TIẾNG HÁN CỔ

                                                   với Ông Đồ

                             ĐỖ CHIÊU ĐỨC

                         

                                                  CHS Phan Thanh Giản (Cần Thơ)

                                          Cựu GS Trung Học Tân Văn (Cái Răng)

                                          Cựu Giảng Viên ĐH Xã Hội - Nhân Văn (Sài Gòn)

Houston, Texas _____________________________

Thơ Trương Duyệt

 

 

Trương Duyệt 張說 (667-730):

Đại thần đời Đường. Tự là Đạo Tế, một tự nữa là Duyệt Chi. Người đất Lạc Dương. Đời Võ Tắc Thiên được phong làm Thái Tử Hiệu Thư, đời Đường Trung Tông giữ chức Hoàng Môn Thị Lang, đời Tuấn Tông được phong chức Trung Thư Môn Hạ Bình Chương Sự, đến đời Huyền Tông thì giữ chức Trung Thư Lệnh, rồi được truy phong Yến Quốc Công. Ông giỏi về văn từ nên được giao cho soạn thảo hầu hết các văn kiện quan trọng trong triều đình lúc bấy giờ. Thơ của ông thường làm lúc ngẫu hứng. Sau đây là những bài thơ của ông làm khi bị biếm làm Thứ Sử đất Nhạc Dương.

 

1. Bài thơ Tống Lương Lục Tự Động Đình Sơn Tác:

 

 

 

 

 

 

 

 

送梁六自洞庭山作 Tống Lương Lục Tự Động Đình Sơn Tác

 

巴陵一望洞庭秋, Ba Lăng nhất vọng Động Đình Thu,

日見孤峰水上浮。 Nhựt kiến cô phong thủy thượng phù.

聞道神仙不可接, Văn đạo thần tiên bất khả tiếp,

心隨湖水共悠悠. Tâm tùy hồ thủy cộng du du !

張說                      Trương Duyệt 

 

* Chú thích:

- Lương Lục 梁六: Tức Lương Tri Vi, Thứ sử Đàm Châu, nhân về kinh đi ngang qua Nhạc Dương, nên Trương Duyệt lúc bấy giờ là Thứ sử Nhạc Dương mới đưa bạn đi qua hồ Động Đình.

- Động Đình Sơn 洞庭山 : Còn gọi là Quân Sơn, nằm trong Động Đình Hồ về phía tây nam của thành phố Nhạc Dương. Nơi có phong cảnh đẹp đẽ hữu tình.

- Ba Lăng 巴陵: Tên Quận của Nhạc Châu, thuộc Nhạc Dương trong tỉnh Hồ Nam.

- Cô Phong 孤峰 : Đỉnh núi cô độc, chỉ đỉnh Quân Sơn lẻ loi ở giữa hồ Động Đình.

- Văn Đạo 闻道: Nghe nói rằng, Nghe đồn rằng...

- Thần Tiên 神仙: ở đây chỉ Tương Quân và Tương Phu Nhân hai tiên nhân đắc đạo ở núi Động Đình nầy, nên núi còn có tên Quân Sơn là vì thế. Theo Thập Di Ký 《拾遗记》 của Vương Gia đời Đông Tấn thì có đến tám tiên đảo trôi nổi trên mặt sông hồ biển cả, trong số đó có Quân Sơn. Tương truyền dưới núi Quân Sơn có đến mấy trăm gian nhà vàng tráng lệ để cho các tiên đồng ngọc nữ ở trong đó, suốt ngày luôn có tiếng tiêu thiều tơ trúc vang lừng các khúc nhạc tiên vẳng đến cả trên đỉnh núi. Nhưng không mấy ai gặp được thần tiên trên núi đó.

- Du Du 悠悠 : là Dài lâu, là Dằng dặc lơ lửng mãi không thôi.

 

* Nghĩa bài thơ:

Làm Khi Đưa Lương Lục Từ Núi Động Đình.

Từ đất Ba Lăng ta nhìn theo bạn đến mút con mắt trên hồ Động Đình khi trời đã vào thu; dưới ánh nắng lắp lánh ta thấy ngọn núi Quân Sơn cô độc như trôi nổi trên hồ Động Đình (tựa như núi Bồng lai ); Nghe nói thần tiên rất khó mà gặp được để tiếp xúc, nên lòng ta cũng như nước hồ trôi nổi tận xa xăm !

 

* Diễn Nôm:

Cảm Tác Khi Đưa  Lương Lục Từ Động Đình Sơn

 

Ba lăng tiễn bạn Động Đình Hồ,

Dưới nắng Quân Sơn tựa lửng lơ.

Nghe nói thần tiên không dễ gặp,

Lòng theo hồ nước cũng dật dờ! 

 

Lục bát:

Ba Lăng thu ngắm Động Đình,

Núi côi như nổi xinh xinh giữa hồ.

Thần tiên há dễ gặp cơ ?!

Lòng ta theo nước dật dờ xa xa!

 

Đỗ Chiêu Đức

 

Bài thơ nầy đã được thân phụ của Công Tử Bạc Liêu cho người viết và cẩn xà cừ treo trong phòng khách trên lầu bên cạnh hai câu đối chính. Ta thấy nội dung bài thơ diễn tả lại tâm lý tự nhiên của con người trước cảnh chia tay, trước thiên nhiên trời nước bao la của hồ Động Đình, trước sự nhỏ bé của núi Quân Sơn như đang trôi nổi trên mặt hồ như tiên đảo Bồng lai; làm cho lòng người cũng lắng đọng xuống muốn đi tu tiên để sống cảnh sống thanh nhàn của thần tiên, không xô bồ xô bộn như cuộc đời thực tế đang diễn ra trước mắt. Nếu chịu lắng lòng với bài thơ nầy, thì chắc Công Tử Bạc Liêu cũng sẽ bớt ăn chơi hơn. Tiếc thay!

 

2. Bài thơ Thục Đạo Hậu Kỳ:

 

 

 

蜀道后期        Thục Đạo Hậu Kỳ

客心争日月, Khách tâm tranh nhật nguyệt,

来往预期程。 Lai vãng dự kỳ trình.

秋風不相待, Thu phong bất tương đãi,

先至洛陽城。 Tiên chí Lạc Dương thành.

張說                 Trương Duyệt

 

Giữa những năm Tiên Thụ của triều Võ Tắc Thiên (690-692), lúc đó Trương Duyệt đang giữ chức Hiêu Thư Lang, hai lần được cử đi sứ xứ Tây Thục. Các chuyến đi đều đã được dự tính sẵn ngày về, nhưng vì công vụ trễ nãi nên phải về muộn. Vì thế nên mới có bài thơ nầy.

 

* Chú thích:

- Thục Đạo 蜀道 : THỤC là đất Thục thuộc một vùng của tỉnh Tứ Xuyên ngày nay. Thục Đạo là đường đến nước Thục, vì là vùng cao nguyên với các núi non hiễm trỡ nên đường đi lại khó khăn, như trong bài Thục Đạo Nan của Lý Bạch có câu 蜀道之难,难于上青天!Thục đạo chi nan, nan vu thướng thanh thiên ! Có nghĩa : Đường đi đến đất Thục khó khăn, gian nan như đường đi lên trời xanh !

- Tranh Nhựt Nguyệt 争日月 : là Tranh thủ với ngày tháng.

- Dự Kỳ Trình 预期程 : là Dự tính cả hành trình ngày đi lẫn ngày về.

- Bất Tương Đãi 不相待 : là Không chờ đợi nhau.

- Lạc Dương 洛陽 : là Kinh đô của Võ Tắc Thiên lúc bấy giờ.

 

* Nghĩa bài thơ:

Đường Thục Hẹn Sau (Trễ Hẹn)

 

Lòng của kẻ đi đến nơi đất khách xa nhà luôn luôn tranh thủ từng ngày từng tháng, cả chuyến đi lẫn chuyến về đều đã dự tính trước cả rồi.( Nhưng vì đường xá khó khăn và công vụ cho nên trễ hẹn ). Còn ngọn gió thu se sắt thì không chờ đợi ai cả, cứ đến kỳ là thổi vụt vù về đến Lạc Dương thành trước ngay (trong khi ta vẫn còn ở đất Thục chưa kịp quay về !).

 

* Diễn Nôm:

Thục Đạo Hậu Kỳ

 

Lòng khách tranh ngày tháng,

Đi về đúng lịch trình.

Gió thu không chờ đợi,

Đến trước Lạc Dương thành.

 

Lục bát:

Tính ngày tính tháng người đi,

Vãng lai đúng hẹn quy kỳ khích khao.

Gió thu chẳng đợi ai nào,

Một mình phe phẩy thổi vào Lạc Dương.

 

Đỗ Chiêu Đức

 

3. Bài thơ Ung Hồ Sơn Tự:

灉湖山寺                Ung Hồ Sơn Tự

空山寂歷道心生, Không sơn tịch lịch đạo tâm sanh,

虛谷迢遙野鳥聲。 Hư cốc điều diêu dã điểu thanh.

禪室從來塵外賞, Thiền thất tòng lai trần ngoại thưởng,

香臺豈是世中情。 Hương đài khởi thị thế trung tình.

雲間東嶺千尋出, Vân gian đông lãnh thiên tầm xuất,

樹裏南湖一片明。 Thọ lý nam hồ nhất phiến minh.

若使巢由知此意, Nhược sử Sào Do tri thử ý,

不將蘿薜易簪纓。 Bất tương la bệ dị trâm anh.

張說                         Trương Duyệt

 

* Chú thích:

- UNG HỒ 灉湖: Còn có tên là Nam Hồ, nằm ở phía nam thành phố Nhạc Dương.

- ĐIỀU DIÊU 迢遙: là Xa xôi diệu dợi.

- THIÊN TẦM 千尋: Theo hệ thống đo đạc ngày xưa, cứ 8 thước vô 1 tầm, nên Thiên Tầm là Một Ngàn Tầm, chỉ khoảng cách rất cao rất xa.

- SÀO DO 巢由: là Sào Phủ và Hứa Do, hai ẩn sĩ cao nhã ngày xưa. Theo Cao Sĩ Truyện: Hứa Do tự là Võ Trọng. Vua Nghiêu nghe tiếng định nhường ngôi cho. Do thoái ẩn bên bờ sông Dĩnh Thủy ở Trung Nhạc dưới núi Cơ Sơn. Vua Nghiêu lại cho triệu ra làm Cửu Châu Trưởng (Người đứng đầu Cửu Châu). Hứa Do không muốn nghe lời triệu đó, nên ra bờ sông Dĩnh Thủy để rửa tai. Nhằm lúc Sào Phủ đang dắt một con nghé con ra bờ sông uống nước, thấy Do đang rửa tai, mới hỏi rõ nguyên nhân , Do đáp :"Vua Nghiêu muốn triệu tôi ra làm Cửu Châu Trưởng, những lời nói về công danh đó làm dơ tai của tôi, nên mới ra đây mà rửa tai." Sào Phủ đáp rằng :"Nếu ông ẩn cư nơi thâm sơn cùng cốc, không người qua lại, thì ai còn gặp được ông mà mời !? Đằng nầy ông ở cạnh bờ sông, là lòng ông còn muốn nghe lời mời mọc của lợi danh. Như thế sẽ làm cho dơ miệng con nghé của ta." Nói đoạn, bèn dắt con nghé lên trên thượng lưu mà uống nước, không cho uống nước mà Hứa Do đã rửa tai, sợ làm cho ô uế miệng con nghé.

- LA BỆ 蘿薜: hay Bệ La cũng thế, là hai giống dây leo BỆ LỆ và NỮ LA 薜荔和女萝 thường sống chùm gởi vào thân cây khác hay các vách nhà hàng rào. Thường dùng để chỉ quần áo hoặc nơi ở của các cao sĩ ẩn cư nơi thâm sơn cùng cốc.

* Nghĩa Bài Thơ:

Chùa Trên Núi Ung  Hồ

Núi non vắng vẻ dàn trải ra trước mắt, khiến cho lòng người cũng nảy sinh ra lòng mộ đạo. Trong sơn cốc trống vắng xa xôi nầy luôn có tiếng chim rừng kêu hót. Thiền thất xưa nay vốn dĩ để cho người ngoài trần thế, và đài niệm hương đâu phải là nơi cỏi tục thế tình. Ngọn núi phía đông cao vút ngàn tầm trong mây trắng, và mặt hồ phía nam in bóng rõ rệt của một dãy cây dài. Nếu như Sào Phủ Hứa Do mà biết được ý của ta muốn quy ẩn nơi nầy, thì chắc cũng sẽ không đem la bệ mà đổi lấy trâm anh (Có nghĩa: Thà ở ẩn nơi nầy còn hơn là ra làm quan). 

 

* Diễn Nôm:

Ung  Hồ Sơn Tự

 

Núi vắng trải dài sanh mộ đạo,

Cốc không chim núi hót bên tai.

Phòng thiền vốn của người trong đạo

Đài niệm không là khách ngoại lai.

Đông lãnh ngàn tầm mây lẫn khuất

Nam hồ một dãy bóng cây dài.

Hứa Do Sào Phủ đều cao sĩ,

Chẳng đổi sô gai lấy mủ đai.

 

Lục bát:

Trải dài núi vắng đạo sanh,

Hư không sơn cốc mặc tình chim ca.

Phòng thiền là chốn ta bà,

Hương đài đâu phải la cà thế nhân.

Nghìn tầm mây vút núi đông,

Nam hồ in bóng cây lồng nước mây.

Sào Do nếu biết lòng này,

Chẳng đem áo vải đổi thay công hầu.

 

Đỗ Chiêu Đức 

 

4. Bài thơ U Châu Dạ Ẩm:

幽州夜飲         U Châu Dạ Ẩm

 

涼風吹夜雨, Lương phong xuy dạ vũ,

蕭瑟動寒林。 Tiêu sắc động hàn lâm.

正有高堂宴, Chính hữu cao đường yến,

能忘遲暮心? Năng vong trì mộ tâm ?

軍中宜劍舞, Quân trung nghi kiếm vũ,

塞上重笳音。 Tái thượng trọng già âm.

不作邊城將, Bất tác biên thành tướng,

誰知恩遇深! Thùy tri ân ngộ thâm!

張說                 Trương Duyệt

 

* Chú thích:

- U CHÂU 幽州: Tễn của một châu ngày xưa, gồm có Bắc Kinh, Hà Bắc , Kế huyện của ngày nay.

- CAO ĐƯỜNG YẾN 高堂宴 : Yến tiệc được bày ở nơi nhà cao cửa rộng. 

- TRÌ MỘ TÂM 遲暮心 : Cái lòng của buổi chiều đến chậm. Có nghĩa là : Cái lòng ảm đạm thê lương của người già nua trong buổi chiều xế bóng.

- KIẾM VŨ 劍舞: là Múa kiếm giúp vui trong tiệc rượu.

- GÌA 笳: là Cây kèn được cuốn bằng lá của người Hồ hay thổi.

- BIÊN THÀNH TƯỚNG 邊城將 : Tướng giữ thành ngoài biên ải. Tác giả tự chỉ mình.

- ÂN NGỘ 恩遇: Chỉ cái ân tri ngộ của nhà vua.

 

* Nghĩa Bài Thơ:

Đêm Dự Tiệc Rượu Ở U Châu

 

Trong đêm mưa tối ở U Châu nầy, gió lạnh thổi rít từng cơn qua rừng cây lá lạnh lẽo xạc xào lay động. May thay cũng là lúc trong quân đang có buổi tiệc lớn để ủy lạo tướng sĩ. Nhưng lòng ta sao có thể quên được nỗi thê lương buồn thảm của tuổi già trong buổi chiều xế bóng. Trong tiệc quân thì lấy múa kiếm làm vui, còn ngoài biên tái thì lại trân trọng tiếng kèn lá của người Hồ thổi nghe mà não nuột. Nếu không có làm tướng trấn thủ ngoài biên thành thì sẽ không biết được cái ân tri ngộ của nhà vua dành cho quân tướng ngoài biên ải sâu đậm biết chừng nào!

Năm đầu Khai Nguyên của Đường Huyền Tông (713-741), Trương Duyệt đang là Trung Thư Lệnh, vì bất hòa với Tễ Tướng Diêu Nguyên Sùng, nên bị biếm làm Thứ Sử Tương Châu, rồi Án Sát sứ Hà Bắc. Sau chuyển làm Hữu Vũ Lâm Tướng Quân Kiểm Hiệu U Châu Đô Đốc. Bài thơ nầy được làm ở Kế Huyện trong phủ Đô Đốc ở U Châu, tả lại tình hình của một buổi dạ tiệc trong quân ngũ, lời thơ bi tráng của một tướng ở biên thành ẩn ức những nỗi bất mãn ngấm ngầm của việc bị biếm ra ngoài biên ải. 

 

* Diễn Môm:

 U Châu Dạ Ẩm

 

Lạnh lẽo đêm mưa gió,

Xạc xào rừng lá reo.

Đúng lúc bày diên yến,

Khó quên lúc xế chiều.

Trong quân vui múa kiếm,

Trên ải kèn thay tiêu.

Chẳng phải biên thành tướng,

Ân vua thấm thía nhiều!

 

Lục bát:

 

Vụt vù gió lạnh đêm mưa,

Rừng cây lạnh lẽo gió đưa xạc xào.

Tiệc bày thành lũy lầu cao,

Lòng sao quên được mối sầu chiều rơi.

Trong quân múa kiếm làm vui,

Ngoài biên tái vẳng kèn xuôi đất Hồ

Biên thành tướng ở xa đô,

Ân vua tri ngộ bao giờ cho nguôi!

 

Đỗ Chiêu Đức

___________________________

THÀNH NGỮ ĐIỂN TÍCH: 

                                                        CHỮ

            TỰ là CHỮ, cắt giàng đầu chữ TỬ là Con, Con ai Con ấy ?

 

           Đó là vế đầu của câu đối mà sứ giả của nhà vua đã ra để thử tài của khai quốc Trạng Nguyên  Nguyễn Hiền. Có nghĩa :

           TỰ 字 có nghĩa là CHỮ,  cắt đi giàng đầu của chữ TỰ 字 là bộ MIÊN 宀,thì chỉ còn lại chữ TỬ 子 bên dưới, có nghĩa là CON, Ý của sứ giả là muốn hỏi : Ngươi là con của ai vậy ?!

    Trạng nghe hỏi vô lễ, bèn đáp lại rằng :

 

                     VU là Chưng, bỏ ngang lưng chữ ĐINH là Đứa, Đứa nào Đứa này ?

 

          Chữ VU 于 có nghĩa là Chưng ( Vì chưng, bởi chưng), bỏ đi nét ngang lưng của chữ VU 于, là chữ NHẤT 一, thì chỉ còn lại chữ ĐINH 丁, có nghĩa là Đứa  (Gia Đinh 家丁 là Đứa ở). Ý Trạng muốn hỏi : Nhà ngươi là ĐỨA NÀO, mà dám hỏi ta là CON của ai ?!

       

         Trong văn học cổ CHỮ được nhắc tới nhiều nhất là CHỮ HIẾU, CHỮ TÌNH, CHỮ TÂM... Xin được lần lược trình bày sau đây.

                          Thiên hữu tứ thời xuân tại thủ,         天有四時春在首,

                          Nhân sinh bách hạnh HIẾU vi tiên.    人生百行孝為先。 

Có nghĩa :

              - Trời có bốn mùa, xuân là mùa đứng đầu.

              - Người có trăm phẩm hạnh, HIẾU là trước tiên.

 

        Trong Truyện Kiều của cụ Nguyễn Du, trước khi muốn bán mình chuộc tội cho cha, Thúy Kiều cũng đã cân nhắc :

                                Duyên hội ngộ, đức CÙ LAO,

                          Bên tình bên Hiếu bên nào nặng hơn ?!   

 

        Tự hỏi xong thì Thúy Kiều cũng đã đưa ra câu trả lời :   

 

                                  Để lời thệ hải minh sơn,

                          Làm con trước phải đền ơn sinh thành.  

 

        CÙ LAO 劬勞 : là Cực nhọc lao khổ. Theo chương Tiểu Nhã, Lạo Nga của Kinh Thi 詩經·小雅·蓼莪 có bài như sau :

 

          蓼蓼者莪,匪莪伊蒿。   Lạo lạo giả nga, phi nga y cao.

          哀哀父母,生我劬劳.    Ai ai phụ mẫu, sanh ngã CÙ LAO.

             .........

          父兮生我,母兮鞠我。   Phụ hề sanh ngã, mẫu hề cúc ngã.

          拊我畜我,长我育我,   Phủ ngã xúc ngã, trưởng ngã dục ngã,

          顾我复我,出入腹我。   Cố ngã phục ngã, xuất nhập phúc ngã.

          欲报之德,昊天罔极.    Dục báo chi đức, hạo thiên võng cực.

Có nghĩa :

         Cha mẹ mong ta xanh tốt như rau nga  (giống như rau ngỗ của ta), nhưng ta lại giống như rau cao  (giống như rau đắng của ta. Ý muốn nói là không giống được như cha mẹ mong mõi). Thương thay cha mẹ ta, sanh ra ta thật là vất vả khó nhọc.  

         Cha sanh ra ta, mẹ thì mang nặng ta, vuốt ve ta nâng niu ta, nuôi ta khôn lớn. Chăm sóc chiếu cố ta, ra vào bồng ẵm ta . Muốn báo cái ơn đức đó của cha mẹ. thì như trời cao lồng lộng vô cùng tận. (Ý chỉ không báo nổi ơn của cha mẹ đâu).

         - Diễn Nôm :

                            

                                 Kìa xem xanh tốt rau nga,

                             Hóa ra chẳng phải đó là rau cao. 

                               Thương thương cha mẹ biết bao,

                             Nuôi ta khôn lớn cù lao nhọc nhằn.

                              .......................

                                 Cha sanh mẹ dưỡng khó khăn,

                            Đẻ đau mang nặng ân cần nâng niu.

                                 Ra vào bồng ẳm cưng chìu,

                           Dưỡng nuôi chăn sóc thương yêu vô ngần.

                                 Làm con muốn báo thâm ân,

                           Trời cao lồng lộng khó mong đáp đền !

                                                                           ( ĐCĐ )

 

          9 chữ màu đỏ ở trên (生,鞠 sanh, cúc,拊,畜,Phủ, xúc, 长, 育,trưởng, dục, 顾,复, Cố, phục, 腹 phúc), 
 gọi là Cửu Tự Cù Lao 九字劬劳, ta nói là : CHÍN CHỮ CÙ LAO, như trong Kiều, khi ở lầu xanh, cô kiều đã :

 

                                   Nhớ ơn CHÍN CHỮ cao sâu,

                              Một ngày một ngã bóng dâu tà tà ...         

 

        Còn trong truyện Nôm NHỊ ĐỘ MAI thì gọi là CHỮ HIẾU, CHỮ CÙ :

 

                                   Có ra chi phận má hồng,

                           Khôn đem CHỮ HIẾU đền công CHỮ CÙ.

    

       Từ xưa đến nay, chữ HIẾU chữ TÌNH thường đưa người ta vào những hoàn cảnh khó xử, như Thúy Kiều vừa mới có người yêu, đang đắm đuối trong tình yêu mới chớm thì đã phải bán mình báo hiếu, đến nỗi phải lạy lục cầu cứu Thúy Vân trả hộ "nợ tình":

 

                                 Cậy em, em có chịu lời,

                            Ngồi lên chi chị lạy rồi sẽ thưa !

 

       Tội nghiệp thay ! Nhưng biết phải làm sao, khi : 

 

                         

 

                                 Sự đâu sóng gió bất kỳ,

                          HIẾU TÌNH khôn lẽ hai bề vẹn hai!

                                 Ngày xuân em hãy còn dài,

                          Xót tình máu mũ thay lời nước non. 

 

     ... và như bà Tam Hợp Đạo Cô đã nói với sư Giác Duyên :

 

                                Thúy Kiều sắc xảo khôn ngoan,

                            Vô doan là phận hồng nhan đã đành.

                                 Lại mang lấy một CHỮ TÌNH,

                           Khư khư mình buộc lấy mình vào trong.

 

       Đang lúc yêu nhau thì CHỮ TÌNH nó hành xác con người ta là thế. Nhưng khi đã thành gia thất với nhau rồi, thì chữ TÌNH cũng rất ư là ngọt ngào hạnh phúc như khi Thúc Sinh gặp lại vợ nhà là Hoạn Thư :

 

                                 Lời tan hợp nỗi hàn huyên,

                      CHỮ TÌNH càng mặn chữ duyên càng nồng.

 

       Hay như khi Từ Hải "Om thòm trống trận rập rình nhạc quân" rước Thúy Kiều về đoàn tụ cho ...

 

                                Vinh hoa bỏ lúc phong trần,

                       CHỮ TÌNH ngày lại thêm xuân một ngày.

 

        CHỮ TÌNH lại cũng thường đi chung với CHỮ ĐỒNG như khi Kim Kiều thề nguyền hẹn ước :

 

                                 Vầng trăng dằng dặc giữa trời, 

                            Đinh ninh hai mặt một lời song song.

                                   Tóc tơ căn dặn tấc lòng,

                          Trăm năm tạc một CHỮ ĐỒNG đến xương !

 

                        

 

         

 

 

 

CHỮ ĐỒNG tức là CHỮ ĐỒNG TÂM. Như khi đưa Kim Trọng về Liêu Dương hộ tang chú, Thúy Kiều đã trấn an Kim Trọng lúc chia tay là :

 

                                  Đã nguyền hai CHỮ ĐỒNG TÂM,

                            Trăm năm thề chẳng ôm cầm thuyền ai.

         

      Chữ Đồng, Chữ Đồng Tâm đều do từ gốc là ĐỒNG TÂM ĐỚI 同心帶 hay ĐỒNG TÂM KẾT 同心结 mà ra. Đó là những giải lụa ngũ sắc hay màu đỏ ở giữa thắt một cái gút hình 2 trái tim liền nhau. Có xuất xứ từ bài thơ ngũ ngôn Cổ phong "Di Lăng Quận Nội Tự Biệt" của Dương Hành đời Đường. Trong đó có những câu như :

 

            留念同心帶,   Lưu niệm ĐỒNG TÂM ĐỚI,

            贈遠芙蓉簪。   Tặng viễn phù dung trâm.

            撫懷極投漆,   Vũ hoài cực đầu tất,

            感物重黄金。   Cảm vật trọng hoàng câm (kim).

Có nghĩa :

                Lưu niệm này DẢI ĐỒNG TÂM,

            Tặng người xa cách Phù Dung trâm cài.

                Keo sơn yêu ấp lòng này,

            Vật hèn mà cũng sánh tày hoàng kim.

 

            

                                   Dải Đồng Tâm     同心結

 

       Trong Truyện Kiều, lúc Thúy Kiều khuyên Thúc Sinh hãy suy nghĩ kỹ và trân trọng tình nghĩa vợ chồng hơn khi Thúc muốn chuộc Kiều ra khỏi lầu xanh :

 

                  Bấy lâu khắng khít DẢI ĐỒNG,

            Thêm người người cũng thêm lòng riêng tây.

                  Xá chi chút nghĩa bèo mây,

                Làm cho bể ái khi đầy khi vơi !...

 

       Ngày xưa, theo đạo Nho thì "Tại gia tòng phụ, Xuất giá tòng phu 在家從父,出嫁從夫". Nên ta lại có CHỮ TÒNG cho phận gái, như Thúy Kiều là một kỹ nữ, nên đã rất lấy làm hãnh diện khi được Thúc Sinh chuộc ra khỏi lầu xanh và cưới về làm vợ, như cụ Nguyễn Du đã viết :

 

                    Phận bồ từ vẹn CHỮ TÒNG,

               Ðổi thay nhạn yến đã hòng đầy niên.

 

       ... và khi về với Từ Hải rồi, trong lúc "Nửa năm hương lửa đang nồng, Trượng phu thoắt đã động lòng bốn phương". Từ muốn ra đi làm việc lớn, nên Thúy Kiều cũng muốn đi theo :

 

                  Nàng rằng :"Phận gái CHỮ TÒNG",

                Chàng đi thiếp cũng một lòng xin đi.

 

       Cuối cùng, ta còn có CHỮ TRINH để chỉ sự trinh tiết của phụ nữ ngày xưa. Xã hội phong kiến đã đặt cái gánh nặng "Trinh Tiết 貞節" lên vai phái nữ với câu " Tòng nhất nhi chung 從一而終" là "Chỉ theo một chồng cho tới chết!". Trải qua mấy ngàn năm, phụ nữ chịu đựng thét... rồi quen, mà còn nghiêm chỉnh chấp hành coi như đó là một thiên chức thiêng liêng của phái nữ nữa... cái mới là tội nghiệp ! Ta hãy nghe Thúy Kiều phân bua khi Kim Kiều Tái Hợp :

 

                  Nghĩ rằng trong đạo vợ chồng,

            Hoa thơm phong nhị trăng vòng tròn gương.

                  CHỮ TRINH đáng giá nghìn vàng,

             Đuốc hoa chẳng thẹn với chàng mai xưa.

                  Thiếp từ ngộ biến đến giờ.

               Ong qua bướm lại đã thừa xấu xa.

                   Bấy chầy gió táp mưa sa.

             Mấy trăng cũng khuyết mấy hoa cũng tàn.

 

 ... và đành lòng cam chịu :

 

                   Còn chi là cái hồng nhan,

               Đã xong thân thế còn toan nỗi nào?

                   Nghĩ mình chẳng hổ mình sao,

                 Dám đem trần cấu dự vào bố kinh!

                   Đã hay chàng nặng vì tình,

               Trông hoa đèn chẳng thẹn mình lắm ru!

 

       Cũng may là Kim Trọng là người cởi mở, có tư tưởng tiến hóa đi trước thời đại lúc bấy giờ, nên đã đáp lời cô Kiều Là :

 

                   Chàng rằng: Khéo nói nên lời,

                  Mà trong lẽ phải có người có ta!

                    Xưa nay trong đạo đàn bà,

               CHỮ TRINH kia cũng có ba bảy đường,

                    Có khi biến có khi thường,

               Có quyền nào phải một đường chấp kinh.

                    Như nàng lấy HIẾU làm TRINH,

                 Bụi nào cho đục được mình ấy vay?

 

        Nhưng dù nói thế nào thì Thúy Kiều vẫn "năn nỉ" Kim Trọng đừng "động phòng" trong đêm hôm đó với lý do... có hơi "tự ái" là :

 

                    CHỮ TRINH còn một chút này,

               Chẳng cầm cho vững lại giày cho tan!

                    Còn nhiều ân ái chan chan,

                Hay gì vầy cánh hoa tàn mà chơi?

 

         Đêm hôm đó chìu lòng Thúy Kiều, Kim Trọng không "động phòng". Nhưng những hôm sau thì sao ?! - Chỉ có cụ Nguyễn Du mới biết được mà thôi !

 

         Và để kết thúc bài viết hôm nay, xin được mượn những câu trong lời kết của cụ Nguyễn Du cho Truyện Kiều với các CHỮ sau đây :

 

                   Ngẫm hay muôn sự tại trời,

              Trời kia đã bắt làm người có thân.

                 Bắt phong trần phải phong trần,

             Cho thanh cao mới được phần thanh cao.

                   Có đâu thiên vị người nào,

                CHỮ TÀI CHỮ MỆNH dồi dào cả hai,

                    Có tài mà cậy chi tài,

               CHỮ TÀI liền với CHỮ TAI một vần.

                  Đã mang lấy nghiệp vào thân,

              Cũng đừng trách lẫn trời gần trời xa.

                   Thiện căn ở tại lòng ta,

               CHỮ TÂM kia mới bằng ba CHỮ TÀI.

                         

                   
 

               

 

 

Xin được kết thúc các CHỮ ở đây. Hẹn bài viết tới !

 

 Đỗ Chiêu Đức

THÀNH NGỮ ĐIỂN TÍCH 37: 

                                        CUNG

CUNG 弓 là Cung Tên, CUNG 宮 là Cung Điện, CUNG 宮 là Cung Đàn. Ta sẽ lần lượt điểm qua các thứ CUNG nầy trong văn học cổ của Việt Nam ta.

 

      CUNG 弓, chữ Nho còn gọi là HỒ 弧, với từ TANG HỒ 桑弧 là Cây cung làm bằng gỗ cây dâu (Tang 桑 là Cây dâu tằm ăn), nên trong văn học cổ ta có từ CUNG DÂU, như hai câu thơ trong truyện Nôm Phan Trần sau đây :

 

                                     Tới tuần hội cả đua nhau,

                         Bút nghiên phỉ chí CUNG DÂU hằng nguyền.

 

      CUNG DÂU thường được bắn bằng tên làm bằng đường xương sống của cọng cỏ bồng, gọi là BỒNG THỈ 蓬矢 (THỈ đồng nghĩa với TIỂN 箭 là Mũi Tên), nên ta lại có thành ngữ TANG HỒ BỒNG THỈ 桑弧蓬矢 (Cung bằng cành dâu, tên bằng cỏ bồng). Thành ngữ nầy thường bị đọc trại thành HỒ THỈ TANG BỒNG hay TANG BỒNG HỒ THỈ như trong bài hát nói "Nợ Nam Nhi" của cụ Nguyễn Công Trứ :

 

                                   TANG BỒNG HỒ THỈ nam nhi trái

                                   Cái công danh là cái nợ lần

 

        Theo sách Lễ Ký-Xạ Nghĩa hữu vân :"Cố nam tử sanh, tang hồ bồng thỉ lục, dĩ xạ thiên địa tứ phương giả, nam tử chi sở hữu sự dã.《礼记.射义》有云:“故男子生,桑弧蓬矢六,以射天地四方,天地四方者,男子之所有事也。” Có nghĩa : vì thế khi đẻ con trai, thì dùng cung bằng cây dâu, tên bằng cỏ bồng bắn đi bốn phương, bắn lên trời xuống đất nữa là sáu hướng, những nơi mà kẻ làm trai phải tạo dựng nên sự nghiệp". Ý muốn tỏ rõ là Làm trai phải chí ở bốn phương, sau dùng để khuyến khích làm trai phải có chí lớn để tạo dựng nên sự nghiệp.

 

       TANG BỒNG HỒ THỈ còn được gọi tắt là TANG BỒNG như hai câu thơ bảy chữ cũng trong bài hát nói trên là :

 

                                   Cũng rắp điền viên vui tuế nguyệt

                                   Trót đem thân thế hẹn TANG BỒNG.

 

      Hay như trong bài "Chí Nam Nhi" cũng của cụ Nguyễn Công Trứ :

 

                                           Đố kị sá chi con Tạo,

                                Nợ TANG BỒNG quyết trả cho xong.

                                         TANG HỒ BỒNG THỈ 桑弧蓬矢.

 

           Cung tên để tạo dựng nên sự nghiệp, nhưng khi đã công thành danh toại, thì cung tên thường bị xếp xó bỏ quên như thành ngữ ĐIỂU TẬN CUNG TÀNG 鳥盡弓藏,  có nghĩa : Khi chim đã hết thì cung cũng được cất lên. Theo tích sau đây :         

          Theo Thuyết Lâm Huấn của sách Hoài Nam Tử có câu : "Giaỏ thố đắc nhi lạp khuyển phanh, cao điểu tận nhi cường nỗ tàng 狡兔得而猎犬烹,高鸟尽而强弩藏". Có nghĩa : " Khi những con thỏ khôn lanh đã bị bắt, thì con chó săn bị đem đi nấu thịt cầy; Khi các con chim bay cao bị bắn hạ hết thì cây cung mạnh cũng bị đem đi cất lại". Theo sách Sử Ký, Việt Vương Câu Tiễn Thế Gia《史记·越王勾践世家》thì Phạm Lãi 范蠡 là mưu thần đồng thời cũng là tướng giỏi của Việt Vương Câu Tiễn, ông đã giúp cho Câu Tiễn phục thù và tiêu diệt nước Ngô, xưng bá trung nguyên. Nhưng ông cũng biết rằng Việt Vương Câu Tiễn là người chỉ cùng chung hoạn nạn chứ không thể cùng chung phú qúy được. Để tránh cảnh thỏ hết thì chó săn bị giết, chim hết thì cung bị treo lên, nên ông đã từ quan mà vào đất Ngũ Hồ để kinh thương và đã trở thành một thương gia giàu có, đổi tên là Đào Chu Công. Tương truyền là ông cũng đã dắt theo nàng Tây Thi xinh đẹp để vào đất Ngũ Hồ cùng sống cảnh vinh hoa phú qúy an hưởng tuổi già. Nên...

 

        Câu thành ngữ ĐIỂU TẬN CUNG TÀNG 鳥盡弓藏, ngày xưa dùng để chỉ khi đế nghiệp đã đạt thành thì các vua chúa hay giết hại công thần; Ngày nay cũng dùng để chỉ khi việc gì đó đã thành công rồi, thì quên hết những người trước kia đã từng ra sức giúp đỡ. Trong văn học cổ của ta gọi là CUNG ĐIỂU CA, như trong Hồng Đức Quốc Âm Thi Tập của vua Lê Thánh Tông có câu :

 

                                       Cổ Kỳ vai ấy còn rành rạnh,

                                   CUNG ĐIỂU CA đâu khéo tỏ tường.

 CUNG cũng thường đi liền với KIẾM để chỉ về nghề võ hoặc những người theo võ nghiệp như trong Cung Oán Ngâm Khúc của Ôn Như Hầu Nguyễn Gia Thiều :

 

                                      Làng CUNG KIẾM rắp ranh bắn sẻ,

                                      Khách công hầu ngắm nghé mong sao.

 

      Còn trong Truyện Kiều của cụ Nguyễn Du thì khi Bạc Bà ép Thúy Kiều lấy Bạc Hạnh, nàng đã tỏ lời e ngại dè chừng rằng :

 

                                       Thiếp như con én lạc đàn,

                                    Phải tên giờ đã sợ làn cây cong.

 

      Hai câu thơ trên lấy ý ở câu KINH CUNG CHI ĐIỂU KIẾN KHÚC MỘC NHI CAO PHI 驚弓之鳥見曲木而高飛. Có nghĩa : Con chim sợ cung (vì bị tên bắn hụt một lần rồi), cho nên thấy làn cây cong (giống như cây cung) bèn sợ mà bay cao lên.

 CUNG 宮 còn là Cung Điện 宮殿. Cái cung điện nổi tiếng đầu tiên ngày xưa là A PHÒNG CUNG 阿房宮 do Tần Thủy Hoàng sau khi đã gồm thâu lục quốc muốn phô trương thanh thế mà xây nên (212 trước Công nguyên, năm Tần Thủy Hoàng thứ 35). Khi Hạng Võ Sở Bá Vương đem quân đánh chiếm kinh đô Hàm Dương đã cho đốt cung A Phòng. Tương truyền ngọn lửa cháy đến ba tháng mới tắt.

         Trong văn học cổ ta gọi cung A Phòng là CUNG A, như trong "Tần Cung Nữ Oán Bái Công Văn" của Đặng Trần Thường ở cuối đời Lê đầu đời Nguyễn là :

 

                    Sương tỏa CUNG A,

                    Mây lồng đồn Bá.

Có nghĩa :

     Các cung nữ đương ở trong cung A Phòng vắng  vẻ vì Bái Công đến đóng đô tại đồn Bá Thượng.

                           Cung A Phòng ngày nay được tái kiến trúc theo tài liệu lịch sử.

       

       Ngoài CUNG A ra, trong bài phú trên cụ Đặng còn đề cập đến tên của một CUNG nữa là CUNG VỊ THỦY là các cung điện nằm dọc theo bờ sông Vị ở Hàm Dương, cũng được xây dựng vào đời Tần :

 

               CUNG VỊ THỦY lúc nỉ non tiếng dế, trướng thu phong lạt bậc quản huyền xưa,

               Cửa Hàm Quan khi chói lói ngọn đào, rèm tà nguyệt ố màu la ỷ cũ.

 

      "Thời lai phong tống Đằng Vương Các 時來風送藤王閣" là "Khi thời vận đến thì gió sẽ đưa đến Gác Đằng Vương" theo tích của người đứng đầu Tứ Kiệt đời Sơ Đường là Vương Bột. Cụ Nguyễn Du đã mượn tích nầy để nói về tình duyên thuận lợi của Hoạn Thư và Thúc Sinh trong Truyện Kiều như sau :

                

                        DUYÊN ĐẰNG thuận nẽo gió đưa,

                     Cùng chàng kết tóc se tơ những ngày.  

 

      Nhưng, Phạm Thái 範泰 (1777-1813), một danh sĩ ở cuối thế kỷ 18 đến đầu thế kỷ 19 của ta, không gọi là GÁC ĐẰNG, cũng không gọi là DUYÊN ĐẰNG, mà gọi là CUNG ĐẰNG trong "Sơ Kính Tân Trang" như  sau đây :

 

                        Bây giờ mượn gió CUNG ĐẰNG,

                    Vì duyên đưa mối xích thằng lại đây.  

 

      Trong văn học cổ ta còn gặp rất nhiều CUNG không có thật trên đời như CUNG QUẾ, CUNG QUẢNG, CUNG THIỀM, CUNG NGAO LẦU THẬN ...

 

     -CUNG QUẾ là QUẾ CUNG 桂宮 : Tên cung điện do Hán Vũ Đế năm thứ tư (101 trước Công Nguyên) xây nên, nằm ở tây bắc của thành phố Tây An tỉnh Thiểm Tây hiện nay; cũng là tên của cung điện của Trần Hậu Chúa ở Nam Triều xây cho người đẹp Trương Lệ Hoa ở. Nhưng trong văn học cổ của Việt Nam ta CUNG QUẾ chỉ có nghĩa là CUNG TRĂNG mà thôi, như trong Cung Oán Ngâm Khúc của Ông Như Hầu Nguyễn Gia Thiều viết về nàng cung nữ thất sủng :

 

                      Trong CUNG QUẾ âm thầm chiếc bóng,

                      Đêm năm canh trông ngóng lần lần.

 

    ...hay như trong bài "Muốn làm thằng Cuội" của Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu :

 

                      Đêm thu buồn lắm chị Hằng ơi!

                      Trần thế em nay chán nữa rồi.

                      CUNG QUẾ đã ai ngồi đó chửa?

                      Cành đa xin chị nhắc lên chơi.

 

     - CUNG QUẢNG là QUẢNG HÀN CUNG 廣寒宮 : Theo thần thoại Trung Hoa là tên của một cung điện trên mặt trăng, nơi mà Hằng Nga ở, như trong Truyện Kiều khi tả Thúc Sinh về thăm Hoạn Thư, Thúy Kiều ở lại một mình đã buồn cho số phân " Sắn bìm chút phận con con" của mình mà than vãn :

 

                       Thân sao nhiều nỗi bất bằng,

                   Liều như CUNG QUẢNG ả Hằng nghĩ nao!

 

     - CUNG THIỀM là THIỀM CUNG 蟾宮 : Cũng như CUNG QUẾ, CUNG QUẢNG, CUNG THIỀM cũng dùng để chỉ NGUYỆT CUNG là Mặt Trăng, vì theo thần thoại Trung Hoa xưa trên mặt trăng có con Cóc ba chân gọi là Thiềm Thừ 蟾蜍. Trong văn học cổ của ta thường dùng để chỉ mặt trăng hay chỗ ở của người đẹp, như trong truyện thơ Nôm Lưu Nữ Tướng :

              

                       CUNG THIỀM bóng đã cao giơ,

                    Mãi vui bẻ quế ngại thưa thớt nhàn.

 

   ... hay như trong truyện Hoa Tiên của Nguyễn Huy Tự và Nguyễn Thiện cũng có câu :

 

                       Kêu thương tiếng nhạn lay thềm,

                  Phong thư gửi đến CUNG THIỀM được không ?!

CUNG NGAO LẦU THẬN là HẢI THỊ THẬN LÂU 海市蜃樓. NGAO 鰲 là một loại rùa biển lớn có thể đội cả một hòn đảo lớn trên lưng; THẬN 蜃 là một loại rồng biển như giao long. Theo Sử Ký-Thiên Quan Thư 史记·天官书 : Con thận trên biển thở hơi có thể kết thành những lâu đài thành quách, núi non sông nước, cảnh vật con người hiện lên trên bầu trời của khoảng không mênh mông trên mặt biển. Vì là cảnh ảo nên rất dễ mất đi. Theo khoa khí tượng học hiện nay thì đó là do hiện tượng quang học bức xạ phản chiếu trong thiên nhiên mà tạo nên những ảnh ảo ở những khoảng không trên biển, trên sa mạc hoặc nơi đồng không mông quạnh. Trong văn học cổ ta gọi là CUNG NGAO LẦU THẬN như trong bài "Văn tế nghĩa sĩ trận vong Lục tỉnh" (1874) của cụ Nguyễn Đình Chiểu có câu :

 

        Người lạc phách theo miền giang hải, CUNG NGAO LẦU THẬN, dành một câu thân thế phù trầm;

        Kẻ du hồn ở cõi sơn lâm, lũy kiến đồn ong, còn bốn chữ "âm dung phảng phất".

                              HẢI THỊ THẬN LÂU 海市蜃樓 : CUNG NGAO LẦU THẬN    
        

       CUNG 宮 còn là cung bậc đứng đầu ngũ âm trong âm nhạc cổ điển là CUNG, THƯƠNG, GIỐC, TRỦY, VŨ 宮商角徵羽. Trong văn học cổ ta hay gặp từ kép CUNG THƯƠNG 宮商 là hai âm đầu trong ngũ âm đi liền nhau để chỉ âm nhạc, như trong truyện Tây Sương Ký :

 

                             Vườn hoa đợi lúc thiên lương,

                   Đêm thanh lựa tiếng CUNG THƯƠNG một bài.

 

       Khi diễn tả tài đàn giỏi của Thúy Kiều, cụ Nguyễn Du cũng đã hạ câu :

 

                      CUNG THƯƠNG làu bậc ngũ âm,

                  Nghề riêng ăn đứt Hồ cầm một chương.

 

       Ngoài CUNG THƯƠNG ta còn gặp CUNG CẦM là Cung Đàn như khi nàng Kiều ở lầu xanh :

 

                       ...Đòi phen nét vẽ câu thơ,

                  CUNG CẦM trong nguyệt nước cờ dưới hoa.

                        Vui là vui gượng kẻo là,

                     Tri âm ai đó mặn mà với ai ?!

 

    ...hay như khi Thúy Kiều phân bua với Hồ Tôn Hiến lúc "Lọt tai Hồ cũng nhăn mày rơi châu" và đã " Hỏi rằng này khúc ở đâu, Nghe ra muôn thảm nghìn sầu lắm thay ?" Thúy Kiều đã đáp :

 

                     Thưa rằng : Bạc mệnh khúc này,

                     Phổ vào đàn ấy từ ngày còn thơ.

                     CUNG CẦM lựa những ngày xưa,

                     Mà gương bạc mệnh bây giờ là đây !

Xin được kết thúc các CUNG ở đây. Hẹn bài viết tới !

 

 

 Đỗ Chiêu Đức

________________________

THÀNH NGỮ ĐIỂN TÍCH 36: 

                                               CẦU

  CẦU, nghĩa Nôm là Cây Cầu bắt qua sông qua suối; chữ Nho CẦU 求 là Xin, nên ta có từ kép là CẦU XIN. Ông bà ta dạy :

                             Dục CẦU sanh phú qúy,   欲求生富貴,

                             Tu hạ Tử công phu.         须下死功夫.

Có nghĩa : 

          Muốn cầu cho cuộc sống được giàu sang phú qúy, thì...

          Phải bỏ ra cái công sức làm ăn chết bỏ mới có được ! ( cho biết không phải phú qúy tự dưng mà có được một cách dễ dàng !)

     

       Trong văn học cổ, khi nhắc đến CẦU là người ta nghĩ ngay đến khúc PHƯỢNG CẦU KỲ HOÀNG 鳳求其凰 (thường được gọi gọn là khúc Phượng Cầu Hoàng) của Tư Mã Tương Như đời Hán theo tích sau đây :

 

       Theo sách Sử Ký, Tư Mã Tương Như là tài tử nổi tiếng của đời Hán, tự là Trường Khanh, người đất Thành Đô (Thủ phủ của thuộc tỉnh Tứ Xuyên ngày nay) Ở lộ Cầm Đài. Khi đến đất Lâm Cùng , nhờ có người bạn là Tri Huyện Vương Cát tiến cử, nên được nhà cự phú Trác Vương Tôn ở địa phương mời đến nhà khoản đãi. Trong bữa tiệc khách yêu cầu đàn một khúc, Tương Như biết vương tôn có cô con gái mới mười sáu tuổi rất đẹp, lại vừa mới góa chồng là Trác Văn Quân, bèn giở cây lục ỷ cầm ra đờn hai khúc trong bài Phượng Cầu Hoàng như sau :

 

              鳳兮鳳兮歸故鄉,    Phượng hề phượng hề quy cố hương, 

              遨遊四海求其凰...   Ngao du tứ hải cầu kỳ hoàng ...

              有豔淑女守蘭房,   Hữu diễm thục nữ thủ lan phòng,

              室邇人遐毒我腸。   Thất nhĩ nhân hà độc ngã trường.

              何緣交頸為鴛鴦...   Hà duyên giao cảnh vị uyên ương ...

Có nghĩa :

              Về thôi phượng hỡi, phượng hề !

              CẦU HOÀNG tứ hải bốn bề ngao du.

              Có nàng thục nữ ôn nhu,

              Gần bên mà ngỡ như từ cỏi xa.

              Uyên ương sao được một nhà ?   

 

      Tư Mã Tương Như nghe trong rèm ở phòng bên có tiếng thở dài nhè nhẹ, biết là Trác Văn Quân đang nghe đàn, bèn đàn tiếp khúc thứ hai là :

 

              鳳兮鳳兮從凰棲,    Phượng hề phượng hề tòng hoàng thê,

              得托孳尾永為妃。    Đắc thác tư vĩ vĩnh vi phi.

              交情通體心和諧,    Giao tình thông thể tâm hòa hài,

              中夜相從知者誰?    Trung dạ tương tòng tri giả thùy ?

              雙翼俱起翻高飛,    Song dực câu khởi phiên cao phi,

              無感我思使余悲。    Vô cảm ngã tư sử dư bi.

Có nghĩa :

              Theo hoàng phượng hỡi, phượng hề,

              Theo nhau mãi mãi đi về một phương.

              Giao tình lòng những vấn vương,

              Giữa đêm theo gót người thương bao ngày.

              Chắp đôi cánh phượng cao bay,

              Lòng ta buồn nhớ ai hay chăng là ?!

 

         Khúc ca vừa tỏ lòng ái mộ Trác văn Quân, vừa "xúi giục" nàng "giữa đêm theo gót..." nên, nửa đêm hôm ấy, Trác Văn Quân bỏ nhà trốn theo Tư Mã Tương Như về Thành Đô sinh sống ...

Do điển tích nầy, nên các từ CẦU HOÀNG, PHƯỢNG CẦU HOÀNG, TƯ MÃ PHƯỢNG CẦU... được dùng để chỉ tiếng đàn giao duyên, tỏ tình trai gái hoặc tìm hạnh phúc lứa đôi. Như trong Truyện Kiều, khi tả tiếng đàn của Thúy Kiều đàn cho Kim Trọng nghe, cụ Nguyễn Du cũng mượn ý :

 

                      Khúc đâu TƯ MÃ PHƯỢNG CẦU,

                  Nghe ra như oán như sầu phải chăng ?...

 

         Trong truyện Nôm Tây Sương Ký tả Trương Quân Thụy gặp thôi Oanh Oanh ở Mái Tây cũng đã tự hỏi :

                       Phượng bay bốn bể CẦU HOÀNG,

                  Giai nhân chẳng ở đông tường thì đâu ?

 

   ... và trong Bích Câu Kỳ Ngộ, tả chàng công tử Tú Uyên ướm thử lòng Giáng Kiều cũng có câu :

 

                       CẦU HOÀNG tay lựa nên vần,

                  Tương Như lòng ấy, Văn Quân lòng nào ?!

 Ngoài lộ CẦM ĐÀI là nơi Tư Mã Tương Như ngồi gãy đàn cho nàng Trác Văn Quân bán rượu ra, Thành Đô còn nổi tiếng với một cây cầu nhỏ gọi là TỨ MÃ KIỀU 四馬橋, nằm ở ngã ba đường cái. cây cầu nầy vốn có tên Thăng Tiên Kiều 升仙橋 (Cầu Lên Tiên) nằm cạnh bờ hồ Thăng Tiên. Cầu nằm cách thành bắc khoảng mười dặm đường.  khi còn hàn vi, lúc đi ngang qua cây cầu nầy để vào đất Trường An tìm chữ công danh, Tư Mã Tương Như đã viết lên đầu cầu câu :"Bất thừa cao xa tứ mã, bất qúa nhữ hạ.不乘高车驷马,不过汝下". Có nghĩa : "Không cởi được xe bốn ngựa cao sang sẽ không chui qua dưới cầu nầy nữa" để tỏ rõ quyết tâm làm nên công danh sự nghiệp của mình. Qủa nhiên, ông đã trở thành Trung Lang Tướng 中郎将 của vua Hán, khi trở về Thành Đô, dân chúng rất lấy làm vinh dự mà đổ xô ra đón rước ông. Tư Mã Tương Như vinh quy với xe tứ mã ngang qua Thăng Tiên Kiều như lòng ông mơ ước, nên quan lệnh địa phương đổi tên cầu thành TỨ MÃ KIỀU 四馬橋 từ đó.

 

      Trong văn học Việt Nam ta, cụ Nguyễn Công Trứ trong bài hát nói "Nợ Tang Bồng" đã gọi Tứ Mã Kiều bằng CẦU XE NGỰA :

 

                    Nợ sách đèn đem nghiên bút trả xong,

                    CẦU XE NGỰA lúc đi về mới tỏ !

 Phượng Cầu Hoàng là chuyện tốt giữa tình yêu trai gái, nhưng CẦU MỴ GIẾT CON là chuyện ác nhơn sát đức của những kẻ tiểu nhân hèn hạ xu nịnh, theo tích sau đây :

 

      Theo sách Xuân Thu Tả Truyện, Dịch Nha 易牙 còn gọi là Địch Nha 狄牙 là một sủng thần của Tề Hoàn Công, đồng thời cũng là một đầu bếp giỏi biết sáng chế ra các cách gia vị nấu nướng cho ngon. Có một lần, Tề Hoàn Công nói chơi với Dịch Nha rằng:"Các món ngon vật lạ của thế gian nầy, Qủa nhân đã nếm qua hết rồi, chỉ có thịt người là chưa được ăn qua mà thôi !". Người nói vô tình, nhưng người nghe hữu ý. Dịch Nha định trổ tài nấu thịt người cho Tề Hoàn Công ăn, nhưng lại đắn đo, Tề Vương là bậc vương hầu không thể ăn thịt của các tử tù được, lại cũng không thể ăn thịt của hạng dân thường được. Suy đi tính lại bèn giết đứa con 4 tuổi của mình mà hầm thật ngon rồi dâng lên. Tề Hoàn Công thấy món ăn lạ mà rất ngon miệng, bèn hỏi là thịt gì, thì Dịch Nha mới cho biết là thịt của con mình. Tề Hoàn Công vừa thất kinh vừa cảm động, từ đó rất tin dùng tên đầu bếp Dịch Nha nầy mà hư việc lớn.

                     Tên đầu bếp Dịch Nha nấu con cho Tề Hoàn Công ăn trong điện ảnh

 

      Trong tác phẩm Sãi Vãi của cụ Nguyễn Cư Trinh, khi cho ông Sãi luận về chữ Ghét có đề cập đến tích trên đây :

             ... Ghét hoài, ghét huỷ; ghét ngọt, ghét ngon.

                 Ghét đứa CẦU MỴ mà GIẾT CON, 

                 Ghét đứa tham sang mà hại vợ...

 

       Trở lại với chữ CẦU là Cây Cầu, ta có ...

       CẦU CHIẾT LIỄU, Còn gọi là BÁ KIỀU CHIẾT LIỄU 灞橋折柳. Bá Kiều 灞橋 là Cầu bắt qua sông Bá. Chiết Liễu 折柳 là Bẻ nhành dương liễu để tặng người đi xa làm roi ngựa.Theo di tích sau đây :

 

       Thời Xuân Thu Chiến Quốc, khi Tần Mục Công xưng Bá Tây Nhung, cho đổi tên sông Tư Thủy thành Bá Thủy và cho xây một cây cầu đá bắt qua sông, gọi là BÁ KIỀU. Đây là cây cầu mấu chốt cho giao thông giữa đông và tây của đất Trường An, nhất là qua các đời sau như Tùy, Đường, Tống, Nguyên... là nơi tiễn đưa nhau của người thời bấy giờ, đưa đến trường đình ở bên cầu, rồi bẻ một nhành liễu tặng người đi vừa để tỏ lòng quyển luyến, vừa để làm roi ngựa dọc đường.

 

       Nên CẦU CHIẾT LIỄU hay BÁ KIỀU CHIẾT LIỄU đều chỉ cảnh chia tay, ly biệt. Như trong tác phẩm thơ Nôm Lưu Nữ Tướng của ta :

 

                     Tràng đình ngảnh lại xa xa,

                 Khỏi CẦU CHIẾT LIỄU ai là cố nhân ?!

    ... và :

                     BÁ KIỀU CHIẾT LIỄU đến nay,

                Nhớ người cám nghĩa, sầu xây nên thành.

                             Cầu Chiết Liễu ngày xưa và ngày nay

       

      Sau CẦU CHIẾT LIỄU, ta có CẦU LAM là LAM KIỀU 藍橋 với tích Bùi Hàng gặp Tiên. Mời xem lại bài "ĐIỂN TÍCH VĂN HỌC 4 : CẦU LAM" với chàng Kim Trọng nhớ đến Thúy Kiều trong buổi đầu gặp gở :

 

                       Tình riêng nhớ ít tưởng nhiều,

                     Xăm xăm đè nẽo LAM KIỀU lần sang.

     hay như :

                       Chày sương chưa nện CẦU LAM,

                     Sợ lần khần qúa ra sờm sở chăng ?!...

   

      Còn cây cầu thần thoại nổi tiếng ở trên trời là CẦU Ô THƯỚC 烏鵲橋 (Ô Thước là Qụa Đen) bắt ngang qua sông Ngân Hà (còn gọi là Ngân Hán) để cho Ngưu Lang Chức Nữ gặp nhau hằng năm vào đêm mùng bảy tháng bảy Âm lịch mà chữ Nho gọi là Đêm Thất Tịch . Trong Cung Oán Ngâm Khúc Ôn Như Hầu Nguyễn Gia Thiều đã nói là :

 

                        Chữ đồng lấy đấy làm ghi,

                   Mượn điều THẤT TỊCH mà thề bách niên, 

          Trong truyện Nôm Phạm Tải - Ngọc Hoa (Phạm Công - Cúc Hoa) gọi là CẦU Ô :

 

                        Đưa thơ tính đã nhiều lần,

                    CẦU Ô rắp bắt sông Ngân cùng nàng.

 

      Còn trong truyện thơ Nôm Lâm Tuyền Kỳ Ngộ (Bạch Viên Tôn Các) thì gọi là CẦU THƯỚC :

 

                       CẦU THƯỚC phen này chung dịp bước,

                       Tấc gang riêng giữ nghĩa chung tình.

     

      Chiếc cầu cuối cùng theo quan niện cổ xưa của Đạo Gia và dân gian là CẦU NẠI HÀ, là NẠI HÀ KIỀU 奈何橋. Chiếc cầu nầy không có liên quan gì đến Phật Giáo cả (Kinh Phạn có từ Narakade 那落迦 NA LẠC CA là Địa Ngục chớ không phải Nại Hà).

 

      Theo truyền thuyết dân gian Trung Hoa, khi người đã chết thì hồn phách đều phải đi qua cầu Nại Hà. Người hiền lành nhân đức thì sẽ có bồ tát độ cho qua cầu một cách dễ dàng; còn người dữ dằn hung ác thì sẽ bị trợt chân xuống dưới sông Nại hà và rơi vào Phong Đô Địa Ngục. Một truyền thuyết khác cho là khi chết thì hồn người chết sẽ đi về Huỳnh Tuyền Lộ, là đường đưa đến Suối Vàng; còn khi đi đầu thai thì phải đi ngang qua cầu Nại Hà, bên cầu có một bà lão, tục gọi là Mạnh Bà đang nấu một nồi canh. Ai qua cầu Nại Hà để đi đầu thai đều phải uống một chén canh của Mạnh Bà để quên hết đi những việc của kiếp trước, để bắt đầu cho kiếp sống mới sau nầy.

 

      Trong Văn Tế Thập Loại Chúng Sinh của cụ Nguyễn Du có đọan viết :

 

                   ...Gặp phải lúc đi đường lỡ bước,

                      CẦU NẠI HÀ kẻ trước người sau.

                      Mỗi người một nghiệp khác nhau,

                      Hồn xiêu phách tán biết đâu bây giờ ?

Trong văn học cổ còn có những chiếc cầu rất hào hùng như hình ảnh của chàng chinh phu xuất chinh trong Chinh Phụ Ngâm Khúc với :

                    

                          Giã nhà đeo bức chiến bào,

                          Thét roi CẦU VỊ ào ào gió thu.

 

... và cũng có những chiếc cầu rất nên thơ đã đi vào lòng người, như cây cầu bắt ngang qua ngòi nước cũng trong Chinh Phụ Ngâm Khúc của Đoàn Thị Điểm diễn Nôm :

               

                       Ngòi đầu CẦU nước trong như lọc,

                       Đường bên CẦU cỏ mọc còn non.

                       

      Hay như cây cầu bên mộ Đạm Tiên, có tơ liễu phủ quanh như lúc chị em Thúy Kiều đi đạp thanh nhân tiết Thanh Minh :

           

                       Dưới dòng nước chảy trong veo,

                    Bên CẦU tơ liễu bóng chiều thướt tha !

 

    ... và khi hiện về để báo mộng cho Thúy Kiều biết cũng là người đồng hội đồng thuyền với mình, Đạm Tiên đã nhắc lại :

 

                           Hàn gia ở mái tây thiên,

                  Dưới dòng nước chảy bên trên có CẦU.

 

       Cuối cùng là cây cầu có vẻ cổ kính của văn học cổ là : Cây cầu trong Cung Oán Ngâm Khúc của Ôn Như Hầu Nguyễn Gia Thiều :

 

                     CẦU THỆ THỦY ngồi trơ cổ độ,

                     Quán thu phong đứng rũ tà huy...

  THỆ THỦY 逝水 : là Nước chảy qua (rồi đi mất hút luôn). CỔ ĐỘ 古渡 : là Bến đò xưa. nên "Cầu thệ thuỷ ngồi trơ cổ độ" là : Nước vẫn chảy qua cầu rồi mất hút bên cạnh bến đò xưa vẫn ngồi đó trơ gan cùng tuế nguyệt ! Hai cảnh tương phản đứng cạnh nhau, nhưng lại cùng tồn tại với nhau suốt những tháng năm dài, như cuộc đời nàng cung nữ thanh xuân cứ mất dần đi theo năm tháng trong cung vàng vẫn hoa lệ như xưa; giống như là đời sống lưu vong của chúng ta hiện nay ...

   ... cứ giương mắt nhìn thời gian mất đi, tuổi già sồng sộc ập đến trong khung cảnh tha hương dị quốc muôn đời cũng không giống được những gì nơi quê hương cố thổ; như quán gió thu hiu hắt đứng rũ buồn trong ánh nắng chiều nghiêng nghiêng khi hoàng hôn dần tắt ... như :

 

                       Cầu thệ thuỷ ngồi trơ cổ độ

                    Quán thu phong đứng rũ tà huy...

    ... và :

                      Phong trần đến cả sơn khê,

                 Tang thương đến cả hoa kia cỏ này.

                                                                     buồn thay ! 

 

 

         Hẹn bài viết tới !

 

 

        Đỗ Chiêu Đức 

_____________________________________

THÀNH NGỮ ĐIỂN TÍCH 35: 

                                               CẦM

 CẦM 琴 là Cây Đờn (Đàn). Như Lục Huyền Cầm 六絃琴 là cây Đàn có 6 dây. CẦM SẮC 琴瑟 là Hai loại đàn ngày xưa và như câu thơ đầu tiên trong bài CẨM SẮC 錦瑟 (Đàn gấm) của Lý Thương Ẩn là : CẨM SẮC vô đoan ngũ thập huyền 錦瑟無端五十弦. SẮC là cây đàn có đến 50 dây. CẦM SẮC là hai nhạc cụ thường dùng trong hòa tấu âm nhạc cho ra âm thanh hòa hợp rất hay, nên còn được ví với vợ chồng hòa thuận, chồng hát vợ họa theo ( Phu xướng phụ tùy 夫唱婦隨) với lời chúc nhau trong các đám cưới đám gả là CẦM SẮC HÒA HÀI 琴瑟和諧 hay SẮC CẦM HẢO HỢP 瑟琴好合. Vì các ý nghĩa trên, nên...

 

    CẦM SẮC 琴瑟 còn có nghĩa bóng là tình VỢ CHỒNG, và CẦM KỲ 琴棋 (Đàn và Cờ) có nghĩa là tình bè bạn. Như khi Kim Kiều tái hợp, mặc dù đã bái đường với nhau, nhưng Thúy Kiều năn nỉ Kim Trọng đừng động phòng với lý do :

 

                                     Chữ TRINH còn một chút nầy,

                               Chẳng cầm cho vững lại vầy cho tan ! 

nên cô khuyên Kim Trọng :

                                    Chàng dù nghĩ đến tình xa,

                               Đem tình CẦM SẮC đổi ra CẦM KỲ ! 

 Kim Trọng đã chìu theo ý của Thúy Kiều không động phòng trong đêm đó, nhưng không biết ngày tháng dài lâu, những đêm sau nầy sẽ ra sao ?!...   

 

        Ta còn có từ CẦM ĐÀI 琴台 là Cái Giá để đặt cây đàn; CẦM ĐÀI còn là nơi mà Tư Mã Tương Như đã đàn khúc Phượng Cầu Kỳ Hoàng để đánh động lòng ái mộ của nàng Trác Văn Quân xinh đẹp. Nên CẦM ĐÀI là từ kép để chỉ Nghề đàn giỏi hoặc Khúc đàn hay, như khi Kim Trọng muốn Thúy Kiều đàn cho mình nghe thì đã khẩn khoản là :

                              Rằng : Nghe nổi tiếng CẦM ĐÀI,

                        Nước non luống những lắng tai Chung Kỳ.

    

       Ngoài CẦM ĐÀI, ta còn có CẦM ĐƯỜNG 琴堂 là Ngồi trên công đường mà gãy đàn, theo xuất xứ với tích sau đây :

       

       Sách Lã Thị Xuân Thu thời Chiến Quốc : Mật Tử Tiện 宓子贱 học trò của Khổng Phu Tử khi làm quan ở đất Đan Phụ (Nam Huyện của tỉnh Sơn Đông hiện nay). Mỗi ngày ông chỉ ngồi trên công đường gãy đàn mà xử lý rất tốt tất cả mọi việc trong huyện. Còn Vu Mã Kỳ thì phải thức khuya dậy sớm, đi sớm về muộn, vất vả bận rộn suốt ngày, cũng xử lý huyện Tứ Phụ rất tốt. Vu Mã Kỳ mới hỏi Mật Tử Tiện là duyên cớ làm sao mà ta thì vất vả còn ông thì an nhàn khi công việc cũng như nhau ? Mật Tử Tiện mới đáp rằng : " Cách của ta làm là biết sử dụng nhân tài, còn cách của ông là sử dụng sức lực. Đương nhiên sử dụng sức lực sẽ vất vả hơn sử dụng nhân tài nhiều !" Mật Tử Tiện giữ cho tâm bình khí ổn, tai mắt tinh tường, tinh thần minh mẫn, nên xử lý mọi việc một cách nhanh chóng ổn thỏa. Vì tích nầy mà phát sinh thành ngữ "MINH CẦM NHI TRỊ 鳴琴而治" Có nghĩa : Chỉ ngồi đàn mà vẫn giữ vững được trị an trong huyện. Vì ngồi trên công đường mà đàn nên gọi là CẦM ĐƯỜNG 琴堂. Sau được dùng rộng ra để chỉ việc làm quan có hiệu qủa tốt, như sau khi Kim Trọng đã thi đậu làm quan, cụ Nguyễn Du đã viết là :

 

                             CẦM ĐƯỜNG ngày tháng thanh nhàn,

                           Sớm khuya tiếng hạc tiếng đàn tiêu dao.

       

       CẦM KỲ THƯ HỌA 琴棋書畫 là Tứ nghệ, bốn cái nghề, bốn cái kỹ năng mà tất cả những thư sinh ngày xưa đều phải rèn luyện học tập. Đó chính là : Gãy đàn, Đánh cờ vây (Vi Kỳ 圍棋), Viết thư pháp và Hội họa, vẽ tranh. Ngoài việc ứng phó thi cử để tìm chút công danh ra, bốn kỹ năng trên còn là niềm tự hào, hơn thua nhau trong lúc trà dư tửu hậu. Nhưng sang qua Việt Nam ta thì thành ra Bốn Món Ăn Chơi Tài Tử; hai chữ cuối THƯ HỌA 書畫 được đổi thành THI TỬU 詩酒; Thư pháp và Hôi họa được đổi thành Làm thơ và Uống rượu, như trong bài hát nói bất hủ của cụ Nguyễn Công Trứ :

 

                        CẦM KỲ THI TỬU,

                        Đường ăn chơi mỗi vẻ mỗi hay,

                        Đàn năm cung réo rắt tính tình dây,

                        Cờ đôi nước rập rình xe ngựa đó.

                        Thơ một túi phẩm đề câu nguyệt lộ, 

                        Rượu ba chung tiêu sái cuộc yên hà...

 

  ...và hai câu thơ chữ Hán trong bài là :

 

                  Cầm tứ tiêu nhiên, kỳ tứ sảng,   琴思瀟然棋思爽,

                  Thi hoài lạc hĩ, tửu hoài nồng.    詩懷樂矣酒懷濃。

Có nghĩa :

       -  Đàn thì phải thanh thoát tự nhiên, đánh cờ thì phải sảng khoái (không câu mâu quạu quọ),

       -  Thơ thì phải làm vui thỏa lòng ta và rượu thì phải đậm đà nồng ấm.

 CẦM 琴 là Đàn, nhưng nếu chữ CẦM 擒 được viết bằng bộ THỦ 扌 bên trái như thế nầy, thì có nghĩa là : Nắm, Bắt, Chụp, Giữ, là Cầm lấy, như từ CẦM MUÔI trong văn học cổ của ta. MUÔI : Miền Bắc gọi là cái Thìa lớn; Miền Nam gọi là Cái Vá để múc cơm canh. Tích CẦM MUÔI như sau :

 

       Hán Cao Tổ Lưu Bang lúc còn hàn vi, có anh là Lưu Bá mất sớm, nên ở với chi dâu. Lưu Bang không thích làm ruộng, suốt ngày rong chơi với các nhóm bạn du thủ du thực, tam giáo cửu lưu, rồi lại kéo cả bọn về nhà ăn cơm. Chị dâu ghét qúa. Một hôm lại kéo đám bạn về nhà. Bà chị dâu dùng cái muôi cạo gỏ vào nồi lóc cóc leng keng để cho biết là đã hết cơm canh. Cả bọn kéo đi nơi khác. Lưu Bang chạy vào bếp thấy cơm canh hãy còn. Từ đó, đâm ra oán hận chị dâu. Khi đã lên làm vua, phong thưởng cho mọi người, nhưng không phong quan chức cho con trai của anh là Lưu Tín. Được Thái Thượng Hoàng nhắc nhở, mới phong cho Lưu Tín làm CANH HIỆT HẦU 羹颉侯 là chức Hầu Cầm Muôi Gỏ Nồi Canh để nhớ cái hận mà chị dâu không cho cơm canh. Quả là một quân vương "nhọn mỏ"(nhỏ mọn!).

 

       Trong văn học cổ từ CẦM MUÔI và từ CẠO CANH thường được dùng để chỉ những ông vua hay chủ tướng lòng dạ hẹp hòi nhỏ mọn. Trong Hồng Đức Quốc Âm Thi Tập, nhà vua Lê Thánh Tông đã hạ hai câu thật mĩa mai như sau :

 

                     Cho tước chẳng quên người chực giỏ,

                     Phong hầu còn nhớ kẻ CẦM MUÔI.

     

        Thi Tiên LÝ BẠCH có một bài thơ thất ngôn cổ phong BẢ TỬU VẤN NGUYỆT 把酒問月 là Nâng Chén Hỏi Trăng, trong đó có những câu rất hay như :

 

                今人不見古時月,   Kim nhân bất kiến cổ thời nguyệt,

                今月曾經照古人。   Kim nguyệt tằng kinh chiếu cổ nhân.

Có nghĩa :

           Người của ngày hôm nay không thấy được trăng của ngày xưa, nhưng...

           Trăng của ngày hôm nay đã từng soi rọi người của ngày xưa rồi.

 

       BẢ TỬU VẤN NGUYỆT cụ Đào Duy Từ của ta gọi là CẦM CHÉN GỌI TRĂNG trong hai câu thơ sau đây :

 

                             Kìa ai CẦM CHÉN GỌI TRĂNG,

                        Xưa nay rằng cũng mấy vùng tỏ xưa.

 

       Trong bài Xuân Dạ Yến Đào Lý Viên Tự 春夜宴桃李園序 Thi Tiên cũng đã hạ câu "... Nhi phù sinh nhược mộng, vi hoan kỷ hà ? Cổ nhân bỉnh chúc dạ du, lương hữu dĩ dã... 而浮生若夢,為歡幾何?古人秉燭夜遊,良有以也". Có nghĩa : ...mà cỏi phù sinh như một giấc mộng, vui chơi có được bao lăm ? Nên người xưa (đã tranh thủ) đốt đuốc đi chơi đêm, quả là có lý lắm vậy. Bốn chữ BỈNH CHÚC DẠ DU 秉燭夜遊 là CẦM ĐUỐC CHƠI ĐÊM ý nói : Cuộc đời nầy qúa ngắn ngủi, thời gian vui chơi chẳng được bao nhiêu, nên phải tranh thủ đốt đuốc đi chơi cả ban đêm vì thời gian không còn nhiều nữa, như hai câu thơ của Hoàng Sĩ Khải trong Tứ Thời Khúc Vịnh đã diễn tả :

 

                          Một khắc là ngàn vàng khôn chuộc,

                          Hèn chi mà CẦM ĐUỐC CHƠI ĐÊM.

Trong bài hát nói Nhân Sinh Thấm Thoát, cụ Cao Bá Quát cũng đã viết :

 

                         Nhân sinh thiên địa gian nhất nghịch lữ,

                         Có bao lăm ba vạn sáu nghìn ngày.

                         Như chiêm bao, như bóng sổ, như gang tay,

                         Sực nhớ chữ “CỔ NHÂN BỈNH CHÚC”...

 

       

        Trở lại với CẦM 擒 là Bắt. Ta có từ kép là CẦM NẢ 擒拿 là Bắt giữ, bắt lấy. Trong nghề võ có những thế CẦM NẢ THỦ 擒拿手 chuyên dùng để nắm bắt và khóa tay chân của đối thủ để không thể động đậy được. SANH CẦM 生擒 là Bắt sống. Đọc truyện Tam Quốc Chí không ai là không biết đến tích "Khổng Minh thất cầm Mạnh Hoạch". Có nghĩa : Khổng Minh bắt Mạnh Hoạch bảy lần. Mạnh Hoạch là Man Vương có uy tín và cầm đầu các động các chủ tại phương nam. Khổng Minh lập kế bắt được rồi phô trương thanh thế của mình. Mạnh Hoạch vẫn không phục. Khổng Minh tha cho về chỉnh đốn lại binh mã, rồi lại bắt được Mạnh Hoạch lần nữa. Hoạch vẫn không phục. Khổng Minh lại tha cho về. Cứ thế, tha ra bảy lần rồi bắt lại bảy lần, gọi là THẤT CẦM THẤT TÚNG 七擒七縱 là "Bảy lần bắt lấy và bảy lần thả ra". Đến nổi lần sau cùng thả ra, Hoạch không bỏ đi nữa, mà quyết lòng hàng phục nhà Thục, không dám làm loạn nữa.

 

             
            Mạnh Hoạch và Khổng Minh trong điện ảnh

     

       Trong dân gian của ta có một người tên là Nguyễn Xiển, người làng Hoằng Bột, nay là xã Hoằng Lộc, huyện Hoằng Hóa, Thanh Hóa. Ông được cho là hậu duệ của Trạng Quỳnh (chắt của Trạng Quỳnh). Vì ở làng Hoằng Bột nên mọi người gọi là Xiển Bột. Cũng như Trạng Quỳnh, Xiển Bột nổi tiếng trong dân gian vì những câu chuyện cười dí dỏm, châm chiếm đả kích vào những thói xấu của xã hội, những quan lại, cường hào chuyên hiếp đáp dân lành. Tương truyền ...

 

       Có một lần vì túng thiếu, Xiển gom một mớ áo quần cũ đến cửa quan xin được CẦM để lấy tiền chi tiêu. Quan biết Xiển muốn phá mình, nên lấy ý một câu trong sách Luận Ngữ mà ra vế đối, hẹn rằng nếu đối hay thì sẽ cho CẦM. Vế ra như sau :

 

                Quân tử cố cùng, quân tử cùng, quân tử cố;       君子固窮,君子窮,君子固;

Có nghĩa :

        Người quân tử phải chịu đựng cái nghèo của mình, khi người quân tử nghèo thì người quân tư phải rán mà chịu đựng.

        Quan có ý trách Xiển Bột là người quân tử sao không biết an phận với cái nghèo của mình, mà còn đèo bồng cầm cố lôi thôi để xài tiền.

 

      Xiển Bột suy nghĩ một lúc, bèn tươi cười mà đối lại rằng :

 

             Khổng Minh cầm túng, Khổng Minh túng, Khổng Minh cầm.    孔明擒縱,孔明縱,孔明擒。

 

Theo nghĩa trong Tam Quốc Chí là :

      Khổng Minh bắt rồi tha, Khổng Minh tha rồi Khổng Minh bắt lại !

 

Nhưng, nếu hiểu theo nghĩa Nôm thì có nghĩa là :

 

     -(Dù cho có giỏi như) Khổng Minh cũng phải đi CẦM đồ khi TÚNG thiếu; (và vì) Khổng Minh TÚNG thiếu nên Khổng Minh mới đi CẦM đồ đây !

 

      Quả thật tuyệt vời không chê vào đâu được !

 

                      Xin được kết thúc bài CẦM ở nơi đây. Hẹn bài viết tới !

 

      Đỗ Chiêu Đức

THÀNH NGỮ ĐIỂN TÍCH 34 :

                                                  CAO

Ta thấy :

      Từ Giáp Cốt văn, Kim Văn đến Đại Triện đều là hình tượng mặt trước của một lâu đài, và như một tháp đài cao của một cửa thành. Nên từ Tượng Hình đó đưa đến Chỉ Sự : Đây là một kiến trúc Cao Lớn và chữ CAO 高 có nghĩa ... CAO là vì thế.

      CAO 高 trái nghĩa với Thấp, CAO còn tượng trưng cho cái gì đó vượt trội, đẹp đẽ, hay ho... hơn những cái bình thường, cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng, như ý kiến hay thì gọi là CAO KIẾN 高見. Sau khi nghe Thúy Kiều đờn, Kim Trọng đã góp ý rằng :

 

                      Lựa chi những khúc tiêu tao,

                 Thiệt lòng mình cũng nao nao lòng người !

 

      Thuý Kiều đã đáp :

 

                       Rằng quen mất nết đi rồi, 

                  Tẻ vui thôi cũng tính trời biết sao ?!

                       Lời vàng vâng lĩnh Ý CAO,

                  Hoạ dần dần bớt chút nào được không !

 

      Ý CAO là lời nói khách sáo, khen ý kiến của người khác là CAO KIẾN, là ý kiến hay ho. 

 

        CAO 高 còn chỉ Giỏi, như CAO ĐỒ 高徒 là Học trò giỏi, từ dùng để gọi học trò của người khác là LỆNH CAO ĐỒ 令高徒 (Tự xưng với người khác là TIỂU ĐỒ 小徒: Thằng trò nhỏ của tôi, bất kể tuổi tác đã lớn đã già). CAO 高 còn chỉ Tốt, như CAO BẰNG 高朋 là bạn Tốt, bạn giỏi, bạn qúi. Như trong bài Đằng Vương Các Tự nổi tiếng của Vương Bột đời Đường :

 

                十旬休暇,胜友如云;   Thập tuần hưu hạ, thắng hữu như vân;

                千里逢迎,高朋满座.    Thiên lý phùng nghinh, CAO BẰNG mãn tọa.

Có nghĩa :

               Trong kỳ nghỉ lễ mười ngày, bạn hiền tụ tập như mây;

               Ngàn dặm đón tiếp chào mời, bạn qúi ngồi đầy cả tiệc.

 

      Nhắc đến CAO, thì người ta cũng nghĩ ngay đến từ CAO ĐƯỜNG 高堂. CAO là Cao lớn; ĐƯỜNG là Phòng rộng. CAO ĐƯỜNG là Phòng lớn rộng nhất ở trong nhà, nơi mà cha mẹ thường ngồi để cho con cháu vấn an, nên trong văn học cổ CAO ĐƯỜNG chỉ Cha mẹ già. Vì ...

       

      CAO 高 ở đây là Cao niên, còn ĐƯỜNG 堂 là Song Đường, tức XUÂN ĐƯỜNG 椿堂 là Cha và HUYÊN ĐƯỜNG 萱堂 là Mẹ; Nên CAO ĐƯỜNG 高堂 là Cha mẹ già. Trong các phim ảnh cổ trang xưa của Trung Hoa, khi rước dâu về nhà bái đường thì người xướng lễ cho đôi tân hôn xoay ra ngoài và hô to "Nhất bái thiên địa", đoạn quay trở vào hướng về phía cha mẹ hô "Nhị bái CAO ĐƯỜNG", cuối cùng là "Phu thê giao bái". Lạy trời đất, lạy cha mẹ, rồi lạy nhau để mà nên nghĩa vợ chồng !

 

      Trong bài thơ "Bạc Mộ Tư Gia 薄暮思家 là Chiều Hôm Nhớ Nhà" Cao Bá Quát đã hạ một đôi Thực thật hay và cảm khái như sau :

 

                高堂兩處思兒淚,  CAO ĐƯỜNG lưỡng xứ tư nhi lệ,

                薄宦三春感舊心。  Bạc hoạn tam xuân cảm cưụ tâm.

Có nghĩa :

              Nhớ cha mẹ hai nơi nhỏ lệ,

              Chút quan hèn lòng trễ ba xuân.

      Khi viết hai câu nầy, chắc cha mẹ của Cao Chu Thần đang ở với bào huynh của ông là Cao Bá Đạt đang làm tri huyện ở Nông Cống Thanh Hóa.

 

      Nếu thay chữ ĐƯỜNG 堂 là họ ĐƯỜNG 唐, ta sẽ có từ CAO ĐƯỜNG 高唐 là tên của một huyện ở tỉnh Sơn Đông ngày nay, đồng thời cũng là tên của một ngọn núi nổi tiếng trong bài CAO ĐƯỜNG PHÚ 高唐賦, nơi mà thời Chiến Quốc Sở Tương Vương đã mơ thấy thần nữ theo tích sau đây :

    

      CAO ĐƯỜNG THẦN NỮ 高唐神女.

      Theo thần thoại Trung Hoa, con gái của Xích Đế 赤帝 là Dao Cơ 瑶姬, chết trẻ, chôn ở Vu Sơn, hồn phách không tan, biến thành Thần Nữ. Trong bài Cao Đường Phú của Tống Ngọc nước Sở thời Chiến quốc có ghi lại: Sở Vương đi chơi ở Cao Đường, mơ thấy Thần Nữ đến cùng ân ái, khi chia tay còn nói là "Đản vi triêu vân, mộ vi hành vũ 旦为朝雲,暮为行雨"( Thiếp kéo mây ở buổi sáng, làm mưa ở buổi chiều ). Theo quan niệm cổ xưa thì nữ thần và vua giao hợp có thể làm cho phong điều vũ thuận, ngũ cốc phong đăng. Có nghĩa : Mưa thuận gió hòa, lúa thóc được mùa. Nhưng dân gian lại không chịu hiểu theo nghĩa đó, hễ nhắc đến Sở Vương và Thần Nữ thì sẽ nghĩ ngay đến " Mây mưa ân ái giữa trai gái " mà thôi ! Vì thế, sau nầy hễ nhắc đến Thần Nữ Vu Sơn, Cao Đường Thần Nữ 高唐神女 là người ta nghĩ ngay đến một giai nhân tuyệt sắc gợi tình, và nói đến kéo mây làm mưa, hay nói gọn thành Mây Mưa, là người ta lại nghĩ ngay đến việc ái ân trai gái. Như cô Kiều đã ngăn Kim Trọng lại trong đêm gặp gỡ khi "Sóng tình dường đã xiêu xiêu",  mà kể lể rằng :

 

                   Ngẫm duyên kỳ ngộ xưa nay,

                Lứa đôi ai lại đẹp tày Thôi Trương.

                   Mây Mưa đánh đổ đá vàng,

              Quá chìu nên đã chán chường yến anh...     

                               Cao Đường Thần Nữ 高唐神女

 

     Trong truyện Nôm khuyết danh Từ Thức của ta, viết theo truyện "Từ Thức Tiên Hôn Lục" của Nguyễn Dữ, cũng có câu :

                              Mộng hồn say giấc mây mưa,

                         Đá Vu Sơn tạc tiếng dư CAO ĐƯỜNG.  

      

     Còn ...

     CAO ĐÌNH 皋亭 là Cao Đình Sơn ở ngoại ô phía bắc của Hàng Châu tỉnh Chiết Giang, nơi có cả một rừng đào rực rỡ, phong cảnh hữu tình và là nơi thường diễn ra các cuộc tiễn đưa lưu luyến với câu "Cao Đình tương biệt xứ 皋亭相別處" là Chia tay ở chốn Cao Đình, như sau khi khuyên Thúc Sinh về thăm Hoạn Thư thì Thúy Kiều đã tiễn đưa chàng Thúc với :

 

                      Tiễn đưa một chén quan hà,

                  Xuân đình thoắt đã dạo ra CAO ĐÌNH !

                       Sông Tần một dãy xanh xanh,

                  Loi thoi bờ liễu mấy cành Dương Quan...

 

 

                

 

      Còn...

      CAO QÙY 皋夔, CAO là CAO DAO 皋陶 (Đào) là viên quan Hình bộ giỏi dưới thờì Ngu Thuấn; QÙY 夔 là Nhạc quan của vua Thuấn. Trong văn học cổ thường mượn tên của hai người nầy để chỉ bề tôi giỏi. Trong Tứ Thời Khúc Vịnh của Hoàng Sĩ Khải, một danh sĩ đời Mạc, có câu :

 

                      Tung hô ba tiếng kêu rần,

                 Áo xiêm Nghiêu Thuấn, đai cân CAO QÙY.

 

      Khi nhắc đến Tri Âm Tri Kỷ thì người ta cũng nhắc đến ...

      CAO SƠN 高山 là Núi Cao, nhưng trong văn học cổ CAO SƠN là khúc đàn Cao Sơn Lưu THủy 高山流水. Theo sách Liệt Tử chương Thang Vấn 列子·汤问 kể :

 

      Thời Tiên Tần, thuở Xuân Thu Chiến Quốc, có quan Đại Phu nước Tấn là Du Bá Nha rất giỏi về dao cầm. Còn tiều phu Chung Tử Kỳ của nước Sở lại rất giỏi về nghe đờn. Khi Bá Nha đờn mà lòng nghĩ đến núi cao thì Tử Kỳ khen " Nga nga hề nhược Thái Sơn 峨峨兮若泰山"(Vọi vọi thay như ở tận núi Thái Sơn); khi lòng Bá Nha nghĩ đến sông nước bao la thì Tử Kỳ lại khen " Dương dương hề nhược giang hà 洋洋兮若江河"(Mênh mông thay như nước sông giang hà). Bá Nha rất kinh ngạc mà bảo rằng "Thiện tai, Tử chi tâm nhi dữ ngô tâm đồng 善哉,子之心而与吾心同". Có nghĩa : "Giỏi thay, lòng của ông và ta cùng tương đồng nhau". Sau Tử Kỳ bịnh chết, Bá Nha buồn mất tri âm nên đập nát dao cầm suốt đời không đàn nữa. 

 

     Vì tích trên mới có khúc đàn mang tên CAO SƠN LƯU THỦY. Trong truyện Nôm khuyết danh Phương Hoa - Lưu Nữ Tướng có câu :

                                    Gió đưa nhẹ mái thuyền lan,

                           Điệu xoang LƯU THỦY, cung đàn CAO SƠN.  

      Trong bài hát nói "Nhân Sinh Thắm Thoát" của Cao Bá Quát với đôi câu thơ chữ Hán là :

 

            CAO SƠN LƯU THỦY thi thiên trục,         高山流水詩千柚,

            Minh nguyệt thanh phong tửu nhất thuyền. 明月清風酒一船.

Có nghĩa :

            Núi cao nước chảy thơ ngàn ý,

            Gió mát trăng thanh rượu một thuyền !

   

      Từ "Núi Cao" lại làm cho ta nhớ đến câu "Núi cao còn có núi cao hơn". Câu thành ngữ nầy khuyên ta phải biết khiêm tốn nhún nhường, đừng bao giờ tự kiêu tự phụ, tự cao tự đại, cho mình là giỏi hơn cả thiên hạ. Ông bà ta cũng để lại câu nói chữ Nho là "Cao nhân tất hữu cao nhân trị 高人必有高人治", có nghĩa : Người giỏi sẽ có người giỏi hơn để trị lại mình. Câu chữ Nho trên thuần túy của người Việt, còn người Hoa thì nói là "Nhứt sơn hoàn hữu nhứt sơn cao 一山還有一山高". Một núi đã cao rồi còn có môt núi khác cao hơn nữa !

 

      Phật Giáo cho rằng cuộc đời là bể khổ, chúng sinh cứ ngụp lặn trong bể khổ đó mà mãi vẫn không đến được bến bờ, nên mới khuyên là HỒI ĐẦU THỊ NGẠN 回頭是岸 : Biết quay đầu lại là bờ bến ! Còn Nho Giáo thì bảo là HỌC HẢI VÔ NHAI 學海無涯 là Biển học mênh mông không có nơi tận cùng. DUY CẦN THỊ NGẠN 唯勤是岸 chỉ có sự chuyên cần là bờ bến mà thôi. Ý muốn nói phải luôn luôn siêng năng học tập, bờ bến chính là cái thành qủa gặt hái được trong sự chuyên cần học tập đó mà ra. Và để khuyến khích sự siêng năng chuyên cần học tập, ông bà ta còn dạy rằng :

 

               Học vô tiền hậu,     學無前後,

               Đạt giả vi sư.         達者為師。

Có nghĩa :

           Sự học hành không có phân biệt trước sau gì cả,

           Hễ người nào thành đạt thì người đó đáng bậc thầy.

 

     Thành Đạt ngày xưa có nghĩa là thi đậu làm quan, được trọng vọng như bậc thầy, được nhà vua cử làm quan chủ khảo cho các khóa thi sau, làm thầy của đám hậu sinh ... Còn Thành Đạt ngày nay là sự thành công trong tất cả các mặt hoạt động của xã hội, như văn sĩ, thi sĩ, họa sĩ, bác sĩ, kỹ sư, luật sư, giáo sư, nhà buôn, nhà báo, nhà thầu, nhà sản xuất ... Và như câu nói "Hàng Hàng Xuất Trạng Nguyên 行行出狀元" nghĩa là : Ngành nghề nào cũng có Trạng Nguyên của ngành nghề đó cả !

      

      Trở lại với những từ được ghép với chữ CAO 高 trong văn học cổ, ta có từ CAO PHI 高飛 là Bay Cao. Khi Thúy kiều bị Bạc Hạnh lừa kết hôn rồi bán vào lầu xanh lần thứ hai, lúc "Đưa nàng vào lễ gia đường, Cũng thần mày trắng cũng phường lầu xanh", nên ...

 

                               Thoắt trông nàng đã hay tình,

                         Chim lồng không lẽ cất mình BAY CAO !                              

                                Chém cha cái số hoa đào,

                            Gở ra rồi lại buộc vào như chơi !

 

      Bay Cao là CAO PHI, mà CAO PHI thì luôn đi liền với VIỄN TẨU 遠走, thành ngữ CAO PHI VIỄN TẨU 高飛遠走, mà ta nói thành "Cao chạy xa bay" như các cụ đồ Nho xưa thường răn dạy :

 

                   Thiện ác đáo đầu chung hữu báo,    善惡到頭終有報,   

                   CAO PHI VIỄN TẨU dã nan đào.       高飛遠走也難逃。

Có nghĩa :

           Hiền lành hay hung ác gì đến kết cuộc rồi cũng sẽ có báo ứng,

           Dù cho có CAO CHẠY XA BAY thì cũng vẫn khó mà trốn cho khỏi.

 

      Năm nay là năm Hợi, thành ngữ dành riêng cho lão Trư như trong bài viết " Năm Hợi Nói Chuyện ... Trư Bát Giới" hồi đầu năm là CAO CHẨM VÔ ƯU 高枕無憂. Có nghĩa : Gối đầu cao cao mà ngủ thoải mái không lo nghĩ gì cả ! Vì "nơi ăn chốn ở" đã có người ta lo sẵn cho hết rồi. Đâu có con nào khỏe hơn con heo, cứ ĂN NO NGỦ KỸ đợi ngày gả bán mà thôi !

 

      Ta lại có từ CAO LÂU 高樓 là Lầu Cao, nhưng từ nầy lại thường dùng để chỉ Nhà Hàng như ở phố cổ Hội An của ta vậy : Đi ăn CAO LẦU tức là đi ăn Nhà Hàng đó. Còn thành ngữ 4 chữ CAO LÂU ĐẠI HẠ 高樓大厦 là chỉ Nhà Cao Cửa Rộng, dịch cho sát nghĩa hơn là "Lầu Cao Nhà Lớn" mà trong Truyện Kiều cụ Nguyễn Du gọi là TÒA RỘNG DÃY DÀI, như khi Khuyển Ưng chụp thuốc mê bắt Thúy Kiều về nhà giao cho Hoạn Bà, lúc tỉnh lại Thúy Kiều mới ngơ ngác :

 

                       Ngước trông TÒA RỘNG DÃY DÀI,

                    Thiên Quan Trủng Tể có bài treo trên.

 

             Còn văn học hiện nay, ta có bài thơ "Mùa Xuân Bên Cửa Sổ" của Song Hảo đã được Xuân Hồng phổ nhạc mà giới trẻ hiện nay hay hát nghêu ngao :

 

                 CAO CAO bên cửa sổ,

                 có hai người hôn nhau

                 Đường phố ơi hãy yên lặng,

                 để hai người....

                 hôn nhau...!

 

       Cuối cùng ta có từ ...

 

       CAO THƯỢNG 高尚, CAO THƯỢNG có nghĩa là : Vượt lên trên sự tầm thường của thói đời, của con người, như Tâm hồn CAO THƯỢNG, xử sự CAO THƯỢNG, Con người CAO THƯỢNG, Sống vì một mục đích CAO THƯỢNG ... Cụ thể nhất là hai câu đối trước cổng chính của các Thánh Thất CAO ĐÀI GIÁO nêu rõ mục tiêu CAO THƯỢNG hướng tới của bản giáo là Hoà Bình Dân Chủ và mang lại quyền Tự Do cho cả Trung Nam Bắc ba kỳ, như sau :

 

                   CAO THƯỢNG chí tôn, đại đạo hòa bình dân chủ mục;

                     高       尚        至  尊, 大  道     和   平     民  主    目;          

                   ĐÀI tiền sùng bái, tam kỳ cộng hưởng tự do quyền.

                     臺    前    崇   拜, 三    祈   共      享    自 由     權。

 

     

 

            Xin hẹn bài viết tới !

 

           Đỗ Chiêu Đức

Thành ngữ điển tích 33:

                                                                      CAM

 CAM 甘, chữ Nho có nghĩa là Ngọt. Cam là chữ vừa Tượng Hình vừa Hội Ý, theo diễn tiến của chữ viết như sau :

 

               GIÁP CỐT VĂN     ĐẠI TRIỆN  TIỂU TRIỆN     LỆ THƯ

Ta thấy :

       GIÁP CỐT VĂN là Tượng Hình của cái miệng há ra, trong miệng có một gạch ngang tượng trưng cho một thức ăn nào đó được ngậm trong miệng, với Hội Ý : Vật nào đó được ngậm trong miệng tức là thức ăn ngon ngọt (nếu không ngon ngọt thì đã nhả ra rồi); nên CAM có nghĩa NGỌT là thế. Ta có từ TRÂN 珍 là Qúy, ghép với CAM là Ngọt, thành TRÂN CAM 珍甘 là Món ăn ngon ngọt qúy hiếm để con cháu hiếu kính dâng lên cho cha mẹ như lời cô Kiều nhớ đến cha mẹ khi ở lầu xanh :

 

                                Sân Hòe đôi chút thơ ngây,

                          TRÂN CAM ai kẻ đỡ thay việc mình ?!

     

     CAM là ngọt, nên CAM ĐƯỜNG 甘棠 là một loại lê có vị ngon ngọt, ta gọi là cây Đường Lê. CAM ĐƯỜNG còn là tên một bài thơ trong thiên Thiệu Nam 詩經,召南 của Kinh Thi, kể lại tích của Thiệu Bá (Thiệu Công Thích) đời nhà Chu. Ông làm quan thanh liêm, tính tình giản dị, khi đi kinh lý các đất ở phương nam, ông thường hay ngồi dưới gốc cây cam đường để nghỉ ngơi, làm việc và xử án. Dân chúng cảm mến nên bảo vệ cây cam đường và làm thơ ca ngợi như sau :

 

                蔽芾甘棠,   Tế phế Cam đường,

                勿翦勿伐,   Vật tiễn vật phạt,

                召伯所茇。   Thiệu Bá sở bạt.

    

                蔽芾甘棠,   Tế phế cam đường,

                勿翦勿敗,   Vật tiễn vật bị (bại),

                召伯所憩。   Thiệu Bá sở khí.

 

                蔽芾甘棠,   Tế phế cam đường,

                勿翦勿拜,   Vật tiễn vật bế (bái),

                召伯所說。   Thiệu Bá sở thuế (thuyết).

Có nghĩa :

 

               

 

                    Cây cam đường um tùm, 

                    Chớ cắt xén chớ chặt đốn, 

                    Vì là nơi Thiệu Bá (từng ngồi) ở đấy.

 

                    Cây cam đường um tùm,

                    Chớ cắt xén chớ hũy hoại,

                    Vì là nơi Thiệu Bá từng nghỉ ngơi.

 

                    Cây cam đường um tùm,

                    Chớ cắt xén chớ vin cành,

                    Vì là nơi Thiệu Bá từng dừng chân.

Diễn Nôm :

                    Cam đường cành lá xanh xanh,

                    Xin đừng cắt xén xin đừng đốn cây,

                    Thiếu Bá đã từng ngồi đây.

 

                    Cam đường cành lá xanh um,

                    Xin đừng cắt xén xin đừng phá cây,

                    Thiếu Bá từng nghỉ nơi đây.

 

                    Cam đường cành lá um tùm,

                    Xin đừng cắt xén xin đừng bẻ cong,

                    Thiếu Bá đã từng dừng chân.

                                                              ĐCĐ

 

       Cụ Nguyễn Trãi của ta cũng có bài thơ CAM ĐƯỜNG trong Quốc Âm Thi Tập như sau :

 

                  Thấy bóng CAM ĐƯỜNG nhớ Thiệu Công

                  Ðất dư dời được bạn cùng thông.

                  Bút thơ đã chép hương còn bén

                  Ngâm ngợi nào ai chẳng động lòng.

 

       Trong truyện Nôm NHỊ ĐỘ MAI của ta cũng có câu :

 

                             Tấc lòng xem tựa mẹ cha,

                    Đọc ca mạch tuệ ngâm thơ CAM ĐƯỜNG.

    

       CAM là Ngọt, nên CAM LỘ 甘露 là Sương Ngọt. Theo sách "LÃO TỬ" : Thiên địa tương hợp, dĩ giáng CAM LỘ 天地相合,以降甘露。Có nghĩa : Khi trời và đất hợp với nhau thì sẽ cho rơi những giọt sương ngọt. Ý nói khi thái bình thịnh thế, quốc thái dân an thì giọt sương rơi xuống người ta cũng cảm thấy là nó rất ngọt ngào. Theo Phật Giáo thì CAM LỘ là ví những lời giáo pháp chân lý của đức Nhu Lai là "CAM LỘ CHÂN NGÔN 甘露真言", như đang lúc trời nóng nực mà uống được những giọt nước mát mẽ làm cho tâm thần được sảng khoái vậy. CAM LỘ còn chỉ nước ở trong tịnh bình của Quan Thế Âm Bồ Tát, có thể cứu khổ cứu nạn, cải tử hồi sinh. Ông bà xưa của ta có để lại câu nói :

 

                  Khát thời nhất trích như CAM LỘ,   渴時一滴如甘露,

                Túy hậu thiêm bôi bất như vô.       醉后添杯不如無.

Có nghĩa :

          Khi khát thì chỉ mọt giọt nước thôi cũng có tác dụng như là nước Cam Lộ trong tịnh bình của Phật Bà Quan Âm vậy. Còn...

          Khi đã uống đến say mèm rồi thì có uống thêm một ly nữa cũng như không mà thôi, không có tác dụng gì nữa cả !

 

      Xin giới thiệu đoạn tả cảnh chùa Kim Sơn là đoạn thơ đẹp nhất trong SƠ KÍNH TÂN TRANG của Phạm Thái sau đây : 

 

                   Đầu non vượn hót khỉ treo,

                Cây kê cửa động, hoa leo mái già. 

                   Chim rừng dóng dả tiếng ca,

               Nước tuôn khe biếc, khói pha lá vàng. 

                   Kinh Thủy Sám, kệ Kim Cương,

               Rẩy cành CAM LỘ, thét gươm Đại Hùng ...      

Đọc truyện Bát Tiên Qúa Hải, khi Bát Tiên đại náo Đông Hải thì lâu đài lầu các của Thủy Tinh Cung đều bị sập đổ tan hoang, cũng nhờ sự hòa giải của Quan Âm Bồ Tát mà đôi bên mới hòa nhau và nhờ nước CAM LỘ trong tịnh bình do Quam Âm Đại Sĩ bay lên trên cao, rồi dùng nhành dương liễu rãi xuống khôi phục lại tất cả lâu đài của Thủy Tinh Cung trở về nguyên trạng như cũ.

 

      Ngoài CAM LỘ, ta còn có CAM TUYỀN 甘泉 là Suối nước Ngọt. Thật ra thì nước suối nào mà chả ngọt, nhưng đây là tên của một ngọn núi và một cung điện nổi tiếng đời Tần Hán nằm ở phía bắc đất Quan Trung, gần địa đầu biên tái, trên Cam Tuyền Sơn của tỉnh Thiểm Tây. Hán Vũ Đế đã cải tạo Lâm Quang Cung của Tần Nhị Thế thành Cam Tuyền Cung. Đây là một ly cung nổi tiếng vì thường diễn ra các hoạt động chính trị quân sự quan trọng và là nơi tiếp đãi các sứ thần ngoại bang, nơi họp bàn các cơ mật của quân cơ ... Trong tác phẩm Chinh Phụ Ngâm Khúc của ta diễn tả chiến sự nổi lên với các câu thơ mở đầu tác phẩm của Đặng Trần Côn  là :

                     

                     鼓鼙聲動長城月,  Cổ bề thanh động Trường Thành nguyệt,

                     烽火影照甘泉雲.  Phong hỏa ảnh chiếu CAM TUYỀN vân.

 

       Đã được nữ sĩ Đoàn Thị Điểm diễn Nôm thật hay như sau :

 

                      Trống trường thành lung lay bóng nguyệt,

                      Khói CAM TUYỀN mờ mịt thức mây.

 

                 Như ta đã biết, trước khi có chữ viết thì đã có tiếng nói; nên chữ CAM 柑 chỉ Cây Cam, Trái Cam được ghép bởi bộ CAM 甘 là Ngọt với bộ MỘC 木 là Cây lại với nhau mà thành. Trong văn học cổ của ta thì CAM và QUÍT thường đi liền nhau để chỉ Tôi Tớ, người giúp việc trong nhà, theo tích sau đây :

 

     Theo Tương Dương Ký của Tam Quốc Chí chép lại truyện Đơn Dương Thái Thú Lý Hành, vì vợ hay tranh cải trong việc trị gia, cho nên ông cho người cất nhà riêng ở đất Long Dương Võ lăng, trong vườn trồng một ngàn cây quít ngọt. Lúc ông gần chết mới nói với các con rằng : " Mẹ con hay cản trở ta trong việc trị gia, nên nhà ta mới sa sút thế nầy. Trước đây ta đã cho cất nhà riêng và có một ngàn gia nô bằng cây (Ý chỉ một ngàn cây quít), mỗi năm mỗi cây có thể cho hoa lợi bằng một sấp lụa, đủ cho các con sinh sống, không sợ đói nghèo.

 

     Vì tích trên, nên trong văn học cổ có từ QUẤT NÔ 橘奴 (gia nô là cây quít), như trong bài thơ 行天長行宮 Hành Thiên Trường Hành Cung là "Dạo Chơi Hành Cung Thiên Trường" của vua Trần Nhân Tông trong Đại Việt Sử Ký Toàn Thư của Ngô Sĩ Liên có câu :

 

                    百步笙歌禽百舌,   Bách bộ sanh ca cầm bách thiệt, 

                    千行奴僕橘千頭.   Thiên hàng nô bộc quất thiên đầu.

Có nghĩa :

            Trong vòng trăm bước tiếng sanh ca vang vang như có trăm cái lưỡi của chim muông kêu hót.

            Nô bộc đứng xếp cả ngàn hàng như có hàng ngàn cây quít.

 

     Trong TỰ THÁN bài 13 của cụ Nguyễn Trãi cũng có câu :

 

                   Ngoài cửa mận đào là khách đỗ,

                   Trong nhà CAM QUÍT ấy tôi mình.

 

     Trong ngôn ngữ hàng ngày, ta cũng thường hay nghe câu QUÍT LÀM CAM CHỊU để chỉ việc gì đó, người nầy làm mà người kia phải chịu trách nhiệm hay hậu qủa theo như truyện cổ dân gian kể về Trạng Lợn; và cũng cho ta thấy rằng CAM QUÍT là hai loại trái cây bình dân được trồng rộng rãi trong dân gian và thường được dùng để đặt tên cho con cháu.

Trở lại với từ CAM 甘 là Ngọt. Vì Ngọt nên mọi người thường ưa thích, vui vẻ chấp nhận, nên ta lại có thành ngữ CAM LÒNG, CAM TÂM TÌNH NGUYỆN ... để chỉ việc gì đó mà ta chấp nhận đi làm, không bị ai cưởng bức bắt buộc, làm mà trong lòng ... ngọt ngào vui vẻ !

 

     Trong đời sống hằng ngày, ta cũng hay thường gặp thành ngữ ĐỒNG CAM CỘNG KHỔ 同甘共苦. ĐỒNG là Cùng Nhau, CAM là Ngọt, CỘNG là Cùng Chung, KHỔ là Đắng. Nên nghĩa đen thui của thành ngữ nầy là : "Cùng nhau ngọt và cùng chung đắng"; hiểu rộng ra là Sướng thì cùng sướng; Khổ thì cùng khổ; Giàu sang thì cùng hường, Hoạn nạn thì cùng chịu ... Nhưng ông bà dạy thì dạy thế, chớ con cháu diễn câu thành ngữ đó chỉ có một chìu mà thôi : Ta hay nghe câu " CHIA NGỌT XẺ BÙI ", nghĩa là chỉ chia xẻ khi có NGỌT có BÙI mà thôi, và cũng có nghĩa là chỉ ĐỒNG CAM mà không thấy nhắc tới CỘNG KHỔ, là " Chia Đắng Xẻ Cay " gì cả !

     

     Ở đời, hễ cục MUỐI thì cắn đôi (mặn qúa, nuốt nguyên cục không nổi !), còn cục ĐƯỜNG thì ... lủm hết ! Âu đó cũng là Nhân Tình Thế Thái mà thôi !

 

                 Hẹn bài viết tới !

 

                                                                                                Đỗ Chiêu Đức

THÀNH NGỮ ĐIỂN TÍCH 32 : 

                                                    CÁ

 

                                    

        

       

 

 

 

Trong bài BÓNG, ta đã có thành ngữ BÓNG CHIM TĂM CÁ để chỉ tin tức hay sự việc gì đó rất mơ hồ xa vời không nắm bắt được rõ ràng chắc chắn; như khi Kim Trọng thi đậu làm quan, định đi tìm Thúy Kiều, nhưng : 

                       Nghĩ điều trời thẳm vực sâu,

                     BÓNG CHIM TĂM CÁ biết đâu mà tìm !?

 

       Mở đầu bài nầy ta có một thành ngữ lấy chữ CÁ làm đầu là "CÁ CHẬU CHIM LỒNG". Cá trong chậu chỉ biết có nước ở trong chậu; Chim trong lồng chỉ biết có cái không gian nhỏ hẹp của cái lồng. Thành ngữ nầy thường dùng để chỉ những hạng người tầm thường với chí khí nhỏ bé hạn hẹp, như lời Từ Hải đã bày tỏ một cách tự hào khi gặp Thúy Kiều :

 

                          Bấy lâu nghe tiếng má đào, 

                     Mắt xanh chẳng để ai vào có không ?

                          Một đời được mấy anh hùng,

                     Bõ chi CÁ CHẬU CHIM LỒNG mà chơi ?!

 

       

 

 

 

 

 

      Từ Hải đã tự hào cho mình là anh hùng hơn người, muốn làm việc lớn, chớ không phải tầm thường an phận với những cái có sẵn như hạng CÁ trong CHẬU, CHIM trong LỒNG, chỉ có mình mới đáng cho Thúy Kiều để vào Mắt Xanh mà thôi ! Và qủa nhiên Từ Hải đã lọt vào mắt xanh của Thúy Kiều. 

 

       CÁ CHẬU CHIM LỒNG còn dùng để chỉ cảnh tù túng trong một không gian hạn hẹp hay còn dùng để chỉ cảnh bị tù tội giam cầm. Theo trang "Văn học Việt Nam" : Giải thích Thành ngữ - Tục ngữ kể rằng : Có anh nhà giàu thích nuôi chim trong lồng để nghe chim hót và nuôi cá trong chậu để xem cá lội tung tăng. Cá trách chim ở trong lồng bộ vui lắm sao mà hót; chim trách cá ở trong chậu bộ thích lắm sao mà cứ bơi lội tung tăng. Con mèo gần đó bèn lên tiếng rằng : Thân CÁ CHẬU CHIM LỒNG chẳng biết lo còn trách cứ lẫn nhau ! Nên câu thành ngữ nầy cũng dùng để ám chỉ cảnh sống bó buộc, tù túng, mất tự do, như trong ca dao dân gian ta :

 

                                Ai ơi CÁ CHẬU CHIM LỒNG,

                          Một ngày bằng cả năm gông ngồi tù !


               CÁ chữ Nho là NGƯ 魚, Nước chữ Nho là THỦY 水, nên ta có từ CÁ NƯỚC là NGƯ THỦY. Ta thường nói mừng như Cá gặp Nước, chữ Nho gọi là Ngư Thủy Tương Phùng 魚水相逢, là Cá nước gặp nhau, dùng để chỉ sự hòa hợp giữa đôi lứa. Theo tích trong sách Quân Tử thời Chiến Quốc như sau :

 

      Tề Hoàn Công phái Quản Trọng đi hỏi ý của Nịnh Thích. Thích đáp :"Hạo hạo hồ ! 浩浩乎!". Quản Trọng không hiểu là ý gì, đến bữa ăn không vô, cứ ngồi trầm ngâm. Người tì thiếp thấy thế hỏi rằng : Vì cớ gì mà lo lắng ? Trọng đáp " Là chuyện mà nàng không thể biết và lo nổi ! Người tì thiếp thưa rằng :" Xưa nước Ngô và nước Can đánh nhau, quy định ai chưa sạch răng sửa thì không thể tham gia quân ngũ. Có thiếu niên tên Quốc Tử, tài sức hơn người, nhổ bỏ răng sửa để được ra trận, sau đó lập nên rất nhiều chiến công. Còn Bá Lý Hề là người chăn trâu ở nước Tần, được Tần Mục Công biết tài trọng dụng làm Tể Tướng, giúp Tần Mục Công xưng bá chư hầu. Cho nên, người tuổi trẻ không thể xem thường, người nghèo hèn không thể coi rẻ được. Sao thiếp không thể giúp tướng công được chứ ?. Quản Trọng nghe xong ngẩn người ra đáp rằng :" Được ! Ta phụng mệnh Tề Vương hỏi ý Nịnh Thích, nhưng hắn chỉ nói có ba chữ HẠO HẠO HỒ, nên ta không biết là có ý gì ?!. Người tì thiếp đáp rằng :" Chương Bạch Thủy trong Kinh Thi có bài : 浩浩者水,育育者鱼,未有室家,而安召我居?Hạo hạo giả thủy, Dục dục giả ngư, Vị hữu thất gia, Nhi an chiêu ngã cư ?. Có nghĩa : Mênh mông là nước, thung thăng là cá, chưa thành gia thất, kêu ta ở nơi đâu đây ? Chắc là ông ta muốn Tề Vương cưới vợ cho ông ta để ông ta yên lòng theo phò tá mà thôi !

 

       Trong Truyện Kiều, khi Từ Hải đã xưng vương, rước Thúy Kiều về đoàn tụ, cụ Nguyễn Du cũng đã cho Từ Hải nói với Thúy Kiều :

 

                                  Cười rằng : CÁ NƯỚC DUYÊN ƯA,

                               Nhớ lời nói những bao giờ hay không ?

                                   Anh hùng mới biết anh hùng,

                               Giờ xem phỏng đã cam lòng ấy chưa ?!

 

                              

          CÁ NƯỚC DUYÊN ƯA nói theo chữ Nho là NGƯ THỦY DUYÊN HÀI 魚水緣諧. Trong truyện Nôm khuyết danh Hoàng Trừu 皇儲 (Công Chúa Đội Đèn) tả tình duyên giữa hoàng tử Hoàng Trừu và công chúa Nam Việt có câu :

 

                       Trước là NGƯ THỦY DUYÊN HÀI,

                    Sau là hai nước muôn đời giao thông.

        

        Trong truyện Tam Quốc Chí, khi được Khổng Minh Gia Cát Lượng về phò giúp, Lưu Bị cũng đã nói rằng : "Ta mà có được Khổng Minh như là cá mà gặp nước vậy !". Nên trong văn học cổ thường dùng để chỉ sự tương đắc giữa hai người với nhau, như trong bài thơ "Ngoạ Long Cương vãn" của cụ Đào Duy Từ đã thoát dịch thật hay hai câu thơ trong bài Vịnh Vũ Hầu của Bạch Cư Dị là :

               

                            CÁ MỪNG GẶP NƯỚC Nam dương,

                        Rồng bay thiên hán vội vàng làm mưa.                     

 

                       

         

       Theo ý của một bài thơ xưa thời Lục Triều, thì CÁ còn là con vật dùng để đưa tin, nên trong văn học cổ của ta có các từ như CÁ NHÀN hay CÁ NHẠN, CÁ ĐI NHẠN LẠI ... Như ta nói Thư Đi Tin Lại vậy. Trong thơ của Chiêu Lỳ Phạm Thái có câu :

 

                         Bao nhiêu những kẻ bất tài,

                    CÁ NHÀN hãy lánh ra ngoài cho xa.

 

       Hay như trong truyện Quan Âm Thị Kính cũng có câu :

 

                        CÁ ĐI NHẠN LẠI tin hay,

                   Đủ năm lễ đã đến ngày thừa long.

 

       Tin Cá là do một vế trong bài thơ cổ trong Chiêu Minh Văn Tuyển có tựa là 飲馬長城窟行 Ẩm Mã Trường Thành Quật Hành như sau :

 

                 ... 客從遠方來,  Khách tòng viễn phương lai,

                     遺我雙鯉魚。  Di ngã song lý ngư.

                     呼兒烹鯉魚,  Hô nhi phanh lý ngư,

                     中有尺素書。  Trung hữu xích tố thư...

Có nghĩa :

          ... Khách từ phương xa đến,

              Để lại cho ta hai con cá chép,

              Bảo trẻ nấu cá chép,

              Trong cá có lá thư ...

  Còn ...

      Tin Nhạn là theo sách Hán Thư, Tô Vũ đi sứ Hung Nô. Chúa Hung Nô bắt chăn dê ở Bắc Hải. Khi Hung Nô hòa với nhà Hán, vua Hán hỏi tin Tô Vũ. Chúa Hung Nô nói dối là Tô Vũ đã chết. Vua Hán bèn sai sứ sang nói với chúa Hung Nô là Tô Vũ còn sống, đã viết thư buộc vào chân chim nhạn rồi thả cho bay về Hán. Chúa Hung Nô đành phải thả Tô Vũ về.

      CÁ là loài có vảy, nên gọi là LÂN 鱗 (Vảy cá), còn chim NHẠN là HỒNH NHẠN 鴻雁, nên còn gọi là HỒNG. Nên tin tức do Cá và Chim mang đến còn được gọi là SỨ LÂN HỒNG. Trong truyện Nôm Phương Hoa - Lưu Nữ Tướng có câu :

 

                           Phỏng sau điện yết tướng công,

                     Truyền thư sai SỨ LÂN HỒNG nên chăng ?  

 

                     

                        Ngoài thành ngữ CÁ ĐI NHẠN LẠI, ta còn có thành ngữa CÁ LẶN NHẠN SA mà chữ Nho gọi là TRẦM NGƯ LẠC NHẠN 沉魚落雁. Thành ngữ nầy có xuất xứ từ thiên Tề Vật Luạn của Trang Tử như sau : 毛嫱、丽姬,人之所美也;鱼见之深入,鸟见之高飞,麋鹿见之决骤,四者孰知天下之正色哉?Mao Tường ,Lệ Cơ. nhân chi sở Mỹ dã; ngư kiến chi thâm nhập, điểu kiến chi cao phi, mi lộc kiến chi quyết sậu. Tứ giả thục tri thiên hạ chi chính sắc tai? Có nghĩa : Hai nàng Mao Tường và Lệ Cơ, người đời đều cho là đẹp. Nhưng cá gặp thì lặn sâu, chim gặp thì bay cao, hươu nai gặp thì chạy xa. Bốn thứ đó đâu có con nào biết được cái sắc đẹp chính thức của thiên hạ đâu ? Ý của câu nói là : Cái mà người đời cho là đẹp thì phi cầm tẩu thú đâu có biết đó là đẹp; cái mà giống nầy cho là đẹp thì giống kia đâu có biết đó là đẹp ! Cái triết lý sâu xa của Trang Tử lại bị người đời sau hiểu lầm thành ý ngược lại. Người đời cho là cái đẹp của Mao Tường, Lệ Cơ (những người cùng thời với Tây Thi) đẹp đến nỗi cá thấy phải lặn sâu và chim thấy phải bay cao, thậm chí còn đem áp dụng vào Tứ Đại Mỹ Nhân 四大美人 của Trung Hoa cổ điển ngày xưa là: Trầm ngư, Lạc nhạn, Bế nguyệt, Tu hoa 沉魚,落雁,閉月,羞花 như sau :

 

                               

                             

 

 

 

 

                                       

 

                                          Tem Tứ Đại Mỹ Nhân của Trung Hoa cổ đại

 

           * TRẦM NGƯ là Tây thi, đẹp đến nỗi khi ra suối giặt lụa, cá thấy phải thẹn thùa mà lặn sâu xuống nước. 

           * LẠC NHẠN là Vương Chiêu Quân, khi ra cửa ải Nhạn Môn Quan, chim nhạn thấy nhan sắc của nàng đều rơi cả xuống sa mạc không bay lên nổi.

           * BẾ NGUYỆT là Điêu Thuyền, khi nàng bái nguyệt lúc đêm trăng, chị Hằng đã phải thẹn thùa mà trốn vào trong mây không dám hé mặt ra.

           * TU HOA là Dương Qúy Phi, khi đi dạo trong ngự hoa viên, đẹp nhất các loài hoa là hoa Mẫu Đơn cũng phải rủ xuống mà không dám khoe sắc trước mặt Dương Qúy Phi.

 

       Trong Cung Oán Ngâm Khúc, Ôn Như Hầu Nguyễn Gia Thiều cũng đã tả sắc đẹp của nàng cung phi dựa vào những tiêu chuẩn trên :

 

                    ... Chìm đáy nước CÁ lờ đờ LẶN,

                        Lửng da trời NHẠN ngẩn ngơ SA,

                        Hương trời đắm nguyệt say hoa,

                      Tây Thi mất vía, Hằng Nga giật mình !...

 

       Trong truyện Nôm Hoàng Trừu Công Chúa Đội Đèn thì gọi là CÁ GIÃY NHẠN SA :

 

                           Nào người cợt nguyệt cười hoa,

                      Nào người CÁ GIÃY NHẠN SA đâu rày ?!

 

                        
                                       

 

 

 

 

 

                               Trầm Ngư Lạc Nhạn  沉 魚 落 雁  

         

Nói thêm ...

        Trong Tứ Đại Mỹ Nhân thì ba người Tây Thi, Vương Chiêu Quân và Dương Qúy Phi là người có thật, có sử sách để khảo cứu. Còn ĐIÊU THUYỀN là nhân nhân vật hư cấu của La Quán Trung trong Tam Quốc Chí Diễn Nghĩa theo dạng tiểu thuyết lúc bấy giờ, chính sử không thấy nhắc đến tên.

        

       Con CÁ cuối cùng trong văn học cổ Việt Nam mà ta thường gặp là CÁ LONG DƯƠNG; không phải là con cá của ông vua dưới biển mà là của một người được phong là Long Dương Quân thời Chiến Quốc theo tích sau đây :

 

       Long Dương Quân cùng Ngụy Vương ngồi chung thuyền câu cá. Long Dương Quân câu được cá nhỏ cá lớn mấy chục con, rồi ngừng câu, ngồi buồn mà khóc. Ngụy Vương lấy làm lạ hỏi vì nguyên do gì mà khóc. Long Dương Quân đáp rằng :" Vì thần câu được nhiều cá cho đại vương mà buồn khóc". Ngụy Vương càng lấy làm lạ hơn hỏi vì sao, thì đáp rằng :" Lúc đầu thần câu được cá thì rất vui, càng về sau cá câu được càng lớn, thì thần lại muốn vứt bỏ số cá nhỏ câu được trước đó. Nay thần là kẻ tài hèn nhan sắc bình thường lại được đại vương trọng dụng, nhưng kẻ tài giỏi hơn, đẹp trai hơn trong thiên hạ lại rất nhiều, họ sẽ kéo đến mà quy thuận đại vương. Lúc đó thì chắc thần sẽ như là số phận của các con cá nhỏ chờ bị dứt đi mà thôi. Nghĩ thế, nên thần cảm thấy buồn mà khóc !". Ngụy Vương đáp :" Nhà ngươi nghĩ thế sao không nói cho ta biết ? Từ nay ta sẽ không tuyển dụng người đẹp khác nữa !". Nên ...

 

       CÁ LONG DƯƠNG là chỉ nhân tình thế thái, lòng người hay thay đổi, nay trọng mai khinh, có mới nới cũ như lời thơ trong Hoài Cổ Khúc :

 

                                   Nửa miếng đào chưa thương đã ghét,

                                   CÁ LONG DƯƠNG ai xét cho chừ ?!

 

                     
                     

 

 

 

 

 

                       Long Dương Quân người yêu của Ngụy An Ly Vương trong điện ảnh

 

 Nói thêm ...

           Long Dương Quân là câu truyện đồng tính luyến ái nổi tiếng trong lịch sử được ghi chép lại trong Ngụy Thư của Chiến Quốc Sách : Long Dương Quân là người đẹp trai nhất hậu cung, cả những cung phi đẹp gái nhất cũng phải ganh tị với anh chàng đẹp trai nầy vì anh ta rất được Ngụy An Ly Vương yêu qúy. Có lẽ đây là mối tình đồng tính luyến ái sớm nhất trong lịch sử Trung Hoa cổ đại. 

          

         Trở lại với con CÁ trong văn học dân gian, ta có các thành ngữ tục ngữ về CÁ như :

 

        - Cá Hóa Long : là con cá hóa thành con rồng, chỉ sự đổi đời hay sự thành công vượt bực mà khó ai ngờ trước được. Nhưng đối với cô gái Nam bộ chất phác nặng tình nặng nghĩa thì... tình nghĩa vẫn trên hết với câu ca dao :

                    Tiếc thay con cá hóa long,

                Hóa long không hóa hoá lòng thương anh !

 

        - Cá lớn nuốt cá bé : chỉ Quy luật của sự cạnh tranh, hay còn chỉ sự chèn ép ức hiếp của kẻ mạnh đối với kẻ yếu như : " Nước trong leo lẻo cá đớp cá !".

        - Cá mè một lứa : Chỉ sự ô hợp hay cùng một hoàn cảnh đẳng cấp xã hội.

        - Bắt cá hai tay: Chỉ sự tham lam muốn ôm đồm tất cả.

        - Chim trời cá nước: Chỉ hình ảnh của sự tự do phóng khoáng không bị gò bó.

        - Binh tôm tướng cá: Chỉ những người làm tay sai hay trợ thủ tầm thường.

 

  ... Và ví von với những câu ca dao :

 

                        Cá không ăn muối cá ươn,

                    Con cải cha mẹ trăm đường con hư !

 

  ... hay như anh học trò nghỉ hè về quê đi câu... không có cá :

 

                  Con cá không ăn câu...mồ cha con cá dại !

                  Cần câu tay anh cầm...nghĩ lại...con cá khôn !

 

              

              

        

 

 

 

 

       Còn một con CÁ của phương Tây được thả vào xã hội phương Đông mà lại rất được mọi người hâm mộ, nhất là ở Việt Nam ta, đó chính là con ... CÁ THÁNG TƯ : Theo công bố của Ủy ban Khảo sát Phát triển Thế giới của Liên Hiệp Quốc ngày hôm qua : Năm 2020, VIỆT NAM sẽ là con Rồng GIÀU nhất, MẠNH nhất của các nước vùng Đông Nam Á !

 

        Hẹn bài viết tới !

 

                                                                                                 Đỗ Chiêu Đức

Thơ NGUYỄN TRÃI 

    C. THƠ TỎ Ý CHÁN NẢN MUỐN VỀ NGHỈ HƯU. 

1. Bài thơ  NGẪU THÀNH :

 

  

 

 

 

 

 

  偶成                   NGẪU THÀNH

世上黃梁一夢餘,   Thế thượng Hoàng lương nhất mộng dư,

覺來萬事總成虛。   Giác lai vạn sự tổng thành hư.

如今只愛山中住,   Như kim chỉ ái sơn trung trú,

結屋花邊讀舊書。   Kết ốc hoa biên độc cựu thư.

 

* Chú Thích :

    - NGẪU THÀNH 偶成 : Ngẫu nhiên mà làm thành bài thơ. Ý muốn nói bài thơ là nỗi lòng của tác giả được hình thành một cách tự nhiên ngẫu hợp với tâm trạng của mình. Lòng đã muốn như thế nên mới hình thành lời thơ như thế. Nói là ngẫu nhiên làm thành chứ thực ra là do từ trong lòng mà làm ra đó vậy.

    - HOÀNG LƯƠNG NHẤT MỘNG 黃梁一夢 : Ta gọi là Một Giấc Kê Vàng, để chỉ những gì hư ảo như một giấc mộng, không thể thực hiện được, và thường dùng để chỉ vinh hoa phú qúy như một giấc mộng, chỉ ngắn ngủi trong khoảnh khắc, chớp mắt đã không còn gì cả, theo tích sau đây :

      Năm Đường Khai Nguyên thứ 7 (719), có chàng Lư Sinh thi rớt, cởi lừa về quê. Một hôm đi ngang qua đất Hàm Đan, ghé vào một lữ quán, gặp đạo sĩ Lữ Ông, đàm đạo rất tương đắc. Lư than bất đắc chí, Lữ Ông bèn đưa cho chàng chiếc gối bằng sành, sẵn thua buồn chàng bèn gối đầu lên gối mà ngủ, vừa lúc chủ quán vừa bắt nồi kê vàng (hoàng lương) lên nấu. Lư Sinh mộng thấy mình về quê cưới được Thôi Thị vừa đẹp lại vừa là con nhà giàu, lại thi đậu tiến sĩ, được thăng làm Thiểm Châu Mục, rồi Kinh Triệu Doãn. Cuối cùng vinh thăng Hộ Bộ Thượng Thơ kiêm Ngự Sử Đại Phu, Trung Thư Lệnh và cuối cùng được phong làm Yến Quốc Công. Năm đứa con đều được quan cao lộc cả, con gái thì gả vào nhà quyền qúy, Con cháu đầy nhà, vinh hoa phú qúy đến tột cùng. Đến năm 80 tuổi mới bị bệnh mà mất. Khi vừa đứt hơi, thì cũng chính là lúc Lư Sinh giật mình tỉnh dậy, thấy Lữ đạo sĩ vẫn còn ngồi đó, nồi kê vàng mà chủ quán đang nấu vẫn còn chưa chín. Lư Sinh chợt tỉnh ngộ, mấy mươi năm phú qúy vinh hoa rốt cuộc chỉ là một giấc mộng ngắn ngủi mà thôi !

 

                

   

 

 

 

 

- GIÁC LAI 覺來 : Tỉnh lại (sau giấc ngủ).

   - HƯ 虛 : là Trống không, không có gì cả !

   - KẾT ỐC 結屋 : Kết một căn nhà (bằng cỏ, bằng lá ....)

 

* Nghĩa bài Thơ :

 

        Cuộc sống trên đời nầy giống như là sau một giấc hoàng lương. Sau khi tỉnh lại rồi thì muôn việc đều là con số không. Như hiện nay thì ta chỉ thích ở ẩn trong núi, kết một gian nhà tranh cạnh những khóm hoa mà đọc sách cũ của ngày xưa mà thôi !

 

* Diễn Nôm :

                              NGẪU THÀNH

 

                  Cuộc đời vốn tựa giấc hoàng lương,

                  Tỉnh mộng muôn điều tựa khói sương.

                  Về núi thích sao bên hoa dại,

                  Kết tranh đọc sách chẳng buồn thương .

    Lục bát :

                  Người đời như giấc kê vàng,

                  Tỉnh ra muôn việc tan như mây trời.

                  Chi bằng về núi thảnh thơi,

                  Bên hoa kết mái tranh ngồi đọc thư.

 

                                                     Đỗ Chiêu Đức

 

2. Bài thơ VÃN LẬP :

    

          

   

晚立                   VÃN LẬP

長天漠漠水悠悠,   Trường thiên mạc mạc thủy du du,

黃落山河屬暮秋。   Hoàng lạc sơn hà thuộc mộ thu.

羨殺花邊雙白鳥,   Hâm sát hoa biên song bạch điểu,

人間累不到滄洲。   Nhân gian lụy bất đáo thương châu !

 

* Chú Thích :

    - VÃN LẬP 晚立 : VÃN là Buổi chiều gần tối; LẬP là Đứng. Nên VÃN LẬP là Đứng ngắm cảnh chiều tối.

    - HOÀNG LẠC 黃落 : là Vàng rụng, là Lá mùa thu vàng rơi rụng.

    - HÂM SÁT 羨殺 : HÂM là Hâm mộ; SÁT là giết, là chết. Sát ở đây là Phó Từ dùng để chỉ mức độ của Động từ. Nên HÂM SÁT là : Hâm Mộ muốn chết; Ý chỉ Rất là hâm mộ, Hâm mộ vô cùng !

    - NHÂN GIAN LỤY 人間累 : là Cái lụy phiền của nhân gian người đời.

    - THƯƠNG CHÂU 滄洲 : là Cồn bãi, thường ngụ ý dùng để chỉ nơi ở ẩn nhàn hạ.

 

* Nghĩa Bài Thơ :

                          ĐỨNG NGẮM TRỜI CHIỀU

 

       Trời rộng thênh thang mơ màng dưới dòng nước chảy lửng lờ. Lá vàng rụng đầy cả núi cả sông trời đã thuộc về cuối mùa thu rồi. Ta vô cùng hâm mộ đôi chim trắng bay lượn bên hoa đang nở rộ. Cái lụy phiền của nhân gian không thể đến được với mảnh đất thương châu nhàn nhã nầy !

 

* Diễn Nôm :

 

                    

                                  VÃN LẬP

 

                    Trời cao lồng lộng nước mênh mông,

                    Lá rụng chiều thu khắp núi sông.

                    Hâm mộ thay đôi chim trắng lượn,

                    Người đời phiền muộn khó chờ trông.

      Lục bát :

                    Trời cao rộng, nước mênh mông,

                    Lá vàng rụng khắp núi sông thu buồn.

                    Bên hoa chim trắng chập chờn,

                    Nhân gian phiền muộn chẳng còn nơi đây !

 

                                                                  Đỗ Chiêu Đức

 

3. Bài thơ ĐỀ SƠN ĐIỂU HÔ NHÂN ĐỒ

 

   

 

 

 

 

 

題山鳥呼人圖         ĐỀ SƠN ĐIỂU HÔ NHÂN ĐỒ 

深山寂寂鳥呼人,   Thâm sơn tịch tịch điểu hô nhân,

畫裏看來亦逼真。   Họa lý khán lai diệc bức chân.

閒掛午窗朝退日,   Nhàn quải ngọ song triều thoái nhật,

夢回疑是故園春。   Mộng hồi nghi thị cố viên xuân.

 

* Chú Thích :

    - SƠN ĐIỂU HÔ NHÂN 山鳥呼人 : là Chim trong núi mời gọi người.

    - BỨC CHÂN 逼真 : Sát với sự thật; (vẽ) Gần như thật.

    - TRIỀU THOÁI 朝退 : là Thoái Triều, lúc tan chầu vua ra về.

    - CỐ VIÊN 故園 : Vườn cũ, chỉ Quê xưa.

 

* Nghĩa Bài Thơ :

                       ĐỀ BỨC HỌA CHIM NÚI GỌI NGƯỜI

       Trong cảnh núi sâu vắng vẻ nầy tiếng chim như mời gọi người. Bức họa rất sống động xem gần như là cảnh thật vậy. Mỗi ngày khi tan chầu rảnh rổi ta treo nó trước song cửa để nhìn ngắm, mà ngỡ như mơ về vườn xuân nơi quê cũ.

 

* Diễn Nôm :

 

                 

 

                   ĐỀ SƠN ĐIỂU HÔ NHÂN ĐỒ

 

                Núi sâu vắng vẻ tiếng chim mời,  

                Tranh vẽ truyền thần cảnh thảnh thơi.

                Treo ở cửa song tan chầu ngắm,

                Ngỡ như quê cũ lúc xuân thời !

     Lục bát :

                Núi sâu vắng, tiếng chim kêu,

                Bức tranh như thật gợi nhiều ước mơ.

                Tan chầu treo ở song thơ,

                Vườn xuân quê cũ ngẩn ngơ mộng hồn !

 

                                                         Đỗ Chiêu Đức

 

4. Bài thơ ĐỀ ĐÔNG SƠN TỰ :

 

      

   

 

 

 

 

 

題東山寺                      ĐỀ ĐÔNG SƠN TỰ 

君親一念久嬰懷,   Quân thân nhất niệm cửu anh hoài,

澗愧林慚夙願乖。   Giản quý lâm tàm túc nguyện quai.

三十餘年塵境夢,   Tam thập dư niên trần cảnh mộng,

數聲啼鳥喚初回。   Sổ thanh đề điểu hoán sơ hồi.

 

* Chú Thích :

    - ĐÔNG SƠN TỰ 東山寺 : Tên một ngôi chùa tại xã Vĩnh Lũ, huyện Đông Triều, tỉnh Hải Dương.

    - QUÂN THÂN 君親 : QUÂN là Vua; THÂN là Cha mẹ; chỉ trung với vua và hiếu thảo với cha mẹ.

    - CỬU ANH HOÀI 久嬰懷 : Vấn vít mãi trong lòng.

    - TÀM QÚY 慚愧 : là Thẹn thùa. GIẢN 澗 là Khe nước trong núi; LÂM 林 là Rừng. Nên GIẢN QÚY LÂM TÀM 澗愧林慚 : là Thẹn với suối thẹn với rừng.

    - TÚC NGUYỆN 夙願 : Nguyện vọng ấp ủ từ lâu, là Lời nguyền cũ.

    - QUAI 乖 : là Láu lỉnh, Trái ngược.

    - SỔ 數 : SỔ (dấu hỏi) Động từ có nghĩa là Đếm; Hình Dung từ có nghĩa là Mấy; Danh từ đọc là SỐ (dấu sắc) : là Con số. Trong bài thơ là Hình Dung từ SỔ THANH 數聲là Mấy tiếng (chim kêu).    

 

* Nghĩa bài Thơ :

                                       ĐỀ ĐÔNG SƠN TỰ

       Cái quan niệm về Quân Thân lâu nay vẫn cứ vấn vít mãi trong lòng. Nên ta mới đành thẹn với suối với rừng mà đi ngược lại cái tâm nguyện lâu nay của mình. Hơn ba mươi năm lăn lóc trong cảnh trần đời thoáng qua như một giấc mộng. Mấy tiếng chim hót gọi dậy trong ta những nguyện ước lúc ban đầu.

 

      Như cụ Nguyễn Công Trứ đã nói "... Sắp hai chữ QUÂN THÂN mà gánh vác", nên Nguyễn Trải vẫn cứ phải bận lòng mãi với Trung với Hiếu mà đành thẹn với suối với rừng, không thực hiện được tâm nguyện của mình là về sống ấn cư nhàn tản với núi rừng như đã từng ao ước. Ba mươi mấy năm lăn lóc trong trường danh lợi, trong chốn quan trường, chợt nghe tiếng chim hót líu lo mới giật mình mà muốn quay đầu sống với những ước nguyện của buổi ban đầu : Về hưu hưởng nhàn !

 

* Diễn Nôm :

 

                 
                      

       

 

 

 

               ĐỀ ĐÔNG SƠN TỰ 

                 Vấn vít quân thân suốt một đời,

                 Thẹn cùng rừng núi lỡ rong chơi.

                 Ba mươi năm lẻ đời như mộng,

                 Mấy tiếng chim kêu chợt ngẩn người !

     Lục bát :

                 Quân thân ràng buộc một đời,

                 Thẹn cùng rừng núi sai lời nguyền xưa.

                 Ba mươi năm mấy nắng mưa,

                 Chim kêu tỉnh mộng như vừa hôm qua !

 

                                             Đỗ Chiêu Đức

 

5. Bài thơ HẢI KHẨU DẠ BẠC HỮU CẢM :

 

     

 

 

 

 

 

 海口夜泊有感        HẢI KHẨU DẠ BẠC HỮU CẢM 

湖海年來興未闌,    Hồ hải niên lai hứng vị lan,

乾坤到處覺心寬。    Càn khôn đáo xứ giác tâm khoan.

眼邊春色薰人醉,    Nhỡn biên xuân sắc huân nhân túy,

枕上潮聲入夢寒。    Chẩm thượng triều thanh nhập mộng hàn.

歲月無情雙鬢白,    Tuế nguyệt vô tình song mấn bạch,

君親在念寸心丹。    Quân thân tại niệm thốn tâm đan.

一生事業殊堪笑,    Nhất sinh sự nghiệp thù kham tiếu,

嬴得虛名落世間。    Doanh đắc hư danh lạc thế gian !

 

* Chú Thích :

    - HỨNG 興 : là Cảm hứng. Nếu đọc là HƯNG thì có nghĩa là Nổi dậy.

    - LAN 闌 : là Sắp hết, sắp tàn. HỨNG VỊ LAN 興未闌 : là Rất còn hứng thú chưa tàn phai. 

    - ĐÁO XỨ 到處 : Nơi mà ta đến, nên có nghĩa là KHẮP NƠI.

    - HUÂN 薰 : Có THẢO ĐẦU nên có nghĩa là một loại cỏ thơm, là Hơi thơm.

    - TRIỀU THANH 潮聲 : là Tiếng sóng.

    - THÙ 殊 : là Đắc biệt, là Chấm dứt. THÙ KHAM TIẾU 殊堪笑 : Là Chấm dứt một cách khá buồn cười.

    - LẠC 落 : là Rụng, Rơi, Rớt. LẠC THẾ GIAN 落世間 : là Còn Rơi rớt lại, còn để lại trên đời.

 

* Nghĩa Bài Thơ :

                             Cảm Hứng Đêm Đậu Thuyền Ở Cửa Biển

        Những năm gần đây sống kiếp hải hồ nhưng cái hứng vẫn chưa tàn; Cảnh trời đất khắp nơi đều làm cho lòng ta cảm thấy khoan khoái. Trước mắt ta mùi hương của sắc xuân làm say đắm lòng người, tiếng sóng trên sông nước đưa ta vào giấc ngủ lạnh lẽo. Ngày tháng qua đi một cách vô tình, khiến cho hai bên tóc mai đà bạc trắng, mà tấc lòng trung hiếu vẫn phải gìn giữ sắt son. Sự nghiệp một đời chấm dứt một cách đáng buồn cười, vì chỉ có được chút hư danh để lại cho thế gian mà thôi !

 

* Diễn Nôm :

                     HẢI KHẨU DẠ BẠC HỮU CẢM 

 

                   

 

                   

 

 

                   

 

                   Mấy năm hồ hải hứng chưa tàn,

                   Trời đất khắp nơi thảy chứa chan.

                   Xuân sắc thoảng hương người chếnh choáng,

                   Sóng sông đưa lạnh mộng lan man.

                   Vụt vù năm tháng đầu đà bạc,

                   Canh cánh hiếu trung dạ chửa an.

                   Sự nghiệp một đời cười chấm dứt,

                   Hư danh còn chút để dân gian !

      Lục bát :

                   Giang hồ cảm hứng chưa tàn,

                   Khắp nơi trời đất đều khoan khoái lòng.

                   Hương xuân ngây ngất mênh mông

                   Rì rào bên gối sóng sông mơ màng.

                   Bạc đầu năm tháng thời gian,

                   Hiếu trung giữ vẹn riêng mang tấc lòng.

                   Một đời sự nghiệp hư không,

                   Khẩy cười một tiếng theo dòng thế gian !

 

                                                   Đỗ Chiêu Đức

THÀNH NGỮ ĐIỂN TÍCH 31 :  

                                               

BÓNG

 

                                   

 

       

 

 

 

BÓNG chữ Nho gọi là ẢNH 影, nên Bóng của Người gọi là NHÂN ẢNH 人影. Theo Đạo Giáo thì đời sống chính thức của con người là ở trên...Trời, còn đời sống trước mắt ở thế gian nầy chỉ là cái hình chiếu, là Cái Bóng ở trên trời rọi xuống mà thôi, nên Ôn Như Hầu Nguyễn Gia Thiều đã viết trong "Cung Oán Ngâm Khúc" là :

 

                          Cái quay búng sẵn trên trời,

                     Mờ mờ NHÂN ẢNH như người đi đêm !

      

       Cái BÓNG đầu tiên mà ta thường thấy trong văn học cổ là BÓNG ÁC, BÓNG ÁC TÀ hay BÓNG TÀ đều có nghĩa giống như nhau. Theo sách Ngũ Kinh Thông Nghĩa 西漢劉向的五經通義 của Lưu Hướng đời Tây Hán đã dùng thuyết âm dương để miêu tả là trong mặt trăng có con Thiềm thừ 蟾蜍 (con Cóc), và Ngọc thố 玉兔 (Thỏ ngọc), còn trong mặt trời thì có con Kim Ô 金烏 (Quạ vàng hay Ác vàng) ba chân. Nên trong văn học cổ gọi mặt trăng là Thiềm Cung (cung của con Cóc ở) như trong truyện Nôm Trinh Thử :

 

                          THIỀM CUNG bóng đã tà tà,

                     Khuyên rằng mau trở lại nhà với con.

 

                

     ... hay còn gọi mặt trăng là Bóng Thỏ (Ngọc thố) như trong Cung Oán Ngâm Khúc của Ôn Như Hầu Nguyễn Gia Thiều :

 

                        Khi BÓNG THỎ chênh vênh trước nóc,

                        Nghe vang lừng tiếng giục bên tai.

 

        Và gọi mặt trời là Ác Vàng (Kim Ô) như bài học thuộc lòng trong Quốc Văn Giáo Khoa Thư :

 

                        ÁC VÀNG đang lúc tỏ trời,

                    Bỗng đâu mây kéo khắp nơi mịt mù.

                        Giông giục giục, gió vù vù,

                    Cây rung lá đổ lao xao chật đường ...

 

         Hay gọi mặt trời chiều là Bóng Tà như trong Truyện Kiều tả lúc Kim Kiều sơ ngộ trong Hội Đạp Thanh của Tiết Thanh Minh :

 

                        BÓNG TÀ như giục cơn buồn,

                    Khách đà lên ngựa người còn ghé theo !

 

        Vì mặt trời là Vầng Kim Ô, nên còn được gọi là BÓNG Ô, như trong truyện Trinh Thử :

 

                        Một niềm dạ sắt in vầng thỏ,

                        Mấy lúc lòng vàng chỉ BÓNG Ô.

 

       Hay gọi chung mặt trăng mặt trời là THỎ LẶN ÁC TÀ để chỉ ngày tháng qua đi một cách nhanh chóng vô tình, như khi Vương Quan kể lể về "Đạm Tiên nàng ấy xưa là ca nhi", nên khi đã "trâm gãy bình rơi" chết rồi thì chẳng ai đoái hoài :

 

                         Trải bao THỎ LẶN ÁC TÀ,

                     Ấy mồ vô chủ ai mà viếng thăm !

 

          
                     

 

 

                                 

                                  Thỏ lặn                                     Ác tà

 

       Riêng mặt trăng, do tích Hậu Nghệ Hằng Nga theo sách Hoài Nam Tử 淮南子: Hằng Nga (hay Thường Nga) là vợ của Hậu Nghệ đã lén chồng uống thuốc trường sinh của bà Tây Vương Mẫu ban cho Hậu Nghệ, nên thành tiên bay lên cung trăng ở trong cung Quảng Hàn, vì thế mặt trăng còn được gọi là Cung Quảng, Cung Nga hay BÓNG NGA ... như Thúy Kiều sau khi viếng mả Đạm Tiên và gặp Kim Trọng xong thì về nhà tối hôm đó đã : 

 

                        Một mình lặng ngắm BÓNG NGA,

                     Rộn đường gần với nỗi xa bời bời.

                        Người mà đến thế thì thôi,

                     Đời phồn hoa cũng là đời bỏ đi,

                        Người đâu gặp gỡ mà chi,

                     Trăm năm biết có duyên gì hay không ?

 

       BÓNG NGA còn dùng để chỉ người đẹp, như khi anh chàng Sở Khanh gặp người đẹp Thúy Kiều ở lầu Ngưng Bích, cụ Nguyễn Du đã viết về Thúy Kiều như sau :

 

                        BÓNG NGA thấp thoáng dưới mành,

                     Trông nàng chàng cũng ra tình đeo đai.

 

        Không gọi là BÓNG NGA thì gọi là BÓNG TỐ, như trong Hoa Tiên Truyện của Nguyễn Huy Tự và Nguyễn Thiện :

 

                        Chập chờn BÓNG TỐ trêu ai,

                     Hoa đâu rụng, lá đâu rơi trước rèm ?

   

       Không gọi là BÓNG TỐ thì gọi là BÓNG THỎ, như trong bài Nghĩ Thiên Vấn trong Phó Huyền Tập có câu : "Nguyệt trung hà hữu? Ngọc thố đảo dược 月中何有?玉兔捣药". Có nghĩa : Trong mặt trăng có gì? Có con thỏ ngọc giã thuốc. Như trên đã nói, trong Cung Oán Ngâm Khúc của Ôn Như Hầu có câu :

 

                       Khi BÓNG THỎ chênh vênh trước nóc,

                       Nghe vang lừng tiếng giục bên tai.

 

                 

       

 

 

Không gọi là BÓNG THỎ thì còn gọi là BÓNG QUẾ (hay Cung Quế, Đan Quế ...) do tích trong Dậu Dương Tạp Trở, chương Thiên Xích 酉陽雜俎·天咫 : Trong mặt trăng có cây quế, có thiềm thừ. Cây quế cao năm trăm trượng, dưới có một người cầm búa đốn cây quế nầy, nhưng chặt đến đâu thì cây lại liền ngay đến đó, Người đó tên là Ngô Cương, người đất Hà Tây, theo tu Đạo học tiên, nhưng vì phạm lỗi nên mới bị phạt đốn cây quế như thế" (Tương truyền Ngô Cương có tình ý với Hằng Nga, nên đến cung trăng để bày tỏ tình ý của mình, bị Ngọc Đế biết được nên mới phạt cho đốn cây quế ở cung trăng mãi mãi như thế). Trong Thơ Nôm bài 23 của Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm tả cảnh thiên nhiên cũng có tình ý như người. Ông muốn níu lại từng làn hương thoảng qua song cửa, ban đêm nâng chén rượu, ông hồi hộp sợ bóng trăng tan đi, không ở lại với mình, nên mới hạ câu :

 

                           Nương song, ngày tiếc mùi hương lạt,

                           Nối chén, đêm âu BÓNG QUẾ tan...

 

                   
         

       

 

 

 

     Để nuối tiếc cho thời gian qua nhanh một cách vô tình không chờ đợi vị nễ ai cả, ta có thành ngữ BÓNG CÂU QUA CỬA SỔ, như trong bài Thành Ngữ Điển Tích về chữ BẠCH, ta đã biết qua về câu nói của Trang Tử trong Tri Bắc Du《庄子·知北游: “人生天地之间,若白驹之过隙,忽然而已. Nhân sinh thiên địa chi gian, nhược Bach Câu chi Qúa Khích, hốt nhiên nhi dĩ ". Có nghĩa :" Con người sống trong trời đất cũng giống như là bóng ngựa trắng thoáng qua khe cửa, chỉ trong chốc lát mà thôi". Trong Cung Oán Ngâm Khúc của Nguyễn Gia Thiều có câu :

 

                      BÓNG CÂU thoáng qua mành mấy nỗi,

                      Những hương sầu phấn tủi sao xong.

 

       Để tả vẻ đẹp hấp dẫn gợi tình của nàng cung phi trong Cung Oán Ngâm Khúc ta còn đọc thấy câu :

 

                      BÓNG GƯƠNG lấp loáng trong mành,

                      Cỏ cây cũng muốn nổi tình mây mưa.

 

       Để chỉ những nàng con gái đẹp, những giai nhân ngày xưa, ta còn thấy từ BÓNG HỒNG. Từ nầy có xuất xứ từ từ Hồng Quần 紅裙 mà ra, vì ngày xưa các nàng con gái Trung Hoa đi ra ngoài hay mặc quần màu hồng, như cụ Nguyễn Du đã nói về chị em của Thúy Kiều là : "Phong lưu rất mực HỒNG QUẦN" vậy, nên BÓNG HỒNG là bóng dáng của những giai nhân, của những nàng con gái đẹp, cũng trong Truyện Kiều, khi Kim Trọng du xuân đạp thanh gặp chị em Thúy Vân Thúy Kiều, cụ Tiên Điền cũng đã viết :

 

                      BÓNG HỒNG nhác thấy nẻo xa,

                    Xuân lan thu cúc mặn mà cả hai !

 

      BÓNG XUÂN, Xuân là cây Xuân 椿, một loại cây cao bóng cả. Theo sách Trang Tử,chương Tiêu Dao Du 庄子·逍遥游: Thượng cổ hữu đại xuân giả; dĩ bát thiên tuế vi xuân; bát thiên tuế vi thu 上古有大椿者;以八千岁为春;八千岁为秋。Có nghĩa : Đời thượng cổ có cây xuân to; lấy tám ngàn năm là mùa xuân; tám ngàn năm là mùa thu. Nên người xưa lấy cây xuân nầy để chỉ người cha là cột trụ chống chỏi cho gia đình. Trong truyện cổ tích Thạch Sanh có câu :

 

                       Kể sao xiết nỗi khóc than,

                   BÓNG XUÂN lành lạnh, nhà lan rầu rầu.

 

      Thường thì trong văn học cổ gọi cha là XUÂN ĐƯỜNG 椿堂, Đường 堂 tiếng Anh là Hall, tiếng Việt không có từ tương đương để dịch, là cái phòng rộng vừa là phòng khách vừa là nơi thờ phượng tổ tiên, lại vừa nơi cha mẹ hay ngồi để cho con cháu vấn an. Trong Truyện Kiều, lúc đêm, khi Thúy Kiều khuyên Thúc Sinh về thăm vợ cả là Hoạn Thư, thì Thúc Sinh mới :

  

                      Rạng ra trình lại XUÂN ĐƯỜNG,

                  Thúc Ông cũng vội khuyên chàng quy gia.

         

       BÓNG CHIM TĂM CÁ là Bóng dáng của con chim và tăm hơi của con cá, cả hai thứ đều khó thể cầu mà có được, nên để diễn tả cái gì đó cách xa biền biệt không có âm hao tin tức gì cả ! CHIM ở đây là chim Hồng Nhạn, loài chim chuyên dùng để đưa thư; còn CÁ là cá Lý Ngư, theo sách Hán Thư, truyện Tô Võ 汉书·苏武传: Có ghi chép chuyện buộc thư vào chân chim nhạn để truyền tin; Hán. Thái Ung 汉·蔡邕: Trong bài thơ "Ẩm Mã Trường Thành Quật hành" có câu : Khách tòng viễn phương lai, Di ngã song lý ngư, trung hữu xích tố thư 客从远方来,遗我双鲤鱼,呼儿烹鲤鱼,中有尺素书. Có nghĩa : Khách từ phương xa đến, để lại cho ta hai con cá chép, trong bụng cá chép có tờ thư. Người đời sau ghép hai truyện trên vào với nhau thành CHIM CÁ để chỉ thư từ tin tức, nói cho êm tai thành thành ngữ bốn chữ là BÓNG CHIM TĂM CÁ, như trong Truyện Kiều tả lúc Kim Trọng đã thi đậu làm quan rồi muốn đi tìm Thúy Kiều, nhưng ...

 

                          Nghĩ điều trời thẳm vực sâu,

                     BÓNG CHIM TĂM CÁ biết đâu mà tìm !?

 

           

                                         

 

 

 

 

                                          Bóng chim tăm cá

       

      Trong truyện cổ tích dân gian "Con Tấm Con Cám" của ta thì có câu :

 

                   BÓNG BÓNG BANG BANG,

                   Lên ăn cơm vàng cơm bạc nhà ta,

                   Đừng ăn cơm hẩm cháo hoa nhà người !

 

      Như phần đầu đã nói...

      BÓNG là Ảnh 影, còn tia Chớp là Điện 電. Bỏ chữ Điện trước chữ Ảnh, ta có từ ĐIỆN ẢNH 電影 là Chớp Bóng. Nhờ Điện Chớp sáng ta mới thấy được Bóng, mà muốn thấy được Bóng cho rõ ràng thì Điện phải được chớp trong phòng tối... Từ đó hình thành thêm một nghệ thuật mới cho cuộc sống nhân sinh : Nghệ Thuật Thứ Bảy : là Điện Ảnh 電影 mà giới bình dân quen miệng gọi là "Đi xem CHỚP BÓNG!".

 

      Xin được kết thúc từ BÓNG ở đây. Hẹn bài viết tới !

 

                                                                              Đỗ Chiêu Đức

DỊCH THỦY TỐNG BIỆT

 

                                 

 

         

 

 

 

 

 

 

 

Sau khi đọc Giai Thoại Văn Chương : NGA, NGA, NGA ! Kính mời đọc tiếp 1 bài thơ tiêu biểu nữa của Lạc Tân Vương, một trong Tứ Kiệt ở buổi Sơ Đường :

 

     易水送別         DỊCH THỦY TỐNG BIỆT

 

    此地別燕丹,      Thử địa biệt Yên Đan

    壯士髮衝冠。      Tráng sĩ phát xung quan.

    昔時人已沒,      Tích thời nhân dĩ một,

    今日水猶寒。      Kim nhật thủy do hàn !

              駱賓王                    Lạc Tân Vương

 

* Xuất Xứ của Bài thơ :

       Năm nghi Phụng thứ 3 đời Đường Cao Tông (678), Lạc Tân Vương đang giữ chức Thị Ngự Sử, ông nhiều lần dâng sớ can gián làm phật lòng Võ Hậu, nên bị giam vào ngục. Mùa thu năm sau (679), ông được xá tội. Mùa đông năm đó ông đi về đất Yên (thuộc tỉnh Hà Bắc niện nay) làm Tham Quân trong một doanh trại, quyết lòng ra sức lập công báo quốc. Bài "Dịch Thủy Tống Biệt" được làm trong khoảng thời gian nầy khi ông đưa bạn qua dòng sông Dịch.

                              

                          

                        

 

 

 

                                           Cảnh đưa tiễn Kinh Kha trong phim ảnh

 

* Chú Thích :

    - DỊCH THỦY 易水 : Còn gọi là Dịch Hà 易河, tên một con sông nằm ở phía tây của Dịch Huyện thuộc tỉnh Hà Bắc, chia làm Nam Dịch Thủy và Bắc Dịch Thủy, là ranh giới phía nam của nước Yên thời Chiến Quốc, nơi mà thái tử Đan tiễn biệt Kinh Kha qua sông để đi thích khách Tần Thủy Hoàng.

    - YÊN ĐAN 燕丹 : là Thái tử Đan của nước Yên.

    - PHÁT XUNG QUAN 髮衝冠 : là Tóc dựng đứng đội cả mão trên đầu lên. Chỉ sự bi tráng khảng khái.

 

* Nghĩa Bài Thơ :

                                  Tiễn Đưa Trên Sông Dịch

        Ta đưa bạn ở nơi nầy, nơi mà Kinh Kha đã từng vẩy tay ly biệt với thái tử Đan của nước Yên. Người tráng sĩ ra đi (thích khách Tần Thủy Hoàng) bi hùng cảm khái đến nổi tóc dựng đứng đội cả mão lên. Bây giờ, người xưa tuy đã mất rồi, nhưng dòng nước nơi đây vẫn còn toát hơi lạnh lẽo.

 

        Bài thơ vừa tả thực (tiễn bạn), vừa hoài cổ (nhớ lại chuyện xưa), vừa như Vịnh Sử (nhắc ại một thiên lịch sử bi tráng hào hùng của Kinh Kha qua sông Dịch) và hàm súc cảm khái một cách bi hùng với hình ảnh "Tích thời nhân dĩ một, Kim nhật thủy do hàn !". Cái lạnh của dòng sông Dịch như làm sống lại cảnh đưa tiễn ngày xưa, và cũng làm cho ta nhớ đến bài ca của Cao Tiệm Ly đã hát trên bờ sông khi đưa tiễn bạn :

 

            Phong tiêu tiêu hề Dịch thủy hàn,     風蕭蕭兮易水寒,

            Tráng sĩ nhất khứ hề bất phục hoàn !  壯士一去兮不復還.

Có nghĩa :

            Gió hắt hiu ôi, bờ sông Dịch lạnh,

            Tráng sĩ một đi ôi, không còn trở lại !

 

  ... và lại làm cho ta nhớ đến bài TỐNG BIỆT HÀNH của nhà thơ Thâm tâm thời Tiền Chiến :

 

            Đưa người ta không đưa qua sông

            Sao có tiếng sóng ở trong lòng ?

            Bóng chiều không thắm, không vàng vọt,

            Sao đầy hoàng hôn trong mắt trong ?

 

    ... và trong bài VỌNG NHÂN HÀNH cũng của Thâm Tâm Nguyễn Tuấn Trình :

 

            Sông Hồng chẳng phải xưa sông Dịch

            Ta ghét hoài câu “nhất khứ hề”...

 

                   
  

* Diễn Nôm :

                      DỊCH THỦY TỐNG BIỆT

 

                      Nơi đây biệt Yên Đan,

                      Tráng sĩ giận căm gan.

                      Người xưa tuy đà mất,

                      Nước sông vẫn toát hàn !

        Lục bát :

                     Yên Đan giả biệt nơi nầy,

                     Anh hùng tóc dựng toát đầy bi ca.

                     Người xưa tuy đã lìa xa,

                     Hôm nay dòng nước la đà lạnh căm !

 

                                                          Đỗ Chiêu Đức

                                            

 

                          Nguyễn Trãi

                       

          

 

 

                                         Nguyễn Trãi 阮廌, 1380 – 19 tháng 9 năm 1442, hiệu là                                                 Ức Trai 抑齋, là người đã tham gia tích cực Khởi nghĩa                                               Lam Sơn do Lê Lợi lãnh đạo chống lại sự xâm lược của                                               nhà Minh với Đại Việt. Khi cuộc khởi nghĩa thành công                                               vào năm 1428, Nguyễn Trãi trở thành khai quốc công                                                   thần của triều đại quân chủ nhà Hậu Lê trong Lịch sử                                                 Việt Nam.

         

                                         Nguyễn Trãi có cha là Nguyễn Phi Khanh, con rể của quan

                                         Tư đồ Trần Nguyên Đán. Khi nhà Trần bị Hồ Quý Ly lật đổ lập nên nhà Hồ, Nguyễn Trãi tham gia dự thi, đỗ Thái học sinh năm 1400, Nguyễn Trãi làm quan dưới triều Hồ với chức Ngự Sử Đài Chính Chưởng. Khi nhà Minh xâm lược, cha ông là Nguyễn Phi Khanh và ông đầu hàng rồi bị bắt giải về Trung Quốc. Sau khi đất nước rơi vào sự cai trị của nhà Minh, Nguyễn Trãi tham gia vào cuộc khởi nghĩa Lam Sơn do Lê Lợi lãnh đạo chống lại sự thống trị của nhà Minh. Ông trở thành mưu sĩ của nghĩa quân Lam Sơn cũng như soạn thảo các văn thư ngoại giao với quân nhà Minh. Ông tiếp tục phục vụ dưới triều đại vua Lê Thái Tổ và Lê Thái Tông với chức vụ Nhập Nội Hành Khiển và Thừa Chỉ.

         Năm 1442, toàn thể gia đình Nguyễn Trãi bị kết án tru di tam tộc trong vụ án Lệ Chi Viên. Năm 1464, vua Lê Thánh Tông xuống chiếu ân xá cho ông. Nguyễn Trãi là một nhà văn hoá lớn, có công đóng góp to lớn vào sự phát triển của văn học và tư tưởng Việt Nam.

        "Ức Trai Thi Tập" là tập thơ bằng chữ Hán của Nguyễn Trãi, gồm 105 bài thơ, trong đó có thể chia làm 5 phần sao đây : 

                        A. Thơ trước khi thành danh.

                        B. Thơ sau khi đã thành danh.

                        C. Thơ tỏ ý chán nản muốn về hưu.

                        D. Thơ làm trong thời ở ẩn tại Côn Sơn.

                        E. Thơ làm trong thời sang Trung Quốc.

     Sau đây là các bài thơ tiêu biểu cho các thời kỳ nêu trên.

 

A.  THƠ LÀM TRƯỚC KHI THÀNH DANH.             

1. Bài thơ THÍNH VŨ :

     

  聽雨                         Thính Vũ

寂寞幽齋裏,   Tịch mịch u trai lý,

終宵聽雨聲。   Chung tiêu thính vũ thanh.

蕭騷驚客枕,   Tiêu tao kinh khách chẩm,

點滴數殘更。   Điểm trích sổ tàn canh.

隔竹敲窗密,   Cách trúc xao song mật,

和鐘入夢清。   Hòa chung nhập mộng thanh.

吟餘渾不寐,   Ngâm dư hồn bất mị,

斷續到天明。   Đoạn tục đáo thiên minh !

* Chú Thích :

     - U TRAI 幽齋 : là Thư trai u tịch, là Phòng học yên ắng vắng vẻ.

     - CHUNG TIÊU 終宵 : là Thâu đêm suốt sáng.

     - TIÊU TAO 蕭騷 : Tiếng Xào Xạc của gió khua vào cây lá (làm buồn lòng người nghe) như khi Thúy Kiều đàn cho Kim Trọng nghe xong, thì Kim đã nhận xét rằng :

                                        Lựa chi những khúc Tiêu Tao,

                               Thiệt lòng mình cũng nao nao lòng người !

    - NGÂM DƯ 吟餘 : là Sau lúc trầm ngâm.

    - HỒN 渾 : là Hầu như, gần như ...

    - BẤT MỊ 不寐 : là Không ngủ được.

    - ĐOẠN TỤC 斷續 : Đoạn là Đứt, Tục là Nối. Ở đây chỉ Mưa tạnh rồi lại mưa, mưa rồi lại tạnh, cứ thế đến trời sáng (Đáo thiên minh).

* Nghĩa Bài Thơ :

                         ĐÊM NGHE MƯA

      Trong cái thư phòng tịch mịch vắng vẻ nầy, ta nghe tiếng mưa rơi suốt cả đêm dài. Tiếng gió thổi cây lá xạc xào luôn kinh động bên gối, từng giọt từng giọt mưa thánh thót như đếm thời gian đến canh tàn. Tiếng các giọt mưa đập rào rào vào song cửa cách bụi tre hoà vào tiếng chuông chùa văng vẳng đưa ta chập chờn vào mộng. Trầm ngâm mãi nhưng hầu như vẫn không ngủ được, tiếng mưa cứ tạnh rồi lại mưa mưa rồi lại tạnh cho đến khi trời sáng hẵn.

* Diễn Nôm :

 

      

                  NGHE MƯA

            Trong thư trai lặng ngắt,

            Suốt đêm nghe mưa rơi.

            Xạc xào kinh động khách,

            Thánh thót suốt canh rồi.

            Đồm độp bên song trúc,

            Văng vẳng tiếng chuông hời.

            Trầm ngâm hoài không ngủ,

            Rả rít đến sáng trời !

   Lục bát :

            Thư trai vắng vẻ đìu hiu,

            Suốt đêm mưa đổ gợi nhiều vấn vương.

            Xạc xào bên gối canh trường,

            Tiếng mưa thánh thót sầu vương canh chầy.

            Ngoài song tre dập mưa rơi,

            Tiếng chuông hòa điệu lơi lơi mộng hồn.

            Trầm ngâm khôn ngủ mưa buồn,

            Chợt rơi chợt tạnh mưa luồn sáng đêm.

                                                       Đỗ Chiêu Đức

2.        Ký Hữu 

        

* BẢN CHỮ HÁN CỔ CỦA BÀI THƠ :

                         寄友

                  亂後親朋落葉空, 
                  天邊書信斷秋鴻。 
                  故園歸夢三更雨, 
                  旅舍吟懷四壁蛩。 
                  杜老何曾忘渭北, 
                  管寧猶自客遼東。 

                  越中故舊如相問, 

                  為道生涯似轉蓬。

                                                   阮廌

* PHIÊN ÂM:

             Loạn hậu thân bằng lạc diệp không, 
             Thiên biên thư tín đoạn thu hồng. 
             Cố viên quy mộng tam canh vũ, 
             Lữ xá ngâm hoài tứ bích cùng. 
             Đỗ lão hà tằng vong Vị Bắc, 
             Quản Ninh do tự khách Liêu Đông. 
             Việt Trung cố cựu như tương vấn, 
             Vị đạo sinh nhai tự chuyển bồng.

                                                    Nguyễn Trãi  

* CHÚ THÍCH:

    a) THIÊN BIÊN: là Bên trời, chỉ xa xôi cách trở.
    b) THU HỒNG: HỒNG 鴻 ở đây là HỒNG NHẠN 鴻雁 : Loài chim chuyên dùng để đưa thư. THU HỒNG là Cánh hồng nhạn đưa thư trong mùa Thu.
    c) CỐ VIÊN QUY MỘNG: Mơ về vườn cũ, tức là Mơ về quê cũ.
    d) LỮ XÁ NGÂM HOÀI:  là Lòng trầm ngâm ở nơi quán trọ.
    e) TỨ BÍCH CÙNG: TỨ BÍCH là Bốn bức vách tường, CÙNG là Loài Côn Trùng như Dế, Bù Cào, Châu Chấu... TỨ BÍCH CÙNG: là Bốn bề đều có tiếng côn trùng kêu ra rả.      
    f) Đỗ Lão :

       (hay Lão Đỗ) Thi thánh Đỗ Phủ đời Thịnh Đường, đồng thời với Thi Tiên Lý Bạch, được mệnh danh Lão Đỗ để phân biệt với nhà thơ trẻ đời Tàn Đường Đỗ Mục (gọi là Tiểu Đỗ). 
    g) Vị Bắc :

        Bờ bắc sông Vị.  Sông này phát nguyên từ núi Điểu Thử, huyện Vị Nguyên, tỉnh Cam Túc, chảy qua tỉnh Thiểm Tây rồi đổ vào sông Hoàng Hà. Tác giả ngụ ý tình bạn giữa Đỗ Phủ và Lý Bạch, dựa theo hai câu thơ sau đây của Đỗ trong bài Xuân Nhật Hoài Lý Bạch: "Vị Bắc xuân thiên thụ, Giang Nam nhật mộ vân" (Cây cảnh trời xuân bờ Vị Bắc, Ánh mây chiều muộn đất Giang Nam) ý nói có thần giao cách cảm, Đỗ nhìn bờ Vị Bắc nhớ Lý, hẳn Lý cũng nhìn mây đất Giang Nam mà nhớ Đỗ. 
    h) Quản Ninh :

        Tác giả đề cập khí phách của Quản Ninh, dân đất Ngụy thời Tam Quốc. Thiếu thời, đang cùng ngồi học chung chiếu với bạn là Hoa Hâm, bỗng một hôm Hoa Hâm bỏ chạy ra đường nhìn xem kẻ giàu sang cưỡi ngựa đi qua nên Quản Ninh cắt đôi chiếc chiếu, không chịu ngồi chung nữa. Cuối đời Hán, Quản Ninh tỵ loạn 37 năm ở Liêu Đông, từ chối mọi quan chức do hai vua Văn Đế và Minh Đế ban cho ông.

    i) Việt Trung : Kinh đô nước Việt ngày xưa thuộc tỉnh Triết Giang (Trung Quốc), sau bị nhà Hán thôn tính. Tác giả ngụ ý nhắc đến quê hương Việt Nam lúc bấy giờ.

    j) VỊ ĐẠO : là Hãy nói rằng, Hãy đáp rằng.
    k) TỰ CHUYỂN BỒNG: Xoay chuyển giống như là cỏ bồng, dật dờ vô định. 

* DỊCH NGHĨA :

      Sau loạn lạc bà con bạn bè thưa thớt như những chiếc lá mùa Thu rơi rụng.
      Chân trời góc bể dứt hẵn bóng chim hồng nhạn mùa Thu đưa thư. (Chữ ĐOẠN ở đây làm ta nhớ đến câu thơ của NGUYỄN DU trong Kiều: Cạn dòng là thắm DỨT đường chim xanh!)

      Canh ba nửa đêm mưa rả rích làm mộng hồn cứ luôn mơ về quê cũ. 

     Trong quán trọ lòng cứ trầm ngâm mãi giữa bốn bức vách luôn vang dậy tiếng côn trùng.      

      Lão Đỗ đâu có khi nào quên được bờ bắc của sông Vị đâu.
      Quản Ninh vẫn còn là thân đất khách của xứ Liêu Đông.
      Giá có bạn bè thân quen cũ ở đất Việt Trung xưa hỏi thăm.
      Xin hãy đáp rằng cuộc sống còn xoay chuyển giống như là cỏ bồng, dật dờ vô định.

* DIỄN NÔM:

                        GỞI BẠN 

 

          

            Sau loạn bạn bè tựa lá rơi,
            Ngút  trông tin nhạn biệt bên trời.
            Nửa đêm quê cũ lòng luôn nhớ,
            Bốn phía côn trùng dạ chẳng nguôi.
            Vị Bắc Đỗ già hằng khoắc khoải,
            Liêu Đông chàng Quản luống bồi hồi.
            Việt Trung thân hữu như thăm hỏi,
            Hãy đáp cuộc đời lắm nổi trôi !

Lục bát :

           Sau loạn thân hữu dần thưa,

           Bên trời nhạn bặc biếng đưa thư hồng.

           Đêm mưa quê cũ vời trông,

           Bốn bề lữ quán côn trùng ngâm nga.

           Đỗ già Vị bắc nhớ nhà,

           Quản Ninh như khách la cà Liêu Đông.

           Bạn bè thăm hỏi Việt Trung,

           Đáp rằng thân hãy phiêu bồng nổi trôi !

                                                      Đỗ Chiêu Đức

3. Bài thơ LOẠN HẬU ĐÁO CÔN SƠN CẢM TÁC .         
 

         

 

 

 

 

 

 

 

LOẠN HẬU ĐÁO CÔN SƠN CẢM TÁC          亂後到崑山感作

Nhất biệt gia sơn kháp thập niên,              一別家山恰十年
Quy lai tùng cúc bán tiêu nhiên.                 歸來松菊半翛然
Lâm tuyền hữu ước na kham phụ,             林泉有約那堪負
Trần thổ đê đầu chỉ tự liên.                        塵土低頭只自憐
Hương lý tài qua như mộng đáo,               鄉里纔過如夢到
Can qua vị tức hạnh thân tuyền.                干戈未息幸身全
Hà thời kết ốc vân phong hạ,                      何時結屋雲峰下
Cấp giản phanh trà, chẩm thạch miên      汲澗烹茶枕石眠


* CHÚ THÍCH :

           Côn Sơn : Một ngọn núi ở xã Chí Ngại, huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương (Bắc Việt), trên núi có động Thanh Hư, dưới có cầu Thấu Ngọc, đều là thắng cảnh (theo sách Quảng Dư Chí). Đời Trần, Trúc Lâm thiền sư dựng am ở đây, và trạng nguyên Lý Đạo Tái (tức sư Huyền Quang) sau khi từ chức trở về nhập thiền và trụ trì chùa Ân Tứ ở núi này. Triều Trần, quan Tư đồ Trần Nguyên Đán, ông ngoại của Nguyễn Trãi, thường ngâm thơ uống rượu ở núi Côn Sơn sau khi từ chức vì can gián Hồ Quý Ly chuyên quyền mà không được. Tác giả từng thừa hưởng cơ ngơi của ngoại tổ.
1. GIA SƠN家山 : Nhà ở trên núi, thay vì nói GIA HƯƠNG là Quê Hương, thì ông nói là GIA SƠN vì Quê hương của ông là Vùng Núi.
2. KHÁP 恰 : Phó Từ chỉ Vừa Vặn, Đúng Lúc.
3. NA KHAM 那堪 : Đây là từ BẠCH THOẠI lẫn trong VĂN NGÔN, tức là Văn nói lẫn trong Văn Viết. Tiếng Hán Hiện Đại vẫn còn sử dụng từ nầy. Có nghĩa : Làm sao mà..., Làm sao có thể...
NA KHAM PHỤ : Làm sao mà Phụ rãi cho đành. Làm sao mà có thể quên được !
4. TÀI QÚA 纔過 : Phó Từ, cũng là Bạch Thoại, Tiếng Hán Hiện Đại còn rất thông dụng từ nầy trong Đàm Thoại.
TÀI QÚA : là Mới vừa qua. Đáng lẽ phải đọc là TÀI QUÁ, như DƯƠNG QUÁ
trong Thần Điêu Hiệp Lữ của KIM DUNG vậy, có bản
dịch là DƯƠNG QUA. Tất cả đều do bằng trắc mà thôi !
5. CAN QUA 干戈 : CAN là Cái Mộc để đở, QUA là ngọn Giáo để đâm. Một đâm một đở, chỉ sự đánh nhau, nên CAN QUA nghĩa rộng là CHIẾN TRANH.           

* DỊCH NGHĨA :

                           CẢM TÁC ĐẾN CÔN SƠN SAU BUỔI LOẠN LY.
           Rời xa quê hương vùng núi nầy thoắt cái mà đã mười năm rồi. Nay về thăm lại thì hỡi ôi những cây tùng và các khóm hoa cúc ngày xưa đều đã tiêu điều quá nửa. Nhưng vì có ước hẹn trước với rừng xanh và dòng suối nơi đây cho nên phải quay trở lại ( không nở phụ ước ), cúi đầu nhìn xuống đất quê nơi cố thổ mà tự cảm thương thân mình lưu lạc . Làng xóm năm xưa vừa thoáng qua như trong cơn mộng, chiến tranh còn dai dẵng chưa yên, may mà thân mình vẫn còn được bảo toàn. Không biết đến bao giờ thanh bình để được kết một mái tranh dưới đĩnh núi phủ đầy mây trắng nầy, lấy nước suối để pha trà và gối đầu lên các tảng đá mà ngủ ( 1 giấc cho ngon lành !).

* DIỄN NÔM :

Quê nhà cách biệt thoắt mười năm,
Tùng cúc tiêu điều trở gót thăm.
Hẹn ước lâm tuyền sao phụ rãy,
Cúi đầu cố thổ những bâng khuâng.
Xóm làng như mộng vờn qua đó,
Chinh chiến chưa yên chẳng lụy thân.
Ước dưới núi mây ta kết cỏ,
Suối trà gối đá ẩn lều tranh !

Lục bát :

Xa quê thoắt đã mười năm,
Tiêu điều tùng cúc âm thầm xót xa.
Lâm tuyền ước hẹn cùng ta,
Cúi nhìn đất Tổ quê Cha chợt buồn.
Xóm làng như mộng vấn vương,
Chiến tranh dai dẳng xót thương thân mình.
Khi nào dưới núi kết tranh,
Suối trà gối đá rừng xanh ngủ vùi !

                                            Đỗ Chiêu Đức.

 

 
 

 4. Bài thơ : Quy Côn Sơn chu trung tác 

* Bản chữ Hán cổ của bài thơ :

 歸昆山舟中作            QUY CÔN SƠN CHU TRUNG TÁC

                 阮廌                                           Nguyễn Trãi

十年飄轉嘆蓬萍,   Thập niên phiêu chuyển thán bồng bình,

歸思搖搖日似旌。   Quy tứ dao dao nhật tự tinh. 

幾托夢魂尋故里,   Kỷ thác mộng hồn tầm cố lý,

空將血淚洗先塋。   Không tương quyết lệ tẩy tiên doanh.

兵餘斤斧嗟難禁,   Binh dư cân phủ ta nan cấm,

客裡江山只此情。   Khách lý giang sơn chỉ thử tình.

鬱鬱寸懷無奈處,   Uất uất thốn hoài vô nại xứ,

船窗推枕到天明。   Thuyền song thôi chẩm đáo thiên minh. 

* Chú Thích :

    - Phiêu Chuyển 飄轉 : Phiêu bạc chuyển động, có nghĩa Trôi nổi không ở yên một chỗ.

    - Thán Bồng Bình 嘆蓬萍 : Than cho thân mình như cỏ bồng bay phất phơ, như cánh bèo trôi nổi.

    - Dao Dao Nhật Tự Tinh 搖搖日似旌 : Phất phơ như cờ bay trong nắng gió.

    - Kỷ Thác 幾托 : Mấy lần gởi gắm, Mấy độ ký thác ...

    - Tẩy Tiên Doanh 洗先塋 : Tẩy rửa quét dọn mồ mả Tổ Tiên.

    - Cân Phủ 斤斧 : là Rìu, Búa. Ở đây chỉ Vũ Khí (rơi rớt).

    - Vô Nại 無奈 : Không biết phải làm gì; Không biết làm sao cho phải...

    - Thôi Chẩm 推枕 : là Đẩy gối; Ý nói trăn trở mãi không ngủ được nên gối bị đẩy lêch sang một bên.

* Nghĩa Bài Thơ :

                   CẢM TÁC TRONG THUYỀN VỀ CÔN SƠN

       Mười năm phiêu bạc trôi nổi đó đây như cỏ bồng như bèo nước. Lòng nhớ quê cứ canh cánh như ngọn cờ mãi phất phơ trong nắng. Đã biết mấy lần gởi gắm mộng hồn tìm về nơi quê cũ. Nhưng cũng chỉ tẩy rửa được mộ phần của Tổ Tiên khơi khơi bằng huyết lệ của kẻ tha hương mà thôi. Sau cuộc binh đao khó mà tránh được sự rơi rớt của búa rìu vũ khí (gây nên cướp bóc bạo lực). Nơi đất khách chút lòng đối với quê hương cũng chỉ có thế nầy mà thôi. Nên chi lòng cứ u uất mãi không biết phải làm sao cho phải, trăn trở mãi lệch cả gối chăn vẫn không ngủ được cho đến khi ngoài khoang thuyền trời đà sáng tỏ. 

*.Diễn Nôm :

                TRONG THUYỀN VỀ CÔN SƠN CẢM TÁC

                   Mười năm phiêu bạc tựa bèo trôi,

                   Thôi thúc lòng quê biết mấy hồi.

                   Gởi mộng cố hương hồn kiếm lối,

                   Rửa mồ tiên tổ lệ tuôn rơi.

                   Tàn binh đao kiếm khôn lường được,

                   Đất khách núi sông chỉ thế thôi.

                   U ẩn tấc lòng canh cánh mãi,

                   Suốt đêm trăn trở mặc thuyền trôi !

  Lục bát :

                  Mười năm trôi nổi bình bồng,

                  Cố hương lòng những ngóng trông ngày về.

                  Mấy lần hồn mộng tìm quê,

                  Không tuôn máu lệ nhớ về Tổ tiên.

                  Loạn binh đao kiếm triền miên,

                  Đành thân đất khách chút riêng tình nầy.

                  Lòng buồn biết nói sao đây,

                  Khoang thuyền gối lệch hây hây sáng trời !

                                                                Đỗ Chiêu Đức

                   

5. Bài thơ LONG ĐẠI NHAM :

   龍岱岩                              LONG ĐẠI NHAM

去年虎穴我曾窺,   Khứ niên hổ huyệt ngã tằng khuy,

龍岱今觀石窟奇。   Long Đại kim quan thâch quật kỳ.

鰲負出山山有洞,   Ngao phụ xuất sơn sơn hữu động,

鯨遊塞海海為池。   Kình du tái hải hải vi trì.

壼中日月天難老,   Hồ trung nhật nguyệt thiên nan lão,

世上英雄此一時。   Thế thượng anh hùng thử nhất thì.

黎范風流嗟漸遠,   Lê Phạm phong lưu ta tạm viễn,

青苔半蝕璧間詩。   Thanh đài bán thực bích gian thi. 

         

* Chú Thích :

    - Long Đại Nham 龍岱岩 : Nham là Nham Thạch, là Đá núi; nên Long Đại Nham là  Núi Long Đại.

    - Khuy 窺 : là Nhìn, Ngắm, Dòm ngó.

    - Thạch Quật 石窟 : là Hang đá, nghĩa như Thạch Động.

    - Ngao 鰲 : là Cá Ngao, đúng ra là một loại Ba Ba biển khổng lồ.

    - Kình 鯨 : là Cá Ông, cá Voi, loài cá lớn nhất trong các loài cá.

    - Hồ Trung Nhật nguyệt 壼中日月 : là Mặt trăng mặt trời trong hồ lô. Theo sách Lão Giáo, xưa có một người tên là Trương Thân, đặc biệt có một cái bầu lớn có thể hoá thành trời đất, trong có mặt trời mặt trăng, đêm chui vào đấy mà ngủ, gọi là hồ thiên, là trời ở trong bầu, do đó ta mới thường nói là Bầu Trời.

    - Lê Phạm 黎范 : Là hai nhân vật: Lê Quát, tự là Bá Quát, quê tỉnh Hải Dương, và Phạm Sư Mạnh, quê ở tỉnh Thanh Hoá, hai vị quan Nho Gia, thi sĩ thường cùng nhau ngâm vịnh. Do đó thời bấy giờ người ta thường gọi Lê Phạm để nói về đức tài của hai ông, đặc biệt hai ông đều cùng là môn sinh của Chu Văn An, và đều cùng làm quan đến chức Nhập Nội Hành Khiển (Thượng Thư).

    - Thực 蝕 : là Bị ăn. Trong bài thơ có nghĩa là Xâm Thực 侵蝕, tức bị bào mòn bởi thời gian và mưa gió.

* Nghĩa Bài Thơ :

                                                 NÚI LONG ĐẠI

      Năm ngoái ta đã từng dòm ngó nơi xào huyệt hang hùm; Năm nay ta lại được nhìn ngắm hang động kỳ bí của núi Long Đại, làm ta chợt nhớ đến những con Ba Ba lhổng lồ có thể nâng nổi núi đá để bày ra hang động, và cá kình lội trong biển làm cho biển giống như là cái ao nhà. Trời đất riêng trong hồ lô nhật nguyệt cũng khó mà già đi, cũng như anh hùng hảo hán ở trên đời nầy cũng chỉ là trong một lúc mà thôi! Và cũng như cái phong lưu tài hoa của Lê Quát và Phạm Sư Mạnh cũng lùi xa vào dĩ vãng một cách đáng tiếc. Tương tự như bài thơ trên vách đá đã bị xâm thực mà mòn mất hết phân nửa đi rồi !

      Nguyễn Trãi đã khéo lợi dụng tên núi Long Đại để đưa vào điển tích Bồng lai với "Người Long Bá câu Ngao trong Bột Hải". Mời đọc lại : THÀNH NGỮ ĐIỂN TÍCH 19 : BỒNG LAI TIÊN CẢNH. 

* Diễn Nôm :

                       NÚI LONG ĐẠI  

 

               
      

             

 

 

 

              Năm ngoái đã từng dòm hổ huyệt,

             Năm nay Long Đại ngắm non cao.

             Ngao nâng núi đá sanh hang động,

             Kình lội biển sâu trông tựa ao.

             Nhật nguyệt trong bầu trời vẫn trẻ,

             Anh hùng cái thế chẳng ra sao.

             Phong lưu Lê Phạm đà xa tít,

             Vách đá thơ đề đã nửa hao !

   Lục bát :

             Từng dòm hổ huyệt năm qua,

             Năm nay Long Đại ngắm xa động kỳ.

             Ngao nâng núi đá hang chi,

             Kình ra bể lớn khác gì về ao.

             Trong bầu nhựt nguyệt trẻ sao,

             Anh hùng cái thế khác nào thường dân.

             Phong lưu Lê Phạm xa dần,

             Rêu phong hơn nửa vách trần đề thơ.

 

                                                                 ĐCĐ

 

  Mời xem phần "B. THƠ LÀM SAU KHI THÀNH DANH" ở bài kế tiếp.

                                                    

 

                                                                                        Đỗ Chiêu Đức

 

 

 

 

Điển Tích Văn Học 25:

                                Ả                                                         

                              

           

                                     

 

 

 

 

 

 

 

 

Ả vừa là Danh Từ, vừa là Phiếm chỉ Đại từ để chỉ phái yếu, như những câu thơ mà Nguyễn Trãi đã bỡn cợt khi gặp Thị Lộ :

                       Ả ở đâu mà bán chiếu gon,

                       Chẳng hay chiếu ấy hết hay còn,

                       Xuân xanh phỏng độ chừng bao tuổi, 

                       Đã có chồng chưa được mấy con ?

                                                                             

    Đôi khi Ả được dùng để chỉ sự xem thường, như "Mấy ả bạn hàng", hay tỏ vẻ khinh miệt như "Những Ả gái điếm"... Nhưng trong đàm thoại bình thường thì Ả là từ dùng để chỉ Các Bà, Các Cô, như :

 

                      Tại anh tại Ả, tại cả hai đàng.

 

    Trong Văn học Cổ thì sau từ Ả thường có thêm những Bổ túc từ như : Ả Chức, Ả Hằng, Ả Lý, Ả Tạ ... Ta sẽ lần lược tìm hiểu các Ả sau đây :

 

    * Ả CHỨC : Hay đi với Chàng Ngưu, nên Ả Chức tức là Chưa Nữ đó. CHỨC NỮ 織女 vốn là tên một ngôi sao nằm ở phía bắc sông Ngân Hà, đối diện với sao KHIÊN NGƯU 牽牛 ( dắt trâu ). Chức Nữ và Khiên Ngưu (còn gọi là Ngưu Lang) lại là tên của hai nhân vật thần thoại theo điển tích sau đây :

     

     Theo "Kinh Sở Tuế Thời Ký 荊楚歲時記" : Chức Nữ là cháu của Ngọc Đế, rất giỏi nghề dệt vải. Trốn xuống trần kết duyên cùng Ngưu Lang, Sanh được một trai một gái. Tây Vương Mẫu giận, xuống trần bắt Chức Nữ về trời, Ngưu Lang dắt con đuổi theo. Tây Vương Mẫu rút trâm vạch thành dải Ngân Hà ngăn cách hai người, mỗi năm phải nhờ chim ô thước (Qụa đen, Chim khách) bắt cầu mới gặp mặt được một lần. Đó chính là đêm mùng 7 tháng 7 Âm lịch, nên còn gọi là đêm Thất Tịch 七夕. Vợ chồng gặp nhau, vui mừng than khóc, nước mắt đổ xuống trần gian thành mưa. Nhân gian gọi đó là "Mưa Ngâu tháng bảy" hay " Tháng bảy mưa Ngâu" cũng thế.

                       
                                       

 

 

 

 

 

 

 

 Ngưu Lang Chức Nữ 

 

     Trong Cung Oán Ngâm Khúc của Ôn Như Hầu có câu :

 

                              Chữ đồng lấy đấy làm ghi, 

                       Mượn điều Thất Tịch mà thề bách niên.  

 

     Trong Lục Vân Tiên của Nguyễ Đình Chiểu cũng có câu :

 

                              Hữu tình chi bấy Ngưu lang,

                      Tấm lòng Chức Nữ vì chàng mà nghiêng.            

      

      Trong Chinh Phụ Ngâm Khúc khi tả tâm sự của của ngàng chinh phụ thương nhớ chồng, nữ sĩ Đoàn Thị Điểm cũng đã hạ câu :

 

                   Khác gì ả Chức, chị Hằng,

             Bến Ngân sùi sụt, cung trăng chốc mòng.

 

      Chị Hằng ở trong câu thơ trên, còn được gọi là ...

 

 * Ả HẰNG tức là Hằng Nga 姮娥, hay Thường Nga 嫦娥, có tích như sau :

                  

      Theo sách Hoài Nam Tử 淮南子, Hằng Nga là vợ của Hậu Nghệ, rất đẹp nhưng có tật đảng trí. Nghệ xin được thuốc trường sinh của bà Tây Vương Mẫu, Hằng Nga trộm thuốc uống vào, cơ thể bèn nhẹ nhõm bay tuốt lên cung trăng, ở trong cung Quảng Hàn một mình lạnh lẽo, như hai câu thơ của Lý Thương Ẩn 李商隱 đã viết trong bài Thất ngôn Tứ tuyệt có tên là Thường Nga :

 

                         Thường Nga ưng hối thâu linh dược,    嫦娥應悔偷靈藥,

                         Bích hải thanh thiên dạ dạ tâm.          碧海青天夜夜心. 

Có nghĩa :

                        Hằng Nga chừng cũng tiếc hoài,

                    Trót đà trộm thuốc ai hoài đêm đêm !

 

               

 

 

 

 

 

 

 


                     Thường Nga ưng hối thâu linh dược

 

     Trong truyện thơ Nôm khuyết danh của ta ở thế kỷ thứ 18 là Phạm Tải Ngọc Hoa 范載玉花 cũng mượn hình ảnh Hằng Nga để chỉ Mặt Trăng, như :

 

                       Có đêm lặng ngắm Hằng Nga,

                 Tưởng người quân tử dật dờ phương nao !

 

     Hay mượn hình ảnh Hằng Nga để chỉ người đàn bà đẹp, như trong truyện Lâm Tuyền Kỳ Ngộ 林泉奇遇 (Bạch Viên Tôn Các) có câu :

 

                      Từ về qua tới chốn thạch tuyền,

                      Xảy gặp Hằng Nga mới kết duyên.

 

     Trong truyện Nôm lục bát khuyết danh là Phan Trần Truyện 藩陳傳 cũng có câu :

 

                          Bây giờ e lệ chưa tường,

                   Lâu lâu lại lắp lánh gương Ả Hằng.

 

  * Ả LÝ : là nàng Lý Ký 李寄 trong truyền thuyết Sưu Thần Ký 搜神记 đời Đông Tấn như sau :

        Nước Đông Việt ở vùng Mân nam (Quảng Đông, Phúc Kiến hiện nay) có nàng Lý Ký là con gái út thứ sau của gia đình. Nhà nghèo không có con trai, trong nước lại có nạn yêu rắn hoành hành, mỗi năm đều phải tế một cô gái trẻ cho rắn ăn thịt. Lý Ký bèn quyết định bán thân mình cho rắn ăn thịt, lấy tiền để nuôi cha mẹ và các chị. Mặc dù cha mẹ can ngăn, Lý Ký cũng lén đi, nàng yêu cầu nhà vua cấp cho mình một thanh bảo kiếm và một con chó săn, rồi đi thẳng đến động rắn. Sau một đêm chiến đấu quyết liệt với sự hỗ trợ của con chó săn thiện nghệ, nàng đã chém chết con yêu rắn. Quốc vương nước Đông Việt cảm phục trước sự dũng cảm của nàng , nên đã cưới nàng về làm hoàng hậu. 

      Trong Truyện Kiều, cụ Nguyễn Du đã cho cô Kiều cân nhắc trước khi quyết định bán mình chuộc tôi cho cha là :

                              Dâng thơ đã thẹn nàng Oanh,

                            Lại thua Ả Lý bán mình hay sao ?!

 

                        

                                                       

 

 

 

 

 

 

                                               Lý Ký chém rắn  

      

       * Ả TẠ : là TẠ ĐẠO UẨN 謝道韞, con của tướng quân Tạ Diệc, cháu của thừa tướng Tạ An, là vợ của Vương Ngưng Chi con trai thứ của nhà thư Pháp nổi tiếng đời Đông Tấn là Vương Hi Chi. 

        Tạ Đạo Uẩn rất giỏi về văn thơ, ngay từ nhỏ đã nổi tiếng thông minh, sắc sảo. Khi Tạ An hỏi các cháu lúc đang ngắm cảnh tuyết rơi là : Có thể lấy gì để ví với tuyết rơi ? Một cháu trai là Tạ Lãng trả lời rằng : Sái viêm không trung sai khả nghỉ 撒盐空中差可拟 (Có thể nói là như rắc muối giữa không trung). Tạ Đạo Uẩn nói rằng : Vị nhược liễu nhứ nhân phong khởi 未若柳絮因风起 !(Chẳng bằng nói là hoa liễu bay đầy trời khi có gió thổi lên). Tạ An khen hay, Tạ Đạo Uẩn nổi tiếng từ đấy.

 

     Trong tác phẩm Sãi Vãi của cụ Nguyễn Cư Trinh, khi cho bà Vãi luận về tài trí của phái nữ có câu :

 

                   Gái như Tạ Đạo Uẩn, gái mà hay vịnh tuyết thành thơ,

                   Gái như Thái Văn Cơ, gái mà biết phân cầm nên khúc...

 

     Trong Lục Vân Tiên, cụ Nguyễn Đình Chiểu đã khen tài làm văn thơ của Kiều Nguyệt Nga bằng câu :

 

                        Đã mau mà lại thêm hay,

                  Chẳng phen Tạ  Nữ cũng tài Từ Phi.

 

     Còn trong Truyện Kiều thì cụ Nguyễn Du đã cho Kim Trọng khen tài làm thơ của Thúy Kiều là :

 

                        Khen tài nhả ngọc phun châu,

                     Nàng Ban Ả Tạ cũng đâu thế nầy !

                         

                                                         

 

 

 

 

 

 

                                         

                                              Tạ Đạo Uẩn  謝道韞

 

     Cũng trong Tuyện Kiều của cụ Nguyễn Du ta lại được gặp thêm một "Ả" nữa, đó là ...

 

  * Ả Tố Nga : Tố Nga 素娥 tức là Thường Nga 嫦娥, là Hằng Nga 姮娥 mà ta đã biết ở phần trên, thường dùng để chỉ Mặt Trăng hay Gái Đẹp. Vì mặt trăng có màu trắng (TỐ 素) nên mới gọi là Tố Nga 素娥, theo như lời chú giải của Lý Chu Hàn cho bài Nguyệt Phú của Tạ Trang đời Tống là : Thường Nga thiết dược bôn nguyệt, nguyệt sắc bạch, cố vân TỐ NGA 嫦娥竊藥奔月,月色白,故云素娥. Có nghĩa : Thường Nga trộm thuốc bay lên cung trăng, trăng lại có màu trắng, nên còn gọi là TỐ NGA. 

 

     Khi tả hai chị em Thúy Kiều Thúy Vân đều là "người đẹp", cụ Nguyễn Du đã hạ câu :

 

                             Đầu lòng hai Ả TỐ NGA,

                      Thúy Kiều là chị, em là Thúy Vân. 

 

          Xin được kết thúc bài viết với từ "Ả ĐÀO 妸陶" hay Cô Đào 姑姚 hoặc Đào Nương 陶娘, còn được gọi là Ca Nương 歌娘, là thuật ngữ của Việt Nam ta thường dùng để gọi một dạng kỹ nữ 妓女 trong thời đại cổ. Theo Từ điển tiếng Việt, Cô Đầu là một danh từ thuộc loại từ cũ, khẩu ngữ để chỉ các Ả đào. Ả ĐÀO còn chỉ thể Hát Nói mà các Đào Nương hay hát, ở Hà Nội khi xưa hay gọi là "đi hát Ả Đào". 

                         

 

                                                 Hẹn gặp lại trong bài viết tới.

 

                                                                                               Đỗ Chiêu Đức