TIẾNG HÁN CỔ

 với Ông Đồ ĐỖ CHIÊU ĐỨC

 

CHS Phan Thanh Giản (Cần Thơ)

Cựu GS Trung Học Tân Hưng (Cái Răng)

Cựu Giảng Viên ĐH Xã Hội - Nhân Văn (Sài Gòn)

Houston,Texas_________________________

Giai Thoại Văn Chương:

  

                                      SƠ ĐƯỜNG TỨ KIỆT  (4)

                          Người thứ tư trong Sơ Đường Tứ Kiệt : LẠC TÂN VƯƠNG

        

         LẠC TÂN VƯƠNG 駱賓王 (626?-687?) tự là Quan Quang 觀光. Tên và Tự của ông đều xuất phát từ quẻ Khôn 坤 (lục tứ) của Kinh DỊCH là : QUAN quốc chi QUANG, lợi dụng TÂN chi VƯƠNG 觀國之光,利用賓於王. Có nghĩa : Quan sát dân tình trong nước thì biết được đức hạnh của nhà vua, và để quyết định xem có đến để phò trợ nhà vua đó hay không. Ông tên "TÂN VƯƠNG" nên mới lấy tự "QUAN QUANG" là vì thế. Lạc Tân Vương người đất Nghĩa Ô Vụ Châu (thuộc huyện Nghĩa Ô tỉnh Chiết Giang ngày nay). Từ nhỏ đã nổi tiếng là thần đồng, bảy tuổi làm bài "Vịnh Nga 咏鹅" còn truyền tụng đến hiện nay. Ông xuất thân từ gia đình hàn vi, nhưng tuổi trẻ tài cao. Trong năm Vĩnh Huy (650) ông đã là Chủ Bộ về Văn học và võ công của Đạo Vương Lý Nguyên Khánh, sau chuyển về làm Chủ Bộ của đất Trường An. Năm Phụng nghi thứ 3 (678) đãm nhiệm chức Thị Ngự Sử, vì can vua động chạm đến Võ hậu nên bị hạ ngục; gặp đại xá nên được tha. Năm Điều lộ thứ 2 (680) nhậm chức Lâm hải Huyện Thừa, đến năm Quang Trạch nguyên niên (684) theo Anh Quốc Công Từ Kính Nghiệp dấy binh thảo phạt Võ Tắc Thiên, soạn bài hịch nổi tiếng cổ kim "Vị Từ Kính Nghiệp Thảo Võ Anh Hịch 為徐敬業討武曌檄". Sau khi Từ Kính Nghiệp bại binh, có tin đồn cho là ông đã bị giết trong loạn quân, nhưng sau nầy có người còn gặp ông đã xuất gia làm hòa thượng ở trong núi.

       Ông cũng là một trong TỨ KIỆT của buổi SƠ ĐƯỜNG. Người đời xếp ông đứng chót trong Tứ Kiệt, nhưng tài hoa và danh tiếng của ông hơn hẵn Lư Chiếu Lân và Dương Quýnh và sánh ngang ngửa với người đứng đầu là Vương Bột. Tương truyền...

       

        Trong một lần cùng cha và một người khách, bạn của cha, đi ngoạn cảnh đồng quê, chú bé Lạc Tân Vương mới 7 tuổi đã làm công chuyện của một "tua-gai"(tour-guide) giới thiệu với khách phong cảnh của quê mình, khi đi đến một bờ hồ nước trong xanh biếc, gió mát thoảng đưa nên mặt nước hồ gợn sóng lăn tăn, thấp thoáng một vài bông liễu trắng xóa bay phất phơ từ các nhành liễu buông rũ lã lướt bên bờ hồ, trên mặt hồ lại có vài con ngỗng trắng đang bơi lội nhởn nhơ, thỉnh thoảng vổ cánh quạt nước tứ tung và kêu lên "quàng quạt". Trước phong cảnh đẹp đẽ hữu tình nầy, khách mới cười hỏi Lạc Tân Vương rằng :"Nghe nói cháu làm thơ rất giỏi, giới thiệu cảnh đẹp đã hay rồi, vậy cháu thử làm một bài thơ tả cảnh trước mắt xem sao !". Lạc Tân Vương thưa rằng :"Cháu làm bài thơ Vịnh Ngỗng nhé !" Đoạn chú bé đứng trầm ngâm nhìn đàn ngỗng lội trên mặt hồ một lúc, rồi cất tiếng ngâm :

 

                   鵝,鵝,鵝,   Nga, nga, nga,

                   曲項向天歌。   Khúc hạng hướng thiên ca.

                   白毛浮綠水,   Bạch mao phù lục thủy,

                   紅掌撥清波。   Hồng chưởng bát thanh ba.

Có nghĩa :

                    

 

           Ngỗng, ngỗng, ngỗng. Cổ cong hướng lên trời mà kêu (ca). Bộ lông trắng nổi lên trên (phù) mặt nước xanh biếc (lục thủy). Bàn chân hồng đẩy (bát) làn nước gợn sóng trong veo. (THANH 清 nầy có ba chấm thủy, có nghĩa là TRONG)

      

       Có nghĩa:

                  Ngỗng , ngỗng, ngỗng,

                  Cổ cong hướng lên không,

                  Lông trắng trên nước biếc,

                  Chân hồng đẩy sóng trong ! 

 

       Ba tiếng NGỖNG, NGỖNG, NGỖNG vừa chỉ con Ngỗng, vừa như là tiếng kêu của các con ngỗng theo phát âm Quan Thoại : NGẠ, NGẠ, NGẠ ! Vừa tượng thanh vừa vui nhộn như tuổi trẻ của Lạc Tân Vương, vừa nói lên được tình cảm của chú bé dành cho con ngỗng vui mừng khi gặp mặt. Câu hai là hình ảnh tiêu biểu rất tượng hình của cái cần cổ dài và cong của ngỗng vươn lên trời cao khi cất tiếng kêu. Hai câu kết thì thật xuất sắc , nêu bật được đặc điểm của con ngỗng và bối cảnh xung quanh với một thủ thuật tuyệt vời : Lông trắng nổi lên trên mặt nước xanh và chân ngỗng màu hồng đẩy làn nước trong mà bơi tới !

Khách ngạc nhiên đến thích thú trước tài thơ mẫn tiệp của cậu bé Lạc Tân Vương mới vừa lên bảy tuổi. Ông ta đã nói với cha của Lạc Tân Vương rằng, thằng bé tương lai sẽ là người thành đạt lớn, và quả nhiên Lạc Tân Vương là một trong TỨ KIỆT của buổi sơ Đường, ngang danh với Vương Bột 王勃, Lư Chiếu Lân 盧照鄰 và Dương Quýnh 楊炯, rất giỏi về thơ ngũ ngôn, thất ngôn và nhất là tản văn... 

        

     Về bài thơ VỊNH NGỖNG thì...

     Theo "Giai thoại Văn Chương Việt Nam của Thái Bạch" và của trên mạng "Để Gió Cuốn Đi" có kể rằng : Năm 987, đời Tiền Lê ở nước ta. Vua Nhà Tống sai Lý Giác đi sứ nước Nam. Khi đến chùa Sách Giang, Vua Lê mời sư Pháp Thuận giả làm người lái đò ra đón. Lý Giác rất giỏi và rất thích nói chuyện văn thơ. Ngồi trong thuyền đò, ông thấy trên mặt sông có đôi ngỗng trắng đang bơi, liền buộc miệng đọc :

 

            Nga nga lưỡng nga nga,           鵝鵝兩鵝鵝,

            Ngưỡng diện hướng thiên nha.  仰面向天崖。

 Có nghĩa :

            Hai con ngỗng một đôi,

            Ngước mặt hướng chân trời.

     

    Sứ thần Lý Giác vừa đọc xong, thì người lái đò bèn đọc tiếp ngay là :

 

            Bạch mao phô lục thủy,     白毛舖綠水,

            Hồng trạo bãi thanh ba.    紅棹擺青波。

 Có nghĩa :

            Lông trắng phô nước biếc,

            Chèo hồng quẫy sóng xanh.

 

      Lý Giác rất kinh ngạc, vì không ngờ rằng người lái đò nước Nam lại giỏi văn thơ như thế. Có thể là trước đó cả sứ thần Lý Giác và nhà sư Pháp Thuận đều đã đọc qua bài thơ của chú bé Lạc Tân Vương, nên mới xúc cảnh sanh tình mà buộc miệng đọc ra những câu thơ trên chăng ?! Mặc dù có sửa đổi đôi chút, nhưng tựu trung vẫn từ bài Vịnh Ngỗng của Lạc Tân Vương mà ra cả !

       

        Khi đã trưởng thành, ngoài tài làm thơ viết văn ra, Lạc Tân Vương còn là một hiệp khách với lòng hiệp nghĩa cao độ, chuyên cứu khổn phò nguy, giúp người cô thế bị hiếp đáp, trừng trị tham quan ô lại, trừng trị kẻ bạc tình, thậm chí giết người để báo thù cho kẻ thế cô bị ức hiếp... như cụ Nguyễn Du đã viết trong Truyện Kiều : "Giữa đường dẫu thấy bất bằng mà tha ?!". 

       

       Năm Hàm Hanh thứ 2 đời Đường Cao Tông (671), Lạc Tân Vương từ Tây Vực trở lại Trường An để tìm chút công danh, nhưng không thành, bèn theo Lương Tích Thọ đầu quân ở Dao Châu, tháng 6 từ Dao Châu chuyển sang đất Thục, ở Thành Đô theo lối sống buông thả phóng túng của hiệp khách giang hồ "Tầm thù nhập tửu tứ, Phỏng khách thướng cầm đài 尋姝入酒肆,訪客上琴台" Có nghĩa : Muốn tìm người đẹp thì vào quán rượu, muốn tìm khách tao nhả thì lên cầm đài. Ở đây Lạc Tân Vương kết giao với Lư Chiếu Lân đang là Đô Úy, hai bên cùng xướng họa thật tương đắc. Nhưng sau khi Lư Chiếu Lân dứt bỏ Quách Thị, rồi một đi không trở lại trong khi Quách thị đã mang thai, chờ đợi mõi mòn đằng đẵng suốt hai năm trường, con sanh ra lại chết. Quách thị vô cùng đau xót than thở với Lạc Tân Vương, Vương nổi lòng hào hiệp thay Quách Thị làm một bài thơ trường thiên thất ngôn ca hành "Diễm Tình Đại Quách Thị Đáp Lư Chiếu Lân 艷情代郭氏答盧照鄰". Có nghĩa : "Bài thơ diễm tình thay cho Quách Thị đáp lại Lư Chiếu Lân" để bày tỏ nỗi lòng thương nhớ và oán trách cho sự bạc tình của Lư Chiếu Lân, trong đó có những câu như : 

 

                  迢迢芊路望芝田,    Điều điều thiên lộ vọng chi điền,

                  眇眇函關限蜀川。  Miễu miễu Hàm Quan hạn Thục Xuyên.

                  歸雲已落涪江外,    Quy vân dĩ lạc Phù Giang ngoại,

                  還雁應過洛水瀍。  Hoàn nhạn ưng qua Lạc Thủy Triền...

    Có nghĩa :

                   

 

                  Diệu vợi đường dài ngóng ruộng dâu,

                  Xa xăm Hàm Cốc Thục Giang đầu.

                  Phù Giang mây đã trôi thăm thẳm,

                  Cánh nhạn sông Triền Lạc Thủy đâu ?!...

       

      Ở nơi đất Thục xa xôi ngóng về đất Trường An diệu vợi chỉ thấy toàn ruộng dâu đay che khuất cả tầm mắt bởi ải Hàm Cốc ngăn cách của xứ Thục Xuyên, nhìn lên trời thì chỉ thấy mây trôi thăm thẳm của con sông Phù uốn khúc, mõi mòn đợi cánh nhạn từ sông Triền xứ Lạc Dương của Trường An bay qua dòng Lạc Thủy để đem tin đến nơi nầy... Nhưng mãi mãi vẫn hoài công chờ đợi mà thôi, vì ở nơi kinh thành, chàng Lư Chiếu Lân bạc tình quên nghĩa đã đang vui với :

 

                 柳葉園花處處新,    Liễu diệp viên hoa xứ xứ tân,

                 洛陽桃李應芳春。   Lạc Dương đào lý ứng phương xuân.

                 妾向雙流窺石鏡,    Thiếp hướng song lưu khuy thạch kính,

                 君住三川守玉人。   Quân trú Tam xuyên thủ ngọc nhân !

    Có nghĩa :

                  Liễu hoa mới mẻ khắp nơi nơi,

                  Đào lý Lạc Dương đã đượm rồi.

                  Thiếp đối gương sầu dòng lệ chảy,

                  Chàng ôm người ngọc mặc tình chơi !...

   ... và...

                  悲鳴五里無人問,    Bi minh ngũ lý vô nhân vấn,

                  腸斷三聲誰為續?    Trường đoạn tam thanh thùy vị tục ?

                  思君欲上望夫台,    Tư quân dục thướng Vọng phu đài,

                  端居懶聽將雛曲。   Đoan cư lãn thính tương sồ khúc !

    Có nghĩa :

                      

 

                  Khóc than năm dặm chẳng ai hay,

                  Ruột đứt ba canh luống ngậm ngùi.

                  Trông ngóng nhớ thương chừng hóa đá,

                  Lại sầu con trẻ sớm qua đời !

                                                          ...v.v và v.v....

       Bài thơ được truyền ra khiến cho người người đều oán trách Lư Chiếu Lân là kẻ bạc tình.        

 

       Cũng với tính khí hào hiệp đó được Lạc Tân Vương đem áp dụng vào quan trường, nên vào năm Phụng Nghi thứ ba (678) đời Đường Cao Tông, sau hơn mười năm bị chèn ép trong quan trường, khi vừa mới được thăng làm Thị Ngự Sử, Lạc Tân Vương đã dâng sớ luận bàn triều chính, động chạm đến các đồng liêu và nhất là động chạm đến Võ Hậu, nên bị vu cho tội tham ô rồi bị hạ ngục. Trong ngục ông đã làm bài thơ nổi tiếng dưới đây :

 

             在獄詠蟬         TẠI NGỤC VỊNH THIỀN

 

            西陸蟬聲唱,    Tây lục thiền thanh xướng,

            南冠客思深。    Nam quan khách tứ thâm.

            那堪玄鬢影,    Na kham huyền mấn ảnh,

            來對白頭吟。    Lai đối bạch đầu ngâm.

            露重飛難進,    Lộ trọng phi nan tấn,

            風多響易沉。    Phong đa hưởng dị trầm.

            無人信高潔,    Vô nhân tín cao khiết,

            誰爲表予心?    Thùy vị biểu dư tâm ?!

Nghĩa Bài Thơ :

                       Trong Ngục Vịnh Ve

       Trong mùa thu nhưng tiếng ve vẫn còn vang lanh lảnh, khiến cho người tù như ta càng nhớ nhung nghĩ ngợi sâu xa hơn. Làm sao kham được khi tóc hãy còn xanh (như hai cánh ve còn ngân vang) mà phải cam chịu ngâm khúc bạc đầu oan ức bất đắc dĩ nầy. Sương rơi nặng hạt làm cho ve khó mà bay tới, gió rít mạnh nên át cả tiếng ve ngâm. Không có ai tin loài ve thanh cao trong sạch (cũng như ta), nên ai, ai mới là người bộc bạch được nỗi lòng cao khiết của ta đây ?!

 

       Vịnh VE, nhưng lại mượn hình tượng trên cao và tiếng ve ngâm cao vút để gởi gắm và bày tỏ nỗi lòng trong trắng thanh cao đầy tính hiệp nghĩa của mình. Bị chèn ép trù dập để đưa vào tù trong khi hào khí vẫn tràn đầy mà phải ngâm câu bạch đầu ta thán. Không tiến bước được trên con đường chính nghĩa vì bị các thế lực khác trù dập, như con ve không thể bay cao bay xa được vì những hạt sương nặng trĩu của mùa thu; không nói lên tiếng nói trung thực vì bị quyền thế cấp trên chèn ép cũng như con ve không còn cất cao tiếng ngân được vì bị tiếng gió rít át đi. Ai còn trân trọng sự cao khiết của con ve cũng như ai còn có thể vì ta mà bày tỏ nỗi lòng thanh cao trong trắng của ta đây ?

 

Diễn Nôm :

                     Trời thu ve còn vang tiếng,

                     Người tù lòng nghĩ đâu đâu,

                     Sao khiến người còn xanh tóc,

                     Phải ngâm khúc hát bạc đầu.

                     Sương nặng cánh bay không nổi,

                     Gió vờn tiếng hát chìm sâu.

                     Không người tin lòng cao nhã,

                     Ai bày tỏ nỗi lòng sầu ?!

 

       Mùa thu năm sau (679), ông được xá tội. Mùa đông năm đó ông đi về đất Yên (thuộc tỉnh Hà Bắc hiện nay) làm Tham Quân trong một doanh trại, quyết lòng ra sức lập công báo quốc. Bài "Dịch Thủy Tống Biệt 易水送別" được làm trong khoảng thời gian nầy khi ông đưa bạn qua dòng sông Dịch.

 

                     此地別燕丹,    Thử địa biệt Yên Đan

                     壯士髮衝冠。    Tráng sĩ phát xung quan.

                     昔時人已沒,    Tích thời nhân dĩ một,

                     今日水猶寒。    Kim nhật thủy do hàn !

 

                      

 

       DỊCH THỦY 易水 : Còn gọi là Dịch Hà 易河, tên một con sông nằm ở phía tây của Dịch Huyện thuộc tỉnh Hà Bắc, chia làm Nam Dịch Thủy và Bắc Dịch Thủy, là ranh giới phía nam của nước Yên thời Chiến Quốc, nơi mà thái tử Đan tiễn biệt Kinh Kha qua sông để đi thích khách Tần Thủy Hoàng. Bài thơ có nghĩa :

 

      Ta đưa bạn ở nơi nầy, nơi mà Kinh Kha đã từng vẩy tay ly biệt với thái tử Đan của nước Yên. Người tráng sĩ ra đi (thích khách Tần Thủy Hoàng) bi hùng cảm khái đến nỗi tóc dựng đứng đội cả mão lên. Bây giờ, người xưa tuy đã mất rồi, nhưng dòng nước nơi đây vẫn còn toát hơi lạnh lẽo.

 

       Bài thơ vừa tả thực (tiễn bạn), vừa hoài cổ (nhớ lại chuyện xưa), vừa như Vịnh Sử (nhắc lại một thiên lịch sử bi tráng hào hùng của Kinh Kha khi qua sông Dịch) và hàm súc cảm khái một cách bi hùng với hình ảnh "Tích thời nhân dĩ một, Kim nhật thủy do hàn !". Cái lạnh của dòng sông Dịch như làm sống lại cảnh đưa tiễn ngày xưa, và cũng làm cho ta nhớ đến bài ca của Cao Tiệm Ly đã hát trên bờ sông khi đưa tiễn bạn :

 

                Phong tiêu tiêu hề Dịch thủy hàn,       風蕭蕭兮易水寒,

                Tráng sĩ nhất khứ hề bất phục hoàn !  壯士一去兮不復還.

Có nghĩa :

                Gió hắt hiu ôi, bờ sông Dịch lạnh,

                Tráng sĩ một đi rồi, không trở lại nữa đâu !

 

  ... và lại làm cho ta nhớ đến bài TỐNG BIỆT HÀNH của nhà thơ Thâm Tâm thời Tiền Chiến :

 

                  Đưa người ta không đưa qua sông

                  Sao có tiếng sóng ở trong lòng ?

                  Bóng chiều không thắm, không vàng vọt,

                  Sao đầy hoàng hôn trong mắt trong ?

 

    ... và trong bài VỌNG NHÂN HÀNH cũng của Thâm Tâm Nguyễn Tuấn Trình :

 

                  Sông Hồng chẳng phải xưa sông Dịch

                  Ta ghét hoài câu “nhất khứ hề”...

 

      Diễn Nôm :

                      

 

                     Nơi nầy giả biệt Yên Đan,

                     Anh hùng tóc dựng ngập tràn bi ca.

                     Người xưa tuy đã lìa xa,

                     Hôm nay dòng nước la đà lạnh căm !

 

      Năm Quang Trạch nguyên niên (684) Lạc Tân Vương theo Anh Quốc Công Từ Kính Nghiệp khởi binh chống lại Võ Tắc Thiên, ông đã viết bài  "Vị Từ Kính Nghiệp Thảo Võ Anh Hịch 為徐敬業討武曌檄" hiệu triệu mọi người cùng đứng lên chống lại họ Võ. Võ Tắc Thiên thấy bài hịch chỉ mĩm cười khi dễ. Kịp khi đọc đến câu "Nhất phôi chi thổ vị can, lục xích chi cô hà thác ? 一坯之土未乾,六尺之孤何託?" mới thất kinh xúc mồ hôi hạn mà hỏi rằng :"Ai viết bài hịch văn nầy?" Có người tâu là của Lạc Tân Vương viết. Võ Tắc Thiên mới quở rằng :"Đây là lỗi lầm của Thừa Tướng, nhân tài như thế nầy sao không biết trọng dụng, để đến đổi lưu lạc bên ngoài theo loạn quân mà chống lại ta thế nầy?". Thì ra câu nói đó đã đánh ngay vào điểm yếu tử huyệt của Võ Tắc Thiên:" Một núm đất vàng còn chưa khô là chỉ chồng bà ta là Đường Cao Tông chết chưa bao lâu, mồ còn chưa xanh cỏ, mà bà ta đã phế đứa con côi là Đường Trung Tông được chồng ký thác để soán ngôi mà tự xưng là Châu Thiên Tử." Cái bất nghĩa bất nhân đó đã được Lạc Tân Vương khai thác để kêu gọi mọi người cùng đứng lên chống lại họ Võ. Đây là bài hịch hay nhất của buổi Sơ Đường. Trong khí thế đang lên, Lạc Tân Vương làm luôn một bài thơ Ngũ ngôn tứ tuyệt "Tại Quân Đăng Thành Lâu 在軍登城樓" đầy khí thế hào hùng như sau :

 

                      城上風威冷,    Thành thượng phong uy lãnh,

                      江中水氣寒。    Giang trung thủy khí hàn.

                      戎衣何日定,    Nhung y hà nhật định,

                      歌舞入長安.     Ca vũ nhập Trường An !

      Có nghĩa :

                      

 

                      Trên thành quân uy ớn lạnh,

                      Dưới sông sát khí căm căm.

                      Áo trận ngày nao bình định,

                      Múa ca vào chiếm kinh thành !             

 

       Nhưng tiếc thay, bài hịch tuy hay, tuy đanh thép; bài thơ tuy hào hùng khí thế, nhưng cuộc nổi dậy của Từ Kính Nghiệp lại thất bại. Lạc Tân Vương bặt vô âm tín từ đó. Có người đồn rằng ông đã chết trong cuộc chiến, lại có người cho rằng ông đã vào núi ẩn cư tu đạo, được tôn thành thần, hiệu là "Nam Thiên Lạc Ân Sư 南天駱恩師". Lại có người cho rằng ông đã thế phát quy y vào cửa Phật, nương nhờ bóng thiền môn, hiệu là "Phổ Tế Diệu Chương Thiền Sư 普濟妙章禪師", mỗi năm vào tiết Đoan Ngọ đều được cúng tế linh đình. 

      

   Ta thấy...

       Từ một chú bé bảy tuổi Vịnh Ngỗng thật dễ thương, Lạc Tân Vương lớn lên với hình tượng của một hiệp khách cứu khổn phò nguy "giữa đường dẫu thấy bất bằng mà tha ?!", rồi trở thành một quan viên chính trực, công chính liêm minh để đến nỗi bị trù dập bỏ tù, và cuối cùng không chiụ được sự tiếm quyền của Võ Tắc Thiên mà làm phản. Cuối đời lại mai danh ẩn dật, xuất gia thành một hòa thượng trông rất bặm trợn như các hình tượng được lưu truyền.

 

      Thế mới biết, cuộc sống nhân sinh đã hành hạ dằn vật con người như thế nào, cuộc đời chìm nổi đắng cay đã làm đổi thay thân xác từ một chú bé vô tư thông minh dễ thương thành một hoà thượng khắc khổ gầy gò dữ tợn. Mời xem các hình tượng lưu truyền về Lạc Tân Vương dưới đây sẽ rõ !

                          Bảy tuổi "Vịnh Ngỗng"

              Hiệp khách Giang hồ

Quan viên chính trực

   Hòa thượng về già

Hẹn bài viết tới : Thi Phật VƯƠNG DUY.

 

                                                                                                          杜紹德

                                                                                                      Đỗ Chiêu Đức

            Giai Thoại Văn Chương :

  

                                      SƠ ĐƯỜNG TỨ KIỆT  (3)

                       Người đứng thứ ba trong Tứ Kiệt : LƯ CHIẾU LÂN   

    

          LƯ CHIẾU LÂN 盧照鄰 (634-689), tự là Thăng Chi 升之, hiệu là U Ưu Tử 幽憂子, người đất U Châu huyện Phạm Dương (tỉnh Hà bắc ngày nay). Ông là thi, văn sĩ đời Đường, xuất thân con nhà gia thế, học rộng biết nhiều, sự nghiệp bắt đầu từ chức Điển Thiêm ở phủ của Đặng Vương Lý Nguyên Dũ, sau chuyển làm Huyện Úy huyện Tân Đô thuộc Ích Châu. Sau khi từ chức thì lân la ở đất Thục, uống rượu làm thơ, viết văn. Sau vì mắc bệnh phong cùi hành hạ vật vã đến không chịu đựng nỗi, nên nhảy xuống dòng sông Dĩnh tự trầm.

         LƯ CHIẾU LÂN cùng với Vương Bột, Dương Quýnh và Lạc Tân Vương 王勃、楊炯、駱賓王 được người đương thời tôn xưng là SƠ ĐƯỜNG TỨ KIỆT 初唐四傑. Ông giỏi cả thơ và biền văn, thơ của ông phần nhiều thuộc thể Ca Hành có thể phổ nhạc được. Tác phẩm gồm có Lư Chiếu Lân Tập 盧照鄰集 (20 quyển) và U Ưu Tử Tập 幽憂子集 (10 quyển).

  SƠ ĐƯỜNG TỨ KIỆT: Vương Bột, Dương Quýnh, Lư Chiếu lân, Lạc Tân Vương

          

      Lư Chiếu Lân từ nhỏ đã học thi thư, 10 tuổi lại được đưa đến Giang Nam học tập với các đại nho như Tào Hiến, Vương Nghĩa Phương để dùi mài kinh sử. Lớn lên, ông nổi tiếng giỏi văn chương, đến Trường An để cầu công danh, nương nhờ vào trọng thần Lai Tế 來濟. Lai Tế thương tài ông bèn giới thiệu ông với mọi người, nhờ vào văn tài xuất chúng, tiếng tăm của ông nổi như cồn. Nhưng công danh thì vẫn còn mờ mịt như bài thơ ngũ ngôn tứ tuyệt KHÚC TRÌ HÀ 曲池荷 (Hoa sen ở ao Khúc Trì) của ông làm sau đây :

                 

                  浮香繞曲岸,    Phù hương nhiễu khúc ngạn,

                  圓影覆華池。    Viên ảnh phúc hoa trì.

                  常恐秋風早,    Thường khủng thu phong tảo,

                  凋零君不知。    Điêu linh quân bất tri.

      Có nghĩa :

              Mùi hương ngào ngạt toả quanh bờ ao uốn khúc, cái bóng tròn trịa in hình dưới nước ao đẹp đẽ. Nhưng... luôn luôn lo sợ gió thu hiu hắt sớm thổi đến, làm cho lá hoa tàn tạ và không còn người biết tới nữa !

      Khéo lo sợ vẩn vơ, Lư Chiếu Lân ví mình như hoa sen đẹp đẽ thơm ngát nở vào mùa hạ, nếu không có người biết đến để thưởng thức thì khi gió thu heo may thổi đến sẽ tàn tạ một cach oan uổng !...

 

                  Hương thơm ngào ngạt quanh ao,

                  Bóng tròn đẹp đẽ tươi màu nước trong.

                  Những e thu sớm gió lồng,

                  Lá hoa tàn tạ hết mong người nhìn !

                     

 

 

      Biết Lư Chiêu Lân nóng lòng vì công danh, nên Lai Tế mới tiến cử ông cho chú của Đường Cao Tông là Đặng Vương Lý Nguyên Dũ 鄧王李元裕. Đặng Vương đã nghe tiếng Lư Chiếu Lân từ lâu nên tiếp ông bằng lễ tiếp đãi của một thượng khách và cho giữ chức Điển Thiêm. Đặng Vương cũng thường nói với các quan viên và thuộc hạ rằng :"Lư Chiếu Lân chính là Tư Mã Tương Như của ta đó !". Đây là khoảng thời gian đắc ý nhất của ông. Trong vương phủ lại có một kho sách rất qúy giá, cho nên mười năm làm việc trong vương phủ Lư Chiếu Lân đã đọc hết kho sách đó để phong phú thêm kiến thức của mình. Năm Long Sóc thứ ba 龍朔三年(663) ông lại được điều đi nhậm chức Đô Úy ở Tân Đô thuộc Ích Châu. Ba năm mãn hạn, nhưng ông vẫn ở lại đất Thục thưởng ngoạn danh thắng, uống rượu làm thơ.

      Đời vua Đường Cao Tông vì là thời buổi sơ Đường, nên ông vua trẻ Lý Trị thường phát động những cuộc chiến tranh biên giới để bình định các nước Hung Nô, Đột Quyết, Thổ Phồn, Cao Ly...Các binh tướng luôn phải chiến đấu một cách kiêu hùng vất vả, nên Tứ Kiệt đều có làm thơ biên tái, Lư Chiếu Lân cũng không ngoại lệ. Sau đây là bài thơ CHIẾN THÀNH NAM  戰城南 cùng chủ đề trong Hán Nhạc Phủ với bài thơ của Dương Quýnh, nhưng mỗi người mỗi vẻ :

 

                 將軍出紫塞,   Tướng quân xuất Tử tái,

                 冒頓在烏貪。   Mạo Đôn tại Ô Tham.

                 笳喧雁門北,   Già huyên Nhạn Môn bắc,

                 陣翼龍城南。   Trận dực Long Thành nam.

                 雕弓夜宛轉,   Điêu cung dạ uyển chuyển,

                 鐵騎曉參驔。   Thiết kỵ hiểu tham đàm.

                 應須駐白日,   Ưng tu trú bạch nhật,

                 爲待戰方酣。   Vị đãi chiến phương hàm.

    Có nghĩa :

            Tướng quân cởi ngựa xông ra khỏi Tử Tái của Vạn Lý Trường Thành, đánh nhau với Mạo Đôn là chúa của Hung Nô tại Ô Tham. Tiếng tù và vang rền ở phía bắc của Nhạn Môn Quan và thế trận được bày ra làm hai cánh ở phía nam của Long Thành, tiếng cung giương và tiếng tên bay vun vút suốt đêm, cùng với tiếng vó câu của những con ngựa sắt đến trời sáng vẫn còn rầm rập.(Chiến trận vẫn đang tiếp diễn) Phải làm sao như Lỗ Dương thời chiến Quốc của nước Sở hươu ngọn dáo để đẩy lui mặt nhựt cho trời đừng mau tối, vì chiến trận còn đang tiếp diễn một cách say sưa !

      Đánh giết nhau hăng máu đến thế là cùng !

 

      Diễn Nôm :

                       

 

 

                    Tướng quân xông khỏi Trường Thành,

                    Mạo Đôn giao chiến cùng dành Ô Tham.

                    Tù và ải bắc vang vang,

                    Thành Nam chiến trận lại càng xôn xao.

                    Cung giương tên bắn rào rào,

                    rầm rầm thiết kỵ ồn ào suốt đêm.

                    Phải dừng mặt nhựt đừng thêm,

                    Vì chưng chiến địa khắp miền đang say.

 

      Trong khi đó ở nơi phồn hoa đô hội, đám vương tôn quý tộc còn ăn chơi đàng điếm ra vào lầu xanh đã được Lư Chiếu Lân diễn tả trong bài CHIẾT DƯƠNG LIỄU 折楊柳 sau đây :

 

                倡樓啟曙扉,   Xướng lâu khải thự phi,

                園柳正依依。   Viên liễu chánh y y.

                鳥鳴知歲隔,   Điểu minh tri tuế cách,

                條變識春歸。   Điều biến thức xuân quy.

              露葉疑啼臉,    Lộ diệp nghi đề kiểm,

                風花亂舞衣。   Phong hoa loạn vũ y.

                攀折聊將寄,   Phàn chiết liêu tương ký,

                軍中書信稀。   Quân trung thư tín hi !

   Có nghĩa :

           Cánh cửa của lầu xanh vừa mở ra trong buổi sáng sớm mai, thì những cây liễu trong vườn như cũng lưu luyến không nở rời xa. Tiếng chim hót líu lo biết là năm đã hết, cành liễu chuyển màu xanh hơn nên biết là xuân đã về. Những giọt sương đọng trên lá liễu như là những giọt lệ trên mặt người đẹp, gió thổi làm cho những hoa liễu bay loạn lên như những mảnh vũ y. Bẻ nhành liễu gởi đi để tỏ chút lòng người hậu phương, vì trong quân doanh rất hiếm khi nhận được thư tín bên ngoài.

 

   Diễn Nôm :

               

 

 

                    Lầu xanh sáng mở cửa rào,

                    Trong vườn dương liễu luyến lưu hàm tình.

                    Năm tàn chim hót bên mành,

                    Cành xanh trổ nụ đành rành xuân sang.

                    Sương gieo như lệ mặt nàng,

                    Gió đưa hoa liễu rụng tràn vũ y.

                    Bẻ cành dương liễu gởi đi,

                    Trong quân thư tín hiếm khi gởi vào.

 

       Vì sống trong thời chinh chiến còn chưa yên, nên khi tả cảnh mai hoa nở trong tuyết trắng cuối năm để báo hiệu mùa xuân sắp đến, Lư Chiếu Lân cũng liên tưởng đến những người lính trận xa xôi ở tận xứ Hung Nô cách xa mấy vạn dặm đường ngày đêm chiến đấu bên cái chết cận kề còn biết gì là Xuân về Mai nở, hãy đọc bài MAI HOA LẠC 梅花落 dưới đây sẽ rõ :

 

                梅嶺花初發,   Mai Lĩnh hoa sơ phát,

                天山雪未開。   Thiên Sơn tuyết vị khai.

                雪處疑花滿,   Tuyết xứ nghi hoa mãn,

                花邊似雪回。   Hoa biên tự tuyết hồi.

                因風入舞袖,   Nhân phong nhập vũ tụ,

                雜粉向妝台。   Tạp phấn hướng trang đài.

                匈奴幾萬里,   Hung Nô kỷ vạn lý,

                春至不知來。   Xuân chí bất tri lai !

  Có nghĩa :

          Khi hoa mai trên Mai Lĩnh ở miền nam bắt đầu nở, thì tuyết ở vùng Thiên Sơn phía tây bắc còn chưa bắt đầu rơi. Nơi mà tuyết rơi thì cứ ngỡ là hoa mai trắng đã nở đầy cả, còn bên cạnh hoa mai trắng rơi thì lại như có thêm một lớp tuyết phủ đầy. Qua một trận gió thổi thì từng cánh mai trắng bay lọt vào cả các tay áo rộng của những nàng đang ca múa vương lấy mùi phấn son mà rơi cả tận đến nơi trang đài. Chỉ tội cho những người lính trận ở tận đất Hung Nô xa xôi mấy vạn dặm đường trong trời đông tuyết giá, khi xuân đến thì có ai biết là mùa xuân đã đến đâu !  

 

    Diễn Nôm :

                      

 

 

                    Mai Lĩnh hoa đã nở rồi,

                    Thiên Sơn xa tít chưa rơi tuyết mà...

                    Tuyết rơi trắng xóa tựa hoa

                    Bên hoa tuyết trắng ngỡ là hoa bay.

                    Hoa rơi tay áo gió lay,

                    Cánh hoa theo phấn trang đài vấn vương.

                    Hung Nô mấy vạn dặm đường,

                    Nàng xuân đã đến tỏ tường ai hay !?  

               

         Một lý do nữa khiến cho Lư Chiếu Lân sau khi mãn hạn quan còn ở lại đất Thục thêm hai năm nữa là vì ông quen với một người con gái họ Quách. Hai người đã yêu nhau đắm đuối. Trong cuộc tình nầy Lư Chiếu Lân đã để lại hai câu thơ bất hủ trong bài "Trường An Cổ Ý 長安古意" là :

 

                     得成比目何辞死,  Bất thành tỉ mục hà từ tử,

                     愿作鸳鸯不羡仙。  Nguyện tác uyên ương bất tiện tiên.

    Có nghĩa :

                     Chưa được sánh đôi chưa đành chết,

                     Chỉ cầu chắp cánh chẳng cầu tiên !

                        

 

 

       Nhưng khi hay tin Quách Thị có mang hai tháng thì, không biết vì lý do gì, Lư Chiếu Lân lại nói lời giả biệt để về thăm nhà, nên đành quyến luyến chia tay với Quách Thị và hẹn sẽ nhanh chóng trở lại gặp nàng. Nhưng lại nhưng, sau chuyến đi đó Lư Chiếu Lân đã không bao giờ trở lại nữa, để cho Quách Thị cứ chờ đợi mõi mòn, đau khổ, vật vã đến hư cả thai nhi. Người thứ tư trong Tứ Kiệt là LẠC TÂN VƯƠNG 駱賓王 đã bất mãn thay cho nàng, nổi lòng hào hiệp mà thay nàng viết nên bài thơ nhớ thương nổi tiếng để gởi cho Lư Chiếu Lân là "Diễm Tình Đại Quách Thị Đáp Lư Chiếu Lân 艷情代郭氏答盧照鄰". Có nghĩa : "Bài thơ diễm tình thay cho Quách Thị đáp lại Lư Chiếu Lân" sẽ đề cập ở bài sau khi nói về LẠC TÂN VƯƠNG. 

 

        Trở lại với Lư Chiếu Lân sau khi rời đất Thục, thì ngụ cư ở Lạc Dương. Và cũng trong bài thơ thất ngôn trường thiên dạng Nhạc phủ là TRƯỜNG AN CỔ Ý 長安古意 nầy, đã mang đến cho ông phải vướng vào vòng lao lý, vì trong đó lại có hai câu như sau :

 

                      梁家畫閣中天起,  Lương gia họa các trung thiên khởi,

                      漢帝金莖雲外直.   Hán đế kim hành vân ngoại trực.

    Có nghĩa :

                      Lâu đài đẹp đẽ của nhà họ Lương mọc lên ở giữa trời,

                      Cây cột vàng của Hán đế cao vút đến mây xanh.

 

       LƯƠNG GIA 梁家 : Nhà họ Lương chỉ một ngoại thích của Hán Thuận Đế là Lương Ký (anh của Lương Hoàng Hậu) đã cậy thế lực và tiền tài của em gái mà xây dựng lâu đài nguy nga tráng lệ ở thành Lạc Dương. Còn Võ Tam Tư 武三思 là cháu kêu Võ Hậu bằng cô, được phong là LƯƠNG VƯƠNG 梁王, cũng cậy quyền thế của cô mà xây dựng lâu đài ở Lạc Dương. Nên Võ Tam Tư cho là Lư Chiếu Lân dùng tích xưa để châm biếm mình, bèn nổi giận, bắt Lư Chiếu Lân bỏ tù. Sau nhờ có bạn giúp đỡ lãnh ra, nhưng chẳng bao lâu sau lại mắc phải bệnh phong, ông bèn đến núi Thái Bạch ở ngoại ô Trường An để dưỡng bệnh. Trong khoảng thời gian nầy ông lại gặp được Dược Vương Tôn Tư Mạc. Mạc rất coi trọng tài ông, vì cả hai cùng theo đạo Lão Trang nên rất tâm đầu ý hơp.  Khoảng thời gian nầy ông viết bài BỆNH LÊ THỌ PHÚ 病梨树赋 rất nổi tiếng.  Không lâu sau Tôn Tư Mạc phải phò Đường Cao Tông đến Cửu Thành Cung để tránh hè nghỉ mát. Lư Chiếu Lân vì muốn trị bệnh phong nên uống cả Huyền Minh Cao do các đạo sĩ bào chế, vừa đúng lúc hay tin cha mất, ông khóc cha đến nỗi mửa cả thuốc ra ngoài, nên bệnh càng trở nặng. Sau lại nhờ bạn bè chu cấp chuyển đến Long Môn Sơn dưỡng bệnh, nhưng bệnh lại ngày càng nặng hơn, đến nỗi một chân không duỗi thẳng được và liệt luôn một cánh tay. Ông lại mua một miếng đất ở bên bờ sông Dĩnh Thủy, xây sẵn cho mình ngôi mộ rồi ăn ngủ luôn trong đó. Trong khoảng thời gian nầy, ông viết hai bài tản văn nổi tiếng là THÍCH TẬT VĂN 釋疾文 và NGŨ BI VĂN 五悲文. Bệnh tình ngày càng hành hạ, nhức nhối thấu xương. Sau mười năm chịu đựng, cuối cùng, ông giả biệt thân nhân rồi nhảy xuống dòng sông Dĩnh tự trầm.
 

              Lư Chiếu Lân trước và sau khi mắc bệnh phong cùi.       

      

       Cuối bài "Thích Tật Văn 釋疾文" có bài ca u ẩn như những lời vĩnh biệt sau đây :

 

                 歲將暮兮歡不再,     Tuế tương mộ hề hoan bất tái,

                 時已晚兮憂來多。     Thời dĩ vãn hề ưu lai đa.

                 東郊絕此麒麟筆,     Đông giao tuyệt thử kỳ lân bút,

                 西山祕此鳳凰柯。     Tây sơn bí thử phụng hoàng kha.

                 死去死去今如此,     Tử khứ tử khứ kim như thử,

                 生兮生兮奈汝何。     Sanh hề sanh hề nại nhữ hà.

                 歲去憂來兮東流水,   Tuế khứ ưu lai hề đông lưu thủy,

                 地久天長兮人共死。   Địa cửu thiên trường hề nhân cộng tử.

     Có nghĩa :

                    Năm sắp tàn ngày vui không trở lại,

                    Thời đã qua ái ngại lắm ưu phiền.

                    Phía đông giao kỳ lân bút đã yên,

                    Tây sơn nọ phụng hoàng cành cũng vắng.

                    Chết thì chết như nay đà vẩy chết,

                    Sống lất lây sống hết được gì nào ?

                    Năm sầu nước cũng chảy mau...

                    Trời cao đất rộng thoáng mau đời người !

 

       Qủa là cảm khái với tâm tư buông bỏ của những người sắp chết. Vào những đêm trăng sáng có lẽ bệnh phong cùi hành hạ, nên Lư Chiếu Lân cũng có những câu than vãn về trăng như sau :

 

                   相思在萬里,    Tương tư tại vạn lý,

                   明月正孤懸。    Minh nguyệt chính cô huyền !

     Có nghĩa :

                        Nhớ nhau muôn dặm trời xanh,

                    Trăng treo lơ lửng trên cành đơn côi !

 

.... làm cho ta nhớ đến Hàn Mặc Tử với :

 

                        Ai mua trăng tôi bán trăng cho...

                    Trăng nằm yên trên cành liễu đợi chờ !...

 

                    

     Hẹn bài viết tới : 

                       SƠ ĐƯỜNG TỨ KIỆT (4) : LẠC TÂN VƯƠNG.

 

 

                                                                                            杜紹德

                                                                                    Đỗ Chiêu Đức

Giai thoại văn chương:

 

                        SƠ ĐƯỜNG TỨ KIỆT (2)

                               Người đứng nhì Tứ Kiệt : DƯƠNG QUÝNH        

          

       DƯƠNG QUÝNH 楊炯(650-693)người đất Hoằng Nông, huyện Hoa Âm (thuộc tỉnh Thiểm Tây ngày nay), đứng hàng thứ bảy trong gia đình; là thi văn sĩ đời Đường , được xếp hàng thứ nhì trong Sơ Đường Tứ Kiệt. Đường Cao Tông năm Hiển Khánh thứ tư (659) trúng cử khoa Thần Đồng lúc 10 tuổi, năm Thượng Nguyên thứ ba (676) ứng chế khoa cập đệ, được phong Hiệu Thư Lang. Vĩnh Thuần nguyên niên (682) được Trung Thư Lệnh Tiết Nguyên Siêu tiến cử chức Sùng Văn Quán Học Sĩ kiêm Thái Tử Chiêm Sự Ty Trực. Trong khoảng thời gian nầy, Dương Quýnh đã sáng tác rất nhiều văn thơ và còn viết lời tư và biên tập cho thơ văn của Vương Bột nữa, đồng thời cũng phê phán "Thượng Quan Thể" là thể thơ đang thịnh hành lúc bấy giờ chú trọng về tu từ và dùng từ diễm lệ gợi cảm.

      Thùy Cũng nguyên niên đời Võ Hậu (685), vì ông chú tham gia cuộc nổi dậy của Từ Kỉnh Nghiệp chống lại Võ Tắc Thiên thất bại, nên bị vạ lây. Dương Quýnh bị biếm đi làm Tham Quân ở đất Tân Châu. Thiên Thụ nguyên niên (690), cùng với nhà thơ Tống Chi Vấn dạy học ở Tập Nghệ Quán trong cung Lạc Dương. Như Ý nguyên niên (692), cải nhậm huyện lệnh đất Doanh Xuyên, nổi tiếng là một huyện quan nhân đức. Dương Quýnh mất luôn tại đây, cho nên người đời còn gọi ông là DƯƠNG DOANH XUYÊN 楊盈川. Ông còn để lại một quyển thơ, gồm 34 bài và hơn 50 bài Phú, Tự, Biểu, Bia, Chí... Dương Quýnh sau được qui táng ở Lạc Dương. Năm Đường Trung Tông phục vị (705) truy phong ông là Trứ Tác Lang 著作郎。

      

      Bình sinh, Dương Quýnh là người tính khí cao ngạo, ỷ tài, nên rất ít người thân cận. Bị người đương thời xếp sau Vương Bột, trong thứ tự của Tứ Kiệt VƯƠNG DƯƠNG LƯ LẠC 王楊盧駱. Quýnh rất lấy làm khó chịu mà nói rằng : "Ngô quý tại Lư tiền, sỉ cư Vương hậu 吾愧在盧前,耻居王後". Có nghĩa : "Ta THẸN vì đứng trước Lư, NHỤC vì ở sau Vương". Câu đầu tỏ vẻ khiêm nhượng "THẸN vì mình không bằng mà được đứng trước Lư Chiếu Lân"; Câu sau thì lại tỏ vẻ kiêu ngạo "lấy làm NHỤC vì bị xếp sau Vương Bột". Tánh khí cao ngạo của Dương Quýnh, đôi khi cũng đem lại được những kết quả tốt, như vào những năm Điều Lộ, Vĩnh Long đời Đường Cao Tông (679-681), quân Đột Quyết, Thổ Phồn thường hay xâm lấn đất Thục và một dãy Cam Túc, nhà vua cử Lễ Bộ Thượng Thư là Bùi Hàng đi chinh phạt. Mắt thấy triều đình chỉ trọng võ mà khinh văn, nên Quýnh tức khí làm nên bài thơ TÒNG QUÂN HÀNH 從軍行 tuyệt tác sau đây :

 

                    

 

                 

 

 

 

 

             

 

 

                  烽火照西京,    Phong hỏa chiếu Tây kinh,

                  心中自不平。    Tâm trung tự bất bình.

                  牙璋辭鳳闕,    Nha chương từ phụng khuyết,

                  鐵騎繞龍城。    Thiết kỵ nhiễu long thành.

                  雪暗凋旗畫,    Tuyết ám điêu kỳ họa,

                  風多雜鼓聲。    Phong đa tạp cổ thinh.

                  寧為百夫長,    Ninh vi Bách Phu Trưởng,

                  勝作一書生。    Thắng tác nhất thư sinh !

 Có nghĩa :

        Khói lửa của chiến tranh đã chiếu đến kinh thành (Tây kinh), nên trong lòng người chiến binh không thể nào bình yên cho được. Binh phù của nhà vua đã truyền ra khỏi kinh thành (Phụng thành) rồi, nên đoàn thiết kỵ phải xông pha vây lấy long thành. Trời tuyết rơi ảm đạm làm đong lạnh các lá cờ có họa hình rủ xuống, gió thổi mạnh nên tiếng trống trận càng hỗn tạp dồn dập hơn. (Trước cảnh hào hùng của chiến trận), ta thà làm một Bách Phu Trưởng hiên ngang còn hơn là làm một thư sinh yếu đuối ! 

       Diễn Nôm :

                         
   

                        Tây kinh khói lửa rực trời,

                        Lòng người chiến sĩ khôn nguôi bất bình.

                        Lệnh vua vừa khỏi cửa thành,

                        Rần rần thiết kỵ Long Thành ruổi sang.

                        Màu cờ tuyết phủ trên ngàn,

                        Gió đưa tiếng trống rộn ràng vang vang.

                        Thà làm chiến sĩ hiên ngang,

                        Còn hơn khoát áo một chàng thư sinh !

 

       Dương Quýnh nói lẫy : Thà làm một Bách Phu Trưởng (tương đương như Trung Đội Trưởng ngày nay) còn hơn là một thư sinh quèn chưa đậu đạt. Cái hào khí và chiến đấu gian khổ của người chiến binh trong cơn binh lửa còn được Dương Quýnh diễn tả trong bài CHIẾN THÀNH NAM 战城南 sau đây với bài ngũ Ngôn Luật Thi mà 4 cặp đều đối nhau chan chát :

 

                 塞北途遼遠,   Tái bắc đồ liêu viễn,

                 城南戰苦辛。   Thành nam chiến khổ tân.

                 幡旗如鳥翼,   Phướng kỳ như điểu dực,

                 甲冑似魚鱗。   Giáp trụ tự ngư lân.

                 凍水寒傷馬,   Đống thủy hàn thương mã,

                 悲風愁殺人。   Bi phong sầu sát nhân.

                 寸心明白日,   Thốn tâm minh bạch nhật,

                 千里暗黃塵。   Thiên lý ám hoàng trần !

   Có nghĩa :

           Đường lên tái bắc thì xa xôi diệu vợi, còn trận chiến ở thành nam thì khổ nhọc vô cùng. Cờ phướng tung bay như những cánh chim đang vổ phần phật. Còn áo giáp của các chiến binh thì ánh lên như vảy của những con cá đang lắp lánh vậy. Nước sông đong cứng làm thương tổn đến các con chiến mã, gió rít u buồn khơi dậy lòng sầu đứt ruột của các chinh phu. Tất lòng đối với non sông sáng tỏ như ánh mặt trời, trong khi ngoài ngàn dặm còn mịt mờ với cát bụi vàng hoe.

       Diễn Nôm :

                        

 

                       Đường lên ải bắc xa xôi,

                       Thành nam chiến trận dập vùi khổ thay.

                       Phướng cờ tựa cánh chim bay,

                       Giáp trụ tựa vảy cá ngoài biển khơi.

                       Nước băng ngựa hí thương ôi,

                       Gió sầu rít mạnh bồi hồi chinh phu.

                       Tấc lòng sáng tựa trời thu,

                       Bụi vàng ngàn dặm mịt mù nẻo xa !                  

            

      Dương Quýnh nổi tiếng với các bài thơ Ngũ ngôn Luật Thi tả cảnh biên tái như đã nêu trên, ngoài ra ông cũng nổi tiếng với những bài thơ diễn tả nỗi sầu thương mong nhớ của người chinh phụ có chồng đi đánh trận xa xôi ngoài quan ải, như bài HỮU SỞ TƯ 有所思 sau đây :

 

                    賤妾留南楚,    Tiện thiếp lưu nam Sở,

                    征夫向北燕。    Chinh phu hướng bắc Yên.

                    三秋方一日,    Tam thu phương nhất nhật,

                    少別比千年。    Thiểu biệt tỉ thiên niên.

                    不掩嚬紅縷,    Bất yễm tần hồng lũ.

                    無論數綠錢。    Vô luân sổ lục tiền.

                    相思明月夜,    Tương tư minh nguyệt dạ,

                    迢遞白雲天。    Điều đệ bạch vân thiên.

 

                     

     Có nghĩa :

             Tiện thiếp thì ở lại đất Sở phía nam, còn chàng chinh phu thì đi về đất Yên phía bắc. Một ngày ly biệt mà như xa cách đã ba thu, mới có biệt ly mà như đã ngàn năm xa cách. Không che dấu nếp nhăn khi đứng trên lầu vân vê sợi chỉ hồng; Biết bao lần đếm dấu rêu xanh như những đồng tiền xanh trước ngõ. Thiếp nhớ nhung chàng hơn trong những đêm trăng sáng, lúc bầu trời như xa xôi diệu vợi hơn với những áng mây trắng bay bay !

      Đọc câu "三秋方一日 Tam thu phương nhất nhật" làm cho ta nhớ đến câu thơ tả Kim Trọng tương tư Thúy Kiều khi lần đầu tiên gặp gỡ :

 

                             BA THU dọn lại MỘT NGÀY dài ghê !

  ... và hai câu cuối :

                              相思明月夜,    Tương tư minh nguyệt dạ,

                              迢遞白雲天。    Điều đệ bạch vân thiên.

như hai câu trong Chinh Phụ Ngâm Khúc :

 

                                Lòng thiếp tựa bóng trăng theo dõi,

                                Dạ chàng xa ngoài cõi Thiên San.

 

       Chiến tranh thời nào cũng gây nên cảnh chia ly nhớ thương cho đôi lứa, kẻ hậu phương người tiền tuyến, nhất là những nàng chinh phụ, một thân một mình vò võ chốn phòng the :"Nỗi lòng biết ngỏ cùng ai, Thiếp trong cánh cửa chàng ngoài chân mây!".

 

                       

     Diễn Nôm :

                    Thiếp ở lại nam nước Sở,

                    Chàng đi hướng bắc đất Yên.

                    Ba thu một ngày đằng đẵng,

                    Ngàn năm một thoáng triền miên.

                    Chẳng dấu mặt nhăn mày nhíu,

                    Đếm mãi rêu xanh đồng tiền.

                    Nhớ chàng những đêm trăng sáng,

                    Dật dờ mây trắng ngoài hiên !

     

      Dương Quýnh cảm thấy những quan viên trong triều thường sống bằng bộ mặt giả dối, bề ngoài làm ra vẻ thanh liêm chính trực, nhưng bên trong thì chỉ mong có dịp để tham nhũng, bóc lột dân lành, hãm hại đồng liêu, nên ông gọi bọn quan lại đó là "Kỳ LÂN TUYÊN 麒麟楦"(Vỏ bọc của con Kỳ Lân). Có người hiếu kỳ hỏi sao lại gọi thế, thì ông trả lời rằng : Trên sân khấu đóng vai kỳ lân thường khoác cho con lừa cái lớp vỏ kỳ lân bên ngoài cho đẹp, nhưng thực chất bên trong thì vẫn là con lừa mà thôi ! Vì tính thẳng thắng cương trực như thế, cho nên đám quan viên trong triều đều xa lánh ghét bỏ, ít có người chịu thân cận với ông. Nhưng hễ ông kết bạn với ai thì cũng rất thiệt tình và rất quý trọng bạn như bài thơ ngũ ngôn tứ tuyệt "Dạ Tống Triệu Túng夜送趙縱 " (Đêm đưa bạn Triệu Túng) dưới đây :

 

                 趙氏連城璧,    Triệu thị liên thành bích,

                 由來天下傳。    Do lai thiên hạ truyền.

                 送君還舊府,    Tống quân hoàn cựu phủ,

                 明月滿前川。    Minh nguyệt mãn tiền xuyên !

 

                      

     Có nghĩa :

           Ngọc bích nhà họ Triệu có giá trị liên thành, đó là do thiên hạ đều truyền tụng như thế. Nay ta đưa bạn trở về nhà cũ, trong khi vầng trăng sáng chiếu đầy cả con sông trước mặt !

 

      Hòa Thị Bích của nước Triệu rất đẹp rất qúy, vua Tần muốn lấy 15 thành để đổi lấy viên ngọc đó. Lạng Tương Như của nước Triệu mang ngọc qua cho nước Tần, vua Tần được ngọc không muốn giao thành. Lạng Tương Như đã tìm cách lấy lại viên ngọc giao trả về cho nước Triệu. Từ tích đó ta có thành ngữ "HOÀN BÍCH QUY TRIỆU 完璧歸趙" là "Trả ngọc bích về cho nước Triệu", thành ngữ nầy có ý nghĩa như Vật Hoàn Cố Chủ, hay như Châu về Hợp Phố vậy. Ở đây...

      Dương Quýnh ví bạn mình là Triệu Túng tài hoa và cao qúy như là viên Hòa Thị Bích của nước Triệu vậy. Bây giờ lại đưa bạn trở về quê cũ thì cũng như là Hoàn Bích Quy Triệu, là một cuộc trở về tốt đẹp, lại đưa tiễn nhau trong đêm trăng sáng vằng vặc trên bến nước mênh mông trải dài như tình người đưa tiễn !

      Diện Nôm :

                     Ngọc Triệu giá liên thành,

                     Thiên hạ đều biết danh.

                     Tiễn bạn về quê cũ,

                     Trăng sáng bến sông xanh !

     Lục bát :

                     Ngọc Triệu giá đáng liên thành,

                     Khắp trong thiên hạ đành rành chẳng sai.

                     Tiễn người quê cũ quy lai,

                     Giữa đêm trăng sáng trải dài bến sông !

 

        Tương truyền, khi làm huyện lệnh ở Doanh Xuyên  盈川縣令 (Nay là huyện Cù Châu tỉnh Chiết Giang). Mùa hè năm 693, huyện Doanh Xuyên bị hạn hán lớn, cây cối khô cằn ruộng đồng nứt nẻ, dân chúng mất mùa, dân tình đói kém. Dương Quýnh lòng như lửa đốt. Ông lập đàn cúng vái ba ngày ba đêm trời vẫn không có mưa. Thất vọng, ông bèn nhảy xuống giếng khô để tự vận, nhưng ngay đêm hôm đó trời đổ cơn mưa lớn, nước tuôn đầy giếng làm nổi xác của Dương Quýnh lên. Năm đó, ông vừa 44 tuổi. Dân chúng trong huyện cảm cái ân đức của ông nên lập chùa tạc tượng mà thờ phượng, tôn xưng là Thần Hoàng, đến nay đã có hơn 1300 năm rồi !

                               Đền thờ Thành Hoàng Dương Quýnh

 

        Vì tích trên, cho nên người đời còn gọi ông là DƯƠNG DOANH XUYÊN 楊盈川. 

 

        Hẹn bài viết tới : SƠ ĐƯỜNG TỨ KIỆT  (3)

 

                                                                                      杜紹德 

                                                                                 Đỗ Chiêu Đức

____________

Giai Thoại Văn Chương:

  

                                  SƠ ĐƯỜNG TỨ KIỆT  (1)

                                              Người đứng đầu Tứ Kiệt : VƯƠNG BỘT

         

       SƠ ĐƯỜNG TỨ KIỆT 初唐四傑 là "VƯƠNG DƯƠNG LƯ LẠC 王楊盧駱", đó chính là VƯƠNG BỘT 王勃, DƯƠNG QUÝNH 楊炯, LƯ CHIẾU LÂN 盧照鄰 và LẠC TÂN VƯƠNG 駱賓王. Họ đều là những văn thi sĩ sống dưới thời Đường Cao Tông và Võ Hậu, họ đã bứt phá ra khỏi Cung Thể Thi của thời Lục Triều, mặc dù lúc đó có rất nhiều người chỉ trích bài bác cười chê, nhưng họ đã thành công trong việc phát triển và hoàn chỉnh thể Ngũ ngôn Luật thi trong buổi sơ Đường. Thi Thánh ĐỖ PHỦ của buổi thịnh Đường đã có thơ về họ như sau :

 

                    王楊盧駱當時體,   VƯƠNG DƯƠNG LƯ LẠC đương thời thể,

                    輕薄為文哂未休。   Khinh bạc vi văn sẩn vị hưu.

                    爾曹身與名俱滅,   Nhĩ tào thân dữ danh câu diệt,

                    不廢江河萬古流。   Bất phế giang hà vạn cổ lưu !

     Có nghĩa :

                     VƯƠNG, DƯƠNG, LƯ, LẠC, xướng thơ,

                     Những phường khinh bạc mù mờ chê bay.

                     Lũ ngươi chết chẳng còn ai...

                     Thơ kia như nước chảy hoài muôn năm !

 

       Quả nhiên, thơ văn của TỨ KIỆT như "giang hà vạn cổ lưu" chảy mãi cho đến ngày nay. Nào, ta hãy bắt đầu bằng người đứng đầu của Tứ Kiệt là VƯƠNG BỘT nhé !     

 

         Vương Bột 王勃 (650-676), tự là Tử An 子安, người đất Giáng Châu, Long Môn (tỉnh Sơn Tây ngày nay). Xuất thân trong gia đình thế gia vọng tộc, ông nội là Kinh học Đại Nho Vương Thông dưới triều Tùy Dương Đế; cha là Vương Phúc Cơ làm huyện lệnh Châu Hoan Giao Chỉ. Lên sáu tuổi đã biết làm thơ, nổi tiếng là thần đồng, thuộc làu kinh sử, 9 tuổi đã đọc Hán Thư của Nhan Thị, 10 tuổi đã thuộc làu cả Lục Kinh,  14 tuổi đoạt khôi nguyên kỳ thi đối sách của triều đình. Nổi tiếng với thơ ngũ ngôn và biền văn.

      Tương truyền, Vương Bột có tật rất lạ là trước khi muốn viết văn thì mài sẵn tới mấy nghiên mực, và sau khi chuẩn bị giấy bút xong thì rót rượu uống liên tục cho đến khi say mèm, bèn trùm mền lại ngủ một giấc ngon lành. Đến khi thức dậy thì hưu bút viết một hơi thẳng thét từ đầu đến cuối bài văn thât hay, mà không cần phải sửa chửa hay thêm bớt một chữ nào cả. Người đời xưng tụng ông là PHÚC CẢO 腹稿.Có nghĩa là : Làm nháp ở trong bụng.  

Năm Vương Bột 16 tuổi trên đường đi thăm cha, hay tin Đô Đốc Diêm Bá Dư trấn nhậm Hồng Châu trùng tu Đằng Vương Các mở cuộc thi thơ văn và khoản đãi tân khách bốn phương. Chủ ý muốn khoe tài con rễ là Ngô Tử Chương, nên đã cho Chương trau chuốt sẵn một bài phú thật hay để ngày hôm đó viết lại. Bột hay tin muộn, thời may có cụ già mách cho Bột rẻ thuyền vào Chương Giang sẽ có gió giúp đưa đến Đằng Vương Các. Bột nghe theo lời, đến đêm quả có gió lớn nổi lên chỉ trong một đêm mà vượt qua 800 dặm đường ( có thể là nhờ gió của đêm Trùng Cửu mùng 9 tháng 9 ). Kịp lúc Đằng Vương Các vừa phát giấy bút chiêu đãi khách làng văn. Thấy Bột chỉ là một thằng bé con, Đô Đốc Diêm Bá Dư không muốn cấp giấy bút, nhưng Bột kiên quyết muốn làm văn. Diêm không tiện từ chối, bèn cho người đứng phía sau lưng Bột, hễ Bột viết được câu nào thì chép lấy dâng đến cho Diêm xem, hễ thấy không xong là tống cổ ra khỏi buổi tiệc ngay. Khi Bột mở đầu bài văn bằng câu : Nam Xương cố quận, Hồng Đô tân phủ 南昌故郡,洪都新府 (Xưa là quận Nam Xương, nay là phủ Hồng Đô), thì Diêm cười và bảo : Cũng là sáo ngữ của các thầy Đồ Nho mà thôi. Đến câu : Tinh phân Dực Chẩn, Địa tiếp Hành Lư 星分翼軫,地接衡廬 (chỉ địa thế của Đằng Vương Các : Phân chia giữa sao Dực và sao Chẩn, còn đất thì nối tiếp giữa Hành Sơn và Lư Sơn) thì Diêm lặng thinh. Lại đến câu : Vật hoa thiên bảo, long quang xạ Ngưu đẩu chi Khư. Nhân kiệt địa linh, Từ Trĩ hạ Trần Phồn chi tháp 物華天寶,龍光射牛斗之墟;人傑地靈,徐稚下陳蕃之榻 (Của đẹp báu trời, ánh long quang chiếu sao Ngưu sao Đẩu; Đất linh người giỏi, cao nhân Từ Trĩ hạ giường Trần Phồn) thì Diêm lại tỏ ra vô cùng kinh ngạc. Kịp đến câu : 

 

                            Lạc hà dữ cô vụ tề phi, thu thủy cộng trường thiên nhất sắc. 

                                            落霞與孤鶩齊飛, 秋水共長天一色 

                                            Ráng chiều cò trắng cùng bay,

                                      Long lanh thu thủy nước mây một màu

... thì ông không còn dằn được cảm xúc, vỗ bàn đứng dậy khen là tuyệt cú ! Rồi giấu nhẹm luôn bài phú làm sẵn của con rể không dám trình làng. Vương Bột nổi tiếng luôn từ đấy và bài phú Đằng Vương Các Tự 滕王閣序 của Vương Bột cũng được lưu truyền thiên cổ với các câu đã trở thành Thành Ngữ như :

 

     * Trong câu : Lão đương ích tráng, ninh di bạch thủ chi tâm 老當益壮, 寧移白首之心. Cho ta thành ngữ : LÃO ĐƯƠNG ÍCH TRÁNG 老當益壯 : Chỉ Già mà còn mạnh khỏe.

     * Trong câu : Cùng thả ích kiên bất trụy thanh vân chi chí 窮且益堅,不墮青雲之志. Cho ta thành ngữ : CÙNG THẢ ÍCH KIÊN 窮且益堅 : Có nghĩa Nghèo mà biết kiên trì phấn đấu. 

     * Trong câu : Thiên cao địa quýnh, giác vũ trụ chi vô cùng 天高地迥,覺宇宙之無窮. Cho ta thành ngữ : THIÊN CAO ĐỊA QUÝNH 天高地迥 : Chỉ Trời cao đất rộng. 

     * Trong câu : Hứng tận bi lai, thức doanh hư chi hữu số  興盡悲來,識盈虛之有數. Cho ta thành ngữ : HỨNG TẬN BI LAI 興盡悲來 : Hết vui tới buồn. 

     * Trong câu : Quan sơn nan việt, thùy bi thất lộ chi nhân 關山難越,誰悲失路之人. Cho ta thành ngữ : QUAN SAN NAN VIỆT 關山難越 : Núi non khó vượt. 

     * Trong câu : Bình thủy tương phùng tận thị tha hương chi khách 萍水相逢,盡是他鄉之客. Cho ta thành ngữ : BÌNH THỦY TƯƠNG PHÙNG 萍水相逢 : Bèo nước gặp nhau. 

     * Trong câu : Nhân kiệt địa linh, Từ Trĩ hạ Trần Phồn chi tháp 人傑地靈,徐稚下陳蕃之榻. Cho ta thành ngữ : NHÂN KIỆT ĐỊA LINH 人傑地靈 hay ĐỊA LINH NHÂN KIỆT : Cuộc đất linh thiêng thì sẽ nảy sinh ra người tuấn kiệt.

    ... và còn rất nhiều rất nhiều câu hay khác nữa !...

 

     Vì tích của Vương Bột, nên trong Tăng Quảng Hiền Văn lại có câu :

 

                  Thời lai phong tống Đằng Vương Các    時來風送滕王閣

Có nghĩa :

                Khi thời cơ đã đến rồi thì sẽ có gió đưa đến Đằng Vương Các ngay. 

     Ý của câu trên chỉ khi thời vận tốt đã đến, thì con người sẽ rất dễ dàng mà có cơ hội để phát tích về mặt tiếng tăm hay công danh sự nghiệp. Nhưng khi qua đến Việt Nam ta, thì câu nói đó lại chuyển sang ý chỉ về tình duyên thuận lợi, may mắn, mà gọi là Duyên Đằng. Như ... 

Trong Truyện Kiều để tả cuộc tình duyên thuận lợi của Hoạn Thư với Thúc Sinh, cụ Nguyễn Du cũng đã mượn tích nầy :

 

                        Duyên Đằng thuận nẽo gió đưa,

                     Cùng chàng kết tóc se tơ những ngày.

 

       Ngay cả trong Hồng Đức Quốc Âm Thi Tập với sự chủ xướng của vua Lê Thánh Tông cũng mượn từ GÁC ĐẰNG để chỉ dịp may hiếm có, cơ hội thuận lợi cho tình duyên như :

 

                       Thương nhĩ, Hồng nhan nguyền khéo lỗi,

                       Gác Đằng nhờ gió những ai vay !

 

   ... và như trong Đại Nam Quốc Sử Diễn Ca của Lê Ngô Cát và Phạm Đình Toái, bài thứ 8 tả lại mối tình giữa Công chúa Tiên Dung và Chữ Đồng Tử có câu :

 

                          Tiên-Dung gặp buổi đi chơi, 

                   Gió đưa Đằng-Các, buồm xuôi Nhị-Hà, 

 

       Hay như trong Bích Câu Kỳ Ngộ, tả lại mối tình tiên tục giữa Tú Uyên và Giáng Kiều cũng có câu :

 

                         Gác Đằng Vương mấy dặm khơi, 

                        Có duyên đành đã gió trời thổi đưa. 

 

     Cho thấy bài "Đằng Vương Các Tự" của Vương Bột ảnh hưởng rất lớn đến văn học Trung Hoa và Việt Nam ta. Cuối bài Tự lại được kết bằng một bài thơ Thất ngôn Bát cú Cách điệu với bốn câu đâu gieo vần trắc và bốn câu sau gieo vần bằng rất hay như sau :

 

                   滕王高閣臨江渚,     Đằng Vương cao các lâm giang chữ,

                   佩玉鳴鸞罷歌舞。     Bội ngọc minh loan bãi ca vũ.

                   畫棟朝飛南浦雲,     Họa đống triêu phi nam phố vân,

                   珠簾暮卷西山雨。     Châu liêm mộ quyển tây sơn vũ.

                   閒雲潭影日悠悠,     Nhàn vân đàm ảnh nhật du du,

                   物換星移幾度秋。     Nhật hoán tinh di kỷ độ thu.

                   閣中帝子今何在?     Các trung đế tử kim hà tại?

                   檻外長江空自流。     Hạm ngoại Trường Giang không tự lưu !

    Có nghĩa :

                   Gác Đằng sừng sửng bờ xa,

                   Rộn ràng ngọc chuốc sanh ca đã dừng.

                   Bờ nam mây sớm ngập ngừng,

                   Rèm châu cao cuốn bâng khuâng nắng chiều.

                   Bóng mây đầm nước đìu hiu,

                   Sao dời vật đổi đã nhiều thu qua.

                   Vua tôi trong gác đâu ta ?

                   Trường Giang ngoài mái là đà chảy xuôi !

 

        Thật là cảm khái ! Trải biết bao vật đổi sao dời, tang thương biến đổi, Đằng Vương Các vẫn đứng sừng sửng ở ven sông, nhưng Đằng Vương giờ ở nơi đâu ? Cảnh cũ vẫn còn đây mà người xưa đà vắng bóng. 

        

       Vương Bột, vốn xuất thân là con nhà gia thế của đất bắc, tuổi trẻ tài cao, nên khi đoạt khôi nguyên kỳ thi đối sách của triều đình thì được Bái Vương Lý Hiền vời vào phủ để thị độc (đứng hầu để chỉ điểm cho thái tử học hành, như là một teacher assistant) rất được tin dùng. Nhưng vì làm bài "Hịch Anh Vương Kê 檄英王雞" để trách đùa con gà chọi của Anh Vương, cũng là một thái tử con của vua Cao Tông, khi hai anh em cùng chọi gà chơi với nhau. Vua Cao Tông nổi giận, cho là Vương Bột ỷ tài làm lếu, châm biếm và đụng chạm đến người của hoàng tộc, nên sai trục xuất ra khỏi phủ. Bột thất chí buồn tình, bèn đi chu du nhiều nơi ở phương nam. Khi đến đất Thục, lại nhằm lúc xuân về, vốn dĩ muốn mượn cảnh trí thiên nhiên hùng vĩ của núi sông đất Thục để tiêu sầu, nhưng lòng quê nhớ về đất bắc vẫn canh cánh khôn nguôi nên mới làm bài thơ "Ký Xuân 羈春"(KÝ là Ở lại, giữ lại. Nên KÝ XUÂN có nghĩa là "Xuân đến mà vẫn phải ở lại nơi đất khách) để giải tỏa nỗi lòng :

 

                        客心千里倦,   Khách tâm thiên lý quyện,

                        春事一朝歸.   Xuân sự nhất triêu quy.

                        還傷北園里,   Hoàn thương bắc viên lý,

                        重見落花飛.   Trùng kiến lạc hoa phi ?

Trên bước đường ngàn dặm, lòng người khách tha hương đã mỏi mê chán ngán rồi. Trước mắt lại thấy cảnh trí của mùa xuân ập về nên lòng lại càng muốn về ngay quê nhà. Cảnh quê xưa ở phương bắc còn để lại nhiều thương cảm ở trong lòng, không biết đến bao giờ mới thấy lại được cảnh hoa rụng bay lả tả ở quê nhà đây :

 

                        Ngàn dặm lòng quê mòn mõi,

                        Xuân về một sớm nhớ thay,

                        Đất bắc quê xưa trông ngóng,

                        Bao giờ thấy lại hoa bay ?!    

 

      Vương Bột còn nổi tiếng với các bài Ngũ ngôn Tứ tuyệt, như bài "Tư Quy 思歸" tràn ngập đầy hình ảnh lá vàng của mùa thu dưới đây :

 

                 長江悲已滯,      Trường Giang bi dĩ trệ,

                 萬里念將歸。     Vạn lý niệm tương quy. 

                 況屬高風晚,      Huống thuộc cao phong vãn, 

                 山山紅葉飛。     Sơn sơn hồng diệp phi.

                           王勃                            Vương Bột 

    Có nghĩa :

                      Trường Giang sầu nước lửng,

                      Muôn dặm muốn về ngang.

                      Núi cao ngăn quê cũ ,

                      Non non rụng lá vàng !

   

     Hai câu cuối của bài thơ còn có một dị bàn là :

 

                    Huống PHỤC cao SƠN VIỄN,       況復高山遠,  

                    Sơn sơn HOÀNG diệp phi.           山山黃葉飛。

 

   * HUỐNG THUỘC hay HUỐNG PHỤC gì đều có nghĩa là : Hơn nữa, Vả lại...

   * CAO PHONG VÃN : là Gió thu trên cao thổi vi vút vào buổi chiều tối, còn ...

   * CAO SƠN VIỄN : là Núi cao chập chùng xa xăm diệu dợi.

   * HỒNG DIỆP hay HOÀNG DIỆP gì cũng đều là lá mùa thu, và cũng đều nên thơ cả ! Có điều, người Việt ta thì hay dùng "Lá Vàng" để chỉ mùa thu, còn người Hoa thì hay dùng "Lá Đỏ", vì họ có nhiều rừng phong đỏ thắm lúc thu về, còn ta thì lại có :

                                                Lá VÀNG trước gió sẻ đưa vèo ! ...

  hoặc thi vị hơn như Tản Đà :

                                           Trận gió thu phong cuốn lá VÀNG,

                                           Lá bay hàng xóm lá bay sang....

Lại diễn Nôm:

Trường Giang nước đọng lòng sầu,

                     Xa nhà muôn dặm mấy thâu muốn về.

                     Núi cao ngăn cách làng quê,

                     Ngàn non lá đổ tái tê lòng sầu !   

                                              

         Nhưng nổi tiếng nhất là bài "Tống Đỗ Thiếu Phủ Chi Nhậm Thục Xuyên 送杜少府之任蜀川", có những câu thơ bất hủ cũng hình thành những thành ngữ dược thông dụng cho đến hiện nay, tiêu biểu như hai câu thơ sau đây :

 

                         海內存知己,   Hải nội tồn tri kỷ,

                         天崖若比臨。   Thiên nhai nhược tỉ lân.

 Có nghĩa :

               Trong vòng tứ hải mà có được một người tri kỷ, thì... Dù cho có xa xôi tận chân trời góc biển thì cũng như là ở sát vách với nhau vậy.

 

                                   Thế gian có một tri âm,

                          Chân trời góc biển cũng gần bên nhau.

Cả bài thơ như sau :

 

                      城闕輔三秦,    Thành khuyết phó tam Tần,

                      風煙望五津。    Phong yên vọng ngũ tân.

                      與君離別意,    Dữ quân ly biệt ý,

                      同是宦遊人。    Đồng thị hoạn du nhân.

                      海內存知己,    Hải nội tồn tri kỷ,

                      天涯若比鄰。    Thiên nhai nhược tỉ lân.

                      無爲在歧路,    Vô vi tại kỳ lộ,

                      兒女共沾巾。    Nhi nữ cộng triêm cân.

      Có nghĩa :

                     Tam Tần phủ lấy Trường An

                     Mịt mờ sương khói mơ màng Ngũ Tân.

                     Chia tay ly biệt phân vân,

                     Cùng là hoạn lộ phong trần đồng tâm.

                     Bốn bể có được tri âm,

                     Chân trời góc biển như gần bên nhau.

                     Phân kỳ lưu luyến biết bao,

                     Đừng như nhi nữ lệ trào ướt khăn !   

                      

       Đường Lân Đức Nguyên niên (664), Vương Bột dâng thư cho hữu Thừa tướng Lưu Tường Đạo, Đạo kinh ngạc vì văn tài của Bột, nên tiến cử cho triều đình, được phong là Triều Tán Lang. Nhưng tính của Bột hay ỷ tài ngạo mạn, thường đắc tội với những người chung quanh; sau đó Bột lại nhậm chức Tham Quân ở Hoắc Châu. Trong khoảng thời gian nầy, Bột lại che dấu cho một tội nô là Tào Đạt. Chuyện lỡ vỡ, Bột sợ tội giết Tào Đạt, nên bị khép tội chết vì "giết quan nô của triều đình". Cha của Vương Bột cũng vì thế mà bị biếm đi làm Huyện Lệnh ở tận đất Giao Chỉ. Chẳng bao lâu, gặp dịp đại xá, Bột được tha tội chết chỉ tước đi quan chức mà thôi. 

      Tài hoa mệnh bạc, năm Đường Thượng Nguyên thứ 2 (675), Vương Bột 26 tuổi trên đường đi đến Giao Chỉ thăm cha. Năm sau, trên đường về, Vương Bột đã bị đắm thuyền và chết đuối trên dòng Chương Giang khi mới có 27 tuổi. Tương truyền, vì Vương chết trẻ nên rất thiêng, trên khúc sông Chương Giang nơi ông chết đuối, cứ vào khoảng đêm khuya canh vắng, người ta thường nghe văng vẳng tiếng ngâm hai câu trong bài Tự Đằng Vương Các bất hủ của ông là  :

 

                  ... 落霞與孤骛齐飞,   Lạc hà dữ cô vụ tề phi, 

                      秋水共长天一色.   Thu thuỷ cộng trường thiên nhất sắc...

 

                         

 

      Sứ thần Hồ Tông Thốc 胡宗鷟 đời Trần Nghệ Tông của Việt Nam ta, trong dịp đi sứ Trung quốc, một buổi chiều tà, nhân chèo thuyền dạo chơi trên khúc sông Chương Giang nơi Vương Bột chết đuối, được nhân dân địa phương kể cho nghe câu chuyện nói trên, Hồ Tông Thốc nghe xong, bèn ra đứng ở mũi thuyền nói to lên rằng: 

 

                      何必"與 共"二字 !?   Hà tất "Dữ Cộng" nhị tự !?

Có nghĩa : 

               Sao lại phải dùng hai chữ DỮ 與 và CỘNG 共 (Với và Cùng) vậy !? 

 

     Mọi người hỏi tại sao, thì Hồ Tông Thốc giải thích rằng: 

     Hai câu văn tuy hay, song thừa hai chữ Dữ 與 và Cộng 共, vì đã nói "tề phi" (cùng bay) thì mặc nhiên là có ý Dữ 與 (Với) trong đó rồi; đã nói "nhất sắc" (một màu) thì mặc nhiên là có ý Cộng 共 (Cùng) trong đó rồi! Nên, hai câu trên nên sửa lại như sau: 

 

                      落霞孤骛齐飞,   Lạc hà cô vụ tề phi,

                      秋水长天一色.   Thu thuỷ trường thiên nhất sắc. 

 

        Mọi người nghe nói, đều phục ông bắt bẻ có lý, và hai câu của ông tuy về mặt âm hưởng không bằng hai câu của Vương Bột, nhưng về mặt văn tự thì quả có gọn ghẽ và hàm súc hơn. 

        Rôi từ đó, trên khúc sông ấy, người ta không còn nghe tiếng ngâm thơ của oan hồn thi nhân họ Vương nữa.                           

 

        Thật ra, hai câu văn tuyệt tác đó cũng không phải là do Vương Bột hoàn toàn nghĩ ra, mà đã mượn lời và ý trong bài "Tam Nguyệt Tam Nhật Hoa Lâm Viên Mã Xạ Phú 三月三日華林園馬射賦" của Dữu Tín 庾信 người đời Bắc Chu 北周. Trong bài phú của Dữu Tín có hai câu tả cảnh du xuân như sau :

 

                   落花與芝蓋同飛,  Lạc hoa dữ chi cái đồng phi,

                   楊柳共春旗一色.   Dương liễu cộng xuân kỳ nhất sắc.

Có nghĩa :

               Hoa rụng cùng bay phất phới với rèm xe,

               Hàng dương liễu cùng cờ xuân xanh xanh một màu.

 

      Hai câu tả cảnh mùa xuân nêu trên, tuy hay nhưng ít người biết tới, vì chưa thật xuất sắc, kịp đến khi Vương Bột vận dụng hai câu trên để tả cảnh mùa thu trong bài Đằng Vương Các Tự thì mới trở thành bất hủ và lưu danh thiên cổ ! Hễ nhắc đến Vương Bột là người ta nghĩ ngay đến bài phú Đằng Vương Các Tự, và hễ nhắc tới Đằng Vương Các Tự thì người ta cũng nghĩ ngay đến hai câu tả cảnh mùa thu bất hủ nầy :

                    

                Lạc hà dữ cô vụ tề phi,                       落霞與孤鶩齊飛,

                Thu thủy cộng trường thiên nhất sắc.  秋水共長天一色.

Có nghĩa :

                    Ráng chiều cò trắng cùng bay, 

              Long lanh thu thủy nước mây một màu. 

 

                   

 

      Sau khi Vương Bột chết, rất nhiều ngư phủ và những người sống trên vùng sông nước miền nam đã tưởng nhớ tôn xưng ông là "Thủy Tiên Vương" và thờ phượng ở trên thuyền, trên bến nước bên bờ sông. Hiện nay ở huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An của Việt Nam ta vẫn còn mộ và đền thờ Vương Bột.

 

 

                                                                                                  杜紹德

                                                                                             Đỗ Chiêu Đức

THÀNH NGỮ ĐIỂN TÍCH 68:  

 

                                    MÃ và NGỰA

                                                     Hỏi tên, rằng : Mã Giám Sinh,

                                        Hỏi quê, rằng : huyện Lâm Thanh cũng gần.

 

          Đó là hai câu thơ nói về tên Mã Giám Sinh 馬監生 đã bỏ bốn trăm lượng bạc ra mua Thúy Kiều sau khi đã "Cò kè bớt một thêm hai". Mà馬 là NGỰA, Ngựa là một trong lục súc vừa giúp kéo xe vừa giúp cho phương tiện giao thông được tiện lợi, lại vừa là con vật tiêu biểu cho giới qúy tộc như trong Cung Oán Ngâm Khúc của Ôn Như Hầu Nguyễn Gia Thiều có câu : 

 

                                  Mồi phú quý nhử làng XA MÃ,

                                 Bả vinh hoa lừa gã công khanh.

         

        Trong Tiết Thanh Minh với "Gần xa nô nức yến oanh, Chị em sắm sửa bộ hành du xuân" và với...

 

                                       Dập dìu tài tử giai nhân,

                           NGỰA XE NHƯ NƯỚC, áo quần như nêm.

 

         Thành ngữ NGỰA XE NHƯ NƯỚC có xuất xứ từ Hậu Hán Thư trong câu : " Xa như lưu thủy, mã như du long 車如流水,馬如游龍。" (Xe như nước chảy, Ngựa tợ rồng bơi ). Chỉ xe ngựa qua lại đông đúc xôn xao huyên náo, thường dùng để chỉ sự náo nhiệt của nơi phồn hoa đô hội.

         Còn khi tả vẻ phong lưu qúy phái của Kim Trọng khi Kim xuất hiện trong tiết Thanh Minh với hình tượng của :

 

                                    Tuyết in sắc NGỰA CÂU dòn,

                                Cỏ pha màu áo nhuộm non da trời.

NGỰA là Ngựa, mà CÂU 駒 cũng là Ngựa, mà lại là ngựa non, ngựa giỏi nữa là đằng khác. Ta có thành ngữ THIÊN LÝ Mà千里馬 hay THIÊN LÝ LONG CÂU 千里龍駒  để chỉ những con tuấn mã có sức mạnh và dẽo dai như rồng, một ngày có thể vượt trên một ngàn dặm đường. Sức chạy mau của long câu còn cho ta thành ngữ BẠCH CÂU QÚA KHÍCH 白駒過隙. Có nghĩa : Con ngựa câu trắng thoáng qua khe cửa để chỉ thời gian qua thật nhanh, trong tiếng Việt ta nói thành "Bóng Câu Qua Cửa Sổ" và như một câu nữa trong Cung Oán Ngâm Khúc :

 

                                   BÓNG CÂU thoáng bên mành mấy nỗi,

                                   Những hương sầu phấn tủi sao xong?

 

        Về thành ngữ BẠCH CÂU QÚA KHÍCH  白駒過隙 có xuất xứ như sau :

        Đó là câu nói của Trang Tử trong Tri Bắc Du《庄子•知北游》:“人生天地之间,若白驹之过隙,忽然而已. Nhân sinh thiên địa chi gian, nhược Bach Câu chi Qúa Khích, hốt nhiên nhi dĩ ".  Có nghĩa : " Con người sống trong trời đất cũng giống như là bóng ngựa trắng thoáng qua khe cửa, chỉ trong chốc lát mà thôi." Theo sách Hán Thư thì BẠCH CÂU là Ngựa non màu trắng lướt nhanh như bóng nắng mặt trời. Là bóng nắng lướt nhanh qua khe cửa hay khe vách gì đều dùng để chỉ thời gian qua rất nhanh, cuộc đời chỉ là cỏi tạm phù du, mà ta nói là "Như Bóng Câu Qua Cửa Sổ". Trong "Văn Tế Chiến Sĩ Trận Vong" của Nguyễn Văn Thành có câu :

 

                              Những là khen dạ đá gan vàng, 

                              Bóng BẠCH CÂU xem nửa phút như không,

                              Ơn dày đội cũng cam trong phế phủ ...

 

         Trong Nam Hải Tế Văn thì viết :

 

                             Bóng BẠCH CÂU bay vụt cửa phù sinh,

                             Hình thương cẩu đúc mòn khuôn đại khối.

 

        Trong truyện thơ Nôm Bích Câu Kỳ Ngộ khi Giáng Kiều khuyên Tú Uyên tu tiên cũng có câu :

 

                             Gẫm trong tám, chín mươi năm,

                           BÓNG CÂU CỬA SỔ, dễ cầm mãi ru!

 

       Còn trong truyện thơ Nôm Trinh Thử thì dùng "Ngựa Qua Cửa Sổ" khi chuột Đực lý luận để quyến rủ chuột Bạch là :

 

                              NGỰA QUA CỬA SỔ bao lâu,

                        Kíp toan kiếm chước bán sầu mua vui !

Con ngựa trong Lục Súc Tranh Công đã từng khoe rằng :

 

                       ...Tao đã từng, đi quán, về quê,

                          Đã ghe trận đánh nam, dẹp bắc.    

         

        Từ ngàn xưa, bất cứ là quân đội của nước nào, Âu cũng như Á đều có đội Kỵ Binh, nhất là đội Thiết Kỵ nổi tiếng của Mông Cổ, không những chỉ dọc ngang trên các thảo nguyên Châu Á, mà còn tung hoành lấn chiếm sang cả Châu Âu. Sống trên mình ngựa, đánh giặc trên mình ngựa, xưng hùng xưng bá trên mình ngựa, rồi... chết cũng trên mình ngựa luôn, nên ta lại có thành ngữ "Da Ngựa Bọc Thây", chữ Nho là "MÃ CÁCH QUẢ THI 馬革裹屍 ". Đó là lời nói của danh tướng Mã Viện đời Đông Hán, nguyên văn như sau :"Nam nhi yếu đương tử vu biên dã, dĩ Mã Cách Qủa Thi hoàn táng nhĩ, hà năng ngọa sàng thượng tại nhi nữ tử thủ trung da? 男兒要当死于边野,以馬革裹屍还葬耳,何能卧床上在兒女子手中邪?". Có nghĩa : "Làm trai phải chết ở biên cương, lấy da ngựa để bọc thây, chớ sao có thể chết ở trên giường với vợ con được chứ ?!". Qua câu nói nầy, ta thấy con ngựa càng gần gũi thân thiết với con người hơn, khi sống thì cùng với con người "đánh Nam dẹp Bắc", khi chết, thịt ngựa là lương thực đở đói cho chiến sĩ, da ngựa thì để bọc thây khi các chiến binh tử trận ở sa trường, quả là một con vật gắn bó và cùng sống chết với con người ! Ta hãy nghe lại hai câu thơ hào hùng trong đoạn mở đầu của Chinh Phụ Ngâm Khúc là :

 

                             Chí làm trai dặm ngàn DA NGỰA,

                             Gieo Thái Sơn nhẹ tựa hồng mao !

                        MÃ CÁCH QUẢ THI : Da Ngựa Bọc Thây    
                                     

         Còn một thành ngữ nghe rất Việt mà lại có gốc Hoa nữa là câu :"Ngựa quen đường cũ", có xuất xứ từ điển tích "LÃO MÃ THỨC ĐỒ 老馬識途 " theo câu truyện sau đây : Tề Hoàn Công đem binh đi giúp nước Yên đánh bại được quân Sơn Nhung, trên đường về lại bị dẫn dụ lạc vào sa mạc Hàn Hải với gió cát mịt mù không nước uống, lạnh lẽo buốt giá không biết đường ra, quân sĩ kiệt quệ chết chóc rất nhiều. Tướng Quốc Quản Trọng mới tâu với Tề Hoàn Công về đặc tính nhận được đường về của loài Ngựa, bèn chọn một số ngựa già, thả cho chúng tự tìm lối ra, rồi ra lệnh cho toàn quân đi theo sau. Quả nhiên sau vài lần quanh quẹo đã ra khỏi được sa mạc hiểm ác kia.

      "Lão Mã Thức Đồ" là thành ngữ chỉ những con ngựa già có khả năng tìm về đường cũ khi đã đi qua, dùng để chỉ những người già dặn có kiến thức, có kinh nghiệm sống, có thể hướng dẫn ta đi những con đường đúng đắn. Còn "Ngựa Quen Đường Cũ" của ta thì thường dùng để chỉ những người đã làm việc xấu việc sai, dù cho có cải hóa sửa đổi lại rồi, cũng rất dễ dàng đi lại con đường sai lầm cũ, tật xấu khó chừa ! 

 

       Khi Thúy Kiều hỏi về biện pháp mà Sở Khanh sẽ dùng để giải cứu mình, thì được chàng họ Sở trả lời :

 

                              Rằng ta có NGỰA TRUY PHONG,

                         Có tên dưới trướng vốn dòng kiện nhi.

 

      TRUY 追 là Rựơt đuổi, PHONG 風 là Gió. Ngựa TRUY PHONG là TRUY PHONG MÃ 追風馬, là Ngựa chạy như rượt đuổi theo gió, ý là Ngựa chạy nhanh như gió, nên tất cả những con ngựa chạy nhanh đều có thể gọi là Ngựa Truy Phong được cả. Sở Khanh khoe có ngựa chạy nhanh như gió  để... dụ cô Kiều bỏ trốn ! " Ba mươi sáu chước chước nào là hơn ? ". Cho nên mới :

 

                             Cùng nhau lẻn bước xuống lầu,

                    Song song NGỰA trước NGỰA sau một đoàn. 

 

       Ngựa là phương tiện giao thông, bị tên Sở Khanh lợi dụng làm phương tiện bỏ trốn. Thường trong văn học cổ, hình ảnh con ngựa còn là hình tượng của sự chia tay, khi cô Kiều khuyên Thúc Sinh về thăm Hoạn Thư, cụ Nguyễn Du đã viết :

 

                              Người lên NGỰA, kẻ chia bào,

                      Rừng phong thu đã nhuốm màu quan san.

 

và là...

        phương tiện hành hung đã giúp cho Khuyển Ưng bắt cóc cô Kiều :

 

                             Vực nàng lên NGỰA tức thì,

                       Buồng đào viện sách bốn bề lửa dong.

và cũng là...

       hình ảnh hào hùng, dứt bỏ nhi nữ thường tình, của người đi làm việc lớn như Từ Hải :

 

                              Trông vời trời bể mênh mang,

                     Thanh gươm yên NGỰA lên đàng thẳng dong.

 

... để đưa đến một kết quả có hậu là...

      hình ảnh của sự long trọng tiếp đón khi Từ Hải đã làm nên sự nghiệp :

 

                              Kéo cờ lũy, phát súng thành,

                      Từ Công ra NGỰA thân nghinh cửa ngoài. 

                                                                             ... để rước nàng Kiều về dinh...  

 

         Con Ngựa còn là hình ảnh trung trinh luôn hướng về quê hương cố thổ, như trong thành ngữ NGỰA HỒ CHIM VIỆT có xuất xứ từ hai câu thơ trong bài thơ cổ khuyết danh thời Đông Hán là :

 

                     胡馬依北風,   Hồ mã y bắc phong,

                     越鳥巢南枝.    Việt điểu sào nam chi.

  Có nghĩa :

            Con ngựa của đất Hồ nơi phương bắc, khi đưa vào Trung Nguyên thấy gió bấc thì hí lên tỏ lòng quyến luyến quê xưa. Còn con chim của Bách Việt, khi đưa vào Trung Nguyên thì luôn chọn cành nhánh phía nam để mà làm tổ. 

      Hai con một cầm (loài chim), một thú (loài vật) nhưng luôn luôn nhớ về quê hương chốn cũ, huống chi là con người ! Trong "Hoa Tiên Truyện" của Nguyễn Huy Tự và Nguyễn Thiện có câu :

 

                                Người nhìn kẻ lại trông theo,

                     NGỰA HỒ CHIM VIỆT nhiều điều nhớ nhau.

 

      Còn trong "Hoài Nam Khúc" của Hoàng Quang đời Tây Sơn thì đão lại là CHIM VIỆT NGỰA HỒ để chỉ lòng nhớ nước thương nhà :

 

                                CHIM VIỆT NGỰA HỒ lơ láo đó,

                                 Hươu Tần yến Tạ lạc loài mô.

                                         Ngựa Hồ                     Chim Việt

 

      Cũng trong "Hoa Tiên Truyện" của Nguyễn Huy Tự và Nguyễn Thiện, ta còn gặp tích MàĐƯƠNG, tức Mà ĐƯƠNG SƠN 馬當山 nằm ở phía tây nam huyện Đông Lưu thuộc tỉnh An Huy ngày nay. Núi có hình tượng như như con ngựa đang nằm trên bờ sông Giang, thế sông hiễm trở hay có sóng gió bất thường. Đây cũng là nơi Vương Bột  nhờ một lão ông chỉ cho dùng thuyền buồm, nên chỉ trong một đêm đã đến được Nam Xương cách đó gần 800 trăm dặm đường để dự tiệc Đằng Vương và làm nên bài Đằng Vương Các Tự nổi tiếng cho  đến hiện nay :

 

                                 Tơ chơi nguyệt hãy đành hanh,

                         Rằng đây chẳng phải là ghềnh MàĐƯƠNG.

 

      Nhắc đến Mã Đương lại làm cho ta nhớ đến MÃ NGÔI 馬嵬, nơi mà Dương Qúy Phi buộc phải tự ải cho yên lòng quân trong cuộc binh biến trong năm Thiên Bảo thứ 15 đời Đường khiến cho Đường Huyền Tông phải bỏ kinh thành Trường An mà chạy vào đất Thục trong cuộc phản loạn do An Lộc Sơn và Sử Tư Minh cầm đầu mà sử gọi là AN SỬ CHI LOẠN 安史之亂. Nhà thơ Bạch Cư Dị đã miêu tả trong bài thơ trường thiên "Trường Hận Ca" khi nhà vua trở lại kinh thành đi ngang qua Mã Ngôi như sau :

 

                 天旋地轉迴龍馭,   Thiên tuyền địa chuyển hồi long ngự,

                 到此躊躇不能去。   Đáo thử trù trừ bất năng khứ.

                 馬嵬坡下泥土中,   MÃ NGÔI pha hạ nê thổ trung,

                 不見玉顏空死處。   Bất kiến ngọc nhan không tử xứ !

  Có nghĩa :

                 Chuyển xoay long giá hồi cung,

                 Ngựa chùn chân bước người chùn dây cương.

                 MÃ NGÔI nắm đất bên đường,

                 Nào đâu người ngọc chìm hương mất rồi !

 

  Trong Hoài Cổ Khúc của ta cũng có câu :

 

                    MÃ NGÔI muôn dặm thẳng xông,

                 Thuyền quyên hồn dứt anh hùng lệ sa.

 

      Cuối TRUYỆN KIỀU được kết thúc bằng một thành ngữ có từ MÃ rất có hậu, đó là khi Kim Trọng thi đậu làm quan đã nhớ đến Thúy Kiều :

 

                          Ấy ai dặn ngọc thề vàng,

                  Bây giờ KIM MÃ NGỌC ĐƯỜNG với ai ?!                        

       

      KIM MÃ NGỌC ĐƯỜNG 金馬玉堂, thành ngữ có xuất xứ từ đời Hán. KIM MÃ là KIM MÃ MÔN 金馬門, là Cửa Kim Mã, nơi mà các Học Sĩ đợi chiếu chỉ của nhà vua ban xuống. NGỌC ĐƯỜNG là NGỌC ĐƯỜNG ĐIỆN 玉堂殿, nơi nghị sự của các Học Sĩ, là Hàn Lâm Viện của các Hàn Lâm Học Sĩ.

      Nên thành ngữ KIM MÃ NGỌC ĐƯỜNG dùng để chỉ sự đổ đạt vinh hiển làm quan, đắc ý vì công thành danh toại.

Cuối cùng, ta có từ VÓ NGỰA. VÓ có nghĩa là Chân Ngựa, như ta hay nói "Con ngựa bị chổng 4 VÓ lên trời !" Nhưng trong văn học VÓ NGỰA là chỉ BƯỚC CHÂN của NGỰA. Nên Tiếng Vó Ngựa là tiếng chân ngựa chạy, còn được gọi là VÓ CÂU vì người ta thường dùng ngựa trẻ ngựa khỏe để cưởi hay kéo xe. Để diễn tả cảnh chia tay não lòng của cô Kiều, khi phải đau lòng mà đi theo Mã Giám Sinh, cụ Nguyễn Du đã viết :

 

                           Đoạn trường thay lúc phân kỳ,

                    VÓ CÂU khấp khểnh bánh xe gập ghềnh.

 

      Ta gặp lại từ VÓ CÂU khi Hoạn Thư khuyên Thúc Sinh trở về Lâm Chuy để viếng Thúc Ông :

 

                        Cách năm mây bạc xa xa,

                Lâm Chuy cũng phải tính mà thần hôn.

                        Được lời như cởi tấc son,

                VÓ CÂU rung rủi nước non quê người.

    và khi...

                      VÓ CÂU vừa gióng dặm trường,

               Xe hương nàng cũng thuận đường qui ninh.

 

      Để kết thúc bài viết nầy, kính mời tất cả cùng nghe bản nhạc bất hủ của nhạc sĩ Văn Phụng : VÓ CÂU MUÔN DẶM với 3 câu kết thật hay :

 

             ... Mai VÓ CÂU lên đường

                 Đem chí trai can trường

                 Đời ta sống thác vì cố hương!...

 

      Xin bấm vào link dưới đây để nghe nhạc :

 

          https://lyric.tkaraoke.com/18352/vo_cau_muon_dam.html#

 

                                                                                                       杜紹德

                                                                                                   Đỗ Chiêu Đức

Giai Thoại Văn Chương:

  

                                         Thi Nang TỀ KỶ

Như tất cả mọi người đều biết, trong trời đông giá rét, thậm chí tuyết phủ ngập trời, hoa mai vẫn cứ ngạo nghễ vươn lên, kết nụ trổ hoa bất chấp sương rơi tuyết phủ. Cùng với Tùng Trúc hợp thành : TÙNG TRÚC MAI TUẾ HÀN TAM HỮU 松竹梅歲寒三友, là ba người bạn trong mùa đông hàn lạnh lẽo ! Không mạnh mẽ cao lớn chửng chạc như Tùng, không xanh tốt dẽo dai vươn dài như Trúc, Mai ẻo lả khẳng khiu với những cành nhánh mảnh mai, nhưng những đọt xanh vẫn manh nha, nụ non vẫn đâm chồi nẩy lộc ... Xin mời nghe một câu chuyện mai nở sớm trong trời đông tuyết gía của TỀ KỶ 齊己, một nhà sư thi sĩ có biệt hiệu là THI NANG 詩囊 ( Túi Thơ) sau đây ...

                          TÙNG TRÚC MAI TUẾ HÀN TAM HỮU 松竹梅歲寒三友            

 

       Theo sách " Đường Tài Tử Truyện"《唐才子傳》ghi chép:

       Nhà sư thi sĩ TỀ KỶ 齊己 (863—937), tục danh là Hồ Đắc Sinh 胡得生, có biệt hiệu là Hành Nhạc Sa Môn 衡岳沙門, là người đất Ninh Hương, thuộc huyện Trường Sa tỉnh Hồ Nam hiện nay. Ông sống ở cuối đời  Đường, và xuyên suốt qua ba triều đầu đời Ngũ Đại. Lúc nhỏ gia đình nghèo khó, 6 tuổi đã phải đi chăn trâu độ nhật. Nhưng lại có chí cầu học, mỗi ngày đều đọc sách và làm thơ trên lưng trâu. Sư Cụ trong chùa Đồng Độ Tự thương tình cho vào chùa tu để có thời gian học hành và nghiên cứu kinh Phật. Từ đó, Tề Kỷ học hành tấn tới và làm thơ rất nhanh rất giỏi.

       Một hôm gần cuối năm, như thường lệ, Tề Kỷ thức sớm cúng Phật và làm công phu buổi sáng trong khi đêm qua tuyết rơi rất lớn. Mở cửa ra sân nhìn về thôn xóm xa xa, chợt thấy trong nền tuyết trắng bao la lấm tấm có mấy cành mai đà hé nở ! Cảm cho cái tinh thần bất khuất trước tuyết đông giá lạnh, cái sức sống mạnh mẽ ngạo nghễ vươn lên giữa biển tuyết mênh mông của hoa mai, Tề Kỷ về phòng làm ngay bài thơ " TẢO MAI 早 梅 " để tán thưởng cho việc hoa mai nở sớm. Trong bài thơ có 2 câu rất hay là : 

 

                  Tiền thôn thâm tuyết lý,    前村深雪裏

                  Tạc dạ SỔ chi khai.           昨夜數枝開。

Có nghĩa :

               - Trong rừng tuyết của xóm phía trước xa xa...

               - Tối đêm qua đã có VÀI cành mai đà hé nở !

 

        Tề Kỷ rất đắc ý với 2 câu thơ nầy, nên mới đem khoe với Trịnh Cốc 鄭谷 (849-911), một thi sĩ đương thời. Trịnh Cốc đọc xong phê rằng : " SỔ Chi Khai 數枝開 " là VÀI cành mai đà nở, chưa thấy được cái " TẢO 早 " là SỚM của Mai, nên đổi lại là " NHẤT CHI KHAI 一枝開 " để nêu bật được cái SỚM của MỘT cành Mai nở trong tuyết lạnh ! Tề Kỷ nghe xong, phục sát đất, bèn sửa lại thành :

 

                 Tiền thôn thâm tuyết lý,    前村深雪裏

                 Tạc dạ NHẤT chi khai.       昨夜一枝開。

 

... và từ đó về sau gọi Trịnh Cốc là " NHẤT TỰ SƯ  一字师 ", vừa có nghĩa là " Ông Thầy dạy cho MỘT chữ ", lại vừa có nghĩa là " Ông Thầy dạy cho chữ NHẤT " !

 

         Toàn bài thơ TẢO MAI của sư Tề Kỷ như sau :       

 

             

 

          早 梅                 TẢO MAI

        萬木凍欲折,       Vạn mộc đống dục chiết,

        孤根暖獨回。       Cô căn noãn độc hồi. 

        前村深雪裏,       Tiền thôn thâm tuyết lý,

        昨夜一枝開。       Tạc dạ nhất chi khai. 

        風遞幽香出,       Phong đệ u hương xuất,

        禽窺素豔來。       Cầm khuy tố diễm lai. 

        明年如應律,       Minh niên như ứng luật,

        先發望春臺。       Tiên phát Vọng Xuân Đài !

                齊己                                      Tề  Kỷ

 

CHÚ THÍCH :

      TẢO MAI : là Mai nở sớm, cũng có nghĩa là : Mai nở sớm hơn tất cả các loài hoa trong trời đông giá lạnh.

      ĐỐNG DỤC CHIẾT : Đống là Đong đá, Dục là Muốn, Chiết là Gãy. Có nghĩa là : Đong đá dòn đến muốn gãy luôn.

      NOÃN là Ấm. HỒI là Hồi Sinh. Nên Noãn Độc Hồi là : Nhờ Hơi ấm mà đơn độc hồi sinh .

      ĐỆ 遞 là Đệ Trình. Ở đây có nghĩa là Truyền đạt. Nên Phong Đệ là : Gió Đưa, gió đẩy.

      CẦM là Chim muông. KHUY là Nhìn ngắm.

      TỐ DIỄM là Trong Trắng đẹp đẽ. Ở đây chỉ Bạch Mai.

      ỨNG LUẬT : là Ứng theo Quy Luật tự nhiên.

      VỌNG XUÂN ĐÀI : là Cái Đài Ngóng Xuân, lên đó để đợi mùa xuân tới. Đứng trên đài cao, có thể nhìn thấy mặt trời mọc trước, có thể đón tia đầu tiên của ánh nắng mùa xuân trước hơn là những người ở dưới thấp.

 

NGHĨA BÀI THƠ :

       Muôn ngàn thảo mộc đều lạnh cóng đến muốn gãy ra. Chỉ riêng có rể của hoa mai là biết hút hơi ấm trong đất mà đơn độc hồi sinh. Cho nên, trong nền tuyết trắng xóa mênh mông của xóm trước xa xa, đêm qua một cành mai đã vươn lên nở hoa trong trời đông giá rét. Gió đã đưa cái hương thơm nhè nhẹ thoảng đi và chim cũng đã ngạc nhiên nhìn ngắm cành bạch mai thanh khiết trắng trong đẹp đẽ mà bay đến. Nếu sang năm lại theo cái quy luật Nở Sớm tự nhiên nầy, thì hoa mai ơi, hãy nở trước ở Vọng Xuân Đài để cho nhiều người nhìn ngắm, chớ ở nơi hoang sơ lạnh lẽo vắng vẻ nầy, có ai biết đến mà thưởng thức nhìn ngắm đâu !

       Như trên đã nói, Sư Tề Kỷ đi tu chỉ vì nghèo, bất đắc dĩ và bất đắc chí không thi thố được tài năng, nên còn nặng nợ với công danh, ông ví mình như cành mai nở sớm kia, vượt lên trên trăm hoa để khoe sắc, nhưng lại khoe sắc trong vùng tuyết lạnh không người.... cũng như tài năng của ông bị mai một ở trong chùa không người biết đến vậy ! Cho nên, ông đã khuyên mai nên nở ở Vọng Xuân Đài cho mọi người nhìn ngắm để biểu lộ cái ao ước thầm kín trong lòng... Nếu đi thi ta cũng sẽ toả sáng như mai sớm tỏa hương cho mọi người ngưỡng mộ vậy !

DIỄN NÔM :

                          TẢO MAI

                  Muôn cỏ hoa đong cứng,

                  Rể truyền hơi ấm xanh.

                  Xóm ngoài trong tuyết lạnh,

                  Đêm qua nở một cành.

                  Gió đưa hương thoang thoảng,

                  Chim ngắm vẻ đẹp xinh.

                  Nếu sang năm lại sớm,

                  Vọng Xuân Đài nở quanh.

  Lục bát :

                  Cỏ hoa lạnh cứng trời đông,

                  Riêng mai hơi ấm vẫn không phai tàn.

                  Xóm ngoài trong tuyết mênh mang,

                  Đêm qua nở trắng một cành bạch mai.

                  Gió đưa hương thoảng ra ngoài,

                  Chim nhìn ngắm vẻ thanh bai trong lành.

                  Sang năm lại sớm nở xanh,

                  Vọng Xuân Đài đó chung quanh lắm người.

                                                          Đỗ Chiêu Đức

 

         Đọc bài thơ nầy, lại làm ta nhớ đến 2 câu cuối của bài " Cáo Tật Thị Chúng 告疾示眾 " của Mãn Giác Thiền Sư (1052-1096) là một Thiền sư  của Việt Nam ta là :

 

                莫謂春殘花落尽,      Mạc vị xuân tàn hoa lạc tận,

                庭前昨夜一枝梅 !     Đình tiền tạc dạ nhất chi mai.

                

Có nghĩa :

                   Chớ bảo xuân tàn hoa rụng hết,

                   Ngoài sân, đêm trước, nở cành mai!

 

                    

 

       Khi viết 2 câu trên, hẵn Mãn Giác Thiền Sư cũng đã đọc qua bài thơ của nhà sư Tề Kỷ rồi !

 

       Sau lúc thành niên, Tề Kỷ bèn vân du và du học bốn phương, chính thời gian nầy ông đã xưng hiệu là Hành Nhạc Sa Di(Môn) 衡岳沙彌(門), đến đâu ông cũng đều làm thơ đến đó, khi lên lầu Nhạc Dương, lúc dạo chơi hồ Động Đình, khi thì đi ngang qua xứ Trường An, nơi phồn hoa đô hội, lúc lại trèo đèo vượt suối đến tận Chung Nam Sơn, ngắm thông xanh ở Hoa Sơn... Ông đã làm rất nhiều bài thơ nổi tiếng trong khoảng thời gian nầy, cụ thể như bài Đăng Chúc Dung Phong 登祝融峰như sau :

 

                   猿鳥共不到,    Viên điểu cộng bất đáo,

                   我來身欲浮。    Ngã lai thân dục phù.

                   四邊空碧落,    Tứ biên không bích lạc,

                   絕頂正清秋。    Tuyệt đỉnh chánh thanh thu.

                   宇宙知何極,    Vũ trụ tri hà cực,

                   華夷見細流。    Hoa Di kiến tế lưu,

                   壇西獨立久,    Đàn tây độc lập cữu,

                   白日轉神州。    Bạch nhật chuyển thần châu.

 

                    

 

      CHÚC DUNG PHONG 祝融峰 là ngọn núi cao nhất trong 72 ngọn của Nam Nhạc Hành Sơn, ngất ngưỡng chót vót trên cao, vô cùng hùng vĩ. Vượn và chim đều không lên đến đó được, người lên đến đó cũng thấy mình như phơi phới muốn bay lên, bốn bên đều là bầu trời xanh biêng biếc, vì trời cũng đã đang độ vào thu. Vũ trụ bao la không biết đến đâu là cùng cực, những dòng sông nhỏ xíu bên dưới nối liền vùng Hoa Hạ và các xứ Man Di. Đứng trên đàn phía tây giờ lâu sẽ thấy ánh mặt trời chiếu sáng soi rọi khắp cả Thần Châu. Xin được tạm diễn Nôm như sau :

 

                    Vượn chim chẳng đến được đây,

                    Người thì phiêu diễu sắp bay lên trời.

                    Bốn bề sắc biếc rạng ngời,

                    Trên cao chót vót thu trời xanh lơ.

                    Bao la vũ trụ vô bờ,

                    Sông chia Hoa Hạ lờ mờ dưới chân.

                    Tây đàn đứng đó bâng khuâng,

                    Sáng lòa mặt nhựt khắp Thần Châu ta !

 

        Vân du một vòng khắp thiên hạ, khi trở lại đất Trường Sa, thì danh của Tề Kỷ đã nổi như cồn. Năm Công nguyên 921, trên đường đi Tứ Xuyên, khi ngang qua đất Kinh Châu được Tiết Súy Cao Qúy Hưng lưu lại, an trí cho trụ trì ở Long Hưng Tự nổi tiếng nơi đây với bổng lộc rất hậu hĩnh. Nhưng là kẻ chân tu, Tề Kỷ  đã không còn màng đến phú qúy lợi danh như hồi còn trẻ nữa, nên lại trở vế đất Giang Lăng và viên tịch ở nơi đây lúc 76 tuổi, ông để lại Bạch Liên Tập 白蓮集 gồm hơn 800 bài thơ. Số lượng thơ của ông làm so với các thi sĩ đời Đường được xếp hàng thứ 5, chỉ sau Lý Bạch, Đỗ Phủ, Bạch Cư Dị và Nguyên Chẩn mà thôi. Nhưng ông được người đời gọi là THI NANG 詩囊 (Túi đựng thơ) không phải vì ông làm nhiều thơ, mà vì trên cổ của ông phần ở dưới mặt có một cái bướu thịt lủng lẳng như chiếc túi. Lẽ ra trông rất xấu, nhưng người đời vì mến tài ông nên gọi đó là "Chiếc túi đựng thơ". Vì thế mà ông mới có thêm một biệt hiệu đăc biệt là THI NANG 詩囊 là vậy.

       Mặc dù là cao tăng nhà Phật, nhưng thơ của TỀ KỶ vẫn chịu ảnh hưởng của Tam Giáo Nho Thích Đạo đã thấm nhuần và ăn sâu vào nếp sống của xã hội quần chúng qua cách sống, cách nghĩ, cách viết và cả cách...làm thơ nữa. Mời đọc bài XUÂN HỨNG 春興 của ông sau đây sẽ rõ :

 春興                 XUÂN HỨNG

 

柳暖莺多語,     Liễu noãn oanh đa ngữ,

花明草盡長。     Hoa minh thảo tận trường.

風流在詩句,     Phong lưu tại thi cú,

牽率繞池塘。     Khiên suất nhiễu trì đường.

叫切禽名宇,     Khiếu thiết cầm danh Vũ,

飛忙蝶姓莊。     Phi mang điệp tánh Trang.

時來真可惜,     Thời lai chơn khả tích,

自勉掇蘭芳。     Tự mẫn xuyết lan phương !

           齊己                                  Tề Kỷ

 

      Cái cảm hứng trong mùa xuân của nhà sư Tề Kỷ cũng vừa là cái cảm hứng chung của văn nhân thi sĩ trước cảnh những nhành liễu như ấm lên với gió xuân và hòa vào tiếng chim oanh đang rộn rã hót líu lo, những đóa hoa như sáng đẹp thêm ra và cỏ thì như vươn dài vô tận. Cái phong lưu tiêu sái thì nằm trong câu thơ còn sự phóng túng buông thả thì giàn trải theo ao hồ. Tiếng phi cầm kêu thảm thiết đúng là tên của con Đỗ Vũ (Đỗ Quyên là con Cuốc), còn những cánh bướm bay lượn chập chờn chẳng phải mang họ Trang của Trang Chu hay sao. Khi thời vận đã đến mà không biết nắm bắt thì quả thật là đáng tiếc, nên chi ta cũng tự nhủ mình là phải biết chắc lọc mà chọn lấy mùi hương cao qúy của hoa lan (Đừng để cho xuân tàn hoa lạc tận rồi sẽ chẳng còn chi nữa!). Xin được tạm diễn Nôm như sau đây :

 

                     CẢM HỨNG NGÀY XUÂN

 

                   Liễu xanh oanh hót líu lo,

                   Hoa xuân sáng đẹp mặc cho cỏ dài.

                   Phong lưu thơ thẩn trang đài,

                   Thả lòng phóng túng tình lay ao hồ.

                   Thiết tha tiếng cuốc ngẩn ngơ,

                   Chập chờn cánh bướm còn ngờ Trang sinh.

                   Tiếc xuân thắm thoát qua nhanh,

                   Nhủ lòng chọn lấy một cành lan hương !

 Hẹn bài viết tới :

                                 Thi Kiệt VƯƠNG BỘT.

  

                                                                                                    杜紹德

                                                                                               Đỗ Chiêu Đức

THÀNH NGỮ ĐIỂN TÍCH 66 : 

                                      

                                                 LÒNG

                                                      Tóc tơ căn vặn TẤC LÒNG,

                                         Trăm năm tạc một chữ "Đồng" đến xương.

 

             Đó là hai câu thơ trong Truyện Kiều, tả lúc Kim Trọng và Thúy Kiều cùng nhau thề nguyền hẹn ước.  TẤC LÒNG là một tấc của tấm lòng, mà một tấc Tàu chỉ khoảng 2cm mà thôi, nên TẤC LÒNG là chỉ tấm lòng rất nhỏ nhoi của mình; tuy nhỏ nhoi nhưng chứa đựng rất nhiều tình nghĩa, tâm tư tình cảm đều chứa  đựng trong TẤC LÒNG nầy; TẤC LÒNG chữ Nho là THỐN TÂM 寸心, có xuất xứ từ 2 câu thơ trong bài "Ngẫu Đề" của Thi Thánh Đỗ Phủ đời Đường như sau :

 

                                  文章千古事,   Văn chương thiên cổ sự,

                                  得失寸心知。   Đắc thất THỐN TÂM tri.

     Có nghĩa :

                        Văn chương vốn là chuyện của thiên cổ, (Chuyện của muôn đời)...

                        Được hay mất thì trong TẤC LÒNG ta tự hiểu lấy !

 

          Khi ở lại một mình để Từ Hải ra đi lập nghiệp, Thúy Kiều cũng đã nhớ  đến cố quốc quê hương qua tấm lòng nhỏ nhoi nhưng lại rất nhiệt thành của mình :

 

                                            TẤC LÒNG cố quốc tha hương,

                                       Đường kia, nỗi nọ, ngổn ngang bời bời !

 

          Còn khi cân nhắc giữa tình và hiếu để quyết định bán mình chuộc tội cho cha, thì cụ Nguyễn Du đã cho cô Kiều tự ví lòng hiếu thảo của mình như là "Lòng cuả một tấc cỏ nhỏ nhoi" muốn báo đáp lại ánh nắng của ba tháng mùa xuân ấm áp :

 

                                            Hạt mưa xá nghĩ phận hèn,

                                      Liều đem TẤC CỎ quyết đền ba xuân.

 

          TẤC CỎ đó là THỐN THẢO TÂM 寸草心 xuất xứ từ 2 câu thơ trong bài Du Tử Ngâm của Thi Tù Mạnh Giao  đời Đường :

                                     誰言寸草心,     Thùy ngôn THỐN THẢO TÂM,

                                     報得三春暉。     Báo đắc tam xuân huy ?

          Có nghĩa :

                               Ai bảo nỗi lòng TẤC CỎ...

                               Báo đền được nắng ba xuân  ?!

Sau TẤC LÒNG ta có TƠ LÒNG. Tơ Lòng là gì ? Xin thưa : Tơ Lòng là sợi tơ ở trong lòng! Ở trong lòng nào ? Ở trong lòng con nhện như trong ca dao dân gian :

 

                                Buồn trông con nhện giăng tơ,

                            Nhện ơi nhện hỡi, nhện chờ mối ai ?!

 

    ... và ở trong con tằm, như trong Truyện Kiều khi Thúc Sinh phân bua than vãn với Thúy Kiều là :

 

                                  Dù cho sông cạn đá mòn,

                          Con tằm đến thác vẫn còn vương tơ !

 

Cụ nguyễn Du đã mượn ý câu thơ trong bài thơ Vô Đề của Lý Thương Ẩn đời Đường là: "Xuân tàm đáo tử ti phương tận 春蠶到死絲方盡". Có nghĩa :  Con tằm xuân đến chết mới hết nhả tơ ! Ngoài ra ...

          TƠ LÒNG còn là sợi tơ trong lòng của các củ sen, cọng sen, ngó sen, như trong câu thành ngữ Ngẫu  Đoạn Ti Liên 藕斷絲連. Có nghĩa : Củ sen, ngó sen tuy bị cắt đứt, nhưng những sợi tơ ở giữa hai đầu vẫn còn dính liền với nhau. Trong Truyện Kiều khi tả Thúy Kiều lần thứ hai lọt vào lầu xanh đã nhớ về Kim Trọng như sau :

                                Tiếc thay chút nghĩa cũ càng,

                            Dẫu lìa ngó ý còn vương TƠ LÒNG!

 

        Ta còn gặp lại từ  TƠ LÒNG trong Truyện Kiều khi Từ hải chết trận, trong buổi tiệc hạ công mừng chiến thắng, Hồ Tôn Hiến đã hỏi Thúy Kiều là :"...Dây loan xin nối cầm lành cho ai ?" thì cô Kiều đã khóc mà trả lời rằng :

                             .... Còn chi nữa cánh hoa tàn,

                            TƠ LÒNG đã đứt dây đàn Tiểu Lân !

                              Rộng thương còn mảnh hồng quần,

                             Hơi tàn được thấy gốc phần là may !

TƠ LÒNG là sợi tơ ở trong lòng, là Tơ Tình, còn nói đão lại là LÒNG TƠ, như khi nghe tin Thúy Kiều đã bán mình để lấy tiền lo lót chuộc tội cho mình, thì Vương Viên Ngoại đã "Liều mình ông đã gieo đầu tường vôi". Thúy Kiều phải lên tiếng khuyên nhủ là :

 

                          Cỗi xuân tuổi hạc càng cao,

                      Một cây gánh vác biết bao nhiêu cành.

                          LÒNG TƠ dù chẳng dứt tình, 

                     Gió mưa âu hẵn tan tành nước non.

                          Thà rằng liều một thân con,

                      Hoa dù rả cánh lá còn xanh cây...

 

       Hay như khi đưa Kim Trọng về Liêu Dương để hộ tang cho chú, Thúy Kiều cũng đã trấn an Kim Trọng bằng câu :

 

                           Cùng nhau trót đã nặng lời,

                     Dẫu thay mái tóc dám dời LÒNG TƠ !

 

       Trong truyện Nôm khuyết danh "Chàng Chuối" ta còn đọc thấy LÒNG HÀ LƯƠNG theo tích sau đây :

       Theo sách "Ngô Việt Xuân Thu" Năm Câu Tiễn thứ 25, sau khi nước Việt diệt được nước Ngô, được nhà Châu phong cho làm bá chủ chư hầu, bèn hiệu lệnh cho các nước Tề, Sở, Tần, Tấn cùng họp nhau uống máu ăn thề để phò trợ nhà Châu. Tần Hoàn Công không theo hiệu lệnh, nên Việt cử binh đánh Tần. Câu Tiễn lệnh cho tướng sĩ nước Ngô vừa mới quy hàng qua sông Hà để tiến đánh nước Tần. Sau chiến tranh Ngô Việt quân tướng đã mõi mệt nên chán nản và kêu khổ liên miên, may mà nước Tần thấy khí thế của quân Việt quá mạnh, nên tự động đến để quy hàng. Quân Việt trở về mà lòng mừng khấp khởi bèn làm bài thơ HÀ LƯƠNG CHI THI 河梁之詩 để tỏ nổi vui mừng. Nên...

 

                                  

 

      LÒNG HÀ LƯƠNG là lòng vui mừng, hân hoan, như trong truyện Nôm khuyết danh Truyện Chàng Chuối được cha giúp đỡ để cưới được vợ đẹp :

 

                           Thấy nàng khác đấng quần hồng,

                       Đã đưa khôn cấm tấc LÒNG HÀ LƯƠNG.

   

     Còn LÒNG HỒNG HỘC là chỉ có hoài bão to lớn như chim hồng chim hộc, hai loài chim lớn vừa bay cao bay xa như câu nói trong Sử Ký của Tư Mã Thiên "Yến tước an tri hồng hộc chí tai 燕雀安知鴻鵠志哉!". Có nghĩa : "Chim én chim sẻ làm sao mà biết được chí lớn của chim hồng chim hộc !". Trong thơ Nôm của Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm có câu :

 

                          Say hết tấc LÒNG HỒNG HỘC,

                          Hỏi làm chi sự cổ câm (kim).

 

                           

 

     Còn trong Bích Câu Kỳ Ngộ thì gọi là CHÍ HỒNG để chỉ chí lớn :

 

                                 Đói no cơm giỏ nước bầu,

                      Những phường yến tước biết đâu CHÍ HỒNG.

 

     Sau LÒNG HỒNG HỘC chỉ 2 loại chim, ta có LÒNG QÙY HOẮC chỉ 2 loài hoa là Hoa Quỳ và Hoắc Hương. Hai loại cây nầy hoa và lá đều hướng về phía mặt trời, nên hoa qùy còn có tên là Hoa Hướng Dương, theo như thơ của Thi Thánh Đỗ Phủ :

 

                   葵藿傾太陽,    QÙY HOẮC khuynh thái dương,

                   物性固難奪。    Vật tính cố nan đoạt.

   Có nghĩa :

                        Qùy Hoắc hướng phía mặt trời,

                      Trời sinh vật tính khó dời đổi thay.  

 

       Vì "Hoa qùy môt dạ hướng dương"(thơ Á Nam Trần Tuấn Khải), nên được mượn để chỉ tấm lòng trung thành không gì thay đổi được. Trong "Đại Nam Quốc Sử diễn ca" của Lê Ngô Cát & Phạm Đình Toái có câu :

 

                        Bình dương nhật nguyệt sáng cao,

                 Tấm LÒNG QÙY HOẮC cũng đều hướng dương.

 

    LÒNG QÙY HOẮC là lòng hướng dương không dời đổi, còn LÒNG SON là lòng đỏ như son không bao giờ phai nhạt, cũng dùng để chỉ lòng trung thành không lay chuyển, chữ Nho là ĐAN TÂM, có xuất xứ từ 2 câu thơ của Văn Thiên Tường đời Tống, được cụ Nguyễn Công Trứ mượn làm hai câu thơ chữ Hán trong bài hát nói "Chí Làm Trai" là :

 

                         人生自古誰無死,      Nhân sanh tự cổ thùy vô tử,

                         留取丹心照汗青。      Lưu thủ ĐAN TÂM chiếu hãn thanh .

      Có nghĩa :

                         Xưa nay người sống ai không chết,

                         Lưu tấm LÒNG SON để sử xanh !

 

      Trong truyện thơ Nôm khuyết danh Phan Trần có câu :

                    

                       Kiếp tu đã nguyện bồ đề,

                  LÒNG SON bảy mối, tóc thề mười phương.

 

      Còn trong thơ của Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm thì gọi là LÒNG ĐAN :

 

                        Lồng cửa động, vân yêu cách,

                      Giải LÒNG ĐAN, nhật nguyệt thâu.

LÒNG ĐAN là LÒNG SON, là lòng son sắt không đổi thay, khác với LÒNG ĐỔI TRẮNG THAY ĐEN như cụ Nguyễn Du đã nói trong Truyện Kiều :

 

                            Trong tay sẵn có đồng tiền,

                    Thì LÒNG ĐỔi TRẮNG THAY ĐEN khó gì.

 

      Hay là LÒNG NGƯỜI NHAM HIỂM, như khi cụ cho Thúc Sinh nói về vợ mình là Hoạn Thư với bồ nhí là Thúy Kiều như sau :

 

                            Sinh rằng: Riêng tưởng bấy lâu,

                    LÒNG NGƯỜI NHAM HIỂM biết đâu mà lường.

 

      Vì "Lòng người nham hiểm biết đâu mà lường", nên các cụ đồ Nho xưa hay kháo nhau câu :

 

                 畫虎畫皮難畫骨,    Họa hổ họa bì nan họa cốt,

                 知人知面不知心。    Tri nhân tri diện bất tri tâm.

    Có nghĩa : 

                   Vẽ cọp vẽ da khó vẽ xương,

                   Biết người biết mặt chẳng biết lòng.

 

       Cũng trong Truyện Kiều, khi Bạc Bà ép Thúy Kiều lấy Bạc Hạnh, thì cô Kiều đã bày tỏ nỗi lòng lo lắng của mình với Bạc Bà là :

 

                             Cùng đường dù tính chữ tòng,

                        Biết người biết mặt biết lòng làm sao ?!

 

       Cỏi lòng của con người hay bị những dục vọng thôi thúc, những dục vọng đó cứ âm ỉ mãi trong tim mà nhà Phật gọi là TÂM HỎA 心火, là LỬA LÒNG. Như khi được Hoạn Thư cho vào Quan Âm Các để xuất gia, Thúy Kiều đã "Ngày pho thủ tự, đêm nồi tâm hương", nên cụ Nguyễn Du đã phán :

 

                           Cho hay giọt nước cành dương,

                    LỬA LÒNG tưới tắt mọi đường trần duyên. 

Cũng như khi Vương Viên Ngoại buộc Thúy Kiều phải rời bỏ am mây của sư Giác Duyên để cùng về đoàn tụ, thì cô Kiều cũng đã phân bua rằng :

 

                              Sự đời đã tắt LỬA LÒNG,

                      Còn chen vào chốn bụi hồng mà chi !

 

       Cuối cùng ta có LÒNG PHIẾU MẪU. PHIẾU MẪU 漂母 là một bà già tầm thường giặt lụa ở bờ sông. Khi Hàn Tín 韓信 còn chưa phát tích, lang thang phiêu bạc đó đây sống nhờ vào Nam Đình Đình Trưởng. Nhưng vợ Đình Trưởng là một người đàn bà hà khắc, thường ăn cơm sớm và không chừa phần cho Hàn Tín. Khi Tín đến thì cơm đã hết rồi. Buồn lòng Hàn Tín đi lang thang ra bờ sông thì gặp phải Phiếu Mẫu đang lúc ngưng giặt đồ để ăn cơm. Trông thấy điệu bộ đói khát của Tín, bèn chia cho phân nữa phần cơm của mình đang ăn. Hàn Tín rất cảm kích mà bảo rằng :" Sau này nếu ta phát tích sẽ đền ơn cho bà trọng hậu". Phiếu Mẫu nổi giận đáp rằng :"Ta thấy nhà người đói khát tội nghiệp nên chia cơm cho ngươi ăn, chớ đâu phải để mong sau này ngươi báo đáp cho ta đâu !". Sau khi giúp cho Lưu Bang chiến thắng Hạng Võ để lập nên nhà Hán, Hàn Tín được phong là Tề Vương, rồi Sở Vương. Khi vinh quy áo gấm về làng đã báo đáp cho Phiếu Mẫu một ngàn lượng vàng. Vì tích nầy mà ta có thành ngữ NHẤT PHẠN THIÊN KIM 一飯千金. Có nghĩa : Một bửa cơm giá đáng ngàn vàng, để cho người đời biết giá trị của "Một Miếng Khi Đói" nó qúy giá biết dường bao !

 

       Trong Truyện Kiều, khi Thúy Kiều báo ân báo oán, cụ Nguyễn Du đã mượn tích nầy để so sánh sự giúp đỡ Thúy Kiều của "Mụ quản gia và Vãi Giác Duyên" như là Phiếu Mẫu đã giúp Hàn Tín vậy, và cũng cho Thúy Kiều đền ơn bằng "nghìn vàng" :

 

                             Nghìn vàng gọi chút lễ thường,

                      Mà LÒNG PHIẾU MẪU mấy vàng cho cân !?

Xin được kết thúc bài viết về chữ LÒNG với LÒNG của PHIẾU MẪU.

      

       Hẹn bài viết tới.

 

                                                                                                杜紹德

                                                                                           Đỗ Chiêu Đức

  Nhớ lại thời thập niên 60 của thế kỷ trước, khi các thí sinh còn phải thức đêm để học thi Trung học Đệ Nhất Cấp, Tú Tài 1, Tú Tài 2... Sau đây là bài thơ hồi ức của một học trò nghèo ở xóm Cầu Kho cuối bến Chương Dương khi thức học thi ban đêm...   

 

 

                            TIẾNG RAO ĐÊM

 

                          

 

                            Ngày xưa trên gác trọ,

                            Trong xóm nghèo hẽm nhỏ.

                          Thức học nghe tiếng đêm,

                          Ngọn đèn khi mờ tỏ!

 


                    Văng vẳng tiếng rao ngon:
                     "Bánh mì đây, nóng dòn!".
                    Em bé trai vai quảy,
                    Một túi bánh mì con!...(mới ra lò).


                           Xa xa tiếng: "Bánh bò,
                           Bánh tiêu, dầu chá quảy!".
                           Tiếng xe đạp lẩy nhẩy,
                           Dòn như bánh ra lò. (mới chiên)


                     Thỉnh thoảng trong đêm chầy,
                     Vẳng tiếng: "Bánh Giò đây!".
                     Ông lão già tay đẩy,
                     Một giỏ bánh giò đầy...(mới nấu chín).


                           Như tiếng mỏ đêm canh,
                           Lốc cốc tiếng nhịp nhanh.
                             "Mì gỏ" đà đến hẽm,
                           Thèm rỏ dãi cũng đành (nuốt nước miếng!).


                     Tiếng kéo nhấp vang vang,
                     Bánh cắt đã mở màn,
                     Tôi nhớ hoài mùi vị,
                     Nước mắm tỏi chanh chan (thả giàn!).


                             Đêm nửa, sáng gần kề,
                             Thức học thi mõi mê,
                             Bánh mì nhai đỡ đói,
                             Hàng rong đã đi về.


                      Xé tan đêm vắng lặng,
                      Tiếng xúc xắc leng keng,
                      Ông "Giác hơi đấm bóp"
                      Lộc cộc xe đạp quèn!


                              Những cuộc đời cơ cực,
                              Những cuộc sống về đêm.
                              Những người nghèo vất vả.....
                              Vẳng mãi "Tiếng Rao Đêm!".


                         Năm mươi năm nhớ lại,

                         Học trò... thuở cơ hàn.
                         Sài Gòn năm xưa ấy,
                         Hỏi ai chẳng bàng hoàng!!!

                                                        

                                                         Đỗ Chiêu Đức

                                                              2020

__________________________________________

THÀNH NGỮ ĐIỂN TÍCH 65 : 

                                      

                                                 LÂN LÝ 

  

                                         
                                               

 

                                                   Sinh rằng LÂN LÝ ra vào, 

                                          Gần đây nào phải người nào xa xôi.              

 

         Đó là hai câu thơ mà Kim Trọng đánh tiếng  nhận là "Bà con lốì xóm" để làm quen với Thúy Kiều.  LÂN LÝ 鄰里, LÂN 鄰 là Lân cận, là lối xóm, là những người ở sát bên nhà. LÝ 里 là Làng xã. Nên LÂN LÝ là Bà con chòm xóm, là lối xóm với nhau. Đây là cái cớ đắc dụng nhất để làm quen với ai đó, nhất là các cô cậu mới lớn ở trong xã hội phong kiến ngày xưa. Nhắc lại bài thơ ngũ ngôn TRƯỜNG CAN HÀNH của Thôi Hiệu đời  Đường tả khi cô gái muốn làm quen với chàng trai đã "kiếm chuyện nhìn bà con lối xóm" như sau :

  

                       君家何處住,   Quân gia xà xứ trú ?    

                       妾住在橫塘。   Thiếp trú tại Hoành Đường.    

                       停船暫借問,   Đình thuyền tạm tá vấn,  

                       或恐是同鄉。   Hoặc khủng thị đồng hương.

  Có nghĩa :

                               Nhà chàng ở tận nơi đâu ?

                       Thiếp thì ở mãi sâu trong Hoành Đường.

                              Dừng thuyền thiếp hỏi tỏ tường,

                   

    Lân là hàng xóm, nên HƯƠNG LÂN 香鄰 là Cô hàng xóm thơm phức ! Đây là cách "nịnh đầm" của ông cha ta ngày xưa. Ai dám bảo các cụ là "cổ lổ xỉ" đâu. Ta hãy nghe cũng chàng Kim Trọng chỉ lo "cua" gái mà không chăm chỉ học hành, đã nghe ngóng khắp nơi để tìm người đẹp :

 

                               Trộm nghe thơm nức HƯƠNG LÂN,

                           Một nền Đồng Tước khóa xuân hai Kiều.

 

       HƯƠNG LÂN 香鄰 còn được gọi là PHƯƠNG LÂN 芳鄰, cũng cùng một nghĩa "nịnh đầm" như trên.      

       

      Ta còn có LÂN là KỲ LÂN 麒麟, con vật thần thoại tượng trưng cho đức tính nhân hậu của bậc thánh nhân, của người quân tử. Trong chương Chu Nam của Kinh Thi có câu LÂN CHỈ TRÌNH TƯỜNG 麟趾呈祥, có nghĩa : Gót chân của con lân đi đến đâu thì mang điềm lành đến nơi đó. Nên các đoàn lân múa chúc mừng Xuân trong ba ngày Tết Nguyên Đán, trên danh thiếp luôn luôn có 4 chữ Lân Chỉ Trình Tường là vì thế. Trong Kinh Thi còn ví Kỳ Lân với Châu Văn Vương, còn gót chân của nó thì ví với con cháu của Châu Văn Vương. Do đó Lân Chỉ hay Gót Lân còn dùng để chỉ con cháu của người hiền đức, như trong truyện Nôm Lục Vân Tiên của cụ Nguyễn Đình Chiểu :

 

                                   Trăm năm biết mấy tinh thần,

                                Sinh con sau nối GÓT LÂN đời đời.

 

                                

 

 

 

 

 

 

và như trong tác phẩm Sãi Vãi của cụ Nguyễn Cư Trinh khi cho ông Sãi luận về chữ MUỐN như sau :

 

                            Lưới thỏ giăng, Sãi muốn cho củ củ võ phu;

                           GÓT LÂN xéo, Sãi muốn cho chơn chơn công tử.

 

      và trong bài AI TƯ VÃN của công chúa Lê Ngọc Hân khóc thương vua Quang Trung cũng có câu :

 

                           GÓT LÂN CHỈ mấy hàng lẩm chẩm,

                           Đầu mũ mao, mình tấm áo gai!

             

      Như trên đã nói, KỲ LÂN 麒麟 là con vật tượng trưng cho bậc thánh nhân quân tử, đức cao vọng trọng, nên con của Kỳ Lân là LÂN TỬ 麟子 hay LÂN NHI 麟兒là từ dùng để chỉ con cháu của các bậc hiền đức nêu trên; là con dòng cháu giống của thế gia vọng tộc, như trong thơ Nôm Hoa Tiên Truyện của Nguyễn Huy Tự và Nguyễn Thiện có câu :

               

                                  Họ Diêu sáng vẻ môn mi,

                         Điềm lành sớm ứng LÂN NHI một chàng.

 

                             

 

     Nói đến Kỳ Lân, thì không thể thiếu KỲ LÂN CÁC 麒麟閣, nơi mà vua Hán Tuyên Đế đã cho xây dựng nên để ghi tên của 11 người công thần sau khi đã bình định được Hung Nô. Nên KỲ LÂN CÁC, gọi tắt là LÂN CÁC 麟閣; là từ tượng trưng cho sự vinh dự của các công thần ngày xưa dưới các triều đại phong kiến, như trong các bài thơ "Tô Công Phụng Sứ" của Lê Quang Bí đời Hậu Lê của ta có câu :

 

                                 Trúc ghi lụa rủ đề LÂN CÁC,

                             Cho nước này xem nước khác trông.

 

       LÂN CÁC 麟閣 gọi nôm na là GÁC LÂN, như trong thơ của nhà vua Trần Trùng Quang (Trần Qúy Khoách) đời Hậu Trần có câu :

 

                                 Việc nước một mai công ngõ vẹn,

                                 GÁC LÂN danh tiếng dõi lâu xa.

 

       Còn LÂN KINH 麟經 là Kinh Xuân Thu 春秋經 là bộ kinh chép về lịch sử của nước Lổ, do Khổng Tử biên soạn. Năm Lổ Ai Công thứ 14, có người săn được một con kỳ lân bị què. Khổng Tử cho rằng kỳ lân là Nhân Thú 仁獸; là con thú tượng trưng cho sự nhân đức nhân nghĩa, nay xuất hiện lại bị bắn què, có nghĩa là thời thế đã suy đồi, vô đạo, nên ngưng không viết nữa. Vì thế mà Kinh Xuân Thu còn được gọi là LÂN KINH; một trong những bộ sách kinh điển của Nho Gia. Trong truyện thơ Nôm TRINH THỬ của ta có câu :

 

                                       Trời đâu phụ kẻ tiết nghì,

                              LÂN KINH mao giản tạc ghi còn truyền.  

 

       Còn trong "Phù Dung Tân Truyện" của Trúc Lâm Cư Sĩ đời nhà Nguyễn, theo  bản khắc in đề niên đại Tự Đức Kỷ Mão (1879) thì gọi là KINH LÂN :

 

                                      Mở mang sử Mã, KINH LÂN,

                                Sâu nguồn Thù Tứ, rộng sân Chu Trình.

       

                                
 

       

 

 

 

 

 

 

 

Hết LÂN tới LÝ, LÝ 里 ngoài nghĩa là Làng Xóm ra, Lý còn là DẶM : Đơn vị đo chiều dài thuở xưa tương đương 500m ngày nay. Ta có từ Thiên Lý Mã 千里馬 là loại ngựa giỏi, có thể chạy được mỗi ngày một ngàn dặm, và ta cũng hay nghe câu thơ thứ 2 trong bài thơ "Tứ Khoái" của các cụ đồ ngày xưa là :

 

               THIÊN LÝ tha hương ngộ cố tri   千里他鄉遇故知.

Có nghĩa :

               NGÀN DẶM quê người gặp bạn xưa.

 

       LÝ còn là ĐÀO LÝ 桃李, là hai loại cây ăn trái đồng thời cũng có nghĩa là hai loại trái : Trái Đào và trái Lý. Đây là hai loại cây trái ngọt, thanh và qúy, lại vừa có hoa thơm, nên thường được ví với người nhã nhặn, có học vấn hay học trò giỏi. Trong Ấu Học Quỳnh Lâm 幼學瓊林 nói về Khổng Tử như sau :...Hiền nhân thất thập, đệ tử tam thiên... Đào lý tại công môn, xưng nhân đệ tử chi đa賢人七十,弟子三千...桃李在公門,稱人弟子之多. Có nghĩa :... Trong đám ba ngàn học trò thì có 70 người giỏi... những người xuất sắc (ĐÀO LÝ) thì làm quan, ông là người có học trò đông hơn người khác. Trong Truyện Kiều cụ Nguyễn Du ví cô Kiều tài hoa qúy phái như là Cành Đào Hoa Lý khi bị Hoạn Bà vùi dập :

 

                                 Tiếc thay ĐÀO LÝ một cành,

                          Một phen mưa gió tan tành một phen !

 

        Theo sách Thông Giám : Ông Địch Nhân Kiệt, tể tướng đời Đường, tiến cử cho vua Đường một lúc mấy chục người tài giỏi. Người đương thời khen ông rằng :" Thiên hạ ĐÀO LÝ tận tại công môn 天下桃李盡在公門 ". Có nghĩa : " Cây đào cây mận (ý chỉ Nhân tài) trong thiên hạ đều ở cửa của ông mà ra cả !" Trong Lâm Tuyền Kỳ Ngộ (Bạch Viên Tôn Các) có câu :

 

                                Cửa chen ĐÀO LÝ người sum họp,

                                Nhà chật trân châu của đãi đằng.

 

                              

 

        Trong Cung Oán Ngâm Khúc của Ôn Như Hầu Nguyễn Gia Thiều cũng có câu :

 

                                Sân ĐÀO LÝ mây lồng man mác,

                                Nền đỉnh chung nguyệt gác mơ màng.

        

         Sau SÂN ĐÀO LÝ, ta có SÂN LÝ, tức LÝ ĐÌNH 鯉庭, là Sân trong nhà của người tên Lý. LÝ 鯉 nầy là Cá chép, tên tự của Bá Ngư 伯魚 là con của Khổng Tử. Theo sách Luận Ngữ. Chú Sơ. Qúy Thị 論語,注疏·季氏 ghi chép :

      " Trần Kháng hỏi Bá Ngư : Anh ở gần thầy, thầy có dạy cho anh những gì đặc biệt không?. Bá Ngư đáp : Có một lần thầy đứng trước phòng học, tôi đi ngang qua sân, thầy hỏi : Có học qua Kinh Thi chưa? Tôi đáp : chưa. Thầy bảo : Không học Kinh Thi thì lấy gì mà ăn nói ! Lại một lần khác, tôi đi ngang qua sân nhà, Thầy cũng hỏi : Học qua Kinh Lễ chưa? Tôi đáp : chưa. Thầy lại bảo : Không học Lễ thì làm sao biết cách để lập thân. Trần Kháng nghe nói rất mừng : Tôi chỉ hỏi có một câu mà học được những ba điều : Một là biết được sự gợi mở của Kinh Thi; Hai là biết được sự đối nhân xử thế của Kinh Lễ; Ba là biết được người quân tử chính trực không dạy riêng cho con mình những điều chi cả. Nên...

       LÝ ĐÌNH là từ dùng để chỉ sự giáo huấn của người cha đối với con cái, như trong Tự Tình Khúc của Cao Bá Nhạ có câu :

 

                             Phó ngạnh tích mặc dù sinh tử,

                             Chắc LÝ ĐÌNH dạy chữ hiếu trung.

 

       LÝ ĐÌNH chỉ tích con của Khổng Tử, còn LÝ MIÊU 李貓 là Con mèo họ Lý. Đây là nick name của Lý Lâm Phủ, một gian thần đời Đường Cao Tông, giữ chức Trung Thư Thị Lang. Bề ngoài trông Lý rất ôn nhu đôn hậu, nhưng trong lòng thì rất gian manh hiễm độc, luôn toan mưu tính kế để hại người, nên dân chúng oán giận mới đặt cho cái tên LÝ MIÊU, lấy ý con mèo trông bề ngoài rất hiền lành ngoan ngoãn, nhưng lại là giống ăn thịt sống, khi giương nanh múa vút lên thì xé xác chú chuột nào đó như chơi. Trong truyện thơ Nôm khuyết danh TRINH THỬ có câu :

 

                                Vẫy vùng ếch giếng tự kiêu,

                       Tham lam chẳng khác LÝ MIÊU đời Đường.

 

       Sau LÝ MIÊU ta có LÝ SƯƠNG 履霜 là Dẫm lên trên sương móc. Theo Kinh Dịch, quẻ Khôn, hào thứ 6《易經‧坤卦》初六爻 có câu : Lý sương, kiên băng chí 履霜,堅冰至。Có nghĩa : Dưới chân dẫm phải sương móc của mùa thu thì biết là băng cứng của mùa đông sắp đến rồi. Ý là : Dùng hiện tượng sương băng để cảnh báo đề phòng về mối họa hoạn trước khi nó xảy đến. Trong bộ sử trường thiên bằng thơ "Thiên Nam Ngữ Lục" của ta hồi cuối thế kỷ thứ 17 có câu :

 

                                 Đồng thân kim cốt ai đang,

                            Lăng vân là chí, LÝ SƯƠNG là lòng.

          

                          

 

       Cuối cùng ta có Ả LÝ, tức là nàng LÝ KÝ 李寄 trong truyền thuyết Sưu Thần Ký 搜神記 đời Đông Tấn như sau :

       Nước Đông Việt ở vùng Mân nam 閩南 (Quảng Đông, Phúc Kiến hiện nay) có nàng Lý Ký là con gái út thứ sáu của gia đình. Nhà nghèo không có con trai, trong nước lại có nạn yêu rắn hoành hành, mỗi năm đều phải tế một cô gái trẻ cho rắn ăn thịt. Lý Ký bèn quyết định bán thân mình cho rắn ăn thịt, lấy tiền để nuôi cha mẹ và các chị. Mặc dù cha mẹ can ngăn, Lý Ký cũng lén đi, nàng yêu cầu nhà vua cấp cho mình một thanh bảo kiếm và một con chó săn, rồi đi thẳng đến động rắn. Sau một đêm chiến đấu quyết liệt với sự hỗ trợ của con chó săn thiện nghệ, nàng đã chém chết con yêu rắn. Quốc vương nước Đông Việt cảm phục trước sự dũng cảm của nàng , nên đã cưới nàng về làm hoàng hậu. 

      Trong Truyện Kiều, cụ Nguyễn Du đã cho cô Kiều cân nhắc trước khi quyết định bán mình chuộc tội cho cha là :

 

                              Dâng thơ đã thẹn nàng Oanh,

                            Lại thua Ả LÝ bán mình hay sao ?!

 

      Ả LÝ chính là nàng Lý Ký trong cốt truyện của Sưu Thần Ký nêu trên.

 

                       

                                       

 

 

 

                                              Lý ký trảm yêu xà
 

        Hẹn bài viết tới !

 

                                                                                                 杜紹德

                                                                                            Đỗ Chiêu Đức

Giai Thoại Văn Chương: 

 

                                       Thi Nô GIẢ ĐẢO

                                                Lưỡng cú tam niên đắc, 两句三年得,

                                                Nhất ngâm song lệ lưu. 一吟双淚流.

                                    

      Hai câu thơ trên có nghĩa :"Ba năm làm được hai câu, Ngâm lên một tiếng lệ châu hai hàng". Đó là hai câu thơ tiêu biểu nhất cho người "Nô Lệ Của Thơ" : THI NÔ GIẢ ĐẢO 詩奴賈島. Sau đây, ta sẽ lần lượt tìm hiểu về cuộc đời và quá trình làm thơ của "Nhà Nô Lệ cho Thơ" nầy.

 

     GIẢ ĐẢO 賈島 (779-843), tự là Lãng Tiên 浪仙. Người đất Phạm Dương (Hà Bắc). Ông là thi nhân nổi tiếng đời Đường, cùng thời với Hàn Dũ 韓愈, được người đời gọi là THI NÔ 詩奴, ông lại tự lấy hiệu là Kiệt Thạch Sơn Nhân 碣石山人.

     Giả Đảo xuất thân bần hàn, từng xuất gia làm hòa thượng, pháp danh là Vô Bổn. Mùa đông năm Nguyên Hòa thứ năm (810) đến Trường An gặp Trương Tịch để ứng thí. Trước đó, khi ở Lạc Dương, vì thành Lạc Dương có lệ cấm hòa thượng ra ngoài sau giờ ngọ, mà Giả Đảo lại đang lúc gặp khó khăn khi làm thơ, nên cởi lừa ra ngoài đụng phải đoàn nghi trượng của Hàn Dũ trên đường. Hàn Dũ biết Giả Đảo có tài, bèn khuyến khích hoàn tục để tham gia khoa cử. Nhưng Giả Đảo thi mãi mấy khoa mà vẫn không đậu. Năm Nguyên Hòa thứ 14 (819) khi Hàn Dũ bị đày đến đất Triều Châu, gặp lại Giả Đảo, lại tiến cử đi thi. Năm Trường Khánh thứ hai (822) Giả Đảo mới đậu Tiến sĩ. Đời Đường Văn Tông bị biếm làm Chủ Bộ ở Trường Giang, nên còn có hiệu là Giả Trường Giang, năm Hội Xương đầu tiên đời Đường Võ Tông từ chức Tham Quân Tư Thương cải nhậm chức Tư Hộ, nhưng chưa kịp nhậm chức thì bệnh mất lúc 65 tuổi. Ông để lại 10 quyển Trường Giang Tập, gồm hơn 370 bài thơ.

 

       Tương truyền, một hôm Giả Đảo đi thăm một người bạn ở ẩn tên Lý Ngưng. Khi đến nơi thì trời đã tối, dưới ánh trăng sáng, chim chóc đã ngủ yên trên cành. Ông bèn đưa tay lên đẩy cửa, cửa khóa, nên ông lại chuyển sang gỏ cửa. Nào ngờ người bạn đi vắng, ông bèn để lại bài thơ "Đề Lý Ngưng U Cư 題李凝幽居" như sau : 

             《題李凝幽居》      ĐỀ LÝ NGƯNG U CƯ

 

               閒居少鄰並,    Nhàn cư thiểu lân tịnh, 

               草徑入荒園。    Thảo kính nhập hoang viên.

               鳥宿池邊樹,    Điểu túc trì biên thọ, 

               僧敲月下門。    Tăng xao nguyệt hạ môn.

               過橋分野色,    Qúa kiều phân dã sắc, 

               移石動雲根。    Di thạch động vân căn.

               暫去還來此,    Tạm khứ hoàn lai thử, 

               幽期不負言。    U kỳ bất phụ ngôn.

Diễn Nôm :

                    Nhàn cư hàng xóm vắng hoe,

                    Cỏ xanh phủ ngập lối về  vườn hoang .

                    Trên cành chim chóc ngủ an,

                    Cửa sài hòa thượng đẩy (gỏ) toan đi vào .

                    Qua cầu nước chảy lao xao,

                    Đá trôi mây động trời cao muôn trùng.

                    Tạm rời lại trở lại cùng,

                    Ẩn cư đã hẹn quyết không sai lời.

Bài thơ trên có hai câu :鳥宿池邊樹 Điểu túc trì biên thọ, 僧敲月下門 Tăng XAO nguyệt hạ môn.Có nghĩa : Chim thì ngủ trên cây bên ao nước, còn Thầy tăng thì đang GỎ cửa ở dưới ánh trăng. Khi viết đến câu nầy, Giả Đảo không biết là nên dùng chữ XAO 敲 là GỎ, hay dùng chữ THÔI 推 là ĐẨY cho câu thơ nghe hay hơn, nên...

     Hôm sau cởi lừa về Tràng An. Trên đường đọc lại bài thơ đêm hôm qua, đến hai câu :"Điểu túc trì biên thọ, Tăng xao nguyệt hạ môn 鳥宿池邊樹, 僧敲月下門, Giả Đảo cứ do dự mãi, không biết là nên dùng chữ XAO 敲 là Gỏ hay là dùng chữ THÔI 推 là Đẩy cho câu thơ hay hơn, nên ngồi trên lưng lừa mà hai tay cứ làm động tác ĐẨY hoặc GỎ trông rất buồn cười, và ngẩn ngơ đến nỗi con lừa xuýt chút nữa thì đâm vào đầu ngựa của Lại Bộ Thượng Thơ Hàn Dũ. Bị quân hầu níu lại, Hàn Dũ hỏi rõ nguồn cơn, mới cả cười và khuyên ông nên chọn từ XAO 敲 cho câu thơ trên. Vì XAO 敲 vừa tượng hình tượng thanh hơn THÔI 推, lại vừa hợp lý hơn vì đến nhà thăm bạn thì phải GỎ cửa chớ sao lại ĐẨY cửa cho được ! Vì cái duyên chữ nghĩa nầy mà mấy lần Hàn Dũ đã giới thiệu và khuyến khích Giả Đảo hoàn tục để tiếp tục lai kinh ứng thí. Và ...

      Vì sự tích trên mà thành ngữ Trung Hoa có câu "Hà Tất THÔI XAO 何必推敲" nghĩa là :"Sao lại phải Thôi Xao như thế !" Câu nầy có nghĩa là : "Sao lại phải ĐẺO GỌT lời văn như thế". Thường để chỉ những người ĐẺO GỌT lời văn một cách quá đáng, thì sử dụng Thành ngữ nêu trên. Sau này dùng rộng ra thì THÔI XAO có nghĩa là :"Cân Nhắc thật cẩn thận một sự việc nào đó trước khi làm".

      

      Trong một lần, sau khi ứng thí lạc đệ, Giả Đảo đang ở trọ Thảo Đường Tự của Khuê Phong, lại phải đưa nhà sư Vô Khả nam du về hướng Lư Sơn, nên làm bài thơ Tống Vô Khả Thượng Nhân 送無可上人 như sau :

 

                       圭峰霽色新,    Khuê Phong tễ sắc tân,

                       送此草堂人。    Tống thử thảo đường nhân.

                       麈尾同離寺,    Chủ vĩ đồng ly tự,

                       蛩鳴暫別親。    Cùng minh tạm biệt thân.

                       獨行潭底影,    Độc hành đàm đễ ảnh,

                       數息樹邊身。    Sổ tức thọ biên thân.

                       終有煙霞約,    Chung hữu yên hà ước,

                       天台作近鄰。    Thiên Thai tác cận lân.

    Diễn Nôm :

                       Khuê Phong mưa vừa tạnh,

                       Thảo Đường lại tiễn chân,

                       Phất trần rời chùa cũ,

                       Tiếng dế biệt người thân.

                       Bóng in đàm nước lạnh,

                       Người nghỉ cội cây xanh.

                       Đã hẹn cùng mây nước,

                       Thiên Thai ấy xóm gần.

 

                  

 

       Hai câu 獨行潭底影, Độc hành đàm đễ ảnh, 數息樹邊身. Sổ tức thọ biên thân, là "Cái bóng người đi cô độc lẻ loi in dưới đầm nước, thỉnh thoảng dừng chân đứng nghỉ dưới bóng cây bên đường". Hình ảnh thật độc đáo như trong điện ảnh, Giả Đảo nhìn người đi bằng hình bóng đảo ngược dưới đầm nước xa xa. Nên sau bài thơ đưa tiễn độc đáo nầy, Giả Đảo còn viết kèm theo một bài Ngũ ngôn Tứ tuyệt nữa để nói về 2 câu thơ nêu  trên là :

 

                      两句三年得,   Lưỡng cú tam niên đắc,

                      一吟雙淚流。   Nhất ngâm song lệ lưu.

                      知音如不賞,   Tri âm như bất thưởng,

                      歸臥故山秋。   Quy ngọa cố sơn thu !

     Có nghĩa :

                      Ba năm mới được hai câu ,

                      Ngâm xong xúc động lệ sầu chứa chan ,

                      Tri âm hờ hững chẳng màng ,

                      Thì thôi núi cũ thu vàng nằm trơ !

 

      Qủa là một Thi Nô Khổ Ngâm hiếm thấy trong thi ca. Thi Nô Giả Đảo cùng với Thi Tù Mạnh Giao hợp thành một cặp bài trùng GIAO HÀN ĐẢO XÚ 郊寒島瘦, có nghĩa :"Mạnh Giao làm thơ trong đói lạnh, còn Giả Đảo thì vì làm thơ mà gầy còm". Một người là "Tù nhân" của thơ, còn một người là "Nô lệ" của thơ mà. Ta hãy nghe cái ông "nô lệ của thơ" nầy thương tiếc và tiễn đưa mùa xuân đến giây phút cuối cùng như thế nào qua bài Thất ngôn Tứ tuyệt TAM NGUYỆT HỐI NHẬT TỐNG XUÂN 三月晦日送春 (Đưa tiễn mùa xuân ngày ba mươi tháng ba) sau đây :

 

                  三月正當三十日,    Tam nguyệt chính đương tam thập nhật,     

                  春光別我苦吟身.    Xuân quang biệt ngã khổ ngâm thân.      

                  共君今夜不須睡,    Cộng quân kim dạ bất tu thụy,

                  未到曉鐘猶是春.    Vị đáo hiểu chung do thị xuân. 

Có nghĩa :

        Hôm nay vừa đúng ngày 30 tháng 3 (ngày cuối cùng của mùa xuan). (Rồi) nắng xuân sẽ từ bỏ ta-cái thân khổ ngâm này mà đi (bạn ạ).(Vậy) đêm nay, mời bạn hãy cùng tôi không ngủ (thức trắng đêm để tiễn xuân đi). Nếu còn chưa nghe thấy tiếng chuông chùa công phu buổi sáng thì vẫn hãy còn là mùa xuân mà.

 

                       

 

                       Tháng ba vừa vặn ba mươi đúng,

                       Giả biệt xuân hồng thân khổ ngâm.

                       Cùng bạn đêm nay ta thức trắng

                       Chuông chưa điểm sáng hãy còn XUÂN !

 

      Qủa là cùng nàng xuân lưu luyến nắm níu nhau đến giây phút cuối cùng ! Đối với cảnh vật mùa xuân thì là thế, còn đối với con người, cách đối nhân xử thế của Giả Đảo lại lạnh nhạt và cao ngạo vô cùng, đã ít nói lại không thân thiện, nên chi rất dễ làm mất lòng người khác. Hãy nghe thêm một giai thoại về tánh khí cô  độc cộc cằn nầy của Giả Đảo đã xém chút nữa đem đến họa sát thân.      

     

      Tương truyền, một hôm sau khi thi đậu Tiến sĩ, Giả Đảo mới hẹn cùng vài người bạn đi du ngoạn Thanh Long Tự. Ngồi trong quán rượu, đợi mãi mà vẫn không thấy bạn đến, Giả Đảo bèn rút tập thơ mang theo bên mình ra để đọc và nghiền ngẫm xem có "sửa đổi thôi xao" gì được nữa hay không. Một lúc sau mõi mệt mới gục xuống bàn ngủ quên đi. Đang ngon giấc bỗng thấy như có ai đó đang thò tay rút tập thơ của mình ra. Giật mình tỉnh dậy, thấy trời đã tối, trước mặt là một người ăn mặc sang trọng đang cầm tập thơ của mình mà xem. Giả Đảo nghĩ rằng đây là tâm huyết của mình, sao lại có thể để cho người khác lấy đi được, bèn đứng ngay dậy, đưa tay giật phắt tập thơ lại, giận dữ nói rằng :"Đây là tập thơ của tôi mà ! Thấy nhà ngươi ăn mặc đẹp đẽ, lại ra dáng tai to mặt lớn thế kia, chắc chẳng biết gì là thi thơ đâu mà đọc !". Đột nhiên bị giựt lại tập thơ, còn bị mắng cho một trận, người kia lườm mắt nhìn Giả Đảo một cái, rồi lặng lẽ bỏ đi xuống lầu.

      Cái người lạ bị Giả Đảo mắng đó chính là Đường Tuyên Tông Lý Thầm. Xưa nay nhà vua vốn có thói quen vi phục xuất hành, mặc đồ thường dân đi dạo chơi khắp kinh thành. Hôm đó, đi ngang qua quán rượu, nghe có tiếng người đang ngâm thơ trên lầu, bèn vào quán ngồi uống rượu để nghe. Một lát sau không nghe ngâm nữa, nên mới hỏi thăm rồi đi lên lầu, và... đã bị Giả Đảo mắng cho một trận. Sau khi nghe biết người bị mình mắng chính là đương kim hoàng đế, Giả Đảo sợ đến không còn hồn vía nào nữa. Ngày hôm sau vào chầu bèn qùy xuống xin tội, may mà nhà vua tha cho tội chết, chỉ đày đi làm Chủ Bộ ở tận huyện Trường Giang, nên Giả Đảo còn có tự hiệu là GIẢ TRƯỜNG GIANG là vì thế.

 

      Lại một lần, từ đất Trường An Giả Đảo đưa tiễn ông bạn Ngô Xử Sĩ về miền nam ẩn cư. Nhớ lại cảnh lúc chia tay đưa bạn lên thuyền về vùng sông nước, Giả Đảo đã làm một bài thơ Ức Giang Thượng Ngô Xử Sĩ 憶江上吳處士 để nhớ đến bạn trên bến sông như sau :

                 閩國揚帆去,   Mân quốc dương phàm khứ,

                 蟾蜍虧復團。   Thiềm thừ khuy phục đoàn.

                 秋風生渭水,   Thu phong sanh Vị Thủy,

                 落葉滿長安。   Lạc diệp mãn Trường An.

                 此地聚會夕,   Thử địa tụ hội tịch,   

                 當時雷雨寒。   Đương thời lôi vũ hàn.

                 蘭橈殊未返,   Lan nhiêu thù vị phản,

                 消息海云端。   Tiêu tức hải vân đoan.

   Có nghĩa :

                 Dương buồm bạn đến đất Mân,

                 Trăng tròn rồi khuyết mấy lần nhớ nhau.

                 Gió thu Sông Vị thổi ào,

                 Trường An lá rụng rạt rào khắp nơi.

                 Nơi đây họp mặt chia phôi,

                 Gió mưa sấm chớp bên trời lạnh căm.

                 Chèo lan giờ vẫn xa xăm,

                 Mịt mù tin nhạn bặt tăm mây trời !

 

       Bài thơ có cặp thừa rất độc đáo là 秋風生渭水,Thu phong sanh Vị Thủy, 落葉滿長安。Lạc diệp mãn Trường An. Vừa gợi hình vừa nên thơ với nước sông Vị Thủy gợn sóng lăn tăn tạo nên gió thu hiu hắt, chớ không phải là tại gió thu hiu hắt thổi nên những đợt sóng mới lăn tăn, và lá vàng rụng rạt rào tràn ngập đầy rẫy cả thành Trường An tạo nên một cảnh thu bao trùm cả trời đất. Đắc ý với hai câu thơ trên, nên khi đang cởi lừa đi trên đường Trường An, đọc lại hai câu thơ tiễn bạn nầy Giả Đảo đã ngơ ngẩn đến nỗi đâm vào đầu ngựa của quan Kinh Triệu Doãn Lưu Thê Sở, bị lính đi hầu hai bên bắt lại nhốt hết một đêm trong tù. Sáng ngày quan Lệnh Doãn biết là nhà thơ Giả Đảo nên mới được thả ra. 

 

       Vì tích nầy và tích mắng vua mà nhà thơ An Kỳ lúc bấy giờ đã làm hai câu thơ như sau :

 

                      騎驢沖大尹,   Kỵ Lư xung Đại Doãn,

                      奪卷忤宣宗。   Đoạt quyển ngỗ Tuyên Tông.

   Có nghĩa :

                             Cởi lừa đụng phải doãn quan,  

                     Tuyên Tông chẳng biết đoạt ngang thơ về. 

 

                                

 

       Còn nhà thơ Lý Khắc Cung thì viết rằng :

 

                    宣宗謫去為閒事,  Tuyên Tông trích khứ vi nhàn sự,

                    韓愈知來已振名。  Hàn Dũ tri lai dĩ chấn danh.

   Có nghĩa :

                               Vua đày là chuyện thường tình,

                           Hàn Dũ biết đến nổi danh vang rền !

 

       Chuyện về THI NÔ GIẢ ĐẢO còn rất nhiều, hẹn dịp khác sẽ kể thêm về "Thi nhân Nô lệ của Thơ" nầy.

 

 

                                                                                                         杜紹德

                                                                                                    Đỗ Chiêu Đức

__________________________________________

Giai Thoại Văn Chương:

 

                             Thi Cuồng HẠ TRI CHƯƠNG

                                                        HẠ TRI CHƯƠNG ( 659-744 )

 

        HẠ TRI CHƯƠNG 賀知章 tự là Quí Chân 季真, về già tự xưng hiệu là "Tứ Minh Cuồng Khách 四明狂客", là thi nhân lại vừa là nhà Thư Pháp nổi tiếng đời Thịnh Đường. Ông người đất Vĩnh Hưng thuộc Việt Châu (Huyện Tiêu Sơn, tỉnh Chiết Giang hiện nay), đậu Trạng Nguyên khoa Ất Mùi (695), được phong là Quốc Tử Tứ Môn Bác Sĩ, Thiên Thái Thường Bác Sĩ. Ông tuần tự giữ các chức vụ Lễ Bộ Thị Lang, Bí Thư Giám, Thái Tử Tân Khách... Ông tính tình khoáng đạt, phóng túng, không thích gò bó, vì xưng hiệu là Tứ Minh Cuồng Khách, nên người đời gọi ông là THI CUỒNG 詩狂, cùng với Lý Bạch 李白, Trương Húc 张旭, Lý Thích Chi 李适之, Tiêu Toại 焦遂, Lý Tấn 李琎, Thôi Tông Chi 崔宗之 và Tô Tấn 苏晋, xưng là "ẨM TRUNG BÁT TIÊN 飲中八仙" (Tám ông tiên trong rượu). Đến 86 tuổi HẠ TRI CHƯƠNG mới cáo lão về quê, rồi mất ở quê cùng năm. Tác phẩm phần nhiều thất tán, chỉ còn lưu lại khoảng 20 bài thơ mà thôi.

 

        Trong "Ẩm Trung Bát Tiên Ca 飲中八仙歌" Đỗ Phủ đã viết về ông như sau :

 

                  知章騎馬似乘船,  Tri Chương kỵ mã tự thừa thuyền,

                  眼花落井水底眠.    Nhãn hoa lạc tỉnh thủy để miên.

    Có nghĩa :

                        Tri Chương cưởi ngựa tựa đi thuyền,

                        Lắc lư té giếng vẫn ngủ yên.

                   Ẩm trung bát tiên : Tám ông tiên trong rượu

 

   ... cho thấy tính tình phóng túng không thích gò bó của ông, mặc dù là quan lớn, ông vẫn thích kết giao với bạn thơ rượu và uống rượu với những người tao nhã phong lưu. Ông nổi tiếng với giai thoại "Kim Quy Hoán Tửu 金龜換酒" sau đây :

 

       Năm Thiên Bảo nguyên niên đời Đường (742), Lý Bạch cô thân chiếc bóng đến đất Tràng An, không một ai quen biết. Một hôm, ông đến Tử Khách Đạo Quan ( chùa dành cho đạo sĩ tu tiên) để tham quan, tình cờ gặp được Ha Tri Chương cũng đến nơi đó. Đọc thơ và nghe tiếng Bạch đã lâu, Hạ rất ngưỡng mộ tài hoa của Lý, bây giờ gặp mặt, thấy Lý là người tao nhã, dáng vẻ thanh cao như tiên thượng giới, nên mặc dù lớn hơn Lý Bạch đến hơn 40 tuổi vẫn kết bạn vong niên, và cùng đàm đạo với nhau vô cùng tương đắc. Đến khi đọc bài thơ Thục Đạo Nan 蜀道難 của Lý Bạch vừa làm xong đến các câu như : 

 

                  但見悲鳥號古木,  Đản kiến bi điểu hiệu cổ mộc,

                  雄飛雌從繞林間。  Hùng phi thử tòng nhiểu lâm gian.

                  又聞子規啼夜月,  Hựu văn tử quy đề dạ nguyệt,

                  愁空山...             Sầu không san...

      Có nghĩa :

                     Chim sầu nhớn nhác cành khô,

                     Trống mái lượn lờ đường núi thâm u.

                     Tử quy trăng lạnh kêu thu,

                     Rừng núi vắng mịt mù !...

 

  ... Hạ Tri Chương đã kinh ngạc nói với Lý Bạch rằng : "Bạn quả là thi tiên từ thượng giới !" Do đó mà mọi người đều gọi Lý bạch là Lý Trích Tiên 李謫仙. Chiều hôm đó, Hạ bèn mời Lý vào quán rượu định uống một bửa cho thỏa thích. Không ngờ khi vừa ngồi xuống ghế, Hạ mới nhớ ra rằng trên mình đã gần hết tiền, không do dự gì cả, Hạ bèn cởi ngay giải túi Kim Quy Đới có thêu hình kim quy của vua ban cho các quan ở hàng tứ phẩm trở lên đeo mỗi khi vào chầu, để trừ tiền rượu. Lý trông thấy cả kinh bảo : "Đây là vật báu của vua ban sao có thể đem đổi rượu mà uống được chứ ?" Hạ cả cười đáp :"Có gì đâu, hôm nay gặp được bạn tiên, không uống với nhau cho say còn đợi đến chừng nào ?". Sau bửa rượu đêm đó, sáng hôm sau vào chầu, Hạ Tri Chương còn tiến cử Lý Bạch với nhà vua, vua cũng đã nghe tiếng Lý từ lâu, bèn triệu kiến và phong cho chức Hàn Lâm Học Sĩ.

 

                                         

        Hạ Tri Chương về già tự xưng là Tứ Minh Cuồng Khách 四明狂客, vì mỗi lần uống rượu say thì ông sẽ phóng bút làm thơ mà không cần phải cân nhắc chọn từ gì cả, nên mới được hiệu là THI CUỒNG 詩狂, và cũng vì thế mà lời thơ của ông rất dung dị bình dân dễ đi vào lòng người. Ta hãy đọc bài "Vịnh Liễu 詠柳" của ông sau đây sẽ rõ :

 

                       碧玉妝成一樹高,  Bích ngọc trang thành nhất thọ cao,

                       萬條垂下綠絲絛。  Vạn điều thùy hạ lục ty thao.

                       不知細葉誰裁出,  Bất tri tế diệp thùy tài xuất,

                       二月春風似剪刀。  Nhị nguyệt xuân phong tự tiễn đao !

     Có nghĩa :

                          Tạo thành ngọc bích một cây cành,

                          Trông tựa muôn ngàn sợi lụa xanh.

                          Lá nhỏ vươn dài ai khéo cắt,

                          Tháng hai gió tựa kéo qua nhanh              

 

       Thật nghệ thuật, thật bình dân mà gợi hình một cách tự nhiên : Cây liễu xanh biếc trong mùa xuân như được làm bằng ngọc bích. Ai đã khéo cắt nên những lá nhỏ vươn dài như những dãy lụa xanh rũ xuống một cách thật đều đặn đẹp đẽ kia. Không ai cả, chính do làn gió xuân ấm áp của tháng hai như những nhát kéo của thiên nhiên tạo nên nét đẹp của những lá liễu xanh biếc vươn dài kia ! Cả bài thơ cũng không có nhắc đến một chữ liễu nào cả; bình dân, gợi hình và nghệ thuật biết bao nhiêu !         

       Đọc 2 câu cuối của bài thơ trên lại làm cho ta nhớ đến 2 câu thơ trong bài "Xuân Về" của thi sĩ Nguyễn Bính thời Tiền Chiến :

 

                         Lá nõn nhành non ai tráng bạc,

                         Gió về từng trận gió bay đi !

 

      Ai đã "tráng bạc" lá nõn nhành non ? Không ai cả, chính là "Gió xuân" đó ! Chính là thiên nhiên khi mùa xuân về đã đem lại sức sống cho cây lá đâm chồi nẩy lộc !

       

       Năm Đường Thiên Bảo thứ ba (744), Hạ tri Chương mới cáo lão từ quan về quê khi đã 86 tuổi đời, là Thái Tử Tân Khách, là Thẩy dạy học cho đương kim Hoàng thượng khi còn là Thái tử, ông được nhà vua và bá quan văn võ đưa tiễn rất linh đình trọng hậu, nhưng khi về đến Vĩnh Hưng Việt Châu (thuộc Tiêu Sơn Chiết Giang hiện nay) ông lại cảm thấy như bị trêu chọc ngỡ ngàng với lũ trẻ, vì chúng ngỡ ông là khách từ phương xa đến. Sau hơn 50 năm xa quê, người đã già, tóc đã bạc, đã trải qua biết bao là tang thương biến đổi, may mà giọng nói của quê hương vẫn còn nguyên đó, ông rất cảm khái mà làm nên hai bài "Hồi Hương Ngẫu Thư 回鄉偶書" sau đây :

 

                            其一                                       Kỳ Nhất

 

                       少小離家老大回,   Thiếu tiểu ly gia lão đại hồi,

                       鄉音無改鬢毛衰。   Hương âm vô cải mấn mao suy.

                       兒童相見不相識,   Nhi đồng tương kiến bất tương thức

                       笑問客從何處來?    Tiếu vấn khách tòng hà xứ lai ?  

     Có nghĩa :

                       Trẻ nhỏ xa nhà, già trở lại,

                       Giọng quê còn đó, tóc như mây.

                       Nhi đồng gặp gỡ không quen biết,

                       Cười hỏi nơi nào khách đến đây ?

 

                      

       Thật mĩa mai và cảm khái biết bao ! Qủa là lở khóc lở cười khi chợt nghĩ rằng, ta là người về thăm lại quê hương hay ta là Khách của quê hương đây ?! Mời đọc tiếp bài 2 mà rất ít người biết đến :

 

                            其二                                           Kỳ Nhị

 

                      離別家鄉歲月多,   Ly biệt gia hương tuế nguyệt đa,

                      近來人事半消磨。   Cận lai nhân sự bán tiêu ma.

                      唯有門前鏡湖水,   Duy hữu môn tiền kính hồ thủy ,

                      春風不改就時波。   Xuân phong bất cải cựu thời ba !

      Có nghĩa :

                      Cách biệt quê nhà mấy nắng mưa,

                      Đổi thay thế thái nói sao vừa !

                      Duy chỉ như gương hồ trước ngõ,

                      Gió xuân vẫn gợn sóng ngày xưa !

Nhân sự thì đã tiêu ma thay đổi cả rồi, cũng may là những gợn sóng lăn tăn trước hồ vẫn còn "lăn tăn như cũ", "Xuân phong bất cải cựu thời ba" mà !. Nhân sự đổi thay nhưng thiên nhiên thì vẫn còn đó, làm ta nhớ lại đoản văn của Thanh Tịnh :"... Nắng ở đây vẫn là nắng ngày xưa và tâm hồn tôi vẫn là tâm hồn tôi năm trước ..." Và cũng chính vì thế mà dù cho có cách trở muôn dặm quan san, dù cho quê hương có thay đổi muôn hình dạng trạng thì người lữ khách, lữ thứ tha hương vẫn muốn tìm về với quê hương cố thổ , vẫn muốn tìm về với nơi chôn nhau cắt rún của ngày xưa !

                                       

                      Cũng trong năm cáo lão về quê  với sự ngỡ ngàng của kẻ tha hương lâu năm tìm về quê cũ, Hạ Tri Chương đã nằm xuống mảnh đất Việt Châu quê nhà với tuổi 86... là tuổi Thượng Thượng Thọ lúc bấy giờ ! 

 

           Hẹn bài viết tới !

                                    Thi Nô GIẢ ĐẢO

 

                                                                                                    杜紹德

                                                                                                Đỗ Chiêu Đức  

__________________________________

Giai Thoại Văn Chương: 

 

                                       Thi Thánh ĐỖ PHỦ

ĐỖ PHỦ 杜甫 (712-770) tự là Tử Mỹ 子美, hiệu là Thiếu Lăng Dã Lão 少陵野老, Đỗ Lăng Dã Khách 杜陵野客, Đỗ Lăng Bố Y 杜陵布. Ông là thi nhân hiện thực của đời Đường, thơ ông thường miêu tả lại những cảnh sống thực tế của xã hội lúc đương thời. Ông từng giữ chức Tả Thập Di, Kiểm Hiệu Công Bộ Viên Ngoại Lang, sau ẩn cư nơi thảo đường của xứ Thành Đô, nên người đời còn gọi ông là Đỗ Thập Di 杜拾遺, Đỗ Công Bộ 杜工部, Đỗ Thiếu Lăng 杜少陵, Đỗ Thảo Đường 杜草堂. Chưa có thi nhân nào có tên tự và ngoại hiệu nhiều như ông cả !

      Thi Thánh Đỗ Phủ 杜甫 nổi danh cùng thời với Thi Tiên Lý Bạch 李白, được người đời xưng tụng là "Đại Lý Đỗ 大李杜"(Lý Đỗ lớn) để phân biệt với cặp "Tiểu Lý Đỗ 小李杜"(Lý Đỗ nhỏ) là Lý Thương Ẩn 李商隱 và Đỗ Mục 杜牧 ở buổi tàn Đường. Riêng Đỗ Phủ còn được người đời sau gọi là Lão Đỗ 老杜 để phân biệt với Đỗ Mục là Tiểu Đỗ 小杜. Ông để lại khoảng 1500 bài thơ trong "Đỗ Công Bộ Tập". Sau đây là những bài thơ tiêu biểu nhất của ông. 

 

1. Bài thơ XUÂN VỌNG :

 

        Năm Chí Đức thứ 2 ( 757 ) đời Đường, Đỗ Phủ bị kẹt lại trong thành Tràng An đã lọt vào tay loạn tướng An Lộc Sơn. Thi nhân nhìn cảnh xuân với tâm tình của một con dân mất nước, núi sông vẫn như cũ, nhưng nước đã mất nhà đã tan, xuân về nhưng cả thành Tràng An đều đượm vẻ thê lương, xúc cảnh sanh tình tạo nên lời thơ cảm khái và bi thương qua bài Ngũ ngôn Luật Thi sau đây... 

 

           春望                   XUÂN VỌNG

    國破山河在,         Quốc phá sơn hà tại,

    城春草木深。         Thành xuân thảo mộc thâm.

    感時花濺淚,         Cảm thời hoa tiễn lê,

    恨別鳥驚心。         Hận biệt điểu kinh tâm.

    烽火連三月,         Phong hỏa liên tam nguyệt,

    家書抵萬金。         Gia thư để vạn kim.

    白頭搔更短,         Bach. đầu tao cánh đoản,

    渾欲不勝簪。         Hồn dục bất thắng trâm. 

                 杜甫                                     Đỗ Phủ

 

 CHÚ THÍCH :

           1. Quốc Phá 國破 : trong Thành ngữ " Quốc Phá Gia Vong ", tương đương với câu nói " Nước mất nhà tan " của ta.

           2. Thâm 深 : là Sâu, là Đậm, Ở đây nghĩa là Xanh om tươi tốt.

           3. Tiễn 濺 : là Ép cho tuôn trào ra. Tiễn Lệ là ứa lệ, là rơi lệ.

           4. Phong Hỏa  烽火 : Đài cao dùng  đốt lửa để báo hiệu quân địch tấn công. Ở đây chỉ Chiến Tranh.

           5. Để 抵 : là Đáng giá, Có giá trị như...

           6. Tao 搔 : là gãi. Ở đây có nghĩa là dùng các ngón tay để gom tóc lại.

           7. Hồn Dục 渾欲 : là Gần như, là Hầu như.

           8. Bất Thắng 不勝 : Ở đây không có nghĩa là Thua ( không thắng ), mà là Không Thể. 

           9. Trâm 簪 : Danh Từ là Cây Trâm. Ở đây là Động Từ, nên có nghĩa là Cài Trâm.

          10. Vọng 望 : là Hy Vọng. Ở đây là Trông Ngóng, Mong chờ.

 

DỊCH NGHĨA :

                                        XUÂN MONG CHỜ

                Nước đã mất, nhưng núi sông thì hãy còn trơ đó , thành Trường An vào xuân cây cỏ vẫn xanh om tươi tốt ( vì cỏ cây đâu biết hờn mất nước ). Lòng đầy xúc cảm vì thời cuộc, nên trông hoa nở cũng khiến lệ rơi,Hận vì chiến tranh cách biệt, nên nghe tiếng chim kêu cũng kinh hãi trong lòng. Chinh chiến tràn lan suốt ba tháng nay, tin nhà đều bặt, nên nhận được thơ nhà thấy quý giá như được ngàn vàng. Tuổi già tóc bạc, vuốt thấy đã rụng và ngắn lại nhiều, hầu như không còn búi được để cài trâm nữa !

           ... Riêng câu 3 và 4 có thể giải là :

                   Cảm thương về thời cuộc đão điên, nên hoa cũng ứa lệ.

                   Ly hận của sự biệt ly, làm cho chim cũng cảm thấy kinh hoàng....

 

           Hiểu như trên , lại làm cho ta nhớ đến bài thơ " GIÂY PHÚT CHẠNH LÒNG " của Nhà thơ THẾ LỮ...

 

                   " Hôm nay tạm nghỉ bước gian nan,

                      Trong lúc gần xa pháo nổ rang.

                      Rủ áo phong sương trên gác trọ,

                      Lặng nhìn thiên hạ đón xuân sang !

          và....

                      Em đứng nghiêng mình dưới gốc mai,

                      Vin ngành sương đọng, lệ hoa rơi,

                      Cười nâng tà áo đưa lên gió,

                      Em bảo : " HOA KIA KHÓC HỘ NGƯỜI ! "

                                                                  .........................................

DIỄN NÔM : 

 

                      

 

                        Nước mất núi sông còn đó,

                        Vào xuân hoa cỏ xanh rì.

                        Đau xót hoa còn rướm lệ,

                        Kinh hoàng chim sợ phân ly.

                        Khói lửa mịt mờ ba tháng,

                        Thư nhà vàng bạc khó bì.

                        Tóc bạc bơ phờ năm tháng,

                        Trâm cài chẳng được còn chi !

 Lục bát :

                       Nước mất nhưng núi sông còn,

                      Thành xuân cây cỏ xanh rờn khắp nơi.

                       Khi buồn hoa cũng lệ rơi,

                       Kinh hoàng ly biệt chim trời bay cao.

                       Lửa binh ba tháng lao đao,

                      Thư nhà nhận được mừng nào cho cân.

                      Bạc đầu tóc lại rụng dần,

                      Lưa thưa khó búi chẳng cần cài trâm !

                                                                   Đỗ Chiêu Đức

 

2. Bài thơ TUYỆT CÚ ngũ ngôn :

 

     
             

      絕句               TUYỆT CÚ   

   江碧鳥逾白,     Giang bích thủy du bạch,

   山青花欲燃。     Sơn thanh hoa dục nhiên.

   今春看又過,     Kim xuân khan hựu quá,

   何日是歸年.      Hà nhật thị qui niên ?!

         杜甫                               Đỗ Phủ 

         

CHÚ THÍCH :

    * Bài thơ nầy được Thi Thánh Đỗ Phủ làm vào mùa xuân năm Quảng Đức thứ hai đời Đường Đại Tôn (764). Lúc nầy ông đang tạm cư ở Thành Đô, cuộc sống tạm ổn định, mặc dù xa quê nhưng trong lòng cũng tạm thoải mái bớt day dứt, nên lời thơ cũng nhẹ nhàng gợi cảm hơn.

    - BÍCH 碧 : là BIẾC. Ta thường hiểu là XANH thì mới BIẾC. Thật sự BÍCH là chỉ cái sắc ÓNG ÁNH, như Cẩm Thạch  " Lên Nước " thì gọi là BÍCH, bất cứ nó ửng lên màu gì đều là BIẾC cả !.   

   - DU 逾 :là Càng hơn, là Vượt quá.

   - DỤC 欲 :là Muốn, là Giống Như.

   - NHIÊN 燃 :là Cháy, Ở đây có nghĩa là Rực Rỡ.

   - QUÁ 過 :là Qua, là Đi Qua.

   - HÀ 何 :Nghi Vấn Từ, có nghĩa là GÌ, NÀO, SAO... Như : HÀ SỰ là Việc gì ?, HÀ NHÂN là Người Nào?, HÀ CỐ là Cớ Sao ?. Trong câu thơ HÀ NHẬT là Ngày Nào ?

 

DỊCH NGHĨA :

        Nước của dòng sông càng xanh biếc thì những cánh chim bay lượn trên sông càng trắng hơn thêm, núi càng xanh hơn thì muôn hoa càng như rực rở hơn lên như muốn bốc cháy. Trước mắt ta mùa xuân lại sắp đi qua nữa rồi, không biết là đến năm nào mới có được ngày quay trở lại quê hương đây ?!.

 

                 

DIỄN NÔM :          

 

                     TUYỆT CÚ

             Nước biếc chim càng trắng,

             Núi xanh hoa rực hương.

             Nay nhìn xuân lại hết,

             Biết thuở nào hồi hương ?!

 

 Thất ngôn :

            Trắng xóa cánh chim làn nước biếc,

            Núi xanh hoa rực lửa khoe hương.

            Mắt trông xuân lại qua lần nữa,

            Biết đến năm nào về cố hương ?!

                                                    Đỗ Chiêu Đức

3. Bài thơ KHIỂN HOÀI :

            

          遣懷                   KHIỂN HOÀI   

     愁眼看霜露,     Sầu nhãn khan sương lộ,

     寒城菊自花。     Hàn thành cúc tự hoa.

     天風隨斷柳,     Thiên phong tùy đoạn liễu,

     客淚墮清笳。     Khách lệ trụy thanh già.

     水淨樓陰直,       Thủy tịnh lâu âm trực,

     山昏塞日斜。     Sơn hôn tái nhật tà.

     夜來歸鳥盡,     Dạ lai quy điểu tận,

     啼殺後棲鴉。     Đề sát hậu thê nha. 

                   杜甫                             Đỗ Phủ.

 

        

 

* Chú Thích :

    - GIÀ 笳 : là một loại nhạc cụ của người Hồ, được cuốn bằng lá sậy, thổi lên nghe réo rắt như tiếng tiêu của ta vây.

    - Lâu Âm 樓陰 : Chỉ cáo bóng của lâu đài in dưới nước.

    - Sơn Hôn 山昏 : Núi về chiều, khi hoàng hôn xuống.

    - Tái Nhật 塞日 : Mặt trời của vùng biên tái.

    - Đề Sát 啼殺 :(Tiếng quạ) Kêu buồn muốn chết người. Ý nói kêu rất thảm thiết.

 

* Dịch Nghĩa :

        Mắt buồn nhìn sương mù đong thành những hạt móc, trời trở lạnh trong thành nên cúc cũng tự nở hoa  ( đây là cảnh vào thu ). Vì vào thu cho nên những nhành liễu đã rụng hết lá và có những cành khô còn gãy đoạn theo gió thu se sắt, như dòng lệ của khách chảy dài khi những tiếng còi trong trẻo vút lên cao. Mặt nước hồ thu trong veo phẵng lặng soi bóng những lâu đài ngã bóng đứng lặng yên dưới nước. Mặt trời đã nghiêng bóng soi lên vùng biên tái của rừng núi lúc hoàng hôn. Đêm đã xuống dần, chim đã bay hết về tổ rồi, chỉ còn nghe tiếng quạ kêu sương thảm thiết ở lại sau....

                           

* Diễn Nôm : 

                     Khiển Hoài

 

            

 

                Mắt sầu nhìn sương xuống,

                Thành lạnh cúc đơm hoa.

                Gió trời làm gãy liễu,

                Lệ khách rơi tù và.

                Nước trong bóng lầu thẳng,

                Núi chiều ánh nắng tà.

                Đêm đến chim về tổ,

                Tiếng qụa buồn thiết tha !

     Lục bát :

                Buồn trông sương xuống mênh mang,

                Vào thu thành lạnh cúc vàng nở hoa.

                Gió thu rít gãy liễu tà,

                Lệ tuôn réo rắt tiếng già bên sông.

                Lâu đài im bóng nước trong,

                Chiều về biên tái núi rừng thâm u,

                Muôn chim mõi cánh mịt mù,

                Lẻ loi tiếng quạ kêu thu não nùng !

                                                    Đỗ Chiêu Đức

 

4. Bài thơ LỮ DẠ THƯ HOÀI :

                

 旅夜書懷          LỮ DẠ THƯ HOÀI

 

細草微風岸,    Tế thảo vi phong ngạn,

危檣獨夜舟。    Nguy tường độc dạ chu.

星垂平野闊,    Tinh thùy bình dã khoát,

月湧大江流。    Nguyệt dũng đại giang lưu.

名豈文章著?    Danh khởi văn chương trứ ?

官應老病休。    Quan ưng lão bệnh hưu.

飄飄何所似?    Phiêu phiêu hà sở tự ?

天地一沙鷗。    Thiên địa nhất sa âu.

                 杜甫                              Đỗ Phủ.

 

       

 

* Chú Thích :

      Tháng Tư Vĩnh Thái nguyên niên (765), Nghiêm Võ tạ thế, Đỗ Phủ mất nơi nương tựa. Tháng 5, Mới dắt díu gia quyến xuống thuyền rời khỏi Thành Đô sau 5 năm định cư nơi đất Thục, xuôi về đông, phiêu bạc trên Miên Giang Trường Giang một giải. Khoảng sau Trung Thu năm đó, lại tiếp tục đi xuống Vân An ( Nay là Vân Dương ). Chính trên đường đi nầy, ông sáng tác bài " Lữ Dạ Thư Hoài " (  Viết về những hoài cảm của mình trên bước lữ hành ), để nói lên cái cảm khái của một đời phiêu bạc, có tài nhưng lại chẳng gặp thời !

                  

* Dịch Nghĩa :

                    HOÀI CẢM ĐÊM LỮ HÀNH.  

       Gió hiu hiu thổi lên đám cỏ non bên bờ sông, đêm xuống, thuyền đậu bến, ta ngồi dưới cột buồm cao cao nhìn bầu trời đầy sao lắp lánh, nên cảm thấy cánh đồng trước mắt như mênh mông hơn. Bóng trăng dường như từ trong nước chiếu ra lắp lánh theo dòng. Văn chương có phải làm nên được tiếng tăm chăng ? Quan trường thì vì bệnh tật mà phải cáo hưu. Một đời phiêu bạc khắp nơi với mục đích gì đây ? Chỉ còn lại cảm giác cô đơn như cánh hãi âu cô độc trong trời đất mênh mông mà thôi !

      Lấy cột buồm cao cao so sánh với thân lẻ loi cô độc của mình, lấy bầu trời cao với trăng sao để thấy sự nhỏ nhoi của con người, lại lấy cánh đồng mênh mông để giải bày uẩn khúc ở nội tâm. 4 câu đầu là " LỮ DẠ ", lấy cảnh để ngụ tình. 4 câu sau là " THƯ HOÀI ", nói lên cái hoài bảo và cảm xúc của mình, không ngờ là nhờ văn chương mà được nổi tiếng, trong khi chính trường thì vì bệnh tật, già cả mà phải bị từ quan, thương cảm cho tấm thân phải phiêu bạc khắp nơi không nơi nương tựa, lời thơ bi thiết như tiếng thở dài !...

 

* Diễn Nôm :

                     LỮ DẠ THƯ HOÀI

                   Vi vút gió đùa cỏ dại,

                   Cao cao buồm trống cột không.

                   Sao trời như chùn xuống thấp,

                   Nước trăng lắp lánh về đông.

                   Văn chương làm nên danh giá ?

                   Lão bệnh quan trường hết mong,

                   Phiêu bạt phương trời ai biết ?

                   Hải âu, trời biển mênh mông !

     Lục bát :

                   Gió hiu lay động cỏ bờ,

                   Cột buồm cao ngất bơ vơ thân gầy.

                   Đồng không sao ngỡ gần đây,

                   Ánh trăng lắp loáng trôi đầy dòng sông.

                   Văn chương có tiếng như không,

                   Thân già bệnh tật hết mong quan trường.

                   Bôn ba phiêu bạt bốn phương,

                   Đất trời cao rộng vô thường cánh chim !

                                                                   Đỗ Chiêu Đức

 

5. Bài thơ MỘ QUY :

          

          Công Nguyên 768 (Năm Đại Lịch thứ 3 vua Đường Đại Tông), lúc bấy giờ Đỗ Phủ đã 57 tuổi, đang ở Hồ Bắc. Trước đó, khi ở Quỳ Châu ông rất chú trọng đến Luật thơ và đã làm rất nhiều bài thơ Niêm Luật thật nghiêm cẩn, như 8 bài Thu Hứng....Đồng thời cũng trong thời gian nầy, ông có ý nghĩ muốn bức phá sự trói buộc của Niêm Luật, nên mới muốn thử làm ra một thể thơ mới. Một hôm, ông làm ra một bài thơ Phi Cổ Phi Luật (không phải Cổ Thi mà cũng không phải Luật Thi) có tựa là " SẦU " , phía dưới ghi chú là " Cường hí vi Ngô Thể " (Đùa rằng đây là thơ NGÔ THỂ). Tiếp đó , ông lại làm thêm 17, 18 bài như thế nữa, và vì thế mà trong Đường Thi lại thêm một thể loại : Thơ NGÔ THỂ.

 

         "MỘ QUY"《暮歸》chính là thơ Ngô Thể được Đỗ Phủ làm khi đang ở Hồ Bắc. 

 

           暮歸                            MỘ QUY

                      

      霜黄碧梧白鶴棲,  Sương hoàng bích ngô bạch hạc thê,

      城上擊柝複烏啼。  Thành thượng kích thác phục ô đề.

   客子入門月皎皎,  Khách tử nhập môn nguyệt giảo giảo,

      誰家搗練風淒淒。  Thùy gia đão luyện phong thê thê.

   南渡桂水闕舟楫,  Nam độ Quế Thủy khuyết chu tiếp,

      北歸秦川多鼓鼙。  Bắc quy Tần Xuyên đa cổ bề.

   年過半百不稱意,  Niên quá bán bách bất xứng ý,

      明日看雲還杖藜。  Minh nhựt khan vân hoàn trượng lê.

                          杜甫                                                 Đỗ Phủ.

 

              

 

* Chú Thích :

    - Hoàng 黄 : Còn đọc là HUỲNH, màu vàng, ở đây là Động Từ, nê có nghĩa là Làm Cho Vàng, Nhuộm Vàng.

    - Thác 柝: là Cái Mõ Canh, nên Kích Thác : Gõ Mõ Canh .

    - Nguyệt Giảo Giảo 月皎皎 : là Trăng sáng vằng vặc.

    - Đão Luyện 搗練 : Dùng chày để đập cho tơ mềm ra để giặt cho thành lụa, chuẩn bị may áo mùa đông.

    - Phong Thê Thê 風淒淒 : Gió hắt hiu.

    - Tiếp 楫 : là Mái Chèo. Khuyết Chu Tiếp : là Thiếu Mái Chèo của Thuyền. Không phải là thuyền không có mái chèo, mà là không có TIỀN để thuê một thuyền chèo.

    - Cổ Bề 鼓鼙 : là Trống trận. Đa Cổ Bề : Nhiều trống trận. Có nghĩa : Có nhiều trận đánh nhau với quân Thổ Phồn.

    - Trượng Lê 杖藜 : Chống gậy Lê. Lê là một loại thảo mộc, có thân cứng và dẽo như Cây Mây, nên dùng làm gậy cho chắc và nhẹ.

 

* Dịch Nghĩa :

                                          CHIỀU VỀ  ( Nhà Trọ )

             Bạch Hạc đậu trên cành ngô đồng đã vàng lá vì sương thu lạnh lẽo, trên thành tiếng mõ đã bắt đầu điểm canh lẫn với tiếng quạ kêu sương. Khách trở về nhà trọ, vào cửa trong lúc ánh trăng đã vằng vặc ngoài trời, trong khi đó tiếng chày giặc lụa của nhà ai còn vang vang trong gió thu hiu hắt. Ta muốn xuôi Nam qua dòng Quế Thủy nhưng lại không đủ sức thuê thuyền, muốn trở về đất Bắc ở Tần Xuyên thì giặc giã chiến tranh, trống trận nổi lên liên miên không dứt. Quá nửa đời người không có chuyện gì xứng ý toại lòng cả ! Thôi thì, ngày mai lại phải chống gậy mà ngắm mây trời xa xa để thương nhớ về cố hương mà thôi !

 

* Diễn Nôm :

                                 CHIỀU VỀ

 

                    

 

                  Hạc trắng đậu cành ngô vàng sương lạnh,

                  Quạ đen kêu tiếng mõ báo canh tàn.

                  Khách vào nhà đón trăng sáng miên man,

                  Tiếng chày giặt lẫn gió buồn thê thiết.

                  Muốn về nam không tiền xuôi Quế Thủy,

                  Bắc Tần Xuyên giục giã trống quân vang.

                  Quá năm mươi còn lưu lạc chưa an ,      

                  Ngày mai lại gậy lê nhìn mây trắng !

    Lục bát :

                  Sương vàng hạc trắng ngô xanh,

                  Qụa kêu lẫn tiếng cầm canh trên thành.

                  Khách về trăng sáng long lanh,

                  Tiếng chày đập vải gió lành lạnh thêm.

                  Xuôi nam Quế Thủy không tiền,

                  Ngược bắc chiến cuộc liên miên đất Tần.

                  Đời người quá nửa long đong,

                  Gậy lê mai lại ngóng trông quê nhà !

                                                               Đỗ Chiêu Đức

                                                  

 

6. Hai bài thơ KHÚC GIANG :

 

            Xuất xứ của câu thơ "Nhân sinh thất thập cổ lai hi  人生七十古來稀".

 

           Đôi hàng giới thiệu về 2 bài thơ KHÚC GIANG của Đỗ Phủ như sau :

 

           Khúc Giang còn gọi là Khúc Giang Trì, nằm ở phía đông cầu Chu Tước phía nam của thành Trường An, là khu danh thắng nổi tiếng của thành Trường An đời Đường, được xây dựng từ thời Hán Vũ Đế và được trùng tu lại vào năm Khai nguyên của vua Đường Huyền Tông, Nước hồ trong vắt, hoa cỏ uốn quanh, phía nam có Tử Vân Lâu, Phù Dung uyển, phía tây có Hạnh Viên và Từ Ân Tự, là nơi du ngoạn nổi tiếng đương thời.Thắng cảnh Khúc giang cùng thạnh suy với giang san nhà Đường. Hai bài thơ Khúc Giang của Đỗ Phủ được làm vào cuối xuân năm Càn Nguyên nguyên niên ( 758 ) . Ông đã đem toàn bộ tâm tư của mình ký thác vào cảnh vật nầy để viết lên những ưu tư về đổi thay của thời cuộc.

 

          Theo tài liệu thống kê, thì vào đời Đường, tuổi thọ trung bình của con người ta lúc bấy giờ chỉ vào khoảng 40- 45, cho nên Đỗ Phủ mới hạ câu " Nhân sanh thất thập cổ lai hy " bất hủ, để đời cho đến hiện nay, hễ nhắc đến tuổi " Cổ lai hy ", " Cổ lai ", hay " Cổ hy " là người ta biết ngay là đã thọ được 70 tuổi rồi ! 

 

          曲 江                           KHÚC GIANG

                     其一                                       Kỳ nhất. 

 一片花飛減卻春,    Nhất phiến phi hoa giảm khước xuân,

    風飄萬點正愁人。    Phong phiêu vạn điểm chánh sầu nhân. 

 且看欲盡花經眼,    Thả khan dục tận hoa kinh nhãn,

    莫厭傷多酒入唇。    Mạc yếm thương đa tửu nhập thần .

 江上小堂巢翡翠,    Giang thượng tiểu đường xào phỉ thúy,

    苑邊高塚臥麒麟。    Uyển biên cao trủng ngọa kỳ lân.

 細推物理須行樂,    Tế suy vật lý tu hành lạc,

   何用浮名絆此身?      Hà dụng phù danh bạn thử thân ?. 

 

        

 

    其二                                  Kỳ nhị.

 朝回日日典春衣,    Triều hồi nhật nhật điển xuân y,

    每日江頭盡醉歸。    Mỗi nhật giang đầu tận túy quy. 

 酒債尋常行處有,    Tửu trái tầm thường hành xứ hữu,

    人生七十古來稀。    NHÂN SANH THẤT THẬP CỔ LAI HY. 

 穿花蛺蝶深深見,    Xuyên hoa giáp điệp thâm thâm kiến (hiện),

    點水蜻蜓款款飛。    Điểm thủy thanh đình khoản khoản phi. 

 傳語風光共流轉,    Truyền ngữ phong quang cộng lưu chuyển,

    暫時相賞莫相違。   Tạm thời tương thưởng mạc tương vi .

                        杜甫                                                 Đỗ Phủ. 

               

 

 * GHI CHÚ :

  (1)  减却春:Giảm khước xuân :Xuân sắc bị giảm đi.

  (2)  万点:Vạn điểm : Chỉ muôn ngàn hoa rụng, rụng rất nhiều. 

  (3)  且: Thả : là Liên từ, có nghĩa là Hãy.经眼:Kinh nhãn : ngang qua trước mắt. 

  (4)  伤:Thương : là thương cảm, xúc động. 巢翡翠:Xào Phỉ Thúy : Là Chim Phỉ Thúy làm ổ. Chữ XÀO là Cái Ổ,  ở đây là Động từ :  nghĩa là Làm ổ.

  (5)  苑:Uyển : Là Vườn hoa( Vườn trồng toàn hoa Phù Dung cạnh bên Khúc giang ) 冢 : Chủng : Gò đất cao, ở đây chỉ các phần mộ xưa. 

  (6)  细推 Tế suy : Là Suy luận cho cặn kẽ, tới nơi tới chốn. 

  (7)  物理:Vật lý : Cái Lý lẻ của sự vật, sự việc. 

  (8)  浮名: Phù danh : Là Hư danh.

  (9)  朝回: Triều hồi : Là Đi chầu Vua về.典:Điển : Cầm cố. 

   (10) 债 :  Trái : là Nợ. Tửu trái : là Nợ Rượu chè (  Chớ không phải Nợ Cơm áo ).行处:Hành xứ : là Khắp nơi. 

     ( 11) 蛱蝶: Giáp Điệp : Các loài bướm nhỏ thường bay lượn, tìm hút nhụy trong các khóm hoa .

   (12) 蜻蜓: Thanh Đình : Con Chuồn Chuồn. 

   (13) 風光: Phong Quang : Quang cảnh của mùa xuân.共流转 Cộng Lưu Chuyển : Cùng qua lại, chuyển động, Có nghĩa là cùng 

                            thưởng ngoạn cảnh trí đẹp đẽ.

   (14) 相赏: Tương Thưởng : Cùng Thưởng ngoạn. 莫 Mạc : là Đừng. 相违: Tương Vi : Cùng để lở mất.( Cái gì đó... ). 

 

* DỊCH NGHĨA :

                                         Bài 1.

             Chỉ vỏn vẹn một cánh hoa bay mà thôi, mùa xuân cũng đã bị giảm mất đi rồi, huống hồ, gió thổi làm cho muôn ngàn cánh hoa cùng bay phất phơ một lúc, làm cho lòng người tiếc xuân buồn muốn thúi ruột, khi mắt trông xuân sắp tàn, ngàn hoa rơi rụng trước mắt. Thôi cũng đừng sầu thương quá mà hãy cùng mềm môi với chén rượu nầy. Hãy nhìn cảnh trí trước mắt, họa đường lộng lẫy ngày xưa, thì nay chim phỉ thúy đã làm tổ trên rường, và những gò nổng phần mộ ngày nào uy nghi, nghiêm cẩn thì nay tượng kỳ lân đã ngã đỗ nằm cạnh bên. Nên suy cho cùng về lý lẽ thịnh suy tiêu trưởng của sự vật, sự việc trên đời, thì ta nên hành lạc, vui chơi thoải mái, chớ... sao lại vì những cái hư danh không đâu mà trói buộc tấm thân nầy ?!

                                      Bài 2.

             Từ giả buổi chầu vua đi ra là đi cầm ngay chiếc áo mùa xuân ( để mua rượu uống ). Mỗi ngày đều say khước từ đầu sông Khúc giang đi về. Nợ rượu chè thì nơi nào cũng có được. Nhưng , người đời sống đến 70 mươi tuổi thì xưa nay rất hiếm. Hãy nhì xem kìa, đàn bướm nhỏ đang bay lượn trong khóm hoa, và lủ chuồn chuồn đang lượn bay đùa giởn trên mặt nước. Cảnh trí đẹp là thế, sao không bảo nhau mà cùng thưởng ngoạn, đừng bỏ lở mất những giờ khắc quý giá, mà phí cả cuộc đời !

                        

 

 * DIỄN NÔM :               Bài 1. 

                      Một cánh hoa rơi xuân hết sang,

                      Muôn ngàn hoa tạ báo xuân tàn.

                      Mắt trông hoa rụng lòng tê tái,

                      Môi nhắp rượu nồng dạ xốn xang.

                      Phỉ Thúy chọn rường xây tổ ấm ,

                      Kỳ lân gò nổng ngã nghiêng tàn.

                      Suy cho cặn kẽ nên hành lạc,

                      Sao để hư danh trói buộc ràng ?.

       Lục bát :

                      Hoa rơi một cánh xuân tàn,

                      Đau lòng hoa rụng muôn ngàn xót xa.

                      Hoa bay trước mắt la đà,

                      Rượu mềm môi đắng lòng già tiếc thương.

                      Tổ êm phỉ thúy chọn rường,

                       Gò cao nghiêng ngã bên vườn kỳ lân.

                      Ăn chơi, suy kỹ, cân phân,

                      Hư danh trói buộc tấm thân ích gì ?.

         Bài 2.  

                     Tan chầu cầm quách áo xuân hồng,

                     Say khướt trở về với bến sông.

                     Nợ rượu khắp nơi đều có được,

                     Người đời bảy chục hiếm xưa không.

                     Kìa đàn bướm nhỏ vờn hoa dại,

                     Nọ lũ chuồn chuồn bởn nước trong.

                     Cảnh đẹp khuyên ai cùng tận hưởng,

                     Hoa tàn cảnh tạ khỏi hoài công !

Lục bát :

                   Tan chầu cầm quách áo xuân,

                   Mỗi ngày túy lúy đầu sông đi về.

                   Khắp nơi nợ rượu bề bề ,

                   Người đời bảy chục hiếm hề xưa nay.

                   Hãy xem đàn bướm lượn bay,

                   Chuồn chuồn giởn nước khoan thai bay về.

                   Thiên nhiên cảnh trí bốn bề,

                   Sao không thưởng ngoạn còn chê chỗ nào ?!

                                                                          Đỗ Chiêu Đức  

Giai Thoại văn Chương :

                   

         Cũng Tại Cái Ông KHUẤT NGUYÊN của nước Sở

                                         TIẾT ĐOAN NGỌ : Tết Giữa Năm

 

      Mùng 5 tháng 5 là TIẾT ĐOAN NGỌ 端午節, theo Ngũ hành Bát quái, vì số 5 thuộc dương, nên Tiết Đoan Ngọ còn gọi là Tiết ĐOAN DƯƠNG 端陽. ĐOAN: là Đầu mối, là mở đầu; NGỌ: là giờ Ngọ, là giữa trưa; còn DƯƠNG là mặt trời, là khí dương, ĐOAN DƯƠNG có nghĩa là bắt đầu lúc khí dương đang thịnh. Còn ĐOAN NGỌ là bắt đầu lúc giữa trưa. Theo truyền thuyết Trung Hoa...

 

     KHUẤT NGUYÊN 屈原 (340-278 TCN) : Vào cuối thời Chiến Quốc, có một vị đại thần nước Sở là Khuất Nguyên. Ông chẳng những là vị trung thần của nước Sở mà còn là nhà thơ, nhà văn hoá nổi tiếng của Trung Hoa. Ông là tác giả hai bài thơ bất hủ là LY TAO 離騷 và SỞ TỪ 楚辭, nổi tiếng trong văn hóa Trung Hoa cổ đại, thể hiện tâm trạng buồn vì đất nước suy vong. Do can ngăn Sở Hoài Vương không được, lại bị gian thần hãm hại, ông đã uất ức gieo mình xuống sông Mịch La tự trầm ngày mùng 5 tháng 5. Dân chúng nơi đó đã mang thuyền đến giữa dòng sông để cố gắng cứu vớt nhưng không thành. Để cho các loại cá và linh hồn của các yêu ma quỷ quái không lại gần được thi thể của ông họ đã đánh trống và vẩy nước bằng các mái chèo của họ. Sau đó để tưởng nhớ, tiếc thương cho một người trung nghĩa, mỗi năm cứ đến ngày mùng 5 tháng 5, dân Trung Hoa xưa lại làm bánh ú gói nhân thịt mỡ, quấn chỉ ngũ sắc bên ngoài (ý làm cho cá sợ, khỏi đớp mất) rồi bơi thuyền ra giữa sông, ném bánh xuống để cúng Khuất Nguyên. Do đó, hình thành hai tập tục trong ngày lễ Đoan Ngọ cho đến hiên nay là : Đua thuyền rồng và Ăn bánh ú.

Trong văn học, tác phẩm LY TAO của Khuất Nguyên hình thành những từ như : Tao Nhân Mặc Khách, Tao Đàn ... Trong thơ ca Trung Hoa còn ghi nhận SỞ TỪ là nguồn gốc của thơ Thất ngôn sau nầy. Sau đây là hai bài thơ Thất ngôn Tứ tuyệt có liên quan đến Tết Đoan Ngọ ở đời Đường. 

 

        同州端午             ĐỒNG CHÂU ĐOAN NGỌ

 

     鶴髮垂肩尺許長,    Hạc phát thùy kiên xích hứa trường,

     離家三十五端陽。    Ly gia tam thập ngũ Đoan Dương.

     兒童見說深驚訝,    Nhi đồng kiến thuyết thâm kinh nhạ,

     卻問何方是故鄉。    Khước vấn hà phương thị cố hương ?

             殷堯藩                                         Ân Nghiêu Phồn

Có nghĩa :

              Tóc bạc qúa vai cả thước thường,

              Xa nhà ba mươi lăm Đoan Dương.

              Trẻ con nghe nói đều kinh ngạc,

              Cùng hỏi nơi nào là cố hương ?

 

        Tết giữa năm cũng khiến cho người lữ khách nhớ nhà như là Tết Nguyên Đán vậy ! Đọc bài thơ trên làm cho ta lại nhớ đến bài "Hồi Hương Ngẫu Thư" của Hạ Tri Chương... Ta đọc thêm một bài thơ về Đoan Ngọ nữa nhé !

 

         端午                  ĐOAN NGỌ

 

     節分端午自誰言,    Tiết phân Đoan Ngọ tự thùy ngôn,

     萬古傳聞為屈原。    Vạn cổ truyền văn vị Khuất Nguyên.

     堪笑楚江空渺渺,    Kham tiếu Sở giang không diểu diểu,

     不能洗得直臣冤。    Bất năng tẩy đắc trực thần oan !

                文秀                                                  Văn Tú

 

                 

Có Nghĩa :

              Đoan Ngọ ai chia Tết tháng năm,

              Khuất Nguyên từ vạn cổ xa xăm.

              Nực cười sông Sở trôi trôi mãi...

              Rửa chẳng sạch oan đấng nghĩa thần !

 

      Sông Mịch La của nước Sở, nơi Khuất Nguyên nhảy xuống để tự trầm, mấy ngàn năm vẫn không thể rửa hết oan khiên cho đấng bề tôi trung nghĩa. Bài thơ nầy làm cho ta nhớ đến một "Giai thoại văn chương Việt Nam thời vua Tự Đức", ông vua rất giỏi văn thơ của Việt nam ta ...

              

      Trong "Giai thoại văn chương Việt Nam" của Thái Bạch có kể về tài ứng đối của Đinh Nhật Thận như sau : Đinh Nhật Thận sinh năm Ất Hợi (1815) tại làng Thanh Lạo, huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An, đỗ cử nhân khoa Đinh Dậu (1837), đỗ tiến sĩ khoa Mậu Tuất (1838) được bổ làm Tri phủ. Ông thường giao du với Cao Bá Quát và Nguyễn Hàm Ninh. Sau Cao Bá Quát dấy binh chống lại triều đình, Đinh Nhật Thận bị tình nghi, bắt giải về kinh giam lại, sau lại được thả ra. ("Quốc Triều Hương Khoa Lục" chép về Đinh Nhật Thận: “ Vì là bạn cũ của tên giặc Cao Bá Quát nên bị bắt giam, sau được thả”.

 

         Vì mến tài ông, vua Tự Đức lưu ông lại ở kinh đô để dạy cho con em trong hoàng tộc và cũng để dễ bề kiềm chế ông. Tục truyền khi ở kinh đô, một hôm Đinh Nhật Thận cùng các quan đại đại thần theo thuyền ngự đi ngoạn cảnh trên sông Hương. Nhân bàn luận về Nho giáo, ông nhắc đến câu: “Quân xử thần tử, thần bất tử bất trung; Phụ xử tử vong, tử bất vong bất hiếu” và cho đó là một câu chí lý. Nghe xong, vua Tự Đức phán: 

     - Vậy trẫm truyền cho khanh nhảy xuống sông này chết đi, khanh có dám làm không? 

     Nghe vua phán vậy, các quan trên thuyền đều lo sợ thay cho ông, vì không nhảy xuống sông thì không trung với vua, mà nhảy xuống thì chết là cái chắc. Ấy vậy mà ông vẫn bình tĩnh lạy nhà vua ba lạy xong đâu vào đấy, rồi lao mình nhảy tỏm xuống dòng sông. Mọi người đều bàng hoàng, tưởng đây là nơi an nghỉ ngàn thu của ông rồi. Nhưng chỉ trong giây lát, ông ngoi đầu lên khỏi mặt nước và vói tay bám vào mạn thuyền ngự. Vua Tự Đức hỏi: 

    - Sao khanh không ở dưới đó luôn mà còn trở lên đây chi vậy ?

      Ông bình tĩnh đáp rằng :

    - Chỉ tại cái ông Khuất Nguyên của nước Sở. Nhà vua ngạc nhiên hỏi :

    - Tại sao lại Khuất Nguyên ?. Ông chậm rãi kể :

    - Thần định ở luôn dưới đó, nhưng khi vừa xuống đến đáy sông thì thần gặp ông Khuất Nguyên, ông ấy đuổi thần lên và mắng thần rằng : 

 

             Ngã phùng ám chúa hàm oan nhẫn,     我逢黯主含冤忍,

             Nhữ ngộ minh quân nịch tử hà ?          爾遇明君溺死何?

   Có nghĩa :

          Ta gặp phải chúa hắc ám, nên phải chịu oan đã đành,

          Còn ngươi gặp được minh quân sao lại phải nhảy xuống đây trầm mình tự tử vậy ?

  ... hạ thần nghe ông ấy mắng quá đúng cho nên phải ngoi lên đây để tâu cùng bệ hạ rõ!

 

      Vua Tự Đức cả cười, sai thị vệ kéo ông lên thuyền ngự, lấy quần áo cho ông thay rồi đích thân rót một chén rượu để khen thưởng cho cái tài ứng đối mẫn tiệp, mặc dù biết đó là một câu chuyện hoàn toàn bịa đặt.

Giai thoại trên nghe thì rất lý thú, nhưng chỉ để kể cho nhau nghe chơi khi trà dư tửu hậu mà thôi. Nay nhân Tết Đoan Ngọ, ở nơi xứ lạ quê người nhớ về nơi chôn nhau cắt rốn, nên kể hầu chư vị cho vui với một ngày Lễ chỉ có ở vùng của các nước Đông Nam Châu Á mà thôi.

 

       Hẹn bài viết tới !

 

                                                                            杜紹德

                                                                       Đỗ Chiêu Đức 

Giai Thoại văn Chương:

                   

Người chồng khóc vợ chân tình nhất

                                               NGUYÊN CHẨN 

 

         NGUYÊN CHẨN (779-831) tự là Vi Chi, biệt hiệu là Uy Minh, người đất Lạc Dương Hà Nam, là thi nhân, văn học gia và là đại thần của đời Đường. Ông thuộc bộ tộc Phá Bạt của dòng dõi Tiên Ti, là cháu đời thứ 19 của Bắc Ngụy Chiêu Thành Đế, con của Tỉ Bộ Lang Trung Nguyên Khoan. Từ nhỏ đã nổi tiếng về văn tài, năm Trinh Nguyên thứ 9 (793), mới 15 tuổi đã thi đậu minh kinh, được phong chức Tả Thập Di. Năm Trinh Nguyên thứ 18 (802) đời Đường Đức Tông mới cùng Bạch Cư Dị đậu khoa Tiến sĩ bạt tụy để ra làm quan. Nguyên Chẩn đã từng bái tướng, làm quan đến chức Thượng Thư Tả Thừa. Năm Thái Hòa thứ 4 (830) nhậm chức Võ Xương Quân Tiết Độ Sứ. Năm Thái Hòa thứ 5 (831) qua đời lúc mới 53 tuổi, được truy phong là Thượng Thư Hữu Bộc Xạ. Nguyên Chẩn là bạn cùng khoa với Bạch Cư Dị, cùng kết thân là bạn thơ suốt đời, cùng đề xướng thể thơ Tân Nhạc Phủ mà người đời gọi là "Nguyên Bạch 元白", hình thành "Nguyên Hòa Thể 元和體". Thành tựu về văn học của ông rất lớn, nhất là về mặt thơ ca. Còn lưu lại hơn 830 bài thơ, từ phú, chiếu sách, minh giản, luận nghị... hơn một trăm bài. Tất cả đều thu tập vào trong "Nguyên Thị Trường Khánh Tập 元氏長慶集".  

Năm Trinh Nguyên thứ 18 (802) đời Đường Đức Tông, mặc dù chưa ra làm quan, nhưng vẫn được quan Thái Tử Thiếu Bảo Vi Hạ Khanh 韋夏卿 biết đến tài và gả cho cô con gái út mà ông ta rất yêu thương là Vi Tùng 韋叢. Lúc đó, Vi Tùng chỉ mới 20 tuổi, còn Nguyên Chẩn thì đã 25 tuổi rồi. Sau khi kết hôn, họ sống đời sống bần hàn đạm bạc. Vi Tùng mặc dù là tiểu thơ con quan nhưng lại rất chịu thương chịu khó, cùng sống cảnh nhèo khổ với chồng mà không một lời oán than trách móc, nên vợ chồng rất hòa hợp và thương yêu nhau. Bảy năm sau, tức năm Nguyên Hòa thứ tư (809), khi Nguyên Chẩn nhậm chức Án Sát ngự Sử thì Vi Tùng nhuốm bện và qua đời khi chỉ mới 27 tuổi. Nguyên Chẩn vô cùng đau xót tiếc thương, ông đã làm rất nhiều thơ để khóc, điếu và truy điệu người vợ đã cộng khổ mà không cùng được đồng cam nầy. Trong số thơ truy điệu phải kể đến 3 bài KHIỂN BI HOÀI 遣悲懷 là nổi tiếng và được nhiều người biết đến nhất.

 

       Sau đây, ta sẽ lần lượt đọc lại 3 bài thơ bất hủ nầy :

             

      遣悲懷·其一           KHIỂN BI HOÀI    Kỳ 1        

 

    謝公最小偏憐女,   Tạ công tối tiểu thiên lân nữ,

    自嫁黔婁百事乖。   Tự gía Kiềm Lâu bách sự quai.

    顧我無衣搜藎篋,   Cố ngã vô y sưu tẫn giáp,

    泥他沽酒拔金釵。   Nệ tha cô tửu bạt kim thoa.

    野蔬充膳甘長藿,   Dã sơ sung thiện cam trường hoắc,

    落葉添薪仰古槐。   Lạc diệp thiêm tân ngưỡng cổ hoài.

    今日俸錢過十萬,   Kim nhật bổng tiền qúa thập vạn,

    與君營奠復營齋。   Dữ quân doanh điện phục doanh trai.

                  元稹                                   Nguyên Chẩn

* Chú Thích :

    - Khiển Bi Hoài 遣悲懷 : Giải bày nổi lòng bầu bi buồn thảm.

    - Tạ Công 謝公...: Lấy tích Tể Tướng Tạ An đời Đông Tấn rất thương cô cháu gái là Tạ Đạo Uẩn.

    - Kiềm Lâu 黔婁 : là một hàn sĩ ở nước Tề thơi Chiến Quốc.

    - Tẫn Giáp 藎篋 : là Rương, hòm, va-li đan bằng tre mây hoặc cỏ.

    - Nệ 泥 : là Câu nệ, là theo làm eo, năn nỉ.

    - Dã Sơ 野蔬 : là Rau cải mọc hoang. Hoắc 藿 : là đọt đậu non. Câu nầy chỉ chung các loại rau dền, rau muống, rau lang, rau ngỗ...

    - Tân 薪 : là củi. Cổ Hoài 古槐 : là Cây Hòe cổ, là cây hoẻ già.

    - Bổng Tiền 俸錢 : Tiền bổng lộc, Tiền lương.

    - Doanh Điện 營奠 : là Cúng tế; Doanh Trai 營齋 : là làm tuần trai.

 

* Nghĩa Bài Thơ :

        Giống như là Tạ An đời Tấn rất thương cô con gái út của mình, nhưng từ ngày lấy phải kẻ Kiềm Lâu hàn sĩ nầy thì trăm việc đều trớt quớt không như ý. Thấy tôi không có áo mới để mặc nàng đã lục lọi hết các rương hòm để tìm kiếm. Không tiền mua rượu uống tôi đã theo nài nĩ nàng, nàng cũng chịu rút cây trâm vàng trên đầu mà đưa cho tôi. Ăn uống thì đạm bạc chỉ tìm các loại rau rừng đọt đậu... Gom góp lá rụng phơi khô để làm củi nên thường ngóng trông cây hòe lớn rụng lá xuống. Đến ngày hôm nay ta đã làm quan, bổng lộc đã hơn mươì vạn hộc một năm, thì nàng đã mất rồi; nên chỉ còn có nước là vừa cúng tế vừa làm tuần trai cho nàng mà thôi !

 

* Diễn Nôm :

                 

 

                     KHIỂN BI HOÀI (1)

 

                 Gái út Tạ công được mến yêu,

                 Gã cho hàn sĩ khổ trăm điều.

                 Lo ta áo cũ moi rương nát,

                 Vì mỗ rượu ghiền bán lược yêu.

                 Rau cháo đỡ lòng ăn xí xóa,

                 Lá cây làm củi ước rơi nhiều.

                 Nay ta bổng lộc hơn mười vạn,

                 Phúng điếu mong nàng sớm độ siêu !

     Lục bát :

                 Tạ Công gái út thương nhiều,

                 Lấy chàng hàn sĩ trăm điều khổ thay.

                 Lo ta không áo tìm may,

                 Vì ta hết rượu rút ngay trâm vàng.

                 Bửa ăn rau dại làm sang,

                 Lá khô làm củi nên nàng ngóng cây.

                 Nay ta mười vạn bổng đầy,

                 Chỉ còn phúng điếu làm chay cho nàng.

 

      Bài thơ hết lời ca ngợi người vợ hiền, trước tiên là đức tính tốt của một tiểu thơ con nhà quan mà chịu khuất thân lấy người hàn sĩ để phải chịu khổ trăm điều : Lo cái ăn cái mặc để giữ thể diện cho chồng, chìu cả những thói ghiền rượu của chồng mà không ngần ngại bán cả trâm vàng, sống kham khổ bằng các loại rau dại, chắc mót cả lá khô để làm củi đốt... Thế mà ngang trái thay, khi đã làm quan, khi đã giàu sang vinh hiển, thì vợ đã mất rồi !... Dù cho có cúng tế làm đám linh đình như thế nào cũng không bù đắp được tấm chân tình của người vợ hiền đã khuất bóng. 

 

 遣悲懷·其二            KHIỂN BI HOÀI  Kỳ 2

 

昔日戲言身後事,   Tích nhật hí ngôn thân hậu sự,

今朝都到眼前來。   Kim triêu đô đáo nhãn tiền lai.

衣裳已施行看盡,   Y thường dĩ thí hành khan tận,

針線猶存未忍開。   Châm tuyến do tồn vị nhẫn khai.

尚想舊情憐婢僕,   Thượng tưởng cựu tình lân tì bộc,

也曾因夢送錢財。   Dã tằng nhân mộng tống tiền tài.

誠知此恨人人有,   Thành tri thử hận nhân nhân hữh,

貧賤夫妻百事哀。   Bần tiện phu thê bách sự ai !

               元稹                               Nguyên Chẩn

 

        

 

* Chú Thích :

    - Hí Ngôn 戲言 : Lời nói chơi (giữa vợ chồng với nhau).

    - Thân Hậu Sự 身後事 : Chuyện sau khi đã chết, đã qua đời.

    - Dĩ Thí 已施 : Đã bố thí (cho người nghèo).

    - Hành Khan Tận 行看盡 : là Đã gần hết.

    - Do Tồn 猶存 : Còn chừa lại, còn để lại.

    - Tì Bộc 婢僕 : TÌ là Tì nữ, hầu gái. BỘC là Gia bộc, người giúp việc trai.

    - Bần Tiện Phu Thê 貧賤夫妻 : là Vợ chồng nghèo khó với nhau.

 

* Nghĩa bài thơ :

        Ngày xưa vợ chồng thường nói chơi với nhau là : người nầy chết thì người kia sẽ ra sao ?... Đến hôm nay thì sự thực đó đều đã phơi bày trước mắt. 

Quần áo của bà để lại tôi đã bố thí cho người nghèo gần hết rồi, chỉ có kim chỉ ngày xưa của bà dùng để may vá thì tôi còn giữ lại cả mà không đành lòng mở ra xem. Tôi luôn nhớ đến tình nghĩa của bà ngày xưa đối với nô tì gia bộc, người ăn kẻ ở trong nhà mà càng yêu thương họ hơn; cũng thường nằm mơ thấy bà nên luôn mua thêm vàng mã đốt xuống gởi cho bà. Vốn dĩ biết rằng cái hận sinh ly tử biệt mọi người đều có, nhưng đối với vợ chồng xuất thân nghèo hèn như chúng ta thì trăm việc đều bi ai buồn thãm. 

 

* Diễn Nôm :

                 KHIỂN BI HOÀI (2)

            Ngày xưa cứ tưởng nói chơi thôi,

            Nào biết hôm nay trước mắt rồi.

            Bố thí áo quần cho sắp hết,

            Vẫn còn kim chỉ chẳng đành coi.

            Nhớ bà xưa vẫn thương người ở,

            Vì mộng nay thường đốt bạc tơi.

            Vẫn biết hận nầy ai tránh khỏi,

            Vợ chồng nghèo khó khổ khôn vơi !

   Lục bát :

            Xưa kia cứ ngỡ nói chơi,

            Nào ngờ nay đã phương trời âm dương.

            Áo quần bố thí vẫn thường,

            Chỉ kim còn đó chẳng buồn mở xem.

            Vốn thương kẻ ở người quen,

            Mã vàng thường đốt mấy phen mơ màng.

            Vốn hay tử biệt hận tràn,

            Vợ chồng nghèo khổ muôn vàn bi thương !

 

      Thật chí tình chí nghĩa, Nguyên Chẩn nhớ đến từng việc, từng việc một của vợ mình khi còn sống, cho nên áo quần thì bố thí cho người nghèo gần hết, chớ kim chỉ mà ngày thường vợ thường dùng để may vá thì không dám mở ra, sợ gợi lại hình ảnh của vợ lúc còn sống; Vốn biết vợ có lòng nhân từ hay thương người ăn kẻ ở trong nhà nên cũng đối xử với họ tốt hơn... và mặc dù bây giờ làm quan đã giàu sang rồi, vẫn còn nhớ lúc vợ chồng thuở hàn vi trăm việc đều buồn thương sầu thảm.

 

 遣悲懷.其三          KHIỂN BI HOÀI (3)

 

閒坐悲君亦自悲,      Nhàn tọa bi quân diệc tự bi,

百年都是幾多時?      Bách niên đô thị kỷ đa thì ?

鄧攸無子尋知命,      Đặng Du vô tử tầm tri mệnh,

潘岳悼亡猶費詞。      Phan Nhạc điếu vong do phí từ.

同穴窅冥何所望?      Đồng huyệt yểu minh hà sở vọng,

他生緣會更難期。      Tha sinh duyên hội cánh nan kỳ.

惟將終夜長開眼,      Duy tương chung dạ trường khai nhãn,

報答平生未展眉。      Báo đáp bình sinh vị chuyển mi.

               元稹                                        Nguyên Chẩn

* Chú Thích :

    - Đặng Du 鄧攸 : Theo Tấn Thư ghi chép : ĐẶNG DU (?-326) người đời Tây Tấn, tự là Bá Đạo, là quan Thái Thú đất Hà Tây. Cuối năm Vĩnh Gia trong chiến tranh loạn lạc, Du đã bỏ con chết trong chiến loạn mà cứu lấy cháu do em trai gởi gắm, với lý do mình còn có thể sanh con khác được, chứ cháu mà chết rồi thì làm sao sanh được đứa cháu khác đây ? Cuối cùng, vợ ông không còn khả năng mang thai nữa. Đành phải nạp thiếp, khi hỏi rõ lý lịch thì biết cô thiếp mà mình định nạp là cháu gái con của em vợ mình, nên thôi. Ông cho đó là số mạng của mình, nên từ đó không có ý định nạp thiếp nữa. Rồi đành chịu cảnh vô hậu, không người nối dõi.

   - Phan Nhạc 潘岳 : Cũng theo Tấn Thư ghi chép : PHAN NHẠC(247-300) người đời Tây Tấn, tự là An Nhân. Người đời thường gọi ông là PHAN AN 潘安, là một văn học gia nổi tiếng đẹp trai, là Huyện Lệnh của đất Hà Dương. Vợ là Dương Thị, chết trẻ. Ông vô cùng thương nhớ vợ và làm rất nhiều thơ để phúng điếu, trong có 3 bài "Điếu Vong Thi 悼亡詩" rất nổi tiếng, được nhiều người biết đến.

   - Yểu Minh 窅冥 : là Nơi xa xôi tăm tối, chỉ Âm Phủ.

   - Hà Sở Vọng 何所望?: Còn kỳ vọng mong mõi gì nữa đây ?

   - Duyên Hội 緣會 : là Duyên hội ngộ, là cái nhân duyên gặp gỡ nhau.

   - Cánh Nan Kỳ 更難期 : là Càng khó mà trông mong hơn nữa.

   - Khai Nhãn 開眼 : Mở mắt, vì không ngủ được.

   - Triển Mi 展眉 : là Nở mày; ý chỉ Nở mày nở mặt.

 

* Nghĩa Bài Thơ :

        Rảnh rổi ngồi buồn nhớ thương bà mà cũng tự thương cho thân tôi nữa. Người ta thường nói trăm năm tơ tóc, nhưng trăm năm có là bao đâu ? Đặng Du không có con nối dõi cũng do nơi mạng số; còn Phan An khóc điếu vợ rồi thì lời điếu cũng thoảng qua thôi. Đã không còn trông mong chết cùng chung một huyệt mộ, thì duyên hội ngộ ở kiếp sau cũng không dễ gì trông mong cho có được đâu. Giờ chỉ còn biết nhớ thương bà mà "mở mắt" suốt đêm trường không ngủ, để báo đáp lại lúc còn sống nghèo khổ bà chẳng "Nở mặt nở mày" được !(Khi tôi đã làm quan lớn).

 

* Diễn Nôm :

                          KHIỂN BI HOÀI (3)

 

                     

 

                   Ngồi rảnh nhớ nàng dạ xót thay,

                   Bách niên giai lão mất còn ai ?

                   Đặng Du vô tử đành hiu hẩm,

                   Phan Nhạc điếu vong những cảm hoài.

                   Chung huyệt chung mồ thôi ngóng đợi,

                   Kiếp sau kiếp nữa khó mong thay.

                   Suốt đêm mở mắt tuôn dòng lệ,

                   Báo đáp nàng xưa chẳng mở mày !

   Lục bát :

                   Buồn nàng rồi lại buồn ta,

                   Trăm năm tơ tóc có là bao nhiêu ?

                   Đặng Du vô tử hẩm hiu,

                   Phan An khóc vợ nghe nhiều xót xa.

                   Hết mong chung huyệt đôi ta,

                   Kiếp sau gặp gỡ cũng là viễn vong.

                   Suốt đêm mở mắt nhớ mong,

                   Vì nàng đến chết vẫn không mở mày !

 

       Thật chân tình, thật thực tế và thực cảm động lòng người ! Ngồi buồn nhớ thương bà mà cũng tự thương cho thân tôi. Người ta nói trăm năm hạnh phúc, nhưng hạnh phúc thật sự có được bao nhiêu đâu ? Tôi với bà không có con, âu đó cũng là do số mạng ta phải thế; Tôi làm thơ thương khóc bà rồi cũng chỉ như làn gió thoảng thôi, vì bà đâu còn nghe thấy được nữa đâu. Chúng ta từng nguyện sống chung nhà và chết thì chung một huyệt mộ, nhưng đó cũng chỉ là những chuyện viễn vông, cũng như hẹn sẽ cùng nhau gặp gỡ ở kiếp lai sinh đều là những chuyện huyễn hoặc không thể nào có thật được. Việc thực tế nhất trước mắt là tôi luôn "mở mắt" thức trắng thâu đêm vì thương cho bà lúc còn sống đã không được "mở mày mở mặt" với người đời !

 

       Qua ba bài thơ vừa điếu tang, vừa bày tỏ nỗi lòng thương nhớ vợ chẳng may mất sớm của Nguyên Chẩn. Ta thấy ông đã sử dụng những chi tiết rất nhỏ nhặt, rất tầm thường trong cuộc sống, như quần áo, trâm cài, rau dại, lá khô... Sự hiền thục của vợ như mến thương người ăn kẻ ở trong nhà, sống kham khổ với chồng mà chẳng chút oán than trách móc, vợ chồng cùng ước hẹn sống chết có nhau, tái ngộ ở kiếp lai sinh... Chính những sự nhỏ nhặt tầm thường của các mặt trong đời sống thực tế của vợ chồng đã được ông than van kể lể làm cảm động lòng người đọc một cách chân thành như sự chân thành của ông trong những lời thơ  thương khóc vợ.

       Ngoài ba bài thơ thương tiếc điếu tang vợ như trên, Nguyên Chẩn còn có một hệ thống 5 bài thơ Tứ tuyệt "LY TỨ 離思" (Nỗi nhớ thương lúc phân ly) cũng rất nổi tiếng, nhất là bài thứ tư trong 5 bài nêu trên đã trở thành bất hủ :

 

                 曾經滄海難爲水,   Tằng kinh thương hải nan vi thủy,

                 除卻巫山不是雲。   Trừ khước Vu Sơn bất thị vân.

                 取次花叢懶回顧,   Thủ thứ hoa tùng lãn hồi cố,

                 半緣修道半緣君。   Bán duyên tu đạo bán duyên quân.

    Có nghĩa :

       Nếu không phải là nước của biển xanh mênh mông thì không phải là nước.  Ngoại trừ những mây mù trên đỉnh Vu Sơn ra, còn lại đều không phải là mây. Đã lơ đễnh qua khỏi khóm hoa rồi thì cũng lười biếng quay đầu nhìn lại, vì lòng đã trót theo tu đạo, và cũng vì trong lòng ta đã có hình bóng của em rồi.

 

    Diễn Nôm :

                   

 

                 Chẳng là biển rộng không là nước,

                 Trừ bỏ Vu Sơn chẳng phải mây!

                 Trước khóm hoa tươi lười biếng ngắm,

                 Nửa vì tu đạo nửa nàng đây.

    Lục bát :

                 Biển xanh mới thật nước đây,

                 Chẳng Vu Sơn đó chẳng mây trên trời.

                 Quay đầu biếng ngắm hoa tươi,

                 Nửa vì đaọ hạnh nửa vui vì nàng.

 

       Ý của Nguyên Chẩn là :"Ngoại trừ vợ ông ra, thì không có người đàn bà nào trên đời nầy đáng cho ông yêu nữa cả ! Dù có đi qua một "rừng hoa" trước mắt, ông cũng không buồn quay đầu lại để nhìn ngắm, vì đạo hạnh và nhất là vì trong lòng ông đã có hình bóng của vợ ông rồi. Không có bất cứ người đàn bà nào khác có thể thay thế được ! 

      Bốn chữ đầu của câu thơ thứ nhất "TẰNG KINH THƯƠNG HẢI 曾經滄海" đã trở thành Thành Ngữ để chỉ khi "Một chàng trai yêu một cô gái nào đó mà cho rằng ngoài nàng ra thì chẳng thể nào yêu người khác được nữa", dùng bốn chữ TẰNG KINH THƯƠNG HẢI để tỏ tình và để cho nàng biết là ngoài nàng ra chàng sẽ không còn yêu ai khác, nếu không lấy được nàng thì chàng sẽ..."ở vậy nuôi con" cho đến hết đời ! Nên...

 

      Khi viết câu thơ trên Nguyên Chẩn muốn cho mọi người biết mình là người đàn ông chung tình, vợ chết rồi thì không còn yêu ai khác nữa và sẽ không lấy ai khác nữa. Nhưng ... khóc vợ chết thì nói thế, chứ đời sống thực tế của ông thì ông là người "bạ đâu yêu đó, gặp người nào yêu người nấy và bỏ... người kia" là.... KẺ BẠC TÌNH NHẤT trong tất cả những đàn  ông bạc tình ở trên đời nầy ! Mời đọc lại bài "BẠC TÌNH NỔI TIẾNG ĐƯỜNG THI" thì sẽ rõ !

 

      Hẹn bài viết tới !

 

                                                                                                        杜紹德

                                                                                                    Đỗ Chiêu Đức

Bạc Tình Nổi Tiếng Đường Thi - Nguyên Chẩn

 

 

Tằng kinh thương hải nan vi thủy, 曾經滄海難爲水,

Trừ khước Vu sơn bất thị vân. 除卻巫山不是雲。

 

Hai câu thơ trên có nghĩa: 

Chẳng là biển rộng không là nước,

Trừ bỏ Vu Sơn chẳng phải mây!

 

Ý của lời thơ là :"Nếu không phải là nước của biển xanh mênh mông thì không phải là nước. Ngoại trừ những mây mù trên đỉnh Vu Sơn ra, còn lại đều không phải là mây !" Tác giả là NGUYÊN CHẨN một đại văn thi sĩ đời Đường đã làm thơ khóc vợ với 2 câu thơ trên. Ý của ông là :"Ngoại trừ vợ ông ra, thì không có người đàn bà nào trên đời nầy đáng cho ông yêu nữa cả !". Chung tình đến thế, yêu vợ đến thế là cùng. Nhưng ... khóc vợ chết thì nói thế, chứ đời sống thực tế của ông thì ông là ... KẺ BẠC TÌNH NHẤT trong tất cả những đàn ông bạc tình ở trên đời nầy ! Mời đọc tiểu sử của ông dưới đây sẽ rõ ...

 

NGUYÊN CHẨN (779-831), người đất Lạc Dương Hà Nam, từ nhỏ đã thông minh cơ trí hơn người, nổi tiếng học giỏi, là Tiến sĩ cùng khoa với Bạch Cư Dị. Hai người là bạn thơ thân thiết với nhau suốt đời, cùng vận động và đề xướng ra NGUYÊN HÒA THỂ 元和體 trong nhạc phủ. Người đời xưng tụng là Thể NGUYÊN BẠCH 元白, cho thấy ông được xếp đứng trước cả Thi Bá Bạch Cư Dị.

Thành tựu về mặt văn thơ của Nguyên Chẩn thì không còn gì nghi ngờ và phải bàn cải nữa; Nhưng về mặt tình cảm lăng nhăng lãng mạn "Bạc tình nổi tiếng lầu xanh" thì cũng không còn gì để bàn cải nữa! Nguyên Chẩn là anh chàng phụ tình có một không hai trong đời Đường, trên từ tiểu thơ con nhà quyền qúy, đến các cô gái nhà lành khuê môn bất xuất, rồi đến các nữ sĩ đạo cô tài hoa phóng đãng cho đến các ca kỹ nổi tiếng lầu xanh ... Tất cả đều bị ruồng rẫy bầm dập dày dò và chết dưới tay của chàng lãng tử tài hoa nầy.

Đầu tiên là Thôi Song Văn 崔雙文, tức là nàng Thôi Oanh Oanh 崔鶯鶯, còn Nguyên Chẩn tức là Trương Quân Thụy 張君瑞 tức Trương Sinh 張生, mà sau nầy nhà văn Vương Thực Phủ 王實甫 đã viết thành truyện TÂY SƯƠNG KÝ 西廂記 nổi tiếng vào đời nhà Nguyên. Năm Trinh Nguyên thứ 15 (799), Nhà của một bà dì bà con xa bên mẹ, vì chiến loạn phải chạy đến tạm lánh ở nhà Nguyên Chẩn. Chẩn trông thấy cô biểu muội họ xa tài mạo song toàn, vừa đẹp vừa xinh lại có tài văn thơ, bèn kết ngay từ giây phút đầu gặp gỡ. Tiểu thơ họ Thôi cũng phải lòng ngay cái anh biểu huynh tài hoa đẹp trai "Văn chương nết đất thông minh tính trời" mới có 21 tuổi nầy. Hai người rất nhanh đã ngã vào lòng nhau sau những lời thề non hẹn biển. Nhưng rồi chàng phải lên đường lai kinh ứng thí, nàng phải gạt lệ luyến lưu đưa tiễn người yêu bên ngoài mười dặm trường đình. Nhưng rồi ...

 

Mái Tây để lạnh hương nguyền,

Cho duyên đằm thắm ra duyên bẽ bàng!

 

 

 

Chờ đợi mỏi mòn, cuối cùng nàng cũng được tin: Mặc dù chàng thi rớt, nhưng lại được quan lớn hai đời là Kinh Triệu Doãn Vi Hạ Khanh biết đến tài, tin tưởng rằng Nguyên Chẩn sẽ phát tích trong tương lai, nên mới gã cho cô con gái út là Vi Tùng. Nên chàng lưu lại đất Trường an để chờ đợi khoa thi sau.

 

Vi Tùng 韋叢 tự là Huệ Tùng 蕙叢, mặc dù là tiểu thơ con nhà quan nhưng rất hiền thục, không ham phú quý hư vinh, hết lòng thương yêu chăm sóc và giúp đỡ cho chồng dùi mài kinh sử để chờ đợi khoa thi. Thế mà khi Nguyên Chẩn đã thi đậu làm quan lớn rồi thì Vi Tùng lại vắn số chết đi khi mới vừa 27 tuổi. Trong ba bài thơ KHIỂN BI HOÀI 遣悲懷 làm để điếu tang vợ, thì bài thứ nhất Nguyên Chẩn đã tả lại cảnh chịu thương chịu khó của vợ như sau :

 

謝公最小偏憐女, Tạ công tối tiểu thiên lân nữ,

自嫁黔婁百事乖。 Tự gía kiềm lâu bách sự quai.

顧我無衣搜藎篋, Cố ngã vô y sưu tẫn giáp,

泥他沽酒拔金釵。 Nệ tha cô tửu bạt kim thoa.

野蔬充膳甘長藿, Dã sơ sung thiện cam trường hoắc,

落葉添薪仰古槐。 Lạc diệp thiêm tân ngưỡng cổ hoài.

今日俸錢過十萬, Kim nhật bổng tiền qúa thập vạn,

與君營奠復營齋。 Dữ quân doanh điện phục doanh trai.

 

Có nghĩa:

 

Gái út Tạ công được mến yêu,

Gã cho hàn sĩ lắm tiêu điều.

Lo ta áo cũ moi rương nát,

Vì mỗ rượu ghiền bán lược yêu.

Rau cháo đỡ lòng ăn xí xóa,

Lá cây làm củi ước rơi nhiều.

Nay ta bổng lộc hơn mười vạn,

Phúng điếu mong nàng sớm độ siêu!

 

Tình nghĩa vợ chồng thật thắm thiết mặn nồng, đọc thơ ai dám bảo đây là ông chồng phong lưu lãng tử bạc tình ? Ấy thế, mà trong khoảng thời gian vợ nằm bệnh cũng chính là thời gian Nguyên Chẩn đang dan díu với Đệ nhất Nữ Tài Tử đời Đường là Tiết Đào 薛濤, khi ông đang giữ chức Án Sát Ngự Sử ở đất Tây Xuyên. Thế mà lại khóc vợ thảm thiết với 2 câu thơ để đời thiên cổ đã nêu ở đầu bài : 

 

Tằng kinh thương hải nan vi thủy, 曾經滄海難爲水,

Trừ khước Vu sơn bất thị vân. 除卻巫山不是雲。

 

Rất nhiều người thắc mắc là : Không biết hai câu thơ trên đây Nguyên Chẩn làm để khóc vợ hay khóc cho mối "tình chị em" nhưng không kém phần say đắm với Tiết Đào, hay là khóc cho tiểu thơ Thôi Oanh Oanh đang mõi mòn chờ đợi ở dưới Mái Tây. Chỉ biết không chỉ Tiết Đào mê đắm Nguyên Chẩn mà Nguyên Chẩn cũng rất say mê bà chị ca kỹ tài danh lớn hơn mình đến 11 tuổi nầy, chàng đã vắt óc tổn hao tâm tư để viết nên một bài thất ngôn luật thi để "Ký Tặng Tiết Đào 寄贈薛濤" như sau:

 

錦江滑膩蛾眉秀, Cẩm Giang hoạt nhị nga mi tú,

幻出文君與薛濤。 Huyễn xuất Văn Quân dữ Tiết Đào.

言語巧偷鸚鵡舌, Ngôn ngữ xảo thâu anh vũ thiệt,

文章分得鳳凰毛。 Văn chương phân đắc phụng hoàng mao.

紛紛辭客多停筆, Phân phân từ khách đa đình bút,

個個公卿欲夢刀。 Cá cá công khanh dục mộng đao.

別後相思隔煙水, Biệt hậu tương tư cách yên thủy,

菖蒲花發五雲高。 Xương bồ hoa phát ngũ vân cao.

 

Có nghĩa:

 

Cẩm Giang làm mượt nga my,

Có Tiết Đào đẹp thua gì Văn Quân.

Nói năng anh vũ hót xuân,

Văn chương phụng múa xa gần đều khen.

Văn nhân chẳng dám đua chen,

Công hầu đều phục mấy phen mộng hồn.

Chia thay nhung nhớ bồn chồn,

Xương bồ hoa tỏa ngát hơn mây trời!

 

 

 

Nhưng hạnh phúc lại chẳng dài lâu, chỉ vỏn vẹn đến với nàng trong 3 tháng. Vì tháng 7 năm đó, chàng Giám Sát Ngự Sử Nguyên Chẩn lại được lệnh vua điều đến Lạc Dương. Tiết Đào vô cùng thất vọng, nàng như hụt hẫng khi hạnh phúc vuột khỏi tầm tay. Cũng may là sau đó ít lâu thì lại nhận ngay được thơ của Nguyên Chẩn tỏ tình lưu luyến nhớ thương. Cứ thế tình yêu của lứa đôi tuy xa cách phương trời, nhưng lại được trải lòng trên những câu thơ trăm nhớ ngàn thương của thư đi tin lại. Chính thời gian nầy Tiết Đào đã nghĩ ra việc sáng chế một mẫu giấy chỉ đủ để chép một bài thơ cho gọn đẹp, đó là TIẾT ĐÀO TIÊN 薛濤箋 và sáng chế nầy còn lưu truyền mãi cho đến hiện nay. Nhưng rồi người tình tài hoa trẻ tuổi đẹp trai cũng bặt vô âm tín, mặc dù thơ của Tiết Đào đã gởi đi mấy lượt:

 

風花日將老, Phong hoa nhựt tương lão,

佳期猶渺渺。 Giai kỳ do miễu miễu.

不結同心人, Bất kết đồng tâm nhân, 

空結同心草. Không kết đồng tâm thảo.

 

Có nghĩa:

 

Gió đưa hoa rụng về đâu,

Giai kỳ biết đến khi nào gặp đây?

Đồng tâm người ở chân mây,

Đồng tâm cỏ kết còn đây rành rành.

 

Cuối xuân năm Nguyên Hòa thứ 6 (811), Nguyên Chẩn đến Giang lăng thăm bạn đồng liêu là Lý Cảnh Kiệm. Kiêm biết Chẩn vừa mới chết vợ, đời sống neo đơn, không ai chăm sóc cho cái ăn cái mặc, bèn làm mai biểu muội của mình là An Tiên Tần 安仙嬪 gã cho Nguyên Chẩn làm trắc thất (vợ lẽ). Cũng trong năm đó, Tễ Tướng Bùi Độ qua đời, Nguyên Chẩn mất đi chỗ dựa, bèn theo Kinh Nam Tiết Độ Sứ đi chinh phạt một nhóm dân tộc thiểu số đứng lên bạo động làm phản ở Hồ Nam. Chỉ được mấy năm An Tiên Tần cũng cởi hạc quy tiên ở Giang Lăng, sau khi để lại cho Nguyên Chẩn một đứa con. Chàng cũng đã thương nhớ người thứ thất nầy qua ba bài thơ "Giang Lăng Tam Mộng 江陵三夢" với các câu như:

 

平生每相夢, Bình sinh mỗi tương mộng,

不省两相知。 Bất tỉnh lưỡng tương tri.

况乃幽明隔, Huống nãi u minh cách,

夢魂徒尔为。 Mộng hồn đồ nhĩ vi.

 

Có nghĩa:

 

Bình sinh mỗi lúc cùng mơ,

Hai người tri kỷ dật dờ hai phương.

Huống nay cách trở âm dương,

Mộng hồn ngơ ngẩn người thương đâu rồi!

 

Hoặc như:

 

君骨久为土, Quân cốt cửu vi thổ,

我心長似灰。 Ngã tâm trường tự hôi.

百年何处尽, Bách niên hà xứ tận,

三夜夢中来。 Tam dạ mộng trung lai.

 

Có nghĩa:

 

Xương nàng đã hóa bụi hồng,

Tim ta cũng tắt lửa lòng từ lâu.

Trăm năm nào có gì đâu,

Ba canh hồn mộng đêm sầu khôn vơi!

 

Sầu thảm khóc thương thê thiếp thì nói thế chớ không phải thế. Mùa xuân năm Nguyên Hòa thứ 11 (816) Nguyên Chẩn 37 tuổi, lại được thượng cấp là Sơn Nam Tây Đạo Tiết Độ Sứ Quyền Đức Dự làm mai để cưới một tiểu thơ con nhà khuê các khác là Bùi Thục 裴淑. Bùi Thục là con của ngự sử Bùi Vân, trên đường đi nhậm chức ghé qua ra mắt Quyền Đức Dự, Trong buổi tiệc chiêu đãi Nguyên Chẩn và Bùi Thục phải lòng nhau, nên mới có mối lương duyên nầy. Lần thứ ba tân hôn, Nguyên Chẩn ngây ngất với hạnh phúc tràn đầy bên cô dâu trẻ, mãi đến khi sinh con được ba tháng mới trở về Thông Châu, nhậm chức Quắc Châu Trưởng Sử.

 

Tuy đã ba lần kết hôn, hai lần ruồng rẫy người yêu, Nguyên Chẩn vẫn chưa chịu yên thân. Năm Trường Khánh thứ 3 (823) Nguyên Chẩn cải nhậm Thứ Sử Việt Châu kiêm Chiết Đông Quan Sát Sứ. Một lần nữa đi về nơi sông nước, Nguyên Chẩn chợt nhớ đến Tiết Đào, người tình xưa nay đã qúa tuổi năm mươi. Nhưng chưa kịp gặp lại thì đã gặp ngay được nàng ca kỹ, ca linh, ca sĩ nổi tiếng nhất xứ Việt Châu là Lưu Thái Xuân 劉采春. Vốn xuất thân trong giới bình dân, là một cô đào vừa diễn vừa ca, có chồng là Châu Qúy Sùng cũng là một linh công (kép diễn tuồng). Mặc dù tuổi đã gần 30, nhưng phong tư còn yểu điệu, đặc biệt là giọng hát vút cao như bay theo làn gió cuốn vút tận mây xanh, được giới mộ điệu khen tặng là "Bán nhập giang phong bán nhập vân 半入江風半入雲" ( Nửa theo làn gió của sông nước nửa như bay bổng tận mây xanh), nên...

Khi quan lớn Thứ sử kiêm Quan Sát Sứ Nguyên Chẩn lúc bấy giờ đã ngoại 40, vừa gặp mặt lần đầu đã chết mê chết mệt ngay với cô ca linh tài hoa hương trời sắc nước nầy, quên mất tiêu người tình cũ Tiết Đào vẫn còn đang làm thơ chép trên giấy "Tiết Đào Tiên" để gởi đến cho mình lời thơ nhung nhớ. Nguyên Chẩn "rước" Lưu Thái Xuân về "dinh" với quan lớn, bỏ lại gánh hát, bỏ chồng bỏ con, bỏ cả vùng sông nước nơi đã hun đúc nên giọng hát thiên phú tài hoa của nàng. Những tưởng cuộc sống giàu sang phú qúy sẽ đem lại hạnh phúc mãi mãi với ông chồng quan lớn lại vừa là thi nhân tài tử đã có những lời thơ ca ngợi giọng hát của nàng như:

 

更有惱人腸斷處, Cánh hữu não nhân trường đoạn xứ,

選詞能唱"望夫歌"。 Tuyển từ năng xướng VỌNG PHU CA!

 

Có nghĩa:

 

Cất giọng khiến người sầu đứt ruột,

Chọn từ nên khúc "Vọng Phu Ca"! 

 

 

 

Nào ngờ...

Cuộc sống tưởng chừng như hạnh phúc sẽ miên trường kia chỉ kéo dài được có 7 năm. Năm Công Nguyên 829, Nguyên Chẩn được điều về Trường An, hồi triều để giữ chức Thượng Thư Tả Thừa. Bỏ lại Lưu Thái Xuân chờ đợi mõi mòn ròng rã suốt hai năm trường. Khi biết ra thì Nguyên Chẩn đã có người yêu khác là Linh Lung, một hồng nhan tì thiếp của Bạch Cư Dị. Thẹn với chồng với con, với đoàn ca kịch, với sông nước Giang Nam... Khoảng năm Công Nguyên 831, Lưu Thái Xuân đã nhảy xuống sông tự trầm để kết liễu đời mình khi chỉ mới hơn ba mươi tuổi...

 

Không cần biết là với thủ thuật nào (mua chuộc, ép buộc hay cưởng chiếm...) Ngài quan lớn Nguyên Chẩn vẫn phải chịu trách nhiệm là kẻ phá hoại gia cang người khác, là kẻ bạc tình lang sẵn sàng vứt bỏ người yêu không thương tiếc để chạy theo công danh hoặc chạy theo một bóng hình khác. Sau cô đào Lưu Thái Xuân, Nguyên Chẩn còn một cuộc tình không chính đáng nữa với Linh Lung 玲瓏, một tì thiếp của Bạch Cư Dị...

Nguyên và Bạch ngoài việc cùng xướng họa văn thơ, và cùng sáng tạo ra thể nhạc phủ "Nguyên Hòa Thể 元和體" ra, ngày thường đôi tri kỷ tri âm nầy còn có một trò chơi vượt ngoài tầm cho phép của Nho Gia là : Cùng trao đổi tì thiếp với nhau. Nên nhân biết Bạch Cư Dị có một nàng tì thiếp là Linh Lung 玲瓏, xuất thân là ca kỷ ở Hàng Châu rất đẹp và nổi tiếng. Nguyên Chẩn bèn tìm gặp, thì qủa nhiên là một giai nhân tài sắc kiêm toàn, bèn "mượn" nàng về nhà để "chi dụng" qua hơn một tháng mới trả lại cho Bạch Cư Dị. Thật là hết nói cho tính phong lưu lãng tử buông thả không câu nệ của cặp đôi bằng hữu nầy, đã dám vượt lên trên lễ giáo để đi trước thời đại.

 

Về phần Nguyên Chẩn, suốt một đời phong hoa tuyết nguyệt, thưởng ngoạn biết bao là non xanh nước biếc, rượu ngon gái đẹp. Chàng lãng tử nổi tiếng là bạc tình nầy vừa thề non hẹn biển với người yêu (Thôi tiểu thơ), vừa làm thơ khóc điếu vợ chết (Vi Tùng), vừa dan díu với đạo cô nữ sĩ (Tiết Đào), vừa về kinh cưới con nhà khuê các (An Tiên Tần), vừa cưới con nhà quyền qúy khi trắc thất An Tiên Tần qua đời (Bùi Thục), rồi khi đến vùng sông nước lại chiếm đoạt phá hoại gia cang người khác (Lưu Thái Xuân), cuối cùng thì lại tằng tịu với tì thiếp của bạn (Linh Lung)... Quả là tiêu biểu cho một kẻ...

 

BẠC TÌNH nổi tiếng trong ĐƯỜNH THI, không còn phải biện minh gì nữa cả !

 

Hẹn bài viết tới:

" NGUYÊN CHẨN : Người chồng khóc vợ chân tình nhất !"

 

杜紹德

Đỗ Chiêu Đức

Tứ Đại Nữ Thi Nhân Đời Đường (4) :  

 

                                            LƯU THÁI XUÂN

                                          Cô Đào Ca Múa Giỏi Nhất đời Đường

              

       LƯU THÁI XUÂN 劉采春, năm sanh năm mất không rõ, chỉ biết là bà nhỏ hơn Tiết Đào khoảng gần 20 tuổi. Người đất Việt Châu thuộc huyện Thiệu Hưng tỉnh Chiết Giang ngày nay. Có thuyết cho là người đất Hoài Âm tỉnh Giang Tô. Lưu Thái Xuân là một ca linh nổi tiếng đời Trung Đường, là vợ của nghệ nhân Châu Qúy Sùng, cùng với anh chồng là Châu Qúy Nam lập thành một ban ca kịch. lúc bấy giờ gọi là Tham Quân Hí 參軍戲. là một hình thức hài kịch giúp vui, thường chỉ do các nam nghệ nhân thủ diễn cả vai nữ. Duy chỉ có ban kịch của Lưu Thái Xuân thì vai nữ do bà tự thủ diễn và còn đem cả các khúc ca được phổ thành nhạc từ những bài thơ nổi tiếng của các thi nhân lúc bấy giờ vào trong kịch. 

Sau loạn An Lộc Sơn, nhà Đường chỉnh đốn lại quân bị, phòng thủ biên cương, nên nam tử trượng phu phải đi lính thú để trấn thủ lưu đồn... bỏ lại gia đình vợ con để ra ngoài biên ải, một số thương nhân của vùng sông nước cũng bỏ nhà đi buôn để tìm lợi nhuận, như Bạch Cư Dị đã nói trong TÌ BÀ HÀNh là "Thương nhân trọng lợi khinh biệt ly 商人重利輕別離"(Kẻ thương buôn chỉ xem trọng lợi nhuận mà xem nhẹ sự ly biệt giữa vợ chồng với nhau). Vì thế phong trào thơ khuê oán lại dậy lên và lưu hành khắp mọi nơi trong nước. Lưu Thái Xuân lại có giọng ca thiên phú lảnh lót truyền cảm, nên khi nàng cất cao giọng thánh thót rót những lời thơ thương nhớ oán trách của những nàng khuê phụ trông chồng, thì các bà các cô đều không cầm được nước mắt. Trên 120 bài thơ khuê oán đã được tiếng hát của bà mang đi khắp cả vùng giang nam giang bắc, những khúc "Vọng Phu Ca 望夫歌" nầy còn được gọi một cách nôm na bình dân là "La Cống Khúc 囉嗊曲". LA CỐNG vốn là tên của một lâu đài do Trần Hậu Chủ xây nên bên bờ sông Tần Hoài để vui chơi hưởng lạc; dân chúng đi ngang qua đó thường nghe những khúc nhạc du dương vẳng ra, rồi cũng bắt chước mà hát theo khi đang đi trên sông nước để làm vui, thét rồi thành câu hò giọng hát trên sông.Trong Toàn Đường Thi Tập có 6 khúc "LA CỐNG KHÚC" do bà tự sáng tác và phổ vào nhạc phủ, như :

                    

                 不喜秦淮水,    Bất hỉ Tần Hoài thủy,

                 生憎江上船。    Sinh tăng giang thượng thuyền.

                 載兒夫壻去,    Tải nhi phu tế khứ,

                 經歲又經年。    Kinh tuế hựu kinh niên !

  Có nghĩa :

            "Bất hỉ" là không vui, không vui là không ưa không thích nước của con sông Tần Hoài. "Sinh tăng" là Sinh ra ghét, là Đâm ra ghét luôn những con thuyền qua lại trên dòng sông đó. Vì ... chúng chở chồng của con đi đi mãi, hết năm nầy qua năm khác (mà không thấy trở về gì cả !).

 

   Diễn Nôm :

                   

 

                Chẳng ưa sông nước Tần Hoài,

                Ghét luôn qua lại thuyền ai trên dòng.

                Chở đi con, chở đi chồng,

                Năm nầy tháng nọ trông mong mõi mòn !

        

        Lời thơ mộc mạc bình dân, cùng với tiếng ca truyền cảm điêu luyện của Lưu Thái Xuân dễ đi vào lòng người với các từ thông dụng như BẤT HỈ (không vui), SINH TĂNG (Đâm ra giận), KINH TUẾ hựu KINH NIÊN (Qua năm nầy đến năm khác)... dễ làm ray rức xúc động lòng người cô phụ trông chồng trong chốn phòng khuê lạnh lẽo, một thân một mình chiếc bóng lẻ loi. Oán trách chán rồi thì lại tự an ủi mình như lời thơ kỳ nhị :

 

                 借問東園柳,    Tá vấn đông viên liễu,

                 枯來得幾年。    Khô lai đắc kỷ niên ?

                 自恨枝無葉,    Tự hận chi vô diệp,  

                 莫怨太陽偏。    Mạc oán thái dương thiên.

  Có nghĩa :

            Dám hỏi mấy cây liễu ở vườn đông kia đã khô được mấy năm rồi ? (Thôi thì nên) chỉ tự hận cành nhánh của mình không ra nổi lá nữa, chớ đừng oán trách ánh nắng thiên lệch (không chịu chiếu vào mình nên lá mới mọc ra không nổi !). Hai câu cuối "自恨枝無葉 Tự hận chi vô diệp, 莫怨太陽偏 Mạc oán thái dương thiên" đã trở thành hai câu châm ngôn để tự an ủi mình khi gặp việc bất đắc ý như thi rớt, thất bại...

 

  Diễn Nôm :

                   

               Liễu kia ướm hỏi tường đông,

               Khô tàn đã trải mấy năm qua rồi ?

               Đành thôi tự hận cành còi...

               Trách chi ánh nắng thiệt thòi riêng ta !

 

       Oán trách rồi cam chịu, hờn mát rồi lại tự an ủi mình, vì có chồng thương lái nên đành phải chịu cảnh phòng không. Ngày ngày cứ đứng ngóng bên bờ sông mong mõi bóng chàng về như người cô phụ vọng phu, rồi lại nuối tiếc...

 

                莫作商人婦,    Mạc tác thương nhân phụ,

                金釵當卜錢。    Kim thoa đương bốc tiền.

                朝朝江口望,    Triêu triêu giang khẩu vọng,

                錯認幾人船。    Thác nhận kỷ nhân thuyền !

 Có nghĩa :

             Đừng làm vợ của các ông lái buôn, cứ phải rút cây trâm vàng đi làm tiền bói toán (xem coi bao giờ thì chàng mới trở về!). Cứ mỗi buổi sáng là lại đứng trông ngóng ở đầu sông và cứ mấy lượt nhận nhầm thuyền của người khác (mà cứ tưởng là thuyền của chồng mình về!).

 

   Diễn Nôm :

                   

                  Chớ làm vợ của lái buôn,

                  Trâm vàng bói toán thêm buồn tuổi xanh.

                  Ngày ngày trông ngóng bóng anh,

                  Nhận nhầm thuyền khác nên đành ngẩn ngơ !

 

      Đọc bài thơ ca nầy lại làm cho ta nhớ đến bài GIANG NAM KHÚC của LÝ ÍCH :

      

                   嫁得瞿塘賈,    Giá đắc Cù Đường cổ,

                   朝朝誤妾期。    Triêu triêu ngộ thiếp kỳ.

                   早知潮有信,    Tảo tri triều hữu tín,

                   嫁與弄潮兒。    Giá dữ lộng triều nhi !

   Có nghĩa :

                   Ai xui lấy lái Cù Đường,

                   Ngày ngày bỏ thiếp sầu thương ưu phiền

                   Lớn ròng con nước thường xuyên

                   Phải dè lấy gả chèo thuyền cho xong !

 

                   

 

      Ta thấy, tình yêu nam nữ ở bất cứ thời đại nào cũng mãnh liệt vô cùng, tình yêu của nàng "thương lái" nầy rất thực tế, rất nhân bản, và cũng rất mãnh liệt...dám nói lên tiếng nói của con tim yêu đương cuồng nhiệt, chữ "Tảo tri" (sớm biết) là  "Phải dè" sớm biết trước, nước thủy triều lên xuống đúng hẹn, không sai bao giờ. Thì thà trước kia lấy gã chèo đò cho xong ! Nhưng oán trách thì nói thế, chớ "ngu sao" lấy gả chèo đò.  Vì, nước thủy triều thì lên xuống đúng hẹn, nhưng "gả chèo đò" chưa chắc đã về nhà đúng hẹn đâu ( mắc "đi nhậu" chẳng hạn ...). "Oán" thì nói "lẫy" thế thôi, chứ lấy chồng thương buôn giàu có vẫn hơn là lấy anh chèo đò để uống nước sông... cầm hơi à ?!                        

 

      Trong một bài khác, sau khi chờ đợi mõi mòn thì người cô phụ trông chồng lại nằm nhà để "theo dõi bước anh đi", nhưng bước chân giang hồ vô định càng đi càng xa, phiêu bạt vô chừng như lời ca sau đây:

 

                那年離別日,    Na niên ly biệt nhựt,

                只道住桐廬。    Chỉ đạo trú Đồng Lư,

                桐廬人不見,    Đồng Lư nhân bất kiến,

                今得廣州書。    Kim đắc Quảng Châu Thư.

Có nghĩa :

                Ngày chia tay năm ấy, những tưởng là chàng  trú ngụ ở Đồng Lư. Nhưng sao có người đến Đồng Lư lại không gặp được chàng. Hôm nay nhận được thư chàng từ Quảng Châu gởi đến (mới biết là chàng lại đi càng xa hơn nữa, đến tận xứ Quảng Châu rồi !).

 

      Diễn Nôm :

                           

                           Chia tay hôm ấy năm kia,

                           Đồng Lư vẫn đợi chàng dìa bao năm.

                           Đồng Lư người vẫn bặt tăm,

                           Được thư mới biết ăn nằm Quảng Châu.

 

        Thấp thỏm đợi chồng về ngờ đâu chàng càng đi lại càng xa ! Biết này nào mới về lại cho đây? Chờ đợi rồi lại đợi chờ, "Ngày xuân mòn mõi má hồng phôi pha". Ngày qua tháng lụn năm tàn, người đi thì vẫn biền biệt phương trời, người ở lại cô phòng vẫn luôn khoắc khoải đợi mong đến đổi tóc đen đà hóa bạc :

 

              昨日勝今日,     Tạc nhật thắng kim nhật,

              今年老去年。     Kim niên lão khứ niên.

              黃河清有日,     Hoàng Hà thanh hữu nhật,

              白髮黑無緣。     Bạch phát hắc vô duyên !

   Có nghĩa :

             Hôm qua còn khá hơn hôm nay, năm nay thì lại già hơn năm qua.

             Nước sông Hoàng Hà còn có lúc trong, chớ tóc đã bạc rồi thì khó có

             cơ duyên gì làm cho đen lại được !

 

   Diễn Nôm :

                    

 

                     Hôm qua khá hơn hôm nay,

                     Năm nay gìa đến khó tày năm qua.

                     Có khi trong, nước Hoàng Hà,

                     Bơ phờ tóc bạc khó mà lại xanh !

 

        Lời hát của những bài VỌNG PHU CA sầu nhớ, áo não buồn thương lại được giọng ca thiên phú lảnh lót của Lưu Thái Xuân cất cao vang xa đến tận các khuê phòng làm cho những nàng cô phụ trông chồng không cầm được nước mắt nhớ thương, đến cả những lữ khách qua đường cũng phải ngẩn ngơ nhớ về nơi cố lý.

 

        Năm Công nguyên 823, đến trấn nhậm Thứ sử Việt Châu kiêm Chiết Đông Quan Sát Sứ là Nguyên Chẩn, một thi sĩ tài hoa đương thời đang ở độ tuổi 46, lại nổi tiếng là phong lưu bạc tình bậc nhất. Khi xem Lưu Thái Xuân diễn kịch và cất tiếng oanh vàng đã bị ngay tiếng sét ái tình mê mẩn và viết ngay một bài thơ "Tặng Lưu Thái Xuân 贈劉采春" ca ngợi nàng để tán tỉnh và tỏ lòng ái mộ :

 

               新妝巧樣畫雙蛾,    Tân trang xảo dạng họa song nga,

               謾裹常州透額羅。    Mạn khỏa Thường Châu thấu ngạch la.

               正面偷勻光滑笏,    Chính diện thâu quân quang hoạt hốt,

               緩行輕踏破紋波。    Hoãn hành khinh đạp phá văn ba.

               言辭雅措風流足,    Ngôn từ nhã thố phong lưu túc,

               擧止低回秀媚多。    Cử chỉ đê hồi tú mị đa.

               更有惱人腸斷處,    Cánh hữu não nhân trường đoạn xứ,

               選詞能唱"望夫歌"。  Tuyển từ năng xướng VỌNG PHU CA !

 

    Có nghĩa :

                    

 

                   Khéo tay trang điểm vẽ mày nga,

                   Phơ phất Thường Châu đẹp lụa là.

                   Điệu bộ thẳng ngay trông đĩnh đạc,

                   Gót hài yểu điệu lướt thu ba.

                   Lời từ văn vẻ phong lưu tuyệt,

                   Cử chỉ đoan trang nhã nhặn mà.

                   Cất giọng khiến người sầu đứt ruột,

                   Chọn từ nên khúc "Vọng Phu Ca"!

 

         Bài thơ vừa khen đào nương trang điểm đẹp, cử chỉ đoan trang thân hình yểu điệu, dáng vẻ phong lưu, lại biết soạn nên Vọng Phu Ca với lời ca thánh thoát làm xúc động lòng người... nên đã đánh động lòng của cô đào trẻ đẹp Lưu Thái Xuân. Vị quan lớn đa tình tài hoa đã khuấy động cuộc sống đang bình ổn an phận của nàng ca linh trên vùng sông nước. Nàng đã không cầm được lòng trước sự tỏ tình và cám dỗ của đối phương mà ngã vào vòng tay của Nguyên Chẩn, một tài tử đa tình nhưng chẳng chung tình chút nào cả. Nàng đã từ bỏ gia đình, chồng con, sông nước... mà về làm thiếp cho Thứ Sử Việt Châu Nguyên Chẩn.

 

        Năm Công Nguyên 829, Nguyên Chẩn được điều về Trường An, hồi triều để giữ chức Thượng Thư Tả Thừa. Bỏ lại Lưu Thái Xuân chờ đợi mõi mòn ròng rã suốt hai năm trường. Khi biết ra thì Nguyên Chẩn đã có người yêu khác là Linh Lung, một hồng nhan tì thiếp của Bạch Cư Dị. Thẹn với chồng với con, với đoàn ca kịch, với sông nước Giang Nam... Khoảng năm Công Nguyên 831, Lưu Thái Xuân đã nhảy xuống sông tự trầm để kết liễu đời mình khi chỉ mới hơn ba mươi tuổi, để lại một bài thơ tuyệt mạng như sau :

 

                聞道瞿塘顧堆懷,   Văn đạo Cù Đường cố đối hoài,

                高山流水近陽台。   Cao sơn lưu thủy cận Dương Đài.

                旁人哪得奴心事,   Bàng nhân nả đắc nô tâm sự,

                美景良辰永不回!   Mỹ cảnh lương thần vĩnh bất hồi !

     Có nghĩa :

                    
 

                    Nghe nói Cù Đường dạ xót xa,

                    Dương Đài non nước có đâu xa.

                    Người ngoài nào biết đâu lòng thiếp,

                    Cảnh đẹp thôi rồi chỉ thoáng qua !

 

        Thế là tàn một cuộc đời tài hoa, nhẹ dạ nên bị quyến rủ bởi lời ong tiếng ve của kẻ bạc tình ! Tội nghiệp thay cho thân phận của một ca nhi, suốt cả cuộc đời mang tiếng hát khóc thương cho số phận của những người thiếu phụ phòng không chiếc bóng mòn mõi đợi chồng về, cuối cùng, khóc cho người mà cũng khóc cho chính mình, khi kẻ bạc tình lang đã một đi không trở lại !...

Hẹn bài viết tới: NGUYÊN CHẨN kẻ bạc tình nổi tiếng

 

 杜紹德

Đỗ Chiêu Đức

Tứ Đại Nữ Thi Nhân Đời Đường (3) :  

 

                                                 LÝ  Dà 

                                                 Nữ trung Thi Hào : LÝ DÃ

          

      LÝ DÃ 李冶 (730-784), tự là Qúi Lan 季蘭 (Thái Bình Quảng Ký 太平廣記 ghi là TÚ LAN 秀蘭), người đất Ô Trình (thuộc Ngô Hưng tỉnh Chiết Giang hiện nay). Bà là nữ thi nhân nổi tiếng trên thi đàn đời Đường lúc bấy giờ. Bà từ nhỏ đã có tài thi thơ, lớn lên được cha đưa vào đạo quán xuất gia làm đạo cô, về già được triệu vào cung. Năm Công Nguyên 784, vì từng làm thơ ca ngợi loạn tướng Chu Thử, bị Đường Đức Tông hạ lệnh dùng gậy loạn đả đến chết. Bà lưu lại chỉ khoảng 15-16 bài thơ, nhưng đều là những tuyệt tác, được Lưu Trường Khanh 劉長卿 là thi sĩ nổi tiếng lúc bấy giờ gọi là Nữ Trung Thi Hào 女中詩豪.

 

     Theo "Đường Thi Kỷ Sự và Thái Bình Quảng Ký 唐詩纪事和太平廣記" ghi lại : LÝ DÃ dung mạo đẹp đẽ, thiên phú cực cao, từ rất nhỏ đã tỏ rõ thi tài. Năm 6 tuổi đã từng làm thơ vịnh hoa tường vi, trong đó có hai câu :

 

                經時未架却,    Kinh thời vị giá khước,

                心绪乱縱横。    Tâm tự loạn tung hoành.

  Có nghĩa :

                Đến kỳ chưa kịp làm giàn,

                Hoa đà nở rộ tràn lan khắp cùng.

 

               Hai câu thơ vịnh hoa tường vi nở sớm rất hay, lại bị ông cha hiểu lệch đi vì ba chữ VỊ GIÁ KHƯỚC 未架却 (Chưa kịp làm giàn) là hài thanh của ba chữ VỊ GIÁ KHƯỚC 未嫁却 (Chưa xuất giá), chưa lấy chồng mà tâm đã loạn bùng bung lên rồi. Nên mặc dù mừng vì tài thơ mẫn tiệp của con trẻ, nhưng lại lo buồn vì sợ con gái khi lớn lên sẽ không giữ được sự đoan trang trong phụ đạo. Vì cứ mãi ưu tư vô cớ như thế nên khi Lý Qúi Lan mới có 11 tuổi, thì ông cha đã đưa cô bé vào Ngọc Chân Quán để xuất gia làm đạo cô. 

 

      Mặc dù lớn lên với chiếc áo của nữ đạo sĩ, Lý Qúi Lan vẫn cởi mở phóng khoáng như một nam nhân, chẳng những giỏi về thơ văn, nàng còn tinh thông cả âm luật và giỏi về đàn cầm. Nàng giao du với những danh sĩ đương thời như Chu Phóng, Lục Vũ, Lưu Trường Khanh, Diêm Bá Quân và nhất là với nhà sư trẻ trung đẹp trai Thích Kiểu Nhiên... cùng nhau giao tình xướng họa gạt bỏ hết tỵ hiềm nam nữ thường tình của thế nhân, tất cả đều xem nàng như là một nữ trung hào kiệt.

 

     Trước tiên nàng gặp được danh sĩ Chu Phóng. Tài tử giai nhân nhất kiến chung tình, lúc đôi lứa đang mặn nồng thì Chu Phóng lại nhận chiếu chỉ đi làm quan xứ khác. Thương nhớ dâng tràn khiến hồn thơ cũng lai láng, Lý Qúi Lan đã viết nên những câu thơ nổi tiếng trong bài "Tương Tư Oán 相思怨" như sau :

 

                 人道海水深,    Nhân đạo hải thủy thâm,

                 不抵相思半。    Bất để tương tư bán.

                 海水尚有涯,    Hải thủy thượng hữu nhai,

                 相思渺無畔。    Tương tư miễu vô bạn.

 

     Có nghĩa :

                     Người đời bảo nước biển sâu,

                     Tương tư thương nhớ còn sâu bội phần.

                     Mênh mông biển rộng vô ngần,

                     Tương tư còn rộng mênh mông hơn nhiều !

 

       Nhưng từ xưa đến nay, đàn ông vốn dĩ bạc tình, Chu Phóng đã một đi không trở lại. Chính đang lúc Lý Qúi Lan đang đau khổ thất vọng ê chề, thì Lục Vũ xuất hiện như một cứu tinh cứu vớt trái tim đang tan vỡ của người đẹp. Vũ lại là ông thánh về bình phẩm trà đã đem lại nhiều điều mật ngọt cho nàng qua các lần thưởng thức trà bên câu thơ tiếng nhạc. Hai người luôn chung bóng chung đôi sớm tối có nhau, nhưng chàng Lục Vũ đẹp mã phong lưu quen thói kia, chỉ ấp yêu Qúy Lan chưa đầy hai tháng thì lại tìm đường quất ngựa truy phong, bỏ lại hồng phấn giai nhân trong mõi mòn trông đợi, đi tìm cũng không tìm gặp được như trong bài "Tầm Lục Vũ bất ngộ 尋陸羽不遇" (Tìm Lục Vũ không gặp) sau đây :

 

                叩門無犬吠,     Khấu môn vô khuyển phệ,

                欲去問西家.     Dục khứ vấn tây gia.

                報道山中去,     Báo đạo sơn trung khứ,

                歸来每日斜.     Quy lai mỗi nhựt tà !

  Có nghĩa :

                    Gỏ cửa không chó sủa người,

                   Láng giềng ướm hỏi người thời đi đâu ?

                   Đáp rằng vào tận núi sâu,

                   Chỉ về khi nắng xế đầu nghiêng tây !

 

      Lục Vũ cũng bỏ nàng mà đi rồi !...

 

      Nhưng lưới tình khó tránh, đạo cô trẻ đẹp tài hoa đã lại phải lòng một cao tăng cũng trẻ đẹp tài hoa như nàng, đó chính là Thích Kiểu Nhiên, cháu mười đời của danh sĩ Tạ Linh Vân, cũng là ông tổ khai sáng ra trà đạo Trung Hoa, rất giỏi về bình phẩm các loại trà, được người đời xưng tụng là Giang Đông Danh Tăng 江東名僧 (Nhà sư nổi tiếng của đất Giang Đông). Sau lần đầu hội ngộ thì Lý Qúi Lan như chạm phải tiếng sét ái tình và sau nhiều lần gợi ý không thành, nàng quyết định làm một bài thơ tỏ tình với nhà sư như sau :

 

               尺素如殘雪,    Xích tố như tàn tuyết,

               結為雙鯉魚。    Kết vi song lý ngư.

               欲知心裡事,    Dục tri tâm lý sự,

               看取腹中書。    Khán thủ phúc trung thư !

  Có nghĩa :

               

 

               Trang thư như tuyết trắng ngần,

               Kết đôi cá lý bâng khuâng gởi người.

               Nếu như muốn tỏ lòng ai,

               Xem trong bụng cá biết ngay lòng này !

 

      Xích Tố là Thư tín ngày xưa như tàn tuyết, chỉ chữ hiện lên trên giấy như tuyết trắng, và thiếp đã xếp nó lại thành hình 2 con lý ngư để gởi đến chàng ( theo tích lý ngư đưa thư) Nếu chàng muốn biết mối tình ở trong lòng thiếp thì hãy móc bụng ra mà xem thư sẽ rõ. Lời thơ vừa tỏ tình vừa khiêu khích vừa bộc bạch hết nỗi lòng qua các từ "Tâm Lý Sự" là chuyện trong lòng và "Phúc Trung Thư" là Thư ở trong bụng. Sư Kiểu Nhiên đọc thư đã hiểu tình ý của người bạn thơ ca muốn nói gì rồi, nhưng nếu từ chối thẳng thừng thì lại e làm tổn thương đến tấm chân tình của nữ sĩ. Nhà sư cũng bèn từ chối bằng một bài thơ kéo léo sau đây :

               

                天女來相試,    Thiên nữ lai tương thí,   

                將花欲染衣。    Tương hoa dục nhiễm y.

                禪心竟不起,    Thiền tâm cánh bất khởi,

                還捧舊花歸。    Hoàn phủng cựu hoa quy !

    Có nghĩa :

 

                Tiên trời đến thử ta chăng,

                Đem hoa đến nhuộm áo tăng bụi hồng.

                Lòng thiền gởi hết am không,

                Hoa xinh dâng lại tạ lòng người tiên !  

 

       Qủa là bậc cao tăng có khác ! Từ chối một cách hết sức khéo léo, không chạm tự ái và không làm bẻ mặt người đẹp. Nàng là tiên trên trời đến đây nói yêu ta, có phải là muốn thử đạo hạnh của ta chăng ? Chớ lòng thiền của ta thì đã gởi hết cho cửa không rồi, cho nên tình yêu như đóa hoa xinh của nàng ta xin được gởi lại cho nguyên chủ. Từ chối khéo léo tế nhị đến thế là cùng.

       

     Trải qua bao lần thất vọng thất ý trong tình trường, và cũng trải qua biết bao là nhân tình thế thái, Lý Qúi Lan đã chịu đựng và thể nghiệm được triết lý của cuộc sống qua bài thơ BÁT CHÍ 八至 sau đây :

 

                至近至遠東西,    Chí cận chí viễn đông tây,

                至深至淺清溪。    Chí thâm chí thiển thanh khê.

                至高至明日月,    Chí cao chí minh nhựt nguyệt,

                至親至疏夫妻。    Chí thân chí sơ phu thê !

   Có nghĩa :

                    Gần nhất xa nhất đông tây,

                    Cạn nhất sâu nhất nước đầy núi khe.

                    Sáng cao nhất nhựt nguyệt kia,

                    Vợ chồng thân nhất, chia lìa không quen !

 

                   Rõ thật mĩa mai ! Đông và Tây nói gần thì thật gần có thể sát bên nhau như tay phải tay trái vậy, nhưng nếu nói xa thì cũng thật rất là xa, một người ở bên đông, một người ở bên tây, "Quân tại Tương Giang đầu, Thiếp tại Tương Giang vĩ", Xa xôi cách trở biết bao. Như nước trong veo trong khe núi chảy ra, có thể nhìn thấy đá tận đáy khe, có thể rất sâu mà cũng có thể rất cạn. Trên đây là hai sự kiện "Có Thế".Còn hai sự việc "Hiển nhiên" là Mặt trăng mặt trời là cao nhất sáng nhất; còn Vợ Chồng là cặp đôi thân thiết nhau nhất, mà cũng xa lạ nhau nhất, như ông bà ta cũng đã nói "Người dưng khác họ đem lòng nhớ thương !". Hai người xa lạ làm vợ chồng với nhau thì thân nhau nhứt trên đời; đến lúc li dị bỏ nhau, thì lại ghét hờn nhau thành người xa lạ cũng... nhất trên đời !

                                             LÝ DÃ :  Lý Qúi Lan

 

      LÝ DÃ, Lý Qúi Lan là nàng thơ đẹp nhất giỏi nhất của đời Đường, nàng đã từng được Đường Huyền Tông Lý Long Cơ nghe tiếng triệu vào cung hơn một tháng khi đã qua tuổi bất hoặc (40 tuổi). Sau lại được Đường Đức Tông triệu vào cung khi đã quá tuổi năm mươi. Lúc Chu Thử làm loạn, Đường Đức Tông phải lưu vong, Lý Dã kẹt lại trong cung, bắt buộc phải xướng họa với Chu Thử. Khi Đường Đức Tông bình định được phản loạn trở lại kinh thành, biết được việc nàng có qua lại với Chu Thử, bèn nổi giận hạ lệnh cho loạn côn đánh chết nàng. Thế là một đời hồng nhan bạc bạc mệnh, tài sắc có thừa phải nát ngọc tan vàng một cách thê thãm trong cung cấm. Đáng thương thay !

 

      Xin được kết thúc bài viết về Nữ Trung Thi Hào LÝ DÃ ở đây. Hẹn bài viết tới : Nữ Trung Ca Linh LƯU THÁI XUÂN.

 

                                                                                             杜紹德

                                                                                        Đỗ Chiêu Đức

 

KHÔNG OÁN MÀ OÁN, OÁN MÀ KHÔNG OÁN!

                       

                    THIÊN TÂN KIỀU XUÂN VỌNG

                           天  津  橋  春  望

 UNG ĐÀO 雍陶(805—), tự là Quốc Quân, người đất Bì Đô, đậu Tiến Sĩ năm Đại Hòa. Ông từng giữ các chức vụ Thị Ngự Sử, Quốc Tử Mao Thi Bác Sĩ, Giản Châu Thứ Sử... Ông là bạn thơ của Trương Tịch, Vương Kiến, Giả Đảo ... thuộc phái Giang Hồ Quái Đản. Sống dưới đời Vãn Đường khi vận nước đã suy vi, xã hội ngày một xuống dốc, khi đi dạo đến bên cầu Thiên Tân, nhìn thấy cảnh hoang tàn đổ nát của cung điện ngày xưa, xúc cảnh sanh tình, nên ông đã rất cảm khái mà làm bài thơ Thất Ngôn Tứ Tuyệt bất hủ nầy.                       

 

      天津橋春望           THIÊN TÂN KIỀU XUÂN VỌNG

 

   津橋春水浸紅霞,    Tân kiều xuân thuỷ tẩm hồng hà,

   煙柳風絲拂岸斜。    Yên liễu phong ty phất ngạn tà.

   翠輦不來金殿閉,    Thuý liễn bất lai kim điện bế,

   宮鶯銜出上陽花。    Cung oanh hàm xuất Thượng Dương hoa.

                   雍陶                                               Ung Đào

CHÚ THÍCH :

     THIÊN TÂN KIỀU 天津橋 : Cây cầu bắt ngang dòng Lạc Thuỷ từ đời Tuỳ Dương Đế, ở phía nam của thành Lạc Dương, kinh đô trước đây của nhà Đường, thường được gọi là Đông Đô.

     TẨM : là Ngâm Nước, là Chìm trong nước.

     HỒNG HÀ : là Ráng màu đỏ. Ở đây chỉ Ráng Chiều.

     PHẤT 拂 : Có bộ Thủ là Tay bên trái. Có nghĩa là PHỦI, như Phất Trần là Phủi bụi, nghĩa phát sinh là Phe Phẩy, Đong Đưa.

     THUÝ LIỄN : là Xe của Vua đi lại trong cung do dê kéo.

     HÀM : là Ngậm, ở đây nghĩa là THA.

     THƯỢNG DƯƠNG CUNG 上陽宮 : Là một trong những hành cung lớn đời Đường, nằm ở tây nam thành Lạc Dương, do Đường Cao Tôn Lý Trị xây dựng vào năm Càn Phong thứ 2 ( 667 ) . Lúc bấy giờ Lạc Dương là Đông Đô, vua ngự và nghe việc triều chính ở đây. Năm 705, khi bị Đường Trung Tôn ép phải thoái vị, Võ Tắc Thiên cũng ở cung này cho đến chết. Đường Huyền Tôn cũng từng làm yến tiệc lớn ở trong cung nầy. Nhưng sau loạn An Lộc Sơn  ( 755-763 ), Thượng Dương Cung bị tàn phá nghiêm trọng, về sau dần dà hoang phế, đến đời Đường Đức Tôn thì bỏ phế hẵn. UNG ĐÀO sanh năm 805, nên khi đi dạo đến đây thì Thượng Dương Cung đã bị bỏ phế lâu rồi !

 

NGHĨA BÀI THƠ :

 

                             NGẮM VẺ XUÂN TRÊN CẦU THIÊN TÂN

  &nbs