TIẾNG HÁN CỔ

 với Ông Đồ ĐỖ CHIÊU ĐỨC

 

CHS Phan Thanh Giản (Cần Thơ)

Cựu GS Trung Học Tân Hưng (Cái Răng)

Cựu Giảng Viên ĐH Xã Hội - Nhân Văn (Sài Gòn)

Houston,Texas_________________________

Tạp Ghi và Phiếm Luận:  

 

                           Biên Khảo về THƠ ĐƯỜNG SÁU CHỮ

LỤC NGÔN THI, thơ 6 chữ, cũng là một thể loại thi ca từ thời cổ đại của Trung Hoa. Mỗi câu thơ đều có 6 chữ, toàn bài thường là 4 câu trở lên, tuy không được lưu hành rộng rãi như thơ Ngũ ngôn (5 chữ) và thất ngôn (7 chữ), nhưng cũng là một thể thơ "Lục Ngôn" có nét độc đáo riêng, như bài "Điền Viên Lạc 田園樂" của Thi Phật Vương Duy đời Đường sau đây :

 

                 桃紅複含宿雨,   Đào hồng phục hàm túc vũ,

                 柳綠更帶朝烟。   Liễu lục cánh đái triêu yên.

                 花落家僮未掃,   Hoa lạc gia đồng vị tảo,

                 鳥啼山客猶眠。   Điểu đề sơn khách do miên !

   Có nghĩa :

                    Hoa đào hồng vì mưa tối,

                    Sương sớm đưa cành liễu bay.

                    Hoa rụng gia đồng chưa quét,

                    Chim ca khách núi còn say !

      

      Về nguồn gốc của thơ 6 chữ thì có đến 3 nguồn như sau đây :

 

    1. Xuất xứ từ Kinh Thi :

       Theo Chấp Ngu đời Đông Tấn 東晋挚虞 thì Lục Ngôn Thi bắt nguồn từ những câu 6 chữ trong Kinh Thi, ví dụ như trong bài "Quyền Nhĩ chương Chu Nam của Kinh Thi《詩經·周南·卷耳》bài thứ hai như sau :

 

                     陟彼崔嵬、        Trắc bỉ tồi ngôi,

                     我馬虺隤。        Ngã mã khôi đồi,

                     我姑酌彼金罍、  Ngã cô chước bỉ kim lôi.     (6)

                     維以不永懷。     Duy dĩ bất vĩnh hồi (hoài).

          Có nghĩa :

                     Cởi ngựa lên núi đá đồi,

                     Ngựa ta mõi mệt, ta ngồi nghỉ ngơi.

                     Cốc rượu vàng, rót uống chơi,

                     Để phai nỗi nhớ bồi hồi lòng ta !

                  

      Trong bài "Vũ Vô Chính 雨無正" cũng trong Kinh Thi thời Tiên Tần có câu :

 

                        謂爾遷于王都,  Vị nhĩ thuyên vu vương đô,

                        曰予未有室家.   Viết dư vị hữu gia thất.

        Có nghĩa :

                        Gần đây ta chuyển về kinh,

                        Rằng ta chưa có gia đình.

 

    2. Có xuất xứ từ Cốc Vĩnh đời Tây Hán 西漢谷永 :

       Theo thuyết của Lương Nhậm Phưởng 南朝梁任昉 thời Nam Triều, trong "Văn Chương Duyên Khởi nói rằng : Thơ 6 chữ bắt đầu từ Đại Tư Nông Cốc Vĩnh đời Hán mà ra. Trong "Thương Lãng Thi Hoa" của Tống Nghiêm Vũ 宋嚴羽-滄浪詩花 cũng nói rằng :" Thơ ngũ ngôn bắt đầu từ Lý Lăng, Tô Vũ; Thơ thất ngôn bắt đầu từ " Bá Lương- Hán Vũ"; Thơ Tứ ngôn bắt đầu từ Vương Phó, Duy Mạnh đời Hán Sở; Thơ LỤC NGÔN bắt đầu từ Hán Tư Nông Cốc Vĩnh; Thơ tam ngôn bắt đầu từ Hạ Hầu Trạm đời Tấn và thơ cửu ngôn bắt đầu từ các hương thân cao qúy.

 

    3. Có xuất xứ từ Đông Phương Sóc đời Hán 漢朝-東方朔 : 

       Theo "Vịnh Sử Thi" của Tả Tư trong "Văn Tuyển" của Lý Thiện đời Đường cho là : Lục Ngôn Thi bắt đầu từ Đông Phương Sóc đời Tây Hán. Nhưng Lý Thiện chỉ dẫn chứng có 2 câu; Một câu ở quyển 21 của Vịnh Sử Thi trong Văn Tuyển Là :"Kế sách quyên khí bất thu 計策捐棄不收"(Kế sách cho đi không nhận); Một câu nữa trong "Thục Đô Phú, Tả Tư quyển 4 là : "Hiệp tôn xúc tịch tương ngu 合樽促席相娱"(Chai rượu cùng vui với tiệc).       

        

      Ba nguồn gốc của Lục Ngôn Thi nêu trên, chỉ có Kinh Thi là có cơ sở và đáng tin cậy nhất; hai thuyết còn lại đều còn nghi vấn. Một là Cốc Vĩnh và Đông Phương Sóc đều không thấy có thơ 6 chữ lưu truyền lại ở đời Tây Hán; Hai là theo "Hán Thư" của Ban Cố và "Sử Ký" của Tư Mã Thiên đều không có ghi lại Cốc Vĩnh và Đông Phương Sóc có tài làm thơ; Ba là trong "Văn Chương Lưu Biệt Luận" của Chấp Ngu đời Đông Tấn chỉ nói là trong Kinh Thi có những câu thơ 6 chữ, chứ không nói rõ ở đời nào, trong "Văn Tâm Điêu Long" của Lưu Hiệp đời Nam triều cũng không có nhắc đến những cống hiến gì của Cốc Vĩnh và Đông Phương Sóc về Lục Ngôn Thi cả.

      Nhưng trong Kinh Thi thơ Lục Ngôn cũng chỉ xuất hiện lẻ tẻ bằng những câu lẻ chen vào bài thơ như đã ví dụ ở trên; họa hoằn lắm mới có 2 câu 6 chữ đi liền nhau như trong bài "Bắc Môn- Bội Phong 邶風.北門" trong Kinh Thi :

 

                 王事適我、         Vương sự thích ngã

                 政事一埤益我。   Chính sự nhất tỳ ích ngã.     (6)

                 我入自外、         Ngã nhập tự ngoại,

                 室人交徧讁我。   Thất nhân giao biến trích ngã.(6)

      Có nghĩa :

                 Việc làng bận bịu chưa xong,

                 Việc quan hối thúc càng không thể ngồi.

                 Việc nhà lại rối bời bời,

                 Người nhà cửi nhửi bồi hồi lòng ta !

 

                

     Cho đến "Sở Từ 楚辭" của Khuất Nguyên nước Sở trong thiên "Ly Tao 離騷" đã có những câu 7, 6 chen nhau như :

 

                 駟玉虯以乘鷖兮,  Tứ ngọc cù dĩ thừa ế hề,

                 溘埃風余上征;     Kháp ai phong dư thượng chinh.

                 朝發軔於蒼梧兮,  Triêu phát nhẫn ư Thương Ngô hề,

                 夕余至乎縣圃;     Tịch dư chi hồ Huyền Phố.

     Có nghĩa :

                 Quay ra đạp gió rẽ mây,

                 Cưỡi rồng gióng phượng định ngày chơi xa.

                 Sớm Thương-Ngô, chiều qua Huyền Phố,

                 Đến thần linh xa ngó cõi ngoài.

                                   (thơ dịch của Nhượng Tống)

      

       Đến bài từ "Cửu Biện 九辯" của Tống Ngọc 宋玉, cũng người nước Sở, thì mới có 4 câu 6 chữ liền nhau như một bài tứ tuyệt :

 

                 慷慨绝兮不得,  Khảng khái tuyệt hề bất đắc, 

                 中瞀乱兮迷惑。  Trung mậu loạn hề mê hoặc.

                 私自怜兮何极,  Tư tự lân hề hà cực,

                 心怦怦兮諒直。  Tâm phanh phanh hề lương trực !

      Có nghĩa :

                 Khảng khái cũng chẳng được chi,

                 Trong lòng rối rắm lại khi mơ hồ.

                 Tự thương xót đến bao giờ,

                 Lòng trung vằng vặc ai ngờ được sao !

 

                

 

      Đến đời Đông Hán thì những bài phú trữ tình đã có những câu 6 chữ rất tề chỉnh, và đã bỏ được trợ từ "Hề 兮" ở giữa câu; nếu tách rời ra thì có thể thành một bài thơ "Lục Ngôn Tứ Tuyệt" như trong bài "Quy Điền Phú 歸田賦" của Trương Hành 張衡 có những câu :

  

                    游都邑以永久,   Du đô ấp dĩ vĩnh cửu,

                    無明略以佐時;   Vô minh lược dĩ tá thì;

                    徒临川以羡魚.     Đồ lâm xuyên dĩ tiện ngư,

                    俟河清乎未期。   Tự hà thanh hồ vị kỳ.

     Có nghĩa :                      

                         Trong kinh chẳng cống hiến gì,

                         Cũng không sách lược phò trì quân vương.

                         Bên sông thưởng thức cá ngon,

                         Hoàng Hà sông cạn đá mòn chưa trong !

          

       Đến thời kỳ Kiến An (cuối đời Đông Hán) lúc Tam Quốc Phân tranh thì Lục Ngôn Thi lần đầu tiên được Khổng Dung, một trong Kiến An Thất Tử 建安七子 (7 người tài tử trong thời Kiến An) sáng tác ba bài thơ Lục Ngôn hoàn chỉnh. Dưới đây là bài thứ nhất trong ba bài thơ đó :

 

                  漢家中葉道微,  Hán gia trung diệp đạo vi,

                  董卓作乱乘衰,  Đổng Trác tác loạn thừa suy,

                  僭上虐下專威,  Tiếm thượng ngược hạ chuyên uy,

                  萬官惶怖莫違,  Vạn quan hoàng bố mạc vi,

                  百姓惨惨心悲.    Bá tánh thảm thảm tâm bi !

    Có nghĩa :

                  Giữa thời nhà Hán suy vi,

                  Đổng trác làm loạn thị uy.

                  Ép vua hiếp cả triều nghị,

                  Muôn quan sợ chẳng nói chi,

                  Trăm họ thảm lòng sầu bi.

 

       Hai người nối tiếp và phát huy để ổn định cho thơ sáu chữ cũng là hai trong số Kiến An Thất Tử là Tào Phi 曹丕 và Tào Thực 曹植 (Tào Tử Kiến 曹子建), cả 2 đều là con trai của Tào Tháo 曹操(Bản thân Tháo cũng là một trong Kiến An Thất Tử). Tào Phi với bài Lê Dương Tác Thi 黎陽作詩 (Buổi sáng làm thơ) như sau :

 

                    奉辭罰罪遐征。   Phụng từ phạt tội hà chinh,

                    晨過黎山巉崢。   Thần qúa Lê Sơn sàm tranh.

                    東濟黃河金營。   Đông tế Hoàng Hà kim doanh,

                    北觀故宅頓傾。   Bắc quan cố trạch đôn khuynh.

                    中有高樓亭亭。   Trung hữu cao lâu đình đình,

                    荊棘繞蕃叢生。   Kính cức nhiểu phồn tùng sinh.

                    南望果園青青。   Nam vọng qủa viên thanh thanh,

                    霜露慘淒宵零。   Sương lộ thảm thê tiêu linh.

                    彼桑梓兮傷情。   Bỉ tang tân hề thương tình !

     Có nghĩa :                     

                       Phụng chỉ đi đánh giặc xa,

                       Lê sơn hiểm trở sáng qua,

                       Đóng trại phía đông Hoàng Hà,

                       Hướng bắc dinh thự của ta,

                       Trong có lầu các nguy nga,

                       Cỏ gai bao bọc quanh nhà.

                       Phía nam cây trái vườn hoa,

                       Lạnh lùng mù mịt sương sa,

                       Quê nhà đau xót lòng ta !

               

                         Sau đây là bài thơ 6 chữ được xếp trong "Nhạc Phủ Thi Tập 樂府詩集" sớm nhất :"Thiếp Bạc Mệnh 妾薄命" của Tào Tử Kiến :

 

                      携玉手喜同車,   Huề ngọc thủ hỉ đồng xa,

                      北上雲閣飛除。   Bắc thướng vân các phi trừ.

                      钓台蹇產清虚,   Điếu đài khiên sản thanh hư,

                      池塘觀沼可娱。   Trì đường quan chiểu khả ngu.

                      仰泛龍舟绿波,   Ngưỡng phiếm long chu lục ba,

                      俯擢神草枝柯。   Phủ trạc thần thảo chi kha.

                      想彼宓妃洛河,   Tưởng bỉ Mật Phi Lạc Hà,

                      退咏漢女湘娥。   Thoái vịnh Hán nữ Tương Nga.

       Có nghĩa :

                      Nắm tay người ngọc cùng xe,

                      Cùng lên lầu bắc mây che lưng trời.

                      Đài câu yên lặng thảnh thơi,

                      Ao hồ sông lạch vui chơi thỏa lòng.

                      Sóng xanh bao lấy thuyền rồng,

                      Cúi mình hái cọng cỏ thần linh chi.

                      Lạc Hà lại nhớ Mật Phi,

                      Tương Nga Hán nữ sầu bi đoạn trường !

          

        Sau Khổng Dung, Tào Phi, Tào Thực, những người có thành tựu trong Lục Ngôn Thi thì đời Ngụy có Kê Khang, Tây Tấn có Phó Huyền, Lục Cơ; Đông Tấn có Dưu thiền, Nam Triều có Tạ Hối, Lương Giản Văn Đế; Bắc Chu có Vương Bao, Dữu Tín... Đến đời Lương, Trần của Nam Bắc Triều thì Lục Ngôn Thi đã phát triển khá hoàn chỉnh với 6 câu 3 vần gián cách như bài "Mạo Tuyết Thi 貌雪詩"(thơ Tuyết) của Lương Chiêu Minh Thái Tử Tiêu Thống 梁昭明太子蕭統 như sau :

 

                   既同摽梅英散,   Ký đồng phiếu mai anh tán,

                   複似太谷花飛。   Phục tự thái cốc hoa phi.

                   密如公超所起,   Mật như công siêu sở khởi,

                   皎如淵客所揮。   Giảo như uyên khách sở huy.

                   無羡昆岩列素,   Vô tiện côn nham liệt tố,

                   豈匹振鷺群歸。   Khỉ thất chấn lộ quần quy.

     Có nghĩa :

                     Trông như cánh mai rơi rụng,

                     lại tựa Thái cốc hoa bay.

                     Nhặt tựa muối rây khắp chốn,

                     Trắng như vực thẳm thác bày.

                     Côn nham chập chùng đá trắng,

                     Lối về cò trắng cùng bay !

            

                                              

       Kịp đến đời Đường thì Lục Ngôn Thi cùng với Ngũ Ngôn và Thất Ngôn thi cùng phát triển và hoàn chỉnh song song với nhau, nhưng quan trường cũng như quần chúng chỉ chú trong vào Ngũ Ngôn và Thất Ngôn Thi mà thôi, nên Lục Ngôn Thi bị lép vế, nhưng không vì thế mà bị quên lãng, hầu hết những thi nhân nổi tiếng của buổi Thịnh Đường đều có Lục Ngôn Thi, như bài "Điền Viên Lạc" của Thi Phật Vương Duy ở đầu bài viết nầy. Bây giờ thì ta cùng đọc bốn bài Lục Ngôn Thi của Thi Tiên Lý Bạch tả cảnh của bốn mùa Xuạn, Hạ, Thu, Đông nhé!

 

                    《春景》           XUÂN CẢNH

                  門對鹤溪流水,  Môn đối hạc khê lưu thủy,

                  雲連雁宕仙家。  Vân liên nhạn đãng tiên gia.

                  誰解幽人幽意,  Thùy giải u nhân u ý,

                  惯看山鳥山花。  Quán khan sơn điểu sơn hoa.

                           李白                        Lý Bạch

      Có nghĩa :

                     Cửa đối suối trong khe hạc,

                     Mây liền đàn nhạn bay xa.

                     Ai biết người nhàn ý tản,

                     Ngắm quen chim núi cùng hoa.

                    

 

                   《夏景》               HẠ CẢNH

                  竹簟高人睡覺,   Trúc điệm cao nhân thụy giác,

                  水亭野客狂登。   Thủy đình dã khách cuồng đăng.

                  窗外熏風燕語,   Song ngoại huân phong yến ngữ,

                  庭前綠樹蟬鳴。   Đình tiền lục thọ thiền minh.

                          李白                            Lý Bạch

      Có nghĩa :

                     Đệm trúc cao nhân an giấc,

                     Nhà sàn khách lạ lăng xăng.

                     Ngoài song gió đưa én liệng,

                     Trước sân cây rậm ve ngâm.

 

                     

 

                     《秋景》            THU CẢNH

                   昨夜西風忽轉,   Tạc dạ tây phong hốt chuyển,

                   驚看雁度平林。   Kinh khan nhạn độ bình lâm.

                   詩興正當幽寂,   Thi hứng chánh đang u tịch,

                   推敲韵落寒帧。   Thôi xao vận lạc hàn tranh.

                           李白                           Lý Bạch

      Có nghĩa :

                     Đêm qua gió tây chợt nổi, 

                     Giật mình nhạn vượt bình lâm.

                     Thi hứng lúc đang hiu hắt,

                     Đẽo gọt vần rơi mất tăm !                 

 

                     《冬景》

                   凍笔新詩懒寫,   Đống bút tân thi lãn tả,

                   寒爐美酒時温。   Hàn lô mỹ tửu thời ôn.

                   醉看梅花月白,   Túy khán mai hoa nguyệt bạch,

                   恍疑雪落前村。   Hoảng nghi tuyết lạc tiền thôn !

                                 李白                                 Lý Bạch

      Có nghĩa :

                       Thơ xong bút se biếng tả,

                       Rượu ngon lò lạnh khó ôn.

                       Say nhìn hoa mai trăng tỏ,

                       Giật mình ngỡ tuyết ngoài thôn !

 

                    

       Ta thấy kỹ thuật làm thơ đã điêu luyện, bằng trắc phân minh, đối xứng nghiêm cẩn, ý thơ cao vút không thua gì ngũ ngôn và thất ngôn thi chút nào cả ! Ta hãy đọc thêm một bài "Lục Ngôn Luật Thi" 《Cách Hán Giang Ký Tử An 隔漢江寄子安》của Ngư Huyền Cơ 魚玄機, một trong "Tứ Đại Nữ Thi Nhân đời Đường"  sau đây sẽ rõ : 

        

                    江南江北愁望,   Giang nam giang bắc sầu vọng,

                    相思相憶空吟。   Tương tư tương ức không ngâm.

                    鴛鴦暖卧沙浦,   Uyên ương noãn ngọa sa phố,

                    砠矦閑飛桔林。   Thư hầu nhàn phi cát lâm.

                    烟里歌聲隱隱,   Yên lý ca thanh ẩn ẩn,

                    渡頭月色沉沉。   Độ đầu nguyệt sắc trầm trầm.

                    含情咫尺千里,   Hàm tình chỉ xích thiên lý,

                    况聽家家遠砧。   Huống thính gia gia viễn châm.

      Có nghĩa :

                        Buồn trông giang bắc giang nam,

                        Thương nhau nhớ lắm âm thầm ngâm nga.

                        Uyên ương ấm áp noãn nà,

                        Côn trùng chấp chới bay ra sau vườn.

                        Tiếng ca văng vẳng khói sương,

                        Bóng trăng bến vắng vấn vương một mình.

                        Dặm ngàn gang tất hàm tình,

                        Lại nghe tiếng giặt xập xình xa xa. 

 

                     

 

       Bài thơ với đầy đủ "mạo, thực, luận, kết" bố cục của một bài Luật Thi, hai cặp Thực và Luận đối nhau chan chát, cách luật nghiêm cẩn, trắc bằng đúng phép không khác gì một bài ngũ ngôn hay thất ngôn luật thi cả. 

 

        Không phải chỉ riêng Ngư Huyền Cơ, Vương Duy và Lý Bạch, mà Vương Xương Linh,Đỗ Mục, Sầm Tham... đều có làm thơ 6 chữ cả ! Theo thống kê của quyển "Toàn Đường Thi 《全唐诗》" thì trong đó có tất cả 75 bài thơ 6 chữ và Lục Ngôn Thi thẳng tiến đến đời Tống, Tô Đông Pha, Hoàng Đình Kiên, Lục Du, Tần Quan... đều cũng có lục ngôn thi. Trong quyển "Thiên Thủ Tống Nhân Tuyệt cú 千首宋人绝句" thì có đến 98 bài là thơ 6 chữ (chiếm tỉ lệ 1/10 của thi tập). Xuyên suốt qua các triều đại Nguyên, Minh, Thanh và mãi cho đến hiện nay, Lục Ngôn Thi vẫn luôn luôn tồn tại một cách âm thầm nhưng tích cực bên cạnh các hào quang rực rỡ của Ngũ Ngôn và Thất ngôn Thi nhưng không hề tàn lụi bao giờ.

 

       Để kết thúc bài viết nầy, kính mời tất cả cùng đọc một bài lục ngôn dưới hình thức của một bài từ rất độc đáo "Thiên Tịnh Sa 天淨沙 Thu Tứ 秋思" của Mã Trí Viễn 馬致遠 đời nhà Nguyên :

                        

                  枯藤老樹昏鴉,    Khô đằng lão thọ hôn nha,

                  小橋流水人家,    Tiểu kiều lưu thủy nhân gia,

                  古道西風瘦馬。    Cổ đạo tây phong xú mã.

                  夕陽西下,          Tịch dương tây hạ,

                  斷腸人在天涯。    Đoạn trường nhân tại thiên nha !

      Có nghĩa :

                      Mây cằn cây cỗi qụa buồn,

                      Đìu hiu cầu nhỏ nước tuôn mấy nhà,

                      Đường xưa ngựa ốm gió qua,

                      Nắng chiều dần tắt...

                      Bên trời hiu hắt... người xa đoạn trường !

 Ta thấy, chẳng những "thi ca" có thơ 6 chữ mà cả "ca từ" cũng có những câu 6 chữ nữa !

 

      Hẹn bài viết tới !

 

                                                                                     杜紹德

                                                                                 Đỗ Chiêu Đức

 

* PHỤ LỤC :

       Để cho mọi người rộng đường tham khảo, đính kèm theo đây là các "cách Luật" của thơ 6 chữ khi đã hoàn chỉnh ở đời Đường :

 

     六言詩的格律编辑 BIÊN TẬP VỀ CÁCH LUẬT CỦA LỤC NGÔN THI

 

* 平声韵 GIEO VẦN BẰNG :

 

《一》绝句押平声韵 Tuyệt cú gieo vần BẰNG :

   《A》六言绝句仄起首句不押韵格式 Lục ngôn tuyệt cú không gieo vần ở câu đầu :

 

          T T B B T T, B B T T B B(Vần)(đối xứng) 

          仄仄平平仄仄,平平仄仄平平 (韵). (对仗)

          平平仄仄平仄,仄仄平平仄平 (韵). (Bốn câu Hai vần)

 

   《B》六言绝句仄起首句押韵格式 Lục ngôn tuyệt cú gieo vần ở câu đầu:

 

         T T B B T B(vần), B B T T B B(vần).

         仄仄平平仄平 (韵),平平仄仄平平 (韵)。

         平平仄仄平仄,     仄仄平平仄平 (韵)。(Bốn câu Ba vần)

     

         Trên đây là Lục Ngôn Tuyệt Cú bắt đầu bằng "thanh TRẮC". Tương tự, nếu bắt đầu câu một bằng "thanh BẰNG" thì sẽ như sau đây :

 

  《C》六言绝句平起首句不押韵格式:

 

         平平仄仄平仄,仄仄平平仄平(韵)。(对仗)

         仄仄平平仄仄,平平仄仄平平(韵)。(4 câu 2 vần)

 

  《D》六言绝句平起首句押韵格式:

 

         平平仄仄平平(韵),仄仄平平仄平(韵)。

         仄仄平平仄仄,    平平仄仄平平(韵)。(4 câu 3 vần)

 

 

《二》律诗押平声韵 LUẬT THI GIEO VẦN BẰNG 

 

    《A》六言律诗平起首句押韵格式 Bắt đầu câu 1 bằng thanh BẰNG và gieo vần ở cuối câu 1 :

               B B T T B B(vần),T T B B T B(vần)

               平平仄仄平平(韵), 仄仄平平仄平 (韵).

               仄仄平平仄仄,    平平仄仄平平 (韵).(对仗 đối xứng)

               平平仄仄平仄,    仄仄平平仄平 (韵).(对仗 đối xứng)

               仄仄平平仄仄,    平平仄仄平平 (韵).(8 câu 5 vần)

 

    《B》六言律诗仄起首句押韵格式 Bắt đầu câu 1 bằng thanh TRẮC và gieo vần ở cuối câu 1 ::

               仄仄平平仄平(韵),平平仄仄平平(韵).

               平平仄仄平仄,仄仄平平仄平(韵).(对仗)

               仄仄平平仄仄,平平仄仄平平(韵).(对仗)

               平平仄仄平仄,仄仄平平仄平(韵).(8 câu 5 vần)

 

* 仄声韵 GIEO VẦN TRẮC :

     Tất cả đều giống như trên, chỉ đổi thanh BẰNG thành thanh TRẮC mà thôi.

 

  《一》绝句押仄声韵 Lục Ngôn Tuyệt Cú gieo vần TRẮC :

 

      《A》六言绝句平起式:

               平平仄仄平仄(韵),仄仄平平仄仄(韵).

               仄仄平平仄平,平平仄仄平仄(韵).

      《B》六言绝句仄起式:

               仄仄平平仄仄(韵),平平仄仄平仄(韵).

               平平仄仄平平,仄仄平平仄仄(韵).

                                       (Tất cả đều cùng 4 câu 3 vần)

 《二》律诗押仄声韵 LUẬT THI VẦN TRẮC

     《A》六言律诗平起式:(chữ đầu tiên của câu đầu là thanh BẰNG)

 

               B B T T B T(vần), T T B B T T(vần)

               平平仄仄平仄(韵),  仄仄平平仄仄(韵).

               仄仄平平仄平,     平平仄仄平仄(韵).(对仗 đối xứng)

               平平仄仄平平,     仄仄平平仄仄(韵).(对仗 đối xứng)

               仄仄平平仄平,     平平仄仄平仄(韵).(8 câu 5 vần TRẮC)

 

    《B》六言律诗仄起式 :(chữ đầu tiên của câu đầu là thanh TRẮC)

 

               仄仄平平仄仄(韵),平平仄仄平仄(韵).

               平平仄仄平平,   仄仄平平仄仄(韵).(对仗)

               仄仄平平仄平,   平平仄仄平仄(韵).(对仗)

               平平仄仄平平,   仄仄平平仄仄(韵).

 

      Nhìn chung, tất cả Cách Luật của Lục Ngôn Thi đều giống như là Ngũ Ngôn và Thất Ngôn vậy !

                                                   Đỗ Chiêu Đức

_____________________________________________

 THÀNH NGỮ ĐIỂN TÍCH:  

                                                   NĂM

                                              NĂM MÂY bỗng thấy chiếu trời,

                                                       Khâm ban sắc chỉ đến nơi rành rành.

 

         NĂM MÂY là mây ngũ sắc, Mây có 5 màu thật đẹp, còn gọi là Tường Vân 祥雲, là mây lành, chỉ xuất hiện khi có thần thánh tiên phật hiện ra mà thôi. Còn NĂM MÂY trong câu thơ trên là chỉ mây ngũ sắc vây quanh lấy hình con rồng đang bay lượn được in trên "chiếu trời" là chiếu chỉ của thiên tử, là con của trời, chính là  nhà vua ngày xưa, ban bố  xuống cho quần thần nhân dân. Như hai câu thơ trên đầu đề :

 

                                  NĂM MÂY bỗng thấy chiếu trời,

                              Khâm ban sắc chỉ đến nơi rành rành.

 

      Trong Hồng Đức Quốc Âm Thi Tập, bài "Lại vịnh Hán Cao Tổ" của vua Lê Thánh Tông đã mở đầu bằng hai câu :

 

                               Một mình khi ẩn núi Mang, Đường,

                               NĂM THỨC MÂY CHE điềm đế vương.

 

      NĂM THỨC MÂY CHE là do tích bà Lã Trĩ (vợ của Lưu Bang) nói với chồng: "Sở dĩ thiếp tìm đến được chỗ đang ở của chàng vì thiếp thấy có mây ngũ sắc ở trên trời chiếu rọi che chỡ cho nơi đó".

Còn trong bài TƯ DUNG VÃN của cụ Đào Duy Từ thì lại gọi là NGŨ VÂN, như trong hai câu thơ sau đây :

 

                                Phật đình nào khác vương đình,

                          NGŨ VÂN tán lớn, cảnh tinh thoại tường.

 

          Nhắc đến số 5, thì không thể quên NĂM ĐẤU GẠO, còn nói đến năm đấu gạo thì không thể không nhắc đến "Ngũ Đấu Mễ Tiên Sinh" là Đào Tiềm.

          Đào Tiềm 陶潛 (365-427) tự là Uyên Minh 淵明, người đất Sài Tang, Tầm Dương, nay thuộc thành phố Cửu Giang. Ông là một ẩn sĩ cao nhã đời Đông Tấn, từng làm huyện lệnh huyện Bành Trạch, nên còn được gọi là Đào Lệnh hay Đào Bành Trạch. Vì không chịu mỗi kỳ phải vận áo mão chỉnh tề để lòn cúi nghênh tiếp viên Đốc Bưu, để mỗi tháng nhận lãnh 5 đấu gạo lương thực, nên ông từ quan về ở ẩn, vì thế người đời còn gọi ông là "Ngũ Đấu Mễ Tiên Sinh 五斗米先生"(Tiên sinh 5 đấu gạo). 

        Trong truyện thơ Nôm viết theo một câu truyện trong Truyền Kỳ Mạn Lục của Nguyễn Dữ là "Tứ Thức gặp Tiên" có câu :

 

                                        Vẻ chi NĂM ĐẤU GẠO vàng,

                                    Uốn lưng co gối cho càng tổn hơi.

 

                              

 

         Sau NĂM ĐẤU GẠO, ta có NĂM ĐỨC, tức là 5 đức tính tốt của người quân tử ngày xưa theo quan niệm của Nho gia, 5 đức tính đó còn gọi là Ngũ Thường 五常, tức là Nhân, Lễ, Nghĩa, Trí Tín 仁、義、禮、智、信 . Còn theo sách Hàn Thi Ngoại Truyện 韓詩外傳 của Hàn Anh 韓嬰 đời Hán có ghi chép lại như sau : Con gà trống gồm đủ NĂM ĐỨC : Văn, Võ, Dũng, Nhân, Tín. Này nhé, tướng mạo oai vệ của con gà trống trên đầu có Kê quan 雞冠 là cái Mào gà, Quan 冠 là cái mào đồng âm với Quan 官là quan quyền. Nên cái Mào gà tượng trưng cho cái Mão của quan VĂN. Dưới hai chân gà đều có hai cựa như là hai mũi thương dùng để chiến đấu, tượng trưng cho VÕ quan. Khi gặp đối thủ thì gà lại sẵn sàng xông tới chiến đấu đến cùng, tượng trưng cho tinh thần DŨNG cảm. Khi tìm được thức ăn, gà trống luôn luôn kêu gọi bầy đàn đến để cùng ăn, chớ không ăn một mình , đó là lòng NHÂN hậu. Cuối cùng, gà trống luôn luôn gáy báo thức đúng giờ, không sai hẹn bao giờ, đó là hữu TÍN. Trong tác phẩm thơ Nôm "Lục Súc Tranh Công" con gà cũng đã tự hào về NĂM ĐỨC tính tốt nầy của mình như sau :

 

                                Này này! gà ngũ đức thẳm sâu:

                                Nhân, dũng, tín, võ, văn, gồm đủ.

                                Trên đầu đội văn quan một mũ;

                                Dưới chân đeo hai cựa thần thương...

 

       Trong Hồng Đức Quốc Âm Thi Tập bài thơ vịnh "CON GÀ" của vua Lê Thánh Tông đã mở đầu bằg hai câu :

 

                                Họ Chu từ thuở dưỡng nên thân, 

                                NĂM ĐỨC gồm no : trí dũng nhân...

 

                                

 

           Như trên đã nhắc, Ngũ Thường 五常, tức là Nhân, Lễ, Nghĩa, Trí, Tín 仁、義、禮、智、信  trong sách Luận Ngữ của đạo Nho, trong tiếng Nôm còn được gọi là NĂM HẰNG. Theo phần giải thích trong《Thượng Thư. Thái Thệ Hạ 尚書·泰誓下》thì "Ngũ Thường còn gọi là Ngũ Điển 五典" với câu : Phụ nghĩa 父義、Mẫu từ 母慈、Huynh hữu 兄友、Đệ cung 弟恭、Tử hiếu 子孝。Có nghĩa : "Cha thì phải có cái nghĩa lớn, Mẹ thì phải có lòng từ ái, Anh thì phải có tình thân hữu đối với em, Em thì phải có lòng kính trọng đối với anh, và Con cái thì phải có lòng hiếu thảo với cha mẹ". 

      Trong văn học cổ của ta gọi TAM CƯƠNG NGŨ THƯỜNG là NĂM HẰNG BA MỐI, như trong bài thơ TƯ DUNG VÃN  của cụ Đào Duy Từ có câu :

 

                                                NĂM HẰNG BA MỐI làm đầu,

                                         Cội tùng nhành bách mặc dầu đông tây.

 

              Còn trong Phật giáo thì có NĂM MANG, mà NĂM MANG tức  là Ngũ Uẩn 五蕴 trong đạo Phật, đó chính là : Sắc Uẩn 色蘊、Thụ Uẩn 受蘊、Tưởng Uẩn 想蘊、Hành Uẩn 行蘊 và Thức Uẩn 識蘊.  SẮC là Hình Tướng, THỤ là Thị Dục,  TƯỞNG là Ý Niệm, HÀNH là Nghiệp duyên và THỨC là Tâm Linh. Tất cả chúng sinh đều do Ngũ Uẩn tích tụ lại mà thành. Trong tác phẩm SÃI VÃI của cụ Nguyễn Cư Trinh  khi cho  ông Sãi luận về chữ tu gần cuối bài có câu :  

 

                                 ... Bờ giác ngạn dễ đà đặng lại,

                                     Bởi thất tình còn hỡi NĂM MANG.

                                     Việc cổ kim chi xiết luận bàn,

                                     Lời phẫn uất trút ra tiêu khiển !

 Về mặt địa danh thì có NĂM HỒ, chữ Nho là NGŨ HỒ 五湖, là năm hồ nước lớn nhất của Trung Hoa, đó là Động Đình Hồ, Ba Dương Hồ, Thái Hồ, Sào Hồ, Hồng Trạch Hồ 洞庭湖、鄱阳湖、太湖、巢湖、洪泽湖. Nhưng trong văn học cổ, theo sách "Sử ký" ghi chép lại thì Ngũ Hồ ngày xưa là tên riêng của THÁI HỒ ở giữa hai tỉnh Giang Tô và Chiết Giang. Vào thời Xuân Thu thì Thái Hồ là ranh giới thiên nhiên giữa 2 nước Việt và Ngô; nơi mà sau khi đã hoàn thành Mỹ nhân kế, nước Ngô bị tiêu diệt, thì mưu thần Phạm Lãi đã đưa nàng Tây Thi xinh đẹp đến nơi đây để rong chơi rồi biệt tích luôn ở nơi nầy. Trong truyện Nôm HOA TIÊN KÝ của Nguyễn Huy Tự và Nguyễn Thiện cũng có nhắc đến nơi đây :

 

                                   Buôn nan khói tỏa NĂM HỒ,

                             Lâm tâm bờ cỏ sông Ô khắp đường.

 

     Sau Năm Hồ ta có NĂM XE, chữ Nho là Ngũ Xa 五車, là do thành ngữ Học Phú Ngũ Xa 學富五車 (Học vấn giàu đến Năm Xe) nói gọn lại mà thành. Theo chương Thiên Hạ trong sách Trng Tử《莊子.天下》có câu :Huệ Thi đa phương, kỳ thư ngũ xa 惠施多方,其書五車。Có nghĩa : Huệ Thi (là một nhà tư tưởng thời Chiến Quốc) có nhiều phương pháp giải quyết công việc, sách của ông ta học có thể chứa đầy NĂM XE. Nên trong văn học cổ lấy NĂM XE để chỉ học vấn uyên bác, biết nhiều hiểu rộng, như trong bài "Hàn Vương Tôn Phú" của Đặng Trần Thường, một công thần ở đầu đời nhà Nguyễn, khi ở trong tù đã ví mình như là Hàn Tín ngày xưa. Trong bài phú trên, đoạn mở đầu có câu :

 

                           Kinh sử NĂM XE chứa chất, ngang trời dọc đất ấy kinh luân;

                           Tôn Ngô bảy quyển làu thông, đè sóng xông mây là chí khí.

           

                         
 

      NĂM XE là chỉ kiến thức ở trong lòng, còn cái gì đó đang ở trong lòng thì gọi là NĂM TRONG, chữ Nho là Ngũ Nội 五內, giới Đông y thì gọi là Ngũ Tạng 五臟, tức là Can Tâm Tì Phế Thận 肝、心、脾、肺、腎. Trong văn học cổ thì NĂM TRONG là chỉ lòng dạ, chỉ tấm lòng, như trong truyện Nôm Hoa Tiên Ký của Nguyễn Huy Tự và Nguyễn Thiện có câu :

 

                                  Một lời để tạc NĂM TRONG,

                         Lan phòng nào biết văn phòng khát khao.  

 

      Về nghi thức để cưới vợ ở các nhà giàu có khi xưa thì có Lục Lễ. Theo sách LỄ KÝ và NGHI LỄ《禮記》和《儀禮》khi xưa. Đó chính là : Nạp thái, Vấn danh, Nạp các, Nạp trưng, Thỉnh kỳ và Nghinh thân 納采、問名、納吉、納徵、請期 和 迎親. NẠP THÁI là bà mai đại diện nhà trai đến dạm hỏi coi mắt cô dâu. VẤN DANH là trao đổi bát tự, ngày tháng năm sinh giữa hai bên . NẠP CÁT  là nhà trai tặng lễ vật để định ngày đám nói, đính hôn . NẠP TRƯNG còn gọi là Nạp Sính là ngày đám nói trao sính lễ . THỈNH KỲ là Ngày nhà trai mang lễ vật qua nhà gái để cho biết ngày Nghinh Thân rước dâu . NGHINH THÂN là ngày đám cưới rước dâu. Sau khi đã hoàn tất xong NĂM LỄ đầu thì chỉ còn lễ cuối là Nghinh Thân (Rước dâu) như trong truyện Nôm Quan Âm Thị Kính :

 

                                   Cá đi nhạn lại tin bay,

                           Đủ NĂM LỄ đã đến ngày thừa long.

 

       Cuối cùng ta có NĂM PHÚC, chữ Nho là NGŨ PHÚC 五福, là 5 cái PHƯỚC mà ai cũng mong mõi để có được. Vậy Ngũ Phúc là gì  ?...

       Xuất xứ từ chương Hồng Phạm của Kinh Thư《書經·洪範》là : "Nhất viết Thọ, nhị viết Phú, tam viết Khang Ninh, tứ viết Du Hảo Đức, ngũ viết Khảo Chung Mệnh 一曰壽、二曰富、三曰康寧、四曰攸好德、五曰考終命。Có nghĩa : "Một là Sống Thọ, Hai là Giàu Sang, Ba là Mạnh Khỏe, Bốn là Có tiếng Tốt, Năm là Chết An Lành". Nói gọn lại NGŨ PHÚC là : Danh, Lợi, Thọ, Kiện, Thiện Chung 名、利、壽、健、善終。NĂM điều mà sống ở trên đời nầy ai ai cũng mong mõi để có được ! Hằng năm cứ vào dịp Tết Nguyên Đán là người xưa (và cả người nay nữa) thường viết câu NGŨ PHÚC LÂM MÔN 五福臨門 để treo ở trước cửa nhà để cầu mong cho NĂM PHÚC sẽ đến với gia đình. Trong Hồng Đức Quốc Âm Thi Tập cũng có câu :

 

                              Hội lành đã gặp gồm NĂM PHÚC,

                              Trỏ non Nam, chúc thánh quân.

I'

 Hẹn bài viết tới!

 

                                                                                                 杜紹德

                                                                                            Đỗ Chiêu Đức

THÀNH NGỮ ĐIỂN TÍCH 72:  

 

                                             

Trong văn học cổ và trong dân gian ta ngày xưa, HẠT MƯA được ví như thân phận của người con gái mười hai bến nước trong nhờ đục chịu, với các câu ca dao được truyền tụng rộng rãi trong dân gian như :

 

                                      Thân em như Hạt Mưa sa,

                                Hạt vào đài các, hạt ra ruộng đồng.

      hoặc như :

                                      Thân em như Hạt Mưa rào,

                               Hạt sa xuống giếng, hạt vào vườn hoa.                              

 

       Cả hai câu ca dao trên đều nói lên thân phận của người con gái sướng hay khổ gì đều trông chờ vào sự rủi may, mà bản thân mình không thể chọn lựa được. "Hạt Mưa sá nghĩ phận hèn", đã là thân con gái như Hạt Mưa rồi, thì còn quản gì được đến sang hay hèn nữa, nên chi Thúy Kiều không thể tiếc nuối cuộc tình duyên của mình với Kim Trọng, khi gia đạo gặp cơn nguy biến, mà  đành lòng với số phận may rủi của mình, nên mới hạ quyết tâm "Liều đem tấc cỏ quyết đền ba xuân" để bán mình chuộc tội cho cha.

 

       Còn nàng cung nữ của Ôn Như Hầu Nguyễn Gia Thiều thì may mắn hơn với thân phận HẠT MƯA của mình :

 

                                HẠT MƯA đã lọt miền đài các,

                          Những mừng thầm cá nước duyên may.

 

      Trong Văn học cổ, ta còn thấy từ MƯA HOA, tức VŨ HOA 雨花 chỉ mưa xuống toàn là hoa, theo tích sau đây :

     Theo truyền thuyết, vào thời Nam Bắc Triều có Lương Võ Đế là chúa của Nam triều rất hâm mộ đạo phât. Có cao tăng hiệu là Vân Quang Pháp Sư thường xuyên thuyết giảng Phật pháp trên Thạch Tử Cương ở Nam Kinh, chúng tăng lữ trên 500 người ngồi tọa thiền nghe giảng 3 bửa không tan. Phật Tổ chứng cho lòng thành đã cho một rừng hoa Mạn-đà-la rơi xuống như mưa. Những mưa hoa rơi xuống đều biến thành đá ngũ sắc lóng lánh rất đẹp, gọi là Ngũ Thái Thạch 五彩石, người đời sau gọi là Vũ Hoa Thạch 雨花石, nơi giảng kinh tức là Vũ Hoa Đài 雨花臺, một thắng cảnh nổi tiếng của TP Nam Kinh 南京 thuộc tỉnh Giang Tô hiện nay.

 

      Trong truyện thơ Nôm khuyết danh Quan Âm Thị Kính của ta có câu :

 

                            MƯA HOA rẩy khắp bên mình,

                       Nhấp nhô đá cũng xếp quanh gật đầu.

 

     Ngoài MƯA HOA ta còn có MƯA MÓC, tức VŨ LỘ 雨露 chỉ hạt Mưa và hạt Móc (nhỏ hơn hạt mưa, rơi đọng lại trên hoa lá thành hạt Sương). Có xuất xứ từ sách Lễ Ký.Tế Nghĩa 《禮記.祭義》như sau :

     Hạt mưa và hạt móc đều rất cần thiết cho cây cỏ lá hoa sinh tồn và phát triển, nên thường dùng để ví với ân tình của kẻ bề trên ban cho người bên dưới; gọi là Ơn Vũ Lộ hay là Ơn Mưa Móc, như trong bài thơ "Tống Lý Thiếu Phủ biếm Hiệp trung Vương Thiếu Phủ biếm Trường sa" của Cao Thích đời Đường là :

 

                  聖代即今多雨露,  Thánh đại tức kim đa VŨ LỘ,

                  暫時分手莫躊躇。  Tạm thời phân thủ mạc trù trừ.

     Có nghĩa :

                     Thánh chúa đường thời nhiều MƯA MÓC,

                     Chia tay tạm biệt chớ chần chừ

Trong bài thơ "Tự Thuật bài 2 - Hội Gió Mây" của cụ Nguyễn Công Trứ - 阮公著 có hai câu Thực như sau :

 

                       Ðã từng tắm gội ơn MƯA MÓC,

                       Cũng đã xênh xang hội gió mây.

 

     Trong "Tụng Tây Hồ Phú" của Nguyễn Huy Lượng dưới thời Tây Sơn- Hậu Lê cũng có câu : 

 

                       Trên dưới đều rồng mây cá nước phải duyên, 

                       giọt VŨ LỘ tưới đôi hàng uyên lộ.

 

     Sau MƯA MÓC ta còn có MƯA MÂY, hay còn gọi là MÂY MƯA, chữ nho là VÂN VŨ 雲雨. Có mưa là có mây, không có mây thì không thể nào có mưa được. Có xuất xứ như sau :

 

     Theo thần thoại Trung Hoa, con gái của Xích Đế 赤帝 là Dao Cơ 瑶姬, chết trẻ, chôn ở Vu Sơn, hồn phách không tan, biến thành Thần Nữ. Trong bài Cao Đường Phú của Tống Ngọc nước Sở thời Chiến quốc có ghi lại: Sở Vương đi chơi ở Cao Đường, mơ thấy Thần Nữ đến cùng ân ái, khi chia tay còn nói là "Đản vi triêu vân, mộ vi hành vũ 旦为朝雲,暮为行雨" (Thiếp kéo mây ở buổi sáng, làm mưa ở buổi chiều). Theo quan niệm cổ xưa thì nữ thần và vua giao hợp có thể làm cho phong điều vũ thuận, ngũ cốc phong đăng. Có nghĩa : Mưa thuận gió hòa, lúa thóc được mùa. Nhưng dân gian lại không chịu hiểu theo nghĩa đó, hễ nhắc đến Sở Vương và Thần Nữ thì sẽ nghĩ ngay đến "Mây mưa ân ái giữa trai gái với nhau" mà thôi ! Vì thế, sau nầy hễ nhắc đến Thần Nữ Vu Sơn, Cao Đường Thần Nữ 高唐神女 là người ta nghĩ ngay đến một giai nhân tuyệt sắc gợi tình, và nói đến kéo MÂY làm MƯA, hay nói gọn thành MÂY MƯA, là người ta lại nghĩ ngay đến việc ái ân trai gái. Như cô Kiều đã ngăn Kim Trọng lại trong đêm gặp gỡ khi "Sóng tình dường đã xiêu xiêu",  mà kể lể rằng :

 

                            Ngẫm duyên kỳ ngộ xưa nay,

                       Lứa đôi ai lại đẹp tày Thôi Trương.

                            MÂY MƯA đánh đổ đá vàng,

                     Quá chìu nên đã chán chường yến anh...     

 

                         


       

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Còn trong Truyện Nôm Hoa Tiên Ký của Nguyễn Huy Tự và Nguyễn Thiện thì có câu :

 

                          Dương Đài rày sẵn MƯA MÂY,

                      Mà xem chúa Sở vui vầy giấc tiên.

 

       Không nói MƯA MÂY thì đôi khi nói thành MƯA GIÓ, như khi tả Thúy Kiều thất thân cùng Mã Giám Sinh, cụ Nguyễn Du đã viết rằng :

 

                            Một cơn MƯA GIÓ nặng nề,

                      Thương gì đến ngọc tiếc gì đến hương !

 

       Hoặc để nói cho đối xứng theo các biện pháp tu từ học của Trung Hoa là MƯA SỞ MÂY TẦN, như khi tả cuộc sống của Thúy Kiều ở lầu xanh :

 

                             Mặc người MƯA SỞ MÂY TẦN,

                         Nhưng mình nào biết có xuân là gì !...

 

       Về nàng cung nữ của Ôn Như Hầu Nguyễn Gia Thiều thì với sắc đẹp hấp dẫn, quyến rủ, gợi tình đến nỗi :

 

                               Bóng gương lấp ló trong mành,

                           Cỏ cây cũng muốn nổi tình MÂY MƯA !

       

    ... và khi đã được vua yêu rồi thì lại cảm thấy rất hạnh phúc và an phận :

 

                               MÂY MƯA mấy giọt chung tình,

                        Đình trầm hương khoá một cành mẫu đơn.

 

                          

 

     

Nhưng ngày vui qua mau và chóng tàn, nàng cung nữ chỉ sống bằng hoài niệm và rầu rĩ khát khao mơ màng đến những phút giây ân ái khi xưa :     

 

                               Tình rầu rĩ khôn khuây nhĩ mục,

                           Chốn phòng không như giục MÂY MƯA.

                               Giấc chiêm bao những đêm xưa,

                           GIỌT MƯA cửu hạn còn mơ đến rày...

 

        Hẹn bài viết tới.

 

                                                                                              杜紹德

                                                                                         Đỗ Chiêu Đức

NGÀY XUÂN ĐỌC THƠ TIỀN CHIẾN

                                                       Tôi muốn tắt nắng đi,

                                                       Cho màu đừng nhạt mất,

                                                       Tôi muốn buộc gió lại,

                                                       Cho hương đừng bay đi !

                                                                                     Xuân Diệu

 

        NGÀY XUÂN ĐỌC THƠ TIỀN CHIẾN là chỉ nói cho "xôm tụ", cho vui thôi, chẳng lẽ đọc Thơ Đường mãi, thay đổi không khí, ta đọc thơ Thời Tiền Chiến nhé. Nhưng nói là đọc thơ Thời Tiền Chiến cho oai thôi, chớ chỉ điểm qua vài bài có vẻ Xuân và hoa Đào hoa Mai của Nguyễn Bính và Jean Leiba mà thôi !

 

       Nào, bạn đã thấy Xuân về như thế nào chưa ? Nếu chưa, hãy nghe Nguyễn Bính nói đây :

 

                              Đã thấy xuân về với gió đông,

                              Với trên màu má gái chưa chồng.

                              Bên hiên hàng xóm cô hàng xóm,

                              Ngước mắt nhìn trời đôi mắt trong !

                        

       Gợi cảm và làm xao xuyến rạo rực lòng người biết bao với "Gió đông, với màu má gái chưa chồng, và với đôi mắt trong của nàng thiếu nữ !", Mùa xuân như hiển hiện ở màu má màu mắt của cô Xuân nữ tràn đầy nhựa sống của lứa tuổi hoa niên. Mùa xuân mang lại sức sống mới cho tuổi trẻ, mùa xuân cũng mang lại những kỷ niệm khó quên của tuổi xuân thì, khơi lại tình tự mộng mơ của quá khứ làm não nuột lòng người :

 

                                   Xuân đã đem mong nhớ trở về,

                                   Lòng cô lái ở bến sông kia.

                                   Cô hồi tưởng lại ba xuân trước,

                                   Trên bến cùng ai đã hẹn thề !...

 

                                  Nhưng rồi ... Người khách tình quân ấy,

                                  Đi biệt chẳng về với nước sông,

                                  Đã mấy lần xuân trôi... trôi mãi ...

                                  Mấy lần cô lái mõi mòn trông !

                                                                 ( Cô Lái Đò )

            

       Não nùng thay, đáng thương thay cho tâm sự của "nàng xuân" trên bến nước ! Thơ Nguyễn Bính thường đi vào lòng ta bằng những hình ảnh thật nhẹ nhàng gợi cảm, tế nhị mà làm xao xuyến lòng người ! Ta hãy nghe ông ví von :

 

                                       Ai đi chắp lại cánh hoa rơi,

                                       Bắt bóng chim xa tận cuối trời.

                                       Có lẽ ngày mai đò ngược sớm,

                                       Thôi nàng ở lại để ... quên tôi !

                                                               ( Thôi Nàng Ở Lại )

 

       Rất nhẹ nhàng nhưng cũng có pha chút gì chua xót ! Chua xót như những cánh hoa đào rơi rụng :

 

                                      Hoa đào từng cánh rơi như tưới,

                                      Xuống mặt sân rêu những giọt buồn.

                                      Như mảnh tim tình tan vỡ ấy,

                                      Nhện già giăng mắc sợi tơ đơn !....

 

                      

      Cuối năm, đọc những câu thơ tình của Nguyễn Bính làm cho lòng ta  chùn xuống, xót cho từng cánh hoa đào rơi như những mảnh tim tình tan vỡ, khéo mà ví von làm thương cảm lòng người ! Sau này, khi lưu lạc vào Nam, lúc xuân về Tết đến, Nguyễn Bính vẫn khoắc khoải day dức băn khoăn tự nhủ : 

 

                                   Xuân này xứ Bắc ra sao nhỉ,
                                   Đào có hây hây ? Cúc có vàng ?
                                   Câu đối có còn ôm đỏ cột, 
                                   Nêu dài tiếng khánh có khua vang ?

 

  ... và não lòng người làm sao với :

 

                                  Em ra bến nước trông về Bắc
                                 Chỉ thấy mây trôi chẳng thấy làng !

 

                            

                                     Chỉ thấy mây trôi chẳng thấy làng !

 

        Nguyễn Bính xưng " em " chắc có lẽ thi sĩ đang nhớ đến người chị mà tác giả thường hay nhắc trong thơ :

 

                         ... Cho đến một hôm em mới nhớ:
                            "Lòng người...." Chị Trúc nhớ hay quên?

                                                                   ( Khăn Hồng )

 

    ... Chị Trúc là chị TRÚC ĐƯỜNG, một người chị trong thơ, trong mơ, mà Nguyễn Bính không bao giờ với tới, cũng không dám với tới, chỉ nhớ, chỉ mơ rồi ... thơ thẩn, thế thôi ! Mà như thế lại nên thơ hơn, da diết hơn và gợi cảm mơ mộng hơn nhiều ! Và nhờ thế mà ta mới có được những vầng thơ tuyệt diệu của "Lỡ Bước Sang Ngang". Sau này khi lưu lạc giang hồ, trong "Xuân tha hương" và "Xuân vẫn tha hương", Nguyễn Bính đều gửi tâm sự về quê nhà, kể lể nỗi niềm cùng chị Trúc:

 

                                       Tết này chưa chắc em về được 
                                       Em gửi về đây một tấm lòng 
                                       Ôi chị một em, em một chị
                                      Trời làm xa cách mấy con sông ...

                 và ...

                                      Rượu say nhớ chị hồi con gái 
                                      Thương chị từ khi chị lấy chồng...

           Giờ đây thì ...

                                     Đêm ba mươi Tết quê người cũng 
                                     Tiếng pháo giao thừa dậy tứ phương 

                                       .................................


                                    Đất khách tình dâng nhòa mắt lệ 
                                   Ôi nhà, ôi chị.. ôi quê hương !

 

        Khá thương thay tâm sự của kẻ tha hương và cũng ngạc nhiên thay, ngạc nhiên đến thú vị !... Ai đời nhớ quê hương, nhớ nhà lại đi kèm với "nhớ Chị", hẵn người Chị nầy phải vô cùng đặc biệt, đặc biệt đến trở thành ... tự nhiên trong thơ của Nguyễn Bính !

 

 

        Hoa Đào là biểu tượng cho hoa xuân ngoài Đất Bắc, còn hoa Mai là biểu tượng của hoa xuân Miền Nam. Ta thường nghe nói Đào Bắc Mai Nam, nhưng hoa mai lại thích ứng cả 2 miền Nam Bắc, ta đã từng biết qua  2 câu thơ của nhà sư Tề Kỷ ở cuối đời Đường đầu đời Tống là :

 

                            Tiền thôn thâm tuyết lý,    前村深雪裡,

                            Tạc dạ sổ chi khai.            昨夜數枝開。

        Có nghĩa :

                            Đêm trước hôm qua trong tuyết lạnh,

                            Xóm trên lấm tấm mấy cành mai.

 

                  

 

      Bây giờ, thì ta hãy điểm qua bài thơ Mai Rụng của Jean Leiba thời Tiến Chiến nhé :

 

                              Nụ hồng rải lối, liễu tơ phai, 
                              Vườn cũ rêu lan, cỏ mọc dài, 
                              Bên gốc mai già, xuân vắng vẻ, 
                              Âu sầu thiếu nữ khóc hoa mai...

 

     " Thiếu nữ khóc hoa mai " như khóc cho thân phận của mình, khóc vì nuối tiếc cho ngày vui đã qua mau, nuối tiếc cho những ngày xuân mà tim hồng rộn rã, khi :

 

                              Tường đông, xuân ấy gặp tình lang, 
                              Chàng nhủ cùng em nỗi nhớ thương. 
                              Ngơ ngẩn em về, sầu chẳng mối: 
                              Ngây thơ, em mới biết yêu chàng.

 

       Ôi, đẹp biết bao khi lòng người xuân nữ vừa chớm hương yêu trong lứa tuổi xuân thì !... Nàng  e ngại thẹn thùng bắt đầu làm đẹp, làm dáng và thấy mùa xuân càng đẹp hơn lên khi con tim yêu đang lần đầu tiên rạo rực :

 

                             Yêu chàng, em cố chuốt hình dong, 
                             Tô cặp môi son, điểm má hồng. 
                             Em thấy xuân nay hoa nở đẹp, 
                             Cảm tình Thanh đế, tạ đông phong !

 

                     

      Hạnh phúc biết bao trong mùa xuân..." hoa nở đẹp ". Thực ra thì xuân nào mà hoa chẳng nở đẹp ?! Nhưng khi đang ngây ngất trong men yêu thì đâu có xuân nào đẹp hơn được nữa ! Nàng Cảm ơn Chúa Xuân, cảm ơn gió Xuân ( Cảm tình Thanh đế, tạ đông phong !), cảm ơn hết những gì mà mùa xuân mang đến ... Nhưng rồi, ngày vui qua mau, mùa xuân cũng chóng tàn, khi :

 

                             Hoa tặng vừa tàn bông thược dược, 
                            Tìm chàng bỗng vắng, bóng chàng xa...

 

   ... Và từ đó, cuối xuân sang hạ, hết thu lại đông, nàng sống trong âm thầm chờ đợi mõi mòn, mong ngóng bóng ai kia ở cuối nẽo chân trời ...  

 

                             Xuân tàn, hạ cỗi, cảnh thu sầu, 

                             Mờ mịt hơi đông ám ngọn lau. 
                             Xuân tới cành đào hoa lại nở, 
                             Mong chàng mỏi mắt, thấy chàng đâu ?! 

 

       Ủ rủ não nề như người cô phụ trông chồng "Thẩn thờ trâm lệch lỏng vòng lưng eo" đến đổi không còn nhận ra mình trong gương nữa ...

 

                              Sầu đối gương loan, bóng lạ người, 
                              Chàng không lại nữa, đẹp cùng ai? 
                              Bơ phờ tóc rối, vành khăn lệch, 
                              Ủ rũ hoa gầy, má đỏ phai !  

 

                            

 

      Qủa là thương cảm cho nàng thiếu nữ khi đã vuột khỏi tầm tay, đánh mất một tình yêu nồng thắm của tuổi xuân thì. Xuân chửa đi qua mà tình yêu đà biền biệt, nên mơ hồ nghi ngại là nàng xuân vẫn còn lẫn khuất đâu đây :

 

                             Xuân hết, đào phai, lý rụng rồi, 
                             Hoa đình tịch mịch vẻ xuân phai. 
                             Tơi bời ong bướm bay qua ngõ, 
                             Những tưởng màu xuân ở xóm ngoài.  

       

       Đọc những câu thơ trên lại làm cho ta nhớ đến 2 câu cuối trong bài XUÂN TÌNH của Vương Giá đời Đường :

 

                        蜂蝶紛紛過牆去,  Phong điệp phân phân qúa tường khứ,

                        卻疑春色在鄰家。  Khước nghi xuân sắc tại lân gia.

Có nghĩa :

                 Lũ lượt bướm ong bay hết qua tường hàng xóm, nên ...  

                 Ngờ rằng hương sắc của mùa xuân còn ở nhà kế bên !!!

 

                                 Vượt tường ong bướm xôn xao,

                             Ngờ rằng xuân sắc phía rào bên kia.

 

                        

                                    Tơi bời ong bướm bay qua ngõ, 
                                       Những tưởng màu xuân ở xóm ngoài.  

 

       Tình yêu bao giờ cũng là đề tài muôn thuở của nhân sinh, là đề tài không bao giờ cạn kiệt của văn nhân thi sĩ. Tình yêu mang lại sức sống yêu đời, tình yêu nhuộm hồng cuộc sống nhân sinh, mang lại sức sống vui tươi cho mọi lứa tuổi, mọi lứa đôi ... Nhưng tình yêu cũng mang lại sầu thương buồn thảm, đố kỵ ghét ghen, ưu phiền chán nản, làm nhục chí anh hùng, khiến cho bao người không còn thiết tha với cuộc sống, muốn buông xuôi tất cả như Jean Leiba lúc cuối đời, mặc dù ông chỉ mới có 29 tuổi đầu mà thôi :

 

                                Phù thế đã nhiều duyên nghiệp quá !

                                Lệ lòng mong cạn chốn am không.

                                Cửa thiền một đóng duyên trần dứt,

                                Quên hết người quen chốn bụi hồng !

 

       Xin được khép lại bài viết về mùa xuân nhưng không được vui như xuân nầy !

 

 

                                                                                                         Đỗ Chiêu Đức

____________________________

Phiếm luận:  

 

                           Tuổi Sửu Là Con Trâu Kềnh Kàng.

                                       Tuổi Sửu là con trâu kềnh kàng,

                                             Cày chưa đúng buổi lại mang cày về.

          

            Đó là hai câu trong bài vè nói về con trâu trong 12 con giáp của dân đồng bằng Nam Bộ quê tôi : Cái Răng, Ba Láng, Vàm Xáng, Phong Điền... Con trâu là cầm tinh của tuổi Sửu, ngôi thứ hai trong Thập Nhị Địa Chi. Trâu chữ Nho gọi là NGƯU 牛, mà Ngưu cũng là một trong 214 bộ của CHỮ NHO... DỄ HỌC, có diễn tiến chữ viết như sau:

Ta thấy :

             Chữ NGƯU 牛 qua Giáp Cốt Văn là hình tượng của con trâu được vẽ từ mặt trước với cái đầu có 2 sừng, 2 tai và bộ mặt.  Đến Kim Văn, Đại Triên và Tiểu Triện thì hình tượng đầu trâu được thay thế bằng những nét tiêu biểu, cho đến Lệ Thư thì đã diễn biến thành như chữ viết hiện nay 牛 NGƯU là Trâu Bò nói chung. Vì Người Hoa còn phân biệt THỦY NGƯU 水牛 là con TRÂU (con trâu nước), nhưng HOÀNG NGƯU 黃牛 thì là con BÒ (con bò vàng).

 

           Năm 2021 là năm TÂN SỬU 辛丑. TÂN 辛 là ngôi thứ 8 trong Thập vị Thiên Can. Theo Dịch lý Ngũ hành Bát quái thì CANH TÂN ở hướng Tây, thuộc Kim là Vàng. SỬU 丑 là ngôi thứ 2 trong Thập nhị Địa chi, thuộc âm, cầm tinh con Trâu là Ngưu. Nên năm Tân Sửu là năm của con KIM NGƯU 金牛, là con Trâu bằng Vàng. Nhắc đến trâu vàng lại làm cho ta nhớ đến một câu chuyện thần thoại của Việt Nam ta trong thời nhà Lý. 

         KHÔNG LỘ thiền sư 空路禪師 (1016-1094) người phủ Hải Thanh, họ Dương, pháp hiệu là Minh Không, làm nghề đánh cá, sau bỏ nghề đi tu, đắc đạo, có pháp thuật cao cường, có thể bay lên trên không, đi lướt trên mặt nước, bắt rồng cọp phải phủ phục...v.v... Đời Lý Thái Tông, năm Minh Đạo thứ nhất (1041), giúp nhà vua đánh Chiêm Thành. Năm Bính Thìn, đời Lý Nhân Tông, nhà vua bị bệnh hổ hoá. Lương y khắp nước chữa không khỏi. Sau cho sứ giả đến chùa mời nhà sư về và cuối cùng đã chữa khỏi bệnh cho nhà vua. Vua sắc phong làm Đại Pháp sư, kiêm Quốc Sư, cho lập đền thờ ở Thăng Long, gọi là đền Lý Quốc Sư.

Tương truyền sư Không Lộ chữa lành bệnh cho thái tử nhà Tống nên được yết kiến vua Tống. Vua Tống ban thưởng cho được vào kho để chọn lựa vàng hay đồng tùy thích, miễn là chỉ đựng đầy một túi vải. Khi vừa bước vào cửa, sư Không Lộ thấy một con trâu to lớn được đúc bằng vàng ròng đứng ngay trước cửa như để canh giữ kho châu báu. Sư bèn giở phép thần thông, lấy hơn phân nửa số đồng đen trong kho của vua Tống rồi ra bờ biển, thả chiếc nón tu xuống làm thuyền để chở về nước. Số đồng đen đó vừa đủ để đúc được một cái đại hồng chung to lớn.  

        Chuông đúc xong, được đặt trong chùa Trấn Võ. Sư Không Lộ bèn cầm chày dộng lên tiếng chuông đầu tiên. Tiếng chuông vang rất xa, rung động đến cả ngàn dặm sang tận đất Trung Hoa. Con trâu vàng ở kho tàng của vua Tống nghe tiếng chuông đồng, ngỡ là tiếng mẹ gọi, vì đồng đen là mẹ của vàng ròng, nên nó cất vó nghểnh sừng cong đuôi chạy miết về phía Nam để tìm mẹ. Tìm không gặp mẹ, cũng không nghe tiếng mẹ gọi, nó bực tức lồng lên, quần thảo cả một vùng khiến mặt đất sụt xuống, biến thành một hồ nước rộng lớn. Nhà sư Không Lộ bèn lăn chuông xuống hồ, chuông đồng rung vang một lần cuối cùng trước khi rơi xuống nước. Con trâu vàng theo đó cũng nhảy xuống hồ, biến mất theo chuông. Từ đó họ gọi hồ đó là hồ Kim Ngưu, cũng chính là hồ Tây ngày nay của ta đó.

        Sau khi sư Không Lộ thả chuông xuống hồ rồi thì còn có một huyền thoại nữa cho rằng: Từ rày về sau, trong dân chúng nếu ai sinh được 10 người con trai thì cha con lên hồ sẽ gọi được trâu vàng trở về. Một gia đình nọ sinh được 9 người con trai đã mừng thầm, lại gấp gáp nhận thêm một người con trai nuôi nữa cho đủ số mười người để kéo trâu vàng về nhà. Trâu vàng vừa lên khỏi mặt nước vào bờ thì dây thừng bị đứt, trâu vàng chui ngay vào hang ở gần đó. Nơi đó được nhân dân lập đền thờ gọi là đền Kim Ngưu.

Đền KIM NGƯU bên bờ hồ KIM NGƯU (HỒ TÂY) là một biểu tượng tín ngưỡng thờ Trâu Vàng của nhân dân ta, có được một xuất xứ thần thoại nhưng lại rất đáng tự hào như thế. Cho nên trong bài thơ NƯỚC TÔi của Nguyễn Văn Cổn, một thi sĩ thời Tiền Chiến đã có một vế thơ như sau :

 

                           Mặt HỒ TÂY mông mênh mây nước,

                           Chuyện thần linh thuở trước đâu xa,

                           Chuông chùa Trấn Võ ngân nga,

                           Trâu vàng lìa đất Trung Hoa điên cuồng.

 

        Năm SỬU 丑 là năm con trâu, tháng SỬU là tháng Chạp (tháng 12 Âm lịch), ngày SỬU là ngày sau ngày Tý, giờ SỬU là từ 1:00 đến 3:00 Am(sáng), tức là vào khoảng Canh 4 tính theo giờ cổ điển. SỬU họp với TỴ, DẬU thành TỴ DẬU SỬU 巳酉丑 tam hạp. Khi con gà Dậu gáy sáng, thì con trâu Sửu phải thức dậy đi cày, hạp với nhau là đúng rồi. Hai con nầy đâu có "mắc mớ" gì tới con rắn TỴ ngoài lùm ngoài bụi đâu mà ông tổ Tử vi Trần Đoàn lại ghép vào "Tam Hạp". Có một thầy Tử vi giải thích là : "Con rắn TỴ nó khống chế và nuốt trọn con gà, lại có thể quấn chân con trâu không thể đi tới được, nên mới xếp nó đứng đầu". Lại càng vô lý hơn, vì như thế thì TỴ phải xung khắc với DẬU và SỬU mới đúng chớ ! Còn Tứ Hành Xung là THÌN TUẤT SỬU MÙI. Con trâu Sửu giành ăn cỏ với con dê Mùi, xung nhau là phải; Con chó Tuất tranh công với con trâu Sửu trong "Lục Súc Tranh Công", nên xung nhau cũng hiểu được, còn con rồng Thìn là con vật thần thoại bá vơ bay trên trời đâu có "ăn nhậu" gì tới con trâu Sửu đâu mà xung với khắc !? Chỉ lạm bàn những cái vô lý của khoa Tử Vi nghe chơi để bà con ta đừng có chết mê chết mệt vì Tử Vi nữa !

I'm a paragraph. Click here to add your own text and edit me. It's easy.

 Nhân nhắc đến "Lục Súc Tranh Công", tác phẩm dân gian được học từ hồi Đệ Thất trong phần Cổ văn, ta hãy nghe anh cả trong Lục Súc, lớn xác nhất và cũng chiụ khó cày sâu cuốc bẫm nhất kể lể về công sức của mình đây :

 

                           Lóng canh gà vừa mới gáy tan,

                           Chủ đã gọi thằng chăn vội vã.

                            .......................

                           Chưa bao lâu thoắt đã rạng đông;

                           Vừa đến buổi cày bừa bua việc.

                            ........................

                           Trâu mệt đà thở dài, thở vắn,

                           Người còn hầm hét, mắng ngược mắng xuôi.

                           Liệu vừa đứng bóng mới thôi,

                           Ðói hòa mệt, bước khôn dời bước.

 

                           Ai thong thả, trâu nào ben đặng ?

                           Trâu nhọc nhằn, ai dễ thế cho?

                           Cày ruộng sâu, ruộng cạn cho no,

                           Lại vườn đậu, vườn mè khiến chở.

 

                           Làm không kịp thở,

                           Ăn chẳng kịp nhai.

                           Tắm mưa, trải gió chi nài !

                           Ðạp tuyết, giày sương bao sá !

                  

          Thế mà khi chết thì người ta chẳng nhớ gì đến công ơn, lại còn ...

 

                          Người người đều bàn bạc với nhau:

                          Kẻ thì rằng : Tôi lãnh cái đầu,

                          Người lại nói : Phần tôi cái nọng.

 

         Chia thịt xong, lại còn lấy sừng làm lược, hoa tai, tù và, con cờ, cán dao, cán quạt ... Nên, nếu :

 

                           Trâu sống lại kiện nài với chủ :

                           Không nhớ thủa bôi chuông đường hạ

                           Ơn Tề vương vô tội khiến tha

                           Tưởng chừng khi sức mọn tuổi già .....

                           

         Con trâu nhắc đến tích "Ơn Tề vương vô tội khiến tha" là : Tề Tuyên Vương thấy lính dắt trâu đi qua dưới thềm (đường hạ). Vương hỏi thì biết họ dắt trâu đi giết để lấy máu tô chuông mới đúc cho có tiếng vang xa, thấy con trâu có vẻ buồn bã, Vương bèn ra lệnh dùng máu dê để thay thế và tha cho trâu không giết.  Tích nầy ta còn gặp ở bài thơ "Vịnh Trâu Già" của Tam Nguyên Yên Đỗ Nguyễn Khuyến theo giai thoại lý thú  sau  đây :

 

      Năm 1902, vua Thành Thái ra Hà Nội khánh thành cầu Đu-Me ("Doumer":Cầu Long Biên hiện nay). Các bậc khoa bảng và các quan chức từ cấp tỉnh trở lên đều phải đến để bái yết. Nên cụ Nguyễn Khuyến cũng phải đến. Lần ấy đi cùng vua Thành Thái còn có cả vợ ông ta (hoàng hậu?) nữa. Bà này trước kia nếu không bị Nguyễn Hoan (con trai Nguyễn Khuyến) chê bỏ thì đã thành con dâu của Nguyễn Khuyến rồi. Sự thay bậc, đổi ngôi đã khiến Nguyễn Khuyến rất khó chịu. Lại thêm, chễm chệ bên Thành Thái còn có tên toàn quyền "Pôn Đu-Me"(Paul Doumer) nên cụ càng khó chịu hơn nữa. Bởi vậy, khi làm lễ ra mắt, Nguyễn Khuyến cứ lúng túng, chần chừ. Bị Thành Thái quở, Nguyễn Khuyến lấy lý do là mình già nua, tai nặng mắt mờ, nên cử chỉ chậm chạp để chống chế cho qua chuyện.

      Khi biết con người còm cõi, lụ khụ lù khù như con trâu già đang đứng trước mặt mình kia là Tam Nguyên Yên Đổ, một bậc khoa bảng đại khoa và là một nhà thơ lừng danh lúc bấy giờ, Thành Thái cũng đâm ra kính nể. Nhà vua bèn bắt ông ta phải làm một bài thơ với chủ đề “Vịnh Trâu Già” để tạ lỗi chểnh mảng. Đứng trầm ngâm suy nghĩ một lát cụ bèn đọc :

 

                     Một nắm xương khô, một nắm da, 

                     Bao nhiêu cái ách đã từng qua.

                     Đuôi cùn biếng vẫy, Điền Đan hoả,

                     Tai nặng buồn nghe Ninh Thích ca.

                     Sớm thả đồng đào ăn đủng đỉnh,

                     Tối về chuồng quế thở nghi nga.

                     Có người toan giết tô chuông mới,

                     Ơn đức vua Tề lại được tha ! 

 

              

 

      Bài thơ qúa hay, lại sát đề. Tả con trâu già nhưng lại nói lên được hoàn cảnh của mình : ốm đau, còm cõi chỉ còn có "Một nắm xương khô, một nắm da" mà thôi, và đã từng qua biết bao nhiêu là "cái ách" nặng nề, đã chán nản hết mọi sự đời, từ việc binh cơ đến việc lắt léo trong quan trường đều không buồn nghe không buồn bàn tới nữa. Nên chi đã về quy ẩn rồi mà người ta còn toan giết " để tô chuông mới". Nhà vua có tha cho ta như vua Tề đã tha cho con trâu ngày xưa hay không ?

      Vua Thành Thái hiểu rõ dụng ý và rất tâm đắc với câu thơ cuối: “Ơn đức vua Tề lại được tha”. Ông ta đã ví mình "nhân đức như vua Tề" thì sao mình lại không tha cho ông ta được ? Chẳng những tha mà lại còn trọng thưởng nữa là đằng khác !

 

        Bài thơ trên còn có 2 điển tích nữa là ĐIỀN ĐAN HỎA 田單火 và NỊNH THÍCH CA 甯戚歌. Điền Đan Hỏa là Lửa của danh tướng Điền Đan, là 火牛陣 nổi tiếng thời Chiến Quốc của tướng Điền Đan nước Tề như sau :

        Theo Sử Ký Điền Đan Liệt Truyện : Đời Yên Chiêu Vương 燕昭王, thời Xuân Thu Chiến Quốc, tướng Yên là Nhạc Nghị 樂毅 đem binh đánh Tề. Tướng Tề là Điền Đan 田單 cố giữ thành Tức Mặc. Năm 279 trước Công Nguyên, Yên Huệ Vương nối ngôi, Điền Đan dùng kế ly gián để Yên vương dùng tướng Kỵ Kiếp thay cho Nhạc Nghị, đoạn lại dùng kế trá hàng để Kỵ Kiếp không phòng bị, rồi đang đêm gom hết cả ngàn trâu bò trong thành, buộc gươm đao nhọn vào sừng trâu, đuôi trâu buộc cỏ rơm có tẩm dầu, rồi đốt lửa lên, trâu bị nóng cắm đầu cắm cổ phóng về phía quân Yên, lại cho 5000 lính cảm tử, vẽ mặt vằn vện, ăn mặc màu mè viêm vúa như thiên thần, theo sau đoàn quân trâu xung phong giết tới. Quân Yên đại bại, Kỵ Kiếp chết trận, Điền Đan thừa thế xua quân đánh chiếm lại hơn 70 thành đã bị mất. Nên câu " Đuôi cùn biếng vẫy, Điền Đan hoả". Ý của cụ Nguyễn Khuyến muốn nói là Mình đã già (như đuôi trâu đã cùn), nên không còn có thể động đến binh cơ mà lập nên công trận được nữa ! 

Còn NINH THÍCH CA 甯戚歌 : Là bài "Bạch Thủy Ca 白水歌" của Ninh Thích nước Vệ. Theo sách Hoài Nam Tử, quyển 12, Đạo Ưng Huấn《淮南子》卷十二〈道應訓〉NINH THÍCH là người nước Vệ thời Xuân Thu Chiến Quốc rất có tài thao lược và kinh ban tế thế, ông làm nghề chăn trâu. Khi Tề Hoàn Công đi ngang qua, ông bèn gỏ vào sừng trâu mà ca bài ca thái bình đời nhà Thương là :"Hạo hạo bạch thủy, du du chi ngư, quân lai chiêu ngã, ngã tương an cư. Quốc gia vị lập, Tòng ngã yên như. 浩浩白水,鯈鯈之鱼。君来召我,我将安居. 國家未立, 從我焉如". Có nghĩa : 

                                    Cuồn cuộn nước sông,

                                    Cá lội xuôi dòng.

                                    Vua mà biết đến,

                                    Ta được an lòng.

                                    Nước nhà chưa ổn,

                                    Nên còn long đong !

 

      Tề Hoàn Công bèn cho Tướng quốc Quản Trọng đến hỏi chuyện và mời về. Năm 685 trước Công Nguyên, Ninh Thích được phong làm Đại Phu, ông đưa ra nhiều kế sách giúp Tề Hoàn Công ổn định nghiệp bá của mình. Sau "NINH THÍCH CA" dùng để chỉ những người tài chưa gặp thời muốn cầu lấy công danh. Nên câu "Tai nặng buồn nghe Ninh Thích ca". Ý của cụ Nguyễn Khuyến là mình đã già nua (như tai đã nặng đã lãng) nên không còn thiết đến hai chữ công danh nữa.

     

      Nhà thơ trào phúng HỌC LẠC (1842–1915) của xứ Mỹ Tho (tỉnh Tiền Giang ngày nay) cũng có bài thơ "Vịnh CON TRÂU" để châm biếm những người trí thức nửa mùa đương thời chạy theo làm trâu làm bò cho thực dân Pháp như sau :

 

                                Mài sừng cho lắm cũng là trâu,

                                Ngẫm lại mà coi thật lớn đầu.

                                Trong bụng lam nham ba lá sách.

                                Ngoài cằm lém đém một chòm râu.

                                Mắc mưu đốt đít tơi bời chạy,

                                Làm lễ bôi chuông nhớn nhác sầu,

                                Nghé ngọ già đời quen nghé ngọ,

                                Năm dây đàn gẩy biết chi đâu.

 

      LÁ SÁCH "là Dạ Lá Sách", một trong bốn ngăn trong dạ dày của loài động vật nhai lại. Ở đây tác giả mượn để chỉ "Sách vở học thức", nên "Trong bụng lam nham ba lá sách" là chỉ "Học thức chẳng ra chi"; còn "Ngoài cằm lém đém một chòm râu"là chỉ râu ria lưa thưa không thành chòm, hàm ý "Tướng mạo cũng chẳng ra gì". Lại nhắc đến tích "Mắc mưu đốt đít" là "Hỏa ngưu trận" mà ta đã nhắc ở trên, cũng như "Làm lễ bôi chuông" là tích của vua Tề tha chết. Cuối cùng là mĩa mai với câu "Năm dây đàn gẩy biết chi đâu" phát xuất từ câu thành ngữ " ĐÀN GẢY TAI TRÂU, và câu thành ngữ nầy lại có xuất xứ từ câu chữ Nho là ĐỐI NGƯU ĐÀN CẦM 對牛彈琴, có nghĩa là "Gảy đàn trước mặt con trâu cho nó nghe" của Mâu Dung 牟融 một học giả đời Đông Hán 東漢 đã nói trong Lý Hoặc Luận《理惑論》để chỉ làm những việc vô ích, không cần thiết, không có tác dụng vì không đúng đối tượng. 

                                                                                           

        Trở lại câu thứ bảy của bài thơ trên "Nghé ngọ già đời quen nghé ngọ". NGHÉ NGỌ là từ tượng thanh nhái tiếng kêu của con trâu, nhưng NGHÉ cũng là danh từ chỉ "Con trâu Con, con trâu còn nhỏ thì gọi là con NGHÉ". Đến đây, ta mới thấy sự phong phú và khó học của tiếng Việt Nam ta....

 

       Cũng cùng một chữ NGƯU 牛, tiếng Việt ta có tới 2 nghĩa, vừa là TRÂU, vừa là BÒ. Con TRÂU CON thì gọi là con NGHÉ; còn con BÒ CON thì gọi là con BÊ (Rắc rối nhỉ !). Trong khi chữ Nho chỉ có một từ duy nhất để gọi Tiểu Ngưu 小牛(trâu bò con) là ĐỘC 犢 mà thôi. Ta có thành ngữ LÃO NGƯU ĐỂ ĐỘC 老牛舐犢. Có nghĩa : Con TRÂU con BÒ già  liếm  con NGHÉ con BÊ con. Ý chỉ sự thương yêu âu yếm của cha mẹ đối với con cái. Thành ngữ nầy cũng có xuất xứ rất lý thú, cảm động và sâu sắc từ Hậu Hán Thư, Dương Bưu Truyện 後漢書·楊彪傳 như sau :

 

      Vào thời Tam Quốc, trong quân Tào Tháo 曹操 có môt mưu sĩ tên là Dương Tu 楊修 rất thông minh cơ trí. Tào Tháo cho giữ chức Chủ Bộ trong dinh. Có một lần Tào Tháo nhờ một nhóm thợ xây cho một vườn hoa. Khi đến để kiểm tra, Tháo không nói gì, chỉ lấy viết viết một chữ HOẠT 活 là SỐNG ở giữa khung cửa rồi bỏ đi. Nhóm thợ không hiểu là Thừa Tướng muốn nói gì. Thời may Dương Tu đi đến, thấy được, mới bảo với mọi người rằng : Thừa Tướng chê cửa vườn quá rộng, sửa hẹp lại một chút đi. Nhóm thợ nghe theo. Khi Tào Tháo đến, hỏi ai đã gợi ý, thì nhóm thợ thưa là mưu sĩ Dương Tu. Tháo lặng thinh không nói gì. Lại một lần, có người mang tặng Tào Tháo một hộp kẹo mạch nha sốp, Tháo cầm bút viết lên hộp hai chữ NHẤT HIỆP 一合, rồi để trên bàn ăn. Khi mọi người đến ăn cơm, thấy hộp kẹo để đó không biết ý gì, Dương Tu đến xem, mới bảo với mọi người rằng : Thừa Tướng ban cho mỗi người một miếng kẹo. Cả bọn liền lấy kẹo chia nhau để ăn. Khi Tào Tháo đến hỏi. Mọi người đều nói là quan Chủ Bộ bảo rằng Thừa Tướng đã ban cho mỗi người một miếng. Tào Tháo nghe xong, cũng chẳng nói gì nhưng trong bụng không vui. 

     Thì ra, chữ HOẠT 活 ghép với bộ MÔN 門 thì thành chữ KHOÁT 闊, có nghĩa  là RỘNG, nên Dương Tu mới bảo nhóm thợ sửa cửa cho hẹp lại. Còn 2 chữ NHẤT HIỆP 一合 chiết tự ra thì thành NHẤT NHÂN NHẤT KHẨU 一人一口, có nghĩa là : Mỗi người một khẩu phần (Từ NHẤT KHẨU khi là Lượng Từ còn có nghĩa là Một Miếng). Tào Tháo muốn khoe tài để làm oai trước mặt mọi người, muốn mọi người đều phải đến khẩn khoản để hỏi mình xem đó là ý gì. Không ngờ Dương Tu làm tài khôn hướt hết, nên đâm ra cụt hứng, vì thế mà trong bụng không vui.

     Lại một lần, Dương Tu theo Tào Tháo xuất chinh tiến đánh Hán Trung, lại gặp lúc trời mưa gió, khó thể công phá thành trì, bèn đóng quân lại để chờ thời cơ. Còn đang lo lắng, thì lại nhằm lúc Hạ Hầu Đôn đến để hỏi mật khẩu gát đêm tối nay. Đang ăn dở cái đùi gà, Tào Tháo bèn động lòng buột miệng nói :"KÊ CÂN! 雞肋!"(Gân Gà). Dương Tu đứng bên nghe thế, bèn đi nói với các tướng sĩ rằng :"Hãy chuẩn bị về thôi, Thừa Tướng sắp ban sư rồi !". Mọi người đang chán nản, nghe quan Chủ Bộ nói thế rất mừng, đều cùng lo thu xếp chuẩn bị hành trang. Đêm đó, Tào Tháo đi tuần, thấy các doanh trại quân lính đều chuẩn bị khăn gói gọn gàng, nên ngạc nhiên mới hỏi cho ra lẽ, mọi người đều nói là : Quan Chủ Bộ Dương Tu bảo rằng Thừa Tướng đang chuẩn bị ban sư, nên mọi người đều thu dọn để sẵn sàng lên đường". Tào Tháo nghe xong rất giận, cho là Dương Tu đã nhiễu loạn lòng quân trong lúc hành quân, nên lôi ra pháp trường xử trảm ! Thì ra, "KÊ CÂN! 雞肋!"là Gân gà. Thực chi vô vị, khí chi khả tích  食之無味,棄之可惜。Gậm trong miệng thì dai nhách, không có mùi vị gì cả, kéo ra nhìn thì như còn có thể ăn được. Bỏ đi thì uổng, mà nuốt thì nuốt không vô. Như tình hình hiện nay với thời tiết khắc nghiệt, đánh thì đánh không được, mà bỏ đi thì cũng mất mặt. Còn ở lại đóng quân trường kỳ thì cũng thất sách, chỉ còn có nước về mà thôi ! Nên Dương Tu mới đoán là "Thừa Tướng sắp ban sư là thế." Tào Tháo giận vì Dương Tu nhiễu loạn lòng quân thì ít, mà đố kỵ vì việc gì mình nghĩ ở trong lòng Dương Tu đều đoán biết cả thì nhiều! Nên chém Dương Tu cho hả giận là vì thế !

       Sau khi Dương Tu chết, cha là Dương Bưu 楊彪 vì thương nhớ con cho nên ngày càng tiều tụy võ vàng. Tào Tháo trông thấy bèn hỏi :"Sao độ rày trông ông ốm yếu gầy còm thế ?" Dương Bưu đáp rằng :"Tôi thẹn vì không khuyên bảo được con, và buồn vì LÃO NGƯU ĐỂ ĐỘC 老牛舐犢 (Trâu già thương nhớ nghé con!). Tào Tháo nghe xong, rất lấy làm cảm động và cũng rất hối hận vì trong một phút nóng giận đã giết đi một nhân tài trẻ tuổi ở dưới trướng của mình.

 

                          

 

      Đây cũng là một bài học cho những người trẻ tuổi thường hay vì sự thông minh và tài giỏi mà hợm mình. Ngựa non háu đá thì cũng dễ chuốc họa vào thân ! Còn...

 

        Đối với trâu bò thì ta có thành ngữ "Nghé Mới Sinh Không Sợ Hổ", có gốc chữ Nho là " SƠ SINH CHI ĐỘC BẤT PHẠ HỔ 初生之犢不怕虎". Thành ngữ này có xuất xứ từ chương Tri Bắc Du của Trang Tử 莊子·知北遊 với ý : Nghé con mới sinh chưa biết sự lợi hại của hổ nên không sợ hổ, đồng thời cũng hàm ý là tuổi trẻ với một bầu nhiệt huyết, nên thường tự tin vào khả năng hay tài năng của mình mà không biết kiêng nể ai cả ! Ý nầy được minh họa bằng câu chuyện "Quan Vân Trường trảm Bàng Đức 關雲長斬龐德" sau đây :

 

       Cuối đời Đông Hán, Lưu Bị chiếm được Hán Trung trong tay Tào Tháo, rồi xưng vương và lập nên nước Thục Hán. Bị lại lệnh cho Quan Vân Trường đem binh đánh lấy Tương Dương và tiến đánh Phàn Thành. Bộ tướng của Tào Tháo là Tào Nhân đại bại, giữ chặc lấy Phàn Thành. Tào Tháo phái đại tướng Vu Cấm đem quân nam chinh với tiên phong là mãnh tướng trẻ Bàng Đức đến Phàn Thành để cứu viện.       

      Bàng Đức cho quân khiêng sẵn một cái quan tài đến trước Phàn Thành, với lòng quyết tử chiến đến cùng; rồi diệu võ dương oai kêu đích danh Quan Vân Trường ra quyết chiến. Hai người đánh với nhau hơn trăm hiệp, bất phân thắng bại. Khi trở về doanh trại, Quan Vân Trường nói với Quan Bình rằng : "Bàng Đức đao pháp tinh thông, không hổ là một mãnh tướng trẻ của quân Tào". Quan Bình đáp lại rằng :"Bàng Đức là tướng trẻ, như con nghé con đang hăng máu, đâu có biết sợ cọp là gì, cứ liều mình đánh tới. Cha có đánh thắng được, thì chẳng qua cũng chỉ giết được một tên tướng trẻ vô danh mà thôi, còn như nếu lở thua thì sẽ làm hỏng hết sự nghiệp mà bá phụ đã phó thác, nên cha không thể khinh địch được". Quan Vân Trường thấy con nói có lý bèn nghe theo. 

       Lúc bấy giờ đang là mùa thu, mưa thu rả rít tràn ngập cả dòng Hán Thủy. Quân Ngụy lại đóng quân ở hạ lưu trong lòng thung lũng. Quan Vân Trường bèn cho xả đập trên thượng lưu dòng Hán Thủy. Nước lũ đổ xuống làm tràn ngập quân dinh của quân Ngụy. Vu Cấm và Bàng Đức đều bị bắt sống. Vu Cấm xin hàng, còn Bàng Đức thì vẫn quật cường đứng thẳng không qùy, lại còn mở miệng mắng lớn khi Quan Vân Trường khuyên nhủ đầu hàng. Qủa là "Nghé con không biết hổ là gì!". Quan Vân Trường khuyên hàng không xong bèn chém Bàng Đức thị uy.

 

                                                             

       Ta thấy, Tuổi trẻ thường tin tưởng vào khả năng và bầu nhiệt huyết của mình, nên không biết sợ trời cao đất dày gì cả ! Không biết cân nhắc khi nào nên co khi nào nên thẳng, lúc nào nên cương, lúc nào phải nhu, nên rất dễ làm lở vở công việc và bản thân dễ phải gánh chịu thiệt thòi, lắm khi còn làm mất cả mạng nữa là đằng khác. Tuổi trẻ vô tri, vì vô tri nên vô úy; vì không biết nên không sợ, và chính cái "Không Sợ" nầy dễ dẫn đến thất bại và họa sát thân.

       

     Về thành ngữ HOA-VIỆT có liên quan đến TRÂU, ngoài ĐÀN GẢY TAI TRÂU và NGHÉ CON KHÔNG SỢ HỔ ra ta còn có :

 

    * ĐẦU TRÂU MẶT NGỰA có gốc chữ Nho là NGƯU ĐẦU MÃ DIỆN 牛頭馬面. Theo kinh Pháp Hoa Đầu Trâu vốn là Câu Hồn Sứ Giả chuyên đi bắt hồn người chết. Khi truyền sang Trung Hoa do phép trọng đối xứng của người Hoa nên mới có thêm một Mặt Ngưa nữa cho ... đủ cặp. Mặc dù theo Phật Giáo Mật Tông cũng có một Mã Diện Minh Vương, nhưng đó lại là một Bồ Tát, mà lại là hóa thân của Quan Thế Âm Bồ Tát nữa, khác xa với Mã Diện là câu hồn xứ giả dưới âm tào địa phủ. Trong tiếng Việt Nam ta, ĐẦU TRÂU MẶT NGỰA được dùng để chỉ những tay sai hung ác của quan quyền hoặc ác bá cường hào địa phương, chuyên hà hiếp, xách nhiễu, bóc lột dân lành, như cụ Nguyễn Du đã miêu tả trong Truyện Kiều :

 

                          Người nách thước, kẻ tay đao,

                      ĐẦU TRÂU MẶT NGỰA ào ào như xôi.

 * GIẾT GÀ SAO PHẢI DÙNG ĐẾN DAO MỔ TRÂU. Đây là câu ngạn ngữ có gốc chữ Nho là "Sát Kê Yên Dụng Ngưu Đao 殺雞焉用牛刀". Chỉ làm việc gì đó chỉ nhỏ nhoi mà phải dùng đến một lực lượng lớn để thi hành. Câu ngạn ngữ nầy có xuất xứ từ chương Dương Hóa của sách Luận Ngữ 論語·陽貨 và theo sách Trọng Ni Đệ Tử Liệt Truyện 史記·仲尼弟子列傳 như sau : 

     Cuối đời Xuân Thu, học trò của Khổng Tử là Tử Du làm Huyện Lệnh ở Võ Thành Huyện của nước Lổ. Có một lần, Khổng Tử đến Võ Thành, nghe được tiếng ca tiếng nhạc của dân chúng, bèn cười mà nói với Tử Du rằng :"Cai trị một huyện nhỏ nhoi như thế nầy, vốn không cần phải dùng tới lễ nhạc. Ví như giết gà thì sao phải dùng đến dao mổ trâu chứ ?!" Tử Du đáp rằng :"Trước kia thầy đã từng dạy là: Người quân tử học lễ nhạc thì dễ thân cận gần gũi hơn; còn kẻ tiểu nhân học lễ nhạc thì sẽ dễ khu sử sai bảo hơn. Con đã làm theo lời thầy đã dạy, sao nay thầy lại nói thế ?!". Khổng Tử đuối lý, bèn cười mà trớ rằng :" Lúc nảy ta chỉ nói chơi mà thôi !". Thế mới biết "Thánh nhân cũng có khi ngớ ngẩn chớ chẳng riêng gì người thường!" 

 

      Câu thành ngữ trên còn có thể mói gọn lại thành "MỔ GÀ DÙNG DAO TRÂU" hay "DÙNG DAO TRÂU MỔ GÀ" như các báo trong nước đưa tin : Mấy năm trước đây Bộ Trưởng Giao Thông Vận Tải Đinh La Thăng đã đích thân đi càn quét xe quá tải ở Hà Tĩnh và Huế. Nhưng khi ông vào thị sát các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long thì lập tức xe quá tải rầm rộ lao ra đường ở Huế và Hà Tĩnh. Song, ông vừa quay ra Huế thì ở đồng bằng sông Cửu Long lại xuất hiện xe 70 tấn qua cầu 25 tấn... Nhiều người góp ý với bộ trưởng, chuyện dẹp xe quá tải là việc của mấy anh thanh tra giao thông, cùng lắm là mấy ông cấp vụ, cấp sở. Ai đời lại lấy DAO MỔ TRÂU ĐI GIẾT GÀ ! Tầm cở của Bộ trưởng là phải làm những việc lớn lao hơn là chuyện đi rình rập để  dẹp những xe quá tải chứ.

       Tương đương với câu thành ngữ trên còn có câu "NGƯU ĐỈNH PHANH KÊ 牛鼎烹雞", có nghĩa : Dùng cái vạc nấu trâu bò để luộc gà, cũng cùng một nghĩa với "Dùng dao trâu để mổ gà" để chỉ "Thân phận lớn mà làm việc nhỏ hay làm việc nhỏ mà giàng giá lớn không tương xứng.

                                                                 

       Ngoài ra, ta còn có một ngạn ngữ nữa của người Hoa mà gần đây mới du nhập vào văn học của ta qua đường tiểu thuyết võ hiệp của Kim Dung là "NINH VI KÊ KHẨU, VÔ VI NGƯU HẬU 寧為雞口,無為牛后". Có nghĩa : "Thà làm mỏ gà chớ không làm đít trâu". Ý là : Mỏ gà tuy nhỏ nhưng sạch sẽ, đít trâu tuy lớn nhưng là nơi dơ dáy; Thà làm nhỏ mà đứng đầu, còn hơn làm lớn mà phải chiụ lép đứng sau lưng người khác. Thành ngữ nầy cũng có xuất xứ từ Chiến Quốc sách thời Xuân Thu như sau :

 

      Tô Tần là Tướng quốc của nước Sở đi du thuyết nước Hàn trình bày kế "Hợp Tung" để chống lại nước Tần. Thấy Hàn Chiêu Hầu còn do dự, Tô Tần bèn phân tích rằng : Nước Hàn đất rộng ngàn dặm, giáp binh mấy chục vạn, là nước sản xuất cung nỏ nhiều nhất hiện nay... Nếu nay không chịu hợp Tung với sáu nước khác để chống lại nước Tần, mà đi theo phò Tần, thì chẳng những bị thiên hạ cười chê mà còn bị nước Tần ức chế, nay đòi cái này, mai bắt phải cống cái khác... cam tâm làm nước phiên thuộc cho Tần mà không dám tự chủ việc gì cả. Thần nghe có câu tục ngữ "Thà làm mỏ gà chứ không thèm làm đít trâu" Nay vương hầu thần phục nước Tần thì khác nào bỏ đi cái mỏ gà sạch sẽ bén nhọn của mình mà cam tâm làm cái đít trâu to lớn nhưng lại xú uế vô cùng. Tôi thật lấy làm lo lắng cho vương hầu đó !". Hàn Chiêu Hầu nghe xong, vô cùng cảm khái, chống kiếm đứng lên ngước mặt lên trời nói to rằng :"Ta thề dù có chết cũng không bao giờ chịu quy phục nước Tần!". Chỉ một câu nói khéo, Tô Tần đã thuyết phục được thêm một đồng minh mạnh cho kế sách "Hợp Tung" của mình trong việc chống lại nước Tần hung hãn.

 

        Còn một con NGƯU nữa mà đồng bào Hoa Việt, bình dân hay trí thức gì đều biết đến cả, đó chính là NGƯU LANG 牛郎 và CHỨC NỮ 織女.         

        Ngưu Lang Chức Nữ 牛郎織女, còn có tên gọi khác trong tiếng Việt Nam ta là Ông Ngâu Bà Ngâu, là Vợ Chồng Ngâu, nước mắt hạnh phúc đoàn viên của họ khi khóc, rơi xuống trần gian thì gọi là Mưa Ngâu, đó là một câu chuyện tình trong cổ tích dân gian rất nổi tiếng, có xuất xứ từ thời Trung Hoa cổ đại. Theo chương Đại Đông, thiên Tiểu Nhã của Kinh Thi《詩經‧小雅‧大東》thì Ngưu Lang Chức Nữ là hai vì sao trên trời nằm ở hai bên Thiên Hà (Ngân Hà) với lời thơ dân gian như sau :

 

                維天有漢,監亦有光。 Duy thiên hữu hán, Giám diệc hữu quang.

                跂彼織女,終日七襄。 Kì bỉ Chức Nữ, Chung nhật thất tương.

                雖則七襄,不成報章。 Tuy tắc thất tương, Bất thành báo chương.

                睆彼牽牛,不以服箱。 Hoản bỉ khiên ngưu, Bất dĩ phục sương.

 Có nghĩa :

                       Sông Ngân lắp lánh trên cao,

                  Như gương soi sáng các sao trên trời.

                       Kìa sao Chức Nữ đổi dời,

                  Đêm ngày bảy bận không thôi di chuyền.

                       Bảy bận dời đổi liên miên,

                  Cũng không dệt được chút duyên thắm nồng.

                       Sao Ngưu tròn trịa bên sông,

                  Cũng chẳng ra đồng, cũng chẳng kéo xe ! 

 

                      

      Câu chuyện tình giữa Ngưu Lang và Chức Nữ được phổ biến từ thời nhà Hán qua lễ Thất Tịch, đêm mùng bảy tháng bảy âm lịch, và theo dòng chảy văn hóa câu chuyện này lan qua các nước Hàn Quốc, Nhật Bản và Việt Nam ta. Do sự phổ biến rộng rãi và có tính văn hóa cao, nên Ngưu Lang Chức Nữ trở thành một trong Tứ đại cổ tích dân gian theo truyền thuyết của Trung Hoa, bên cạnh Bạch Xà Truyện 白蛇傳 (còn gọi là Thanh Xa Bạch Xà), Mạnh Khương Nữ 孟姜女 (Người khóc đổ Trường Thành) và Lương Sơn Bá – Chúc Anh Đài 梁山伯 - 祝英台.

 

      Truyện cổ tích này có liên quan đến các sao Chức Nữ (Vega) và sao Ngưu Lang, còn gọi là Khiên Ngưu (Altair), hai sao nằm ở hai bờ đông tây của dải Ngân Hà (Galaxy) và hiện tượng mưa ngâu diễn ra vào đầu tháng Bảy âm lịch ở Việt Nam, ở Trung Quốc gọi là lễ Thất Tịch. Đêm Thất Tịch là đêm Ngưu Lang Chức Nữ gặp nhau, nên trai gái ngày xưa hay ước hẹn trong đêm nầy, như Ôn Như Hầu Nguyễn Gia Thiều đã viết trong Cung Oán Ngâm Khúc :

 

                                Chữ đồng lấy đấy làm ghi,

                        Mượn điều THẤT TỊCH mà thề bách niên.

 

      Ướt át hơn là chuyện tình giữa Đường Minh Hoàng và Dương Qúy Phi mà nhà thơ Bạch Cư Dị đã viết trong Trường Hận Ca là :

 

                  七月七日長生殿,  Thất nguyệt thât nhật Trường Sinh Điện,

                  夜半無人私語時。  Dạ bán vô nhân tư ngữ thì.

                  在天願作比翼鳥,  Tại thiên nguyện tác tỉ dực điểu,

                  在地願爲連理枝。  Tại địa nguyện vi liên lý chi.

   Có nghĩa :

                  Mùng bảy tháng bảy điện Trùng Sinh,

                  Vắng người thỏ thẻ lúc đêm thanh.

                  Trên trời nguyện làm chim liền cánh,

                  Dưới đất cây cành nhánh liền nhau !

 

      Vì là chuyện tình yêu đã được truyền tụng lâu đời trong dân gian, chớ đôi lứa yêu nhau của thời buổi nầy, đâu có cặp đôi nào ước được như Ngưu Lang Chức Nữ đâu : Mỗi đứa ở mỗi bên của một bờ sông và chỉ gặp nhau mỗi năm có một lần.  Có mà điên mới ước ao được như thế !

 

                     

       Còn một điều rất lý thú là, có một câu thành ngữ toàn chữ Nho mà người Hoa không biết, chỉ có người Việt Nam ta mới thường sử dụng nó mà thôi. Đó là câu NGƯU TẦM NGƯU, MÃ TẦM MÃ 牛尋牛,馬尋馬。Có nghĩa : Trâu tìm trâu, Ngựa tìm ngựa; Ý nói : Người của tầng lớp giai cấp nào thì chạy theo tầng lớp giai cấp đó ! Người tốt thì theo về với người tốt, còn người xấu thì về hùa theo người xấu. Như những người "cuồng Trump" thì chạy theo để phò Trump, cho dù Trump có ngang ngược như "Ngưu Ma Vương" thì họ vẫn "Tầm Trump" để đội lên đầu như thường; còn những người bình thường thì vẫn cứ sống theo lẽ sống công bằng bình dị của người dân bình thường mà thôi ! 

 

       Nhân nhắc đến Ngưu Ma Vương lại nhớ đến những khẩu ngữ của dân Nam Bộ quê tui. Hễ đứa nào ăn nói mạnh bạo, cử chỉ ngang tàng, đến đi sồng sộc như... trâu, thì đều bị mắng là :"Đồ cái thằng Ngưu Ma Vương !". Anh nào vai u thịt bắp, sức vóc mạnh mẽ, thì được khen là "Thằng đó trông mạnh mẽ như con Trâu Cui". Anh nào chịu khó khắc khổ thức khuya dậy sớm, dãi nắng dầm mưa làm việc bất kể giờ giấc gì cả, thì được gắn cho cái huy chương "Cực Như Trâu!". Những đứa bé ngoan cố, không nghe lời dạy bảo, thì bị mắng là "Thứ cái đồ Lổ Tai Trâu!", còn cứng đầu cứng cổ, đánh cũng không khóc, thì lại bị mắng là "Đồ Da Trâu!"... Vừa tốt vừa xấu, vừa ưu vừa khuyết, hình ảnh con trâu mấy ngàn năm qua đã rất gần gũi với nếp sống và sinh hoạt của nông dân nông thôn một cách thân thương như một thành viên không thể thiếu của đại gia đình nông nghiệp.

      Trở lại với đời sống dân gian của một xã hội nông nghiệp như Việt Nam ta từ ngàn xưa đến nay, thì cái hình ảnh tiêu biểu nhất, đẹp đẽ nhất, lý tưởng nhất mà cũng hạnh phúc nhất không gì hơn :

 

                               Trên đồng cạn dưới đồng sâu,

                            Chồng cày vợ cấy con trâu đi bừa.

  Hay là những lời ca dao thân thương giữa người và trâu như đôi bạn khắng khít không thể xa rời nhau trong đời sống lao động nông thôn :

 

                                   Trâu ơi ! Ta bảo trâu này !    

                            Trâu ra ngoài ruộng trâu cày với ta.

                                  Cấy cày vốn nghiệp nông gia,

                              Ta đây trâu đấy ai mà quản công !

 

       Sự cần mẫn của người nông dân còn được thể hiện qua những lời nhắn nhủ con trâu, nhưng cũng là để tự nhắn nhủ với mình :

 

                                  Trâu ơi ta bảo trâu này,

                           Trâu ăn cho béo trâu cày cho sâu.

                                  Ở đời khôn khéo chi đâu,

                          Chẳng qua cũng chỉ hơn nhau chữ CẦN.

 

      CẦN 勤 là siêng năng, cần mẫn. Ông bà ta dạy : Đại phú do thiên, Tiểu phú do cần  大富由天,小富由勤。Có nghĩa : Làm giàu lớn là do trời, còn làm giàu nhỏ là do ta biết cần kiệm. Con TRÂU là hình ảnh tiêu biểu cho sự siêng năng cần kiệm : Suốt ngày suốt buổi cứ nín thinh mà kéo cày, đói thì chỉ gặm ba cọng cỏ khô, thỉnh thoảng được thả ngoài đồng mới có cỏ non để gặm, thế mà còn bị người đời mai mĩa :"Trâu già thích gặm cỏ non !". 

      Thói thường thì "cỏ non" phải để dành cho mấy "con nghé" như câu ca dao :

 

                                    Em như ngọn cỏ phất phơ,

                            Anh như con nghé nhởn nhơ giữa đồng.

 

      Nhưng những cỏ non mọc hoang dại của cánh đồng hàng xóm trông mơn mởn vẫn cứ hấp dẫn những con trâu già mon men tìm đến để đến nỗi bị cảnh báo :

 

                                   Trâu ta ăn cỏ đồng ta,

                           Tham chi cỏ lạ ăn qua đồng người !?

 

                 

      Người cũng như trâu, thay vì nói "ta về ta tắm ao ta", với con trâu thì cứ "Trâu ta ăn cỏ đồng ta" như lời khuyên nhủ :

 

                                   Trâu ta ăn cỏ đồng ta,

                      Tham non chuộng lạ dắt qua đồng người

                               Đồng người cỏ tốt nhưng hôi,

                        Đồng ta cỏ xấu nhưng ... bùi ... trâu ăn.

 

      Hình ảnh "Con trâu cày ruộng" còn được ví von như chuyện vợ chồng trai gái với nhau qua những câu ca dao lấp lửng :

 

                                Trâu khoẻ chẳng lọ cày trưa,

                         Mạ già ruộng ngấu không thua bạn điền.

 

      Hay so sánh một cách thực tế trắng trợn và lộ liễu hơn :

 

                                Của chua ai thấy cũng thèm,

                          Em cho chị mượn chồng em vài ngày.

 

                             - Chồng em đâu phải trâu cày,

                           Mà cho chị mượn cả ngày lẫn đêm !

 

                

     Nhớ khi xưa còn ở ấp Yên Thượng của xứ "Cái Răng, Ba Láng , Vàm Xáng, Phong Điền..." Một hôm, gặp ông Sáu Quản Lý ở đầu làng, ông vổ vai tôi hỏi thăm, vì biết tôi mới cưới vợ chẳng bao lâu :"Sao con ?! Vợ chồng cơm ngon canh ngọt chớ ? Ráng mà ăn ở cho khéo, không thôi ông già vợ mầy "lấy lại miếng ruộng" là sẽ "hết đất để cày" đó nghen con !"

    Mong rằng các bạn trẻ đều ráng cố gắng phấn đấu cho tốt để giữ cho được "miếng ruộng" của mình để mà ... cày. Mong lắm thay ! 

 

    Xin được kết thúc bài phiếm luận về "Tuổi Sửu là con trâu kềnh kàng" ở đây. Cầu mong cho tất cả mọi người đều được VUI VẺ MẠNH KHỎE, "Đi Cày" để tiếp tay vực dậy nền kinh tế đang suy trầm vì Covid -19  trong năm TÂN SỬU 2021 nầy ! 

 

 杜紹德

 Đỗ Chiêu Đức

______________________________________________

THÀNH NGỮ ĐIỂN TÍCH:  

 

                               MÂY   

                                           Hoa cười ngọc thốt đoan trang,

                                    MÂY thua nước tóc, tuyết nhường màu da.   

 

          MÂY thua nước tóc, có nghĩa là Mây cũng không mềm mại bồng bềnh và đẹp như tóc của Thúy Vân và Thúy Kiều. Mây bay ở trên trời với muôn hình vạn trạng, lã lướt bồng bềnh, trôi nổi mềm mại lan tỏa khắp bầu trời và đẹp như... MÂY ! Nên mái tóc đẹp của người đẹp thường được gọi là TÓC MÂY, như đêm Kim Trọng và Thúy Kiều cùng thề nguyền hẹn ước, cụ Nguyễn Du đã viết :

 

                                      Tiên thề cùng thảo một chương,

                                   TÓC MÂY một món dao vàng chia đôi .

      

       Cái búi tóc trên đầu của các người đẹp, còn gọi là Vân Kế 雲髻, Vân Mấn 雲鬢, như trong Trường Hận Ca của Bạch Cư Dị tả lúc Dương Qúy Phi tiếp sứ giả của Đường Minh Hoàng:             

 

                      雲髻半偏新睡覺,  Vân kế bán thiên tân thụy giác,             

                      花冠不整下堂來.    Hoa quan bất chỉnh hạ đường lai.

Có nghĩa:             

                TÓC MÂY nghiêng lệch vừa tan mộng,              

                Hoa miện nghiêng chao bước xuống giường.  

 TÓC MÂY dã dượi cũng là một nét hấp dẫn của người đẹp !        

 

     Khi mới tấn cung, mới được nhà vua yêu dấu, thì Dương Quý Phi đã đủng đỉnh nũng nịu làm dáng với:         

                         雲鬢花顏金步搖      Vân Mấn hoa nhan kim bộ diêu

Có nghĩa: 

                                 Tóc mai mặt ngọc lắc lư gót hài ...  

     

              Tóc mai buông xõa như mây khi mới tắm xong với nét mặt  đẹp như hoa và cành trâm vàng "kim bộ diêu" lắc lư trên mái tóc.

 

        Trong văn học cổ, Mây Xanh là Thanh Vân 青雲. THANH VÂN ngày xưa vốn dùng để chỉ những người quân tử đức cao vọng trọng có chí hướng cao vút tận mây xanh !. Sau mới dùng để chỉ những người hiển đạt làm quan, và  vì thế mà người xưa ví với việc thi đậu Tiến sĩ, Trạng Nguyên là Nhẹ bước Thanh Vân, là lên tận mây xanh rồi đó. Nên ta lại có các thành ngữ như: Thanh Vân Đắc Chí 青雲得志, hay Bình Bộ Thanh Vân 平步青雲, mà trong tiếng Nôm ta gọi là Nhẹ Bước Thang Mây, hay nói như cụ Nguyễn Công Trứ trong bài Chí Làm Trai là:      

 

                          ĐƯỜNG MÂY rộng thênh thang cử bộ,                

                          Nợ tang bồng trang trắng vỗ tay reo.

                            

     Hay như cụ Nguyễn Du trong Truyện Kiều khi viết tiếp “Vương Kim cùng chiếm bảng xuân một ngày” để diễn tả Kim Trọng và Vương Quan thi đậu cùng khoa là:             

 

                               Cửa trời rộng mở ĐƯỜNG MÂY,             

                        Hoa chào ngõ hạnh hương bay dặm phần. 

 

Và cụ thể hơn là tâm trạng rất có hậu của Kim Trọng khi thi đậu là nhớ ngay đến nàng Kiều:          

 

                              Kim từ nhẹ bước THANH VÂN             

                       Nỗi nàng càng nghĩ xa gần càng thương.

  

       THANH VÂN không chỉ chỉ thi đậu, mà còn chỉ chung cho tất cả bá quan văn võ khi đạt đến đỉnh hiển vinh, như khi cô Kiều khuyên Từ Hải quy hàng, vì : “Nghĩ mình mặt nước cánh bèo, Đã nhiều lưu lạc lại nhiều gian truân”, nếu Từ Hải chịu quy thuận triều đình vẫn hơn suốt đời làm một loạn tướng :          

 

                             Bằng nay chịu tiếng vương thần,            

                      Thênh thang đường cái THANH VÂN hẹp gì !

                         

       Hơn cả sự hiển vinh của các quan viên, vượt lên trên cao ngất ngưỡng là MÂY RỒNG, là Rồng Mây gặp hội. Như khi mới gặp Từ Hải, biết Từ là người anh hùng có chí lớn "Dọc ngang nào biết trên đầu có ai". Thúy Kiều đã nói nịnh một câu rất đắc sách là :

 

                             Thưa rằng : Lượng cả bao dong,

                       Tấn Dương được thấy MÂY RỒNG có phen !

 

      Tấn Dương là nơi Đường Cao Tổ khởi binh dựng nên cơ nghiệp của nhà Đường. Ý Thúy Kiều muốn nói là có một ngày nào đó Từ Hải sẽ lập nên nghiệp đế như Đường Cao Tổ vậy, làm cho Từ Hải sướng quá chừng chừng, mới nói với Thúy Kiều là :"Một lời đã biết đến ta, muôn chung nghìn tứ cũng là có nhau !".

 

         Trong ca dao dân gian Việt nam ta thì có những câu :

 

                                Trên trời có đám MÂY XANH,

                      Ở giữa MÂY TRẮNG chung quanh MÂY VÀNG...                       

 

        Mây Vàng là HOÀNG VÂN 黃雲 chỉ xuất hiện sau những cơn mưa lón hoặc tuyết lớn, lúc trời quang mây tạnh, do sự phản chiếu của ánh nắng mặt trời hắt ngược từ mặt đất trở lên, nên mây trên trời mang màu vàng cả một vùng rộng lớn như bài thơ Biệt Đổng Đại của Cao Thích đời Đường:

 

                 千里黃雲白日曛,  Thiên lý hoàng vân bạch nhật huân,

                 北風吹雁雪紛紛。  Bắc phong xuy nhạn tuyết phân phân.    

                 莫愁前路無知己,  Mạc sầu tiền lộ vô tri kỷ,           

                 天下誰人不識君。  Thiên hạ hà nhân bất thức quân.

Có nghĩa :

                     Ngàn dặm MÂY VÀNG nắng úa hanh,               

                     Tuyết rơi gió cuốn nhạn bay nhanh               

                     Đừng sầu trước mặt không tri kỷ,               

                     Thiên hạ ai người chả biết anh !

Còn theo như câu nói trong Tống Thư-Phù Thoại Chí Thượng 《宋书.符瑞志上》:" Đế Nghiêu chi mẫu viết Khánh Đô, sinh vu Đẩu duy chi dã, thường hữu hoàng vân phúc hộ kỳ thượng 帝尧之母曰庆都,生于斗维之野,常有黄云覆护其上。Có nghĩa : "Bà mẹ của ông Đế Nghiêu là Khánh Đô, được sinh ra ở ngoại ô của đất Đẩu Duy, thường hay có đám mây vàng che phủ ở bên trên". Nên MÂY VÀNG còn có ý chỉ nhớ thương cha mẹ, như khi Thúc Sinh làm thơ ca ngợi vẻ đẹp của Thúy Kiều khi cô đang tắm, thì Kiều đã đáp lại rằng :

 

                      ... Hay hèn lẽ cũng nối điêu,

                 Nỗi quê nghĩ một hai điều ngang ngang.

                         Lòng còn gởi áng MÂY VÀNG,

                  Họa vần xin hãy chịu chàng hôm nay.

                 

        MÂY VÀNG nhớ cha mẹ, MÂY TRẮNG cũng nhớ cha mẹ. Theo Toàn Ðường Thư: Ðịch Nhân Kiệt 狄仁傑 (630-700) đời Ðường khi bị biếm làm quan tham quận ở Tinh Châu, còn cha mẹ ông thì cư ngụ ở Hà-Dương. Một hôm, lên núi Thái Hàng ngắm nhìn mây trắng bay nơi chân trời, ông nói với thuộc hạ rằng: “nhà cha mẹ ta ở dưới đám mây trắng kia kìa !”. Từ đó văn học cổ lấy hình tượng mây trắng để nói lên nỗi nhớ thương cha mẹ, và nơi chôn nhau cắt rốn đã sản sinh ra mình. Như tâm trạng của Thúy Kiều, khi bị bắt làm Hoa Nô để hầu hạ cho Hoạn Thư :        

 

                               Bốn phương MÂY TRẮNG một màu,                

                               Trông vời cố quốc biết đâu là nhà.

   

     Không gọi là Mây Trắng thì lại gọi là MÂY BẠC. Như khi Hoạn Thư khuyên Thúc Sinh về Lâm Chuy thăm Thúc Ông đã mở hơi rằng :

 

                               Cách năm MÂY BẠC xa xa,

                        Lâm Chuy cũng phải tính mà thần hôn !...

 

     Không gọi là Mây Bạc  thì gọi là MÂY TẦN. Như khi Từ Hải lên đường đi lập nghiệp lớn, Thúy Kiều ở lại có một mình đã nhớ về cha mẹ như sau :

 

                               Đoái thương muôn dặm tử phần,

                            Hồn quê theo ngọn MÂY TẦN xa xa !... 

 

     MÂY TẦN là tích của Hàn Dũ (768-824), một văn học gia lớn của đời Đường. Sau khi “Nhất phong triêu tấu cửu trùng thiên, Mộ biếm Triêu Dương lộ bát thiên 一封朝奏九重天 夕貶潮陽路八千” (Một phong tấu sớ buổi sáng dâng lên vua, thì buổi chiều đã bị đày đi Triều Dương xa tám ngàn dặm  đường) vì can nhà vua đừng mê tín qúa tin vào đạo Phật. Khi đi đến Lam Quan thì trời đổ tuyết lớn, ngựa không đi được, nên ông lại viết thêm hai câu thơ bất hủ là :     

 

                        雲橫秦嶺家何在,  Vân hoành Tần Lĩnh gia hà tại ?             

                        雪擁藍關馬不前。  Tuyết ủng Lam Quan mã bất tiền.

      Có nghĩa:                

                        Mây ngang Tần Lĩnh nhà đâu tá  ?                  

                        Tuyết phủ Lam Quan ngựa khó đi !

 

                

                           Vân hoành Tần Lĩnh gia hà tại ?

 

        Mây vắt ngang Tần Lĩnh, gọi tắt là Mây Tần, như lòng của cô Kiều nhớ nhà sau mười mấy năm lưu lạc (Đoái thương muôn dặm tử phần, Hồn quê theo ngọn Mây Tần xa xa !).

        

       Có MÂY thì có MƯA và MƯA xuống là nhờ có MÂY, nên MÂY và MƯA không thể tách rời ra được. Cuối cùng ta có điển MÂY MƯA để chỉ sự ân ái giữa nam nữ với nhau do tích Vu Sơn Thần Nữ 巫山神女 như sau:

 

      Theo thần thoại Trung Hoa, con gái của Xích Đế 赤帝 là Dao Cơ 瑶姬, chết trẻ, chôn ở Vu Sơn, hồn phách không tan, biến thành Thần Nữ. Trong bài Cao Đường Phú của Tống Ngọc nước Sở thời Chiến quốc có ghi lại: Sở Vương đi chơi ở Cao Đường, mơ thấy Thần Nữ đến cùng ân ái, khi chia tay còn nói là “Đản vi triêu vân, mộ vi hành vũ 旦为朝雲,暮为行雨” (Thiếp kéo mây ở buổi sáng, làm mưa ở buổi chiều). Theo quan niệm cổ xưa thì nữ thần và vua giao hợp có thể làm cho phong điều vũ thuận, ngũ cốc phong đăng. Có nghĩa: Mưa thuận gió hòa, lúa thóc được mùa. Nhưng dân gian lại không chịu hiểu theo nghĩa đó, hễ nhắc đến Sở Vương và Thần Nữ thì sẽ nghĩ ngay đến “MÂY MƯA ân ái giữa trai gái với nhau” mà thôi ! Vì thế, sau nầy hễ nhắc đến Thần Nữ Vu Sơn, Cao Đường Thần Nữ là người ta nghĩ ngay đến một giai nhân tuyệt sắc gợi tình, và nói đến Kéo Mây Làm Mưa, hay nói gọn thành Mây Mưa, là người ta lại nghĩ ngay đến việc ái ân trai gái. Như cô Kiều đã ngăn Kim Trọng lại trong đêm gặp gỡ khi “Sóng tình dường đã xiêu xiêu, Xem trong âu yếm có chìu lả lơi”, mà kể lể rằng:   

 

                               Ngẫm duyên kỳ ngộ xưa nay,               

                           Lứa đôi ai lại đẹp tày Thôi Trương.                  

                               MÂY MƯA đánh đổ đá vàng,             

                        Quá chìu nên đã chán chường yến anh..                                                       

      Còn Ôn Như Hầu Nguyễn Gia Thiều trong Cung Oán Ngâm Khúc tả nàng cung nữ chẳng những tài sắc vẹn toàn mà còn rất gợi tình nữa, đến nỗi cỏ cây cũng không chịu nổi trước sức hấp dẫn của nàng :

 

                             Bóng gương lấp ló trong mành,

                        Cỏ cây cũng muốn nổi tình MÂY MƯA !

 

     Trong bài Thanh Bình Điệu 清平調 thứ hai, khi tả về nhan sắc và sức quyến rũ gợi cảm của Dương Quý Phi, Lý Bạch cũng đã phải nhờ tới Vu Sơn Thần Nữ :     

 

                  一枝紅豔露凝香,   Nhất chi hồng diễm lộ ngưng hương,          

                  雲雨巫山枉斷腸.   VÂN VŨ VU SƠN uổng đoạn trường.            

                  借問漢宮誰得似,   Tá vấn Hán cung thùy đắc tự,

                  可憐飛燕倚新妝.   Khả lân Phi Yến ỷ tân trang.

  Có nghĩa :              

                     Một cành hoa đẹp ngậm sương thơm,               

                     Mưa móc Vu Sơn cũng dỗi hờn.               

                     Dám hỏi Hán cung ai dám sánh,               

                     Thương nàng Phi Yến mới soi gương.

                                                   

       Dương Thái Chân đẹp đến nỗi Thần Nữ cũng phải hờn dỗi đoạn trường và Triệu Phi Yến trong cung nhà Hán ngày xưa mới soi gương để tân trang lại nhan sắc cũng phải chào thua !

 

      Xin được kết thúc bài MÂY ở đây. Hẹn bài viết tới !

 

                                                                                                  杜紹德

                                                                                             Đỗ Chiêu Đức

______________________________

THÀNH NGỮ ĐIỂN TÍCH:  

 

                                                    MÀN 

                                           Êm đềm TRƯỚNG RỦ MÀN CHE,

                                    Tường đông ong bướm đi về mặc ai.

  

       Đó là hai câu thơ trong phần đầu của Truyện Kiều, khi cụ Nguyễn Du giới thiệu về xuất thân và gia thế của chị em Thúy Kiều và Thúy Vân.

       TRƯỚNG RỦ MÀN CHE chữ Nho là TRƯỚNG THÙY LIÊM BẾ 帳垂簾閉 để chỉ cuộc sống cao sang quyền qúy của các tiểu thơ khuê các ngày xưa, sống cách biệt hẳn với cuộc sống của quần chúng nhân dân bình thường; cuộc sống mang chút gì đó kiêu hãnh của giới qúy tộc tỏ ra vẻ chính chuyên với "Tường đông ong bướm đi về mặc ai!". 

       MÀN chữ Nho là MẠC 幕, có bộ CÂN 巾 là Khăn, là Vải ở bên dưới chữ, nên có nghĩa là "Miếng Vải dùng để che chắn". Các từ Hán Việt mà ta thường gặp trong văn học cổ cũng như trong đời sống bình thường hiện nay là :

    - LIÊM MẠC 簾幕 : Nói chung các loại rèm dùng để che chắn.

    - SONG MẠC 窗幕  : Rèm dùng để che cửa sổ         

    - KHAI MẠC 開幕 : là Mở Màn ra (để bắt đầu diễn tuồng diễn kịch), sau dùng rộng ra có nghĩa là : Bắt Đầu để làm một công việc nào đó. Như : Phiên họp đã KHAI MẠC; Buổi triển lãm sáng nay đã KHAI MẠC...

    - BẾ MẠC 閉幕 : là Đóng Màn lại (kết thúc vở diễn, là vãn tuồng), nghĩa phát sinh là : KẾT THÚC, như : Hội nghị đã BẾ MẠC; Đế chế Mông cổ đã đến hồi BẾ MẠC...

 

     Trong Văn học Cổ, MÀN còn có nghĩa là TRƯỚNG 帳 : là những tấm màn treo ở phòng khách, treo ở phòng ngủ... như trong Cung Oán Ngâm Khúc tả nàng cung nữ lúc đắc sủng bên cạnh nhà vua, Ôn Như Hầu Nguyễn Gia Thiều đã viết :

 

                    Trên TRƯỚNG GẤM chí tôn vòi vọi, 

                    Những khi nào gần gũi quân vương...

 

     Hay như trong Truyện Kiều, tả lúc Thúy Kiều báo ân báo oán. Thúy Kiều và Từ Hải đã ngồi trước bức màn có vẽ hình con hổ dương nanh múa vuốt để xử án. Cụ Nguyễn Du cũng đã viết :

 

                            TRƯỚNG HÙM mở giữa trung quân,

                          Từ Công sánh với phu nhân cùng ngồi.

Trướng Hùm chữ Nho là HỔ TRƯỚNG 虎帳. Có xuất xứ từ Lục Du đời Tống 宋.陸游 trong sách Nam Đường Thư, truyện Từ Tri Ngạc《南唐書·徐知諤傳》:Vua nước Lương là Từ Tri Ngạc, một hôm đi chơi ở vùng núi Toán Sơn, đã dọn một mảnh đất trống làm sân bãi, kết da hổ làm màn trại, rồi cho tụ tập tướng sĩ lại nơi đó, gọi là Hổ Trướng. Sau dùng rộng ra để chỉ nơi doanh trại của các tướng lãnh. Còn cụ đồ Nguyễn Đình Chiểu trong bài Văn Tế Trương Công Định thì lại gọi HỔ TRƯỚNG là MÀN HÙM : 

 

                    Nào đã đặng mấy hồi nơi thích-lý, MÀN HÙM che mặt rằng xuê;

                   Thà chẳng may một giấc chốn trường sa, da ngựa bọc thây mới phải.

 

     Tục ngữ có câu SÓI MƯỢN OAI HÙM, nên khi không có đủ da hùm thì mượn đỡ da của chó sói để dùng tạm. Chó sói chữ Nho là SÀI LANG 豺狼, nên thay vì dùng MÀN HÙM, bây giờ không có Màn Hùm nên dùng tạm MÀN LANG, cũng có cùng một nghĩa như Màn Hùm vậy. Như trong truyện thơ Nôm khuyết danh Phương Hoa Lưu Nữ Tướng :

 

                                  Xang vàng làm bạn am mây,

                             MÀN LANG tạm cuốn, lại vầy gối Ôn.                  

 

     Nhân nhắc đến GỐI ÔN, là Gối của Ôn Công. ÔN CÔNG tức là Tư Mã Quang 司馬光 là Tể tướng đời Bắc Tống. Lúc nhỏ hiếu học, ông lấy một khúc gỗ tròn kê đầu làm gối để ngủ, khi trở mình, khúc gỗ chuyển động lăn đi làm cho ông giật mình tỉnh giấc để thức dậy học tập trong đêm. Nên GỐI ÔN CÔNG chỉ các thư sinh cần mẫn xôi kinh nấu sử, chỉ học trò siêng năng học tập. Tích nầy thường đi song song với MÀN ĐỔNG TỬ...

     ĐỔNG TỬ tức ĐỔNG TRỌNG THƯ 董仲舒 (191-104 trước Công Nguyên). Ông người đất Quảng Xuyên, là nhà chính trị, nhà tư tưởng, nhà văn học nổi tiếng đời Tây Hán. Vì học trò theo học qúa đông phòng học không chứa hết, ông phải tập họp tất cả ra sân lớn, ông ngồi trên bục cao buông màn mà giảng dạy. Học trò tứ xứ từ Tề Lỗ Yên Triệu... đều tụ tập về để nghe giảng. Việc nầy đã hình thành một thành ngữ HẠ DUY GIẢNG TỤNG 下帷講誦 là "Buông Màn Giảng Dạy". Trong văn học cổ của ta gọi là MÀN ĐỔNG TỬ, MÀN ĐỔNG XUYÊN để chỉ việc dốc chí dùi mài học tập, như trong truyện thơ Lâm Tuyền Kỳ Ngộ (Bạch Viên Tôn Các) :

 

                                Đèn hạnh năm canh MÀN ĐỔNG TỬ,

                                Song mây mấy tấc GỐI ÔN CÔNG.

                           

                                      ĐỔNG TRỌNG THƯ 董仲舒    

 

      Đổng Trọng Thư cũng đã từng ra làm quan cho nhà Hán, nhưng sau bị giáng chức và bị bắt giam, rồi cáo lão về quê . Trong Lục Vân Tiên cụ Nguyễn Đình Chiểu cũng nhắc đến:

                                  Thương thầy ĐỔNG TỬ cao xa,

                               Chí đà có chí, ngôi đà không ngôi !  


      Trong tác phẩm thơ Nôm khuyết danh Quan Âm Thị Kính cũng có câu :

 

                                   Thư trung đành có ngọc nhan,

                           Sách đèn còn bận buông MÀN ĐỔNG XUYÊN.

 

     Còn trong truyện thơ Nôm Lưu Bình Dương Lễ tả lúc nàng Châu Long giúp Lưu Bình học tập cũng có câu :

 

                                    Sân Trình cửa Khổng lân la,

                               Cùng nhau giao lại một nhà chi lan .

                                     Tình lê trạch nghĩa tha san,

                            Đặt giường Từ Tử, buông MÀN ĐỔNG CÔNG

 

      Ngoài ra, MÀN còn có nghĩa là cái Mùng để ngủ, như khi "Ngỏ lời nói với băng nhân, Tiền trăm lại cứ nguyên ngân phát hoàn" để chuộc Thúy Kiều ra khỏi lầu xanh rồi thì Từ Hải cũng đã :

 

                            Buồng riêng sửa chốn thanh nhàn,

                        Đặt giường thất bảo, vây MÀN BÁT TIÊN.

MÀN BÁT TIÊN là cái mùng cái màn có vẽ hoặc thêu hình của Bát Tiên Qúa Hải, không biết sao trong phòng ngủ của lứa đôi mà lại có hình của "Bát Tiên"? Chả lẽ lại bảo rằng chuyện vợ chồng hòa hợp thì "sướng như tiên" chăng ?! Sự vô lý khó hiểu nầy đã được giải tỏa qua MÀN PHÙ DUNG chữ Nho là PHÙ DUNG TRƯỚNG 芙蓉帳 là cái mùng cái màn có màu đỏ đẹp như hoa phù dung hay có thêu hoa phù dung đẹp đẽ trong phòng ngủ của đôi lứa thì có vẻ hợp lý hơn là để hình của "Bát Tiên", như Bạch Cư Dị đã viết trong bài thơ cổ phong Trường Hận Ca tả lại mối tình của Đường Minh Hoàng và Dương Qúy Phi như sau :

 

                 雲鬢花顏金步搖,   Vân mấn hoa nhan kim bộ diêu,

                 芙蓉帳暖度春宵。   PHÙ DUNG TRƯỚNG noãn độ xuân tiêu.

Có nghĩa :

                       Tóc mây lã lướt gót sen,

             MÀN PHÙ DUNG ấm đêm xuân mơ màng.

 

     Còn trong thơ Nôm "Truyện Tây Sương" của ta thì cũng có hai câu tả lại mối tình của Thôi Oanh Oanh và Trương Quân Thụy như sau :

 

                  Chén quỳnh sóng sánh hồng nhan,

                Sẵn chăn phỉ thúy, sẵn MÀN PHÙ DUNG.

 

     Cuối cùng, ta có một bức MÀN đặc biệt sang trọng, đó lá bức sáo, bức rèm, bức mành treo để che chắn trước ngõ trước song được làm bằng loại tre trúc qúy, được gọi là MÀNH TƯƠNG, theo như tích sau đây...

 

      Tương truyền vào đời Nghiêu Thuấn (2294-Trước Công Nguyên) ở Cửu Nghi Sơn của tỉnh Hồ Nam có chín con ác long thường hay bay xuống sông Tương Giang để giỡn nước, gây nên lũ lụt tràn ngập cả ruộng đồng, nhấn chìm cả nhà cửa, ruộng nương thất bát, dân chúng kêu khổ liên miên... Đế Thuấn mới quyết định từ giả hai bà phi tử yêu dấu của mình là Nga Hoàng và Nữ Anh để đi về miền nam diệt trừ chín con rồng dữ nầy cứu nguy cho bá tánh. Nhưng...

       Đế Thuấn đi suốt ba năm ròng rã mà vẫn không thấy trở về. Nga Hoàng và Nữ Anh nóng lòng nên quyết định đi về phương nam để tìm chồng. Đi mãi đi mãi dọc theo Đại Tử Kinh Hà rồi Tiểu Tử Kinh Hà, cuối cùng cũng đến được dưới chân núi Cửu Nghi Sơn. Vượt đèo qua suối mới đến được Tam Phong Thạch, nơi có ba ngọn núi cao sừng sửng dựng đứng bên bờ Tương Giang với một rừng trúc bạt ngàn. Trong rừng trúc là một ngôi mộ cao sừng sửng, được dân chúng cho biết đó là ngôi mộ của Đế Thuấn đã hi sinh tính mạng khi chiến đấu với chín con ác long hung dữ. Hai bà nghe chuyện quá thương cảm bèn ôm nhau mà khóc suốt chín ngày chín đêm, máu và nước mắt rơi vải chung quanh thấm cả vào những thân trúc trong rừng trúc, tạo nên những đóm màu đỏ màu nâu lốm đốm trên thân các cây trúc. Cuối cùng hai bà cùng gục chết bên mồ của Đế Thuấn. 

                     

      Tương truyền, từ đó về sau rừng trúc bên sông Tương Giang đều có những đốm hoặc đỏ hoặc nâu hoặc tía... trông rất đẹp mắt và nổi danh là trúc của Tương Giang và hai bà Phi, nên được gọi là Tương Phi Trúc 湘妃竹. Đây là loại trúc qúy của vùng Cửu Nghi Sơn tỉnh Hồ Nam, đem đi làm thành những bức rèm, bức mành để che chắn, nên mới có tên là MÀNH TƯƠNG. Như trong Truyện Kiều tả lúc Kim Trọng tương tư Thúy Kiều, cụ Nguyễn Du đã viết :

 

                                MÀNH TƯƠNG phân phất gió đàn,

                           Hương gây mùi nhớ, trà khan giọng tình.

                                  Ví chẳng duyên nợ ba sinh,

                         Làm chi đem thói khuynh thành trêu ngươi !?

 

      Xin được kết thúc bài MÀN là TRƯỚNG, là RÈM, là MÀNH, là MÙNG... ở đây.

 

      Hẹn bài viết tới !

 

                                                                                                       杜紹德

                                                                                                   Đỗ Chiêu Đức

Tạp Ghi và Phiếm Luận: 

 

                      Chữ LÒNG trong Truyện KIỀU (3)

                                              Thệ sư kể hết mọi lời,

                                 LÒNG LÒNG cũng giận, người người chấp uy.(101)

          

       THỆ SƯ 誓師 : là Lễ tế cáo trời đất trước toàn quân khi xuất chinh; là Quân lính thề liều mình đánh giặc trước khi ra trận. Ở đây "THỆ SƯ kể hết mọi lời" là Từ Hải họp hết quân lính lại để nghe Thúy Kiều kể về tội lỗi của Mã Giám Sinh, Tú Bà, Sở Khanh, Bạc Bà, Bạc Hạnh... trước khi điều quân đi bắt hết những người kể trên về cho Thúy Kiều báo ân báo oán.

 

       Khi "Trướng hùm mở giữa trung quân, Từ Công sánh với phu nhân cùng ngồi". Ta thấy Thúy Kiều là người rất trung hậu, ân oán phân minh "Báo ân rồi sẽ trả thù", nên người đầu tiên mà nàng nhớ đến phải trả ơn là chàng Thúc Sinh, người "nhân ngãi" cũ :

 

                         Sâm Thương chẳng vẹn chữ tòng,

                      Tại ai, há dám PHỤ LÒNG cố nhân ?(102)

                         Gấm trăm cuốn bạc nghìn cân,

                      TẠ LÒNG dễ xứng, báo ân gọi là!(103)

 

       Khiến cho chàng Thúc :

 

                       LÒNG riêng mừng sợ khôn cầm,(104)

                       Sợ thay mà lại mừng thầm cho ai.

 

       Ta thấy, bản thân chữ LÒNG đã có hàm ý là "LÒNG TỐT" trong rất nhiều ngữ cảnh, như :"Tại ai, há dám PHỤ LÒNG cố nhân ?". "PHỤ LÒNG cố nhân" là "PHỤ LÒNG TỐT của cố nhân"; hay như câu :" TẠ LÒNG dễ xứng, báo ân gọi là". "TẠ LÒNG" là "Cảm tạ Lòng Tốt của ai đó". Ngày thường ta cũng hay nghe câu : "Cám ơn bác đã CÓ LÒNG đến thăm tôi"."CÓ LÒNG" ở đây là "CÓ LÒNG TỐT" đó.

 

                             

 

       

 

 

 

 

Trở lại với sự báo ân của Thúy Kiều : "Mụ già, sư trưởng thứ hai", MỤ GIÀ là chỉ "Mụ Quản Gia", còn SƯ TRƯỞNG là "Sư Giác Duyên", hai người đã có công giúp đỡ cứu vớt Thúy Kiều trong cơn hoạn nạn, nên "Dắt tay mở mặt cho nhìn: Hoa Nô kia với Trạc Tuyền cũng tôi", và cô kể lể :

 

                                Nhớ khi lỡ bước xẩy vời,

                      Non vàng chưa dễ đền bồi tấm thương.

                               Nghìn vàng gọi chút lễ thường,

                     Mà LÒNG PHIẾU MẪU mấy vàng cho cân ?(105)

 

       PHIẾU MẪU 漂母 là một bà già tầm thường giặt lụa ở bờ sông. Còn Hàn Tín 韓信(khoảng 231-196 trước Công Nguyên)người đất Hoài Âm, là một trong những khai quốc công thần của nhà Hán. Khi Hàn Tín còn chưa phát tích, lang thang phiêu bạc đó đây sống nhờ vào Nam Đình Đình Trưởng. Nhưng vợ Đình Trưởng là một người đàn bà hà khắc, thường ăn cơm sớm và không chừa phần cho Hàn Tín. Khi Tín đến thì cơm đã hết rồi. Buồn lòng Hàn Tín đi lang thang ra bờ sông thì gặp phải Phiếu Mẫu đang lúc ngưng giặt lụa để ăn cơm. Trông thấy điệu bộ đói khát của Tín, bèn chia cho phân nửa phần cơm của mình đang ăn. Hàn Tín rất cảm kích mà bảo rằng :" Sau này nếu ta phát tích sẽ đền ơn cho bà trọng hậu". Phiếu Mẫu nổi giận đáp rằng :"Ta thấy nhà người đói khát tội nghiệp nên chia cơm cho ngươi ăn, chớ đâu phải để mong sau này ngươi báo đáp cho ta đâu !". Sau khi giúp cho Lưu Bang chiến thắng Hạng Võ để lập nên nhà Hán, Hàn Tín được phong là Tề Vương, rồi Sở Vương. Khi vinh quy áo gấm về làng đã báo đáp cho Phiếu Mẫu một ngàn lượng vàng. Vì tích nầy mà ta có thành ngữ NHẤT PHẠN THIÊN KIM 一飯千金. Có nghĩa : Một bửa cơm giá đáng ngàn vàng, để cho người đời biết giá trị của "Một Miếng Khi Đói" nó qúy giá biết chừng nào ! 

       Thúy Kiều đã mượn tích nầy để so sánh sự giúp đỡ của "Mụ quản gia và Vãi Giác Duyên" như là Phiếu Mẫu đã giúp Hàn Tín vậy, nên nàng cũng đền ơn bằng :"NGHÌN VÀNG gọi chút lễ thường".

                                 

       Sau "báo ân" là "báo oán" ! Cái người gây ra sự oán hận nhất cho Thúy Kiều là ai ? Ta hãy nghe cụ Nguyễn Du viết :"Dưới cờ, gươm tuốt nắp ra, Chính danh thủ phạm tên là Hoạn Thư". Mặc dù "Hoạn Thư phách lạc hồn xiêu, Khấu đầu dưới trướng, liệu điều kêu ca", nhưng Hoạn Thư đã "kêu ca" một cách rất thông minh :

 

                                Rằng: Tôi chút phận đàn bà,

                       Ghen tuông thì cũng người ta thường tình,

... xin bà hãy :

                               Nghĩ cho khi gác viết kinh,

                       Với khi khỏi cửa dứt tình chẳng theo. (để bắt bà lại!)

... vì tôi đối với bà :

                              LÒNG riêng riêng những kính yêu;(106)

                              Chồng chung, chưa dễ ai chiều cho ai.

... nhưng cũng đã :

                               Trót LÒNG gây việc chông gai,(107)

                          Còn nhờ lượng bể thương bài nào chăng ?

 

       Rất thông minh, rất tâm lý ! Khiến cho Thúy Kiều cũng phải "Khen cho: Thật đã nên rằng, Khôn ngoan đến mực nói năng phải lời", nên mới "Tha ra thì cũng may đời, Làm ra thì cũng ra người nhỏ nhen", và Kiều đã lên giọng kẻ cả mà quyết rằng :

 

                                Đã LÒNG TRI QÚA thì nên,(108)

                       Truyền quân lệnh xuống trướng tiền tha ngay !

 

       TRI QÚA 知過 là Biết lỗi, biết sai. Nên LÒNG TRI QÚA là Có lòng biết mình đã làm sai điều gì đó. Câu "Đã LÒNG TRI QÚA thì nên" có nghĩa : Nàng đã biết mình sai là được rồi ! và đã "Truyền quân lệnh xuống trướng tiền tha ngay !", và Hoạn Thư cũng đã :

 

                               TẠ LÒNG lạy trước sân mây,(109)

 

                             

 

 

 

 

 

 

 

       Sau khi đã "xử lý" theo thứ tự "Trước là Bạc Hạnh, Bạc Bà, Bên là Ưng, Khuyển, bên là Sở Khanh" rồi đến "Tú Bà cùng Mã Giám Sinh" với hình thức "Thề sao thì lại cứ sao gia hình", khiến cho "Máu rơi thịt nát tan tành, Ai ai trông thấy hồn kinh phách rời". Cho nên :

 

                                Nàng từ ân oán rạch ròi,

                       Bể oan dường đã vơi vơi cạnh LÒNG.(110)

 

       Từ Hải còn lo lắng cho Thúy Kiều, vì "Xót nàng còn chút song thân, Bấy nay kẻ Việt người Tần cách xa", nên Từ muốn :

 

                                Sao cho muôn dặm một nhà,

                        Cho người thấy mặt là ta CAM LÒNG.(111)

                                 

       Từ đó Thúy Kiều và Từ Hải "Triều đình riêng một góc trời, Gồm hai văn võ rạch đôi sơn hà", và "Đòi phen gió quét mưa sa, Huyện thành đạp đổ năm tòa cõi nam". Cả hai đã "Năm năm hùng cứ một phương hải tần". Triều đình đã phải cử Hồ Tôn Hiến đến dẹp loạn. Hồ đã "Đóng quân làm chước chiêu an, Ngọc vàng gấm vóc sai quan thuyết hàng" và "Lại riêng một lễ với nàng, Hai tên thể nữ ngọc vàng nghìn cân". Thúy Kiều đã nhẹ dạ nghe theo lời Hồ Tôn Hiến khuyên Từ Hải quy hàng; Từ Hải cũng đã nhẹ dạ nghe theo lời Thúy Kiều quy hàng, để đến nỗi trúng kế của Hồ Tôn Hiến phải chết đứng giữa sa trường. Thấy Thúy Kiều đau lòng trước cái chết của Từ Hải, Hồ đã an ủi nàng :

 

                                      Bây giờ sự đã vẹn tuyền,

                           MẶC LÒNG nghĩ lấy muốn xin bề nào?(112)

 

      Còn xin bề nào nữa ! Nên...

 

                                   Nàng càng giọt ngọc tuôn dào,

                           Ngập ngừng mới gửi thấp cao SỰ LÒNG.(113)

 

      Thúy Kiều đã rất hối hận vì đã khuyên Từ Hải "Đem thân bách chiến làm tôi triều đình". "Ngỡ là phu qúy phụ vinh, Nào ngờ một phút tan tành thịt xương"và đau lòng vì "Xét mình công ít tội nhiều, Sống thừa tôi đã nên liều mình tôi!" nên chỉ "Xin cho tiện thổ một doi, Gọi là đắp điếm lấy người tử sinh" cho trọn tình trọn nghĩa mà thôi. Nàng đã nói thẳng vào mặt Hồ Tôn Hiến :

 

                                      Khéo khuyên kể lấy làm công,

                              Kể bao nhiêu lại ĐAU LÒNG bấy nhiêu!(114)

                                   

       Khi mở tiệc hạ công để ăn mừng chiến thắng, Hồ Tôn Hiến còn :"Bắt nàng thị yến dưới màn, Dở say lại ép cung đàn nhặt tâu", khiến cho họ Hồ "Nghe càng đắm ngắm càng say, Lạ cho mặt sắt cũng ngây vì tình", mới "Dạy rằng: Hương lửa ba sinh, Dây loan xin nối cầm lành cho ai ?". Thúy Kiều đã qúa não nề với nhân tình thế thái nên đáp rằng : 

 

                                          Còn chi nữa cánh hoa tàn,

                                   TƠ LÒNG đã đứt dây đàn Tiểu Lân.(115)

 

      DÂY ĐÀN TIỂU LÂN : là Dây đàn của nàng Phùng Tiểu Lân 馮小憐, ái phi của Bắc Tề Hậu Chúa thời Nam Bắc Triều. Được Hậu Chúa Cao Vi phong làm Thục Phi. Tiểu Lân thông minh lanh lợi, giỏi ca múa, đặc biệt là ngón đàn tì bà rất tuyệt diệu. Hậu Chúa rất sủng ái thường ăn cùng mâm, đi cùng xe.  Công nguyên 577, Bắc Tề mất vào tay Bắc Chu. Chúa Bắc Chu là Vũ Văn Ung thấy Hậu Chúa Cao Vi còn rất thương mến Phùng Tiểu Lân nên trả nàng lại cho Cao Vi. Nhưng sau khi Cao Vi mất, Vũ Văn Ung lại tặng nàng cho Đới Vương Vũ Văn Đạt. Đạt cũng rất sủng ái nàng, nhân trong bữa tiệc nàng gảy đàn tì bà giúp vui, bất ngờ dây đàn bị đứt. Phùng Tiểu Lân mới tức cảnh làm một bài thơ như sau :

 

                        雖蒙今日寵,       Tuy mông kim nhật sủng,

                        猶憶昔時憐。      Do ức tích thời lân.

                        欲知心斷絕,      Dục tri tâm đoạn tuyệt,

                        應看膝上弦。      Ưng khan tất thượng huyền.

Có nghĩa :

                        Hôm nay tuy được cưng chìu,

                   Nhớ xưa sủng ái đủ điều mến thương.

                        Lòng ta chi xiết đoạn trường,

                   Như dây đàn đứt vấn vương tơ tình !

 

                 

 

 

 

 

 

 

 

     Thúy Kiều đã rất tâm đắc khi mượn ý của bài thơ của Phùng Tiểu Lân để bày tỏ lòng mình với Hồ Tôn Hiến bằng câu :"Tơ lòng đã đứt DÂY ĐÀN TIỂU LÂN " rồi mới bày tỏ nguyện vọng của mình với Hồ là :"Rộng thương còn mảnh hồng quần, Hơi tàn được thấy gốc Phần là may! Nhưng Hồ Tôn Hiến đã không đáp ứng cho nàng về quê để thấy "Gốc Phần", để thăm lại mẹ cha, cũng không nạp nàng làm thiếp, vì sợ "Quan trên ngó xuống người ta trông vào", mà lại "Ép tình mới gán cho người thổ quan" khiến cho nàng phải "Đem mình gieo xuống giữa dòng Trường Giang" để kết thúc cho cái thân "má hồng phận bạc" và "một đời tài sắc" của mình như lời bà Tam Hợp Đạo Cô đã nói :"Tu là cõi phúc, Tình là dây oan!". Trước khi nhảy xuống Trường Giang tự trầm, Thúy Kiều một lần nữa đã rất ân hận vì cái chết của Từ Hải là do mình gián tiếp gây ra :

 

                                      Rằng: Từ công hậu đãi ta,

                              Chút vì việc nước mà ra PHỤ LÒNG.(116)

                                     Giết chồng mà lại lấy chồng,

                                Mặt nào còn đứng ở trong cõi đời?

     Cho nên ...

                                       Thôi thì một thác cho rồi,

                            TẤM LÒNG phó mặc trên trời dưới sông!(117)

 

      Lại nói, khi từ giả Thúy Kiều, sư Giác Duyên đã "Đeo bầu quảy níp rộng đường vân du", rồi "Gặp bà Tam Hợp đạo cô, Thong dong hỏi hết nhỏ to sự nàng". Được Đạo cô Tam Hợp cho biết về cuộc đời ba chìm bảy nổi của Thúy Kiều và kết luận :

 

                                       Sư rằng: Phúc họa đạo trời,

                             Cỗi nguồn cũng ở LÒNG NGƯỜI mà ra.(118)

 

      Đạo cô Tam Hợp cũng đã rất lạc quan về cuộc đời của Thúy Kiều sau nầy "Khi nên trời cũng chiều người, Nhẹ nhàng nợ trước đền bồi duyên sau" và nhắc nhở "Giác Duyên dù nhớ nghĩa nhau, Tiền Đường thả một bè lau rước người". Nên :

 

                            Giác Duyên nghe nói MỪNG LÒNG,(119)

                            Lân la tìm thú bên sông Tiền Đường,

                         

      Sư Giác Duyên đã "chơi qúa xộp", bà đã dám "Thuê năm ngư phủ hai người, Đóng thuyền chực bến kết chài giăng sông". Chắc sư đã dùng "nghìn vàng" của Thúy Kiều báo ân, nên mới dám thuê hai ngư phủ "kết chài giăng sông" suốt từ năm này qua năm kia, chỉ một việc chờ để vớt Thúy Kiều khi nàng nhảy xuống sông Tiền Đường tự vẫn mà thôi ! Chuyện có vẻ hoang tưởng, nhưng :

 

                               Một LÒNG chẳng quản mấy công,(120)

                           Khéo thay gặp gỡ cũng trong chuyển vần!

 

     Cuối cùng thì cũng "Ngư ông kéo lưới vớt người, Ngẫm lời Tam Hợp rõ mười chẳng ngoa!" Mặc dù "Trên mui lướt mướt áo là, Tuy dầm hơi nước chưa lòa bóng gương". Khi Thúy Kiều còn đang "Mơ màng phách quế hồn mai, Đạm Tiên thoắt đã thấy người ngày xưa". Đạm Tiên đã nói với Kiều :

 

                              Rằng: Tôi đã CÓ LÒNG chờ,(121)

                          Mất công mười mấy năm thừa ở đây.

                              Chị sao phận mỏng phúc dày,

                         Kiếp xưa đã vậy LÒNG này dễ ai!(122)

          

       Sau khi Thúy Kiều tỉnh dậy, Giác Duyên đã "Gặp nhau mừng rỡ trăm bề, Dọn thuyền mới rước nàng về thảo lư", và từ đó :

 

                                 Một nhà chung chạ sớm trưa,

                        Gió trăng mát mặt muối dưa CHAY LÒNG.(123)

 

                         

 

 

 

 

 

 

       Thế là "Nạn xưa trút sạch lầu lầu, Duyên xưa chưa dễ biết đâu chốn này". Khi trở lại vườn Thúy để tìm Kiều, thì Kim Trọng chỉ thấy "Đầy vườn cỏ mọc lau thưa, Song trăng quạnh quẽ vách mưa rã rời". Khi "Láng giềng có kẻ sang chơi, Lân la sẽ hỏi một hai sự tình", "Hỏi ông, ông mắc tụng đình, Hỏi nàng, nàng đã bán mình chuộc cha. Hỏi nhà, nhà đã dời xa, Hỏi chàng Vương với cùng là Thúy Vân. Đều là sa sút khó khăn, May thuê viết mướn kiếm ăn lần hồi". Qủa là "Điều đâu sét đánh lưng trời, Thoắt nghe chàng thoắt rụng rời xiết bao!". Khi tìm đường vào đến tận nơi thăm viếng, thì Vương Viên Ngoại đã kể lại mọi điều "Trót lời hẹn với lang quân, Mượn con em nó Thúy Vân thay lời. Gọi là trả chút nghĩa người, Sầu này dằng dặc muôn đời chưa quên!" và ông kết luận :

 

                                  Mấy lời ký chú đinh ninh,

                           GHI LÒNG để dạ cất mình ra đi.(124)

                                   Phận sao bạc bấy Kiều nhi,

                             Chàng Kim về đó con thì đi đâu !?

 

      Nghe xong, chàng Kim đã "Vật mình vẫy gió tuôn mưa, Dầm dề giọt ngọc thẫn thờ hồn mai!" Chàng tức tối bảo "Rằng: Tôi trót quá chân ra, Để cho đến nỗi trôi hoa dạt bèo" và xác định với Vương Viên Ngoại :

 

                                  Chưa chăn gối cũng vợ chồng,

                           LÒNG nào mà nỡ dứt LÒNG cho đang?(125)

                                  Bao nhiêu của mấy ngày đàng,

                                Còn tôi tôi một gặp nàng mới thôi!

 

      Lời nói đi đôi với hành động, chàng Kim đã "Vội về sửa chốn vườn hoa, Rước mời viên ngoại ông bà cùng sang", để chàng có dịp :

 

                                Thần hôn chăm chút lễ thường,

                        Dưỡng thân thay TẤM LÒNG nàng ngày xưa.(126)

                                Đinh ninh mài lệ chép thơ,

                           Cắt người tìm tõi đưa tờ nhắn nhe...

                            

      Người ở Lâm Chuy, lại đi tìm ở Lâm Thanh (do Mã Giám Sinh khai gian chỗ ở) nên "Người một nơi hỏi một nơi, Mênh mông nào biết bể trời nơi nao?", khiến cho Kim Trọng "Sinh càng thảm thiết khát khao, Như nung gan sắt như bào lòng son", đến đổi "Thẩn thờ lúc tỉnh lúc mê, Máu theo nước mắt hồn lìa chiêm bao", khiến cho "Xuân huyên lo sợ biết bao, Quá ra khi đến thế nào mà hay!". Cho nên "Vội vàng sắm sửa chọn ngày, Duyên Vân sớm vội se dây cho chàng". Nhưng mặc dù "Người yểu điệu kẻ văn chương, Trai tài gái sắc xuân đương vừa thì" chàng Kim vẫn luôn luôn nhớ về Thúy Kiều, "Có khi vắng vẻ thư phòng, Đốt lò hương giở phím đồng ngày xưa" và mường tượng mơ màng "Dường như bên nóc bên thềm, Tiếng Kiều đồng vọng bóng xiêm mơ màng". Chỉ vì :

 

                              Bởi LÒNG tạc đá ghi vàng,(127)

                         Tưởng nàng nên lại thấy nàng về đây.

 

       Sau khi Kim Trọng cùng Vương Quan đều thi đậu và cùng đều làm quan, thì "Kim từ nhẹ bước thanh vân, Nỗi nàng càng nghĩ xa gần càng thương" và khi "Phòng xuân trướng rủ hoa đào, Nàng Vân nằm bỗng chiêm bao thấy nàng", nên "Tỉnh ra mới rỉ cùng chàng, Nghe lời chàng cũng hai đường tin nghi","Nọ Lâm Thanh với Lâm Chuy, Khác nhau một chữ hoặc khi có lầm". Cho nên "Thăng đường chàng mới hỏi tra", rồi được ông lại già họ Đô và Thúc Sinh kể lại hết đầu đuôi sự tích lưu lạc của Thúy Kiều, và cuối cùng kết luận là "Về sau chẳng biết vân mồng ra sao !". Cho nên :    

 

                                 Nghe tường ngành ngọn tiêu hao,

                         LÒNG RIÊNG chàng luống lao đao thẫn thờ.(128)

 

       Thương xót cho Thúy Kiều như "...chiếc lá bơ vơ, Kiếp trần biết giũ bao giờ cho xong?". Ví như :

 

                                 Hoa trôi nước chảy xuôi dòng,

                         Xót thân chìm nỗi ĐAU LÒNG hợp tan!(129)

                         

       Khi Kim Trọng và Vương Quan cùng cải nhậm và cùng thuận đường phó quan, khi đến "Hàng Châu đến đó bây giờ, Thật tin hỏi được tóc tơ rành rành", "Rằng: Ngày hôm nọ giao binh, Thất cơ Từ đã thu linh trận tiền", Còn "Nàng Kiều công cả chẳng đền, Lệnh quan lại bắt ép duyên thổ tù". Cho nên "Nàng đà gieo ngọc trầm châu, Sông Tiền đường đó ấy mồ hồng nhan!. Cả nhà mới "Chiêu hồn thiết vị lễ thường, Giải oan lập một đàn tràng bên sông". Tình cờ Giác Duyên đến nơi cho biết Thúy Kiều còn sống và còn đang ở thảo am gần đây với mình, nên cả nhà mới "Bẻ lau vạch cỏ tìm đi", "Khỏi rừng lau đã tới sân Phật đường". Khi "Giác Duyên  lên tiếng gọi nàng, Buồng trong vội dạo sen vàng bước ra" thì cả nhà đều "Tưởng bây giờ là bao giờ, Rõ ràng mở mắt còn ngờ chiêm bao!" và cả nhà cùng :    

 

                                    Quây nhau lạy trước Phật đài,

                              Tái sinh trần tạ LÒNG người từ bi.(130)

 

       Khi "Kiệu hoa giục giã tức thì, Vương ông dạy rước cùng về một nơi" để cùng nhau đoàn tụ, thì Thúy Kiều đã phân bua "Nàng rằng: Chút phận hoa rơi, Nửa đời nếm trải mọi mùi đắng cay", cứ :

 

                                   Tính rằng mặt nước chân mây,

                            LÒNG nào còn tưởng có rày nữa không?(131)

                                    Được rày tái thế tương phùng.

                             Khát khao đã thỏa tấm LÒNG lâu nay!(132)

 

       Hơn nữa "Đã đem mình bỏ am mây, Tuổi này gởi với cỏ cây cũng vừa" vì "Mùi thiền đã bén muối dưa, Màu thiền ăn mặc đã ưa nâu sồng" Vả lại :

 

                                   Sự đời đã tắt LỬA LÒNG,(83,133)

                             Còn chen vào chốn bụi hồng làm chi! 

                                      Dở dang nào có hay gì,

                                  Đã tu tu trót quá thì thì thôi!

       ... lại nữa :

                                 Trùng sinh ân nặng bể trời,

                           LÒNG nào nỡ dứt nghĩa người ra đi?(134)

                               

       Vương Viên Ngoại đã phản bác lại:"Ông rằng: Bỉ thử nhất thì" Có nghĩa : Ở đời phải biết lúc vầy lúc khác, vì "Tu hành thì cũng phải khi tòng quyền. Phải điều cầu Phật cầu Tiên, Tình kia hiếu nọ ai đền cho đây?". Còn ơn nghĩa của sư Giác Duyên thì "Độ sinh nhờ đức cao dày, Lập am rồi sẽ rước thầy ở chung". Nghe Vương Ông lý luận quá hợp lý, cho nên :

 

                                 Nghe lời nàng cũng CHIỀU LÒNG,(135)

                                 Giã sư giã cảnh đều cùng bước ra.

 

       Khi "Một nhà về đến quan nha, Đoàn viên vội mở tiệc hoa vui vầy", và khi đã "Tàng tàng chén cúc dở say, Đứng lên Vân mới giãi bày một hai", nàng muốn kết hợp cho Thúy Kiều và Kim Trọng "Quả mai ba bảy đương vừa, Đào non sớm liệu xe tơ kịp thì". Nhưng Thúy Kiều đã vội gạt đi với lý do "Một lời tuy có ước xưa, Xét mình dãi gió dầu mưa đã nhiều. Nói càng hổ thẹn trăm chiều, Thà cho ngọn nước thủy triều chảy xuôi!". Nhưng Chàng Kim lại không chịu :

 

                                  Chàng rằng: Nói cũng lạ đời,

                             Dẫu LÒNG kia vậy còn lời ấy sao?(136)

                                  Một lời đã trót thâm giao,

                              Dưới dày có đất trên cao có trời!

 

       Thúy Kiều đã viện dẫn :

 

                              Nàng rằng: Gia thất duyên hài,

                         Chút LÒNG ân ái ai ai cũng LÒNG.(137)

                                Nghĩ rằng trong đạo vợ chồng,

                         Hoa thơm phong nhị trăng vòng tròn gương. 

                        

        Còn phận mình thì "... từ ngộ biến đến giờ. Ong qua bướm lại đã thừa xấu xa" nên không "Dám đem trần cấu dự vào bố kinh!". TRẦN CẤU 塵垢 là Bụi bặm dơ dáy; còn BỐ KINH  布荊 thì BỐ là Vải thô, KINH là Cỏ gai; nên BỐ KINH là chỉ nàng Mạnh Quang đời Tấn, là người vợ đãm đang cần mẫn, mặc quần áo bằng vải thô và cài trâm bằng cỏ gai. Ở đây, Thúy Kiều muốn nói thân mình đã "Bấy chầy gió táp mưa sa, Mấy trăng cũng khuyết mấy hoa cũng tàn", nên không dám dự vào sự thanh cao của chồng vợ bình thường. Nhưng Chàng Kim đã cố thuyết phục rằng :"Xưa nay trong đạo đàn bà, Chữ trinh kia cũng có ba bảy đường" và "Như nàng lấy hiếu làm trinh, Bụi nào cho đục được mình ấy vay?" và Kim cũng xác định cái nhìn của mình về Kiều là "Hoa tàn mà lại thêm tươi, Trăng tàn mà lại hơn mười rằm xưa." Tuy nói có hơi "xạo", nhưng lại rất chân thành, cho nên đến sau cùng thì Thúy Kiều cũng đành chịu khuất phục :

 

                                      Nghĩ chàng nghĩa cũ tình ghi,

                           CHIỀU LÒNG gọi có xướng tùy mảy may.(138)

Chiều thì chiều thế, nhưng...

                                    Riêng LÒNG đã thẹn lắm thay,(139)

                                    Cũng đà mặt dạn mày dày khó coi!

 

        Nàng cũng không muốn cho người yêu phải "Vớt hương dưới đất bẻ hoa cuối mùa", vì như thế thì "Còn tình đâu nữa là thù đấy thôi" Chẳng thà "Người yêu ta xấu với người, Yêu nhau thì lại bằng mười phụ nhau". Chàng Kim cũng tỏ ra cao thượng không chút nhượng bộ "Bấy lâu đáy bể mò kim, Là nhiều vàng đá phải tìm trăng hoa ? Ai ngờ lại họp một nhà, Lọ là chăn gối mới ra sắt cầm!". Nghe xong câu nói nầy của Kim Trọng, Thúy Kiều đã :

 

                                  Nghe lời, sửa áo cài trâm,

                         Khấu đầu lạy tạ cao thâm nghìn trùng:

                                Thân tàn gạn đục khơi trong,

                         Là nhờ quân tử khác LÒNG người ta.(140)

                                Mấy lời tâm phúc ruột rà,

                         Tương tri dường ấy mới là tương tri!

 

       Sau khi đã cùng thỏa thuận với nhau là "Đem tình cầm sắt đổi ra cầm cờ", rồi thì "Tình xưa lai láng khôn hàn, Thong dong lại hỏi ngón đàn ngày xưa" :

 

                                 Nàng rằng: Vì mấy đường tơ,

                           Lầm người cho đến bây giờ mới thôi!

                                   Ăn năn thì sự đã rồi!

                       NỂ LÒNG người cũ vâng lời một phen.(141)

 

      .. và sau khi đã "Lọt tai nghe suốt năm cung, Tiếng nào là chẳng não nùng xôn xao". Kim Trọng đã rất ngạc nhiên :

 

                               Chàng rằng: Phổ ấy tay nào,

                          Xưa sao sầu thảm nay sao vui vầy?

                              Tẻ vui bởi tại LÒNG này,(142)

                           Hay là khổ tận đến ngày cam lai?

 

       KHỔ TẬN CAM LAI 苦盡甘來 : KHỔ là Đắng, CAM là Ngọt; Cái Đắng đã tận cùng thì cái Ngọt sẽ đến. Hết lao nhọc cực khổ thì thảnh thơi sung sướng sẽ đến. Đây là nguyên lý của Đạo giáo : VẬT CỰC TẤT PHẢN 物極必反: Sự vật hay sự việc gì đó đến lúc cùng cực hết mức thì sẽ trở ngược trở lại; như Âm Cực Dương Hồi 陰極陽回, Bỉ Cực Thái Lai 啚極泰來, Bỉ Sắc Tư Phong  彼嗇斯豐, Hứng Tận Bi Lai 興盡悲來 và... KHỔ TẬN thì CAM LAI như trong câu thơ trên và cũng như trong cuộc đời của Thúy Kiều vậy !

 

       Chữ LÒNG cuối cùng cũng là chữ LÒNG trong bốn câu thơ cuối của Truyện Kiều mà hầu như mọi người  ai cũng biết :

 

                                 Thiện căn ở tại LÒNG ta,(143)

                             Chữ TÂM kia mới bằng ba chữ TÀI.

 

 

 

 

 

 

 

                      

         Xin được khép lại bài Phiếm luận trường thiên "Chữ LÒNG trong Truyện KIỀU" ở đây, với 141 câu có chữ LÒNG và 598 câu thơ minh họa đi kèm. Vị chi là ta đã học thuộc được 739 câu trong Truyện Kiều suốt từ  đầu đến cuối !

      

        Hẹn bài viết tới.

 

                                                                                                杜紹德

                                                                                            Đỗ Chiêu Đức

_______________________

Tạp Ghi và Phiếm Luận: 

 

                      Chữ LÒNG trong Truyện KIỀU (2)

                                                    Này con thuộc lấy NẰM LÒNG, (51)

                                             Vành ngoài bảy chữ vành trong tám nghề.         

         

        Thuộc NẰM LÒNG, làm cho ta nhớ đến những bài HỌC THUỘC LÒNG hồi nhỏ, mà mãi cho đến hiện nay đã bảy tám chục tuổi rồi ta vẫn còn nhớ rõ như in. Nên THUỘC NẰM LÒNG là ghi vào lòng, tạc vào dạ như thành ngữ "GHI LÒNG TẠC DẠ" xuất phát từ câu chữ Nho là "MINH TÂM KHẮC CỐT 銘心刻骨". MINH TÂM là "Tạc vào tim", KHẮC CỐT là "Chạm vào xương" mà cụ Nguyễn Du dịch là CHẠM XƯƠNG CHÉP DẠ để chỉ việc Thúy Kiều ghi lòng tạc dạ cái ơn của Từ Hải đã giúp nàng báo ân báo oán :

 

                                  CHẠM XƯƠNG CHÉP DẠ xiết chi,

                                 Dễ đem gan óc đền nghì trời mây !

 

       Còn ở đây Tú Bà muốn Thúy Kiều phải ghi vào lòng, tạc vào dạ những kỹ xảo mánh khóe của một kỹ nữ, mà "Những nghe nói, đã thẹn thùng" làm cho cô phải ngỡ ngàng chua xót :

                                 Nghĩ mình cửa các, buồng khuê,

                       VỠ LÒNG, học lấy những nghề nghiệp hay.(52) 

                                 Khéo là mặt dạn, mày dày,

                           Kiếp người đã đến thế này thì thôi!                       

 

       VỠ LÒNG là bài học đầu tiên của chữ nghĩa hay của một ngành nghề nào đó, mà chữ Nho gọi là KHAI TÂM 開心. Nên "Nằm Lòng" hay "Vỡ Lòng" gì đều chỉ "Lòng Dạ", còn NỖI LÒNG là chỉ cái tình cảm vướng vít ở trong lòng như khi ở lầu xanh phải chịu cảnh "Dập dìu lá gió, cành chim, Sớm đưa Tống Ngọc, tối tìm Tràng Khanh" và "Khi tỉnh rượu, lúc tàn canh, Một mình, mình lại thương mình xót xa", nên chi :

 

                              NỖI LÒNG đòi đoạn xa gần,(53)

                         Chẳng vò mà rối, chẳng dần mà đau !

 

      Cho đến khi gặp chàng "Thúc Sinh quen thói bốc rời, Trăm nghìn đổ một trận cười như không" ăn chơi bạt mạng, nên chết mê chết mệt khi gặp Thúy Kiều tài sắc vẹn toàn, lại được dịp :

 

                               Nguyệt hoa hoa nguyệt não nùng,

                          Đêm xuân ai dễ CẦM LÒNG được chăng ?(54)

                                    Lạ gì thanh khí lẽ hằng,

                             Một dây một buộc ai giằng cho ra.

 

      Thúy Kiều lại giở ngón "Vành ngoài bảy chữ..." ra để Thúc Sinh càng mê đắm. Nhân khi "Buồng the phải buổi thong dong, Thang lan rủ bức trướng hồng tẩm hoa", bày tấm thân "... trong ngọc trắng ngà" ra để cho Thúc Sinh làm thơ, và từ chối không họa vận :

 

                             Nàng rằng: Vâng biết LÒNG chàng,(55)

                           Lời lời châu ngọc hàng hàng gấm thêu.

                                   Hay hèn lẽ cũng nối điêu,

                          Nỗi quê nghĩ một hai điều ngang ngang.

        ... vì :

                            LÒNG còn gửi áng mây Vàng.(56)

                         Họa vần xin hãy chịu chàng hôm nay. 

 

                         

        MÂY VÀNG ở đây ý nói nhớ nhà, nhớ cha mẹ, theo như câu nói trong Tống Thư-Phù Thoại Chí Thượng 《宋书.符瑞志上》:" Đế Nghiêu chi mẫu viết Khánh Đô, sinh vu Đẩu duy chi dã, thường hữu hoàng vân phúc hộ kỳ thượng 帝尧之母曰庆都,生于斗维之野,常有黄云覆护其上。Có nghĩa : "Bà mẹ của ông Đế Nghiêu là Khánh Đô, được sinh ra ở ngoại ô của đất Đẩu Duy, thường hay có đám mây vàng che phủ ở bên trên". Cho nên mượn tích MÂY VÀNG để chỉ nơi cha mẹ ở. Thúy Kiều nói với Thúc Sinh là "Lòng còn gởi áng MÂY VÀNG" là ý muốn nói "Mình còn đang nhớ tới cha mẹ ở nhà". Rõ khéo làm dáng theo kiểu cách của một cô kỹ nữ : Cởi hết quần áo rồi tắm ở trong màn cho Thúc Sinh xem, để Thúc làm thơ ca ngợi, rồi lại bảo rằng "Tôi nhớ cha mẹ tôi quá nên không thể họa vần được"(!?)

 

     Khi biết là Thúc Sinh thật lòng có ý muốn chuộc mình ra khỏi lầu xanh, Thúy Kiều cũng đã rất cảm kích :

 

                              Nàng rằng: Muôn đội ơn LÒNG.(57)

                              Chút e bên thú bên tòng dễ đâu.

 

     THÚ 娶 là Cưới, nên BÊN THÚ là bên cưới, chỉ Thúc Sinh; còn TÒNG 從 là Theo chồng, nên BÊN TÒNG là bên theo chồng, chỉ Thúy Kiều. Thúy Kiều cũng biết thân biết phận mình là kỹ nữ, Thúc Sinh có thể chỉ "Yêu hoa yêu được một màu điểm trang" nên sợ đến lúc :

 

                                   Rồi ra lạt phấn phai hương,

                       LÒNG kia giữ được thường thường mãi chăng ?(58)

 

     Vả lại Thúy Kiều cũng biết là Thúc Sinh đã có vợ ở nhà rồi, cưới thêm mình làm thiếp chỉnh e làm hại đến tình cảm vợ chồng của Thúc Sinh và Hoạn Thư :

 

                                  Bấy lâu khăng khít dải đồng,

                       Thêm người người cũng thêm LÒNG riêng tây.(59)

 

     Hơn nữa Thúc Sinh lại còn có cha là Thúc Ông nữa, không biết là ông có chấp nhận cho Thúc Sinh chuộc mình từ lầu xanh ra hay không ? :

 

           Ở trên còn có nhà thông,

Lượng trên trông xuống biết LÒNG có thương ?(60)

           Sá chi liễu ngõ hoa tường?

Lầu xanh lại bỏ ra phường lầu xanh.

 

                          

 

     Nhưng rồi cô Kiều lại nói xuôi theo lòng mong muốn của chàng Thúc để cho chàng yên lòng :"Thương sao cho trọn thì thương. Tính sao cho vẹn mọi đường thì vâng", làm cho chàng Thúc nổi máu "anh hùng cứu mỹ nhân" vỗ ngực :

 

                               Sinh rằng: Hay nói dè chừng!

                     LÒNG đây lÒNG đấy chưa từng hay sao ?(61)

                               Đường xa chớ ngại Ngô Lào,

                          Trăm điều hãy cứ trông vào một ta!

     

       Nói thì "anh hùng" là thế, nhưng khi Thúc Ông về đến nơi với :

 

                                Phong lôi nổi trận bời bời,

                         NẶNG LÒNG e ấp tính bài phân chia.(62)

 

   ... và đưa ra phán quyết "Quyết ngay biện bạch một bề, Dạy cho má phấn lại về lầu xanh" làm cho chàng Thúc phải xuống nước nài nỉ van xin không được rồi hăm he đòi tự vẫn "Lượng trên quyết chẳng thương tình, Bạc đen thôi có tiếc mình làm chi", đến nỗi Thúc Ông "Sốt gan ông mới cáo quì cửa công" và Quan Phủ đã bắt Thúy kiều và Thúc Sinh đến để tra hỏi, rồi đưa ra hai điều kiện "Một là cứ phép gia hình, Một là lại cứ lầu xanh phó về". Thúy Kiều đã rất cứng rắn và quyết định chịu gia hình chớ không chịu về lại lầu xanh, bị đánh đến đỗi "Đào hoen quẹn má liễu tan tác mày". Làm cho Thúc Sinh đứng xa xa mà nhìn, đau lòng mà chẳng biết phải làm sao :

 

                                Nghĩ tình chàng Thúc mà thương,

                           Nẻo xa trông thấy LÒNG càng xót xa.(63)

 

  ... chàng khóc và tự trách mình :

 

                              CẠN LÒNG chẳng biết nghĩ sâu.(64)

                               Để ai trăng tủi hoa sầu vì ai.

 

  ... khóc than đến nỗi :

                             Phủ đường nghe thoảng vào tai,

                       ĐỘNG LÒNG lại gạn đến lời riêng tây.(65)

 

       Thúc Sinh được dịp kể lể "Khi xưa nàng đã biết thân có rày. Tại tôi hứng lấy một tay, Để nàng cho đến nỗi này vì tôi", Thúc lại đề cao Thúy Kiều "Theo đòi vả cũng ít nhiều bút nghiên", nên sau khi thử tài thơ của Thúy Kiều, quan phủ đã đứng ra kết hợp cho hai người và khuyên Thúc Ông là "Dâu con trong đạo gia đình, Thôi thì dẹp nỗi bất bình cho xong". Thúy Kiều và Thúc Sinh lại được sum vầy đoàn tụ "Huệ lan sực nức một nhà, Từng cay đắng lại mặn mà hơn xưa". Thúy Kiều lại khuyên Thúc Sinh về thăm vợ cả là Hoạn Thư để khỏi phải mang tiếng là "Mặn tình cát lũy nhạt tình tào khang", nên "Xin chàng kíp liệu lại nhà" thú thật với Hoạn Thư để "Trước người đẹp ý sau ta biết tình", nên : 

 

                               Nghe lời khuyên nhủ thong dong,

                        ĐÀNH LÒNG sinh mới quyết lòng hồi trang.(66) 

 

         ĐÀNH LÒNG là bằng lòng, là chịu nghe theo; còn ĐỘNG LÒNG là Xúc động trong lòng (như "ĐỘNG LÒNG lại gạn đến lời riêng tây"(65); còn CẠN LÒNG là chỉ lòng nông cạn, hời hợt (như "CẠN LÒNG chẳng biết nghĩ sâu"(64), và NẶNG LÒNG là Đặt nặng, là xem trọng vấn đề gì đó (như "NẶNG LÒNG e ấp tính bài phân chia"(62); Sau đây, ta lại có từ KHÓ LÒNG là Làm khó cho lòng mình, tức là làm những chuyện mà trong lòng phải lo lắng mãi mãi, như Cô Kiều đã khuyên chàng Thúc về tới nhà cứ nói thẳng, nói thật với vợ, chớ đừng khiếm cách dấu quanh :

 

                                      Dễ lòa yếm thắm trôn kim,

                              Làm chi bưng mắt bắt chim KHÓ LÒNG !(67)

                                      Đôi ta chút nghĩa đèo bòng,

                              Đến nhà trước liệu nói sòng cho minh.

 

      Về phần Hoạn Thư ở nhà đã "Từ nghe vườn mới thêm hoa, Miệng người đã lắm tin nhà thì không", nên :

 

                                    Lửa tâm càng dập càng nồng,

                           Trách người đen bạc ra LÒNG trăng hoa.(68)

 

      Nên Hoạn Thư rắp tâm "Làm cho nhìn chẳng được nhau, Làm cho đầy đọa cất đầu chẳng lên! Làm cho trông thấy nhãn tiền, Cho người thăm ván bán thuyền biết tay", nên chi :

 

                                  Nỗi LÒNG kín chẳng ai hay,(69)

                              Ngoài tai để mặc gió bay mái ngoài.

                                

      Nhưng "Tuần sau bỗng thấy hai người, Mách tin ý cũng liệu bài tâng công" đến mét với Hoạn Thư là Thúc Sinh có vợ bé bên ngoài, không ngờ :

 

                                  Tiểu thư nổi giận đùng đùng:

                           Gớm tay thêu dệt ra LÒNG trêu ngươi!(70)

 

      Bèn "Vội vàng xuống lệnh ra uy, Đứa thì vả miệng đứa thì bẻ răng", thế nên "Trong ngoài kín mít như bưng. Nào ai còn dám nói năng một lời!", và Hoạn Thư thì cứ "phớt tỉnh Ăng-Lê" : "Buồng đào khuya sớm thảnh thơi, Ra vào một mực nói cười như không":

 

                             Đêm ngày LÒNG những dặn LÒNG,(71)         

                             Sinh đà về đến lầu hồng xuống yên.

 

      Thúc Sinh về đến nhà, Hoạn Thư tiếp đãi thật chu đáo nhiệt tình :

 

                               Tẩy trần vui chén thong dong,

                          Nỗi LÒNG ai ở trong LÒNG mà ra.(72)

   

      "Chàng về xem ý tứ nhà, Sự mình cũng rắp lân la tỏ bày", nhưng "Mấy phen cười nói tỉnh say, Tóc tơ chẳng động mảy may sự tình". Hoạn Thư phớt lờ xem Thúc Sinh có thú thật không, còn Thúc Sinh thấy êm re không có động tĩnh gì cả thì lại "trổ mòi" khôn vặt :"Nghĩ đà bưng kín miệng bình, Nào ai có khảo mà mình đã xưng?". Nên đến năm sau, Hoạn Thư lại khuyên chàng về thăm Thúc Ông "Cách năm mây bạc xa xa, Lâm Tri cũng phải tính mà thần hôn". Thúc Sinh mừng quýnh "Được lời như cởi tấc son, Vó câu dung ruổi nước non quê người". Chàng Thúc vừa đi khỏi thì "Xe hương nàng cũng thuận đường quy ninh" về nhà để "mét má" : "Thưa nhà huyên hết mọi tình, Nỗi chàng ở bạc nỗi mình chịu đen."      

       

       Riêng phần Thúy Kiều, từ khi khuyên Thúc Sinh về thăm vợ cả thì cũng lo cho số kiếp lẻ mọn của mình "Sắn bìm chút phận cỏn con, Khuôn duyên biết có vuông tròn cho chăng?" nên mới :

 

       Nén hương đến trước Phật đài,

Nỗi LÒNG khấn chửa cạn lời vân vân.(73)

                 

 

 

... thì "Dưới hoa dậy lũ ác nhân, Ầm ầm khốc quỷ kinh thần mọc ra", Khuyển Ưng của Hoạn Thư sai đến bắt Thúy Kiều về Vô Tích. Hoạn Bà đánh cho một trận rồi "Buồng the dạy ép vào phiên thị tì". May mà nhờ mụ quản gia thương tình "Khi chè chén khi thuốc thang, Đem lời phương tiện mở đường hiếu sinh" và nhắc nhở :".Ở đây tai vách mạch rừng, Thấy ai người cũ cũng đừng nhìn chi" vì "Kẻo khi sấm sét bất kỳ, Con ong cái kiến kêu gì được oan?", nên :  

 

                                   Nàng càng giọt ngọc như chan,

                        Nỗi LÒNG luống những bàng hoàng niềm tây.(74)

 

      Đến khi Hoạn Bà giao nàng về cho Hoạn Thư với lý do "Tiểu thư dưới trướng thiếu người, Cho về bên ấy theo đòi lầu trang". Nàng vẫn chịu an phận khép mình "Sớm khuya khăn mặt lược đầu, Phận con hầu giữ con hầu dám sai". Nghe nói nàng đàn giỏi, Hoạn Thư cũng đã "Trúc tơ hỏi đến nghề chơi mọi ngày" :

 

                               Lĩnh lời nàng mới lựa dây,

                      Nỉ non thánh thót dễ say LÒNG người.(75)

                              Tiểu thư chừng cũng thương tài,

                       Khuôn uy dường cũng bớt vài bốn phân.

Nàng cũng phải đành :

                              Cửa người đày đọa chút thân,

                        Sớm ngơ ngẩn bóng đêm năn nỉ LÒNG.(76)

 

     "Nước trôi hoa rụng đã yên, Hay đâu địa ngục ở miền nhân gian", Thúy Kiều không biết tại sao người ta lại bắt mình làm con hầu ở đây, mãi đến khi Thúc Sinh về thăm nhà thì mới vỡ lẽ ra Hoạn Thư là vợ cả của Thúc Sinh và mới sợ cho cái kế sách ghen tuông của tiểu thư họ Hoạn :"Rõ ràng thật lứa đôi ta, Làm ra con ở chúa nhà đôi nơi". Riêng chàng Thúc cũng "...phách lạc hồn siêu" và lại "Sợ quen dám hở ra lời, Không ngăn giọt ngọc sụt sùi nhỏ sa". Hoạn Thư gỉa như không biết ngạc nhiên hỏi rằng : Vợ chồng lâu ngày gặp mặt sao chàng lại khóc ? :

 

                                   Sinh rằng hiếu phục vừa xong,

                          Suy LÒNG TRẮC DĨ đau LÒNG CHUNG THIÊN.(77)

TRẮC DĨ 陟屺 là nói gọn lại hai câu thơ của chương Ngụy Phong  魏風, Trắc Hỗ 陟岵 trong Kinh Thi 詩經 là :"Trắc bỉ Dĩ hề, Chiêm vọng mẫu hề 陟彼屺兮,瞻望母兮". Có nghĩa : Trèo lên trên núi Dĩ để mong ngóng bóng của mẹ. Nên LÒNG TRẮC DĨ là Lòng tưởng nhớ đến me. Còn CHUNG THIÊN 終天 thì CHUNG là hết, THIÊN là Trời; CHUNG THIÊN là hết tuổi của trời cho, nên Chung Thiên có nghĩa là suốt đời.

       Câu "Suy LÒNG TRẮC DĨ, đau LÒNG CHUNG THIÊN": Ý của Thúc Sinh muốn nói là Nhớ đến mẹ đã chết nên đau buồn suốt đời, cho nên muốn khóc thì khóc (chớ không phải khóc vì thấy Thúy Kiều bị bắt làm Hoa Nô). Hoạn Thư đã khen :"Khen rằng: Hiếu tử đã nên! Tẩy trần mượn chén giải phiền đêm thu", rồi bắt Thúy Kiều đứng hầu rượu cho hai người, lại bắt Thúy Kiều phải đàn cho vợ chồng cùng nghe, Thúy Kiều mới "Vâng lời ra trước bình the vặn đàn" :

 

                                  Bốn dây như khóc như than,

                          Khiến người trên tiệc cũng tan nát LÒNG.(78)

                                 Cũng chung một tiếng tơ đồng,

                        Người ngoài cười nụ, người trong khóc thầm.   

 

                                  

        Hành hạ được Thúc Sinh và Thúy Kiều, Hoạn Thư cũng cảm thấy :

 

                               LÒNG riêng khấp khởi mừng thầm:(79)

                               Vui này đã bõ đau ngầm xưa nay. 

 

      Về phần chàng Thúc thì :

 

                                    Sinh thì gan héo ruột đầy,

                         Nỗi lÒNG càng nghĩ càng cay đắng LÒNG.(80)

 

      Riêng phần Thúy Kiều thì "Một mình âm ỉ canh chầy, Đĩa dầu vơi nước mắt đầy năm canh". Hoạn Thư còn bắt Thúc Sinh phải tra hỏi Thúy Kiều xem tại sao lại buồn, Thúy Kiều phải "Thân cung nàng mới thảo qua một tờ" để Thúc Sinh "Diện tiền trình với Tiểu thơ". Sau khi xem xong tờ "thân cung" của Kiều, Hoạn Thư cũng bảo "Rằng: Tài nên trọng mà tình nên thương" và phán :

 

                                  Tiểu thư rằng: ý trong tờ,

                         Rắp đem mệnh bạc nương nhờ cửa Không.

                               Thôi thì thôi cũng chiều LÒNG,(81)

                          Cũng cho khỏi lụy trong vòng bước ra.

 

     "Sẵn Quan Âm Các vườn ta, Có cây trăm thước, có hoa bốn mùa. Có cổ thụ, có sơn hồ, Cho nàng ra đó giữ chùa chép kinh". Thế là Thúy Kiều lại "Áo xanh đổi lấy cà sa, Pháp danh lại đổi tên ra Trạc Tuyền". Ở Quan Âm Các Thúy Kiều cũng "Phật tiền thảm lấp sầu vùi, Ngày pho thủ tự, đêm nồi tâm hương" :

 

                               Cho hay giọt nước cành dương,

                      LỬA LÒNG tưới tắt mọi đường trần duyên.(82)

 

           Lửa Lòng chữ Nho là TÂM HỎA, là ngọn lửa dục vọng cứ âm ỉ đốt mãi trong lòng người ta để thôi thúc sự ham muốn... đủ thứ một cách mãnh liệt, mà trong Cung Oán Ngâm Khúc Ôn Như Hầu Nguyễn Gia Thiều đã viết là : "Ngọn TÂM HỎA đốt dàu nét liễu, Giọt hồng băng thấm ráo làn son". Ta gặp lại từ LỬA LÒNG ở đoạn cuối Truyện Kiều, lúc Thúy Kiều phân bua với Vương Viên Ngoại khi ông muốn nàng từ giả sư Giác Duyên để theo mọi người về nhà đoàn tụ :

 

                                 Sự đời đã tắt LỬA LÒNG,(83)

                           Còn chen vào chốn bụi hồng mà chi ?! 

 

      Khi Thúc Sinh đến Quan Âm Các tìm Thúy Kiều lại giở giọng "chung tình dõm" bảo là cũng muốn sống chết với Thúy Kiều "Quản chi lên thác xuống ghềnh, Cũng toan sống thác với tình cho xong", nhưng vì chưa có con nối dõi nên đành phải :

 

                               Tông đường chút chửa CAM LÒNG,(84)

                               Nghiến răng bẻ một chữ đồng làm hai.

 

      Không làm gì được trước cô vợ qúa quắc, Thúc Sinh đành phải khuyên Kiều bỏ trốn "Liệu mà xa chạy cao bay, Ái ân ta có ngần này mà thôi!". Chàng đã nhận xét :

 

                              Sinh rằng: Riêng tưởng bấy lâu,

                     LÒNG NGƯỜI nham hiểm biết đâu mà lường.(85)

 

      "Lòng người nham hiểm biết đâu mà lường" là nói theo câu chữ Nho "Thâm uyên chung hữu đễ, Nhân tâm bất khả trắc 深淵終有底, 人心不可測" Có nghĩa : Vực sâu còn có đáy, chớ lòng người thì không thể đo lường được".

 

      "Cất mình qua ngọn tường hoa, Lần đường theo bóng trăng tà về tây", trốn khỏi Quan Âm Các trong cảnh "Mịt mù dặm cát đồi cây, Tiếng gà điếm nguyệt dấu giày cầu sương", may mà gặp được Chiêu Ẩn Am và lại gặp được sư Giác Duyên :

 

                                  Thấy màu ăn mặc nâu sồng,

                     Giác Duyên sư trưởng LÀNH LÒNG liền thương.(86)

 

      Cũng may mà Thúy Kiều đã :

 

                                Kệ kinh câu cũ THUỘC LÒNG,(87)

                          Hương đèn việc cũ, trai phòng quen tay.

 

                       

            Khi biết Thúy Kiều từ Quan Âm Các của nhà Hoạn Thư trốn ra, Giác Duyên đã :

 

                             Rỉ tai nàng, mới GIẢI LÒNG:(88)

                            Ở đây cửa Phật là không hẹp gì;

                                 E chăng những sự bất kỳ,

                         Để nàng cho đến thế thì cũng thương!

 

      Cho nên Giác Duyên mới gởi nàng cho một nữ thí chủ là Bạc Bà, nào ngờ "Bạc bà học với Tú bà đồng môn!", cho nên "Thấy nàng mặt phấn môi son, Mừng thầm được mối bán buôn có lời", bèn ra sức ép nàng phải lấy cháu của bà ta là Bạc Hạnh để cùng về sống ở đất Châu Thai :

 

                                 Bấy giờ ai lại biết ai,

                     Dầu lÒNG BỂ rộng sông dài thênh thênh.(89)

                           Nàng như quyết chẳng thuận tình,

                          Trái lời nẻo trước lụy mình đến sau !

 

      Trước lời hăm dọa đó Thúy Kiều đành phải nghe theo mà thôi, nhưng nàng vẫn còn ái ngại :

 

                              Cùng đường dù tính chữ tòng,

                      Biết người, biết mặt, biết LÒNG làm sao?(90)

                                Nữa khi muôn một thế nào,

                         Bán hùm, buôn sói, chắc vào lưng đâu?

 

      Câu "Biết người, biết mặt, biết lòng làm sao ?" là diễn Nôm vế hai của câu ngạn ngữ "Họa hổ họa bì nan họa cốt, Tri nhân tri diện bất tri tâm 畫虎畫皮難畫骨 知人知面不知心." Có nghĩa : Vẽ cọp vẽ da khó vẽ xương ở bên trong, biết người biết mặt chẳng biết lòng dạ như thế nào !

 

      Khi biết Thúy Kiều đã ưng chịu, thì chàng Bạc Hạnh bèn "Một nhà dọn dẹp linh đình, Quét sân, đặt tráp, rửa bình, thắp nhang" và rất hoa loa hời hợt "Bạc Sinh quì xuống vội vàng, Quá lời nguyện hết Thành hoàng Thổ công" : 

 

                             Trước sân LÒNG đã giãi LÒNG,(91)

                            Trong màn làm lễ tơ hồng kết duyên. 

 

                    "Thành thân mới rước xuống thuyền, Thuận buồm một lá xuôi miền Châu Thai" và ở nơi đây, một lần nữa Thúy Kiều bị Bạc Hạnh bán vào lầu xanh. Khi "Đưa nàng vào lạy gia đường, Cũng thần mày trắng, cũng phường lầu xanh!" cho nên "Thoắt trông nàng đã hay tình, Chim lồng khôn lẽ cất mình bay cao", khiến cho nàng không nén nổi phải văng tục "Chém cha cái số hoa đào, Gỡ ra rồi lại buộc vào như chơi!" Cũng may là sau đó lại gặp được người hùng Từ Hải với "Râu hùm, hàm én, mày ngài, Vai năm tấc rộng, thân mười thước cao" từ biên đình sang :

 

                              Qua chơi nghe tiếng nàng Kiều,

                        Tấm LÒNG nhi nữ cùng xiêu anh hùng.(92)

 

      Sau khi đã chuộc Thúy Kiều ra khỏi lầu xanh để "Trai anh hùng, gái thuyền quyên, Phỉ nguyền sánh phượng, đẹp duyên cưỡi rồng" rồi, thì khi :

 

                             Nửa năm hương lửa đương nồng,

                     Trượng phu thoắt đã ĐỘNG LÒNG bốn phương.(93)

 

      "Trông vời trời bể mênh mang, Thanh gươm, yên ngựa lên đàng thẳng dong" Thúy Kiều cũng đã xin với Từ Hải :

 

                             Nàng rằng: Phận gái chữ tòng,

                        Chàng đi thiếp cũng một LÒNG xin đi!(94)

 

                       

 

      Từ Hải đã âu yếm mắng yêu :"Từ rằng: Tâm phúc tương tri, Sao chưa thoát khỏi nữ nhi thường tình?" và yên ủi khuyên nhủ Kiều :

 

                             Đành LÒNG chờ đó ít lâu,(95)

                         Chầy chăng là một năm sau vội gì?

 

      Ở lại có một mình, Thúy Kiều đã nhớ về gia đình cha mẹ :

 

                             Xót thay Huyên cỗi Xuân già,

                      Tấm LÒNG thương nhớ, biết là có nguôi.(96)

 

      HUYÊN 萱 là một loài thảo mộc được trồng trong nhà như cây Trường sinh, lá thon dài, nở hoa màu vàng và cho hương thơm dìu dịu, ăn được, ta thường gọi là Hoa KIM CHÂM, dùng để chỉ sự dịu dàng của người mẹ. Còn XUÂN 椿 thì theo sách Trang Tử, chương Tiêu Dao Du, là loại cây cao bóng cả, tàng lá sum xuê, có tám trăm năm là mùa xuân, tám trăm năm là mùa thu, nên được dùng để ví với người cha là cột trụ chống đỡ và che chở cho gia đình. Nên XUÂN HUYÊN là từ dùng để gọi chung CHA MẸ. Câu "Xót thay HUYÊN cỗi XUÂN già" là để chỉ cha mẹ đã già yếu. 

 

      Lại nhớ đến người yêu đầu tiên, chàng Kim Trọng của ngày xưa cũ :

 

                                Tiếc thay chút nghĩa cũ càng,

                          Dẫu lìa ngó ý còn vương TƠ LÒNG!(97,27)

 

      Rồi lại nhớ đến quê hương, nơi chôn nhau cắt rốn :

 

                              TẤC LÒNG cố quốc tha hương,(98)

                           Đường kia nỗi nọ ngổn ngang bời bời.

 

      Khi đã có trong tay "...mười vạn tinh binh", Từ Hải đã phái "Hai bên mười vị tướng quân, Đặt gươm, cởi giáp, trước sân khấu đầu. Cung nga, thể nữ nối sau, Rằng: Vâng lệnh chỉ rước chầu vu qui" và "Sẵn sàng phượng liễn loan nghi, Hoa quan chấp chới hà y rỡ ràng", chưa hết, khi đến nơi thì còn "Kéo cờ lũy, phát súng thành, Từ Công ra ngựa, thân nghênh cửa ngoài" và Từ Hải đã cả cười nói với Thúy Kiều rằng : 

 

                                 Anh hùng mới biết anh hùng,

                          Rày xem phỏng đã CAM LÒNG ấy chưa?(99)

 

      Thúy Kiều cũng đã cười đáp lại rằng :

 

                                 Đến bây giờ mới thấy đây,

                        Mà LÒNG đã chắc những ngày một hai !(100)

 

                            

 

       Đâu phải "Đến bây giờ mới thấy đây", mà lòng thiếp đã chắc chắn là chàng sẽ thành danh trong ngày một ngày hai mà thôi ! Quả là một lời nói nịnh êm tai và dễ thương biết chừng nào !

 

       Mời đọc tiếp phần (3).

 

                                                                                                杜紹德

                                                                                           Đỗ Chiêu Đức

Tạp Ghi và Phiếm Luận: 

 

                    Chữ LÒNG trong Truyện KIỀU (1)

                                                    Đầu LÒNG hai ả tố nga,

                                            Thuý Kiều là chị, em là Thúy Vân.

 

           Đó là hai câu thơ trong phần mở đầu của Truyện Kiều giới thiệu về hai chị em Thúy Kiều và Thúy Vân. "Sanh đôi ?" Vì "đầu lòng" mà đến "hai ả tố nga" lận ! Về tuổi tác thì "Xuân xanh xấp xỉ tới tuần cập kê".  Tuổi "cập kê 及笄" là tuổi cài trâm, là tuổi mười lăm, tuổi thành niên của các cô gái ngày xưa đã có thể xuất gía (lấy chồng) hợp pháp; nói theo tâm lý tình cảm, là tuổi đã biết rung động, biết yêu. Cho nên khi nghe Vương Quan kể về ca nhi Đạm Tiên, rồi kết luận là:

 

                                         Trải bao thỏ lặn ác tà,

                                   Ấy mồ vô chủ ai mà viếng thăm! 

thì Thúy Kiều đã ...

                                         LÒNG đâu sẵn mối thương tâm,

                                    Thoắt nghe Kiều đã đầm đầm châu sa .

 

          Chữ LÒNG trong ĐẦU LÒNG là chữ PHÚC 腹, là cái Bụng; còn chữ LÒNG trong câu thơ trên là chữ TÂM 心, là trái tim, là tấm lòng. Đến khi Đạm Tiên hiển linh cho xem thì Thúy Kiều lại :

 

                                         LÒNG THƠ lai láng bồi hồi,

                                      Gốc cây lại vạch một bài cổ thi.

 

          LÒNG THƠ ở đây là cái HỒN THƠ của Thúy Kiều. Kịp đến khi về lại nhà "Một mình lặng ngắm bóng nga", nhớ đến Đạm Tiên, nhớ đến Kim Trọng, nên chi ...

 

                                      Ngổn ngang trăm mối bên LÒNG,

 

          LÒNG nầy là LÒNG DẠ, là tâm sự, còn lời của Đạm Tiên nói với Kiều trong mơ là :

 

                                          Đã LÒNG HẠ CỐ đến nhau,

                                     Mấy lời hạ tứ ném châu gieo vàng.

 

          LÒNG HẠ CỐ là chỉ cái BỤNG DẠ tốt của Thúy Kiều đã chiếu cố đến Đạm Tiên. 

Ta thấy : 

          Cũng cùng một chữ LÒNG, nhưng có rất nhiều nghĩa tùy theo cách dùng và ngữ cảnh ...  LÒNG là cái bụng, là trái tim, là lòng dạ, là tấm lòng, là cái hồn (thơ) ... Vì thế, chữ LÒNG đã được cụ Nguyễn Du sử dụng đến hơn 130 lần trong hơn 130 câu thơ khác nhau. Nếu điểm hết hơn 130 câu thơ nầy cùng những câu thơ đi kèm, thì ít nhất ta cũng thuộc được hơn 500 câu Kiều từ đầu cho đến cuối truyện. Bạn có muốn học thuộc Truyện Kiều bằng cách điểm những câu thơ có chữ LÒNG nầy với tôi không ? Nào, bây giờ thì ta bắt đầu nhé !...

Trong bốn câu thơ mở đầu của Truyện Kiều, sau khi đưa ra thuyết "Tài Mệnh Tương Đố" là " Chữ TÀI chữ MỆNH khéo là ghét nhau" xong, cụ Nguyễn Du đã cảm khái rằng :

 

                                           Trải qua một cuộc bể dâu,

                                  Những điều trông thấy mà đau đớn LÒNG.

 

         Qua 5 chữ LÒNG giáo đầu ở phần trên , đây là chữ LÒNG thứ 6. Chữ LÒNG thứ 7 là sau khi gặp người đẹp ở hội Đạp Thanh, thì ...

 

                                            Chàng Kim từ lại thư song,

                                   Nỗi nàng canh cánh bên LÒNG biếng khuây. 

... và suốt ngày cứ ...

                                    Mặt mơ tưởng mặt LÒNG khao khát LÒNG.(8)

 

... đến khi "canh me" nhặt được kim thoa của Thúy Kiều trên cành đào, rồi lại đánh tiếng :"Thoa nầy bắt được hư không, biết đâu Hợp Phố mà mong châu về ?!" Để cô Kiều phải lên tiếng năn nỉ :

 

                                ... Ơn LÒNG quân Tử xá gì của rơi,(9)

                                       Chiếc thoa là của mấy mươi,

                                 Mà LÒNG trượng nghĩa khinh tài xiết bao !(10)

 

       Kim Trọng lại có dịp tâng bốc người đẹp và bày tỏ nỗi lòng tưởng nhớ của mình :

 

                                     Được rày nhờ chút thơm rơi,

                             Kể đà thiểu não LÒNG người bấy nay!(11)

 

      Còn Thúy Kiều thì "Tình trong như đã", nhưng "mặt ngoài còn e" làm ra vẻ chính chuyên "ngây thơ...mụ" :

                                     Dù khi lá thắm chỉ hồng,

                            Nên chăng thì cũng tại LÒNG mẹ cha.(12)

                                    Nặng LÒNG xót liễu vì hoa,(13)

                                Trẻ thơ đã biết đâu mà dám thưa ?

  

       "Trẻ thơ đã biết đâu mà dám thưa ?" Nói xong câu nầy, chắc Thúy Kiều cũng giật mình. Lỡ Kim Trọng...bỏ đi luôn thì sao ?! Nên vội níu lại bằng câu :

 

                         ... Nể LÒNG có lẻ cầm lòng cho đang.(14)

                                   Đã LÒNG quân tử đa mang,(15)

                             Một lời vâng tạc đá vàng thủy chung !

  

       Thế là Cá đã cắn câu, buổi tỏ tình được viên mãn, Kim Trọng đã...

 

                                  Được lời như cởi tấm LÒNG,(16)

                               Giở kim thoa với khăn hồng trao tay.

 

       Nhưng, vẫn "Sông Tương một dải nông sờ, Bên trông đầu nọ bên chờ cuối kia." Kịp đến khi "Ngày vừa sinh nhật ngoại gia, Trên hai đường dưới nữa là hai em." cùng "Tưng bừng sắm sửa áo xiêm, Biện dâng một lễ xa đem tấc thành." Thúy Kiều ở nhà có một mình, nên mới liều lĩnh đi gặp Kim Trọng, lại bị chàng lẫy hờn :

                             Trách LÒNG hờ hững với LÒNG,(17)

                          Lửa hương chốc để lạnh lùng bấy lâu.

 

       Thúy Kiều lại phải phân bua để an ủi người yêu :

 

                              Vắng nhà được buổi hôm nay,

                         Lấy LÒNG gọi chút ra đây tạ LÒNG !(18)

 

       Rồi cùng nhau "Sánh vai về chốn thư hiên, Góp lời phong nguyệt nặng nguyền non sông." với :

 

                                Đủ điều trung khúc ân cần,

                     LÒNG xuân phơi phới chén xuân tàng tàng.(19)

         

       Khi gặp lại trong đêm, lại cùng nhau thề nguyền hẹn ước "Vầng trăng vằng vặc giữa trời, Đinh ninh hai mặt một lời song song.":

 

                               Tóc tơ căn vặn tấc LÒNG,(20)

                       Trăm năm tạc một chữ đồng đến xương.

 

       Thề nguyền xong rồi, Kim Trọng được nước lại tỏ lời ước ao đòi hỏi :

 

                              Sinh rằng: Gió mát trăng trong,

                        Bấy lâu nay một chút LÒNG chưa cam.(21)

Khi được Thúy Kiều ngỏ ý "Đừng điều nguyệt nọ hoa kia. Ngoài ra ai lại tiếc gì với ai." Kim Trọng mới tỏ ý "Rằng: Nghe nổi tiếng cầm đài, Nước non luống những lắng tai Chung Kỳ." Sau khi được Thúy Kiều đồng ý thì "Hiên sau treo sẵn cầm trăng, Vội vàng sinh đã tay nâng ngang mày." Thúy Kiều mới khiêm tốn :

 

                             Nàng rằng: Nghề mọn riêng tay,

                       Làm chi cho nhọc LÒNG này lắm thân !(22)

 

    ... và sau khi nghe Thúy Kiều đàn xong, Kim Trọng đã nhận xét góp ý rất chân thành là :

 

                              Rằng: Hay thì thật là hay,

                       Nghe ra ngậm đắng nuốt cay thế nào!

                              Lựa chi những khúc tiêu tao,

                    Dột LÒNG mình cũng nao nao LÒNG người ?(23)

 

       Vừa thề nguyền hẹn ước xong với Thúy Kiều thì Kim Trọng cũng vừa nhận được tin "...thúc phụ từ đường, Bơ vơ lữ thấn tha hương đề huề", nên phải lên đường đi Liêu Dương để hộ tang chú . Chàng Kim tìm gặp Thúy Kiều để chia tay và hứa hẹn :

 

                                   Trăng thề còn đó trơ trơ,

                            Dám xa xôi mặt mà thưa thớt LÒNG.(24)

 

     ... và cũng để nhắn nhủ :

 

                               Gìn vàng giữ ngọc cho hay, 

                        Cho đành LÒNG kẻ chân mây cuối trời."(25)

 

      Thúy Kiều đã trấn an Kim Trọng rằng :

 

                               Cùng nhau trót đã nặng lời,

                          Dẫu thay mái tóc dám dời LÒNG tơ !(26)

               

       Ta hãy tìm hiểu câu thơ lý thú nầy để thấy được thêm cái hay ho của tiếng Việt ta. "Dẫu thay mái tóc dám dời lòng tơ", chữ "dám" trong câu còn có nghĩa là "chẳng dám". Nên câu thơ trên có nghĩa :

 

      - DÁM : Dẫu cho thay mái tóc (từ đen ra trắng), thì mới DÁM dời cái lòng tơ.

      - CHẲNG DÁM : Dẫu cho đến già cũng CHẲNG DÁM dời cái lòng tơ nầy.

 

      Khi ta nói "Hôm nay, trời chắc mưa" Chữ CHẮC ở đây KHÔNG CHẮC chút nào cả ! Vì câu trên có nghĩa "Hôm nay, trời CÓ THỂ mưa". Chữ DÁM thứ (24) trong câu thơ "Dám xa xôi mặt mà thưa thớt LÒNG" ở trên cũng hàm ý như thế. Còn...

 

      Cái "LÒNG TƠ" là cái Lòng gì ? TƠ ở trong lòng người ta là TƠ TÌNH, khác với TƠ của con nhện và con tằm là "Tơ hữu hình", còn TƠ TÌNH là sợi "Tơ vô hình", nó vướng vít và quấn lấy con người chặc hơn là tơ hữu hình mà người ta còn gọi là TƠ LÒNG vương vấn. Cái gì trong lòng có tơ ? Cái ngó sen, khi ta ngắt đôi thì trong lòng của hai bên ngó sen còn vương vít mấy sợi tơ như cụ Nguyễn Du đã tả khi Từ Hải "Quyết lời dứt áo ra đi", Thúy Kiều ở lại một mình đã nhớ về Kim Trọng như sau :

 

                             Tiếc thay chút nghĩa cũ càng,

                       Dẫu lìa NGÓ Ý còn vương TƠ LÒNG !(27)

 

              

                     

 

 

 

                                  Tơ lòng                  Tơ nhện             Tơ tằm

 

      Ta gặp lại từ "LÒNG TƠ" khi Vương Viên Ngoại bị thằng bán tơ vu oan, đến nỗi Thúy Kiều phải nhờ người may mối đánh tiếng bán mình "Sự LÒNG ngỏ với băng nhân"(28) và Mã Giám Sinh đã mua Thúy Kiều với "... vàng ngoài bốn trăm" . Nên khi hay tin Thúy Kiều đã bán mình, Vương ông đã vật vã đau đớn đến muốn quyên sinh : 

 

                           Một lần sau trước cũng là,

                   Thôi thì mặt khuất chẳng thà LÒNG đau !(29)

 

    Thúy Kiều đã phải "Nhỏ to nàng mới tìm lời khuyên can" và phân tích nặng nhẹ cho Vương Viên Ngoại nghe :

                              

                        LÒNG TƠ dù chẳng dứt tình,(30)

                     Gió mưa âu hẳn tan tành nưóc non.

                         Thà rằng liều một thân con,

                      Hoa dù rã cánh, lá còn xanh cây.  

 

      Chuyện Kiều bán mình chuộc cha làm cho cụ Nguyễn Du cũng cảm khái cho cái nhân tình thế thái mà lẫy rằng :

 

                          Trong tay đã sẵn đồng tiền,

                    Dầu LÒNG đổi trắng thay đen khó gì!(31)

                            Họ Chung ra sức giúp vì,

                      Lễ tâm đã đặt, tụng kỳ cũng xong.

       

     Sau khi "Việc nhà đã tạm thong dong" thì Thúy Kiều tủi thân vò võ "Một mình nàng ngọn đèn khuya" than cho số phận :

 

                                  Phận dầu, dầu vậy cũng dầu,

                            Xót LÒNG đeo đẳng bấy lâu một lời!(32)

 

    ...Với "Nỗi riêng riêng những bàng hoàng, Dầu chong trắng đĩa lệ tràn thấm khăn" làm kinh động đến "Thúy Vân chợt tỉnh giấc xuân, Dưới đèn ghé đến ân cần hỏi han" Thúy Kiều đã phải e ngại tỏ bày :

 

                                 Rằng: LÒNG đương thổn thức đầy,(33)

                            Tơ duyên còn vướng mối này chưa xong.

                                   Hở môi ra cũng thẹn thùng,

                              Để LÒNG thì phụ tấm LÒNG với ai.(34)

       

                                  

      Và xót xa tủi phận với :

 

                                  Dù em nên vợ nên chồng,

                        Xót người mệnh bạc, ắt LÒNG chẳng quên.(35)

 

      Đến lúc rồi cũng phải chia tay vì đã bán mình theo Mã Giám Sinh :

 

                                   Đau LÒNG kẻ ở người đi,(36)

                                  Lệ rơi thấm đá tơ chia rũ tằm.

 

     Đi theo một người mà "Ghế trên ngồi tót sổ sàng", giờ lại phải ở chung một phòng, khiến cho Thúy Kiều :

 

                                     Ngại ngùng thẹn lục e hồng,

                              Nghĩ LÒNG lại xót xa LÒNG đòi phen.(37)

                                       Phẩm tiên rơi đến tay hèn,

                                  Tiếc công nắng giữ mưa gìn với ai.

 

      Thúy Kiều đâm ra hối tiếc ngẩn ngơ cho sự gìn giữ trong trắng của mình với người yêu Kim Trọng :

 

                                        Biết thân đến bước lạc loài,

                                   Nhị đào thà bẻ cho người tình chung.

                                           Vì ai ngăn đón gió đông,

                                   Thiệt LÒNG khi ở đau LÒNG khi đi.(38)

 

      Nỗi lòng chỉ còn biết tâm sự xẻ chia với mẹ khi chia tay lúc "Một nhà huyên với một Kiều ở trong" mà thôi :

 

                                      Nhìn càng lã chã giọt hồng,

                               Rỉ tai nàng mới giãi LÒNG thấp cao.(39)

 

      Nhưng rồi cũng phải chấp nhận cho hoàn cảnh trái ngang trước mắt :

 

                                       Lỡ làng nước đục bụi trong,

                                Trăm năm để một tấm LÒNG từ đây.(40)

 

      Chỉ tội nghiệp cho Vương Viên Ngoại :

 

                                      Xót con LÒNG nặng trì trì,(41)

                                   Trước yên ông đã nằn nì thấp cao.

 

      Còn Thúy Kiều chia tay trong cảnh trời thu ảm đạm "Đùng đùng gió giục mây vần, Một xe trong cõi hồng trần như bay" và trong cảnh "Vi lô san sát hơi may, Một trời thu để riêng ai một người", ngoài việc "Thấy trăng mà thẹn những lời non sông" với Kim Trọng ra, thì cô lại nhớ đến mẹ cha khi :

 

                                          Rừng thu từng biếc chen hồng,

                                  Nghe chim như nhắc TẤM LÒNG THẦN HÔN.(42)

 

                                 

 

      THẦN 晨 là buổi sáng, HÔN 昏 là buổi chiều; TẤM LÒNG THẦN HÔN phát xuất từ thành ngữ THẦN HÔN ĐỊNH TĨNH 晨昏定省 là Tấm lòng của con cái Sớm Chiều thăm hỏi chăm nom lo lắng cho hai đấng sanh thành là Cha và Mẹ theo như trong sách Lễ Ký, chương Khúc Lễ Thượng《禮記·曲禮上》là :“Phàm vi nhân tử chi lễ, đông ôn nhi hạ thanh, hôn định nhi thần tỉnh 凡為人子之禮,冬温而夏清,昏定而晨省。Có nghĩa : Phàm cái lễ của bổn phận làm con là, mùa đông phải giúp cha mẹ làm ấm, mùa hè thì làm mát, buổi chiều thăm hỏi, buổi sáng phải vấn an”. Tức là : Bổn phận làm con phải sáng thăm tối viếng, quạt nồng ấp lạnh cho cha mẹ lúc tuổi già. 

       

      Trở lại với Thúy Kiều, sau khi đến Lâm Truy, bị Tú Bà đánh cho một trận dằn mặt, cô đã rút dao ra tự sát "Sợ gan nát ngọc liều hoa, Mụ còn trông mặt nàng đà quá tay", nên Tú Bà phải "Kề tai mấy nỗi nằn nì", hứa là sẽ "Tìm nơi xứng đáng là con cái nhà" để gả Thúy Kiều Cho đàng hoàng :

 

                                      Mụ rằng: Con hãy thong dong,

                                Phải điều LÒNG lại dối LÒNG mà chơi!(43)

                                        Mai sau ở chẳng như lời,

                                 Trên đầu có bóng mặt trời rạng soi.

 

       Trước lời hứa hẹn thề thốt của Tú Bà, Thúy Kiều cũng tạm yên lòng :

 

                                         Thấy lời quyết đoán hẳn hoi,

                               Đành LÒNG, nàng cũng sẽ nguôi nguôi dần.(44)

 

   ... Và Tú Bà đã cho Thúy Kiều vào ở lầu Ngưng Bích để chờ ngày xuất giá theo chồng. Thúy Kiều đã ở nơi đây với một tâm trạng phập phòng không yên :

 

                                          Bẽ bàng mây sớm đèn khuya,

                                  Nửa tình, nửa cảnh như chia tấm LÒNG.(45)

 

  ... nhìn quanh thì chỉ thấy...

       

                                          Chung quanh những nước non người,

                                         Đau LÒNG lưu lạc, nên vài bốn câu.(46)

 

      Chính vì cái "...vài bốn câu" đó mà anh chàng Sở Khanh mới có cớ để họa vần làm quen, ra vẻ ta đây là người thương hương tiếc ngọc, cứu khổn phò nguy :

 

                                            Tức gan riêng giận trời già,

                                       LÒNG này ai tỏ cho ta, hỡi LÒNG ?(47)

 

  ... và Thúy Kiều đã mắc bẫy của Sở Khanh, khi trăn trở :

 

                                           Nghĩ người thôi lại nghĩ mình,

                                   Cám LÒNG chua xót, nhạt tình chơ vơ.(48)

 

      Nên khi xuống lầu theo Sở Khanh bỏ trốn, Thúy Kiều cũng đã thấp thỏm không yên :

 

                                            Lối mòn cỏ nhạt mùi sương,

                                   LÒNG quê đi một bước đường, một đau.(49)

 

                             

 

      Bị Tú Bà bắt lại "Hung hăng chẳng hỏi chẳng tra, Đang tay giập liễu, vùi hoa tơi bời". Đến đổi Thúy Kiều phải "Hết lời thú phục, khẩn cầu, Uốn lưng thịt đổ, giập đầu máu sa" và phải thốt ra một câu đau lòng là :

 

                                          Thân lươn bao quản lấm đầu,

                                   Chút LÒNG trinh bạch từ sau xin chừa !(50)

 

      Vì lở dại "bỏ...lầu theo trai" nên không dám xưng là mình "trinh bạch" nữa, thật đáng thương thay !

 

 

                  Mời đọc tiếp phần 2.

 

                                                                                                       杜紹德

                                                                                                   Đỗ Chiêu Đức

_______________________

Giai Thoại Văn Chương:

  

                                      SƠ ĐƯỜNG TỨ KIỆT  (4)

                          Người thứ tư trong Sơ Đường Tứ Kiệt : LẠC TÂN VƯƠNG

        

         LẠC TÂN VƯƠNG 駱賓王 (626?-687?) tự là Quan Quang 觀光. Tên và Tự của ông đều xuất phát từ quẻ Khôn 坤 (lục tứ) của Kinh DỊCH là : QUAN quốc chi QUANG, lợi dụng TÂN chi VƯƠNG 觀國之光,利用賓於王. Có nghĩa : Quan sát dân tình trong nước thì biết được đức hạnh của nhà vua, và để quyết định xem có đến để phò trợ nhà vua đó hay không. Ông tên "TÂN VƯƠNG" nên mới lấy tự "QUAN QUANG" là vì thế. Lạc Tân Vương người đất Nghĩa Ô Vụ Châu (thuộc huyện Nghĩa Ô tỉnh Chiết Giang ngày nay). Từ nhỏ đã nổi tiếng là thần đồng, bảy tuổi làm bài "Vịnh Nga 咏鹅" còn truyền tụng đến hiện nay. Ông xuất thân từ gia đình hàn vi, nhưng tuổi trẻ tài cao. Trong năm Vĩnh Huy (650) ông đã là Chủ Bộ về Văn học và võ công của Đạo Vương Lý Nguyên Khánh, sau chuyển về làm Chủ Bộ của đất Trường An. Năm Phụng nghi thứ 3 (678) đãm nhiệm chức Thị Ngự Sử, vì can vua động chạm đến Võ hậu nên bị hạ ngục; gặp đại xá nên được tha. Năm Điều lộ thứ 2 (680) nhậm chức Lâm hải Huyện Thừa, đến năm Quang Trạch nguyên niên (684) theo Anh Quốc Công Từ Kính Nghiệp dấy binh thảo phạt Võ Tắc Thiên, soạn bài hịch nổi tiếng cổ kim "Vị Từ Kính Nghiệp Thảo Võ Anh Hịch 為徐敬業討武曌檄". Sau khi Từ Kính Nghiệp bại binh, có tin đồn cho là ông đã bị giết trong loạn quân, nhưng sau nầy có người còn gặp ông đã xuất gia làm hòa thượng ở trong núi.

       Ông cũng là một trong TỨ KIỆT của buổi SƠ ĐƯỜNG. Người đời xếp ông đứng chót trong Tứ Kiệt, nhưng tài hoa và danh tiếng của ông hơn hẵn Lư Chiếu Lân và Dương Quýnh và sánh ngang ngửa với người đứng đầu là Vương Bột. Tương truyền...

       

        Trong một lần cùng cha và một người khách, bạn của cha, đi ngoạn cảnh đồng quê, chú bé Lạc Tân Vương mới 7 tuổi đã làm công chuyện của một "tua-gai"(tour-guide) giới thiệu với khách phong cảnh của quê mình, khi đi đến một bờ hồ nước trong xanh biếc, gió mát thoảng đưa nên mặt nước hồ gợn sóng lăn tăn, thấp thoáng một vài bông liễu trắng xóa bay phất phơ từ các nhành liễu buông rũ lã lướt bên bờ hồ, trên mặt hồ lại có vài con ngỗng trắng đang bơi lội nhởn nhơ, thỉnh thoảng vổ cánh quạt nước tứ tung và kêu lên "quàng quạt". Trước phong cảnh đẹp đẽ hữu tình nầy, khách mới cười hỏi Lạc Tân Vương rằng :"Nghe nói cháu làm thơ rất giỏi, giới thiệu cảnh đẹp đã hay rồi, vậy cháu thử làm một bài thơ tả cảnh trước mắt xem sao !". Lạc Tân Vương thưa rằng :"Cháu làm bài thơ Vịnh Ngỗng nhé !" Đoạn chú bé đứng trầm ngâm nhìn đàn ngỗng lội trên mặt hồ một lúc, rồi cất tiếng ngâm :

 

                   鵝,鵝,鵝,   Nga, nga, nga,

                   曲項向天歌。   Khúc hạng hướng thiên ca.

                   白毛浮綠水,   Bạch mao phù lục thủy,

                   紅掌撥清波。   Hồng chưởng bát thanh ba.

Có nghĩa :

                    

 

           Ngỗng, ngỗng, ngỗng. Cổ cong hướng lên trời mà kêu (ca). Bộ lông trắng nổi lên trên (phù) mặt nước xanh biếc (lục thủy). Bàn chân hồng đẩy (bát) làn nước gợn sóng trong veo. (THANH 清 nầy có ba chấm thủy, có nghĩa là TRONG)

      

       Có nghĩa:

                  Ngỗng , ngỗng, ngỗng,

                  Cổ cong hướng lên không,

                  Lông trắng trên nước biếc,

                  Chân hồng đẩy sóng trong ! 

 

       Ba tiếng NGỖNG, NGỖNG, NGỖNG vừa chỉ con Ngỗng, vừa như là tiếng kêu của các con ngỗng theo phát âm Quan Thoại : NGẠ, NGẠ, NGẠ ! Vừa tượng thanh vừa vui nhộn như tuổi trẻ của Lạc Tân Vương, vừa nói lên được tình cảm của chú bé dành cho con ngỗng vui mừng khi gặp mặt. Câu hai là hình ảnh tiêu biểu rất tượng hình của cái cần cổ dài và cong của ngỗng vươn lên trời cao khi cất tiếng kêu. Hai câu kết thì thật xuất sắc , nêu bật được đặc điểm của con ngỗng và bối cảnh xung quanh với một thủ thuật tuyệt vời : Lông trắng nổi lên trên mặt nước xanh và chân ngỗng màu hồng đẩy làn nước trong mà bơi tới !

Khách ngạc nhiên đến thích thú trước tài thơ mẫn tiệp của cậu bé Lạc Tân Vương mới vừa lên bảy tuổi. Ông ta đã nói với cha của Lạc Tân Vương rằng, thằng bé tương lai sẽ là người thành đạt lớn, và quả nhiên Lạc Tân Vương là một trong TỨ KIỆT của buổi sơ Đường, ngang danh với Vương Bột 王勃, Lư Chiếu Lân 盧照鄰 và Dương Quýnh 楊炯, rất giỏi về thơ ngũ ngôn, thất ngôn và nhất là tản văn... 

        

     Về bài thơ VỊNH NGỖNG thì...

     Theo "Giai thoại Văn Chương Việt Nam của Thái Bạch" và của trên mạng "Để Gió Cuốn Đi" có kể rằng : Năm 987, đời Tiền Lê ở nước ta. Vua Nhà Tống sai Lý Giác đi sứ nước Nam. Khi đến chùa Sách Giang, Vua Lê mời sư Pháp Thuận giả làm người lái đò ra đón. Lý Giác rất giỏi và rất thích nói chuyện văn thơ. Ngồi trong thuyền đò, ông thấy trên mặt sông có đôi ngỗng trắng đang bơi, liền buộc miệng đọc :

 

            Nga nga lưỡng nga nga,           鵝鵝兩鵝鵝,

            Ngưỡng diện hướng thiên nha.  仰面向天崖。

 Có nghĩa :

            Hai con ngỗng một đôi,

            Ngước mặt hướng chân trời.

     

    Sứ thần Lý Giác vừa đọc xong, thì người lái đò bèn đọc tiếp ngay là :

 

            Bạch mao phô lục thủy,     白毛舖綠水,

            Hồng trạo bãi thanh ba.    紅棹擺青波。

 Có nghĩa :

            Lông trắng phô nước biếc,

            Chèo hồng quẫy sóng xanh.

 

      Lý Giác rất kinh ngạc, vì không ngờ rằng người lái đò nước Nam lại giỏi văn thơ như thế. Có thể là trước đó cả sứ thần Lý Giác và nhà sư Pháp Thuận đều đã đọc qua bài thơ của chú bé Lạc Tân Vương, nên mới xúc cảnh sanh tình mà buộc miệng đọc ra những câu thơ trên chăng ?! Mặc dù có sửa đổi đôi chút, nhưng tựu trung vẫn từ bài Vịnh Ngỗng của Lạc Tân Vương mà ra cả !

       

        Khi đã trưởng thành, ngoài tài làm thơ viết văn ra, Lạc Tân Vương còn là một hiệp khách với lòng hiệp nghĩa cao độ, chuyên cứu khổn phò nguy, giúp người cô thế bị hiếp đáp, trừng trị tham quan ô lại, trừng trị kẻ bạc tình, thậm chí giết người để báo thù cho kẻ thế cô bị ức hiếp... như cụ Nguyễn Du đã viết trong Truyện Kiều : "Giữa đường dẫu thấy bất bằng mà tha ?!". 

       

       Năm Hàm Hanh thứ 2 đời Đường Cao Tông (671), Lạc Tân Vương từ Tây Vực trở lại Trường An để tìm chút công danh, nhưng không thành, bèn theo Lương Tích Thọ đầu quân ở Dao Châu, tháng 6 từ Dao Châu chuyển sang đất Thục, ở Thành Đô theo lối sống buông thả phóng túng của hiệp khách giang hồ "Tầm thù nhập tửu tứ, Phỏng khách thướng cầm đài 尋姝入酒肆,訪客上琴台" Có nghĩa : Muốn tìm người đẹp thì vào quán rượu, muốn tìm khách tao nhả thì lên cầm đài. Ở đây Lạc Tân Vương kết giao với Lư Chiếu Lân đang là Đô Úy, hai bên cùng xướng họa thật tương đắc. Nhưng sau khi Lư Chiếu Lân dứt bỏ Quách Thị, rồi một đi không trở lại trong khi Quách thị đã mang thai, chờ đợi mõi mòn đằng đẵng suốt hai năm trường, con sanh ra lại chết. Quách thị vô cùng đau xót than thở với Lạc Tân Vương, Vương nổi lòng hào hiệp thay Quách Thị làm một bài thơ trường thiên thất ngôn ca hành "Diễm Tình Đại Quách Thị Đáp Lư Chiếu Lân 艷情代郭氏答盧照鄰". Có nghĩa : "Bài thơ diễm tình thay cho Quách Thị đáp lại Lư Chiếu Lân" để bày tỏ nỗi lòng thương nhớ và oán trách cho sự bạc tình của Lư Chiếu Lân, trong đó có những câu như : 

 

                  迢迢芊路望芝田,    Điều điều thiên lộ vọng chi điền,

                  眇眇函關限蜀川。  Miễu miễu Hàm Quan hạn Thục Xuyên.

                  歸雲已落涪江外,    Quy vân dĩ lạc Phù Giang ngoại,

                  還雁應過洛水瀍。  Hoàn nhạn ưng qua Lạc Thủy Triền...

    Có nghĩa :

                   

 

                  Diệu vợi đường dài ngóng ruộng dâu,

                  Xa xăm Hàm Cốc Thục Giang đầu.

                  Phù Giang mây đã trôi thăm thẳm,

                  Cánh nhạn sông Triền Lạc Thủy đâu ?!...

       

      Ở nơi đất Thục xa xôi ngóng về đất Trường An diệu vợi chỉ thấy toàn ruộng dâu đay che khuất cả tầm mắt bởi ải Hàm Cốc ngăn cách của xứ Thục Xuyên, nhìn lên trời thì chỉ thấy mây trôi thăm thẳm của con sông Phù uốn khúc, mõi mòn đợi cánh nhạn từ sông Triền xứ Lạc Dương của Trường An bay qua dòng Lạc Thủy để đem tin đến nơi nầy... Nhưng mãi mãi vẫn hoài công chờ đợi mà thôi, vì ở nơi kinh thành, chàng Lư Chiếu Lân bạc tình quên nghĩa đã đang vui với :

 

                 柳葉園花處處新,    Liễu diệp viên hoa xứ xứ tân,

                 洛陽桃李應芳春。   Lạc Dương đào lý ứng phương xuân.

                 妾向雙流窺石鏡,    Thiếp hướng song lưu khuy thạch kính,

                 君住三川守玉人。   Quân trú Tam xuyên thủ ngọc nhân !

    Có nghĩa :

                  Liễu hoa mới mẻ khắp nơi nơi,

                  Đào lý Lạc Dương đã đượm rồi.

                  Thiếp đối gương sầu dòng lệ chảy,

                  Chàng ôm người ngọc mặc tình chơi !...

   ... và...

                  悲鳴五里無人問,    Bi minh ngũ lý vô nhân vấn,

                  腸斷三聲誰為續?    Trường đoạn tam thanh thùy vị tục ?

                  思君欲上望夫台,    Tư quân dục thướng Vọng phu đài,

                  端居懶聽將雛曲。   Đoan cư lãn thính tương sồ khúc !

    Có nghĩa :

                      

 

                  Khóc than năm dặm chẳng ai hay,

                  Ruột đứt ba canh luống ngậm ngùi.

                  Trông ngóng nhớ thương chừng hóa đá,

                  Lại sầu con trẻ sớm qua đời !

                                                          ...v.v và v.v....

       Bài thơ được truyền ra khiến cho người người đều oán trách Lư Chiếu Lân là kẻ bạc tình.        

 

       Cũng với tính khí hào hiệp đó được Lạc Tân Vương đem áp dụng vào quan trường, nên vào năm Phụng Nghi thứ ba (678) đời Đường Cao Tông, sau hơn mười năm bị chèn ép trong quan trường, khi vừa mới được thăng làm Thị Ngự Sử, Lạc Tân Vương đã dâng sớ luận bàn triều chính, động chạm đến các đồng liêu và nhất là động chạm đến Võ Hậu, nên bị vu cho tội tham ô rồi bị hạ ngục. Trong ngục ông đã làm bài thơ nổi tiếng dưới đây :

 

             在獄詠蟬         TẠI NGỤC VỊNH THIỀN

 

            西陸蟬聲唱,    Tây lục thiền thanh xướng,

            南冠客思深。    Nam quan khách tứ thâm.

            那堪玄鬢影,    Na kham huyền mấn ảnh,

            來對白頭吟。    Lai đối bạch đầu ngâm.

            露重飛難進,    Lộ trọng phi nan tấn,

            風多響易沉。    Phong đa hưởng dị trầm.

            無人信高潔,    Vô nhân tín cao khiết,

            誰爲表予心?    Thùy vị biểu dư tâm ?!

Nghĩa Bài Thơ :

                       Trong Ngục Vịnh Ve

       Trong mùa thu nhưng tiếng ve vẫn còn vang lanh lảnh, khiến cho người tù như ta càng nhớ nhung nghĩ ngợi sâu xa hơn. Làm sao kham được khi tóc hãy còn xanh (như hai cánh ve còn ngân vang) mà phải cam chịu ngâm khúc bạc đầu oan ức bất đắc dĩ nầy. Sương rơi nặng hạt làm cho ve khó mà bay tới, gió rít mạnh nên át cả tiếng ve ngâm. Không có ai tin loài ve thanh cao trong sạch (cũng như ta), nên ai, ai mới là người bộc bạch được nỗi lòng cao khiết của ta đây ?!

 

       Vịnh VE, nhưng lại mượn hình tượng trên cao và tiếng ve ngâm cao vút để gởi gắm và bày tỏ nỗi lòng trong trắng thanh cao đầy tính hiệp nghĩa của mình. Bị chèn ép trù dập để đưa vào tù trong khi hào khí vẫn tràn đầy mà phải ngâm câu bạch đầu ta thán. Không tiến bước được trên con đường chính nghĩa vì bị các thế lực khác trù dập, như con ve không thể bay cao bay xa được vì những hạt sương nặng trĩu của mùa thu; không nói lên tiếng nói trung thực vì bị quyền thế cấp trên chèn ép cũng như con ve không còn cất cao tiếng ngân được vì bị tiếng gió rít át đi. Ai còn trân trọng sự cao khiết của con ve cũng như ai còn có thể vì ta mà bày tỏ nỗi lòng thanh cao trong trắng của ta đây ?

 

Diễn Nôm :

                     Trời thu ve còn vang tiếng,

                     Người tù lòng nghĩ đâu đâu,

                     Sao khiến người còn xanh tóc,

                     Phải ngâm khúc hát bạc đầu.

                     Sương nặng cánh bay không nổi,

                     Gió vờn tiếng hát chìm sâu.

                     Không người tin lòng cao nhã,

                     Ai bày tỏ nỗi lòng sầu ?!

 

       Mùa thu năm sau (679), ông được xá tội. Mùa đông năm đó ông đi về đất Yên (thuộc tỉnh Hà Bắc hiện nay) làm Tham Quân trong một doanh trại, quyết lòng ra sức lập công báo quốc. Bài "Dịch Thủy Tống Biệt 易水送別" được làm trong khoảng thời gian nầy khi ông đưa bạn qua dòng sông Dịch.

 

                     此地別燕丹,    Thử địa biệt Yên Đan

                     壯士髮衝冠。    Tráng sĩ phát xung quan.

                     昔時人已沒,    Tích thời nhân dĩ một,

                     今日水猶寒。    Kim nhật thủy do hàn !

 

                      

 

       DỊCH THỦY 易水 : Còn gọi là Dịch Hà 易河, tên một con sông nằm ở phía tây của Dịch Huyện thuộc tỉnh Hà Bắc, chia làm Nam Dịch Thủy và Bắc Dịch Thủy, là ranh giới phía nam của nước Yên thời Chiến Quốc, nơi mà thái tử Đan tiễn biệt Kinh Kha qua sông để đi thích khách Tần Thủy Hoàng. Bài thơ có nghĩa :

 

      Ta đưa bạn ở nơi nầy, nơi mà Kinh Kha đã từng vẩy tay ly biệt với thái tử Đan của nước Yên. Người tráng sĩ ra đi (thích khách Tần Thủy Hoàng) bi hùng cảm khái đến nỗi tóc dựng đứng đội cả mão lên. Bây giờ, người xưa tuy đã mất rồi, nhưng dòng nước nơi đây vẫn còn toát hơi lạnh lẽo.

 

       Bài thơ vừa tả thực (tiễn bạn), vừa hoài cổ (nhớ lại chuyện xưa), vừa như Vịnh Sử (nhắc lại một thiên lịch sử bi tráng hào hùng của Kinh Kha khi qua sông Dịch) và hàm súc cảm khái một cách bi hùng với hình ảnh "Tích thời nhân dĩ một, Kim nhật thủy do hàn !". Cái lạnh của dòng sông Dịch như làm sống lại cảnh đưa tiễn ngày xưa, và cũng làm cho ta nhớ đến bài ca của Cao Tiệm Ly đã hát trên bờ sông khi đưa tiễn bạn :

 

                Phong tiêu tiêu hề Dịch thủy hàn,       風蕭蕭兮易水寒,

                Tráng sĩ nhất khứ hề bất phục hoàn !  壯士一去兮不復還.

Có nghĩa :

                Gió hắt hiu ôi, bờ sông Dịch lạnh,

                Tráng sĩ một đi rồi, không trở lại nữa đâu !

 

  ... và lại làm cho ta nhớ đến bài TỐNG BIỆT HÀNH của nhà thơ Thâm Tâm thời Tiền Chiến :

 

                  Đưa người ta không đưa qua sông

                  Sao có tiếng sóng ở trong lòng ?

                  Bóng chiều không thắm, không vàng vọt,

                  Sao đầy hoàng hôn trong mắt trong ?

 

    ... và trong bài VỌNG NHÂN HÀNH cũng của Thâm Tâm Nguyễn Tuấn Trình :

 

                  Sông Hồng chẳng phải xưa sông Dịch

                  Ta ghét hoài câu “nhất khứ hề”...

 

      Diễn Nôm :

                      

 

                     Nơi nầy giả biệt Yên Đan,

                     Anh hùng tóc dựng ngập tràn bi ca.

                     Người xưa tuy đã lìa xa,

                     Hôm nay dòng nước la đà lạnh căm !

 

      Năm Quang Trạch nguyên niên (684) Lạc Tân Vương theo Anh Quốc Công Từ Kính Nghiệp khởi binh chống lại Võ Tắc Thiên, ông đã viết bài  "Vị Từ Kính Nghiệp Thảo Võ Anh Hịch 為徐敬業討武曌檄" hiệu triệu mọi người cùng đứng lên chống lại họ Võ. Võ Tắc Thiên thấy bài hịch chỉ mĩm cười khi dễ. Kịp khi đọc đến câu "Nhất phôi chi thổ vị can, lục xích chi cô hà thác ? 一坯之土未乾,六尺之孤何託?" mới thất kinh xúc mồ hôi hạn mà hỏi rằng :"Ai viết bài hịch văn nầy?" Có người tâu là của Lạc Tân Vương viết. Võ Tắc Thiên mới quở rằng :"Đây là lỗi lầm của Thừa Tướng, nhân tài như thế nầy sao không biết trọng dụng, để đến đổi lưu lạc bên ngoài theo loạn quân mà chống lại ta thế nầy?". Thì ra câu nói đó đã đánh ngay vào điểm yếu tử huyệt của Võ Tắc Thiên:" Một núm đất vàng còn chưa khô là chỉ chồng bà ta là Đường Cao Tông chết chưa bao lâu, mồ còn chưa xanh cỏ, mà bà ta đã phế đứa con côi là Đường Trung Tông được chồng ký thác để soán ngôi mà tự xưng là Châu Thiên Tử." Cái bất nghĩa bất nhân đó đã được Lạc Tân Vương khai thác để kêu gọi mọi người cùng đứng lên chống lại họ Võ. Đây là bài hịch hay nhất của buổi Sơ Đường. Trong khí thế đang lên, Lạc Tân Vương làm luôn một bài thơ Ngũ ngôn tứ tuyệt "Tại Quân Đăng Thành Lâu 在軍登城樓" đầy khí thế hào hùng như sau :

 

                      城上風威冷,    Thành thượng phong uy lãnh,

                      江中水氣寒。    Giang trung thủy khí hàn.

                      戎衣何日定,    Nhung y hà nhật định,

                      歌舞入長安.     Ca vũ nhập Trường An !

      Có nghĩa :

                      

 

                      Trên thành quân uy ớn lạnh,

                      Dưới sông sát khí căm căm.

                      Áo trận ngày nao bình định,

                      Múa ca vào chiếm kinh thành !             

 

       Nhưng tiếc thay, bài hịch tuy hay, tuy đanh thép; bài thơ tuy hào hùng khí thế, nhưng cuộc nổi dậy của Từ Kính Nghiệp lại thất bại. Lạc Tân Vương bặt vô âm tín từ đó. Có người đồn rằng ông đã chết trong cuộc chiến, lại có người cho rằng ông đã vào núi ẩn cư tu đạo, được tôn thành thần, hiệu là "Nam Thiên Lạc Ân Sư 南天駱恩師". Lại có người cho rằng ông đã thế phát quy y vào cửa Phật, nương nhờ bóng thiền môn, hiệu là "Phổ Tế Diệu Chương Thiền Sư 普濟妙章禪師", mỗi năm vào tiết Đoan Ngọ đều được cúng tế linh đình. 

      

   Ta thấy...

       Từ một chú bé bảy tuổi Vịnh Ngỗng thật dễ thương, Lạc Tân Vương lớn lên với hình tượng của một hiệp khách cứu khổn phò nguy "giữa đường dẫu thấy bất bằng mà tha ?!", rồi trở thành một quan viên chính trực, công chính liêm minh để đến nỗi bị trù dập bỏ tù, và cuối cùng không chiụ được sự tiếm quyền của Võ Tắc Thiên mà làm phản. Cuối đời lại mai danh ẩn dật, xuất gia thành một hòa thượng trông rất bặm trợn như các hình tượng được lưu truyền.

 

      Thế mới biết, cuộc sống nhân sinh đã hành hạ dằn vật con người như thế nào, cuộc đời chìm nổi đắng cay đã làm đổi thay thân xác từ một chú bé vô tư thông minh dễ thương thành một hoà thượng khắc khổ gầy gò dữ tợn. Mời xem các hình tượng lưu truyền về Lạc Tân Vương dưới đây sẽ rõ !

                          Bảy tuổi "Vịnh Ngỗng"

              Hiệp khách Giang hồ

Quan viên chính trực

   Hòa thượng về già

Hẹn bài viết tới : Thi Phật VƯƠNG DUY.

 

                                                                                                          杜紹德

                                                                                                      Đỗ Chiêu Đức

            Giai Thoại Văn Chương :

  

                                      SƠ ĐƯỜNG TỨ KIỆT  (3)

                       Người đứng thứ ba trong Tứ Kiệt : LƯ CHIẾU LÂN   

    

          LƯ CHIẾU LÂN 盧照鄰 (634-689), tự là Thăng Chi 升之, hiệu là U Ưu Tử 幽憂子, người đất U Châu huyện Phạm Dương (tỉnh Hà bắc ngày nay). Ông là thi, văn sĩ đời Đường, xuất thân con nhà gia thế, học rộng biết nhiều, sự nghiệp bắt đầu từ chức Điển Thiêm ở phủ của Đặng Vương Lý Nguyên Dũ, sau chuyển làm Huyện Úy huyện Tân Đô thuộc Ích Châu. Sau khi từ chức thì lân la ở đất Thục, uống rượu làm thơ, viết văn. Sau vì mắc bệnh phong cùi hành hạ vật vã đến không chịu đựng nỗi, nên nhảy xuống dòng sông Dĩnh tự trầm.

         LƯ CHIẾU LÂN cùng với Vương Bột, Dương Quýnh và Lạc Tân Vương 王勃、楊炯、駱賓王 được người đương thời tôn xưng là SƠ ĐƯỜNG TỨ KIỆT 初唐四傑. Ông giỏi cả thơ và biền văn, thơ của ông phần nhiều thuộc thể Ca Hành có thể phổ nhạc được. Tác phẩm gồm có Lư Chiếu Lân Tập 盧照鄰集 (20 quyển) và U Ưu Tử Tập 幽憂子集 (10 quyển).

  SƠ ĐƯỜNG TỨ KIỆT: Vương Bột, Dương Quýnh, Lư Chiếu lân, Lạc Tân Vương

          

      Lư Chiếu Lân từ nhỏ đã học thi thư, 10 tuổi lại được đưa đến Giang Nam học tập với các đại nho như Tào Hiến, Vương Nghĩa Phương để dùi mài kinh sử. Lớn lên, ông nổi tiếng giỏi văn chương, đến Trường An để cầu công danh, nương nhờ vào trọng thần Lai Tế 來濟. Lai Tế thương tài ông bèn giới thiệu ông với mọi người, nhờ vào văn tài xuất chúng, tiếng tăm của ông nổi như cồn. Nhưng công danh thì vẫn còn mờ mịt như bài thơ ngũ ngôn tứ tuyệt KHÚC TRÌ HÀ 曲池荷 (Hoa sen ở ao Khúc Trì) của ông làm sau đây :

                 

                  浮香繞曲岸,    Phù hương nhiễu khúc ngạn,

                  圓影覆華池。    Viên ảnh phúc hoa trì.

                  常恐秋風早,    Thường khủng thu phong tảo,

                  凋零君不知。    Điêu linh quân bất tri.

      Có nghĩa :

              Mùi hương ngào ngạt toả quanh bờ ao uốn khúc, cái bóng tròn trịa in hình dưới nước ao đẹp đẽ. Nhưng... luôn luôn lo sợ gió thu hiu hắt sớm thổi đến, làm cho lá hoa tàn tạ và không còn người biết tới nữa !

      Khéo lo sợ vẩn vơ, Lư Chiếu Lân ví mình như hoa sen đẹp đẽ thơm ngát nở vào mùa hạ, nếu không có người biết đến để thưởng thức thì khi gió thu heo may thổi đến sẽ tàn tạ một cach oan uổng !...

 

                  Hương thơm ngào ngạt quanh ao,

                  Bóng tròn đẹp đẽ tươi màu nước trong.

                  Những e thu sớm gió lồng,

                  Lá hoa tàn tạ hết mong người nhìn !

                     

 

 

      Biết Lư Chiêu Lân nóng lòng vì công danh, nên Lai Tế mới tiến cử ông cho chú của Đường Cao Tông là Đặng Vương Lý Nguyên Dũ 鄧王李元裕. Đặng Vương đã nghe tiếng Lư Chiếu Lân từ lâu nên tiếp ông bằng lễ tiếp đãi của một thượng khách và cho giữ chức Điển Thiêm. Đặng Vương cũng thường nói với các quan viên và thuộc hạ rằng :"Lư Chiếu Lân chính là Tư Mã Tương Như của ta đó !". Đây là khoảng thời gian đắc ý nhất của ông. Trong vương phủ lại có một kho sách rất qúy giá, cho nên mười năm làm việc trong vương phủ Lư Chiếu Lân đã đọc hết kho sách đó để phong phú thêm kiến thức của mình. Năm Long Sóc thứ ba 龍朔三年(663) ông lại được điều đi nhậm chức Đô Úy ở Tân Đô thuộc Ích Châu. Ba năm mãn hạn, nhưng ông vẫn ở lại đất Thục thưởng ngoạn danh thắng, uống rượu làm thơ.

      Đời vua Đường Cao Tông vì là thời buổi sơ Đường, nên ông vua trẻ Lý Trị thường phát động những cuộc chiến tranh biên giới để bình định các nước Hung Nô, Đột Quyết, Thổ Phồn, Cao Ly...Các binh tướng luôn phải chiến đấu một cách kiêu hùng vất vả, nên Tứ Kiệt đều có làm thơ biên tái, Lư Chiếu Lân cũng không ngoại lệ. Sau đây là bài thơ CHIẾN THÀNH NAM  戰城南 cùng chủ đề trong Hán Nhạc Phủ với bài thơ của Dương Quýnh, nhưng mỗi người mỗi vẻ :

 

                 將軍出紫塞,   Tướng quân xuất Tử tái,

                 冒頓在烏貪。   Mạo Đôn tại Ô Tham.

                 笳喧雁門北,   Già huyên Nhạn Môn bắc,

                 陣翼龍城南。   Trận dực Long Thành nam.

                 雕弓夜宛轉,   Điêu cung dạ uyển chuyển,

                 鐵騎曉參驔。   Thiết kỵ hiểu tham đàm.

                 應須駐白日,   Ưng tu trú bạch nhật,

                 爲待戰方酣。   Vị đãi chiến phương hàm.

    Có nghĩa :

            Tướng quân cởi ngựa xông ra khỏi Tử Tái của Vạn Lý Trường Thành, đánh nhau với Mạo Đôn là chúa của Hung Nô tại Ô Tham. Tiếng tù và vang rền ở phía bắc của Nhạn Môn Quan và thế trận được bày ra làm hai cánh ở phía nam của Long Thành, tiếng cung giương và tiếng tên bay vun vút suốt đêm, cùng với tiếng vó câu của những con ngựa sắt đến trời sáng vẫn còn rầm rập.(Chiến trận vẫn đang tiếp diễn) Phải làm sao như Lỗ Dương thời chiến Quốc của nước Sở hươu ngọn dáo để đẩy lui mặt nhựt cho trời đừng mau tối, vì chiến trận còn đang tiếp diễn một cách say sưa !

      Đánh giết nhau hăng máu đến thế là cùng !

 

      Diễn Nôm :

                       

 

 

                    Tướng quân xông khỏi Trường Thành,

                    Mạo Đôn giao chiến cùng dành Ô Tham.

                    Tù và ải bắc vang vang,

                    Thành Nam chiến trận lại càng xôn xao.

                    Cung giương tên bắn rào rào,

                    rầm rầm thiết kỵ ồn ào suốt đêm.

                    Phải dừng mặt nhựt đừng thêm,

                    Vì chưng chiến địa khắp miền đang say.

 

      Trong khi đó ở nơi phồn hoa đô hội, đám vương tôn quý tộc còn ăn chơi đàng điếm ra vào lầu xanh đã được Lư Chiếu Lân diễn tả trong bài CHIẾT DƯƠNG LIỄU 折楊柳 sau đây :

 

                倡樓啟曙扉,   Xướng lâu khải thự phi,

                園柳正依依。   Viên liễu chánh y y.

                鳥鳴知歲隔,   Điểu minh tri tuế cách,

                條變識春歸。   Điều biến thức xuân quy.

              露葉疑啼臉,    Lộ diệp nghi đề kiểm,

                風花亂舞衣。   Phong hoa loạn vũ y.

                攀折聊將寄,   Phàn chiết liêu tương ký,

                軍中書信稀。   Quân trung thư tín hi !

   Có nghĩa :

           Cánh cửa của lầu xanh vừa mở ra trong buổi sáng sớm mai, thì những cây liễu trong vườn như cũng lưu luyến không nở rời xa. Tiếng chim hót líu lo biết là năm đã hết, cành liễu chuyển màu xanh hơn nên biết là xuân đã về. Những giọt sương đọng trên lá liễu như là những giọt lệ trên mặt người đẹp, gió thổi làm cho những hoa liễu bay loạn lên như những mảnh vũ y. Bẻ nhành liễu gởi đi để tỏ chút lòng người hậu phương, vì trong quân doanh rất hiếm khi nhận được thư tín bên ngoài.

 

   Diễn Nôm :

               

 

 

                    Lầu xanh sáng mở cửa rào,

                    Trong vườn dương liễu luyến lưu hàm tình.

                    Năm tàn chim hót bên mành,

                    Cành xanh trổ nụ đành rành xuân sang.

                    Sương gieo như lệ mặt nàng,

                    Gió đưa hoa liễu rụng tràn vũ y.

                    Bẻ cành dương liễu gởi đi,

                    Trong quân thư tín hiếm khi gởi vào.

 

       Vì sống trong thời chinh chiến còn chưa yên, nên khi tả cảnh mai hoa nở trong tuyết trắng cuối năm để báo hiệu mùa xuân sắp đến, Lư Chiếu Lân cũng liên tưởng đến những người lính trận xa xôi ở tận xứ Hung Nô cách xa mấy vạn dặm đường ngày đêm chiến đấu bên cái chết cận kề còn biết gì là Xuân về Mai nở, hãy đọc bài MAI HOA LẠC 梅花落 dưới đây sẽ rõ :

 

                梅嶺花初發,   Mai Lĩnh hoa sơ phát,

                天山雪未開。   Thiên Sơn tuyết vị khai.

                雪處疑花滿,   Tuyết xứ nghi hoa mãn,

                花邊似雪回。   Hoa biên tự tuyết hồi.

                因風入舞袖,   Nhân phong nhập vũ tụ,

                雜粉向妝台。   Tạp phấn hướng trang đài.

                匈奴幾萬里,   Hung Nô kỷ vạn lý,

                春至不知來。   Xuân chí bất tri lai !

  Có nghĩa :

          Khi hoa mai trên Mai Lĩnh ở miền nam bắt đầu nở, thì tuyết ở vùng Thiên Sơn phía tây bắc còn chưa bắt đầu rơi. Nơi mà tuyết rơi thì cứ ngỡ là hoa mai trắng đã nở đầy cả, còn bên cạnh hoa mai trắng rơi thì lại như có thêm một lớp tuyết phủ đầy. Qua một trận gió thổi thì từng cánh mai trắng bay lọt vào cả các tay áo rộng của những nàng đang ca múa vương lấy mùi phấn son mà rơi cả tận đến nơi trang đài. Chỉ tội cho những người lính trận ở tận đất Hung Nô xa xôi mấy vạn dặm đường trong trời đông tuyết giá, khi xuân đến thì có ai biết là mùa xuân đã đến đâu !  

 

    Diễn Nôm :

                      

 

 

                    Mai Lĩnh hoa đã nở rồi,

                    Thiên Sơn xa tít chưa rơi tuyết mà...

                    Tuyết rơi trắng xóa tựa hoa

                    Bên hoa tuyết trắng ngỡ là hoa bay.

                    Hoa rơi tay áo gió lay,

                    Cánh hoa theo phấn trang đài vấn vương.

                    Hung Nô mấy vạn dặm đường,

                    Nàng xuân đã đến tỏ tường ai hay !?  

               

         Một lý do nữa khiến cho Lư Chiếu Lân sau khi mãn hạn quan còn ở lại đất Thục thêm hai năm nữa là vì ông quen với một người con gái họ Quách. Hai người đã yêu nhau đắm đuối. Trong cuộc tình nầy Lư Chiếu Lân đã để lại hai câu thơ bất hủ trong bài "Trường An Cổ Ý 長安古意" là :

 

                     得成比目何辞死,  Bất thành tỉ mục hà từ tử,

                     愿作鸳鸯不羡仙。  Nguyện tác uyên ương bất tiện tiên.

    Có nghĩa :

                     Chưa được sánh đôi chưa đành chết,

                     Chỉ cầu chắp cánh chẳng cầu tiên !

                        

 

 

       Nhưng khi hay tin Quách Thị có mang hai tháng thì, không biết vì lý do gì, Lư Chiếu Lân lại nói lời giả biệt để về thăm nhà, nên đành quyến luyến chia tay với Quách Thị và hẹn sẽ nhanh chóng trở lại gặp nàng. Nhưng lại nhưng, sau chuyến đi đó Lư Chiếu Lân đã không bao giờ trở lại nữa, để cho Quách Thị cứ chờ đợi mõi mòn, đau khổ, vật vã đến hư cả thai nhi. Người thứ tư trong Tứ Kiệt là LẠC TÂN VƯƠNG 駱賓王 đã bất mãn thay cho nàng, nổi lòng hào hiệp mà thay nàng viết nên bài thơ nhớ thương nổi tiếng để gởi cho Lư Chiếu Lân là "Diễm Tình Đại Quách Thị Đáp Lư Chiếu Lân 艷情代郭氏答盧照鄰". Có nghĩa : "Bài thơ diễm tình thay cho Quách Thị đáp lại Lư Chiếu Lân" sẽ đề cập ở bài sau khi nói về LẠC TÂN VƯƠNG. 

 

        Trở lại với Lư Chiếu Lân sau khi rời đất Thục, thì ngụ cư ở Lạc Dương. Và cũng trong bài thơ thất ngôn trường thiên dạng Nhạc phủ là TRƯỜNG AN CỔ Ý 長安古意 nầy, đã mang đến cho ông phải vướng vào vòng lao lý, vì trong đó lại có hai câu như sau :

 

                      梁家畫閣中天起,  Lương gia họa các trung thiên khởi,

                      漢帝金莖雲外直.   Hán đế kim hành vân ngoại trực.

    Có nghĩa :

                      Lâu đài đẹp đẽ của nhà họ Lương mọc lên ở giữa trời,

                      Cây cột vàng của Hán đế cao vút đến mây xanh.

 

       LƯƠNG GIA 梁家 : Nhà họ Lương chỉ một ngoại thích của Hán Thuận Đế là Lương Ký (anh của Lương Hoàng Hậu) đã cậy thế lực và tiền tài của em gái mà xây dựng lâu đài nguy nga tráng lệ ở thành Lạc Dương. Còn Võ Tam Tư 武三思 là cháu kêu Võ Hậu bằng cô, được phong là LƯƠNG VƯƠNG 梁王, cũng cậy quyền thế của cô mà xây dựng lâu đài ở Lạc Dương. Nên Võ Tam Tư cho là Lư Chiếu Lân dùng tích xưa để châm biếm mình, bèn nổi giận, bắt Lư Chiếu Lân bỏ tù. Sau nhờ có bạn giúp đỡ lãnh ra, nhưng chẳng bao lâu sau lại mắc phải bệnh phong, ông bèn đến núi Thái Bạch ở ngoại ô Trường An để dưỡng bệnh. Trong khoảng thời gian nầy ông lại gặp được Dược Vương Tôn Tư Mạc. Mạc rất coi trọng tài ông, vì cả hai cùng theo đạo Lão Trang nên rất tâm đầu ý hơp.  Khoảng thời gian nầy ông viết bài BỆNH LÊ THỌ PHÚ 病梨树赋 rất nổi tiếng.  Không lâu sau Tôn Tư Mạc phải phò Đường Cao Tông đến Cửu Thành Cung để tránh hè nghỉ mát. Lư Chiếu Lân vì muốn trị bệnh phong nên uống cả Huyền Minh Cao do các đạo sĩ bào chế, vừa đúng lúc hay tin cha mất, ông khóc cha đến nỗi mửa cả thuốc ra ngoài, nên bệnh càng trở nặng. Sau lại nhờ bạn bè chu cấp chuyển đến Long Môn Sơn dưỡng bệnh, nhưng bệnh lại ngày càng nặng hơn, đến nỗi một chân không duỗi thẳng được và liệt luôn một cánh tay. Ông lại mua một miếng đất ở bên bờ sông Dĩnh Thủy, xây sẵn cho mình ngôi mộ rồi ăn ngủ luôn trong đó. Trong khoảng thời gian nầy, ông viết hai bài tản văn nổi tiếng là THÍCH TẬT VĂN 釋疾文 và NGŨ BI VĂN 五悲文. Bệnh tình ngày càng hành hạ, nhức nhối thấu xương. Sau mười năm chịu đựng, cuối cùng, ông giả biệt thân nhân rồi nhảy xuống dòng sông Dĩnh tự trầm.
 

              Lư Chiếu Lân trước và sau khi mắc bệnh phong cùi.       

      

       Cuối bài "Thích Tật Văn 釋疾文" có bài ca u ẩn như những lời vĩnh biệt sau đây :

 

                 歲將暮兮歡不再,     Tuế tương mộ hề hoan bất tái,

                 時已晚兮憂來多。     Thời dĩ vãn hề ưu lai đa.

                 東郊絕此麒麟筆,     Đông giao tuyệt thử kỳ lân bút,

                 西山祕此鳳凰柯。     Tây sơn bí thử phụng hoàng kha.

                 死去死去今如此,     Tử khứ tử khứ kim như thử,

                 生兮生兮奈汝何。     Sanh hề sanh hề nại nhữ hà.

                 歲去憂來兮東流水,   Tuế khứ ưu lai hề đông lưu thủy,

                 地久天長兮人共死。   Địa cửu thiên trường hề nhân cộng tử.

     Có nghĩa :

                    Năm sắp tàn ngày vui không trở lại,

                    Thời đã qua ái ngại lắm ưu phiền.

                    Phía đông giao kỳ lân bút đã yên,

                    Tây sơn nọ phụng hoàng cành cũng vắng.

                    Chết thì chết như nay đà vẩy chết,

                    Sống lất lây sống hết được gì nào ?

                    Năm sầu nước cũng chảy mau...

                    Trời cao đất rộng thoáng mau đời người !

 

       Qủa là cảm khái với tâm tư buông bỏ của những người sắp chết. Vào những đêm trăng sáng có lẽ bệnh phong cùi hành hạ, nên Lư Chiếu Lân cũng có những câu than vãn về trăng như sau :

 

                   相思在萬里,    Tương tư tại vạn lý,

                   明月正孤懸。    Minh nguyệt chính cô huyền !

     Có nghĩa :

                        Nhớ nhau muôn dặm trời xanh,

                    Trăng treo lơ lửng trên cành đơn côi !

 

.... làm cho ta nhớ đến Hàn Mặc Tử với :

 

                        Ai mua trăng tôi bán trăng cho...

                    Trăng nằm yên trên cành liễu đợi chờ !...

 

                    

     Hẹn bài viết tới : 

                       SƠ ĐƯỜNG TỨ KIỆT (4) : LẠC TÂN VƯƠNG.

 

 

                                                                                            杜紹德

                                                                                    Đỗ Chiêu Đức

Giai thoại văn chương:

 

                        SƠ ĐƯỜNG TỨ KIỆT (2)

                               Người đứng nhì Tứ Kiệt : DƯƠNG QUÝNH        

          

       DƯƠNG QUÝNH 楊炯(650-693)người đất Hoằng Nông, huyện Hoa Âm (thuộc tỉnh Thiểm Tây ngày nay), đứng hàng thứ bảy trong gia đình; là thi văn sĩ đời Đường , được xếp hàng thứ nhì trong Sơ Đường Tứ Kiệt. Đường Cao Tông năm Hiển Khánh thứ tư (659) trúng cử khoa Thần Đồng lúc 10 tuổi, năm Thượng Nguyên thứ ba (676) ứng chế khoa cập đệ, được phong Hiệu Thư Lang. Vĩnh Thuần nguyên niên (682) được Trung Thư Lệnh Tiết Nguyên Siêu tiến cử chức Sùng Văn Quán Học Sĩ kiêm Thái Tử Chiêm Sự Ty Trực. Trong khoảng thời gian nầy, Dương Quýnh đã sáng tác rất nhiều văn thơ và còn viết lời tư và biên tập cho thơ văn của Vương Bột nữa, đồng thời cũng phê phán "Thượng Quan Thể" là thể thơ đang thịnh hành lúc bấy giờ chú trọng về tu từ và dùng từ diễm lệ gợi cảm.

      Thùy Cũng nguyên niên đời Võ Hậu (685), vì ông chú tham gia cuộc nổi dậy của Từ Kỉnh Nghiệp chống lại Võ Tắc Thiên thất bại, nên bị vạ lây. Dương Quýnh bị biếm đi làm Tham Quân ở đất Tân Châu. Thiên Thụ nguyên niên (690), cùng với nhà thơ Tống Chi Vấn dạy học ở Tập Nghệ Quán trong cung Lạc Dương. Như Ý nguyên niên (692), cải nhậm huyện lệnh đất Doanh Xuyên, nổi tiếng là một huyện quan nhân đức. Dương Quýnh mất luôn tại đây, cho nên người đời còn gọi ông là DƯƠNG DOANH XUYÊN 楊盈川. Ông còn để lại một quyển thơ, gồm 34 bài và hơn 50 bài Phú, Tự, Biểu, Bia, Chí... Dương Quýnh sau được qui táng ở Lạc Dương. Năm Đường Trung Tông phục vị (705) truy phong ông là Trứ Tác Lang 著作郎。

      

      Bình sinh, Dương Quýnh là người tính khí cao ngạo, ỷ tài, nên rất ít người thân cận. Bị người đương thời xếp sau Vương Bột, trong thứ tự của Tứ Kiệt VƯƠNG DƯƠNG LƯ LẠC 王楊盧駱. Quýnh rất lấy làm khó chịu mà nói rằng : "Ngô quý tại Lư tiền, sỉ cư Vương hậu 吾愧在盧前,耻居王後". Có nghĩa : "Ta THẸN vì đứng trước Lư, NHỤC vì ở sau Vương". Câu đầu tỏ vẻ khiêm nhượng "THẸN vì mình không bằng mà được đứng trước Lư Chiếu Lân"; Câu sau thì lại tỏ vẻ kiêu ngạo "lấy làm NHỤC vì bị xếp sau Vương Bột". Tánh khí cao ngạo của Dương Quýnh, đôi khi cũng đem lại được những kết quả tốt, như vào những năm Điều Lộ, Vĩnh Long đời Đường Cao Tông (679-681), quân Đột Quyết, Thổ Phồn thường hay xâm lấn đất Thục và một dãy Cam Túc, nhà vua cử Lễ Bộ Thượng Thư là Bùi Hàng đi chinh phạt. Mắt thấy triều đình chỉ trọng võ mà khinh văn, nên Quýnh tức khí làm nên bài thơ TÒNG QUÂN HÀNH 從軍行 tuyệt tác sau đây :

 

                    

 

                 

 

 

 

 

             

 

 

                  烽火照西京,    Phong hỏa chiếu Tây kinh,

                  心中自不平。    Tâm trung tự bất bình.

                  牙璋辭鳳闕,    Nha chương từ phụng khuyết,

                  鐵騎繞龍城。    Thiết kỵ nhiễu long thành.

                  雪暗凋旗畫,    Tuyết ám điêu kỳ họa,

                  風多雜鼓聲。    Phong đa tạp cổ thinh.

                  寧為百夫長,    Ninh vi Bách Phu Trưởng,

                  勝作一書生。    Thắng tác nhất thư sinh !

 Có nghĩa :

        Khói lửa của chiến tranh đã chiếu đến kinh thành (Tây kinh), nên trong lòng người chiến binh không thể nào bình yên cho được. Binh phù của nhà vua đã truyền ra khỏi kinh thành (Phụng thành) rồi, nên đoàn thiết kỵ phải xông pha vây lấy long thành. Trời tuyết rơi ảm đạm làm đong lạnh các lá cờ có họa hình rủ xuống, gió thổi mạnh nên tiếng trống trận càng hỗn tạp dồn dập hơn. (Trước cảnh hào hùng của chiến trận), ta thà làm một Bách Phu Trưởng hiên ngang còn hơn là làm một thư sinh yếu đuối ! 

       Diễn Nôm :

                         
   

                        Tây kinh khói lửa rực trời,

                        Lòng người chiến sĩ khôn nguôi bất bình.

                        Lệnh vua vừa khỏi cửa thành,

                        Rần rần thiết kỵ Long Thành ruổi sang.

                        Màu cờ tuyết phủ trên ngàn,

                        Gió đưa tiếng trống rộn ràng vang vang.

                        Thà làm chiến sĩ hiên ngang,

                        Còn hơn khoát áo một chàng thư sinh !

 

       Dương Quýnh nói lẫy : Thà làm một Bách Phu Trưởng (tương đương như Trung Đội Trưởng ngày nay) còn hơn là một thư sinh quèn chưa đậu đạt. Cái hào khí và chiến đấu gian khổ của người chiến binh trong cơn binh lửa còn được Dương Quýnh diễn tả trong bài CHIẾN THÀNH NAM 战城南 sau đây với bài ngũ Ngôn Luật Thi mà 4 cặp đều đối nhau chan chát :

 

                 塞北途遼遠,   Tái bắc đồ liêu viễn,

                 城南戰苦辛。   Thành nam chiến khổ tân.

                 幡旗如鳥翼,   Phướng kỳ như điểu dực,

                 甲冑似魚鱗。   Giáp trụ tự ngư lân.

                 凍水寒傷馬,   Đống thủy hàn thương mã,

                 悲風愁殺人。   Bi phong sầu sát nhân.

                 寸心明白日,   Thốn tâm minh bạch nhật,

                 千里暗黃塵。   Thiên lý ám hoàng trần !

   Có nghĩa :

           Đường lên tái bắc thì xa xôi diệu vợi, còn trận chiến ở thành nam thì khổ nhọc vô cùng. Cờ phướng tung bay như những cánh chim đang vổ phần phật. Còn áo giáp của các chiến binh thì ánh lên như vảy của những con cá đang lắp lánh vậy. Nước sông đong cứng làm thương tổn đến các con chiến mã, gió rít u buồn khơi dậy lòng sầu đứt ruột của các chinh phu. Tất lòng đối với non sông sáng tỏ như ánh mặt trời, trong khi ngoài ngàn dặm còn mịt mờ với cát bụi vàng hoe.

       Diễn Nôm :

                        

 

                       Đường lên ải bắc xa xôi,

                       Thành nam chiến trận dập vùi khổ thay.

                       Phướng cờ tựa cánh chim bay,

                       Giáp trụ tựa vảy cá ngoài biển khơi.

                       Nước băng ngựa hí thương ôi,

                       Gió sầu rít mạnh bồi hồi chinh phu.

                       Tấc lòng sáng tựa trời thu,

                       Bụi vàng ngàn dặm mịt mù nẻo xa !                  

            

      Dương Quýnh nổi tiếng với các bài thơ Ngũ ngôn Luật Thi tả cảnh biên tái như đã nêu trên, ngoài ra ông cũng nổi tiếng với những bài thơ diễn tả nỗi sầu thương mong nhớ của người chinh phụ có chồng đi đánh trận xa xôi ngoài quan ải, như bài HỮU SỞ TƯ 有所思 sau đây :

 

                    賤妾留南楚,    Tiện thiếp lưu nam Sở,

                    征夫向北燕。    Chinh phu hướng bắc Yên.

                    三秋方一日,    Tam thu phương nhất nhật,

                    少別比千年。    Thiểu biệt tỉ thiên niên.

                    不掩嚬紅縷,    Bất yễm tần hồng lũ.

                    無論數綠錢。    Vô luân sổ lục tiền.

                    相思明月夜,    Tương tư minh nguyệt dạ,

                    迢遞白雲天。    Điều đệ bạch vân thiên.

 

                     

     Có nghĩa :

             Tiện thiếp thì ở lại đất Sở phía nam, còn chàng chinh phu thì đi về đất Yên phía bắc. Một ngày ly biệt mà như xa cách đã ba thu, mới có biệt ly mà như đã ngàn năm xa cách. Không che dấu n