



TỜ LỊCH ĐẦU NĂM
Tờ lịch đầu năm cảm khái nhiều,
Có thêm năm nữa để thương yêu.
Cám ơn trời đất thương bao biện,
Tạ hết người đời giúp bấy nhiêu.
Nhân ái tương thân đôi lúc khó,
Khoan dung tương trợ biết bao điều.
Cầu mong Bính Ngọ thêm đoàn kết,
Mã đáo... thương yêu, cảm khái nhiều !
Đỗ Chiêu Đức
01-02-2026

ĐÔNG 冬 là mùa Đông, mùa cuối cùng trong năm sau mùa Thu và trước mùa Xuân của năm sau. Tính theo Âm lịch thì mùa Đông là các tháng Mười, Mười Một và tháng Chạp trong năm, nhưng nếu tính theo Dương lịch thì là các tháng Mười Hai, tháng Giêng và tháng Hai. Còn nếu ở Nam Bán cầu như các nước Úc, nước Tạn Tây Lan thì mùa Đông là các tháng Sáu, tháng Bảy và tháng Tám.
Theo Âm lịch thì trong mùa đông, có tất cả 6 KHÍ TIẾT 氣節 (Khí hậu về Thời tiết) được phân bố như sau :
* Tháng Mười có 2 Khí tiết là :
- Lập Đông 立冬 thường lọt vào ngày 7-8 tháng 11 Dương lịch.
- Tiểu Tuyết 小雪 thường lọt vào ngày 21-23 tháng 11 Dương lịch.
* Tháng Mười Một có 2 Khí Tiết là :
- Đại Tuyết 大雪 thường lọt vào ngày 6-8 tháng 12 Dương lịch.
- Đông Chí 冬至 thường lọt vào ngày 21-23 tháng 12 Dương lịch.
* Tháng Mười Hai có 2 Khí Tiết là :
- Tiểu Hàn 小寒 thường lọt vào ngày 5-7 tháng Giêng Dương lịch.
- Đại Hàn 大寒 thường lọt vào ngày 19-21 tháng Giêng Dương lịch.
Đặc biệt ĐÔNG CHÍ là ngày có thời gian ban đêm dài nhất trong năm ở Bắc bán cầu, trái với HẠ CHÍ là ngày có thời gian ban ngày dài nhất trong năm, như câu tục ngữ mà ông bà ta vẫn thường truyền tụng là :
Tháng Năm chưa nằm đã sáng, và...
Tháng Mười chưa cười đã tối.
Theo nghĩa mặt chữ thì ĐÔNG CHÍ 冬至 có nghĩa là "Mùa Đông đã đến rồi" và cũng có nghĩa là ngày tháng của năm cũ sắp hết, năm đã sắp tàn rồi; Nên Tiết Đông Chí 冬至節 cũng là một cái Tiết lớn ở cuối năm, mọi người có dịp gặp nhau để hàn huyên những chuyện của năm qua, cùng đoàn viên và cùng ăn chè ỷ, chè trôi nước (người Hoa gọi là Thang Viên 湯圓) nấu để cúng tế ông bà tổ tiên mừng cho một năm đã đi qua trong bội thu và bình an viên mãn. Cúng tế mừng Tiết Đông Chí cũng có nghĩa là mừng cho gia đình được đoàn viên để cùng đón mừng tuổi mới. Ăn chè ỷ của Tiết Đông Chí rồi là đã thêm được một tuổi mới rồi đó, nếu có qua đời thì cũng được đếm thêm một tuổi thọ nữa...

Nhớ hồi còn nhỏ, khi cô tôi giúp mẹ nấu một nồi chè ỷ, chè trôi nước thật lớn để mừng Tiết Đông Chí, cô đã nói với tôi là :"Năm nay cháu đã mười tuổi rồi, vậy là mừng tuổi năm mới cháu phải ăn 11 viên chè trôi nước". Tôi bèn cười nói với cô rằng :"Nếu cô ăn nổi 20 viên, thì cháu cũng sẽ ăn 11 viên cho cô xem". Anh tôi bèn chen vào nói :"Anh thì ăn nổi 15 viên rồi đó, còn ba má làm sao ăn nổi 50 viên, đừng nói chi đến ông nội tới 70 tuổi lận !" Trong niềm vui cuối năm cả nhà sum họp để cùng nấu cùng cúng và cùng ăn những viên chè tròn tượng trưng cho sự đoàn viên tròn trịa của cuối năm, thì cũng có người vì công danh, vì sinh kế mà phải tha phương cầu thực... Tiết Đông Chí mà chưa được về quê, một mình một bóng cô thân nơi xứ lạ quê người như bài thất ngôn tứ tuyệt "Hàm Đan Đông Chí dạ tư gia 邯鄲冬至夜思家" (Ở xứ Hàm Đan đêm Đông Chí nhớ nhà) của Thi Bá Bạch Cư Dị sau đây :
邯鄲驛裡逢冬至, Hàm Đan dịch lý phùng Đông Chí,
抱膝燈前影伴身。 Bão tất đăng tiền ảnh bạn thân.
想得家中夜深坐, Tưởng đắc gia trung dạ thâm tọa,
還應說著遠行人。 Hoàn ưng thuyết trước viễn hành nhân !
Có nghĩa :
Ở nơi dịch quán của đất Hàm Đan nầy lại nhằm lúc Tiết Đông Chí đến, ta cũng đành ngồi bó gối trước ánh đèn mà bầu bạn với cái bóng của mình mà thôi. Nhớ về quê nhà giờ nầy chắc mọi người đang quây quần đoàn tụ ngồi với nhau trong đêm... và chắc cũng đang nhắc đến ta, một kẻ đi xa không về nhà được trong lễ tiết cuối năm nầy.
Trông người lại ngẫm đến ta, nếu Tiết Đông Chí nầy ta có về lại được quê nhà thì cũng không tìm đâu ra người xưa cảnh cũ; Thời gian nửa thế kỷ biết bao là tang thương biến đổi, đã xóa hết những hình ảnh kỷ niệm của "Những ngày xưa thân ái" đi rồi !
Dịch quán Hàm Đan Đông Chí rồi,
Trước đèn bó gối bóng đơn côi.
Quê nhà sum họp ngồi tâm sự,
Chắc cũng xa vời nhớ đến tôi !
Lục bát :
Hàm Đan Đông Chí đến rồi,
Bên đèn bó gối đơn côi bóng mình.
Nhớ nhà đoàn tụ đêm thanh,
Chắc đang nhắc đến những thành viên xa !...
Nếu mùa thu làm cho cỏ cây hoa lá héo hon vàng úa, thì mùa đông lạnh lẽo khắc nghiệt vùi chôn tất cả hoa lá cỏ cây, tạo nên cảnh tiêu điều lạnh lùng tang tóc khắp nơi với ngập trời tuyết trắng, với bầu trời u ám buồn thương... như Jean. Leiba đã viết :
Xuân tàn, hạ cỗi, cảnh thu sầu,
Mờ mịt hơi đông ám ngọn lau...
và cụ thể hơn như trong bài thơ "Bốn mùa yêu thương" của ông :
Nhưng một ngày đông nhiều mộng héo,
Đầy trời mưa lạnh, lá vàng gieo.
Em buồn, chẳng nỡ nhìn ta nữa,
Ta thấy trời đông bỗng lạnh nhiều !
Mùa Thu là mùa của tình buồn, thì mùa đông là tình của những mối tình tan vỡ, xót xa... như trong thơ của Huyền Kiêu :
Đông xám lại chàng tới hỏi :
Em thơ, chị đẹp em đâu ?
Chị tôi hoa phủ đầy đầu,
Đã ngủ trong lòng mộ tối !...
Gió thu xạc xào hiu hắt, còn gió đông thì se sắt lạnh lùng. Gió mùa đông là gió từ phương bắc thổi xuống. Bắc phương Nhâm Qúy thuộc Thủy, nên gió từ miền Bắc cực thổi xuống mang theo hơi nước giá lạnh của vùng tuyết băng khô khan lạnh lẽo. Hướng Bắc còn được gọi là hướng Sóc, nên Bắc Phong 北風 còn được gọi là SÓC PHONG 朔風 như trong bài thơ ngũ ngôn tứ tuyệt "Tòng Quân Hành 從軍行 (kỳ 4)" của Lệnh Hồ Sở 令狐楚 đời Đường :
SÓC PHONG thiên lý kinh, 朔風千里驚,
Hán nguyệt ngũ canh minh. 漢月五更明。
Túng hữu hoàn gia mộng, 縱有還家夢,
Do văn xuất tái thinh ! 猶聞出塞聲。
Có nghĩa :
Ngàn dặm gió bấc thổi,
Năm canh trăng quê nhà.
Dẫu có mộng hoàn gia,
Còn nghe lời xuất tái !
Song thất Lục bát :
Gió bấc thổi làm kinh lính thú,
Trăng Hán gia vằng vặc canh tà.
Dẫu cho mơ được về nhà,
Bên tai còn vẳng tiếng ra ải ngoài !

Gió Bắc khô khan lạnh lẽo của mùa đông, còn được bà con ta gọi trại thành GIÓ BẤC, nên mới có những câu Ca Dao trong dân gian Nam Bộ như sau :
Gió Bấc non thổi lòn hang chuột,
Thấy chị hai mầy tao đứt ruột đứt gan !
và...
Gió Bấc non thổi lòn hang dế,
Thấy chị hai mầy tao bế hế băng hăng !
Còn chàng thi sĩ Nguyễn Bính đa tình của thời Tiền Chiến, trong bài thơ "Mùa Đông Gửi cố nhân" đã rên rỉ :
Mưa phùn Gió Bấc, cố nhân ơi,
Áo rét nàng đan lỡ hẹn rồi.
Sông lạnh khi nàng ra giũ lụa,
Với dùm trong nước lấy hồn tôi.
và trong bài "Mùa Đông Nhớ Cố Nhân" thì Nguyễn Bính lại nhắn gửi :
Mưa phùn đầy cữ chửa cho thôi,
Gió Bấc đêm nay buốt suốt giời.
Giường mộng con thoi còn chạy lẻ,
Hay là nàng đã dệt thoi đôi ?

Trong văn học cổ có một thành ngữ về mùa Đông là THU THÂU ĐÔNG TÀNG 秋收冬藏, có nghĩa là : Mùa Thu là mùa của thu hoạch nông phẩm ngày xưa, còn mùa Đông là mùa phải cất giữ lại những nông phẩm thu hoạch đó để chi dùng trong những tháng mùa đông lạnh lẽo giá buốt. Thành ngữ nầy có xuất xứ từ sách《Sử Ký, Sử Thái Công Tự Tự 史记·太史公自序》với cả câu như sau : "Phù xuân sanh hạ trưởng, thu thâu đông tàng, thị thiên đạo chi đại kinh 夫春生夏长,秋收冬藏,是天道之大经" Có nghĩa : Phàm (vạn vật) mùa xuân thì sanh sôi nẩy nở, mùa hè thì phát triển trưởng thành, mùa thu thì thâu hoạch thành quả, mùa đông cất giữ (để chi dùng và để làm hạt giống cho năm sau), đó là cái lý lẽ lớn của đạo trời (chỉ sự tuần hoàn của vũ trụ và hoạt động trong đời sống con người). Các nông phẩm mang chữ ĐÔNG mà ta thường thấy thường dùng là :
- ĐÔNG QUA 冬瓜 (東瓜) là trái Bí Đao (tên khoa học là Benincasa pruriens), thường dùng để nấu canh và làm mức bí trong ngày Tết Nguyên Đán.
- ĐÔNG THÁI 冬菜 là Cải Hủ, dân Chợ Lớn gọi theo tiếng Tiều Châu là "Cải Tan-xại" dùng để chưng thịt cá hoăc làm gia vị cho Hủ tiếu Mì khi ăn.
- ĐÔNG TRÙNG THẢO 冬蟲草 còn gọi là Đông Trùng Hạ Thảo 冬蟲夏草 là một loại đông dược quý , được sử dụng từ lâu trong y học cổ truyền Trung Hoa và y học cổ truyền Tây Tạng; Hiện đang là dược thảo thịnh hành khắp thế giới.

- ĐÔNG DUẪN 冬筍(笋)là Măng Tre mọc vào mùa đông, có tên là MĂNG MẠNH TÔNG 孟宗筍, có vị ngọt dòn ngon nhất trong các loại măng, có xuất xứ từ Truyện thứ 17 của "Nhị Thập Tứ Hiếu 二十四孝" do Quách Cư Nghiệp 郭居業 (có sách ghi là Quách Cư Kính 郭居敬) vào thời nhà Nguyên biên soạn. Câu truyện như sau :
MẠNH TÔNG 孟宗(?—271)tự là Cung Vũ, người đất Giang Hạ thuộc nước Ngô thời Tam Quốc. Lúc nhỏ cha mất, mẹ thì thường hay đau yếu, khi bệnh mẹ trở nặng, thầy thuốc bảo ăn canh măng non thì bệnh sẽ khỏi, nên mẹ thường ao ước được ăn canh nấu bằng măng non. Khổ nỗi lại nhằm lúc mùa đông, măng non chưa mọc, Mạnh Tông bèn chạy ra rừng tre ôm những cây tre mà khóc, rồi mệt lả mà thiếp đi. Khi tỉnh dậy thì đã thấy chỗ nước mắt rơi xuống có mấy mụt măng trổ đất mọc lên. Mạnh Tông cả mừng bèn bứng lấy đem về nấu canh măng dâng lên cho mẹ ăn. Quả nhiên hôm sau bà mẹ đã mạnh khoẻ trở lại. Vì có tiếng là hiếu thảo, nên chúa Đông Ngô vời ông ra làm quan đến chức Tư Không. Người đời sau có thơ khen rằng :
泪滴朔風寒 Lệ trích sóc phong hàn,
蕭蕭竹數竿。 Tiêu tiêu trúc sổ can.
須臾冬笋出, Tu vu Đông Duẩn xuất,
天意報平安。 Thiên ý báo bình an.
Có nghĩa :
Lệ rơi gió bấc lạnh lùng,
Lưa thưa vài khóm trúc rừng héo hon.
Phút đâu vài mụt măng non,
Chui ra từ đất trời còn thương nhau.
Về sau vào mùa đông có một loại tre cho loại măng màu xám giống y như vậy, ăn rất ngon, được gọi là măng Mạnh Tông.
Trong chương trình cổ văn của lớp Đệ Thất (nay là lớp 6) ngày xưa, học sinh phải học hai tác phẩm "Lục Súc Tranh Công" và "Nhị Thập Tứ Hiếu" của Cử Nhân Lý Văn Phức (1785-1849) diễn Nôm bằng thể Song thất Lục bát. Bài "MẠNH TÔNG KHÓC MĂNG" được diễn Nôm như sau :
Ngô Mạnh Tông phụ thân sớm khuất,
Thờ mẫu thân lòng thực khăn khăn.
Tuổi già trằn trọc băn khoăn,
Khi đau nhớ bát canh măng những thèm.
Trời đông tuyết biết đâu tìm được,
Chốn trúc lâm phải bước chân đi.
Một thân ngồi dựa gốc tre,
Ôm cây kêu khóc nằn nì với cây.
Giữa bình địa phút giây bỗng nứt,
Mấy giò măng mặt đất nẩy sanh.
Đem về nấu một bữa canh,
Ăn rồi bệnh mẹ lại lành như xưa.
Măng mùa lạnh bây giờ mới thấy,
Để về sau nhớ lấy cỏ cây.
Cho hay hiếu động cao dày,
Tình sâu cũng khiến cỏ cây cũng tình.

Đầu mùa Đông ta có Tiết Lập Đông 立冬 là thời điểm giao mùa giữa thu và đông, khi trời tàn thu bắt đầu chuyển lạnh để sang mùa đông rét mướt. Thi nhân cũng chuyển vận từ gió heo may hiu hắt sang gió tuyết lạnh lùng, tiêu biểu như bài lục ngôn thi LẬP ĐÔNG, là bài thơ 6 chữ hiếm hoi rất độc đáo của Thi Tiên Lý Bạch như sau đây :
凍筆新詩懶寫, Đống bút tân thi lãn tả,
寒爐美酒時温。 Hàn lô mỹ tửu thời ôn.
醉看梅花月白, Túy khan mai hoa nguyệt bạch,
恍疑雪落前村。 Hoảng nghi tuyết lạc tiền thôn !
Có nghĩa :
Bút cóng câu thơ biếng viết,
Lò lạnh rượu tốt thường hâm.
Say nhìn hoa mai trăng sáng,
Ngỡ rằng tuyết phủ đầu thôn.
Lục bát :
Bút lạnh biếng viết câu thơ,
Lò tàn lửa tắt hững hờ rượu hâm.
Say nhìn mai trắng trăng ngân,
Chập chờn như tuyết trắng ngần xóm xa !
Bài thơ của Thi Tiên làm cho ta nhớ đến hai câu thơ tả Hoa Mai Nở Sớm (Tảo Mai 早梅) của nhà sư Tề Kỷ 齊己 ở cuối đời Đường là :
Tiền thôn thâm tuyết lý, 前村深雪裏
Tạc dạ nhất chi khai. 昨夜一枝開。
Có nghĩa :
Xóm xa trong tuyết đêm qua,
Một cành mai sớm nở ra trắng ngần.
Và hai câu thơ trên lại làm cho ta nhớ đến hai câu cuối trong bài kệ "Cáo Tật Thị Chúng 告疾示眾" của Mãn Giác Thiền Sư 滿覺禪師 của Việt Nam ta là :
莫謂春殘花落尽, Mạc vị xuân tàn hoa lạc tận,
庭前昨夜一枝梅! Đình tiền tạc dạ nhất chi mai.
Có nghĩa :
Chớ bảo xuân tàn hoa rụng hết,
Ngoài sân, đêm trước, nở cành mai!

Năm Hội Xương thứ hai đời Đường Vũ Tông (842) Đỗ Mục 杜牧 đã 40 tuổi, vì tính cương trực nên bị Tể Tướng Lý Đức Dũ tâu với vua biếm đến đất Hoàng Châu, Trì Châu rồi Mục Châu... Khi bị đày đến làm Thứ Sử Mục Châu lại nhằm lúc vào đông, năm hàn tháng lạnh tha hương một thân một bóng, đêm đông lạnh lẽo ngồi uống rượu một mình đã cảm tác nên bài "SƠ ĐÔNG DẠ ẨM 初冬夜飲" (Đầu đông đêm uống rượu một mình) như sau :
淮陽多病偶求歡, Hoài Dương đa bệnh ngẫu cầu hoan,
客袖侵霜與燭盤。 Khách tụ xâm sương dữ chúc bàn.
砌下梨花一堆雪, Thế hạ lê hoa nhất đôi tuyết,
明年誰此憑闌干。 Minh niên thùy thử bằng lan can.
Thân ta nhiều bệnh tật như là Cấp Ảm 汲黯 Thái Thú của quận Hoài Dương vậy, nên đôi khi cũng tìm vui trong chén rượu. Người khách tha hương hai tay áo nhuốm đầy phong sương chỉ làm bạn với cái giá nến cô độc nầy mà thôi. Dưới thềm tuyết đã đùn lên trắng xóa như hoa lê; không biết là sang năm còn có ai ngồi tựa lan can nầy (để uống rượu một mình như ta nữa không ?)
Hoài Dương nhiều bệnh chợt tìm vui,
Tay áo phong sương bên nến côi.
Trắng xóa dưới thềm hoa lê tuyết,
Sang năm ai biết có ai ngồi !?
Cũng uống rượu trong đêm đông, nhưng Bạch Cư Dị 白居易 lại uống một cách thư thái nhàn nhã, với một vò rượu mới ủ, với một bếp than hồng nho nhỏ, trong khi ngoài trời tuyết lại sắp rơi, dám hỏi bạn rằng : Bạn có thể đến cùng tôi để chúng ta cùng uống với nhau một chén rượu trong đêm đông lạnh lẽo nầy hay chăng ? Thật nên thơ và thật nhẹ nhàng thi vị biết bao ! Ta cùng đọc bài ngũ ngôn tuyệt cú "VẤN LƯU THẬP CỬU 問劉十九" (Hỏi chàng Lưu Thập Cửu) của Bạch Cư Dị sau đây nhé !

綠螘新醅酒, Lục nghĩ tân phôi tửu,
紅泥小火爐。 Hồng nê tiểu hỏa lô.
晚來天欲雪, Vãn lai thiên dục tuyết,
能飲一杯無? Năng ẩm nhất bôi vô ?
Có nghĩa :
Rượu vừa mới ủ xanh xanh,
Lò đất nho nhỏ cháy quanh lửa hồng.
Trời như muốn tuyết đêm đông,
Gặp nhau uống chén rượu nồng được chăng ?
Đọc bốn câu thơ trên lại làm cho ta nhớ đến bản nhạc "Về Dưới Mái Nhà" của nhạc sĩ Xuân Tiên với các câu...
... Người ơi ! Mau về đây,
Về bên bếp hồng tay cầm tay...
Mùa đông luôn rét mướt với cảnh vắng lặng của núi rừng không một bóng chim chóc vãng lai; Trên các nẻo đường cũng vắng bóng người qua kẻ lại; Hoạ hoằn lắm mới thấy được một ông câu khoát chiếc áo tơi buông câu trên dòng sông tuyết băng lạnh lẽo... như trong bài "GIANG TUYẾT 江雪" của Liễu Tông Nguyên 柳宗元, một trong "Đường Tống Bát Đại Gia" như sau :
千山鳥飛絕, Thiên sơn điểu phi tuyệt,
萬徑人蹤滅。 Vạn kính nhân tông diệt.
孤舟蓑笠翁, Cô chu toa lạp ông,
獨釣寒江雪。 Độc điếu hàn giang tuyết !
Có nghĩa :
Ngàn núi chim bay hết,
Muôn nẻo bóng người tuyệt.
Áo tơi một lão ông,
Buông cần trên sông tuyết !
Câu "Vạn kính nhân tông diệt" làm ta nhớ đến câu "Ngõ trúc quanh co khách vắng teo" của cụ Tam Ngyên Nguyễn Khuyến nhà ta ...

Nói đến mùa đông là nói đến hoa mai và tuyết trắng. Trong cảnh đông hàn lạnh lẽo, khi các cỏ cây hoa lá khác đã héo tàn thì hoa mai lại ngạo nghễ vươn lên trong tuyết lạnh với màu trắng tinh khiết và hương thơm nhẹ thoảng một cách cao nhã chẳng khuất phục trước thiên nhiên khắc nghiệt của thời tiết. Thôi Đạo Dung 崔道融 một thi nhân ở cuối đời Đường, mặc dù chỉ là một viên Huyện lệnh nhỏ nhoi nhưng lại tự hào với nhân cách cao khiết của mình qua bài ngũ ngôn luật thi MAI HOA 梅花 như sau :
數萼初含雪, Sổ ngạc sơ hàm tuyết,
孤標畫本難。 Cô tiêu họa bổn nan.
香中別有韻, Hương trung biệt hữu vận,
清極不知寒。 Thanh cực bất tri hàn.
橫笛和愁聽, Hoành địch hòa sầu thính,
斜枝倚病看。 Ta chi ỷ bệnh khan.
朔風如解意, Sóc phong như giải ý,
容易莫摧殘。 Dung dị mạc thôi tàn !
* Có nghĩa :
- Mấy đài hoa xanh còn đọng tuyết ôm ấp lấy mấy cánh hoa vừa mới nở...
- Cô đơn ngạo nghễ vươn lên, khó mà vẽ nên được cái thần thái vốn có kia
- Trong mùi thơm thoang thoảng có cái phong vận đăc biệt riêng,
- Vẻ thanh tân đến cùng cực nên không xem cái lạnh vào đâu cả.
- Khúc sáo "Mai hoa lạc" hòa vào sự buồn thương của người nghe,
- Với cành nhánh nghiêng chao trong tuyết giá trông như đang bệnh.
- Gió bấc kia nếu như hiểu được cái ý tình của hoa mai, thì xin...
- Chớ dễ dàng mà nổi cơn cuồng nộ làm cho hoa mai phải tàn tạ tả tơi !
* Diễn Nôm :

Đài hoa điểm tuyết trắng ngần,
Thanh cao ngạo nghễ khó phần vẽ nên.
Trong hương phong vận không tên,
Thanh tân hết mực nên quên lạnh hàn.
Sáo ai sầu khúc mai tàn,
Nghiêng chao cành nhánh nhẹ nhàng tợ đau.
Bắc phong điêu nghệ chút nào,
Chớ đem buốt giá lao đao nhánh cành !
Còn Tể Tướng Vương An Thạch đời Tống thì nhẹ nhàng, bình dân và đơn giản gãy gọn hơn với bài ngũ ngôn tuyệt cú sau đây :
牆角數枝梅, Tường giốc sổ chi mai,
凌寒獨自開。 Lăng hàn độc tự khai.
遙知不是雪, Dao tri bất thị tuyết,
為有暗香來。 Vị hữu ám hương lai !
Có nghĩa :
Gốc tường mấy cành mai,
Lạnh lẽo vẫn nở hoài.
Xa trông nào phải tuyết,
Vì hương thoảng mũi ai !
Lục bát :
Góc tường nọ mấy cành mai,
Lạnh tràn vẫn cứ nở hoài không thôi.
Xa trông chẳng phải tuyết rơi
Vì làn hương nhẹ khắp nơi thoảng mùi !

Có MAI có TUYẾT rồi còn phải có THƠ nữa thì mới đủ "Bộ Ba" nhã hứng của thi nhân ngày xưa. TUYẾT MAI Nhị Thủ 雪梅二首 là hai bài thơ thất ngôn tứ tuyệt nói về MAI TUYẾT và THƠ của thi nhân Lư Mai Pha 盧梅坡 đời Nam Tống. Hai bài thơ đã nói lên sự gắn bó không thể tách rời giữa Hoa mai, Tuyết trắng và Thơ ca; một sự kết hợp tuyệt vời của "Ba trong Một" mà nếu thiếu mất Một thì sẽ không thể tạo nên cái không gian và cảnh trí đẹp đẽ đặc sắc của buổi đông hàn giá buốt. Mời tất cả cùng đọc và thưởng thức...
其一 Kỳ Nhất
梅雪爭春未肯降, Mai Tuyết tranh xuân vị khẳng hàng,
騷人擱筆費評章。 Tao nhân các bút phí bình chương.
梅須遜雪三分白, Mai tu tốn tuyết tam phân bạch,
雪却輸梅一段香。 Tuyết khước thâu mai nhất đoạn hương.
* Chú thích :
- Hàng 降 : là đầu hàng, là Chịu thua. VỊ KHẲNG HÀNG là Chẳng chịu thua.
- Tao Nhân 騷人 : là Tao nhân mặc khách chỉ khách văn chương, văn nhân thi sĩ.
- Các Bút 擱筆: là Gác bút, không viết được.
- Bình Chương 評章 : là bình phẩm về văn chương thi ca.
- Tốn 遜 : là Khiêm tốn; là nhường nhịn, là Sút kém.
- Thâu 輸 : là Thua, là Sút kém.
* Nghĩa bài thơ :
- Mai và Tuyết cùng tranh nhau mùa xuân mà chẳng ai chịu nhường ai cả.
- Các tao nhân mặc khách cũng đành gác bút không muốn phí lời bình phẩm.
- Bạch Mai thì sút kém hơn Tuyết ba phần về sắc trắng. Còn...
- Tuyết thì thua Mai vì Mai còn có một làn hương thơm thoang thoảng.
* Diễn Nôm :
Mai tuyết tranh xuân chẳng chịu nhường,
Thi nhân gát viết phí lời suông.
Mai thì nhường tuyết ba phần trắng,
Tuyết lại thua mai một thoáng hương !
Lục bát :
Tranh xuân Mai Tuyết chẳng nhường,
Thi nhân gác bút hết đường cân phân.
Mai thua Tuyết trắng ba phần,
Tuyết thì lại chịu mai gần thoáng hương !

其二 Kỳ Nhị
有梅無雪不精神, Hữu Mai vô Tuyết bất tinh thần,
有雪無詩俗了人。 Hữu Tuyết vô Thi tục liễu nhân.
日暮詩成天又雪, Nhật mộ Thi thành thiên hựu Tuyết,
與梅並作十分春。 Dữ Mai tịnh tác thập phân Xuân !
* Chú thích :
- Bất Tinh Thần 不精神 : Chỉ Không có cái thần thái cao nhã thanh khiết.
- Tục Liễu nhân 俗了人 : Chỉ Con người trở nên phàm tục, tầm thường.
- Tịnh Tác 並作 : là Cùng tương tác để tạo nên...
- Thập Phân Xuân 十分春 : là Mười phần xuân, chỉ mùa xuân trọn vẹn đầy đủ.
* Nghĩa bài thơ :
- Có Mai mà không có Tuyết thì sẽ như thiếu đi cái thần thái cao nhã.
- Đã có Tuyết rồi nếu không có Thơ thì như quá phàm tục tầm thường.
- Trong cảnh trời chiều khi Thơ mới làm xong thì trời lại đổ Tuyết...
- Hợp cùng với hoa Mai nữa là mùa Xuân đã trọn vẹn cả mười phân vẹn mười rồi !
* Diễn Nôm :
Có Mai không Tuyết chẳng tinh thần,
Có Tuyết không Thơ phàm tục nhân.
Chiều xuống thơ thành trời lại tuyết,
Hợp cùng Mai nở cả mùa Xuân !...
Lục bát :
Có Mai không Tuyết tầm thường,
Không thơ có Tuyết tầm thường càng nhanh.
Trời chiều Tuyết đổ Thơ thành,
Hợp cùng Mai nở xuân xanh vẹn mười !

Ta thấy...
Trong khi hoa mai nở sớm trong làn tuyết trắng bay bay là đã báo hiệu cho mùa xuân đã đến. Mai nở trong tuyết, tuyết vờn quanh mai tạo nên một bức tranh cao nhã đầy thi vị của xuân tươi, nên cần có thơ để thăng hoa nâng cảnh trí nên thơ của buổi tàn đông và đầu xuân lên tuyệt đĩnh. Tác giả đã ngắm tuyết rơi, thưởng thức hoa mai nở và ngâm thơ xuân MAI TUYẾT trong tinh thần thẩm mỹ cao độ giữa MAI TUYẾT và THƠ một cách vô cùng nên thơ thi vị. Cụ Nguyễn Du cũng đã mượn cái cao nhã tinh khiết của Mai, của Tuyết của hai bài thơ nầy để tả vẻ đẹp thuần khiết trong trắng và cao quý của chị em Thúy Kiều và Thúy Vân :
MAI cốt cách TUYẾT tinh thần,
Mỗi người một vẻ mười phân vẹn mười !
Không phải chỉ có Hoa Mai là nở trong mùa đông, ở Việt Nam ta còn có HOA CÚC nữa. Mặc dù hoa Cúc là loài hoa tiêu biểu tượng trưng cho mùa thu, nhưng vào đông Cúc vẫn cứ nở rộ rực rở như đang tranh đẹp với hoa Mai vậy. Ta hãy đọc bài thất ngôn tứ tuyệt "ĐÔNG CÚC 冬菊" sau đây của Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm thì sẽ rõ :
一種延年館裡栽, Nhất chủng diên niên quán lý tài,
晚香獨向雪中開。 Vãn hương độc hướng tuyết trung khai.
莫笑爭芳時太晚, Mạc tiếu tranh phương thời thái vãn,
先春肯讓一枝梅。 Tiên xuân khẳng nhượng nhất chi mai ?!
Có nghĩa :
- Có một loài hoa được trồng quanh năm trong nhà trong quán;
- Có một mùi hương độc đáo về đêm thường hướng vào trong tuyết mà nở.
- Chớ cười là cùng tranh thơm một cách qúa muộn màng.
- Trước khi mùa xuân đến, há chịu nhường cho một cành mai hay sao ?!
(Có nghĩa là trong mùa đông nầy hoa cúc ta vẫn còn đẹp còn thơm lắm, chẳng có thua gì hoa mai kia chút nào cả !)
Loài hoa trồng tỉa suốt năm dài,
Đêm xuống hương thơm dựa tuyết khai.
Chớ bảo tranh thơm đà qúa muộn,
Trước xuân há dễ chịu nhường mai !
Lục bát :
Suốt năm trồng tỉa quanh nhà,
Đêm đông tuyết xuống hương xa dịu dàng.
Tranh thơm chớ bảo muôn màng,
Trước xuân há chịu nhượng nàng mai kia !

Nhân nhắc đến CÚC và MAI lại nhớ đến bốn câu cuối trong bài THẦN ĐỒNG THI 神童詩 của Uông Thù 汪洙 đời Tống là :
春游芳草地, Xuân du phương thảo địa,
夏賞绿荷池。 Ha thưởng lục hà trì.
秋飲黄花酒, Thu ẩm hoàng hoa tửu,
冬吟白雪詩。 Đông ngâm bạch tuyết thi.
Có nghĩa :
Xuân du trên thảm cỏ non,
Hè thì thưởng ngoạn sen tròn trên ao.
Thu nhâm nhi rượu cúc đào,
Đông ngâm thơ tuyết thú nào hơn ta !
Lại nhớ đến năm xưa, khi theo học lớp Đồng Ấu, thầy giáo đã cho học bài Học Thuộc Lòng (trong "Quốc Văn Giáo Khoa Thư"?) như sau :
Mùa xuân ấm áp khỏe người,
Hè thời nóng bức lửa trời nấu nung.
Mùa Thu gió mát trăng trong,
Mùa Đông rét mướt cho lòng xót xa.
Kẻ giàu mớ bảy mớ ba,
Người nghèo biết lấy chi mà che thân !
"Mớ bảy mớ ba" vì nằm trong nệm ấm chăn êm, còn trong đêm đông vẫn lang thang không nhà sống đời cô lữ, thì làm sao mà "mớ bảy mớ ba" cho được ! Để kết thúc bài viết "ĐÔNG là Mùa Đông" nầy, xin mời tất cả cùng lắng lòng với lời hát trong bản nhạc Thời Tiền Chiến "ĐÊM ĐÔNG" rất nổi tiếng của nhạc sĩ Nguyễn Văn Thương sáng tác vào năm 1939 của thế kỷ trước qua tiếng hát độc đáo của nữ ca sĩ Thanh Lam :
Mời bấm vào link dưới đây để nghe nhạc :
https://www.youtube.com/watch?v=2CS1USajeBA
Hẹn bài viết tới :
ĐÔNG là HƯỚNG ĐÔNG
杜紹德
Đỗ Chiêu Đức


Tạp Ghi và Phiếm Luận:
UỐNG "XÂY-CHỪNG", ĐÁI RA "XÂY NẠI"
(Các từ Việt có gốc Hoa trong Quán Nước)
Nói cho đủ câu nói trên là như thế nầy :"Buổi sáng, uống ly Xây Chừng, buổi tối đái ra Xây Nại". Vậy "Xây Chừng" là gì, và "Xây Nại" là gì ?! Xin Thưa :
- XÂY CHỪNG là phát âm tiếng Quảng Đông của từ TẾ CHỈNH 細整. TẾ là Nhỏ, CHỈNH là Hoàn chỉnh, ở đây có nghĩa là nguyên chất; Nên XÂY CHỪNG là "Ly cà phê nhỏ thuần chất", ý nói "Chỉ thuần cà phê chớ không có thêm chất gì khác cả". Nói tóm lại "XÂY CHỪNG là LY CÀ PHÊ ĐEN NHỎ". Còn...
- XÂY NẠI là phát âm tiếng Quảng Đông của từ TẾ NÃI 細奶. TẾ là Nhỏ, NÃI là Sữa, nhưng XÂY NẠI không phải là "Ly sữa nhỏ"; Vì đó là từ nói gọn lại của ba chữ XÂY PHÉ NẠI 細啡奶. XÂY là Nhỏ, PHÉ là Cà phê, NẠI là Sữa. Nên XÂY PHÉ NẠI là "Cà phê sữa nhỏ", nói gọn lại thành XÂY NẠI.
Ly Xây Chừng và Tài Chừng dùng uống Ca phê và rượu Đế
Ngày xửa ngày xưa, trước cổng phi trường Biên Hòa, nơi đóng quân của 2 đơn vị Quân đội : Sư Đoàn 3 Không Quân và Sư Đoàn Kỹ Thuật & Tiếp Vận, nên cái Dốc Sỏi trước phi trường là một xóm yên hoa của "Chị em ta". Cứ mỗi lần đến ngày phát lương cho lính là nơi đây lại vô cùng náo nhiệt. Tôi thường nghe các thằng bạn Không quân độc thân "Hào hoa phong... ngứa" của nhóm chúng tôi kháo nhau rằng : Lãnh lương xong, ghé Dốc Sỏi qua đêm, sáng ra quán cà phê uống ly "Xây Chừng", tối về đái ra "Xây Nại" là sẽ thành... Triệu phú ngay ! Người khác nghe thì lấy làm lạ, chớ chúng tôi thì đều hiểu là : Uống "Cà phê đen" mà đái ra "Cà phê sửa" là đã bị bệnh "lậu mủ" rồi (vì chơi bời bị bịnh Lậu nên có pyuria).. Nhà binh thường dùng Péniciline loại 4 triệu rưỡi, nên nói thành "Triêu phú" là vì thế. Trở lại với từ XÂY NẠI còn được nói thành...
- XÂY CÁ NẠI cũng là âm Quảng Đông của ba chữ TẾ GIA NÃI 細加奶. TẾ là Nhỏ, GIA Thêm, NÃI là Sửa; là nói gọn của nhóm từ XÂY PHÉ CÁ NẠI 細啡加奶 là "Cà phê đen nhỏ thêm sữa", là CÀ PHÊ SỮA NHỎ đó. Trong xã hội Miền Nam ngày xưa (và có lẽ cho đến hiện nay), tiền lo lót, hối lộ thường được gọi là "Tiền Cà phê" mà phải là "Cà phê sữa" mắc và ngon hơn Cà phê đen. Nên ta lại có từ phát sinh là "Trọng Tài Xây Cá Nại". Có nghĩa trong một trận thi đấu Thể dục Thể thao nào đó mà Trọng tài bắt thiên vị cho đội nầy hoặc đội khác, thì bị gọi là "Trọng tài Xây cá nại". Tức là Trọng tài đã được đội nào đó cho uống "Cà Phê Sữa" rồi !
TÀI CHỪNG và TÀI NẠI
Còn XÂY CHỪNG, XÂY NẠI uống không đã, thì kêu thứ lớn hơn là TÀI CHỪNG (Cà phê đen lớn), TÀI NẠI (Cà phê sữa lớn). Nhớ... Sau 1975, các lớp bậc Tiểu học (Cấp 1) cũng được chia thành từng tiết học (Trước đây, các lớp bậc Tiểu học, thầy cô giáo phải đứng lớp xuyên suốt cả buổi học). Nên chúng tôi có rất nhiều thời gian rảnh rỗi khi không có tiết lên lớp. Thế nên các thầy giáo trẻ của Thị Trấn Cái Răng chúng tôi hay kéo qua quán cà phê ngang trường để nhâm nhi thư giản và tán gẫu. Nhưng buổi sáng đã "uống cà phê" rồi, nên các lần sau không uống nổi cả ly "Xây Chừng" nữa, vì thế mà lại phát sinh thêm một từ mới rất gần gũi thân thương và thực tế là..."LƯNG CHỪNG". Cứ vào quán kêu "Cho một cái LƯNG CHỪNG !" là chủ quán hiểu ngay là chỉ có "Nửa ly XÂY CHỪNG" mà thôi ! Và từ nầy hoàn toàn là từ Việt Nam chớ không phải phát âm theo tiếng Quảng Đông nữa !
XÂY NẠI là Cà phê sữa nhỏ, TÀI NẠI là Cà phê sữa lớn. Thế hôm nào đó không khỏe trong người, muốn uống một ly SỮA NƯỚC SÔI thì kêu làm sao ? Sửa Nước Sôi trong tiệm nước người Hoa gọi là...
- BẠC TẨY là âm Quảng Đông của từ BẠCH ĐỂ 白底. BẠCH là Trắng, ĐỂ là Đáy, ở đây có nghĩa là cái NỀN, Nên BẠC TẨY nghĩa đen là "Cái nền trắng", là ly sữa nước sôi trắng tinh, không đen thùi như Cà phê đen, không nâu đậm như Cà phê sữa, mà trắng trẻo trông rất đẹp trai như một chàng thư sinh, nên SỮA NƯỚC SÔI còn được gọi là LEN CHẨY 倩仔 âm Hán Việt là THIẾN TỬ có nghĩa : Anh chàng đẹp trai. Nhưng uống ly sữa nước sôi trông có vẻ bệnh hoạn và yếu đuối quá, nên có người lại muốn thêm chút cà phê vào, nên lại phát sinh từ...
- BẠC XỈU PHÉ âm Quảng Đông của nhóm từ BẠCH THIỂU PHI 白少啡. BẠCH là Trắng, THIỂU là ít, PHI là Cà phê. Nên BẠC XỈU PHÉ là Sữa ít Cà phê. Cái lớn quá uống không nổi kêu cái nhỏ hơn, nên lại có từ...
- XÂY BẠC XỈU là âm Quảng Đông của "Cà phê sữa nhỏ ít cà phê".
LEN CHẨY và XÂY BẠC XỈU
Ở Mỹ hễ nói đến ăn trứng thì là Trứng Gà, còn ở Việt Nam ta thì thường ngày chỉ ăn Trứng Vịt, nên Trứng Gà được xem là bổ dưỡng hơn, qúy giá hơn; Nên hôm nào muốn tẩm bổ và muốn uống cho sang một chút thì vào quán kêu một ly...
- QUẢNH CẤY là Âm Quảng Đông của từ CỔN KÊ 滾雞. CỔN là Sôi, KÊ là Gà. Nhưng QUẢNH CẤY không phải là "con gà sôi" mà là "Nước sôi hột gà" và dĩ nhiên là có bỏ sữa hộp vào, lớp sửa trắng có ẩn cái lòng đỏ trứng tựa như trái banh bong, nên còn được các anh chàng "Phổ Ky" ví dỏm gọi là LEN CHẨY TẢ PÓ 倩仔打球. Có nghĩa "Anh chàng đẹp trai đánh banh". Quậy ly nước sôi sữa hột gà lên cho màu vàng nhạt rất đẹp, uống cũng rất ngon và có cảm giác như rất bổ rất khoẻ, nhưng lại... hơi tanh mùi trứng, nên có người lại muốn để thêm chút cà phê vào cho nó bán cái mùi tanh của trứng đi, đó là món...
- QUẢNH CẤY LỌT SỨC âm Quảng Đông của nhóm từ CỔN KÊ LẠC SẮC 滾雞落色. LẠC SẮC là Bỏ thêm màu sắc vào. Nên QUẢNH CẤY LỌT SỨC là "Sữa nước sôi hột gà thêm chút cà phê vào". Đây là thức uống bổ khỏe và sang chảnh của giới bình dân trong thời điểm Cà phê Sáng.
- PHỔ KY là âm Quảng Đông của từ HỎA KẾ 伙計. Từ Phiếm chỉ dùng để chỉ chung tất cả những nhân viên được thuê mướn trong một cửa hàng, cửa hiệu nào đó. Ví dụ : Tiệm nầy có tất cả 3 Phổ Ky. PHỔ KY cũng thường bị đọc trại thành "HỦ KY". Đi làm "Hủ Ky" là đi làm công cho hàng quán nào đó.
Hột Gà nước sôi và Sữa Hột Gà
Sáng uống nóng, trưa uống lạnh, nên lở kêu Xây Chừng rồi đành phải xin thêm một ly nước đá để đổ cà phê vào. Ly Nước Đá đó gọi là...
- XUỴT TẨY (XỊT TẨY) là âm Quảng Đông của từ TUYẾT ĐỂ 雪底. TUYẾT ở đây là Nước Đá, ĐỂ là cái Nền; nên XỊT TẨY là "Ly nước đá không" chưa có gì cả, nếu thêm cà phê vào thì gọi là...
- XUỴT PHÉ là âm Quảng Đông của từ TUYẾT PHI 雪啡, là "Cà Phê Đá". Vì ly cà phê đen cao có lổn ngổn nước đá trắng trong trôi nổi trong đó, nên các anh "Phổ ky" của các Quán nước đặt tên khôi hài là...
- HẮC QUẨY XÚNG LƯỜNG là âm Quảng Đông của nhóm từ HẮC QUỶ XUNG LƯƠNG 黑鬼沖涼. HẮC QUỶ là con quỷ đen, XUNG LƯƠNG là Tắm rửa. HẮC QUẨY XÚNG LƯỜNG là Con quỷ đen đang tắm, là "Cà phê đá". Vì ở Việt Nam ta chỉ thấy các anh Chà Và là có làn da đen thui mà thôi, nên HẮC QUẨY XÚNG LƯỜNG nói cho vui là "Ông Chà Và đang tắm" để chỉ ly Cà Phê Đá. Còn CÀ PHÊ SỮA ĐÁ là...
- XUỴT PHÉ NẠI là âm Quảng Đông của mhón từ TUYẾT PHI NÃI 雪啡奶, là Cà phê sửa trong tuyết, là Cà phê sữa đá đó.
- XUỴT XỦI là âm Quảng Đông của từ TUYẾT THỦY 雪水. Có nghĩa là Nước trong đá, là "Nước Đá Lạnh" nói chung, từ XUỴT XỦI còn có thể dùng để chỉ tất cả các thức uống có nước đá. Ví dụ như :"Mời Anh cùng chúng tôi đi "nhẩm"(uống) một ly XUỴT XỦI !". Có nghĩa là muốn uống Phê đá, Sửa đá, Cô Ca, Xá Xị, Nước Cam, Nước ngọt gì gì cũng được cả ! Nói thêm...
Tất cả các loại Xuỵt Xủi
- NHẨM là âm Quảng Đông của từ ẨM 飲 có nghĩa là UỐNG. Như NHẨM XÀ 飲茶 là "Uống nước trà". Nghĩa rộng của từ NHẨM XÀ là UỐNG TRÀ NƯỚC. Mời người ta đi NHẨM XÀ là mời người ta đi đến quán nước để uống nước... gì cũng được. Nên "Tiền Nhẩm Xà" là "Tiền Trà Nước", "Tiền Cà Phê", cũng là tiền lót tay, tiền hối lộ đó. Vì NHẨM XÀ nói lái là NHÀ XẨM, nên hồi đó chúng tôi cũng thường nói chơi với nhau là "NHẨM XÀ ở NHÀ bà XẨM". Trên mạng hiện nay lại có câu đối thách đối như thế nầy :"Vào Nhà bà Xẩm để Nhẩm Xà". Bạn thử "đối lại" xem sao !?...
Sau khi uống cà phê thì nước trà được uống miễn phí, chỉ trừ trà Lipton, tiếng Quảng Đông gọi là...
- HÙNG XÀ là âm Quảng Đông của từ HỒNG TRÀ 紅茶. Một loại trà pha ra có màu đỏ đậm và chát, nên khi uống nóng thì ngoài việc bỏ đường còn phải có thêm một lát chanh để làm giảm vị chát của trà. Uống nóng còn có thể cho thêm sữa hộp vào, gọi là XÀ NẠI 茶奶 (TRÀ NÃI) là Trà Sữa (không nặn chanh, vì chanh là Acid gặp sữa là chất kiềm sẽ bị kết tủa lợn cợn). Uống lạnh thì cứ bỏ nước đá vào gọi là HÙNG XÀ XUỴT 紅茶雪 (Hồng Trà Tuyết) là Trà đá Lipton...
HÙNG XÀ và HÙNG XÀ XUỴT
Quán Nước hay Tiệm Nước của người Hoa nói chung, được người Quảng Đông gọi là "XÀ THỔI" âm chữ Nho là TRÀ ĐÀI 茶枱. Có nghĩa là :"Cái bàn dùng để uống trà". Nghĩa phát sinh là "Nơi có rất nhiều bàn dùng để uống trà", nên XÀ THỔI có nghĩa là "Tiệm Nước" theo Tập quán Ngôn ngữ riêng của tiếng Quảng Đông mà thôi. Nói thêm cho rõ...
QUÁN 館(舘) là Nhà, nhưng ngoài mục đích để ở. Ví dụ : Lữ Quán 旅館 là Nhà trọ, Trà Quán 茶館 là Quán bán trà nước; Đại Sứ Quán 大使館 là Toà nhà cho Đại sứ ở và làm việc, Tăng Nghi Quán 殯儀館 là nhà Quàn để hòm người chết... Còn...
TIỆM là do âm Triều Châu (hay Tiều Châu) của chữ ĐIẾM 店 mà ra; Người Tiều Châu gọi là "CÀI TIẸM (không có dấu Ê) 個店", ta gọi trại thành CÁI TIỆM.
Trong QUÁN NƯỚC, ngoài để uống các loại nước ra, còn dùng để ăn sáng, mà người Hoa gọi là TỈM SẤM theo âm của tiếng Quảng Đông : TỈM SẤM là ĐIỂM TÂM 點心. ĐIỂM 點 Động từ có nghĩa là "Chấm phá, Cho vào..." TÂM 心 ở đây không phải là TIM , mà là LÒNG, là BỤNG. Nên ĐIỂM TÂM 點心 có nghĩa là "Buổi sáng mới thức dậy bụng còn trống, kiếm chút gì đó bỏ vào bụng cho vững để đi làm việc". Nên ĐIỂM TÂM là "Ăn Sáng Nhẹ". Mời cùng đọc giai thoại sau đây :
TỪ VĂN TRƯỜNG 徐文長 ( 1521-1593 ) tên là VỊ, tự là Văn Trường, sanh năm Chánh Đức thứ 16 đời nhà Minh. Người đất Sơn Âm (Thiệu Hưng ngày nay), lớn lên trong một gia đình quí tộc đang hồi xuống dốc. Sáu tuổi đã đi học, nổi tiếng là THẦN ĐỒNG, 20 tuổi đậu Tú Tài, là một nhà văn, nhà thơ, nhà thư pháp và là một họa sư nổi tiếng ở cuối đời Minh đầu đời Thanh.
Ông là người phóng khoáng, không chịu gò bó vào khuông phép, nên thi hoài 8 khoa mà vẫn không đậu Cử Nhân giống như Trần Tế Xương của ta : " Tám khoa chưa khỏi phạm trường qui ! "vậy. Tài hoa thì có thừa, nên hay dùng văn thơ châm biếm người đời, bởn cợt kẻ quyền thế, rất được giới bình dân hâm mộ giống như là Trạng QUỲNH của ta vậy !
Từ Văn Trường văn hay chữ tốt nổi tiếng trong vùng, nên một hôm, có người đến nhờ ông viết dùm bảng hiệu "Tỉm Xấm" để bán đồ điểm tâm. Ba chữ " ĐIỂM TÂM ĐIẾM 點心店 là Tiệm Điểm Tâm vừa treo lên thì người ra vào ăn điểm tâm nườm nượp suốt cả tháng trời, ông chủ tiệm cười híp cả mắt, mặc sức mà hốt bạc... Nhưng có một điều hết sức ngạc nhiên là thực khách nào ăn xong khi đến tính tiền đều nói với chủ tiệm là : " Ông ơi, 3 chữ ĐIỂM TÂM ĐIẾM 點心店 của ông, chữ TÂM sao viết thiếu mất một chấm ở giữa ?!". Như ta đã biết, hình dạng chữ TÂM được Cụ NGUYỄN DU diễn tả lúc Thúy Kiều nhớ Thúc Kỳ Tâm ( là Thúc Sinh đó) với 2 câu như sau :
Đêm thu gió lọt song đào,
Nửa vành TRĂNG KHUYẾT BA SAO giữa trời.
Từ Văn Trường và chữ TÂM 心
Chữ 心 có hình dạng như Nửa Vành Trăng Khuyết và 3 vì sao, 2 cái 2 bên, 1 cái ở giữa, nhè Từ Văn Trường không có chấm "Cái chấm ở giữa". Ông chủ tiệm là dân thị tứ đâu có biết gì là chữ nghĩa, nghe mọi người đều nói vậy nên tìm Từ Văn Trường để nhờ anh ta chấm thêm cho một chấm. Nhưng sau khi chấm xong chấm đó, thì suốt cả tháng trời buôn bán ế ẩm. Ông chủ quán lại gặp Từ Văn Trường than thở rằng, từ khi chấm cái chấm đó xong thì buôn bán không còn như trước nữa. Từ Văn Trường cười bảo ông ta rằng : "Chữ TÂM là cái lòng, cái bụng, bụng có trống thì người ta mới ghé lại mà ĐIỂM Tâm, nay đã chấm thêm một chấm là bụng đã no rồi, không cần phải ĐIỂM TÂM nữa, ế là phải ! ". Ông chủ mới té ngữa ra, bây giờ muốn xóa chấm đó đi thì đã không còn được nữa rồi !
Sự thật thì Từ Văn Trường chỉ lợi dụng cái tâm lý hiếu kỳ và hiếu sự của quần chúng để "câu khách" cho tiệm. Ai trông thấy chữ Tâm thiếu mất một chấm đều "ngứa ngáy" muốn nói cho chủ quán biết, sẵn đã vào tiệm nên ăn điểm tâm luôn một thể mà thôi !
Món TỈM XẤM đầu tiên mà ai cũng biết hết, đó là món...
- XÍU MẠI là âm Quảng Đông của từ THIÊU MẠI 燒賣. Một loại thức ăn Điểm Tâm buổi sáng của người Quảng Đông; Có 2 loại : Xíu Mại Khô, thịt bằm, củ sắn được ướp thêm gia vị và được bọc bằng một lớp vỏ bột mì màu vàng; Xíu Mại Nước, không có bọc vỏ, được chưng cách thuỷ trong một cái dỉa nhỏ. Hai loại KHÔ và NƯỚC nầy thường được ăn với "Dầu-Chá-Quẩy" hay bánh mì đều rất ngon...
Nhớ hồi nhỏ, má tôi đưa tiền biểu cô em gái lớn ra quán nước Trương Ký ở đầu đường nhà lồng chợ Cái Răng mua 2 viên "Xíu Mại" về cho thằng em trai ba tuổi ăn cháo. Khi ra đến quán nghe người ta kêu "Xây chừng", "Xây nại" lung tung beng... nên quên hết lời má dặn, bèn nói với chú phổ-ky là : Bán cho tui 2 cái "Xây chừng" gói lại ! Chú phổ-ky ngạc nhiên hỏi : Xây chừng mà GÓI gì con ? Má con biểu mua cái gì ? Nó quýnh quá nói rằng : Mua "cái gì đó"... cho em con ăn cháo ! Chú phổ-ky hiểu ra hỏi : Mua "Xíu Mại" phải hông ? Nó mừng qúa nói " Ừa, Xíu mại, xíu mại... Bán cho con hai viên đi !"...
Xíu Mại khô Xíu Mại Nước Há Cảu Hoành Thánh
- HÁ CẢO là âm Quảng Đông của từ HÀ GIẢO 蝦餃. HÀ là tôm, tép; GIẢO là Bánh xếp; Nên HÀ GIẢO là một lọai bánh Xếp nhỏ được gói bằng nhưn thịt tép và lớp vỏ bột mì tinh (Tapioca) chưng cách thuỷ trong một chiếc dỉa nhỏ.
- HOÀNH THÁNH là âm Quảng Đông của từ VÂN THÔN 雲吞. VÂN là Mây, THÔN là Nuốt. HOÀNH THÁNH như Xíu Mại, nhưng chỉ nhỏ bằng 1 phần tư Xíu Mại khô mà thôi, nêm phần bột mì gói dôi ra được bóp nhầu lại, khi nấu thì lại bung ra như một cục mây nhỏ, nên mới gọi là HOÀNH THÁNH là "Mây để nuốt", và Hoành Thánh không có ăn riêng, mà phải nấu chung với MÌ sợi, được gọi là HOÀNH THÁNH MÌN 雲吞麵. Có người gọi HOÀNH THÁNH là MÌ THÁNH; còn người Miền Bắc thì gọi là VẰN THẮN.
- MÌN là MÌ phát âm Quảng Đông của từ MIẾN 麵. MÌ là thức ăn được làm từ lúa mì, lúa mạch. Bột mì được cán mỏng và xắt thành từng sợi một. Trước mắt được ép bằng máy thành hai loại sợi nhỏ là DÂU MÌN 幼麵 (ẤU MIẾN là Mì Nhỏ); Sợi lớn là SÚ MÌN 粗麵 (THÔ MIẾN là Mì Lớn). MÌ ép xong được vắt thành từng vắt một. Ăn một vắt thì gọi là TÁL MÌM chữ Nho là 單麵 ĐƠN MIẾN; Ăn hai vắt thì gọi là MÁ MÌN chữ Nho là MA MIẾN 孖麵. MA ở đây có nghĩa CẶP, là ĐÔI. Ông gìa bà cả thì thường ăn TÁL MÌN, còn thanh niên sức trai trẻ thì phải ăn MÁ MÌN, có cậu còn phải ăn tới HOÀNH THÁNH MÁ MÌN 雲吞孖麵 mới đủ no. Có nhiều ông có tính khôi hài, vào quán chưa kịp kéo ghế ngồi xuống đã kêu với phổ-ky :"Một cái Hắc-Quẩy với một cái Má... Mầy!" Phổ-ky cười xòa, biết là ông ta kêu một cái cà phê đen và một tô mì 2 vắt...
Mì 2 vắt Mì 1 vắt Mì Hoành Thánh
- SỦI CẢO là âm Quảng Đông của từ THỦY GIẢO 水餃. THỦY là Nước, GIẢO là Bánh xếp, Bánh Quai vạc; nên SỦI CẢO là "Bánh Xếp Nước, Bánh Quai Vạc Nước", như Há Cảo nhưng được nắn dẹp hơn, được luôc chín và nấu trong nước súp của Hủ Tiếu Mì. NÓ được gói bằng lớp bột Tapioca, khác với Hoành Thánh viên nhỏ hơn và được gói bằng vỏ bột mì. SỦI CẢO nấu chung với MÌ được gọi là CẢO MÌN 餃麵. Món ăn SỦI CẢO ngày nay được chế biến rất đa dạng, ngoài việc nấu chung với MÌ ra, SỦI CẢO còn được chiên dòn hay chỉ luộc chín rồi chấm tương ớt mà ăn cũng rất ngon lành. Trước mắt Khu Ẩm Thực trên phố Hà Tôn Quyền ở Chợ Lớn được xem là “Thiên đường” của món SỦI CẢO SÀI GÒN với trên 20 quán SỦI CẢO nổi tiếng mở cửa hoạt đông từ 4,5 giờ sáng cho đến giữa khuya.
Sủi Cảo Chiên Sủi Cảo hấp khô Dủi Cảo Nước
- HỦ TIẾU là âm Tiều Châu của từ QUẢ ĐIỀU 粿條 : QUẢ là Bánh; ĐIỀU là Sợi. Nên QUẢ ĐIỀU là bánh bằng bột gạo được xắt thành từng sợi từng sợi một, nấu với xương súp, bên dưới độn giá hẹ, bên trên thêm vài lát gan và thịt khìa xắt mỏng, có nơi còn thêm một miếng bánh tôm chiên dòn, bỏ thêm mỡ tỏi, hành ngò, rắc tí tiêu lên là sẽ có một tô Hủ Tiếu thơm phứt ngon lành. HỦ TIẾU trong quán nước Quảng Đông được gọi là HÀ PHẤN 河粉, âm Quảng Đông là HÒ PHẢNH, PHẢNH là PHẤN là Bột gạo, nếu ăn một tô bình thường thì gọi là "DÁCH CÔ HÒ PHẢNH 一個河粉", là "Một Tô Hủ Tiếu"; còn nếu ăn ít thì gọi là "DÁCh CÔ TÁL PHẢNH 一個單粉". TÁL PHẢNH là ĐƠN PHẤN là ít Hủ Tiếu. HỦ TIẾU là món điểm tâm duy nhất bằng tiếng Triều Châu hiện diện trong các tiệm nước Quảng Đông, âm Tiêu Châu chính gốc của từ QUẢ ĐIỀU 粿條 là "CỦI TÉO" được bà con ta gọi trại thành HỦ TIẾU, CỦ TIẾU, PHỞ TIẾU... (Không biết là từ PHỞ có phải từ đây mà ra chăng ?!). Nấu HỦ TIẾU chung với MÌ, gọi là HỦ TIẾU MÌ, âm Quảng Đông là PHẢNH MÌN 粉麵, "Dách Cô Phảnh Mìn 一個粉麵" là "Một Tô Hủ Tiếu Mì".
Hủ Tiếu Khô Hủ Tiếu Nước Hủ Tiếu gỏ
So với MÌ thì HỦ TIẾU bình dân hơn, vì rẻ hơn, dễ nấu hơn, nên lại phát sinh thêm món HỦ TIẾU GỎ, bán cả ngày lẫn đêm và len lỏi vào tận các con hẽm nhỏ hẽm cụt với tiếng gỏ nhịp lốc cốc từ các con đường lớn đến các xóm nhà lá nghèo nàn ở tận hang cùng ngõ hẹp, khi đói đều có thể kêu một tô HỦ TIẾU GỎ được nấu và bưng tới nhà mà giá thì chỉ bằng phân nửa ở tiệm mà thôi.
Hẹn bài viết tới :
Các từ Việt có gốc Hoa chỉ các món ăn vặc.
杜紹德
Đỗ Chiêu Đức













Tương truyền, khi làm xong 2 câu đầu của bài "Phong Kiều Dạ Bạc 楓橋夜泊" nầy là :
月落乌啼霜满天, Nguyệt lạc, ô đề, sương mãn thiên,
江枫魚火對愁眠. Giang phong, ngư hỏa, đối sầu miên.
… thì nhà thơ Trương Kế 張繼 (715~779) của ta bí lối, bí vần, "bí xà lù"... không biết phải làm tiếp 2 câu kế như thế nào, nên cứ trằn trọc mãi, không ngủ được. Thời may, từ đâu vọng đến tiếng chuông chùa trên núi Hàn San gần đấy, làm cho ông xúc cảnh sinh tình mà hạ nốt 2 câu chót rất bất hủ là :
姑蘇城外寒山寺, Cô Tô thành ngoại, Hàn San tự,
夜半锺聲到客船. Dạ bán chung thinh đáo khách thuyền.
Tiếng chuông vừa khuấy động không gian tĩnh mịch của đêm thanh, vừa như cảm thông với người lữ thứ cô đơn mà vọng đến để an ủi, dỗ dề....Nhưng, tại sao giữa đêm khuya (dạ bán : là nửa đêm) lại có tiếng chuông chùa vọng đến thế kia ? Thường thì rựng sáng chùa mới có hồi chuông công phu, sao chùa Hàn San lại công phu giữa đêm. À, thì ra lại có một câu chuyện giai thoại văn chương như thế nầy :

Tương truyền, đêm hôm ấy, khoảng mùng 3, mùng 4 gì đó, nên vành trăng non đầu tháng treo lơ lửng trên không, khiến cho Sư Cụ trong chùa ngắm trăng rồi xúc động mà ngâm thành 2 câu thơ sau :
一片玉弧分两段, Nhất phiến ngọc hồ phân lưỡng đoạn,
半沉水底半浮空. Bán trầm thủy để, bán phù không.
Có nghĩa :
Một cây cung bằng ngọc, được chia ra làm 2 đoạn. Một nửa chìm dưới đáy nước, một nửa nổi ở trên không trung. Ý thơ hay quá, vì 2 mảnh trăng lưỡi liềm, một trên trời, một dưới nước, nếu ráp lại với nhau thì như là một vành cung bằng ngọc.
Nhưng, khổ nỗi, là thầy cũng không tìm ra được 2 câu nối để hoàn tất bài thơ Thất Ngôn Tứ Tuyệt. Nên chi, thầy không ngủ được, thao thức mãi mới bật dậy đi quanh chùa, tình cờ thầy gặp một chú Tiểu cũng đang thơ thẩn cạnh hồ sen. Sau phút ngạc nhiên, hỏi ra, thì ra chú Tiểu ta cũng thấy trăng non mà xúc động nên làm ra 2 câu thơ, và cũng không tìm được 2 câu nối, nên cũng không ngủ được mà còn thơ thẩn ở đây. Quả là sự ngẫu nhiên trùng hợp. Sư Cụ mới bảo chú Tiểu đọc ra 2 câu thơ đó xem sao. Chú Tiểu bèn đọc là :
初三初四月朦朧, Sơ tam sơ tứ nguyệt mông lung,
半似银钩半似弓. Bán tự ngân câu, bán tự cung.
Có nghĩa :
Mùng 3 mũng 4 ánh trăng còn mông lung mờ ảo, Nửa giống như là cái móc bạc, nửa giống như là cánh cung...
... thì cũng vừa vặn ráp với 2 câu của Sư Cụ thành một bài Tứ Tuyệt như sau :
初三初四月朦朧, Sơ tam sơ tứ nguyệt mông lung,
半似银钩半似弓. Bán tự ngân câu, bán tự cung.
一片玉弧分两段, Nhất phiến ngọc hồ phân lưỡng đoạn,
半沉水底半浮空. Bán trầm thủy để, bán phù không.
Có nghĩa :
Mùng ba mùng bốn trăng mờ,
Nửa như móc bạc nửa ngờ cánh cung.
Ngọc bình hai nửa chia phân,
Nửa chìm đáy nước nửa phần trời cao.
Hay quá, lại vừa đúng niêm luật, lại vừa đúng vận, thành một bài thơ Thất Ngôn Tứ Tuyệt hoàn bích. Sư Cụ mới bảo với chú Tiểu là : Không biết sau nầy thầy trò ta có cùng tu thành chánh quả hay không, chứ hiện nay thì thầy trò ta đã cùng gặp nhau trong văn chương rồi, âu đây cũng là ý của Phật Tổ chứng chiếu, vậy thì con hãy vào nấu nước pha trà, để thầy trò ta cùng tạ ơn Phật Tổ. Chú Tiểu vâng lời thầy, nên sau khi thắp nhang cúng Phật, mới có tiếng chuông chùa nửa đêm vọng xuống thuyền của Trương Kế, để nhà nhơ hoàn tất bài thơ bất hủ "Phong Kiều Dạ Bạc" là thế ! (楓橋夜泊 Đêm ghé thuyền ở bến Phong Kiều).

Sau đây là bài thơ diễn nôm bằng thể Lục bát của nhà thơ Tản Đà :
Trăng tà, tiếng quạ kêu sương
Lửa chài, cây bến, sầu vương giấc hồ
Thuyền ai đậu bến Cô Tô,
Nửa đêm nghe tiếng chuông chùa Hàn San.
... Và sau đây là bài diễn nôm của Đỗ Chiêu Đức :
Trăng lặn qụa kêu sương khắp trời,
Bờ phong leo lét lửa chài phơi.
Cô Tô chùa lạnh Hàn San ấy,
Chuông vẳng nửa đêm não dạ người.
Thơ Tám chữ :
Trăng tà lạnh, tiếng quạ kêu sương xuống
Giấc sầu miên, sông vắng, đối lửa chài
Chùa Hàn San ngoại thành Cô Tô ấy
Nửa đêm buồn, chuông vẳng đến thuyền ai !

Giai thoại trên đây có thể do người đời sau đặt ra để tô điểm thêm cho bài thơ "Phong Kiều Dạ Bạc 楓橋夜泊" càng huyền hoặc và hấp dẫn hơn, đồng thời cũng giải thích cho việc tại sao vào lúc nửa đêm lại có tiếng chuông chùa công phu bất chợt. Nhưng dù sao thì chúng ta cũng được thưởng thức thêm môt bài thơ hay nữa, chả tốt hơn sao !?...
Hẹn bài dịch tới !
杜紹德
Đỗ Chiêu Đức


Đây là bài thất ngôn cổ thi của Thi Tiên Lý Bạch, làm vào năm Thiên Bảo thứ 2 đời Đường Huyền Tông. Bài thơ gồm có 6 câu 42 chữ, tả lại lòng tưởng nhớ của một cô phụ đất Tần (Tràng An) nhớ về vùng biên tái xa xôi, nơi mà người chinh phu chinh chiến lâu ngày vẫn chưa trở lại. Nhớ thương trong nỗi niềm tuyệt vọng vì cũng tuyệt luôn cả đường giao thông và thư tín !
思邊 TƯ BIÊN
去 年 何 時 君 別 妾 ? Khứ niên hà thời quân biệt thiếp ?
南 園 綠 草 飛 蝴 蝶. Nam viên lục thảo phi hồ điệp.
今 歲 何 時 妾 憶 君 ? Kim tuế hà thời thiếp ức quân ?
西 山 白 雪 暗 秦 雲. Tây sơn bạch tuyết ám Tần vân.
玉 關 去 此 三 千 里, Ngọc quan khứ thử tam thiên lý,
欲 寄 音 書 那 可 聞。 Dục ký âm thư nả khả văn.
李白 Lý Bạch

* Chú thích :
- HÀ THỜI 何 時 là Nghi vấn tự, có nghĩa :Khi nào, Lúc nào ?...
- NAM VIÊN 南 園 là từ phiếm chỉ, chỉ chung về các khu vườn cỏ, vườn hoa...
- LỤC THẢO PHI HỒ ĐIỆP 綠 草 飛 蝴 蝶 là Bướm bay trên thảm cỏ xanh; ý chỉ "Mùa Xuân".
- TÂY SƠN 西 山 là Núi Tây, chỉ vùng cao nguyên Thanh Tạng của nước Thổ Phồn ngày xưa, với quanh năm tuyết phủ.
- TẦN VÂN 秦 雲 là Mây ở đất Tần, Tần là đất của vùng Thiểm Tây, nơi có kinh đô Tràng An, mà cũng là nơi của người chinh phụ đang ở.
- NGỌC QUAN 玉 關 là Ngọc Môn Quan, cửa ải thông về hướng Tây bắc nằm ở biên tái tỉnh Cam Túc, là cửa ải nối liền với vùng Tây vực.
- Câu cuối : DỤC KÝ ÂM THƯ 欲 寄 音 書 là Muốn gởi thư hay nhắn tin...NẢ KHẢ VĂN 那 可 聞 là Điều đó làm sao mà nghe thấy được !? (Là Không thể có được!).
* Nghĩa Bài Thơ :
NHỚ VỀ VÙNG BIÊN TÁI
Năm trước, lúc nào thì chàng rời xa thiếp ? Đó là lúc bướm trong vườn đang bay lượn trên thảm cỏ xanh ! (là mùa xuân).
Năm nay, lúc nào thì thiếp đang nhớ chàng đây ? Chính là lúc mùa đông, khi tuyết trắng ở các dãy núi tây đang che mờ cả mây của đất Tần (là đất Tràng An mà thiếp đang ở đây).
Từ đây đến Ngọc Môn Quan phải mất ba ngàn dặm đường, nên muốn nhắn tin hay gởi thư đều không thể được gì cả ! (Vì có ai đi đến đó đâu mà gửi thư hay nhắn tin ! Cho nên đành nhớ thương trong đau buồn tuyệt vọng mà thôi !).
* Diễn Nôm :

Năm trước khi nào chàng biệt thiếp ?
Vườn nam cỏ biếc bướm vờn bay.
Năm nay lúc nào thiếp nhớ chàng ?
Núi Tây tuyết trắng mờ Tràng An.
Ngọc Môn Quan cách ba ngàn dặm,
Thư từ tin nhắn chẳng ai kham !
Lục bát :
Chia tay năm trước tiễn chàng,
Xuân tươi cỏ biếc bướm vàng lượn bay.
Năm nay đông đến nhớ ai...
Đất Tần mây phủ núi Tây lạnh lùng.
Ngọc Môn Quan cách nghìn trùng,
Tin thư vắng bặt não nùng lòng đây !
Hẹn bài dịch tới !
杜紹德
Đỗ Chiêu Đức

Một năm có bốn mùa : Xuân Hạ Thu Đông; THU là mùa thứ ba trong năm. Theo "Chữ Nho... Dễ Học" thì THU 秋 thuộc dạng chữ Hội Ý sau Tượng Hình, có diễn tiến chữ viết như sau :

Ta thấy :
- Bộ HÒA 禾 là Cây lúa, phần chữ Tượng hình có một bông lúa chín gục đầu về bên trái.
- Bộ HỎA 火 là Lửa, phần Tượng hình là hình tượng của một đống lửa cháy lên ba ngọn.
- Chữ THU 秋 là Mùa Thu, đươc ghép bởi chữ HÒA là Cây Lúa và chữ Hỏa là Lửa, với Hội ý là : Cây lúa đã chín đỏ rực như lửa khắp đồng ruộng. Mùa lúa chín tức là mùa thu hoạch và cũng là mùa THU trong năm, được gọi là THU THÂU 秋收 là "Thâu hoạch vào mùa Thu".
Chữ THU 秌 còn có một hình thức đặc biệt nữa là bộ HỎA 火 có thể đặt trước bộ HÒA 禾 để chỉ sự đỏ rực, vàng hực của cây lúa trong mùa Thu và đồng thời cũng là mùa của "Lá vàng trước gió sẻ đưa vèo !" như cụ Nguyễn Khuyến đã tả trong bài THU ĐIẾU 秋釣 là "Câu cá trong mùa Thu".
Kể về bốn phương Đông Nam Tây Bắc, thì mùa Thu là hướng Tây, còn kể về Âm dương Ngũ hành thì Tây phương Canh Tân thuộc Kim, nên gió mùa thu là Kim Phong 金風, là "Gió Vàng" hiu hắt, se sắt lạnh lùng, như Ôn Như Hầu Nguyễn Gia Thiều đã mở đầu Cung Oán Ngâm Khúc bằng hai câu :
Trải vách quế GIÓ VÀNG hiu hắt,
Mảnh vũ y lạnh ngắt như đồng!
Gió mùa thu là Gió Vàng, là gió của hướng Tây, nên trong ca dao dân gian vùng Nam bộ sông nước cũng có câu :
Anh về để áo lại đây,
Để khuya em đắp GIÓ TÂY lạnh lùng.
..........
Có lạnh lùng lấy mùng mà đắp,
Trả áo anh về đi học kẻo trưa!
Trong văn học cổ thì mùa thu được nhắc nhở bài bản tượng hình tiêu biểu với một chiếc lá Ngô đồng qua hai câu :

Ngô đồng nhất diệp lạc, 梧桐一葉落,
Thiên hạ cộng tri thu ! 天下共知秋!
Có nghĩa :
Ngô đồng một chiếc lá rơi,
Khắp cùng thiên hạ biết trời vào thu!
Còn trong văn thơ thời Tiền Chiến thì thi sĩ Ngyễn Bính đã cảm nhận mùa thu bằng hai chiếc lá Bàng, mà ngày xưa thầy giáo lớp Sơ cấp Tiểu học đã bắt học thuộc lòng như sau :
Thu đi, trên những cành Bàng,
Chỉ còn hai chiếc lá vàng mà thôi.
Hôm qua đã rụng một rồi,
Lá theo gió cuốn ra ngoài sơn thôn.
Hôm nay, bởi thấy tôi buồn,
Lìa cành theo gió, lá luồn qua song.
Hai tay ôm lá vào lòng,
Than ôi! chiếc lá cuối cùng là đây!
Quạnh hiu như tấm thân này,
Âm thầm sống với những ngày gió mưa...
Mùa thu năm Bính Tí (1937)

Riêng thi sĩ Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu thì cảm nhận mùa thu qua tất cả các mặt đặc trưng như THU PHONG (Gió thu), THU SƯƠNG (Sương thu), THU NGUYỆT (Trăng thu), THU DIỆP (Lá thu), THU GIANG (Sông thu)... trong bài "Cảm Thu, Tiễn Thu" qua các câu mở đầu của bài thơ như sau...
Từ vào thu đến nay:
Gió thu hiu hắt, (Thu Phong 秋風)
Sương thu lạnh, (Thu Sương 秋霜)
Trăng thu bạch, (Thu Nguyệt 秋月)
Khói thu xây thành. (Thu Yên 秋煙)
Lá thu rơi rụng đầu ghềnh, (Thu Diệp 秋葉)
Sông thu đưa lá bao ngành biệt ly....(Thu Giang 秋江)
Còn trong Truyện Kiều thì cụ Nguyễn Du chỉ chấm phá những nét đặc trưng tiêu biểu của mùa thu mà thôi, như:
Long lanh đáy nước in trời,
Thành xây khói biếc non phơi bóng vàng !

hoặc như :
... Nàng thì dặm khách xa xăm,
Bạc phao cầu giá đen gầm ngàn mây.
Vi lô san sát hơi may,
Một trời Thu để riêng ai một người !
Mùa thu là mùa của thi nhân, mùa của những thi sĩ với tâm hồn lãng mạn, với tình cảm thiết tha sướt mướt, với những khối tình sầu của những người yêu tưởng nhớ đến nhau; Ta hãy nghe Huyền Kiêu diễn tả thật nên thơ với các câu :
Thu vàng có chàng tới hỏi:
- Em thơ, chị đẹp em đâu?
- Chị tôi khăn trắng ngang đầu
Đi hát tình sầu trong núi !
Còn "Giọt Lệ Thu" của nữ sĩ Tương Phố thì buồn thương ướt át với...
Sầu thu nặng lệ thu đầy,
Vi lô san sát hơi may lạnh lùng.
Ngổn ngang trăm mối bên lòng,
Ai đem Thu cảnh bạn cùng THU TÂM.
THU TÂM 秋心 là Tâm tình, tâm sự trong mùa thu heo may hiu hắt khi lòng đang nặng trĩu sầu tư... và đây cũng là một cách chơi chữ của nữ sĩ Tương Phố tài hoa : Lấy chữ TÂM 心 đặt dưới chữ THU 秋 ta sẽ có chữ SẦU 愁 theo phép Hội Ý; Tâm tình trong mùa thu thì thường là những mối tình sầu. Chẳng những trong thi ca mà cả trong âm nhạc nữa, mời bấm vào link dưới đây để nghe bản nhạc "THU SẦU" của cố nhạc sĩ tài hoa Lam Phương :

Ngoài nghĩa chỉ mùa Thu ra, THU còn có nghĩa là Một Năm, vì mỗi năm chỉ có một mùa Thu thôi; nên TAM THU 三秋 ngoài nghĩa là 3 tháng của mùa thu ra, còn có nghĩa là ba năm nữa; Như trong bài Thái Cát, chương Vương Phong trong Kinh Thi 《詩经·王風·采葛》:
彼采葛兮, Bỉ thái cát hề,
一日不見, Nhất nhật bất kiến,
如三月兮! Như tam nguyệt hề!
彼采蕭兮, Bỉ thái tiêu hề,
一日不見, Nhất nhật bất kiến,
如三秋兮! Như tam thu hề!
彼采艾兮, Bỉ thái ngải hề,
一日不見, Nhất nhật bất kiến,
如三歲兮! Như tam tuế hề!
Có nghĩa :
Người kia đi hái bố đay,
Vắng nhau dù chỉ một ngày mà thôi.
Tưa như ba tháng đà trôi !
Người kia đi hái cỏ tiêu,
Không gặp từ sáng đến chiều mà thôi.
Tưởng như ba thu qua rồi !
Người kia hái ngải nơi đâu,
Một ngày không gặp nghe sầu không thôi.
Đằng đẵng như ba năm trời!

Từ bài Kinh Thi trên đã hình thành một thành ngữ "Nhất Nhật Tam Thu 一日三秋" Có nghĩa : Một ngày dài tựa ba mùa thu (ba năm). Trong Truyện Kiều, tả lúc Kim Trọng tưởng nhớ Thúy Kiều cụ Nguyễn Du đã viết:
Sầu đong càng khắc càng đầy,
BA THU dọn lại MỘT NGÀY dài ghê!
Trong ca dao dân gian Nam bộ cũng có câu:
Xin đừng rẻ Bắc chia Nam.
Nhất nhật bất kiến như Tam Thu hề.
Huống Tam Thu bất kiến hề,
Người Nam kẻ Bắc nhớ về một phương!
TAM THU 三秋 là ba năm, nên THIÊN THU 千秋 là Ngàn năm, chỉ thời gian rất dài rất lâu, là mãi mãi về sau... như trong vế thơ mà nhà văn Khái Hưng trong Tự Lực văn Đoàn đã thoát dịch bài thơ của kịch tác gia người Pháp Félix Arvers (1806 - 1850) trong truyện ngắn "Tình Tuyệt Vọng" của Ông là:
Lòng ta chôn một khối tình
Tình trong giây phút mà thành THIÊN THU.
Tình tuyệt vọng, nỗi thảm sầu
Mà người gieo thảm như hầu không hay!...
THIÊN THU là Ngàn năm, thường dùng để chỉ thời gian vô tận của mãi mãi về sau mà không bao giờ với tới được... nên cũng dùng để tiễn đưa, điếu tang để tỏ lòng tiếc thương với người qúa cố; Ta hay nghe câu THIÊN THU VĨNH BIỆT 千秋永別, nói Nôm na là NGÀN THU VĨNH BIỆT hay VĨNH BIỆT NGÀN THU là sẽ mãi mãi không bao giờ còn gặp lại nhau được nữa!
THIÊN THU là mãi mãi rồi, là cái móc thời gian ngàn năm mà con người không sao vươn tới được, nhưng dã tâm trong lòng con người lại rất lớn, nhất là những người đang có quyền lực trong tay, như trong truyện võ hiệp "Tiếu Ngạo Giang Hồ" của nhà văn Kim Dung, Nhậm Ngã Hành sau khi về nắm lại chức giáo chủ của Nhật Nguyệt Thần Giáo đã cho giáo chúng tung hô mình với câu "Văn thành võ đức, THIÊN THU VẠN TẢI, nhất thống giang hồ 文成武德,千秋萬載,一統江湖". Ý chỉ mới là giáo chủ của một bang giáo mà thôi, chả trách các hoàng đế ngày xưa đều muốn mọi người phải tung hô "VẠN TUẾ 萬歲". Ngàn tuổi còn không đạt được huống hồ muôn tuổi ! Thường thì từ "THIÊN THU" chỉ để ca ngợi công đức của các bậc thần thánh mà thôi, như những miếu thờ Quan Công của người Hoa ở khắp nơi trên thế giới, ta thường thấy có đôi câu đối sau đây:
千秋義勇無雙士, THIÊN THU nghĩa dũng vô song sĩ,
萬古精忠第一人. Vạn cổ tinh trung đệ nhất nhân.
Có nghĩa :
- Từ ngàn xưa đến nay, không có được người thứ hai trung nghĩa và dũng cảm như thế.
- Tính từ muôn đời trước, đây là người số một hết dạ trung thành với chúa mà thôi.
NGÀN THU nghĩa dũng không hai tướng,
Vạn cổ tinh trung chỉ một người!
Vì THU 秋 chỉ thời gian gần cuối năm, nên THU NƯƠNG 秋娘 là từ dùng để chỉ những phụ nữ đứng tuổi mà nhan sắc còn mặn gợi cảm, ta có thành ngữ "Bán Lão Thu Nương 半老秋娘" dùng để tán thưởng các bà các cô tuy già mà còn đẹp. Thành ngữ nầy có xuất xứ từ những cô kỹ nữ, ca kỹ tài hoa ở đời Đường. Thường thì các cô nàng đã rất đẹp rồi lại trang điểm và làm dáng ra vẻ sầu thương ủy mị, lạnh lùng như nước mùa thu se sắt nhưng dễ đánh động lòng người, nên các cô thường được gọi là các "THU NƯƠNG 秋娘", là các "Nàng Thu" đẹp não nùng làm say mê các vương tôn công tử thích ăn chơi lúc bấy giờ. Nổi tiếng nhất có Đỗ Thu Nương 杜秋娘, Tạ Thu Nương 謝秋娘 (Xem lại bài NƯƠNG là NÀNG)... Trong bài thơ trường thiên "TÌ BÀ HÀNH" của Bạch Cư Dị, khi nàng ca kỹ đàn Tì Bà nổi tiếng năm xưa ở đất Tràng An kể lại thời vàng son của mình lúc còn trẻ đã nói:
曲罷曾教善才服, Khúc bãi tằng giao thiện tài phục,
妝成每被秋娘妒。 Trang thành mỗi bị THU NƯƠNG đố.
Có nghĩa :
- Đàn xong một khúc, thường được các người giỏi về đàn khâm phục,
- Mỗi lần trang điểm xong, thường bị các THU NƯƠNG đố kỵ, ganh tị.
Tì bà thán phục thiện tài,
Mỗi lần trang điểm ganh hoài THU NƯƠNG
Nên...
THU NƯƠNG 秋娘 còn là các cô nàng xinh đẹp như mùa Thu; THU BA 秋波, THU THỦY 秋水 là ánh mắt trong và đẹp như nước mùa thu gợn sóng của các giai nhân; THU NHAN 秋颜, THU DUNG 秋容 là Dung nhan đẹp mà buồn như mùa Thu, như nàng cung phi của Ôn Như Hầu Nguyễn Gia Thiều đã tự hào :
... Nhuỵ hoa chưa mỉm miệng cười,
Gấm nàng Ban đã nhạt mùi THU DUNG.
Áng đào kiểm đâm bông não chúng,
Khoé THU BA dợn sóng khuynh thành...
THU đi với XUÂN, cho ta từ XUÂN THU 春秋, cũng là từ dùng để chỉ một khoảng thời gian dài, như : Đã trải qua biết mấy độ XUÂN THU rồi !... Có nghĩa là : Đã trải qua một thời gian với rất nhiều năm tháng qua đi rồi. Ta lại có thành ngữ "XUÂN KHỨ THU LAI 春去秋来" là : Xuân đi Thu đến, chỉ thời gian tuần tự qua đi một cách âm thầm lặng lẽ. Thành ngữ nầy lại làm cho ta nhớ đến một vế thơ trong bài "Mai Rụng" của J. Leiba (Lê Văn Bái), một thi sĩ thời Tiền Chiến:
Xuân tàn, hạ cỗi, cảnh Thu sầu,
Mờ mịt hơi đông ám ngọn lau.
Xuân tới cành đào hoa lại nở,
Mong chàng mỏi mắt, thấy chàng đâu?
Ngoài ra...
XUÂN THU 春秋 còn là một trong NGŨ KINH 五經 do khổng Tử san định là : Kinh DỊCH 易, Kinh THI 詩, Kinh THƯ 書, Kinh LỄ NHẠC 禮樂, Kinh XUÂN THU 春秋. KINH XUÂN THU được xem như là quyển biên niên sử đầu tiên của lịch sử Trung Hoa. Thời Kỳ Xuân Thu 春秋時期 vào khoảng (770-476/403 Trước Công Nguyên)là thời kỳ đầu của Đông Chu (Châu). Khổng Tử đã căn cứ vào Lỗ sử, từ Lỗ Ẩn Công nguyên niên (722 TCN) cho đến Lỗ Ai Công năm thứ 14 (481 TCN) qua 12 đời vua Lỗ để san định Kinh Xuân Thu. Lúc bấy giờ Thiên tử nhà Chu đã bắt đầu suy yếu, không còn hiệu lệnh được Chư hầu. Các châu huyện lớn và các thị tộc lớn đều đứng lên tuyên bố tự trị như một nước Chư hầu, tất cả có trên 140 nước chư hầu lớn nhỏ cùng tranh bá đồ vương. Các Chư hầu lớn mạnh dần lên rồi xưng hùng xưng bá, hình thành Xuân Thu Ngũ Bá 春秋五霸 là Tề Hoàn Công, Tống Tương Công, Tấn Văn Công, Tần Mục Công và Sở Trang Vương kế tiếp nhau mà Xưng Bá Thiên Hạ. Suốt khoảng 242 năm của thời kỳ Xuân Thu có 36 vua Chư hầu bị sát hại, 52 nước Chư hầu nhỏ bị diệt vong, với hơn 480 trận chiến lớn nhỏ và trên 450 lần hiệp minh cùng triều kiến Thiên tử nhà Chu. Sau Thời kỳ XUÂN THU là Thời kỳ CHIẾN QUỐC 戰國時期 khoảng(475—221 TCN)Gọp chung hai thời kỳ nầy lại gọi là Thời kỳ XUÂN THU CHIẾN QUỐC 春秋戰國時期 khoảng trên 500 năm Trước Công Nguyên. "Xuân Thu Ngũ Bá 春秋五霸" cũng là tiền đề gợi ý cho nhà văn Kim Dung viết nên truyện võ hiệp nổi tiếng "Võ Lâm Ngũ Bá 武林五霸" sau nầy.

Khi san định KINH XUÂN THU, Khổng Tử đã dùng bút pháp thật nghiêm cẩn, khen chê đúng mực thẳng thắn, không vị nể, nên lại hình thành thành ngữ "XUÂN THU BÚT PHÁP 春秋筆法"; dùng rộng ra còn có nghĩa là chỉ cách viết phê phán việc gì đó một cách bộc trực, thẳng thắn không thiên vị. Trong văn học cổ, ta còn thường gặp các thành ngữ "Xuân... Thu..." như sau :
- XUÂN LAN THU CÚC 春蘭秋菊 : là Hoa lan của mùa xuân và hoa cúc của mùa thu. Có xuất xứ từ bài Lễ Hồn trong Cửu Ca của Khuất Nguyên thời Chiến Quốc 戰國·屈原《九歌·禮魂》. vốn chỉ mỗi mùa hoa đều có một loại hoa đặc trưng riêng của mùa đó, và với hàm ý là : Hoa lan thì đẹp trong mùa xuân và hoa cúc thì đẹp trong mùa thu. Mỗi mùa mỗi hoa đều có vẻ đẹp độc đáo riêng của mùa hoa đó, mà không thể so sánh là "Mèo nào hơn mỉu nào" được ! Như cụ Nguyễn Du đã cho chàng Kim Trọng đánh giá một cách "Nịnh đầm" hai chị em Thúy Kiều và Thúy Vân là :
Bóng hồng nhác thấy nẽo xa,
XUÂN LAN THU CÚC mặn mà cả hai!
... Chỉ mới "nhác thấy nẽo xa..." thôi, mà đã biết là "XUÂN LAN THU CÚC mặn mà cả hai" rồi ! Thiệt là "Xạo hết chỗ nói". Nhưng... biết "Xạo" với phái đẹp, thì cũng "Dễ thương" thôi!
- XUÂN HOA THU NGUYỆT 春花秋月 : là Hoa của mùa xuân và trăng của mùa thu. Hai cái đẹp tiêu biểu nhất của hai mùa, nên cũng dùng để ám chỉ đó là cái thời gian vàng son, tươi đẹp, vui vẻ, hạnh phúc nhất của con người. Thành ngữ nầy có xuất xứ từ bài từ "Ngu Mỹ Nhân 虞美人" của Nam Đường Lý Hậu Chúa Lý Dục 李煜. Về mặt chính trị Lý Dục là một hôn quân không biết chăm lo cho việc triều chính, để đến đổi phải mất nước; nhưng về mặt văn học, thì ông lại là một văn học gia, một thi nhân và được xưng tụng là "Hoàng đế của Từ Đàn", nhất là khi ông bị giam lỏng như một tù nhân của nhà Tống, thì lời từ của ông càng thắm thía da diết buồn thương hơn của một đế vương vong quốc, như bài từ "Ngu Mỹ Nhân 虞美人" nổi tiếng sau đây:
春花秋月何時了? XUÂN HOA THU NGUYỆT hà thời liễu?
往事知多少! Vãng sự tri đa thiểu!
小樓昨夜又東風, Tiểu lâu tạc dạ hựu đông phong,
故國不堪回首月明中。 Cố quốc bất kham hồi thủ nguyệt minh trung.
雕欄玉砌應猶在, Điêu lan ngọc thế ưng do tại,
只是朱顏改。 Chỉ thị chu nhan cải.
问君能有幾多愁? Vấn quân năng hữu kỷ đa sầu ?
恰似一江春水向東流! Kháp tự nhất giang xuân thuỷ hướng đông lưu!
Có nghĩa :
- Cảnh đẹp như hoa xuân trăng thu bao giờ mới hết đây?
- Chuyện (tốt đẹp) cũ ôi biết là bao nhiêu !
- Đêm qua trên lầu nhỏ nầy lại hây hẩy gió xuân (gió hướng đông),
- Nhớ về cố quốc mà chẳng dám quay đầu (vì thẹn) với ánh trăng trong.
- Cung son điện ngọc chắc hãy vẫn còn đó...
- Chỉ là dung nhan tươi trẻ đã đổi thay...
- Dám hỏi người còn có được bao nhiêu là nỗi sầu (vong quốc đây)?
- Tất cả cũng giống như là một dòng nước xuân chảy miết và mất hút về hướng đông mà thôi ! (Không bao giờ còn tìm thấy lại được nữa !).
Lục bát :
XUÂN HOA THU NGUYỆT mãi còn,
Bấy nhiêu chuyện cũ mõi mòn lòng ta.
Gió xuân lầu nhỏ đêm qua,
Thẹn cùng cố quốc trăng xa quay đầu.
Cung son điện ngọc còn đâu?
Tuổi xanh má thắm dãi dầu sương pha.
Hỏi người sầu muộn kỷ đa ?
Tựa như dòng nước la đà về đông ...
Lời từ bày tỏ nỗi lòng ưu tư sầu muộn, nuối tiếc cho những ngày tháng tươi đẹp như "Xuân Hoa Thu Nguyệt" đã đi qua và sẽ mãi mãi không bao giờ còn tìm lại được nữa, mặc dù cung son điện ngọc ngày xưa vẫn còn đó. Chính lòng hối hận tiếc muối và đau buồn nầy của Lý Hậu Chúa đã khiến cho Tống Thái Tông Triệu Quang Nghĩa ban thuốc độc cho ông chết đi để chừa hậu hoạn. Bấm vào link dưới đây để nghe ca sĩ Đặng Lệ Quân, danh ca Đài Loan, hát bài "Kỷ Đa Sầu 幾多愁?" phổ nhạc bài từ trên :

Mùa THU là mùa của Thi nhân, của trời xanh mây trắng, của gió mát trăng thanh, của lá vàng bay trước gió... Ta hãy nghe cụ Tam Nguyên Yên Đổ vịnh trời thu như sau :
Trời THU xanh ngắt mấy tầng cao,
Cần trúc lơ thơ gió hắt hiu...
... và...
Lưng giậu phất phơ màu khói nhạt,
Làn ao lóng lánh bóng trăng loe.
Kịp đến bài THU ĐIẾU là "Mùa Thu Câu Cá" thì toàn cảnh mùa thu hiện ra một cách sống động, nhưng nhẹ nhàng với cái heo may hiu hắt lạnh lẽo của trời thu vắng lặng qua các vần "trong veo, tẻo teo, đưa vèo, vắng teo..." một cách tài tình và tuyệt vời :
Ao thu lạnh lẽo nước trong veo,
Một chiếc thuyền câu bé tẻo teo.
Sóng biếc theo làn hơi gợn tí,
Lá vàng trước gió sẽ đưa vèo.
Tầng mây lơ lửng trời xanh ngắt,
Ngõ trúc quanh co khách vắng teo.
Tựa gối, ôm cần lâu chẳng được,
Cá đâu đớp động dưới chân bèo.
Đến thời kỳ THƠ MỚI của các thi nhân Tiền Chiến thì không ai là không biết đến bài thơ "Tiếng Thu" của thi sĩ Lưu Trọng Lư khi nhắc đến mùa thu:
Em không nghe mùa thu...
Dưới trăng mờ thổn thức?
Em không nghe rạo rực...
Hình ảnh kẻ chinh phu,
Trong lòng người cô phụ?
Em không nghe rừng thu...
Lá thu kêu xào xạc,
Con nai vàng ngơ ngác...
Đạp trên lá vàng khô?...
Chỉ vỏn vẹn có 9 câu thơ mà tạo nên tên tuổi của Lưu Trọng Lư một cách bất hủ với hình ảnh của "Con nai vàng ngơ ngác, đạp trên lá vàng khô !..." và đó cũng là hình ảnh của Lưu Trọng Lư đã để lại một cách đậm nét trên thi đàn THƠ MỚI lúc bấy giờ và mãi mãi về sau nữa!...
Cũng như chỉ có hai câu văn trong bài ĐẰNG VƯƠNG CÁC TỰ 滕王閣序 ở đời Đường khi tả cảnh Mùa Thu trên sông nước, cũng đã làm nên tên tuổi bất hủ của người đứng đầu Sơ Đường Tứ Kiệt 初唐四傑 Vương Bột 王勃 là :
落霞與孤騖齊飛, Lạc hà dữ cô vụ tề phi,
秋水共長天一色。 THU THỦY cộng trường thiên nhất sắc!
Có nghĩa :
Ráng chiều cò trắng cùng bay,
Long lanh THU THỦY nước mây một màu!
Hình ảnh một cánh cò đơn lẻ bay trên sông nước mênh mông trong ánh nắng chiều tà đã gợi nên một ý thơ lai láng, cũng như một cánh hạc trắng bay vút lên không và in hình trên khoảng trời thu xanh lơ bát ngát cũng đưa hồn thơ của thi sĩ lên tận chốn mây xanh. Mời đọc bài THU TỪ 秋詞 của "Chàng Lưu" Lưu Vũ Tích sau đây :
自古逢秋悲寂寥, Tự cổ phùng thu bi tịch liêu,
我言秋日勝春朝。 Ngã ngôn thu nhật thắng xuân triêu.
晴空一鶴排雲上, Tình không nhất hạc bài vân thượng,
便引詩情到碧霄。 Tiện dẫn thi tình đáo bích tiêu!
Có nghĩa :
Ngàn xưa THU đến gợi buồn tanh,
Ta bảo THU hơn xuân thắm xanh.
Cánh hạc vút trời mây bát ngát...
Hồn thơ cũng vút tận mây xanh !

Năm Đại Lịch thứ 2 đời Đường Đại Tông ở xứ Quì Châu, lúc đó Thi Thánh Đỗ Phủ đã 56 tuổi đang mang bệnh phổi lại thân ở nơi tha hương đất khách. Cảm vì thân phận nổi trôi, công danh sự nghiệp trắc trở, tuổi già lại sồng sộc đến nơi, nên trong ngày mùng 9 tháng 9 tiết Trùng cửu đăng cao, một mình lên trên thành Bạch Đế ở Quì Châu, nhìn cảnh thu hiu hắt tiêu điều, núi sông lạnh lùng hùng vĩ, cuồn cuộn nước sông trong cảnh lá đổ muôn chiều, trăm ngàn cảm xúc dâng trào nên ông viết nên bài thơ "Đăng Cao" với cảnh thu bất hủ qua bốn câu thực và luận như sau đây :
... 無邊落木蕭蕭下, Vô biên lạc mộc tiêu tiêu hạ,
不盡長江滾滾來。 Bất tận trường giang cổn cổn lai.
萬里悲秋常作客, Vạn lý bi thu thường tác khách,
百年多病獨登台。 Bách niên đa bệnh độc đăng đài...
Có nghĩa :
... Lá vàng lìa cội vàng rơi rụng,
Nước cuộn sông dài cuộn chảy tuôn.
Muôn dặm sầu thu thân đất khách,
Trăm năm thân thế bệnh còn vương...
Thật não lòng thay cho "Vạn lý bi thu thường tác khách"(Muôn dặm sầu thu thân đất khách)! Nhìn nước sông cuồn cuộn chảy trong cảnh lá đổ rạt rào, nỗi sầu thu trên đất khách càng thấm thía hơn khi có làn gió thu hắt hiu lạnh lùng thổi đến với đàn nhạn bay về nam in bóng trên nền trời xanh thẳm, như bài "Thu Phong Dẫn 秋風引" của Lưu Vũ Tích :
何處秋風至? Hà xứ thu phong chí ?
蕭蕭送雁群。 Tiêu tiêu tống nhạn quần.
朝來入庭樹, Triêu lai nhập đình thọ,
孤客最先聞。 Cô khách tối tiên văn.

Có nghĩa :
Gió thu từ đâu thổi đến ?
Hắt hiu đưa tiễn nhạn bầy,
Sáng nay luồn vào cây lá,
Lữ khách hay trước hơn ai !
Lục bát :
Từ đâu thổi đến gió thu ?
Hắt hiu đưa nhạn mịt mù bay cao.
Sáng nay cây lá lao xao,
Cô đơn lòng khách nao nao trước người !
Cảnh lạnh lùng hiu hắt heo may của mùa thu càng gợi sầu gợi cảm hơn với cảnh trí tiêu điều của hoa lá cỏ cây, của con đường mòn qua chiếc cầu nho nhỏ dưới ánh nắng chiều thu nhàn nhạt càng làm cho người khách tha phương ở tận chân trời cảm thấy đứt ruột hơn bao giờ hết qua bài từ "Thu Tứ 秋思" của Mã Trí Viễn đời Nguyên :
枯藤老樹昏鴉, Khô đằng, lão thụ, hôn nha,
小橋流水人家, Tiểu kiều, lưu thủy, nhân gia,
古道西風瘦馬。 Cổ đạo, Tây phong, xấu mã.
夕陽西下, Tịch dương tây hạ,
斷腸人在天涯 ! Đoạn trường nhân tại thiên nha !
Có nghĩa :
Mây khô, cây già, quạ ám,
Cầu nhỏ, nước chảy, nhà ai,
Đường xưa, gió tây, ngựa ốm,
Nắng chiều dần tắt,
Bên trời đứt ruột ai hay !

Trong cảnh... Mấy cọng mây khô quấn quanh một thân cây già trụi lá, có con qụa lạnh như đang ngủ gật đậu trên cành khô; Bên chiếc cầu nho nhỏ có dòng nước chảy qua là mấy nóc nhà ai trên con đường mòn xưa cũ; Gió tây hiu hắt lạnh lùng khiến cho con ngựa ốm hí vang... Nắng chiều dần tắt, một người lữ khách tha hương đang buồn muốn đứt ruột bên góc trời xa thẳm !
Ba câu đầu là 9 cái Danh từ cùng họp lại để tạo nên một cảnh mùa thu thê lương lạnh lùng hiu hắt se sắt trong gió Tây lạnh ngắt như đồng; Rồi mới hạ 2 câu sau : Trong cảnh nắng chiều dần tắt, có một người đang sầu thương đứt ruột bên trời !
Đọc bài từ trên, làm cho ta lại nhớ đến một bài đoản văn "CẢM THU" của nhà văn nhà thơ Đinh Hùng hồi thời Tiền Chiến trong phong trào Thơ Mới. Văn mà là thơ, vì ý thơ tràn ngập và bàng bạc trong từng câu văn gợi cảm; mời đọc các trích đoạn sau đây :
"Thu năm nay, tôi lại đi trên con đường vắng này nghe từng chiếc lá rơi trên bờ cỏ... Những cây liễu xanh đứng buồn như những nàng Cung nữ thời xưa, và thấp thoáng trong vườn nhà ai, hoa phù dung buổi sáng nở trắng như một tâm hồn con trẻ ?... Nắng ở đây vẫn là nắng ngày xưa và tâm hồn tôi vẫn là tâm hồn tôi năm trước... Tôi vẫn ngờ như không sự đổi thay, vì lại thấy mình đi trên con đường vắng này, thu năm nay, giữa lúc cây vàng đang rơi lá. Đường này hiu hắt, tôi đem lòng về để gặp mùa thu thương nhớ cũ..."
Xin được kết thúc bài viết bằng lời trong nhạc phẩm "Nhìn Những Mùa Thu Đi" của Trịnh Công Sơn...
Nhìn những mùa thu đi...
em nghe sầu lên trong nắng...
và lá rụng ngoài song...
nghe tên mình vào quên lãng...
nghe tháng ngày chết trong thu vàng...
Mời bấm vào link dưới đây để nghe nhạc :
https://www.youtube.com/watch?v=DbrEfl6X7UQ
Hẹn bài viết tới !
杜紹德
Đỗ Chiêu Đức

ÔNG TƠ BÀ NGUYỆT : ÔNG TƠ là ÔNG già se TƠ ở dưới ánh trăng, chữ Nho gọi là NGUYỆT HẠ LÃO NHÂN 月下老人, gọi cho gọn lại là NGUYỆT LÃO 月老, và "Bà xã" của Nguyệt Lão là BÀ NGUYỆT. Điển tích "ÔNG TƠ BÀ NGUYỆT" có xuất xứ từ "Tục Huyền Quái Lục của Văn học gia Lý Phục Ngôn đời nhà Đường 唐朝文學家李復言所著的《續玄怪錄》, nhưng đến đời nhà Tống vì kỵ húy của Tống Thánh Tông là Triệu HUYỀN Lãng 趙玄朗, nên "Tục Huyền Quái Lục" được đổi thành "TỤC U QUÁI LỤC 續幽怪錄" với tích Định Hôn Điếm 定婚店 (Cái quán định đoạt hôn nhân), Xích Thằng Hệ Túc 赤繩繫足 (dây đỏ buộc chân) hay NGUYỆT HẠ LÃO NHÂN (Ông lão dưới trăng) như sau đây :

Vào năm Đường Nguyên Hòa thứ hai (807), đất Đỗ Lăng có thư sinh Vi Cố 韋固, con nhà thế gia vọng tộc. Cha mẹ mất sơm, nên Cố đi du học bốn phương, vừa để học tập cầu tiến vừa để tìm kiếm hôn nhân. Khi đến Tống Thành, có người mai mối cho Vi Cố cưới con gái của quan tiền nhiệm huyện Thanh Hà là Tư Mã Phan làm vợ. Hẹn rằng sáng sớm hôm rằm sẽ gặp người mai mối ở trước cửa chùa Long Hưng Tự ở Nam Điếm để nói chuyện.
Đến hẹn, Vi Cố vì nóng lòng với chuyện hôn nhân nên đêm đó không ngủ được. Trời chưa sáng mà đã lần mò đến trước cửa chùa. Bỗng chàng trông thấy một ông lão râu tóc bạc phơ, tiên phong đạo cốt ngồi trên bậc tam cấp trước cửa chùa đang giở xem một quyển sách. Hiếu kỳ chàng bèn đi tới ghé mắt nhìn vào, thì ngạc nhiên làm sao, trên sách là loại chữ rất đặc biệt không sao đọc được. Chàng bèn khẩn khoản hỏi thăm ông lão, thì được ông lão cho biết đó không phải là chữ của nhân gian, và bản thân ông cũng không phải là người của nhân gian nữa. Hiếu kỳ và thích thú, Vi Cố hỏi trong sách ghi chép những gì, thì ông lão cho biết đó là sách ghi chép tất cả những cuộc hôn nhân của trai gái trên đời nầy. Đoạn ông lấy ra một cuộn chỉ đỏ và giải thích rằng, khi ông đã buộc chỉ đỏ nầy vào chân của cặp trai gái nào rồi, thì dù cho có quan san cách trở hay thù oán lẫn nhau gì gì đi nữa, thì rốt cuộc cũng sẽ thành vợ thành chồng với nhau mà thôi.
Inline image
Trong lúc đang tìm kiếm hôn nhân, Vi Cố bèn hỏi ông lão xem có biết mình chừng nào kết hôn và vị hôn thê của mình là ai không ? Ông lão bèn lật sách ra xem rồi nói rằng : Vợ của Vi Cố năm nay mới có ba tuổi và phải mười bốn năm sau thì hai người mới kết hôn được. Đang lúc nóng lòng muốn cưới vợ, nghe ông lão nói thế, Vi Cố nản qúa bèn hỏi tới rằng : “Vậy chớ bây giờ vợ tôi đang ở đâu ?”. Ông lão đáp là :“Vợ của cậu đang ở tại đây, ở phía bắc của Nam Điếm nầy, đang do một người đàn bà bán cải trông nom. Cậu đừng nóng ruột, trời sáng thì sẽ gặp mặt thôi!”
Khi trời đã sáng hẵn rồi, mà người mai mối ước hẹn với Vi Cố cũng không thấy tới. Ông lão ngồi dưới trăng cũng cất sách vào bọc. Đoạn đứng dậy bảo Vi Cố đi theo ông ta vào chợ. Khi đến hàng cải, thấy có người đàn bà một mắt tay đang ẵm một đứa bé mũi dãi thò lò, đang mua cải. Ông lão bèn chỉ vào cô bé gái bảo : “Đây là vợ cậu đó !”. Vi Cố nghe xong cả giận nói : “Nếu lời nói của ông không sai, thì tôi sẽ giết con bé nầy !”. Ông lão cười bảo : “Đây là mạng số đã an bày, e rằng cậu sẽ không giết nổi cô ấy đâu !”. Nói đoạn, ông lão quay lưng bỏ đi mất.
Inline image
Vi Cố là con nhà thế gia vọng tộc, cho là ông lão cố ý làm nhục mình, nên khi về đến nhà trọ, bèn đưa một con dao nhỏ cho một gia đồng, bảo ra chợ đâm chết con bé gái của người đàn bà một mắt. Trong thời buổi phong kiến, thì việc con nhà quyền thế, cậy quyền cậy thế để giết hại người nghèo cũng là chuyện thường tình, còn các đầy tớ do chủ nuôi thì cứ sai đâu đánh đó, nhắm mắt làm càng. Tuy nhiên, mạng người hệ trọng, giữa chợ giữa búa lại là lúc ban ngày ban mặt mà dám giết người giữa chợ thì cũng không phải là chuyện tầm thường. Nên khi ra đến chợ, tên gia đồng lừa thế đâm đứa bé một nhát rồi bỏ chạy trối chết. Khi về đến nhà trọ Vi Cố hỏi kết qủa thế nào. Tên gia đồng bảo là vì có người đàn bà che chở, nhưng vẫn đâm trúng một nhát vào đứa bé, còn sống chết ra sao thì chưa biết !
Sau vụ om sòm ngoài chợ, Vi Cố cũng hối hận cho sự nóng giận bồng bột của mình, nên bỏ đi nơi khác. Những năm sau đó chàng tiếp tục tìm người hôn phối khắp nơi để cầu hôn, nhưng đều thất bại, cộng thêm mấy lần thi rớt, công danh không thành, hôn phối không xong, gia cảnh ngày một khốn khó. Cuối cùng, chàng đành phải dẹp lòng tự ái tự trọng để xin một chức phụ ấm của cha để lại : làm Tham Quân cho xứ Tương Châu. Lúc bấy giờ chàng đã ngoài ba mươi tuổi và vẫn còn độc thân trơ trọi có một mình.
Thứ sử Tương Châu là Vương Thái thấy chàng tướng mạo đoan trang, lại có văn tài, giao cho chàng kiêm nhiệm luôn về tư pháp ty của địa phương, chàng đều hoàn thành thật xuất sắc. Thấy chàng đã ngoài ba mươi mà chưa thành gia lập thất, nên Vương bèn gả con gái út cho chàng làm vợ. Cầu hôn suốt mười mấy năm trời đều thất bại, bỗng dưng được vợ, lại là con gái cưng của thượng cấp, Vi Cố vui mừng quá đổi.
Đêm động phòng hoa chúc, thấy cô dâu Vương Thị chỉ khoảng mười bảy mười tám tuổi, xinh đẹp vô cùng, lại theo thời trang đính một hoa vàng ở giữa đôi mày trông càng xinh xắn kiểu dáng vô cùng. Vi Cố rất thỏa mãn và hạnh phúc với cô vợ trẻ đẹp này. Nhưng không biết vì sao đóa hoa vàng làm dáng ở giữa mày, cả khi đi ngủ đi tắm nàng cũng không chịu mở ra, khiến Vi Cố vô cùng thắc mắc.
Một hôm, khi vợ chồng đang trò chuyện thân mật với nhau, chàng mới thừa cơ hỏi rõ nguyên do. Nàng bèn cười mà đáp rằng : “Đó chẳng qua là tính thích làm đẹp của phái nữ, muốn giữ cho đẹp mà thôi !” Đoạn kể cho chàng nghe về lai lịch của mình. Thì ra, nàng không phải là con ruột của Vương Thứ Sử, chỉ là cháu gọi bằng chú mà thôi. Lúc nhỏ vì trên đường đi làm quan xa, cha nàng bị bệnh mất sớm, chẳng bao lâu mẹ cũng buồn rầu mà mất theo. Lúc đó nàng chỉ mới ba tuổi, phải sống nương nhờ vào bà vú nuôi, trồng cải ở mảnh đất sau nhà, nên mỗi ngày phải ra chợ bán cải cho bạn hàng. Một hôm không biết vì cớ gì có một kẻ côn đồ cầm dao định đâm nàng chết, may mà bà vú nhanh mắt tránh sang một bên, nên chỉ sướt qua giữa chân mày, vì thế mà nàng phải đính một đóa hoa vàng để che đi cái thẹo còn để lại. Sau đó chú nàng là Vương Thái tìm đến đem nàng về nuôi nấng và nhận làm con nuôi.
Vi Cố nghe xong cả kinh, mồ hôi ra ướt cả mình, hỏi lại rằng : “Có phải bà vú của nàng là người đàn bà chỉ có một mắt hay không ?” Vương Thị cũng rất ngạc nhiên mà hỏi lại rằng : “Sao chàng lại biết ?!”. Đến nước nầy, Vi Cố bèn kể lại chuyện Nguyệt Lão là Ông gìa dưới trăng đã định sẵn hôn nhân của hai vợ chồng cho nàng nghe. Vương Thị cũng vô cùng cảm khái cho cuộc hôn nhân tiền định nầy, vì thế mà vợ chồng càng yêu thương khắn khít nhau hơn là những cặp vợ chồng thường khác.
Vi Cố vì hưởng phụ ấm mà được chức quan nhỏ, nhưng nhờ gia đình bên vợ nâng đở, nên đường hoạn lộ cũng hanh thông. Sau nhờ con trai trưởng là Vi Cổn bình loạn có công, được phong làm Thái Thú Nhạn Môn Quan, lại được vua ban hàm Tướng Quân, mẹ là Vương Thị cũng được phong hàm Thái Nguyên Quận Thái Phu Nhân. Vì thế, mà câu chuyện Nguyệt Lão ở Nam Điếm của Tống thành ngày xưa được nhân gian truyền tụng và nhắc nhở. Huyện lệnh Tống Thành bèn đổi Nam Điếm thành Định Hôn Điếm 定婚店là nơi Định đoạt Hôn Nhân của người thế gian, đồng thời cũng cho xây miếu để thờ phượng Ông Già Dưới Trăng, gọi là Nguyệt Lão Miếu 月老廟.

Trong văn học cổ Việt nam Nguyệt Hạ Lão Nhân được nhắc đến với các tên gọi : Ông Già Dưới Trăng, Ông Tơ, Nguyệt Sứ, Nguyệt Lão... Như trong Cung Oán Ngâm Khúc của Ôn như Hầu Nguyễn Gia Thiều nàng cung phi đã gọi một cách lẫy hờn và nghi ngờ rằng :
Tay NGUYỆT LÃO chẳng xe thì chớ,
Xe thế nầy có dở dang không ?
Còn trong truyện thơ Nôm Khuyết danh "Từ Thức Gặp Tiên" thì gọi là Nguyệt Sứ với câu :
Lọ là NGUYỆT SỨ băng môi,
Phận này duyên ấy ắt thời trong tay.
Còn trong truyện thơ Nôm khuyết danh "Nữ Tú Tài" thì gọi là Ông Nguyệt :
Toại lòng hương lửa tưng bừng,
Tạm quyền ÔNG NGUYỆT, Xích Thằng xe dây.
Vì chuyên se tơ cho trai gái lấy nhau, nên ÔNG NGUYỆT còn được gọi là ÔNG TƠ, như khi Kim Trọng đến từ biệt Thúy Kiều để đi Liêu Dương hộ tang chú, thì Thúy Kiều cũng đã oán trách :
ÔNG TƠ ghét bỏ chi nhau
Chưa vui sum họp đã sầu chia phôi.
Hay khi bị Hồ Tôn Hiến ép gã cho Thổ quan, Thúy Kiều lại một lần nữa lên tiếng oán trách :
ÔNG TƠ sao khéo đa đoan,
Se tơ sao lại vơ quàng vơ xiên ?!
Sợi TƠ mà Ông Tơ dùng để se là một sợi chỉ màu hồng, nên còn được gọi là CHỈ HỒNG. Như khi nghe Kim Trọng tỏ tình, Thúy Kiều đã trả lời một cách rất khéo léo và khôn ngoan rằng :
Dù khi lá thắm CHỈ HỒNG,
Nên chăng thì cũng tại lòng mẹ cha.
Chỉ Hồng còn được nói trại đi thành CHỈ THẮM, như trong Tây Sương Ký :
Nhân duyên sao khéo hẹn hò,
Rắp đem CHỈ THẮM se cho Trịnh Hằng.
Trong Cung Oán Ngâm Khúc của Ôn Như Hầu Nguyễn Gia Thiều, Chỉ Hồng không gọi là Chỉ Thắm mà còn được gọi là DÂY THẮM như :
Ý cũng rắp ra ngoài đào chú,
Quyết lộn vòng phu phụ cho cam.
Ai ngờ trời chẳng cho làm
Nở đem DÂY THẮM mà giam bông đào.
Nhưng Dây Thắm, Chỉ Thắm hay Chỉ Hồng gì đều cùng một gốc chữ Nho là XÍCH THẰNG 赤繩 (là sợi dây màu đỏ) mà ra cả. Như lời Thúy Kiều đã nói với Kim Trọng trong lần đầu Kim Kiều hội ngộ :
Nàng rằng hồng diệp XÍCH THẰNG,
Một lời cũng đã tiếng rằng tương tri.
Đừng điều nguyệt nọ hoa kia,
Ngoài ra ai lại tiếc gì với ai ?!
... hay như lời Mã Giám Sinh đã thề và hứa với Vương Viên Ngoại khi sắp lên đường ở “Bề ngoài mười dặm trường đình “ là :
Cạn lời khách mới thưa rằng :
Buộc chân thôi cũng XÍCH THẰNG nhiệm trao.
Sau dù sinh sự thế nào,
Kìa gươm nhật nguyệt nọ dao qủy thần !
... hoặc như nàng cung nữ của trong Cung Oán đã than van oán trách :
Ngẫm nhân sự cớ chi ra thế,
Sợi XÍCH THẮNG chi để vướng chân
Nói tóm lại, các Điển tích : Chỉ Hồng, Chỉ Thắm, Dây Thắm, Xích Thằng, Nguyệt Lão hay Ông Tơ... đều do cùng một điển tích NGUYỆT HẠ LÃO NHÂN 月下老人 trong Tục U Quái Lục của Lý Phục Ngôn mà ra cả. Và vì có liên quan đến hôn nhân và nhân duyên của trai gái, nên mãi cho đến...

... Ngày nay, ở khắp nơi trên thế giới, hễ nơi nào có người Hoa là nơi đó đều có miếu thờ Nguyệt Lão cả, nếu không, thì cũng có bàn thờ Nguyệt Lão được thờ chung với các vị thần khác ở tất cả các miếu. Riêng ở Trung Hoa thì miếu thờ Nguyệt Lão có ở khắp nơi trong nước, nhưng nổi tiếng nhất là Nguyệt Lão Miếu ở Hàng Châu, không phải vì nó đẹp và linh thiêng hơn các nơi khác mà vì nó có nét cổ kính và nhất là đôi câu đối bất hủ ở hai bên cổng miếu không biết do danh sĩ nào đã làm ra :
Nguyện thiên hạ hữu tình nhân chung thành liễu quyến thuộc,
願 天 下 有 情 人 终 成 了 眷 屬,
Thị tam sinh chú định sự mạc thác qúa lương duyên !
是 三 生 註 定 事 莫 錯 過 良 緣。
Có nghĩa :
Mong cho tất cả tình nhân trong thiên hạ, đều được nên gia thất,
Là chuyện tiền định từ ba kiếp trước, đừng để lở mất duyên lành !
Rất bình dân, rất nên thơ mà cũng rất thực tế, rất thiệt tình và hợp với tình người !
Còn một chuyện rất mỉa mai đến buồn cười là : Nguyệt Lão ở Trung Hoa là Ông Gíà Dưới Trăng lẻ loi đơn độc có một mình. Mặc dù chuyên xe tơ kết tóc cho người đời nên duyên chồng vợ với nhau, nhưng sang qua Việt Nam, có thể dân ta thấy tội nghiệp cho ông suốt đời chỉ mai mối cho người khác còn mình thì vẫn lẻ loi, và theo quan niệm của người Việt Nam ta, có “Ông” thì phải có “Bà”, nên mới “cưới” cho ông một “Bà Nguyệt“ nữa, thành một cặp “Ông Tơ Bà Nguyệt”, và thành ngữ “ÔNG TƠ BÀ NGUYỆT” chỉ có trong ngôn ngữ và văn chương Việt Nam ta mà thôi, chớ ở bên Trung Hoa thì “Ông Tơ” là Nguyệt Lão vẫn chỉ trơ trọi có một mình, không biết chuyện trai gái yêu đương là gì cả, nên mới bị nàng Cung phi của Ôn Như Hầu Nguyễn Gia Thiều bỡn cợt :
Tay NGUYỆT LÃO KHỜ sao có một
Bỗng tơ tình vướng gót cung phi.
Cái đêm hôm ấy đêm gì?
Bóng gương lồng bóng đồ mi trập trùng !

Hẹn bài viết tới!
杜紹德
Đỗ Chiêu Đức

Hai chữ TƯƠNG 相 là "với nhau" và TƯƠNG 將 là "Sắp, sẽ" theo phép Giả tá của "Chữ Nho... Dễ học" còn có thể đọc là TƯỚNG. Ta sẽ lần lượt tìm hiểu và phiếm về hai chữ TƯỚNG 相, 將 nầy nhé !
TƯỚNG 相 là từ chỉ cái dáng vẻ, cái dung mạo bên ngoài của con người; nên ta có từ đầu tiên là TƯỚNG MẠO 相貌. TƯỚNG là cái hình dáng mà ta trông thấy bằng mắt, nên các thầy Tướng Số lại bày ra các trò xem TƯỚNG của Tai, Mắt, Mũi, Miệng, gọi là NHĨ TƯỚNG 耳相, NHỠN TƯỚNG 眼相, TỊ TƯỚNG 鼻相, KHẨU TƯỚNG 口相 và gọi chung hình dáng của khuôn mặt là DIỆN TƯỚNG 面相 hay là MẠO TƯỚNG 貌相 như trong Tăng Quảng Hiền Văn có câu :
凡人不可貌相, Phàm nhân bất khả MẠO TƯỚNG,
海水不可斗量。 Hải thủy bất khả đấu lượng.
Có nghĩa :
- Phàm con người thì không thể trông vào diện mạo (để phân biệt người đó là người tốt hay người xấu được), cũng như...
- Nước biển thì không thể dùng đấu để đong đo được.
Lòng người thâm hiểm khó lường, không thể "Trông mặt mà bắt hình dong" được, cũng như nước biển mênh mông làm sao có thể dùng đấu dùng thùng để đong đo cho hết được.
TƯỚNG là Tướng Mạo 相貌 nên thầy xem tướng mạo gọi là Thầy Tướng Số. Trong Truyện Kiều cụ Nguyễn Du gọi là Thầy TƯỚNG SĨ 相士, khi Thúy Kiều tâm tình với Kim Trọng trong ngày đầu tiên hẹn ước :
Nhớ từ năm hãy thơ ngây,
Có người TƯỚNG SĨ đoán ngay một lời:
Anh hoa phát tiết ra ngoài,
Nghìn thu bạc mệnh một đời tài hoa.
... và bản thân Thúy KIều cũng là một "Bà thầy Tướng Số" khi chỉ "liếc nhìn" Kim Trọng thôi thì đã đánh giá :
Nàng rằng: “Trộm liếc DUNG QUANG,
Chẳng sân Ngọc bội cũng phường Kim Môn.
DUNG QUANG là Dung mạo 容貌 và Quang Thái 光彩, là cái vẻ sáng sủa bên ngoài của một con người. Thay vì nói Thúy Kiều thì phải nói là chính cụ Nguyễn Du mới là một thầy Tướng Sĩ đại tài. Ta hãy xem cụ chỉ chấm phá vài nét là con người nhân vật mà cụ định diễn tả hiện ra một cách rõ nét như ở trước mắt. Hình tượng ăn chơi của một gả đàn ông trung niên Mã Giám Sinh hiện ra dưới...
Quá niên trạc ngoại tứ tuần,
Mày râu nhẵn nhụi áo quần bảnh bao .
Còn mụ Tú Bà thì...
Thoát trông nhờn nhợt màu da,
Ăn gì cao lớn đẫy đà làm sao !
Đến tên Sở Khanh chuyên dùng ngoại hình thư sinh giả tạo để gạt gẫm các cô gái nhẹ dạ thì...
Một chàng vừa trạc thanh xuân,
Hình dong chải chuốt áo khăn dịu dàng.
Kịp đến anh hùng Từ Hải thì...
Râu hùm hàm én mày ngài,
Vai năm tấc rộng thân mười thước cao.
Đường đường một đấng anh hào,
Côn quyền hơn sức, lược thao gồm tài !

I'm a paragrap
TƯỚNG khi là Danh từ thì có nghĩa là TƯỚNG MẠO; còn khi là Động từ thì có nghĩa là "Xem Tướng" và không phải chỉ xem tướng cho người thôi, mà còn xem tướng cả cho ngựa nữa. Ta có thành ngữ BÁ LẠC TƯỚNG MÃ 伯樂相馬 là "Ông Bá Lạc chuyên xem tướng cho ngựa". Có xuất xứ như sau :
Theo "Hàn Thi Ngọai Truyện" của Hàn Anh đời Hán 漢代韓嬰《韓詩外傳》:
Trong truyền thuyết dân gian, người chuyên chăn dắt và muôi dưỡng ngựa ở trên trời là Thiên tướng Bá Lạc 伯樂. Nên trong đời sống thường ngày, ai giỏi về xem tướng ngựa, biết được ngựa nào giỏi ngựạ nào dở thì đều được gọi là BÁ LẠC.
Người được gọi là Bá Lạc đầu tiên tên là Tôn Dương 孫陽, là người nước Sở thời Chiến Quốc. Ông được vua nước Sở phái đi các nước để tìm môt con Thiên lý mã, là ngựa tốt có thể ngày đi cả ngàn dặm đường. Ông đi qua rất nhiều nước, kể cả các nước Yên nước Triệu là nơi nổi tiếng với nhiều hiệp khách và ngựa tốt, đều không tìm thấy con thiên lý mã nào vừa ý cả. Một hôm, trên đường từ nước Tề trở về Sở, ông trông thấy một con ngựa ốm yếu đang ì ạch kéo một xe chở muối đi lên dốc một cách nặng nhọc. Theo thói quen quan tâm đến ngựa, Bá Lạc bước đến ngắm nhìn chú ngựa tội nghiệp nầy. Nào ngờ ngựa thấy ông bèn dựng đứng hai vó trước lên và hí to một tiếng như chào mừng. Nghe tiếng ngựa hí như tiếng chuông ngân và điệu bộ hùng dũng khi dựng hai vó lên. Bá Lạc nhận ra đây là một con thiên lý mã hiếm có chỉ vì không được chăm sóc đàng hoàng mà thôi. Ông bèn hỏi chủ nhân và ra giá cao để mua lại con ngựa gầy ốm nầy, rồi trực chỉ về thẳng nước Sở để giao lại ngựa cho Sở Vương. Nghe tiếng ngựa hí vang trước cổng, Sở Vương mừng rỡ chạy vội ra xem. Trông thấy chỉ là một chú ngựa gầy gò bình thường thì lại vô cùng thất vọng. Bá Lạc phải giải thích cho Sở Vương biết về tướng mạo và giọng hí của ngựa, đoạn ông tự nguyện phụ trách chăm sóc và nuôi dưỡng ngựa theo phương pháp riêng của mình. Chỉ hơn tháng sau là con ngựa đã trở nên cao lớn mạnh mẽ trông hùng dũng vô cùng. Sở Vương rất đẹp ý bèn thắng yên cương nhảy lên cưỡi thử. Con ngựa cất cao bốn vó phi như bay về phía trước. Sở Vương nghe hai bên tai gió nổi vù vù, cây cỏ hai bên đường như đang vùn vụt lùi về phía sau. Nhà vua vô cùng đẹp ý và con Thiên Lý Mã nầy về sau đã nhiều lần giúp Sở Vương bôn ba sa trường tranh phong cùng các chư hầu lập nên rất nhiều chiến công hiển hách.
Trong bài "Tạp Thuyết" của Hàn Dũ, một trong Đường Tống Bát Đại Gia đời Đường 唐·韓愈《雜說》có câu : "Trên đời có BÁ LẠC, nhiên hậu mới có Thiên Lý Mã. Thiên Lý Mã thì thường có được chứ Bá Lạc thì không thường có được đâu". Ý là : "Người tài thì có rất nhiều, nhưng cái người mà nhận biết được người tài thì chẳng có bao nhiêu !"

TƯỚNG 相 còn có nghĩa Lựa, Chọn. Đọc "Tam Quốc Chí" hay các Truyện Tàu do nhà xuất bản "Tín Đức Thư Xã" xuất bản bán đầy khắp Nam Kỳ Lục Tỉnh khoảng thập niên 50-60 của Thế kỷ trước; Ta hay gặp câu nói sau đây :"良禽相木而棲, 賢臣擇主而事 Lương cầm TƯỚNG mộc nhi thê, hiền thần trạch chủ nhi sự". Có nghĩa : "Chim khôn CHỌN cây lành mà đậu, Tôi hiền tìm chúa thánh mà thờ".
TƯỚNG 相 còn có nghĩa là Giúp đỡ, Phò trợ. Trong《Tả Truyện.Tuyên Công Tam Niên 左傳·宣公三年》có câu : CÁT NHÂN THIÊN TƯỚNG 吉人天相. Có nghĩa : Người hiền lành tốt bụng thì Trời sẽ phù hộ phò trợ cho người đó. Câu nói nầy thường dùng để khuyên những người gặp nạn hay bệnh tật hành hạ : "Cát nhân tự hữu Thiên Tướng, bạn rán tịnh dưỡng thì bệnh sẽ chóng qua khỏi thôi !"
TƯỚNG PHU GIÁO TỬ 相夫教子 là Phò trợ giúp đỡ cho chồng và nuôi dạy con cái. Có phải vì thế mà các bà vợ ngày xưa hay gọi các "Ông chồng" là TƯỚNG CÔNG 相公 đó chẳng. Tức là người mà mình phải luôn luôn phò trợ giúp đỡ.
Giúp đỡ phò trợ cho chồng thì gọi là TƯỚNG PHU 相夫, còn giúp đỡ và phò trợ cho đất nước, quốc gia thì gọi là TƯỚNG QUỐC 相國. Ngày xưa là hai người hai bên tả hữu giúp đỡ và phò trợ cho nhà vua, gọi là TẢ THỪA TƯỚNG 左丞相 và HỮU THỪA TƯỚNG 右丞相. Vậy Tả Thừa Tướng và Hữu Thừa Tướng ai có quyền hành lớn hơn ai ?
Theo Chiến Quốc Sách, chức vụ THỪA TƯỚNG có từ năm thứ 2 đời Tần Vũ Vương . Lúc đầu là Sư Lý Tật 樗里疾 và Cam Mậu 甘茂 làm Tả Hữu Thừa Tướng; Sau lại phong thêm chức TƯỚNG BANG 相邦 cao hơn chức Thừa Tướng một chút, như TƯỚNG BANG Lã Bất Vi chẳng hạn. Nhưng khi Tần thống nhất đất nước rồi thì chỉ còn có Tả Hữu Thừa Tướng mà thôi. Trong đời Tần Hán thì Hữu Thừa Tướng cao hơn Tả Thừa Tướng, nhưng từ đời Ngụy Tấn về sau thì ngược lại.
Ngoài chức vụ Thừa Tướng ra, ta còn thường nghe chức TỂ TƯỚNG 宰相. Thực ra, Tể Tướng không phải là CHỨC VỤ mà chỉ là một cách gọi những quan viên cao cấp đứng đầu trong triều đình (như các Bộ Trưởng hiện nay). Cho nên những quan lớn ngày xưa đều có thể gọi là TỂ TƯỚNG được cả. Như trong Truyện Kiều cụ Nguyễn Du đã gọi cha của Hoạn Thư là “TRỦNG TỂ” 冢宰 có nghĩa là người đứng đầu trăm quan. Khi Khuyển Ưng bắt Thuý Kiều về giao nạp cho Hoạn Bà, nàng không biết là phủ đệ nhà ai, mà...
Ngước trông toà rộng, dãy dài,
“THIÊN QUAN TRỦNG TỂ”, có bài treo trên.
Ban ngày, sáp thắp hai bên,
Giữa giường thất bảo, ngồi trên một bà...
Nhắc đến THỪA TƯỚNG thì mọi người nghĩ ngay đến Khổng Minh Gia Cát Lượng, mặc dù ông chỉ làm Thừa Tướng có hai đời vua nước Tây Thục mà thôi, nhưng có lẽ vì ngòi bút của La Quán Trung quá xuất sắc viết nên tác phẩm Tam Quốc Chí với kế hoạch "Tam phân thiên hạ" của ông, nên mọi người đời sau đều nhớ đến ông. Cả Thi Thánh Đỗ Phủ 杜甫 cũng có bài ca ngợi THỤC TƯỚNG 蜀相 rất hay như sau :
丞相祠堂何處尋。 THỪA TƯỚNG từ đường hà xứ tầm,
錦官城外柏森森。 Cẩm quan thành ngoại bách sâm sâm.
映階碧草自春色。 Ánh giai bích thảo tự xuân sắc,
隔葉黃鸝空好音。 Cách diệp hoàng li không hảo âm.
三顧頻煩天下計。 Tam cố tần phiền thiên hạ kế,
兩朝開濟老臣心。 Lưỡng triều khai tế lão thần tâm.
出師未捷身先死。 Xuất sư vị tiệp thân tiên tử,
長使英雄淚滿襟。 Trường sử anh hùng lệ mãn khâm !
Có nghĩa :
Từ đường THỪA TƯỚNG tìm đâu,
Bên ngoài thành Cẩm rầu rầu cỏ cây.
Sắc xuân thềm biếc mọc đầy,
Oanh vàng khéo hót đâu đây vắng người.
Thảo Lư Tam Cố đâu rồi ?
Hai triều hưng phế bề tôi hết lòng .
Xuất sư hai lượt thân vong,
Anh hùng lệ ướt cho lòng xót xa !

Còn THỪA TƯỚNG đầu tiên nổi tiếng nhất của Việt Nam ta là ai ? Đó là...
Thừa Tướng LỮ GIA 呂嘉 (191–110 TCN), tên hiệu là Bảo Công 保公, ông là Thừa Tướng của ba đời vua nhà Triệu nước Nam Việt, là người nắm chính trường nước Nam Việt những năm cuối và cuối cùng thất bại trước cuộc xâm lăng Nam Việt của nhà Hán. Ông mất ngày 25 tháng 3, các đời sau họ Lữ và họ Lã ở miền Bắc Việt Nam còn tổ chức làm giỗ Tổ vào ngày 25 tháng 3 âm lịch hằng năm.
Tên của Lữ Gia cũng đã và đang được đặt cho một số đường phố tại Hà Nội, Thành phố Sài Gòn, một đường phố lớn ở trung tâm thành phố Nam Định và một con đường ở Đà Lạt, Lâm Đồng. Cư xá Lữ Gia Sài Gòn (Quận 11) Trước đây là Cư xá Sĩ Quan Quân Đội, hiện nay là một trong những cư xá lớn nhất và đông dân cư nhất tại TP.HCM, trường THCS Lữ Gia (Quận 11), Lữ Gia Plaza – nơi đặt trụ sở của phần lớn các công ty Internet lớn nhất tại Việt Nam. "Lữ Gia Plaza" (Quận 11) còn được xem như là "Silicon Valley thu nhỏ" của Việt Nam ta.

THỪA TƯỚNG là chức vụ dưới một người mà trên vạn người, vì quyền hành quá lớn nên còn được gọi là QUYỀN TƯỚNG 權相; Nhất là những ông Thừa Tướng già từ đời trước còn giữ chức Thừa Tướng đến đời sau, nên được các "Vua con" mới lên ngôi gọi xưng tặng là TƯỚNG PHỤ 相父 (kính trọng như Cha). Vì nắm trọn quyền hành nên Thừa Tướng cũng có tốt có xấu. Như :
- Thừa Tướng tốt là Hiền Tướng 賢相, Lương Tướng 良相, Chính Tướng 正相...
- Thừa Tướng xấu là Gian Tướng 奸相, Phản Tướng 反相, Ác Tướng 惡相...
(Các từ trên cũng dùng để chỉ Tướng Mạo của con người nữa)
Chức vụ tương đương với Thừa Tướng trong xã hội hiện nay là THỦ TƯỚNG. THỦ TƯỚNG là người đứng đầu nội các chính phủ của một nước. Vị Thủ Tướng đầu tiên của nước Việt Nam ta là Lệ Thần Trần Trọng Kim (1945). Ông là nhà Chính trị, nhà Văn hóa, nhà Sử học, Nho học... để đời với nhiều tác phẩm nổi tiếng như : Việt Nam Sử Lược, Việt Nam Văn phạm, Nho giáo...

Sang qua chữ TƯỚNG 將 là Tướng Sĩ Tượng 將仕相 (đỏ) và Soái Sĩ Tượng 帥士象 (xanh). Ai biết đánh Tứ Sắc 四色 (Bài bốn màu) và Cờ Tướng thì chắc chắn sẽ biết 7 mặt bài và quân cờ : TƯỚNG SĨ TƯỢNG, XE PHÁO NGỰA (車炮馬) và CHỐT (兵,卒).
TƯỚNG SOÁI 將帥 là các Tướng lãnh được phong chức Nguyên soái, là người đứng đầu và chỉ huy quân đội. Còn TƯỚNG SĨ 將士 nói chung là Tướng lãnh và Binh sĩ, là những người cùng nhau sát vai chiến đấu ngoài sa trường để cùng bảo vệ non sông đất nước, là những chàng trai hào hùng trong Chinh Phụ Ngâm Khúc của nữ sĩ Đoàn Thị Điểm, là...
... Những người chinh chiến bấy lâu,
Nhẹ xem tính mệnh như màu cỏ cây...
Trong phép đánh cờ và đánh trận, ta có một câu ngạn ngữ rất hay là :
棋逢敵手, Ký phùng địch thủ,
將遇良才。 Tướng ngộ lương tài.
Có nghĩa :
Cờ gặp phải tay địch thủ, còn...
Tướng thì gặp phải người tài giỏi. Ý chỉ...
Kẻ nửa cân, người tám lạng; ngang tài ngang sức với nhau, không ai hơn ai kém cả !
Người đánh cờ được gọi là Kỳ Thủ; đánh cờ giỏi thì được gọi là Kỳ Vương . Còn Tướng đánh trận thì được gọi là TƯỚNG QUÂN 將軍, tướng đánh trận giỏi thì gọi là MÃNH TƯỚNG 猛將, DŨNG TƯỚNG 勇將, HỔ TƯỚNG 虎將, PHI TƯỚNG 飛將... Phi Tướng là Tướng Quân giỏi xông xáo ngoài sa trường như mây bay gió cuốn, là danh xưng của DANH TƯỚNG 名將 :
LÝ QUẢNG (187-119 TCN) người đất Lũng Tây, võ tướng đời Tây Hán . Cả đời ông trấn thủ biên cương, đánh với Hung Nô trên 40 năm, trên dưới 70 trận, người Hung Nô sợ sự anh dũng của ông, nên xưng tụng là PHI TƯỚNG QUÂN 飛將軍. Trong bài tứ tuyệt "Xuất Tái" của Vương Xương Linh nổi tiếng với 2 câu cuối là :
但使龍城飛將在, Đản sử Long thành PHI TƯỚNG tại,
不教胡馬度陰山. Bất giáo Hồ mã độ Âm san !
Có nghĩa :
- Chỉ cần có Phi Tướng Quân trấn thủ tại Long thành, thì...
- Không bao giờ ngựa của Rợ Hồ qua khỏi được núi Âm Sơn cả !
Long thành PHI TƯỚNG hãy còn,
Rợ Hồ chớ tưởng vượt miền Âm Sơn .

Tướng giỏi thời Tam Quốc còn có Quan Vân Trường (Quan Công) với tích : "Quan Công phò nhị tẩu" và "Qúa Ngũ Quan Trảm Lục Tướng" là "Phò tá hai chị dâu là vợ của Lưu Bị đi qua năm cửa ải và chém chết sáu tướng của Tào Tháo, khiến cho mọi người đều phải khâm phục.
Trai thì gọi là Tướng Quân 將軍, là Hùng Tướng 雄將; Còn nữ mà giỏi đánh trận cũng được gọi là Nữ Tướng Quân 女將軍. Những NỮ TƯỚNG 女將 nổi tiếng trong văn học Trung Hoa như Hoa Mộc Lan, Tôn Phu Nhân, Lương Hồng Ngọc... của Việt Nam ta như Hai Bà Trưng, Bà Triệu, Bùi Thị Xuân...đều là những Cân Quắc Anh Thư 巾幗英雌.
Ta có các thành ngữ chỉ về đường binh nghiệp của các ông TƯỚNG ngày xưa như :
- Điều binh Khiển Tướng 調兵遣將 là Điều động các tướng đánh trận và binh lính.
- Tướng Dũng Binh Hùng 將勇兵雄. Ta nói là Binh hùng Tướng mạnh.
- Tinh Binh Cường Tướng 精兵強將 là Lính thì tinh nhuệ, Tướng thì giỏi giang.
- Đăng Đàn Bái Tướng 登壇拜將. Lễ sắc phong cho các tướng soái sắp ra trận.
- Trảm Tướng Đoạt Thành 斬將奪城 là Chém tướng địch cướp thành trì .
- Bái Tướng Phong Hầu 拜將封侯. Khi thắng trận trở về được thăng quan tiến chức.
Khi thua trận thì :
- Tổn Binh Chiết Tướng 損兵折將. Ta nói là Hao Binh Tổn Tướng 耗兵損將.
- Tàn Binh Bại Tướng 殘兵敗將 Ta nói ngược lại là Tướng Bại Binh Tàn .
- Binh Bại Tướng Vong 兵敗將亡 là Lính thì thua, Tướng thì chết.
Các ngạn ngữ về TƯỚNG mà ta thường nghe thấy nhất là :
- Tướng Môn Vô Khuyển Tử 將門無犬子. Có nghĩa : Trong cửa nhà tướng, không có con hèn như chó. Ý là : Con của nhà tướng thì cũng dũng mãnh như tướng vậy .
- Cường Tướng Chi Hạ Vô Nhược Binh 強將之下無弱兵. Có nghĩa : Dưới tay tướng mạnh không có binh yếu.
- Nhất Tướng Công Thành Vạn Cốt Khô 一將功成萬骨枯. Có nghĩa : Một tướng thành công nên danh thì có cả vạn nắm xương khô rồi. Ý nói : Một người khi đã nổi tiếng là danh tướng thì đã có hàng vạn binh sĩ phải hy sinh để tạo nên tiếng tăm cho ông ta rồi. "Cái vinh quang của một người được tạo nên bằng cái chết của cả vạn người". Không đánh nhiều trận, không có hàng vạn binh sĩ phải hy sinh trong các trận đánh đó, thì làm sao nổi danh là tướng giỏi cho được !

Đó là ngày xưa, còn ngày nay đi lính mà muốn lên tới cấp Tướng là điều không tưởng, vì từ Binh nhì đến Thống Tướng phải trải qua gần 20 cấp. Chỉ riêng cấp Tướng thôi cũng đã có đến 5 bậc rồi : Chuẩn Tướng, Thiếu Tướng, Trung Tướng, Đại Tướng và Thống Tướng. Riêng chế độ quân hàm của miền Bắc còn có thêm cấp Thượng Tướng nữa mới nhiêu khê đó chứ ! Nói chung, bất cứ theo quy chế hệ thống của quân đội nào thì một sĩ quan muốn lên đến cấp tướng thì không phải là chuyện dễ dàng gì !
Có một điều rất lý thú mà ít ai nghĩ đến, đó là học VĂN mà lên đến cấp Tướng là THỪA TƯỚNG 丞相 hay THỦ TƯỚNG 首相 (như hiện nay) thì sẽ có quyền lực cao hơn là học VÕ mà lên đến cấp Tướng là ĐẠI TƯỚNG 大將 hay THỐNG TƯỚNG 統將. Ông THỪA TƯỚNG (THỦ TƯỚNG) chỉ ở trong triều, ở trong văn phòng đưa ra quyết định (Hoà hay Chiến) thì ông ĐẠI TƯỚNG ngoài biên cương hay THỐNG TƯỚNG ở Bộ Tư Lệnh phải thi hành theo răm rắp mà thôi. Nên chi, các ông TƯỚNG 將 ngoài biên cương rất đố kỵ với các ông TƯỚNG 相 ở trong triều : Mình vất vả trãi gió dầm sương ngoài sa trường với cái sống chết cận kề mà phải chịu thua, phải nghe lời của những tên hủ Nho ăn ngon ngủ kỷ ở trong triều sao ?! Điều nầy đưa đến một thành ngữ TƯỚNG TƯỚNG BẤT HÒA 將相不和. Có nghĩa : Ông Tướng ngoài biên cương và ông Tướng ở trong triều luôn luôn bất hòa. Thành ngữ nầy có xuất xứ từ《Sử Ký.Liêm Pha Lạn Tương Như liệt truyện 史記·廉颇藺相如列傳》như sau :
LIÊM PHA 廉颇 là Đại Tướng kiệt xuất của nước Triệu. Năm Triêu Huệ Văn Vương thứ 16, ông đã đem binh đánh bại nước Tề, chiếm được đất Tấn Dương, uy danh lừng lẫy khắp chư hầu. Ông được phong là Tả Thượng Khanh, tương đương như chức Tả Thừa Tướng vậy.
LẠN TƯƠNG NHƯ 藺相如 là môn khách của Hoạn quan Mục Hiền đã giúp vua Triệu giữ vững được thể diện trước vua Tần ở Hội nghị Mẫn Trì và nhất là đã giúp "Hoàn Bích Quy Triệu 完璧歸趙" là đem ngọc bích nguyên vẹn về cho vua Triệu, nên được phong làm Hữu Thượng Khanh, tương đương như chức Hữu Thừa Tướng vậy.
Liêm Pha rất bất mãn vì mình là đại tướng đã nhiều phen sống chết ở sa trường mà chức vụ lại thấp hơn gả thư sinh chỉ biết sử dụng có ba tất lưỡi, nên dọa rằng sẽ làm nhục Lạn Tương Như trước mặt đồng liêu. Lạn Tương Như nghe thế nên luôn tìm cách tránh mặt Liêm Pha. Một hôm khi kiệu của ông đang đi trên đường phố Hàm Đan, bỗng gặp phải xe ngựa của Liêm Pha từ đầu kia đi đến, ông bèn ra lệnh cho các Kiệu phu tránh vào trong hẽm, đợi xe ngựa của Liêm Pha qua khỏi rồi mới ra đường lớn về nhà. Các môn khách của ông rất bất mãn mà nói với ông rằng :"Chúng tôi theo phò tá ông là vì thấy ông là người dũng cảm và có đạo đức tốt, nay ông và Liêm Pha chức vụ tương đương nhau mà ông ta chỉ dọa một câu là ông đã sợ đến nỗi không dám đối diện, thế thì chúng tôi còn trông mong gì vào ông nữa. Xin cho cáo biệt". Lạn Tương Như ngăn lại hỏi rằng :"Liêm Pha với Tần Vương ai đáng sợ hơn ai ?" Môn khách đáp :"Dĩ nhiên là Tần Vương đáng sợ hơn". Lạn Tương Như bèn nói rằng :"Tần Vương uy vũ là thế, nhưng trước mặt vua Tần và các quần thần tôi cũng đã dám quắt mắt lớn tiếng khiển trách và giữ vững ngọc bích mang về cho Triệu vương. Lạn Tương Như tôi mặc dù tài mọn, nhưng há lại sợ gì Liêm Pha tướng quân hay sao ? Chẳng qua, tôi nghĩ rằng : Nước Tần sở dĩ úy kỵ nước Triệu ta là vì có tôi và Liêm Pha tướng quân, một văn một võ cùng nhau phò trợ, nếu nay văn võ bất hòa, xào xáo chống chọi lẫn nhau, không chung lòng giữ nước, há chẳng là dịp tốt cho nước Tần dòm ngó để xâm lấn hay sao ?!" Các môn khách nghe thế đều bái phục cho sự biết nhường nhịn vì đại cuộc của Lạn Tương Như.
Tin đưa đến tai Liêm Pha. Liêm Pha bèn cởi áo đưa lưng ra, rồi vác một cái cây đầy gai góc trên lưng, nhờ người đưa đến quỳ trước cửa nhà Lạn Tương Như mà xin lỗi rằng :"Tôi là người thô lổ, xin Tướng quốc rộng lượng mà bỏ qua cho". Từ đó về sau, hai người thân thiết nhau như là một cặp sinh tử chi giao, và nước Tần nghe tin, càng không dám có ý đồ gì với nước Triệu nữa cả !
Và ta lại có một thành ngữ mới chỉ có 3 chữ mà thôi "TƯỚNG TƯỚNG HÒA 將相和" là "TƯỚNG QUỐC và TƯỚNG QUÂN; THỦ TƯỚNG và ĐẠI TƯỚNG hòa thuận nhau" Ý chỉ : Hai thành phần nồng cốt của một đoàn thể, một tổ chức biết hòa hợp nhau thì sẽ cho ra sức mạnh vô địch.

Cuối cùng, ta thường thấy trong văn học cổ gọi những người thành đạt trong quan trường là Công, Hầu, Khanh, Tướng. TƯỚNG ở đây chỉ cả Thừa Tướng và Tướng Quân. Nói chung là chỉ những người thành đạt, cao sang quyền quý. Trong Tăng Quảng Hiền Văn có một câu nói rất hay là :
將相胸前堪走馬, TƯỚNG TƯỚNG hung tiền kham tẩu mã,
公侯肚裡好撐船。 Công hầu đổ lý hảo sanh thuyền !
Có nghĩa :
- Trước lồng ngực của TƯỚNG QUÂN và THỪA TƯỚNG có thể chạy ngựa được.
- Trong bụng dạ của Công Hầu có thể chống thuyền đi được ở trong đó.
Ý muốn nói :
Những người thành đạt như Công, Hầu, Khanh, Tướng thì nên có bụng dạ rộng rãi : Lồng ngực (Hung 胸) rộng đến có thể cưởi ngựa chạy trong đó được; và bụng dạ (Đổ 肚) rộng đến có thể chống xuồng đi trong đó được. Tức là muốn khuyên đã thành đạt rồi thì nên có lòng khoan dung rộng rãi của một kẻ cả; Xí xóa tha thứ mọi lỗi lầm không cần thiết của những người chung quanh. Trong cuộc sống thường ngày cũng vậy, ta luôn luôn phải biết :
責人之心責己, Trách nhân chi tâm trách kỷ,
恕己之心恕人。 Thứ kỷ chi tâm thứ nhân.
Có nghĩa :
- Lấy cái lòng mình trách người ta để trách mình, và...
- Lấy cái lòng mình tha thứ mình để tha thứ cho người khác !

Mong rằng tất cả mọi người đều sống với lòng vị tha hỉ xả, mặc dù chúng ta chỉ là những người bình thường chớ không phải là Công, Hầu, Khanh, Tướng gì cả !
Mong lắm thay !
杜紹德
Đỗ Chiêu Đức

Nói đến chữ TƯƠNG là người ta nghĩ ngay đến TƯƠNG TƯ 相思 là Nhớ nhau; và hễ nói đến TƯƠNG TƯ là người ta cũng nghĩ ngay đến trai gái hai bên thương yêu và nhớ nhau đến sinh bệnh, gọi là BỆNH TƯƠNG TƯ, là một cái bệnh trầm kha, nên thơ, đáng yêu và dai dẳng đến không có một lương y nào có thể chửa khỏi được cả ! Nhưng nếu chỉ có một bên thương nhớ phía bên kia; Nam thương nhớ nữ hay nữ thương nhớ nam thì là ĐƠN TƯ 單思, chớ không thể nói là TƯƠNG TƯ được. Vì Theo "Chữ Nho... Dễ Học" TƯƠNG 相 có nghĩa là "Nhau", như : Tương Thân, là Thân nhau; Tương Ái là Yêu nhau; Tương Tư là Nhớ nhau... Nên phải cả hai bên cùng thương yêu tưởng nhớ đến nhau thì mới gọi là TƯƠNG TƯ được ! Nhưng trong "Tập quán Ngôn ngữ" theo thói quen sử dụng hằng ngày mà mọi người đều chấp nhận; Hễ thương nhớ ai thì đều có thể nói là TƯƠNG TƯ người đó được cả, như :
- Hắn đang "Tương Tư" nàng nào đó.
- Bộ mày đang "Tương Tư" ai hả ?
- Chàng ta đã "Tương Tư" cô ả đó rồi !
Không phải chỉ có giới bình dân, mà cả trong văn chương thơ phú cũng đã quen dùng từ TƯƠNG TƯ để chỉ sự nhớ nhung đến người mình yêu dấu, như thi sĩ nổi tiếng thời Tiền chiến Nguyễn Bính đã viết :
Thôn đoài ngồi nhớ thôn đông,
Một người chín nhớ mười mong một người.
Gió mưa là bệnh của Trời,
TƯƠNG TƯ là bệnh của tôi yêu nàng !
... và thi sĩ Xuân Diệu với hai câu thơ toàn thanh bằng trong bài thơ Nhị Hồ là :
Sương ngưng theo trăng ngừng lưng trời,
TƯƠNG TƯ nâng hồn lên chơi vơi !...
Ngay cả trong văn học cổ, trong Đường Thi cũng thế. Dưới đây là bốn câu thơ trong bài "Trường Tương Tư" của Thi Tiên Lý Thái Bạch :
...香亦竟不滅, ...Hương diệc cánh bất diệt,
人亦竟不来。 Nhân diệc cánh bất lai.
相思黄葉落, Tương Tư hoàng diệp lạc,
白露點青苔。 Bạch lộ điểm thanh đài !
Có nghĩa :
... Mùi hương chẳng dứt mãi còn,
Người đi biền biệt mõi mòn ngóng trông.
Tương Tư lá rụng đầy sân,
Sương đêm nhẹ điểm trắng ngần rêu xanh !
... và hai câu rất hay trong bài "Thu Phong Từ" cũng của Thi Tiên Lý Bạch là :
相思相見知何日, Tương Tư Tương Kiến tri hà nhật,
此時此夜難為情。 Thử thời thử dạ nan vi tình.
Có nghĩa :
Nhớ nhau, gặp nhau biết ngày nào
Đêm nay là lúc nao nao hàm tình !...
Ở cuối truyện Thần Điêu Hiệp Lữ của Kim Dung, người đọc thấy tội nghiệp cho Quách Tương nữ hiệp nhìn theo bóng dáng của Thần Điêu Đại Hiệp Dương Quá và Tiểu Long Nữ đi xuống núi Hoa Sơn trong cảnh lá thu rơi rụng rạt rào mà nước mắt lưng tròng và miệng thì lẫm nhẫm ngâm câu :"Tương Tư Tương Kiến tri hà nhật...
TƯƠNG TƯ 相思 là Nhớ đến nhau; TƯƠNG KIẾN 相見 là Thấy nhau, là Gặp nhau. TƯƠNG VẤN 相問 là Hỏi thăm nhau, như hai câu thơ rất nổi tiếng trong bài "Phù Dung Lâu Tống Tân Tiệm" của Vươg Xương Linh :
洛陽親友如相問, Lạc Dương thân hữu như TƯƠNG VẤN,
一片冰心在玉壺. Nhất phiến băng tâm tại ngọc hồ.
Có nghĩa :
Thân hữu Lạc Dương như có hỏi,
Bình ngọc tuyết băng một tấm lòng.
Thi vị hơn nữa là nhóm từ TƯƠNG ÁNH HỒNG 相映紅, chỉ hoa đào và mặt của người đẹp như cùng soi rọi nhau và cùng hồng lên một cách đáng yêu trong vườn hoa đào, như trong bài "Đề Đô Thành Nam Trang" của chàng Thôi Hộ :
去年今日此門中, Khứ niên kim nhật thử môn trung,
人面桃花相映红。 Nhân diện đào hoa tương ánh hồng.
人面不知何處去, Nhân diện bất tri hà xứ khứ ?
桃花依舊笑東風。 Đào hoa y cựu tiếu đông phong.
Có nghĩa :
Năm ngoái hôm nay cũng cửa này,
Mặt người hoa đẹp má hây hây,
Mặt người nay biết về đâu nhỉ ?
Như trước hoa đào vẫn nở đây !
Trong Truyện Kiều, sau khi hộ tang chú ở Liêu Dương, Kim Trọng trở lại vườn Thúy tìm Kiều, thì "Nhìn phong cảnh cũ nay đà khác xưa"... và...
Trước sau nào thấy mặt người,
Hoa Đào Năm Ngoái còn cười gió đông.
(Bấm vào link dưới đây để nghe nhạc)
https://www.youtube.com/watch?v=w78w4zdI4VY
TƯƠNG NGỘ 相遇 là Gặp nhau; TƯƠNG KIẾN 相見 là Thấy nhau, TƯƠNG THỨC 相識 là Quen biết nhau, nên BẤT TƯƠNG THỨC 不相識 là không quen biết nhau, như trong bài "Hồi Hương Ngẫu Thư" của Hạ Tri Chương, một trong Ẩm Trung Bát Tiên, là các bạn rượu của Thi Tiên Lý Bạch :
少小離家老大回, Thiếu tiểu ly gia lão đại hồi,
鄉音無改鬢毛衰。 Hương âm vô cải mấn mao suy.
兒童相見不相識, Nhi đồng Tương Kiến bất Tương Thức
笑問客從何處來? Tiếu vấn khách tòng hà xứ lai ?
Có nghĩa :
Trẻ nhỏ xa nhà, già trở lại,
Giọng quê còn đó, tóc như mây.
Nhi đồng gặp gỡ không quen biết,
Cười hỏi nơi nào khách đến đây ?
TƯƠNG TRI 相知 là Hiểu nhau, là biết rõ lòng dạ của nhau một cách sâu sắc; như Thúy Kiều và Kim Trọng hiểu rõ lòng dạ của nhau mà "Đem tình cầm sắc đổi ra cầm kỳ" khi "Kim Kiều tái họp" vậy :
Mấy lời tâm phúc ruột rà,
TƯƠNG TRI dường ấy mới là TƯƠNG TRI.
Chở che đùm bọc thiếu gì...
Trăm năm danh tiết cũng vì đêm nay !
TƯƠNG PHÙNG là gặp gỡ nhau. Nhớ hồi nhỏ, hay nghe bà con lối xóm nói... Nho chơi với nhau là :
Hữu duyên thiên lý...ăn Tương Hột,
Vô duyên đối diện... bát Tương Tàu !
Đến khi đi học chữ Nho với ông Thầy Thừng ở trong chùa rồi, mới biết đó là hai câu :
有緣千里能相遇, Hữu duyên thiên lý năng TƯƠNG NGỘ,
無緣對面不相逢。 Vô duyên đối diện bất TƯƠNG PHÙNG !
Có nghĩa :
- Nếu có duyên thì ngàn dặm cũng đưa đẩy để gặp nhau được, còn nếu...
- Không có duyên với nhau thì dù cho có ở ngang mặt nhau vẫn không thể gặp gỡ nhau được.
Có duyên, ngàn dặm gặp nhau,
Không duyên, đối diện khó chào nhau luôn !
Năm Thiên Bảo thứ 8 đời Đường Huyển Tông, thi nhân Sầm Tham 岑参 phụng chỉ ra miền Tây vực để làm Mạc phủ cho Tiết Độ Sứ Tây An. Trên đường ra ải Dương Quan để đến vùng biên tái, tình cờ gặp được sứ giả hồi kinh là bạn đồng liêu. Nỗi mừng biết lấy chi cân, bèn làm bài thơ tứ tuyệt 逢入京使 PHÙNG NHẬP KINH SỨ (Gặp sứ giả trở về Kinh sư) sau đây để gởi về thăm gia đình :
故園東望路漫漫, Cố viên đông vọng lộ man man,
雙袖龍鐘淚不乾。 Song tụ long chung lệ bất can.
馬上相逢無紙筆, Mã thượng tương phùng vô chỉ bút,
憑君傳語報平安. Bằng quân truyền ngữ báo bình an !
Có nghĩa :
Vườn xưa diệu dợi mõi mòn trông,
Lụm cụm khôn ngăn lệ nhỏ ròng.
Trên ngựa gặp nhau không giấy viết,
"Bình an" nhờ báo kẻo nhà mong !
Mã Thượng Tương Phùng 馬上相逢 là gặp nhau trên lưng ngựa, nên không có giấy viết gì cả, chỉ nhờ bạn báo lại cho người nhà biết là mình vẫn "Bình An" mà thôi !
逢入京使 PHÙNG NHẬP KINH SỨ
Trên đây là những chữ TƯƠNG vui buồn lẫn lộn, nhưng lại đầy thi vị với tình người một cách nên thơ. Còn có những chữ TƯƠNG lạnh lùng sắt máu... như Huynh đệ TƯƠNG HẠI 兄弟相害 (Anh em hại nhau), Cốt nhục TƯƠNG TÀN 骨肉相殘 (Ruột thịt mà tàn sát lẫn nhau)... Như anh em của Tào Phi và Tào Thực con của Tào Tháo...
Sau khi lên ngôi là Ngụy Văn Đế, nhưng vẫn còn ganh tài của người em, Tào Phi mới nói với Tào Thực rằng : "Ai cũng bảo là văn tài của nhà ngươi giỏi hơn ta, vậy ta hạn cho ngươi trong vòng bảy bước phải làm xong một bài thơ, nếu không được, sẽ trị tôị khi quân. Tào Thực xin đề, thì Tào Phi bảo là : Nói về Anh Em mà không được dùng từ anh em trong bài thơ. Đoạn bắt đầu bước đi và đếm, khi vừa đúng 7 bước thì Tào Thực cũng vừa cất tiếng ngâm :
煮豆燃豆萁, Chữ đậu nhiên đậu cơ,
豆在釜中泣. Đậu tại phủ trung khấp.
本是同根生, Bổn thị đồng căn sanh,
相煎何太急 ?! TƯƠNG TIỄN hà thái cấp ?!
Có nghĩa :
- Lấy vỏ đậu làm củi để nấu đậu. Nên ...
- Đậu mới than khóc ở trong nồi. Rằng...
- Vốn dĩ chúng ta cùng chung một gốc rễ sinh ra.
- Đốt nấu lẫn nhau (TƯƠNG TIỄN), sao mà nhẫn tâm làm vậy ? !
Củi đậu đem nấu đậu,
Đậu than khóc trong nồi,
Cũng cùng chung một gốc,
Nấu nhau đành hỡi ôi !
Tào Phi nghe xong bài thơ, rất xúc động, từ đó về sau, không còn có ý muốn giết hại em mình nữa !
Tương tự, trong văn học sử Việt Nam ta cũng có câu truyện như sau :
Dưới thời Tự Đức, Nguyễn Phúc Hồng Bảo 阮福洪保 (1825-1854), hay Hường Bảo; là con trưởng vua Thiệu Trị, nhưng không được truyền ngôi. Sau hai lần mưu sự (1851 và 1854) để giành lại ngôi vị không thành, ông bị giam và chết thảm trong ngục. Người đương thời cho là vua Tự Đức có ý giết anh để trừ hậu hoạn. Sau đó, nhân một buổi ngự thiện với quần thần, Tự Đức đang dùng cơm vô ý cắn phải lưỡi, bèn nổi hứng lấy đầu đề "Răng cắn Lưỡi" ra cho đình thần làm thơ, nhưng trong thơ không được dùng chữ "Răng" chữ "Lưỡi". Nguyễn Hàm Ninh 阮咸寧 ( 1808-1867) là một danh sĩ trong lịch sử Văn học Việt Nam thời nhà Nguyễn, dâng lên một bài tứ tuyệt như sau :
Sinh ngã chi sơ, nhĩ vị sinh, 生我之初爾未生,
Nhĩ sinh chi hậu, ngã vi huynh. 爾生之後我為兄。
Như kim cộng hưởng trân cam vị, 如今共享珍甘味,
Hà nhẫn TƯƠNG THƯƠNG cốt nhục tình ? 何忍相傷骨肉情?
Có nghĩa :
"Lưỡi nói với Răng" rằng :
Khi ta sinh ra mi chưa sinh,
Mi sinh sau ta, ta là huynh.
Nay cùng chung hưởng đồ ngon ngọt,
Sao nở tổn thương cốt nhục tình ?!
"Hà nhẫn TƯƠNG THƯƠNG 相傷 cốt nhục tình ?" Có nghĩa : "Sao nở nhẫn tâm làm Tổn Thương tình cốt nhục làm vậy?". Vua Tự Đức xem thơ xong, khen hay, thưởng cho mỗi câu một lạng vàng vì lời thơ qúa hay, nhưng lại phạt mỗi câu một roi vì ý thơ có ẩn ý xỏ xiên phạm thượng (Không chém đầu là may lắm rồi !).
Ngoài các từ TƯƠNG trên đây, trong cuộc sống hằng ngày ta còn thường gặp các từ TƯƠNG có nghĩa :
* Giống nhau như : TƯƠNG ĐỒNG 相同 (như nhau), TƯƠNG ĐƯƠNG 相當 (ngang nhau), TƯƠNG TỰ 相似 (giống nhau)...
* Khác nhau như : TƯƠNG PHẢN 相反 (ngược nhau), TƯƠNG SAI 相差 ( Xê xích nhau), TƯƠNG DỊ 相異 (khác biệt nhau)...
* Bằng nhau như : TƯƠNG ĐẲNG 相等 (ngang bằng nhau), TƯƠNG ĐỐI 相對 (ngang ngửa nhau), TƯƠNG TỈ 相比 (so sánh nhau)...
TƯƠNG TRUYỀN 相傳 là những điều được truyền tụng nhau trong dân gian. Và nếu chữ TƯƠNG 相 được chấm thêm 3 chấm Thủy 氵thành 湘 thì sẽ là giòng TƯƠNG GIANG 湘江 (sông Tương) nổi tiếng trong văn học với các câu :
君在湘江頭, Quân tại Tương Giang đầu,
妾在湘江尾。 Thiếp tại Tương Giang vĩ.
相思不相見, Tương tư bất tương kiến,
同飲湘江水。 Đồng ẩm Tương giang thủy.
Có nghĩa :
Chàng ở đầu sông Tương,
Thiếp ở cuối sông Tương.
Cùng nhớ nhau mà cùng chẳng gặp được nhau, mặc dù...
Hai ta cùng uống chung một dòng nước của sông Tương.
Diễn Nôm :
Đầu sông Tương ngẩn ngơ chàng đợi,
Cuối sông Tương mòn mõi thiếp trông.
Nhớ nhau lòng ngẩn ngơ lòng,
Đều cùng uống nước bên dòng sông Tương...
Đi vào văn học cổ Việt Nam ta thì SÔNG TƯƠNG là biểu tượng của một dòng sông thương nhớ nhau, chớ không phải là một dòng sông có thật. Như khi đã cùng nhau hẹn ước, nhưng lại không có dịp để gặp gỡ nhau, cụ Nguyễn Du đã diễn tả tình trạng thương nhớ nhau của Kim Kiều như sau :
SÔNG TƯƠNG một dãi nông sờ,
Bên trông đầu nọ bên chờ cuối kia.
... Và SÔNG TƯƠNG lại đi vào dòng tân nhạc thời Tiền Chiến với ca khúc nhớ thương lãng mạng bất hủ "AI VỀ SÔNG TƯƠNG" rất nổi tiếng của nhạc sĩ Thông Đạt (Văn Giảng) với lời ca trữ tình gợi cảm :
Ai có về bên bến SÔNG TƯƠNG...
Nhắn người duyên dáng tôi thương...
Bao ngày ôm mối tơ vương...
(Bấm vào link dưới đây để nghe nhạc) :
https://www.youtube.com/watch?v=IwfFZh0FEZM
Trên đây là TƯƠNG trong văn chương âm nhạc, còn trong dân gian thì TƯƠNG là TƯƠNG CHAO. TƯƠNG 醬 là món ăn bình dân được làm và ủ bằng đậu nành, thành một chất sền sệt vừa mặn vừa ngon vừa rẻ, lại không có dầu mỡ nên những người ăn chay ăn lạt đều thông dụng, và từ ĂN CHAY còn được gọi thế thân là ĂN TƯƠNG. "Hôm nay tôi ĂN TƯƠNG, có nghĩa là Hôm nay tôi ĂN CHAY đó !" Vì là món ăn mặn để ăn cơm, nên TƯƠNG không thể thiếu ở những bữa cơm nhà nghèo kèm với các loại dưa leo, rau lang, rau quế, rau muống... Nhớ năm xưa, lúc còn học lớp Đồng Ấu thầy giáo đã cho học một bài Học Thuộc Lòng (dường như là của nhà thơ Á Nam Trần Tuấn Khải ?!) như sau :
Rau muống mọc ở hồ ao,
Tuy thân hèn mọn tự hào rằng hay.
Quanh năm cung phụng món nầy,
Cho nhà nghèo khó bữa rày bữa mai.
Nhà giàu thịt cá ăn hoài,
Nghèo thì rau muốn cũng hai bữa thường.
Giàu thì mỹ vị cao lương,
Nghèo thì ra muống chấm TƯƠNG kém gì !?...
Như trên đã nói TƯƠNG 醬 là chất lỏng sền sệt, khi là chất lỏng đậm đặc thì chữ TƯƠNG 漿 được đổi thành Bộ Thủy 水 bên dưới, nên QUỲNH TƯƠNG 瓊漿 là một loại chất lỏng đậm đặc có màu sắc lóng lánh như ngọc QUỲNH, và QUỲNH TƯƠNG TỬU 瓊漿酒 là một loại rượu được ủ bằng các loại trái cây lên men mà thành, là rượu "cóc-tai" (cocktail) nên vừa đậm đặc, vừa lóng lánh màu sắc, vừa thơm ngon... mà ngày xưa chỉ có các nhà quyền quý và thần tiên mới thường uống mà thôi. Như trong truyện "Bùi Hàng gặp Tiên với tích Lam Kiều" như sau :
Theo sách Thái Bình Quảng Ký 太平廣記, quyển 50: Đời Đường Mục Tông (795-824), năm Trường Khánh có Tú tài Bùi Hàng 裴航 lai kinh ứng thí, nhưng thi rớt. Buồn vì vô tích sự nên định đi du ngoạn Tương Dương một chuyến để giải khuây. Khi đến bến để thuê thuyền thì chỉ còn một khoang thuyền nhỏ, khoang chính của thuyền đã có một phu nhân thuê rồi. Mặc dù có rèm sáo che chắn, nhưng vì ở chung trên một chiếc thuyền, lúc lên xuống ra vào, khi gió động rèm châu, Bùi Hàng cũng lén ngắm nhìn dung nhan của vị phu nhân chung thuyền. Chàng chợt ngẩn người ra và mê mẫn trước sắc đẹp như tiên giáng thế của vị phu nhân mà ngày thường chỉ nghe tiếng nói thanh tao như ngọc của nàng qua bức rèm châu. Hỏi thăm thị nữ theo hầu thì được biết đó là Phàn Phu Nhân. Chàng bèn làm một bài thơ tỏ tình ái mộ của mình, rồi nhờ thị nữ chuyển đến cho phu nhân bài thơ sau đây :
同舟胡越猶懷想, Đồng chu Hồ Việt do hoài tưởng.
況遇天仙隔錦屏。 Huống ngộ thiên tiên cách cẩm bình.
倘若玉京朝會去, Thảng nhược Ngọc kinh triều hội khứ,
願隨鸞鶴入青雲。 Nguyện tùy loan hạc nhập thanh vân.
Có nghĩa :
Cùng thuyền Hồ Việt cũng thương nhau,
Huống gặp người tiên cách sáo rào.
Nếu đó Ngọc Kinh về phó hội,
Nguyện cùng chắp cánh vút trời cao !
Phàn phu nhân xem xong mỉm cười nói thầm : Rõ khéo đa tình, rất tiếc ta không phải là đối tượng của chàng ! Bèn lấy ra một mảnh hoa tiên, cất bút đề thơ hồi âm :
一飲瓊漿百感生, Nhất ẩm QUỲNH TƯƠNG bách cảm sanh,
玄霜搗盡見雲英。 Huyền sương đão tận kiến Vân Anh.
藍橋便是神仙窟, Lam Kiều tiện thị thần tiên quật.
何必崎嶇上玉京? Hà tất khi khu thướng Ngọc Kinh ?
Có nghĩa :
Một chén QUỲNH TƯƠNG trăm cảm sanh,
Chày sương giã thuốc gặp Vân Anh.
Lam Kiều chốn ấy thần tiên ngụ,
Sao phải gập ghềnh đến Ngọc Kinh ?!
Bùi Hàng đọc thơ mà không hiểu ngụ ý của Phu nhân muốn nói chi. Huyền sương là cái gì và Vân Anh là ai, sao lại ở trong thần tiên quật (hang động của thần tiên). Chàng cứ ngẩn ngơ suy nghĩ mãi không hiểu nàng muốn ám chỉ việc gì. Chừng định hồn lại thì phu nhân và thị nữ đã lên bờ đi mất. Dò la mãi cũng không biết được mãi mai tin tức gì. Buồn lòng, chàng bèn quay trở lại Trường an định chờ khoa thi tới. Khi về đến Lam Kiều Dịch, xa xa trông thấy có mấy mái nhà tranh thật nên thơ, sẵn đang khát nước chàng bèn ghé lại xin chén nước uống. Sau khi hỏi xin bà lão đang ngồi quay tơ trứơc cửa, thì bà lão gọi vói vào trong nhà : "Vân Anh, bưng nước ra mời khách !". Bùi Hàng ngẩn người ra nhớ lại bài thơ của Phàn phu nhân có nhắc đến Vân Anh. Chàng hồi hộp nhìn vào bên trong bình phong, quả nhiên một người con gái khoảng mười lăm mười sáu tuổi đẹp như tiên nga bưng nước ra mời khách. Chàng uống cạn ly nước mát ngọt lịm tận tim gan. Tuy nàng đã lui vào bên trong mà hương thừa vẫn còn phảng phất đâu đây. Chàng lấy cớ là đi đường người mệt ngựa mõi mà nấn ná xin ở lại nghỉ ngơi.
Sau khi làm quen và trao đổi hàn huyên với bà lão, Bùi Hàng mới khẩn khoản ngỏ ý muốn hỏi cưới Vân Anh, thì bà lão bảo rằng :" Đó là cháu gái của lão, bà cháu sống nương tựa lẫn nhau, nếu muốn cưới nó thì phải giúp lão giả xong thang thuốc Huyền Sương, vì là thuốc của tiên ban nên phải giả bằng chày ngọc cối ngọc. Nếu trong một trăm ngày mà chàng tìm được chày ngọc cối ngọc đến đây giả thuốc cho ta, thì ta sẽ gả nó cho chàng ". Bùi Hàng vui mừng hớn hở từ biệt bà lão để ra đi tìm chày ngọc cối ngọc.
Chàng lang thang suốt hơn hai tháng trường, bỏ cả khoa thi để quyết chí tìm chày cối ngọc. Nhưng vẫn biền biệt không tìm đâu ra cả. Buồn lòng và lo lắng, gặp ai cũng chỉ hỏi có chày ngọc cối ngọc mà thôi. Một hôm đang lang thang để hỏi thăm tin tức ở kinh thành, tình cờ gặp được người buôn ngọc cho chàng biết là có người đang rao bán chày cối ngọc, nhưng lại đòi đến hai ngàn lượng bạc. Chàng đành phải bán cả hành trang, cả ngựa và cả tên gia đồng theo hầu mới đổi được chày ngọc cối ngọc mang về Lam Kiều cho bà lão. Bà lại bảo chàng phải ở lại Lam Kiều để giã thuốc Huyền Sương cho đúng một trăm ngày nữa.
Khi thuốc đã giã xong và khi bà lão đã uống xong thuốc, bèn dẫn Vân Anh ra đi và bảo chàng hãy nán đợi. Hôm sau, có đoàn ngựa xe từ đâu đến đón chàng đi đến một nơi mây mù vần vũ, lầu các nguy nga, tòa rộng dãy dài, tiêu thiều nhạc sáo vang vang, trúc tơ dìu dặc như tiên cảnh. Bà lão không còn nghèo nàn như trước mà hiện ra như một lão Phật gia trong cung tiên, cô dâu Vân Anh đẹp rực rỡ với "Hoa quan chấp chới hà y rỡ ràng" được thị tì hai bên đở ra để làm lễ tơ hồng. Bùi Hàng bàng hoàng ngây ngất, sung sướng đê mê bên cô dâu thơm phức và đẹp như … tiên !
Sau khi cử hành hôn lễ, bà lão còn đưa hai vợ chồng đến ra mắt một tiên nương chị của cô dâu Vân Anh là Vân Kiều. Bùi Hàng mới giật mình nhận ra đây là Phàn phu nhân đi cùng thuyền với mình lúc trước. Thì ra Vân Kiều Phàn phu nhân đã báo trước mối duyên giã thuốc của mình với Vân Anh ở Lam Kiều rồi, mà trước đây mình đâu có biết. Sau những năm tháng sống vui vẻ bên nhau, vợ chồng Bùi Hàng cũng cùng tu và cùng đắc đạo thành tiên cả.
Đây cũng là câu chuyện xung đột giữa đạo Nho và đạo Lão. Vì chuyện của Bùi Hàng mà một số Nho sinh bỏ Nho theo Lão để tu tiên. vừa có vợ đẹp vừa có cuộc sống thoải mái như … tiên. Không bị ràng buộc bởi công danh phiền toái mà còn phải biết a dua nịnh bợ với cấp trên và cũng chưa chắc đã được yên thân trong quan trường đầy hiễm họa.
TƯƠNG 將 còn có nghĩa là Sẽ, là Sắp. Như TƯƠNG LAI 將來 là Sắp đến, Sẽ đến, thường dùng để chỉ thời gian và hoàn cảnh sắp diễn ra, có thể tốt có thể xấu, như :
- TƯƠNG LAI xán lạn, rực rỡ...
- TƯƠNG LAI đen tối, mờ mịt...
Tùy theo ngữ cảnh, khi nói lên những "mơ ước về sau" thì TƯƠNG LAI tự nó đã có nghĩa là tốt rồi, vì đâu có ai mơ ước những chuyện xấu bao giờ, như lời cha mẹ khuyên con cái, thầy giáo khuyên học trò :
- Rán học giỏi thì mới có TƯƠNG LAI.
- Biếng nhác quá thì làm sao có TƯƠNG LAI cho được !
TƯƠNG 將 là sắp, là Sẽ; Nên TƯƠNG YẾU 將要 (Sẽ phải), TƯƠNG DỤC 將欲 (Sắp muốn) là những từ dùng để nhấn mạnh thêm những sự việc sắp xảy ra mà thôi, như bài thơ "Tặng Uông Luân 贈汪倫" của Lý Bạch sau đây :
李白乘舟將欲行, Lý Bạch thừa chu TƯƠNG DỤC hành,
忽聞岸上踏歌聲。 Hốt văn ngạn thượng đạp ca thanh.
桃花潭水深千尺, Đào hoa đàm thủy thâm thiên xích,
不及汪倫送我情。 Bất cập Uông Luân tống ngã tình !
Có nghĩa :
Lên thuyền Lý Bạch toan rời,
Bỗng nghe trên bến tiếng người nhịp ca.
Sâu ngàn thước, đầm Đào hoa,
Uông Luân tình bạn tiễn ta hơn nhiều !
Nhắc đến Thi Tiên Lý Bạch thì không thể không nhắc đến bài TƯƠNG TIẾN TỬU 將進酒 nổi tiếng của ông. TƯƠNG 將 ở đây có nghĩa là Mời; TƯƠNG TIẾN TỬU có nghĩa là "Mời Uống Rượu; Mời Cạn Ly". Bài thơ bất hủ với những câu như :
... 會須一飲三百杯, Hội tu nhất ẩm tam bách bôi.
và...
... 與爾同銷萬古愁! Dữ nhĩ đồng tiêu vạn cổ sầu !
Có nghĩa :
Ba trăm ly uống hả hê...
Mối sầu vạn cổ trả về thiên thu !...
TƯƠNG 將 còn có nghĩa là Đem, là Lấy ; như trong các thành ngữ TƯƠNG CÔNG THỤC TỘI 將功贖罪 là "Lấy Công Chuộc Tội", TƯƠNG KẾ TỰU KẾ 將計就計 là "Đem kế (của người ta) làm kế (của mình) để đối phó lại với đối phương... Theo như tích trong "Tam Quốc Chí" sau đây :
Sau khi Tào Tháo lấy ít thắng nhiều ở trận chiến Quan Độ, bèn xua Tám mươi ba vạn quân với khí thế hừng hực tiến chiếm Kinh Châu và Đông Ngô. Hai bên dàn quân ở hai bên bờ Hạ Khẩu của sông Trường Giang. TƯỞNG CÁN 蔣幹 tự là Tử Dực, một mưu sĩ dưới trướng của Tào Tháo, xin với Tháo cho mình qua sông làm thuyết khách để chiêu hàng Chu Du vì mình là bạn đồng song với Chu Du thuở trước. Chu Du là Đô đốc của Đông Ngô đang lo lắng vì sau khi Tào Tháo chiếm Kinh Châu thì 2 tướng Thủy quân Đề Đốc là Thái Mạo và Trương Doãn đã đầu hàng Tào Tháo và hiện đang giúp Tào Tháo chấn chỉnh thao luyện thủy binh. Chu Du nghe tin Tưởng Cán đến bèn cùng các tướng bàn bạc, TƯƠNG KẾ TỰU KẾ niềm nở tiếp đón bạn học cũ Tưởng Cán và bày ra tiệc "Quần Anh Hội" để mừng bạn và quy định trong tiệc chỉ hàn huyên tình cố cựu mà không được nói đến việc quân cơ. Sau tiệc rượu lại giả say mà mời bạn cùng ngủ chung giường với mình. Tưởng Cán rất buồn vì không nói được lời chiêu hàng nào cả. Nằm trằn trọc không ngủ được, thấy trên án thư có rất nhiều thư từ qua lại, trong đó có thư của hai tướng Thái Mạo và Trương Doãn, nói rằng mình chỉ bất đắc dĩ mới đầu hàng Tào Tháo mà thôi, sẽ lừa dịp mà giết chết và dâng đầu Tào Tháo trong nay mai. Tưởng Cán cả mừng bèn dấu thư đó vào tay áo, rồi giả đò nằm ngủ, lúc trời gần sáng, lại nghe có người đến gọi Chu Du dậy và thì thầm chuyện gì đó như có tin bên quân trại của Tào Tháo đưa qua mà có chắc đến 2 tên Thái Mạo và Trương Doãn. Khi trời sáng, thấy Chu Du vẫn còn say ngủ, bèn lẻn ra lấy thuyền sang sông về dinh Tào Tháo, trình thư đầu hàng Đông Ngô của 2 tướng Thái Mạo và Trương Doãn lên và kể lại mọi điều nghe thấy. Tào Tháo xem thư và nghe kể xong, bèn cả giận, truyền lệnh cho quân sĩ bắt hai tướng lại và chém đầu trước ngọ môn. Khi đao phủ thủ dâng đầu của hai tướng Thái Mạo và Trương Doãn lên, thì Tào Tháo mới chợt tỉnh ngộ biết rằng mình đã trúng kế phản gián của đối phương, nhưng vì tự ái đành phải ngậm bồ hòn làm ngọt mà khen thưởng cho Tưởng Cán. Riêng cái anh chàng hủ nho Tưởng Cán vẫn dương dương tự đắc tưởng rằng mình đã lập công to, nào có biết đâu rằng mình đã trúng cái "TƯƠNG KẾ TỰU KẾ" của ông bạn Đô Đốc Chu Du ranh mảnh.
TƯƠNG 將 còn có nghĩa là giúp đỡ phù trợ. Như bài thơ Cù Mộc trong chương Chu Nam của Kinh Thi 詩經.周南·樛木 :
南有樛木, Nam hữu cù mộc,
葛藟荒之。 Cát lũy hoang chi.
樂只君子, Lạc chỉ quân tử,
福履將之。 Phúc lý TƯƠNG chi.
Có nghĩa :
Núi nam cù mộc một cây,
Cóc kèn bìm bịt phủ đầy lên trên.
Vui vì quân tử được nên,
Phúc đức theo gót đến liền chung vui.
Đây là bài ca dao đời Tây Chu thường để chúc tụng cho cô dâu chú rể trong hôn lễ được vui vẻ và hạnh phúc; cô dâu tìm được chỗ dựa vững vàng. Có thuyết cho là bài thơ ca tụng bà Hậu Phi ở trong cung không đố kỵ với các phi tần bên dưới, nên mong cho phúc đức sẽ phù trợ bà.
TƯƠNG 將 còn có nghĩa là Tiễn đưa, bảo vệ. Trong bài thơ Thước Sào trong chương Thiệu Nam Quốc Phong trong Kinh Thi 詩經.國風.召南.鵲巢 :
維鵲有巢, Duy thước hữu sào,
維鳩方之。 Duy cưu phương chi.
之子于歸, Chi tử vu quy,
百兩將之。 Bách lượng tương chi.
Có nghĩa :
Chim khách có ổ có nơi,
Chim cu bay đến suốt đời ở chung.
Cô kia đi về nhà chồng,
Trăm xe ngựa kéo nối dòng đưa đi.
Đưa dâu có đến cả trăm xe ngựa kéo, thì quả là đám cưới của hàng quý tộc chứ không phải hạng thường dân. Từ bài Kinh Thi nầy đã hình thành một thành ngữ còn thông dụng cho đến hiện nay; đó là 4 chữ "CHI TỬ VU QUY 之子于歸" chỉ các cô gái "về" nhà chồng có cưới gả hẵn hoi, chứ không phải "cuốn gói theo trai" như nàng Trác Văn Quân của Tư Mã Tương Như vậy.
"TƯƠNG... TƯƠNG..." là Liên từ, có nghĩa như : "Vừa... Vừa..." như trong thành ngữ "TƯƠNG TÍN TƯƠNG NGHI 將信將疑" là "Vừa tin vừa ngờ", có nghĩa như thành ngữ "BÁN TÍN BÁN NGHI 半信半疑" là "Nửa tin nửa ngờ" để chỉ chuyện gì đó còn chưa chắc chắn vậy.
TƯƠNG TƯƠNG 將相 là : "Sẽ... nhau". là "Chỉ còn có nước..." Như một câu ngạn ngữ trong dân gian được ghi trong Tăng Quảng Hiền Văn là :
三十不豪, Tam thập bất hào,
四十不富, Tứ thập bất phú,
五十將相尋死路。 Ngũ thập TƯƠNG TƯƠNG tầm tử lộ !
Có nghĩa :
- Ba mươi tuổi chẳng hào sảng (dễ chịu, khá giả),
- Bốn mươi tuổi chẳng phú túc (giàu sang đầy đủ), thì...
- Năm mươi tuổi SẼ chờ NHAU để tìm đường chết. Ý là :
Chỉ Còn Có Nước đi tìm đường chết mà thôi !
Theo quan niệm xưa : Tam thập nhi lập. Ba mươi tuổi là phải lập thân lập nghiệp, ít nhất là phải có gia đình và nghề nghiệp hẵn hoi. Chớ ba mươi tuổi mà còn long bong chưa có việc làm, chưa có nghề nghiệp vững chắc, đến bốn mươi tuổi mà còn chưa ổn định, chưa khá giả giàu có... thì khi đã năm mươi tuổi, là tuổi Tri Thiên Mệnh rồi thì chỉ còn có nước chờ chết mà thôi, chớ khó mà có dịp trở mình để làm quan làm giàu được nữa. Đó là nói theo quan niệm của Thế kỷ 19-20 khi tuổi thọ trung bình của con người chỉ từ 60-65. Với quan niệm "60 năm cuộc đời" như bài hát trước đây của dân Sài Gòn :
Em ơi, có bao nhiêu... 60 năm cuộc đời !
20 năm đầu, sung sướng không bao lâu,
20 năm sau sầu tư cao vời vợi,
20 năm cuối là bao !...
(Bấm vào link dưới đây để nghe nhạc)
Còn Thế kỷ 21 bây giờ, tuổi thọ trung bình trên thế giới hiện nay là từ 70-80 tuổi, nên 50 tuổi mới là tuổi chín chắn để làm nên sự nghiệp : Nghề nghiệp đã ổn định, kinh nghiệm sống và tín dụng đã đầy đủ, cơ sở vật chất cũng đã vững chắc... Nên, 50 tuổi là tuổi dễ phất lên và làm giàu nhất trong thời buổi hiện nay. Chớ không phải "TƯƠNG TƯƠNG tầm tử lộ" như ông bà xưa đã nói đâu !
Mong rằng mọi người, mọi giới, mọi ngành, mọi nghề... tất cả đều HỖ TƯƠNG 互相 giúp đỡ lẫn nhau để cùng hướng đến TƯƠNG LAI 將來 huy hoàng rực rỡ đang chờ đón phía trước mặt.
Hẹn bài viết tới :
Chữ TƯỚNG
杜紹德
Đỗ Chiêu Đức













