hmpg.jpg
Titlej (1).jpg
dcd_ongdo.jpg

TIẾNG HÁN CỔ

với Ông Đồ ĐỖ CHIÊU ĐỨC

 

CHS Phan Thanh Giản (Cần Thơ)

Cựu GS Trung Học Tân Hưng (Cái Răng)

Cựu Giảng Viên ĐH Xã Hội - Nhân Văn (Sài Gòn)

Houston,Texas________

DCD_ChumthoTrungThu.JPG

Tết TRUNG THU là ngày rằm Tháng tám Âm lịch, chữ Nho gọi là TRUNG THU TIẾT 中秋節; là ngày lễ truyền thống của các nước vùng Đông Nam Á chịu ảnh hưởng văn hóa Trung Hoa. Người Hoa thường ví hình tượng trăng tròn rồi trăng khuyết, khuyết rồi lại tròn với sự đoàn viên và bi hoan ly hợp của con người; và thông qua hình tượng mặt trăng để gởi gắm tâm sự, tình cảm, nhớ nhung của mình với thân nhân, với người yêu, với gia đình, với quê hương... xuyên suốt mấy ngàn năm nay đã để lại rất nhiều bài thơ về Trăng Trung Thu. Kính mời các bạn hãy đọc thử xem những bài thơ sau đây, bài nào đã đánh động tâm lý tình cảm của mình nhất ?!

 

1. Bài Thơ MINH NGUYỆT HÀ KIỂU KIỂU :

 

         Bài thơ tả về Trăng Trung Thu đầu tiên trong thi ca cổ phải kể đến bài "Minh Nguyệt Hà Kiểu Kiểu 明月何皎皎" làm theo thể cổ phong có từ thời Kiến An của đời Đông Hán. Mời tất cả cùng đọc sau đây :

 

明月何皎皎,    Minh nguyệt hà kiểu kiểu,

照我羅牀幃。    Chiếu ngã la sàng vi.

憂愁不能寐,    Ưu sầu bất năng mị,

攬衣起徘徊。    Lãm y khởi bồi hồi.

客行雖云樂,    Khách hành tuy vân lạc,

不如早旋歸。    Bất như tảo tuyền quy.

出戶獨彷徨,    Xuất hộ độc bàng hoàng,

愁思當告誰?     Sầu tư đương cáo thùy?

引領還入房,    Dẫn lãnh hoàn nhập phòng,

淚下沾裳衣!     Lệ há triêm thường y !

           佚名                      Dật Danh

 

  

 

 

 

 

 

 

 

 

 

* Chú thích :

    - Dật Danh 佚名 hay Vô Danh Thị 無名氏 đều có nghĩa là bài thơ không biết tên tác giả là ai. Vì là một trong "Cổ Thi Thập Cửu Thủ 古詩十九首" (19 bài thơ cổ) khi luật thơ chưa hình thành và không biết tên tác giả nên đều lấy câu đầu làm tựa cho bài thơ. Về chủ đề của bài thơ có hai cách lý giải như sau : Một cho là bài thơ khắc họa hình ảnh của một người khuê phụ vọng phu, mong ngóng đợi chồng về trong đêm trung thu; Một cho đây là hình tượng của người du tử xa quê lâu ngày muốn được về quê ngay trong đêm trăng sáng. Nhung khách yêu thơ thường thiên về ý đầu hơn là ý sau.    

   - La Sàng Vi 羅牀幃 :Cái màn phủ quanh giường ngủ bằng vải là (lụa là).

   - Mị 寐 :Ngủ; BẤT NĂNG MỊ 不能寐 là không thể ngủ được.

   - Lạm Y 攬衣 :Lấy áo choàng lên người, là khoát áo.

   - Tuyền Quy 旋歸 : TUYỀN là xoay vòng, nên TUYỀN QUY là Quay ngược trở lại, là Quay về nhà, về quê.

   - Dẫn Lãnh 引領 :là Đưa bâu áo lên, có nghĩa là rướng Ngóng nhìn

   - Thường Y 裳衣 hay Y Thường : THƯỜNG để che thân dưới, là Quần; Y để che thân trên là Áo; nên THƯỜNG Y như ta thường nói là QUẦN ÁO.

 

* Nghĩa bài thơ :

                              MINH NGUYỆT HÀ KIỂU KIỂU

  1. Người Lãng Tử nhớ quê :

       Ánh trăng sáng sao mà vằng vặc lung linh, chiếu cả vào màn là trên giường, làm cho ta cảm thấy ưu sầu không thể nào ngủ được. Khoát áo dậy mà cứ đi lửng thửng bồi hồi trước sân. Lữ hành nơi đất khách tuy nói là có nhiều niềm vui, nhưng sao ta lại chẳng quay trở về nhà sớm hơn ?. Một mình thẩn thơ trước cửa mà lòng bàng hoàng mối sầu tư trong lòng không biết phải tỏ cùng ai đây ?. Ngóng cổ trông mãi về quê rồi cũng phải về lại phòng mà nước mắt cứ tuôn trào ướt cả áo xiêm.

 

                             

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

2. Người Khuê Phụ Trông Chồng : 

       Ánh trăng sáng sao mà vằng vặc lung linh, chiếu cả vào màn là trên giường của thiếp, làm cho thiếp cảm thấy ưu sầu không thể nào ngủ được. Khoát áo dậy mà cứ bồi hồi ngơ ngẩn nghĩ rằng : Lữ hành nơi đất khách tuy nói là có nhiều niềm vui, nhưng sao lại chẳng quay trở về nhà sớm hơn ?. Thiếp một mình thẩn thơ trước cửa mà lòng bàng hoàng mối sầu tư trong lòng không biết phải tỏ cùng ai đây ?. Ngóng cổ trông mong mãi rồi cũng phải về lại phòng khuê mà nước mắt cứ tuôn trào ướt cả xiêm y.

       Qủa là :

                          Nỗi lòng biết tỏ cùng ai,

              Thiếp trong cánh cửa chàng ngoài chân mây !

                                                      (Chinh Phụ Ngâm Khúc)

 

                   

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

* Diễn Nôm :

 

                  Trăng sáng sao vằng vặc,

                  Chiếu cả lên giường là .

                  Lòng sầu không ngủ được,

                  Khoát áo dậy lân la,

                  Đất khách tuy vui đó,

                  Sao không sớm về nhà ?

                  Một mình thơ thẩn mãi,

                  Sầu nầy ai hiểu ta ?

                  Kéo bâu về phòng lạnh,

                  Lệ rơi ướt áo là !

Lục bát :

                  Vầng trăng vằng vặc như sương,

                  Ánh vàng chiếu cả lên giường phòng the .

                  Sầu tư không ngủ e dè,

                  Thẩn thờ khoát áo lòng nghe bồi hồi.

                  Lãng du tuy lắm niềm vui,

                  Sao không sớm vội trở lui về nhà ?

                  Bàng hoàng trước cửa riêng ta,

                  Sầu tư trăm mối ai là tri âm ? 

                  Ngóng thôi trở gót về phòng,

                  Lệ rơi ướt áo não lòng đêm thu !

                                                  Đỗ Chiêu Đức diễn Nôm

 

          Hẹn bài viết tiếp theo :

 

              Bài thơ BÁT NGUYỆT THẬP NGŨ NHẬT DẠ BỒN ĐÌNH VỌNG NGUYỆT 

                                  của nhà thơ Bạch Cư Dị 

 

                                                                                                 杜紹德

                                                                                             Đỗ Chiêu Đức

DCD_Nguyetha.JPG
DCD_MinhNguyet.JPG
DCD_nguoithieuphu.JPG

 LỄ MẸ - DU TỬ NGÂM (遊子吟)

DCD_DuTungam.jpg

Đỗ Chiêu Đức

Chúa Nhật thứ hai của tháng 5 hằng năm là ngày LỄ MẸ ( Mothers'day ) ở Mỹ. LỄ MẸ năm nay nhằm ngày Chúa Nhật 8 tháng 5 tới đây. VN ta không có ngày Lễ Mẹ chính thức, mọi người lấy ngày Lễ Vu Lan Bồn là ngày rằm tháng 7 Âm lịch làm ngày tưởng nhớ đến Mẹ Hiền. Trong thời Đệ Nhị Cộng Hòa ở Miền Nam, nhà sư Nhất Hạnh lấy ngày Rằm tháng 7 này làm ngày Bông Hồng Cài Áo. Ai còn Mẹ thì được cài một bông hồng màu ĐỎ, người nào chẳng may đã mất Mẹ rồi thì cài một bông hồng màu TRẮNG lên áo để tưởng nhớ đến Mẹ Hiền....
Nay, nhân ngày Lễ Mẹ ở xứ người, lại nhớ đến ngày Lễ Vu Lan ở xứ ta, xin chân thành gởi đến tất cả mọi người một Bông Hồng...Thơ, để tưởng nhớ đến Mẹ Hiền qua tâm tình của một Du Tử phiêu bạt phương trời : Bài thơ " DU TỬ NGÂM " của Mạnh Giao đời Đường...

遊 子 吟 DU TỬ NGÂM

慈 母 手 中 线 Từ mẫu thủ trung tuyến
遊 子 身 上 衣 Du tử thân thượng y

临 行 密 密 缝 Lâm hành mật mật phùng

意 恐 遲 遲 歸 Ý khủng trì trì quy

誰 言 寸 草 心 Thùy ngôn thốn thảo tâm

報 得 三 春 暉 Báo đắc tam xuân huy

孟 郊 MẠNH GIAO

Bài thơ có tựa là KHÚC NGÂM của NGƯỜI DU TỬ, người lãng du phiêu bạt giang hồ nhớ về Mẹ như sau :

Sợi chỉ trong tay bà mẹ hiền, khâu nên chiếc áo ở trên mình người du tử. Lúc ra đi, mẹ đã từng mũi từng mũi một khâu thật chắc, ý sợ rằng con mình mê mãi thú giang hồ mà nấn ná dần dà trễ tràng trở về quê cũ. Ai bảo rằng tất lòng của cọng cỏ non kia, có thể báo đáp được ánh nắng ấm áp của ba tháng mùa xuân.( Trong mùa đông, cỏ chết rụi cả, chỉ sống lại nhờ ánh sáng của ba tháng mùa xuân mà thôi ! ).

Ôi, nỗi lòng thương con của bà mẹ thật tỉ mỉ, chi li, nhưng lại bao la sâu rộng vô cùng. Bà không trách con đi lâu, cũng không buộc con phải về sớm, vì bà biết tánh lãng tử của con mình. Bà chỉ âm thâm chắc chiu từng mũi kim cho thật chặc, chỉnh e khi ở xứ lạ quê người, áo của con bị sứt chỉ đường tà sẽ không có ai khâu hộ. Việc tuy nhỏ nhặt, nhưng lại hàm chứa biết bao nỗi thương yêu lo lắng của Mẹ Hiền. Tác giả đã kết bằng cách mượn nỗi lòng của một tấc cỏ nhỏ nhoi, thì làm thế nào có thể báo đáp cho được ánh nắng ấm áp của 3 tháng mùa xuân đã mang sức sống và xanh tươi đến cho cây cỏ và vạn vật muôn loài cho được !

Khi diễn tả cô Kiều cân nhắc giữa tình và hiếu, rồi quyết định bán mình chuộc tội cho cha. Hành động bán mình là việc làm cao cả, vĩ đại, nhưng đối với công lao trời biển, sanh thành dưỡng dục của cha mẹ thì Nguyễn Du vẫn cho là chưa đủ, cho nên ông đã dùng chữ " Liều " một cách rất tài tình :

Hạt mưa xá nghĩ phận hèn
LIỀU đem TẤC CỎ quyết đền BA XUÂN !

Sự thật, bán mình chuộc cha thì cô Kiều có thể nói đã hoàn toàn trả được chữ hiếu rồi !( hết đời rồi , còn gì nữa ! ) : " Bán mình là hiếu, cứu người là nhân " mà, và như Sư Tam Hợp đã nói : " Bán mình đã động hiếu tâm đến trời ". Nỗi lòng " tấc cỏ " của cô Kiều khả dĩ nói là đã đáp đền được " ánh nắng của ba xuân " rồi hay chưa ?!

DIỄN NÔM :

Kim chỉ trên tay từ mẫu,
Khâu nên áo lãng du nhân.
Khi đi chắc chiu từng mũi,
Sợ ngày về lắm lần khần.

Ai bảo nỗi lòng tấc cỏ,
Báo đền được nắng ba xuân ?!
LỤC BÁT :
Đường kim mũi chỉ mẹ hiền,
Khâu nên chiếc áo trên mình lãng du,
Chắc chiu từng mũi từng khâu,
Sợ e con trẻ đi lâu chửa về
Ai rằng tấc cỏ bên lề,
Báo đền được ánh nắng về ba xuân ?!

GIỚI THIỆU TÁC GIẢ :
MẠNH GIAO 孟郊 ( 751- 814 )
Mạnh Giao tự là Đông Dã, người đất Võ Khang. Lúc nhỏ ở ẩn trong núi Tung Sơn, tánh tình thầm lặng, làm thơ hay thiên về lý trí, lại chắt lọc từng chữ một. Hàn Dũ rất mến tài ông mà kết thành bạn vong niên. Mãi đến năm 50 tuổi ông mới đậu Tiến Sĩ ở niên hiệu Trinh Nguyên đời nhà Đường.
Ngoài bài Du Tử Ngâm được nhiều người biết đến, Mạnh Giao còn nổi tiếng với bài Liệt Nữ Tháo. Cả hai bài đều làm theo thể Ngũ ngôn Cổ phong.( Mỗi câu năm chữ, có thể gieo cả vần Bằng lẫn vần Trắc và không hạn định số câu của một bài.).

Xin cầu chúc tất cả mọi người đều có một ngày Lễ Mẹ tuyệt vời !

Đỗ Chiêu Đức

_________________________

dcd_HanhHangHang.jpg

                                               Chim chít mà đậu cành tre...

Đó là một vế trong CHỮ NHO...DỄ HỌC nói về bộ Xích, theo thứ tự trong 214 Bộ Thủ của chữ Nho như sau :

XÍCH 彳: là Bước Chân Trái. Cũng có nghĩa là Bước Chậm rãi. XÍCH vừa là Bộ vừa là Chữ. Khi là Bộ, thường đứng bên trái và được gọi là "Song Nhân Bàng 雙人旁". Có nghĩa là Bộ gồm có 2 chữ Nhân 人 chồng lên nhau 彳. Những chữ được ghép bởi Bộ XÍCH thường chỉ về Đi Đứng, Đường xá, Hành vi của con người. Ta còn có một biến dạng của bộ XÍCH là chữ SÁCH 亍 (còn đọc là XÚC) là Bước chân phải, nên XÍCH SÁCH 彳亍 : Bước chân trái một cái, bước chân phải một cái là đi Tản bộ, là đi Bách bộ, đi chầm chậm, như trong bai câu thơ của Lý Chí đời Minh :

<!>

 

踟蹰横渡口, Trì trù hoành độ khẩu,

彳亍上灘舟。 XÍCH SÁCH thướng than chu.

Có nghĩa :

Chần chừ trước bến đò ngang,

NGẦN NGỪ bước xuống thuyền sang bến bờ.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Chim chít mà đậu cành tre...

 

Ghép XÍCH 彳(bước chân trái) với SÁCH 亍 (bước chân phải) lại với nhau, ta có chữ HÀNH 行 là ĐI, như Hành Tẩu Giang Hồ 行走江湖 (là Đi Lại trên chốn giang hồ). Nghĩa phát sinh của HÀNH là LÀM, như Hành Động 行動; Đi đứng, ăn nói, cử chỉ là HÀNH VI 行為, mà Hành Vi là cái thể hiện phẩm chất đạo đức của con người, nên HÀNH còn được đọc là...

 

HẠNH 行 là PHẨM HẠNH 品行 như câu nói của ông bà thường dạy : Nhân sanh bách HẠNH hiếu vi tiên 人生百行孝為先. Có nghĩa : Đời sống con người có cả trăm phẩm hạnh, hiếu là Phẩm hạnh đầu tiên nhất. Cũng chữ HÀNH khi đọc là...

 

HẢNG 行 thì có nghĩa là Nơi sản xuất, là cửa hàng; như TỬU HẢNG 酒行 là Hảng rượu (Nơi chế biến và bán rượu). Nhớ trước năm 1975, các báo tiếng Hoa trong Chợ Lớn có đăng quảng cáo cho một Công ty xuất nhập khẩu ở Hồng Kông có tên là 行行行 thu hút không ít khách hàng muốn tìm hiểu xem Công Ty nầy kinh doanh cái gì và tên của công ty phải đọc như thế nào, làm cho business của công ty cũng trở nên vô cùng bận rộn và phát triển .... Thì ra công ty đó đang chơi trò Giả Tá, 3 chữ 行 行 行 đọc là : HẠNH HÀNH HẢNG, tức là cái Hảng có tên là Hạnh Hành , thế thôi ! Vì HẢNG cũng là cửa hàng, nên chữ HÀNH còn được đọc là...

 

HÀNG như NGÂN HÀNG 銀行 là Cửa hàng chuyên môn kinh doanh về tiền bạc.

HÀNG còn là HÀNG NGŨ 行伍 như 2 câu đầu trong bài Tuyệt Cú 絕句 của Thi Thánh Đỗ Phủ 杜甫 là :

兩個黃鸝鳴翠柳, Lưỡng cá hoàng li minh thúy liễu,

一行白鷺上青天。 NHẤT HÀNG bạch lộ thướng thanh thiên.

Có nghĩa :

Hai cái oanh vàng ca liễu biếc,

MỘT HÀNG cò trắng vút trời xanh.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

HÀNG còn có nghĩa là Ngành Nghề. Như "Cải HÀNG 改行" là Đổi Nghề. Ta có thành ngữ : HÀNG HÀNG XUẤT TRẠNG NGUYÊN 行行出狀元 : Có nghĩa là Bất cứ ngành nghề nào cũng đều có Trạng Nguyên của ngành nghề đó cả. Ý muốn nói : Bất cứ nghề nào cũng có thể phát triển đến đỉnh điểm và làm giàu lớn được cả !

HÀNH 行 : còn là một thể loại Văn Học chỉ tất cả các bài thơ có thể phổ nhạc và hát được kể cả thơ trường thiên, như : TÌ BÀ HÀNH 琵琶行 của Bạch Cư Dị, TÒNG QUÂN HÀNH 從軍行 của LÝ Cần, LỆ NHÂN HÀNH 麗人行 của Đỗ Phủ....

 

HÀNH 行 là chữ tiêu biểu cho câu nói của ông bà ta xưa kia thường nhắn nhủ là : Nhất tự lục nghì 一字六義 (Một chữ mà có tới 6 nghĩa !).

 

Trở lại với câu thiệu mở đầu bài viết nầy với đầy đủ cặp Lục Bát như sau :

 

Chim chích mà đậu cành tre,

Thập trên tứ dưới nhất đè chữ tâm !

 

"Chim chích mà đậu cành tre" là bộ XÍCH ㄔ mà chúng ta đã biết ở trên. Câu tám "THẬP 十 trên TỨ 四 dưới NHẤT 一 đè chữ TÂM 心" là chỉ nói theo tự dạng mà thôi; Lẽ ra phải là "THẬP 十 trên MỤC 目 dưới NHẤT 一 đè chữ TÂM 心" mới đúng. Vì đó là chiết tự của chữ ĐỨC 德 với nghĩa Hội Ý của 5 bộ lại như sau :

 

Bộ XÍCH ㄔ bên trái chỉ Bước chân với ý hiểu rộng ra là ĐI ĐỨNG, THẬP MỤC 十目 (chữ MỤC được đặt nằm ngang) là Mười con mắt, Ý chỉ THẤY NHIỀU. NHẤT TÂM 一心 là Một Tấm Lòng. Vậy ĐỨC 德 là gì ?! Xin thưa theo phép Hội Ý là :

 

"ĐI NHIỀU, THẤY NHIỀU, mà làm việc gì hay xét đoán điều gì đó biết thông qua MỘT TẤM LÒNG để xét nét rồi mới nói mới làm, thì đó chính là lời nói và hành động có ĐỨC đó !"

 

Một hình thức khác nữa của chữ Đức 德 là Đức 惪 (hay 悳 Đức) nầy đây. Bỏ hẵn bộ XÍCH 彳bên trái, và bộ Mục 目 được viết thẳng đứng hẵn hoi, hợp với chữ Thập 十 thành chữ TRỰC 直 là Ngay thẳng. Chiết tự chữ ĐỨC 惪 nầy gồm có TRỰC 直 trên, TÂM 心 dưới. Có nghĩa : Một tấm lòng ngay thẳng ! Vâng, MỘT TẤM LÒNG NGAY THẲNG đã là ĐỨC rồi !

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Diễn tiến và hình thành của chữ ĐỨC 德

 

Ông bà ta thường nói "Có ĐỨC mặc sức mà ăn" cho thấy "Cái ĐỨC" của con người nó quan trọng biết chừng nào ! Không dám lạm bàn, chỉ nói theo "chiết tự" của chữ viết : ĐỨC là lời nói và việc làm ngay thẳng đúng với lương tâm của con người đang sống trong một xã hội nào đo !

 

Còn một chữ nữa cũng khá thú vị đối với các thư sinh học chữ Nho ngày xưa, đó là chữ NHIÊN 然 : là Nấu, là Đốt... theo câu thiệu chiết tự của các Cụ Đồ Nho ngày xưa như sau :

 

Canh khuya NGUYỆT xế tà tà,

Bỗng nghe CHÓ cắn canh đà điểm TƯ !

Ta thấy :

Chữ NHIÊN 然 phần trên bên trái có chữ NGUYỆT 月 được viết xiên xiên tà tà, bên phải là chữ KHUYỂN 犬 là con chó đang Sủa (cắn) trăng, và tận cùng phía dưới là bộ HOẢ 火 biến thể bằng 4 chấm 灬 (canh đà điểm tư !). Chữ NGUYỆT 月 còn là một hình thức biến dạng của bộ NHỤC 肉, mà NHỤC 月 với KHUYỂN 犬 ghép lại cũng là chữ NHIÊN 肰 có nghĩa là THịT CHÓ. Nên hai câu thiệu bằng Lục Bát nói trên có thể lý giải theo phép Hội Ý lý thú như sau :

 

... Đêm trăng thanh gió mát, cùng tụ tập dưới ánh trăng nghiêng nghiêng, ngâm thơ uống rượu và "nhâm nhi" với thịt chó đang bốc khói trên lò lửa, thì còn gì khoái trá cho bằng ?! Nên ...

 

NHIÊN 然 là Động từ có nghĩa gốc là Đốt, là nấu, nhưng thường được sử dụng làm Trợ từ có nghĩa là : Đúng vậy ! là Hiển Nhiên là thế ! là Tự Nhiên ! là Naturellement ! là Naturally ! Khi dùng để chuyển tiếp thì có nghĩa là : Rồi Sau Đó .... là Nhiên Hậu 然後... Còn...

 

 

 

 

 

 

 

 

NHIÊN (Chung Đĩnh văn) Kim văn Tiểu Triện Khải Thư

 

Chữ NHIÊN 然 bây giờ chỉ có nghĩa là NẤU, là ĐỐT khi được gia thêm một bộ HỎA 火 ở bên trái nữa như sau 燃, như trong từ NHIÊN LIỆU 燃料 là Chất Đốt vậy ....

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

- NHIÊN PHÁO HOA 燃炮花 là Đốt pháo bông, là bắn pháo hoa.

- NHIÊN ĐĂNG 燃燈 là Đốt đèn, là thắp đèn lên.

- NHIÊN ĐĂNG CỔ PHẬT 燃燈古佛 là một vị Phật (tiếng Phạn là Dipankara hay Dipanikara) là vị Phật thứ tư trong danh sách 28 vị Phật. Nhiên nghĩa là đốt cháy, Đăng là cây đèn. Nhiên Đăng Cổ Phật cũng có khi được gọi là Nhiên Đăng Phật (燃燈仏), Đính Quang Phật 錠光佛, "Đính 錠" là cái chân đèn.

Trong Đại trí độ luận, đức Nhiên Đăng Cổ Phật khi đản sinh, chung quanh thân sáng như đèn, cho nên gọi là Nhiên Đăng Thái tử. Khi thành Phật cũng gọi là Nhiên Đăng, xưa gọi tên là Đính Quang Phật. Ở các chùa Việt Nam và Trung Quốc, Nhiên Đăng Cổ Phật thường được thờ chung với Phật Thích-ca Mâu-ni và Phật Di-lặc trong bộ tượng Tam thế Phật, nghĩa là các vị Phật thời quá khứ, hiện tại và vị lai (trong đó Phật Nhiên Đăng đại diện cho chư Phật trong quá khứ, Phật Thích-ca là vị Phật thời hiện tại và Phật Di-lặc tượng trưng cho chư Phật thời vị lai).

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Hẹn bài viết tới !

 

杜紹德

Đỗ Chiêu Đức

dcd_chimchichcanhtre.JPG
dcd_1hangcotrang.JPG
dcd_chuDuc.JPG
dcd_nhien.JPG
dcd_newDuc.JPG
dcd_Thichca.JPG
dcd_tungu_4.JPG

Gần Tết, ta hay nghe những lời chúc tụng lẫn nhau, chúc khỏe mạnh, chúc giàu sang, chúc sống lâu, chúc mua may bán đắt , chúc mọi điều như ý... Vậy, CHÚC 祝 là gì ? Ta sẽ truy nguyên để tìm hiểu nghĩa gốc của chữ CHÚC nầy nhé !

 

      Theo "CHỮ NHO... DỄ HỌC" thì CHÚC thuộc dạng chữ tổng hợp của Tượng Hình, Chỉ Sự và Hội Ý, có diễn tiến chữ viết như sau :

dcd_Chuc.JPG

Ta thấy :

            Từ Giáp Cốt Văn, Đại Triện đến Tiểu Triện : Bên trái có một gạch ngang ba gạch xuôi là cái bàn thờ ông Thiên, phía trên có một gạch ngắn như cái dĩa đựng đồ cúng là bộ THỊ 示, có nghĩa là Bày Tỏ. Bên phải là hình tượng của một người quỳ trước bàn thờ, phần trên là chữ KHẨU口 là Cái Miệng, phần dưới là chữ NHÂN 儿(人) là Người; Cái Miệng của Người muốn bày tỏ khi cúng tế, tức là VAN VÁI. Nên CHÚC 祝 là Những lời Van Vái khi cúng tế, thường thì đều là những lời tốt đẹp, đâu có ai vái những điều xấu xa bao giờ, nên nghĩa gốc của Chúc là "Những lời van vái". Sau nầy dùng rộng ra, hễ "Nói Những lời Tốt Đẹp Cho Người Khác " thì cũng gọi là CHÚC. Như :

      - Tôi CHÚC cho anh được bình an trong mùa Cô-vít. Tức là...

      - Tôi VAN VÁI cho anh được bình an trong mùa Cô-vít đó !

 

     CHÚC 祝 khi là Danh từ còn có nghĩa là "Phù Thủy Nam", ta gọi là Thầy Pháp, Thầy Cúng, người chuyên cúng tế ở các đình chùa miếu mạo, bây giờ là Ông Từ, gọi theo chữ NHO là Miếu Chúc 廟祝. và Ông Từ ngày nay thì chỉ ở để giữ chùa và ăn ké cơm của chùa mà thôi ! Trong "Tăng Quảng Hiền Văn" có câu :

 

                Quan thanh thư lại sấu,         官清書吏廋,

                Thần linh MIẾU CHÚC phì.    神靈廟祝肥。

Có nghĩa :

             - Ông quan thanh liêm thì người thư ký ốm (vì phải làm việc nhiều và không có tiền... hối lộ !). Còn...

            - Ông thần mà linh thiêng thì ÔNG TỪ (người giữ chùa) sẽ mập ra (Vì có nhiều người đến cúng tế cho mà ăn !).

     Những từ được thành lập bởi chữ CHÚC rất nhiểu, nhất là vào dịp Tết Âm Lịch như hiện nay, Ta thường gặp các từ như ...

 

        - Chúc Xuân, Chúc Tết,

        - Chúc Phúc, Chúc Thọ.

        - Chúc may mắn, Chúc giàu sang, Chúc mua may bán đắc, Chúc an khang thịnh vượng, Chúc vạn sự như ý ....

 

       Chữ CHÚC đã được Việt hóa thành chữ Nôm và mất đi Ý nghĩa lúc ban đầu là Lời VAN VÁI.

 

                 

       Trong "Tăng Quảng Hiền Văn" lại có câu :

 

                   是非終日有,   THỊ PHI chung nhật hữu,

                   不聽自然無。   Bất thính tự nhiên vô.

Có nghĩa :

           - Chuyện THỊ PHI có suốt ngày, nếu...

           - Không nghe thì tự nhiên sẽ như không có chuyện gì xảy ra cả !

 

      Vậy chuyện THỊ PHI 是非 là chuyện gì ? Ta tìm hiểu nghĩa "đen thùi" của nó nhé !

      THỊ 是 là ĐÚNG, PHI 非 là SAI; THỊ là PHẢI, PHI là TRÁI; THỊ là TỐT, PHI là XẤU... Nên CHUYỆN THỊ PHI là "Chuyện Đúng Sai, Phải Trái, Tốt Xấu của tất cả mọi người, của tất cả mọi chuyện ở trên đời nầy". Nên, chuyện Thị Phi là... chuyện của các người hay ngồi lê đôi mách, chuyện của các "ông bà Tám" ăn không ngồi rồi, chuyện của những người "ăn cơm nhà lo chuyện thiên hạ"... Nên tiếp đó "Tăng Quảng Hiền Văn" lại có câu :       

            

                   來說是非者,   Lai thuyết THỊ PHI giả,

                   便是是非人。   Tiện thị THỊ PHI nhân.

Có nghĩa là :

           - Những người đến nói chuyện THI PHI, thì...

           - Chính những người đó là những CON NGƯỜI THỊ PHI đó !

 

     Nói chuyện THỊ PHI, còn có nghĩa nói tốt cho người nầy, nói xấu cho người kia; Tệ hại hơn nữa là đặt điều nói xấu người khác hay vẽ chuyện để nịnh bợ kẻ bề trên... Vì THỊ cũng có nghĩa là CÓ, PHI là KHÔNG, Nên Chuyện THỊ PHI cũng là "Chuyện có nói không , chuyện không nói có". Nên ích lợi thì không thấy mà tác hại thì vô cùng ! "Tăng Quảng Hiền Văn" lại khuyên răn :

 

                  莫待是非來入耳,   Mạc đãi THỊ PHI lai nhập nhĩ,

                  從前恩愛反為仇。   Tòng tiền ân ái phản vi cừu.

Có nghĩa :

        - Đừng nên để cho chuyện THỊ PHI lọt vào tai, để nên nổi...

        - Trước đây từng yêu thương ân ái với nhau bây giờ lại hóa ra thù hận.

 

      Trong Truyện Kiều, khi có người muốn tâng công, đến mách với Hoạn Thư là Thúc Sinh có vợ lẻ bên ngoài; Hoạn Thư đã ra lệnh thị uy "đứa thì vả miệng đứa thì bẻ răng" và bảo cho chúng biết rằng :

 

                                Chồng tao nào phải như ai,

                     Điều này hẳn miệng những người THỊ PHI!

            

         Ngoài miệng thì nói thế, chớ trong lòng Hoạn Thư thì lại ấm ức vô cùng "Giấu ta ta cũng liệu bài giấu cho" và quyết lòng "Làm cho nhìn chẳng được nhau, Làm cho đày đọa cất đầu chẳng lên". Ngoài miệng nói khác, còn trong lòng thì nghĩ khác, người ta gọi như thế là "Khẩu THỊ tâm PHI 口是心非", là miệng thì nói phải mà lòng thì nghĩ trái lại :

 

                             Bề ngoài thơn thớt nói cười,

                   Mà trong nham hiểm giết người không dao !

 

                 

     Ta hay nghe người đời nhắc tới TĂNG QUẢNG HIỀN VĂN, vậy Tăng Quảng Hiền Văn là gì ?

 

                       TĂNG QUẢNG 增 廣 là làm cho Gia tăng và Mở rộng.

                       HIỀN VĂN 賢 文 là Áng văn hay, áng văn dạy những điều tốt lành.

Nên...

      TĂNG QUẢNG HIỀN VĂN 增 廣 賢 文 là Áng văn hay, dạy cho ta những điều tốt điều lành, làm cho ta gia tăng và mở rộng thêm kiến thức về mọi mặt của cuộc sống. Thường thì khi nhắc đến từ HIỀN là người ta nghĩ ngay đến LÀNH, nên ta có từ kép là HIỀN LÀNH để đối xứng với từ kép HUNG DỮ. HIỀN là ngoan ngoản tuân phục không chống đối, nên ta cũng có từ kép NGOAN HIỀN. HIỀN là có lòng nhân hậu từ ái, dịu dàng, hòa nhã, nên ta lại có các từ kép HIỀN HẬU, HIỀN TỪ, HIỀN HÒA, HIỀN DỊU... như một nữ tu dễ thương, vì thế mà ta thường nghe câu "Em hiền như Ma-Sơ"... 

      Ngoài nghĩa HIỀN là... Hiền ra, HIỀN còn có nghĩa là GIỎI GIANG, TÀI BA, THÁNH THIỆN, như ta thường nghe :

    - THÁNH HIỀN 聖賢 : Người được xem là có đạo đức rất cao và tài năng rất giỏi trong xã hội phong kiến ngày xưa mà cho đến ngày nay vẫn còn được mọi người tôn sùng kính trọng.

    - HIỀN THẦN 賢臣 : Bề tôi giỏi giang về các mặt chính trị, quân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội... có tài giúp vua dựng nước và giữ nước. 

    - HIỀN TÀI 賢才 : Người có tài cao, học rộng và có đạo đức tốt, một lòng một dạ vì lợi ích của nhân dân, Tổ quốc. HIỀN TÀI còn là cái Phẩm đầu tiên trong Ban Thế Đạo của Cao Đài Giáo, là người có tài đức, có trí thức vượt trôi trong hàng đạo hữu bình thường.

    - HIỀN NHÂN QUÂN TỬ 賢人君子 : Đây là hình tượng mẫu người lý tưởng của Nho Giáo ngày xưa : là người đàn ông có phẩm hạnh đạo đức tốt (quân tử) lại có tài kinh luân thao lược (hiền nhân) là mẫu người đàn ông lý tưởng của các bà các cô ngày xưa.

     Nên...

          * HIỀN MẪU 賢母 : Chẳng những là "Bà mẹ hiền" mà còn là "Bà mẹ giỏi giang" nữa ! Tương tự, ta có :

          * HIỀN THÊ 賢妻 : là người vợ hiền lành giỏi giang.

          * HIỀN PHỤ 賢婦 : là người phụ nữ hiền hòa từ ái, đãm đang và quán xuyến trong ngoài.                                            

              

      Trong cuộc sống lứa đôi, người ta thường nhắc đến hai chữ CHUNG THỦY để chỉ tình nghĩa vợ chồng luôn gắn bó với nhau mà không có kẻ thứ ba nào chen vào. Nếu "Ông ăn chả" hoặc "Bà ăn nem" thì gọi là "KHÔNG CHUNG THỦY", là không một lòng một dạ với người hôn phối hoặc người yêu của mình. Vậy CHUNG THỦY nghĩa gốc là gì, ta sẽ lần lược tìm hiểu sau đây : 

      

     CHUNG THỦY 終始, đúng ra phải nói là THỦY CHUNG 始終. Tại sao ? Thưa, vì...

 

     - THỦY 始 : Còn đọc là THỈ theo diễn tiến của chữ viết như sau :

dcd_Thuy.JPG

Ta thấy :

       Chung Đỉnh Văn và Tiểu Triện là hai hình tượng ngược lại với nhau nhưng cùng diễn một ý. Tiểu Triện bên trái là chữ NỮ 女 () là Cô gái, bên phải phần trên là hình tượng của một đứa bé mới sinh đầu lật ngược trở xuống (), phần dưới là cái chậu đựng nước () dùng để hứng lấy đứa bé. Nên THỦY 始 là hình tượng của cô gái sinh con với Hội Ý là "Cuộc sống mới bắt đầu"; Cho nên THỦY có nghĩa là BẮT ĐẦU, MỞ ĐẦU, như :

     - Khởi Thủy 起始 : là Vừa mới bắt đầu, Bắt đầu ...

     - Nguyên Thủy 原始 : là Lúc bắt đầu, lúc ban đầu.

     - Thủy Tổ 始祖 : là Ông Tổ đầu tiên khai sáng ra... cái gì đó.

Còn...

     - CHUNG 終 : là Hết, là dạng chữ Hình Thanh, theo diễn tiến của chữ viết như sau :

dcd_chung.JPG

Ta thấy :

           Giáp Cốt Văn là hình tượng của 2 đầu kén của con tằm đã được kéo thành tơ, đến Kim Văn thì cuộn tơ đã thành hình được treo lên cho rũ hai đầu xuống hai bên, đến Tiểu Triện thì bên trái lại thêm bộ MỊCH 糸() là cuộn tơ đã được đưa lên máy dệt là đã hoàn thành giai đoạn kéo tơ dệt vải. Bên phải là chữ ĐÔNG 冬 để lấy Âm (dong). Nên CHUNG có nghĩa là : Hoàn thành, Chấm dứt, là Hết, là Kết cuộc, là Xuyên suốt ... như :

         - Chung Kết 終結 : là Chấm hết, là Cuối cùng

         - Chung Cục 終局 : là Kết cuộc, là đến nước sau cùng . 

         - Chung Thân 終身 : là Xuyên suốt cả cuộc đời, là suốt đời.

Nên :

         THỦY là Mở đầu, CHUNG là Kết cuộc. Cái gì có mở đầu mà có kết cuộc  thì gọi là "CÓ THỦY CÓ CHUNG"; còn có mở đầu mà không có kết cuộc thì gọi là "Hữu thủy vô chung 有始無終". Thương ai đó nửa chừng rồi bỏ, thì nói là "Có Thủy mà không có Chung", nói cho gọn là "không chung thủy". Không phải chỉ trong tình yêu mà thôi, hễ làm việc gì đó mà bỏ dở giữa chừng thì cũng bị gọi là người "làm viêc không có chung thủy", là làm việc có đầu không có đuôi . CHUNG THỦY là Đầu Đuôi, là Trước  làm sao thi sau cũng làm vậy, là "Trước sau như một" chữ Nho gọi là THỦY CHUNG NHƯ NHẤT 始終如一  !

         Nên "Con Người CHUNG THỦY" là con người bền lòng chặc dạ, trước sau như một, kể cả trong tình yêu và việc làm trong cuộc sống hằng ngày.

 

         CHUNG là hết, là cuối, là kết thúc... Nên cuối các quyển thơ, truyện ngày xưa hay có chữ "CHUNG" thật lớn. Các từ có chữ CHUNG mà ta  thường gặp như :

        - Lâm Chung 臨終 : là lúc sắp hết cuộc đời, là lúc sắp chết.  

        - Thọ Chung 壽終 : là Tuổi thọ đà hết, là chết già, chết thọ. Còn...            

        - Chung Nhật 終日 : là hết ngày, là suốt ngày, như câu ta vừa đề cập ở trên là :

                    是非終日有 Thị phi CHUNG NHẬT hữu  (là chuyện thị phi có SUỐT CẢ NGÀY).

       - Chung Niên 終年 : là suốt cả năm, là quanh năm. Nhưng ...

       - Niên Chung 年終 : là Năm hết Tết đến. Còn THỦY thì ta có thành ngữ "Nhất Nguyên phục THỦY 一 元 復 始" mà ta thường hay thấy làm vế đầu của câu đối Tết treo trước cổng ra vào như sau :

 

                         Nhất Nguyên phục THỦY,    一 元 復 始,

                         Vạn tượng canh tân.           萬 象 更 新!

Có nghĩa :

            -  Cái nguyên khí của trời đất trở lại lúc ban đầu, làm cho...

            -  Vạn vật muôn loài đều đổi mới !

dcd_tapghi_4.JPG

Mong rằng trong mùa XUÂN mới nầy, cùng với vạn vật đón xuân vươn mình đổi mới thì con người chúng ta cũng sẽ quật cường đổi mới vươn lên sống hòa mình với cơn dịch thế kỷ đã gần

đến hồi CÁO CHUNG nầy. Mong lắm thay !

 

       Cầu CHÚC cho tất cả mọi người, mọi nhà trên thế gian nầy đều có được một MÙA XUÂN NHƯ Ý,  AN KHANG THỊNH VƯỢNG !

* Mời nghe Như Quỳnh hát nhạc xuân :

 

   Như Quỳnh - Tâm sự ngày xuân (Hoài An)

  杜紹德

  Đỗ Chiêu Đức

DCD_Tu ngu ly thu 5.JPG

 Đó là đôi câu đối của Tam Nguyên Yên Đỗ Nguyễn Khuyến viết cho vợ chồng ông hàng thịt khi cận Tết; Vợ chồng nầy đã mang tặng cho cụ Nguyễn Khuyến một bát tiết canh và một đôi bồ dục (qủa Thận, miền Nam gọi là Cật heo). Cụ đã xúc cảnh sinh tình viết đôi câu đối trên để tặng lại cho hai vợ chồng ông hàng thịt về treo trước của để mừng xuân đón Tết :

 

                   四時八節更終始, TỨ THỜI BÁT TIẾT canh chung thủy,

                   岸柳堆蒲欲點妝。 Ngạn liễu đôi bồ dục điểm trang. 

Chú thích :

  - Tứ Thời Bát Tiết 四時八節 : TỨ THỜI là bốn mùa Xuân Hạ Thu Đông; BÁT TIẾT là Tám cái thời tiết chính trong năm, là : Lập Xuân, Lập Hạ, Lập Thu, Lập Đông, Xuân Phân, Hạ Chí, Thu Phân và Đông Chí.

  - Canh Chung Thủy 更終始 : CANH là Thay đổi (như CANH TÂN là đổi mới). CHUNG là Cuối cùng là hết; THỦY là Bắt đầu. Nên CANH CHUNG THỦY là Sự thay đổi vận hành về thời tiết của trời đất hết một vòng rồi bắt đầu trở lại. 

  - Ngạn Liễu Đôi Bồ 岸柳堆蒲 : NGẠN LIỄU là Hàng liễu mọc dọc theo ven sông; ĐÔI BỒ là Hoa Bồ Công Anh là rau bồ cóc, diếp hoang, diếp dại thuộc họ hoa cúc, nở hoa màu vàng nhỏ mọc lẫn lộn trong cỏ dại. Nên NGẠN LIỄU ĐÔI BỒ là bờ liễu xanh có những khóm hoa vàng lấm tấm mọc trong cỏ dại.

  - Dục Điểm Trang 欲點妝 : DỤC là muốn; ĐIỂM TRANG là động từ chỉ sự thoa thoa chấm chấm để làm đẹp của các bà các cô. Nên DỤC ĐIỂM TRANG ở đây chỉ : Liễu bên bờ sông xanh hơn và hoa bồ nở lấm tấm như muốn chấm phá trang điểm cho mùa xuân đẹp hơn lên.

     Nên, câu đối trên có nghĩa :

        

                  Bốn mùa tám tiết chung rồi thủy,

                  Liễu biếc hoa vàng điểm lại trang !

 

                

 

    Câu đối rất bác học, rất nên thơ, vừa trí thức, vừa bình dân, vừa văn hoa vừa thực tế. Bác học vì nói lên sự vận hành của trời đất theo âm dương dịch lý; nên thơ vì gợi được cảnh sắc của buổi đầu xuân; Trí thức vì là câu đối chữ thâm thúy, bình dân vì có ẩn chữ Nôm thường dùng trong đó : Nếu tinh ý, ta sẽ thấy vế đầu của câu đối "Tứ thời Bát Tiết Canh chung thủy", có 3 chữ giữa là "Bát Tiết Canh"trong đó; và vế sau "Ngạn liễu Đôi Bồ Dục điểm trang" có 3 chữ giữa là "Đôi Bồ Dục" ẩn trong đó. Vừa văn hoa theo câu đối Tết lại vừa thực tế để cám ơn người đã tặng cho mình "Bát tiết canh và Đôi bồ dục". 

    Đó là chuyện văn chương lý thú của Tam Nguyên Yên Đỗ, còn ở đây ta chỉ chú trọng đến từ TIẾT trong Tứ Thời Bát Tiết mà thôi.

 

    Bỏ qua nghĩa gốc TIẾT là các mắt, các lóng của thảo mộc cỏ hoa, như Các mắt của cây tre, các lóng của cây mía, hay là Khí Tiết của người quân tử ... Ta chỉ xét ý nghĩa của chữ TIẾT ở 2 mặt :

THỜI TIẾT 時節 và LỄ TIẾT 禮節.

 

  * THỜI TIẾT 時節 : THỜI là Thời Vụ 時務 là Mùa màng; TIẾT là Khí Tiết 氣節 là Khí hậu. Nên THỜI TIẾT là chỉ Khí hậu mùa màng trong chu kỳ một năm tính theo Âm lịch như sau :

    Một năm có 4 mùa là Xuân Hạ Thu và Đông; Mỗi mùa có 3 tháng; Mỗi tháng có 2 tiết; Mỗi mùa có 6 tiết; Một năm có 4 mùa, vị chi là 24 tiết, có tên như sau :

     1. Mùa Xuân :

        Tháng giêng có 2 tiết : Lập xuân, Vũ thủy 立春、雨水、

        Tháng hai có 2 tiết : Kinh trập, Xuân phân 驚蟄、春分、

        Tháng ba có 2 tiết : Thanh minh, Cốc vũ 清明、穀雨、

     2. Mùa Hạ :

        Tháng tư có 2 tiết : Lập Hạ, Tiểu mãn 立夏、小滿、

        Tháng năm có 2 tiết : Mang chủng , Hạ chí 芒種、夏至、

        Tháng sáu có 2 tiết : Tiểu thử, Đại thử  小暑、大暑、

     3. Mùa Thu :

        Tháng bảy có 2 tiết : Lập thu, Xử thử 立秋、處暑、

        Tháng tám có 2 tiết : Bạch lộ, Thu phân 白露、秋分、

        Tháng chín có 2 tiết : Hàn lộ, Sương giáng 寒露、霜降、

     4. Mùa Đông :

        Tháng mười có 2 tiết : Lập Đông, Tiểu Tuyết  立冬、小雪、

        Tháng mười một có 2 tiết : Đại tuyết, Đông chí 大雪、冬至、

        Tháng mười hai có 2 tiết : Tiểu hàn, Đại Hàn 小寒、大寒。

    

     Đó là 24 tiết tính theo thời vụ mùa màng của nông dân căn cứ vào KHÍ TIẾT của THỜI TIẾT mà canh tác trồng trọt. Còn...   

 

     * LỄ TIẾT 禮節 là các ngày nghỉ lễ rổi rảnh ăn mừng cho một giai đoạn canh tác, một thời điểm giao mùa chuyển từ thời vụ nầy qua thời vụ khác hay là giai đoạn thích hợp cho các phong tục tập quán nhân lúc nông nhàn rảnh rổi. Vì thế BÁT TIẾT 八節 ngoài nghĩa được hiểu là 8 trong 24 Thời Tiết trong năm ra, còn được hiểu là những ngày Lễ Hội trong năm như sau :

    

     1. Thượng Nguyên Tiết 上元節 : Còn được gọi là Tiết Nguyên Tiêu 元宵節, là ngày Rằm tháng giêng hay Rằm Thượng Nguyên (ngày 15 tháng 1 Âm lịch), ngày trăng tròn của tháng đầu tiên nên cũng là ngày hội hoa đăng đầu tiên trong năm, nên còn gọi là Đăng Tiết 燈節 (Lễ Đèn). Ngày này ta thường gọi là ngày "Rằm Thượng Ngươn" hay "Tết Nguyên Tiêu".

    2. Hoa Triêu Tiết 花朝節 : Ngày 12 hoặc 15 của tháng 2 Âm lịch là ngày Lễ Hội mừng Sinh Nhật của các loài hoa khi trăm hoa đang nở rộ (Ta không có lễ hội nầy).

     3. Thanh Minh Tiết 清明節 : Thường ở vào các ngày đầu tháng 3 Âm lịch, tiết trời trong sáng và "Cỏ non xanh tận chân trời", nên lại là ngày "Lễ là Tảo Mộ, hội là Đạp Thanh" như cụ Nguyễn Du đã viết trong Truyện Kiều. Đây là ngày quét tước mồ mả cúng tế ông bà vừa để tưởng nhớ công ơn vừa để trình cho biết về hoạt động cho vụ mùa sắp tới. Giới bình dân thường gọi ngày này là "Tết Thanh Minh".

     4. Lập Hạ Tiết 立夏節 : HẠ là Hoa Hạ, Hạ còn có nghĩa là lớn, Lập Hạ là Lễ mừng cây ươm trồng ở mùa xuân đã lớn. Nghinh Hạ ở nam giao, tế Xích đế Chúc Dung (thần lửa). Ta không có ngày mừng lễ tết nầy.

     5. Đoan Ngọ Tiết 端午節 : Ngày mùng 5 tháng 5 Âm lịch. Theo Kinh Dịch số 5 thuộc dương, nên còn gọi là Tiết Đoan Dương 端陽節. Ngày này có lệ rải vôi quanh nhà và tưới rượu hùng hoàng để ngừa rắn rết vào nhà. Cúng tế Ôn Thần và Tống trừ Ôn dịch. Ta gọi là Tết Đoan Ngọ hay Tết giữa Năm. Trong ca dao dân gian của ta theo Quốc văn Giáo Khoa Thư (1943) và trong Thi Viên net. cũng có câu :

                                   Tháng tư đong đậu nấu chè

                            Ăn TẾT ĐOAN NGỌ trở về tháng năm.

     6. Trung Nguyên Tiết 中元節 : là ngày Rằm tháng bảy, nông phẩm hằng năm đã bắt đầu thu hoạch. Nông dân làm lễ cúng tạ đất đai. Nhưng theo Đạo giáo là ngày lễ Điạ Quan xá tội; sau do ảnh hưởng của Phật giáo, rằm tháng bảy là ngày Xá Tội Vong Nhân, là Tiết Vu Lan Bồn 盂蘭盆節. Ta gọi là Lễ Vu Lan. Trong bài ca dao dân gian nêu trên cũng có câu :

                                Tháng sáu buôn nhãn bán trăm,

                           Tháng bảy ngày rằm Xá Tội Vong Nhân.

 

                               7. Trung Thu Tiết 中秋節 : là ngày rằm tháng tám, là ngày trăng tròn và sáng nhất trong năm, nên còn gọi là ngày Lễ Mặt Trăng, có tục lệ cúng trăng; Trăng tròn tượng trưng cho sự đoàn viên  ( ĐOÀN 團 là một khối tròn, VIÊN 圓 là Tròn trịa đầy đặn; nên ĐOÀN VIÊN là Một khối tròn trịa  đầy đặn không bị sứt mẻ) Nên Tiết Trung Thu còn được gọi là Tiết Đoàn Viên 團圓節 cho những người ở nơi xa tìm về đoàn tụ với gia đình. Ta gọi là ngày Tết Trung Thu và là ngày Tết Nhi Đồng của Việt Nam ta.  Đúng như câu :" Tháng tám chơi đèn kéo quân"...

     8. Trùng Dương Tiết 重陽節 : Ngày mùng 9 tháng 9 Âm lịch, nên còn gọi là Tiết Trùng Cửu 重九節. Vì mùa màng đều đã thu hoạch xong cả rồi nên con cháu thường chọn những món ngon vật lạ dâng lên cho ông bà, nên còn gọi là Lão Nhân Tiết 老人節 (Lễ Tết của Người Già), là Lễ tiết cuối cùng trong năm, vì sau đó thời tiết sẽ chuyển lạnh, nên lại có tục đăng cao để tạ ơn và tế lễ mồ mả ông bà. Ngắm hoa cúc và uống rượu cúc "Thu ẩm hoàng hoa tửu 秋飲黃花酒" chính là lúc nầy đây. Ta thường gọi là Tết Trùng Cửu.

     Ngoài ra, vượt lên trên tất cả các lễ tiết, ta còn có Nguyên Đán Tiết 元旦節, ta gọi là Tết Nguyên Đán để cùng mừng đón năm mới tuổi mới vì đó là ngày đầu tiên trong năm với rất nhiều tục lệ và lễ hội vui chơi tùy theo từng vùng từng địa phương "ĂN TẾT" như thế nào. Gần đây, người Trung Quốc phân biệt gọi Tết Dương Lịch là "Nguyên Đán Tiết", còn Tết Âm lịch thì được gọi là XUÂN TIẾT 春節. Như ta thường gọi Tết Nguyên Đán là "Ba Ngày Xuân" vậy.

 

     Sỡ dĩ phải kể lể dài dòng văn tự như trên để cho thấy là chữ TẾT trong tiếng Nôm ta có nguồn gốc từ chữ TIẾT mà ra, để khỏi phải mắc công nhiêu khê đi tìm nguồn gốc của chữ TẾT, trong khi NÓ đã rành rành hiển nhiên trong cuộc sống từ mấy ngàn năm qua cho đến hiện nay, như Tết Nguyên Tiêu, Tết Thanh Minh, Tết Đoan Ngọ, Tết Trung Thu, Tết Trùng Cửu... Cụ thể nhất là trong Từ Điển Hán Nôm trên mạng của ta cũng phiên âm chữ TIẾT 節 là TẾT, và từ LỄ TIẾT 禮節 được đọc thành LỄ TẾT.

 

          

     

      Nói đến LỄ TẾT thì không thể không nhắc đến ông bà Tổ tiên, nên ngày 30 cuối cùng của tháng Chạp, được gọi là "NGÀY 30 TẾT" thì tất con cháu đều làm lễ "Rước Ông Bà" về để cùng "Ăn Tết". Miền Bắc thì có bàn thờ "Gia Tiên", miền Nam thì có bàn thờ "Cửu Huyền Thất Tổ".

 

      GIA TIÊN 家先 là nói gọn lại của nhóm từ GIA TỘC TIÊN TỔ 家族先祖. GIA TỘC là những người cùng chung một dòng họ trong gia đình; TIÊN TỔ là Ông tổ của những đời trước bắt đầu từ ông nội trở lên. Nên "Bàn Thờ Gia Tiên" là Bàn thờ thờ phượng những bậc cha ông tiền bối trước đó của gia đình họ tộc. Nói chung cho dễ hểu là "BÀN THỜ ÔNG BÀ TIÊN TỔ". Tương tự...

 

      CỬU HUYỀN THẤT TỔ 九玄七祖 : là nhóm từ chỉ chung tất cả dòng họ tổ tiên theo hệ thống Phụ Hệ, sẽ được siêu độ từ cao nhất xuống thấp nhất. Theo các ĐẠO KINH 道經 của Đạo Giáo : Nếu như một người đắc đạo thì cả Cửu Huyền Thất Tổ của người đó đều được siêu thăng !  道教經典《道經》認為,如果一人能得道,他的九玄七祖都能獲得超升。 Vậy "CỬU HUYỀN THẤT TỔ" là những ai ? Đó chính là 7 đời cha ông về trước và 9 đời con cháu về sau 九玄是指之後的九代子孫,七祖是指之前的七代祖先. Cụ thể như sau :

 

    * THẤT TỔ 七祖 gồm có :

          1. PHỤ 父 (cha),                PHỤ THÂN 父親.

          2. TỔ 祖 (Ông Nội),           TỔ PHỤ   祖父.

          3. TẰNG 曾 (Ông Cố),        TẰNG TỔ  曾祖.

          4. CAO 高 (Ông Sơ),          CAO TỔ   高祖.

          5. THÁI 太 (ông Cố Sơ),     THÁI TỔ  太祖.

          6. HUYỀN 玄 (ông Cố cố),  HUYỀN TỔ 玄祖.

          7. HIỂN 顯 (Ông Sơ Sơ).    HIỂN TỔ  顯祖.

 

      Gom lại cho gọn cho dễ nhớ, THẤT TỔ là : PHỤ, TỔ, TẰNG, CAO, THÁI, HUYỀN, HIỂN.

Còn...

   * CỬU HUYỀN 九玄 thì gồm có :

          1. TỬ 子 (Con)                   NHI TỬ 兒子.

          2. TÔN 孫 (Cháu)               TÔN TỬ 孫子.

          3. TẰNG 曾 (Chắt)              TẰNG TÔN 曾孫.

          4. HUYỀN 玄 (Chút)            HUYỀN TÔN 玄孫.

          5. LAI 來 (Chít)                  LAI TÔN 來孫.

          6. CÔN 昆 (Chắt Chắt)        CÔN TÔN 昆孫.

          7. NHƯNG 仍 (Chút Chút)   NHƯNG TÔN 仍孫.

          8. VÂN 雲 (Chít Chít)          VÂN TÔN 雲孫.

          9. NHĨ 耳 (Cháu 8 đời)       NHĨ TÔN 耳孫.

 

    Nói gọn lại CỬU HUYỀN là : TỬ, TÔN, TẰNG, HUYỀN, LAI, CÔN, NHƯNG, VÂN, NHĨ.

 

         

 

 

 

 

 

 

     Trên đây là những tài liệu căn cứ vào các Đạo Kinh của Đạo Giáo được lưu truyền rộng rãi trong dân gian Trung Hoa.

 

     Hiện nhóm từ "CỬU HUYỀN THẤT TỔ" còn đang tranh cải trong tập quán thờ cúng của miền Nam, người miền Bắc và người Việt gốc Hoa không có bàn thờ CỬU HUYỀN THẤT TỔ. Chỉ có bàn thờ GIA TIÊN, tức bàn THỜ ÔNG BÀ. Có thể do ảnh hưởng của các pháp sư, thầy bùa, thầy pháp (các hình thức biến thể của Đạo Giáo) của dân gian trong việc cúng tế, nên người miền Nam mới có bàn thờ CỬU HUYỀN THẤT TỔ (Nhưng không phải nhà nào cũng có). Cũng có thể do từ CỬU HUYỀN còn có nghĩa là CỬU THIÊN 九天 mà ra chăng ?!...

 

     Để kết thúc bài viết nầy, mời tất cả cùng đọc một câu đối rất hay và rất phổ biến trong những nhà có bàn thờ CỬU HUYỀN THẤT TỔ như sau :

 

              Kính thất tổ thiên niên bất tận,                   敬七祖千年不盡,

              Trọng cửu huyền nội ngoại tương đồng.   重九玄內外相同。

Có nghĩa :

              Lòng kính trọng Thất Tổ ngàn năm cũng không dứt,

              Tôn trọng Cửu Huyền của 2 bên nội ngoại ngang bằng như nhau.

 

     Trở lại với câu nói trong ĐẠO KINH : "Nếu như một người đắc đạo thì cả Cửu Huyền Thất Tổ của người đó đều được siêu thăng ! 道教經典《道經》認為,如果一人能得道,他的九玄七祖都能獲得超升。"

 

     Hẹn bài viết tới !

 

         杜紹德

        Đỗ Chiêu Đức

                     

DCD_Ban tho gia tien_Cuu huyen that to.JPG
dcd_Thuy.JPG

Giai Thoại Văn Chương:

 

                          NHỮNG CÂU ĐỐI THÚ VỊ  (8)

                                        Liễn Xuân

DCD_Nhungcaudoithuvi.JPG

                                                                                       Mỗi năm gom giấy bút,

                                                                                       Tạo dáng ông đồ già.

                                                                                       Nhưng lòng người không cũ,

                                                                                       Dửng dưng lại đi qua!

 

      Để mở đầu cho câu đối đón Tết trong mùa đại dịch đang chìm trong biến thể Omicron kỳ nầy, xin kính chúc mọi người đều được như câu đối mừng xuân dưới đây :

 

                 日日日日平安日,   Nhựt nhựt nhựt nhựt bình an mhựt,

                 春春春春如意春。   Xuân xuân xuân xuân như ý xuân !                      
                                                            

     - NHỰT 日 : là Ngày; 4 chữ NHỰT đi liền nhau có nghĩa là : Hết ngày này qua ngày khác, hết ngày nọ đến ngày kia. Tương tự...

     - XUÂN 春 : là Mùa Xuân; 4 chữ XUÂN đi liền nhau có nghĩa là : Hết xuân nầy qua xuân khác, hết xuân nọ đến xuân kia. Nên, câu đối trên có nghĩa :

 

        - Hết ngày này qua ngày khác đều là những ngày bình an,

        - Hết xuân nọ đến xuân kia đều là những mùa xuân như ý !

     

      Cầu mong cho mọi người đều có được một cái Tết, một mùa Xuân bình an như ý !

     Chuyện kể, có một ông họ Vương nọ, ngày thường tiêu pha hoang phí vô độ, nên đến Tết đâm ra túng quẩn. Đêm ba mươi Tết, để "ăn năn" cho sự hoang phí của mình ông ta đã viết đôi liễn Tết như sau để dán lên trước cổng :

 

                  行節儉劃,  Hành tiết kiệm hoạch,

                  過淡泊年。  Qúa đạm bạc niên.    

Chú thích :

           Ta gọi là ĂN TẾT, còn người Hoa gọi là QUÁ NIÊN. Ví dụ : Ta nói "Năm nay anh ĂN TẾT ở đâu?", thì người Hoa nói "Năm nay anh QUÁ NIÊN ở đâu?". Nên câu đối trên...

Có nghĩa :

               Thực hành kế hoạch tiết kiệm, 

               Ăn Tết một cách đạm bạc thôi !

 

         Qủa là nước tới trôn mới nhảy, lối xóm có người "cắc cớ" thêm cho mỗi câu một chữ. Sáng mồng một vừa mở cửa ra ông ta đã đọc thấy :

 

                  早行節儉劃,  TẢO hành tiết kiệm hoạch,

                  不過淡泊年。  BẤT qúa đạm bạc niên.

  Có nghĩa :

                  Nếu sớm biết thực hành kế hoạch tiết kiệm, thì...

                  Không phải ăn Tết một cách đạm bạc (như năm nay!)   

                                            

         

        Lại nói về GIẢI TẤN 解缙, người ở Trấn Văn Phong, huyện Cát Thủy, tỉnh Giang Tây, là một văn tài đời nhà Minh. Tương truyền, trước khi đậu Tiến sĩ, ông còn là một bạch diện thư sinh, nhà ở đối diện với một khu vườn trúc (Trúc 竹 là từ Hán Việt, có nghĩa là cây Tre). Vì là một thư sinh áo vải nhà nghèo, nên chiều ba mươi Tết, ông chỉ viết một đôi liễn dán lên trước cổng để đón giao thừa mà thôi, đôi liễn như thế nầy : 

                  

                  Môn đối thiên can trúc,         門對千竿竹,

                  Gia tàng vạn quyển thư.       家藏萬卷書。

Có nghĩa :

         - Đối diện trước cửa nhà là ngàn cây trúc, còn ...

         - Trong nhà thì cất giữ hàng vạn quyển sách.

 

        Ý của ông là muốn tỏ rõ cho mọi người biết mình là một thư sinh quân tử thanh cao như là vườn Trúc trước nhà, và là một thư sinh hiếu học với cả vạn quyển sách chứa trong nhà.

 

       Ngày xưa, Trúc được xem như là biểu tượng của người quân tử, được phong tặng là "Tiết trực tâm hư 節直心虛". TIẾT là các mắt, các lóng tre, TRỰC là thẳng, TÂM là cái Ruột tre, HƯ là trống không. Nên TIẾT TRỰC TÂM HƯ có nghĩa là : Các mắt tre thì thẳng tuột mà ruột tre thì bọng không, như biểu tượng cho khí tiết của người quân tử : Thẳng thắn mà không vụ lợi. Nhất là khi đã xuất sĩ để làm quan. Ta nhớ lại, lúc về Việt Nam chấp chánh, Tổng Thống Ngô Đình Diệm đã dùng cả một bụi tre để làm biểu tượng cho chính quyền của mình, tất cả những con dấu từ Trung Ương đến Địa phương đều có hình bụi tre ở giữa với ý nghĩa Chính trực thanh liêm và  không vụ lợi !  

 

                                  

      Trở lại với...

      Câu đối của Giải Tấn. Sáng mùng một Tết, tên địa chủ của vườn trúc thấy đôi câu đối của ông, bèn nổi giận nghĩ rằng : Vườn trúc của ta để cho nó  tự ví mình là người thanh cao học rộng, thật đáng ghét ! Bèn cho gia nhân đốn hết vườn trúc xuống, xem mi còn viết được liễn hay không ?! Đến chiều khi Giải Tấn ra cửa, thấy trúc đã bị đốn ngang, nhưng còn khúc gốc ngăn ngắn, ông chỉ mĩm cười chẳng nói chẳng rằng. Đêm đó, ông viết thêm mỗi bên một chữ nối vào đôi liễn trên như sau :

                

                Môn đối thiên can trúc ĐOẢN,          門對千竿竹短,

               Gia tàng vạn quyển thư TRƯỜNG.     家藏萬卷書長。

Có nghĩa :

            - Cửa đối ngàn cây trúc NGẮN,

            - Nhà còn muôn quyển sách DÀI.

 

      Ý càng mĩa mai hơn, Trúc của ông đã ngắn rồi, nhưng sách của nhà ta thì lại cứ dài thêm ra (nhiều thêm ra!). 

      Sáng mùng 2 Tết, tên địa chủ nhìn thấy 2 chữ mới thêm vào của Giải Tấn càng sôi máu hơn, ông ta ra lệnh cho đám gia nhân đào hết cả các gốc tre lên, thử xem "mầy" có gở đôi liễn xuống không cho biết ! Giải Tấn trông thấy việc làm của ông ta, chỉ cười thầm. Tối đêm đó, ông lại thêm vào mỗi bên một chữ nữa như sau :

              Môn đối thiên can trúc đoản VÔ,          門對千竿竹短無,

              Gia tàng vạn quyển thư trường HỮU.    家藏萬卷書長有。

Có nghĩa :

         - Cửa đối ngàn cây trúc tạm không (đoản vô : chỉ một thời gian ngắn không có, có nghĩa Tạm thời không có, trúc sẽ mọc lại mà thôi !)

         - Nhà giữ muôn quyển sách dài dài (trường hữu : Có một cách lâu dài trường cữu, là Có dài dài thêm !).

 

      Ý muốn nói, Tre của ông có thể không có, chớ sách của ta thì luôn có dài dài ở trong nhà !

      Sáng sớm mùng 3 Tết, tên địa chủ đọc được 2 chữ mới thêm vào của Giải Tấn, tức muốn ói máu, nhưng lại không làm gì được anh ta, mà vườn trúc nhà mình thì đã bị mình ra lệnh cho đốn sạch và moi cả gốc rể lên rồi !.....

        Chữ nghĩa văn chương lắm lúc cũng mạnh mẽ, hay ho, lý thú là thế ! Nên ngày xưa, người ta có lệ dán liễn từ ngoài cổng cho đến... cầu tiêu sau hè ! 

               

       Ngày xưa không có Toilet hay restroom vừa khang trang, vừa vệ sinh, vừa thơm phức như bây giờ. Giới bình dân nghèo khó cứ đi ra đồng tìm một chỗ nào vắng vẻ là... xề xuống "giải quyết vấn đề" một cách thoải mái. Còn ở các thị tứ thì Nhà Xí được cất ở phía sau khá xa khu nhà ở để tránh mùi hôi thối. Đối với những gia đình giàu sang khá giả thì cũng được lợp mái và có cửa nẻo hẵn hoi và ... dĩ nhiên cũng được dán đôi liễn như những nơi khác. Sau đây là một đôi liễn độc đáo nhất được dán ở ... Cầu Tiêu Công Cộng :

 

                  Lai thời thập phân cấp,       來時十分急,

                  Khứ hậu nhất thân khinh.   去後一身輕。

Có nghĩa :

         - Khi đến vội vả mười phần, (lính qua lính quính).

         - Lúc đi nhẹ nhỏm một thân. (đã trút được bầu tâm sự).

 

                                                                                  

     Tin rằng trong đời chắc ai cũng có một lần lính qua lính quính quính quáng tìm chỗ để giải quyết vấn đề... sinh lý nầy !

 

      Câu đối trên tuy rất thưc tế, tả chân, nhưng còn thiếu tính chất... văn chương. Sau đây, xin mời tất cả cùng đọc một câu đối dán trước nhà xí của người đứng đầu trong Giang Nam Tứ Đại Tài Tử 江南四大才子 là Đường Bá Hổ 唐伯虎 như sau :

 

                           且 看 来 客 多 情, 甘 解 衣 帶 終 不 悔;

               Thả khan lai khách đa tình, Cam giải y đái chung bất hối;

                           莫 道 此 物 無 用, 化 作 春 泥 更 護 花。

               Mạc đạo thử vật vô tình, Hoá tác xuân nê cánh hộ hoa !

Có nghĩa :

       - Hãy xem khách đến rất đa tình, cởi bỏ xiêm y không hối hận;

       - Đừng bảo vật thải nầy vô dụng, hoá thành phân đất vẫn ươm hoa !

 

     Với giọng điệu của một Giang Nam phong lưu tài tử ra vào kỹ viện hằng ngày, Đường Bá Hổ đã thi vị hóa việc đi nhà xí như khách đa tình đi vào kỹ viện, sẵn sàng tháo thắt lưng để cởi xiêm y ra mà không hề hối hận chút nào, và đừng bảo là những vật thải ra là vô dụng khi nó đã trở thành những thứ đất của mùa xuân thì cũng sẽ sẵn sàng ươm và giữ cho hoa được tươi thắm hơn và đẹp đẽ hơn mãi mãi !

       Thi vị hóa cho việc đi nhà xí đến thế là cùng !

             

 

       Lại kể, cũng đất Giang Nam ngày xưa có một gia đình, người cha xuất thân là một Tiến Sĩ, gia đình rất có học thức, nhưng nhân phẩm thì lại tệ hại vô cùng. Thường ỷ lại vào gia đình khoa bảng mà chèn ép, khinh thường và ức hiếp lối xóm hương thân. Nên mọi người đều dám giận mà không dám nói. Trời xui đất rủi làm sao mà năm đó thằng con trai lớn lại thi đậu Tiến Sĩ nữa, nên Tết năm đó ông cha hớn hở viết đôi liễn treo lên như sau :

 

                     父 進 士, 子 進 士, 父 子 皆 進 士;

               Phụ Tiến Sĩ, Tử Tiến Sĩ, Phụ tử giai Tiến Sĩ;

                      婆 夫 人, 媳 夫 人, 婆 媳 均 夫 人。

              Bà phu nhân, Tức phu nhân, Bà Tức quân phu nhân.

Có nghĩa :

            - Cha Tiến sĩ, Con Tiến sĩ, Cha con đều là Tiến sĩ;

            - Mẹ chồng phu nhân, Nàng dâu phu nhân, Mẹ chồng nàng dâu đều là phu nhân.

 

            * BÀ là BÀ BÀ 婆婆 : là Mẹ chồng, là Bà già chồng.

            * TỨC là TỨC PHỤ 媳婦 : là Nàng dâu, là Con dâu.

 

      Hàng xóm trông thấy khoe khoang thân phận một cách lộ liễu, hống hách. Giận lắm nhưng không làm gì được ông ta. Tình cờ Đường Bá Hổ đi ngang qua xóm, nghe lóm được bà con oán thán về gia đình ông Tiến Sĩ hống hách kia. Đêm đó đợi khi mọi người ngủ cả mới đến trước cửa của cha con nhà Tiến sĩ thêm vài nét bút vào. Sáng hôm sau mùng một Tết, khi vừa mở cửa nhà ra, ông Tiến sĩ đã thấy lô nhô những người xì xào chỉ trỏ vào cửa nhà mình cười nói xôn xao. Quá ngạc nhiên, ông mới bước ra xem thì thấy đôi liễn Tết nhà mình đã bị ai đó thêm vào mấy nét; Chữ SĨ 士 bị kéo dài nét dưới ra thành chữ THỔ 土 là Đất; mà Tiến Thổ là tiến vào đất , là chết, là Nhập Thổ. Còn chữ PHU 夫 bị thêm một dấu phẩy bên trái thành chữ THẤT 失 là Mất; Chữ NHÂN 人 thêm vào hai nét ngang thành chữ PHU 夫 là Chồng. THẤT PHU là Mất chồng. Câu liễn Tết thành ra :

 

                         父 進 土, 子 進 土, 父 子 皆 進 土;

              Phụ Tiến THỔ, Tử Tiến THỔ, Phụ tử giai Tiến THỔ;

                         婆 失 夫, 媳 失 夫, 婆 媳 均 失 夫。

               Bà THẤT PHU, Tức THẤT PHU, Bà Tức quân THẤT PHU.

Có nghĩa :

       - Cha nhập thổ, con nhập thổ, cha con đều nhập thổ (chết hết!);

       - Mẹ chồng mất chồng, con dâu mất chồng, Mẹ chồng và con dâu đều mất chồng (Mẹ chồng và con dâu đều trở thành góa bụa !).

 

      Chỉ cần thêm có vài nét, câu đối huênh hoang tự hào của một gia đình khoa bảng liền trở thành câu đối buồn thảm tang tóc cho cả gia đình. Thế mới biết ngòi bút của văn nhân thi sĩ lợi hại biết chừng nào !

       

      Để kết thúc cho bài viết này, kính mời tất cả cùng đọc một câu đối Tết thay lời "CHÚC XUÂN" sau đây :

 

                 有地有天皆麗日,  Hữu địa hữu thiên giai lệ nhật,

                 無人無處不春風。  Vô nhân cô xứ bất xuân phong !

   Có nghĩa :

            - Hễ nơi nào có đất có trời là nơi đó có nắng đẹp (của mùa xuân),

            - Không có người nào, không có nơi nào là không được gió xuân thổi đến (có nghĩa : Mọi người mọi nơi đều được hưởng cái ấm áp tràn đầy sinh lực của gió xuân !).

 

                    

     Cầu chúc cho tất cả mọi người, mọi nơi trên thế giới nầy đều có được một mùa xuân NHƯ Ý và đều VUI VẺ KHỎE MẠNH để vượt qua cơn dịch thế kỷ đang biến chứng thành Omicron nầy !

 

     Hẹn bài viết tới !

 

                                                                   杜紹德

                                                              Đỗ Chiêu Đức

dcd_thoXuanvuaThanhThai.JPG

Tập thơ "Canh Tý Thi Tập" của vua Thành Thái, hiện chỉ tìm thấy một bản sao chép tay không ghi tên người và thời gian chép, do nhà nghiên cứu Phan Thuận An sưu tầm và giới thiệu lần đầu trên Tạp chí Hán Nôm số 1(18) năm 1994. Dưới đây là bài thơ NGUYÊN ĐÁN, một trong 17 bài thơ “Kim thể thập thất thủ” (17 bài làm theo thể thơ Đường) trong "Canh Tý Thi Tập" nói trên :

 

      元旦                         NGUYÊN ĐÁN

元正佳節值晴曛,    Nguyên chinh giai tiết trực tình huân,

旭日暉煌景色新。    Húc nhật huy hoàng cảnh sắc tân.

滿殿調風冠帶集,    Mãn điện điều phong quan đái tập,

盈庭瑞氣羽旄陳。    Doanh đình thoại khí vũ mao trần.

年豐海靜期天況,    Niên phong hải tịnh kỳ thiên huống,

內治外寧仰帝恩。    Nội trị ngoại ninh ngưỡng đế ân.

首是溫和人物遂,    Thủ thị ôn hòa nhân vật toại,

含沾雨露萬方春。    Hàm triêm vũ lộ vạn phương xuân !

               成泰                                         Thành Thái 

       

* Chú thích :

    - NGUYÊN ĐÁN 元旦 : NGUYÊN là Đầu; ĐÁN là Ngày. Nên NGUÊN ĐÁN là Ngày đầu tiên của một năm. Ta ăn Tết Nguyên Đán, chính là đang mừng đón ngày đầu của một năm đó.

    - Trực 值 : là Nhằm lúc, đúng lúc. Đọc là TRỊ thì có nghĩa là Đáng giá, là Giá Trị, như "Xuân tiêu nhất khắc TRỊ thiên kim 春宵一刻值千金". Có nghĩa : Đêm xuân một khắc giá đáng ngàn vàng.

    - Tình Huân 晴曛 : là trời nắng ráo trong sáng.

    - Húc nhật 旭日 : là Mặt trời mới mọc , là buổi sáng.

    - Quan Đái 冠帶 : QUAN là mũ mão; ĐÁI là dây thắt lưng, dây đai; Nên QUAN ĐÁI là Áo mão cân đai.

    - Vũ Mao 羽旄 : VŨ là Lông vũ, MAO là Cờ mao, cờ có cắm lông đuôi bò tót dùng trong quân đội khi xưa; nên VŨ MAO chỉ Các loại cờ xí tàn lộng trong lúc tiến hành nhạc lễ tế bái ngày xưa.

    - Niên Phong Hải Tĩnh 年豐海靜 : NIÊN PHONG là Năm được mùa; HẢI TĨNH là Biển lặng. Nên NIÊN PHONG HẢI TĨNH là Nông dân được mùa còn dân biển cũng đánh bắt được nhiều cà vì biển lặng; Ý chỉ dân chúng được an cư lạc nghiệp.

    - Nội Trị Ngoại Ninh 內治外寧 : NỘI TRỊ là bên trong nước chính trị ổn định, NGOẠI NINH là đối ngoại cũng được an ninh bình ổn.

    - Hàm Triêm Vũ Lộ 含沾雨露 : HÀM là Ngậm; TRIÊM là Thấm; HÀM TRIÊM là thấm nhuần. VŨ là Mưa; LỘ là hạt sương hạt móc. MƯA và MÓC là những giọt nước nuôi sống cây cỏ lá hoa; không có Mưa và Móc thì cỏ cây hoa lá sẽ chết hết. Nên người dân ví những chính sách nhân đạo của chế độ phong kiến của nhà vua ngày xưa là ƠN MƯA MÓC.

 

* Nghĩa bài thơ :

                                   Tết Nguyên Đán        

       Chính ngay cái ngày Tết đầu năm lại nhằm lúc trời quang mây tạnh. Ánh nắng ban mai rực rỡ làm cho cảnh sắc như mới hơn ra. Cả cung điện như có làn gió điều hòa khi các quan với áo mão cân đai đang tập hợp lại, và đầy cả sân đình như đang phủ một làn khí lành khi cờ xí tàn lộng được bày ra (để tế cáo trời đất trong ngày đầu năm). Cầu mong cho trời sẽ ban cho một năm sóng yên bễ lặng và được mùa; cũng ngữa mong Thượng đế ban ơn cho trong ngoài đều trị an bình ổn. Điều đầu tiên là người vật đều được toại nguyện trong sự ôn nhu hòa ái. Tất cả đều được hưởng ơn mưa móc của trời ban cho muôn nơi đều được tươi đẹp như mùa xuân (đang tràn ngập cả đất trời !) 

 

      Tội nghiệp, không có thực quyền trong tay, nhưng trong ngày Tết nhà vua vẫn cầu nguyện cho phong điều vũ thuận, mưa thuận gió hòa , quốc thái dân an để cho dân chúng được an cư lạc nghiệp để cùng đón xuân về !

 

* Diễn Nôm :

                           NGUYÊN ĐÁN 

                    

                   Nguyên Đán ngày xuân nắng ấm thay, 

                   Huy hoàng cảnh sắc lúc ban mai.

                   Cung đình áo mão cân đai rợp,

                   Sân điện quạt cờ tàn lộng bay.

                   Mùa được biển yên mong đấng cả...

                   Ngoài êm trong ấm tạ cao dày...

                   Ôn hòa người vật đều thanh thản,

                   Mưa móc hàm ơn khắp chốn này !

       Lục bát :

                   Tiết lành nhằm lúc trời quang,

                   Đẹp thay cảnh mới huy hoàng nắng mai.

                   Điện vàng áo mão cân đai,

                   Sân đình cờ quạt như thay điềm lành.

                   Được mùa biển lặng trời xanh,

                   Ngoài yên trong ấm lòng thành tạ ơn.

                   Sao cho người vật không hờn,

                   Hưởng ơn mưa móc gì hơn xuân hồng !

                                                 Đỗ Chiêu Đức diễn Nôm   

       

         Cũng cùng tâm tình của một ông vua trẻ yêu nước thương dân nhưng lại không có thực quyền, nên đành phải vui với niềm vui trước mắt và luôn ước mơ ngày Tết mở ra vận hội mới cho dân chúng luôn được mùa phú túc an vui. Tâm tình của nhà vua được dàn trãi qua bài thơ "Tân Thiều Thí Bút" sau đây :

 

    新韶試筆                   TÂN THIỀU THÍ BÚT

新韶淑氣滿春城,    Tân thiều thục khí mãn xuân thành,

運啟三陽好景呈。    Vận khải tam dương hảo cảnh lai.

拂拂調風來寶殿,    Phất phất điều phong lai bảo điện,

煌煌瑞日照珠營。    Hoàng hoàng thụy nhật chiếu châu doanh.

恬熙富庶千方樂,    Điềm hi phú thứ thiên phương lạc,

駘蕩溫和萬象明。    Đãi đãng ôn hòa vạn tượng minh.

嗟首欣看時節順,    Ta thủ hân khan thời tiết thuận,

今收定必獲豐盈。    Kim thu định tất hoạch phong doanh.

     

* Chú thích :

   - TÂN THIỀU THÍ BÚT 新韶試筆 : THIỀU là THIỀU QUANG 韶光 là bóng mặt trời mùa xuân, cảnh sắc đẹp của mùa xuân. THÍ BÚT 試筆 là Thử bút. Nên TÂN THIỀU THÍ BÚT là Thử bút trong cảnh đẹp của mùa xuân.Ta thường nói là ĐẦU XUÂN KHAI BÚT.

   - Thục khí 淑氣 : là Khí linh thiêng của trời đất, là làn khí ôn hòa.

   - Tam Dương 三陽 : Theo sách Chu Dịch. Sau tiết Đông Chí thì khí âm hàn bắt đầu tiêu thoái, và khí dương thì bắt đầu sanh trưởng, ta thường nghe các Thầy Bói gọi là Âm Tiêu Dương Trưởng, đêm sẽ ngắn dần, ngày sẽ dài thêm ra, cho nên Tháng Mười Một là tháng Tý, thuộc quẻ Phục 復 là Nhất Dương Sanh, Tháng Mười Hai là Tháng Sửu, thuộc quẻ Lâm 臨 là Nhị Dương Sanh, và Tháng Giêng là Tháng Dần, thuộc quẻ Thái 泰 là Tam Dương Sanh. Vì thế nên Tết Nguyên Đán của tháng Giêng mới dùng câu Tam Dương Khai Thái 三陽開泰 mà chúc mừng cho năm mới mở ra vận hội mới, lấy Ý chữ Thái là Lớn, là Thông, như trong tiếng Việt ta thường nói "Hết vận Bỉ rồi thời lại Thái", hoặc "Bỉ cực thì Thái lai" và "Hết cơn Bỉ Cực, đến hồi Thái lai". Có nghĩa: Hết lúc Bế tắt, nghèo khó thì đến lúc Hanh Thông, khá giả !

   - Điều Phong 調風 : hay Phong Điều là Gió máy điều hòa, không gây bão tố.

   - Thụy Nhật 瑞日 : là Mặt trời lành, có nghĩa là Ánh nắng đẹp.

   - Điềm Hi 恬熙 : ĐIỀM là Đầm thấm; HI là Sáng sủa; nên ĐIỀM HI là an nhàn vui vẻ.

   - Đãi Đãng 駘蕩 : là Thong dong thoải mái.

   - Hoạch Phong Doanh 獲豐盈 : HOẠCH la Thu hoạch; PHONG là Đầy đặn sung túc; DOANH còn đọc là DINH là Đầy đủ; nên HOẠCH PHONG DINH là Thu hoạch sung túc đầy đủ. Trước 1975, Thành phố Cần Thơ hiện nay là Tây Đô nằm trong Tỉnh PHONG DINH, tức là 2 chữ PHONG DINH 豐盈 nầy với ý nghĩa là một tỉnh luôn SUNG TÚC ĐẦY ĐỦ.

 

* Nghĩa bài thơ :

                           Đầu Xuân Thử Bút 

      Trong ánh nắng mới, khí thiêng của trời đất tràn đầy cả thành xuân. Tam Dương chuyển vận mở ra cảnh đẹp trước mắt. Gió xuân hây hẩy điều hòa thổi đến cung điện, ánh nắng lành rực rỡ chiếu vào doanh trại. An nhàn giàu có ngàn nơi đều vui vẻ, Thong dong thoải mái vạn vật như sáng sủa thêm ra. Gật gù vui thấy thời tiết mưa thuận gió hòa; Mùa thu hoạch năm nay chắc chắn sẽ sung túc đầy đủ vì được mùa.

 

* Diễn Nôm :

                           TÂN THIỀU THÍ BÚT 

                      

                   Hơi xuân linh khí phủ đầy thành,

                   Vận chuyển tam dương cảnh sắc thanh.

                   Phe phẩy gió hòa lay điện báu,

                   Vàng ươm nắng rực chiếu cơ doanh.

                   Thong dong phú túc ngàn nơi lạc,

                   Thoải mái ôn hòa vạn vật xanh.

                   Mừng đón xuân nay thời tiết thuận,

                   Mùa màng ắt sẽ được phong dinh !

      Lục bát :

                   Khí lành xuân mới khắp thành,

                   Tam dương chuyển vận cảnh xanh rõ ràng.

                   Hây hây gió thổi điện vàng,

                   Nắng mai rực rỡ chiếu vàng doanh cơ.

                   Ngàn nơi vui vẻ thẩn thơ,

                   Ôn hòa vạn vật cũng thơ thới lòng.

                   Những mừng thời tiết xanh trong,

                   Năm nay ắt sẽ thong dong được mùa !

                                                      Đỗ Chiêu Đức diễn Nôm

 

        Hẹn bài viết tới !

 

  杜紹德

  Đỗ Chiêu Đức

DCD_PhiemLuan1_TuoiDan.JPG

Tý Sửu Dần... DẦN 寅 là ngôi thứ 3 của Thập nhị Địa Chi là... Ông Cọp, như 2 câu ca dao Nam bộ trong bài vè về 12 con giáp nêu trên. Ngoài việc được gọi là ÔNG CỌP, cọp còn được giới bình dân xưa gọi là Ông Hổ, Ông Hùm, hay Ông Ba Mươi nữa. CỌP chữ Nho là HỔ 虎, theo "Chữ Nho Dễ Học" Hổ thuộc dạng chữ Tượng Hình theo diễn tiến của chữ viết như sau :

DCD_Cop.JPG

Ta thấy :

            Giáp Cốt Văn là hình tượng của một con cọp được vẽ đầy đủ từ đầu cho đến đuôi, Kim Văn (còn gọi là Chung Đĩnh Văn) và Đại Triện thì được đơn giản hóa, chỉ giữ lại các nét tiêu biểu,  đến Tiểu Triện thì các nét vẽ được kéo thẳng hay uốn cong theo như hình chữ viết và đến Chữ Lệ  đời nhà Tần thì chữ viết đã hình thành hoàn chỉnh như chữ viết hiện nay. 虎 HỔ là Cọp.

           

         Năm 2022 là năm NHÂM DẦN 壬寅. NHÂM là ngôi thứ 9 của Thập Vị Thiên Can. Nhâm Qúy thuộc Thủy, hướng bắc, thuộc màu ĐEN, còn DẦN là ngôi thứ 3 của Thập Nhị Địa Chi, hướng đông, cầm tinh con CỌP. Nên năm NHÂM DẦN là năm của con CỌP ĐEN, chữ Nho gọi là HẮC HỔ 黑虎. Tương truyền mỗi khi cọp xuất hiện thì sẽ có một làn gió...cọp thổi đến, theo như câu nói dân gian là "Vân tòng long, Phong tòng hổ 雲從龍,風從虎". Có nghĩa : Mây theo rồng, gió theo cọp, và dĩ nhiên, cọp đen thì sẽ có làn gió đen xoáy đến trước gọi là HẮC TUYỀN PHONG 黑旋風, và đây cũng là ngoại hiệu của Lý Qùy 李逵, người được xếp thứ 22 trong 108 anh hùng trên Lương Sơn Bạc. Ngoài Lý Qùy ra, còn một nhân vật nổi tiếng hơn mà Lý Qùy nghe đến tên là sợ, đụng mặt là lảng tránh, đó chính là người được xếp hàng thứ 14 trong 108 anh hùng Lương Sơn Bạc là Võ Tòng Đả Hổ 武松打虎. Ngoài nổi tiếng với việc đánh cọp ra, Võ Tòng còn nổi tiếng với các tuồng trong Kinh kịch và trong hát bộ, cải lương... của ta với vở VÕ TÒNG SÁT TẨU 武松殺嫂 (Võ Tòng giết chị dâu), tức là giết Phan Kim Liên và Tây Môn Khánh như trong tiểu thuyết hiện thực Kim Bình Mai 金瓶梅 nổi tiếng là một dâm thư của Trung Hoa thời Minh Thanh. 

 

             

     "Nam NHÂM Nữ QÚY", nên năm 2022 là năm NHÂM DẦN tốt cho việc sanh con trai. Những cặp đôi nào muốn có qúy tử thì hãy chuẩn bị ngay từ đầu năm là vừa, bảo đãm sẽ cho ra "Nguyên con cọp con", có trở thành "Hổ Tướng" hay không còn chưa biết, chớ chắc chắn sẽ là một đứa con trai may mắn khỏe mạnh được sanh ra sau mùa dịch thế kỷ "Covid-19". DẦN tuy là ngôi thứ 3 trong Địa Chi nhưng lại là Tháng Giêng trong Âm lịch. Ngày Dần đứng sau ngày Sửu và đứng trước ngày Mão. Giờ Dần là từ 3 - 5 giờ sáng, giờ nầy thì ngôi chùa ở đầu làng đã bắt đầu công phu và tất cả những con gà trong xóm đều đã gáy rộ, nên tất cả những sinh hoạt ngày xưa đều bắt đầu từ giờ Dần : Nông dân thức dậy chuẩn bị ra đồng ruộng cày bừa trồng trọt; học trò thức dậy chuẩn bị đến trường để học hành; thợ thầy thức giấc chuẩn bị công việc làm cho ngày mới; giới thương buôn, mua gánh bán bưng thì chuẩn bị cho việc làm ăn buôn bán trong ngày. Trong "Tăng Quảng Hiền Văn" có dạy :

 

                 一 年 之 計 在 於 春,   Nhất niên chi kế tại ư xuân,

                 一 日 之 計 在 於 寅,   Nhất nhật chi kế tại ư DẦN,               

                 一 家 之 計 在 於 和,   Nhất gia chi kế tại ư hòa,

                 一 生 之 計 在 於 勤.   Nhất sinh chi kế tại ư cần. 

                 

    * KẾ 計 : là Tính toán như KẾ TOÁN; là Mưu Lược như TAM THẬP LỤC KẾ; là Hoạch Định, Chương Trình như KẾ HOẠCH, KẾ SÁCH, và Đây chính là nghĩa của chữ KẾ trong các câu nói trên :

    - Những chương trình hoạch định cho một năm phải bắt đầu từ mùa XUÂN.

    - Những tính toán dự định trong một ngày phải bắt đầu từ giờ DẦN (từ 3 đến 5 giờ sáng).

    - Những kế hoạch để xây dựng gia đình cho êm ấm là chỉ ở một chữ HÒA (trên thuận dưới hòa). 

    - Những hoạch định tính toán phấn đấu cho cả một đời người là chỉ ở một chữ CẦN mà thôi ! (Nếu chịu khó siêng năng cần cù, thì trong cuộc đời dù không thành công lớn, cũng thành công nhỏ và có tệ nhất thì cũng... đủ ăn đủ mặc, không đến nỗi đói rách lang thang.).

      "Thiên hữu tứ thời XUÂN tại thủ " 天有四時春在首. Trời có 4 mùa thì mùa XUÂN là mùa đầu tiên, tiết trời đã ấm áp trở lại sau mùa đông giá rét , cây cỏ đâm chồi nẩy lộc, vạn vật đều tái sinh, khí thế đang lên, nên các kế sách dự định trong năm cũng nên bắt đầu ở thời điểm nầy... hơn nữa, nếu có gì trục trặc thì cũng có đủ thời gian để... điều chỉnh lại ! Kế hoạch trong năm bắt đầu ngay được từ mùa Xuân, thì xem như đã thành công một nửa rồi !

     "Thiên quang DẦN, nhật xuất MÃO " 天光寅,日出卯 . Trời sáng ở giờ Dần, mặt trời mọc ở giờ Mão, nên công việc dự định trong ngày nên bắt đầu ngay từ giờ DẦN, Nông dân làm ruộng cũng thế, muốn gieo mạ, cấy lúa, gặt lúa...đều phải thức giấc lúc giờ Dần để bắt đầu cho công việc đồng áng. 

     "HÒA khí sanh tài " 和氣生財 . Có Hòa Thuận để làm ăn thì mới phát sinh tài lộc được, gia đình xào xáo, mỗi người một ý , thì làm ăn làm sao lên cho được ! Ông bà cũng đã dạy "Gia HÒA thì Vạn sự Hanh 亨". Có nghĩa : Gia đình Hòa Thuận thì muôn việc đều suông sẻ.(Hanh thông 亨通 là Suông sẻ). Câu nầy thường bị đọc lệch đi là "Gia Hòa vạn sự HƯNG 興 (Hưng là Hưng Vượng 興旺), ý nghĩa cũng tương tự mà thôi.

     Cuối quyển Tam Tự Kinh có câu : "CẦN hữu công, Hí vô ích 勤有功,戲無益". Nghĩa đã rõ : Chơi bời lêu lỏng không đem lại lợi ích gì cả, còn Siêng Năng cần cù thì sẽ gặt hái được thành công trong mọi mặt. Nên trong cuộc đời của một người, yếu tố "CẦN" không thể thiếu trong việc tạo dựng cuộc sống ấm no hạnh phúc cho gia đình được !

                    

       Ngay cả những người lữ hành cũng phải dậy sớm để xem thời tiết và chuẩn bị lên đường, vì  ngày xưa, phương tiện giao thông khó khăn, nên định đi đâu để làm gì thì cũng phải thức giấc lúc giờ DẦN như hai câu thơ trong bài thơ  "Thương Sơn tảo hành 商山早行" của Ôn Đình Quân 温庭筠 đời Đường là :

 

                       雞聲茅店月,    Kê thanh mao điếm nguyệt,

                       人跡板橋霜.    Nhân tích bản kiều sương.

 

   ...mà cụ Nguyễn Du đã gom lại thành một câu rất hay khi tả Thúy Kiều vượt tường lìa khỏi Quan Âm Các của nhà Hoạn Thư là :

 

                              Mịt mù dặm cát đồi cây

                TIẾNG GÀ ĐIẾM NGUYỆT, DẤU GIÀY CẦU SƯƠNG.

 

                

     Theo Tử Vi Đẩu Số thì "Dần, Ngọ, Tuất" Tam Hạp. Nhưng trong thực tế thì Ngọ là Ngựa mà gặp Dần là Cọp thì sẽ cất vó phóng nhanh chạy thục mạng, và Tuất là Chó thì ôi thôi, khi gặp chúa sơn lâm gầm cho một tiếng thì đứng còn không vững nữa là nói chi đến chạy ! Nên hạp sao nỗi mà hạp ! Cọp là chúa muôn thú, cao ngạo một mình một cỏi, đến nỗi thành ngữ cũng có câu "Nhứt lâm vô nhị hổ 一林無二虎" Một rừng không thể có 2 cọp được. Chúa tể của núi rừng thì làm sao mà họp với ai cho được ! Nhưng nói thì nói thế chứ ông bà xưa cũng có câu :

 

                       Long du thiển thủy tao hà hí,          龍游淺水遭蝦戲,

                       Hổ lạc bình dương bị khuyển khi !   虎落平陽被犬欺 !

      Có nghĩa :

                      Rồng bơi nước cạn tép tôm giởn mặt,

                      Cọp xuống đồng bằng chó cũng dễ ngươi !

 

              

     Trong Truyện Kiều khi tả Từ Hải sa cơ thất thế mắc mưu của Hồ Tôn Hiến, cụ Nguyễn Du cũng đã cảm thán cho Từ Hải là :

 

                        Hùm thiêng khi đã sa cơ cũng hèn !

     

      HÙM là HỔ, HỔ là HÙM, nên ta lại có từ "Hùm Hổ" và thành ngữ "Làm hùm làm hổ" để chỉ những người hay làm ra vẻ dữ tợn, bậm trợn để uy hiếp hay hù dọa người khác. Vì là chúa tể rừng xanh, nên dáng vẻ oai hùng uy nghi, gầm lên một tiếng là muôn thú đều im hơi, nên ta lại có thành ngữ "Khiếu chấn sơn hà 嘯震山河" là "Tiếng gầm làm chấn động cả núi sông !". Tướng giỏi có sức địch muôn người thì gọi là Hổ Tướng. Tướng mạo uy nghi đường bệ oai phong thì được ví là "Hùng yêu hổ bối 熊腰虎背" là "Lưng Hùm Vai Gấu". Mặt mũi uy vũ oai hùng thì gọi là "Hổ đầu yến hàm 虎頭燕頷" Ta nói là "Râu Hùm Hàm Én" như hình dáng của anh hùng Từ Hải được cụ Nguyễn Du diễn tả là :

 

                        Râu Hùm Hàm Én mày ngài,

                  Vai năm tấc rộng thân mười thước cao.

 

      Nói đến HÙM ta không thể không nhắc đến "Hùm Thiêng Yên Thế Hoàng Hoa Thám 黃花探", tức Đề Thám người đã lãnh đạo cuộc khởi nghĩa Yên Thế chống thực dân Pháp xuyên suốt gần 30 năm trường (1885 – 1913) làm cho quân Pháp phải xất bất xang bang suốt khoảng thời gian nầy với con cọp xám đất Yên Thế ở chiến khu và địa bàn kháng chiến quanh vùng Bắc Giang–Thái Nguyên–Hưng Hóa :

 

                          Ba mươi năm khắp núi rừng

                   Danh ông Đề Thám vang lừng núi sông.

 

      Nơi của các "Hổ Tướng" ngồi làm việc, được gọi là "Hổ Trướng 虎帳", vì bức màn trướng phía sau chỗ ngồi thường có vẽ hình con hổ cho oai phong, ta gọi là TRƯỚNG HÙM, như cụ Nguyễn Du đã tả chỗ ngồi xử án của Thúy Kiều khi nàng báo ân báo oán :

 

                      TRƯỚNG HÙM mở giữa trung quân,

                    Từ Công sánh với phu nhân cùng ngồi.

       

     HÙM chẳng những chỉ sự uy phong oai vệ, mà còn chỉ sự nguy hiễm với chết sống cận kề, như "Miệng HÙM Nọc Rắn" qua lời của Thúy Kiều so sánh thân mình khi ở Quan Âm Các trong vườn nhà Hoạn Thư :

 

                             Thân ta, ta phải lo âu,

                   MIỆNG HÙM NỌC RẮN ở đâu chốn này.

                          Ví chăng chắp cánh cao bay,

                       Rào cây lâu ắt có ngày bẻ hoa !