hmpg.jpg
Titlej (1).jpg
dcd_ongdo.jpg

TIẾNG HÁN CỔ

 với Ông Đồ ĐỖ CHIÊU ĐỨC

 

CHS Phan Thanh Giản (Cần Thơ)

Cựu GS Trung Học Tân Hưng (Cái Răng)

Cựu Giảng Viên ĐH Xã Hội - Nhân Văn (Sài Gòn)

Houston,Texas_________________________

                          Phiếm luận:  

 

                                          "Bán" dạ tam bôi tửu...

ĐCD_banda_1.JPG

 Đó là câu đầu tiên trong bài thơ dưỡng sinh thuần túy mang tính Đông Y của ông bà Việt Nam ta được lưu truyền trong dân gian bấy lâu nay. Cả bài như sau :

 

              半夜三杯酒, Bán dạ tam bôi tửu,

              平明一盞茶。 Bình minh nhất trản trà.

              七日淫一度, Thất nhật dâm nhất độ,

              良醫不到家。 Lương y bất đáo gia !

Có nghĩa :

              Nửa đêm ba ly rượu,

              Bình minh một cử trà.

              Bảy ngày dâm một bận,

              Thầy thuốc chẳng đến nhà !

 

Ý nghĩa của bài thơ là :

      Cứ nửa đêm là uống ba ly rượu và mỗi sáng sớm thì uống một cử trà, và cứ hễ bảy ngày thì "dâm" một lần, thì Thầy thuốc giỏi sẽ không phải tìm đến nhà để trị bệnh.

 

     Tương truyền bài thơ nầy là của Hải Thượng Lãn Ông LÊ HỮU TRÁC 海上懶翁 黎有晫 làm ra để khuyên răn người đời phải biết điều độ trong phép dưỡng sinh để tránh bệnh tật và để giữ cho cơ thể được luôn luôn khoẻ mạnh. Nhưng theo bài báo “Có phải bài thơ “Bán dạ tam bôi…” là của Lãn Ông?” của tác giả Đỗ Tiến Bảng (ở thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội) đã sưu tra qua các bộ sách “Y tông Tâm lĩnh 醫宗心領” (NXB Y học, 1993, bốn tập) của Hải Thượng Lãn Ông (1720 - 1791) cùng những quyển có nhiều sáng tác “Thơ” như: “Y lý nhàn thâu 醫理閒偷”, “Vệ sinh yếu quyết 衛生要訣”, “Lĩnh Nam bản thảo 嶺南本草”, “Thượng kinh ký sự 上京記事”... đều không thấy có bài thơ nêu trên! 

     Lên mạng hỏi ông Google, cả tiếng Việt lẫn tiếng Hoa cũng không tìm thấy được xuất xứ của bài thơ nêu trên :

   - Về Trà chỉ thấy "Bài ca về 7 chén trà của Lư Đồng 盧仝 (Thất Uyển Trà Ca 七碗茶歌) và Trà Kinh của Lục Vũ 茶經:陸羽, đều là người ở đời Đường và đều không tìm thấy có những câu thơ tương tự như bài thơ trên.

   - Về Rượu thì ôi thôi, vô số câu về rượu, nhưng chỉ tìm thấy được các câu thơ trong bài "Nguyệt Hạ Độc Chước 月下獨酌" của Thi Tiên Lý Bạch là có đề cập đến Tam Bôi Tửu...  như sau :

 

                 三杯通大道,   Tam bôi thông đại đạo,

                 一斗合自然。   Nhất đấu hợp tự nhiên.

                 但得酒中趣,   Đản đắc tửu trung thú,

                 勿為醒者傳。   Vật vi tỉnh giả truyền !

     Có nghĩa :

                    Ba ly thông qua đạo lớn,

                    Một đấu hợp với tự nhiên.

                    Chỉ cần được vui trong rượu,

                    Mặc cho kẻ tỉnh tuyên truyền !

 

     Chỉ nói về cái tính "vui trong rượu" của mấy tay bợm nhậu, chớ không có liên quan gì đến phép dưỡng sinh cả !

    

     Trở lại với bài thơ trên, ta thấy đây là bài thơ truyền miệng dân gian của các y sư thầy thuốc ngày xưa của Việt Nam ta chớ không có liên quan gì đến danh y Hải Thượng Lãn Ông và văn thơ Trung Hoa cả. Có lẽ vì thế mà mỗi người hiểu một kiểu, mỗi lứa tuổi hiểu theo cái gốc độ nhìn của mình mà phát sinh ra nhiều "dị bản" chăng ?! Ta đọc lại bài thơ với hình trên chiếc dĩa đồ gốm sau đây nhé :

 

                       
 

   

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Đọc theo thứ tự : Từ trên xuống dưới và từ phải sang trái. Ta được 4 câu thơ sau đây :

 

                   平明數盞茶,  Bình minh sổ trản trà,

                   半夜三杯酒。  Bán dạ tam bôi tửu.

                   每日据如此,  Mỗi nhật cứ như thử,

                   良醫不到家。  Lương y bất đáo gia.

 

      Thứ tự của câu 1 và câu 2 bị đảo lộn : Vần TRÀ phải nằm ở cuối câu 2 để ăn với vần GIA ở cuối câu số 4. Nhưng có lẽ người viết lên cái dĩa đồ gốm nầy theo thứ tự của thời gian trong ngày : "Bìmh minh" (sáng sớm) trước, rồi mới tới "bán dạ" (nửa đêm) sau. Đó là về "Luật Thơ", còn "Ý Nghĩa" của bài thơ thì như sau :  

     * Chữ 數 khi đọc là SỐ là Danh từ, có nghĩa là chữ Số, con số. Khi đọc là SỔ thì có nghĩa là Mấy là Tính Từ chỉ số lượng. còn TRẢN 盞 là Chén nhỏ, chén chun. Nên SỔ TRẢN TRÀ là Mấy chén trà. Câu 1 có nghĩa :

       - Buổi sáng uống mấy chén trà.

       - Bán Dạ 半夜 là Nửa đêm, nên Câu 2 : Nửa đêm uống ba ly rượu. 

    * CỨ 据 là Căn Cứ 跟据 là Noi theo. NHƯ THỬ 如此 là Như thế, như thế ấy.

       - Mỗi ngày cứ noi theo như thế ấy (mà làm).

       - LƯƠNG Y 良醫 là Thầy thuốc giỏi BẤT ĐÁO GIA 不到家 là Không đến nhà. Câu cuối có nghĩa : Thầy thuốc giỏi sẽ không phải đến nhà.

 

     Ta thấy bài thơ dưỡng sinh nầy khuyên làm những việc làm rất vô lý : Buổi sáng uống mấy chun trà, nửa đêm uống ba ly rượu, cứ thế mà làm mỗi ngày thì thầy thuốc chẳng tới nhà, là sẽ rất khoẻ mạnh ?! Buổi sáng "uống trà" còn có thể chấp nhận được, vì tách trà nóng buổi sáng có thể làm cho con người ta tỉnh táo hơn, tinh thần sẽ sảng khoái hơn để bắt tay vào làm việc trong ngày mới, nhưng sáng sớm bụng trống uống trà vào ruột cũng sẽ dễ bị cồn cào hơn. Còn "nửa đêm mà uống ba ly rượu" ngoài việc ngủ ngon vì "say xỉn" ra, sáng hôm sau sẽ bị thức trễ hơn, chưa kể đầu óc còn xà quầng hoặc nhức đầu vì 3 ly rượu của nửa đêm. Hơn nữa sao đầu hôm không uống mà phải đợi đến nửa đêm mới uống, đang ngủ cũng phải thức dậy để uống 3 ly rượu sao ? Ngoài bợm nhậu ra ít có ai mỗi đêm giờ tý canh ba mà uống đến 3 ly rượu bao giờ, và uống rượu như thế thì có hợp với phép dưỡng sinh không ? Và mỗi ngày cứ uống rượu uống trà như thế thì rất khỏe mạnh đến nỗi thầy thuốc cũng không cần phải đến nhà sao ?!

 

            Có lẽ vì thấy chỉ trà và rượu không thì chưa đủ yếu tố để khuấy động đến đời sống sinh hoạt dưỡng sinh thường ngày, nên một cụ nào đó, như Trần Tế Xương chẳng hạn đã có bài thất ngôn tứ tuyệt như sau :

 

                    Một trà một rượu một đàn bà,

                    Ba cái lăng nhăng nó quấy ta.

                    Chừa được thứ nào hay thứ nấy,

                    Có chăng chừa rượu với chừa trà !

 

     À, ra thế ! Có lẽ vì thế mà một "cụ lương y" nào đó đã đổi câu thứ 3 của bài ngũ ngôn tuyệt cú trên thành :

 

                 七日淫一度, Thất nhật dâm nhất độ, 

 

...để cho có yếu tố "đàn bà" chen vào. Thực ra, trong phép dưỡng sinh mà thiếu bóng dáng của người đàn bà thì cũng là một thiếu sót lớn. Cho nên câu thơ "bị" thay đổi nầy "được" chấp nhận ngay ! Và cũng lại gây tranh cải ngay vì cái tính cách đàn bà của nó. Vì câu thơ thay đổi trên chỉ thích hợp với lứa tuổi 50, 60 mà thôi. Tóp 30, 40 thì đổi thành :

 

                 三日淫一度, Tam nhật dâm nhất độ,

 

... còn tóp 20 trở xuống thì sung sức hơn nên cứ muốn :

 

                 一日淫一度, Nhất nhật dâm nhất độ,

 

...còn các cụ trên 70 thì cầu sao cho được :

 

                 半月淫一度, Bán nguyệt dâm nhất độ, 

 

... và các cụ trên 80 thì chỉ còn có nguyệt mà thôi :

 

                 一月淫一度, Nhất nguyệt dâm nhất độ, 

 

     Viết tới đây, tôi bỗng nhớ đến một anh bạn nhà báo đã nói với tôi :"Tình dục của con người cũng giống như là nghề làm báo của tụi tui vậy !" Tôi hỏi tại sao, thì được trả lời bằng cách so sánh như sau :

 

           - Mỗi ngày ra "một lần" là Nhựt Báo.

           - Nửa tuần ra một lần là Bán Tuần San.

           - Mỗi tuần ra một lần là Tuần San.

           - Nửa tháng ra một lần là Bán Nguyệt San.

           - Mỗi tháng ra một lần là Nguyệt San...

 

     Một ông bạn khác thì ví von hơn, anh ta ví :

 

           - Mỗi tuần một lần là như "Con chiên đi nhà thờ".

           - Nửa tháng một lần thì như "Phật tử đi chùa mùng 1 và ngày rằm".

 

      Riêng tôi đã ở tuổi "đi chùa", nhưng sao tôi thấy vẫn thích "đi nhà thờ" hơn. Chắc tại ở Mỹ nầy thực phẩm dinh dưỡng đầy đủ qúa đi chăng ?!

 

     Trở lại với bài thơ dưỡng sinh ngũ ngôn tứ tuyệt có nhiều "dị bản" còn gây tranh cải. Theo tôi thì muốn cho hợp tình hợp lý để mọi người cùng chấp nhận được, tôi đề nghị chỉ đổi MỘT chữ duy nhất của câu đầu mà thôi :

 

              到夜三杯酒, ĐÁO dạ tam bôi tửu,

              平明一盞茶。 Bình minh nhất trản trà.

              七日淫一度, Thất nhật dâm nhất độ,

              良醫不到家。 Lương y bất đáo gia !

Có nghĩa :

   - Cho đến đêm chỉ uống ba ly rượu, tức là trừ buổi sáng ra, khoảng thời gian ăn trưa, ăn chiều và ăn tối (nếu có), mỗi bửa ăn đều uống một ly rượu, nếu không có ăn tối thì cũng uống một ly rượu trước khi đi ngủ.

   - Sáng sớm dậy uống một ly trà nóng (sau khi uống cà-phê, ăn sáng).

   - Cứ 7 ngày là "dâm" một lần (cho lứa tuổi 40- 70).

   -(Nếu cứ điều độ được như ba câu trên) thì thầy thuốc giỏi sẽ không phải tìm tới nhà để mà trị bệnh (vì có bệnh gì đâu mà trị !).

 

     Diễn Nôm :

                   Đến tối ba ly rượu,

                   Bình minh một tách trà.

                   Bảy ngày "dâm" một bận,

                   Thầy thuốc chẳng đến nhà !

 

     Về vấn đề tuổi trẻ sung sức, cứ muốn "đêm bảy ngày ba" thì mặc tuổi trẻ, nhưng điều đó không hợp với phép dưỡng sinh chút nào cả. Người già có "đêm bảy ngày ba" của tuổi già theo như lời của Bác sĩ khuyên :

 

         "Đêm phải ngủ đủ 7 tiếng đồng hồ; ngày phải ăn đủ 3 cử"

 

... và phải ăn ít chất tinh bột, nhiều rau củ quả để tránh "3 cao 1 thấp". Ba cao là : Cao máu, cao mỡ, cao đường trong máu; còn một thấp là "Thấp khớp" nhức mõi !.

 

          Để kết thúc cho bài viết nầy, kính mời tất cả cùng đọc cho vui các bài thơ xướng họa về "TAM BÔI TỬU" của anh em chúng tôi trên vườn thơ Lãng Phong :

 

      https://lylang.blogspot.com/2021/06/tam-boi-tuu-tho-ho-cong-tam-va-tho-hoa.html     

ĐỖ CHIÊU ĐỨC

_____________________________________________________--

DCD_banda_2.JPG
DCD_Ngam.png

                                   Rằng hay thì thật là hay,

                      Nghe ra NGẬM ĐẮNG NUỐT CAY thế nào!

THÀNH NGỮ ĐIỂN TÍCH 78: 

 

                                                 NGẬM

 

                         

                                          Rằng hay thì thật là hay,

                                Nghe ra NGẬM ĐẮNG NUỐT CAY thế nào!

 

         Đó là hai câu lục bát mà cụ Nguyễn Du đã cho Kim Trọng nhận xét khi nghe Thúy Kiều gảy đàn. NGẬM ĐẮNG NUỐT CAY có gốc chữ Nho là HÀM TÂN CÔ KHỔ 含辛菇苦 :

              - HÀM 含 là NGẬM, là giữ ở trong miệng không nhả ra cũng không nuốt vào.

              - TÂN 辛 là Cay;  CÔ 菇 (động từ) là Ăn; KHỔ 苦 là Đắng. Nên 

 

        HÀM TÂN CÔ KHỔ 含辛菇苦 nghĩa đen thui là "Ngậm cay ăn đắng", nói theo tập quán ngôn ngữ của tiếng Nôm ta là NGẬM ĐẮNG NUỐT CAY để chỉ vất vả, cực khổ hay đau khổ đến cùng cực, vì CAY và ĐẮNg là hai chất làm cho vị giác khó chịu, không ngon lành như là NGỌT với BÙI ! Nhưng, lắm lúc con người cũng thích cay thích đắng, thích ăn ớt, ăn khổ qua ... thích cả nghĩa  đen lẫn nghĩa bóng, vì lắm lúc CAY ĐẮNG cũng làm cho người ta thắm thía hơn với cái "thú đau thương"; như ta đã nghe lời nhận xét về tiếng đàn của Thúy Kiều được Kim Trọng diễn đạt ở hai câu thơ trong phần mở đầu :

 

                                   Rằng HAY thì THẬT LÀ HAY,

                           Nghe ra NGẬM ĐẮNG NUỐT CAY thế nào !

 

         NGẬM ĐẮNG NUỐT CAY mà HAY thì THẬT LÀ HAY ! Ngoài "Ngậm Đắng Nuốt Cay" ra, ta còn thường gặp "NGẬM THỞ NUỐT THAN" để chỉ sầu buồn than thở không thôi, nhưng lại không có người để tâm sự thổ lộ, như khi Thúy Kiều bị Hoạn Thư đưa vào Quan Âm Các xuất gia để tách nàng ra khỏi vòng tay của Thúc Sinh :

 

                                   Gác kinh viện sách đôi nơi,

                            Trong gang tấc lại gấp mười quan san.

                                Những là NGẬM THỞ NUỐT THAN,

                               Tiểu thư phải buổi vấn an lại nhà...

 

          Song song với "Ngậm Thở Nuốt Than", ta còn có  Ngậm Hờn, Ngậm Tủi, Ngậm Sầu, Ngậm Oán ... và ngoài những cái "Ngậm không được vui" kia, ta còn có những cái NGẬM trừu tượng hơn, nhưng vui vẻ hơn như NGẬM CƯỜI là trên gương mặt luôn giữ vẻ tươi cười chớ khôngcó "ngậm" gì trong miệng cả, do gốc chữ Nho là HÀM TIẾU 含笑 mà ra. Ta thường nghe nói "Hoa Hàm Tiếu" là Hoa ngậm cười, hoa vừa chớm nở, là hoa bắt đầu khoe sắc đẹp, nên nụ cười Hàm Tiếu là nụ cười tươi, nụ cười đẹp của các giai nhân. Vì thế mà NGẬM CƯỜI là chỉ gương mặt tươi cười đẹp đẽ và còn dùng để chỉ cái tâm lý được thỏa mãn, hài lòng, không còn vướng bận gì nữa, như khi Thúy Kiều bán mình chuộc tội cho cha đã trối lại với Thúy Vân rằng :

 

                                   Chị dầu thịt nát xương mòn,

                          NGẬM CƯỜI CHÍN SUỐI hãy còn thơm lây.

 

                     

        NGẬM CƯỜI CHÍN SUỐI cũng có gốc chữ Nho là "Hàm Tiếu Cửu Tuyền 含笑九泉", tương  đương với tiếng Nôm ta là "Có Chết cũng Vui Lòng", cũng rất an tâm mà chết. Theo truyền thuyết cổ xưa thì khi chết linh hồn con người ta sẽ đi qua 9 cái suối ở dưới đất để đến Âm Phủ. Nên CỬU TUYỀN là chín suối, là cỏi âm, là nơi người chết ở. Trái với "Ngậm Cười nơi Chín Suối" là "Ngậm Hờn nơi Chín Suối" chết mà lòng còn hờn oán khi oán hận còn chưa nguôi. Ngoài Hàm tiếu 含笑 là Mỉm cười ra, ta còn có Hàm Tu 含羞 là Thẹn thùng; Hàm Tình 含情 là Gợi tình một cách dễ thương; Hàm Ý 含意 là Ý nghĩa còn ẩn dấu bên trong... (Nói thêm : HÀM TU là Thẹn thùa Mắc cở; nên HÀM TU THẢO 含羞草 là Cây Mắc cở; HÀM TU HOA 含羞花 là Hoa Mắc  cở).

         

          Còn một cái "ngậm" nữa mà không ai thích cả, đó là "NGẬM BỒ HÒN LÀM NGỌT", nói gọn lại là NGẬM BỒ HÒN. Thành ngữ này hoàn toàn có xuất xứ trong đời sống của dân ta mà không phải vay mượn gì ở chữ Nho nữa cả ! BỒ HÒN có tên khoa học là Sapindus mukorossi Gaertn. Dân gian thường gọi với những tên khác nhau như Vô hoạn, trái Bòn hòn, quả Xà-phòng... được trồng nhiều ở khu vực miền Bắc của nước ta như Cao Bằng, Hà Giang, Lạng Sơn, Bắc Cạn... Trái Bồ Hòn có vị đắng, nên ai ngậm được nó là người rất giỏi chịu đựng. Câu nói "NGẬM BỒ HÒN LÀM NGỌT" thường dùng để chỉ sự nhẫn nhịn chịu đựng điều đắng cay mà bề ngoài vẫn phải tỏ ra vui vẻ. Như khi Hoạn Thư, vợ của Thúc Sinh bắt "Hoa Nô" Thúy Kiều phải đứng rót rượu mời cho hai vợ chồng cùng "chén tạc chén thù" lại buộc Thúy Kiều phải "quì tận mặt mời tận tay" và với điều kiện :"Khuyên chàng chẳng cạn thì ta có đòn" làm cho :

 

                           Sinh càng nát ruột tan hồn,

                   Chén mời phải NGẬM BỒ HÒN ráo ngay.

 

      Chàng Thúc đã "nát ruột tan hồn"rồi, lại phải làm ra vẻ vui vẻ uống hết những chén rượu mà Thúy Kiều đang đứt ruột dâng lên !                    

 

      Còn một cái "ngậm" rất đáng chê trách là NGẬM MÁU PHUN NGƯỜI, nói theo chữ Nho là HÀM HUYẾT PHÚN NHÂN 含血噴人 : Ý chỉ ngụy tạo sự kiện để nói xấu, bôi nhọ và hãm hại người khác. Câu nói nầy có xuất xứ từ La Hồ Dã Lục của Hiểu Doanh đời Tống ( 宋•晓莹《罗湖野录》), nguyên văn như sau : "  含血噴人,先汙其口 Hàm huyết phún nhân, tiên ô kỳ khẩu ". Có nghĩa là : " Ngậm máu phun người thì dơ miệng mình trước ". Trong Minh Tâm Bửu Giám của ta ngày xưa cũng có câu nầy, nhưng lại nói khác đi một chữ dù ý nghĩa vẫn như nhau là : 含血噴人,先汙自口. Hàm huyết phún nhân, tiên ô TỰ khẩu. Ý là : Nói xấu hay đổ tội đổ lỗi cho người khác thì người ta cũng đánh giá mình không phải là người tốt.

        

      Có một chữ NGẬM rất nghệ thuật trong phối trí cảnh vật êm ắng khi đêm xuống cô quạnh lặng lẽ qua ngòi bút tả cảnh mang sắc thái điện ảnh rất tài tình của Nguyễn Du khi Thúy Kiều đang ở lầu Ngưng Bích :

 

                                 Chim hôm thoi thót về rừng,

                         Đóa trà mi đã NGẬM TRĂNG nửa vành.

 

                      

     Qua góc độ ngắm của nhà hội họa cho đóa trà mi lắp lửng che đi nửa vầng trăng như đang "NGẬM TRĂNG nửa vành" ! Ta thấy Nguyễn Du không những là thi sĩ mà còn là nhà hội họa, nhà điện ảnh đi trước thời đại nữa !

 

     Chữ NGẬM đi với chữ NGÙI còn là một kết hợp Từ Láy phụ âm đầu tuyệt vời để diễn tả tâm trạng vừa buồn thương vừa luyến nhớ lại mang một chút sầu thảm bồi hồi; có thể là Hình dung từ mà cũng có thể làm Trạng từ để diễn tả tâm trạng sầu thương một cách tuyệt vời như khi Thúy Kiều đang ở lầu Ngưng Bích :

 

                              NGẬM NGÙI rủ bước rèm châu,

                      (Cách tường, nghe có tiếng đâu họa vần...)

 

  ... hay như khi mới bắt đầu với cuộc sống ở lầu xanh :

 

                    Buồng riêng, riêng những sụt sùi,

                Nghĩ thân mà lại NGẬM NGÙI cho thân! 

 

    ... nhưng đôi lúc NGẬM NGÙI cũng là một niềm hạnh phúc có được sau những sầu thương chìm nổi của cuộc đời, như khi Kim Kiều tái hợp sau mười lăm năm lưu lạc :

 

                                Động phòng dìu dặt chén mồi,

                      Bâng khuâng duyên mới NGẬM NGÙI tình xưa.

 

     Cuối cùng, ta có thành ngữ điển tích KẾT CỎ NGẬM VÀNH mà chữ Nho gọi là KẾT THẢO HÀM HOÀN 結草銜環. Theo tích sau đây :

      

    * KẾT CỎ : Có xuất xứ từ Tả Truyện, Tuyên Công Thập Ngũ Niên《左傳.宣公十五年》Năm 594 trước Công Nguyên, Tần Hoàn Công 秦桓公 xuất binh phạt Tấn 晉. Tướng Tấn là Ngụy Khoả 魏顆 đem binh chống lại tướng Tần là Đỗ Hồi 杜回 ở đất Phụ Thị. Khi hai tướng đang đánh nhau quyết liệt chưa phân thắng bại thì Ngụy Khoả nhìn thấy một ông già dùng cỏ kết thành một sợi dây máng vào chân ngựa của Đỗ Hồi. Hồi ngã ngựa bị bắt sống. Ngụy Khoả đại thắng trong trận nầy.

     Đêm đó, Ngụy Khoả mơ thấy ông già đã kết cỏ lúc ban ngày để giúp cho mình chiến thắng. Chưa kịp tạ ơn thì ông già đã qùy xuống nói rằng :"Ta là cha của hầu thiếp của cha ngài, đến để cám ơn đại ân đại đức của ngài đã không chôn sống con ta theo cha ngài khi ông ấy lâm chung". Thì ra trước đây, cha của Ngụy Khoả là Ngụy Võ Tử 魏武子 có một người hầu thiếp trẻ đẹp không có con, từng nói với Ngụy Khoả rằng : Khi ta chết thì nhớ cho cô ấy đi tái giá. Nhưng khi Ngụy Võ Tử lâm bệnh, lúc gần chết lại nói là : Ta chết rồi thì nhớ chôn sống cô ấy theo để hầu hạ ta. Đến lúc Ngụy Võ Tử chết, Ngụy Khoả bèn cho người hầu thiếp trẻ đó về nhà để lấy chồng khác. Mọi người nêu thắc mắc sao không làm theo lời cha, thì Ngụy Khoả đáp rằng : Ta đã làm theo lời cha ta lúc người còn tỉnh táo minh mẫn, chớ không làm theo lúc ông đã bị bệnh mặng thần trí đã u mê rồi!".

 

    * NGẬM VÀNH : Đúng ra phải nói là NGẬM VÒNG, theo tích Dương Trấn Truyện trong Hậu Hán Thư 《後漢書·楊震傳》như sau đây :

      Cha của Dương Chấn là Dương Bảo 楊寶, lúc 9 tuổi thấy một con chim hoàng tước bị chim cắt mổ thương nằm dưới gốc cây ở phía bắc của núi Hoa âm, kiến lại bu chung quanh trông rất tội nghiệp. Ông bèn mang con hoàng tước về để trong rương chăm sóc và cho ăn hằng ngày bằng hoa vàng. Sau một trăm ngày, chim đã bình phục và mọc lại đủ lông đủ cánh bèn theo hướng tây mà bay đi. Đêm hôm đó Dương Bảo mơ thấy một đồng tử mặc áo màu vàng miệng ngậm bốn cái vòng ngọc trắng đến bái tạ và tặng vòng, còn nói rằng : Ta là sứ giả của Tây Vương Mẫu bị nạn giữa đường, cám ơn ông đã có lòng nhân từ cứu giúp. Nay xin gởi tặng ông bốn chiếc vòng ngọc nầy để giúp ông có được bốn đời vinh hiển phú qúy và trong sạch như vòng ngọc nầy vậy". Và...

     Đúng như lời đồng tử áo vàng đã nói, trong sách Hậu Hán Thư đã ghi chép : Dương Bảo 楊寶 con là Dương Chấn 楊震, cháu là Dương Bỉnh 楊秉, chắc là Dương Tứ 楊賜, chít là Dương Bưu 楊彪 4 đời đều làm quan đến chức Thái Úy và đều rất cương trực thanh liêm, được người đời truyền tụng cho đến hiện nay. Nên "KẾT CỎ" và "NGẬM VÀNH" hợp chung lại thành thành ngữ...

     

     KẾT CỎ NGẬM VÀNH để chỉ không quên được ân đức của người nào đó đã làm cho mình và nguyện báo đền cho đến chết cũng còn tìm phương báo đáp. Như lời của Thúy Kiều đã nói với Sở Khanh, khi Sở Khanh ngõ ý muốn cứu Thúy Kiều ra khỏi lầu xanh :

   

                          Dám nhờ cốt nhục tử sinh,

                   Còn nhiều KẾT CỎ NGẬM VÀNH về sau! 

 

      Xin được kết thúc Thành ngữ Điển tích có liên quan đến từ NGẬM ở đây. 

 

              Hẹn bài viết tới !

 

                                                                                               杜紹德

                                                                                           Đỗ Chiêu Đức

                                                         LỄ MẸ : Du Tử Ngâm

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Chúa Nhật thứ hai của tháng 5 hằng năm là ngày LỄ MẸ (Mothers'day)  ở Mỹ. LỄ MẸ năm nay nhằm ngày Chúa Nhật 09 tháng 5 tới đây. Việt Nam ta không có ngày Lễ Mẹ chính thức, mọi người lấy ngày Lễ Vu Lan Bồn là ngày rằm tháng 7 Âm lịch làm ngày tưởng nhớ đến Mẹ Hiền. Trong thời Đệ Nhị Cộng Hòa ở Miền Nam, nhà sư Nhất Hạnh lấy ngày Rằm tháng 7 này làm ngày Bông Hồng Cài Áo. Ai còn Mẹ thì được cài một bông hồng màu ĐỎ, người nào chẳng may đã mất Mẹ rồi thì cài một bông hồng màu TRẮNG lên áo để tưởng nhớ đến Mẹ Hiền....

 

       Nay, nhân ngày Lễ Mẹ ở xứ người, lại nhớ đến ngày Lễ Vu Lan ở xứ ta, xin chân thành gởi đến tất cả mọi người một Bông Hồng...Thơ, để tưởng nhớ đến Mẹ Hiền qua tâm tình của một Du Tử phiêu bạt phương trời : Bài thơ "DU TỬ NGÂM 遊子吟" của Mạnh Giao đời Đường... 

 

           DU TỬ NGÂM                          遊 子 吟

       Từ mẫu thủ trung tuyến         慈 母 手 中 线

       Du tử thân thượng y              遊 子 身 上 衣

       Lâm hành mật mật phùng      临 行 密 密 缝

       Ý khủng trì trì quy                 意 恐 遲 遲 歸

       Thùy ngôn thốn thảo tâm       誰 言 寸 草 心

       Báo đắc tam xuân huy           報 得 三 春 暉

                           MẠNH GIAO                         孟 郊

 

      Bài thơ có tựa là KHÚC NGÂM của NGƯỜI DU TỬ, người lãng du phiêu bạt giang hồ nhớ về Mẹ như sau :

      Sợi chỉ trong tay bà mẹ hiền, khâu nên chiếc áo ở trên mình người du tử. Lúc ra đi, mẹ đã từng mũi từng mũi một khâu thật chắc, ý sợ rằng con mình mê mãi thú giang hồ mà nấn ná dần dà trễ tràng trở về quê cũ. Ai bảo rằng tấc lòng của cọng cỏ non kia, có thể báo đáp được ánh nắng ấm áp của ba tháng mùa xuân. (Trong mùa đông, cỏ chết rụi cả, chỉ sống lại nhờ ánh sáng và hơi ấm của ba tháng mùa xuân mà thôi !).

      Ôi, nỗi lòng thương con của bà mẹ thật tỉ mỉ, chi li, nhưng lại bao la sâu rộng vô cùng. Bà không trách con đi lâu, cũng không buộc con phải về sớm, vì bà biết tánh lãng tử của con mình. Bà chỉ âm thâm chắc chiu từng mũi kim cho thật chặc thật chắc, chỉnh e khi ở nơi xứ lạ quê người, áo của con bị sứt chỉ đường tà sẽ không có ai khâu hộ. Việc làm tuy nhỏ nhặt, nhưng lại hàm chứa biết bao nỗi thương yêu lo lắng của Mẹ Hiền. Tác giả đã kết bằng cách mượn nỗi lòng của một tấc cỏ nhỏ nhoi, thì làm thế nào có thể báo đáp cho được ánh nắng ấm áp của 3 tháng mùa xuân đã mang sức sống và xanh tươi đến cho vạn vật muôn loài cho được !

 

       Khi diễn tả cô Kiều cân nhắc giữa tình và hiếu, rồi quyết định bán mình chuộc tội cho cha. Hành động bán mình là việc làm cao cả, vĩ đại, nhưng đối với công lao trời biển, sanh thành dưỡng dục của cha mẹ thì Nguyễn Du vẫn cho là chưa đủ, cho nên ông đã dùng chữ "Liều" một cách rất tài tình :

 

                       Hạt mưa xá nghĩ phận hèn

                  LIỀU đem TẤC CỎ quyết đền BA XUÂN !

 

       Sự thật, bán mình chuộc tội cho cha thì cô Kiều có thể nói đã hoàn toàn trả được chữ hiếu rồi !(hết đời rồi , còn gì nữa !) : " Bán mình là hiếu, cứu người là nhân " mà, và như Sư Tam Hợp đã nói : "Bán mình đã động hiếu tâm đến trời". Nỗi lòng "tấc cỏ" của cô Kiều khả dĩ nói là đã đáp đền được "ánh nắng của ba xuân" rồi hay  chưa ?!

 

                 

DIỄN NÔM :

                     Kim chỉ trên tay từ mẫu,

                     Khâu nên áo lãng du nhân.

                     Khi đi chắc chiu từng mũi,

                     Sợ ngày về lắm lần khần.

                     Ai bảo nỗi lòng tấc cỏ,

                     Báo đền được nắng ba xuân ?!

        Lục bát :

                     Đường kim mũi chỉ mẹ hiền,

                     Khâu nên chiếc áo trên mình lãng du,

                     Chắc chiu từng mũi từng khâu,

                     Sợ e con trẻ đi lâu chửa về

                     Ai rằng tấc cỏ bên lề,

                     Báo đền được ánh nắng về ba xuân ?!

                                                     Đỗ Chiêu Đức diễn nôm.

 

GIỚI THIỆU TÁC GIẢ :

               

 

 

 

 

 

 

 

MẠNH GIAO 孟郊 (  751- 814 )

    Mạnh Giao tự là Đông Dã, người đất Võ Khang. Lúc nhỏ ở ẩn trong núi Tung Sơn, tánh tình thầm lặng, làm thơ hay thiên về lý trí, lại chắt lọc từng chữ một. Hàn Dũ rất mến tài ông mà kết thành bạn vong niên. Mãi đến năm 50 tuổi ông mới đậu Tiến Sĩ ở niên hiệu Trinh Nguyên đời nhà Đường.

    Ngoài bài Du Tử Ngâm được nhiều người biết đến, Mạnh Giao còn nổi tiếng với bài Liệt Nữ Tháo. Cả hai bài đều làm theo thể Ngũ ngôn Cổ phong. (Mỗi câu năm chữ, có thể gieo cả vần Bằng lẫn vần Trắc và không hạn định số câu của một bài.).

 

      Xin cầu chúc tất cả mọi người đều có một ngày Lễ Mẹ tuyệt vời !                                                                                                                                                                

                                                                                               杜紹德

                                                                                          Đỗ Chiêu Đức

DCD_DuTuNgam_1.png
DCD_ManhGiao.png

Tạp Ghi và Phiếm Luận:  

 

                           Biên Khảo về THƠ ĐƯỜNG SÁU CHỮ

DCD_tho6chu_1.JPG

LỤC NGÔN THI, thơ 6 chữ, cũng là một thể loại thi ca từ thời cổ đại của Trung Hoa. Mỗi câu thơ đều có 6 chữ, toàn bài thường là 4 câu trở lên, tuy không được lưu hành rộng rãi như thơ Ngũ ngôn (5 chữ) và thất ngôn (7 chữ), nhưng cũng là một thể thơ "Lục Ngôn" có nét độc đáo riêng, như bài "Điền Viên Lạc 田園樂" của Thi Phật Vương Duy đời Đường sau đây :

 

                 桃紅複含宿雨,   Đào hồng phục hàm túc vũ,

                 柳綠更帶朝烟。   Liễu lục cánh đái triêu yên.

                 花落家僮未掃,   Hoa lạc gia đồng vị tảo,

                 鳥啼山客猶眠。   Điểu đề sơn khách do miên !

   Có nghĩa :

                    Hoa đào hồng vì mưa tối,

                    Sương sớm đưa cành liễu bay.

                    Hoa rụng gia đồng chưa quét,

                    Chim ca khách núi còn say !

      

      Về nguồn gốc của thơ 6 chữ thì có đến 3 nguồn như sau đây :

 

    1. Xuất xứ từ Kinh Thi :

       Theo Chấp Ngu đời Đông Tấn 東晋挚虞 thì Lục Ngôn Thi bắt nguồn từ những câu 6 chữ trong Kinh Thi, ví dụ như trong bài "Quyền Nhĩ chương Chu Nam của Kinh Thi《詩經·周南·卷耳》bài thứ hai như sau :

 

                     陟彼崔嵬、        Trắc bỉ tồi ngôi,

                     我馬虺隤。        Ngã mã khôi đồi,

                     我姑酌彼金罍、  Ngã cô chước bỉ kim lôi.     (6)

                     維以不永懷。     Duy dĩ bất vĩnh hồi (hoài).

          Có nghĩa :

                     Cởi ngựa lên núi đá đồi,

                     Ngựa ta mõi mệt, ta ngồi nghỉ ngơi.

                     Cốc rượu vàng, rót uống chơi,

                     Để phai nỗi nhớ bồi hồi lòng ta !

                  

      Trong bài "Vũ Vô Chính 雨無正" cũng trong Kinh Thi thời Tiên Tần có câu :

 

                        謂爾遷于王都,  Vị nhĩ thuyên vu vương đô,

                        曰予未有室家.   Viết dư vị hữu gia thất.

        Có nghĩa :

                        Gần đây ta chuyển về kinh,

                        Rằng ta chưa có gia đình.

 

    2. Có xuất xứ từ Cốc Vĩnh đời Tây Hán 西漢谷永 :

       Theo thuyết của Lương Nhậm Phưởng 南朝梁任昉 thời Nam Triều, trong "Văn Chương Duyên Khởi nói rằng : Thơ 6 chữ bắt đầu từ Đại Tư Nông Cốc Vĩnh đời Hán mà ra. Trong "Thương Lãng Thi Hoa" của Tống Nghiêm Vũ 宋嚴羽-滄浪詩花 cũng nói rằng :" Thơ ngũ ngôn bắt đầu từ Lý Lăng, Tô Vũ; Thơ thất ngôn bắt đầu từ " Bá Lương- Hán Vũ"; Thơ Tứ ngôn bắt đầu từ Vương Phó, Duy Mạnh đời Hán Sở; Thơ LỤC NGÔN bắt đầu từ Hán Tư Nông Cốc Vĩnh; Thơ tam ngôn bắt đầu từ Hạ Hầu Trạm đời Tấn và thơ cửu ngôn bắt đầu từ các hương thân cao qúy.

 

    3. Có xuất xứ từ Đông Phương Sóc đời Hán 漢朝-東方朔 : 

       Theo "Vịnh Sử Thi" của Tả Tư trong "Văn Tuyển" của Lý Thiện đời Đường cho là : Lục Ngôn Thi bắt đầu từ Đông Phương Sóc đời Tây Hán. Nhưng Lý Thiện chỉ dẫn chứng có 2 câu; Một câu ở quyển 21 của Vịnh Sử Thi trong Văn Tuyển Là :"Kế sách quyên khí bất thu 計策捐棄不收"(Kế sách cho đi không nhận); Một câu nữa trong "Thục Đô Phú, Tả Tư quyển 4 là : "Hiệp tôn xúc tịch tương ngu 合樽促席相娱"(Chai rượu cùng vui với tiệc).       

        

      Ba nguồn gốc của Lục Ngôn Thi nêu trên, chỉ có Kinh Thi là có cơ sở và đáng tin cậy nhất; hai thuyết còn lại đều còn nghi vấn. Một là Cốc Vĩnh và Đông Phương Sóc đều không thấy có thơ 6 chữ lưu truyền lại ở đời Tây Hán; Hai là theo "Hán Thư" của Ban Cố và "Sử Ký" của Tư Mã Thiên đều không có ghi lại Cốc Vĩnh và Đông Phương Sóc có tài làm thơ; Ba là trong "Văn Chương Lưu Biệt Luận" của Chấp Ngu đời Đông Tấn chỉ nói là trong Kinh Thi có những câu thơ 6 chữ, chứ không nói rõ ở đời nào, trong "Văn Tâm Điêu Long" của Lưu Hiệp đời Nam triều cũng không có nhắc đến những cống hiến gì của Cốc Vĩnh và Đông Phương Sóc về Lục Ngôn Thi cả.

      Nhưng trong Kinh Thi thơ Lục Ngôn cũng chỉ xuất hiện lẻ tẻ bằng những câu lẻ chen vào bài thơ như đã ví dụ ở trên; họa hoằn lắm mới có 2 câu 6 chữ đi liền nhau như trong bài "Bắc Môn- Bội Phong 邶風.北門" trong Kinh Thi :

 

                 王事適我、         Vương sự thích ngã

                 政事一埤益我。   Chính sự nhất tỳ ích ngã.     (6)

                 我入自外、         Ngã nhập tự ngoại,

                 室人交徧讁我。   Thất nhân giao biến trích ngã.(6)

      Có nghĩa :

                 Việc làng bận bịu chưa xong,

                 Việc quan hối thúc càng không thể ngồi.

                 Việc nhà lại rối bời bời,

                 Người nhà cửi nhửi bồi hồi lòng ta !

 

       Cho đến "Sở Từ 楚辭" của Khuất Nguyên nước Sở trong thiên "Ly Tao 離騷" đã có những câu 7, 6 chen nhau như :

 

                 駟玉虯以乘鷖兮,  Tứ ngọc cù dĩ thừa ế hề,

                 溘埃風余上征;     Kháp ai phong dư thượng chinh.

                 朝發軔於蒼梧兮,  Triêu phát nhẫn ư Thương Ngô hề,

                 夕余至乎縣圃;     Tịch dư chi hồ Huyền Phố.

     Có nghĩa :

                 Quay ra đạp gió rẽ mây,

                 Cưỡi rồng gióng phượng định ngày chơi xa.

                 Sớm Thương-Ngô, chiều qua Huyền Phố,

                 Đến thần linh xa ngó cõi ngoài.

                                   (thơ dịch của Nhượng Tống)

      

       Đến bài từ "Cửu Biện 九辯" của Tống Ngọc 宋玉, cũng người nước Sở, thì mới có 4 câu 6 chữ liền nhau như một bài tứ tuyệt :

 

                 慷慨绝兮不得,  Khảng khái tuyệt hề bất đắc, 

                 中瞀乱兮迷惑。  Trung mậu loạn hề mê hoặc.

                 私自怜兮何极,  Tư tự lân hề hà cực,

                 心怦怦兮諒直。  Tâm phanh phanh hề lương trực !

      Có nghĩa :

                 Khảng khái cũng chẳng được chi,

                 Trong lòng rối rắm lại khi mơ hồ.

                 Tự thương xót đến bao giờ,

                 Lòng trung vằng vặc ai ngờ được sao !         

      Đến đời Đông Hán thì những bài phú trữ tình đã có những câu 6 chữ rất tề chỉnh, và đã bỏ được trợ từ "Hề 兮" ở giữa câu; nếu tách rời ra thì có thể thành một bài thơ "Lục Ngôn Tứ Tuyệt" như trong bài "Quy Điền Phú 歸田賦" của Trương Hành 張衡 có những câu :

  

                    游都邑以永久,   Du đô ấp dĩ vĩnh cửu,

                    無明略以佐時;   Vô minh lược dĩ tá thì;

                    徒临川以羡魚.     Đồ lâm xuyên dĩ tiện ngư,

                    俟河清乎未期。   Tự hà thanh hồ vị kỳ.

     Có nghĩa :                      

                         Trong kinh chẳng cống hiến gì,

                         Cũng không sách lược phò trì quân vương.

                         Bên sông thưởng thức cá ngon,

                         Hoàng Hà sông cạn đá mòn chưa trong !

          

       Đến thời kỳ Kiến An (cuối đời Đông Hán) lúc Tam Quốc Phân tranh thì Lục Ngôn Thi lần đầu tiên được Khổng Dung, một trong Kiến An Thất Tử 建安七子 (7 người tài tử trong thời Kiến An) sáng tác ba bài thơ Lục Ngôn hoàn chỉnh. Dưới đây là bài thứ nhất trong ba bài thơ đó :

 

                  漢家中葉道微,  Hán gia trung diệp đạo vi,

                  董卓作乱乘衰,  Đổng Trác tác loạn thừa suy,

                  僭上虐下專威,  Tiếm thượng ngược hạ chuyên uy,

                  萬官惶怖莫違,  Vạn quan hoàng bố mạc vi,

                  百姓惨惨心悲.    Bá tánh thảm thảm tâm bi !

    Có nghĩa :

                  Giữa thời nhà Hán suy vi,

                  Đổng trác làm loạn thị uy.

                  Ép vua hiếp cả triều nghị,

                  Muôn quan sợ chẳng nói chi,

                  Trăm họ thảm lòng sầu bi.

 

       Hai người nối tiếp và phát huy để ổn định cho thơ sáu chữ cũng là hai trong số Kiến An Thất Tử là Tào Phi 曹丕 và Tào Thực 曹植 (Tào Tử Kiến 曹子建), cả 2 đều là con trai của Tào Tháo 曹操(Bản thân Tháo cũng là một trong Kiến An Thất Tử). Tào Phi với bài Lê Dương Tác Thi 黎陽作詩 (Buổi sáng làm thơ) như sau :

 

                    奉辭罰罪遐征。   Phụng từ phạt tội hà chinh,

                    晨過黎山巉崢。   Thần qúa Lê Sơn sàm tranh.

                    東濟黃河金營。   Đông tế Hoàng Hà kim doanh,

                    北觀故宅頓傾。   Bắc quan cố trạch đôn khuynh.

                    中有高樓亭亭。   Trung hữu cao lâu đình đình,

                    荊棘繞蕃叢生。   Kính cức nhiểu phồn tùng sinh.

                    南望果園青青。   Nam vọng qủa viên thanh thanh,

                    霜露慘淒宵零。   Sương lộ thảm thê tiêu linh.

                    彼桑梓兮傷情。   Bỉ tang tân hề thương tình !

     Có nghĩa :                     

                       Phụng chỉ đi đánh giặc xa,

                       Lê sơn hiểm trở sáng qua,

                       Đóng trại phía đông Hoàng Hà,

                       Hướng bắc dinh thự của ta,

                       Trong có lầu các nguy nga,

                       Cỏ gai bao bọc quanh nhà.

                       Phía nam cây trái vườn hoa,

                       Lạnh lùng mù mịt sương sa,

                       Quê nhà đau xót lòng ta !

               

                         Sau đây là bài thơ 6 chữ được xếp trong "Nhạc Phủ Thi Tập 樂府詩集" sớm nhất :"Thiếp Bạc Mệnh 妾薄命" của Tào Tử Kiến :

 

                      携玉手喜同車,   Huề ngọc thủ hỉ đồng xa,

                      北上雲閣飛除。   Bắc thướng vân các phi trừ.

                      钓台蹇產清虚,   Điếu đài khiên sản thanh hư,

                      池塘觀沼可娱。   Trì đường quan chiểu khả ngu.

                      仰泛龍舟绿波,   Ngưỡng phiếm long chu lục ba,

                      俯擢神草枝柯。   Phủ trạc thần thảo chi kha.

                      想彼宓妃洛河,   Tưởng bỉ Mật Phi Lạc Hà,

                      退咏漢女湘娥。   Thoái vịnh Hán nữ Tương Nga.

       Có nghĩa :

                      Nắm tay người ngọc cùng xe,

                      Cùng lên lầu bắc mây che lưng trời.

                      Đài câu yên lặng thảnh thơi,

                      Ao hồ sông lạch vui chơi thỏa lòng.

                      Sóng xanh bao lấy thuyền rồng,

                      Cúi mình hái cọng cỏ thần linh chi.

                      Lạc Hà lại nhớ Mật Phi,

                      Tương Nga Hán nữ sầu bi đoạn trường !

          

        Sau Khổng Dung, Tào Phi, Tào Thực, những người có thành tựu trong Lục Ngôn Thi thì đời Ngụy có Kê Khang, Tây Tấn có Phó Huyền, Lục Cơ; Đông Tấn có Dưu thiền, Nam Triều có Tạ Hối, Lương Giản Văn Đế; Bắc Chu có Vương Bao, Dữu Tín... Đến đời Lương, Trần của Nam Bắc Triều thì Lục Ngôn Thi đã phát triển khá hoàn chỉnh với 6 câu 3 vần gián cách như bài "Mạo Tuyết Thi 貌雪詩"(thơ Tuyết) của Lương Chiêu Minh Thái Tử Tiêu Thống 梁昭明太子蕭統 như sau :

 

                   既同摽梅英散,   Ký đồng phiếu mai anh tán,

                   複似太谷花飛。   Phục tự thái cốc hoa phi.

                   密如公超所起,   Mật như công siêu sở khởi,

                   皎如淵客所揮。   Giảo như uyên khách sở huy.

                   無羡昆岩列素,   Vô tiện côn nham liệt tố,

                   豈匹振鷺群歸。   Khỉ thất chấn lộ quần quy.

     Có nghĩa :

                     Trông như cánh mai rơi rụng,

                     lại tựa Thái cốc hoa bay.

                     Nhặt tựa muối rây khắp chốn,

                     Trắng như vực thẳm thác bày.

                     Côn nham chập chùng đá trắng,

                     Lối về cò trắng cùng bay !

            

                                              

       Kịp đến đời Đường thì Lục Ngôn Thi cùng với Ngũ Ngôn và Thất Ngôn thi cùng phát triển và hoàn chỉnh song song với nhau, nhưng quan trường cũng như quần chúng chỉ chú trong vào Ngũ Ngôn và Thất Ngôn Thi mà thôi, nên Lục Ngôn Thi bị lép vế, nhưng không vì thế mà bị quên lãng, hầu hết những thi nhân nổi tiếng của buổi Thịnh Đường đều có Lục Ngôn Thi, như bài "Điền Viên Lạc" của Thi Phật Vương Duy ở đầu bài viết nầy. Bây giờ thì ta cùng đọc bốn bài Lục Ngôn Thi của Thi Tiên Lý Bạch tả cảnh của bốn mùa Xuạn, Hạ, Thu, Đông nhé!

 

                    《春景》           XUÂN CẢNH

                  門對鹤溪流水,  Môn đối hạc khê lưu thủy,

                  雲連雁宕仙家。  Vân liên nhạn đãng tiên gia.

                  誰解幽人幽意,  Thùy giải u nhân u ý,

                  惯看山鳥山花。  Quán khan sơn điểu sơn hoa.

                           李白                        Lý Bạch

      Có nghĩa :

                     Cửa đối suối trong khe hạc,

                     Mây liền đàn nhạn bay xa.

                     Ai biết người nhàn ý tản,

                     Ngắm quen chim núi cùng hoa.

                    

 

                   《夏景》               HẠ CẢNH

                  竹簟高人睡覺,   Trúc điệm cao nhân thụy giác,

                  水亭野客狂登。   Thủy đình dã khách cuồng đăng.

                  窗外熏風燕語,   Song ngoại huân phong yến ngữ,

                  庭前綠樹蟬鳴。   Đình tiền lục thọ thiền minh.

                          李白                            Lý Bạch

      Có nghĩa :

                     Đệm trúc cao nhân an giấc,

                     Nhà sàn khách lạ lăng xăng.

                     Ngoài song gió đưa én liệng,

                     Trước sân cây rậm ve ngâm.

 

                     

 

                     《秋景》            THU CẢNH

                   昨夜西風忽轉,   Tạc dạ tây phong hốt chuyển,

                   驚看雁度平林。   Kinh khan nhạn độ bình lâm.

                   詩興正當幽寂,   Thi hứng chánh đang u tịch,

                   推敲韵落寒帧。   Thôi xao vận lạc hàn tranh.

                           李白                           Lý Bạch

      Có nghĩa :

                     Đêm qua gió tây chợt nổi, 

                     Giật mình nhạn vượt bình lâm.

                     Thi hứng lúc đang hiu hắt,

                     Đẽo gọt vần rơi mất tăm !                 

 

                     《冬景》

                   凍笔新詩懒寫,   Đống bút tân thi lãn tả,

                   寒爐美酒時温。   Hàn lô mỹ tửu thời ôn.

                   醉看梅花月白,   Túy khán mai hoa nguyệt bạch,

                   恍疑雪落前村。   Hoảng nghi tuyết lạc tiền thôn !

                                 李白                                 Lý Bạch

      Có nghĩa :

                       Thơ xong bút se biếng tả,

                       Rượu ngon lò lạnh khó ôn.

                       Say nhìn hoa mai trăng tỏ,

                       Giật mình ngỡ tuyết ngoài thôn !

 

                    

       Ta thấy kỹ thuật làm thơ đã điêu luyện, bằng trắc phân minh, đối xứng nghiêm cẩn, ý thơ cao vút không thua gì ngũ ngôn và thất ngôn thi chút nào cả ! Ta hãy đọc thêm một bài "Lục Ngôn Luật Thi" 《Cách Hán Giang Ký Tử An 隔漢江寄子安》của Ngư Huyền Cơ 魚玄機, một trong "Tứ Đại Nữ Thi Nhân đời Đường"  sau đây sẽ rõ : 

        

                    江南江北愁望,   Giang nam giang bắc sầu vọng,

                    相思相憶空吟。   Tương tư tương ức không ngâm.

                    鴛鴦暖卧沙浦,   Uyên ương noãn ngọa sa phố,

                    砠矦閑飛桔林。   Thư hầu nhàn phi cát lâm.

                    烟里歌聲隱隱,   Yên lý ca thanh ẩn ẩn,

                    渡頭月色沉沉。   Độ đầu nguyệt sắc trầm trầm.

                    含情咫尺千里,   Hàm tình chỉ xích thiên lý,

                    况聽家家遠砧。   Huống thính gia gia viễn châm.

      Có nghĩa :

                        Buồn trông giang bắc giang nam,

                        Thương nhau nhớ lắm âm thầm ngâm nga.

                        Uyên ương ấm áp noãn nà,

                        Côn trùng chấp chới bay ra sau vườn.

                        Tiếng ca văng vẳng khói sương,

                        Bóng trăng bến vắng vấn vương một mình.

                        Dặm ngàn gang tất hàm tình,

                        Lại nghe tiếng giặt xập xình xa xa. 

 

                     

 

       Bài thơ với đầy đủ "mạo, thực, luận, kết" bố cục của một bài Luật Thi, hai cặp Thực và Luận đối nhau chan chát, cách luật nghiêm cẩn, trắc bằng đúng phép không khác gì một bài ngũ ngôn hay thất ngôn luật thi cả. 

 

        Không phải chỉ riêng Ngư Huyền Cơ, Vương Duy và Lý Bạch, mà Vương Xương Linh,Đỗ Mục, Sầm Tham... đều có làm thơ 6 chữ cả ! Theo thống kê của quyển "Toàn Đường Thi 《全唐诗》" thì trong đó có tất cả 75 bài thơ 6 chữ và Lục Ngôn Thi thẳng tiến đến đời Tống, Tô Đông Pha, Hoàng Đình Kiên, Lục Du, Tần Quan... đều cũng có lục ngôn thi. Trong quyển "Thiên Thủ Tống Nhân Tuyệt cú 千首宋人绝句" thì có đến 98 bài là thơ 6 chữ (chiếm tỉ lệ 1/10 của thi tập). Xuyên suốt qua các triều đại Nguyên, Minh, Thanh và mãi cho đến hiện nay, Lục Ngôn Thi vẫn luôn luôn tồn tại một cách âm thầm nhưng tích cực bên cạnh các hào quang rực rỡ của Ngũ Ngôn và Thất ngôn Thi nhưng không hề tàn lụi bao giờ.

 

       Để kết thúc bài viết nầy, kính mời tất cả cùng đọc một bài lục ngôn dưới hình thức của một bài từ rất độc đáo "Thiên Tịnh Sa 天淨沙 Thu Tứ 秋思" của Mã Trí Viễn 馬致遠 đời nhà Nguyên :

                        

                  枯藤老樹昏鴉,    Khô đằng lão thọ hôn nha,

                  小橋流水人家,    Tiểu kiều lưu thủy nhân gia,

                  古道西風瘦馬。    Cổ đạo tây phong xú mã.

                  夕陽西下,          Tịch dương tây hạ,

                  斷腸人在天涯。    Đoạn trường nhân tại thiên nha !

      Có nghĩa :

                      Mây cằn cây cỗi qụa buồn,

                      Đìu hiu cầu nhỏ nước tuôn mấy nhà,

                      Đường xưa ngựa ốm gió qua,

                      Nắng chiều dần tắt...

                      Bên trời hiu hắt... người xa đoạn trường !

DCD_tho6chu_last.JPG

 Ta thấy, chẳng những "thi ca" có thơ 6 chữ mà cả "ca từ" cũng có những câu 6 chữ nữa !

 

      Hẹn bài viết tới !

 

                                                                                     杜紹德

                                                                                 Đỗ Chiêu Đức

 

* PHỤ LỤC :

       Để cho mọi người rộng đường tham khảo, đính kèm theo đây là các "cách Luật" của thơ 6 chữ khi đã hoàn chỉnh ở đời Đường :

 

     六言詩的格律编辑 BIÊN TẬP VỀ CÁCH LUẬT CỦA LỤC NGÔN THI

 

* 平声韵 GIEO VẦN BẰNG :

 

《一》绝句押平声韵 Tuyệt cú gieo vần BẰNG :

   《A》六言绝句仄起首句不押韵格式 Lục ngôn tuyệt cú không gieo vần ở câu đầu :

 

          T T B B T T, B B T T B B(Vần)(đối xứng) 

          仄仄平平仄仄,平平仄仄平平 (韵). (对仗)

          平平仄仄平仄,仄仄平平仄平 (韵). (Bốn câu Hai vần)

 

   《B》六言绝句仄起首句押韵格式 Lục ngôn tuyệt cú gieo vần ở câu đầu:

 

         T T B B T B(vần), B B T T B B(vần).

         仄仄平平仄平 (韵),平平仄仄平平 (韵)。

         平平仄仄平仄,     仄仄平平仄平 (韵)。(Bốn câu Ba vần)

     

         Trên đây là Lục Ngôn Tuyệt Cú bắt đầu bằng "thanh TRẮC". Tương tự, nếu bắt đầu câu một bằng "thanh BẰNG" thì sẽ như sau đây :

 

  《C》六言绝句平起首句不押韵格式:

 

         平平仄仄平仄,仄仄平平仄平(韵)。(对仗)

         仄仄平平仄仄,平平仄仄平平(韵)。(4 câu 2 vần)

 

  《D》六言绝句平起首句押韵格式:

 

         平平仄仄平平(韵),仄仄平平仄平(韵)。

         仄仄平平仄仄,    平平仄仄平平(韵)。(4 câu 3 vần)

 

 

《二》律诗押平声韵 LUẬT THI GIEO VẦN BẰNG 

 

    《A》六言律诗平起首句押韵格式 Bắt đầu câu 1 bằng thanh BẰNG và gieo vần ở cuối câu 1 :

               B B T T B B(vần),T T B B T B(vần)

               平平仄仄平平(韵), 仄仄平平仄平 (韵).

               仄仄平平仄仄,    平平仄仄平平 (韵).(对仗 đối xứng)

               平平仄仄平仄,    仄仄平平仄平 (韵).(对仗 đối xứng)

               仄仄平平仄仄,    平平仄仄平平 (韵).(8 câu 5 vần)

 

    《B》六言律诗仄起首句押韵格式 Bắt đầu câu 1 bằng thanh TRẮC và gieo vần ở cuối câu 1 ::

               仄仄平平仄平(韵),平平仄仄平平(韵).

               平平仄仄平仄,仄仄平平仄平(韵).(对仗)

               仄仄平平仄仄,平平仄仄平平(韵).(对仗)

               平平仄仄平仄,仄仄平平仄平(韵).(8 câu 5 vần)

 

* 仄声韵 GIEO VẦN TRẮC :

     Tất cả đều giống như trên, chỉ đổi thanh BẰNG thành thanh TRẮC mà thôi.

 

  《一》绝句押仄声韵 Lục Ngôn Tuyệt Cú gieo vần TRẮC :

 

      《A》六言绝句平起式:

               平平仄仄平仄(韵),仄仄平平仄仄(韵).

               仄仄平平仄平,平平仄仄平仄(韵).

      《B》六言绝句仄起式:

               仄仄平平仄仄(韵),平平仄仄平仄(韵).

               平平仄仄平平,仄仄平平仄仄(韵).

                                       (Tất cả đều cùng 4 câu 3 vần)

 《二》律诗押仄声韵 LUẬT THI VẦN TRẮC

     《A》六言律诗平起式:(chữ đầu tiên của câu đầu là thanh BẰNG)

 

               B B T T B T(vần), T T B B T T(vần)

               平平仄仄平仄(韵),  仄仄平平仄仄(韵).

               仄仄平平仄平,     平平仄仄平仄(韵).(对仗 đối xứng)

               平平仄仄平平,     仄仄平平仄仄(韵).(对仗 đối xứng)

               仄仄平平仄平,     平平仄仄平仄(韵).(8 câu 5 vần TRẮC)

 

    《B》六言律诗仄起式 :(chữ đầu tiên của câu đầu là thanh TRẮC)

 

               仄仄平平仄仄(韵),平平仄仄平仄(韵).

               平平仄仄平平,   仄仄平平仄仄(韵).(对仗)

               仄仄平平仄平,   平平仄仄平仄(韵).(对仗)

               平平仄仄平平,   仄仄平平仄仄(韵).

 

      Nhìn chung, tất cả Cách Luật của Lục Ngôn Thi đều giống như là Ngũ Ngôn và Thất Ngôn vậy !

                                                   Đỗ Chiêu Đức

_____________________________________________

 THÀNH NGỮ ĐIỂN TÍCH:  

                                                   NĂM

DCD_Nam.png

                                              NĂM MÂY bỗng thấy chiếu trời,

                                                       Khâm ban sắc chỉ đến nơi rành rành.

 

         NĂM MÂY là mây ngũ sắc, Mây có 5 màu thật đẹp, còn gọi là Tường Vân 祥雲, là mây lành, chỉ xuất hiện khi có thần thánh tiên phật hiện ra mà thôi. Còn NĂM MÂY trong câu thơ trên là chỉ mây ngũ sắc vây quanh lấy hình con rồng đang bay lượn được in trên "chiếu trời" là chiếu chỉ của thiên tử, là con của trời, chính là  nhà vua ngày xưa, ban bố  xuống cho quần thần nhân dân. Như hai câu thơ trên đầu đề :

 

                                  NĂM MÂY bỗng thấy chiếu trời,

                              Khâm ban sắc chỉ đến nơi rành rành.

 

      Trong Hồng Đức Quốc Âm Thi Tập, bài "Lại vịnh Hán Cao Tổ" của vua Lê Thánh Tông đã mở đầu bằng hai câu :

 

                               Một mình khi ẩn núi Mang, Đường,

                               NĂM THỨC MÂY CHE điềm đế vương.

 

      NĂM THỨC MÂY CHE là do tích bà Lã Trĩ (vợ của Lưu Bang) nói với chồng: "Sở dĩ thiếp tìm đến được chỗ đang ở của chàng vì thiếp thấy có mây ngũ sắc ở trên trời chiếu rọi che chỡ cho nơi đó".

DCD_namthucmay.png

Còn trong bài TƯ DUNG VÃN của cụ Đào Duy Từ thì lại gọi là NGŨ VÂN, như trong hai câu thơ sau đây :

 

                                Phật đình nào khác vương đình,

                          NGŨ VÂN tán lớn, cảnh tinh thoại tường.

 

          Nhắc đến số 5, thì không thể quên NĂM ĐẤU GẠO, còn nói đến năm đấu gạo thì không thể không nhắc đến "Ngũ Đấu Mễ Tiên Sinh" là Đào Tiềm.

          Đào Tiềm 陶潛 (365-427) tự là Uyên Minh 淵明, người đất Sài Tang, Tầm Dương, nay thuộc thành phố Cửu Giang. Ông là một ẩn sĩ cao nhã đời Đông Tấn, từng làm huyện lệnh huyện Bành Trạch, nên còn được gọi là Đào Lệnh hay Đào Bành Trạch. Vì không chịu mỗi kỳ phải vận áo mão chỉnh tề để lòn cúi nghênh tiếp viên Đốc Bưu, để mỗi tháng nhận lãnh 5 đấu gạo lương thực, nên ông từ quan về ở ẩn, vì thế người đời còn gọi ông là "Ngũ Đấu Mễ Tiên Sinh 五斗米先生"(Tiên sinh 5 đấu gạo). 

        Trong truyện thơ Nôm viết theo một câu truyện trong Truyền Kỳ Mạn Lục của Nguyễn Dữ là "Tứ Thức gặp Tiên" có câu :

 

                                        Vẻ chi NĂM ĐẤU GẠO vàng,

                                    Uốn lưng co gối cho càng tổn hơi.

 

                              

 

         Sau NĂM ĐẤU GẠO, ta có NĂM ĐỨC, tức là 5 đức tính tốt của người quân tử ngày xưa theo quan niệm của Nho gia, 5 đức tính đó còn gọi là Ngũ Thường 五常, tức là Nhân, Lễ, Nghĩa, Trí Tín 仁、義、禮、智、信 . Còn theo sách Hàn Thi Ngoại Truyện 韓詩外傳 của Hàn Anh 韓嬰 đời Hán có ghi chép lại như sau : Con gà trống gồm đủ NĂM ĐỨC : Văn, Võ, Dũng, Nhân, Tín. Này nhé, tướng mạo oai vệ của con gà trống trên đầu có Kê quan 雞冠 là cái Mào gà, Quan 冠 là cái mào đồng âm với Quan 官là quan quyền. Nên cái Mào gà tượng trưng cho cái Mão của quan VĂN. Dưới hai chân gà đều có hai cựa như là hai mũi thương dùng để chiến đấu, tượng trưng cho VÕ quan. Khi gặp đối thủ thì gà lại sẵn sàng xông tới chiến đấu đến cùng, tượng trưng cho tinh thần DŨNG cảm. Khi tìm được thức ăn, gà trống luôn luôn kêu gọi bầy đàn đến để cùng ăn, chớ không ăn một mình , đó là lòng NHÂN hậu. Cuối cùng, gà trống luôn luôn gáy báo thức đúng giờ, không sai hẹn bao giờ, đó là hữu TÍN. Trong tác phẩm thơ Nôm "Lục Súc Tranh Công" con gà cũng đã tự hào về NĂM ĐỨC tính tốt nầy của mình như sau :

 

                                Này này! gà ngũ đức thẳm sâu:

                                Nhân, dũng, tín, võ, văn, gồm đủ.

                                Trên đầu đội văn quan một mũ;

                                Dưới chân đeo hai cựa thần thương...

 

       Trong Hồng Đức Quốc Âm Thi Tập bài thơ vịnh "CON GÀ" của vua Lê Thánh Tông đã mở đầu bằg hai câu :

 

                                Họ Chu từ thuở dưỡng nên thân, 

                                NĂM ĐỨC gồm no : trí dũng nhân...

 

                                

 

           Như trên đã nhắc, Ngũ Thường 五常, tức là Nhân, Lễ, Nghĩa, Trí, Tín 仁、義、禮、智、信  trong sách Luận Ngữ của đạo Nho, trong tiếng Nôm còn được gọi là NĂM HẰNG. Theo phần giải thích trong《Thượng Thư. Thái Thệ Hạ 尚書·泰誓下》thì "Ngũ Thường còn gọi là Ngũ Điển 五典" với câu : Phụ nghĩa 父義、Mẫu từ 母慈、Huynh hữu 兄友、Đệ cung 弟恭、Tử hiếu 子孝。Có nghĩa : "Cha thì phải có cái nghĩa lớn, Mẹ thì phải có lòng từ ái, Anh thì phải có tình thân hữu đối với em, Em thì phải có lòng kính trọng đối với anh, và Con cái thì phải có lòng hiếu thảo với cha mẹ". 

      Trong văn học cổ của ta gọi TAM CƯƠNG NGŨ THƯỜNG là NĂM HẰNG BA MỐI, như trong bài thơ TƯ DUNG VÃN  của cụ Đào Duy Từ có câu :

 

                                                NĂM HẰNG BA MỐI làm đầu,

                                         Cội tùng nhành bách mặc dầu đông tây.

 

              Còn trong Phật giáo thì có NĂM MANG, mà NĂM MANG tức  là Ngũ Uẩn 五蕴 trong đạo Phật, đó chính là : Sắc Uẩn 色蘊、Thụ Uẩn 受蘊、Tưởng Uẩn 想蘊、Hành Uẩn 行蘊 và Thức Uẩn 識蘊.  SẮC là Hình Tướng, THỤ là Thị Dục,  TƯỞNG là Ý Niệm, HÀNH là Nghiệp duyên và THỨC là Tâm Linh. Tất cả chúng sinh đều do Ngũ Uẩn tích tụ lại mà thành. Trong tác phẩm SÃI VÃI của cụ Nguyễn Cư Trinh  khi cho  ông Sãi luận về chữ tu gần cuối bài có câu :  

 

                                 ... Bờ giác ngạn dễ đà đặng lại,

                                     Bởi thất tình còn hỡi NĂM MANG.

                                     Việc cổ kim chi xiết luận bàn,

                                     Lời phẫn uất trút ra tiêu khiển !

DCD_Saivai.png

 Về mặt địa danh thì có NĂM HỒ, chữ Nho là NGŨ HỒ 五湖, là năm hồ nước lớn nhất của Trung Hoa, đó là Động Đình Hồ, Ba Dương Hồ, Thái Hồ, Sào Hồ, Hồng Trạch Hồ 洞庭湖、鄱阳湖、太湖、巢湖、洪泽湖. Nhưng trong văn học cổ, theo sách "Sử ký" ghi chép lại thì Ngũ Hồ ngày xưa là tên riêng của THÁI HỒ ở giữa hai tỉnh Giang Tô và Chiết Giang. Vào thời Xuân Thu thì Thái Hồ là ranh giới thiên nhiên giữa 2 nước Việt và Ngô; nơi mà sau khi đã hoàn thành Mỹ nhân kế, nước Ngô bị tiêu diệt, thì mưu thần Phạm Lãi đã đưa nàng Tây Thi xinh đẹp đến nơi đây để rong chơi rồi biệt tích luôn ở nơi nầy. Trong truyện Nôm HOA TIÊN KÝ của Nguyễn Huy Tự và Nguyễn Thiện cũng có nhắc đến nơi đây :

 

                                   Buôn nan khói tỏa NĂM HỒ,

                             Lâm tâm bờ cỏ sông Ô khắp đường.

 

     Sau Năm Hồ ta có NĂM XE, chữ Nho là Ngũ Xa 五車, là do thành ngữ Học Phú Ngũ Xa 學富五車 (Học vấn giàu đến Năm Xe) nói gọn lại mà thành. Theo chương Thiên Hạ trong sách Trng Tử《莊子.天下》có câu :Huệ Thi đa phương, kỳ thư ngũ xa 惠施多方,其書五車。Có nghĩa : Huệ Thi (là một nhà tư tưởng thời Chiến Quốc) có nhiều phương pháp giải quyết công việc, sách của ông ta học có thể chứa đầy NĂM XE. Nên trong văn học cổ lấy NĂM XE để chỉ học vấn uyên bác, biết nhiều hiểu rộng, như trong bài "Hàn Vương Tôn Phú" của Đặng Trần Thường, một công thần ở đầu đời nhà Nguyễn, khi ở trong tù đã ví mình như là Hàn Tín ngày xưa. Trong bài phú trên, đoạn mở đầu có câu :

 

                           Kinh sử NĂM XE chứa chất, ngang trời dọc đất ấy kinh luân;

                           Tôn Ngô bảy quyển làu thông, đè sóng xông mây là chí khí.

           

                         
 

      NĂM XE là chỉ kiến thức ở trong lòng, còn cái gì đó đang ở trong lòng thì gọi là NĂM TRONG, chữ Nho là Ngũ Nội 五內, giới Đông y thì gọi là Ngũ Tạng 五臟, tức là Can Tâm Tì Phế Thận 肝、心、脾、肺、腎. Trong văn học cổ thì NĂM TRONG là chỉ lòng dạ, chỉ tấm lòng, như trong truyện Nôm Hoa Tiên Ký của Nguyễn Huy Tự và Nguyễn Thiện có câu :

 

                                  Một lời để tạc NĂM TRONG,

                         Lan phòng nào biết văn phòng khát khao.  

 

      Về nghi thức để cưới vợ ở các nhà giàu có khi xưa thì có Lục Lễ. Theo sách LỄ KÝ và NGHI LỄ《禮記》和《儀禮》khi xưa. Đó chính là : Nạp thái, Vấn danh, Nạp các, Nạp trưng, Thỉnh kỳ và Nghinh thân 納采、問名、納吉、納徵、請期 和 迎親. NẠP THÁI là bà mai đại diện nhà trai đến dạm hỏi coi mắt cô dâu. VẤN DANH là trao đổi bát tự, ngày tháng năm sinh giữa hai bên . NẠP CÁT  là nhà trai tặng lễ vật để định ngày đám nói, đính hôn . NẠP TRƯNG còn gọi là Nạp Sính là ngày đám nói trao sính lễ . THỈNH KỲ là Ngày nhà trai mang lễ vật qua nhà gái để cho biết ngày Nghinh Thân rước dâu . NGHINH THÂN là ngày đám cưới rước dâu. Sau khi đã hoàn tất xong NĂM LỄ đầu thì chỉ còn lễ cuối là Nghinh Thân (Rước dâu) như trong truyện Nôm Quan Âm Thị Kính :

 

                                   Cá đi nhạn lại tin bay,

                           Đủ NĂM LỄ đã đến ngày thừa long.

 

       Cuối cùng ta có NĂM PHÚC, chữ Nho là NGŨ PHÚC 五福, là 5 cái PHƯỚC mà ai cũng mong mõi để có được. Vậy Ngũ Phúc là gì  ?...

       Xuất xứ từ chương Hồng Phạm của Kinh Thư《書經·洪範》là : "Nhất viết Thọ, nhị viết Phú, tam viết Khang Ninh, tứ viết Du Hảo Đức, ngũ viết Khảo Chung Mệnh 一曰壽、二曰富、三曰康寧、四曰攸好德、五曰考終命。Có nghĩa : "Một là Sống Thọ, Hai là Giàu Sang, Ba là Mạnh Khỏe, Bốn là Có tiếng Tốt, Năm là Chết An Lành". Nói gọn lại NGŨ PHÚC là : Danh, Lợi, Thọ, Kiện, Thiện Chung 名、利、壽、健、善終。NĂM điều mà sống ở trên đời nầy ai ai cũng mong mõi để có được ! Hằng năm cứ vào dịp Tết Nguyên Đán là người xưa (và cả người nay nữa) thường viết câu NGŨ PHÚC LÂM MÔN 五福臨門 để treo ở trước cửa nhà để cầu mong cho NĂM PHÚC sẽ đến với gia đình. Trong Hồng Đức Quốc Âm Thi Tập cũng có câu :

 

                              Hội lành đã gặp gồm NĂM PHÚC,

                              Trỏ non Nam, chúc thánh quân.

DCD_NamPhuc.png

I'

 Hẹn bài viết tới!

 

                                                                                                 杜紹德

                                                                                            Đỗ Chiêu Đức

THÀNH NGỮ ĐIỂN TÍCH 72:  

 

                                             

DCD_Mua.JPG

Trong văn học cổ và trong dân gian ta ngày xưa, HẠT MƯA được ví như thân phận của người con gái mười hai bến nước trong nhờ đục chịu, với các câu ca dao được truyền tụng rộng rãi trong dân gian như :

 

                                      Thân em như Hạt Mưa sa,

                                Hạt vào đài các, hạt ra ruộng đồng.

      hoặc như :

                                      Thân em như Hạt Mưa rào,

                               Hạt sa xuống giếng, hạt vào vườn hoa.                              

 

       Cả hai câu ca dao trên đều nói lên thân phận của người con gái sướng hay khổ gì đều trông chờ vào sự rủi may, mà bản thân mình không thể chọn lựa được. "Hạt Mưa sá nghĩ phận hèn", đã là thân con gái như Hạt Mưa rồi, thì còn quản gì được đến sang hay hèn nữa, nên chi Thúy Kiều không thể tiếc nuối cuộc tình duyên của mình với Kim Trọng, khi gia đạo gặp cơn nguy biến, mà  đành lòng với số phận may rủi của mình, nên mới hạ quyết tâm "Liều đem tấc cỏ quyết đền ba xuân" để bán mình chuộc tội cho cha.

 

       Còn nàng cung nữ của Ôn Như Hầu Nguyễn Gia Thiều thì may mắn hơn với thân phận HẠT MƯA của mình :

 

                                HẠT MƯA đã lọt miền đài các,

                          Những mừng thầm cá nước duyên may.

 

      Trong Văn học cổ, ta còn thấy từ MƯA HOA, tức VŨ HOA 雨花 chỉ mưa xuống toàn là hoa, theo tích sau đây :

     Theo truyền thuyết, vào thời Nam Bắc Triều có Lương Võ Đế là chúa của Nam triều rất hâm mộ đạo phât. Có cao tăng hiệu là Vân Quang Pháp Sư thường xuyên thuyết giảng Phật pháp trên Thạch Tử Cương ở Nam Kinh, chúng tăng lữ trên 500 người ngồi tọa thiền nghe giảng 3 bửa không tan. Phật Tổ chứng cho lòng thành đã cho một rừng hoa Mạn-đà-la rơi xuống như mưa. Những mưa hoa rơi xuống đều biến thành đá ngũ sắc lóng lánh rất đẹp, gọi là Ngũ Thái Thạch 五彩石, người đời sau gọi là Vũ Hoa Thạch 雨花石, nơi giảng kinh tức là Vũ Hoa Đài 雨花臺, một thắng cảnh nổi tiếng của TP Nam Kinh 南京 thuộc tỉnh Giang Tô hiện nay.

 

      Trong truyện thơ Nôm khuyết danh Quan Âm Thị Kính của ta có câu :

 

                            MƯA HOA rẩy khắp bên mình,

                       Nhấp nhô đá cũng xếp quanh gật đầu.

 

     Ngoài MƯA HOA ta còn có MƯA MÓC, tức VŨ LỘ 雨露 chỉ hạt Mưa và hạt Móc (nhỏ hơn hạt mưa, rơi đọng lại trên hoa lá thành hạt Sương). Có xuất xứ từ sách Lễ Ký.Tế Nghĩa 《禮記.祭義》như sau :

     Hạt mưa và hạt móc đều rất cần thiết cho cây cỏ lá hoa sinh tồn và phát triển, nên thường dùng để ví với ân tình của kẻ bề trên ban cho người bên dưới; gọi là Ơn Vũ Lộ hay là Ơn Mưa Móc, như trong bài thơ "Tống Lý Thiếu Phủ biếm Hiệp trung Vương Thiếu Phủ biếm Trường sa" của Cao Thích đời Đường là :

 

                  聖代即今多雨露,  Thánh đại tức kim đa VŨ LỘ,

                  暫時分手莫躊躇。  Tạm thời phân thủ mạc trù trừ.

     Có nghĩa :

                     Thánh chúa đường thời nhiều MƯA MÓC,

                     Chia tay tạm biệt chớ chần chừ

Trong bài thơ "Tự Thuật bài 2 - Hội Gió Mây" của cụ Nguyễn Công Trứ - 阮公著 có hai câu Thực như sau :

 

                       Ðã từng tắm gội ơn MƯA MÓC,

                       Cũng đã xênh xang hội gió mây.

 

     Trong "Tụng Tây Hồ Phú" của Nguyễn Huy Lượng dưới thời Tây Sơn- Hậu Lê cũng có câu : 

 

                       Trên dưới đều rồng mây cá nước phải duyên, 

                       giọt VŨ LỘ tưới đôi hàng uyên lộ.

 

     Sau MƯA MÓC ta còn có MƯA MÂY, hay còn gọi là MÂY MƯA, chữ nho là VÂN VŨ 雲雨. Có mưa là có mây, không có mây thì không thể nào có mưa được. Có xuất xứ như sau :

 

     Theo thần thoại Trung Hoa, con gái của Xích Đế 赤帝 là Dao Cơ 瑶姬, chết trẻ, chôn ở Vu Sơn, hồn phách không tan, biến thành Thần Nữ. Trong bài Cao Đường Phú của Tống Ngọc nước Sở thời Chiến quốc có ghi lại: Sở Vương đi chơi ở Cao Đường, mơ thấy Thần Nữ đến cùng ân ái, khi chia tay còn nói là "Đản vi triêu vân, mộ vi hành vũ 旦为朝雲,暮为行雨" (Thiếp kéo mây ở buổi sáng, làm mưa ở buổi chiều). Theo quan niệm cổ xưa thì nữ thần và vua giao hợp có thể làm cho phong điều vũ thuận, ngũ cốc phong đăng. Có nghĩa : Mưa thuận gió hòa, lúa thóc được mùa. Nhưng dân gian lại không chịu hiểu theo nghĩa đó, hễ nhắc đến Sở Vương và Thần Nữ thì sẽ nghĩ ngay đến "Mây mưa ân ái giữa trai gái với nhau" mà thôi ! Vì thế, sau nầy hễ nhắc đến Thần Nữ Vu Sơn, Cao Đường Thần Nữ 高唐神女 là người ta nghĩ ngay đến một giai nhân tuyệt sắc gợi tình, và nói đến kéo MÂY làm MƯA, hay nói gọn thành MÂY MƯA, là người ta lại nghĩ ngay đến việc ái ân trai gái. Như cô Kiều đã ngăn Kim Trọng lại trong đêm gặp gỡ khi "Sóng tình dường đã xiêu xiêu",  mà kể lể rằng :

 

                            Ngẫm duyên kỳ ngộ xưa nay,

                       Lứa đôi ai lại đẹp tày Thôi Trương.

                            MÂY MƯA đánh đổ đá vàng,

                     Quá chìu nên đã chán chường yến anh...     

 

                         


       

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Còn trong Truyện Nôm Hoa Tiên Ký của Nguyễn Huy Tự và Nguyễn Thiện thì có câu :

 

                          Dương Đài rày sẵn MƯA MÂY,

                      Mà xem chúa Sở vui vầy giấc tiên.

 

       Không nói MƯA MÂY thì đôi khi nói thành MƯA GIÓ, như khi tả Thúy Kiều thất thân cùng Mã Giám Sinh, cụ Nguyễn Du đã viết rằng :

 

                            Một cơn MƯA GIÓ nặng nề,

                      Thương gì đến ngọc tiếc gì đến hương !

 

       Hoặc để nói cho đối xứng theo các biện pháp tu từ học của Trung Hoa là MƯA SỞ MÂY TẦN, như khi tả cuộc sống của Thúy Kiều ở lầu xanh :

 

                             Mặc người MƯA SỞ MÂY TẦN,

                         Nhưng mình nào biết có xuân là gì !...

 

       Về nàng cung nữ của Ôn Như Hầu Nguyễn Gia Thiều thì với sắc đẹp hấp dẫn, quyến rủ, gợi tình đến nỗi :

 

                               Bóng gương lấp ló trong mành,

                           Cỏ cây cũng muốn nổi tình MÂY MƯA !

       

    ... và khi đã được vua yêu rồi thì lại cảm thấy rất hạnh phúc và an phận :

 

                               MÂY MƯA mấy giọt chung tình,

                        Đình trầm hương khoá một cành mẫu đơn.

 

                          

 

     

Nhưng ngày vui qua mau và chóng tàn, nàng cung nữ chỉ sống bằng hoài niệm và rầu rĩ khát khao mơ màng đến những phút giây ân ái khi xưa :     

 

                               Tình rầu rĩ khôn khuây nhĩ mục,

                           Chốn phòng không như giục MÂY MƯA.

                               Giấc chiêm bao những đêm xưa,

                           GIỌT MƯA cửu hạn còn mơ đến rày...

 

        Hẹn bài viết tới.

 

                                                                                              杜紹德

                                                                                         Đỗ Chiêu Đức

DCD_Cao đường thần nữ.JPG
DCD_Cung oán ngâm khúc.JPG

NGÀY XUÂN ĐỌC THƠ TIỀN CHIẾN

DCD_hoa_thotienchien.JPG

                                                       Tôi muốn tắt nắng đi,

                                                       Cho màu đừng nhạt mất,

                                                       Tôi muốn buộc gió lại,

                                                       Cho hương đừng bay đi !

                                                                                     Xuân Diệu

 

        NGÀY XUÂN ĐỌC THƠ TIỀN CHIẾN là chỉ nói cho "xôm tụ", cho vui thôi, chẳng lẽ đọc Thơ Đường mãi, thay đổi không khí, ta đọc thơ Thời Tiền Chiến nhé. Nhưng nói là đọc thơ Thời Tiền Chiến cho oai thôi, chớ chỉ điểm qua vài bài có vẻ Xuân và hoa Đào hoa Mai của Nguyễn Bính và Jean Leiba mà thôi !

 

       Nào, bạn đã thấy Xuân về như thế nào chưa ? Nếu chưa, hãy nghe Nguyễn Bính nói đây :

 

                              Đã thấy xuân về với gió đông,

                              Với trên màu má gái chưa chồng.

                              Bên hiên hàng xóm cô hàng xóm,

                              Ngước mắt nhìn trời đôi mắt trong !

                        

       Gợi cảm và làm xao xuyến rạo rực lòng người biết bao với "Gió đông, với màu má gái chưa chồng, và với đôi mắt trong của nàng thiếu nữ !", Mùa xuân như hiển hiện ở màu má màu mắt của cô Xuân nữ tràn đầy nhựa sống của lứa tuổi hoa niên. Mùa xuân mang lại sức sống mới cho tuổi trẻ, mùa xuân cũng mang lại những kỷ niệm khó quên của tuổi xuân thì, khơi lại tình tự mộng mơ của quá khứ làm não nuột lòng người :

 

                                   Xuân đã đem mong nhớ trở về,

                                   Lòng cô lái ở bến sông kia.

                                   Cô hồi tưởng lại ba xuân trước,

                                   Trên bến cùng ai đã hẹn thề !...

 

                                  Nhưng rồi ... Người khách tình quân ấy,

                                  Đi biệt chẳng về với nước sông,

                                  Đã mấy lần xuân trôi... trôi mãi ...

                                  Mấy lần cô lái mõi mòn trông !

                                                                 ( Cô Lái Đò )

            

       Não nùng thay, đáng thương thay cho tâm sự của "nàng xuân" trên bến nước ! Thơ Nguyễn Bính thường đi vào lòng ta bằng những hình ảnh thật nhẹ nhàng gợi cảm, tế nhị mà làm xao xuyến lòng người ! Ta hãy nghe ông ví von :

 

                                       Ai đi chắp lại cánh hoa rơi,

                                       Bắt bóng chim xa tận cuối trời.

                                       Có lẽ ngày mai đò ngược sớm,

                                       Thôi nàng ở lại để ... quên tôi !

                                                               ( Thôi Nàng Ở Lại )

 

       Rất nhẹ nhàng nhưng cũng có pha chút gì chua xót ! Chua xót như những cánh hoa đào rơi rụng :

 

                                      Hoa đào từng cánh rơi như tưới,

                                      Xuống mặt sân rêu những giọt buồn.

                                      Như mảnh tim tình tan vỡ ấy,

                                      Nhện già giăng mắc sợi tơ đơn !....

 

                      

      Cuối năm, đọc những câu thơ tình của Nguyễn Bính làm cho lòng ta  chùn xuống, xót cho từng cánh hoa đào rơi như những mảnh tim tình tan vỡ, khéo mà ví von làm thương cảm lòng người ! Sau này, khi lưu lạc vào Nam, lúc xuân về Tết đến, Nguyễn Bính vẫn khoắc khoải day dức băn khoăn tự nhủ : 

 

                                   Xuân này xứ Bắc ra sao nhỉ,
                                   Đào có hây hây ? Cúc có vàng ?
                                   Câu đối có còn ôm đỏ cột, 
                                   Nêu dài tiếng khánh có khua vang ?

 

  ... và não lòng người làm sao với :

 

                                  Em ra bến nước trông về Bắc
                                 Chỉ thấy mây trôi chẳng thấy làng !

 

                            

                                     Chỉ thấy mây trôi chẳng thấy làng !

 

        Nguyễn Bính xưng " em " chắc có lẽ thi sĩ đang nhớ đến người chị mà tác giả thường hay nhắc trong thơ :

 

                         ... Cho đến một hôm em mới nhớ:
                            "Lòng người...." Chị Trúc nhớ hay quên?

                                                                   ( Khăn Hồng )

 

    ... Chị Trúc là chị TRÚC ĐƯỜNG, một người chị trong thơ, trong mơ, mà Nguyễn Bính không bao giờ với tới, cũng không dám với tới, chỉ nhớ, chỉ mơ rồi ... thơ thẩn, thế thôi ! Mà như thế lại nên thơ hơn, da diết hơn và gợi cảm mơ mộng hơn nhiều ! Và nhờ thế mà ta mới có được những vầng thơ tuyệt diệu của "Lỡ Bước Sang Ngang". Sau này khi lưu lạc giang hồ, trong "Xuân tha hương" và "Xuân vẫn tha hương", Nguyễn Bính đều gửi tâm sự về quê nhà, kể lể nỗi niềm cùng chị Trúc:

 

                                       Tết này chưa chắc em về được 
                                       Em gửi về đây một tấm lòng 
                                       Ôi chị một em, em một chị
                                      Trời làm xa cách mấy con sông ...

                 và ...

                                      Rượu say nhớ chị hồi con gái 
                                      Thương chị từ khi chị lấy chồng...

           Giờ đây thì ...

                                     Đêm ba mươi Tết quê người cũng 
                                     Tiếng pháo giao thừa dậy tứ phương 

                                       .................................


                                    Đất khách tình dâng nhòa mắt lệ 
                                   Ôi nhà, ôi chị.. ôi quê hương !

 

        Khá thương thay tâm sự của kẻ tha hương và cũng ngạc nhiên thay, ngạc nhiên đến thú vị !... Ai đời nhớ quê hương, nhớ nhà lại đi kèm với "nhớ Chị", hẵn người Chị nầy phải vô cùng đặc biệt, đặc biệt đến trở thành ... tự nhiên trong thơ của Nguyễn Bính !

 

 

        Hoa Đào là biểu tượng cho hoa xuân ngoài Đất Bắc, còn hoa Mai là biểu tượng của hoa xuân Miền Nam. Ta thường nghe nói Đào Bắc Mai Nam, nhưng hoa mai lại thích ứng cả 2 miền Nam Bắc, ta đã từng biết qua  2 câu thơ của nhà sư Tề Kỷ ở cuối đời Đường đầu đời Tống là :

 

                            Tiền thôn thâm tuyết lý,    前村深雪裡,

                            Tạc dạ sổ chi khai.            昨夜數枝開。

        Có nghĩa :

                            Đêm trước hôm qua trong tuyết lạnh,

                            Xóm trên lấm tấm mấy cành mai.

 

                  

 

      Bây giờ, thì ta hãy điểm qua bài thơ Mai Rụng của Jean Leiba thời Tiến Chiến nhé :

 

                              Nụ hồng rải lối, liễu tơ phai, 
                              Vườn cũ rêu lan, cỏ mọc dài, 
                              Bên gốc mai già, xuân vắng vẻ, 
                              Âu sầu thiếu nữ khóc hoa mai...

 

     " Thiếu nữ khóc hoa mai " như khóc cho thân phận của mình, khóc vì nuối tiếc cho ngày vui đã qua mau, nuối tiếc cho những ngày xuân mà tim hồng rộn rã, khi :

 

                              Tường đông, xuân ấy gặp tình lang, 
                              Chàng nhủ cùng em nỗi nhớ thương. 
                              Ngơ ngẩn em về, sầu chẳng mối: 
                              Ngây thơ, em mới biết yêu chàng.

 

       Ôi, đẹp biết bao khi lòng người xuân nữ vừa chớm hương yêu trong lứa tuổi xuân thì !... Nàng  e ngại thẹn thùng bắt đầu làm đẹp, làm dáng và thấy mùa xuân càng đẹp hơn lên khi con tim yêu đang lần đầu tiên rạo rực :

 

                             Yêu chàng, em cố chuốt hình dong, 
                             Tô cặp môi son, điểm má hồng. 
                             Em thấy xuân nay hoa nở đẹp, 
                             Cảm tình Thanh đế, tạ đông phong !

 

                     

      Hạnh phúc biết bao trong mùa xuân..." hoa nở đẹp ". Thực ra thì xuân nào mà hoa chẳng nở đẹp ?! Nhưng khi đang ngây ngất trong men yêu thì đâu có xuân nào đẹp hơn được nữa ! Nàng Cảm ơn Chúa Xuân, cảm ơn gió Xuân ( Cảm tình Thanh đế, tạ đông phong !), cảm ơn hết những gì mà mùa xuân mang đến ... Nhưng rồi, ngày vui qua mau, mùa xuân cũng chóng tàn, khi :

 

                             Hoa tặng vừa tàn bông thược dược, 
                            Tìm chàng bỗng vắng, bóng chàng xa...

 

   ... Và từ đó, cuối xuân sang hạ, hết thu lại đông, nàng sống trong âm thầm chờ đợi mõi mòn, mong ngóng bóng ai kia ở cuối nẽo chân trời ...  

 

                             Xuân tàn, hạ cỗi, cảnh thu sầu, 

                             Mờ mịt hơi đông ám ngọn lau. 
                             Xuân tới cành đào hoa lại nở, 
                             Mong chàng mỏi mắt, thấy chàng đâu ?! 

 

       Ủ rủ não nề như người cô phụ trông chồng "Thẩn thờ trâm lệch lỏng vòng lưng eo" đến đổi không còn nhận ra mình trong gương nữa ...

 

                              Sầu đối gương loan, bóng lạ người, 
                              Chàng không lại nữa, đẹp cùng ai? 
                              Bơ phờ tóc rối, vành khăn lệch, 
                              Ủ rũ hoa gầy, má đỏ phai !  

 

                            

 

      Qủa là thương cảm cho nàng thiếu nữ khi đã vuột khỏi tầm tay, đánh mất một tình yêu nồng thắm của tuổi xuân thì. Xuân chửa đi qua mà tình yêu đà biền biệt, nên mơ hồ nghi ngại là nàng xuân vẫn còn lẫn khuất đâu đây :

 

                             Xuân hết, đào phai, lý rụng rồi, 
                             Hoa đình tịch mịch vẻ xuân phai. 
                             Tơi bời ong bướm bay qua ngõ, 
                             Những tưởng màu xuân ở xóm ngoài.  

       

       Đọc những câu thơ trên lại làm cho ta nhớ đến 2 câu cuối trong bài XUÂN TÌNH của Vương Giá đời Đường :

 

                        蜂蝶紛紛過牆去,  Phong điệp phân phân qúa tường khứ,

                        卻疑春色在鄰家。  Khước nghi xuân sắc tại lân gia.

Có nghĩa :

                 Lũ lượt bướm ong bay hết qua tường hàng xóm, nên ...  

                 Ngờ rằng hương sắc của mùa xuân còn ở nhà kế bên !!!

 

                                 Vượt tường ong bướm xôn xao,

                             Ngờ rằng xuân sắc phía rào bên kia.

 

                        

                                    Tơi bời ong bướm bay qua ngõ, 
                                       Những tưởng màu xuân ở xóm ngoài.  

 

       Tình yêu bao giờ cũng là đề tài muôn thuở của nhân sinh, là đề tài không bao giờ cạn kiệt của văn nhân thi sĩ. Tình yêu mang lại sức sống yêu đời, tình yêu nhuộm hồng cuộc sống nhân sinh, mang lại sức sống vui tươi cho mọi lứa tuổi, mọi lứa đôi ... Nhưng tình yêu cũng mang lại sầu thương buồn thảm, đố kỵ ghét ghen, ưu phiền chán nản, làm nhục chí anh hùng, khiến cho bao người không còn thiết tha với cuộc sống, muốn buông xuôi tất cả như Jean Leiba lúc cuối đời, mặc dù ông chỉ mới có 29 tuổi đầu mà thôi :

 

                                Phù thế đã nhiều duyên nghiệp quá !

                                Lệ lòng mong cạn chốn am không.

                                Cửa thiền một đóng duyên trần dứt,

                                Quên hết người quen chốn bụi hồng !

 

       Xin được khép lại bài viết về mùa xuân nhưng không được vui như xuân nầy !

 

 

                                                                                                         Đỗ Chiêu Đức

____________________________

Phiếm luận:  

 

                           Tuổi Sửu Là Con Trâu Kềnh Kàng.

DCD_trau.png

                                       Tuổi Sửu là con trâu kềnh kàng,

                                             Cày chưa đúng buổi lại mang cày về.

          

            Đó là hai câu trong bài vè nói về con trâu trong 12 con giáp của dân đồng bằng Nam Bộ quê tôi : Cái Răng, Ba Láng, Vàm Xáng, Phong Điền... Con trâu là cầm tinh của tuổi Sửu, ngôi thứ hai trong Thập Nhị Địa Chi. Trâu chữ Nho gọi là NGƯU 牛, mà Ngưu cũng là một trong 214 bộ của CHỮ NHO... DỄ HỌC, có diễn tiến chữ viết như sau:

DCD_trau_words.JPG

Ta thấy :

             Chữ NGƯU 牛 qua Giáp Cốt Văn là hình tượng của con trâu được vẽ từ mặt trước với cái đầu có 2 sừng, 2 tai và bộ mặt.  Đến Kim Văn, Đại Triên và Tiểu Triện thì hình tượng đầu trâu được thay thế bằng những nét tiêu biểu, cho đến Lệ Thư thì đã diễn biến thành như chữ viết hiện nay 牛 NGƯU là Trâu Bò nói chung. Vì Người Hoa còn phân biệt THỦY NGƯU 水牛 là con TRÂU (con trâu nước), nhưng HOÀNG NGƯU 黃牛 thì là con BÒ (con bò vàng).

 

           Năm 2021 là năm TÂN SỬU 辛丑. TÂN 辛 là ngôi thứ 8 trong Thập vị Thiên Can. Theo Dịch lý Ngũ hành Bát quái thì CANH TÂN ở hướng Tây, thuộc Kim là Vàng. SỬU 丑 là ngôi thứ 2 trong Thập nhị Địa chi, thuộc âm, cầm tinh con Trâu là Ngưu. Nên năm Tân Sửu là năm của con KIM NGƯU 金牛, là con Trâu bằng Vàng. Nhắc đến trâu vàng lại làm cho ta nhớ đến một câu chuyện thần thoại của Việt Nam ta trong thời nhà Lý. 

         KHÔNG LỘ thiền sư 空路禪師 (1016-1094) người phủ Hải Thanh, họ Dương, pháp hiệu là Minh Không, làm nghề đánh cá, sau bỏ nghề đi tu, đắc đạo, có pháp thuật cao cường, có thể bay lên trên không, đi lướt trên mặt nước, bắt rồng cọp phải phủ phục...v.v... Đời Lý Thái Tông, năm Minh Đạo thứ nhất (1041), giúp nhà vua đánh Chiêm Thành. Năm Bính Thìn, đời Lý Nhân Tông, nhà vua bị bệnh hổ hoá. Lương y khắp nước chữa không khỏi. Sau cho sứ giả đến chùa mời nhà sư về và cuối cùng đã chữa khỏi bệnh cho nhà vua. Vua sắc phong làm Đại Pháp sư, kiêm Quốc Sư, cho lập đền thờ ở Thăng Long, gọi là đền Lý Quốc Sư.

DCD_Không lộ.JPG

Tương truyền sư Không Lộ chữa lành bệnh cho thái tử nhà Tống nên được yết kiến vua Tống. Vua Tống ban thưởng cho được vào kho để chọn lựa vàng hay đồng tùy thích, miễn là chỉ đựng đầy một túi vải. Khi vừa bước vào cửa, sư Không Lộ thấy một con trâu to lớn được đúc bằng vàng ròng đứng ngay trước cửa như để canh giữ kho châu báu. Sư bèn giở phép thần thông, lấy hơn phân nửa số đồng đen trong kho của vua Tống rồi ra bờ biển, thả chiếc nón tu xuống làm thuyền để chở về nước. Số đồng đen đó vừa đủ để đúc được một cái đại hồng chung to lớn.  

        Chuông đúc xong, được đặt trong chùa Trấn Võ. Sư Không Lộ bèn cầm chày dộng lên tiếng chuông đầu tiên. Tiếng chuông vang rất xa, rung động đến cả ngàn dặm sang tận đất Trung Hoa. Con trâu vàng ở kho tàng của vua Tống nghe tiếng chuông đồng, ngỡ là tiếng mẹ gọi, vì đồng đen là mẹ của vàng ròng, nên nó cất vó nghểnh sừng cong đuôi chạy miết về phía Nam để tìm mẹ. Tìm không gặp mẹ, cũng không nghe tiếng mẹ gọi, nó bực tức lồng lên, quần thảo cả một vùng khiến mặt đất sụt xuống, biến thành một hồ nước rộng lớn. Nhà sư Không Lộ bèn lăn chuông xuống hồ, chuông đồng rung vang một lần cuối cùng trước khi rơi xuống nước. Con trâu vàng theo đó cũng nhảy xuống hồ, biến mất theo chuông. Từ đó họ gọi hồ đó là hồ Kim Ngưu, cũng chính là hồ Tây ngày nay của ta đó.

        Sau khi sư Không Lộ thả chuông xuống hồ rồi thì còn có một huyền thoại nữa cho rằng: Từ rày về sau, trong dân chúng nếu ai sinh được 10 người con trai thì cha con lên hồ sẽ gọi được trâu vàng trở về. Một gia đình nọ sinh được 9 người con trai đã mừng thầm, lại gấp gáp nhận thêm một người con trai nuôi nữa cho đủ số mười người để kéo trâu vàng về nhà. Trâu vàng vừa lên khỏi mặt nước vào bờ thì dây thừng bị đứt, trâu vàng chui ngay vào hang ở gần đó. Nơi đó được nhân dân lập đền thờ gọi là đền Kim Ngưu.

DCD_đền kim ngưu.JPG

Đền KIM NGƯU bên bờ hồ KIM NGƯU (HỒ TÂY) là một biểu tượng tín ngưỡng thờ Trâu Vàng của nhân dân ta, có được một xuất xứ thần thoại nhưng lại rất đáng tự hào như thế. Cho nên trong bài thơ NƯỚC TÔi của Nguyễn Văn Cổn, một thi sĩ thời Tiền Chiến đã có một vế thơ như sau :

 

                           Mặt HỒ TÂY mông mênh mây nước,

                           Chuyện thần linh thuở trước đâu xa,

                           Chuông chùa Trấn Võ ngân nga,

                           Trâu vàng lìa đất Trung Hoa điên cuồng.

 

        Năm SỬU 丑 là năm con trâu, tháng SỬU là tháng Chạp (tháng 12 Âm lịch), ngày SỬU là ngày sau ngày Tý, giờ SỬU là từ 1:00 đến 3:00 Am(sáng), tức là vào khoảng Canh 4 tính theo giờ cổ điển. SỬU họp với TỴ, DẬU thành TỴ DẬU SỬU 巳酉丑 tam hạp. Khi con gà Dậu gáy sáng, thì con trâu Sửu phải thức dậy đi cày, hạp với nhau là đúng rồi. Hai con nầy đâu có "mắc mớ" gì tới con rắn TỴ ngoài lùm ngoài bụi đâu mà ông tổ Tử vi Trần Đoàn lại ghép vào "Tam Hạp". Có một thầy Tử vi giải thích là : "Con rắn TỴ nó khống chế và nuốt trọn con gà, lại có thể quấn chân con trâu không thể đi tới được, nên mới xếp nó đứng đầu". Lại càng vô lý hơn, vì như thế thì TỴ phải xung khắc với DẬU và SỬU mới đúng chớ ! Còn Tứ Hành Xung là THÌN TUẤT SỬU MÙI. Con trâu Sửu giành ăn cỏ với con dê Mùi, xung nhau là phải; Con chó Tuất tranh công với con trâu Sửu trong "Lục Súc Tranh Công", nên xung nhau cũng hiểu được, còn con rồng Thìn là con vật thần thoại bá vơ bay trên trời đâu có "ăn nhậu" gì tới con trâu Sửu đâu mà xung với khắc !? Chỉ lạm bàn những cái vô lý của khoa Tử Vi nghe chơi để bà con ta đừng có chết mê chết mệt vì Tử Vi nữa !

I'm a paragraph. Click here to add your own text and edit me. It's easy.

DCD_chăn trâu.JPG

 Nhân nhắc đến "Lục Súc Tranh Công", tác phẩm dân gian được học từ hồi Đệ Thất trong phần Cổ văn, ta hãy nghe anh cả trong Lục Súc, lớn xác nhất và cũng chiụ khó cày sâu cuốc bẫm nhất kể lể về công sức của mình đây :

 

                           Lóng canh gà vừa mới gáy tan,

                           Chủ đã gọi thằng chăn vội vã.

                            .......................

                           Chưa bao lâu thoắt đã rạng đông;

                           Vừa đến buổi cày bừa bua việc.

                            ........................

                           Trâu mệt đà thở dài, thở vắn,

                           Người còn hầm hét, mắng ngược mắng xuôi.

                           Liệu vừa đứng bóng mới thôi,

                           Ðói hòa mệt, bước khôn dời bước.

 

                           Ai thong thả, trâu nào ben đặng ?

                           Trâu nhọc nhằn, ai dễ thế cho?

                           Cày ruộng sâu, ruộng cạn cho no,

                           Lại vườn đậu, vườn mè khiến chở.

 

                           Làm không kịp thở,

                           Ăn chẳng kịp nhai.

                           Tắm mưa, trải gió chi nài !

                           Ðạp tuyết, giày sương bao sá !

                  

          Thế mà khi chết thì người ta chẳng nhớ gì đến công ơn, lại còn ...

 

                          Người người đều bàn bạc với nhau:

                          Kẻ thì rằng : Tôi lãnh cái đầu,

                          Người lại nói : Phần tôi cái nọng.

 

         Chia thịt xong, lại còn lấy sừng làm lược, hoa tai, tù và, con cờ, cán dao, cán quạt ... Nên, nếu :

 

                           Trâu sống lại kiện nài với chủ :

                           Không nhớ thủa bôi chuông đường hạ

                           Ơn Tề vương vô tội khiến tha

                           Tưởng chừng khi sức mọn tuổi già .....

                           

         Con trâu nhắc đến tích "Ơn Tề vương vô tội khiến tha" là : Tề Tuyên Vương thấy lính dắt trâu đi qua dưới thềm (đường hạ). Vương hỏi thì biết họ dắt trâu đi giết để lấy máu tô chuông mới đúc cho có tiếng vang xa, thấy con trâu có vẻ buồn bã, Vương bèn ra lệnh dùng máu dê để thay thế và tha cho trâu không giết.  Tích nầy ta còn gặp ở bài thơ "Vịnh Trâu Già" của Tam Nguyên Yên Đỗ Nguyễn Khuyến theo giai thoại lý thú  sau  đây :

 

      Năm 1902, vua Thành Thái ra Hà Nội khánh thành cầu Đu-Me ("Doumer":Cầu Long Biên hiện nay). Các bậc khoa bảng và các quan chức từ cấp tỉnh trở lên đều phải đến để bái yết. Nên cụ Nguyễn Khuyến cũng phải đến. Lần ấy đi cùng vua Thành Thái còn có cả vợ ông ta (hoàng hậu?) nữa. Bà này trước kia nếu không bị Nguyễn Hoan (con trai Nguyễn Khuyến) chê bỏ thì đã thành con dâu của Nguyễn Khuyến rồi. Sự thay bậc, đổi ngôi đã khiến Nguyễn Khuyến rất khó chịu. Lại thêm, chễm chệ bên Thành Thái còn có tên toàn quyền "Pôn Đu-Me"(Paul Doumer) nên cụ càng khó chịu hơn nữa. Bởi vậy, khi làm lễ ra mắt, Nguyễn Khuyến cứ lúng túng, chần chừ. Bị Thành Thái quở, Nguyễn Khuyến lấy lý do là mình già nua, tai nặng mắt mờ, nên cử chỉ chậm chạp để chống chế cho qua chuyện.

      Khi biết con người còm cõi, lụ khụ lù khù như con trâu già đang đứng trước mặt mình kia là Tam Nguyên Yên Đổ, một bậc khoa bảng đại khoa và là một nhà thơ lừng danh lúc bấy giờ, Thành Thái cũng đâm ra kính nể. Nhà vua bèn bắt ông ta phải làm một bài thơ với chủ đề “Vịnh Trâu Già” để tạ lỗi chểnh mảng. Đứng trầm ngâm suy nghĩ một lát cụ bèn đọc :

 

                     Một nắm xương khô, một nắm da, 

                     Bao nhiêu cái ách đã từng qua.

                     Đuôi cùn biếng vẫy, Điền Đan hoả,

                     Tai nặng buồn nghe Ninh Thích ca.

                     Sớm thả đồng đào ăn đủng đỉnh,

                     Tối về chuồng quế thở nghi nga.

                     Có người toan giết tô chuông mới,

                     Ơn đức vua Tề lại được tha ! 

 

              

 

      Bài thơ qúa hay, lại sát đề. Tả con trâu già nhưng lại nói lên được hoàn cảnh của mình : ốm đau, còm cõi chỉ còn có "Một nắm xương khô, một nắm da" mà thôi, và đã từng qua biết bao nhiêu là "cái ách" nặng nề, đã chán nản hết mọi sự đời, từ việc binh cơ đến việc lắt léo trong quan trường đều không buồn nghe không buồn bàn tới nữa. Nên chi đã về quy ẩn rồi mà người ta còn toan giết " để tô chuông mới". Nhà vua có tha cho ta như vua Tề đã tha cho con trâu ngày xưa hay không ?

      Vua Thành Thái hiểu rõ dụng ý và rất tâm đắc với câu thơ cuối: “Ơn đức vua Tề lại được tha”. Ông ta đã ví mình "nhân đức như vua Tề" thì sao mình lại không tha cho ông ta được ? Chẳng những tha mà lại còn trọng thưởng nữa là đằng khác !

 

        Bài thơ trên còn có 2 điển tích nữa là ĐIỀN ĐAN HỎA 田單火 và NỊNH THÍCH CA 甯戚歌. Điền Đan Hỏa là Lửa của danh tướng Điền Đan, là 火牛陣 nổi tiếng thời Chiến Quốc của tướng Điền Đan nước Tề như sau :

        Theo Sử Ký Điền Đan Liệt Truyện : Đời Yên Chiêu Vương 燕昭王, thời Xuân Thu Chiến Quốc, tướng Yên là Nhạc Nghị 樂毅 đem binh đánh Tề. Tướng Tề là Điền Đan 田單 cố giữ thành Tức Mặc. Năm 279 trước Công Nguyên, Yên Huệ Vương nối ngôi, Điền Đan dùng kế ly gián để Yên vương dùng tướng Kỵ Kiếp thay cho Nhạc Nghị, đoạn lại dùng kế trá hàng để Kỵ Kiếp không phòng bị, rồi đang đêm gom hết cả ngàn trâu bò trong thành, buộc gươm đao nhọn vào sừng trâu, đuôi trâu buộc cỏ rơm có tẩm dầu, rồi đốt lửa lên, trâu bị nóng cắm đầu cắm cổ phóng về phía quân Yên, lại cho 5000 lính cảm tử, vẽ mặt vằn vện, ăn mặc màu mè viêm vúa như thiên thần, theo sau đoàn quân trâu xung phong giết tới. Quân Yên đại bại, Kỵ Kiếp chết trận, Điền Đan thừa thế xua quân đánh chiếm lại hơn 70 thành đã bị mất. Nên câu " Đuôi cùn biếng vẫy, Điền Đan hoả". Ý của cụ Nguyễn Khuyến muốn nói là Mình đã già (như đuôi trâu đã cùn), nên không còn có thể động đến binh cơ mà lập nên công trận được nữa ! 

dcd_hỏa ngưu trận.JPG

Còn NINH THÍCH CA 甯戚歌 : Là bài "Bạch Thủy Ca 白水歌" của Ninh Thích nước Vệ. Theo sách Hoài Nam Tử, quyển 12, Đạo Ưng Huấn《淮南子》卷十二〈道應訓〉NINH THÍCH là người nước Vệ thời Xuân Thu Chiến Quốc rất có tài thao lược và kinh ban tế thế, ông làm nghề chăn trâu. Khi Tề Hoàn Công đi ngang qua, ông bèn gỏ vào sừng trâu mà ca bài ca thái bình đời nhà Thương là :"Hạo hạo bạch thủy, du du chi ngư, quân lai chiêu ngã, ngã tương an cư. Quốc gia vị lập, Tòng ngã yên như. 浩浩白水,鯈鯈之鱼。君来召我,我将安居. 國家未立, 從我焉如". Có nghĩa : 

                                    Cuồn cuộn nước sông,

                                    Cá lội xuôi dòng.

                                    Vua mà biết đến,

                                    Ta được an lòng.

                                    Nước nhà chưa ổn,

                                    Nên còn long đong !

 

      Tề Hoàn Công bèn cho Tướng quốc Quản Trọng đến hỏi chuyện và mời về. Năm 685 trước Công Nguyên, Ninh Thích được phong làm Đại Phu, ông đưa ra nhiều kế sách giúp Tề Hoàn Công ổn định nghiệp bá của mình. Sau "NINH THÍCH CA" dùng để chỉ những người tài chưa gặp thời muốn cầu lấy công danh. Nên câu "Tai nặng buồn nghe Ninh Thích ca". Ý của cụ Nguyễn Khuyến là mình đã già nua (như tai đã nặng đã lãng) nên không còn thiết đến hai chữ công danh nữa.

     

      Nhà thơ trào phúng HỌC LẠC (1842–1915) của xứ Mỹ Tho (tỉnh Tiền Giang ngày nay) cũng có bài thơ "Vịnh CON TRÂU" để châm biếm những người trí thức nửa mùa đương thời chạy theo làm trâu làm bò cho thực dân Pháp như sau :

 

                                Mài sừng cho lắm cũng là trâu,

                                Ngẫm lại mà coi thật lớn đầu.

                                Trong bụng lam nham ba lá sách.

                                Ngoài cằm lém đém một chòm râu.

                                Mắc mưu đốt đít tơi bời chạy,

                                Làm lễ bôi chuông nhớn nhác sầu,

                                Nghé ngọ già đời quen nghé ngọ,

                                Năm dây đàn gẩy biết chi đâu.

 

      LÁ SÁCH "là Dạ Lá Sách", một trong bốn ngăn trong dạ dày của loài động vật nhai lại. Ở đây tác giả mượn để chỉ "Sách vở học thức", nên "Trong bụng lam nham ba lá sách" là chỉ "Học thức chẳng ra chi"; còn "Ngoài cằm lém đém một chòm râu"là chỉ râu ria lưa thưa không thành chòm, hàm ý "Tướng mạo cũng chẳng ra gì". Lại nhắc đến tích "Mắc mưu đốt đít" là "Hỏa ngưu trận" mà ta đã nhắc ở trên, cũng như "Làm lễ bôi chuông" là tích của vua Tề tha chết. Cuối cùng là mĩa mai với câu "Năm dây đàn gẩy biết chi đâu" phát xuất từ câu thành ngữ " ĐÀN GẢY TAI TRÂU, và câu thành ngữ nầy lại có xuất xứ từ câu chữ Nho là ĐỐI NGƯU ĐÀN CẦM 對牛彈琴, có nghĩa là "Gảy đàn trước mặt con trâu cho nó nghe" của Mâu Dung 牟融 một học giả đời Đông Hán 東漢 đã nói trong Lý Hoặc Luận《理惑論》để chỉ làm những việc vô ích, không cần thiết, không có tác dụng vì không đúng đối tượng. 

                                                                                           

        Trở lại câu thứ bảy của bài thơ trên "Nghé ngọ già đời quen nghé ngọ". NGHÉ NGỌ là từ tượng thanh nhái tiếng kêu của con trâu, nhưng NGHÉ cũng là danh từ chỉ "Con trâu Con, con trâu còn nhỏ thì gọi là con NGHÉ". Đến đây, ta mới thấy sự phong phú và khó học của tiếng Việt Nam ta....

 

       Cũng cùng một chữ NGƯU 牛, tiếng Việt ta có tới 2 nghĩa, vừa là TRÂU, vừa là BÒ. Con TRÂU CON thì gọi là con NGHÉ; còn con BÒ CON thì gọi là con BÊ (Rắc rối nhỉ !). Trong khi chữ Nho chỉ có một từ duy nhất để gọi Tiểu Ngưu 小牛(trâu bò con) là ĐỘC 犢 mà thôi. Ta có thành ngữ LÃO NGƯU ĐỂ ĐỘC 老牛舐犢. Có nghĩa : Con TRÂU con BÒ già  liếm  con NGHÉ con BÊ con. Ý chỉ sự thương yêu âu yếm của cha mẹ đối với con cái. Thành ngữ nầy cũng có xuất xứ rất lý thú, cảm động và sâu sắc từ Hậu Hán T