hmpg.jpg
Titlej (1).jpg
dcd_ongdo.jpg

TIẾNG HÁN CỔ

với Ông Đồ ĐỖ CHIÊU ĐỨC

 

CHS Phan Thanh Giản (Cần Thơ)

Cựu GS Trung Học Tân Hưng (Cái Răng)

Cựu Giảng Viên ĐH Xã Hội - Nhân Văn (Sài Gòn)

Houston,Texas________

Giai Thoại Văn Chương:

 

                          NHỮNG CÂU ĐỐI THÚ VỊ  (8)

                                        Liễn Xuân

DCD_Nhungcaudoithuvi.JPG

                                                                                       Mỗi năm gom giấy bút,

                                                                                       Tạo dáng ông đồ già.

                                                                                       Nhưng lòng người không cũ,

                                                                                       Dửng dưng lại đi qua!

 

      Để mở đầu cho câu đối đón Tết trong mùa đại dịch đang chìm trong biến thể Omicron kỳ nầy, xin kính chúc mọi người đều được như câu đối mừng xuân dưới đây :

 

                 日日日日平安日,   Nhựt nhựt nhựt nhựt bình an mhựt,

                 春春春春如意春。   Xuân xuân xuân xuân như ý xuân !                      
                                                            

     - NHỰT 日 : là Ngày; 4 chữ NHỰT đi liền nhau có nghĩa là : Hết ngày này qua ngày khác, hết ngày nọ đến ngày kia. Tương tự...

     - XUÂN 春 : là Mùa Xuân; 4 chữ XUÂN đi liền nhau có nghĩa là : Hết xuân nầy qua xuân khác, hết xuân nọ đến xuân kia. Nên, câu đối trên có nghĩa :

 

        - Hết ngày này qua ngày khác đều là những ngày bình an,

        - Hết xuân nọ đến xuân kia đều là những mùa xuân như ý !

     

      Cầu mong cho mọi người đều có được một cái Tết, một mùa Xuân bình an như ý !

     Chuyện kể, có một ông họ Vương nọ, ngày thường tiêu pha hoang phí vô độ, nên đến Tết đâm ra túng quẩn. Đêm ba mươi Tết, để "ăn năn" cho sự hoang phí của mình ông ta đã viết đôi liễn Tết như sau để dán lên trước cổng :

 

                  行節儉劃,  Hành tiết kiệm hoạch,

                  過淡泊年。  Qúa đạm bạc niên.    

Chú thích :

           Ta gọi là ĂN TẾT, còn người Hoa gọi là QUÁ NIÊN. Ví dụ : Ta nói "Năm nay anh ĂN TẾT ở đâu?", thì người Hoa nói "Năm nay anh QUÁ NIÊN ở đâu?". Nên câu đối trên...

Có nghĩa :

               Thực hành kế hoạch tiết kiệm, 

               Ăn Tết một cách đạm bạc thôi !

 

         Qủa là nước tới trôn mới nhảy, lối xóm có người "cắc cớ" thêm cho mỗi câu một chữ. Sáng mồng một vừa mở cửa ra ông ta đã đọc thấy :

 

                  早行節儉劃,  TẢO hành tiết kiệm hoạch,

                  不過淡泊年。  BẤT qúa đạm bạc niên.

  Có nghĩa :

                  Nếu sớm biết thực hành kế hoạch tiết kiệm, thì...

                  Không phải ăn Tết một cách đạm bạc (như năm nay!)   

                                            

         

        Lại nói về GIẢI TẤN 解缙, người ở Trấn Văn Phong, huyện Cát Thủy, tỉnh Giang Tây, là một văn tài đời nhà Minh. Tương truyền, trước khi đậu Tiến sĩ, ông còn là một bạch diện thư sinh, nhà ở đối diện với một khu vườn trúc (Trúc 竹 là từ Hán Việt, có nghĩa là cây Tre). Vì là một thư sinh áo vải nhà nghèo, nên chiều ba mươi Tết, ông chỉ viết một đôi liễn dán lên trước cổng để đón giao thừa mà thôi, đôi liễn như thế nầy : 

                  

                  Môn đối thiên can trúc,         門對千竿竹,

                  Gia tàng vạn quyển thư.       家藏萬卷書。

Có nghĩa :

         - Đối diện trước cửa nhà là ngàn cây trúc, còn ...

         - Trong nhà thì cất giữ hàng vạn quyển sách.

 

        Ý của ông là muốn tỏ rõ cho mọi người biết mình là một thư sinh quân tử thanh cao như là vườn Trúc trước nhà, và là một thư sinh hiếu học với cả vạn quyển sách chứa trong nhà.

 

       Ngày xưa, Trúc được xem như là biểu tượng của người quân tử, được phong tặng là "Tiết trực tâm hư 節直心虛". TIẾT là các mắt, các lóng tre, TRỰC là thẳng, TÂM là cái Ruột tre, HƯ là trống không. Nên TIẾT TRỰC TÂM HƯ có nghĩa là : Các mắt tre thì thẳng tuột mà ruột tre thì bọng không, như biểu tượng cho khí tiết của người quân tử : Thẳng thắn mà không vụ lợi. Nhất là khi đã xuất sĩ để làm quan. Ta nhớ lại, lúc về Việt Nam chấp chánh, Tổng Thống Ngô Đình Diệm đã dùng cả một bụi tre để làm biểu tượng cho chính quyền của mình, tất cả những con dấu từ Trung Ương đến Địa phương đều có hình bụi tre ở giữa với ý nghĩa Chính trực thanh liêm và  không vụ lợi !  

 

                                  

      Trở lại với...

      Câu đối của Giải Tấn. Sáng mùng một Tết, tên địa chủ của vườn trúc thấy đôi câu đối của ông, bèn nổi giận nghĩ rằng : Vườn trúc của ta để cho nó  tự ví mình là người thanh cao học rộng, thật đáng ghét ! Bèn cho gia nhân đốn hết vườn trúc xuống, xem mi còn viết được liễn hay không ?! Đến chiều khi Giải Tấn ra cửa, thấy trúc đã bị đốn ngang, nhưng còn khúc gốc ngăn ngắn, ông chỉ mĩm cười chẳng nói chẳng rằng. Đêm đó, ông viết thêm mỗi bên một chữ nối vào đôi liễn trên như sau :

                

                Môn đối thiên can trúc ĐOẢN,          門對千竿竹短,

               Gia tàng vạn quyển thư TRƯỜNG.     家藏萬卷書長。

Có nghĩa :

            - Cửa đối ngàn cây trúc NGẮN,

            - Nhà còn muôn quyển sách DÀI.

 

      Ý càng mĩa mai hơn, Trúc của ông đã ngắn rồi, nhưng sách của nhà ta thì lại cứ dài thêm ra (nhiều thêm ra!). 

      Sáng mùng 2 Tết, tên địa chủ nhìn thấy 2 chữ mới thêm vào của Giải Tấn càng sôi máu hơn, ông ta ra lệnh cho đám gia nhân đào hết cả các gốc tre lên, thử xem "mầy" có gở đôi liễn xuống không cho biết ! Giải Tấn trông thấy việc làm của ông ta, chỉ cười thầm. Tối đêm đó, ông lại thêm vào mỗi bên một chữ nữa như sau :

              Môn đối thiên can trúc đoản VÔ,          門對千竿竹短無,

              Gia tàng vạn quyển thư trường HỮU.    家藏萬卷書長有。

Có nghĩa :

         - Cửa đối ngàn cây trúc tạm không (đoản vô : chỉ một thời gian ngắn không có, có nghĩa Tạm thời không có, trúc sẽ mọc lại mà thôi !)

         - Nhà giữ muôn quyển sách dài dài (trường hữu : Có một cách lâu dài trường cữu, là Có dài dài thêm !).

 

      Ý muốn nói, Tre của ông có thể không có, chớ sách của ta thì luôn có dài dài ở trong nhà !

      Sáng sớm mùng 3 Tết, tên địa chủ đọc được 2 chữ mới thêm vào của Giải Tấn, tức muốn ói máu, nhưng lại không làm gì được anh ta, mà vườn trúc nhà mình thì đã bị mình ra lệnh cho đốn sạch và moi cả gốc rể lên rồi !.....

        Chữ nghĩa văn chương lắm lúc cũng mạnh mẽ, hay ho, lý thú là thế ! Nên ngày xưa, người ta có lệ dán liễn từ ngoài cổng cho đến... cầu tiêu sau hè ! 

               

       Ngày xưa không có Toilet hay restroom vừa khang trang, vừa vệ sinh, vừa thơm phức như bây giờ. Giới bình dân nghèo khó cứ đi ra đồng tìm một chỗ nào vắng vẻ là... xề xuống "giải quyết vấn đề" một cách thoải mái. Còn ở các thị tứ thì Nhà Xí được cất ở phía sau khá xa khu nhà ở để tránh mùi hôi thối. Đối với những gia đình giàu sang khá giả thì cũng được lợp mái và có cửa nẻo hẵn hoi và ... dĩ nhiên cũng được dán đôi liễn như những nơi khác. Sau đây là một đôi liễn độc đáo nhất được dán ở ... Cầu Tiêu Công Cộng :

 

                  Lai thời thập phân cấp,       來時十分急,

                  Khứ hậu nhất thân khinh.   去後一身輕。

Có nghĩa :

         - Khi đến vội vả mười phần, (lính qua lính quính).

         - Lúc đi nhẹ nhỏm một thân. (đã trút được bầu tâm sự).

 

                                                                                  

     Tin rằng trong đời chắc ai cũng có một lần lính qua lính quính quính quáng tìm chỗ để giải quyết vấn đề... sinh lý nầy !

 

      Câu đối trên tuy rất thưc tế, tả chân, nhưng còn thiếu tính chất... văn chương. Sau đây, xin mời tất cả cùng đọc một câu đối dán trước nhà xí của người đứng đầu trong Giang Nam Tứ Đại Tài Tử 江南四大才子 là Đường Bá Hổ 唐伯虎 như sau :

 

                           且 看 来 客 多 情, 甘 解 衣 帶 終 不 悔;

               Thả khan lai khách đa tình, Cam giải y đái chung bất hối;

                           莫 道 此 物 無 用, 化 作 春 泥 更 護 花。

               Mạc đạo thử vật vô tình, Hoá tác xuân nê cánh hộ hoa !

Có nghĩa :

       - Hãy xem khách đến rất đa tình, cởi bỏ xiêm y không hối hận;

       - Đừng bảo vật thải nầy vô dụng, hoá thành phân đất vẫn ươm hoa !

 

     Với giọng điệu của một Giang Nam phong lưu tài tử ra vào kỹ viện hằng ngày, Đường Bá Hổ đã thi vị hóa việc đi nhà xí như khách đa tình đi vào kỹ viện, sẵn sàng tháo thắt lưng để cởi xiêm y ra mà không hề hối hận chút nào, và đừng bảo là những vật thải ra là vô dụng khi nó đã trở thành những thứ đất của mùa xuân thì cũng sẽ sẵn sàng ươm và giữ cho hoa được tươi thắm hơn và đẹp đẽ hơn mãi mãi !

       Thi vị hóa cho việc đi nhà xí đến thế là cùng !

             

 

       Lại kể, cũng đất Giang Nam ngày xưa có một gia đình, người cha xuất thân là một Tiến Sĩ, gia đình rất có học thức, nhưng nhân phẩm thì lại tệ hại vô cùng. Thường ỷ lại vào gia đình khoa bảng mà chèn ép, khinh thường và ức hiếp lối xóm hương thân. Nên mọi người đều dám giận mà không dám nói. Trời xui đất rủi làm sao mà năm đó thằng con trai lớn lại thi đậu Tiến Sĩ nữa, nên Tết năm đó ông cha hớn hở viết đôi liễn treo lên như sau :

 

                     父 進 士, 子 進 士, 父 子 皆 進 士;

               Phụ Tiến Sĩ, Tử Tiến Sĩ, Phụ tử giai Tiến Sĩ;

                      婆 夫 人, 媳 夫 人, 婆 媳 均 夫 人。

              Bà phu nhân, Tức phu nhân, Bà Tức quân phu nhân.

Có nghĩa :

            - Cha Tiến sĩ, Con Tiến sĩ, Cha con đều là Tiến sĩ;

            - Mẹ chồng phu nhân, Nàng dâu phu nhân, Mẹ chồng nàng dâu đều là phu nhân.

 

            * BÀ là BÀ BÀ 婆婆 : là Mẹ chồng, là Bà già chồng.

            * TỨC là TỨC PHỤ 媳婦 : là Nàng dâu, là Con dâu.

 

      Hàng xóm trông thấy khoe khoang thân phận một cách lộ liễu, hống hách. Giận lắm nhưng không làm gì được ông ta. Tình cờ Đường Bá Hổ đi ngang qua xóm, nghe lóm được bà con oán thán về gia đình ông Tiến Sĩ hống hách kia. Đêm đó đợi khi mọi người ngủ cả mới đến trước cửa của cha con nhà Tiến sĩ thêm vài nét bút vào. Sáng hôm sau mùng một Tết, khi vừa mở cửa nhà ra, ông Tiến sĩ đã thấy lô nhô những người xì xào chỉ trỏ vào cửa nhà mình cười nói xôn xao. Quá ngạc nhiên, ông mới bước ra xem thì thấy đôi liễn Tết nhà mình đã bị ai đó thêm vào mấy nét; Chữ SĨ 士 bị kéo dài nét dưới ra thành chữ THỔ 土 là Đất; mà Tiến Thổ là tiến vào đất , là chết, là Nhập Thổ. Còn chữ PHU 夫 bị thêm một dấu phẩy bên trái thành chữ THẤT 失 là Mất; Chữ NHÂN 人 thêm vào hai nét ngang thành chữ PHU 夫 là Chồng. THẤT PHU là Mất chồng. Câu liễn Tết thành ra :

 

                         父 進 土, 子 進 土, 父 子 皆 進 土;

              Phụ Tiến THỔ, Tử Tiến THỔ, Phụ tử giai Tiến THỔ;

                         婆 失 夫, 媳 失 夫, 婆 媳 均 失 夫。

               Bà THẤT PHU, Tức THẤT PHU, Bà Tức quân THẤT PHU.

Có nghĩa :

       - Cha nhập thổ, con nhập thổ, cha con đều nhập thổ (chết hết!);

       - Mẹ chồng mất chồng, con dâu mất chồng, Mẹ chồng và con dâu đều mất chồng (Mẹ chồng và con dâu đều trở thành góa bụa !).

 

      Chỉ cần thêm có vài nét, câu đối huênh hoang tự hào của một gia đình khoa bảng liền trở thành câu đối buồn thảm tang tóc cho cả gia đình. Thế mới biết ngòi bút của văn nhân thi sĩ lợi hại biết chừng nào !

       

      Để kết thúc cho bài viết này, kính mời tất cả cùng đọc một câu đối Tết thay lời "CHÚC XUÂN" sau đây :

 

                 有地有天皆麗日,  Hữu địa hữu thiên giai lệ nhật,

                 無人無處不春風。  Vô nhân cô xứ bất xuân phong !

   Có nghĩa :

            - Hễ nơi nào có đất có trời là nơi đó có nắng đẹp (của mùa xuân),

            - Không có người nào, không có nơi nào là không được gió xuân thổi đến (có nghĩa : Mọi người mọi nơi đều được hưởng cái ấm áp tràn đầy sinh lực của gió xuân !).

 

                    

     Cầu chúc cho tất cả mọi người, mọi nơi trên thế giới nầy đều có được một mùa xuân NHƯ Ý và đều VUI VẺ KHỎE MẠNH để vượt qua cơn dịch thế kỷ đang biến chứng thành Omicron nầy !

 

     Hẹn bài viết tới !

 

                                                                   杜紹德

                                                              Đỗ Chiêu Đức

dcd_thoXuanvuaThanhThai.JPG

Tập thơ "Canh Tý Thi Tập" của vua Thành Thái, hiện chỉ tìm thấy một bản sao chép tay không ghi tên người và thời gian chép, do nhà nghiên cứu Phan Thuận An sưu tầm và giới thiệu lần đầu trên Tạp chí Hán Nôm số 1(18) năm 1994. Dưới đây là bài thơ NGUYÊN ĐÁN, một trong 17 bài thơ “Kim thể thập thất thủ” (17 bài làm theo thể thơ Đường) trong "Canh Tý Thi Tập" nói trên :

 

      元旦                         NGUYÊN ĐÁN

元正佳節值晴曛,    Nguyên chinh giai tiết trực tình huân,

旭日暉煌景色新。    Húc nhật huy hoàng cảnh sắc tân.

滿殿調風冠帶集,    Mãn điện điều phong quan đái tập,

盈庭瑞氣羽旄陳。    Doanh đình thoại khí vũ mao trần.

年豐海靜期天況,    Niên phong hải tịnh kỳ thiên huống,

內治外寧仰帝恩。    Nội trị ngoại ninh ngưỡng đế ân.

首是溫和人物遂,    Thủ thị ôn hòa nhân vật toại,

含沾雨露萬方春。    Hàm triêm vũ lộ vạn phương xuân !

               成泰                                         Thành Thái 

       

* Chú thích :

    - NGUYÊN ĐÁN 元旦 : NGUYÊN là Đầu; ĐÁN là Ngày. Nên NGUÊN ĐÁN là Ngày đầu tiên của một năm. Ta ăn Tết Nguyên Đán, chính là đang mừng đón ngày đầu của một năm đó.

    - Trực 值 : là Nhằm lúc, đúng lúc. Đọc là TRỊ thì có nghĩa là Đáng giá, là Giá Trị, như "Xuân tiêu nhất khắc TRỊ thiên kim 春宵一刻值千金". Có nghĩa : Đêm xuân một khắc giá đáng ngàn vàng.

    - Tình Huân 晴曛 : là trời nắng ráo trong sáng.

    - Húc nhật 旭日 : là Mặt trời mới mọc , là buổi sáng.

    - Quan Đái 冠帶 : QUAN là mũ mão; ĐÁI là dây thắt lưng, dây đai; Nên QUAN ĐÁI là Áo mão cân đai.

    - Vũ Mao 羽旄 : VŨ là Lông vũ, MAO là Cờ mao, cờ có cắm lông đuôi bò tót dùng trong quân đội khi xưa; nên VŨ MAO chỉ Các loại cờ xí tàn lộng trong lúc tiến hành nhạc lễ tế bái ngày xưa.

    - Niên Phong Hải Tĩnh 年豐海靜 : NIÊN PHONG là Năm được mùa; HẢI TĨNH là Biển lặng. Nên NIÊN PHONG HẢI TĨNH là Nông dân được mùa còn dân biển cũng đánh bắt được nhiều cà vì biển lặng; Ý chỉ dân chúng được an cư lạc nghiệp.

    - Nội Trị Ngoại Ninh 內治外寧 : NỘI TRỊ là bên trong nước chính trị ổn định, NGOẠI NINH là đối ngoại cũng được an ninh bình ổn.

    - Hàm Triêm Vũ Lộ 含沾雨露 : HÀM là Ngậm; TRIÊM là Thấm; HÀM TRIÊM là thấm nhuần. VŨ là Mưa; LỘ là hạt sương hạt móc. MƯA và MÓC là những giọt nước nuôi sống cây cỏ lá hoa; không có Mưa và Móc thì cỏ cây hoa lá sẽ chết hết. Nên người dân ví những chính sách nhân đạo của chế độ phong kiến của nhà vua ngày xưa là ƠN MƯA MÓC.

 

* Nghĩa bài thơ :

                                   Tết Nguyên Đán        

       Chính ngay cái ngày Tết đầu năm lại nhằm lúc trời quang mây tạnh. Ánh nắng ban mai rực rỡ làm cho cảnh sắc như mới hơn ra. Cả cung điện như có làn gió điều hòa khi các quan với áo mão cân đai đang tập hợp lại, và đầy cả sân đình như đang phủ một làn khí lành khi cờ xí tàn lộng được bày ra (để tế cáo trời đất trong ngày đầu năm). Cầu mong cho trời sẽ ban cho một năm sóng yên bễ lặng và được mùa; cũng ngữa mong Thượng đế ban ơn cho trong ngoài đều trị an bình ổn. Điều đầu tiên là người vật đều được toại nguyện trong sự ôn nhu hòa ái. Tất cả đều được hưởng ơn mưa móc của trời ban cho muôn nơi đều được tươi đẹp như mùa xuân (đang tràn ngập cả đất trời !) 

 

      Tội nghiệp, không có thực quyền trong tay, nhưng trong ngày Tết nhà vua vẫn cầu nguyện cho phong điều vũ thuận, mưa thuận gió hòa , quốc thái dân an để cho dân chúng được an cư lạc nghiệp để cùng đón xuân về !

 

* Diễn Nôm :

                           NGUYÊN ĐÁN 

                    

                   Nguyên Đán ngày xuân nắng ấm thay, 

                   Huy hoàng cảnh sắc lúc ban mai.

                   Cung đình áo mão cân đai rợp,

                   Sân điện quạt cờ tàn lộng bay.

                   Mùa được biển yên mong đấng cả...

                   Ngoài êm trong ấm tạ cao dày...

                   Ôn hòa người vật đều thanh thản,

                   Mưa móc hàm ơn khắp chốn này !

       Lục bát :

                   Tiết lành nhằm lúc trời quang,

                   Đẹp thay cảnh mới huy hoàng nắng mai.

                   Điện vàng áo mão cân đai,

                   Sân đình cờ quạt như thay điềm lành.

                   Được mùa biển lặng trời xanh,

                   Ngoài yên trong ấm lòng thành tạ ơn.

                   Sao cho người vật không hờn,

                   Hưởng ơn mưa móc gì hơn xuân hồng !

                                                 Đỗ Chiêu Đức diễn Nôm   

       

         Cũng cùng tâm tình của một ông vua trẻ yêu nước thương dân nhưng lại không có thực quyền, nên đành phải vui với niềm vui trước mắt và luôn ước mơ ngày Tết mở ra vận hội mới cho dân chúng luôn được mùa phú túc an vui. Tâm tình của nhà vua được dàn trãi qua bài thơ "Tân Thiều Thí Bút" sau đây :

 

    新韶試筆                   TÂN THIỀU THÍ BÚT

新韶淑氣滿春城,    Tân thiều thục khí mãn xuân thành,

運啟三陽好景呈。    Vận khải tam dương hảo cảnh lai.

拂拂調風來寶殿,    Phất phất điều phong lai bảo điện,

煌煌瑞日照珠營。    Hoàng hoàng thụy nhật chiếu châu doanh.

恬熙富庶千方樂,    Điềm hi phú thứ thiên phương lạc,

駘蕩溫和萬象明。    Đãi đãng ôn hòa vạn tượng minh.

嗟首欣看時節順,    Ta thủ hân khan thời tiết thuận,

今收定必獲豐盈。    Kim thu định tất hoạch phong doanh.

     

* Chú thích :

   - TÂN THIỀU THÍ BÚT 新韶試筆 : THIỀU là THIỀU QUANG 韶光 là bóng mặt trời mùa xuân, cảnh sắc đẹp của mùa xuân. THÍ BÚT 試筆 là Thử bút. Nên TÂN THIỀU THÍ BÚT là Thử bút trong cảnh đẹp của mùa xuân.Ta thường nói là ĐẦU XUÂN KHAI BÚT.

   - Thục khí 淑氣 : là Khí linh thiêng của trời đất, là làn khí ôn hòa.

   - Tam Dương 三陽 : Theo sách Chu Dịch. Sau tiết Đông Chí thì khí âm hàn bắt đầu tiêu thoái, và khí dương thì bắt đầu sanh trưởng, ta thường nghe các Thầy Bói gọi là Âm Tiêu Dương Trưởng, đêm sẽ ngắn dần, ngày sẽ dài thêm ra, cho nên Tháng Mười Một là tháng Tý, thuộc quẻ Phục 復 là Nhất Dương Sanh, Tháng Mười Hai là Tháng Sửu, thuộc quẻ Lâm 臨 là Nhị Dương Sanh, và Tháng Giêng là Tháng Dần, thuộc quẻ Thái 泰 là Tam Dương Sanh. Vì thế nên Tết Nguyên Đán của tháng Giêng mới dùng câu Tam Dương Khai Thái 三陽開泰 mà chúc mừng cho năm mới mở ra vận hội mới, lấy Ý chữ Thái là Lớn, là Thông, như trong tiếng Việt ta thường nói "Hết vận Bỉ rồi thời lại Thái", hoặc "Bỉ cực thì Thái lai" và "Hết cơn Bỉ Cực, đến hồi Thái lai". Có nghĩa: Hết lúc Bế tắt, nghèo khó thì đến lúc Hanh Thông, khá giả !

   - Điều Phong 調風 : hay Phong Điều là Gió máy điều hòa, không gây bão tố.

   - Thụy Nhật 瑞日 : là Mặt trời lành, có nghĩa là Ánh nắng đẹp.

   - Điềm Hi 恬熙 : ĐIỀM là Đầm thấm; HI là Sáng sủa; nên ĐIỀM HI là an nhàn vui vẻ.

   - Đãi Đãng 駘蕩 : là Thong dong thoải mái.

   - Hoạch Phong Doanh 獲豐盈 : HOẠCH la Thu hoạch; PHONG là Đầy đặn sung túc; DOANH còn đọc là DINH là Đầy đủ; nên HOẠCH PHONG DINH là Thu hoạch sung túc đầy đủ. Trước 1975, Thành phố Cần Thơ hiện nay là Tây Đô nằm trong Tỉnh PHONG DINH, tức là 2 chữ PHONG DINH 豐盈 nầy với ý nghĩa là một tỉnh luôn SUNG TÚC ĐẦY ĐỦ.

 

* Nghĩa bài thơ :

                           Đầu Xuân Thử Bút 

      Trong ánh nắng mới, khí thiêng của trời đất tràn đầy cả thành xuân. Tam Dương chuyển vận mở ra cảnh đẹp trước mắt. Gió xuân hây hẩy điều hòa thổi đến cung điện, ánh nắng lành rực rỡ chiếu vào doanh trại. An nhàn giàu có ngàn nơi đều vui vẻ, Thong dong thoải mái vạn vật như sáng sủa thêm ra. Gật gù vui thấy thời tiết mưa thuận gió hòa; Mùa thu hoạch năm nay chắc chắn sẽ sung túc đầy đủ vì được mùa.

 

* Diễn Nôm :

                           TÂN THIỀU THÍ BÚT 

                      

                   Hơi xuân linh khí phủ đầy thành,

                   Vận chuyển tam dương cảnh sắc thanh.

                   Phe phẩy gió hòa lay điện báu,

                   Vàng ươm nắng rực chiếu cơ doanh.

                   Thong dong phú túc ngàn nơi lạc,

                   Thoải mái ôn hòa vạn vật xanh.

                   Mừng đón xuân nay thời tiết thuận,

                   Mùa màng ắt sẽ được phong dinh !

      Lục bát :

                   Khí lành xuân mới khắp thành,

                   Tam dương chuyển vận cảnh xanh rõ ràng.

                   Hây hây gió thổi điện vàng,

                   Nắng mai rực rỡ chiếu vàng doanh cơ.

                   Ngàn nơi vui vẻ thẩn thơ,

                   Ôn hòa vạn vật cũng thơ thới lòng.

                   Những mừng thời tiết xanh trong,

                   Năm nay ắt sẽ thong dong được mùa !

                                                      Đỗ Chiêu Đức diễn Nôm

 

        Hẹn bài viết tới !

 

  杜紹德

  Đỗ Chiêu Đức

DCD_PhiemLuan1_TuoiDan.JPG

Tý Sửu Dần... DẦN 寅 là ngôi thứ 3 của Thập nhị Địa Chi là... Ông Cọp, như 2 câu ca dao Nam bộ trong bài vè về 12 con giáp nêu trên. Ngoài việc được gọi là ÔNG CỌP, cọp còn được giới bình dân xưa gọi là Ông Hổ, Ông Hùm, hay Ông Ba Mươi nữa. CỌP chữ Nho là HỔ 虎, theo "Chữ Nho Dễ Học" Hổ thuộc dạng chữ Tượng Hình theo diễn tiến của chữ viết như sau :

DCD_Cop.JPG

Ta thấy :

            Giáp Cốt Văn là hình tượng của một con cọp được vẽ đầy đủ từ đầu cho đến đuôi, Kim Văn (còn gọi là Chung Đĩnh Văn) và Đại Triện thì được đơn giản hóa, chỉ giữ lại các nét tiêu biểu,  đến Tiểu Triện thì các nét vẽ được kéo thẳng hay uốn cong theo như hình chữ viết và đến Chữ Lệ  đời nhà Tần thì chữ viết đã hình thành hoàn chỉnh như chữ viết hiện nay. 虎 HỔ là Cọp.

           

         Năm 2022 là năm NHÂM DẦN 壬寅. NHÂM là ngôi thứ 9 của Thập Vị Thiên Can. Nhâm Qúy thuộc Thủy, hướng bắc, thuộc màu ĐEN, còn DẦN là ngôi thứ 3 của Thập Nhị Địa Chi, hướng đông, cầm tinh con CỌP. Nên năm NHÂM DẦN là năm của con CỌP ĐEN, chữ Nho gọi là HẮC HỔ 黑虎. Tương truyền mỗi khi cọp xuất hiện thì sẽ có một làn gió...cọp thổi đến, theo như câu nói dân gian là "Vân tòng long, Phong tòng hổ 雲從龍,風從虎". Có nghĩa : Mây theo rồng, gió theo cọp, và dĩ nhiên, cọp đen thì sẽ có làn gió đen xoáy đến trước gọi là HẮC TUYỀN PHONG 黑旋風, và đây cũng là ngoại hiệu của Lý Qùy 李逵, người được xếp thứ 22 trong 108 anh hùng trên Lương Sơn Bạc. Ngoài Lý Qùy ra, còn một nhân vật nổi tiếng hơn mà Lý Qùy nghe đến tên là sợ, đụng mặt là lảng tránh, đó chính là người được xếp hàng thứ 14 trong 108 anh hùng Lương Sơn Bạc là Võ Tòng Đả Hổ 武松打虎. Ngoài nổi tiếng với việc đánh cọp ra, Võ Tòng còn nổi tiếng với các tuồng trong Kinh kịch và trong hát bộ, cải lương... của ta với vở VÕ TÒNG SÁT TẨU 武松殺嫂 (Võ Tòng giết chị dâu), tức là giết Phan Kim Liên và Tây Môn Khánh như trong tiểu thuyết hiện thực Kim Bình Mai 金瓶梅 nổi tiếng là một dâm thư của Trung Hoa thời Minh Thanh. 

 

             

     "Nam NHÂM Nữ QÚY", nên năm 2022 là năm NHÂM DẦN tốt cho việc sanh con trai. Những cặp đôi nào muốn có qúy tử thì hãy chuẩn bị ngay từ đầu năm là vừa, bảo đãm sẽ cho ra "Nguyên con cọp con", có trở thành "Hổ Tướng" hay không còn chưa biết, chớ chắc chắn sẽ là một đứa con trai may mắn khỏe mạnh được sanh ra sau mùa dịch thế kỷ "Covid-19". DẦN tuy là ngôi thứ 3 trong Địa Chi nhưng lại là Tháng Giêng trong Âm lịch. Ngày Dần đứng sau ngày Sửu và đứng trước ngày Mão. Giờ Dần là từ 3 - 5 giờ sáng, giờ nầy thì ngôi chùa ở đầu làng đã bắt đầu công phu và tất cả những con gà trong xóm đều đã gáy rộ, nên tất cả những sinh hoạt ngày xưa đều bắt đầu từ giờ Dần : Nông dân thức dậy chuẩn bị ra đồng ruộng cày bừa trồng trọt; học trò thức dậy chuẩn bị đến trường để học hành; thợ thầy thức giấc chuẩn bị công việc làm cho ngày mới; giới thương buôn, mua gánh bán bưng thì chuẩn bị cho việc làm ăn buôn bán trong ngày. Trong "Tăng Quảng Hiền Văn" có dạy :

 

                 一 年 之 計 在 於 春,   Nhất niên chi kế tại ư xuân,

                 一 日 之 計 在 於 寅,   Nhất nhật chi kế tại ư DẦN,               

                 一 家 之 計 在 於 和,   Nhất gia chi kế tại ư hòa,

                 一 生 之 計 在 於 勤.   Nhất sinh chi kế tại ư cần. 

                 

    * KẾ 計 : là Tính toán như KẾ TOÁN; là Mưu Lược như TAM THẬP LỤC KẾ; là Hoạch Định, Chương Trình như KẾ HOẠCH, KẾ SÁCH, và Đây chính là nghĩa của chữ KẾ trong các câu nói trên :

    - Những chương trình hoạch định cho một năm phải bắt đầu từ mùa XUÂN.

    - Những tính toán dự định trong một ngày phải bắt đầu từ giờ DẦN (từ 3 đến 5 giờ sáng).

    - Những kế hoạch để xây dựng gia đình cho êm ấm là chỉ ở một chữ HÒA (trên thuận dưới hòa). 

    - Những hoạch định tính toán phấn đấu cho cả một đời người là chỉ ở một chữ CẦN mà thôi ! (Nếu chịu khó siêng năng cần cù, thì trong cuộc đời dù không thành công lớn, cũng thành công nhỏ và có tệ nhất thì cũng... đủ ăn đủ mặc, không đến nỗi đói rách lang thang.).

      "Thiên hữu tứ thời XUÂN tại thủ " 天有四時春在首. Trời có 4 mùa thì mùa XUÂN là mùa đầu tiên, tiết trời đã ấm áp trở lại sau mùa đông giá rét , cây cỏ đâm chồi nẩy lộc, vạn vật đều tái sinh, khí thế đang lên, nên các kế sách dự định trong năm cũng nên bắt đầu ở thời điểm nầy... hơn nữa, nếu có gì trục trặc thì cũng có đủ thời gian để... điều chỉnh lại ! Kế hoạch trong năm bắt đầu ngay được từ mùa Xuân, thì xem như đã thành công một nửa rồi !

     "Thiên quang DẦN, nhật xuất MÃO " 天光寅,日出卯 . Trời sáng ở giờ Dần, mặt trời mọc ở giờ Mão, nên công việc dự định trong ngày nên bắt đầu ngay từ giờ DẦN, Nông dân làm ruộng cũng thế, muốn gieo mạ, cấy lúa, gặt lúa...đều phải thức giấc lúc giờ Dần để bắt đầu cho công việc đồng áng. 

     "HÒA khí sanh tài " 和氣生財 . Có Hòa Thuận để làm ăn thì mới phát sinh tài lộc được, gia đình xào xáo, mỗi người một ý , thì làm ăn làm sao lên cho được ! Ông bà cũng đã dạy "Gia HÒA thì Vạn sự Hanh 亨". Có nghĩa : Gia đình Hòa Thuận thì muôn việc đều suông sẻ.(Hanh thông 亨通 là Suông sẻ). Câu nầy thường bị đọc lệch đi là "Gia Hòa vạn sự HƯNG 興 (Hưng là Hưng Vượng 興旺), ý nghĩa cũng tương tự mà thôi.

     Cuối quyển Tam Tự Kinh có câu : "CẦN hữu công, Hí vô ích 勤有功,戲無益". Nghĩa đã rõ : Chơi bời lêu lỏng không đem lại lợi ích gì cả, còn Siêng Năng cần cù thì sẽ gặt hái được thành công trong mọi mặt. Nên trong cuộc đời của một người, yếu tố "CẦN" không thể thiếu trong việc tạo dựng cuộc sống ấm no hạnh phúc cho gia đình được !

                    

       Ngay cả những người lữ hành cũng phải dậy sớm để xem thời tiết và chuẩn bị lên đường, vì  ngày xưa, phương tiện giao thông khó khăn, nên định đi đâu để làm gì thì cũng phải thức giấc lúc giờ DẦN như hai câu thơ trong bài thơ  "Thương Sơn tảo hành 商山早行" của Ôn Đình Quân 温庭筠 đời Đường là :

 

                       雞聲茅店月,    Kê thanh mao điếm nguyệt,

                       人跡板橋霜.    Nhân tích bản kiều sương.

 

   ...mà cụ Nguyễn Du đã gom lại thành một câu rất hay khi tả Thúy Kiều vượt tường lìa khỏi Quan Âm Các của nhà Hoạn Thư là :

 

                              Mịt mù dặm cát đồi cây

                TIẾNG GÀ ĐIẾM NGUYỆT, DẤU GIÀY CẦU SƯƠNG.

 

                

     Theo Tử Vi Đẩu Số thì "Dần, Ngọ, Tuất" Tam Hạp. Nhưng trong thực tế thì Ngọ là Ngựa mà gặp Dần là Cọp thì sẽ cất vó phóng nhanh chạy thục mạng, và Tuất là Chó thì ôi thôi, khi gặp chúa sơn lâm gầm cho một tiếng thì đứng còn không vững nữa là nói chi đến chạy ! Nên hạp sao nỗi mà hạp ! Cọp là chúa muôn thú, cao ngạo một mình một cỏi, đến nỗi thành ngữ cũng có câu "Nhứt lâm vô nhị hổ 一林無二虎" Một rừng không thể có 2 cọp được. Chúa tể của núi rừng thì làm sao mà họp với ai cho được ! Nhưng nói thì nói thế chứ ông bà xưa cũng có câu :

 

                       Long du thiển thủy tao hà hí,          龍游淺水遭蝦戲,

                       Hổ lạc bình dương bị khuyển khi !   虎落平陽被犬欺 !

      Có nghĩa :

                      Rồng bơi nước cạn tép tôm giởn mặt,

                      Cọp xuống đồng bằng chó cũng dễ ngươi !

 

              

     Trong Truyện Kiều khi tả Từ Hải sa cơ thất thế mắc mưu của Hồ Tôn Hiến, cụ Nguyễn Du cũng đã cảm thán cho Từ Hải là :

 

                        Hùm thiêng khi đã sa cơ cũng hèn !

     

      HÙM là HỔ, HỔ là HÙM, nên ta lại có từ "Hùm Hổ" và thành ngữ "Làm hùm làm hổ" để chỉ những người hay làm ra vẻ dữ tợn, bậm trợn để uy hiếp hay hù dọa người khác. Vì là chúa tể rừng xanh, nên dáng vẻ oai hùng uy nghi, gầm lên một tiếng là muôn thú đều im hơi, nên ta lại có thành ngữ "Khiếu chấn sơn hà 嘯震山河" là "Tiếng gầm làm chấn động cả núi sông !". Tướng giỏi có sức địch muôn người thì gọi là Hổ Tướng. Tướng mạo uy nghi đường bệ oai phong thì được ví là "Hùng yêu hổ bối 熊腰虎背" là "Lưng Hùm Vai Gấu". Mặt mũi uy vũ oai hùng thì gọi là "Hổ đầu yến hàm 虎頭燕頷" Ta nói là "Râu Hùm Hàm Én" như hình dáng của anh hùng Từ Hải được cụ Nguyễn Du diễn tả là :

 

                        Râu Hùm Hàm Én mày ngài,

                  Vai năm tấc rộng thân mười thước cao.

 

      Nói đến HÙM ta không thể không nhắc đến "Hùm Thiêng Yên Thế Hoàng Hoa Thám 黃花探", tức Đề Thám người đã lãnh đạo cuộc khởi nghĩa Yên Thế chống thực dân Pháp xuyên suốt gần 30 năm trường (1885 – 1913) làm cho quân Pháp phải xất bất xang bang suốt khoảng thời gian nầy với con cọp xám đất Yên Thế ở chiến khu và địa bàn kháng chiến quanh vùng Bắc Giang–Thái Nguyên–Hưng Hóa :

 

                          Ba mươi năm khắp núi rừng

                   Danh ông Đề Thám vang lừng núi sông.

 

      Nơi của các "Hổ Tướng" ngồi làm việc, được gọi là "Hổ Trướng 虎帳", vì bức màn trướng phía sau chỗ ngồi thường có vẽ hình con hổ cho oai phong, ta gọi là TRƯỚNG HÙM, như cụ Nguyễn Du đã tả chỗ ngồi xử án của Thúy Kiều khi nàng báo ân báo oán :

 

                      TRƯỚNG HÙM mở giữa trung quân,

                    Từ Công sánh với phu nhân cùng ngồi.

       

     HÙM chẳng những chỉ sự uy phong oai vệ, mà còn chỉ sự nguy hiễm với chết sống cận kề, như "Miệng HÙM Nọc Rắn" qua lời của Thúy Kiều so sánh thân mình khi ở Quan Âm Các trong vườn nhà Hoạn Thư :

 

                             Thân ta, ta phải lo âu,

                   MIỆNG HÙM NỌC RẮN ở đâu chốn này.

                          Ví chăng chắp cánh cao bay,

                       Rào cây lâu ắt có ngày bẻ hoa !

 

     Hay như lời của Tam Hợp Đạo Cô suy đoán về vận mạng của Thúy Kiều trong tương lai, khi Từ Hải đã tử trận còn Thúy Kiều thì lọt vào tay Hồ Tôn Hiến :

 

                      Trong vòng giáo dựng gươm trần,

                     Kề lưng HÙM SÓI gửi thân tôi đòi.

                       Giữa dòng nước dập sóng dồi,

                   Trước hàm rồng cá, gieo mồi vắng tanh.

 

     "Tựa Hùm Như Sói" có gốc chữ Nho là "Như Lang Tự Hổ 如狼似虎" để chỉ hành động hoặc thái độ hung ác dữ tợn muốn ăn tươi nuốt sống người khác của ai đó như thành ngữ "Làm Hùm Làm Hổ" mà ta đã nói ở trên. Vì Hùm hung dữ như thế, nên đâu có ai dám "Vuốt Râu Hùm". Nhưng có người chỉ nói bằng cái miệng cho giỏi, cho mạnh bạo tưởng như gan dạ lắm, nhưng khi đụng chuyện thì lại cụp đuôi thụt lại phía sau hay trốn biệt... thì ta gọi là "Miệng Hùm Gan Sứa", chữ Nho gọi là "Hổ Đầu Xà Vĩ 虎頭蛇尾" như ta nói là "Đầu voi đuôi chuột". Điệu bộ dáng vẻ hung dữ mà không làm gì được ai cả, còn bị gọi là "Chỉ Lão Hổ 紙老虎" là "Con Cọp Giấy"; còn mượn oai của ai đó để hù dọa người khác thì gọi là "Hồ Giả Hổ Uy 狐假虎威", ta nói là "Cáo Mượn Oai Hùm". Vì có bộ da dầy lông đẹp, nên bộ da hùm còn được dùng làm vật trang trí phòng khách hay làm thành những đồ trang sức như giày dép, y phục, bóp xách tay... vì thế, ta lại có câu thành ngữ "Hùm Chết Để Da, Người Ta Chết Để Tiếng". Có thể vì thế mà Thúy Kiều mới vựa vào ý đó để khuyên Từ Hải quy hàng triều đình, ta hãy nghe cô nói :

 

                        Làm chi ĐỂ TIẾNG VỀ SAU,

                   Nghìn năm ai có khen đâu Hoàng Sào ?

                       Chi bằng lộc trọng quyền cao,

                    Công danh ai dứt lối nào cho qua ?!

 

             

      Hết HÙM tới HỔ. Ngày xưa các thư sinh yếu đuối trói gà không chặc, thế mà một khi thi đậu thì tên được treo trên Bảng Hổ, gọi là "Bảng Hổ Đề Danh 虎榜題名" và từ đó về sau được làm quan uy quyền tột đĩnh, "hét ra lửa" chớ không còn yếu đuối nữa ! Bảng Hổ còn được gọi là "Bảng Vàng", là "Kim Bảng 金榜", một trong "Tứ Khoái" của các cụ ngày xưa là "Kim Bảng Tánh Danh Đề 金榜姓名題" (Tên họ được ghi lên Bảng Vàng) hay gọi cho đủ bộ là "LONG HỔ BẢNG 龍虎榜" như trong Tăng Quảng Hiền Văn có câu :

 

                一 舉 首 登 龍 虎 榜, Nhất cử thủ đăng LONG HỔ BẢNG,   

                十 年 身 到 鳳 凰 池.  Thập niên thân đáo Phụng Hoàng Trì. 

Nghĩa câu :

    - Long Hổ Bảng : là Bảng có vẽ hình Rồng và Cọp 2 bên, để dán danh sách những người thi đậu Tiến Sĩ ngày xưa. Người đậu đầu là Trạng Nguyên, người đậu nhì là Bảng Nhãn, và người đậu hạng ba là Thám Hoa.  

    - Phụng Hoàng Trì : là Ao Phụng Hoàng. Đời Ngụy, Tấn, Nam Bắc Triều, chức Trung Thư Tỉnh được ở trong cấm cung Ngự Uyển, gần gũi Hoàng Đế, chưởng quản những điều cơ mật, nên chức Trung Thư Tỉnh được gọi là " Phụng Hoàng Trì ".   

    Có Nghĩa  :    

          Hễ thi đậu một cái là tên được đăng lên trên Bảng Long Hổ, và làm quan mười năm (cho tốt) thì sẽ được vào làm việc trong Ao Phượng Hoàng kề cận nhà vua.

 

                     

    Có những người thâm trầm và nham hiễm như Hoan Thư chẳng hạn :"Bề ngoài thơn thớt nói cười, mà trong nham hiễm giết người không dao" thì được gọi là "Tiếu Diện Hổ 笑面虎" là "Cọp Mặt Cười", nhưng đối với Hoạn Thư thì phải gọi là "Mẫu Lão Hổ 母老虎" là "Con Cọp Cái", rất dữ, nhất là những con cọp cái đang đẻ con. Nên những người không ngại nguy hiễm dấn thân vào những nơi đầy cạm bẫy chết chóc để làm việc gì hoặc để thực hiện nhiệm vụ nào đó thì tự khuyến khích là "Không Vào Hang Cọp, Sao Bắt Được Cọp Con", chữ Nho nói là "Bất nhập hổ huyệt, yên đắc hổ tử 不入虎穴,焉得虎子". Cho nên, muốn bắt được cọp con một cách an toàn thì phải biết cách "dụ" con cọp mẹ đi nơi khác, gọi là "Điệu Hổ Ly Sơn 調虎離山", là kế dụ cọp ra khỏi núi là nơi đắc địa nhất của chúa sơn lâm để dễ bề hành động theo ý mình. Đây là kế sách thứ 15 trong 36 kế mà chữ Nho gọi là "Tam Thập Lục Chước 三十六着". Cái "chước" cuối cùng trong "36 chước" là "Tẩu vi thượng sách 走為上策" là trốn, là bỏ chạy. Nên khi đã "dụ" được Thuý Kiều rồi thì gả Sở Khanh mới trổ mòi rủ Kiều lén bỏ trốn :

 

                              Thừa cơ lẻn bước ra đi,

                     Ba mươi sáu chước, chước gì là hơn !?

 

      Hình tượng oai hùng của chúa sơn lâm không phải ai cũng khắc họa được, các thợ vẽ "dõm" vẽ cọp không giống cọp lại trông giống như con chó có vằn, trông "không giống ai" cả, nên mới có câu "Họa Hổ Bất Thành Phản Loại Khuyển 畫虎不成反類犬" để chỉ những người làm việc vụng về hoặc tính toán không khéo, không chu đáo làm cho sự việc trở nên trơ trẻn, không đâu ra đâu cả. Như khi Lục Vân Tiên muốn đánh cướp Phong Lai để cứu Kiều Nguyệt Nga thì dân chúng thấy dáng vẻ thư sinh của Lục Vân Tiên nên đã lo lắng khuyên rằng :

                              

                              Dân rằng: lũ nó còn đây,

                      Qua xem tướng bậu thơ ngây đã đành.

                              E khi HỌA HỔ BẤT THÀNH,

                     Khi không mình lại xô mình xuống hang                 

 

      Hổ đã khó vẽ rồi, nhưng hình dáng bên ngoài vẫn còn vẽ ra được, chớ những phần xương cốt bên trong thì làm sao mà vẽ cho ra. Cũng như con người vậy, ta chỉ biết được mặt mũi bên ngoài chớ làm sao biết được lòng dạ bên trong của người đối diện cho được. Vì thế mà trong "Minh Tâm Bửu Giám" lại có câu :

 

                      畫虎畫皮難畫骨,  Họa hổ hoạ bì nan họa cốt,

                      知人知面不知心.   Tri nhân tri diện bất tri tâm.

     Có nghĩa :

                      Vẽ cọp vẽ da khôn vẽ cốt ?

                      Biết người biết mặt biết lòng ru ?!          

     

      Ông bà ta nói "Nuôi ong tay áo, Nuôi khỉ dòm nhà", còn trong chữ Nho thì bảo là "DƯỠNG HỔ DI HOẠN 養虎遺患" là "Nuôi Cọp để lại hậu hoạn về sau" hay "Túng Hổ Quy Sơn 縱虎歸山" là "Thả Cọp Về Rừng" sẽ để lại hậu hoạn khó mà lường trước được. Theo "Sử Ký. Hạng Vũ Bổn Kỷ 史記·項羽本紀" ghi lại tích sau đây  :

 

      Cuối đời Tần, chính trị hà khắc, dân chúng khắp nơi đứng lên phản kháng. Hai cánh nghĩa quân mạnh nhất lúc bấy giờ là do Lưu Bang và Hạng Võ cầm đầu. Lưu Bang nhanh chân hơn đánh chiếm Hàm Đan là thủ đô của nước Tần trước. Hạng Võ không phục quyết định khởi binh đánh Lưu Bang. Vì binh lực của Hạng Võ lúc bấy giờ qúa mạnh, nên Lưu Bang không dám ứng chiến, lui về Hán Trung để cố thủ và củng cố lại thế lực. Trong khi lực lượng của Lưu Bang ngày một lớn mạnh thì Hạng Võ lại ngày một yếu dần. Nhưng Lưu Bang không có ý tấn công Hạng Võ mà lại cho sứ giả đến thương lượng lấy Hồng Câu làm giới tuyến, mỗi người chiếm lĩnh một bên. Sau khi ký hiệp ước thì Hạng Võ đem binh về đông. Lưu Bang rất vừa ý định rút binh về tây, nhưng mưu thần Trương Lương lại bàn rằng :"Nay thế lực chúa công đã lớn mạnh, chư hầu phần lớn lại theo về, còn binh lực của Hạng Võ trước mắt không chịu nổi một trận tấn công của ta. Sao ta không nhân dịp nầy mà tiêu diệt Hạng Võ ? Để cho ông ta về đông như thả hổ về rừng, Dưỡng Hổ Di Hoạn, nuôi cọp lâu ngày họa hoạn sẽ khó mà lường trước được !". Lưu Bang thấy Trương Lương nói có lý bèn nghe theo, cất binh đuổi theo tiêu diệt Hạng Võ. Hạng Võ thua chạy, cuối cùng phải tự sát trên bến Ô Giang và Lưu Bang lên ngôi lập nên nhà Tây Hán.

     

                           

      Nói đến chính trị hà khắc làm ta lại nhớ đến câu nói của Khổng Tử là "Hà Chính Mãnh Ư Hổ 苛政猛于虎". Theo chương Đàn Cung Hạ, sách Lễ Ký 《禮記·檀弓下》có ghi lại tích sau đây :

 

      Khổng Tử khi đi ngang qua dưới chân núi Thái Sơn, thấy một người đàn bà đang khóc lóc thảm thiết trước một nắm mộ mới, bèn cho Tử Lộ đến hỏi thăm. Tử Lộ đến hỏi rằng :"Người nhà nào mất mà bà lại khóc lóc thảm thiết thế nầy?". Người đàn bà đáp rằng :"Trước đây cha chồng tôi bị cọp vật chết, rồi sau đó chồng tôi cũng bị cọp cắn chết, bây giờ đến lượt thằng con tôi cũng bị cọp vật chết nữa !". Khổng Tử nghe thế bèn hỏi rằng :"Thế sao gia đình bà không dọn đi chỗ khác ở ?". Người đàn bà đáp rằng :" Nơi đây không có chính sách tàn bạo hà khắc của quan quyền !". Khổng Tử bèn quay sang nói với các đệ tử rằng :"Các cậu trẻ hãy nghe đó : Chính sách hà khắc của quan quyền còn hung ác hơn là cọp dữ nữa đó !"

 

                    

      Đọc chuyện nầy làm cho ta liên tưởng đến tình hình chính trị của miền Nam Việt Nam ta sau năm 1975 và tình hình chính trị trước mắt của Afghanistan do nhóm Taliban thống trị. Thế mới biết : Chính trị hà khắc nên dân chúng tranh nhau bỏ nước ra đi là một lý do không còn tranh cải được nữa ! "Hà Chính Mãnh Vu Hổ 苛政猛于虎" là thế đấy!

        

       Còn làm tay sai cho giặc hay giúp cho kẻ ác làm việc xấu để hại người thì gọi là "VỊ HỔ TÁC TRÀNH 為虎做倀". Thành ngữ nầy có xuất xứ từ Quyển 430 của sách Thái Bình Quảng Ký đời Đường《太平廣記》卷四百三十. Có nghĩa : Vì cọp mà làm con ma Trành. Theo truyền thuyết thì TRÀNH 倀 là hồn ma của người bị cọp ăn thịt không thể siêu sinh phải vấn vít mãi quanh mình cọp và phải dẫn dụ người khác cho cọp ăn thịt để thay thế cho mình làm con ma TRÀNH thì mới giải thoát và siêu sinh được, và mãi cho đến khi con cọp đó chết thì những con ma TRÀNH mới được giải thoát hoàn toàn. Nên, con ma Trành hại người là để giải thoát cho mình, nhưng thành ngữ "VỊ HỔ TÁC TRÀNH 為虎做倀" đi vào văn học với ý nghĩa: Giúp cho kẻ ác làm ác, giúp cho kẻ xấu hại người; là làm tay sai để nối giáo cho giặc, là những tên Việt gian hại dân hại nước !

 

                     
 

      Mặc dù không phải là thú nuôi trong nhà như "Lục súc" (ngựa, dê, trâu, chó, heo, gà), nhưng con CỌP cũng đi song song vào đời sống dân chúng trong dân gian qua những thành ngữ tục ngữ ca dao trong tất cả những sinh hoạt hằng ngày. Như ta thường nói "Con giống cha là nhà có phúc", nhưng nói theo...cọp thì là "Hổ Phụ Sanh Hổ Tử" nghe nó oai phong hơn là "Hổ Phụ Sanh Khuyển Tử". Người nào ở đâu thì rành địa bàn nơi đó, gọi là "Rừng nào thì cọp nấy". Mấy ông uống vô ba hột rượu thì cứ oang oang "Tửu nhập tâm như hổ nhập lâm". Ráng làm đầu tắt mặt tối để dành được một ít, bị "giựt hụi" một cái hết trơn, thì nói là "Ký ca ký cóp làm cho cọp nó ăn". Con trai đang sức lớn ăn nhiều thì nói là "Nam thực như hổ, nữ thực như miêu". Viết tới đây lại nhớ khi xưa, trong xóm tôi ở có một cô ở độ tuổi "Mười bảy bẻ gảy sừng trâu" một lần có thể ăn hết 2 ký bún chan nước mắm ớt. Ông Sáu trong xóm hay nói Nho, nói là :"người ta nói "Nam thực như hổ", còn con nhỏ nầy thì phải nói là "Nữ thực như...Mồ Tổ nam" mới đúng !". Cọp tuy hung dữ, nhưng vẫn chắt chiu thương yêu nuôi nấng cọp con, có đói lắm cũng không ăn thịt con mình, nên ta lại có câu "Hùm dữ cũng không nở ăn thịt con". Cọp tuy dũng mãnh, nhưng nếu chỉ có một thân một mình thì cũng khó mà chống chọi với một bầy lang sói, như câu "Mãnh hổ nan địch quần hồ 猛虎難敵群狐" vậy ! Hình ảnh con hổ còn được ví von với những người có tướng mạo hung dữ ngang ngược, như câu :"Trên rừng thì hổ lang, dưới làng thì mặt rổ". Nói thế, có bất công với "người mặt rổ" lắm hay không ?!

                       

     Còn trong ca dao thì hình tượng con cọp vẫn luôn tượng trưng cho uy quyền và hung ác, như trong câu :

 

                          Mèo tha thịt mỡ thì la,

                     Cọp tha con lợn cả nhà im hơi !

 

     Hay như câu :

                         Con gái lấy phải chồng già,

                    Cầm bằng con lợn cọp tha vào rừng !

 

     Hay lộ liễu thẳng thừng hơn :

                          Con gái lấy phải chồng quan,

                     Nhược bằng để hổ nó mang lên rừng !

 

   ...xót xa và cay đắng hơn :

                                Con gái mà lấy chồng xa,

                          Cũng như heo nái cọp tha về rừng !

        

              

      Các cô gái Nam Bộ còn mượn câu nói Nho về con hổ để ví von chuyện thực tế :

 

                         Họa hổ họa bì nan họa cốt,

                         Tri nhân tri diện bất tri tâm.

                         May không thôi chút nữa em lầm,

                Củ khoai lang mà em cứ ngỡ là nhân sâm bên Tàu !

 

     Để kết thúc bài viết nầy, mời tất cả cùng đọc lại giai thoại giữa nữ sĩ Hồ Xuân Hương và Chiêu Hổ với hai bài thơ đối đáp ví von mà ví dỏm sau đây. Không biết là cái anh chàng Chiêu Hổ này "mò mày mó máy" làm sao đó mà nữ sĩ phải lên tiếng "stop" lại bằng :

 

                      Anh đồ tỉnh, anh đồ say,

                      Sao anh ghẹo nguyệt giữa ban ngày ?

                      Này này chị bảo cho mà biết.

                      Chốn ấy hang hùm chớ mó tay !

            

     Lém lỉnh không vừa, Chiêu Hổ đã đáp lại rằng :

 

                      Này ông tỉnh! Này ông say!

                      Này ông ghẹo nguyệt giữa ban ngày!

                      Hang hùm ví bẵng không ai mó,

                      Sao có hùm con bỗng trốc tay ?

 

     Dẫu biết đó là "Hang Hùm", nhưng hễ là đàn ông thì không ai dám nói là không thích mó cả ! "Hùm thì Hùm" mà "Mó thì cứ Mó", như Chiêu Hổ đã nói :"Không mó thì làm sao mà có được Hùm con !?" Mong rằng trong năm NHÂM DẦN nầy sẽ có rất nhiều con "Hùm Con" ra đời để được hưởng cái tốt của "Nam NHÂM" quý tử !

 

    Cầu chúc cho mọi người, mọi nhà đều được VUI VẺ, MẠNH KHOẺ vượt qua "Cơn dịch thế kỷ" trong năm con CỌP 2022 nầy. Mong lắm thay !

 

                                                                                         杜紹德

                                                                                     Đỗ Chiêu Đức

 

2. Câu Đối cho năm NHÂM DẦN :

 

        -  NHÂM nhi chén rượu mừng xuân, vui vẻ đồng hương cùng đón TẾT;

        -  DẦN dà vát-xin ngăn dịch, bình an thế giới thảy vui XUÂN !

DCD_doi tet Eng.JPG

Mừng năm mới, vui Xuân đón Tết, tất cả mọi người đều chúc nhau NĂM MỚI VUI VẺ; chữ Nho là TÂN NIÊN KHOÁI LẠC 新年快樂 ! Âm Quan Thoại là "XIN-NIÁN KUÀI-LÈ", ngày xưa Chợ Lớn là thế giới của người Quảng Đông nên Tết đến là khắp nơi đều nghe tiếng chúc nhau "Cống-hỉ fat-xồi !" là CUNG HỈ PHÁT TÀI 恭喜發財! là lời chúc của giới thương buôn luôn luôn lấy lợi nhuận làm đầu, nên họ rất thực tế, mừng năm mới thì cứ "Chúc nhau Phát tài!". Còn bây giờ ở xứ Huê-Kỳ nầy thì cái gì cũng HAPPY : Hết Happy Hallowing, rồi Happy Thanksgiving, bây giờ thì tới HAPPY NEW YEAR ! 

 

     Người Mỹ chỉ ăn Tết rầm rộ ở phố Times Square với quả cầu khổng lồ mà cả thế giới đều theo dõi, nhưng họ chỉ nghỉ vỏn vẹn có ngày MỘT TÂY để ăn Tết Tây mà thôi; Hai Tây thì lại đi làm bình thường rồi. Chỉ những khu phố có người Hoa, người Việt... nói chung là người Châu Á là còn ĂN TẾT ì sèo cho đến hết tháng Giêng là tháng ăn chơi theo Âm Lịch. Một số cộng đồng người Mỹ ở gần người Hoa cũng bị ảnh hưởng theo các phong tục và cách ăn Tết. Ở đây ta chỉ nói về phong tục dán câu đối đỏ để mừng xuân đón Tết mà thôi !

 

     Câu đối tết "truyền thống" thường thấy nhất của người Mỹ là :

                Eat well sleep well have fun day by day,

                 Study hard work hard make money more and more.

Có nghĩa :

              Ăn ngon, ngủ ngon, vui ngày qua ngày,

              Học lắm, làm lắm, tiền nhiều thêm nhiều.

Chữ Nho là :

               食好睡好,日日快樂;  Thực hảo thụy hảo, nhựt nhựt khoái lạc;

               學勤習勤,多多賺前!  Học cần tập cần, đa đa trám tiền !

 

    Câu đối nầy thường thấy các du học sinh Mỹ treo hoặc dán trước cửa phòng  Apartment trong những ngày Tết Âm lịch. Bức hoành phía trên ở giữ hai câu đối là : GILIVABLE có nghĩa là HÒA HỢP, và ở chính giữa bên dưới là chữ LUCK là MAY MẮN. Tất cả đều theo bài bản bộ liễn Tết truyền thống của Trung Hoa, như hình minh họa dưới đây :

 

 

 

 

 

 

              

 

 

 

       Theo đà giao lưu văn hóa giữa Âu-Á ngày một gia tăng, những câu đối mang phong cách "Chinglish" (Chinese English) ngày một nhiều hơn và đa dạng hơn. Một con buôn đến từ Bắc Kinh cho biết, mỗi năm Tết đến ông đều bán ra khoảng 600 đôi liễn bằng tiếng Anh theo đủ các dạng và các loại hình. Viết tiếng Anh theo kiểu "Chinglish" đôi khi không cần phải đúng với văn phạm tiếng Anh, như :

 

               好好學習,天天向上. Hảo hảo học tập, Thiên thiên hướng thượng.

Có nghĩa :

            Học tập cho thật tốt; Mỗi ngày đều đi lên ! thì...

viết thành tiếng Anh là :

                         Good good study, day day up !

                                                                        ... rõ "bồi" !

 

      Nhưng câu đối Tết thì hay hơn vì cũng ăn vận đàng hoàng, như :

 

         Vế ra : Happy NewYear !   (新年好 Tân niên hảo)

         Vế đối :Money Runs Here !(錢來到 Tiền lai đáo)

 

     Lại còn vừa ăn vận vừa đối xứng nữa chớ, xem câu sau đây :

        Vế ra :  Daily progress climbing upward,  (天天進步天天上)

        Vế đối : Yearly success flying forward.      (歲歲成功歲歲高)

Chữ Nho là :

              Thiên thiên tiến bộ thiên thiên thượng,

              Tuế tuế thành công tuế tuế cao !

Có nghĩa : 

              Mỗi ngày một tiến bộ, mỗi ngày một lên cao,

              Mỗi năm một thành công, mỗi năm đều bay vút !

 

      Một câu đối nữa cũng rất "ăn khách" cho các năm từ Y2K (2000) đế 2010, các năm đầu của Thiên Niên Kỷ mới là :

                New year new joys and new century,

                Great peace great wealth and great luckily.

Chữ Nho là :

               新喜新年新世紀,   Tân hỉ tân niên tân thế kỷ,

               多和多祿吉祥多.   Đa hòa đa lộc các tường đa !

Có nghĩa :

              Niềm vui mới trong năm mới mừng thế kỷ mới, sẽ có...

              Nhiều hòa bình nhiều phước lộc và nhiều may mắn đến ! 

 

     Nhưng thông dụng nhất vẫn là câu sau đây :

 

               Spring comes luck comes fortune comes,

               Family well people well everything well.

Chữ Nho là :

               春到福來千運到,   Xuân đáo phước lai thiên vận đáo,

               家和人旺萬事亨.   Gia hòa nhân vượng vạn sự hanh. 

Có nghĩa :

              Xuân về phúc đến vận may về;

              Nhà tốt người yên mọi sự thông.                  

 

       Còn những câu chúc Tết 4 chữ bình thường của ta thì khi viết bằng tiếng Anh sẽ thành một câu nói dài... thòn, với nghĩa chung chung của 2,3 câu như :

 

              Cung Chúc Tân Xuân, Chúc Mừng Năm mới... sẽ...

Viết thành :

                   Best wishes for the year to come.

Hay như câu :

              Năm Mới May Mắn, Năm Mới Vận Hội Mới... thì...

Viết thành :

                   Good luck in the year ahead.

Thông thường như câu :

                       "Tống Cựu Nghinh Tân" thì...

dịch là...

               Ring out the old, ring in the new.

Còn câu :                     

              "Vạn Sự Như Ý"   thì lại được...

dịch là : 

              Everything goes well.

 

            Theo tôi thì nên dịch là :

                                  "Everything comes true" sẽ hay hơn.

 

      Nhớ những năm Ăn Tết ở Trung Tâm Việt Mỹ Houston TX hồi trước khi đại dịch xảy ra; Năm nào ông giám đốc TTVM cũng mời bà dân biểu tiểu bang Sheila Jackson Lee đến dự, và năm nào tôi cũng phải viết 3 chữ PHƯỚC LỘC THỌ 福祿壽 có kèm tiếng Anh để tặng cho bà :

 

            PHƯỚC : Blessings,  LỘC : Wealthy,  THỌ : Longevity.

 

     Theo như hình minh họa dưới đây :

 

                

 

 

 

 

 

 

 

   

Để kết thúc bài viết hôm nay, xin được góp vui với câu đối Tết truyền thống của Việt Nam được dịch ra tiếng Anh như sau :

 

                 Thịt mỡ, dưa hành, câu đối đỏ;

                 Cây nêu, tràng pháo, bánh chưng xanh.

  ... là :

                 Fatty meat, Onion pickle, Red couplet;

                 Lunar New Year pole, Fire crackers, Green rice pie.

 

...mà trong bài viết "Liễn Tết" tôi đã dịch ra chữ Nho như sau :

 

                Phì nhục, toan thông, hồng đối liễn    肥肉,酸葱,红對联,

                Đào phù, bộc trúc, lục phương tung.    桃符,爆竹,绿方粽.

 

     Vậy là ta đã có đủ cả câu đối Hoa, Việt và Anh tha hồ mà ĂN TẾT đề huề nhé !

 

                  

     Chúc cho tất cả mọi người đều có được một cái Tết ÔNG CỌP 2022 Vui Vẻ, Mạnh Khỏe, AN KHANG THỊNH VƯỢNG !

 

                      杜紹德

                      Đỗ Chiêu Đức

dcd_chucmungnammoiAnhViet.JPG
dcd_luck.JPG
DCD_Thu phap chuc xuan.JPG
DCD_PhuocLocTho.JPG
dcd_phongdieuvuthuan.JPG
dcd_MungXuanNhamDan.JPG
dcd_caudoichonamNhamDan.JPG
dcd_LyBach.JPG

Giai Thoại Văn Chương :  

 

                                   THI TIÊN LÝ BẠCH 

                                            (701-762)

Truyện kể, vào triều đại của Huyền Tôn hoàng đế đời Đường, có một tài tử họ Lý 李, tên Bạch 白, tự là Thái Bạch 太白, người đất Cẩm Châu (Tứ Xuyên), vốn là cháu 9 đời của Tây Lương Võ Chiêu Hưng Thánh Hoàng Đế Lý Hạo. Bà mẹ của Lý nằm mơ thấy sao Trường Canh rơi vào bụng mà sanh ra Lý; vì sao Trường Canh là Thái Bạch Kim Tinh, nên mới lấy tên Bạch và tự là Thái Bạch để đặt cho Lý. Lý sinh ra vốn đã mi thanh mục tú, cốt cách phi phàm; Mười tuổi đã làu thông kinh sử, xuất khẩu thành thơ, mọi người đều ca ngợi và xưng tụng là thần tiên giáng thế, nên mới đặt cho cái ngoại hiệu là Lý Trích Tiên 李謫仙 (Là tiên trên trời được trích giáng xuống trần gian). Có thơ của Thi Thánh Đỗ Phủ chứng thực :

 

             昔年有狂客,  Tích niên hữu cuồng khách,

                    號爾謫仙人。  Hiệu nhĩ trích tiên nhân.

               筆落驚風雨,  Bút lạc kinh phong vũ,

                    詩成泣鬼神!  Thi thành khấp qủi thần !

   Có nghĩa :

                 Năm xưa có khách ngông cuồng,

                 Xưng là trời giáng xuống trần Trích Tiên.

                 Hưu bút mưa gió kinh thiên,

                 Thơ thành thần thánh qủi tiên cũng gờm !

 

     Lý Bạch lại tự xưng mình là Thanh Liên Cư Sĩ 青蓮居士 (Cư sĩ hoa sen xanh) để tỏ rõ cho sự thanh cao của mình, không cầu danh lợi, ngao du khắp bầu trời để uống hết rượu ngon của thiên hạ. Nghe đồn Ô Trình Tửu của Hồ Châu rất ngon, Lý bèn tìm đến Hồ Châu để uống cho thỏa thích. Đang lúc cao hứng ngâm thơ vang vang , chợt có Ca Diếp Tư Mã đi ngang qua quán rượu bèn cho tùy tùng vào hỏi xem là ai. Lý nghe hỏi bèn thuận miệng đọc luôn bốn câu thơ :

 

                  青蓮居士謫仙人,  Thanh Liên Cư Sĩ trích tiên nhân,

                  酒肆逃名三十春。  Tửu tứ đào danh tam thập xuân.

                  湖州司馬何須問,  Hồ Châu Tư Mã hà tu vấn,

                  金粟如來是後身。  Kim túc Như Lai thị hậu thân !

      Có nghĩa :

                  Thanh Liên Cư Sĩ trích tiên đây,

                  Quán rượu ẩn danh chục năm nay.

                  Tư Mã Hồ Châu sao khéo hỏi,

                  Như Lai kim túc hậu thân nầy !

 

                  

 

       Lý đùa với Tư Mã Hồ Châu rằng : Ngài là Ca Diếp là hậu thân của Phật Thích ca, còn ta chính là Như Lai đây ! Ca Diếp Tư Mã nghe xong thất kinh hỏi :"Chả lẽ đây là Lý Trích Tiên của đất Thục mà ta đã nghe danh bấy lâu nay ?!" Bèn mời Lý về nha môn cùng uống rượu với nhau trên mười hôm. Ca Diếp Tư Mã khuyên Lý đi về hướng Trường an để có dịp tiến thân. Lý đáp là triều chính hỗn lọạn, quan trường nhũng nhiễu tham ô, khó lòng mà tiến thân ngay thẳng cho được. Nhưng Ca Diếp vẫn khuyên là :"Với tài năng của các hạ, lo gì đất Trường an không có người tiến cử !" Lý Bạch nghe theo, bèn lần mò về hướng Trường an.

 

      Năm Thiên Bảo nguyên niên đời Đường (742). Một hôm, đang dạo chơi ở Tử Cực cung thì gặp phải Hàn Lâm Học Sĩ Hạ Tri Chương. Sau khi cùng trao đổi tên họ, cùng ngưỡng mộ nhau. Hạ Tri Chương đã cởi túi kim điêu của vua ban mà đổi rượu để cùng uống với nhau đến khuya, rồi lại cùng nhau kết nghĩa kim lan, mặc dù Hạ lớn hơn Lý đến 40 tuổi. Từ đó, mỗi ngày đều cùng nhau uống rượu ngâm thơ. 

      Thời gian thấm thoát đã đến kỳ khảo thí. Hạ Tri Chương bèn viết một phong thư đưa cho Lý Bạch giới thiệu Lý với quan chánh phó chủ khảo năm đó là Thái Sư Dương Quốc Trung và Thái Úy Cao Lực Sĩ. Chẳng ngờ hai tên tham quan nầy cứ ngỡ là Hạ đã ăn tiền hối lộ của Lý rồi gởi gắm cho mình, nên cùng nổi giận và cùng hẹn nhau, nếu gặp tên Lý Bạch thì đánh rớt ngay chớ chẵng cần biết văn chương hay dở gì cả ! Đến kỳ thi, khi giở đến bài của Lý Bạch thì Dương Quốc Trung đã gọi đến phê rằng :"Tài học như thế nầy, chỉ đáng mài mực cho ta mà thôi !", bèn chuyển bài qua cho Cao Lực Sĩ. Sĩ lại khinh bạc hơn nữa phê rằng :"Mài mực còn chưa đáng, chỉ xứng đáng để tháo giày cho ta mà thôi !". Đoạn ra lệnh cho lính gát tống cổ Lý Bạch ra khỏi phòng thi. Lý Bạch ôm hận thề rằng :"Sau nầy nếu ta được đắc ý, thì sẽ bắt hai tên nầy mài mực và tháo giày cho ta thì mới nguôi cái hận trong lòng nầy ! Hạ Tri Chương biết chuyện, bèn an ủi bạn rằng :"Thôi thì hiền đệ cứ ở đây ẩn nhẫn đợi khoa thi của 3 năm sau, biết đâu chừng đó sẽ gặp được các quan chủ khảo tốt hơn".  

 

      Ngày tháng thoi đưa, bỗng một hôm có sứ thần của Phiên bang mang quốc thư đến. Khi lâm triều mở quốc thư ra tuyên độc, cả triều đều ngẩn ngơ vì không đọc được chữ nào cả. Quan Hàn Lâm qùi xuống tâu rằng :"Đây là chữ của Phiên bang, chúng thần học thức thiển cận, không thể đọc được !" Nhà vua bèn lệnh cho các quan chủ khảo năm đó đọc thư. Dương Quốc Trung và Cao Lực Sĩ đều có mắt như mù, miệng câm như hến, không đọc được chữ nào cả. Huyền Tôn bèn quở rằng :"Uổng công các khanh là những bậc hiền tài, mũ cao áo rộng. Không đọc được thư nầy thì làm sao mà xử lý phát lạc sứ thần cho được đây? Nay trẫm hạn trong vòng 3 ngày không ai đọc được thư nầy thì đều phải ngưng bổng lộc, 6 ngày thì ngưng chức, 9 ngày thì đều đưa hình ty hỏi tội. Trẫm sẽ chọn nhân tài khác mà khuông phò xã tắc !" Thánh chỉ ban xuống, các quan đều lặng thinh chẳng dám dị nghị gì cả. Nhà vua lại càng tỏ vẻ lo âu hơn nữa.

                                                             

     Tan chầu, về lại nhà Hạ Tri Chương kể lại mọi chuyện cho Lý Bạch nghe. Nghe xong, Bạch cả cười bảo rằng :"Rất tiếc là khoa rồi đệ không được chấm đậu để cùng phân ưu với thiên tử !" Hạ Tri Chương nghe xong thất kinh hỏi lại :" Hiền đệ học cao hiểu rộng, đọc được Phiên thư sao ? Ngày mai ta sẽ bảo tấu với bệ hạ". Hôm sau vào triều tâu lên vua rằng :"Nhà thần có một tú tài họ Lý tên Bạch, học cao hiểu rộng, có thể đọc hiểu được Phiên thư". Vua bèn cử sứ giả đến phủ của Hạ Tri Chương mời Lý Bạch vào chầu. Bạch nói với thiên sứ rằng :"Thần là người áo vải phương xa, không quan không tước, vào chầu vua e sẽ làm mất thể diện của các quan đại thần học rộng hiểu nhiều ở trong triều chăng ?". Sứ về tâu lại, nhà vua bèn hỏi Hạ Tri Chương là chuyện như thế nào ? Hạ tâu rằng :"Lý Bạch văn chương cái thế, học vấn uyên thâm, chỉ vì khoa thi vừa qua bị khảo quan sỉ nhục, đuổi khỏi trường thi. Nay áo vải vào chầu, trong lòng cảm thấy hổ thẹn, mong bệ hạ hãy ban ân điển." Nhà vua bèn y tấu, phong cho Lý Bạch là Tiến Sĩ cập đệ, áo tía đai vàng, mão ô sa hốt ngà voi và cử Hàn Lâm Học Sĩ Hạ Tri Chương cùng đi rước Lý Bạch vào chầu.                   

       Sau khi tung hô vạn tuế để tạ ơn, nhà vua thấy Lý Bạch tướng mạo phi phàm như thần tiên giáng thế, trong lòng rất vui phán rằng :"Nay có Phiên bang mang quốc thư đến, nhưng không có người biết đọc. Trẫm triệu khanh đến để cùng phân ưu ". Bèn truyền thị thần mang Phiên thư đến. Lý Bạch đọc qua một lượt, xong mới mĩm cười hướng về nhà vua mà dịch lớn lên cho mọi người cùng nghe là :

       "Đại Khả Độc của nước Bột Hải thư đến cho Quan Gia triều Đường : Từ lúc ông chiếm Cao Ly, sát cạnh biên giới nước tôi, nên lính biên khu thường xuyên xâm lấn bờ cỏi nước tôi, tôi nghĩ đó là do ý của ông mà ra. Nay tôi không đừng được nữa, phái sứ đến để giảng hòa, xin ông cắt 176 thành của nước Cao Ly mà nhường cho nước tôi. Tôi sẽ tặng cho ông những vật trân quí sau đây : Thỏ của núi Thái bạch, Vải côn bố của Hải Nam, Trống của San Thành, Lộc của Phù Dư, Heo của Mạc Hiệt, Ngựa của Suất Tân, Cừu của Ốc Châu, Cá chép của sông My Đà, Mân của Cửu Đô và Lê của xứ Lạc Du, ông đều có cả ! Nếu ông vẫn không đồng ý, thì tôi sẽ khởi binh tới đánh nhau, chừng đó thắng thua sẽ quyết !" 

       Vua và các quan nghe xong đều kinh hãi trong lòng, im lặng nhìn nhau mà không biết phải nói gì. Riêng nhà vua thì lo lắng ra mặt, trầm ngâm giây lát bèn hỏi các quan về kế sách để đối phó lại. Văn võ hai hàng đều im thinh thích. Hạ Tri Chương quỳ xuống tâu rằng :"Sao bệ hạ không hỏi xem Lý Bạch có kế sách chi để đối phó hay không ?" Vua bèn hỏi ý Bạch. Bạch tâu rằng :"Bệ hạ không phải lo lắng, ngày mai cứ triệu Phiên sứ vào chầu, thần sẽ đáp trả Phiên thư bằng chính ngôn ngữ của Phiên bang, quở trách Khả Độc của Phiên Quốc, bắt ông ta phải sai sứ đến cống nạp và xin hàng". Nhà vua bèn hỏi :"Khả Độc là người nào?" Lý Bạch đáp rằng :" Người Bột Hải gọi vua là Khả Độc, người Hồi Hột gọi vua là Khả Hãn, người Thổ Phồn gọi vua là Tán Phổ, người Lục Chiếu xưng vua là Chiếu, người Ha Lăng xưng vua là Tất Mạc Uy. Mỗi bộ tộc đều theo phong tục của mình mà gọi tên vua ". Nhà vua nghe Bạch ứng đối lưu loát, học cao hiểu rộng  trong lòng rất đẹp, bèn phong ngay cho Lý Bạch chức Hàm Lâm Học Sĩ, thết tiệc tại kim loan điện có cung tần thể nữ ca múa hầu hạ chuốc rượu. Bạch uống đến say mèm, vua bèn cho nội thị đở vào bên trong trắc điện để nghỉ ngơi.  

      Canh năm hôm sau, khi trống canh năm vừa dứt thì hai bên văn võ bá quan đã chỉnh tề nghênh tiếp nhà vua thăng điện. Vua cho triệu Lý Bạch thì Lý hãy còn kèm nhèm chưa tỉnh rượu hẵn. Khi nội thị bưng canh giải rượu lên, thấy còn quá nóng, nhà vua lại đích thân cầm thìa khuấy cho mau nguội, rồi mới ban cho Lý uống. Các quan trông thấy nhà vua ưu ái Lý Bạch làm vậy đều nửa mừng nửa lo; mừng vì nhà vua biết chiêu hiền đãi sĩ, lo vì không biết Lý Bạch có làm nên cơm cháo gì không. Khi Bạch đã yên vị, nhà vua cho triệu sứ thần vào. Sau khi triều bái tung hô xong, Lý Bạch bèn đứng lên đi đến trước ngai vàng với áo tía mũ đen đứng trên trông xuống, phiêu nhiên như thần tiên giáng thế, tay cầm Phiên thư mở ra đọc to từng chữ một. Phiên sứ thất kinh đến há hốc cả mồm. Lý Bạch thay vua lớn tiếng quở rằng :"Tiểu bang sao dám thất lễ, nay thánh thượng độ lượng với hồng phước như trời, tha không chấp nhất, hãy nghe đáp chiếu của ta đây !" Phiên sứ nghe quở, run rẩy quỳ dưới bệ không dám ngẩn lên.       

       Nhà vua sai bày giường thất bảo bên cạnh ngai vàng, dùng nghiên mực bằng bạch ngọc, quản bút bằng ngà voi và thỏi mực bằng độc long hương thảo và giấy hoa tiên kim hoa ngũ sắc. Bày biện chỉnh trang xong đâu đó bèn ban cẩm đôn cho Lý Bạch ngồi cạnh ngai vàng để thảo chiếu thư. Bấy giờ Bạch mới tâu rằng :"Giày của thần không được sạch, e làm bẩn ngự sàng". Vua bèn sai nội thị đến cởi giày cho Lý. Lý được dịp lại tâu rằng :"Thần còn có một thỉnh cầu, dám xin bệ hạ tha cho tội ngông cuồng thì thần mới dám tâu lên". Vua phán :"Khanh cứ nói, có thất thố trẫm cũng không bắt tội". Lý tâu rằng:"Trong kỳ xuân thí vừa qua thần bị hai quan chánh phó chủ khảo đánh rớt và nhục mạ rồi đuổi khỏi phòng thi; nay hai người đó đứng đây thần không sao thi thố văn tài được nữa, dám xin bệ hạ lệnh cho Thái sư Dương Quốc Trung nâng nghiên mài mực và Thái Úy Cao Lực Sĩ tháo giày cho thần, để thần lấy lại lòng tự hào của kẻ sĩ mà thay mặt bệ hạ thảo chiếu thư trấn áp Phiên bang, mong bệ hạ ân chuẩn để thần không làm nhục mệnh vua !". Đến nước nầy nhà vua đành phải chìu theo ý của Lý, truyền chỉ "Thái sư Dương Quốc Trung mài mực, Thái Úy Cao Lực Sĩ tháo giày" để cho Lý Bạch thảo hách man thư. Lý bạch vô cùng đắc ý vì đã trả được cái hận trước đây, tay trái vuốt râu, tay phải hưu bút, chỉ trong một loáng đã thảo xong chiếu chỉ cho Phiên quốc. Trình lên nhà vua, vua trông thấy cũng giật mình, vì những nét chữ bay bướm cong queo giống y như thư của Phiên bang gởi đến, trong lòng rất vui, nghĩ rằng :"Với tài hoa nầy, cho Thái Sư mài mực, Thái Úy tháo giày cũng xứng đáng". Bèn truyền cho Lý Bạch đứng trước ngai vàng đọc lớn chiếu thư cho sứ thần và mọi người cùng nghe :

     "Đại Đường Khai Nguyên Hoàng đế chiếu dụ đến Khả Độc nước Bột Hải : Từ xưa đến nay, trứng vốn không chọi đá , xà không thể đấu với long. Bổn triều ứng thiên khai vận, ban ân tứ hải, binh cường tướng mạnh, giáp cứng giáo dài. Vua Hiệt Lợi bội ước mà bị bắt, Tây Hạ Lộng Tán đúc ngổng mà thề nguyền, nước Tân La dệt gấm mà ca tụng, Thiên Trúc cống chim muông biết nói, Ba Tư nộp rắn biết bắt chuột, Phất Ma tấn cống chó biết chăn ngựa, Lâm Ấp cống ngọc dạ quang, Cốt Lợi Cán nộp Ngựa qúy, Nê Bà La hiến rượu ngon. Chẳng qua cũng chỉ là mến đức sợ uy nước lớn, muốn hòa bình cầu an. Cao Ly vì chống lại thiên triều nên lập quốc 9 trăm năm bị tiêu diệt trong một buổi, đó cũng vì không biết thời cơ mà chịu họa vong quốc. Nay nước Bột Hải của các ngươi, vốn là thuộc quốc của nước Cao Ly, chẳng qua cũng chỉ bằng một quận nhỏ của nước ta mà thôi, lại dám ngang nhiên thách thức. Phải biết là khi quân thiên triều ập đến thì ngàn dâm máu đổ thịt rơi, vua Khả Độc sẽ bị bắt, nước cũng sẽ mất như Cao Ly. Nay thánh chúa khoan dung độ lượng không chấp nê cho sự ngông cuồng lần nầy. Phải biết hối lỗi mà sớm ngày nộp cống xưng thần, cho bốn bể được thanh bình, nhân dân thôi đồ thán. Hãy tam tư suy nghĩ cho cẩn thận để đừng làm trò cười cho các lân bang. Nay ban chỉ dụ. khâm thử !"

 

                                                    

 

      Sứ thần Bột Hải quỳ nghe chỉ dụ mà mặt như chàm đổ, cúi đầu nhận chiếu chỉ rồi tung hô vạn tuế mà lui ra. Khi ra đến cửa môn bèn hỏi nhỏ quan Nội Hàn rằng :"Người thảo và đọc chiếu chỉ khi nảy là ai, mà Thái sư phải mài mực và Thái Úy phải cởi giày vậy?" Quan Nội Hàn đáp rằng :"Đó là Hàn Lâm Học Sĩ Trích tiên Lý Thái Bạch. Lý học sĩ là thần tiên trên trời trích giáng xuống, còn Thái Sư và Thái Úy chỉ là quan chức của phàm trần, làm sao mà so bì với Trích tiên cho được !" Phiên sứ nghe thế về nước báo lại với vua Khả Độc là thiên triều có thần tiên xuống giúp. Khả Độc xem chiếu thất kinh, bàn bạc với trăm quan thảo hàng biểu xưng thần và hàng năm nộp cống, không dám dấy động can qua nữa.

 

     Từ đó, nhà vua rất kính trọng và yêu mến Lý Bạch, định phong cho quan chức trọng hậu, nhưng Lý chỉ muốn tiêu dao tự tại, nên chỉ xin được có rượu uống hằng ngày là mãn nguyện rồi. Nhà vua biết Lý là người thanh cao, không màng vinh hoa phú qúy, nên hằng ngày ban yến tiệc trong cung và lưu lại trong kim loan điện để nghị chính, ân sủng ngày một gia tăng. Một hôm đang lang thang trên đường phố Trường an bỗng nghe thấy tiếng phèng la vang dậy, một đoàn đao phủ thủ áp giải một tù nhân đem ra pháp trường hành quyết. Trong tù xa là một võ tướng mi thanh mục tú, tướng mạo hiên ngang. Hỏi ra mới biết đó là Quách Tử Nghi, một võ tướng thất cơ từ Tinh Châu giải về Trường an để trảm quyết. Lý Bạch thấy Quách Tử Nghi tướng mạo phi phàm bèn chặn tù xa lại, bảo rằng mình sẽ vào cung bảo tấu với thiên tử. Toán đao phủ nhận biết đây là Lý học sĩ người thảo Hách Mang Thư hiện đang ở trong cung vua, nên bằng lòng chờ đợi. Lý bay ngựa về cung yết kiến thiên tử, vì là tội nhẹ nên vua ban ngay một đạo ân xá. Lý lại bay ngựa ra pháp trường tha cho Quách Tử Nghi, khuyên nhủ là hãy cố gắng lập công chuộc tội để kiến công lập nghiệp. Quách Tử Nghi bái tạ ra đi và hứa sẽ kết cỏ ngậm vành để báo đáp.

     Lúc bấy giờ hoa Mộc Thược Dược cuả xứ Dương Châu cống nạp vào trong cung đã nở rộ; trong cung gọi tên là hoa Mẫu đơn với bốn màu rực rỡ là trắng, hường, đỏ, tía. Thiên tử di giá đến đình Trầm hương cùng Dương Quý Phi thưởng ngoạn với một đám Lê viên tử đệ cùng múa ca hát xướng. Nhà vua cảm khái bảo rằng :" Trước phi tử đẹp như hoa và trước hoa đẹp như tranh thế nầy, sao ta lại cứ hát những bài nhạc cũ thế kia. Hãy mau truyền Lý học sĩ đến để viết nên những ca khúc mới cho hợp người hợp cảnh !" Trưởng nhóm nhạc của Lê Viên là Lý Qui Niên tuân chỉ đi tìm, nội thị cho biết là Lý Học sĩ đã ra phố Trường an để uống rượu rồi. Lý Qui Niện vội vả dắt theo một đoàn tùy tùng đi tìm Lý Bạch, khi đi ngang qua một tửu lâu cao lớn nghe có tiếng người ngâm rằng :

 

                 三杯通大道,    Tam bôi thông đại đạo,

                 一斗合自然。    Nhất đấu hợp tự nhiên.

                 但得酒中趣,    Đản đắc tửu trung thú,

                 勿為醒者傳。    Vật vi tỉnh giả truyền !

      Có nghĩa :

                 Ba ly thông qua đạo lớn,

                 Một đấu hợp với tự nhiên.

                 Chỉ cần được vui trong rượu,

                 Mặc cho kẻ tỉnh tuyên truyền !

 

                   

      Giọng điệu nầy không phải của Lý Học Sĩ thì còn là ai nữa ! Bèn đi thẳng lên lầu truyền lệnh vua triệu hồi về cung. Mọi người nghe có chiếu chỉ của vua đều vô cùng kinh hãi, riêng Lý Bạch đã "xỉn" quá rồi, giương đôi mắt thất thần nhìn Lý Qui Niên rồi đọc một câu thơ của Đào Uyên Minh :" Ngã túy dục miên quân thả khứ 我醉欲眠君且去!(Có nghĩa : Ta say muốn ngủ người đi đi !) rồi nhắm mắt ngủ ngay. Lý Qui Niên lắc đầu chào thua, đưa tay xuống lầu ngoắc một cái, cả toán thị vệ bèn đổ lên lầu kè Lý Học Sĩ xuống đưa lên ngựa ngũ hoa thông trực chỉ về cung. Vì Lý Bạch còn quá say nên nhà vua cho cởi ngựa vào thẳng Ngũ Phụng lâu trực chỉ vào cung cấm. Lý Qui Niên phải đi theo đở Lý Bạch đi vào hậu cung ngang qua Hưng Khánh trì đến bên Trầm Hương Đình là nơi nhà vua và quý phi đang ngắm hoa mẫu đơn. Thấy Lý Bạch còn qúa say vua cho đặt tạm ngự sàng bên điện để Lý nằm, thấy Lý chảy nước dãi vua còn đưa tay áo long bào ra lau; Qúy phi tâu rằng :"Thiếp nghe nói phun nước lạnh vào mặt có thể làm cho tỉnh rượu". Vua bèn cho cung nữ ngậm nước lạnh phun vào mặt Lý Bạch. Lý thấm lạnh giật mình tỉnh ra, nhìn thấy vua và phi tần chung quanh, thất kinh quỳ xuống thỉnh tội. Vua đỡ dậy phán rằng :"Nay trẫm cùng phi tử cao hứng ngắm hoa, không thể không có lời hát mới, phiền khanh soạn cho ba khúc Thanh Bình Điệu để cho Lê Viên tử đệ phổ nhạc mừng hoa Mẫu đơn vừa mới nở." Lý Bạch thấy khung cảnh Trầm Hương Đình rất nên thơ với phi tần giai lệ, với danh hoa khuynh quốc, nên mặc dù còn ngây ngất men say cũng cất bút viết ngay ba bài Thanh Bình Điệu nổi tiếng sau đây :

 

             清平調 (其一):    THANH BÌNH ĐIỆU (kỳ 1):

 

        雲想衣裳花想容,    Vân tưởng y thường hoa tưởng dung,

               春風拂檻露華濃。    Xuân phong phất hạm lộ hoa nùng.

        若非群玉山頭見,    Nhược phi quần ngọc sơn đầu kiến,

               會向瑤台月下逢。    Hội hướng Dao Đài nguyệt hạ phùng !

Có nghĩa :

                  Mây ngỡ xiêm y hoa ngỡ mày,

                  Gió xuân phe phẩy má hồng say.

                  Không là Quần Ngọc non tiên thấy,

                  Cũng chốn Dao Đài gặo gỡ ai !

            

            清平調 (其二):    THANH BÌNH ĐIỆU (kỳ 2):

 

        一枝紅豔露凝香,   Nhất chi hồng diễm lộ ngưng hương,

               雲雨巫山枉斷腸。   Vân vũ Vu Sơn uổng đoạn trường.

        借問漢宮誰得似?   Tá vấn Hán Cung thùy đắc tự ?

                可憐飛燕倚新妝。   Khả lân Phi Yến ỷ tân trang !

Có nghĩa :

                Một cành hoa đẹp ngậm sương thơm,

                Mưa móc Vu Sơn cũng dỗi hờn.

                Dám hỏi Hán cung ai dám sánh,

                Thương nàng Phi Yến mới soi gương.

 

               

 

             清平調 (其三):   THANH BÌNH ĐIỆU (kỳ 3):

 

        名花傾國兩相歡,   Danh hoa khuynh quốc lưỡng tương hoan,

               長得君王帶笑看。   Trường đắc quân vương đái tiếu khan.

        解釋春風無限恨,   Giải thích xuân phong vô hạn hận,

               沉香亭北倚欄杆。   Trầm hương đình bắc ỷ lan can !

Có nghĩa :

                Người xinh hoa đẹp vẹn đôi đàng,

                Thỏa ý quân vương ngắm chẳng màng.

                Giải hết gió xuân không hận oán,

                Đình Trầm Hương bắc tựa lan can !

 

                

       Ý mới lời thanh hợp tình hợp cảnh, nhà vua đọc xong khen không ngớt lời, bèn truyền cho Lý Qui Niên cùng chúng Lê Viên đệ tử phổ từ vào nhạc. Tiếng tơ tiếng trúc, tiếng đàn sáo tiêu thiều dìu dặt vang vang, mọi người đều hân hoan thưởng thức. Tiếng ngọc địch cuối cùng vừa dứt thì Qúy Phi đến cúi mình đáp tạ ơn vua. Nhà vua cười phán rằng :"Chớ tạ trẫm, hãy qua bên kia mà tạ Lý Học Sĩ kìa !" Qúy Phi bèn dùng ly thất bảo, đích thân rót rượu bồ đào của Tây Lương cống nạp, rồi truyền cung nữ ban tặng cho Lý Bạch. Từ đó về sau mỗi lần trong cung có nội yến đều có mặt Lý Bạch, nên mối tình tài tử giai nhân dần dà nảy sinh, Qúy Phi thường liếc mắt đưa tình, nhưng Lý Học Sĩ thì cứ làm ngơ, chỉ biết suốt ngày chìm đắm trong men rượu. 

     Lại nói về Thái Úy Cao Lực Sĩ lòng luôn ôm hận vì phải cởi giày cho Lý Thái Bạch trước mặt triều thần, nên luôn tìm dịp để trả thù rửa hận. Một hôm, nghe Dương Quý Phi ngâm nga ba bài Thanh Bình Điệu của Lý Bạch, mới thừa dịp nói rằng :"Thần cứ tưởng là nương nương phải căm hận lắm mới phải, sao lại cứ tán thưởng ngâm nga !?" Quý Phi hỏi tại sao, thì Cao Lực Sĩ đáp rằng :" Câu thơ "Khả lân Phi Yến ỷ tân trang" rõ ràng là đang ví nương nương với Triệu Phi Yến một cách mĩa mai. Nương nương không cảm nhận được hay sao ?" Thì ra Triệu Phi Yến là người đẹp eo thon nhỏ nhắn, thân hình mảnh khảnh đến nổi có thể nhảy múa trên lòng bàn tay của lực sĩ được; còn Dương Quý Phi là ngườì đẹp khoẻ mạnh có da có thịt chớ không ẻo lả chút nào cả. Đem hai người so sánh nhau thì có vẻ mĩa mai hài hước thật sự (Thực ra, Lý Bạch chỉ so sánh cái vẻ đẹp của khuôn mặt chớ không so sánh cả thân hình. Câu "Khả lân Phi Yến ỷ tân trang 可憐飛燕倚新妝" ý là : Nàng triệu Phi Yến mới trang điểm xong cũng phải chào thua !) Thêm một ẩn ý khác quan trọng hơn là Triệu Phi Yến lén Hán Thành Đế để tư thông với Yến Xích Phụng là một hầu dịch đẹp trai khỏe mạnh, còn trước mắt thì Dương Qúy Phi lại đang tư thông với con nuôi là tướng An Lộc Sơn. Dương Qúy Phi nghe Cao Thái Úy gợi ý nhắc nhở nên thấm đòn đâm ra oán ghét và xa lánh Lý Bạch, nên trước mặt Huyền Tôn thường chê trách hành vi phóng túng buông thả của Lý làm rối loạn nề nếp trong cung. Nhà vua thấy Quý Phi không thích, nên không thường xuyên triệu Lý vào cung nữa. Lý Bạch lang thang ở Trường An cùng các bạn rượu là Hạ Tri Chương 賀知章, Trương Húc 张旭, Lý Thích Chi 李适之, Tiêu Toại 焦遂, Lý Tấn 李琎, Thôi Tông Chi 崔宗之 và Tô Tấn 苏晋, xưng là "Trường An ẨM TRUNG BÁT TIÊN 飲中八仙" (Tám ông tiên trong rượu ở đất Trường An).

                           

 

     Dần dà rồi cũng nhớ nhà, Lý Bạch xin với vua cho mình về quê. Huyền Tôn phán rằng :"Khanh ý chí cao nhã, tạm thời về quê, nếu có việc cần trẫm sẽ cho triệu hồi. Nhưng khanh đã có công với trẫm, đâu thể nào tay trắng hoàn hương, nếu khanh có thỉnh cầu chi cứ tâu trình cho trẫm biết". Bạch tâu rằng :"Thần chẳng có thỉnh cầu chi cả, chỉ mong mỗi ngày đều có rượu để uống cho say là đủ rồi !" Huyền Tôn bèn tặng cho Lý bạch một miếng kim bài, trên có ngự thư viết rằng : Sắc phong Lý Bạch là THIÊN HẠ VÔ ƯU HỌC SĨ, tiêu dao lạc phách TÚ TÀI. Hễ gặp phường quán thì được uống rượu, gặp ngân khố thì được chi tiền. Phủ cấp ngàn quan, huyện cấp năm trăm. Văn võ quân dân nếu ai thất kính thì đều phạm tội vi chiếu". Lại ban tặng ngàn lượng vàng ròng, cẫm bào ngọc đái, long mã yên vàng và tùy tùng hai mươi người. Lý Bạch khấu đầu tạ ơn, nhà vua lại tặng hai đóa kim hoa, ba ly ngự tửu và cho lên ngựa trước cửa Kim loan điện  để lên đường, bá quan văn võ đều được miễn chầu để đặt tiệc tiễn hành suốt mười dặm trường đình, chỉ có Dương Thái Sư và Cao Thái Úy không ra đưa tiễn mà thôi, còn bảy người bạn trong "Trường An Ẩm Trung Bát Tiên" thì đưa tiễn đến ngoài trăm dặm và cùng nhau uống rượu tiễn biệt đến ba ngày trời mới chịu chia tay. Lý Bạch đã làm bài thơ " 還山別金門知己詩" để ghi lại sự việc nầy như sau :   

            恭承丹鳳詔,    Cung thừa Đan Phụng chiếu,

                   欻起煙蘿中。    Hốt khởi yên la trung.

            一朝去金馬,    Nhất triêu khứ kim mã,

                   飄落成飛蓬。    Phiêu lạc thành phiêu bồng.

            閑來東武吟,    Nhàn lai Đông Võ Ngâm,

                   曲盡情未終。    Khúc tận tình vị chung,

            書此謝知己,    Thư thử tạ tri kỷ,

                   吾尋黄綺翁。    Ngô tầm Hoàng Ỷ Ông.

    Có nghĩa :

                   Lãnh chiếu từ Đan Phụng cung,

                   Bỗng không lại muốn về cùng núi xanh.

                   Ngựa vàng một sớm phi nhanh,

                   Tấm thân phiêu bạc như tranh cỏ bồng.

                   Khi nhàn về Đông Võ ngâm,

                   Khúc ca tuy dứt tình không dứt nào.

                   Tạ lòng tri kỷ biết bao,

                   Ta về vui với hoàng bào Ỷ Ông !

 

                                     

      Lý Bạch lên đường với mão ô sa áo gấm, trên đường mọi người đều xưng tụng là Cẩm Y Công Tử. Quả nhiên hễ cứ gặp tửu phường uống rượu thì ngân khố nơi đó lại xuất quỹ công mà trả. Một hôm về đến Cẩm Châu cùng với Hứa phu nhân tương ngộ. Phủ huyện nghe Lý Học Sĩ vinh quy đều đến chúc mừng, không ngày nào là không yến tiệc. Thắm thoát nửa năm đã trôi qua...

     Một hôm, chạnh niềm nhớ cảnh giang hồ, Lý Bạch nói với Hứa phu nhân là mình muốn đi du sơn ngoạn thủy. Bèn ăn mặc như là một Tú Tài, dắt theo một tiểu đồng rồi cưởi lừa lên đường, và cũng không quên giắt theo bên mình cái kim bài ngự ban của nhà vua. Các phủ huyện đều cung ứng chi đủ tiền rượu cho Lý Bạch suốt trên đường đi. Hôm nọ, khi đi ngang qua địa phận đất Hoa Âm, nghe dân chúng than rằng quan huyện ở đây rất tham ô và hay nhũng nhiễu dân lành. Lý Bạch bèn cho tiểu đồng lui ra, một mình cưởi lừa ngược đến trước huyện đường gióng ba hồi trống kêu oan. Quan huyện đang thăng đường, nghe tiếng trống biết là có người định quấy rối, nên cho lính bắt vào hỏi tội. Quan huyện thấy là một tú tài say rượu kèm nhèm, bèn lệnh bắt nhốt vào nhà lao đợi khi tỉnh rượu hãy hỏi tội. Lý Bạch bèn cả cười bảo mình không say. Huyện quan càng giận bắt phải làm tờ cung khai xem ai đã xúi giục đến để quấy rối nha môn. Lý Bạch đòi giấy bút rồi viết một lèo như sau :

 

      "Người cung khai ở đất Cẩm Châu, họ Lý tên chỉ một chữ Bạch. Tuổi trẻ đã thích văn chương, người đời gọi là Trích Tiên, hươu bút lên thì quỷ thần cũng kinh sợ, là Ẫm Trung Bát Tiên của đất Trường An, đã từng Hách Man Thư, người người đều biết tiếng, say nằm trong tẫm cung của vua, rỏ dãi áo vua lau, canh nóng tay vua khuấy, Cao Thái Úy cởi giày, Dương Thái Sư mài mực. Trong Kim Loan điện còn cho ta cởi ngựa, nơi Huyện Hoa Âm nhỏ bé nầy sao lại không cho ta cởi lừa !?"

 

                          

     Khai xong rút kim bài vua ban dằn lên trên bàn cái "cộp". Huyện quan trông thấy kim bài, đọc lời khai xong, cả kinh thất sắc; vội vàng đỡ Lý Bạch ngồi lên rồi phủ phục dập đầu lạy xuống đất bẩm rằng :"Tiểu quan có mắt như mù, không trông thấy núi Thái sơn, cúi xin Đại Học Sĩ lão gia khoan thứ cho tội đã mạo phạm". Các quan lớn nhỏ ở địa phương nghe tin đồng kéo đến để ra mắt Lý Học Sĩ.  Lý Bạch thừa dịp các quan họp mặt đông đủ, lên giọng huấn thị rằng :"Chúng quan viên là "Dân chi phụ mẫu", thọ lãnh bổng lộc của vua thì phải biết làm hết chức trách của mình, sao lại còn có tư tâm tham tài hại dân, nhũng nhiễu quần chúng. Nay ta chỉ cảnh cáo răn đe để các vị sửa chửa lỗi lầm cũ. Nếu còn để cho dân tình ta thán thì lần sau ta sẽ luận tội không tha !" Các quan đều giật mình kinh hãi đồng thanh vâng dạ. Quả nhiên sau lần đó các quan đều trở nên cần mẫn thanh liêm. Các quan viên của các địa phương kế cận cũng kháo với nhau là nhà vua ngầm cho Lý Học sĩ đi thị sát quan tình, nên đều giữ kẻ không dám hà hiếp sách nhiễu bá tánh như xưa nữa.

 

    Lý Bạch ngao du hết thiên hạ từ đất Triệu qua Ngụy, Yên, Tấn, Tề, Lương, Ngô, Sở... Uống hết rượu ngon của thiên hạ, ngắm hết cảnh đẹp của non sông. Khi An Lộc Sơn làm loạn, Lý đang ẩn cư ở Lư Sơn. Lúc bấy giờ An Lộc Sơn làm phản (755) Đường Minh Hoàng phải chạy vào đất Thục. Vĩnh Vương Lý Lân là Tiết Độ Sứ Đông nam muốn thừa cơ làm phản, nghe danh Lý Bạch có văn tài võ lược, bèn ép Lý theo mình, Lý không ưng nhưng vẫn được phong chức và ghép vào dưới trướng. Không bao lâu sau, khi loạn An Lộc Sơn đã yên, Đường Túc Tôn lên ngôi (756), phong Quách Tử Nghi làm Thiên hạ Binh mã Đại Nguyên Soái thu phục 2 kinh, Vĩnh Vương Lân cũng thua chạy, Lý Bạch thừa cơ trốn thoát, khi chạy đến giang đầu của bến Tầm Dương thì bị lính của triều đình bắt lại ghép vào loạn đảng. Khi giải về trung dinh cho Quách Nguyên Soái. Tử Nghi thấy là Lý Học Sĩ bèn thét quân cởi trói, mời lên ghế ngồi rồi cúi đầu lạy tạ rằng :"Xưa ở Đông thị Trường An nếu không nhờ ân nhân giải cứu, thì Quách Tử Nghi sao có được ngày hôm nay !" Bèn đặt tiệc thết đãi, rồi viết sớ dâng biểu về triều đình giải oan cho Lý Bạch, lại nhắc đến công lao Hách Man Thư ngày trước mà tiến cử cho nhà vua trọng dụng. Túc Tôn hoàng đế cũng mến tài Lý Bạch mà phong cho chức Tả Thập Di.  

                                                              
   

    Lý Bạch đã ngán ngẫm với cảnh quan trường chìm nổi, áo xiêm trói buộc không được tự do tự tại, nên bái tạ không nhận chức. Từ biệt Quách Tử Nghi thả một lá thuyền xuôi về Nhạc Dương dạo Động Đình Hồ, xuôi qua Kim Lăng thuyền cặp bến bên bờ sông Thái Thạch. Đêm đó vầng trăng sáng vằng vặc như ban ngày. Như có điềm báo trước, Lý Bạch vận quan phục chỉnh tề, ngồi trước đầu thuyền cất chén uống rượu cùng trăng. Đang cơn tửu hứng, thấy bóng trăng chập chờn trên sông nước như đang dang tay mời gọi, Lý nâng chén lên mời vầng trăng trên không rồi cuối xuống định chạm chén cùng vầng trăng dưới nước, trong cơn men rượu chếnh choáng Lý ngã xuống ôm lấy vầng trăng lắp loáng trên sông và cùng bóng trăng tan theo dòng nước chảy. Khi thuyền gia hay được thì đà đắm ngọc chìm châu mất rồi ! Bỏ lại Hứa phu nhân ngày đêm khoắc khoải vò võ mòn mõi đợi chồng về như hai câu thơ của Lý đã viết :

 

                          當君懷歸日,     Đương quân hoài quy nhật,

                          是妾斷腸時!     Thị thiếp đoạn trường thì !

        Có nghĩa :

                          Ngày chàng nhớ trở lại nhà,

                          Thiếp đà đứt ruột xót xa nhớ chàng !

 

     Theo truyền thuyết thì ngay lúc đó tiếng tiên nhạc và tiêu thiều từ trên không vẳng xuống, có 2 đồng tử tay cầm tinh kỳ hiện ra hô to :"Phụng lệnh Ngọc Đế thỉnh Tinh chủ hoàn vị !" Lòng sông chợt chuyển động, một cơn sóng to nổi lên giữa dòng, một con kình ngư chở Lý Bạch trên lưng lướt lên khỏi mặt nước bay thẳng lên không theo tiếng nhạc mất hút vào màn đêm thăm thẳm. Sáng hôm sau Huyện lệnh Lý Dương Băng dâng biểu tấu trình mọi việc. Vua bèn hạ chiếu cho địa phương lập miếu để thờ Lý Trích Tiên, hằng năm xuân thu nhị kỳ hương khói không dứt.

         

       Vì Lý Bạch say trăng tự trầm trên sông Thái Thạch, nên trên Thái Thạch Cơ, bờ đá bên dòng Thái Thạch có rất nhiều danh thắng để tưởng nhớ đến Thi Tiên, như Lý Bạch Mộ 李白墓, Trích Tiên Lâu 謫仙樓, Tróc Nguyệt Đình 捉月亭... Tất cả những văn nhân thi sĩ, sứ thần nước ngoài khi đi sứ ngang qua đây đều có làm thơ tưởng nhớ đến Lý Bạch. Cụ Nguyễn Trãi nhà ta trong thời gian ở Trung Hoa cũng có bài thơ Thái Thạch Hoài Cổ 采石懷古 để tưởng nhớ đến Thi Tiên :

               

           采石曾聞李謫仙,   Thái Thạch tằng văn Lý Trích Tiên,

           騎鯨飛去已多年。   Kỵ kình phi khứ dĩ đa niên.

           此江若變為春酒,   Thử giang nhược biến vi xuân tửu,

           只恐波心尚醉眠。   Chỉ khủng ba tâm thượng túy miên.

Có nghĩa :

             Thái Thạch từng nghe Lý Bạch say,

             Cởi kình bay biết mấy năm nay.

             Sông này nếu biến thành xuân tửu,

             Lòng sóng e rằng vẫn ngủ say !

   Lục bát :

             Từng nghe Thái Thạch Trích Tiên,

             Cởi kình bay mất bao niên trước rồi.

             Nước sông biến rượu xuân trôi,

             Chỉnh e lòng sóng say vùi ngủ yên !

  

             

 

             Hẹn bài viết tới !

 

                                                                                                杜紹德

                                                                                            Đỗ Chiêu Đức

DCD_chữ Phận.JPG

TẠP GHI và PHIẾM LUẬN:  

 

                      Chữ PHẬN trong Truyện Kiều 

        PHẬN HỒNG NHAN có mong manh,

             Nửa chừng xuân thoắt gãy cành thiên hương.

              

       Trong chữ Nho, chữ PHÂN 分 thuộc dạng chữ Hội Ý, vì được ghép bởi bộ BÁT 八 là số 8 ở trên và bên dưới là bộ ĐAO 刀 là Cây Dao; với Hội Ý là : Cái gì đó được xắt 8 dao là đã CHIA nhỏ ra rồi. Nên nghĩa đầu tiên của PHÂN là CHIA. Trong tiếng Nôm ta có từ kép PHÂN CHIA. Khi đã chia thì nó sẽ Thành từng Phần một, cụ thể là 8 phần như chữ Hội Ý ở trên, nên ta lại có từ kép THÀNH PHẦN 成分. Bây giờ thì Động từ PHÂN được đọc thành Danh từ PHẦN (dấu huyền) để chỉ một đơn vị đã được chia ra. Đó là trong đời sống vật chất thực tại thực tế trước mắt; còn về đời sống tinh thần, tâm linh, tôn giáo và tín ngưỡng dân gian thì Thượng Đế, tức ông Trời cũng chia đời sống con người ra nhiều Thành Phần kể cả tâm linh và vật chất như cụ Nguyễn Du đã lý luận trong Truyện Kiều :

 

                       Ngẫm hay muôn sự tại trời,

                     Trời kia đã bắt làm người có thân.

                       Bắt phong trần phải phong trần,

                    Cho thanh cao mới được PHẦN thanh cao.  

 

      Cái "PHẦN thanh cao" đó là cái số PHẬN của con người, trong chữ Nho gọi là DUYÊN PHẬN 緣分. Chữ PHÂN bây giờ lại được đọc là PHẬN (dấu nặng) chỉ sự đặt để xếp đặt sẵn của "ông Trơi" để dành riêng cho ai đó. B