Tiến Sĩ 

HUỲNH LONG VÂN

 

Sydney, Úc Châu 

Cựu HS Phan Thanh Giản Cần Thơ

______________________

 

ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG SỤT LÚN

DO KHAI THÁC NƯỚC NGẦM THIẾU KIỂM SOÁT

___________________________________________

Phóng viên Đài phát thanh RFI Thanh Phương

phỏng vấn TS Huỳnh Long Vân

phát thanh ngày 25 tháng 11, 2019

Một phần tỉnh An Giang bên bờ sông Cửu Long chìm trong lũ lụt. Ảnh chụp ngày 28/9/2011 REUTERS/Duc Vinh

 

Canh tác nông ngư nghiệp thiếu bền vững, mực nước biển dâng cao do biến đổi khí hậu, mặn xâm thực ngày càng sâu vào nội đồng vào mùa khô, và tác động giữ lại phù sa của các đập thủy điện thượng nguồn Mekong là những tác nhân làm suy giảm đáng kể tiềm năng sản xuất của châu thổ ĐBSCL.

Ngoài ra ĐBSCL còn phải đối mặt với tình trạng sụt lún trầm trọng do nạn khai thác nước ngầm thiếu kiểm soát khiến ĐBSCL chìm dần. Đó là đề tài của bài phỏng vấn tiến sĩ Huỳnh Long Vân, thuộc Nhóm Nghiên cứu Văn hóa Đồng Nai Cửu Long Úc Châu, trả lời RFI từ Sydney ngày 10/10/2019.

Khai thác nước ngầm quá mức gây sụt lún

RFI : Thưa ông Huỳnh Long Vân, trước hết xin ông cho biết là nạn khai thác nước ngầm thiếu kiểm soát ở vùng đồng bằng sông Cửu Long diễn ra với tầm mức ra sao và nó đã làm sụt lún vùng này như thế nào?

TS Huỳnh Long Vân: Nước ngầm đã được người dân ở ĐBSCL, đặc biệt là ở những tỉnh ven biển như Cà Mau, Bạc Liêu, Sóc Trăng, Trà Vinh, từ lâu sử dụng trong sinh hoạt, nhưng ở mức độ vừa phải, nên mực nước ngầm không bị hạ thấp. Tuy nhiên, kể từ khi Việt Nam theo đuổi kinh tế thị trường, gia tăng sản xuất và nguồn nước mặt bị ô nhiễm thì nước ngầm được khai thác ráo riết, tăng tốc từ 1995 đến nay, để phục vụ sản xuất thâm canh trong canh tác nông nghiệp và nuôi trồng  thủy sản nước ngọt ở những vùng ven biển.

Vào tháng 5/2012, theo yêu cầu của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam (NN&PTNT) với Bộ Ngoại giao Na Uy, Viện Địa Kỹ thuật Hoàng gia Na Uy tiến hành dự án nghiên cứu tình trạng sụt lún đất ở bán đảo Cà Mau.

Qua nghiên cứu khảo sát thực địa kết hợp với những dữ liệu của Bộ NN&PTNT và những hình ảnh vệ tinh thu thập từ  nhiều thập niên trước đây, tháng 6/2013 Viện Địa Kỹ thuật Hoàng gia Na Uy kết luận nền đất của khu vực miền Nam bị sụt lún nghiêm trọng do bơm rút nước ngầm liên tục: trong vòng 20 năm, kể từ 1995, nhiều nơi ở ĐBSCL sụt lún từ 30 đến 70cm, dẫn đến việc bờ biển bị xói mòn và chìm dần, thụt vào từ 100m đến 1.4km, làm cho châu thổ mất đi khoảng 5000ha đất.

Nếu khai thác nước ngầm không được hạn chế hoặc ngưng hẳn, thì với tốc độ sụt lún 3cm mỗi năm, Cà Mau sẽ biến mất trên bản đồ của Việt Nam trong vòng vài thập niên sắp tới.

Trong khi đó, Viện Khoa học Điạ chất và Khoáng sản thuộc  Bộ Tài nguyên & Môi trường (TN&MT), Tổng cục Thủy lợi cũng phối hợp với Viện Điạ Kỹ thuật Na Uy lắp đặt thiết bị quan trắc đo đạt sụt lún ở 339 địa điểm khác nhau ở Thành Phố  Hồ Chí Minh (TP HCM) và ĐBSCL. Kết quả cho thấy TP HCM và 6 tỉnh thành Vĩnh Long, Cần Thơ, Hậu Giang, Sóc Trăng, Bạc Liêu và Cà Mau sụt lún trầm trọng nhất, trên 10cm tính từ 2014 đến 2017 và có nơi lún hơn 6cm mỗi năm.

Tiếp đến là những kết quả nghiên cứu của nhà khoa học thuộc Đại học Stanford, bang California, Hoa Kỳ, cùng công trình nghiên cứu của nhà địa chất P. Minderhoud trong dự án “Rise and Fall” của Đại học Utrecht, Hà Lan, cũng cho thấy khai thác nước ngầm là nguyên nhân chính khiến nền đất của ĐBSCL bị sụt lún 1,6cm mỗi năm, làm cho các vùng đất ven biển, ven sông bị ngập nước, làm trầm trọng thêm tác động của hiện tượng nước biển dâng cao (2- 3mm mỗi năm).

Nếu tốc độ khai thác nước ngầm vẫn không thay đổi, thì đến năm 2050, toàn thể ĐBSCL sẽ sụt lún khoảng 88cm và vào thời điểm này mực nước biền dâng cao thêm 10cm, thì một số nơi ở ĐBSCL sẽ chìm sâu 1m.

Thêm vào đó là những kết quả nghiên cứu gần đây nhất của P. Minderhoud cho thấy độ cao trung bình của ĐBSCL là 82cm so với mặt biển, thấp hơn nhiều so với  công bố trước đây là 2,60m. Trừ An Giang, Đồng Tháp và Long An lần lượt có độ cao 1,42m, 1,41m và 1,07m so với mặt biển, các tỉnh thành còn lại của ĐBSCL đều có độ cao dưới 1m.

Như thế, sụt lún kết hợp với mực nước biển dâng cao do tác động của BĐKH sẽ khiến cho ĐBSCL có cao độ trên dưới 1 m chìm nhanh hơn so với những công bố trước đây : khi mực nước biển dâng cao 1m, thì 75% diện tích ĐBSCL sẽ chìm trong biển nước so với 14% công bố trước đây và 70% dân cư vùng châu thổ  ĐBSCL sẽ bị ảnh hưởng, thay vì chỉ có 29% theo dự đoán trước đây.

Cần Thơ sụt lún, đường phố nội ô ngập nước và giải pháp ứng phó

 

 

 

 

 

 

 

             Đường phố Cần Thơ ngập lụt

RFI: Như vậy thì tình trạng sụt lún này đang gây ra những hậu quả gì ở những thành phố vùng đồng bằng sông Cửu Long, chẳng hạn như ở Cần Thơ, thành phố lớn nhất trong vùng?

TS Huỳnh Long Vân: Nghiên cứu của Viện Kỹ thuật Tokyo về hậu quả của khai thác nước ngầm ở TP Cần Thơ, đối với cá nhân tôi, một người được sinh ra và trưởng thành ở thủ phủ của ĐBSCL, cũng là điều đáng quan tâm. Kết quả nghiên cứu công bố vào năm 2016 cho thấy tình trạng sụt lún do khai thác nước ngầm ở Cần Thơ ngày càng  trầm trọng hơn và đường phố ở Cần Thơ sẽ bị ngập sâu đến 70cm vào năm 2050, nếu nước ngầm được tiếp tục khai thác với tốc độ không thay đổi.

Năm 2017, vào mùa nước nổi kết hợp với triều cường, chỉ có một khoảng đường vài trăm thước ven sông ở quận Bình Thủy bị ngập dưới 10cm. Cùng kỳ năm 2018, các đường phố chính ở các quận Ninh Kiều, Bình Thủy, Ô Môn bị ngập sâu khoảng 20cm. Năm nay, 2019, mặc dù mực nước ở trạm quan trắc Châu Đốc thấp hơn so với cùng kỳ 2018, nhưng nước sông Hậu ở Cần Thơ dâng đến mức kỷ lục 2,25m, tức 20cm cao hơn năm 2018 và đường phố Cần Thơ bị ngập ở mức sâu lịch sử gần 50cm.

Cần Thơ bị ngập nặng đó là do nước sông tràn bờ dưới tác động cộng hưởng của nền đất bị sụt lún 1,80cm mỗi năm, bởi khai thác nước ngầm, mức nước biển dâng cao 2-3mm mỗi năm, kết hợp với khối  nước lũ đầu nguồn theo sông Hậu đổ về Cần Thơ cùng lúc với triều cường dâng cao.

RFI: Thành phố Cần Thơ đang có những dự án nào để chống tình trạng ngập nước?

TS Huỳnh Long Vân:  Ứng  phó với tình trạng ngập nước ở đường phố nội ô, TP Cần Thơ đang triển khai dự án tăng cường khả năng thích ứng của đô thị (gọi tắt là dự án 3). Phó Chủ tịch Thường trực Ủy ban Nhân dân TP Cần Thơ Đào Anh Dũng nói rằng, hiện nay thành phố chưa có giải pháp nào hiệu quả để chống ngập và gần như “bó tay” trước các đợt triều cường và  đang kỳ vọng vào dự án 3  tăng cường khả năng thích ứng của đô thị.

Dự án sẽ tập trung chống ngập khu đô thị lõi của TP Cần Thơ thuộc địa bàn hai quận Ninh Kiều và Bình Thuỷ rộng 2.675ha, bằng các giải pháp công trình như làm kè, cống, đập, âu thuyền ngăn triều cường từ sông Cần Thơ vào khu đô thị lõi; kế đến là cải tạo hệ thống thoát nước kết hợp với đầu tư hệ thống trữ và điều nước kinh rạch.

Không thiếu những chỉ trích dự án này: bảo vệ được 2 quận Ninh Kiều và Bình Thủy, nhưng sẽ chuyển tải khối nước gây ngập trước hết đến các quận huyện khác của TP Cần Thơ và tiếp theo là  đến các vùng không có đê bao của các tỉnh nằm dọc theo hai bờ sông Hậu.

Các giải pháp ứng phó sụt lún ở ĐBSCL

RFI: Như vậy để hạn chế đà sụt lún của đồng bằng sông Cửu Long thì phải ngăn chận việc khai thác nước ngầm quá mức. Nhưng theo ông, có những giải pháp nào hữu hiệu để chấm dứt việc này, nhưng vẫn bảo đảm được nguồn nước cho sinh hoạt và cho sản xuất nông nghiệp ở vùng đồng bằng sông Cửu Long?

TS Huỳnh Long Vân: Giảm hay ngưng khai thác nước ngầm sẽ giảm sụt lún, nhưng không chấm dứt hoàn toàn, vì sụt lún là một quá trình chậm, nhưng một khi đã xảy ra thì sẽ tiếp diễn trong nhiều năm, cho dù có giảm về tỉ lệ. Mức độ sụt lún ở mỗi địa phương khác nhau, phụ thuộc vào yếu tố địa chất và mức độ khai thác nước ngầm. Dù không biết nước ngầm đang bị khai thác thế nào, nhưng chỉ cần giảm hay ngưng khai thác thì sẽ cải thiện sụt lún.

Nước ngầm ở ĐBSCL phải được xem là nguồn dự trữ chiến lược để sử dụng trong trường hợp xảy ra hạn hán cùng cực trong tương lai do BĐKH và không phải là nguồn nước cơ bản hằng ngày.

Vì thế dứt khoát phải chấm dứt khai thác nước ngầm ở ĐBSCL. Nhưng ở đây có một thách thức không nhỏ: làm sao có nước ngọt đủ cung cấp cho các nhu cầu hiện sử dụng hơn 2 triệu m3nước ngầm mỗi ngày?

Trước hết, nhà nước phải tiến hành nghiên cứu và đầu tư xây dựng các nhà máy lọc nước và mạng lưới đường ống để cung cấp đầy đủ nước sạch cho toàn vùng châu thổ dùng trong sinh hoạt và sản xuất công nghiệp. Không thực hiện được hạng mục này, mọi kế hoạch khác chống sụt lún ĐBSCL trở nên vô nghĩa và ĐBSCL sẽ trở thành một Jakarta thứ hai.

Chính phủ phải khuyến khích từng hộ gia đình thiết kế phương tiện trữ nước mưa, nước ngọt, đồng thời dựa vào Nghị quyết 120 phát triển bền vững ĐBSCL thích ứng với BĐKH xem nước mặn, nước lợ, cũng như nước ngọt, là tài nguyên để triển khai những giải pháp như xây dựng khung pháp lý với các biện pháp chế tài chặt chẽ, để người dân vùng ven biển chỉ được phép nuôi trồng thủy sản nước mặn và nước lợ, nhưng với tin tưởng là việc kinh doanh này cũng mang lại thu nhập ổn định và khu vực sẽ được duy trì trên mực nước biển.

Cuối cùng, phải chấm dứt canh tác lúa ở vùng ven biển và lúa vụ 3 để tiết kiệm nước ngọt và đồng thời thực hiện kế họach chuyển đổi sản xuất nông nghiệp sang làm kinh tế nông nghiệp.

Ngoài khai thác nước ngầm quá mức, phá rừng phòng hộ để làm đầm nuôi tôm, khối lượng phù sa chuyển tải xuống châu thổ ĐBSCL bị suy giảm và gần như cạn kiệt, do các đập thủy điện ở thượng nguồn ngăn giữ lại, khiến cho bờ biển ĐBSCL bị xói mòn sạt lở, do đó cần phải có những kế hoạch cấp quốc gia để thương thảo với các nước thượng nguồn xả thải phù sa.

Việc làm này đem lại lợi ích cho cả đôi bên: trước hết là làm gia tăng tuổi thọ của các đập thủy điện và kế đến với khối lượng phù sa được chuyển tải đến sẽ giúp ĐBSCL được bồi đấp cân bằng tình trạng sụt lún tự nhiên và việc tái tạo rừng phòng hộ ven biển thành công.

RFI: Trong việc chống sụt lún ở đồng bằng sông Cửu Long, Hà Lan, một quốc gia nằm dưới mực nước biển, có nhiều kinh nghiệm trong lĩnh vực này, có thể giúp được gì cho Việt Nam?

TS Huỳnh Long Vân: Rất may Việt Nam là đối tác lâu dài của Hà Lan trong lĩnh vực nước, và Hà Lan cũng là quốc gia ở vùng đồng bằng thấp có nhiều vùng đất đang bị sụt lún và đồng thời đang phát triển các giải pháp chuyên môn phù hợp với nhiều nhu cầu khác nhau trên toàn cầu.

Ngoài ra, Đại sứ quán Hà Lan tại Hà Nội và Tổng lãnh sự Hà Lan tại TP HCM dành được một phần ngân sách để hổ trợ cho việc thực hiện Nghị quyết 120 và tìm hướng giải quyết thách thức về sụt lún. Nghiên cứu của Đại học Utrecht và Viện Deltares về sụt lún đất và cao trình của ĐBSCL là một ví dụ tuyệt vời về sử dụng kiến thức chuyên môn của Hà Lan để giúp tư vấn cho chính phủ Việt Nam, từ đó làm lợi cho ĐBSCL và người dân nơi đây.

_____________________________________________

                                                       

Đài phát thanh RFI phỏng vấn Tiến Sĩ HUỲNH LONG VÂN (sydney): 

Những quan ngại

về dự án thủy lợi Cái Lớn Cái Bé

 

Thanh Phương phỏng vấn

Phát Thứ Hai, ngày 26 tháng 11 năm 2018

 

 Click link để nghe: TẠP CHÍ VIỆT NAM - Những quan ngại về dự án thủy lợi Cái Lớn Cái Bé

Hay đọc bản văn dưới đây:

 

Tiến sĩ Huỳnh Long Vân, Sydney 23/11/2018
http://vi.rfi.fr/viet-nam/20181126-nhung-quan-ngai-ve-du-an-thuy-loi-cai-lon-cai-be     

 

Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) là vùng hạ lưu cuối cùng của sông Mekong, thành hình hơn 3000 năm trước do bồi tụ phù sa. Đây là một đồng trũng có vùng bị ngập nước vào mùa mưa và vùng ngập mặn vào mùa khô ; đất bị nhiễm phèn, nhiễm mặn.

Hệ thống thủy lợi theo nguyên tắc trị thủy ở đồng bằng sông Hồng, được xây dựng sau năm 1975 đã giúp Việt Nam, chỉ trong vòng một thế hệ, từ một nước nghèo, nơi mà Nhà nước phải chia khẩu phần gạo theo nhân khẩu, trở thành một trong số các quốc gia xuất khẩu gạo hàng đầu trên thế giới và có mức thu nhập trung bình.

Nhưng sau vài năm, lần lượt lộ ra những tác động tiêu cực trên môi trường và những bất cập của các công trình thủy lợi ở ĐBSCL. Đê bao làm ruộng đồng mất đi nguồn dinh dưỡng quan trọng. Rửa chua tháo phèn cải tạo đất đai lại làm ô nhiễm và acit hóa nguồn nước trong các sông rạch. Xây đê biển và các cống hạn chế nước mặn xâm nhập vào mùa khô để trồng lúa thì lại tạo nên mâu thuẫn mặn- ngọt, làm gián đoạn giao thông thủy nội địa ở các địa phương, làm chết các loại rừng phòng hộ ở ven biển.

Những vấn đề môi trường to lớn này đã thúc đẩy các nhà khoa học trong và ngoài nước kêu gọi chính phủ thực hiện các biện pháp hài hòa giữa lợi ich kinh tế và môi trường trong dài hạn. Nhưng bất chấp mọi quan ngại của nhiều tầng lớp trong xã hội, Bộ Nông Nghiệp & Phát Triển Nông Thôn (BNN&PTNT) vẫn tổ chức thảo luận triển khai dự án thủy lợi Cái Lớn Cái Bé (CLCB). Điều này gây lo ngại và bất đồng trong giới các nhà khoa học về những tác động môi trường và hiệu quả của dự án.

Hôm nay chúng tôi xin mời quý vị nghe ý kiến của tiến sĩ Huỳnh Long Vân, thuộc nhóm Nghiên cứu Văn Hóa Đồng Nai Cửu Long Úc Châu, trả lời phỏng vấn RFI từ Sydney.

Tiến sĩ Huỳnh Long Vân, Sydney23/11/2018Nghe

RFI : Thưa ông Huỳnh Long Vân, để thính giả hiểu rõ hơn vấn đến, trước hết xin ông nói sơ qua về Dự án thủy lợi Cái Lớn Cái Bé?

TS Huỳnh Long Vân : Vùng dự án này được giới hạn phía Bắc là kênh Cái Sắn, phía Nam và Đồng Nam là kênh Quản Lộ-Phụng Hiệp, phía Đông Bắc là sông Hậu và phía Tây là vịnh Thái Lan, trên địa bàn của 6 tỉnh thành Kiên Giang, Cà Mau, Bạc Liêu, Sóc Trăng, Hậu Giang và Cần Thơ.

 

Các mục đích của dự án là : Kiểm soát mặn, giải quyết mâu thuẫn giữa nuôi trồng thủy sản ven biển và sản xuất nông nghiệp trong vùng ; ứng phó với biến đổi khí hậu, tạo nguồn nước ngọt cho vùng ven biển vào mùa khô, phòng chống cháy rừng ; tăng cường khả năng thoát lũ, tiêu úng, tiêu chua cải tạo đất phèn ; kết hợp giao thông thủy bộ trong vùng dự án

RFI : Thưa ông Huỳnh Long Vân, vậy các nhà khoa học có những quan ngại gì về các mục tiêu của dự án này, trước hết là về mục tiêu kiểm soát mặn, giải quyết mâu thuẫn mặn - ngọt ?

TS Huỳnh Long Vân : Công trình CLCB không thể ngặn mặn cho toàn vùng của dự án, mà chỉ chận được nước biển tràn vào từ vịnh Thái Lan, vì nước mặn còn xâm nhập vào vùng dự án từ biển Đông theo hướng từ sông Hậu qua ngả sông Cái Côn, rạch Mái Dầm, hướng từ Đại Ngải Sóc Trăng theo các kênh trục và hướng Bạc Liêu đổ về Phụng Hiệp, Long Mỹ, Vị Thanh, thuộc tỉnh Hậu Giang, một đơn vị nằm trong vùng của dự án. Vì thế, mục tiêu kiểm soát mặn của dự án không đạt được, ngay cả sau khi giai đoạn 2 của công trình được hoàn tất.

Xây cống ngăn mặn không giải quyết, mà ngược lại gây ra mâu thuẫn giữa mặn và ngọt : Dự án Quản Lộ-Phụng Hiệp ngọt hoá bán đảo Cà Mau, có trị giá đầu tư gần 1400 tỉ đồng (thời giá 1990), với hàng trăm cống đập, đê biển, đê sông ngăn mặn, được xây dựng với mục đích đưa nước ngọt từ sông Hậu về bán đảo Cà Mau, cấp nước tưới ruộng lúa cho tỉnh Bạc Liêu, Cà Mau và Kiên Giang. Tuy nhiên, sau 5 năm xây dựng đã bộc lộ những bất cập trong mục tiêu, gây bất mãn và thất vọng cho người dân địa phương. Hàng trăm nông dân đã đòi phá cống, phá đập để lấy nước mặn nuôi tôm. Để giải quyết mâu thuẫn mặn-ngọt, chính phủ đã quyết định chuyển đổi 450.000 ha đất trồng lúa sang nuôi tôm và mô hình tôm-lúa được áp dụng.

Dự án Ngọt hóa bán đảo Cà Mau xem như thất bại, phá sản, là một bài học đắt giá và một kinh nghiệm quý báu cho thấy xây công trình thủy lợi Cái Lớn Cái Bé sẽ không đem lại sự hài hòa mặn - ngọt.

RFI : Thưa ông Huỳnh Long Vân, dự án CLCB cũng tiềm ẩn những nguy cơ gì đối với các loại thủy sản nuôi trồng trong vùng ?

TS Huỳnh Long Vân : Nghêu, sò, tôm, cua biển và một số thủy sản mặn, lợ khác được nuôi trồng ở 2 huyện ven biển An Minh và An Biên nằm trong vùng của dự án. Nếu hai cống thủy lợi CLCB được thiết kế và đóng lại vào mùa khô, khối nước bên trong sẽ bị ô nhiễm do tích tụ các chất phế thải, thuốc bảo vệ thực vật, phân bón v.v. và khi cống mở, nguồn nước ô nhiễm này sẽ theo nước ròng thoát ra cửa biển, làm thủy sản bên ngoài cống và ở vùng ven biển cận kề chết trắng.

Cá tép nước ngọt di chuyển từ sông rạch ra các bãi đẻ nơi cửa sông để sinh sản và các ấu trùng ngược lại theo dòng triều vào bên trong sông tìm các bãi ăn để tăng trưởng. Vì thế, khi được xây, các cống ngăn mặn CLCB sẽ làm gián đoạn chu trình sinh trưởng của thủy sản nước ngọt và lượng cá tôm trong sông sẽ giảm dần.

Như thế khó có thể đồng thuận với lập luận cho rằng dự án CLCB sẽ góp phần ổn định phát triển sản xuất thủy sản ở vùng ven biển tỉnh Kiên Giang.

RFI : Thưa ông Huỳng Long Vân, còn các mục tiêu ứng phó BĐKH, nước biển dâng, tạo nguồn nước ngọt cho vùng ven biển, phòng chống cháy rừng có còn phù hợp với tình hình của vùng đồng bằng sông Cửu Long hiện nay ?

TS Huỳnh Long Vân : Những người chủ trương công trình CLCB cho rằng ĐBSCL có trọng trách đảm bảo an ninh lương thực và do tình hình hạn hán năm 2016, nước biển dâng và nguồn nước ngọt sẽ cạn kiệt do tác động từ thượng nguồn, nên cần cấp bách xây dựng công trình CLCB.

Quan niệm ĐBSCL có trọng trách đảm bảo an ninh lương là tư duy thuộc về quá khứ, vì theo tinh thần nghị quyết 120/NQ-CP phát triển bền vững ĐBSCL, chính phủ có chủ trương chuyển đổi từ sản xuất nông nghiệp sang làm kinh tế nông nghiệp, chú trọng đến chất lượng hơn số lượng.

Nước biển dâng do tác động của BĐKH chỉ khoảng 3mm/năm, trong khi ĐBSCL bị sụt lún trung bình khoảng 3cm/năm, tức 10 lần nhiều hơn và nguyên nhân chính là do khai thác nước ngầm để phục vụ sản xuất và sinh hoạt. Xây công trình CLCB gây thêm ô nhiễm, gián tiếp tạo thêm môt động lực làm gia tăng tốc độ sụt lún và ĐBSCL sẽ chìm trong nước biển sớm hơn, không cần đến ảnh hưởng của nước biển dâng do tác động của BĐKH. Vì thế, "cấp bách xây dựng công trình CLCB để ứng phó với BĐKH và nước biển dâng" là điều không hợp lý.

Ngoài ra công trình CLCB làm gián đoạn sự trao đổi chất dinh dưỡng giữa nước sông với thủy triều, làm mất đi môi trường nước lợ, vì thế sẽ làm cho rừng ngập mặn như rừng đước, rừng nước lợ với cây dừa nước chết dần, từ đó làm suy giảm khả năng ứng phó với những tác động của BĐKH, giông bảo, sạt lở bờ biển và phá vỡ kế hoạch tái tạo rừng ngập mặn ở ven biển được một số quốc gia như Đức, Hà Lan v.v.. tài trợ.

Về mục tiêu cung cấp nước ngọt cho vùng ven biển và phòng chống cháy rừng, dự án CLCB sẽ chuyển nước sông Hậu theo ngả kênh đào Thốt Nốt và kênh trục KH6 cung cấp nước ngọt cho vùng bán đảo Cà Mau. Tuy nhiên, ở phía Tây sông Hậu có chằng chịt những kênh đào thẳng góc với nhau, có nhiều vùng giáp nước, các kênh bị bồi lấp, nên không đủ khả năng chuyển tải nước từ sông Hậu đến cuối kênh. Theo dự tính, kênh Thốt Nốt và KH6 sẽ được nạo vét, nhưng thử hỏi có bảo đảm đem được nước sông Hậu đến khu vực ven biển phía Tây không ? Vì trước đây, trong dự án Ngọt hóa bán đảo Cà Mau, có dự trù dẫn nước ngọt của sông Hậu theo ngả sông Cái Côn, kênh Quản Lộ-Phụng Hiệp tưới ruộng đất bán đảo Cà Mau, nhưng đã thất bại vì nguồn nước chỉ đến địa hạt Sóc Trăng.

RFI : Thưa ông Huỳng Long Vân, dự án CLCB cũng được cho là nhằm chống những tác động của các đập thủy điện ở thượng nguồn. Mục tiêu này có đúng không ?

TS Huỳnh Long Vân : Nói rằng vì những tác động của các đập thủy điện ở thượng nguồn khiến nguồn nước bị cạn kiệt vào mùa khô và nước biển dâng, nên phải xây dựng công trình CLCB là hoàn toàn sai, vì tác động tiêu cực của các đập thủy điện là giữ lại phù sa và ngăn trở các loài cá di chuyển đến các nơi sinh sản và tăng trưởng.

Vận hành đập thủy điện không giữ lại nước như lầm tưởng, mà có hệ quả ngược lại. Thật vậy, từ khi các đập thủy điện của Trung Quốc xây trên dòng chính sông Mêkông vận hành, lưu lượng dòng chảy của sông Mêkông đo được tại trạm quan trắc Chiang Saen, nơi biên giới Trung Quốc và Lào, đã tăng khoảng 30% vào mùa khô.

Nếu vì lo ngại việc Thái Lan và Cam Bốt chuyển nguồn nước sông Mêkông để gia tăng sản xuất nông nghiệp, làm cạn kiệt nguồn nước dòng chính sông Mekong mà xây công trình CLCB và trữ ngọt bằng cách chuyển nước sông Hậu vào vùng dự án, thì đây quả thật là một lập luận thơ ngây và đầy mâu thuẫn, vì dự kiến này không phải để ứng phó, mà thực ra đồng lõa với 2 quốc gia láng giềng làm cạn kiệt dòng nước sông Mêkông.

Trước tình huống này, đúng ra phải tiết kiệm nước ngọt bằng cách bỏ lúa vụ 3, giảm dần diện tích trồng lúa ở vùng ven biển phía Tây, hay cấy trồng các loại lúa chịu mặn sẵn có, hoặc thay vì công trình CLCB, nhà nước nên đầu tư xây dựng một nhà máy chế biến nước ngọt từ nước biển, hoàn toàn thân thiện với môi trường, để giải quyết bài toán mặn - ngọt và giảm thiểu tình trạng ô nhiễm của ĐBSCL.

RFI : Các nhà khoa học có những quan ngại gì về tác động môi trường và những lợi ích không thiết thực của dự án CLCB ?

TS Huỳnh Long Vân : Bản Đánh giá Tác động Môi trường của dự án do Viện Kỹ thuật Biển-Viện Khoa học Thủy lợi Việt Nam thực hiện cho rằng khi vận hành, các cống chỉ đóng trong mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau, mỗi tháng đóng cửa cống vài ngày, mỗi ngày đóng vài giờ để kiểm soát mặn. Tất cả thời gian còn lại cửa cống luôn mở để nước được lưu thông, do đó ô nhiễm môi trường rất ít.

Nhưng tác động của thủy triều Biển Đông, Biển Tây, và dòng nước sông Hậu trên vùng dự án rất phức tạp, nên việc vận hành các cống không hề đơn giản như tuyên bố.

Ngoài việc trấn an với tác động môi trường rất nhỏ, báo cáo còn cho rằng công trình CLCB sẽ đem lại lợi ích từ gia tăng diện tích trồng lúa 3 vụ, nhưng quên đi một hậu quả là mỗi ha lúa 3 vụ phải cần đến 7.5kg thuốc bảo vệ thực vật. Vùng dự án rộng hơn 900 ngàn ha và chỉ một phần của diện tích tự nhiên này trồng lúa 3 vụ, thì môi trường cũng sẽ bị ô nhiễm đến mức độ rất đáng ngại.

Tóm lại, dự án thủy lợi CLCB là một công trình rất tốn kém, tổn phí gần 7.000 tỷ đồng, nhưng phần tác động môi trường được đánh giá sơ sài, chủ quan, những lợi ích nêu lên trong đề cương xét ra rất mâu thuẫn, khó tin, tuy nhiên hiện đang manh nha từng bước tiến hành xây dựng.

Những nghiên cứu khoa học và tham khảo với người dân và cán bộ địa phương của một số nhà khoa học chuyên ngành ở ĐBSCL, cùng những thất bại của những công trình thủy lợi trước đây, cho thấy những mục tiêu dự án CLCB đề ra khó có thể đạt được và sẽ gây ra vô vàn hệ lụy về môi trường cho một vùng rộng lớn gần bằng ¼ diện tích ĐBSCL.

Vì thế, thay mặt Nhóm Nghiên cứu Văn hóa Đồng Nai Cửu Long Úc châu, tôi xin kiến nghị thủ tướng chính phủ Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam không phê duyệt dự án thủy lợi CLCB, một công trình có khả năng phá vỡ chiến lược phát triển bền vững ĐBSCL ứng phó với BĐKH của Nghị quyết 120 /NQ-CH do chính TT phê duyệt và ban hành vào ngày 17/11/2017.

 

_______________________________________