top of page
hmpg.jpg
Titlej (1).jpg
dcd_ongdo.jpg

TIẾNG HÁN CỔ

với Ông Đồ ĐỖ CHIÊU ĐỨC

CHS Phan Thanh Giản (Cần Thơ)

Cựu GS Trung Học Tân Hưng (Cái Răng)

Cựu Giảng Viên ĐH Xã Hội - Nhân Văn (Sài Gòn)

Houston,Texas________

 

Trân trọng giới thiệu TRANG NHÀ ĐỖ CHIÊU ĐỨC:

https://sites.google.com/view/dochieuduc5/startseite?authuser=0

DCD_Thattich1.png

THẤT 七 là Bảy; TỊCH 夕 là Đêm. Nhưng THẤT TỊCH 七夕 không phải là Bảy đêm, mà là đêm "Mùng Bảy Tháng Bảy" Âm lịch. Đêm mà Ngưu Lang Chức Nữ gặp nhau nhờ ô thước bắc cầu qua dòng sông Ngân Hà như trong truyền thuyết. Ngưu Lang Chức Nữ là một trong bốn chuyện tình lớn nhất của dân gian trong xã hội sơ khai của nền nông nghiệp : Nam thì chăn trâu cày ruộng; Nữ thì chăn tằm dệt vải. Nhưng vợ chồng lại không được đoàn tụ phải sống trong bi kịch mỗi người một nơi, một năm chỉ gặp mặt được có một lần. Nhân tháng 7 âm lịch, ta đọc lại một số bài thơ có liên quan đến tình yêu nam nữ lớn nhất, lâu đời nhất này nhé !...

 

1. Bài thơ ĐIỀU ĐIỀU KHIÊN NGƯU TINH 迢迢牽牛星 : 

 

               迢迢牽牛星,    Điều điều Khiên Ngưu tinh,

               皎皎河漢女。    Kiểu kiểu Hà Hán nữ.

               纖纖擢素手,    Tiêm tiêm trạc tố thủ,

               札札弄機杼。    Trát trát lộng cơ trữ.

               終日不成章,    Chung nhật bất thành chương.

               泣涕零如雨。    Khấp thế linh như vũ.

               河漢清且淺,    Hà Hán thanh thả thiển,

               相去復幾許?    Tương khứ phục kỷ hử ?

               盈盈一水間,    Doanh doanh nhất thuỷ gian,

               脈脈不得語。    Mạch mạch bất đắc ngữ !

                         無名氏                   Vô Danh Thị (Không rõ tên tác giả)

 

   

 

* Chú thích :

    - Điều Điều : là Xa xăm diệu vợi; là Xa xa...

    - Kiểu Kiểu : là Trắng trẻo nõn nà; là Lấp lánh. Còn được đọc là Hạo Hạo.

    - Tiêm Tiêm : là Mềm mại, thon thả. - Trạc : Nhấc lên, Đưa lên.

    - Trát Trát : là Lách cách lác các (từ Tượng thanh).

    - Bất Thành Chương : là Không thành văn vẻ vải vóc gì cả.

    - Khấp Thế : Khấp là Nước mắt ; Thế : là Nước mũi; Linh : là Chảy. Câu : "Khấp thế linh như vũ"là "Nước mắt nước mũi chảy như mưa". 

    - Hà Hán : Chỉ sông Thiên Hà, còn gọi là Sông Ngân Hà hay Ngân Hán.

    - Kỷ Hử ? : Là Nghi vấn tự, có nghĩa là Bao nhiêu ?"

    - Doanh Doanh : Là Đầy âm ấp. Là Vẻ nhởn nhơ của các bà các cô. Là (Nước) nông và trong, là Nông sờ. Nguyễn Du đã viết trong Truyện Kiều :

 

                           Sông Tương một dãy NÔNG SỜ,

                          Bên trông đầu nọ bên chờ cuối kia.

 

    - Mạch Mạch : là (Nhìn) Đăm đắm, Đắm đuối, Chứa chan tình cảm.

 

* Nghĩa bài thơ :

       Xa xôi diệu vợi ở đầu bên kia sông là Sao Khiên Ngưu. Lấp lánh sáng sủa phía bên nầy sông là sao Chức Nữ (HÀ HÁN NỮ). Với đôi tay mềm mại trắng trẻo vươn ra, và tiếng lách cách lác các của khung cửi đang hoạt động. Nhưng... suốt cả ngày không dệt ra được vải vóc gì cả; mà còn khóc đến nước mắt nước mũi chảy như mưa. Sông Ngân Hà lại trong mà cạn, đây qua đó khoảng cách có bao xa đâu ? Chỉ là một dòng nước đầy ngăn cách, nhưng lại chỉ nhìn nhau đăm đắm mà chẳng nói nên lời !  

 

       Đây là bài thơ thứ mười trong "Cổ thi thập cửu thủ 古詩十九首" (19 bài thơ xưa thời Tần, Hán). Bài thơ đã mượn truyện tình của Ngưu Lang Chức Nữ trong cái bi kịch là bị ngăn cách bởi sông Ngân Hà, người ở bên nầy sông người ở bên kia sông. Chức Nữ đã nói lên nỗi tương tư của sự chia cắt, bày tỏ nỗi bi thương sầu thảm của cảnh vợ chồng không được đoàn tụ một nhà. Không còn lòng dạ nào để canh cửi nữa, nên mặc dù khung máy dệt vẫn lách ca lách cách mà lại chẳng dệt nên gì cả, trong khi nước mắt nước mũi lại đầm đìa. Ý thơ và lời thơ đã hàm chứa một ý thức bất mãn và phản kháng về sự việc "Vợ một nơi chồng một nẻo" nầy. Lời thơ thiết tha chân thành, hình ảnh gợi tình gợi cảm một cách chân thật : Chỉ cách có mỗi một dòng sông nước cạn mà đôi lứa đành phải tương tư sầu khổ; Gần nhau trong gang tấc mà như là cách trở quan san !

 

* Diễn Nôm :

 

                ĐIỀU ĐIỀU KHIÊN NGƯU TINH

 

                  Xa xăm sao Khiên Ngưu,

                  Lấp lánh sông Chức Nữ.

                  Thon thả vươn tay ngà,

                  Lách cách trên khung cửi.

                  Suốt buổi chẳng nên chi,

                  Như mưa kìa mắt mũi.

                  Ngân Hà cạn lại trong,

                  Phải cách chi non núi ?!

                  Một dòng nước vơi đầy,

                  Nhìn nhau chừng đắm đuốì !

      Lục bát :

                  Sao Ngưu diêu vợi trời xa,

                  Lấp lánh Chức Nữ bên Hà Hán đây.

                  Tay ngà thon thả vươn đầy,

                  Thoi đưa lách cách khung cây suốt ngày.

                  Chẳng thành vải vóc cân đai,

                  Nước mắt bước mũi chảy dài như mưa.

                  Ngân Hà trong cạn như xưa,

                  Gần nhau gang tấc, lại vừa xa xôi.

                  Cách ngăn chỉ một sông thôi,

                  Nhìn nhau đăm đắm khôn lời thở than !

                                                     Đỗ Chiêu Đức diễn Nôm

 

 

2. Bài thơ THẤT TỊCH 七夕 của LÝ HẠ 李賀 đời Đường :

          LÝ HẠ 李賀(790~816) Thi nhân đời Đường. Tự là Trường Cát 長吉. Người ở đất Phước Xương huyện Xương Cốc. Được người đời xưng tụng là THI QUỶ 詩鬼. Ông còn có biệt hiệu là Lý Xương Cốc 李昌谷. Cuộc sống của ông trường kỳ chìm đắm trong ưu tư sầu não, vắt óc khổ ngâm sống cuộc sống hành hạ bản thân. Thêm vào gia cảnh bần hàn khốn đốn làm cho cái ngôi sao thơ chưa kịp tỏa hết những ánh sáng lạ kỳ độc đáo thì đã phải vẫn lạc rụng sớm khi mới vừa 27 tuổi. Sau đây là bài thơ THẤT TỊCH 七夕 của ông.

 

                七夕                THẤT TỊCH

            別浦今朝暗,    Biệt phố kim triêu ám,

            羅帷午夜愁。    La duy ngọ dạ sầu.

            鵲辭穿線月,    Thước từ xuyên tuyến nguyệt,

            螢入曝衣樓。    Huỳnh nhập bộc y lâu.

            天上分金鏡,    Thiên thượng phân kim kính,

            人間望玉鉤。    Nhân gian vọng ngọc câu.

            錢塘蘇小小,    Tiền Đường Tô Tiểu Tiểu,

            更值一年秋。    Cánh trị nhất niên thu.

 

          

 

* Chú thích :

    - Thất Tịch : là Đêm mùng 7 tháng 7 Âm lịch. 

    - Biệt Phố : là Bến nước ly biệt, ở đây chỉ bến sông Ngân Hà nơi Ngưu Lang Chức Nữ chia tay với nhau, ai về bến nấy.

    - Kim Triêu : là Sáng nay; là Hôm nay; nghĩa trong bài là "Đêm Nay". Như trong câu "Dưỡng quân thiên nhật, dụng tại NHẤT TRIÊU 養軍千日,用在一朝。" Có nghĩa : "Nuôi quân ngàn ngày, (nhưng chỉ) dùng trong MỘT BUỔI.

    - La Duy : là Rèm màn được dệt bằng tơ. Trong bài "Phong Phú 風賦" của Tống Ngọc thời Chiến Quốc có câu :"Tễ ư LA DUY, kinh ư động phòng 躋於羅帷,經於洞房" là Bước vào rèm tơ để động phòng. 

    - Câu 螢入曝衣樓. HUỲNH nhập bộc y lâu. Có dị bản là "HOA nhập bộc y lâu 花入曝衣樓". HUỲNH 螢 là con Đom đóm.

    - Phân Kim Kính 分金鏡 : là Chia cái gương bằng vàng ra làm hai. Ý chỉ mùng bảy trăng chưa tròn, chỉ có nửa vầng trăng thôi. Giống như là mảnh gương vỡ đôi của Lạc Xương công chúa và Từ Đức Ngôn, và như cụ Nguyễn Du cũng đã viết "Vầng trăng ai xẻ làm đôi ?". Ở đây Lý Hạ ví mình như "nửa vầng trăng" vì đơn độc có một mình.    

    - Ngọc Câu : là Cái móc bằng ngọc, chỉ trăng lưỡi liềm của đêm mùng bảy.

    - Tô Tiểu Tiểu 蘇小小 : là một danh kỹ của Nam Tề thời Nam Bắc Triều, được rất nhiều văn nhân thi sĩ nhắc đến. Ở đây Lý Hạ mượn hình tượng của Tô Tiểu Tiểu để chỉ người mình yêu.

    - Câu 更值一年秋 CÁNH trị nhất niên thu. có dị bản là : HỰU trị nhất niên thu 又值一年秋. CÁNH và HỰU ở đây đềi có nghĩa là LẠI, Lại thêm, Lại càng.

 

* Nghĩa bài thơ :

        Trên bến sông Ngân Hà đêm nay trời rất ảm đạm. Ngồi trong rèm tơ lúc nửa đêm để nghe sầu dâng tràn ngập. Chim ô thước đã từ biệt vầng trăng xỏ chỉ để KHẤT XẢO (xin được khéo tay). Chỉ còn những con đom đóm bay vào lầu phơi áo mà thôi (Đây là lần phơi áo cuối cùng trước khi trời vào thu). Trên trời vầng trăng như chiếc gương vàng bị chia đôi (Như Ngưu Lang Chức Nữ hợp rồi lại tan). Nên (những người yêu nhau) trong nhân gian chỉ ngắm được có nửa cái móc ngọc mà thôi. (Không thấy được người yêu) như là Tô Tiểu Tiểu ở xứ Tiền Đường; Đành âm thầm sống lẻ loi cô độc thêm một mùa thu nữa vậy !

 

       Đường Minh Hoàng và Dương Qúy Phi trong đêm Thất Tịch thì nguyện "Trên trời cùng làm chim liền cánh, dưới đất thì làm cây liền cành". Nàng cung phi của Ôn Như Hầu Nguyễn Gia Thiều thì "Mượn điều THẤT TỊCH mà thề bách niên" còn Lý Hạ lại mượn đêm Thất Tịch để bày tỏ nỗi lòng ưu sầu và thương nhớ người yêu của mình. Ngưu Lang Chức Nữ một năm còn được gặp nhau một lần trong đêm Thất Tịch, mặc dù sau đó lại phải chia tay; Còn mình xa người yêu hết năm nầy qua năm khác không biết đến bao giờ mới lại được gặp nhau đây. Vầng trăng mãi cứ như mảnh gương xẻ nửa đêm Trừ Tịch. Không biết đến bao giờ thì "Gương vỡ lại lành" đây ?!  Đành cô đơn lẻ bóng thêm một năm nữa vậy !

 

 

 

 

 

 

                

* Diễn Nôm :

   

                      THẤT TỊCH

 

                 Bờ Ngân Hà ảm đạm,

                 Rèm tơ nửa đêm sầu.

                 Qụa rời trăng xỏ chỉ,

                 Đom đóm áo phơi lầu.

                 Trên trời gương bẻ nửa,

                 Dưới thế ngắm móc câu.

                 Đâu Tiền Đường Tiểu Tiểu ?

                 Lại thêm một năm thu !

 

        

    Lục bát :

                 Ngân Hà ảm đạm đôi bờ,

                 Một mình cô lẻ rèm tơ đêm sầu.

                 Qụa rời xỏ chỉ trăng thâu,

                 Áo phơi đóm lượn bên lầu trăng soi.

                 Trên trời gương bẻ làm đôi,

                 Dưới trần buồn ngắm bồi hồi ngọc câu.

                 Tiền Đường Tiểu Tiểu về đâu ?

                 Lại mùa thu nữa nghe sầu chia ly !

                                              Đỗ Chiêu Đức diễn Nôm.

 

3. Bài thơ THU TỊCH 秋夕 của Đỗ Mục 杜牧 đời Đường :

           ĐỖ MỤC 杜牧 (803-852), tự Mục Chi 牧之, hiệu Phàn Xuyên Cư Sĩ 樊川居士, người đất Kinh Triệu 京兆 (Tây An thiểm Tây ngày nay). Ông là con của Đỗ Tùng Úc, cháu nội của Tể Tướng Đỗ Hựu, đậu tiến sĩ năm 26 tuổi đời Đường Văn Tông Đại Hòa năm thứ 2. 

      Đỗ Mục là nhà thơ, nhà tản văn kiệt xuất đương thời. Ông từng giữ các chức vụ Hoằng Văn Quán Hiệu Thư Lang, Giang Tây Quan Sát Sứ Mộ, Hoài Nam Tiết Độ Sứ, Quốc Sử Quán Tu Soạn, Ngự Sử Hoàng Châu, Trì Châu, Mục Châu ... Vì cuối đời ông ở Nam Phàn Xuyên Biệt Thự xứ Trường An, nên người đời gọi ông là Đỗ Phàn Xuyên. Ông trứ tác Phàn Xuyên Văn Tập, nổi tiếng với các bài Thất ngôn Tứ tuyệt, người đời gọi ông là Tiểu Đỗ để phân biệt với Lão Đỗ là Đỗ Phủ của buổi sơ Đường. Đỗ Mục cùng với Lý Thương Ẩn hợp xưng " Tiểu LÝ ĐỖ " để phân biệt với " Lão LÝ ĐỖ " là Lý Bạch và Đỗ Phủ.

      Sau đây là bài thơ Thất ngôn tứ tuyệt THU TỊCH của ông :

 

                   秋夕                       THU TỊCH    

 

          銀燭秋光冷畫屏,   Ngân chúc thu quang lãnh họa bình

            輕羅小扇撲流螢。   Khinh la tiểu phiến phốc lưu huỳnh

            天街夜色涼如水,   Thiên giai dạ sắc lương như thủy

            臥看牽牛織女星。   Ngọa khán Khiên ngưu Chức nữ tinh .

 

          

 

 

 

 

 

 

 

* Chú thích :

    - Ngân Chúc : Ngân là Bạc, ở đây là màu Bạc, màu trắng bạc. Chúc là đuốc. Hoa Chúc là Đuốc hoa, ở đây Chúc là cây Đèn Cầy, Cây Nến. Ngân chúc : là Cây Đèn sáp màu trắng bạc.

    - Họa Bình : là Bức bình phong có vẽ tranh của các nhà quyền quý thời xưa.

    - Khinh La : Khinh là nhẹ, La là Là, Lụa là, là Vải The. Khinh La : là loại vải the nhẹ để làm quạt. Trong bài "Khinh La Tiểu Phiến": Là chiếc quạt con làm bằng lụa là của các tiểu thơ thường cầm trên tay ngày xưa.

    - Phốc : Là chụp bắt.

    - Lưu Huỳnh : Lưu là Lưu động, là xẹt. Lưu Tinh 流星 : là Sao xẹt. Huỳnh : là con Đom đóm.

    - Thiên Giai : Giai là con đường. Thiên Giai : không phải là đường ở trên trời, mà là đường trong kinh thành, trong cung vua.

    - Lương Như Thủy : là Mát như nước.

 

* Dịch nghĩa :

                        ĐÊM THU

       Ánh sáng lung linh từ ngọn bạch lạp tỏa ra hòa với hơi thu làm cho tấm bình phong đẹp rực rỡ cũng nhuốm hơi lạnh lẽo, nàng phe phẩy chiếc quạt the để chụp bắt những con đom đóm đang lặp lòe bay lượn trong đêm. Đêm đang xuống trong những con đường của Kinh thành, hơi thu mát lạnh như nước trong đêm thanh vắng lặng, nàng ngữa nhìn sao trời để tìm ngắm hai sao Chức Nữ và Ngưu Lang.

 

Diễn nôm : 

                                     

 

           

                      

                       Lung linh nến trắng bình phong lạnh,

                       Quạt lụa vờn theo đóm lượn thu.

                       Lấp lánh sao trời trong như nước,

                       Nằm xem sao Chức gặp sao Ngưu .

       Lục bát :

                       Bình phong thu lạnh se se,

                       Quạt là nến trắng lặp lòe đóm bay

                       Trời thu như nước mát thay,

                       Ngưu Lang Chức Nữ đêm nay tương phùng !

                                                                 Đỗ Chiêu Đức diễn Nôm

                                                                                               

      Đêm thu với khí trời trong mát, với đom đóm bay lượn lặp lòe, rồi nằm mà ngắm sao Ngưu Lang Chức Nữ.... Rất bình dị và rất nên thơ !. Có ai ngờ được đây lại là một bài thơ Cung Oán !... Này nhé

   ... Ngọn bạch lạp đặt trên giá bằng bạc, bình phong có tranh họa rực rỡ, rõ ràng là cuộc sống của các nhà quyền quý vương hầu, ta càng xác định hơn với từ Thiên Giai : là đường trong Kinh thành, trong Cung Vua, và ai mới rảnh rổi mà nằm ngắm sao trời ?. Chỉ có những nàng cung nữ nhàn nhã, tội nghiệp trong lãnh cung mới rảnh rổi như thế mà thôi, và... một điểm tâm lý rất quan trọng nữa là, chỉ có những nàng cung nữ với tình xuân phơi phới, với nhựa sống tràn trề, mà phải giam mình trong chốn lãnh cung cô thân chiếc bóng, mới hâm mộ và ước ao được như Ngưu Lang Chức Nữ, mặc dù mỗi năm chỉ hội ngộ có một lần. Một lần, có còn hơn không !. Một số cung nhân may mắn... suốt đời mới gặp được vua một lần ! Lắm cô suôt cả cuộc đời, hết cả tuổi thanh xuân, cũng chưa được nhà vua một lần triều kiến... So với Ngưu Lang Chức Nữ thì còn đắng cay chua xót hơn nhiều ! Nên chi, mới ngưỡng mộ và ước ao được như Ả Chức và Chàng Ngưu, chớ còn đối với cuộc sống bình thường, thì có ai lại hâm mộ chuyện tình của Ngưu Lang Chức Nữ bao giờ ?! Duy chỉ có nàng cung phi trong Cung Oán Ngâm Khúc của Ôn Như Hầu Nguyễn Gia Thiều mới ...

 

                  Mượn điều Thất Tịch mà thề bách niên  ....    mà thôi ! 

                                                                                             

       "Bách niên" mà chỉ gặp nhau vào đêm "Thất Tịch" hằng năm, thì có ai ao ước mà làm gì !!!

 

        Phải tinh ý lắm, ta mới cảm nhận được cái "Oán" trong bài thơ nầy, vì nó quá nhẹ nhàng và bình dị. Phải chăng cái oán đeo đẳng miên man lâu dần nên đã hòa vào cuộc sống và được chấp nhận như một sự tự nhiên tội nghiệp ! Không như nàng cung phi của Ôn Như Hầu :

 

         ..... Bực mình muốn đạp tiêu phòng mà ra !... 

    Khi...   

            Cái oán đã lên đến cực điểm và trở thành bạo động !  

 

 

 

 

 


 

       Hẹn bài viết tới :

 

                          CHÙM THƠ THẤT TỊCH  (2)

 

  杜紹德

  Đỗ Chiêu Đức

dcd_thutich.JPG
dcd_50nam.JPG

   THẮM THOÁT NĂM MƯƠI NĂM

 

  Thắm thoát thời gian khéo hững hờ

   Bóng câu, cửa sổ, thoáng như mơ

   Năm mươi năm cũ tình ​đeo đẵng

   Còn ngỡ hôm nào, khi tuổi thơ....

   ........................................................

   Năm mươi năm cũ tình chưa cũ

   Còn nhớ không em tự thuở nào

   Hai đứa tung tăng cùng đến lớp

   Tan trường chung lối vẫn bên nhau

 

    Em như Ngọc Nữ ngây thơ quá

    Đuổi bướm vờn hoa dại bên rào

    Anh thì ngờ nghệch nhìn ngơ ngác

    Chỉ cười khi thấy bướm bay cao

 

    Phụng phịu dỗi hờn như trách móc

    Suốt buổi lặng thinh chẳng nói gì

    Anh ghẹo em cười ba bốn bận

    Khi nhìn "Hồ điệp mãn viên phi"..(1)

       .....................................................

    Lần lữa, thời gian êm ả trôi

    Em tròn mười sáu, anh thế thôi,

   Sáng chiều hai buổi Phan Thanh Giản

    Bốn lượt đi về vẫn có nhau

    Xe đạp song song giữa nắng chiều

    Thướt tha trong gió nhẹ hiu hiu

    Phất phơ áo trắng bay theo gió

    Xao xuyến lòng anh tuổi chớm yêu !

 

    Ngây thơ nào biết đến tình ai

    Em vẫn vô tư rạng nét ngài

    Nhìn anh vẫn mĩm cười trong nắng

    Để mặc gió lùa tóc rối bay...

 

    Mười sáu em như nụ mai xanh

    Trong trắng trinh nguyên giấc mộng lành

    Đâu biết lòng anh đang rạo rực

    Mỗi chiều trong nắng gió mong manh

 

    Từ đó anh thường hay ngẩn ngơ

    " Thi nhân Tiền Chiến " lẫn trong mơ

    Anh ngồi chép mãi thơ người khác

    Đâu biết chuyện mình cũng nên thơ

 

    Xuân Diệu, Thế Lữ, Lưu Trong Lư....

    Đọc cả Đường thi lẫn Tống từ....

    Chép mãi trăm lần " Tình thứ nhất ,

    Đem cho em kèm với một lá thư... "(2)

 

    Một buổi chiều kia anh đánh bạo

    Kẹp thư trong sách tỏ tình... thân

    Thẹn thùa ba, bốn, năm  ngày tiếp

    Em chẳng nhìn anh lấy một lần !...

 

    Im lặng, khiến lòng anh thấp thỏm

    Hỏi thì...Em lại bẳng như không :

    "Thấy ghét!". Em làm anh bối rối,

    Nhưng "ghét" là... yêu đó, phải không?

    ..........................................................

 

    Rồi những chiều xuân ta có nhau

    "Thầy Cầu" vườn biếc, lá lao xao

    "Ninh Kiều" gió lộng, bao lưu luyến

    Nhẹ bước "Đàn Tiên", những buổi nào!(3

    

    Anh với em như Điệp với Lan

    "Thanh mai trúc mã" đẹp muôn vàn

    Võ vẽ thơ Đường anh đọc thấy

    Chuyện mình sao giống khúc "Trường Can"..(4)

 

    Em bảo, em yêu thơ Thái Can

    Thương người thiếu nữ khóc hoa lan

    Ghét anh Hồ Dzếnh " Tình... dang dở "

    Chê chàng Nguyễn Bính "... bước sang ngang "(5)

 

    Em muốn duyên ta kết Tấn Tần

    Muôn đời vạn kiếp mãi không phân

    Xinh như Ngọc Nữ Tiên Đồng ấy

    Sớm dạo vườn đào, tối sông Ngân...

 

    Tiếc thay anh chẳng phải Tiên Đồng

    Mơ mộng em anh khéo viễn vông !

    Mười sáu yêu nhau chừng quá sớm

    Nên ngòi ly biệt đã khơi dòng...

 

    Ấy thế, tình ta sớm nhạt màu

    Người đời miệng tiếng lắm xôn xao

    "Hộ đối môn đăng" muôn kiếp vẫn

    Là rào ngăn cách kẻ yêu nhau!

 

    Em là gái "Khuê môn bất xuất" !

    Phận anh nghèo "Bạch diện thư sinh"

    Thói đời đen bạc cho nên nỗi

    Dang dở vì đâu một chữ tình ?!

 

 

    Mười bảy anh thi rớt Tú Tài

    Lên đường viễn xứ một thân trai

    Cầu thực tha phương trong khói lửa

    Lòng còn trĩu nặng bóng hình ai !....

 

    Nỗi biệt ly nào chẳng xót xa

    Tiễn đưa không một chén quan hà (6)

    Nhìn nhau cố nén lòng không khóc

    Không khóc mà sao mắt cứ nhòa...

            ....................................................

    Từ ấy, đường đời ai nấy đi

    Các thành gia thất các tương nghi (7)

    Chạnh lòng giây phút khi nghe trẻ

    Hát bài " Hồ điệp mãn viên phi " !

 

    Trải bao thế thái với nhân tình

    Dâu bể, nổi chìm, lắm đão khuynh

    Mới hay " Tình... đẹp, khi...dang dở " 

    Trách chi Hồ Dzếnh thuở bình sinh !

 

    Năm mươi năm cũ, tình đeo đẳng

    Lòng vẫn tơ vương... chiếc áo dài !

   Mỗi lúc nắng chiều phơn phớt gió

    Bồi hồi lại nhớ...áo ai bay !

 

    Những lúc trà dư tửu hậu tan

    Chạnh niềm cô lữ, buổi xuân tàn

    Chiều nay chợt thấy lòng xao xuyến

    Ngậm ngùi đọc lại khúc " Trường Can "...

 

    "Mai Trúc" ngày xưa đã dở dang

    Phương trời cách biệt vẫn băn khoăn

    "Thanh Mai" vẫn thắm như ngày trước?

    "Trúc Mã" giờ đây...đã cỗi cằn!

                 .......................................................

 

    Thắm thoát thời gian khéo hững hờ

    Bóng câu, cửa sổ, thoáng như mơ

    Năm mươi năm cũ... tình đeo đẳng

    Còn ngỡ hôm nào, khi tuổi thơ

 Đỗ Chiêu Đức

DCD_1.JPG

GHI CHÚ :

                     Vì là thơ tình của thầy đồ, nên không bỏ được... bệnh nghề nghiệp, nói Nho nhiều quá , và vì thế nên phải có các chú thích kèm theo sau đây :

Chú Thích :
             (1) " Hồ điệp mãn viên phi " là : Bướm bay đầy vườn, tên một bài hát của các học sinh Tiểu học trường Hoa trước đây, giống như bài " Kìa con bướm vàng..." , của ta vậy.

             (2) Trích dở bài thơ " Một mối tình " của nhà thơ Xuân Diệu :

                Anh có một tình yêu thứ nhất
               Đem cho em kèm với một là thơ
               Em không lấy và tình anh đã mất
               Tình đã cho không lấy lại bao giờ !

            (3) " Vườn Thầy Cầu , Bến Ninh Kiều, Đàn Tiên " là những nơi để dạo chơi, giải trí, cắm trại... của thanh niên học sinh ở Cần Thơ hồi khoảng thập niên 50-60. Hiện nay, chỉ còn lại có Bến Ninh Kiều.

           (4) " Thanh Mai Trúc Mã " là thành ngữ điển tích xuất xứ từ bài thơ Ngũ Ngôn Cổ Phong của Lý Thái Bạch đời Đường. Bài thơ có tên là " Trường Can Hành ", trong đó có hai câu :

            Lang kỵ TRÚC MÃ lai        郎騎竹馬來,
            Nhiễu sàng lộng THANH MAI    繞床弄青梅.

thường dùng để chỉ trai gái quen nhau từ thuở nhỏ, lớn lên yêu nhau hoặc thành chồng vợ với nhau. Sau này dùng rộng ra còn để chỉ VỢ CHỒNG và được nói gọn lại thành " MAI TRÚC" hay " TRÚC MAI ", như trong truyện Kiều của Nguyễn Du :

            Một nhà sum họp TRÚC MAI
            Càng sâu nghĩa bể, càng dài tình sông !
      Hoặc :
                  Tưởng rằng MAI TRÚC lại vầy
             Ai hay vĩnh quyết là ngày đưa nhau !

          (5) Trích dở câu thơ nổi tiếng của nhà thơ HỒ DZẾNH : " Tình chỉ đẹp khi còn dang dở ". Mới yêu nhau, ai cũng chê câu nầy cả, cũng như đều chê tên tập thơ cũng là tựa của bài thơ nổi tiếng của thi sĩ NGUYỄN BÍNH là " Lỡ bước sang ngang ".

          (6) Lấy ý thơ trong truyện Kiều của Nguyễn Du :

                                       Tiễn đưa một chén quan hà
                                  Xuân đình thoắt đã dạo ra cao đình !

          (7) " Các thành gia thất các tương nghi 各成家室各相宜 " là Mỗi người đều thành gia lập thất và đều có một gia đình êm ấm cả !
 

 Thầy Đồ Dõm
Đỗ Chiêu Đức 

              kính.

Lời TỰA của Tác giả :

 

       Năm Nguyên Hòa thứ mười (815), ta bị biếm làm Tư Mã quận Cửu Giang. Mùa thu năm sau, đưa khách ở cửa sông Bồn, đêm nghe trong thuyền có tiếng tì bà của ai đó gảy, nghe âm điệu có giọng thánh thót của kinh thành. Hỏi ra, thì là một kỹ nữ của đất Trường An, từng học đàn tì bà với hai thiện tài Mục, Tào. Nay vì tuổi lớn nhan sắc tàn phai, nên lấy một thương buôn nương thân. Ta cho thuộc nhân bày tiệc rượu, mời đàn vài bản. Đàn xong, với vẻ âu sầu buồn bã kể lại những hoan lạc của ngày xưa, còn nay thì tiều tụy phiêu bạt giang hồ. Ta bị biếm đã hai năm, cũng đã sống an nhiên bình thản, chợt nghe lời kể lể, đêm nay mới có chút cảm giác của kẻ bị đi đày, nên làm bài thơ trường thiên nầy để tặng lại, gồm 616 chữ (88 câu), đặt tên là "TÌ BÀ HÀNH".

   

 元和十年,予左遷九江郡司馬。明年秋,送客湓浦口,聞舟中夜彈琵琶者,聽其音,錚錚然有京都聲。問其人,本長安倡女,嘗學琵琶於穆、曹二善才,年長色衰,委身為賈人婦。遂命酒,使快彈數曲。曲罷憫然,自敍少小時歡樂事,今漂淪憔悴,轉徙於江湖間。予出官二年,恬然自安,感斯人言,是夕始覺有遷謫意。因為長句,歌以贈之,凡六百一十六言,命曰《琵琶行》。

           潯陽江頭夜送客,      Tầm Dương giang đầu dạ tống khách,

           楓葉荻花秋瑟瑟。      Phong diệp địch hoa thu sắt sắt.

           主人下馬客在船,      Chủ nhân hạ mã khách tại thuyền,

           舉酒欲飲無管絃。      Cử tửu dục ẩm vô quản huyền.

           醉不成歡慘將別,      Túy bất thành hoan thảm tương biệt,

           別時茫茫江浸月。      Biệt thời mang mang giang tẩm nguyệt.

           忽聞水上琵琶聲,      Hốt văn thủy thượng tì bà thanh,

           主人忘歸客不發。      Chủ nhân vong quy khách bất phát.

           尋聲闇問彈者誰,      Tầm thanh ám vấn đàn giả thùy?

           琵琶聲停欲語遲。      Tì bà thanh đình dục ngữ trì.

           移船相近邀相見,      Di thuyền tương cận yêu tương kiến,

           添酒回燈重開宴。      Thiêm tửu hồi đăng trùng khai yến.

           千呼萬喚始出來,      Thiên hô vạn hoán thỉ xuất lai,

           猶抱琵琶半遮面。      Do bảo tì bà bán già diện.

           轉軸撥絃三兩聲,      Chuyển trục phất huyền tam lưỡng thanh,

           未成曲調先有情。      Vị thành khúc điệu tiên hữu tình.

           絃絃掩抑聲聲思,      Huyền huyền yểm ức thanh thanh tứ,

           似訴生平不得志。      Tự tố sanh bình bất đắc chí.

           低眉信手續續彈,      Đê my tín thủ tục tục đàn,

           說盡心中無限事。      Thuyết tận tâm trung vô hạn sự.

           輕攏慢撚抹復挑,      Khinh lũng mạn nhiên mạt phục khiêu,

           初為霓裳後六么。      Sơ vi Nghê Thường hậu Lục Yêu.

           大絃嘈嘈如急雨,      Đại huyền tào tào như cấp vũ,

           小絃切切如私語。      Tiểu huyền thiết thiết như tư ngữ.

           嘈嘈切切錯雜彈,      Tào tào thiết thiết thố tạp đàn,

           大珠小珠落玉盤。      Đại châu tiểu châu lạc ngọc bàn.

           間關鶯語花底滑,      Nhàn quan oanh ngữ hoa đễ hoạt,

           幽咽泉流水下灘。      U yết kưu tuyền thủy há than.

           水泉冷澀絃凝絕,      Thủy huyền lãnh sáp huyền ngưng tuyệt,

           凝絕不通聲暫歇。      Ngưng tuyệt bất thông thanh tạm yết

           別有幽愁暗恨生,      Biệt hữu u sầu ám hận sanh,

           此時無聲勝有聲。      Thử thời vô thanh thắng hữu thanh.

           銀瓶乍破水漿迸,      Ngân bình sạ phá thuỷ tương binh,

           鐵騎突出刀槍鳴。      Thiết kỵ đột xuất đao thương minh.

           曲終收撥當心劃,      Khúc chung thâu phất đương tâm hoạch,

           四絃一聲如裂帛。      Tứ huyền nhất thanh như liệt bạch.

           東船西舫悄無言,      Đông thuyền tây phảng tiễu vô ngôn,

           唯見江心秋月白。      Duy kiến giang tâm thu nguyệt bạch.

           沉吟放撥插絃中,      Trầm ngâm phóng bát tháp huyền trung,

           整頓衣裳起斂容。      Chỉnh đốn y thường khởi liễm dung.

           自言本是京城女,      Tự ngôn bổn thị kinh thành nữ,

           家在蝦蟆陵下住。      Gia tại Hà Mô Lăng hạ trú.

           十三學得琵琶成,      Thập tam học đắc tì bà thành,

           名屬教坊第一部。      Danh thuộc gío phường đệ nhât bộ.

           曲罷曾教善才服,      Khúc bãi thường giao thiện tài phục,

           妝成每被秋娘妒。      Trang thành mỗi bị Thu Nương đố.

           五陵年少爭纏頭,      Ngũ Lăng niên thiếu tranh triền đầu,

           一曲紅綃不知數。      Nhất khúc hồng tiêu bất tri số.

           鈿頭銀篦擊節碎,      Điền đầu ngân bề kích tiết toái,

           血色羅裙翻酒污。      Huyết sắc la quần phiên tửu ô.

           今年歡笑復明年,      Kim niên hoan lạc phục minh niên,

           秋月春風等閒度。      Thu nguyệt xuân phong đẳng nhàn độ.

           弟走從軍阿姨死,      Đệ tẩu tòng quân a di tử,

           暮去朝來顏色故。      Mộ khứ triêu lai nhan sắc cố.

           門前冷落車馬稀,      Môn tiền lãnh lạc xa mã hi,

           老大嫁作商人婦。      Lão đại giá tác thương nhân phụ.

           商人重利輕別離,      Thương nhân trọng lợi khinh biệt ly,

           前月浮梁買茶去。      Tiền nguyệt Phù Lương mại trà khứ.

           去來江口守空船,      Khứ lai giang khẩu thủ không thuyền,

           繞船月明江水寒。      Nhiễu thuyền minh nguyệt giang thủy hàn.

           夜深忽夢少年事,      Dạ thâm hốt mộng thiếu niên sự,

           夢啼妝淚紅闌干。      Mộng đề trang lệ hồng lan can.

           我聞琵琶已歎息,      Ngã văn tì bà dĩ thán tức,

           又聞此語重唧唧。      Hựu văn thử ngữ trùng tức tức.

           同是天涯淪落人,      Đồng thị thiên nhai luân lạc nhân,

           相逢何必曾相識。      Tương phùng hà tất tằng tương thức.

           我從去年辭帝京,      Ngã tòng khứ niên từ đế kinh,

           謫居臥病潯陽城。      Trích cư ngọa bệnh Tầm Dương thành.

           潯陽地僻無音樂,      Tầm Dương địa tịch vô âm nhạc,

           終歲不聞絲竹聲。      Chung tuế bất văn ti trúc thanh.

           住近湓江地低溼,      Trú cận Bồn Giang địc đê thấp,

           黃蘆苦竹繞宅生。      Hoàng lô khổ trúc nhiễu trạch sanh.

           其間旦暮聞何物,      Kỳ gian đản mộ văn hà vật,

           杜鵑啼血猿哀鳴。      Đỗ quyên đề huyết viên ai minh.

           春江花朝秋月夜,      Xuân giang hoa triêu thu nguyệt dạ,

           往往取酒還獨傾。      Vãng vãng thủ tửu hoàn độc khuynh.

           豈無山歌與村笛,      Khởi vô sơn ca dữ thôn địch ?

           嘔啞嘲哳難為聽。      Ẩu á trào triết nan vi thính.

           今夜聞君琵琶語,      Kim dạ văn quân tì bà ngữ,

           如聽仙樂耳暫明。      Như thính tiên nhạc nhĩ tạm minh.

           莫辭更坐彈一曲,      Mạc từ cánh tọa đàn nhất khúc,

           為君翻作《琵琶行》。  Vị quân phiên tác "Tì Bà Hành".

           感我此言良久立,      Cảm ngã thử ngôn lương cửu lập,

           卻坐促絃絃轉急。      Khước tọa thúc huyền huyền chuyển cấp.

           淒淒不似向前聲,      Thê thê bất tự hướng tiền thanh,

           滿座重聞皆掩泣。      Mãn tọa trùng văn giai yểm khấp.

           座中泣下誰最多?      Tọa trung khấp hạ thùy tối đa ?

           江州司馬青衫濕。      Giang Châu Tư Mã thanh sam thấp.

                         白居易                                         Bạch Cư Dị

dcd_tibahanh_3.JPG

* Nghĩa bài thơ :

                        TÌ BÀ HÀNH

     1. Ta đến đầu sông Tầm Dương để đưa khách trong đêm thu.

     2. Lá cây phong và lau sậy bên sông xào xạc trong gió thu hiu hắt.

     3. Chủ nhân thì xuống ngựa còn khách thì đã ở trên thuyền.

     4. Cùng cất chén rượu đưa tiễn lên để uống nhưng không có đàn sáo gì cả.

     5. Say nhưng lòng chẳng vui nên buồn thảm mà ly biệt nhau.

     6. Lúc ly biệt thì thấy mênh mông như dòng sông đang chìm đắm dưới ánh trăng.

     7. Bỗng nghe được tiếng đàn tì bà vang lên trên mặt nước, khiến cho...

     8. Chủ thì quên về, còn khách cũng quên xuất phát...

     9. Tìm theo âm thanh thầm hỏi: Ai là người cho phát ra tiếng đàn nầy đây?

    10. Tiếng tì bà chợt tắt như muốn nói lại thôi...

    11. Di chuyển cho thuyền đến gần nhau và xin cho được gặp mặt.

    12. Thắp lại đèn, lấy thêm rượu, mở lại tiệc...

    13. Mời gọi mãi cả trăm ngàn lần mới thấy người ra, nhưng...

    14. Vẫn còn ôm cây đàn tì bà che khuất đi nửa khuôn mặt một cách ngại ngần.

    15. Vặn trục so dây dạo lên vài ba tiếng...

    16. Chưa thành khúc điệu nào cả, nhưng đã chan chứa cảm tình.

    17. Mỗi dây như mỗi ẩn ức, mỗi tiếng đàn như những tiếng lòng...

    18. Như muốn bày tỏ cuộc sống bình sinh bất đắc chí...

    19. Cúi mặt cúi mày hai tay liên tục đàn không ngớt, như...

    20. Muốn nói hết bao điều muốn nói ở trong lòng.

    21. Vuốt nhẹ nhấn chậm móc rồi khảy.

    22. Mở đầu là điệu Nghê Thường, sau đó là khúc Lục Yêu.

    23. Dây to rào rào như mưa đang đổ xuống rất gấp.

    24. Dây nhỏ tỉ tê như những lời thỏ thẻ riêng tư.

    25. Rào rạt ào ào lẫn trong tiếng tỉ tê thỏ thẻ trong tiếng đàn, như...

    26. Những hạt châu lớn hạt châu nhỏ cùng lúc rơi xuống mâm ngọc.

    27. Như tiếng chim oanh hót vang dưới hoa ngoài ải vắng,

    28. Róc rách như tiếng suối reo đổ xuống từ đầu ghềnh ...

    29. Nước suối lạnh căm căm làm cho tiếng huyền như ngưng đọng lại...

    30. Ngưng đọng lại không thông nên tiếng đàn chợt tắt...

    31. Như có nỗi ưu sầu gì đó, làm sanh ra nỗi hận ngút ngàn...

    32. Trong lúc yên lặng nầy không có tiếng đàn lại hay hơn là có tiếng đàn.

    33. Bỗng như bình thủy ngân vỡ ra nước bắn tung tóe...và như...

    34. Tiếng vó ngựa sắt đột nhiên dồn dập trong tiếng đao kiếm rổn rảng...

    35. Cuối khúc nhạc dùng các phiếm đàn gạt mạnh một đường qua tâm đàn...

    36. Bốn dây đàn cùng lúc rít vang lên như xé lụa !...

    37. Thuyền đậu hai bên đông tây đều im lặng như tờ...

    38. Chỉ thấy ánh trăng sáng vằng vặc soi bóng giữa dòng sông.

    39. Nàng trầm ngâm lặng lẽ gài lại các phiếm đàn trong dây.

    40. Chỉnh trang lại áo xống và vuốt lại tóc tai một cách nghiêm chỉnh.

    41. Rồi tự kể lại rằng : Mình vốn dĩ là gái ở kinh thành.

    42. Nhà ở tại khu Lăng Hà Mô (nơi nổi tiếng ăn chơi) của đất Trường An.

    43. Mười ba tuổi thì đã học xong xuôi thành thạo đàn tì bà rồi.

    44. Được xếp vào nhóm hạng nhất của giáo phường âm nhạc.

    45. Mỗi lần đàn xong một khúc thì thường được các bậc thầy tán thưởng.

    46. Mỗi lần trang điểm xong thì các Thu Nương cũng phải đố kỵ.

    47. Các chàng thiếu niên giàu có ở Ngũ Lăng tranh nhau mà tặng qùa cáp.

    48. Chỉ một khúc đàn thôi thì đã có vô số gấm vóc nhung lụa.

    49. Dùng trâm vàng lược bạc gõ nhịp đến gãy cả ra... và...

    50. Màu quần là đỏ tươi như máu cũng bị ô nhiễm vì rượu bị đổ vải...

    51. Năm nay cười đùa vui vẻ đến sang năm... đều...

    52. cùng vui với gió xuân, với trăng thu một cách nhàn nhã với tháng ngày.

    53. Rồi em trai phải đi tòng quân và bà dì lại mất...

    54. Ngày qua tháng lại nhan sắc cũng tàn phai...

    55. Trước cửa đã vắng vẻ lạnh lẽo vì xe ngựa đã thưa dần...

    56. Khi già lớn thì theo làm vợ của một thương buôn.

    57. Thương buôn thì luôn trọng cái lợi và xem nhẹ chuyện biệt ly.

    58. Tháng trước đã đến vùng Phù Lương để mua bán trà rồi.

    59. Ông ta đi rồi tôi chỉ còn biết thủ cái thuyền trống không nầy mà thôi.

    60. Quanh thuyền là ánh trăng sáng lắp loáng và dòng nước sông lạnh lẽo.

    61. Nửa đêm lại bỗng nằm mơ thấy chuyện của hồi niên thiếu.

    62. Nức nở trong mơ đến nước mắt chảy đỏ cả phấn son.

    63. Ta nghe tiếng tì bà đã thở dài não nuột rồi, lại...

    64. Nghe những lời kể lể nầy lại càng trắc ẩn não nuột hơn.

    65. Đều cùng là "người lưu lạc phương trời" với nhau...

    66. Gặp nhau đây sao lại phải cần quen biết nhau trước chứ ?!

    67. Từ năm ngoái đến nay, ta đã từ biệt kinh thành đế đô. Bị...

    68. Trích biếm đi đày rồi lại bị nhuốm bệnh ở Tầm Dương thành nầy.

    69. Tầm Dương là nơi hẻo lánh nên không có âm nhạc gì cả !

    70. Suốt năm chẳng nghe được tiếng tơ tiếng trúc gì hết !

    71. Lại ở gần sông Bồn Giang nên địa thế ẩm thấp.

    72. Lau sậy và tre nứa lồ ồ mọc đầy cả chung quanh nhà. Nên...

    73. Từ sáng đến chiều nghe được những gì trong ấy đây ?...

    74. Tiếng chim Đỗ Quyên kêu đến mửa máu và tiếng vượn hú u buồn.

    75. Trước những hoa xuân buổi sáng ở ven sông và những đêm trăng thu sáng.

    76. Chỉ còn có nước lấy rượu ra nhấm nháp một mình mà thôi !

    77. Chẳng lẻ không có hát hò và tiếng sáo của thôn quê hay sao ?!

    78. Chỉ là những giọng ngô nghê thôn dã khó mà nghe để cảm xúc.

    79. Đêm nay, nghe được tiếng đàn tì bà như nói lên được tâm sự...

    80. Ta như nghe được tiếng nhạc trên tiên cung làm cho sáng tai ra.

    81. Thôi thì đừng từ chối, hãy đàn thêm một khúc nữa đi...

    82. Ta sẽ vì nàng mà viết nên bài "TÌ BÀ HÀNH" nầy.

    83. Cảm vì lời nói của ta, nàng đứng tần ngần giờ lâu, mới...

    84. Ngồi xuống dặn đàn và đàn rất gấp...

    85. Tiếng đàn cất lên thê lương não nuột không giống như lúc ban nảy...

    86. Cả cử tọa ngồi nghe lại, ai cũng đều dấu che dòng lệ...

    87. Trong số cử tọa đó, ai là người xúc động và khóc nhiều nhất ?

    88. Chính ngài Tư Mã đất Giang Châu làm ướt cả tà áo xanh !!!

* Diễn Nôm :

                             TÌ BÀ HÀNH

 

                 Tầm Dương tiễn khách đêm thu,

                 Hắt hiu lao sậy tiếng thu xạc xào.

                 Chủ xuống ngựa, khách thuyền vào,

                 Cất chén toan uống đâu nào trúc tơ !

            

                 Chẳng vui say, buồn ngẩn ngơ,

                 Chia tay biền biệt trăng mờ bến sông.

                 Tì bà vẳng tiếng nước trong,

                 Chủ quên trở bước khách không khởi hành.

 

                 Nào ai đàn giữa đêm thanh,

                 Tì bà dứt tiếng chưa đành lời than.

                 Dời thuyền cầu kiến người đàn,

                 Thắp đèn thêm rượu dọn bàn tiệc hoa.

 

                 Gọi mời khẩn khoản mới ra,

                 Tì bà che nửa mặt hoa ngại ngần.

                 So dây chuyển trục mấy lần,

                 Chưa thành khúc điệu lâng lâng hàm tình.

 

                 Mỗi dây mỗi tiếng lòng mình,

                 Như bày tỏ hết bình sinh dạn dày.

                 Nhíu mày tay dạo như bay,

                 Như bày tỏ hết lòng này biết bao...

 

                 Bấm vuốt móc khảy như sao,

                 Nghê Thường vừa dứt khúc vào Lục Yêu.

                 Dây to sầm sập mưa nhiều,

                 Dây nhỏ thủ thỉ tựa điều riêng tư.

 

                 Rào rào thỏ thẻ thực hư,

                 Như sâu chuổi đứt tuôn từ mâm son.

                 Tiếng oanh nhẹ hót đầu non,

                 Nghẹn ngào se sắt suối còn lạnh căm.

 

                 Lạnh căm dây tiếng biệt tăm.

                 Biệt tăm ngưng bặt tiếng cầm lặng yên.

                 Lặng yên như hận triền miên,

                 Đàm im bặt tiếng tuyệt nhiên lúc nầy.

 

                 Bỗng như bình vỡ nước vây,

                 Giáo gươm vó ngựa tứ vây vang vầy.

                 Cuối đàn tay vuốt bốn dây,

                 Tiếng như xé lụa dứt ngay bản đàn.

 

                 Đông tây tĩnh lặng thuyền nan,

                 Lòng sông chỉ ánh trăng vàng lạnh căm.

                 Trầm ngâm thu vén đàn cầm,

                 Chỉnh trang y phục mày tằm thêm xanh.

 

                 Thưa rằng vốn gái kinh thành, 

                 Hà Mô Lăng đó rành rành chẳng sai.

                 Mười ba đã học thành tài,

                 Tiếng tăm đệ nhất không ai sánh bằng.

 

                 Đàn xong thiện nghệ phục lăn,

                 Đẹp thay trang điểm sánh bằng Thu Nương.

                 Ngũ Lăng trai trẻ vấn vương,

                 Nghìn vàng một khúc lệ thường xá chi !

 

                 Trâm vàng gõ nhịp gãy đi,

                 Quần hồng hoen ố mỗi khi rượu tràn.

                 Năm qua năm tới lại càng...

                 Phong hoa tuyết nguyệt an nhàn thảnh thơi.

 

                 Em tòng quân, dì qua đời,

                 Tháng năm mòn mõi hết thời xuân xanh.

                 Trước thềm xe ngựa vắng tanh,

                 Tàn phai nhan sắc lấy anh lái trà.

 

                 Thương buôn trọng lợi hay xa,

                 Phù Lương tháng trước buôn trà đến nay.

                 Một mình thuyền vắng không ai,

                 Trăng trong sông lạnh ai hoài một thân.

 

                 Đêm nằm lòng những bâng khuâng,

                 Mơ thời xưa cũ khôn ngăn lệ trào.

                 Ta nghe đàn đã xuyến xao,

                 Lại nghe lời kể càng nao tấc lòng.

 

                 Cũng người lưu lạc long đong,

                 Gặp nhau nào phải cầu mong được nào !

                 Đế kinh từ biệt năm nao,

                 Thân đày ngọa bệnh đường vào Tầm Dương.

 

                 Tầm Dương đất vắng thê lương,

                 Không tơ không trúc đời thường quanh năm.

                 Sông Bồn đất thấp lặng câm,

                 Sậy lao tre nứa bóng râm quanh nhà.

 

                 Sáng chiều trong ấy vang ra,

                 Đỗ quyên mửa máu vượn già hú vang.

                 Xuân hoa thu nguyệt không màng,

                 Chuốc rượu nhấm nháp bàn hoàn riêng ta.

 

                 Sáo làng lẫn tiếng sơn ca,

                 Ngây ngô thô kệch khó mà nguôi ngoai.

                 Nghe nàng đàn khảy đêm nay,

                 Như nghe tiên nhạc giải bày lòng ta.

 

                 Đừng từ ngồi nán lại mà...

                 Vì nàng ta viết "Tì Bà Hành" đây!

                 Cảm lời ta, nàng đứng ngây...

                 Bèn ngồi nắn phím so dây dạo đàn.

 

                 Bốn dây như oán như than,

                 Cả thuyền ngơ ngẩn chứa chan lệ đầy.

                 Trong bàn ai khóc nhiều đây ?

                 Giang Châu Tư Mã, nước mắt đầy...áo xanh !

                  Đỗ Chiêu Đức diễn Nôm

Hẹn bài dịch tới :

             TRƯỜNG HẬN CA

                  Bạch Cư Dị

 

    杜紹德

    Đỗ Chiêu Đức

dcd_tibahanh_5.JPG
DCD_Thanhngu100.JPG

TƯỚC BÌNH TRÚNG TUYỂN 雀屏中選. TƯỚC BÌNH là Bức bình phong có vẽ hình con chim khổng tước, là con chim công". Theo tích trong《Cựu Đường Thư. Quyển ngũ nhất. Hậu Phi Liệt Truyện thượng. Cao Tổ Thái Mục Hoàng Hậu Đậu Thị 舊唐書.卷五一.后妃列傳上.高祖太穆皇后竇氏》chép rằng :

       ĐẬU NGHỊ 竇毅 (519-582) tự là Thiên Vũ, người đất Phù Phong Bình Lăng (thuộc Hàm Dương tỉnh Thiểm Tây ngày nay) là Đại thần từ đời Bắc Ngụy đến Bắc Châu thời Nam Bắc Triều. Có con gái hiền thục lại tài mạo song toàn và rất giỏi về thư pháp, nên muốn kén rể qúy. Ông cho người vẽ hình 2 con chim khổng tước lên bức bình phong dựng trước phòng khách. Các chàng đến cầu hôn sau khi qua sát hạch lại phải đứng cách xa trăm bước, trương cung lắp tên bắn trúng vào hai mắt của chim công thì mới được chọn làm rể. Lúc bấy giờ Đường Công Lý Uyên 李淵 còn đang trai tráng, văn võ song toàn, hai phát hai tên đều bắn trúng vào mắt của 2 con chim công, nên được chọn làm rể qúy. Sau Lý Uyên khởi nghiệp ở Tấn Dương Thái Nguyên lập nên nhà Đại Đường. Đậu Thị trở thành Thái Mục Hoàng Hậu và là mẹ của Đường Thái Tôn Lý Thế Dân. Nên...

      TƯỚC BÌNH TRÚNG TUYỂN là chỉ Bắn trúng chim tước ở bình phong mà được chọn làm rể, lấy được vợ. Trong văn học cổ của ta gọi là TÊN ĐÃ LỌT BÌNH, như trong truyện thơ Nôm Hoa Tiên của Nguyễn Huy Tự và Nguyễn Thiện có câu :

 

                      Chề chà ông mới hỏi sinh,

                Bấy lâu TÊN ĐÃ LỌT BÌNH đâu chưa ?   

 

      Vì chữ TƯỚC 雀 có tới 2 nghĩa; Nếu nói là Khổng Tước 孔雀 thì là con chim Công; còn nếu nói là Hoàng Tước 黃雀 thì là con chim sẻ. Nên thay vì nói BẮN CÔNG thì Ôn Như Hầu Nguyễn Gia Thiều lại gọi là BẮN SẺ, nên trong Cung Oán Ngâm Khúc có câu :

 

                      Làng cung kiếm rắp ranh BẮN SẺ,

                    Khách công hầu ngắm nghé mong sao...               

 

             

 

       TIỆN HỒNG 便鴻 là Tiện lợi cho con chim hồng nhạn đưa thư. Nên TIỆN HỒNG hay TIN NHẠN gì đều chỉ Thư Từ ngày xưa. Như khi nghe Sở Khanh lên tiếng thương hương tiếc ngọc, Thúy Kiều đã động lòng nên mới gởi thơ cho Sở Khanh nhờ cứu giúp. Cụ Nguyễn Du đã viết :

 

                         Tan sương vừa rạng ngày mai,

                    TIỆN HỒNG nàng mới nhắn lời gởi sang.

Và khi :

                       Trời tây bảng lảng bóng vàng,

                    Phúc thư đã thấy tin chàng tới nơi.

 

       Hay khi tả Thúy Kiều trông ngóng tin tức của Từ Hải, khi Từ "quyết lòng dứt áo ra đi" để lập nên sự nghiệp lớn :

 

                        Cánh HỒNG bay bổng tuyệt vời,

                    Đã mòn con mắt phương trời đăm đăm.

 

       Còn khi Tú Bà dạy cho Thúy Kiều "Vành ngoài bảy chữ vành trong tám nghề", thì Vành ngoài bảy chữ... trong đó có câu :

 

                          TIN NHẠN dẫn, lá thơ bày,

                  Đưa người cửa trước, rước người cửa sau.

 

       TIÊU LANG 蕭郎 là Chàng Tiêu. Theo Toàn Đường Thi Thoại 全唐詩話 : Thi nhân đời Đường Nguyên Hòa là Tú Tài Thôi Giao 崔郊, thương một người nô tì tài sắc vẹn toàn của nhà bà cô. Sau vì nghèo, cô bán nô tì đó cho Liên Soái làm tì thiếp. Giao cứ thơ thẩn trước cửa Liên Soái mà không dám vào. Nhân tiết Hàn Thực người tì thiếp đi ra ngoài gặp gỡ Thôi Giao bên rặng liễu. Giao cảm xúc làm tặng nàng bài thơ tứ tuyệt nổi tiếng sau đây :

 

            公子王孫逐後塵,   Công tử vương tôn trục hậu trần,

            綠珠垂淚濕羅巾。   Lục Châu thùy lệ thấp la cân.

            侯門一入深如海,   Hầu môn nhất nhập thâm như hải,

            從此蕭郎是路人。   Tòng thử TIÊU LANG thị lộ nhân.

 

Có nghĩa :

               Vương tôn công tử theo sau,

               Lục Châu nhỏ lệ ướt bao khăn là.

               Cửa hầu sâu tợ biển xa,

               CHÀNG TIÊU từ đó kẻ qua ngoài đường.

 

       Có người mách lẻo, định tâng công, đem bài thơ nầy cho Liên Soái xem. Liên Soái cho mời Thôi Giao vào dinh. Mọi người đều lo sợ cho chàng. Không ngờ Liên Soái cũng thuộc nòi tình, tuy rất yêu thương người tì thiếp tài hoa, nhưng thấy hai người vẫn còn yêu nhau tha thiết, nên trả nàng lại cho Thôi Giao và còn tặng cho bốn ngàn nén bạc về quê để ... yêu nhau ! Tạo nên một giai thoại trong làng thơ lúc bấy giờ.

 

                   

 

      Trong Truyện Kiều, lúc Kim Kiều tái hợp, cụ Nguyễn Du cũng đã mượn tích nầy khi Thúy Kiều cứ một mực khăng khăng không chịu thành thân với Kim Trọng :

 

                       ...Có điều chi nữa mà ngờ,

               Khách qua đường để hững hờ CHÀNG TIÊU !?

 

       TIÊU LANG 蕭郎 còn chỉ Tiêu Sử 蕭史, người rất giỏi về thổi tiêu. Theo Sách Liệt Tiên Truyện-Quyển thượng 列仙傳·卷上: Thời Xuân Thu Chiến quốc, Tần Mục Công có cô con gái yêu là Lộng Ngọc 弄玉, thích âm nhạc, nhất là thổi tiêu. Một hôm nằm mộng thấy một thanh niên anh tuấn thổi tiêu rất giỏi. Tỉnh ra mới kể với Tần Mục Công, Công bèn cho người đi tìm thanh niên trong mơ của con gái. Tìm đến Minh Tinh Nhai dưới núi Hoa Sơn, quả nhiên gặp được một chàng trai tuấn tú, tiên phong đạo cốt, tên là Tiêu Sử 蕭史. Sứ giả mời về cung và được Tần Mục Công gả Lộng Ngọc cho, lại cất cho một tòa lâu đài để vợ chồng cùng luyện thổi tiêu trên đó. Một đêm, vợ chồng đang thổi tiêu dưới ánh trăng, tiếng tiêu réo rắc đã làm cho một con Xích Long 赤龍 (Rồng màu đỏ) và một con Tử Phụng 紫鳳 (Phụng màu tím) bay đến. Vợ chồng cùng cởi xích long và tử phụng bay đi. Tần Mục Công cho người đuổi theo đến giữa núi Hoa Sơn thì mất dạng. Bèn cho lập miếu thờ ở Minh Tinh Nhai dưới chân núi Hoa Sơn mãi cho đến hiện nay.

     Tích trên đưa đến thành ngữ THỪA LONG KHÓA PHỤNG 乘龍跨鳳 là Cởi Rồng Cởi Phụng, chỉ vợ chồng cùng lên tiên hay vợ chồng cùng xứng đôi với nhau. Như khi Từ Hải chuộc Thúy Kiều ra khỏi lầu xanh, cụ Nguyễn Du đã hạ câu :

 

                          Trai anh hùng, gái thuyền quyên,

                   Phỉ nguyền SÁNH PHƯỢNG đẹp duyên CỞI RỒNG.

 

     Trong Hồng Đức Quốc Âm Thi Tập của vua Lê Thánh Tông thì có câu :

 

                      Cô tiên thách mực chày đâm thuốc,

                      LỘNG NGỌC xin làm bạn thổi tiêu.

 

     Còn trong Cung Oán Ngâm Khúc của Ôn Như Hầu Nguyễn Gia Thiều thì tả nàng cung phi đàn giỏi như Tư Mã Tương Như và thổi tiêu giỏi như là chàng Tiêu Sử vậy :

 

                      Cầm điếm nguyệt phỏng tầm Tư Mã,

                      Địch lầu thu đọ gã TIÊU LANG.

 

             

 

      TIÊU PHÒNG 椒房 là TIÊU PHÒNG ĐIỆN 椒房殿, vốn là cung điện được xây dựng đặc biệt để cho Hoàng hậu và Phi tần ở. Theo tích sau đây :

      Tương truyền một hôm Hán Thành Đế 漢成帝 mặc đồ thường đi dạo chơi, tình cờ gặp được người đẹp tuyệt trần là Triệu Phi Yến 趙飛燕, bèn nạp vào cung làm một Tiệp Dư. Hán Thành Đế vô cùng sủng ái, nhưng Triệu Phi Yến chỉ ca múa giỏi mà không có con. Ngự y bảo vì hậu cung quá lạnh không thể thụ thai, nhà vua bèn cho thơ dùng hạt hồ tiêu xay nhuyễn trộn vào trong đất vôi để xây tường cho ấm; từ đó mới có từ TIÊU PHÒNG 椒房 chỉ chung các phòng ở hậu cung cho các cung nhân ở.

      Trong Cung Oán Ngâm Khúc nàng cung phi đã lên tiếng thở than :

 

                     Oán chi những khách TIÊU PHÒNG,

                    Mà xui phận bạc nằm trong má đào !

 

      Ở một đoạn sau, nàng cung phi lại một lần nữa càu nhàu :

 

                     PHÒNG TIÊU lạnh ngắt như đồng,

                   Gương loan bẻ nửa, giải đồng xẻ đôi.

 

             

         

       TIÊU TƯƠNG 瀟湘. TIÊU 瀟 là dòng Tiêu Thủy trong tỉnh Hồ Nam; TƯƠNG 湘 là dòng Tương Giang chảy ngang qua đất Hồ Nam, hai dòng sông ôm lấy huyện Kim Lăng tạo nên những phong cảnh tuyệt đẹp, thường gọi là TIÊU TƯƠNG BÁT CẢNH 瀟湘八景 là đề tài hội họa và ngâm vịnh của các văn nhân thi sĩ ngày xưa. Đây là nơi phân nhánh giữa 2 con sông nên cũng thường được dùng để tượng trưng cho sự chia tay ly biệt, như trong bài thơ "Tống Hồ Đại 送胡大" của Vương Xương Linh đời Đường :

 

                 荊門不堪別,   Kinh môn bất kham biệt,

                 況乃瀟湘秋。   Huống nãi Tiêu Tương Thu.

                 何處遙望君,   Hà xứ diêu vọng quân,

                 江邊明月樓.    Giang biên minh nguyệt lâu.

Có nghĩa :

                 Kinh môn không nở chia tay,

            Tiêu Tương luống những ai hoài hơi thu.

               Tìm người nào thấy người đâu,

            Bến sông chênh chếch bên lầu trăng soi.

 

      Trong Chinh Phụ Ngâm Khúc của Đặng Trần Côn do nữ sĩ Đoàn Thị Điểm diễn Nôm đoạn nàng chinh phụ tiễn chồng lên đường tòng quân cứu nước rất hay như sau :

 

                  Chốn Hàm Dương chàng còn ngoảnh lại,

                  Bến TIÊU TƯƠNG thiếp hãy trông sang.

                  Bến TIÊU TƯƠNG cách Hàm Dương,

                  Cây Hàm Dương cách Tiêu Tương mấy trùng !

 

        
 

       TIỂU LÂN 小憐 là nàng Phùng Tiểu Lân 馮小憐, ái phi của Bắc Tề Hậu Chúa 北齊後主 thời Nam Bắc Triều 南北朝. Được Hậu Chúa Cao Vi phong làm Thục Phi. Tiểu Lân thông minh lanh lợi, giỏi ca múa, đặc biệt là ngón đàn tì bà rất tuyệt diệu. Hậu Chúa rất sủng ái thường ăn cùng mâm, đi cùng xe.  Công nguyên 577, Bắc Tề mất vào tay Bắc Chu. Chúa Bắc Chu là Vũ Văn Ung thấy Hậu Chúa Cao Vi còn rất thương mến Phùng Tiểu Lân nên trả nàng lại cho Cao Vi. Nhưng sau khi Cao Vi mất, Vũ Văn Ung lại tặng nàng cho Đới Vương Vũ Văn Đạt. Đạt cũng rất sủng ái nàng, nhân trong bữa tiệc nàng gảy đàn tì bà giúp vui, bất ngờ dây đàn bị đứt. Phùng Tiểu Lân mới tức cảnh làm một bài thơ như sau :

 

               雖蒙今日寵,       Tuy mông kim nhật sủng,

               猶憶昔時憐。      Do ức tích thời lân.

               欲知心斷絕,      Dục tri tâm đoạn tuyệt,

               應看膝上弦。      Ưng khan tất thượng huyền.

Có nghĩa :

                  Hôm nay tuy được cưng chìu,

              Nhớ xưa sủng ái đủ điều mến thương.

                  Lòng ta chi xiết đoạn trường,

               Như dây đàn đứt vấn vương tơ tình !

 

       Trong Truyện Kiều, khi mở tiệc hạ công để ăn mừng chiến thắng, Thúy Kiều đã bị Hồ Tôn Hiến "Bắt nàng thị yến dưới màn, Dở say lại ép cung đàn nhặt tâu", khiến cho họ Hồ "Nghe càng đắm ngắm càng say, Lạ cho mặt sắt cũng ngây vì tình", mới "Dạy rằng: Hương lửa ba sinh, Dây loan xin nối cầm lành cho ai ?". Thúy Kiều đã qúa não nề với nhân tình thế thái nên đáp rằng : 

 

                    Còn chi nữa cánh hoa tàn,

                Tơ lòng đã đứt dây đàn TIỂU LÂN.

                  Rộng thương còn mảnh hồng quần, 

                Hơi tàn được thấy gốc Phần là may !

 

         

 

        TIỂU TINH 小星 là Ngôi Sao Nhỏ. Theo bài thơ "Tiểu Tinh" trong chương Thiệu Nam, Quốc Phong trong Kinh Thi《詩經.國風.召南.小星》như sau :

 

          嘒彼小星,三五在東。  Tuệ bỉ tiểu tinh, Tam ngũ tại đông.

          肅肅宵征,夙夜在公。  Túc túc tiêu chinh, Túc dạ tại công.

          寔命不同!                Thực mệnh bất đồng !

 

          嘒彼小星,維參與昴。  Tuệ bỉ tiểu tinh, duy Sâm dữ Mão.

          肅肅宵征,抱衾與裯。  Túc túc tiêu chinh, Bão khâm dữ Trù.

          寔命不猶!                Thực mệnh bất do !

Có nghĩa :

     - Nhấp nháy những vì sao nhỏ kia, chỉ lưa thưa dăm ba ngôi ở phương đông. Phải tề chỉnh gọn gàng đi lại suốt đêm. Sớm hôm ở mãi chốn cửa công; Thật vì số mạng không giống nhau.

     - Nhấp nháy những vì sao nhỏ kia, thì ra đó là nhóm sao Sâm và sao Mão. Phải tề chỉnh gọn gàng đi lại suốt đêm. Bỏ cả nệm ấm với chăn êm. Thật chỉ vì mạng số mà thôi !

 

* Diễn Nôm :

                  Lắp la lắp lánh sao hôm,

                  Năm ba cái họp một chòm hướng đông.

                  Suốt đêm đi lại nhong nhong,

                  Sớm tối tất bật việc công bề bề.

                  Rõ ràng mạng số ủ ê !

 

                  Nhắp nha nhắp nháy trên khơi,

                  Sao Sâm sao Mão báo trời rạng đông.

                  Suốt đêm tất bật việc công,

                  Bỏ cả chăn ấm phụ lòng nệm êm.

                 Rõ ràng mạng số cho nên !

                                            Đỗ Chiêu Đức diễn Nôm

 

      Bài Kinh Thi nầy vốn dĩ chỉ những thân phận nhỏ nhoi của các lính tráng hay những thừa lại làm những công việc trong công đường ngày đêm vất vả, nhưng không mấy ai biết đến, nên đành cam chịu với số phận thấp hèn của mình mà thôi; Cũng như những người hầu thiếp vất vả sớm hôm với việc chung trong gia đình mà ít khi được chồng thương yêu dòm dõ chiếu cố đến, nên đành cam phận với cái ngôi sao nhỏ của mình mà thôi. Từ đó, TIỂU TINH 小星 còn dùng để chỉ những người hầu thiếp, vợ lẻ vợ mọn.

 

       

 

      Khi Mã Giám Sinh mua Thúy Kiều xong, lúc rước nàng về chốn trú phường thì "Vốn nhà cũng tiếc" mà "Của trời cũng tham", nên đã ăn nằm với Thúy Kiều. Vì thế mà Thúy Kiều cứ đinh ninh mình là vợ lẻ, là "TIỂU TINH" của Mã Giám Sinh. Nhưng khi về tới Lâm Truy thì Tú Bà lại bắt Thúy Kiều phải gọi Mã Giám Sinh bằng Cậu (tiếng dùng để gọi Cha hờ). Nên Thúy Kiều mới phải  phân bua :

 

                     Nàng rằng phải bước lưu ly,

                 Phận hèn vâng đã cam bề TIỂU TINH.

                     Điều đâu lấy yến làm anh,

                 Ngây thơ chẳng biết là danh phận gì ?!

                     Đủ điều nạp thái vu quy,

                 Đã khi chung chạ lại khi đứng ngồi.

                     Giờ ra thay bậc đổi ngôi,

                 Dám xin gởi lại một lời cho minh !?

 

        Hẹn bài viết tới :

 

                              TIN TINH TÒNG TÔ TỐ

 

 

                                                                                           杜紹德

                                                                                       Đỗ Chiêu Đức

DCD_tuocbinh.JPG

Trân trọng giới thiệu TRANG NHÀ ĐỖ CHIÊU ĐỨC:

https://sites.google.com/view/dochieuduc5/startseite?authuser=0

DCD_website.JPG
Doanhdoanh_DCD5.JPG
DCD_LeCha.JPG

Chúa Nhật thứ ba của Tháng Sáu hằng năm, là ngày LỄ CHA ( Father's Day  ) của nước MỸ. Ngày LỄ CHA năm nay nhằm ngày Chúa Nhật 18 tháng 6 năm 2023.