIÊM 阮秉謙 (1491-1585) huý là Văn Đạt 文達, tự Hanh Phủ 亨甫, hiệu Bạch Vân cư sĩ 白雲居士, người làng Trung Am, huyện Vĩnh Lại, Hải Dương, nay thuộc xã Lý Học, huyện Vĩnh Bảo, Hải Phòng. Xuất thân từ một gia đình trí thức Nho học, cha là Nguyễn Văn Định có văn tài. Mẹ là Nhữ Thị Thục, con thượng thư Nhữ Văn Lan, thông tuệ, giỏi văn chương, am tường lý số. Nguyễn Bỉnh Khiêm thông minh, hiếu học, từ nhỏ đã được mẹ đem thơ quốc âm và kinh truyện ra dạy. Lớn lên, vào Thanh Hoá, theo học bảng nhãn Lương Đắc Bằng, được thầy truyền thụ môn học Dịch lý và sách Thái Ất Thần Kinh. Tuy học giỏi, nhưng lớn lên vào lúc xã hội loạn lạc, Nguyễn Bỉnh Khiêm ẩn chí, đợi thời, không chịu ra thi. Mãi sau này, Mạc thay Lê, tình hình xã hội ổn định, ông mới ra ứng thí, đậu Trạng Nguyên (1535), rồi làm quan với nhà Mạc, bấy giờ ông đã 45 tuổi. Làm quan ở triều đình được 8 năm (1535-1542), thấy gian thần hoành hành, bè phái, triều chính ngày một xấu thêm, ông dâng sớ xin chém 18 lộng thần, không được chấp nhận, bèn thác cớ xin trí sĩ. Về sau, vì sự ràng buộc của nhà Mạc với các sĩ phu có uy vọng, vì muốn tác động đến thời cuộc, ông trở lại tham gia triều chính với cương vị như một cố vấn. Ông từng theo quân Mạc, đi chinh phạt Vũ Văn Mật, Vũ Văn Uyên. Ông cũng từng bày mưu tính kế giúp Mạc bảo toàn vương nghiệp. Vì thế, hoạn lộ của ông từ Lại bộ Tả thị lang, Đông các đại học sĩ, trải thăng đến Lại bộ Thượng thư, Thái phó, Trình Tuyền hầu, rồi lại gia phong Trình quốc công nên đời thường gọi là Trạng Trình. Mãi đến ngoài 70 tuổi, ông mới thực sự treo xe, treo mũ từ quan.

          Thời gian sống ở quê nhà, bên bờ sông Tuyết Hàn, Nguyễn Bỉnh Khiêm dựng am Bạch Vân, lấy đạo hiệu là Bạch Vân cư sĩ mở trường dạy học, rồi lập quán, xây cầu, dựng chùa, mở chợ, trồng cây... Ông có nhiều học trò nổi tiếng, như Nguyễn Quyện, Phùng Khắc Khoan, Lương Hữu Khánh, Nguyễn Dữ v.v... người thờ Mạc, người theo Lê, người suốt đời ẩn dật. Ông được người đương thời tôn kính như bậc thầy. Ngoài triều Mạc, họ Trịnh, họ Nguyễn đều có sai sứ đến hỏi ý kiến ông về những việc hệ trọng. Tháng mười một năm Ất Dậu (1585) ông qua đời, hưởng thọ 94 tuổi, học trò truy tôn là Tuyết giang phu tử 雪江夫子.

          Tác phẩm của Nguyễn Bỉnh Khiêm có Bạch Vân Quốc Ngữ Thi Tập 白雲國語詩集, Bạch Vân Am Thi Tập 白雲庵詩集 và một số bài văn chữ Hán. Các tập sấm ký như Trình Quốc Công Sấm Ký, Trình Tiên Sinh Quốc Ngữ, v.v... tương truyền là của ông nhưng về mặt văn bản chưa đủ độ tin cậy.

 

         Sau đây là một số bài thơ chữ Hán tiêu biểu của ông trong Bạch Vân Am Thi Tập 白雲庵詩集 :

 

1. Bài thơ CẢM HỨNG :

 

   - Tương truyền bài thơ này làm ra để tiên đoán việc nhà Lê sẽ trung hưng và nói đến việc họ Trịnh sẽ chuyên quyền lấn áp vua Lê. Những việc của ông tiên đoán đều không sai mảy may.

 

        

 

        感興                           CẢM HỨNG

  

泰和宇宙不虞周,     Thái hòa vũ trụ bất Ngu Chu,

互戰教爭笑兩讎。     Hỗ chiến giáo tranh tiếu lưỡng thù.

川血山骸隨處有,     Xuyên huyết sơn hài tùy xứ hữu,

淵魚叢雀為誰驅。     Uyên ngư tùng tước vị thùy khu.

重興已卜渡江馬,     Trùng hưng dĩ bốc độ giang mã,

後患應防入室貙,     Hậu hoạn ưng phòng nhập thất khu,

世事到頭休說著,     Thế sự đáo đầu hưu thuyết trước,

醉吟澤畔任閒遊。     Túy ngâm trạch bạn nhậm nhàn du.

                 阮秉謙                                  Nguyễn Bỉnh Khiêm

 

      

 

* Chú Thích :

    - Thái Hòa 泰和 : Chỉ cảnh sống thật hòa bình không có chiến tranh.

    - Ngu Chu 虞周 : NGU là Ngu Thuấn; CHU là nhà Tây Chu, Hai triều đại thái bình thịnh thế của Trung Hoa cổ đại.

    - Hỗ Chiến 互戰 : HỖ là Hỗ Tương, là Lẫn nhau, nên Hỗ Chiến là Đánh đấm lẫn nhau.

    - Xuyên Huyết Sơn Hài 川血山骸 : XUYÊN là con sông; HÀI là Thi hài; nên XUYÊN HUYẾT là con sông máu; SƠN HÀI là Thi hài như núi. Ta thường nói : Thây người chất thành núi và máu chảy thành sông.

    - Uyên Ngư Tùng Tước 淵魚叢雀 : UYÊN là Vực sâu; Tùng là Bụi cây; nên UYÊN NGƯ TÙNG TƯỚC là Cá trong vực sâu và chim sẻ trong bụi rậm.

    - KHU 貙 : là người hóa ra cọp. Ở đây mượn ý để chỉ "Rước kẻ dữ vào nhà."

    - Trạch Bạn 澤畔 : là Bên đầm nước (Hồ nước nhỏ).

 

* Nghĩa Bài Thơ :

                                              CẢM HỨNG

             Trời đất trong cảnh thái bình thịnh vượng, nhưng sao không giống như thuở đời Chu và Ngu Thuấn. Lại bày trò đánh nhau như hai kẻ thù để làm trò cười cho thiên hạ. Đến nỗi nơi nào cũng có cảnh thây chất thành núi và máu chảy tựa sông cả. Làm cho cá trong vực sâu, chim sẻ trong bụi rậm như bị ai đó đuổi bắt mà không thể sống yên ổn được. Muốn trùng hưng lại triều chính thì phải xua ngựa qua sông, nhưng hậu hoạn phải đề phòng là coi chừng sẽ dẫn cọp vào nhà. Thôi thì chuyện đời khó có thể mà nói trước được, hãy cứ uống rượu ngâm thơ và nhàn du bên bờ hồ cho thỏa thích mà thôi !

 

* Diễn Nôm :

                               CẢM HỨNG

 

                    Thái bình sao chẳng giống Ngu Chu,

                    Đánh đấm lẫn nhau tựa kẻ thù.

                    Thây núi máu sông đầy rẫy khắp,

                    Chim lùm cá vực khó an cư.

                    Độ mã qua sông trùng hưng lại,

                    Dẫn cọp vào nhà hậu hoạn hư.

                    Thế sự đổi thay ai biết được,

                    Bên hồ thơ rượu cứ nhàn du !

    Lục bát :

                   Thanh bình chẳng giống Ngu Chu,

                   Đánh nhau dường tựa kẻ thù bao năm.

                   Thây như núi, máu thành sông,

                   Cá sông chim bụi cũng không yên nào.

                   Trùng hưng ngựa vượt chiến hào,

                   Hậu hoạn dẫn hổ chẳng sao phòng hờ.

                   Chuyện đời khó nói dường mơ,

                   Câu thơ bầu rượu vẩn vơ bên hồ !

                                                               Đỗ Chiêu Đức

 

2. Bài thơ CỰ NGAO ĐỚI SƠN :

 

   巨鰲戴山               CỰ NGAO ĐỚI SƠN

碧浸仙山徹底清,    Bích tẩm tiên sơn triệt để thanh,

巨鰲戴得玉壺生。    Cự ngao đới đắc ngọc hồ sinh.

到頭石有補天力,    Đáo đầu thạch hữu bổ thiên lực,

著腳潮無卷地聲。    Trước cước triều vô quyển địa thanh.

萬里東溟歸把握,    Vạn lý đông minh quy bả ác,

億年南極奠隆平。    Ức niên nam cực điện long bình.

我今欲展扶危力,    Ngã kim dục triển phù nguy lực,

挽卻關河舊帝京。    Vãn khước quan hà cưu đế kinh !

                 阮秉謙                                Nguyễn Bỉnh Khiêm

 

* Chú Thích :

    - CỰ NGAO ĐỚI SƠN 巨鰲戴山 : là Con ngao lớn đội núi. NGAO là một loại Ba ba biển lớn. Theo chương Thang Vấn trong sách Liệt Tử chép rằng ở biển Bột Hải có năm ngọn núi là : “Đại Dư” 岱輿, “Viên Kiệu” 員嶠, “Phương Hồ” 方壺, “Doanh Châu” 瀛洲, và “Bồng Lai” 蓬萊. , chân núi không dính vào đâu cả, núi cứ theo nước thuỷ triều mà lên và xuống lênh đênh trên mặt biển. Thượng đế sợ các ngọn núi ấy trôi về Tây cực bèn sai 5 con ngao thần rất lớn lặn xuống lấy đầu đội lên, nên từ đó năm ngọn núi ấy mới đứng vững ở một chỗ.

      CỰ NGAO ĐỚI SƠN: ý của Nguyễn Bỉnh Khiêm là muốn làm việc lớn để gánh vác giang sơn như con ngao lớn đội núi đá cho vững để khỏi trôi nổi trên biển vậy.

    - Triệt Để 徹底 " là Tới đáy, nên Triệt Để Thanh là Trong thấy đáy.

    - Ngọc Hồ 玉壺 : Ở đây không có nghĩa là cái bình bằng ngọc, mà mượn để chỉ cái Đầm Nước nơi ẩn cư.

    - Thạch Hữu Bổ Thiên Lực 石有補天力 : là Đá có sức để vá trời. Theo Tam Hoàng Bản Kỷ trong Sử Ký của Tư Mã Thiên : Thời Thượng cổ, hai vị thần nước là Cung Công và thần lửa là Chúc Dung đánh nhau. Đánh mãi không thắng nổi thần Chúc Dung cho nên thần Cung Công nổi giận, lấy đầu húc núi Bất Chu, làm đổ núi ấy khiến cho cột chống trời bị gãy. Nữ thần Nữ Oa, chặt bốn chân con ngao thần làm bốn cực chống cho trời khỏi sụt xuống. Rồi luyện đá ngũ sắc để vá trời.

    - Đông Minh 東溟 : chỉ biển Đông Hải.

    - Bả Ác 把握 : là Cái Nắm tay. Chuyện cầm chắc trong tay, là chuyên trong khả năng có thể làm được. 

    - Nam Cực 南極 : chỉ vùng đất cực nam của Trung Hoa là nước Việt Nam ta đó. Ngày xưa đâu có biết có vùng Nam Cực của trái đất bây giờ đâu.

 

* Nghĩa Bài Thơ :

                         CỰ NGAO ĐỚI SƠN

        Núi tiên ngâm mình trong biển nước biếc trong đến tận đáy. Ta như con ngao lớn có sức gánh vác được sinh ra từ đầm nước nơi đây. Trên đầu có thể làm đá để vá trời, còn dưới chân thì sóng cũng ổn định không có tiếng cuốn đất. Biển đông vạn dặm có thể quy vào trong lòng bàn tay, và trong ức triệu năm có thể ổn định được vùng đất cực nam nầy. Nay ta muốn thi triển cái sức phò nguy cứu khổn của mình, để cứu vãn lấy sơn hà và đế kinh cũ.

 

        Qủa là có chí lớn, muốn phò vua giúp nước, gánh vác giang san để tỏ rõ tài thao lược. Đọc bài thơ nầy làm cho ta nhớ đến bài THUẬT HOÀI của danh tướng Đặng Dung đời Trần với hai câu :

 

                   致主有懷扶地軸,    Trí chúa hữu hoài phù địa trục,

                   洗兵無路挽天河.    Tẩy binh vô lộ vãn Thiên hà.

     Có nghĩa :

                           Giúp Chúa những toan xoay trục đất,

                           Giáp binh khó nổi kéo sông trời.

 

          Cả hai đều ôm mộng lớn như nhau, nhưng đều chẳng gặp thời, chẳng thi thố gì được cho cái hoài bão to lớn của mình cả !

 

* Diễn Nôm :

                        CỰ NGAO ĐỚI SƠN

 

             

                 Núi tiên biển biếc nước trong xanh,

                 Ngao lớn sinh từ đầm nước thanh.

                 Đầu cất vá trời thay đá luyện,

                 Chân chùn sóng nước đất yên lành.

                 Biển Đông ngàn dặm trong tầm nắm,

                 Nam Cực muôn năm sẽ thái bình.

                 Ta muốn phù nguy thi triển sức,

                 Phục hồi sông núi vững kinh thành !

    Lục bát :

                 Núi tiên nước biếc biển trong,

                 Sinh từ đầm nước ngao mong đổi đời.

                 Cất đầu thay đá vá trời,

                 Xoạt chân sóng vổ ngàn khơi đất lành.

                 Biển đông tay nắm rành rành,

                 Nam cực vùng đất yên lành muôn năm.

                 Phò nguy thử sức anh hùng,

                 Vãn hồi sông núi góp công kinh thành.

                                                           Đỗ Chiêu Đức

                     

3. Bài thơ ĐÔNG CÚC :

 

    冬菊                    ĐÔNG CÚC

 

一種延年館裡栽,    Nhất chủng diên niên quán lý tài,

晚香獨向雪中開。    Vãn hương độc hướng tuyết trung khai.

莫笑爭芳時太晚,    Mạc tiếu tranh phương thời thái vãn,

先春肯讓一枝梅。    Tiên xuân khẳng nhượng nhất chi mai !

                  阮秉謙                                       Nguyễn Bỉnh Khiêm

 

      

 

* Chú Thích :

    - Đông Cúc 冬菊 : Cúc mùa đông; thay vì THU CÚC 秋菊 là cúc nở vào mùa thu, thì bài nầy là ĐÔNG CÚC có thể đây là hoa cúc nở muộn.

    - Diên Niên 延年 : là Kéo dài suốt cả năm.

    - Vãn Hương 晚香 : là Mùi hương muộn màng.

    - Mạc Tiếu 莫笑 : là Chớ cười, chớ nhạo.

    - Tranh Phương 爭芳 : là Tranh cái thơm cái đẹp. Đây là từ chỉ dành riêng cho Hoa và phái Nữ.

    - Khẳng Nhượng 肯讓 : là Chịu nhường, là Chi nhường, là "Chưa chắc đã chịu nhường".

 

* Nghĩa Bài Thơ :

                                     Cúc Mùa Đông

        Đây là loại hoa được trồng quanh năm trong thư quán; Mùi hương muộn màng chỉ nở ra khi tuyết bắt đầu rơi. Chớ có cười nhạo là sao tranh thơm tranh đẹp muộn màng thế. Vì trước khi mùa xuân đến chưa chắc ta đã chịu nhường cái thơm cái đẹp nầy cho hoa mai đâu !

     Tả hoa cúc, nhưng suốt bài thơ không có từ nào nhắc đến chữ CÚC cả !

 

     Hoa Cúc là loại hoa thanh nhã cao khiết chỉ nở vào mùa thu trong gió thu hiu hắt, nổi tiếng nhờ có thể ũ thành Cúc tửu, gọi là Hoàng Hoa Tửu và nhất là được danh sĩ Đào Tiềm đời Tấn trồng khi ở ẩn, với các câu thơ : Thái cúc đông ly hạ, du nhiên kiến nam sơn 採菊東籬下,悠然見南山. Có nghĩa : "Hái cúc dưới giậu bờ đông, Xa xa ẩn hiện chập chùng Nam sơn". Cúc vốn chịu lạnh, nên hoa cúc nở kéo dài cho đến mùa đông, khi mai sớm đã bắt đầu khai nhụy. Và màu vàng của hoa cúc há dễ chiụ nhường cho màu vàng của hoa mai hay sao ?! 

 

* Diễn Nôm :

                                 ĐÔNG CÚC                   

 

                 Quanh năm trong quán được vun trồng,

                 Nở muộn hương nồng lúc tuyết đông.

                 Chớ nhạo muộn màng khoe sắc thắm,

                 Trước xuân chi chịu kém mai đông.

     Lục bát :

                 Vun trồng trong quán quanh năm,

                 Nở ra trong tuyết âm thầm tỏa hương.

                 Chớ cười nở muộn tranh phương,

                 Đầu xuân há đã chịu nhường hoa mai.                                              

                                                           Đỗ Chiêu Đức

 

4. Bài thơ HẠ CẢNH :

 

        夏景                                 HẠ CẢNH

 

日長賓館小窗明,     Nhật trường tân quán tiểu song minh,

風納荷香遠益清。     Phong nạp hà hương viễn ích thanh.

無限吟情誰會得?     Vô hạn ngâm tình thùy hội đắc ?

夕陽樓上晚蟬聲!     Tịch dương lâu thượng vãn thiền thanh !

                  阮秉謙                                          Nguyễn Bĩnh Khiêm

 

        

 

* Chú Thích :

    - Tân Quán 賓館 : TÂN là Khách. TÂN QUÁN là Quán dịch nơi tiếp đón các quan viên vãng lai khi thuyên chuyển hay công vụ.

    - Tiểu Song 小窗 : là Cái cửa sổ nhỏ.

    - Hà Hương 荷香 : HÀ là Hoa sen, nên Hà Hương là Hương thơm của hoa sen.

    - Thanh 清 : THANH có 3 chấm thủy 氵nên có nghĩa là Trong; nhưng ở đây chỉ muì hương của hoa sen, nên VIỄN ÍCH THANH 遠益清 có nghĩa là : Càng xa thì mùi hương sen càng thoang thoảng hơn.

    - Ngâm Tình 吟情 : là Cái tình cảm ngâm nga trong thi phú, tức là cái HỒN THƠ, cái NÊN THƠ của cảnh trí đó vậy.

    - Thiền Thanh 蟬聲 : là Tiếng Ve kêu.

 

* Nghĩa Bài Thơ :

                                 Cảnh Mùa Hè

        Ngày dài dằng dặc trong dịch quán tiếp tân xuyên qua cái cửa song sáng trưng nho nhỏ, Gió đưa mùi hương của hoa sen càng xa lại càng thoang thoảng hơn lên. Ai biết được cảnh trí lại càng nên thơ hơn khi đứng trên lầu cao nhìn nắng chiều nghiêng chiếu mà nghe tiếng ve ngâm tỉ tê trong buổi chiều tà nầy.

 

        Đọc bài thơ nầy của cụ Nguyễn Bĩnh Khiêm làm cho ta lại nhớ đến hai câu thơ trong bài Thu Từ 秋詞 của Lưu Vũ Tích đời Đường như sau :

 

                  晴空一鶴排雲上,    Tình không nhất hạc bài vân thượng,

                  便引詩情到碧霄。    Tiện dẫn THI TÌNH đáo bích tiêu.

  Có nghĩa :

                         Cánh hạc vút lên mây xanh ngắt,

                         HỒN THƠ theo vút tận trời cao.

 

                          

        Cảnh trí quả thật nên thơ biết bao nhiêu !

 

* Diễn Nôm :

                               CẢNH HÈ                

 

                 Dịch quán ngày dài song cửa sáng,

                 Hương sen nhẹ thoảng gió hiu hiu.

                 Nên thơ cảnh trí nào ai biết ?

                 Vẳng tiếng ve ngâm giữa nắng chiều !

    Lục bát :

                 Cửa song dịch quán ngày dài,

                 Hương sen theo gió thoảng bay ngoài đồng.

                 Nên thơ cảnh đẹp biết không ?

                 Nắng chiều nghiêng bóng ve ngâm vang lầu !                                                      

                                                                       Đỗ Chiêu Đức

 

   

5. Bài thơ KHUÊ TÌNH :

 

        閨情                               KHUÊ TÌNH

吟落西風陣陣吹,     Ngâm lạc tây phong trận trận xuy,

深閨兒女獨眠時。     Thâm khuê nhi nữ độc miên thì.

忽聞寒氣侵簾幕,     Hốt văn hàn khí xâm liên mạc,

始覺人情有別離。     Thủy giác nhân tình hữu biệt ly.

去夢不辭沙塞遠,     Khứ mộng bất từ sa tái viễn,

憂懷還動鼓鼙思。     Ưu hoài hoàn động cổ bề ti.

無端點滴階前雨,     Vô đoan điểm trích giai tiền vũ,

自有幽人語夜遲。     Tự hữu u nhân ngữ dạ trì.

                  阮秉謙                          Nguyễn Bỉnh Khiêm

 

      

 

* Chú Thích :

    - Khuê Tính 閨情 : là Tâm tình của kẻ ở chốn khuê phòng.

    - Tây Phong 西風 : Gió tây là gió của mùa thu, trời đã bắt đầy se lạnh.

    - Liêm Mạc 簾幕 : là Rèm màn che song cửa.

    - Sa Tái 沙塞 : là Vùng sa mạc ngoài biên ải xa xôi.

    - Ưu Hoài 憂懷 : là Nỗi lòng ưu tư lo lắng.

    - Cỗ Bề 鼓鼙 : là Tiếng trống trận.

    - Vô Đoan 無端 : như Vô tình, vô tâm, khi khổng khi không.

    - U Nhân 幽人 : là Con người cô đơn vắng vẻ !

 

* Nghĩa Bài Thơ :

                                                KHUÊ TÌNH

       Như tiếng ngâm thơ lạc theo từng trận gió tây hiu hắt, cũng là lúc cô gái trong chốn khuê phòng đang ngủ có một mình. Bất giác cô cảm nhận được cái hơi lạnh đang xâm nhập qua rèm sáo bên song cửa, và cô chợt hiểu ra cái ấm lạnh của tình người trong cơn ly biệt. Dõi theo hồn mộng không ngại vùng sa mạc biên ải xa xôi, mối ưu tư trong lòng còn vang như hồi trống trận. Mặc cho từng giọt từng giọt mưa rơi hờ hững trước thềm, như có người u uẩn nào đó đang thủ thỉ suốt đêm dài.

 

         Qủa là mối cảm tình da diết của người thiếu nữ đang xuân phải chịu cảnh phòng không chiếc bóng để nhớ thương về nơi quan ải xa xăm, nơi gió cát mịt mùng trong tiếng trống trận vang vang... trong đêm mưa dai dẳng bên thềm suốt đêm rả rít như kể lể nỗi niềm tâm sự.

 

 

* Diễn Nôm :

                             KHUÊ TÌNH              

 

                  Như tiếng ngâm theo trận gió tây, 

                  Cô miên nhi nữ suốt canh chầy.

                  Bỗng nghe màn sáo tràn hơi lạnh,

                  Mới biết chia ly thổn thức đầy.

                  Theo mộng chẳng nề quan ải cách,

                  Ngoài biên còn ngại trống quân rây.

                  Hững hờ rả rít cơn mưa tối,

                  Thủ thỉ canh trường dạ khó khuây !

   Lục bát :

                  Gió tây hiu hắt từng hồi,

                  Phòng khuê thiếu nữ bồi hồi cô miên.

                  Bỗng nghe hơi lạnh tràn hiên,

                  Mới hay ly biệt nên tình xót xa.

                  Mộng theo biên tái quan hà,

                  Ưu tư trống trận tù và thúc quân.

                  Bên thềm rả rít mưa nhuần,

                  Như than như vản thì thầm suốt đêm !

                                                                  杜紹德

                                                             Đỗ Chiêu Đức

 

 

            Mời xem tiếp Kỳ Nhị!

Góc Việt Thi : 

                                 Thơ THÁI THUẬN

Thái Thuận 蔡順 (1440-?) tự Nghĩa Hoà 義和, hiệu Lục Khê 陸溪, biệt hiệu Lữ Đường 呂塘, sinh 1440. Đậu tiến sĩ 1475 (niên hiệu Hồng Đức thứ 6). Làm quan ở nội các viện triều Lê Thánh Tông hơn 20 năm, sau được bổ làm tham chính ở Hải Dương. Ông là người có đạo đức, lại có tài văn chương, được người đương thời rất kính trọng. Vì vậy, ông được vua Lê Thánh Tông cho dự chức Tao đàn Sái phu (sau thăng Tao đàn Phó Nguyên Súy) trong Hội Tao Đàn do chính nhà vua thành lập năm 1495.

       Tác phẩm còn lại: Lữ Đường di cảo thi tập 呂塘遺藁詩集 (Tập thơ di cảo của Lữ Đường) gồm hơn 200 bài thơ do con trai là Thái Khác 蔡恪 và học trò là Đỗ Chính Mô 杜正謨 sưu tầm biên soạn.

 

                Sau đây là một số bài thơ tiêu biểu của ông được nhiều người biết đến.

 

1. Bài thơ HẠ CẢNH :

 

    夏景                             HẠ CẢNH

南風庭院日如年,    Nam phong đình viện nhựt như niên,

面對書窗古聖賢。    Diện đối thư song cổ thánh hiền.

傍砌榴花紅噴火,    Bàng thế lưu hoa hồng phún hỏa,

入簾草色綠生煙。    Nhập liêm thảo sắc lục sanh yên.

元亨理契庖犧易,    Nguyên Hanh lý khế Bào Hy dịch,

康阜功歸帝舜絃。    Khang Phụ công quy Đế Thuấn huyền.

千古道心呼得起,    Thiên cổ đạo tâm hô đắc khởi,

槐龍影裏夕陽蟬。    Hòe long ảnh lý tịch dương thiền !

         蔡順                               Thái Thuận

* Chú Thích :

    - HẠ CẢNH 夏景 : Quang cảnh của mùa hè.

    - Nam Phong 南風 : là Gió Nam, gió thổi mát mẻ vào những buổi trưa hè. NAM PHONG CA là "Bài ca gió nam". Bản đàn như lời ca dao mà vua Thuấn ngày xưa thường đàn để nói về đời sống của nhân dân với các câu : "Nam phong chi huân hề, khả dĩ giải ngô dân chi uẩn hề 南風之薰兮,可以解吾民之慍兮。" Có nghĩa : Cái mát mẻ ấm áp của gió nam có thể giải tỏa được lòng u uẩn sầu muộn của dân ta. Do câu nói nầy mà cụ Phạm Quỳnh ngày trước đã đặt tên cho tạp chí của mình là NAM PHONG TẠP CHÍ.

   - Bàng Thế 傍砌 : Bên cạnh các bậc thềm nhà.

   - Nguyên Hanh 元亨 : là NGUYÊN HANH LỢI TRINH 元亨利贞, là lời từ của quẻ Càn trong kinh Dịch. Có nghĩa : NGUYÊN là Bắt đầu; HANH là Thông suốt. LỢI là Lợi lộc. TRINH là Đứng đắn ngay thẳng. Nên Nguyên Hanh chỉ sự tốt lành nói chung.

   - Bào Hy 庖犧 : Tức vua Phục Hy (4500 tr CN), một trong Tam hoàng ngũ đế, thánh nhân thời tiền sử Trung Quốc, thuỷ tổ của Kinh Dịch.

   - Khang Phụ 康阜 : là vế sau của Nam Phong Ca đã nêu ở trên : Nam phong chi thời hề, khả dĩ phụ ngô dân chi tài hề 南風之時兮,可以阜吾民之財兮。Có nghĩa : Cái đúng lúc của gió nam có thể làm cho dân ta giàu có.

   - Đế Thuấn huyền 帝舜絃 : Dây đàn của vua Thuấn, tức là Tiếng đàn của vua Thuấn.

   

* Nghĩa Bài Thơ :

                               CẢNH MÙA HÈ

        Gió nam thổi hiu hiu vào sân nhà trong mùa hè làm ta cảm thấy ngày dài ra như một năm. Đối diện với song cửa để sách vở của thánh hiền ngày xưa. Bên cạnh các bậc thềm nhà hoa lựu nở đỏ thắm như đang phun lửa. Màu cỏ xanh hắt vào rèm như sương như khói. Nguyên Hanh Lợi Trinh là cái lý ăn khớp với Dịch lý của Bào Hy (trong quẻ Càn thuộc thuần dương như cái nóng của mùa hè). Cũng như lời ca Khang Phụ trong Nam Phong Ca là công của tiếng đàn của vua Thuấn (có thể giải đi phiền muộn u uẩn và làm cho người dân sống sung túc hơn). Tiếng ve ra rả trong buổi chiều nắng xế trên các cây hòe có thể gọi dậy lòng trọng đạo thiên cổ của nhân dân.

 

* Diễn Nôm :

                           CẢNH HÈ

 

                   

 

                  Ngày dài sân vắng gió nam đầy,

                  Song sách thánh hiền xưa vẫn đây.

                  Lửa lựu lặp lòe chen thềm vắng,

                  Cỏ xanh mờ ảo phủ rèm đầy.

                  Nguyên Hanh dịch lý Bào Hy đó,

                  Khang Phụ tiếng đàn Đế Thuấn đây.

                  Tâm đạo ngàn xưa chừng gọi dậy,

                  Bóng hòe nghiêng nắng tiếng ve đầy !

     Lục bát :

                  Gió nam hây hẩy ngày dài,

                  Bên song đối mặt thư trai thánh hiền.

                  Lặp lòe lửa lựu bên thềm,

                  Cỏ xanh sắc biếc vào rèm khói mây.

                  Nguyên Hanh dịch lý Đào Hy,

                  Tiếng đàn Đế Thuấn thiếu gì Phụ Khang.

                  Ngàn xưa tâm đạo khơi tràn,

                  Bóng hòe nghiêng nắng bàng hoàng tiếng ve !

 

                                                       Đỗ Chiêu Đức

 

2. Bài thơ ẨN GIẢ :

 

      隱者                              ẨN GIẢ

 

往來蹤跡倦紅塵,    Vãng lai tung tích quyện hồng trần,

占斷林泉作主人。    Chiếm đoạn lâm tuyền tác chủ nhân.

景有山川花是客,    Cảnh hữu sơn xuyên hoa thị khách,

門無車馬草常春。    Môn vô xa mã thảo thường xuân.

桐江釣月忘歸漢,    Đồng Giang điếu nguyệt vong quy Hán,

芝嶺耕雲樂去秦。    Chi Lãnh canh vân lạc khứ Tần.

卻羨陶朱興越日,    Khước tiện Đào Chu hưng Việt nhật,

五湖煙水一閒身。    Ngũ hồ yên thủy nhất nhàn thân.

                蔡順                                       Thái Thuận.

 

       

 

* Chú Thích :

    - ẨN GIẢ 隱者 : Người đi ở ẩn.

    - Vãng Lai Tung Tích 往來蹤跡 : là Dấu vết qua lại; có nghĩa là " Tới lui bôn ba bương chải với cuộc sống".

    - Chiếm Đoạn 占斷 : là Chiếm đứt luôn, là Giành hẵn cái gì đó.

    - Đồng Giang điếu nguyệt 桐江釣月 : ĐỒNG GIANG : Tên con sông ở Tứ Xuyên Trung Quốc. Đời Hán, Nghiêm Tử Lãng cùng bạn là Hán Quang Vũ, không chịu làm quan, hàng ngày ngồi câu ở Đồng Giang. Câu để mua vui nên được gọi là “điếu nguyệt” (câu trăng chứ không câu cá).

    - Chi Lãnh canh vân 芝嶺耕雲 : CHI LÃNH là Đĩnh của ngọn núi Chi Sơn, còn được gọi là Thổ Tố Sơn, tên ngọn núi ở Giang Tây. Đời Đường, quan Thứ sử là Tiết Chấn lên núi tìm được cỏ chi, nên đổi là Chi Sơn. Đời Tống, Giang Vạn Lý bị gièm pha, phải mất chức, đến Chi Sơn đào ao, lập vườn, sống ẩn dật. Khi quân Nguyên đánh chiếm Trung quốc, ông nhảy xuống ao tuẫn tiết.

    - Đào Chu 陶朱 : Còn được gọi là Đào Chu Công. Tên hiệu của Phạm Lãi, một công thần của Việt Vương Câu Tiễn, vì sợ bị sát hại, đã tìm đường ẩn cư để tránh nạn. Tương truyền ông đã dắt theo nàng Tây Thi xinh đẹp để ngao du Ngũ Hồ và trở nên giàu có nhờ hành nghề thương buôn. 

 

* Nghĩa Bài Thơ :

        Vất vả bôn ba bương chải với cuộc sống cũng đã mõi mệt giữa chốn hồng trần nầy rồi, nên giành hẵn chốn lâm tuyền nầy để làm chủ mà ở hẵn luôn. Cảnh trí thì có núi có sông mà khách là những khóm hoa rừng. Trước cửa không có dấu xe dấu ngựa nên cỏ thường tươi tốt như mùa xuân. Như Nghiêm Tử Lãng cùng bạn là Hán Quang Vũ, không chịu ra làm quan, hàng ngày ngồi câu trăng ở Đồng Giang mà không về với nhà Hán. Và như Giang Vạn Lý vui vẻ về với Chi Sơn đất Tần mà cày mây cuốc nguyệt. Lại hâm mộ cuộc sống của Đào Chu Công khi nước Việt đã hưng thịnh, ông bèn từ quan mà đi kinh thương ở đất Ngũ Hồ để sống cuộc đời nhàn tản với sông nước cho khỏe tấm thân.

 

* Diễn Nôm :

                       NGƯỜI ĐI Ở ẨN

 

                  

 

                Tất bật hồng trần mõi mệt đành...

                Lui về rừng suối chủ lều tranh.

                Cảnh sông cảnh núi hoa làm khách,

                Không ngựa không xe cỏ mãi xanh.

                Điếu nguyệt Đồng Giang mơ đã thỏa,

                Cày mây Chi Lãnh mộng vui thành.

                Đào Chu quy ẩn khi hưng Việt...

                Sông nước Ngũ Hồ khỏe một thân !

    Lục bát :

                Hồng trần bương chải mõi mê,

                Lâm tuyền làm chủ lui về thong dong.

                Hoa làm khách của núi sông,

                Ngựa xe vắng bóng cỏ trông xanh rờn.

                Đồng Giang điếu nguyệt từ quan,

                Cày mây Chi Lãnh mơ màng bao thu.

                Việt hưng quy ẩn Đào Chu,

                Ngũ Hồ dạo hết nhàn du khắp miền.

                                                          

                                                        Đỗ Chiêu Đức

 

3. Bài thơ VỌNG PHU SƠN :

 

   望夫山                    VỌNG PHU SƠN

 

化石山頭幾夕曛   Hóa thạch sơn đầu kỉ tịch huân, 

傷心無路更逢君。Thương tâm vô lộ cánh phùng quân. 

天崖目斷年年月,Thiên nhai mục đoạn niên niên nguyệt 

江上魂消暮暮雲。Giang thượng hồn tiêu mộ mộ vân. 

青淚一般花露滴,Thanh lệ nhất ban hoa lộ trích, 

離情萬種草煙雰。Ly tình vạn chủng thảo yên phân. 

湘妃若識相思苦,Tương Phi nhược thức tương tư khổ, 

不惜哀絃寄予聞。Bất tích ai huyền ký dữ văn.

                蔡 順                                 Thái Thuận.

CHÚ THÍCH :

     - TỊCH HUÂN : là Nắng quái, ánh nắng thừa của mặt trời khi vừa lặn.

     - THANH LỆ 青淚 : là Giọt lệ xanh; giọt lệ của tượng đá hòa lẫn với rong rêu nên có màu xanh.

     - PHÂN 雰 : là Hơi khí sương mù.

     - TƯƠNG PHI OÁN 湘妃怨 là tên bài thơ của Trịnh Tiều đời Tống, thông qua việc tả Tương Phi để gởi gấm tâm sự ai oán của mình. Một tài liệu khác...

     - TƯƠNG HOÀN trong lúc được Vua sủng ái, lại khuyên Vua chia đều ơn vũ lộ với những cung tần khác, nhưng lại muốn Vua luôn đến để nghe mình đàn bài từ được phổ nhạc của TÀO HUÂN đời Tống là : Vũ tiêu tiêu hề Động Đình, Yên phi phi hề Hoàng Lăng. ( Mưa rả rít kìa Động Đình, khói mơ màng nọ Hoàng Lăng ! ).

     - TƯƠNG PHI OÁN còn là tên của một ca khúc đời NGUYÊN ( NGUYÊN KHÚC ) tả việc oán hận tương tư của một cung nhân thương nhớ Vua như CUNG OÁN NGÂM KHÚC của ta vậy.

 

DỊCH NGHĨA :

                         NÚI VỌNG PHU

       Đã biết bao buổi chiều tà nung nấu đến nỗi phải hóa đá trên đầu núi, Quả đáng thương tâm vì không còn đường nào để gặp lại chàng được nữa ! Năm năm cứ mãi nhìn mút con mắt cái vầng trăng ở phía chân trời, và mỗi chiều chiều hồn mộng cứ vẩn vơ theo những đám mây ở ven sông. Những giọt lệ màu xanh nhễu xuống như những giọt sương rêu, còn tình ly biệt thì tản mạn như hơi khói bốc lên từ cỏ dại. Nàng Tương Phi nếu biết được là tương tư sẽ phải khổ sở như thế nầy, thì chắc cũng không tiếc chi những tiếng tơ ai oán mà không gởi cho nhau nghe !

 

       Đọc bài thơ nầy lại làm cho ta nhớ đến 4 câu thơ trong bài NƯỚC TÔI của Nguyễn Văn Cổn, một thi sĩ thời Tiền chiến :

 

               ... Đá Vọng Phu nhớ thương thổn thức,

                   Tay bồng con non nước vời trông.

                   Xa xa mặt biển mênh mông,

                   Đầu non tượng đá tỏ lòng tiết trinh...

 

                     

DIỄN NÔM :

                   NÚI VỌNG PHU

            Bao chiều hóa đá đứng đầu non,

            Gặp lại người xưa mộng hết còn.

            Mút mắt chân trời trăng đã bạc,

            Tiêu hồn mặt nước dạ chưa tròn.

            Lệ nhòa sắc biếc trông sương khói,

            Tình quyện màu mây ngóng mõi mòn.

            Nếu biết tương tư càng chuốc khổ,

            Tương Phi chẳng tiếc gởi lòng son.

  Lục bát :

            Đầu non hóa đá bao chiều,

            Hết đường gặp lại chồng yêu thuở nào.

            Mõi mòn ngóng ánh trăng cao,

            Trên sông hồn mộng lao đao mây trời.

            Lệ xanh rêu đá sương rơi,

            Muôn tình ly biệt tơi bời cỏ hoa.

            Tương Phi ví biết lòng ta,

            Tiếng tơ há tiếc đàn hòa tri âm.

                                                     Đỗ Chiêu Đức.

                

4. Bài thơ XUÂN DẠ :

 

    春夜                           XUÂN DẠ

重重簾影月斜移,    Trùng trùng liêm ảnh nguyệt tà di,

刺繡無人語夜遲。    Thích tú vô nhân ngữ dạ trì.

枕上夢魂誰喚醒,    Chẩm thượng mộng hồn thùy hoán tỉnh,

杜鵑聲在百葩枝。    Đỗ Quyên thanh tại bách ba chi !

 

          

 

* Chú Thích :

    - Trùng Trùng 重重 : là Lớp lớp, tầng tầng, là Chập chùng.

    - Liêm Ảnh 簾影 : Bóng của rèm cửa.

    - Thích Tú 刺繡 : THÍCH 刺 là Đâm, TÚ 繡 là Thêu. Thích Tú là từ kép chỉ Thêu Thùa.

    - Hoán Tỉnh 喚醒 : HOÁN là Gọi, TỈNH là Vở lẻ ra, là Dậy. Nên HOÁN TỈNH là gọi cho thức dậy.

    - Đỗ Quyên 杜鵑 : là tên chim. Ta còn gọi là con chim Cuốc, con quấc.

 

* Nghĩa Bài Thơ :

                               ĐÊM XUÂN

  

        Cái bóng chập chùng của rèm cửa xuyên qua ánh trăng đã từ từ nghiêng ngã. Không người thêu thùa trong cảnh đêm xuân vắng lặng đang chầm chậm trôi. Trên gối chợt tỉnh mộng hồn như có ai đó gọi dậy. Thì ra tiếng chim Đỗ quyên đang trên đầu cành hót giữa trăm hoa.

        Nhớ người cùng ngồi trò chuyện thêu thùa trong đêm xuân vắng lặng, nếu không phải là bà nội tướng thì là một hồng nhan tri kỷ nào đó... đến nổi ngủ quên đến khi nghe tiếng chim cuốc kêu trên cành hoa mới biết rằng trời đã sáng tỏ !

 

* Diễn Nôm :

                        ĐÊM XUÂN

               Chập chùng rèm lọt ánh trăng nghiêng,

               Không kẻ thêu thùa đêm lặng yên.

               Bên gối mộng hồn choàng tỉnh giấc,

               Đầu cành hoa rộn tiếng chim quyên.

    Lục bát :

               Ánh trăng lớp lớp nghiêng rèm,

               Thêu thùa vắng bóng ai đêm xuân dài.

               Bàng hoàng chợt tỉnh hồn mai,

               Đỗ quyên rộn rã bên ngoài cành hoa.

                                                                     

                                                                 Đỗ Chiêu Đức

 

5. Bài thơ GIANG THÔN TỨC SỰ :

 

 江村即事                   Giang thôn tức sự    

 

暖潮半落曉風微,        Noãn triều bán lạc hiểu phong vi ,

個個沙鷗向背飛。        Cá cá sa âu hướng bối phi. 

江上天歸何處所 ?        Giang thượng thiên qui hà xứ sở  ?

寒煙冷雨一縗衣。        Hàn yên lãnh vũ nhất thôi Y.

          蔡順                               Thái Thuận.

      

        
             

* Chú Thích :

    - Noãn Triều 暖潮 : Nước thủy triều ấm áp; dòng noãn lưu.

    - Hiểu Phong 曉風 : gió sớm mai thổi khi trời rựng sáng. 

    - THÔI Y 縗衣 : là áo Sô gai, một loại áo tang, ở đây chỉ áo Lá mặc để che mưa che nắng và.... chống lạnh !

       

* Nghĩa Bài Thơ :

         Dòng thủy triều ấm áp đã xuống hơn phân nửa (chỉ nước ròng) và gió sớm đã hây hẩy chung quanh, từng con từng con chim hải âu bay về hướng sau lưng. Nhìn bầu trời in trên sông nước mà tự hỏi là trời sẽ trôi về đâu đây ? Trong cảnh khói sóng và mưa rơi lạnh lẽo nầy chỉ còn có một chiếc áo tơi đơn độc !

     

 Diễn Nôm :

            Chép việc nơi xóm bên sông.

          (Người dịch: Thi sĩ Quách Tấn)

 

          Gió thổi trào lui nửa cát bày, 

          Đoàn âu chiếc chiếc nối lưng bay.

          Trên sông trời hướng về đâu tá ? 

          Một mảnh tơi che lạnh tháng ngày !

                                      Quách Tấn.

             

 

          Gió sớm hây hây tiễn nước ròng,

          Hải âu lớp lớp vút sau lưng.

          Mênh mông trời nước về đâu nhỉ ?

          Mưa khói lạnh lùng một lão ông !

 Lục bát :

          Nước ròng gió sớm hây hây,

          Hải âu lũ lượt cùng bay ngang đầu.

          Sông trôi trời sẽ về đâu ?

          Áo tơi sương khói mưa sầu một ông.

                                       

                                                Đỗ Chiêu Đức

 

6. Bài thơ Đông Triều Tảo Phát :

 

 東潮早發       ĐÔNG TRIỀU TẢO PHÁT

 

晨雞猶未报,    Thần kê do vị báo, 

客棹起江心。    Khách trạo khởi giang tâm. 

月淡山斜翠,    Nguyệt đạm sơn tà thúy, 

潮鹹水躍金。    Triều hàm thuỷ diệu câm(kim). 

沙鷗風冷冷,    Sa âu phong lãnh lãnh, 

漁浦樹陰陰。    Ngư phố thọ âm âm. 

誰詠滄浪曲,    Thùy vịnh Thương Lang khúc ?

前村驚睡禽。    Tiền thôn kinh thụy cầm.

       蔡順                     Thái Thuận

 

         

 

* CHÚ THÍCH :

   - TẢO PHÁT 早發 : là Khởi hành xuất phát sớm.

   - THẦN KÊ 晨雞 : là Gà buổi sáng.

   - TRIỀU HÀM THỦY DIỆU KIM 潮鹹水躍金 : Nước mặn nên gợn sóng lăn tăn lắp lánh như những gợn vàng.

   - NGƯ PHỐ 漁浦 : là Bến cá. Ở đây chỉ bến câu của các thuyền câu thường đậu.

   - THƯƠNG LANG KHÚC 滄浪曲 : là Khúc hát Thương Lang, tên của một khúc hát của các Ngư phủ trong sách Khuất Nguyên nước Sở xưa.

   - KINH 驚 : là Sợ. Ở đây có nghĩa là Giật mình.

 

* DỊCH NGHĨA :

                   Khởi hành sáng sớm ở Đông Triều

        Tiếng gà buổi sáng còn chưa kịp gáy thì mái chèo của khách đã quẩy động lòng sông rồi. Ánh trăng nhàn nhạt chiếu lên triền núi nghiêng nghiêng xanh biếc và làm dậy lên những đợt sóng do nước mặn lắp lánh tựa những gợn vàng lăn tăn. Gió sớm thổi lành lạnh trên bãi cát của chim hải âu và trên bến của các ngư ông hàng cây còn âm u im lìm đứng lặng. Văng vẳng xa đưa tiếng của ai đang hát khúc Thương Lang làm cho các con chim đang ngủ ở xóm trên giật mình thức giấc.

 

* DIỄN NÔM :

                  

 

                    Gà còn chưa gáy sáng,

                    Chèo khách đã khua vang.

                    Trăng mờ non xa biếc,

                    Nước xanh sóng gợn vàng.

                    Gió lạnh bờ cát vắng,

                    Cây mờ bến cá ngang.

                    Ai hát Thương Lang khúc,

                    Giật mình chim đầu làng.

  Lục bát :

                    Tiếng gà sáng chửa gáy vang,

                    Mái chèo khách đã sẵn sàng bến sông.

                    Núi xanh trăng chiếu mênh mông,

                    Nước xanh gợn sóng lăn tăn ánh vàng.

                    Lạnh lùng gió sớm thổi sang,

                    Âm u cây bến mơ màng ngư ông.

                    Thương Lang ai hát giữa dòng,

                    Giật mình chim bến bên sông thôn ngoài.

                                                   

                                                 Đỗ Chiêu Đức

 

7. Bài thơ XUÂN HIỂU

 

  春曉                 XUÂN HIỂU

忽聞何處鳥,   Hốt văn hà xứ điểu, 

客枕夢回新。   Khách chẩm mộng hồi tân. 

窗外雲如幕,   Song ngoại vân như mạc, 

空中雨似塵。   Không trung vũ tự trần. 

花容猶隱露,   Hoa dung do ẩn lộ, 

草色欲圍人。   Thảo sắc dục vi nhân. 

遊子吟風月,   Du tử ngâm phong nguyệt, 

誰能報得春。   Thùy năng báo đắc xuân.

      蔡順                    Thái Thuận

 

      
     

* Chú Thích :

    - Xuân Hiểu 春曉 : HIỂU là trời rựng sáng; nên XUÂN HIỂU là SÁNG XUÂN.

    - Khách Chẩm 客枕 : CHẨM là Cái Gối để gối đầu khi ngủ. Nên KHÁCH CHẨM là Ngủ nơi đất khách.

    - Vân Như Mạc 雲如幕 : Mây phủ như màn che.

    - Vũ Tự Trần 雨似塵 : Mưa như bụi.

    - Do Ẩn Lộ 猶隱露 : Còn ẩn chứa sương sớm.

    - Dục Vi Nhân 欲圍人 : Như vây quanh lấy người.

    - Hai câu chót lấy ý trong bài Du Tử Ngâm của Mạnh Giao đời Đường là :

 

                    Thùy ngôn thốn thảo tâm,   誰言寸草心,

                    Báo đắc tam xuân huy ?     報得三春暉。

      Có nghĩa :

                       Ai bảo nỗi lòng tấc cỏ,

                       Báo đền được nắng ba xuân ?

 

* Nghĩa Bài Thơ :

                            Buổi Sáng Mùa Xuân

      Chợt nghe tiếng chim hót xa xa như ở tận nơi nào, bên gối khách vừa tỉnh dậy sau một giấc mộng dài. Ngoài song mây giăng giăng như màn che, trên bầu trời mưa lưa thưa lất phất như bụi. Những đóa hoa nở như còn đọng lại những hạt sương đêm và màu cỏ xanh mơn mởn như vây lấy con người. Người du tử ngâm câu hoa nguyệt, nhưng nào ai đã báo đáp được nàng xuân đâu !

 

* Diễn Nôm :

 

                SÁNG XUÂN

 

           

 

           Chim nơi đâu chợt hót,

           Khách bỗng tỉnh mộng dài.

           Ngoài song mây mờ phủ,

           Bên trời mưa bụi bay.

           Hoa nở sương còn đọng,

           Cỏ xanh biếc quanh ai,

           Du tử ngâm thơ thẩn,

           Ai báo được xuân nay ?

 

  Lục bát :

           Chợt nghe chim hót đâu đây,

           Khách choàng tỉnh mộng mới say giấc nồng.

           Mây che rèm phủ ngoài song,

           Phất phơ mưa bụi trên không mơ hồ.

           Lá hoa còn ngậm sương mơ,

           Biếc xanh đồng cỏ ơ hờ quanh ta.

           Ngâm câu tuyết nguyệt phong hoa,

           Nào ai báo được xuân qua bao lần ?!

                                                

                                            Đỗ Chiêu Đức

     

8. Bài thơ THU DẠ :

 

        秋夜                           THU DẠ

    碧天如水露花零,    Bích thiên như thủy lộ hoa linh,

    桐葉無聲落滿庭。    Đồng diệp vô thanh lạc mãn đình.

    望斷鵲橋人獨坐,    Vọng đoạn thước kiều nhân độc tọa,

    一般詩思到繁星。    Nhất ban thi tứ đáo phồn tinh.

                  蔡順                                      Thái Thuận

 

         

 

* Chú Thích :

    - Bích Thiên 碧天 : Chỉ màu trời xanh biếc.

    - Lộ Hoa Linh 露花零 : Những hạt sương rơi làm cho hoa héo úa.

    - Đồng Diệp 桐葉 : là Lá của cây ngô đồng.

    - Vọng Đoạn 望斷 : Nhìn đến mút con mắt.

    - Thước Kiều 鵲橋 : Cầu ô thước.

    - Phồn Tinh 繁星 : là Ngàn sao, chỉ trời đầy cả sao.

 

* Nghĩa Bài Thơ :

                                ĐÊM THU

        Đêm thu màu trời xanh biếc như nước và rây đầy khắp cả những hạt sương đêm làm héo lạnh trăm hoa. Trong sân nhà phủ đầy cả lá ngô đồng âm thầm rơi rụng. Ta ngồi một mình nhìn mút mắt chiếc cầu ô thước xa xăm mà tất cả tứ thi và hồn thơ như bay bổng cả lên chốn ngàn sao của dãy Ngân Hà trên kia. 

         

        Bài thơ nầy làm cho ta nhớ đến hai câu thơ chót trong bài THU TỪ của Lưu Vũ Tích 劉禹錫 đời Đường là :

                  晴空一鶴排雲上,    Tình không nhất hạc bài vân thượng,

                  便引詩情到碧霄.     Tiện dẫn thi tình đáo bích tiêu.

   Có nghĩa :

                       Vút trời một hạc mây xanh ngắt,

                       Bay bổng tình thơ đến bích tiêu !

* Diễn Nôm :

                      ĐÊM THU

              Trời trong như nước sương hoa héo,

              Lá rụng ngô đồng ngập kín sân.

              Mút mắt ngắm nhìn cầu ô thước,

              Hồn thơ bay bổng tận sông Ngân !

    Lục bát :

              Trời thu sương héo trăm hoa,

              Ngô đồng lá rụng là đà đầy sân.

              Một mình ngồi ngắm sông Ngân,

              Hồn thơ bay bổng chín tầng cầu Ô !

 

                                                                                    杜紹德                                   

                                                                                Đỗ Chiêu Đức

                                                NGÔ CHI LAN

                                         

                                                TỨ THỜI THI

 

          Ngô Chi Lan 吳芝蘭 (1434-?) còn có tên là Nguyễn Hạ Huệ, tự là Quỳnh Hương, tên tục là Ngô Thị Hĩm; là một nữ sĩ dưới triều vua Lê Thánh Tông trong lịch sử Việt Nam. Theo Toàn Việt thi lục là người làng Phù Lỗ (nay thuộc huyện Kim Anh, Phúc Yên), vợ ông Phù Thúc Hoành (người làng Phù Xá cũng thuộc huyện ấy, làm quan đến Đông Các Đại Học Sĩ). Bà thiên tư thông minh, có tài văn chương, được vua Lê Thánh Tông phong làm Phù Gia Nữ Học Sĩ, ban hiệu là Kim Hoa Nữ Học Sĩ, dạy các cung nữ học. Mỗi khi yến tiệc, vua thường sai làm thơ, chỉ thoắt chốc là bà làm xong ngay, không cần phải sửa chửa gì cả. Năm ngoài 40 tuổi bà mất, táng ở cánh bãi Tây Nguyên. Để tỏ lòng tiếc thương và ngưỡng mộ bà, nhân dân Phù Lỗ đã dựng đền thờ với tên đề “Kim Hoa Nữ Học Sĩ”. Ngôi đền đó hiện nay được đặt ngay trên nền nhà ở ngày xưa của gia đình bà.

 

         Ngô Chi Lan chỉ có một tập thơ duy nhất là Mai Trang Tập 梅莊集 (Tập thơ Vườn Mai). Dưới đây là những bài TỨ THỜI THI rất đặc biệt và độc đáo của bà. 

 

         * ĐẶC BIỆT vì 4 bài đều là Thất Ngôn Bát Cú, nhưng lại không phải là thơ Đường Luật.

         * ĐỘC ĐÁO vì 4 bài đều chia làm hai VẬN : 4 câu đầu gieo vần TRẮC, 4 câu sau gieo vần BẰNG.

 

         Đỗ Chiêu Đức đã tôn trọng theo ý của nữ sĩ, nên trừ bài diễn Nôm bằng Lục bát ra; Tất cả đều được Diễn Nôm 4 câu đầu gieo vần TRẮC; và 4 câu sau gieo vần BẰNG.

 

         Kính mời qúy Thầy Cô và Thân Hữu tùy nghi mà thưởng thức và Diễn Nôm cho vui !

 

                                                                                             Nay kính,

                                                                                              杜紹德 

                                                                                         Đỗ Chiêu Đức

                   ....................................................................................

 

1. Tứ Thời Thi : XUÂN TỪ.

 

    春詞                             XUÂN TỪ

 

初晴薰人天似醉,    Sơ tình huân nhân thiên tự túy,

艷陽樓臺浮暖氣。    Diễm dương lâu đài phù noãn khí.

隔簾柳絮度鶯梭,    Cách liêm liễu nhứ độ oanh thoa,

繞檻花鬚穿蝶翅。    Nhiễu hạm hoa tu xuyên điệp xí.

階前紅線日添長,    Giai tiền hồng tuyến nhựt thiêm trường.

粉汗微微沁綠裳。    Phấn hạn vi vi tẩm lục thường.

小子不知春思苦,    Tiểu tử bất tri xuân tứ khổ,

傾身含笑過牙牀。    Khuynh thân hàm tiếu quá nha sàng.

 

        

 

* Chú Thích :

   - Sơ Tình 初晴 : là nắng mới, chỉ nắng của mùa xuân sau ba tháng mùa đông lạnh lẽo.

   - Huân Nhân 薰人 : là Hanh người, là Làm cho con người cảm thấy ấm áp.

   - Diễm Dương 艷陽 : là Ánh nắng đẹp, trời nắng rất đẹp đẽ.

   - Oanh Thoa 鶯梭 : Các con chim oanh len lỏi trong cành liễu như con thoi.

   - Nhiễu Hạm 繞檻 : là Lòng vòng ở dưới mái hiên.

   - Giai Tiền 階前 : là Trước thềm.

   - Phấn Hạn 粉汗...câu 6 : Mồ hôi rịn ra phấn dồi thấm nhè nhẹ vào tà áo xanh.

  

* Nghĩa Bài Thơ :

                                     Thơ  Mùa Xuân

        

      - Nắng mới ấm áp hanh người làm cho trời cũng tựa như đang say,

      - Lâu đài chìm trong nắng đẹp cũng chan hòa vẽ ấm áp.

      - Trên cành tơ liễu cách rèm bên ngoài chim oanh len lỏi trong các cành liễu tựa con thoi.

      - Bay vòng dưới mái hiên con bướm bị các tua hoa xuyên qua cánh.

      - Những vệt nắng như những sợi chỉ hồng trước thềm làm cho ngày như dài thêm ra.

      - Mồ hôi rịn ra phấn dồi thấm nhè nhẹ vào tà áo xanh.

      - Chàng tuổi trẻ kia không biết được sự nhớ nhung trong mùa xuân là khổ tâm như thế nào (mùa xuân là mùa đoàn tụ mà phải xa nhau nhớ nhau), nên mới...

      - Nghiêng mình cười mĩm mà đi qua giường ngà (như chẳng có việc gì xảy ra !).

 

         Nằm trên giường ngà để nhớ người tình xa trong mùa xuân ấm áp tràn đầy nhựa sống thì còn gì khổ tâm và ray rức hơn nữa.  Tâm sự và nỗi lòng nầy làm cho ta nhớ đến nàng thiếu phụ có chồng là quan to, nên mỗi buổi sáng mùa xuân, lúc đôi lứa đang mặn nồng và ấp yêu nhất, thì lại  phải dậy sớm để đi chầu vua, bỏ mặc gối chăn thơm phức và nàng vợ trẻ. Bài thơ "Vị Hữu" của Lý Thương Ẩn như sau :

 

               Vị hữu vân bình vô hạn kiều,             爲有雲屏無限嬌,

               Phụng thành hàn tận phạ xuân tiêu.   鳳城寒盡怕春宵.

               Vô đoan giá đắc kim qui tế,               無端嫁得金亀婿,

               Cô phụ hương khâm sự tảo triều .      辜負香衾事早朝 .

 

Có nghĩa :

                   Vì có bình phong đẹp lắm mầu

                   Kinh thành hết  lạnh, sợ canh thâu

                   Khéo xui lấy được ngài quan lớn

                   Phụ bạc gối chăn, sớm phải chầu  !

   Lục Bát :

                   Bình phong đẹp đẽ yêu kiều

                   Phụng thành đông hết, xuân tiêu đêm dài

                   Vô duyên lấy phải quan ngài

                   Gối chăn bỏ hết mặc ai,… đi chầu !

 

                   

 

* Diễn Nôm :

                               THƠ XUÂN

 

                  Nắng mới hanh người trời túy lúy,

                  Lâu đài nắng đẹp ấm xuân khí.

                  Ngoài rèm tơ liễu rộn oanh ca,

                  Bướm lượn vờn hoa tua rách xí.

                  Vệt nắng trước thềm ngày chẳng nhanh,

                  Mồ hôi hòa phấn thấm bào xanh.

                  Trẻ con nào biết xuân nhung nhớ,

                  Cười mĩm nghiêng mình lại dạo quanh !

    Lục bát :

                  Hanh người nắng mới trời say,

               Nắng lên ấm đẹp lâu đài thêm xuân.

                  Ngoài rèm oanh hót liễu xanh,

             Xuyên hoa cánh bướm lượn quanh hiên nhà.

                  Trước thềm vệt nắng dài ra,

              Mồ hôi rịn phấn thấm tà áo xanh.

                  Trẻ trung nào biết xuân tình,

           Thản nhiên cười mĩm nghiêng mình lướt qua !

                                                    

 

2. Tứ Thời Thi : HẠ TỪ.

 

      夏詞                               HẠ TỪ 

 

風吹柳花紅片片,    Phong xuy liễu hoa hồng phiến phiến,

佳人閒打鞦韆院。    Giai nhân nhàn đả thu thiên viện.

傷春背立一黄鶯,    Thương xuân bối lập nhất hoàng oanh,

惜景哀啼雙紫燕。    Tích cảnh ai đề song tử yến.

停針無語翠眉低,    Đình châm vô ngữ thúy mi đê,

倦倚紗窗夢欲迷。    Quyện ỷ sa song mộng dục mê.

却怪捲簾人喚起,    Khước quái quyển liêm nhân hoán khởi,

香魂終不到遼西。    Hương hồn chung bất đáo Liêu Tê (Tây).

  

     
        

* Chú Thích :

    - Thu Thiên 鞦韆 : là Cái Đu; nên ĐẢ THU THIÊN 打鞦韆 là Đánh Đu. 

    - Thương Xuân 傷春 : là Đau xót vì mùa xuân đã đi qua.

    - Bối Lập 背立 : là Đứng xây lưng lại.

    - Tích Cảnh 惜景 : là Tiếc cảnh xuân đà hết.

    - Ai Đề 哀啼 : là Tiếng chim hót bi ai, buồn thảm. Nếu từ nầy dùng cho người thì có nghĩa là "Khóc lóc một cách thảm thiết".  

    - Quyện Ỷ 倦倚 : Mõi mệt mà vựa vào... SA SONG 紗窗 : là Cửa sổ có màn che.  

    - Khước Quái 却怪 : Lại trách rằng...QUÁI là Động từ có nghĩa : Trách móc. 

    - Hương hồn 香魂 : là cái Hồn thơm, chỉ Hồn của phái nữ. Của phái nữ thì CÁI GÌ cũng thơm cả, kể cả hồn phách. (Mời đọc bài Tạp ghi và Phiếm luận : "HƯƠNG trong Truyện Kiều" sẽ rõ.) 

    - Liêu Tây 遼西 : Tên một quận xưa nằm ở phía tây của Liêu Hà thuộc tỉnh Liêu Ninh hiện nay, nhưng lại là vùng biên tái ngày xưa. 

 

* Nghĩa Bài Thơ :

                                         THƠ  MÙA HÈ

       Gió thổi hoa liễu từng mảnh từng mảnh đo đỏ bay bay. Người đẹp rảnh rỗi nên chơi đánh đu ở trong sân nhà. Vì thương xót cho mùa xuân đã đi qua nên một con oanh còn kêu trên cành liễu và hai con én tía còn tiếc cảnh xuân mà cất tiếng líu lo buồn bã. Nàng ngừng mũi kim thêu đôi mày biếc cúi thấp xuống, mõi mệt vựa vào màn nhiễu của song cửa chập chờn trong giấc mộng. Chỉ trách ai đó đã đến cuốn rèm làm cho nàng giật mình tỉnh giấc, nên mộng hồn rốt cuộc vẫn không thể đến được xứ Liêu Tây nữa rồi.

 

       Đọc bài thơ nầy làm cho ta nhớ đến bài kệ của Thiền sư Thích Trung Nhân đời Tống 宋.释中仁 là :

 

                 二八佳人刺繡遲,   Nhi bát giai nhân thích tú trì,

                 紫荊花下囀黃鸝。   Tử kinh hoa hạ chuyển hoàng li.

                 可憐無限傷春意,   Khả lân vô hạn thương xuân ý,

                 盡在停針不語時。   Tận tại đình châm bất ngữ thì !

Có nghĩa :

                Thêu thùa lơ đễnh giai nhân,

                Dưới cành hoa tím chim oanh hót chào.

                Thương thay xuân sắc dạt dào,

                Ngừng kim lặng lẽ biết bao ý tình !

 

       Hai câu chót của bài thơ lại làm cho ta nhớ đến bài "Y Châu Ca 伊州歌" của Kim Xương Tự 金昌绪(Có bản cho là Xuân Oán 春怨 của Cáp Gia Vận 亦作蓋嘉運)đời Đường :

 

                打起黃鶯兒,   Đả khởi hoàng oanh nhi,

                莫教枝上啼。   Mạc giao chi thượng đề.

                啼時驚妾夢,   Đề thời kinh thiếp mộng,

                不得到遼西。   Bất đắc đáo Liêu Tê (Tây).           

 Có nghĩa :

                Đuổi đi con chim hoàng oanh,

                Đừng để trên cành cất tiếng hót vang.

                Giật mình thiếp tỉnh mộng vàng,

                Liêu Tây khó đến thăm chàng đêm nay !

 

               

 

      Ngồi ở cảnh mùa hè, mà lại cứ nhớ tiếc cảnh mùa xuân. Bài thơ có tựa là HẠ TỪ (Thơ mùa Hạ) nhưng đúng ra là một bài thơ THƯƠNG XUÂN (Thương cảm cho mùa Xuân) thì đúng hơn.

 

*Diễn Nôm :

                                    HẠ TỪ

    

                   Lấm chấm liễu hồng bay phất phới,

                   Người đẹp đánh đu lòng phơi phới.

                   Thương cảm oanh vàng một tiếng kêu,

                   Đôi chim én liệng buồn hè tới.

                   Dừng kim nín lặng nhíu mày xanh,

                   Tựa màn song cửa mộng hồn quanh.

                   Trách kẻ kéo rèm làm tỉnh giấc,

                   Liêu Tây chẳng thể đến cùng anh.

    Lục bát :

                   Liễu hồng bay rụng phất phơ,

                Đánh đu người đẹp vẩn vơ vườn nhà. 

                   Thương xuân một chú oanh già,

                 Một đôi chim én la đà tiếc xuân.

                   Dừng kim nín lặng tần ngần,

               Tựa song hồn mông lâng lâng cỏi nào.

                   Trách ai kéo tỉnh giấc đào,

              Liêu Tây rốt cũng không sao gặp chàng !   

                                            

            

3. Tứ Thời Thi : THU TỪ.

            

    秋詞                               THU TỪ

 

清商浮空澄霽景,   Thanh thương phù không trừng tể cảnh,

霜信遙將孤雁影。   Sương tín diêu tương cô nhạn ảnh.

十丈蓮殘玉井香,   Thập trượng liên tàn ngọc tỉnh hương,

三更楓落吳江冷。   Tam canh phong lạc Ngô giang lãnh.

飛螢夜度碧闌干,   Phi huỳnh dạ độ bích lan can,

衣薄難禁剪剪寒。   Y bạc nan câm tiễn tiễn hàn.

聲斷洞簫凝立久,   Thanh đoạn động tiêu ngưng lập cữu,

瑤臺何處覓驂鸞 ?   Dao đài hà xứ mịch tham loan ?

 

         

* Chú Thích :

    - Thanh Thương 清商 : THANH là Trong, THƯƠNG là Một trong Ngũ Âm : Cung, Thương, Giốc, Trủy, vũ. THƯƠNG có giọng thê lương bi thiết, nên gọi là Thanh Thương. Ở trong bài mượn để chỉ tiếng gió thu hiu hắt. 

    - Trừng Tể 澄霽 : TRỪNG là trong vắt. TỂ là Trời vừa tạnh mưa. Nên TRỪNG TỄ là Trời quang mây tạnh.

    - Sương Tín 霜信 : là Tin Sương. Mỗi năm cứ gần đến tiết Sương giáng thì có chim nhạn bay đến trước để báo tin, nên thấy nhạn bay đến là biết sắp có sương rơi. Lâu dần, Tin Sương chỉ còn có nghĩa chỉ "Tin Tức" mà thôi. Như trong Truyện Kiều tả cô Kiều nhớ nhà lúc ở lầu Ngưng Bích :"Tin Sương luống những rày trông mai chờ".

    - Cô Nhạn 孤雁 : là Con nhạn cô độc.

    - Ngọc Tỉnh 玉井 : là Giếng Ngọc. Theo truyền thuyết, trên núi Thái Hoa có giếng ngọc, trong giếng có bạch liên ngàn cánh. Người nào ăn được hoa sen trắng ngàn cánh nầy có thể lên tiên. Trong bài thơ CỔ Ý của Hàn Dũ đời Đường có câu :"Thái Hoa phong đầu ngọc tỉnh liên, Hoa khai thập trượng ngẫu như thuyền 太华峰头玉井莲,花开十丈藕如船", vì thế NGỌC TỈNH còn gọi là BẠCH LIÊN TRÌ 白莲池 là "Giếng hoa sen trắng".

    - Phi Huỳnh 飛螢 : là Những con đom đóm lặp lòe đêm thu.

    - Nan Câm 難禁 : Khó mà cấm, Khó tránh khỏi, Không ngăn được...

    - Tiễn Tiễn Hàn 剪剪寒 : Từng trận từng trận gió lạnh.

    - Ngưng Lập 凝立 : là Ngưng đọng lại. Đứng một chỗ.

    - Dao Đài 瑤臺 : là Lầu cao được dát ngọc, thường dùng để chỉ chỗ tiên ở.

    - Tham Loan 驂鸞 : THAM là Xe ba ngựa kéo. LOAN là Chim Loan. THAM LOAN có nghĩa Cởi Chim Loan lên tiên dạo chơi.

 

* Nghĩa Bài Thơ :

                            THƠ MÙA THU

        Tiếng gió thu se sắt như cung thương rít trong cảnh từng không trong vắt khi trời quang mây tạnh. Nhìn bóng nhạn cô đơn mà mong ngóng tin sương. Hoa sen trắng đã tàn nhưng củ sen mười trượng trong giếng ngọc vẫn tỏa hương. Canh điểm ba nửa đêm lá cây phong rụng xuống làm cho nước sông Ngô chợt lạnh thêm. Những con đom đóm ban đêm bay vào lan can bằng đá xanh biếc. Áo mỏng nên không ngăn nổi từng trận từng trận gió lạnh. Tiếng tiêu ngọc đà chấm dứt hèn lâu mà người vẫn còn tần ngần đứng đó. Biết chim tham loan ở đâu mà tìm để cởi về Dao Đài cho đây ?

                   

                    

* Diễn Nôm :

                        THU TỪ

               Gió thu se sắt tầng xanh ngắt,

               Cánh nhạn tin sương trời trong vắt.

               Mười trượng sen tàn giếng tỏa hương,

               Ba canh phong rụng sông lạnh ngắt.

               Đêm về đom đóm lượn lan can,

               Gió thổi áo the rét ngập tràn.

               Lặng ngắt tiêu thiều thanh đứt đoạn,

               Dao đài tìm chốn cởi tham loan.

   Lục bát :

               Gío thu hiu hắt trời quang,

               Tin sương cô nhạn vút ngang lưng trời.

               Sen tàn hương tỏa nơi nơi,

               Ngô giang phong rụng nước trôi lạnh lùng.

               Lan can đóm lượn đêm nhung,

               Áo the từng trận lạnh cùng gió thu.

               Tiêu thiều lặng ngắt từ lâu,

               Dao Đài muốn đến phải cầu tham loan.

                                       

 

4. Tứ Thời Thi : ĐÔNG TỪ.

 

    冬詞                             ĐÔNG TỪ

 

寶爐撥火銀瓶小,    Bảo lô bát hỏa ngân bình tiểu,

一杯羅浮破清曉。    Nhất bôi La Phù phá thanh hiểu.

雪將冷意透疎簾,    Tuyết tương lãnh ý thấu sơ liêm,

風遞輕冰落寒沼。    Phong đệ khinh băng lạc hàn chiểu.

美人金帳掩流蘇,    Mỹ nhân kim trướng yễm lưu tô,

紙護雲窗片片糊。    Chỉ hộ vân song phiến phiến hồ.

暗裏挽回春世界,    Ám lý vãn hồi xuân thế giới,

一株芳信小山孤.      Nhất chu phương tín tiểu sơn cô.

 

        

 

* Chú Thích :

    - Bảo Lô Bát Hỏa 寶爐撥火 : là Bươi lửa (than) trong cáo lò nhỏ (qúy).

    - Nhất Bôi La Phù 一杯羅浮 : Một ly rượu La Phù.

    - Thanh Hiểu 清曉 : Buổi sáng trong lành.

    - Sơ Liêm 疎簾 : là Bức rèm thưa.

    - Hàn Chiểu 寒沼 : Đầm (ao) nước lạnh.

    - Kim Trướng 金帳 : là Cái mùng bằng chỉ kim tuyến.

    - Lưu Tô 流蘇 : Cái viền mùng có tua đẹp.

    - Ám lý 暗裏 : Trong âm thầm. Trong lặng lẽ.

    - Nhất Chu Phương Tín 一株芳信 : là do câu thơ của Tô Đông Pha đời Tống :" Niên niên phương tín phụ hồng mai 年年芳信负红梅". Có nghĩa : Mỗi năm cái cây mang lại tin thơm là đều vựa vào hồng mai cả. Ý chỉ mỗi năm báo tin thơm ( tin của mùa xuân sắp đến) đều là nhờ vào hồng mai cả ! Còn dân miền Nam Việt Nam ta thì chỉ biết có mai vàng báo tin xuân mà thôi, cũng như dân Miền Bắc, hễ cứ "Mỗi năm hoa đào nở" là biết xuân về Tết đến ngay !

 

* Nghĩa Bài Thơ :

                                Thơ Mùa Đông

        Khều lửa trong cái lò qúy để cho cái bình bằng bạc nho nhỏ ở trên, hâm lên một chung rượu La Phù để phá tan cái lạnh của một buổi sớm mai trong lành. Tuyết đem cái ý lạnh thấm qua bức màn thưa bên song của và gió lạnh đã đưa những làn băng mỏng rơi trên mặt ao lạnh. Cái màn bằng kim tuyến của người đẹp có tua viền đẹp đẽ phủ quanh. Trong khi bên cửa sổ chỉ che đậy bằng những mảnh giấy ván bằng hồ. Trong âm thầm cái thế giới của mùa xuân đang được vãn hồi, khi tin thơm của cây hồng mai đang trổ bông trên ngọn núi cô đơn nho nhỏ.

 

        
  

* Diễn Nôm :

                          ĐÔNG TỪ

 

               Bình bạc than hồng bên lò nhỏ,

               La Phù một chén trời sáng tỏ.

               Tuyết đem hơi lạnh thấm rèm thưa,

               Gió bấc đưa băng ao đóng bó.

               Người đẹp màn vàng phủ nhiễu tô,

               Bên song cản gió giấy thoa hồ.

               Âm thầm thế giới xuân hồi phục,

               Một cội mai hồng nở núi cô.

   Lục bát :

               Lò hồng bình bạc lửa reo,

            La phù một chén sáng theo nhau về.

               Tuyết rơi lạnh thấm màn the,

            Gió đưa băng mỏng phủ che mặt hồ.

               Trướng vàng người đẹp nhiễu tô,

             Giấy hoa chắn gió song hồ căm căm.

               Hồi xuân thế giới âm thầm,

            Một cành mai đỏ trổ bông báo điềm !

 

       Trên đây là TỨ THỜI THI đủ bốn mùa XUÂN HẠ THU ĐÔNG của nữ sĩ Ngô Chi Lan, một nữ tài danh thi nhân Việt nam dưới thời Hậu Lê, Trịnh Nguyễn.

       Xin được giới thiệu cùng tất cả các Thầy Cô, Các Thân Hữu trong Vườn Thơ Thẩn cùng tất cả các em học sinh thần mến; nếu có cảm hứng , xin cùng dịch cho vui !

 

                                                                                        Nay kính,

                                                                                     Đỗ Chiêu Đức

                                                                                          杜紹德

                                                                                       04-30-2020 

THƠ PHAN THANH GIẢN

                                                             Biên khảo Đỗ Chiêu Đức

 PHAN THANH GIẢN 潘清僩 (1796-1867) là danh sĩ, đại thần triều Nguyễn, tự Tĩnh Bá, Đạm Như, hiệu là Lương Khê 梁溪 và Ước Phu, biệt hiệu Mai Xuyên. Quê làng Bảo Thạnh, huyện Bảo An, tỉnh Vĩnh Long, nay là xã Bảo Thạnh, huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre. Phan Thanh Giản đậu cử nhân năm 1825, năm 1826 đậu tiến sĩ, ông là  vị Tiên Sĩ đầu tiên của đất Nam Kỳ. Năm 1862, ông cùng với Lâm Duy Hiệp đại diện cho triều đình Tự Đức ký Hoà ước năm Nhâm Tuất (05-06-1862) giao 3 tỉnh miền Đông Nam Kỳ cho Pháp. Năm 1863, ông được cử làm Chánh sứ (Phó sứ là Phạm Phú Thứ và Nguỵ Khắc Đản) sang Pháp thương nghị chuộc 3 tỉnh miền Đông Nam Kỳ. Năm 1867, quân Pháp đánh chiếm ba tỉnh miền Tây Nam Kỳ trong lúc ông đang nhậm chức Kinh Lược Sứ. Thấy tình thế không chống cự nổi, ông nộp thành Vĩnh Long cho Pháp, rồi nhịn ăn 17 ngày, kế đó uống thuốc độc tự tử vào ngày 4-8-1867, thọ 71 tuổi.
     Phan Thanh Giản sáng tác khá nhiều. Hầu hết các sáng tác của ông được tập hợp lại trong hai bộ sách Lương Khê Thi Thảo (in 1876) có 103 bài. Xin được giới thiệu một số bài dưới đây.

1. Bài thơ CỔ MAI LÂM CƯ 古梅林居 :


       Đây là một trong 20 bài vịnh cảnh Mai Lâm, nơi cha ông Phan Thanh Giản lớn lên và quay về sống phần đời còn lại.

      古梅林居                 CỔ MAI LÂM CƯ

 寒香依約合成墟,     Hàn hương y ước hợp thành khư,
   沙磧依然太古餘.     Sa tích y nhiên thái cổ dư.
   定識春花秋葉外,     Định thức xuân hoa thu diệp ngoại,
   菊溪桃徑又何如?     Cúc khê đào kính hựu hà như ?

  * Chú Thích :
      - Y Ước 依約 : là Chập chờn, thoang thoảng, khi có khi không.
      - Khư 墟 : là Gò đất lớn.
      - Sa Tích 沙磧 : Những cồn cát tụ lại.
      - Y Nhiên 依然 : là Vẫn cứ thế, vẫn như cũ.
      - Xuân Hoa Thu Diệp 春花秋葉 : là Hoa của mùa xuân và lá của mùa thu.
      - Cúc Khê Đào Kính 菊溪桃徑 : là Hoa cúc nở theo dòng khe nước và hoa đào nở dọc theo lối mòn.

  * Nghĩa Bài Thơ :
                         MAI LÂM Nơi Ở Cũ
        Hơi lạnh đưa hương thoang thoảng kết thành trên gò đất lớn. Những cồn cát từ ngàn xưa vẫn cứ trơ gan như cũ. Biết chắc là hoa nở vào mùa xuân và lá rụng lúc thu sang, còn những hoa cúc nở bên dòng khe nước và hoa đào nở dọc theo lối mòn thì hiện giờ ra sao ?!

  * Diễn Nôm :
                       MAI LÂM NƠI CŨ

               

               Hương thơm thoang thoảng chốn gò cao,
               Cồn cát y nhiên tự thuở nào.
               Vẫn biết hoa xuân thu lá rụng,
               Lối đào đường cúc đã ra sao ?!
     Lục bát :
               Gò cao hương lạnh chập chờn;
               Im lìm cồn cát chờn vờn xưa nay.
               Xuân hoa thu lá rụng bay,
               Đường đào lối cúc giờ rày ra sao ?!
                                             

2. Bài thơ HOÀNH KIỀU 橫橋 :


       Cảnh cầu tre lắt lẻo bắt ngang sông rạch ở Nam Bộ được cụ Phan Thanh Giản miêu tả lại như sau :

         橫橋                        HOÀNH KIỀU

    野人村塢隔林溪,    Dã nhân thôn ổ cách lâm khê,
    野徑沙頭略彴低。    Dã kính sa đầu lược chước đê.
    幽鳥一聲林際起,    U điểu nhất thanh lâm tế khởi,
    行人已渡夕陽西。    Hành nhân dĩ độ tịch dương tê (tây).

* Chú Thích :
      - Hoành Kiều 橫橋 : Cầu bắt ngang qua sông ngòi kênh rạch.
      - Thôn Ổ 村塢 : Xóm nhà ở trên cao xung quanh bao bọc bởi sông nước.
      - Chước 彴 : Cầu độc mộc, cầu khỉ.
      - U Điểu 幽鳥 : Những con chim trong rừng thâm u vắng lặng.
      - Độ 渡 : là Đi ngang qua sông ngòi kênh rạch, thường thì đi bằng đò, còn trong bài là đi ngang qua cầu.
      - Tê 西 : là chữ Tây, đọc trại đi cho ăn vận. TỊCH DƯƠNG TÊ 夕陽西 là Nắng chiều ở phía trời tây.

  * Nghĩa Bài Thơ :
                             CẨU NGANG

         Người sống nơi thôn dã với sông ngòi rừng hoang bao quanh, con đường quê đưa đến bến cát đầu sông làm cho chiếc cầu khỉ như thấp hẵn xuống. Một tiếng chim chiều kêu làm dậy cả rừng vắng thâm u, trong khi người bộ hành cũng đã đi ngang qua sông trong nắng chiều nghiêng chiếu phía trời tây.
         Qủa là cảnh thôn quê nên thơ vắng lặng dưới ánh nắng chiều chiếu nghiêng chiếc cầu khỉ bắt qua sông với người bộ hành đang vội vả quay về nhà trước khi trời sụp tối.

  * Diễn Nôm :
                             CẦU NGANG

                  

                 Thôn dã sông ngòi bủa tứ giăng,
                 Đường quê cầu khỉ bắt ngang sông.
                 Chim kêu rừng vắng người ngơ ngẩn,
                 Nắng chiếu trời chiều vội bước chân.
     Lục bát :
                 Sông ngòi rừng lẫn làng quê,
                 Đường mòn cầu khỉ nhiêu khê ngại ngùng.
                 Chim kêu rừng vắng mông lung,
                 Nắng chiều nghiêng chiếu qua sông bộ hành.



3. Bài thơ THUẬN PHAN :


      Bình Thuận Phan Rang với những bãi cát trắng, đất đỏ, con sông ở Bình Thuận xuất hiện trong thơ Phan Thanh Giản và trong đó thoáng hiện đời sống của ngư dân, nông dân, kẻ bán rau người bán cá tấp nập nhộn nhịp bên bến sông. 

  歷盡沙崖與水隈,    Lịch tận sa nhai dữ thủy ôi,
    此間風物洞然開.    Thử gian phong vật đỗng nhiên khai.
    閭閻撲地成居聚,    Lư diêm phác địa thành cư tụ,
    舸艦迷津任溯洄.    Kha hạm mê tân nhậm tố hồi.
    賣菜兒童青洞出,    Mại thái nhi đồng thanh động xuất,
    沽魚婦女綠濱囬.    Cô ngư phụ nữ lục tân hồi.

* Chú Thích :
    - Lịch Tận 歷盡 : là Trải qua hết, là Xuyên suốt, là Vượt qua hết.
    - Sa Nhai 沙崖 : là Vách núi cát (ven sông).
    - Thủy Ôi 水隈 : là Những khúc quanh trên dòng sông.
    - Đỗng Nhiên 洞然 :là Một cách rõ rệt.
    - Lư Diêm Phác Địa 閭閻撲地 : là Nhà cửa ở chen chút đầy cả mặt đất.
    - Kha Hạm Mê Tân 舸艦迷津 : là Thuyền bè chen chút đậu chật cả bến sông.
    - Mại Thái 賣菜 : là Bán cải bán rau.
    - Cô Ngư 沽魚 : là Mua cá mua tôm.

* Nghĩa Bài Thơ :
                               THUẬN  PHAN
     Lướt qua hết các vách núi cát và các khúc quanh của dòng sông, thì phong cảnh trước mắt hiện ra một cách rõ rệt ở nơi nầy. Nhà cửa chen chút nhau đầy cả mặt đất tạo thành một quần cư ở nơi đây, dưới bến thì thuyền bè chen chút nhau đậu chật cả bến sông mặc tình xuôi ngược. Những đứa bé bán rau cải đi ra từ các hang động xanh, và các chị bạn hàng mua bán cá trở về từ bến nước xanh lơ.

     Hai thành ngữ "Lư Diêm Phác Địa 閭閻撲地" và "Kha Hạm Mê Tân 舸艦迷津" có xuất xứ từ bài "Đằng Vương Các Tự 滕王閣" của Vương Bột, một trong Tứ Kiệt của buổi sơ Đường. Nguyên văn như sau :

        閭閻撲地,鐘鳴鼎食之家;Lư diêm phác địa, chung minh đĩnh thực chi gia;
        舸艦彌津,青雀黃龍之舳。Kha hạm mê tân, thanh tước hoàng long chi trục.
Có nghĩa :
              Nhà xây chật đất, đều là hàng quyền qúy cao sang;
              Thuyền đậu đầy sông, toàn được vẽ rồng vàng thanh tước.
               (Thanh Tước : Tước là Khổng tước, con công màu xanh).

      Đó là hai câu tả cảnh trí và địa thế của Đằng Vương Các ở Nam Xương ( thuộc tỉnh Giang Tây) đời Đường, được cụ Phan mượn dùng để tả lại cảnh trí bến sông của Bình Thuận Phan Rang lúc bấy giờ đã rất phát triển và sầm uất.

* Diễn Nôm :
                         THUẬN PHAN

                

               Xuyên suốt vượt khúc sông vách đá,
               Cảnh nơi đây tất cả hiện ra.
               Ven sông chen chút những nhà,
               Bến sông tấp nập thuyền qua theo dòng.
               Bán rau cải, đồng xanh lũ trẻ,
               Bạn hàng mua tôm cá bờ xanh,
               Phồn vinh cảnh đẹp dường tranh !
    Lục bát :
               Vượt qua vách đá quanh sông,
               Bỗng như sáng rực cánh đồng mở ra.
               Bờ sông chen chút là nhà,
               Ghe thuyền chật bến lại qua theo dòng.
               Trên bờ bán cải nhi đồng,
               Dưới sông tôm cá mặc lòng bán buôn !


4. Bài thơ GIAO HÀNH (2) 郊行 (2) :


       Cảnh đồng bằng bao la của Bắc bộ, lau sậy chen chúc với vườn dâu tằm. Cảnh nông dân thu hoạch vụ lúa mạch. Cảnh hàng tre xanh lả ngọn ở góc làng, chén nước chè trong quán chè quê toả ngát hương... đều được cụ Phan Thanh Giản miêu tả lại tỉ mỉ trong bài thơ sau đây :

           郊行 (2)                   GIAO HÀNH (2)

       渺渺平蕪一望茫,     Diểu diểu bình vu nhất vọng mang,
       茅柴雜遝對麻桑.     Mao sài tạp đạp đối ma tang.
       田家幾處收新麥,     Điền gia kỷ xứ thu tân mạch.
       邨落數緣長嫩篁.     Thôn lạc sổ duyên trưởng nộn hoàng.
       熱茗店蒸溪水净,     Nhiệt mính điếm chưng khê thủy tịnh,
       逺途客苦夏炎長.     Viễn đồ khách khổ hạ viêm tràng.

* Chú Thích :
    - Giao Hành 郊行 : GIAO là Giao Ngoại 郊外, là vùng ngoại ô; nên Giao Hành là đi dạo ở vùng ngoại ô đồng nội. Hoặc "Đi Ngang Vùng Ngoại Ô" của nơi nào đó.
    - Bình Vu 平蕪 : là Cánh đồng trống. 
    - Mao Sài 茅柴 : MAO là loại cỏ dài lá sắc lỏi cứng có thể phơi khô để lợp nhà, ta gọi là MAO ỐC 茅屋 là Nhà lá, nhà cỏ. SÀI là Những loại cây tạp có thể dùng làm củi, như lau sậy; Nên MAO SÀI nói chung là Cây cỏ hoang. 
    - Ma Tang 麻桑 : hay Tang Ma cũng thế. MA là cây đay (Miền Nam gọi là cây Bố) dùng để kéo sợi. TANG là cây Dâu tằm ăn, dùng để nuôi tằm lấy tơ. 
    - Tân Mạch 新麥 : MẠCH là Lúa Mì, nên TÂN MẠCH là Lúa mì mới chín.
    - Nộn Hoàng 嫩篁 : NỘN là còn non, HOÀNG là Cây tre, nên NỘN HOÀNG là Măng tre mới mọc còn non.
    - Mính 茗 : còn đọc là MINH : là Trà, nên NHIỆT MÍNH là Trà nóng.

* Nghĩa Bài Thơ :
                         ĐI DẠO VÙNG NGOẠI Ô (2)

       Cánh đồng trống mênh mông nhìn mút mắt, cỏ cây tạp nhạp mọc đối diện với ruộng dâu, ruộng đay. Có mấy chỗ nhà nông đang thu hoạch lúa mạch mới, mấy con đường trong xóm đưa tới lũy tre làng đang lúc trổ măng non. Quán trà nóng bên đường được nấu bằng nước trong trong khe chảy ra, người khách đường xa đang khổ vì cái nóng của mùa hè đang kéo dài ra. 

* Diễn Nôm :
                             GIAO HÀNH (2)

                    

                     Đồng hoang cỏ mọc ngút chân mây,
                     Lau sậy dâu tằm lẫn ruộng đay.
                     Lúa mạch mấy nơi thu hoạch sớm,
                     Măng non đầu xóm lũy tre gai.
                     Hàng chè khói tỏa trong khe nước,
                     Lữ khách than thân hạ nóng dài.
    Lục bát :
                     Mênh mông đồng cỏ mịt mờ,
                     Sậy lau tạp nhạp ngang bờ dâu đay.
                     Lúa mì thu hoạch đầu tay,
                     Bụi tre làng xóm đã nhoài măng non.
                     Vệ đường quán nước chè thơm,
                     Hạ nung lữ khách dặm trường than thân.


        (Hai bài thơ THUẬN PHAN và GIAO HÀNH (2) trích theo tài liệu trên mạng :  "Phan Thanh Giản với những đóng góp vào văn học Hán Nôm Nam Bộ" của tác giả LÊ QUANG TRƯỜNG - HÁN NÔM - 26 THÁNG 7 2017. Hình như mỗi bài đều thiếu mất 2 câu kết cuối.)

 

5. Bài thơ GIAO HÀNH (3) 郊行 (3):

         Bài 3 trong chùm thơ Giao Hành tả lại cảnh mưa chiều tắt nắng với những đứa trẻ chăn trâu đang lùa trâu về băng qua những vũng nước, những người đi đò chiều tranh nhau qua đò, khói mây bay trong gió và tiếng lách tách trong bụi tre, tiếng quạ kêu rộn rã lúc chiều tàn :

 

      郊行 (3)                   GIAO HÀNH (3)

 

    牧童驅犢晚還莊,     Mục đồng khu độc vãn hoàn trang,

    迅歩行過水上塘.     Tấn bộ hành qua thủy thượng đường.

    叢笋雨來喧鎧甲,     Tùng duẫn vũ lai huyên khải giáp,

    湖菱波細露鋒鋩.     Hồ lăng ba tế lộ phong mang.

    數團煙逐溪風去,     Sổ đoàn yên trục khê phong khứ,

    一簇人争野渡忙.     Nhất thốc nhân tranh dã độ mang.

    惆悵鄕關何處是?     Trù trướng hương quan hà xứ thị ?

    寒鴉枯樹閙斜陽!     Hàn nha khô thọ náo tà dương !

 

      

 

 * Chú Thích :

     - Khu Độc 驅犢 : KHU 驅 có bộ MÃ là Ngựa bên trái, vốn có nghĩa là LÙA NGỰA; sau dùng chung để chỉ "Luà những con vật có bốn chân". ĐỘC 犢 là Con Nghé, chỉ chung các con trâu mới lớn. Nên KHU ĐỘC là Lùa trâu.

     - Tấn Bộ 迅歩 : TẤN là Nhanh nhẹn; BỘ là Bước đi. Nên TẤN BỘ là bước nhanh, chỉ Đi một cách vội vã.

     - Tùng Duẫn 叢笋 : TÙNG là Khóm, là Bụi. DUẪN là Măng non. nên Tùng Duẫn là Bụi tre non.

     - Khải Giáp 鎧甲 : là Áo giáp có dát bạc dát đồng cho cứng. Trong bài thơ cụ Phan Thanh Giản mượn để diễn tả tiếng các cây tre cọ xát vào nhau nghe kẽo kẹt giống như là tiếng áo giáp va chạm nhau vậy.

     - Phong Mang 鋒鋩 : PHONG là cái Chóp, cái Đĩnh, Cái Mũi. MANG là Bén, Nhọn, lắp lánh. Nên Phong Mang là cái mũi nhọn; trong bài thơ chỉ những búp hoa ấu còn chưa kịp nở.

     - Sổ Đoàn Yên 數團煙 : là Mấy đám khói (sóng).

     - Nhất Thốc Nhân 一簇人 : là Một đám người, một toán người.

     - Trù Trướng 惆悵 : là Bồi hồi, Ngơ ngẩn.

     - Náo 閙 : là Náo Loạn, là Ồn ào.

     - Tà Dương 斜陽 : là Ánh nắng xiên; chỉ ánh nắng đã về chiều.

 

 * Nghĩa Bài Thơ :

                                ĐI NGANG VÙNG NGOẠI Ô (3)

 

      Mục đồng đang xua lũ trâu con trong buổi chiều tà để trở về thôn xóm, đang bước nhanh qua những vũng nước đọng ở trên đường. Bụi tre non sau cơn mưa đang kẽo kẹt trước gió như những manh áo giáp cọ vào nhau, bên hồ ấu những búp hoa ấu non nhọn và sắc đang nhấp nhô trong sóng nước trước những làn gió nhẹ lướt qua. Trên sông vài cuộn khói sóng lơ lửng theo gió bay đi, một đám người đang nhốn nháo tranh nhau qua đò để về nhà cho kịp tối. Lòng ta cảm thấy bồi hồi ngơ ngẩn tưởng nhớ đến quê hương giờ đang ở nơi đâu ? Tiếng lũ quạ lạnh đang kêu lên rộn rã trên các cành cây khô trong ánh nắng của buổi chiều tà !

 

     Những hình ảnh hoạt động, những âm thanh sống động quen thuộc của vùng thôn dã Việt Nam được hiễn hiện một cách rõ nét trong thơ của cụ Phan Thanh Giản trong những lần kinh lược từ nam ra bắc, tạo nên một sắc thái đặc biệt Việt Nam của những vần thơ Đường Luật với đầy đủ những âm hưởng và thi vị của những áng thơ Đường nổi tiếng, như câu :

 

            惆悵鄕關何處是?   Trù trướng hương quan hà xứ thị ?

 

làm cho ta nhớ tới câu :

 

            日暮鄕關何處是?   Nhật mộ hương quan hà xứ thị ?

 

trong bài thơ nổi tiếng Hoàng Hạc Lâu của Thôi Hiệu đời Đường. Và câu cuối...

 

            寒鴉枯樹閙斜陽!   Hàn nha khô thọ náo tà dương !

 

lại làm cho ta nhớ tới bài thơ Thiên Tịnh Sa -Thu Tứ 秋思 nổi tiếng của Mã Trí Viễn đời Nguyên là :

 

            枯藤老樹昏鴉...    Khô đằng lão thọ hôn nha...

            夕陽西下,          Tịch dương tây hạ,

            斷腸人在天涯。    Đoạn trường nhân tại thiên nha !

  Có nghĩa :

                  Mây khô quạ ám cây già...

                  Nắng chiều ngã bóng tà tà về tây,

                  Chân trời đứt ruột người đây !

 

     Trong suốt thời gian làm quan của cụ Phan Thanh Giản, trên những chặng đường bôn ba kinh lược, ông đã ghi lại những cảm xúc trong những cuộc hành trình : Gia Định, Bình Thuận, Khánh Hoà, Phú Yên, Bình Định, Quảng Ngãi, Quảng Nam, Đà Nẵng, Thuận Hoá, Quảng Trị, Quảng Bình, Ninh Bình, Thái Nguyên... Những bài thơ làm trong các hành trình đó, cảnh vật con người của từng địa phương,  một phần được phản ánh dưới cái nhìn mới mẻ, thanh tân của ông một cách rất chân thành. 

* Diễn Nôm :

                                 GIAO HÀNH

 

                      Đuổi trâu chiều xuống lẹ về làng,

                      Nhanh bước xuyên qua vũng nước ngang.

                      Kẽo kẹt gió lùa tre tiếng vọng,

                      Nhấp nhô sóng nước ấu hoa vàng.

                      Chập chờn khói sóng bay theo gió,

                      Nhốn nháo bến đò tất tả sang.

                      Quê cũ ngẩn ngơ chiều khuất bóng,

                      Cành khô quạ rộn nắng chiều tàn !

    Lục bát :

                     Mục đồng xua lũ trâu về,

                     Chiều hoang nước đọng tư bề bước chân.

                     Tre làng rít tựa giáp ngân,

                     Nhấp nhô hoa ấu chập chờn sóng xao.

                     Trên sông khói sóng dạt dào,

                     Qua đò nhốn nháo tranh nhau những người.

                     Quê hương khuất bóng chiều rơi,

                     Nắng tàn tiếng qụa bồi hồi cây khô !

  

 
6. Bài thơ ĐĂNG HOÀNG HẠC LÂU :

       Năm 1834, Minh Mạng thứ 15, Cụ PHAN THANH GIẢN được cử đi sứ Trung Quốc. Khi đi ngang qua ngôi lầu nổi tiếng nầy, cũng như tất cả những thi nhân từ ngàn xưa đến nay, ông đã không bỏ lỡ dịp may lên thăm và ngắm ngôi lầu với nhiều huyền thoại nầy, và cũng vì thế mà ta mới có dịp thưởng thức thêm một bài thơ trác tuyệt của ông : ĐĂNG HOÀNG HẠC LÂU sau đây : 

    ĐĂNG HOÀNG HẠC LÂU                           登黃鶴樓     
                     

Tích thời hạc dĩ hà niên khứ ?                  昔時鶴已何年去?   
Thiên tải nhân tòng Nam cực lâm.            千載人從南極臨。
Anh vũ châu tiền phương thảo lục,           鸚鵡洲前芳草綠,
Tình Xuyên Các thượng bạch vân thâm.    晴川閣上白雲深。
Bán liêm lạc nhật phù Giang Hán,            半簾落日浮江漢,
Nhất phiến hàn lưu tống cổ câm (kim)      一片寒流送古今。
Mãn mục yên ba chuyển trù trướng,         滿目煙波轉惆悵,
Du du trần mộng thập thu tâm.               悠悠塵夢拾秋心!
 
Dịch Nghĩa :
 
       Câu 1 :  Ngày xưa, Hạc đã bay đi mất tự năm nào ? 
       Câu 2 : Ngàn năm sau, mới có người từ vùng cực Nam đến đây.( Ngàn năm chỉ là cách nói nhấn, để chỉ rất nhiều năm rồi. Đối với Trung Hoa xưa thì nước ta ở về phía cực Nam. Câu nầy Cụ Phan tự chỉ mình là người đến từ Nước cực Nam, là nước xa tít ở cỏi Nam  ).
      Câu 3 : Cỏ non vẫn còn xanh tươi trên cù lao Anh Vũ ở giữa ngã ba sông. Liên hệ câu : Phương thảo thê thê Anh Vũ Châu 芳草萋萋鸚鵡洲, trong bài Hoàng Hạc Lâu của Thôi Hiệu đời Đường ).
      Câu 4 : Mây trắng vẫn còn chập chùng trắng xóa khi ta đứng trên Tình Xuyên Các. ( chữ " Thâm " ở đây không có nghĩa là " sâu " , mà là " Đậm ", dùng để chỉ màu sắc, mây trắng mà " đậm ", là mây " trắng xóa chập chùng " . Chữ THÂM ở đây còn dùng để đối với chữ LỤC ở câu trên.
      Câu 5 : ( Vì đứng trong lầu nhìn ra, nên thấy...) Mặt trời lặn như nổi trên sông nước lung linh xuyên qua Nửa Bức Rèm ( bán liêm ) treo trên lầu .
      Câu 6 : Một dãy nước chảy âm thầm, lạnh lùng xuyên suốt từ ngàn xưa đến nay.
      Câu 7 : Mãn mục là " đầy mắt " , ở đây có nghĩa là khoảng không gian mênh mông trước mắt. Câu nầy có nghĩa : Khói sóng mênh mông khiến cho lòng xúc đông bồi hồi ( trù trướng ).
      Câu 8 : ( Nên chi )...Trong ( giấc mộng trần thế ) cuộc đời mộng ảo nầy cũng chỉ nhặt nhạnh ( thập )  được lòng hoài cảm trong mùa thu mà thôi !. Câu cuối nầy, có thể Cụ PHAN đã chơi chữ đây, vì chữ THU 秋 ở trên, chữ TÂM 心 ở dưới, nếu ghép lại thì ta sẽ có chữ SẦU 愁. Cũng vừa hợp với chủ ý của bài thơ gốc của Thôi Hiệu :

             Nhật mộ hương quan hà xứ thị             日暮鄉関何處是
             Yên ba giang thượng sử nhân SẦU        烟波江上使人愁

mà nhà thơ Tản Đà đã dịch rất xuất sắc là :

               Quê hương khuất bóng hoàng hôn
               Trên sông khói sóng cho buồn lòng ai  !....

        Mặc dù không sử dụng vần " LÂU...SẦU " như Thôi Hiệu, nhưng âm hưởng của bài Đăng Hoàng Hạc Lâu của cụ Phan Thanh Giản vẫn tạo nên một nỗi niềm hoài cổ sâu xa man mác với hạc vàng mây trắng, với Anh Vũ Châu, với Tình Xuyên Các : Một kiến trúc được xây dựng nên và được đặt tên do câu thơ bất hủ của Thôi Hiệu " Tình xuyên lịch lịch Hán dương thọ ". Bài thơ được kết thúc bằng lối chơi chữ chiết tự tài hoa của cụ Phan để hướng bài thơ về với mối sầu thiên cổ " Du du trần mộng thập thu tâm ! " làm ta nhớ đến câu : " Ai đem thu cảnh họa cùng thu tâm !" của Nữ sĩ Tương Phố trong Thi Ca Tiền Chiến...
 
      Bài thơ Đăng Hoàng Hoạc Lâu nầy của cụ PHAN đã được Thầy Trò Cựu học sinh PHAN THANH GIẢN & ĐOÀN THỊ ĐIỂM TP. Cần Thơ của chúng tôi cùng " xúm nhau " diễn nôm, xem đây như là một hoài niệm, một chút lòng thành của đám hậu sinh tưởng nhớ về vị Tiến Sĩ đầu tiên của đất Nam Kỳ sinh sau đẻ muộn. Mời tất cả cùng đọc cho vui...
                  

                                            Hoàng Hạc lâu xưa và nay


      Trước tiên là bài DIỄN NÔM của Thầy PHAN HUY VIÊN với bút hiệu CHÂN DIỆN MỤC (Tây Đô Cuồng Sĩ) :

     LÊN LẦU HOÀNG HẠC


 Hạc đã bay đi tự thuở nào
 Một người Nam muộn đến lầu cao
 Bãi xa thơm cỏ xanh xanh mắt
 Sông tạnh lầu mây trắng một mầu
 Rèm hắt bóng tà vờn trên sóng
 Nước buồn trôi lạnh một chiều sâu
 Bồi hồi gửi mắt qua sương khói
 Đem mộng ngàn năm ủ nỗi sầu
                                         
CDM.

      Lên Lầu Hoàng Hạc 
                   
cô Phạm Thảo Nguyên 
Chim hạc năm nao đã vút bay
Ngàn sau nam cực tới nơi đây
Cỏ non Anh Vũ xanh xanh ngắt
Lầu vắng lâng lâng trắng những mây
Trời lặn nửa rèm sông Hán rợn
Lạnh trôi một dải tự xưa nay
Bao la khói sóng bồi hồi dạ
Đời mộng lòng thu sầu góp đầy
                                         PTN
Đăng Hoàng Hạc Lâu
                       
Thầy Phạm Khắc Trí
Thuở nào xưa hạc đã cao bay ,
Viễn khách trời đưa đẩy đến đây.
Anh Vũ cồn xanh ngàn cỏ biếc ,
Tình Xuyên gác trắng một màu mây.
Nửa rèm kim cổ chiều sông lạnh ,
Một dải giang hà vạt nắng phai.
Khói sóng mênh mang nao tấc dạ ,
Mộng đời lãng đãng nỗi niềm tây.
                                           PKT.
        Lên Lầu Hoàng Hạc
                             
Trầm Vân 
Hoàng hạc ngày nao đã vút bay
Cực Nam người đến ghé lầu này
Cỏ non Anh Vũ màu xanh mướt
Mây trắng Tình Xuyên gió biếc say
Ác lặn nửa rèm sương lãng đãng
Sông dài một dải nước khoan thai
Ngập trời khói sóng giăng sầu nhớ
Dằng dặc lòng thu nỗi cảm hoài
 
Bài thứ hai theo thể Lục Bát :
                             
Trầm Vân 
Ngày xưa hoàng hạc cao bay
Cực Nam  người đến chốn này ngàn sau
Cỏ non Anh Vũ biếc màu
Tình Xuyên mây trắng bên lầu phiêu du
Nửa rèm ác lặn sương mờ
Sông dài một dải gió thơ thẩn luồn
Mênh mông khói sóng sầu buông
Nhớ quê dằng dặc gieo buồn thu tâm
                                               
Thầy  Võ Văn Vạn.

    LÊN LẦU  HOÀNG  HẠC
                             Song Quang 
Hoàng Hạc ngày xưa đã vút bay
Người Nam đến viếng  ở nơi nầy
Cỏ non Anh Vũ còn xanh thẩm
Mây trắng Tình Xuyên vẫn chẳng phai
Ác lặn nửa rèm chìm sông vắng
Nước dòng cuộn chảy tự xưa nay
Mênh mông khói sóng hồn giao động
Lối mộng thu tâm cảm kích hoài.
                                               
 SQ.
 
   LÊN LẦU HOÀNG HẠC
                               
Đỗ Chiêu Đức

Ngàn xưa hoàng hạc đã cao bay,
Người đến ngàn sau, viếng chốn nầy
Anh Vũ cỏ non màu vẫn biếc
Tình Xuyên mây trắng sắc chưa phai
Nửa rèm ác lặn chìm như nổi
Một dãi sông dài xưa đến nay
Khói sóng ngập trời nghe cảm khái
Thu tâm dằng dặc mộng trần ai !

    Lục Bát :

Ngàn xưa hoàng hạc cao bay
Ngàn sau người đến bên trời cực Nam
Vũ Châu cỏ vẫn xanh non
Trên Tình Xuyên Các mây còn trắng bông
Nửa rèm ác lặn bên sông
Cổ kim thế sự theo dòng nước trôi
Mênh mông khói sóng bời bời
Cỏi trần dằng dặc bồi hồi thu tâm !

 

                                   Đỗ Chiêu Đức


*Đính kèm theo bài viết nầy là tài liệu về ...

                             晴川阁     TÌNH XUYÊN CÁC

       晴川阁是湖北省重点文物保护单位。位于武汉城内汉阳龟山东麓长江边的禹功矶上。晴川阁始建于明代嘉靖年间,其名取自唐代诗人崔颢诗句"晴川历历汉阳树"。有"楚四名楼"之誉。因与对岸黄鹤楼隔江对峙,相映生辉,被称为"三楚胜境"。
 
      TÌNH XUYÊN CÁC 晴川阁 là đơn vị trọng điểm bảo vệ những vật phẩm văn hóa. Vị trí nằm ở trên bờ đá Vũ Công Cơ của sông Trường Giang, phía đông của Quy Sơn thuộc địa phận Hán Dương ở trong thành Vũ Hán. Tình Xuyên Các được bắt đầu xây dựng từ năm Gia Tĩnh triều Minh. Tên lầu được đặt theo câu thơ " Tình xuyên lịch lịch Hán Dương thọ 晴川历历汉阳树 " của Thôi Hiệu đời Đường. Tình Xuyên Các thuộc một trong bốn lầu các nổi tiếng của đất Sở ( Sở tứ danh lâu 楚四名楼 ), vì nằm đối diện với Hoàng Hạc Lâu ở bên kia sông, nên cùng soi rọi làm đẹp cho nhau, được xưng tụng là " tam Sở thắng cảnh 三楚胜境 " (  một trong ba thắng cảnh của đất Sở ).

 

                                                                                      Đỗ Chiêu Đức dịch.               

 

 * Hình ảnh của Tình Xuyên 晴川阁 Các hiện nay.

Thơ TRẦN QÚY CÁP

                       Biên khảo Đỗ Chiêu Đức

 Trần Quý Cáp 陳季恰 (1870-1908) tự Dã Hàng 野航, Thích Phu 適夫, hiệu Thai Xuyên 台川, chí sĩ nhiệt tình trong phong trào Duy Tân, nhà thơ Việt Nam, quê làng Bất Nhị, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam. Đỗ tiến sĩ năm 1901, ông là một trong Ngũ hổ, năm người học trò giỏi xứ Quảng bấy giờ. Sớm có tinh thần yêu nước, mê “tân thư”, ông định trốn sang Nhật Bản theo Phan Bội Châu nhưng không thành, sau cùng Phan Chu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng cổ động cho phong trào Duy Tân, bài xích cách học từ chương, đề xướng lối học mới ích nước lợi dân. Khi làm giáo thụ phủ Thăng Bình (Quảng Nam), ông mời thầy đến dạy quốc ngữ và tiếng Pháp ở trường phủ, theo chủ trương của Phan Chu Trinh. Vì công kích bọn quan lại địa phương nên ông bị đổi đi Diên Khánh, tỉnh Khánh Hoà. Nhân vụ chống sưu thuế ở Trung Kỳ năm 1908, ông bị thực dân Pháp bắt và kết án tử hình chém ngang lưng, mặc dù kẻ thù không có chứng cớ.

 

      Hiện chỉ tìm thấy 2 bài thơ bằng chữ Hán của ông trên THI VIÊN là "Đà Nẵng Cảm Hoài" và " Vãn Quá Hải Vân Quan", mời tất cả cùng nghiên cứu.

 

1. Bài thơ ĐÀ NẴNG CẢM HOÀI :

 

   沱曩感懷                   ĐÀ NẴNG CẢM HOÀI

 

此地何由起戰鋒,    Thử địa hà do khởi chiến phong ?

祇今到處豕蛇蹤。    Chỉ kim đáo xứ thỉ xà tung.

船臨內埠三才颭,    Thuyền lâm nội phụ tam tài triển,

車駛重關一路通。    Xa sử trùng quan nhất lộ thông.

故國山河鄰笛裏,    Cố quốc sơn hà lân địch lý,

誰家樓閣夕陽中。    Thùy gia lâu các tịch dương trung.

安能再起陳興道,    An năng tái khởi Trần Hưng Đạo,

共挽藤江偉大功。    Cộng vãn Đằng Giang vĩ đại công ?!

 

             陳季恰                                   Trần Quý Cáp 

                   Tàu Liên quân Pháp - Tây Ban Nha tấn công Đà Nẵng năm 1858

 

*CHÚ THÍCH :

   - Đà Nẵng 沱曩 : là Thương cảng lớn nhất miền Trung trên cửa sông Hàn ở Quảng Nam, tàu bè ngoại quốc lui tới nhiều, buôn bán phát đạt, là nhượng địa của ta cho  Pháp lúc bấy giờ.

   - Hà Do 何由  : là Vì lý do gì ?

   - Thỉ Xà 豕蛇 : là Heo Rắn, do thành ngữ "Phong Thỉ Trường Xà 封豕長蛇" mà ra. Có nghĩa là "Lợn to rắn dài", thường dùng để chỉ những kẻ tham lam hung bạo; trong bài thơ chỉ những người Châu Âu như Pháp Tây ban Nha, Bồ Đào Nha ...

   - Nội Phụ 內埠 : là Bến cảng cho ghe thuyền lui tới buôn bán trong nước.

   - Tam Tài 三才 : Theo sách Tam Tự Kinh thì TAM TÀI là Thiên Địa Nhân, còn ở đây dùng để chỉ lá cờ Tam Sắc ba màu Xanh Trắng Đỏ của Pháp.

   - Trùng Quan 重關 : là Cửa quan ải trùng lắp, ở đây chỉ cửa quan của ta và cửa quan của Pháp.

   - An Năng 安能 : là Nghi vấn tự, có nghĩa : Làm sao có thể ... được ?

   - Tái khởi 再起 : là Lại khơi dậy. AN NĂNG TÁI KHỞI là Làm thế nào để có thể khơi dậy...được.

   - Cộng Vãn 共挽 : là Cùng nhau vãn hồi, cùng nhau làm lại...

 

* NGHĨA BÀI THƠ :

                                  CẢM HOÀI về Cửa Khẩu ĐÀ NẴNG

             Nơi đây vì cớ chi mà lại nổi lên một trận chiến tranh giao phong với nhau, để đến nỗi bây giờ khắp nơi những lợn lòi rắn độc, những người xấu xa hung ác ngang dọc tới lui. Tàu cặp vào bến cảng thương buôn đều phấp phới lá cờ tam tài, còn xe thì chạy một lèo xuyên qua cả hai cửa quan ải. Sông núi nước non cũ chìm trong tiếng sáo của làng bên, và lầu các nhà ai đang nhuộm buồn dưới ánh nắng chiều. Làm thế nào để có thể khơi dậy tinh thần của Trần Hưng Đạo để cùng nhau làm lại cái chiến công hiển hách vĩ đại của trận Bạch Đằng Giang đây ?!

 

            Chữ ĐỊCH 笛 là Cây sáo, là Tiếng sáo, nên LÂN ĐỊCH 鄰笛 là Tiếng sáo của vùng lận cận, là tiếng sáo của làng bên cạnh. Nhưng ĐỊCH 笛 cũng là tiếng Còi Hụ, như Cảnh Địch 警笛 là Tiếng còi hụ báo động của cảnh sát. Trong bài thơ trên, LÂN ĐỊCH có thể là chỉ tiếng còi hụ của các chiếc tàu buôn Pháp đang đậu gần  ở bến Đà Nẵng. Còn LÂU CÁC 樓閣 ở đây cũng có thể là những dãy nhà lầu do người Pháp xây dựng nên, nên cụ Trần Qúy Cáp mới mĩa mai bằng hai chữ THÙY GIA 誰家 là Nhà ai ? Những dãy nhà lầu nầy là nhà của ai mà lại nằm trong ánh nắng chiều của xứ ta vậy ?! Cho nên, mới đưa đến hai câu kết là : " Muốn làm sao cho được như Hưng Đạo Đại Vương làm sống lại trận Bạch Đằng Giang oai hùng để đánh đuổi quân xâm lược ra khỏi bờ cỏi non sông !"

 

* DIỄN NÔM :

                           ĐÀ NẴNG CẢM HOÀI

 

                 

                    Hà cớ nơi nầy nổi chiến tranh,

                    Nên nay heo rắn mặc tung hoành.

                    Thuyền buôn ba sắc cờ phe phẩy,

                    Cửa ải một lèo xe lướt nhanh.

                    Non nước sơn hà còi hụ vẳng,

                    Nhà ai lầu các nắng chiều hanh.

                    Làm sao sống lại Trần Hưng Đạo,

                    Vang vội Bạch Đằng tỏ rạng danh !

    Lục bát :

                    Cớ sao gây sự chiến tranh,

                    Bây giờ lợn rắn tranh giành ra oai.

                    Thuyền buôn ba sắc cờ bay,

                    Cửa quan xe chạy thẳng ngay một lèo.

                    Nước non còi hụ buồn thiu,

                    Lâu đài ai đó nắng chiều giăng giăng.

                    Làm sao dựng lại Bạch Đằng,

                    Đại Vương Hưng Đạo vang lừng sử xanh !

 

                                                             Đỗ Chiêu Đức

 

2. Bài thơ VÃN QÚA HẢI VÂN QUAN :

 

  晚過海雲關           VÃN QÚA HẢI VÂN QUAN

 

崔嵬萬仞古雄關,   Thôi ngôi vạn nhận cổ hùng quan,

幾度登臨俯仰間。   Kỷ độ đăng lâm phủ ngưỡng gian.

愁眼望窮滄海外,   Sầu nhỡn vọng cùng thương hải ngoại,

怒拳揮破白雲端。   Nộ quyền huy phá bạch vân đoan.

孤舟分掉荒村暮,   Cô chu phân trạo hoang thôn mộ,

倦鳥投林古木寒。   Quyện điểu đầu lâm cổ mộc hàn.

七里縈迴穿過後,   Thất lý oanh hồi xuyên qúa hậu,

鬱蔥佳氣五行山。   Uất thông giai khí Ngũ Hành San.

 

              陳季恰                                    Trần Quý Cáp 

* CHÚ THÍCH :

   -  Hải vân Quan 海雲關 :  là Ải Hải Vân, là Đèo Hải vân, là cửa ải ở trên núi Hải Vân, giáp giới tỉnh Thừa Thiên Huế và tỉnh Quảng Nam (miền Trung).

   -  Thôi Ngôi 崔嵬 : Cao lớn, nguy nga, đồ sộ.

  -  Vạn Nhận 萬仞 : NHẬN 仞 : Đơn vị đo lường xưa, bằng 8/10 trượng. Nhưng từ Vạn Nhận thường được xem như là Vạn Trượng 萬丈, thường dùng để chỉ chiều dài thật dài hoặc chiều cao thật cao. 

  -  Phủ Ngưỡng 俯仰 : PHỦ 俯 là cúi xuống, NGƯỠNG 仰 là Ngước lên. Chỉ đường núi khúc khủy trắc trở, khi phải cúi mặt xuống khi phải ngước mặt lên.

  -  Vọng Cùng 望窮 : là Nhìn đến mút con mắt.

  -  Huy Phá 揮破 : là Giơ nắm đấm lên đấm cho vỡ ra.

  -  Oanh Hồi 縈迴 : là Lòng vòng lèo vèo.

  -  Uất Thông 鬱蔥 : là Rậm rạp xanh tươi.

 

* NGHĨA BÀI THƠ :  

                                     CHIỀU QUA ẢI HẢI VÂN   

           Cửa ải xưa hùng vĩ nguy nga cao trên muôn trượng, đã mấy lần ta lên đến nơi nầy trên đường đi lồi lõm lúc cúi xuống lúc ngữa lên. Đứng trên nầy ta đưa mắt buồn bã nhìn mút ngoài biển xanh, và đưa nắm đấm giận dữ lên đấm tan làn mây trắng. chiếc thuyền nan cô lẻ gác mái nơi thôn vắng lúc chiều tà, lũ chim mõi mệt bay về rừng trên những tàn cây to lạnh lẽo. Quanh quẩn vòng vèo xuyên qua suốt bảy dặm đường, cuối cùng cũng thấy được cái khí thế đẹp đẽ quanh cỏ cây xanh tươi sầm uất của Ngũ hành Sơn.

 

* DIỄN NÔM :

                             CHIỀU QUA ĐÈO HẢI VÂN  

                        Nguy nga muôn trượng ải xưa hùng,

                        Mấy lượt ngẩn lên cúi xuống trông.

                        Mắt buồn nhìn suốt xanh lơ biển,

                        Tay nắm vung tan mây trắng bông. 

                        Thuyền côi gác mái chiều thôn vắng,

                        Chim mõi về rừng cây lạnh trông.

                        Bảy dặm loanh quanh xuyên dốc núi,

                        Ngũ Hành tươi tốt khí lành trong. 

        Lục Bát :

                        Vút cao muôn trượng đèo Vân,

                        Ngửa lên cúi xuống mấy lần leo qua.

                        Mắt buồn nhìn biển ngút xa,

                        Tay vung mây trắng tan ra lưng trời.

                        Thuyền côi gát mái thôn ngoài,

                        Chim rừng mõi cánh chiều bay về cành.

                        Quanh co bảy dặm núi xanh,

                        Trong lành khí sắc Ngũ Hành Sơn kia.

 

                                                                                            Đỗ Chiêu Đức

                                                                                                Biên dịch

CHÙM THƠ XUÂN

 

        Nhân dịp xuân về, Kính gởi đến Quý Thầy Cô và Anh Chị Em Vườn Thơ Thẩn một "Chùm thơ Xuân" của Việt Thi, bắt đầu bằng bài thơ "Xuân Hiểu" của ông Vua Trần Nhân Tông nhé !

 

1. XUÂN HIỂU  Trần Nhân Tông.  

 

  春曉                      Xuân hiểu 

 

睡起啟窗扉,      Thụy khởi khải song phi, 

不知春已歸。      Bất tri xuân dĩ quy.  

一雙白蝴蝶,      Nhất song bạch hồ điệp,  

拍拍趁花飛。      Phách phách sấn hoa phi.

 

   

 

CHÚ THÍCH :

 

 * Thụy Khởi 睡起 : là Ngủ dậy, chỉ Vừa thức giấc.

 * Khải 啟 : là Mở ra, giống như chữ KHAI (thanh BẰNG, còn KHẢI là thanh TRẮC ).

 * Song Phi 窗扉 : Cánh cửa của Cửa sổ.

 * Phách Phách 拍拍 : là Vổ vổ(cánh), ở đây có nghĩa là Vổ Phần phật.

 * Sấn : là Nhân(dịp), ở đây có nghĩa là Hướng về...

 

NGHĨA BÀI THƠ :

 

                              Sáng Sớm Mùa Xuân

          Vừa mới ngủ dậy, ta mở toang hai cánh cửa sổ ra... Đâu biết rằng mùa xuân đã về đến rồi !( Trông kìa,) một đôi bướm trắng nỏn nà đang vổ vổ cánh bay về các khóm hoa ( đang nở rộ !). 

 

DIỄN NÔM :

 

          SÁNG XUÂN

 

     Thức giấc mở song ngay,

     Xuân đến nào có hay.

     Một đôi bươn bướm trắng,

     Hướng hoa vổ cánh bay !

 

Lục bát :

     Vừa thức giấc, mở cửa song,

     Nào hay xuân đã về trong đất trời.

     Một đôi bướm trắng xinh tươi,

     Khóm hoa bay lượn thành đôi chập chờn.

                                                     

                              Đỗ Chiêu Đức

 

2. XUÂN ĐÁN Chu Văn An :

 

  

   春旦                     XUÂN ĐÁN                 

寂寞山家鎮日閒,    Tịch mịch sơn gia trấn nhựt nhàn,

竹扉斜擁護輕寒。    Trúc phi tà ủng hộ khinh hàn.

碧迷草色天如醉,    Bích mê thảo sắc thiên như túy

紅濕花梢露未乾。    Hồngthấp hoa tiêu lộ vị can.

身與孤雲長戀岫,    Thân dữ cô vân trừơng luyến tụ

心同古井不生瀾。    Tâm đồng cổ tỉnh bất sanh lan.

柏薰半冷茶煙歇,    Bá huân bán lãnh trà yên yết,

溪鳥一聲春夢殘。    Khê điểu nhất thanh xuân mộng tàn.

              朱文安                                    Chu Văn An

 

* CHÚ THÍCH :

    - Xuân Đán 春旦 : là Ngày Xuân, mà cũng có nghĩa là Ngày Tết nữa.

    - Trấn Nhật 鎮日 : la Suốt ngày. 

    - Trúc Phi 竹扉 " là Cửa tre. 

    - Tà Ủng 斜擁 : TÀ là Xiên, xéo. ỦNG là Ôm. nên TÀ ỦNG là Ôm xeo xéo.

    - Thiên Như Túy 天如醉 : Trời như say.

    - Lộ Vị Can 露未乾 : Sương chưa khô

    - Tụ 岫 : là Hang núi trên cao, thường có mây vần vũ trên đó.

    - Lan 瀾 : là Gợn sóng lăn tăn.

    - Trà Yên Yết 茶煙歇 : trà Thuốc đều hết.

    - Khê Điểu 溪鳥 : Những con chim trong khe núi.

 

* Dịch Nghĩa :

                                     NGÀY XUÂN

 

        Suốt ngày nhàn hạ rảnh rổi với ngôi nhà quạnh quẽ vắng lặng ở trên núi nầy. Chiếc cửa tre xiêu vẹo ôm ấp lấy căn nhà che chắn bớt cái cơn lạnh nhè nhẹ đang lan tỏa. Nhìn xuống xa xa bãi cỏ non xanh biếc, bầu trời cũng xanh biếc như ngất ngây say. Những đóa hoa hồng lên trên cành rực rỡ với các giọt sương còn lóng lánh chưa khô. Tấm thân ta như đám mây đơn lẻ kia cứ mãi quyến luyến không nở rời đỉnh núi, và lòng ta thì đã khô cằn như chiếc giếng xưa kia đã không còn dậy sóng nữa. Những nhánh tùng bách cháy tàn nửa vời lạnh lẽo, trà thuốc cũng đã cạn rồi. Những con chim bên khe núi vổ cánh bay tiếng kêu oang oác làm ta chợt tỉnh giấc, nên mộng xuân cũng tàn lụi theo luôn.

 

* DIỄN NÔM :

                       NGÀY XUÂN

  

              Nhà tịch mịch núi cao nghe vắng vẻ,

              Cửa phên tre nghiêng ngã lạnh lan tràn.

              Trời như say thảm cỏ biếc mênh mang,

              Hoa đỏ thắm đầu cành sương chưa ráo.

              Thân nầy tựa như mây còn luyến núi,

              Lòng thì như giếng cạn sóng đà an.

              Lửa tắt trà khô thuốc hết đêm tàn,

              Chim oang oác giật mình tan giấc mộng !

  Lục bát :

              Nhà cao vắng vẻ an nhàn,

              Cửa tre xiêu vẹo lạnh tràn gió đông.

              Trời xanh đồng cỏ mênh mông,

              Ngậm sương mấy đóa hoa hồng nở xinh.

              Thân như mây nổi linh đinh,

              Lòng như giếng cạn không sinh sóng hời.

              Đêm tàn lửa tắt trà vơi,

              Chim kêu tỉnh giấc một trời xuân mơ !

 

                                                    Đỗ Chiêu Đức.

     

3. XUÂN DẠ  Nguyễn Du:          

         Năm 1789, Tây Sơn chiếm Bắc Hà, cụ vừa 24 tuổi. Để tránh nạn binh lửa, cụ đã về ẩn tại quê vợ, huyện Quỳnh Côi (Thái Bình). Bài thơ trên nằm trong Thanh Hiên Tiền Hậu Tập, có lẽ đã được cụ Nguyễn Du làm trong thời gian này, lúc cụ chưa tới 30 tuổi. Qua đấy ta có thể thấy thể chất của cụ không mấy khỏe mạnh do cuộc sống nghèo túng và bản thân cụ cũng hay đau ốm. Chính nơi đây đã chôn vùi quãng đời thanh xuân của cụ. Sống nơi thôn dã, cụ đã gần gũi và hiểu biết rõ ràng đời sống và tâm tình của tầng lớp dân quê nghèo khó. Mãi hơn 10 năm sau, lúc đã 37 tuổi (1802) cụ mới ra làm quan với triều Nguyễn với chức vụ Tri Huyện Phù Dung (Hưng Yên) rồi sau đó thăng Tri phủ Thường Tín (Hà Tây).

 

     春 夜                         Xuân dạ

 

黑 夜 韶 光 何 處 尋?      Hắc dạ thiều quang hà xứ tầm ?

小 窗 開 處 柳 陰 陰.      Tiểu song khai xứ liễu âm âm

江 湖 病 到 經 時 久,      Giang hồ bệnh đáo kinh thời cửu

風 雨 春 隨 一 夜 深.      Phong vũ xuân tùy nhất dạ thâm

羈 旅 多 年 燈 下 淚,      Ký lữ đa niên đăng hạ lệ

家 鄉 千 里 月 中 心.      Gia hương thiên lý nguyệt trung tâm

南 臺 村 外 龍 江 水,      Nam Đài thôn ngoại Long Giang thủy

一 片 寒 聲 送 古 今.      Nhất phiến hàn thanh tống cổ câm (kim).

                阮攸                                Nguyễn Du

 

    

 

* CHÚ THÍCH :

    - Thiều Quang 韶光 :là Ánh sáng tốt đẹp của mùa xuân, của tuổi trẻ. Như cụ Nguyễn Du cũng đã viết trong Truyện Kiều :"Thiều Quang chín chục đã ngoài sáu mươi".

    - Liễu Âm Âm 柳陰陰 : Liễu nằm im lìm rũ bóng trong đêm.

    - Ký Lữ 羈旅 : Gởi thân nơi đất khách.

    - Nam Đài 南臺 : Tên xóm nhà nơi Nguyễn Du ở trọ.

    - Long Giang 龍江 : Còn gọi là Thanh Long giang, tức Sông Lam.

 

* NGHĨA BÀI THƠ :

                            ĐÊM XUÂN

       Biết đến nơi đâu để tìm cho được ánh thiều quang rực rỡ trong đêm tối nầy ? Nơi cánh cửa sổ nhỏ mở ra là cành liễu rũ im lìm trong đêm tối. Thân trải giang hồ sông nước nên bịnh cứ dai dẵng mãi cho đến hiện nay. Mưa gió lại theo ngày xuân mà về trong đêm dài dằng dặc nầy. Dưới đèn ta lại rơi lệ vì thân còn phiêu bạc xứ người đã nhiều năm nay. Ngắm trăng mà trong lòng tưởng nhớ đến quê hương ở xa ngoài ngàn dặm. Nhìn dòng nước Long Giang chảy ngoài thôn Nam Đài với dãi nước cuồn cuồn lạnh lùng như cuốn trôi cả dòng đời kim cổ.

 

* DIỄN NÔM : 

                    ĐÊM XUÂN

 

            Ánh xuân đêm tối biết đâu tìm,

            Mờ mịt ngoài song liễu lặng im.

            Bệnh tật song hồ cùng dai dẵng,

            Gió mưa xuân sắc vẫn im lìm.

            Dưới đèn giọt lệ sầu xa xứ ,

            Bóng nguyệt quê nhà xót nhói tim.

            Dòng nước Long Giang cuồn cuồn mãi,

            Lạnh lùng cuốn sạch cổ cùng kim.

  Lục bát :

            Tìm đâu đêm tối thiều quang ?

            Ngoài song liễu rũ mơ màng trong đêm.

            Giang hồ dai dẳng bệnh thêm,

            Gió mưa não nuột bên thềm xuân sang.

            Dưới đèn lệ nhỏ trăng ngàn,

            Tấm thân lữ thứ ly tan ai hoài.

            Long Giang dòng nước Nam Đài,

            Lạnh lùng cuồn cuộn chảy dài cổ kim.

 

                                        Đỗ Chiêu Đức.

 

4. XUÂN NHẬT HỮU CẢM Trần Quang Khải :

 

         

 

 春日有感 一.                 XUÂN NHẬT HỮU CẢM 1.

 

雨白肥梅細若絲,            Vũ bạch phì mai tế nhược ty,

閉門兀兀坐書癡。           Bế môn ngột ngột tọa thư si.

二分春色閒蹉過,            Nhị phân xuân sắc nhàn sai quá,

五十衰翁已自知。           Ngũ thập suy ông dĩ tự tri.

故國心還飛鳥倦,           Cố quốc tâm hoàn phi điểu quyện,

恩波海濶縱鱗遲。           Ân ba hải khoát túng lân trì.

生平膽氣輪囷在,            Sinh bình đãm khí luân khuân tại,

醉倒東風賦一詩。           Túy đảo đông phong phú nhất thi.

        

 

 春日有感 二.                  XUÂN NHẬT HỮU CẢM 2

 

月色微微夜向闌,           Nguyệt sắc vi vi dạ hướng lan,

東風特地起春寒。           Đông phong đặc địa khởi xuân hàn.

翻空柳絮黏高閣,           Phiên không liễu nhự niêm cao các,

攪夢湘筠撲畫欄。           Giác mộng tương quân phốc hoạ lan.

被物潤從天外雨,           Bị vật nhuận tòng thiên ngoại vũ,

驚心紅褪昔時顏。           Kinh tâm hồng thối tích thời nhan,

袪愁賴有三杯酒,           Khử sầu lại hữu tam bôi tửu,

撫劍悠悠憶故山。           Phủ kiếm du du ức cố san.

               陳光啓                            Trần Quang Khải.          

 

* NGHĨA 2 BÀI THƠ :

  BÀI 1 :

          Mưa xuân trắng xóa phơi phới như tơ làm tươi tốt mấy cành mai, một thư sinh mọt sách đóng cửa ngồi trơ mà nhìn ra ngoài. Hai phần ba xuân sắc đã trôi qua một cách vô ích, Lão già năm mươi già yếu tự biết sức mình. Tấm lòng đối với cố quốc thì như cánh chim bay đà mõi, Còn ơn Vua thì rộng như biển nên chưa kịp vươn vẫy để cố bơi. Cái đãm khí của bình sinh vẫn còn sừng sửng đó, nên say khước dưới gió xuân vẫn làm nốt một bài thơ !

  BÀI 2 :

       Bóng trăng mờ ảo nhạt dần vì trời sắp sáng, gió xuân có Ý mang cái lạnh của sáng mùa xuân đến, những cành liễu bay lộn trên không phất vào gác cao, những cành trúc đập vào lan can làm tỉnh giấc mộng xuân. Muôn vật được tưới gội nhờ mưa từ trời đổ xuống, giật mình vì dung nhan ngày cũ đã phai tàn. Đành chỉ mượn ba chung rượu để tiêu sầu, và chỉ còn biết vuốt ve kiếm báu mà nhớ đến sông núi xưa vằng vặc đã qua rồi !

 

* DIỄN NÔM :

 

               

 

                   CẢM XÚC NGÀY XUÂN

    BÀI 1 :

              Mai đẹp mưa xuân gội trắng ngần,

              Thư sinh trong cửa dạ lần khân.

              Hai phần xuân đã qua hơn nửa,

              Năm chục già đà tự biết thân.

              Cố quốc chút lòng chim cánh mõi,

              Ơn Vua tợ biển cá đuôi sần.

              Bình sinh đởm lượt còn hun đúc,

              Say khướt gió xuân vẫn họa vần !

    BÀI 2.

             Ánh trăng mờ chiếu báo đêm tàn,

             Se lạnh hơi xuân gió sớm sang.

             Phe phẩy liễu cành vương gác tía,

             Phất phơ trúc nhánh vướng lan can.

             Tốt tươi vạn vật nhờ mưa móc,

             Già cỗi một lòng nhớ sắc nhan.

             Đành mượn tiêu sầu ba chén rượu,

             Vuốt thanh kiếm báu nhớ giang san !

 

                                          Đỗ Chiêu Đức 

 

 

5. SƠ XUÂN Nguyễn Tử Thành :

 

    

 

    初春                    SƠ XUÂN

 

臘梅開盡雪飄零,      Lạp mai khai tận, tuyết phiêu linh,

老大情懷節勿驚。      Lão đại tình hoài tiết vật kinh.  

傍水人家楊柳嫩,      Bàng thủy nhân gia dương liễu nộn,

寒天客院半陰晴。      Hàn thiên khách viện bán âm tình .   

遊蜂摘蜜穿花去,      Du phong trích mật xuyên hoa khứ,            

野蝶偷香帶粉經。      Dã diệp thâu hương đới phấn khinh. 

檢點名園供勝賞,      Kiểm điểm danh viên cung thắng thưởng, 

春花一樣百般生。      Xuân hoa nhất dạng bách ban sinh.

         阮子成                              Nguyễn Tử Thành   

  

       

* NGHĨA BÀI THƠ : 

                     ĐẦU XUÂN

      Tháng chạp hoa mai đã nở hết trong khi tuyết vẫn còn bay lả tả,

      Tâm tình của người già biết tiết chế, nên không lấy làm lạ.

      Nhà ai đó bên mé nước với hàng dương liễu xanh non.

      Phòng khách trong mùa lạnh nên nửa nắng nửa râm.

      Ong đi lấy mật nên bay xuyên qua cả chòm hoa.

      Bướm ngoài đồng trộm hương nhẹ nhàng mang theo cả phấn hoa.

      Điểm qua hết các vườn hoa nổi tiếng để mà thưởng ngoạn, thì thấy...

      Cũng chỉ là trăm vẻ hoa xuân cùng đẹp như nhau mà thôi !

 

* DIỄN NÔM :

 

                       ĐẦU XUÂN

 

              

 

               Tuyết rơi mai nở báo xuân sang,

               Già cả nhìn quen chẳng ngỡ ngàng.

               Bến nước nhà ai xanh liễu mới,

               Trời đông phòng khách nắng râm vàng.

               Ong vui hái mật đùa bay lượn,

               Bướm hút nhuỵ hoa vội tách ngang.

               Điểm hết xưa nay bao thắng cảnh,

               Hoa xuân trăm vẻ đẹp mơ màng.               

 

                                      Đỗ Chiêu Đức 

 

 

6. HỮU SỞ CẢM  Phạm Đình Hổ :

 

        

 

  有所感                   Hữu Sở Cảm

 

長安小兒女,           Trường An tiểu nhi nữ;  

纖手綰丫鬟。           Tiêm thủ quán a hoàn. 

深閨不知苦,           Thâm khuê bất tri khổ;  

猶掃落花看。           Do tảo lạc hoa khan.  

 

長安小兒女,           Trường An tiểu nhi nữ; 

眉黛月雙彎。           Mi đại nguyệt song loan.  

為愛梅花潔,           Vị ái mai hoa khiết;  

臨風不覺寒。           Lâm phong bất giác hàn. 

 

長安小兒女,           Trường An tiểu nhi nữ;  

花前獨倚欄。           Hoa tiền độc ỷ lan.  

只怕檀郎聽,           Chỉ phạ đàn lang thính;  

橫琴笑不彈。           Hoành cầm tiếu bất đàn.

  

     范廷虎                         Phạm Đình Hổ

 

* CHÚ THÍCH :

    - Trường An 長安 : Còn đọc là Tràng An. Vốn là từ chỉ kinh đô cuả thời Tây Hán. Sau dùng chung để chỉ kinh thành, nơi vua ở. Trong bài thơ nầy chỉ kinh đô Thăng Long của ta ngày xưa.

    - Tiêm Thủ 纖手 : Chỉ đôi cánh tay nhỏ nhắn dịu dàng của các cô gái.

    - Quán A Hoàn 綰丫鬟 : Búi hai búi tóc hình trái đào ở trên đầu. Đây là kiểu búi tóc của các cô bé mới lớn. Ngày xưa các tiểu thơ hay có các cô bé theo hầu búi tóc như thế, nên từ A HOÀN 丫鬟 (còn đọc là NHA HOÀN) dùng thét rồi trở thành danh từ chung để gọi các cô hầu của nhà quyền qúy.

    - Mi Đại 眉黛 : Đôi mày đen đẹp.

    - Nguyệt Song Loan 月雙彎 : là Cong như hai vành trăng.

    - Ỷ Lan 倚欄 : Đứng tựa vào lan can.

    - Đàn Lang 檀郎 : Từ dùng để gọi bóng dáng người yêu của các bà các cô xưa.

 

* NGHĨA BÀI THƠ :

 

Cô con gái nho nhỏ ở Trường An.

Đôi tay nhỏ xinh xinh bện hai bím tóc đen.

Ở trong khuê phòng thầm kín chẳng biết sầu khổ là gì.

Cô còn đang quét hoa rụng xem chơi.

 

Cô con gái nho nhỏ ở Trường An,

Đôi mày tô điểm cong cong như hai vành trăng cánh cung.

Vì yêu thích sự trong sạch của hoa mai, nên... 

Cô ra gió ngắm hoa mà không cảm thấy lạnh.

 

Cô con gái nho nhỏ ở Trường An,

Một mình đứng tựa lan can trước khóm hoa.

chỉnh e người yêu nghe thấy, nên...

Cô đặt ngang đàn cầm, cười mà không gảy.

 

* DIỄN NÔM :

 

                   CÓ NIỀM CẢM XÚC

 

               

 

                 Trường An cô thiếu nữ,

                 Tay ngọc búi tóc cao.

                 Phòng khuê nào biết khổ,

                 Quét hoa dạ chẳng nao !

 

                 Trường An cô thiếu nữ,

                 Mày trăng mới cong sao !

                 Thương mai hoa tinh khiết,

                 Gió bấc chẳng lạnh nào !

 

                 Trường An cô thiếu nữ,

                 Ngắm hoa tựa lan can.

                 Vì sợ chàng nghe thấy,

                 Cười e ấp không đàn ! 

    Lục bát :

                 Trường An cô bé xinh xinh,

                 Tay ngà búi tóc cho mình thêm tươi.

                 Buồng khuê chỉ biết vui cười,

                 Quét tàn hoa rụng làm vui xuân về !

 

                 Trường An cô bé xinh ghê,

                 Đôi mi cong tựa trăng thề trên cao.

                 Yêu mai tinh khiết biết bao,

                 Mặc cho gió lạnh lao xao chẳng màng.

 

                 Trường An cô bé mơ màng,

                 Trước hoa ngồi tựa lan can e dè.

                 Chỉnh e đâu đó chàng nghe,

                 Đặt ngang cầm phím, cười e, không đàn !

 

 Xuân Canh Tý 2020

 Đỗ Chiêu Đức  

Thơ MẠC ĐĨNH CHI

Mạc Đĩnh Chi 莫挺之 (1272 - 1346), tự là Tiết Phu 節夫, hiệu là Tích Am 僻庵, người làng Lan Khê, huyện Bàng Hà, lộ Lạng Giang (nay là huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Hưng) sau dời sang làng Lũng Động, huyện Chí Linh cùng trong lộ đó (nay cũng thuộc Hải Hưng). Ông là một quan đại thần và là nhà ngoại giao nổi tiếng triều Trần trong lịch sử Việt Nam. Năm 1304, đời vua Trần Anh Tông niên hiệu Hưng Long thứ 12, ông thi đỗ Trạng Nguyên. Nhờ thông minh, hiểu biết sâu rộng, ông nhiều lần được cử đi sứ sang Trung Hoa. Ngoài ra, ông còn được biết đến như là ông tổ trực hệ của các đời vua  nhà Mạc, được Mạc Thái Tổ truy tôn miếu hiệu là Viễn Tổ 遠祖 (Tổ tiên của các đời xa xưa trước), thụy là Kiến Thủy Khâm Minh Văn Hoàng Đế 建始欽明文皇帝.

       Trạng Nguyên Mạc Đĩnh Chi còn để lại rất nhiều giai thoại văn chương truyền tụng trong dân gian, nhưng văn thơ thì chỉ để lại vỏn vẹn có môt bài "Phiến Minh", hai bài "Giáo Tử Phú và Ngọc Tỉnh Liên Phú" cùng với Bốn bài thơ sau đây :

 

1. HỈ TÌNH THI 喜晴詩 :

 

     喜晴詩            HỈ TÌNH THI

   好景明人眼,    Hảo cảnh minh nhân nhãn,   

   江山正豁然。    Giang sơn chính khoát nhiên.

   烟笼初出日,    Yên lung sơ xuất nhật,

   波漾嫩晴天。    Ba dạng nộn tình thiên.

   岸柳垂金节,    Ngạn liễu thùy kim tiết,

   汀花朴画船。    Đinh hoa phác họa thuyền.

   淒凉宽旅思,    Thê lương khoan lữ tứ,

   和暖喜新年。    Hòa noãn hỉ tân niên.

         莫挺之                   Mạc Đĩnh Chi

 

      

 

* CHÚ THÍCH :

    - Hỉ Tình Thi 喜晴詩 : là "Thơ mừng trời nắng ráo".

    - Khoát Nhiên 豁然 : là "Rực sáng lên một cách bất ngờ".

    - Yên Lung 烟笼 : là Khói mờ, là Sương khói làm cho mờ ảo.

    - Ba Dạng 波漾 : là Những gợn sóng lăn tăn. Nộn 嫩 : là Non nớt.

    - Tình Thiên 晴天 : là Trời quang mây tạnh, trời nắng lại sau cơn mưa.

    - Kim Tiết 金节 : là những đốt như vàng. Ở đây chỉ những nhành liễu với những đốt ngã màu vàng rũ xuống sau cơn mưa.

    - Đinh Hoa 汀花 : là loại hoa nở trôi nổi trên mặt nước.

    - Thê Lương 淒凉 : Thê là Lạnh, Lương lá Mát; nên THÊ LƯƠNG là Mát lạnh, cũng có nghĩa là Rất mát mẻ, hoặc rất lạnh lẽo buồn bã (tùy theo ngữ cảnh).

    - Hòa Noãn 和暖 : là Hòa dịu ấm áp, chỉ khí hậu ôn hòa ấm áp của mùa xuân.

 

* NGHĨA BÀI THƠ :

                                  THƠ MỪNG TRỜI NẮNG RÁO

 

        Cảnh đẹp nên làm cho mắt của con người cũng sáng rực lên, và sông múi nước non cũng chợt như rực sáng. Mặc dù khói sương như còn che phủ vầng thái dương vừa ló dạng, nhưng những gợn sóng lăn tăn làm cho bầu trời như phủ màu xanh non hơn. Bờ liễu ven sông cành rũ xuống những đốt vàng lấp lánh và những bông hoa dưới nước cứ vỗ vào mạn thuyền có vẽ hoa văn xinh đẹp. Trong cái mát mẻ đượm chút lạnh lẽo nầy người lữ khách cũng khoan khoái để cho dòng suy tư thả theo cái ôn hòa ấm áp của cái không khí mừng đón năm mới đang sang.

 

        Bài thơ có tựa là "Thơ Mừng Trời Tạnh", có thể là sau cơn mưa, và cũng có thể là trên đường đi sứ. Vì ta thấy Mạc Đĩnh Chi nhắc đến "Họa Thuyền" là thuyền của vua chúa hay quan quyền sứ giả ngày xưa sử dụng, nhất là câu "Thê lương khoan lữ tứ". LỮ TỨ 旅思 là những cảm xúc suy tư của người lữ thứ xa quê sau cơn mưa trời lại sáng trong ánh nắng xuân ôn hòa ấm áp lúc người người đang mừng đón tân niên.

 

* DIỄN NÔM :

                       HỈ TÌNH THI

  

           

 

                  Cảnh đẹp sáng mắt ra,

                  Sông núi rực chói lòa.

                  Khói mờ vầng nhật xuất,

                  Trời xanh gợn sóng xa.

                  Liễu rũ vàng theo gió,

                  Sóng vỗ họa thuyền hoa.

                  Thê lương lòng lữ khách,

                  Đón mừng năm mới qua.

    Lục bát :

                  Sau mưa cảnh sáng mắt người,

                  Núi sông rực rỡ xinh tươi nắng vàng.

                  Vầng dương mới mọc mơ màng,

                  Lăn tăn sóng gợn trời càng xanh lơ.

                  Vàng tươi liễu rũ bên bờ,

                  Sóng xô hoa vỗ ngẩn ngơ họa thuyền.

                  khoan thai lòng khách thôi phiền,

                  Ôn hòa ấm áp tân miên đón mừng !

 

                                                       Đỗ Chiêu Đức

 

2. Quá Bành Trạch Phỏng Đào Tiềm Cựu Cư 過彭澤訪陶潛舊居 :

 

過彭澤訪陶潛舊居 QUÁ BÀNH TRẠCH PHỎNG ĐÀO TIỀM CỰU CƯ

    自性本閒曠,          Tự tánh bổn nhàn khoáng,

    初不比碌碌。          Sơ bất tỉ lục lục.

    斗米肯折腰,          Đấu mễ khẳng chiết yêu,

    解印寧辭祿。          Giải ấn ninh từ lộc.

    扶疏五株柳,          Phù sơ ngũ chu liễu,

    冷澹一籬菊。          Lãnh đạm nhất ly cúc.

    寥寥千載後,          Liêu liêu thiên tải hậu,

    清名吾可服。          Thanh danh ngô khả phục.

           莫挺之                                  Mạc Đĩnh Chi

    

       

 

 

 

 

 

 

* CHÚ THÍCH :

    - Đào Tiềm 陶潛 (365-427), tự là Nguyên Lượng (元亮), hiệu là Uyên Minh (淵明), lại có biệt hiệu là Ngũ liễu tiên sinh (五柳先生), là một trong những nhà thơ lớn của Trung Hoa thời nhà Tấn và Lưu Tống.

    - Bành Trạch 彭澤 : Nơi mà Đào Tiềm làm Huyện lệnh, nên ông còn được gọi là Đào Bành Trạch.

    - Nhàn Khoáng 閒曠 : là Rảnh rỗi không bận bịu.

    - Lục Lục 碌碌 : là Lăng xăng bận rộn. 

    - Chiết Yêu 折腰 : là Gãy lưng. Chỉ cúi rạp mình xuống.

    - Từ Lộc 辭祿 : là Từ chối bỗng lộc, có nghĩa là từ quan.

    - Ngũ Chu Liễu 五株柳 : là Năm cây liễu. Trong tự truyện, Đào Tiềm kể về một ông gìa nhà có trồng năm cây liễu, nên mọi người đều gọi ông ta là Ngũ Liễu Tiên Sinh. Đó cũng là hình ảnh mà Đào Tiềm tự ví mình.

    - Nhất Ly Cúc 一離菊 : là Một hàng rào cúc (Giậu cúc). Khi về vườn, Đào Tiềm trồng rất nhiều hoa cúc ở phía đông hàng rào nhà mình. Nên thơ ông có câu : Thái cúc đông ly hạ 採菊東籬下. Có nghĩa : Hái hoa cúc ở dưới rào mé đông.

    - Liêu Liêu 寥寥 : Vốn nghĩa là Thưa thớt, lẻ tẻ. Ở đây dùng chỉ thời gian nên có nghĩa là : Vằng vặc, xa xôi diệu vợi.

 

* NGHĨA BÀI THƠ :

                             Đi Ngang Qua Bành Trạch Thăm Chỗ Ở Cũ Của ĐÀO TIỀM

 

       Ta vốn tính phóng khoáng ưa nhàn tản, nên ban đầu cũng không chịu được với thói lăng xăng bận rộn để bợ đỡ người khác. Cũng như Đào Uyên Minh đã không vì năm đấu gạo mà chịu khom lưng để cho người sai khiến, nên mới phải treo ấn mà từ bỏ bổng lộc kia. Thà về nhà vun trồng năm cây liễu thưa thớt và sống đạm bạc với giậu cúc phía tường đông. Xa xôi vằng vặc cả ngàn năm sau rồi, nhưng thanh danh của Đào Tiềm vẫn còn làm cho ta phải cảm phục.

 

      Nhân đi sứ nước người, ngang qua đất Bành Trạch, sẵn ghé thăm nơi mà cao sĩ Đào Uyên Minh đã từng vì năm đấu gạo mà phải làm Tri Huyện ở nơi đây. Ý của Trạng Nguyên Mạc Đĩnh Chi là cũng muốn mượn cái tính cách thanh cao của Đào Tiềm để tỏ rõ cái ý chí của mình. Khâm phục cái thanh danh của Đào Tiềm tức là đã nâng cao cái phẩm chất của mình rồi đó vậy !

 

                      

* DIỄN NÔM :

           Qua Bành Trạch Thăm Chỗ Ở Cũ Của ĐÀO TIỀM

 

                 Vốn ta ưa phóng khoáng,

                 Không chịu đứa lăng nhăng.

                 Khom lưng vì đấu gạo,

                 Treo ấn phải từ quan.

                 Về trông năm cội liễu,

                 Vui với cúc một giàn.

                 Ngàn năm sau vằng vặc, 

                 Người phục lại danh vang.

    Lục bát :

                 Tính ta phóng khoáng thanh nhàn,

                 Sớm không ưa kẻ lang bang chào mừng.

                 Vì năm đấu gạo khom lưng,

                 Thà treo quách ấn nửa chừng từ quan.

                 Về trồng năm liễu bên đàng,

                 Vui cùng khóm cúc bên hàng rào đông.

                 Ngàn năm sau vẫn nhớ ông,

                 Thanh danh cao nhã cho lòng kính yêu.

 

                                                        Đỗ Chiêu Đức

 

3. TẢO HÀNH 早行 :    

  

       早行                   TẢO HÀNH

   蝴蝶醒殘夢,      Hồ điệp tỉnh tàn mộng,

   商郎聞櫂歌。      Thương Lang văn trạo ca.

   張帆開夙霧,      Trương phàm khai túc vụ,

   擺櫂破晴波。      Bãi trạo phá tình ba.

   水入九江闊,      Thủy nhập Cửu Giang khoát,

   山歸三楚多。      Sơn quy Tam Sở đa.

   濂溪何處是?      Liêm khê hà xứ thị ?

   我欲訪煙蘿.        Ngã dục phỏng yên la.

            莫挺之                          Mạc Đĩnh Chi 

 

    

 

*CHÚ THÍCH :

      -  Tảo Hành 早行 : là Khởi hành sớm, Khởi hành lúc ban mai.

      -  Hồ Điệp...Mộng 蝴蝶...夢 :  là Giấc Bướm, thường dùng để chỉ giấc ngủ chập chờn, do tích Trang Sinh (Trang Tử) nằm mơ thấy mình hoá bướm dạo chơi khắp nơi, tỉnh ra, còn ngờ ngợ, không biết là mình hoá ra bướm hay là bướm đã hóa ra mình. Dùng rộng ra chỉ để chỉ GIẤC NGỦ mà thôi, như ta thường nghe nói " Giấc ĐIỆP hay Giấc BƯỚM.

      -  Trạo Ca 櫂歌 : Trạo là Mái chèo; nên TRẠO CA là lời hát hò trên sông lúc chèo thuyền.

      -  Trương Phàm 張帆 : là Giương buồm.

      -  Túc Vụ 夙霧 : là sương mù buổi sáng sớm.

      -  Khoát  闊 : là Rộng rãi. 

      -  Yên La 煙蘿 : Yên là Khói; La là Dây leo; Nên YÊN LA là Các dây leo bao phủ quanh các cây lớn như sương như khói.        

  

* NGHĨA BÀI THƠ :

                                   KHỞI HÀNH LÚC BAN MAI

             

      Chợt tỉnh mộng khi giấc bướm vừa tàn, đã nghe tiếng hát hò trên sông Thương Lang. Thuyền giương buồm lên lướt tới rẻ đám sương mù buổi sáng dày đặc. Tiếng chèo khua phá tan sóng nước làm vỡ tan ánh nắng ban mai. Nước Chảy vào Cửu Giang như làm cho dòng sông thêm rộng ra; những dãy núi chạy dọc về Tam Sở như càng lúc càng nhiều hơn lên. Dòng Liêm Khê là ở nơi nào ? Ta muốn đi thăm các cây cối và dây leo chằng chịch như khói như sương ở nơi đó.

 

      Đây chắc chắn là chuyến đi sứ trên đất Trung Hoa với các dòng sông và địa danh bên đó như : Sông Thương Lang, Huyện Cửu Giang thuộc đất Sài Tang, Tầm Dương xưa; đất Tam Sở đời Tần Hán, gồm có Đông Sở, Tây Sở và Nam Sở, cũng như dòng sông Liêm Khê thuộc tỉnh Hà Nam nằm ở dưới chân núi Bàng Lãnh... Cái thư thả của chuyến đi sớm sau khi đã tàn giấc điệp, rất thi vị với các giọng hát hò trên sông với sông nước bao la, núi non trùng điệp hùng vĩ lẫn khuất trong các cây cỏ xanh tươi đẹp đẽ hữu tình.

 

* DIỄN NÔM :

                           TẢO HÀNH

                 

            
 

                 Chợt tỉnh sau giấc bướm,

                 Thương Lang vọng tiếng ca.

                 Buồm giương trong sương sớm,

                 Chèo quẫy vỡ sóng xa.

                 Nước Cửu Giang thêm rộng,

                 Núi Tam Sở nhiều ra.

                 Liêm Khê nơi nào nhỉ ?

                 Ta muốn ngắm cỏ hoa.

  Lục bát :

                 Chập chờn giấc bướm tỉnh ra,

                 Thương Lang đã vọng tiếng ca câu hò.

                 Giương buồm lướt gió sương mờ,

                 Mái chèo quẫy sóng xanh lơ nắng vàng.

                 Nước về thêm rộng Cửu Giang,

                 Núi xanh Tam Sở như càng nhiều ra.

                 Liêm Khê xứ ấy có xa ?

                 Lòng ta muốn ngắm cỏ hoa khắp vùng .

 

                                                      Đỗ Chiêu Đức

 

  4. VÃN CẢNH 晚景 :       

 

          晚景                        VÃN CẢNH

      空翠浮煙色,        Không thúy phù yên sắc,

      春藍發水紋。        Xuân lam phát thủy văn.

      墻烏啼落照,        Tường ô đề lạc chiếu,

      野雁送歸雲。        Dã nhạn tống quy vân.

      漁火前灣見,        Ngư hỏa tiền loan kiến,

      樵歌隔岸聞。        Tiều ca cách ngạn văn,

      旅顏悲冷落,        Lữ nhan bi lãnh lạc,

      借酒作微醺。        Tá tửu tác vi huân.

              莫挺之                          Mạc Đĩnh Chi 

 

        

 

* CHÚ THÍCH :

       - Vãn Cảnh 晚景 : là Cảnh Đêm, là Cảnh trí lúc về đêm.

       - Thúy 翠 : là Màu xanh biếc.

       - Thủy Văn 水紋 : là Vết nhăn của nước, có nghĩa là Mặt nước chỉ gợn sóng lăn tăn.

       - Lạc Chiếu 落照 : là Ánh nắng còn rơi rớt lại lúc chiều tàn.

       - Ngư Hỏa 漁火 : là Lửa của cá, là Đèn đóm trên các ghe chài lưới.

       - Loan 灣 : là Khúc quanh của con sông.

       - Tiều Ca 樵歌 : là Tiếng hát hò của những tiều phu đốn củi.

       - Lữ Nhan 旅顏 : là Nét mặt của người lữ thứ xa quê hương.

       - Vi Huân 微醺 : là Say nhẹ, là Chếnh choáng say.

 

* NGHĨA BÀI THƠ :

                                        CẢNH TRÍ VỀ ĐÊM

 

          Tầng không xanh biếc nổi lên những sắc màu như sương khói. Dòng nước xuân xanh lam chỉ gợn sóng lăn tăn. Những con qụa trên tường kêu oang oác dưới ánh nắng chiều còn rơi rớt lại, trên không đàn nhạn đang bay gấp như đang đưa tiễn các đám mây bay trở về. Đèn đóm của các ghe chài lưới đã thấp thoáng ở khúc quanh phía trước của dòng sông, và tiếng hát hò của các tiều phu bên kia bờ đã vang lên trên đường đi về. (Trước cảnh chiều tàn nầy) Mặt người lữ khách đượm buồn trong buổi chiều lạnh lẽo cô liêu, nên mới mượn chung rượu để chếnh choáng say (cho vơi đi mối sầu lữ thứ)!

 

      Đây là bài thơ cuối cùng còn sót lại của Trạng Nguyên Mạc Đĩnh Chi, mà cũng là bài thơ cuối cùng trên đường đi sứ. Ngồi trên ghe nhìn trời nhìn nước trong buổi chiều tàn, thấp thoáng lửa chài, đâu đó tiếng qụa kêu, đàn nhạn bay về trong tiếng hát cách bờ của các tiều phu cũng đang vội vã quay về. Trước cảnh lạnh lẽo cô liêu của buổi chiều trên sông nước càng gợi thêm mối sầu lữ thứ của kẻ xa quê. Uống chút rượu để chếnh choáng say cho càng thấm thía hơn cái nỗi buồn trên sông nước !

 

* DIỄN NÔM :

                         CẢNH CHIỀU HÔM

 

                  

 

                      Trời xanh vờn mây khói,

                      Nước biếc gợn lăn tăn.

                      Qụa kêu trong nắng xế,

                      Nhạn bay về thinh không.

                      Lửa chài quanh sông nước,

                      Tiều phu hát cách sông.

                      Buồn trong chiều xuống lạnh,

                      Mượn rượu giải khây lòng.

 Thơ sáu chữ :

                      Khói quyện bầu trời xanh biếc,

                      Sóng xuân nước dợn lăn tăn.

                      Quạ kêu chiều rơi tường vắng,

                      Nhạn trời đưa tiễn phù vân.

                      Lửa chài bên vàm thấp thoáng,

                      Tiều phu cất tiếng cách sông.

                      Lữ khách buồn thân cô quạnh,

                      Giải sầu mượn chén đêm thanh !

       Lục bát :

                      

 

                      Từng không xanh ngắt khói mờ,

                      Nước xuân gợn sóng ơ hờ chiều buông.

                      Oang oang tiếng qụa đầu tường.

                      Theo mây đàn nhạn kêu sương bay về.

                      Lửa chài thấp thoáng dòng khê,

                      Tiếng tiều phu vẳng đi về bên sông.

                      Chiều buồn lữ khách bâng khuâng,

                      Mượn lưng chén rượu cho lòng lâng lâng.

 

      Đỗ Chiêu Đức

Thơ NGUYỄN TRÃI  

     E. Thơ làm trong thời sang Trung Quốc.

                        

1. Bài thơ QUÁ HẢI :

 

      過海                         QUÁ HẢI

撥盡閑愁獨倚蓬,    Bát tận nhàn sầu độc ỷ bồng,

水光渺渺思何窮。    Thủy quang diểu diểu tứ hà cùng.

松林地斥疆南北,    Tùng lâm địx xích cương nam bắc,

龍尾山橫限要衝。    Long vĩ sơn hoành hạn yếu xung.

義氣掃空千障客,    Nghĩa khí tảo không thiên chướng khách,

壯懷呼起半帆風。    Tráng hoài hô khởi bán phàm phong.

扁舟羨我朝天客,    Biển chu hâm ngã triều thiên khách,

直駕鯨鯢跨海東。    Trực giá kình nghê khóa hải đông.

* CHÚ THÍCH :

     - BÁT 撥 : là Vạch, Vén. BÁT TẬN 撥盡 : là Vén hết, là Gạt bỏ hết.

     - NHÀN SẦU 閑愁 : Mối sầu rảnh rổi; Ý chỉ Những nỗi buồn vu vơ.

     - BỒNG 蓬 : là Cỏ Bồng. ở đây là BỒNG PHÀM 蓬帆 : là Vải thô làm thành Cánh Buồm.

     - TÙNG LÂM 松林 : hay Tùng Kính Lâm, thuộc Vĩnh Yên (Bắc Việt) sát biên giới Việt Trung.

     - LONG VĨ 龍尾 : Núi Bạch Long Vĩ tại châu Vạn Ninh, tỉnh Quảng Yên (Bắc Việt), cũng gọi là bán đảo vì dãy núi đi từ lục địa ra biển về hướng đảo Hải Nam của Trung Quốc; có lẽ được mệnh danh theo địa thế giống như đuôi rồng. Xưa thuyền bè qua đây thường bị sóng gió.

     - CHƯỚNG VỤ 障霧 : là Mây mù. Còn gọi là Chướng Khí.

     - BIỂN CHU 扁舟 : Biển là Dẹp là Mỏng; nên Biển Chu chỉ Thuyền con, Thuyền nhỏ.

     - HÂM 羨 : là Mâm mộ, là Trầm trồ.

     - KÌNH NGHÊ 鯨鯢 : Cá Kình cá Nghê. là các loại cá Ông cá Nhà táng, những  loại cá lớn ngoài biển.

 

* NGHĨA BÀI THƠ :

                        QUA BIỂN 

        Gạt bỏ hết những nỗi buồn vớ vẩn mà một mình dựa vào cánh buồm, nhìn dòng nước loang loáng trước mắt mà suy nghĩ mông lung không ngừng. Tùng Kính Lâm trước mắt là đất cương lĩnh chia đôi nam bắc, còn núi Bạch Long Vĩ nằm vắt ngang qua vùng đất xung yếu nầy. Cái khí nghĩa dũng xung lên như muốn quét sạch muôn ngàn mây mù chướng khí và lòng hùng tráng như gió rít làm căng nửa cánh buồm thuyền. Chiếc thuyền nhỏ như hâm mộ ta là khách đi chầu thiên triều, nên trực chỉ như cá kình cá nghê lướt sóng biển đông.

* DIỄN NÔM :

                        QUÁ HẢI

 

            Tựa cột buồm cao gát hết sầu,

            Nước trong loang loáng nghĩ đâu đâu.

            Tùng Lâm chia đất bờ nam bắc,

            Long Vĩ vắt ngang cỏi địa đầu.

            Nghĩa khí vút cao sương khói nhạt,

            Chí hùng căng gió cánh buồm thâu.

            Thuyền con hâm mộ người đi sứ,

            Như cá kình nghê lướt sóng chầu.

   Lục bát :

            Gát buồn tựa cột buồm cao,

            Mênh mông loang loáng dạt dào ưu tư.

            Tùng Lâm nam bắc phân cư,

            Bạch Long Vĩ ấy địa đầu vắt ngang.

            Tan sương nghĩa khí ngút ngàn,

            Chí hùng căng cánh buồm ngang lưng trời.

            Thuyền con theo sứ ra khơi,

            Như kình nghê vượt qua trời biển đông.

 

                                        Đỗ Chiêu Đức

 

2. Bài thơ THÁI THẠCH HOÀI CỔ :

 

  采石懷古             THÁI THẠCH HOÀI CỔ

采石曾聞李謫仙,   Thái Thạch tằng văn Lý Trích Tiên,

騎鯨飛去已多年。   Kỵ kình phi khứ dĩ đa niên.

此江若變為春酒,   Thử giang nhược biến vi xuân tửu,

只恐波心尚醉眠。   Chỉ khủng ba tâm thượng túy miên.

* CHÚ THÍCH :

    - THÁI THẠCH 采石 : Thái Thạch là tên con sông thuộc tỉnh An Huy, Trung Quốc. Tương truyền khi đi thuyền trên sông nầy Lý Bạch 李白 đã uống rượu say rồi nhảy xuống sông định bắt lấy ánh trăng nên bị chết đuối tại đây. Vì thế nơi đây có xây một cái đài gọi là Tróc Nguyệt đài 捉月臺 (đài bắt trăng). Lý Bạch tự cho mình là Hải thượng kỵ kình 海上騎鯨 (khách cưỡi cá kình trên biển). Người đương thời bảo Lý Bạch là tiên bị đày xuống trần gian, nên gọi là Lý Trích Tiên 李謫仙. Đỗ Phủ, cùng thời với Lý Bạch, có câu: “Nhược phùng Lý Bạch kỵ kình ngư, Đạo Phủ vấn tấn kim hà như ? 若逢李白騎鯨魚,道甫問訊今何如?” (Nếu có gặp Lý Bạch đang cưỡi cá kình, Thì hãy nói dùm rằng Phủ tôi đây hỏi Bạch nay đã ra sao rồi ?).

 

                

 

    - TẰNG VĂN 曾聞 : là Đã từng nghe.

    - NHƯỢC 若 : là Nhược bằng, là Nếu như.

    - CHỈ KHỦNG 只恐 : Chỉnh e, Chỉ sợ rằng...

    - BA TÂM 波心 : Trong lòng đợt sóng trên sông.

    - THƯỢNG 尚 : là Vẫn, Vẫn còn...

 

* NGHĨA BÀI THƠ :

                            Nhớ Chuyện Xưa Bên Dòng Sông Thái Thạch

 

       Đã từng nghe nói về Lý Trích Tiên trên dòng sông Thái Thạch nầy, ông ta  cởi cá kình mà bay đi đã nhiều năm lắm rồi. Nếu như nước của dòng sông nầy đều  biến thành rượu xuân, thì e rằng ông ta vẫn còn say ngủ trong lòng những đợt sóng trên sông.

 

* DIỄN NÔM :

                 

                 THÁI THẠCH HOÀI CỔ

              

              

 

              Thái Thạch từng nghe Lý Bạch say,

              Cởi kình bay biết mấy năm nay.

              Sông này nếu biến thành xuân tửu,

              Lòng sóng e rằng vẫn ngủ say !

    Lục bát :

              Từng nghe Thái Thạch Trích Tiên,

              Cởi kình bay mất bao niên trước rồi.

              Nước sông biến rượu xuân trôi,

              Chỉnh e lòng sóng nay say vùi ngủ yên !

              

                                                            Đỗ Chiêu Đức

 

3. Bài thơ Bình Nam Dạ Bạc :

 

  平南夜泊                BÌNH NAM DẠ BẠC

片帆高颭晚風輕,    Phiến phàm cao chiếm vãn phong khinh,

暮宿平南古縣城。    Mộ túc Bình Nam cổ huyện thành.

燈影照人和月影,    Đăng ảnh chiếu nhân hòa nguyệt ảnh,

樹聲敲夢併灘聲。    Thọ thanh xao mộng tính than thanh.

湖山有約違初志,    Hồ sơn hữu ước vi sơ chí,

歲月如流漫此生。    Tuế nguyệt như lưu mạn thử sanh.

夜半戍樓吹畫角,    Dạ bán thú lâu xuy họa giác.

客中悽愴不勝情。    Khách trung thê sảng bất thăng tình.

 

       
 

* CHÚ THÍCH :

    - BÌNH NAM 平南 :

      Tên một huyện ngày xưa thuộc phủ Tầm Châu trên sông Tầm Giang thuộc tỉnh Quảng Tây, Trung Quốc hiện nay. 

    - CAO CHIẾM 高颭 : là Lay động ở trên cao.

    - TÍNH 併 : là Cùng , Đều, Kiêm.

    - VI 違 : là Không theo..., Làm trái lại.

    - MẠN 漫 : là đầy tràn. ở đây có nghĩa là : Uổng phí. Vô ích.

    - THÚ LÂU 戍樓 : Lầu Canh, Gác canh.

    - HỌA GIÁC 畫角 : Cái Tù Và thổi trong đêm canh gác.

    - THÊ SẢNG 悽愴 : là Thê lương sầu thảm xót thương.

 

* NGHĨA BÀI THƠ :

                     Đêm Đậu Thuyền Ở Bình Nam

       Một cánh buồm giương cao phập phồng trong gió chiều nhè nhẹ. Đêm ghé bến Bình Nam là một huyện thành xưa cổ. Bóng đèn và bóng trăng cùng chiếu vào bóng người, tiếng cây lá xạc xào cùng tiếng lao xao trên bến bãi làm tỉnh giấc mơ. Lời ước hẹn với sông hồ còn chưa thỏa chí của lúc ban đầu, ngày tháng trôi qua như nước chảy làm uổng phí mất kiếp sống nầy. Nửa đêm nghe tiếng tù và thổi sang canh trên lầu canh, khiến cho người lữ khách không sao ngăn được xúc động buồn thương cho cảnh tha hương đất khách.

         

          Trương Kế với PHONG KIỀU DẠ BẠC 楓橋夜泊, còn Nguyễn Trãi thì với BÌNH NAM DẠ BẠC 平南夜泊. Trương Kế nổi tiếng với 2 câu :

 

                     姑蘇城外寒山寺,  Cô Tô thành ngoại Hàn San Tự,

                     夜半鐘聲到客船。  Dạ bán chung thanh đáo khách thuyền.

Có nghĩa :

               Chùa Hàn San ngoại thành Cô Tô ấy,

               Nửa đêm buồn chuông vẳng đến thuyền ai.

 

      Còn Nguyễn Trãi thì cũng nổi tiếng với 2 câu kết là :

 

                   夜半戍樓吹畫角,  Dạ bán thú lâu xuy họa giác.

                   客中悽愴不勝情。  Khách trung thê sảng bất thăng tình.

Có nghĩa :

               Trên lầu canh nửa đêm tù và vẳng,

               Khách xa nhà ray rức chạnh niềm riêng !

 

* DIỄN NÔM :

                          ĐÊM GHÉ BẾN BÌNH NAM

  

                   Một cánh buồm cao gió phất phơ,,

                   Bình Nam đêm ghé cổ thành xưa.

                   Bóng đèn bóng nguyệt mờ nhân ảnh

                   Tiếng lá tiếng người chợt tỉnh mơ.

                   Sông núi ước xưa đà lỗi hẹn,

                   Tháng ngày như nước hết mong chờ.

                   Nửa đêm còi điểm lầu canh vắng,

                   Lòng khách dạt dào vạn ý thơ.

      Lục bát :

                   Buồm cao gió nhẹ chiều hôm,

                   Qua đêm ghé bến Bình Nam cổ thành.

                   Bóng đèn lồng bóng trăng thanh,

                   Tiếng người hòa tiếng cây cành lao xao.

                   Núi sông đà lỗi hẹn nào,

                   Tháng ngày như nước tiêu hao hết đời.

                   Tù và canh điểm đêm vơi,

                   Khiến người lữ khách ngậm ngùi thở than.            

 

   Đỗ Chiêu Đức

CÁC BẢN DỊCH KHÁC:

                  Dịch Thái Thạch Hoài Cổ

                  Từng nghe Thi Tiên, mộ ở Thái Thạch,

                  Đã cỡi cá kình thoát tục lâu rồi.

                  Ví thử nước sông là dòng xuân tửu,

                  Ắt Ngườì còn say ngủ giữa sóng vùi. 

 

                  Phạm Khắc Trí

 

                  QUA BIỂN

                  ( Quá Hải )

                  Nguyễn Trãi

 

                  Mạn thuyền tựa, muộn sầu đã gác

                  Sắc nước trời man mác ý dâng.

                  Phân chia Nam Bắc, Tùng Lâm

                  Yếu xung Long Vĩ nằm ngang núi dài.

                  Gạt mây mù lòng đầy dũng khí

                  Chí hào hùng như chiếc buồm căng.

                  Thuyền con đi sứ băng băng

                  Kình ngư sóng cỡi đạp bằng biển đông.

           

                  Mailoc phỏng dịch

                  (Thu phân 2019 )

 

                  ĐÊM ĐẬU THUYỀN Ở BÌNH NAM

                  (Bình Nam Dạ Bạc)

                         Nguyễn Trãi

 

                   Buồm phập phồng gió chiều nhẹ thổi

                   Ghé Bình Nam qua tối cổ thành.

                   Ánh đèn hoà với ánh trăng

                   Cây reo nước vẳng xua tan giấc nồng.

                   Lời nguyền ước núi sông dang dở

                   Tháng năm trôi đã lỡ một đời.

                   Tiếng tù canh tối bồi hồi

                   Cho lòng lữ khách không vơi nỗi niềm!

       

                   Mailoc phỏng dịch

                   9-23-19

_______________________________

 Thơ NGUYỄN TRÃI 

    D. THƠ LÀM TRONG THỜI Ở ẨN TẠI CÔN SƠN. 

 

1. BÀI THƠ " VÃN HỨNG " :

     

 

           

 

      晚興                            VÃN HỨNG 

               阮豸                                      Nguyễn Trãi 

窮巷幽居苦寂寥         Cùng hạng u cư khổ tịch liêu,  

烏巾竹杖晚逍遙         Ô cân trúc trượng vãn tiêu diêu.

荒村日落霞棲樹         Hoang thôn nhật lạc, hà thê thụ,

野徑人稀水沒橋         Dã kính nhân hi, thủy một kiều. 

今古無窮江漠漠         Kim cổ vô cùng giang mạc mạc, 

英雄有恨葉蕭蕭         Anh hùng hữu hận diệp tiêu tiêu.

歸來獨凭欄杆坐         Quy lai độc bẵng lan can tọa,

一片冰蟾掛碧霄         Nhất phiến băng thiềm quải bích tiêu.

 

* CHÚ THÍCH :

    - CÙNG HẠN 窮巷 : Hạng là Con hẽm; nên CÙNG HẠN là ở cuối con hẽm, cũng có nghĩa là : Ở nơi hang cùng ngõ hẹp.

    - Ô CÂN TRÚC TRƯỢNG 烏巾竹杖 : là Khăn đen gậy trúc, chỉ sự phục sức của dân dã miền núi non.

    - HÀ THÊ THỌ 霞棲樹 : là Ráng chiều đậu trên cây, Ý nói những ánh nắng chiều tàn còn rơi rớt lại trên cành lá.

    - THỦY MỘt KIỀU 水沒橋 : là Nước ngập cầu. Nước lớn dâng lên làm ngập cả những cây cầu bắt ngang qua mương rạch.

    - GIANG MẠC MẠC 江漠漠: Nước sông lửng lờ trôi..

    - DIỆP TIÊU TIÊU 葉蕭蕭 : Cây lá xạc xào vì gió lay động.

    - NHẤT PHIẾN BĂNG THIỀM 一片冰蟾 : Một mảnh thiềm thừ băng giá, Ý nói một vầng trăng lạnh lẽo. Theo thần thoại Trung Hoa trong cung trăng có con Thiềm Thừ (Con Cóc) ba chân, nên cung trăng còn gọi là Thiềm Cung 蟾宫.

    - QUẢI BÍCH TIÊU 掛碧霄 : là Treo trên bầu trời xanh biếc.

         

* DỊCH NGHĨA :

 

                              NIỀM CẢM KHÁI HỨNG KHỞI LÚC BAN CHIỀU

           Ở chỗ thanh u trong hang cùng ngõ hẹp nầy chỉ khổ một nỗi là quá tiêu điều vắng lặng, nên mỗi chiều ta đều chống gậy trúc, bịt khăn đen rất tiêu dao mà ngắm cảnh chiều tà. Cảnh thôn trang hoang vắng khi mặt trời chen lặn với ráng chiều như còn lưu luyến trên các ngọn cây, và trên đường mòn vắng vẻ người qua lại nầy, dòng nước như cuộn chảy ngập cả những cây cầu bắt ngang. Chuyện cổ kim xưa nay không dứt như dòng sông lờ lững chảy hoài, còn mối hận của kẻ anh hùng thì cũng xạc xào mãi như những chiếc lá lay động trong gió chiều.. Ta trở về một mình ngồi tựa lan can mà cảm khái trong bầu trời xanh biếc với mảnh trăng treo lạnh lẽo ở tầng không.

 

* DIỄN NÔM :

                         

 

                                  VÃN HỨNG 

 

              Ngõ hẹp hang cùng sống quạnh hiu,

              Khăn đen gậy trúc vẻ tiêu diêu.

              Ráng chiều thôn vắng mây vương ngọn,

              Cầu ngập người thưa nước cuốn nhiều.

              Kim cổ vô cùng sông cuộn cuộn,

              Anh hùng ôm hận lá liu xiu.

              Trở về ngồi tựa lan can ngắm,

              Một mảnh trăng treo lạnh cả chiều !

  Lục bát :

              Ẩn cư tận chốn hang cùng,

              Khăn đen gậy trúc vui cùng quạnh hiu.

              Ráng chiều thôn vắng tiêu điều,

              Nước lên cầu ngập đường chiều lơ thơ.

              Cổ kim như nước lửng lờ,

              Anh hùng ôm hận hững hờ lá rơi.

              Tựa lan can, một mình ngồi,

              Ngắm vầng trăng lạnh bên trời xanh lơ !

              

                                                       Đỗ Chiêu Đức.

 

2. Bài thơ TIÊN DU TỰ :

 

   仙遊寺                Tiên Du tự

            阮廌                       Nguyễn Trãi

短棹繫斜陽,     Đoản trạo hệ tà dương 

匆匆謁上方。     Thông thông yết thượng phương. 

雲歸禪榻冷,     Vân quy Thiền sáp lãnh, 

花落澗流香。     Hoa lạc giản lưu hương. 

日暮猿聲急,     Nhật mộ viên thanh cấp

山空竹影長。     Sơn không trúc ảnh trường 

箇中真有意,     Cá trung chân hữu ý, 

欲語忽還忘。     Dục ngữ hốt hoàn vương (vong).

 

      

 

* Chú Thích :

    - HỆ 繫 : Chữ HỆ nầy có bộ MỊCH 糸 là Sợi Tơ bên dưới, nên có nghĩa là Trói, là Buộc, là Cột. Ở đây có nghĩa là GÂY (GÂY CHÈO : là dùng một sợi dây cuộn tròn như hình số 8 rồi dùng chèo gá vào xoay một hoặc hai vòng cho cột chèo và cây chèo ăn vào với nhau để chèo ).

    - THÔNG THÔNG 匆匆 : Vội vàng, Tất bật.

    - YẾT 謁 : là Yết Kiến 謁見, thường dùng để chỉ người nhỏ ra mắt người lớn, người thường ra mắt người có chức có quyền...

    - SÁP 榻 : Cái Sạp. Thiền Sáp 禪榻 là Cái Sạp để ngồi Thiền. 

    - GIẢN 澗 : là Dòng nước chảy len lỏi giữa núi đá, nhỏ hơn suối.

    - VONG 忘 : Chữ VONG nầy có bộ TÂM 心 ở dưới, nên có nghĩa là Quên; Vì muốn cho ăn Vận nên phải đọc trại thành VƯƠNG.

 

* Dịch nghĩa:

             Chùa Tiên Du

Mái chèo ngắn vội gây (buộc) trong ánh nắng chiều tà. 

Vội vàng lên chùa để yết kiến đức Phật ( Thượng Phương ).

Mây kéo về làm lạnh giường Thiền nơi tu tập .

Hoa rụng xuống khiến hương hoa theo dòng suối trôi đi. 

Chiều hôm buông  xuống nên tiếng vượn kêu rộn rả.

Núi trống không nên bóng trúc như dài thêm ra .

Trong cảnh trí thật là hữu tình hữu ý  đó …

Ta muốn nói nên điều gì đó, nhưng bỗng dưng lại quên mất lời. 

 

      Bài thơ tả cảnh chiều xuống thật nhẹ nhàng trên bến chùa Tiên Du. Hoa rụng nước trôi vượn kêu núi vắng, khiến người trong cuộc cảm xúc dạt dào, muốn nói nhưng quên mất lời, không biết phải nói làm sao mới diễn đạt được hết lòng cảm xúc của mình. Qủa là một ý thiền rất là ... thiền ! Không nói được nhưng dường như đã ... nói rất nghiều !

 

 Diễn Nôm :

                       

 

 

 

 

 

                        CHÙA TIÊN DU

 

                  Chèo ngắn buộc tà vương,

                 Tất bật lễ Thượng phương.

                 Mây về giường thiền lạnh,

                 Hoa rụng suối đưa hương.

                 Trời chiều tiếng vượn gấp,

                 Núi vắng lá tre vươn,

                 Cảnh trí muôn vàn ý,

                 Muốn nói, bỗng...quên luôn !

   Lục bát :

                 Mái chèo gây vội nắng tà, 

                 Tất bật lễ bái hương hoa Phật tiền.

                 Mây về nghe lạnh sạp thiền,

                 Hoa rơi hương cuốn theo miền nước trôi.

                 Trời chiều vượn hú liên hồi,

                 Núi không bóng trúc vươn dài thênh thênh.

                 Ý do cảnh trí mà nên …

                 Dường như muốn nói bỗng liền quên ngay !

                                                                              

                                                                Đỗ Chiêu Đức

 

3. Bài thơ MỘ XUÂN TỨC SỰ :

 

   暮春即事             Mộ Xuân Tức Sự

閑中盡日閉書齋,   Nhàn trung tận nhật bế thư trai,

門外全無俗客來。   Môn ngoại toàn vô tục khách lai.

杜宇聲中春向老,   Đỗ Vũ thanh trung xuân hướng lão,

一庭疏雨楝花開。   Nhất đình sơ vũ luyện hoa khai.

 

 

 

 

 

 

 

* Chú Thích :

    - MỘ 暮 : Chự MỘ nầy có bộ NHẬT 日 là Mặt trời bên dưới, nên có nghĩa là Buổi Chiều. MỘ XUÂN 暮春 là Xuân đã về chiều, nên có nghĩa là CUỐI MÙA XUÂN. Khác với XUÂN MỘ 春暮 là CHIỀU XUÂN.

    - TẬN 盡 : là Cuối cùng, nhưng TẬN NHẬT 盡日 Không phải là Cuối Ngày, mà có nghĩa là SUỐT NGÀY.

    - TỤC KHÁCH 俗客 : là Khách phàm tục; Ý chỉ những khách khứa tầm thường, không phải là hạng Nho gia hay kẻ sĩ có học.

    - Đỗ VŨ 杜宇 : Chỉ Chim Đỗ Quyên, là con Chim Cuốc, con Quấc. ĐỖ VŨ là tên của vua nước Thục, xưng là Vọng Đế, khi chết hoá thành chim Đỗ Quyên là con chim Cuốc. Nên Đỗ Vũ, Đỗ Quyên, Thục Đế, Vọng Đế đều cùng chỉ một người, một loại chim : Chim Quấc (Quốc).

    - SƠ VŨ 疏雨 : Mưa lưa thưa, mưa lâm thâm, mưa phùng.

 

* Nghĩa Bài Thơ :

                        TỨC CẢNH CUỐI XUÂN

        Trong thời gian nhàn nhã nên suốt ngày cứ khép kín cửa thư trai để đọc sách. Ngoài cửa không có khách phàm tục nào đến để quấy rầy cả. Trong tiếng kêu của con chim quấc nên biết rằng mùa xuân đã già, xuân đã sắp tàn rồi. Trong làn mưa rơi lất phất hoa soan rụng đầy cả sân trong nhà (báo hiệu cho mùa hè đã sắp đến).

 

* Diễn Nôm :

                     CUỐI XUÂN TỨC CẢNH

 

                Suốt ngày nhàn tản khép thư trai,

                Ngoài cửa khách thường chẳng vãng lai.

                Trong tiếng cuốc kêu xuân sắp hết,

                Đầy sân lất phất sắc soan tươi !

    Lục bát :

                Suốt ngày nhàn khép thư phòng,

                Tịnh không tục khách thong dong tháng ngày.

                Cuốc kêu xuân sắp tàn phai,

                Đầy thềm soan nở bay bay mưa phùn !

 

                                                             Đỗ Chiêu Đức

 

4. Bài thơ GIANG HÀNH :

 

  

 

   江行               GIANG HÀNH

西津初艤棹,   Tây tân sơ nghĩ trạo,

風景便江湖。   Phong cảnh tiện giang hồ.

雨過山容瘦,   Vũ qúa sơn dung sấu,

天長鴈影孤。   Thiên Trường nhạn ảnh cô.

滄浪何處是?   Thương Lang hà xứ thị ?

漁釣好為徒。   Ngư điếu hảo vi đồ.

回首東華地,   Hồi thủ Đông Hoa địa,

塵埃覺已無。   Trần ai giác dĩ vô.

 

* Chú Thích :

    - NGHĨ 艤 : Thuyền ghé vào bờ, nên NGHĨ TRẠO 艤棹 : là Gác mái chèo lên để đậu thuyền lại.

    - SẤU 瘦 : là Ốm, là Gầy. Trong bài thơ chỉ dáng vẻ thanh thoát trong sáng của núi rừng sau cơn mưa.

    - THƯƠNG LANG 滄浪 : Phần hạ lưu sông Hán Thủy (Trung Quốc). Hai câu thơ 5 và 6 đề cập khúc sông này và những ngư phủ sống ở đây khiến ta nhớ lại bài ca Ngư Phủ 漁父 của Khuất Nguyên 屈原 trong Sở Từ 楚辭. Cuối bài có hai câu: "Thương Lang chi thuỷ thanh hề, khả dĩ trạc ngô anh, Thương Lang chi thuỷ trọc hề, khả dĩ trạc ngô túc 滄浪之水清兮,可以濯吾纓。滄浪之水濁兮,可以濯吾足. Có nghĩa : Dòng nước Thương Lang trong ư ? Ta có thể giặt giải mũ, Dòng nước Thương Lang đục ư ? Ta có thể rửa chân. Ý nói : Phải biết tùy hoàn cảnh mà sống, chớ không nên làm ra vẻ thanh cao hơn thiên hạ.

    - ĐÔNG HOA 東華 : là nơi có cửa Đông Hoa Môn của hoàng cung, lối đi dành riêng cho các quan chức được đòi vào chầu vua. Đây ý chỉ nơi phồn hoa đô hội.

 

* nghĩa Bài Thơ :

                      ĐI THUYỂN TRÊN SÔNG

        Bến bờ tây vừa gác mái chèo đậu lại, thì phong cảnh sông nước giang hồ đã hiện ra trước mắt. Sau cơn mưa dung nhan (cảnh trí) của núi như ốm (thanh thoát) hơn ra. Bầu trời cao rộng nên bóng của con chim nhạn như càng cô đơn hơn. Sông Thương Lang ở nơi đâu để ta có thể làm ông câu ở nơi đó. Quay nhìn về chốn phồn hoa đô hội, ta cảm thấy như mình đã rũ sạch bụi trần ai !

        Thật cảm khái cho cảnh nhàn cư ẩn dật, muốn sống đời sống nhàn nhã thanh cao, nhưng lòng vẫn... còn chút quyến luyến với đời sống nơi phồn hoa đô hội. Nói là như ... rũ sạch bụi trần ai, nhưng thật ra là lòng còn luyến nhớ !

 

* Diễn Nôm :

              ĐI THUYỀN TRÊN SÔNG            

 

       

 

              Bờ tây vừa gát mái,

              Cảnh sông nước phơi bày.

              Sau mưa núi thanh thoát,

              Trời rộng nhạn lẻ bay.

              Thương Lang nơi đâu nhỉ ?

              Ngư phủ ước được rày.

              Quay đầu về đô hội,

              Như rũ sạch trần ai !

   Lục bát :

              Bờ tây vừa gát mái chèo,

              Giang hồ sông nước như theo với người.

              Sau mưa cảnh núi xinh tươi,

              Nhạn như cô lẻ bầu trời thênh thênh.

              Thương Lang sông nước gập ghềnh,

              Ngư ông an phận lênh đênh theo giòng.

              Quay đầu nhìn đất Hoa Đông,

              Trần ai nhân thế thong dong qua rồi !

 

                                                        Đỗ Chiêu Đức

 

5. Bài thơ TRẠI ĐẦU XUÂN ĐỘ : 

 

  

 

  寨頭春渡                 TRẠI ĐẦU XUÂN ĐỘ

 

渡頭春草綠如煙,   Độ đầu xuân thảo lục như yên,

春雨添來水拍天。   Xuân vũ thiêm lai thủy phách thiên.

野徑荒涼行客少,   Dã kính hoang lương hành khách thiểu,

孤舟鎮日擱沙眠。   Cô chu trấn nhật các sa miên.

 

* Chú Thích :

    - ĐỘ 渡 : Độ nầy có 3 chấm thủy 氵bên trái, nên có nghĩa là đi ngang qua nước (sông, hồ, ao, biển). Danh từ ĐỘ ĐẦU 渡頭 : là Nơi để đi ngang qua sông, ta gọi là BẾN ĐÒ. XUÂN ĐỘ 春渡 là Bến đò xuân.

    - THỦY PHÁCH THIÊN 水拍天: là Nước vổ trời. Trong cảnh sông nước bao la, ta thấy những đợt sóng lăn tăn như vổ vào tận chân trời.

    - DÃ KÍNH 野徑 : Con đường đi ngoài ngoại ô, là Đường đồng trống vắng.

    - TRẤN NHẬT 鎮日 : là Suốt ngày, Cả ngày.

    - CÁC 擱 : Có bộ THỦ 扌là Tay bên trái, nên có nghĩa là Đặt, Để, Kê, Gác. Trong bài thơ có nghĩa : Chiếc đò nằm gác lên trên bãi cát vì không có khách sang sông.

 

* Nghĩa Bài Thơ :

                               BẾN ĐÒ XUÂN ĐẦU TRẠI

        Cỏ xuân trên bến đò xanh biếc như sương khói, cộng thêm với mưa xuân phơi phới nên những sóng nước lăn tăn như vổ tận chân trời. Con đường hoang vắng ở ngoại ô ít khách vãng lai, nên con đò đơn lẻ suốt ngày nằm gác lên trên cát mà ngủ.

        Cảnh bến đò vắng khách trên bến sông xuân vắng lặng, đẹp một cách nên thơ đầy thi vị của cuộc sống êm ả ở thôn quê, càng trở nên yên ắng hơn với con đò như nằm ngủ yên trên bãi cát vì không có khách sang sông ! 

 

* Diễn Nôm :

                 BẾN ĐÒ XUÂN ĐẦU TRẠI

 

              Trên bến đò xuân sắc cỏ tươi,

              Mưa xuân phơi phới nước ngang trời.

              Khách xuân thưa thớt đường xuân vắng,

              Đò nhỏ nằm trơ cát ngủ vùi !

    Lục bát :

              Cỏ xanh như khói bến xuân,

              Thêm mưa xuân vổ sóng lưng ngang trời.

              Đường xuân thưa thớt vắng người,

              Đò xuân trơ cát ngủ vùi sáng trưa !

 

               Đỗ Chiêu Đức

Thơ Nguyễn Trãi

Thơ Làm Khi Công Thành Danh Toại

 

 

 

 

 

 

 

 

                    (Nguyễn Trãi)

 

1. Bài thơ Thượng Nguyên Hỗ Giá Chu Trung Tác

 

 

 

 

 

 

上元扈駕舟中作 Thượng Nguyên Hỗ Giá Chu Trung Tác 

沿江千里燭光紅, Duyên giang thiên lý chúc quang hồng,
彩鷁乘風跨浪篷。 Thái Nghịch thừa phong khóa lãng bồng.
十丈樓臺消蜃氣, Thập trượng lâu đài tiêu thận khí,
三更鼓角壯軍容。 Tam canh cổ giác tráng quân dung.
滄波月浸玉千頃, Thương ba nguyệt tẩm ngọc thiên khoảnh,
仙杖雲趨天九重。 Tiên trượng vân xu thiên cửu trùng.
午夜篷窗清夢覺, Ngọ dạ bồng song thanh mộng giác,
猶疑長樂隔花鐘。 Do nghi Trường Lạc cách hoa chung.
阮廌                         Nguyễn Trãi


* Chú Thích:

- Thượng Nguyên 上元 : là Rằm tháng giêng, là Tiết Nguyên Tiêu.

- hỗ giá 扈駕 : HỖ là theo sau, hộ vệ; HỖ GIÁ : Đi theo hầu thuyền vua.

- Duyên Giang 沿江 : là Dọc theo bờ sông.

- Thái Nghịch 彩鷁 : là tên đặt cho một chiếc thuyền vua có vẽ hình con chim Nghịch đón gió với màu sắc rực rỡ.

- Thận khí 蜃氣 là Ảo ảnh. Ánh sáng rọi xuống biển, phản chiếu ngược lên trên không thành muôn hình vạn trạng, như lâu đài, chợ búa ... Ngày xưa cho là vì có con sò thần biến hóa ra cảnh thần tiên, nên gọi là “Thận Lâu Hải Thị 蜃樓海市 là Lầu Sò Chợ Biển" để chỉ các ảo ảnh về cảnh thần tiên trên biển chỉ là hư ảo không có thật.

- Cổ Giác 鼓角 : Cổ là Trống; Giác là Sừng. Nên CỔ GIÁC là Tiếng trống tiếng tù-và thổi trong quân lúc gác đêm.

- Thương Ba 滄波 : là Sóng xanh, xuất xứ từ THƯƠNG HẢI 滄海 là Biển xanh.

- Tiên Trượng 仙杖 : là Gậy tiên. Gậy tre của tiên chống, có thể hóa thành rồng cởi để bay lên mây xanh.

- Cửu Trùng 九重 : là Chín tầng. Theo truyền thuyết cổ đại của Trung Hoa thì Trời có 9 tầng, nên gọi là Cửu Trùng Thiên 九重天. Vua là Thiên Tử là con trời, nên cũng gọi vua là Đấng Cửu Trùng; Tiếng Nôm ta gọi là Chín Tầng, như mở đầu Chinh Phụ Ngâm Khúc có câu :

 

CHÍN TẦNG gươm báu trao tay,

Nửa đêm truyền hịch định ngày xuất chinh. 

- Ngọ Dạ 午夜 : là Nửa đêm. Phiếm chỉ Đêm khuya.

- Trường Lạc 長樂 : là Cung Trường Lạc. Một cung điện của nhà Hán xưa ở trong thành Trường An (thuộc tỉnh Thiểm Tây Trung Quốc ngày nay), cùng với cung Vị Ương 未央 là nơi xưa Hán Cao Tổ hay đón tiếp quần thần và chư hầu. 

 

 

* Nghĩa Bài Thơ: 

 

 Cảm Tác Ngày Rằm Thượng Nguyên Hỗ Giá trong Thuyền 

 

Cả ngàn dặm dọc theo bờ sông đều rực sáng bởi ánh đuốc sáng rực. Chiếc thuyền có chạm hình chim Thái Nghịch rực rỡ đang cởi gió lướt đi trên sóng. Lầu thuyền cao mười trượng lấp lánh hư ảo như cảnh thần tiên trên biển, và tiếng trống giục hòa lẫn tiếng tù-và rít lên lúc canh ba càng làm tăng thêm vẻ hùng tráng của quân binh. Thuyền lướt trên sóng xanh với ánh trăng lắp loáng chìm trong đáy nước như muôn ngàn mảnh ngọc vỡ ra; những cây cột buồm như những cây gậy tiên như vươn cao và lướt trên mây lên tận chín từng trời. Ta chợt tỉnh giấc mộng thanh thản bên song thuyền lúc giữa đêm khuya, mà còn ngờ là đang nghe tiếng chuông hoa đang gọi chầu nơi cung Trường Lạc. 

 

Quả là cảnh hỗ giá sau thanh bình chiến thắng trở về, với sĩ khí lên cao, đèn hoa rực rỡ trong đêm rằm Nguyên Tiêu sau Tết Nguyên Đán trên thuyền của vua đi. Nguyễn Trãi đã nằm trong khoang thuyền theo sau thuyền vua, nhìn ra trước mũi thuyền có chạm trổ hình chim nghịch với màu sắc rực rỡ như đang lướt đi trên sóng và các cột buồm như những chiếc gậy tiên đang chọc thẳng lên chín từng mây. Cảnh náo nhiệt với các đuốc hoa rực rỡ dọc theo bờ sông, cảnh hùng tráng với tiếng tù-và tiếng trống giục trên thuyền của quân binh đã vẽ nên một cảnh thanh bình thịnh vượng của một đất nước độc lập tự chủ sau những năm trầm luân trong đô hộ. 


* Diễn Nôm: 

Thượng Nguyên Hỗ Giá Chu Trung Tác 

Ngàn dặm ven sông đuốc rực hồng,
Thuyên rồng cởi gió lướt trên sông.
Lâu thuyền mười trượng mờ tiên cảnh,
Còi trống ba quân vẳng khí hùng.
Trăng vỡ ngàn sao nhòa đáy nước,
Gậy tiên chín lớp vượt không trung.
Nửa đêm tỉnh mộng bên song cỏ.
Còn ngỡ chuông hoa Trường Lạc cung! 

Lục bát: 


Ven sông ngàn dặm đuốc hồng,
Mũi thuyền cởi gió lướt dòng sóng xanh.
Lâu thuyền cao xóa khí lành,
Trống còi giục giã đêm thanh hào hùng.
Trăng chìm đáy nước mông lung,
Gậy tiên vươn thẳng chín từng mây cao.
Nửa đêm tỉnh giấc song đào,
Còn ngờ Trường Lạc hôm nao gọi chầu. 

Đỗ Chiêu Đức

***

2. Bài thơ Đề Kiếm:

 

 

 

 

 

 

題劍                         Đề Kiếm


藍山自昔臥神龍, Lam Sơn tự tích ngọa thần long,
世事懸知在掌中。 Thế sự huyền tri tại chưởng trung.
大任有歸天啓聖, Đại nhậm hữu quy thiên khải thánh,
昌期一遇虎生風。 Xương kỳ nhất ngộ hổ sanh phong.
國讎洗盡千年恥, Quốc thù tẩy tận thiên niên sỉ,
金匱終藏萬世功。 Kim quỹ chung tàng vạn thế công.
整頓乾坤從此了, Chỉnh đốn càn khôn tòng thử liễu,
世間那更數雄英。 Thế gian na cánh sổ anh hùng.
阮廌                         Nguyễn Trãi

 

* Chú Thích:

- KIẾM ở đây là Thuận Thiên kiếm 順天劍 hay kiếm thần Thuận Thiên là thanh kiếm huyền thoại của vua Lê Lợi, người đã đem lại độc lập cho Việt Nam từ ách cai trị của nhà Minh phương Bắc.

- LAM SƠN 藍山 : Tên núi ở huyện Thọ Xuân (Thanh Hóa ngày nay), năm 1418 (Mậu Tuất), Bình Định Vương Lê Lợi đã khởi nghĩa tại đây.

- NGỌA THẦN LONG 臥神龍 : "Ngoạ long" là con rồng nằm, thường dùng để chỉ Gia Cát Khổng Minh thời Tam Quốc (Trung Hoa) lúc còn ở ẩn tại Ngoạ Long Cương (huyện Nam Dương, tỉnh Hà Nam). Trong bài này, Nguyễn Trãi dùng "Ngoạ Thần Long" để chỉ Lê Lợi khi còn ở núi rừng Lam Sơn.

- THIÊN KHẢI THÁNH 天啓聖 : Trời bảo cho thánh nhân (tức Lê Lợi) biết. Chỉ việc Lê Lợi được trời cho kiếm thần trên có chữ "Thuận Thiên". Năm 1428 (Mậu Thân), Lê Lợi lên ngôi vua, lấy hiệu là Thuận Thiên.

- HỔ SANH PHONG 虎生風 : Cọp sinh ra gió. Lấy ý ở quẻ Càn 乾 trong kinh Dịch 易: "Vân tòng long, phong tòng hổ" 雲從龍,風從虎 (Mây theo rồng, gió theo cọp).

- KIM QŨY 金匱 : Do chữ "Kim quỹ thạch thất" 金匱石室 là rương làm bằng vàng, nhà xây bằng đá để cất giữ sử sách. Vua Cao Tổ nhà Hán dùng tráp bằng vàng cất giữ những biểu dương ghi chép công lao của các công thần.

- CÀN KHÔN 乾坤 : chỉ Âm dương Trời đất, mượn để chỉ cuộc đời nầy.

 

* Nghĩa Bài Thơ:
Đề Lưỡi Kiếm Thần của Lê Lợi

 

Đất Lam Sơn từ xưa vốn là nơi đã nằm sẵn một con rồng thần. Chuyện đời đã biết rõ rành rành như trong lòng bàn tay. Khi trách nhiệm lớn đã có người gởi gắm thì trời cũng báo cho bậc thánh nhân biết trước, và khi thời cơ tốt đã đến thì như chúa sơn lâm được sự hỗ trợ của gió vậy. Quốc thù cũng đã được rửa sạch cái nhục của cả ngàn năm, và rương vàng cũng cất giữ lại công lao muôn đời của các bậc công thần. Từ nay đã kết thúc việc chỉnh đốn lại càn khôn trời đất của ta, thử nghĩ trên đời nầy có được mấy người anh hùng như thế chứ ?!

Ý là Đề Gươm, nhưng thật ra là để ca ngợi sự kiên nhẫn và chiến tích vẻ vang của Bình Định Vương Lê Lợi. Được kiếm Thuận Thiên là thuận theo ý trời, như hùm gặp gió, như hổ thêm vây rửa sạch cái nhục ngàn năm mà ổn định lại trật tự xã hội của dân Nam, thành tích nầy không phải anh hùng nào cũng làm được! 

Nhà thơ Nguyễn Văn Cổn thời Tiền Chiến trong bài thơ Nước Tôi cũng đã lấp lửng mà ca ngợi bằng hai câu thơ :

Rùa thiêng nổi trước thuyền rồng,

Trên Hồ Hoàn Kiếm anh hùng là ai ?


* Diễn Nôm:
   Đề Kiếm


Lam Sơn xưa vốn đất tiềm long,
Thế sự trong tay đã tỏ lòng.
Đại cuộc chuyển xoay trời ban thánh,
Thuận Thiên kiếm báu hổ nương phong.
Báo xong thù nước ngàn năm nhục,
Ghi dấu hộp vàng muôn thuở công.
Chỉnh đốn đất trời nay trọn vẹn,
Anh hùng mấy kẻ được như ông ?!


Lục bát:


Lam Sơn xưa đất ẩn rồng,
Chuyện đời đã rõ như lòng bàn tay.
Thế trời tỏ rõ thánh hay,
Thuận Thiên thần kiếm thêm vây cho hùm.
Ngàn năm thù nước báo xong,
Rương vàng nhà đá ghi công muôn đời.
Đất trời chỉnh đốn xong rồi,
Anh hùng dưới thế mấy người như ông ?!

Đỗ Chiêu Đức

***

3. Bài thơ Đề Bá Nha Cổ Cầm Đồ

 

 

 

 

 

 

題伯牙鼓琴圖         Đề Bá Nha Cổ Cầm Đồ


鐘期不作鑄金難, Chung Kỳ bất tác chú kim nan,
獨抱瑤琴對月彈。 Độc bão dao cầm đối nguyệt đàn.
靜夜碧霄涼似水, Tĩnh dạ bích tiêu lương tự thủy,
一聲鶴唳九皋寒。 Nhất thanh hạc lệ cửu cao hàn!
阮廌                         Nguyễn Trãi

 

* Chú Thích:

- BÁ NHA 伯牙: hay Sở Bá Nha, họ Du tên Thụy, người nước Sở nhưng làm quan Thượng Đại Phu nước Tấn. Ông là một khách phong lưu, có ngón đàn thất huyền cầm nổi tiếng đương thời. Tương truyền một năm nọ, Bá Nha phụng chỉ vua Tấn đi sứ qua nước Sở. Trên đường trở về đến sông Hán, gặp đêm trung thu trăng thanh gió mát, ông lệnh cho quân lính dừng thuyền uống rượu thưởng nguyệt. Cao hứng mang đàn ra gảy nhưng bản đàn chưa dứt đã bị đứt dây. Bá Nha ngờ có người biết nghe đàn, định truyền quân lên bờ đi tìm thì vừa hay có tiếng chàng trai nói vọng xuống, rằng mình là một tiều phu, thấy khúc đàn hay quá nên dừng chân nghe. Bá Nha có ý nghi hoặc, nhưng khi chàng trai đối đáp trôi chảy, thậm chí biết rõ bản đàn mà mình vừa gảy thì ông không còn mảy may ngờ vực nữa, bèn mời xuống thuyền đàm đạo. Trên thuyền, Bá Nha gảy khúc nhạc Cao sơn Lưu thủy, người tiều phu rung cảm sâu sắc, cao đàm khoát luận, khiến Bá Nha khâm phục hết mực.

 

Chàng trai trẻ đó chính là Chung Tử Kỳ 鍾子期, họ Chung tên Huy, nhà tại Tập Hiền Thôn gần núi Mã Yên cửa sông Hán Giang, là một danh sĩ ẩn dật, đốn củi sớm tối phụng dưỡng mẹ cha già yếu. Được người tri âm, Bá Nha có ý mời Tử Kỳ cùng mình về kinh tiến cử cho Tấn vương để cùng vui hưởng vinh hoa phú quý. Nhưng Tử Kỳ thoái thác vì chữ hiếu. Bá Nha đành phải hẹn Tử Kỳ trung thu năm sau sẽ gặp lại ở chốn nầy. Nhưng khi Bá Nha trở lại bến sông xưa, thì Tử Kỳ đã mất trong một cơn bạo bệnh. Trước khi chết Tử Kỳ còn trăng trối phải chôn chàng nơi bến sông Hán Dương, cạnh núi Mã Yên, để giữ lời hẹn với Bá Nha. Bá Nha tìm đến mộ Tử Kỳ, bày đồ tế lễ, khóc than sầu thảm, gảy một bản nhạc ai điếu. Đàn xong, ông đập đàn vào đá, thề trọn đời không đàn nữa vì biết mình từ nay vĩnh viễn không còn bạn tri âm nữa.

- CỔ CẦM 鼓琴: CỔ danh từ là Cái Trống; động từ là Đánh Trống. nên CỔ CẦM ở đây có nghĩa là Đánh Đàn, Gãy đàn.

- CHÚ KIM 鑄金 : là Đúc bằng vàng. CHÚ KIM NAN là Khó mà đúc được bằng vàng.

- BÍCH TIÊU 碧霄: là Bầu trời xanh biếc.

- CỬU CAO 九皋: là chín cái đầm nước. Kinh Thi chương Hạc minh có câu: “Hạc minh vu cửu cao, thanh văn vu dã” 鶴鳴于九皋,聲聞于野: Chim hạc kêu ở chỗ có chín đầm nước vang khắp đồng nội. Số 9 ở đây là phiếm chỉ, chỉ rất nhiều đầm nước ở ngoài đồng nội.

 

* Nghĩa Bài Thơ:

Đề Bức Tranh Bá Nha Gãy Đàn

 

Không làm được Chung Kỳ vì đúc tượng vàng Chung Kỳ khó.(Ý muốn nói: Chung Tử Kỳ là người tri âm qúy hiếm, rất khó tìm thấy trên đời, kể cả đúc bằng kim loại), Nên mới một mình ôm cây dao cầm mà đàn dưới ánh trăng. Đêm thanh vắng, bầu trời xanh biếc trong mát như nước. Một tiếng chim hạc kêu làm lạnh cả chín đầm nước ngoài đồng nội.

 

* Diễn Nôm:

Đề Tranh Bá Nha Gảy Đàn

 

Chung Kỳ khó gặp đúc nên vàng,
Đơn độc dưới trăng lạnh gãy đàn.
Đêm mát trời xanh trong tợ nước,
Hạc kêu một tiếng chím đầm vang!


Lục bát:
Tri âm khó đúc hơn vàng,
Dưới trăng một bóng ôm đàn gảy suông.

Đêm thanh trời mát tợ gương,
Hạc kêu một tiếng lạnh vương chín đầm!


Đỗ Chiêu Đức

***

4. Bài thơ Quá Thần Phù Hải Khẩu:

 

 

 

 

 

 

 

 

 

過神符海口             Quá Thần Phù Hải Khẩu

神符海口夜中過, Thần Phù hải khẩu dạ trung qua,
奈此風清月白何。 Nại thử phong thanh nguyệt bạch hà.
夾岸千峰排玉筍, Giáp ngạn thiên phong bài ngọc duẩn,
中流一水走青蛇。 Trung lưu nhất thủy tẩu thanh xà.
江山如昨英雄逝, Giang sơn như tạc anh hùng thệ,
天地無情事變多。 Thiên địa vô tình sự biến đa.
胡越一家今幸睹, Hồ Việt nhất gia kim hạnh đổ,
四溟從此息鯨波。 Tứ minh tòng thử tức kình ba !
阮廌                         Nguyễn Trãi

 

* Chú Thích:
- THẦN PHÙ HẢI KHẨU 神符海口 : là Cửa biển Thần Phù. Theo Nam Ông Mộng Lục 南翁夢錄, Vua Lý Thái Tông mang quân Nam tiến để đánh dẹp Chiêm Thành, đến cửa biển này gặp gió to sóng dữ, không đi được; may nhờ một đạo sĩ có phép thuật cao cường dẹp yên sóng dữ. Khi ban sự trở về, đạo sĩ mất ở dọc đường. Vua cho lập đền thờ ở cửa biển, phong hiệu là "Áp Lãng Chân Nhân 壓浪真人" (Chân nhân dẹp yên được sóng dữ) và đặt tên nơi đây là cửa biển Thần Phù.
- NẠI... HÀ 奈...何 : Phải làm sao đây ? Biết nói sao đây ?! 
- PHONG THANH NGUYỆT BẠCH 風清月白 : Ta nói là Gió mát trăng thanh.
- GIÁP NGẠN 夾岸 : Hai bên bờ.
- NGỌC DUẨN 玉筍 : là Măng non mới mọc.
- GIANG SƠN NHƯ TẠC 江山如昨 : Núi sông như mới ngày hôm qua.
- HỒ VIỆT 胡越 : Tên các nước thuộc Trung Quốc. Hồ chỉ các nước nhỏ ở phía bắc, Việt chỉ các nước nhỏ ở phía nam, nên HỒ VIỆT ý chỉ hai nơi rất xa nhau. Tác giả ngụ ý khi hoà hợp thì xa cũng hoá gần.
- TỨ MINH 四溟 : là Tứ Phương Chi Hải 四方之海, là Biển của bốn phương; ta nói là Bốn Bể, có nghĩa là khắp nơi khắp chốn.
- KÌNH BA 鯨波 : Sóng do con cá kình lội mà tạo nên, ở đây mượn ý để chỉ các chiến thuyền lướt sóng như cá kình cá voi; và Chiến Thuyền Lướt Sóng hàm ý chỉ chiến tranh.

* Nghĩa Bài Thơ:
Qua Cửa biển Thần Phù

 

Trong đêm đi ngang qua cửa biển Thần Phù, trong cảnh gió mát trăng thanh nầy, ôi, phải biết nói sao đây ?! Giáp hai bên bờ là hàng ngàn ngọn núi vươn lên như những búp măng mới mọc, và ở giữa là một dòng chảy lấp loáng dưới ánh trăng như một con rắn xanh. Sông núi vẫn như ngày hôm qua, nhưng những người anh hùng thì đã khuất. Trời đất vô tình trước sự biến hóa đổi thay. May mắn là đã nhìn thấy được hôm nay Hồ Việt đã chung lại một nhà, bốn biển từ đây cũng đã

Non nước Thần Phù

* Diễn Nôm:

Qua Cửa biển Thần Phù

Thần Phù cửa biển giữa đêm qua,
Gió mát trăng thanh biết phải là?
Núi đá hai bờ như duẩn ngọc,
Nước xanh một dãi tựa thanh xà.
Giang sơn còn đó anh hùng mất,
Trời đất vô tình thế sự đa.
Hồ Việt nay đà chung một mái,
Thanh bình bốn biển hết can qua!


Lục bát:


Thần Phù cửa biển trong đêm,
Nói sao gió mát êm đềm trăng thanh.
Đôi bờ ngàn núi như tranh,
Giữa trôi lấp lánh rắn xanh một dòng.
Giang sơn đó, đâu anh hùng ?
Sự đời biến đổi vô chừng thoáng qua.
Nay mừng Hồ Việt một nhà,
Từ nay chinh chiến can qua chẳng còn!

Đỗ Chiêu Đức

***

5. Bài thơ Dục Thúy Sơn

 

 

 

 

 

 

 

浴翠山             Dục Thúy Sơn


海口有仙山, Hải khẩu hữu tiên san
年前屢往還。 Niên tiền lũ vãn hoàn.
蓮花浮水上, Liên hoa phù thủy thượng,
仙景墜人間。 Tiên cảnh trụy nhân gian.
塔影簪青玉, Tháp ảnh trâm thanh ngọc,
波光鏡翠鬟。 Ba quang kính thúy hoàn.
有懷張少保, Hữu hoài Trương Thiếu Bảo,
碑刻蘚花斑。 Bi khắc tiễn hoa ban.
阮廌                         Nguyễn Trãi


* Chú Thích:

- DỤC THÚY SAN 浴翠山 : Dục Thúy là Tắm trong màu xanh biếc. Núi Dục Thuý, tức núi Non Nước ở Ninh Bình, tên Dục Thuý là do Trương Hán Siêu đặt, vì núi soi bóng xuống cửa biển với một màu xanh biếc.

- LŨ VÃN HOÀN 屢往還 : là Mấy lượt đi về. Đi đi về về mấy lượt.

- TRỤY NHÂN GIAN 墜人間 : là Rơi xuống trần gian.

- TRƯƠNG THIẾU BẢO 張少保 : Tức Trương Hán Siêu đời Trần, được phong hàm Thiếu Bảo, sau khi mất được thăng Thái Bảo, hàm chánh nhất phẩm. Trương Hán Siêu tự là Thăng Phủ, quê làng Phúc Thành, huyện An Ninh (sau đổi là Phúc Âm, huyện Gia Khánh, tỉnh Ninh Bình, làm quan đời Trần, chức Tham Tri Chính Sự. Về già ở ẩn tại núi Dục Thuý.

- BI 碑 : là Bia. TIỄN 蘚 : là Rong rêu.

 

* Nghĩa bài Thơ:
Núi Thúy Sơn

 

Trước cửa biển có núi tiên, năm trước đây ta đã mấy lượt đi về nơi nầy. Toà núi như là một đóa hoa sen nổi trên mặt nước như là cảnh tiên rơi xuống nhân gian nầy vậy. Bóng tháp in trên nước như trâm bích ngọc và các gợn sóng sáng lấp lánh như gương soi các lọn tóc xanh. Trước cảnh đẹp nầy, làm cho ta chợt nhớ đến Trương Thiếu Bảo, nhưng tấm bia đá khắc về ông đã lốm đốm rêu xanh cả rồi!


* Diễn Nôm :
Núi Thúy Sơn


Cửa biển có tiên san,
Năm qua vẫn khứ hoàn.
Hoa sen trên mặt nước,
Tiên cảnh lạc nhân gian.
Bóng tháp như trâm ngọc,
Sóng xanh tựa tóc nàng.
Nhớ ngài Trương Thiếu Bảo,
Bia khắc cỏ rêu lan.


Lục bát:


Núi tiên cửa biển cận kề,
Năm qua mấy lượt đi về nơi đây.
Như sen nổi mặt nước đầy,
Bồng Lai tiên cảnh đọa đày nhân gian.
Tháp in đáy nước trâm vàng,
Sóng vờn tựa kính soi làn tóc mây.
Nhớ Trương Thiếu Bảo nơi nầy,
Rêu xanh lốm đốn phủ đầy thạch bia!

Đỗ Chiêu Đức

 

———————————————

 

 

Gối Cỏ Đầu Xuân

Với Đôi Vần Thơ Xuân Của Tiền Nhân  

 

 

Tác giả là một bậc anh quân đời nhà Trần và là Sư Tổ sáng lập Thiền Phái Trúc Lâm Yên Tử. PKT 02/18/2019

 

SƠN PHÒNG MẠN HỨNG

Trần Nhân Tông  (1258 - 1308)

 

Thùy phược cánh tương cầu giải thoát

Bất phàm hà tất mịch thần tiên

Viên nhàn mã quyện nhân ưng lão

Y cựu vân trang nhất tháp thiền

 

Thị phi niệm trục triêu hoa lạc

Danh lợi tâm tùy dạ vũ hàn

Hoa tận vũ tình sơn tịch tịch

Nhất thanh đề điểu hựu xuân tàn

 

Mạn Hứng Ở Sơn Phòng

PKT - Mây Tần

 

Có ai trói buộc mình đâu mà phải cầu giải thoát  / Bụi trần đã không còn vướng mắc rồi thì hà tất đi tìm thần tiên làm chi nữa  / Bầy vượn nhởn nhơ, con ngựa đã mỏi, người nay đã già / Am mây và chiếc giường thiền ngày nào vẫn  còn đó / / Nỗi thị phi phải quấy đã được rũ bỏ theo từng cánh hoa rụng rơi ban sáng / Niềm hám danh hám lợi đã được cuốn theo từng đợt  mưa lạnh trong đêm / Hoa đã rụng hết, mưa đã tạnh hẳn, núi non tịch mịch trước mắt / Một tiếng chim hót, ừ nhỉ , cái lẽ tuần hoàn trời đất, xuân đến rồi đi  


 

SƠN PHÒNG MẠN HỨNG

PKT  - Mây Tần

 

Ai trói buộc đâu mà cầu giải thoát,

Lòng đã thoát phàm hà tất tìm Tiên.

Vượn nhàn, ngựa mỏi, thân lão,

Chốn cũ, am mây, một chiếc giường thiền.

 

Sáng ngắm hoa rơi, thị phi rũ bỏ,

Ðêm nghe mưa lạnh, danh lợi buông trôi.

Hoa tàn, mưa tạnh, núi vắng,

Một tiếng chim hót tiễn Xuân ngang trời.        

 

Tri Khac Pham
Phamid1934@gmail.com

 

 

 

 

 

Đỗ Chiêu Đức, Mailoc, Phương Hà, Mùi Quý Bồng 

HAI BÀI THƠ XUÂN

của ÔNG VUA Trần Nhân Tông

 

         Trong dịp xuân về, Kính gởi đến Quý Thầy Cô và Anh Chị Em Vườn Thơ Thẩn  2 bài thơ "Xuân" của ông Vua Trần Nhân Tông...

       

                      Xuân hiểu   

 

,      Thụy khởi khải song phi, 
。      Bất tri xuân dĩ quy.  
,      Nhất song bạch hồ điệp,  
。      Phách phách sấn hoa phi.

 

CHÚ THÍCH : 

 * Thụy Khởi : là Ngủ dậy, chỉ Vừa thức giấc.

 * Khải : là Mở ra, giống như chữ KHAI ( thanh BẰNG, còn KHẢI là thanh TRẮC ).

 * Song Phi : Cánh cửa của Cửa sổ.

 * Phách Phách : là Vổ vổ(cánh), ở đây có nghĩa là Vổ Phần phật.

 * Sấn : là Nhân(dịp), ở đây có nghĩa là Hướng về...

 NGHĨA BÀI THƠ :

                              Sáng Sớm Mùa Xuân

          Vừa mới ngủ dậy, ta mở toang hai cánh cửa sổ ra... Đâu biết rằng mùa xuân đã về đến rồi !( Trông kìa,) một đôi bướm trắng nỏn nà đang vổ vổ cánh bay về các khóm hoa ( đang nở rộ !). 

DIỄN NÔM :

        SÁNG XUÂN

     Thức giấc mở song ngay,

     Xuân đến nào có hay.

     Một đôi bươn bướm trắng,

     Hướng hoa vổ cánh bay !

Lục bát :

     Vừa thức giấc, mở cửa song,

     Nào hay xuân đã về trong đất trời.

     Một đôi bướm trắng xinh tươi,

     Khóm hoa bay lượn thành đôi chập chờn.

                                                         

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Trần Nhân Tông 陳仁宗 (7 tháng 12 năm 1258 - 14 hoặc 16 tháng 12 năm 1308) là vị hoàng đế thứ ba của vương triều Trần trong lịch sử Việt Nam. Ông trị vì từ năm 1278 đến năm 1293, sau đó làm Thái thượng hoàng từ năm 1293 cho đến khi qua đời. Trần Nhân Tông được nhiều sử gia đánh giá là một vị vua anh minh, đã có nhiều đóng góp cho sự phát triển bền vững của Đại Việt cuối thế kỷ 13, cũng như việc bảo vệ nền độc lập và mở rộng cương thổ đất nước. Ngoài ra, ông cũng là một thiền sư lớn của Phật giáo Việt Nam thời trung đại.              

 

   Xuân Vãn

  Trần Nhân Tông

                           

        

春晚                          Xuân Vãn

               陳仁宗                          Trần Nhân Tông

年少何曾了色空     Niên thiếu hà tằng liễu sắc không, 

一 春心在百花中    Nhất xuân tâm tại bách hoa trung.

 如今勘破東皇面    Như kim khám phá đông hoàng diện, 

 禪板蒲團看墜紅    Thiền bản bồ đoàn khán truỵ hồng.

 

Dịch Nghĩa:                           Xuân Muộn

     Câu 1 : 年少何曾了色空     Niên thiếu hà tằng liễu sắc không,


     Từ HÀ TẰNG : HÀ là Như thế nào, là Ra Làm Sao ?. TẰNG là Từng, là Đã Từng. Nên :
     HÀ TẰNG : là một NGHI VẤN TỰ dùng theo cách PHẢN VẤN có nghĩa : Làm sao mà nói được đã từng ?
     LIỄU : là Kết thúc, là Hết.( kết liễu ). Nên...
     HÀ TẰNG LIỄU có nghĩa : Làm sao nói được là đã kết thúc...? Đưa đến nghĩa cả câu là :
     " Tuổi còn trẻ thì làm sao mà có thể nói là đã kết thúc với chuyện sắc không cho được ?!" Nghĩa bóng là :
     " Thanh niên thì làm sao mà có thể nói là không còn nghĩ đến chuyện sắc không nữa ?!". Đưa đến nghĩa của...

 

     CÂU 2 :   一 春心在百花中    Nhất xuân tâm tại bách hoa trung.


      NHẤT XUÂN TÂM : có nghĩa là Một tấm lòng xuân, là Một tấm lòng son trẻ. Nghĩa cả câu là...
      " Một tấm lòng xuân đều ở trong trăm hoa " Nghĩa bóng là : " Một tấm lòng xuân ( son trẻ ),( như cánh bướm cứ xuyên suốt mê mẫm mãi ) trong trăm ( ngàn ) đóa hoa ( đẹp ).
      Câu 2 nầy còn có thể ngắt câu như thế nầy :
     " NHẤT XUÂN, Tâm tại bách hoa trung " !
     Có nghĩa :
         " Hễ đến mùa xuân là lòng cứ vướng bận mãi với trăm hoa ". Nhưng dù ngắt câu như thế nào thì nghĩa của nó vẫn ăn với Câu 1 cả !

 

      CÂU 3, CÂU 4 thì nghĩa đã rõ :


          如今勘破東皇面    Như kim khám phá đông hoàng diện,

          禪板蒲團看墜紅    Thiền bản bồ đoàn khán truỵ hồng.


      KHÁM PHÁ : là Nghiệm ra được, là Thấu hiểu một cách rõ ràng. là Nhìn rõ bộ mặt thật.
      ĐÔNG HOÀNG : là Ông Hoàng ở hướng đông, ta gọi là Chúa Xuân. Ông Chúa của mùa Xuân ở hướng đông.
      THIỀN BẢN, BỒ ĐOÀN...
      THIỀN BẢN : là Miếng Ván dùng để ngồi Thiền.
      BỒ ĐOÀN : là Cái Vòng tròn được kết bằng cỏ Bồ, dùng để ngồi đọc kinh hay ngồi thiền.
        Cho nên...
        THIỀN BẢN và BỒ ĐOÀN là 2 thứ đồ đều dùng để ngồi thiền. Hai từ nầy hô ứng và nhấn mạnh cho nhau chỉ sự tu tập.
        Nghĩa của câu 3, câu 4 là :
        Như hiện nay ( Bây giờ ), đã nhìn rõ được bộ mặt thật của Chúa Xuân rồi ( Xuân đến rồi cũng sẽ đi, hoa nở rồi cũng sẽ tàn ! ). Nên, dù ngồi trên Thiền bản hay Bồ Đoàn gì cũng được ( đã tu tập thiền rồi, đã hiểu rõ nghĩa luân hồi đào thải rồi ) thì lòng rất thản nhiên mà nhìn những cánh hồng rơi rụng ! ( Nhìn hoa tàn mà không còn thương hương tiếc ngọc hay xót liễu vì hoa gì nữa cả, vì đã giác ngộ được lẽ tuần hoàn của tạo hóa ! ).

Xin được góp bài DIỄN NÔM :


          VÃN : là Tối, là muộn, là Cuối, nên...
          XUÂN VÃN là Xuân Muộn, là

                    

  CUỐI XUÂN

  Tuổi trẻ sắc không sao khỏi vướng,
  Lòng xuân quyến luyến mãi trăm hoa.
  Nhưng nay đà tỏ khi xuân tận,
  Hoa rụng lòng thiền chẳng xót xa!

Lục bát :

                   Tuổi xuân nào dứt sắc không,

                   Lòng xuân chìm đắm mãi trong sắc màu.

                   Như nay đà tỏ âm hao,

                   Tâm thiền hoa rụng chẳng nao lòng trần !
                                        
                                                               Đỗ Chiêu Đức.

GÓP THƠ DỊCH: Mailoc, Phương Hà, Múi Quý Bồng

SÁNG  XUÂN

(1)

Sớm mai thức dậy mở song ngoài

Xuân tới kia rồi chẳng có hay.

Bướm trắng một đôi đang đập cánh

Chập chờn theo đuổi cánh hoa bay!

(2)

Sáng dậy mở song ngoài

Xuân về chẳng có hay

Nhởn nhơ đôi bướm trắng

Đập cánh theo hoa bay!

        Mailoc

 

       CHIỀU  XUÂN

 

(1)

Sắc không tuổi trẻ chẳng tinh tường

Xuân đến hoa cười dạ vấn vương.

Mặt thật chúa xuân nay khám phá

An nhiên tịnh toạ ngó rơi hường!

(2)

Sắc không niên thiếu lòng chẳng bận

Rộn rã xuân về vấn vương hoa.

Chúa xuân mặt thật hiểu ra

Bồ đoàn tịnh tọa mặc hoa tơi bời!

        Mailoc

 

I- Phỏng dịch bài Xuân Hiểu

 

(1) Sáng Xuân

 

Sáng ra thức giấc tựa song ngoài

Xuân đến bao giờ đâu có hay

Bướm trắng một đôi âu yếm lượn

Hướng về hoa thắm nhởn nhơ bay.

 

(2) Sáng Xuân

 

 Sớm mai ra tựa song ngoài

Mới hay rộn rã đất trời vào xuân

Một đôi bướm trắng tưng bừng

Nhởn nhơ đập cánh trên từng đóa hoa.

 

                    Phương Hà phỏng dịch

 

 

II- Phỏng dịch bài Xuân Vãn

 

(1) Cuối Xuân

 

Tuổi trẻ lòng sao khỏi sắc không

Muôn hoa vương vấn mãi trong lòng

Nhưng nay biết được khi xuân tận

Hoa rã...tâm thiền đã lĩnh thông.

 

(2) Cuối Xuân

 

Tráng niên nào khỏi sắc không

Hoa xuân phơi phới trong lòng rộn say

Lẽ đời khi đã tỏ hay

Xuân tàn, hoa rụng...tâm này thản nhiên 

 

                  Phương Hà phỏng dịch

 

XUÂN SỚM

 

Mở cửa sáng vừa thức,

Xuân đến mà không biết.

Chập chờn đôi bướm bay

Vào vườn hoa diễm tuyệt.

 

Mùi Quý Bồng

01/24/2019

 

XUÂN MUỘN

 

Tuổi trẻ mơ hoài chuyện sắc không. 

Trăm hoa đua nở giữa lòng xuân.

Xuân đến, xuân đi, nay đã tỏ.

Rụng, rơi, hoa chẳng động lòng thiền.

 

Mùi Quý Bồng

01/24/2019