TIẾNG HÁN CỔ

                                                   với Ông Đồ

                             ĐỖ CHIÊU ĐỨC

                         

                                                  CHS Phan Thanh Giản (Cần Thơ)

                                          Cựu GS Trung Học Tân Văn (Cái Răng)

                                          Cựu Giảng Viên ĐH Xã Hội - Nhân Văn (Sài Gòn)

Houston, Texas _____________________________

VUI TUỔI 90

THƠ ĐƯỜNG 6 CHỮ

               

             Cố Huống 顧況 (725-814) tự Bô Ông 逋翁, người Hải Diêm 蘇州 Tô Châu 海鹽 (nay thuộc tỉnh Chiết Giang 浙江, Trung Quốc). Về già, tự lấy hiệu là Bi Ông. Ông là Thi sĩ, họa sĩ của đời Đường. Quan không cao, từng giữ chức Trứ Tác Lang. Vì làm thơ châm chích giới quyền quí đương thời, nên bị biếm đến Nhiêu Châu làm Tư Hộ Tham Quân. Về già ẩn cư ở núi Mao Sơn.

Thường thì nhắc tới Đường Thi, người ta chỉ nghĩ đến thơ 5 chữ và 7 chữ : Ngũ ngôn Cổ Phong, Ngũ ngôn Tứ tuyệt, Ngũ ngôn Bát cú, Thất ngôn Cổ phong, Thất ngôn Tứ tuyệt, Thất ngôn bát cú, mà ít ai biết đến Lục ngôn thi, tức là Thơ 6 chữ. Kỳ nầy, xin trình làng một bài thơ Đường 6 chữ của thi sĩ Cố Huống, người đã có bài thơ nổi tiếng khi vịnh Giai thoại Điển tích LÁ THẮM của chàng thư sinh Vu Hựu và Cung nhân Hàn Thị như sau :

 

               Hoa lạc thâm cung oanh diệc bi,                      花落深宫鶯亦悲
               Thượng Dương cung nữ đoạn trường thì.        上陽宫女斷腸時 
               Quân ân bất bế đông lưu thủy,                         君恩不閉東流水
               Diệp thượng đề thi ký dữ thùy ?                      枼上題詩寄與誰?

Tạm diễn nôm như sau :

                                      Hoa rụng cung sâu oanh cũng sầu,
                                      Thượng Dương cung nữ quặn lòng đau.
                                      Ơn Vua chẳng bế dòng lưu thủy,
                                      Trên lá đề thơ gởi đến đâu ?

 

                                                                               ĐCĐ

 

               Bây giờ thì xin cùng thưởng thức và cùng kính mời tất cả Quý thầy cô, các bạn đồng môn, các em học sinh, chúng ta cùng tìm hiểu và dịch bài thơ 6 chữ đặc biệt dưới đây !

 

 

 

                        歸山作                                      QUY SƠN TÁC

 

                  心事數莖白髮,                    Tâm sự sổ kinh bạch phát

                  生涯一片青山。                    Sanh nhai nhất phiến thanh sơn

                  空林有雪相待,                    Không lâm hữu tuyết tương đãi

                  古道無人獨還。                    Cổ đạo vô nhân độc hoàn

                  桃紅復含宿雨,                       Đào hồng phục hàm túc vũ

                  柳綠更帶朝煙.                       Liễu lục cánh đái triêu yên

                  花落家童未掃,                       Hoa lạc gia đồng vị tảo

                  鳥啼山客猶眠 .                      Điểu đề sơn khách do miên.

 

                              顧 况                                                  Cố Huống.

* Dịch Nghĩa :

                                  SÁNG TÁC KHI VỀ NÚI Ở ẨN,

 

         Tâm sự tịch liêu của tuổi già, chỉ còn biết tỉ tê cùng vài sợi tóc bạc lưa thưa mà thôi. Sinh nhai ư ?. 

Ừ, thì cứ sống nhờ vào cỏ hoa cây trái của một dãy núi xanh xanh kia. Trong cảnh núi rừng vắng lặng nầy, ta chỉ còn bầu bạn với tuyết trắng mà thôi. Mỗi ngày trên con đường xưa lối cũ nầy, ta chỉ đi về với một thân một bóng. Mỗi chiều chiều ngắm hoa hồng còn long lanh với những hạt mưa xuân, và mỗi buổi sáng hàng liễu xanh chập chờn ẩn hiện trong làn hơi sương sớm. Hoa rụng đầy thềm đầy đất, gia đồng còn chưa kịp quét đi. Tiếng chim líu lo của buổi ban mai cũng không đánh thức được người khách núi nhàn nhã còn đang mơ màng giấc điệp.

 

Diễn nôm :

                        Tâm sự : Lơ thơ tóc bạc,

                        Núi xanh một dãi : Sinh nhai !

                        Rừng vắng bạn bầu cùng tuyết

                        Đường xưa vắng vẻ không ai ,

                        Hoa đào hồng vì mưa tối

                        Sương sớm đưa cành liễu bay

                        Hoa rụng gia đồng chưa quét,

                        Chim ca khách núi còn say !

Lục bát :

                         Lơ thơ tóc trắng não nùng,

                         Sinh nhai một dãy chập chùng núi xanh.

                         Bạn cùng tuyết trắng phủ quanh,

                         Đường xưa vắng vẻ độc hành một thân,

                         Đào hồng lóng lánh mưa xuân,

                         Liễu xanh thấp thoáng bâng khuâng sáng trời.

                         Gia đồng chưa quét hoa rơi,

                         Giấc nồng khách núi mặc lời chim ca !

 

                                                                    Đỗ Chiêu Đức

KHUÊ OÁN 

 VƯƠNG XƯƠNG LINH

(698-756)

 Vương Xương Linh 王昌齡 tự là Thiếu Bá, người đất Thái Nguyên Sơn Tây, là thi nhân nổi tiếng thời thịnh Đường. Thơ của ông cùng xếp ngang hàng với Cao Thích, Vương Chi Hoán. Ông đậu Tiến sĩ năm Khai Nguyên thứ 15 đời Đường Huyền Tông. Từng giữ các chức vụ như Hiệu Thư Lang, Bác học Hoằng từ Khoa, Huyện úy huyện Phạm Thủy, Huyện thừa huyện Giang Ninh. Sau bị biếm về huyện Long Tiêu. Sau loạn An Lộc Sơn, ông từ quan về quê, Năm Chí Đức thứ 2 bị Thứ Sử Hào Châu Lư Khưu Hiểu giết chết khi mới 58 tuổi.  

       Vương Xương Linh nổi tiếng về thơ biên tái, tả lại những cảnh hùng vĩ hiểm ác của chiến trường. Ông chuyên về thơ Thất ngôn Tứ tuyệt, nên có mỹ hiệu là " Thất Tuyệt Thánh Thủ " và là "Thi Thiên Tử " của đương thời. 

      Sau đây là một bài Thất Ngôn Tứ Tuyệt của ông mà bất cứ người yêu thơ Đường nào cũng biết đến. Không phải là thơ Biên Tái mà là thơ của một thiếu phụ có chồng đang đi tìm chữ công danh ngoài biên tái ... Xin mời đọc :

 

           

                                            

      閨怨                        KHUÊ OÁN
            王昌齡                        Vương Xương Linh

閨中少婦不知愁,   Khuê trung thiếu phụ bất tri sầu,

春日凝妝上翠樓。   Xuân nhật ngưng trang thướng thúy lâu.
忽見陌頭楊柳色,   Hốt kiến mạch đầu dương liễu sắc,

悔教夫婿覓封侯。   Hối giao phu tế mịch phong hầu.

 

Chú Thích :

      Ngưng Trang : là Trang điểm hoàn hảo, lộng lẫy.

      Thúy Lâu : là Lầu Thúy, lầu có hoa cỏ xanh biếc chung quanh.

      Hốt : là Bất chợt. Hốt Kiến :là Chợt trông thấy. 

      Mạch Đầu : là Đầu đường, nơi ngã ba ngã tư.

      Hối Giao : Giao vốn là chữ GIÁO 教, có nghĩa là DẠY. Ở đây được sử dụng như Phó Từ, có nghĩa là Thúc Giục, là Thôi Thúc. Nên...

      Hối Giao là Hối hận vì đã thúc giục.

      Mịch : là Tìm kiếm.

      Phong Hầu : là Hầu tước, là Làm quan, ở đây chỉ Công danh.

 

Nghĩa Bài Thơ :

                                  Nỗi Oán Hờn Trong Phòng Khuê

 

      Nàng thiếu phụ trong phòng khuê không hề biết đến sầu muộn là gì. Ngày xuân nàng mới trang điểm lộng lẫy bước lên lầu thúy. Bất chợt nàng trông thấy sắc liễu xanh tươi ở đầu đường, mà động lòng hối tiếc về việc đã thúc giục phu quân của nàng đi tìm chữ công danh.

 

      Đây là bài thơ Khuê Oán nổi tiếng trong văn học cổ, diễn tả lại cái tâm lý biến đổi của những nàng cô phụ trẻ đang tràn đầy sức sống với lòng xuân phơi phới. Câu đầu dùng phép phản diện đi ngược lại với chủ đề bằng 3 chữ " Bất tri sầu " để chỉ cái tâm lý vô tư của nàng thiếu phụ trong nếp sống vàng son. Kịp đến câu 2 khi xuân đến, nàng mới trang điểm thật đẹp để lên lầu thưởng xuân ngắm cảnh. Bài thơ tứ tuyệt 4 câu đã đi hết 2 câu đầu rồi, mà vẫn chưa thấy OÁN ở đâu cả. Nên câu 3 phải đột biến bằng chữ HỐT là Bỗng nhiên, là Bất chợt trông thấy vẻ xanh om tươi tốt tràn đầy sức sống thanh xuân của cây liễu ven đường, mà mình thì cô đơn vò vỏ có một thân một bóng trong cảnh tình xuân phơi phới, đưa đến sự hối hận của câu 4. Hối hận vì trước đây đã lỡ xúi giục, thôi thúc khuyên chàng đi lập chữ công danh, nên giờ mới cô đơn chiếc bóng một mình đơn độc trong cảnh tình xuân tràn đầy nhựa sống !

 

        Bài thơ chỉ sử dụng 3 chữ " bất tri sầu " và không có một chữ Oán nào cả, nhưng oán và sầu lại bàng bạc tràn đầy sau sự hối hận tiếc nuối của nàng cô phụ vọng phu !

 

        Trong Chinh Phụ Ngâm Khúc đoạn diễn tả nỗi lòng của người chinh phụ, Đặng Trần Côn cũng mượn 2 câu cuối của bài nầy và đã được Nữ sĩ Đoàn Thị Điểm diễn Nôm rất hay như sau :

 

                Lúc ngoảnh lại ngắm màu dương liễu, 
                Thà khuyên chàng đừng chịu tước phong.

 

                 

Diễn Nôm :

                              KHUÊ OÁN

          

                Phòng khuê thiếu phụ sầu chưa biết,

                Trang điểm lên lâu ngắm cảnh xanh.

                Chợt thấy ven đường màu liễu thắm,

                Hối khuyên phu tướng lập công danh.

Lục bát :

                Phòng khuê nàng chửa biết sầu,

                Ngày xuân trang điểm lên lầu ngắm xuân.

                Chợt nhìn sắc liễu bâng khuâng,

                Hối khuyên chàng vội tìm đường công danh.

                  

                                                         Đỗ Chiêu Đức

_____________________________________________

       CÂU ĐỐI ĐĂNG KHOA

           VƯƠNG AN THẠCH và Chữ SONG HỈ

 Sau đây, xin kính mời Quý Thầy Cô, Quý đồng môn Cựu Học Sinh Trung học PTG & ĐTĐ, các bạn Vườn Thơ Thẩn và Các Em học sinh trường TÂN HƯNG cũ, cùng nghe lai lịch của chữ SONG HỈ 囍 rực rỡ đỏ tươi trong các Hôn Lễ Trung Hoa xưa và mãi cho đến ngày nay, bất cứ nơi nào trên thế giới có Lễ cưới của người Hoa, người Việt thì ta sẽ thấy chữ SONG HỈ vui tươi rực rỡ nầy xuất hiện. Nó được viết bằng 2 chữ HỈ 喜 liền nhau, nên gọi là SONG HỈ 囍, ý chỉ đây là ngày vui của 2 HỌ. Nhưng, lúc đầu nó là 2 niềm vui đến cùng một lúc với Văn, Thi Hào và là Tể Tướng VƯƠNG AN THẠCH đời Tống. Xin kính mời Quý vị cùng tiêu khiển với câu chuyện Văn chương lý thú sau đây....

 Vương An Thạch ( 18-02-1021-- 21-05-1086 ), Tự là Giới Phủ, hiệu là Bán Sơn, được phong là Kinh Quốc Công, nên người đời còn gọi là Kinh Công. Người đất Lâm Xuyên thuộc Vũ Châu đời Bắc Tống. Ông là Thừa Tướng của triều Bắc Tống, lãnh tụ của Tân Đảng ( Đảng Cải Cách ). Âu Dương Tu đã ca ngợi ông như sau :

                Hàn lâm phong nguyệt tam thiên thủ, 翰林風月三千首,

                Lại bộ văn chương nhị bách niên.        吏部文章二百年。

                Lão khứ tự lân tâm thượng tại,           老去自憐心尚在,

                Hậu lai thùy dữ tử tranh tiên.             后來誰與子爭先。  

Có nghĩa :
               Ba ngàn bài gió trăng phong nguyệt,
               Hai trăm năm Lại bộ văn chương.
               Già đi tự cảm thương thân phận
               Hậu thế ai người dám sánh ông ?!


         Tác phẩm gồm có " Vương Lâm Xuyên tập, Lâm Xuyên tập Thập di,... ". Ông còn giỏi về thi, từ. Lưu truyền nổi tiếng nhất trong dân gian là 2 câu thơ trong bài " Bạc thuyền Qua Châu ( Thuyền ghé bến Qua Châu ) là :


         Xuân phong hựu LỤC Giang nam ngạn,  春風又綠江南岸,
         Minh nguyệt hà thời chiếu ngã hoàn ?    明月何時照我還。
Có nghĩa :
         Gió xuân lại thổi làm cho bờ Giang nam XANH biếc,
         Trăng bao giờ mới soi sáng trên đường ta về quê ?!

      Chữ LỤC 綠 là Hình Dung Từ, có nghĩa là : Màu xanh lá cây. Ở đây được tác giả sử dụng làm Động Từ một cách thật khéo léo và thật gợi hình :
                   " Gió xuân lại làm cho XANH cả bờ bãi của xứ Giang Nam."
Có nghĩa :
        Khi gió xuân về tức là mùa xuân cũng đã về làm cho cây cỏ đâm chồi nẩy lộc mang đến màu xanh cho xứ Giang Nam, chớ bản thân gió xuân không thể làm cho xứ Giang Nam xanh lên được. Nên...
          Chỉ một chữ XANH ( Lục ) thôi đã mang lại đầy đủ sức sống của hoa cỏ mùa xuân và như chiếc đủa thần của tạo hóa : Gió xuân thổi tới đâu là mang màu xanh đến nơi đó ngay !

        " 囍 " 的来历

LAI LỊCH CỦA CHỮ SONG HỈ

           Chữ SONG HỈ lớn màu đỏ, treo ở trước cửa phòng Hoa chúc, chẳng những tạo thêm không khí vui tươi mà còn tượng trưng cho SONH HỈ LÂM MÔN ( Hai niềm vui đến nhà cùng một lúc ). Căn cứ theo ghi nhận của Sử liệu, thì lai lịch của chữ SONG HỈ nầy xuất phát từ Tể Tướng Vương An Thạch đời Bắc Tống, Câu chuyện như sau.....
         Tương truyền năm 20 tuổi, khi từ Lâm Xuyên Vũ Châu đến kinh đô Lạc Dương để ứng thí, khi nghỉ ở khách sạn Mã gia trấn để chờ dự thi. Một hôm, sau buổi cơm tối, ông thả bộ ra phố, khi đi ngang qua nhà Mã viên ngoại, thấy phía trước cửa nhà treo 2 cái lồng đèn kéo quân, bên cạnh có đôi câu đối như sau :
                       Tẩu mã đăng, đăng tẩu mã, đăng tức mã đình bộ.

                        走  馬   燈,    燈   走   馬,   燈   熄   馬   停   步。
 Có nghĩa :
        Tẩu Mã Đăng là Đèn Chạy Ngựa, ta gọi là Đèn Kéo Quân.
 Nên câu trên có nghĩa : 
         Đèn chạy ngựa, ngựa chạy trên đèn, đèn tắt ngựa ngừng chạy.
 Theo nghĩa của ta thì là :
         Đèn kéo quân, quân kéo đèn, đèn tắt quân ngừng kéo.

                                                2 loại Đèn Kéo Quân 

      

         Vương An Thạch xem xong trầm ngâm giây lát, bỗng vỗ tay đánh đét một tiếng khen : " Câu đối hay tuyệt, nhưng rất tiếc là không có vế đối lại ! ". Người quản gia nghe thấy vội vàng chạy vào bẩm báo với Mã viên ngoại, nhưng khi Mã viên ngoại ra tới cửa thì Vương An Thạch đã đi xa rồi.
         Sự đời cũng lắm việc trùng hợp ngẫu nhiên, hôm sau khi đi thi, vì văn tài mẫn tiệp,làm bài nhanh nộp quyển sớm, nên được quan chủ khảo chú ý ngợi khen và gọi lên hạch miệng. Ông chỉ ra cột cờ trước sân, nơi có treo lá cờ thêu hình một com hổ bay với đôi cánh vươn ra và đọc :
                          Phi hổ kỳ, kỳ phi hổ, kỳ quyển hổ tàng thân.

                          飛  虎 旗, 旗  飛  虎,旗   捲   虎  藏   身。
 Có nghĩa :
                     Cờ cọp bay, cọp bay trên cờ, cờ cuốn cọp ẩn mình.

                                                      Phi Hổ kỳ
 
         Vương An Thạch buộc miệng đọc ngay câu đối của Mã viên ngoại :" Tẩu mã đăng, đăng tẩu mã, đăng tức mã đình bộ ", để đối lại.  Quan chủ khảo vô cùng tán thưởng và kinh ngạc trước tài ứng đối mau lẹ và chính xác của Vương An Thạch, và không ngớt lời ngợi khen.
        Rời khỏi trường thi, Vương vô cùng đắc ý, trong lúc hớn hở đi về nhà trọ, thì người Quản gia nhà họ Mã nhận ra Vương và mời về phủ ra mắt viên ngoại. Khi vào đến phòng khách thì đã thấy trên bàn bày sẵn văn phòng tứ bảo, giấy mực hẳn hoi. Mã Viên ngoại đọc ngay câu đối " Tẩu mã đăng..." cho chàng đối . Vương An Thạch chẳng ngần ngừ chút nào cả, hưu bút viết ngay câu đối mà Quan chủ khảo đã ra cho chàng là " Phi hổ kỳ..."  để đối lại. Viên Ngoại vô cùng đẹp dạ, kinh ngạc trước tài ứng đối mau lẹ của Vương và rất vui vẻ mà cho Vương biết rằng, ông ra câu đối nầy là để kén rể, nay mến tài mẫn tiệp của Vương nên quyết định gả con cho chàng. Chọn ngày lành tháng tốt và làm lễ thành hôn ngay tại Mã phủ.
        Trong lúc cô dâu chú rễ sắp làm lễ bái đường, thì có sứ đến tuyên đọc kết quả kỳ thi vừa qua, và cho biết Vương An Thạch vừa đậu Tiến sĩ cập đệ, ngày mai được mời vào cung Quỳnh Lâm dự yến. Mã Viên ngoại vô cùng mừng rỡ, truyền bày thêm tiệc rượu để khoản đãi quan khách. Riêng Vương An Thạch cũng vui mừng vô hạn, đang cơn hứng chí bèn sẵn giấy bút viết ngay HAI chữ Hỉ sát vào nhau dán lên cửa để mừng cho Hai niềm Vui lớn đến cùng một lúc, Hỉ thượng gia Hỉ, Đại tiểu Đăng Khoa cùng một lúc. 

                                                Các kiểu chữ SONG HỈ

 

        Từ đó dân gian mới có lệ, chú rể được mặc áo Trạng Nguyên Tiến Sĩ trong ngày cưới và dán chữ SONG HỈ ở khắp nơi trong nhà khi làm lễ Thành hôn cho đến hiện nay. Ngay cả ở nước Mỹ nầy, trước mắt các nhà hàng đều có sẵn chữ SONG HỈ và hình rồng phụng hai bên trong các phòng ăn rộng dành riêng cho cô dâu chú rể đãi khách trong ngày lễ Tân Hôn.

 

 

                                                                                                    Đỗ Chiêu Đức

___________________________________________

THÀNH NGỮ ĐIỂN TÍCH 52 : 

                                                HỒNG

                                           Hồng hồng Tuyết tuyết,

                                   Mới ngày nào chửa biết cái chi chi !

 

         Đó là hai câu thơ mở đầu cho bài ca trù "Gặp Cô Đào Cũ" của cụ Dương Khuê, bạn thân của Tam Nguyên Yên Đổ Nguyễn Khuyến.  HỒNG, TUYẾT thường dùng để đặt tên cho các cô gái, nên Hồng Hồng Tuyết Tuyết là nhóm từ dùng để chỉ chung các cô gái khi đang độ xuân thì, đẹp như hoa hồng mới hé nhụy và trong sáng như tuyết trắng bay bay. Nên, trong văn học cổ ta thường gặp các từ như...

 

         HỒNG NHAN 紅顏 là Gương mặt ửng hồng, là gương mặt đẹp. Nên HỒNG NHAN thường dùng để chỉ người đẹp, như trong Truyện Kiều khi chị em đi đạp thanh, Thúy Kiều đã nghe Vương Quan kể về Đạm Tiên như sau :

 

                                         Phận HỒNG NHAN có mong manh,

                                   Nửa chừng xuân thoắt gãy cành thiên hương.

         

         Câu "Phận Hồng Nhan có mong manh" là do câu nói chữ là "HỒNH NHAN BẠC MỆNH 紅顏薄命", chỉ người đẹp thường hay có mạng số truân chiên, lao đao lận đận, như lời của chàng Thúc Sinh nói đỡ cho Thúy Kiều trước mặt Hoạn Thư :

 

                                             Sinh rằng : Thật có như lời,

                                   HỒNG NHAN BẠC MỆNH một người nào vay.

                                             Nghìn xưa âu cũng thế nầy,

                                           Từ bi xin liệu nới tay mới vừa !

 

                                      Còn trong bài Ca trù "Vịnh Thúy Kiều" của cụ Nguyễn Công Trứ thì gọi là MÁ HỒNG PHẬN BẠC :

 

                                      ... Đã biết MÁ HỒNG thời PHẬN BẠC,

                                       Trách Kiều nhi chưa vẹn tấm lòng vàng,

                                       Chiếc quạt thoa đành phụ nghĩa Kim lang...

 

       Má Hồng thời phận bạc, nên chả trách các người đẹp hay nhỏ lệ sầu thương, khóc cho thân phận mỏng manh của mình, thậm chí đến nỗi "Máu theo nước mắt, hồn lìa chiêm bao". Máu theo nước mắt là nước mắt đỏ như màu máu, gọi là giọt HỒNG BĂNG 紅冰 như trong Cung Oán Ngâm Khúc của Nguyễn Gia Thiều Ôn Như Hầu :

                                          Ngọn tâm hỏa đốt rầu nét liễu,

                                       Giọt HỒNG BĂNG thấm ráo làn son.

      

       HỒNG BĂNG là nước mắt sầu thương của người đẹp. Ngoài ra để chỉ phái đẹp, trong văn học cổ còn có từ HỒNG QUẦN 紅裙 là cái Váy màu đỏ, một loại quần liền 2 ống của phụ nữ ngày xưa thường được nhuộm màu đỏ cho bắt mắt... nam giới.  Nên HỒNG QUẦN cũng tượng trưng cho phụ nữ đẹp. Ta hãy nghe cụ Nguyễn Du giới thiệu về chị em Thúy Kiều Thúy Vân như sau :

 

                                   Phong lưu rất mực HỒNG QUẦN,

                                   Xuân xanh xấp xỉ tới tuần cập kê.    

 

        Các giai nhân ngày xưa còn được gọi là BÓNG HỒNG, chẳng những bắt mắt đối với nam giới mà còn bắt mắt với tất cả mọi người chung quanh. Ta lại nghe cụ Nguyễn Du tả chị em Thúy Kiều trong buổi Đạp thanh như sau :

                                    BÓNG HỒNG nhác thấy nẻo xa, 

                                    Xuân lan thu cúc mặn mà cả hai !   

HỒNG QUẦN 紅裙 là người đẹp, nhưng HỒNG QUÂN 洪鈞 (không có dấu huyền) thì lại là Ông Trời. Theo Văn Tuyển, Trương Hoa đời Tấn trong bài Đáp Hà Thiệu có câu : 张华《答何劭》:“洪钧陶万类,大块禀群生。HỒNG QUÂN đào vạn loại, Đại khối bẩm quần sinh”. Có nghĩa : Trời thì nhào nặn ra muôn loài, còn Đất thì nuôi sống mọi sinh linh. Nên HỒNG QUÂN là Ông Trời. Trong văn học cổ ta thường nghe nói "Hồng Quân không buông tha cho khách Hồng Quần" như cụ Nguyễn Du đã cho Thúy Kiều than vãn khi lần thứ hai phải lọt vào lầu xanh :

 

                               HỒNG QUÂN với khách HỒNG QUẦN,

                               Đã xoay đến thế còn vần chưa tha.

 

      ... và như trong phần mở truyện cụ cũng đã nêu lên thuyết "tài mệnh tương đố" với câu :

 

                                  Lạ gì "Bỉ sắc tư phong",

                       TRỜI xanh quen thói MÁ HỒNG đánh ghen.

 

      ... và cụ cũng đã nói trong phần kết Truyện Kiêù là : 

 

                                 Cho hay muôn sự tại TRỜI,

                            TRỜI kia đã bắt làm người có thân, 

                               Bắt phong trần phải phong trần, 

                         Cho thanh cao mới được phần thanh cao !

 

          HỒNG QUÂN là Trời, là Tạo hóa, như trong Tứ Thời Khúc Vịnh của Hoàng Sĩ Khải, một danh sĩ đời nhà Mạc :

                                    Khéo thay bấy HỒNG QUÂN chuốt vật,

                                    Hình chúc hình chẳng chút mũi lông.  

                                        

         Còn chỗ ở của các giai nhân tiểu thư quyền qúy ngày xưa thì được gọi là HỒNG LÂU như nàng cung nữ của Ôn Như Hầu Nguyễn Gia Thiều :

 

                                      HỒNG LÂU còn khóa then sương,

                              Thâm khuê còn dấm mùi hương khuynh thành.

  

         ...Hay như trong Sơ Kính Tân Trang của Chiêu Lỳ Phạm Thái :

 

                                      Qúy canh phỏng độ đôi mươi,

                               Chẳng người tử thất cũng người HỒNG LÂU.

 

                                       

 

     

 

 

 

 

 

 

Tử Thất 紫室 là Căn phòng màu tím, đồng nghĩa với Tử Các 紫閣 là Căn gác màu tím, trong văn học gọi là Gác Tía. Nên Tử Các Hồng Lâu hay là HỒNG LÂU TỬ CÁC 紅樓紫閣, ta nói là LẦU SON GÁC TÍA, chỉ chỗ ở của những nhà quyền qúy cao sang. Như trong Bích Câu Kỳ Ngộ chàng công tử Tú Uyên dọ hỏi về lai lịch của người đẹp Giáng Kiều :

 

                                     Mượn người thăm hỏi gần xa,

                                HỒNG LÂU TỬ CÁC đâu mà đến đây?

 

       Ta lại có từ HỒNG MAO 鴻毛 là Lông của con chim Hồng. MAO 毛 là loại lông rất nhẹ, là lông tơ, lông măng. Theo "Báo nhiệm An Thư 報任安書" trong Sử Ký của Tư Mã Thiên 司馬遷的史記 đời Hán có câu " 人固有一死,或重于泰山,或轻于鸿毛 Nhân cố hữu  nhất tử, hoặc trọng vu thái sơn, hoặc khinh vu hồng mao". Có nghĩa : Là người cố nhiên phải chết, nhưng có những cái chết nặng như thái sơn, có những cái chết nhẹ tợ lông hồng". Nên thường dùng từ HỒNG MAO để chỉ vật gì rất nhẹ hoặc bị xem nhẹ. Như trong Chinh Phụ Ngâm Khúc chỉ những chàng chinh phu đi chinh chiến xem nhẹ cái chết với câu :

 

                                      Chí làm trai dặm ngàn da ngựa,

                                    Gieo Thái sơn nhẹ tựa HỒNG MAO.

 

        Và vì nhẹ tựa HỒNG MAO nên chim hồng mới bay được thật cao và được ví với những người mang chí lớn có ý chí cao xa muốn làm nên việc lớn như Từ Hải trong Truyện Kiều vậy :

 

                                        Cánh HỒNG bay bổng tuyệt vời,

                                    Đã mòn con mắt phương trời đăm đăm.

              

                                   

 

       

 

 

 

 

Chim HỒNG chim NHẠN là hai loại vịt trời hay bay thành từng đàn từng bầy, con lớn bay rước hướng dẫn cho con nhỏ bay sau, nên HỒNG NHẠN 鴻雁 còn dùng để chỉ tình anh em, đồng đội, bằng hữu ... như trong truyện Nôm Hoa Điểu Tranh Năng :

 

                                        Dốc tình bằng hữu chu tuyền,

                               Nghĩa HỒNG NHẠN vẫn còn truyền xưa nay.

 

             Chim HỒNG chim NHẠN còn là hai loại chim dùng để đưa thơ ngày xưa, nên tin thư gọi là TIN NHẠN như trong Truyện Kiều khi Tú Bà dạy nghề cho Thuý Kiều :

 

                                         TIN NHẠN dẫn, lá thư bài,

                                Đưa người cửa trước, rước người cửa sau.

 

            Còn đưa tin bằng chim HỒNG thì gọi là HỒNG TIỆN như trong Chinh Phụ Ngâm Khúc của Đoàn Thị Điểm :

 

                                        Gió tây thổi không đường HỒNG TIỆN,

                                         Xót nỗi người tuyết quyến mưa sa.  

  

                                       

 

           Hay đão ngược lại là TIỆN HỒNG như khi Thúy Kiều đáp thư hồi âm cho Sở Khanh :

 

                                          Tan sương vừa rạng ngày mai,

                                   TIỆN HỒNG nàng mới nhắn bài gởi sang.

                                     

           Còn HỒNG TRẦN 紅塵 là Bụi màu đỏ, có xuất xứ từ một câu thơ trong bài "Tây Đô Phú" của văn sử gia Ban Cố đời nhà Hán 文学家、史学家班固《西都赋》là : " 紅塵四合,烟雲相連. Hồng trần tứ hợp, yên vân tương liên". Có nghĩa : "Bụi đỏ từ bốn bên họp lại và khói và mây như liền lại với nhau". Câu trên dùng để chỉ cảnh phồn hoa đô hội, ngựa xe đi qua khiến cho những làn bụi đỏ như mây như khói cuốn lên cuồn cuộn. Khi dùng rộng ra HỒNG TRẦN có nghĩa là Cái thế giới nầy, cái cuộc đời nầy, cái cảnh đời trần tục, cỏi trần thế xô bồ xô bộn ... Khi từ giả Vương Ông xong, thì Mã Giám Sinh đã cho đoàn xe ngựa chở Thúy Kiều phi như chạy trốn :

                                           Đùng đùng gió giục mầy vần,

                                     Một xe trong cỏi HỒNG TRẦN như bay !

 

                                         
 

         

 

 

 

 

 

Cũng trong Truyện Kiều, HỒNG TRẦN được diễn Nôm thành BỤI HỒNG để chỉ cỏi đời trần tục, như khi cả nhà đi theo sư Giác Duyên tìm được Thúy Kiều ở thảo am, mọi người đều khuyên nàng về nhà đoàn tụ, thì Thúy Kiều đã lý luận rằng :

 

                                           Sự đời đã tắt lửa lòng,

                                  Còn chen vào chốn BỤI HỒNG mà chi ?!   

 

       Cuối cùng ta có tích HỒNG DIỆP 紅葉 là Lá Đỏ.

      

       Có 3 xuất xứ cho điển tích LÁ ĐỎ như sau :

 

* Theo THỊ NHI TIỂU DANH LỤC 侍兒小名錄 : 

       Con gái nuôi của tài nhân nhà Phụng Ân Vương đời Đường Đức Tôn 唐德宗 là Phượng Nhi 鳳兒 thường đề thơ trên lá đỏ, rồi thả trên dòng nước từ cung vua trôi ra ngoài. Tiến sĩ Giả Toàn Hư 賈全虛 bắt được lá. Quan Kim Ngô tâu việc ấy lên vua. Nhà vua bèn gả Phượng Nhi cho Giả Toàn Hư và phong cho chức Kim Ngô.

 

* Theo sách VÂN KHÊ HỮU NGHỊ 雲溪友議 :

       Thư sinh Lư Ốc 盧渥 đi ngang qua ngự câu (dòng nước chảy từ cung vua ra ngoài ), Ngẫu nhiên vớt được một chiếc lá đỏ trên đó có đề một bài thơ. Ốc nâng niu và cất vào trong tráp. Khi vua Đường thải cung nữ cho đi lấy chồng. Lư Ốc lấy được một cô, lại đúng là người thả chiếc lá kia. Lúc trông thấy chiếc lá đỏ trong tráp, người vợ nói :” Khi ấy thiếp chỉ ngẫu nhiên đề thơ, rồi thả theo dòng nước, không ngờ chàng lại chính là người đã nhặt được !”.

 

* Theo THANH TỎA CAO NGHI 青瑣高議 và THÁI BÌNH QUẢNG KÝ 太平廣記 :

 

       Cung nhân Hàn Thị 韓氏 đề một bài thơ trên lá đỏ :

 

              Lưu thuỷ hà thái cấp ?         流水何太急 ?

              Thâm cung tận nhật nhàn.   深宮盡日閒。

              Ân cần tạ hồng diệp,           殷勤謝紅葉,

              Hảo khứ đáo nhân gian !     好去到人間!

Có nghĩa :                  

              Nước chảy sao vội thế ?

              Trong cung suốt buổi nhàn.

              Ân cần nhờ là đỏ,

              Đưa đến chốn nhơn gian !

 

             

 

     ...Rồi thả trên dòng nước từ cung vua trôi ra ngoài. Thư sinh Vu Hựu 于祐 nhặt được đem cất đi. Hựu lại viết hai câu thơ:

              

              Tằng văn diệp thượng đề hồng oán,  曾聞葉上題紅怨

              Diệp thượng đề thi ký A  thùy ?    葉上題詩寄阿誰?

Có nghĩa :

              Từng nghe lá đỏ đề thơ oán,

              Lá đỏ đề thơ gởi đến ai ?

 

   ...Rồi cũng đợi nước lớn thả ngược vào trong cung. Hàn Thị bắt được lá cũng cất vào trong rương. Sau vua Đường Hi Tôn cho thải ba ngàn cung nhân, Hàn Thị được thải ra và rất tình cờ lại lấy được Vu Hựu làm chồng. Khi phát hiện ra lá đỏ của nhau, vợ chồng cùng cảm kích mà nói :"Chúng ta phải tạ ơn cho hai người mai mối, chính là hai cái lá đỏ nầy đây". Hàn Thị bèn từ trong tráp lấy ra thêm một bài thơ nữa và nói với chồng rằng : “Đây là bài thơ của thiếp làm sau khi vớt được chiếc lá của chàng!”. Vu Hựu bèn đọc bài thơ như sau :

 

              Độc bộ thiên câu ngạn,          獨步天溝岸,

              Lâm lưu đắc diệp thì.             臨流得葉時.

              Thử tình thùy khả đắc,           此情誰可得

              Trường đoản nhất liên thi !     腸斷一聯詩 !

Có nghĩa :

              Lẻ loi bước giữa dòng câu,

              Bên bờ vớt lá nghe sầu mênh mang.

              Tình nầy ai thấu can tràng,

              Đau lòng cung nữ đôi hàng thơ ai !

 

               

 

     Vu Hựu cũng cầm bút lên viết ngay một bài thất ngôn tuyệt cú như sau :

 

            Nhất liên giai cú tùy lưu thủy,                   一聯佳句題流水,

            Thập tải u tư mãn tố hoài.                        十載幽思滿素懷.

            Kim nhật khước thành loan phượng hữu,    今日卻成鸞鳳友,

            Phương tri hồng diệp thị lương mai(môi).   方知紅葉是良媒.

 

Có nghĩa :

            Đôi câu thơ đẹp chảy theo dòng,

            Ấp ủ lòng son suốt chục năm.

            May mắn hôm nay loan phụng hợp,

            Mới hay lá đỏ chính mai dong !

 

      Các văn nhân thi sĩ ở Trường An lúc bấy giờ hưởng ứng rất đông. Trong số văn thơ xướng họa, nổi tiếng nhất có bài thất ngôn tứ tuyệt của thi sĩ Cố Huống 顾况 như sau :

 

                Hoa lạc thâm cung oanh diệc bi,              花落深宮鶯亦悲,

                Thượng Dương cung nữ đoạn trường thì.  上陽宮女斷腸時。

                Quân ân bất bế đông lưu thủy,                君恩不閉東流水,              

                Diệp thượng đề thi ký dữ thuỳ ?              葉上題詩寄與誰?            

Có nghĩa :

               Hoa rụng thâm cung oanh cũng sầu,

               Thượng Dương cung nữ quặn lòng đau.

               Ơn vua không bế dòng lưu thuỷ,

               Trên lá đề thơ gởi đến đâu ?!

 

        Điển tích “LÁ THẮM” được sử dụng rất nhiều và rất rộng rãi trong văn chương Việt Nam. Phần đầu Truyện Kiều, khi dò la chỗ ở của Thúy Kiều, Kim Trọng đã đụng phải :

 

                               Thâm nghiêm kín cổng cao tường,

                         Cạn dòng LÁ THẮM dứt đường chim xanh !

 

                              

 

         

 

 

 

 

 

      Lá Thắm là từ Nôm của từ “Hồng Diệp 紅葉” là Lá đỏ thắm; mà Hồng Diệp lại là từ nói gọn lại của nhóm từ “Hồng Diệp Đề Thi 紅葉題詩” là “Lá Đỏ Đề Thơ”, hay là “Thơ Bài Lá Đỏ” như trong thơ của Hoàng Sĩ Khải :

 

                             Thực nhân tình THƠ BÀI LÁ ĐỎ,

                             Mạch sầu kia hầu tỏ cùng ai.

 

   ... lắm lúc lại được nói trại đi thành “Thả Lá Doanh Câu” như trong Bích Câu Kỳ Ngộ là :

 

                             Trông hoa lặng ngắt giờ lâu,

                       Ấy ai THẢ LÁ DOÀNH CÂU ghẹo người ?!

 

         Hồng Diệp đôi khi còn được nói thành nửa Hán nửa Nôm là “Lá Hồng”, như trong Hoa Tiên Ký của Nguyễn Huy Tự và Nguyễn Thiện :

 

                             Gớm nơi ngôi bảng duềnh khơi,

                           LÁ HỒNG bỗng đến chi nơi nổi chìm.

 

         Hồng Diệp còn thường đi chung với Xích Thằng, thành “Hồng Diệp Xích Thằng紅葉赤繩”, như lời của Thúy Kiều nói với Kim Trọng :

 

           Nàng rằng : HỒNG DIỆP Xích Thằng,

           Một lời cũng đã tiếng rằng tương tri !

 

                             

 

Và như trong Tây Sương Ký :

 

                                 Sự đâu nói gió bàn trăng,

                      Mà nghe HỒNG DIỆP Xích Thằng như chơi !

 

         Hồng Diệp Xích Thằng nói Nôm na thành ra “Lá Thắm Chỉ Hồng”, cũng lời của Thúy Kiều nói với Kim Trọng khi Kim tỏ tình :

 

                               Dù cho LÁ THẮM Chỉ Hồng,

                         Nên chăng thì cũng tại lòng mẹ cha.  

                               Nặng lòng xót liễu vì hoa,

                          Trẻ thơ đã  biết đâu mà dám thưa ! 

 

          Ta thấy, điển tích Lá Thắm được sử dụng hết sức rộng rãi trong văn học cổ Việt Nam ta, và được biến thể rất đa dạng từ Hồng Diệp đến Lá Thắm, Lá Hồng, Hồng Diệp Đề Thi, Thư Bài Lá Đỏ, Hồng Diệp Xích Thằng … Nên muốn hiểu hết, cảm nhận hết ý nghĩa của các câu thơ trên, ta phải tìm hiểu xuất xứ của điển tích này để thấy được hết cái hay, cái ý vị hàm chứa trong các câu thơ đó.

 

          Hẹn bài viết tới !

 

                                                                                                   Đỗ Chiêu Đức

_____________________________________________________

CHIẾN TRANH CHÍNH TRỊ

Trước 1975 của thế kỷ trước, tôi là Chuyên viên Điện ảnh của Sư Đoàn 3 Không quân Biên Hòa, Phòng Điện Ảnh của Tham Mưu Phó Chiến Tranh Chính Trị, thuộc loại lính Thành phố. Trong Không Quân có lệ, gọi thượng cấp là Ông Thầy, nhất là các loại lính nghề, lính kỹ thuật như chúng tôi.... Các Trung sĩ, Thượng sĩ, nhất là các Chuẩn úy già... đều là " Ông Thầy " cả ! Đặc biệt, chỉ có anh Binh Nhất Đỗ Chiêu Đức , mặc dù là lính, nhưng vẫn được mọi người gọi bằng Ông Thầy !. Tại sao ?!. Xin thưa : Có 3 lý do như sau : Thứ nhất, là vì mọi người đều biết anh ta là thầy giáo xuất thân, là thanh niên nhưng trông đạo mạo như một ông cụ non, tác phong nghiêm chỉnh, chửng chạc. Thứ hai, là mọi người đều biết anh ta rất giỏi chữ Nho và văn chương, có gì thắc mắc về mặt chữ Nho chữ Hán, cứ tìm anh ta là xong ngay. Thứ ba, là lý do quan trọng nhất, vì anh ta là... Chuyên viên Phòng Tối... Chuyên rửa, rọi và tráng phim ảnh. Hễ anh em nào, kể cả cấp chỉ huy, sĩ quan.... nhà có đám ma, đám cưới.... thì sau đó đều phải kiếm anh ta để... rửa dùm vài cuồn phim, nên câu mà anh ta thường nghe nói nhất là : " Ông Thầy.... giúp rửa dùm vài cuồn phim nhen ! ". Lúc bấy giờ, lính Mỹ đã rút hết, giao toàn bộ cơ sở vật chất đã xây dựng lại cho quân đội Việt Nam Cộng Hòa tiếp nhận, trong đó có Phòng Điện ảnh với đầy đủ thiết bị máy móc tráng, rọi và rửa phim ảnh, kể cả máy xấy hình và một lô giấy KODAK khổng lồ gần hết DATE, nên ông Trung Tá Tham Mưu Phó Chiến Tranh Chính Trị cho sử dụng thoải mái, và vì anh ta là lính trẻ, độc thân, nên ở luôn tại phần sở Tham Mưu Phó của mình, vì thế mà ban đêm, thức tráng phim, rửa hình thoải mái , hễ cứ phim đưa ngày hôm nay thì sáng hôm sau đã có hình rồi ! Mau hơn ngoài tiệm nhiều mà lại ... khỏi tốn tiền nữa, nên kêu một tiếng " Ông Thầy " không ai tiếc cả ! 

Sau Hiệp Định Ba Lê năm 1973, mọi người đều đinh ninh là... Hòa Bình sắp đến, ai cũng mong chờ và hy vọng, nhưng sau những đợt trao trả tù binh... súng vẫn còn nổ lai rai hoài, thấy mà phát rầu, riêng Tham Mưu Phó CTCT của Sư Đoàn thì lại rộn rịp hẵn lên, cấp trên chỉ thị xuống là thời gian sắp tới đấu tranh Chính Trị là chính trong Hòa Hợp Hòa Giải dân tộc, rồi Tổng Tuyển Cử .v.v... và v. v.... Nhưng, đợi mãi , vẫn không thấy gì, 1973 đi qua, rồi 1974 cũng đi... tuốt, nên Tết đầu năm 1975, anh lính trẻ có làm 2 bài thơ Thất ngôn Tứ tuyệt để gởi đăng báo như sau :

 

         長望和平          TRƯỜNG VỌNG HÒA BÌNH

     機場野草炎黃色     Cơ trường dã thảo viêm hoàng sắc
     難使春風吹又生     Nan sử xuân phong xuy hựu sanh
     不見梅花和燕子     Bất kiến mai hoa hòa yến tử

     年來未覺有何更 !   Niên lai vị giác hữu hà canh !

 

 

     年來未覺又何新 ?   Niên lai vị giác hựu hà tân,?
     烽火猶愁軍與民     Phong hỏa do sầu quân dữ dân
     長望和平長不到     Trường vọng hòa bình trường bất đáo
     不求春至又逢春 !   Bất cầu xuân chí hựu phùng xuân !

Chú thích :
       * " Xuân phong xuy hựu sanh " là lấy ý ở 2 câu thơ của nhà thơ Bạch Cư Dị là " Dã hỏa thiêu bất tận, xuân phong xuy hựu sanh , 野火燒不盡,春風吹又生". Có nghĩa : Sức sống của cỏ ngay cả " Lửa dại đốt cũng không thể chết được, vì khi gió xuân thổi là tất cả cỏ dại sẽ xanh tốt trở lại ngay " ! .

       * " Cơ trường " : là Phi trường. Ta gọi Phi trường nghĩa là Sân bay, Sân để cho máy bay cất cánh bay đi. Còn người Hoa gọi là Cơ Trường, là Sân để cho máy bay đậu. Đây gọi là tập quán ngôn ngữ và là cái khác nhau giữa tiếng Việt và tiếng Hoa. Một ví dụ nữa như : Ta gọi Người Xem là Khán Giả 看者, còn người Hoa gọi là Quan Chúng 觀眾.....

           Chuẩn Tướng Huỳnh Bá Tính Tư lện Sư đoàn 3 Không quân Biên Hòa

 

Dịch nghĩa :

 

       Cỏ trong phi trường vàng úa như bị cháy xém, khó có thể nào gió xuân thổi mà có thể xanh tốt trở lại được.Cũng chẳng thấy có hoa mai nở và chim én bay lượn , mùa xuân đã đến rồi mà lại chẳng thấy có gì thay đổi cho có vẻ xuân cả !

 

       Chẳng có gì đổi mới cho có vẻ xuân thì xuân đến mà chi ?. Chiến tranh vẫn còn làm cho quân và dân lo rầu buồn bã. Dài cả cổ trông ngóng Hòa Bình, mà hòa bình nào có tới cho đâu, chẳng cầu mùa xuân đến thì lại vẫn phải đón xuân như thường !

 

 

Diễn nôm :

 

                Phi trường cỏ dại vàng như cháy,
                Gió xuân khó khiến lại xanh um.
                Cũng chẳng hoa mai, chim én lượn,
                Xuân sang chẳng thấy có gì xuân !

 

 

               Chẳng có gì xuân sao gọi xuân ?
               Chiến tranh sầu muộn cả quân dân
               Trông ngóng hòa bình trông chẳng thấy
               Chẳng cầu xuân đến lại mừng xuân !

 

 

     Hai câu cuối của bài Tứ Tuyệt sau là nhại ý của hai câu thơ của nhà thơ Xuân Diệu thời Tiền Chiến :

 

                   Tôi có chờ đâu có đợi đâu
                   Mang chi xuân đến gợi thêm sầu !

 

 

       Được phép của Ngài Trung Tá Tham Mưu Phó CTCT Phạm Kim Lân, anh ta viết luôn một đôi liễn Tết dán ở phía trước Văn Phòng chánh của TMP CTCT như sau :

 

        戰征 難阻春風至    CHIẾN TRANH nan trở xuân phong chí,
        政治 猶期勝利來    CHÍNH TRỊ do kỳ thắng lợi lai.

 

 

Dịch nghĩa :

 

        Chiến tranh cũng khó mà cản trở được gió xuân thổi đến ,

        (chiến tranh thì chiến tranh, mùa xuân đến thì vẫn cứ đến).

 

        Chính trị thì còn đang kỳ vọng vào thắng lợi sắp đến !

 

        Câu đối trên còn hay ở chỗ dùng được 4 chữ CHIẾN TRANH CHÍNH TRỊ để mở đầu 2 câu đối và nêu được cái nhiệm vụ chính yếu của CTCT trong thời gian sắp tới !

        Rất tình cờ, thằng bạn Nguyễn Hoàng Hưng cũng là Chuyên Viên Điện Ảnh ở Sư Đoàn 4 Không Quân, phi trường Trà Nóc, Thành phố Cần Thơ, gọi điện xin đôi câu đối để dự thi cho Đặc San hay Giai Phẩm xuân gì đó của TMP CTCT Sư Đoàn 4 KQ, tôi bèn gởi ngay 2 câu đối trên cho anh ta với đầy đủ giải thích, rồi quên luôn.... Hai ba tuần sau, Hưng vui mừng gọi điện cho tôi báo tin là đã trúng Giải Nhất và được đăng trên Giai Phẩm Xuân của đơn vị. Rất tiếc là tình hình thời sự... lu bu của lúc ấy, nên tôi cũng không có nhận được báo do Hưng gởi tặng..... 

 

   Đỗ Chiêu Đức

_________________________________________

    1. Phiếm luận:                              

 

           TUỔI TÝ là ... CON CHUỘT NHÀ

                                             Tuổi Tý là con chuột nhà,

                                     Bắt vịt bắt gà khoét lổ đào hang.

 

        Đó là hai câu mở đầu cho "Bài Vè 12 Con Giáp" ở vùng Nam Kỳ Lục Tỉnh quê tôi. "Tuổi Tý là CON CHUỘT NHÀ" nghe gần gũi và thân thương làm sao ấy. Ở thôn  quê, nhà tranh vách đất, nên ở dưới sàn trong bếp hay chỗ khuất lấp một chút là thế nào cũng có ổ chuột hang chuột. Như trong bài Hàn Nho Phong Vị Phú của cụ Nguyễn Công Trứ đã miêu tả :

 

               Bóng nắng giọi trứng gà bên vách, thằng bé tri trô,

               Hạt mưa xoi hang chuột trong nhà, con mèo ngấp ngó .  

 

        Và nhất là tiếng chuột rút rít kiếm ăn ban đêm là việc thường nghe của các nhà nghèo :

 

                  Đầu giàn, chuột lóc khua niêu, buồn thôi lại bỏ...  

      

       Dòng họ nhà chuột và nơi ở của chuột được trình bày đầy đủ trong bài Thảo Thử Hịch 討鼠檄 (là Hịch Diệt Chuột) của cụ Nguyễn Đình Chiểu như sau :

 

       Gọi danh hiệu : chuột xạ, chuột lắt, chuột chù, chuột cống - anh em dòng họ nhiều tên;

       Tra quán chỉ : ở nhà, ở ruộng, ở rạch, ở lùm - bầu bạn non sông lắm chỗ.

 

      Không phải như Lục súc là ngựa, trâu, heo, dê, gà, chó, được con người nuôi nấng đàng hoàng, con chuột không được hoan nghênh ở trong nhà, nhưng vẫn ngang nhiên chạy nhảy và sống thoải mái vui vẻ như một thành viên không thể thiếu trong gia đình. Chả thế mà nó còn được ông tổ của Tử Vi là Hi Di Trần Đoàn tôn là con vật đứng đầu cho mười hai con giáp nữa thế mới oai chứ !

 

                   
 

      Đứng đầu Thập Nhị Địa Chi là TÝ 子, cầm tinh THỬ 鼠 là con Chuột. Nhưng Tháng Tý không phải là Tháng Giêng mà là Tháng Mười Một, và giờ Tý không phải là buổi sáng đầu ngày mà là nửa đêm từ 11pm cho đến 01 am của ngày hôm sau, theo như câu nói của dân gian là :

 

                         Nửa đêm, giờ Tý, canh ba...

 

      Nhớ khi xưa trong giờ học Hán Văn với thầy Dương Tự Tam ở trường Trung học Phan Thanh Giản Cần Thơ, thầy đã đọc câu thơ 6 chữ nầy. Lúc đó, trong lớp cũng có một bạn giỏi chữ Nho đã nối câu 8 chữ như sau :

 

                       Vợ ai, con gái, đàn bà, nữ nhi !

      

      "Nửa đêm, giờ Tý, canh ba" đều chỉ cùng một thời điểm là "NỬA ĐÊM", cũng như "Vợ ai, con gái, đàn bà, nữ nhi" cùng chỉ chung một giới tính : "NỮ GIỚI". Nhớ trước năm 1975, dân Miền Nam ghiền hát Cải Lương đã nhận xét về tuồng "Chiều lạnh Tuyết Băng Sơn" của soạn giả THU AN, do Út Hiền, Ngọc Hương, Thành Được, Mỹ Châu thủ diễn là " Tuồng hát có tên giống như là "Nửa đêm, giờ Tý, canh ba". Vì "CHIỀU LẠNH" đã lạnh rồi, "TUYẾT" càng lạnh hơn, rồi "BĂNG SƠN" càng lạnh hơn nữa; tất cả đều xoay quanh chữ "LẠNH" giống như câu "Nửa đêm, giờ Tý, canh ba" vậy ! 

 

                          

       

       Năm Tý là năm Chuột, Chuột là THỬ 鼠, trong "CHỮ NHO...DỄ HỌC" THỬ là chữ Tượng hình theo diễn tiến của chữ viết như sau :

    GIÁP CỐT VĂN     ĐẠI TRIỆN      TIỂU TRIỆN       LỆ THƯ

Ta thấy :

     Giáp Cốt Văn là hình tượng của con chuột và 3 hạt thóc, sang qua Đại Triện, Tiểu Triện là hình con chuột ngồi nhe hai hàm răng chơm chởm với cái mình và 4 chân bên dưới, cuối cùng là cái đuôi từ phải cong  sang trái. Nên, THỬ 鼠 là Chuột.

      Chuột là giống gậm nhấm phá phách, từ nông phẩm, thực phẩm, đến đồ gia dụng không từ thứ nào cả, nên còn được gọi là HAO TỬ 耗子 ( con vật làm Hư Hao đồ đạc ), và vì tính nào tật nấy, cứ thế phá phách, nên lại được gọi là LÃO THỬ 老鼠 = đồng âm với LÃO THỬ 老此, có nghĩa là LÃO THỊ NHƯ THỬ 老是如此 : Cứ vẫn như thế ! (Vẫn cứ phá phách như thế mãi !).

 

      Trong 12 con giáp, có 2 con được gọi là LÃO :

      1, Con Chuột : LÃO THỬ 老鼠. Như đã nói ở trên.       

      2, Con Cọp : LÃO HỔ 老虎. Giới bình dân của ta gọi là "Ông Cọp".

 

      Ta thường nói : Nhát như thỏ đế ! Nhưng người Hoa lại nói : ĐÃM TIỂU NHƯ THỬ 膽小如鼠 : là Mật nhỏ như chuột, nên gọi những người nhát gan là THỬ ĐÃM 鼠膽 : Mật chuột. "Thứ cái đồ Mật Chuột" có nghĩa như là "Thứ cái đồ chết nhát" của ta vậy !

 

      Chuột lại là con vật bị xem thường xem khinh, như ta mắng những kẻ tiểu nhân, những tên đầu trộm đuôi cướp là : Đồ chuột nhắt ! Tương đương với từ THỬ BỐI 鼠輩 : là Lũ chuột. Người ta ghét chuột, nên hễ thấy chuột là đuổi, đánh, ném, chọi, vì thế ta lại có thành ngữ :

      ĐẦU THỬ KỴ KHÍ 投鼠忌器 : Ta nói là " Ném chuột sợ vỡ đồ ".  Thành ngữ nầy có xuất xứ từ Hán Thư, Giả Nghị Truyện, như sau :

      Xưa có người thích sưu tập đồ cổ ngoạn. Ông ta tìm mua được một chiếc bình cổ thật đẹp, đặt trên bàn trong phòng khách, suốt ngày ngắm nghía trầm trồ. Một hôm, vừa từ nhà trong bước ra, ông ta thấy một con chuột đang định nhảy lên trên chiếc bình. Quýnh qúa, ông ta bèn tháo một chiếc guốc đang mang ném con chuột. Không ngờ, con chuột thì chạy mất, nhưng chiếc bình bị guốc ném trúng, rớt xuống đất vỡ tan. Ông ta vô cùng hối hận cho sự nóng nảy thiếu suy nghĩ của mình.

      Giả Nghị, một Thừa Tướng giỏi đời Hán, đã dùng câu truyện ngụ ngôn trên để khuyên ngăn Hán Văn Đế không nên dùng cực hình đối với giai cấp Đại phu Qúy tộc, sẽ ảnh hưởng đến sự tôn nghiêm của nhà vua ... Nên,

       Câu " Đầu Thử Kỵ Khí " có nghĩa làm việc gì đó mà không dám làm thẳng tay, vì còn nghi ngại sẽ ảnh hưởng đến những việc khác có liên quan. Giống như tình trạng diệt tham nhũng hiện nay ở Việt Nam vậy, chỉ làm chiếu lệ, không dám làm thẳng tay, vì ... Ném chuột còn sợ bị " bể " đồ ! Và như cố Phó Tổng Thống Trần Văn Hương của nền Đệ nhị Cộng Hòa ngày trước đã nói :" ...Diệt hết tham nhũng rồi, tôi làm việc với ai đây ?!...".

                              Đâu thử kỵ khí : Ném chuột sợ vỡ đồ.

 

      MIÊU KHỐC LÃO THỬ 猫哭老鼠 : là Mèo khóc Chuột, ý muốn nói : Chỉ làm bộ thương xót mà thôi ! Cả câu là " Miêu khốc lão thử giả từ bi 猫哭老鼠假慈悲 " : Mèo khóc chuột là lòng từ bi giả dối, để che mắt thiên hạ nhằm muốn đạt được một mục đích nào đó. 

 

      Thành ngữ MIÊU KHỐC LÃO THỬ 猫哭老鼠 có xuất xứ từ truyện Thuyết Đường, hồi thứ 62. Đây là câu nói mĩa mai của tướng Trình Giảo Kim nói với Tần Vương Lý Thế Dân, khi Tần Vương đến điếu tang tiểu tướng La Thành vừa mới bị Ân Tề nhị vương hại chết. Trình Giảo Kim cho là Tần Vương chỉ giả bộ thương xót để cho các tướng khác cảm động mà liều mình bán mạng để giúp nhà Đường tạo dựng nên cơ nghiệp mà thôi, chớ chẳng phải thương xót thật tình. Nên câu ...

     Mèo khóc Chuột có nghĩa tương đương như là câu " Nước mắt cá sấu " của ta vậy.

 

     Trong truyện THẤT HIỆP NGŨ NGHĨA 七俠五義 là 7 người Hiệp sĩ và 5 người Nghĩa sĩ đời Tống, thì NGŨ NGHĨA có ngoại hiệu là 5 con chuột theo thứ tự như sau :

 

     1. TOẢN THIÊN THỬ : Lư Phương 鑽天鼠 盧方, là Lão Đại : Chuột chui lên trời, rất giỏi về khinh công.

     2. TRIỆT ĐỊA THỬ : Hàn Chương 徹地鼠 韓彰, là Lão Nhị : Chuột chui xuống đất, giỏi về đào hầm chôn thuốc nổ.

     3. XUYÊN SƠN THỬ : Từ Khánh 穿山鼠 徐慶, là Lão Tam : Chuột xuyên qua núi, người to lớn có sức mạnh vô song.

     4. PHIÊN GIANG THỬ :Tưởng Bình 翻江鼠 蔣平, là Lão Tứ : Chuột vượt qua sông, giỏi thủy tánh, cơ trí hơn người.

     5. CẨM MAO THỬ : Bạch Ngọc Đường 錦毛鼠 白玉堂, là Lão Ngũ : Chuột lông gấm, trẻ và đẹp trai nhất trong 5 con chuột, mặc dù hành hiệp trượng nghĩa, nhưng thủ đoạn cũng khá tàn độc, rất đố kỵ với ngoại hiệu Ngự Miêu 御貓 ( Mèo của vua ) của Nam Hiệp Triển Chiêu.

 

       Đó là những con chuột Tàu...

 

      Ngoài ra, nói đến chuột thì không thể thiếu con chuột Mickey của Mỹ mà trẻ em của cả thế giới đều thích. Người Hoa dịch âm Mickey là MỄ KỲ 米奇, và gọi nó là MỄ LÃO THỬ 米老鼠 : Chuột Mickey, một trong những con vật tiêu biểu của Disney world, Disneyland. Và một con chuột không thể thiếu nữa trong đời  sống điện toán hiện nay, đó là : Con Chuột của Computer 電腦鼠標 là ĐIỆN NÃO THỬ TIÊU.

                               Chuột Computer và Chuột Mickey

 

      Còn 3 con vật có tên CHUỘT là THỬ, nhưng trông đẹp hơn chuột nhiều, đó là :

 

    * TÙNG THỬ 松鼠 : là Chuột trên cây tùng, cây thông. Ta gọi là Con Sóc.

    * VỊ THỬ 蝟鼠 : là loại chuột to, trên mình có lông mọc thành những mũi gai nhọn chơm chởm. Ta không gọi là chuột mà gọi là Con Nhím.

     * ĐẠI THỬ 袋鼠 : là con Chuột Túi, Kangaroo, biểu tượng của nước Úc, là một con thú hẵn hoi, không giống ... con chuột tí nào cả !   

                        
                           Tùng Thử : Con Sóc   Vị Thử : Con Nhím   Đại Thử : Chuột Túi
         

        Chuột có bốn chân, nhưng trong câu đố vui lại hỏi là : Chuột nào có hai chân ? Đáp là ngoài Chuột Túi (Kangaroo) ra, ta còn có con Chuột Mickey đi bằng hai chân. Thế còn con chuột nào chỉ có một chân ? Thưa, đó chính là con Chuột computer! Cuối cùng, câu hỏi hóc búa nhất là : Chuột nào chạy có ba chân ? Câu trả lời khá dí dõm và mĩa mai là : "Con chuột trong Ký Túc Xá sinh viên; vì các cô cậu sinh viên ăn uống bừa bãi, thức ăn rơi vải, rác rưởi, quần áo, đồ dùng vứt bề bộn đầy phòng, tạo nên mùi hôi khó chịu, nên các chú chuột ở đây chỉ chạy bằng ba chân... còn một chân trước dùng để ...bịt mũi lại cho đỡ hôi !.

 

       Năm 2020 là năm CANH TÝ 庚子. CANH là ngôi thứ 7 của Thiên Can. Kể về âm dương ngũ hành thì Canh Tân thuộc Kim là Vàng; còn Tý thuộc Thử 鼠 là con Chuột. Nên CANH TÝ là con Chuột Vàng. Nhắc đến con chuột bằng vàng lại nhớ đến chuyện cổ tích dân gian của ta :"Ông quan tuổi Tý và con chuột bằng vàng" như sau :

        Ngày xưa, có ông quan nọ nổi tiếng là thanh liêm, xử lý việc công tư đâu đó phân minh, công bình chính trực, không tham ô hối lộ, mặc dù có rất nhiều người đến biếu xén qùa cáp để đền ơn đáp nghĩa, ông đều một mực chối từ. Cho đến lúc về hưu, làng xã dân chúng mới từ miệng bà quan, vợ của ông biết ông tuổi tý, nên mới chung nhau đúc một con chuột bằng vàng đem đến biếu cho bà để làm kỷ vật. 

      Vì làm quan thanh liêm, nên mấy năm sau, khi gia đình túng quẩn, ông lại ngã bệnh, không tiền thuốc men. Cực chẳng đã, bà mới đem con chuột vàng ra bán để có tiền chi dụng và điều trị bệnh cho ông. Bỗng dưng nhà có nhiều tiền để xây xài, ông ngạc nhiên hỏi bà, bà mới tỏ thiệt cho ông biết về con chuột vàng có được vì tuổi con chuột của ông. Bỗng ông buột miệng tiếc rẻ :"Phải chi lúc đó bà bảo là tôi tuổi con trâu, thì chẳng phải bây giờ nhà mình giàu sụ rồi sao !?"

 

      Quả là một câu chuyện ngụ ngôn sâu sắc và thâm thúy đáng cho người ta phải suy gẫm !

   Con chuột hiện diện song song với đời sống nông thôn của nông dân ta. Từ khi bắt đầu xuống giống gieo trồng thì đã phải đề phòng chuột ăn vụng hột giống. Đến khi lúa bắt đầu chín thì lại sợ chuột ăn vụng lúa. Chính lúc nầy chuột lại là món ăn ngon lành béo bở của nông dân với các món : Chuột nướng trui, chuột rô-ti, chuột xào lăn, chuột xào bún nấm củ hành ... Bắt được nguyên ổ chuột con còn đỏ hỏn thì cho vào hũ rượu đế ngâm chừng ba tháng là uống được. Nghe nói thứ rượu chuột nầy trị bịnh trật đả thấp khớp rất công hiệu. Theo y học dân tộc cổ truyền thì thịt chuột đực có thể trị bệnh té ngã, tan máu bầm; phân chuột trị được bệnh kinh phong; còn đất của chuột đùn lên cũng có thể trị bịnh co rút, tê thấp như câu thiệu về Nam y :

                         

                     Đất, phân, thịt chuột thuốc thần,

                     Khéo tay trị bịnh muôn lần diệu linh.

 

      Những thứ nêu trên của con chuột, sau nầy được dùng làm cơ sở y lý cho bộ " Lĩnh Nam Bản Thảo" của Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác được lưu truyền rộng rãi trong dân gian. 

 

      Con Chuột cũng hòa nhập vào cuộc sống cộng đồng với những thành ngữ tục ngữ như :

 

    - ĐẦU VOI ĐUÔI CHUỘT để chỉ việc gì đó mở đầu rất rình rang sôi động mà kết cuộc lại âm thầm lặng lẽ chẳng ra gì.

    - TAI VƠI MẶT CHUỘT để chỉ tướng mạo khuôn mặt của những kẻ tiểu nhân nham hiểm, tâm địa hung ác hay phá phách và hại người khác.

    - CHUỘT ĐỒNG RA PHỐ để chỉ những người nhà quê còn ngơ ngác khi lần đầu tiên chân ướt chân ráo lên thành phố lớn...

    - CHÁY NHÀ MỚI LÒI RA MẶT CHUỘT để chỉ chuyện gì đó hay người nào đó đến nước cuối cùng mới để lộ ra cái xấu, cái âm mưu thâm hiểm của mình...

    - CHUỘT SA HỦ NẾP để chỉ người gặp dịp may đưa đến bất ngờ mà trở nên no đủ giàu sang, thường dùng để mĩa mai những người ở rể cho các nhà giàu. 

      Có câu chuyện ngụ ngôn kể rằng : Có con chuột nọ, ban đêm đi kiếm ăn, bất cẩn, sa vào hũ nếp. Chuột ta mừng lắm, cho là mình số hên, may mắn, từ rày về sau khỏi lo kiếm ăn nữa. Nào ngờ, nếp trong hũ ngày một lưng mà chuột thì lại ngày một béo ra không tài nào nhảy ra khỏi hũ nếp cho nổi, chỉ còn có nước nằm chờ chủ nhà đến bắt đi rô-ti để nhậu mà thôi ! Nghe chuyện nầy lại làm cho ta nhớ đến câu chuyện của "Tái Ông Thất Mã 塞翁失馬" trong sách Hoài Nam Tử 淮南子. Quả thật, ở đời họa phúc không biết đâu mà lường trước được.

                   CHÁY NHÀ MỚI LÒI RA MẶT CHUỘT

 

      Ngoài ra, còn có những từ ngữ như MÈO CHUỘT, CHIM CHUỘT để chỉ trai gái lén lút đi lại với nhau "bất hợp pháp". DƯA CHUỘT là loại dưa leo đèo, èo ọt, trông giống như con chuột lắt. PHÁO CHUỘT là một loại pháo tiểu rẻ tiền, nổ đì đẹt để bán cho trẻ em đốt chơi, vừa rẻ tiền vừa ít nguy hiểm. NHÀ Ổ CHUỘT  chỉ các xóm nhà nghèo ở chen chút với nhau trong các thành phố lớn. O CHUỘT là tác phẩm nổi tiếng của nhà văn Tô Hoài, người chuyên viết về chuyện loài vật... Nhắc đến chuyện loài vật lại nhớ đến hai sòng bài lớn nhất của Sài Gòn Chợ Lớn trước năm 1954 là Kim Chung và Đại Thế Giới. Người ta đã dùng 36 con vật tiêu biểu cho 36 số đề, gọi là "ĐỀ 36" để dẫn dụ người chơi, hễ đánh trúng con đề mà họ treo ở giữa nhà thì 1 đồng sẽ thành 30 đồng như trong bài "Vè Thua Đề Ba Mươi Sáu" của Thầy giáo Kiến ở Cần Thơ là :

 

                    Phải thời một vốn bỗng liền ba mươi !

 

      Đánh một đồng, chiều xổ trúng sẽ thành ba mươi đồng, ai mà không ham ! 

 

      Trở lại với con chuột. Trong Đề 36, con chuột nằm trong nhóm Thất Sanh Ý 七生意 là : Bảy người buôn bán làm ăn, gồm có :

         - Số 10 tên chữ là Giang Từ, con vật tiêu biểu là con Rồng Bay.

         - Số 11 tên chữ là Phước Tôn, con vật tiêu biểu là con Chó.

         - Số 12 tên chữ là Quang Minh, con vật tiêu biểu là con Ngựa.

         - Số 13 tên chữ là Hữu Lợi, con vật tiêu biểu là con Voi.

         - Số 14 tên chữ là Chỉ Đắc, con vật tiêu biểu là con Mèo Rừng.

         - Số 15 tên chữ là TẤT ĐẮC, con vật tiêu biểu là con CHUỘT.

         - Số 16 tên chữ là Mậu Lâm, con vật tiêu biểu là con Ong.

 

     Con Chuôt số 15, tên chữ là TẤT ĐẮC 必得, có nghĩa là : Chắc chắn sẽ được ! Được hay không thì không biết, nhưng ai theo số đề, ghiền đánh số đề đều tán gia bại sản cả ! Nên khi về Việt Nam chấp chánh, Tổng thống Ngô Đình Diệm đã cho dẹp hai sòng bài lớn nầy. Nhưng lực lượng vũ trang người Nùng nói tiếng Quảng Đông có công giúp cho Tổng Thống dẹp yên loạn Bình Xuyên do Bảy Viễn cầm đầu, nên họ còn tổ chức đánh đề 36 bán chính thức ở vùng Cây Da Xà Phú Lâm để chiêu dụ bà con người Hoa vùng Chợ Lớn chơi đề, và họ lại thêm vào 4 con nữa cho chẵn số 40. Đó là 4 con :

           - 37 Thiên Công là Ông Trời.

           - 38 Địa Chủ là Ông Địa.

           - 39 Thần Tài và 

           - 40 Táo Quân là Ông Táo.

     Vì thế, sau nầy áp dụng vào số kiến thiết đề đánh từ 00 đến 99, thì ta lại có thêm 2 con chuột nữa, đó là :

           - Số 55 con Chuột sồn sồn, và...

           - Số 95 là con Chuột Già, chuột Cống !

     Vì từ 00 đến 99 là 100 con đề, nên MỘT ĐỒNG trúng đến BẢY MƯƠI ĐỒNG, càng khơi dậy lòng tham của con người hơn. Đâu có làm ăn buôn bán nào được như thế đâu, nên dân nghèo cứ đâm đầu vô số đề mà chết, như ở vùng Lục Tỉnh sông nước quê tôi :

 

                                          Lái buôn thua thiếu câu mâu,

                                       Bạn bè đuổi hết ngồi sầu lái ghe.

... và Thầy Kiến đã kết bài vè là :

                                           Lời quê cóp nhặt nên vè,

                                     Ai mà thua lở có nghe đừng buồn !

     

                      
 

      Con Chuột không được hoan nghênh, nhưng vẫn hiện diện ở trong nhà, trong đời sống. Nằm đu đưa trên võng lúc cuối năm khi gió bấc bắt đầu thổi, chàng trai quê tôi thấy lòng lạnh lẽo nhìn hang chuột trong nhà mà cảm khái :

               

                      Gió bấc non thổi lòn hang chuột,

                 Thấy chị hai mầy... tao đứt ruôt đứt gan !

      

       Khi đã được vào làm rể để cùng ngủ chung một nhà rồi,  đến đêm cô gái đã ướm thử lòng và thách thức chàng trai :

 

                      Chuột kêu chút chít trong lò,

                    Lòng anh có muốn thì mò lại đây !

 

      Thách thức xong, cô lại sợ chàng trai hưng phấn quá mà bộp chộp không cẩn thận, nên lại nhắc nhở :

 

                         Chuột kêu chút chít trong rương,

                   Anh đi cho khéo, kẻo...đụng giường má hay !       

             

      Cái anh chàng làm rể nầy cũng lém lỉnh lắm, anh ta đã liệu trước tình huống lở mà xảy ra :

 

                      Má hay má hỏi đi đâu ?   Thì đáp là ...

                Con đi bắt chuột cho mèo con ăn !

 

       Nhưng rồi cũng đến lúc đôi lứa được sum vầy :

 

                           Bỏ công làm rễ bấy nay,

                    Bi giờ mới được vui vầy cùng em.

                          Ðêm nay mới thật là đêm,

                 Chuột kêu chút chít càng thêm vui nhà !

 

       Các câu ca dao trên lại làm cho ta nhớ đến hai câu thơ của nữ sĩ Hồ Xuân Hương trong bài thơ "Vịnh Nữ Vô Âm" là :

 

                           Rúc rích thây cha con chuột nhắt,

                           Vo ve mặc mẹ cái ong bầu.

Theo ý câu ca dao cổ là :

                                Con gái mười bảy mười ba

                            Đêm nằm với mẹ chuột tha mất l...

 

     ...Vì thế, đã "vô âm" thì thây cha con chuột, mặc mẹ cái ong, cho nó vo ve rúc rích chán thì thôi.

 

      Chuột là Thử, trong văn học Việt Nam ta cũng có một giai thoại văn chương độc đáo có nhắc đến con Chuột là Thử của Trang Quỳnh khi ông đối lại câu đối hóc búa của nữ sĩ Đoàn Thị Điểm :

                   " Cây xương rồng trồng đất rắn, long vẫn hoàn long ",

     Trạng đã đối rất khéo, rất hay và rất " rắn mắt " là :

                  " Qủa dưa chuột tuột thẳng gang, thử chơi thì thử !".

 

     Đâu có cô gái nào dám "thử" quả dưa chuột của Trạng đâu, nói chi đến nữ sĩ Đoàn Thị Điểm !

  Ngoài ra, cụ Tam Nguyên Yên Đổ Nguyễn Khuyến cũng có bài thơ “Chuột Đói” do Dương Xuân Đàm diễn Nôm có những câu như sau đây :

 

                 Bọn mi nương xó tường ta.

                 Bấy lâu êm ả trong nhà không sao.

                 Phải khi gạo kém thóc cao,

                 Bọn mi lục đục cắn nhau bao lần...

 

                 Bọn mi nào phải bất nhân,

                 Vì ta của để của ăn không gì.

                 Phải đâu riêng một bọn mi,

                 Vợ con ta cũng nhiều khi eo sèo!...             

 

     Nhà thơ Đoàn Văn Cừ trong bài thơ TẾT cũng đề cập tới pháo chuột:

 

                       Giờ lâu tràng pháo Chuột,

                       Đì đẹt nổ trên hè.

 

    Thi sĩ Bàng Bá Lân nhớ về quá khứ của làng quê khi Tết đến, ông cũng đã có  câu thơ:

 

                     Tết về nhớ bánh chưng xanh

               Nhớ tràng pháo Chuột, nhớ tranh Lợn, Gà.

 

     Dấu ấn rõ nét nhất của Con Chuột trong văn học cổ là truyện thơ Nôm khuyết danh TRINH THỬ 貞鼠 (Con chuột trinh tiết), dài 850 câu lục bát và 2 bài thơ thất ngôn Đường luật. Theo bản in sớm nhất năm Đinh Tỵ (1875) cốt truyện như sau :

      Truyện kể rằng vào năm Long Khánh (niên hiệu của Trần Duệ Tông) đời Trần, ở miền Lộc Đỗng có người Hồ sinh, học rộng biết nhiều, lại nghe được tiếng chim muông cầm thú. Nhân ra chơi kinh thành, chàng ngụ ở gần nhà Thừa Tướng Hồ Quý Ly. Đêm nằm bỗng nghe tiếng chó sủa. Chó sủa làm cho một con chuột bạch góa chồng đang đi kiếm ăn bên nhà Hồ Quý Ly kinh hãi chạy vào nấp ở hang chuột đực. Bị Chuột Đực gạ gẫm, nhưng Chuột Bạch nhất định cự tuyệt, bác lại các lý lẽ của Chuột Đực và quyết liều chết để bảo toàn trinh tiết. Chuột Đực biết không thể lay chuyển nổi Chuột Bạch, bèn lấp liếm để chữa thẹn. Đang khi ấy, Chuột Cái về, ngờ rằng chồng (Chuột Đực) và Chuột Bạch có gian tình, tỏ ý giận dữ. Chuột Bạch giãi bày, biện bạch rồi từ biệt ra về. Nhưng Chuột Cái không tin, nổi ghen, đay nghiến chồng, rồi còn đến nhà Chuột Bạch để xỉ vả. Mèo ở đâu chợt đến. Chuột Bạch chạy thoát vào lu gạo, còn Chuột Cái chạy lạc đường sa xuống ao. Hồ sinh (người biết tiếng muôn thú, đã đứng nghe câu chuyện từ đầu) thấy thế, bèn đuổi mèo đi, vớt Chuột Cái lên, rồi lấy lời lẽ phải trái nói rõ lòng trinh tiết của Chuột Bạch và khuyên nhủ Chuột Cái về đạo cư xử trong gia đình.

 

      Quả là một câu chuyện luân lý đầy tính dân gian của xã hội Việt Nam ngày xưa. Còn ngày nay thì sao ?. Có còn giữ được phụ đạo như lời chuột bạch tỏ bày hay không :

 

                        Chữ rằng "tòng nhất nhi chung",

                    Gái hiền thờ chỉ một chồng chẳng hai.

 

      TÒNG NHẤT NHI CHUNG 從一而終: Có xuất xứ từ Kinh Dịch, có nghĩa : "Theo một người cho đến chết" . Ý là : "Xuất giá theo chồng cho đến hết đời, chồng chết thì thủ tiết thờ chồng cho đến chết chứ không lấy chồng khác". Mặc dù đó là luân lý cổ xưa, nhưng đó chính là cái gốc của đạo làm vợ, là cái cơ bản của đạo đức Khổng Mạnh thuở xưa :

 

                        Vợ chồng đạo cả lẽ hằng,

                   Tạo đoan lẽ ấy há rằng phải chơi.

     ...và :

                        Dẫu rằng đá lở non mòn,

                   Tấm lòng tạc sắt ghi son chẳng dời.

 

      Không phải như xã hội ngày nay, hễ động một chút là ly thân, ly dị. Mong rằng trong năm Canh Tý là CON CHUỘT NHÀ nầy, tất cả những cặp đôi vợ chồng người Việt Nam ta đều thương yêu tin tưởng lẫn nhau để xây dựng một mái ấm gia đình như đôi chuột trong truyện TRINH THỬ đã lưu truyền trong dân gian vậy !

 

      Chúc tất cả đồng hương thân hữu trên khắp thế giới đều được AN KHANG THỊNH VƯỢNG trong năm con Chuột 2020 nầy !

2. Vịnh Chuột năm TÝ :

 

XƯỚNG :

     
  TUỔI TÝ LÀ CON CHUỘT NHÀ

Tuổi Tý là con chuột ở nhà,

Đào hang khoét lổ cứ như pha.

Chẳng kiêng chẳng kỵ thây mèo chó,

Không nể không nang mặc chủ gia.

Cắn phá tứ tung còn tưởng bở...

Sinh sôi bừa bãi cứ như là ...

Miếng ăn của sẵn, đêm vừa xuống,

Chút chít đầy nhà tiếng bạn ta !

Đứng đầu Hoa Giáp chính là ta,

Tý Thử cùng chung... giống Chuột mà !

Xông đất Địa Chi còn để ngõ,

Cháy Nhà Mặt Chuột Mới Lòi Ra. 

Đầu Voi Đuôi Chuột không nên việc,

Măt Chuột Tai Vơi vốn dĩ tà !

Giả bộ từ bi Mèo Khóc Chuột.

Suốt đời Hũ Nếp sướng thân Sa.

 

                                   Đỗ Chiêu Đức

                                   Canh Tý 2020

 

   

3. Câu đối cho năm CANH TÝ 2020 :

CANH lại tàn canh,  gió Tết xứ người thêm nhớ nước;

 

TÍ ta tí tách, mưa xuân đất Mỹ chạnh lòng quê.              

    

                                                                                                                          Đỗ Chiêu Đức

                                                                                                                          Canh Tý 2020

 

4.  Thư Pháp :

 

     viết ngang :

viết đứng: 

THÀNH NGỮ ĐIỂN TÍCH : 

                                                GƯƠNG

                                           GƯƠNG NGA chênh chếch dòm song,

                                      Vàng gieo ngấn nước cây lồng bóng sân.

 

           Đó là hai câu thơ chuyển cảnh thật hay, thật nên thơ như trong nghệ thuật điện ảnh của cụ Nguyễn Du trong Truyện Kiều, khi diễn tả Thúy Kiều vừa về đến nhà sau buổi đạp thanh với nhiều gặp gỡ : Gặp hồn ma Đạm Tiên và gặp chàng Kim Trọng với "Đề huề lưng túi gió trăng" và dáng vẻ "Vào trong phong nhã, ra ngoài hào hoa". GƯƠNG NGA là vầng trăng mới mọc "chênh chếch dòm song", còn được cụ Nguyễn Du gọi là BÓNG NGA ở những câu sau đó :

 

                                        Một mình lặng ngắm BÓNG NGA,

                                        Rộn đường gần với nỗi xa bời bời.

         GƯƠNG NGA hay BÓNG NGA còn được gọi là GƯƠNG QUẢNG HÀN như trong truyện Nôm khuyết danh Lưu Nữ Tướng :

 

                                          Kiệu dừng, hé bức màn sương,

                                  Khác nào non thúy, rạng GƯƠNG QUẢNG HÀN.

 

                                         

             GƯƠNG NGA, BÓNG NGA hay GƯƠNG QUẢNG HÀN đều dùng để chỉ mặt trăng một cách nên thơ trong bầu trời ban đêm, nhưng có những cái gương làm cho người ta phải khiếp đãm kinh hồn, đó chính là Gương Chiếu Yêu (Chiếu yêu kính) làm cho yêu quái bị chiếu vào sẽ hiện nguyên hình như trong truyện Phong Thần; đến đời Tần còn xuất hiện thêm một cái kiếng chiếu thấy cả gan ruột con người, gọi là CHIẾU ĐÃM KÍNH 照膽鏡. Theo sách Tây Lương Tạp Ký đời Đông Tấn của Cát Hồng 东晋葛洪《西京杂记》có ghi : Trong cung Hàm Dương  đời Tần có một cái gương rộng 4 thước (khoảng 1m2 tây), cao 5 thước 9 (gần 2 thước tây), bên trong kiến phát sáng. Người đến trước gương soi sẽ thấy cả lòng dạ ruột gan, ngũ tạng lục phủ.  Tần Thủy Hoàng đã dùng chiếc gương nầy để cho các cung nhân soi vào, người nào tim rung động, mật nở to là có gian tình thì giết chết. Chiếc gương nầy đã gây chấn động và làm khiếp đãm mọi người, nên Tần Thủy Hoàng đã lợi dụng cái tâm lý "Có tật thời Giật mình" đã phát hiện rất nhiều gian tình và nịnh thần trong cung cấm và trong triều đình. Vì những người gian xảo dối trá khi đứng trước gương sẽ không tránh khỏi sợ hãi hoang mang, chính nét mặt, cử chỉ và biểu hiện bất bình thường... của chính bản thân họ đã tố cáo cho sự gian dối của họ với những người chung quanh. 

         Trong văn học cổ của ta gọi cái Chiếu Đãm Kính nầy là GƯƠNG LẦU TẦN, như trong Chinh Phụ Ngâm Khúc để diễn tả lòng chung thủy của người chinh phụ đối với chồng đang đi chinh chiến ở biên cương xa xôi, nữ sĩ Đoàn Thị Điểm đã có câu :

 

                                    Thoa cung Hán thuở ngày xuất giá,

                                    GƯƠNG LẦU TẦN dầu đã soi chung.

 Còn trong truyện thơ Nôm Lưu Nữ Tướng thì gọi là  GƯƠNG TẦN ĐÀI như :

 

                                     Bỗng đâu hẩy trận Đằng Vương,

                                  Thày lay sớm đã tỏ GƯƠNG TẦN ĐÀI.    

 

         Gương soi còn là vật để làm đẹp chốn khuê phòng của các bà các cô ở trên bàn trang điểm, thường được trang trí bởi hình con chim loan, nên thường gọi là GƯƠNG LOAN. Theo sách Thái Bình Ngự Lãm 太平御覽 : Kế Tân Vương 罽賓王 xây nhà ở núi Tuấn Kỳ, bắt được một con chim loan. Vương rất yêu thích cho ăn toàn ngũ cốc, ở lồng vàng, nhưng suốt ba năm chim vẫn không hót. Phu nhân mới hiến kế rằng :"Thiếp nghe nói, khi chim loan gặp được đồng loại thì sẽ vui mừng mà kêu hót". Vương nghe theo. bèn cho dựng một tấm gương lớn trước mặt chim. Quả nhiên chim loan vui mừng kêu hót không ngừng, nhưng kêu mãi mà chim loan trong gương vẫn không bay ra, nên tiếng kêu hót trở nên bi thương. Cuối cùng gục chết trước gương. Sau dùng rộng ra, GƯƠNG LOAN là gương dùng để cho lứa đôi soi bóng và là chiếc gương trang điểm trên bàn phấn của qúy bà qúy cô. Trong Cung Oán Ngâm Khúc của Ôn Như Hầu Nguyễn Gia Thiều tả lúc nàng cung nữ bị thất sủng có câu :

 

                                         Phòng tiêu lạnh ngắt như đồng,

                                     GƯƠNG LOAN bẻ nửa, dải đồng xẻ đôi.

 

                                       

 

          Còn trong bài "Mai Rụng" của Jean.Leiba thời Tiền chiến đã diễn tả vẻ sầu thương ủ rủ của nàng thiếu nữ đang mòn mõi chờ đợi tình quân bằng những câu :

 

                                        Sầu đối GƯƠNG LOAN, bóng lạ người,

                                        Chàng không lại nữa, đẹp cùng ai ?

                                        Bơ phờ tóc rối, vành khăn lệch,

                                        Ủ rũ hoa gầy, má đỏ phai !

             

          Nhắc đến câu "GƯƠNG LOAN bẻ nửa, dải đồng xẻ đôi" làm cho ta lại nhớ đến điển tích GƯƠNG VỠ LẠI LÀNH. Theo  "Bổn Sự Thi" của Mạnh Khải đời Đường 唐.孟棨《本事詩》có kể lại chuyện như sau :

 

                                 

 

                                                    Em gái của Trần Hậu Chúa 陳後主 Nam Triều là                                                          Lạc Xương Công Chúa 樂昌公主 có chồng là Thái                                                        tử Xá nhân Từ Đức Ngôn 徐德言. Vợ chồng rất                                                          mực thương yêu nhau.   

              

                                                        Khi Tùy Văn Đế cử binh đánh nước Trần, thì                                                          Trần Hậu Chủ chỉ lo ở trong cung ăn chơi, làm thơ đề từ. Nên quân Trần thua chạy khắp nơi. Từ Đức Ngôn thấy đại cuộc sắp tiêu vong, nên vô cùng lo lắng. Biết rằng nước Trần sẽ mất trong nay mai, không còn cách gì cứu vãn được nữa. Từ bèn nói với Công chúa rằng : " Với tài hoa và sắc đẹp của nàng, khi nước đã mất rồi, chắc chắn sẽ lọt vào tay những bậc quyền qúy sau nầy. Nếu duyên phận chúng ta chưa dứt, ta rất mong gặp lại nàng sau nầy, nhưng chúng ta cũng phải có một tín vật gì đó để mà nhận ra nhau chứ!". Nói đoạn, Từ Đức Ngôn vói tay lấy chiếc gương đồng trên bàn trang điểm của công chúa, đập bể làm đôi. Đưa cho công chúa một nửa, còn mình thì giữ một nửa còn lại. Hai người cùng ước hẹn nhau rằng, sau nầy nếu có muốn gặp nhau thì vào ngày Tiết Nguyên Tiêu, rằm tháng giêng hàng năm, cứ đem nửa mảnh gương nầy mà rao bán giữa chợ Trường An.

       Qủa nhiên, nước Trần mất vào tay nước Tùy. Lạc Xương Công chúa lọt vào tay của hoàng thân nước Tùy là Dương Tố. Tố rất sủng ái công chúa, nhưng nàng thì luôn luôn buồn bã vì nhớ đến chồng.             

       Những năm sau đó, tuy cuộc chiến đã yên, nhưng Từ Đức Ngôn luôn nhớ đến công chúa qua nửa mảnh gương, nên thường ra dạo chợ Trường an. Tiết Nguyên Tiêu năm đó, Từ cũng mang nửa mảnh gương ra chợ, tình cờ gặp được một gia nhân cũng đang rao bán nửa mảnh gương. Ráp lại thì vừa vặn với nửa mảnh gương của mình.              

       Từ bèn khẩn khoản mời gia nhân về nhà trọ hỏi thăm về tin tức của công chúa. Sau khi biết công chúa luôn thương nhớ đến mình. Từ rất xúc động viết một bài thơ ngũ ngôn gởi cho công chúa như sau :

 

                    鏡與人俱去,   Kính dữ nhân câu khứ,

                    鏡歸人不歸;   Kính quy nhân bất quy;

                    無復嫦娥影,   Vô phục Thường Nga ảnh,

                    空留明月輝!    Không lưu minh nguyệt huy!

Có nghĩa :

                     Gương đi người cũng đi theo,

                     Gương về người chẳng về theo lại nhà.   

                     Đâu còn thấy được bóng Nga,

                     Bơ vơ như ánh trăng tà trống không !

 

                       

         

      Công chúa đọc thơ của Từ Đức Ngôn mà lòng đau như cắt. Suốt mấy ngày liền không ăn uống gì cả. Dương Tố biết chuyện, cảm thông cho tình vợ chồng sắt son gắn bó, mới cho người đi mời Từ Đức Ngôn vào dinh, làm tiệc khoản đãi và mời cả công chúa đến dự. Khi công chúa đến nơi, thấy trong bàn tiệc có cả chồng cũ lẫn chồng mới, nàng vô cùng ngỡ ngàng, nửa mừng nửa lo, xúc động mà ngâm rằng :

 

                       今日何遷次,   Kim nhật hà thuyên thứ,

                       新官對舊官;   Tân quan đối cựu quan.

                       笑啼俱不敢,   Tiếu đề câu bất cảm,

                       方驗作人難!    Phương nghiệm tác nhân nan!

Có nghĩa :

                      Hôm nay khéo đổi dời,

                      Chồng cũ cùng chồng mới.

                      Cười khóc cũng lỡ làng,

                      Khó làm người cho nổi !

Lục bát :

                      Hôm nay sao khéo đổi dời,

                      Chồng cũ chồng mới cùng ngồi chung nhau.

                      Khóc, cười thiếp biết phải sao ?

                Làm người khó lắm phải nào dễ đâu !   

              

                       

       

Từ Đức Ngôn nghe xong cảm động mà rơi nước mắt; còn Dương Tố nghe xong thì cảm động mà cười lớn rằng :"Thôi được rồi, ta sẽ trả nàng về để cho vợ chồng đoàn viên sum họp". 

        Sau tiệc, Dương Tố chẳng những trả Lạc Xương Công Chúa về cho Từ Đức Ngôn mà còn ban thưởng rất nhiều vàng bạc cho vợ chồng về lại Giang Nam để sống yên vui hạnh phúc tới già .

  Câu chuyện PHÁ KÍNH TRÙNG VIÊN 破鏡重圓 từ đó được lan truyền khắp thiên hạ, qua đến Việt Nam ta thì thành "GƯƠNG VỠ LẠI LÀNH". Thành ngữ nầy thường dùng để chỉ vợ chồng hoặc đôi lứa yêu nhau, vì hoàn cảnh mà phải phân ly cách trở, xa nhau một thời gian, rồi do một cơ duyên nào đó lại được sum họp đoàn viên trở lại. Như Thúy Kiều sau mười lăm năm lưu lạc vì phải bán mình chuộc cha, "thanh lâu hai lượt thanh y hai lần", cuối cùng cũng được đoàn viên sum họp với gia đình và Kim Trọng, nên trong buổi tiệc đoàn viên, khi đã "Tàng tàng chén cúc dở say" Thúy Vân mới đứng lên phân bua :

 

                       Rằng : Trong tác hợp cơ trời,

                     Hai bên gặp gỡ một lời kết giao.

                     ...Những là rày ước mai ao,

                   Mười lăm năm ấy biết bao nhiêu tình.

                        Bây giờ GƯƠNG VỠ LẠI LÀNH

                   Khuôn duyên lừa lọc đã dành có nơi ...

 

 

       Xin được kết thúc các GƯƠNG ở nơi đây, và...

 

      Tha thiết mong rằng tất cả những GƯƠNG VỠ trong thiên hạ đều LẠI LÀNH sau những sầu thương lận đận tang thương chìm nổi của cuộc đời !

 

       Đỗ Chiêu Đức

Thành ngữ điển tích:

                                                       ĐÔNG

                                        ĐÔNG QUÂN sao khéo bất tình, 

                                    Cành hoa tàn nguyệt bực mình hoài xuân.

 

        Đó là hai câu thơ oán trách và bất mãn của nàng cung nữ trong Cung Oán Ngâm Khúc của Ôn Như Hầu Nguyễn Gia Thiều. ĐÔNG QUÂN 東君 là "Ông Vua ở Hướng Đông", là Chúa Xuân mang lại ánh nắng ban mai  ấm áp cho hoa lá cỏ cây.

        1. Theo Sử Ký, Phong Thiền Thư 史記·封禪書 thì : ĐÔNG QUÂN là thần mặt trời ở hướng đông, với hình tượng của một nam nhân mặt đỏ, tay cầm cung tên, áo xanh quần trắng. Nghĩa phát sinh trong văn học cổ dùng để chỉ nhà vua, như trong "Đại Nam Quốc Sử Diễn Ca" của Lê Ngô Cát & Phạm Đình Toái có câu :

 

                                   Chủ trương mừng thấy ĐÔNG QUÂN,

                                   Thái bình cây cỏ được nhuần hơi mưa.

 

        2. Theo truyền thuyết dân gian cổ Trung Hoa thì ĐÔNG QUÂN là Chúa Xuân, như thơ của Vương Sơ đời Đường trong bài "Lập Xuân Hậu Tác 立春后作" là : 

 

                       Đông Quân kha bội hưởng san san,       東君珂佩響珊珊,

                       Thanh ngự đa thì hạ cửu quan.             青馭多時下九關。

                       Phương tín ngọc tiêu thiên vạn lý,         方信玉霄千万里,

                       Xuân phong do vị đáo nhân gian.          春風猶未到人間".  

       Có nghĩa :

                              ĐÔNG QUÂN đeo ngọc bước đing -đang,

                              Cởi ngựa xuống trần qúa cửu quan,

                              Mới biết trời cao muôn vạn dặm,

                              Gió xuân chưa thổi đến nhân gian.

 

            Trong "Tứ Thời Khúc Vịnh" của một danh sĩ đời Mạc là Hoàng Sĩ Khải cũng có câu :

 

                                        Đâu đâu chịu lệnh ĐÔNG QUÂN,

                                     Cửu giao lừng lẫy đón xuân rước về !

 

        3. ĐÔNG QUÂN 東君 còn dùng để chỉ người đàn ông, người chồng trong gia đình ngày xưa với năm thê bảy thiếp, làm chủ trong nhà như chúa xuân mang đến ân huệ cho tất cả thê thiếp trong gia đình, như trong Hoa Tiên Ký của Nguyễn Huy Tự và Nguyễn Thiện :

 

                          Vẻ chi một mảnh hồng quần,

                   Chúa hoa đành đã ĐÔNG QUÂN đây rồi !

 

                                      

 

          Cũng như hai câu thơ trong Cung Oán Ngâm Khúc mở đầu cho bài viết nầy, ĐÔNG QUÂN là Chúa Xuân, là Vua, là người đàn ông đầy quyền lực trong gia đình, nên nếu không khéo xử sự thì sẽ rất dễ tạo nên những hờn oán cho thê thiếp vì :

 

                                            Muôn hồng nghìn tía đua tươi,

                                     CHÚA XUÂN nhìn hái một hai bông gần !

 

... để đến nỗi buông lời oán trách như lời thơ sau đây :

 

                                            ĐÔNG QUÂN sao khéo bất tình, 

                                     Cành hoa tàn nguyệt bực mình hoài xuân.

 

          Sau ĐÔNG QUÂN 東君 ta có ĐÔNG CUNG 東宮, là Cung điện được xây dựng ở phía đông cung vua, là chỗ ở của Hoàng Thái Tử, người sẽ kế vị ngôi vua sau nầy. Theo Dịch lý ngũ hành thì Đông phương là Giáp Ất thuộc Mộc, chủ màu Xanh, là biểu tượng của mùa Xuân, nên ĐÔNG CUNG còn được gọi là "Thanh Cung 青宮" 

hay "Xuân Cung 春宮".  Như trong Đại Nam Quốc Sử Diễn Ca của Lê Ngô Cát và Phạm Đình Toái :

 

                                           ĐÔNG CUNG đã lập Duy Tường,

                                     Bỗng không lại đổi Duy Phường cớ sao ?

 

         ĐÔNG CUNG 東宮 còn chỉ chỗ ở của Hoàng Hậu là mẹ của Hoàng Thái Tử. Vào đời Hán, hoàng hậu ở cung Trường Lạc nằm ở phía đông của cung Vị Ương là cung của vua ở, nên Hoàng Hậu còn được gọi là  ĐÔNG CUNG HOÀNH HẬU 東宮皇后, khác với Tây Cung là chỗ ở của Thứ Phi, Qúy Phi... Như trong truyện Nôm khuyết danh Phạm Tải Ngọc Hoa  (dân gian thường gọi là Phạm Công Cúc Hoa) của ta :

 

                                           Thương chồng chẳng quản xấu xa,

                                     Phong làm hoàng hậu chính toà ĐÔNG CUNG.

 

        Còn ĐÔNG PHONG 東風 là "Gió từ Hướng Đông" chớ không phải là "Gió của Mùa Đông". Gió của hướng Đông là gió Xuân. Theo chương Nguyệt Lệnh trong sách Lễ Ký 礼记·月令 như sau : Mạnh xuân chi nguyệt, đông phong giải đống 孟春之月,東風解凍. Có nghĩa : Tháng giêng của mùa xuân, gió đông thổi tan băng giá. Nên hai câu thơ cuối trong bài "Đề Tích Sở Kiến Xứ 題昔所見處" (Còn có tựa là Đề Đô Thành Nam Trang 題都城南莊) là : 

                        Nhân diện bất tri hà xứ khứ,           人面不知何處去,

                        Đào hoa y cựu tiếu ĐÔNG PHONG   桃花依舊笑東風.

... còn được viết là : 

                        Nhân diện bất tri hà xứ khứ,           人面不知何處去,

                        Đào hoa y cựu tiếu XUÂN PHONG    桃花依舊笑春風。

 

        Cụ Nguyễn Du đã mượn ý của hai câu thơ trên để tả lúc Kim Trọng trở lại Vườn Thúy tìm Thúy Kiều với hai câu lục bát rất hay là :

                                           Trước sau nào thấy mặt người,

                                      Hoa đào năm ngoái còn cười GÍO ĐÔNG.

                  

                                       
 

       

 

 

 

       Trong truyện Nôm Hoa Tiên ký của Nguyễn Huy Tự và Nguyễn Thiện đã tả nàng Dương Dao Tiên với hai câu thật gợi cảm :

                                           GIÓ ĐÔNG gờn gợn sóng tình,

                                      Dưới hoa lộng lẫy một cành mẫu đơn.

 

       Còn trong Cung Oán Ngâm Khúc thì Ôn Như Hầu Nguyễn Gia Thiều đã mượn GÍO ĐÔNG để chỉ sự mơn trớn của nhà vua với nàng cung nữ khi mới được yêu :

 

                                           Cành xuân hoa chúm chím chào,

                                        GÍO ĐÔNG thôi đã cợt đào ghẹo mai.

 

     ... và khi thất sủng, thì nàng cung nữ cũng nhắm vào ĐÔNG PHONG mà trách móc :

 

                                           Thù nhau ru hỡi ĐÔNG PHONG,

                                       Góc vườn đãi nắng cầm bông hoa đào.

 

          Còn cụ Nguyễn Trãi trong Quốc Âm Thi Tập : "Đào Hoa Thi bài một" thì viết như sau :

 

                     Một đoá đào hoa khá tốt tươi,

                     Cách xuân mơn mởn thấy xuân cười.

                     ĐÔNG PHONG ắt có tình hay nữa,

                     Kín tịn mùi hương dễ động người.

        

                            

 

           Còn trong "Việt Nam Thi Nhân Tiền Chiến" thì nhà thơ Jean Leiba (Lê Văn Bái) đã viết trong bài Mai Rụng như sau :

                                        

                                   Yêu chàng, em cố chuốt hình dong

                                   Tô cặp môi son, điểm má hồng,

                                   Em thấy xuân nay hoa nở đẹp,

                                   Cảm tình Thanh Đế, tạ ĐÔNG PHONG,

 

            Ngoài ĐÔNG PHONG là GIÓ ĐÔNG ra, ta còn có TƯỜNG ĐÔNG là bức tường ở mé đông, do câu nói trong sách Mạnh Tử. Cáo Tử Hạ 孟子.告子下 là : Du đông gia tường nhi lâu kỳ xử tử 踰東家牆而摟其處子. Có nghĩa : Trèo qua bức tường  phía đông nhà hàng xóm mà ôm cô gái còn trong trắng. Ý nói là :  Chọc ghẹo cô gái hàng xóm, như trong Truyện Kiều, cụ Nguyễn Du nói về chị em Thúy Kiều khi vừa đến tuổi câp kê là :

 

                                         Êm đềm trướng rũ màn che,

                                  TƯỜNG ĐÔNG ong bướm đi về mặc ai.

 

            Có nghĩa là : Chị em Thúy Kiều sống êm đềm trong "trướng rũ màn che", mặc cho đám thanh niên lối xóm có tỏ tình trêu ghẹo gì cũng mặc ! Nên TƯỜNG ĐÔNG, ĐÔNG GIA, ĐÔNG LÂN ... đều dùng để chỉ Hàng Xóm, như khi Thúy Kiều tảo mộ xong về lại nhà, cụ Nguyễn Du đã có những câu chuyển cảnh thật hay như sau :

                Kiều từ trở gót trướng hoa,

         Mặt trời gát núi chiêng đà thu không.

                Gương nga chênh chếch vòm song,

         Vàng gieo ngấn nước cây lồng bóng sân.

                 Hải đường lả ngọn ĐÔNG LÂN,

         Hạt sương trĩu nặng cành xuân la đà....

 

                                 
              Chữ ĐÔNG còn đưa ta đến với hai nhân vật trong văn học cổ mà nhắc đến thì mọi người đều quen biết, đó chính là :

        1. ĐÔNG PHA 東坡 : là Tô Thức (1037-1101), chính trị gia, văn thi sĩ đời Tống, tự là Tử Chiêm, hiệu là Đông Pha Cư Sĩ, nên người đời quen gọi là TÔ ĐÔNG PHA 蘇東坡. Ông nổi tiếng với nhiều bài Thi Từ Ca Phú, nhất là hai bài Tiền, Hậu Xích Bích Phú với các câu như : Quế trạo hề lan tương, kích không minh hề tố lưu quang, diễu diễu hề dư hoài, vọng mỹ nhân hề thiên nhất phương... 桂棹兮蘭槳,擊空明兮泝流光。渺渺兮予懷,望美人兮天一方... Có nghĩa : ... Thuyền quế nầy chèo lan, khua vầng trăng sáng nầy theo dòng nước lan man, lòng ta diệu vợi muôn vàn, phương trời người đẹp mơ màng ngóng trông !... Theo sử thi "Mai Đình Mộng Ký 梅亭夢記" của Nguyễn Huy Hổ 阮輝琥 trong đó cũng có câu :

 

                                    Này này quế trạo lan tương,

                             Ví đua Xích Bích, chi nhường ĐÔNG PHA.

 

      2. ĐÔNG SÀNG 東床 : là cái giường nằm ở phía đông. Theo tích Vương Hi Chi 王羲之 trong Tấn Thư 晉書 như sau :

          Vào đời Đông Tấn, có quan Thái Úy là Khước Giám, có một cô con gái vừa tài hoa vừa đẹp đẽ, nên ông luôn muốn kén chọn một chàng rễ cho xứng với con gái mình. Biết được trong nhà của Tể Tướng Vương Đạo có rất nhiều con cháu trai đều văn hay chữ tốt, bèn cho môn sinh đến để cầu thân. 

    Khi người môn sinh của Khước Giám đền ngỏ ý, thì Vương Đạo bèn bảo rằng : Tất cả bọn chúng đều đang ăn ở học tập ở phía đông sương, cứ qua đó mà chọn. Người môn sinh bèn đi về phía đông sương, thấy những chàng trai con cháu của họ Vương người nào cũng mi thanh mục tú, ra vẻ "Nền phú hậu bậc tài danh, Văn chương nết đất thông minh tính trời", lại nghe nói có người nhà của quan Thái Úy đến chọn rễ, nên ai nấy đều ăn mặc chải chuốc bảnh bao, duy chỉ có một chàng nằm phơi bụng ở giường mé đông đọc sách xem như không có gì xảy ra cả. 

     Người môn sinh về kể lại tài mạo của các chàng trai họ Vương bên đó cho quan Thái Úy Khước Giám nghe. Khi nghe xong, Khước Giám liền bảo : "Chính hắn ! Chính cái chàng trai nằm phơi bụng ở giường đông như không có việc gì xảy ra đó, chính là chàng rễ mà ta muốn chọn đó".

 

                        

 

     

 

 

 

Qủa không sai, vì chàng rễ đó chính là Vương Hi Chi, nhà văn, nhà thư pháp nổi tiếng với bút pháp của Thiếp Lan Đình để đời cho đến hiện nay. Trong Truyện Kiều, cụ Nguyễn Du đã cho Hoạn Thư khen Thúy Kiều khi thấy nàng chép kinh ở Quan Âm Các là :

 

                                      Khen rằng bút pháp đã tinh,

                                So vào với Thiếp Lan Đình nào thua !

 

       Sau nầy, hễ muốn chọn được chàng rễ qúy thì người ta thường gọi là "Kén Rễ Đông Sàng". Nên "RỄ ĐÔNG SÀNG" là chàng rễ qúy. Trong truyện thơ Nôm khuyết danh "Nhị Độ Mai" của ta cũng có câu :

 

                                      Con ta yểu điệu khuê phòng,

                                Có Tây Tử đó, thiếu ĐÔNG SÀNG nào ?!   

 

      Còn trong "Sơ Kính Tân Trang" của Chiêu Lỳ Phạm Thái, một danh sĩ ở cuối thế kỷ 18 đầu thế kỷ 19 của ta thì gọi là GIƯỜNG ĐÔNG :

 

                                     Lẽ đâu dám kẻ GIƯỜNG ĐÔNG,

                                 Tước bình xin đợi, thừa long xứng tài.  

 

                               

 

       

 

 

 

 

            TƯỚC BÌNH là "Tước Bình Trúng Tuyển 雀屏中選"; THỪA LONG là "Thừa Long Khoái Tế 乘龍快婿". Cả hai thành ngữ nầy cùng với "Diệu tuyển ĐÔNG SÀNG 妙選東床" đều là những thành ngữ chỉ kén được chàng rễ quý !

 

           Hẹn bài viết tới !

 

           Đỗ Chiêu Đức                  

Góc Đường Thi : 

                               TÂN NIÊN TÁC

                                                                LƯU TRƯỜNG KHANH

 LƯU TRƯỜNG KHANH 劉長卿 (726-786) tự là Văn Phòng, người huyện Tuyên Thành (thuộc tỉnh An Huy ngày nay) giỏi về thơ ngũ ngôn và ngũ ngôn luật. Ông làm quan đến chức Giám Sát Ngự Sử, có giao tình rất hậu với Thi tiên Lý Bạch.

        Mùa xuân năm Chí Đức thứ 3 (758), vì chính kiến bất đồng, từ chức Trưởng Châu Úy của Tô Châu, ông bị biếm đến Phan Châu tỉnh Quảng Đông lãnh chức Nam Ba Úy. Tết năm đó ông làm bài thơ dưới đây để bày tỏ nỗi lòng của mình.

 

   新年作               TÂN NIÊN TÁC

鄉心新歲切,    Hương tâm tân tuế thiết,

天畔獨潸然。    Thiên bạn độc san nhiên.

老至居人下,    Lão chí cư nhân hạ,

春歸在客先。    Xuân quy tại khách tiên.

嶺猿同旦暮,    Lãnh viên đồng đán mộ,

江柳共風煙。    Giang liễu cộng phong yên.

已似長沙傅,    Dĩ tự Trường Sa Phó,

從今又幾年 ?    Tòng kim hựu kỷ niên ?

      劉長卿               Lưu Trường Khanh

 

 

 

* CHÚ THÍCH :

    - Hương tâm 鄉心 :  là Lòng Quê, là Nỗi lòng tưởng nhớ đến quê hương.

    - Tân Tuế 新歲 : là Tuổi mới, là Năm mới, là Tết đến.

    - Thiên Bạn 天畔 : là Bên trời, ở đây chỉ bị biếm đến nơi xa xôi.

    - San Nhiên 潸然 : chỉ lệ rơi lả chả.

    - Lãnh Viên 嶺猿 : chỉ Vượn trên đĩnh núi.

    - Đán Mộ 旦暮 : ĐÁN là Ngày, là Buổi Sáng. MỘ là Buổi Chiều.

    - Trường Sa Phó 長沙傅 : chỉ GIẢ NGHỊ 賈誼, một nhà tư tưởng, nhà văn học và là một quan Đại Phu nổi tiếng đời Tây Hán, rất được Hán Văn Đế trọng vọng, nhưng bị dèm xiểm đố kỵ, nên có lúc bị đày đến làm Thái Phó của đất Trường Sa, vì thế  mới gọi là Trường Sa Phó. Ở đây Lưu Trường Khanh tự ví mình như là Giả Nghị vì dèm xiểm nên bị đày.

 

* NGHĨA BÀI THƠ :

                                  Sáng Tác Trong Năm Mới

        Nỗi lòng tưởng nhớ đến quê hương càng tha thiết hơn trong những ngày Tết đến. Một mình một bóng nơi chân trời xa xôi nầy mà âm thầm nhỏ lệ. Cái già đã sồng sộc đến nơi rồi mà thân phận vẫn cứ lè tè nhỏ nhoi ở dưới người khác; Cũng như nàng xuân luôn luôn đến trước với những người khách tha hương. Ở đây, sớm chiều chỉ cùng bầu bạn với các chú vượn trên các đĩnh núi xa xa, và ngắm cảnh mờ sương gió với các dãy liễu rũ ven sông. Ta tự thấy mình đã giống như là Đại phu Giả Nghị lúc bị đày ở Trường Sa; không biết là từ nay còn phải chịu đến mấy năm nữa đây ?!

 

      Qủa là nỗi lòng của kẻ tha hương thật bi thiết trong những ngày năm hết Tết đến, khi nhìn lại thân phận của mình vẫn còn nhỏ nhoi không thực hiện được hoài bão và mùa xuân vẫn không chờ đợi ai mà vẫn cứ ập đến qua hai câu thơ thật phũ phàng thực tế :

 

                          老至居人下,    Lão chí cư nhân hạ,

                          春歸在客先。    Xuân quy tại khách tiên.

 

 ... làm cho ta cũng nhớ đến thân phận của những kẻ lưu vong nơi xứ lạ quê người như chúng ta hiện nay. Chưa làm được gì cho quê hương thì cái già đã sồng sộc ập xuống trên đầu rồi. Câu "Xuân quy tại khách tiên" ngoài nghĩa " Người khách tha hương cảm nhận mùa xuân về trước hơn những người khác" ra, còn có nghĩa là :"Mùa xuân đến trước hơn khi người đất khách được về lại quê hương !" Quê hương còn chưa về được, nhưng mùa xuân thì vẫn cứ đến hằng năm không ai có thể cản được như lời thơ của thi sĩ Tiền Chiến Xuân Diệu :

                          Tôi có chờ đâu có đợi đâu,

                      Mang chi xuân đến gợi thêm sầu !

 

* DIỄN NÔM :                            

                   

                            TÂN NIÊN TÁC

 

                   Lòng quê Tết càng bi thiết,

                   Bên trời lả chả lệ rơi.

                   Già đến quan còn bên dưới,

                   Xuân về khách cảm trước người.

                   Sớm chiều cùng nghe tiếng vượn,

                   Sương khói bờ liễu buông lơi.

                   Đã như Trường Sa Giả Nghị,

                   Sức còn biết mấy lăm hơi ?!

    Lục bát :

                   Lòng quê Tết đến ngậm ngùi,

                   Bên trời lả chả bồi hồi riêng ta.

                   Dưới người khi tuổi đã già,

                   Xuân về trước lúc hồi gia khách sầu.

                   Sớm chiều tiếng vượn rầu rầu,

                   Bên bờ liễu rũ nhạt mầu khói sương.

                   Thân như Giả Nghị sầu vương,

                   Từ nay, rồi nữa, miên trường bao năm ?!

 

    Đỗ Chiêu Đức

_________________________________________

Đài

 

 

 

 

 

 

 

Tiện đây xin một hai điều,

ÐÀI GƯƠNG soi đến dấu bèo cho chăng?

 

Đó là lời nói khéo léo ga-lăng của Kim Trọng khi tỏ tình với Thúy Kiều. Kim ví Kiều như là ĐÀI GƯƠNG SEN ở trên cao, còn mình chỉ là những dấu bèo nhỏ nhoi trôi nổi ở bên dưới. "Nịnh đầm" đến thế là cùng. Chả trách cô Kiều nhận lời ngay, nhưng vẫn còn e ngại mà "đổ thừa" rằng : 

 

Đã lòng quân tử đa mang,

Một lời dâng tạc đá vàng thủy chung.

 

... và khi cả nhà Vương Viên Ngoại đi mừng thọ ngoại gia, chỉ còn có một mình Thúy Kiều ở nhà, thì nàng cũng đã nhân cơ hội nầy mà cùng với Kim Trọng thề nguyền gắn bó. Khi nàng đến tìm Kim thì chàng đã:

 

Vội mừng làm lễ rước vào,

ĐÀI SEN nối sáp, lò đào thêm hương.

Tiên thề cùng thảo một chương,

Tóc mây một món dao vàng chia đôi!

 

 

 

ĐÀI SEN là cái giá có hình hoa sen để cắm đèn cầy, đèn sáp.

ĐÀI GƯƠNG còn là ĐÀI GƯƠNG SOI như trong bài kệ của nhà sư Thần Tú đời Tống:

 

Thân tự bồ đề thọ,                 身似菩提樹,

Tâm như minh Kính Đài.      心如明鏡台. 

Thời thời thường phất thức,   時時勤拂拭, 

Mạc sử nhạ trần ai.                莫使惹塵埃.

 

Có nghĩa:

Thân bền vững tựa như cây bồ đề, còn lòng thì trong sáng như ĐÀI GƯƠNG soi. Lúc nào cũng siêng năng lau phủi, không để cho nhuốm phải bụi trần.

 

Thân như cây bồ đề,

Lòng tựa Đài Gương soi.

Siêng năng thường lau phủi,

Không để nhuốm trần ai!

 

Nhưng Lục Tổ Huệ Năng đã chỉnh lại rằng:

 

Bồ đề bổn vô thọ,           菩提本無樹,

Minh kính diệc phi Đài, 明鏡亦非台,

Bổn lai vô nhất vật,       本來無一物,

Hà xứ nhạ trần ai?       何處惹塵埃?

 

Có nghĩa:

Vốn chẳng có cây bồ đề nào cả, cũng không có đài gương nào hết, vốn dĩ chẳng có vật gì cả, thì lấy đâu mà nhuốm bụi trần ai?

 

Không bồ đề nào cả,

Cũng chẳng có Đài Gương,

Vốn không vật gì cả,

Lấy đâu nhuốm bụi đường? 

 

 

 

Sau ĐÀI GƯƠNG ta còn có từ PHẬT ĐÀI, là cái đài cao có hình đức Phật đứng hoặc ngồi trên đó. Khi sư Giác Duyên đưa cả nhà đến gặp mặt Thúy Kiều ở thảo am thì "Nỗi mừng biết lấy chi cân? Lời tan hợp chuyện xa gần thiếu đâu!" và sau khi "Hai em hỏi trước han sau, Đứng trông chàng cũng trở sầu làm tươi", thì cả nhà mới:

 

Quây nhau lạy trước PHẬT ĐÀI,

Tái sinh trần tạ lòng người từ bi. 

 

Trong bài DƯƠNG ta đã có từ DƯƠNG ĐÀI là tích của Sở Vương và Vu Sơn Thần Nữ theo như bài Cao Đường Phú của anh chàng đẹp trai Tống Ngọc; nhưng trong Bích Câu Kỳ Ngộ thì lại gọi là ĐÀI DƯƠNG như hai câu sau đây :

Kìa ai mê giấc ĐÀI DƯƠNG,

Mây mưa là chuyện hoang đường có đâu!

 

Còn ĐÀI LÂN là Kỳ Lân Đài 麒麟臺 cùng với Lăng Yên Các 凌 煙 閣 là nơi vua Đường Lý Thế Dân cho họa sĩ vẽ hình của 24 người có công giúp vua lập nên nhà Đường đem treo ở nơi đây để ghi nhớ công lao của họ. Trong nguyên bản chữ Hán Chinh Phụ Ngâm của Đặng Trần Côn câu 447-448 ghi :

 

凌 煙 閣兮秦 叔 寶, Lăng yên các hề Tần Thúc Bảo, 

麒 麟 臺兮霍 嫖 姚. KỲ LÂN ĐÀI hề Hoắc Phiêu Diêu*

(* Hoắc Phiêu Diêu trong truyện Thuyết Đường gọi là Uất Trì Cung 尉遲恭).

 

Hai câu thơ trên đã được nữ sĩ Đoàn Thị Điểm diễn nôm một cách rất tài tình là : 

 

Tài so Tần , Hoắc vẹn tuyền 

Tên ghi gác khói, tượng truyền ĐÀI LÂN.

 

 

 

 

 

 

 

 

Lăng Yên Các và Kỳ Lân Đài

 

Trong Văn Tế Chiến Sĩ Trận Vong của Nguyễn Văn Thành cũng có nhắc tới GÁC KHÓI ĐÀI MÂY:

 

Phận dù không GÁC KHÓI ĐÀI MÂY;

Danh đã dậy ngàn cây nội cỏ.

 

ĐÀI MÂY là Vân Đài 雲臺, là nơi Hán Minh Đế treo tranh của hai mươi tám vị công thần của nhà Hán để tưởng nhớ đến công lao của họ. Trong văn học cổ thường dùng để ví cái vinh dự cao nhất của kẻ bề tôi hết lòng với vua dưới thời phong kiến.

 

Ta còn có từ ĐÀI NGÂN tức là Ngân Đài 銀臺, vốn là tên riêng để gọi mặt trăng, nhưng căn cứ vào câu :"Sính Vương Mẫu vu Ngân Đài hề, tu ngọc chi dĩ liệu cơ 聘王母于银台兮,羞玉芝以疗饥。" Có nghĩa : "Mời Vương Mẫu ở Ngân Đài, dùng mè ngọc để đỡ đói" (Ngọc Chi là "Mè ngọc" có thể là một cách để gọi "hạt gạo" mà ta đang ăn). Đó là một câu trong bài "Tư Huyền Phú 思玄赋" của Trương Hành đời Đông Hán, nên sau nầy thường dùng Ngân Đài hay "ĐÀI NGÂN" để chỉ chỗ ở của các nàng tiên. Như trong Truyện Tây Sương có câu :

Trên thì chễm chệ ĐÀI NGÂN,

Mấy lời dạy bảo mười phần đinh ninh.

 

Còn ĐÀI THIÊNG là do chữ Nho là LINH ĐÀI 靈臺 theo tích của một thi nhân đời Đường như sau :

 

BÙI ĐỘ (756-839), đại thần nhà Đường, tự là Trung Lập, người đất Văn Hỉ Huyện Hà Đông, nay thuộc tỉnh Sơn Tây. Ông đậu tiến sĩ năm Trinh Nguyên đời Đường. Lúc ấy phiên trấn làm loạn, triều đình thảo phạt mấy lần đều thất bại, nên triều thần đều muốn bãi binh, duy chỉ có Bùi Độ là muốn đánh tới cùng. Tướng Phiên là Ngô Nguyên Tế phái người hành thích ông nhưng không chết. Sau ông được thăng làm Tể Tương. Năm Nguyên Hòa thứ 12, ông xua quân công phá Thái Châu, bắt sống Ngô Nguyên Tế. Các phiên trấn Hà Bắc kinh sợ đều về qui phục triều đình. Ông lập công to, nên nhiều người dèm xiểm hãm hại, nhiều lần bị biếm xứ xa. Về già, vì hoạn quan chuyên quyền, nên ông xin về hưu ở đất Lạc Dương, thường cùng ngâm vịnh với Bâch Cư Dị, Lưu Vũ Tích. 

Dưới đây là bài đề từ của ông đề dưới bức chân dung của mình, lời lẽ khiêm tốn nhưng lại rất tự hào về phẩm chất hơn người của mình:

 

爾才不長,爾貌不揚,胡為乎將?胡為乎相?一點靈臺,丹青莫狀!Nhĩ tài bất trưởng, nhĩ mạo bất dương, hồ vi hô tướng ? Hồ vi hô tướng* ? Nhất điểm LINH ĐÀI, đan thanh mạc trạng !

(* Có 2 chữ TƯỚNG : 將nầy là TƯỚNG QUÂN 將軍; Còn 相 nầy là TỂ TƯỚNG 宰相)

 

Có nghĩa:

Tài của ngươi không giỏi, tướng mạo cũng bình thường, sao lại có thể làm tướng quân ? Sao lại có thể làm Tể Tướng ? Chỉ còn một điểm tâm linh thần thái (hơn người của ngươi) mà nét đan thanh không thể nào vẽ nên được!

 

Nên LINH ĐÀI hay ĐÀI THIÊNG còn dùng để chỉ con tim, tấm lòng thanh cao trong sạch vượt trội hơn người khác, như trong truyện Nôm Hoa Tiên Ký của Nguyễn Huy Tự và Nguyễn Thiện :

 

Đeo đai trót một tiếng đà,

ĐÀI THIÊNG hổ có trăng già chứng lâm.

 

Cũng trong Hoa Tiên Ký của Nguyễn Huy Tự và Nguyễn Thiên, ta còn bắt gặp từ ĐÀI XUÂN, là ĐÀI trồng cây XUÂN 椿. Theo sách Trang Tử, chương Tiêu Dao Du, thì XUÂN 椿 là loại cây cao bóng cả, tàng lá sum xuê, có tám trăm năm là mùa xuân, tám trăm năm là mùa thu, nên được dùng để ví với người cha là cột trụ chống đỡ và che chở cho gia đình :

 

Vào hầu lạy trước ĐÀI XUÂN,

Hương đưa chén rót, gấm nhuần tiệc cao.

 

Ngoài ra, ta còn có các từ như DẠ ĐÀI 夜臺, TUYỀN ĐÀI 泉臺 đều chỉ nơi mộ địa chôn người chết, dùng rộng ra có nghĩa là Âm Phủ như các từ Suối Vàng (hoàng tuyền 黃泉), Chín Suối (cửu tuyền 九泉) vậy. Cụ thể là:

 

* TUYỀN ĐÀI 泉臺 : là Cái Đài có Suối chảy. Vốn là tên một cái đài cao do Lổ Trang Công đời Xuân Thu xây dựng nên. Sau dùng để chỉ lăng mộ và mộ huyệt, đến đời Đường do hai câu trong bài thơ "Lạc Đại Phu Vãn Từ" của Lạc Tân Vương 駱賓王〈樂大夫挽詞〉một trong Tứ kiệt buổi sơ Đường là: 

 

忽見泉臺路, Hốt kiến TUYỀN ĐÀI lộ,

猶疑水鏡懸。 Do nghi thủy kính huyền.

Có nghĩa:

Chợt thấy ngõ TUYỀN ĐÀI,

Còn ngờ treo kính nước.

 

Nên TUYỀN ĐÀI còn có nghĩa là Âm ty Địa phủ, nơi của người chết phải đi về. Như khi nhờ Thúy Vân thay mình trả nghĩa cho Kim Trọng xong, Thúy Kiều đã than rằng :

 

Nợ tình chưa trả cho ai,

Khối tình mang xuống TUYỀN ĐÀI chưa tan !

 

* DẠ ĐÀI 夜臺 : là cái Đài về Đêm. Đài ở đây chỉ Lăng mộ người chết, nên kín mít bít bùng không có ánh sáng như là ban đêm vậy. Nên dùng rộng ra để chỉ cỏi âm, nơi mà tất cả người chết đều phải đi về nơi đó, như trong bài "Khóc Tuyên Thành Thiện Nhưỡng Kỷ Tẩu" ( Khóc ông lão chuyên ũ rượu ở Tuyên Thành) của Thi Tiên Lý Bạch 唐李白在《哭宣城善酿纪叟》có câu :

 

夜臺無曉日, DẠ ĐÀI vô hiểu nhật,

沽酒與何人? Cô tửu dữ hà nhân? 

 

Có nghĩa:

 

DẠ ĐÀI không ánh ban mai,

Muốn đi mua rượu ai người uống cho?

 

Trong Truyện Kiều, khi bán mình chuộc tội cho cha, Thúy Kiều đã trối lại với Thúy Vân về mối tình của mình với Kim Trọng rằng:

 

Hồn còn mang nặng lời thề,

Nát thân bồ liễu đền nghì trúc mai.

DẠ ĐÀI cách mặt khuất lời,

Rải xin giọt mước cho người thác oan.

 

... và khi Kim Trọng trở lại vườn Thúy để tìm Kiều, thì Vương Ông đã kể lể với chàng rằng :

 

...Kiếp này duyên đã phụ duyên,

DẠ ĐÀI còn biết sẽ đền lai sinh.

Mấy lời ký chú đinh ninh,

Ghi lòng để dạ cất mình ra đi.

Phận sao bạc bấy Kiều nhi...

Chàng Kim về đó, con thì đi đâu ?!!!

 

Đỗ Chiêu Đức

________________________________

Thơ Trương Duyệt

 

 

Trương Duyệt 張說 (667-730):

Đại thần đời Đường. Tự là Đạo Tế, một tự nữa là Duyệt Chi. Người đất Lạc Dương. Đời Võ Tắc Thiên được phong làm Thái Tử Hiệu Thư, đời Đường Trung Tông giữ chức Hoàng Môn Thị Lang, đời Tuấn Tông được phong chức Trung Thư Môn Hạ Bình Chương Sự, đến đời Huyền Tông thì giữ chức Trung Thư Lệnh, rồi được truy phong Yến Quốc Công. Ông giỏi về văn từ nên được giao cho soạn thảo hầu hết các văn kiện quan trọng trong triều đình lúc bấy giờ. Thơ của ông thường làm lúc ngẫu hứng. Sau đây là những bài thơ của ông làm khi bị biếm làm Thứ Sử đất Nhạc Dương.

 

1. Bài thơ Tống Lương Lục Tự Động Đình Sơn Tác:

 

 

 

 

 

 

 

 

送梁六自洞庭山作 Tống Lương Lục Tự Động Đình Sơn Tác

 

巴陵一望洞庭秋, Ba Lăng nhất vọng Động Đình Thu,

日見孤峰水上浮。 Nhựt kiến cô phong thủy thượng phù.

聞道神仙不可接, Văn đạo thần tiên bất khả tiếp,

心隨湖水共悠悠. Tâm tùy hồ thủy cộng du du !

張說                      Trương Duyệt 

 

* Chú thích:

- Lương Lục 梁六: Tức Lương Tri Vi, Thứ sử Đàm Châu, nhân về kinh đi ngang qua Nhạc Dương, nên Trương Duyệt lúc bấy giờ là Thứ sử Nhạc Dương mới đưa bạn đi qua hồ Động Đình.

- Động Đình Sơn 洞庭山 : Còn gọi là Quân Sơn, nằm trong Động Đình Hồ về phía tây nam của thành phố Nhạc Dương. Nơi có phong cảnh đẹp đẽ hữu tình.

- Ba Lăng 巴陵: Tên Quận của Nhạc Châu, thuộc Nhạc Dương trong tỉnh Hồ Nam.

- Cô Phong 孤峰 : Đỉnh núi cô độc, chỉ đỉnh Quân Sơn lẻ loi ở giữa hồ Động Đình.

- Văn Đạo 闻道: Nghe nói rằng, Nghe đồn rằng...

- Thần Tiên 神仙: ở đây chỉ Tương Quân và Tương Phu Nhân hai tiên nhân đắc đạo ở núi Động Đình nầy, nên núi còn có tên Quân Sơn là vì thế. Theo Thập Di Ký 《拾遗记》 của Vương Gia đời Đông Tấn thì có đến tám tiên đảo trôi nổi trên mặt sông hồ biển cả, trong số đó có Quân Sơn. Tương truyền dưới núi Quân Sơn có đến mấy trăm gian nhà vàng tráng lệ để cho các tiên đồng ngọc nữ ở trong đó, suốt ngày luôn có tiếng tiêu thiều tơ trúc vang lừng các khúc nhạc tiên vẳng đến cả trên đỉnh núi. Nhưng không mấy ai gặp được thần tiên trên núi đó.

- Du Du 悠悠 : là Dài lâu, là Dằng dặc lơ lửng mãi không thôi.

 

* Nghĩa bài thơ:

Làm Khi Đưa Lương Lục Từ Núi Động Đình.

Từ đất Ba Lăng ta nhìn theo bạn đến mút con mắt trên hồ Động Đình khi trời đã vào thu; dưới ánh nắng lắp lánh ta thấy ngọn núi Quân Sơn cô độc như trôi nổi trên hồ Động Đình (tựa như núi Bồng lai ); Nghe nói thần tiên rất khó mà gặp được để tiếp xúc, nên lòng ta cũng như nước hồ trôi nổi tận xa xăm !

 

* Diễn Nôm:

Cảm Tác Khi Đưa  Lương Lục Từ Động Đình Sơn

 

Ba lăng tiễn bạn Động Đình Hồ,

Dưới nắng Quân Sơn tựa lửng lơ.

Nghe nói thần tiên không dễ gặp,

Lòng theo hồ nước cũng dật dờ! 

 

Lục bát:

Ba Lăng thu ngắm Động Đình,

Núi côi như nổi xinh xinh giữa hồ.

Thần tiên há dễ gặp cơ ?!

Lòng ta theo nước dật dờ xa xa!

 

Đỗ Chiêu Đức

 

Bài thơ nầy đã được thân phụ của Công Tử Bạc Liêu cho người viết và cẩn xà cừ treo trong phòng khách trên lầu bên cạnh hai câu đối chính. Ta thấy nội dung bài thơ diễn tả lại tâm lý tự nhiên của con người trước cảnh chia tay, trước thiên nhiên trời nước bao la của hồ Động Đình, trước sự nhỏ bé của núi Quân Sơn như đang trôi nổi trên mặt hồ như tiên đảo Bồng lai; làm cho lòng người cũng lắng đọng xuống muốn đi tu tiên để sống cảnh sống thanh nhàn của thần tiên, không xô bồ xô bộn như cuộc đời thực tế đang diễn ra trước mắt. Nếu chịu lắng lòng với bài thơ nầy, thì chắc Công Tử Bạc Liêu cũng sẽ bớt ăn chơi hơn. Tiếc thay!

 

2. Bài thơ Thục Đạo Hậu Kỳ:

 

 

 

蜀道后期        Thục Đạo Hậu Kỳ

客心争日月, Khách tâm tranh nhật nguyệt,

来往预期程。 Lai vãng dự kỳ trình.

秋風不相待, Thu phong bất tương đãi,

先至洛陽城。 Tiên chí Lạc Dương thành.

張說                 Trương Duyệt

 

Giữa những năm Tiên Thụ của triều Võ Tắc Thiên (690-692), lúc đó Trương Duyệt đang giữ chức Hiêu Thư Lang, hai lần được cử đi sứ xứ Tây Thục. Các chuyến đi đều đã được dự tính sẵn ngày về, nhưng vì công vụ trễ nãi nên phải về muộn. Vì thế nên mới có bài thơ nầy.

 

* Chú thích:

- Thục Đạo 蜀道 : THỤC là đất Thục thuộc một vùng của tỉnh Tứ Xuyên ngày nay. Thục Đạo là đường đến nước Thục, vì là vùng cao nguyên với các núi non hiễm trỡ nên đường đi lại khó khăn, như trong bài Thục Đạo Nan của Lý Bạch có câu 蜀道之难,难于上青天!Thục đạo chi nan, nan vu thướng thanh thiên ! Có nghĩa : Đường đi đến đất Thục khó khăn, gian nan như đường đi lên trời xanh !

- Tranh Nhựt Nguyệt 争日月 : là Tranh thủ với ngày tháng.

- Dự Kỳ Trình 预期程 : là Dự tính cả hành trình ngày đi lẫn ngày về.

- Bất Tương Đãi 不相待 : là Không chờ đợi nhau.

- Lạc Dương 洛陽 : là Kinh đô của Võ Tắc Thiên lúc bấy giờ.

 

* Nghĩa bài thơ:

Đường Thục Hẹn Sau (Trễ Hẹn)

 

Lòng của kẻ đi đến nơi đất khách xa nhà luôn luôn tranh thủ từng ngày từng tháng, cả chuyến đi lẫn chuyến về đều đã dự tính trước cả rồi.( Nhưng vì đường xá khó khăn và công vụ cho nên trễ hẹn ). Còn ngọn gió thu se sắt thì không chờ đợi ai cả, cứ đến kỳ là thổi vụt vù về đến Lạc Dương thành trước ngay (trong khi ta vẫn còn ở đất Thục chưa kịp quay về !).

 

* Diễn Nôm:

Thục Đạo Hậu Kỳ

 

Lòng khách tranh ngày tháng,

Đi về đúng lịch trình.

Gió thu không chờ đợi,

Đến trước Lạc Dương thành.

 

Lục bát:

Tính ngày tính tháng người đi,

Vãng lai đúng hẹn quy kỳ khích khao.

Gió thu chẳng đợi ai nào,

Một mình phe phẩy thổi vào Lạc Dương.

 

Đỗ Chiêu Đức

 

3. Bài thơ Ung Hồ Sơn Tự:

灉湖山寺                Ung Hồ Sơn Tự

空山寂歷道心生, Không sơn tịch lịch đạo tâm sanh,

虛谷迢遙野鳥聲。 Hư cốc điều diêu dã điểu thanh.

禪室從來塵外賞, Thiền thất tòng lai trần ngoại thưởng,

香臺豈是世中情。 Hương đài khởi thị thế trung tình.

雲間東嶺千尋出, Vân gian đông lãnh thiên tầm xuất,

樹裏南湖一片明。 Thọ lý nam hồ nhất phiến minh.

若使巢由知此意, Nhược sử Sào Do tri thử ý,

不將蘿薜易簪纓。 Bất tương la bệ dị trâm anh.

張說                         Trương Duyệt

 

* Chú thích:

- UNG HỒ 灉湖: Còn có tên là Nam Hồ, nằm ở phía nam thành phố Nhạc Dương.

- ĐIỀU DIÊU 迢遙: là Xa xôi diệu dợi.

- THIÊN TẦM 千尋: Theo hệ thống đo đạc ngày xưa, cứ 8 thước vô 1 tầm, nên Thiên Tầm là Một Ngàn Tầm, chỉ khoảng cách rất cao rất xa.

- SÀO DO 巢由: là Sào Phủ và Hứa Do, hai ẩn sĩ cao nhã ngày xưa. Theo Cao Sĩ Truyện: Hứa Do tự là Võ Trọng. Vua Nghiêu nghe tiếng định nhường ngôi cho. Do thoái ẩn bên bờ sông Dĩnh Thủy ở Trung Nhạc dưới núi Cơ Sơn. Vua Nghiêu lại cho triệu ra làm Cửu Châu Trưởng (Người đứng đầu Cửu Châu). Hứa Do không muốn nghe lời triệu đó, nên ra bờ sông Dĩnh Thủy để rửa tai. Nhằm lúc Sào Phủ đang dắt một con nghé con ra bờ sông uống nước, thấy Do đang rửa tai, mới hỏi rõ nguyên nhân , Do đáp :"Vua Nghiêu muốn triệu tôi ra làm Cửu Châu Trưởng, những lời nói về công danh đó làm dơ tai của tôi, nên mới ra đây mà rửa tai." Sào Phủ đáp rằng :"Nếu ông ẩn cư nơi thâm sơn cùng cốc, không người qua lại, thì ai còn gặp được ông mà mời !? Đằng nầy ông ở cạnh bờ sông, là lòng ông còn muốn nghe lời mời mọc của lợi danh. Như thế sẽ làm cho dơ miệng con nghé của ta." Nói đoạn, bèn dắt con nghé lên trên thượng lưu mà uống nước, không cho uống nước mà Hứa Do đã rửa tai, sợ làm cho ô uế miệng con nghé.

- LA BỆ 蘿薜: hay Bệ La cũng thế, là hai giống dây leo BỆ LỆ và NỮ LA 薜荔和女萝 thường sống chùm gởi vào thân cây khác hay các vách nhà hàng rào. Thường dùng để chỉ quần áo hoặc nơi ở của các cao sĩ ẩn cư nơi thâm sơn cùng cốc.

* Nghĩa Bài Thơ:

Chùa Trên Núi Ung  Hồ

Núi non vắng vẻ dàn trải ra trước mắt, khiến cho lòng người cũng nảy sinh ra lòng mộ đạo. Trong sơn cốc trống vắng xa xôi nầy luôn có tiếng chim rừng kêu hót. Thiền thất xưa nay vốn dĩ để cho người ngoài trần thế, và đài niệm hương đâu phải là nơi cỏi tục thế tình. Ngọn núi phía đông cao vút ngàn tầm trong mây trắng, và mặt hồ phía nam in bóng rõ rệt của một dãy cây dài. Nếu như Sào Phủ Hứa Do mà biết được ý của ta muốn quy ẩn nơi nầy, thì chắc cũng sẽ không đem la bệ mà đổi lấy trâm anh (Có nghĩa: Thà ở ẩn nơi nầy còn hơn là ra làm quan). 

 

* Diễn Nôm:

Ung  Hồ Sơn Tự

 

Núi vắng trải dài sanh mộ đạo,

Cốc không chim núi hót bên tai.

Phòng thiền vốn của người trong đạo

Đài niệm không là khách ngoại lai.

Đông lãnh ngàn tầm mây lẫn khuất

Nam hồ một dãy bóng cây dài.

Hứa Do Sào Phủ đều cao sĩ,

Chẳng đổi sô gai lấy mủ đai.

 

Lục bát:

Trải dài núi vắng đạo sanh,

Hư không sơn cốc mặc tình chim ca.

Phòng thiền là chốn ta bà,

Hương đài đâu phải la cà thế nhân.

Nghìn tầm mây vút núi đông,

Nam hồ in bóng cây lồng nước mây.

Sào Do nếu biết lòng này,

Chẳng đem áo vải đổi thay công hầu.

 

Đỗ Chiêu Đức 

 

4. Bài thơ U Châu Dạ Ẩm:

幽州夜飲         U Châu Dạ Ẩm

 

涼風吹夜雨, Lương phong xuy dạ vũ,

蕭瑟動寒林。 Tiêu sắc động hàn lâm.

正有高堂宴, Chính hữu cao đường yến,

能忘遲暮心? Năng vong trì mộ tâm ?

軍中宜劍舞, Quân trung nghi kiếm vũ,

塞上重笳音。 Tái thượng trọng già âm.

不作邊城將, Bất tác biên thành tướng,

誰知恩遇深! Thùy tri ân ngộ thâm!

張說                 Trương Duyệt

 

* Chú thích:

- U CHÂU 幽州: Tễn của một châu ngày xưa, gồm có Bắc Kinh, Hà Bắc , Kế huyện của ngày nay.

- CAO ĐƯỜNG YẾN 高堂宴 : Yến tiệc được bày ở nơi nhà cao cửa rộng. 

- TRÌ MỘ TÂM 遲暮心 : Cái lòng của buổi chiều đến chậm. Có nghĩa là : Cái lòng ảm đạm thê lương của người già nua trong buổi chiều xế bóng.

- KIẾM VŨ 劍舞: là Múa kiếm giúp vui trong tiệc rượu.

- GÌA 笳: là Cây kèn được cuốn bằng lá của người Hồ hay thổi.

- BIÊN THÀNH TƯỚNG 邊城將 : Tướng giữ thành ngoài biên ải. Tác giả tự chỉ mình.

- ÂN NGỘ 恩遇: Chỉ cái ân tri ngộ của nhà vua.

 

* Nghĩa Bài Thơ:

Đêm Dự Tiệc Rượu Ở U Châu

 

Trong đêm mưa tối ở U Châu nầy, gió lạnh thổi rít từng cơn qua rừng cây lá lạnh lẽo xạc xào lay động. May thay cũng là lúc trong quân đang có buổi tiệc lớn để ủy lạo tướng sĩ. Nhưng lòng ta sao có thể quên được nỗi thê lương buồn thảm của tuổi già trong buổi chiều xế bóng. Trong tiệc quân thì lấy múa kiếm làm vui, còn ngoài biên tái thì lại trân trọng tiếng kèn lá của người Hồ thổi nghe mà não nuột. Nếu không có làm tướng trấn thủ ngoài biên thành thì sẽ không biết được cái ân tri ngộ của nhà vua dành cho quân tướng ngoài biên ải sâu đậm biết chừng nào!

Năm đầu Khai Nguyên của Đường Huyền Tông (713-741), Trương Duyệt đang là Trung Thư Lệnh, vì bất hòa với Tễ Tướng Diêu Nguyên Sùng, nên bị biếm làm Thứ Sử Tương Châu, rồi Án Sát sứ Hà Bắc. Sau chuyển làm Hữu Vũ Lâm Tướng Quân Kiểm Hiệu U Châu Đô Đốc. Bài thơ nầy được làm ở Kế Huyện trong phủ Đô Đốc ở U Châu, tả lại tình hình của một buổi dạ tiệc trong quân ngũ, lời thơ bi tráng của một tướng ở biên thành ẩn ức những nỗi bất mãn ngấm ngầm của việc bị biếm ra ngoài biên ải. 

 

* Diễn Môm:

 U Châu Dạ Ẩm

 

Lạnh lẽo đêm mưa gió,

Xạc xào rừng lá reo.

Đúng lúc bày diên yến,

Khó quên lúc xế chiều.

Trong quân vui múa kiếm,

Trên ải kèn thay tiêu.

Chẳng phải biên thành tướng,

Ân vua thấm thía nhiều!

 

Lục bát:

 

Vụt vù gió lạnh đêm mưa,

Rừng cây lạnh lẽo gió đưa xạc xào.

Tiệc bày thành lũy lầu cao,

Lòng sao quên được mối sầu chiều rơi.

Trong quân múa kiếm làm vui,

Ngoài biên tái vẳng kèn xuôi đất Hồ

Biên thành tướng ở xa đô,

Ân vua tri ngộ bao giờ cho nguôi!

 

Đỗ Chiêu Đức

___________________________

THÀNH NGỮ ĐIỂN TÍCH: 

                                                        CHỮ

            TỰ là CHỮ, cắt giàng đầu chữ TỬ là Con, Con ai Con ấy ?

 

           Đó là vế đầu của câu đối mà sứ giả của nhà vua đã ra để thử tài của khai quốc Trạng Nguyên  Nguyễn Hiền. Có nghĩa :

           TỰ 字 có nghĩa là CHỮ,  cắt đi giàng đầu của chữ TỰ 字 là bộ MIÊN 宀,thì chỉ còn lại chữ TỬ 子 bên dưới, có nghĩa là CON, Ý của sứ giả là muốn hỏi : Ngươi là con của ai vậy ?!

    Trạng nghe hỏi vô lễ, bèn đáp lại rằng :

 

                     VU là Chưng, bỏ ngang lưng chữ ĐINH là Đứa, Đứa nào Đứa này ?

 

          Chữ VU 于 có nghĩa là Chưng ( Vì chưng, bởi chưng), bỏ đi nét ngang lưng của chữ VU 于, là chữ NHẤT 一, thì chỉ còn lại chữ ĐINH 丁, có nghĩa là Đứa  (Gia Đinh 家丁 là Đứa ở). Ý Trạng muốn hỏi : Nhà ngươi là ĐỨA NÀO, mà dám hỏi ta là CON của ai ?!

       

         Trong văn học cổ CHỮ được nhắc tới nhiều nhất là CHỮ HIẾU, CHỮ TÌNH, CHỮ TÂM... Xin được lần lược trình bày sau đây.

                          Thiên hữu tứ thời xuân tại thủ,         天有四時春在首,

                          Nhân sinh bách hạnh HIẾU vi tiên.    人生百行孝為先。 

Có nghĩa :

              - Trời có bốn mùa, xuân là mùa đứng đầu.

              - Người có trăm phẩm hạnh, HIẾU là trước tiên.

 

        Trong Truyện Kiều của cụ Nguyễn Du, trước khi muốn bán mình chuộc tội cho cha, Thúy Kiều cũng đã cân nhắc :

                                Duyên hội ngộ, đức CÙ LAO,

                          Bên tình bên Hiếu bên nào nặng hơn ?!   

 

        Tự hỏi xong thì Thúy Kiều cũng đã đưa ra câu trả lời :   

 

                                  Để lời thệ hải minh sơn,

                          Làm con trước phải đền ơn sinh thành.  

 

        CÙ LAO 劬勞 : là Cực nhọc lao khổ. Theo chương Tiểu Nhã, Lạo Nga của Kinh Thi 詩經·小雅·蓼莪 có bài như sau :

 

          蓼蓼者莪,匪莪伊蒿。   Lạo lạo giả nga, phi nga y cao.

          哀哀父母,生我劬劳.    Ai ai phụ mẫu, sanh ngã CÙ LAO.

             .........

          父兮生我,母兮鞠我。   Phụ hề sanh ngã, mẫu hề cúc ngã.

          拊我畜我,长我育我,   Phủ ngã xúc ngã, trưởng ngã dục ngã,

          顾我复我,出入腹我。   Cố ngã phục ngã, xuất nhập phúc ngã.

          欲报之德,昊天罔极.    Dục báo chi đức, hạo thiên võng cực.

Có nghĩa :

         Cha mẹ mong ta xanh tốt như rau nga  (giống như rau ngỗ của ta), nhưng ta lại giống như rau cao  (giống như rau đắng của ta. Ý muốn nói là không giống được như cha mẹ mong mõi). Thương thay cha mẹ ta, sanh ra ta thật là vất vả khó nhọc.  

         Cha sanh ra ta, mẹ thì mang nặng ta, vuốt ve ta nâng niu ta, nuôi ta khôn lớn. Chăm sóc chiếu cố ta, ra vào bồng ẵm ta . Muốn báo cái ơn đức đó của cha mẹ. thì như trời cao lồng lộng vô cùng tận. (Ý chỉ không báo nổi ơn của cha mẹ đâu).

         - Diễn Nôm :

                            

                                 Kìa xem xanh tốt rau nga,

                             Hóa ra chẳng phải đó là rau cao. 

                               Thương thương cha mẹ biết bao,

                             Nuôi ta khôn lớn cù lao nhọc nhằn.

                              .......................

                                 Cha sanh mẹ dưỡng khó khăn,

                            Đẻ đau mang nặng ân cần nâng niu.

                                 Ra vào bồng ẳm cưng chìu,

                           Dưỡng nuôi chăn sóc thương yêu vô ngần.

                                 Làm con muốn báo thâm ân,

                           Trời cao lồng lộng khó mong đáp đền !

                                                                           ( ĐCĐ )

 

          9 chữ màu đỏ ở trên (生,鞠 sanh, cúc,拊,畜,Phủ, xúc, 长, 育,trưởng, dục, 顾,复, Cố, phục, 腹 phúc), 
 gọi là Cửu Tự Cù Lao 九字劬劳, ta nói là : CHÍN CHỮ CÙ LAO, như trong Kiều, khi ở lầu xanh, cô kiều đã :

 

                                   Nhớ ơn CHÍN CHỮ cao sâu,

                              Một ngày một ngã bóng dâu tà tà ...         

 

        Còn trong truyện Nôm NHỊ ĐỘ MAI thì gọi là CHỮ HIẾU, CHỮ CÙ :

 

                                   Có ra chi phận má hồng,

                           Khôn đem CHỮ HIẾU đền công CHỮ CÙ.

    

       Từ xưa đến nay, chữ HIẾU chữ TÌNH thường đưa người ta vào những hoàn cảnh khó xử, như Thúy Kiều vừa mới có người yêu, đang đắm đuối trong tình yêu mới chớm thì đã phải bán mình báo hiếu, đến nỗi phải lạy lục cầu cứu Thúy Vân trả hộ "nợ tình":

 

                                 Cậy em, em có chịu lời,

                            Ngồi lên chi chị lạy rồi sẽ thưa !

 

       Tội nghiệp thay ! Nhưng biết phải làm sao, khi : 

 

                         

 

                                 Sự đâu sóng gió bất kỳ,

                          HIẾU TÌNH khôn lẽ hai bề vẹn hai!

                                 Ngày xuân em hãy còn dài,

                          Xót tình máu mũ thay lời nước non. 

 

     ... và như bà Tam Hợp Đạo Cô đã nói với sư Giác Duyên :

 

                                Thúy Kiều sắc xảo khôn ngoan,

                            Vô doan là phận hồng nhan đã đành.

                                 Lại mang lấy một CHỮ TÌNH,

                           Khư khư mình buộc lấy mình vào trong.

 

       Đang lúc yêu nhau thì CHỮ TÌNH nó hành xác con người ta là thế. Nhưng khi đã thành gia thất với nhau rồi, thì chữ TÌNH cũng rất ư là ngọt ngào hạnh phúc như khi Thúc Sinh gặp lại vợ nhà là Hoạn Thư :

 

                                 Lời tan hợp nỗi hàn huyên,

                      CHỮ TÌNH càng mặn chữ duyên càng nồng.

 

       Hay như khi Từ Hải "Om thòm trống trận rập rình nhạc quân" rước Thúy Kiều về đoàn tụ cho ...

 

                                Vinh hoa bỏ lúc phong trần,

                       CHỮ TÌNH ngày lại thêm xuân một ngày.

 

        CHỮ TÌNH lại cũng thường đi chung với CHỮ ĐỒNG như khi Kim Kiều thề nguyền hẹn ước :

 

                                 Vầng trăng dằng dặc giữa trời, 

                            Đinh ninh hai mặt một lời song song.

                                   Tóc tơ căn dặn tấc lòng,

                          Trăm năm tạc một CHỮ ĐỒNG đến xương !

 

                        

 

         

 

 

 

CHỮ ĐỒNG tức là CHỮ ĐỒNG TÂM. Như khi đưa Kim Trọng về Liêu Dương hộ tang chú, Thúy Kiều đã trấn an Kim Trọng lúc chia tay là :

 

                                  Đã nguyền hai CHỮ ĐỒNG TÂM,

                            Trăm năm thề chẳng ôm cầm thuyền ai.

         

      Chữ Đồng, Chữ Đồng Tâm đều do từ gốc là ĐỒNG TÂM ĐỚI 同心帶 hay ĐỒNG TÂM KẾT 同心结 mà ra. Đó là những giải lụa ngũ sắc hay màu đỏ ở giữa thắt một cái gút hình 2 trái tim liền nhau. Có xuất xứ từ bài thơ ngũ ngôn Cổ phong "Di Lăng Quận Nội Tự Biệt" của Dương Hành đời Đường. Trong đó có những câu như :

 

            留念同心帶,   Lưu niệm ĐỒNG TÂM ĐỚI,

            贈遠芙蓉簪。   Tặng viễn phù dung trâm.

            撫懷極投漆,   Vũ hoài cực đầu tất,

            感物重黄金。   Cảm vật trọng hoàng câm (kim).

Có nghĩa :

                Lưu niệm này DẢI ĐỒNG TÂM,

            Tặng người xa cách Phù Dung trâm cài.

                Keo sơn yêu ấp lòng này,

            Vật hèn mà cũng sánh tày hoàng kim.

 

            

                                   Dải Đồng Tâm     同心結

 

       Trong Truyện Kiều, lúc Thúy Kiều khuyên Thúc Sinh hãy suy nghĩ kỹ và trân trọng tình nghĩa vợ chồng hơn khi Thúc muốn chuộc Kiều ra khỏi lầu xanh :

 

                  Bấy lâu khắng khít DẢI ĐỒNG,

            Thêm người người cũng thêm lòng riêng tây.

                  Xá chi chút nghĩa bèo mây,

                Làm cho bể ái khi đầy khi vơi !...

 

       Ngày xưa, theo đạo Nho thì "Tại gia tòng phụ, Xuất giá tòng phu 在家從父,出嫁從夫". Nên ta lại có CHỮ TÒNG cho phận gái, như Thúy Kiều là một kỹ nữ, nên đã rất lấy làm hãnh diện khi được Thúc Sinh chuộc ra khỏi lầu xanh và cưới về làm vợ, như cụ Nguyễn Du đã viết :

 

                    Phận bồ từ vẹn CHỮ TÒNG,

               Ðổi thay nhạn yến đã hòng đầy niên.

 

       ... và khi về với Từ Hải rồi, trong lúc "Nửa năm hương lửa đang nồng, Trượng phu thoắt đã động lòng bốn phương". Từ muốn ra đi làm việc lớn, nên Thúy Kiều cũng muốn đi theo :

 

                  Nàng rằng :"Phận gái CHỮ TÒNG",

                Chàng đi thiếp cũng một lòng xin đi.

 

       Cuối cùng, ta còn có CHỮ TRINH để chỉ sự trinh tiết của phụ nữ ngày xưa. Xã hội phong kiến đã đặt cái gánh nặng "Trinh Tiết 貞節" lên vai phái nữ với câu " Tòng nhất nhi chung 從一而終" là "Chỉ theo một chồng cho tới chết!". Trải qua mấy ngàn năm, phụ nữ chịu đựng thét... rồi quen, mà còn nghiêm chỉnh chấp hành coi như đó là một thiên chức thiêng liêng của phái nữ nữa... cái mới là tội nghiệp ! Ta hãy nghe Thúy Kiều phân bua khi Kim Kiều Tái Hợp :

 

                  Nghĩ rằng trong đạo vợ chồng,

            Hoa thơm phong nhị trăng vòng tròn gương.

                  CHỮ TRINH đáng giá nghìn vàng,

             Đuốc hoa chẳng thẹn với chàng mai xưa.

                  Thiếp từ ngộ biến đến giờ.

               Ong qua bướm lại đã thừa xấu xa.

                   Bấy chầy gió táp mưa sa.

             Mấy trăng cũng khuyết mấy hoa cũng tàn.

 

 ... và đành lòng cam chịu :

 

                   Còn chi là cái hồng nhan,

               Đã xong thân thế còn toan nỗi nào?

                   Nghĩ mình chẳng hổ mình sao,

                 Dám đem trần cấu dự vào bố kinh!

                   Đã hay chàng nặng vì tình,

               Trông hoa đèn chẳng thẹn mình lắm ru!

 

       Cũng may là Kim Trọng là người cởi mở, có tư tưởng tiến hóa đi trước thời đại lúc bấy giờ, nên đã đáp lời cô Kiều Là :

 

                   Chàng rằng: Khéo nói nên lời,

                  Mà trong lẽ phải có người có ta!

                    Xưa nay trong đạo đàn bà,

               CHỮ TRINH kia cũng có ba bảy đường,

                    Có khi biến có khi thường,

               Có quyền nào phải một đường chấp kinh.

                    Như nàng lấy HIẾU làm TRINH,

                 Bụi nào cho đục được mình ấy vay?

 

        Nhưng dù nói thế nào thì Thúy Kiều vẫn "năn nỉ" Kim Trọng đừng "động phòng" trong đêm hôm đó với lý do... có hơi "tự ái" là :

 

                    CHỮ TRINH còn một chút này,

               Chẳng cầm cho vững lại giày cho tan!

                    Còn nhiều ân ái chan chan,

                Hay gì vầy cánh hoa tàn mà chơi?

 

         Đêm hôm đó chìu lòng Thúy Kiều, Kim Trọng không "động phòng". Nhưng những hôm sau thì sao ?! - Chỉ có cụ Nguyễn Du mới biết được mà thôi !

 

         Và để kết thúc bài viết hôm nay, xin được mượn những câu trong lời kết của cụ Nguyễn Du cho Truyện Kiều với các CHỮ sau đây :

 

                   Ngẫm hay muôn sự tại trời,

              Trời kia đã bắt làm người có thân.

                 Bắt phong trần phải phong trần,

             Cho thanh cao mới được phần thanh cao.

                   Có đâu thiên vị người nào,

                CHỮ TÀI CHỮ MỆNH dồi dào cả hai,

                    Có tài mà cậy chi tài,

               CHỮ TÀI liền với CHỮ TAI một vần.

                  Đã mang lấy nghiệp vào thân,

              Cũng đừng trách lẫn trời gần trời xa.

                   Thiện căn ở tại lòng ta,

               CHỮ TÂM kia mới bằng ba CHỮ TÀI.

                         

                   
 

               

 

 

Xin được kết thúc các CHỮ ở đây. Hẹn bài viết tới !

 

 Đỗ Chiêu Đức

THÀNH NGỮ ĐIỂN TÍCH 37: 

                                        CUNG

CUNG 弓 là Cung Tên, CUNG 宮 là Cung Điện, CUNG 宮 là Cung Đàn. Ta sẽ lần lượt điểm qua các thứ CUNG nầy trong văn học cổ của Việt Nam ta.

 

      CUNG 弓, chữ Nho còn gọi là HỒ 弧, với từ TANG HỒ 桑弧 là Cây cung làm bằng gỗ cây dâu (Tang 桑 là Cây dâu tằm ăn), nên trong văn học cổ ta có từ CUNG DÂU, như hai câu thơ trong truyện Nôm Phan Trần sau đây :

 

                                     Tới tuần hội cả đua nhau,

                         Bút nghiên phỉ chí CUNG DÂU hằng nguyền.

 

      CUNG DÂU thường được bắn bằng tên làm bằng đường xương sống của cọng cỏ bồng, gọi là BỒNG THỈ 蓬矢 (THỈ đồng nghĩa với TIỂN 箭 là Mũi Tên), nên ta lại có thành ngữ TANG HỒ BỒNG THỈ 桑弧蓬矢 (Cung bằng cành dâu, tên bằng cỏ bồng). Thành ngữ nầy thường bị đọc trại thành HỒ THỈ TANG BỒNG hay TANG BỒNG HỒ THỈ như trong bài hát nói "Nợ Nam Nhi" của cụ Nguyễn Công Trứ :

 

                                   TANG BỒNG HỒ THỈ nam nhi trái

                                   Cái công danh là cái nợ lần

 

        Theo sách Lễ Ký-Xạ Nghĩa hữu vân :"Cố nam tử sanh, tang hồ bồng thỉ lục, dĩ xạ thiên địa tứ phương giả, nam tử chi sở hữu sự dã.《礼记.射义》有云:“故男子生,桑弧蓬矢六,以射天地四方,天地四方者,男子之所有事也。” Có nghĩa : vì thế khi đẻ con trai, thì dùng cung bằng cây dâu, tên bằng cỏ bồng bắn đi bốn phương, bắn lên trời xuống đất nữa là sáu hướng, những nơi mà kẻ làm trai phải tạo dựng nên sự nghiệp". Ý muốn tỏ rõ là Làm trai phải chí ở bốn phương, sau dùng để khuyến khích làm trai phải có chí lớn để tạo dựng nên sự nghiệp.

 

       TANG BỒNG HỒ THỈ còn được gọi tắt là TANG BỒNG như hai câu thơ bảy chữ cũng trong bài hát nói trên là :

 

                                   Cũng rắp điền viên vui tuế nguyệt

                                   Trót đem thân thế hẹn TANG BỒNG.

 

      Hay như trong bài "Chí Nam Nhi" cũng của cụ Nguyễn Công Trứ :

 

                                           Đố kị sá chi con Tạo,

                                Nợ TANG BỒNG quyết trả cho xong.

                                         TANG HỒ BỒNG THỈ 桑弧蓬矢.

 

           Cung tên để tạo dựng nên sự nghiệp, nhưng khi đã công thành danh toại, thì cung tên thường bị xếp xó bỏ quên như thành ngữ ĐIỂU TẬN CUNG TÀNG 鳥盡弓藏,  có nghĩa : Khi chim đã hết thì cung cũng được cất lên. Theo tích sau đây :         

          Theo Thuyết Lâm Huấn của sách Hoài Nam Tử có câu : "Giaỏ thố đắc nhi lạp khuyển phanh, cao điểu tận nhi cường nỗ tàng 狡兔得而猎犬烹,高鸟尽而强弩藏". Có nghĩa : " Khi những con thỏ khôn lanh đã bị bắt, thì con chó săn bị đem đi nấu thịt cầy; Khi các con chim bay cao bị bắn hạ hết thì cây cung mạnh cũng bị đem đi cất lại". Theo sách Sử Ký, Việt Vương Câu Tiễn Thế Gia《史记·越王勾践世家》thì Phạm Lãi 范蠡 là mưu thần đồng thời cũng là tướng giỏi của Việt Vương Câu Tiễn, ông đã giúp cho Câu Tiễn phục thù và tiêu diệt nước Ngô, xưng bá trung nguyên. Nhưng ông cũng biết rằng Việt Vương Câu Tiễn là người chỉ cùng chung hoạn nạn chứ không thể cùng chung phú qúy được. Để tránh cảnh thỏ hết thì chó săn bị giết, chim hết thì cung bị treo lên, nên ông đã từ quan mà vào đất Ngũ Hồ để kinh thương và đã trở thành một thương gia giàu có, đổi tên là Đào Chu Công. Tương truyền là ông cũng đã dắt theo nàng Tây Thi xinh đẹp để vào đất Ngũ Hồ cùng sống cảnh vinh hoa phú qúy an hưởng tuổi già. Nên...

 

        Câu thành ngữ ĐIỂU TẬN CUNG TÀNG 鳥盡弓藏, ngày xưa dùng để chỉ khi đế nghiệp đã đạt thành thì các vua chúa hay giết hại công thần; Ngày nay cũng dùng để chỉ khi việc gì đó đã thành công rồi, thì quên hết những người trước kia đã từng ra sức giúp đỡ. Trong văn học cổ của ta gọi là CUNG ĐIỂU CA, như trong Hồng Đức Quốc Âm Thi Tập của vua Lê Thánh Tông có câu :

 

                                       Cổ Kỳ vai ấy còn rành rạnh,

                                   CUNG ĐIỂU CA đâu khéo tỏ tường.

 CUNG cũng thường đi liền với KIẾM để chỉ về nghề võ hoặc những người theo võ nghiệp như trong Cung Oán Ngâm Khúc của Ôn Như Hầu Nguyễn Gia Thiều :

 

                                      Làng CUNG KIẾM rắp ranh bắn sẻ,

                                      Khách công hầu ngắm nghé mong sao.

 

      Còn trong Truyện Kiều của cụ Nguyễn Du thì khi Bạc Bà ép Thúy Kiều lấy Bạc Hạnh, nàng đã tỏ lời e ngại dè chừng rằng :

 

                                       Thiếp như con én lạc đàn,

                                    Phải tên giờ đã sợ làn cây cong.

 

      Hai câu thơ trên lấy ý ở câu KINH CUNG CHI ĐIỂU KIẾN KHÚC MỘC NHI CAO PHI 驚弓之鳥見曲木而高飛. Có nghĩa : Con chim sợ cung (vì bị tên bắn hụt một lần rồi), cho nên thấy làn cây cong (giống như cây cung) bèn sợ mà bay cao lên.

 CUNG 宮 còn là Cung Điện 宮殿. Cái cung điện nổi tiếng đầu tiên ngày xưa là A PHÒNG CUNG 阿房宮 do Tần Thủy Hoàng sau khi đã gồm thâu lục quốc muốn phô trương thanh thế mà xây nên (212 trước Công nguyên, năm Tần Thủy Hoàng thứ 35). Khi Hạng Võ Sở Bá Vương đem quân đánh chiếm kinh đô Hàm Dương đã cho đốt cung A Phòng. Tương truyền ngọn lửa cháy đến ba tháng mới tắt.

         Trong văn học cổ ta gọi cung A Phòng là CUNG A, như trong "Tần Cung Nữ Oán Bái Công Văn" của Đặng Trần Thường ở cuối đời Lê đầu đời Nguyễn là :

 

                    Sương tỏa CUNG A,

                    Mây lồng đồn Bá.

Có nghĩa :

     Các cung nữ đương ở trong cung A Phòng vắng  vẻ vì Bái Công đến đóng đô tại đồn Bá Thượng.

                           Cung A Phòng ngày nay được tái kiến trúc theo tài liệu lịch sử.

       

       Ngoài CUNG A ra, trong bài phú trên cụ Đặng còn đề cập đến tên của một CUNG nữa là CUNG VỊ THỦY là các cung điện nằm dọc theo bờ sông Vị ở Hàm Dương, cũng được xây dựng vào đời Tần :

 

               CUNG VỊ THỦY lúc nỉ non tiếng dế, trướng thu phong lạt bậc quản huyền xưa,

               Cửa Hàm Quan khi chói lói ngọn đào, rèm tà nguyệt ố màu la ỷ cũ.

 

      "Thời lai phong tống Đằng Vương Các 時來風送藤王閣" là "Khi thời vận đến thì gió sẽ đưa đến Gác Đằng Vương" theo tích của người đứng đầu Tứ Kiệt đời Sơ Đường là Vương Bột. Cụ Nguyễn Du đã mượn tích nầy để nói về tình duyên thuận lợi của Hoạn Thư và Thúc Sinh trong Truyện Kiều như sau :

                

                        DUYÊN ĐẰNG thuận nẽo gió đưa,

                     Cùng chàng kết tóc se tơ những ngày.  

 

      Nhưng, Phạm Thái 範泰 (1777-1813), một danh sĩ ở cuối thế kỷ 18 đến đầu thế kỷ 19 của ta, không gọi là GÁC ĐẰNG, cũng không gọi là DUYÊN ĐẰNG, mà gọi là CUNG ĐẰNG trong "Sơ Kính Tân Trang" như  sau đây :

 

                        Bây giờ mượn gió CUNG ĐẰNG,

                    Vì duyên đưa mối xích thằng lại đây.  

 

      Trong văn học cổ ta còn gặp rất nhiều CUNG không có thật trên đời như CUNG QUẾ, CUNG QUẢNG, CUNG THIỀM, CUNG NGAO LẦU THẬN ...

 

     -CUNG QUẾ là QUẾ CUNG 桂宮 : Tên cung điện do Hán Vũ Đế năm thứ tư (101 trước Công Nguyên) xây nên, nằm ở tây bắc của thành phố Tây An tỉnh Thiểm Tây hiện nay; cũng là tên của cung điện của Trần Hậu Chúa ở Nam Triều xây cho người đẹp Trương Lệ Hoa ở. Nhưng trong văn học cổ của Việt Nam ta CUNG QUẾ chỉ có nghĩa là CUNG TRĂNG mà thôi, như trong Cung Oán Ngâm Khúc của Ông Như Hầu Nguyễn Gia Thiều viết về nàng cung nữ thất sủng :

 

                      Trong CUNG QUẾ âm thầm chiếc bóng,

                      Đêm năm canh trông ngóng lần lần.

 

    ...hay như trong bài "Muốn làm thằng Cuội" của Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu :

 

                      Đêm thu buồn lắm chị Hằng ơi!

                      Trần thế em nay chán nữa rồi.

                      CUNG QUẾ đã ai ngồi đó chửa?

                      Cành đa xin chị nhắc lên chơi.

 

     - CUNG QUẢNG là QUẢNG HÀN CUNG 廣寒宮 : Theo thần thoại Trung Hoa là tên của một cung điện trên mặt trăng, nơi mà Hằng Nga ở, như trong Truyện Kiều khi tả Thúc Sinh về thăm Hoạn Thư, Thúy Kiều ở lại một mình đã buồn cho số phân " Sắn bìm chút phận con con" của mình mà than vãn :

 

                       Thân sao nhiều nỗi bất bằng,

                   Liều như CUNG QUẢNG ả Hằng nghĩ nao!

 

     - CUNG THIỀM là THIỀM CUNG 蟾宮 : Cũng như CUNG QUẾ, CUNG QUẢNG, CUNG THIỀM cũng dùng để chỉ NGUYỆT CUNG là Mặt Trăng, vì theo thần thoại Trung Hoa xưa trên mặt trăng có con Cóc ba chân gọi là Thiềm Thừ 蟾蜍. Trong văn học cổ của ta thường dùng để chỉ mặt trăng hay chỗ ở của người đẹp, như trong truyện thơ Nôm Lưu Nữ Tướng :

              

                       CUNG THIỀM bóng đã cao giơ,

                    Mãi vui bẻ quế ngại thưa thớt nhàn.

 

   ... hay như trong truyện Hoa Tiên của Nguyễn Huy Tự và Nguyễn Thiện cũng có câu :

 

                       Kêu thương tiếng nhạn lay thềm,

                  Phong thư gửi đến CUNG THIỀM được không ?!

CUNG NGAO LẦU THẬN là HẢI THỊ THẬN LÂU 海市蜃樓. NGAO 鰲 là một loại rùa biển lớn có thể đội cả một hòn đảo lớn trên lưng; THẬN 蜃 là một loại rồng biển như giao long. Theo Sử Ký-Thiên Quan Thư 史记·天官书 : Con thận trên biển thở hơi có thể kết thành những lâu đài thành quách, núi non sông nước, cảnh vật con người hiện lên trên bầu trời của khoảng không mênh mông trên mặt biển. Vì là cảnh ảo nên rất dễ mất đi. Theo khoa khí tượng học hiện nay thì đó là do hiện tượng quang học bức xạ phản chiếu trong thiên nhiên mà tạo nên những ảnh ảo ở những khoảng không trên biển, trên sa mạc hoặc nơi đồng không mông quạnh. Trong văn học cổ ta gọi là CUNG NGAO LẦU THẬN như trong bài "Văn tế nghĩa sĩ trận vong Lục tỉnh" (1874) của cụ Nguyễn Đình Chiểu có câu :

 

        Người lạc phách theo miền giang hải, CUNG NGAO LẦU THẬN, dành một câu thân thế phù trầm;

        Kẻ du hồn ở cõi sơn lâm, lũy kiến đồn ong, còn bốn chữ "âm dung phảng phất".

                              HẢI THỊ THẬN LÂU 海市蜃樓 : CUNG NGAO LẦU THẬN    
        

       CUNG 宮 còn là cung bậc đứng đầu ngũ âm trong âm nhạc cổ điển là CUNG, THƯƠNG, GIỐC, TRỦY, VŨ 宮商角徵羽. Trong văn học cổ ta hay gặp từ kép CUNG THƯƠNG 宮商 là hai âm đầu trong ngũ âm đi liền nhau để chỉ âm nhạc, như trong truyện Tây Sương Ký :

 

                             Vườn hoa đợi lúc thiên lương,

                   Đêm thanh lựa tiếng CUNG THƯƠNG một bài.

 

       Khi diễn tả tài đàn giỏi của Thúy Kiều, cụ Nguyễn Du cũng đã hạ câu :

 

                      CUNG THƯƠNG làu bậc ngũ âm,

                  Nghề riêng ăn đứt Hồ cầm một chương.

 

       Ngoài CUNG THƯƠNG ta còn gặp CUNG CẦM là Cung Đàn như khi nàng Kiều ở lầu xanh :

 

                       ...Đòi phen nét vẽ câu thơ,

                  CUNG CẦM trong nguyệt nước cờ dưới hoa.

                        Vui là vui gượng kẻo là,

                     Tri âm ai đó mặn mà với ai ?!

 

    ...hay như khi Thúy Kiều phân bua với Hồ Tôn Hiến lúc "Lọt tai Hồ cũng nhăn mày rơi châu" và đã " Hỏi rằng này khúc ở đâu, Nghe ra muôn thảm nghìn sầu lắm thay ?" Thúy Kiều đã đáp :

 

                     Thưa rằng : Bạc mệnh khúc này,

                     Phổ vào đàn ấy từ ngày còn thơ.

                     CUNG CẦM lựa những ngày xưa,

                     Mà gương bạc mệnh bây giờ là đây !

Xin được kết thúc các CUNG ở đây. Hẹn bài viết tới !

 

 

 Đỗ Chiêu Đức

________________________

THÀNH NGỮ ĐIỂN TÍCH 36: 

                                               CẦU

  CẦU, nghĩa Nôm là Cây Cầu bắt qua sông qua suối; chữ Nho CẦU 求 là Xin, nên ta có từ kép là CẦU XIN. Ông bà ta dạy :

                             Dục CẦU sanh phú qúy,   欲求生富貴,

                             Tu hạ Tử công phu.         须下死功夫.

Có nghĩa : 

          Muốn cầu cho cuộc sống được giàu sang phú qúy, thì...

          Phải bỏ ra cái công sức làm ăn chết bỏ mới có được ! ( cho biết không phải phú qúy tự dưng mà có được một cách dễ dàng !)

     

       Trong văn học cổ, khi nhắc đến CẦU là người ta nghĩ ngay đến khúc PHƯỢNG CẦU KỲ HOÀNG 鳳求其凰 (thường được gọi gọn là khúc Phượng Cầu Hoàng) của Tư Mã Tương Như đời Hán theo tích sau đây :

 

       Theo sách Sử Ký, Tư Mã Tương Như là tài tử nổi tiếng của đời Hán, tự là Trường Khanh, người đất Thành Đô (Thủ phủ của thuộc tỉnh Tứ Xuyên ngày nay) Ở lộ Cầm Đài. Khi đến đất Lâm Cùng , nhờ có người bạn là Tri Huyện Vương Cát tiến cử, nên được nhà cự phú Trác Vương Tôn ở địa phương mời đến nhà khoản đãi. Trong bữa tiệc khách yêu cầu đàn một khúc, Tương Như biết vương tôn có cô con gái mới mười sáu tuổi rất đẹp, lại vừa mới góa chồng là Trác Văn Quân, bèn giở cây lục ỷ cầm ra đờn hai khúc trong bài Phượng Cầu Hoàng như sau :

 

              鳳兮鳳兮歸故鄉,    Phượng hề phượng hề quy cố hương, 

              遨遊四海求其凰...   Ngao du tứ hải cầu kỳ hoàng ...

              有豔淑女守蘭房,   Hữu diễm thục nữ thủ lan phòng,

              室邇人遐毒我腸。   Thất nhĩ nhân hà độc ngã trường.

              何緣交頸為鴛鴦...   Hà duyên giao cảnh vị uyên ương ...

Có nghĩa :

              Về thôi phượng hỡi, phượng hề !

              CẦU HOÀNG tứ hải bốn bề ngao du.

              Có nàng thục nữ ôn nhu,

              Gần bên mà ngỡ như từ cỏi xa.

              Uyên ương sao được một nhà ?   

 

      Tư Mã Tương Như nghe trong rèm ở phòng bên có tiếng thở dài nhè nhẹ, biết là Trác Văn Quân đang nghe đàn, bèn đàn tiếp khúc thứ hai là :

 

              鳳兮鳳兮從凰棲,    Phượng hề phượng hề tòng hoàng thê,

              得托孳尾永為妃。    Đắc thác tư vĩ vĩnh vi phi.

              交情通體心和諧,    Giao tình thông thể tâm hòa hài,

              中夜相從知者誰?    Trung dạ tương tòng tri giả thùy ?

              雙翼俱起翻高飛,    Song dực câu khởi phiên cao phi,

              無感我思使余悲。    Vô cảm ngã tư sử dư bi.

Có nghĩa :

              Theo hoàng phượng hỡi, phượng hề,

              Theo nhau mãi mãi đi về một phương.

              Giao tình lòng những vấn vương,

              Giữa đêm theo gót người thương bao ngày.

              Chắp đôi cánh phượng cao bay,

              Lòng ta buồn nhớ ai hay chăng là ?!

 

         Khúc ca vừa tỏ lòng ái mộ Trác văn Quân, vừa "xúi giục" nàng "giữa đêm theo gót..." nên, nửa đêm hôm ấy, Trác Văn Quân bỏ nhà trốn theo Tư Mã Tương Như về Thành Đô sinh sống ...

Do điển tích nầy, nên các từ CẦU HOÀNG, PHƯỢNG CẦU HOÀNG, TƯ MÃ PHƯỢNG CẦU... được dùng để chỉ tiếng đàn giao duyên, tỏ tình trai gái hoặc tìm hạnh phúc lứa đôi. Như trong Truyện Kiều, khi tả tiếng đàn của Thúy Kiều đàn cho Kim Trọng nghe, cụ Nguyễn Du cũng mượn ý :

 

                      Khúc đâu TƯ MÃ PHƯỢNG CẦU,

                  Nghe ra như oán như sầu phải chăng ?...

 

         Trong truyện Nôm Tây Sương Ký tả Trương Quân Thụy gặp thôi Oanh Oanh ở Mái Tây cũng đã tự hỏi :

                       Phượng bay bốn bể CẦU HOÀNG,

                  Giai nhân chẳng ở đông tường thì đâu ?

 

   ... và trong Bích Câu Kỳ Ngộ, tả chàng công tử Tú Uyên ướm thử lòng Giáng Kiều cũng có câu :

 

                       CẦU HOÀNG tay lựa nên vần,

                  Tương Như lòng ấy, Văn Quân lòng nào ?!

 Ngoài lộ CẦM ĐÀI là nơi Tư Mã Tương Như ngồi gãy đàn cho nàng Trác Văn Quân bán rượu ra, Thành Đô còn nổi tiếng với một cây cầu nhỏ gọi là TỨ MÃ KIỀU 四馬橋, nằm ở ngã ba đường cái. cây cầu nầy vốn có tên Thăng Tiên Kiều 升仙橋 (Cầu Lên Tiên) nằm cạnh bờ hồ Thăng Tiên. Cầu nằm cách thành bắc khoảng mười dặm đường.  khi còn hàn vi, lúc đi ngang qua cây cầu nầy để vào đất Trường An tìm chữ công danh, Tư Mã Tương Như đã viết lên đầu cầu câu :"Bất thừa cao xa tứ mã, bất qúa nhữ hạ.不乘高车驷马,不过汝下". Có nghĩa : "Không cởi được xe bốn ngựa cao sang sẽ không chui qua dưới cầu nầy nữa" để tỏ rõ quyết tâm làm nên công danh sự nghiệp của mình. Qủa nhiên, ông đã trở thành Trung Lang Tướng 中郎将 của vua Hán, khi trở về Thành Đô, dân chúng rất lấy làm vinh dự mà đổ xô ra đón rước ông. Tư Mã Tương Như vinh quy với xe tứ mã ngang qua Thăng Tiên Kiều như lòng ông mơ ước, nên quan lệnh địa phương đổi tên cầu thành TỨ MÃ KIỀU 四馬橋 từ đó.

 

      Trong văn học Việt Nam ta, cụ Nguyễn Công Trứ trong bài hát nói "Nợ Tang Bồng" đã gọi Tứ Mã Kiều bằng CẦU XE NGỰA :

 

                    Nợ sách đèn đem nghiên bút trả xong,

                    CẦU XE NGỰA lúc đi về mới tỏ !

 Phượng Cầu Hoàng là chuyện tốt giữa tình yêu trai gái, nhưng CẦU MỴ GIẾT CON là chuyện ác nhơn sát đức của những kẻ tiểu nhân hèn hạ xu nịnh, theo tích sau đây :

 

      Theo sách Xuân Thu Tả Truyện, Dịch Nha 易牙 còn gọi là Địch Nha 狄牙 là một sủng thần của Tề Hoàn Công, đồng thời cũng là một đầu bếp giỏi biết sáng chế ra các cách gia vị nấu nướng cho ngon. Có một lần, Tề Hoàn Công nói chơi với Dịch Nha rằng:"Các món ngon vật lạ của thế gian nầy, Qủa nhân đã nếm qua hết rồi, chỉ có thịt người là chưa được ăn qua mà thôi !". Người nói vô tình, nhưng người nghe hữu ý. Dịch Nha định trổ tài nấu thịt người cho Tề Hoàn Công ăn, nhưng lại đắn đo, Tề Vương là bậc vương hầu không thể ăn thịt của các tử tù được, lại cũng không thể ăn thịt của hạng dân thường được. Suy đi tính lại bèn giết đứa con 4 tuổi của mình mà hầm thật ngon rồi dâng lên. Tề Hoàn Công thấy món ăn lạ mà rất ngon miệng, bèn hỏi là thịt gì, thì Dịch Nha mới cho biết là thịt của con mình. Tề Hoàn Công vừa thất kinh vừa cảm động, từ đó rất tin dùng tên đầu bếp Dịch Nha nầy mà hư việc lớn.

                     Tên đầu bếp Dịch Nha nấu con cho Tề Hoàn Công ăn trong điện ảnh

 

      Trong tác phẩm Sãi Vãi của cụ Nguyễn Cư Trinh, khi cho ông Sãi luận về chữ Ghét có đề cập đến tích trên đây :

             ... Ghét hoài, ghét huỷ; ghét ngọt, ghét ngon.

                 Ghét đứa CẦU MỴ mà GIẾT CON, 

                 Ghét đứa tham sang mà hại vợ...

 

       Trở lại với chữ CẦU là Cây Cầu, ta có ...

       CẦU CHIẾT LIỄU, Còn gọi là BÁ KIỀU CHIẾT LIỄU 灞橋折柳. Bá Kiều 灞橋 là Cầu bắt qua sông Bá. Chiết Liễu 折柳 là Bẻ nhành dương liễu để tặng người đi xa làm roi ngựa.Theo di tích sau đây :

 

       Thời Xuân Thu Chiến Quốc, khi Tần Mục Công xưng Bá Tây Nhung, cho đổi tên sông Tư Thủy thành Bá Thủy và cho xây một cây cầu đá bắt qua sông, gọi là BÁ KIỀU. Đây là cây cầu mấu chốt cho giao thông giữa đông và tây của đất Trường An, nhất là qua các đời sau như Tùy, Đường, Tống, Nguyên... là nơi tiễn đưa nhau của người thời bấy giờ, đưa đến trường đình ở bên cầu, rồi bẻ một nhành liễu tặng người đi vừa để tỏ lòng quyển luyến, vừa để làm roi ngựa dọc đường.

 

       Nên CẦU CHIẾT LIỄU hay BÁ KIỀU CHIẾT LIỄU đều chỉ cảnh chia tay, ly biệt. Như trong tác phẩm thơ Nôm Lưu Nữ Tướng của ta :

 

                     Tràng đình ngảnh lại xa xa,

                 Khỏi CẦU CHIẾT LIỄU ai là cố nhân ?!

    ... và :

                     BÁ KIỀU CHIẾT LIỄU đến nay,

                Nhớ người cám nghĩa, sầu xây nên thành.

                             Cầu Chiết Liễu ngày xưa và ngày nay

       

      Sau CẦU CHIẾT LIỄU, ta có CẦU LAM là LAM KIỀU 藍橋 với tích Bùi Hàng gặp Tiên. Mời xem lại bài "ĐIỂN TÍCH VĂN HỌC 4 : CẦU LAM" với chàng Kim Trọng nhớ đến Thúy Kiều trong buổi đầu gặp gở :

 

                       Tình riêng nhớ ít tưởng nhiều,

                     Xăm xăm đè nẽo LAM KIỀU lần sang.

     hay như :

                       Chày sương chưa nện CẦU LAM,

                     Sợ lần khần qúa ra sờm sở chăng ?!...

   

      Còn cây cầu thần thoại nổi tiếng ở trên trời là CẦU Ô THƯỚC 烏鵲橋 (Ô Thước là Qụa Đen) bắt ngang qua sông Ngân Hà (còn gọi là Ngân Hán) để cho Ngưu Lang Chức Nữ gặp nhau hằng năm vào đêm mùng bảy tháng bảy Âm lịch mà chữ Nho gọi là Đêm Thất Tịch . Trong Cung Oán Ngâm Khúc Ôn Như Hầu Nguyễn Gia Thiều đã nói là :

 

                        Chữ đồng lấy đấy làm ghi,

                   Mượn điều THẤT TỊCH mà thề bách niên, 

          Trong truyện Nôm Phạm Tải - Ngọc Hoa (Phạm Công - Cúc Hoa) gọi là CẦU Ô :

 

                        Đưa thơ tính đã nhiều lần,

                    CẦU Ô rắp bắt sông Ngân cùng nàng.

 

      Còn trong truyện thơ Nôm Lâm Tuyền Kỳ Ngộ (Bạch Viên Tôn Các) thì gọi là CẦU THƯỚC :

 

                       CẦU THƯỚC phen này chung dịp bước,

                       Tấc gang riêng giữ nghĩa chung tình.

     

      Chiếc cầu cuối cùng theo quan niện cổ xưa của Đạo Gia và dân gian là CẦU NẠI HÀ, là NẠI HÀ KIỀU 奈何橋. Chiếc cầu nầy không có liên quan gì đến Phật Giáo cả (Kinh Phạn có từ Narakade 那落迦 NA LẠC CA là Địa Ngục chớ không phải Nại Hà).

 

      Theo truyền thuyết dân gian Trung Hoa, khi người đã chết thì hồn phách đều phải đi qua cầu Nại Hà. Người hiền lành nhân đức thì sẽ có bồ tát độ cho qua cầu một cách dễ dàng; còn người dữ dằn hung ác thì sẽ bị trợt chân xuống dưới sông Nại hà và rơi vào Phong Đô Địa Ngục. Một truyền thuyết khác cho là khi chết thì hồn người chết sẽ đi về Huỳnh Tuyền Lộ, là đường đưa đến Suối Vàng; còn khi đi đầu thai thì phải đi ngang qua cầu Nại Hà, bên cầu có một bà lão, tục gọi là Mạnh Bà đang nấu một nồi canh. Ai qua cầu Nại Hà để đi đầu thai đều phải uống một chén canh của Mạnh Bà để quên hết đi những việc của kiếp trước, để bắt đầu cho kiếp sống mới sau nầy.

 

      Trong Văn Tế Thập Loại Chúng Sinh của cụ Nguyễn Du có đọan viết :

 

                   ...Gặp phải lúc đi đường lỡ bước,

                      CẦU NẠI HÀ kẻ trước người sau.

                      Mỗi người một nghiệp khác nhau,

                      Hồn xiêu phách tán biết đâu bây giờ ?

Trong văn học cổ còn có những chiếc cầu rất hào hùng như hình ảnh của chàng chinh phu xuất chinh trong Chinh Phụ Ngâm Khúc với :

                    

                          Giã nhà đeo bức chiến bào,

                          Thét roi CẦU VỊ ào ào gió thu.

 

... và cũng có những chiếc cầu rất nên thơ đã đi vào lòng người, như cây cầu bắt ngang qua ngòi nước cũng trong Chinh Phụ Ngâm Khúc của Đoàn Thị Điểm diễn Nôm :

               

                       Ngòi đầu CẦU nước trong như lọc,

                       Đường bên CẦU cỏ mọc còn non.

                       

      Hay như cây cầu bên mộ Đạm Tiên, có tơ liễu phủ quanh như lúc chị em Thúy Kiều đi đạp thanh nhân tiết Thanh Minh :

           

                       Dưới dòng nước chảy trong veo,

                    Bên CẦU tơ liễu bóng chiều thướt tha !

 

    ... và khi hiện về để báo mộng cho Thúy Kiều biết cũng là người đồng hội đồng thuyền với mình, Đạm Tiên đã nhắc lại :

 

                           Hàn gia ở mái tây thiên,

                  Dưới dòng nước chảy bên trên có CẦU.

 

       Cuối cùng là cây cầu có vẻ cổ kính của văn học cổ là : Cây cầu trong Cung Oán Ngâm Khúc của Ôn Như Hầu Nguyễn Gia Thiều :

 

                     CẦU THỆ THỦY ngồi trơ cổ độ,

                     Quán thu phong đứng rũ tà huy...

  THỆ THỦY 逝水 : là Nước chảy qua (rồi đi mất hút luôn). CỔ ĐỘ 古渡 : là Bến đò xưa. nên "Cầu thệ thuỷ ngồi trơ cổ độ" là : Nước vẫn chảy qua cầu rồi mất hút bên cạnh bến đò xưa vẫn ngồi đó trơ gan cùng tuế nguyệt ! Hai cảnh tương phản đứng cạnh nhau, nhưng lại cùng tồn tại với nhau suốt những tháng năm dài, như cuộc đời nàng cung nữ thanh xuân cứ mất dần đi theo năm tháng trong cung vàng vẫn hoa lệ như xưa; giống như là đời sống lưu vong của chúng ta hiện nay ...

   ... cứ giương mắt nhìn thời gian mất đi, tuổi già sồng sộc ập đến trong khung cảnh tha hương dị quốc muôn đời cũng không giống được những gì nơi quê hương cố thổ; như quán gió thu hiu hắt đứng rũ buồn trong ánh nắng chiều nghiêng nghiêng khi hoàng hôn dần tắt ... như :

 

                       Cầu thệ thuỷ ngồi trơ cổ độ

                    Quán thu phong đứng rũ tà huy...

    ... và :

                      Phong trần đến cả sơn khê,

                 Tang thương đến cả hoa kia cỏ này.

                                                                     buồn thay ! 

 

 

         Hẹn bài viết tới !

 

 

        Đỗ Chiêu Đức 

_____________________________________

THÀNH NGỮ ĐIỂN TÍCH 35: 

                                               CẦM

 CẦM 琴 là Cây Đờn (Đàn). Như Lục Huyền Cầm 六絃琴 là cây Đàn có 6 dây. CẦM SẮC 琴瑟 là Hai loại đàn ngày xưa và như câu thơ đầu tiên trong bài CẨM SẮC 錦瑟 (Đàn gấm) của Lý Thương Ẩn là : CẨM SẮC vô đoan ngũ thập huyền 錦瑟無端五十弦. SẮC là cây đàn có đến 50 dây. CẦM SẮC là hai nhạc cụ thường dùng trong hòa tấu âm nhạc cho ra âm thanh hòa hợp rất hay, nên còn được ví với vợ chồng hòa thuận, chồng hát vợ họa theo ( Phu xướng phụ tùy 夫唱婦隨) với lời chúc nhau trong các đám cưới đám gả là CẦM SẮC HÒA HÀI 琴瑟和諧 hay SẮC CẦM HẢO HỢP 瑟琴好合. Vì các ý nghĩa trên, nên...

 

    CẦM SẮC 琴瑟 còn có nghĩa bóng là tình VỢ CHỒNG, và CẦM KỲ 琴棋 (Đàn và Cờ) có nghĩa là tình bè bạn. Như khi Kim Kiều tái hợp, mặc dù đã bái đường với nhau, nhưng Thúy Kiều năn nỉ Kim Trọng đừng động phòng với lý do :

 

                                     Chữ TRINH còn một chút nầy,

                               Chẳng cầm cho vững lại vầy cho tan ! 

nên cô khuyên Kim Trọng :

                                    Chàng dù nghĩ đến tình xa,

                               Đem tình CẦM SẮC đổi ra CẦM KỲ ! 

 Kim Trọng đã chìu theo ý của Thúy Kiều không động phòng trong đêm đó, nhưng không biết ngày tháng dài lâu, những đêm sau nầy sẽ ra sao ?!...   

 

        Ta còn có từ CẦM ĐÀI 琴台 là Cái Giá để đặt cây đàn; CẦM ĐÀI còn là nơi mà Tư Mã Tương Như đã đàn khúc Phượng Cầu Kỳ Hoàng để đánh động lòng ái mộ của nàng Trác Văn Quân xinh đẹp. Nên CẦM ĐÀI là từ kép để chỉ Nghề đàn giỏi hoặc Khúc đàn hay, như khi Kim Trọng muốn Thúy Kiều đàn cho mình nghe thì đã khẩn khoản là :

                              Rằng : Nghe nổi tiếng CẦM ĐÀI,

                        Nước non luống những lắng tai Chung Kỳ.

    

       Ngoài CẦM ĐÀI, ta còn có CẦM ĐƯỜNG 琴堂 là Ngồi trên công đường mà gãy đàn, theo xuất xứ với tích sau đây :

       

       Sách Lã Thị Xuân Thu thời Chiến Quốc : Mật Tử Tiện 宓子贱 học trò của Khổng Phu Tử khi làm quan ở đất Đan Phụ (Nam Huyện của tỉnh Sơn Đông hiện nay). Mỗi ngày ông chỉ ngồi trên công đường gãy đàn mà xử lý rất tốt tất cả mọi việc trong huyện. Còn Vu Mã Kỳ thì phải thức khuya dậy sớm, đi sớm về muộn, vất vả bận rộn suốt ngày, cũng xử lý huyện Tứ Phụ rất tốt. Vu Mã Kỳ mới hỏi Mật Tử Tiện là duyên cớ làm sao mà ta thì vất vả còn ông thì an nhàn khi công việc cũng như nhau ? Mật Tử Tiện mới đáp rằng : " Cách của ta làm là biết sử dụng nhân tài, còn cách của ông là sử dụng sức lực. Đương nhiên sử dụng sức lực sẽ vất vả hơn sử dụng nhân tài nhiều !" Mật Tử Tiện giữ cho tâm bình khí ổn, tai mắt tinh tường, tinh thần minh mẫn, nên xử lý mọi việc một cách nhanh chóng ổn thỏa. Vì tích nầy mà phát sinh thành ngữ "MINH CẦM NHI TRỊ 鳴琴而治" Có nghĩa : Chỉ ngồi đàn mà vẫn giữ vững được trị an trong huyện. Vì ngồi trên công đường mà đàn nên gọi là CẦM ĐƯỜNG 琴堂. Sau được dùng rộng ra để chỉ việc làm quan có hiệu qủa tốt, như sau khi Kim Trọng đã thi đậu làm quan, cụ Nguyễn Du đã viết là :

 

                             CẦM ĐƯỜNG ngày tháng thanh nhàn,

                           Sớm khuya tiếng hạc tiếng đàn tiêu dao.

       

       CẦM KỲ THƯ HỌA 琴棋書畫 là Tứ nghệ, bốn cái nghề, bốn cái kỹ năng mà tất cả những thư sinh ngày xưa đều phải rèn luyện học tập. Đó chính là : Gãy đàn, Đánh cờ vây (Vi Kỳ 圍棋), Viết thư pháp và Hội họa, vẽ tranh. Ngoài việc ứng phó thi cử để tìm chút công danh ra, bốn kỹ năng trên còn là niềm tự hào, hơn thua nhau trong lúc trà dư tửu hậu. Nhưng sang qua Việt Nam ta thì thành ra Bốn Món Ăn Chơi Tài Tử; hai chữ cuối THƯ HỌA 書畫 được đổi thành THI TỬU 詩酒; Thư pháp và Hôi họa được đổi thành Làm thơ và Uống rượu, như trong bài hát nói bất hủ của cụ Nguyễn Công Trứ :

 

                        CẦM KỲ THI TỬU,

                        Đường ăn chơi mỗi vẻ mỗi hay,

                        Đàn năm cung réo rắt tính tình dây,

                        Cờ đôi nước rập rình xe ngựa đó.

                        Thơ một túi phẩm đề câu nguyệt lộ, 

                        Rượu ba chung tiêu sái cuộc yên hà...

 

  ...và hai câu thơ chữ Hán trong bài là :

 

                  Cầm tứ tiêu nhiên, kỳ tứ sảng,   琴思瀟然棋思爽,

                  Thi hoài lạc hĩ, tửu hoài nồng.    詩懷樂矣酒懷濃。

Có nghĩa :

       -  Đàn thì phải thanh thoát tự nhiên, đánh cờ thì phải sảng khoái (không câu mâu quạu quọ),

       -  Thơ thì phải làm vui thỏa lòng ta và rượu thì phải đ