HOÀNG THỊ

TỐ LANG

Canada

_______________________

Sáng nào cũng vậy ông ra vườn thật sớm. Mảnh vườn nhỏ sau nhà được mua hồi năm ngoái sau khi từ cái chung cư hai phòng vợ chồng tui dọn về đây chỉ là một khoảnh đất trống trơn. Cỏ mọc tràn lên cả lối đi. Thế mà chưa đầy một năm dưới bàn tay của hai vợ chồng già nầy mà mảnh sân sau ai đến chơi cũng trầm trồ khen ngợi và họ kháo với nhau "Đây là trời quê nơi đất khách".

 


Suốt ngày từ hừng đông sáng mặt trời chưa mọc nữa cho tới tối mịt là ông ở ngoài vườn. Từ húng lủi, húng quắn, rau dền, dấp cá, mồng tơi, bầu, bí, cà vvv cái gì cũng có. Gần cả chục năm lang bạt nơi xứ người vợ chồng con cái  cả 8 người chen chúc nhau trong cái hộp quẹt của căn chung cư chật hẹp. Cả nhà chỉ có một Washroom. Sáng dậy chờ nhau để làm vệ sinh buổi sáng cũng là cả một vấn đề. Năm ngoái thằng Trường con trai lớn nhờ trời thương ra trường là có việc làm ngay nên nó đề nghị mua nhà rộng rãi cho ba Mẹ ở. Căn nhà nầy mới đến coi lần đầu cả hai vợ chồng đều vừa bụng ngay. Chủ cũ là một người da trắng vậy mà sao họ biết hoa Ngọc Lan mà trồng trước cửa nhà.  Trên xe của người agent bán nhà bước xuống. Mùi Ngọc Lan tỏa hương thơm dìu dịu. Hai vợ chồng chạy đến ôm cái gốc Ngọc Lan như lâu ngày vừa gặp lại cố nhân, lòng mừng rỡ như thấy bóng dáng quê nhà như ở  đâu đây. Đi hết một vòng từ trước ra sau bỗng bà la lên:

- Trời ơi có cây chanh nữa kìa ông ơi.
 Bà lấp ba lấp bấp la hoảng lộ vẻ mừng rỡ đột ngột, tột cùng. Ông chạy đến bên bà  gần cuối khu vườn. Bà đưa tay nắm lấy tay ông, mắt sáng rực khẽ, trỏ ngón tay chỉ và run run nói:
- Coi nè ông.  Cây chanh kìa. Thấy hông ông?
 Cây chanh ốm yếu tiều tụy có lẽ không được chủ nhân chăm sóc . Ông ngắt một cái lá vò trong lòng bàn tay mùi hương chanh tỏa ra dìu dịu sao mà thơm quá chừng, như mùi hường quen thuộc của thuở xưa. Ông chặc lười, hít hà:
- Đúng là chanh rồi. Ai trồng mà chẳng biết chăm nom gì cả. Cây chanh nầy mà được chăm sóc bon' phân lớn mấy hồi hả Bà. Cây chanh nầy bao nhiêu món để mà nấu.
 Cũng như chồng, Bà nâng niu vuốt ve từng lá chanh èo uột vì thiếu bàn tay chăm sóc. Bà gục gặc đầu bảo chồng:
- Hỏng biết sao tui thấy ưng cái nhà nầy quá ông à.
 Nghe Mẹ bảo thế thằng con trai tủm tỉm cười và bảo Mẹ:
Mình còn đi coi nhiêù nhà khác chớ nào có phải chỉ có cái nhà nâỳ đâu Mẹ.
  Bà chừng như quyến luyến một chút gì quê nhà vừa tìm thấy. Bà âu yếm bảo con:
- Mẹ thích căn nhà nầy con ạ. Chắc không cần đi coi chỗ nào khác cho mất công.


Qua những ngày tháng lao tù. Tưởng là đã bỏ thân nơi chốn rừng thiêng nước độc. Thế mà trời thương còn có được ngày về sau gần 10 bó đếm lịch trong tù. Nếm đủ mọi tủi  nhục  của đất nước  sau ngày thay ngai đổi chủ đến được xứ Tự Do ông như chết đi sống lại. Ngày mới vừa đến Mỹ ông  thơ thơ thẩn thẩn cứ tưởng là mình trong chiêm bao. Thấy đất nước quê người mà chạnh lòng nhớ  quay quắt về quê cha đất tổ.  Hồn ông cứ lơ lơ lửng lửng , ông ở đây mà tui biết hồn ông đã dạt về phía trời nào đó. Ở đó có con đê làng, có ngọn tre, giếng nước, cầu ao. Ở đó có mùi thơm từ những cánh đồng lúa chín theo gió bay đi mênh mông trải dài tới đầu thôn cuối xóm. Rồi Hiệp định Geneve định mệnh chia cắt đôi bờ đất nước cậu thanh niên với cái tuổi 14, 15 đã theo gia đình làm một chuyến xuôi Nam đi tìm tự do bỏ lại Hà Nội 36 phố phường, bỏ lại căn nhà thân yêu với sân gạch đỏ au và cây Ngọc Lan sừng sững trước cổng nhà mà cái hương thơm quyến rũ của những cánh Ngọc Lan đầu mùa vẫn còn đâu đây như quyện kín hồn ai ...

Một lần bỏ quê Bắc, theo dòng Bến Hải mà xuôi Nam tưởng là yên thận. Ngờ đâu đến 75 trải qua bao năm ở chốn rừng thiêng Yên Bái , ông lại thêm một lần biệt xứ. Lần nầy thì đã mấy trời mấy biển cách ngăn rồi. Những ngày tháng xa quê giờ đây mảnh vườn nhỏ sau vườn đối với ông Bà như chút dấu yêu của quê nhà còn sót lại. Ông nâng niu, chăm sóc mảnh vườn như tri kỷ lâu ngày mới gặp lại. Hễ rành là Bà chạy ra sân cầm cây chổi quét chỗ nầy chỗ kia  cho sach. Bà còn bảo thằng con đi mua cho bà thêm mấy cái khạp, mấy cái gáo múc giống như hồi đó ở bên nhà. Bà muốn đem cả một trời quê nhà trồng nơi mảnh vườn nhỏ bé quê người. Cây Chanh èo uột hôm mới dọn về đây bây giờ lá xanh um thấy mà thương. Cả tháng nay thằng con trai bà mua cây mua gỗ về làm cho Bố Mẹ giàn bầu. Mấy cái hột bầu của một người bạn già cho tuần trước đã lên được hai lóng tay. Ông cũng giúp con cưa, bào, đẽo gọt để làm cho mau. Ông bảo con làm mấy cây cột cho chắc để dưới giàn bầu ông có thể mắc võng. Lúc nầy sao ông nhớ vô chừng là nhớ cái giàn bầu nơi sân trước của Mẹ ông ngày xưa nơi đất Bắc . Khoảng sân trước nhà còn rộng lắm. Ông đề nghị thằng con dựng giàn bầu nơi đó song nó không chịu .
 

 Nó bảo
- Cả một dãy nhà  ai cũng trồng hoa ở sân trước. Con cũng thích trồng hoa trước nhà thôi Bố ạ. Mình dựng giàn bầu sân sau cũng đẹp mà Bố.
Ông không nói, nhưng trong bụng ông buồn lắm. Ông biết không thể nào mà thằng con hiểu hết được nỗi lòng của ông đâu. Chỉ hơn một tuần giàn bầu đã xong ông mừng vô cùng và những cây bầu con ông đã hạ thổ mới hôm nào mà giờ đây có lủng lẳng đầy quả trên giàn ...

Buổi sáng trời Cali cũng gây gây lạnh . Ông khoác thêm chiếc áo ấm và, cầm tách cà phê mới pha đi ra sau vườn. Ông già kế bên nhà  cũng thức sớm như ông. Ông  Hi một tiếng rồi cặm cụi đi một vòng khu vườn. Buổi sáng sớm những bông hoa bí nở vàng ngát khu vườn .  Chẳng biết sao ông mê làm sao những cánh hoa bí đơn sơ nầy. Màu hoa bình dị, dễ yêu và có lẽ ở loài hoa ấy gợi cho ông nhớ thật nhiều cái thuở một trời ngang dọc ngày xưa. Vườn Bí vàng ở buổi chiều hành quân nào ghé bước và cô gái năm xưa với cái má lúm đồng tiền đã một lần làm hồn ông chao đảo, và cô gái ấy đã là người vợ, người Mẹ của con ông và là người bạn già đang cùng ông đi nốt quãng đường còn lại.  Cái tuổi nầy đêm về cứ trằn trọc canh thâu , rồi bao nhiêu chuyện từ đời xửa đời xưa  ở đâu mà cứ đi về làm khổ thân ông.

 

 

Ông uống một hớp cà phê loại " instant coffee " cho tỉnh rồi đi lấy nước tưới cây. Hồi mới qua uống mấy thứ cà phê loại instant nầy nó làm sao đó . Ông nhớ vô cùng cái quán cà phê hai căn gần nhà lồng  chợ RG ngang Qúach Xái bên hông là gánh bún Cá Kiên Giang của bà Ba Lâm. Họ chỉ pha bằng vợt mà sao nó ngon lạ ngon lùng. Nhớ hồi đo' mỗi lần ở đơn vị về ông phải ghé đó làm một cài "xây chừng" cho đã rồi đi đâu thì đi.

 Cái quán buổi sáng đông nghẹt người ta. Quán bình dân giá rẻ mà cà phê cũng không phải là dở, Với lại điểm chính là họ bán đồ điểm tâm như xíu mại, há cảo hủ tiếu, bánh tiêu, giò chéo quảy v v  hằm bà lằng đủ thứ mà giá lại rẻ nên đông khách là phải. Tiền lính là tính liền nên ông thích lôi bạn bè vô quán nầy cho đỡ tốn mỗi lần ông về phép . Riết rồi ông ghiền cái quán như ghiền gặp người tri kỷ. Có khi cuối tháng hết tiền ăn uống xong rồi chú Hai biên sổ. Chú Hai chủ quán người Tàu hệch hạc, hiền lành, tiếng Việt lơ lớ dễ thương làm sao. Chú bắt chước mấy anh lính của ông gọi ông là ông Thầy. Lần nào gặp ông chú hệch hạc,  mừng rỡ chào đón: 

 

  - Ông Thầy mới dìa,  hoặc ghẹo ông:

 

- Chừng nào ông Thầy lấy vợ nhớ mời ngộ đi ăn đám cưới nghe. 

 

 và quả thật sau đám cưới của ông, Chú Hai chủ tiệm cà phê mời ông và một số bạn bè nhậu ở tiệm chú một bữa quắc cần câu luôn nói là để mừng ông thầy cưới vợ. Ôi cái thời xa xưa ấy nay còn đâu , thân già với những tháng ngày tạm bợ nơi quê người. Cùng may mà có mảnh vườn nầy mà bầu bạn.

Tiếng của thằng Huy ngoài ngõ làm ông trở về thực tại:

- Bố Mẹ ơi ra giúp con cái nầy. 

Bỏ cái gáo nước xuống ông đi nhanh ra cửa trước vừa đi vừa lẩm bẩm . Bà cũng chạy theo ông

- Cái gì mà gấp dữ vậy cà không kịp đi vào nhà vậy kìa.

Thằng Huy mở trunk xe ra và bảo: 

- Bố Mẹ nhắm mắt lại nha. Con có cái nầy để mừng ngày Bố Mẹ đến Mỹ nè .

- Uả hôm nay ... hả con. Lòng ông nghe nghèn nghẹn. Ông lẩm bẩm một mình " Mười mấy năm rồi hả Bà" mà Tụi bây bày đặt cái gì nữa đây cho tốn kém hỏng biết nữa.

 

 

Tuy nói thế ông bà cũng nghe con nhắm mắt lại. Khi mở mắt ra trước mặt ông bà là mấy nhánh hoa Thiên Lý trồng trong một cái chậu thật đẹp.  Ông ôm chậu hoa vào lòng ông rưng rưng hỏi con:

- Làm sao ở đâu con tìm được giống hoa đặc biệt nầy chỉ có ở đất Bắc

 -Tình cờ thôi Bố a. Tuần rồi đến nhà một người bạn chơi giàn hoa sau nhà đẹp quá . Hỏi ra thì con mới biết là Hoa Thiên Lý . Loài hoa mà có lần con nghe Mẹ nhắc và kể cho con nghe ngày Mẹ về với Bố với những bữa cơm có canh Thiên Lý nấu với của đồng của Nội. Con hỏi xin và Bác Hưng đã gầy cho con một chậu để đem về tặng Bố Mẹ.

 Ông chớp nhẹ đôi mắt như che dấu niềm xúc động. Hai vợ chồng già noi' sao cho hết niềm cảm xúc vô cùng. Thì ra Các con đã chắt chiu cùng Bố Mẹ chúng đem quê hương xưa trồng lại nơi đất khách. Ông muốn nói điều gì đó với con, hình như chàng con trai hiểu được hạnh phúc của Bố Mẹ trong lúc nầy. Chàng khẽ nói

- Cuối tuần Bố phụ con, hai Bố con mình làm giàn thiên lý trước nhà nha Bố.

Ông mơ mơ màng màng nghe mùi thơm thoang thoảng từ bát canh năm xưa của Mẹ và nhớ vô cùng hình bóng bà với chiếc rỗ trên tay quanh quẩn dưới giàn hoa lý cắt từng chùm hoa vàng ngát để nấu buổi cơm chiều cho chồng con, và thuở ấy ông chỉ là cậu bé con lủng đủng quẩn quanh bên chân Mẹ để phụ Mẹ nhặt hoa vào rổ ... Tiếng nói của Mẹ vẫn còn văng vẳng đâu đây:

- Hoa Thiên lý ăn giải nhiệt con ạ.

Ôi nhớ quá ngày xa xưa ấy.  Những tháng ngày yêu dấu ấy như mới ngày nào đây. Trên khuôn mặt của ông  dòng lệ nào chực rơi. Những giọt lệ của một trời hạnh phúc ....

 

Winnipeg Tháng 2 2012

 

 

Hoàng thị Tố Lang

____________________________

Má tôi và vầng trăng ngày cũ

                            Những ngày ở VN đêm nào tôi cũng ngồi nói chuyện với Má suốt cho đến khi Má bắt đầu thời công phu lúc 10 giờ. Ở cái tuổi 90 Má tôi vẫn còn yêu thơ như thuở nào, Má vẫn còn làm thơ, bài nào làm xong Má hay đọc cho tôi nghe, tôi nhớ hoài bài Đêm trăng buồn của Má. Tôi biết vầng trăng ngày cũ đã xa Má lâu lắm rồi. Trăng đã buồn theo đời Má từ cái ngày tháng Tư năm ấy. Từ cái ngày Ba bỏ Má mà đi. Má ngược xuôi, xuôi ngược một thân một mình nuôi đàn con dại, sống với đồng lương cô giáo $50 mỗi tháng nhỏ nhoi của tôi. Áo góa phụ choàng lên đôi vai gầy guộc của Má buồn hơn theo năm tháng, theo vận nước nổi trôi. Ngày ấy trong đêm một mình tôi hay nghe Má khe khẽ ngân nga mấy câu thơ của ai nghe mà đứt ruột:


Chẳng biết thuở nào trăng hết xanh

Sương buồn như lệ hết long lanh

Bao giờ mây biếc thôi say gió

Tôi hết vương mang một ảnh hình

 

Mấy câu thơ Má ngâm tôi không cầm được nước mắt. Tôi biết Má nhớ Ba. Má nhớ ngày xưa của Má. Vầng trăng xưa của Má đâu rồi.? Ôi vầng trăng xưa ai xẻ làm đôi.  Nửa in gối chiếc nửa soi dặm trường. Rồi trăng buồn hơn. Trăng lẻ loi hơn từ lúc con của Má lần lượt bỏ Má mà đi.Trong hoàn cảnh hiện tại, quê nhà không còn là nơi chốn để dung thân, những đứa con của Má như những cánh lục bình trôi dật dờ tới những bến bờ xa lạ...

Má - một người con gái quê xưa, ở thập niên 20 - 30, mà tâm hồn Má rất khác thường, không giống như những người cùng tuổi tác thế hệ của Má. Nếu nói Má thuộc cả quyển Chinh Phụ Ngâm thì dễ có mấy ai tin. Nhưng sự thực là như thế. Sau tháng 4 năm ấy Má khóc, má ôm cả chồng sách cũ đem vào ruộng nhà Ngoại chôn dấu. Má nhờ người đào hố, rồi Má bỏ xuống cái khạp lớn và chất những cuốn sách mà một thời Má yêu quí. Xong rồi Má cứ phập phồng lo. Rồi Má sợ đủ thứ. Má sợ bị xét nhà bị ghép tội cất giữ văn hòa phản động, Má lại đem lên và ngồi một mình trong đêm đốt từng trang sách mà nước mắt rưng rưng. Má bảo tôi Má sợ không thể giữ được quyển Chinh Phụ ngâm nầy và bằng mọi cách Má phải học cho thuộc để mà còn dù ở trong hoàn cảnh xấu nhứt không thể giữ được Nó, và chỉ trong thời gian ngắn Quyển Chinh Phụ Ngâm đã được cất giữ bên Má suốt đời suốt kiếp. Để rồi trong những đêm trường tĩnh mịch một mình trong đêm Má ngân nga những câu trong Chinh Phụ Ngâm nghe thật não nùng ai oán:

 

Chàng thì đi cõi xa mưa gió

Thiếp lại về giường cũ chiếu chăn

Đoái trông theo đã cách ngăn

Tuôn màu mây biếc trải ngần núi xanh...

 

Má tôi không giống như các bà Má cùng tuổi Má. Má ăn mặc rất là giản dị. Một cái áo bà ba trắng với chiếc quần đen là đủ rồi. Thế mà tâm hồn Má trẻ lắm. Chị em tôi hay đùa với nhau bằng một niềm hãnh diện khôn cùng - Má mình mà -. Vâng Má mình là thế đó. Má thích làm thơ. Má thích đọc thơ. Má thích nói chuyện thơ văn với những người trẻ tuổi. Ngày xưa lúc còn đi dạy, bạn bè tôi đến nhà hay được má làm cà phê phin cho uống và cùng Má nói chuyện thi văn. Ai nói thơ đến đâu, má nói tới đó. Má như trẻ lại trong cái thế giới thi ca của Má. Những Vũ Hoàng Chương, Nguyễn Bính và nhất là TTKH. Đó là những dòng thơ mà Má tôi yêu thích. Bài nào Má cũng nhớ, cũng thuộc không sót một câu. Tôi thích ngồi nghe Má đọc thơ. Má nói thơ. Sau 75 Má làm thơ nhiều hơn. Bài thơ một lần mà Má đến Kinh làng Thứ Bảy tìm tôi sau chuyến đi năm ấy, mới đó mà đã 35 năm.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Sóng nước mênh mông thuyền bé nhỏ

Vượt đường gian khổ đến thăm con

Từng không lớp lớp mưa rơi xuống

Thấm ướt bờ mi lệ tủi hờn

 

Đã bốn mươi ba năm qua. Tiếng tụng kinh của Má vẫn đều đều trong đêm trường thanh vắng. Chẳng biết câu kinh, tiếng kệ có làm cho Má tôi phôi pha chuyên ngày tháng cũ? Quên đi rồi chuyện nước non?

Ôi! Vầng trăng ngày ấy của Má đâu rồi? Có ai khâu dùm tôi lại miền ký ức xưa chở về cho Má ánh trăng của một khoảng đời yêu dấu cũ...

 

Hoàng thị Tố Lang