GÓC

                  VIỆT CỔ THI

__________________________________________________

Thơ NGUYỄN TRÃI  

     E. Thơ làm trong thời sang Trung Quốc.

                        

1. Bài thơ QUÁ HẢI :

 

      過海                         QUÁ HẢI

撥盡閑愁獨倚蓬,    Bát tận nhàn sầu độc ỷ bồng,

水光渺渺思何窮。    Thủy quang diểu diểu tứ hà cùng.

松林地斥疆南北,    Tùng lâm địx xích cương nam bắc,

龍尾山橫限要衝。    Long vĩ sơn hoành hạn yếu xung.

義氣掃空千障客,    Nghĩa khí tảo không thiên chướng khách,

壯懷呼起半帆風。    Tráng hoài hô khởi bán phàm phong.

扁舟羨我朝天客,    Biển chu hâm ngã triều thiên khách,

直駕鯨鯢跨海東。    Trực giá kình nghê khóa hải đông.

* CHÚ THÍCH :

     - BÁT 撥 : là Vạch, Vén. BÁT TẬN 撥盡 : là Vén hết, là Gạt bỏ hết.

     - NHÀN SẦU 閑愁 : Mối sầu rảnh rổi; Ý chỉ Những nỗi buồn vu vơ.

     - BỒNG 蓬 : là Cỏ Bồng. ở đây là BỒNG PHÀM 蓬帆 : là Vải thô làm thành Cánh Buồm.

     - TÙNG LÂM 松林 : hay Tùng Kính Lâm, thuộc Vĩnh Yên (Bắc Việt) sát biên giới Việt Trung.

     - LONG VĨ 龍尾 : Núi Bạch Long Vĩ tại châu Vạn Ninh, tỉnh Quảng Yên (Bắc Việt), cũng gọi là bán đảo vì dãy núi đi từ lục địa ra biển về hướng đảo Hải Nam của Trung Quốc; có lẽ được mệnh danh theo địa thế giống như đuôi rồng. Xưa thuyền bè qua đây thường bị sóng gió.

     - CHƯỚNG VỤ 障霧 : là Mây mù. Còn gọi là Chướng Khí.

     - BIỂN CHU 扁舟 : Biển là Dẹp là Mỏng; nên Biển Chu chỉ Thuyền con, Thuyền nhỏ.

     - HÂM 羨 : là Mâm mộ, là Trầm trồ.

     - KÌNH NGHÊ 鯨鯢 : Cá Kình cá Nghê. là các loại cá Ông cá Nhà táng, những  loại cá lớn ngoài biển.

 

* NGHĨA BÀI THƠ :

                        QUA BIỂN 

        Gạt bỏ hết những nỗi buồn vớ vẩn mà một mình dựa vào cánh buồm, nhìn dòng nước loang loáng trước mắt mà suy nghĩ mông lung không ngừng. Tùng Kính Lâm trước mắt là đất cương lĩnh chia đôi nam bắc, còn núi Bạch Long Vĩ nằm vắt ngang qua vùng đất xung yếu nầy. Cái khí nghĩa dũng xung lên như muốn quét sạch muôn ngàn mây mù chướng khí và lòng hùng tráng như gió rít làm căng nửa cánh buồm thuyền. Chiếc thuyền nhỏ như hâm mộ ta là khách đi chầu thiên triều, nên trực chỉ như cá kình cá nghê lướt sóng biển đông.

* DIỄN NÔM :

                        QUÁ HẢI

 

            Tựa cột buồm cao gát hết sầu,

            Nước trong loang loáng nghĩ đâu đâu.

            Tùng Lâm chia đất bờ nam bắc,

            Long Vĩ vắt ngang cỏi địa đầu.

            Nghĩa khí vút cao sương khói nhạt,

            Chí hùng căng gió cánh buồm thâu.

            Thuyền con hâm mộ người đi sứ,

            Như cá kình nghê lướt sóng chầu.

   Lục bát :

            Gát buồn tựa cột buồm cao,

            Mênh mông loang loáng dạt dào ưu tư.

            Tùng Lâm nam bắc phân cư,

            Bạch Long Vĩ ấy địa đầu vắt ngang.

            Tan sương nghĩa khí ngút ngàn,

            Chí hùng căng cánh buồm ngang lưng trời.

            Thuyền con theo sứ ra khơi,

            Như kình nghê vượt qua trời biển đông.

 

                                        Đỗ Chiêu Đức

 

2. Bài thơ THÁI THẠCH HOÀI CỔ :

 

  采石懷古             THÁI THẠCH HOÀI CỔ

采石曾聞李謫仙,   Thái Thạch tằng văn Lý Trích Tiên,

騎鯨飛去已多年。   Kỵ kình phi khứ dĩ đa niên.

此江若變為春酒,   Thử giang nhược biến vi xuân tửu,

只恐波心尚醉眠。   Chỉ khủng ba tâm thượng túy miên.

* CHÚ THÍCH :

    - THÁI THẠCH 采石 : Thái Thạch là tên con sông thuộc tỉnh An Huy, Trung Quốc. Tương truyền khi đi thuyền trên sông nầy Lý Bạch 李白 đã uống rượu say rồi nhảy xuống sông định bắt lấy ánh trăng nên bị chết đuối tại đây. Vì thế nơi đây có xây một cái đài gọi là Tróc Nguyệt đài 捉月臺 (đài bắt trăng). Lý Bạch tự cho mình là Hải thượng kỵ kình 海上騎鯨 (khách cưỡi cá kình trên biển). Người đương thời bảo Lý Bạch là tiên bị đày xuống trần gian, nên gọi là Lý Trích Tiên 李謫仙. Đỗ Phủ, cùng thời với Lý Bạch, có câu: “Nhược phùng Lý Bạch kỵ kình ngư, Đạo Phủ vấn tấn kim hà như ? 若逢李白騎鯨魚,道甫問訊今何如?” (Nếu có gặp Lý Bạch đang cưỡi cá kình, Thì hãy nói dùm rằng Phủ tôi đây hỏi Bạch nay đã ra sao rồi ?).

 

                

 

    - TẰNG VĂN 曾聞 : là Đã từng nghe.

    - NHƯỢC 若 : là Nhược bằng, là Nếu như.

    - CHỈ KHỦNG 只恐 : Chỉnh e, Chỉ sợ rằng...

    - BA TÂM 波心 : Trong lòng đợt sóng trên sông.

    - THƯỢNG 尚 : là Vẫn, Vẫn còn...

 

* NGHĨA BÀI THƠ :

                            Nhớ Chuyện Xưa Bên Dòng Sông Thái Thạch

 

       Đã từng nghe nói về Lý Trích Tiên trên dòng sông Thái Thạch nầy, ông ta  cởi cá kình mà bay đi đã nhiều năm lắm rồi. Nếu như nước của dòng sông nầy đều  biến thành rượu xuân, thì e rằng ông ta vẫn còn say ngủ trong lòng những đợt sóng trên sông.

 

* DIỄN NÔM :

                 

                 THÁI THẠCH HOÀI CỔ

              

              

 

              Thái Thạch từng nghe Lý Bạch say,

              Cởi kình bay biết mấy năm nay.

              Sông này nếu biến thành xuân tửu,

              Lòng sóng e rằng vẫn ngủ say !

    Lục bát :

              Từng nghe Thái Thạch Trích Tiên,

              Cởi kình bay mất bao niên trước rồi.

              Nước sông biến rượu xuân trôi,

              Chỉnh e lòng sóng nay say vùi ngủ yên !

              

                                                            Đỗ Chiêu Đức

 

3. Bài thơ Bình Nam Dạ Bạc :

 

  平南夜泊                BÌNH NAM DẠ BẠC

片帆高颭晚風輕,    Phiến phàm cao chiếm vãn phong khinh,

暮宿平南古縣城。    Mộ túc Bình Nam cổ huyện thành.

燈影照人和月影,    Đăng ảnh chiếu nhân hòa nguyệt ảnh,

樹聲敲夢併灘聲。    Thọ thanh xao mộng tính than thanh.

湖山有約違初志,    Hồ sơn hữu ước vi sơ chí,

歲月如流漫此生。    Tuế nguyệt như lưu mạn thử sanh.

夜半戍樓吹畫角,    Dạ bán thú lâu xuy họa giác.

客中悽愴不勝情。    Khách trung thê sảng bất thăng tình.

 

       
 

* CHÚ THÍCH :

    - BÌNH NAM 平南 :

      Tên một huyện ngày xưa thuộc phủ Tầm Châu trên sông Tầm Giang thuộc tỉnh Quảng Tây, Trung Quốc hiện nay. 

    - CAO CHIẾM 高颭 : là Lay động ở trên cao.

    - TÍNH 併 : là Cùng , Đều, Kiêm.

    - VI 違 : là Không theo..., Làm trái lại.

    - MẠN 漫 : là đầy tràn. ở đây có nghĩa là : Uổng phí. Vô ích.

    - THÚ LÂU 戍樓 : Lầu Canh, Gác canh.

    - HỌA GIÁC 畫角 : Cái Tù Và thổi trong đêm canh gác.

    - THÊ SẢNG 悽愴 : là Thê lương sầu thảm xót thương.

 

* NGHĨA BÀI THƠ :

                     Đêm Đậu Thuyền Ở Bình Nam

       Một cánh buồm giương cao phập phồng trong gió chiều nhè nhẹ. Đêm ghé bến Bình Nam là một huyện thành xưa cổ. Bóng đèn và bóng trăng cùng chiếu vào bóng người, tiếng cây lá xạc xào cùng tiếng lao xao trên bến bãi làm tỉnh giấc mơ. Lời ước hẹn với sông hồ còn chưa thỏa chí của lúc ban đầu, ngày tháng trôi qua như nước chảy làm uổng phí mất kiếp sống nầy. Nửa đêm nghe tiếng tù và thổi sang canh trên lầu canh, khiến cho người lữ khách không sao ngăn được xúc động buồn thương cho cảnh tha hương đất khách.

         

          Trương Kế với PHONG KIỀU DẠ BẠC 楓橋夜泊, còn Nguyễn Trãi thì với BÌNH NAM DẠ BẠC 平南夜泊. Trương Kế nổi tiếng với 2 câu :

 

                     姑蘇城外寒山寺,  Cô Tô thành ngoại Hàn San Tự,

                     夜半鐘聲到客船。  Dạ bán chung thanh đáo khách thuyền.

Có nghĩa :

               Chùa Hàn San ngoại thành Cô Tô ấy,

               Nửa đêm buồn chuông vẳng đến thuyền ai.

 

      Còn Nguyễn Trãi thì cũng nổi tiếng với 2 câu kết là :

 

                   夜半戍樓吹畫角,  Dạ bán thú lâu xuy họa giác.

                   客中悽愴不勝情。  Khách trung thê sảng bất thăng tình.

Có nghĩa :

               Trên lầu canh nửa đêm tù và vẳng,

               Khách xa nhà ray rức chạnh niềm riêng !

 

* DIỄN NÔM :

                          ĐÊM GHÉ BẾN BÌNH NAM

  

                   Một cánh buồm cao gió phất phơ,,

                   Bình Nam đêm ghé cổ thành xưa.

                   Bóng đèn bóng nguyệt mờ nhân ảnh

                   Tiếng lá tiếng người chợt tỉnh mơ.

                   Sông núi ước xưa đà lỗi hẹn,

                   Tháng ngày như nước hết mong chờ.

                   Nửa đêm còi điểm lầu canh vắng,

                   Lòng khách dạt dào vạn ý thơ.

      Lục bát :

                   Buồm cao gió nhẹ chiều hôm,

                   Qua đêm ghé bến Bình Nam cổ thành.

                   Bóng đèn lồng bóng trăng thanh,

                   Tiếng người hòa tiếng cây cành lao xao.

                   Núi sông đà lỗi hẹn nào,

                   Tháng ngày như nước tiêu hao hết đời.

                   Tù và canh điểm đêm vơi,

                   Khiến người lữ khách ngậm ngùi thở than.            

 

   Đỗ Chiêu Đức

CÁC BẢN DỊCH KHÁC:

                  Dịch Thái Thạch Hoài Cổ

                  Từng nghe Thi Tiên, mộ ở Thái Thạch,

                  Đã cỡi cá kình thoát tục lâu rồi.

                  Ví thử nước sông là dòng xuân tửu,

                  Ắt Ngườì còn say ngủ giữa sóng vùi. 

 

                  Phạm Khắc Trí

 

                  QUA BIỂN

                  ( Quá Hải )

                  Nguyễn Trãi

 

                  Mạn thuyền tựa, muộn sầu đã gác

                  Sắc nước trời man mác ý dâng.

                  Phân chia Nam Bắc, Tùng Lâm

                  Yếu xung Long Vĩ nằm ngang núi dài.

                  Gạt mây mù lòng đầy dũng khí

                  Chí hào hùng như chiếc buồm căng.

                  Thuyền con đi sứ băng băng

                  Kình ngư sóng cỡi đạp bằng biển đông.

           

                  Mailoc phỏng dịch

                  (Thu phân 2019 )

 

                  ĐÊM ĐẬU THUYỀN Ở BÌNH NAM

                  (Bình Nam Dạ Bạc)

                         Nguyễn Trãi

 

                   Buồm phập phồng gió chiều nhẹ thổi

                   Ghé Bình Nam qua tối cổ thành.

                   Ánh đèn hoà với ánh trăng

                   Cây reo nước vẳng xua tan giấc nồng.

                   Lời nguyền ước núi sông dang dở

                   Tháng năm trôi đã lỡ một đời.

                   Tiếng tù canh tối bồi hồi

                   Cho lòng lữ khách không vơi nỗi niềm!

       

                   Mailoc phỏng dịch

                   9-23-19

_______________________________

 Thơ NGUYỄN TRÃI 

    D. THƠ LÀM TRONG THỜI Ở ẨN TẠI CÔN SƠN. 

 

1. BÀI THƠ " VÃN HỨNG " :

     

 

           

 

      晚興                            VÃN HỨNG 

               阮豸                                      Nguyễn Trãi 

窮巷幽居苦寂寥         Cùng hạng u cư khổ tịch liêu,  

烏巾竹杖晚逍遙         Ô cân trúc trượng vãn tiêu diêu.

荒村日落霞棲樹         Hoang thôn nhật lạc, hà thê thụ,

野徑人稀水沒橋         Dã kính nhân hi, thủy một kiều. 

今古無窮江漠漠         Kim cổ vô cùng giang mạc mạc, 

英雄有恨葉蕭蕭         Anh hùng hữu hận diệp tiêu tiêu.

歸來獨凭欄杆坐         Quy lai độc bẵng lan can tọa,

一片冰蟾掛碧霄         Nhất phiến băng thiềm quải bích tiêu.

 

* CHÚ THÍCH :

    - CÙNG HẠN 窮巷 : Hạng là Con hẽm; nên CÙNG HẠN là ở cuối con hẽm, cũng có nghĩa là : Ở nơi hang cùng ngõ hẹp.

    - Ô CÂN TRÚC TRƯỢNG 烏巾竹杖 : là Khăn đen gậy trúc, chỉ sự phục sức của dân dã miền núi non.

    - HÀ THÊ THỌ 霞棲樹 : là Ráng chiều đậu trên cây, Ý nói những ánh nắng chiều tàn còn rơi rớt lại trên cành lá.

    - THỦY MỘt KIỀU 水沒橋 : là Nước ngập cầu. Nước lớn dâng lên làm ngập cả những cây cầu bắt ngang qua mương rạch.

    - GIANG MẠC MẠC 江漠漠: Nước sông lửng lờ trôi..

    - DIỆP TIÊU TIÊU 葉蕭蕭 : Cây lá xạc xào vì gió lay động.

    - NHẤT PHIẾN BĂNG THIỀM 一片冰蟾 : Một mảnh thiềm thừ băng giá, Ý nói một vầng trăng lạnh lẽo. Theo thần thoại Trung Hoa trong cung trăng có con Thiềm Thừ (Con Cóc) ba chân, nên cung trăng còn gọi là Thiềm Cung 蟾宫.

    - QUẢI BÍCH TIÊU 掛碧霄 : là Treo trên bầu trời xanh biếc.

         

* DỊCH NGHĨA :

 

                              NIỀM CẢM KHÁI HỨNG KHỞI LÚC BAN CHIỀU

           Ở chỗ thanh u trong hang cùng ngõ hẹp nầy chỉ khổ một nỗi là quá tiêu điều vắng lặng, nên mỗi chiều ta đều chống gậy trúc, bịt khăn đen rất tiêu dao mà ngắm cảnh chiều tà. Cảnh thôn trang hoang vắng khi mặt trời chen lặn với ráng chiều như còn lưu luyến trên các ngọn cây, và trên đường mòn vắng vẻ người qua lại nầy, dòng nước như cuộn chảy ngập cả những cây cầu bắt ngang. Chuyện cổ kim xưa nay không dứt như dòng sông lờ lững chảy hoài, còn mối hận của kẻ anh hùng thì cũng xạc xào mãi như những chiếc lá lay động trong gió chiều.. Ta trở về một mình ngồi tựa lan can mà cảm khái trong bầu trời xanh biếc với mảnh trăng treo lạnh lẽo ở tầng không.

 

* DIỄN NÔM :

                         

 

                                  VÃN HỨNG 

 

              Ngõ hẹp hang cùng sống quạnh hiu,

              Khăn đen gậy trúc vẻ tiêu diêu.

              Ráng chiều thôn vắng mây vương ngọn,

              Cầu ngập người thưa nước cuốn nhiều.

              Kim cổ vô cùng sông cuộn cuộn,

              Anh hùng ôm hận lá liu xiu.

              Trở về ngồi tựa lan can ngắm,

              Một mảnh trăng treo lạnh cả chiều !

  Lục bát :

              Ẩn cư tận chốn hang cùng,

              Khăn đen gậy trúc vui cùng quạnh hiu.

              Ráng chiều thôn vắng tiêu điều,

              Nước lên cầu ngập đường chiều lơ thơ.

              Cổ kim như nước lửng lờ,

              Anh hùng ôm hận hững hờ lá rơi.

              Tựa lan can, một mình ngồi,

              Ngắm vầng trăng lạnh bên trời xanh lơ !

              

                                                       Đỗ Chiêu Đức.

 

2. Bài thơ TIÊN DU TỰ :

 

   仙遊寺                Tiên Du tự

            阮廌                       Nguyễn Trãi

短棹繫斜陽,     Đoản trạo hệ tà dương 

匆匆謁上方。     Thông thông yết thượng phương. 

雲歸禪榻冷,     Vân quy Thiền sáp lãnh, 

花落澗流香。     Hoa lạc giản lưu hương. 

日暮猿聲急,     Nhật mộ viên thanh cấp

山空竹影長。     Sơn không trúc ảnh trường 

箇中真有意,     Cá trung chân hữu ý, 

欲語忽還忘。     Dục ngữ hốt hoàn vương (vong).

 

      

 

* Chú Thích :

    - HỆ 繫 : Chữ HỆ nầy có bộ MỊCH 糸 là Sợi Tơ bên dưới, nên có nghĩa là Trói, là Buộc, là Cột. Ở đây có nghĩa là GÂY (GÂY CHÈO : là dùng một sợi dây cuộn tròn như hình số 8 rồi dùng chèo gá vào xoay một hoặc hai vòng cho cột chèo và cây chèo ăn vào với nhau để chèo ).

    - THÔNG THÔNG 匆匆 : Vội vàng, Tất bật.

    - YẾT 謁 : là Yết Kiến 謁見, thường dùng để chỉ người nhỏ ra mắt người lớn, người thường ra mắt người có chức có quyền...

    - SÁP 榻 : Cái Sạp. Thiền Sáp 禪榻 là Cái Sạp để ngồi Thiền. 

    - GIẢN 澗 : là Dòng nước chảy len lỏi giữa núi đá, nhỏ hơn suối.

    - VONG 忘 : Chữ VONG nầy có bộ TÂM 心 ở dưới, nên có nghĩa là Quên; Vì muốn cho ăn Vận nên phải đọc trại thành VƯƠNG.

 

* Dịch nghĩa:

             Chùa Tiên Du

Mái chèo ngắn vội gây (buộc) trong ánh nắng chiều tà. 

Vội vàng lên chùa để yết kiến đức Phật ( Thượng Phương ).

Mây kéo về làm lạnh giường Thiền nơi tu tập .

Hoa rụng xuống khiến hương hoa theo dòng suối trôi đi. 

Chiều hôm buông  xuống nên tiếng vượn kêu rộn rả.

Núi trống không nên bóng trúc như dài thêm ra .

Trong cảnh trí thật là hữu tình hữu ý  đó …

Ta muốn nói nên điều gì đó, nhưng bỗng dưng lại quên mất lời. 

 

      Bài thơ tả cảnh chiều xuống thật nhẹ nhàng trên bến chùa Tiên Du. Hoa rụng nước trôi vượn kêu núi vắng, khiến người trong cuộc cảm xúc dạt dào, muốn nói nhưng quên mất lời, không biết phải nói làm sao mới diễn đạt được hết lòng cảm xúc của mình. Qủa là một ý thiền rất là ... thiền ! Không nói được nhưng dường như đã ... nói rất nghiều !

 

 Diễn Nôm :

                       

 

 

 

 

 

                        CHÙA TIÊN DU

 

                  Chèo ngắn buộc tà vương,

                 Tất bật lễ Thượng phương.

                 Mây về giường thiền lạnh,

                 Hoa rụng suối đưa hương.

                 Trời chiều tiếng vượn gấp,

                 Núi vắng lá tre vươn,

                 Cảnh trí muôn vàn ý,

                 Muốn nói, bỗng...quên luôn !

   Lục bát :

                 Mái chèo gây vội nắng tà, 

                 Tất bật lễ bái hương hoa Phật tiền.

                 Mây về nghe lạnh sạp thiền,

                 Hoa rơi hương cuốn theo miền nước trôi.

                 Trời chiều vượn hú liên hồi,

                 Núi không bóng trúc vươn dài thênh thênh.

                 Ý do cảnh trí mà nên …

                 Dường như muốn nói bỗng liền quên ngay !

                                                                              

                                                                Đỗ Chiêu Đức

 

3. Bài thơ MỘ XUÂN TỨC SỰ :

 

   暮春即事             Mộ Xuân Tức Sự

閑中盡日閉書齋,   Nhàn trung tận nhật bế thư trai,

門外全無俗客來。   Môn ngoại toàn vô tục khách lai.

杜宇聲中春向老,   Đỗ Vũ thanh trung xuân hướng lão,

一庭疏雨楝花開。   Nhất đình sơ vũ luyện hoa khai.

 

 

 

 

 

 

 

* Chú Thích :

    - MỘ 暮 : Chự MỘ nầy có bộ NHẬT 日 là Mặt trời bên dưới, nên có nghĩa là Buổi Chiều. MỘ XUÂN 暮春 là Xuân đã về chiều, nên có nghĩa là CUỐI MÙA XUÂN. Khác với XUÂN MỘ 春暮 là CHIỀU XUÂN.

    - TẬN 盡 : là Cuối cùng, nhưng TẬN NHẬT 盡日 Không phải là Cuối Ngày, mà có nghĩa là SUỐT NGÀY.

    - TỤC KHÁCH 俗客 : là Khách phàm tục; Ý chỉ những khách khứa tầm thường, không phải là hạng Nho gia hay kẻ sĩ có học.

    - Đỗ VŨ 杜宇 : Chỉ Chim Đỗ Quyên, là con Chim Cuốc, con Quấc. ĐỖ VŨ là tên của vua nước Thục, xưng là Vọng Đế, khi chết hoá thành chim Đỗ Quyên là con chim Cuốc. Nên Đỗ Vũ, Đỗ Quyên, Thục Đế, Vọng Đế đều cùng chỉ một người, một loại chim : Chim Quấc (Quốc).

    - SƠ VŨ 疏雨 : Mưa lưa thưa, mưa lâm thâm, mưa phùng.

 

* Nghĩa Bài Thơ :

                        TỨC CẢNH CUỐI XUÂN

        Trong thời gian nhàn nhã nên suốt ngày cứ khép kín cửa thư trai để đọc sách. Ngoài cửa không có khách phàm tục nào đến để quấy rầy cả. Trong tiếng kêu của con chim quấc nên biết rằng mùa xuân đã già, xuân đã sắp tàn rồi. Trong làn mưa rơi lất phất hoa soan rụng đầy cả sân trong nhà (báo hiệu cho mùa hè đã sắp đến).

 

* Diễn Nôm :

                     CUỐI XUÂN TỨC CẢNH

 

                Suốt ngày nhàn tản khép thư trai,

                Ngoài cửa khách thường chẳng vãng lai.

                Trong tiếng cuốc kêu xuân sắp hết,

                Đầy sân lất phất sắc soan tươi !

    Lục bát :

                Suốt ngày nhàn khép thư phòng,

                Tịnh không tục khách thong dong tháng ngày.

                Cuốc kêu xuân sắp tàn phai,

                Đầy thềm soan nở bay bay mưa phùn !

 

                                                             Đỗ Chiêu Đức

 

4. Bài thơ GIANG HÀNH :

 

  

 

   江行               GIANG HÀNH

西津初艤棹,   Tây tân sơ nghĩ trạo,

風景便江湖。   Phong cảnh tiện giang hồ.

雨過山容瘦,   Vũ qúa sơn dung sấu,

天長鴈影孤。   Thiên Trường nhạn ảnh cô.

滄浪何處是?   Thương Lang hà xứ thị ?

漁釣好為徒。   Ngư điếu hảo vi đồ.

回首東華地,   Hồi thủ Đông Hoa địa,

塵埃覺已無。   Trần ai giác dĩ vô.

 

* Chú Thích :

    - NGHĨ 艤 : Thuyền ghé vào bờ, nên NGHĨ TRẠO 艤棹 : là Gác mái chèo lên để đậu thuyền lại.

    - SẤU 瘦 : là Ốm, là Gầy. Trong bài thơ chỉ dáng vẻ thanh thoát trong sáng của núi rừng sau cơn mưa.

    - THƯƠNG LANG 滄浪 : Phần hạ lưu sông Hán Thủy (Trung Quốc). Hai câu thơ 5 và 6 đề cập khúc sông này và những ngư phủ sống ở đây khiến ta nhớ lại bài ca Ngư Phủ 漁父 của Khuất Nguyên 屈原 trong Sở Từ 楚辭. Cuối bài có hai câu: "Thương Lang chi thuỷ thanh hề, khả dĩ trạc ngô anh, Thương Lang chi thuỷ trọc hề, khả dĩ trạc ngô túc 滄浪之水清兮,可以濯吾纓。滄浪之水濁兮,可以濯吾足. Có nghĩa : Dòng nước Thương Lang trong ư ? Ta có thể giặt giải mũ, Dòng nước Thương Lang đục ư ? Ta có thể rửa chân. Ý nói : Phải biết tùy hoàn cảnh mà sống, chớ không nên làm ra vẻ thanh cao hơn thiên hạ.

    - ĐÔNG HOA 東華 : là nơi có cửa Đông Hoa Môn của hoàng cung, lối đi dành riêng cho các quan chức được đòi vào chầu vua. Đây ý chỉ nơi phồn hoa đô hội.

 

* nghĩa Bài Thơ :

                      ĐI THUYỂN TRÊN SÔNG

        Bến bờ tây vừa gác mái chèo đậu lại, thì phong cảnh sông nước giang hồ đã hiện ra trước mắt. Sau cơn mưa dung nhan (cảnh trí) của núi như ốm (thanh thoát) hơn ra. Bầu trời cao rộng nên bóng của con chim nhạn như càng cô đơn hơn. Sông Thương Lang ở nơi đâu để ta có thể làm ông câu ở nơi đó. Quay nhìn về chốn phồn hoa đô hội, ta cảm thấy như mình đã rũ sạch bụi trần ai !

        Thật cảm khái cho cảnh nhàn cư ẩn dật, muốn sống đời sống nhàn nhã thanh cao, nhưng lòng vẫn... còn chút quyến luyến với đời sống nơi phồn hoa đô hội. Nói là như ... rũ sạch bụi trần ai, nhưng thật ra là lòng còn luyến nhớ !

 

* Diễn Nôm :

              ĐI THUYỀN TRÊN SÔNG            

 

       

 

              Bờ tây vừa gát mái,

              Cảnh sông nước phơi bày.

              Sau mưa núi thanh thoát,

              Trời rộng nhạn lẻ bay.

              Thương Lang nơi đâu nhỉ ?

              Ngư phủ ước được rày.

              Quay đầu về đô hội,

              Như rũ sạch trần ai !

   Lục bát :

              Bờ tây vừa gát mái chèo,

              Giang hồ sông nước như theo với người.

              Sau mưa cảnh núi xinh tươi,

              Nhạn như cô lẻ bầu trời thênh thênh.

              Thương Lang sông nước gập ghềnh,

              Ngư ông an phận lênh đênh theo giòng.

              Quay đầu nhìn đất Hoa Đông,

              Trần ai nhân thế thong dong qua rồi !

 

                                                        Đỗ Chiêu Đức

 

5. Bài thơ TRẠI ĐẦU XUÂN ĐỘ : 

 

  

 

  寨頭春渡                 TRẠI ĐẦU XUÂN ĐỘ

 

渡頭春草綠如煙,   Độ đầu xuân thảo lục như yên,

春雨添來水拍天。   Xuân vũ thiêm lai thủy phách thiên.

野徑荒涼行客少,   Dã kính hoang lương hành khách thiểu,

孤舟鎮日擱沙眠。   Cô chu trấn nhật các sa miên.

 

* Chú Thích :

    - ĐỘ 渡 : Độ nầy có 3 chấm thủy 氵bên trái, nên có nghĩa là đi ngang qua nước (sông, hồ, ao, biển). Danh từ ĐỘ ĐẦU 渡頭 : là Nơi để đi ngang qua sông, ta gọi là BẾN ĐÒ. XUÂN ĐỘ 春渡 là Bến đò xuân.

    - THỦY PHÁCH THIÊN 水拍天: là Nước vổ trời. Trong cảnh sông nước bao la, ta thấy những đợt sóng lăn tăn như vổ vào tận chân trời.

    - DÃ KÍNH 野徑 : Con đường đi ngoài ngoại ô, là Đường đồng trống vắng.

    - TRẤN NHẬT 鎮日 : là Suốt ngày, Cả ngày.

    - CÁC 擱 : Có bộ THỦ 扌là Tay bên trái, nên có nghĩa là Đặt, Để, Kê, Gác. Trong bài thơ có nghĩa : Chiếc đò nằm gác lên trên bãi cát vì không có khách sang sông.

 

* Nghĩa Bài Thơ :

                               BẾN ĐÒ XUÂN ĐẦU TRẠI

        Cỏ xuân trên bến đò xanh biếc như sương khói, cộng thêm với mưa xuân phơi phới nên những sóng nước lăn tăn như vổ tận chân trời. Con đường hoang vắng ở ngoại ô ít khách vãng lai, nên con đò đơn lẻ suốt ngày nằm gác lên trên cát mà ngủ.

        Cảnh bến đò vắng khách trên bến sông xuân vắng lặng, đẹp một cách nên thơ đầy thi vị của cuộc sống êm ả ở thôn quê, càng trở nên yên ắng hơn với con đò như nằm ngủ yên trên bãi cát vì không có khách sang sông ! 

 

* Diễn Nôm :

                 BẾN ĐÒ XUÂN ĐẦU TRẠI

 

              Trên bến đò xuân sắc cỏ tươi,

              Mưa xuân phơi phới nước ngang trời.

              Khách xuân thưa thớt đường xuân vắng,

              Đò nhỏ nằm trơ cát ngủ vùi !

    Lục bát :

              Cỏ xanh như khói bến xuân,

              Thêm mưa xuân vổ sóng lưng ngang trời.

              Đường xuân thưa thớt vắng người,

              Đò xuân trơ cát ngủ vùi sáng trưa !

 

               Đỗ Chiêu Đức

Thơ Nguyễn Trãi

Thơ Làm Khi Công Thành Danh Toại

 

 

 

 

 

 

 

 

                    (Nguyễn Trãi)

 

1. Bài thơ Thượng Nguyên Hỗ Giá Chu Trung Tác

 

 

 

 

 

 

上元扈駕舟中作 Thượng Nguyên Hỗ Giá Chu Trung Tác 

沿江千里燭光紅, Duyên giang thiên lý chúc quang hồng,
彩鷁乘風跨浪篷。 Thái Nghịch thừa phong khóa lãng bồng.
十丈樓臺消蜃氣, Thập trượng lâu đài tiêu thận khí,
三更鼓角壯軍容。 Tam canh cổ giác tráng quân dung.
滄波月浸玉千頃, Thương ba nguyệt tẩm ngọc thiên khoảnh,
仙杖雲趨天九重。 Tiên trượng vân xu thiên cửu trùng.
午夜篷窗清夢覺, Ngọ dạ bồng song thanh mộng giác,
猶疑長樂隔花鐘。 Do nghi Trường Lạc cách hoa chung.
阮廌                         Nguyễn Trãi


* Chú Thích:

- Thượng Nguyên 上元 : là Rằm tháng giêng, là Tiết Nguyên Tiêu.

- hỗ giá 扈駕 : HỖ là theo sau, hộ vệ; HỖ GIÁ : Đi theo hầu thuyền vua.

- Duyên Giang 沿江 : là Dọc theo bờ sông.

- Thái Nghịch 彩鷁 : là tên đặt cho một chiếc thuyền vua có vẽ hình con chim Nghịch đón gió với màu sắc rực rỡ.

- Thận khí 蜃氣 là Ảo ảnh. Ánh sáng rọi xuống biển, phản chiếu ngược lên trên không thành muôn hình vạn trạng, như lâu đài, chợ búa ... Ngày xưa cho là vì có con sò thần biến hóa ra cảnh thần tiên, nên gọi là “Thận Lâu Hải Thị 蜃樓海市 là Lầu Sò Chợ Biển" để chỉ các ảo ảnh về cảnh thần tiên trên biển chỉ là hư ảo không có thật.

- Cổ Giác 鼓角 : Cổ là Trống; Giác là Sừng. Nên CỔ GIÁC là Tiếng trống tiếng tù-và thổi trong quân lúc gác đêm.

- Thương Ba 滄波 : là Sóng xanh, xuất xứ từ THƯƠNG HẢI 滄海 là Biển xanh.

- Tiên Trượng 仙杖 : là Gậy tiên. Gậy tre của tiên chống, có thể hóa thành rồng cởi để bay lên mây xanh.

- Cửu Trùng 九重 : là Chín tầng. Theo truyền thuyết cổ đại của Trung Hoa thì Trời có 9 tầng, nên gọi là Cửu Trùng Thiên 九重天. Vua là Thiên Tử là con trời, nên cũng gọi vua là Đấng Cửu Trùng; Tiếng Nôm ta gọi là Chín Tầng, như mở đầu Chinh Phụ Ngâm Khúc có câu :

 

CHÍN TẦNG gươm báu trao tay,

Nửa đêm truyền hịch định ngày xuất chinh. 

- Ngọ Dạ 午夜 : là Nửa đêm. Phiếm chỉ Đêm khuya.

- Trường Lạc 長樂 : là Cung Trường Lạc. Một cung điện của nhà Hán xưa ở trong thành Trường An (thuộc tỉnh Thiểm Tây Trung Quốc ngày nay), cùng với cung Vị Ương 未央 là nơi xưa Hán Cao Tổ hay đón tiếp quần thần và chư hầu. 

 

 

* Nghĩa Bài Thơ: 

 

 Cảm Tác Ngày Rằm Thượng Nguyên Hỗ Giá trong Thuyền 

 

Cả ngàn dặm dọc theo bờ sông đều rực sáng bởi ánh đuốc sáng rực. Chiếc thuyền có chạm hình chim Thái Nghịch rực rỡ đang cởi gió lướt đi trên sóng. Lầu thuyền cao mười trượng lấp lánh hư ảo như cảnh thần tiên trên biển, và tiếng trống giục hòa lẫn tiếng tù-và rít lên lúc canh ba càng làm tăng thêm vẻ hùng tráng của quân binh. Thuyền lướt trên sóng xanh với ánh trăng lắp loáng chìm trong đáy nước như muôn ngàn mảnh ngọc vỡ ra; những cây cột buồm như những cây gậy tiên như vươn cao và lướt trên mây lên tận chín từng trời. Ta chợt tỉnh giấc mộng thanh thản bên song thuyền lúc giữa đêm khuya, mà còn ngờ là đang nghe tiếng chuông hoa đang gọi chầu nơi cung Trường Lạc. 

 

Quả là cảnh hỗ giá sau thanh bình chiến thắng trở về, với sĩ khí lên cao, đèn hoa rực rỡ trong đêm rằm Nguyên Tiêu sau Tết Nguyên Đán trên thuyền của vua đi. Nguyễn Trãi đã nằm trong khoang thuyền theo sau thuyền vua, nhìn ra trước mũi thuyền có chạm trổ hình chim nghịch với màu sắc rực rỡ như đang lướt đi trên sóng và các cột buồm như những chiếc gậy tiên đang chọc thẳng lên chín từng mây. Cảnh náo nhiệt với các đuốc hoa rực rỡ dọc theo bờ sông, cảnh hùng tráng với tiếng tù-và tiếng trống giục trên thuyền của quân binh đã vẽ nên một cảnh thanh bình thịnh vượng của một đất nước độc lập tự chủ sau những năm trầm luân trong đô hộ. 


* Diễn Nôm: 

Thượng Nguyên Hỗ Giá Chu Trung Tác 

Ngàn dặm ven sông đuốc rực hồng,
Thuyên rồng cởi gió lướt trên sông.
Lâu thuyền mười trượng mờ tiên cảnh,
Còi trống ba quân vẳng khí hùng.
Trăng vỡ ngàn sao nhòa đáy nước,
Gậy tiên chín lớp vượt không trung.
Nửa đêm tỉnh mộng bên song cỏ.
Còn ngỡ chuông hoa Trường Lạc cung! 

Lục bát: 


Ven sông ngàn dặm đuốc hồng,
Mũi thuyền cởi gió lướt dòng sóng xanh.
Lâu thuyền cao xóa khí lành,
Trống còi giục giã đêm thanh hào hùng.
Trăng chìm đáy nước mông lung,
Gậy tiên vươn thẳng chín từng mây cao.
Nửa đêm tỉnh giấc song đào,
Còn ngờ Trường Lạc hôm nao gọi chầu. 

Đỗ Chiêu Đức

***

2. Bài thơ Đề Kiếm:

 

 

 

 

 

 

題劍                         Đề Kiếm


藍山自昔臥神龍, Lam Sơn tự tích ngọa thần long,
世事懸知在掌中。 Thế sự huyền tri tại chưởng trung.
大任有歸天啓聖, Đại nhậm hữu quy thiên khải thánh,
昌期一遇虎生風。 Xương kỳ nhất ngộ hổ sanh phong.
國讎洗盡千年恥, Quốc thù tẩy tận thiên niên sỉ,
金匱終藏萬世功。 Kim quỹ chung tàng vạn thế công.
整頓乾坤從此了, Chỉnh đốn càn khôn tòng thử liễu,
世間那更數雄英。 Thế gian na cánh sổ anh hùng.
阮廌                         Nguyễn Trãi

 

* Chú Thích:

- KIẾM ở đây là Thuận Thiên kiếm 順天劍 hay kiếm thần Thuận Thiên là thanh kiếm huyền thoại của vua Lê Lợi, người đã đem lại độc lập cho Việt Nam từ ách cai trị của nhà Minh phương Bắc.

- LAM SƠN 藍山 : Tên núi ở huyện Thọ Xuân (Thanh Hóa ngày nay), năm 1418 (Mậu Tuất), Bình Định Vương Lê Lợi đã khởi nghĩa tại đây.

- NGỌA THẦN LONG 臥神龍 : "Ngoạ long" là con rồng nằm, thường dùng để chỉ Gia Cát Khổng Minh thời Tam Quốc (Trung Hoa) lúc còn ở ẩn tại Ngoạ Long Cương (huyện Nam Dương, tỉnh Hà Nam). Trong bài này, Nguyễn Trãi dùng "Ngoạ Thần Long" để chỉ Lê Lợi khi còn ở núi rừng Lam Sơn.

- THIÊN KHẢI THÁNH 天啓聖 : Trời bảo cho thánh nhân (tức Lê Lợi) biết. Chỉ việc Lê Lợi được trời cho kiếm thần trên có chữ "Thuận Thiên". Năm 1428 (Mậu Thân), Lê Lợi lên ngôi vua, lấy hiệu là Thuận Thiên.

- HỔ SANH PHONG 虎生風 : Cọp sinh ra gió. Lấy ý ở quẻ Càn 乾 trong kinh Dịch 易: "Vân tòng long, phong tòng hổ" 雲從龍,風從虎 (Mây theo rồng, gió theo cọp).

- KIM QŨY 金匱 : Do chữ "Kim quỹ thạch thất" 金匱石室 là rương làm bằng vàng, nhà xây bằng đá để cất giữ sử sách. Vua Cao Tổ nhà Hán dùng tráp bằng vàng cất giữ những biểu dương ghi chép công lao của các công thần.

- CÀN KHÔN 乾坤 : chỉ Âm dương Trời đất, mượn để chỉ cuộc đời nầy.

 

* Nghĩa Bài Thơ:
Đề Lưỡi Kiếm Thần của Lê Lợi

 

Đất Lam Sơn từ xưa vốn là nơi đã nằm sẵn một con rồng thần. Chuyện đời đã biết rõ rành rành như trong lòng bàn tay. Khi trách nhiệm lớn đã có người gởi gắm thì trời cũng báo cho bậc thánh nhân biết trước, và khi thời cơ tốt đã đến thì như chúa sơn lâm được sự hỗ trợ của gió vậy. Quốc thù cũng đã được rửa sạch cái nhục của cả ngàn năm, và rương vàng cũng cất giữ lại công lao muôn đời của các bậc công thần. Từ nay đã kết thúc việc chỉnh đốn lại càn khôn trời đất của ta, thử nghĩ trên đời nầy có được mấy người anh hùng như thế chứ ?!

Ý là Đề Gươm, nhưng thật ra là để ca ngợi sự kiên nhẫn và chiến tích vẻ vang của Bình Định Vương Lê Lợi. Được kiếm Thuận Thiên là thuận theo ý trời, như hùm gặp gió, như hổ thêm vây rửa sạch cái nhục ngàn năm mà ổn định lại trật tự xã hội của dân Nam, thành tích nầy không phải anh hùng nào cũng làm được! 

Nhà thơ Nguyễn Văn Cổn thời Tiền Chiến trong bài thơ Nước Tôi cũng đã lấp lửng mà ca ngợi bằng hai câu thơ :

Rùa thiêng nổi trước thuyền rồng,

Trên Hồ Hoàn Kiếm anh hùng là ai ?


* Diễn Nôm:
   Đề Kiếm


Lam Sơn xưa vốn đất tiềm long,
Thế sự trong tay đã tỏ lòng.
Đại cuộc chuyển xoay trời ban thánh,
Thuận Thiên kiếm báu hổ nương phong.
Báo xong thù nước ngàn năm nhục,
Ghi dấu hộp vàng muôn thuở công.
Chỉnh đốn đất trời nay trọn vẹn,
Anh hùng mấy kẻ được như ông ?!


Lục bát:


Lam Sơn xưa đất ẩn rồng,
Chuyện đời đã rõ như lòng bàn tay.
Thế trời tỏ rõ thánh hay,
Thuận Thiên thần kiếm thêm vây cho hùm.
Ngàn năm thù nước báo xong,
Rương vàng nhà đá ghi công muôn đời.
Đất trời chỉnh đốn xong rồi,
Anh hùng dưới thế mấy người như ông ?!

Đỗ Chiêu Đức

***

3. Bài thơ Đề Bá Nha Cổ Cầm Đồ

 

 

 

 

 

 

題伯牙鼓琴圖         Đề Bá Nha Cổ Cầm Đồ


鐘期不作鑄金難, Chung Kỳ bất tác chú kim nan,
獨抱瑤琴對月彈。 Độc bão dao cầm đối nguyệt đàn.
靜夜碧霄涼似水, Tĩnh dạ bích tiêu lương tự thủy,
一聲鶴唳九皋寒。 Nhất thanh hạc lệ cửu cao hàn!
阮廌                         Nguyễn Trãi

 

* Chú Thích:

- BÁ NHA 伯牙: hay Sở Bá Nha, họ Du tên Thụy, người nước Sở nhưng làm quan Thượng Đại Phu nước Tấn. Ông là một khách phong lưu, có ngón đàn thất huyền cầm nổi tiếng đương thời. Tương truyền một năm nọ, Bá Nha phụng chỉ vua Tấn đi sứ qua nước Sở. Trên đường trở về đến sông Hán, gặp đêm trung thu trăng thanh gió mát, ông lệnh cho quân lính dừng thuyền uống rượu thưởng nguyệt. Cao hứng mang đàn ra gảy nhưng bản đàn chưa dứt đã bị đứt dây. Bá Nha ngờ có người biết nghe đàn, định truyền quân lên bờ đi tìm thì vừa hay có tiếng chàng trai nói vọng xuống, rằng mình là một tiều phu, thấy khúc đàn hay quá nên dừng chân nghe. Bá Nha có ý nghi hoặc, nhưng khi chàng trai đối đáp trôi chảy, thậm chí biết rõ bản đàn mà mình vừa gảy thì ông không còn mảy may ngờ vực nữa, bèn mời xuống thuyền đàm đạo. Trên thuyền, Bá Nha gảy khúc nhạc Cao sơn Lưu thủy, người tiều phu rung cảm sâu sắc, cao đàm khoát luận, khiến Bá Nha khâm phục hết mực.

 

Chàng trai trẻ đó chính là Chung Tử Kỳ 鍾子期, họ Chung tên Huy, nhà tại Tập Hiền Thôn gần núi Mã Yên cửa sông Hán Giang, là một danh sĩ ẩn dật, đốn củi sớm tối phụng dưỡng mẹ cha già yếu. Được người tri âm, Bá Nha có ý mời Tử Kỳ cùng mình về kinh tiến cử cho Tấn vương để cùng vui hưởng vinh hoa phú quý. Nhưng Tử Kỳ thoái thác vì chữ hiếu. Bá Nha đành phải hẹn Tử Kỳ trung thu năm sau sẽ gặp lại ở chốn nầy. Nhưng khi Bá Nha trở lại bến sông xưa, thì Tử Kỳ đã mất trong một cơn bạo bệnh. Trước khi chết Tử Kỳ còn trăng trối phải chôn chàng nơi bến sông Hán Dương, cạnh núi Mã Yên, để giữ lời hẹn với Bá Nha. Bá Nha tìm đến mộ Tử Kỳ, bày đồ tế lễ, khóc than sầu thảm, gảy một bản nhạc ai điếu. Đàn xong, ông đập đàn vào đá, thề trọn đời không đàn nữa vì biết mình từ nay vĩnh viễn không còn bạn tri âm nữa.

- CỔ CẦM 鼓琴: CỔ danh từ là Cái Trống; động từ là Đánh Trống. nên CỔ CẦM ở đây có nghĩa là Đánh Đàn, Gãy đàn.

- CHÚ KIM 鑄金 : là Đúc bằng vàng. CHÚ KIM NAN là Khó mà đúc được bằng vàng.

- BÍCH TIÊU 碧霄: là Bầu trời xanh biếc.

- CỬU CAO 九皋: là chín cái đầm nước. Kinh Thi chương Hạc minh có câu: “Hạc minh vu cửu cao, thanh văn vu dã” 鶴鳴于九皋,聲聞于野: Chim hạc kêu ở chỗ có chín đầm nước vang khắp đồng nội. Số 9 ở đây là phiếm chỉ, chỉ rất nhiều đầm nước ở ngoài đồng nội.

 

* Nghĩa Bài Thơ:

Đề Bức Tranh Bá Nha Gãy Đàn

 

Không làm được Chung Kỳ vì đúc tượng vàng Chung Kỳ khó.(Ý muốn nói: Chung Tử Kỳ là người tri âm qúy hiếm, rất khó tìm thấy trên đời, kể cả đúc bằng kim loại), Nên mới một mình ôm cây dao cầm mà đàn dưới ánh trăng. Đêm thanh vắng, bầu trời xanh biếc trong mát như nước. Một tiếng chim hạc kêu làm lạnh cả chín đầm nước ngoài đồng nội.

 

* Diễn Nôm:

Đề Tranh Bá Nha Gảy Đàn

 

Chung Kỳ khó gặp đúc nên vàng,
Đơn độc dưới trăng lạnh gãy đàn.
Đêm mát trời xanh trong tợ nước,
Hạc kêu một tiếng chím đầm vang!


Lục bát:
Tri âm khó đúc hơn vàng,
Dưới trăng một bóng ôm đàn gảy suông.

Đêm thanh trời mát tợ gương,
Hạc kêu một tiếng lạnh vương chín đầm!


Đỗ Chiêu Đức

***

4. Bài thơ Quá Thần Phù Hải Khẩu:

 

 

 

 

 

 

 

 

 

過神符海口             Quá Thần Phù Hải Khẩu

神符海口夜中過, Thần Phù hải khẩu dạ trung qua,
奈此風清月白何。 Nại thử phong thanh nguyệt bạch hà.
夾岸千峰排玉筍, Giáp ngạn thiên phong bài ngọc duẩn,
中流一水走青蛇。 Trung lưu nhất thủy tẩu thanh xà.
江山如昨英雄逝, Giang sơn như tạc anh hùng thệ,
天地無情事變多。 Thiên địa vô tình sự biến đa.
胡越一家今幸睹, Hồ Việt nhất gia kim hạnh đổ,
四溟從此息鯨波。 Tứ minh tòng thử tức kình ba !
阮廌                         Nguyễn Trãi

 

* Chú Thích:
- THẦN PHÙ HẢI KHẨU 神符海口 : là Cửa biển Thần Phù. Theo Nam Ông Mộng Lục 南翁夢錄, Vua Lý Thái Tông mang quân Nam tiến để đánh dẹp Chiêm Thành, đến cửa biển này gặp gió to sóng dữ, không đi được; may nhờ một đạo sĩ có phép thuật cao cường dẹp yên sóng dữ. Khi ban sự trở về, đạo sĩ mất ở dọc đường. Vua cho lập đền thờ ở cửa biển, phong hiệu là "Áp Lãng Chân Nhân 壓浪真人" (Chân nhân dẹp yên được sóng dữ) và đặt tên nơi đây là cửa biển Thần Phù.
- NẠI... HÀ 奈...何 : Phải làm sao đây ? Biết nói sao đây ?! 
- PHONG THANH NGUYỆT BẠCH 風清月白 : Ta nói là Gió mát trăng thanh.
- GIÁP NGẠN 夾岸 : Hai bên bờ.
- NGỌC DUẨN 玉筍 : là Măng non mới mọc.
- GIANG SƠN NHƯ TẠC 江山如昨 : Núi sông như mới ngày hôm qua.
- HỒ VIỆT 胡越 : Tên các nước thuộc Trung Quốc. Hồ chỉ các nước nhỏ ở phía bắc, Việt chỉ các nước nhỏ ở phía nam, nên HỒ VIỆT ý chỉ hai nơi rất xa nhau. Tác giả ngụ ý khi hoà hợp thì xa cũng hoá gần.
- TỨ MINH 四溟 : là Tứ Phương Chi Hải 四方之海, là Biển của bốn phương; ta nói là Bốn Bể, có nghĩa là khắp nơi khắp chốn.
- KÌNH BA 鯨波 : Sóng do con cá kình lội mà tạo nên, ở đây mượn ý để chỉ các chiến thuyền lướt sóng như cá kình cá voi; và Chiến Thuyền Lướt Sóng hàm ý chỉ chiến tranh.

* Nghĩa Bài Thơ:
Qua Cửa biển Thần Phù

 

Trong đêm đi ngang qua cửa biển Thần Phù, trong cảnh gió mát trăng thanh nầy, ôi, phải biết nói sao đây ?! Giáp hai bên bờ là hàng ngàn ngọn núi vươn lên như những búp măng mới mọc, và ở giữa là một dòng chảy lấp loáng dưới ánh trăng như một con rắn xanh. Sông núi vẫn như ngày hôm qua, nhưng những người anh hùng thì đã khuất. Trời đất vô tình trước sự biến hóa đổi thay. May mắn là đã nhìn thấy được hôm nay Hồ Việt đã chung lại một nhà, bốn biển từ đây cũng đã

Non nước Thần Phù

* Diễn Nôm:

Qua Cửa biển Thần Phù

Thần Phù cửa biển giữa đêm qua,
Gió mát trăng thanh biết phải là?
Núi đá hai bờ như duẩn ngọc,
Nước xanh một dãi tựa thanh xà.
Giang sơn còn đó anh hùng mất,
Trời đất vô tình thế sự đa.
Hồ Việt nay đà chung một mái,
Thanh bình bốn biển hết can qua!


Lục bát:


Thần Phù cửa biển trong đêm,
Nói sao gió mát êm đềm trăng thanh.
Đôi bờ ngàn núi như tranh,
Giữa trôi lấp lánh rắn xanh một dòng.
Giang sơn đó, đâu anh hùng ?
Sự đời biến đổi vô chừng thoáng qua.
Nay mừng Hồ Việt một nhà,
Từ nay chinh chiến can qua chẳng còn!

Đỗ Chiêu Đức

***

5. Bài thơ Dục Thúy Sơn

 

 

 

 

 

 

 

浴翠山             Dục Thúy Sơn


海口有仙山, Hải khẩu hữu tiên san
年前屢往還。 Niên tiền lũ vãn hoàn.
蓮花浮水上, Liên hoa phù thủy thượng,
仙景墜人間。 Tiên cảnh trụy nhân gian.
塔影簪青玉, Tháp ảnh trâm thanh ngọc,
波光鏡翠鬟。 Ba quang kính thúy hoàn.
有懷張少保, Hữu hoài Trương Thiếu Bảo,
碑刻蘚花斑。 Bi khắc tiễn hoa ban.
阮廌                         Nguyễn Trãi


* Chú Thích:

- DỤC THÚY SAN 浴翠山 : Dục Thúy là Tắm trong màu xanh biếc. Núi Dục Thuý, tức núi Non Nước ở Ninh Bình, tên Dục Thuý là do Trương Hán Siêu đặt, vì núi soi bóng xuống cửa biển với một màu xanh biếc.

- LŨ VÃN HOÀN 屢往還 : là Mấy lượt đi về. Đi đi về về mấy lượt.

- TRỤY NHÂN GIAN 墜人間 : là Rơi xuống trần gian.

- TRƯƠNG THIẾU BẢO 張少保 : Tức Trương Hán Siêu đời Trần, được phong hàm Thiếu Bảo, sau khi mất được thăng Thái Bảo, hàm chánh nhất phẩm. Trương Hán Siêu tự là Thăng Phủ, quê làng Phúc Thành, huyện An Ninh (sau đổi là Phúc Âm, huyện Gia Khánh, tỉnh Ninh Bình, làm quan đời Trần, chức Tham Tri Chính Sự. Về già ở ẩn tại núi Dục Thuý.

- BI 碑 : là Bia. TIỄN 蘚 : là Rong rêu.

 

* Nghĩa bài Thơ:
Núi Thúy Sơn

 

Trước cửa biển có núi tiên, năm trước đây ta đã mấy lượt đi về nơi nầy. Toà núi như là một đóa hoa sen nổi trên mặt nước như là cảnh tiên rơi xuống nhân gian nầy vậy. Bóng tháp in trên nước như trâm bích ngọc và các gợn sóng sáng lấp lánh như gương soi các lọn tóc xanh. Trước cảnh đẹp nầy, làm cho ta chợt nhớ đến Trương Thiếu Bảo, nhưng tấm bia đá khắc về ông đã lốm đốm rêu xanh cả rồi!


* Diễn Nôm :
Núi Thúy Sơn


Cửa biển có tiên san,
Năm qua vẫn khứ hoàn.
Hoa sen trên mặt nước,
Tiên cảnh lạc nhân gian.
Bóng tháp như trâm ngọc,
Sóng xanh tựa tóc nàng.
Nhớ ngài Trương Thiếu Bảo,
Bia khắc cỏ rêu lan.


Lục bát:


Núi tiên cửa biển cận kề,
Năm qua mấy lượt đi về nơi đây.
Như sen nổi mặt nước đầy,
Bồng Lai tiên cảnh đọa đày nhân gian.
Tháp in đáy nước trâm vàng,
Sóng vờn tựa kính soi làn tóc mây.
Nhớ Trương Thiếu Bảo nơi nầy,
Rêu xanh lốm đốn phủ đầy thạch bia!

Đỗ Chiêu Đức

 

———————————————

 

 

Gối Cỏ Đầu Xuân

Với Đôi Vần Thơ Xuân Của Tiền Nhân  

 

 

Tác giả là một bậc anh quân đời nhà Trần và là Sư Tổ sáng lập Thiền Phái Trúc Lâm Yên Tử. PKT 02/18/2019

 

SƠN PHÒNG MẠN HỨNG

Trần Nhân Tông  (1258 - 1308)

 

Thùy phược cánh tương cầu giải thoát

Bất phàm hà tất mịch thần tiên

Viên nhàn mã quyện nhân ưng lão

Y cựu vân trang nhất tháp thiền

 

Thị phi niệm trục triêu hoa lạc

Danh lợi tâm tùy dạ vũ hàn

Hoa tận vũ tình sơn tịch tịch

Nhất thanh đề điểu hựu xuân tàn

 

Mạn Hứng Ở Sơn Phòng

PKT - Mây Tần

 

Có ai trói buộc mình đâu mà phải cầu giải thoát  / Bụi trần đã không còn vướng mắc rồi thì hà tất đi tìm thần tiên làm chi nữa  / Bầy vượn nhởn nhơ, con ngựa đã mỏi, người nay đã già / Am mây và chiếc giường thiền ngày nào vẫn  còn đó / / Nỗi thị phi phải quấy đã được rũ bỏ theo từng cánh hoa rụng rơi ban sáng / Niềm hám danh hám lợi đã được cuốn theo từng đợt  mưa lạnh trong đêm / Hoa đã rụng hết, mưa đã tạnh hẳn, núi non tịch mịch trước mắt / Một tiếng chim hót, ừ nhỉ , cái lẽ tuần hoàn trời đất, xuân đến rồi đi  


 

SƠN PHÒNG MẠN HỨNG

PKT  - Mây Tần

 

Ai trói buộc đâu mà cầu giải thoát,

Lòng đã thoát phàm hà tất tìm Tiên.

Vượn nhàn, ngựa mỏi, thân lão,

Chốn cũ, am mây, một chiếc giường thiền.

 

Sáng ngắm hoa rơi, thị phi rũ bỏ,

Ðêm nghe mưa lạnh, danh lợi buông trôi.

Hoa tàn, mưa tạnh, núi vắng,

Một tiếng chim hót tiễn Xuân ngang trời.        

 

Tri Khac Pham
Phamid1934@gmail.com

 

 

 

 

 

Đỗ Chiêu Đức, Mailoc, Phương Hà, Mùi Quý Bồng 

HAI BÀI THƠ XUÂN

của ÔNG VUA Trần Nhân Tông

 

         Trong dịp xuân về, Kính gởi đến Quý Thầy Cô và Anh Chị Em Vườn Thơ Thẩn  2 bài thơ "Xuân" của ông Vua Trần Nhân Tông...

       

                      Xuân hiểu   

 

,      Thụy khởi khải song phi, 
。      Bất tri xuân dĩ quy.  
,      Nhất song bạch hồ điệp,  
。      Phách phách sấn hoa phi.

 

CHÚ THÍCH : 

 * Thụy Khởi : là Ngủ dậy, chỉ Vừa thức giấc.

 * Khải : là Mở ra, giống như chữ KHAI ( thanh BẰNG, còn KHẢI là thanh TRẮC ).

 * Song Phi : Cánh cửa của Cửa sổ.

 * Phách Phách : là Vổ vổ(cánh), ở đây có nghĩa là Vổ Phần phật.

 * Sấn : là Nhân(dịp), ở đây có nghĩa là Hướng về...

 NGHĨA BÀI THƠ :

                              Sáng Sớm Mùa Xuân

          Vừa mới ngủ dậy, ta mở toang hai cánh cửa sổ ra... Đâu biết rằng mùa xuân đã về đến rồi !( Trông kìa,) một đôi bướm trắng nỏn nà đang vổ vổ cánh bay về các khóm hoa ( đang nở rộ !). 

DIỄN NÔM :

        SÁNG XUÂN

     Thức giấc mở song ngay,

     Xuân đến nào có hay.

     Một đôi bươn bướm trắng,

     Hướng hoa vổ cánh bay !

Lục bát :

     Vừa thức giấc, mở cửa song,

     Nào hay xuân đã về trong đất trời.

     Một đôi bướm trắng xinh tươi,

     Khóm hoa bay lượn thành đôi chập chờn.

                                                         

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Trần Nhân Tông 陳仁宗 (7 tháng 12 năm 1258 - 14 hoặc 16 tháng 12 năm 1308) là vị hoàng đế thứ ba của vương triều Trần trong lịch sử Việt Nam. Ông trị vì từ năm 1278 đến năm 1293, sau đó làm Thái thượng hoàng từ năm 1293 cho đến khi qua đời. Trần Nhân Tông được nhiều sử gia đánh giá là một vị vua anh minh, đã có nhiều đóng góp cho sự phát triển bền vững của Đại Việt cuối thế kỷ 13, cũng như việc bảo vệ nền độc lập và mở rộng cương thổ đất nước. Ngoài ra, ông cũng là một thiền sư lớn của Phật giáo Việt Nam thời trung đại.              

 

   Xuân Vãn

  Trần Nhân Tông

                           

        

春晚                          Xuân Vãn

               陳仁宗                          Trần Nhân Tông

年少何曾了色空     Niên thiếu hà tằng liễu sắc không, 

一 春心在百花中    Nhất xuân tâm tại bách hoa trung.

 如今勘破東皇面    Như kim khám phá đông hoàng diện, 

 禪板蒲團看墜紅    Thiền bản bồ đoàn khán truỵ hồng.

 

Dịch Nghĩa:                           Xuân Muộn

     Câu 1 : 年少何曾了色空     Niên thiếu hà tằng liễu sắc không,


     Từ HÀ TẰNG : HÀ là Như thế nào, là Ra Làm Sao ?. TẰNG là Từng, là Đã Từng. Nên :
     HÀ TẰNG : là một NGHI VẤN TỰ dùng theo cách PHẢN VẤN có nghĩa : Làm sao mà nói được đã từng ?
     LIỄU : là Kết thúc, là Hết.( kết liễu ). Nên...
     HÀ TẰNG LIỄU có nghĩa : Làm sao nói được là đã kết thúc...? Đưa đến nghĩa cả câu là :
     " Tuổi còn trẻ thì làm sao mà có thể nói là đã kết thúc với chuyện sắc không cho được ?!" Nghĩa bóng là :
     " Thanh niên thì làm sao mà có thể nói là không còn nghĩ đến chuyện sắc không nữa ?!". Đưa đến nghĩa của...

 

     CÂU 2 :   一 春心在百花中    Nhất xuân tâm tại bách hoa trung.


      NHẤT XUÂN TÂM : có nghĩa là Một tấm lòng xuân, là Một tấm lòng son trẻ. Nghĩa cả câu là...
      " Một tấm lòng xuân đều ở trong trăm hoa " Nghĩa bóng là : " Một tấm lòng xuân ( son trẻ ),( như cánh bướm cứ xuyên suốt mê mẫm mãi ) trong trăm ( ngàn ) đóa hoa ( đẹp ).
      Câu 2 nầy còn có thể ngắt câu như thế nầy :
     " NHẤT XUÂN, Tâm tại bách hoa trung " !
     Có nghĩa :
         " Hễ đến mùa xuân là lòng cứ vướng bận mãi với trăm hoa ". Nhưng dù ngắt câu như thế nào thì nghĩa của nó vẫn ăn với Câu 1 cả !

 

      CÂU 3, CÂU 4 thì nghĩa đã rõ :


          如今勘破東皇面    Như kim khám phá đông hoàng diện,

          禪板蒲團看墜紅    Thiền bản bồ đoàn khán truỵ hồng.


      KHÁM PHÁ : là Nghiệm ra được, là Thấu hiểu một cách rõ ràng. là Nhìn rõ bộ mặt thật.
      ĐÔNG HOÀNG : là Ông Hoàng ở hướng đông, ta gọi là Chúa Xuân. Ông Chúa của mùa Xuân ở hướng đông.
      THIỀN BẢN, BỒ ĐOÀN...
      THIỀN BẢN : là Miếng Ván dùng để ngồi Thiền.
      BỒ ĐOÀN : là Cái Vòng tròn được kết bằng cỏ Bồ, dùng để ngồi đọc kinh hay ngồi thiền.
        Cho nên...
        THIỀN BẢN và BỒ ĐOÀN là 2 thứ đồ đều dùng để ngồi thiền. Hai từ nầy hô ứng và nhấn mạnh cho nhau chỉ sự tu tập.
        Nghĩa của câu 3, câu 4 là :
        Như hiện nay ( Bây giờ ), đã nhìn rõ được bộ mặt thật của Chúa Xuân rồi ( Xuân đến rồi cũng sẽ đi, hoa nở rồi cũng sẽ tàn ! ). Nên, dù ngồi trên Thiền bản hay Bồ Đoàn gì cũng được ( đã tu tập thiền rồi, đã hiểu rõ nghĩa luân hồi đào thải rồi ) thì lòng rất thản nhiên mà nhìn những cánh hồng rơi rụng ! ( Nhìn hoa tàn mà không còn thương hương tiếc ngọc hay xót liễu vì hoa gì nữa cả, vì đã giác ngộ được lẽ tuần hoàn của tạo hóa ! ).

Xin được góp bài DIỄN NÔM :


          VÃN : là Tối, là muộn, là Cuối, nên...
          XUÂN VÃN là Xuân Muộn, là

                    

  CUỐI XUÂN

  Tuổi trẻ sắc không sao khỏi vướng,
  Lòng xuân quyến luyến mãi trăm hoa.
  Nhưng nay đà tỏ khi xuân tận,
  Hoa rụng lòng thiền chẳng xót xa!

Lục bát :

                   Tuổi xuân nào dứt sắc không,

                   Lòng xuân chìm đắm mãi trong sắc màu.

                   Như nay đà tỏ âm hao,

                   Tâm thiền hoa rụng chẳng nao lòng trần !
                                        
                                                               Đỗ Chiêu Đức.

GÓP THƠ DỊCH: Mailoc, Phương Hà, Múi Quý Bồng

SÁNG  XUÂN

(1)

Sớm mai thức dậy mở song ngoài

Xuân tới kia rồi chẳng có hay.

Bướm trắng một đôi đang đập cánh

Chập chờn theo đuổi cánh hoa bay!

(2)

Sáng dậy mở song ngoài

Xuân về chẳng có hay

Nhởn nhơ đôi bướm trắng

Đập cánh theo hoa bay!

        Mailoc

 

       CHIỀU  XUÂN

 

(1)

Sắc không tuổi trẻ chẳng tinh tường

Xuân đến hoa cười dạ vấn vương.

Mặt thật chúa xuân nay khám phá

An nhiên tịnh toạ ngó rơi hường!

(2)

Sắc không niên thiếu lòng chẳng bận

Rộn rã xuân về vấn vương hoa.

Chúa xuân mặt thật hiểu ra

Bồ đoàn tịnh tọa mặc hoa tơi bời!

        Mailoc

 

I- Phỏng dịch bài Xuân Hiểu

 

(1) Sáng Xuân

 

Sáng ra thức giấc tựa song ngoài

Xuân đến bao giờ đâu có hay

Bướm trắng một đôi âu yếm lượn

Hướng về hoa thắm nhởn nhơ bay.

 

(2) Sáng Xuân

 

 Sớm mai ra tựa song ngoài

Mới hay rộn rã đất trời vào xuân

Một đôi bướm trắng tưng bừng

Nhởn nhơ đập cánh trên từng đóa hoa.

 

                    Phương Hà phỏng dịch

 

 

II- Phỏng dịch bài Xuân Vãn

 

(1) Cuối Xuân

 

Tuổi trẻ lòng sao khỏi sắc không

Muôn hoa vương vấn mãi trong lòng

Nhưng nay biết được khi xuân tận

Hoa rã...tâm thiền đã lĩnh thông.

 

(2) Cuối Xuân

 

Tráng niên nào khỏi sắc không

Hoa xuân phơi phới trong lòng rộn say

Lẽ đời khi đã tỏ hay

Xuân tàn, hoa rụng...tâm này thản nhiên 

 

                  Phương Hà phỏng dịch

 

XUÂN SỚM

 

Mở cửa sáng vừa thức,

Xuân đến mà không biết.

Chập chờn đôi bướm bay

Vào vườn hoa diễm tuyệt.

 

Mùi Quý Bồng

01/24/2019

 

XUÂN MUỘN

 

Tuổi trẻ mơ hoài chuyện sắc không. 

Trăm hoa đua nở giữa lòng xuân.

Xuân đến, xuân đi, nay đã tỏ.

Rụng, rơi, hoa chẳng động lòng thiền.

 

Mùi Quý Bồng

01/24/2019