TIẾNG HÁN CỔ

                                                   với Ông Đồ

                             ĐỖ CHIÊU ĐỨC

                         

                                                  CHS Phan Thanh Giản (Cần Thơ)

                                          Cựu GS Trung Học Tân Văn (Cái Răng)

                                          Cựu Giảng Viên ĐH Xã Hội - Nhân Văn (Sài Gòn)

Houston, Texas _____________________________

Giai Thoại văn Chương :

                   

         Cũng Tại Cái Ông KHUẤT NGUYÊN của nước Sở

                                         TIẾT ĐOAN NGỌ : Tết Giữa Năm

 

      Mùng 5 tháng 5 là TIẾT ĐOAN NGỌ 端午節, theo Ngũ hành Bát quái, vì số 5 thuộc dương, nên Tiết Đoan Ngọ còn gọi là Tiết ĐOAN DƯƠNG 端陽. ĐOAN: là Đầu mối, là mở đầu; NGỌ: là giờ Ngọ, là giữa trưa; còn DƯƠNG là mặt trời, là khí dương, ĐOAN DƯƠNG có nghĩa là bắt đầu lúc khí dương đang thịnh. Còn ĐOAN NGỌ là bắt đầu lúc giữa trưa. Theo truyền thuyết Trung Hoa...

 

     KHUẤT NGUYÊN 屈原 (340-278 TCN) : Vào cuối thời Chiến Quốc, có một vị đại thần nước Sở là Khuất Nguyên. Ông chẳng những là vị trung thần của nước Sở mà còn là nhà thơ, nhà văn hoá nổi tiếng của Trung Hoa. Ông là tác giả hai bài thơ bất hủ là LY TAO 離騷 và SỞ TỪ 楚辭, nổi tiếng trong văn hóa Trung Hoa cổ đại, thể hiện tâm trạng buồn vì đất nước suy vong. Do can ngăn Sở Hoài Vương không được, lại bị gian thần hãm hại, ông đã uất ức gieo mình xuống sông Mịch La tự trầm ngày mùng 5 tháng 5. Dân chúng nơi đó đã mang thuyền đến giữa dòng sông để cố gắng cứu vớt nhưng không thành. Để cho các loại cá và linh hồn của các yêu ma quỷ quái không lại gần được thi thể của ông họ đã đánh trống và vẩy nước bằng các mái chèo của họ. Sau đó để tưởng nhớ, tiếc thương cho một người trung nghĩa, mỗi năm cứ đến ngày mùng 5 tháng 5, dân Trung Hoa xưa lại làm bánh ú gói nhân thịt mỡ, quấn chỉ ngũ sắc bên ngoài (ý làm cho cá sợ, khỏi đớp mất) rồi bơi thuyền ra giữa sông, ném bánh xuống để cúng Khuất Nguyên. Do đó, hình thành hai tập tục trong ngày lễ Đoan Ngọ cho đến hiên nay là : Đua thuyền rồng và Ăn bánh ú.

Trong văn học, tác phẩm LY TAO của Khuất Nguyên hình thành những từ như : Tao Nhân Mặc Khách, Tao Đàn ... Trong thơ ca Trung Hoa còn ghi nhận SỞ TỪ là nguồn gốc của thơ Thất ngôn sau nầy. Sau đây là hai bài thơ Thất ngôn Tứ tuyệt có liên quan đến Tết Đoan Ngọ ở đời Đường. 

 

        同州端午             ĐỒNG CHÂU ĐOAN NGỌ

 

     鶴髮垂肩尺許長,    Hạc phát thùy kiên xích hứa trường,

     離家三十五端陽。    Ly gia tam thập ngũ Đoan Dương.

     兒童見說深驚訝,    Nhi đồng kiến thuyết thâm kinh nhạ,

     卻問何方是故鄉。    Khước vấn hà phương thị cố hương ?

             殷堯藩                                         Ân Nghiêu Phồn

Có nghĩa :

              Tóc bạc qúa vai cả thước thường,

              Xa nhà ba mươi lăm Đoan Dương.

              Trẻ con nghe nói đều kinh ngạc,

              Cùng hỏi nơi nào là cố hương ?

 

        Tết giữa năm cũng khiến cho người lữ khách nhớ nhà như là Tết Nguyên Đán vậy ! Đọc bài thơ trên làm cho ta lại nhớ đến bài "Hồi Hương Ngẫu Thư" của Hạ Tri Chương... Ta đọc thêm một bài thơ về Đoan Ngọ nữa nhé !

 

         端午                  ĐOAN NGỌ

 

     節分端午自誰言,    Tiết phân Đoan Ngọ tự thùy ngôn,

     萬古傳聞為屈原。    Vạn cổ truyền văn vị Khuất Nguyên.

     堪笑楚江空渺渺,    Kham tiếu Sở giang không diểu diểu,

     不能洗得直臣冤。    Bất năng tẩy đắc trực thần oan !

                文秀                                                  Văn Tú

 

                 

Có Nghĩa :

              Đoan Ngọ ai chia Tết tháng năm,

              Khuất Nguyên từ vạn cổ xa xăm.

              Nực cười sông Sở trôi trôi mãi...

              Rửa chẳng sạch oan đấng nghĩa thần !

 

      Sông Mịch La của nước Sở, nơi Khuất Nguyên nhảy xuống để tự trầm, mấy ngàn năm vẫn không thể rửa hết oan khiên cho đấng bề tôi trung nghĩa. Bài thơ nầy làm cho ta nhớ đến một "Giai thoại văn chương Việt Nam thời vua Tự Đức", ông vua rất giỏi văn thơ của Việt nam ta ...

              

      Trong "Giai thoại văn chương Việt Nam" của Thái Bạch có kể về tài ứng đối của Đinh Nhật Thận như sau : Đinh Nhật Thận sinh năm Ất Hợi (1815) tại làng Thanh Lạo, huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An, đỗ cử nhân khoa Đinh Dậu (1837), đỗ tiến sĩ khoa Mậu Tuất (1838) được bổ làm Tri phủ. Ông thường giao du với Cao Bá Quát và Nguyễn Hàm Ninh. Sau Cao Bá Quát dấy binh chống lại triều đình, Đinh Nhật Thận bị tình nghi, bắt giải về kinh giam lại, sau lại được thả ra. ("Quốc Triều Hương Khoa Lục" chép về Đinh Nhật Thận: “ Vì là bạn cũ của tên giặc Cao Bá Quát nên bị bắt giam, sau được thả”.

 

         Vì mến tài ông, vua Tự Đức lưu ông lại ở kinh đô để dạy cho con em trong hoàng tộc và cũng để dễ bề kiềm chế ông. Tục truyền khi ở kinh đô, một hôm Đinh Nhật Thận cùng các quan đại đại thần theo thuyền ngự đi ngoạn cảnh trên sông Hương. Nhân bàn luận về Nho giáo, ông nhắc đến câu: “Quân xử thần tử, thần bất tử bất trung; Phụ xử tử vong, tử bất vong bất hiếu” và cho đó là một câu chí lý. Nghe xong, vua Tự Đức phán: 

     - Vậy trẫm truyền cho khanh nhảy xuống sông này chết đi, khanh có dám làm không? 

     Nghe vua phán vậy, các quan trên thuyền đều lo sợ thay cho ông, vì không nhảy xuống sông thì không trung với vua, mà nhảy xuống thì chết là cái chắc. Ấy vậy mà ông vẫn bình tĩnh lạy nhà vua ba lạy xong đâu vào đấy, rồi lao mình nhảy tỏm xuống dòng sông. Mọi người đều bàng hoàng, tưởng đây là nơi an nghỉ ngàn thu của ông rồi. Nhưng chỉ trong giây lát, ông ngoi đầu lên khỏi mặt nước và vói tay bám vào mạn thuyền ngự. Vua Tự Đức hỏi: 

    - Sao khanh không ở dưới đó luôn mà còn trở lên đây chi vậy ?

      Ông bình tĩnh đáp rằng :

    - Chỉ tại cái ông Khuất Nguyên của nước Sở. Nhà vua ngạc nhiên hỏi :

    - Tại sao lại Khuất Nguyên ?. Ông chậm rãi kể :

    - Thần định ở luôn dưới đó, nhưng khi vừa xuống đến đáy sông thì thần gặp ông Khuất Nguyên, ông ấy đuổi thần lên và mắng thần rằng : 

 

             Ngã phùng ám chúa hàm oan nhẫn,     我逢黯主含冤忍,

             Nhữ ngộ minh quân nịch tử hà ?          爾遇明君溺死何?

   Có nghĩa :

          Ta gặp phải chúa hắc ám, nên phải chịu oan đã đành,

          Còn ngươi gặp được minh quân sao lại phải nhảy xuống đây trầm mình tự tử vậy ?

  ... hạ thần nghe ông ấy mắng quá đúng cho nên phải ngoi lên đây để tâu cùng bệ hạ rõ!

 

      Vua Tự Đức cả cười, sai thị vệ kéo ông lên thuyền ngự, lấy quần áo cho ông thay rồi đích thân rót một chén rượu để khen thưởng cho cái tài ứng đối mẫn tiệp, mặc dù biết đó là một câu chuyện hoàn toàn bịa đặt.

Giai thoại trên nghe thì rất lý thú, nhưng chỉ để kể cho nhau nghe chơi khi trà dư tửu hậu mà thôi. Nay nhân Tết Đoan Ngọ, ở nơi xứ lạ quê người nhớ về nơi chôn nhau cắt rốn, nên kể hầu chư vị cho vui với một ngày Lễ chỉ có ở vùng của các nước Đông Nam Châu Á mà thôi.

 

       Hẹn bài viết tới !

 

                                                                            杜紹德

                                                                       Đỗ Chiêu Đức 

Giai Thoại văn Chương:

                   

Người chồng khóc vợ chân tình nhất

                                               NGUYÊN CHẨN 

 

         NGUYÊN CHẨN (779-831) tự là Vi Chi, biệt hiệu là Uy Minh, người đất Lạc Dương Hà Nam, là thi nhân, văn học gia và là đại thần của đời Đường. Ông thuộc bộ tộc Phá Bạt của dòng dõi Tiên Ti, là cháu đời thứ 19 của Bắc Ngụy Chiêu Thành Đế, con của Tỉ Bộ Lang Trung Nguyên Khoan. Từ nhỏ đã nổi tiếng về văn tài, năm Trinh Nguyên thứ 9 (793), mới 15 tuổi đã thi đậu minh kinh, được phong chức Tả Thập Di. Năm Trinh Nguyên thứ 18 (802) đời Đường Đức Tông mới cùng Bạch Cư Dị đậu khoa Tiến sĩ bạt tụy để ra làm quan. Nguyên Chẩn đã từng bái tướng, làm quan đến chức Thượng Thư Tả Thừa. Năm Thái Hòa thứ 4 (830) nhậm chức Võ Xương Quân Tiết Độ Sứ. Năm Thái Hòa thứ 5 (831) qua đời lúc mới 53 tuổi, được truy phong là Thượng Thư Hữu Bộc Xạ. Nguyên Chẩn là bạn cùng khoa với Bạch Cư Dị, cùng kết thân là bạn thơ suốt đời, cùng đề xướng thể thơ Tân Nhạc Phủ mà người đời gọi là "Nguyên Bạch 元白", hình thành "Nguyên Hòa Thể 元和體". Thành tựu về văn học của ông rất lớn, nhất là về mặt thơ ca. Còn lưu lại hơn 830 bài thơ, từ phú, chiếu sách, minh giản, luận nghị... hơn một trăm bài. Tất cả đều thu tập vào trong "Nguyên Thị Trường Khánh Tập 元氏長慶集".  

Năm Trinh Nguyên thứ 18 (802) đời Đường Đức Tông, mặc dù chưa ra làm quan, nhưng vẫn được quan Thái Tử Thiếu Bảo Vi Hạ Khanh 韋夏卿 biết đến tài và gả cho cô con gái út mà ông ta rất yêu thương là Vi Tùng 韋叢. Lúc đó, Vi Tùng chỉ mới 20 tuổi, còn Nguyên Chẩn thì đã 25 tuổi rồi. Sau khi kết hôn, họ sống đời sống bần hàn đạm bạc. Vi Tùng mặc dù là tiểu thơ con quan nhưng lại rất chịu thương chịu khó, cùng sống cảnh nhèo khổ với chồng mà không một lời oán than trách móc, nên vợ chồng rất hòa hợp và thương yêu nhau. Bảy năm sau, tức năm Nguyên Hòa thứ tư (809), khi Nguyên Chẩn nhậm chức Án Sát ngự Sử thì Vi Tùng nhuốm bện và qua đời khi chỉ mới 27 tuổi. Nguyên Chẩn vô cùng đau xót tiếc thương, ông đã làm rất nhiều thơ để khóc, điếu và truy điệu người vợ đã cộng khổ mà không cùng được đồng cam nầy. Trong số thơ truy điệu phải kể đến 3 bài KHIỂN BI HOÀI 遣悲懷 là nổi tiếng và được nhiều người biết đến nhất.

 

       Sau đây, ta sẽ lần lượt đọc lại 3 bài thơ bất hủ nầy :

             

      遣悲懷·其一           KHIỂN BI HOÀI    Kỳ 1        

 

    謝公最小偏憐女,   Tạ công tối tiểu thiên lân nữ,

    自嫁黔婁百事乖。   Tự gía Kiềm Lâu bách sự quai.

    顧我無衣搜藎篋,   Cố ngã vô y sưu tẫn giáp,

    泥他沽酒拔金釵。   Nệ tha cô tửu bạt kim thoa.

    野蔬充膳甘長藿,   Dã sơ sung thiện cam trường hoắc,

    落葉添薪仰古槐。   Lạc diệp thiêm tân ngưỡng cổ hoài.

    今日俸錢過十萬,   Kim nhật bổng tiền qúa thập vạn,

    與君營奠復營齋。   Dữ quân doanh điện phục doanh trai.

                  元稹                                   Nguyên Chẩn

* Chú Thích :

    - Khiển Bi Hoài 遣悲懷 : Giải bày nổi lòng bầu bi buồn thảm.

    - Tạ Công 謝公...: Lấy tích Tể Tướng Tạ An đời Đông Tấn rất thương cô cháu gái là Tạ Đạo Uẩn.

    - Kiềm Lâu 黔婁 : là một hàn sĩ ở nước Tề thơi Chiến Quốc.

    - Tẫn Giáp 藎篋 : là Rương, hòm, va-li đan bằng tre mây hoặc cỏ.

    - Nệ 泥 : là Câu nệ, là theo làm eo, năn nỉ.

    - Dã Sơ 野蔬 : là Rau cải mọc hoang. Hoắc 藿 : là đọt đậu non. Câu nầy chỉ chung các loại rau dền, rau muống, rau lang, rau ngỗ...

    - Tân 薪 : là củi. Cổ Hoài 古槐 : là Cây Hòe cổ, là cây hoẻ già.

    - Bổng Tiền 俸錢 : Tiền bổng lộc, Tiền lương.

    - Doanh Điện 營奠 : là Cúng tế; Doanh Trai 營齋 : là làm tuần trai.

 

* Nghĩa Bài Thơ :

        Giống như là Tạ An đời Tấn rất thương cô con gái út của mình, nhưng từ ngày lấy phải kẻ Kiềm Lâu hàn sĩ nầy thì trăm việc đều trớt quớt không như ý. Thấy tôi không có áo mới để mặc nàng đã lục lọi hết các rương hòm để tìm kiếm. Không tiền mua rượu uống tôi đã theo nài nĩ nàng, nàng cũng chịu rút cây trâm vàng trên đầu mà đưa cho tôi. Ăn uống thì đạm bạc chỉ tìm các loại rau rừng đọt đậu... Gom góp lá rụng phơi khô để làm củi nên thường ngóng trông cây hòe lớn rụng lá xuống. Đến ngày hôm nay ta đã làm quan, bổng lộc đã hơn mươì vạn hộc một năm, thì nàng đã mất rồi; nên chỉ còn có nước là vừa cúng tế vừa làm tuần trai cho nàng mà thôi !

 

* Diễn Nôm :

                 

 

                     KHIỂN BI HOÀI (1)

 

                 Gái út Tạ công được mến yêu,

                 Gã cho hàn sĩ khổ trăm điều.

                 Lo ta áo cũ moi rương nát,

                 Vì mỗ rượu ghiền bán lược yêu.

                 Rau cháo đỡ lòng ăn xí xóa,

                 Lá cây làm củi ước rơi nhiều.

                 Nay ta bổng lộc hơn mười vạn,

                 Phúng điếu mong nàng sớm độ siêu !

     Lục bát :

                 Tạ Công gái út thương nhiều,

                 Lấy chàng hàn sĩ trăm điều khổ thay.

                 Lo ta không áo tìm may,

                 Vì ta hết rượu rút ngay trâm vàng.

                 Bửa ăn rau dại làm sang,

                 Lá khô làm củi nên nàng ngóng cây.

                 Nay ta mười vạn bổng đầy,

                 Chỉ còn phúng điếu làm chay cho nàng.

 

      Bài thơ hết lời ca ngợi người vợ hiền, trước tiên là đức tính tốt của một tiểu thơ con nhà quan mà chịu khuất thân lấy người hàn sĩ để phải chịu khổ trăm điều : Lo cái ăn cái mặc để giữ thể diện cho chồng, chìu cả những thói ghiền rượu của chồng mà không ngần ngại bán cả trâm vàng, sống kham khổ bằng các loại rau dại, chắc mót cả lá khô để làm củi đốt... Thế mà ngang trái thay, khi đã làm quan, khi đã giàu sang vinh hiển, thì vợ đã mất rồi !... Dù cho có cúng tế làm đám linh đình như thế nào cũng không bù đắp được tấm chân tình của người vợ hiền đã khuất bóng. 

 

 遣悲懷·其二            KHIỂN BI HOÀI  Kỳ 2

 

昔日戲言身後事,   Tích nhật hí ngôn thân hậu sự,

今朝都到眼前來。   Kim triêu đô đáo nhãn tiền lai.

衣裳已施行看盡,   Y thường dĩ thí hành khan tận,

針線猶存未忍開。   Châm tuyến do tồn vị nhẫn khai.

尚想舊情憐婢僕,   Thượng tưởng cựu tình lân tì bộc,

也曾因夢送錢財。   Dã tằng nhân mộng tống tiền tài.

誠知此恨人人有,   Thành tri thử hận nhân nhân hữh,

貧賤夫妻百事哀。   Bần tiện phu thê bách sự ai !

               元稹                               Nguyên Chẩn

 

        

 

* Chú Thích :

    - Hí Ngôn 戲言 : Lời nói chơi (giữa vợ chồng với nhau).

    - Thân Hậu Sự 身後事 : Chuyện sau khi đã chết, đã qua đời.

    - Dĩ Thí 已施 : Đã bố thí (cho người nghèo).

    - Hành Khan Tận 行看盡 : là Đã gần hết.

    - Do Tồn 猶存 : Còn chừa lại, còn để lại.

    - Tì Bộc 婢僕 : TÌ là Tì nữ, hầu gái. BỘC là Gia bộc, người giúp việc trai.

    - Bần Tiện Phu Thê 貧賤夫妻 : là Vợ chồng nghèo khó với nhau.

 

* Nghĩa bài thơ :

        Ngày xưa vợ chồng thường nói chơi với nhau là : người nầy chết thì người kia sẽ ra sao ?... Đến hôm nay thì sự thực đó đều đã phơi bày trước mắt. 

Quần áo của bà để lại tôi đã bố thí cho người nghèo gần hết rồi, chỉ có kim chỉ ngày xưa của bà dùng để may vá thì tôi còn giữ lại cả mà không đành lòng mở ra xem. Tôi luôn nhớ đến tình nghĩa của bà ngày xưa đối với nô tì gia bộc, người ăn kẻ ở trong nhà mà càng yêu thương họ hơn; cũng thường nằm mơ thấy bà nên luôn mua thêm vàng mã đốt xuống gởi cho bà. Vốn dĩ biết rằng cái hận sinh ly tử biệt mọi người đều có, nhưng đối với vợ chồng xuất thân nghèo hèn như chúng ta thì trăm việc đều bi ai buồn thãm. 

 

* Diễn Nôm :

                 KHIỂN BI HOÀI (2)

            Ngày xưa cứ tưởng nói chơi thôi,

            Nào biết hôm nay trước mắt rồi.

            Bố thí áo quần cho sắp hết,

            Vẫn còn kim chỉ chẳng đành coi.

            Nhớ bà xưa vẫn thương người ở,

            Vì mộng nay thường đốt bạc tơi.

            Vẫn biết hận nầy ai tránh khỏi,

            Vợ chồng nghèo khó khổ khôn vơi !

   Lục bát :

            Xưa kia cứ ngỡ nói chơi,

            Nào ngờ nay đã phương trời âm dương.

            Áo quần bố thí vẫn thường,

            Chỉ kim còn đó chẳng buồn mở xem.

            Vốn thương kẻ ở người quen,

            Mã vàng thường đốt mấy phen mơ màng.

            Vốn hay tử biệt hận tràn,

            Vợ chồng nghèo khổ muôn vàn bi thương !

 

      Thật chí tình chí nghĩa, Nguyên Chẩn nhớ đến từng việc, từng việc một của vợ mình khi còn sống, cho nên áo quần thì bố thí cho người nghèo gần hết, chớ kim chỉ mà ngày thường vợ thường dùng để may vá thì không dám mở ra, sợ gợi lại hình ảnh của vợ lúc còn sống; Vốn biết vợ có lòng nhân từ hay thương người ăn kẻ ở trong nhà nên cũng đối xử với họ tốt hơn... và mặc dù bây giờ làm quan đã giàu sang rồi, vẫn còn nhớ lúc vợ chồng thuở hàn vi trăm việc đều buồn thương sầu thảm.

 

 遣悲懷.其三          KHIỂN BI HOÀI (3)

 

閒坐悲君亦自悲,      Nhàn tọa bi quân diệc tự bi,

百年都是幾多時?      Bách niên đô thị kỷ đa thì ?

鄧攸無子尋知命,      Đặng Du vô tử tầm tri mệnh,

潘岳悼亡猶費詞。      Phan Nhạc điếu vong do phí từ.

同穴窅冥何所望?      Đồng huyệt yểu minh hà sở vọng,

他生緣會更難期。      Tha sinh duyên hội cánh nan kỳ.

惟將終夜長開眼,      Duy tương chung dạ trường khai nhãn,

報答平生未展眉。      Báo đáp bình sinh vị chuyển mi.

               元稹                                        Nguyên Chẩn

* Chú Thích :

    - Đặng Du 鄧攸 : Theo Tấn Thư ghi chép : ĐẶNG DU (?-326) người đời Tây Tấn, tự là Bá Đạo, là quan Thái Thú đất Hà Tây. Cuối năm Vĩnh Gia trong chiến tranh loạn lạc, Du đã bỏ con chết trong chiến loạn mà cứu lấy cháu do em trai gởi gắm, với lý do mình còn có thể sanh con khác được, chứ cháu mà chết rồi thì làm sao sanh được đứa cháu khác đây ? Cuối cùng, vợ ông không còn khả năng mang thai nữa. Đành phải nạp thiếp, khi hỏi rõ lý lịch thì biết cô thiếp mà mình định nạp là cháu gái con của em vợ mình, nên thôi. Ông cho đó là số mạng của mình, nên từ đó không có ý định nạp thiếp nữa. Rồi đành chịu cảnh vô hậu, không người nối dõi.

   - Phan Nhạc 潘岳 : Cũng theo Tấn Thư ghi chép : PHAN NHẠC(247-300) người đời Tây Tấn, tự là An Nhân. Người đời thường gọi ông là PHAN AN 潘安, là một văn học gia nổi tiếng đẹp trai, là Huyện Lệnh của đất Hà Dương. Vợ là Dương Thị, chết trẻ. Ông vô cùng thương nhớ vợ và làm rất nhiều thơ để phúng điếu, trong có 3 bài "Điếu Vong Thi 悼亡詩" rất nổi tiếng, được nhiều người biết đến.

   - Yểu Minh 窅冥 : là Nơi xa xôi tăm tối, chỉ Âm Phủ.

   - Hà Sở Vọng 何所望?: Còn kỳ vọng mong mõi gì nữa đây ?

   - Duyên Hội 緣會 : là Duyên hội ngộ, là cái nhân duyên gặp gỡ nhau.

   - Cánh Nan Kỳ 更難期 : là Càng khó mà trông mong hơn nữa.

   - Khai Nhãn 開眼 : Mở mắt, vì không ngủ được.

   - Triển Mi 展眉 : là Nở mày; ý chỉ Nở mày nở mặt.

 

* Nghĩa Bài Thơ :

        Rảnh rổi ngồi buồn nhớ thương bà mà cũng tự thương cho thân tôi nữa. Người ta thường nói trăm năm tơ tóc, nhưng trăm năm có là bao đâu ? Đặng Du không có con nối dõi cũng do nơi mạng số; còn Phan An khóc điếu vợ rồi thì lời điếu cũng thoảng qua thôi. Đã không còn trông mong chết cùng chung một huyệt mộ, thì duyên hội ngộ ở kiếp sau cũng không dễ gì trông mong cho có được đâu. Giờ chỉ còn biết nhớ thương bà mà "mở mắt" suốt đêm trường không ngủ, để báo đáp lại lúc còn sống nghèo khổ bà chẳng "Nở mặt nở mày" được !(Khi tôi đã làm quan lớn).

 

* Diễn Nôm :

                          KHIỂN BI HOÀI (3)

 

                     

 

                   Ngồi rảnh nhớ nàng dạ xót thay,

                   Bách niên giai lão mất còn ai ?

                   Đặng Du vô tử đành hiu hẩm,

                   Phan Nhạc điếu vong những cảm hoài.

                   Chung huyệt chung mồ thôi ngóng đợi,

                   Kiếp sau kiếp nữa khó mong thay.

                   Suốt đêm mở mắt tuôn dòng lệ,

                   Báo đáp nàng xưa chẳng mở mày !

   Lục bát :

                   Buồn nàng rồi lại buồn ta,

                   Trăm năm tơ tóc có là bao nhiêu ?

                   Đặng Du vô tử hẩm hiu,

                   Phan An khóc vợ nghe nhiều xót xa.

                   Hết mong chung huyệt đôi ta,

                   Kiếp sau gặp gỡ cũng là viễn vong.

                   Suốt đêm mở mắt nhớ mong,

                   Vì nàng đến chết vẫn không mở mày !

 

       Thật chân tình, thật thực tế và thực cảm động lòng người ! Ngồi buồn nhớ thương bà mà cũng tự thương cho thân tôi. Người ta nói trăm năm hạnh phúc, nhưng hạnh phúc thật sự có được bao nhiêu đâu ? Tôi với bà không có con, âu đó cũng là do số mạng ta phải thế; Tôi làm thơ thương khóc bà rồi cũng chỉ như làn gió thoảng thôi, vì bà đâu còn nghe thấy được nữa đâu. Chúng ta từng nguyện sống chung nhà và chết thì chung một huyệt mộ, nhưng đó cũng chỉ là những chuyện viễn vông, cũng như hẹn sẽ cùng nhau gặp gỡ ở kiếp lai sinh đều là những chuyện huyễn hoặc không thể nào có thật được. Việc thực tế nhất trước mắt là tôi luôn "mở mắt" thức trắng thâu đêm vì thương cho bà lúc còn sống đã không được "mở mày mở mặt" với người đời !

 

       Qua ba bài thơ vừa điếu tang, vừa bày tỏ nỗi lòng thương nhớ vợ chẳng may mất sớm của Nguyên Chẩn. Ta thấy ông đã sử dụng những chi tiết rất nhỏ nhặt, rất tầm thường trong cuộc sống, như quần áo, trâm cài, rau dại, lá khô... Sự hiền thục của vợ như mến thương người ăn kẻ ở trong nhà, sống kham khổ với chồng mà chẳng chút oán than trách móc, vợ chồng cùng ước hẹn sống chết có nhau, tái ngộ ở kiếp lai sinh... Chính những sự nhỏ nhặt tầm thường của các mặt trong đời sống thực tế của vợ chồng đã được ông than van kể lể làm cảm động lòng người đọc một cách chân thành như sự chân thành của ông trong những lời thơ  thương khóc vợ.

       Ngoài ba bài thơ thương tiếc điếu tang vợ như trên, Nguyên Chẩn còn có một hệ thống 5 bài thơ Tứ tuyệt "LY TỨ 離思" (Nỗi nhớ thương lúc phân ly) cũng rất nổi tiếng, nhất là bài thứ tư trong 5 bài nêu trên đã trở thành bất hủ :

 

                 曾經滄海難爲水,   Tằng kinh thương hải nan vi thủy,

                 除卻巫山不是雲。   Trừ khước Vu Sơn bất thị vân.

                 取次花叢懶回顧,   Thủ thứ hoa tùng lãn hồi cố,

                 半緣修道半緣君。   Bán duyên tu đạo bán duyên quân.

    Có nghĩa :

       Nếu không phải là nước của biển xanh mênh mông thì không phải là nước.  Ngoại trừ những mây mù trên đỉnh Vu Sơn ra, còn lại đều không phải là mây. Đã lơ đễnh qua khỏi khóm hoa rồi thì cũng lười biếng quay đầu nhìn lại, vì lòng đã trót theo tu đạo, và cũng vì trong lòng ta đã có hình bóng của em rồi.

 

    Diễn Nôm :

                   

 

                 Chẳng là biển rộng không là nước,

                 Trừ bỏ Vu Sơn chẳng phải mây!

                 Trước khóm hoa tươi lười biếng ngắm,

                 Nửa vì tu đạo nửa nàng đây.

    Lục bát :

                 Biển xanh mới thật nước đây,

                 Chẳng Vu Sơn đó chẳng mây trên trời.

                 Quay đầu biếng ngắm hoa tươi,

                 Nửa vì đaọ hạnh nửa vui vì nàng.

 

       Ý của Nguyên Chẩn là :"Ngoại trừ vợ ông ra, thì không có người đàn bà nào trên đời nầy đáng cho ông yêu nữa cả ! Dù có đi qua một "rừng hoa" trước mắt, ông cũng không buồn quay đầu lại để nhìn ngắm, vì đạo hạnh và nhất là vì trong lòng ông đã có hình bóng của vợ ông rồi. Không có bất cứ người đàn bà nào khác có thể thay thế được ! 

      Bốn chữ đầu của câu thơ thứ nhất "TẰNG KINH THƯƠNG HẢI 曾經滄海" đã trở thành Thành Ngữ để chỉ khi "Một chàng trai yêu một cô gái nào đó mà cho rằng ngoài nàng ra thì chẳng thể nào yêu người khác được nữa", dùng bốn chữ TẰNG KINH THƯƠNG HẢI để tỏ tình và để cho nàng biết là ngoài nàng ra chàng sẽ không còn yêu ai khác, nếu không lấy được nàng thì chàng sẽ..."ở vậy nuôi con" cho đến hết đời ! Nên...

 

      Khi viết câu thơ trên Nguyên Chẩn muốn cho mọi người biết mình là người đàn ông chung tình, vợ chết rồi thì không còn yêu ai khác nữa và sẽ không lấy ai khác nữa. Nhưng ... khóc vợ chết thì nói thế, chứ đời sống thực tế của ông thì ông là người "bạ đâu yêu đó, gặp người nào yêu người nấy và bỏ... người kia" là.... KẺ BẠC TÌNH NHẤT trong tất cả những đàn  ông bạc tình ở trên đời nầy ! Mời đọc lại bài "BẠC TÌNH NỔI TIẾNG ĐƯỜNG THI" thì sẽ rõ !

 

      Hẹn bài viết tới !

 

                                                                                                        杜紹德

                                                                                                    Đỗ Chiêu Đức

Bạc Tình Nổi Tiếng Đường Thi - Nguyên Chẩn

 

 

Tằng kinh thương hải nan vi thủy, 曾經滄海難爲水,

Trừ khước Vu sơn bất thị vân. 除卻巫山不是雲。

 

Hai câu thơ trên có nghĩa: 

Chẳng là biển rộng không là nước,

Trừ bỏ Vu Sơn chẳng phải mây!

 

Ý của lời thơ là :"Nếu không phải là nước của biển xanh mênh mông thì không phải là nước. Ngoại trừ những mây mù trên đỉnh Vu Sơn ra, còn lại đều không phải là mây !" Tác giả là NGUYÊN CHẨN một đại văn thi sĩ đời Đường đã làm thơ khóc vợ với 2 câu thơ trên. Ý của ông là :"Ngoại trừ vợ ông ra, thì không có người đàn bà nào trên đời nầy đáng cho ông yêu nữa cả !". Chung tình đến thế, yêu vợ đến thế là cùng. Nhưng ... khóc vợ chết thì nói thế, chứ đời sống thực tế của ông thì ông là ... KẺ BẠC TÌNH NHẤT trong tất cả những đàn ông bạc tình ở trên đời nầy ! Mời đọc tiểu sử của ông dưới đây sẽ rõ ...

 

NGUYÊN CHẨN (779-831), người đất Lạc Dương Hà Nam, từ nhỏ đã thông minh cơ trí hơn người, nổi tiếng học giỏi, là Tiến sĩ cùng khoa với Bạch Cư Dị. Hai người là bạn thơ thân thiết với nhau suốt đời, cùng vận động và đề xướng ra NGUYÊN HÒA THỂ 元和體 trong nhạc phủ. Người đời xưng tụng là Thể NGUYÊN BẠCH 元白, cho thấy ông được xếp đứng trước cả Thi Bá Bạch Cư Dị.

Thành tựu về mặt văn thơ của Nguyên Chẩn thì không còn gì nghi ngờ và phải bàn cải nữa; Nhưng về mặt tình cảm lăng nhăng lãng mạn "Bạc tình nổi tiếng lầu xanh" thì cũng không còn gì để bàn cải nữa! Nguyên Chẩn là anh chàng phụ tình có một không hai trong đời Đường, trên từ tiểu thơ con nhà quyền qúy, đến các cô gái nhà lành khuê môn bất xuất, rồi đến các nữ sĩ đạo cô tài hoa phóng đãng cho đến các ca kỹ nổi tiếng lầu xanh ... Tất cả đều bị ruồng rẫy bầm dập dày dò và chết dưới tay của chàng lãng tử tài hoa nầy.

Đầu tiên là Thôi Song Văn 崔雙文, tức là nàng Thôi Oanh Oanh 崔鶯鶯, còn Nguyên Chẩn tức là Trương Quân Thụy 張君瑞 tức Trương Sinh 張生, mà sau nầy nhà văn Vương Thực Phủ 王實甫 đã viết thành truyện TÂY SƯƠNG KÝ 西廂記 nổi tiếng vào đời nhà Nguyên. Năm Trinh Nguyên thứ 15 (799), Nhà của một bà dì bà con xa bên mẹ, vì chiến loạn phải chạy đến tạm lánh ở nhà Nguyên Chẩn. Chẩn trông thấy cô biểu muội họ xa tài mạo song toàn, vừa đẹp vừa xinh lại có tài văn thơ, bèn kết ngay từ giây phút đầu gặp gỡ. Tiểu thơ họ Thôi cũng phải lòng ngay cái anh biểu huynh tài hoa đẹp trai "Văn chương nết đất thông minh tính trời" mới có 21 tuổi nầy. Hai người rất nhanh đã ngã vào lòng nhau sau những lời thề non hẹn biển. Nhưng rồi chàng phải lên đường lai kinh ứng thí, nàng phải gạt lệ luyến lưu đưa tiễn người yêu bên ngoài mười dặm trường đình. Nhưng rồi ...

 

Mái Tây để lạnh hương nguyền,

Cho duyên đằm thắm ra duyên bẽ bàng!

 

 

 

Chờ đợi mỏi mòn, cuối cùng nàng cũng được tin: Mặc dù chàng thi rớt, nhưng lại được quan lớn hai đời là Kinh Triệu Doãn Vi Hạ Khanh biết đến tài, tin tưởng rằng Nguyên Chẩn sẽ phát tích trong tương lai, nên mới gã cho cô con gái út là Vi Tùng. Nên chàng lưu lại đất Trường an để chờ đợi khoa thi sau.

 

Vi Tùng 韋叢 tự là Huệ Tùng 蕙叢, mặc dù là tiểu thơ con nhà quan nhưng rất hiền thục, không ham phú quý hư vinh, hết lòng thương yêu chăm sóc và giúp đỡ cho chồng dùi mài kinh sử để chờ đợi khoa thi. Thế mà khi Nguyên Chẩn đã thi đậu làm quan lớn rồi thì Vi Tùng lại vắn số chết đi khi mới vừa 27 tuổi. Trong ba bài thơ KHIỂN BI HOÀI 遣悲懷 làm để điếu tang vợ, thì bài thứ nhất Nguyên Chẩn đã tả lại cảnh chịu thương chịu khó của vợ như sau :

 

謝公最小偏憐女, Tạ công tối tiểu thiên lân nữ,

自嫁黔婁百事乖。 Tự gía kiềm lâu bách sự quai.

顧我無衣搜藎篋, Cố ngã vô y sưu tẫn giáp,

泥他沽酒拔金釵。 Nệ tha cô tửu bạt kim thoa.

野蔬充膳甘長藿, Dã sơ sung thiện cam trường hoắc,

落葉添薪仰古槐。 Lạc diệp thiêm tân ngưỡng cổ hoài.

今日俸錢過十萬, Kim nhật bổng tiền qúa thập vạn,

與君營奠復營齋。 Dữ quân doanh điện phục doanh trai.

 

Có nghĩa:

 

Gái út Tạ công được mến yêu,

Gã cho hàn sĩ lắm tiêu điều.

Lo ta áo cũ moi rương nát,

Vì mỗ rượu ghiền bán lược yêu.

Rau cháo đỡ lòng ăn xí xóa,

Lá cây làm củi ước rơi nhiều.

Nay ta bổng lộc hơn mười vạn,

Phúng điếu mong nàng sớm độ siêu!

 

Tình nghĩa vợ chồng thật thắm thiết mặn nồng, đọc thơ ai dám bảo đây là ông chồng phong lưu lãng tử bạc tình ? Ấy thế, mà trong khoảng thời gian vợ nằm bệnh cũng chính là thời gian Nguyên Chẩn đang dan díu với Đệ nhất Nữ Tài Tử đời Đường là Tiết Đào 薛濤, khi ông đang giữ chức Án Sát Ngự Sử ở đất Tây Xuyên. Thế mà lại khóc vợ thảm thiết với 2 câu thơ để đời thiên cổ đã nêu ở đầu bài : 

 

Tằng kinh thương hải nan vi thủy, 曾經滄海難爲水,

Trừ khước Vu sơn bất thị vân. 除卻巫山不是雲。

 

Rất nhiều người thắc mắc là : Không biết hai câu thơ trên đây Nguyên Chẩn làm để khóc vợ hay khóc cho mối "tình chị em" nhưng không kém phần say đắm với Tiết Đào, hay là khóc cho tiểu thơ Thôi Oanh Oanh đang mõi mòn chờ đợi ở dưới Mái Tây. Chỉ biết không chỉ Tiết Đào mê đắm Nguyên Chẩn mà Nguyên Chẩn cũng rất say mê bà chị ca kỹ tài danh lớn hơn mình đến 11 tuổi nầy, chàng đã vắt óc tổn hao tâm tư để viết nên một bài thất ngôn luật thi để "Ký Tặng Tiết Đào 寄贈薛濤" như sau:

 

錦江滑膩蛾眉秀, Cẩm Giang hoạt nhị nga mi tú,

幻出文君與薛濤。 Huyễn xuất Văn Quân dữ Tiết Đào.

言語巧偷鸚鵡舌, Ngôn ngữ xảo thâu anh vũ thiệt,

文章分得鳳凰毛。 Văn chương phân đắc phụng hoàng mao.

紛紛辭客多停筆, Phân phân từ khách đa đình bút,

個個公卿欲夢刀。 Cá cá công khanh dục mộng đao.

別後相思隔煙水, Biệt hậu tương tư cách yên thủy,

菖蒲花發五雲高。 Xương bồ hoa phát ngũ vân cao.

 

Có nghĩa:

 

Cẩm Giang làm mượt nga my,

Có Tiết Đào đẹp thua gì Văn Quân.

Nói năng anh vũ hót xuân,

Văn chương phụng múa xa gần đều khen.

Văn nhân chẳng dám đua chen,

Công hầu đều phục mấy phen mộng hồn.

Chia thay nhung nhớ bồn chồn,

Xương bồ hoa tỏa ngát hơn mây trời!

 

 

 

Nhưng hạnh phúc lại chẳng dài lâu, chỉ vỏn vẹn đến với nàng trong 3 tháng. Vì tháng 7 năm đó, chàng Giám Sát Ngự Sử Nguyên Chẩn lại được lệnh vua điều đến Lạc Dương. Tiết Đào vô cùng thất vọng, nàng như hụt hẫng khi hạnh phúc vuột khỏi tầm tay. Cũng may là sau đó ít lâu thì lại nhận ngay được thơ của Nguyên Chẩn tỏ tình lưu luyến nhớ thương. Cứ thế tình yêu của lứa đôi tuy xa cách phương trời, nhưng lại được trải lòng trên những câu thơ trăm nhớ ngàn thương của thư đi tin lại. Chính thời gian nầy Tiết Đào đã nghĩ ra việc sáng chế một mẫu giấy chỉ đủ để chép một bài thơ cho gọn đẹp, đó là TIẾT ĐÀO TIÊN 薛濤箋 và sáng chế nầy còn lưu truyền mãi cho đến hiện nay. Nhưng rồi người tình tài hoa trẻ tuổi đẹp trai cũng bặt vô âm tín, mặc dù thơ của Tiết Đào đã gởi đi mấy lượt:

 

風花日將老, Phong hoa nhựt tương lão,

佳期猶渺渺。 Giai kỳ do miễu miễu.

不結同心人, Bất kết đồng tâm nhân, 

空結同心草. Không kết đồng tâm thảo.

 

Có nghĩa:

 

Gió đưa hoa rụng về đâu,

Giai kỳ biết đến khi nào gặp đây?

Đồng tâm người ở chân mây,

Đồng tâm cỏ kết còn đây rành rành.

 

Cuối xuân năm Nguyên Hòa thứ 6 (811), Nguyên Chẩn đến Giang lăng thăm bạn đồng liêu là Lý Cảnh Kiệm. Kiêm biết Chẩn vừa mới chết vợ, đời sống neo đơn, không ai chăm sóc cho cái ăn cái mặc, bèn làm mai biểu muội của mình là An Tiên Tần 安仙嬪 gã cho Nguyên Chẩn làm trắc thất (vợ lẽ). Cũng trong năm đó, Tễ Tướng Bùi Độ qua đời, Nguyên Chẩn mất đi chỗ dựa, bèn theo Kinh Nam Tiết Độ Sứ đi chinh phạt một nhóm dân tộc thiểu số đứng lên bạo động làm phản ở Hồ Nam. Chỉ được mấy năm An Tiên Tần cũng cởi hạc quy tiên ở Giang Lăng, sau khi để lại cho Nguyên Chẩn một đứa con. Chàng cũng đã thương nhớ người thứ thất nầy qua ba bài thơ "Giang Lăng Tam Mộng 江陵三夢" với các câu như:

 

平生每相夢, Bình sinh mỗi tương mộng,

不省两相知。 Bất tỉnh lưỡng tương tri.

况乃幽明隔, Huống nãi u minh cách,

夢魂徒尔为。 Mộng hồn đồ nhĩ vi.

 

Có nghĩa:

 

Bình sinh mỗi lúc cùng mơ,

Hai người tri kỷ dật dờ hai phương.

Huống nay cách trở âm dương,

Mộng hồn ngơ ngẩn người thương đâu rồi!

 

Hoặc như:

 

君骨久为土, Quân cốt cửu vi thổ,

我心長似灰。 Ngã tâm trường tự hôi.

百年何处尽, Bách niên hà xứ tận,

三夜夢中来。 Tam dạ mộng trung lai.

 

Có nghĩa:

 

Xương nàng đã hóa bụi hồng,

Tim ta cũng tắt lửa lòng từ lâu.

Trăm năm nào có gì đâu,

Ba canh hồn mộng đêm sầu khôn vơi!

 

Sầu thảm khóc thương thê thiếp thì nói thế chớ không phải thế. Mùa xuân năm Nguyên Hòa thứ 11 (816) Nguyên Chẩn 37 tuổi, lại được thượng cấp là Sơn Nam Tây Đạo Tiết Độ Sứ Quyền Đức Dự làm mai để cưới một tiểu thơ con nhà khuê các khác là Bùi Thục 裴淑. Bùi Thục là con của ngự sử Bùi Vân, trên đường đi nhậm chức ghé qua ra mắt Quyền Đức Dự, Trong buổi tiệc chiêu đãi Nguyên Chẩn và Bùi Thục phải lòng nhau, nên mới có mối lương duyên nầy. Lần thứ ba tân hôn, Nguyên Chẩn ngây ngất với hạnh phúc tràn đầy bên cô dâu trẻ, mãi đến khi sinh con được ba tháng mới trở về Thông Châu, nhậm chức Quắc Châu Trưởng Sử.

 

Tuy đã ba lần kết hôn, hai lần ruồng rẫy người yêu, Nguyên Chẩn vẫn chưa chịu yên thân. Năm Trường Khánh thứ 3 (823) Nguyên Chẩn cải nhậm Thứ Sử Việt Châu kiêm Chiết Đông Quan Sát Sứ. Một lần nữa đi về nơi sông nước, Nguyên Chẩn chợt nhớ đến Tiết Đào, người tình xưa nay đã qúa tuổi năm mươi. Nhưng chưa kịp gặp lại thì đã gặp ngay được nàng ca kỹ, ca linh, ca sĩ nổi tiếng nhất xứ Việt Châu là Lưu Thái Xuân 劉采春. Vốn xuất thân trong giới bình dân, là một cô đào vừa diễn vừa ca, có chồng là Châu Qúy Sùng cũng là một linh công (kép diễn tuồng). Mặc dù tuổi đã gần 30, nhưng phong tư còn yểu điệu, đặc biệt là giọng hát vút cao như bay theo làn gió cuốn vút tận mây xanh, được giới mộ điệu khen tặng là "Bán nhập giang phong bán nhập vân 半入江風半入雲" ( Nửa theo làn gió của sông nước nửa như bay bổng tận mây xanh), nên...

Khi quan lớn Thứ sử kiêm Quan Sát Sứ Nguyên Chẩn lúc bấy giờ đã ngoại 40, vừa gặp mặt lần đầu đã chết mê chết mệt ngay với cô ca linh tài hoa hương trời sắc nước nầy, quên mất tiêu người tình cũ Tiết Đào vẫn còn đang làm thơ chép trên giấy "Tiết Đào Tiên" để gởi đến cho mình lời thơ nhung nhớ. Nguyên Chẩn "rước" Lưu Thái Xuân về "dinh" với quan lớn, bỏ lại gánh hát, bỏ chồng bỏ con, bỏ cả vùng sông nước nơi đã hun đúc nên giọng hát thiên phú tài hoa của nàng. Những tưởng cuộc sống giàu sang phú qúy sẽ đem lại hạnh phúc mãi mãi với ông chồng quan lớn lại vừa là thi nhân tài tử đã có những lời thơ ca ngợi giọng hát của nàng như:

 

更有惱人腸斷處, Cánh hữu não nhân trường đoạn xứ,

選詞能唱"望夫歌"。 Tuyển từ năng xướng VỌNG PHU CA!

 

Có nghĩa:

 

Cất giọng khiến người sầu đứt ruột,

Chọn từ nên khúc "Vọng Phu Ca"! 

 

 

 

Nào ngờ...

Cuộc sống tưởng chừng như hạnh phúc sẽ miên trường kia chỉ kéo dài được có 7 năm. Năm Công Nguyên 829, Nguyên Chẩn được điều về Trường An, hồi triều để giữ chức Thượng Thư Tả Thừa. Bỏ lại Lưu Thái Xuân chờ đợi mõi mòn ròng rã suốt hai năm trường. Khi biết ra thì Nguyên Chẩn đã có người yêu khác là Linh Lung, một hồng nhan tì thiếp của Bạch Cư Dị. Thẹn với chồng với con, với đoàn ca kịch, với sông nước Giang Nam... Khoảng năm Công Nguyên 831, Lưu Thái Xuân đã nhảy xuống sông tự trầm để kết liễu đời mình khi chỉ mới hơn ba mươi tuổi...

 

Không cần biết là với thủ thuật nào (mua chuộc, ép buộc hay cưởng chiếm...) Ngài quan lớn Nguyên Chẩn vẫn phải chịu trách nhiệm là kẻ phá hoại gia cang người khác, là kẻ bạc tình lang sẵn sàng vứt bỏ người yêu không thương tiếc để chạy theo công danh hoặc chạy theo một bóng hình khác. Sau cô đào Lưu Thái Xuân, Nguyên Chẩn còn một cuộc tình không chính đáng nữa với Linh Lung 玲瓏, một tì thiếp của Bạch Cư Dị...

Nguyên và Bạch ngoài việc cùng xướng họa văn thơ, và cùng sáng tạo ra thể nhạc phủ "Nguyên Hòa Thể 元和體" ra, ngày thường đôi tri kỷ tri âm nầy còn có một trò chơi vượt ngoài tầm cho phép của Nho Gia là : Cùng trao đổi tì thiếp với nhau. Nên nhân biết Bạch Cư Dị có một nàng tì thiếp là Linh Lung 玲瓏, xuất thân là ca kỷ ở Hàng Châu rất đẹp và nổi tiếng. Nguyên Chẩn bèn tìm gặp, thì qủa nhiên là một giai nhân tài sắc kiêm toàn, bèn "mượn" nàng về nhà để "chi dụng" qua hơn một tháng mới trả lại cho Bạch Cư Dị. Thật là hết nói cho tính phong lưu lãng tử buông thả không câu nệ của cặp đôi bằng hữu nầy, đã dám vượt lên trên lễ giáo để đi trước thời đại.

 

Về phần Nguyên Chẩn, suốt một đời phong hoa tuyết nguyệt, thưởng ngoạn biết bao là non xanh nước biếc, rượu ngon gái đẹp. Chàng lãng tử nổi tiếng là bạc tình nầy vừa thề non hẹn biển với người yêu (Thôi tiểu thơ), vừa làm thơ khóc điếu vợ chết (Vi Tùng), vừa dan díu với đạo cô nữ sĩ (Tiết Đào), vừa về kinh cưới con nhà khuê các (An Tiên Tần), vừa cưới con nhà quyền qúy khi trắc thất An Tiên Tần qua đời (Bùi Thục), rồi khi đến vùng sông nước lại chiếm đoạt phá hoại gia cang người khác (Lưu Thái Xuân), cuối cùng thì lại tằng tịu với tì thiếp của bạn (Linh Lung)... Quả là tiêu biểu cho một kẻ...

 

BẠC TÌNH nổi tiếng trong ĐƯỜNH THI, không còn phải biện minh gì nữa cả !

 

Hẹn bài viết tới:

" NGUYÊN CHẨN : Người chồng khóc vợ chân tình nhất !"

 

杜紹德

Đỗ Chiêu Đức

Tứ Đại Nữ Thi Nhân Đời Đường (4) :  

 

                                            LƯU THÁI XUÂN

                                          Cô Đào Ca Múa Giỏi Nhất đời Đường

              

       LƯU THÁI XUÂN 劉采春, năm sanh năm mất không rõ, chỉ biết là bà nhỏ hơn Tiết Đào khoảng gần 20 tuổi. Người đất Việt Châu thuộc huyện Thiệu Hưng tỉnh Chiết Giang ngày nay. Có thuyết cho là người đất Hoài Âm tỉnh Giang Tô. Lưu Thái Xuân là một ca linh nổi tiếng đời Trung Đường, là vợ của nghệ nhân Châu Qúy Sùng, cùng với anh chồng là Châu Qúy Nam lập thành một ban ca kịch. lúc bấy giờ gọi là Tham Quân Hí 參軍戲. là một hình thức hài kịch giúp vui, thường chỉ do các nam nghệ nhân thủ diễn cả vai nữ. Duy chỉ có ban kịch của Lưu Thái Xuân thì vai nữ do bà tự thủ diễn và còn đem cả các khúc ca được phổ thành nhạc từ những bài thơ nổi tiếng của các thi nhân lúc bấy giờ vào trong kịch. 

Sau loạn An Lộc Sơn, nhà Đường chỉnh đốn lại quân bị, phòng thủ biên cương, nên nam tử trượng phu phải đi lính thú để trấn thủ lưu đồn... bỏ lại gia đình vợ con để ra ngoài biên ải, một số thương nhân của vùng sông nước cũng bỏ nhà đi buôn để tìm lợi nhuận, như Bạch Cư Dị đã nói trong TÌ BÀ HÀNh là "Thương nhân trọng lợi khinh biệt ly 商人重利輕別離"(Kẻ thương buôn chỉ xem trọng lợi nhuận mà xem nhẹ sự ly biệt giữa vợ chồng với nhau). Vì thế phong trào thơ khuê oán lại dậy lên và lưu hành khắp mọi nơi trong nước. Lưu Thái Xuân lại có giọng ca thiên phú lảnh lót truyền cảm, nên khi nàng cất cao giọng thánh thót rót những lời thơ thương nhớ oán trách của những nàng khuê phụ trông chồng, thì các bà các cô đều không cầm được nước mắt. Trên 120 bài thơ khuê oán đã được tiếng hát của bà mang đi khắp cả vùng giang nam giang bắc, những khúc "Vọng Phu Ca 望夫歌" nầy còn được gọi một cách nôm na bình dân là "La Cống Khúc 囉嗊曲". LA CỐNG vốn là tên của một lâu đài do Trần Hậu Chủ xây nên bên bờ sông Tần Hoài để vui chơi hưởng lạc; dân chúng đi ngang qua đó thường nghe những khúc nhạc du dương vẳng ra, rồi cũng bắt chước mà hát theo khi đang đi trên sông nước để làm vui, thét rồi thành câu hò giọng hát trên sông.Trong Toàn Đường Thi Tập có 6 khúc "LA CỐNG KHÚC" do bà tự sáng tác và phổ vào nhạc phủ, như :

                    

                 不喜秦淮水,    Bất hỉ Tần Hoài thủy,

                 生憎江上船。    Sinh tăng giang thượng thuyền.

                 載兒夫壻去,    Tải nhi phu tế khứ,

                 經歲又經年。    Kinh tuế hựu kinh niên !

  Có nghĩa :

            "Bất hỉ" là không vui, không vui là không ưa không thích nước của con sông Tần Hoài. "Sinh tăng" là Sinh ra ghét, là Đâm ra ghét luôn những con thuyền qua lại trên dòng sông đó. Vì ... chúng chở chồng của con đi đi mãi, hết năm nầy qua năm khác (mà không thấy trở về gì cả !).

 

   Diễn Nôm :

                   

 

                Chẳng ưa sông nước Tần Hoài,

                Ghét luôn qua lại thuyền ai trên dòng.

                Chở đi con, chở đi chồng,

                Năm nầy tháng nọ trông mong mõi mòn !

        

        Lời thơ mộc mạc bình dân, cùng với tiếng ca truyền cảm điêu luyện của Lưu Thái Xuân dễ đi vào lòng người với các từ thông dụng như BẤT HỈ (không vui), SINH TĂNG (Đâm ra giận), KINH TUẾ hựu KINH NIÊN (Qua năm nầy đến năm khác)... dễ làm ray rức xúc động lòng người cô phụ trông chồng trong chốn phòng khuê lạnh lẽo, một thân một mình chiếc bóng lẻ loi. Oán trách chán rồi thì lại tự an ủi mình như lời thơ kỳ nhị :

 

                 借問東園柳,    Tá vấn đông viên liễu,

                 枯來得幾年。    Khô lai đắc kỷ niên ?

                 自恨枝無葉,    Tự hận chi vô diệp,  

                 莫怨太陽偏。    Mạc oán thái dương thiên.

  Có nghĩa :

            Dám hỏi mấy cây liễu ở vườn đông kia đã khô được mấy năm rồi ? (Thôi thì nên) chỉ tự hận cành nhánh của mình không ra nổi lá nữa, chớ đừng oán trách ánh nắng thiên lệch (không chịu chiếu vào mình nên lá mới mọc ra không nổi !). Hai câu cuối "自恨枝無葉 Tự hận chi vô diệp, 莫怨太陽偏 Mạc oán thái dương thiên" đã trở thành hai câu châm ngôn để tự an ủi mình khi gặp việc bất đắc ý như thi rớt, thất bại...

 

  Diễn Nôm :

                   

               Liễu kia ướm hỏi tường đông,

               Khô tàn đã trải mấy năm qua rồi ?

               Đành thôi tự hận cành còi...

               Trách chi ánh nắng thiệt thòi riêng ta !

 

       Oán trách rồi cam chịu, hờn mát rồi lại tự an ủi mình, vì có chồng thương lái nên đành phải chịu cảnh phòng không. Ngày ngày cứ đứng ngóng bên bờ sông mong mõi bóng chàng về như người cô phụ vọng phu, rồi lại nuối tiếc...

 

                莫作商人婦,    Mạc tác thương nhân phụ,

                金釵當卜錢。    Kim thoa đương bốc tiền.

                朝朝江口望,    Triêu triêu giang khẩu vọng,

                錯認幾人船。    Thác nhận kỷ nhân thuyền !

 Có nghĩa :

             Đừng làm vợ của các ông lái buôn, cứ phải rút cây trâm vàng đi làm tiền bói toán (xem coi bao giờ thì chàng mới trở về!). Cứ mỗi buổi sáng là lại đứng trông ngóng ở đầu sông và cứ mấy lượt nhận nhầm thuyền của người khác (mà cứ tưởng là thuyền của chồng mình về!).

 

   Diễn Nôm :

                   

                  Chớ làm vợ của lái buôn,

                  Trâm vàng bói toán thêm buồn tuổi xanh.

                  Ngày ngày trông ngóng bóng anh,

                  Nhận nhầm thuyền khác nên đành ngẩn ngơ !

 

      Đọc bài thơ ca nầy lại làm cho ta nhớ đến bài GIANG NAM KHÚC của LÝ ÍCH :

      

                   嫁得瞿塘賈,    Giá đắc Cù Đường cổ,

                   朝朝誤妾期。    Triêu triêu ngộ thiếp kỳ.

                   早知潮有信,    Tảo tri triều hữu tín,

                   嫁與弄潮兒。    Giá dữ lộng triều nhi !

   Có nghĩa :

                   Ai xui lấy lái Cù Đường,

                   Ngày ngày bỏ thiếp sầu thương ưu phiền

                   Lớn ròng con nước thường xuyên

                   Phải dè lấy gả chèo thuyền cho xong !

 

                   

 

      Ta thấy, tình yêu nam nữ ở bất cứ thời đại nào cũng mãnh liệt vô cùng, tình yêu của nàng "thương lái" nầy rất thực tế, rất nhân bản, và cũng rất mãnh liệt...dám nói lên tiếng nói của con tim yêu đương cuồng nhiệt, chữ "Tảo tri" (sớm biết) là  "Phải dè" sớm biết trước, nước thủy triều lên xuống đúng hẹn, không sai bao giờ. Thì thà trước kia lấy gã chèo đò cho xong ! Nhưng oán trách thì nói thế, chớ "ngu sao" lấy gả chèo đò.  Vì, nước thủy triều thì lên xuống đúng hẹn, nhưng "gả chèo đò" chưa chắc đã về nhà đúng hẹn đâu ( mắc "đi nhậu" chẳng hạn ...). "Oán" thì nói "lẫy" thế thôi, chứ lấy chồng thương buôn giàu có vẫn hơn là lấy anh chèo đò để uống nước sông... cầm hơi à ?!                        

 

      Trong một bài khác, sau khi chờ đợi mõi mòn thì người cô phụ trông chồng lại nằm nhà để "theo dõi bước anh đi", nhưng bước chân giang hồ vô định càng đi càng xa, phiêu bạt vô chừng như lời ca sau đây:

 

                那年離別日,    Na niên ly biệt nhựt,

                只道住桐廬。    Chỉ đạo trú Đồng Lư,

                桐廬人不見,    Đồng Lư nhân bất kiến,

                今得廣州書。    Kim đắc Quảng Châu Thư.

Có nghĩa :

                Ngày chia tay năm ấy, những tưởng là chàng  trú ngụ ở Đồng Lư. Nhưng sao có người đến Đồng Lư lại không gặp được chàng. Hôm nay nhận được thư chàng từ Quảng Châu gởi đến (mới biết là chàng lại đi càng xa hơn nữa, đến tận xứ Quảng Châu rồi !).

 

      Diễn Nôm :

                           

                           Chia tay hôm ấy năm kia,

                           Đồng Lư vẫn đợi chàng dìa bao năm.

                           Đồng Lư người vẫn bặt tăm,

                           Được thư mới biết ăn nằm Quảng Châu.

 

        Thấp thỏm đợi chồng về ngờ đâu chàng càng đi lại càng xa ! Biết này nào mới về lại cho đây? Chờ đợi rồi lại đợi chờ, "Ngày xuân mòn mõi má hồng phôi pha". Ngày qua tháng lụn năm tàn, người đi thì vẫn biền biệt phương trời, người ở lại cô phòng vẫn luôn khoắc khoải đợi mong đến đổi tóc đen đà hóa bạc :

 

              昨日勝今日,     Tạc nhật thắng kim nhật,

              今年老去年。     Kim niên lão khứ niên.

              黃河清有日,     Hoàng Hà thanh hữu nhật,

              白髮黑無緣。     Bạch phát hắc vô duyên !

   Có nghĩa :

             Hôm qua còn khá hơn hôm nay, năm nay thì lại già hơn năm qua.

             Nước sông Hoàng Hà còn có lúc trong, chớ tóc đã bạc rồi thì khó có

             cơ duyên gì làm cho đen lại được !

 

   Diễn Nôm :

                    

 

                     Hôm qua khá hơn hôm nay,

                     Năm nay gìa đến khó tày năm qua.

                     Có khi trong, nước Hoàng Hà,

                     Bơ phờ tóc bạc khó mà lại xanh !

 

        Lời hát của những bài VỌNG PHU CA sầu nhớ, áo não buồn thương lại được giọng ca thiên phú lảnh lót của Lưu Thái Xuân cất cao vang xa đến tận các khuê phòng làm cho những nàng cô phụ trông chồng không cầm được nước mắt nhớ thương, đến cả những lữ khách qua đường cũng phải ngẩn ngơ nhớ về nơi cố lý.

 

        Năm Công nguyên 823, đến trấn nhậm Thứ sử Việt Châu kiêm Chiết Đông Quan Sát Sứ là Nguyên Chẩn, một thi sĩ tài hoa đương thời đang ở độ tuổi 46, lại nổi tiếng là phong lưu bạc tình bậc nhất. Khi xem Lưu Thái Xuân diễn kịch và cất tiếng oanh vàng đã bị ngay tiếng sét ái tình mê mẩn và viết ngay một bài thơ "Tặng Lưu Thái Xuân 贈劉采春" ca ngợi nàng để tán tỉnh và tỏ lòng ái mộ :

 

               新妝巧樣畫雙蛾,    Tân trang xảo dạng họa song nga,

               謾裹常州透額羅。    Mạn khỏa Thường Châu thấu ngạch la.

               正面偷勻光滑笏,    Chính diện thâu quân quang hoạt hốt,

               緩行輕踏破紋波。    Hoãn hành khinh đạp phá văn ba.

               言辭雅措風流足,    Ngôn từ nhã thố phong lưu túc,

               擧止低回秀媚多。    Cử chỉ đê hồi tú mị đa.

               更有惱人腸斷處,    Cánh hữu não nhân trường đoạn xứ,

               選詞能唱"望夫歌"。  Tuyển từ năng xướng VỌNG PHU CA !

 

    Có nghĩa :

                    

 

                   Khéo tay trang điểm vẽ mày nga,

                   Phơ phất Thường Châu đẹp lụa là.

                   Điệu bộ thẳng ngay trông đĩnh đạc,

                   Gót hài yểu điệu lướt thu ba.

                   Lời từ văn vẻ phong lưu tuyệt,

                   Cử chỉ đoan trang nhã nhặn mà.

                   Cất giọng khiến người sầu đứt ruột,

                   Chọn từ nên khúc "Vọng Phu Ca"!

 

         Bài thơ vừa khen đào nương trang điểm đẹp, cử chỉ đoan trang thân hình yểu điệu, dáng vẻ phong lưu, lại biết soạn nên Vọng Phu Ca với lời ca thánh thoát làm xúc động lòng người... nên đã đánh động lòng của cô đào trẻ đẹp Lưu Thái Xuân. Vị quan lớn đa tình tài hoa đã khuấy động cuộc sống đang bình ổn an phận của nàng ca linh trên vùng sông nước. Nàng đã không cầm được lòng trước sự tỏ tình và cám dỗ của đối phương mà ngã vào vòng tay của Nguyên Chẩn, một tài tử đa tình nhưng chẳng chung tình chút nào cả. Nàng đã từ bỏ gia đình, chồng con, sông nước... mà về làm thiếp cho Thứ Sử Việt Châu Nguyên Chẩn.

 

        Năm Công Nguyên 829, Nguyên Chẩn được điều về Trường An, hồi triều để giữ chức Thượng Thư Tả Thừa. Bỏ lại Lưu Thái Xuân chờ đợi mõi mòn ròng rã suốt hai năm trường. Khi biết ra thì Nguyên Chẩn đã có người yêu khác là Linh Lung, một hồng nhan tì thiếp của Bạch Cư Dị. Thẹn với chồng với con, với đoàn ca kịch, với sông nước Giang Nam... Khoảng năm Công Nguyên 831, Lưu Thái Xuân đã nhảy xuống sông tự trầm để kết liễu đời mình khi chỉ mới hơn ba mươi tuổi, để lại một bài thơ tuyệt mạng như sau :

 

                聞道瞿塘顧堆懷,   Văn đạo Cù Đường cố đối hoài,

                高山流水近陽台。   Cao sơn lưu thủy cận Dương Đài.

                旁人哪得奴心事,   Bàng nhân nả đắc nô tâm sự,

                美景良辰永不回!   Mỹ cảnh lương thần vĩnh bất hồi !

     Có nghĩa :

                    
 

                    Nghe nói Cù Đường dạ xót xa,

                    Dương Đài non nước có đâu xa.

                    Người ngoài nào biết đâu lòng thiếp,

                    Cảnh đẹp thôi rồi chỉ thoáng qua !

 

        Thế là tàn một cuộc đời tài hoa, nhẹ dạ nên bị quyến rủ bởi lời ong tiếng ve của kẻ bạc tình ! Tội nghiệp thay cho thân phận của một ca nhi, suốt cả cuộc đời mang tiếng hát khóc thương cho số phận của những người thiếu phụ phòng không chiếc bóng mòn mõi đợi chồng về, cuối cùng, khóc cho người mà cũng khóc cho chính mình, khi kẻ bạc tình lang đã một đi không trở lại !...

Hẹn bài viết tới: NGUYÊN CHẨN kẻ bạc tình nổi tiếng

 

 杜紹德

Đỗ Chiêu Đức

Tứ Đại Nữ Thi Nhân Đời Đường (3) :  

 

                                                 LÝ  Dà 

                                                 Nữ trung Thi Hào : LÝ DÃ

          

      LÝ DÃ 李冶 (730-784), tự là Qúi Lan 季蘭 (Thái Bình Quảng Ký 太平廣記 ghi là TÚ LAN 秀蘭), người đất Ô Trình (thuộc Ngô Hưng tỉnh Chiết Giang hiện nay). Bà là nữ thi nhân nổi tiếng trên thi đàn đời Đường lúc bấy giờ. Bà từ nhỏ đã có tài thi thơ, lớn lên được cha đưa vào đạo quán xuất gia làm đạo cô, về già được triệu vào cung. Năm Công Nguyên 784, vì từng làm thơ ca ngợi loạn tướng Chu Thử, bị Đường Đức Tông hạ lệnh dùng gậy loạn đả đến chết. Bà lưu lại chỉ khoảng 15-16 bài thơ, nhưng đều là những tuyệt tác, được Lưu Trường Khanh 劉長卿 là thi sĩ nổi tiếng lúc bấy giờ gọi là Nữ Trung Thi Hào 女中詩豪.

 

     Theo "Đường Thi Kỷ Sự và Thái Bình Quảng Ký 唐詩纪事和太平廣記" ghi lại : LÝ DÃ dung mạo đẹp đẽ, thiên phú cực cao, từ rất nhỏ đã tỏ rõ thi tài. Năm 6 tuổi đã từng làm thơ vịnh hoa tường vi, trong đó có hai câu :

 

                經時未架却,    Kinh thời vị giá khước,

                心绪乱縱横。    Tâm tự loạn tung hoành.

  Có nghĩa :

                Đến kỳ chưa kịp làm giàn,

                Hoa đà nở rộ tràn lan khắp cùng.

 

               Hai câu thơ vịnh hoa tường vi nở sớm rất hay, lại bị ông cha hiểu lệch đi vì ba chữ VỊ GIÁ KHƯỚC 未架却 (Chưa kịp làm giàn) là hài thanh của ba chữ VỊ GIÁ KHƯỚC 未嫁却 (Chưa xuất giá), chưa lấy chồng mà tâm đã loạn bùng bung lên rồi. Nên mặc dù mừng vì tài thơ mẫn tiệp của con trẻ, nhưng lại lo buồn vì sợ con gái khi lớn lên sẽ không giữ được sự đoan trang trong phụ đạo. Vì cứ mãi ưu tư vô cớ như thế nên khi Lý Qúi Lan mới có 11 tuổi, thì ông cha đã đưa cô bé vào Ngọc Chân Quán để xuất gia làm đạo cô. 

 

      Mặc dù lớn lên với chiếc áo của nữ đạo sĩ, Lý Qúi Lan vẫn cởi mở phóng khoáng như một nam nhân, chẳng những giỏi về thơ văn, nàng còn tinh thông cả âm luật và giỏi về đàn cầm. Nàng giao du với những danh sĩ đương thời như Chu Phóng, Lục Vũ, Lưu Trường Khanh, Diêm Bá Quân và nhất là với nhà sư trẻ trung đẹp trai Thích Kiểu Nhiên... cùng nhau giao tình xướng họa gạt bỏ hết tỵ hiềm nam nữ thường tình của thế nhân, tất cả đều xem nàng như là một nữ trung hào kiệt.

 

     Trước tiên nàng gặp được danh sĩ Chu Phóng. Tài tử giai nhân nhất kiến chung tình, lúc đôi lứa đang mặn nồng thì Chu Phóng lại nhận chiếu chỉ đi làm quan xứ khác. Thương nhớ dâng tràn khiến hồn thơ cũng lai láng, Lý Qúi Lan đã viết nên những câu thơ nổi tiếng trong bài "Tương Tư Oán 相思怨" như sau :

 

                 人道海水深,    Nhân đạo hải thủy thâm,

                 不抵相思半。    Bất để tương tư bán.

                 海水尚有涯,    Hải thủy thượng hữu nhai,

                 相思渺無畔。    Tương tư miễu vô bạn.

 

     Có nghĩa :

                     Người đời bảo nước biển sâu,

                     Tương tư thương nhớ còn sâu bội phần.

                     Mênh mông biển rộng vô ngần,

                     Tương tư còn rộng mênh mông hơn nhiều !

 

       Nhưng từ xưa đến nay, đàn ông vốn dĩ bạc tình, Chu Phóng đã một đi không trở lại. Chính đang lúc Lý Qúi Lan đang đau khổ thất vọng ê chề, thì Lục Vũ xuất hiện như một cứu tinh cứu vớt trái tim đang tan vỡ của người đẹp. Vũ lại là ông thánh về bình phẩm trà đã đem lại nhiều điều mật ngọt cho nàng qua các lần thưởng thức trà bên câu thơ tiếng nhạc. Hai người luôn chung bóng chung đôi sớm tối có nhau, nhưng chàng Lục Vũ đẹp mã phong lưu quen thói kia, chỉ ấp yêu Qúy Lan chưa đầy hai tháng thì lại tìm đường quất ngựa truy phong, bỏ lại hồng phấn giai nhân trong mõi mòn trông đợi, đi tìm cũng không tìm gặp được như trong bài "Tầm Lục Vũ bất ngộ 尋陸羽不遇" (Tìm Lục Vũ không gặp) sau đây :

 

                叩門無犬吠,     Khấu môn vô khuyển phệ,

                欲去問西家.     Dục khứ vấn tây gia.

                報道山中去,     Báo đạo sơn trung khứ,

                歸来每日斜.     Quy lai mỗi nhựt tà !

  Có nghĩa :

                    Gỏ cửa không chó sủa người,

                   Láng giềng ướm hỏi người thời đi đâu ?

                   Đáp rằng vào tận núi sâu,

                   Chỉ về khi nắng xế đầu nghiêng tây !

 

      Lục Vũ cũng bỏ nàng mà đi rồi !...

 

      Nhưng lưới tình khó tránh, đạo cô trẻ đẹp tài hoa đã lại phải lòng một cao tăng cũng trẻ đẹp tài hoa như nàng, đó chính là Thích Kiểu Nhiên, cháu mười đời của danh sĩ Tạ Linh Vân, cũng là ông tổ khai sáng ra trà đạo Trung Hoa, rất giỏi về bình phẩm các loại trà, được người đời xưng tụng là Giang Đông Danh Tăng 江東名僧 (Nhà sư nổi tiếng của đất Giang Đông). Sau lần đầu hội ngộ thì Lý Qúi Lan như chạm phải tiếng sét ái tình và sau nhiều lần gợi ý không thành, nàng quyết định làm một bài thơ tỏ tình với nhà sư như sau :

 

               尺素如殘雪,    Xích tố như tàn tuyết,

               結為雙鯉魚。    Kết vi song lý ngư.

               欲知心裡事,    Dục tri tâm lý sự,

               看取腹中書。    Khán thủ phúc trung thư !

  Có nghĩa :

               

 

               Trang thư như tuyết trắng ngần,

               Kết đôi cá lý bâng khuâng gởi người.

               Nếu như muốn tỏ lòng ai,

               Xem trong bụng cá biết ngay lòng này !

 

      Xích Tố là Thư tín ngày xưa như tàn tuyết, chỉ chữ hiện lên trên giấy như tuyết trắng, và thiếp đã xếp nó lại thành hình 2 con lý ngư để gởi đến chàng ( theo tích lý ngư đưa thư) Nếu chàng muốn biết mối tình ở trong lòng thiếp thì hãy móc bụng ra mà xem thư sẽ rõ. Lời thơ vừa tỏ tình vừa khiêu khích vừa bộc bạch hết nỗi lòng qua các từ "Tâm Lý Sự" là chuyện trong lòng và "Phúc Trung Thư" là Thư ở trong bụng. Sư Kiểu Nhiên đọc thư đã hiểu tình ý của người bạn thơ ca muốn nói gì rồi, nhưng nếu từ chối thẳng thừng thì lại e làm tổn thương đến tấm chân tình của nữ sĩ. Nhà sư cũng bèn từ chối bằng một bài thơ kéo léo sau đây :

               

                天女來相試,    Thiên nữ lai tương thí,   

                將花欲染衣。    Tương hoa dục nhiễm y.

                禪心竟不起,    Thiền tâm cánh bất khởi,

                還捧舊花歸。    Hoàn phủng cựu hoa quy !

    Có nghĩa :

 

                Tiên trời đến thử ta chăng,

                Đem hoa đến nhuộm áo tăng bụi hồng.

                Lòng thiền gởi hết am không,

                Hoa xinh dâng lại tạ lòng người tiên !  

 

       Qủa là bậc cao tăng có khác ! Từ chối một cách hết sức khéo léo, không chạm tự ái và không làm bẻ mặt người đẹp. Nàng là tiên trên trời đến đây nói yêu ta, có phải là muốn thử đạo hạnh của ta chăng ? Chớ lòng thiền của ta thì đã gởi hết cho cửa không rồi, cho nên tình yêu như đóa hoa xinh của nàng ta xin được gởi lại cho nguyên chủ. Từ chối khéo léo tế nhị đến thế là cùng.

       

     Trải qua bao lần thất vọng thất ý trong tình trường, và cũng trải qua biết bao là nhân tình thế thái, Lý Qúi Lan đã chịu đựng và thể nghiệm được triết lý của cuộc sống qua bài thơ BÁT CHÍ 八至 sau đây :

 

                至近至遠東西,    Chí cận chí viễn đông tây,

                至深至淺清溪。    Chí thâm chí thiển thanh khê.

                至高至明日月,    Chí cao chí minh nhựt nguyệt,

                至親至疏夫妻。    Chí thân chí sơ phu thê !

   Có nghĩa :

                    Gần nhất xa nhất đông tây,

                    Cạn nhất sâu nhất nước đầy núi khe.

                    Sáng cao nhất nhựt nguyệt kia,

                    Vợ chồng thân nhất, chia lìa không quen !

 

                   Rõ thật mĩa mai ! Đông và Tây nói gần thì thật gần có thể sát bên nhau như tay phải tay trái vậy, nhưng nếu nói xa thì cũng thật rất là xa, một người ở bên đông, một người ở bên tây, "Quân tại Tương Giang đầu, Thiếp tại Tương Giang vĩ", Xa xôi cách trở biết bao. Như nước trong veo trong khe núi chảy ra, có thể nhìn thấy đá tận đáy khe, có thể rất sâu mà cũng có thể rất cạn. Trên đây là hai sự kiện "Có Thế".Còn hai sự việc "Hiển nhiên" là Mặt trăng mặt trời là cao nhất sáng nhất; còn Vợ Chồng là cặp đôi thân thiết nhau nhất, mà cũng xa lạ nhau nhất, như ông bà ta cũng đã nói "Người dưng khác họ đem lòng nhớ thương !". Hai người xa lạ làm vợ chồng với nhau thì thân nhau nhứt trên đời; đến lúc li dị bỏ nhau, thì lại ghét hờn nhau thành người xa lạ cũng... nhất trên đời !

                                             LÝ DÃ :  Lý Qúi Lan

 

      LÝ DÃ, Lý Qúi Lan là nàng thơ đẹp nhất giỏi nhất của đời Đường, nàng đã từng được Đường Huyền Tông Lý Long Cơ nghe tiếng triệu vào cung hơn một tháng khi đã qua tuổi bất hoặc (40 tuổi). Sau lại được Đường Đức Tông triệu vào cung khi đã quá tuổi năm mươi. Lúc Chu Thử làm loạn, Đường Đức Tông phải lưu vong, Lý Dã kẹt lại trong cung, bắt buộc phải xướng họa với Chu Thử. Khi Đường Đức Tông bình định được phản loạn trở lại kinh thành, biết được việc nàng có qua lại với Chu Thử, bèn nổi giận hạ lệnh cho loạn côn đánh chết nàng. Thế là một đời hồng nhan bạc bạc mệnh, tài sắc có thừa phải nát ngọc tan vàng một cách thê thãm trong cung cấm. Đáng thương thay !

 

      Xin được kết thúc bài viết về Nữ Trung Thi Hào LÝ DÃ ở đây. Hẹn bài viết tới : Nữ Trung Ca Linh LƯU THÁI XUÂN.

 

                                                                                             杜紹德

                                                                                        Đỗ Chiêu Đức

 

KHÔNG OÁN MÀ OÁN, OÁN MÀ KHÔNG OÁN!

                       

                    THIÊN TÂN KIỀU XUÂN VỌNG

                           天  津  橋  春  望

 UNG ĐÀO 雍陶(805—), tự là Quốc Quân, người đất Bì Đô, đậu Tiến Sĩ năm Đại Hòa. Ông từng giữ các chức vụ Thị Ngự Sử, Quốc Tử Mao Thi Bác Sĩ, Giản Châu Thứ Sử... Ông là bạn thơ của Trương Tịch, Vương Kiến, Giả Đảo ... thuộc phái Giang Hồ Quái Đản. Sống dưới đời Vãn Đường khi vận nước đã suy vi, xã hội ngày một xuống dốc, khi đi dạo đến bên cầu Thiên Tân, nhìn thấy cảnh hoang tàn đổ nát của cung điện ngày xưa, xúc cảnh sanh tình, nên ông đã rất cảm khái mà làm bài thơ Thất Ngôn Tứ Tuyệt bất hủ nầy.                       

 

      天津橋春望           THIÊN TÂN KIỀU XUÂN VỌNG

 

   津橋春水浸紅霞,    Tân kiều xuân thuỷ tẩm hồng hà,

   煙柳風絲拂岸斜。    Yên liễu phong ty phất ngạn tà.

   翠輦不來金殿閉,    Thuý liễn bất lai kim điện bế,

   宮鶯銜出上陽花。    Cung oanh hàm xuất Thượng Dương hoa.

                   雍陶                                               Ung Đào

CHÚ THÍCH :

     THIÊN TÂN KIỀU 天津橋 : Cây cầu bắt ngang dòng Lạc Thuỷ từ đời Tuỳ Dương Đế, ở phía nam của thành Lạc Dương, kinh đô trước đây của nhà Đường, thường được gọi là Đông Đô.

     TẨM : là Ngâm Nước, là Chìm trong nước.

     HỒNG HÀ : là Ráng màu đỏ. Ở đây chỉ Ráng Chiều.

     PHẤT 拂 : Có bộ Thủ là Tay bên trái. Có nghĩa là PHỦI, như Phất Trần là Phủi bụi, nghĩa phát sinh là Phe Phẩy, Đong Đưa.

     THUÝ LIỄN : là Xe của Vua đi lại trong cung do dê kéo.

     HÀM : là Ngậm, ở đây nghĩa là THA.

     THƯỢNG DƯƠNG CUNG 上陽宮 : Là một trong những hành cung lớn đời Đường, nằm ở tây nam thành Lạc Dương, do Đường Cao Tôn Lý Trị xây dựng vào năm Càn Phong thứ 2 ( 667 ) . Lúc bấy giờ Lạc Dương là Đông Đô, vua ngự và nghe việc triều chính ở đây. Năm 705, khi bị Đường Trung Tôn ép phải thoái vị, Võ Tắc Thiên cũng ở cung này cho đến chết. Đường Huyền Tôn cũng từng làm yến tiệc lớn ở trong cung nầy. Nhưng sau loạn An Lộc Sơn  ( 755-763 ), Thượng Dương Cung bị tàn phá nghiêm trọng, về sau dần dà hoang phế, đến đời Đường Đức Tôn thì bỏ phế hẵn. UNG ĐÀO sanh năm 805, nên khi đi dạo đến đây thì Thượng Dương Cung đã bị bỏ phế lâu rồi !

 

NGHĨA BÀI THƠ :

 

                             NGẮM VẺ XUÂN TRÊN CẦU THIÊN TÂN

        Khi ta lên cầu Thiên Tân để ngắm vẻ xuân thì thấy ráng chiều đỏ thắm như in ở dưới nước. Tơ liễu như mây như khói theo gió đung đưa bên bờ sông trong ánh nắng chiều. ( Thiên nhiên của mùa xuân thì vẫn đẹp như thuở nào ) Nhưng... xe của Vua đã không còn ngự đến nữa, và điện vàng thì đóng kín im ỉm, những con chim oanh cũng bỏ cung mà tha cả những cánh hoa của Thượng Dương Cung bay ra ngoài !

 

        Thật cảm khái ! Mùa xuân thì cảnh vật mỗi năm vẫn thế, nhưng thời thịnh trị phồn vinh của nhà Đường thì một đi không trở lại ! Đọc bài nầy, làm ta lại nhớ đến những bài trước :

 

                  Đình thọ bất tri nhân khứ tận,              庭樹不知人去盡,

                  Xuân lai hoàn phát cựu thời hoa !         春來還發舊時花。

                                  (Cây cỏ biết đâu người đi hết,

                                   Xuân về lại trổ những hoa xưa !)

   và ...

                  Cựu thời Vương Tạ đường tiền yến,       舊時王謝堂前燕,

                  Phi nhập tầm thường bách tính gia !      飛入尋常百姓家。

                                 (Trên rường Vương Tạ én ngày xưa,

                                  Đã bay hết cả vào nhà dân gian !).

 

        Chẳng những chim én, mà chim oanh cũng đã bỏ đi rồi, lại còn tha cả những đóa hoa của cung Thượng Dương ra ngoài nữa chớ !

 

        Một điều thật thú vị là ....

 

        Bài thơ nầy thường " bị " hiểu lầm là một bài thơ CUNG OÁN với cách giải thích như sau :

        Cảnh xuân đẹp bên cầu Thiên Tân với ráng chiều đỏ thắm, với liễu rũ như tơ ở hai bên bờ, làm cho nàng cung nữ chợt động tình xuân, nhưng xe vua không tới và điện vàng thì luôn khóa kín, khiến nàng càng tủi phận mình hơn khi thấy chim oanh tha một cánh hoa ra khỏi Thượng Dương Cung. Hoa còn được chim tha ra ngoài chớ thân phận cung nữ của mình biết ngày nào mới được giải thoát cho đây ?!

 

         Qủa là một sự hiểu lầm đầy thi vị !!!...

 

                    

 

  DIỄN NÔM :

                   NGẮM XUÂN BÊN CẦU THIÊN TÂN

 

                   Thiên Tân bóng nước ráng in hồng,

                   Tơ liễu mơ màng bên bến sông.

                   Chẳng thấy xe vua cung khóa kín,

                   Ngậm hoa oanh nọ vượt tường đông !

   Lục bát :

                   Nước xuân in bóng ráng chiều,

                   Bên cầu tơ liễu hiu hiu gió lùa !

                   Điện vàng khóa, vắng xe vua,

                   Thượng Dương hoa được oanh vừa tha ra !

                                                                          

                    

 

          Ta vừa đọc qua bài Thiên Tân Kiều Xuân Vọng của Ung Đào, một bài thơ hoài cổ cảm khái trước tang thương biến đổi, vật đổi sao vời mà làm nên, nhưng lại " bị " hiểu lầm là một bài thơ CUNG OÁN, còn bài thơ Thu Tịch của Đỗ Mục là một bài thơ CUNG OÁN thì lại rất ít người phát hiện ra cái OÁN của nó. Nên tôi mới đề tựa cho bài nầy là :  KHÔNG OÁN MÀ OÁN, OÁN MÀ KHÔNG OÁN !  Chuyện văn chương lắm lúc oái oăm, lắt léo mà lại thú vị vô cùng !

 

            Mời tất cả cùng đọc lại cả 2 bài thơ, so sánh nghiền ngẫm để cảm nhận cái hay ho sâu sắc mà lại rất nhẹ nhàng, thi vị của văn thơ !....

 

              

                秋夕                              THU TỊCH    

                       杜牧                                               Đỗ Mục

  銀燭秋光冷畫屏,   Ngân chúc thu quang lãnh họa bình

    輕羅小扇撲流螢。   Khinh la tiểu phiến phốc lưu huỳnh

    天街夜色涼如水,   Thiên giai dạ sắc lương như thủy

    臥看牽牛織女星。   Ngọa khán Khiên ngưu Chức nữ tinh .

 

 Chú thích :

           1. Ngân Chúc : Ngân là Bạc, ở đây là màu Bạc, màu trắng bạc. Chúc là đuốc. Hoa Chúc là Đuốc hoa, ở đây Chúc là cây Đèn Cầy, Cây Nến. Ngân chúc : là Cây Đèn sáp màu trắng bạc.

            2. Họa Bình : là Bức bình phong có vẽ tranh của các nhà quyền quý thời xưa.

            3. Khinh La : Khinh là nhẹ, La là Là, Lụa là, là Vải The. Khinh La : là loại vải the nhẹ để làm quạt. Trong bài " Khinh La Tiểu Phiến " : Là chiếc quạt con làm bằng lụa là của các tiểu thơ xưa thường cầm trên tay.

            4. Phốc : Là chụp bắt.

            5. Lưu Huỳnh : Lưu là Lưu động, là xẹt. Lưu Tinh : là Sao xẹt. Huỳnh : là con Đom đóm.

            6. Thiên Giai : Giai là con đường. Thiên Giai : không phải là đường ở trên trời, mà là đường trong kinh thành, trong cung vua.

            7. Lương Như Thủy : là Mát như nước.

 

 Dịch nghĩa :

                                        ĐÊM THU

             Ánh sáng lung linh từ ngọn bạch lạp tỏa ra hòa với hơi thu làm cho tấm bình phong đẹp rực rỡ cũng nhuốm hơi lạnh lẽo, nàng phe phẩy chiếc quạt the để chụp bắt những con đom đóm đang lặp lòe bay lượn trong đêm. Đêm đang xuống trong những con đường của Kinh thành, hơi thu mát lạnh như nước trong đêm thanh vắng lặng, nàng ngữa nhìn sao trời để tìm ngắm hai sao Chức Nữ và Ngưu Lang.

 

Diễn nôm : 

                         

 

                       Lung linh nến trắng bình phong lạnh,

                       Quạt lụa vờn theo đóm lượn thu.

                       Lấp lánh sao trời trong như nước,

                       Nằm xem sao Chức gặp sao Ngưu .

       Lục bát :

                       Bình phong thu lạnh se se,

                       Quạt là nến trắng lặp lòe đóm bay

                       Trời thu như nước mát thay,

                       Ngưu Lang Chức Nữ đêm nay tương phùng !

 

                      

                                                                                               

              Đêm thu với khí trời trong mát, với đom đóm bay lượn lặp lòe, rồi nằm mà ngắm sao Ngưu Lang Chức Nữ.... Rất bình dị và rất nên thơ  !  Có ai ngờ được đây lại là một bài thơ Cung Oán !... Này nhé

 

          ... Ngọn bạch lạp đặt trên giá bằng bạc, bình phong có tranh họa rực rỡ, rõ ràng là cuộc sống của nhà quyền quý đế vương, ta càng xác định hơn với từ Thiên Giai : là đường trong Kinh thành , trong Cung Vua, và ai mới rảnh rổi mà nằm ngắm sao trời ?. Chỉ có những nàng cung nữ nhàn nhã, tội nghiệp trong lãnh cung mới rảnh rổi như thế mà thôi, và... một điểm tâm lý rất quan trọng nữa là, chỉ có những nàng cung nữ với tình xuân phơi phới, với nhựa sống tràn trề, mà phải giam mình trong chốn lãnh cung cô thân chiếc bóng, mới hâm mộ và ước ao được như Ngưu Lang Chức Nữ, mặc dù mỗi năm chỉ hội ngộ có một lần. Một lần, có còn hơn không !. Một số cung nhân may mắn... suốt đời mới gặp được vua một lần ! Lắm cô suôt cả cuộc đời, hết cả thanh xuân, cũng chưa được nhà vua một lần triều kiến... So với Ngưu Lang Chức Nữ thì còn đắng cay chua xót hơn nhiều ! Nên chi, mới ngưỡng mộ và ước ao được như Ả Chức và Chàng Ngưu, chớ còn đối với cuộc sống bình thường, thì có ai lại hâm mộ chuyện tình của Ngưu Lang Chức Nữ bao giờ ? ! Duy chỉ có nàng cung nữ trong Cung Oán Ngâm Khúc của Ôn Như Hầu Nguyễn Gia Thiều mới ...

 

                  Mượn điều Thất Tịch mà thề bách niên  ....    mà thôi ! 

                                                                                             

            " Bách niên " mà chỉ gặp nhau vào đêm " Thất Tịch " hằng năm, thì có ai ao ước mà làm gì  !!!

 

          Phải tinh ý lắm, ta mới cảm nhận được cái " Oán " trong bài thơ nầy, vì nó quá nhẹ nhàng và bình dị. Phải chăng cái oán đeo đẳng miên man lâu dần nên đã hòa vào cuộc sống và được chấp nhận như một sự tự nhiên tội nghiệp ! Không như nàng cung nữ của Ôn Như Hầu :

 

                     ..... Bực mình muốn đạp tiêu phòng mà ra !... 

    Khi...   

                 Cái oán đã lên đến cực điểm và trở thành bạo động !      

                  Thư pháp của Đỗ Chiêu Đức 杜紹德 với Bài thơ THU TỊCH.

 

                  Hẹn bài viết tới !

                                                                                              杜紹德

                                                                                           Đỗ Chiêu Đức

Tứ Đại Nữ Thi Nhân Đời Đường (2):  

 

                                          NGƯ HUYỀN CƠ

 Ngoài TIẾT ĐÀO 薛濤 được vinh xưng là "Đệ Nhất Nữ Thi Nhân Đời Đường" ra, ta còn có "Nữ Trung Thi Thánh NGƯ HUYỀN CƠ 魚玄機", "Nữ Trung Thi Hào LÝ DÃ 李冶" và "Nữ Trung Ca Linh là Cô Đào Ca Múa Giỏi LƯU THÁI XUÂN 劉彩春. 

 

* Nữ Trung Thi Thánh NGƯ HUYỀN CƠ : 

 

       NGƯ HUYỀN CƠ 魚玄機 (844-871), vốn tên là Ngư Ấu Vi 魚幼薇, tự là Huệ Lan 蕙蘭, sau khi xuất gia làm đạo cô mới đổi tên là Huyền Cơ 玄機. Theo Bắc Mộng Tỏa Ngôn và Đường Tài Tử Truyện thì Ngư Huyền Cơ xuất thân bần hàn, nhưng tính tình lại thông minh dĩnh ngộ, được sự chỉ dạy của cha, nên tinh thông kinh sách, thích thi ca, năm tuổi đã biết đọc thơ, bảy tuổi đã biết làm thơ và dung mạo thì lại rất xinh đẹp.

 

                          

       Năm Ngư Huyền Cơ lên mười tuổi. Một hôm đại thi sĩ lúc bấy giờ là Ôn Đình Quân 温庭筠 nghe tiếng nàng thông minh và giỏi thơ bèn tìm đến để thử tài. Nhân trên đường thấy cảnh liễu xuân lã ngọn bên bờ sông, bèn lấy đề tài "Giang Biên Liễu (Liễu ven sông)"để làm đề. Huyền Cơ trầm tư giây lát, bèn cất bút viết thành bài thơ Ngũ Ngôn Luật Thi như sau :

 

                 翠色連荒岸,    Thúy sắc liên hoang ngạn,

                 烟姿入遠樓。    Yên tư nhập viễn lâu.

                 影鋪秋水面,    Ảnh phô thu thủy diện,

                 花落釣人頭。    Hoa lạc điếu nhân đầu.

                 根老藏魚窟,    Căn lão tàng ngư quật,

                 枝低繫客舟。    Chi đê hệ khách chu.

                 蕭蕭風雨夜,    Tiêu tiêu phong vũ dạ,

                 驚夢復添愁。    Kinh mộng phục thiêm sầu !

  Có nghĩ

 

                     Nối liền sắc biếc bờ hoang ,

                     Dáng như sương khói bàng hoàng lầu xa.

                     Bóng soi gợn sóng thu ba,

                     Trên đầu ngư phủ la đà hoa rơi.

                     Rễ sâu hang cá chơi vơi,

                     Cành mềm rũ xuống buộc lơi con thuyền.

                     Sạt sào mưa gió trong đêm,

                     Giật mình thức giấc gợi thêm mối sầu !

 

         Bài thơ qúa hay ! Tả về hàng LIỄU bên bờ SÔNG, nhưng không có sử dụng từ LIỄU từ SÔNG nào cả. Ta đọc bài thơ trên bằng văn xuôi như sau sẽ rõ :"Một màu xanh biếc liền nhau bên bờ hoang vắng như sương như khói chạy dài cho đến tận các lâu đài xa xa. Bóng thì soi đầy trên mặt nước thu trong xanh, còn hoa trắng thì bay lả tả trên đầu người ngồi câu cá. Rễ thì ăn sâu đến tận hang của cá ở, còn cành thì vươn dài ra rũ thấp xuống như muốn buộc chặc lấy thuyền khách. Những đêm mưa gió lại sao sát sạt sào làm cho ai đó giật mình thức giấc và càng gợi thêm nỗi sầu". Qúa tuyệt vời ! Đầy một bụng thơ văn như Ôn Đình Quân cũng phải chịu là "Con bé tài thơ quá giỏi !". Từ cảm mến và cảm phục nhau qua thi thơ, mối tình "Chú Cháu" nảy sinh theo thời gian...

 

       Năm Đại Trung thứ 12 (858) Ngư Huyền Cơ đã là một tiểu mỹ nhân 14 tuổi, xinh đẹp vô cùng. Một lần Ôn Đình Quân từ Hồ Bắc trở về Trường An, cũng nhằm lúc các tân khoa Tiến sĩ mở hội đề thơ để ăn mừng. Ôn đưa Cơ cùng đến dự, sau khi các tân Tiến sĩ đã đề thơ xong, Ngư Huyền Cơ cũng lưu lại một bài thơ cảm tác "Du Sùng Chơn Quán Nam Lâu Đổ Tân Cập Đệ Đề Danh Xứ 游崇真觀南樓睹新及第题名處" (Dạo Đạo quán Sùng Chơn, nhìn nơi các tân khoa đề tên) như sau :

 

              雲峰满目放春晴,     Vân phong mãn mục phóng xuân tình,

              歷歷银钩指下生。     Lịch lịch ngân câu chỉ hạ sinh.

              自恨羅衣掩詩句,     Tự hận la y yễm thi cú,

              舉頭空慕榜中名。     Cử đầu không mộ bảng trung danh.

  Có nghĩa :

                    Núi mây trước mắt nắng chan hòa,

                    Móc bạc rành rành bút nở hoa.

                    Chỉ hận quần thoa thơ mất lối,

                    Đành thôi hâm mộ chẳng kêu ca !

 

                  
                        Du Sùng Chơn Quán Nam Lâu Đổ Tân Cập Đệ Đề Danh Xứ

 

       Bài thơ tỏ rõ chí khí cao ngạo và bất phàm của Ngư Huyền Cơ, chỉ hận là phận quần thoa không thể tham gia thi cử, nên đành hâm mộ suông mà thôi; Nếu cũng được dự thi thì trên bảng vàng bảng bạc đó, chắc cũng có tên của ta mà thôi ! Bài thơ của Ngu Huyền Cơ đã đánh động lòng của Tiến sĩ Trạng Nguyên năm đó là Lý Ức 李億. Rồi nhờ vào sự mai mối và kết hợp của Ôn Đình Quân, Lý đã cưới Ngư Huyền Cơ về làm thứ thiếp, vì Lý đã có vợ lớn ở nhà. Đây là khoảng thời gian trăng mật hạnh phúc nhất trong đời của Ngư Huyền Cơ, Lý đã đưa nàng cùng đến trấn nhậm ở đất Tấn Thủy thuộc Sơn Tây. Nơi đây non xanh nước biếc, cảnh trí hữu tình, rất thích hợp cho tài tử giai nhân cùng ngâm nga xướng họa. Nhưng... 

               

       Hồng nhan bạc mệnh, người vợ cả của Lý Ức không thể chịu được cảnh tình chàng ý thiếp ân ân ái ái của Lý và Huyền Cơ, nên tìm hết cách để đày ải dày dò nàng đủ mọi điều, không có được ngày nào yên thân. Cuối cùng, Lý đành phải an bày cho nàng vào ở trong một đạo am là Hàm Nghi Quán 咸宜觀 gần đó. Lúc bấy giờ Ngư Huyền Cơ chỉ mới có 16 tuổi, nàng đã viết những câu thơ thương nhớ chồng rất thắm thiết như sau :

 

                     楓葉千枝復萬枝,    Phong diệp thiên chi phục vạn chi

                     江橋掩映暮帆遲。    Giang kiều yễm ánh mộ phàm trì.

                     憶君心似西江水,    Ức quân tâm tự Tây giang thủy,

                     日夜東流無歇時。    Nhựt dạ đông lưu vô yết thì !

    Có nghĩa :

                         

 

                      Ngàn vạn cành phong vạn nhánh non,

                      Bên sông cầu vắng cánh buồm con.

                      Nhớ chàng lòng thiếp như sông nước,

                      Chảy mãi về đông chẳng mõi mòn.

     hay như...

                      朝朝送别泣花鈿,    Triêu triêu tống biệt khấp hoa điền,

                      折盡春風楊柳烟。    Chiết tận xuân phong dương liễu yên.

                      愿得西山無樹木,    Nguyện đắc tây sơn vô thọ mộc,

                      免教人作泪懸懸。    Miễn giao nhân tác lệ huyền huyền.

    Có nghĩa :

                      Ngày ngày đưa tiễn biếng cài trâm,

                      Bẻ hết liễu dương xuân biệt tăm.

                      Ước được núi tây không cản lối,

                      Để người khỏi phải lệ đầm khăn !

 

       Tình cảm nhớ thương tha thiết là thế, ươt át khắc khoải da diết là thế, nhưng những cánh thư đi cứ mãi biệt tăm. Suốt ba năm không một lần được hồi âm. Hỏi ra thì mới biết Lý Ức đã cùng gia đình thuyên chuyển đến Dương Châu ngoài ngàn dặm xa xôi để làm quan mất rồi. Thất vọng và đau khổ dày dò khơi dậy lòng căm phẫn bất cần đời của người con gái tài hoa. Nàng quyết định buông thả sống cuộc sống phóng túng và thụ hưởng để... thỏa mãn cuộc đời. 

                             Nữ đạo sĩ Ngư Huyền Cơ

 

       Trước đạo quán của mình, nàng treo một tấm bảng với hàng chữ "Ngư Huyền Cơ thi văn hậu giáo 魚玄機詩文候教" Có nghĩa : "Ngư Huyền Cơ đang đợi chỉ giáo về thơ văn". Tấm bảng vừa treo lên, thì tất cả những văn nhân thi sĩ lũ lượt kéo đến chật cả đạo quán. Ban ngày thì họ cùng uống trà đàm đạo, xướng họa văn thơ với người đẹp; Ban đêm thì bày tiệc tùng cùng nâng chén ngâm nga, làm thi làm phú với giai nhân đạo cô quốc sắc đa tài. Ai may mắn lọt vào mắt xanh thì được Huyền Cơ giữ lại qua đêm để cùng vui vầy cá nước. Cuộc sống buông thả trác táng trụy lạc đó cứ kéo dài mãi, đôi khi sau lúc trà dư tửu hậu, tàn tiệc người tan, nàng cũng tự thấy cảm thương mình :

 

                  自叹多情是足愁,     Tự thán đa tình thị túc sầu,

                  况当风月满庭秋。     Huống đương phong nguyệt mãn đình thu.

                  洞房偏与更声近,     Động phòng biến dữ canh thanh cận,

                  夜夜灯前欲白头。     Dạ dạ đăng tiền dục bạch đầu.

  Có nghĩa :

                  Than kiếp đa tình khéo lắm sầu,

                  Huống chi trăng gió lạnh màu thu.

                  Động phòng canh đã tàn hương sắc.

                  Đối bóng đêm đêm khiến bạc đầu !

 

  Hay như hai câu... 

                             殷勤不得语,   Ân cần bất đắc ngữ,

                             红泪一双流。   Hồng lệ nhất song lưu.

  Có nghĩa :

                            Ân cần không nói nên lời,

                     Lệ rơi thành máu song đôi chảy dài ...

 

       Cho đến một hôm...

       

       Ngư Huyền Cơ gặp lại thần tượng thi ca của mình lúc mới lớn Ôn Đình Quân 温庭筠. Mối "tình chú cháu" lại bùng phát mãnh liệt nhờ vào văn thơ. Ngư Huyền Cơ thương ông chú nầy vì Ôn là nhà thơ nhà từ kiệt xuất của buổi tàn Đường. Luận về dung mạo thì Ôn Đình Quân xấu đến không có người đàn ông nào xấu hơn được. Ôn có ngoại hiệu là Ôn Chung Quì 溫鍾夔 (Chung Quì là ông thần bắt ma qủi, có dung mạo rất xấu xí dữ dằn); còn luận về tuổi tác thì Ôn lớn hơn cơ đến hơn 30 tuổi. Thế mà người đẹp vừa trẻ trung vừa giỏi văn thơ lại đi yêu ông già vừa xấu vừa già là bởi vì đâu ? Truy nguyên thì cũng bởi do thơ văn mà ra; Thế mới biết sức hấp dẫn và quyến rủ của thi ca mãnh liệt biết là bao nhiêu ! Ta hãy đọc bài thơ KÝ PHI KHANH 寄飛卿 (Phi Khanh là tên tự của Ôn Đình Quân) sau đây để thấy Ngư Huyền Cơ yêu thương và mến phục Ôn Đình Quân như thế nào :

  

                  

 

              階砌亂蛩鳴,     Giai thế loạn cùng minh,

              庭柯烟露清。     Đình kha yên lộ thanh.

              月中鄰樂響,     Nguyệt trung lân nhạc hưởng,

              樓上遠山明。     Lâu thượng viễn sơn minh.

              珍簟凉風著,     Trân điệm lương phong trứ,

              瑶琴寄恨生。     Dao cầm ký hận sanh.

              稽君懒書札,     Kê quân lãn thư trát,

              底物慰秋情。     Đễ vật ủy thu tình ?!

  Có nghĩa :                

                 Trước thêm rỉ rỉ dế than,

                 Trong sân cây lá sương bàng bạc rơi.

                 Trong trăng tiếng nhạc lưng trời,

                 Lầu cao tỏ rõ núi đồi xa xa.

                 Chiếu chăn lạnh gió thu qua,

                 Dao cầm gởi hận quyện hòa đêm thâu.

                 Chàng Kê biếng nhác gởi thư,

                 Lấy gì giải tỏa tình thu canh chầy ?!

      

        Rõ khéo nói nịnh với "ông chú" vừa già vừa xấu, lại ví ông ta với Kê Khang là người đứng đầu trong Trúc Lâm Thất Hiền đời Tấn rất đẹp trai và rất giỏi về đàn; người đã được cụ Nguyễn Du khen là :

 

                    KÊ KHANG nầy khúc Quảng Lăng,

                 Một rằng lưu thuỷ hai rằng hành vân.

 

                   

                       Nếu không yêu thương và kính phục Ôn Đình Quân hết mực, thì không thể so sánh một cách thiên lệch mĩa mai như thế. Hai người cùng đến với nhau trong thi ca, qua thi ca họ quên hết tuổi tác xấu đẹp cùng hòa lòng vào nhau để thăng hoa cuộc sống thơ văn. Ôn Đình Quân đã để lại những bài thơ bất hủ như Thương Sơn Tảo Hành 商山早行 với các câu :

 

                   晨起動征鐸,    Thần khởi động chinh đạc,

                   客行悲故鄉。    Khách hành bi cố hương.

                   雞聲茅店月,    Kê thanh mao điếm nguyệt,

                   人迹板橋霜。    Nhân tích bản kiều sương...

  Có nghĩa :

                   Sớm mai lạc ngựa vang vang,

                   Lên đường lữ khách lòng càng nhớ quê.

                   Trăng tàn gà gáy não nề,

                   Cầu sương điếm cỏ người về nơi đâu !...

 

       Hai câu sau của bài thơ đã được cụ Nguyễn Du mươn để tả lúc Thúy Kiều trốn khỏi Quâm Âm Các của Hoạn Thư với cảnh trí và tâm trạng :

 

                   Mịt mù dặm cát đồi cây,

             TIẾNG GÀ ĐIẾM NGUYỆT, DẤU GIÀY CẦU SƯƠNG.

                  Canh khuya thân gái dặm trường,

                Phần e đường xá, phần thương dãi dầu!

 

                 

 

       Còn Ngư Huyền Cơ thì để đời với 2 câu thơ gần như là cách ngôn trong bài thơ Tặng Lân Nữ 贈鄰女 (Tặng cô hàng xóm) là :

 

                   易求無價寶,   Dị cầu vô giá bảo,

                   難得有情郎。   Nan đắc hữu tình lang.

   Có nghĩa :

                     Dễ cầu vô gía ngàn vàng,

               Khó tìm được đấng tình lang chung tình !

 

       Cho thấy sự bạc tình của giới mày râu từ xưa đến nay vẫn thế ! "Vô giá bảo dễ cầu, Hữu tình lang khó được !". Ngư Huyền Cơ kết thúc cuộc đời mình khi chỉ mới có 27 tuổi, vì lở tay đánh chết một nữ tì thân cận tên Lục Kiều trong cơn ghen tức, lại bị quan Kinh Triệu là Ôn Chương, người đã từng một thời đeo đuổi theo Huyền Cơ mà không được nàng đáp lại, xử tử hình. 

 

                          

        Thế là kết thúc một cuộc đời tài hoa của một giai nhân bạc mệnh !

 

       Hẹn bài viết tới, Nữ Trung Thi Hào 女中詩豪: LÝ DÃ 李冶.

 

                                                                                  杜紹德

                                                                                Đỗ Chiêu Đức

Tứ Đại Nữ Thi Nhân Đời Đường:  

 

                                               TIẾT ĐÀO

                                               Đệ Nhất Nữ Tài Tử đời Đường

     

      Tiết Đào 薛濤 (768-832), tự là Hồng Độ 洪度, có bản ghi là Hoằng Độ 宏度, là nữ thi nhân, nhạc kỹ nổi tiếng đất Thành Đô (Tứ Xuyên). Cha là Tiết Vân 薛鄖, làm quan ở đất Thục. Tiết Đào cùng với thi nhân Vi Cao 韋皋 và Nguyên Chẩn 元稹 trải qua hai cuộc tình thắm thiết, và trong khoảng thời gian yêu đương nồng thắm nầy, Tiết Đào đã sáng chế ra một loại giấy hoa tiên màu hồng dùng để chép những bài thơ tình ướt át của  đôi lứa yêu nhau, gọi là Tiết Đào Tiên 薛濤箋 (Giấy hoa tiên có tên là Tiết Đào) nổi tiếng và truyền mãi cho 

đến hiện nay. Người đời sau xếp Tiết Đào 薛濤, Ngư Huyền Cơ 魚玄機, Lý Dã 李冶 và Lưu Thái Xuân 劉彩春 hợp xưng là "Tứ Đại Nữ Thi Nhân Đời Đường 唐代四大女詩人"; cùng với Trác Văn Quân 卓文君, Hoa Nhụy Phu Nhân 花蕊夫人 và Hoàng Nga 黄娥 hợp xưng là "Tứ Đại Nữ Tài Tử của Đất Thục 蜀中四大才女".

 

       

     Theo Danh Viện Thi Quy 名媛詩歸 ghi lại : Tiết Đào lúc tám chín tuổi đã biết làm thơ, rất thông minh và lại tinh thông âm luật. Một hôm, đang ngồi hóng mát với cha ở trung đình, ông cha bèn chỉ vào cây ngô đồng bên miêng giếng mà đọc rằng :

 

                    庭除一古桐,    Đình trừ nhất cổ đồng,

                    聳杆入雲中。    Tủng cán nhập vân trung..

Có nghĩa : 

                Trong sân cao ngất ngô đồng,

                Vương cao cành lá lẫn trong mây trời.

    

      Tiết Đào nghe xong, bèn đọc hai câu tiếp là :

 

                    枝迎南北鳥,   Chi nghinh nam bắc điểu,

                    葉送往来風.    Diệp tống vãn lai phong.

Có nghĩa :

                Lá thì theo gió lả lơi,

                Cành thì nam bắc rủ mời chim qua.

 

                Ông cha nghe xong rất ngạc nhiên cho tài thông minh nhanh nhạy của con gái, nhưng lại lắc đầu buồn bã vì ý thơ phóng túng buông thả, báo cho điềm xấu về cuộc đời của con gái sau nầy. Qủa nhiên, sau nầy cha mất sớm. Vì cuộc sống, nên mới 16 tuổi Tiết Đào đã trở thành danh kỹ nổi tiếng ở đất Trường An. Hai câu thơ của Tiết Đào hình thành thành ngữ "LÁ GIÓ CÀNH CHIM" trong tiếng Việt của ta. Khi tả cuộc sống của Thúy Kiều ở lầu xanh, cụ Nguyễn Du cũng đã viết :

 

                           ...Biết bao bướm lả ong lơi

                     Cuộc say đầy tháng trận cười suốt đêm

                             Dập dìu LÁ GIÓ CÀNH CHIM,

                    Sớm đưa Tống Ngọc, tối tìm Trường Khanh.

 

        Vào đời Đường lúc bấy giờ, tất cả các quan viên lớn bé đều xuất thân từ khoa cử, nên muốn lọt vào mắt xanh của các quan thì phải là các cô nàng chẳng những phải có nhan sắc mà còn phải có tài hoa nữa, và đây cũng chính là những ưu điểm vượt trội hơn người của Tiết Đào; những quan viên thi sĩ tài hoa như Bạch Cư Dị, Trương Tịch, Vương Kiến, Lưu Vũ Tích... đều tìm đến với nàng để xướng họa và nghe nàng đàn hát. Nàng đã sáng tác hơn 500 bài thơ với các văn nhân thi sĩ đó, nhưng phần nhiều đã thất tán, chỉ còn lưu lại cho hậu thế khoảng hơn 90 bài mà thôi.

 

                          

 

      Năm Trinh Nguyên thứ nhất (785), Trung Tư lệnh Vi Cao 韋皋 nhậm chức Kiếm Nam Tây Xuyên Tiết Độ Sứ. Trong tiệc rượu mừng có mời nhạc kỹ Tiết Đào đến giúp vui. Vi Cao muốn thử tài, mới ra một đề tài là  "đề Vu Sơn Miếu" nổi tiếng của nơi đó, và buộc Tiết Đào phải làm ngay một bài thơ trên tiệc rượu. Tiết Đào ung dung bày giấy mực và cất bút viết ngay một bài Thất ngôn Bát cú như sau :

 

      謁巫山廟                YẾT VU SƠN MIẾU

 

    亂猿啼處訪高唐,    Loạn viên đề xứ phỏng Cao Đường,

    路入烟霞草木香。    Lộ nhập yên hà thảo mộc hương.

    山色未能忘宋玉,    Sơn sắc vị năng vong Tống Ngọc,

    水聲猶是哭襄王。    Thủy thanh do thị khốc Tương Vương.

    朝朝夜夜陽台下,    Triêu triêu dạ dạ Dương Đài hạ,

    為雨為雲楚国亡。    Vi vũ vi vân Sở Quốc Vương (vong).

    惆悵廟前多少柳,    Trù trướng miếu tiền đa thiểu liễu,

    春来空鬥畫眉長。    Xuân lai không đấu họa mi trường.

 

Có nghĩa :

                

 

                 Cao Đường tiếng vượn bi thương,

                 Cỏ cây mây khói tỏa hương đón mời.

                 Núi nhìn Tống Ngọc nhớ người,

                 Suối tuôn róc rách bùi ngùi Tương Vương.

                 Dương Đài sớm tối yêu đương,

                 Mây mưa đánh đổ Sở Vương nước nhà.

                 Liễu bay trước gió la đà,

                 Đón xuân mày liễu dài ra mấy phần.

 

       Bài thơ nhắc đủ cả Cao Đường Phú của Tống Ngọc làm theo lệnh của Sở Tương Vương tả lại cảnh Cao Đường Thần nữ ở Dương Đài, sáng kéo mây chiều làm mưa đến khi nước Sở vong quốc. Bây giờ các hàng liễu trước miếu đến mùa xuân các lá liễu lại vươn dài ra như những chơn mày của người đẹp khoe đẹp khoe dài !

       Vi Cao đọc xong bài thơ, bèn dứng lên vổ bàn khen hay, nhìn nét chữ thanh tú rắn rỏi mường tượng như bút pháp Lan Đình của Vương Hi Chi, khiến Vi lại càng cảm mến, bèn chiêu nàng làm nữ tham quân trong phủ Tiết Độ Sứ. Tiết Đào đã tỏ ra rất đắc lực với những công việc được giao. Vi Cao lại dâng sớ về triều đình phong Tiết Đào làm Hiệu Thư Lang chuyên lo về việc công văn sổ sách. Mặc dù chỉ là một chức quan cửu phẩm nhỏ nhoi, nhưng đối với thời bấy giờ đã là một đăc ân rất lớn đối với nữ giới. Nên mọi người đều gọi nàng là "Nữ Hiệu Thư". Từ đó, Tiết Đào danh nổi như cồn, tất cả những người cần gặp hay cần nhờ cậy đút lót cho Tiết Độ Sứ đều nhờ đến Tiết Đào. Lâu dần, sự việc lỡ vỡ. Năm Trinh Nguyên thứ năm (789)Tiết Đào bị biếm đến Tòng Châu. Tòng Châu là vùng biên thùy phía tây nam của đất Thục. Nơi đây, dân cư thưa thớt, binh hoang mã loạn, đường núi vắng vẻ thê lương, khiến người đi đường luôn luôn phập phồng lo sợ. Tiết Đào rất hối hận ghi lại cảm giác sợ hãi của mình bằng những câu thơ sau đây :

 

               聞道邊城苦,    Văn đạo biên thành khổ,

               而今到始知。    Nhi kim đáo thỉ tri..

               羞将門下曲,    Tu tương môn hạ khúc,

               唱與隴頭兒。    Xướng dữ Lũng đầu nhi.

 

     Có nghĩa :

                    

 

                    Biên thùy nghe nói khổ thay,

                    Đem thân đày ải đến nay mới tường.

                    Thẹn đem khúc hát u buồn,

                    Hát cùng biên tái sầu thương những người !

 

       Lại viết nên THẬP LY THI 十離詩 (Mười Bài Thơ Ly Biệt) thật tội nghiệp đáng thương gởi ngược về cho Vi Cao. Cao đọc xong cảm động, tha tội và cho triệu nàng về phủ. Chính khoảng thời gian nầy Vi Cao mới thực sự chuôc nàng thoát ly khỏi thân phận Nhạc Kỹ 樂妓. Kể ra thì khoảng thời gian đem thân làm nhạc kỹ của Tiết Đào chỉ khoảng 4 năm, từ 15 đến 19 tuổi, nhưng cái tiếng Danh Kỹ (Kỹ nữ nổi tiếng) đã theo nàng suốt cả cuộc đời và mãi cho đến... hiện nay. Rõ là oan uổng ! Sau khi được giải thoát, Vi Cao cho nàng về ẩn cư ở Hoán Hoa Lý 浣花里, chỉ hầu tiếp khi cần thiết mà thôi.

 

      Tháng 3 năm Nguyên Hòa thứ tư (809). Thi nhân Nguyên Chẩn 元稹 khi đường công danh đang thênh thang rộng mở, đến đất Tây Xuyên với thân phận của một Giám Sát Ngự Sử, nghe phương danh của Tiết Đào đã lâu, nên hẹn gặp nàng ở Tân Châu để thỏa lòng ao ước. Sau buổi gặp mặt, Tiết Đào đã bị ngay tiếng sét ái tình giáng phải trước chàng thi sĩ tài hoa kiêm Giám Sát Ngự Sử trẻ trung đẹp trai chỉ mới có 31 tuổi nầy. Ngọn lửa ái tình bùng cháy mãnh liệt trong lòng nàng, mặc dù nàng lớn hơn chàng đến mười tuổi, nhưng khi chàng ngỏ ý, thì nàng bèn lao vào vòng tay chàng như con thiêu thân bất chấp tất cả. Sau đêm gặp gỡ, nàng đã viết nên một bài thơ "Trì Thượng Song Điểu 池上雙鳥" (Đôi chim trên ao) ướt át gợi tình như một cô gái đang xuân để bày tỏ tấm chân tình của mình :

 

                雙栖綠池上,      Song thê lục trì thượng,

                朝暮共飛還。      Triêu mộ cộng phi hoàn.

                更忙将趨日,      Cánh mang tương xu nhật,

                同心蓮葉間。      Đồng tâm liên diệp gian.

  Có nghĩa :

                    

 

                    Song đôi liền cánh trên ao,

                    Sáng chiều chắp cánh bay vào bay ra.

                    Vội vàng ngày thoáng trôi qua,

                    Giữa hồ sen biếc giải là đồng tâm. 

 

       Cả hai đều mê mẩn đắm chìm trong tình yêu cuồng nhiệt của tài tử giai nhân, cùng dạo chơi bên dòng Cẩm Giang trong xanh hữu tình, cùng nhau sáng chiều ngắm "Thục giang thủy bích Thục sơn thanh 蜀江水碧蜀山青", tình chàng ý thiếp cùng đắm đuối trong non xanh nước biếc. Đây là khoảng thời gian hạnh phúc nhất trong đời của Tiết Đào, nhưng hạnh phúc lại chẳng dài lâu, chỉ vỏn vẹn đến với nàng trong 3 tháng. Vì tháng 7 năm đó, chàng Giám Sát Ngự Sử Nguyên Chẩn lại được lệnh vua điều đến Lạc Dương.

       Tiết Đào vô cùng thất vọng, nàng như hụt hẫng khi hạnh phúc vuột khỏi tầm tay. Cũng may là sau đó ít lâu thì lại nhận ngay được thơ của Nguyên Chẩn tỏ tình lưu luyến nhớ thương. Cứ thế tình yêu của lứa đôi tuy xa cách phương trời, nhưng lại được trải lòng trên những câu thơ trăm nhớ ngàn thương của thư đi tin lại. Chính thời gian nầy Tiết Đào đã nghĩ ra việc sáng chế một mẫu giấy chỉ đủ để chép một bài thơ cho gọn đẹp, vì nàng chuyên về sáng tác thơ tuyệt cú. Tiết Đào thiết kế ra mẫu giấy hoa tiên được nhuộm hồng để chép thơ tình cho thiết tha lãng mạn, rồi đưa cho những hãng giấy ở địa phương sản xuất ra hàng loạt, rất được các tài tử giai nhân sính thơ lúc bấy giờ rất ái mộ, gọi loại giấy để chép thơ tình đó là TIẾT ĐÀO TIÊN 薛濤箋 và sáng chế nầy còn lưu truyền mãi cho đến hiện nay.

       Nhưng hồng nhan đa truân, cũng khó trách Nguyên Chẩn tuổi trẻ quan cao, lại đang lúc thanh vân đắc ý; còn Tiết Đào chẳng những lớn hơn chàng mười tuổi, lại còn là một nhạc kỹ xuất thấn giữa chốn phong trần. Nên dần dà, tin nhạn thưa dần rồi bặt hẵn, và người thì biền biệt phương trời, khó mong có ngày trở lại. Tiết Đào chỉ đành gởi gắm tình yêu của mình qua thơ nhạc mà thôi. Ta hãy cùng đọc bài thơ sau để cảm thông cho tình yêu tha thiết của nữ thi nhân đa tài nhưng bạc mệnh nầy :

 

       春望词                      XUÂN VỌNG TỪ

花开不同赏,花落不同悲。  Hoa khai bất đồng thưởng, Hoa lạc bất đồng bi.

欲问相思处,花开花落时。  Dục hướng tương tư xứ,    Hoa khai hoa lạc thì.

揽草结同心,将以遗知音。  Lãm thảo kết đồng tâm,    Tương dĩ di tri âm.

春愁正断绝,春鸟复哀吟。  Xuân sầu chánh đoạn tuyệt,Xuân điểu phục ai ngâm.

风花日将老,佳期犹渺渺。  Phong hoa nhựt tương lão, Giai kỳ do miễu miễu.

不结同心人,空结同心草。  Bất kết đồng tâm nhân,    Không kết đồng tâm thảo.

那堪花满枝,翻作两相思。  Na kham hoa mãn chi,      Phiên tác lưỡng tương ti.

玉箸垂朝镜,春风知不知。  Ngọc trữ thùy triêu kính, Xuân phong tri bất tri ?!

 

            

 

Có nghĩa :

                      BÀI TỪ NGÓNG XUÂN 

 

                 Không cùng chung ngắm hoa xuân,

                 Hoa rơi hoa tạ cũng không chung cùng.

                 Nhớ nhau những phút tương phùng,

                 Hoa tươi hoa héo không cùng bên nhau.

                 Đồng tâm cọng cỏ xưa trao,

                 Tri âm biết có khi nào nhớ mong ?

                 Sầu xuân mãn kiếp con tằm,

                 Chim xuân khản tiếng hót ngâm tình sầu.

                 Gió đưa hoa rụng về đâu,

                 Giai kỳ biết đến khi nào gặp đây ?

                 Đồng tâm người ở chân mây,

                 Đồng tâm cỏ kết còn đây rành rành.

                 Hoa xuân giờ lại đầy cành,

                 Lòng xuân đôi đứa lại đành đôi nơi.

                 Sáng soi gương luống lệ rơi,

                 Gió xuân ở tận phương trời biết chăng ?!

        

       Chờ đợi mõi mòn trong tuyệt vọng, cuối cùng vì niên kỷ ngày càng một cao, Tiết Đào đành cởi đi hồng quần mà mình rất thích mặc, để thay vào một bộ đồ của đạo cô màu xám. Mặc cho xe ngựa vẫn rộn ràng bên Hoán Hoa Khê nơi nàng ẩn cư, Tiết Đào vẫn cố giữ cho lòng thanh thản cam phận với số kiếp hẫm hiu của một nữ đạo cô. Nhưng cuối cùng nàng cũng rời khỏi Hoán Hoa Khê để dời về Bích Kê Phường, dựng lên một tòa Ngâm Thi Lâu (Lầu thơ để ngâm nga) để sống hết những ngày còn lại.

      Khi Tể Tướng Đoàn Văn Xương đãm nhiệm chức Tây Xuyên Tiết Độ Sứ, có lần khi du ngoạn một ngôi cổ miếu là Võ Đãm Tự 武担寺 ở địa phương, có nhã ý mời Tiết Đào cùng đi dạo. Lúc bấy giờ Tiết Đào đã ngoài 50 tuổi lại mang bệnh trầm kha nằm liệt giường, nên không thể cùng đi được, mới làm một bài thơ từ khước như sau :

 

          

 

         消瘦翻堪见令公,    Tiêu xú phiên kham kiến lệnh công,

         落花无那恨东风。    Lạc hoa vô nả hận đông phong.

         侬心犹道青春在,    Nồng tâm do đạo thanh xuân tại,

         羞看飞蓬石镜中。    Tu khán phi bồng thạch kính trung.

Có nghĩa :

                Ốm đau không thể gặp ông,

                Đành lòng hoa rụng gió đông khó cầm.

                Nhủ thầm nếu vẫn thanh xuân,

                Thẹn vì tóc đã rối bùng trong gương !

 

       Đọc xong bài thơ trên Đoàn văn Xương vô cùng thương cảm, thương cho số phận của một nữ sĩ đa tài đã đến tuổi về chiều lại vương nhiều tật bệnh. Cho nên, đến mùa hạ của năm Đại Hòa thứ sáu (832), khi Tiết Đào trút hơi thở cuối cùng yên lòng nhắm mắt, thì chính tay của Tể Tướng Đoàn Văn Xương đã đích thân viết mộ chí cho nàng :"Tây Xuyên Nữ Hiệu Thư Tiết Đào Hồng Độ Chi Mộ 西川女校书薛涛洪度之墓".

       

      Mười sáu tuổi đã phải luân lạc vào kỹ viện làm nhạc kỹ, nhưng nhờ tài hoa xuất chúng Tiết Đào đã tạo cho mình một chỗ đứng trong thi đàn đời Đường, sánh ngang hàng với các thi nhân nổi tiếng đương thời như Bạch Cư Dị, Lưu Vũ Tích, Trương Hỗ, Trương Tịch, Nguyên Chẩn... Người đời sau đã xếp Tiết Đào đứng đầu trong "Tứ Đại Nữ Thi Nhân đời Đường" là TIẾT ĐÀO, LÝ DÃ, NGƯ HUYỀN CƠ và LƯU THÁI XUÂN. Hiện mộ Tiết Đào được xây trong Vọng Giang Lâu của Thành Đô (thuộc tỉnh Tứ Xuyên ngày nay) trong rừng thúy trúc, bên mộ có trồng hoa đào để nhắc nhở đến màu hồng phấn trên giấy hoa tiên có tên là TIẾT ĐÀO TIÊN. Bên dòng sông Cẩm Giang của Hoán Hoa Lý có một cái giếng, tương truyền là Tiết Đào đã lấy nước trong giếng đó để tạo ra giấy Tiết Đào Tiên, nên cái giếng đó được đặt tên là TIẾT ĐÀO TỈNH 薛濤井 (Giếng Tiết Đào). Dân chúng lại lấy nước giếng đó để cất thành rượu, uống rất ngon, gọi là TIẾT ĐÀO TỬU 薛濤酒.

 

                     Nói chung, vì mến mộ tài hoa kiệt xuất của người nữ thi nhân đa tài đa truân và phận bạc, nên mới có GIẾNG TIẾT ĐÀO và RƯỢU TIẾT ĐÀO sau nầy. Chỉ có "Giấy Hoa Tiên Tiết Đào" là do chính Tiết Đào sáng tạo ra mà thôi. Hiện nay bên Vọng Giang Lâu còn có TIẾT ĐÀO KỶ NIỆM QUÁN 薛濤紀念館, trong đó có tượng của Tiết Đào tay cầm thi quyển, mặt nhìn về hướng Cẩm Giang.

 

                     Trên đây là các giai thoại và cuộc đời nữ thi nhân nổi tiếng nhất đời Đường : TIẾT ĐÀO 薛濤. Trong bài viết tới ta sẽ lần lượt điểm qua 3 nữ thi nhân nổi tiếng còn lại : NGƯ HUYỀN CƠ 魚玄機, LÝ Dà李冶 và LƯU THÁI XUÂN 劉彩春.

TIẾT ĐÀO 薛濤, NGƯ HUYỀN CƠ 魚玄機, LÝ Dà李冶 và LƯU THÁI XUÂN 劉彩春.

 

                                                                                           Đỗ Chiêu Đức

                                                                                          Biên dịch 2020

            THƠ DÂNG HIỀN MẪU

 

THƠ NGÀY TỪ MẪU

 

Nhớ hoài nét mặt mẹ hiền hiền,*

Thao thức canh trường kẻ khổ miên.*

Hôm sớm tảo tần buôn lại bán,

Sáng chiều tất tả xuống rồi lên.

Ra vào chiu chắt con thơ dại,

Xuất nhập lo toan gia đạo hên.

Giáo tử tướng phu đều quán xuyến,*

Mẹ là từ mẫu cỏi thần tiên!

 

TÌNH MẸ NẶNG OẰN KIẾP TÁI SINH

 

Tình mẹ nặng oằn kiếp tái sinh,

Luân hồi mãi vẫn nhớ ân tình.

Công cha vòi cọi như non Thái,

Nghĩa mẹ rạng ngời tựa chúng tinh.*

Chín tháng cưu mang nên dáng vóc,

Ba năm bú mớm tạo hài hình.

Kiếp nầy khó đáp công sinh dưỡng,

Tình mẹ nặng oằn kiếp tái sinh!

 

                                Đỗ Chiêu Đức

                                Lễ Mẹ 2020

 

* - Bài học thuộc lòng Lớp Đồng Ấu ngày xưa :

              Ai khó nhọc liên miên ?

              Ai hòa nhã vô biên ?

              Ấy chính người mẹ qúy,

              Với nét mặt hiền hiền !

  -  Khổ miên 苦眠 là Khó ngủ.

  - Tướng phu giáo tử 相夫教子 : Giúp đỡ chồng và nuôi dạy con cái.

  - Chúng tinh 眾星 hay Quần tinh 群星 đều chỉ Các vì sao trên trời.

Mạn đàm :

                             

                               THƠ ĐƯỜNG VẦN TRẮC

 

Thường nói đến gieo vần là người ta nghĩ ngay đến Vần Bằng. VẦN là những chữ những từ có  âm điệu, âm sắc và âm vận giống nhau như SA, GIA, HOA trong bài thơ Thất Ngôn Tứ Tuyệt "BẠC TẦN HOÀI 泊秦淮" của chàng thi sĩ lạc phách phong lưu đa tình của buổi Tàn Đường Đỗ Mục 杜牧 :

 

                      煙籠寒水月籠沙,   Yên lung hàn thuỷ nguyệt lung SA,

                      夜泊秦淮近酒家。   Dạ bạc Tần Hoài cận tửu GIA.

                      商女不知亡國恨,   Thương nữ bất tri vong quốc hận,

                      隔江猶唱後庭花。   Cách giang do xướng Hậu Đình HOA.

Có mghĩa :  

                        

 

                      Khói mờ nước lạnh cát trăng nhòa,

                      Đêm ghé Tần Hoài cạnh tửu gia.

                      Ca kỷ biết đâu hờn mất nước,

                      Cách sông còn hát Hậu Đình Hoa ! 

 

        Đó là cách gieo vần của các bài Ngũ Ngôn và Thất Ngôn Tứ Tuyệt mà cụ Nguyễn Du đã nói trong Truyện Kiều khi chị em Thúy Kiều đi du xuân Đạp Thanh nhân tiết Thanh Minh, trước mả Đạm Tiên cô Kiều đã :

                                     Rút trâm sẵn vắt mái đầu,

                               Vạch da cây vịnh BỐN CÂU BA VẦN.

 

        Không "Bốn câu ba vần" thì "Bốn câu hai vần" nghe vẫn êm tai như thường. Như bài "Ức Đông Sơn" của Thi Tiên Lý Bạch sau đây :

 

                           不向東山久,       Bất hướng Đông sơn cữu,

                           薔薇幾度花?       Tường vi kỷ độ HOA ?

                           白雲還自散,       Bạch vân hoàn tự tán,

                           明月落誰家?       Minh nguyệt lạc thùy GIA ?

Có nghĩa :

                          Đông Sơn lâu không đến,

                          Mấy độ tường vi PHAI?

                          Mây trắng còn tan biến,

                          Trăng vàng rụng nhà AI ?!

   Lục bát :

                          Đông Sơn lâu qúa không QUA,

                      Tường Vi mấy độ hoa ĐÀ phôi PHAI.

                          Ngẩn ngơ mây trắng còn BAY,

                     Trăng vàng rụng xuống nhà AI đêm này ?!

 

        Ta thấy, vần BẰNG êm tai là thế, du dương là thế, gợi cảm là thế !... Nhưng trong thi ca, thỉnh thoảng ta vẫn bắt gặp những bài thơ gieo vần TRẮC, đọc lên nghe "Trúc trắc" chói cái lổ tai, nhưng vẫn có cái âm  điệu độc đáo riêng của nó. Ta hãy nghe thử âm điệu bài thơ "Giang Tuyết 江雪" của Liễu Tông Nguyên 柳宗元sau đây sẽ rõ :

 

                       千山鳥飛絕,    Thiên sơn điểu phi TUYỆT,

                       萬徑人踪滅。    Vạn kính nhân tung DIỆT.

                       孤舟簑笠翁,    Cô chu toa lập ông,

                       獨釣寒江雪。    Độc điếu hàn giang TUYẾT !

Có nghĩa :

                        

 

                       Ngàn núi chim bay MIẾT,

                       Muôn lối bóng người TUYỆT.

                       Thuyên côi một lão ông,

                       Buông cần trên sông TUYẾT !

   Lục bát :

                       Chim bay về núi hết rồi,

               Đường mòn muôn lối bóng người bặt tăm.

                       Thuyền côi áo lá ngư ông,

                Buông cần một bóng trên sông tuyết mù !

 

      Ba âm TUYỆT, DIỆT, TUYẾT khô khan cộc lốc lạnh lẽo như trời đông giá tuyết ! nêu bậc được cảnh trí độc đáo lạnh lùng vắng vẻ của trời đông tuyết giá trên sông, làm ta lại nhớ đến...

 

                                        Ao thu lạnh lẽo nước trong veo, 

                                        Một chiếc thuyền câu bé tẻo teo...

 

 của cụ Nguyễn Khuyến. Ai bảo thơ vần TRẮC không nên thơ, không gợi cảm đâu ? Thơ VẦN TRẮC hay theo kiểu VẦN TRẮC ! Nhưng, lại nhưng, luật thơ Đường, Luật chính quy lại không chấp nhận thơ Vần Trắc là thơ CHÍNH LUẬT, mà lại liệt vào hàng thơ Cổ Phong CỔ THỂ. Theo như tài liệu tham khảo trên mạng thì...

 

      Cơ bản mà nói, cho đến trước mắt vẫn chưa có tài liệu văn bản nào quy định là "Thơ Đường luật không thể gieo vần TRẮC". Nhưng căn cứ vào tất cả tư liệu về Đường Thi trước mắt, thì rất hiếm có một bài thơ Đường Luật nào của đời Đường mang vần TRẮC cả, thường thì những câu thơ "Đúng Luật Bằng Trắc" xa cạ xen lẫn những câu "Thất Luật" trong cùng một bài thơ, nên có người xếp NÓ vào thơ Đường Luật, có người xếp NÓ vào thơ "Cổ Phong".

      Sự phân biệt giữa thơ Đường Luật và thơ Cổ Phong không phải căn cứ ở chỗ gieo VẦN TRẮC hay VẦN BẰNG, cũng không phải xem SỐ CHỮ trong câu thơ, mà là căn cứ vào LUẬT BẰNG TRẮC TRONG TỪNG CÂU THƠ có đúng với "Cách Luật" hay không, nếu đúng thì là THƠ LUẬT, còn nếu không đúng thì là thơ CỔ PHONG.

 

      Căn cứ theo tài liệu nghiên cứu của Vương Lực 王力, một học giả cận đại chuyên nghiên cứu về Luật Thi đời Đường thì :"Thơ Đường luật đời Đường, mặc dù có những tác phẩm gieo vần trắc, nhưng rất ít. Một ít tác phẩm thơ Ngũ ngôn tứ tuyệt và Ngũ ngôn luật thi, còn Thất ngôn tuyệt cú và Thất ngôn luật thì lại càng hiếm thấy. Đại bộ phận Ngũ ngôn tuyệt cú đều được xếp vào "Ngũ Ngôn Cổ Phong", nên thơ gieo "Vần Trắc" đều được liệt vào nhóm "Cổ Thể Thi". Theo học giả Vương Lực thì :

 

      "Thơ Chính luật Đường Luật lấy VẦN BẰNG làm chính, còn VẦN TRẮC thì giống như thơ Cổ Phong. Ta phân biệt chúng bằng cách căn cứ vào LUẬT BẰNG TRẮC trong một câu thơ làm tiêu chuẩn". Theo như mẫu BẰNG TRẮC dưới đây :

 

   * NGŨ NGÔN :               

                 1.仄仄平平仄      T T B B T

                 2.仄仄仄平平      T T T B B

                 3.平平平仄仄      B B B T T

                 4.平平仄仄平      B B T T B

   * THẤT NGÔN :

                 1. 平平仄仄平平仄    B B T T B B T

                 2. 平平仄仄仄平平    B B T T T B B

                 3. 仄仄平平平仄仄    T T B B B T T

                 4. 仄仄平平仄仄平    T T B B T T B

 

     Cụ thể như bài "Tầm Ẩn Giả Bất Ngộ" (Tìm người ở ẩn không gặp) của nhà Thơ Giả Đảo 賈島的尋隐者不遇 đời Đường như sau : 

 

               松下问童子,Tùng hạ vấn đồng TỬ,    平仄仄平仄   BTTBT    sai luật câu

               言师采药去。Ngôn sư thái dược KHỨ. 平平仄仄仄   BBTTT    sai luật câu

               只在此山中,Chỉ tại thử sơn trung,    仄仄仄平平   TTTBB    đúng luật câu

               云深不知处。Vân thâm bất tri XỨ.      平平仄平仄   BBTBT    sai luật câu

Có nghĩa :

                  
 

                    Dưới tùng hỏi đồng TỬ,

                    Sư hái thuốc đâu HỬ ?

                    Chỉ ở trong núi nầy,

                    Mây mù sao thấy CHỨ ?!

   Lục bát :

                    Dưới rặng thông, hỏi tiểu đồng,

               Rằng sư hái thuốc lòng vòng đâu đây.

                    Quẩn quanh trong ngọn núi nầy,

               Mây mù khuất lắp bóng thầy thấy đâu !

 

     Nếu kể theo Luật Thi thì bài thơ trên vừa "Thất Niêm" vừa "Thất Luật", nên phải được liệt vào nhóm các bài thơ "Cổ Phong". Sau đây là bài VỌNG NHẠC (Ngắm núi) của Thi Thánh Đỗ Phủ 又如杜甫的《望岳》:

 

 岱宗夫如何? Đại tông phù như hà ?        仄平平平平    TBBBB      sai luật câu         齐鲁青未了。 Tề Lỗ thanh vị liễu.            平仄平仄仄    BTBTT       sai luật câu

  造化钟神秀, Tạo hóa chung thần tú,      仄仄平平仄    TTBBT       đúng luật câu

  阴阳割昏晓。 Âm dương các hôn hiểu.     平平仄平仄    BBTBT      sai luật câu

  荡胸生层云, Đảng hung sanh tằng vân,  仄平平平平    TBBBB      sai luật câu

  决眦入归鸟。 Quyết tí nhập quy điểu.      仄仄仄平仄    TTTBT       sai luật câu

  会当凌绝顶, Hội đương lăng tuyệt đĩnh, 仄平平仄仄     TBBTT      sai luật câu

  一览众山小。 Nhất lãm chúng sơn tiểu.   仄仄仄平仄     TTTBT      sai luật câu

Có nghĩa :

                     

 

                       Thái Sơn đẹp ra sao ?

                       Tề Lỗ xanh khôn nói.

                       Tạo hóa kết xinh tươi,

                       Âm dương chia sáng tối.

                       Lòng tợ mây trắng trôi,

                       Chim như bay lạc lối.

                       Quyết lên tận đĩnh cao,

                       Dưới thấp muôn ngàn núi !

    Lục bát :

                       Thái Sơn đẹp biết dường bao !

                    Xanh tươi Tề Lỗ ngạt ngào cỏ hoa.

                       Khéo thay con tạo nguy nga,

                    Âm dương sáng tối nam qua bắc về.

                       Chập chùng mây trắng tư bề,

                   Chim bay mõi cánh đi về phương nao.

                       Cố lên tận đĩnh non cao,

                  Cúi trông ngàn núi khác nào dưới chân     

 

        Ông Thánh làm thơ, mặc dù đối rất chỉnh, nhưng nếu kể là Luật Thi thì vẫn "Thất Niên Thất Luật" như thường, nên bài thơ trên phải được kể là thơ "Cổ Phong" chứ không phải "Ngũ Ngôn Luật Thi".

 

      Lại như bài kệ VÔ MÔN QUAN của Tuệ Khai Thiền Sư đời Tống 宋.慧開禪師《無門關》như sau :

 

          春有百花秋有月, Xuân hữu bách hoa thu hữu nguyệt,    BTTBBTT   Sai luật

          夏有涼風冬有雪; Hạ hữu lương phong đông hữu tuyết.   TTBBBTT   Đúng luật

          若無閒事掛心頭, Nhược vô nhàn sự quải tâm đầu,         TBBTTBB   Sai luật

          便是人間好時節。 Tiện thị nhân gian hảo thời tiết.           TTBBTBT   Sai luật

Có nghĩa :

                        Xuân có trăm hoa thu có nguyệt,

                        Hạ thì gió mát đông thì tuyết.

                        Nếu không vướng mắc truyện trong lòng,

                        Nhân gian bốn mùa nào cũng tuyệt !

  Lục bát :

                        Xuân hoa thu nguyệt lẽ thường,

                    Hạ thì gió mát đông thường tuyết rơi.

                        Nếu lòng thanh thản thảnh thơi,

                      Bốn mùa thời tiết tuyệt vời kể chi !

 

      Ba câu trên còn giữ được "Nhị tứ lục phân minh", câu bốn thì bỏ luôn " Nhị tứ lục" và bài kệ cũng Thất cả Niêm. nên chỉ kể là Cổ Phong chứ không kể là "Thất Ngôn Tứ Tuyệt". 

 

      Lại như bài Thất ngôn bát cú "Ý TỰ" của Hàn Ốc 韩偓的《意绪》đời Đường :

 

    绝代佳人何寂寞,Tuyệt đại giai nhân hà tịch mạc,         仄仄平平平仄仄     Đ.luật

    梨花未发梅花落。Lê hoa vị phát mai hoa lạc.                平平仄仄平平仄     S.luật

   东风吹雨入西园,Đông phong xuy vũ nhập tây viên,     平平平仄仄平平     S.luật

   银线千条度虚阁。Ngân tuyến thiên điều độ hư các.       平仄平平仄平仄     S.luật

    脸粉难匀蜀酒浓,Kiểm phấn nan quân Thục tửu nùng,  仄仄平平仄仄平     Đ.luật

    口脂易印吴绫薄。Khẩu chi dị ấn Ngô lăng bạc.              仄平仄仄平平仄     S.luật

    娇娆意态不胜羞,Kiều nhiêu ý thái bất thắng tu,           平平仄仄仄平平     Đ.luật

    愿倚郎肩永相着。Nguyện ỷ lang kiên vĩnh tương trác.    仄仄平平仄平仄     S.luật

Có nghĩa :

                       

 

                      Người đẹp tuyệt trần sao vắng lặng,

                      Hoa lê chưa quét hoa mai rụng.

                      Gió đông mưa thổi góc vườn tây,

                      Kim chỉ thêm buồn lầu gác vắng.

                      Hương phấn khôn che rượu Thục nồng,

                      Son môi dễ để lụa Ngô ấn.

                      Yêu kiều diễm lệ thẹn thùng nên...

                      Tựa lấy vai chàng qua kiếp sống !

 Lục bát :

                      Tuyệt trần người đẹp buồn sao,

                    Hoa lê chưa quét đã sầu hoa mai.

                      Gió đông mưa ướt vườn tây,

                 Ngàn kim mũi chỉ riêng đây lạnh lùng.

                      Phấn son rượu Thục vẫn nồng,

                   Son môi để dấu ấn hồng lụa Ngô.

                      Yêu kiều diễm lệ dường thơ...

                 Vai chàng tựa đến bạc phơ mái đầu !

 

     Bài thơ có Vần Trắc trên đây, Niêm rất chỉnh, Đối rất chỉnh, Luật thì có câu Sai câu Đúng, nhưng vẫn không kể là Luật Thi được. 

 

     Bài thơ Thất Ngôn Tứ Tuyệt độc nhất vô nhị trong Đường Thi (theo tài liệu nói, chớ không phải tôi nói). Thường thì Ngũ Ngôn Tứ Tuyệt gieo vần Trắc thì nhiều, chớ Thất Ngôn thì duy nhất chỉ có bài nầy mà thôi. Đó là bài "Lạc Kiều Vãn Vọng 洛橋晚望" của Mạnh Giao 孟郊 đời Đường :

 天津橋下冰初結,        Thiên Tân kiều hạ băng sơ kết,              BBBTBBT       Sai luật

  洛陽陌上人行絕。        Lạc Dương lộ thượng nhân hành tuyệt.    TBTTBBT    Sai luật

  榆柳蕭疏樓閣閒,        Du liễu tiêu sơ lâu các nhàn,                 BTBBBTB       Sai luật

  月明直見嵩山雪。        Nguyệt minh trực kiến Tung Sơn tuyết.    TBTTBBT    Sai luật

 

        Bốn câu trên, nghiêm chỉnh mà nói thì đều phạm LUẬT BẰNG TRẮC, nhưng đều giữ được "Nhị Tứ Lục phân minh" của một bài Tuyệt Cú, đáng là một bài thơ hay.

 

* Nghĩa Bài Thơ :

                        - Dưới dốc cầu Thiên Tân vừa mới kết băng, thì...

                        - Trên đường phố Lạc Dương đã tuyệt bóng người đi rồi.

                        - Các nhánh liễu lơ thơ tiêu điều đứng nhàn hạ trước lầu,

                        - Vầng trăng sáng cho ta nhìn thấy rõ ràng tuyết phủ trên ngọn núi Tung Sơn.

 

* Diễn Nôm :

                 

                          Dưới dốc Thiên Tân băng mới kết,

                          Lạc Dương đường phố người đi hết.

                          Xác xơ tơ liễu rủ bên lầu,

                          Trăng chiếu Tung Sơn đầy núi tuyết !

   Lục bát :

                          Thiên Tân cầu mới đóng băng,

                   Lạc Dương đường phố đã không một người.

                            Trước lầu tơ liễu tơi bời,

                     Trăng soi tỏ rõ tuyết ngời Tung Sơn.

 

     Từ các ví dụ trên đưa ta đến kết luận là :

 

     Thơ TRẮC VẬN (Vần Trắc) thuộc phạm trù của thơ CỔ PHONG, nên "Không thể kể là thơ Đường Luật "  Chính Luật được. Nhưng thơ Vần Trắc cũng có nét độc đáo riêng, NÓ có thể nới lỏng hơn về Cách Luật trong từng câu, Niêm Luật và yêu cầu về Đối Xứng cũng dễ dàng hơn, dễ diễn tình diễn ý hơn mà âm điệu cũng hấp dẫn và lạ tai hơn, không đơn điệu gò bó như Luật Thi, nên thỉnh thoảng ta cũng hay bắt gặp một vài bài thơ độc đáo của các tác giả nổi danh tìm đến với không gian mới thông thoáng hơn nầy, như bài Sanh Tra Tử - NGUYÊN TỊCH (đêm Nguyên Tiêu) của Âu Dương Tu đời Tống 欧阳修的《生查子·元夕》sau đây :

 

            去年元夜时,   Khứ niên nguyên dạ thì,

            花市灯如昼。   Hoa thị đăng như trú.

            月上柳梢头,   Nguyệt thượng liễu sao đầu,

            人约黄昏后。   Nhân ước hoàng hôn hậu.

            今年元夜时,   Kim niên nguyên dạ thì,

            月与灯依旧。   Nguyệt dữ đăng y cựu,

            不见去年人,   Bất kiến khứ niên nhân,

            泪湿春衫袖。   Lệ thấp xuân sam tụ.

 

       Hai câu thơ nổi tiếng là bất hủ đi vào văn học dân gian, hòa vào cuộc sống và đầu môi chót lưỡi của mọi người là : 

 

            月上柳梢头     Nguyệt thượng liễu sao đầu, 

            人约黄昏后     Nhân ước hoàng hôn hậu. 

Có nghĩa :

                       

 

                     Trăng lên ngọn liễu rạng ngời,

              Người cùng ước hẹn sau trời hoàng hôn.

 

        Nhưng....

                     Trước mắt, các bạn thơ, các người thơ trong Vườn Thơ Thẩn hay các thi nhân, thi sĩ làm thơ Đường Luật gieo vần Trắc, nhưng vẫn giữ đúng NIÊM, LUẬT, VẬN một cách nghiêm chỉnh. Theo tôi thì đó cũng là một diễn biến theo thời đại của Luật Thơ, nên ta vẫn có thể gọi đó là  TRẮC VẬN LUẬT THI 仄韻律詩 là : "Thơ Đường Luật được gieo vần Trắc" cho hợp với trào lưu tiến hóa, chớ nếu gọi bằng thơ CỔ PHONG hay CỔ THỂ thì nghe có vẽ CỨNG NGẮT không linh động thông thoáng chút nào cả ! Những từ chuyên môn như "Cổ Phong, Cổ Thể" chỉ để nghiên cứu và chỉ nên gọi ở trên lớp khi đang giảng cho các học viên mà thôi !

 

         Sau đây là hai bài thơ xướng họa của Vườn Thơ Thẩn được gieo VẦN TRẮC và Niêm Luật đều rất chỉnh đúng với Luật Thơ Đường Luật chính thể :

 

     Chúc Mừng Sinh Nhật 

       Nguyễn Đắc Thắng

           

Sinh Nhật hôm nay mừng sáu sáu

Dù đang yếu bước chân kỳ lão

Cảm hoài tâm sự nặng lòng thơ

Cố gắng gìn thân an bộ não 

Bằng hữu nơi nơi gởi chúc mừng

Thâm tình đặc biệt mời đi dạo

Ngẫm mình thấy bạn thoáng nao nao

Mong mỏi yên bình sau gió bão.

                              Cao Linh Tử . 

                               Cao Lãnh, 4/4/2018

 

       

  Nguyễn Đắc Thắng 66

          

Họa Vận :

 

    MỪNG SINH NHẬT 66

 

Mừng đệ năm nay đạt sáu sáu,

Vượt vòng Hoa Giáp năm năm lão.

Lạc quan dưỡng bệnh chớ âu sầu,

Vui sống yêu đời đừng áo não !

Tình bạn chan hòa khắp mọi nơi,

Vườn thơ bát ngát chung cùng dạo.

Bền lòng vững chí chớ oán vưu,

Trời sẽ xanh hơn sau lốc bão !

                        Đỗ Chiêu Đức

                            Mậu Tuất 2018

 

Sau đây là các bài thơ xướng họa của Vườn Thơ Thẩn nhân MÙNG 1 TẾT Âm Lịch, Canh Tý 2020.

 

    KHAI BÚT CANH TÝ

       (Thơ Vận Trắc)

 

Đôi vần khai bút xuân Canh Tý

Ước viết sao tròn câu ý nhị

Cầu sẽ trăm ngày vẹn thỏa tâm

Mong rằng vạn sự xuôi như ý

Mừng mừng bá tánh ngập tài danh 

Chúc chúc muôn nhà tràn phước hỉ

Quốc thái dân an, cảnh thịnh cường

Người người no thỏa tiền căng …ví.

                        CAO BỒI GIÀ

                               25-01-2020

 

HỌA VẬN :

 

     HỌP MẶT ĐẦU NĂM

 

Họp mặt bạn bè vui Tết Tý

Bên cành mai thắm vừa bung nhị

Hàn huyên câu chuyện mãi thân tình

Chúc tụng cuộc đời luôn toại ý

Chén rượu tương phùng say ngất ngây

Vần thơ xướng họa tràn hoan hỉ

Tuổi già thanh thản sống an vui

Lọ phải sang giàu tiền chật ví.

                        Sông Thu

             (Mùng Một Tết Canh Tý 2020)

 

   

 

    CHÚC MỪNG NĂM TÝ

 

Năm chuột địa chi gọi chú Tý,

Tết về trăm thứ hoa đương nhị.

Muôn điều may mắn thảy toại lòng,

Vạn sự hanh thông đều xứng ý.

Già trẻ tương thông cộng lạc an,

Gái trai hòa hợp cùng hoan hỉ.

Xóm làng khởi sắc hết lo toan,

Rủng rỉnh bàng dân tiền chật ví !

                                Đỗ Chiêu Đức

 

      Xin được kết thúc bài viết về THƠ ĐƯỜNG VẦN TRẮC ở nơi đây. Hẹn bài viết tới!

 

                                                                               杜紹德

                                                                               Đỗ Chiêu Đức

Phiếm về

                           THIÊN là TRỜI

 Thiên 天 là Trời, Thiên 千 là Một Ngàn, Thiên 偏 là Thiên Lệch, Thiên 遷 là Di Dời ... Ở đây, ta chỉ nói đến chữ Thiên 天 là Trời, là phần không gian ở trên đầu của ta mà thôi. Theo "Chữ Nho ...Dễ Học", ta có chữ Nhân là người được viết như thế nầy 人. Đây là chữ Tượng Hình đơn giản nhất, cơ bản nhất và cũng ... Tượng hình nhất : Hình người đứng xoạt 2 chân hiên ngang giữa trời đất đúng như sách Tam Tự Kinh ngày xưa dạy : Tam tài giả, THIÊN ĐỊA NHÂN 三才者,天地人。( TAM TÀI là TRỜI, ĐẤT và NGƯỜI ). Con Người là một thành viên của vũ trụ, hợp với Trời và Đất tạo nên cái thế giới nầy !

Nên ...
          Khi cần diễn tả sự to lớn thì chữ nhân 人 dang thêm hai tay ra theo lối CHỈ SỰ 指事  ( Mượn việc dang hai ta ra để chỉ sự to lớn gọi là Chỉ Sự  ) thành chữ ĐẠI 大 , theo diễn tiến của chữ viết sau đây :

 

                   Giáp Cốt Văn          Đại Triện          Tiểu Triện              Lệ Thư

Nên...
          ĐẠI là To, là Lớn, cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng phát sinh : là Vĩ Đại, là Trưởng thành ... Nhưng ...


          Con người dù cho có cao lớn đến đâu cũng không thể cao lớn bằng Trời được, cho nên thêm một nét ngang tượng trưng cho bầu trời lên phía trên chữ Đại 大, thì ta có chữ THIÊN 天 là TRỜI, được hình thành theo lối HỘI Ý 會意 , theo diễn tiến của chữ viết như sau đây :

 

                Giáp Cốt Văn            Đại Triện                Tiểu Triện               Chữ Lệ 

 Theo như Giáp cốt văn và Đại Triện ở trên, ta thấy rõ ràng hình người có cái đầu to tượng trưng cho Đầu Đội Trời, Chân Đạp Đất, gọi là " Đỉnh thiên lập địa 頂天立地 " như Từ Hải trong Truyện Kiều vậy :


                    ĐỘI TRỜI đạp đất ở đời,
              Họ Từ tên Hải vốn người Việt Đông.
 Nên ...
          Chữ Thiên 天 chỉ phần cao nhất của cơ thể con người, vượt lên trên đĩnh đầu cao vòi vọi, đó là Trời.

 

          Về mặt thể chất, thì con người không thể cao bằng Trời, lớn bằngTrời được, nhưng về chí khí thì cũng có những người có chí lớn muốn CHỌC TRỜI Quấy Nước làm nên những chuyện Kinh Thiên Động Địa. Cho nên, chữ Thiên 天 mà nhô đầu lên theo chiều dọc để CHỌC thủng Trời thì sẽ thành chữ PHU 夫 là người đàn ông cao lớn mạnh khỏe hiên ngang đứng giữa trời đất, theo diễn tiến của chữ viết như sau :

 

                  Giáp Cốt Văn          Đại Triện                Tiểu Triện              Lệ Thư

Nên ...             

         PHU 夫 : là Người đàn ông trưởng thành, mạnh mẽ, hiên ngang mà các bà các cô ai cũng ước mong trở thành người hôn phối của mình, nên ...
         PHU 夫 còn có nghĩa là CHỒNG với các từ ghép nghe cho êm tai và âu yếm là : Phu Tế 夫婿, Phu Lang 夫郎, Phu Tướng 夫相, Trượng Phu 丈夫 ... Như trong Truyện Kiều tả lúc Từ Hải chia tay với Kiều để  lên đường lập nghiệp ....


                      Nửa năm hương lửa đang nồng,
             TRƯỢNG PHU thoát đã động lòng bốn phương.

 

         Chữ PHU 夫 lại làm cho ta ....
... Nhớ lại 2 câu thơ của nữ sĩ Hồ Xuân Hương trong bài "Không Chồng Mà Chửa" là :

 

                Duyên THIÊN chưa thấy nhô đầu dọc,
                Phận LIỄU sao đà nẩy nét ngang ?!

 

         Nữ sĩ đã chơi chữ bằng cách chiết tự rất lý thú và lí lắt như sau :

         Duyên THIÊN 天 là duyên trời run rủi, chưa thấy nhô đầu dọc, là chưa thành chữ PHU 夫, nghĩa là chưa có chồng.
         Phận LIỄU 了 (là Liễu bồ, là Phận gái) sao đà nẩy nét ngang ? Chữ LIỄU 了 mà " nẩy " nét ngang thì sẽ thành chữ TỬ 子 là CON. Nên 2 câu thơ trên có nghĩa :

 

                  Duyên trời nào thấy đâu run rủi,
                  Phận gái sao đà đã có con ?

 

        Trong dân gian Nam Kỳ Lục Tỉnh, ở Cái Răng Ba Láng quê tôi, lúc nhỏ tôi cũng thường nghe bà con lối xóm hát rằng :


                  Không chồng có chửa mới ngoan,
               Có chồng có chửa thế gian sự thường !

 

        Về chữ LIỄU 了 là Kết thúc, kết liễu, đồng âm với chữ LIỄU 柳 là Dương Liễu chỉ phái nữ mềm yếu dịu dàng ẻo lả như nhánh liễu. Ở đây, Hồ Xuân Hương đã chơi chữ bằng cách sử dụng từ Đồng Âm để đánh đồng 2 chữ Liễu theo âm Hán Việt. Chớ chữ Liễu là Dương Liễu thì làm sao có được nét ngang mà "nẩy" ?!

 

        Thiên 天 là Trời, chữ đầu tiên trong sách Tam Thiên Tự 三千字 của soạn giả Đoàn Trung Còn khi mới bắt đầu học chữ Nho hồi xưa :

 

        天 Thiên trời, 地 Địa đất, 舉 Cử cất, 存 Tồn còn, 子 Tử con, 孫 Tôn cháu, 六 Lục sáu, 三 Tam ba, 家 Gia nhà, 國 Quốc nước, 前 Tiền trước, 後 Hậu sau...   

 Thiên 天 là Trời, là phần không gian cao ngất ở trên đầu ta, nhưng trong dân gian theo tín ngưỡng của người dân Đông Á chịu ảnh hưởng của Nho Thích Đạo, thì Trời là thế giới của cỏi trên, có đủ các thành phần Tiên Phật Thần Thánh của thượng giới, và có đời sống giống như ở dân gian, đứng đầu là Ngọc Hoàng Thượng Đế mà ta quen gọi là Ông Trời, và ông Trời hiện diện đầy đủ trong các mặt vui buồn của cuộc sống con người, ta vẫn thường nghe các câu :

        - Vui qúa Trời !

        - Buồn qúa Trời !

        - Sướng qúa Trời !

        - Khổ qúa Trời !....

          Vui buồn sướng khổ gì đều kêu Trời cả ! Nên theo truyện cổ tích dân gian thì ... Ngày xửa ngày xưa, ông Trời ở rất gần ta, chỉ cao khỏi ba xào một chút mà thôi, nhưng vì hễ động một chút là người ta kêu Trời : Hôm nay ăn no qúa Trời; Con đói qúa Trời ơi ! Cái con nhỏ đó đẹp qúa Trời ! Nhỏng nhẻo qúa Trời; Thấy "ghét" qúa Trời đi !... Nhất nhất cái gì cũng kêu Trời, kể cả "Con mắc  ...  qúa Trời ơi !". Nên ... Ông Trời nghe thét rồi chán qúa mới "vọt" tuốt lên 9 từng mây mà ở trển luôn cho yên thân ! Chẳng những giới bình dân kêu trời, mà trong văn chương trí thức cũng kêu trời, như Vương Viên Ngoại trong Truyện Kiều, khi biết cô Kiều đã bán mình, ông cũng đã kêu lên :

 

                   Trời làm chi cực bấy Trời,

              Này ai vu thác cho người hợp tan !?

 

hay lúc cô Kiều kể cho Vương Bà nghe về nhân cách của Mã Giám Sinh "Gẫm ra cho kỹ như hình con buôn" thì :

                    

                   Vương Bà nghe bấy nhiêu lời, 
               Nỗi oan đã muốn vạch Trời kêu lên.

  

hay khi bị Sở Khanh gạt, rồi còn muốn hành hung nữa, thì cô Kiều cũng đã kêu trời :

 

                 Nàng rằng : Trời nhé có hay !

                 Quyến anh rủ yến sự này tại ai ?

                 Đem người đẩy xuống giếng khơi,

                 Nói lời rồi lại ăn lời được ngay !

                                         

        Thiên 天 là Trời, là phần đầu của con người như chữ Tượng Hình Hội Ý đã nói ở phần trên, nên trong sách tướng số gọi cái trán là Thiên Đình 天庭, phần giữa trán gọi là Thiên Môn 天門 và phần xương phía trên trán gọi là Thiên Linh 天靈, nên ta mới có từ Thiên Linh Cái 天靈蓋 là cái Mỏ Ác. Lúc còn bé thì phần Mỏ Ác nầy chỉ là một lớp sụn rất mềm, nên người lớn bắt nạt con nít hay nói câu : " Coi chừng tao cú cho một cái lủng Mỏ Ác bây giờ !". Khi lớn, Mỏ Ác đã cứng khó mà "cú" cho lủng, thì lại trở thành "cứng đầu cứng cổ"!.

 

           

 

        Từ Thiên Linh Cái 天靈蓋 còn tượng trưng cho cả Cái Đầu, cái Xương Sọ hoặc cái Đầu Lâu, như các thầy Pháp, thầy Phù Thủy luyện Thiên Linh Cái là chuyên sưu tập đầu lâu và xương sọ của các cô gái đã chết và như trong truyện "Trang Tử Cổ Bồn Ca 莊子鼓盆歌", mà ta quen gọi là truyện "Trang Tử Thử Vợ", thì  Thiên Linh Cái tượng trưng cho cái đầu với nội dung  câu truyện như sau :

 

         Trang Tử tên Chu 周 ( Châu ), tự là Tử Hưu 子休, người nước Tống 宋 thời Chiến Quốc (690-286 TCN), cùng vợ là Điền Thị ẩn cư ở phía nam núi Hoa Sơn. Một hôm, trên đường về nhà, trông thấy một thiếu phụ dùng quạt để quạt một nấm mộ bên đường. Trang Tử thấy lạ bèn hỏi, thiếu phụ cho biết là mộ của chồng mình, vì khi còn sống hai vợ chồng rất thương yêu nhau, nên có hẹn nhau là khi chồng chết, thì sau tang lễ, phải đợi cho mộ khô rồi mới tái giá, nhưng gần đây mưa gió cứ dập dìu, mộ không khô được, nên phải quạt cho mộ mau khô ! Trang Tử nghe nói, thầm cười cho thế thái nhân tình nhưng cũng thi triển pháp lực giúp thiếu phụ quạt khô mộ chồng. Khi về nhà, đem truyện kể lại với vợ là Điền Thị, Điền Thị vô cùng phẫn nộ, chê trách thiếu phụ và bảo rằng : " Trung thần bất sự nhị quân, Liệt nữ bất sự nhị phu 忠臣不事二君,烈女不事二夫 ". Có nghĩa " Tôi trung không thờ hai chúa, gái tiết liệt chẳng lấy hai chồng ". Mấy tháng sau, Trang Tử bệnh chết, có một thiếu niên anh tuấn dắt theo một lão bộc, tự xưng là Vương tôn của nước Sở, vì mộ tiếng của Trang Tử mà tìm đến để theo học đạo. Nay tuy Trang Tử đã mất, nhưng cũng nguyện thủ tang theo lễ thầy trò, ở lại cư tang một trăm ngày và để đọc Nam Hoa Kinh của Trang Tử. Điền Thị rất vui dạ vì cảm cái vẻ cao sang tuấn tú của Vương tôn, mới nhờ lão bộc làm người mai mối, rồi xuất tiền lo cho hôn sự của hai người. Đêm động phòng hoa chúc, Vương tôn bỗng phát bệnh đau tim, thoi thóp sắp đứt hơi. Lão bộc cho biết là nếu có óc của người sống hoặc của người chết chưa quá bốn mươi chín ngày hòa với rượu uống vào thì khỏi bệnh. Điền Thị bèn xách búa bổ quan tài của Trang Tử định lấy óc ra làm thuốc cứu mạng Vương Tôn.. Không ngờ khi quan tài vừa vỡ ra thì Trang Tử cũng vừa sống lại. Điền Thị cả thẹn, biết mọi việc đều do Trang Tử biến hóa an bày, nên treo cổ mà chết. Trang Tử gỏ bồn làm nhịp ca bài điếu tang rồi cảm khái ngâm rằng :

 

           從茲了卻冤家債, Tòng tư liễu khước oan gia trái,
           你愛之時我不愛。 Nhĩ ái chi thời ngã bất ái.
           若重與你做夫妻, Nhược trùng dữ nhĩ tố phu thê,
           怕你斧劈天靈蓋。 Phạ nhĩ phủ phách Thiên Linh Cái.
Có nghĩa :
              Từ nay đã hết nợ oan gia,
              Nàng bảo yêu, ta hết thiết tha.
              Tiếp tục vợ chồng như thuở trước,
              Có ngày búa bổ vỡ đầu ta.

 

        Ngâm xong, nổi lửa đốt sạch nhà cửa quan tài ở dưới núi Hoa Sơn rồi đi mất. Dân chúng quanh vùng chỉ nhặt lại được hai quyển Đạo Đức Kinh và Nam Hoa Kinh chưa bị thiêu rụi mà thôi.

 

         

 

       "Phủ phách Thiên Linh Cái" là búa bổ cho vỡ sọ đầu ra ! Đây là chuyện "Trang Tử Thử Vợ" thường tình của " cải lương ", của phim ảnh theo như truyện kể của dân gian đời Tống (960-1279), những người theo Tống Nho dùng để khuyến thế răn đời, chớ con người cao khiết siêu thoát với tư tưởng của Lão Trang như Trang Tử sao lại có thể dùng tiểu xảo gài bẫy để thử vợ một cách không quang minh chính đại như thế !?

 

        Trở lại với Thiên 天 là Trời, trong Nho Giáo THIÊN 天 không phải là Ông Trời, mà là Thiên Lý 天理 là cái Lẽ Trời, nói theo bình dân, là Cái Lý Lẽ tự nhiên công bằng chính trực, chí công vô tư, chí cao vô thượng của Trời, nên cái gì hợp với tự nhiên của nhân tình thế thái thì cái đó là ... Thiên. Ví dụ như :  

     -Thiên Lương 天良: là Tấm lòng lương thiện ngay thẳng bẩm sinh của trời ban, là cái Lương Tâm vốn có của con người, mà cụ Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu đã gán cho mình cái nghĩa vụ thiêng liêng là phải phổ biến, gợi mở, khơi dậy cái thiên Lương ở trong lòng mỗi người, nên ông mới mượn bài thơ " Hầu Trời " để nói thác :


              Trời rằng : " Không phải là Trời đày,
              Trời định sai con một việc này
              Là việc "thiên lương" của nhân loại,
              Cho con xuống thuật cùng đời hay"... 


    - Thiên Bình 天平: là Sự cân bằng thẳng hàng không thiên lệch về bên nào cả, là biểu tượng của Cán Cân Công Lý ở các tòa án, pháp đình, và là cái cân có 2 dĩa cân của các tiểu thương buôn bán ở ngoài chợ, một bên để trái cân một bên để hàng hóa lên đến khi nào cân bằng thì thôi. Nên... Thiên Bình là sự bình đẵng tự nhiên của trời, sự công bằng không thiên lệch cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng.       

     

      Biểu tượng cái cân của tòa án ngầm bảo rằng mọi người đều bình đẵng trước pháp luật và trước... Trời !

 

   - Thiên Võng 天網: là Cái Lưới của Trời, nó không phải là cái lưới có thật, mà nó là biểu tượng của cái công cụ bảo vệ công lý của trời. Ai làm trái cái lý trời thì sẽ bị cái lưới nầy tóm lấy để trừng trị, như câu nói sau đây :


               Chủng qua đắc qua,     種瓜得瓜,
               Chủng đậu đắc đậu.     種豆得豆,
               Thiên võng khôi khôi,   天網恢恢,
               Sơ nhi bất lậu !            疏而不漏。

Có nghĩa :
               Trồng dưa thì được dưa,
               Trồng đậu thì được đậu.
               Lưới trời lồng lộng,
               Tuy thưa nhưng không lọt !
      Ý muốn nói, gieo nhân nào sẽ gặt qủa nấy, làm lành sẽ gặp lành, làm ác sẽ gặp ác, không sai chạy bao giờ, chỉ sớm hay muộn mà thôi !

 

         

                                        Thiên võng khôi khôi,   天網恢恢,

 

 

       Ông trời luôn luôn đứng về phía người hiền, người lương thiện, nên Tăng Quảng Hiền Văn cũng có câu :


             Nhân hữu thiện nguyện,   人有善願,
             Thiên tất hựu chi !            天必祐之!
Có nghĩa :
             Người mà có những ước nguyện tốt lành, thì...
             Trời sẽ phù trợ ủng hộ cho người đó !

 

    - Thiên Chức 天職 : Không phải là cái chức tước do trời ban, mà là trách nhiệm vốn có mà trời đặt để cho mỗi con người trong xã hội. Như Thiên Chức của Cha Mẹ là phải nuôi dạy con cái cho nên người, và con cái thì phải biết hiếu thảo phụng dưỡng cha mẹ...

 

   - Thiên Bẩm 天禀, Thiên Tài 天才, Thiên Phú 天賦, Thiên Tư 天資 : đều là những cái sanh ra đã có sẵn mà trời ban riêng cho người nào đó mà người khác không thể có được. Như cụ Nguyễn Du đã khen cô Kiều :


                     Thông minh vốn sẵn Tư Trời,
                 Pha nghề thi họa đủ mùi ca ngâm.
            Tư Trời là Thiên Tư của trời ban cho đó !

 

      Cái gì thuộc về tự nhiên thì đều gán hết cho Trời, và được gọi là  Thiên Nhiên 天然, ví dụ như Trời Mưa, Trời Nắng, Trời Gió... và Tai họa do những thứ đó gây ra như Mưa lũ, Hạn hán, Gió bão...đều được gọi là Thiên Tai 天災, là tai họa chết chóc, đổ vỡ do trời gây ra cho con người. Song song với Thiên Tai thì Trời cũng set-up sẵn một chỗ để tưởng thưởng cho những người lương thiện, mà tôn giáo nào cũng có, đó chính là Thiên Đàng 天堂, nơi yên vui sung sướng nhất mà mọi người đều mong ước. Tất cả những hiện tượng thời tiết mùa màng xảy ra chung quanh cuộc sống con người đều là những thứ sỡ hữu của trời như câu nói :


           Thiên hữu tứ thời xuân tại thủ,       天有四時春在首,
           Nhân sanh bách hạnh hiếu vi tiên.  人生百行孝為先。
Có nghĩa :
           Trời có bốn mùa thì mùa xuân là mùa đứng đầu, còn...
           Người thì có cả trăm phẫm hạnh, hiếu là phẩm hạnh trước tiên.

 

           Ông Trời làm nên tất cả, cả thân phận của con người cũng do trời đặt để, như cụ Nguyễn Du đã nói :


                 Trời kia đã bắt làm người có thân,
                 Bắt phong trần phải phong trần,
                 Cho thanh cao mới được phần thanh cao


       Bỉ sắc 彼嗇 thì tư phong 茲豐, có nghĩa Cái kia cạn thì cái nầy đầy, hết cơn bỉ cực thì đến ngày thái lai. Ông trời luôn bắt người ta phải " phong trần " trước, rồi mới cho " thanh cao " sau. Bắt cô Kiều phong trần mười lăm năm rồi mới cho gặp lại Kim Trọng. Thế mà khi đoàn viên lại phải cảm kích cái lòng tốt của ông trời :


               Trời còn để có hôm nay,
               Tan sương đầu ngõ, vén mây giữa trời.
               Hoa tàn mà lại thêm tươi,
               Trăng tàn mà lại hơn mười rằm xưa !
          Khéo mà nói sạo để... nịnh ông trời !

 

      Còn giới bình dân thì không khách sáo gì cả, vợ chồng cứ đẻ sòn sọt năm một, mỗi năm một đứa, nhà trên mười anh chị em là chuyện " thường tình " ở quê tôi, đời sống nheo nhóc nhưng lại rất lạc quan mà... đổ thừa cho ông trời :
            - Trời sanh trời nuôi.
            - Trời sanh voi sanh cỏ !
      Tội nghiệp cho ông trời, cứ đẻ cho đã rồi đổ thừa cho ông trời là xong ngay ! Nhưng... nói cũng lạ, " nhờ Trời " rồi tất cả cũng đều khôn lớn nên người, lắm gia đình lại còn trở nên khá giả giàu có nữa là đằng khác ! Các Thầy Đồ ta ngày xưa thường nói :
                 Hữu nhi bần bất cửu,      有兒貧不久,
                 Vô tử phú bất trường.     無子富不長。
Có nghĩa :
              Có con thì nghèo không lâu, vì khi lớn lên con sẽ làm ra thêm của cải.. Còn ...    Không có con thì giàu không bền, vì không có ai làm thêm của cải cho mình. Nên các Cụ cứ... đẻ thả giàn !

      

      Thiên 天 là Trời, nên Thiên Hạ 天下 là dưới gầm trời nầy, là núi non sông nước, là đất đai ruộng vườn mầu mở của dân cư, là lãnh thổ, là cương thổ mà theo quan niệm phong kiến ngày xưa thì ai có tài thao lược giỏi giang, ai có đức trị dân thì sẽ là chúa tể của cái Thiên Hạ nầy, nên mới có thành ngữ Trục Lộc Thiên Hạ 逐鹿天下, có nghĩa là Đuổi bắt con nai trong thiên hạ nầy theo xuất xứ sau đây : 

                          Trục Lộc Thiên Hạ 逐鹿天下

 

       Theo "Sử Ký. Hoài Âm Hầu Liệt Truyện 史記˙淮陰侯列傳": Tần chi cương tuyệt nhi duy thỉ, sơn đông đại nhiễu, dị tính tịnh khởi, anh tuấn ô tập. Tần thất kỳ lộc, thiên hạ cộng trục chi, ư thị cao tài tật túc giả tiên đắc yên.秦之綱絕而維弛,山東大擾,異姓並起,英俊烏集。秦失其鹿,天下共逐之,於是高材疾足者先得焉。Có nghĩa :


    " Giềng mối của nhà Tần đã hết nên lỏng lẻo, đất Sơn Đông đại loạn, các họ khác đều nổi lên, anh hùng các nơi tập hợp. Tần như làm sổng mất con nai, nên thiên hạ đều cùng đuổi bắt, vì thế, ai tài giỏi và nhanh chân thì sẽ bắt đựơc." Và...
      Các lộ anh hùng lại tiêu diệt lẫn nhau, cuối cùng đưa đến thế Hán Sở Tranh Hùng, như World-cup vào đến vòng chung kết vậy ! Nên...   
      Thiên Hạ là của chung, ai giỏi thì giành được. Ngày xưa, quan niệm Thiên Hạ là đất Trung Nguyên mầu mở với dân cư đông đúc, nên thành ngữ trên còn được nói là Trục Lộc Trung Nguyên 逐鹿中原, và tại sao phải là Lộc mà không phải là con vật khác ? Vì chữ Lộc 鹿 là con Nai đồng âm với chữ Lộc 祿 là Thiên Lôc 天祿, có nghĩa là " Lộc của trời ban", chính là cái ngôi vua của Thiên Tử 天子 là con trời, vì Thiên Tử mới là người xứng đáng hưởng Thiên Lộc mà thôi !

 

       Còn "Thiên Hạ" trong tiếng Việt Nam ta là Phiếm Chỉ Đại Từ, có nghĩa là : Người ta, Người Khác hay chỉ chung Quảng Đại Quần Chúng...như :
       - "Thiên hạ" đồn rằng...
       - Đó là chuyện của "thiên hạ", đâu phải chuyện của mình.
       - Hơi sức đâu mà lo chuyện của "thiên hạ" !...

      Ông tú Vị Xuyên Trần Tế Xương trong bài tứ tuyệt "Chợt Giấc" cũng đã buồn cho thời cuộc mà lẫy rằng :
                     Nằm nghe tiếng trống, trống canh ba,
                     Vừa giấc chiêm bao chợt tỉnh ra.
                     Thiên Hạ dễ thường đang ngủ cả,
                     Việc gì mà thức một mình ta ?!

 

       Còn Thiên Hạ trong đạo Phật là cỏi Ta-Bà, là bể khổ trầm luân, nên khi Bổn sư Thích Ca Mâu Ni thác sinh làm Thái Tử Tất Đạt Đa, sau khi đi bảy bước nở ra bảy đóa hoa sen thì một tay chỉ Trời, một tay chỉ đất và nói câu : Thiên Thượng Thiên Hạ Duy Ngã Độc Tôn 天上天下唯我獨尊, có nghĩa : " Trên trời dưới trời duy chỉ có TA là tôn qúy ". Cái TA hay cái NGÃ đó chính là Chân Ngã 真我, là Pháp Thân 法身thường trụ, không bao giờ hoại, bao trùm khắp không gian và thời gian mà chúng sinh đều có. TA đó chính là Phật Tánh 佛性, là Chân Tâm 真心 để giải thoát cho tất cả mọi loài khỏi trầm luân trong bể khổ của cái Thiên Hạ Ta-Bà nầy ! Chính cái Phật Tánh đó là Thiên Hạ độc tôn, chớ không phải Đức Như Lai tự cho mình là độc tôn trong Thiên Hạ.

  Trong quyển tiểu thuyết võ hiệp nổi tiếng của Kim Dung là " Thiên Long Bát Bộ " có một nhân vật nữ theo Đạo Gia là Thiên Sơn Đồng Mỗ, nhưng lại tu tập môn võ công của Phật Gia là " Thiên thượng thiên hạ duy ngã độc tôn Công " rất lợi hại, bà ta cầm đầu và khống chế cả 81 Động và 72 Đảo võ lâm bàng môn tả đạo đều phải nghe theo lệnh của bà ta răm rắp .  

 

       Còn Thiên Hạ của Đạo Giáo 道教 ( Lão Giáo ) là Cỏi Hồng Trần 紅塵, nơi bụi bặm mịt mù mà con người chỉ là những cái hình chiếu từ cuộc sống thực tế ở trên trời, như Ôn Như Hầu Nguyễn Gia Thiều đã viết trong Cung Oán Ngâm Khúc là :


                      Cái quay búng sẵn trên trời,
                 Mờ mờ nhân ảnh như người đi đêm !


nên con người phải biết tu tập theo đạo pháp để trở về với cuộc sống thực ở trên trời, tức là thành Tiên để về nơi Thượng Giới !

 

       Thiên Hạ của ngày nay là Năm Châu Bốn Bể, là bề mặt của qủa địa cầu nầy, là cả thế giới như bài học thuộc lòng ngày xưa của lớp Đồng Ấu :

 

               ... Người bốn giống : đen, vàng, đỏ, trắng,
                   Trời bốn phương : nam, bắc, đông, tây.
                   Đi cho biết đó biết đây,
                   Ở nhà với mẹ biết ngày nào khôn ?!

 

       Thiên 天 là Trời, khi nào thì ta thấy được trời : Ban Ngày, nên Thiên 天 là Ban Ngày, như Tam Thiên Tam Dạ 三天三夜 là Ba ngày ba đêm. Thiên còn có nghĩa là Ngày, nên Kim Thiên 今天 là ngày hôm nay; Khi trời sáng trở lại là ngày hôm sau, nên Minh Thiên 明天 là ngày mai...  

        Thiên còn có nghĩa là Thời Tiết, Mùa Màng, như : Thiên Vũ 天雨 là Trời mưa, nhưng Vũ Thiên 雨天 là Mùa Mưa. Tương tự, Thiên Tình 天晴 là Trời nắng, Tình Thiên 晴天 là Mùa nắng. Như thời tiết ở Miền Nam nước ta, mỗi năm chỉ có 2 mùa Mưa và Nắng, theo như câu nói :
                    Tứ thời vô xuân hạ,         四時無春夏,
                    Nhất vũ tiện thành thu.   一雨便成秋。
Có nghĩa :
             Bốn mùa không có xuân hạ gì cả, hễ...
             Mưa xuống một cái thì thành mùa thu ngay !

 

        Thiên còn là cái gì cao quý nhất, cần thiết nhất, như câu nói trong sách Hán Thư 漢書 : Vương giả dĩ dân vi thiên, nhi dân dĩ thực vi thiên 王者以民為天,而民以食為天. Có nghĩa : " Bậc vương giả lấy dân làm cao nhất, còn dân thì lấy cái ăn làm cao nhất."

 

                    


        Ý nói : Vua thì coi dân là cần thiết nhất, vì không có dân thì làm vua với ai đây ? Còn dân thì coi cái ăn là cần thiết nhất, vì không có cái ăn thì làm sao mà sống ?! Câu nói nầy thường hay bị nói sai thành : Dân dĩ thực vi TIÊN 民以食為先, có nghĩa : Dân thì lấy cái ăn làm trước hết. Sai mà không Sai, chỉ là một cách nói khác đi mà thôi, nhưng ý của chữ TIÊN 先 không mạnh bằng ý của chữ THIÊN 天 là Cao nhất, là Cần thiết nhất.  

 

       Thiên 天 là Trời, Thăng Thiên 升天 là Lên trời, Phi Thiên 飛天 là Bay lên trời, còn Quy Thiên 歸天 là Về trời, là chết. Nhưng không phải ai chết cũng được về trời, vì trời chỉ có 9 tầng mà thôi, ta hay nghe nói Cửu Trùng Thiên 九重天, còn địa ngục thì có tới 18 tầng lận, gấp đôi số tầng của trời. Điều nầy cho thấy là ở trên đời người xấu nhiều gấp đôi người tốt, nên Địa Ngục phải xây 18 tầng mới đủ chỗ chứa !   

      Về từ Cửu Trùng Thiên 九重天, ngoài nghĩa là 9 tầng trời ra, Cửu Trùng Thiên còn được dùng để chỉ ông vua thời phong kiến ngày xưa, như 2 câu thơ mở đầu trong bài thơ Tả Thuyên chí Lam Quan thị điệt tôn Tương 左遷至藍關示侄孫湘 của Hàn Dũ đời Đường :


             Nhất phong triêu tấu Cửu Trùng Thiên,   一封朝奏九重天,
             Tịch biếm Triều Dương lộ bát thiên.        夕貶潮陽路八千 .
 Có nghĩa :
             Buổi sáng trình lên nhà vua một phong tấu sớ,
             Buổi chiều bị đày đi Triều Dương xa tám ngàn dặm đường.

 

               

 

       Cửu Trùng Thiên 九重天 là Vua, còn được gọi là Đấng Cửu Trùng, hay Cửu Trùng mà trong tiếng Nôm ta gọi là Chín Tầng, như câu thơ trong đoạn mở đầu của Chinh Phụ Ngâm do Nữ sĩ Đoàn Thị Điểm diễn Nôm :


                Trống Trường Thành lung lay bóng nguyệt,
                Khói Cam Tuyền mờ mịt thức mây.
                CHÍN TẦNG gươm báu trao tay,
                Nửa đêm truyền hịch định ngày xuất chinh.

 

       Thiên còn là Thiên Thời 天時, ngoài nghĩa chỉ Thời tiết mùa màng ra, Thiên Thời còn có nghĩa là Thời Cơ của Trời, là cái cơ trời vận hành đến một lúc nào đó, như Thúy Vân đã phân bua :


                        Cơ Trời dâu bễ đa đoan,
                Một nhà để chị riêng oan một mình !


        Ta thường nghe câu nói trong sách Mạnh Tử là "Thiên thời bất như địa lợi, địa lợi bất như nhân hòa 天時不如地利,地利不如人和". Có nghĩa : Thời cơ của trời không bằng lợi thế của đất, cái lợi thế của đất không bằng cái hòa đồng hòa hợp của con người. Ví dụ như :    

        Fifa World-cup 2018 kỳ rồi tổ chức ở Russia, nên đội bóng Nga có lợi thế về THIÊN THỜI là đã quen với thời tiết giá lạnh của xứ mình; ĐỊA LỢI vì được đá ở sân nhà; NHÂN HÒA vì có cổ động viên đông nhất so với các đội bóng khác. Nên đội Nga đã thắng đậm ngay trận đầu 5-0 trước Saudi Arabia và đi một lèo đến Tứ Kết, trở thành 8 đội bóng mạnh nhất hành tinh ! 

 

            

 

       Thiên thời 天時, Địa lợi 地利, Nhân hòa 人和 còn được nói thành Thiên Tường 天祥, Địa Nghi 地宜, Nhân Thuận 人顺. Có nghĩa :
      * Thiên Tường 天祥 : là cái Điềm lành của trời, là cái mặt tốt về thời cơ, thời vận, là Thiên Thời đó.
      * Địa Nghi 地宜 : là cái Tiện nghi của đất, của cái nơi mà ta định làm hay cái chỗ mà sự việc xảy ra, là Địa Lợi đó. 
      * Nhân Thuận 人顺 : là Nhân sự được suông sẻ, mọi người đều đồng ý, không ai chống đối, là Nhân Hòa đó.

 

       Nhưng đối với bà con lối xóm ở quê tôi thì THIÊN TƯỜNG là " Thương Tiền ", từ dùng để chỉ những người keo kiệt hà tiện mà tham lam chỉ biết có TIỀN, cả câu như thế nầy :

                    " Thiên tường tác biệt hựu thu sương ".

Có nghĩa là :  " Thương tiền, Tiếc bạc lại Thương xu ".

        Có một câu chuyện vui kể rằng : Có ông trưởng giả nhà quê nọ mời bạn ăn mừng thọ lục tuần. Thiệp mời có kèm theo môt câu như thế nầy : Sách có câu chữ rằng " Xuân đình hiền tạ tống mặt khơi ". Câu sách đó có nghĩa là : " Xin đừng hà tiện tới mặt không !".

   

       Cái Thời Cơ của Trời, chính là cái Thiên Lý  đã được đề cập ở phần đầu bài viết nầy, nói lên cái lý lẽ công bằng tự nhiên của Trời, như câu : 


                      Tử sinh hữu mệnh,   死生有命,
                      Phú quý tại thiên.     富貴在天.
Có nghĩa :
                 Chết sống đều có số mạng,
                 Giàu sang là do trời ban.
    ... và không phải ai cũng được trời ban, phải đúng với cái lẽ trời thì mới được, như trong Minh Tâm Bửu Giám ghi lại câu nói nổi tiếng của Khổng Minh Gia Cát Lượng là :  


                Mưu sự tại nhân,                       謀事在人,
                Thành sự tại thiên.                    成事在天,
                Nhân nguyện như thử như thử,  人願如此,如此,
                Thiên lý vị nhiên vị nhiên !         天理未然,未然!

Có nghĩa :
               Mưu tính công việc là ở người, còn...
               Thành công hay thất bại là do trời,
               Người muốn như thế nầy, như thế nầy đây, nhưng...
               Cái lẽ trời cho biết là còn chưa được, còn chưa được ! 

Gia Cát Khổng Minh là người giỏi cả binh thư thao lược, trên thông thiên văn dưới thông địa lý, mang chí lớn muốn khôi phục lại nhà Hán, lập rất nhiều công lớn trong việc giúp Lưu Bị tam phân thiên hạ, lập nên nhà Thục Hán, nhưng lục xuất Kỳ Sơn đều thất bại, cuối cùng đành ôm hận mà chết với câu than bất hủ là " Mưu sự tại nhân, thành sự tại thiên " như đã nêu trên.

 

       Con người khi còn nằm trong bụng mẹ, chưa được sanh ra, chưa thấy trời, thì gọi là Tiên Thiên 先天. Được sanh ra rồi, mở mắt đã thấy trời rồi, thì gọi là Hậu Thiên 後天. Hằng ngày phải đầu tắt mặt tối đội trời để làm việc kiếm sống, thì gọi là Thiên Thiên 天天. Vui vẻ trong cuộc sống thì gọi là Lạc Thiên 樂天. Buồn thảm trong cuộc sống thì gọi là Bi Thiên 悲天. Khi nhắm mắt xuôi tay rồi thì gọi là Quy Thiên 歸天. Tuổi thọ và những năm tháng mà ta có được gọi là Thiên Niên 天年.


      Mong rằng tất cả đều quy thiên 歸天 trong cái tâm tình lạc thiên 樂天 để đều được vui  hưởng những thiên niên 天年 tuyệt vời có được trong cuộc sống !

 

                                                                    

                                                                                      Đỗ Chiêu Đức

Thi Quỷ: 

 

                                           LÝ HẠ

LÝ HẠ (790-816) tự là Trường Cát, người đất Xương Cốc Phước Xương ( thuộc Nghi Dương tỉnh Hà Nam hiện nay). Ông là hậu duệ thất tán của tông thất nhà Đường. Cha là Huyện lệnh Lý Tấn Túc. Vì âm Quan thoại "Tấn Túc" đọc đồng âm với "Tấn Sĩ", nên vì kỵ húy của cha, thêm bạn bè dèm xiểm nên ông không thể dự thi Tiến sĩ được, chỉ nhờ phụ ấm nên được giữ chức Phụng Lễ Lang. Thơ ông thiên về trường phái lãng mạn, quái dị, ông hay tìm thi hứng ở những nơi hoang vu mồ mả nên được người đời gọi là THI QỦY. Lý Hạ cùng với Lý Bạch và Lý Thương Ẩn hợp thành TAM LÝ của đời Đường. Rất tiếc là tài hoa nhưng mệnh yểu, ông bị bệnh mất lúc 27 tuổi khi từ quan về sống nơi quê nhà.

Dưới đây là bài thứ 6 trong " Nam Viên thập Tam Thủ " (13 bài thơ có tựa là NAM VIÊN) của Thi Quỷ Lý Hạ, như sau :                           

 

 

 南園十三首( 其六)      Nam Viên Thập Tam Thủ ( Kỳ lục ).

                    李賀                                                   Lý Hạ
 尋章摘句老雕蟲,        Tầm chương trích cú lão điêu trùng,
   曉月當簾挂玉弓。        Hiểu nguyệt đương liêm quải ngọc cung.
 不見年年遼海上,        Bất kiến niên niên Liêu Hải thượng,
   文章何處哭秋風?        Văn chương hà xứ khốc thu phong ?

 

 

 

         Đây là bài thơ cảm khái cho việc học hành trở nên vô dụng trong thời loạn, có tài mà không thi thố gì được cả....

   Hai câu đầu nói lên sự khổ nhọc của việc học hành trong thư trai, thấp thoáng có chút gì ai oán... Ta hãy nghe câu đầu : " Tầm chương trích cú lão điêu trùng " là : Suốt ngày cứ nhai văn nhá chữ cặm cụi như con mọt sách già (lão điêu trùng). Vùi đầu vào sách vở để mong học cho thành tài, thi đậu, nổi tiếng.... khắc khổ học hành đến nỗi : Hiểu nguyệt đương liêm quải ngọc cung, nghĩa là : Thức trắng cả đêm, trời sắp sáng, bầu bạn suốt đêm chỉ còn có mảnh trăng tàn treo ngược bên rèm ngoài khung cửa sổ như nửa vành cung ngọc. Chẳng ai hay chẳng ai biết đến cảnh học hành vất vả thê lương cô đọc nầy... Lý Hạ muốn ám chỉ gì đây ?!...Ta đọc tiếp 2 câu chót nhé !....

 

                       Bất kiến niên niên Liêu Hải thượng,

                       Văn chương hà xứ khốc thu phong ?!

 

  Nghĩa 2 câu nầy là :

             " Bộ không nhìn thấy mỗi năm ở trên đất Liêu Hải ư ? Nơi đó, văn chương không có chỗ để mà khóc gió thu nữa là khác !".

 

          Tại sao ? Tại sao cái học lại vô dụng đến thế kia ? Có VĂN TÀI mà không sử dụng được ?. Thì ra Lý Hạ đã liên hệ cái bối cảnh cá nhân mình với cái hoàn cảnh chung của đất nước lúc bấy giờ, cái căn nguyên tạo nên sự chán nản và phẫn uất ở nội tâm....

"Liêu Hải" chỉ về biên giới Đông Bắc của nhà Đường lúc bấy giờ, tức một dãy thuộc địa Hà Bắc Đạo, từ năm Nguyên Hòa thứ tư ( 809 ) đến năm Nguyên Hòa thứ bảy, liên tiếp xảy ra những cuộc binh biến, thuộc địa chư hầu mỗi người cát cứ một phương , không còn nghe theo lệnh của triều đình nữa. Đường Hiến Tôn mấy lần đem binh chinh phạt, nhưng đều bại trận, gây nên tình trạng hỗn loạn của xã hội do sưu cao thuế nặng, bắt lính bắt phu .... dân chúng lầm than trước cảnh chiến tranh loan lạc liên miên... Đây là lý do thứ nhất khiến Lý thấy sự vô dụng của học hành trong thời loan. Thứ nữa, là chiến sự liên miên nên triều đình trọng dụng võ sĩ hơn văn nhân, kẻ sĩ không có đất  "dụng võ ". Từ " Văn chương " của câu 4 là chỉ " kẻ sĩ " đó, còn " khốc thu phong " không phải là thương khóc mùa thu bình thường của các thi nhân, mà là thương cảm cho xã hội loạn ly, kẻ sĩ lâm cảnh cùng đồ mạt vận đó mà thôi !

 

          Bài Tứ Tuyệt nầy rất hàm súc thâm trầm. Câu 1 , vừa tự sự vừa biểu lộ sự bất mãn vô ích của sự học hành qua từ " lão ", làm con " mọt sách già " một cách vô ích. Câu 2, cho thấy sự vất vả trong việc dồi mài kinh sử, học thâu đêm suốt sáng, trong câu nầy lại khéo so sánh mảnh trăng non với vành cung ngọc, hàm ý chỉ chiến sự ở câu sau. Câu 3, chỉ nêu lên từ " Liêu Hải ", không nhắc gì đến chiến sự mà tự người đọc biết đó là cảnh binh biến loạn lạc. Câu 4, nêu lên cảnh mạt vận không có đất dụng võ của văn sĩ bằng một ý hết sức nên thơ là " Văn chương không có chỗ để mà khóc thương gió mùa thu nữa là ! ".

 

 

Diễn Nôm :

                     Nhá chữ nhai văn mọt sách già !
                   Đêm đêm thức trắng với trăng ngà.
                   Nơi kia Liêu Hải không cần đến,

                   Khóc gió thu buồn kẻ sĩ ta !

Lục bát :

                   Nhai văn như mọt sách già,

                   Bên rèm thức với trăng ngà đêm thâu.

                   Biết đâu Liêu Hải địa đầu,

                   Văn chương hết đất khóc sầu gió thu !

 

 

                                                                          Đỗ Chiêu Đức

Thi Cốt : 

 

                  TRẦN TỬ NGANG

Trần Tử Ngang (659-700), tự là Bá Ngọc, người đất Xa Hồng Tử Châu (thuộc tỉnh Tứ Xuyên hiện nay). Ông xuất thân trong một gia đình hào phú lâu đời, hồi trẻ, ông chỉ ham học võ nghệ, săn bắn và đánh bạc; đến năm 17, 18 tuổi, ông mới chuyên tâm học hành.

      Năm 684, ông thi đỗ Tiến sĩ lúc 23 tuổi, được Võ hậu (tức Võ Tắc Thiên) khen ngợi, cho làm chức Chính Tự ở Lân Đài, sau thăng làm Hữu Thập di, nên ông còn được gọi là Trần Thập Di).

     Năm 26 tuổi, ông tham gia quân đội của Kiều Tri Chi, từng đến biên thùy phía Tây Bắc. Năm 35 tuổi, ông làm tham mưu cho Kiến An Vương Võ Du Nghi, theo quân đi chinh Đông, đánh quân Khiết Đan. Võ Du Nghi không có mưu lược, quân đi tiên phong đại bại, mấy lần Trần Tử Ngang hiến kế cho Võ Du Nghi, và hăng hái xin cầm quân ra trận; nhưng không được nghe theo, mà ngược lại còn bị chủ tướng trút giận lên đầu ông, hạ chức ông từ tham mưu xuống làm quân tào.

     Bất đắc chí, năm 38 tuổi, ông lấy cớ cha già, xin từ chức về quê. Năm 702, huyện lệnh huyện Xạ Hồng là Đoàn Giản, vì nghe lời xui giục của Tể tướng Võ Tam Tư (cháu Võ Hậu) nên đã hại chết Trần Tử Ngang. Năm đó, ông 41 tuổi.

 

     Tác phẩm của ông có Trần Thập Di Tập (Tập thơ thu thập những phần còn sót lại của họ Trần), trong đó có khoảng 120 bài thơ. Theo Dịch Quân Tả, thì Trần Tử Ngang là người có "tính tình hào hiệp, trọng nghĩa khinh tài, ưa giúp người, có khí cốt của một hiệp sĩ, nên được gọi là THI CỐT, và điều đáng qúy nhất là ông rất chân thật với bạn bè".

 

     Dưới đây là một bài thơ ưu thời mẫn thế, cảm khái cho thế cuộc của nhân sinh tiêu biểu cho cái khí cốt cao nhã của ông.

 

 

登幽州臺歌               ĐĂNG U CHÂU ĐÀI CA

 

前不見古人,           Tiền bất kiến cổ nhân,

後不見來者,           Hậu bất kiến lai giả.

念天地之悠悠,       Niệm thiên địa chi du du,

獨愴然而涕下!          Độc sảng nhiên nhi thế hạ !

 

              陳子昂                                         Trần Tử Ngang

* Chú Thích :

 

  - U CHÂU 幽州 : Một trong 12 châu quận ngày xưa, là thành phố Bắc Kinh hiện nay. U CHÂU ĐÀI 幽州台 : Còn gọi là Kế Bắc Lâu, là Đại Hưng của TP Bắc Kinh hiện nay, đây là cái đài mà Yên Chiêu Vương thời Chiến quốc xây nên để chiêu nạp hiền sĩ trong thiên hạ.

  - TIỀN 前 : là Trước đây, chỉ qúa khứ.

  - CỔ NHÂN 古人 : Người xưa, chỉ các bậc thánh quân biết chiêu hiền đãi sĩ.

  - HẬU 後 : là Sau nầy, chỉ tương lai.

  - LAI GIẢ 来者 : Người đến, chỉ những minh quân biết trọng dụng nhân tài.

  - Niệm 念 : là Nghĩ đến. 

  - DU DU 悠悠 : là Dằng dặc. Chỉ thời gian dài lâu và không gian rộng lớn.

  - SẢNG NHIÊN 愴然 : chỉ rất bi thương thê thiết.

  - THẾ HẠ 涕下 : Nước mũi chảy xuống. Ở đây mượn để chỉ nước mắt chảy xuống khi qúa bi thương.

 

* Nghĩa Bài Thơ :

                                          BÀI CA khi lên U CHÂU ĐÀI

 

          Trước chẳng thấy có người xưa, sau cũng chẳng thấy có ai đến. Nhìn trời đất rộng thênh thênh dằng dặc mà riêng mình ta thấy xót xa rơi lệ !

 

          Đây qủa là một bài bi ca ưu thời mẫn thế luận cổ suy kim của một người có tài nhưng bất đắc chí. Đứng trên đài cao nhìn trước trông sau, thấy trời đất bao la mênh mông vô tận mà thân phận con người thì lại nhỏ nhoi, cho dù có tài hoa cũng vẫn không thi thố được, buồn cho nỗi đơn độc bơ vơ của mình trước thiên nhiên cao rộng bao la, nỗi ẩn ức của một kẻ sĩ có tài nhưng lại bị áp chế ruồng rẫy thậm chí bị bức hại. Chỉ vỏn vẹn có bốn câu ngắn ngủi mà dư âm còn đọng mãi trong lòng người đọc.        

        "Tiền bất kiến cổ nhân, Hậu bất kiến lai giả", có nghĩa là "KHÔNG TIỀN KHOÁNG HẬU 空前曠後" mà ta thường nói : Trước đã không mà sau thì trống rổng, nghĩa là trước sau gì đều "Không Có Gì Cả, Không Có Ai Cả !" Nên mới xúc cảm thương tâm đến rơi lệ. Đó là Tâm sự của Trần Tử Ngang đời Đường, còn đối với chúng ta hiện nay, từ...

 

        KHÔNG TIỀN KHOÁNG HẬU 空前曠後 thường dùng để chỉ cái gì đó rất hiếm thấy, rất to lớn, rất vĩ đại ... mà ngày thường hoặc người thường không thể có được, làm được !

           

 

* Diễn Nôm :

                       ĐĂNG U CHÂU ĐÀI CA

                 Trước xưa chẳng thấy có ai,

                 Sau xưa cũng chẳng thấy người nào đâu.

                 Bao la trời đất một màu,

                 Riêng ta bi thiết tuôn trào dòng châu.

                                        

                                                                                                                               Đỗ Chiêu Đức

Danh Hiệu Thi Nhân :

 

 

                           THI THIÊN TỬ

Những người nghiên cứu và say mê thơ Đường, thường hay kháo nhau về những giai thoại xoay quanh các thi nhân của thời đại nầy. Trong số các giai thoại đó, chuyện thường được nhắc đến nhiều nhất là danh xưng của các thi nhân, như  Thi Tiên là Lý Bạch, Thi Thánh là Đỗ Phủ và Vương Duy là Thi Phật, còn một danh hiệu cao quý thường gây tranh cải là Thi Thiên Tử. Vậy, ai là Thi Thiên Tử của thời đại hoàng kim của thi ca nầy ?. Chính là Vương Xương Linh đó, có giai thoại cho rằng Thi Thiên Tử là Vương Chi Hoán, vì trong một lần cá cược, Vương Xương Linh bị thua, cho nên mới nhường chức Thi Thiên Tử lại cho Vương Chi Hoán, nhưng đây chỉ là chuyện các thi sĩ vui đùa với nhau mà thôi, xin mời nghe giai thoại mà dân gian thường truyền khẩu sau đây.....

 

          Trong thời Khai Nguyên đời Đường, các thi nhân Vương Xương Linh, Cao Thích, Vương Chi Hoán đồng nổi danh ngang nhau. Lúc bấy giờ tuy đời sống, hoàn cảnh của mỗi người mỗi khác, nhưng họ vẫn thường hay đi chơi chung với nhau.

          Một ngày kia, trời lạnh, tuyết rơi nhẹ, ba vị thi nhân cùng đến uống rượu tại Kỳ đình. Bỗng nhiên có các linh quan (con hát) ở Lê viên, độ hơn mười người, cũng lên lầu dự tiệc. Nhân đó, ba vị thi nhân đồng hẹn nhau tránh khỏi bàn ngồi, đến bên lò sưởi trong góc để nghe ngóng.

         Trong chốc lát, có bốn cô ca kỹ lần lượt kéo đến. Các cô đều rất xa hoa diễm lệ, yêu kiều khả ái. Tất cả mọi người cùng tấu nhạc và bắt đầu hát, các bài hát đều là những tác phẩm nổi danh đương thời.

          Vương Xương Linh cùng các bạn ước hẹn với nhau rằng: "Bọn chúng ta hiện nay đều là những người có tiếng trên thi đàn, nhưng việc hơn kém chưa định được. Nay cứ lặng nghe các linh quan ngâm thơ và hát những bài thơ  thuộc Nhạc Phủ, xem thơ của ai được ngâm và hát nhiều nhất thì người ấy sẽ là Thi Thiên Tử nhé ! ".

          Một lúc sau, các linh quan cử nhạc, một cô đào gỏ nhịp hát lên rằng:

 

         Hàn vũ liên giang dạ nhập Ngô                寒雨連江夜入吴,

         Bình minh tống khách Sở sơn cô             平明送客楚山孤.

         Lạc Dương thân hữu như tương vấn,     洛楊親友如相問,

         Nhất phiến băng tâm tại ngọc hồ.           一片冰心在玉壶!

Ban đêm đi thuyền vào đất Ngô trong khi mưa lạnh giăng giăng ngang sông. Sáng sớm mai tiễn khách chỉ có mỗi ngọn núi Sở cô quạnh. Nếu bạn bè thân thích ở Lạc Dương có hỏi thăm, (thì xin anh đáp rằng ) Lòng tôi như một mảnh băng trong trắng ở trong bình ngọc vậy.

Diễn nôm :                                               

                          

                       Vào Ngô đêm lạnh sông dài,

                       Sáng ra núi Sở đưa người sang ngang.

                       Lạc Dương thân hữu hỏi han,

                       Tấm lòng băng tuyết chan chan ngọc hồ!

        Đó chính là bài " Phù Dung Lâu Tống Tân Tiệm " của Vương Xương Linh, nên khi ...

        Nghe xong, Vương Xương Linh mỉm cười, đưa tay lên vẽ trên tường một dấu hiệu, nói: "Nhất tuyệt cú!". Lại một cô khác ngâm rằng:

 

             Khai khiếp lệ triêm ức             開箧淚沾臆

             Kiến quân tiền nhật thư         見君前日書

             Dạ đài hà tịch mịch                 夜台何寂寞

             Do thị Tử Vân cư.                    猶似子雲居

                                    Khốc Đơn Phụ Lương Cửu Thiếu Phủ

          Mở hộp ra mà nước mắt ướt đầm trên ngực, vì nhìn thấy bức thư của chàng ngày trước. Chốn dạ đài hiu quạnh biết bao nhiêu, nhưng nơi đó vẫn là chỗ ở của chàng Tử Vân (tức Dương Hùng ) đã mất .

Diễn nôm :

                                                

                          Mở tráp lệ đôi hàng,

                          Thư chàng dạ xốn xang.

                          Tuyền đài sao vắng vẻ,

                          Tử Vân một bóng chàng !

 

          Đó chính là bài " Khốc Đơn Phụ Lương Cửu Thiếu Phủ " của Cao Thích. Nên khi nghe xong...

          Cao Thích đưa tay lên vách vẽ một vòng, nói: "Nhất tuyệt cú!"

 

          Tiếp đến một cô khác cũng gõ nhịp ngâm rằng:

 

        Phụng trửu bình minh kim điện khai   奉帚平明金殿開

        Tạm tương đoàn phiến cộng bồi hồi    暫将團扇共徘徊

        Ngọc nhan bất cập hàn nha sắc          玉颜不及寒鸦色

        Do đới Chiêu Dương nhật ảnh lai.       犹带昭陽日影來!

Buổi sáng cầm chổi quét khi cửa điện vàng vừa mở ra, tay mân mê cây quạt mà trong dạ lại bồi hồi. Mặt ngọc còn không bằng cả nhan sắc của con quạ lạnh, (vì quạ) còn được hưởng ánh nắng mặt trời ở điện Chiêu Dương mà bay đến đây ! Đó là bài " Trường Tín Thu Từ " cũng của Vương Xương Linh ...

Diễn nôm :

                                                

                          Mở tráp lệ đôi hàng,

                          Thư chàng dạ xốn xang.

                          Tuyền đài sao vắng vẻ,

                          Tử Vân một bóng chàng !

 Lục bát :

                  Điện vàng mở, chổi cầm tay,

                  Bâng khuâng quạt lụa ai hoài xiết chi.

                  Ngọc nhan qụa lạnh khôn bì,

                  Chiêu Dương nắng ấm phải chi được cùng !

 

          Nghe xong, Vương Xương Linh lại đưa tay lên vẽ lên tường, nói: "Nhị tuyệt cú!". Lại một cô khác đứng lên gỏ nhịp cất tiếng ngâm :

 

        千里黃雲白日曛, Thiên lý hoàng vân bạch nhật huân,

        北風吹雁雪紛紛.   Bắc phong xuy nhạn tuyết phân phân.

        莫愁前路無知己, Mạc sầu tiền lộ vô tri kỷ,

        天下誰人不識君。 Thiên hạ hà nhân bất thức quân ?!

 Ngàn dặm mây ngã màu vàng che mờ cả mặt nhựt. Gió bấc thổi cho chim nhạn bay về nam và tuyết rơi phơi phới. Thôi bạn hãy lên đường đi đi, đừng buồn là phía trước mặt không có người tri kỷ. Vì trong thiên hạ nầy ai là người không biết đến bạn đâu !?  

 

Diễn nôm :

                                                

                           Ngàn dặm mây vàng nắng úa hanh,

                           Tuyết rơi gió cuốn nhạn bay nhanh

                           Đừng sầu trước mặt không tri kỷ,

                           Thiên hạ ai người chả biết anh !

 

Đó là bài " Biệt Đổng Đại " của Cao Thích, nên anh ta lại giơ tay lên ra dấu và điểm : " nhị Tuyệt cú !".

          Bốn cô đã ngâm bốn bài, toàn là tác phẩm của Vương Xương Linh và Cao Thích.

          Vương Chi Hoán thẹn quá, nhưng tự nghĩ rằng thơ của mình nổi danh đã lâu, bèn nói với hai người kia rằng: "Bọn này đều là những nhạc quan không theo kịp thời điểm, những bài họ hát đều là ngôn từ quê mùa của vùng Ba Thục. Còn những khúc hát như Dương xuân Bạch tuyết thì bọn phàm phu tục tử này có dám nói đến đâu ?" Bèn chỉ vào một trong những ca kỹ đẹp nhất bọn, nói: "Đến lượt cô này hát, nếu như không phải là thơ của ta, ta nhất định không tranh đua với các anh nữa. Còn nếu như đúng là thơ của ta, thì các anh phải tôn ta làm Thi THIÊN TỬ nhé !". Nói xong cả bọn vui vẻ cười đợi. Phút chốc, đến lượt cô đào đẹp nhất bọn, búi tóc song hoàn, cất tiếng ca réo rắt :

 

       Hoàng Hà viễn thướng bạch vân gian   黄河逺上白雲間

       Nhất phiến cô thành vạn nhận san       一片孤城萬仞山

       Khương địch hà tu oán dương liễu        姜笛何須怨楊柳

       Xuân phong bất độ Ngọc Môn Quan.    春風不度玉門関

Sông Hoàng Hà chảy từ nơi xa tít trong khoảng mây trắng. Một mảnh thành trơ trọi giữa núi cao muôn nhận (đơn vị đo lường thời xưa, ba thước là một nhận). Sáo Khương đừng thổi bài "Oán dương liễu" nữa, vì gió xuân kia cũng không đưa (tiếng sáo) qua được Ngọc Môn Quan đâu.

 

Diễn nôm :

                                                

                          Hoàng Hà xa tít tầng mây trắng,

                          Đổ xuống thành côi núi ngút ngàn.

                          Tiếng sáo rợ Khương sao réo rắt,

                          Gió xuân chẳng đến Ngọc Môn Quan !

 

Đúng là bài " Lương Châu Từ " nổi tiếng của Vương Chi Hoán, nên khi cô đào vừa dứt tiếng hát thì ...

           Vương Chi Hoán bèn vỗ tay cả cười nói với hai bạn rằng : " Các anh thấy đấy, ta nói có sai đâu, ta quả là chơn mạng Thi THIÊN TỬ đó nhé !". Cả bọn cùng cả cười chuốc rượu uống mừng.

Các linh quan không rõ đầu đuôi câu chuyện, đều hỏi: "Chẳng hay chư vị vui cười chuyện gì thế?" Vương Xương Linh và các bạn liền thuật rõ mọi việc. Các linh quan đồng thưa rằng: "Bọn tục nhân chúng tôi không nhận ra được những bậc cao nhã, xin được muôn vàn ngưỡng mộ!" Xong tất cả đều ngồi vào bàn tiệc cùng vui vẻ uống say  đến sáng.

           Nhân chuyện nầy, mới có giai thoại cho rằng Vương Chi Hoán cũng là Thi Thiên Tử là vì vậy !.....

 

          Kính mời Quý Vị xem  thêm tài liệu bổ sung sau đây :


          詩天子指诗坛的领袖。 唐 诗人 王昌龄 、 王维 和 李白 都有此誉称。 清 陆凤藻 《小知录·文学》:“ 王昌龄 集, 王维 诗天子, 杜甫 诗宰相。” 清 宋荦 《漫堂说诗》:“大抵各体有‘初’、‘盛’、‘中’、‘晚’之别,而三 唐 七絶,并堪不朽。 太白 、 龙标 ( 王昌龄 )更有‘诗天子’之号。” 郑振铎 《插图本中国文学史》第二五章八:“ 王昌龄 字 少伯 , 京兆 人,与 高适 、 王之涣 齐名,而 昌龄 独有‘诗天子’的称号。”
          Thi Thiên Tử ( Vua trong thơ )  chỉ lãnh tụ trên Thi Đàn. Các thi nhân Vương Xương Linh, Vương Duy và Lý Bạch đều có cái danh xưng danh dự nầy. Theo Lục Phụng Tảo đời Thanh " Văn học- Tiểu tri lục " thì : " Theo Vương Xương Linh tập, Vương Duy là Thi Thiên Tử, Đỗ Phủ là Thi Tể Tướng. "Trong " Mãn đường thuyết thi " đời Thanh thì : " Đại đễ các thể đều phân biệt SƠ, THỊNH, TRUNG, VÃN, mà tam Đường thất Tuyệt, đều có thể  nói là bất hủ hết được. Thái Bạch, Long Tiêu ( Vương Xương Linh ) lại có danh hiệu là "Thi Thiên Tử ".  Theo điều thứ 25 chương 8 trong " Tháp đồ bổn TRUNG QUỐC VĂN HỌC SỬ " của Trịnh Chấn Đạc viết : " Vương Xương Linh tự Thiếu Bá, người đất Kinh Triệu , nổi danh ngang hàng với Cao Thích, Vương Chi Hoán, nhưng Vương lại có danh xưng độc hữu là " THI THIÊN TỬ ".

Danh Hiệu của các thi nhân đời Đường như sau :

1.  詩仙/詩俠:李白   Thi Tiên, còn gọi là Thi Hiệp : Lý Bạch.
Mời Xem: XUÂN TỨ của Lý Bạch (Đỗ Chiêu Đức Diển Giãi)

2.  詩聖/詩史:杜甫   Thi Thánh hay Thi Sử : Đỗ Phủ. 

       Bạc Mộ - Đỗ Phủ
3.  詩豪:劉禹錫       Thi Hào : Lưu Vũ Tích.

ĐƯỜNG THI TUYỂN DỊCH Tập 1 : Ô Y HẠNG - Lưu Vũ Tích 

4.  詩霸:白居易       Thi Bá : Bạch Cư Dị

Về Bài "THU VŨ DẠ MIÊN " của BACH CƯ D 

5.  詩鬼/鬼才:李賀   Thi Quỷ hay Quỷ Tài : Lý Hạ. 

     Nam Viên Thập Tam Thủ kỳ Lục
6.  詩佛:王維          Thi Phật : Vương Duy.

Tống Xuân Từ của Vương Duy  

7.  詩囚:孟郊          Thi Tù : Mạnh Giao.

MẠNH GIAO 孟郊 (751-814) - Đỗ Chiêu Đức
8.  詩奴:賈島          Thi Nô : Giả Đảo.

Về Bài Xuân Hành ( 春行 ) của Giả Đảo (793 - 865)
9.  詩骨:陳子昂         Thi Cốt : Trần Tử Ngang.
      Đăng U Châu Đài Ca
10.  詩狂:賀知章        Thi Cuồng : Hạ Tri Chương.

Mời xem: HỒI HƯƠNG NGẪU THƯ Hạ Tri Chương
11.  詩傑:王勃           Thi Kiệt : Vương Bột.

Mời xem: Giai Thoại Văn Chương : Sửa Văn Vương Bột (Đỗ Chiêu Đức )
12.  詩天子:王昌齡       Thi Thiên Tử : Vương Xương Linh.

Mời xem: KHUÊ OÁN - VƯƠNG XƯƠNG LINH
13.  詩腸:張籍           Thi Trường : Trương Tịch. 

Bàn về Khúc ngâm người tiết phụ đời Đường (Trương Tịch) 
14.  詩囊 : 齊己           Thi Nang : Tề Kỷ. 
Nhất Tự Sư (Tề Kỷ) 

                                                                      

Đỗ Chiêu Đức 

Biên khảo

THẨN THƠ XƯỚNG HỌA

Kính mời vào xem thơ xướng họa với đủ đề tài và hình ảnh:

THÀNH NGỮ ĐIỂN TÍCH 53 : 

                                      

                                       HƯƠNG