top of page
hmpg.jpg
Titlej (1).jpg
dcd_ongdo.jpg

TIẾNG HÁN CỔ

với Ông Đồ ĐỖ CHIÊU ĐỨC

 

CHS Phan Thanh Giản (Cần Thơ)

Cựu GS Trung Học Tân Hưng (Cái Răng)

Cựu Giảng Viên ĐH Xã Hội - Nhân Văn (Sài Gòn)

Houston,Texas________

DCD_CHU XUAN.JPG

 Thiên hữu tứ thời XUÂN tại thủ 天有四時春在首, là "Trời có bốn mùa, XUÂN là mùa đứng đầu". XUÂN là chữ Hội Ý trong Lục Thư là một trong 6 cách hình thành chữ Nho, theo diễn tiến của chữ viết như sau :

 

 

 

 

                

                     

Ta thấy :

            Từ Giáp Cốt Văn cho đến Đại Tiểu Triện đều là hình tượng của bộ Thảo 艸 là Cỏ ở phía trên và chữ Đồn 屯 bên dưới tượng trưng cho các mầm non của cây cỏ nức đất vươn lên, bên cạnh là  hình tượng của chữ Nhật ㄖ là mặt trời là ánh nắng của mùa xuân giúp cho cỏ cây phát triển sau những ngày đông tháng giá; nên XUÂN 春 là mùa Xuân, mùa đầu tiên trong năm khi tiết trời trở lại ấm áp. Chưa có chữ NHO nào có diễn tiến phức tạp và thay đổi kiểu viết nhiều như chữ Xuân vậy. Có thể là do những ngày đông rét mướt vạn vật cỏ cây đều héo úa tàn tạ, vào xuân lại được dịp tái sinh, nên các mầm sống thi nhau phát triển, vì thế mà chữ viết cũng phát triển đa dạng theo như vạn vật đang hồi sinh chăng  ?! Mời xem diễn tiến chữ viết của chữ XUÂN qua các hình thức sau đây :

            

     

       

 

 

 

 

XUÂN là mùa đầu tiên trong năm, nên những ngày Lễ Hội đầu năm được gọi là XUÂN TIẾT  春節, là những ngày Lễ Tết của buổi đầu xuân, nên ta còn gọi "Ba ngày Tết" là "Ba ngày Xuân".  Đón Xuân là đón Tết, và "Ăn Tết" là để "Mừng Xuân". Tất cả những hoạt động của ngày Tết thường đều có chữ Xuân chen vào, như chợ bán hoa ngày Tết thì gọi là "Hội Hoa Xuân", đi dự hội ngày Tết thì gọi là "trẩy hội Xuân", đi lễ chùa ngày Tết thì gọi là đi "Lễ Xuân" như trong bản nhạc "Câu Chuyện Đầu Năm" của nhạc sĩ Hoài An :

 

                               Trên đường đi Lễ Xuân đầu năm ...

 

         Nói theo chiết tự thì chữ XUÂN được viết theo thứ tự : Chữ Nhất 一, chữ Nhị 二 rồi chữ Tam 三, xong chồng bộ Nhân 人 lên trên và phía dưới cùng là chữ Nhật 日.  Ghép tất cả các phần trên lại ta có chữ XUÂN 春. NHẤT là Thiên là Trời; NHỊ là Địa là Đất; TAM là NHÂN là Người, nói theo sách TAM TỰ KINH 三字經 là "TAM TÀI giả : Thiên Địa Nhân 三才者,天地人". Con Người là một thành viên hợp với Trời Đất tạo nên cái vũ trụ hỗn mang nầy, và khi mặt trời (NHẬT 日) bắt đầu ló dạng là vạn vật cũng bắt đầu phục sinh cho cuộc sống mới theo quy luật Âm Tiêu thì Dương Trưởng; đêm sẽ dần ngắn lại và ngày sẽ càng dài thêm ra; cây cỏ lá hoa đâm chồi nẩy lộc cho cuộc sống mới bắt đầu bằng màu hồng của những tia nắng xuân đầu tiên ấm áp để "Hoa lá nở thắm đẹp làn môi hồng". 

               

         Nên từ đầu tiên ta có về mùa xuân là XUÂN QUANG 春光 là Ánh sáng  ấm áp của mùa xuân mang đến vẻ đẹp đẽ rực rỡ của cỏ cây hoa lá tươi hồng, nên để chỉ mùa xuân đẹp đẽ, ta có từ XUÂN HỒNG 春紅 như trong 4 câu thơ bất hủ mở đầu bài thơ "Tình Sầu" của thi nhân Huyền Kiêu thời Tiền Chiến :

 

                              XUÂN HỒNG có chàng tới hỏi

                              Em thơ, chị đẹp em đâu?

                              Chị tôi tóc xoã ngang đầu

                              Đi hái hoa tươi ngoài nội

 

          XUÂN HỒNG còn là sức sống và sự yêu đời như trong bài thơ nổi tiếng "Giây Phút Chạnh Lòng" của Thế Lữ :

 

                            Ta thấy XUÂN HỒNG thắm khắp nơi,

                            Trên đường rộn rã tiếng đua cười,

                            Động lòng nhớ bạn xuân năm ấy.

                            Cùng ngắm xuân về trên khóm mai...

                              

         Song song với XUÂN QUANG 春光 ta còn có từ XUÂN HUY 春暉 cũng chỉ ánh nắng ấm áp của mùa xuân mang lại sức sống cho cỏ cây, được ví như là công ơn của từ mẫu như trong bài thơ Du Tử Ngâm 遊子吟  của Mạnh Giao 孟郊 đời Đường :

 

                         慈母手中线    Từ mẫu thủ trung tuyến              

                         遊子身上衣    Du tử thân thượng y                             

                         临行密密缝    Lâm hành mật mật phùng                       

                         意恐遲遲歸    Ý khủng trì trì quy             

                         誰言寸草心    Thùy ngôn thốn thảo tâm                

                         報得三春暉    Báo đắc tam XUÂN HUY

 

     

   Có nghĩa :

                        Kim chỉ trên tay từ mẫu,

                        Khâu nên áo lãng du nhân.

                        Khi đi chắc chiu từng mũi,

                        Sợ ngày về lắm lần khần.

                        Ai bảo nỗi lòng tấc cỏ,

                        Báo đền được nắng ba xuân ?!

 

          Khi quyết định bán mình chuộc tội cho cha, cụ Nguyễn Du cũng đã cho Thúy Kiều cân nhắc thân phận của mình rồi mới quyết định :

 

                               Hạt mưa xá nghĩ phận hèn,

                          Liều đem tấc cỏ quyết đền ba xuân !

 

          Xuân Quang, Xuân Huy, Xuân Hồng tạo nên XUÂN SẮC 春色 là Cảnh sắc đẹp đẽ của mùa xuân với thành ngữ XUÂN SẮC MÃN NHÂN GIAN 春色滿人間 là Cảnh sắc đẹp đẽ của mùa xuân đầy rẫy cả nhân gian. Mùa xuân đẹp đẽ không là của riêng ai, nhưng khi thấy ong bướm bay qua nhà hàng xóm thì lại đâm ra nghi ngờ, như hai câu cuối trong bài Vũ Tình 雨晴 của Vương Giá 王駕 đời Vãn Đường :                                 

 

                           蜂蝶紛紛過牆去,  Phong điệp phân phân qúa tường khứ,

                           卻疑春色在鄰家。  Khước nghi xuân sắc tại lân gia.

 

          Hai câu thơ nầy đã được nhà thơ Tiền Chiến Jean Leiba mượn ý diễn Nôm thật hay trong bài Mai Rụng như sau : 

 

                                Tơi bời ong bướm bay qua ngõ,

                            Những tưởng màu xuân ở xóm ngoài.

 

                   

 

          XUÂN SẮC phải là cảnh sắc đẹp đẽ của thiên nhiên bao la rộng lớn khi trời đã vào xuân, chớ không phải gò bó đóng khung trong một phạm vi đẹp đẽ nhỏ hẹp nào đó, vì Xuân Sắc là Sắc  đẹp của mùa xuân sẽ bức phá khỏi những phạm vi hạn hẹp như cành hoa Hồng Hạnh trong bài Du Viên Bất Trực 遊園不值 của Diệp Thiệu Ông 葉紹翁 đời Nam Tống :

 

                        春色滿園關不住,     XUÂN SẮC mãn viên quan bất trụ,

                        一枝紅杏出牆來。     Nhất chi hồng hạnh xuất tường lai.

    Có nghĩa :

                        XUÂN SẮC đầy vườn không giữ nổi,

                        Một cành hồng hạnh vượt tường ra !

 

          Vì 2 câu thơ nầy mà hình thành một thành ngữ XUẤT TƯỜNG HỒNG HẠNH 出牆紅杏 là "Hồng Hạnh Vượt Tường" để chỉ những nàng cô phụ không giữ nổi nỗi cô đơn mà "vượt tường" đi tìm tình yêu của lòng mình đang khao khát. 

                                         

          

          

       - XUÂN THIÊN 春天 là Trời đã vào Xuân, nên có nghĩa là MÙA XUÂN. Còn...

       - XUÂN NHẬT 春日 là Ngày xuân, là những ngày của mùa xuân. 

       - XUÂN TIÊU 春宵 là đêm xuân, là những đêm của mùa xuân. XUÂN TIÊU lại là tựa của một bài thơ nổi tiếng của Tô Đông Pha 蘇東坡, một trong Đường Tống Bát Đại Gia 唐宋八大家 với 2 câu thơ mở đầu bất hủ là :

 

                 春宵一刻值千金,   XUÂN TIÊU nhất khắc trị thiên kim,

                 花有清香月有陰.   Hoa hữu thanh hương nguyệt hữu âm...

Có nghĩa :

                 Đêm xuân một khắc đáng ngàn vàng,

                 Hoa thoảng hương thơm trăng mơ màng...

 

       Vốn dĩ Tô Đông Pha muốn nói rằng đêm xuân mát mẻ êm ả lại thoang thoảng mùi hương của hoa và lấp loáng mơ màng của bóng trăng chênh chếch. Đêm xuân đẹp là thế, êm đềm là thế, nên không nở đi ngủ, vì một khắc êm đẹp thoải mái của đêm xuân có giá trị đáng ngàn vàng ! Nhưng suốt cả ngàn năm nay người ta chỉ hiểu nghĩa của câu thơ với một ý khác. Cứ nghĩ đến tình yêu nồng thắm say đắm của nam nữ, của đôi vợ chồng son, của những người đang yêu nhau, của cô dâu và chú rể trong đêm tân hôn...thì "Đêm Xuân Một Khắc Giá Đáng Ngàn Vàng!" để trân trọng cái thời khắc của đêm xuân khi đôi lứa được ở bên nhau.

 

                           

       - XUÂN TỬU 春酒 là Rượu uống vàp dịp Tết để mừng Xuân. Khác với...

       - XUÂN DƯỢU 春藥 là Thuốc uống để khơi dậy lòng xuân, là thuốc kích dâm. 

       - XUÂN TÌNH 春情 là Tình cảm nảy nở trong mùa xuân, là tình yêu đối với mùa xuân, mà cũng làtình yêu trai gái nữa ; XUÂN TÌNH còn là tên một điệu hát cổ nhạc rất mượt mà ươt át;  nếu đổi chữ TÌNH có bộ NHẬT 日 là Mặt Trời thì XUÂN TÌNH 春晴 là Mùa xuân nắng ráo, là Nắng đẹp mùa xuân. Trong bài thơ tứ tuyệt Trúc Chi Từ 竹枝詞 của Lưu Vũ Tích 劉禹錫 đời Đường có nhắc đến 2 chữ TÌNH nêu trên một cách thật lý thú như sau :

 

                    竹枝詞                      TRÚC CHI TỪ 

               楊柳青青江水平, Dương liễu thanh thanh giang thủy bình,

               聞郎江上唱歌聲。 Văn lang giang thượng xướng ca thinh.

               東邊日出西邊雨, Đông biên nhật xuất tây biên vũ,

               道是無晴卻有晴。 Đạo thị vô tình khước hữu tình !

 

   * Tình 晴 : Tình nầy là NẮNG RÁO, vì có bộ NHẬT 日 là Mặt Trời bên trái. Chữ nầy ĐỒNG ÂM với chữ Tình 情 là TÌNH CẢM, TÌNH Ý, có bộ TÂM 忄là Lòng Dạ cũng ở bên trái. Nên, HỮU TÌNH 有晴 là CÓ NẮNG, đồng âm với HỮU TÌNH 有情 là Có Tình Ý.

 

NGHĨA BÀI THƠ :

      Dương liễu xanh xanh soi mình trên dòng nước phẳng lặng, ta nghe tiếng của chàng cất giọng hát trên sông. Mặt trời đang ló dạng ở phía đông với những tia nắng đầu ngày, nhưng phía bên trời tây lại đổ mưa rào, cho nên, bảo là không có nắng, nhưng lại có nắng, nói là không có tình, nhưng lại có tình ý thật thiết tha !

 

DIỄN NÔM :

                    Xanh xanh dương liễu soi dòng nước,

                    Vẳng tiếng chàng ca sóng lặng thinh.

                    Tây đổ mưa rào đông lại nắng,

                    Hữu tình người lại ngỡ vô tình !

      Lục bát :

                    Liễu xanh xanh nước mênh mang,

                    Trên sông nghe vẳng tiếng chàng hát ca.

                    Đông nắng Tây lại mưa sa,

                    Bảo là vô ý thì ra hữu tình !

 

            

 

       - XUÂN THỦY 春水 là Nước mùa xuân. Nước xuân trong vắt tựa ánh mắt của các cô thôn nữ mộc mạc ngây thơ như lời thơ của Thôi Ngọc trong Đường Thi :

 

              两臉夭桃從镜發, Lưỡng kiểm yêu đào tòng kính phát,

              一眸春水照人寒。 Nhất mâu XUÂN THỦY chiếu nhân hàn.

Có nghĩa:

                       Má đào ửng đỏ trong gương

             Một làn XUÂN THỦY vấn vương lòng người.

 

     XUÂN THỦY là ánh mắt xuân của các cô gái ngây thơ trong trắng, khác với THU THỦY 秋水 là ánh mắt gợn buồn đa sầu đa cảm của các giai nhân tài hoa bạc mệnh như Thúy Kiều :

 

                         Làn THU THỦY, nét XUÂN SƠN,

                  Hoa ghen thua thắm liễu hờn kém xanh!

 

     Làn THU THỦY 秋水 là làn nước mùa thu, trong veo, lạnh lùng mà se sắt dễ làm rung động và cũng dễ làm tê tái lòng người. Còn nét...

 

   - XUÂN SƠN 春山 là Núi của mùa xuân, xanh biếc và rạng rỡ tràn đầy sức sống và gợi cảm như đôi mày liễu của giai nhân, như cụ Nguyễn Du đã tả về nhan sắc của Thúy Kiều là "Hoa ghen thua thắm liễu hờn kém xanh !". XUÂN SƠN tự ngàn xưa đã được ví như là đôi mày liễu xanh mơn mởn của các giai nhân với câu nói :

 

                眼如秋水,眉似春山。Nhỡn như thu thủy, My tự xuân sơn.

Có nghĩa :

         - Mắt long lanh như nước mùa thu, Mày xanh tươi như núi mùa xuân.

 

      

 

   - XUÂN TÂM 春心 là Lòng xuân, là tấm lòng tươi trẻ yêu đời và tràn đầy nhựa sống như mùa xuân của các cô XUÂN NỮ 春女 là các cô gái trẻ như lời bài hát Gái Xuân của Từ Vũ và Nguyễn Bính :

 

                          Em như cô gái hãy còn xuân,

                     Trong trắng thân chưa lấm bụi trần...

 

     Theo kinh Lễ Nhạc thì vào đời nhà Chu cứ đến tháng hai là tháng Trọng Xuân 仲春 thì cho phép cưới gả, nên các cô gái với tình xuân phơi phới cứ mong chờ cho đến tháng hai để được người mai mối đến dạm hỏi, nên gọi các cô là HOÀI XUÂN THIẾU NỮ 懷春少女, là những cô gái Hoài Xuân đang khao khát tình yêu, là những cô gái đang muốn chồng ! Trong Kinh Thi đời Tiên Tần chương Chiêu Nam 召南 có câu :

 

                   有女懷春,    Hữu nữ HOÀI XUÂN,

                   吉士誘之.    Cát sĩ dụ chi !

 Có nghĩa :

                     Có cô con gái HOÀI XUÂN,

                Các chàng xúm xít tỏ lòng ước ao !

 

        Mùa Xuân mang lại sự sống và sức sống cho muôn loài muôn vật sau những tháng rụi tàn vì đông hàn buốt giá, nên sức sống hồi phục trở lại gọi là HỒI XUÂN  回春 để chỉ cái gì đó tưởng đã chết đi nhưng rồi sống lại đều được gọi là HỒI XUÂN kể cả tình cảm tình yêu và thể chất thể xác của con người, nên ta mới có thành ngữ Lão Giả Hồi Xuân 老者回春 để chỉ những người đã già nhưng sức sống còn mạnh mẽ như lứa tuổi thanh niên. Ta có nhóm từ "Lứa Tuổi Hồi Xuân" vừa có ý tốt vừa có ý mĩa mai để chỉ những người đã đứng tuổi nhưng còn ham muốn dục vọng và sống như lứa tuổi thanh niên...

       Nhưng những ông thầy thuốc "mát tay", thầy thuốc giỏi có thể cải tử hồi sinh, cứu được người chết đi sống lại thì được xưng tụng là DIỆU THỦ HỒI XUÂN 妙手回春 là bàn tay khéo léo có thể làm cho người tưởng đã chết đi lại được sống trở lại, như Hoa Đà, Biển Thước và như Hải Thượng Lãn Ông của ta vậy.

      Ngày xưa các thư sinh sau mười năm đèn sách thì chỉ còn đợi những khoa XUÂN THÍ 春試 là những khoa thi được hai triều đại Minh và Thanh mở ra cho sĩ tử ứng thí vào các mùa xuân, như Kim Trọng và Vương Quan đã cùng thi đỗ trong một khoa XUÂN THÍ, nên trong Truyện Kiều cụ Nguyễn Du đã viết là :

 

                                    Chế khoa gặp hội tràng văn.

                         Vương, Kim cùng chiếm BẢNG XUÂN một ngày.

 

      Vì khoa thi được mở vào mùa xuân, nên bảng vàng đề tên các sĩ tử thi đỗ cũng được gọi là BẢNG XUÂN chữ Nho là XUÂN BẢNG 春榜, tức là LONG HỔ BẢNG 龍虎榜đó.      

    

            

  

      Ngày xưa thi đậu gọi là Bình Bộ Thanh Vân 平步青雲, ta gọi là Nhẹ Bước Thang Mây, cụ Nguyễn Công Trứ thì tỏ ra rất đắc ý với "Đường mây rộng thênh thang cử bộ"; còn Mạnh Giao đời Đường thì gọi là XUÂN PHONG ĐẮC Ý 春風得意 trong bài thơ Đăng Khoa Hậu 登科后 là "Sau khi Đăng Khoa" với 2 câu cuối như sau :

 

                 春風得意馬蹄疾,   XUÂN PHONG ĐẮC Ý mã đề tật,

                 一日看盡長安花。  Nhất nhật khán tận Trường an hoa.

   Có nghĩa :

                      Gió xuân đắc ý ngựa phi mau,

                      Xem hết Trường an hoa đủ màu.

 

              

 

       Hai câu thơ trên còn để lại 2 thành ngữ cho đến hiện nay là XUÂN PHONG ĐẮC Ý 春風得意 để chỉ sự vui vẻ đắc ý vì một thành đạt nào đó, và TẨU MÃ KHÁN HOA 走馬看花 mà ta gọi là CỞI NGỰA XEM HOA để chỉ việc gì đó chỉ làm lấy có, làm hoa loa cho xong việc mà thôi.

 

       Đón xuân, mừng xuân, chúc cho tất cả mọi người đều XUÂN PHONG ĐẮC Ý 春風得意 và cả năm luôn luôn được MÃN DIỆN XUÂN PHONG 滿面春風 là mặt mày luôn luôn tươi vui như đang chào đón gió xuân vậy.  

 

    杜紹德

  Đỗ Chiêu Đức  

DCD_ChuXuan4.JPG
dcd_Thien.jpg

Thiên 天 là Trời, Thiên 千 là Một Ngàn, Thiên 偏 là Thiên Lệch, Thiên 遷 là Di Dời ... Ở đây, ta chỉ nói đến chữ Thiên 天 là Trời, là phần không gian ở trên đầu của ta mà thôi. Theo "Chữ Nho ...Dễ Học", ta có chữ Nhân là người được viết như thế nầy 人. Đây là chữ Tượng Hình đơn giản nhất, cơ bản nhất và cũng ... Tượng hình nhất : Hình người đứng xoạt 2 chân hiên ngang giữa trời đất đúng như sách Tam Tự Kinh ngày xưa dạy : Tam tài giả, THIÊN ĐỊA NHÂN 三才者,天地人。( TAM TÀI là TRỜI, ĐẤT và NGƯỜI ). Con Người là một thành viên của vũ trụ, hợp với Trời và Đất tạo nên cái thế giới nầy !

Nên ...

Khi cần diễn tả sự to lớn thì chữ nhân 人 dang thêm hai tay ra theo lối CHỈ SỰ 指事  ( Mượn việc dang hai ta ra để chỉ sự to lớn gọi là Chỉ Sự  ) thành chữ ĐẠI 大 ,  theo diễn tiến của chữ viết sau đây :

                                                Ta thấy :

          Theo như Giáp cốt văn và Đại Triện ở trên, ta thấy rõ ràng hình người có cái đầu to tượng trưng cho Đầu Đội Trời, Chân Đạp Đất, gọi là " Đỉnh thiên lập địa 頂天立地 " như Từ Hải trong Truyện Kiều vậy :


                               ĐỘI TRỜI đạp đất ở đời,
                       Họ Từ tên Hải vốn người Việt Đông.
Nên ...
         Chữ Thiên 天 chỉ phần cao nhất của cơ thể con người, vượt lên trên đĩnh đầu cao vòi vọi, đó là Trời.

 

          Về mặt thể chất, thì con người không thể cao bằng Trời, lớn bằngTrời được, nhưng về chí khí thì cũng có những người có chí lớn muốn CHỌC TRỜI Quấy Nước làm nên những chuyện Kinh Thiên Động Địa. Cho nên, chữ Thiên 天 mà nhô đầu lên theo chiều dọc để CHỌC thủng Trời thì sẽ thành chữ PHU 夫 là người đàn ông cao lớn mạnh khỏe hiên ngang đứng giữa trời đất, theo diễn tiến của chữ viết như sau :

 

         Nên ...             

         PHU 夫 : là Người đàn ông trưởng thành, mạnh mẽ, hiên ngang mà các bà các cô ai cũng ước mong trở thành người hôn phối của mình, nên ...
        PHU 夫 còn có nghĩa là CHỒNG với các từ ghép nghe cho êm tai và âu yếm là : Phu Tế 夫婿, Phu Lang 夫郎, Phu Tướng 夫相, Trượng Phu 丈夫 ... Như trong Truyện Kiều tả lúc Từ Hải chia tay với Kiều để  lên đường lập nghiệp ....


                                   Nửa năm hương lửa đang nồng,
                        TRƯỢNG PHU thoát đã động lòng bốn phương.

 

         Chữ PHU 夫 lại làm cho ta ....
... Nhớ lại 2 câu thơ của nữ sĩ Hồ Xuân Hương trong bài "Không Chồng Mà Chửa" là :

 

                               Duyên THIÊN chưa thấy nhô đầu dọc,
                               Phận LIỄU sao đà nẩy nét ngang ?!

 

         Nữ sĩ đã chơi chữ bằng cách chiết tự rất lý thú và lí lắt như sau :

         Duyên THIÊN 天 là duyên trời run rủi, chưa thấy nhô đầu dọc, là chưa thành chữ PHU 夫, nghĩa là chưa có chồng.
        Phận LIỄU 了 (là Liễu bồ, là Phận gái) sao đà nẩy nét ngang ? Chữ LIỄU 了 mà " nẩy " nét ngang thì sẽ thành chữ TỬ 子 là CON. Nên 2 câu thơ trên có nghĩa :

 

                              Duyên trời nào thấy đâu run rủi,
                              Phận gái sao đà đã có con ?

 

        Trong dân gian Nam Kỳ Lục Tỉnh, ở Cái Răng Ba Láng Vàm Xán Phong Điền... quê tôi, lúc nhỏ tôi cũng thường nghe bà con lối xóm hát rằng :


                               Không chồng có chửa mới ngoan,
                           Có chồng có chửa thế gian sự thường !

 

        Về chữ LIỄU 了 là Kết thúc, kết liễu, đồng âm với chữ LIỄU 柳 là Dương Liễu chỉ phái nữ mềm yếu dịu dàng ẻo lả như nhánh liễu. Ở đây, Hồ Xuân Hương đã chơi chữ bằng cách sử dụng từ Đồng Âm để đánh đồng 2 chữ Liễu theo âm Hán Việt. Chớ chữ Liễu là Dương Liễu thì làm sao có được nét ngang mà "nẩy" ?!

 

        Thiên 天 là Trời, chữ đầu tiên trong sách Tam Thiên Tự 三千字 của soạn giả Đoàn Trung Còn khi mới bắt đầu học chữ Nho hồi xưa :

 

        天 Thiên trời, 地 Địa đất, 舉 Cử cất, 存 Tồn còn, 子 Tử con, 孫 Tôn cháu, 六 Lục sáu, 三 Tam ba, 家 Gia nhà, 國 Quốc nước, 前 Tiền trước, 後 Hậu sau...

                    
       
Thiên 天 là Trời, là phần không gian cao ngất ở trên đầu ta, nhưng trong dân gian theo tín ngưỡng của người dân Đông Á chịu ảnh hưởng của Nho Thích Đạo, thì Trời là thế giới của cỏi trên, có đủ các thành phần Tiên Phật Thần Thánh của thượng giới, và có đời sống giống như ở dân gian, đứng đầu là Ngọc Hoàng Thượng Đế mà ta quen gọi là Ông Trời, và ông Trời hiện diện đầy đủ trong các mặt vui buồn của cuộc sống con người, ta vẫn thường nghe các câu :

                      - Vui qúa Trời !

                      - Buồn qúa Trời !

                      - Sướng qúa Trời !

                      - Khổ qúa Trời !....

          Vui buồn sướng khổ gì đều kêu Trời cả ! Nên theo truyện cổ tích dân gian thì ... Ngày xửa ngày xưa, ông Trời ở rất gần ta, chỉ cao khỏi ba xào một chút mà thôi, nhưng vì hễ động một chút là người ta kêu Trời : Hôm nay ăn no qúa Trời; Con đói qúa Trời ơi ! Cái con nhỏ đó đẹp qúa Trời ! Nhỏng nhẻo qúa Trời; Thấy "ghét" qúa Trời đi !... Nhất nhất cái gì cũng kêu Trời, kể cả "Con mắc  ...  qúa Trời ơi !". Nên ... Ông Trời nghe thét rồi chán qúa mới "vọt" tuốt lên 9 từng mây mà ở trển luôn cho yên thân ! Chẳng những giới bình dân kêu trời, mà trong văn chương trí thức cũng kêu trời, như Vương Viên Ngoại trong Truyện Kiều, khi biết cô Kiều đã bán mình, ông cũng đã kêu lên :

 

                                  Trời làm chi cực bấy Trời,

                            Này ai vu thác cho người hợp tan !?

 

hay lúc cô Kiều kể cho Vương Bà nghe về nhân cách của Mã Giám Sinh "Gẫm ra cho kỹ như hình con buôn" thì :

                    

                                 Vương Bà nghe bấy nhiêu lời, 
                            Nỗi oan đã muốn vạch Trời kêu lên.

  

hay khi bị Sở Khanh gạt, rồi còn muốn hành hung nữa, thì cô Kiều cũng đã kêu trời :

 

                             Nàng rằng : Trời nhé có hay !

                             Quyến anh rủ yến sự này tại ai ?

                             Đem người đẩy xuống giếng khơi,

                             Nói lời rồi lại ăn lời được ngay !

                                         

        Thiên 天 là Trời, là phần đầu của con người như chữ Tượng Hình Hội Ý đã nói ở phần trên, nên trong sách tướng số gọi cái trán là Thiên Đình 天庭, phần giữa trán gọi là Thiên Môn 天門 và phần xương phía trên trán gọi là Thiên Linh 天靈, nên ta mới có từ Thiên Linh Cái 天靈蓋 là cái Mỏ Ác. Lúc còn bé thì phần Mỏ Ác nầy chỉ là một lớp sụn rất mềm, nên người lớn bắt nạt con nít hay nói câu : "Coi chừng tao cú cho một cái lủng Mỏ Ác bây giờ !". Khi lớn, Mỏ Ác đã cứng khó mà "cú" cho lủng, thì lại trở thành "cứng đầu cứng cổ"!.

 

               

 

       

 

 

 

 

 

 

 

 

Từ Thiên Linh Cái 天靈蓋 còn tượng trưng cho cả Cái Đầu, cái Xương Sọ hoặc cái Đầu Lâu, như các thầy Pháp, thầy Phù Thủy luyện Thiên Linh Cái là chuyên sưu tập đầu lâu và xương sọ của các cô gái đã chết và như trong truyện "Trang Tử Cổ Bồn Ca 莊子鼓盆歌", mà ta quen gọi là truyện "Trang Tử Thử Vợ", thì  Thiên Linh Cái tượng trưng cho cái đầu với nội dung  câu truyện như sau :

 

         Trang Tử tên Chu 周 ( Châu ), tự là Tử Hưu 子休, người nước Tống 宋 thời Chiến Quốc (690-286 TCN), cùng vợ là Điền Thị ẩn cư ở phía nam núi Hoa Sơn. Một hôm, trên đường về nhà, trông thấy một thiếu phụ dùng quạt để quạt một nấm mộ bên đường. Trang Tử thấy lạ bèn hỏi, thiếu phụ cho biết là mộ của chồng mình, vì khi còn sống hai vợ chồng rất thương yêu nhau, nên có hẹn nhau là khi chồng chết, thì sau tang lễ, phải đợi cho mộ khô rồi mới tái giá, nhưng gần đây mưa gió cứ dập dìu, mộ không khô được, nên phải quạt cho mộ mau khô ! Trang Tử nghe nói, thầm cười cho thế thái nhân tình nhưng cũng thi triển pháp lực giúp thiếu phụ quạt khô mộ chồng. Khi về nhà, đem truyện kể lại với vợ là Điền Thị, Điền Thị vô cùng phẫn nộ, chê trách thiếu phụ và bảo rằng : " Trung thần bất sự nhị quân, Liệt nữ bất sự nhị phu 忠臣不事二君,烈女不事二夫 ". Có nghĩa " Tôi trung không thờ hai chúa, gái tiết liệt chẳng lấy hai chồng ". Mấy tháng sau, Trang Tử bệnh chết, có một thiếu niên anh tuấn dắt theo một lão bộc, tự xưng là Vương tôn của nước Sở, vì mộ tiếng của Trang Tử mà tìm đến để theo học đạo. Nay tuy Trang Tử đã mất, nhưng cũng nguyện thủ tang theo lễ thầy trò, ở lại cư tang một trăm ngày và để đọc Nam Hoa Kinh của Trang Tử. Điền Thị rất vui dạ vì cảm cái vẻ cao sang tuấn tú của Vương tôn, mới nhờ lão bộc làm người mai mối, rồi xuất tiền lo cho hôn sự của hai người. Đêm động phòng hoa chúc, Vương tôn bỗng phát bệnh đau tim, thoi thóp sắp đứt hơi. Lão bộc cho biết là nếu có óc của người sống hoặc của người chết chưa quá bốn mươi chín ngày hòa với rượu uống vào thì khỏi bệnh. Điền Thị bèn xách búa bổ quan tài của Trang Tử định lấy óc ra làm thuốc cứu mạng Vương Tôn.. Không ngờ khi quan tài vừa vỡ ra thì Trang Tử cũng vừa sống lại. Điền Thị cả thẹn, biết mọi việc đều do Trang Tử biến hóa an bày, nên treo cổ mà chết. Trang Tử gỏ bồn làm nhịp ca bài điếu tang rồi cảm khái ngâm rằng :

 

           從茲了卻冤家債, Tòng tư liễu khước oan gia trái,
          你愛之時我不愛。 Nhĩ ái chi thời ngã bất ái.
          若重與你做夫妻, Nhược trùng dữ nhĩ tố phu thê,
          怕你斧劈天靈蓋。 Phạ nhĩ phủ phách Thiên Linh Cái.
Có nghĩa :
             Từ nay đã hết nợ oan gia,
             Nàng bảo yêu, ta hết thiết tha.
             Tiếp tục vợ chồng như thuở trước,
             Có ngày búa bổ vỡ đầu ta.

 

        Ngâm xong, nổi lửa đốt sạch nhà cửa quan tài ở dưới núi Hoa Sơn rồi đi mất. Dân chúng quanh vùng chỉ nhặt lại được hai quyển Đạo Đức Kinh và Nam Hoa Kinh chưa bị thiêu rụi mà thôi.

 

         "Phủ phách Thiên Linh Cái" là búa bổ cho vỡ sọ đầu ra ! Đây là chuyện "Trang Tử Thử Vợ" thường tình của " cải lương ", của phim ảnh theo như truyện kể của dân gian đời Tống (960-1279), những người theo Tống Nho dùng để khuyến thế răn đời, chớ con người cao khiết siêu thoát với tư tưởng của Lão Trang như Trang Tử sao lại có thể dùng tiểu xảo gài bẫy để thử vợ một cách không quang minh chính đại như thế !?

 

        Trở lại với Thiên 天 là Trời, trong Nho Giáo THIÊN 天 không phải là Ông Trời, mà là Thiên Lý 天理 là cái Lẽ Trời, nói theo bình dân, là Cái Lý Lẽ tự nhiên công bằng chính trực, chí công vô tư, chí cao vô thượng của Trời, nên cái gì hợp với tự nhiên của nhân tình thế thái thì cái đó là ... Thiên. Ví dụ như :  

     - Thiên Lương 天良: là Tấm lòng lương thiện ngay thẳng bẩm sinh của trời ban, là cái Lương Tâm vốn có của con người, mà cụ Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu đã gán cho mình cái nghĩa vụ thiêng liêng là phải phổ biến, gợi mở, khơi dậy cái thiên Lương ở trong lòng mỗi người, nên ông mới mượn bài thơ " Hầu Trời " để nói thác :


             Trời rằng : " Không phải là Trời đày,
             Trời định sai con một việc này
             Là việc "thiên lương" của nhân loại,
             Cho con xuống thuật cùng đời hay"... 


   - Thiên Bình 天平: là Sự cân bằng thẳng hàng không thiên lệch về bên nào cả, là biểu tượng của Cán Cân Công Lý ở các tòa án, pháp đình, và là cái cân có 2 dĩa cân của các tiểu thương buôn bán ở ngoài chợ, một bên để trái cân một bên để hàng hóa lên đến khi nào cân bằng thì thôi. Nên... Thiên Bình là sự bình đẵng tự nhiên của trời, sự công bằng không thiên lệch cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng.       

                                

     Biểu tượng cái cân của tòa án ngầm bảo rằng mọi người đều bình đẵng trước pháp luật và trước... Trời !

 

   - Thiên Võng 天網: là Cái Lưới của Trời, nó không phải là cái lưới có thật, mà nó là biểu tượng của cái công cụ bảo vệ công lý của trời. Ai làm trái cái lý trời thì sẽ bị cái lưới nầy tóm lấy để trừng trị, như câu nói sau đây :


              Chủng qua đắc qua,     種瓜得瓜,
              Chủng đậu đắc đậu.     種豆得豆,
              Thiên võng khôi khôi,   天網恢恢,
              Sơ nhi bất lậu !            疏而不漏。

Có nghĩa :
              Trồng dưa thì được dưa,
              Trồng đậu thì được đậu.
              Lưới trời lồng lộng,
              Tuy thưa nhưng không lọt !
     Ý muốn nói, gieo nhân nào sẽ gặt qủa nấy, làm lành sẽ gặp lành, làm ác sẽ gặp ác, không sai chạy bao giờ, chỉ sớm hay muộn mà thôi !

 

 

      Ông trời luôn luôn đứng về phía người hiền, người lương thiện, nên Tăng Quảng Hiền Văn cũng có câu :


            Nhân hữu thiện nguyện,   人有善願,
            Thiên tất hựu chi !            天必祐之!
Có nghĩa :
            Người mà có những ước nguyện tốt lành, thì...
            Trời sẽ phù trợ ủng hộ cho người đó !

 

    - Thiên Chức 天職 : Không phải là cái chức tước do trời ban, mà là trách nhiệm vốn có mà trời đặt để cho mỗi con người trong xã hội. Như Thiên Chức của Cha Mẹ là phải nuôi dạy con cái cho nên người, và con cái thì phải biết hiếu thảo phụng dưỡng cha mẹ...

 

   - Thiên Bẩm 天禀, Thiên Tài 天才, Thiên Phú 天賦, Thiên Tư 天資 : đều là những cái sanh ra đã có sẵn mà trời ban riêng cho người nào đó mà người khác không thể có được. Như cụ Nguyễn Du đã khen cô Kiều :


                    Thông minh vốn sẵn Tư Trời,
                Pha nghề thi họa đủ mùi ca ngâm.


           Tư Trời là Thiên Tư của trời ban cho đó !

 

      Cái gì thuộc về tự nhiên thì đều gán hết cho Trời, và được gọi là  Thiên Nhiên 天然, ví dụ như Trời Mưa, Trời Nắng, Trời Gió... và Tai họa do những thứ đó gây ra như Mưa lũ, Hạn hán, Gió bão...đều được gọi là Thiên Tai 天災, là tai họa chết chóc, đổ vỡ do trời gây ra cho con người. Song song với Thiên Tai thì Trời cũng set-up sẵn một chỗ để tưởng thưởng cho những người lương thiện, mà tôn giáo nào cũng có, đó chính là Thiên Đàng 天堂, nơi yên vui sung sướng nhất mà mọi người đều mong ước. Tất cả những hiện tượng thời tiết mùa màng xảy ra chung quanh cuộc sống con người đều là những thứ sỡ hữu của trời như câu nói :


          Thiên hữu tứ thời xuân tại thủ,       天有四時春在首,
          Nhân sanh bách hạnh hiếu vi tiên.  人生百行孝為先。
Có nghĩa :
          Trời có bốn mùa thì mùa xuân là mùa đứng đầu, còn...
          Người thì có cả trăm phẫm hạnh, hiếu là phẩm hạnh trước tiên.

 

           Ông Trời làm nên tất cả, cả thân phận của con người cũng do trời đặt để, như cụ Nguyễn Du đã nói :


                Trời kia đã bắt làm người có thân,
                Bắt phong trần phải phong trần,
                Cho thanh cao mới được phần thanh cao


      Bỉ sắc 彼嗇 thì tư phong 茲豐, có nghĩa Cái kia cạn thì cái nầy đầy, hết cơn bỉ cực thì đến ngày thái lai. Ông trời luôn bắt người ta phải " phong trần " trước, rồi mới cho " thanh cao " sau. Bắt cô Kiều phong trần mười lăm năm rồi mới cho gặp lại Kim Trọng. Thế mà khi đoàn viên lại phải cảm kích cái lòng tốt của ông trời :


              Trời còn để có hôm nay,
              Tan sương đầu ngõ, vén mây giữa trời.
              Hoa tàn mà lại thêm tươi,
              Trăng tàn mà lại hơn mười rằm xưa !


        Khéo mà nói sạo để... nịnh ông trời !

 

        Còn giới bình dân thì không khách sáo gì cả, vợ chồng cứ đẻ sòn sọt năm một, mỗi năm một đứa, nhà trên mười anh chị em là chuyện " thường tình " ở quê tôi, đời sống nheo nhóc nhưng lại rất lạc quan mà... đổ thừa cho ông trời :
           - Trời sanh trời nuôi.
           - Trời sanh voi sanh cỏ !
     Tội nghiệp cho ông trời, cứ đẻ cho đã rồi đổ thừa cho ông trời là xong ngay ! Nhưng... nói cũng lạ, " nhờ Trời " rồi tất cả cũng đều khôn lớn nên người, lắm gia đình lại còn trở nên khá giả giàu có nữa là đằng khác ! Các Thầy Đồ ta ngày xưa thường nói :


                Hữu nhi bần bất cửu,      有兒貧不久,
                Vô tử phú bất trường.     無子富不長。
Có nghĩa :
             Có con thì nghèo không lâu, vì khi lớn lên con sẽ làm ra thêm của cải.. Còn ...    Không có con thì giàu không bền, vì không có ai làm thêm của cải cho mình. Nên các Cụ cứ... đẻ thả giàn !

      

      Thiên 天 là Trời, nên Thiên Hạ 天下 là dưới gầm trời nầy, là núi non sông nước, là đất đai ruộng vườn mầu mở của dân cư, là lãnh thổ, là cương thổ mà theo quan niệm phong kiến ngày xưa thì ai có tài thao lược giỏi giang, ai có đức trị dân thì sẽ là chúa tể của cái Thiên Hạ nầy, nên mới có thành ngữ Trục Lộc Thiên Hạ 逐鹿天下, có nghĩa là Đuổi bắt con nai trong thiên hạ nầy theo xuất xứ sau đây : 

 

                  Theo "Sử Ký. Hoài Âm Hầu Liệt Truyện 史記˙淮陰侯列傳": Tần chi cương tuyệt nhi duy thỉ, sơn đông đại nhiễu, dị tính tịnh khởi, anh tuấn ô tập. Tần thất kỳ lộc, thiên hạ cộng trục chi, ư thị cao tài tật túc giả tiên đắc yên.秦之綱絕而維弛,山東大擾,異姓並起,英俊烏集。秦失其鹿,天下共逐之,於是高材疾足者先得焉。Có nghĩa :


   " Giềng mối của nhà Tần đã hết nên lỏng lẻo, đất Sơn Đông đại loạn, các họ khác đều nổi lên, anh hùng các nơi tập hợp. Tần như làm sổng mất con nai, nên thiên hạ đều cùng đuổi bắt, vì thế, ai tài giỏi và nhanh chân thì sẽ bắt đựơc." Và...
     Các lộ anh hùng lại tiêu diệt lẫn nhau, cuối cùng đưa đến thế Hán Sở Tranh Hùng, như World-cup vào đến vòng chung kết vậy ! Nên...   
     Thiên Hạ là của chung, ai giỏi thì giành được. Ngày xưa, quan niệm Thiên Hạ là đất Trung Nguyên mầu mở với dân cư đông đúc, nên thành ngữ trên còn được nói là Trục Lộc Trung Nguyên 逐鹿中原, và tại sao phải là Lộc mà không phải là con vật khác ? Vì chữ Lộc 鹿 là con Nai đồng âm với chữ Lộc 祿 là Thiên Lôc 天祿, có nghĩa là " Lộc của trời ban", chính là cái ngôi vua của Thiên Tử 天子 là con trời, vì Thiên Tử mới là người xứng đáng hưởng Thiên Lộc mà thôi !

 

       Còn "Thiên Hạ" trong tiếng Việt Nam ta là Phiếm Chỉ Đại Từ, có nghĩa là : Người ta, Người Khác hay chỉ chung Quảng Đại Quần Chúng...như :
     - "Thiên hạ" đồn rằng...
      - Đó là chuyện của "thiên hạ", đâu phải chuyện của mình.
      - Hơi sức đâu mà lo chuyện của "thiên hạ" !...

      Ông tú Vị Xuyên Trần Tế Xương trong bài tứ tuyệt "Chợt Giấc" cũng đã buồn cho thời cuộc mà lẫy rằng :
                    Nằm nghe tiếng trống, trống canh ba,
                    Vừa giấc chiêm bao chợt tỉnh ra.
                    Thiên Hạ dễ thường đang ngủ cả,
                    Việc gì mà thức một mình ta ?!

 

       Còn Thiên Hạ trong đạo Phật là cỏi Ta-Bà, là bể khổ trầm luân, nên khi Bổn sư Thích Ca Mâu Ni thác sinh làm Thái Tử Tất Đạt Đa, sau khi đi bảy bước nở ra bảy đóa hoa sen thì một tay chỉ Trời, một tay chỉ đất và nói câu : Thiên Thượng Thiên Hạ Duy Ngã Độc Tôn 天上天下唯我獨尊, có nghĩa : " Trên trời dưới trời duy chỉ có TA là tôn qúy ". Cái TA hay cái NGÃ đó chính là Chân Ngã 真我, là Pháp Thân 法身 thường trụ, không bao giờ hoại, bao trùm khắp không gian và thời gian mà chúng sinh đều có. TA đó chính là Phật Tánh 佛性, là Chân Tâm 真心 để giải thoát cho tất cả mọi loài khỏi trầm luân trong bể khổ của cái Thiên Hạ Ta-Bà nầy ! Chính cái Phật Tánh đó là Thiên Hạ độc tôn, chớ không phải Đức Như Lai tự cho mình là độc tôn trong Thiên Hạ.

 

     Trong quyển tiểu thuyết võ hiệp nổi tiếng của Kim Dung là " Thiên Long Bát Bộ " có một nhân vật nữ theo Đạo Gia là Thiên Sơn Đồng Mỗ, nhưng lại tu tập môn võ công của Phật Gia là " Thiên thượng thiên hạ duy ngã độc tôn Công " rất lợi hại, bà ta cầm đầu và khống chế cả 81 Động và 72 Đảo võ lâm bàng môn tả đạo đều phải nghe theo lệnh của bà ta răm rắp .  

 

       Còn Thiên Hạ của Đạo Giáo 道教 (Lão Giáo) là Cỏi Hồng Trần 紅塵, nơi bụi bặm mịt mù mà con người chỉ là những cái hình chiếu từ cuộc sống thực tế ở trên trời, như Ôn Như Hầu Nguyễn Gia Thiều đã viết trong Cung Oán Ngâm Khúc là :
                     Cái quay búng sẵn trên trời,
                Mờ mờ nhân ảnh như người đi đêm !
nên con người phải biết tu tập theo đạo pháp để trở về với cuộc sống thực ở trên trời, tức là thành Tiên để về nơi Thượng Giới !

 

       Thiên Hạ của ngày nay là Năm Châu Bốn Bể, là bề mặt của qủa địa cầu nầy, là cả thế giới như bài học thuộc lòng ngày xưa của lớp Đồng Ấu :

 

               ... Người bốn giống : đen, vàng, đỏ, trắng,
                  Trời bốn phương : nam, bắc, đông, tây.
                  Đi cho biết đó biết đây,
                  Ở nhà với mẹ biết ngày nào khôn ?!

 

       Thiên 天 là Trời, khi nào thì ta thấy được trời : Ban Ngày, nên Thiên 天 là Ban Ngày, như Tam Thiên Tam Dạ 三天三夜 là Ba ngày ba đêm. Thiên còn có nghĩa là Ngày, nên Kim Thiên 今天 là ngày hôm nay; Khi trời sáng trở lại là ngày hôm sau, nên Minh Thiên 明天 là ngày mai...  

        Thiên còn có nghĩa là Thời Tiết, Mùa Màng, như : Thiên Vũ 天雨 là Trời mưa, nhưng Vũ Thiên 雨天 là Mùa Mưa. Tương tự, Thiên Tình 天晴 là Trời nắng, Tình Thiên 晴天 là Mùa nắng. Như thời tiết ở Miền Nam nước ta, mỗi năm chỉ có 2 mùa Mưa và Nắng, theo như câu nói :
                   Tứ thời vô xuân hạ,         四時無春夏,
                   Nhất vũ tiện thành thu.   一雨便成秋。
Có nghĩa :
            Bốn mùa không có xuân hạ gì cả, hễ...
            Mưa xuống một cái thì thành mùa thu ngay !

 

        Thiên còn là cái gì cao quý nhất, cần thiết nhất, như câu nói trong sách Hán Thư 漢書 : Vương giả dĩ dân vi thiên, nhi dân dĩ thực vi thiên 王者以民為天,而民以食為天. Có nghĩa : " Bậc vương giả lấy dân làm cao nhất, còn dân thì lấy cái ăn làm cao nhất."

 

   

 

 

 

 

                             


       Ý nói : Vua thì coi dân là cần thiết nhất, vì không có dân thì làm vua với ai đây ? Còn dân thì coi cái ăn là cần thiết nhất, vì không có cái ăn thì làm sao mà sống ?! Câu nói nầy thường hay bị nói sai thành : Dân dĩ thực vi TIÊN 民以食為先, có nghĩa : Dân thì lấy cái ăn làm trước hết. Sai mà không Sai, chỉ là một cách nói khác đi mà thôi, nhưng ý của chữ TIÊN 先 không mạnh bằng ý của chữ THIÊN 天 là Trời, là Cao nhất, là Cần thiết nhất.  

 

       Thiên 天 là Trời, Thăng Thiên 升天 là Lên trời, Phi Thiên 飛天 là Bay lên trời, còn Quy Thiên 歸天 là Về trời, là chết. Nhưng không phải ai chết cũng được về trời, vì trời chỉ có 9 tầng mà thôi, ta hay nghe nói Cửu Trùng Thiên 九重天, còn địa ngục thì có tới 18 tầng lận, gấp đôi số tầng của trời. Điều nầy cho thấy là ở trên đời người xấu nhiều gấp đôi người tốt, nên Địa Ngục phải xây 18 tầng mới đủ chỗ chứa !   

      Về từ Cửu Trùng Thiên 九重天, ngoài nghĩa là 9 tầng trời ra, Cửu Trùng Thiên còn được dùng để chỉ ông vua thời phong kiến ngày xưa, như 2 câu thơ mở đầu trong bài thơ Tả Thuyên chí Lam Quan thị điệt tôn Tương 左遷至藍關示侄孫湘 của Hàn Dũ đời Đường :
            Nhất phong triêu tấu Cửu Trùng Thiên,   一封朝奏九重天,
            Tịch biếm Triều Dương lộ bát thiên.        夕貶潮陽路八千 .
Có nghĩa :
            Buổi sáng trình lên nhà vua một phong tấu sớ,
            Buổi chiều bị đày đi Triều Dương xa tám ngàn dặm đường.

 

            Cửu Trùng Thiên 九重天 là Vua, còn được gọi là Đấng Cửu Trùng, hay Cửu Trùng mà trong tiếng Nôm ta gọi là Chín Tầng, như câu thơ trong đoạn mở đầu của Chinh Phụ Ngâm do Nữ sĩ Đoàn Thị Điểm diễn Nôm :


               Trống Trường Thành lung lay bóng nguyệt,
               Khói Cam Tuyền mờ mịt thức mây.
               CHÍN TẦNG gươm báu trao tay,
               Nửa đêm truyền hịch định ngày xuất chinh.

 

       Thiên còn là Thiên Thời 天時, ngoài nghĩa chỉ Thời tiết mùa màng ra, Thiên Thời còn có nghĩa là Thời Cơ của Trời, là cái cơ trời vận hành đến một lúc nào đó, như Thúy Vân đã phân bua :


                       Cơ Trời dâu bễ đa đoan,
               Một nhà để chị riêng oan một mình !


       Ta thường nghe câu nói trong sách Mạnh Tử là "Thiên thời bất như địa lợi, địa lợi bất như nhân hòa 天時不如地利,地利不如人和". Có nghĩa : Thời cơ của trời không bằng lợi thế của đất, cái lợi thế của đất không bằng cái hòa đồng hòa hợp của con người. Ví dụ như :    

        Fifa World-cup 2018 kỳ rồi tổ chức ở Russia, nên đội bóng Nga có lợi thế về THIÊN THỜI là đã quen với thời tiết giá lạnh của xứ mình; ĐỊA LỢI vì được đá ở sân nhà; NHÂN HÒA vì có cổ động viên đông nhất so với các đội bóng khác. Nên đội Nga đã thắng đậm ngay trận đầu 5-0 trước Saudi Arabia và đi một lèo đến Tứ Kết, trở thành 8 đội bóng mạnh nhất hành tinh ! 

 

          Thiên thời 天時, Địa lợi 地利, Nhân hòa 人和 còn được nói thành Thiên Tường 天祥, Địa Nghi 地宜, Nhân Thuận 人顺. Có nghĩa :
     * Thiên Tường 天祥 : là cái Điềm lành của trời, là cái mặt tốt về thời cơ, thời vận, là Thiên Thời đó.
     * Địa Nghi 地宜 : là cái Tiện nghi của đất, của cái nơi mà ta định làm hay cái chỗ mà sự việc xảy ra, là Địa Lợi đó. 
     * Nhân Thuận 人顺 : là Nhân sự được suông sẻ, mọi người đều đồng ý, không ai chống đối, là Nhân Hòa đó.

 

       Nhưng đối với bà con lối xóm ở quê tôi thì THIÊN TƯỜNG là " Thương Tiền ", từ dùng để chỉ những người keo kiệt hà tiện mà tham lam chỉ biết có TIỀN, cả câu như thế nầy :

 

                     " Thiên tường tác biệt hựu thu sương ".

Có nghĩa là :  " Thương tiền, Tiếc bạc lại Thương xu ".

 

        Có một câu chuyện vui kể rằng : Có ông trưởng giả nhà quê nọ mời bạn ăn mừng thọ lục tuần. Thiệp mời có kèm theo môt câu như thế nầy : Sách có câu chữ rằng " Xuân đình hiền tạ tống mặt khơi ". Câu sách đó có nghĩa là : " Xin đừng hà tiện tới mặt không !".

   

       Cái Thời Cơ của Trời, chính là cái Thiên Lý  đã được đề cập ở phần đầu bài viết nầy, nói lên cái lý lẽ công bằng tự nhiên của Trời, như câu : 


                     Tử sinh hữu mệnh,   死生有命,
                     Phú quý tại thiên.     富貴在天.
Có nghĩa :
                Chết sống đều có số mạng,
                Giàu sang là do trời ban.
  ... và không phải ai cũng được trời ban, phải đúng với cái lẽ trời thì mới được, như trong Minh Tâm Bửu Giám ghi lại câu nói nổi tiếng của Khổng Minh Gia Cát Lượng là :  


               Mưu sự tại nhân,                       謀事在人,
               Thành sự tại thiên.                    成事在天,
               Nhân nguyện như thử như thử,  人願如此,如此,
               Thiên lý vị nhiên vị nhiên !         天理未然,未然!

Có nghĩa :
              Mưu tính công việc là ở người, còn...
              Thành công hay thất bại là do trời,
              Người muốn như thế nầy, như thế nầy đây, nhưng...
              Cái lẽ trời cho biết là còn chưa được, còn chưa được ! 

 

                    Gia Cát Khổng Minh là người giỏi cả binh thư thao lược, trên thông thiên văn dưới thông địa lý, mang chí lớn muốn khôi phục lại nhà Hán, lập rất nhiều công lớn trong việc giúp Lưu Bị tam phân thiên hạ, lập nên nhà Thục Hán, nhưng lục xuất Kỳ Sơn đều thất bại, cuối cùng đành ôm hận mà chết với câu than bất hủ là " Mưu sự tại nhân, thành sự tại thiên " như đã nêu trên.

 

       Con người khi còn nằm trong bụng mẹ, chưa được sanh ra, chưa thấy trời, thì gọi là Tiên Thiên 先天. Được sanh ra rồi, mở mắt đã thấy trời rồi, thì gọi là Hậu Thiên 後天. Hằng ngày phải đầu tắt mặt tối đội trời để làm việc kiếm sống, thì gọi là Thiên Thiên 天天. Vui vẻ trong cuộc sống thì gọi là Lạc Thiên 樂天. Buồn thảm trong cuộc sống thì gọi là BiThiên 悲天. Khi nhắm mắt xuôi tay rồi thì gọi là Quy Thiên 歸天. Tuổi thọ và những năm tháng mà ta có được gọi là Thiên Niên 天年, là những ngày tháng của Trời ban cho.


     Mong rằng tất cả đều quy thiên 歸天 trong cái tâm tình lạc thiên 樂天 để đều được vui  hưởng những thiên niên 天年 tuyệt vời trong cuộc sống !

 

                                                                                                杜紹德

                                                                                            Đỗ Chiêu Đức

DCD_Thien4.JPG
DCD_THo.JPG

THỔ 土 là ĐẤT, đất là ĐỊA 地, trong chữ Địa có Bộ Thổ, nên Địa cũng là Đất. Ta có từ kép Thổ Địa 土地 là Đất Đai. Thổ cũng thuộc một trong 214 bộ của CHỮ NHO... DỄ HỌC, theo diễn tiến của chữ viết như sau :


         

 

 

 

 

 

 

 

 

Ta thấy :
        Từ Giáp Cốt Văn cho đến Đại Triện đều là hình tượng của một mô đất trên mặt đất, nên Thổ vừa là chữ Tượng Hình vừa là chữ Chỉ Sự, chỉ một đống đất trên mặt đất, đến Tiểu Triện thì các nét mới được kéo thẳng ra thành biểu tượng của chữ viết, cho đến Chữ Lệ thì mới hoàn chỉnh như chữ viết hiện nay THỔ 土 là ĐẤT.

 

         Có tất cả 463 chữ được ghép bởi bộ Thổ nầy để chỉ những gì có liên quan đến Thổ là Đất. Ta có các từ về Thổ là Đất rất lý thú và cũng không kém phần rắc rối như sau :


  - Thổ Địa 土地 : là Đất Đai, chỉ tất cả các loại đất trên đời nầy.
  - Thổ Nhưỡng 土壤 : cũng là Đất Đai, chỉ tất cả các loại đất dùng để trồng trọt.
  - Thổ Cư 土居 : chỉ tất cả các loại đất dùng để ở.
  - Thổ Canh 土耕 : là tất cả các loại Đất dùng để canh tác, làm ruộng.
  - Thổ Trạch 土宅 : là tất cả các loại Đất dùng để cất nhà ở, biệt thự.
  - Thổ Mộ 土墓 : là tất cả các loại Đất dùng để chôn cất người trong gia tộc, còn gọi là Đất Hương Hỏa, là đất dùng để lo nhang đèn hương khói cho người thân đã chết.   

 

          Theo Tử Vi đẩu số ta còn có 6 loại đất sau đây :


  * Lộ Bàng Thổ 路旁土 : Đất bên đường.
  * Thành Đầu Thổ 城頭土 : Đất đầu thành.
  * Ốc Thượng Thổ 屋上土 : Đất trên mái nhà.
  * Bích Thượng Thổ 壁上土 : Đất trên vách.
  * Đại Trạch Thổ 大澤 土 : Đất trong đầm lầy lớn.
  * Sa Trung Thổ 沙中土 : Đất trong cát.
  và...
          Mặc dù Mộc khắc Thổ, cây cối mọc lên hút hết chất bổ của đất làm cho đất trở nên cằn cỗi, và cây gỗ để ở dưới đất lâu ngày sẽ bị đất làm cho mục nát hết. Cái nầy kêu bằng tương khắc với nhau, nhưng...
          Lộ Bàng Thổ (đất ven đường), Đại Trạch Thổ (Đất trong đầm lầy lớn) và Sa Trung Thổ (Đất pha cát) không sợ Mộc, vì cây không sống giữa đường cái quan hay trên bãi cát, đầm lầy. Cả ba hành Thổ này nếu gặp Mộc không khắc dù Mộc khắc Thổ, trái lại còn có đường công danh, tài lộc thăng tiến không ngừng.

          Thành Đầu Thổ (Đất đầu thành), Bích Thượng Thổ (Đất trên vách) và Ốc Thượng Thổ (Đất mái nhà) đều sợ Mộc, nhất là Tang Đố Mộc, Thạch Lựu Mộc, như thân tự chôn xuống mộ. Ba hành Thổ này tuy không sợ Bình Địa Mộc, Đại Lâm Mộc, Tùng Bách Mộc nhưng không bền vững vì hình kỵ.

 

                     

          

         

 

 

 

 

 

   Thổ là Đất, giá trị của đất tăng theo tỉ lệ thuận với số lượng của đất, chưa có một vật chất nào có giá trị từ số không, rồi sau đó cứ tăng dần đến vô tận như đất cả ! Hốt một nắm đất cho không, không ai thèm lấy cả, mặc dù họ không có đất để cắm dùi, nhưng nếu cho một vuông đất để che chòi ở, để cất nhà, thì không ai nở... từ chối cả ! Và cứ thế tăng dần, một công đất để trồng rẩy, một mẫu đất để cày ruộng... cho đến một xã, một làng, một huyện, một tỉnh, một nước... giá trị của đất cứ tăng mãi đến vô cực là... Trái Đất, là cả Quả Địa Cầu nầy !  

 

        Ông bà ta nói:
                  Tiền tài như phân thổ,        錢財如糞土,
                  Nhân nghĩa trị thiên kim.    仁義值千金。
Có nghĩa :
           Tiền của tài sản như phân như đất,
           Nhân nghĩa mới đáng giá ngàn vàng.
là ý ông bà muốn đề cao nhân nghĩa mà xem nhẹ tiền tài, tiền tài chỉ như phân như đất mà thôi, cũng như lời cô Kiều đã nói với Kim Trọng khi biết Kim đã nhặt được chiếc kim thoa của mình :


                        Chiếc thoa là của mấy mươi,
                 Mà lòng trượng nghĩa khinh tài xiết bao !

 

         Nhưng người đời thường xem trọng kim tiền hơn nhơn nghĩa, nên câu nói trên còn được bà con bình dân  sửa lại một cách mĩa mai như sau :


                     Tiền tài như.... ông tiên tổ,
                     Nhơn nghĩa tợ... cục cứt khô !


        Ông bà ta lại dạy rằng : "Tấc đất là tấc vàng" để con cháu biết quý trọng cái cuộc đất mà ta đang sở hữu, nếu biết sử dụng đất một cách thích đáng, biết bỏ công sức lao động canh tác trồng trọt, thì "tấc đất sẽ cho một tấc vàng" như chơi mà thôi !


       Nhớ khi xưa cái miếu Thổ Địa ở đầu làng quê tôi có đôi câu đối như sau :

 

                     THỔ năng sanh bạch ngọc,       土能生白玉,
                    ĐỊA khả xuất hoàng kim.          地可出黃金。
Có nghĩa :
              Đất có thể sanh ra ngọc trắng, và
              Đất cũng có thể cho ra vàng ròng !


      Hạt ngọc trắng ở đây chính là hạt gạo trắng ngần đã nuôi sống chúng ta hàng ngày, còn vàng ròng sẽ có được nếu chúng ta chịu cày sâu cuốc bẫm. Đất chẳng những cho ta chỗ ở, cho ta việc làm, còn cho ta cái ăn cái mặc nữa, nên ông bà ta rất coi trọng đất và luôn quan niệm rằng : " Đất có Thổ Công, sông có Hà Bá ". Thổ Công là ông thần đất, còn được gọi là Thổ Thần, nên khắp cả các thôn làng, nơi nào cũng có Thổ Công của nơi đó, và ông thần đất nầy cũng luôn luôn được cúng tế đầy đủ ở bất cứ lễ lạc nào. Trong Truyện Kiều tả lúc Bạc Hạnh thành thân với cô Kiều, cụ Nguyễn Du cũng đã viết :    

               
                               Bạc sinh qùy xuống vội vàng,
                     Qúa lời nguyện hết Thành Hoàng Thổ Công.


     Câu đối thường thấy nhất của các miếu Thổ Thần ở vùng Nam Kỳ Lục Tỉnh quê tôi là :


                      土旺人從旺,     Thổ vượng nhân tòng vượng,
                      神安宅自安。     Thần an trạch tự an.
Có nghĩa :
            Đất có vượng thì người cũng sẽ vượng theo, và...
            Thần có được yên ổn, thì nhà cũng sẽ tự nhiên được yên ổn mà thôi !

 

       Thổ ngoài nghĩa là Đất ra, còn có nghĩa là : Cái gì đó thuộc về bản xứ, bản địa. Ta quen miệng gọi là đồ lô-can (local). Bây giờ thì Thổ được sử dụng như là một Hình Dung Từ (Tính Từ), như :


  - Thổ Dân 土民 : Dân cố hữu của một địa phương hay của một vùng nào đó. Ví dụ : Thổ Dân của Châu Mỹ là những Bộ tộc mọi Da Đỏ chẳng hạn...
  - Thổ Sản 土產 : là Đặc sản riêng của một vùng nào đó , Như Thổ Sản của Lái Thiêu là Sầu Riêng chẳng hạn...

  - Thổ Cẩm 土錦 : là Gấm được dệt ở địa phương, là Gấm nội hóa.
  - Thổ Âm 土音 : là Tiếng nói và Âm sắc riêng của địa phương nào đó. Như Giọng Bắc, Giọng Huế, Giọng Nam của ta vậy...
  - Thổ Hào 土豪 : là Cường hào ác bá ở địa phương.
  - Thổ Phỉ 土匪 : là các phe nhóm băng đảng cướp bóc ở địa phương.
  - Thổ Công 土公 : là Ông Thần Đất của địa phương nào đó như ta đã nói ở trên...

  - Thổ Quan 土官 : là Ông quan ở địa phương, như Trưởng thôn, Trưởng Làng, hay cao hơn là Tri Châu, Tri Huyện... Như trong Truyện Kiều, Hồ Tôn Hiến sau khi ngủ với Thúy Kiều một đêm rồi sợ mang tiếng " Quan trên ngó xuống người ta trông vào ", nên sáng ngày mới ép nàng lấy Thổ Quan : 


                            Lệnh quan ai dám cãi lời,
                     Ép tình mới gán cho người Thổ Quan.

 

        Thổ còn là cái Phong Thổ 風土, là phong thủy thổ nhưỡng, phong tục tập quán, là nếp sống của một địa phương nào đó, mà người ta thường gọi là Phong Thổ Nhân Tình 風土人情, Đi đến đâu, ta cũng phải tìm hiểu cái phong thổ nhân tình của nơi đó để dễ dàng hòa nhập vào nếp sống của địa phương đó.

       Ngoài Phong Thổ, ta còn có Thủy Thổ 水土, là Nước và Đất của một nơi nào đó kể cả khí hậu thời tiết nắng mưa của nơi đó luôn. Nếu không hợp với Thủy Thổ của nơi đó sẽ làm cho con người sanh ra bệnh hoạn, súc vật thì gầy còm, cây cỏ thì èo ọt... như câu chuyện ứng đối lý thú của Tướng quốc nước Tề với vua nước Sở thời Xuân Thu Chiến Quốc như sau :

      
      Yến Anh 晏嬰, còn được gọi là Án Anh, người đời sau tôn trọng ông, nên còn gọi là Án Tử, ông sinh năm 578 TCN ở Sơn Đông, mất năm 501 TCN ở Truy Bác, tự Bình Trọng là một nhân vật lịch sử nổi tiếng, sống và làm quan ở hai triều vua Tề Trang Công và Tề Cảnh Công thời Xuân Thu Chiến Quốc. Ông có dáng thấp nhỏ như đứa bé, nhưng có trí tuệ thông minh và là một vị quan có tài ứng đối giỏi của nước Tề.

       Một lần Án Tử vâng lệnh vua Tề đi sứ sang nước Sở. Vua Sở định làm nhục để thử tài của Án Tử, nên sau khi ban rượu, thì cho lính dẫn một người bị trói đi ngang qua. Vua Sở mới hỏi là người đó phạm tội gì ? Lính đáp, đó là một người ở nước Tề, phạm tội ăn trộm ngựa. Vua Sở bèn cười mà quay sang hỏi Án Tử là : "Người nước Tề hay ăn trộm lắm hay sao ?". Án Tử mới đứng dậy chắp tay thưa rằng : "Thần nghe nói, cây quít trồng ở phương bắc thì cho trái to và ngọt, nhưng khi đem trồng ở phương nam thì lại cho trái nhỏ và chua, là bởi vì đâu ? Đó là đều do Thủy Thổ mà ra cả ! Nay người nước Tề ở nước Tề thì không trộm cắp, sang qua ở nước Sở lại sinh ra trộm cắp, thần nghĩ chắc cũng do cái Thuỷ Thổ bất đồng mà sinh ra như thế chăng ?! ". Vua Sở cười rằng : " Ta vì muốn nói chơi mà bị nhục ! ". Thế mới biết kẻ cả không nên nói chơi bao giờ !

 

           Thổ là Đất, mà đất còn là quê hương đất nước. Cố Thổ 故土 là Cố Hương 故鄉, là quê cũ, quê xưa, quê nhà , là Cố Quốc 故國, là nơi chôn nhau cắt rốn, là nơi mà ta được sinh ra và lớn lên, như trong bài Độ Long Vĩ Giang 渡龍尾江 của cụ Nguyễn Du :


                   故國回頭淚,   Cố quốc hồi đầu lệ,
                   西風一路塵。   Tây phong nhất lộ trần.
Có nghĩa :
                       Ngoảnh đầu quê cũ lệ rơi,
                  Dọc đường cát bụi tơi bời gió tây.


        Ngoảnh đầu trông lại quê hương mà khôn ngăn hai hàng lệ nhỏ. Lại thêm gió tây thổi suốt dọc đường gió bụi. Vừa qua khỏi sông Long Vĩ thì thân ta đã là người tha hương rồi... Trong Truyện Kiều, tả lúc Hoạn Thư bắt Kiều về làm nô tì, cụ Nguyễn Du cũng đã viết :

 

                        Lâm truy chút nghĩa đèo bòng,
                       Nước non để chữ tương phùng kiếp sau.
                       Bốn phương mây trắng một màu,
                       Trông vời CỐ QUỐC biết đâu là nhà.


... và như lời than của một cung nhân đời Đường qua lời thơ của Trương Hỗ 張祜 là :


                  CỐ QUỐC tam thiên lý,          故國三千里,
                  Thâm cung nhị thập niên.    深宮二十年.
Có nghĩa :
                  QUÊ CŨ ba ngàn dặm,
                  Thâm cung hai mươi năm !


       Cách xa quê hương ba ngàn dặm và bị nhốt trong cung hai mươi năm thì còn gì là tuổi xuân nữa ! Trông người lại ngẫm đến ta, chúng ta đã lưu vong ở Mỹ trên bốn mươi năm và cách xa quê hương trên hai mươi ngàn dặm, chỉ còn đợi gởi nắm xương tàn nơi " Ngoại Thổ 外土" mà thôi !

 

        Theo Ngũ hành Sinh khắc thì Thổ khắc Thủy, có nghĩa là Đất khắc chế được Nước. Nói theo binh pháp ngày xưa là Binh đến thì Tướng ngăn, Nước đến thì Đất ngăn như cụ Đào Duy Từ  đã khuyên Chúa Sãi không nhận sắc phong của vua Lê do Chúa Trịnh áp đặt, với diễn tiến câu chuyện như sau :

 

      Năm 1627, chúa Trịnh Tráng muốn lấn vào Nam bèn sai Nguyễn Khắc Minh đi sứ, mang tiếng là phong tước cho chúa Nguyễn nhưng đồng thời cũng để dò xét tình hình đàng trong. Lúc bấy giờ Đào Duy Từ là Tham Tán bèn khuyên chúa Nguyễn che giấu lực lượng và tạm nhận phong để hòa hoãn với chúa Trịnh. Chúa Trịnh cũng đồng thời đòi chúa Nguyễn cho con ra Bắc chầu, nộp 30 voi đực và 30 chiến thuyền để đi cống nhà Minh bên Trung Quốc, Duy Từ khuyên là không  thực hiện rồi bày kế cho chúa Nguyễn đắp lũy Trường Dục để phòng thủ, với ý là Binh đến thì Tướng ngăn, Nước đến thì Đất ngăn . Chúa Nguyễn nghe theo và thực hiện ngay.

       Về việc sắc phong, vào năm 1630 Duy Từ cho người làm một cái mâm đồng hai đáy bên trong đựng sắc của chúa Trịnh, trên phủ lụa vàng rồi sai Trần Văn Khuông đi sứ. Trần Văn Khuông theo lời Duy Từ dặn dò, đối đáp, dâng mâm cho chúa Trịnh, rồi kiếm cớ trốn về. Chúa Trịnh thấy sứ đoàn vội vã đi về, sinh nghi, bèn cho lục mâm đồng thì thấy tờ sắc của mình trước đó còn có kèm theo một bài thơ như sau :

                  Mâu nhi vô dịch,          矛而無剔,

                  Mịch phi kiến tích.        覔非見迹.

                  Ái lạc tâm trường,        愛落心腸,

                  Lực lai tương địch!        力來相敵 !

Có nghĩa :

                Cây mâu mà không đâm, không khều.

                Tìm mãi mà không thấy tung tích gì cả.

                Thương đến nỗi rớt cả lòng dạ ruột gan.

                Nếu dùng sức mạnh đến đây, thì sẽ đối địch với nhau mà thôi !


        Cả triều không ai hiểu là ý muốn nói gì ?!. Giai thoại kể rằng :

         Chúa Trịnh cho mời Phùng Khắc Khoan (1528 -1613, trong khi sự kiện này xảy ra năm 1630 nên không chính xác) đến hỏi thì mới vỡ lẽ, trong chữ Hán cổ, chữ MÂU 矛 viết không có dấu phết thì thành chữ DƯ 予, nghĩa là ta; Chữ MỊCH 覔 mà bỏ chữ KIẾN 見 chỉ còn lại chữ BẤT 不 nghĩa là không. Chữ ÁI 愛  nếu viết thiếu chữ TÂM 心 thì ra chữ THỤ 受 nghĩa là nhận.  Chữ LỰC  力 ghép với chữ LAI 來 sẽ thành chữ SẮC 勑  là sắc phong. Ghép 4 chữ của bốn câu trên lại ta có câu :

      Dư Bất Thụ Sắc 予 不 受 勑 ( Có nghĩa là : Ta không nhận sắc phong ). Chúa Trịnh hiểu ý là Chúa Nguyễn trả lại sắc phong, nổi giận, cho người đuổi theo sứ đoàn của Chúa Nguyễn, thì cả sứ đoàn của Trần Văn Khuông đã đi xa rồi !

      Chuá Trịnh cả giận cử binh hỏi tội, nhưng đụng phải lũy Trường Dục của Đào Duy Từ, nên bị Chúa Nguyễn đánh cho thua chạy tơi bời ! 

                  

 

         Đào Duy Từ được tiếng là nhà chính trị quân sự, vừa là thầy giáo, vừa là bậc khai quốc công thần lớn nhất của 9 đời Chúa Nguyễn và 13 đời vua nhà Nguyễn, trong khi Gia Cát Lượng chỉ phò trợ có 2 đời Thục Hán mà thôi !

 

         Thổ là Đất, mà Đất còn là Nước, ta có từ kép Đất Nước để chỉ Lãnh thổ 領土 của một quốc gia, còn được gọi là Quốc Thổ 國土, Cương Thổ 疆土 là phần đất ở sát biên cương với nước láng giềng mà ta có được, nói theo lịch sử của thời phong kiến, thì đó là Hoàng Triều Cương Thổ 皇朝疆土 là đất của vua , đất của triều đình. Hoàng Triều Cương Thổ lớn nhất, mở mang nhất nước ta là dưới thời vua Minh Mạng, tiêu diệt và đồng hóa Chàm (Champa), lấn chiếm Chân Lạp (Campuchia), sát nhập đất Phù Nam (Hà Tiên, Rạch Giá, Cà Mau) để có được bản đồ hình cong chữ S như hiện nay. Nên, không có Đất là không có Nước, dân không có đất là dân vong quốc, chính quyền không có đất là chính quyền lưu vong, sẽ không làm nên trò trống gì cả ! Từ đó cho thấy ĐẤT quan trọng biết chừng nào ! Nhưng, nếu chính quyền lưu vong mà lập quốc được như dân Do Thái, thì chữ Nho gọi là "Quyển thổ trùng lai 卷土重來" Có nghĩa là : Cuốn đất mà trở lại, theo như ý của bài thơ thất ngôn tứ tuyệt "Đề Ô Giang Đình 題烏江亭" của Đỗ Mục 杜牧 khi đến bến Ô Giang nơi mà Hạng Võ Sở Bá Vương đã tự sát :


             勝敗兵家事不期,     Thắng bại binh gia sự bấtkỳ
             包羞忍恥是男兒.       Bao tu nhẫn sĩ thị nam nhi
           江東子弟多才俊,     Giang Đông tử đệ đa tài tuấn
             捲土重來未可知。     Quyển thổ trùng lai vị khả tri !

Có nghĩa :
                  Thắng bại chuyện binh ai biết trước ,
                  Làm trai nhịn nhục cứ dửng dưng.
                  Giang Đông tuấn kiệt còn đầy rẫy,
                  Cuốn đất làm nên chửa biết chừng !


       Ý của Đỗ Mục là : Nếu như Hạng Võ cố chịu nhục mà về Giang Đông chiêu mộ thêm anh tài còn đầy rẫy nơi đó mà phất cờ đánh lại Lưu Bang, thì chưa biết chừng đã làm nên cơ nghiệp lớn ! Cũng như Nhà nước Israel hiện đại đã được hoàn thành năm 1948 sau hơn 60 năm nỗ lực của các nhà lãnh đạo phái Zion (Chủ nghĩa lập quốc Do Thái) nhằm thiết lập chủ quyền và quyền tự quyết trên một Tổ quốc Quốc gia Do Thái vậy.

                

              Thổ là Đất, Nhất Phầu Hoàng Thổ 一抔黃土 là Một nấm đất vàng, thường dùng để chỉ một nấm mộ, nhất là những nấm mộ hoang như của Đạm Tiên :


                             Xè xè nấm đất bên đường,
                      Dàu dàu ngọn cỏ nửa vàng nửa xanh.


         Còn sống thì phong lưu tiêu sái, hương trời sắc nước, nguyệt thẹn hoa nhường hay sự nghiệp lẫy lừng, danh vang bốn bể, anh hùng cái thế ... Nhưng khi chết đi rồi thì tất cả cũng đều vùi chôn dưới một nấm đất vàng ô trọc mà thôi ! Nên chi, Tào Tuyết Cần mới cho người đẹp u sầu muôn thuở Lâm Đại Ngọc chôn xác hoa rơi với "Nhất Phầu Tịnh Thổ 一抔淨土" là một nấm đất tinh khiết không ô nhiễm bụi trần :

          Người đẹp Lâm Đại Ngọc 林黛玉 trong Hồng Lâu Mộng 紅樓夢 của Tào Tuyết Cần 曹雪芹, là người đẹp đa sầu đa cảm đa tài, rất giỏi về văn thơ đã thương khóc cho những cánh hoa rơi như thương cho thân phận của chính mình, rồi chôn hoa, rồi ngâm thơ điếu hoa hẵn hoi với bài TÁNG HOA NGÂM 葬花吟 với những lời thơ thật đẹp như sau :


             ... 願儂此日生雙翼﹐      Nguyện nông thử nhật sanh song dực,
                 隨花飛到天盡頭         Tùy hoa phi đáo thiên tận đầu.
                 天盡頭!何處有香丘﹖Thiên tận đầu ! Hà xứ hữu hương khâu ?
                 未若錦囊收艷骨         Vị nhược cẩm nang thu diễm cốt,
                 一抔淨土掩風流﹐      Nhất phầu tịnh thổ yễm phong lưu !...

Có nghĩa :
       Ước gì hôm nay ta chắp được đôi cánh, để cùng với các cánh hoa rơi bay đến tận cuối chân trời. Ở nơi cuối chân trời kia, không biết là nơi đâu có mồ hoa thơm đẹp. Ta chưa kịp may túi gấm để thâu táng thân xác đẹp đẽ của hoa, thôi thì đành mượn một nắm tịnh thổ để vùi chôn một kiếp phong lưu diễm lệ !....
      Lục bát :
                  .... Theo hoa bay đến cuối trời,
                 Chắp đôi cánh đẹp rạng ngời như hoa.
                       Cuối trời xa, cuối trời xa !...
                  Tìm hương mộ đẹp la đà xác thơm.
                       Chưa may túi gấm chiều hôm,
                  Vùi nông một nắm tủi hờn phong lưu !....
             

                   

             Người xưa để lại một câu nói ý vị sâu xa để khuyên răn người đời là :


                       Đản tồn phương thốn thổ,      但存方寸土,
                       Lưu dữ tử tôn canh.               留與子孫耕。
Có nghĩa :
          Làm sao cũng phải chừa lại một tấc đất nào đó, để cho con cháu sau nầy có đất mà canh tác.


      Một tấc Ta ngày xưa chưa bằng được ba phân Tây bây giờ, thế thì một tấc đất làm sao mà canh tác ?! À, thì ra câu nói còn có " ý tại ngôn ngoại ". Đất là một thực thể chứng minh cho sự sở hữu ngày xưa, ai chiếm hữu đất nhiều thì người đó sẽ giàu có, sẽ là chủ đất đầy quyền uy. Nên đất được mượn để chỉ mọi vật chất qúy giá và khi dùng rộng ra thì chỉ cả những giá trị tinh thần nữa. Như câu "Quảng chủng phước điền 廣種福田" có nghĩa : Trồng cho rộng ra mảnh ruộng phước đức. Ruộng Phước đức không phải là mảnh ruộng có thật, mà là muốn khuyên ta nên làm nhiều chuyện phước để "để đức" lại cho con cháu. Nên câu nói " Đản tồn phương thốn thổ, lưu dữ tử tôn canh " có ý khuyên ta :


  - Làm việc gì đó, đừng qúa cạn tàu ráo máng, đừng qúa tuyệt tình, hãy chừa một chút gì đó để lại cho con cháu về sau. Như đừng qúa cậy thế hiếp người, đừng ví người khác vào bước đường cùng, hãy chừa cho người ta một con đường sống, biết đâu sau nầy cũng vì thế mà con cháu ta cũng được người khác niệm tình mà tha cho con đường sống như thế.

 

   - Đừng sử dụng hết những uy tín, tín dụng mà mình có được, phải biết chừa lại cho con cháu. Ví dụ như : Ta dùng uy tín và sự tín dụng của mình để lừa hết người nầy đến người khác để thủ lợi, thì con cháu sau nầy sẽ bị mang tiếng là "Con cháu của tên lừa đão", chẳng những mọi người không chịu kết giao giúp đỡ, mà còn không tin tưởng để giao phó công việc nữa. Con cháu sẽ không còn "chút đất nào để cày bừa" nữa cả !


    Nói theo trào lưu trước mắt là :
  - Phải biết yêu qúi và bảo vệ môi trường sống trước mắt, đừng quá phung phí không khí trong lành mà phải biết tiết chế để chừa lại phần nào môi trường và không khí trong sạch cho con cháu sau nầy !

     Nói theo bình dân mà ông bà ta thường nhắn nhủ : "Làm việc gì đó phải cho có hậu". Đừng làm việc đoản hậu, mà phải biết chừa cái hậu cho con cháu về sau. Đó là tất cả những gì mà cổ nhân đã gói ghém trong câu : " Đản tồn phương thốn thổ, lưu dữ tử tôn canh " là thế !

 

        Bà con vùng đồng bằng sông Cửu Long thường hay nói chơi với nhau rằng : "Làm cho lắm tắm cũng ở truồng !". Ý muốn nói dù cho thị phi thành bại gì hễ nhắm mắt buông xuôi thì đều "Nhập thổ vi an 入土為安" mà không thể mang theo thứ gì cả, như "tắm" thì làm sao mà "mặc đồ" cho được ! Bôn ba vất vả một đời, cuối cùng thì cũng đành chịu vùi sâu dưới ba tấc đất. Con người sống nhờ đất, chết lại về với đất, và cứ thế mà luân hồi mãi như Nguyễn Gia Thiều đã nói trong Cung Oán Ngâm Khúc :

 

                           Tuồng huyễn hóa đã bày ra đấy,
                           Kiếp phù sinh trông thấy mà đau.

                           Trăm năm còn có gì đâu,
                          Chẳng qua một nắm cổ khâu xanh rì !

 

                             Xin được kết thúc bài phiếm luận "Thổ là Đất" ở nơi đây, và để thực hiện câu :


                          Đản tồn phương thốn thổ,     但存方寸土,
                          Lưu dữ tử tôn canh.              留與子孫耕。

    
         ... xin mọi người hãy hỏa thiêu thân xác sau khi chết, để chừa lại tấc đất và môi trường sạch cho con cháu sau nầy !


             Mong lắm thay !

 

                                                                                   杜紹德
                                                                              Đỗ Chiêu Đức      

_______________________________________________________________

Góc Đường Thi :  

 

                         Chùm thơ TRƯỜNG TƯƠNG TƯ (2)

Năm Thiên Bảo thứ ba đời Đường Huyền Tông (744), Lý Bạch vì hạ câu "Khả lân Phi Yến ỷ tân trang 可憐飛燕倚新妝" trong bài thứ 2 của 3 bài Thanh Bình Điệu, nên bị Thái Úy Cao Lực Sĩ dèm pha là Lý đã miệt thị Dương Qúy Phi. Cuối cùng Lý đành phải từ quan đi ngao du tứ hải. Trên bước đường phiêu du khắp các vùng giang nam giang bắc để uống hết rượu ngon trong thiên hạ, đôi lúc Lý cũng chạnh lòng nhớ lại thuở vàng son và cuộc sống xa hoa lãng mạn một thời ở đất Trường an mà viết nên những dòng thơ đượm tình ướt át sau đây; Chúng ta cùng đọc lại 3 bài thơ cổ phong "Trường Tương Tư" của Thi Tiên sáng tác trong khoảng thời gian nầy nhé !

 

                

 

 長相思 (其一)         TRƯỜNG TƯƠNG TƯ (Kỳ I)

 

長相思,在長安。     Trường tương tư, Tại Trường an.

絡緯秋啼金井闌,     Lạc vĩ thu đề kim tỉnh lan.   

微霜悽悽簟色寒。     Vi sương thê thê điệm sắc hàn.

孤燈不明思欲絕,     Cô đăng bất minh tư dục tuyệt,

卷帷望月空長嘆。     Quyển vi vọng nguyệt không trường thán.

美人如花隔雲端。     Mỹ nhân như hoa cách vân đoan.

上有青冥之高天,     Thượng hữu thanh minh chi cao thiên,

下有淥水之波瀾。     Hạ hữu lục thủy chi ba lan.

天長路遠魂飛苦,     Thiên trường địa viễn hồn phi khổ,

夢魂不到關山難。     Mộng hồn bất đáo quan san nan.

長相思,摧心肝。     Trường tương tư, thôi tâm can !

                 李白                                      Lý Bạch

 

 

 

* Chú thích :

    - Trường Tương Tư 長相思 : có nghĩa là "Nhớ thương nhau dai dẳng", nhớ cả ngày lẫn đêm không lúc nào nguôi.

    - Lạc Vĩ 絡緯 : Con Bù cào, châu chấu. Chỉ Côn trùng kêu trong đêm thu.

    - Đề 啼 : là Khóc, là Gáy, là Kêu.

    - Kim Tỉnh Lan 金井闌 : là Cái khung miệng giếng nước đẹp đẽ.

    - Thê Thê 悽悽 : là Thê lương lạnh lẽo; là lạnh lùng hiu hắt.

    - Điệm 簟 : là chiếc chiếu được đan bằng tre cói.

    - Bất Minh 不明 là Không sáng; có dị bản là "Bất Miên 不眠" là Không ngủ.

    - Thanh Minh 青冥 : Chỉ Bầu trời xanh thẳm.

    - Cao Thiên 高天 : là Trời cao, dị bản là "Trường Thiên 長天"là Trời dài rộng.

    - Lục 淥 : Nước trong vắt.

    - Quan San Nan 關山難 : Quan ải và núi non cách trở khó vượt qua.

    - Thôi 摧 : có bộ Thủ 扌bên trái nên có nghĩa là xô, là Đẩy. THÔI TÂM CAN 摧心肝 là Gan tim bị xô đẩy; ý nói Trong lòng như bị dày xéo nát tan; Lòng đau như bị ai xéo ai dần.

 

* Nghĩa bài thơ :

                             Nhớ Thương Nhau Dai Dẳng (Bài I)

       Ngày đêm nhớ thương nhau dai dẳng, nhớ thương người ở tại đất Trường An, côn trùng kêu thu ra rả bên bờ giếng đẹp. Sương thu lành lạnh nhe rơi làm cho đệm chiếu cũng tỏa hơi lạnh lẽo. Dưới ngọn đèn cô lẻ chập chờn càng làm tăng thêm nỗi niềm thương nhớ, cuốn rèm lên để nhìn thấy ánh trăng sáng bên song cửa mà buông tiếng thở dài. Người đẹp như hoa đang cách trở bởi những tầng mây bạc, trên thì trời cao lồng lộng mênh mông, dưới thì có làn nước trong đang chập chờn gợn sóng. Trời cao đất rộng nỗi lòng khó thể bay xa; Mộng hồn cũng khó bề vượt qua muôn ngàn quan san cách trở. Trường tương tư, thương nhớ ngày đêm khiến cho lòng đau như cắt.   

 

* Diễn Nôm :

                    TRƯỜNG TƯƠNG TƯ

               

                

 

                 Đêm ngày tưởng nhớ đến ai,

                 Nhớ người yêu dấu bên trời Trường an.

                 Côn trùng ri rỉ giếng vàng,

                 Hơi thu sương lạnh lạnh tràn chiếu chăn.

                 Đèn côi thương nhớ khôn ngăn,

                 Cuốn rèm để lọt ánh trăng thở dài.

                 Như hoa người đẹp bên trời,

                 Trời xanh thăm thẳm bồi hồi trên cao.

                 Dưới dòng nước cuốn ba đào,  

                 Trời cao đất rộng lối nào tìm nhau.

                 Quan san cách trở lòng đau,

                 Nhớ thương thương nhớ dạt dào khôn nguôi.

                 Ruột gan đà héo cả rồi !

                                                     Đỗ Chiêu Đức diễn Nôm

 

 

 長相思 (其二)       TRƯỜNG TƯƠNG TƯ (Kỳ II)

 

日色慾盡花含煙,      Nhật sắc dục tận hoa hàm yên,

月明如素愁不眠。     Nguyệt minh như tố sầu bất miên.

趙瑟初停鳳凰柱,     Triệu sắt sơ đình phụng hoàng trụ,

蜀琴欲奏鴛鴦弦。     Thục cầm dục tấu uyên ương huyền.

此曲有意無人傳,     Thử khúc hữu ý vô nhân truyền,

願隨春風寄燕然。     Nguyện tùy xuân phong ký Yên Nhiên.

憶君迢迢隔青天。     Ức quân điều điều cách thanh thiên.

昔時橫波目,          Tích thời hoành ba mục,

今作流淚泉。          Kim tác lưu lệ tuyền.

不信妾腸斷,          Bất tín thiếp trường đoạn,

歸來看取明鏡前。    Quy lai khán thủ minh kính tiền.

                李白                                         Lý Bạch  

 

         

 

* Chú thích :

    - Như Tố 如素 : TỐ là màu trắng tinh khiết của lụa; Dị bản là Dục Tố 欲素 đều cùng có nghĩa là : Trắng tinh như lụa bạch.

    - Triệu Sắt 趙瑟 : Một loại đàn xưa mà người nước Triệu thường đàn.

    - Thục Cầm 蜀琴 : Một loại đàn cầm tôn qúy của nước Thục ngày xưa.

    - Yên Nhiên 燕然 : Tên của ngọn núi Hàng Ái Sơn nằm trong nước Cộng Hòa Mông Cổ hiện nay; Ở đây dùng để chỉ vùng biên tái xa xôi ở phía bắc Trung Hoa.

    - Hoành Ba 橫波 : HOÀNH là ngang; BA là Sóng. HOÀNH BA đi liền nhau để chỉ "Sóng mắt liếc ngang liếc xéo". Vì lễ giáo các cô gái ngày xưa ít khi dám nhìn thẳng ai mà chỉ liếc trộm nhìn trộm mà thôi.

    - Lưu Lệ Tuyền 流淚泉 : LỆ TUYỀN là Suối lệ; LƯU LỆ TUYỀN là Suối lệ tuôn chảy, chỉ sầu thương buồn khổ đến nỗi khóc mãi không thôi.

 

* Nghĩa bài thơ :

                             Nhớ Thương Nhau Dai Dẳng (Bài II) 

       Ánh nắng yếu ớt làm cho những cánh hoa như đang ngậm sương khói mơ màng. Ánh trăng sáng trắng tinh khiết như những giải lụa bạch, lòng sầu nên không ngủ được. Mới vừa dứt trục phụng hoàng trên cây đờn của nước Triệu, lại bấm dây uyên ương của cây đàn cầm trên đất Thục. Tiếc thay các khúc điệu tuy có ý nhưng lại không có người để truyền đạt. Những mong nó sẽ theo gió xuân mà bay đến vùng Yên Nhiên ngoài tái bắc. Nhớ thương người xa diệu vợi ở tận phía trời xanh. Đôi mắt liếc long lanh của ngày xưa giờ đã trở thành nguồn suối lệ chảy mãi không thôi; Nếu như còn nghi ngờ về nỗi nhớ thương đến đoạn trường của thiếp, thì hãy về đây mà ngắm dung nhan tiều tụy võ vàng của thiếp trong đài gương kia kìa !     

 

* Diễn Nôm :

                        TRƯỜNG TƯƠNG TƯ (Kỳ II)

 

            

 

                  Nắng chiều hoa nhạt khói sương,

                  Sáng trăng khó ngủ sầu thương vô chừng.

                  Phụng hoàng Triệu sắt vừa ngưng,

                  Thục cầm đã tấu dây chùn uyên ương.

                  Khúc xa khó đến người thương,

                  Thoảng bay theo gió đến miền Yên nhiên.

                  Nhớ người diệu vợi sơn xuyên,

                  Khi xưa mắt biếc đưa duyên thẹn thùa.

                  Nay thành suối lệ như mưa,

                  Lòng sầu ruột thắt người xưa tỏ tường ?

                  Má hồng đã nhạt đài gương.

                  Chàng về sẽ thấy xót thương dáng gầy !

                                                            Đỗ Chiêu Đức diễn Nôm

 

 長相思 (其三)         TRƯỜNG TƯƠNG TƯ (Kỳ III)

 

美人在時花滿堂,     Mỹ nhân tại thời hoa mãn đường,

美人去後空餘牀。     Mỹ nhân khứ hậu không dư sàng.

牀中繡被卷不寢,     Sàng trung tú bị quyển bất tẩm,

至今三載聞餘香。     Chí kim tam tải văn dư hương.

香亦竟不滅,           Hương diệc cánh bất diệt,

人亦竟不來。           Nhân diệc cánh bất lai.

相思黃葉落,           Tương tư hoàng diệp lạc,

白露點青苔。           Bạch lộ điểm thanh đài !

          李白                                         Lý Bạch  

 

   

 

* Chú thích :

    - Tú Bị 繡被 : Tấm chăn đắp có thêu hoa đẹp đẽ.

    - Quyển Bất Tẩm 卷不寢 : Cuốn để đó không ngủ; dị bản là CÁNH BẤT TẨM 更不卷 nhấn mạnh hơn là "Không có ai ngủ cả".

    - Văn 聞 : là chữ Hội Ý gồm có bộ MÔN 門 là Cửa, ở giữa có bộ NHĨ 耳 là Lổ tai, có nghĩa "Đưa lổ tai ra cửa " để NGHE ngóng; nên VĂN 聞 nghĩa gốc là NGHE; nghĩa phát sinh là NGỬI. Vì thế VĂN DƯ HƯƠNG 聞餘香 là "Ngửi được mùi thơm còn rơi rớt lại". Dị bản là DO VĂN HƯƠNG 猶聞香 là Còn ngửi thấy mùi thơm.

    - Lạc 落 : là Rớt, Rơi, Rụng; HOÀNG DIỆP LẠC 黃葉落 là Lá vàng rơi; dị bản là HOÀNG DIỆP TẬN 黃葉盡 là "Lá vàng rơi đến hết, đến tận cùng".

    - Điểm 點 : là Chấm, là Chấm phá. dị bản là THẤP 濕 là Ướt, làm cho ướt.

 

* Nghĩa bài thơ :

                               Nhớ Thương Nhau Dai Dẳng (Bài III) 

       Khi người đẹp còn ở nơi đây thì như có hoa tươi thơm tho đầy cả phòng; Khi người đẹp đi rồi thì chỉ còn trơ lại chiếc giường không lạnh lẽo. Trên giường chiếc chăn thêu hoa đẹp đẽ cuốn để đó không ai đắp cả, nhưng đến nay đã ba năm vẫn còn phảng phất ngửi thấy mùi thơm. Mùi thơm lâu ngày vẫn còn đó không phai; Người đi lâu ngày vẫn còn vắng bóng chưa về. Nhớ thương nhau dai dẵng như lá vàng rụng suốt mùa thu và nên thơ như những hạt sương trắng chấm phá trên thảm r&ec